VIỆC ẤY XẢY ĐẾN THẾ NÀO ĐƯỢC? Những cuộc thụ thai lạ lùng trong Kinh Thánh, đọc như một lịch sử của ân sủng Lm. Anmai, CSsR

10

VIỆC ẤY XẢY ĐẾN THẾ NÀO ĐƯỢC?
Những cuộc thụ thai lạ lùng trong Kinh Thánh, đọc như một lịch sử của ân sủng
Lm. Anmai, CSsR
1. Câu hỏi đứng ở cửa lễ Mân Côi
Lễ Đức Mẹ Mân Côi không được sinh ra để trang trí tháng Mười. Lễ ấy giữ Giáo Hội ở lại với những biến cố đã xảy ra, kẻo đức tin trôi thành cảm xúc. Trong các biến cố ấy, biến cố đứng đầu mùa vui là truyền tin. Tin Mừng Luca 1,26-38 không phải một trang mở đầu dễ thương cho một truyện giáng sinh. Đó là biên bản của giờ Thiên Chúa bắt đầu phần cuối của lời hứa, và bắt đầu bằng cách hỏi ý một thiếu nữ.
Sáu tháng sau khi sứ thần đến với Da-ca-ri-a, Thiên Chúa sai Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê tên là Na-da-rét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên Giu-se, thuộc nhà Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a. Lời chào làm bà bối rối. Sứ thần loan người con, ngai vàng, vương quyền không cùng. Bà hỏi: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng?” Sứ thần đáp bằng Thánh Thần và quyền năng Đấng Tối Cao. Bà thưa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Sứ thần từ biệt bà.
Toàn bộ câu chuyện thụ thai lạ lùng trong Kinh Thánh là để đọc câu hỏi ấy cho đúng. Nếu đọc một mình, câu hỏi có thể bị kéo thành hồ nghi, hoặc bị kéo thành một vẻ e lệ văn chương. Đặt vào dòng các bà đi trước, câu hỏi hiện ra là câu hỏi của người đã thuộc một dân biết Thiên Chúa mở lòng dạ, nhưng chưa từng thấy Thiên Chúa mở lòng dạ bằng cách này. Dân ấy có kinh nghiệm về son sẻ được nhớ đến. Dân ấy chưa có kinh nghiệm về trinh nữ cưu mang Con Đấng Tối Cao. Câu “cách nào” là biên giới giữa hai kinh nghiệm.
Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ, ngày 1 tháng 10 năm 2023, đã đi đúng biên giới ấy. Bài học hỏi không bắt đầu bằng tín điều rồi tìm câu chứng. Bài bắt đầu bằng truyền tin, rồi lùi về Xa-ra, Rê-bê-ca, Ra-khen, mẹ Sam-sôn, An-na, tiến tới Ê-li-sa-bét, và chỉ sau đó mới dừng lâu trên Đức Ma-ri-a. Thứ tự ấy là thứ tự sư phạm của chính Thiên Chúa. Ngài không ném mầu nhiệm nhập thể vào một dân không có ký ức. Ngài đào ký ức ấy qua nhiều thế hệ bất lực, để khi quyền năng đến lần cuối, dân còn đủ ngôn ngữ mà không đủ kinh nghiệm. Đủ ngôn ngữ để khỏi câm. Không đủ kinh nghiệm để khỏi phải hỏi.
2. Vì sao son sẻ lại thành một đề tài của mạc khải
Sách Sáng thế mở bằng lời chúc phúc sinh sôi (St 1,28). Lời ấy không phải một chính sách dân số. Lời ấy nói sự sống là điều Thiên Chúa muốn cho tạo thành. Đất đầy người, trong nhãn quan ấy, là đất còn nằm trong lời chúc. Vì thế khi một lòng dạ khép lại, Israel không chỉ thấy một chuyện riêng. Israel thấy một lời bị nghẽn, một mạch tắt, một câu hỏi dâng lên Thiên Chúa: Ngài còn nhớ lời Ngài không.
Từ Híp-ri a-ca-ra, đặt trên Xa-ra ở St 11,30, nghiêng về sự cằn, sự không sinh hoa trái. Cùng một từ sẽ trở lại với Rê-bê-ca, với Ra-khen, với mẹ Sam-sôn, với An-na, với Ê-li-sa-bét trong cách Luca kể bằng tiếng Hy-lạp steira. Các tác giả không đổi từ cho đỡ nặng. Họ muốn độc giả nghe cùng một vết thương đi xuyên suốt lịch sử.
Trong đời sống chi tộc, vết thương ấy có mặt xã hội. Người nữ không con dễ mất chỗ đứng trong tương lai của nhà. Chồng có thể lấy thêm vợ. Nữ tỳ có thể được đưa vào để sinh con tính cho bà chủ. Tên tuổi người mẹ, trong một số trường hợp, còn được gắn vào đứa con của nữ tỳ. Luật và tập tục ấy giải thích hành vi của Xa-ra và của Ra-khen, nhưng không biến hành vi ấy thành lời hứa. Kinh Thánh kể tập tục, rồi cho thấy tập tục không sinh được I-xa-ác, không sinh được Giu-se.
Cần một phân biệt để bài này khỏi bị dùng sai. Trình thuật tổ phụ không phải bài giáo lý về bổn phận phải có con. Càng không phải lời kết án người son sẻ hôm nay. Chúng là thần học lịch sử: dân riêng không tự nảy ra từ khả năng xác thịt. Cả ba bà vợ của ba tổ phụ đều son sẻ. Nếu chỉ một người, đó có thể là hoàn cảnh. Cả ba thế hệ đầu của lời hứa đều bắt đầu từ lòng dạ đóng, thì đó là giáo lý. Tuyển chọn mang tính nhưng không ngay từ lòng mẹ.
Cũng cần thấy nỗi đau được kể rất người. Ra-khen nói: “Cho tôi có con, không tôi chết mất.” An-na khóc đến nỗi không ăn, và bị tưởng là say. Ê-li-sa-bét gọi son sẻ của mình là nỗi hổ nhục trước mặt người đời. Người đọc hôm nay không được phép làm những câu ấy thành văn chương. Đó là tiếng người thật. Thiên Chúa nghe những tiếng ấy. Ngài không bắt các bà phải diễn tả đau khổ cho đẹp rồi mới đoái thương.
3. Xa-ra, hay lịch sử một cái cười
Xa-ra vào bản văn trước cả lời gọi ra khỏi Ur, nếu tính theo cách sách Sáng thế xếp gia phả. St 11,29-30 giới thiệu bà là vợ Áp-ram, son sẻ, không con. Lời hứa một dòng dõi đông như sao sẽ được nói cho một người nam có vợ không sinh được. Mâu thuẫn ấy là khung của toàn bộ chu kỳ Áp-ra-ham.
