KHI MỘT LINH MỤC RA ĐI GIỮA THÁNH LỄ: XIN CHO NGƯỜI Ở LẠI BIẾT SỐNG VỚI NHAU BẰNG MỘT TRÁI TIM HIỀN HẬU HƠN Lm. Anmai, CSsR
Có những tin buồn khiến người ta đọc xong rồi cứ ngồi yên. Không biết nói gì. Những công việc đang làm bỗng trở nên xa xôi trong giây lát. Một người vừa còn hiện diện, vừa còn cất tiếng, vậy mà đã ra đi. Điều khiến lòng người nặng xuống không hẳn là những chi tiết của biến cố, nhưng là cảm giác rất thật rằng đời sống con người mong manh quá. Chúng ta vẫn biết mình sẽ chết, vẫn đi dự những đám tang, vẫn đọc kinh cầu cho người đã khuất. Thế nhưng, mỗi khi cái chết bất ngờ chạm đến một người đang sống giữa công việc thường ngày, chúng ta lại bàng hoàng như vừa nhận ra điều ấy lần đầu.
Ngày 17 tháng 10 năm 2026, cha Patricio Alfredo Sánchez Molinari qua đời sau khi bị một cây thánh giá rơi trúng lúc đang cử hành Thánh lễ tại giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Guayaquil, Ecuador. Biến cố xảy ra trong một Thánh lễ được phát trực tuyến, khiến nỗi đau của cộng đoàn nhanh chóng được nhiều người biết đến.
Trước một sự ra đi như thế, điều đầu tiên chúng ta có thể làm là dành cho người đã mất một khoảng lặng tử tế. Một con người vừa kết thúc cuộc đời trần thế. Một cộng đoàn vừa mất vị linh mục đang cùng mình cầu nguyện. Những người thân quen của ngài đang phải đón nhận điều mà không ai có thể chuẩn bị đầy đủ. Bất cứ suy nghĩ nào của chúng ta, dù có vẻ đạo đức đến đâu, cũng cần bắt đầu từ sự thật rất đơn sơ ấy: ở đó có những người đang đau.
Khi đứng ở xa một biến cố, người ta dễ nói. Dễ nhận xét, dễ giải thích, dễ tìm một câu thật gọn để khép lại mọi chuyện. Nhưng đối với người có liên hệ với người đã khuất, nỗi đau không khép lại sau một dòng tin. Nó đi vào căn phòng quen thuộc, vào giờ ăn, vào một số điện thoại còn lưu trong máy. Nó xuất hiện khi người ta chợt muốn hỏi một điều rồi nhớ ra rằng sẽ không còn nhận được câu trả lời. Nó ở trong một công việc dang dở mà người quá cố từng đảm nhận, trong một cuộc hẹn chưa đến ngày, trong lời thưa gửi đã thành thói quen.
Một người ngoài cuộc có thể xem xong một đoạn hình ảnh rồi chuyển sang chuyện khác. Người thân của người đã khuất thì phải sống tiếp với sự vắng mặt ấy. Vì thế, lòng thương xót đôi khi bắt đầu bằng việc chúng ta chịu dừng lại trước khi nói. Dừng một chút để nhớ rằng phía sau cái tên đang được nhắc đến là một đời người, và phía sau đời người ấy là những mối dây tình nghĩa mà mình không biết hết.
Cái chết của một linh mục giữa Thánh lễ còn để lại một sự hụt hẫng rất riêng. Người giáo dân quen thấy linh mục đứng ở bàn thờ. Họ quen nghe tiếng ngài đọc lời nguyện, quen gặp ngài ở tòa giải tội, quen nhờ ngài đến bên giường bệnh của người thân. Trong những giờ phút gia đình bối rối nhất, người ta thường tìm đến linh mục để xin một lời cầu nguyện. Bởi vậy, khi chính vị linh mục ấy bất ngờ ra đi, cộng đoàn có thể cảm thấy chỗ dựa quen thuộc của mình vừa bị lấy mất.
