Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) Lễ Thứ Bảy tuần XXVIII TN – Lm. Anmai, CSsR – Lm. Anmai, CSsR

7

BẢN TIN GIÁO HỘI – THỨ BẢY , NGÀY 17 THÁNG 10 NĂM 2026 Lm. Anmai, CSsR tổng hợp

BẢN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO THỨ BẢY, NGÀY 17 THÁNG 10 NĂM 2026 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp

BẢN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO THỨ BẢY, NGÀY 17 THÁNG 10 NĂM 2026 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp

Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) Lễ Thứ Bảy tuần XXVIII TN – Lm. Anmai, CSsR – Lm. Anmai, CSsR

T.I nhaxiô Antiôkhia, GM, tđ HẠT LÚA CỦA ĐKT ĐƯỢC NGHIỀN NÁT ĐỂ THÀNH BÁNH TINH KHIẾT-Lm. Anmai, CSsR

T.I nhaxiô Antiôkhia, GM, tđ ĐỜI SỐNG KHÔNG CỐT Ở CỦA CẢI – Lm. Anmai, CSsR

Lời nguyện Thánh I-nha-xi-ô An-ti-ô-khi-a, giám mục, tử đạo
Lạy Chúa Giê-su Kitô, hạt lúa đã gieo vào lòng đất và đã chết đi, Chúa không ở trơ trọi. Từ đêm mồ, Chúa sinh ra cả một mùa. Hôm nay Hội Thánh nhớ một người đã hiểu câu ấy không phải bằng sách, mà bằng chính thân mình đang bị giải đi. Thánh I-nha-xi-ô, giám mục An-ti-ô-khi-a, trên đường tới Rô-ma đã xin đừng ai cản trở cuộc tử đạo của ngài. Ngài gọi mình là lúa của Thiên Chúa, sắp bị răng thú dữ nghiền ra, để được nên tấm bánh tinh tuyền của Đức Kitô. Xin cho lời ấy đừng chỉ đẹp trong ngày lễ nhớ. Xin cho lời ấy thành men trong đời chúng con.
Lạy Chúa, nếu hạt lúa không chết, nó vẫn trơ trọi một mình. Chúng con thuộc câu này, rồi chúng con tìm mọi cách để khỏi phải chết. Chúng con giữ mạng, giữ danh, giữ ghế, giữ sự an toàn của một đời đạo vừa phải. Chúng con muốn sinh hoa mà không muốn được gieo. Chúng con muốn có đoàn chiên mà không muốn bị nghiền. Thánh I-nha-xi-ô không xin Chúa một cái chết cho oai. Ngài xin được nên của ăn. Máu ngài, thân ngài, tên ngài bị xóa giữa hí trường, để Đức Kitô được nhận ra. Xin dạy chúng con thứ chết ấy: chết cho ý riêng, chết cho thói chia rẽ, chết cho cái tôi đứng trơ trọi giữa cộng đoàn mà vẫn tưởng mình đang phục vụ.
Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất. Ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì giữ lại được cho sự sống đời đời. Thánh nhân đã coi thường xiềng, coi thường thú dữ, coi thường cả lời can ngăn của những người yêu ngài, không phải vì khinh mạng sống, mà vì đã thấy một sự sống lớn hơn đang chờ ở cuối đường. Ngài viết giữa hai lính canh, viết cho các giáo đoàn, viết về bí tích, về giám mục, về hiệp nhất, như người sắp hết giờ mà vẫn không muốn Hội Thánh tan hàng. Xin cho các mục tử hôm nay có được nỗi khát ấy: không phải khát một cái chết huy hoàng, mà khát được ở đâu thì đoàn chiên còn hiệp nhất ở đó. Xin cho chúng con hết sợ mất mạng đến mức đánh mất sự sống.
Ai phục vụ Thầy thì hãy theo Thầy. Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Chúa ở trên đường thập giá, thì chỗ của tôi tớ không phải là hàng ghế an toàn. Thánh I-nha-xi-ô đã theo cho đến hí trường, vì ngài biết Chúa đang ở đó, trong thân thể bị nộp, trong bánh bị bẻ. Ngài gọi Thánh Thể là thuốc trường sinh, là của ăn cho kẻ sắp chết để khỏi chết. Xin cho chúng con, mỗi lần lên rước lễ, đừng rước một dấu chỉ rồi về lại đời trơ trọi. Xin cho bánh ấy nghiền chúng con thành một thân thể. Đâu còn phe, còn ganh, còn lời rỉ tai xé giáo đoàn, thì ở đó hạt lúa chưa chịu chết, và mùa chưa thể đến.
Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ quý trọng người ấy. Quý trọng không phải vì hí trường vỗ tay. Quý trọng vì tôi tớ đã chịu ở đúng chỗ Thầy ở. Thánh giám mục không xin Rô-ma cứu mình. Ngài xin được nên hiến lễ, cho máu các tông đồ khỏi bị phụ. Xin Cha quý trọng trong Hội Thánh hôm nay những ai đang bị nghiền cách âm thầm: giám mục mang giáo phận như một gánh chữ, linh mục không bỏ bàn thờ giữa ngày khô khan, giáo dân giữ hiệp nhất khi bị hiểu lầm, người trẻ dám mất một mạng sống dễ dãi để giữ lại sự sống thật. Xin đừng để máu các chứng nhân thành bài kể cho xong lễ. Xin cho máu ấy sinh hạt.
Lạy Chúa, xin nhận thánh I-nha-xi-ô như lời cầu đang sống. Ngài đã muốn nên bánh. Xin cho Hội Thánh nên một tấm bánh, được bẻ ra, được trao đi, không còn trơ trọi. Chúa là lúa đã chết và đã sống lại, hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.

Ca nhập lễ
Tôi đã chịu đóng đinh vào thập giá làm một với Đức Kitô, tôi sống nhưng không phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi; hiện giờ tôi sống trong lòng tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi, và đã phó mình vì tôi.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã cho các anh hùng tử đạo can đảm tuyên xưng đức tin để làm vẻ vang cho toàn thể Hội Thánh. Hôm nay chúng con mừng thánh giám mục I-nha-xi-ô đã qua đường khổ nạn mà đạt tới vinh quang. Xin cho chúng con cũng được nhờ công đức của người mà giữ vững một niềm tin bất khuất. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc I: Pl 3, 17 – 4, 1
“Quê hương chúng ta ở trên trời”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philípphê.
Anh em thân mến, anh em hãy bắt chước tôi, và hãy để mắt nhìn coi những người ăn ở theo như mẫu mực anh em thấy nơi chúng tôi. Bởi chưng như tôi đã thường nói với anh em, và giờ đây tôi đau lòng ứa lệ mà nói lại, có nhiều người sống thù nghịch với thập giá Ðức Kitô. Chung cuộc đời họ là hư vong, chúa tể của họ là cái bụng, và họ đặt vinh danh của họ trong những điều ô nhục; họ chỉ ưa chuộng những cái trên cõi đời này. Phần chúng ta, quê hương chúng ta ở trên trời, nơi đó chúng ta mong đợi Ðấng Cứu Chuộc là Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người sẽ biến đổi thân xác hèn hạ của chúng ta nên giống thân xác hiển vinh của Người, nhờ quyền lực mà Người vẫn có, để bắt muôn vật suy phục Người.
Bởi thế, anh em thân mến và yêu quý, anh em là niềm hoan lạc và triều thiên của tôi; anh em thân mến, hãy vững vàng trong Chúa.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 33, 2-3. 4-5. 6-7. 8-9
Ðáp: Chúa đã cứu tôi khỏi mọi điều lo sợ
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Chúa linh hồn tôi hãnh diện, bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui.
Xướng: Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhậm lời, và Người đã cứu tôi khỏi mọi điều lo sợ.
Xướng: Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn.
Xướng: Thiên Thần Chúa hạ trại đồn binh chung quanh những người sợ Chúa và bênh chữa họ. Các bạn hãy nếm thử và hãy nhìn coi, cho biết Chúa thiện hảo nhường bao; phúc đức ai nương tựa ở nơi Người. – Ðáp.
Alleluia: Gc 1, 12
Alleluia, alleluia! – Phúc cho người biết kiên tâm chịu cám dỗ thử thách, vì khi thí luyện thành công, họ sẽ lĩnh triều thiên sự sống. – Alleluia.
Phúc Âm: Ga 12, 24-26
“Nếu hạt lúa mì thối đi, thì sẽ sinh nhiều bông hạt”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Thật, Thầy nói thật với các con: Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình; nhưng nếu nó thối đi, thì nó sinh nhiều bông hạt. Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, và ai ghét sự sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời. Ai phụng sự Thầy, hãy theo Thầy, và Thầy ở đâu, thì kẻ phụng sự Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phụng sự Thầy, Cha Thầy sẽ tôn vinh nó”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa thánh I-nha-xi-ô tử đạo đã trở thành hạt lúa miến của Chúa Kitô cho thú dữ nghiền nát, và nhờ đó trở nên bánh tinh tuyền được Chúa thương chấp nhận. Nay xin Chúa cũng ghé mắt nhân từ nhìn đến của lễ chúng con dâng. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Tôi là hạt lúa mì của Chúa Kitô, chớ gì răng thú dữ nghiền nát tôi ra, để trở thành tấm bánh tinh tuyền
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, trong ngày sinh nhật trên trời của vị thánh giám mục I-nha-xi-ô An-ti-ô-khi-a, Chúa đã lấy bánh bởi trời bồi dưỡng chúng con. Ước chi lương thực này đem lại cho chúng con nguồn sinh lực mới giúp chúng con sống và hoạt động thế nào cho xứng danh là Kitô hữu. Chúng con cầu xin…