Bà theo chồng. Đó là điều bản văn không ca ngợi bằng diễn văn, nhưng kể bằng địa lý: ra đi, đói kém, xuống Ai-cập, bị đưa vào nhà Pha-ra-ô vì nhan sắc, được trả về, chờ, dời trại, lại lo vì nhan sắc ở Ghê-ra. Sắc đẹp được nhắc không phải để dựng một nhân vật lãng mạn. Sắc đẹp được nhắc để nói rằng nỗi bất hạnh của bà không phải nỗi bất hạnh của người bị bỏ vì kém. Bà được nhìn. Bà không có con. Hai sự thật ấy đứng cạnh nhau, như sau này công chính và son sẻ sẽ đứng cạnh nhau nơi Ê-li-sa-bét.
Khi lời hứa chậm, bà dùng một lối mà thời ấy hiểu được. Bà đưa Ha-ga, nữ tỳ Ai-cập, đến với Áp-ra-ham, mong nhờ nữ tỳ mà có con (St 16,2). Câu bà nói rất rõ về niềm tin của bà lúc ấy: “Đức Chúa đã không cho tôi sinh con.” Bà không chối quyền Chúa. Bà kết luận rằng quyền ấy đã quyết không ban, nên bà phải tìm đường khác. Kết luận ấy là chỗ toan tính bắt đầu. Không phải mọi kế hoạch đều xấu. Kế hoạch này xấu ở chỗ nó định hoàn tất lời hứa bằng một đường lời hứa không chọn.
Ha-ga có thai, khinh bà chủ. Xa-ra tủi, đổ cho chồng, hành hạ nữ tỳ. Ha-ga bỏ trốn, được sứ thần của Đức Chúa gặp bên suối, được bảo trở về, được hứa một dòng dõi. Ít-ma-en sinh ra. Thiên Chúa không nguyền rủa cậu. Ngài còn nhận lời Áp-ra-ham xin cho cậu (St 17,18-20) và sau này cứu cậu cùng mẹ trong sa mạc (St 21,17-21). Bản văn giữ hai điều: Ít-ma-en được chúc phúc, và Ít-ma-en không phải con của giao ước được thiết lập với I-xa-ác. Lòng thương không xóa tuyển chọn. Tuyển chọn không xóa lòng thương. Bài học này sẽ cần khi Giáo Hội đọc lịch sử mình giữa các dân.
St 17 lập lại lời hứa và gọi đích danh Xa-ra là mẹ. Áp-ra-ham sấp mặt cười. Ông gần trăm tuổi. Bà chín mươi. Ông còn xin cho Ít-ma-en được sống trước mặt Chúa, như người xin một giải pháp đã có sẵn, đỡ phải tin một giải pháp không thể. Thiên Chúa nghe phần xin ấy, rồi vẫn giữ phần kia: độ này năm sau, Xa-ra sẽ sinh I-xa-ác. Tên I-xa-ác, “nó cười”, đã nằm sẵn trong cái cười của người cha.
St 18 đưa cái cười sang người mẹ. Ba vị khách. Lời hứa một năm nữa. Xa-ra trong lều cười thầm, vì thân xác bà đã cạn và ông chủ đã già. Bà còn nói về “niềm vui” với một ngạc nhiên gần như mỉa. Khách hỏi lại Áp-ra-ham: há đối với Đức Chúa có điều gì là kỳ diệu không thể làm được. Xa-ra sợ, chối. Khách nói: không, bà đã cười. Đoạn này quý vì không trang điểm đức tin. Tổ mẫu của dân riêng bước vào phép lạ với một cái cười chối không được. Ân sủng không chờ cái cười ấy biến thành bài tuyên xưng rồi mới làm việc.
St 21,1 là câu nên đọc chậm: Đức Chúa viếng thăm Xa-ra như lời Người đã phán, và làm cho bà điều Người đã hứa. “Viếng thăm” trong Cựu Ước là động từ của việc Thiên Chúa bước vào số phận. Ngài viếng thăm để cứu, đôi khi để xét xử, luôn để cho thấy lịch sử không khép. Bà thụ thai, sinh con đúng kỳ, Áp-ra-ham đặt tên I-xa-ác. Xa-ra nói: Thiên Chúa đã làm cho tôi cười, ai nghe cũng sẽ cười với tôi. Rồi một câu đau, rất người: ai đã nói với Áp-ra-ham rằng Xa-ra sẽ cho con bú. Bà đã già. Bà cho con bú. Cái cười đổi dấu.
I-xa-ác sẽ còn bị đưa lên núi với củi trên vai (St 22). Cuộc sinh lạ lùng không phải kết thúc thử thách. Nó là cửa của một thử thách lớn hơn: người cha được lời hứa phải cầm lại đứa con của lời hứa. Đọc Xa-ra mà dừng ở ngày sinh là chưa đọc hết. Ngày sinh chứng minh Chúa nhớ. Núi Mô-ri-gia chứng minh nhớ không có nghĩa giữ con theo cách loài người muốn giữ.
4. Rê-bê-ca, lời cầu ngắn và lịch sử dài
I-xa-ác cưới Rê-bê-ca lúc bốn mươi tuổi. Bà son sẻ. Ông khẩn cầu. Chúa nhậm lời. Bà thụ thai (St 25,20-21). Ba câu. So với chu kỳ Xa-ra, ngắn đến mức người đọc có thể bỏ qua. Đừng bỏ qua. Ngắn vì bài học của thế hệ trước đã được học ít nhất một phần: người chồng của con lời hứa không đi tìm một Ha-ga. Ông cầu. Đó là bước trưởng thành của gia đình giao ước, một bước mong manh, vì các thế hệ sau còn tái phạm nhiều lối khác.
Phúc vừa đến đã nặng. Hai con đạp nhau trong bụng. Rê-bê-ca nói: nếu thế này thì tôi sống làm gì. Bà đi hỏi Đức Chúa. Câu hỏi ấy là một hình thức cầu nguyện chín hơn cái cười thầm. Bà không chối đau. Bà mang đau đến chỗ có thể hỏi. Lời đáp không xoa dịu: trong bụng bà có hai dân, hai dân sẽ tách ra, dân này mạnh hơn dân kia, người anh sẽ phục người em. Cuộc thụ thai lạ lùng mở ra một lịch sử chọn lựa, không mở ra một nhà yên.
Ê-xau sinh trước, đỏ, nhiều lông. Gia-cóp nắm gót. Tên cậu là cả một chương trình: kẻ sẽ dành, sẽ nắm, sẽ đổi, sẽ lừa, cho đến khi bị đổi tên. Rê-bê-ca thương Gia-cóp. I-xa-ác thương Ê-xau. Sự thiên lệch ấy sẽ thành vụ lừa phúc lành ở St 27. Bà mẹ được Chúa đoái thương lại là người dàn cảnh để con ăn cắp lời chúc của cha. Bản văn không biện hộ. Bản văn cũng không xóa lời sấm đã nói trước rằng người anh sẽ phục người em. Ân sủng và tội ở trong cùng một nhà, đôi khi trong cùng một hành vi vừa đúng hướng lời hứa vừa sai cách. Đây là chỗ đạo đức giả dễ chỉnh bản văn cho sạch. Bản văn không sạch theo nghĩa ấy. Bản văn thật.