Sự hụt hẫng ấy nhắc chúng ta nhìn lại con người thật của người mục tử. Linh mục có chức vụ, có trách nhiệm, có những điều phải thực hiện vì ơn gọi đã lãnh nhận; đồng thời ngài cũng có thân xác biết mệt, có giới hạn, có những lo âu mà người khác không thấy. Khi bước lên bàn thờ, ngài không bước ra khỏi thân phận con người. Ngài vẫn cần được gìn giữ, được giúp đỡ, được anh em sửa dạy và được cộng đoàn cầu nguyện.
Có khi vì quá quen với sự hiện diện của linh mục, chúng ta quên mất điều ấy. Chúng ta nghĩ ngài lúc nào cũng có thể đến, lúc nào cũng sẵn sàng nghe, lúc nào cũng đủ sức giải quyết. Một cuộc điện thoại giữa đêm, một lời nhờ vào phút cuối, một yêu cầu vượt quá khả năng của một người: tất cả đều có thể được đưa ra với suy nghĩ rằng đó là bổn phận của cha. Dĩ nhiên, người linh mục được gọi để phục vụ. Nhưng cộng đoàn trưởng thành trong đức tin cũng biết chăm sóc người đang phục vụ mình.
Chăm sóc ấy không nhất thiết phải là một việc lớn. Có thể là cùng gánh một công việc giáo xứ để linh mục có thời gian nghỉ ngơi và cầu nguyện. Có thể là góp ý thẳng thắn, đúng lúc, thay vì để bất mãn lan ra qua những cuộc trò chuyện phía sau. Có thể là nhận ra ngài đang mệt và đừng làm nặng thêm bằng một đòi hỏi chưa cần thiết. Cũng có thể chỉ là một lời hỏi thăm không kèm theo điều gì muốn xin.
Chúng ta thường nói nhiều lời đẹp trong ngày tiễn biệt. Điều đó đáng quý, vì lòng biết ơn cần được bày tỏ. Nhưng sẽ đáng quý hơn nữa nếu một phần những lời ấy được nói khi người kia còn có thể nghe. Một linh mục còn sống cũng cần biết rằng sự tận tụy của mình được đón nhận. Một người cha, người mẹ, một nữ tu, một người âm thầm phục vụ cũng vậy. Có những lời cảm ơn chúng ta cứ để dành, như thể thời gian của người mình thương là vô hạn.
Thử hình dung một người giáo dân nhiều năm được cha xứ giúp đỡ. Khi gia đình có chuyện, cha đến. Khi người thân đau yếu, cha thăm. Khi người ấy nguội lạnh, cha kiên nhẫn nhắc nhở. Vì mọi chuyện đã trở nên quen thuộc, người ấy chưa bao giờ nói một lời cảm ơn cho đàng hoàng. Đến khi cha chuyển đi hoặc qua đời, người ấy mới nhớ ra mình đã nhận nhiều hơn điều mình từng nhìn thấy. Cảm giác tiếc nuối ấy rất người. Nhưng chúng ta có thể làm một việc để bớt phải sống trong tiếc nuối: biết ơn sớm hơn.
Cái chết bất ngờ cũng khiến ta xét lại cách mình sử dụng hai chữ “để rồi”. Để rồi rảnh sẽ về thăm. Để rồi nguôi giận sẽ nói chuyện. Để rồi xong công việc sẽ đi xưng tội. Để rồi có điều kiện sẽ sống đàng hoàng hơn. Chúng ta không hẳn có ý từ chối điều tốt. Nhiều khi chỉ là trì hoãn. Nhưng những việc bị trì hoãn lâu ngày có thể trở thành những việc không bao giờ xảy ra.
Một người con có thể thật lòng thương mẹ mà nhiều tháng chưa gọi được một cuộc điện thoại tử tế. Một người chồng có thể biết mình đã làm vợ tổn thương mà vẫn chờ người kia mở lời trước. Hai anh em có thể đều mong được hòa thuận, nhưng mỗi người lại giữ thể diện của mình như giữ một tài sản quý. Ngày tháng trôi qua trong sự chờ đợi ấy. Đến khi một biến cố xảy đến, người ta mới thấy điều mình bảo vệ bấy lâu chẳng đủ an ủi cho một cuộc chia lìa.
