CÁI TÔI TRONG ÁO DÒNG: KHI NGƯỜI TU KHÔNG CHẾT CHO MÌNH MÀ LẠI DÙNG ĐỜI TU ĐỂ KHẲNG ĐỊNH MÌNH
Có một thứ nguy hiểm trong đời tu không ồn ào như tội lỗi công khai, không dễ nhận ra như một sa ngã rõ ràng, không làm người ta giật mình ngay như một scandal bên ngoài, nhưng lại có sức bào mòn ơn gọi từ bên trong, làm khô héo linh hồn, làm mất hương thơm Tin Mừng, làm biến dạng khuôn mặt của Đức Kitô nơi người được thánh hiến. Đó là cái tôi trong áo dòng. Cái tôi ấy không nhất thiết la hét, không nhất thiết nổi loạn, không nhất thiết công khai chống đối. Nó có thể rất lịch sự, rất đạo đức, rất uy nghi, rất có vẻ khiêm nhường, rất biết dùng những lời thiêng liêng, rất quen thuộc với ngôn ngữ tu đức, rất thành thạo trong cách nói về phục vụ, vâng lời, hy sinh, cộng đoàn, sứ vụ, nhưng tận sâu bên trong, nó vẫn âm thầm tìm mình, bảo vệ mình, nâng mình lên, muốn người khác nhìn nhận mình, muốn mình có chỗ đứng, có tiếng nói, có ảnh hưởng, có uy tín, có quyền lực, có sự trọng vọng.
Đời tu, tự bản chất, là một hành trình chết đi cho chính mình để Đức Kitô được lớn lên. Người tu không bước vào đời thánh hiến để trở thành một nhân vật tôn giáo, không khoác áo dòng để được người ta kính nể, không tuyên khấn để xây dựng một thương hiệu thiêng liêng cho bản thân, không lãnh nhận sứ vụ để cộng đoàn xoay quanh mình, không học hành, giảng dạy, quản trị, phục vụ để chứng minh mình hơn người. Người tu được gọi để thuộc về Chúa. Người tu được mời đi vào con đường của Đức Kitô, Đấng đã tự hạ, đã rửa chân, đã trở nên tôi tớ, đã vâng phục cho đến chết, và chết trên thập giá. Nhưng bi kịch lớn xảy ra khi người tu không còn để Đức Kitô đóng đinh cái tôi của mình, mà lại dùng chính đời tu để nuôi cái tôi ấy lớn lên. Khi ấy, áo dòng không còn là dấu chỉ của sự từ bỏ, mà trở thành một lớp vỏ che chắn cho tham vọng tinh vi. Lời khấn không còn là con đường tự do nội tâm, mà có thể bị biến thành một thứ tư cách để đòi hỏi người khác phải tôn trọng mình. Sứ vụ không còn là nơi phục vụ Nước Chúa, mà trở thành sân khấu để biểu diễn bản thân.
Cái tôi ngoài đời thường dễ nhận diện hơn. Người đời muốn danh, muốn lợi, muốn địa vị, muốn thành công, muốn người khác biết đến mình, điều đó tuy có thể sai lệch nhưng vẫn tương đối rõ ràng. Còn cái tôi trong áo dòng nguy hiểm hơn, vì nó được phủ bằng ngôn ngữ thánh thiện. Người ta có thể nhân danh “sứ vụ” để giữ quyền. Nhân danh “trách nhiệm” để áp đặt. Nhân danh “kinh nghiệm” để không lắng nghe ai. Nhân danh “trật tự” để dập tắt những tiếng nói khác. Nhân danh “truyền thống” để bảo vệ thói quen ích kỷ. Nhân danh “vâng lời” để bắt người khác phục tùng ý riêng của mình. Nhân danh “bảo vệ cộng đoàn” để loại trừ những ai làm mình khó chịu. Nhân danh “vinh danh Chúa” nhưng thực ra lại muốn vinh danh chính mình. Chính vì thế, cái tôi trong áo dòng là một thứ cái tôi rất khó chữa, vì nó không xuất hiện như kẻ thù, mà thường đội lốt người đạo đức. Nó không nói: “Tôi muốn hơn người.” Nó nói: “Tôi chỉ muốn điều tốt cho cộng đoàn.” Nó không nói: “Tôi muốn được trọng vọng.” Nó nói: “Tôi chỉ muốn người ta tôn trọng chức vụ.” Nó không nói: “Tôi muốn nắm quyền.” Nó nói: “Tôi chỉ muốn mọi sự có trật tự.” Nó không nói: “Tôi không chấp nhận ai hơn tôi.” Nó nói: “Tôi thấy người ấy chưa đủ trưởng thành.”
Đời tu bắt đầu hư từ khi người tu không còn cảnh giác với chính mình. Người ta có thể rất nghiêm khắc với lỗi của người khác, rất nhạy bén trước những yếu đuối của anh chị em, rất dễ nhìn thấy sự kiêu ngạo nơi người khác, nhưng lại mù lòa trước cái tôi đang lớn lên trong lòng mình. Cái tôi có một khả năng ngụy trang rất đáng sợ. Nó khiến người tu tưởng rằng mình đang bảo vệ chân lý, trong khi thực ra chỉ đang bảo vệ tự ái. Nó khiến người tu tưởng rằng mình đang giữ kỷ luật, trong khi thực ra chỉ đang muốn mọi người làm theo ý mình. Nó khiến người tu tưởng rằng mình đang phục vụ, trong khi thực ra lại rất thích được khen là người phục vụ. Nó khiến người tu tưởng rằng mình đang hy sinh, trong khi trong lòng âm thầm ghi công, âm thầm mong người khác biết ơn, âm thầm buồn bực nếu không ai nhắc đến công lao của mình.
Một trong những dấu hiệu rõ nhất của cái tôi trong áo dòng là nhu cầu được công nhận. Người tu có thể nói nhiều về khiêm nhường, nhưng lại rất đau khi bị quên lãng. Có thể giảng rất hay về từ bỏ, nhưng lại rất khó chịu khi không được mời, không được nhắc tên, không được trao vai trò, không được đứng ở vị trí nổi bật. Có thể dạy người khác sống nghèo khó, nhưng lại khó chịu khi mình không được ưu tiên. Có thể nói về phục vụ âm thầm, nhưng khi phục vụ thật sự âm thầm thì lòng lại buồn, vì không ai thấy, không ai khen, không ai biết. Có thể khuyên người khác đón nhận sự góp ý, nhưng khi chính mình bị góp ý thì lập tức phòng thủ, biện minh, phản công, hoặc lạnh lùng im lặng để trừng phạt người góp ý. Khi lòng người tu còn quá cần tiếng vỗ tay, còn quá cần sự tán thưởng, còn quá cần ánh mắt ngưỡng mộ của người khác, thì đời tu rất dễ trở thành một sân khấu. Và sân khấu nào cũng cần khán giả. Một người tu sống cho Chúa thì có thể vui cả khi không ai biết đến. Nhưng một người tu sống cho cái tôi thì dù làm việc đạo đức đến đâu, vẫn âm thầm chờ đợi người khác nhìn thấy mình.
Cái tôi trong áo dòng cũng biểu hiện nơi quyền lực. Quyền lực trong đời tu vốn không xấu nếu được hiểu như một trách nhiệm phục vụ. Người lãnh đạo trong cộng đoàn, trong giáo xứ, trong học viện, trong cơ sở mục vụ, được trao quyền không phải để làm chủ anh chị em, mà để phục vụ sự hiệp thông, bảo vệ ơn gọi, nâng đỡ người yếu, hướng dẫn sứ vụ, gìn giữ đoàn chiên. Nhưng khi quyền lực rơi vào tay cái tôi chưa được thanh luyện, nó trở thành một khí cụ rất nguy hiểm. Người có quyền bắt đầu thích người khác phải nghe mình. Thích được báo cáo. Thích được hỏi ý. Thích được phục tùng. Thích người khác e dè trước mặt mình. Thích dùng lời nói để định đoạt số phận người khác. Thích tạo ra một bầu khí trong đó mọi người phải đoán ý mình, chiều ý mình, tránh làm mình phật lòng. Khi ấy, quyền bính không còn là phục vụ, mà trở thành sở hữu. Người ta không còn coi sứ vụ là của Chúa, cộng đoàn là của Chúa, anh chị em là của Chúa, nhưng âm thầm coi tất cả như lãnh địa của mình. Ai góp ý thì bị xem là chống đối. Ai có khả năng thì bị nhìn như mối đe dọa. Ai được yêu mến thì bị nghi ngờ. Ai khác ý thì bị xếp vào nhóm khó bảo. Ai yếu đuối thì bị coi thường. Ai thinh lặng thì bị tận dụng.
Đáng sợ hơn nữa, cái tôi trong áo dòng có thể biến đời sống cộng đoàn thành nơi tranh giành ảnh hưởng. Có những cộng đoàn bên ngoài vẫn đọc kinh, vẫn dâng lễ, vẫn có giờ chung, vẫn giữ nề nếp, nhưng bên trong lại đầy những vùng lạnh, những ánh mắt né tránh, những lời nói hai nghĩa, những im lặng nặng nề, những nhóm nhỏ khép kín, những cạnh tranh âm thầm. Người ta không còn hỏi: “Điều gì đẹp lòng Chúa?” mà hỏi: “Ai đang có ảnh hưởng hơn?” Người ta không còn thao thức: “Làm sao để cộng đoàn nên thánh?” mà lại quan tâm: “Ý kiến của tôi có được nghe không? Vị trí của tôi có bị giảm không? Người kia có đang được quý hơn tôi không?” Khi cái tôi thống trị, cộng đoàn mất dần sự đơn sơ. Mọi chuyện nhỏ cũng có thể trở thành vấn đề lớn, vì đằng sau nó là tự ái, là so sánh, là nhu cầu thắng thua. Một lời góp ý bình thường cũng có thể thành vết thương lâu dài. Một sự phân công nhỏ cũng có thể thành nguyên nhân bất mãn. Một lời khen dành cho người khác cũng có thể làm lòng mình chao đảo. Một thay đổi trong cộng đoàn cũng có thể bị diễn dịch như sự xúc phạm cá nhân.
Cái tôi trong áo dòng không chỉ phá cộng đoàn, mà còn làm biến dạng sứ vụ. Khi cái tôi còn lớn, người tu làm việc không còn hoàn toàn vì Chúa và vì các linh hồn, nhưng vì hình ảnh của mình trong mắt người khác. Giảng để được khen là sâu sắc. Dạy để được công nhận là uyên bác. Tổ chức để được nhìn nhận là tài giỏi. Viết để được ngưỡng mộ. Phục vụ người nghèo để được ca tụng là gần gũi. Làm truyền thông để tên mình lan rộng. Làm mục vụ để tạo ảnh hưởng cá nhân. Lúc đầu, tất cả có thể bắt đầu bằng thiện chí thật. Nhưng nếu không cầu nguyện, không xét mình, không để Lời Chúa thanh luyện, không có người đồng hành thiêng liêng, không sống trong sự thật với chính mình, người tu rất dễ chuyển từ phục vụ Chúa sang phục vụ hình ảnh của mình mà không hề hay biết. Và khi hình ảnh bản thân trở thành trung tâm, sứ vụ dù thành công bên ngoài vẫn có thể nghèo nàn bên trong. Người ta có thể kéo được đám đông, nhưng không đưa người ta đến với Đức Kitô. Có thể nói rất hay, nhưng lời nói không còn mùi của cầu nguyện. Có thể hoạt động rất mạnh, nhưng tâm hồn không còn hiền lành. Có thể được nhiều người biết đến, nhưng lại xa dần sự ẩn khuất của Tin Mừng.
