Tên đã được ghi trước khi việc thành
Khi ấy, Nhóm Bảy Mươi Hai trở về. Chữ trở về phải được nghe trước khi nghe điều các ông kể, vì có những người ra đi mà không còn đường về, và có những người về mà không còn gì để đặt vào tay Thầy. Các ông về. Về với Đức Giê-su, không về với một hội đồng để nộp thành tích, không về với đám đông để được reo. Luca kể các ông hớn hở. Hớn hở là niềm vui chưa kịp xếp lại cho đứng đắn, niềm vui còn nóng ở miệng, còn rung ở chân vừa đi đường dài. Các ông nói: thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con. Câu ấy có một sự thật, và có một chỗ mỏng. Sự thật là danh Đức Giê-su không phải là âm thanh gọi cho có lễ phép. Danh ấy tác động. Danh ấy đi trước các ông, ở trong miệng các ông, và làm những gì các ông không tự làm được. Chỗ mỏng là chữ chúng con. Chúng con thấy. Chúng con kể. Chúng con hớn hở. Chỉ cần lệch một chút, danh Thầy trở thành cái cớ để chúng con đứng ra giữa câu chuyện, và niềm vui đúng việc bắt đầu đứng sai chỗ.
Muốn hiểu giờ trở về, phải ở lại với giờ ra đi, vì Luca không đặt cảnh này như một mẩu chuyện rời. Ngay phía trước, Đức Giê-su chỉ định bảy mươi hai người khác, sai đi từng hai người một, đến mọi thành mọi nơi mà chính Ngài sẽ tới. Chữ khác ở đây đáng nghe. Không phải chỉ có Nhóm Mười Hai. Sứ vụ không bị khóa trong vòng những người được gọi tên trước cộng đoàn từ đầu. Còn những người khác, được chỉ định, được sai. Và được sai không phải để thay Ngài, hầu Ngài khỏi phải đi. Các ông đi trước, đến những nơi chính Ngài sẽ tới. Người dọn đường không phải là người chiếm đường. Người nói trước không phải là người nói thay. Từng hai người một, vì Tin Mừng không phải sản phẩm của một cá nhân xuất chúng, và vì giữa đường cần có người làm chứng cho nhau. Khi làng mở, có người cùng thấy. Khi làng đóng, có người cùng giũ bụi, kẻo một mình thì sự từ chối dễ biến thành một bản án cho chính mình. Hai người cũng là để lời khỏi thành sở hữu của một miệng. Bình an mà chỉ một người nói, dễ thành ý của người ấy. Bình an mà hai người cùng mang, còn là lời của Đấng đã sai.
Ngài nhìn cánh đồng rồi mới sai. Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Câu ấy không phải lời than cho có vẻ khiêm nhường mục vụ. Đó là cách mắt Chúa nhìn thế gian. Ngài không thấy trước hết một đám đông đáng sợ, một xã hội chống lại, một thế hệ hư mất. Ngài thấy một cánh đồng đáng thương. Người ta chín mà chưa có ai cúi xuống. Người ta đói mà không biết mình đói, hoặc biết mà không còn hy vọng có thợ. Vì thế lời đầu tiên Ngài dạy không phải là hãy tổ chức cho quy mô, mà là hãy xin chủ mùa gặt sai thợ. Sứ vụ bắt đầu bằng cầu xin, không bắt đầu bằng tự tuyển. Ai tự tuyển thì khi về sẽ kể về mình. Ai được xin mà được sai thì khi về còn có Thầy để kể. Rồi Ngài nói điều không ai muốn nghe nếu đang tìm một sứ vụ an toàn: Thầy sai anh em đi như chiên vào giữa bầy sói. Chiên không phải là hình ảnh của sự khôn khéo. Chiên là hình ảnh của một sự dễ bị tổn thương đã được Chúa biết trước. Ngài không hứa các ông sẽ hóa thành sói cho vừa vùng. Ngài hứa sai các ông đi trong hình dạng chiên, nghĩa là không trang bị cho các ông nanh của kẻ chinh phục. Đừng mang túi tiền, bao bị, giày dép. Đừng chào hỏi ai dọc đường. Sự nghèo phương tiện ấy không phải là một kỷ luật khổ hạnh để lập công. Đó là cách để các ông khỏi tin vào một nguồn lực khác danh Thầy. Túi tiền đầy thì khi việc thành, người ta không biết danh nào đã thắng. Tay trống thì khi ma quỷ lui, các ông buộc phải nói câu các ông đã nói: nghe đến danh Thầy.
Vào nhà nào, trước tiên hãy nói bình an cho nhà ấy. Bình an không phải là lời xã giao. Bình an là điều các ông mang từ Thầy, và là điều có thể ở lại hoặc trở về tùy nhà ấy đón hay không. Nếu có người con của sự bình an, bình an sẽ ở lại. Nếu không, bình an trở về với các ông. Lời này giữ các ông khỏi hai lệch. Lệch thứ nhất là ép bình an, biến lời chúc thành một cuộc vây hãm, ở lì cho đến khi nhà kia khuất phục. Lệch thứ hai là mất bình an theo sự từ chối, để cửa đóng viết lại lòng mình. Bình an về với các ông nghĩa là các ông không bị tước mất điều đã nhận, chỉ vì có nhà không nhận. Rồi Ngài cho các ông ở lại, ăn uống của người ta dọn, vì thợ đáng được trả công. Ở lại là một phần của sứ vụ, không phải phần phụ sau khi đã giảng xong. Người chỉ đi ngang, nói một câu, rồi đi tìm nhà khác cho đủ số, chưa nghe lệnh này. Ở lại là để nhà ấy không phải là một đối tượng, và để các ông không phải là một chiến dịch. Chữa lành kẻ đau yếu. Nói Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Hai việc đi cùng nhau. Chữa mà không nói Triều Đại thì dễ thành một thứ làm phúc để được kể. Nói Triều Đại mà không chạm vào người đau thì lời ấy chưa đến gần như lời đã loan. Và nếu thành nào không đón, hãy ra quảng trường, giũ cả bụi chân, và biết rằng ngày ấy Nước Thiên Chúa đã đến gần, dù thành ấy không nhận. Giũ bụi không phải là nguyền rủa cho đã giận. Giũ bụi là không mang sự từ chối về làm tên mình, cũng không mang bụi của cuộc tranh chấp vào nhà kế tiếp.