Vì vậy, nhớ đến cái chết không nhất thiết làm đời sống u ám. Nếu nhớ cho đúng, chúng ta sẽ sống bớt khắc nghiệt. Ta hiểu rằng người trước mặt cũng đang có một quãng đời hữu hạn như mình. Họ có thể sai, có thể làm ta phiền lòng, nhưng họ sẽ không ở đây mãi để ta còn cơ hội nói lại một câu cho dịu hơn. Điều ấy không buộc ta bỏ qua mọi sai trái. Nó giúp ta giải quyết sai trái mà vẫn giữ được lòng kính trọng đối với một con người.
Trong gia đình, biết bao đau khổ kéo dài vì người ta muốn thắng nhau trong từng lời nói. Một chuyện nhỏ có thể bị nhắc đi nhắc lại suốt nhiều năm. Một lỗi lầm đã được xin tha vẫn được đem ra mỗi lần cãi vã. Người ta ở chung nhà nhưng luôn phải đề phòng câu nói tiếp theo của nhau. Nếu có lúc chịu nghĩ đến ngày một người sẽ vắng mặt, có lẽ ta sẽ ngừng lại trước khi nói thêm một câu làm đau.
Điều đáng sợ là có những gia đình chỉ được nghe lời dịu dàng nhất của nhau vào lúc đã không thể đáp lại. Người còn sống đứng bên người đã mất, nói những lời mà nếu được nói sớm hơn, cả hai đã bớt khổ. Bởi vậy, mỗi lần đi dự tang lễ, ngoài lời cầu cho người quá cố, chúng ta cũng có thể mang về một quyết định cụ thể: hôm nay sẽ gọi cho người mình đã bỏ quên; hôm nay sẽ xin lỗi về điều mình biết rõ là sai; hôm nay sẽ ngồi nghe người thân nói hết một câu.
Đời sống thay đổi bằng những quyết định có ngày giờ như thế. Những xúc động rất lớn vẫn có thể qua đi mà không để lại điều gì nếu chúng ta không làm một việc nhỏ cho đến nơi đến chốn.
Đối với người Kitô hữu, chuẩn bị cho cái chết còn là chăm sóc tương quan với Thiên Chúa. Có người nghĩ việc này chỉ dành cho người già hoặc người bệnh nặng. Nhưng con người có thể sống nhiều năm mà vẫn mang một gánh nặng trong lòng: một tội chưa muốn thú nhận, một điều gian dối chưa muốn sửa, một mối thù chưa muốn buông. Bề ngoài vẫn sinh hoạt bình thường, bên trong lại luôn tránh một cuộc gặp gỡ thật với Chúa.
Bí tích Hòa giải là nơi người ấy có thể trở về. Không cần chờ đến khi mình đã sửa xong mọi chuyện mới đến. Người ta đến với Chúa cùng với sự yếu đuối của mình, thật lòng nhận lỗi và sẵn sàng bắt đầu lại. Có những bước sửa đổi phải làm dần; có những hậu quả cần thời gian để khắc phục. Nhưng sự thành thật có thể bắt đầu ngay hôm nay. Ta ngừng tự bào chữa, ngừng gọi điều sai bằng một tên nhẹ hơn, và để Chúa bước vào nơi mình lâu nay cứ đóng kín.
Một đời sống được chuẩn bị như thế sẽ bớt lệ thuộc vào hoàn cảnh của giây phút cuối cùng. Chúng ta không biết mình sẽ chết ở đâu, khi nào, trong tình trạng nào. Điều có thể thực hiện là tập sống mỗi ngày trong ân nghĩa Chúa, tập yêu người gần mình, tập chu toàn bổn phận mà không cố ý giữ lại một vùng tối cho riêng mình. Sự sẵn sàng lớn lên qua những ngày bình thường.