Rê-bê-ca còn phải trả giá. Con bà phải trốn. Bà nói chỉ vài ngày, sợ mất cả hai. Bản văn không kể bà gặp lại Gia-cóp. Cuộc thụ thai được nhậm lời không kèm theo một kết cục gia đình ấm. Người đọc muốn phép lạ phải có hậu theo kiểu truyện. Kinh Thánh để hậu ở trong lời hứa, không phải ở trong cảnh sum vầy.
5. Ra-khen, người được yêu và người phải chờ
Gia-cóp gặp Ra-khen bên giếng, và bảy năm hầu Lê-ban hóa thành mấy ngày vì yêu nàng (St 29,20). Ít câu trong Sáng thế nói tình yêu loài người trực tiếp đến thế. Tình yêu ấy không mở lòng dạ. Lê-a, người chị bị trao thay trong đêm tân hôn, kém được yêu, lại sinh. Ra-khen thấy mình không sinh được thì ghen với chị. Ghen ở đây không phải một nét tính khí phụ. Ghen là nỗi sợ bị xóa khỏi tương lai của nhà, trong khi người kia, người không được chọn bởi trái tim chồng, lại được chọn bởi lòng dạ.
Bà nói với Gia-cóp: cho tôi con, không tôi chết. Ông nổi giận: tôi đâu có thay quyền Thiên Chúa, Đấng đã không cho bà sinh đẻ. Câu giận này lại là câu thần học đúng. Quyền sinh đẻ không nằm ở người được yêu hơn. Chồng không phải trung gian bắt buộc của ân sủng. Nếu ông là trung gian, thì yêu nhiều đã đủ. Yêu nhiều không đủ. St 30,2 nên được đọc bên cạnh mọi thứ đạo đức biến người nam, người cha, người mục tử thành kẻ ban sự sống. Gia-cóp từ chối vai ấy, dù từ chối trong cơn nóng.
Ra-khen vẫn đi lối Xa-ra. Bin-ha được đưa vào. Đan và Náp-ta-li sinh ra, mang những cái tên là những câu tuyên bố với chị. Lê-a đáp bằng Din-pa, bằng Gát và A-se, rồi còn sinh thêm. Cuộc đua bằng con cái là một trong những trang ít an ủi nhất của sách Sáng thế. Yêu, ghen, được nhớ, bị lãng quên, nữ tỳ thành công cụ của nỗi đau bà chủ. Kinh Thánh kể để người đọc khỏi lý tưởng hóa gia đình tổ phụ. Lời hứa đi xuyên qua một nhà như thế, không phải đi xuyên qua một nhà mẫu mực rồi mới đáng tin.
Câu chuyển là St 30,22. Thiên Chúa nhớ đến Ra-khen, nhậm lời bà, mở lòng dạ bà. Bà thụ thai, sinh một con trai, nói: Thiên Chúa đã cất nỗi hổ của tôi. Bà đặt tên Giu-se, vì xin được thêm một con nữa. Người vừa được cất hổ đã xin thêm. Rất người. Giu-se sẽ bị anh em bán, sẽ ở tù, sẽ nuôi cả vùng trong cơn đói, sẽ thành lý do nhà Gia-cóp xuống Ai-cập và được giữ lại. Đứa con của lòng dạ từng đóng lại giữ cho dân khỏi chết đói. Mẫu này không nên bị biến thành quy luật mục vụ máy móc, nhưng nên được giữ như ký ức: chỗ bị coi là hết lại có thể là chỗ lời hứa được bảo tồn.
Ra-khen sinh Ben-gia-min trên đường, chết khi sinh, được chôn bên đường Ê-phơ-rát (St 35,16-20). Gia-cóp đặt tên con là Ben-ô-ni, con của đau khổ. Bà đã gọi là Ben-gia-min, con của tay hữu. Hai tên cho một đứa trẻ: đau của mẹ, hy vọng của cha. Cuộc thụ thai lạ lùng thứ nhất của bà không miễn bà khỏi cái chết của cuộc sinh thứ hai. Ai giảng các trình thuật này như bảo chứng hết khổ là giảng sai.
6. Mẹ Sam-sôn: phép lạ gắn với một lời khấn từ lòng mẹ
Tl 13 mở bằng một gia đình chi tộc Đan. Bà vợ ông Ma-nô-ác son sẻ, không sinh con. Sứ thần hiện ra với bà trước, không phải với chồng. Chi tiết ấy đáng giữ. Trong nhiều trình thuật, người nam đứng giữa. Ở đây lời đầu tiên đến với người nữ đang mang nỗi son sẻ. Lời ấy vừa là lời hứa vừa là luật: bà sẽ có thai, sinh con trai, đừng uống rượu, đừng ăn gì ô uế, vì đứa trẻ sẽ là na-dia của Thiên Chúa ngay từ lòng mẹ, và sẽ bắt đầu cứu Israel khỏi tay người Phi-li-tinh.
Na-dia là người được thánh hiến, tách riêng, thường gắn với tóc không cạo và với kiêng một số điều. Sam-sôn được thánh hiến trước khi được hỏi ý. Điều này khác lời xin vâng của Đức Ma-ri-a, và không được trộn. Ở Tl 13, sáng kiến hoàn toàn thuộc về Chúa, cha mẹ nhận một chương trình. Sam-sôn lớn lên sẽ là người được Thần Chúa tác động, sẽ đánh Phi-li-tinh, và cũng sẽ là người phá lời khấn, mê Đa-li-la, bị móc mắt, phải quay cối trong tù, rồi trong cái chết kéo sập đền. Cuộc thụ thai lạ lùng sinh ra một vị thẩm phán đầy mâu thuẫn. Ân sủng mở đầu không thay thế tự do sau đó.
Ông Ma-nô-ác xin sứ thần hiện lại, muốn biết cách nuôi đứa trẻ. Sứ thần hiện lại với người vợ. Bà phải chạy đi gọi chồng. Có một nét hài rất Kinh Thánh: người chồng muốn kiểm soát thông tin, thông tin lại đến với vợ. Khi ông hỏi tên sứ thần để tôn vinh, sứ thần từ chối. Ông dâng lễ. Sứ thần lên trong ngọn lửa. Ông sợ chết vì đã thấy Thiên Chúa. Vợ ông lại là người tỉnh: nếu Chúa muốn giết, đã không nhận lễ, đã không cho thấy những điều ấy, đã không nói những lời ấy. Người nữ từng son sẻ trở thành người giải thích lòng thương xót cho chồng đang sợ. Bản văn không bình luận. Bản văn để sự việc đứng đó.