Các ông đã đi trong lệnh ấy. Rồi các ông về, và điều các ông kể trước hết không phải số nhà đã mở, không phải số làng đã nghe, không phải tên những người vừa được chữa. Các ông kể về danh. Nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục. Ma quỷ, trong cách nói của Tin Mừng, không phải là một đề tài để bàn cho có vẻ huyền bí, càng không phải là một hình ảnh văn chương cho người thời nay khỏi phải tin. Đó là những sức mạnh làm con người mất tên mình, mất nhà mình, mất tiếng nói của mình. Người bị chúng giữ không còn tự kể được mình là ai. Người ấy nói bằng một tiếng không phải tiếng của mình, muốn điều không phải điều của mình, sợ một sự sợ không còn phân biệt được với chính mình. Khi danh Đức Giê-su được các ông mang tới, người ấy bắt đầu lấy lại được tiếng nói. Các ông thấy. Các ông run vì vui. Ai đã từng làm một việc nhỏ và bỗng thấy việc ấy sinh ra một điều mình không dám nhận là của mình, người ấy hiểu được phần nào cái hớn hở này. Không phải vui vì mình tài. Vui vì mình vừa đứng trong một dòng chảy lớn hơn mình, và dòng chảy ấy có tên.
Đức Giê-su không cắt niềm vui. Phải nói rõ điều này, kẻo bài giảng biến thành một lời răn đừng vui, và người nghe về nhà với một thứ khiêm nhường giả, phủ nhận điều mắt đã thấy. Ngài đón câu các ông vừa nói và mở nó ra. Thầy đã thấy Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống. Các ông thấy từng cuộc khuất phục ở từng nơi. Thầy thấy nguồn. Các ông thấy ngọn trong một mùa sai đi. Thầy thấy gốc của sự chống đối. Xa-tan, trong tiếng Hipri, là kẻ tố cáo. Sách Gióp mở ra bằng hình ảnh ấy: một kẻ đi lại trên đất, rồi đứng ra giữa phiên để hỏi người công chính có còn công chính nếu bị lấy hết. Kẻ tố cáo không cần lúc nào cũng hiện hình. Nó chỉ cần một lời đặt vào giữa Thiên Chúa và con người, một lời biến ân huệ thành nghi ngờ, biến anh em thành đối thủ, biến lương tâm thành một phiên tòa không bao giờ tuyên xong. Trong sách Dacaria, vị thượng tế đứng trước tòa với những lời tố cáo bên cạnh, và Thiên Chúa là Đấng quở kẻ tố cáo, truyền đổi áo bẩn lấy áo lễ. Khi Đức Giê-su nói Ngài đã thấy kẻ ấy sa xuống như tia chớp, Ngài đang cho các ông biết sứ vụ vừa qua không phải là một chuỗi việc lành rời rạc. Đó là một phần của cuộc chiến đã được quyết định nơi chính Ngài. Tia chớp không họp để xin gia hạn. Tia chớp sa là sa. Quyền lực chia rẽ không còn chỗ đứng trên trời, nghĩa là không còn được nhân danh trời mà tố cáo đến cùng.
Người giảng không được biến câu này thành một lời khoe rằng thế gian đã hết sự dữ. Các ông vừa đi về, chân còn nhớ những cánh cửa đóng. Chúa không nói các cửa ấy sẽ không còn đóng. Ngài nói sự dữ không còn là trời của anh em. Nó có thể còn cắn. Nó không còn được ngự. Hình ảnh tia chớp cũng dạy sự mau lẹ của chiến thắng trong mầu nhiệm, chứ không dạy sự mau lẹ của mọi kết quả mục vụ. Có những cấu trúc bất công đứng rất lâu. Có những thói quen tội trong một nhà đứng rất lâu. Có những lời tố cáo trong lòng một người đứng rất lâu, lâu đến mức người ấy tưởng đó là tiếng của chính mình. Tôi không đáng. Việc tôi làm vô ích. Người kia cố tình. Chúa bỏ nhà này rồi. Những câu ấy có lúc là sự thật của một ngày mệt. Những câu ấy trở thành Xa-tan khi chúng được phép viết câu cuối. Tia chớp Chúa thấy không miễn cho ta khỏi phải ở lại với những cái lâu. Nó cho ta biết khi ở lại, ta không ở lại trong một trận đã thua từ đầu. Giáo dân cần nghe điều này cho đỡ kiệt. Nhiều người phục vụ lâu năm mang một nỗi mệt thầm: làm hoài mà sự dữ trong giáo xứ vẫn còn, trong họ hàng vẫn còn, trong chính mình vẫn còn. Nếu không có câu Thầy đã thấy Xa-tan sa xuống, nỗi mệt ấy sẽ thành tuyệt vọng, hoặc thành cay nghiệt. Tuyệt vọng thì bỏ. Cay nghiệt thì ở lại mà mỗi lời nói đều là nọc. Có câu ấy, nỗi mệt vẫn còn, nhưng nó không được phép kết luận. Kết luận thuộc về Chúa, và Ngài đã thấy hướng của tia chớp.