Với người linh mục, điều ấy cũng rất thật. Công việc mục vụ có thể nhiều đến mức người ta luôn ở gần những điều thánh nhưng lại thiếu thời gian thinh lặng với Chúa. Soạn một chương trình cho người khác có khi dễ hơn ngồi lại xét lòng mình. Khuyên người khác tha thứ có khi dễ hơn xin lỗi một người anh em. Giảng về cầu nguyện có khi dễ hơn bảo vệ một khoảng giờ cầu nguyện giữa lịch làm việc chật kín. Những khó khăn ấy cần được nhìn nhận cách chân thành để ơn gọi tiếp tục được nuôi dưỡng từ bên trong.
Người linh mục không cần phải giả vờ mình không yếu đuối. Ngài cần trung thành đem sự yếu đuối ấy đến với Chúa và biết tìm sự nâng đỡ cần thiết. Một cộng đoàn cũng không nên đòi hỏi nơi linh mục hình ảnh của một người không bao giờ mệt, không bao giờ buồn, không bao giờ cần ai giúp. Khi người mục tử và giáo dân biết nhìn nhau trong sự thật, đời sống giáo xứ sẽ có thêm chỗ cho lòng kiên nhẫn.
Sự ra đi của một linh mục còn có thể khiến chúng ta quý hơn mỗi Thánh lễ mình được tham dự. Có những Chúa nhật, ta đến nhà thờ với tâm trạng vội vàng. Chưa bắt đầu đã nghĩ bao giờ xong. Tai vẫn nghe lời cầu nguyện, nhưng đầu óc đã ở nơi khác. Điều ấy có thể xảy ra với bất cứ ai. Tuy nhiên, một lúc nào đó, ta cần dừng lại để hỏi: tôi đang mang gì đến cuộc gặp gỡ này? Tôi có để Chúa chạm đến đời sống thật của mình không?
Trong Thánh lễ, mỗi người hiện diện với một câu chuyện mà người ngồi bên cạnh không biết. Có người vừa nhận kết quả khám bệnh. Có người lo cho đứa con đang xa nhà. Có người còn tiền trong túi nhưng đã hết sức chịu đựng trong lòng. Có người đến với một niềm vui không biết chia sẻ cùng ai. Cộng đoàn quy tụ trước Chúa với tất cả những điều ấy. Khi ý thức điều đó, ta sẽ bớt nhìn Thánh lễ như một việc phải hoàn thành và biết dành lòng mình cho việc cầu nguyện.
Một lời đáp đọc có ý thức, một khoảng lặng được giữ thật sự, một lần rước lễ với lòng cung kính có thể giúp ta sống ngày hôm ấy khác đi. Sự khác biệt cần được nhận ra cả ngoài cửa nhà thờ: bớt gắt gỏng với người phục vụ, bớt gian dối trong công việc, biết giữ lời với người nghèo, biết nhường một chút thuận lợi cho người đang khó khăn. Đời sống Thánh Thể đi vào những chuyện rất cụ thể như vậy.
Nếu sau giờ lễ, ta vẫn làm nhục người khác chỉ vì một điều trái ý, vẫn cố tình giữ tiền không thuộc về mình, vẫn xem thường người yếu thế, thì ta còn nhiều điều phải để Chúa sửa. Điều đáng hy vọng là Chúa vẫn cho ta cơ hội trở lại. Mỗi Thánh lễ có thể là một lần ta bớt cứng lòng hơn, miễn là ta không chỉ hiện diện bằng thân xác.
Trước cái chết của cha Patricio, chúng ta cũng cần cẩn trọng trong cách tưởng nhớ ngài. Một người không thể bị thu gọn vào hoàn cảnh ra đi của mình. Giây phút cuối cùng rất dễ thu hút sự chú ý, nhất là khi có hình ảnh được truyền đi. Nhưng cuộc đời một con người dài hơn nhiều so với giây phút ấy. Có những công việc đã làm, những tương quan đã sống, những lần cố gắng chỉ Thiên Chúa biết rõ.