HẠT LÚA CỦA ĐỨC KITÔ ĐƯỢC NGHIỀN NÁT ĐỂ THÀNH BÁNH TINH KHIẾT
Giữa lòng Giáo Hội sơ khai, khi máu các tông đồ còn chưa khô trên đường phố Rôma và khi lời rao giảng còn vang trong các nhà thờ gia đình từ Antiôkia đến Êphêsô, có một giám mục già bị xiềng xích, bị áp giải suốt chặng đường dài từ Syria đến kinh thành của đế quốc, và trên đường ấy ngài đã viết những lá thư mà đến hôm nay vẫn làm rung động bất cứ ai dám đọc chậm. Thánh Inhaxiô Antiôkia không để lại một pho thần học có hệ thống, không xây một đền thờ, không lập một dòng tu. Ngài để lại bảy lá thư viết vội trên đường đi chịu chết, và một câu nói ngắn đến mức có thể thuộc lòng trong một hơi thở: tôi là lúa mì của Đức Kitô, tôi phải được răng thú dữ nghiền nát để trở nên bánh tinh khiết. Câu ấy không phải khẩu hiệu. Câu ấy là cả một đời người được nén lại thành một hình ảnh. Và hình ảnh ấy, hơn mười chín thế kỷ sau, vẫn còn sức nặng để hỏi từng Kitô hữu đang sống giữa một thời đại khác, một cuộc bách hại khác, một thứ răng thú dữ khác: hạt lúa của anh chị em đang được nghiền ở đâu, và bánh mà anh chị em muốn trở thành có còn tinh khiết hay không.
Antiôkia thời ấy không phải một thị trấn hẻo lánh. Đó là thành phố lớn thứ ba của đế quốc, nơi các môn đệ lần đầu được gọi là Kitô hữu, nơi Phaolô và Banaba đã ở lại một năm trời để dạy dỗ, nơi Phêrô đã đặt chân và để lại một tông tòa. Inhaxiô được truyền thống nhìn nhận là người kế vị trên ngai giám mục ấy, người đứng trong dòng dõi các tông đồ không bằng sách vở mà bằng việc được trao phó đoàn chiên. Ngài không viết về chính mình nhiều. Người ta chỉ biết ngài qua cách ngài gọi mình: Theophorus, người mang Thiên Chúa. Danh xưng ấy không phải tước hiệu trang trí. Với ngài, mang Thiên Chúa là mang Đức Kitô trong xương thịt, trong xiềng xích, trong nỗi khát được nên một với Đấng đã chịu đóng đinh. Khi hoàng đế Trajanô ra lệnh bách hại, ngài bị kết án tử hình bằng thú dữ và bị điệu về Rôma. Không phải để xử tại chỗ. Đế quốc muốn biến cái chết của một giám mục thành cảnh tượng. Và chính trên chuyến đi ấy, bị mười người lính canh mà ngài ví như mười con báo, càng được đối xử tử tế lại càng dữ hơn, ngài đã viết cho các giáo đoàn dọc đường và cho chính giáo đoàn Rôma, van xin họ đừng cứu ngài.
Đọc những lá thư ấy, người ta không gặp một người mê muội cái chết. Người ta gặp một người đã yêu đến mức sự sống còn lại trên trần gian trở thành sự trì hoãn. Ngài viết cho tín hữu Rôma rằng từ Syria đến Rôma ngài phải chiến đấu với thú dữ cả trên bộ lẫn trên biển, rằng ngày đêm ngài bị xiềng vào những con báo ấy, rằng sự ngược đãi của chúng là một trường học tốt cho ngài, nhưng ngài vẫn còn xa sự công chính. Rồi ngài bộc bạch một ước muốn khiến nhiều thế kỷ sau vẫn còn giật mình: ước gì ngài được gặp những con thú đang chờ ngài, ngài sẽ nài chúng cho ngài cái chết mau, sẽ mời chúng nuốt ngài để chúng đừng chừa lại thân xác ngài như đã từng chừa lại một số chứng nhân khác. Nếu chúng không chịu vồ, ngài sẽ thúc chúng ăn. Rồi ngài xin các con cái tha cho ngài những lời ấy, vì ngài biết điều gì là tốt cho mình. Từ những sự hữu hình ngài không còn muốn gì nữa. Ngài muốn tìm gặp Đức Giêsu. Lửa và thập giá, thú dữ, xương gãy, chi thể bị xé, thân xác tan nát hoàn toàn, mọi cực hình của Xatan, cứ để tất cả ập xuống ngài, miễn là ngài đạt tới Đức Kitô. Đó không phải văn chương khoa trương. Đó là tiếng của một người đã thấy Đấng mình yêu rõ đến mức mọi đau đớn khác trở thành phương tiện chứ không còn là cùng đích.
Khi nghe tiếng sư tử gầm, truyền thống ghi lại lời ngài: tôi là hạt lúa của Đức Kitô, tôi phải được răng thú dữ nghiền nát để được thấy là bánh tinh khiết. Hình ảnh ấy lấy từ chính Tin Mừng. Hạt lúa gieo xuống đất mà không chết đi thì vẫn trơ trọi một mình. Nếu chết đi, nó mới sinh nhiều bông hạt. Đức Giêsu đã nói câu ấy về chính mình trước cuộc Thương Khó. Inhaxiô nhận câu ấy làm định mệnh của giám mục và của từng Kitô hữu. Hạt lúa không được giữ nguyên hình để người ta ngắm. Hạt lúa được sinh ra để bị chôn, bị nghiền, bị mất dạng, để từ đó có bánh. Bánh ấy không phải bánh thường. Bánh ấy là bánh của hy lễ, bánh được bẻ ra, bánh nuôi đoàn chiên. Giáo Hội không được dựng nên bằng những hạt lúa còn nguyên vẹn, bóng loáng, được cất kỹ trong kho. Giáo Hội được dựng nên bằng những hạt đã chấp nhận cái chết của hình dạng riêng để trở thành của ăn. Inhaxiô hiểu điều đó không như một ẩn dụ đẹp. Ngài hiểu điều đó như lịch sử sắp xảy ra với xương thịt mình trong hầm thú của Rôma, rất có thể là trong Đấu trường, công trình vừa hoàn thành, lấp lánh vàng và đá cẩm thạch, nơi đế quốc biến mạng người thành trò vui cho đám đông khát máu.
Bảy lá thư của ngài là bảy chặng của cùng một cuộc hành trình. Viết cho tín hữu Êphêsô, ngài ca ngợi sự hiệp nhất quanh giám mục, và nói về Đức Kitô như vị lương y duy nhất, về bí tích như phương dược trường sinh, về độc dược của sự chết. Viết cho tín hữu Magnêsia, ngài cảnh báo đừng sống như thể Do Thái giáo cũ vẫn còn hiệu lực khi Đấng đã đến và đã chết và đã sống lại, và ngài khuyên hãy họp nhau để tạ ơn, vì khi họp như thế quyền lực của Xatan bị tan. Viết cho tín hữu Trallês, ngài nhắc rằng Đức Giêsu Kitô thực sự sinh bởi Đức Maria, thực sự ăn thực sự uống, thực sự chịu đóng đinh dưới Phongxiô Philatô, thực sự chết, thực sự sống lại, không phải như một số người nói chỉ có vẻ như vậy. Viết cho tín hữu Rôma, ngài gần như chỉ viết về một điều: đừng cản ngài chết. Viết cho tín hữu Philadelphia và Smyrna, ngài trở lại với sự hiệp nhất, với giám mục, với bí tích, với việc tránh những kẻ tách rời Đức Kitô khỏi xương thịt. Viết cho Polycarpô, giám mục trẻ của Smyrna, ngài nói như một người cha già nói với người sẽ tiếp tục đứng giữa đoàn chiên: hãy vững, hãy chịu đựng mọi người, hãy cầu nguyện không ngừng, hãy tỉnh thức, hãy nói với từng người một theo cách của Thiên Chúa. Bảy lá thư ấy không phải luận văn. Chúng là hơi thở của một người đang đi về phía miệng thú, và trong hơi thở ấy cả cấu trúc của Giáo Hội sơ khai hiện ra rõ đến mức các thế kỷ sau vẫn phải quay lại để học.
Điều khiến Inhaxiô khác nhiều tác giả cùng thời là cách ngài nói về Đức Kitô. Ngài không nói về một vị thầy đáng kính. Ngài nói về Thiên Chúa của chúng ta, về Đức Giêsu Kitô Thiên Chúa chúng ta, về máu Thiên Chúa, về sự thương khó của Thiên Chúa tôi. Những cách nói ấy làm một số người thời sau giật mình, nhưng chúng phát xuất từ xác tín rằng trong Đức Giêsu, Thiên Chúa đã thực sự đi vào xương thịt, thực sự chịu đói chịu khát chịu đánh đòn chịu chết, chứ không phải một bóng ma mặc áo người. Chống lại những kẻ dạy rằng Đức Kitô chỉ có vẻ chịu đau, ngài gần như nài nỉ: nếu Người chỉ có vẻ chịu thương khó, thì tôi bị xiềng này để làm gì. Xiềng xích của ngài là luận chứng. Nếu Chúa chỉ đóng vai chết, thì cái chết của giám mục chẳng có nghĩa gì. Nếu Chúa thực sự chết và thực sự sống lại, thì hạt lúa bị nghiền mới có thể trở thành bánh. Đức tin của Inhaxiô không phải hệ thống khái niệm. Đức tin ấy bị thử bằng răng thú. Và chính vì bị thử bằng răng thú nên đức tin ấy không chịu được thứ Kitô học nửa vời, thứ cứu độ chỉ diễn trên sân khấu.
Cùng với xác thịt thật của Đức Kitô, ngài nói về bí tích với một sự cụ thể hiếm thấy. Ngài gọi bí tích Thánh Thể là thịt của Chúa chúng ta Giêsu Kitô, thịt đã chịu thương khó vì tội chúng ta và đã được Chúa Cha làm cho sống lại. Ngài gọi đó là bánh từ trời, phương dược trường sinh, liều thuốc chống lại sự chết, để chúng ta được sống trong Đức Giêsu Kitô mãi mãi. Với ngài, việc họp nhau bẻ bánh không phải nghi thức tưởng niệm suông. Đó là sự tham dự vào chính thân mình bị bẻ ra của Chúa. Và vì thế, ai tách khỏi bàn thờ của giám mục, ai lập một bàn thờ khác, người ấy đang tách khỏi bánh sự sống. Sự hiệp nhất mà ngài nói đi nói lại không phải khẩu hiệu mục vụ. Hiệp nhất là điều kiện để bánh còn là bánh. Một cộng đoàn chia năm xẻ bảy, mỗi người tự làm lễ theo ý mình, không còn là thân mình. Inhaxiô nhìn thấy trước, bằng con mắt của người sắp chết, rằng mối nguy lớn của Giáo Hội không chỉ là thú dữ bên ngoài mà là sự tan rã bên trong, sự mỗi người một bàn thờ, mỗi người một chân lý, mỗi người một Đức Kitô theo sở thích.
Giám mục, trong các lá thư ấy, không phải một chức vụ hành chính. Giám mục là dấu chỉ hữu hình của sự hiệp nhất, là người mà không có ngài người ta đừng làm gì thuộc về Giáo Hội, là hình ảnh của Chúa Cha, trong khi các linh mục như hội đồng các tông đồ và các phó tế như những người được trao tác vụ của Đức Giêsu Kitô. Cách nói ấy mạnh, và nhiều người thời nay đọc sẽ thấy chói tai. Nhưng cần nghe nó trong hoàn cảnh của nó. Giáo Hội vừa mới ra khỏi thời các tông đồ. Các giáo đoàn còn non. Các thầy dạy lạ đang đi từ thành này sang thành khác, mang theo một Đức Kitô không xương không thịt, một bí tích không cần bàn thờ, một cộng đoàn không cần ai đứng giữa. Inhaxiô không bênh vực quyền lực. Ngài bênh vực chỗ đứng mà đoàn chiên có thể nhận ra nhau. Không có giám mục thì đừng rửa tội, đừng cử hành tiệc yêu thương, đừng làm gì trong Giáo Hội. Câu ấy nghe như kỷ luật. Thực ra đó là tình phụ tử của người biết rằng đoàn chiên tán loạn sẽ bị thú dữ ăn từng con một, không cần đợi đến Đấu trường. Con thú bên ngoài xé xác. Con thú bên trong xé hiệp nhất. Cả hai đều nuốt hạt lúa trước khi hạt lúa kịp thành bánh.
Cuộc tử đạo của ngài xảy ra tại Rôma, dưới thời Trajanô, vào những năm đầu thế kỷ thứ hai. Năm chính xác không ai biết chắc. Có người đặt vào khoảng năm một trăm lẻ bảy. Tử đạo lục ghi rằng ngài bị kết án thú dữ, bị điệu đến Rôma trong xiềng xích, bị hành hạ tàn khốc trước mặt nguyên lão, rồi bị ném cho sư tử. Răng thú xé ngài ra từng mảnh, và ngài trở thành lễ vật cho Đức Kitô. Không có biên bản hiện trường. Không có ảnh. Chỉ có lời ngài đã viết trước, và lời Giáo Hội đã giữ lại sau. Điều đáng suy là ngài không xin được chết êm. Ngài xin được nghiền. Ngài sợ nhất không phải đau. Ngài sợ thân xác còn nguyên, sợ thú dữ không chịu ăn, sợ mình chưa thành bánh. Nỗi sợ ấy lạ lùng với tai người thời nay, vốn quen đo sự thánh thiện bằng việc được bảo toàn, được thành công, được nhiều người theo. Inhaxiô đo sự thánh thiện bằng việc được mất dạng trong Đức Kitô. Hạt lúa còn nhận ra được hình hạt thì chưa phải bánh. Bánh tinh khiết là bánh không còn khoe mình là hạt.
Từ hình ảnh ấy, cả một nền linh đạo mở ra, không chỉ cho người bị đưa vào Đấu trường. Inhaxiô biết không phải ai cũng chết bằng răng sư tử. Nhưng ngài cũng biết mọi Kitô hữu đều được gọi trở thành lúa của Đức Kitô. Có thứ tử đạo đổ máu, và có thứ tử đạo trắng, thứ chết mỗi ngày trong những gì không ai nhìn thấy. Răng thú dữ của thời này ít khi là sư tử. Nhiều khi là sự cô đơn của người giữ điều mình tin giữa một nhà không còn ai giữ. Nhiều khi là cái lưỡi của người thân. Nhiều khi là nỗi sợ mất việc, mất bạn, mất tiếng nói trong cộng đoàn. Nhiều khi là bệnh kéo dài, là con cái bỏ đạo, là giáo xứ lạnh, là chính cái tôi không chịu được nghiền. Hạt lúa nào cũng có một cái răng đang chờ. Câu hỏi không phải là có bị nghiền hay không. Câu hỏi là khi bị nghiền, bột ấy có được dâng lên để thành bánh, hay bột ấy bị đổ đi vì giận, vì chua, vì cho rằng Thiên Chúa bất công khi để răng chạm vào mình.
Giáo Hội mừng ngài không phải để ngưỡng mộ một cái chết spektakulär. Giáo Hội mừng ngài vì cái chết ấy bảo vệ một điều còn sống: Đức Kitô có xương có thịt, bí tích là thịt ấy được trao, cộng đoàn không được tự phân rã, và tình yêu có thể mạnh hơn miệng thú. Lời nguyện của ngày kính nhớ xin Thiên Chúa hằng sống, Đấng trang điểm thân mình Giáo Hội bằng lời tuyên xưng của các thánh tử đạo, ban cho chúng ta điều này: như cuộc thương khó vinh quang của thánh Inhaxiô Antiôkia mang lại cho ngài ánh sáng muôn đời, thì cuộc thương khó ấy cũng trở nên cho chúng ta sự che chở không cùng. Sự che chở ấy không có nghĩa là hết khổ. Sự che chở ấy có nghĩa là khổ không còn vô ích, rằng răng thú không có tiếng nói cuối cùng, rằng bột bị nghiền có thể thành của ăn cho người khác. Một giám mục chết tại Rôma cách đây mười chín thế kỷ vẫn che chở Giáo Hội, không phải bằng phép lạ dễ kiểm chứng, mà bằng việc ngài đã không để cho đức tin bị pha loãng thành một câu chuyện đẹp không cần thập giá.
Đọc ngài hôm nay, giữa một thời mà người ta có thể nói về Đức Kitô rất nhiều mà không cần xương thịt Người, về Giáo Hội rất nhiều mà không cần hiệp nhất, về bí tích rất nhiều mà không cần bàn thờ, người ta thấy các lá thư ấy không cũ. Chúng được viết cho những giáo đoàn đang bị kéo về hai phía: một phía là trở lại với những thực hành cũ đã được hoàn tất trong Đức Kitô, một phía là chạy theo những thầy dạy biến Chúa thành ý tưởng. Inhaxiô giữ cả hai đầu. Ngài không cho phép biến Kitô giáo thành một Do Thái giáo chưa được hoàn tất, cũng không cho phép biến Kitô giáo thành một triết lý về một vị thần không hề đau. Giữa hai mép vực ấy, ngài đặt bàn thờ, đặt giám mục, đặt bánh, đặt xiềng của chính mình. Và ngài nói với Polycarpô một câu còn dùng được cho bất cứ ai đứng giữa đoàn chiên: hãy mang bệnh tật của mọi người. Người mục tử không đứng trên bệnh. Người mục tử mang bệnh. Hạt lúa của chủ chăn cũng phải được nghiền, không phải để chứng minh mình can đảm, mà để đoàn chiên có bánh.
Có một chi tiết nhỏ trong các lá thư đáng được ngồi lại lâu. Inhaxiô nhiều lần xin các giáo đoàn cầu nguyện cho Giáo Hội ở Syria, cho đoàn chiên ngài phải bỏ lại. Người sắp chết không quên người ở lại. Tình yêu tử đạo của ngài không phải thứ tình yêu quay lưng lại với trần gian để lao vào một cuộc hợp hôn riêng với Chúa. Tình yêu ấy vẫn quay lại nhìn Antiôkia, vẫn lo giáo đoàn thiếu chủ chăn, vẫn xin anh em đừng bỏ rơi nhau. Ngọn lửa muốn được thú dữ nuốt không đốt cháy tình phụ tử. Trái lại, chính vì muốn được nghiền thành bánh nên ngài càng muốn bánh ấy nuôi được những miệng còn đói sau khi ngài đi. Một cái chết vị kỷ không viết thư dặn dò. Một cái chết vị kỷ không xin người ta cầu cho đoàn chiên. Inhaxiô chết như người yêu, và người yêu thì trao lại chứ không chiếm đoạt.
Hình ảnh hạt lúa còn một mặt nữa. Hạt bị nghiền không tự mình thành bánh. Phải có nước, phải có lửa, phải có bàn tay nhào, phải có lò. Răng thú chỉ là một chặng. Bí tích mới làm cho bột trở thành Mình Thánh. Inhaxiô biết rõ điều đó khi gọi bí tích là phương dược trường sinh. Đời người có thể bị nghiền bởi đủ thứ răng, nhưng nếu bột ấy không được đưa vào hy lễ của Đức Kitô, nó chỉ là bột đổ. Đau khổ tự nó không thánh hóa. Đau khổ được kết hợp với hạt lúa đã chết trên đồi Sọ mới sinh bông. Vì thế ngài không tôn thờ cái chết. Ngài tôn thờ Đấng đã chết và đã sống lại, và ngài xin được chết trong Người. Khác biệt ấy quyết định tất cả. Người mê tử đạo tìm cảm giác được nghiền. Người yêu Đức Kitô tìm được gặp Người, dù phải qua miệng thú. Inhaxiô thuộc về loại thứ hai. Câu ngài viết cho Rôma đủ chứng: tôi tìm Đấng đã chết vì chúng ta. Tôi muốn Đấng đã sống lại vì chúng ta. Và ngài thêm một lời gần như thì thầm: hãy để tôi được bắt chước cuộc thương khó của Thiên Chúa tôi.
Giáo Hội Đông phương và Giáo Hội Tây phương đều giữ ngài, dù ngày kính có khác nhau trong lịch sử. Các biểu tượng đi cùng ngài là xiềng, là sư tử, là giám mục đứng giữa thú dữ, là trái tim mang thánh danh, là thập giá. Không biểu tượng nào về ngai vàng. Không biểu tượng nào về sách dày. Xiềng và sư tử là đủ. Một đời giám mục được tóm vào hai vật ấy: bị trói, và bị trao. Người ta còn nhớ ngài như bổn mạng của Giáo Hội vùng đông Địa Trung Hải và Bắc Phi, và của những kẻ mắc bệnh cổ họng, có lẽ vì ngài là người đã dùng cổ họng mình để nói những lời cuối không chịu im trước sự chết. Nhưng bổn mạng thật của ngài, nếu được nói theo chính lời ngài, là mọi hạt lúa đang nằm trong cối. Ai đang bị nghiền mà chưa thấy bột mình sẽ đi về đâu, người ấy có thể ngồi với Inhaxiô. Ngài không hứa hết nghiền. Ngài chỉ cho thấy hướng của bột.
Trong kinh nguyện hiệp lễ, Giáo Hội đặt vào miệng mình chính câu của ngài: tôi là lúa mì của Đức Kitô, được răng thú dữ nghiền nát để trở nên bánh tinh khiết. Đọc câu ấy khi vừa rước Mình Thánh là đọc câu ấy như của mình, không phải như của một thánh ở xa. Tôi, một hạt lúa. Tôi cũng được định cho cối xay của đau khổ, để bị nghiền, không chỉ Inhaxiô. Răng nào sẽ nghiền tôi. Bách hại chăng. Bệnh tật chăng. Người khác chăng. Chính tôi chăng. Không quan trọng loại răng. Hạt phải chết, hoặc bị vùi xuống đất để mọc thành cây khác, hoặc bị nghiền để thành bánh. Đó là định mệnh của đời sống Kitô hữu: chết cho chính mình, hoặc đánh mất mình trong việc phục vụ người khác. Hai cách ấy thực ra là một. Phục vụ mà vẫn giữ nguyên hình hạt, vẫn đòi được nhận ra, vẫn đòi công, thì chưa phải bánh. Bánh tinh khiết là bánh không còn tên hạt.
Có thể hôm nay không ai trong chúng ta bị điệu qua biển đến một đấu trường. Có thể xiềng của chúng ta là những lịch làm việc, những nợ nần, những mối quan hệ không lối thoát, những đêm không cầu nguyện được, những sáng không muốn đến nhà thờ. Inhaxiô không khinh những xiềng nhỏ. Ngài gọi chính những người lính ngược đãi mình là trường học. Trường học ấy không cần nổi tiếng mới mở lớp. Mỗi ngày đều có một con báo được giao cho ta, và cách ta đối xử với nó quyết định bột ta sẽ chua hay sẽ dậy men. Ngài còn viết rằng mình chưa được công chính hóa, dù đang đi chịu chết. Câu ấy đáng được khắc. Người sắp đổ máu vẫn thấy mình chưa tới. Sự khiêm nhường ấy giữ ngài khỏi biến tử đạo thành thành tích. Ngài không trình diện với Chúa như người đã xong. Ngài trình diện như hạt còn xin được nghiền cho đủ.
Và rồi, sau tất cả, vẫn là tình yêu. Không có tình yêu, hình ảnh hạt lúa chỉ là khổ dâm thiêng liêng. Inhaxiô không khổ vì yêu khổ. Ngài khổ vì yêu một Ngôi Vị. Ngài gọi Đức Kitô là tình yêu của tôi đã bị đóng đinh. Câu ấy, dù được truyền lại trong dòng chữ của ngài với một sắc thái riêng, nói đúng trọng tâm: tình yêu không còn là cảm xúc bay bổng, tình yêu đã có hình thập giá, và ngài muốn tình yêu của mình cùng một hình ấy. Ai muốn hiểu Inhaxiô mà bỏ qua nỗi say ấy sẽ chỉ còn một giám mục cứng rắn nói về kỷ luật. Ai đọc ngài với nỗi say ấy sẽ thấy kỷ luật là cách tình yêu giữ cho bánh khỏi nát vụn trước khi kịp được trao. Hiệp nhất, vâng phục giám mục, tránh thầy dạy lạ, siêng năng bàn thờ, tất cả đều là cách để tình yêu khỏi bị đánh cắp bởi cái tôi muốn một Đức Kitô dễ hơn.
Hạt lúa của Antiôkia đã bị nghiền. Bánh thì còn đó, trong từng lần Giáo Hội bẻ ra và trao. Mỗi lần ta rước lễ, ta ăn một phần nào đó của cùng một logic: có người đã chịu mất dạng để ta được nuôi. Và khi ra về, ta mang trong mình lời mời trở thành hạt cho người khác. Không cần sư tử. Cần sự đồng ý bị nghiền trong những việc không được ghi tên. Cần sự từ chối giữ nguyên hình. Cần niềm tin rằng bột được trao vào tay Chúa sẽ không bị bỏ đi. Inhaxiô đã tin điều đó đến mức van xin đừng ai cứu mình khỏi miệng thú. Chúng ta, phần đông, không được mời đến mức ấy. Chúng ta được mời đến mức của ngày hôm nay: đừng cứu cái tôi khỏi cái cối mà Chúa đang dùng để làm bánh cho ai đó đang đói gần ta. Nếu điều đó xảy ra, dầu chỉ trong một việc nhỏ không ai thấy, thì câu của giám mục già trên đường đến Rôma đã không già. Nó vừa được nghiền thêm một lần, và bánh lại tinh khiết thêm một chút.
Lm. Anmai, CSsR