Đời tu không sợ người tu có tài. Hội Thánh cần những người có tài, có trí tuệ, có khả năng tổ chức, có năng lực lãnh đạo, có sức sáng tạo, có khả năng truyền thông, có học thức, có chiều sâu. Nhưng đời tu rất sợ người có tài mà không khiêm nhường. Tài năng không được đặt dưới chân thập giá sẽ dễ trở thành khí cụ cho cái tôi. Người có tài mà không khiêm nhường thường khó sống chung, vì họ dễ coi thường người khác. Họ khó nghe góp ý, vì nghĩ mình hiểu hơn. Họ khó vâng lời, vì thấy quyết định của bề trên không bằng suy nghĩ của mình. Họ khó cộng tác, vì muốn mọi việc theo cách của mình. Họ khó vui với thành công của người khác, vì trong lòng có sự so sánh. Họ khó chấp nhận bị thay thế, vì đã đồng hóa sứ vụ với bản thân. Họ khó sống âm thầm, vì tài năng của họ luôn muốn được biểu lộ. Tài năng là quà tặng của Chúa, nhưng nếu không được thanh luyện bằng khiêm nhường, nó có thể trở thành bệ thờ cho chính mình.
Cái tôi trong áo dòng cũng thường ẩn dưới một hình thức khác: sự tự cho mình là không thể thiếu. Có người tu, sau nhiều năm phục vụ, bắt đầu nghĩ rằng không có mình thì công việc sẽ hỏng, không có mình thì cộng đoàn sẽ rối, không có mình thì giáo xứ sẽ xuống, không có mình thì nhóm sẽ tan, không có mình thì người khác không làm nổi. Suy nghĩ ấy có vẻ xuất phát từ tinh thần trách nhiệm, nhưng rất dễ trở thành một thứ kiêu ngạo kín đáo. Thực ra, không ai là không thể thiếu trước mặt Thiên Chúa. Chúa dùng ta vì lòng thương xót, chứ không phải vì Chúa bị lệ thuộc vào ta. Công trình là của Chúa. Vườn nho là của Chúa. Dân Chúa là của Chúa. Ơn cứu độ là của Chúa. Người tu chỉ là người được mời cộng tác. Hôm nay Chúa dùng ta, ngày mai Chúa có thể dùng người khác. Hôm nay ta gieo, người khác tưới. Hôm nay ta đứng trước, ngày mai ta lui vào sau. Hôm nay ta được sai đi, ngày mai ta được mời ở lại. Hôm nay ta nói, ngày mai ta phải học thinh lặng. Hôm nay ta dẫn dắt, ngày mai ta phải để người khác dẫn dắt. Người tu trưởng thành là người có thể trao lại sứ vụ mà không cay đắng, có thể lui vào bóng tối mà không oán trách, có thể nhìn người khác tiếp tục công việc mình từng làm mà không khó chịu, có thể vui khi Chúa được vinh danh dù tên mình không còn được nhắc đến.
Một trong những thử thách lớn nhất của đời tu là chấp nhận bị quên. Bị quên không phải là thất bại. Bị quên có khi là một ân huệ thanh luyện. Khi còn được chú ý, ta khó biết mình yêu Chúa hay yêu sự chú ý dành cho mình. Khi còn được khen, ta khó biết mình phục vụ vì Chúa hay vì vị ngọt của lời khen. Khi còn có quyền, ta khó biết mình khiêm nhường thật hay chỉ khiêm nhường vì chưa bị mất quyền. Khi còn được mời gọi, được tìm đến, được hỏi ý, được trọng vọng, ta khó biết lòng mình tự do đến đâu. Nhưng khi bị quên, khi không còn ở trung tâm, khi không còn được nhắc tên, khi người khác được trao việc ta từng làm, khi ý kiến của ta không còn là quyết định cuối cùng, khi đời sống trở nên âm thầm hơn, khi căn phòng nhỏ, công việc nhỏ, bổn phận nhỏ trở thành nơi Chúa đặt ta, lúc ấy sự thật về lòng ta bắt đầu lộ ra. Nếu ta bình an, tạ ơn, tiếp tục yêu mến và phục vụ, thì có lẽ Chúa đã giải phóng ta khỏi một phần cái tôi. Nhưng nếu ta cay đắng, bất mãn, nói xấu, thu mình, trách móc, hoặc tìm cách chứng minh mình vẫn quan trọng, thì có lẽ cái tôi vẫn còn ngồi trên ngai trong lòng.
Đức Kitô không kêu gọi người tu thành công trước hết, nhưng kêu gọi người tu nên giống Người. Mà con đường nên giống Đức Kitô là con đường tự hạ. Đức Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã không nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Người đã hủy mình ra không, mang thân phận tôi đòi, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người. Người là Thầy, là Chúa, mà đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Người có quyền trên trời dưới đất, nhưng đã để mình bị xét xử, bị nhục mạ, bị đánh đòn, bị đóng đinh. Người cứu thế giới không bằng cách khẳng định cái tôi, nhưng bằng cách trao hiến chính mình. Vì thế, một đời tu xa lạ với tự hạ là một đời tu xa lạ với Đức Kitô. Một người tu không muốn nhỏ lại thì rất khó để Chúa lớn lên trong mình. Một người tu không chịu bị tỉa bớt thì rất khó sinh hoa trái thật. Một người tu không để cái tôi bị đóng đinh thì dù có khoác áo dòng, vẫn có thể đang sống một đời sống trái ngược với Tin Mừng.
Có một nỗi đau rất lớn là đôi khi người tu nói về thập giá rất nhiều, nhưng lại rất sợ thập giá chạm vào cái tôi của mình. Thập giá không chỉ là bệnh tật, khó khăn, nghèo túng, hiểu lầm, thất bại bên ngoài. Thập giá sâu hơn là khi ý riêng bị cắt tỉa. Là khi ta muốn được khen nhưng phải chấp nhận âm thầm. Là khi ta muốn được chọn nhưng phải nhường cho người khác. Là khi ta muốn biện minh nhưng Chúa mời thinh lặng. Là khi ta muốn thắng trong một cuộc tranh luận nhưng Chúa mời giữ tình huynh đệ. Là khi ta muốn người khác công nhận công lao nhưng Chúa mời làm chỉ vì tình yêu. Là khi ta thấy mình có lý nhưng Chúa mời cúi xuống để gìn giữ hiệp thông. Là khi ta muốn chứng tỏ mình quan trọng nhưng Chúa mời ta trở nên người tôi tớ vô dụng sau khi đã làm tất cả những gì phải làm. Nếu người tu tránh né những thập giá ấy, người tu có thể vẫn sống trong nhà dòng, vẫn làm công việc đạo, vẫn cử hành nghi thức, vẫn giảng dạy, vẫn phục vụ, nhưng cái tôi vẫn chưa bị chạm đến. Và khi cái tôi chưa bị chạm đến, sự thánh thiện chỉ mới ở bên ngoài.
Cái tôi trong áo dòng cũng làm người tu mất khả năng xin lỗi. Một người tu càng lâu năm, càng có chức vụ, càng được kính trọng, càng có học thức, càng có ảnh hưởng, càng phải học xin lỗi. Vì càng ở vị trí cao, lời nói và thái độ của mình càng dễ làm người khác bị thương. Nhưng cái tôi rất sợ xin lỗi, vì xin lỗi là hạ mình, là thừa nhận mình sai, là để người khác thấy mình không hoàn hảo. Có người tu có thể giảng về lòng thương xót, nhưng rất khó nói với anh em: “Tôi xin lỗi.” Có thể khuyên giáo dân tha thứ, nhưng trong cộng đoàn lại giữ những khoảng cách lạnh lùng suốt nhiều năm. Có thể dạy người khác hòa giải, nhưng chính mình lại không dám bước đến làm hòa. Có thể nói về sự thật, nhưng lại che giấu lỗi mình bằng uy tín, chức vụ, sự im lặng hoặc những lời đạo đức. Một cộng đoàn chỉ thật sự là cộng đoàn của Tin Mừng khi những người trong đó còn biết xin lỗi nhau. Và một người tu chỉ thật sự lớn lên trong Đức Kitô khi dám để sự thật làm mình nhỏ lại.
Cái tôi cũng làm người tu mất khả năng vui với người khác. Đây là một dấu chỉ rất tinh tế. Khi anh em được khen, ta có vui thật không? Khi chị em được trao trách nhiệm, ta có bình an thật không? Khi người trẻ hơn mình làm được điều tốt, ta có khích lệ không? Khi người khác có khả năng hơn mình trong một lãnh vực, ta có biết tạ ơn Chúa không? Khi người khác được cộng đoàn yêu mến, ta có mừng không, hay trong lòng bắt đầu tìm khuyết điểm của họ? Sự ganh tị trong đời tu rất đau, vì nó thường không được gọi đúng tên. Người ta hiếm khi nói: “Tôi ganh tị.” Người ta thường nói: “Tôi chỉ thấy cần thận trọng.” “Tôi chỉ sợ người đó kiêu ngạo.” “Tôi chỉ muốn nhắc cho cộng đoàn đừng quá đề cao.” “Tôi chỉ thấy người đó cũng chưa đến mức như vậy.” Có thể có những nhận định đúng, nhưng cũng có thể đằng sau đó là một trái tim chưa tự do. Người sống trong Đức Kitô có thể vui khi người khác sinh hoa trái, vì hoa trái ấy là của Chúa. Người còn bị cái tôi chi phối thì hoa trái của người khác làm mình khó chịu, vì mình không còn là trung tâm.
Cái tôi trong áo dòng còn thể hiện qua sự thích kiểm soát. Có những người tu không chịu nổi khi mọi sự không theo cách của mình. Họ muốn kiểm soát lịch trình, con người, thông tin, quyết định, bầu khí, cách làm, cách nghĩ, thậm chí cả cách người khác đánh giá mình. Họ khó chấp nhận sự khác biệt. Họ nói mình yêu cộng đoàn, nhưng thực ra chỉ yêu một cộng đoàn biết vận hành theo ý mình. Họ nói mình lo cho sứ vụ, nhưng thực ra không chịu được khi sứ vụ đi theo một hướng không do mình định đoạt. Họ nói mình cần sự rõ ràng, nhưng đôi khi đó là nhu cầu kiểm soát được mặc áo trách nhiệm. Trong khi đó, đời tu đích thực đòi người ta học buông. Buông ý riêng. Buông nhu cầu điều khiển. Buông sự bảo đảm. Buông hình ảnh hoàn hảo của mình. Buông cả những công việc mình yêu thích khi vâng lời đòi hỏi. Buông để Chúa là Chúa. Buông để cộng đoàn không bị nghẹt thở vì cái tôi của ta. Buông để người khác cũng có không gian lớn lên. Buông để sứ vụ không bị đồng hóa với cá nhân mình.
