VĂN HÓA VỨT BỎ – Lm. Anmai, CSsR

4

VĂN HÓA VỨT BỎ – Lm. Anmai, CSsR

Có một câu hỏi nghe qua tưởng rất thực tế, nhưng càng nghĩ càng thấy lạnh người: “Người ấy còn đem lại được gì?” Câu hỏi ấy có thể xuất hiện trong một cuộc họp bàn về chi phí chăm sóc người bệnh, trong lời than phiền về một người già không còn làm việc được, trong cách người ta nhìn một em bé mang khuyết tật, hoặc trong ánh mắt dành cho một người nghèo đang cần giúp đỡ. Tính toán nguồn lực là việc cần thiết. Một gia đình phải biết mình có bao nhiêu tiền để lo thuốc men; một bệnh viện phải sắp xếp nhân lực; một xã hội phải quyết định cách sử dụng ngân sách hữu hạn. Nhưng từ việc tính toán phương tiện đến việc lấy phép tính ấy để định giá một con người là một bước trượt rất nguy hiểm. Khi câu hỏi “Chúng ta có thể chăm sóc người ấy bằng cách nào?” bị thay bằng câu hỏi “Người ấy còn đáng để chúng ta chăm sóc không?”, phẩm giá con người đã bị đặt lên bàn cân. Từ khoảnh khắc đó, sự sống có nguy cơ bị nhìn như một món hàng: còn hữu dụng thì giữ lại, không còn hữu dụng thì đẩy ra ngoài.

Chúng ta đã quen định lượng rất nhiều thứ. Một công việc được đánh giá bằng năng suất; một dự án được đo bằng lợi nhuận; một bài viết được nhìn qua số lượt đọc; một con người đôi khi cũng bị thu gọn thành thu nhập, bằng cấp, chức vụ, tuổi tác hoặc khả năng tự lo cho mình. Các con số giúp ta hiểu một phần thực tại, nhưng chúng không thể nói hết một con người. Không có con số nào đo được bao nhiêu yêu thương đã đi qua đôi bàn tay của một người mẹ. Không có bảng thống kê nào ghi đủ những đêm một người cha thức để chờ con về. Không có thước đo năng suất nào cho thấy một người già, dù đã mất sức làm việc, vẫn là nơi con cháu tìm thấy ký ức gia đình và cảm giác được thuộc về. Cũng không thể căn cứ vào khả năng học tập hay vận động để quyết định một em bé có đáng được chào đón hay không. Nếu phẩm giá chỉ thuộc về người khỏe mạnh, thông minh, có tiền và độc lập, thì phẩm giá ấy sẽ biến mất mỗi khi con người đau yếu, thất nghiệp, sa sút hoặc cần người khác giúp đỡ. Một phẩm giá có thể mất đi vì bệnh tật thì chưa bao giờ là phẩm giá thực sự; đó chỉ là sự ưu ái có điều kiện.

“Nền văn hóa vứt bỏ” thường không bắt đầu bằng một lời tuyên bố tàn nhẫn. Nó bắt đầu bằng những câu nói rất quen tai: “Già rồi, biết gì nữa mà hỏi”; “Nuôi đứa trẻ ấy sau này khổ lắm”; “Người bệnh như vậy còn hy vọng gì”; “Người này không theo kịp thì thay người khác”; “Nhà mình còn bao nhiêu việc, đâu thể lo mãi.” Có những câu được nói ra giữa mệt mỏi và thiếu thốn, nên ta cần lắng nghe hoàn cảnh của người nói. Nhưng cũng cần nhận ra hướng đi của lối nghĩ ấy: từ chỗ nhìn thấy một khó khăn có thật, ta bắt đầu coi chính con người đang gặp khó khăn là vấn đề cần loại đi. Người già không còn là cha mẹ đang cần được nâng đỡ, mà thành “gánh nặng”. Người bệnh không còn là người đang đau, mà thành “chi phí”. Người khuyết tật không còn là một người có tên tuổi, ước mơ và quan hệ, mà thành một danh sách giới hạn. Người nghèo không còn là người anh em đang cần cơ hội, mà thành một phiền toái làm xấu đi bức tranh thịnh vượng. Khi ngôn ngữ đã đổi, cách đối xử rất dễ đổi theo.

