Tìm hiểu Tin Mừng theo thánh Mátthêu : PHỤC SINH VÀ SỨ VỤ CỦA GIÁO DÂN – Lm. Anmai, CSsR
TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO NGÀY 3 THÁNG 10 Lm. Anmai, CSsR tổng hợp
Thứ Bảy Tuần 26 Mùa TN TÊN ANH CHỊ ĐÃ ĐƯỢC GHI TRÊN TRỜI – Lm. Anmai, CSsR
Thứ 7 tuần 26 TN ĐƯỢC CHÚA BIẾT TÊN NIỀM VUI LỚN HƠN MỌI THÀNH CÔNG – Lm. Anmai, CSsR
LỜI NGUYỆN THEO TIN MỪNG Lc 10,17–24
Lạy Chúa Giêsu, chúng con cảm tạ Chúa vì đã gọi chúng con làm môn đệ và cho chúng con được cộng tác vào công trình loan báo Tin Mừng. Giữa những thành công và thất bại của cuộc sống, xin dạy chúng con tìm được niềm vui sâu xa vì được Chúa yêu thương, được thuộc về Chúa và được hy vọng hưởng sự sống đời đời. Xin đừng để chúng con say mê lời khen, tự hào về khả năng của mình hoặc lấy những thành quả bên ngoài làm thước đo giá trị của người môn đệ. Khi làm được điều tốt, xin cho chúng con biết tạ ơn; khi gặp khó khăn, xin cho chúng con vẫn trung thành và phó thác.
Lạy Chúa, Chúa đã vui mừng trong Thánh Thần và ngợi khen Chúa Cha vì Người mặc khải mầu nhiệm Nước Trời cho những người bé mọn. Xin ban cho chúng con một tâm hồn khiêm nhường, biết lắng nghe Lời Chúa, đón nhận sự hướng dẫn và nhận ra những giới hạn của bản thân. Xin giúp chúng con dùng hiểu biết để phục vụ, dùng khả năng để nâng đỡ, dùng lời nói để gieo bình an. Xin giải thoát chúng con khỏi lòng kiêu căng, sự ganh tị và thói quen xét đoán, để chúng con biết kính trọng những người âm thầm, yếu đuối và ít được quan tâm.
Xin Thánh Thần soi sáng và củng cố chúng con trong cuộc chiến chống lại tội lỗi. Giữa những cám dỗ và thử thách, xin cho chúng con bền lòng cầu nguyện, biết tránh dịp tội và can đảm chọn điều đẹp ý Chúa. Xin mở mắt chúng con nhận ra Chúa hiện diện trong Lời Chúa, trong Bí tích Thánh Thể và nơi những anh chị em đang cần được yêu thương. Xin mở tai chúng con nghe được tiếng Chúa giữa những ồn ào của đời sống. Ước gì mỗi ngày, chúng con sống xứng đáng với hồng ân được biết Chúa, và trở nên chứng nhân khiêm tốn của niềm vui cứu độ. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
Ca nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa đã tác tạo mọi sự cho chúng tôi hưởng dùng, Chúa đã xét xử công bình. Vì chúng tôi đã phạm tội và không tuân giữ các giới răn Chúa; nhưng xin Chúa hãy ban cho ban cho danh Chúa được vinh hiển, và xin hãy đối xử với chúng tôi theo lượng từ bi của Chúa.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, khi Chúa thương xót và tha thứ, chính là lúc Chúa biểu lộ quyền năng cách tỏ tường hơn cả; xin không ngừng ban ơn giúp chúng con đạt tới Nước Trời là hạnh phúc Chúa đã hứa ban mà chúng con đang hết lòng theo đuổi, chúng con cầu xin…
Bài Ðọc I: G 42, 1-3. 5-6. 12-16
“Giờ đây mắt con nhìn thấy Chúa. Bởi đó chính con trách thân con”.
Trích sách ông Gióp.
Ông Gióp thưa lại cùng Chúa rằng: “Con biết Chúa làm nên mọi sự, và không một tư tưởng nào giấu được Chúa. Ai là kẻ mê muội che khuất được ý định của Chúa? Vì thế, con nói bậy về những điều vượt quá sự thông biết của con. Trước kia con nghe tiếng Chúa, còn giờ đây mắt con nhìn thấy Chúa. Bởi đó, chính con trách thân con, và ăn năn sám hối trong bụi tro”.
Sau này Chúa giáng phúc cho ông Gióp nhiều hơn lúc ban đầu. Ông có mười bốn ngàn con chiên, sáu ngàn lạc đà, một ngàn đôi bò và một ngàn lừa cái. Ông còn sinh được bảy trai ba gái. Người con gái thứ nhất ông đặt tên là Nhật, người thứ hai tên Hương, và người thứ ba tên Bình. Trong khắp nước, không tìm thấy thiếu nữ nào xinh đẹp như các con gái của ông Gióp. Thân phụ của các cô cũng chia phần gia tài cho các cô như những anh em trai. Sau đó, ông Gióp còn sống được một trăm bốn mươi năm nữa, và nhìn thấy con cháu đến bốn đời. Khi cao niên đầy tuổi, ông đã qua đời.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 118, 66. 71. 75. 91. 125. 130
Ðáp: Lạy Chúa, xin tỏ cho tôi tớ Chúa thấy long nhan hiền hậu (c. 135a).
Xướng: Xin Chúa dạy con sự thông minh và lương tri, vì con tin cậy vào các chỉ thị của Ngài.
Xướng: Con bị khổ nhục, đó là điều tốt, để cho con học biết thánh chỉ của Ngài.
Xướng: Lạy Chúa, con biết sắc dụ Ngài công minh, và Ngài có lý mà bắt con phải khổ.
Xướng: Theo chỉ dụ Chúa mà vũ trụ luôn luôn tồn tại, vì hết thảy vạn vật đều phải phục vụ Ngài.
Xướng: Con là tôi tớ Chúa, xin Chúa dạy dỗ con, để con hiểu biết những lời Ngài nghiêm huấn.
Xướng: Sự mạc khải lời Ngài soi sáng và dạy bảo những người chưa kinh nghiệm.
Alleluia: Tv 118, 34
Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, xin giáo huấn con, để con tuân cứ luật pháp của Chúa và để con hết lòng vâng theo luật đó. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 10, 17-24
“Các con hãy vui mừng vì tên các con đã được ghi trên trời”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, bảy mươi hai ông trở về vui mừng và nói rằng: “Thưa Thầy, nhân danh Thầy thì cả ma quỷ cũng vâng phục chúng con”. Người bảo: “Ta đã thấy Satan từ trời sa xuống như luồng chớp. Này Ta đã ban cho các con quyền giày đạp rắn rết, bọ cạp, mọi quyền phép của kẻ thù, và không có gì có thể làm hại được các con. Dù vậy, các con chớ vui mừng vì các thần phải vâng phục các con; nhưng hãy vui mừng vì tên các con đã được ghi trên trời”. Lúc đó, Chúa Giêsu đầy hoan lạc trong Chúa Thánh Thần, Người nói: “Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xưng tụng Cha, vì Cha đã giấu không cho những người thông thái khôn ngoan biết những điều này, nhưng đã tỏ cho những kẻ đơn sơ. Vâng, lạy Cha, đó là ý Cha đã muốn thế. – Cha Ta đã trao cho Ta mọi sự. Không ai biết Chúa Con là ai, ngoài Chúa Cha; cũng không ai biết Chúa Cha là Ðấng nào, ngoài Chúa Con, và những người được Chúa Con muốn tỏ cho biết”. Rồi Chúa Giêsu quay lại phía các môn đệ và phán: “Hạnh phúc cho những con mắt được xem những điều các con xem thấy, vì chưng, Thầy bảo các con: Có nhiều tiên tri và vua chúa đã muốn xem những điều các con thấy, mà chẳng được xem, muốn nghe những điều các con nghe, mà đã chẳng được nghe”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, chúng con dâng những lễ vật này, xin Chúa vui lòng chấp nhận, và mở cho chúng con nguồn mạch mọi ơn phúc. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Lạy Chúa, đối với tôi tớ Chúa, xin nhớ lại lời Chúa, vì Chúa đã cho tôi hy vọng vào lời Chúa, đó là điều an ủi tôi trong lúc tôi khốn khổ.
Hoặc đọc:
Do điều này mà chúng ta đã biết tình yêu của Thiên Chúa, là chính Người đã thí mạng sống mình vì chúng ta, nên chúng ta cũng phải thí mạng sống mình vì anh em.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, trong thánh lễ này, chúng con đã chung phần đau khổ với Ðức Kitô Con Một Chúa; xin Chúa thương đổi mới xác hồn chúng con, để chúng con được hưởng vinh quang với Người. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.
NIỀM VUI KHÔNG AI CÓ THỂ LẤY MẤT
Có những ngày chúng ta trở về nhà với một lòng đầy phấn khởi. Một công việc hoàn thành tốt đẹp, một dự định được thực hiện, một người được giúp đỡ, một cuộc gặp gỡ đem lại kết quả ngoài mong đợi, một lời cảm ơn đến đúng lúc khiến bao mệt nhọc dường như tan biến. Chúng ta cảm thấy những cố gắng của mình có ý nghĩa, những hy sinh của mình được nhìn nhận, những tháng ngày âm thầm cuối cùng cũng sinh hoa trái. Nhưng cũng có những ngày chúng ta trở về với đôi vai nặng trĩu. Công việc không như mong muốn, người mình tận tình nâng đỡ lại quay lưng, lời chân thành bị hiểu lầm, những điều đã chuẩn bị rất kỹ vẫn không thành công. Cùng một con người ấy, cùng một trái tim ấy, cùng một ước muốn sống tốt ấy, mà hôm qua còn vui tươi, hôm nay đã chán nản; sáng còn mạnh mẽ, chiều đã thấy mình vô dụng. Điều gì làm cho niềm vui của chúng ta mong manh đến thế? Phải chăng chúng ta đang treo cả giá trị đời mình lên những điều không hoàn toàn thuộc quyền mình quyết định? Phải chăng chúng ta chỉ cho phép mình được vui khi mọi sự diễn ra đúng ý, khi người khác công nhận, khi công việc có kết quả, khi cuộc đời đáp lại mình bằng một sự thuận lợi nào đó? Và nếu những điều ấy không đến, chẳng lẽ đời mình không còn gì đáng quý, lòng mình không còn một nơi để nghỉ ngơi, đức tin mình không còn một lý do để tiếp tục?
Người sống đức tin cũng không đứng ngoài những dao động ấy. Chúng ta có thể đem chính những thước đo của cuộc đời vào trong việc đạo mà không nhận ra. Chúng ta vui khi nhóm mình đông người, buồn khi số người tham dự giảm xuống; phấn khởi khi việc phục vụ được khen, hụt hẫng khi chẳng ai nhắc đến; cảm thấy gần Chúa khi cầu nguyện sốt sắng, rồi tưởng Chúa đã xa khi tâm hồn khô khan. Có người sau một thời gian nhiệt tình trong giáo xứ bắt đầu mỏi mệt vì nhận thấy tên mình không được ghi trong lời cảm ơn. Có người làm một việc bác ái rất đẹp nhưng lại bị tổn thương sâu sắc vì người nhận không thể hiện lòng biết ơn như mình mong đợi. Có người dạy giáo lý nhiều năm, hết lòng với các em, nhưng khi thấy một vài em rời xa đời sống đạo thì nghĩ rằng mọi công sức của mình đã thất bại. Có cha mẹ đã dành cả tuổi trẻ để chăm sóc và giáo dục con, rồi khi con bước vào một giai đoạn bướng bỉnh, nghi ngờ, chống đối, liền thấy mình không còn là người cha, người mẹ tốt nữa. Nỗi đau ấy có thật, và cần được cảm thông. Tuy nhiên, chính trong những hoàn cảnh ấy, chúng ta cần trở lại với câu hỏi nền tảng: đời tôi được xây trên điều gì? Trên kết quả tôi nhìn thấy, trên đánh giá của người khác, hay trên tình yêu của Thiên Chúa đang nâng đỡ tôi cả khi những điều bên ngoài chưa sáng rõ?
Một đứa trẻ trong gia đình không chỉ cần được khen khi đạt điểm cao. Nó cần biết rằng khi điểm thấp, khi làm sai, khi khóc vì thua cuộc, nó vẫn có thể trở về và được đón nhận. Nếu mỗi lần thành công mới được yêu thương, mỗi lần thất bại lại bị lạnh nhạt, đứa trẻ ấy sẽ lớn lên với một nỗi sợ âm thầm: mình phải luôn giỏi, luôn ngoan, luôn làm hài lòng người khác thì mới xứng đáng được ở lại. Nỗi sợ đó không biến mất khi người ta trưởng thành. Nó có thể đi theo một người suốt đời, biến thành nhu cầu phải chứng minh bản thân, phải được chú ý, phải luôn có ích, phải luôn đứng vững trước mặt mọi người dù bên trong đã kiệt sức. Và đôi khi, chúng ta mang chính nỗi sợ ấy vào tương quan với Chúa. Chúng ta tưởng mình phải thật hoàn hảo mới được cầu nguyện, phải lập được nhiều công trạng mới được gần Người, phải chiến thắng mọi yếu đuối mới có quyền hy vọng. Nhưng người con đến với cha mình đâu chỉ để báo cáo thành tích. Người con còn đến để nói rằng mình đang mệt, đang sợ, đang lạc đường, đang cần một vòng tay. Đời sống cầu nguyện bắt đầu sâu hơn khi chúng ta thôi đóng vai một người luôn ổn và dám đứng trước Chúa với tất cả sự thật của mình.
Điều ấy không làm giảm giá trị của nỗ lực. Người được yêu thương vẫn phải lớn lên, vẫn phải học sống có trách nhiệm, vẫn phải sửa sai và chu toàn bổn phận. Nhưng có một khác biệt rất lớn giữa việc cố gắng vì biết mình được yêu và việc cố gắng vì sợ mình bị bỏ rơi. Người cố gắng vì được yêu có thể làm việc hết lòng mà vẫn biết nghỉ ngơi; có thể nhìn nhận một giới hạn mà không tự khinh miệt; có thể nhận một lời góp ý mà không thấy toàn bộ con người mình bị phủ nhận. Người cố gắng vì sợ bị bỏ rơi thường không biết dừng. Họ dễ xem một sai sót là bản án, một lời phê bình là sự từ chối, một kết quả chưa tốt là bằng chứng rằng mình không đáng được yêu. Trong đời sống thiêng liêng, chúng ta cần để Chúa chữa lành chính nơi sâu kín ấy. Có thể chúng ta đã biết rất nhiều điều về đạo, đã thuộc nhiều kinh, đã tham dự nhiều sinh hoạt, nhưng vẫn chưa thật sự để lòng mình được nghỉ ngơi trong tình yêu của Người. Chúng ta vẫn đứng trước Chúa như người làm thuê lo lắng về tiền công, trong khi Người đang mời chúng ta sống tư cách của người con.
Niềm vui sâu xa không nhất thiết làm cho khuôn mặt lúc nào cũng tươi cười. Có người mang trong lòng một niềm tin rất vững mà vẫn khóc nhiều vì đau bệnh, vì mất người thân, vì những đổ vỡ trong gia đình. Có người vẫn trung thành với Chúa nhưng từng đêm phải đối diện với sự cô đơn và những câu hỏi chưa tìm được lời giải. Không nên đặt lên họ thêm một gánh nặng bằng cách đòi họ phải luôn vui vẻ để chứng minh đức tin. Có những giọt nước mắt rất thật trong đời sống của người tín hữu, và những giọt nước mắt ấy vẫn có thể chảy trong một tâm hồn biết mình không bị bỏ rơi. Niềm vui của đức tin nằm sâu hơn biểu hiện bên ngoài. Đó là một điểm tựa giúp người ta không tuyệt vọng hoàn toàn; là khả năng vẫn hướng về Chúa khi chưa hiểu được điều đang xảy ra; là một chút ánh sáng còn được giữ lại giữa đêm dài; là lòng can đảm để sáng mai tiếp tục sống, tiếp tục chăm sóc người thân, tiếp tục làm một việc tốt dù hôm nay lòng mình rất đau. Một người đang khóc mà vẫn có thể cầu nguyện đã cho thấy một chiều sâu mà tiếng cười dễ dàng chưa chắc diễn tả được.
Chúng ta sống giữa một thế giới liên tục nhắc mình phải trở nên nổi bật. Những con số hiện ra mỗi ngày: bao nhiêu người theo dõi, bao nhiêu lượt xem, bao nhiêu lời tán thưởng, bao nhiêu thành tựu, bao nhiêu tài sản, bao nhiêu sự kiện đã thực hiện. Các con số có thể cần thiết để quản lý một công việc, nhưng khi chúng trở thành thước đo phẩm giá, con người bắt đầu bị tổn thương. Một người âm thầm chăm sóc người cha liệt giường có thể không có điều gì hấp dẫn để đưa lên mạng. Một người mẹ kiên nhẫn với đứa con chậm phát triển có thể không được ai biết đến. Một người lao động lương thiện từ chối làm điều gian dối có thể chẳng nhận được phần thưởng nào, thậm chí còn bị thiệt thòi. Một người trẻ quyết định sống trong sạch, trung thực, biết giữ lời có thể không nổi bật giữa đám đông. Nhưng chính những cuộc đời ấy đang giữ cho thế giới còn có nơi đáng tin cậy để con người nương tựa. Có những điều quý giá nhất trong đời không thể đếm bằng lượt thích, không thể chụp hết trong một tấm ảnh, không thể trình bày đầy đủ trong một bản báo cáo. Chúng chỉ được nhận ra khi ta đủ gần một con người, đủ lâu với một hoàn cảnh, đủ lặng để nghe điều tình yêu đang làm.
Trong gia đình, sự hiện diện thường quý hơn điều chúng ta tưởng. Cha mẹ có thể nghĩ rằng mình phải tạo ra thật nhiều điều kiện vật chất mới làm con hạnh phúc, nhưng đôi khi điều đứa trẻ cần nhất là một bữa cơm không bị điện thoại chen ngang, một lần được kể hết câu chuyện ở trường, một ánh mắt không vội vàng, một lời hỏi han không biến thành tra xét. Người vợ có thể không đòi chồng làm điều gì lớn lao, nhưng mong được lắng nghe sau một ngày mệt mỏi. Người chồng có thể không biết diễn tả lòng mình, nhưng cần được nhìn nhận những cố gắng âm thầm và những áp lực đang mang. Ông bà có thể không cần thêm một món quà đắt tiền, nhưng cần có người ngồi bên cạnh để nghe một câu chuyện đã kể nhiều lần. Chúng ta thường mải đi tìm những việc lớn để chứng minh mình có giá trị, trong khi những người gần nhất đang chờ một sự hiện diện rất nhỏ. Niềm vui gia đình nhiều khi được phục hồi từ những điều như thế: một người biết đặt công việc xuống đúng lúc, một người biết thôi tranh phần đúng để giữ cuộc đối thoại, một người biết nói lời xin lỗi trước khi vết thương trở thành khoảng cách, một người biết nhìn người thân bằng sự dịu dàng đã lâu không sử dụng.
Người phục vụ trong Hội Thánh cũng cần học sự hiện diện ấy. Một chương trình có thể được tổ chức hoàn hảo mà người tham dự vẫn cảm thấy xa lạ. Một bài giảng có thể đầy đủ ý tưởng mà người đang đau khổ vẫn không tìm được chỗ cho nỗi đau của mình. Một lớp giáo lý có thể hoàn thành mọi bài học mà một em nhỏ vẫn mang cảm giác không ai hiểu mình. Một hoạt động bác ái có thể trao nhiều phần quà mà người nhận vẫn thấy bị tổn thương nếu phẩm giá của họ không được tôn trọng. Điều này mời gọi chúng ta nhìn sâu vào cách phục vụ. Chúng ta có thật sự gặp con người trước mặt, hay chỉ gặp công việc phải hoàn thành? Chúng ta có để họ được nói, được chậm, được khác với điều mình đã dự tính? Chúng ta có biết rằng mỗi người đến với cộng đoàn mang theo một câu chuyện không hiện rõ trên khuôn mặt? Có người đi lễ sau một đêm không ngủ vì con bệnh. Có người ngồi ở cuối nhà thờ vì xấu hổ về những sai lầm của mình. Có người không hát vì lòng đang tan nát. Có người khó gần vì đã nhiều lần bị tổn thương. Khi biết những điều ấy, chúng ta sẽ bớt vội đánh giá và có thêm lòng kiên nhẫn. Việc phục vụ bắt đầu mang chiều sâu khi chúng ta dành chỗ cho con người thật.
Một cám dỗ rất kín đáo trong việc làm điều tốt là muốn người khác cần mình mãi. Ban đầu, chúng ta giúp đỡ bằng tấm lòng chân thành. Nhưng dần dần, sự biết ơn của người khác có thể trở thành thứ nuôi dưỡng cái tôi. Chúng ta thấy khó chịu khi họ tìm đến một người khác; buồn khi họ trưởng thành và không còn hỏi ý kiến mình thường xuyên; bất an khi công việc vẫn chạy tốt lúc mình vắng mặt. Chúng ta tưởng mình chỉ đang lo cho họ, nhưng trong nỗi lo ấy có thể còn có sự sợ hãi rằng mình không còn quan trọng. Đây là một điều cần được nhận diện bằng sự thành thật, không phải để tự kết án, nhưng để tình yêu được thanh luyện. Người phục vụ trưởng thành biết vui khi người mình đồng hành đứng vững hơn, tự do hơn, có khả năng quyết định và chịu trách nhiệm hơn. Cha mẹ cũng cần trải qua cuộc thanh luyện ấy khi con lớn lên. Yêu con không có nghĩa là giữ con mãi trong sự lệ thuộc. Đồng hành với con đòi hỏi vừa quan tâm vừa biết trao khoảng trống, vừa nhắc nhở vừa tôn trọng, vừa sẵn sàng nâng đỡ vừa chấp nhận rằng con phải đi những bước của chính mình.
Lòng khiêm nhường đem lại một sự tự do rất đẹp. Người khiêm nhường có thể nhận một lời cảm ơn với niềm vui mà không phải vội phủ nhận mọi điều tốt mình đã làm. Họ cũng có thể chấp nhận một lúc không được nhắc tên mà không biến sự im lặng ấy thành bằng chứng của bất công. Họ biết mình có đóng góp, nhưng không nghĩ mình là nguồn gốc của tất cả. Họ thấy những khả năng của mình, đồng thời nhận ra những bàn tay đã nâng đỡ mình từ lâu: người đã dạy dỗ, người đã tin tưởng, người đã sửa sai, người đã âm thầm làm phần việc không ai chú ý. Trong một công việc chung, có người đứng trước, có người ở sau, có người phát biểu, có người dọn dẹp, có người hoạch định, có người kiên nhẫn xử lý những chi tiết nhỏ. Khi lòng mình đủ rộng, ta sẽ thấy thành quả có dấu chân của nhiều người. Sự nhìn nhận ấy làm cho niềm vui bớt cô độc. Ta không còn phải ôm lấy mọi vinh dự để cảm thấy mình có giá trị, nhưng có thể chia sẻ niềm vui với những người cùng góp sức và tạ ơn Chúa về điều đã được thực hiện.
Tuy nhiên, khiêm nhường cũng không có nghĩa là để người khác tùy tiện làm tổn thương mình. Người sống đức tin vẫn có quyền bảo vệ phẩm giá, đặt giới hạn, từ chối những yêu cầu bất công, tìm sự giúp đỡ khi bị đối xử tệ bạc. Một người bị bạo hành không được mời gọi tiếp tục ở trong nguy hiểm để chứng minh lòng nhẫn nhục. Một người đang kiệt sức không cần nhận thêm mọi công việc chỉ vì sợ mang tiếng thiếu hy sinh. Một người phục vụ có thể nói rằng mình cần nghỉ, cần người chia sẻ, cần điều kiện phù hợp để làm tốt trách nhiệm. Khiêm nhường bao gồm cả việc nhìn nhận rằng mình là một con người có giới hạn. Chúa đã trao cho chúng ta sự sống để chăm sóc, không phải để làm hao mòn trong những cuộc cố gắng thiếu phân định. Có những người rất dễ quảng đại với người khác nhưng lại quá khắc nghiệt với chính mình. Họ có thể thông cảm cho mọi người, riêng mình thì không được phép mệt; có thể khuyên người khác nghỉ ngơi, riêng mình thì xem nghỉ ngơi như một lỗi lầm. Muốn phục vụ lâu dài, chúng ta cần để lòng thương xót của Chúa đi vào cả cách mình đối xử với bản thân.
Tâm hồn đơn sơ giúp chúng ta trở về với những điều căn bản ấy. Đơn sơ không phải là ít hiểu biết, cũng không phải là ngại suy nghĩ. Người có học thức vẫn có thể rất đơn sơ khi họ biết lắng nghe, sẵn sàng sửa một nhận định và không coi kiến thức của mình là lý do để xem thường người khác. Một người ít được học cũng có thể thiếu đơn sơ nếu luôn cố chấp, chỉ muốn bảo vệ ý mình và không chịu nhận điều chưa biết. Sự đơn sơ của tâm hồn nằm ở thái độ trước sự thật. Tôi có dám để sự thật thay đổi mình không? Tôi có thể nhận rằng mình đã hiểu lầm một người không? Tôi có thể học từ một người trẻ hơn, nghèo hơn, ít danh tiếng hơn mình không? Tôi có thể đến với Chúa mà không tìm cách che giấu những mâu thuẫn trong lòng không? Một tâm hồn đơn sơ không cần dựng quá nhiều lớp vỏ. Họ không phải lúc nào cũng đúng, không phải lúc nào cũng mạnh, không phải lúc nào cũng có câu trả lời. Chính vì thế, họ có thể đón nhận điều mới, có thể ngạc nhiên, có thể biết ơn, có thể bắt đầu lại.