Một người tu không chết cho mình thì rất dễ biến người khác thành phương tiện cho cái tôi. Người ấy có thể thân thiện với người làm mình nổi bật, nâng đỡ người ủng hộ mình, gần gũi người khen mình, ưu ái người phục tùng mình, nhưng lạnh nhạt với người góp ý, xa cách người không theo phe mình, nghi ngờ người có khả năng độc lập, khắt khe với người không làm mình hài lòng. Tương quan khi ấy không còn trong sáng. Nó bị nhuộm bởi lợi ích bản thân. Người ta yêu người khác không phải vì họ là anh chị em trong Đức Kitô, mà vì họ có ích cho hình ảnh, dự án, vị trí hoặc cảm xúc của mình. Đây là một sự nghèo nàn thiêng liêng rất lớn. Vì đời tu phải là nơi tình yêu được thanh luyện khỏi tính chiếm hữu, khỏi tính phe nhóm, khỏi sự thao túng. Người tu càng thuộc về Chúa, tương quan càng tự do. Người ấy không cần người khác phải xoay quanh mình. Không cần ai phải ca tụng mình. Không cần biến ai thành vệ tinh cho mình. Người ấy có thể yêu mà không chiếm hữu, phục vụ mà không trói buộc, nâng đỡ mà không đòi người khác mang ơn, hiện diện mà không kiểm soát.
Cũng cần nói rằng cái tôi không bị tiêu diệt bằng sự tự khinh ghét bản thân. Kitô giáo không dạy con người ghét chính mình theo nghĩa bệnh hoạn, không coi bản thân là vô giá trị, không phủ nhận phẩm giá Chúa ban. Chết cho mình không phải là trở thành người không có nhân vị, không có suy nghĩ, không có cảm xúc, không có trách nhiệm, không có bản sắc. Chết cho mình là để cái tôi ích kỷ, cái tôi kiêu ngạo, cái tôi chiếm hữu, cái tôi tự mãn, cái tôi muốn làm trung tâm bị thanh luyện, để con người thật trong Đức Kitô được lớn lên. Người khiêm nhường không phải là người giả vờ mình không có gì, nhưng là người biết mọi sự mình có đều là ơn Chúa. Người tự do không phải là người không có tài năng, nhưng là người không làm nô lệ cho tài năng của mình. Người thánh thiện không phải là người không có cá tính, nhưng là người để cá tính ấy được Thánh Thần uốn nắn cho tình yêu. Người chết cho mình không phải là người bị xóa bỏ, nhưng là người được giải phóng khỏi sự lệ thuộc vào cái nhìn của người khác, khỏi nhu cầu hơn thua, khỏi nỗi ám ảnh phải chứng minh mình.
Chính vì thế, đời tu cần sự xét mình rất sâu. Không chỉ xét mình xem hôm nay tôi có làm sai điều gì không, nhưng còn phải hỏi: hôm nay tôi làm điều tốt vì ai? Tôi phục vụ vì Chúa hay vì muốn được nhìn nhận? Tôi buồn vì sứ vụ bị tổn thương hay vì cái tôi bị chạm? Tôi giận vì sự thật bị xúc phạm hay vì ý riêng của tôi không được nghe? Tôi im lặng vì khiêm nhường hay vì đang trừng phạt người khác? Tôi nói thẳng vì yêu thương hay vì muốn áp đặt? Tôi khó chịu với người kia vì họ thật sự sai hay vì họ làm tôi mất vị trí? Tôi bảo vệ cộng đoàn hay bảo vệ hình ảnh của mình? Tôi muốn người khác vâng lời Chúa hay vâng lời tôi? Tôi có thể vui khi người khác thay thế tôi không? Tôi có thể làm việc âm thầm mà không kể công không? Tôi có thể nhận lỗi mà không tự sụp đổ không? Tôi có thể để Chúa là trung tâm, thật sự là trung tâm, chứ không phải chỉ trên môi miệng không?
Không có người tu nào hoàn toàn miễn nhiễm với cái tôi. Ai cũng mang trong mình vết thương của tội nguyên tổ, vết thương của nhu cầu được yêu, được công nhận, được an toàn, được quan trọng. Vì thế, nói về cái tôi trong áo dòng không phải để kết án người khác, nhưng để mỗi người run rẩy nhìn lại chính mình. Người tu nào nghĩ mình không có cái tôi, có lẽ đang ở trong nguy hiểm lớn. Người tu nào còn biết sợ cái tôi của mình, còn biết khóc vì sự kiêu ngạo của mình, còn biết xin Chúa thanh luyện mình, còn biết tìm sự hướng dẫn, còn biết lắng nghe góp ý, còn biết trở về với cầu nguyện, người ấy vẫn còn hy vọng lớn. Sự thánh thiện không bắt đầu từ việc ta không còn yếu đuối, nhưng từ việc ta dám đem yếu đuối ra trước mặt Chúa. Khi cái tôi được đặt dưới ánh sáng Chúa, nó bắt đầu mất quyền lực. Khi ta gọi đúng tên sự kiêu ngạo của mình, nó không còn dễ ngụy trang. Khi ta thật lòng xin Chúa cứu mình khỏi chính mình, ơn Chúa bắt đầu làm việc.
Cầu nguyện là nơi cái tôi được lột mặt nạ. Vì trước mặt người đời, ta có thể diễn. Trước mặt cộng đoàn, ta có thể giữ hình ảnh. Trước mặt giáo dân, ta có thể nói những lời đẹp. Trước mặt bề trên, ta có thể tỏ ra vâng phục. Trước mặt anh em, ta có thể che giấu những động cơ thật. Nhưng trước mặt Chúa, mọi lớp áo đều rơi xuống. Chúa thấy lòng ta. Chúa biết khi nào ta phục vụ vì yêu và khi nào ta phục vụ vì muốn được khen. Chúa biết khi nào ta thinh lặng vì khiêm nhường và khi nào ta thinh lặng vì tự ái. Chúa biết khi nào ta nói về Người nhưng lòng lại tìm mình. Chúa biết cả những tham vọng được che bằng lời đạo đức. Vì thế, người tu càng cầu nguyện thật, càng khó sống giả. Cầu nguyện thật không cho phép ta tiếp tục thờ phượng cái tôi trong khi miệng nói thờ phượng Chúa. Cầu nguyện thật làm ta đau, vì nó cho ta thấy những vùng tối của lòng mình. Nhưng chính nỗi đau ấy là ân sủng. Thà đau vì được Chúa lột trần để chữa lành, còn hơn bình an giả tạo trong một đời tu được trang trí đẹp đẽ nhưng bên trong cái tôi vẫn làm chủ.
Bí tích Thánh Thể cũng là trường học lớn nhất để người tu học chết cho mình. Mỗi ngày, trên bàn thờ, Đức Kitô trở nên tấm bánh bị bẻ ra. Người không giữ mình lại. Người không tự bảo vệ vinh quang của mình. Người trao ban. Người trở nên lương thực. Người ở đó âm thầm, nhỏ bé, khiêm nhường, không áp đặt, không phô trương. Nếu người tu cử hành Thánh Thể, chầu Thánh Thể, rước Thánh Thể, mà vẫn sống với một cái tôi không chịu bẻ ra, thì cần phải run sợ. Vì không thể gần một Thiên Chúa tự hiến mỗi ngày mà ta vẫn mãi khép kín trong tự ái. Không thể cầm lấy Mình Thánh Chúa mà đôi tay ta lại chỉ muốn nắm giữ quyền lực. Không thể nói “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì anh em” mà đời ta lại không chịu bị tiêu hao vì tình yêu. Thánh Thể không chỉ để ta thờ lạy, mà còn để ta được biến đổi. Người tu Thánh Thể phải là người biết bẻ mình ra cho anh chị em, biết nhỏ lại, biết âm thầm, biết trao hiến, biết để sự sống của mình trở thành lương thực cho người khác.
Đời sống cộng đoàn cũng là lò luyện cái tôi. Không ai nên thánh một mình. Chính những va chạm hằng ngày, những khác biệt tính tình, những hiểu lầm, những bổn phận nhỏ, những giới hạn của anh chị em, những góp ý khó nghe, những lần phải nhường nhịn, những lúc không được như ý, tất cả đều có thể trở thành dụng cụ Chúa dùng để bào mòn cái tôi. Người ta có thể tưởng mình khiêm nhường khi ở một mình, nhưng chỉ khi sống chung mới biết mình khiêm nhường đến đâu. Người ta có thể tưởng mình yêu thương khi không ai làm phiền mình, nhưng chỉ khi phải sống với người khó thương mới biết tình yêu của mình thật hay giả. Người ta có thể tưởng mình vâng phục khi bề trên quyết định đúng ý mình, nhưng chỉ khi bề trên quyết định khác ý mình mới biết mình có thật sự vâng phục không. Người ta có thể tưởng mình nghèo khó khi không thiếu thốn gì, nhưng chỉ khi mất một tiện nghi, một ưu tiên, một sự dễ chịu mới biết mình tự do đến đâu. Cộng đoàn không hoàn hảo không nhất thiết là tai họa. Có khi chính cộng đoàn với những giới hạn của nó lại là nơi Chúa đào sâu sự thánh thiện, nếu người tu biết đọc mọi sự dưới ánh sáng đức tin.
Nhưng cộng đoàn cũng cần can đảm gọi tên những hình thức cái tôi tập thể. Có khi không chỉ cá nhân kiêu ngạo, mà cả một nhóm, một thế hệ, một cơ chế, một lối vận hành cũng có thể bị cái tôi chi phối. Cái tôi tập thể làm người ta nghĩ “chúng tôi luôn đúng”, “cách của chúng tôi là chuẩn nhất”, “người ngoài không hiểu”, “người trẻ phải im lặng”, “người khác biệt là nguy hiểm”, “truyền thống của chúng tôi không thể sai”. Khi ấy, cộng đoàn dễ khép kín, mất khả năng hoán cải, mất sự tươi mới của Thánh Thần. Trung thành với truyền thống không có nghĩa là thờ phượng thói quen. Bảo vệ căn tính không có nghĩa là bất động trước lời mời gọi canh tân. Vâng phục Hội Thánh không có nghĩa là dùng cơ cấu để bảo vệ cái tôi tập thể. Một cộng đoàn thánh thiện là cộng đoàn biết nhớ nguồn, biết giữ căn tính, nhưng cũng biết sám hối, biết lắng nghe, biết học hỏi, biết để Chúa cắt tỉa.
Để chữa lành cái tôi trong áo dòng, cần trở về với Đức Kitô nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục. Nghèo khó chữa cái tôi muốn sở hữu. Khiết tịnh chữa cái tôi muốn chiếm hữu con người. Vâng phục chữa cái tôi muốn tự quyết mọi sự. Nhưng ba lời khấn ấy không thể chỉ nằm trên giấy tuyên khấn. Chúng phải đi vào máu, vào mắt, vào tay, vào cách nói, vào cách dùng tiền, vào cách sống tương quan, vào cách nhận quyết định, vào cách đón nhận giới hạn, vào cách sử dụng quyền bính, vào cách đứng trước thành công và thất bại. Nghèo khó không chỉ là không có tài sản riêng, mà là không lấy gì làm bệ đỡ cho cái tôi. Khiết tịnh không chỉ là không lập gia đình, mà là yêu thương bằng trái tim tự do, không thao túng, không chiếm đoạt, không biến người khác thành nguồn bù đắp cảm xúc cho mình. Vâng phục không chỉ là làm theo lệnh, mà là để ý Chúa lớn hơn ý riêng, để sứ vụ lớn hơn sở thích, để cộng đoàn lớn hơn cái tôi cá nhân.
