HIỂU ĐÚNG NGHI THỨC “ĐỐT CHIÊN” ĐỂ GIỮ ĐẸP ĐỨC TIN VÀ ĐẸP PHỤNG VỤ

19

TỪ CON CHIÊN VƯỢT QUA ĐẾN CHIÊN THIÊN CHÚA: HIỂU ĐÚNG NGHI THỨC “ĐỐT CHIÊN” ĐỂ GIỮ ĐẸP ĐỨC TIN VÀ ĐẸP PHỤNG VỤ

Mỗi năm, khi Thứ Năm Tuần Thánh trở về, ở một vài nơi người ta lại nhắc đến một tập tục quen quen mà cũng gây nhiều tranh luận: “đốt chiên” hay làm con chiên quay, con chiên nướng, rồi đem ra như một biểu tượng gợi nhớ lễ Vượt Qua. Có người bênh vực vì cho rằng đó là một cách nhắc nhớ rất sống động tới con chiên vượt qua trong Cựu Ước và tới Đức Kitô là Chiên Thiên Chúa. Có người phản đối mạnh vì cho rằng phụng vụ Hội Thánh không hề ghi nghi thức ấy trong sách lễ. Nếu nhìn vấn đề chỉ bằng cảm tính, người ta rất dễ rơi vào hai cực đoan: hoặc bài bác sạch trơn mọi tập tục dân gian, hoặc bênh vực tất cả chỉ vì thấy “có ý nghĩa”. Nhưng nếu nhìn bằng đức tin, bằng lịch sử cứu độ, bằng lòng yêu mến phụng vụ và bằng sự tôn trọng truyền thống của cả Do Thái giáo lẫn Kitô giáo, chúng ta sẽ thấy cần phân biệt rất rõ: có những điều đẹp và đáng làm trong đời sống đạo đức, trong bữa cơm gia đình, trong sinh hoạt giáo xứ ngoài phụng vụ; nhưng lại không được tự tiện đưa vào chính nghi thức phụng vụ của Hội Thánh. Chính ở chỗ phân định ấy mà ta giữ được cả hai điều: vừa không đánh mất chiều sâu biểu tượng của con chiên, vừa không làm sai tinh thần phụng vụ.

Trước hết phải nói cho đúng: hình ảnh con chiên quả thật gắn rất chặt với lễ Vượt Qua của dân Israel. Lễ Vượt Qua tưởng niệm việc Thiên Chúa giải thoát dân Người khỏi ách nô lệ Ai Cập; trong thực hành Do Thái, bữa Seder là bữa ăn theo “thứ tự”, với việc kể lại biến cố Xuất Hành qua bản Haggadah, dùng các món mang ý nghĩa biểu tượng, đặc biệt là bánh không men, rau đắng và các chén rượu theo trình tự nghi lễ. Passover năm 2025, như bài viết gốc nhắc tới, thực sự bắt đầu từ lúc mặt trời lặn ngày thứ Bảy 12 tháng 4 năm 2025 ở ngoài Israel; còn theo lịch hiện tại năm 2026, lễ này bắt đầu trước lúc hoàng hôn ngày 1 tháng 4 năm 2026. Các nguồn Do Thái giáo phổ biến và đáng tin đều xác nhận Seder gắn với việc thuật lại cuộc Xuất Hành, dùng bốn chén rượu, ăn matzah và maror, và đặt những câu hỏi “Tại sao đêm nay khác mọi đêm?” như phần trung tâm của việc giáo dục đức tin trong gia đình.

Chữ seder thật sự có nghĩa là “thứ tự”. Cả bữa ăn không diễn ra tùy hứng nhưng theo một trình tự rất chặt chẽ. Chén rượu đầu tiên gắn với việc thánh hóa ngày lễ; tiếp đến là các cử chỉ, lời chúc tụng, việc bẻ bánh không men, ăn các món biểu tượng, kể chuyện Xuất Hành, rồi những chén rượu tiếp theo. Trong truyền thống ấy, trẻ em đặt câu hỏi, người lớn trả lời; cả gia đình không chỉ “ăn một bữa ăn” nhưng sống lại ký ức cứu độ. Việc ăn rau đắng nhắc đến nỗi cay đắng kiếp nô lệ, còn tư thế ngả mình diễn tả phẩm giá của người tự do. Đây không chỉ là một phong tục ẩm thực, mà là một “ký ức được cử hành”, nơi mùi vị, lời kinh, câu hỏi và cử chỉ cùng nhau giáo dục đức tin qua nhiều thế hệ.