7. An-na: từ nỗi đắng trong đền đến bài ca đảo ngược thế gian
Sách Sa-mu-en bắt đầu không bằng vua, không bằng chiến trận, mà bằng một người đàn bà không con trên đường lên Si-lô. En-ca-na có hai vợ. Pơ-nin-na có con. An-na không. Ông yêu An-na, cho phần gấp đôi khi dâng hy lễ. Pơ-nin-na trêu chọc, năm này qua năm khác, nhất là lúc lên nhà Đức Chúa. Chỗ đáng lẽ là chỗ an ủi lại là chỗ nỗi nhục bị khơi. An-na khóc, không ăn. Chồng hỏi: tôi không hơn mười đứa con trai sao. Câu thương, và câu lạc. Ông đo nỗi bà bằng tình của ông. Bà đang mang một nỗi tình của ông không thế chỗ được.
Bà đứng trước nhan Đức Chúa, cầu trong đắng cay, khóc nhiều, khấn một lời khấn na-dia: nếu Ngài ban một con trai, bà sẽ cho nó thuộc về Ngài trọn đời, dao cạo không đụng đầu nó. Môi bà mấp máy, tiếng không ra. Ê-li tưởng say. Ít cảnh nào trong Cựu Ước nói đúng nỗi cô đơn của lời cầu bằng cảnh này: đau đến mức người của đền thờ không nhận ra đó là cầu nguyện. Bà đáp không phải bằng giận dài. Bà nói mình là người đàn bà khốn khổ, đang giãi bày tâm hồn, không phải đang đổ rượu. Ê-li chúc bà đi bình an, xin Thiên Chúa nhậm lời. Bà thưa xin ông nghĩ tốt cho tôi. Rồi bà ăn, mặt hết sầu. Niềm tin đã đổi trước khi dấu đổi. Điều này không thành quy luật cho mọi người cầu, nhưng là một dữ kiện của bà.
Bà về, ăn ở với chồng, Đức Chúa nhớ đến bà. Cụm “nhớ đến” là cụm của Ra-khen. Bà thụ thai, sinh con trai, đặt tên Sa-mu-en, vì đã xin nó từ Đức Chúa. Tên là cả lời cầu được đóng lại thành một người. Khi dứt sữa, bà đem con lên Si-lô, cùng một bó bột, một bầu rượu, một con bê. Bà nói với Ê-li: tôi là người đã đứng đây cầu. Tôi đã xin. Chúa đã ban. Nay tôi nhường nó lại cho Đức Chúa. Cậu bé ở lại, phục vụ trước nhan Ngài.
Ngày trao con mới làm cho cuộc thụ thai thành một linh đạo, không chỉ thành một phép lạ. Nếu bà giữ con để chuộc nhục trước Pơ-nin-na, câu chuyện dừng ở mức nhân loại rất hiểu được. Bà trả con. Lời khấn được giữ khi lời khấn đắt nhất, tức là khi đã có đứa trẻ trong tay, không phải khi còn đang khóc mà chưa có gì để mất. Sa-mu-en sẽ xức dầu cho Đa-vít. Con đường từ lòng dạ son sẻ đến ngai của người được xức dầu đi qua một người mẹ chịu thả con.
8. Đọc chung năm cuộc thụ thai: những gì không được phép rút ra, và những gì phải rút ra
Rút sai thứ nhất: hễ cầu đủ lâu thì chắc chắn có con. Kinh Thánh không kể những lời cầu không được nhậm theo hình thức ấy. Sách ấy kể những chỗ lời hứa cứu độ cần một đứa con. Biến một trình thuật chọn lọc thành hợp đồng cầu nguyện là phản bản văn.
Rút sai thứ hai: son sẻ là dấu tội bí mật. Ê-li-sa-bét sẽ phá hẳn lối đọc ấy. Ngay trong Cựu Ước, các bà tổ phụ không bị bản văn kết án là cằn cỗi vì gian ác. Xa-ra có lúc tính sai. Điều đó không biến son sẻ thành bản án từ đầu, vì son sẻ được kể từ St 11,30, trước Ha-ga.
Rút sai thứ ba: người nữ là dụng cụ, người nam là chủ ân sủng. Gia-cóp phủ nhận. Sứ thần đến với mẹ Sam-sôn trước. An-na cầu khi chồng không cầu thay được. Đức Ma-ri-a sẽ thưa vâng trong một biến cố Giu-se còn chưa hay.
Rút đúng thứ nhất: sáng kiến thuộc về Thiên Chúa. Nhớ đến, viếng thăm, nhậm lời, mở lòng dạ: các động từ đều có Chúa làm chủ từ.
Rút đúng thứ hai: con người không bị bỏ qua. Có lời cầu, có nước mắt, có cái cười, có lời khấn, có cả toan tính. ÂN sủng không cần sự hoàn hảo của cộng tác viên mới khởi sự.
Rút đúng thứ ba: đứa con được ban đi vào sứ mạng, không đi vào bảo hiểm hạnh phúc. I-xa-ác lên núi. Giu-se xuống giếng. Sam-sôn quay cối. Sa-mu-en đứng giữa một thời Hòm Bia bị cướp.
Rút đúng thứ tư: chưa có trường hợp nào là thụ thai đồng trinh. Tất cả vẫn là vợ chồng, với khả năng đã chết được hồi lại. Tiền hô không phải bản sao. Giữ khác biệt ấy là giữ được cả tiền hô lẫn đỉnh.
9. Ê-li-sa-bét và Da-ca-ri-a: công chính không đổi được tuổi
Luca mở bằng thời Hê-rô-đê, vua Giu-đa, để đóng biến cố vào lịch sử, không để nó trôi trong huyền thoại. Da-ca-ri-a thuộc nhóm A-vi-gia. Ê-li-sa-bét thuộc dòng A-ha-ron. Cả hai công chính trước mặt Thiên Chúa, sống vô phương trách theo mọi điều răn. Họ không con, vì bà son sẻ, và cả hai đã cao niên. Luca xếp công chính ngay trước son sẻ, cố ý. Độc giả mang thói quen đi tìm tội phía sau mọi đau khổ sẽ bị chặn lại ở câu 6 và câu 7.
Phiên nhóm A-vi-gia đến lượt. Da-ca-ri-a trúng thăm vào cung thánh dâng hương. Trúng thăm ở đây là một lần trong đời, có khi không có lần nào. Giờ ông được vào chỗ gần nhất với Đấng ngự trên dấu bí tích, thì cũng là giờ lời cầu cả đời được nhắc. Dân đứng ngoài. Sứ thần đứng bên phải hương án. Sợ hãi là phản ứng đầu. Lời sứ thần đi theo mẫu cũ: đừng sợ, lời cầu đã được nhận, vợ ông sẽ sinh một con trai, đặt tên Gio-an, ông sẽ vui, nhiều người sẽ vui, em sẽ nên cao cả trước mặt Chúa, không uống rượu mạnh, đầy Thánh Thần từ lòng mẹ, đưa nhiều con cái Israel về, đi trước trong thần khí Ê-li-a, để làm cho lòng cha ông quay lại với con cái, và kẻ ngỗ nghịch về nẻo công chính, hầu dọn một dân sẵn sàng đón Chúa.