Người tu cần học một nghệ thuật rất khó: làm điều tốt rồi quên đi. Phục vụ rồi không kể công. Gieo rồi không đòi thấy mùa gặt. Cho đi rồi không giữ sổ nợ trong lòng. Bị hiểu lầm rồi không vội biện minh nếu không cần thiết. Được khen rồi dâng lại cho Chúa. Bị chê rồi xét mình trong bình an. Thành công rồi không say men thành công. Thất bại rồi không tự kết án. Được trao quyền rồi càng cúi xuống. Bị lấy quyền rồi càng phó thác. Được yêu mến rồi không chiếm hữu. Bị quên lãng rồi không cay đắng. Đây là sự tự do của con cái Thiên Chúa. Và chỉ người nào để Đức Kitô giải thoát khỏi cái tôi mới có thể nếm được sự tự do ấy.
Trong đời tu, có những người rất âm thầm nhưng lại tỏa hương thơm thánh thiện. Họ không cần đứng đầu. Không cần được nhắc tên. Không cần ai biết công lao. Không cần tạo ảnh hưởng. Không cần chứng minh mình sâu sắc, tài giỏi, quan trọng. Họ hiện diện như ánh đèn nhỏ trong nhà nguyện. Như bàn tay lặng lẽ dọn dẹp sau một buổi lễ. Như nụ cười hiền khi không ai để ý. Như lời cầu nguyện âm thầm cho anh chị em. Như sự nhẫn nại trong những công việc lặp đi lặp lại. Như sự trung tín với bổn phận nhỏ. Như một trái tim không ồn ào nhưng đầy Chúa. Chính những người ấy giữ linh hồn đời tu. Không phải lúc nào họ cũng được chú ý. Không phải lúc nào họ cũng giữ chức vụ. Không phải lúc nào họ cũng nói nhiều. Nhưng nơi họ, người ta cảm thấy một điều gì đó rất thật: sự hiện diện của Đức Kitô hiền lành và khiêm nhường.
Đời tu hôm nay cần những người như thế. Không phải những người ám ảnh với hình ảnh của mình, nhưng những người ám ảnh với Tin Mừng. Không phải những người muốn cộng đoàn xoay quanh mình, nhưng những người giúp cộng đoàn xoay về Đức Kitô. Không phải những người dùng sứ vụ để khẳng định bản thân, nhưng những người dùng cả đời mình để chỉ về Chúa. Không phải những người nói về khiêm nhường như một lý thuyết, nhưng những người làm cho khiêm nhường trở nên khả tín bằng đời sống. Không phải những người che giấu cái tôi bằng áo dòng, nhưng những người để áo dòng nhắc mình mỗi ngày rằng mình đã thuộc về Đấng chịu đóng đinh.
Cần phải nói thật với nhau: áo dòng không tự động làm cho người ta nên thánh. Chức thánh không tự động giết chết cái tôi. Lời khấn không tự động biến trái tim thành khiêm nhường. Sứ vụ không tự động làm người ta trong sạch ý hướng. Học vị không tự động làm người ta khôn ngoan. Tuổi đời tu không tự động làm người ta trưởng thành. Tất cả đều cần ơn Chúa và sự cộng tác bền bỉ của con người. Một người có thể ở trong đời tu rất lâu mà cái tôi vẫn còn rất trẻ con: dễ giận, dễ tự ái, thích được dỗ dành, sợ bị bỏ quên, muốn được ưu tiên, không chịu thua, khó nhận lỗi. Một người có thể nói về Chúa rất nhiều mà chưa để Chúa làm chủ vùng sâu nhất của lòng mình. Một người có thể thuộc rất nhiều sách thiêng liêng mà vẫn không nhận ra sự kiêu ngạo của bản thân. Một người có thể giúp nhiều người hoán cải mà chính mình lại tránh né hoán cải. Đây là bi kịch, nhưng cũng là lời mời gọi khẩn thiết.
Đời tu chỉ có thể được canh tân khi từng người can đảm để Chúa canh tân cái tôi của mình. Không có cuộc cải tổ nào sâu nếu không có hoán cải cá nhân. Không có cộng đoàn nào lành mạnh nếu các thành viên không chịu chết cho ý riêng. Không có sứ vụ nào thật sự sinh hoa trái nếu người phục vụ không để mình được thanh luyện. Không có quyền bính nào mang khuôn mặt Đức Kitô nếu người lãnh đạo không biết quỳ xuống rửa chân. Không có lời giảng nào có lửa nếu người giảng không để Lời Chúa đốt cháy chính mình trước. Không có áo dòng nào đẹp nếu bên trong không có một trái tim đang học trở nên hiền lành và khiêm nhường.
Vì thế, lời cầu nguyện cần thiết cho người tu hôm nay có lẽ không chỉ là: “Lạy Chúa, xin cho con làm được nhiều việc cho Chúa.” Mà phải là: “Lạy Chúa, xin cứu con khỏi chính con.” Xin cứu con khỏi cái tôi đạo đức nhưng ích kỷ. Xin cứu con khỏi sự kiêu ngạo được che bằng trách nhiệm. Xin cứu con khỏi lòng ham được công nhận. Xin cứu con khỏi nhu cầu kiểm soát. Xin cứu con khỏi thói quen dùng lời thánh để bảo vệ ý riêng. Xin cứu con khỏi sự ganh tị khi người khác được yêu mến. Xin cứu con khỏi cay đắng khi bị quên lãng. Xin cứu con khỏi ảo tưởng mình không thể thiếu. Xin cứu con khỏi việc biến sứ vụ của Chúa thành sân khấu của con. Xin cứu con khỏi một đời tu có vẻ thành công nhưng không còn giống Đức Kitô.
Và cũng cần cầu xin: Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin làm cho trái tim con nên giống trái tim Chúa. Xin dạy con biết nhỏ lại. Xin dạy con biết phục vụ mà không đòi được nhìn nhận. Xin dạy con biết vâng phục khi ý riêng bị cắt tỉa. Xin dạy con biết vui với ơn lành Chúa ban cho người khác. Xin dạy con biết đứng ở chỗ cuối mà không buồn. Xin dạy con biết làm việc âm thầm mà không kể công. Xin dạy con biết nhận lỗi mà không sợ mất mặt. Xin dạy con biết lắng nghe người nhỏ bé hơn con. Xin dạy con biết trao lại trách nhiệm trong bình an. Xin dạy con biết yêu cộng đoàn hơn yêu hình ảnh của mình. Xin dạy con biết đặt Chúa ở trung tâm thật sự, không phải chỉ trong lời nói, mà trong từng chọn lựa, từng phản ứng, từng tương quan, từng sứ vụ, từng ngày sống.
Cái tôi trong áo dòng chỉ có thể chết dưới chân thập giá. Không một phương pháp nhân bản nào đủ sâu nếu không đưa ta đến gặp Đức Kitô chịu đóng đinh. Vì trên thập giá, mọi tham vọng bị phơi bày là vô nghĩa. Mọi tranh giành trở nên nhỏ bé. Mọi tự ái trở nên đáng thương. Mọi nhu cầu được tôn vinh bị lột trần trước Đấng đã chọn bị sỉ nhục vì yêu. Nhìn lên thập giá, người tu mới hiểu rằng con đường của mình không phải là đi lên để được người ta tung hô, nhưng là đi xuống để phục vụ. Không phải là giữ mình cho an toàn, nhưng là trao mình cho tình yêu. Không phải là làm cho tên mình lớn lên, nhưng là làm cho danh Chúa được cả sáng. Không phải là dùng áo dòng để khẳng định bản thân, nhưng là để áo dòng nhắc mình rằng: tôi đã chết cho thế gian, và đời tôi nay thuộc về Đức Kitô.
Nếu một ngày nào đó, người tu còn biết khóc trước thập giá vì nhận ra mình đã nhiều lần tìm mình hơn tìm Chúa, đó là một ngày đầy ân sủng. Nếu một ngày nào đó, người tu còn biết xin lỗi cộng đoàn vì mình đã làm anh chị em đau bởi cái tôi của mình, đó là một ngày đời tu được chữa lành. Nếu một ngày nào đó, người tu còn biết vui khi người khác được nâng lên, còn mình được mời nhỏ lại, đó là một ngày Tin Mừng chiến thắng trong lòng. Nếu một ngày nào đó, người tu có thể âm thầm làm việc tốt rồi để Chúa biết là đủ, đó là một ngày người ấy đã bước thêm một bước trên con đường tự do. Nếu một ngày nào đó, người tu không còn cần dùng đời tu để khẳng định mình, nhưng chỉ muốn dùng đời mình để thuộc về Chúa và phục vụ anh chị em, đó là lúc áo dòng trở lại đúng ý nghĩa thánh thiêng ban đầu: dấu chỉ của một con người đã được tách riêng cho Thiên Chúa, không phải để được nâng cao trên người khác, nhưng để cúi xuống cùng Đức Kitô.
Đời tu sẽ đẹp biết bao khi người tu không còn là trung tâm của chính mình. Cộng đoàn sẽ nhẹ nhàng biết bao khi mỗi người bớt bảo vệ cái tôi và biết bảo vệ hiệp thông. Sứ vụ sẽ trong sáng biết bao khi người phục vụ không tìm hào quang cho bản thân. Lời giảng sẽ có sức đánh động biết bao khi người giảng đã để Lời Chúa đâm thấu chính lòng mình. Quyền bính sẽ dịu hiền biết bao khi người có quyền biết mình chỉ là người rửa chân. Áo dòng sẽ khả tín biết bao khi bên trong nó là một trái tim thật sự nghèo, thật sự tự do, thật sự khiêm nhường, thật sự thuộc về Đức Kitô.
Vì cuối cùng, đời tu không phải là nơi để cái tôi được thánh hóa bằng danh xưng đạo đức, nhưng là nơi cái tôi được đóng đinh để Đức Kitô sống trong ta. Người tu không được gọi để trở thành một phiên bản tôn giáo của tham vọng trần gian. Người tu được gọi để trở thành dấu chỉ của Nước Trời. Mà Nước Trời không được xây bằng cái tôi phình to, nhưng bằng những trái tim nhỏ bé, nghèo khó, hiền lành, biết xót thương, biết phục vụ, biết yêu đến quên mình. Khi người tu thật sự chết cho mình, đời tu mới sinh hoa trái. Khi người tu thật sự nhỏ lại, Đức Kitô mới lớn lên. Khi người tu không còn dùng đời tu để khẳng định mình, đời tu mới trở thành lời chứng rằng chỉ một mình Chúa là đủ.