Tuy nhiên, ở đây cần một sự cẩn trọng rất quan trọng để khỏi viết hay giảng “quá tay”: không nên khẳng định rằng bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu “chắc chắn không thể nào khác” với Seder Do Thái như hình thức ngày nay. Đúng là Bữa Tiệc Ly diễn ra trong bối cảnh lễ Vượt Qua, và các Tin Mừng Nhất Lãm nối rất mạnh biến cố ấy với Passover. Nhưng nhiều nghiên cứu lịch sử và tôn giáo lưu ý rằng hình thức Seder rabbi như ta biết ngày nay được định hình mạnh mẽ sau biến cố Đền Thờ bị phá năm 70 sau Công nguyên; do đó không thể đồng nhất máy móc mọi chi tiết của Seder hiện nay với chính bữa Tiệc Ly. Ngay giữa các học giả cũng không có đồng thuận tuyệt đối về việc Bữa Tiệc Ly có phải là một Seder theo nghĩa chặt của hậu kỳ rabbi hay không; Britannica còn ghi nhận rằng Tin Mừng Gioan khiến nhiều nhà giải thích thấy bữa Tiệc Ly “không thể” là bữa Passover theo nghĩa thời điểm lịch phụng vụ Do Thái, trong khi nhiều người khác vẫn theo hướng của các Tin Mừng Nhất Lãm. Nói cách khác: có liên hệ sâu xa, nhưng không nên đồng hóa giản lược.

Chính vì thế, khi nói về “nghi thức đốt chiên”, điều đúng đắn hơn là nói thế này: tập tục ấy, nếu có, không phải là một thành phần phụng vụ chính thức của Hội Thánh, nhưng là một thực hành đạo đức – văn hóa gợi nhớ đến con chiên Vượt Qua và dẫn tâm trí tín hữu về Đức Kitô, Chiên Thiên Chúa. Nói như vậy vừa tôn trọng ý hướng tốt đẹp của những người duy trì tập tục, vừa không gán cho nó một địa vị mà Hội Thánh chưa hề ban. Vì trong phụng vụ, nhất là trong Tam Nhật Thánh, Hội Thánh rất rõ ràng: không ai được tự ý thêm bớt nghi thức theo sáng kiến riêng. Chính vẻ đẹp của phụng vụ nằm ở chỗ Hội Thánh trao cho ta một trật tự thánh, chứ không để mỗi cộng đoàn tự sáng tác theo cảm hứng. Một văn kiện của Tòa Thánh về việc cử hành các ngày lễ Phục Sinh nhấn mạnh rằng phụng vụ đòi hỏi trật tự, và không thể có phụng vụ nếu không có quy tắc Hội Thánh. Các giải thích phụng vụ của USCCB cũng nhắc rằng Thứ Năm Tuần Thánh, cách thông thường, không được cử hành Thánh lễ nào khác ngoài Thánh lễ Tiệc Ly, trừ một vài ngoại lệ rất hạn chế do Đấng Bản Quyền cho phép vì nhu cầu mục vụ thực sự.

Nơi cao điểm của Thứ Năm Tuần Thánh trong nghi lễ Rôma là Thánh lễ Tiệc Ly của Chúa, trong đó Hội Thánh tưởng niệm việc Chúa thiết lập Thánh Thể, thiết lập chức tư tế thừa tác và ban giới răn yêu thương. Trong Thánh lễ này, sách lễ có thể có nghi thức rửa chân, rồi sau hiệp lễ là cuộc rước Mình Thánh sang nơi tạm để tín hữu cầu nguyện. Những gì là cốt lõi đã quá đầy đủ, quá phong phú, quá sâu xa rồi. Không cần phải thêm một “màn phụ” để làm cho phụng vụ sinh động hơn, vì chính mầu nhiệm đang được cử hành đã là đỉnh cao của đời sống Hội Thánh. Nhiều hướng dẫn phụng vụ tại các giáo phận cũng nhắc rõ rằng không nên mô phỏng bữa Seder Do Thái trong chính phụng vụ Thứ Năm Tuần Thánh, và các nghi thức hay lời tuyên hứa không thuộc sách lễ cũng không thích hợp ở đây.