Da-ca-ri-a hỏi: dựa vào đâu mà tôi biết. Tôi già. Nhà tôi cao niên. Câu hỏi xin một bảo chứng. Ông nhìn tuổi hai người như bằng chứng ngược lại lời sứ thần. Sứ thần xưng tên Gáp-ri-en, đứng trước mặt Thiên Chúa, được sai đến nói những điều ấy. Rồi ông bị câm, không nói được, cho đến ngày các điều ấy xảy ra, vì ông đã không tin lời. Sự câm không phải trả thù. Sự câm là dấu ông xin, một dấu nằm ngay trên miệng ông: miệng không chịu để lời Chúa đủ sức mở mình, thì miệng phải im cho đến khi lời ấy thành người.
Dân chờ ngoài, ngạc nhiên vì ông ở lại lâu. Ông ra, ra hiệu, vì không nói được. Hết tuần phục vụ, ông về. Ê-li-sa-bét có thai, ẩn mình năm tháng, nói: Chúa đã làm cho tôi như vậy, những ngày Người đoái thương cất nỗi hổ nhục tôi phải chịu trước mặt người đời. Bà không xin thêm dấu. Bà gọi sự việc bằng tên của nó: đoái thương, cất hổ. Năm tháng ẩn mình không được Luca giải thích. Có thể đọc như thời gian để điều lạ thành chắc trong thân xác trước khi thành chuyện của làng. Có thể đọc như sự kính cẩn. Đừng bịa quá mức bản văn cho.
Gio-an, khi sinh ra, sẽ làm môi cha mở lại. Họ định đặt tên Da-ca-ri-a theo cha. Bà nói: phải đặt tên Gio-an. Họ ra hiệu hỏi cha. Ông viết: Gio-an là tên em. Miệng ông mở, lưỡi tháo, ông chúc tụng Thiên Chúa. Vâng lời ở chỗ nhỏ, chỗ đặt tên, mở chỗ lớn, chỗ lời ca. Bài ca Benedictus sẽ gọi em là ngôn sứ của Đấng Tối Cao, đi trước mặt Chúa để dọn đường, cho dân biết ơn cứu độ và ơn tha tội. Cuộc thụ thai của Ê-li-sa-bét đạt tới ý nghĩa khi đứa con chịu là người đi trước, không phải người đến.
10. Hai người mẹ gặp nhau: chiếc cầu nhận ra bờ bên kia
Đức Ma-ri-a, sau lời xin vâng, lên đường vội vã vào miền núi, vào nhà Da-ca-ri-a, chào Ê-li-sa-bét. Em bé nhảy trong bụng. Ê-li-sa-bét được đầy Thánh Thần, kêu lớn tiếng. Lời bà là lời tuyên xưng đầu tiên về Hài Nhi và về mẹ Hài Nhi: em được chúc phúc hơn mọi người nữ, người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được thân mẫu Chúa tôi đến với tôi. Tai tôi vừa nghe lời em chào, đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Phúc cho em là kẻ đã tin rằng lời Chúa phán cùng em sẽ thành sự.
Câu cuối rất quan trọng. Ê-li-sa-bét, vợ của người đã câm vì không tin, lại là người công bố đức tin của Ma-ri-a. Phúc không được gắn vào đặc ân như vào một huy chương. Phúc được gắn vào việc đã tin. Người son sẻ được cất hổ nhận ra nơi người em họ một bậc khác: không phải thân mẫu của một ngôn sứ, mà thân mẫu của Chúa tôi. Chiếc cầu không tự nhận là bờ. Đó là sự khiêm nhường của Gio-an từ trong lòng mẹ, và của mẹ Gio-an trong ngày thăm viếng.
Đức Ma-ri-a ở lại khoảng ba tháng, rồi về. Luca không kể các bà nói gì trong những ngày ấy. Sự im ấy cũng là một dữ kiện. Mầu nhiệm không cần được biến thành biên bản sinh hoạt. Hai người nữ, một già một trẻ, một đã hết son sẻ một đang cưu mang đồng trinh, ở cạnh nhau trong nhà một tư tế đang câm. Căn nhà ấy là hình ảnh Giáo Hội còn đang học nói về điều đã xảy ra trong mình.
I-sai-a 7,14: dấu gần, lời mở, và cách đừng đọc lệch
Bối cảnh là chiến tranh Xi-rô-Ép-ra-im. A-khaz run. I-sai-a được sai đến bảo cứ vững, và mời vua xin một dấu, sâu dưới âm phủ hay cao trên trời. A-khaz từ chối với một câu đạo đức: tôi không dám thử Chúa. Thực chất ông đã tính dựa A-xy-ri. Ngôn sứ nói chính Chúa sẽ cho dấu: này đây almah sẽ mang thai, sinh con trai, đặt tên Em-ma-nu-en. Trước khi đứa trẻ biết bỏ dữ chọn lành, đất của hai vua phía bắc sẽ bị bỏ hoang. Dấu, ở tầng thế kỷ thứ tám, là một sự sinh nở gần, bảo đảm lời Chúa nhanh hơn mưu của vua.
Almah là thiếu nữ, người nữ trẻ. Betulah là từ hẹp hơn khi muốn nói trinh nữ theo nghĩa đã không biết việc vợ chồng. Không được ép almah thành một thuật ngữ tín điều, cũng không được làm nó thành một từ rỗng. Bản Bảy Mươi dịch parthenos. Cộng đoàn Do-thái nói tiếng Hy-lạp đã đọc lời hứa với một độ mở. Mát-thêu trích đường đọc ấy và nói Đức Giê-su sinh bởi trinh nữ là để ứng nghiệm.
Hai lệch cần tránh. Lệch thứ nhất: vì Híp-ri không khóa nghĩa đồng trinh pháp lý, nên thụ thai đồng trinh là chuyện Giáo Hội bịa trên một từ dịch. Đức tin ấy không đứng trên một từ. Nó đứng trên chứng từ Mát-thêu và Luca về nguồn gốc Đức Giê-su, trên việc các cộng đoàn đầu tiên tuyên xưng, trên việc không có một truyền thống ngược nào nói Giu-se là cha theo huyết thống mà Giáo Hội đã nhận. Lệch thứ hai: I-sai-a đã mô tả đủ Na-da-rét, A-khaz đã nghe một bài về Ngôi Hai. Lệch này làm ngôn sứ mất tầng lịch sử, và làm mạc khải mất sự chậm rãi. Cách đọc của Mát-thêu chín hơn: lời xưa có thật trong cơn khủng hoảng Giu-đa; lời ấy được đầy khi Em-ma-nu-en không còn chỉ là dấu một cơn chiến tranh sắp qua, mà là Thiên Chúa ở cùng chúng ta trong xác phàm.