Lm. Anmai, CSsR
KHỦNG HOẢNG CẦU NGUYỆN TRONG ĐỜI TU: KHI NGƯỜI NÓI VỀ CHÚA NHIỀU NHƯNG LẠI NÓI VỚI CHÚA QUÁ ÍT
Có một nỗi đau rất âm thầm trong đời tu hôm nay, một nỗi đau không dễ nhìn thấy bằng mắt thường, vì bên ngoài mọi sự vẫn có vẻ ổn. Nhà dòng vẫn còn đó. Áo dòng vẫn còn đó. Thánh lễ vẫn cử hành. Giờ kinh vẫn vang lên. Các sinh hoạt mục vụ vẫn tiếp tục. Lớp học vẫn mở. Chương trình vẫn chạy. Hội họp vẫn đông. Bài giảng vẫn hay. Các dự án vẫn được thực hiện. Người tu vẫn xuất hiện, vẫn nói, vẫn viết, vẫn làm việc, vẫn tổ chức, vẫn điều hành, vẫn phục vụ. Nhưng tận sâu bên trong, có khi một điều rất căn bản đã bắt đầu cạn kiệt: đời sống cầu nguyện.
Khủng hoảng cầu nguyện trong đời tu không phải lúc nào cũng bắt đầu bằng việc bỏ kinh, bỏ lễ, bỏ giờ nguyện ngắm một cách rõ ràng. Đôi khi nó bắt đầu rất nhẹ, rất nhỏ, rất khó nhận ra. Ban đầu chỉ là vội vàng hơn một chút trong giờ kinh. Rồi là chia trí nhiều hơn một chút trong Thánh lễ. Rồi là cảm thấy cầu nguyện khô khan, nặng nề, mất hứng thú. Rồi là tự nhủ: “Hôm nay bận quá, Chúa hiểu mà.” Rồi là bù đắp bằng công việc. Rồi là lấy hoạt động để thay thế thinh lặng. Rồi là nói về Chúa nhiều hơn là ở lại với Chúa. Rồi là phục vụ nhân danh Chúa nhưng lại không còn để Chúa chạm vào lòng mình. Và đến một lúc nào đó, người tu có thể vẫn còn làm rất nhiều việc của Chúa, nhưng lòng lại xa chính Chúa.
Đó là một nghịch lý đau đớn: có người nói về Chúa rất nhiều nhưng lại nói với Chúa quá ít. Có người có thể giảng hàng giờ về cầu nguyện nhưng chính mình lại ít quỳ gối trong thinh lặng. Có người dạy người khác phải tín thác nhưng trong lòng mình lại sống bằng tính toán. Có người khuyên giáo dân hãy yêu mến Thánh Thể nhưng chính mình lại đến với Thánh Thể như một bổn phận phải hoàn tất. Có người viết những lời đạo đức rất đẹp nhưng lòng mình không còn rung động trước Chúa. Có người đứng trên bục giảng với lời lẽ mạnh mẽ, nhưng khi trở về phòng riêng lại thấy linh hồn trống vắng, mệt mỏi, khô cạn, cô độc và xa Chúa.
Điều nguy hiểm nhất của khủng hoảng cầu nguyện là nó có thể được che đậy bằng sự thành công bên ngoài. Một người tu có thể rất bận rộn, rất được mời gọi, rất được khen ngợi, rất có ảnh hưởng, rất có uy tín, rất giỏi tổ chức, rất khéo giao tiếp, rất có khả năng lãnh đạo. Nhưng nếu không còn cầu nguyện sâu, tất cả những điều ấy có thể trở thành một lớp áo đẹp che giấu một linh hồn đang thiếu nước. Người lính giữa sa mạc có thể mang áo giáp, có thể cầm khí giới, có thể đứng thẳng, có thể bước đi, nhưng nếu không có nước, sớm muộn gì cũng quỵ ngã. Người tu cũng vậy. Không có cầu nguyện, đời tu mất nguồn nước. Không có cầu nguyện, sứ vụ mất linh hồn. Không có cầu nguyện, lời giảng mất lửa. Không có cầu nguyện, cộng đoàn mất hơi ấm. Không có cầu nguyện, lòng nhiệt thành dễ biến thành háo thắng. Không có cầu nguyện, phục vụ dễ biến thành trình diễn. Không có cầu nguyện, người tu dễ trở thành một người làm việc tôn giáo hơn là một người thuộc về Chúa.
Cầu nguyện không phải là một hoạt động phụ trong đời tu. Cầu nguyện là hơi thở của đời tu. Người ta có thể sống thiếu nhiều thứ, nhưng không thể sống thiếu hơi thở. Đời tu cũng có thể thiếu phương tiện, thiếu nhân sự, thiếu tài chính, thiếu điều kiện, thiếu tiện nghi, nhưng không thể thiếu cầu nguyện. Khi cầu nguyện yếu đi, toàn bộ đời tu yếu đi. Khi cầu nguyện nguội lạnh, lòng mến nguội lạnh. Khi cầu nguyện trở thành hình thức, đời tu cũng dần trở thành hình thức. Khi cầu nguyện bị coi là chuyện thứ yếu, người tu bắt đầu sống bằng sức riêng, bằng kỹ năng riêng, bằng uy tín riêng, bằng kinh nghiệm riêng, bằng mạng lưới quan hệ riêng, bằng sự thông minh riêng, nhưng không còn sống bằng ân sủng như nguồn mạch đầu tiên.
Cầu nguyện là nơi người tu nhớ mình là ai. Không cầu nguyện, người tu rất dễ quên căn tính của mình. Người tu không phải trước hết là nhà quản trị, không phải nhà tổ chức, không phải diễn giả, không phải chuyên viên tâm lý, không phải người làm truyền thông, không phải nhân viên xã hội, không phải người điều hành một cơ sở, không phải người nổi tiếng trong lãnh vực tôn giáo. Người tu trước hết là người được Chúa gọi để ở với Người. “Ở với Chúa” đi trước “được sai đi”. Nếu chỉ được sai đi mà không còn ở với Chúa, sứ vụ sẽ biến dạng. Nếu chỉ làm việc cho Chúa mà không còn ở lại trong Chúa, công việc ấy có thể dần dần phục vụ cái tôi của mình hơn là phục vụ Nước Trời.
Có những người tu rất sợ mình thất bại trong công việc, nhưng lại ít sợ mình nguội lạnh trong cầu nguyện. Họ lo chương trình không thành công, lo bài giảng không hay, lo người khác không hài lòng, lo công trình không hoàn tất, lo cộng đoàn không công nhận, lo bề trên không đánh giá cao, lo giáo dân không ủng hộ, lo hình ảnh của mình không đẹp. Nhưng họ lại ít lo rằng mình đang ít gặp Chúa hơn trước, ít lắng nghe Chúa hơn trước, ít yêu Chúa hơn trước, ít để Chúa sửa dạy hơn trước. Đây là một đảo lộn rất nguy hiểm. Vì điều đáng sợ nhất không phải là một người tu làm ít việc hơn, nhưng là làm nhiều việc mà lòng không còn thuộc về Chúa. Điều đáng sợ nhất không phải là một người tu không được người đời biết đến, nhưng là được nhiều người biết đến mà chính Chúa lại trở thành người xa lạ trong lòng mình.
Khi cầu nguyện suy yếu, lời nói của người tu dễ trở thành rỗng. Không phải vì lời ấy sai. Có khi lời vẫn đúng, giáo lý vẫn chuẩn, thần học vẫn chặt chẽ, trích dẫn vẫn phong phú, giọng nói vẫn truyền cảm, cách trình bày vẫn hấp dẫn. Nhưng lời không còn phát xuất từ một trái tim đang cháy. Lời không còn mang mùi của thinh lặng. Lời không còn thấm nước mắt sám hối. Lời không còn đi ra từ cuộc gặp gỡ thật với Chúa. Lời ấy có thể gây ấn tượng, nhưng không đánh động. Có thể làm người nghe khen, nhưng không làm họ hoán cải. Có thể khiến người ta thích, nhưng không đưa họ về với Chúa. Vì lời rao giảng Kitô giáo không chỉ cần trí tuệ, mà cần lửa. Và lửa ấy không được sản xuất bởi kỹ thuật hùng biện, nhưng được đốt lên trong cầu nguyện.
Một bài giảng được chuẩn bị bằng sách vở là điều cần thiết. Một bài giảng được chuẩn bị bằng suy tư là điều đáng quý. Nhưng một bài giảng không được chuẩn bị trong cầu nguyện thì vẫn thiếu điều căn bản. Người giảng không chỉ chuyển thông tin về Chúa. Người giảng phải làm chứng cho Đấng mình đã gặp. Nếu không gặp Chúa trong cầu nguyện, người tu rất dễ nói về một Thiên Chúa như một đề tài, chứ không phải như một Đấng sống động. Khi ấy, bài giảng có thể trở thành một bài diễn thuyết tôn giáo. Lời khuyên có thể trở thành một bài học đạo đức. Việc mục vụ có thể trở thành kỹ năng ứng xử. Nhưng đằng sau tất cả, thiếu một điều làm cho mọi sự trở nên sống: sự hiện diện của Chúa trong trái tim người phục vụ.
Khi cầu nguyện suy yếu, hoạt động dễ trở thành phô trương. Vì nếu không kín múc căn tính nơi Chúa, người tu sẽ kín múc căn tính nơi thành tích. Nếu không để Chúa nói với mình trong thinh lặng: “Con là của Ta”, người tu sẽ đi tìm những tiếng nói khác: “Con giỏi, con hay, con quan trọng, con cần thiết, con được mến mộ, con không thể thiếu.” Từ đó, sứ vụ không còn là nơi mình tự hiến, mà là nơi mình được xác nhận. Người tu bắt đầu cần người khác khen mình, cần người khác chú ý đến mình, cần người khác công nhận mình, cần thành công để cảm thấy mình có giá trị. Khi ấy, phục vụ không còn trong sáng. Bên ngoài vẫn là phục vụ, nhưng bên trong đã có một nhu cầu rất tinh vi: nhu cầu được nhìn thấy, được nể phục, được nhắc tên, được đặt ở trung tâm.
Cầu nguyện thật là nơi cái tôi bị đặt lại đúng chỗ. Trước mặt Chúa, người tu không còn là nhân vật quan trọng. Trước mặt Chúa, mọi danh hiệu rơi xuống. Trước mặt Chúa, không còn vai diễn. Trước mặt Chúa, không còn bục giảng, không còn ghế danh dự, không còn lời khen, không còn tiếng vỗ tay, không còn hình ảnh phải giữ. Chỉ còn một con người nghèo nàn, yếu đuối, cần được thương xót. Chính vì thế mà người không cầu nguyện sâu thường rất khó khiêm nhường thật. Họ có thể nói về khiêm nhường, dạy về khiêm nhường, viết về khiêm nhường, nhưng lại dễ bị tổn thương khi không được chú ý, dễ nổi giận khi bị góp ý, dễ buồn khi không được khen, dễ ganh tị khi người khác được chọn, dễ cay đắng khi mình bị đặt sang một bên. Vì chỉ trong cầu nguyện, cái tôi mới được thanh luyện. Chỉ trong ánh sáng của Chúa, con người mới thấy mình thật sự là ai.