Rồi Ngài nói tiếp, như người trao lại cho các ông cái các ông vừa nếm. Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. Sách Đệ nhị luật, khi nói về đất hứa, đã có hình ảnh một nơi người ta có thể đi giữa vùng nguy mà vẫn được giữ, chân đặt lên những gì cắn mà không bị nọc làm chủ. Thánh vịnh cũng có lời tương tự, đặt dưới bóng Đấng coi sóc, dưới cánh của Đấng không để chân vấp vào đá, và cho phép người được gìn giữ đạp lên rắn độc. Đức Giê-su lấy lại hình ảnh ấy, không phải để các ông thành những người phi thường trước mắt thiên hạ, mà để gắn nó vào sứ vụ. Quyền năng được ban vì các ông được sai vào giữa sói, vào những nhà chưa biết, vào những thành có thể không đón. Không có quyền năng ấy, lệnh đi như chiên sẽ chỉ là một sự liều vô nghĩa. Có quyền năng ấy, sự dễ bị tổn thương của chiên không còn là sự bỏ mặc. Chẳng có gì làm hại được anh em phải được nghe cùng với cả phần sau của Tin Mừng, kẻo người ta biến nó thành một hợp đồng an toàn. Các ông sẽ bị mệt. Có ông sẽ bị đuổi. Chính Thầy sẽ bị nộp. Lời ấy có một nghĩa ở tầng căn tính. Sự dữ không có quyền định nghĩa anh em. Nó làm anh em đau được. Nó không có quyền viết lại tên anh em. Nó làm một việc tông đồ gãy được. Nó không có quyền biến anh em thành kẻ thù của chính Đấng đã sai mình, cũng không có quyền biến sự gãy ấy thành bằng chứng rằng anh em chưa từng được sai.
Với giáo dân, rắn rết và bọ cạp không ở đồng vắng xa. Chúng ở trong một câu nói móc giữa hai hội đoàn, một con số được so sánh để hạ nhau, một tin nhắn chuyển đi lúc nửa đêm với vẻ quan tâm mà thực ra là để chia. Chúng ở trong thói lấy việc đạo làm chỗ đứng, rồi coi người không làm được như mình là người kém mến Chúa. Chúng ở trong nhà, khi người ta dùng sự hy sinh của mình làm nợ để người kia phải trả cả đời. Chúng ở trong lòng người trẻ, khi mọi lời mời gọi đều bảo rằng muốn được kể là mình thì phải vứt cái tên đã được ghi từ ngày rửa tội, và coi sự vứt ấy là trưởng thành. Chúng ở trong một lần chức vụ trong giáo xứ bị thay, và người bị thay bắt đầu kể lịch sử cộng đoàn như một bản tố cáo. Đạp lên không phải là khinh người đang mang nọc. Đạp lên là không ký với nọc một hòa ước ngầm. Người ta vẫn có thể bị cắn, vẫn có thể đau vài ngày, vẫn có thể cần một người anh em để gỡ lời độc ra khỏi tai. Người ta không trao chân cho chúng dẫn, không để chúng chọn đường đi của tháng sau. Chẳng có gì làm hại được, nếu hiểu cho đúng, là một lời hứa về căn tính, không phải một lời hứa về sự dễ chịu. Nhiều vị tử đạo đã bị hại ở thân xác, và không một ai trong các ngài bị hại ở câu này. Tên các ngài không bị sự dữ lấy mất. Giáo dân không cần đi tìm một cuộc tử đạo cho bằng được để câu này thành thật. Chỉ cần trong những vết cắn nhỏ mỗi ngày, không để nọc viết câu cuối.
Nếu bài Tin Mừng dừng ở quyền năng, niềm vui của các ông đã đủ, và Chúa đã không cần nói thêm. Ngài nói thêm. Chữ tuy nhiên đứng đó như một cái ngưỡng của cả đoạn văn. Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời. Mọi câu trước dọn cho câu này. Mọi câu sau giữ cho câu này khỏi bị hiểu thành một lời khuyên đạo đức chung chung, kiểu hãy khiêm tốn và hãy nhớ đến thiên đàng. Các ông đang mừng một sự khuất phục. Chúa chuyển niềm vui sang một sự thuộc về. Hai điều không cùng một tầng. Khuất phục thì có qua có lại. Hôm nay lui, ngày mai có thể trở. Một làng nghe, một làng đóng. Một người khỏi, một người không khỏi. Một hội đoàn đông, rồi mùa sau vắng. Một bài hát được khen, rồi người khác hát hay hơn. Một việc bác ái được đăng, rồi người ta quên. Niềm vui xây trên khuất phục là niềm vui của người phải liên tục thắng mới còn biết mình là ai. Hết trận là hết tên. Niềm vui vì tên được ghi trên trời không cần trận nào nữa để đứng. Sổ ấy không phải sổ điểm của một phong trào. Sổ ấy là trí nhớ của Thiên Chúa về từng người. Được ghi tên là được biết, được giữ, được gọi không phải sau khi đã nộp kết quả.
Kinh Thánh đã nói về việc được ghi tên từ rất xa, để câu Chúa nói hôm nay không bị nghe như một hình ảnh mới tinh. Trong sách Xuất Hành, sau tội bê vàng, ông Môsê xin được xóa khỏi sách Chúa đã viết, nếu Chúa không tha cho dân. Câu xin ấy cho thấy đã có một sách, một trí nhớ của Thiên Chúa về những người thuộc về Ngài, và bị xóa khỏi sách ấy là một sự mất còn hơn mất mạng. Ngôn sứ Isaia nói về những người được kể là thánh, được ghi trong sổ sự sống ở Giêrusalem. Ngôn sứ Malakhi nói về một sổ nhớ được viết trước nhan Chúa, dành cho những kẻ kính sợ Ngài và nghĩ đến danh Ngài. Thánh vịnh xin cho kẻ ác bị xóa khỏi sổ sự sống, và cho người công chính được kể cùng những người chính trực. Sang sách Khải Huyền, sổ sự sống của Con Chiên trở thành nơi tên được giữ, và những ai không thấy tên mình trong đó sẽ không vào thành. Thánh Phaolô, khi viết cho giáo đoàn Philípphê, nói về những người đã cùng mình chiến đấu vì Tin Mừng, những người có tên trong sổ sự sống. Đức Giê-su, trong chính Luca, không đợi đến Khải Huyền mới nói điều này với các môn đệ. Ngài nói ngay giờ các ông đang hớn hở vì một chiến thắng có thật. Đừng mừng ở chiến thắng. Hãy mừng ở sổ. Và sổ ấy không được viết bằng mực của thành tích vừa nộp. Các ông được sai đi vì đã được ghi, chứ không được ghi vì đã sai đi thành công. Đảo một chữ ấy là đảo cả nền của sứ vụ.