Một xã hội có thể nói rất nhiều về quyền con người mà vẫn âm thầm chia con người thành hai loại: người có ích và người không có ích. Loại thứ nhất được mời lên sân khấu, được lắng nghe, được khen ngợi, được đầu tư. Loại thứ hai được yêu cầu đừng làm phiền, đừng xuất hiện quá nhiều, đừng cần quá lâu. Chúng ta vui vẻ chúc thọ người già trong một buổi lễ, nhưng có thể thiếu kiên nhẫn khi họ kể lại một câu chuyện. Chúng ta ca ngợi tình mẫu tử, nhưng có thể để một người mẹ đơn thân xoay xở trong cô độc. Chúng ta nói trẻ em là tương lai, nhưng có thể lảng tránh những trẻ cần hỗ trợ đặc biệt vì cho rằng các em “khó chăm”. Chúng ta cảm động trước một câu chuyện về người nghèo vượt khó, nhưng lại khó chịu khi một người nghèo cụ thể gõ cửa xin giúp đỡ. Vấn đề của “nền văn hóa vứt bỏ” là ở đó: người ta vẫn có thể yêu một ý tưởng đẹp về con người, trong khi không còn chỗ cho những con người thật với nhu cầu thật.

Hãy nhìn một người già nằm trong bệnh viện. Thuở còn khỏe mạnh, người ấy có thể đã làm việc suốt mấy chục năm, nuôi con, chăm cháu, gánh vác gia đình. Hôm nay người ấy cần giúp ngồi dậy, cần người nhắc uống thuốc, cần được nghe giải thích thêm một lần vì tai đã kém. Nếu chỉ dùng năng suất hiện tại để đánh giá, ta sẽ thấy một người “không còn đóng góp”. Nhưng con người đâu phải một chiếc máy mà giá trị phụ thuộc vào sản lượng mỗi ngày. Hơn nữa, lòng biết ơn không chỉ dành cho quá khứ có ích của họ. Ngay cả một người trước đây chưa từng có cơ hội làm điều lớn lao, hôm nay vẫn xứng đáng được chăm sóc. Ta không kính trọng người già chỉ vì ngày xưa họ từng làm được bao nhiêu; ta kính trọng họ vì họ là người. Lịch sử hy sinh có thể làm trái tim con cháu thức tỉnh, nhưng quyền được đối xử nhân hậu không đòi người ta trước hết phải chứng minh mình đã hy sinh đủ nhiều.

Cũng hãy nhìn một em bé vừa chào đời mang bệnh nặng, hoặc một người trưởng thành sống với khuyết tật cần trợ giúp hằng ngày. Nếu sự sống được đánh giá bằng mức độ tự lập, người ta sẽ dễ nghĩ rằng những cuộc đời ấy “kém chất lượng”. Nhưng “chất lượng sống” cần được hiểu như điều ta có trách nhiệm cải thiện: giảm đau, hỗ trợ vận động, mở lối học tập, xây dựng tình bạn, bảo đảm môi trường an toàn, giúp gia đình có người đồng hành. Nó không phải một nhãn dán lên trán ai đó để kết luận cuộc đời họ có ít giá trị hơn. Có những giới hạn rất nặng nề và có những gia đình mệt đến kiệt sức; nói về phẩm giá mà bỏ mặc họ tự xoay xở thì chỉ là một lời đẹp rỗng. Bảo vệ phẩm giá của người yếu thế phải đi cùng việc nâng đỡ cụ thể người chăm sóc họ. Một đứa trẻ cần được yêu thương, và cha mẹ của em cũng cần được nghỉ ngơi, được giúp đỡ, được phép thú nhận mình mệt mà không bị phán xét.