Chúng ta không cần thêm thắt những điều mình không biết để bày tỏ lòng thương mến. Không cần tự dựng nên tâm trạng cuối cùng của người quá cố, không cần đặt vào miệng ngài những lời ngài chưa nói. Lòng kính trọng đủ chân thành sẽ biết giữ giới hạn ấy. Ta có thể cầu nguyện cho ngài, biết ơn những điều tốt lành đã được xác nhận, và phó thác phần còn lại cho lòng thương xót của Chúa.
Cũng vì thế, sự ra đi của một linh mục là lời mời cầu nguyện, chứ không phải dịp để chúng ta vội vàng xác định tình trạng linh hồn của ngài. Người đã lãnh nhận chức thánh vẫn cần lòng thương xót như mọi người. Cầu cho linh mục đã qua đời là một cử chỉ yêu thương rất sâu của cộng đoàn. Khi còn sống, ngài dâng lễ cầu cho bao người; khi ngài ra đi, cộng đoàn tiếp tục dâng lời cầu cho ngài. Tình hiệp thông ấy không chấm dứt ở nghĩa trang.
Có người ngại cầu cho người mình kính trọng vì tưởng rằng làm như vậy là chưa đủ tin vào sự thánh thiện của họ. Nhưng lời cầu nguyện cho người đã khuất chính là cách chúng ta trao người ấy cho Thiên Chúa. Ta không cần nắm chắc điều vượt quá khả năng của mình. Ta tin vào lòng nhân hậu của Chúa và khiêm tốn xin Người hoàn tất nơi người quá cố điều còn cần được thanh luyện.
Đối với những người đang chịu tang, sự nâng đỡ cũng cần tiếp tục sau khi những lời chia buồn ban đầu đã thưa dần. Những ngày đầu, thường có nhiều người đến. Công việc tang lễ khiến gia đình luôn phải lo liệu. Sau đó, khi khách đã về, sự vắng mặt mới hiện ra trong nhịp sống hằng ngày. Một chỗ ngồi trống. Một giờ quen không còn người về. Một đồ vật nhỏ chưa biết nên cất đi hay giữ lại. Chính những lúc ấy, người đang đau buồn cần có ai đó nhớ đến mình.
Chúng ta có thể nghĩ rằng phải nói được một lời thật hay mới nên đến thăm. Thực ra, nhiều khi một sự hiện diện bình tĩnh đã đủ quý. Ngồi nghe người ấy kể lại một kỷ niệm, chấp nhận việc họ lặp đi lặp lại một câu chuyện, giúp một việc đang làm họ quá sức. Đừng vội giục họ mạnh mẽ. Đừng lấy nhịp sống của mình làm thước đo thời gian chịu tang của người khác.
Có người khóc nhiều. Có người không khóc được. Có người vẫn đi làm, vẫn nói chuyện bình thường nhưng khi về nhà lại rơi vào sự trống trải. Không phải ai cũng biểu lộ nỗi buồn giống nhau. Lòng thương cần đủ kiên nhẫn để không buộc người đau khổ phải diễn đạt theo cách mình mong đợi.
Trong đời sống đức tin cũng thế. Một người đang tang chế có thể cầu nguyện rất khó. Những lời kinh trước đây quen thuộc bỗng trở nên xa lạ. Họ đến nhà thờ mà không cảm thấy được an ủi. Họ muốn tin, nhưng trong lòng đầy câu hỏi. Lúc ấy, cộng đoàn có thể cầu nguyện cùng họ, nâng đỡ họ bằng sự hiện diện, để họ không phải mang thêm mặc cảm rằng mình đang đau buồn “không đúng cách”.
Chúa biết lòng người sâu hơn những gì chúng ta nhìn thấy. Một người vẫn tìm đến Người giữa khô khan đã có thể đang làm một việc rất can đảm. Đôi khi lời cầu nguyện chỉ còn là ngồi yên và thưa: “Lạy Chúa, hôm nay con không biết nói gì.” Sự thành thật ấy có chỗ trong tương quan với Thiên Chúa.