ĐƯỢC CHỌN TRƯỚC KHI NỀN TẢNG THẾ GIAN ĐƯỢC ĐẶT RA
Có một sự thật nằm sâu hơn mọi biến cố đời người, sâu hơn cả ngày ta chào đời, sâu hơn cả tên gọi cha mẹ đặt cho ta, sâu hơn cả những lần ta thất bại, ngã lòng, tự trách mình không xứng đáng. Sự thật ấy là Thiên Chúa đã chọn ta trong Đức Kitô từ trước khi nền tảng thế gian được đặt ra. Chưa có ánh sáng, chưa có biển cả, chưa có đất khô, chưa có hơi thở đầu tiên của Ađam, Người đã có ta trong ý định yêu thương của Người. Không phải Người chọn ta vì ta đã tốt. Không phải Người chọn ta vì ta sẽ không bao giờ vấp ngã. Người chọn ta để ta nên thánh, nên tinh tuyền trước nhan Người. Ơn gọi ấy không phải là phần thưởng ban sau khi ta chứng tỏ mình xứng đáng, mà là nguồn mạch từ đó mọi ơn thánh đổ xuống, để chính sự bất xứng của ta không còn là lời cuối cùng. Khi ta thức dậy trong một ngày nặng nề, khi công việc không ra gì, khi gia đình căng thẳng, khi lòng mình trống rỗng đến mức chẳng còn muốn cầu nguyện, sự thật này vẫn đứng đó, không phụ thuộc vào tâm trạng của ta. Ta không tự tạo ra mình. Ta không tự đặt mình vào lòng Thiên Chúa. Người đã đặt ta ở đó từ trước khi ta có thể nói được một lời xin hay một lời từ chối.
Được chúc phúc trong Đức Kitô bằng mọi phúc lành thiêng liêng trên trời, nghĩa là không có ơn nào Thiên Chúa giữ lại cho riêng mình. Người không ban cho ta một phần rồi chờ xem ta có biết ơn không mới ban tiếp. Người ban chính Con Một. Và trong Con Một ấy, mọi phúc lành đã được trao. Bình an không phải là cảm giác dễ chịu kéo dài. Bình an là Đức Kitô ở giữa những ngày không dễ chịu. Sức mạnh không phải là ta không còn yếu. Sức mạnh là quyền năng của Đấng đã phục sinh hoạt động trong chính sự yếu đuối ấy. Khôn ngoan không phải là ta hiểu hết mọi chuyện. Khôn ngoan là ta bắt đầu nhìn mọi chuyện trong ánh sáng của ý định Người. Nhiều lúc ta sống như kẻ nghèo đói đứng trước kho đầy mà không dám đưa tay, vì tưởng rằng ơn thánh chỉ dành cho những người đã sạch sẽ, đã ổn định, đã đạo đức nhìn thấy được. Thế nhưng kho ấy mở từ trước khi ta sinh ra. Ta không phải đi kiếm một ơn nào đó ở ngoài Đức Kitô rồi mới được vào với Người. Mọi ơn đều ở trong Người. Rời Người, ta có thể vẫn giữ được thói quen đạo đức, vẫn đọc kinh, vẫn đến nhà thờ, nhưng lòng thì khô, vì ta đang tìm phúc lành như một món đồ chứ không như một ngôi vị.
Được tiền định làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô, theo như ý muốn của Người, để ca ngợi vinh quang ân sủng Người đã ban cho ta trong Con Yêu Dấu. Nghĩa tử ở đây không phải là thân phận hạng hai, không phải là đứa con được nhận về cho có, được nuôi nhưng không được hưởng gia tài. Trong cách hiểu của thời các tông đồ, người được nhận làm con thì được đối xử như con ruột, được quyền thừa kế, được mang tên nhà, được ngồi vào bàn. Thiên Chúa không nhận ta vào nhà như khách. Người nhận ta vào nhà như con. Và gia tài Người trao không phải là một phần đất, một chức vị, một sự an nhàn đời này. Gia tài ấy là chính sự sống của Con Một. Ta được gọi Cha như Đức Giêsu gọi Cha. Ta được ở trong tương quan mà từ đời đời Ngôi Con đã sống với Ngôi Cha. Điều ấy làm cho mọi so sánh giữa người này với người kia trở nên nhỏ bé. Người kia có thể giỏi hơn ta, đạo đức nhìn thấy hơn ta, được cộng đoàn quý hơn ta. Nhưng không ai được chọn thay chỗ của ta trong lòng Cha. Không ai sống hộ ta cái ơn làm con ấy. Và cũng không ai cướp được ơn ấy, trừ khi chính ta khép cửa lòng lại, không phải vì Thiên Chúa đổi ý, mà vì tình yêu không cưỡng bức.
Ta là kẻ có tội. Điều ấy không cần giấu. Ta biết những lời nói đã làm tổn thương người thân. Ta biết những lần im lặng khi lẽ ra phải bênh vực sự thật. Ta biết những tham muốn kín, những ghen tương không nói ra, những lần dùng đạo để che cho cái tôi. Nếu ơn chọn lựa chỉ dành cho người không vấp, thì không còn ai đứng được trước nhan Thiên Chúa. Nhưng ngay từ trước khi thế gian được dựng nên, Người đã tính đến cả sự sa ngã của ta. Trong Đức Kitô, ta được cứu chuộc nhờ máu Người, được tha các lỗi lầm, theo sự phong phú của ân sủng Người đã rộng ban. Máu ấy không phải là biểu tượng cho một ý tưởng đẹp. Máu ấy là giá của một tình yêu đi đến cùng, đi vào cái chết, đi vào chỗ ta đáng phải chịu để kéo ta ra. Tha thứ không phải là Thiên Chúa làm ngơ. Tha thứ là Người gánh lấy hậu quả của tội để tội không còn quyền giữ ta lại. Ân sủng được gọi là phong phú vì nó không vừa đủ cho một lỗi nhỏ. Nó dư thừa. Nó đổ xuống trên những tội ta tưởng không thể nói với ai. Nó đổ xuống trên những năm tháng ta sống xa, trên những lần ta trở lại rồi lại đi, trên những vết thương ta gây ra cho người khác mà không sao sửa hết được bằng lời xin lỗi. Ta không được phép biến lòng thương xót ấy thành cái cớ để ở lại trong tội. Nhưng ta cũng không được phép biến tội của mình thành cái cớ để không dám nhận lòng thương xót. Cả hai đều là cách khép cửa trước một ân sủng đã được rộng ban.
Người còn cho ta biết mầu nhiệm ý muốn của Người. Mầu nhiệm ấy không còn bị khóa lại. Ý muốn ấy là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới một đầu là Đức Kitô, trong thời viên mãn. Mọi sự chia rẽ đều có nguồn từ tội. Chia rẽ giữa người với Thiên Chúa. Chia rẽ giữa người với người. Chia rẽ ngay trong lòng một con người, khi điều mình muốn và điều mình làm không còn là một. Chương trình của Thiên Chúa không phải là bỏ thế gian này để chỉ lo phần hồn như một miền tách biệt. Chương trình của Người là đem mọi sự về lại trong Đức Kitô. Công việc mỗi ngày, bữa cơm gia đình, lời nói với người hàng xóm, cách ta dùng của cải, cách ta chịu bệnh, cách ta nhìn người nghèo, cách ta đối xử với kẻ làm mình buồn, tất cả đều nằm trong cái quy tụ ấy. Không có góc nào của đời sống nằm ngoài ý định yêu thương. Khi ta tách đức tin ra khỏi đời thường, ta đang làm ngược lại điều Thiên Chúa muốn thực hiện. Khi ta tưởng rằng nhà thờ là chỗ duy nhất có Chúa còn ngoài đường thì Chúa vắng mặt, ta đang thu nhỏ một chương trình vốn nhằm ôm lấy cả trời đất.
Tự do của ta là thật. Thiên Chúa không chọn ta để rồi kéo ta đi như kẻ không có ý chí. Người chọn ta để ta đáp lại. Đáp lại không phải bằng một cảm xúc mạnh trong một buổi cầu nguyện. Đáp lại bằng cả một đời để cho phúc lành ấy lớn lên trong ta, để máu cứu chuộc không chỉ là chuyện đã xảy ra trên thập giá mà còn là sức sống thanh tẩy những chọn lựa hôm nay, để ơn làm con không chỉ là danh xưng mà là cách ta ăn ở với Cha và với anh em. Có người nhận. Có người từ chối. Từ chối không phải lúc nào cũng là lời nói trắng trợn. Từ chối có khi là việc xây mồ cho các ngôn sứ mà cha ông mình đã giết. Giết lúc sống, vì lời ngôn sứ đụng vào lợi ích, đụng vào thói quen, đụng vào hình ảnh đạo đức mà người ta muốn giữ. Xây mồ lúc chết, vì người chết không còn chất vấn. Mộ đẹp làm cho lương tâm yên. Ta có thể tôn kính các thánh, treo ảnh, đọc truyện, tổ chức lễ long trọng, mà vẫn đóng cửa trước chính điều các ngài đã sống. Ta có thể nói về Đức Giêsu rất hay, mà không bước theo Người khi bước theo nghĩa là từ bỏ mình, vác thập giá mỗi ngày, chấp nhận bị hiểu lầm, chấp nhận mất cái ta đang bám. Nguy hiểm không chỉ nằm ở những kẻ công khai chống đối. Nguy hiểm nằm ở chỗ ta biến đức tin thành đài kỷ niệm. Ảnh trong nhà vẫn đó. Chuỗi kinh vẫn lần. Nhưng lòng không còn chỗ cho một Lời đang sống, đang cắt, đang mời gọi đổi đời.
Các ngôn sứ không được sai đến để được khen sau khi đã khuất. Các ngài được sai đến để dân nghe lúc các ngài còn nói. Thiên Chúa không ngừng sai người, trong mọi thời, để làm sáng tỏ ý muốn của Người. Khi ta chỉ chịu được vị thánh đã nằm yên trong sử sách mà không chịu được người anh em đang sống bên cạnh, người ấy có thể vụng về, có thể không hợp tính ta, nhưng lại đang mang một lời nhắc ta cần nghe, thì ta đang lặp lại cái động tác xây mồ. Khi ta thích một Đức Kitô ở trên tường hơn một Đức Kitô đòi ta tha cho kẻ làm ta đau, đòi ta nói sự thật trong nhà, đòi ta bớt giữ của cải, đòi ta dành thời giờ cho người chẳng mang lại ích gì cho ta, thì cây thập giá trên tường chưa trở thành thập giá của ta. Câu hỏi không phải là ta có đồ đạo trong nhà hay không. Câu hỏi là ta có đang để cho đời mình được quy tụ trong Đức Kitô hay ta chỉ giữ Người như một kỷ vật.
Có những người đã hiểu ơn chọn lựa ấy đến mức không còn muốn giữ mạng sống này bằng bất cứ giá nào nếu giá ấy là chối Người. Các ngài không xây đài cho Đức Kitô. Các ngài xin được nên như lúa mì bị nghiền để thành bánh tinh tuyền của Người. Không phải các ngài khinh sự sống. Các ngài thấy sự sống thật không nằm ở chỗ được cả thế gian mà mất Đấng đã chết thay cho mình. Quyền lực trên mặt đất, lạc thú, danh tiếng, tất cả đều nhỏ khi đặt cạnh Đấng đã phục sinh vì ta. Các ngài không xin người khác ngăn cản con đường ấy bằng một lòng tốt không đúng lúc. Các ngài xin được thuộc về Thiên Chúa trọn vẹn. Lời các ngài để lại không phải để ta bắt chước hình thức cái chết của các ngài, vì không phải ai cũng bị dẫn tới pháp trường. Lời ấy để ta xét xem ta có đang coi sự sống này là cùng đích hay không. Nếu ta thuộc về Thiên Chúa, thì bệnh tật không phải là thất bại cuối cùng, mất mát không phải là dấu Thiên Chúa bỏ rơi, bị hiểu lầm vì sống thật không phải là lý do để rút lui. Ta vẫn phải chu toàn bổn phận. Ta vẫn phải yêu thương những người cụ thể Thiên Chúa đặt bên ta. Nhưng lòng ta không còn bị thế gian giữ làm con tin.
Ơn được chọn trước khi nền tảng thế gian được đặt ra cần được nhớ lại cách riêng trong những ngày ta cảm thấy mình chẳng là gì. Ngày ấy rất thật. Có những sáng ta nhìn lại đời mình và chỉ thấy chuỗi lỗi. Có những chiều ta làm việc hết sức mà chẳng ai nhận ra. Có những đêm ta cầu nguyện mà như nói với khoảng không. Chính những lúc ấy, sự thật về ơn chọn lựa không phải là lời an ủi rẻ tiền. Nó là nền. Ta được chọn không vì cảm giác hôm nay. Ta được gọi nên thánh không vì ta đang thấy mình thánh. Phương tiện để nên thánh đã được ban trong Đức Kitô, và phương tiện ấy không cạn. Mỗi lần ta trở lại với lòng thương xót, mỗi lần ta tha cho người khác vì mình đã được tha, mỗi lần ta làm một việc nhỏ trong âm thầm vì tin rằng việc nhỏ ấy cũng được quy tụ trong Người, là ta đang để ơn gọi từ trước tạo thiên lập địa thành hình trong ngày hôm nay.
Trong gia đình, ơn ấy trở thành cụ thể khi ta không đối xử với người nhà như kẻ phải chứng minh mình xứng đáng mới được yêu. Cha mẹ không phải là chủ nợ của con. Vợ chồng không phải là hai người cùng giữ một bản hợp đồng sợ bị thua. Anh chị em không phải là những người cạnh tranh phần gia tài tình cảm. Nếu ta đã được nhận làm con cách nhưng không, thì nhà ta được mời gọi trở thành nơi người ta được nhận cách nhưng không. Điều ấy không xóa kỷ luật, không xóa sự thật, không xóa việc sửa lỗi. Nó đổi gốc của tương quan. Ta sửa vì người kia là người được Thiên Chúa chọn, không phải vì ta cần họ vừa ý ta. Ta ở lại vì giao ước, không phải vì cảm xúc còn thuận. Nhiều gia đình mệt mỏi không phải chỉ vì thiếu tiền hay thiếu thời giờ. Họ mệt vì mỗi người đòi người kia phải xứng đáng với tình yêu của mình, trong khi chính mình đã được yêu trước khi xứng đáng.
Trong giáo xứ, trong cộng đoàn, ơn ấy ngăn ta biến nhà thờ thành nơi trưng bày. Người phục vụ bàn thờ, người quét sân, người dạy giáo lý, người ngồi hàng ghế cuối vì mặc cảm, tất cả đều đã được chọn trước cả khi họ có vai nào. Chức vụ không làm tăng ơn chọn lựa. Chức vụ chỉ là cách cụ thể để phục vụ cái quy tụ Thiên Chúa đang thực hiện. Khi ta ganh vai, khi ta nói hành người làm việc tông đồ, khi ta chỉ đến nhà thờ để được thấy mặt mình trong một việc, ta đang xây một cái mồ đẹp cho một đức tin đã ngừng chất vấn ta. Ngược lại, khi ta dám để Lời Chúa sửa mình trước khi sửa người khác, khi ta chịu thiệt để cộng đoàn được bình an, khi ta không bỏ anh em chỉ vì anh em không hợp ý, ta đang để mình được quy tụ, và đang góp phần quy tụ.
Ngoài xã hội, chương trình quy tụ muôn loài dưới một đầu là Đức Kitô không cho phép ta sống đức tin như một phần tư nhân chẳng liên quan đến cách ta làm ăn, cách ta nói về người nghèo, cách ta dùng quyền nếu ta có quyền. Nhân phẩm của người kia không bắt đầu từ khi họ hữu ích cho ta. Nhân phẩm ấy nằm trong việc họ được Thiên Chúa muốn quy tụ trong Con của Người. Bóc lột, dửng dưng, biến người khác thành phương tiện, là những cách từ chối chương trình ấy giữa thanh thiên bạch nhật. Không cần hô những khẩu hiệu lớn. Chỉ cần trong công việc hôm nay ta không lấy phần của người khác, không nói dối để được việc, không bỏ mặc kẻ không tự bảo vệ được mình. Những việc ấy nhỏ nếu nhìn bằng mắt thế gian. Chúng lớn nếu nhìn bằng ý định từ trước khi thế gian có.
Sự thánh thiện ta được gọi tới không phải là một sự hoàn hảo lạnh, không vết, để trưng. Đó là sự tinh tuyền trước nhan Người, nghĩa là lòng dần dần không còn chia sẻ chỗ với những gì chống lại Người. Tiến trình ấy dài. Có ngày ta tưởng mình đã khá, hôm sau một lời nói đã kéo ta xuống. Không sao, nếu ta không dựng mộ cho chính những lần thất bại của mình để rồi ở lại đó mà than. Máu cứu chuộc vẫn còn dư thừa. Ơn làm con không bị rút lại vì một ngày sa ngã. Điều bị đe dọa chỉ là nếu ta bắt đầu tin rằng sa ngã ấy mới là sự thật sâu nhất về mình, sâu hơn cả ý định của Thiên Chúa. Không phải. Sự thật sâu nhất là ta được chọn trong Con Yêu Dấu, trước cả ánh sáng đầu tiên.
Ca ngợi vinh quang ân sủng không phải là việc của môi miệng trong một giờ phụng vụ. Đó là việc của một đời biết mình được nhận không công, được tha không công, được gọi không công, rồi để cho đời mình trở thành lời tạ ơn có hình hài. Người thánh không phải là người không còn gì để xin lỗi. Người thánh là người không còn muốn sống cho một vinh quang nào khác ngoài vinh quang của ân sủng ấy. Họ có thể bị nghiền như lúa. Họ có thể âm thầm trong một xó bếp, một lớp giáo lý, một giường bệnh, một công việc chẳng ai khen. Họ vẫn thuộc về chương trình quy tụ, vì Đức Kitô là đầu, và không gì thuộc về Người lại bị bỏ ngoài. Ta không cần chờ đến một hoàn cảnh anh hùng mới bắt đầu. Ta bắt đầu bằng việc không xây mồ. Ta bắt đầu bằng việc nhận mình đã được chọn. Ta bắt đầu bằng việc để ngày hôm nay, với những người hôm nay, với thập giá hôm nay, được đặt dưới một đầu là Đức Kitô.
Trước khi có ta, đã có ý muốn này. Trước khi ta biết cầu nguyện, đã có lời chúc phúc này. Trước khi ta tội, đã có máu này được chuẩn bị trong ý định đời đời. Trước khi ta biết thế nào là hiệp nhất, đã có chương trình quy tụ muôn loài. Phần còn lại không phải là ta tạo ra ơn chọn lựa. Phần còn lại là ta thôi chống lại nó. Thôi biến đức tin thành đài kỷ niệm. Thôi đo tình yêu của Thiên Chúa bằng cảm giác của một ngày xấu. Thôi đòi người khác phải xứng đáng trước khi ta yêu, trong khi chính ta chưa từng xứng đáng mà vẫn được nhận. Ngày nào ta còn thở, ngày ấy vẫn còn là ngày để phúc lành thiêng liêng trên trời trở thành xác thịt trong những chọn lựa rất nhỏ, rất thật, rất có thể làm ta đau. Và chính trong những chọn lựa ấy, lời đã nói từ trước khi nền tảng thế gian được đặt ra mới thôi là một câu trong sách, để trở thành tên gọi đích thực của đời ta.
Lm. Anmai, CSsR