Chúng ta đánh mất sự đơn sơ khi mọi cuộc gặp gỡ đều trở thành nơi phải giữ hình ảnh. Có người không dám hỏi vì sợ bị cho là kém hiểu biết. Có người không dám xin lỗi vì sợ mất uy tín. Có người không dám tìm người đồng hành vì sợ người khác biết mình đang khủng hoảng. Có người bước vào nhà thờ với một gánh nặng rất lớn nhưng vẫn cố tỏ ra bình thường, rồi trở về với gánh nặng ấy nguyên vẹn. Những lớp vỏ ban đầu được dựng để bảo vệ mình, cuối cùng lại có thể làm mình cô độc. Không ai có thể đến gần một con người luôn khép mọi cánh cửa. Không ai có thể giúp một người luôn phải chứng minh rằng mình không cần được giúp. Đời sống thiêng liêng lớn lên khi ta tìm được lòng can đảm để mở ra: mở với Chúa trong cầu nguyện, mở với một người đáng tin cậy trong cuộc đối thoại, mở với sự thật trong việc xét mình. Điều cần được chữa lành chỉ có thể được chạm đến khi ta thôi giấu nó trong bóng tối.
Một trong những nơi sự thật cần được nhìn nhận là lòng ganh tị. Chúng ta thường thấy rõ sự ganh tị của người khác nhưng khó nhận ra nó trong mình, nhất là khi nó được che dưới những lý do có vẻ hợp lý. Ta có thể chê một người được khen vì cho rằng họ chưa xứng đáng; khó chịu với một sáng kiến mới vì bảo rằng nó gây xáo trộn; tìm điểm yếu của người làm tốt hơn mình rồi tưởng đó chỉ là sự thận trọng. Nhưng nếu thành thật, đôi khi điều làm mình bất an chỉ là người ấy đang được chú ý. Lòng ganh tị khiến niềm vui trở nên nghèo nàn, bởi ta chỉ được vui khi người khác không hơn mình. Trong một cộng đoàn như thế, thành công của người này trở thành nỗi buồn của người kia. Muốn thoát ra, chúng ta cần tập nhận ra điều tốt của người khác và nói lên điều đó bằng sự chân thành. Một lời khen không làm mình nhỏ đi. Một người khác được tin tưởng không có nghĩa mình bị loại bỏ. Một tài năng khác xuất hiện có thể là quà tặng cho công việc chung. Khi biết vui về điều tốt nơi người khác, trái tim mình có thêm nhiều lý do để vui, thay vì chỉ chờ những điều liên quan trực tiếp đến bản thân.
Sự so sánh còn làm chúng ta quên mất hoàn cảnh cụ thể của mình. Một người mẹ đang chăm sóc con nhỏ không thể sống lịch sinh hoạt như một người độc thân. Một người đang điều trị bệnh không thể có năng suất như khi khỏe mạnh. Một giáo xứ nhỏ không thể tổ chức mọi hoạt động giống một cộng đoàn có nhiều nhân sự và phương tiện. Một người mới bắt đầu trở lại với đức tin có thể cần rất nhiều thời gian để hình thành những thói quen mà người khác đã có từ nhỏ. Khi bỏ qua những khác biệt ấy, chúng ta đưa ra những đòi hỏi thiếu công bằng, với người khác và với chính mình. Chúa gặp mỗi người trong hoàn cảnh thật của họ. Việc nên thánh được thực hiện bằng những bước cụ thể trong hoàn cảnh ấy: giữ lòng kiên nhẫn giữa tiếng khóc của con, sống trung thực trong công việc đang chịu áp lực, cầu nguyện ngắn giữa những giờ chăm bệnh, cố gắng hòa giải trong một gia đình còn nhiều vết thương. Có những bước rất nhỏ mà người ngoài không nhận ra, nhưng người bước đi biết mình đã phải nỗ lực thế nào để thực hiện. Chúng ta cần học tôn trọng những bước nhỏ ấy.
Lòng biết ơn giúp mắt chúng ta nhìn rõ hơn. Khi chỉ chú ý điều thiếu, ta dễ nghĩ rằng đời mình không có gì đáng vui. Nhưng nếu dừng lại một chút, ta có thể nhận ra biết bao điều đã âm thầm nâng đỡ mình: một người còn nhớ hỏi thăm, một bữa cơm được chuẩn bị, một chỗ làm giúp gia đình có thu nhập, một cuộc gặp đã ngăn mình khỏi quyết định sai, một người kiên nhẫn nghe mình nói trong ngày khó khăn. Ngay cả những điều tưởng quá bình thường cũng mang giá trị khi ta nhìn chúng bằng lòng biết ơn. Một cơ thể còn có thể đi lại, một buổi sáng còn được thức dậy, một người thân còn ở bên, một cơ hội còn mở để sửa sai. Biết ơn không làm biến mất điều đau khổ, nhưng giúp chúng ta không để đau khổ chiếm toàn bộ tầm nhìn. Một căn phòng có thể có chỗ tối và chỗ sáng cùng lúc. Người biết ơn không phủ nhận chỗ tối; họ chỉ không quên rằng vẫn có ánh sáng. Trong đời sống đạo, lòng biết ơn đưa chúng ta ra khỏi thái độ chỉ đến với Chúa để đòi hỏi, và giúp chúng ta nhận ra rằng mình đã được nâng đỡ từ trước khi biết cất lời cầu xin.
Có những ngày, lời cầu nguyện cần đơn giản đến mức chỉ còn một sự hiện diện. Chúng ta không tìm được ý tưởng, không có cảm xúc, không biết nói gì. Đừng vội cho rằng giờ cầu nguyện ấy vô ích. Một người con có thể ngồi bên cha mình mà không nói nhiều; sự ở lại vẫn có ý nghĩa. Chúng ta có thể ngồi trước Chúa với tâm hồn mệt mỏi, để Người biết điều mình chưa diễn tả được. Có thể hôm ấy ta chỉ đủ sức xin được trung thành trong một việc, xin đừng nói lời làm đau người thân, xin có lòng can đảm để nhìn nhận lỗi lầm, xin biết ngủ một đêm bình an. Một lời cầu nguyện chân thật thường mở ra một hành động chân thật. Sau khi cầu nguyện, ta có thể gọi điện cho người đã lâu không hỏi thăm, làm xong một bổn phận đang trì hoãn, thôi lặp lại một lời chỉ trích, đến gặp người mình cần xin lỗi. Nhờ đó, cầu nguyện thấm vào đời sống. Nó làm cho cách chúng ta nhìn người khác mềm lại, cách chúng ta phản ứng chậm hơn một chút, cách chúng ta sử dụng lời nói có trách nhiệm hơn. Những thay đổi nhỏ ấy là nơi đời sống nội tâm bắt đầu sinh hoa trái.
Việc xét mình cũng cần được đặt trong ánh sáng của lòng thương xót. Có người chỉ xét mình để liệt kê những thất bại rồi chìm sâu trong buồn bã. Có người lại tránh xét mình vì không muốn đối diện với điều khó chịu. Cả hai thái độ đều có thể khiến ta đứng yên. Xét mình là trở về với sự thật để được sửa chữa và tiếp tục bước đi. Tôi đã làm ai tổn thương hôm nay? Tôi đã bỏ qua điều gì mình có thể làm? Tôi đang nuôi một sự giận dữ nào? Tôi có đang dùng lời đạo đức để che một động cơ thiếu trong sáng không? Nhưng cũng cần hỏi: hôm nay tôi đã được giúp đỡ ở đâu? Tôi đã vượt qua một cám dỗ nào? Tôi đã có một cơ hội nào để yêu thương? Tôi cần xin ơn gì cho ngày mai? Khi nhìn cả điều yếu đuối lẫn điều tốt lành, chúng ta sẽ có một cái nhìn chân thật hơn về hành trình của mình. Người biết sám hối không cần ghét bỏ bản thân. Họ cần đủ khiêm nhường để nhận lỗi, đủ tin tưởng để xin tha thứ và đủ trách nhiệm để thay đổi điều có thể thay đổi.
Có những lỗi lầm để lại hậu quả lâu dài, và việc được tha thứ không có nghĩa mọi hậu quả lập tức biến mất. Một lời nói có thể cần nhiều thời gian để vết thương được chữa lành. Một sự phản bội có thể làm niềm tin đổ vỡ và đòi hỏi cả một hành trình xây dựng lại. Một quyết định thiếu trách nhiệm có thể ảnh hưởng đến gia đình, công việc, cộng đoàn. Trong những hoàn cảnh ấy, niềm hy vọng cần đi cùng sự kiên nhẫn. Chúng ta không thể buộc người khác phải tin mình ngay chỉ vì mình đã nói lời xin lỗi. Chúng ta cũng không thể đòi mọi thứ trở lại như cũ chỉ vì lòng mình đã hối hận. Sự hoán cải cần được thể hiện qua cách sống bền bỉ, qua việc tôn trọng những giới hạn người khác đang cần, qua sự sẵn sàng chịu trách nhiệm mà không liên tục biện hộ. Niềm vui được phục hồi từng bước khi người ta bắt đầu sống thật hơn. Có thể chưa ai khen, có thể chưa ai thấy, nhưng việc hôm nay mình không lặp lại điều sai hôm qua đã là một bước đáng quý. Hy vọng giúp chúng ta đủ kiên nhẫn để tiếp tục bước ấy trong những ngày sau.
Trong một gia đình có người đang xa Chúa, lòng kiên nhẫn đặc biệt cần thiết. Cha mẹ dễ lo lắng, rồi biến mọi cuộc nói chuyện với con thành lời nhắc nhở về việc đạo. Người vợ hoặc người chồng có thể quá mong người bạn đời thay đổi, đến mức mỗi lần gặp nhau đều có cảm giác bị đánh giá. Ước muốn người thân sống đức tin là tốt, nhưng cách diễn tả ước muốn ấy cần được thanh luyện bởi tình yêu. Một người đang nghi ngờ cần được nghe câu hỏi của mình cách nghiêm túc. Một người đã bị tổn thương trong cộng đoàn cần có chỗ để kể lại điều đã xảy ra. Một người thờ ơ có thể cần nhìn thấy đức tin đem lại sự tử tế cụ thể trong đời sống chung. Những cuộc tranh luận dồn dập đôi khi chỉ làm cánh cửa khép chặt hơn. Sự bình tĩnh, lòng tôn trọng, đời sống nhất quán và lời cầu nguyện âm thầm có thể chuẩn bị những điều chúng ta chưa thấy ngay. Điều này không bảo đảm một kết quả theo lịch trình mình mong muốn. Nó giúp chúng ta đồng hành mà không biến người thân thành một dự án phải hoàn thành.
Cũng cần có lòng kiên nhẫn với cộng đoàn của mình. Không có cộng đoàn nào chỉ gồm những người dễ thương, hiểu nhau và làm việc nhịp nhàng. Nơi có con người, nơi ấy có giới hạn, khác biệt, những phản ứng chưa trưởng thành và những vết thương cũ. Chúng ta có thể yêu Hội Thánh sâu sắc mà vẫn đau vì một cách cư xử trong Hội Thánh. Chúng ta có thể trân trọng giáo xứ mà vẫn thấy cần sửa một việc chưa đúng. Tình yêu trưởng thành biết nói sự thật với ước muốn xây dựng, biết phân biệt một sai lầm cụ thể với toàn bộ giá trị của cộng đoàn, biết đòi hỏi trách nhiệm mà không để lòng cay đắng trở thành động lực chính. Có những góp ý cần được nói rõ, có những cơ chế cần được cải thiện, có những người bị tổn thương cần được lắng nghe và bảo vệ. Niềm vui Kitô hữu có chỗ cho công việc khó nhọc ấy. Một cộng đoàn chỉ thật sự đem lại bình an khi mọi người được đối xử với phẩm giá, khi sự thật có thể được nói lên, khi người yếu thế không phải im lặng để giữ vẻ ngoài tốt đẹp.
Đối với linh mục, tu sĩ và những người có trách nhiệm mục vụ, sự trở về với đời sống cầu nguyện luôn cần thiết. Công việc có thể lấp đầy cả ngày, nhưng sự bận rộn không tự động làm cho tâm hồn sâu hơn. Có thể chúng ta nói về Chúa rất nhiều mà ít dành thời gian ở với Người. Có thể chúng ta chăm sóc nhiều người mà chưa để ý đến sự khô cạn đang lớn lên bên trong. Khi mệt mỏi kéo dài, ta dễ nóng nảy, dễ phản ứng theo cảm xúc, dễ xem người đến với mình như một việc phát sinh thay vì một con người cần được gặp. Đó là lúc cần dừng lại, tìm sự nâng đỡ, sắp xếp lại nhịp sống và trở về với điều đã làm mình bắt đầu. Ơn gọi không chỉ được giữ bằng ý chí. Nó cần được nuôi bằng tương quan với Chúa, bằng tình huynh đệ, bằng sự thành thật trước những khó khăn, bằng một đời sống có chỗ cho nghỉ ngơi và lắng nghe. Người mục tử vẫn là một người cần được chăm sóc. Khi biết đón nhận điều ấy, họ có thể phục vụ với sự hiền hòa hơn, vì đã hiểu sự mong manh của con người từ chính kinh nghiệm của mình.
Người giáo dân cũng cần một đời sống nội tâm giữa những trách nhiệm dày đặc. Không phải ai cũng có nhiều giờ yên tĩnh, nhưng mỗi người có thể tìm một nhịp trở về phù hợp với hoàn cảnh. Một lời cầu nguyện trước khi bắt đầu công việc, một khoảng ngắn để đọc Tin Mừng, một phút thinh lặng trước khi bước vào nhà sau ngày làm việc, một lần cùng gia đình dâng lên Chúa những điều vui buồn trong ngày. Những khoảng nhỏ ấy có thể giúp chúng ta tránh sống hoàn toàn theo phản ứng. Trước một tin nhắn làm mình tức giận, ta có thể dừng lại rồi mới trả lời. Trước một câu nói của con, ta có thể hỏi thêm thay vì lập tức kết luận. Trước một khó khăn ở chỗ làm, ta có thể tìm cách xử lý mà không trút hết căng thẳng lên người thân. Đời sống nội tâm giúp tạo ra một khoảng tự do giữa điều xảy đến và cách mình đáp lại. Trong khoảng tự do ấy, tình yêu có cơ hội được lựa chọn. Những người sống cùng chúng ta thường cảm nhận chiều sâu của đức tin qua chính những lựa chọn hằng ngày như thế.
Niềm vui còn lớn lên khi chúng ta biết chia sẻ, vì trái tim chỉ xoay quanh mình thường dễ trở nên chật chội. Một người có thể sở hữu nhiều thứ mà vẫn thấy thiếu, bởi mọi sự đều được đưa về câu hỏi mình được gì. Khi bắt đầu quan tâm đến một hoàn cảnh khác, tầm nhìn của họ được mở ra. Một lần thăm người bệnh, một việc giúp người già, một sự hỗ trợ kín đáo cho gia đình khó khăn, một giờ kiên nhẫn với người đang cần được lắng nghe có thể làm cho lòng mình thay đổi. Tuy nhiên, chia sẻ đòi hỏi sự tế nhị. Người nghèo không phải là cơ hội để chúng ta chứng tỏ lòng tốt. Người đau khổ không cần trở thành hình ảnh minh họa cho việc bác ái của mình. Họ có đời sống riêng, có sự tự trọng, có quyền được tôn trọng như bất cứ ai. Khi đến với họ, chúng ta cần hỏi điều họ thật sự cần, giữ kín những gì cần giữ kín và tránh làm họ mang thêm cảm giác mắc nợ. Niềm vui của việc cho đi sâu hơn khi người nhận được nâng đỡ trong phẩm giá và người cho không cần giữ lại quyền kiểm soát.
Có một sự tự do khác đến từ việc chấp nhận rằng mình không thể cứu giải mọi hoàn cảnh. Người có lòng thương thường đau khi thấy người khác đau, rồi dễ mang lấy những trách nhiệm vượt quá khả năng. Họ nghĩ nếu mình không làm, mọi thứ sẽ sụp đổ; nếu người kia không thay đổi, đó là lỗi của mình; nếu một gia đình còn khủng hoảng, mình chưa cố đủ. Nhưng mỗi con người có tự do, mỗi hoàn cảnh có nhiều yếu tố, mỗi hành trình có nhịp riêng. Chúng ta có trách nhiệm làm điều mình có thể làm cách chân thành và khôn ngoan. Chúng ta cần cộng tác, tìm sự hỗ trợ phù hợp, biết khi nào một vấn đề đòi hỏi người có chuyên môn. Và chúng ta cần trao lại cho Chúa những điều vượt khỏi bàn tay mình. Sự phó thác ấy cho phép người phục vụ tiếp tục yêu thương mà không bị nghiền nát bởi ảo tưởng phải quyết định mọi kết quả. Nó cũng giúp chúng ta tôn trọng người khác, vì nhận ra họ có một hành trình với Chúa mà mình được tham dự, chứ không sở hữu.
Khi tuổi tác tăng lên, khi sức khỏe giảm xuống, khi những khả năng từng làm mình tự tin không còn như trước, nền tảng niềm vui càng được thử thách. Một người từng làm việc giỏi có thể đau vì nay cần người khác giúp những việc đơn giản. Một người từng đứng đầu một tập thể có thể thấy hụt hẫng khi không còn được hỏi ý kiến. Một người từng có nhiều hoạt động có thể cảm thấy mình bị quên lãng trong căn phòng yên tĩnh. Đây là những nỗi đau cần được gia đình và cộng đoàn quan tâm, bởi sự cô đơn không thể được giải quyết bằng vài lời khuyên chung chung. Nhưng trong hành trình ấy, mỗi người cũng được mời gọi khám phá rằng đời mình còn giá trị khi không còn làm được nhiều. Một bàn tay yếu vẫn có thể nắm lấy bàn tay người thân. Một người ít nói vẫn có thể đem lại sự bình an bằng cách hiện diện. Một người nằm bệnh vẫn có thể đón nhận tình yêu và dạy gia đình biết chăm sóc nhau. Chúng ta cần những cộng đoàn biết ở bên người già và người bệnh, để họ cảm nhận điều ấy bằng sự gặp gỡ thật, chứ không chỉ bằng lời nói.
Cuối cùng, mỗi chúng ta sẽ có những lúc phải buông xuống những gì từng dùng để xác định mình: công việc, chức vụ, khả năng, sự khỏe mạnh, những dự định chưa hoàn tất. Nếu cả đời chỉ bám vào những điều ấy, việc buông xuống sẽ rất đau đớn. Vì thế, ngay từ hôm nay, chúng ta cần học đặt đời mình trong một tương quan bền vững hơn. Tôi là người được Chúa trao sự sống, được mời gọi yêu thương, được nâng đỡ để lớn lên và được đón nhận khi trở về với lòng sám hối. Từ nền tảng ấy, tôi có thể làm việc hết sức mà không coi kết quả là toàn bộ con người mình. Tôi có thể vui khi thành công và vẫn còn hy vọng khi thất bại. Tôi có thể yêu người khác mà không buộc họ phải đáp lại theo cách mình muốn. Tôi có thể nhận ra giới hạn mà không đánh mất lòng tự trọng. Tôi có thể bước vào ngày mai với những điều chưa chắc chắn, vì biết mình không phải đi một mình. Niềm vui được hình thành như thế cần thời gian, cần cầu nguyện, cần những lần sửa sai, cần sự giúp đỡ của người khác, nhưng nó có thể bén rễ rất sâu trong một cuộc đời bình thường.
Hôm nay, có thể chúng ta chưa cần làm một việc thật lớn. Có thể việc đầu tiên chỉ là ngừng dùng những lời khắc nghiệt để nói về bản thân; trở về nói chuyện tử tế với người thân; nhận một lỗi mà mình đã tránh né; dành vài phút ở với Chúa bằng lòng chân thành; cảm ơn một người đã âm thầm giúp mình; vui về điều tốt nơi một người mà mình từng ganh tị; xin được nghỉ khi đã quá mệt; làm lại một bổn phận với sự kiên nhẫn. Mỗi lựa chọn ấy đều mở thêm một khoảng cho bình an. Đừng chờ mọi vấn đề được giải quyết mới bắt đầu sống lòng biết ơn. Đừng chờ mình hoàn hảo mới bắt đầu cầu nguyện. Đừng chờ người khác thay đổi hết mới tập đối xử với họ bằng sự tôn trọng. Đừng chờ một ngày đặc biệt mới trở về với điều quan trọng. Cuộc đời được đổi mới ngay trong những giờ bình thường, qua những bước nhỏ được thực hiện cách trung thành. Có thể hôm nay chúng ta chưa thấy hoa trái, nhưng một lời dịu dàng đã được nói thay cho lời cay nghiệt, một sự thật đã được nhìn nhận thay cho lời biện hộ, một bàn tay đã được đưa ra thay cho sự quay lưng. Những điều ấy làm cho đời sống quanh mình có thêm chỗ để thở.
Lạy Chúa Giêsu, xin đón nhận chúng con với tất cả những điều đang mang trong lòng: niềm vui và nỗi buồn, lòng nhiệt thành và sự mệt mỏi, những việc đã làm được và những điều còn dang dở. Xin giúp chúng con nhận ra những động cơ cần được thanh luyện, những vết thương cần được chữa lành, những trách nhiệm cần được chu toàn và những gánh nặng cần được trao lại cho Chúa. Xin cho chúng con có tâm hồn đơn sơ để biết học hỏi, biết xin lỗi, biết đón nhận sự giúp đỡ và biết bắt đầu lại. Xin gìn giữ các gia đình đang căng thẳng, những người phục vụ đang kiệt sức, những người bệnh đang cô đơn, những người trẻ đang mất phương hướng và những người đang âm thầm chiến đấu để sống tốt hơn. Xin cho chúng con biết làm việc với lòng tận tụy, nghỉ ngơi với lòng tin tưởng, đối xử với nhau bằng sự tôn trọng và bước đi với niềm hy vọng. Trong những ngày được nhiều người biết đến, xin giữ lòng chúng con khiêm nhường. Trong những ngày bị quên lãng, xin cho chúng con cảm nhận sự gần gũi của Chúa. Trong những ngày thất bại, xin nâng chúng con đứng dậy. Trong những ngày vui, xin mở rộng lòng chúng con để chia sẻ. Và giữa mọi đổi thay của cuộc đời, xin nuôi trong chúng con niềm vui của một người con biết mình có thể trở về, được lắng nghe, được tha thứ và được dẫn đi trên con đường tình yêu.
Lm. Anmai, CSsR.
NIỀM HY VỌNG NƯỚC TRỜI: SỐNG HÔM NAY VỚI MỘT TÌNH YÊU KHÔNG KẾT THÚC
Có những ngày chúng ta vui vì một công việc hoàn thành, một dự định thành công, một lời khen đến đúng lúc, một người thân bình phục, một khó khăn tưởng không vượt qua được cuối cùng cũng được tháo gỡ. Những niềm vui ấy rất thật, rất cần thiết, rất đáng được đón nhận bằng lòng biết ơn. Giữa cuộc sống nhiều nhọc nhằn, ai cũng cần có những khoảnh khắc được nhẹ lòng, được thấy công sức của mình mang lại kết quả, được cảm nhận rằng những cố gắng âm thầm không hoàn toàn vô nghĩa. Tuy nhiên, cũng chính trong những ngày vui ấy, chúng ta có thể nhận ra một điều: niềm vui dựa trên kết quả thường mong manh hơn chúng ta tưởng. Hôm nay thành công, ngày mai có thể thất bại. Hôm nay được yêu mến, ngày mai có thể bị hiểu lầm. Hôm nay khỏe mạnh, ngày mai có thể nằm trên giường bệnh. Hôm nay mọi sự diễn ra thuận lợi, ngày mai một biến cố bất ngờ có thể làm đảo lộn cả cuộc đời. Nếu trái tim chỉ đặt nền tảng trên những điều đang có, chúng ta sẽ phải sống trong một sự lo lắng thường xuyên, bởi bất cứ điều gì đang đem lại hạnh phúc cũng có thể trở thành nguyên nhân gây sợ hãi khi chúng ta nghĩ đến khả năng đánh mất nó. Bởi vậy, đời sống đức tin cần một niềm vui sâu hơn những thuận lợi trước mắt, một niềm hy vọng bền hơn những thay đổi của hoàn cảnh, một nơi để lòng người được tựa vào ngay cả khi mọi chỗ dựa quen thuộc đang lung lay. Niềm hy vọng Nước Trời mở ra cho chúng ta chiều sâu ấy. Nó giúp chúng ta sống giữa cuộc đời với một trái tim biết yêu những điều tốt đẹp đang có, đồng thời biết rằng ý nghĩa cuối cùng của đời mình nằm trong tình yêu của Thiên Chúa.