Em-ma-nu-en nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Mát-thêu sẽ khép Tin Mừng bằng lời Đức Giê-su: Thầy ở cùng anh em mọi ngày đến tận thế (Mt 28,20). Tên ở Is 7 và lời hứa ở Mt 28 là một vòng. Cuộc thụ thai đồng trinh không phải chi tiết tiểu sử. Đó là cách Thiên Chúa ở cùng, không còn chỉ bằng dấu, bằng đền, bằng lời, mà bằng một ngôi vị người thật.
12. Mát-thêu kể từ phía người công chính sắp lìa đi
Mát-thêu 1,18 bắt đầu bằng một hoàn cảnh pháp lý. Ma-ri-a đã thành hôn với Giu-se. Trước khi về chung sống, bà có thai do quyền năng Thánh Thần. Giu-se, người công chính, không muốn tố giác, định lìa cách kín đáo. Công chính ở đây là sự chính trực không muốn làm nhục. Ông không hiểu. Ông không biến sự không hiểu thành một vụ án. Ông tính rút. Giấc mộng đảo tính toán: đừng ngại đón vợ về, vì người con bà cưu mang là do Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai. Ông sẽ đặt tên Giê-su, vì Người sẽ cứu dân Người khỏi tội.
Đặt tên, trong thế giới ấy, là nhận con vào nhà. Gia phả Mát-thêu chạy đến Giu-se. Đức Giê-su là con Đa-vít vì người con cháu Đa-vít này đã vâng lời mà làm cha trước mặt luật. Phụ tính của Giu-se là phụ tính thật trong bậc mà Tin Mừng cần: bậc bảo vệ, bậc đặt tên, bậc đưa Hài Nhi vào dòng lời hứa. Phụ tính ấy không phải phụ tính huyết thống. Nói giảm một trong hai vế đều hỏng. Nói Giu-se chỉ là người nuôi tạm thì nghèo hơn bản văn. Nói Giu-se là cha theo xác thịt thì trái bản văn.
Mát-thêu trích Is 7,14 theo bản Hy-lạp, với parthenos, rồi kể ông Giu-se làm như lời sứ thần, đón vợ về, không ăn ở với bà cho đến khi bà sinh một con trai, và đặt tên Giê-su. “Cho đến khi” trong cách nói Xê-mít nhấn điều đã không xảy ra trước mốc, không nhất thiết mô tả điều xảy ra sau mốc. Câu này bảo vệ nguồn gốc Hài Nhi. Đức tin Giáo Hội về sự đồng trinh trọn đời của Đức Ma-ri-a đọc tiếp truyền thống các thế kỷ đầu và phụng vụ, không biến câu 25 thành một bằng chứng ngược. Giải thích câu 25 như một chứng Giu-se và Ma-ri-a đã ăn ở sau ngày sinh là lấy một giới từ tiếng Hy-lạp làm việc nó không làm trong lối nói ấy, và đi ngược cách Giáo Hội đã tuyên xưng từ sớm.
Giu-se còn được báo mộng hai lần nữa: đưa Hài Nhi và mẹ trốn sang Ai-cập, rồi đưa về Na-da-rét. Người công chính của Mt 1 không chỉ đón một mầu nhiệm trong một đêm. Ông trở thành người bảo vệ mầu nhiệm trên đường. Cuộc thụ thai đồng trinh có một người cha pháp lý biết chạy trốn đúng lúc. Mầu nhiệm nhập thể đi vào lịch sử bạo lực của Hê-rô-đê không như một ý tưởng, mà như một trẻ phải được bế đi trong đêm.
13. Luca kể từ phía người nữ được chào
Luca 1,26-27 định nghĩa nhân vật bằng hai dữ kiện ông không muốn độc giả bỏ: trinh nữ, và đã thành hôn với Giu-se nhà Đa-vít. Ông không gọi bà là vợ ở câu này, dù đính hôn đã là ràng buộc. Ông cần từ parthenos đứng ở cửa câu chuyện. Lời chào khaire, kekharitôménê, là lời chào của niềm vui cứu độ gửi tới người được ban ân sủng cách trọn. Bà bối rối vì lời chào, không phải vì một phép xã giao. Bà suy nghĩ xem kiểu chào ấy là gì. Suy nghĩ trước khi thưa. Đức tin của bà không phải phản xạ.
Sứ thần trấn an, loan con trai, tên Giê-su, sẽ nên cao cả, được gọi là Con Đấng Tối Cao, nhận ngai Đa-vít, trị nhà Gia-cóp đến muôn đời, vương quyền không cùng. Bà hỏi pôs estai touto, việc này sẽ là thế nào, vì bà không biết việc vợ chồng. Câu hỏi nằm sau lời hứa. Bà không hỏi có thật không. Bà hỏi đường nào, trong điều kiện đời bà không có đường tự nhiên. Đây là chỗ Na-da-rét tách khỏi Ê-li-sa-bét. Bà chị họ cần tuổi già và son sẻ bị vượt qua trong đời vợ chồng. Bà cần một nguyên lý khác nguyên lý vợ chồng.
Sứ thần không bảo bà chờ Giu-se. Sứ thần nói Thánh Thần sẽ ngự xuống, quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng. Vì thế Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. “Rợp bóng” gợi mây vinh quang trên lều hội ngộ, nơi Mô-sê không vào được vì rực sáng. Lòng nữ tỳ được nói bằng ngôn ngữ nơi thánh. Kitô giáo từ đầu đã từ chối đọc câu này theo thần thoại phối ngẫu. Không có vị thần kết hợp với người nữ. Có quyền năng sáng tạo, cùng một Thần đã bay là là trên nước trong ngày dựng thiên lập địa, nay rợp trên một tạo vật để tạo thành mới bắt đầu trong lòng tạo vật ấy.
Sứ thần đưa dấu Ê-li-sa-bét: bà ấy cũng đã thụ thai trong lúc tuổi già, nay đã sáu tháng, vì đối với Thiên Chúa không có gì là không thể. Dấu ấy kiểm chứng được. Đức Ma-ri-a sẽ lên đường. Nhưng dấu ấy bậc dưới. Người son sẻ có thai không giải thích người trinh nữ có thai. Dấu chỉ xác nhận quyền năng, không sao chép cách thức.
Lời thưa của bà dùng từ nữ tỳ, doule. Tôi đây là nữ tỳ của Chúa. Xin xảy ra cho tôi theo lời ấy. Genoito moi kata to rema sou. Không phải lời cam kết sẽ cố gắng. Là lời để cho lời Chúa thành sự trên mình. Cộng tác ở mức cao nhất lại là mức ít chiếm hữu nhất. Bà không sản xuất mầu nhiệm. Bà không chặn mầu nhiệm. Sứ thần từ biệt. Luca không mô tả giờ thụ thai bằng một hình ảnh. Ông để sự im đứng giữa lời xin vâng và việc lên đường. Kính cẩn ấy nên được giữ khi giảng. Chỗ bản văn im, đừng thêm thần thoại cho hấp dẫn.