GIÀU NƠI THIÊN CHÚA, NGHÈO TRONG KHO LÚA

Có một người trong đám đông đã đứng lên, không phải để xin được chữa lành, không phải để hỏi về Nước Trời, cũng không phải để van nài một lời tha thứ. Người ấy bước tới gần Đức Giêsu với một chuyện rất đời, rất thật, rất nóng bỏng trong nhà mình: thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi. Câu nói ấy không có gì lạ. Từ bao đời, gia tài vẫn là nơi tình máu mủ dễ bị rạn nhất. Ruộng nương, nhà cửa, vàng bạc, sổ đỏ, cửa hàng, mảnh đất ông bà để lại, tất cả đều có thể biến anh em thành kẻ đối thủ, biến bàn thờ gia tiên thành nơi người ta ngồi tính toán hơn là ngồi nhớ. Người ấy tưởng Đức Giêsu sẽ đứng về phía mình, sẽ dùng uy tín của một thầy dạy để ép người anh phải nhượng bộ. Người ấy mang Chúa vào giữa một vụ tranh chấp. Và chính ở chỗ ấy, Tin Mừng mở ra một khoảng trống rất lớn, khoảng trống giữa thứ người ta đang giữ chặt trong tay và thứ người ta sắp đánh mất mà không hay.
Đức Giêsu không nhận vai quan tòa. Người không tra sổ bộ, không hỏi ranh giới thửa đất, không đứng về phe em hay phe anh. Người gọi người kia là bạn, rồi hỏi một câu làm đảo ngược cả hướng nhìn: ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh. Câu hỏi ấy không phải lời từ chối lạnh lùng. Đó là lời kéo con người ra khỏi cái bẫy mà chính họ vừa tự giăng. Vì nếu Đấng từ trời xuống chỉ để phân chia của cải đời này, thì sứ mạng của Người đã bị thu hẹp thành một việc mà bất cứ vị chức sắc nào ở làng cũng có thể làm. Người đến không phải để hợp thức hóa cơn đói của cải. Người đến để cho thấy có một thứ gia tài khác, một thứ thừa kế không nằm trong di chúc, không bị anh em giành, không mục nát, không bị kê biên khi người chủ nhắm mắt. Tất cả tội lỗi, nếu nhìn cho tới đáy, đều có một nhịp thở giống nhau: đặt của cải, đặt tiền bạc, đặt chính mình lên trên người khác, kể cả lên trên người ruột thịt. Khi của cải trở thành trung tâm, người anh không còn là anh, người em không còn là em, người cha không còn là cha. Họ chỉ còn là những chướng ngại trên đường tới phần mình.
Đức Giêsu liền cảnh báo: anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, vì không phải cứ dư giả thì mạng sống nhờ của cải mà được bảo đảm. Câu ấy chạm vào một niềm tin rất cứng trong lòng người. Người ta vẫn nghĩ rằng càng có nhiều thì càng sống. Càng có nhà cao, sổ tiết kiệm dày, đất đai rộng, càng có quyền quyết định ngày mai của mình. Đức Giêsu không nói của cải là xấu. Người nói của cải không phải là sự sống. Sự sống không được đo bằng những gì chất trong kho. Sự sống được đo bằng tương quan với Thiên Chúa và với người khác. Khi tương quan ấy đứt, kho càng đầy thì linh hồn càng trống.
Rồi Người kể một dụ ngôn. Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh hoa lợi rất nhiều. Mùa màng không phải do một mình ông làm ra. Có mưa, có đất, có nắng, có công người làm thuê, có cả những năm trước ông không kiểm soát được. Nhưng khi đứng trước đống lúa, ông không hỏi lúa này từ đâu mà có. Ông không hỏi ai đang đói sau mùa gặt. Ông không hỏi mình đang giữ cái gì của người khác. Ông chỉ hỏi một câu với chính mình: tôi sẽ làm gì đây, vì tôi không còn chỗ để chứa hoa lợi. Câu hỏi ấy đã tiết lộ cả một thế giới. Trong thế giới ấy chỉ có tôi và của tôi. Không có Thiên Chúa. Không có người lân cận. Không có lời tạ ơn. Không có giới hạn. Giải pháp của ông cũng nằm trọn trong cái tôi ấy: tôi sẽ phá những kho lúa hiện có mà xây những kho lớn hơn, rồi tôi sẽ thu góp mọi hoa lợi và của cải tôi vào đó. Tôi sẽ nói với linh hồn tôi: linh hồn hỡi, ngươi có nhiều của cải dự trữ cho nhiều năm; cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã.
Đó là một bản độc thoại. Ông không nói với ai. Ông nói với linh hồn mình như nói với một người làm công. Linh hồn bị biến thành cái bụng. Nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi trở thành chương trình cứu độ. Không có một chỗ nào trong kế hoạch ấy dành cho việc chia sẻ, cho việc mở kho, cho một bát cơm đưa qua hàng xóm, cho một phần hoa lợi trả lại cho Đấng đã cho mưa. Ông tưởng mình khôn. Ông tính được nhiều năm. Ông xây được kho lớn. Ông sắp xếp được một tuổi già không phải lo. Và chính đêm ấy, một tiếng gọi khác vang lên, không phải từ miệng ông, mà từ phía Thiên Chúa: đồ ngốc, nội đêm nay người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thế thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai. Câu hỏi ấy không cần trả lời dài. Của cải sẽ về tay người khác. Có thể về tay người anh em mà ông không đoái hoài. Có thể về tay kẻ tranh chấp. Có thể mục nát trong kho không người mở. Điều chắc chắn là chúng không đi theo ông qua cửa sự chết.
Đức Giêsu kết lại bằng một lời phán không khoan nhượng: kẻ nào thu tích của cải cho mình mà không làm giàu nơi Thiên Chúa thì số phận cũng như thế. Làm giàu nơi Thiên Chúa không phải là một khẩu hiệu đạo đức để dán lên tường nhà giàu. Đó là một cách hiện hữu khác. Người giàu nơi Thiên Chúa là người biết của mình đang giữ không phải là cùng đích. Người ấy có thể có ruộng, có nhà, có tiền, có chức, nhưng không để những thứ ấy định nghĩa mình. Người ấy giàu vì biết nhận, biết tạ ơn, biết trao lại. Người nghèo của cải mà keo kiệt cũng có thể là người giàu kho ảo trong lòng. Người nhiều của mà rộng tay cũng có thể vẫn nghèo nếu sự rộng tay chỉ là cách mua danh. Tiêu chuẩn không nằm ở số lượng. Tiêu chuẩn nằm ở hướng của trái tim.
Chúng ta đang sống trong một nền văn hóa của cái kho. Kho ngày xưa là vựa lúa. Kho ngày nay là căn hộ thứ hai, là mảnh đất để đó chờ tăng giá, là tài khoản người ta mở ra mỗi sáng để xem con số có nhích lên không, là tủ quần áo đầy những thứ không mặc, là nhà kho thuê ngoài vì nhà mình không còn chỗ chứa. Người ta xây kho không chỉ bằng gạch. Người ta xây kho bằng lo âu. Càng có nhiều, càng sợ mất. Càng sợ mất, càng phải có thêm. Vòng ấy không có điểm dừng, vì sự an toàn mà của cải hứa không bao giờ được giao đủ. Một cơn bệnh, một biến động, một đám tang, một đêm mất ngủ cũng đủ cho thấy cái kho không giữ được mạng sống. Vậy mà người ta vẫn phá kho cũ để xây kho mới, vẫn nói với linh hồn mình rằng hãy yên tâm, còn nhiều năm nữa.
Làm giàu nơi Thiên Chúa bắt đầu bằng một sự thức tỉnh rất cụ thể: mạng sống không nằm trong tay mình. Nội đêm nay cũng có thể là đêm cuối. Không phải để người ta sống trong sợ hãi bệnh hoạn, mà để người ta thôi trì hoãn điều quan trọng. Bao nhiêu lời tha thứ bị để dành cho ngày kia. Bao nhiêu lần về thăm cha mẹ bị để dành cho khi rảnh. Bao nhiêu phần dành cho người nghèo bị để dành cho khi khá hơn. Bao nhiêu giờ cầu nguyện bị để dành cho khi hết bận. Nhà phú hộ cũng để dành. Ông để dành sự sống cho nhiều năm sau. Và sự sống ấy bị đòi lại trước khi ông kịp hưởng. Sự khôn ngoan của Tin Mừng không phải là khinh của cải, mà là không trao cho của cải quyền ấn định thời gian của lòng mình.
Ngay sau dụ ngôn ấy, lời dạy đi tiếp một hướng rất thực: hãy bán của cải mình đi mà bố thí, hãy sắm cho mình những túi tiền không hư nát, một kho tàng không bao giờ vơi ở trên trời, nơi trộm cắp không tới gần, mối mọt không làm hư. Vì kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó. Bán và cho không phải là hình phạt dành cho người có của. Đó là cách giải thoát lòng khỏi chỗ nó đang bị cột. Khi người ta cho đi, người ta đang chuyển kho tàng. Lòng không thể ở hai nơi cùng một lúc với cùng một cường độ. Nếu mọi tính toán đều xoay quanh việc giữ, lòng sẽ ở trong kho. Nếu có những tính toán xoay quanh việc trao, lòng bắt đầu ở nơi Thiên Chúa ở, tức là ở nơi người bé nhỏ, người đói, người không có tiếng nói trong vụ chia gia tài.
Làm giàu nơi Thiên Chúa còn có một chiều sâu hơn cả việc bố thí. Chiều sâu ấy là nhận ra mình đang sống nhờ lòng thương xót, chứ không nhờ công trạng. Có một lúc con người tưởng mình tự lập. Tưởng mùa màng là của mình. Tưởng địa vị là của mình. Tưởng sự sống là một tài sản đã được ký nhận. Nhưng khi nhìn lại, người ta thấy mình đã từng chết trong các sa ngã, đã từng bước theo não trạng của thời đại, đã từng để những ham muốn của xác thịt dẫn đi, đã từng sống như những đứa con của cơn giận, dễ nổi nóng vì phần mình bị cắt, dễ coi người khác là kẻ cướp phần. Trong tình trạng ấy, không có kho nào cứu được. Chính Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót, vì tình yêu lớn lao, đã cho sống lại với Đức Kitô ngay khi người ta còn đang chết. Sự giàu có thật không phải là thứ người ta chất thêm vào kho. Sự giàu có thật là thứ người ta được nhận khi tay còn trắng. Lòng thương xót đi trước mọi công trạng. Ân sủng đi trước mọi kế hoạch xây kho.
Vì thế, người được làm cho sống lại không thể sống như người chưa từng chết. Người ấy được dựng nên để làm những việc lành Thiên Chúa đã chuẩn bị từ trước. Việc lành không phải là phụ lục của đời sống đức tin. Việc lành là cách sự sống mới hiện ra. Thương xót đã nhận thì phải được chuyển tiếp. Kho thóc đầy mà không mở là một sự phản bội đối với cơn mưa đã đổ xuống ruộng. Linh hồn được tha mà không tha cho anh em là một sự phản bội đối với bàn tay đã kéo mình lên khỏi cái chết. Làm giàu nơi Thiên Chúa, nói cho cùng, là trở nên giống Đấng giàu lòng thương xót. Không phải giống ở chỗ có nhiều, mà giống ở chỗ cho đi trước khi người kia đáng được cho.
Thánh vịnh đã nói một câu mà nhà phú hộ không bao giờ nói được: lạy Chúa, Chúa là phần sản nghiệp của con. Phần sản nghiệp ấy không chia được bằng thước. Không anh nào giành được của em. Không kho nào chứa nổi. Người nào nhận Chúa là phần của mình thì không còn phải đứng giữa đám đông để xin một thầy nào đó ép anh mình nhường đất. Người ấy vẫn có thể cần công lý, vẫn có thể cần sự phân xử công bằng trong đời này, nhưng lòng không còn bị phần đất ấy cầm giữ. Công lý đời này vẫn phải được làm. Đức Giêsu không cổ vũ sự bất công. Người chỉ từ chối biến mình thành công cụ của lòng tham đội lốt công lý. Có những vụ xin chia gia tài là xin lại phần bị cướp. Những vụ ấy cần được xử. Nhưng ngay trong những vụ chính đáng, vẫn có một câu hỏi nằm dưới câu hỏi: sau khi được phần của mình, lòng tôi sẽ ở đâu.
Nhà phú hộ sai không phải vì ông có mùa bội thu. Ông sai vì ông không có ai để cảm ơn, không có ai để chia, không có một ngày mai nào khác ngoài ngày mai của chính ông. Ông gọi linh hồn mình mà không biết linh hồn ấy không thuộc về ông theo kiểu một món hàng. Mạng sống bị đòi lại. Chữ đòi lại ấy rất nặng. Sự sống là một món nợ được giao, không phải một sở hữu được khóa. Người ta giữ sự sống như giữ một khoản vay không lãi suất, và bất cứ đêm nào chủ nợ cũng có thể tới. Không phải Thiên Chúa độc ác. Chính vì sự sống là hồng ân nên nó không thể bị biến thành tư sản. Khi người ta tư sản hóa sự sống, người ta đã đánh mất nó trước khi đêm ấy tới.