Trong trình thuật các môn đệ trở về sau khi được sai đi, niềm vui của họ mang vẻ hồn nhiên của những người vừa trải nghiệm điều lớn lao vượt quá sức mình. Họ đã bước ra khỏi sự an toàn quen thuộc, đã đến với những con người cụ thể, đã thi hành sứ mạng được trao, và đã nhìn thấy sức mạnh của sự dữ phải lùi bước trước quyền năng Thiên Chúa. Có thể hình dung sự rạng rỡ trên khuôn mặt họ, sự háo hức trong từng lời kể, niềm xúc động của những người nhận ra rằng cuộc đời mình đang được tham dự vào một công việc lớn hơn mọi dự tính cá nhân. Nhưng giữa niềm vui ấy, Đức Giêsu đưa họ đến một nền tảng vững bền hơn: được Thiên Chúa biết đến, được thuộc về Người, được hướng tới sự sống với Người. Thành quả của sứ mạng có giá trị, nhưng người môn đệ cần biết mình đang tìm kiếm điều gì qua những thành quả ấy. Nếu chỉ tìm cảm giác chiến thắng, người ấy sẽ khó đứng vững khi gặp chống đối. Nếu chỉ tìm sự thán phục, người ấy sẽ nhanh chóng bị tổn thương khi công lao không được nhìn nhận. Nếu chỉ tìm bằng chứng rằng mình có khả năng, người ấy sẽ hoang mang khi phải đối diện với giới hạn. Trái lại, khi niềm vui đặt nơi mối tương quan với Thiên Chúa, người môn đệ có thể tiếp tục trung thành cả trong những ngày công việc không mang lại kết quả rõ ràng. Người ấy biết rằng mình được sai đi vì đã được yêu thương, và mọi việc mình làm chỉ có ý nghĩa trọn vẹn khi giúp mình cùng những người khác đi sâu hơn vào tình yêu ấy. Opus Dei
Nhiều khi chúng ta chưa ý thức rằng mình đang sống bằng nhu cầu được xác nhận. Một đứa trẻ muốn cha mẹ nhìn thấy điều mình làm được. Một người trẻ mong được công nhận năng lực. Một người trưởng thành muốn những hy sinh của mình được tôn trọng. Một người già cần biết rằng mình vẫn có chỗ trong lòng con cháu. Những mong muốn ấy thuộc về thân phận con người và không có gì đáng xấu hổ. Nhưng khi sự công nhận trở thành điều kiện duy nhất để chúng ta thấy mình có giá trị, cuộc sống sẽ rất mệt mỏi. Chúng ta làm việc mà luôn ngóng xem có ai biết không, giúp đỡ mà luôn nhớ xem có ai cảm ơn không, hy sinh mà âm thầm tính xem mình có được đáp lại không. Ngay cả việc phục vụ trong Giáo hội cũng có thể trở thành nơi trái tim tìm kiếm danh tiếng. Có người buồn nhiều ngày vì tên mình không được nhắc đến; có người mất bình an vì người khác được trao một trách nhiệm mà mình mong muốn; có người bỏ cuộc vì cảm thấy công sức không được đánh giá tương xứng. Những tổn thương ấy cần được lắng nghe, bởi chúng thường chạm vào một nhu cầu rất sâu là được nhìn nhận và được yêu thương. Tuy nhiên, để được chữa lành, chúng ta cần đi xa hơn việc đòi hỏi người khác luôn phải xác nhận mình. Chúng ta cần tập đặt đời mình trước ánh mắt của Thiên Chúa. Người biết cả phần công việc không ai nhìn thấy, cả lần nhịn một lời gay gắt, cả đêm thức chăm người bệnh, cả nỗi buồn được giấu đi để người thân bớt lo. Khi tin rằng đời mình được Người biết đến, chúng ta dần có tự do để làm điều tốt mà không phải liên tục dò tìm tiếng vỗ tay.
Được Thiên Chúa biết đến là một điều rất khác với được nhiều người biết tên. Một cái tên có thể xuất hiện khắp nơi mà người mang tên ấy vẫn cô độc. Một người có thể được ca tụng trước đám đông nhưng không có ai đủ gần để hiểu những sợ hãi của mình. Ngược lại, có những cuộc đời rất ít được nhắc tới, sống trong một căn nhà nhỏ, làm những công việc lặp lại, mang những hy sinh không bao giờ trở thành câu chuyện nổi bật, nhưng lại có chiều sâu của một tình yêu bền bỉ. Một người mẹ thức dậy trước mọi người, chuẩn bị bữa ăn, lo thuốc men cho cha mẹ già, kiên nhẫn với một đứa con khó bảo, đến cuối ngày vẫn dành một chút thinh lặng để cầu nguyện. Một người cha đi làm xa, chịu đựng những điều không dễ kể, giữ lòng ngay thẳng dù biết gian dối có thể đem lại lợi ích nhanh hơn. Một người sống một mình, không có gia đình riêng, nhưng âm thầm trở thành chỗ dựa cho những người đang cần được lắng nghe. Một người bệnh không còn đủ sức làm việc, vẫn cố gắng đón nhận sự chăm sóc với lòng biết ơn và cầu nguyện cho người khác. Những cuộc đời ấy nhắc chúng ta rằng giá trị của con người không được đo đầy đủ bằng mức độ xuất hiện trước công chúng. Trước Thiên Chúa, mỗi người là một cuộc đời riêng biệt, có một lịch sử riêng, có những vết thương riêng, có những khả năng yêu thương không thể thay thế bằng cuộc đời của bất cứ ai khác. Niềm hy vọng Nước Trời bắt đầu lớn lên khi chúng ta tin rằng tình yêu Thiên Chúa dành cho mình không phụ thuộc vào việc mình nổi bật đến đâu.
Nói đến Nước Trời, chúng ta dễ nghĩ tới một thực tại quá xa, thuộc về những ngày cuối cùng của đời người, chỉ cần quan tâm khi tuổi đã cao hoặc sức khỏe đã suy giảm. Nhưng chính người đang khỏe mạnh, đang làm việc, đang nuôi con, đang xây dựng tương lai lại cần niềm hy vọng ấy để biết mình đang sống vì điều gì. Một người có thể rất bận rộn mà vẫn không rõ đâu là hướng đi của đời mình. Có thể kiếm được nhiều tiền hơn nhưng không biết mình cần bao nhiêu là đủ. Có thể có thêm nhiều mối liên hệ mà ngày càng khó mở lòng. Có thể đạt được vị trí mong muốn nhưng lại không còn thời gian cho những người mình yêu. Có thể lo chu toàn tất cả những việc trước mắt mà quên mất câu hỏi quan trọng nhất: sau cùng, tôi đang trở thành người như thế nào? Niềm hy vọng Nước Trời đặt câu hỏi ấy vào giữa đời sống hằng ngày. Khi biết mình được mời gọi đến sự sống viên mãn trong Thiên Chúa, chúng ta bắt đầu xem lại những ưu tiên. Công việc vẫn cần làm, trách nhiệm vẫn cần chu toàn, những nhu cầu vật chất vẫn cần được chăm lo, nhưng tất cả được đặt trong một hướng đi rõ ràng hơn. Chúng ta làm việc để phục vụ sự sống, xây dựng gia đình để học yêu thương, sử dụng khả năng để góp phần làm cho người khác được sống xứng với phẩm giá của họ. Tương lai vĩnh cửu giúp hiện tại có trật tự, bởi nó nhắc chúng ta rằng có những điều rất khẩn cấp nhưng không thật sự quan trọng, và có những điều ít gây chú ý nhưng quyết định chiều sâu của cả cuộc đời.
Thiên đàng là sự sống trọn vẹn trong tình yêu Thiên Chúa. Khi suy nghĩ về điều ấy, chúng ta nên bắt đầu từ những khát vọng sâu nhất của lòng mình: được yêu mà không phải sợ bị bỏ rơi, được hiểu mà không phải che giấu, được sống trong sự thật mà không bị đe dọa, được trao ban mà không bị cạn kiệt, được bình an mà không còn bất an âm thầm phía sau. Trong cuộc đời hiện tại, chúng ta nếm được những điều ấy từng phần. Có những giây phút ở bên người thân mà lòng rất ấm. Có những lần được tha thứ mà thấy mình có thể bắt đầu lại. Có những lúc cầu nguyện mà sự hiện diện của Chúa trở nên gần gũi. Có những lần giúp được một người đang tuyệt vọng mà cảm thấy đời mình có ý nghĩa. Những kinh nghiệm ấy rất quý, nhưng vẫn mang giới hạn. Chúng ta yêu nhau mà có lúc làm nhau đau. Chúng ta muốn trung thành mà có lúc yếu đuối. Chúng ta muốn bình an mà vẫn bị quá khứ và tương lai kéo đi. Hy vọng thiên đàng là hy vọng rằng tình yêu sẽ được hoàn tất, rằng những gì đang dang dở sẽ được đưa tới sự viên mãn nơi Thiên Chúa. Điều ấy vượt quá khả năng tưởng tượng của chúng ta. Nhưng ngay trong sự vượt quá ấy, trái tim có thể tìm được một điểm tựa: Thiên Chúa không mời gọi con người đến một tương lai trống rỗng. Người mời gọi chúng ta đến với chính Người, và Người là nguồn của sự sống mà chúng ta đang tìm kiếm giữa rất nhiều điều hữu hạn.
Chúng ta thường lo lắng về việc mất đi những gì mình yêu. Người mẹ nhìn đứa con đang ngủ và cảm thấy hạnh phúc, nhưng trong lòng vẫn có nỗi sợ về bệnh tật, tai nạn, những điều chưa biết. Người con nhìn cha mẹ già và nhận ra mỗi lần gặp có thể là một lần không thể lấy lại. Người vợ nghe tiếng chồng trở về sau một ngày làm việc và biết sự hiện diện ấy quý giá hơn nhiều điều mình từng mong muốn. Một người sau cơn bệnh nặng có thể nhận ra rằng được đi bộ trong sân, được ăn một bữa cơm bình thường, được nghe tiếng người thân đã là một ân huệ. Càng yêu, chúng ta càng cảm nhận rõ sự mong manh của đời sống. Đức tin không làm chúng ta trở nên vô cảm trước mong manh ấy. Niềm hy vọng Nước Trời cũng không buộc chúng ta phải giả vờ rằng chia lìa là điều dễ chịu. Nó giúp chúng ta yêu với một lòng tín thác sâu hơn, biết trân trọng thời gian hiện tại và trao những người mình yêu vào tay Thiên Chúa. Chúng ta vẫn cần chăm sóc sức khỏe, giữ gìn an toàn, dành thời gian cho nhau, nói những lời cần nói khi còn có thể. Đồng thời, chúng ta học nhìn người thân như những người thuộc về tình yêu Thiên Chúa trước khi thuộc về những kế hoạch của mình. Điều ấy không làm tình thân nhạt đi; nó giúp tình thân bớt bị chi phối bởi nhu cầu kiểm soát và trở nên rộng rãi hơn.
Niềm hy vọng ấy đặc biệt quý giá trong những mùa mất mát. Có những nỗi đau không thể được giải quyết bằng một lời khuyên. Một chiếc ghế trống trong bữa cơm, một căn phòng không còn tiếng người, một số điện thoại vẫn được giữ lại dù biết sẽ không còn ai trả lời, một ngày kỷ niệm trở thành ngày nước mắt: tất cả đều có sức làm lòng người chùng xuống. Khi một người thân qua đời, chúng ta không chỉ mất sự hiện diện của họ; nhiều khi còn mất cả một phần nhịp sống, một phần căn tính, một phần tương lai đã tưởng tượng cùng họ. Những lời an ủi quá nhanh có thể khiến người đang đau cảm thấy mình không được hiểu. Người có đức tin vẫn có thể khóc, vẫn có thể thấy trống trải, vẫn cần thời gian để học sống với sự vắng mặt. Nhưng trong nỗi đau ấy, niềm hy vọng cho phép họ tiếp tục hướng tình yêu về Thiên Chúa. Họ có thể cầu nguyện cho người đã qua đời, phó thác người ấy cho lòng thương xót, tiếp tục sống những điều tốt đẹp đã nhận được từ họ. Một người mẹ đã mất vẫn có thể tiếp tục được nhớ đến qua cách con cái chăm sóc nhau. Một người cha đã ra đi vẫn có thể để lại sức mạnh trong sự trung thực của những người ở lại. Một người bạn không còn hiện diện vẫn có thể tiếp tục thúc đẩy chúng ta sống tử tế. Đức tin không cho chúng ta quyền tự ý xác định số phận vĩnh cửu của ai, nhưng cho chúng ta lòng tin để trao họ vào tình yêu của Đấng biết họ trọn vẹn hơn chúng ta.
Cũng có những mất mát diễn ra khi con người vẫn còn sống. Một người mất khả năng làm việc sau tai nạn. Một người bước vào tuổi già và cảm thấy mình trở nên chậm chạp, lệ thuộc. Một người bị bệnh kéo dài, nhìn bạn bè tiếp tục cuộc sống trong khi mình phải đếm ngày bằng thuốc men và những lần khám bệnh. Một người từng có trách nhiệm lớn nay phải rời vị trí và không biết mình còn có ích ở đâu. Trong những hoàn cảnh ấy, câu hỏi về giá trị bản thân có thể rất đau. Nếu suốt đời chúng ta chỉ học cách chứng minh mình bằng năng suất, thành tích và sự hữu dụng, khi không còn làm được như trước, chúng ta dễ thấy mình trở thành gánh nặng. Niềm hy vọng Nước Trời giúp sửa lại cách nhìn ấy từ gốc rễ. Phẩm giá của con người vẫn còn nguyên khi sức lực giảm đi. Một người cần được chăm sóc vẫn là một người có khả năng đón nhận và trao ban tình yêu. Có thể họ không còn làm được những việc lớn, nhưng sự hiện diện của họ vẫn mời gọi người khác học kiên nhẫn, biết quan tâm, hiểu sự mong manh và sống trách nhiệm. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần cẩn trọng để không biến đau khổ của họ thành một bài học tiện lợi cho người khỏe mạnh. Họ cần được chăm sóc thật, được lắng nghe thật, được giảm đau, được tôn trọng những mong muốn chính đáng. Khi hướng về thiên đàng, chúng ta càng có lý do để bảo vệ phẩm giá của con người ngay trong những giai đoạn yếu đuối nhất.
Hy vọng vào sự sống đời đời cũng làm thay đổi cách chúng ta đối diện với thất bại. Có người đã cầu nguyện rất nhiều cho một công việc mà công việc ấy vẫn không thành. Có người đã cố gắng giữ gìn một tương quan mà cuối cùng vẫn phải chấp nhận sự đổ vỡ. Có người hết lòng dạy dỗ con cái nhưng vẫn thấy con đi vào những lựa chọn gây đau lòng. Có người phục vụ trong cộng đoàn nhiều năm mà chẳng thấy những chuyển biến mình mong đợi. Những lúc ấy, chúng ta dễ tự hỏi mình đã thiếu điều gì, có phải đức tin chưa đủ, có phải Thiên Chúa không còn quan tâm. Thất bại có thể trở thành dịp xét lại cách làm, nhận ra sai lầm, học một điều cần thiết; nhưng nó không cho phép chúng ta kết luận rằng đời mình đã bị Thiên Chúa bỏ rơi. Có những kết quả không nằm trong quyền quyết định của chúng ta. Có những người chúng ta yêu nhưng không thể lựa chọn thay họ. Có những hoàn cảnh đòi hỏi thời gian dài hơn sự kiên nhẫn hiện có. Người sống trong hy vọng học cách phân biệt trách nhiệm của mình với điều mình không thể kiểm soát. Họ tiếp tục làm phần việc cần làm, tìm sự giúp đỡ khi cần, sửa những điều sai, rồi trao phần còn lại cho Chúa. Nhờ vậy, họ không phải biến từng kết quả thành một bản án về giá trị của chính mình. Một ngày không thành công vẫn có thể là một ngày đã sống trong trung thành.
Tuy nhiên, niềm hy vọng Kitô giáo luôn cần sự tỉnh thức. Chúng ta có thể nói về lòng thương xót để tránh đối diện với những điều cần thay đổi. Có thể nghĩ rằng sau cùng Thiên Chúa sẽ tha thứ, nên hôm nay cứ tiếp tục làm tổn thương người khác. Có thể mong một tương lai tốt đẹp mà không chịu từ bỏ thói quen đang làm đời sống mình và gia đình trở nên nặng nề. Khi ấy, điều chúng ta có chỉ là một sự trấn an dễ dãi. Hy vọng thật khiến chúng ta can đảm hơn trước sự thật. Người tin vào lòng thương xót có thể nhìn nhận tội lỗi vì biết mình có đường trở về. Người mong được sống trong tình yêu Thiên Chúa sẽ muốn tập yêu ngay từ bây giờ. Người hướng tới sự sống vĩnh cửu sẽ hiểu rằng lựa chọn hôm nay có ý nghĩa. Chúng ta không thể vừa mong một trái tim bình an vừa cố tình nuôi hận thù; không thể mong sống trong sự thật mà cứ duy trì những gian dối đem lại lợi ích; không thể cầu xin một mái nhà yêu thương mà liên tục sử dụng lời nói để làm người thân bị hạ thấp. Sự hoán cải có thể bắt đầu rất cụ thể: ngừng một hành vi sai, trả lại điều đã chiếm đoạt, xin lỗi người đã bị mình làm đau, tìm cách bồi thường, tìm người đồng hành để thoát khỏi một thói quen nguy hại. Niềm hy vọng trở nên đáng tin trong đời sống khi nó giúp chúng ta thực hiện những bước ấy.
Sự hoán cải còn cần được giữ khỏi một cám dỗ khác: tưởng rằng chúng ta có thể tự mình làm nên sự thánh thiện bằng quyết tâm và thành tích. Có những người rất nghiêm khắc với bản thân, luôn đặt thêm yêu cầu, luôn thấy mình chưa đủ tốt, đến mức đời sống đạo trở thành một gánh nặng không có chỗ cho niềm vui. Họ cầu nguyện mà chỉ nghe tiếng trách móc trong lòng, xét mình mà không bao giờ nhận ra ân sủng, cố gắng mà càng ngày càng sợ Thiên Chúa. Khi thất bại, họ cảm thấy mọi công sức trước đó đã sụp đổ. Một tâm hồn như vậy cần học lại cách đón nhận. Thiên Chúa đi bước trước trong tình yêu. Ơn cứu độ là ân ban mà chúng ta được mời gọi cộng tác, và sự cộng tác ấy bao gồm cả việc khiêm tốn để được nâng đỡ. Chúng ta cần cố gắng, nhưng cũng cần biết cầu xin. Cần xét mình, nhưng cũng cần biết tạ ơn. Cần sửa đổi, nhưng cũng cần biết đón nhận sự tha thứ. Cần chịu trách nhiệm, nhưng cũng cần chấp nhận rằng hành trình trưởng thành thường có những bước chậm, những lúc vấp ngã, những lần phải học lại điều tưởng đã biết. Niềm hy vọng Nước Trời giúp chúng ta kiên trì trên hành trình ấy bằng lòng tin vào sự trung tín của Thiên Chúa. Một người đang trở về không cần chờ mình hoàn hảo mới được mở lòng với Chúa.
Vẻ đẹp của tâm hồn bé nhỏ nằm ở khả năng ấy: biết mình cần được yêu, cần được hướng dẫn, cần được cứu chữa. Sự bé nhỏ không đòi hỏi chúng ta từ bỏ hiểu biết hoặc suy nghĩ độc lập. Một người có học thức sâu rộng vẫn có thể khiêm tốn, và một người ít học vẫn có thể kiêu ngạo. Điều quyết định là thái độ của trái tim. Người khiêm tốn biết kiến thức của mình có giới hạn, kinh nghiệm của mình chưa bao trùm mọi hoàn cảnh, cách nhìn của mình có thể cần được sửa đổi. Họ có thể nghe một người khác mà không vội biến cuộc đối thoại thành cuộc tranh hơn thua. Họ có thể nhận một lời góp ý mà không cảm thấy toàn bộ giá trị của mình bị phủ nhận. Họ có thể cầu nguyện giữa lúc chưa hiểu mà không phải lập tức ép mọi sự vào một lời giải thích đơn giản. Trong đời sống gia đình, sự bé nhỏ ấy giúp cha mẹ biết xin lỗi con, giúp vợ chồng biết nhận phần sai, giúp người lớn tuổi vẫn có thể học điều mới. Trong cộng đoàn, nó giúp người có trách nhiệm không tự xem mình là trung tâm của mọi việc. Trong đời sống thiêng liêng, nó mở ra khoảng trống để ân sủng hoạt động. Một trái tim luôn đầy những khẳng định về chính mình sẽ khó đón nhận điều được trao. Một trái tim biết thừa nhận nhu cầu của mình có thể bắt đầu khám phá niềm vui được Thiên Chúa chăm sóc.
Khi biết mình được yêu, chúng ta cũng dần bớt phải so sánh. Sự so sánh có thể len vào cả những việc rất tốt. Thấy người khác cầu nguyện sốt sắng hơn, chúng ta tự ti; thấy người khác được giao trách nhiệm, chúng ta bất mãn; thấy một gia đình có vẻ đạo đức và bình an, chúng ta chỉ nhìn vào những thiếu sót của nhà mình. Có lúc chúng ta so sánh để cố gắng, nhưng nhiều lúc so sánh chỉ làm mình quên cuộc đời cụ thể đang được trao. Mỗi người có hoàn cảnh, khả năng, lịch sử và những thử thách riêng. Một việc nhỏ đối với người này có thể là một bước rất lớn đối với người khác. Một người khỏe mạnh có thể đi thăm nhiều bệnh nhân; một người bệnh chỉ có thể kiên nhẫn đón nhận một ngày đau đớn. Một người có điều kiện có thể giúp đỡ bằng tiền; một người nghèo chỉ có thể chia sẻ thời gian hoặc một bữa ăn. Một người có tính tình điềm đạm dễ giữ lời ôn hòa; một người đã lớn lên trong bạo lực có thể phải chiến đấu rất nhiều để ngừng một phản ứng nóng giận. Chúng ta không nhìn thấy hết những cuộc chiến âm thầm ấy. Vì vậy, niềm hy vọng cần đi cùng lòng nhân hậu khi đánh giá người khác và khi đánh giá chính mình. Thiên Chúa biết điều mỗi người đã nhận, biết sức nặng mỗi người đang mang, biết cả những bước tiến mà người ngoài không nhận ra.
Một nơi rất cần niềm hy vọng ấy là gia đình. Gia đình có thể là nơi con người được nghỉ ngơi trong tình yêu, nhưng cũng có thể trở thành nơi ai cũng mệt vì phải bảo vệ mình. Những lời nói thiếu kiên nhẫn, những hiểu lầm không được giải thích, những áp lực kinh tế, những khác biệt giữa các thế hệ, những tổn thương cũ cứ bị nhắc lại: tất cả có thể khiến mái nhà dần mất sự ấm áp. Người sống trong hy vọng Nước Trời cần đem niềm hy vọng ấy vào cách đối xử với người thân. Nếu chúng ta mong được ở trong tình yêu Thiên Chúa, hôm nay chúng ta có thể dành vài phút thật sự lắng nghe người đang sống bên mình. Nếu mong được sống trong bình an, hôm nay chúng ta có thể ngừng một cuộc tranh cãi đang chỉ nhằm làm người khác thua. Nếu mong được đón nhận bằng lòng thương xót, hôm nay chúng ta có thể bớt dùng một lỗi lầm trong quá khứ để làm người thân đau thêm. Những việc ấy thường khó hơn một hoạt động đạo đức bên ngoài, bởi chúng chạm vào tính khí, thói quen và lòng tự ái. Nhưng chính ở đó tình yêu được tập luyện. Một gia đình không cần phải hoàn hảo mới có thể trở thành nơi nâng đỡ đức tin. Gia đình ấy cần những người chịu bắt đầu lại, chịu nói thật, chịu sửa mình, chịu đặt sự bình an của nhau cao hơn niềm thỏa mãn được thắng trong một cuộc cãi vã.
Hy vọng còn giúp chúng ta kiên nhẫn với những người chưa thay đổi theo điều mình mong muốn. Trong một mái nhà, có thể có người đi lễ đều đặn và người đã lâu không đến nhà thờ; có người dễ cầu nguyện và người đang mang nhiều thắc mắc; có người muốn giữ nếp đạo đức quen thuộc và người trẻ chưa hiểu ý nghĩa của những việc ấy. Nỗi lo về đức tin của người thân là điều có thật, nhưng khi nỗi lo biến thành ép buộc, chỉ trích hoặc làm họ xấu hổ, khoảng cách có thể lớn thêm. Một người đang được đồng hành cần cảm nhận rằng mình được yêu cả khi chưa có thể trả lời mọi điều người khác mong đợi. Điều đó không đòi chúng ta coi mọi lựa chọn đều như nhau. Chúng ta vẫn có thể nói điều mình tin, giải thích điều mình thấy đúng, giữ những giới hạn cần thiết, nhưng làm với thái độ tôn trọng và kiên nhẫn. Chúng ta không biết hết điều đang diễn ra trong lòng người khác. Có người xa việc thực hành đức tin vì thờ ơ; có người vì tổn thương; có người vì chưa được giúp hiểu; có người đang trải qua một cuộc tìm kiếm rất thật nhưng khó diễn tả. Hy vọng giúp chúng ta tiếp tục cầu nguyện, sống chứng tá, giữ cánh cửa đối thoại mở ra. Khi ấy, chính đời sống của chúng ta có thể trở thành một lời mời mà người thân có khả năng đón nhận vào thời điểm thích hợp.
Đối với người phục vụ trong Giáo hội, niềm hy vọng Nước Trời giúp giữ sự trong sáng của sứ mạng. Có những công việc đem lại niềm vui nhanh: một chương trình đông người, một buổi cử hành tốt đẹp, một hoạt động được hưởng ứng. Cũng có những công việc kéo dài nhiều năm mà ít ai biết: đồng hành với một người đang khủng hoảng, thăm một gia đình gặp khó khăn, dạy những điều căn bản cho người học chậm, giữ sự hiện diện ở một nơi thiếu thốn. Nếu người phục vụ chỉ được nuôi bằng sự thành công nhìn thấy được, họ sẽ dễ nản trước những việc âm thầm. Nhưng khi nhớ rằng mình đang phục vụ những con người được Thiên Chúa yêu, họ có thể nhận ra ý nghĩa của từng cuộc gặp. Một người được lắng nghe đến nơi đến chốn có thể đã nhận được điều rất quý. Một người đang xấu hổ được đối xử bằng sự tôn trọng có thể tìm lại can đảm. Một người yếu đuối được giúp đứng lên có thể bắt đầu một hướng đi mới. Chúng ta vẫn cần làm việc có trách nhiệm, chuẩn bị tốt, học hỏi, lượng giá và sửa sai. Tuy nhiên, những con số không diễn tả hết điều đang xảy ra trong tâm hồn. Người phục vụ cần giữ lòng khiêm tốn để không tự nhận mọi kết quả tốt là công lao của mình, và giữ lòng hy vọng để không cho rằng mọi khó khăn đều là bằng chứng mình đã thất bại.
Trong đời sống nghề nghiệp, hướng về Nước Trời giúp chúng ta giữ sự thống nhất giữa đức tin và cách làm việc. Một người không thể dành cả ngày làm điều gian dối rồi mong vài phút cầu nguyện đủ làm lòng mình bình an. Nếu công việc khiến người khác bị bóc lột, bị lừa gạt, bị coi thường, chúng ta cần nhìn thẳng vào điều ấy. Đức tin phải có chỗ trong cách ký một hợp đồng, trả một khoản lương, bán một món hàng, sử dụng một nguồn tiền, nhận một trách nhiệm. Có những quyết định trung thực đem lại thiệt thòi trước mắt. Có những lúc từ chối một lợi ích không chính đáng khiến chúng ta thấy mình đi chậm hơn người khác. Có những hoàn cảnh rất phức tạp, cần được phân định và tìm lời khuyên, bởi không phải mọi vấn đề đều có thể giải quyết bằng một khẩu hiệu. Nhưng hướng đi căn bản cần rõ: chúng ta mong đời mình được xây dựng trong sự thật. Niềm hy vọng sự sống đời đời giúp chúng ta có một khoảng cách cần thiết với lợi nhuận tức thời. Nó nhắc rằng người khác không phải phương tiện để mình tiến lên, rằng đồng tiền cần phục vụ con người, rằng một gia đình có của cải từ sự bất công vẫn phải mang những hệ quả của sự bất công ấy. Lòng ngay thẳng là một cách chuẩn bị cho sự hiệp thông với Thiên Chúa ngay trong những việc rất bình thường.