Khi cầu nguyện suy yếu, tương quan dễ thành tính toán. Người tu không còn nhìn người khác bằng ánh mắt của Chúa, nhưng bằng lợi ích, cảm xúc, phe nhóm, tiện ích và nhu cầu riêng. Ai ủng hộ mình thì mình gần. Ai làm mình khó chịu thì mình tránh. Ai có ích cho công việc của mình thì mình quý. Ai góp ý thật thì mình coi là đe dọa. Ai khen mình thì mình mở lòng. Ai chạm đến tự ái mình thì mình đóng cửa. Từ từ, đời sống cộng đoàn không còn là nơi anh chị em cùng tìm ý Chúa, mà trở thành nơi va chạm của những cái tôi chưa được cầu nguyện thanh luyện. Khi thiếu cầu nguyện, cộng đoàn rất dễ có nhiều cuộc họp nhưng ít hiệp thông, nhiều lời nói nhưng ít lắng nghe, nhiều quy định nhưng ít lòng thương xót, nhiều công việc chung nhưng ít tình huynh đệ thật.
Cầu nguyện không làm cho người tu trốn khỏi cộng đoàn. Cầu nguyện làm cho người tu trở về cộng đoàn với trái tim mềm hơn. Một người cầu nguyện thật không phải là người không bao giờ bị tổn thương, không bao giờ bực bội, không bao giờ mệt mỏi. Nhưng họ biết đem những tổn thương, bực bội, mệt mỏi ấy đặt trước Chúa, để không biến chúng thành độc tố trong tương quan. Họ biết thưa với Chúa trước khi nói với anh em. Họ biết khóc với Chúa trước khi trách người khác. Họ biết xin Chúa soi sáng trước khi quyết định. Họ biết để Chúa làm dịu những phản ứng nóng nảy trong lòng. Họ biết rằng không phải cảm xúc nào của mình cũng là tiếng nói của Thánh Thần. Họ biết phân định. Họ biết chờ. Họ biết im. Họ biết xin lỗi. Họ biết tha thứ. Tất cả những điều ấy không tự nhiên mà có. Chúng được sinh ra trong một đời sống cầu nguyện trung thành.
Khi cầu nguyện suy yếu, đời tu dễ bị thế tục hóa từ bên trong. Thế tục hóa không chỉ là yêu tiền, thích tiện nghi, tìm hưởng thụ hay chạy theo danh vọng bên ngoài. Thế tục hóa sâu hơn là sống như thể Thiên Chúa không còn là trung tâm. Một người tu vẫn có thể dùng ngôn ngữ đạo đức, vẫn sống trong môi trường tôn giáo, vẫn làm công việc nhà đạo, nhưng cách nghĩ, cách chọn lựa, cách phản ứng, cách đánh giá lại rất giống thế gian. Thành công được đo bằng số lượng. Giá trị được đo bằng hiệu quả. Sứ vụ được đo bằng tiếng vang. Con người được đo bằng khả năng đem lại lợi ích. Cộng đoàn được điều hành như một tổ chức thuần túy. Ơn gọi được nhìn như một vai trò. Khi cầu nguyện yếu đi, Chúa dần dần bị đẩy ra ngoài trung tâm, dù danh Chúa vẫn được nhắc đến rất nhiều.
Có lẽ một trong những bi kịch lớn nhất là người tu có thể quen với sự thánh thiêng đến mức không còn kinh ngạc trước sự thánh thiêng. Quen nhà nguyện. Quen bàn thờ. Quen Thánh Thể. Quen áo dòng. Quen lời kinh. Quen phụng vụ. Quen Lời Chúa. Quen các thuật ngữ đạo đức. Quen nghe người khác xưng tội, xin khuyên bảo, xin cầu nguyện. Quen đứng ở vị trí người hướng dẫn. Chính sự quen thuộc ấy, nếu không được nuôi dưỡng bằng lòng mến, có thể trở thành nguy cơ. Người ta có thể chạm vào những điều thánh mà lòng không còn run. Có thể đọc Lời Chúa mà không để Lời Chúa đọc lại đời mình. Có thể cử hành phụng vụ mà không để mầu nhiệm thánh làm mình khiêm cung. Có thể dâng Thánh lễ mà tâm hồn xa bàn thờ. Có thể cầu nguyện bằng môi miệng nhưng trái tim ở nơi khác.
Khủng hoảng cầu nguyện thường đi kèm với khủng hoảng thinh lặng. Người tu không cầu nguyện sâu thường sợ thinh lặng, vì trong thinh lặng, con người phải đối diện với sự thật về chính mình. Khi ồn ào, ta có thể quên mình. Khi bận rộn, ta có thể né tránh mình. Khi nói nhiều, ta có thể che giấu khoảng trống bên trong. Khi hoạt động liên tục, ta có thể không phải nghe tiếng lòng mình. Nhưng khi thinh lặng trước Chúa, mọi lớp vỏ bắt đầu rơi xuống. Ta thấy những điều mình không muốn thấy: sự nguội lạnh, sự ganh tị, sự kiêu căng, sự mệt mỏi, sự cô đơn, sự chán nản, sự giả hình, những vết thương chưa lành, những đam mê chưa được hoán cải, những lựa chọn chưa trong sáng. Vì thế, nhiều người không thật sự thiếu thời giờ cầu nguyện; họ thiếu can đảm bước vào cầu nguyện. Họ sợ gặp Chúa, vì gặp Chúa là gặp sự thật.
Nhưng chính sự thật ấy mới cứu người tu. Chúa không mời người tu cầu nguyện để kết án họ, nhưng để chữa lành họ. Chúa không kéo người tu vào thinh lặng để làm họ xấu hổ, nhưng để trả lại cho họ khuôn mặt thật. Chúa không soi sáng bóng tối trong lòng để nhục mạ họ, nhưng để giải phóng họ khỏi điều đang âm thầm giam cầm họ. Một người tu cầu nguyện thật sẽ dần dần hiểu rằng mình không cần phải tỏ ra mạnh mẽ trước mặt Chúa. Không cần phải diễn vai đạo đức trước mặt Chúa. Không cần phải giấu sự nghèo nàn của mình trước mặt Chúa. Không cần phải nói những lời đẹp đẽ mọi lúc. Có khi cầu nguyện chỉ là ngồi đó và thưa: “Lạy Chúa, con mệt.” Có khi cầu nguyện chỉ là khóc. Có khi cầu nguyện chỉ là im lặng vì không còn lời nào. Có khi cầu nguyện chỉ là đặt mình trước Thánh Thể với một trái tim khô cạn và xin Chúa đừng để mình bỏ cuộc. Đó cũng là cầu nguyện. Và có khi đó lại là cầu nguyện rất thật.
Người tu không được miễn trừ khỏi khô khan. Trái lại, người tu càng đi sâu càng có lúc phải đi qua sa mạc. Nhưng khô khan không nguy hiểm bằng bỏ cầu nguyện. Không cảm thấy gì không phải là thất bại. Không còn trung thành mới là nguy hiểm. Có những ngày cầu nguyện không thấy sốt sắng. Có những giờ chầu chỉ thấy nặng nề. Có những Thánh lễ lòng khô như đá. Có những buổi nguyện ngắm chỉ toàn chia trí. Có những mùa thiêng liêng tưởng như Chúa im lặng. Nhưng chính trong những lúc ấy, tình yêu được thanh luyện. Nếu chỉ cầu nguyện khi có cảm xúc, ta đang tìm sự an ủi của Chúa hơn là tìm chính Chúa. Nếu chỉ đến với Chúa khi lòng sốt sắng, ta chưa học yêu trong trung tín. Cầu nguyện trưởng thành không phải là lúc nào cũng ngọt ngào, nhưng là vẫn ở lại khi không còn ngọt ngào.
Đức Kitô trong Tin Mừng là mẫu gương tuyệt đối của đời sống cầu nguyện. Người là Con Thiên Chúa, nhưng Người vẫn cầu nguyện. Người bận rộn với đám đông, nhưng vẫn lánh riêng để cầu nguyện. Người chữa lành, rao giảng, trừ quỷ, an ủi, dạy dỗ, nhưng không để hoạt động nuốt mất tương quan với Cha. Người cầu nguyện trước những chọn lựa lớn. Người cầu nguyện trong đêm. Người cầu nguyện trên núi. Người cầu nguyện trong hoang địa. Người cầu nguyện trước cuộc thương khó. Người cầu nguyện trên thập giá. Cả đời Đức Giêsu là một đời hướng về Cha. Nếu chính Đức Giêsu còn cầu nguyện, thì người tu là ai mà có thể sống ơn gọi mà không cầu nguyện? Nếu Đấng Cứu Thế còn rút lui vào thinh lặng, thì người phục vụ Tin Mừng sao có thể nghĩ rằng mình quá bận để cầu nguyện?
Một trong những cám dỗ nguy hiểm của người làm việc tông đồ là nghĩ rằng công việc có thể thay thế cầu nguyện. Dĩ nhiên, làm việc vì Chúa cũng có thể trở thành lời cầu nguyện nếu được làm trong tình yêu và hiệp thông với Chúa. Nhưng điều ấy không có nghĩa là cứ làm việc nhiều thì tự động là cầu nguyện. Hoạt động chỉ trở thành cầu nguyện khi nó được sinh ra từ cầu nguyện và được đưa trở lại cầu nguyện. Nếu không, hoạt động chỉ là hoạt động. Thậm chí hoạt động tôn giáo có thể trở thành nơi làm ta xa Chúa hơn, nếu nó khiến ta kiêu căng, căng thẳng, cay đắng, tranh giành, tự mãn, nóng nảy và quên mất điều chính yếu. Làm việc cho Chúa không thể thay thế việc ở với Chúa. Phục vụ người nghèo không thể thay thế việc để lòng mình nghèo trước Chúa. Giảng dạy về Tin Mừng không thể thay thế việc để Tin Mừng hoán cải mình. Chăm sóc linh hồn người khác không thể thay thế việc để Chúa chăm sóc linh hồn mình.
Người tu mất cầu nguyện sẽ dần dần mất khả năng phân định. Khi không còn lắng nghe Chúa, người ta dễ lắng nghe cái tôi. Khi không còn quen với tiếng Chúa trong thinh lặng, người ta dễ lầm tiếng tham vọng là tiếng Thánh Thần, lầm sự bốc đồng là nhiệt thành, lầm thành công là dấu chỉ Chúa chúc lành, lầm sự chống đối của người khác là bách hại vì Tin Mừng, lầm ý riêng là ý Chúa. Không cầu nguyện, người tu rất dễ quyết định theo phản ứng, theo lợi ích, theo áp lực, theo dư luận, theo cảm xúc, theo phe nhóm. Cầu nguyện không làm mọi quyết định trở nên dễ dàng, nhưng giúp người tu khiêm tốn hơn, chậm lại hơn, biết hỏi Chúa hơn, biết nghi ngờ chính mình hơn, biết tìm ý Chúa hơn là bảo vệ ý mình.
Khủng hoảng cầu nguyện cũng làm người tu mất lòng thương xót. Điều này nghe có vẻ lạ, nhưng rất thật. Người ít cầu nguyện thường dễ trở nên cứng. Cứng trong phán xét. Cứng trong lời nói. Cứng trong cách đối xử. Cứng trong luật lệ. Cứng trong tương quan. Vì họ không còn thường xuyên đặt mình trước lòng thương xót của Chúa, nên họ quên rằng chính mình cũng là kẻ được thương xót. Người cầu nguyện thật biết mình yếu đuối, nên dễ cảm thông với yếu đuối của người khác. Người cầu nguyện thật biết mình được tha thứ, nên không vội kết án. Người cầu nguyện thật biết mình nhiều lần được Chúa kiên nhẫn, nên học kiên nhẫn với anh em. Trái lại, khi xa cầu nguyện, người tu dễ trở thành người quản lý đạo đức của người khác hơn là chứng nhân của lòng thương xót.