Từ nỗi đau của người khác, chúng ta còn có thể học cách sử dụng lời nói của mình cẩn thận hơn. Trên mạng, một biến cố dễ trở thành đề tài để người ta chứng tỏ sự nhanh trí. Người bình luận không nhìn thấy đôi mắt của người đang chịu tang nên quên rằng câu chữ của mình có thể đến đúng nơi ấy. Khoảng cách của màn hình làm ta bớt nhận ra hậu quả, nhưng không làm hậu quả biến mất.
Trước khi đăng một lời về người đã khuất, có lẽ nên tự hỏi: nếu người thân của tôi đang nằm đó, tôi có chịu nổi cách nói này không? Nếu câu trả lời là không, ta đã biết mình cần làm gì. Tôn trọng một người đã mất không đòi ta phải cùng quan điểm, cùng tôn giáo hay cùng lối sống với họ. Đó là cách nhìn nhận phẩm giá con người.
Việc chia sẻ hình ảnh cũng cần lòng tế nhị. Không phải điều gì có thể xem thì đều cần xem lại; không phải điều gì có thể gửi thì đều nên gửi. Có những hình ảnh càng lan truyền càng khiến người ở lại khó được bình an. Ta có thể biết một biến cố đã xảy ra mà vẫn giữ cho mình và người khác một khoảng cách cần thiết trước giây phút đau đớn của nạn nhân.
Sự tử tế ấy không làm chúng ta kém hiểu biết. Nó giúp ta giữ được lương tâm khi tiếp nhận thông tin. Một người biết nhiều chuyện nhưng dần mất khả năng thương cảm sẽ trở nên nghèo đi ở một chỗ rất sâu. Ngược lại, có người không nói nhiều về biến cố, chỉ âm thầm đọc một lời kinh và tránh làm người khác đau thêm. Việc nhỏ ấy đã là một đóng góp tốt lành.
Đối với cộng đoàn giáo xứ, lòng yêu thương cũng cần được thể hiện qua việc chăm sóc những điều kiện cụ thể để mọi người được an toàn. Nhà thờ là nơi cầu nguyện và cũng là nơi con người quy tụ bằng thân xác thật, với người già, trẻ nhỏ, người khuyết tật. Những vật dụng được sử dụng, những chỗ treo đặt, hệ thống điện, lối đi đều cần được người có chuyên môn quan tâm. Chúng ta chưa biết đầy đủ nguyên nhân kỹ thuật của một tai nạn thì không nên vội quy trách nhiệm cho ai. Nhưng bổn phận gìn giữ sự an toàn của cộng đoàn luôn có đó.
Nhiều việc âm thầm trong giáo xứ vì thế rất đáng được quý trọng. Người kiểm tra một ổ điện, sửa một bậc thềm, giữ lối đi thông thoáng hoặc báo lại một chỗ có dấu hiệu hư hỏng đang phục vụ sự sống của anh chị em mình. Công việc ấy ít khi được nhắc đến trong những bài diễn văn, nhưng cần được thực hiện đều đặn. Lòng đạo đức có thể được diễn tả bằng sự chu đáo rất thực tế.
Khi biết chăm sóc những gì trước mắt, chúng ta cũng bớt bị cuốn vào mong muốn giải thích tất cả. Có những câu hỏi về thân phận con người sẽ còn ở lại với ta rất lâu. Ta không buộc phải giải quyết xong mọi câu hỏi ấy mới có thể làm điều tốt. Trong lúc chưa hiểu hết, ta vẫn có thể đến thăm một người buồn, giúp một gia đình khó khăn, sửa một điều bất cẩn, xin lỗi về một lời xúc phạm.