Trong đời sống giáo dân, chỗ trượt nằm đúng ở chữ tuy nhiên, và chỗ trượt rất khó thấy vì nó đội lốt nhiệt thành. Người lo lễ mừng vì buổi cử hành long trọng, rồi buồn như mất một phần mình khi buổi sau ít người, ca đoàn thiếu, micro hỏng, người dâng lễ đến trễ. Người dạy giáo lý mừng vì lớp đầy, rồi nhìn lớp thưa như một bản án, về nhà không ăn nổi, và bắt đầu xét lại lòng mến của cha mẹ học sinh bằng sĩ số. Người thăm bệnh mừng vì được cảm ơn, được gọi là tông đồ, rồi gặp nhà đóng cửa, gặp người bệnh khó tính, thì tự hỏi mình đi làm gì, mất một buổi, tốn một cuốc xe. Người dâng công quả mừng vì được xướng tên, rồi so với người dâng nhiều hơn, và sự so ấy theo về đến ghế, làm buổi lễ mất ngon. Người hát mừng vì cộng đoàn khen hay. Người đọc Sách Thánh mừng vì không vấp. Người nấu bếp mừng vì được khen ngon. Người giữ xe, người lau nhà thờ, người xếp ghế, ai cũng có một phiên bản nhỏ của câu các ông đã nói: việc đã khuất phục chúng con. Không việc nào trong các việc ấy là xấu. Chúa không bảo đừng chữa, đừng đi, đừng nói bình an, đừng lau, đừng nấu, đừng hát. Ngài bảo đừng lấy kết quả của các việc ấy làm tên mình. Tên đã được ghi trước khi việc thành. Việc thành là hoa. Hoa rụng không làm cây mất gốc. Người nào hiểu được điều này sẽ phục vụ lâu mà không chua. Người nào không hiểu sẽ phục vụ mạnh một mùa, rồi hoặc bỏ, hoặc ở lại như người giữ sân. Ở lại như người giữ sân còn mệt hơn bỏ, vì mỗi ngày phải chứng minh sân ấy là của mình, và mỗi người mới đến đều có thể là người đến chiếm.
Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giê-su hớn hở vui mừng. Luca là người duy nhất kể Đức Giê-su vui một cách bộc lộ đến thế, và ông đặt niềm vui ấy dưới tác động của Thánh Thần. Không phải Ngài vui vì được các ông tâng. Không phải Ngài vui vì chiến dịch thành công, vì có thêm bằng chứng để dùng trong những lần sai đi sau. Ngài vui cùng một giờ các ông đang đứng đó với niềm vui còn lệch, và Ngài vui về một điều các ông chưa kể. Các ông kể về khuất phục. Ngài vui về cách Cha mạc khải. Lời ngợi khen bật ra như một người con đang nhìn cách Cha làm việc mà không cần sửa cách ấy cho hợp ý mình. Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha. Ta phải nghe cả ba nhịp, và đừng vội rút ra một bài học xã hội. Nhịp một, Cha là Chúa Tể trời đất. Không có một vùng nào, vùng trí thức hay vùng thất học, vùng thành hay vùng quê, vùng người đang giữ đạo đều hay vùng người đang bỏ lễ, vùng người có chức trong giáo xứ hay vùng người chỉ dám đứng cuối nhà thờ, nằm ngoài quyền Cha. Gọi Cha là Chúa Tể là trả lại cho Cha cả những vùng mình đang muốn điều khiển. Nhịp hai, Cha giấu và Cha mở theo một cách không phải cách của hội đồng. Nhịp ba, Con không phản đối. Con gọi cách ấy là đẹp ý Cha. Niềm vui của Đức Giê-su là niềm vui đồng thuận, không phải niềm vui của người vừa thắng một cuộc tranh luận với các bậc thầy.
Bậc khôn ngoan thông thái trong lời này không phải là những người có học. Chúa không kết án sách vở, không kết án sự suy nghĩ, không kết án những ai mất công tìm hiểu đức tin cho đến nơi đến chốn. Chính Luca là một người viết có thứ tự, có tra cứu, có gửi lời cho một độc giả tên Thêôphilô để ông nhận ra tính vững chắc của những điều đã được dạy. Nếu Chúa chống sự hiểu biết, Luca đã không viết, và Giáo Hội đã không cần các giáo phụ, không cần các công đồng, không cần những người suốt đời ngồi với Lời cho đến khi Lời mở. Điều bị giấu ở đây là một thứ khôn ngoan đã đầy, đầy đến mức không còn chỗ cho Thiên Chúa làm mình ngạc nhiên. Người ấy có thể thuộc luật, thuộc lễ, thuộc cách tổ chức, thuộc cả ngôn ngữ đạo đức, thuộc cả lịch sử giáo xứ, và vẫn không thấy Nước Trời đang đến trong những người đi chân đất. Sự đầy ấy có thể đội hình dạng rất được trọng. Tôi biết việc này phải làm thế nào, vì tôi đã làm hai mươi năm. Tôi biết người ấy không bền, vì tôi đã thấy nhiều người như thế. Tôi biết lớp trẻ bây giờ không được như trước. Tôi biết giảng thế nào thì đúng mạch. Những câu ấy có lúc là kinh nghiệm, và kinh nghiệm là một ân huệ. Những câu ấy trở thành bậc khôn ngoan bị giấu khi chúng khóa cửa, khi không còn một khe nào cho Cha mặc khải một điều không có trong sổ của mình. Người bé mọn không phải là người kém thông minh, càng không phải là người được khen vì chịu dốt. Người bé mọn là người còn chỗ trống. Còn nhận thì còn được cho. Hết nhận thì dù được đặt rất gần kho cũng không lấy ra được gì, vì tay đang cầm quá nhiều thứ của mình. Nhóm Bảy Mươi Hai, nhìn theo tiêu chuẩn của thế gian, không phải là hội đồng cố vấn. Họ là những người được sai đi với hai bàn tay trống. Chính vì thế họ thấy được điều các bậc thầy của sự an toàn không thấy. Đức Giê-su vui vì chương trình của Cha đẹp ý Cha theo cách ấy.