Vậy có nên loại bỏ hoàn toàn hình ảnh con chiên ra khỏi đời sống Kitô hữu không? Chắc chắn là không. Trái lại, con chiên là một biểu tượng Kinh Thánh cực kỳ mạnh. Từ con chiên Vượt Qua trong Xuất Hành, qua lời Gioan Tẩy Giả “Đây Chiên Thiên Chúa”, cho tới sách Khải Huyền với hình ảnh Con Chiên chiến thắng, toàn bộ mạc khải dẫn chúng ta tới Đức Kitô chịu sát tế và sống lại. Vấn đề không phải là bỏ biểu tượng, nhưng là đặt biểu tượng đúng chỗ. Trong bài giảng, trong giờ giáo lý, trong buổi chia sẻ Kinh Thánh, trong bữa ăn gia đình ngày lễ, trong sinh hoạt thiếu nhi, trong một cuộc gặp gỡ văn hóa – đức tin ngoài nhà thờ, hình ảnh con chiên có thể trở nên rất đẹp, rất có sức gợi, rất hữu ích. Nhưng từ “hữu ích” đến “được đưa vào phụng vụ” là hai chuyện khác nhau.

Thực ra, lịch sử Kitô giáo tại châu Âu cho thấy nhiều dân tộc đã phát triển những tập tục Phục Sinh xoay quanh biểu tượng con chiên mà không biến chúng thành nghi thức phụng vụ chính thức. Ở Ba Lan và nhiều vùng Đông Âu, việc mang giỏ thức ăn Phục Sinh đến nhà thờ làm phép vào Thứ Bảy Tuần Thánh là một truyền thống rất sống động; trong các giỏ ấy, con chiên tượng trưng cho Đức Kitô thường xuất hiện dưới dạng bánh, bơ, đường hay các hình thức thực phẩm khác. Các nguồn văn hóa và Công giáo về truyền thống Ba Lan đều xác nhận hình chiên chiếm vị trí nổi bật như dấu chỉ Đức Kitô Cứu Độ trong giỏ thức ăn Phục Sinh được làm phép. Điều ấy cho thấy Kitô giáo hoàn toàn có thể đón nhận biểu tượng con chiên cách phong phú mà vẫn giữ ranh giới giữa tập tục đạo đức và nghi thức phụng vụ.

Bởi đó, nếu ở một số giáo xứ hay gia đình Việt Nam có lòng đạo đức muốn dùng hình ảnh “chiên” để nhắc nhớ Đức Kitô, thì điều nên làm không phải là chen nó vào giữa Thánh lễ Tiệc Ly, càng không phải dựng thành một nghi thức nửa phụng vụ nửa sân khấu trong cung thánh, nhưng là tổ chức nó ở nơi thích hợp hơn: tại nhà xứ, trong sân giáo xứ, trong một bữa cơm gia đình, hay trong buổi họp mặt mừng Phục Sinh sau các cử hành chính thức. Khi ấy, chủ sự gia đình hay cha xứ có thể giải thích ngắn gọn: con chiên thời Xuất Hành là dấu chỉ ơn giải thoát; Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa hiến mình vì nhân loại; người Kitô hữu hôm nay được mời gọi bước qua tội lỗi để sống đời mới. Nếu có món ăn hình chiên, bánh hình chiên, hay một biểu tượng nào đó giúp trẻ em dễ nhớ bài học đức tin, điều ấy có thể rất tốt. Nhưng phải nói rõ: đây là sinh hoạt đạo đức – giáo dục đức tin, chứ không phải “nghi thức của phụng vụ Hội Thánh”.