Hướng về thiên đàng cũng làm chúng ta nhạy cảm hơn với những người đang bị bỏ lại. Một người thiếu bữa ăn hôm nay cần được giúp hôm nay. Một đứa trẻ không được đến trường cần có cơ hội học tập. Một người già cô độc cần có người đến thăm. Một người lao động bị đối xử bất công cần được bảo vệ. Những nhu cầu ấy không trở nên nhỏ đi khi chúng ta nói đến sự sống vĩnh cửu. Trái lại, nếu tin mỗi con người có một phẩm giá và một vận mệnh vượt quá đời sống trước mắt, chúng ta càng phải nghiêm túc trước cách họ đang được đối xử. Tình yêu đối với Thiên Chúa cần đi vào khả năng nhìn thấy con người cụ thể. Có thể chúng ta không giải quyết được mọi vấn đề, nhưng luôn có một phần việc có thể làm: chia sẻ trong khả năng, giúp kết nối với người có chuyên môn, hỗ trợ một gia đình đang thiếu thốn, tránh tiếp tay cho điều bất công, dành thời gian cho người không có ai lắng nghe. Những việc ấy cũng cần sự khôn ngoan để việc giúp đỡ tôn trọng người nhận và mang lại lợi ích thật. Niềm hy vọng trưởng thành không chỉ làm chúng ta xúc động trước đau khổ; nó giúp chúng ta kiên trì biến lòng thương thành hành động.
Sự kiên trì ấy rất cần khi chúng ta phải sống với một vết thương lâu dài. Có những người đã bị phản bội, bị xúc phạm, bị bỏ rơi, và việc tha thứ trở nên rất khó. Họ có thể muốn bình an nhưng mỗi lần nhớ lại vẫn thấy đau. Trong hoàn cảnh ấy, cần hiểu rằng tha thứ là một hành trình và việc chữa lành thường cần thời gian, sự nâng đỡ, có khi cần cả sự giúp đỡ chuyên môn. Tha thứ không buộc chúng ta phủ nhận sự thật hoặc tự đặt mình trở lại trong một hoàn cảnh nguy hiểm. Chúng ta có thể tìm công lý, giữ khoảng cách cần thiết, bảo vệ mình và những người lệ thuộc vào mình, đồng thời cầu xin được giải thoát khỏi mong muốn trả thù. Niềm hy vọng Nước Trời nâng đỡ hành trình ấy bằng cách giúp chúng ta tin rằng đời mình còn có tương lai vượt ra ngoài điều đã xảy ra. Người gây tổn thương không có quyền quyết định trọn vẹn chúng ta sẽ trở thành ai. Vết thương là một phần lịch sử, nhưng tình yêu Thiên Chúa vẫn có thể mở những khả năng mới. Có ngày bước tiến chỉ là không lặp lại một lời nguyền rủa trong lòng. Có ngày là đủ can đảm kể câu chuyện với một người đáng tin. Có ngày là nhận ra mình vẫn có thể yêu một người khác mà không sống hoàn toàn trong sợ hãi. Những bước nhỏ ấy đáng được tôn trọng.
Niềm hy vọng cũng cần được nuôi dưỡng bằng đời sống cầu nguyện. Chúng ta thường đem đến trước Chúa những điều mình muốn thay đổi: một khó khăn, một căn bệnh, một dự định, một nỗi lo. Điều đó rất tự nhiên. Nhưng dần dần, cầu nguyện còn giúp chúng ta mở lòng với sự hiện diện của Người ngay trong hoàn cảnh chưa thay đổi. Có lúc chúng ta không nhận được điều đã xin theo cách đã mong, nhưng được thêm sức để sống một ngày khó khăn. Có lúc vấn đề vẫn còn đó, nhưng chúng ta bắt đầu thấy một bước có thể thực hiện. Có lúc nỗi buồn chưa hết, nhưng chúng ta không còn cảm thấy mình hoàn toàn đơn độc. Cầu nguyện cần sự thành thật. Chúng ta có thể đem đến cả sự mệt mỏi, giận dữ, bối rối và những câu hỏi chưa có lời giải. Không cần trang điểm tâm hồn trước khi đến với Chúa. Chính việc ở lại với Người trong sự thật của mình đã là một bước của lòng tin. Giữa nhịp sống bận rộn, thời gian cầu nguyện có thể không dài, nhưng cần có một sự hiện diện thật: đặt điện thoại xuống, ngừng một lúc những tính toán, nhớ mình đang ở trước tình yêu Thiên Chúa, trao cho Người điều đang nặng trong lòng. Từ sự gặp gỡ ấy, hy vọng dần có rễ sâu hơn những biến động của cảm xúc.
Đời sống bí tích giúp chúng ta tiếp tục được nuôi dưỡng trên hành trình. Khi tham dự Thánh lễ, chúng ta đem theo cả những điều tốt đẹp lẫn những phần đổ vỡ của tuần sống. Có người đến nhà thờ với lòng sốt sắng; có người đến trong mệt mỏi; có người đang bị một nỗi lo chiếm hết tâm trí. Điều quan trọng là tiếp tục mở lòng để được Thiên Chúa quy tụ và biến đổi. Sự hiệp thông với Chúa cần đi tiếp vào cách chúng ta sống sau khi rời nhà thờ. Một người vừa cầu nguyện cho bình an có thể bắt đầu bằng việc nói nhẹ hơn với người thân. Một người vừa tạ ơn có thể tập bớt phàn nàn về mọi điều. Một người vừa xin lòng thương xót có thể dành cho người khác cơ hội sửa sai. Trong bí tích Hòa giải, chúng ta cũng học đặt tên cho những điều sai của mình và đón nhận một khởi đầu mới. Có những lỗi lầm đã trở thành thói quen, khiến chúng ta ngại ngùng vì cứ phải thú nhận lại. Nhưng việc trở về cần đi cùng những quyết định cụ thể, sự nâng đỡ cần thiết và lòng kiên trì. Hy vọng giúp chúng ta không đầu hàng trước quá khứ. Nó cũng giúp chúng ta tránh thái độ hời hợt, bởi một sự tha thứ được đón nhận chân thành sẽ thúc đẩy chúng ta sống có trách nhiệm hơn với những người đã bị mình làm đau.
Một thử thách lớn của thời đại là chúng ta có quá nhiều thứ để chú ý nhưng lại quá ít thinh lặng để hiểu lòng mình. Mỗi ngày, những hình ảnh về thành công, sắc đẹp, tiền bạc và sự nổi tiếng liên tục đi qua trước mắt. Chúng tạo ra cảm giác rằng mình luôn thiếu một điều gì, luôn chậm hơn ai đó, luôn cần thêm một thành tựu để đáng được yêu. Ngay cả khi nghỉ ngơi, chúng ta vẫn có thể tiếp tục bị kéo vào cuộc so sánh ấy. Niềm hy vọng Nước Trời giúp chúng ta lấy lại một sự tự do căn bản: đời mình có giá trị trước khi được đưa lên màn hình, việc tốt có ý nghĩa ngay cả khi không được đăng, một cuộc gặp thân tình đáng quý ngay cả khi không có hình ảnh lưu lại. Chúng ta có thể sử dụng phương tiện truyền thông để học hỏi, liên kết và phục vụ, nhưng cần giữ khả năng sống trọn vẹn với những người đang ở trước mặt. Một đứa trẻ cần ánh mắt của cha mẹ. Một người già cần được nghe câu chuyện của mình. Một người bạn đang buồn cần sự chú ý đủ lâu để có thể nói thật. Một tâm hồn cần khoảng yên để biết mình đang lo gì và đang mong gì. Khi lấy lại những điều ấy, chúng ta có thể nhận ra rằng nhiều niềm vui sâu sắc đã ở rất gần nhưng từng bị tiếng ồn che khuất.
Hy vọng Nước Trời còn giúp chúng ta sống khôn ngoan với thời gian. Chúng ta có thể trì hoãn một lời xin lỗi vì nghĩ còn nhiều dịp. Có thể để việc thăm cha mẹ sang tuần sau, rồi tuần sau nữa. Có thể biết một tương quan đang xa dần nhưng chờ người kia chủ động. Có thể muốn thay đổi một thói quen gây hại nhưng luôn hẹn đến khi bớt bận. Trong khi đó, thời gian vẫn đi qua và nhiều cơ hội không trở lại nguyên vẹn. Ý thức về sự hữu hạn không cần khiến chúng ta sống trong hoảng sợ. Nó có thể giúp chúng ta dành chỗ cho điều thật sự quan trọng ngay hôm nay. Một cuộc gọi, một lần ngồi ăn cùng nhau, một lời cảm ơn, một bước trở về với Chúa, một quyết định chấm dứt điều sai: đó đều là những việc có thể thực hiện trong hiện tại. Chúng ta không cần chờ một ngày đời sống hoàn toàn thuận lợi mới bắt đầu sống sâu. Ngày đang có, với những giới hạn và trách nhiệm của nó, chính là nơi tình yêu được thực hiện. Người hướng về sự sống đời đời sẽ muốn sống thời gian hiện tại bằng một sự chú ý lớn hơn, bởi biết rằng mỗi ngày là một cơ hội được trao để trở thành người biết yêu.
Khi đến gần cuối đời, điều còn lại trong lòng con người thường có thể khác xa những gì từng chiếm hết sự chú ý. Một người đã dành nhiều năm để tranh hơn thua có thể chỉ mong được làm hòa với con. Một người luôn bận rộn có thể tiếc những buổi tối không ngồi lại với gia đình. Một người giữ thể diện suốt đời có thể cuối cùng chỉ cần một người đủ gần để nghe mình nói về nỗi sợ. Những kinh nghiệm ấy nhắc chúng ta suy nghĩ sớm hơn, khi còn có thể lựa chọn. Việc chuẩn bị cho giờ chết được thực hiện qua cách sống hôm nay: tập thành thật, tập buông những điều đang trói lòng, tập biết ơn, tập chăm sóc những tương quan, tập đón nhận sự tha thứ. Chúng ta vẫn cần làm những việc thực tế liên quan đến trách nhiệm với người thân, chăm sóc sức khỏe và những vấn đề cần sắp xếp. Đồng thời, có một việc sâu hơn là học phó thác đời mình. Chúng ta không tự cứu được mình bằng việc giữ chặt mọi thứ. Đến một lúc, cả sức khỏe, tài sản, vị trí và những kế hoạch đều phải được buông ra. Nếu đã tập đặt lòng tin nơi Thiên Chúa trong những điều nhỏ, chúng ta có thể được nâng đỡ để trao Người điều lớn nhất là chính sự sống của mình.
Nhưng trước khi đến giờ ấy, chúng ta còn được mời gọi sống. Sống với lòng biết ơn vì vẫn còn một ngày để yêu thương. Sống với sự tỉnh thức vì vẫn có những điều cần sửa đổi. Sống với lòng can đảm vì vẫn có những trách nhiệm cần nhận lấy. Sống với sự hiền lành vì có những người đang mang gánh nặng mà chúng ta chưa biết. Sống với niềm vui vì đời mình đang được Thiên Chúa mở ra cho một tương lai vượt quá những thất bại hiện tại. Có thể ngày mai vấn đề chưa được giải quyết hết. Có thể người thân chưa thay đổi. Có thể công việc vẫn khó, sức khỏe vẫn yếu, nỗi đau vẫn cần thời gian. Nhưng trong chính hoàn cảnh ấy, chúng ta vẫn có thể chọn một hành vi của tình yêu. Có thể nói một lời chân thành, làm một việc ngay thẳng, dành một chút thời gian để cầu nguyện, giúp một người đang cần, nhận một sự giúp đỡ mà không tự khinh mình. Mỗi lựa chọn như vậy giúp trái tim đi đúng hướng. Niềm hy vọng Nước Trời được thể hiện bằng sự trung thành với những bước ấy, qua từng ngày rất bình thường của đời người.
Lạy Chúa, xin dạy chúng con tìm niềm vui nơi tình yêu của Chúa. Chúng con thường dễ vui khi được khen, dễ buồn khi bị quên, dễ tin khi mọi sự thuận lợi, dễ nản khi những cố gắng chưa mang lại kết quả. Xin nâng đỡ những phần yếu đuối ấy trong chúng con. Xin cho chúng con biết đón nhận thành công bằng lòng biết ơn và đối diện với thất bại bằng sự khiêm tốn. Xin giúp chúng con nhớ rằng mỗi người đang sống bên mình đều quý giá trước mặt Chúa, để chúng con bớt nóng nảy, bớt xét đoán, biết lắng nghe và biết chăm sóc. Xin gìn giữ những gia đình đang mệt mỏi, những người bệnh đang lo sợ, những người già đang cô đơn, những người trẻ chưa tìm thấy hướng đi, những người đang đau vì mất người thân. Xin cho người phục vụ có lòng trong sáng, người lầm lỗi có can đảm trở về, người bị tổn thương có sự nâng đỡ để được chữa lành. Xin cho niềm hy vọng sự sống đời đời đi vào cách chúng con sử dụng thời gian, làm việc, nói năng, cầu nguyện và yêu thương. Khi còn được sống trên trần gian, xin giúp chúng con sống có trách nhiệm với từng ngày được trao. Và khi đến giờ phải phó thác tất cả, xin cho chúng con được đặt đời mình trong lòng thương xót của Chúa, với niềm tin rằng tình yêu Chúa đã nâng đỡ chúng con trên hành trình và sẽ đưa chúng con đến sự sống viên mãn nơi Người.
Lm. Anmai, CSsR.
TÊN CON TRONG TÌNH YÊU THIÊN CHÚA
Có những ngày người ta trở về nhà với một niềm vui rất lớn vì công việc đã hoàn thành, vì nỗ lực được nhìn nhận, vì điều mong đợi cuối cùng cũng đến. Nhưng cũng có những ngày người ta trở về với đôi vai nặng trĩu, không muốn nói thêm một lời, không muốn gặp thêm một ai, chỉ muốn đóng cửa lại để khỏi phải giải thích tại sao mình đã cố gắng nhiều mà vẫn thất bại. Cuộc đời chúng ta thường đong đưa giữa hai trạng thái ấy. Khi được khen, lòng sáng lên; khi bị chê, lòng tối lại. Khi có người cần đến mình, ta thấy mình có giá trị; khi không còn được nhắc tên, ta bắt đầu nghi ngờ ý nghĩa sự hiện diện của mình. Khi làm được điều gì tốt đẹp, ta dễ tin rằng mình đang đi đúng đường; khi mọi việc không như ý, ta lại tự hỏi liệu Thiên Chúa còn ở gần mình hay không. Và cứ như thế, niềm vui của chúng ta bị treo trên những điều rất mong manh: một lời công nhận, một kết quả thuận lợi, một sự đáp trả, một vị trí, một thành công, một cảm giác được yêu thích. Chỉ cần một trong những điều ấy thay đổi, lòng ta đã có thể chao đảo. Nhưng trong chiều sâu đời sống đức tin, có một niềm vui bền hơn những điều thay đổi ấy: niềm vui biết rằng mình được Thiên Chúa biết đến, được Người yêu thương, được mời gọi bước vào sự sống của Người. Đó là niềm vui của một người có nơi để trở về, ngay cả khi chưa tìm được chỗ đứng giữa cuộc đời; niềm vui của một người được đón nhận, ngay cả khi chưa biết phải kể thế nào về những thất bại của mình; niềm vui của một người mang một cái tên mà Thiên Chúa không coi là xa lạ.
Tên của một người là điều rất nhỏ nhưng cũng rất sâu. Giữa đám đông, một tiếng gọi đúng tên có thể làm ta quay lại. Giữa nơi xa lạ, gặp một người nhớ tên mình có thể khiến ta thấy bớt cô đơn. Có những cái tên được gọi bằng giọng thương yêu của mẹ, bằng sự trìu mến của cha, bằng nỗi nhớ của một người thân đã lâu không gặp. Có những cái tên chỉ xuất hiện trên hồ sơ, trên bảng điểm, trên giấy báo nợ, trên bệnh án, trên một danh sách chờ đợi. Có người cả đời được gọi bằng chức vụ, đến lúc mất chức vụ mới nhận ra ít ai còn gọi mình bằng sự thân tình. Có người bị gọi bằng lỗi lầm, như thể tất cả những gì họ đã sống chỉ còn được thu gọn vào một lần sa ngã. Có người bị gọi bằng khiếm khuyết, bằng hoàn cảnh, bằng sự nghèo khó, bằng một nhãn hiệu người khác gắn lên đời mình. Dần dần, họ cũng nhìn mình bằng cách gọi ấy. Họ quên rằng trước khi là người thất bại, người bệnh, người mắc nợ, người bị bỏ rơi, họ là một con người có phẩm giá, có khả năng yêu thương, có một lịch sử không ai hiểu hết. Trong tương quan với Thiên Chúa, tên chúng ta mang theo cả con người ấy: những điều tốt lành đã lớn lên, những điều còn cần chữa lành, những ước muốn chưa thành lời, những nỗi sợ chưa dám thú nhận, những bước chân đã đi lạc và cả niềm khao khát được trở về. Thiên Chúa không chỉ biết điều chúng ta làm. Người biết chúng ta là ai, và Người mời chúng ta trở nên trọn vẹn hơn trong tình yêu của Người.
Vì thế, hình ảnh tên mình được ghi trên trời mở ra một chiều sâu lớn hơn mọi danh sách thành tích dưới đất. Đó là lời mời gọi nhận ra rằng đời ta có một hướng đi vượt khỏi sự nổi tiếng, có một ý nghĩa vượt khỏi sự hữu dụng, có một tương lai vượt khỏi những gì mắt mình đang thấy. Nhưng niềm hy vọng ấy cần được sống với lòng khiêm tốn. Chúng ta không biến nó thành sự bảo đảm dễ dãi rằng cứ mang danh Kitô hữu thì mọi chọn lựa đều không còn quan trọng. Tình yêu Thiên Chúa luôn đi bước trước, và chính tình yêu ấy mời gọi ta đáp lại bằng một đời sống cụ thể. Được yêu thương không khiến việc hoán cải trở nên thừa thãi; được yêu thương cho ta can đảm hoán cải. Được gọi vào sự sống không khiến ta coi nhẹ tội lỗi; được gọi vào sự sống khiến ta muốn rời khỏi những điều đang làm tâm hồn mình chết dần. Một người biết có mái nhà chờ đón sẽ có thêm sức để bước về, nhưng người ấy vẫn cần bước. Một người biết mình được tha thứ sẽ có thêm lòng tin để nhận lỗi, nhưng người ấy vẫn cần mở lòng. Bởi vậy, niềm vui của người môn đệ vừa có sự bình an của lòng tín thác, vừa có sự tỉnh thức của một người đang đi đường. Ta hy vọng vào lòng thương xót, ta đón nhận ân sủng, ta cố gắng trung thành từng ngày, và khi ngã xuống, ta không nằm lại trong tuyệt vọng.
Nhiều khi điều làm chúng ta mất bình an không phải chỉ là thiếu thành công, mà là đã để thành công quyết định quá nhiều về giá trị của mình. Một người cha làm ăn khó khăn có thể nghĩ mình không còn xứng đáng được kính trọng. Một người mẹ thấy con đi sai đường có thể kết luận rằng cả đời mình đã thất bại. Một người trẻ thi trượt có thể tưởng tương lai đã khép lại. Một người phục vụ giáo xứ không được cảm ơn có thể thấy tất cả công sức trở thành vô nghĩa. Một linh mục đứng trước những giới hạn của công việc mục vụ có thể đau đớn vì cảm giác mình chưa đem lại điều mong đợi. Những nỗi đau ấy là thật, và không thể chữa bằng vài lời khuyên vội vàng. Tuy nhiên, chính trong những hoàn cảnh ấy, ta cần trở về với nền tảng sâu nhất của đời mình. Ta có trách nhiệm với công việc, nhưng con người ta lớn hơn kết quả công việc. Ta cần nhìn nhận thiếu sót, nhưng thiếu sót không phải toàn bộ căn tính của ta. Ta cần sửa những điều làm chưa tốt, nhưng việc sửa chữa sẽ trở nên lành mạnh hơn khi ta không bắt đầu từ sự khinh ghét chính mình. Thiên Chúa có thể dẫn ta đi qua một thất bại để học cách yêu thương chín chắn hơn, cầu nguyện chân thật hơn, cộng tác khiêm nhường hơn, đón nhận người khác bao dung hơn. Có những điều chỉ khi không còn được nâng đỡ bằng thành tích, ta mới nhận ra mình đã đặt lòng vào đâu.
Nguy cơ ấy cũng hiện diện trong đời sống đạo. Ta có thể bắt đầu một việc phục vụ bằng tình yêu rất trong sáng, rồi dần dần gắn niềm vui của mình với việc được thấy, được nhắc, được cần đến. Ban đầu ta vui vì người khác được giúp đỡ; sau đó ta chỉ vui khi sự giúp đỡ ấy mang dấu ấn của mình. Ban đầu ta mong cộng đoàn lớn lên; sau đó ta khó chịu nếu cộng đoàn lớn lên nhờ một người khác. Ban đầu ta sẵn sàng làm việc âm thầm; sau đó ta thấy công việc âm thầm là thiệt thòi. Không phải mọi mong muốn được ghi nhận đều xấu. Một lời cảm ơn chân thành có thể nâng đỡ người đang mệt, và cộng đoàn cần biết trân trọng công sức của nhau. Nhưng nếu lời cảm ơn trở thành điều kiện để ta tiếp tục yêu thương, tâm hồn ta sẽ phải sống trong sự chờ đợi triền miên. Ta sẽ luôn đếm xem ai đã nhớ mình, ai đã quên mình, ai được khen nhiều hơn mình. Công việc thánh thiện khi ấy vẫn còn ở bên ngoài, nhưng bên trong có thể đã bị chi phối bởi sự cạnh tranh. Trở về với niềm vui được Thiên Chúa yêu thương giúp ta nhận ra sự thay đổi ấy mà không cần che giấu. Ta có thể thành thật thưa với Người rằng mình đang muốn được chú ý, đang buồn vì bị bỏ quên, đang ghen tị với một người khác. Chính sự thành thật đó mở ra một lối chữa lành.
Một người được chữa lành trong tương quan với Thiên Chúa sẽ dần có tự do để vui trước điều tốt người khác làm. Họ có thể biết ơn khi được góp phần, và cũng có thể biết ơn khi không giữ vai trò chính. Họ có thể làm hết sức trong phần việc được giao, rồi trao lại kết quả mà không cố giữ quyền sở hữu trên mọi điều. Họ không còn phải xuất hiện trong mọi câu chuyện mới cảm thấy mình hiện hữu. Họ có thể ngồi ở một chỗ bình thường, lắng nghe một người bình thường, làm một việc bình thường, mà vẫn thấy ngày sống có ý nghĩa. Tự do ấy rất quý, bởi nhiều mệt mỏi của chúng ta đến từ việc phải liên tục chứng minh mình quan trọng. Ta sợ bị thay thế, sợ bị lãng quên, sợ người khác làm tốt hơn, sợ mình không còn có tiếng nói. Nhưng một cộng đoàn được xây dựng bằng những nỗi sợ ấy sẽ khó có sự hiệp thông sâu xa. Người ta có thể cộng tác ở bên ngoài mà phòng thủ ở bên trong. Người ta có thể nói về tình huynh đệ mà vẫn âm thầm bảo vệ địa vị của mình. Khi mỗi người đặt lòng vào tình yêu Thiên Chúa, sự cộng tác có cơ hội trở nên trong sáng hơn. Ta nhìn người bên cạnh như người cùng được gọi, cùng được yêu, cùng mang trách nhiệm, cùng cần lòng thương xót. Điều tốt của họ có thể trở thành niềm vui của ta, vì cả hai đều đang phục vụ một sự sống lớn hơn bản thân mình.
Có một cách rất cụ thể để nhận biết niềm vui của ta đang dựa vào đâu: nhìn vào phản ứng của mình khi công việc không thuận lợi. Khi mọi sự tốt đẹp, lòng tín thác và lòng tự mãn đôi khi có vẻ rất giống nhau. Cả hai đều có thể khiến một người nói mình vui, mình biết ơn, mình tin tưởng. Nhưng khi bị hiểu lầm, khi kế hoạch bị đổi, khi nỗ lực không được nhìn nhận, khi người khác không đáp lại như mong đợi, điều sâu kín mới lộ ra. Có người vẫn đau nhưng có thể cầu nguyện; có người đau rồi lập tức muốn làm tổn thương người khác. Có người cần thời gian để bình tĩnh; có người biến nỗi buồn thành sự trừng phạt. Có người nhận ra mình cần nghỉ ngơi; có người cố làm nhiều hơn để giành lại cảm giác có giá trị. Những phản ứng ấy không phải để ta tự kết án, mà để ta hiểu mình. Đời sống thiêng liêng cần sự hiểu biết chân thật đó. Ta khó trao cho Thiên Chúa điều mình không chịu nhìn nhận. Ta khó xin chữa lành một vết thương mình luôn gọi là lỗi của người khác. Ta khó lớn lên trong tự do nếu cứ nghĩ mọi bực bội của mình đều là lòng nhiệt thành. Có khi điều cần thay đổi trước tiên là cách ta tìm kiếm sự bảo đảm cho bản thân giữa công việc phục vụ.