Một linh mục, một tu sĩ, một giáo dân đứng đầu một hội đoàn, nếu không còn biết vui như thế, thì dù có làm rất nhiều việc, lòng đã bắt đầu lệch. Ta dễ muốn Nước Thiên Chúa đến theo cách ta đã vẽ. Cha lại muốn Nước ấy được mặc khải cho những người ta không tính vào danh sách. Có những bà già không thuộc nổi một định nghĩa, mà vẫn còn chỗ cho Chúa làm bà ngạc nhiên khi con bà về nhà muộn và bà không khóa cửa lòng. Có những người trẻ không biết trình bày giáo lý cho xuôi, mà vẫn còn chỗ để một câu Tin Mừng làm họ đau thật, đau đến mức không sống giả được. Có những người thất bại ở ngoài đời, vào nhà thờ không dám ngồi hàng đầu, mà vẫn còn chỗ vì họ không còn gì trong tay để che. Chúa vui vì Cha mở cho những người ấy. Người phục vụ mà không vui được niềm vui này sẽ sớm coi những người ấy là phần phụ của cộng đoàn những người đã biết việc. Và khi coi như thế, người phục vụ đã bước sang phía bị giấu, dù tay vẫn đang làm rất nhiều việc sáng.
Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết người Con là ai, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha là ai, trừ người Con, và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho. Giữa một đoạn Tin Mừng rất Luca, bỗng vang lên một cung giọng khiến người đọc Tin Mừng Gioan phải dừng. Mọi sự đã được trao. Không phải một phần việc, một lĩnh vực chữa bệnh, một vùng truyền giáo. Mọi sự. Tương quan Cha và Con không phải là một ý tưởng để bàn thêm sau khi đã xong phần kể chuyện ma quỷ khuất phục. Tương quan ấy là nguồn của mọi mạc khải, và là nguồn của chính quyền năng các ông vừa nếm. Các ông nhân danh Thầy mà những thế lực kia lui, vì Thầy là Đấng đã nhận mọi sự từ Cha, chứ không phải vì các ông đã tìm được một phương pháp mới, một cách nói dễ nghe hơn, một sự can đảm riêng. Và cửa vào tương quan ấy không phải là cửa tự mở bằng công lao. Không ai biết, trừ khi người Con muốn mặc khải. Chữ muốn ở đây không phải là sự tùy tiện của một người giữ quyền để khỏi phải cho. Đó là tự do của tình yêu. Tình yêu chọn. Tình yêu mở. Tình yêu không để mình bị chiếm bằng cách leo, bằng cách nộp đủ thành tích để buộc Cha phải ghi tên. Giáo dân phục vụ mà quên câu này sẽ sớm biến việc tông đồ thành một thứ sở hữu. Mình biết. Mình chỉ. Mình cho người khác biết. Mình đã được giao một hội đoàn, một lớp, một ban, nên mình giữ. Câu Chúa nói đảo lại. Mình được muốn cho. Mình là kẻ Con muốn mặc khải Cha cho. Từ cái được muốn ấy mới có cái để mang đi. Mang đi mà không được muốn cho, thì mang chỉ còn là nhiệt tình, và nhiệt tình hết nhiên liệu rất nhanh, nhất là khi việc không khuất phục, khi người được mình cho không đáp lại bằng sự thay đổi mình đã vẽ sẵn.
Rồi Đức Giê-su quay lại với các môn đệ và bảo riêng. Chi tiết quay lại và bảo riêng đáng được ở lại rất lâu. Ngài không hô câu này ra giữa đám đông đang có thể vừa nghe chuyện ma quỷ khuất phục, và sẽ hiểu mọi lời sau theo hướng được thưởng vì đã thắng. Ngài thu các ông lại. Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy. Quả vậy, Thầy bảo cho anh em biết: nhiều ngôn sứ và nhiều vua chúa đã muốn thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, muốn nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe. Mối phúc này không khen tài các ông. Mối phúc này đặt các ông vào một chỗ trong lịch sử mà các ông không tự chọn, và vì không tự chọn nên không được phép lấy làm công. Ngôn sứ đã nói về Đấng phải đến. Vua đã mong một triều đại sự sống, một triều đại không xây trên gươm của những kẻ tố cáo. Abraham, trong chính lời Đức Giê-su ở một chỗ khác, đã vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của Ngài. Và bây giờ những người bình thường, mới đi truyền giáo về, chân còn bụi, đang thấy và đang nghe. Phúc không nằm ở chỗ họ giỏi hơn ngôn sứ. Phúc nằm ở chỗ thời của họ là thời đã đến. Thấy ở đây không phải là thấy một thiên đàng đã hoàn tất, mọi cửa đã mở, mọi sói đã hóa chiên. Thấy là thấy Đức Giê-su, thấy Nước Thiên Chúa đến gần trong lời Ngài, trong quyền năng của danh Ngài, trong cách Cha mặc khải cho kẻ bé mọn. Nghe không phải là nghe một bài giảng hay hơn các bài trước. Nghe là nghe chính Đấng mà luật và ngôn sứ đã nghiêng về. Các ông phúc vì đang đứng trong thời ấy, và vì các ông không đứng ngoài.