14. Khác nhau không được xóa, giống nhau không được chối
Giống nhau: cả hai bậc đều phát xuất từ quyền năng Thiên Chúa, đều vượt quá chờ đợi của thân xác, đều gắn với một sứ mạng của đứa con, đều cần một lời đáp của người lớn, đều sinh ra lời ngợi khen. Xa-ra cười sau khi sinh. An-na hát. Ê-li-sa-bét kêu lớn. Ma-ri-a hát Magnificat. Quyền năng đi tới đâu, ca vang đi tới đó.
Khác nhau: bậc Cựu Ước và bậc Gio-an là hồi lại khả năng sinh sản trong đời vợ chồng. Bậc Na-da-rét là thụ thai không bởi việc vợ chồng, do Thánh Thần, và ngôi vị được thụ thai là Con Thiên Chúa. Các con của các bà kia là người được chọn. Con của Ma-ri-a là Đấng Thánh được gọi là Con Đấng Tối Cao, nhận nhân tính trọn vẹn từ mẹ. Ma-ri-a thật là mẹ. Giu-se thật là cha trong bậc đặt tên và bảo vệ. Nguồn gốc ngôi vị không phải một người nam trên đất.
Xóa khác biệt thì hai thiệt. Các bà tổ phụ bị biến thành bản nháp của một tín điều, mất cái thật của nước mắt họ. Đức Ma-ri-a bị hạ thành một trường hợp son sẻ may mắn, mất cái mới của nhập thể. Giữ khác biệt không phải để các bà nhỏ đi. Giữ khác biệt để thấy Thiên Chúa đã luyện dân qua những lần nhớ đến, rồi mới làm một lần chưa từng nhớ theo kiểu ấy, vì lần này không phải nhớ đến một khả năng đã chết, mà là bắt đầu một tạo thành.
15. Tự do, cộng tác, và những cộng tác không đẹp
Xa-ra cộng tác một lúc bằng Ha-ga. Cộng tác ấy có thật, và có hại. Rê-bê-ca cộng tác bằng lời cầu gián tiếp của chồng, rồi bằng một kế hoạch lừa ở St 27. An-na cộng tác bằng nước mắt và bằng việc thả con. Da-ca-ri-a cộng tác chậm, rồi cộng tác bằng một cái tên viết trên bảng. Giu-se cộng tác bằng việc bỏ kế hoạch lìa kín. Ma-ri-a cộng tác bằng lời xin vâng.
Không có thang điểm đạo đức để chấm các bà rồi mới cho phép Thiên Chúa hành động. Nếu có thang ấy, I-xa-ác đã không sinh ra. Điều có thật là Thiên Chúa không hành động như kẻ vượt quyền người khác. Ngài nói, chờ, sửa, báo mộng, nhận lời khấn, nhận cả cái cười. Tôn trọng tự do không có nghĩa Ngài để loài người soạn chương trình cứu độ. Không ai trong hồ sơ này nghĩ ra được điều mình nhận. Cộng tác là thưa với điều đã được nói.
Trong đời mục tử, hai lệch vẫn còn. Lệch thứ nhất: chờ Chúa làm hết, không thưa, không lên đường, không đặt tên theo lời Ngài. Lệch thứ hai: soạn sẵn việc mình muốn, rồi gọi là thánh ý, và tìm một câu Kinh Thánh để đóng dấu. Na-da-rét không nâng đỡ lệch nào. Bà hỏi cách nào. Bà không đưa ra cách. Bà nhận cách của sứ thần. Bà lên đường.
16. Bài ca An-na, đọc như mẹ của Magnificat
1 Sm 2,1-10 cần được đọc thành tiếng, chậm, vì Nhóm Phiên Dịch đã lấy bài này làm chỗ kết, và vì Luca đã để Magnificat đứng trên xương sống của nó.
Tâm hồn con hỷ hoan vì Chúa. Nhờ Chúa, con ngẩng đầu hiên ngang. Con mở miệng nhạo báng quân thù. Con vui sướng vì được Ngài cứu độ. Niềm vui đứng trên Chúa, không đứng trên đứa con như trên một chiến thắng trước Pơ-nin-na. Quân thù ở tầng gần là lời trêu. Ở tầng bài ca, quân thù là mọi miệng huênh hoang đo người bằng sức và bằng số.
Chẳng có Đấng Thánh nào như Chúa, chẳng ai khác ngoài Ngài, chẳng ai vững mạnh bằng Thiên Chúa chúng con. Một bài tạ ơn sinh nở mở ra độc thần. Dấu càng lớn càng phải trỏ ra khỏi dấu. Các ngươi chớ nhiều lời tự đắc, miệng đừng thốt điều ngạo mạn, vì Chúa quán thông, mọi hành vi Người xét xử. Bà An-na, người từng bị trêu, không biến bài ca thành bài trả thù cá nhân. Bà trao việc xét xử về Chúa.
Cung nỏ người hùng bị bẻ. Kẻ yếu nên hùng. Người no phải làm mướn. Kẻ đói được thư thái. Người hiếm hoi sinh năm đẻ bảy. Mẹ nhiều con héo tàn. Năm đẻ bảy là thành ngữ viên mãn, không phải sổ dân. Bà không sinh bảy một lần. Bà hát một thế giới bị đo lại. Chúa cầm sinh tử, đẩy xuống âm phủ rồi kéo lên, làm nghèo và cho giàu, hạ xuống và nhắc lên. Kẻ mọn được kéo khỏi cát bụi. Người nghèo được cất từ phân tro, đặt ngồi với quyền quý, nhận ngai làm sản nghiệp. Bài ca kết bằng vua, bằng đấng xức dầu được nâng sừng. Sa-mu-en còn nhỏ. Lời hát đã thấy hướng của đứa con.
Magnificat lặp chuyển động này trong một bậc khác. Hồn ngợi khen Chúa. Thần trí hớn hở vì Đấng cứu độ. Ngài đoái nhìn phận nữ tỳ hèn mọn. Từ nay hết mọi đời sẽ khen diễm phúc. Đấng Toàn Năng làm việc cao cả. Danh Ngài thánh. Lòng thương xót từ đời nọ đến đời kia cho những ai kính sợ Ngài. Quyền năng tan tác kẻ kiêu căng. Hạ bệ người quyền thế. Nâng cao kẻ khiêm nhường. Kẻ đói no đầy. Người giàu trở về tay trắng. Nâng đỡ Israel tôi tớ. Nhớ lời thương xót hứa cùng Áp-ra-ham và dòng dõi đến muôn đời.
An-na hát sau khi đã trao con. Ma-ri-a hát khi vừa được chị họ công bố đức tin, Hài Nhi còn chưa sinh. An-na hát vì nỗi hổ được cất. Ma-ri-a hát vì Đấng cứu độ đã đến ở trong nữ tỳ. An-na thấy tới vua được xức dầu. Ma-ri-a đang cưu mang Đấng ấy. Không phải bà tự phong diễm phúc. Bà nói điều Thiên Chúa đã làm sẽ bị mọi đời nhận ra. Giáo Hội hát kinh ấy là nhận điều bà đã nói.