Trong đời sống thường ngày, cái kho được xây bằng nhiều thứ tinh vi hơn lúa. Có người xây kho bằng hình ảnh. Mỗi thành tích, mỗi lời khen, mỗi lần được nhắc tên đều được chất vào một vựa trong lòng, để những lúc trống trải có thể mở ra mà tự an ủi. Có người xây kho bằng sự đúng. Tôi đúng, anh sai, phần ấy phải về tôi, lịch sử phải được viết theo phía tôi. Có người xây kho bằng con cái, bằng sự nghiệp của con, bằng những kỳ vọng chất lên vai một đứa trẻ đến mức đứa trẻ không còn là người mà là một khoản đầu tư. Có người xây kho bằng sự bận rộn. Càng bận càng thấy mình cần. Càng cần càng khó dừng lại để hỏi kho này đang chứa gì. Tất cả những kho ấy đều có thể sụp trong một đêm, không nhất thiết là đêm chết, mà là đêm bệnh, đêm mất chức, đêm con cái đi con đường khác, đêm lời khen im tiếng. Và câu hỏi vẫn y nguyên: những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai.
Làm giàu nơi Thiên Chúa có những việc làm rất nhỏ, nhỏ đến mức không ai chụp ảnh. Một bữa cơm mời người không có chỗ trong bàn tiệc. Một món nợ được xóa khi người kia không trả nổi. Một giờ ngồi với người bệnh mà không tính giờ ấy vào công việc. Một lời không nói khi lời ấy chỉ để thắng. Một phần thu nhập được tách ra trước khi tiêu, không phải sau khi đã dư. Một sự thật được nhìn nhận trong gia đình trước khi nó biến thành vụ kiện. Những việc ấy không làm tăng kho lúa. Chúng làm tăng một thứ khác: khả năng ra khỏi chính mình. Và khả năng ấy là tài sản duy nhất đi theo người ta qua sự chết, vì nó đã được luyện trong tương quan, không trong đồ vật.
Cũng cần nói rõ một điều dễ bị hiểu lệch. Tin Mừng không biến sự nghèo thành một bảo chứng đạo đức. Người không có của vẫn có thể tham theo cách của người không có: ghen với phần người khác, nắm chặt cái ít ỏi đến mức không dám mở tay, biến nỗi thiếu thốn thành lý do để coi mọi người giàu đều là kẻ thù. Tham lam không cần nhiều tiền mới sống được. Tham lam chỉ cần một trái tim quay vào. Ngược lại, người có của không bị kết án vì có. Người ấy bị chất vấn vì cách có. Mùa bội thu có thể thành dịp tạ ơn, thành lương thực cho nhiều miệng, thành công ăn việc làm cho kẻ khác. Kho lúa lớn hơn có thể là kho của cộng đoàn nếu lòng người chủ không còn là trung tâm. Đức Giêsu không đốt kho. Người đốt cái ảo tưởng rằng kho ấy là sự sống.
Có một sự giàu có mà thế gian khó thấy, đó là sự giàu của người đã được thương xót và biết mình được thương xót. Người ấy không đứng trước Thiên Chúa như một chủ nợ. Người ấy đứng như một kẻ đã chết mà được gọi sống. Từ chỗ đứng ấy, mọi thứ đang cầm trong tay đổi nghĩa. Nhà không còn là pháo đài. Nhà là nơi có thể mở. Tiền không còn là thành lũy. Tiền là phương tiện để sự sống của người khác được nối thêm một đoạn. Thời giờ không còn là tài sản phải tối đa hóa cho riêng mình. Thời giờ là phần được giao để hiện diện. Khi một người bắt đầu sống như thế, người ấy đang giàu, dù sổ sách thế gian ghi ngược lại. Và khi một người có tất cả mà không sống được như thế, người ấy đang nghèo, dù mùa nào cũng bội thu.
Đêm ấy trong dụ ngôn không báo trước. Không có bệnh kéo dài cho ông kịp viết di chúc theo hướng khác. Không có một năm sabát để ông học cách mở kho. Sự đột ngột ấy là một lòng thương xót được ngụy trang dưới dạng cảnh báo. Nó được kể ra hôm nay để đêm của mỗi người không phải là đêm đầu tiên người ta nghe câu hỏi ấy. Người ta được nghe trước. Người ta được thấy trước một người đã tính nhiều năm mà không tính được một đêm. Bài học không phải là đừng làm ăn, đừng xây nhà, đừng lo cho con cái. Bài học là đừng nói với linh hồn mình những lời chỉ có ăn, uống, nghỉ, vui, như thể linh hồn được tạo nên cho chương trình ấy. Linh hồn được tạo nên để ở với Thiên Chúa. Mọi sự khác là phương tiện. Khi phương tiện nuốt mất cùng đích, người ta trở thành đồ ngốc theo đúng nghĩa Tin Mừng, không phải vì thiếu trí, mà vì đặt trí vào chỗ không giữ được sự sống.
Gia tài người kia đang đòi chia cũng là một dấu chỉ. Phần đất, phần nhà, phần vàng ông bà để lại luôn mang theo một cám dỗ: biến người chết thành cái cớ cho người sống tranh nhau. Đức Giêsu đã từng kể về một người con đòi phần gia tài khi cha còn sống, tức là đã xử với cha như với người đã chết. Ở đây, người em đòi Thầy ép anh chia phần. Cùng một gốc. Của cải có sức làm người ta giết người thân trong lòng trước khi chôn họ. Muốn được giải khỏi sức ấy, không đủ chỉ có một phán quyết công bằng. Cần một trái tim đã tìm được phần sản nghiệp khác. Khi Chúa là phần sản nghiệp, vụ chia gia tài vẫn có thể đau, vẫn có thể cần người phân xử, nhưng nó không còn là trận chiến định đoạt tôi là ai. Tôi không còn là phần đất tôi giành được. Tôi là người được thương xót, được gọi sống, được mời làm giàu ở một nơi trộm không tới.
Sự giàu có ấy còn được kiểm chứng trong cách người ta đối diện với sự chết của chính mình. Người sợ mất tất cả sẽ bám tất cả. Người đã tập trao đi sẽ bớt kinh hoàng khi tay phải mở ra lần cuối. Các chứng nhân của đức tin, từ những thế kỷ đầu cho đến những căn nhà âm thầm hôm nay, đã cho thấy một nghịch lý: có những người bị tước hết của cải, hết danh, hết tự do, thậm chí hết mạng sống, mà vẫn không nghèo. Họ giàu vì đã thuộc về một Đấng không bị tước. Họ không cần kho lúa cho nhiều năm, vì họ không đặt sự sống trong nhiều năm. Họ đặt sự sống trong tương quan. Tương quan ấy không bị mùa mất, không bị giá đất, không bị anh em tranh chấp. Nói thế không phải để cổ vũ sự khinh suất với đời này. Đời này là nơi người ta tập trao. Không có đời này, không có người nghèo cụ thể, không có anh em cụ thể, không có kho lúa cụ thể, thì lời làm giàu nơi Thiên Chúa chỉ là sương. Chính trong đời này, với sổ đỏ và bữa ăn và cơn giận vì phần bị cắt, người ta học hoặc không học.
Hãy tưởng tượng nhà phú hộ, nếu đêm ấy chưa tới, và nếu ông nghe được câu hỏi của mình vang lại từ một miệng khác. Tôi sẽ làm gì đây, vì tôi không còn chỗ chứa. Một câu trả lời khác có thể được nói: tôi sẽ mở kho. Tôi sẽ gọi những người làm thuê ăn một bữa không tính vào lương. Tôi sẽ để lại một phần hoa lợi cho năm đói. Tôi sẽ nhớ mặt người đã cuốc đất với tôi. Tôi sẽ không nói với linh hồn tôi rằng hãy ăn uống vui chơi, mà sẽ nói rằng hãy tạ ơn, vì mày không làm ra mưa. Câu trả lời ấy không làm ông nghèo đi theo nghĩa bị truất hữu. Nó làm ông giàu theo nghĩa ông bắt đầu có người đồng bàn. Và người có người đồng bàn thì không còn độc thoại với linh hồn mình trong một cái kho kín.
Lời cảnh báo của Đức Giêsu vì thế không nhằm tạo ra một lớp người khinh miệt lao động hay khinh miệt thành quả. Lao động là việc tốt. Thành quả là hồng ân. Điều bị phá không phải là kho, mà là cái tôi đứng giữa kho và nói tất cả là của tôi, cho tôi, trong nhiều năm của tôi. Khi cái tôi ấy được dời chỗ, kho có thể vẫn đứng đó, nhưng nó không còn là đền thờ. Đền thờ đã chuyển sang nơi lòng ở. Lòng ở với Thiên Chúa thì cũng ở với người mà Thiên Chúa không quên, tức là người không có kho, người không có tiếng trong đám đông, người không được mời vào bàn ăn uống vui chơi. Sự giàu có được đo ở đó, không ở chiều cao của vựa lúa.
Mỗi thế hệ đều có phiên bản riêng của nhà phú hộ. Có thế hệ chất lúa. Có thế hệ chất đất. Có thế hệ chất bằng cấp cho con như chất một thứ bảo hiểm chống lại mọi bất trắc. Có thế hệ chất sự hiện diện trên mạng, chất những con số người theo dõi, chất một hình ảnh không bao giờ được phép nghèo. Tất cả đều có thể nghe cùng một tiếng trong một đêm không báo trước: những gì ngươi sắm sẵn sẽ về tay ai. Hình ảnh sẽ về tay người lạ. Bằng cấp không đi theo quan tài. Đất sẽ mang tên người khác trên sổ. Điều còn lại là lòng đã ở đâu trong những năm kho được xây. Nếu lòng đã tập ở nơi Thiên Chúa, sự mất mát của kho không lấy được sự sống. Nếu lòng chỉ ở trong kho, thì khi kho đổi chủ, người ta mới biết mình đã trắng tay từ lâu.
Vì vậy, sự tỉnh táo mà Tin Mừng mời gọi không phải là một bài toán vặt về quản lý tài sản. Đó là một cuộc hoán cải của trí tưởng tượng. Người ta cần tưởng tượng lại sự sống không như một chuỗi năm cần được đảm bảo bằng đồ vật, mà như một tương quan đang được trao hôm nay và có thể được đòi lại hôm nay. Người ta cần tưởng tượng người anh em không như đối thủ của phần gia tài, mà như người cùng được gọi vào một gia tài khác. Người ta cần tưởng tượng người nghèo không như gánh nặng bên lề kế hoạch nghỉ ngơi, mà như người mà kho tàng trên trời đang đi qua nhà mình dưới một dạng rất thường. Khi trí tưởng tượng đổi, tay cũng đổi. Và khi tay đổi, lòng có chỗ để ở.
Đêm nay, kho lúa của mỗi người đang đứng đó, dưới nhiều tên khác nhau. Có thể là một tài khoản. Có thể là một bất động sản. Có thể là một mối hận chưa chịu xóa vì xóa là mất phần. Có thể là một kế hoạch chỉ toàn tôi. Tin Mừng không đòi đốt sạch trong một buổi. Tin Mừng đòi một câu hỏi được đặt lại trước khi đêm kia tới mà không báo. Tôi đang làm giàu cho ai. Lòng tôi đang ở đâu. Nếu phải trả lời nội đêm nay, những gì tôi sắm sẵn sẽ chứng minh tôi đã sống với Thiên Chúa, hay chỉ chứng minh tôi đã nói rất khéo với linh hồn tôi. Câu trả lời không nằm ở cảm xúc đạo đức. Nó nằm ở hướng của những quyết định rất nhỏ: mở hay khóa, chia hay giữ, tạ ơn hay độc thoại, nhìn người anh em hay chỉ nhìn phần đất. Chính những quyết định ấy, lặp lại nhiều năm, làm nên một người giàu nơi Thiên Chúa hoặc một người giàu kho mà nghèo sự sống.
Và khi đã thấy như thế, người ta mới hiểu vì sao Đức Giêsu không chịu làm quan tòa cho vụ kiện hôm ấy. Người không từ chối công lý. Người từ chối để công lý đời này bị dùng như bình phong cho một cơn đói không bao giờ no. Người muốn người kia, và mọi người đứng trong đám đông, ngẩng lên khỏi mảnh đất đang tranh chấp mà thấy một phần sản nghiệp không ai chia mất. Phần ấy là chính Chúa. Phần ấy là lòng thương xót đã gọi người chết sống lại. Phần ấy là những việc lành đã được chuẩn bị để người được thương xót không giữ thương xót làm của riêng. Ai nhận phần ấy thì vẫn có thể nghèo lúa, vẫn có thể mất đất, vẫn có thể ra đi trong một đêm không kịp xây kho mới, mà không trở thành đồ ngốc. Vì sự sống của người ấy không nằm trong kho. Sự sống của người ấy nằm trong Đấng đã cho sự sống, và trong những bàn tay đã được mở ra khi còn kịp.
Lm. Anmai, CSsR