Đó là cách đức tin tiếp tục sống giữa những điều chưa sáng tỏ. Người tin Chúa cũng có thể bối rối và sợ hãi. Nhưng giữa bối rối, họ còn một nơi để hướng lòng về, còn một lý do để không khép lòng trước nỗi đau của người khác. Niềm hy vọng ấy có thể rất lặng. Nó không làm nước mắt ngừng ngay, nhưng giúp người ta có sức đi qua một ngày, rồi thêm một ngày nữa.
Khi cầu cho cha Patricio, chúng ta có thể mang theo cả những người đang nhớ thương ngài. Xin cho họ có người đồng hành trong những ngày sắp tới. Xin cho những ký ức về ngài không chỉ gắn với biến cố cuối đời, nhưng dần được trả về với tất cả những gì làm nên một con người. Xin cho cộng đoàn có đủ thời gian để đau buồn, đủ sự nâng đỡ để tiếp tục quy tụ, và đủ bình an để bước vào nhà thờ với lòng tín thác.
Rồi cũng xin cho chúng ta biết nhìn lại người đang sống bên mình. Có người thân lâu nay ta chỉ gặp bằng sự nóng nảy. Có một người phục vụ ta đã quen coi là đương nhiên. Có một người anh em đang cần được hỏi thăm mà ta cứ nghĩ ngày mai cũng được. Sau khi đọc một tin buồn, điều còn lại có thể là một cuộc điện thoại được thực hiện, một lời xin lỗi được nói ra, một việc bác ái được làm kín đáo. Như thế, nỗi đau ta chứng kiến đã khiến một phần đời sống của ta trở nên có trách nhiệm hơn.
Không ai trong chúng ta có thể bảo đảm rằng ngày cuối cùng của mình sẽ diễn ra thanh thản theo ý muốn. Nhưng hôm nay vẫn còn trong tay ta với những bổn phận rất rõ. Người cần được thương đang ở đó. Điều sai cần sửa vẫn đang chờ. Lời cầu nguyện có thể bắt đầu ngay trong căn phòng này. Một cuộc trở về với Chúa không cần được báo trước bằng một biến cố lớn; nó có thể khởi đầu từ lúc ta thôi trì hoãn điều mình biết là phải làm.
Lạy Chúa, chúng con xin phó dâng cha Patricio trong lòng thương xót của Chúa. Những điều chúng con biết về ngài còn ít ỏi, còn Chúa đã biết trọn cuộc đời ngài. Xin đón nhận những cố gắng phục vụ, tha thứ những yếu đuối và ban cho ngài sự bình an trong Chúa. Xin thương những người thân, những anh em và cộng đoàn đang chịu mất mát. Khi lời an ủi của con người chưa chạm tới nỗi đau của họ, xin cho họ cảm nhận được sự gần gũi của Chúa qua một người biết lắng nghe, một bàn tay nâng đỡ, một sự hiện diện bền lòng.
Xin cũng nhớ đến các linh mục đang phục vụ trong âm thầm. Có những người đã mệt mà vẫn cố gắng chu toàn bổn phận; có những người đang cô đơn, đang bệnh, đang mang những gánh nặng khó nói thành lời. Xin cho họ tìm được nơi Chúa sức sống của ơn gọi và tìm được nơi anh em sự trợ giúp cần thiết. Xin dạy cộng đoàn chúng con biết cầu nguyện cho các ngài khi các ngài còn sống, biết góp ý với lòng ngay thẳng, biết cộng tác bằng tinh thần trách nhiệm và biết nói lời cảm ơn khi còn có thể.
Lạy Chúa, chúng con còn có hôm nay. Xin đừng để chúng con dùng hết hôm nay vào sự hơn thua rồi lại hẹn tình yêu sang một ngày khác. Xin giúp chúng con làm cho xong một việc tốt đang dang dở, mở lời với một người đang xa cách, và trở về với Chúa bằng lòng thành thật. Để tối nay, khi đặt lưng xuống nghỉ, chúng con có thể bình an vì đã bớt làm đau một người, đã biết đón nhận một ơn lành và đã không bỏ phí cơ hội yêu thương Chúa trao.
Lm. Anmai, CSsR