Giáo dân hôm nay đứng trong cùng một mối phúc, dù nhiều khi không cảm thấy long trọng như các ông ngày trở về. Ta có Tin Mừng không phải bằng một thứ tiếng phải chờ người từ xa cắt nghĩa từng chữ. Ta có thể nghe Lời mỗi ngày, trong nhà thờ, trong một trang đọc vội trước khi đi làm, trong một câu con trẻ đọc tối hôm qua. Ta có Thánh Thể, không phải như một phần thưởng cuối năm cho người xuất sắc trong ban mục vụ, mà như bánh của những người được ghi tên, bánh của kẻ bé mọn được Con muốn cho biết Cha. Ta có cộng đoàn, dù cộng đoàn ấy không hoàn hảo, có phe, có mệt, có những buổi hát không ra hát. Ta có những khuôn mặt cụ thể để yêu như Chúa đã yêu những khuôn mặt không hoàn hảo. Nhiều thế hệ đã muốn thấy một ngày như ngày ta đang sống mà không được thấy. Muốn nghe một Tin Mừng không còn là lời hứa từ đàng xa, mà là lời đã đến trong xác thịt. Nếu ta sống đức tin như một gánh, như một sổ đoàn thể, như một lịch lễ phải chạy cho xong, như một danh sách việc phải khuất phục để cuối năm còn được kể, thì ta đang để mắt phúc ấy bị mờ. Không phải Chúa rút phúc. Mắt đang nhìn chỗ khác. Nhìn sĩ số. Nhìn người ta xếp mình vào hạng nào. Nhìn việc mình làm có được xướng không. Nhìn người kia có khuất phục ý mình không. Chúa không bảo các ông phúc vì các ông đã làm được việc. Ngài bảo phúc vì các ông được thấy. Và Ngài nói riêng, có lẽ cũng vì mối phúc này mà nói to giữa những người đang tìm sự khuất phục thì sẽ bị hiểu sai thành phần thưởng cho người thắng.
Từ chú giải ấy, đường đi của giáo dân không nên được kể như một danh sách việc nên làm cho thêm phần đứng đắn. Đường đi phải theo đúng vết chữ tuy nhiên, không được vượt qua chữ ấy như thể nó chỉ là một lời dặn thêm cho người đã hiểu phần chính. Trong gia đình, người ta mừng rất thật những điều đáng mừng, và phải được phép mừng. Con thi được. Nhà yên một mùa. Người bệnh qua cơn. Hai vợ chồng không to tiếng một tuần. Một đứa con gọi về. Một bữa cơm đủ người. Những niềm vui ấy có chỗ của chúng, vì Chúa không tắt niềm vui của các ông khi các ông kể điều đã xảy ra. Nhưng dưới chúng phải có một niềm vui không phụ thuộc chúng, niềm vui tên nhau đã được ghi trên trời. Nếu không có tầng ấy, gia đình sẽ thành một hội đồng nhỏ của những sự khuất phục. Ai khuất phục được ai thì người ấy vui. Ai không khuất phục được thì người ấy buồn, và nỗi buồn ấy đội tên là lo cho nhau, là hy sinh, là trách nhiệm. Một người chồng có thể lo cho vợ rất thật, và vẫn đang đòi vợ phải khuất phục hình ảnh người vợ mà mình đã vẽ từ ngày cưới, hình ảnh ấy đứng yên trong khi người vợ đã đi qua nhiều mùa mệt. Một người vợ có thể lo cho chồng rất thật, và vẫn đang dùng sự lo ấy như một phiên tòa, mỗi lần chồng không đúng ý là một lần bị tố. Một người mẹ có thể thức vì con rất thật, và vẫn đang coi điểm số của con, cách con giữ đạo, cách con chào họ hàng, là tên của mình trên trời. Khi câu Chúa nói được mang vào nhà, phục vụ nhau đổi gốc. Người ta còn sửa, còn nhắc, còn buồn khi người thân đi lệch, còn phải nói những lời khó nói. Nhưng người ta hết quyền xóa tên nhau. Hết quyền nói, bằng lời hoặc bằng cách im lặng nhiều ngày, rằng ngươi chỉ còn là của ta nếu ngươi trở thành điều ta cần. Tên đã được ghi ở một sổ người kia không giữ. Phục vụ trong nhà, hiểu theo bài Tin Mừng này, là tập gọi nhau bằng cái tên ấy, nhất là vào những ngày cái tên ấy khó gọi, ngày có lỗi, ngày có thất bại, ngày có một đứa con chưa về.
Giáo dân được sai không kém Nhóm Bảy Mươi Hai, dù không phải ai cũng được chỉ định trước cộng đoàn bằng một nghi thức. Được sai ở đây không nhất thiết là được phát thẻ ban truyền giáo, được đứng lên đọc một lời hứa. Được sai là được mang danh Đức Giê-su vào những nơi mình đã đứng sẵn, những nơi chính Ngài sẽ tới, dù Ngài tới bằng cách không giống cách mình đang tưởng. Chỗ làm. Chỗ họp. Bàn ăn họ hàng. Nhóm bạn của con. Một người bệnh ở cuối đường. Một người đồng nghiệp đang mang một lời tố cáo trong lòng, lời ấy bảo anh ta rằng anh ta chỉ còn là thất bại. Cách mang danh ấy thường nghèo phương tiện đúng như lệnh truyền năm xưa. Không cần túi tiền của những lập luận đầy đủ, những câu trả lời thắng được mọi chống đối. Không cần bao bị của hình ảnh hoàn hảo, một đời sống không còn chỗ nào để người ta chê. Cần một lời bình an không giả, và một câu Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần được nói bằng đời sống trước khi được nói bằng miệng. Bình an giả là bình an để người kia khuất phục cho mình yên, cho nhà yên, cho nhóm yên. Bình an thật là bình an muốn người kia được đúng với tên của họ, tên đã được ghi, không phải tên mình đang muốn đặt cho họ. Vì thế người giáo dân không đi chinh phục xóm giềng. Người ấy đi như chiên, nghĩa là đi với một sự dễ bị tổn thương đã được Chúa biết trước, và với một quyền năng không nằm ở sự dễ bị tổn thương ấy mà nằm ở danh mình mang. Nếu bị từ chối, giũ bụi không phải là nguyền, cũng không phải là bỏ mặc cho đã đời. Giũ bụi là không mang theo sự từ chối ấy về làm tên mình, và không mang bụi của cuộc tranh chấp vào nhà kế tiếp, vào bữa cơm tối, vào buổi họp ngày mai.