Ở đây còn có một lợi ích mục vụ rất đẹp: khi đưa biểu tượng con chiên vào bữa cơm gia đình hay sinh hoạt cộng đoàn ngoài phụng vụ, ta trả biểu tượng ấy về đúng không gian của nó là bàn ăn, câu chuyện, ký ức và giáo dục. Bữa Seder Do Thái sống được suốt bao thế kỷ chính là nhờ gia đình kể chuyện cho con trẻ. Gia đình Công giáo Việt Nam cũng đang rất cần học lại điều ấy. Ta có thể có rất nhiều lễ nghi trong nhà thờ, nhưng nếu trong nhà không ai kể cho con cháu nghe Chúa đã yêu thương và cứu độ thế nào, thì đức tin vẫn khô. Một bữa cơm Phục Sinh với lời giải thích đơn sơ nhưng đúng đắn của cha mẹ hay ông bà có khi dạy giáo lý cho con cái sâu hơn nhiều điều. Chính truyền thống Do Thái cho thấy vai trò của câu hỏi trẻ thơ và câu trả lời của người lớn là trung tâm của ký ức đức tin.

Nói như vậy cũng giúp ta tránh một sai lầm khác: lấy danh nghĩa “phục hồi truyền thống” để làm điều mình thích. Không phải cái gì có vẻ cổ xưa cũng được phép đem vào phụng vụ. Phụng vụ Công giáo không vận hành theo nguyên tắc “cái gì có ý nghĩa là làm”, nhưng theo nguyên tắc “Hội Thánh đã lãnh nhận, gìn giữ và quy định thế nào”. Sự vâng phục ở đây không làm nghèo đức tin, trái lại làm cho đức tin tinh tuyền hơn. Nhiều khi người ta muốn “thêm cho hay”, “thêm cho sống động”, “thêm cho có bản sắc”, nhưng càng thêm nhiều sáng kiến riêng, phụng vụ càng mất sự trong sáng vốn có. Tam Nhật Thánh là những ngày thánh nhất của năm phụng vụ; càng là ngày thánh, càng phải tránh phô diễn và tùy tiện.

Cũng nên nói thêm một điều để giữ sự công bằng với anh chị em Do Thái: khi người Công giáo nói về Seder, về Passover, về con chiên Vượt Qua, chúng ta phải làm với sự tôn trọng. Công đồng Vatican II và các huấn thị sau đó mời gọi người Công giáo trình bày Do Thái giáo cách trung thực, khách quan, không xúc phạm, không áp đặt, nhưng với ý thức về gia sản thiêng liêng chung rất lớn giữa hai truyền thống. Vì thế, nếu ta tổ chức một sinh hoạt gợi nhớ biểu tượng con chiên, ta cũng không nên mô phỏng hời hợt hay sân khấu hóa các yếu tố Do Thái như thể đang “diễn lại cho vui” một truyền thống tôn giáo sống động của người khác. Tốt hơn hết là dùng biểu tượng ấy để dẫn vào mầu nhiệm Đức Kitô, đồng thời nói với sự kính trọng rằng đức tin Kitô giáo bén rễ trong lịch sử cứu độ của Israel.

Từ đây, có thể nói gọn mà chắc thế này: “đốt chiên” hay dùng hình ảnh chiên trong dịp Phục Sinh không phải tự nó là xấu; nó có thể là một thực hành gợi nhớ rất tốt, nếu đặt đúng chỗ, giải thích đúng nghĩa, làm với tinh thần giáo dục đức tin và không lấn vào phụng vụ. Nhưng nếu biến nó thành một “nghi thức” chen vào Thánh lễ Thứ Năm Tuần Thánh hay cử hành như thể là thành phần chính thức của sách lễ, thì điều đó không phù hợp với luật và tinh thần phụng vụ của Hội Thánh. Nói cách khác: giữ biểu tượng, nhưng đừng làm sai phụng vụ; quý tập tục, nhưng đừng đặt tập tục ngang hàng phụng vụ.