Trong đời sống kinh tế, phép tính càng dễ lấn sang cách nhìn con người. Một người trẻ bị hỏi liên tục đã kiếm được bao nhiêu, có thành tựu gì, đứng ở đâu so với bạn bè. Người thất nghiệp thấy mình xấu hổ ngay cả khi mất việc vì hoàn cảnh ngoài ý muốn. Người làm công việc chăm sóc gia đình, chăm người bệnh, nuôi con nhỏ có thể bị coi là “không tạo ra giá trị” vì công sức của họ không hiện rõ trên bảng lương. Người lao động lớn tuổi bị gạt sang một bên chỉ vì không còn bắt nhịp nhanh như lớp trẻ. Khi điều ấy xảy ra, ta đã đem một tiêu chuẩn cần dùng trong tổ chức công việc áp lên toàn bộ cuộc đời con người. Năng lực làm việc có thể thay đổi; mức lương có thể lên xuống; hoàn cảnh có thể khiến một người phải dừng lại. Không điều nào trong số ấy quyết định họ đáng được kính trọng đến đâu.

Ngay cả trong những mối quan hệ thân thiết, chúng ta cũng có thể vô tình cư xử theo lối tiêu dùng. Ta tìm đến một người vì họ làm mình vui, nâng đỡ mình, giúp mình thăng tiến; rồi rời đi ngay khi họ đau khổ, thất bại hoặc không còn đáp ứng mong đợi. Tình bạn bị biến thành một cuộc trao đổi lợi ích. Hôn nhân bị tưởng như một hợp đồng chỉ có giá trị khi hai người luôn khỏe mạnh, thuận lợi, hấp dẫn và thành công. Con cái bị nhìn như thành quả phải làm cha mẹ nở mặt. Cha mẹ được quan tâm chừng nào còn cho tiền, trông cháu hoặc giải quyết việc nhà. Những cách nghĩ ấy làm tình yêu héo đi, vì tình yêu thật luôn gặp một con người cụ thể, với những ngày vui lẫn ngày khó, với khả năng trao tặng lẫn những lúc cần nhận lãnh. Không ai đủ sức luôn luôn hữu dụng. Nếu phải liên tục chứng minh lợi ích để được ở lại trong trái tim người khác, ta sẽ sống cả đời trong lo sợ.

Đức tin Kitô giáo đặt một nền tảng khác cho phẩm giá con người: mỗi người được Thiên Chúa yêu thương và được tạo dựng theo hình ảnh của Người. Phẩm giá ấy có trước tài năng, thành tích, sức khỏe và sự công nhận của đám đông. Đức Giêsu không nhìn người bệnh như một hồ sơ thất bại, không nhìn người nghèo như một gánh nặng, không nhìn người bị loại trừ như một phần dư của xã hội. Người dừng lại, hỏi han, chạm đến, lắng nghe và trả cho họ một chỗ đứng giữa cộng đoàn. Dụ ngôn người Samari nhân hậu đặt trước mắt chúng ta một người bị thương nằm bên đường. Người Samari đã đến gần, băng bó vết thương và đưa người ấy đến nơi được chăm sóc. Ông không bắt người bị thương chứng minh rằng sau khi khỏe lại sẽ hoàn trả đủ chi phí hoặc có ích cho mình. Ông hành động vì trước mắt ông có một con người đang cần được cứu giúp. Chính ở những cuộc gặp gỡ như thế, lòng thương xót thôi là một ý tưởng và trở thành việc làm.