Trong giáo xứ, bài Tin Mừng này sửa một thứ mệt rất quen, thứ mệt của người thấy mình đã làm nhiều mà việc không khuất phục. Thứ mệt ấy đáng được thương, vì thường nó sinh ra từ một lòng mến thật, chỉ là lòng mến ấy đã dần lấy kết quả làm chỗ dựa, và chỗ dựa ấy gãy thì lòng mến tưởng mình gãy theo. Chúa không bảo những người ấy về nhà cho khỏe, cũng không bảo họ cố thêm một mức nữa cho đến khi việc phải xảy ra. Ngài bảo họ đổi chỗ đứng của niềm vui. Cứ lau nhà thờ. Cứ tập hát, dù buổi tập chỉ còn vài người và những người ấy hát chưa đều. Cứ nấu bếp cho ngày lễ, dù có người chê mặn, có người không thấy công. Cứ ngồi với lớp giáo lý chỉ có vài em, và vài em ấy có buổi đi có buổi nghỉ. Cứ đến với người nghèo mà không chắc họ sẽ đổi đời sau một lần thăm, và có khi họ dùng sự thăm ấy theo một cách mình không muốn. Nhưng đừng mừng như thể những việc ấy phải xảy ra theo ý mình thì tên mình mới còn trên trời. Và cũng đừng buồn như thể khi việc gãy thì trời xóa sổ. Có một sự tự do rất lạ mở ra từ câu ấy, sự tự do không phải là sự lạnh. Người được tự do ấy sẽ dễ nhường việc hơn, vì việc không phải là nơi mình được ghi tên. Sẽ dễ đón người mới hơn, vì người mới không phải là mối đe dọa cho sổ của mình, dù người mới làm khác cách, nói khác giọng, chưa biết lịch. Sẽ dễ nhận lỗi hơn, vì lỗi không xóa được điều Cha đã ghi, nên không cần chống đến cùng để khỏi bị xóa. Sẽ khó trở thành bọ cạp của cộng đoàn hơn, vì bọ cạp nào cũng sống bằng nọc của việc phải khuất phục, bằng một câu nói nhỏ đủ để người kia mất tên trong mắt mọi người.
Còn một lớp người bé mọn mà giáo xứ hay bước qua, vì họ không làm thành tích cho bản tin, không làm đông ảnh, không làm tăng một con số nào để cuối năm kể. Người già không còn đi lễ được, nằm một chỗ, chỉ còn tên trong lời xin của con cháu, và có khi con cháu cũng quên xin. Người trẻ đang rối, chưa bỏ hẳn mà cũng chưa về hẳn, đứng ở cửa, sợ vào thì bị hỏi, sợ không vào thì mất nốt phần còn lại. Người đã gãy một đời sống hôn nhân và không biết mình còn được đứng ở đâu trong nhà thờ, nên chọn đứng ngoài cho đỡ phải nghe một câu vô tình. Người có chức ngoài xã hội nhưng vào cửa nhà thờ thì chỉ muốn ngồi hàng cuối, vì bên ngoài người ta gọi anh ta bằng chức, bên trong anh ta chỉ còn là một người đang đói. Người mẹ một mình đưa con đi lễ, tay bận túi, miệng không còn sức hát, mắt không còn sức theo bài đọc. Bài Tin Mừng hôm nay không cho phép coi những khuôn mặt ấy là phần phụ của cộng đoàn những người đang hớn hở vì việc phải khuất phục. Cha mặc khải cho kẻ bé mọn. Có khi chính sự bé của những người ấy là chỗ Tin Mừng vẫn còn được nhận, trong lúc những người làm được nhiều việc đã bắt đầu giải thích Tin Mừng theo ích của công việc mình. Phục vụ họ không phải là kéo họ vào chương trình cho đủ số, cho có hình ảnh một giáo xứ không bỏ ai. Phục vụ họ là ở lại đủ lâu để Con muốn mặc khải Cha qua chính sự hiện diện nghèo của họ. Nhiều lần người phục vụ ra về mới thấy mình là người được cho, chứ không phải người đã cho xong. Ra về mà vẫn chỉ thấy mình đã cho, là ra về trong niềm vui của sự khuất phục, niềm vui Chúa đã bảo đừng lấy làm gốc.
Niềm vui của Đức Giê-su trong Thánh Thần cũng là một đường cho những ai đang chán cách Cha làm việc. Cha giấu điều này với kẻ tự đủ và mở cho kẻ không được tính. Người ta muốn Nước Trời đến theo đường rõ hơn. Muốn con cái trở lại bằng một biến cố mạnh, một phép lạ thấy được, một cú sốc đủ để khỏi phải kiên nhẫn. Muốn giáo xứ hết phe, hết tiếng xấu, hết những buổi họp mà mỗi người nói cho phần mình. Muốn sự dữ sa xuống cho mọi người cùng thấy, như tia chớp mọi người đều chỉ được, để khỏi phải tin mà không thấy, khỏi phải phục vụ mà không được khuất phục. Lời vâng của Chúa không phải là lời của người bó tay, cũng không phải lời của người thành công nên dễ đồng ý. Đó là lời của người Con đã nhận mọi sự, nên không cần Cha phải làm theo lịch của mình mới còn thờ Cha. Giáo dân tập được lời vâng ấy sẽ bớt đánh nhau với đời sống. Vẫn xin. Vẫn gõ cửa. Vẫn làm những việc nhỏ của ngày hôm ấy. Nhưng khi ngày không xảy ra như ý, người ấy không kết luận là Cha vắng, là sổ đã bị xóa, là mình đi sai từ đầu. Người ấy có thể nói, dù nói còn run, dù nói chưa hết buồn: vâng, vì đó là điều đẹp ý Cha, ít là trong phần con chưa thấy. Sự đồng thuận này lớn dần theo năm, không lớn theo một khóa tĩnh tâm. Nó lớn mỗi lần người ta trả lại một kết quả, trả lại một người mình đang muốn sửa bằng được, trả lại cả hình ảnh người phục vụ mẫu mực mà mình đã gắn vào tên mình.