Còn một nét rất gần với đời sống Việt Nam mà nhiều người nghe sẽ thấy thấm: thay vì biến dịp lễ thành thời điểm ăn uống ồn ào, khoe món lạ, sát sinh linh đình, gia đình Kitô hữu hoàn toàn có thể tập cho mình một nếp đẹp hơn, hiền hơn, mang tính biểu tượng hơn, thanh hơn. Một ổ bánh hình chiên, một chiếc bánh nướng mang hình con chiên, một món ăn được giải thích trong ánh sáng Kinh Thánh, hay chỉ đơn giản là một bữa cơm Phục Sinh đầm ấm với một lời nguyện trước bàn ăn, nhiều khi nói về Đức Kitô nhiều hơn cả những cuộc vui rộn ràng mà rỗng. Điều đáng quý không nằm ở chỗ “phải có chiên thật”, nhưng ở chỗ gia đình có biết đọc ngày lễ bằng con mắt đức tin hay không. Nếu các đầu bếp Công giáo, các tiệm bánh, các gia đình sáng tạo ra những món bánh hình chiên vừa đẹp vừa trang nhã cho dịp Phục Sinh, đó có thể là một đóng góp văn hóa rất đáng mừng: vừa gần gũi trẻ em, vừa gợi nhớ Kinh Thánh, vừa không làm méo mó phụng vụ.

Sau cùng, điều quan trọng nhất không phải là con chiên được nướng thế nào, trình bày đẹp ra sao, hay có “nghi thức” long trọng cỡ nào. Điều quan trọng nhất là chúng ta có thật sự đi vào mầu nhiệm của Chiên Thiên Chúa hay không. Con chiên Vượt Qua ngày xưa là dấu chỉ giải thoát khỏi ách nô lệ. Nhưng Đức Kitô không chỉ giải thoát một dân tộc khỏi Ai Cập; Người giải thoát nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết. Máu con chiên xưa bôi trên cửa nhà để thiên thần vượt qua. Máu Đức Kitô đổ ra để mở lối cho con người bước vào giao ước mới. Bữa ăn xưa nuôi dân Chúa trên đường ra khỏi nhà nô lệ. Thánh Thể nuôi Hội Thánh trên đường vượt qua thế gian mà về với Chúa Cha. Nếu một tập tục nào đó giúp ta nhớ điều ấy cách trong sáng, thì hãy gìn giữ nó ở đúng chỗ. Nếu một tập tục nào đó làm lu mờ phụng vụ, gây lẫn lộn giữa sinh hoạt dân gian và cử hành thánh, thì phải can đảm điều chỉnh.

Hiểu đúng như vậy, ta sẽ không còn tranh cãi theo kiểu bênh chằm chặp hay chống cho bằng được. Ta sẽ biết mến trọng phụng vụ hơn, mà cũng biết yêu quý những hình thức đạo đức bình dân lành mạnh. Ta sẽ biết rằng không phải cứ đưa mọi cái vào nhà thờ mới là đạo đức, và cũng không phải cứ bỏ sạch biểu tượng dân gian mới là trung thành với Hội Thánh. Con đường đẹp nhất luôn là con đường phân định. Và ở đây, phân định đúng sẽ dẫn ta đến một kết luận rất sáng sủa: hình ảnh con chiên rất đẹp cho ngày Phục Sinh; nhưng phụng vụ Thứ Năm Tuần Thánh phải được giữ nguyên trong sự đơn sơ, trang nghiêm và trung thành với sách lễ của Hội Thánh. Khi ấy, cả biểu tượng lẫn phụng vụ đều được tôn trọng; cả truyền thống lẫn chân lý đều được giữ gìn; và người tín hữu vừa được nuôi dưỡng trong đức tin, vừa được giáo dục trong tinh thần hiệp thông với Hội Thánh.

Previous articleĐẠI CHỦNG VIỆN HƠN 160 TUỔI – MỘT KHOẢNG LẶNG THIÊNG GIỮA LÒNG SÀI GÒN, NƠI AN NGHỈ CỦA ĐỨC HỒNG Y GIOAN BAOTIXITA PHẠM MINH MẪN
Next articleĐI TU CÓ PHẢI LÀ “TỪ BỎ TÌNH YÊU”?