17. Câu hỏi của Na-da-rét như câu hỏi còn mở trong đời sống Giáo Hội
Hỏi theo kiểu Da-ca-ri-a là xin bảo chứng vì mình đã già, vì cộng đoàn đã cạn, vì lời hứa nghe như chuyện thế hệ trước. Hỏi vậy không bị loại khỏi lịch sử cứu độ. Ông già trong đền vẫn được nhậm lời. Nhưng miệng dễ câm một mùa, cho đến khi chịu đặt tên theo lời Chúa, không theo tập tục nhà.
Hỏi theo kiểu Ma-ri-a là nhìn thật vào chỗ mình không có đường, và để cho cách thức thuộc về Thánh Thần. Một giáo xứ hết ơn gọi, một gia đình không còn biết nói đức tin với con, một linh mục thấy mình rỗng giữa thời ồn: câu “xảy ra cách nào” có thể là cửa, nếu nó không biến thành “xin đừng động đến chỗ ấy”. Sứ thần không đáp bằng kỹ thuật. Sứ thần đáp bằng quyền năng, và bằng một dấu gần, dấu Ê-li-sa-bét, để người được gọi còn có thể lên đường mà thấy.
Các bà son sẻ còn cấm một thói mục vụ: giải thích quá nhanh nỗi khổ của người khác. Ê-li thấy môi mấp máy đã tưởng say. En-ca-na tưởng tình chồng thế được mười con trai. Gia-cóp, dù nói đúng câu thần học, đã nói trong giận. Người mục tử mà biến son sẻ, già, thất bại, chờ lâu thành một bài học đóng gói, thì đang đứng phía Ê-li trước khi Ê-li kịp nghe. Việc đầu tiên bản văn dạy là để người ta giãi bày hết câu.
Cũng không được biến các trình thuật thành hợp đồng. Không phải mọi lời cầu xin con đều được nhậm đúng hình thức. Điều chung cho mọi người không phải một I-xa-ác, mà là lòng thương xót của Đấng đã nhớ đến Ra-khen, đã nghe An-na, đã cất hổ của Ê-li-sa-bét, đã rợp bóng trên một trinh nữ. Có lời cầu được nhậm bằng một đứa con. Có lời cầu được nhậm bằng một sự sống khác, không kém thật, mà mắt người cầu chưa có tên để gọi trong ngày cầu. Bài ca An-na vẫn đúng ở tầng sâu: Chúa hạ xuống và nhắc lên, dù lịch mỗi người không trùng lịch Si-lô.
18. Mân Côi: ở lại trong câu hỏi, không giải thích cho xong
Chuỗi Mân Côi lập lại lời chào, lập lại tên Giê-su, đi qua vui, thương, mừng. Chuỗi không thay thế câu hỏi của Đức Ma-ri-a. Chuỗi đứng trong câu hỏi ấy. Mỗi kinh Kính Mừng là một lần trở lại “Đấng đầy ân sủng”, tức là trở lại sáng kiến của Thiên Chúa trước mọi công trạng. Suy mùa vui mà bỏ quên “việc ấy xảy ra cách nào” thì mùa vui thành chuyện dễ thương. Suy với câu hỏi ấy thì mùa vui thành mầu nhiệm: Thánh Thần ngự, Đấng Tối Cao rợp bóng, nữ tỳ thưa vâng, Ngôi Lời nhập thể.
Các cuộc thụ thai phía trước không phải mầu nhiệm phụ để xâu vào chuỗi. Chúng là trường lớp Thiên Chúa đã mở, để khi tới mầu nhiệm thứ nhất, dân khỏi tưởng mình đang nghe một thần thoại đột ngột. Xa-ra cười rồi sinh. An-na khóc rồi sinh rồi trao con. Ê-li-sa-bét ẩn mình rồi đứa con nhảy lên khi nghe lời chào. Ma-ri-a hỏi cách nào, thưa vâng, lên đường. Chuỗi Mân Côi, khi được đọc như ký ức của trường lớp ấy, là cách người nghèo giữ điều người nhiều chữ dễ làm loãng: Thiên Chúa đã thật sự ở cùng chúng ta, và Ngài đã ở cùng qua lời xin vâng của một nữ tỳ.
19. Ba điều để mang về, và một lời xin vâng
Điều thứ nhất. Quyền năng Thiên Chúa không bị khóa bởi son sẻ, tuổi già, tính toán hỏng, miệng người đời. Chẳng có điều gì kỳ diệu vượt sức Đức Chúa. Đối với Thiên Chúa không có gì là không thể. Câu dưới cụm sồi Mam-rê và câu ở Na-da-rét là một câu.
Điều thứ hai. Quyền năng ấy không hành xử như vũ lực. Xa-ra được viếng thăm, không bị ép vui. An-na được giãi bày, không bị kết án say cho xong. Giu-se được báo mộng, không bị tước sự công chính. Ma-ri-a được trả lời cho câu hỏi cách nào, rồi mới thưa. Tình thương nhưng không và sự tôn trọng tự do là một cách Ngài làm.
Điều thứ ba. Mọi cuộc thụ thai lạ lùng phía trước đều nghiêng về một cuộc không còn là việc chữa lòng dạ, mà là việc Ngôi Lời trở thành xác phàm. I-xa-ác giữ lời hứa khỏi tắt. Giu-se giữ nhà Gia-cóp khỏi đói. Sa-mu-en xức dầu cho Đa-vít. Gio-an chỉ Chiên Thiên Chúa. Đức Giê-su là Đấng các dấu ấy không thay được.
Hỏi “việc ấy xảy đến thế nào được” trước Hài Nhi ấy là hỏi đúng câu Đức Ma-ri-a đã hỏi. Câu trả lời vẫn là câu bà đã nhận. Thánh Thần sẽ ngự xuống. Quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng. Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Bà An-na đã hát trước. Đức Ma-ri-a đã hát sau. Giáo Hội còn hát, mỗi lần không dám tin rằng chỗ mình cạn là chỗ Chúa nhớ đến, và mỗi lần dám thưa như nữ tỳ: xin Chúa cứ làm cho con như lời Ngài đã nói.
Lm. Anmai, CSsR

Previous articleTÌNH HUYNH ĐỆ TRONG CỘNG ĐOÀN HỘI THÁNH Dưới ánh sáng Lời Chúa Học hỏi Mt 18,15-20 và các bản văn liên hệ Chia sẻ để học, để giảng, để xét mình Lm. Anmai, CSsR
Next articleKHẢO LUẬN ĐỨC MARIA RẤT THÁNH LÀ AI? Thiếu nữ Na-da-rét, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Hội thánh, và hình ảnh cánh chung của những kẻ tin Dựa trên Kinh Thánh, Lumen Gentium, Giáo lý Hội thánh Công giáo và bốn tín điều về Đức Maria Lm. Anmai, CSsR