Cầu nguyện, trong ánh sáng của đoạn Tin Mừng này, không phải là phần thêm sau khi đã phục vụ xong. Các ông trở về hớn hở, và Chúa đưa các ông vào lời ngợi khen của Ngài. Phục vụ mà không được kéo vào lời ngợi khen thì sẽ thành nghề. Nghề thì cần kết quả để còn lương, còn danh, còn lý do để ngày mai đi làm tiếp. Mỗi ngày cần một khoảng, dù ngắn, dù chỉ bằng thời gian một kinh, để gọi Cha là Chúa Tể trời đất không phải bằng môi, mà bằng sự trả lại. Trả lại kết quả của buổi sáng. Trả lại người mình đang phục vụ, để người ấy không còn là dự án. Trả lại cả nỗi thất vọng vì họ chưa đổi, vì lớp còn thưa, vì nhà còn nặng. Trong khoảng ấy, tên mình được nhắc lại từ phía trời, không phải từ phía thành tích. Ai cầu nguyện như thế sẽ ra khỏi nhà đi phục vụ khác với người chỉ mang theo kế hoạch. Họ vẫn kế hoạch, vẫn chu đáo, vẫn đúng giờ, nhưng không còn run khi kế hoạch gãy, vì nền không nằm ở kế hoạch. Và ai không còn khoảng nào để trả lại, thì dù có đi lễ, lòng vẫn đang ở trong câu các ông nói lúc mới về, câu chưa được Chúa nâng: chúng con đã thấy mọi sự khuất phục chúng con.
Ca hiệp lễ của ngày nghe bài Tin Mừng này nên đưa cộng đoàn từ niềm vui của kết quả về niềm vui của được ghi tên. Không cần một bài hát khoe quyền năng, khoe chiến thắng, khoe một Giáo Hội đang làm mọi sự phải lui. Cần một bài hát ở lại được dưới mái nhà của câu Chúa nói. Có thể đọc chậm trước khi chịu lễ, hoặc trong lúc cộng đoàn tiến lên, những lời này: Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, chúng con ngợi khen Cha, vì Cha đã mặc khải cho những người bé mọn, và vì Cha không để niềm vui của chúng con dừng ở những gì phải khuất phục chúng con. Chúng con không dám mừng vì việc đã làm nên. Chúng con mừng vì tên chúng con đã được ghi trên trời, trước khi việc thành, và cả khi việc chưa thành. Phúc thay mắt nào được thấy Đức Kitô trong tấm bánh này. Phúc thay miệng nào được rước lấy Ngài, Đấng đã nhận mọi sự từ Cha và muốn mặc khải Cha cho kẻ Cha muốn. Xin cho chúng con, khi ra về, đạp lên mọi thế lực chia rẽ, mọi lời tố cáo, mọi nọc biến anh em thành phương tiện, mà không để sự dữ làm hại niềm vui được thuộc về Cha. Nếu cộng đoàn đã có một ca hiệp lễ quen thuộc, hãy chọn bài nào nói về thuộc về, về chiên được gọi tên, về mắt được thấy, về lòng bé mọn, hơn là bài chỉ nói về sức mạnh. Rước lễ là lúc câu tên anh em đã được ghi trên trời trở thành sự thật có thể nếm được. Thiên Chúa không ghi tên bằng mực của phong trào. Ngài ghi bằng việc trao chính Con. Người rước lễ mà còn muốn được khuất phục, được khen, được nổi, được thấy việc mình phải xảy ra ngay trong tuần này, là người chưa để tấm bánh sửa lại thứ tự niềm vui. Người rước lễ như kẻ bé mọn được Cha cho biết Con, thì khi trở về bàn, về chợ, về chỗ làm, về một lớp thưa, về một nhà chưa yên, vẫn còn một niềm vui không phụ thuộc vào ngày ấy thắng hay thua.
Anh chị em thân mến, Nhóm Bảy Mươi Hai trở về hớn hở là hình của Giáo Hội mọi thời, cũng là hình của từng giáo dân vừa làm xong một việc tốt cho Chúa. Hãy cứ hớn hở. Chúa không tắt niềm vui ấy. Nhưng hãy để Ngài đưa niềm vui ấy lên đúng chỗ, qua cái ngưỡng tuy nhiên mà người nhiệt thành dễ bước vượt. Sự dữ có thể sa như tia chớp trong mầu nhiệm của Con. Quyền năng có thể được ban để ta không bị nọc làm chủ. Việc tông đồ có thể sinh hoa trái, nhà có thể mở, người đau có thể được nâng, một lời bình an có thể ở lại. Tất cả những điều ấy vẫn còn nhỏ hơn một sự thật, và sự thật ấy không đợi hoa trái mới thành. Tên anh chị em đã được ghi trên trời. Phục vụ từ sự thật ấy thì việc gì cũng trở thành lời ngợi khen, kể cả việc gãy. Mất sự thật ấy thì việc lớn nhất cũng chỉ là một thứ quỷ thần khác phải khuất phục cái tôi của mình, và cái tôi ấy sẽ không bao giờ khuất phục đủ để người ta được nghỉ. Xin Cha, Đấng đã giao phó mọi sự cho Con, và xin Con, Đấng muốn mặc khải Cha cho kẻ bé mọn, cho chúng con đôi mắt phúc hôm nay, một niềm vui không cần thiên hạ phải khuất phục mới đứng vững, và một tấm bánh để tên đã được ghi trở thành sự sống trong miệng. Amen.
Lm. Anmai, CSsR


