Tuy nhiên, lòng thương xót không được hiểu như một thứ cảm xúc thoáng qua, càng không phải lời kêu gọi vài người hy sinh đến cạn sức để bù đắp cho sự dửng dưng của tất cả. Khi một người bệnh cần chăm sóc lâu dài, gia đình cần sự hỗ trợ của bác sĩ, điều dưỡng, cộng đoàn và những người có thể chia sẻ trách nhiệm. Khi một người già sống một mình, việc thăm hỏi đều đặn có giá trị hơn một lần đến đông đúc rồi biến mất. Khi một gia đình nghèo phải chọn giữa tiền ăn và tiền thuốc, sự quan tâm cần chạm đến nhu cầu ấy. Khi người chăm sóc kiệt sức, họ cần được thay ca, được lắng nghe, được nghỉ mà không bị kết tội là thiếu tình yêu. Một nền văn hóa trân trọng sự sống phải được xây bằng những hành động có thể duy trì, bằng những mối liên đới đủ bền để người yếu thế không chỉ được nhắc đến trong các bài diễn văn.

Cũng cần phân biệt giữa trân trọng sự sống và kéo dài mọi can thiệp bằng bất cứ giá nào. Trong một cơn bệnh nặng, có những quyết định y khoa rất khó, cần được cân nhắc dựa trên tình trạng người bệnh, lợi ích và gánh nặng của từng cách điều trị, cùng ý nguyện của chính họ khi có thể bày tỏ. Có thể có lúc một phương pháp điều trị không còn đem lại lợi ích tương xứng, nhưng điều đó không có nghĩa người bệnh không còn đáng được chăm sóc. Người ấy vẫn cần được giảm đau, vệ sinh, dinh dưỡng phù hợp, sự hiện diện của người thân, sự đồng hành tinh thần và sự tôn trọng cho đến cuối đời. Chăm sóc không kết thúc khi khả năng chữa khỏi chấm dứt. Đôi khi, chính lúc không thể chữa khỏi, trách nhiệm chăm sóc lại đòi ta hiện diện cách sâu sắc hơn.

“Nền văn hóa vứt bỏ” còn xuất hiện khi ta chỉ dành chỗ cho những cuộc đời trông đẹp đẽ, thành công và dễ kể. Một người trầm lặng, một người thất bại nhiều lần, một người từng lầm lỗi và đang cố sửa mình, một người phải làm lại cuộc đời ở tuổi năm mươi, một người sống qua tuổi già mà không có con cháu bên cạnh: họ có còn chỗ giữa chúng ta không? Giá trị của một người không tăng lên vì đời họ tạo được một câu chuyện truyền cảm hứng. Có những người đang phải cố gắng rất nhiều chỉ để thức dậy, ăn một bữa, đi đến cuộc hẹn khám bệnh, hoặc sống qua một ngày buồn. Họ không cần biến đau khổ của mình thành bài học cho đám đông mới xứng đáng nhận được lòng kính trọng. Họ cần được gọi bằng tên, được hỏi mình cần gì, được tin rằng sự hiện diện của mình không phải một sự phiền toái.

Mỗi người có thể tự xét lại cách mình nói về người khác. Khi thảo luận về một bệnh nhân, ta có nhớ gọi họ là một người chứ không chỉ là “ca nặng”? Khi nói về người già, ta có để ý họ vẫn còn mong muốn và quyền lựa chọn? Khi gặp người nghèo, ta có nhìn thẳng vào họ và nói chuyện tử tế? Khi thấy ai làm việc chậm, ta có hỏi điều gì đang gây khó cho họ trước khi kết luận họ vô dụng? Khi một người thân không còn đáp ứng kỳ vọng, ta có còn dành cho họ thời gian? Những câu hỏi ấy không nhằm khiến chúng ta mang mặc cảm tội lỗi suốt ngày. Chúng giúp ta nhận ra rằng sự vứt bỏ đôi khi bắt đầu rất nhỏ: một cái quay mặt đi, một tiếng thở dài, một lời nói khiến người nghe thấy mình là gánh nặng. Và một nền văn hóa khác cũng có thể bắt đầu từ những việc rất nhỏ: kéo ghế cho người già ngồi cùng, giải thích thêm một lần với giọng bình tĩnh, ghé thăm một người bệnh, chia phần chăm sóc với người đang kiệt sức, nói với người thất nghiệp rằng họ vẫn được quý trọng.

Có một nỗi sợ âm thầm nơi rất nhiều người: “Nếu một ngày tôi không còn làm được gì, liệu còn ai yêu tôi không?” Người trẻ sợ thất bại; người trung niên sợ mất việc; người già sợ thành gánh nặng; người bệnh sợ ánh mắt thương hại rồi mệt mỏi của người thân. Một xã hội chỉ biết tôn vinh sức mạnh sẽ làm nỗi sợ ấy lớn lên. Còn một gia đình biết yêu thương sẽ trả lời bằng cách sống: “Khi con thất bại, con vẫn là con của cha mẹ”; “Khi cha đau bệnh, cha vẫn là cha của chúng con”; “Khi mẹ không nhớ được tên mọi người, mẹ vẫn là mẹ”; “Khi anh không thể làm những việc trước đây, anh vẫn có chỗ ở đây.” Những lời ấy chỉ đáng tin khi được nâng đỡ bằng thời gian, sự kiên nhẫn và những sắp xếp cụ thể. Nhưng nếu sống được như vậy, gia đình trở thành nơi con người được phép yếu đuối mà không sợ bị loại bỏ.

Sau cùng, cách ta đối xử với những người không thể đáp lại nhiều cho ta cho thấy ta thực sự tin điều gì về con người. Yêu một người đang thành công, khỏe mạnh và vui vẻ thường rất dễ. Ở lại bên người yếu, người chậm, người hay quên, người không còn đem lại lợi ích nào cho mình đòi ta đi sâu hơn vào tình yêu. Điều đó không có nghĩa phải phủ nhận sự mệt mỏi, hay đòi một cá nhân gánh tất cả. Nó có nghĩa là dù đang tìm kiếm sự trợ giúp, phân chia trách nhiệm và đưa ra những quyết định khó khăn, ta vẫn không bao giờ quên trước mặt mình là một con người. Không ai là một món đồ hết hạn. Không ai cần đạt một mức năng suất tối thiểu mới được phép sống giữa những người thân yêu.

Chúng ta rồi sẽ có ngày cần người khác. Có thể ngày ấy đến sau nhiều năm, cũng có thể đến bất ngờ sau một tai nạn hay một cơn bệnh. Khi đó, điều ta mong không phải là được khen vì vẫn còn hữu dụng. Ta mong có người gọi tên mình, nghe mình nói, giữ lời hẹn, chăm sóc mình mà không khiến mình thấy xấu hổ vì phải nhận giúp đỡ. Nếu đó là điều ta mong cho bản thân, hãy bắt đầu trao điều ấy cho người khác từ hôm nay. Hãy tính toán chi phí cho khôn ngoan, tổ chức sự chăm sóc cho công bằng, tìm sự trợ giúp khi cần; và giữa mọi phép tính, xin đừng đánh mất khuôn mặt của người đang cần được yêu thương. Một xã hội chỉ thật sự có tương lai khi đứa trẻ yếu ớt được chào đón, người bệnh được chăm sóc, người già được lắng nghe, người nghèo được nhìn nhận và người đang thất bại vẫn được trao cơ hội đứng dậy. Ở đâu con người không còn bị cân đo bằng mức độ hữu dụng, ở đó “nền văn hóa vứt bỏ” bắt đầu mất đi quyền lực của nó. Ở đâu có người chịu đến gần, ở lại và chăm sóc, ở đó sự sống được trả về đúng giá trị của mình: một quà tặng cần được trân trọng từ đầu đến cuối.

Lm. Anmai, CSsR.

Previous articleHỌC CHO NHIỀU, RỒI HỌC LÀM NGƯỜI – Lm. Anmai, CSsR
Next articleMỘT CON NGƯỜI ĐÁNG GIÁ BAO NHIÊU? – Lm. Anmai, CSsR