Cũng từ đó, người tu mất cầu nguyện dễ trở nên mệt mỏi và cay đắng. Vì làm việc mà không kín múc nơi Chúa thì sớm muộn cũng kiệt sức. Ban đầu là nhiệt thành. Sau đó là quá tải. Rồi là thất vọng vì người khác không hiểu mình. Rồi là bực bội vì không được cộng tác. Rồi là buồn vì không được công nhận. Rồi là cay đắng vì hy sinh nhiều mà kết quả ít. Rồi là trách móc Chúa, trách cộng đoàn, trách bề trên, trách giáo dân, trách thời cuộc. Nhưng đôi khi gốc rễ sâu xa không chỉ là công việc nhiều, mà là thiếu cầu nguyện. Không có cầu nguyện, người tu chỉ còn rút sức từ chính mình. Mà sức mình thì có hạn. Không có cầu nguyện, người tu cho đi mà không được đổ đầy lại. Không có cầu nguyện, người tu phục vụ nhưng không còn được tình yêu Chúa nâng đỡ bên trong. Vì thế, họ dễ cháy hết, dễ khô cạn, dễ trở nên khó tính, dễ nhìn mọi sự bằng đôi mắt mệt mỏi.
Cầu nguyện không lấy đi gánh nặng của sứ vụ, nhưng đặt gánh nặng ấy vào trong trái tim Chúa. Cầu nguyện không làm đời tu hết khó khăn, nhưng giúp người tu không mang khó khăn một mình. Cầu nguyện không làm cộng đoàn hết va chạm, nhưng giúp người tu đi qua va chạm với lòng khiêm nhường hơn. Cầu nguyện không làm mọi người yêu mình, nhưng giúp người tu không đánh mất tình yêu khi bị hiểu lầm. Cầu nguyện không làm sứ vụ luôn thành công, nhưng giúp người tu trung tín cả khi không thấy kết quả. Cầu nguyện không miễn trừ thập giá, nhưng giúp người tu vác thập giá trong hiệp thông với Đức Kitô.
Điều đáng buồn là đôi khi trong đời tu, người ta có thể coi cầu nguyện như việc dành cho người mới vào, người già, người ít việc, người không có khả năng hoạt động, hoặc người có khuynh hướng chiêm niệm đặc biệt. Còn những người đang “làm việc lớn” thì được ngầm cho phép cầu nguyện ít hơn. Đây là một sai lầm nghiêm trọng. Càng làm việc nhiều càng phải cầu nguyện nhiều. Càng có trách nhiệm càng phải quỳ gối nhiều. Càng được trao quyền càng phải ở lâu trước Chúa. Càng giảng dạy nhiều càng phải lắng nghe nhiều. Càng hướng dẫn người khác càng phải để mình được Chúa hướng dẫn. Càng đứng trước công chúng càng phải ẩn mình trước Thánh Thể. Vì nếu không, chính những ơn ban và khả năng Chúa trao có thể trở thành cạm bẫy cho linh hồn.
Người tu cần tự hỏi mình những câu hỏi rất thật. Tôi còn cầu nguyện hay chỉ đọc kinh? Tôi còn gặp Chúa hay chỉ hoàn tất bổn phận đạo đức? Tôi còn để Lời Chúa chất vấn mình hay chỉ dùng Lời Chúa để chất vấn người khác? Tôi còn có những giây phút thinh lặng thật trước Chúa hay đời tôi luôn bị lấp đầy bởi âm thanh, màn hình, công việc và các cuộc trò chuyện? Tôi còn biết quỳ gối trong phòng riêng không? Tôi còn biết xin Chúa thương xót mình không? Tôi còn khóc được trước Chúa không? Tôi còn thấy mình cần Chúa không? Hay tôi đã quá quen với việc làm người của Chúa đến mức không còn thật sự cần ở với Chúa?
Một dấu chỉ đáng sợ của khủng hoảng cầu nguyện là khi người tu không còn thấy thiếu Chúa. Khi bỏ cầu nguyện mà vẫn thấy bình thường, đó là một dấu hiệu nguy hiểm. Khi không nguyện ngắm mà vẫn thấy không sao, khi không chầu Thánh Thể mà lòng không nhớ, khi không đọc Lời Chúa mà tâm hồn không đói, khi không xét mình mà lương tâm không động, khi không thinh lặng mà vẫn thấy đời mình ổn, lúc ấy linh hồn có thể đã bị tê liệt. Người bệnh còn thấy đau thì vẫn còn tín hiệu để chữa. Nhưng khi vết thương nặng mà không còn cảm giác, đó là điều đáng lo hơn. Người tu sợ khô khan là tốt, nhưng phải sợ hơn tình trạng không còn biết mình khô khan.
Tuy nhiên, nói về khủng hoảng cầu nguyện không phải để kết án người tu, nhưng để đánh thức. Vì nhiều người tu không phải không yêu Chúa. Họ vẫn yêu Chúa, nhưng bị cuốn đi. Họ vẫn muốn sống thánh thiện, nhưng mệt mỏi. Họ vẫn muốn cầu nguyện, nhưng bị phân tán. Họ vẫn muốn trung tín, nhưng bị quá nhiều công việc kéo lôi. Họ vẫn muốn trở về, nhưng không biết bắt đầu từ đâu. Chúa không đứng ở cuối con đường để trách móc. Chúa đứng ở đầu con đường trở về để chờ đợi. Chúa không nói: “Tại sao con bỏ Ta?” bằng giọng kết án. Chúa hỏi: “Con có yêu mến Thầy không?” bằng giọng của Đấng vẫn còn tin tưởng, vẫn còn mời gọi, vẫn còn trao cơ hội.
Trở về với cầu nguyện không nhất thiết bắt đầu bằng những quyết tâm lớn lao. Đôi khi bắt đầu bằng một việc rất nhỏ: trở lại nhà nguyện năm phút với tất cả sự thật của lòng mình. Tắt điện thoại một lúc. Đọc một đoạn Tin Mừng chậm hơn. Quỳ trước Thánh Thể mà không cần nói nhiều. Thưa với Chúa một câu thật lòng: “Lạy Chúa, con đã xa Chúa.” Xin ơn biết cầu nguyện lại. Xin ơn biết thinh lặng lại. Xin ơn biết yêu Chúa lại. Xin ơn biết khóc vì sự nguội lạnh của mình. Xin ơn biết bắt đầu lại mà không tự kết án. Đời sống thiêng liêng nhiều khi được phục hồi không phải bằng những biến cố lớn, nhưng bằng những trung tín nhỏ được lặp lại mỗi ngày.
Người tu cần bảo vệ giờ cầu nguyện như bảo vệ chính ơn gọi của mình. Có những cuộc hẹn có thể dời. Có những công việc có thể sắp xếp lại. Có những tin nhắn có thể trả lời sau. Có những chương trình có thể bớt đi. Có những cuộc nói chuyện không cần kéo dài. Nhưng nếu giờ cầu nguyện luôn là thứ bị hy sinh đầu tiên, thì sớm muộn gì đời tu cũng phải trả giá. Người ta thường nói: “Tôi bận quá nên không có giờ cầu nguyện.” Nhưng đôi khi sự thật là: vì không cầu nguyện nên tôi không còn biết sắp xếp đời mình theo điều chính yếu. Cầu nguyện không chỉ cần thời gian; cầu nguyện còn sắp xếp lại thời gian. Cầu nguyện giúp người tu phân biệt điều cần và điều phụ, điều Chúa muốn và điều mình thích, điều sinh ơn cứu độ và điều chỉ gây ồn ào.
Cũng cần nói đến cám dỗ của thời đại kỹ thuật số. Người tu hôm nay có thể bị kéo ra khỏi đời sống nội tâm bởi màn hình. Mỗi lúc rảnh là cầm điện thoại. Mỗi khoảng trống là lướt tin. Mỗi giây thinh lặng là bị lấp đầy bởi hình ảnh, âm thanh, thông báo, bình luận, tin tức, phản hồi. Dần dần, khả năng ở một mình trước Chúa bị suy yếu. Tâm trí quen với tốc độ nhanh nên không còn chịu nổi nhịp chậm của cầu nguyện. Trái tim quen với kích thích bên ngoài nên không còn nhạy với tiếng nói rất nhẹ của Chúa. Người tu có thể đọc rất nhiều thông tin tôn giáo, xem rất nhiều nội dung đạo đức, nghe rất nhiều bài chia sẻ, đăng rất nhiều câu Lời Chúa, nhưng vẫn không cầu nguyện thật. Tiêu thụ nội dung đạo đức không đồng nghĩa với gặp gỡ Thiên Chúa. Chia sẻ câu Lời Chúa trên mạng không thay thế việc để Lời Chúa cắt tỉa lòng mình.
Cầu nguyện đòi người tu phải chấp nhận nghèo đi. Nghèo về tiếng ồn. Nghèo về kiểm soát. Nghèo về hình ảnh. Nghèo về cái tôi. Khi cầu nguyện thật, người tu không điều khiển Chúa. Người tu để Chúa dẫn. Không dùng Chúa để củng cố kế hoạch riêng. Không dùng cầu nguyện để xin Chúa hợp thức hóa điều mình đã quyết. Không đến với Chúa như đến với một người phải phục vụ dự án của mình. Cầu nguyện thật là mở lòng để Chúa thay đổi mình. Đây là điều khó. Vì nhiều khi ta muốn Chúa giúp ta thành công hơn, nhưng Chúa lại muốn ta khiêm nhường hơn. Ta muốn Chúa làm cho người khác hiểu ta, nhưng Chúa lại muốn ta học yêu trong âm thầm. Ta muốn Chúa cất thập giá, nhưng Chúa lại muốn ta ở gần Đức Kitô chịu đóng đinh. Ta muốn Chúa ban cảm xúc sốt sắng, nhưng Chúa lại ban một sự trung tín trần trụi. Ta muốn Chúa chứng minh ta đúng, nhưng Chúa lại mời ta sám hối.
Đời tu không thể được canh tân nếu không canh tân cầu nguyện. Mọi chương trình cải tổ, mọi kế hoạch đào tạo, mọi điều chỉnh cơ cấu, mọi chiến lược mục vụ, mọi khóa học kỹ năng, mọi hội nghị, mọi bản định hướng đều cần thiết ở mức nào đó. Nhưng nếu người tu không trở về với Chúa trong cầu nguyện, những cải tổ ấy chỉ chạm đến bề mặt. Gốc rễ của đời tu không nằm ở hiệu quả tổ chức, mà nằm ở sự thuộc về Đức Kitô. Một hội dòng mạnh không phải trước hết là hội dòng có nhiều cơ sở, nhiều nhân sự, nhiều hoạt động, nhiều ảnh hưởng, nhưng là hội dòng có những con người biết cầu nguyện, biết sám hối, biết yêu mến Chúa, biết sống huynh đệ, biết đặt ý Chúa trên ý riêng, biết để Tin Mừng sửa mình mỗi ngày.