HẠT LÚA CỦA ĐỨC KITÔ ĐƯỢC NGHIỀN NÁT ĐỂ THÀNH BÁNH TINH KHIẾT
Giữa lòng Giáo Hội sơ khai, khi máu các tông đồ còn chưa khô trên đường phố Rôma và khi lời rao giảng còn vang trong các nhà thờ gia đình từ Antiôkia đến Êphêsô, có một giám mục già bị xiềng xích, bị áp giải suốt chặng đường dài từ Syria đến kinh thành của đế quốc, và trên đường ấy ngài đã viết những lá thư mà đến hôm nay vẫn làm rung động bất cứ ai dám đọc chậm. Thánh Inhaxiô Antiôkia không để lại một pho thần học có hệ thống, không xây một đền thờ, không lập một dòng tu. Ngài để lại bảy lá thư viết vội trên đường đi chịu chết, và một câu nói ngắn đến mức có thể thuộc lòng trong một hơi thở: tôi là lúa mì của Đức Kitô, tôi phải được răng thú dữ nghiền nát để trở nên bánh tinh khiết. Câu ấy không phải khẩu hiệu. Câu ấy là cả một đời người được nén lại thành một hình ảnh. Và hình ảnh ấy, hơn mười chín thế kỷ sau, vẫn còn sức nặng để hỏi từng Kitô hữu đang sống giữa một thời đại khác, một cuộc bách hại khác, một thứ răng thú dữ khác: hạt lúa của anh chị em đang được nghiền ở đâu, và bánh mà anh chị em muốn trở thành có còn tinh khiết hay không.
Antiôkia thời ấy không phải một thị trấn hẻo lánh. Đó là thành phố lớn thứ ba của đế quốc, nơi các môn đệ lần đầu được gọi là Kitô hữu, nơi Phaolô và Banaba đã ở lại một năm trời để dạy dỗ, nơi Phêrô đã đặt chân và để lại một tông tòa. Inhaxiô được truyền thống nhìn nhận là người kế vị trên ngai giám mục ấy, người đứng trong dòng dõi các tông đồ không bằng sách vở mà bằng việc được trao phó đoàn chiên. Ngài không viết về chính mình nhiều. Người ta chỉ biết ngài qua cách ngài gọi mình: Theophorus, người mang Thiên Chúa. Danh xưng ấy không phải tước hiệu trang trí. Với ngài, mang Thiên Chúa là mang Đức Kitô trong xương thịt, trong xiềng xích, trong nỗi khát được nên một với Đấng đã chịu đóng đinh. Khi hoàng đế Trajanô ra lệnh bách hại, ngài bị kết án tử hình bằng thú dữ và bị điệu về Rôma. Không phải để xử tại chỗ. Đế quốc muốn biến cái chết của một giám mục thành cảnh tượng. Và chính trên chuyến đi ấy, bị mười người lính canh mà ngài ví như mười con báo, càng được đối xử tử tế lại càng dữ hơn, ngài đã viết cho các giáo đoàn dọc đường và cho chính giáo đoàn Rôma, van xin họ đừng cứu ngài.
Đọc những lá thư ấy, người ta không gặp một người mê muội cái chết. Người ta gặp một người đã yêu đến mức sự sống còn lại trên trần gian trở thành sự trì hoãn. Ngài viết cho tín hữu Rôma rằng từ Syria đến Rôma ngài phải chiến đấu với thú dữ cả trên bộ lẫn trên biển, rằng ngày đêm ngài bị xiềng vào những con báo ấy, rằng sự ngược đãi của chúng là một trường học tốt cho ngài, nhưng ngài vẫn còn xa sự công chính. Rồi ngài bộc bạch một ước muốn khiến nhiều thế kỷ sau vẫn còn giật mình: ước gì ngài được gặp những con thú đang chờ ngài, ngài sẽ nài chúng cho ngài cái chết mau, sẽ mời chúng nuốt ngài để chúng đừng chừa lại thân xác ngài như đã từng chừa lại một số chứng nhân khác. Nếu chúng không chịu vồ, ngài sẽ thúc chúng ăn. Rồi ngài xin các con cái tha cho ngài những lời ấy, vì ngài biết điều gì là tốt cho mình. Từ những sự hữu hình ngài không còn muốn gì nữa. Ngài muốn tìm gặp Đức Giêsu. Lửa và thập giá, thú dữ, xương gãy, chi thể bị xé, thân xác tan nát hoàn toàn, mọi cực hình của Xatan, cứ để tất cả ập xuống ngài, miễn là ngài đạt tới Đức Kitô. Đó không phải văn chương khoa trương. Đó là tiếng của một người đã thấy Đấng mình yêu rõ đến mức mọi đau đớn khác trở thành phương tiện chứ không còn là cùng đích.
Khi nghe tiếng sư tử gầm, truyền thống ghi lại lời ngài: tôi là hạt lúa của Đức Kitô, tôi phải được răng thú dữ nghiền nát để được thấy là bánh tinh khiết. Hình ảnh ấy lấy từ chính Tin Mừng. Hạt lúa gieo xuống đất mà không chết đi thì vẫn trơ trọi một mình. Nếu chết đi, nó mới sinh nhiều bông hạt. Đức Giêsu đã nói câu ấy về chính mình trước cuộc Thương Khó. Inhaxiô nhận câu ấy làm định mệnh của giám mục và của từng Kitô hữu. Hạt lúa không được giữ nguyên hình để người ta ngắm. Hạt lúa được sinh ra để bị chôn, bị nghiền, bị mất dạng, để từ đó có bánh. Bánh ấy không phải bánh thường. Bánh ấy là bánh của hy lễ, bánh được bẻ ra, bánh nuôi đoàn chiên. Giáo Hội không được dựng nên bằng những hạt lúa còn nguyên vẹn, bóng loáng, được cất kỹ trong kho. Giáo Hội được dựng nên bằng những hạt đã chấp nhận cái chết của hình dạng riêng để trở thành của ăn. Inhaxiô hiểu điều đó không như một ẩn dụ đẹp. Ngài hiểu điều đó như lịch sử sắp xảy ra với xương thịt mình trong hầm thú của Rôma, rất có thể là trong Đấu trường, công trình vừa hoàn thành, lấp lánh vàng và đá cẩm thạch, nơi đế quốc biến mạng người thành trò vui cho đám đông khát máu.
Bảy lá thư của ngài là bảy chặng của cùng một cuộc hành trình. Viết cho tín hữu Êphêsô, ngài ca ngợi sự hiệp nhất quanh giám mục, và nói về Đức Kitô như vị lương y duy nhất, về bí tích như phương dược trường sinh, về độc dược của sự chết. Viết cho tín hữu Magnêsia, ngài cảnh báo đừng sống như thể Do Thái giáo cũ vẫn còn hiệu lực khi Đấng đã đến và đã chết và đã sống lại, và ngài khuyên hãy họp nhau để tạ ơn, vì khi họp như thế quyền lực của Xatan bị tan. Viết cho tín hữu Trallês, ngài nhắc rằng Đức Giêsu Kitô thực sự sinh bởi Đức Maria, thực sự ăn thực sự uống, thực sự chịu đóng đinh dưới Phongxiô Philatô, thực sự chết, thực sự sống lại, không phải như một số người nói chỉ có vẻ như vậy. Viết cho tín hữu Rôma, ngài gần như chỉ viết về một điều: đừng cản ngài chết. Viết cho tín hữu Philadelphia và Smyrna, ngài trở lại với sự hiệp nhất, với giám mục, với bí tích, với việc tránh những kẻ tách rời Đức Kitô khỏi xương thịt. Viết cho Polycarpô, giám mục trẻ của Smyrna, ngài nói như một người cha già nói với người sẽ tiếp tục đứng giữa đoàn chiên: hãy vững, hãy chịu đựng mọi người, hãy cầu nguyện không ngừng, hãy tỉnh thức, hãy nói với từng người một theo cách của Thiên Chúa. Bảy lá thư ấy không phải luận văn. Chúng là hơi thở của một người đang đi về phía miệng thú, và trong hơi thở ấy cả cấu trúc của Giáo Hội sơ khai hiện ra rõ đến mức các thế kỷ sau vẫn phải quay lại để học.
Điều khiến Inhaxiô khác nhiều tác giả cùng thời là cách ngài nói về Đức Kitô. Ngài không nói về một vị thầy đáng kính. Ngài nói về Thiên Chúa của chúng ta, về Đức Giêsu Kitô Thiên Chúa chúng ta, về máu Thiên Chúa, về sự thương khó của Thiên Chúa tôi. Những cách nói ấy làm một số người thời sau giật mình, nhưng chúng phát xuất từ xác tín rằng trong Đức Giêsu, Thiên Chúa đã thực sự đi vào xương thịt, thực sự chịu đói chịu khát chịu đánh đòn chịu chết, chứ không phải một bóng ma mặc áo người. Chống lại những kẻ dạy rằng Đức Kitô chỉ có vẻ chịu đau, ngài gần như nài nỉ: nếu Người chỉ có vẻ chịu thương khó, thì tôi bị xiềng này để làm gì. Xiềng xích của ngài là luận chứng. Nếu Chúa chỉ đóng vai chết, thì cái chết của giám mục chẳng có nghĩa gì. Nếu Chúa thực sự chết và thực sự sống lại, thì hạt lúa bị nghiền mới có thể trở thành bánh. Đức tin của Inhaxiô không phải hệ thống khái niệm. Đức tin ấy bị thử bằng răng thú. Và chính vì bị thử bằng răng thú nên đức tin ấy không chịu được thứ Kitô học nửa vời, thứ cứu độ chỉ diễn trên sân khấu.
Cùng với xác thịt thật của Đức Kitô, ngài nói về bí tích với một sự cụ thể hiếm thấy. Ngài gọi bí tích Thánh Thể là thịt của Chúa chúng ta Giêsu Kitô, thịt đã chịu thương khó vì tội chúng ta và đã được Chúa Cha làm cho sống lại. Ngài gọi đó là bánh từ trời, phương dược trường sinh, liều thuốc chống lại sự chết, để chúng ta được sống trong Đức Giêsu Kitô mãi mãi. Với ngài, việc họp nhau bẻ bánh không phải nghi thức tưởng niệm suông. Đó là sự tham dự vào chính thân mình bị bẻ ra của Chúa. Và vì thế, ai tách khỏi bàn thờ của giám mục, ai lập một bàn thờ khác, người ấy đang tách khỏi bánh sự sống. Sự hiệp nhất mà ngài nói đi nói lại không phải khẩu hiệu mục vụ. Hiệp nhất là điều kiện để bánh còn là bánh. Một cộng đoàn chia năm xẻ bảy, mỗi người tự làm lễ theo ý mình, không còn là thân mình. Inhaxiô nhìn thấy trước, bằng con mắt của người sắp chết, rằng mối nguy lớn của Giáo Hội không chỉ là thú dữ bên ngoài mà là sự tan rã bên trong, sự mỗi người một bàn thờ, mỗi người một chân lý, mỗi người một Đức Kitô theo sở thích.
Giám mục, trong các lá thư ấy, không phải một chức vụ hành chính. Giám mục là dấu chỉ hữu hình của sự hiệp nhất, là người mà không có ngài người ta đừng làm gì thuộc về Giáo Hội, là hình ảnh của Chúa Cha, trong khi các linh mục như hội đồng các tông đồ và các phó tế như những người được trao tác vụ của Đức Giêsu Kitô. Cách nói ấy mạnh, và nhiều người thời nay đọc sẽ thấy chói tai. Nhưng cần nghe nó trong hoàn cảnh của nó. Giáo Hội vừa mới ra khỏi thời các tông đồ. Các giáo đoàn còn non. Các thầy dạy lạ đang đi từ thành này sang thành khác, mang theo một Đức Kitô không xương không thịt, một bí tích không cần bàn thờ, một cộng đoàn không cần ai đứng giữa. Inhaxiô không bênh vực quyền lực. Ngài bênh vực chỗ đứng mà đoàn chiên có thể nhận ra nhau. Không có giám mục thì đừng rửa tội, đừng cử hành tiệc yêu thương, đừng làm gì trong Giáo Hội. Câu ấy nghe như kỷ luật. Thực ra đó là tình phụ tử của người biết rằng đoàn chiên tán loạn sẽ bị thú dữ ăn từng con một, không cần đợi đến Đấu trường. Con thú bên ngoài xé xác. Con thú bên trong xé hiệp nhất. Cả hai đều nuốt hạt lúa trước khi hạt lúa kịp thành bánh.
Cuộc tử đạo của ngài xảy ra tại Rôma, dưới thời Trajanô, vào những năm đầu thế kỷ thứ hai. Năm chính xác không ai biết chắc. Có người đặt vào khoảng năm một trăm lẻ bảy. Tử đạo lục ghi rằng ngài bị kết án thú dữ, bị điệu đến Rôma trong xiềng xích, bị hành hạ tàn khốc trước mặt nguyên lão, rồi bị ném cho sư tử. Răng thú xé ngài ra từng mảnh, và ngài trở thành lễ vật cho Đức Kitô. Không có biên bản hiện trường. Không có ảnh. Chỉ có lời ngài đã viết trước, và lời Giáo Hội đã giữ lại sau. Điều đáng suy là ngài không xin được chết êm. Ngài xin được nghiền. Ngài sợ nhất không phải đau. Ngài sợ thân xác còn nguyên, sợ thú dữ không chịu ăn, sợ mình chưa thành bánh. Nỗi sợ ấy lạ lùng với tai người thời nay, vốn quen đo sự thánh thiện bằng việc được bảo toàn, được thành công, được nhiều người theo. Inhaxiô đo sự thánh thiện bằng việc được mất dạng trong Đức Kitô. Hạt lúa còn nhận ra được hình hạt thì chưa phải bánh. Bánh tinh khiết là bánh không còn khoe mình là hạt.
Từ hình ảnh ấy, cả một nền linh đạo mở ra, không chỉ cho người bị đưa vào Đấu trường. Inhaxiô biết không phải ai cũng chết bằng răng sư tử. Nhưng ngài cũng biết mọi Kitô hữu đều được gọi trở thành lúa của Đức Kitô. Có thứ tử đạo đổ máu, và có thứ tử đạo trắng, thứ chết mỗi ngày trong những gì không ai nhìn thấy. Răng thú dữ của thời này ít khi là sư tử. Nhiều khi là sự cô đơn của người giữ điều mình tin giữa một nhà không còn ai giữ. Nhiều khi là cái lưỡi của người thân. Nhiều khi là nỗi sợ mất việc, mất bạn, mất tiếng nói trong cộng đoàn. Nhiều khi là bệnh kéo dài, là con cái bỏ đạo, là giáo xứ lạnh, là chính cái tôi không chịu được nghiền. Hạt lúa nào cũng có một cái răng đang chờ. Câu hỏi không phải là có bị nghiền hay không. Câu hỏi là khi bị nghiền, bột ấy có được dâng lên để thành bánh, hay bột ấy bị đổ đi vì giận, vì chua, vì cho rằng Thiên Chúa bất công khi để răng chạm vào mình.
Giáo Hội mừng ngài không phải để ngưỡng mộ một cái chết spektakulär. Giáo Hội mừng ngài vì cái chết ấy bảo vệ một điều còn sống: Đức Kitô có xương có thịt, bí tích là thịt ấy được trao, cộng đoàn không được tự phân rã, và tình yêu có thể mạnh hơn miệng thú. Lời nguyện của ngày kính nhớ xin Thiên Chúa hằng sống, Đấng trang điểm thân mình Giáo Hội bằng lời tuyên xưng của các thánh tử đạo, ban cho chúng ta điều này: như cuộc thương khó vinh quang của thánh Inhaxiô Antiôkia mang lại cho ngài ánh sáng muôn đời, thì cuộc thương khó ấy cũng trở nên cho chúng ta sự che chở không cùng. Sự che chở ấy không có nghĩa là hết khổ. Sự che chở ấy có nghĩa là khổ không còn vô ích, rằng răng thú không có tiếng nói cuối cùng, rằng bột bị nghiền có thể thành của ăn cho người khác. Một giám mục chết tại Rôma cách đây mười chín thế kỷ vẫn che chở Giáo Hội, không phải bằng phép lạ dễ kiểm chứng, mà bằng việc ngài đã không để cho đức tin bị pha loãng thành một câu chuyện đẹp không cần thập giá.
Đọc ngài hôm nay, giữa một thời mà người ta có thể nói về Đức Kitô rất nhiều mà không cần xương thịt Người, về Giáo Hội rất nhiều mà không cần hiệp nhất, về bí tích rất nhiều mà không cần bàn thờ, người ta thấy các lá thư ấy không cũ. Chúng được viết cho những giáo đoàn đang bị kéo về hai phía: một phía là trở lại với những thực hành cũ đã được hoàn tất trong Đức Kitô, một phía là chạy theo những thầy dạy biến Chúa thành ý tưởng. Inhaxiô giữ cả hai đầu. Ngài không cho phép biến Kitô giáo thành một Do Thái giáo chưa được hoàn tất, cũng không cho phép biến Kitô giáo thành một triết lý về một vị thần không hề đau. Giữa hai mép vực ấy, ngài đặt bàn thờ, đặt giám mục, đặt bánh, đặt xiềng của chính mình. Và ngài nói với Polycarpô một câu còn dùng được cho bất cứ ai đứng giữa đoàn chiên: hãy mang bệnh tật của mọi người. Người mục tử không đứng trên bệnh. Người mục tử mang bệnh. Hạt lúa của chủ chăn cũng phải được nghiền, không phải để chứng minh mình can đảm, mà để đoàn chiên có bánh.
Có một chi tiết nhỏ trong các lá thư đáng được ngồi lại lâu. Inhaxiô nhiều lần xin các giáo đoàn cầu nguyện cho Giáo Hội ở Syria, cho đoàn chiên ngài phải bỏ lại. Người sắp chết không quên người ở lại. Tình yêu tử đạo của ngài không phải thứ tình yêu quay lưng lại với trần gian để lao vào một cuộc hợp hôn riêng với Chúa. Tình yêu ấy vẫn quay lại nhìn Antiôkia, vẫn lo giáo đoàn thiếu chủ chăn, vẫn xin anh em đừng bỏ rơi nhau. Ngọn lửa muốn được thú dữ nuốt không đốt cháy tình phụ tử. Trái lại, chính vì muốn được nghiền thành bánh nên ngài càng muốn bánh ấy nuôi được những miệng còn đói sau khi ngài đi. Một cái chết vị kỷ không viết thư dặn dò. Một cái chết vị kỷ không xin người ta cầu cho đoàn chiên. Inhaxiô chết như người yêu, và người yêu thì trao lại chứ không chiếm đoạt.
Hình ảnh hạt lúa còn một mặt nữa. Hạt bị nghiền không tự mình thành bánh. Phải có nước, phải có lửa, phải có bàn tay nhào, phải có lò. Răng thú chỉ là một chặng. Bí tích mới làm cho bột trở thành Mình Thánh. Inhaxiô biết rõ điều đó khi gọi bí tích là phương dược trường sinh. Đời người có thể bị nghiền bởi đủ thứ răng, nhưng nếu bột ấy không được đưa vào hy lễ của Đức Kitô, nó chỉ là bột đổ. Đau khổ tự nó không thánh hóa. Đau khổ được kết hợp với hạt lúa đã chết trên đồi Sọ mới sinh bông. Vì thế ngài không tôn thờ cái chết. Ngài tôn thờ Đấng đã chết và đã sống lại, và ngài xin được chết trong Người. Khác biệt ấy quyết định tất cả. Người mê tử đạo tìm cảm giác được nghiền. Người yêu Đức Kitô tìm được gặp Người, dù phải qua miệng thú. Inhaxiô thuộc về loại thứ hai. Câu ngài viết cho Rôma đủ chứng: tôi tìm Đấng đã chết vì chúng ta. Tôi muốn Đấng đã sống lại vì chúng ta. Và ngài thêm một lời gần như thì thầm: hãy để tôi được bắt chước cuộc thương khó của Thiên Chúa tôi.
Giáo Hội Đông phương và Giáo Hội Tây phương đều giữ ngài, dù ngày kính có khác nhau trong lịch sử. Các biểu tượng đi cùng ngài là xiềng, là sư tử, là giám mục đứng giữa thú dữ, là trái tim mang thánh danh, là thập giá. Không biểu tượng nào về ngai vàng. Không biểu tượng nào về sách dày. Xiềng và sư tử là đủ. Một đời giám mục được tóm vào hai vật ấy: bị trói, và bị trao. Người ta còn nhớ ngài như bổn mạng của Giáo Hội vùng đông Địa Trung Hải và Bắc Phi, và của những kẻ mắc bệnh cổ họng, có lẽ vì ngài là người đã dùng cổ họng mình để nói những lời cuối không chịu im trước sự chết. Nhưng bổn mạng thật của ngài, nếu được nói theo chính lời ngài, là mọi hạt lúa đang nằm trong cối. Ai đang bị nghiền mà chưa thấy bột mình sẽ đi về đâu, người ấy có thể ngồi với Inhaxiô. Ngài không hứa hết nghiền. Ngài chỉ cho thấy hướng của bột.
Trong kinh nguyện hiệp lễ, Giáo Hội đặt vào miệng mình chính câu của ngài: tôi là lúa mì của Đức Kitô, được răng thú dữ nghiền nát để trở nên bánh tinh khiết. Đọc câu ấy khi vừa rước Mình Thánh là đọc câu ấy như của mình, không phải như của một thánh ở xa. Tôi, một hạt lúa. Tôi cũng được định cho cối xay của đau khổ, để bị nghiền, không chỉ Inhaxiô. Răng nào sẽ nghiền tôi. Bách hại chăng. Bệnh tật chăng. Người khác chăng. Chính tôi chăng. Không quan trọng loại răng. Hạt phải chết, hoặc bị vùi xuống đất để mọc thành cây khác, hoặc bị nghiền để thành bánh. Đó là định mệnh của đời sống Kitô hữu: chết cho chính mình, hoặc đánh mất mình trong việc phục vụ người khác. Hai cách ấy thực ra là một. Phục vụ mà vẫn giữ nguyên hình hạt, vẫn đòi được nhận ra, vẫn đòi công, thì chưa phải bánh. Bánh tinh khiết là bánh không còn tên hạt.
Có thể hôm nay không ai trong chúng ta bị điệu qua biển đến một đấu trường. Có thể xiềng của chúng ta là những lịch làm việc, những nợ nần, những mối quan hệ không lối thoát, những đêm không cầu nguyện được, những sáng không muốn đến nhà thờ. Inhaxiô không khinh những xiềng nhỏ. Ngài gọi chính những người lính ngược đãi mình là trường học. Trường học ấy không cần nổi tiếng mới mở lớp. Mỗi ngày đều có một con báo được giao cho ta, và cách ta đối xử với nó quyết định bột ta sẽ chua hay sẽ dậy men. Ngài còn viết rằng mình chưa được công chính hóa, dù đang đi chịu chết. Câu ấy đáng được khắc. Người sắp đổ máu vẫn thấy mình chưa tới. Sự khiêm nhường ấy giữ ngài khỏi biến tử đạo thành thành tích. Ngài không trình diện với Chúa như người đã xong. Ngài trình diện như hạt còn xin được nghiền cho đủ.
Và rồi, sau tất cả, vẫn là tình yêu. Không có tình yêu, hình ảnh hạt lúa chỉ là khổ dâm thiêng liêng. Inhaxiô không khổ vì yêu khổ. Ngài khổ vì yêu một Ngôi Vị. Ngài gọi Đức Kitô là tình yêu của tôi đã bị đóng đinh. Câu ấy, dù được truyền lại trong dòng chữ của ngài với một sắc thái riêng, nói đúng trọng tâm: tình yêu không còn là cảm xúc bay bổng, tình yêu đã có hình thập giá, và ngài muốn tình yêu của mình cùng một hình ấy. Ai muốn hiểu Inhaxiô mà bỏ qua nỗi say ấy sẽ chỉ còn một giám mục cứng rắn nói về kỷ luật. Ai đọc ngài với nỗi say ấy sẽ thấy kỷ luật là cách tình yêu giữ cho bánh khỏi nát vụn trước khi kịp được trao. Hiệp nhất, vâng phục giám mục, tránh thầy dạy lạ, siêng năng bàn thờ, tất cả đều là cách để tình yêu khỏi bị đánh cắp bởi cái tôi muốn một Đức Kitô dễ hơn.
Hạt lúa của Antiôkia đã bị nghiền. Bánh thì còn đó, trong từng lần Giáo Hội bẻ ra và trao. Mỗi lần ta rước lễ, ta ăn một phần nào đó của cùng một logic: có người đã chịu mất dạng để ta được nuôi. Và khi ra về, ta mang trong mình lời mời trở thành hạt cho người khác. Không cần sư tử. Cần sự đồng ý bị nghiền trong những việc không được ghi tên. Cần sự từ chối giữ nguyên hình. Cần niềm tin rằng bột được trao vào tay Chúa sẽ không bị bỏ đi. Inhaxiô đã tin điều đó đến mức van xin đừng ai cứu mình khỏi miệng thú. Chúng ta, phần đông, không được mời đến mức ấy. Chúng ta được mời đến mức của ngày hôm nay: đừng cứu cái tôi khỏi cái cối mà Chúa đang dùng để làm bánh cho ai đó đang đói gần ta. Nếu điều đó xảy ra, dầu chỉ trong một việc nhỏ không ai thấy, thì câu của giám mục già trên đường đến Rôma đã không già. Nó vừa được nghiền thêm một lần, và bánh lại tinh khiết thêm một chút.
Lm. Anmai, CSsR