Niềm vui được thuộc về Thiên Chúa không đòi ta phải luôn có cảm xúc vui vẻ. Một người đang chịu tang có thể tin tưởng sâu xa mà vẫn khóc rất nhiều. Một người đang điều trị bệnh có thể cầu nguyện chân thành mà vẫn lo sợ trước mỗi kết quả xét nghiệm. Một người đang chăm sóc cha mẹ già có thể yêu thương hết lòng mà vẫn kiệt sức. Một người đang đi qua khủng hoảng gia đình có thể bám chặt vào Chúa mà vẫn không biết ngày mai sẽ ra sao. Không nên đặt thêm lên những người ấy gánh nặng phải tỏ ra vui để chứng minh đức tin. Có những lúc niềm vui chỉ hiện diện như một khoảng bình an rất nhỏ trong lòng, đủ để người ta không buông tay. Có những lúc niềm vui là khả năng tiếp tục làm điều cần làm dù không còn hứng thú. Có những lúc niềm vui là nhận được một bữa cơm, một lời hỏi thăm, một người chịu ngồi bên cạnh mà không giảng giải. Có những lúc niềm vui là dám đi tìm sự giúp đỡ thay vì chịu đựng một mình. Thiên Chúa có thể nâng đỡ ta qua những cách rất gần gũi ấy. Người không đòi chúng ta trở thành những con người không biết đau. Người mời chúng ta sống nỗi đau trong một tương quan còn có hy vọng, còn có sự nâng đỡ, còn có chỗ cho tình yêu.
Bởi vậy, cầu nguyện là nơi ta học đem cả con người thật đến trước mặt Chúa. Ta có thể quen với việc trình bày những điều tốt đẹp, những quyết tâm, những việc đã làm, những lời đạo đức đã thuộc. Nhưng trong thinh lặng, ta cần để những điều khó nói cũng được bước vào lời cầu nguyện: sự ganh tị, lòng sợ hãi, cảm giác bị bỏ rơi, sự khô khan, những ý nghĩ làm mình xấu hổ, nỗi mệt mỏi khiến mình không còn muốn cố gắng. Thiên Chúa biết những điều ấy, nhưng việc ta tự nguyện mở lòng có ý nghĩa rất lớn. Nó làm cho tương quan trở nên chân thật. Nó giúp ta thôi dùng lời cầu nguyện như một cách giữ hình ảnh tốt đẹp về mình. Một người con có thể về nhà trong bộ áo lấm bẩn; điều cần thiết là chịu bước vào và để mình được chăm sóc. Đôi khi lời cầu nguyện sâu nhất chỉ là một lời xin rất ngắn, thốt ra giữa ngày bận rộn, trong lúc rửa chén, chờ xe, ngồi bên giường bệnh, đi qua hành lang bệnh viện hoặc trước khi mở cửa bước vào một cuộc nói chuyện khó khăn. Không phải lúc nào ta cũng tìm được lời hay. Nhưng lòng chân thành có thể hiện diện ngay cả khi câu chữ vụng về. Dần dần, qua những lần trở về như thế, ta học sống dưới ánh nhìn của Thiên Chúa và bớt lệ thuộc vào những ánh nhìn khiến mình bất an.
Trong đời sống gia đình, sự lệ thuộc vào thành tích thường bắt đầu rất sớm. Một đứa trẻ có thể học rằng mình được yêu nhiều hơn khi học giỏi, ngoan hơn, đạt giải, khiến cha mẹ hãnh diện. Người lớn có thể không chủ ý truyền đi điều đó, nhưng cách nói, cách so sánh, cách vui buồn của mình đôi khi khiến trẻ hiểu như vậy. Có những em sợ đem bài điểm thấp về nhà không chỉ vì sợ bị phạt, mà vì sợ mình trở thành đứa con kém đáng yêu. Có những người trưởng thành vẫn mang nỗi sợ ấy suốt đời: phải giỏi mới xứng đáng, phải làm được mới được giữ lại, phải không gây thất vọng mới có chỗ trong lòng người khác. Một gia đình sống đức tin có thể giúp chữa lành nỗi sợ này bằng cách yêu thương có trách nhiệm và ổn định. Cha mẹ vẫn hướng dẫn, vẫn đòi hỏi con cố gắng, vẫn sửa lỗi, nhưng để con biết rằng sự sửa dạy diễn ra trong tình yêu. Vợ chồng vẫn cần góp ý cho nhau, nhưng không biến mỗi thiếu sót thành bằng chứng rằng người kia không còn đáng quý. Con cái vẫn cần chăm sóc cha mẹ già, và sự chăm sóc ấy phải nhìn thấy phẩm giá của người không còn làm được nhiều việc. Khi một mái nhà biết gìn giữ phẩm giá của nhau qua những giới hạn, mái nhà ấy đang giúp các thành viên cảm nhận phần nào sự bền vững của tình yêu Thiên Chúa.
Người cao tuổi đặc biệt cần được nâng đỡ trong điều này. Sau nhiều năm làm việc, nuôi con, gánh vác gia đình, họ có thể bước vào một giai đoạn mà mọi sự chậm lại. Đôi tay không còn khỏe, trí nhớ không còn nhanh, những việc trước đây làm dễ dàng nay cần người giúp. Có người bắt đầu ngại nói vì sợ mình lặp lại. Có người không dám xin vì sợ làm phiền. Có người thấy con cháu bận rộn rồi tự thu mình vào một góc, nghĩ rằng mình chỉ còn là gánh nặng. Nếu đời người chỉ được đo bằng khả năng sản xuất, tuổi già sẽ trở thành một mất mát rất lớn. Nhưng trước mặt Thiên Chúa, một con người không mất giá trị vì bước chân chậm hơn. Lòng biết ơn, sự kiên nhẫn, một lời cầu nguyện, một sự hiện diện hiền hòa vẫn có thể đem lại nhiều điều cho gia đình. Và ngay cả khi người bệnh không còn nói được, không còn biểu lộ rõ ràng, họ vẫn xứng đáng được chăm sóc bằng sự kính trọng. Tình yêu không chờ một người phải hữu dụng mới đến gần. Nhìn người già bằng ánh mắt ấy cũng giúp chúng ta chuẩn bị cho tuổi già của chính mình: học đón nhận sự giúp đỡ, học sống khi không còn nắm quyền chủ động, học tin rằng mình vẫn là người được yêu.
Người trẻ cũng cần một nền tảng tương tự giữa bao nhiêu áp lực phải nổi bật. Có người thức dậy đã nhìn vào thành công của người khác, rồi bắt đầu ngày sống bằng cảm giác mình chậm hơn, kém hơn, thiếu hơn. Có người mang một hình ảnh vui vẻ trên mạng nhưng ngoài đời rất mệt. Có người được nhiều người biết đến mà không có ai để tâm sự thật lòng. Có người có thể nói chuyện với hàng trăm người nhưng không biết phải làm gì khi đối diện với chính mình trong thinh lặng. Cảm giác được chú ý có thể đến rất nhanh và mất cũng rất nhanh. Vì thế, một người trẻ cần những tương quan đủ sâu để mình có thể hiện diện mà không phải biểu diễn. Cần một gia đình biết lắng nghe, một người bạn biết giữ sự tin cậy, một cộng đoàn biết đón nhận, và đặc biệt cần một đời sống cầu nguyện giúp mình nhận ra căn tính không phụ thuộc hoàn toàn vào sự đánh giá của đám đông. Học hành, rèn luyện, phấn đấu vẫn rất cần. Nhưng mọi cố gắng ấy sẽ bớt gây tổn thương khi người trẻ biết rằng mình đang phát triển một cuộc đời đã có giá trị, đang chăm sóc những ân ban đã được trao, đang đáp lại một lời mời gọi yêu thương. Khi ấy, thành công có thể được đón nhận với lòng biết ơn, và thất bại có thể trở thành điều để học hỏi.
Một trong những hoa trái đẹp của niềm vui ấy là khả năng chú ý đến người bị bỏ quên. Khi không còn quá bận bảo vệ tên mình, ta có thể nhớ tên người khác. Ta có thể nhớ người quét sân nhà thờ, người giữ xe, người bán hàng nhỏ ngoài cổng, người già thường ngồi cuối hàng ghế, người mới đến chưa quen ai, người làm thuê chỉ xuất hiện lúc mọi người đã về. Ta có thể nhận ra đằng sau một công việc có một con người, đằng sau một sự im lặng có một hoàn cảnh, đằng sau một vẻ khó chịu có thể có một nỗi mệt mỏi lâu ngày. Nhớ tên không tự động giải quyết hết khó khăn của họ, nhưng sự quan tâm chân thành mở đầu cho một tương quan có phẩm giá. Từ đó, ta có thể hỏi điều họ cần, lắng nghe điều họ đang mang, giúp đỡ theo khả năng và tôn trọng sự riêng tư của họ. Lòng bác ái sẽ trở nên sâu hơn khi người được giúp không cảm thấy mình chỉ là một trường hợp được xử lý. Một phần rất thực tế của đời sống thừa sai là làm cho người khác cảm thấy họ được nhìn thấy bằng sự tử tế. Có người chưa sẵn sàng nghe một bài giáo lý dài, nhưng có thể bắt đầu tin vào điều tốt khi gặp một người biết giữ lời, biết lắng nghe và không lợi dụng sự yếu đuối của họ.
Sự tử tế ấy cần được đem vào cả những nơi có xung đột. Chúng ta dễ nói về phẩm giá con người khi đứng trước những người mình quý mến; khó hơn nhiều khi đứng trước người đã làm mình đau. Có những tổn thương cần được nhìn nhận rõ ràng, những hành vi cần được ngăn chặn, những trách nhiệm cần được thực hiện. Tha thứ không xóa bỏ nhu cầu bảo vệ người yếu thế, và lòng thương xót không làm sự thật trở thành thứ yếu. Tuy nhiên, ngay trong việc đòi hỏi công bằng, người môn đệ vẫn được mời giữ lòng mình khỏi sự say mê hạ nhục. Ta có thể phản đối điều sai mà không cố nghiền nát cả con người. Ta có thể thiết lập giới hạn mà không nuôi dưỡng thù hận. Ta có thể chưa sẵn sàng khôi phục một tương quan, nhưng bắt đầu cầu xin cho mình đừng bị nỗi đau điều khiển mọi ngày sống. Con đường ấy thường chậm. Có người cần thời gian dài, cần sự đồng hành, cần nhiều lần cầu nguyện, cần những bước nhỏ để ra khỏi lòng cay đắng. Thiên Chúa kiên nhẫn với tiến trình ấy. Niềm vui trong Người đôi khi lớn lên từ việc ta nhận ra mình vẫn có thể sống một ngày mà không để người đã làm mình đau chiếm hết tâm hồn.
Cũng có những người cần được giải thoát khỏi việc gọi chính mình bằng tội lỗi đã phạm. Sự hối hận là cần thiết khi ta làm điều sai, nhưng hối hận có thể trở thành một vòng khép kín nếu chỉ khiến ta nhìn lại lỗi mình mà không chịu bước tới. Một người có thể nhận ra tội lỗi, rồi vì quá xấu hổ mà tránh cầu nguyện, tránh bí tích, tránh cộng đoàn, tránh cả những người muốn giúp mình. Họ nghĩ phải trở nên tốt hơn trước rồi mới được đến gần Chúa. Nhưng chính trong tình trạng cần được chữa lành, ta được mời trở về. Việc xưng thú tội lỗi cách chân thành, đón nhận ơn tha thứ, thực hiện việc đền bù cần thiết và thay đổi những điều kiện khiến mình dễ sa ngã là những bước rất cụ thể. Ta không thể chỉ mong lòng bình an mà bỏ qua trách nhiệm với điều đã làm. Đồng thời, ta cũng không cần tiếp tục tự trừng phạt vô hạn sau khi đã thành tâm trở về. Lòng thương xót giúp ta nhận trách nhiệm và có sức sống tiếp. Có thể vẫn còn hậu quả phải gánh, có thể vẫn còn sự tin cậy phải xây dựng lại, có thể vẫn còn những thói quen cần sửa trong thời gian dài. Nhưng mỗi bước trung thành hôm nay có giá trị. Ta được phép bắt đầu lại bằng sự khiêm tốn, bằng lòng biết ơn và bằng quyết tâm cụ thể.
Đời sống đức tin trưởng thành thường được xây dựng trong những việc nhỏ như thế. Ta dễ mong một khoảnh khắc lớn sẽ thay đổi tất cả, nhưng phần lớn cuộc đời được hình thành bởi những điều lặp lại. Cách ta thức dậy, cách ta bắt đầu công việc, cách ta nói với người trong nhà, cách ta phản ứng khi bị gián đoạn, cách ta sử dụng tiền bạc, cách ta giữ lời hứa, cách ta kết thúc ngày sống: những điều ấy dần định hình tâm hồn. Một người có thể muốn yêu thương mọi người nhưng vẫn cần học cách nghe trọn một câu của người thân. Có thể muốn trở thành người quảng đại nhưng vẫn cần trả một khoản nợ đúng hẹn. Có thể muốn sống khiêm nhường nhưng vẫn cần tập nhận một lời góp ý mà không lập tức tự vệ. Có thể muốn cầu nguyện sâu nhưng vẫn cần dành một khoảng thời gian thật sự cho Chúa. Những bước nhỏ không gây ấn tượng mạnh, nhưng chúng tạo ra sự trung thành. Có ngày ta làm được, có ngày ta làm chưa tốt; điều quan trọng là chịu nhìn lại, chịu sửa, chịu bắt đầu tiếp. Một cuộc đời hướng về trời vẫn phải bước trên mặt đất, trong những bổn phận rõ ràng và những tương quan cụ thể.
Trong Thánh Lễ, ta được đưa trở về với nguồn sống ấy. Ta đến với những điều đã làm và những điều chưa làm, với lòng biết ơn và cả sự mỏi mệt. Có người đến sau một tuần đầy niềm vui, có người đến sau một tuần chỉ cố gắng chịu đựng. Có người cầu nguyện cho gia đình, có người lo cho một người thân đang bệnh, có người âm thầm xin ơn vượt qua một cám dỗ không ai biết. Cộng đoàn quy tụ những cuộc đời rất khác nhau, và mỗi người được mời mở lòng đón nhận ân sủng. Việc tham dự Thánh Lễ cách ý thức giúp ta học đặt đời mình trong mối tương quan với Thiên Chúa: lắng nghe, sám hối, dâng hiến, đón nhận, rồi được sai đi. Khi trở về nhà, đời sống ấy cần tiếp tục trong cách ta đối xử với người bên cạnh. Một lời cầu nguyện sốt sắng sẽ cần được nối dài bằng sự kiên nhẫn. Một lời xin ơn bình an sẽ cần được nối dài bằng việc thôi gieo lời cay nghiệt. Một lời dâng hiến sẽ cần được nối dài bằng sự trung thực trong công việc. Có thể ta chưa làm được trọn vẹn, nhưng mỗi lần nhận ra khoảng cách giữa lời cầu nguyện và cách sống, ta có cơ hội xin Chúa dẫn mình tiến thêm.
Người bé nhỏ có một chỗ rất đặc biệt trong hành trình này. Sự bé nhỏ không đồng nghĩa với thiếu khả năng, thiếu hiểu biết hoặc không dám suy nghĩ. Đó là thái độ nhận biết giới hạn của mình và mở lòng đón nhận. Một người có nhiều kiến thức vẫn có thể bé nhỏ khi biết lắng nghe, biết sửa nhận định, biết kính trọng điều mình chưa hiểu hết. Một người có ít học vẫn có thể khép kín nếu luôn cho mình đúng và không chịu để ai hướng dẫn. Sự bé nhỏ mà đời sống đức tin cần là sự mềm mại của tâm hồn trước ân sủng. Ta có thể chăm chỉ học hỏi và đồng thời cầu nguyện. Có thể suy nghĩ nghiêm túc và đồng thời biết tạ ơn. Có thể sử dụng khả năng của mình và đồng thời nhận ra mọi khả năng đều cần được hướng dẫn bởi tình yêu. Khi có thái độ ấy, những điều đơn sơ trở nên quý giá: một lời kinh đã đọc từ thuở nhỏ, một bài học về sự trung thực, một cử chỉ tha thứ, một người sống hiền lành giữa khó khăn. Ta không cần coi thường trí tuệ để đến gần Thiên Chúa. Ta cần để trí tuệ cùng với toàn bộ con người mình bước vào tương quan khiêm tốn với Người.
Có lẽ mỗi tối, trước khi ngủ, ta nên dành ít phút để nhìn lại ngày sống bằng một ánh nhìn nhân hậu và chân thật. Hôm nay điều gì đã làm ta vui? Điều gì đã làm ta mất bình an? Ta đã chờ đợi lời công nhận ở đâu? Ta đã làm tổn thương ai vì sự thất vọng của mình? Ta đã nhận được sự giúp đỡ nào mà chưa biết cảm ơn? Ta đã bỏ qua ai vì quá bận với công việc? Ta đã có khoảnh khắc nào nhớ đến Chúa giữa những sinh hoạt bình thường? Việc nhìn lại ấy giúp ta nhận ra những chuyển động trong lòng và đem chúng vào lời cầu nguyện. Có khi ta cần xin lỗi một người. Có khi cần thay đổi lịch làm việc để có thời gian cho gia đình. Có khi cần nghỉ ngơi vì đã kiệt sức. Có khi cần thôi nhận thêm việc để làm tốt điều đã nhận. Có khi cần kiên trì một việc phục vụ dù chưa thấy kết quả. Có khi cần tìm người hướng dẫn để không tiếp tục tự giải quyết mọi sự trong cô độc. Đức tin càng sâu càng giúp ta sống thực tế hơn, bởi tình yêu luôn cần một hình thức cụ thể để có thể chạm đến đời người.
Đến một lúc nào đó, mỗi người sẽ phải đối diện với giới hạn cuối cùng của đời mình. Những công việc đang dang dở sẽ được trao lại. Những vật dụng quen thuộc sẽ không còn theo mình. Những điều từng khiến mình mất ngủ có thể bỗng trở nên nhỏ bé. Ta sẽ nhận ra thời gian không vô tận, và những người đang ở gần mình hôm nay là một ân ban cần được quý trọng. Nghĩ đến sự chết trong ánh sáng đức tin có thể giúp ta sống ngày hiện tại sâu hơn. Ta có thể bớt trì hoãn lời xin lỗi, bớt giữ chặt một sự hơn thua, bớt tiêu phí sức lực vào việc chứng minh mình hơn người. Ta có thể hỏi điều gì thật sự đáng mang trong tâm hồn, điều gì cần buông, điều gì cần làm khi vẫn còn có thể. Niềm hy vọng về sự sống đời đời giúp ta nhìn công việc, gia đình, tiền bạc, danh dự theo một trật tự sáng rõ hơn. Những điều ấy vẫn quan trọng trong trách nhiệm của đời sống, nhưng chúng cần được phục vụ bởi tình yêu và hướng đến điều thiện. Một ngày đã sống trong lòng bác ái có thể rất bình thường đối với người ngoài, nhưng lại có chiều sâu lớn lao đối với người đã chịu mở lòng.
Và khi không còn đủ sức để làm những điều từng làm, ta vẫn có thể học một hình thức dâng hiến mới. Người từng chăm sóc người khác nay học đón nhận sự chăm sóc. Người từng nói nhiều nay học cầu nguyện trong thinh lặng. Người từng điều hành mọi việc nay học tin tưởng vào người được trao trách nhiệm. Những chuyển đổi ấy không dễ, vì chúng chạm đến cách ta đã hiểu về chính mình suốt nhiều năm. Có thể ta buồn, có thể ta thấy mình mất chỗ đứng, có thể ta cần thời gian để thích nghi. Nhưng trong sự thay đổi ấy, lời mời gọi của Thiên Chúa vẫn tiếp tục. Người vẫn gọi ta yêu thương với khả năng hiện tại, vẫn gọi ta sống lòng biết ơn, vẫn gọi ta trao phó điều không còn kiểm soát được. Có những người cuối đời đem lại cho gia đình một bài học rất đẹp bằng cách chịu đựng bệnh tật với sự chân thật, biết xin giúp đỡ, biết cảm ơn, biết quan tâm đến người đang chăm mình. Có những lời hòa giải được nói khi sức khỏe đã yếu đi, nhưng lại mở ra sự bình an lâu dài cho cả gia đình. Ân sủng vẫn có thể làm việc trong một đời sống chậm lại.
Hôm nay, nếu đang vui vì thành công, ta hãy tạ ơn và xin cho niềm vui ấy làm mình quảng đại hơn. Nếu đang buồn vì thất bại, ta hãy đem nỗi buồn đến với Chúa và nhận lại can đảm cho bước tiếp theo. Nếu đang thấy mình bị quên, ta hãy tìm một khoảng thinh lặng để nhớ rằng đời mình vẫn có một lời mời gọi. Nếu đang phục vụ mà mệt mỏi, ta hãy chăm sóc những giới hạn của mình và xin một tình yêu được làm mới. Nếu đang mắc kẹt trong tội lỗi, ta hãy mở đường trở về bằng một quyết định cụ thể. Nếu đang có một người bên cạnh cần được quan tâm, ta hãy dành cho họ một sự hiện diện thật lòng. Tên mình hướng về trời cũng mời ta cúi xuống những phận người trên đất. Niềm hy vọng đời đời cần được biểu lộ trong cách sống hôm nay: một bàn tay biết giúp, một lời nói biết gìn giữ phẩm giá, một sự lựa chọn trung thực, một thái độ kiên nhẫn, một lòng thương xót có trách nhiệm. Khi sống như thế, ta dần nhận ra niềm vui sâu xa không phải là một điều phải săn đuổi ở nơi thật xa. Nó có thể lớn lên ngay trong bổn phận, trong sự sám hối, trong lời cầu nguyện, trong tình huynh đệ và trong lòng biết ơn.
Lạy Chúa, xin dẫn con trở về với tình yêu của Chúa mỗi khi con đánh mất bình an vì những điều không như ý. Xin giúp con nhận ra giá trị của đời mình để con có thể sử dụng những ân ban cách quảng đại. Xin cho con làm việc tận tâm, đón nhận thành công với lòng biết ơn và đi qua thất bại với lòng khiêm nhường. Khi con muốn được người khác chú ý, xin giúp con hiểu nỗi khao khát của mình và đem nó đến với Chúa. Khi con ganh tị, xin mở lòng con trước điều tốt nơi người khác. Khi con bị tổn thương, xin nâng đỡ con trên con đường tìm lại bình an. Khi con làm điều sai, xin ban cho con lòng can đảm nhận lỗi, sửa đổi và đón nhận ơn tha thứ. Xin cho con biết nhớ đến những người ít được nhớ đến, biết kính trọng những người không còn làm được nhiều việc, biết lắng nghe những người không có lời nói mạnh mẽ. Xin gìn giữ gia đình con trong một tình yêu giúp mỗi người được lớn lên, được sửa mình và được trở về. Xin cho niềm hy vọng về trời làm con sống ngày hôm nay trung thành hơn, chân thật hơn và nhân hậu hơn. Và khi hành trình trần thế của con đi đến cuối đường, xin đón nhận con trong lòng thương xót của Chúa, với tất cả những gì con đã cố gắng yêu thương và tất cả những gì còn cần được tình yêu Chúa hoàn tất.
Lm. Anmai, CSsR.
NIỀM VUI KHÔNG AI CÓ THỂ LẤY MẤT
Suy niệm Thứ Bảy tuần XXVI Thường niên
Có những buổi tối, sau một ngày làm việc hết sức, con người ngồi xuống và bỗng thấy lòng mình trống rỗng. Công việc đã hoàn thành, điện thoại vẫn liên tục báo tin, người khác có thể vừa gửi một lời khen, nhưng sâu bên trong lại có một nỗi mệt không dễ gọi tên. Ta đã làm được nhiều việc, nhưng chưa chắc đã cảm thấy mình được yêu. Ta đã giúp được nhiều người, nhưng chưa chắc đã biết phải đặt sự yếu đuối của mình ở đâu. Ta đã hiện diện giữa đám đông, nhưng vẫn có thể cảm thấy cô độc khi trở về căn phòng nhỏ. Có khi điều làm ta kiệt sức không chỉ là khối lượng công việc, mà còn là nhu cầu phải chứng minh giá trị của mình qua từng công việc. Ta sợ một ngày không còn hữu ích. Ta sợ người khác tìm được ai đó giỏi hơn. Ta sợ tiếng vỗ tay ngừng lại thì cuộc đời mình cũng mất ý nghĩa. Bởi thế, giữa những điều rất bình thường của đời sống, có một câu hỏi âm thầm nhưng quyết định: niềm vui của ta đang được đặt ở đâu? Nếu niềm vui chỉ nằm trong những gì ta làm được, ta sẽ phải sống trong nỗi lo giữ cho thành công không bao giờ chấm dứt. Nếu niềm vui chỉ nằm trong sự nhìn nhận của người khác, ta sẽ phải liên tục đoán xem họ nghĩ gì về mình. Nếu niềm vui chỉ nằm trong việc mọi sự diễn ra đúng ý, ta sẽ rất khó bình an giữa một thế giới vốn có quá nhiều điều ngoài khả năng kiểm soát. Đời sống đức tin mở ra một nền tảng sâu hơn: ta có thể vui vì được Thiên Chúa yêu thương, được sống trong tương quan với Người, được đón nhận trước cả khi có điều gì để trình bày như một thành tích.
Niềm vui ấy không khiến những thành quả trở nên vô nghĩa. Một công việc được thực hiện chu đáo vẫn đáng quý. Một người được nâng đỡ vẫn là điều đáng mừng. Một gia đình tìm lại được tiếng cười vẫn làm lòng ta ấm lên. Một người trẻ bước qua được thời gian tuyệt vọng vẫn khiến cộng đoàn có lý do để tạ ơn. Người có đức tin không cần giả vờ thờ ơ trước những điều tốt đẹp mình góp phần thực hiện. Tuy nhiên, cần phân biệt niềm vui trước hoa trái với việc lấy hoa trái làm bằng chứng duy nhất cho giá trị của bản thân. Khi hai điều ấy bị trộn lẫn, ta có thể bắt đầu phục vụ rất quảng đại rồi dần dần trở thành người đòi hỏi được công nhận. Ta có thể khởi đầu bằng lòng thương người rồi về sau khó chịu khi người được giúp đỡ không nhớ đến mình. Ta có thể nhận một trách nhiệm với ý muốn xây dựng cộng đoàn rồi dần xem trách nhiệm ấy như phần sở hữu riêng. Một sự thay đổi nhỏ trong nội tâm có thể làm biến dạng cả một hành trình dài: người phục vụ bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến chỗ đứng của mình, ít hơn đến người đang cần được phục vụ. Những việc bên ngoài vẫn tiếp tục, nhưng lòng bên trong không còn tự do như trước. Vì thế, giữa lúc có nhiều điều đáng mừng, ta cũng cần trở về với Chúa để Người thanh luyện chính niềm vui của mình.