Cộng đoàn tu trì cần trở thành trường dạy cầu nguyện, chứ không chỉ là nơi phân công công việc. Nhà dòng không chỉ là nơi người ta sống chung, ăn chung, làm chung, họp chung, nhưng là nơi người ta cùng nhau tìm Chúa. Nếu trong cộng đoàn, giờ cầu nguyện bị làm cho qua, phụng vụ bị cử hành vội vàng, thinh lặng bị coi nhẹ, Lời Chúa không còn được chia sẻ thật lòng, xét mình bị bỏ quên, linh hướng bị xem thường, thì đời tu sẽ yếu từ bên trong. Người trẻ bước vào đời tu không chỉ cần học kỹ năng mục vụ; họ cần thấy những người đi trước cầu nguyện. Họ cần thấy một linh mục, một tu sĩ già quỳ gối với lòng khiêm hạ. Họ cần thấy cộng đoàn thinh lặng trước Thánh Thể. Họ cần thấy những con người tuy bận rộn nhưng không bỏ Chúa. Gương cầu nguyện có sức đào tạo mạnh hơn nhiều bài giảng về cầu nguyện.
Một người tu cầu nguyện thật không nhất thiết là người nói nhiều về cầu nguyện. Đôi khi họ rất âm thầm. Nhưng ở gần họ, người ta cảm thấy có một sự bình an. Không phải bình an giả tạo, nhưng là bình an của người đã đặt đời mình trong tay Chúa. Lời họ nói có trọng lượng vì lời ấy đi ra từ thinh lặng. Sự hiện diện của họ có sức nâng đỡ vì họ không tìm chiếm chỗ. Cách họ lắng nghe làm người khác được chữa lành vì họ đã quen lắng nghe Chúa. Cách họ phục vụ không ồn ào nhưng sâu. Cách họ sửa dạy không làm người khác bị nghiền nát, vì trong họ có lòng thương xót. Cách họ chịu đựng hiểu lầm không cay đắng, vì họ đã học đặt mình trước Đấng thấu suốt mọi sự. Cầu nguyện thật làm cho người tu trở nên nhân hậu hơn, tự do hơn, trong suốt hơn và thuộc về Chúa hơn.
Đời tu hôm nay không thiếu người tài. Có nhiều người tu học cao, nói hay, làm giỏi, tổ chức tốt, thích nghi nhanh, hiểu công nghệ, có khả năng truyền thông, có tầm nhìn xã hội. Tất cả đều là ơn Chúa nếu được đặt đúng chỗ. Nhưng đời tu sẽ rất nguy hiểm nếu có nhiều người tài mà ít người thánh, nhiều người hoạt động mà ít người cầu nguyện, nhiều người phát biểu mà ít người thinh lặng, nhiều người xây dựng công trình mà ít người để Chúa xây dựng nội tâm, nhiều người lo thay đổi thế giới mà ít người để Chúa thay đổi lòng mình. Giáo Hội không chỉ cần những chuyên viên tôn giáo. Giáo Hội cần những chứng nhân. Mà chứng nhân chỉ được sinh ra từ cuộc gặp gỡ thật với Chúa.
Vì thế, lời mời gọi cấp bách dành cho đời tu hôm nay là: hãy trở về nhà nguyện. Hãy trở về với Thánh Thể. Hãy trở về với Lời Chúa. Hãy trở về với thinh lặng. Hãy trở về với những giờ cầu nguyện không ai thấy. Hãy trở về với nước mắt sám hối. Hãy trở về với lời thưa đơn sơ: “Lạy Chúa, con đây.” Đừng để đời tu chỉ còn là một chuỗi bổn phận. Đừng để sứ vụ chỉ còn là một lịch làm việc. Đừng để bài giảng chỉ còn là sản phẩm trí tuệ. Đừng để cộng đoàn chỉ còn là một cơ chế. Đừng để ơn gọi chỉ còn là danh xưng. Đừng để người tu nói về Chúa thật nhiều nhưng trong sâu thẳm lại ít nói với Chúa đến mức Chúa trở thành khách lạ trong chính đời mình.
Cầu nguyện là nơi người tu được tái sinh mỗi ngày. Mỗi lần trở về với Chúa, người tu được nhắc rằng mình không phải là cứu tinh. Chỉ Đức Kitô là Đấng Cứu Độ. Mình không phải là trung tâm. Chỉ Thiên Chúa là trung tâm. Mình không sở hữu sứ vụ. Sứ vụ thuộc về Chúa. Mình không cứu thế giới bằng tài năng của mình. Mình chỉ cộng tác với ân sủng. Mình không cần phải chứng minh giá trị của mình bằng thành công. Mình đã được yêu trước khi làm được bất cứ điều gì. Đây là tự do lớn lao của người cầu nguyện. Và chỉ người tự do như thế mới có thể phục vụ cách trong sáng.
Có lẽ Chúa đang hỏi từng người tu hôm nay, không phải trước hết: “Con đã làm được bao nhiêu việc cho Ta?” nhưng là: “Con có còn ở với Ta không?” Không phải: “Người ta nói gì về con?” nhưng là: “Con có còn nghe tiếng Ta không?” Không phải: “Con có thành công không?” nhưng là: “Con có còn yêu mến Ta không?” Không phải: “Con có được nhiều người biết đến không?” nhưng là: “Trong nơi kín ẩn, con có còn tìm Ta không?” Những câu hỏi ấy không dễ nghe, nhưng là những câu hỏi cứu đời tu khỏi rỗng ruột. Vì đời tu chỉ thật sự là đời tu khi nó còn là một chuyện tình với Đức Kitô.
Nếu một ngày nào đó, người tu thấy mình đã cầu nguyện quá ít, đừng tuyệt vọng. Hãy bắt đầu lại. Nếu thấy lòng mình khô cạn, hãy đem chính sự khô cạn ấy đến với Chúa. Nếu thấy mình đã nói về Chúa nhiều hơn nói với Chúa, hãy im lại một chút để nghe Chúa. Nếu thấy mình đã bị công việc cuốn đi, hãy dừng lại để nhớ Đấng đã gọi mình. Nếu thấy mình đã đánh mất lửa ban đầu, hãy xin Chúa thổi lại Thần Khí. Chúa không chê trái tim nghèo. Chúa chỉ cần một trái tim thật. Chúa không đòi người tu trở về với vẻ hoàn hảo giả tạo. Chúa mời người tu trở về với lòng khiêm nhường.
Đời tu sẽ được chữa lành không phải khi người tu biết nói những lời đạo đức hơn, nhưng khi họ biết quỳ gối thật hơn. Đời tu sẽ được canh tân không phải khi có thêm nhiều hoạt động hơn, nhưng khi hoạt động được sinh ra từ chiêm niệm. Đời tu sẽ có sức sống không phải khi người tu được người đời ngưỡng mộ hơn, nhưng khi họ thuộc về Đức Kitô sâu hơn. Đời tu sẽ có lửa không phải nhờ những chiến lược bên ngoài, nhưng nhờ những trái tim âm thầm cháy trước Thánh Thể. Đời tu sẽ đẹp không phải vì người tu không yếu đuối, nhưng vì giữa yếu đuối, họ biết trở về với Chúa mỗi ngày.
Khủng hoảng cầu nguyện là một lời cảnh báo, nhưng cũng là một lời mời gọi. Nó cảnh báo rằng đời tu có thể đánh mất linh hồn nếu đánh mất cầu nguyện. Nhưng nó cũng mời gọi người tu trở về nguồn. Nguồn ấy không phải là thành tích, không phải là tiếng khen, không phải là chức vụ, không phải là cơ sở, không phải là ảnh hưởng, không phải là khả năng, nhưng là chính Đức Kitô. Người vẫn đang chờ. Người chờ không phải để trách, nhưng để ôm lấy. Người chờ không phải để lấy lại sứ vụ, nhưng để trả lại cho sứ vụ linh hồn của nó. Người chờ không phải để dập tắt người tu đã mệt mỏi, nhưng để thắp lại ngọn lửa ban đầu.
Ước gì mỗi người tu dám trở về với câu hỏi căn bản nhất: tôi có còn cầu nguyện thật không? Không phải cầu nguyện để người khác thấy. Không phải cầu nguyện vì luật buộc. Không phải cầu nguyện như một nghi thức phải hoàn tất. Nhưng cầu nguyện như người con trở về với Cha. Cầu nguyện như người môn đệ tựa đầu vào ngực Thầy. Cầu nguyện như người nghèo chìa tay xin bánh. Cầu nguyện như người khát tìm nguồn nước. Cầu nguyện như người lữ hành giữa sa mạc tìm bóng mát. Cầu nguyện như người tội lỗi tìm lòng thương xót. Cầu nguyện như người được yêu tìm Đấng đã yêu mình trước.
Khi người tu cầu nguyện lại, lời giảng sẽ có hồn hơn. Khi người tu cầu nguyện lại, cộng đoàn sẽ bớt lạnh hơn. Khi người tu cầu nguyện lại, sứ vụ sẽ trong sáng hơn. Khi người tu cầu nguyện lại, tương quan sẽ nhân hậu hơn. Khi người tu cầu nguyện lại, những vết thương sẽ được chữa lành từ bên trong. Khi người tu cầu nguyện lại, cái tôi sẽ nhỏ xuống và Đức Kitô sẽ lớn lên. Khi người tu cầu nguyện lại, đời tu sẽ không còn là một nghề tôn giáo, nhưng trở lại là một hiến lễ tình yêu.
Vì cuối cùng, đời tu không được đo bằng việc người tu nói về Chúa hay đến đâu, nhưng bằng việc họ thuộc về Chúa sâu đến mức nào. Không được đo bằng số công trình đã xây, số bài đã giảng, số người đã biết đến, số chương trình đã tổ chức, nhưng bằng mức độ trái tim họ được Đức Kitô chiếm lấy. Một người tu cầu nguyện có thể âm thầm, nhưng họ là mạch nước ngầm nuôi Giáo Hội. Một người tu cầu nguyện có thể không nổi bật, nhưng họ giữ cho thế giới khỏi khô cạn. Một người tu cầu nguyện có thể không làm những việc lẫy lừng, nhưng sự hiện diện của họ là một lời nhắc: Thiên Chúa là đủ.
Xin cho đời tu hôm nay đừng đánh mất nhà nguyện giữa những công trình. Đừng đánh mất Thánh Thể giữa những chương trình. Đừng đánh mất thinh lặng giữa những tiếng nói. Đừng đánh mất Chúa giữa những việc làm cho Chúa. Xin cho người tu biết trở về quỳ gối, vì chỉ khi quỳ gối trước Chúa, họ mới đứng vững trước thế gian. Chỉ khi nói với Chúa thật nhiều trong thinh lặng, họ mới có thể nói về Chúa cách có sức cứu độ. Chỉ khi để Chúa yêu mình trong cầu nguyện, họ mới có thể yêu dân Chúa bằng một tình yêu không pha lẫn ích kỷ. Và chỉ khi đời tu bắt nguồn từ cầu nguyện, đời tu mới thật sự trở thành dấu chỉ sống động của Nước Trời giữa lòng thế giới hôm nay.
Lm. Anmai, CSsR


