ĐƯỢC CHỌN TRƯỚC NỀN MÓNG THẾ GIAN
Trước khi vũ trụ được gọi ra khỏi hư không, trước khi ánh sáng được phân rẽ khỏi bóng tối, trước khi mặt đất khô cạn và biển cả được gom lại, trước khi một hạt bụi nào kịp hiện hữu để làm nên thân xác con người, đã có một sự chọn lựa. Sự chọn lựa ấy không phải là một ý tưởng thoáng qua trong trí một đấng nào đó đang ngắm nhìn khoảng trống, cũng không phải là một tính toán xuất hiện sau khi con người đã sa ngã rồi mới được vá víu lại. Đó là một quyết định của tình yêu đã có từ trước nền móng thế gian, một quyết định trong đó mỗi người được nhìn thấy không phải như một sản phẩm ngẫu nhiên của tiến hóa hay như một con số trong đám đông, mà như một kẻ được muốn, được gọi tên, được định cho sự thánh thiện. Khi người ta đứng trước mầu nhiệm ấy, mọi thứ mà ta quen gọi là quá khứ của mình bỗng trở nên ngắn ngủi đến mức gần như vô nghĩa, bởi vì câu chuyện thật của đời người không bắt đầu từ ngày sinh ra, không bắt đầu từ gia đình, không bắt đầu từ những thất bại hay những thành công đã ghi trong ký ức, mà bắt đầu từ một cái nhìn yêu thương đã có trước cả thời gian. Được chọn trước nền móng thế gian không có nghĩa là bị đóng khung trong một số phận không thể đổi, cũng không có nghĩa là một số người được giữ lại còn những người khác bị loại bỏ từ thuở chưa có gì. Được chọn ở đây là được đặt vào trong Đức Kitô, được muốn nên thánh và không tì ố trước nhan Người, được định cho địa vị làm con chứ không phải làm tôi mọi, được dự phần vào gia sản không phải vì công trạng đã lập mà vì máu đã đổ ra để mua lại những gì tội lỗi đã làm tan vỡ. Thánh thiện mà Thiên Chúa muốn nơi người được chọn không phải là một vẻ bề ngoài sạch sẽ để trưng bày, không phải là một danh tiếng đạo đức để người khác khen, mà là một sự trong sạch phát xuất từ việc được ở trong Đấng Thánh, được tha thứ, được kéo vào mối hiệp thông mà tội đã cắt đứt.
Mọi phúc lành thiêng liêng trên các tầng trời đã được ban trong Đức Kitô, và chữ mọi ở đây không để lại một khoảng trống nào cho sự bủn xỉn. Thiên Chúa không ban một phần rồi giữ lại phần kia để xem con người có xứng đáng hay không. Người không chờ con người chứng minh mình đáng được yêu rồi mới mở kho. Kho đã mở từ trước khi có người đến gõ cửa. Phúc lành ấy không phải là những món quà rời rạc được thả xuống tùy theo mùa, mà là chính sự sống của Con Một được thông ban, là sự thứ tha được đổ tràn, là khôn ngoan để nhận ra ý định của Cha, là sức mạnh để đứng vững khi thế gian chống lại, là niềm hy vọng không đặt nền trên những gì mắt thấy. Người ta thường cầu xin những điều cụ thể và thất vọng khi không nhận được đúng hình thức mình muốn, trong khi điều đã được ban còn lớn hơn mọi lời cầu: được ở trong Đức Kitô, được kể là con, được máu Người rửa sạch, được kéo vào kế hoạch thu tóm mọi sự lại trong Người. Không có phúc lành nào trên trời mà lại ở ngoài Đức Kitô, và cũng không có gì trong Đức Kitô mà lại bị giữ lại không ban cho những kẻ thuộc về Người. Sự sung mãn ấy giải thích vì sao đời sống đức tin không được phép co lại thành một chuỗi nghi lễ giữ cho yên lương tâm. Nếu mọi phúc lành đã được ban, thì sự nghèo nàn thiêng liêng của người tín hữu không đến từ việc Thiên Chúa thiếu, mà đến từ việc người ấy chưa chịu nhận, chưa chịu ở lại, chưa chịu để cho điều đã ban biến đổi cách mình sống, cách mình nhìn anh em, cách mình dùng thời giờ và của cải.
Được tiền định làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô không phải là một danh hiệu được gắn thêm vào bên cạnh những danh hiệu khác của đời người. Đó là căn tính. Người làm con không còn đứng ngoài cửa để xin phần ăn của người làm thuê. Người làm con được vào nhà, được gọi Cha, được dự phần gia sản, được mang lấy nét mặt của Đấng đã sinh ra mình trong ân sủng. Sự nhận làm con ấy diễn ra trong tình yêu, không phải trong một hợp đồng trao đổi. Cha không nhận con vì con có ích, và con không trở thành con vì đã trả được món nợ. Máu của Đức Kitô là giá của sự cứu chuộc, và giá ấy cho thấy tội không phải là một vết bẩn nhẹ có thể phủ qua bằng vài việc lành. Tội đã làm đứt mối hiệp thông, đã đẩy con người ra khỏi nhà, đã biến anh em thành đối thủ, đã khiến tạo thành rên siết. Để kéo tất cả những điều ấy trở lại, cần một sự trao hiến đến cùng, cần một thân thể bị nộp, cần một máu đổ ra không phải như biểu tượng mà như sự sống thật bị thí mạng. Ơn tha tội vì thế không bao giờ là chuyện nhỏ. Người được tha không có quyền coi nhẹ điều đã khiến Con Thiên Chúa phải chết, cũng không có quyền biến sự tha thứ thành một tấm giấy phép để tiếp tục sống như cũ. Ân sủng được đổ tràn trên người được chọn chính là để người ấy ca ngợi vinh quang của ân sủng ấy, nghĩa là đời sống trở thành một lời ngợi khen sống động, không phải bằng môi miệng suông mà bằng việc để cho sự tha thứ sinh hoa trái là sự hòa giải, sự trong sạch, sự quảng đại.
Mầu nhiệm của thánh ý được mặc khải không phải là một bí mật dành cho vài người thông thái, mà là ý định muôn thuở: thu tóm mọi sự lại trong Đức Kitô, cả những gì trên trời lẫn những gì dưới đất. Tội đã làm phân tán. Gia đình rạn nứt, cộng đoàn chia phe, dân tộc chống dân tộc, con người khai thác tạo thành như kẻ thù, và ngay trong lòng mỗi người cũng có những tiếng nói đánh nhau không ngừng. Chương trình của Thiên Chúa không phải là cứu một linh hồn rồi bỏ mặc phần còn lại của thế giới. Chương trình ấy là quy tụ. Mọi sự được đưa về một Đầu. Hội Thánh không phải là một hội những người cùng sở thích, mà là nơi sự quy tụ ấy đã bắt đầu được nhìn thấy, dù còn yếu ớt, dù còn đầy vết thương. Khi người tín hữu từ chối tha thứ, khi giáo xứ trở thành nơi ganh đua, khi lời cầu nguyện không dẫn tới việc sửa lại mối tương quan đã gãy, thì người ấy đang sống ngược lại với điều mình đã được chọn để thực hiện. Được chọn trước nền móng thế gian là được chọn cho sự hiệp nhất ấy, không phải cho một sự thánh thiện cô lập. Người ở một mình mà cho mình là đạo đức, trong khi anh em bị loại ra ngoài bàn tiệc của lòng mình, thì chưa bước vào trong kế hoạch đã được định từ thuở đời đời.
Có một cách từ chối rất tinh vi đối với kế hoạch ấy. Đó là xây mồ cho các ngôn sứ đã chết trong khi vẫn tiếp tay để giết các ngôn sứ đang sống. Người ta trân trọng những gì đã qua, dựng bia, kể chuyện, tổ chức lễ nhớ, và đồng thời bịt tai trước lời đang chất vấn hôm nay. Các ngôn sứ ngày xưa bị ném đá vì đã nói điều dân không muốn nghe. Đến đời sau, con cháu dựng mộ cho họ và tự nhủ rằng nếu mình sống thời ấy thì đã không làm như cha ông. Nhưng chính lúc tự biện hộ như vậy, họ đang chứng tỏ mình thuộc về dòng dõi những kẻ giết ngôn sứ, vì họ cũng đang chối từ Đấng đến sau các ngôn sứ, Đấng mà các ngôn sứ đã chỉ về. Sự thông thái có thể trở thành then cửa. Người nắm chìa khóa của sự hiểu biết không vào, và còn ngăn những người muốn vào. Lời Chúa bị biến thành đối tượng tranh luận, thành kho câu để bắt bẻ, thành hàng rào để bảo vệ địa vị, thay vì thành đường để đi tới Cha. Sự nguy hiểm này không chỉ thuộc về một nhóm người ở một thời xa. Bất cứ khi nào thập giá được treo cho đẹp trên tường mà không được vác trong đời sống, bất cứ khi nào ảnh tượng được phủ hoa trong khi người nghèo bị bước qua, bất cứ khi nào kinh được đọc nhiều mà lòng vẫn khép trước người mình không ưa, thì mồ các ngôn sứ lại đang được xây. Tôn kính người chết thì dễ, vì người chết không còn chất vấn. Đi theo Đấng đang sống thì khó, vì Người vẫn nói những điều làm đảo lộn thói quen, vẫn đòi sự thật trong tương quan, vẫn không cho phép dùng đạo để che sự cứng lòng.
Thánh Ignatiô Antiôkia đã hiểu điều ấy không phải bằng suy luận mà bằng cả một đời bị kéo về phía Đức Kitô. Là giám mục, là người đã nghe các tông đồ, là kẻ bị xiềng giải đi giữa những người lính như giữa những con báo, ngài không xin được cứu khỏi cái chết đang chờ ở Rôma. Ngài xin đừng ai ngăn cản mình được nghiền ra như lúa mì để trở thành bánh tinh tuyền của Thiên Chúa. Hình ảnh ấy không phải là một lối nói cho hay. Đó là cách ngài hiểu bí tích mình vẫn cử hành. Bánh được bẻ ra vì đã được nghiền. Rượu được đổ vì nho đã bị ép. Người môn đệ không thể muốn hiệp lễ mà lại từ chối được nghiền. Ignatiô gọi bí tích ấy là thuốc trường sinh, là phương thuốc chống lại sự chết, không phải vì nó làm cho người ta khỏi phải chết ở đời này, mà vì nó đưa cái chết vào trong sự chết của Đức Kitô để sự chết không còn là tiếng nói cuối. Ngài sợ một điều hơn là sợ thú dữ: sợ rằng khi đã tới nơi chịu chết mà lòng vẫn còn dính vào thế gian, vẫn còn muốn được nể, vẫn còn tính toán để giữ mạng theo kiểu loài người. Vì thế ngài viết như người đang chạy về phía điều mình đã được chọn từ trước khi có thành Antiôkia, từ trước khi có đế quốc, từ trước khi có bất cứ vinh quang nào mắt người đời có thể thấy. Sự lựa chọn của ngài làm lộ ra sự lựa chọn của Thiên Chúa. Được tiền định nên thánh không dẫn tới một cuộc đời được bảo vệ khỏi mọi đau, mà dẫn tới một cuộc đời trong đó đau đớn có thể trở thành chỗ ở lại của tình yêu, nếu người ta không giật mình rút lui.
Đời thường là nơi câu trả lời ấy được viết, chứ không phải chỉ ở giờ tử đạo. Người cha người mẹ thức đêm vì con bệnh, người làm việc trung thực khi không ai kiểm tra, người chịu hiểu lầm mà không trả đũa, người dám nói sự thật trong cộng đoàn dù biết mình sẽ bị ghét, người trở lại với bí tích sau những năm tháng bỏ đi, tất cả đều là những cách để hạt lúa chịu nghiền. Không cần tìm một sân khấu lớn. Kế hoạch có từ trước nền móng thế gian được thực hiện trong những việc nhỏ đến mức người ngoài không thấy, miễn là những việc ấy được làm trong Đức Kitô chứ không phải để xây cho mình một cái mồ đẹp. Thánh lễ mỗi ngày, hoặc mỗi tuần, không phải là một cử chỉ nhớ ơn suông. Đó là nơi Giáo Hội để mình được kéo vào sự trao hiến đã hoàn tất một lần và vẫn đang thông ban. Ai rước lấy bánh đã bẻ mà vẫn giữ nguyên sự chia rẽ trong lòng, người ấy chưa để cho thuốc trường sinh làm việc. Ai ra về mà không mang lấy chút gì của sự quy tụ, người ấy đã dự một nghi thức chứ chưa bước vào mầu nhiệm thánh ý.
Ca ngợi ân sủng là cùng đích được nêu ra khi nói về việc chọn lựa và việc nhận làm con. Không phải để con người biến mất, mà để con người tìm lại được chỗ đứng đúng của mình: một thụ tạo được yêu đến mức được gọi là con, một tội nhân được máu mua lại, một phần của tạo thành đang được thu tóm. Lời ngợi khen chân thật không cần đợi khi mọi sự đã ổn. Chính giữa những gì còn tan vỡ, người được chọn vẫn có thể nhìn nhận rằng mình không tự cứu được mình, rằng kế hoạch không do mình vẽ, rằng máu đã đổ không vô ích. Sự nhìn nhận ấy đổi cách người ta đối xử với thời gian còn lại. Không còn sống như kẻ phải tự chứng minh để được Thiên Chúa đoái hoài. Sống như kẻ đã được đoái hoài từ trước khi có mình, và vì thế phải để cho đời mình trở thành dấu chỉ cho người khác thấy họ cũng được muốn. Lòng thương xót không bị bủn xỉn ở nơi người đã hiểu mình được chọn như thế nào. Người ấy không xây hàng rào quanh phần phúc của mình. Người ấy mở cửa, vì chính mình đã được mở cửa lúc chưa kịp gõ.
Sự từ chối vẫn có thể xảy ra, và Tin Mừng không giấu điều đó. Có những người nghe mà tìm cách bắt bẻ, có những người thấy dấu lạ mà càng cứng lòng, có những người giữ chìa khóa mà không vào. Tự do ấy là thật. Được chọn không xóa mất khả năng nói không. Nhưng nói không không làm cho kế hoạch của Thiên Chúa trở thành sai. Kế hoạch vẫn là thu tóm mọi sự trong Đức Kitô, và những ai nói không thì tự đặt mình ra ngoài niềm vui của sự quy tụ, chứ không làm hỏng được tình yêu đã muốn họ từ trước. Vì thế mà lời mời gọi không bao giờ là một lời đe dọa suông. Đó là lời của Đấng đã trả giá bằng máu, vẫn đứng đó, vẫn muốn kẻ được chọn nên thánh, vẫn không rút lại điều đã định trước nền móng thế gian. Mỗi ngày là một lần có thể bước vào lại. Mỗi lần tha thứ cho anh em là một lần để cho sự phân tán được kéo về. Mỗi lần rước Mình Thánh là một lần để cho hạt lúa chấp nhận bị nghiền. Mỗi lần từ bỏ việc xây mồ cho một đức tin đã chết để vác lấy điều Tin Mừng đang đòi hôm nay, là một lần ca ngợi ân sủng bằng chính đời sống.
Tất cả bắt đầu từ một cái nhìn có trước cả vũ trụ, và tất cả sẽ kết thúc trong sự quy tụ mà cái nhìn ấy đã muốn. Ở giữa hai đầu ấy là một đời người rất ngắn, đủ ngắn để không được phép phí, đủ thật để có thể nói có hoặc nói không. Nói có không hệ tại ở cảm xúc mạnh trong một buổi cầu nguyện. Nói có hệ tại ở việc để cho mình được ở trong Đức Kitô khi không ai vỗ tay, ở việc trở thành bánh chứ không chỉ ăn bánh, ở việc nhận anh em như kẻ cùng được chọn chứ không như kẻ cạnh tranh phần phúc. Trước nền móng thế gian, tên mỗi người đã ở trong ý muốn ấy. Phần còn lại của đời sống là trả lời, bằng một sự thánh thiện không phô trương, bằng một lòng thương xót không tính toán, bằng một sự hiệp nhất không dừng ở lời nói, cho đến khi mọi sự, cả những gì đã gãy, được thu lại trong Đấng đã muốn như thế từ thuở đời đời.
Lm. Anmai, CSsR