Đời sống đạo rất dễ bị cuốn vào thói quen so sánh. Người này làm được nhiều hơn, người kia nói hay hơn, cộng đoàn nọ đông hơn, chương trình kia được chú ý hơn. Những điều có thể đếm được thường tạo cảm giác chắc chắn, nên ta dễ bám vào chúng để đánh giá mọi sự. Nhưng có những điều quan trọng nhất lại không thể đếm một cách đầy đủ. Không ai đo được một người mẹ đã phải cố gắng thế nào để giữ giọng nói dịu dàng sau một ngày lao động mệt mỏi. Không ai thống kê được những lần một người cha muốn bỏ cuộc nhưng vẫn đứng dậy vì trách nhiệm với gia đình. Không ai nhìn hết sự can đảm của một người đang tập trở lại với đời sống cầu nguyện sau nhiều năm xa cách. Không ai biết trọn nỗi cô đơn của người phục vụ âm thầm, ngày nào cũng mở cửa, dọn dẹp, chuẩn bị, rồi ra về khi những người khác còn vui vẻ trò chuyện. Trong ánh nhìn của Thiên Chúa, cuộc đời không bị thu nhỏ thành những con số. Người thấy sự thật của trái tim, thấy cái giá của lòng trung thành, thấy những cố gắng nhỏ mà ngay cả người thực hiện cũng ngại nhắc tới. Điều ấy đem lại một sự an ủi sâu xa: ta không cần làm cho đời mình trở nên ồn ào để được Chúa nhận biết.
Một người có thể được nhiều người biết tên mà vẫn chưa cảm thấy được ai hiểu. Ngược lại, có người sống rất kín đáo nhưng có một sự bình an vững vàng vì biết mình được yêu. Tên gọi gắn với một con người cụ thể: một khuôn mặt, một lịch sử, một vết thương, một hy vọng, một cách yêu thương không hoàn toàn giống ai. Khi nghĩ về Thiên Chúa, ta thường dễ hình dung một Đấng cao cả đến mức đời sống bé nhỏ của mình khó có thể được Người quan tâm. Ta nghĩ đến vũ trụ bao la, đến bao nhiêu người đang đau khổ, đến những biến cố lớn, rồi tự hỏi lời cầu nguyện vụng về của mình liệu có đáng kể gì. Nhưng tình yêu không hoạt động theo cách của một cơ quan phải chia nhỏ sự chú ý vì quá tải. Thiên Chúa biết từng người trong sự riêng biệt của họ. Người không yêu một nhân loại mơ hồ rồi bỏ quên những con người cụ thể đang sống trong nhân loại ấy. Người biết người đang ngồi lặng ở cuối nhà thờ, người vừa trải qua một cuộc chia tay, người đang lo cho kết quả khám bệnh, người mang món nợ chưa biết cách trả, người ngoài mặt mạnh mẽ nhưng đêm xuống lại khóc. Được Chúa biết đến như thế là một nền tảng để ta tiếp tục sống, ngay cả khi sự nhìn nhận của người đời rất ít ỏi.
Có những người dành gần cả đời để tìm một lời xác nhận rằng mình có giá trị. Từ nhỏ họ đã quen bị so sánh, nên lớn lên họ luôn cố gắng hơn mức cần thiết. Họ khó nghỉ ngơi vì nghỉ ngơi làm họ thấy có lỗi. Họ khó từ chối vì sợ một lời từ chối sẽ khiến người khác không còn quý mình. Họ khó nhận sự giúp đỡ vì muốn giữ hình ảnh người luôn đủ sức. Ngay trong đời sống đạo, họ cũng có thể mang cùng một nỗi sợ ấy: phải làm thật nhiều, phải có mặt ở mọi nơi, phải nhận mọi việc, phải không được để ai thất vọng. Đằng sau vẻ nhiệt tình có thể là một tâm hồn đang xin được yêu bằng cách liên tục chứng minh rằng mình hữu ích. Người ấy cần được gặp Chúa trong một cách thức chữa lành hơn. Họ cần biết rằng mình có thể đến với Người khi chưa hoàn thành mọi việc, có thể cầu nguyện khi tâm trí còn rối, có thể nghỉ ngơi mà không mất phẩm giá, có thể thú nhận giới hạn mà không bị loại bỏ. Tình yêu của Chúa giúp con người phục vụ bằng sự tự do. Khi được yêu đủ sâu, ta có thể cho đi mà không biến mỗi việc cho đi thành một cuộc thương lượng âm thầm để đổi lấy sự công nhận.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với người đang làm việc trong cộng đoàn. Một người phục vụ lâu năm có thể bị tổn thương bởi những điều tưởng như rất nhỏ: tên mình bị bỏ sót, ý kiến mình không được hỏi, công việc mình làm được xem là đương nhiên, một người mới được khen trong khi sự cố gắng của mình ít ai nhắc tới. Những tổn thương ấy có thật, và không cần phải phủ nhận chúng bằng vài lời đạo đức vội vàng. Cộng đoàn cần học cách biết ơn, cần công bằng, cần quan tâm đến những người thường bị khuất sau thành quả chung. Nhưng người phục vụ cũng cần chăm sóc nội tâm để sự thiếu sót của người khác không dần chiếm hết trái tim mình. Nếu một lời cảm ơn bị thiếu có thể khiến ta phủ nhận toàn bộ ý nghĩa những năm tháng đã sống, thì có lẽ lòng ta đang quá lệ thuộc vào một nguồn nâng đỡ mong manh. Ta cần đưa nỗi buồn ấy vào cầu nguyện, gọi đúng tên điều làm mình đau, nhìn lại những mong đợi của bản thân, và xin ơn tiếp tục yêu trong sự trưởng thành. Có khi ta cần trao đổi thẳng thắn. Có khi cần nghỉ ngơi. Có khi cần thay đổi cách nhận trách nhiệm. Trong mọi trường hợp, cần giữ cho lòng mình khỏi biến thành một nơi chỉ còn lưu giữ những món nợ người khác chưa trả.
Người được sai đi luôn cần một nơi để trở về. Khi hoạt động liên tục, ta dễ nghĩ rằng cầu nguyện là khoảng thời gian có thể rút ngắn, còn công việc mới là phần thực sự cần thiết. Nhưng sau một thời gian, việc phục vụ có thể trở thành một cỗ máy chạy bằng thói quen và sự căng thẳng. Ta vẫn nói những lời đúng, nhưng ít còn sự dịu dàng. Ta vẫn tổ chức được nhiều việc, nhưng ngày càng thiếu kiên nhẫn với những con người cụ thể. Ta vẫn xuất hiện đúng giờ, nhưng trong lòng đã bắt đầu đếm xem bao lâu nữa mình được ra về. Những dấu hiệu ấy không nhất thiết cho thấy ta hết yêu Chúa; chúng có thể cho thấy ta đang cạn sức, đang mất sự quân bình, đang cần được chăm sóc. Trở về với Chúa là đem cả thành công lẫn thất vọng đến trước Người. Có ngày ta đem về một niềm vui và học cách tạ ơn. Có ngày ta đem về một sự bất lực và học cách xin giúp đỡ. Có ngày ta đem về một lỗi lầm và học cách nhận trách nhiệm. Có ngày ta chỉ đem về chính mình, mệt mỏi và không biết nói gì. Sự trở về ấy giữ cho người phục vụ còn là một người con, còn biết nhận lãnh, còn biết mình không phải nguồn của mọi sức mạnh.
Trong đời sống gia đình, niềm vui cũng cần được đặt trên một nền tảng sâu hơn những kết quả trước mắt. Cha mẹ vui khi con ngoan, khi con học tốt, khi gia đình có đủ điều kiện vật chất, khi những dự tính diễn ra thuận lợi. Nhưng một mái nhà sẽ rất mong manh nếu mọi người chỉ được đón nhận lúc họ đáp ứng mong đợi. Một đứa trẻ cần biết rằng điểm số thấp không làm em mất quyền được yêu. Một người chồng cần biết rằng thời gian thất nghiệp không khiến mình mất phẩm giá. Một người vợ cần biết rằng những ngày mệt mỏi, thiếu tươi vui, chưa chu toàn mọi việc vẫn không làm mình trở thành người kém đáng quý. Người già cần biết rằng sự chậm chạp của mình không khiến họ trở thành gánh nặng bị chịu đựng. Tình yêu trong gia đình lớn lên khi các thành viên học nhìn nhau bằng một ánh nhìn rộng hơn hiệu quả. Người thân của ta có một sự hiện diện đáng quý trước khi họ làm được điều gì cho ta. Khi điều ấy được sống thực sự, mái nhà trở thành nơi con người được hồi phục. Họ có thể bước vào với những thất bại ngoài đời mà vẫn biết có một chỗ ngồi, một bữa ăn, một lời hỏi han dành cho mình.
Một gia đình loan báo Tin Mừng bắt đầu từ chính cách các thành viên đối xử với nhau trong những lúc không có ai quan sát. Có thể cả nhà chưa biết diễn đạt những điều sâu xa về đức tin, nhưng người hàng xóm vẫn nhận ra một sức sống khác khi thấy họ chăm sóc người bệnh, giữ lời hứa, đối thoại sau bất đồng, và quan tâm đến người đang gặp khó khăn. Có thể họ không có điều kiện thực hiện những chương trình lớn, nhưng một bữa cơm được chia sẻ với người cô độc cũng mang theo một lời chứng. Có thể họ đang có nhiều vấn đề chưa giải quyết xong, nhưng cách họ cùng tìm sự giúp đỡ, cùng nhận lỗi và cùng cố gắng đã cho thấy đức tin đang hoạt động. Điều đáng lo không phải là một gia đình còn có giới hạn. Điều đáng lo là mọi người không còn muốn lắng nghe nhau, không còn tin rằng có thể thay đổi, không còn dành cho nhau một cơ hội. Niềm vui của gia đình có đức tin lớn lên từ việc nhận ra Chúa vẫn đang hiện diện trong hành trình còn dang dở ấy. Người có thể làm việc qua một cuộc trò chuyện thật lòng, một lần đi xưng tội, một lời xin lỗi, một quyết định ngừng làm tổn thương nhau.
Giữa thế giới hôm nay, con người thường bị thúc ép phải tự xây dựng hình ảnh của mình. Ta chọn điều sẽ đăng, cân nhắc điều sẽ nói, nhìn phản ứng của người khác, rồi dần quen đánh giá bản thân bằng sự chú ý nhận được. Một bức ảnh có nhiều người thích đem lại cảm giác phấn khởi. Một bài viết ít được quan tâm có thể khiến ta buồn hơn mức chính mình muốn thừa nhận. Trong môi trường ấy, ngay cả nội dung đạo đức cũng có thể bị biến thành phương tiện tìm kiếm sự nổi bật. Ta có thể nói về khiêm nhường nhưng lại khó chịu khi người khác được chú ý hơn. Ta có thể nói về bác ái nhưng dùng ngôn ngữ làm nhục người bất đồng. Ta có thể nói về cầu nguyện nhưng dành rất ít thời gian thực sự ở lại với Chúa. Cần có những khoảng lặng để nhìn lại: điều ta đang chia sẻ có xuất phát từ một đời sống được chăm sóc hay chỉ từ nhu cầu liên tục xuất hiện? Người khác đọc điều ta viết có được nâng đỡ để sống tốt hơn hay chỉ bị lôi kéo vào sự giận dữ? Sau những giờ trên mạng, ta có còn đủ lòng kiên nhẫn với người đang ngồi trước mặt mình? Những câu hỏi ấy giúp ta đem đức tin trở lại với đời sống thật, nơi tình yêu phải có hình dáng cụ thể.
Sự dữ trong đời sống không chỉ xuất hiện dưới những hình thức gây kinh hãi. Nó còn lớn lên trong các lựa chọn nhỏ, lặp lại đến mức trở thành bình thường. Một lời nói dối được xem là cách xoay xở. Một người yếu thế bị bỏ qua vì không có tiếng nói. Một lời xúc phạm được bào chữa bằng tính nóng nảy. Một việc gian dối được chấp nhận vì ai cũng làm. Một sự bất công kéo dài vì không ai muốn mất sự thuận tiện của mình. Người có đức tin được mời gọi chống lại những điều ấy bằng một đời sống ngay thẳng và có trách nhiệm. Điều đó thường đòi hỏi sự can đảm âm thầm hơn là những tuyên bố lớn. Người bán hàng cân đúng dù biết mình sẽ lời ít hơn. Người quản lý trả lương công bằng dù phải giảm phần lợi ích của bản thân. Người trong gia đình ngừng một câu nói cay độc dù đang rất muốn thắng cuộc tranh luận. Người chứng kiến sự bắt nạt tìm cách bảo vệ người bị hại. Người nghe chuyện chưa được kiểm chứng quyết định không truyền đi. Những lựa chọn ấy có vẻ nhỏ, nhưng chúng làm thay đổi môi trường sống. Một chút trung thực có thể ngăn một chuỗi gian dối. Một hành động bảo vệ có thể giúp người bị tổn thương biết mình chưa bị bỏ rơi.
Có những người mong đời sống thiêng liêng đem lại cho mình cảm giác mạnh mẽ, nhưng lại ngại đi vào sự thay đổi rất cụ thể của bản thân. Họ quan tâm đến những điều lạ thường, trong khi những thói quen làm người thân đau khổ vẫn được giữ nguyên. Họ muốn biết nhiều điều về thế giới vô hình, nhưng chưa sẵn lòng sửa cách dùng tiền, cách nói năng, cách đối xử với người dưới quyền. Đời sống đạo cần được đưa trở lại với những trách nhiệm ấy. Một người trở nên hiền hòa hơn trong gia đình là một hoa trái quý giá. Một người biết trả lại điều mình chiếm dụng là một bước hoán cải thật. Một người thôi dùng lời nói để kiểm soát người khác đang tạo ra khoảng sống tự do cho họ. Một người chịu nhận sự giúp đỡ để vượt qua thói quen gây hại đang thực hiện một quyết định đáng trân trọng. Chúa gặp ta ngay trong những nơi rất cụ thể ấy. Lòng đạo đức càng sâu thì càng cần làm cho đời sống có sự thật, có lòng thương, có sự công bằng. Nếu việc cầu nguyện không khiến ta bắt đầu chú ý hơn đến người bị mình làm tổn thương, ta cần khiêm tốn nhìn lại cách mình đang cầu nguyện.
Sự khiêm nhường giúp con người sống trong sự thật về mình. Ta có những khả năng đáng quý, và cũng có những giới hạn cần được thừa nhận. Ta có những điều đã học được, và cũng có những điều phải tiếp tục học. Ta có thể giúp người khác ở một lĩnh vực, đồng thời cần được người khác giúp ở lĩnh vực khác. Người khiêm nhường không phải luôn hạ thấp bản thân trong lời nói. Có người nói mình kém cỏi nhưng trong lòng lại không chịu nổi bất cứ sự góp ý nào. Có người luôn nhận mình chẳng có gì nhưng vẫn muốn mọi người đối xử với mình như người không thể thay thế. Sự khiêm nhường thật được nhận ra qua khả năng lắng nghe, nhận lỗi, học hỏi và cộng tác. Người ấy có thể vui trước điều tốt của người khác mà không cảm thấy mình bị giảm giá trị. Họ có thể hoàn thành công việc rồi trao lại trách nhiệm khi cần. Họ có thể chấp nhận rằng một ý tưởng hay không nhất thiết phải do mình đưa ra. Họ có thể nói mình chưa biết mà không thấy phẩm giá bị tổn thương. Trong một cộng đoàn, những con người như thế tạo ra một bầu khí dễ thở. Người khác không phải liên tục đề phòng để giữ cho họ khỏi tự ái, và công việc chung có thể tiến triển bằng sự tin tưởng.
Tâm hồn đơn sơ cũng có một sức mạnh riêng. Đơn sơ là có khả năng đến với Chúa bằng chính con người thật của mình, không phải lúc nào cũng mang theo một hình ảnh đã được chuẩn bị. Có khi ta nghĩ lời cầu nguyện phải thật đẹp, thật tròn trịa, thật đáng nghe. Nhưng một người đang đau khổ có thể chỉ đủ sức thưa một lời ngắn. Một người đang giận có thể phải bắt đầu bằng việc nhận rằng mình chưa muốn tha thứ. Một người đang mất phương hướng có thể chỉ biết xin đừng để mình đi quá xa. Chính sự thành thật ấy mở cửa cho cuộc gặp gỡ. Khi ta cố giữ vẻ đạo đức ngay cả trước mặt Chúa, ta có thể che giấu điều cần được chữa lành. Ta nói về những lý tưởng cao nhưng không dám chạm đến nỗi ganh tị đang làm mình khổ. Ta cầu xin cho nhiều điều tốt đẹp nhưng tránh nhìn vào một sự bất công mình đang duy trì. Ta diễn tả lòng tin bằng những lời quen thuộc nhưng không dám thú nhận rằng mình đang sợ. Chúa có thể làm việc trong một trái tim thành thật. Vì thế, đơn sơ là một ân huệ lớn: nó giúp ta thôi diễn vai người tốt để bắt đầu trở nên người được biến đổi.
Kiến thức và sự học hỏi rất cần thiết cho đời sống đức tin. Người tín hữu càng hiểu điều mình tin thì càng có điều kiện sống đức tin cách trưởng thành. Tuy nhiên, hiểu biết cũng cần được đặt trong một trái tim biết yêu. Có thể thuộc nhiều điều mà vẫn thiếu sự tôn trọng khi đối thoại. Có thể lập luận rất chặt chẽ mà không còn nhận ra nỗi đau của người đang hỏi. Có thể bảo vệ một điều đúng bằng cách làm người khác cảm thấy bị khinh thường. Khi ấy, sự thật được trình bày có thể bị che khuất bởi thái độ của người trình bày. Trong gia đình, giáo xứ, lớp giáo lý hay các cuộc trao đổi về đức tin, ta cần cả sự chính xác lẫn lòng kiên nhẫn. Một câu hỏi vụng về vẫn có thể xuất phát từ một lòng khao khát chân thành. Một người diễn đạt chưa đúng có thể đang cố gắng tìm đường. Một người phản ứng gay gắt có thể mang một tổn thương chưa được ai lắng nghe. Điều ấy không làm mọi ý kiến trở nên đúng, nhưng giúp ta đáp lại bằng sự khôn ngoan hơn. Có những cuộc đối thoại chỉ mở ra khi người hỏi biết rằng mình sẽ không bị làm nhục vì chưa hiểu.
Niềm vui sâu xa của đức tin còn phải đi qua những mùa không có nhiều cảm xúc tốt đẹp. Có thời gian ta cầu nguyện dễ dàng, thấy lòng sốt sắng, thấy mọi sự sáng rõ. Cũng có thời gian ta đến nhà thờ mà tâm hồn khô khan, đọc kinh mà trí óc phân tán, làm việc tốt mà không cảm thấy được an ủi. Những giai đoạn ấy dễ khiến ta lo rằng mình đã xa Chúa. Cần nhìn chúng với sự bình tĩnh. Đời sống nội tâm chịu ảnh hưởng của nhiều điều: sức khỏe, sự thiếu ngủ, áp lực công việc, những lo lắng kéo dài, các mất mát, sự cô đơn. Không phải mọi cảm giác trống vắng đều có cùng một nguyên nhân. Có khi cần điều chỉnh nhịp sống. Có khi cần được đồng hành. Có khi cần chăm sóc sức khỏe. Có khi cần một cách cầu nguyện đơn giản hơn, phù hợp với sức mình lúc ấy. Lòng trung thành được thể hiện qua việc tiếp tục tìm Chúa bằng những bước có thể thực hiện, thay vì ép mình phải tạo ra một cảm xúc không có. Một người ngồi yên vài phút trước Chúa trong sự mệt mỏi vẫn có thể đang trao cho Người một tình yêu chân thành. Một người giữ được một hành động bác ái nhỏ giữa mùa khô khan vẫn đang để đức tin có hình dáng trong đời sống.
Đau khổ đặt ra những câu hỏi mà ta không thể giải quyết bằng những lời nói dễ dàng. Khi một người mất người thân, khi bệnh tật kéo dài, khi một gia đình tan vỡ, khi bao nhiêu cố gắng vẫn chưa đem lại kết quả, những lời giải thích quá nhanh có thể làm họ đau thêm. Ta cần tôn trọng sự phức tạp của đời sống và sự mong manh của người đang chịu đau. Không ai có quyền đứng ngoài một nỗi mất mát rồi yêu cầu người trong cuộc phải lập tức nhìn thấy ý nghĩa. Có những điều phải được khóc. Có những vết thương cần thời gian. Có những câu hỏi chưa có lời đáp rõ ràng. Đời sống đức tin cho phép con người đem tất cả những điều ấy đến trước Chúa. Ta có thể đau mà vẫn tìm Người. Ta có thể chưa hiểu mà vẫn cầu xin. Ta có thể có những ngày yếu lòng mà vẫn chưa muốn rời bỏ tương quan với Người. Sự tin tưởng trưởng thành nhiều khi mang hình dáng của một bàn tay đang run nhưng vẫn còn đưa ra để được nắm lấy. Trong những lúc ấy, cộng đoàn có trách nhiệm hiện diện bằng lòng thương cụ thể: thăm hỏi, lắng nghe, giúp đỡ, chăm sóc, và tránh biến nỗi đau của người khác thành cơ hội để thể hiện sự hiểu biết của mình.
Không nên đo lòng tin của một người bằng việc họ có khóc hay không, có sợ hay không, có luôn nói những lời bình an hay không. Có những người rất yêu Chúa nhưng vẫn trải qua những cơn lo âu. Có những người kiên trì cầu nguyện nhưng vẫn cần được điều trị và hỗ trợ. Có những người đang gánh một nỗi đau quá lớn nên chưa thể diễn đạt điều gì rõ ràng. Họ cần được nâng đỡ trong toàn bộ con người của mình. Lời cầu nguyện, sự chăm sóc y tế, việc nghỉ ngơi, một người đồng hành đáng tin và sự giúp đỡ của cộng đoàn có thể cùng góp phần vào hành trình hồi phục. Tình yêu biết tìm những cách giúp đỡ thực tế. Nếu một người đang bị bạo hành, điều cần thiết là tạo điều kiện để họ được bảo vệ. Nếu một người đang bị bóc lột, cần quan tâm đến quyền lợi và sự an toàn của họ. Nếu một người đang kiệt sức, cần xem lại gánh nặng họ phải mang. Đem đức tin vào đau khổ là để lòng thương có thể hành động, để người đang đau biết rằng đời họ đáng được chăm sóc, và để những điều gây hại không tiếp tục được che đậy bằng những lời nghe có vẻ đạo đức.
Khi cuộc đời không còn theo ý mình, ta có thể khám phá rằng tương quan với Chúa sâu hơn những điều mình từng mong nhận được. Trước đây, có thể ta cầu nguyện chủ yếu để mọi việc thuận lợi. Điều ấy rất tự nhiên: con người có nhu cầu, có nỗi lo, có người thân để bảo vệ. Nhưng theo thời gian, lời cầu nguyện có thể trưởng thành thành một cuộc gặp gỡ, trong đó ta không chỉ kể những điều muốn xin mà còn học ở lại với Chúa. Ta bắt đầu nhận ra những gì cần thay đổi trong cách mình sống. Ta thấy có những điều mình muốn rất mạnh nhưng chưa chắc giúp mình yêu thương hơn. Ta học phân biệt giữa mong ước chính đáng và nhu cầu kiểm soát. Ta học để người khác có tự do. Ta học làm hết phần trách nhiệm của mình rồi chấp nhận rằng kết quả còn tùy thuộc nhiều điều. Sự trưởng thành ấy không diễn ra trong một ngày. Có khi ta phải lặp lại cùng một lời cầu xin rất nhiều lần, phải buông rồi lại nắm, phải tin rồi lại sợ. Nhưng từng bước, lòng ta có thể rộng hơn. Ta bớt đòi cuộc đời phải hoàn toàn thuận theo ý mình mới chịu sống tử tế.
Một niềm vui được đặt trong tình yêu của Chúa giúp ta vượt qua cả sự thành công lẫn thất bại. Thành công có những cám dỗ riêng: tự mãn, xem nhẹ người khác, tưởng mọi điều tùy thuộc mình, quên những người đã cùng góp sức. Thất bại cũng có những cám dỗ riêng: tuyệt vọng, tự khinh, đổ lỗi, rút lui khỏi mọi tương quan. Trong cả hai hoàn cảnh, ta cần một điểm tựa giúp mình nhìn lại cách công bằng. Khi thành công, ta có thể biết ơn những điều đã được ban, nhận ra sự đóng góp của người khác, và giữ lòng sẵn sàng học tiếp. Khi thất bại, ta có thể xem điều gì cần sửa, nhận phần trách nhiệm của mình, tìm sự giúp đỡ, rồi đứng dậy với một bước phù hợp. Không phải mọi thất bại đều chứng minh rằng ta đã đi sai đường. Có những việc tốt cần nhiều thời gian. Có những cố gắng chỉ đem lại hoa trái sau khi người thực hiện đã không còn được nhìn thấy. Có những hoàn cảnh vượt quá khả năng của một cá nhân. Sự khôn ngoan giúp ta tiếp tục trung thành mà không phủ nhận thực tế, tiếp tục hy vọng mà vẫn học từ những điều chưa đạt được.
Trong cộng đoàn, điều này cũng giúp ta đánh giá việc phục vụ cách nhân bản hơn. Một chương trình ít người tham dự chưa chắc đã vô ích nếu có người được nâng đỡ thật sự. Một cuộc gặp gỡ nhỏ có thể mở đường cho một thay đổi lớn trong đời ai đó. Một cuộc thăm viếng không đem lại kết quả dễ thấy vẫn có thể giúp người bệnh vượt qua một ngày cô độc. Một lớp giáo lý nhiều khó khăn vẫn có thể gieo vào lòng một em nhỏ ký ức về sự dịu dàng. Tuy nhiên, hy vọng cũng đòi ta biết xem lại cách làm. Nếu một công việc không còn đáp ứng nhu cầu, cần điều chỉnh. Nếu người phục vụ đang kiệt sức, cần chia sẻ trách nhiệm. Nếu người tham dự không được lắng nghe, cần tạo cơ hội đối thoại. Đức tin giúp ta giữ lòng chân thành trong những việc ấy. Ta không phải bảo vệ mọi điều mình đã làm chỉ vì đó là công sức của mình. Ta có thể thay đổi phương pháp mà vẫn giữ mục đích. Ta có thể dừng một hoạt động để chăm sóc tốt hơn những con người. Ta có thể chấp nhận một ý kiến khác vì lợi ích chung. Niềm vui của người phục vụ lớn lên khi họ thấy điều tốt được thực hiện, kể cả khi hình thức cuối cùng không mang dấu ấn riêng của họ.
Có một vẻ đẹp rất lớn nơi những người âm thầm gìn giữ sự sống chung. Họ ít nói về mình, nhưng khi thiếu họ, mọi người mới nhận ra bao nhiêu điều từng được họ nâng đỡ. Trong gia đình, đó có thể là người luôn nhớ giờ uống thuốc của người già, biết ai đang buồn, để ý những khoản chi nhỏ, giữ cho bữa ăn có sự ấm áp. Trong giáo xứ, đó có thể là người chuẩn bị mọi thứ trước khi cộng đoàn đến, người kiên nhẫn tập hát cho các em, người tìm đến những gia đình ít còn xuất hiện, người nhớ một người bệnh chưa ai ghé thăm. Trong xã hội, đó có thể là người làm công việc bình thường với sự trung thực, giúp cho người khác có thể tin tưởng. Ta cần học nhìn thấy họ ngay khi họ còn đang hiện diện, cần biết ơn bằng những hành động cụ thể, cần giảm bớt gánh nặng và dành cho họ sự quan tâm. Đồng thời, mỗi người cũng có thể tìm thấy trong đời mình một cách góp phần như thế. Không phải ai cũng có cùng khả năng, nhưng ai cũng có thể chăm sóc một điều được trao cho mình. Có khi chính sự trung thành với điều nhỏ ấy làm cho một góc đời trở nên bớt lạnh.
Người trẻ cũng cần được nghe rằng đời mình có giá trị trước khi mọi dự định thành công. Có người đang ở tuổi bắt đầu mà đã thấy mình quá chậm, vì quanh họ ai cũng có vẻ đã tìm được hướng đi. Có người nhìn cuộc sống của người khác trên mạng rồi cho rằng mình chẳng có gì đáng kể. Có người mang một thất bại trong học tập, công việc hay tình cảm và xem đó như bản án cho tương lai. Một cái nhìn rộng hơn sẽ giúp họ thở lại. Đời người không diễn ra theo cùng một nhịp. Có những khả năng cần thời gian mới được nhận ra. Có những hướng đi chỉ sáng lên sau vài lần thử và điều chỉnh. Có những vết thương cần được chữa lành trước khi con người có đủ sức bước tiếp. Người trẻ cần có trách nhiệm với các lựa chọn của mình, nhưng cũng cần được nâng đỡ để không tự kết án quá sớm. Họ có thể bắt đầu bằng những việc gần gũi: giữ nhịp sinh hoạt lành mạnh, học một điều cần thiết, tìm người hướng dẫn đáng tin, hoàn thành một trách nhiệm nhỏ, phục hồi một tương quan, dành một khoảng thời gian cho cầu nguyện. Một bước chân thật có giá trị lớn hơn nhiều dự định chỉ tồn tại trong nỗi lo.
Người cao tuổi lại cần được nâng đỡ theo một cách khác. Khi sức khỏe giảm, khi không còn làm được những điều từng làm, khi con cháu bận rộn, họ dễ cảm thấy mình đã đứng ngoài dòng chảy của cuộc sống. Có người cố giấu sự yếu đuối vì sợ làm phiền. Có người trở nên khó tính vì sâu bên trong là nỗi sợ bị quên. Có người nhắc đi nhắc lại chuyện cũ vì đó là nơi họ còn cảm thấy mình có một vai trò. Nếu chỉ nhìn vào sự bất tiện, người trẻ rất dễ mất kiên nhẫn. Nhưng nếu nhìn thấy một cuộc đời đã đi qua bao nhiêu trách nhiệm, hy sinh và giới hạn, ta có thể đối xử dịu dàng hơn. Người già vẫn có một sự hiện diện đáng quý. Họ có thể trao cho gia đình ký ức, kinh nghiệm, lời cầu nguyện, sự quan tâm. Và ngay cả khi bệnh tật khiến họ không còn trao được những điều ấy theo cách rõ ràng, họ vẫn đáng được yêu thương. Tình yêu được thử thách sâu sắc ở đây: ta có biết chăm sóc một người khi họ không còn đem lại lợi ích thực tế cho mình? Một mái nhà biết giữ phẩm giá cho người yếu đuối đang làm cho tình yêu trở nên đáng tin.
Có lẽ một trong những điều ta cần học mỗi ngày là vui trước điều tốt mà không nhất thiết phải sở hữu điều tốt ấy. Ta có thể vui vì một người khác làm được việc mình từng mong làm. Ta có thể vui vì cộng đoàn phát triển khi mình không còn giữ vai trò chính. Ta có thể vui vì con cái trưởng thành và bắt đầu có những lựa chọn riêng. Ta có thể vui vì người từng cần mình nay đã đứng vững hơn. Tình yêu trưởng thành có khả năng đón nhận những thay đổi đó. Ban đầu, lòng ta có thể chạnh buồn. Điều ấy tự nhiên, nhất là khi đã đầu tư nhiều tình cảm và công sức. Nhưng nếu được đưa vào cầu nguyện và suy xét, nỗi buồn có thể trở thành một cơ hội để học yêu rộng hơn. Ta nhận ra rằng người khác không được trao cho mình để giữ họ mãi trong sự lệ thuộc. Trách nhiệm không được trao để mình bám vào như một căn tính bất biến. Sự phục vụ tốt đẹp có thể dẫn đến lúc người phục vụ cần bước sang một vai trò khác. Khi ấy, niềm vui được đặt trong Chúa giúp ta tiếp tục sống có ý nghĩa, tiếp tục cho đi, tiếp tục là chính mình trong một giai đoạn mới.
Mỗi ngày, ta có thể thực hiện một cuộc trở về nhỏ để gìn giữ niềm vui ấy. Cuối ngày, trước khi để những hình ảnh và tiếng động tiếp tục lấp đầy tâm trí, hãy dành một khoảng lặng nhìn lại điều đã sống. Có điều gì đáng tạ ơn? Có người nào đã nâng đỡ mình? Có lúc nào mình đã làm người khác đau? Có việc gì cần sửa vào ngày mai? Có nỗi lo nào mình đang cố mang một mình? Có điều tốt nào mình đã bỏ qua vì mải nhìn điều chưa ổn? Việc nhìn lại ấy cần diễn ra trong một ánh nhìn có lòng thương. Nếu chỉ biến nó thành cuộc kiểm tra để tìm lỗi, ta sẽ thêm mệt mỏi. Nếu chỉ tự an ủi và bỏ qua trách nhiệm, ta sẽ khó trưởng thành. Hãy học nhìn cả sự thật lẫn ân huệ. Có thể ngày hôm ấy ta đã nóng giận, nhưng cũng đã biết dừng lại. Có thể ta chưa làm xong mọi việc, nhưng đã chăm sóc được một người cần mình. Có thể ta rất lo, nhưng vẫn giữ được một lựa chọn ngay thẳng. Từng điều nhỏ như thế giúp ta nhận ra đời sống đang được nâng đỡ, và ngày mai vẫn có thể bắt đầu.
Ta cũng cần học đón nhận những niềm vui giản dị mà không xem chúng là quá nhỏ. Một bữa cơm có đủ người. Một cuộc điện thoại hỏi thăm. Một buổi sáng còn đủ sức đứng dậy. Một người bệnh bớt đau. Một đứa trẻ tìm đến kể chuyện. Một người thân chịu ngồi lại để đối thoại. Một lời xin lỗi được đón nhận. Một khoảng thời gian yên tĩnh để cầu nguyện. Những điều ấy không giải quyết mọi khó khăn, nhưng chúng làm cho lòng ta bớt bị chiếm giữ bởi thiếu thốn. Có người sống giữa nhiều ân huệ mà vẫn chỉ nhìn vào điều mình chưa có. Có người nhận được nhiều yêu thương mà vẫn chỉ nhớ lời làm mình đau. Sự biết ơn cần được tập luyện để ánh nhìn trở nên công bằng hơn với cuộc đời. Biết ơn cũng giúp ta quan tâm đến người đang thiếu những điều mình có. Khi nhận ra bữa ăn của mình là một ân huệ, ta dễ nhớ đến người đói hơn. Khi nhận ra mình được lắng nghe, ta dễ dành thời gian cho người cô độc hơn. Khi nhận ra mình từng được tha thứ, ta có thêm lý do để kiên nhẫn với người đang cố gắng sửa sai.
Niềm vui trong Chúa có thể cùng hiện diện với nước mắt. Một người đang chịu tang vẫn có thể cảm nhận được sự nâng đỡ qua những người đến ở bên. Một người đang điều trị bệnh vẫn có thể tìm được bình an trong một giờ cầu nguyện. Một người đang phải bắt đầu lại vẫn có thể biết ơn vì còn có cơ hội sống ngay thẳng hơn. Những niềm vui ấy thường lặng lẽ, không dễ diễn tả, và không khiến nỗi đau lập tức biến mất. Chúng giống một sức nâng bên trong, giúp người ta tiếp tục đi thêm một đoạn. Khi có niềm vui như thế, ta không cần buộc mình phải luôn tỏ ra mạnh mẽ. Ta có thể thú nhận mình mệt. Ta có thể nhờ người khác giúp. Ta có thể dành thời gian để hồi phục. Ta có thể tiếp tục hy vọng bằng một nhịp chậm hơn. Trong một cộng đoàn biết yêu thương, người yếu đuối được phép có chỗ đứng, người đang đau được phép chưa bình an, người đang tìm đường được phép chưa có câu trả lời. Chính sự đón nhận ấy giúp họ cảm thấy tình yêu của Chúa trở nên gần gũi qua những khuôn mặt cụ thể.
Rồi sẽ có những ngày ta phải buông bớt rất nhiều điều. Công việc từng quen thuộc không còn nằm trong tay mình. Người từng gần gũi chuyển đi nơi khác. Sức khỏe không còn cho phép những hoạt động cũ. Những dự định phải được điều chỉnh. Những thành tích từng làm ta vui trở thành ký ức. Trong những ngày ấy, điều đã được xây dựng sâu trong tâm hồn sẽ nâng đỡ ta. Nếu cả cuộc đời chỉ quen bám vào vai trò, ta sẽ rất khó sống khi vai trò thay đổi. Nếu đã tập sống trong tương quan với Chúa, ta có thể tìm được ý nghĩa trong cả những giai đoạn ít hoạt động hơn. Vẫn còn một lời cầu nguyện để dâng. Vẫn còn một người để quan tâm. Vẫn còn một điều để biết ơn. Vẫn còn một cơ hội để yêu theo cách phù hợp với sức mình. Phẩm giá của ta không hết khi sức lực giảm. Tình yêu của Chúa không thu hẹp theo hiệu quả công việc. Được sống trong sự thật ấy, con người có thể đi qua những chuyển đổi của đời mình với sự bình an ngày càng sâu.
Hôm nay, có thể ta đang mang về một thành công và cần học tạ ơn cách khiêm tốn. Có thể ta đang mang về một thất bại và cần được giúp để đứng dậy. Có thể ta đang mang một sự mệt mỏi đã kéo dài và cần can đảm chăm sóc bản thân. Có thể ta đang mang nỗi buồn vì bị quên, vì không được hiểu, vì đã cố gắng mà vẫn chưa thấy điều gì thay đổi. Hãy đem tất cả đến với Chúa bằng một trái tim thành thật. Đừng đợi đến khi tâm hồn hoàn toàn yên ổn mới bắt đầu cầu nguyện. Đừng đợi đến khi mình trở nên tốt hơn mới tin rằng có thể được Người đón nhận. Chính trong cuộc gặp gỡ ấy, ta có thể nhận ra điều cần sửa, điều cần buông, điều cần giữ, điều cần nhờ người khác giúp. Ta có thể rời giờ cầu nguyện mà khó khăn vẫn còn, nhưng không còn phải đối diện với nó bằng cùng một sự cô độc. Ta có thể tiếp tục công việc với ít nhu cầu chứng minh mình hơn. Ta có thể về với gia đình với một giọng nói dịu hơn. Ta có thể bước vào ngày mới với sự tự do của người biết mình được yêu.
Lạy Chúa, xin chăm sóc niềm vui trong lòng chúng con. Khi công việc thuận lợi, xin giúp chúng con biết tạ ơn và nhớ đến những người đã cùng góp sức. Khi mọi điều khó khăn, xin giúp chúng con đừng vội phủ nhận giá trị của đời mình. Khi bị tổn thương, xin cho chúng con đủ thành thật để nhận ra nỗi đau, đủ khôn ngoan để tìm sự nâng đỡ, đủ can đảm để đối thoại và sửa những điều cần sửa. Xin giải thoát chúng con khỏi thói quen phải liên tục chứng minh mình đáng được yêu. Xin cho người đang phục vụ biết trở về nghỉ ngơi bên Chúa, cho người đang cô độc gặp được một sự hiện diện đáng tin, cho người đang bệnh được chăm sóc, cho người đang thất vọng có sức thực hiện một bước nhỏ. Xin làm cho các gia đình trở thành nơi con người được đón nhận trong cả sự mạnh mẽ lẫn yếu đuối. Xin làm cho cộng đoàn biết nhìn thấy những người âm thầm, biết bảo vệ người dễ bị tổn thương, biết chia sẻ trách nhiệm và biết vui trước điều tốt của nhau. Xin cho chúng con học sống mỗi ngày trong sự thật rằng đời mình ở trong ánh nhìn yêu thương của Chúa. Và khi không còn nhiều điều để trình bày, khi hai bàn tay chỉ còn biết mở ra để nhận lãnh, xin cho chúng con vẫn đủ tin tưởng để ở lại, đủ bình an để bước tiếp, đủ tình yêu để chăm sóc người bên cạnh bằng tất cả những gì còn có thể trao.
Lm. Anmai, CSsR.
HOÁN CẢI ĐỂ BIẾT VUI: KHI TRÁI TIM TÌM LẠI NIỀM HẠNH PHÚC ĐƯỢC THIÊN CHÚA YÊU THƯƠNG
Có những người đi qua rất nhiều năm tháng mà chưa bao giờ thực sự cho phép mình được vui. Họ sống có trách nhiệm, làm việc chăm chỉ, giữ những bổn phận cần thiết, cố gắng không gây phiền toái cho ai, nhưng sâu trong lòng luôn có một nỗi căng thẳng âm thầm. Họ sợ mình chưa đủ tốt, sợ người khác thất vọng, sợ công việc không thành, sợ tuổi già đến mà đời mình vẫn chưa có gì đáng kể. Ngay cả khi điều tốt đẹp xảy ra, họ cũng không thể đón nhận trọn vẹn, bởi vừa chạm vào niềm vui đã nghĩ đến lúc nó biến mất. Có những người khác tưởng mình rất vui vì thường xuyên cười nói, gặp gỡ, giải trí, mua sắm, chia sẻ hình ảnh và nhận được nhiều lời khen, nhưng khi trở về căn phòng yên tĩnh, họ lại thấy lòng mình trống rỗng. Có những người phục vụ trong cộng đoàn nhiều năm, tham gia rất nhiều sinh hoạt đạo đức, quen với lịch lễ, lịch họp, lịch công tác, nhưng càng phục vụ càng trở nên dễ bực bội, dễ tổn thương, dễ nghi ngờ thiện chí của người khác. Có những gia đình đầy đủ phương tiện sinh sống nhưng thiếu tiếng cười bình an; có những người giữ đạo nghiêm túc nhưng gương mặt luôn nặng nề như thể Thiên Chúa chỉ giao cho họ một gánh nặng phải mang. Những thực tế ấy khiến chúng ta cần đặt một câu hỏi rất thật: điều gì đang nuôi dưỡng tâm hồn mình, và niềm vui của mình đang cắm rễ ở đâu? Bởi có một sự hoán cải không chỉ liên quan đến việc từ bỏ một tội lỗi rõ ràng, nhưng còn liên quan đến việc thay đổi cách chúng ta đón nhận cuộc đời, cách chúng ta nhìn bản thân, cách chúng ta sống trước mặt Thiên Chúa. Đó là sự hoán cải để biết vui, để thôi sống như một người luôn phải tự chứng minh mình xứng đáng tồn tại, và bắt đầu sống như một người biết mình được yêu thương, được đón nhận, được gọi tên trong tình yêu của Chúa.
Niềm vui là một điều rất gần gũi nhưng cũng rất dễ bị hiểu sai. Chúng ta thường gắn niềm vui với một tin tốt, một kết quả thuận lợi, một lời khen, một cuộc gặp gỡ, một món quà, một thành công. Những điều ấy có thể đem lại hạnh phúc thực sự và cần được đón nhận với lòng biết ơn. Một người lao động vui vì có việc làm ổn định, một học sinh vui vì vượt qua kỳ thi khó, một gia đình vui vì người thân hồi phục sau bệnh tật, một cộng đoàn vui vì hoàn thành công việc chung. Không có gì sai trong những niềm vui đó. Vấn đề bắt đầu khi chúng ta trao cho chúng quyền quyết định toàn bộ giá trị đời mình. Nếu thành công mới được vui, thất bại sẽ trở thành bản án. Nếu được khen mới cảm thấy mình có giá trị, một lời phê bình sẽ đủ sức làm lòng mình sụp đổ. Nếu được người khác cần đến mới tin rằng mình đáng được yêu, những ngày già yếu, bệnh tật hay không còn đảm nhận công việc sẽ trở thành những ngày đầy sợ hãi. Khi ấy, niềm vui không còn là một điều nâng đỡ chúng ta, nhưng trở thành một phần thưởng mà chúng ta phải liên tục kiếm lấy. Người ta chạy rất lâu để giữ nó, rồi kiệt sức vì không thể giữ mãi. Có khi càng có nhiều thành tựu, chúng ta càng lo lắng, bởi mỗi thành tựu lại đặt ra một mức cao hơn phải đạt tới. Chúng ta không dám nghỉ, không dám chậm, không dám thừa nhận giới hạn, không dám để người khác thấy mình yếu. Đằng sau một đời sống có vẻ mạnh mẽ là một trái tim chưa được bình an. Hoán cải để biết vui bắt đầu từ việc nhận ra sự lệ thuộc ấy và can đảm đưa trái tim mình trở về với một nền tảng sâu hơn: trước khi tôi làm được điều gì, tôi đã là người được Thiên Chúa yêu thương; khi tôi không làm được điều mình mong muốn, tình yêu ấy vẫn không thôi tìm đến tôi.
Một nỗi nghèo rất âm thầm của con người là không tin rằng mình có thể được yêu mà không cần trình ra thành tích. Chúng ta quen với những điều kiện trong cuộc sống đến mức mang cả chúng vào tương quan với Thiên Chúa. Chúng ta nghĩ phải cầu nguyện thật sốt sắng thì Chúa mới gần, phải phục vụ thật nhiều thì Chúa mới vui, phải hoàn hảo thì mới có thể đứng trước mặt Người. Vì vậy, mỗi lần yếu đuối, chúng ta né tránh; mỗi lần sa ngã, chúng ta tự nhốt mình trong xấu hổ; mỗi lần lòng khô khan, chúng ta nghĩ mình đã bị bỏ rơi. Nhưng một người con không chỉ trở thành con khi làm cha mẹ hài lòng. Tương quan làm con sâu hơn những ngày ngoan ngoãn và cả những ngày lạc lối. Tình yêu của Thiên Chúa không biến tội lỗi thành điều vô hại, cũng không khiến việc sửa đổi trở nên không cần thiết; tình yêu ấy mở ra con đường để người có tội dám trở về. Một trái tim biết mình được yêu sẽ có sức đối diện với sự thật về mình. Nó có thể nhận lỗi mà không tuyệt vọng, có thể sám hối mà không tự ghét bỏ, có thể sửa sai mà không phải giả vờ rằng mình chưa từng sai. Đó là một niềm vui rất khác với sự dễ dãi. Đó là niềm vui của người được giải thoát khỏi nhu cầu phải che giấu liên tục. Người ấy không còn phải dùng vẻ đạo đức để bảo vệ hình ảnh, không còn phải tìm lỗi của người khác để làm mình bớt mặc cảm, không còn phải thắng trong mọi cuộc tranh luận để giữ cảm giác mình đúng. Người ấy bắt đầu có thể sống thật, và chính trong sự thật được đặt trước lòng thương xót, tâm hồn có chỗ để thở.
Hoán cải để biết vui còn là học cách đón nhận giới hạn của mình. Chúng ta có thể biết rất rõ rằng con người hữu hạn, nhưng vẫn sống như thể mình phải có câu trả lời cho mọi vấn đề, phải đủ sức cho mọi công việc, phải cứu được mọi người, phải sửa được mọi điều. Một người cha muốn bảo vệ gia đình đến mức không cho phép mình mệt. Một người mẹ muốn chăm sóc tất cả đến mức coi việc nghỉ ngơi là ích kỷ. Một người phục vụ muốn đáp ứng mọi lời nhờ cậy đến mức không còn thời gian cầu nguyện, ăn uống đàng hoàng hay lắng nghe chính tâm hồn mình. Một linh mục có thể mang trong lòng rất nhiều nhu cầu của cộng đoàn, rất nhiều hoàn cảnh đau khổ, rất nhiều công việc chưa xong, rồi âm thầm cảm thấy mình thất bại vì không đủ sức có mặt ở khắp nơi. Nhưng sự hữu hạn không phải là một lỗi lầm cần che giấu. Chúng ta được mời gọi yêu thương bằng khả năng thực tế của mình, trong sự cộng tác, phân định và tín thác. Chấp nhận giới hạn giúp chúng ta biết nhờ người khác, biết trao việc, biết cảm ơn, biết để cộng đoàn cùng chịu trách nhiệm. Nó cũng giúp chúng ta nhận ra rằng người khác có những ân ban mà mình không có. Một người luôn phải giữ mọi thứ trong tay khó có thể vui khi người khác trưởng thành, bởi sự trưởng thành ấy làm họ cảm thấy mình bớt cần thiết. Một người biết mình là người phục vụ có thể vui khi người khác làm tốt, vì điều thiện đang được thực hiện. Có một niềm vui rất trong lành khi chúng ta không còn phải là trung tâm của mọi điều tốt đẹp.
Trong đời sống đức tin, chúng ta cần đặc biệt chú ý đến cách mình phục vụ. Có những công việc ban đầu được thực hiện với lòng quảng đại, nhưng dần dần bị trộn lẫn với nhu cầu được công nhận. Người ta vẫn làm việc chăm chỉ, vẫn hy sinh, vẫn có mặt đúng giờ, nhưng bên trong bắt đầu ghi nhớ ai đã cảm ơn, ai đã quên nhắc tên, ai được khen nhiều hơn, ai được giao vị trí nổi bật hơn. Mỗi sự so sánh giống như một vết xước nhỏ, lâu ngày khiến lòng trở nên đau. Đến một lúc, người phục vụ cảm thấy mọi người vô ơn, cộng đoàn bất công, công việc quá nặng, và niềm vui ban đầu gần như biến mất. Điều cần làm lúc ấy không phải là kết án bản thân, nhưng là dừng lại đủ lâu để nhận ra điều gì đang xảy ra. Tôi có đang tìm tình yêu nơi sự công nhận không? Tôi có đang dùng công việc để tránh đối diện với một nỗi cô đơn không? Tôi có đang nghĩ rằng nếu không ai khen, sự hy sinh của tôi trở nên vô nghĩa không? Những câu hỏi ấy có thể đau, nhưng chúng mở một cánh cửa. Bởi tình yêu trưởng thành cần được thanh luyện khỏi những đòi hỏi mà chính chúng ta chưa nhận biết. Khi trở về trước mặt Chúa, chúng ta có thể trao cho Người cả việc tốt mình đã làm lẫn nhu cầu được nhìn thấy đang âm thầm ở trong đó. Chúng ta có thể xin một trái tim tự do hơn, có thể phục vụ với lòng chân thành mà không phải liên tục dò xét phản ứng của người khác. Khi ấy, công việc vẫn có những vất vả, nhưng tâm hồn bớt bị kéo căng bởi những cuộc tranh giành vô hình.
Có một dấu hiệu rất rõ cho thấy niềm vui của chúng ta đang được chữa lành: chúng ta bắt đầu có thể vui vì điều tốt đẹp xảy ra cho người khác. Đây là một thử thách rất thực tế. Thật dễ vui khi chính mình được chọn, được khen, được thăng tiến, được trao cơ hội. Nhưng khi người khác nhận điều mình đã mong đợi, lòng mình có bình an không? Khi một người trẻ làm việc tốt hơn mình, mình có thể nâng đỡ họ không? Khi một cộng đoàn khác phát triển, mình có thể chân thành tạ ơn không? Khi một người từng bất đồng với mình nhận được một niềm vui, mình có thể mong họ được hạnh phúc không? Sự ghen tị làm tâm hồn nghèo đi vì nó khiến chúng ta nhìn mọi ân huệ như một cuộc phân chia có giới hạn: người khác có thì mình mất, người khác sáng thì mình tối, người khác được yêu thì mình bị quên. Nhưng tình yêu Thiên Chúa không vận hành theo sự cạnh tranh ấy. Mỗi người có một hành trình, một trách nhiệm, một cách đáp lại riêng. Điều thiện nơi người khác có thể trở thành một nguồn nâng đỡ cho chúng ta. Tài năng của họ có thể giúp cộng đoàn. Sự trưởng thành của họ có thể làm gia đình bình an hơn. Thành công của họ có thể đem lại cơ hội cho nhiều người. Khi trái tim đủ rộng để nhìn thấy điều ấy, niềm vui không còn bị nhốt trong phạm vi những gì thuộc về mình. Chúng ta có thêm rất nhiều lý do để tạ ơn, vì cuộc đời có nhiều điều tốt đẹp đang lớn lên ngoài sự kiểm soát của mình.
Tuy nhiên, niềm vui đức tin không có nghĩa là lúc nào cũng cảm thấy nhẹ nhàng, phấn khởi và đầy năng lượng. Cần nói điều này thật rõ để người đang đau khổ không phải mang thêm gánh nặng tự trách mình thiếu đức tin. Một người mất người thân có thể khóc rất lâu. Một người trải qua tổn thương sâu có thể chưa thể mỉm cười như trước. Một người đang chịu áp lực nặng nề có thể thấy khó ngủ, khó tập trung, khó tìm được sự thanh thản. Một người mang bệnh tật có thể cảm thấy mệt mỏi ngay cả trong những việc nhỏ nhất. Những điều ấy không tự động cho thấy họ đã rời xa Chúa. Có những ngày, niềm vui chỉ hiện diện như một khả năng rất nhỏ: vẫn dám cầu nguyện dù chưa cảm thấy được an ủi, vẫn đón nhận một bàn tay giúp đỡ, vẫn ăn một bữa cơm, vẫn mở cửa cho ánh sáng vào phòng, vẫn tin rằng đời mình đáng được chăm sóc. Niềm vui có thể đi cùng nước mắt, có thể ở rất sâu dưới một bề mặt đầy mỏi mệt. Nó không buộc chúng ta phải diễn tả điều mình chưa cảm thấy. Nó cho chúng ta một nơi để đặt nỗi đau, một tương quan để không phải chịu đựng hoàn toàn đơn độc, một hy vọng để bước thêm một bước. Cộng đoàn có niềm vui Tin Mừng vì thế cần biết ngồi bên người buồn, biết im lặng trước điều chưa thể giải thích, biết tránh những lời khuyên vội vàng. Có khi việc đem lại niềm vui cho một người bắt đầu bằng việc cho họ quyền được khóc.
Nỗi đau cần được đón nhận bằng sự thật, và thất bại cũng vậy. Chúng ta thường muốn đời sống đạo đưa mình ra khỏi mọi thất bại, nhưng thực tế có những lời cầu nguyện chưa thấy được đáp lại theo điều mong muốn, những cố gắng mục vụ chưa sinh kết quả rõ ràng, những cuộc hòa giải chưa thành, những người thân vẫn chưa trở về, những kế hoạch tốt đẹp vẫn gặp trở ngại. Khi ấy, câu hỏi về niềm vui trở nên sâu hơn. Tôi có thể tiếp tục yêu khi chưa nhìn thấy kết quả không? Tôi có thể giữ lòng trung tín khi không có lời khen không? Tôi có thể làm một việc nhỏ cách tử tế dù nó không tạo ra thay đổi lớn ngay lập tức không? Một người gieo hạt phải chấp nhận khoảng thời gian đất còn im lặng. Nhưng sự im lặng ấy không cho phép chúng ta kết luận tùy tiện rằng mọi cách làm của mình đều đúng. Tín thác vẫn cần đi cùng việc xem xét, học hỏi và sửa đổi. Nếu một công việc không hiệu quả, chúng ta cần tìm nguyên nhân. Nếu cách ứng xử làm người khác tổn thương, chúng ta cần thay đổi. Nếu cộng đoàn có vấn đề, chúng ta cần đối diện. Niềm vui trưởng thành giúp chúng ta làm những điều đó mà không đánh đồng một sai sót với toàn bộ giá trị con người mình. Tôi có thể đã làm sai một việc và cần sửa việc ấy. Tôi có thể đã chọn một phương pháp chưa phù hợp và cần học phương pháp khác. Tôi vẫn được mời gọi sống, yêu thương và chịu trách nhiệm. Chính sự bình an ấy giúp con người sửa sai tốt hơn, vì họ không còn phải dùng mọi sức lực để tự bảo vệ.
Một trong những con đường gần gũi nhất để tìm lại niềm vui là lòng biết ơn. Chúng ta dễ nghĩ biết ơn chỉ là một lời nói đẹp sau khi nhận được điều gì, nhưng biết ơn còn là một cách nhìn. Người biết ơn nhận ra rằng đời mình được nâng đỡ bởi rất nhiều điều không tự mình tạo ra: một bàn tay đã chăm sóc khi còn bé, một người đã dạy mình đọc, một bữa ăn được chuẩn bị, một người kiên nhẫn nghe mình nói, một cộng đoàn cho mình chỗ đứng, một ngày còn đủ sức làm việc, một cơ hội để bắt đầu lại. Khi thiếu lòng biết ơn, những điều ấy nhanh chóng trở thành quyền lợi đương nhiên. Chúng ta chỉ thấy rõ khi chúng mất đi. Chúng ta có thể sống nhiều năm bên một người thân mà hiếm khi nghĩ đến sự hiện diện của họ như một ân huệ; có thể sử dụng sức khỏe mỗi ngày mà chưa từng trân trọng; có thể được nhiều người giúp đỡ nhưng chỉ nhớ một người làm mình thất vọng. Tập biết ơn giúp tâm hồn nhìn lại toàn cảnh đời sống. Nỗi đau vẫn có đó, điều thiếu thốn vẫn có đó, nhưng chúng không còn chiếm hết tầm nhìn. Một ngày không hoàn hảo vẫn có thể chứa một điều đáng quý. Một con người có giới hạn vẫn có thể đem đến một điều tốt. Một giai đoạn khó khăn vẫn có thể cho chúng ta cơ hội nhận ra ai đang ở bên mình. Khi biết ơn trở thành thói quen, niềm vui có chỗ đứng trong những ngày bình thường, thay vì chỉ xuất hiện vào những dịp đặc biệt.
Cầu nguyện cũng cần được chữa lành để trở thành nơi nuôi dưỡng niềm vui. Có khi chúng ta đến với Chúa như đến một bàn tiếp nhận những yêu cầu khẩn cấp. Chúng ta trình bày điều cần giải quyết, nhắc lại điều còn thiếu, lo lắng về điều sắp xảy ra, rồi ra về với cùng một nhịp căng thẳng. Những lời xin ấy rất thật và có chỗ trong cầu nguyện, nhưng tương quan với Thiên Chúa còn cần những khoảng lặng để ở lại. Một người con không chỉ gặp cha khi cần tiền, một người bạn không chỉ tìm bạn khi cần giúp việc. Tình yêu cần sự hiện diện. Chúng ta có thể ngồi trước Chúa với một ngày chưa hoàn thành, với những suy nghĩ chưa gọn gàng, với tâm trạng chưa sáng sủa. Chúng ta có thể để lòng mình được nhìn thấy mà không vội giải thích. Chúng ta có thể tạ ơn vì một điều rất nhỏ, nhận lỗi về một điều rất thật, trao lại một người đang làm mình lo, rồi để sự thinh lặng làm dịu nhu cầu phải điều khiển tất cả. Có những buổi cầu nguyện không tạo ra cảm xúc đặc biệt, nhưng sau đó chúng ta bớt nóng nảy, bớt muốn nói lời cay nghiệt, bớt hoảng hốt trước một vấn đề. Đó cũng là hoa trái đáng quý. Niềm vui được nuôi dưỡng trong cầu nguyện thường lớn lên âm thầm, giống như một căn nhà dần có nền móng vững hơn. Khi sóng gió đến, chúng ta vẫn có thể đau và run, nhưng bên trong đã có một nơi để trở về.
Sự đơn sơ giữ một vai trò rất lớn trong hành trình ấy. Con người có thể làm cho đời mình trở nên phức tạp bằng quá nhiều lớp đánh giá. Một lời hỏi thăm đơn giản cũng bị xét xem có thật lòng không. Một góp ý cũng bị hiểu thành sự coi thường. Một người không đáp tin nhắn ngay cũng bị suy diễn thành thái độ lạnh nhạt. Một việc tốt cũng trở thành dịp tính xem ai được lợi, ai được chú ý, ai có ý đồ. Dĩ nhiên, sự thận trọng và khả năng phân định là cần thiết; chúng ta không được yêu cầu nhắm mắt trước điều xấu. Nhưng một tâm hồn thường xuyên nghi ngờ sẽ rất khó đón nhận sự bình an. Nó luôn ở trong tình trạng phòng thủ, luôn tìm bằng chứng cho cảm giác mình bị đe dọa. Sự đơn sơ giúp chúng ta trở lại với điều đang có trước mắt: nghe một câu nói theo nghĩa rõ ràng của nó, hỏi lại khi chưa hiểu, nhận một sự giúp đỡ mà không lập tức nghi ngờ, thừa nhận một điều tốt nơi người khác, không vội biến mọi khác biệt thành sự chống đối. Một người đơn sơ có thể học, có thể ngạc nhiên, có thể sửa ý kiến. Họ không cần giữ vẻ biết hết. Họ có thể nói mình chưa hiểu mà không cảm thấy nhục nhã. Họ có thể nhận lời chỉ dẫn mà không thấy giá trị mình giảm đi. Một trái tim như thế có nhiều cửa mở, và niềm vui thường bước vào qua những cánh cửa rất nhỏ.
Trong gia đình, việc hoán cải để biết vui cần được thể hiện bằng những thay đổi cụ thể. Có những mái nhà không thiếu tình thương, nhưng tình thương bị phủ kín bởi lo âu, mệnh lệnh và phê bình. Cha mẹ muốn con tốt hơn nên ngày nào cũng chỉ ra điều con chưa tốt. Vợ chồng muốn gia đình ổn định nên mọi cuộc trò chuyện đều xoay quanh tiền bạc, công việc, việc nhà và những điều chưa hoàn thành. Con cái thương cha mẹ nhưng ít bày tỏ, vì nghĩ ai cũng đã biết. Dần dần, mái nhà trở thành nơi mọi người được giao nhiệm vụ nhiều hơn là được đón nhận. Muốn tìm lại niềm vui, có khi không cần bắt đầu bằng một chuyến đi xa hay một khoản chi lớn, nhưng bằng cách nhìn nhau khác đi. Hãy nhận ra người thân đã cố gắng ở đâu. Hãy nói một lời cảm ơn cho việc vẫn thường được xem là đương nhiên. Hãy để bữa cơm có một khoảng trò chuyện không nhằm sửa lỗi. Hãy hỏi người kia có mệt không trước khi hỏi công việc xong chưa. Hãy cho một đứa trẻ biết rằng nó được yêu ngay cả trong ngày điểm số không tốt. Hãy để người cao tuổi trong nhà cảm thấy mình còn có chỗ trong câu chuyện chung. Hãy tập xin lỗi khi mình đã làm không khí gia đình nặng nề. Niềm vui của gia đình được xây bằng những hành vi nhỏ lặp lại mỗi ngày. Nó lớn lên khi từng người cảm thấy mình có thể trở về với cả sự thành công lẫn mệt mỏi, có thể nói thật mà không sợ lập tức bị kết án, có thể yếu mà vẫn được yêu.
Có một điều cần được giữ gìn đặc biệt trong gia đình và cộng đoàn: đừng làm niềm vui của người khác trở thành một sự bất tiện đối với mình. Đôi khi một người vừa kể chuyện tốt đã nhận ngay một lời hạ thấp. Một đứa trẻ vừa hãnh diện về việc mình làm được đã bị nhắc rằng điều ấy chẳng có gì đáng kể. Một người vừa phấn khởi bắt đầu phục vụ đã bị dội vào rất nhiều lời chê bai về mọi chuyện. Một người vừa tìm lại đức tin đã bị soi xét quá khứ. Chúng ta có thể nghĩ mình đang giúp họ thực tế, nhưng cách nói thiếu yêu thương có thể làm tắt một ngọn lửa còn non. Sự trưởng thành cần sự thật, nhưng sự thật cần được trao bằng lòng tôn trọng. Có thể góp ý mà vẫn nhìn nhận cố gắng. Có thể nhắc giới hạn mà vẫn vui với điều tốt. Có thể giúp người khác thận trọng mà không gieo cay đắng. Người đã trải qua nhiều khó khăn càng cần cẩn thận để không biến kinh nghiệm của mình thành một cái bóng phủ lên mọi khởi đầu của người khác. Nếu đã từng thất vọng, chúng ta có thể dùng trải nghiệm ấy để đồng hành khôn ngoan hơn. Nếu đã từng bị tổn thương, chúng ta có thể trở nên dịu dàng hơn với những người đang sợ hãi. Nếu đã từng đánh mất niềm vui, chúng ta có thể biết trân trọng niềm vui vừa nhen lên nơi một tâm hồn khác.
Đời sống cộng đoàn sẽ thay đổi nhiều khi mọi người tập sống như vậy. Một cộng đoàn có thể tổ chức rất tốt nhưng vẫn khiến người ta ngại bước vào, vì không khí đầy sự so sánh và những phán xét ngầm. Người mới đến không biết mình có được đón nhận không. Người từng vắng mặt sợ bị hỏi bằng giọng trách móc. Người có hoàn cảnh khó khăn sợ trở thành đề tài bàn tán. Người làm sai một việc sợ lỗi ấy bị nhắc lại nhiều năm. Trong một môi trường như thế, ai cũng phải giữ mình, và sự thân tình khó lớn lên. Niềm vui Tin Mừng đòi hỏi chúng ta chăm sóc bầu khí chung bằng cách sử dụng lời nói có trách nhiệm. Một câu chuyện chưa được kiểm chứng không nên được chuyền đi chỉ vì nó hấp dẫn. Một điểm yếu của người khác không nên trở thành trò mua vui. Một bất đồng không nên biến thành việc kéo phe. Một người sa ngã cần được giúp chịu trách nhiệm và trở về, thay vì bị đóng khung mãi trong lỗi lầm. Khi cộng đoàn biết giữ phẩm giá cho từng người, niềm vui trở nên có sức thuyết phục. Người ta cảm thấy đức tin có thể sống được ở đây, bởi ở đây có chỗ cho sự thật, cho sửa đổi, cho lòng thương xót và cho những bước tiến còn nhỏ bé. Sự bình an ấy giúp cộng đoàn làm việc chung tốt hơn, vì mọi người bớt phải tiêu hao sức lực vào việc tự vệ.
Thời đại hôm nay còn đặt chúng ta trước một thách đố rất gần: chúng ta nhìn thấy quá nhiều cuộc đời nhưng lại ít ở lại với cuộc đời của mình. Mỗi ngày, biết bao hình ảnh đi qua mắt: những người thành công, những gia đình có vẻ hạnh phúc, những chuyến đi đẹp, những ngôi nhà tiện nghi, những gương mặt được chú ý. Chúng ta có thể quên rằng điều mình thấy chỉ là một phần được lựa chọn để xuất hiện. Rồi từ những phần rời rạc ấy, chúng ta dựng nên một tiêu chuẩn không ai có thể sống trọn vẹn: phải đẹp, phải giỏi, phải giàu, phải được yêu, phải luôn có điều mới để chia sẻ. Một người đang sống một ngày bình thường bỗng thấy ngày mình quá nghèo. Một người đang trung thành với bổn phận bỗng thấy đời mình quá nhỏ. Một gia đình đang cố gắng yêu nhau giữa nhiều khó khăn bỗng thấy mình thua kém. Niềm vui bị bào mòn không phải vì cuộc đời hoàn toàn thiếu điều tốt, nhưng vì ánh nhìn luôn bị kéo đến điều mình chưa có. Hoán cải trong hoàn cảnh ấy có thể bắt đầu bằng một hành động đơn giản: đặt thiết bị xuống để nhìn một người đang ở trước mặt, ăn một bữa cơm với sự hiện diện trọn vẹn, làm một việc mà không cần chụp lại, cầu nguyện mà không phải tìm ngay một nội dung mới, đi qua một buổi tối mà không kiểm tra liên tục phản ứng của người khác. Chúng ta cần lấy lại khả năng sống những điều có thật, bởi niềm vui sâu thường cần thời gian, sự chú ý và một trái tim không bị phân tán quá nhiều.
Niềm vui cũng được mở ra khi chúng ta đến gần người đang cần giúp đỡ. Một tâm hồn chỉ xoay quanh nỗi bất mãn của mình dễ bị mắc kẹt trong những câu hỏi không có hồi kết: tại sao tôi chưa được điều này, tại sao người khác có điều kia, tại sao tôi không được chú ý, tại sao cuộc đời không diễn ra như dự định? Nhưng khi lắng nghe một người cô đơn, thăm một người bệnh, giúp một gia đình khó khăn, kiên nhẫn với một em nhỏ, chúng ta có thể nhận ra rằng đời mình vẫn có khả năng trở thành một điều tốt cho người khác. Việc ấy không tự động giải quyết mọi vấn đề của mình, nhưng nó mở rộng không gian nội tâm. Chúng ta nhìn thấy một thế giới lớn hơn những lo âu riêng. Chúng ta nhận ra một lời hỏi thăm có thể quan trọng, một bữa ăn có thể nâng đỡ, một sự hiện diện có thể giúp người khác chịu đựng một ngày khó. Tuy vậy, việc phục vụ cần giữ sự tôn trọng. Người nghèo, người bệnh, người cô đơn có phẩm giá, có câu chuyện, có quyền được lắng nghe và được kín đáo bảo vệ. Chúng ta đến với họ bằng sự sẵn sàng gặp gỡ, để cho nhu cầu thực tế của họ hướng dẫn cách mình giúp đỡ. Khi tình yêu trở nên cụ thể và khiêm tốn như thế, niềm vui có chiều sâu, vì nó gắn với một cuộc gặp gỡ thật, một sự nâng đỡ thật, một điều thiện đã được thực hiện.
Có một thứ cay đắng khiến chúng ta khó đón nhận niềm vui: giữ quá lâu những món nợ tinh thần. Chúng ta nhớ ai đã làm mình đau, ai đã không biết ơn, ai đã nói một lời bất công, ai đã khiến mình mất cơ hội. Có những tổn thương rất nghiêm trọng cần thời gian, sự trợ giúp, những ranh giới rõ ràng và cả trách nhiệm phải được làm sáng tỏ. Tha thứ không thể được dùng để buộc một người quay lại nơi họ tiếp tục bị làm hại. Nhưng trong hành trình chữa lành, cũng cần nhận ra rằng lòng mình có thể bị buộc chặt vào một biến cố đã qua. Chúng ta mang người đã làm mình đau vào mọi cuộc gặp mới, nhìn mọi người qua sự nghi ngờ cũ, phản ứng với hiện tại bằng vết thương của quá khứ. Khi ấy, sự dữ đã xảy ra còn tiếp tục lấy đi những ngày đang sống. Xin Chúa giúp mình bước ra khỏi vòng lặp ấy là một lời cầu nguyện rất thực tế. Có thể hôm nay chưa tha thứ được trọn vẹn, nhưng có thể ngừng nuôi một ý định trả đũa. Có thể chưa thể gặp lại, nhưng có thể tập không kể lại câu chuyện bằng sự căm giận mỗi ngày. Có thể vẫn cần giữ khoảng cách, nhưng có thể mong mình được tự do hơn trong lòng. Niềm vui trở lại từng chút khi tâm hồn không còn phải dành mọi sức lực cho việc bảo vệ một nỗi đau.
Đối với người đang già đi, đang bệnh, đang mất khả năng làm những điều trước đây, niềm vui cần một sự chuyển đổi rất sâu. Khi còn khỏe, chúng ta dễ biết mình là ai qua công việc, vai trò, trách nhiệm. Khi những điều ấy giảm dần, chúng ta có thể thấy mình bị thu nhỏ. Một người từng chăm sóc cả gia đình nay cần người khác chăm sóc. Một người từng quyết định mọi việc nay phải nhờ giúp đỡ. Một người từng đi khắp nơi nay chỉ có thể ở trong một căn phòng. Nếu giá trị bản thân hoàn toàn gắn với khả năng làm việc, những thay đổi ấy sẽ vô cùng đau đớn. Nhưng đời sống vẫn còn những chiều sâu khác. Sự hiện diện của một người có thể đem lại bình an. Một lời chúc lành có thể nâng đỡ con cháu. Một lời cầu nguyện âm thầm có thể diễn tả tình yêu. Việc đón nhận sự chăm sóc cũng cho người khác cơ hội sống lòng hiếu thảo và sự quảng đại. Người cần được giúp đỡ không phải vì thế mà mất phẩm giá. Tập đón nhận là một phần của đời sống yêu thương. Chúng ta thường nghĩ mình quảng đại khi cho đi, nhưng cũng cần sự khiêm nhường để cho phép người khác trao tặng. Trong những ngày yếu đuối, niềm vui có thể mang hình thức rất đơn sơ: một bàn tay được nắm, một khuôn mặt quen thuộc, một buổi sáng còn có thể thưa lời cầu nguyện, một cảm giác mình vẫn thuộc về gia đình và cộng đoàn. Chúng ta cần chăm sóc những niềm vui ấy bằng sự hiện diện có thật.
Mỗi ngày đều có thể là một nơi tập hoán cải để biết vui. Buổi sáng, trước khi để những công việc kéo mình đi, chúng ta có thể dừng một chút để đón nhận ngày mới như một khoảng thời gian được trao. Trong khi làm việc, chúng ta có thể chú ý đến một điều đang diễn ra tốt, thay vì chỉ nhìn những điều còn thiếu. Khi có người giúp, chúng ta có thể nói lời cảm ơn rõ ràng. Khi thấy mình so sánh, chúng ta có thể trở về với trách nhiệm cụ thể của mình. Khi bực bội, chúng ta có thể chậm lại trước khi nói. Khi thất bại, chúng ta có thể nhận điều cần sửa và xin sự trợ giúp. Khi có một niềm vui nhỏ, chúng ta có thể ở lại với nó mà không lập tức đòi thêm. Buổi tối, chúng ta có thể nhìn lại ngày sống bằng sự thật và lòng thương xót: hôm nay mình đã yêu ở đâu, đã làm ai tổn thương, đã nhận điều gì, cần xin lỗi ai, cần trao lại cho Chúa điều gì? Cách nhìn ấy giúp chúng ta tránh cả hai cực đoan: tự hài lòng đến mức không muốn sửa đổi, hoặc tự kết án đến mức không còn thấy điều tốt nào. Một ngày có giới hạn vẫn có thể là một ngày được sống trong ân sủng. Một bước nhỏ vẫn là một bước. Một lời xin lỗi chân thành vẫn có thể mở lại tương quan. Một lần biết im lặng đúng lúc vẫn có thể bảo vệ bình an cho cả một gia đình.
Sau cùng, hoán cải để biết vui là học sống trong tư cách người được yêu và được sai đi giữa cuộc đời. Chúng ta có trách nhiệm với những gì được trao, nhưng không phải gánh lấy toàn bộ số phận thế giới. Chúng ta cần cố gắng, nhưng cũng cần để mình được nâng đỡ. Chúng ta cần sửa đổi, nhưng có thể sửa đổi trong hy vọng. Chúng ta cần phục vụ, nhưng không phải dùng sự phục vụ để mua lấy tình yêu của Thiên Chúa. Chúng ta có thể vui vì một công việc thành công, và vẫn giữ được phẩm giá khi công việc ấy chưa thành. Chúng ta có thể trân trọng lời khen, và vẫn biết mình đáng được yêu khi không ai nhắc tên. Chúng ta có thể khóc trước mất mát, và vẫn có một nơi sâu kín để đặt lòng tín thác. Một trái tim được chữa lành như thế sẽ làm cho những nơi nó hiện diện trở nên dễ sống hơn. Nó bớt gieo lo âu, bớt tạo áp lực, bớt đòi người khác phải đáp ứng những thiếu thốn vô hình của mình. Nó biết nghe hơn, biết cảm ơn hơn, biết nhường chỗ hơn. Niềm vui của nó đi vào giọng nói, cách nhìn, cách làm việc, cách chịu đựng một ngày khó. Và đôi khi, chính sự bình an bình dị ấy trở thành lời loan báo có sức chạm đến người khác: giữa một thế giới mỏi mệt, vẫn có thể sống bằng tình yêu; giữa những giới hạn thật, vẫn có thể trung thành; giữa những ngày chưa sáng, vẫn có thể hy vọng.
Lạy Chúa, có những lúc con đã để lòng mình lệ thuộc quá nhiều vào kết quả, vào sự công nhận, vào điều người khác nghĩ về con. Con đã mệt vì phải giữ một hình ảnh, đã buồn vì những so sánh, đã đánh mất sự dịu dàng vì mang quá nhiều lo lắng. Xin đưa con trở về với tình yêu của Chúa. Xin giúp con nhìn sự thật về mình mà không tuyệt vọng, nhận giới hạn mà không xấu hổ, sửa lỗi mà không tự ghét bỏ, phục vụ mà không âm thầm đòi được trả công bằng lời khen. Xin cho con biết đón nhận những điều nhỏ bé đang nâng đỡ đời con: một người ở bên, một công việc có thể làm, một bữa cơm, một lời hỏi thăm, một cơ hội để bắt đầu lại. Xin cho con biết vui với điều tốt nơi người khác, biết bảo vệ niềm vui của người thân, biết ngồi bên người đang khóc mà không vội giảng giải. Khi con khỏe, xin cho con quảng đại; khi con yếu, xin cho con biết đón nhận; khi con thành công, xin cho con biết tạ ơn; khi con thất bại, xin cho con đủ khiêm nhường để học lại. Xin chữa lành nơi con những cay đắng đã làm lời nói trở nên nặng nề và những sợ hãi đã khiến trái tim đóng cửa. Xin cho gia đình con có thêm sự lắng nghe, cho cộng đoàn con có thêm lòng thương xót, cho những người gặp con cảm thấy mình được tôn trọng. Và trong từng ngày bình thường, xin dạy con sống niềm vui được thuộc về Chúa, để con có thể trao lại cho cuộc đời một chút bình an, một chút dịu dàng, một chút hy vọng bằng chính cách con yêu thương. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.


