HIỆP NHẤT LÀ HƠI THỞ CỦA GIÁO HỘI: MỘT THÂN THỂ, MỘT BÀN TIỆC, MỘT ĐỨC TIN GIỮA MUÔN TIẾNG NÓI
Giáo Hội không được dựng nên để trở thành một đám đông những người cùng tin một vài ý tưởng đẹp, rồi mỗi người giữ cho mình một góc riêng, một cách hiểu riêng, một lối sống riêng, miễn sao vẫn còn gọi được tên Chúa. Giáo Hội được sinh ra từ cạnh sườn bị đâm thâu, từ máu và nước, từ lời thở cuối cùng trên thập giá và từ hơi thở của Đấng Phục Sinh thổi vào những kẻ đang sợ hãi sau cánh cửa đóng kín. Vì thế, ngay từ buổi đầu, sự hiệp nhất không phải là một món trang sức thêm vào cho đức tin, cũng không phải là kết quả của một thỏa hiệp khéo léo giữa các phe nhóm. Hiệp nhất là chính sự sống. Ai tách mình khỏi thân thể thì không còn ở trong dòng máu ấy. Ai coi thường sự hiệp thông thì dù miệng vẫn đọc kinh, lòng vẫn có thể đã bước ra ngoài ngưỡng cửa. Điều này không làm cho Giáo Hội trở thành một tập thể khép kín, lạnh lùng, chỉ biết giữ hàng ngũ. Trái lại, chính vì được gọi để nên một, Giáo Hội mới có thể mở ra cho thế giới một dung mạo thương xót, chứ không phải một mớ tiếng nói tranh nhau. Khi các chi thể nhìn nhau như anh em cùng một bánh, cùng một chén, cùng một mục tử, thì lời chứng của họ mới có sức làm cho người ngoài phải dừng lại mà hỏi: những người ấy yêu nhau bằng tình nào mà giữa thế gian đầy chia rẽ vẫn còn đứng được bên nhau.
Đức tin không sống một mình. Đức tin mở mắt để nhận ra Chúa đã đến trong xác phàm, đã thật sự chịu đau, thật sự chết, thật sự sống lại, chứ không phải chỉ hiện ra như một bóng mờ để dạy vài bài học luân lý. Tình yêu thì cầm lấy đức tin ấy và đưa nó đi đến cùng. Không có đức tin, tình yêu dễ trở thành cảm xúc nông, dễ tan khi gặp thử thách. Không có tình yêu, đức tin dễ trở thành một hệ thống câu chữ đúng mà lòng thì khô. Người môn đệ được nhận ra không phải lúc họ nói hay về Thiên Chúa, mà lúc đời sống của họ không phản lại điều miệng họ tuyên xưng. Có những người im lặng mà cả nhà vẫn cảm được mùi của Tin Mừng, vì cách họ tha thứ, cách họ nâng một người yếu, cách họ không tham dự vào lời đàm tiếu, đã nói thay cho mọi bài giảng. Có những người nói rất nhiều về Chúa mà người nghe chỉ thấy cái tôi của họ lớn dần sau mỗi câu. Sự im lặng của một đời sống sạch sẽ đôi khi giảng mạnh hơn mọi luận chiến. Và sự nói năng, khi đã được thanh luyện trong cầu nguyện, lại trở thành lời làm cho kẻ mệt mỏi được sống. Cả hai đều cần, miễn là cùng phát xuất từ một Đấng đang ngự trong lòng như trong đền thờ.
Giữa cộng đoàn, mục tử không phải là một chức danh để người ta tranh, cũng không phải một tấm khiên để ai đó núp sau mà tránh trách nhiệm. Mục tử là dấu chỉ hữu hình của sự hiệp thông. Khi cộng đoàn quy tụ quanh người đã được trao tác vụ coi sóc, không phải vì người ấy thánh hơn mọi người, mà vì Chúa đã muốn rằng đoàn chiên không đi mỗi người một hướng. Vâng phục ở đây không phải là tắt lý trí, cũng không phải là sợ.hãi. Vâng phục là nhận ra rằng ý Chúa thường đến qua một trật tự mà chính Ngài đã đặt, để tình yêu khỏi bị xé bởi sở thích riêng. Một cộng đoàn trong đó mỗi người đều tự phong mình làm thầy, đều cho rằng chỉ mình nghe được Thánh Thần, chẳng bao lâu sẽ không còn là cộng đoàn. Họ sẽ có nhiều cuộc họp, nhiều bản văn, nhiều lý lẽ, nhưng không còn một bánh. Ngược lại, nơi nào giám mục, linh mục, và dân được Chúa quy tụ biết nhìn nhau trong đức ái, nơi ấy lời cầu nguyện có sức nặng, vì không phải là tiếng của một cá nhân đang xin cho việc của mình, mà là tiếng của một thân thể đang thưa với Đầu. Người chống lại sự hiệp thông ấy, dù viện dẫn đủ thứ nhiệt thành, thường đang nuôi một thứ kiêu ngạo rất khó gọi tên: họ muốn Giáo Hội đi theo nhịp của họ, chứ không muốn chính họ bước theo nhịp của Thân Thể.
Sự hiệp nhất ấy có một hình ảnh rất gần với đời sống: như những dây đàn được lên đúng thế thì mới thành một bản nhạc, chứ không phải mỗi dây tự kêu một điệu rồi bảo đó là tự do. Tự do của người Kitô hữu không phải là quyền được tách khỏi anh em. Tự do ấy là được giải thoát khỏi cái tôi để có thể hòa vào một lời ngợi khen duy nhất dâng lên Chúa Cha, nhờ Chúa Con, trong Chúa Thánh Thần. Ai tự ý đứng ngoài bàn thờ, ai coi việc quy tụ chỉ là chuyện tùy nghi, người ấy không chỉ vắng một buổi lễ. Họ đang dần mất đi tấm bánh mà chỉ có cộng đoàn mới bẻ ra được. Lời cầu của một mình giữa rừng vẫn quý, nhưng lời cầu của Giáo Hội đang tụ họp mới là lời cầu mà Chúa đã hứa hiện diện cách đặc biệt. Hai hoặc ba người họp lại nhân danh Ngài đã có sức mạnh; huống chi cả một đoàn dân cùng một đức tin, cùng một mục tử, cùng một lòng thống hối và tạ ơn. Kẻ nào khinh thường sự tụ họp ấy vì cho rằng mình đã đủ đạo đức để không cần anh em, kẻ ấy đang để lòng kiêu ngạo mọc rễ. Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo không phải vì Ngài hẹp hòi, mà vì kiêu ngạo là cánh cửa mà mọi sự chia rẽ đều bước vào.
Có những lời dạy thoạt nghe rất ngọt, rất gần với Tin Mừng, nhưng bên trong đã rút mất xác phàm của Chúa, rút mất thập giá, rút mất sự thật rằng Ngôi Lời đã trở nên người thật, đã đói, đã mệt, đã chảy máu. Những lời ấy thường không vào bằng cửa chính. Chúng đến như những khách lạ lịch sự, mang theo vài câu đúng để người nghe hạ lòng cảnh giác, rồi mới gieo sự nghi ngờ vào mầu nhiệm nhập thể, vào Hội Thánh, vào các bí tích. Chúng bảo rằng xác thịt là thấp, rằng đau khổ chỉ là vẻ ngoài, rằng ai đã giác ngộ thì không cần bàn tiệc, không cần mục tử, không cần anh em. Người môn đệ phải biết chạy xa những lối ấy, không phải vì sợ đối thoại, mà vì đã có một Thầy thuốc duy nhất. Thầy thuốc ấy vừa là Thiên Chúa vừa là người, vừa chữa lành bằng lời vừa chữa lành bằng chính máu mình. Ai để cho một thứ đạo lý khác thay thế Thầy thuốc ấy, người ấy không được tự do hơn. Họ chỉ đổi một vết thương được băng lại bằng thập giá để lấy một vết thương được phủ bằng những câu nói hay. Giáo Hội không giữ đạo lý vì muốn thắng một cuộc tranh luận. Giáo Hội giữ đạo lý vì đạo lý ấy là chính sự sống đã được trao, và làm hỏng sự sống ấy là đẩy các linh hồn vào chỗ không còn bánh trường sinh.
Người tin không phải là những viên đá nằm rải. Họ là những viên đá đang được đặt vào một ngôi nhà. Nền nhà ấy không phải là tài năng của bất kỳ ai. Nền nhà ấy là Đức Kitô, và dụng cụ xây nên là thập giá, là Thánh Thần, là đức tin đã được tình yêu làm cho nóng. Mỗi lần một người từ chối sự hận thù, mỗi lần một gia đình chịu đựng nhau để không gãy, mỗi lần một giáo xứ chọn ở lại với nhau dù bất đồng, một viên đá lại được đặt đúng chỗ. Ngôi nhà ấy không xây xong trong một đời. Nhưng ai đã thuộc về ngôi nhà thì không còn sống như kẻ không nhà. Họ biết mình được mang đi, được nâng lên, không phải bởi sức riêng, mà bởi Đấng đã đi trước trên con đường thập giá. Vì thế, lời khen thật dành cho một cộng đoàn không phải là họ đông, họ giàu, họ tổ chức giỏi. Lời khen thật là họ không để cho sự dạy dỗ lạ làm lệch nhịp yêu thương của họ, và họ vẫn còn muốn nên một.
Cầu nguyện cho kẻ khác ăn năn không phải là một việc làm khi rảnh. Đó là hơi thở của người đã hiểu rằng mình cũng từng được thương xót trước. Ai chỉ cầu cho phe mình mạnh, cho kẻ đối nghịch bị bẻ gãy, người ấy chưa bước vào nhịp của Tin Mừng. Chúa đã chịu oan mà không mở miệng nguyền rủa. Người môn đệ được mời đáp lại sự dữ bằng sự hiền lành, không phải vì yếu, mà vì không muốn trở thành đất cho hạt giống của kẻ thù mọc lên. Hiền lành không có nghĩa là im trước sự thật. Hiền lành là nói sự thật mà không cần hủy diệt người nghe. Khiêm nhượng không phải là tự chê mình cho có lệ. Khiêm nhượng là biết mình không phải nguồn của ân sủng, nên không dám đứng trên anh em như người chủ. Giữa một thời mà ai cũng muốn được thấy, được khen, được công nhận, đời sống ấy trở thành một lời giảng thầm lặng. Xác và hồn cùng được giữ trong sự thánh, không phải bởi sợ tội cách bệnh hoạn, mà bởi biết rằng cả hai đều đã được máu Chúa chuộc, nên không được đem một phần nào nộp lại cho sự dữ.
Thời sau hết không phải là một ngày được ghi trên lịch để người ta hoảng sợ rồi thôi. Thời sau hết là mọi thời mà lòng người phải chọn: hoặc kính sợ Đấng đã kiên nhẫn rất lâu, hoặc coi thường ân sủng cho đến khi ân sủng không còn là đường sống. Sự sống thật không nằm ở chỗ kéo dài tuổi, cũng không nằm ở chỗ được nhiều người theo. Sự sống thật là được ở trong Đức Kitô. Vì thế, những ràng buộc bên ngoài, những thiệt thòi, những tiếng xấu, những chuỗi ngày không ai hiểu, có thể trở thành đồ trang sức của linh hồn nếu chúng được mang vì Ngài. Không phải ai khổ cũng là chứng nhân. Chỉ ai khổ mà không đánh mất đức ái mới làm cho khổ đau ấy thành lời chứng. Người ta có thể mất chức, mất danh, mất sự dễ chịu, mà vẫn còn nguyên người môn đệ. Và người ta cũng có thể giữ đủ mọi thứ mà đã đánh mất điều duy nhất làm cho đời có hướng.
Quy tụ thường xuyên không phải là một luật để kiểm tra lòng đạo. Quy tụ là cách Giáo Hội phá quyền của sự chia rẽ. Kẻ thù của linh hồn không luôn cần kéo người ta vào tội nặng. Hắn chỉ cần làm cho người ta quen với việc vắng mặt, quen với việc tin một mình, xét đoán một mình, sống một mình. Mỗi lần cộng đoàn tạ ơn chung, một mắt xích của sự cô lập bị gãy. Bình an trong nhà thờ không phải là cảm giác êm sau một bài hát. Bình an ấy là dấu rằng cuộc chiến giữa các phe trong lòng đang được đặt xuống dưới một bánh duy nhất. Nơi nào người ta còn muốn gặp nhau để nghe Lời và bẻ bánh, nơi ấy chiến tranh ở trên trời và dưới đất đều mất chỗ đứng, dù bên ngoài vẫn còn sóng gió. Bỏ quy tụ lâu ngày, người ta sẽ vẫn còn vài thói quen đạo đức, nhưng dần dần không còn cảm được nhịp của thân thể. Họ sẽ giải thích mọi sự theo nỗi buồn riêng, theo vết thương riêng, và cuối cùng tưởng rằng Giáo Hội đã bỏ họ, trong khi chính họ đã quen đứng ngoài cửa.
Đức tin là bước đầu. Tình yêu là đích. Không ai nhảy tới đích mà không có bước đầu, và không ai dừng ở bước đầu mà bảo rằng mình đã tới. Người ta nhận ra cây có khỏe không nhờ nó tự kể về rễ của mình, mà nhờ quả. Cũng vậy, người ta nhận ra một Kitô hữu không nhờ danh xưng họ tự nhận, mà nhờ những gì đời sống ấy sinh ra khi không có khán giả. Lời nói vẫn cần, vì đức tin phải được tuyên xưng. Nhưng lời nói không được nuôi bằng sự thật của việc làm thì chỉ là tiếng động. Có một Đấng dạy dỗ mà sự im lặng của Ngài còn nặng hơn mọi bài diễn văn: im lặng trước tòa án, im lặng trên đường vác gỗ, im lặng khi người ta đóng đinh. Bắt chước sự im lặng ấy không phải là câm. Bắt chước là không nói những gì làm rách anh em, và dám nói những gì bảo vệ sự hiệp thông, dù nói xong mình phải trả giá. Ai sống như đền thờ của Thiên Chúa thì không biến lòng mình thành chỗ họp chợ. Mọi việc họ làm, từ việc lớn đến việc nhỏ, đều có một Đấng đang ở trong, nên họ không dám sống hai mặt quá lâu.
Làm hư một đức tin không chỉ là sai một câu giáo lý trong sách. Làm hư đức tin là kéo cả một nhà, cả một nhóm, ra khỏi thập giá để vào một thứ tin tưởng dễ chịu hơn, không còn đòi hỏi xác phàm phải theo Chúa, không còn đòi hỏi phải ở lại với anh em khó tính. Tội ấy nặng không phải vì Giáo Hội thích kết án. Tội ấy nặng vì nó đụng đến chính Đấng đã bị đóng đinh. Ai phá bàn tiệc, ai dạy người khác khinh thường mục tử để theo mình, ai biến Tin Mừng thành một món hàng cho cái tôi, người ấy không chỉ sai. Họ đang lấy đi của các linh hồn thứ thuốc trường sinh. Hình phạt đời đời không phải là một câu dọa cho trẻ em. Đó là tên của một trạng thái trong đó người ta đã cố tình ở lại ngoài tình yêu cho đến cùng, và cửa ấy do chính họ đóng. Vì thế, sự cảnh giác với đạo lý lạ không phát xuất từ hẹp hòi. Nó phát xuất từ việc đã nếm bánh sự sống, nên không muốn bất kỳ ai bị đưa vào chỗ đói.
Dầu của Chúa đổ trên Giáo Hội không phải để Giáo Hội thơm theo kiểu trần gian. Dầu ấy là hương của sự bất tử, là dấu rằng cái chết không còn tiếng nói cuối. Ai để cho tinh thần của thế gian dạy lại mình về vinh quang, về thành công, về việc phải được mọi người thích, người ấy đang đổi dầu ấy lấy một thứ hương mau tan. Họ sẽ có chiến lược, có ảnh hưởng, có lời khen, mà không còn nhận ra hồng ân đang ở giữa họ: Ngôi Lời đã đến, đã ở lại, đã trao chính mình. Sự khôn ngoan không biết đón hồng ân ấy sẽ dẫn tới chỗ hư mất cách rất thông minh. Người môn đệ được mời điên dại theo thập giá hơn là khôn theo thế gian, vì chỉ thập giá mới mở được con đường mà sự khôn ngoan kia không thấy.
Thập giá là vấp ngã cho ai chỉ muốn một Thiên Chúa không bị thương. Thập giá là sự sống đời đời cho ai dám nhìn vào đó và nhận ra tình yêu đã đi đến cùng. Mầu nhiệm không dừng ở một ý tưởng. Mầu nhiệm đi qua lòng một người nữ, qua quyền năng của Thánh Thần, qua một trẻ thơ thật, qua dòng nước của sông Giođan, qua những năm tháng ẩn dật, qua con đường lên núi sọ. Nước được thánh hóa không phải vì nước tự mình sạch, mà vì Đấng bước xuống nước đã muốn dùng những gì tầm thường để đem lại sự sống. Cũng vậy, bánh và rượu trên bàn thờ không còn chỉ là của ăn nuôi thân xác một lúc. Chúng trở thành của ăn nuôi sự bất tử, thuốc giải độc cho sự chết, khi Hội Thánh cử hành đúng điều Chúa đã trao. Ai tách bí tích khỏi cộng đoàn, ai tách cộng đoàn khỏi mục tử, ai tách mục tử khỏi Đức Kitô, người ấy có thể vẫn còn giữ vài nghi thức, nhưng đã làm mất mạch sống.
Có những điều kẻ thù của linh hồn không thấy cho đến khi đã muộn: một người nữ còn đồng trinh mà sinh con, một cái chết bị coi là thất bại lại trở thành cửa của sự sống, một vì sao dẫn những kẻ tìm kiếm đến máng cỏ chứ không đến cung điện. Khi những điều ấy tỏ lộ, ma thuật của sự tự cứu, sự ngu dốt cho rằng Thiên Chúa không thể đến gần xác phàm, và chính cái chết như một ông chủ, đều mất ngôi. Thế giới không hết đau một sớm một chiều. Nhưng hướng của lịch sử đã đổi. Ai bước vào hướng ấy thì không còn sống như kẻ không có ngày mai. Họ vẫn phải làm việc, vẫn phải chịu oan, vẫn phải chờ, nhưng họ chờ trong một niềm hy vọng không do họ tự tạo.
Sự hiệp nhất để bẻ một bánh không phải là khẩu hiệu. Đó là cách người tin tuyên xưng rằng chỉ có một thân thể, một của ăn, một sự sống. Ngồi cùng bàn với người mình không ưa, vẫn còn là một hành vi đức tin, miễn là người ta không giả vờ yêu. Vâng lời trong những gì thuộc về sự hiệp thông không hạ phẩm giá ai. Nó nâng mọi người khỏi cảnh mỗi người là một giáo hội thu nhỏ. Rồi một ngày, khi phải giải thích rõ hơn về đức tin, về tình yêu, về cuộc khổ nạn và về sự sống lại, cộng đoàn đã được luyện trong sự hiệp nhất ấy sẽ không nói như những cá nhân đang bảo vệ ý kiến. Họ sẽ nói như những người đã cùng ăn một bánh, nên không thể phản lại nhau mà vẫn gọi là một.
Lời cuối của một đời tín trung thường không phải là một bài tổng kết vẻ vang. Lời cuối ấy là một lời trao phó: xin anh em nhớ đến tôi, xin anh em cầu cho đoàn chiên còn ở lại, xin anh em đừng để những gì tôi đã yêu bị xé ra sau khi tôi đi. Người bị xiềng vì danh Chúa không xin được thoát bằng mọi giá. Họ xin được nên lời chứng cho đến cùng, để Thiên Chúa được tôn vinh chứ không phải để tên mình được nhắc. Giáo Hội lớn lên không chỉ nhờ những người giảng hay. Giáo Hội lớn lên nhờ những người chịu trói mà vẫn cầu cho kẻ bắt mình, vẫn lo cho đoàn chiên, vẫn tin rằng máu mình, nếu phải đổ, sẽ không vô ích. Trong mọi thời, vẫn cần những tâm hồn như thế, không phải để lập một hàng ngũ anh hùng, mà để các chi thể yếu hơn còn thấy được rằng Tin Mừng đáng để người ta mất tất cả.
Vì thế, hãy ở lại trong sự hiệp nhất. Hãy trọng mục tử như người coi sóc hộ Chúa, không phải vì người ấy không thể sai trong những việc thường, mà vì tác vụ ấy là quà Chúa ban để đoàn chiên khỏi tan. Hãy chạy xa những lời dạy làm mất xác phàm của Ngôi Lời và làm mất bàn tiệc. Hãy cầu cho kẻ thù được trở lại hơn là cầu cho họ bị khuất. Hãy họp nhau thường xuyên, vì mỗi lần họp nhau là một lần sự dữ mất đất. Hãy để đức tin mở đường và tình yêu đi cho đến cùng. Hãy sống sao cho sự im lặng cũng là một lời tuyên xưng, và lời nói không bao giờ phản lại việc làm. Hãy nhận lấy thập giá như sự sống, chứ không như một tai nạn cần được giải thích cho hết vấp ngã. Hãy đến với một bánh duy nhất như người bệnh đến với thuốc. Và nếu một ngày phải mang xiềng, dù xiềng ấy là tiếng xấu, là sự cô đơn, là bệnh tật, là sự bị hiểu lầm trong chính nhà mình, thì hãy mang như người đang được trang sức bằng chính những gì thế gian gọi là thua. Giáo Hội không cần thêm những người đúng một mình. Giáo Hội cần những chi thể còn muốn nên một, cho đến khi mọi tiếng được hòa vào một lời ngợi khen duy nhất, và không còn sự chết nào đứng nổi giữa tình yêu ấy.
Lm. Anmai, CSsR

Previous articleBẢN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO THỨ BẢY, NGÀY 17 THÁNG 10 NĂM 2026 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp