MẢNH VỤN SUY TƯ VỀ SUY TÔN THÁNH GIÁ Lm. Anmai, CSsR  

26

MẢNH VỤN SUY TƯ VỀ SUY TÔN THÁNH GIÁ
Lm. Anmai, CSsR

VÀI LỜI
Có những mầu nhiệm của đức tin càng nói càng thấy mình bất lực, bởi lời nói của con người quá nhỏ trước chiều sâu của Thiên Chúa. Thánh Giá là một mầu nhiệm như thế. Người ta có thể viết rất nhiều về Thánh Giá, có thể giảng rất nhiều về Thánh Giá, có thể suy tư bằng thần học, triết học, linh đạo, Kinh Thánh và cả kinh nghiệm đau khổ của con người, nhưng cuối cùng vẫn phải dừng lại trong thinh lặng trước một Đấng bị đóng đinh, bởi Thánh Giá không chỉ là một vấn đề để hiểu mà trước hết là một mầu nhiệm để chiêm ngắm, để yêu, để quỳ xuống và để sống. Cuốn sách này được hình thành từ chính thao thức đó. Tôi không có tham vọng giải thích hết Thánh Giá, càng không muốn biến Thánh Giá thành một hệ thống tư tưởng khô cứng. Những trang sách này chỉ mong đưa người đọc đến gần hơn với Đức Giêsu chịu đóng đinh, để trong ánh sáng từ Thánh Giá, mỗi người có thể nhìn lại Thiên Chúa, nhìn lại chính mình, nhìn lại đau khổ, tội lỗi, tình yêu, tự do, Hội Thánh, thế giới và cả cuộc đời rất thật của mình.
Thánh Giá đã trở nên quá quen thuộc với người Kitô hữu. Ta gặp Thánh Giá trên tháp nhà thờ, trên bàn thờ, trong phòng ngủ, nơi nghĩa trang, trên cổ áo, trong chuỗi Mân Côi, trong các nghi thức phụng vụ và trong những lời kinh mỗi ngày. Chính vì quá quen, ta có nguy cơ không còn ngỡ ngàng nữa. Ta có thể làm dấu Thánh Giá rất nhanh mà không nghĩ đến Đấng đã chết trên đó. Ta có thể hôn Thánh Giá mà lòng vẫn đầy cay đắng. Ta có thể treo Thánh Giá thật đẹp trong nhà mà lại không chịu nổi một chút hy sinh trong gia đình. Ta có thể rước Thánh Giá trong những cuộc kiệu trang trọng nhưng lại tìm mọi cách chạy trốn thập giá nhỏ bé của bổn phận, của tha thứ, của kiên nhẫn, của âm thầm phục vụ. Vì thế, điều cần thiết không phải là làm cho Thánh Giá trở nên mới, bởi Thánh Giá đã luôn luôn mới, nhưng là xin cho đôi mắt đức tin của ta được mới lại để thấy điều mình đã nhìn quá lâu mà chưa thật sự thấy.
Nếu có một nơi nào cho ta biết Thiên Chúa là ai, đó chính là Thánh Giá. Trên Thánh Giá, Thiên Chúa không còn được diễn tả bằng những khái niệm xa xôi. Người có một khuôn mặt bị đánh đập, một thân thể đầy thương tích, một trái tim bị đâm thâu và hai cánh tay mở rộng. Trên Thánh Giá, Thiên Chúa không đứng ngoài nỗi đau của con người để đưa ra những lời giải thích. Người bước vào nỗi đau ấy. Người không cứu nhân loại từ một khoảng cách an toàn. Người cứu bằng chính thân mình. Người không chỉ nói rằng Người yêu thế gian; Người để cho tình yêu ấy bị đóng đinh giữa trời và đất. Bởi thế, muốn biết tình yêu Thiên Chúa sâu đến đâu, hãy nhìn Thánh Giá. Muốn biết tội lỗi con người nghiêm trọng thế nào, hãy nhìn Thánh Giá. Muốn biết con người quý giá đến đâu trong mắt Thiên Chúa, cũng hãy nhìn Thánh Giá. Một Thiên Chúa không tiếc Con Một mình thì con người không thể là một tạo vật vô nghĩa.
Thánh Giá cũng là nơi con người bị đặt trước sự thật về chính mình. Ta thích nghĩ mình tốt, nhưng dưới chân Thánh Giá ta thấy khả năng tàn nhẫn của tội lỗi. Ta thích nghĩ mình trung thành, nhưng nơi đó có Phêrô đã chối Thầy. Ta thích nghĩ mình can đảm, nhưng phần lớn các môn đệ đã bỏ chạy. Ta thích nghĩ mình công bằng, nhưng nơi đó một người vô tội bị kết án bởi sự thỏa hiệp của quyền lực, đám đông và sợ hãi. Đồng thời, chính dưới chân Thánh Giá, ta lại thấy con người có khả năng trở nên đẹp biết bao khi biết ở lại với tình yêu: Đức Maria đứng đó, người môn đệ Chúa yêu đứng đó, những người phụ nữ trung thành đứng đó, và một người trộm hấp hối chỉ bằng một lời cầu xin đã được nghe lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Thánh Giá không chỉ vạch trần bóng tối. Thánh Giá còn mở ra hy vọng.
Những suy tư trong cuốn sách này đi qua nhiều chiều kích của mầu nhiệm Thánh Giá: Thánh Giá và tình yêu Thiên Chúa, Thánh Giá và đau khổ, Thánh Giá và sự dữ, Thánh Giá và tự do, Thánh Giá và sự tha thứ, Thánh Giá và Hội Thánh, Thánh Giá và đời sống thiêng liêng, Thánh Giá và những khủng hoảng của con người hiện đại. Có những trang mang sắc thái thần học, có những trang gần với đời sống mục vụ, có những trang chỉ là những suy niệm rất gần với nước mắt của đời người. Nhưng tất cả đều quy về một trung tâm duy nhất: Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Bởi nếu tách Thánh Giá khỏi Đức Kitô, Thánh Giá chỉ còn là một dụng cụ hành hình. Nếu tách Thánh Giá khỏi Phục Sinh, Kitô giáo sẽ biến thành một tôn giáo của đau buồn. Nhưng nếu nhìn Thánh Giá trong toàn bộ mầu nhiệm Vượt Qua, ta hiểu rằng đau khổ không có tiếng nói cuối cùng, tội lỗi không có tiếng nói cuối cùng, sự dữ không có tiếng nói cuối cùng và ngay cả cái chết cũng không có tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng thuộc về tình yêu.
Cuốn sách này không được viết cho những người đã có tất cả câu trả lời. Nó được viết cho những ai đang mang trong lòng một câu hỏi. Tại sao Chúa để điều này xảy đến với tôi? Tại sao người tốt lại đau khổ? Tại sao có những lời cầu nguyện tưởng như không được nghe? Tại sao phải tha thứ? Tại sao phải từ bỏ mình? Tại sao phải vác thập giá? Thiên Chúa ở đâu khi con người đau? Có ý nghĩa gì trong những mất mát không thể bù lại? Có hy vọng nào cho một người đã bị cuộc đời làm cho tan vỡ? Những trang sách này không dám hứa sẽ trả lời tất cả. Có những câu hỏi chỉ được trả lời khi ta gặp Chúa. Nhưng Thánh Giá cho ta một điều có lẽ còn quý hơn câu trả lời: Thánh Giá cho ta biết rằng trong mọi vực sâu, có Một Đấng đã đi xuống trước ta. Trong mọi cô đơn, có Một Đấng đã từng kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Trong mọi vết thương, có Một Đấng mang thương tích. Trong mọi cái chết, có Một Đấng đã chết. Và vì Người đã sống lại, không vực sâu nào còn hoàn toàn không có lối ra.
Tôi ước mong người đọc đừng đọc cuốn sách này quá vội. Có những đoạn nên dừng lại. Có những câu nên mang vào giờ cầu nguyện. Có những trang nên đọc trước Thánh Giá. Và có những lúc tốt nhất là khép sách lại, nhìn lên Đấng chịu đóng đinh và thinh lặng. Bởi mục đích sau cùng của một cuốn sách về Thánh Giá không phải là để người đọc biết thêm thật nhiều điều về Thánh Giá, mà là để yêu Chúa hơn, để biết mình được yêu hơn, để biết tha thứ hơn, để can đảm hơn trước đau khổ, để tự do hơn trước cái tôi và để sống đời mình như một lễ dâng.
Tôi cũng xin người đọc nhớ rằng suy tôn Thánh Giá không có nghĩa là suy tôn đau khổ. Kitô giáo không yêu đau khổ vì đau khổ. Thiên Chúa không vui khi thấy con người bị nghiền nát. Chúa Giêsu đã chữa bệnh, đã cho kẻ đói ăn, đã khóc trước mồ Ladarô, đã giải thoát những người bị đè nặng. Điều được suy tôn nơi Thánh Giá không phải là cây gỗ, chiếc đinh hay sự tàn bạo của con người, mà là tình yêu đã biến một dụng cụ tử hình thành cây sự sống. Điều ta tôn kính không phải là đau khổ tự nó, mà là Đức Kitô đã yêu trong đau khổ, đã tha thứ trong đau khổ, đã vâng phục trong đau khổ và đã biến chính nơi thất bại thành nơi cứu độ. Vì thế, học Thánh Giá là học cách không để đau khổ trở nên vô ích; học cách để tình yêu đi qua đau khổ mà không chết; học cách biến điều ta không thể tránh thành một lễ dâng khi có thể; đồng thời cũng học can đảm chống lại những đau khổ do bất công, bạo lực và tội lỗi gây nên.
Có lẽ người Kitô hữu không bao giờ tốt nghiệp khỏi trường học của Thánh Giá. Mỗi tuổi đời ta lại hiểu Thánh Giá theo một cách khác. Khi trẻ, ta nghĩ Thánh Giá là những hy sinh lớn lao. Khi trưởng thành, ta khám phá nhiều thập giá chỉ là bổn phận hằng ngày. Khi bị phản bội, ta hiểu một chút về nỗi cô đơn của Đức Giêsu. Khi phải tha thứ, ta hiểu một chút về lời “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Khi bất lực trước bệnh tật, ta hiểu một chút về việc trao mình vào tay Chúa Cha. Khi mất người mình yêu, ta hiểu một chút về tiếng khóc dưới chân Thánh Giá. Và khi chính mình đến gần cái chết, có lẽ lúc ấy ta mới hiểu sâu hơn câu: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Tôi viết những trang này không phải như một người đã hiểu hết Thánh Giá, nhưng như một người vẫn đang học đứng dưới chân Thánh Giá. Càng đi qua đời mục vụ, càng gặp nhiều phận người, càng nghe nhiều câu chuyện vui buồn, càng chứng kiến những giọt nước mắt âm thầm của các gia đình, những đau khổ của người bệnh, những cuộc chiến nội tâm của người trẻ, những khủng hoảng của người sống đời thánh hiến, những cô đơn của người già, tôi càng thấy rằng cuối cùng con người không chỉ cần một lời giải thích. Con người cần một Đấng ở lại. Và Đức Giêsu chịu đóng đinh chính là Thiên Chúa ở lại với con người đến cùng. Người không rời khỏi Thánh Giá để chứng minh quyền năng. Người ở lại để chứng minh tình yêu.
Nếu cuốn sách này có thể giúp một người đang đau khổ bớt tuyệt vọng, một người đang giận dữ biết tha thứ, một người đang sợ hãi biết phó thác, một người đang sống vị kỷ biết mở lòng, một người đã quá quen với Thánh Giá biết nhìn lại Thánh Giá bằng đôi mắt mới, thì những trang viết này đã đạt được điều tôi mong ước. Và nếu sau khi đọc xong, người ta không nhớ nhiều về những gì tác giả đã viết nhưng lại nhớ hơn đến Đức Giêsu chịu đóng đinh, thì đó là điều đẹp nhất.
Xin đặt tất cả những trang sách này dưới chân Thánh Giá Chúa Kitô, nơi máu và nước đã chảy ra, nơi tình yêu đã đi đến tận cùng, nơi Hội Thánh được sinh ra, nơi mọi vết thương của nhân loại được mang lấy và nơi hy vọng Phục Sinh đã âm thầm bắt đầu. Xin cho mỗi người cầm cuốn sách này cũng nghe được lời mời gọi rất riêng của Chúa: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Và xin cho chúng ta hiểu rằng vác Thánh Giá không phải là đi vào ngõ cụt, nhưng là bước theo Đấng đã đi xuyên qua cái chết để mở đường vào sự sống.
Thánh Giá không phải lời cuối của đau khổ. Thánh Giá là lời đầu của một tình yêu không bao giờ thất bại.
Lm. Anmai, CSsR


THÁNH GIÁ – DẤU CHỈ CHIẾN THẮNG CỦA TÌNH YÊU THIÊN CHÚA
Có lẽ không có một dấu chỉ nào vừa quen thuộc lại vừa nhiệm mầu đối với đời sống Kitô hữu cho bằng Thánh Giá. Chúng ta nhìn thấy Thánh Giá trên nóc nhà thờ, trên bàn thờ, trong các gia đình, nơi nghĩa trang, trên cổ của người tín hữu, nơi đầu giường của người đau bệnh, trong tay người hấp hối, trên những nấm mộ đã phủ màu thời gian. Chúng ta làm dấu Thánh Giá khi thức dậy, trước khi ăn, trước một chuyến đi, khi bắt đầu cầu nguyện, khi đứng trước một thử thách, khi nghe một tin buồn, và nhiều khi ngay cả trong những giây phút chẳng còn biết nói gì với Chúa nữa. Thánh Giá đã đi vào đời người Kitô hữu cách âm thầm như hơi thở. Thế nhưng có một nghịch lý rất lớn: chúng ta có thể mang Thánh Giá trên mình mà vẫn chưa hiểu hết Thánh Giá; có thể làm dấu Thánh Giá mỗi ngày mà vẫn sợ con đường Thánh Giá; có thể quỳ trước tượng Chúa chịu đóng đinh mà lòng vẫn không chấp nhận những mất mát, tổn thương và hy sinh đang xảy đến trong đời mình. Bởi lẽ Thánh Giá không chỉ là một vật đạo đức để chúng ta kính nhớ, cũng không chỉ là một biểu tượng để phân biệt người Kitô hữu với những người khác. Thánh Giá trước hết là một biến cố. Trên cây gỗ ấy, tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại đã được nói ra bằng một thứ ngôn ngữ mạnh hơn mọi lời nói. Trên cây gỗ ấy, Thiên Chúa không giải thích tình yêu mà chính Người trở thành tình yêu bị trao nộp. Trên cây gỗ ấy, Con Thiên Chúa dang đôi tay như muốn ôm lấy cả một nhân loại đang chạy trốn Thiên Chúa. Vì thế, khi nhìn lên Thánh Giá, người Kitô hữu không chỉ nhìn thấy đau khổ. Nếu chỉ nhìn thấy đau khổ thì chúng ta chưa nhìn đến tận cùng. Nếu chỉ nhìn thấy đinh sắt, mão gai, máu và nước mắt thì chúng ta mới dừng lại ở bề mặt của mầu nhiệm. Phía sau tất cả những đau đớn ấy là một tình yêu không rút lui. Đó mới là điều làm nên chiến thắng của Thánh Giá.
Ngày Đức Giêsu bị đóng đinh, chẳng ai đứng dưới chân đồi Canvê nghĩ rằng Người đang chiến thắng. Mọi dấu hiệu bên ngoài đều nói về thất bại. Người bị bắt như một tội nhân, bị môn đệ phản bội, bị bạn hữu bỏ chạy, bị người ta chế nhạo, bị quân lính đánh đập, bị kết án và cuối cùng bị treo giữa hai tên gian phi. Một người đã từng chữa lành bao kẻ bệnh tật giờ đây không tự cứu mình. Một người đã từng làm cho kẻ chết sống lại giờ đây đang tiến dần tới cái chết. Một người từng được dân chúng tung hô khi vào thành Giêrusalem giờ đây chỉ còn nghe những tiếng nhạo cười. Nếu nhìn bằng cái nhìn của thế gian, Canvê là nơi mọi hy vọng bị chôn vùi. Nhưng chính tại nơi con người tưởng rằng Thiên Chúa thất bại, quyền năng kỳ diệu nhất của Thiên Chúa lại được tỏ hiện. Quyền năng ấy không phải là sức mạnh tiêu diệt kẻ thù, nhưng là sức mạnh yêu kẻ thù; không phải là khả năng tránh né đau khổ, nhưng là khả năng đi xuyên qua đau khổ mà vẫn không đánh mất tình yêu; không phải là quyền lực buộc người khác phải quỳ xuống, nhưng là tình yêu khiến chính Thiên Chúa cúi xuống rửa chân cho con người và cuối cùng để con người đóng đinh mình vào thập giá. Chúng ta thường nghĩ chiến thắng nghĩa là người khác thua. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu cho thấy một chiến thắng hoàn toàn khác: chiến thắng không cần có một người bị đánh bại, bởi điều Người muốn đánh bại không phải là con người nhưng là tội lỗi, hận thù và sự chết. Người không chiến thắng bằng cách giết kẻ giết mình. Người chiến thắng bằng cách yêu ngay cả những người đang giết mình.
Tin Mừng theo thánh Gioan ghi lại một câu rất ngắn nhưng chứa đựng cả một vực sâu của tình yêu: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Tin Mừng không nói Thiên Chúa yêu những người hoàn hảo, cũng không nói Thiên Chúa chỉ yêu những người tốt lành, đạo đức, ngoan ngoãn. Tin Mừng nói: Thiên Chúa yêu thế gian. Mà “thế gian” ấy có cả ánh sáng lẫn bóng tối, có lòng trung thành của Gioan nhưng cũng có sự phản bội của Giuđa, có nước mắt sám hối của Phêrô nhưng cũng có tiếng la ó của đám đông, có những con người tìm kiếm Thiên Chúa nhưng cũng có những kẻ quay lưng với Người. Chính thế gian ấy đã được Thiên Chúa yêu. Và Người yêu “đến nỗi đã ban Con Một”. “Ban” ở đây không phải chỉ là gửi Đức Giêsu xuống thế gian trong đêm Bêlem. Việc ban tặng ấy đi đến tận Canvê. Chúa Cha ban Con cho nhân loại, và Chúa Con tự nguyện trao chính mình cho nhân loại. Bởi thế, Thánh Giá là nơi lời của Đức Giêsu “Thiên Chúa yêu thế gian” trở nên hữu hình. Nếu một ngày nào đó ta nghi ngờ Thiên Chúa còn yêu mình hay không, hãy nhìn lên Thánh Giá. Nếu một ngày nào đó ta nghĩ tội mình quá lớn đến mức không còn được tha thứ, hãy nhìn lên Thánh Giá. Nếu một ngày nào đó ta cảm thấy mình đã bị bỏ rơi, hãy nhìn lên Thánh Giá. Không phải Thánh Giá sẽ lập tức giải quyết mọi vấn đề của cuộc đời, nhưng Thánh Giá nói với ta điều quan trọng hơn: trong tất cả những gì ta đang chịu đựng, Thiên Chúa không đứng bên ngoài. Người đã bước vào đó trước ta.
Thánh Gioan còn kể lại một cảnh tượng khiến người ta không thể đọc mà không xúc động. Dưới chân Thánh Giá, Đức Maria đứng đó. Bên cạnh Mẹ là người môn đệ Đức Giêsu thương mến. Đức Giêsu nhìn Mẹ và nói: “Thưa Bà, đây là con của Bà”. Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là Mẹ của anh” (x. Ga 19,26-27). Giữa lúc chính Người đang hấp hối, Đức Giêsu vẫn nghĩ đến người khác. Giữa lúc thân thể Người bị xé nát bởi những vết thương, trái tim Người vẫn mở ra. Đây chính là nét đẹp sâu xa của tình yêu trên Thánh Giá: đau khổ không khiến Đức Giêsu khép lòng lại. Thường thì khi chúng ta đau, chúng ta rất dễ chỉ còn nhìn thấy nỗi đau của mình. Khi bị xúc phạm, ta nghĩ đến việc mình đã bị tổn thương. Khi bị bỏ rơi, ta nghĩ đến sự cô đơn của mình. Khi bệnh tật, ta mong người khác hiểu mình. Điều đó hoàn toàn tự nhiên. Nhưng Đức Giêsu trên Thánh Giá cho ta thấy một chiều kích vượt trên bản năng tự vệ của con người: ngay giữa đau khổ của mình, Người vẫn còn đủ tình yêu để chăm sóc người khác. Người trao Mẹ cho môn đệ và trao môn đệ cho Mẹ. Thánh Giá vì thế không biến Đức Giêsu thành một con người cay đắng. Trái lại, Thánh Giá làm cho tình yêu nơi Người bộc lộ đến mức trọn vẹn. Người không nguyền rủa. Người không báo thù. Người không nói: “Các người hãy chờ đấy”. Người cầu xin: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đó là chiến thắng. Khi hận thù muốn sinh ra hận thù mà tình yêu vẫn được sinh ra, tình yêu đã chiến thắng. Khi bạo lực muốn kéo người ta xuống cùng một mức độ bạo lực mà người chịu bạo lực vẫn có thể tha thứ, bạo lực đã thất bại. Khi cái ác làm mọi cách để biến một trái tim thành cay độc mà trái tim ấy vẫn hiền lành, cái ác đã thua.
Bởi vậy, nói Thánh Giá là dấu chỉ chiến thắng không có nghĩa Kitô giáo tôn thờ đau khổ. Thiên Chúa không vui vì con người đau đớn. Đức Giêsu đã chữa bệnh, cho người đói ăn, an ủi người khóc, giải thoát người bị áp bức và làm cho kẻ chết sống lại. Người không bao giờ bảo người đau bệnh rằng cứ đau thêm đi vì đau khổ tự nó là tốt. Điều Kitô giáo tuyên xưng là một điều khác: ngay cả khi đau khổ vì tội lỗi và giới hạn của thế giới này không thể tránh khỏi, tình yêu Thiên Chúa vẫn đủ mạnh để biến nơi đau khổ thành nơi phát sinh sự sống. Thập giá vốn là dụng cụ tử hình của đế quốc Rôma. Đó là hình phạt nhục nhã dành cho những người bị coi là đáng khinh. Nhưng từ ngày Đức Giêsu chịu chết trên đó, cây gỗ ô nhục trở thành cây sự sống. Điều con người dùng để giết chết lại được Thiên Chúa biến thành con đường cứu độ. Điều thế gian coi là dấu chấm hết lại trở thành cánh cửa của phục sinh. Đó chính là cách Thiên Chúa hành động. Người không luôn luôn lấy khỏi đời chúng ta mọi cây thập giá, nhưng Người có thể làm cho những cây thập giá ấy không còn là vô nghĩa.
Đời người có những thánh giá mà ta không chọn. Có người bước vào hôn nhân với bao hy vọng rồi phải sống những năm dài trong hiểu lầm. Có người nuôi con bằng cả cuộc đời rồi một ngày nhận lại sự vô tâm. Có người sống tử tế nhưng lại bị nghi oan. Có người đã dành tuổi trẻ cho một lý tưởng và cuối cùng nhận ra chẳng mấy người nhớ đến những hy sinh của mình. Có người đang khỏe mạnh rồi chỉ sau một cuộc khám bệnh, cuộc đời như đổi hướng. Có người tiễn cha mẹ, vợ chồng, con cái hay một người thân yêu về bên kia sự chết rồi trở về căn nhà quen thuộc mà thấy từng chiếc ghế cũng trở nên trống vắng. Có người mang những nỗi đau không ai nhìn thấy: một lời xúc phạm không quên được, một cuộc tình tan vỡ, một người bạn phản bội, một thất bại đã nhiều năm nhưng mỗi khi nhớ lại lòng vẫn đau. Có những thánh giá mang tên bệnh tật. Có những thánh giá mang tên cô đơn. Có thánh giá mang tên trách nhiệm. Có thánh giá mang tên tuổi già. Có thánh giá mang tên một người mà ta phải tiếp tục yêu dù người ấy làm ta mệt mỏi. Có khi chính bản thân mình là thánh giá nặng nhất của mình, bởi những giới hạn, yếu đuối, ký ức, thói quen và tội lỗi mà ta đã cố gắng nhiều lần nhưng vẫn chưa hoàn toàn vượt qua. Đứng trước những thánh giá ấy, người ta thường hỏi: “Tại sao Chúa để điều này xảy đến?” Có lẽ không ai có thể đưa ra một câu trả lời đủ sức làm im tiếng khóc của mọi con người. Chính Đức Giêsu trên Thánh Giá cũng đã thốt lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34). Đừng vội cho rằng đặt câu hỏi là thiếu đức tin. Có những câu hỏi phát ra từ chính lòng tin đang bị thử thách. Điều quan trọng không phải là ta có bao giờ hỏi “tại sao” hay không, nhưng là sau câu hỏi ấy ta có còn ở lại với Thiên Chúa hay không.
Đức Giêsu cũng đã đau thật. Người không đóng kịch trên Thánh Giá. Những chiếc đinh đau thật. Mão gai đau thật. Sự phản bội đau thật. Cảm giác bị bỏ rơi đau thật. Nỗi cô đơn của đêm Ghếtsêmani là thật. Vì vậy, Kitô giáo không bao giờ bảo con người rằng đừng khóc. Đức Maria đã đứng dưới chân Thánh Giá với trái tim của một người mẹ. Mẹ không thể không đau khi nhìn Con mình chết. Đức tin không làm cho nước mắt biến mất. Đức tin giúp ta khóc mà không tuyệt vọng. Đức tin không khiến vết thương lập tức khép lại. Đức tin giúp ta tin rằng ngay cả từ vết thương ấy, Thiên Chúa vẫn có thể làm nảy sinh một điều tốt đẹp mà hiện tại ta chưa nhìn thấy. Đây là điều rất quan trọng. Thánh Giá không bảo ta rằng đau khổ là đẹp. Thánh Giá nói rằng tình yêu đẹp đến mức có thể đi vào đau khổ và thắng nó từ bên trong.
Đức Giêsu từng nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). Nhiều khi chúng ta nghe câu này với một cảm giác nặng nề. Ta tưởng theo Chúa là phải tìm kiếm những điều khiến mình đau. Không phải thế. “Vác thập giá” trước hết là chấp nhận yêu theo cách Đức Giêsu đã yêu. Mà yêu thật bao giờ cũng có giá. Người mẹ thức trắng đêm khi con bệnh đang vác một thập giá. Người cha âm thầm làm việc để gia đình được bình an đang vác một thập giá. Người vợ nhịn một lời để giữ hòa khí gia đình có khi đang vác một thập giá. Người chồng biết bỏ cái tôi để xin lỗi vợ đang vác một thập giá. Một linh mục tiếp tục yêu thương cộng đoàn ngay cả khi bị hiểu lầm đang vác một thập giá. Một tu sĩ trung thành với đời sống âm thầm khi chẳng ai biết đến những hy sinh của mình đang vác một thập giá. Người trẻ dám từ chối một con đường kiếm tiền bất chính dù biết rằng mình sẽ thiệt thòi cũng đang vác một thập giá. Một người bị xúc phạm nhưng chọn không trả thù đang vác một thập giá. Một bệnh nhân cố giữ nụ cười để người thân bớt lo đang vác một thập giá. Vác thập giá không phải là yêu đau khổ. Vác thập giá là yêu đến mức chấp nhận cái giá của tình yêu.
Nhiều thánh giá trong cuộc sống trở nên nặng không chỉ vì bản thân sự việc nhưng vì ta mang nó một mình. Người Kitô hữu có một niềm an ủi kỳ diệu: không cây thập giá nào của ta hoàn toàn xa lạ với Chúa. Khi bị phản bội, hãy nhớ Người từng bị một người bạn bán bằng ba mươi đồng bạc. Khi bị người khác hiểu sai, hãy nhớ Người từng bị vu cáo. Khi cảm thấy người thân không hiểu mình, hãy nhớ tại Ghếtsêmani, những môn đệ thân tín nhất đã ngủ khi Người mong họ thức với mình một giờ. Khi bị chế nhạo, hãy nhớ Người từng bị mặc áo đỏ giả làm vua, bị đội mão gai và bị người ta quỳ xuống nhạo báng. Khi thân thể đau đớn, hãy nhớ thân thể Người đã đầy thương tích. Khi mất một người yêu thương, hãy nhớ Người đã khóc trước mộ Ladarô. Khi cảm thấy Thiên Chúa im lặng, hãy nhớ chính Người đã cầu nguyện trong cảm giác bị bỏ rơi. Không phải để chúng ta so sánh đau khổ của mình với đau khổ của Đức Giêsu, nhưng để chúng ta biết rằng trong bất kỳ vực sâu nào của kiếp người, ta cũng có thể gặp dấu chân Người ở đó.
Điều đẹp nhất nơi Thánh Giá có lẽ là hai cánh tay dang rộng của Đức Kitô. Hai cánh tay ấy đã bị đóng đinh, không còn có thể làm bất cứ điều gì theo cách con người nghĩ về hành động, thế nhưng chính lúc tưởng như bất lực nhất, Người lại đang thực hiện công trình lớn lao nhất: giao hòa nhân loại với Thiên Chúa. Đôi tay ấy không khép lại. Đôi tay ấy dang ra. Một cánh tay dường như vươn về phía những người tốt lành; cánh tay kia cũng không quên những kẻ tội lỗi. Trong vòng tay của Đấng chịu đóng đinh có chỗ cho Phêrô và cũng có chỗ cho tên trộm lành. Có chỗ cho Đức Maria và Gioan, nhưng cũng có chỗ cho những người lính vừa đóng đinh Người nếu họ mở lòng đón nhận ơn tha thứ. Không ai có thể đứng trước Thánh Giá rồi nói rằng Thiên Chúa chỉ yêu một nhóm người nào đó. Thánh Giá quá rộng. Tình yêu ấy rộng hơn mọi ranh giới mà chúng ta thường dựng lên giữa người đạo đức với kẻ tội lỗi, người tốt với người xấu, người đáng yêu với kẻ khó yêu. Đức Giêsu đã chết cho tất cả.
Nhưng chính ở đây Thánh Giá đặt ra một câu hỏi rất khó cho người Kitô hữu: nếu tôi tôn thờ một Đấng chết vì yêu, tôi có thể tiếp tục sống bằng hận thù được không? Nếu mỗi ngày tôi làm dấu Thánh Giá nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, tôi có thể vừa làm dấu ấy vừa nuôi mãi sự căm ghét với một người không? Nếu tôi hôn kính Thánh Giá vào Thứ Sáu Tuần Thánh mà suốt năm không chịu tha thứ, nụ hôn ấy có ý nghĩa gì? Nếu tôi đeo một cây Thánh Giá đẹp trước ngực mà trong lòng luôn muốn làm người khác đau, cây Thánh Giá ấy nói gì về đời tôi? Người Kitô hữu không được kêu gọi chỉ mang Thánh Giá bằng bạc, bằng vàng hay bằng gỗ. Chúng ta được mời gọi mang tinh thần Thánh Giá trong cách mình sống. Tinh thần ấy là chọn yêu khi có thể ghét, chọn tha thứ khi có thể trả thù, chọn phục vụ khi có thể đòi được phục vụ, chọn nói sự thật với lòng bác ái khi có thể dùng sự thật như một lưỡi dao, chọn nhường bước khi cái tôi muốn thắng, chọn kiên nhẫn khi lòng mình đã mỏi mệt.
Có những chiến thắng rất ồn ào khiến cả thế giới biết đến, nhưng cũng có những chiến thắng chỉ Thiên Chúa nhìn thấy. Một người thắng được cơn giận để không nói ra lời làm tổn thương người thân là một chiến thắng. Một đôi vợ chồng sau những năm tháng khủng hoảng vẫn cùng nhau trở về trước mặt Chúa và nói: “Chúng con muốn bắt đầu lại”, đó là một chiến thắng. Một người con sau nhiều năm giận cha mẹ cuối cùng bước về nhà và gọi hai tiếng “ba ơi”, “mẹ ơi”, đó là chiến thắng. Một người bị phản bội nhưng không để cuộc phản bội ấy biến mình thành người cay độc, đó là chiến thắng. Một người đau bệnh lâu ngày nhưng vẫn biết cảm ơn người chăm sóc mình, đó là chiến thắng. Một linh mục sau bao nhiêu thử thách vẫn còn lòng thương người, vẫn còn muốn giảng Tin Mừng, vẫn còn quỳ xuống trước Nhà Tạm mỗi tối để thưa: “Lạy Chúa, con vẫn thuộc về Chúa”, đó cũng là chiến thắng. Thế gian có thể không trao huy chương cho những chiến thắng ấy. Nhưng đó là những chiến thắng mang hình dáng của Thánh Giá.
Tin Mừng kể rằng khi Đức Giêsu chết, một viên đại đội trưởng đứng đối diện với Người đã thốt lên: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Điều đáng suy nghĩ là người lính ấy đã nhận ra căn tính của Đức Giêsu không phải khi Người làm phép lạ, không phải khi Người hóa bánh ra nhiều, không phải khi Người đi trên mặt nước, mà khi Người chết trên Thánh Giá. Có điều gì đó nơi cách Đức Giêsu chết khiến người đứng nhìn nhận ra Thiên Chúa. Có lẽ ông đã thấy một điều hoàn toàn khác với cách người đời vẫn phản ứng trước bạo lực. Người này bị giết mà không nguyền rủa. Bị chế giễu mà không trả đũa. Bị tước bỏ tất cả mà vẫn còn điều để trao tặng. Người ta lấy áo của Người, Người trao cả Mẹ mình. Người ta lấy mạng sống của Người, Người trao chính mạng sống ấy làm lễ vật cứu độ. Khi chẳng còn gì để cho, Người vẫn trao Thần Khí. Thật ra người ta không lấy được mạng sống của Đức Giêsu. Người tự hiến mạng sống mình. Chính Người đã nói: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (x. Ga 10,18). Đây là điều biến cái chết của Đức Giêsu từ một cuộc hành hình thành một hiến lễ của tình yêu.
Và rồi đến một lúc, sau những lời cuối cùng, Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất” (Ga 19,30). Người không nói: “Thế là hết”. Người nói: “Đã hoàn tất”. Hai cách nói khác nhau biết bao. “Hết” là không còn gì nữa. “Hoàn tất” là một công trình đã đạt đến viên mãn. Trên Thánh Giá, chương trình yêu thương của Thiên Chúa đi đến tận cùng. Đức Giêsu đã yêu “đến cùng” (Ga 13,1), và giờ đây tình yêu ấy được hoàn tất. Nhưng Canvê vẫn chưa phải là trang cuối. Nếu câu chuyện kết thúc bằng ngôi mộ đóng kín, Thánh Giá sẽ chỉ còn là biểu tượng của một người công chính bị giết oan. Chính Phục Sinh chiếu ánh sáng trở lại trên Thánh Giá và cho ta hiểu rằng tình yêu đã thực sự chiến thắng. Sáng ngày thứ nhất trong tuần, tảng đá đã được lăn ra. Ngôi mộ trống. Đấng bị đóng đinh đã sống lại. Những vết thương vẫn còn trên thân thể phục sinh của Người, nhưng chúng không còn là dấu hiệu của thất bại. Chúng trở thành những dấu chứng của tình yêu. Khi hiện ra với Tôma, Đức Giêsu không xóa các dấu đinh rồi mới đến gặp ông. Người nói: “Đặt ngón tay vào đây và hãy nhìn xem tay Thầy” (x. Ga 20,27). Đấng Phục Sinh vẫn mang thương tích. Điều này an ủi chúng ta biết bao. Thiên Chúa không nhất thiết xóa sạch quá khứ của ta để làm cho ta trở nên mới. Người có thể làm cho chính những vết thương của quá khứ trở thành nơi ánh sáng chiếu qua.
Có những người sau một biến cố đau thương không bao giờ trở lại như trước nữa. Đúng. Có những mất mát không thể bù đắp theo kiểu lấy một điều khác thay vào. Một người mẹ mất con không thể nghe người ta nói vài câu an ủi rồi coi như chưa từng đau. Một người đã trải qua phản bội sẽ không hoàn toàn là người của ngày trước. Một người đã chiến đấu với bệnh tật nhiều năm mang trên mình những dấu vết của hành trình ấy. Nhưng Phục Sinh nói rằng một con người không cần phải trở lại y nguyên như trước thì mới được cứu độ. Đức Kitô Phục Sinh vẫn mang dấu đinh. Những vết thương không biến mất nhưng ý nghĩa của chúng thay đổi. Vết đinh từng nói “người này đã bị đóng đinh”, giờ đây nói “người này đã chiến thắng cái chết”. Có lẽ Chúa cũng muốn làm điều ấy với những vết thương của chúng ta. Một ngày nào đó, điều từng khiến ta khóc có thể trở thành nơi ta hiểu được nước mắt của người khác. Điều từng khiến ta cô đơn có thể giúp ta biết ngồi bên một người cô đơn mà không cần nói quá nhiều. Điều từng làm ta sụp đổ có thể khiến ta trở nên khiêm tốn, bao dung hơn. Điều từng làm ta đau có thể dạy ta cách đừng gây đau cho người khác. Lúc ấy, Thánh Giá trong cuộc đời ta bắt đầu mang hương vị Phục Sinh.
Vì thế đừng vội vứt bỏ cây thập giá của đời mình, nhưng cũng đừng thụ động ôm lấy mọi đau khổ rồi gọi tất cả là ý Chúa. Có những thập giá cần được vác; cũng có những bất công cần phải được chấm dứt. Có những bệnh tật cần được chữa trị. Có những mối quan hệ độc hại cần được điều chỉnh. Có những hình thức bạo lực không được phép nhân danh “vác thập giá” để bắt nạn nhân tiếp tục chịu đựng. Đức Giêsu vác Thánh Giá vì tình yêu, không phải vì Người tôn thờ sự dữ. Người chiến thắng sự dữ chứ không thỏa hiệp với nó. Cho nên phân định đâu là thập giá phải trung thành mang và đâu là điều xấu phải can đảm thay đổi cũng là một phần của đời sống đức tin. Thánh Giá của Chúa luôn dẫn tới tình yêu, sự thật, tự do và sự sống. Bất cứ cách hiểu nào về Thánh Giá khiến con người bị hủy hoại nhân phẩm, bị khuyến khích cam chịu bạo lực hay sống trong tuyệt vọng đều không phản ánh trọn vẹn Tin Mừng.
Mỗi lần làm dấu Thánh Giá, chúng ta đang tuyên xưng một mầu nhiệm rất lớn mà vì quá quen nên đôi khi ta làm quá vội. Bàn tay chạm trán: xin cho những suy nghĩ của tôi thuộc về Thiên Chúa. Chạm ngực: xin cho trái tim tôi biết yêu như Đức Kitô. Chạm hai vai: xin cho mọi việc tôi làm được đặt dưới tình yêu của Ba Ngôi. Khi làm dấu Thánh Giá, ta đang phủ lên cả con người mình dấu hiệu của Đấng đã chết và sống lại. Giá như mỗi sáng trước khi bước ra khỏi nhà, chúng ta làm dấu Thánh Giá thật chậm và tự nhủ: hôm nay tôi sẽ không để sự dữ thắng mình; hôm nay tôi sẽ không để một lời xúc phạm biến mình thành người cay độc; hôm nay tôi sẽ không để tiền bạc mạnh hơn lương tâm; hôm nay tôi sẽ không để cái tôi phá hỏng một tương quan quý giá; hôm nay dù phải mang thập giá, tôi sẽ cố mang nó cùng với Đức Kitô. Khi ấy dấu Thánh Giá không còn là một động tác đạo đức theo thói quen nữa. Nó trở thành một lựa chọn sống.
Trong những giờ phút khó khăn nhất, có khi ta không cầu nguyện được một lời dài. Chỉ cần nhìn Thánh Giá. Không cần cố giải thích với Chúa quá nhiều. Người đã biết. Có những giọt nước mắt tự nó đã là lời cầu nguyện. Có những tiếng thở dài Thiên Chúa hiểu hơn cả những bài kinh. Hãy ngồi trước Thánh Giá và nói như một đứa trẻ: “Lạy Chúa, con mệt.” Thế là đủ. “Lạy Chúa, con đau.” Thế là đủ. “Lạy Chúa, con không hiểu.” Thế là đủ. “Lạy Chúa, xin đừng để con mất lòng tin.” Thế là đủ. Đôi khi đức tin không phải là cảm thấy Thiên Chúa thật gần. Đức tin chỉ là trong lúc chẳng cảm thấy gì, ta vẫn chưa bỏ đi. Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá là hình ảnh tuyệt đẹp của đức tin ấy. Mẹ không thể thay đổi bản án. Mẹ không tháo được những chiếc đinh. Mẹ không làm cho đám đông im tiếng. Mẹ chỉ đứng đó. “Đứng gần thập giá Đức Giêsu có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Một chữ “đứng” thôi mà chứa cả một đời trung tín. Có những lúc chúng ta chẳng làm được gì hơn ngoài việc đứng lại với Chúa. Nhưng nếu ta vẫn đứng, tình yêu vẫn chưa thua.
Thánh Giá cũng dạy ta rằng tình yêu thật không phải lúc nào cũng cho cảm giác dễ chịu. Văn hóa hôm nay thường đồng hóa yêu với cảm xúc: còn cảm thấy vui thì còn yêu; không vui nữa thì bỏ. Nhưng Đức Giêsu trên Thánh Giá cho thấy chiều sâu khác của tình yêu. Yêu là trung thành với điều thiện ngay cả khi cảm xúc không nâng đỡ mình. Trong đời hôn nhân, có những ngày tình yêu mang hình dáng hoa và nụ cười, nhưng cũng có những ngày tình yêu mang hình dáng một người thức dậy rất sớm để chăm người bạn đời đang bệnh. Trong thiên chức linh mục, có ngày tình yêu là tiếng hát trong thánh lễ đông người, nhưng cũng có ngày tình yêu là ngồi một mình rất khuya sau những công việc mục vụ, vẫn đọc những giờ kinh còn lại khi lòng đã mỏi. Trong đời tu, có ngày tình yêu là niềm vui của cộng đoàn, nhưng cũng có ngày là kiên trì ở lại với lời khấn trong sự khô khan. Trong gia đình, có ngày tình yêu là những tiếng cười, nhưng cũng có ngày chỉ là một câu: “Thôi, để tôi làm cho.” Những điều ấy không rực rỡ, nhưng rất gần với Thánh Giá.
Thế giới ngày nay không thiếu những người tài, nhưng rất cần những người biết yêu đến cùng. Chúng ta có thể xây những tòa nhà cao hơn, tạo ra những máy móc thông minh hơn, kết nối với nhau nhanh hơn, nhưng nếu con người không còn biết hy sinh cho nhau thì văn minh đến đâu chúng ta vẫn nghèo. Thánh Giá đứng giữa lịch sử như lời nhắc nhở rằng giá trị cao nhất của con người không nằm ở điều người ấy sở hữu, nhưng ở khả năng hiến mình. Đức Giêsu không cứu thế giới bằng những gì Người giữ lại, nhưng bằng những gì Người trao đi. Người trao thời gian, sức lực, lời giảng, lòng thương xót, thân thể, máu, và cuối cùng cả mạng sống. Bởi vậy, một đời người chỉ thật sự phong phú không phải khi tích góp được thật nhiều, nhưng khi đã trao đi được thật nhiều yêu thương. Có người rời thế gian với rất nhiều tài sản mà căn phòng của trái tim họ trống rỗng. Có người chẳng để lại bao nhiêu của cải nhưng khi họ chết, rất nhiều người khóc vì đã từng nhận được nơi họ một chút tình thương. Có lẽ trước mặt Thiên Chúa, người thứ hai mới thật sự giàu.
Thánh Giá còn nói với chúng ta về sự tha thứ. Tha thứ không bao giờ dễ. Có những vết thương tưởng đã lành nhưng chỉ một câu nói, một nơi chốn, một khuôn mặt cũng làm nó nhói lại. Đôi khi người gây thương tích chưa bao giờ xin lỗi. Vậy tha thứ thế nào? Hãy nhìn Đức Giêsu. Người tha thứ trước khi những người đóng đinh Người xin lỗi. Tha thứ không có nghĩa là bảo rằng điều sai là đúng. Tha thứ cũng không phải xóa bỏ công lý. Tha thứ là từ chối để tội lỗi của người khác quyết định con người mà tôi sẽ trở thành. Nếu người khác làm tôi tổn thương và từ đó tôi sống bằng hận thù, họ đã làm tôi đau hai lần: một lần trong quá khứ và một lần mỗi ngày trong hiện tại. Đức Giêsu không trao cho kẻ đóng đinh Người quyền biến trái tim Người thành hận thù. Người vẫn tự do để yêu. Đây là tự do của Thánh Giá. Có lẽ ta chưa thể tha thứ ngay. Nhưng ta có thể bắt đầu bằng lời cầu nguyện rất thật: “Lạy Chúa, con chưa tha được. Xin Chúa làm nơi con điều con chưa làm nổi.” Nhiều khi đó chính là bước đầu tiên của một phép lạ.
Có một điều rất cảm động: trên Thánh Giá, Đức Giêsu chịu đóng đinh giữa hai người tội phạm. Một người nhục mạ Người, một người quay sang thưa: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Đức Giêsu trả lời: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Một người đang hấp hối, cuộc đời gần như chẳng còn giờ để sửa chữa quá khứ, chỉ còn một lời xin rất nhỏ: “Xin nhớ đến tôi.” Vậy mà cánh cửa Thiên Đàng mở ra. Cảnh Tin Mừng ấy là niềm hy vọng lớn lao cho những ai từng nghĩ mình đã đi quá xa để quay về. Bao lâu ta còn có thể thưa “Lạy Chúa, xin nhớ đến con”, lòng thương xót vẫn đang mở cửa. Người trộm lành không có thời gian để chứng minh mình xứng đáng. Ông chỉ có một trái tim biết quay về. Thiên Chúa không đòi quá khứ của ông phải được viết lại trước khi Người tha thứ. Người trao cho ông một tương lai: “Hôm nay anh sẽ ở với tôi.” Thánh Giá vì thế là dấu chỉ chiến thắng của lòng thương xót trên tội lỗi. Không có tội nhân nào được quyền tuyệt vọng về mình khi còn có Thánh Giá trên thế gian.
Và có lẽ đây là điều chúng ta cần mang theo mỗi lần bước qua những mùa tối của cuộc đời: Thứ Sáu Tuần Thánh không kéo dài mãi mãi. Đêm Canvê có thật, nhưng bình minh Phục Sinh cũng có thật. Tảng đá có thật, nhưng ngôi mộ trống cũng có thật. Nước mắt của Maria Mađalêna có thật, nhưng tiếng gọi “Maria!” của Đấng Phục Sinh cũng có thật. Có những thứ Bảy Tuần Thánh trong đời khi ta không biết Chúa đang làm gì. Mọi thứ im lặng. Những lời cầu nguyện tưởng như chưa được trả lời. Điều ta mong chưa xảy đến. Ta đứng ở khoảng giữa của Thánh Giá và Phục Sinh. Chính những lúc ấy đức tin khó nhất nhưng cũng tinh tuyền nhất. Tin không phải vì ta đang thấy phép lạ, mà vì ta nhớ rằng ngôi mộ chưa bao giờ là lời cuối cùng của Thiên Chúa.
Khi người Kitô hữu treo Thánh Giá trong nhà, chúng ta đang nói với mọi người bước vào ngôi nhà ấy rằng nơi đây chúng tôi tin tình yêu mạnh hơn hận thù, tha thứ mạnh hơn báo thù, sự thật mạnh hơn gian dối, sự sống mạnh hơn cái chết. Nhưng cây Thánh Giá trên tường chỉ có sức thuyết phục khi có một chút Thánh Giá trong cách những con người dưới mái nhà ấy đối xử với nhau. Nếu dưới cây Thánh Giá, vợ chồng không còn nói chuyện; dưới cây Thánh Giá, cha mẹ làm tổn thương con cái; dưới cây Thánh Giá, anh chị em từ mặt nhau vì tiền bạc; dưới cây Thánh Giá, người ta đọc kinh rất nhiều nhưng không chịu xin lỗi nhau, thì cây Thánh Giá ấy vẫn đang chờ được đem từ bức tường xuống trái tim. Đời sống Kitô hữu bắt đầu trưởng thành khi Thánh Giá không chỉ được treo trong nhà mà được sống trong nhà.
Rồi sẽ đến một ngày, cây Thánh Giá hiện diện trong giây phút cuối cùng của mỗi người chúng ta. Có thể một linh mục sẽ đặt Thánh Giá vào tay ta, hoặc người thân sẽ treo nó trước mắt ta. Khi ấy nhiều thứ từng khiến ta lo lắng cả đời sẽ trở nên rất nhỏ. Những lời khen chê, hơn thua, địa vị, tiền bạc, thành công… tất cả dần ở lại phía sau. Chỉ còn câu hỏi giản dị mà sâu thẳm: tôi đã yêu chưa? Đời tôi có trở thành một món quà chưa? Tôi đã để bao nhiêu người được bình an hơn vì có tôi trên đời? Có lẽ cuối cùng, tất cả cuộc sống Kitô hữu chỉ quy về điều ấy. Vì Thiên Chúa không hỏi ta đã mang bao nhiêu cây Thánh Giá trên cổ, nhưng sẽ nhìn xem trái tim ta có mang hình dáng của Đấng chịu đóng đinh hay không.
Thánh Giá vì thế không phải là dấu hiệu của một Thiên Chúa yêu đau khổ. Thánh Giá là dấu hiệu của một Thiên Chúa yêu con người đến mức chấp nhận đau khổ để con người được sống. Không phải chiếc đinh cứu chúng ta. Tình yêu chấp nhận những chiếc đinh mới cứu chúng ta. Không phải cây gỗ tự nó cứu chúng ta. Đấng yêu nhân loại đến cùng trên cây gỗ ấy cứu chúng ta. Không phải máu tự nó có ý nghĩa, nhưng là máu của tình yêu tự hiến. Trung tâm của Thánh Giá không phải đau khổ, mà là tình yêu. Và vì tình yêu ấy mạnh hơn sự chết nên Thánh Giá trở thành dấu chỉ chiến thắng.
Có lẽ vì thế, khi cuộc đời quá nặng, ta không cần hỏi Chúa quá nhiều rằng: “Bao giờ Chúa cất thập giá này khỏi con?” Có những lúc nên cầu thêm một lời khác: “Lạy Chúa, nếu cây thập giá này chưa thể cất đi, xin đừng để nó cất mất tình yêu trong con. Xin đừng để đau khổ biến con thành cay đắng. Xin đừng để thất vọng lấy mất lòng nhân hậu. Xin đừng để những người làm con tổn thương có thể lấy mất khả năng yêu của con. Xin cho con được giống Chúa: có thể đau nhưng vẫn yêu, có thể khóc nhưng vẫn tin, có thể bị tổn thương nhưng không trở thành người gây tổn thương, có thể ngã xuống nhưng lại đứng lên, có thể đi qua Thứ Sáu Tuần Thánh mà vẫn tin vào sáng Phục Sinh.”
Cuối cùng, nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh, chúng ta hiểu rằng chiến thắng lớn nhất của một đời người không phải là chưa bao giờ thất bại, chưa bao giờ bị tổn thương, chưa bao giờ khóc, nhưng là sau tất cả những điều ấy vẫn còn có thể yêu. Người đời có thể lấy khỏi ta nhiều thứ. Họ có thể lấy tiền bạc, danh dự, sức khỏe, vị trí, cơ hội, thậm chí lấy cả mạng sống. Nhưng có một điều không ai có thể lấy nếu ta không trao cho họ: khả năng yêu của trái tim mình. Đức Giêsu trên Thánh Giá đã giữ đến cùng tự do ấy. Người không để tội lỗi của thế gian quyết định cách Người đáp lại thế gian. Thế gian đóng đinh Người; Người yêu thế gian. Thế gian xúc phạm Người; Người tha thứ cho thế gian. Thế gian loại bỏ Người; Người mở Thiên Đàng cho thế gian. Đó là chiến thắng.
Và bởi vậy, giữa bao nhiêu dấu hiệu quyền lực của thế gian rồi sẽ qua đi, cây Thánh Giá vẫn đứng đó. Các đế quốc đã đến rồi đi. Những ngai vàng từng khiến người ta run sợ đã trở thành lịch sử. Những người tưởng mình có quyền quyết định số phận Đức Giêsu đã trở về với bụi đất. Nhưng Đấng từng bị treo bất lực trên cây gỗ ấy vẫn được hàng triệu triệu con người trên khắp thế giới quỳ xuống tôn thờ. Không phải vì Người đã dùng sức mạnh nghiền nát những ai chống lại Người, nhưng vì Người đã yêu đến cùng. Rốt cuộc, lịch sử thuộc về tình yêu.
Vì thế, mỗi khi nhìn Thánh Giá, xin đừng chỉ thấy một ngày Thứ Sáu buồn. Hãy thấy phía sau Thánh Giá ánh sáng của ngày Chúa Nhật Phục Sinh. Đừng chỉ thấy những cánh tay bị đóng đinh; hãy thấy đôi tay đang mở rộng đón nhân loại. Đừng chỉ thấy một thân thể đầy thương tích; hãy thấy một trái tim không ngừng yêu. Đừng chỉ thấy cái chết; hãy thấy sự sống đang được khai sinh. Đừng chỉ thấy thất bại; hãy thấy chiến thắng của một Thiên Chúa đã chọn yêu cho đến cùng.
Và khi đến lượt mình phải mang một cây thập giá nào đó, xin đừng mang một mình. Hãy đặt thập giá nhỏ bé của ta bên cạnh Thánh Giá của Đức Kitô. Nói với Người rằng: “Lạy Chúa, con không mạnh. Con không hiểu hết. Con cũng chẳng biết con còn chịu được bao lâu. Nhưng con xin đi với Chúa.” Có thể cây thập giá không nhẹ ngay. Có thể bệnh tật vẫn còn đó, nước mắt vẫn còn đó, vấn đề vẫn chưa giải quyết. Nhưng có một điều đã khác: ta không còn cô độc. Và một cây thập giá được mang cùng Đức Kitô sẽ không bao giờ kết thúc trong tuyệt vọng.
Bởi sau Thánh Giá là Phục Sinh.
Sau bóng tối là bình minh.
Sau tiếng “Lạy Thiên Chúa, sao Ngài bỏ con?” là lời “Thế là đã hoàn tất”.
Sau ngôi mộ là một tảng đá được lăn ra.
Sau nước mắt là tiếng gọi đích danh mỗi người.
Và sau tất cả những gì con người tưởng là kết thúc, Thiên Chúa vẫn có thể viết một khởi đầu mới.
Thánh Giá vì thế mãi mãi là dấu chỉ của một sự thật mà người Kitô hữu có thể đem theo đi qua mọi thăng trầm của cuộc đời: tình yêu có thể bị đóng đinh, nhưng tình yêu không thể bị tiêu diệt; tình yêu có thể mang thương tích, nhưng tình yêu vẫn sống; tình yêu có thể phải đi qua sự chết, nhưng cuối cùng tình yêu sẽ chiến thắng.
Lm. Anmai, CSsR

TỪ CÂY GỖ CHẾT CHÓC THÀNH CÂY SỰ SỐNG
Có những nghịch lý chỉ có tình yêu mới giải thích được. Có những điều nếu chỉ nhìn bằng đôi mắt của lý trí con người, ta sẽ thấy vô lý, đau đớn và khó chấp nhận; nhưng khi nhìn bằng ánh sáng của đức tin, ta lại nhận ra nơi đó đang âm thầm diễn ra một mầu nhiệm lớn lao. Thánh Giá là một nghịch lý như thế. Một cây gỗ vốn được dùng để giết người, một dụng cụ hành hình khủng khiếp của đế quốc Rôma, một biểu tượng của nhục nhã, thất bại và nguyền rủa, lại trở thành dấu chỉ thánh thiêng nhất của Kitô giáo, trở thành niềm hy vọng của những người đau khổ, trở thành nơi người tội lỗi tìm thấy ơn tha thứ, người tuyệt vọng tìm được lý do để sống, người hấp hối tìm được bình an để đi vào cõi đời đời. Một cây gỗ của sự chết đã trở thành Cây Sự Sống. Không phải vì bản thân cây gỗ ấy có quyền năng gì, nhưng vì trên cây gỗ ấy có một Con Người đã yêu cho đến cùng; trên cây gỗ ấy Con Thiên Chúa đã dang hai cánh tay ôm lấy cả nhân loại; trên cây gỗ ấy, máu và nước đã chảy ra từ cạnh sườn Đấng Cứu Thế; và từ cái chết tưởng như là tận cùng ấy, một sự sống mới đã bắt đầu cho toàn thể nhân loại.
Có lẽ vì đã quá quen với hình ảnh Thánh Giá, người Kitô hữu nhiều khi không còn cảm thấy sức mạnh kinh hoàng và tuyệt đẹp của dấu chỉ này nữa. Thánh Giá được treo trên tháp nhà thờ, đặt trên bàn thờ, đeo nơi cổ, treo trong phòng khách, đặt trên đầu giường, làm dấu trên thân mình mỗi sáng mỗi tối. Ta nhìn thấy Thánh Giá quá nhiều đến nỗi có nguy cơ không còn nhìn thấy mầu nhiệm của Thánh Giá. Nhưng hãy thử trở về buổi chiều thứ Sáu hôm ấy trên đồi Golgotha. Không có ánh hào quang. Không có tiếng hát thiên thần. Không có đám đông quỳ xuống tung hô. Chỉ có ba cây thập giá dựng lên giữa trời, tiếng người chế nhạo, tiếng quân lính, tiếng khóc nghẹn ngào của vài người trung tín và một người bị đóng đinh ở giữa. Người ấy đã từng chữa người mù, cho người què bước đi, cho người chết sống lại, làm cho những người bị xã hội loại trừ được trở về với phẩm giá của mình. Người ấy đã nói về một Thiên Chúa là Cha, đã bảo người ta yêu kẻ thù, tha thứ cho người xúc phạm mình, cúi xuống rửa chân cho môn đệ. Vậy mà giờ đây chính Người lại bị treo trên một cây gỗ như một tội nhân. Nếu có mặt ở Golgotha hôm ấy, có lẽ không ai dám gọi cây thập giá là Cây Sự Sống. Người ta chỉ thấy chết chóc. Chỉ thấy thất bại. Chỉ thấy giấc mơ về một Đấng Mêsia dường như đã tan vỡ. Nhưng Thiên Chúa thường bắt đầu những điều lớn lao nhất của Người chính tại nơi con người nghĩ rằng mọi sự đã chấm hết.
Tin Mừng theo thánh Gioan đã để lại cho chúng ta một câu nói của Đức Giêsu như chiếc chìa khóa mở vào mầu nhiệm ấy: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,32). Đức Giêsu nói về cái chết của Người. Người biết mình sẽ bị giương cao trên Thập Giá. Nhưng Người không nhìn Thập Giá như một thất bại. Người nhìn nơi đó là giờ của tình yêu, là giờ Người kéo nhân loại trở về với Thiên Chúa. Cũng trong Tin Mừng Gioan, cuộc Thương Khó được kể lại với một nét rất đặc biệt. Khi Đức Giêsu đã uống giấm, Người nói: “Thế là đã hoàn tất!” Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí (x. Ga 19,30). Không phải “thế là hết”, nhưng là “thế là đã hoàn tất”. Hai cách nói ấy khác nhau một trời một vực. “Thế là hết” là tiếng nói của tuyệt vọng. “Thế là đã hoàn tất” là tiếng nói của một đời người đã yêu cho tới cùng. Trên Thập Giá, Đức Giêsu không bị sự chết đánh bại; Người hoàn tất công trình tình yêu mà Chúa Cha đã trao cho Người. Chính vì vậy, cây gỗ tưởng là nơi sự sống bị tiêu diệt lại trở thành nơi tình yêu đạt tới sự viên mãn.
Nếu muốn hiểu sâu hơn về Cây Sự Sống, ta phải nhớ đến một hình ảnh rất xa xưa trong những trang đầu của Kinh Thánh. Giữa vườn Êđen có cây sự sống. Nhưng sau khi con người phạm tội, con đường dẫn đến cây sự sống bị khép lại. Tội lỗi mang cái chết vào kinh nghiệm của nhân loại; con người trốn khỏi Thiên Chúa, trốn khỏi chính mình, đổ lỗi cho nhau, sợ hãi và cuối cùng trở về bụi đất. Cả lịch sử cứu độ từ đó có thể được đọc như cuộc tìm kiếm của Thiên Chúa đối với đứa con đã lạc mất. Và rồi vào ngày Đức Kitô chịu đóng đinh, một cây khác xuất hiện trên một ngọn đồi ngoài thành Giêrusalem. Trên cây ấy, Đấng vô tội mang lấy tội lỗi nhân loại. Nếu ở cây xưa, con người đưa tay ra trong bất phục tùng để chiếm lấy điều không thuộc về mình, thì trên cây Thập Giá, Đức Kitô dang tay trong vâng phục để trao lại tất cả. Nếu nơi cây xưa, con người muốn “nên như Thiên Chúa” mà không cần Thiên Chúa, thì trên cây Thập Giá, chính Thiên Chúa lại hạ mình đến tận cái chết để đưa con người trở về địa vị làm con. Nếu cây xưa gắn với kinh nghiệm mất sự sống, cây Thập Giá mở lại con đường dẫn vào sự sống đời đời. Bởi thế, truyền thống Kitô giáo từ rất sớm đã nhìn Thập Giá như cây sự sống mới, và Đức Kitô như Ađam mới. Chính nơi điều xem ra là hậu quả đau đớn nhất của tội lỗi, Thiên Chúa đã làm phát sinh ân sủng.
Điều cảm động nhất trong mầu nhiệm Thập Giá có lẽ không phải là Đức Giêsu đã đau khổ nhiều đến mức nào, nhưng là Người đã yêu thế nào trong chính đau khổ ấy. Đau khổ tự nó không cứu được ai. Có những đau khổ làm con người chai đá, cay nghiệt, khép kín và thù hận. Điều cứu độ nhân loại không phải là số lượng những vết thương trên thân thể Đức Giêsu, nhưng là tình yêu tuyệt đối được sống trong những vết thương đó. Người bị đóng đinh mà vẫn cầu nguyện cho những kẻ đóng đinh mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Người đang hấp hối nhưng vẫn nghĩ đến người trộm bên cạnh: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43). Người đau đớn nhưng vẫn trao người môn đệ cho Mẹ và trao Mẹ cho người môn đệ. Người bị bỏ rơi nhưng không ngừng hướng về Chúa Cha. Thập Giá trở thành Cây Sự Sống vì trên cây ấy, lòng thù hận đã không thể làm cho Đức Giêsu ngừng yêu. Bạo lực có thể đóng đinh hai tay Người, nhưng không thể đóng đinh được tình yêu. Người ta có thể tước áo Người, nhưng không thể tước khỏi Người lòng thương xót. Người ta có thể lấy mạng sống của Người, nhưng chính lúc ấy Người tự nguyện trao mạng sống mình để cho người khác được sống.
Đó là điều làm Thập Giá khác hẳn mọi bi kịch khác trong lịch sử loài người. Có biết bao người đã chết oan. Có biết bao người đã bị hành hình. Có biết bao máu đã đổ xuống đất. Nhưng trên Golgotha, Đấng chịu chết lại chính là Con Thiên Chúa làm người, Đấng mang lấy thân phận của tất cả chúng ta. Người đứng vào chỗ của người tội lỗi, bước vào tận đáy vực của đau khổ nhân loại, nếm cái chết, sự cô đơn, sự phản bội, nhục nhã, bất công và cảm giác bị bỏ rơi. Không còn vực sâu nào của cuộc đời mà Đức Kitô chưa đi xuống. Vì thế, từ ngày Thập Giá được dựng lên trên Golgotha, không một giọt nước mắt chân thành nào của con người còn hoàn toàn cô độc. Người mẹ đứng bên giường bệnh của đứa con có thể nhìn lên Thánh Giá và biết rằng Thiên Chúa hiểu nỗi đau của mình. Người bị phản bội có thể nhìn lên Đấng đã bị Giuđa bán bằng ba mươi đồng bạc. Người bị hiểu lầm có thể nhìn lên Đấng bị kết án dù vô tội. Người cô đơn có thể nhìn lên Đấng đã nghe chính mình thốt lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Người hấp hối có thể đặt bàn tay run rẩy trên Thánh Giá và thì thầm: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Thập Giá không trả lời tất cả những câu hỏi của đau khổ bằng một lý thuyết. Thập Giá cho ta một Đấng đã bước vào đau khổ cùng với ta.
Con người thường hỏi: Nếu Thiên Chúa yêu thương, tại sao Người không cất hết Thập Giá khỏi cuộc đời? Câu hỏi ấy không dễ trả lời. Không một công thức thần học nào đủ sức làm im tiếng khóc của người mẹ vừa mất con, của một người vừa nghe bác sĩ báo tin căn bệnh hiểm nghèo, của một gia đình vừa mất tất cả sau một biến cố, của một người sống tử tế nhưng bị phản bội, vu oan hay bỏ rơi. Kitô giáo không bao giờ được phép trả lời đau khổ của con người bằng những câu nói quá dễ dàng. Đức Giêsu trước mồ Lazarô đã khóc. Trong vườn Cây Dầu, Người buồn đến chết được. Người xin Chúa Cha nếu có thể thì cho chén này khỏi mình. Đức tin không bắt người ta giả vờ rằng đau không phải là đau. Nhưng điều Tin Mừng dám tuyên xưng là: Thiên Chúa không đứng ngoài nỗi đau của chúng ta. Người đã bước vào đó. Và bằng sự Phục Sinh của Đức Kitô, Người chứng minh rằng đau khổ và cái chết không phải là tiếng nói cuối cùng.
Cây Thập Giá chỉ thực sự được hiểu dưới ánh sáng buổi sáng Phục Sinh. Nếu Đức Giêsu chết rồi nằm mãi trong mộ, Thập Giá vẫn chỉ là một cây gỗ chết chóc. Nhưng ngôi mộ đã trống. Đấng bị đóng đinh đã sống lại. Những vết đinh vẫn còn trên thân thể phục sinh của Người, nhưng các vết thương ấy không còn là dấu hiệu của thất bại; chúng trở thành chứng tích của một tình yêu đã đi qua cái chết và chiến thắng cái chết. Khi Đức Giêsu hiện ra với Tôma, Người không xóa các vết thương trước khi gặp ông. Người nói: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy” (Ga 20,27). Đức Kitô Phục Sinh vẫn mang thương tích. Điều ấy thật sâu sắc. Thiên Chúa không cứu chúng ta bằng cách giả vờ rằng các vết thương chưa từng tồn tại. Người biến đổi các vết thương. Vết thương từng là nơi của đau đớn lại trở thành nơi người môn đệ nhận ra Chúa. Và có lẽ cuộc đời chúng ta cũng vậy. Có những vết thương sẽ không biến mất khỏi ký ức. Có những mất mát không gì thay thế được. Có những khoảng trống vẫn còn đó đến hết đời. Nhưng trong Đức Kitô, những điều ấy không nhất thiết phải trở thành mồ chôn cuộc đời ta. Chúng có thể trở thành nơi ân sủng đi qua, nơi ta biết cảm thông hơn, hiền lành hơn, biết yêu hơn, biết cúi xuống trước đau khổ của người khác hơn.
Một hạt lúa phải rơi xuống đất và chết đi mới sinh nhiều bông hạt. Chính Đức Giêsu đã dùng hình ảnh ấy để nói về giờ của Người: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Thập Giá chính là hạt lúa ấy. Đức Kitô rơi xuống lòng đất của lịch sử nhân loại. Người để cho mình bị nghiền nát bởi bạo lực, tội lỗi và cái chết. Nhưng từ cái chết ấy đã mọc lên một mùa gặt không ai có thể đếm nổi. Bao nhiêu người đã tìm được ơn tha thứ nơi Thập Giá. Bao nhiêu người đã từ bỏ hận thù khi nhìn lên Đấng chịu đóng đinh. Bao nhiêu vị tử đạo đã có sức mạnh để tha thứ cho những người giết mình. Bao nhiêu người mẹ đã tiếp tục sống sau khi mất con nhờ ôm lấy Thánh Giá. Bao nhiêu tội nhân tưởng cuộc đời mình không còn đường trở lại đã quỳ dưới chân Thập Giá và bắt đầu một cuộc đời mới. Bao nhiêu người hấp hối đã hôn cây Thánh Giá lần cuối trước khi nhắm mắt, không phải như người đi vào bóng tối, nhưng như người bước qua một cánh cửa để trở về nhà Cha.
Thật lạ lùng, điều Thiên Chúa làm không phải là phá hủy cây Thập Giá trước khi Đức Giêsu bị đóng đinh. Người biến chính cây Thập Giá thành khí cụ cứu độ. Đây là một bài học rất lớn cho đời sống chúng ta. Chúng ta thường cầu xin Chúa cất khỏi đời mình một điều nào đó: một căn bệnh, một người làm ta tổn thương, một thất bại, một cuộc khủng hoảng, một nỗi cô đơn, một gánh nặng gia đình, một ký ức đau đớn. Và ta nghĩ rằng chỉ khi điều ấy biến mất ta mới bình an. Có khi Chúa cất đi. Nhưng cũng có khi Người không cất đi. Không phải vì Người không thương. Có khi Người làm một điều sâu hơn: biến chính điều tưởng như giết chết ta thành nơi phát sinh sự sống. Một người từng đau khổ vì nghèo có thể trở thành người nhạy cảm đặc biệt với người nghèo. Một người từng trải qua mất mát có thể trở thành người biết ngồi yên bên cạnh một người đang tang chế mà không nói những lời sáo rỗng. Một người từng được tha thứ có thể học cách tha thứ. Một người đã từng chìm sâu trong tội lỗi nhưng được lòng thương xót kéo lên có thể trở thành chứng nhân mạnh mẽ của lòng thương xót. Những vết thương được đặt trong tay Chúa không nhất thiết biến mất, nhưng có thể trở thành những cánh cửa cho ân sủng.
Đó chính là khác biệt giữa một cây gỗ chết chóc và một Cây Sự Sống. Cùng là đau khổ, nhưng nếu không có tình yêu, đau khổ có thể làm ta chết dần. Cùng là mất mát, nhưng nếu được trao vào tay Thiên Chúa, mất mát có thể đào sâu trái tim. Cùng là Thập Giá, nhưng một người có thể vác nó trong cay đắng, còn người khác có thể vác nó trong hiệp thông với Đức Kitô. Không phải người thứ hai ít đau hơn. Có khi họ đau còn sâu hơn. Nhưng họ biết mình đang đi với Ai. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Kitô giáo tôn thờ Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Người Kitô hữu không tìm kiếm Thập Giá cho bằng tìm kiếm Chúa trong Thập Giá. Có những Thập Giá do tội lỗi của ta gây ra, cần phải hoán cải. Có những Thập Giá do bất công gây ra, cần phải đấu tranh để loại bỏ. Có những Thập Giá là bệnh tật, tuổi già, giới hạn và những điều không thể tránh của kiếp người, cần học cách đón nhận. Nhưng bất kể hình thức nào, nếu Đức Kitô bước vào đó, sự chết không còn giữ độc quyền trên câu chuyện ấy nữa.
Có một điều rất dễ hiểu sai: “vác Thập Giá” không có nghĩa là cam chịu mọi bất công, để người khác chà đạp nhân phẩm mình, hay thụ động trước cái ác. Đức Giêsu vác Thập Giá không phải vì Người đồng ý với sự gian ác của những kẻ kết án Người. Người đã lên án giả hình, bảo vệ người yếu thế, thanh tẩy Đền Thờ, đối diện với quyền lực. Nhưng khi giờ của Người đến, Người tự do trao hiến mạng sống vì yêu. Vì vậy Thập Giá Kitô giáo luôn gắn với tình yêu tự do, không phải với một thứ cam chịu bệnh hoạn. Khi một người mẹ thức trắng đêm săn sóc đứa con bệnh, đó có thể là Thập Giá của tình yêu. Khi một người chồng trung thành bên người vợ đau yếu nhiều năm, đó có thể là Thập Giá của tình yêu. Khi một linh mục vẫn kiên trì với đoàn chiên giữa hiểu lầm, mệt mỏi và giới hạn, đó có thể là Thập Giá của tình yêu. Khi một người chọn tha thứ dù lòng còn đau, đó là Thập Giá. Khi một người từ chối gian dối dù có thể mất lợi ích, đó là Thập Giá. Khi một người âm thầm mang trách nhiệm mà không ai biết, không ai cảm ơn, đó cũng có thể là Thập Giá. Và bất cứ nơi nào một người chết đi cho ích kỷ để người khác được sống, bóng dáng Cây Sự Sống lại xuất hiện giữa đời.
Chúng ta thường thích một Kitô giáo có phép lạ hơn một Kitô giáo có Thập Giá. Ta thích Đức Giêsu hóa bánh hơn Đức Giêsu bị đóng đinh. Ta thích Tabor hơn Golgotha. Ta thích những ngày cầu nguyện được an ủi hơn những mùa khô khan. Ta thích lúc mọi sự thuận lợi hơn lúc Chúa dường như im lặng. Nhưng Tin Mừng không cho phép ta chỉ chọn một nửa Đức Kitô. Đấng biến hình rực rỡ trên núi cũng là Đấng mình đầy thương tích trên Thập Giá. Phêrô đã từng phản ứng rất con người khi Đức Giêsu loan báo cuộc Thương Khó. Ông kéo Người ra và can ngăn. Ông muốn một Đấng Mêsia không có Thập Giá. Và có lẽ trong sâu thẳm, chúng ta cũng thế. Ta muốn theo Chúa, nhưng xin Chúa đừng để con đau. Con muốn yêu, nhưng xin đừng để tình yêu làm con phải hy sinh. Con muốn tha thứ, nhưng xin người kia phải xin lỗi trước. Con muốn phục vụ, nhưng xin người khác hiểu và biết ơn con. Con muốn làm môn đệ, nhưng xin con đường phải bằng phẳng. Đức Giêsu lại nói rất rõ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Không phải vì Người thích nhìn môn đệ đau khổ, nhưng bởi tình yêu chân thật luôn đòi một cuộc ra khỏi mình. Không ai yêu thật mà không có lúc phải hy sinh.
Điều khó nhất có lẽ không phải là vác một Thập Giá lớn một lần, mà là vác những Thập Giá nhỏ mỗi ngày. Một lời khó nghe mà ta không trả đũa. Một người khó thương mà ta vẫn đối xử tử tế. Một bổn phận đơn điệu ta vẫn trung thành. Một tuổi già làm ta chậm chạp. Một căn bệnh kéo dài. Một người thân không thay đổi như ta mong. Một lời cầu nguyện tưởng như chẳng được đáp lại. Một cuộc đời mà những giấc mơ ngày trẻ không thành hiện thực. Những chiếc đinh của đời sống thường rất nhỏ, nhưng lặp đi lặp lại. Và chính ở đó, Cây Sự Sống được trồng vào đời ta. Không phải bằng những việc phi thường, nhưng bằng một sự trung tín đôi khi rất âm thầm. Đức Maria đứng dưới chân Thập Giá không làm phép lạ nào. Mẹ chỉ đứng đó. “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Một chữ “đứng” thật đẹp. Mẹ không bỏ chạy. Mẹ không hiểu hết. Mẹ không thể tháo những chiếc đinh khỏi tay Con. Mẹ không thể ngăn lưỡi đòng đâm vào cạnh sườn Con. Nhưng Mẹ đứng đó. Có những lúc trong cuộc đời, đức tin chẳng làm được gì khác ngoài việc đứng lại với Chúa. Không giải thích nổi. Không thay đổi được hoàn cảnh. Không cảm thấy được an ủi. Chỉ đứng đó, dưới chân Thập Giá, và không bỏ đi. Đôi khi đó là một trong những hành vi đức tin lớn nhất đời người.
Dưới chân Thập Giá còn có người môn đệ Chúa yêu. Đức Giêsu nhìn Mẹ và môn đệ rồi nói: “Thưa Bà, đây là con của Bà”, và nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh” (Ga 19,26-27). Ngay giữa lúc sự chết đang diễn ra, một gia đình mới được sinh ra. Đây là một chi tiết tuyệt đẹp. Thập Giá không chỉ cứu từng cá nhân; Thập Giá tạo nên một cộng đoàn mới. Từ cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Kitô chảy ra máu và nước, truyền thống Hội Thánh nhìn thấy dấu chỉ của các bí tích và sự khai sinh của Hội Thánh. Từ một thân thể bị xé nát, Thiên Chúa quy tụ một thân thể mới. Từ sự chia rẽ, Người tạo ra hiệp thông. Từ một cái chết, Người khai sinh một dân mới. Cây chết chóc bắt đầu trổ sinh hoa trái sự sống.
Thánh Phaolô đã cảm nghiệm sâu xa nghịch lý này nên ông có thể tuyên bố rằng lời rao giảng về Thập Giá là điều điên rồ đối với thế gian nhưng lại là sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Thế gian nói: mạnh là thắng người khác. Thập Giá nói: mạnh là có thể yêu ngay cả khi bị tổn thương. Thế gian nói: vinh quang là đứng trên người khác. Thập Giá nói: vinh quang là cúi xuống rửa chân. Thế gian nói: phải giữ lấy mạng sống mình. Đức Kitô nói: ai liều mất mạng sống vì Người sẽ tìm lại được. Thế gian nói: trả đũa mới là công bằng. Thập Giá nói: sự dữ chỉ thực sự bị đánh bại khi nó gặp một tình yêu mà nó không thể biến thành hận thù. Chính điều ấy xảy ra trên Golgotha. Con người dồn tất cả bạo lực, phản bội, gian dối và tàn nhẫn lên Đức Giêsu. Nhưng khi tất cả sự dữ ấy chạm vào trái tim Người, điều chảy ra vẫn là tình yêu. Đây chính là chiến thắng.
Có lẽ người Kitô hữu phải thường xuyên tự hỏi: cây Thập Giá treo trên tường nhà tôi có thật sự đi vào đời tôi chưa? Ta có thể đeo Thánh Giá bằng vàng rất đẹp mà vẫn không biết tha thứ. Có thể làm dấu Thánh Giá nhiều lần mà vẫn gây Thập Giá cho người khác. Có thể quỳ rất lâu trước tượng Chúa chịu nạn mà trở về nhà vẫn làm đau những người thân bằng lời nói cay nghiệt. Có thể kính Thánh Giá trong phụng vụ nhưng lại quay mặt trước những người đang bị đóng đinh bên lề cuộc đời. Nếu Thánh Giá chỉ là đồ trang sức hoặc biểu tượng tôn giáo, ta chưa hiểu Thánh Giá. Đức Giêsu chịu đóng đinh hôm nay vẫn hiện diện nơi những con người bị bỏ rơi, nơi người già cô độc, người bệnh không ai thăm, người nghèo không đủ tiền chữa bệnh, đứa trẻ thiếu tình thương, người lao động bị đối xử bất công, người đang sống một cuộc đời mà chẳng ai muốn lắng nghe. Quỳ trước Thánh Giá mà không nhận ra người đau khổ bên cạnh thì việc đạo đức của ta vẫn còn thiếu một điều gì rất căn bản.
Cây Sự Sống phải tiếp tục mọc giữa đời bằng chính đời sống của những người mang danh Kitô hữu. Mỗi lần ta tha thứ thay vì trả thù, Cây Sự Sống mọc lên. Mỗi lần ta nói một lời nâng đỡ thay vì một lời làm tổn thương, Cây Sự Sống mọc lên. Mỗi lần ta chấp nhận thiệt một chút để người khác được bình an, Cây Sự Sống mọc lên. Mỗi lần một gia đình đang rạn nứt chịu ngồi lại và nói chuyện thật lòng, Cây Sự Sống mọc lên. Mỗi lần một người dám xin lỗi, Cây Sự Sống mọc lên. Mỗi lần một người có quyền lực chọn phục vụ thay vì áp đặt, Cây Sự Sống mọc lên. Mỗi lần một linh mục bước xuống khỏi những khoảng cách để lắng nghe một người đau khổ, Cây Sự Sống mọc lên. Mỗi lần một cộng đoàn thay vì loại trừ lại mở cửa cho một người yếu đuối trở về, Cây Sự Sống mọc lên. Và như vậy Thập Giá không còn chỉ đứng trên đồi Golgotha hai ngàn năm trước; Thập Giá tiếp tục trổ hoa trong từng ngôi nhà, từng giáo xứ, từng cộng đoàn, từng trái tim biết chết đi cho mình để người khác được sống.
Có những người mang Thập Giá rất lâu đến mức mỏi mệt và hỏi: “Bao giờ mới hết?” Không ai có quyền nói với họ rằng hãy vui lên như thể nỗi đau của họ chẳng đáng kể. Nhưng có một điều ta có thể thì thầm bên họ: đừng nhìn Thập Giá mà quên Đấng đang ở trên Thập Giá với mình. Điều làm người Kitô hữu hy vọng không phải là chắc chắn rằng ngày mai mọi vấn đề sẽ được giải quyết, mà là chắc chắn rằng không điều gì có thể tách ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Kitô. Thánh Phaolô đã có thể nói rằng dù gian truân, khốn khổ, bắt bớ, đói rách, hiểm nguy hay gươm giáo cũng không thể tách ông ra khỏi tình yêu ấy. Đó là niềm hy vọng được sinh ra từ Cây Sự Sống. Có thể tôi chưa ra khỏi đau khổ, nhưng tôi không ở trong đó một mình. Có thể vết thương chưa lành, nhưng vết thương ấy đang ở trong bàn tay Đấng mang những dấu đinh. Có thể đời tôi còn nhiều câu hỏi, nhưng Đấng Phục Sinh đã đi trước tôi qua ngôi mộ. Có thể tôi phải chết, nhưng cái chết từ ngày Đức Kitô phục sinh không còn là bức tường cuối cùng; nó trở thành cánh cửa.
Bởi vậy, người tín hữu khi làm dấu Thánh Giá không phải đang thực hiện một cử chỉ máy móc. Mỗi lần đưa tay lên trán, xuống ngực rồi sang hai vai và thưa: “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”, ta đang đặt cả đời mình dưới mầu nhiệm tình yêu của Ba Ngôi được mặc khải nơi Thập Giá. Giá mà ta làm dấu chậm lại một chút. Giá mà trước mỗi ngày mới ta nhìn cây Thánh Giá và thưa: “Lạy Chúa, hôm nay xin cho con biết yêu như Chúa đã yêu.” Có lẽ cả ngày sống sẽ khác. Khi bị xúc phạm, ta nhớ đến Thập Giá. Khi muốn trả đũa, ta nhớ đến Thập Giá. Khi mệt vì phải chăm sóc một người, ta nhớ đến Thập Giá. Khi thấy mình thất bại, ta nhớ rằng Golgotha từng trông giống một thất bại nhưng lại là nơi cứu độ bắt đầu. Khi đứng bên một nấm mồ, ta nhớ rằng Đức Kitô cũng từng được đặt vào mồ, và ngôi mồ ấy đã mở ra.
Một ngày nào đó, mỗi người chúng ta cũng sẽ đến giờ phải buông mọi sự. Những gì từng làm ta bận tâm sẽ ở lại phía sau. Tiền bạc, chức vụ, thành công, tiếng khen, tranh hơn thua rồi cũng trở thành những điều rất nhỏ trước ngưỡng cửa sự chết. Có lẽ khi ấy, một cây Thánh Giá nhỏ đặt trong tay sẽ có ý nghĩa hơn tất cả những gì ta từng sở hữu. Người tín hữu hấp hối nhìn Thánh Giá và biết: có Một Người đã đi con đường này trước tôi. Người đã chết. Người đã được mai táng. Người đã sống lại. Và Người đã nói: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em.” Vì thế, ngay cả giường hấp hối cũng có thể trở thành nơi Cây Sự Sống bén rễ. Một đời người tưởng đang tàn lụi lại đang chuẩn bị bước vào sự sống không bao giờ tàn.
Đẹp biết bao nếu ta có thể sống đến ngày cuối cùng với một niềm tin như thế. Không phải vì đời ta không có những Thập Giá, nhưng vì ta đã học được cách nhìn Thập Giá bằng đôi mắt của Đức Kitô. Ta sẽ hiểu rằng có những điều tưởng mất mà lại được; có những lần phải chết đi mới thực sự bắt đầu sống; có những vết thương cuối cùng trở thành nơi ánh sáng đi qua; có những thứ bị lấy khỏi tay ta để tay ta được tự do nắm lấy bàn tay Thiên Chúa. Và trên hết, ta sẽ hiểu rằng Thiên Chúa không cứu thế giới bằng quyền lực cưỡng bức, nhưng bằng một tình yêu chịu để mình bị tổn thương mà vẫn không thôi yêu.
Cây gỗ trên Golgotha đã từng nhuốm máu. Một thân thể đã từng quằn quại trên đó. Một trái tim đã bị lưỡi đòng đâm thâu. Nhưng từ ngày ấy, cây gỗ ấy không còn thuộc về sự chết nữa. Nó trở thành Cây Sự Sống, bởi Đấng bị treo trên đó chính là Sự Sống. Nó trở thành cây hy vọng, bởi từ dưới bóng cây ấy, những người tuyệt vọng đã đứng dậy. Nó trở thành cây tha thứ, bởi từ trên đó vang xuống lời cầu xin tha thứ cho kẻ thù. Nó trở thành cây hòa giải, bởi nơi đó trời và đất gặp nhau, Thiên Chúa và con người được nối lại. Nó trở thành cây tình yêu, bởi “không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).
Và có lẽ đó là điều Thánh Giá muốn nói với mỗi người chúng ta hôm nay: đừng quá vội kết luận về những ngày thứ Sáu Tuần Thánh của đời mình. Khi mọi sự tối lại, chưa chắc câu chuyện đã kết thúc. Khi một cánh cửa đóng lại, chưa chắc Thiên Chúa đã bỏ ta. Khi một điều quý giá chết đi, chưa chắc chẳng còn gì có thể sinh ra từ đó. Các môn đệ ngày thứ Sáu đã tưởng mọi hy vọng bị chôn trong mộ. Nhưng chỉ ít ngày sau, chính họ chạy khỏi ngôi mộ trống với một niềm vui không ai có thể lấy mất. Thiên Chúa có thể làm cho nơi chôn vùi trở thành nơi khai sinh. Người có thể làm cho nước mắt trở thành hạt giống. Người có thể làm cho vết thương trở thành cửa ngõ của lòng thương xót. Người có thể làm cho một cây gỗ chết chóc trở thành Cây Sự Sống.
Vì thế, khi cuộc đời đặt lên vai ta một cây thập giá, xin đừng chỉ hỏi: “Lạy Chúa, tại sao?” Có lẽ sau những giọt nước mắt, ta cũng có thể tập hỏi thêm: “Lạy Chúa, Chúa muốn làm phát sinh sự sống nào từ đây?” Có những câu trả lời chỉ đến sau nhiều năm. Có những câu trả lời ta chỉ hiểu khi gặp Chúa. Nhưng một điều ta biết chắc: bàn tay từng biến cây gỗ chết chóc thành Cây Sự Sống vẫn đang hoạt động. Đấng từng làm cho ngôi mộ trở nên trống rỗng vẫn là Chúa của lịch sử đời ta. Vì vậy người Kitô hữu có quyền khóc nhưng không tuyệt vọng, có thể quỵ xuống nhưng không nằm mãi, có thể mang thương tích nhưng vẫn hy vọng, có thể đứng trước cái chết mà vẫn tuyên xưng sự sống.
Xin cho mỗi lần chúng ta nhìn lên Thánh Giá, ta không chỉ nhìn thấy những chiếc đinh, nhưng nhìn thấy đôi tay đang dang rộng; không chỉ nhìn thấy máu, nhưng nhìn thấy tình yêu; không chỉ nhìn thấy một người đang chết, nhưng nhìn thấy Đấng đang trao ban sự sống; không chỉ nhìn thấy ngày thứ Sáu đau thương, nhưng đã thấp thoáng ánh sáng của buổi sáng Phục Sinh. Và xin cho chính đời chúng ta, với tất cả những yếu đuối, vết thương, mất mát và những Thập Giá không ai biết, cũng được ghép vào Cây Sự Sống ấy. Để một ngày kia khi nhìn lại, ta có thể nhận ra rằng Chúa đã không để một giọt nước mắt nào uổng phí, không để một hy sinh vì yêu nào mất đi, không để một vết thương nào được trao cho Người mà không thể sinh hoa trái.
Từ cây gỗ của án phạt, Thiên Chúa đã làm nên ngai tòa của lòng thương xót. Từ nơi con người đóng đinh Con Thiên Chúa, Thiên Chúa lại mở vòng tay tha thứ cho con người. Từ cây gỗ tưởng chỉ có thể mang sự chết, Người làm nảy sinh một dòng sự sống chảy qua bao thế hệ. Và cho tới ngày cuối cùng của lịch sử, mỗi khi một người đau khổ ngước lên Thánh Giá và còn đủ sức thì thầm: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Ngài”, Cây Sự Sống vẫn đang trổ lá. Mỗi khi một người chọn yêu thay vì hận, tha thứ thay vì trả thù, phục vụ thay vì thống trị, trao ban thay vì chiếm giữ, Cây Sự Sống vẫn đang sinh trái. Mỗi khi một người dám đi qua cái chết của bản thân mình để người khác được sống, mầu nhiệm Golgotha lại âm thầm tiếp tục giữa trần gian.
Và rồi cuối cùng, sau tất cả những thập giá của kiếp người, sẽ đến một ngày không còn tang tóc, không còn tiếng khóc, không còn đau khổ và không còn sự chết. Sách Khải Huyền lại đưa chúng ta trở về với hình ảnh Cây Sự Sống bên dòng nước ban sự sống, trổ sinh hoa trái và lá cây dùng làm thuốc chữa lành các dân. Kinh Thánh bắt đầu với Cây Sự Sống bị mất trong vườn Êđen và kết thúc với Cây Sự Sống được trao lại trong thành thánh. Giữa hai cây ấy là một cây Thập Giá trên đồi Golgotha. Chính qua cây gỗ ấy, con đường về sự sống được mở lại. Đó là câu chuyện của cứu độ. Đó cũng là câu chuyện của mỗi đời người biết đặt mình trong tay Đức Kitô. Ta đi qua bao mùa mất mát để về với Đấng không bao giờ mất. Ta đi qua bao cái chết nhỏ mỗi ngày để bước vào sự sống lớn lao của Thiên Chúa. Ta đi dưới bóng Thập Giá để cuối cùng bước vào ánh sáng Phục Sinh.
Xin cho chúng ta đừng bao giờ xấu hổ về Thánh Giá. Xin đừng chỉ đeo Thánh Giá trên cổ nhưng hãy mang Thánh Giá trong tim. Xin đừng chỉ đặt Thánh Giá trên bàn thờ nhưng hãy để tinh thần của Đấng chịu đóng đinh đi vào mọi tương quan, mọi lựa chọn, mọi lời nói và mọi cách ứng xử của chúng ta. Để người khác khi gặp ta, nhất là khi gặp ta giữa những thử thách, có thể nhận ra một điều gì đó của Đấng đã chịu đóng đinh: một chút hiền lành giữa bạo lực, một chút tha thứ giữa hận thù, một chút ánh sáng giữa bóng tối, một chút hy vọng giữa tuyệt vọng, một chút sự sống ngay giữa những gì xem ra đang chết.
Và khi ấy, điều kỳ diệu nhất sẽ xảy ra: cây gỗ chết chóc không chỉ đã trở thành Cây Sự Sống trên đồi Golgotha năm xưa, nhưng còn tiếp tục trở thành Cây Sự Sống trong chính cuộc đời chúng ta hôm nay.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ LÀ SỰ ĐIÊN RỒ VÀ SỰ KHÔN NGOAN CỦA THIÊN CHÚA
Có lẽ không có một biểu tượng nào trong lịch sử nhân loại lại mang trong mình một nghịch lý lớn lao như Thánh Giá. Nếu chỉ nhìn bằng mắt người đời, Thánh Giá là một thất bại. Nếu chỉ cân đo bằng lý luận của thế gian, Thánh Giá là một điều vô nghĩa. Nếu chỉ phán đoán bằng tiêu chuẩn của quyền lực, thành công, danh dự và sức mạnh, thì Thánh Giá quả thật là một sự điên rồ. Một người bị đóng đinh giữa trời, hai tay dang ra bất lực, chân bị ghim chặt vào gỗ, thân thể đầy thương tích, đầu đội vòng gai, bị chế giễu, bị bỏ rơi, bị kết án như một tội phạm, rồi chết giữa hai tên gian phi: đó có thể là hình ảnh của chiến thắng sao? Đó có thể là cách Thiên Chúa cứu thế gian sao? Đó có thể là “quyền năng” của Đấng Tạo Hóa sao? Chính vì thế mà thánh Phaolô đã viết những lời làm đảo lộn mọi cách suy nghĩ thông thường của con người: “Lời rao giảng về Thập Giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa” (1 Cr 1,18). Một câu ngắn, nhưng chứa cả một vực sâu của mầu nhiệm. Thập Giá có thể bị người này nhìn như điên rồ, nhưng lại được người khác nhận ra là sức mạnh. Cùng một cây gỗ ấy, có người chỉ thấy cái chết, người khác lại gặp được sự sống. Cùng một Đức Giêsu chịu đóng đinh ấy, có người chế nhạo: “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì hãy xuống khỏi thập giá”, còn người có đức tin lại quỳ xuống và thưa: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa.” Điều khác biệt không nằm ở cây Thánh Giá. Điều khác biệt nằm ở đôi mắt của người nhìn Thánh Giá.
Con người tự nhiên luôn muốn một Thiên Chúa mạnh theo cách của con người. Chúng ta muốn một Thiên Chúa giải quyết vấn đề thật nhanh, tiêu diệt kẻ dữ ngay lập tức, bênh vực người công chính trước mắt mọi người, biến nước thành rượu khi ta thiếu, hóa bánh ra nhiều khi ta đói, chữa lành khi ta đau bệnh, dẹp yên bão tố khi thuyền đời chao đảo. Những điều ấy Đức Giêsu đã từng làm, nhưng tất cả những phép lạ ấy chưa phải là đỉnh cao mặc khải về Thiên Chúa. Đỉnh cao lại nằm ở nơi mà con người không muốn nhìn: Núi Sọ. Nơi ấy không có bánh hóa nhiều, chỉ có một thân mình bị bẻ ra. Không có nước hóa rượu, chỉ có máu và nước chảy ra từ cạnh sườn. Không có đám đông tung hô “Hosanna”, chỉ còn tiếng chế giễu và những cái lắc đầu. Không có các môn đệ tranh nhau ngồi bên hữu bên tả, bởi hầu hết đã bỏ trốn. Không có một vị vua ngồi trên ngai vàng, chỉ có một tấm bảng viết: “Giêsu Nazareth, Vua dân Do Thái.” Không có vương miện bằng vàng, chỉ có vòng gai. Không có ngai báu, chỉ có cây gỗ. Không có cẩm bào, áo Người đã bị quân lính chia nhau. Không có đoàn quân bảo vệ, chỉ có Mẹ Maria, người môn đệ được yêu và vài phụ nữ đứng dưới chân Thánh Giá. Nhưng chính ở nơi tưởng như Thiên Chúa vắng mặt nhất, Thiên Chúa lại tự tỏ mình trọn vẹn nhất. Chính trong giây phút Con Thiên Chúa xem ra bất lực nhất, quyền năng của tình yêu lại được biểu lộ mạnh mẽ nhất. Bởi quyền năng lớn nhất của Thiên Chúa không phải là nghiền nát kẻ thù; quyền năng lớn nhất của Thiên Chúa là có thể yêu kẻ đóng đinh mình mà vẫn không ngừng yêu. Quyền năng lớn nhất của Thiên Chúa không phải là làm cho con người khiếp sợ; quyền năng lớn nhất của Thiên Chúa là đi vào tận vực sâu tội lỗi của con người để đưa con người trở về. Quyền năng ấy thế gian không hiểu, bởi thế gian quen chiến thắng bằng cách làm cho đối phương thua cuộc, còn Đức Kitô chiến thắng bằng cách tự hiến chính mình. Thế gian thắng bằng gươm giáo; Đức Kitô thắng bằng những bàn tay bị đóng đinh. Thế gian bảo vệ mình bằng cách dựng tường; Đức Kitô cứu độ bằng cách mở rộng đôi tay. Thế gian nói: “Ai làm tôi đau, tôi sẽ làm cho họ đau hơn”; Đức Giêsu trên Thánh Giá lại nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Nếu đó là điên rồ, thì đó là sự điên rồ của một tình yêu mà trí khôn ích kỷ của con người không thể hiểu nổi.
Thánh Phaolô đặt vấn đề rất rõ: “Người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan; còn chúng tôi, chúng tôi rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do Thái hay Hy Lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (x. 1 Cr 1,22-24). Người Do Thái mong dấu lạ. Họ mong một Đấng Mêsia quyền năng sẽ giải phóng Israel, sẽ khôi phục vinh quang, sẽ làm những việc khiến muôn dân phải kinh ngạc. Người Hy Lạp lại say mê triết lý, lý luận, những hệ thống tư tưởng chặt chẽ và đẹp đẽ. Vậy mà các Tông đồ bước ra giữa thế giới ấy, không mang theo một đội quân, cũng chẳng trình bày một hệ thống triết học cầu kỳ. Các ngài chỉ rao giảng một người đã bị đóng đinh. Khó có một thông điệp nào nghe vô lý hơn đối với thế giới thời ấy. Thập giá vốn là hình phạt nhục nhã dành cho nô lệ và tội phạm. Người bị đóng đinh là người bị tước bỏ danh dự, bị treo lên giữa trời như một lời cảnh cáo cho thiên hạ. Vậy mà Kitô giáo lại đặt cây thập giá ngay ở trung tâm đức tin. Không che giấu. Không làm nhẹ đi. Không trang điểm. Không né tránh. Hội Thánh không rao giảng rằng Đức Giêsu suýt bị đóng đinh nhưng đã thoát. Hội Thánh rao giảng: Người đã bị đóng đinh, đã chết, đã được mai táng và ngày thứ ba đã sống lại. Điều tưởng là vết nhơ lại trở thành niềm hãnh diện. Điều từng là biểu tượng của lời nguyền trở thành dấu chỉ của phúc lành. Điều từng làm người ta kinh sợ nay được đặt trên bàn thờ, trên tháp chuông, trong nhà người tín hữu, trên ngực người Kitô hữu và trên phần mộ của những người đã ra đi. Hai ngàn năm đã trôi qua, các đế quốc từng đóng đinh người khác đã sụp đổ, những hoàng đế từng tưởng mình bất tử đã thành bụi đất, những ngai vàng từng làm thiên hạ run sợ chỉ còn trong viện bảo tàng; còn cây Thánh Giá của một người thợ mộc Nazareth vẫn đứng đó, đi xuyên qua thời gian, đặt một câu hỏi trước từng thế hệ: Anh có tin rằng tình yêu mạnh hơn hận thù không? Anh có tin rằng tha thứ mạnh hơn báo thù không? Anh có tin rằng cho đi mạnh hơn chiếm hữu không? Anh có tin rằng mất vì yêu có thể là con đường dẫn đến sự sống không?
Câu chuyện Tin Mừng trên đồi Golgotha minh họa mầu nhiệm ấy cách đau đớn mà tuyệt đẹp. Thánh Luca kể rằng khi Đức Giêsu bị đóng đinh, các thủ lãnh chế nhạo Người: “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn!” Lính tráng cũng chế giễu: “Nếu ông là vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi!” Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá còn nhục mạ: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!” (x. Lc 23,35-39). Tất cả đều cùng một luận điệu: Nếu Ngài có quyền năng, hãy xuống khỏi thập giá. Nếu Ngài là Thiên Chúa, hãy tự cứu mình. Nếu Ngài thật là Đấng Mêsia, hãy chứng minh bằng cách thoát khỏi đau khổ. Đó cũng chính là logic của chúng ta hôm nay. Nếu Chúa thương con, tại sao Chúa để con bệnh? Nếu Chúa có quyền năng, tại sao gia đình con tan vỡ? Nếu Chúa hiện hữu, tại sao người lành vẫn khổ? Nếu Chúa nghe lời con, tại sao bao năm con cầu xin mà điều ấy vẫn chưa xảy ra? Chúng ta muốn Chúa chứng minh Người là Thiên Chúa bằng cách đưa chúng ta xuống khỏi mọi thập giá. Nhưng Tin Mừng lại cho thấy Thiên Chúa chứng minh tình yêu của Người bằng cách ở lại trên Thánh Giá. Đức Giêsu hoàn toàn có thể cứu mình, nhưng nếu Người cứu mình theo nghĩa mà đám đông yêu cầu, thì Người sẽ không cứu được chúng ta theo chương trình tình yêu của Chúa Cha. Người không xuống khỏi Thánh Giá không phải vì những chiếc đinh mạnh hơn Người, nhưng vì tình yêu giữ Người ở đó. Không một chiếc đinh nào có thể đóng giữ Đấng đã gọi Ladarô ra khỏi mồ. Không một đội lính nào có thể giữ được Đấng chỉ cần nói một lời là những kẻ đến bắt Người phải lùi lại và ngã xuống đất. Điều giữ Đức Giêsu trên Thánh Giá không phải là sắt thép, mà là tình yêu. Chính ở đó, sự khôn ngoan Thiên Chúa tỏa sáng: Con Thiên Chúa cứu thế giới không bằng cách chạy trốn đau khổ nhưng bằng cách đi xuyên qua đau khổ; không bằng cách tiêu diệt cái chết từ bên ngoài nhưng bằng cách bước vào trong cái chết rồi phá tung nó từ bên trong; không bằng cách đứng xa tội nhân nhưng bằng cách mang lấy hậu quả tội lỗi của họ trong thân mình mình. Và giữa những tiếng chế giễu ấy, một người đã nhận ra điều mà cả đám đông không nhận ra: tên trộm lành. Anh nhìn sang một người cũng đang bị đóng đinh như mình, không thấy vương miện, không thấy ngai vàng, không thấy quân đội, không thấy phép lạ, vậy mà anh lại thưa: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” (Lc 23,42). Thật lạ lùng! Khi ngay cả các môn đệ còn hoang mang về vương quyền của Đức Giêsu, một tử tội hấp hối lại nhận ra vị Vua. Khi người ta chỉ thấy một kẻ thất bại, anh nhận ra một Đấng có Nước. Khi người ta bảo Đức Giêsu hãy tự cứu mình, anh lại đặt sự sống đời đời của mình trong tay Đức Giêsu. Và anh nghe lời tuyệt đẹp: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43). Một con người đã sống lầm lạc cả đời, phút cuối chỉ còn đôi bàn tay bị đóng vào gỗ, chẳng còn việc lành nào để làm, chẳng còn thời gian nào để sửa lại quá khứ, chỉ còn một tiếng kêu tin tưởng, và cánh cửa Thiên Đàng mở ra. Đó chính là sự điên rồ của lòng thương xót Thiên Chúa. Người đời sẽ hỏi: “Một đời tội lỗi mà chỉ một lời xin cũng được cứu sao?” Thiên Chúa trả lời bằng Thánh Giá: “Tình yêu của Ta lớn hơn tội lỗi của con.”
Nhưng để hiểu Thánh Giá, trước hết chúng ta phải từ bỏ một ảo tưởng rất sâu trong lòng mình: tưởng rằng Thiên Chúa chỉ hiện diện khi mọi chuyện thuận lợi. Khi khỏe mạnh, ta nói Chúa thương. Khi thành công, ta nói Chúa chúc lành. Khi lời cầu xin được nhận, ta nói Chúa linh thiêng. Khi gia đình bình an, ta nói Chúa quan phòng. Những điều ấy đúng, nhưng chưa đủ. Nếu đức tin chỉ đứng vững khi trời quang mây tạnh thì đó chưa phải là đức tin trưởng thành. Trên Núi Sọ, trời tối. Đức Giêsu kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Thế nhưng chính ở nơi tưởng như bị bỏ rơi ấy, công trình cứu độ lại đang được hoàn tất. Có những lúc trong đời chúng ta cũng vậy. Có những ngày chẳng hiểu Chúa đang làm gì. Có những biến cố càng cầu nguyện càng thấy mù mịt. Có những người sống ngay lành mà vẫn gặp tai ương. Có những bà mẹ cầu cả đời cho đứa con rồi vẫn nhìn nó đi xa Chúa. Có những người vợ âm thầm chịu đựng, hy sinh mà chẳng được biết ơn. Có những người chồng làm lụng cả đời rồi một ngày mất trắng. Có người vừa nhận tin bệnh nặng khi còn quá trẻ. Có người đứng trước quan tài của người mình thương nhất và chẳng tìm được một lời để nói với Thiên Chúa. Có người đã phục vụ Chúa nhiều năm nhưng cuối đời vẫn mang một nỗi cô đơn chẳng ai hiểu. Những giờ phút ấy, lời giải thích thường trở nên nghèo nàn. Có những nỗi đau không cần một bài diễn thuyết, chỉ cần một cây Thánh Giá đặt trước mặt. Bởi Thánh Giá không trả lời mọi câu hỏi “tại sao” bằng lý luận; Thánh Giá trả lời bằng sự hiện diện: “Con đau ư? Ta ở đây. Con bị bỏ rơi ư? Ta đã đi qua. Con khóc ư? Ta cũng đã khóc. Con bị phản bội ư? Ta đã từng bị Giuđa bán bằng một nụ hôn. Con bị bạn bè bỏ rơi ư? Ta đã từng thấy các môn đệ chạy trốn. Con bị hiểu lầm ư? Ta đã từng bị kết án dù vô tội. Con sợ chết ư? Ta đã từng run sợ trong vườn Cây Dầu đến nỗi mồ hôi như những giọt máu. Con hỏi Ta ở đâu trong đau khổ của con ư? Ta không đứng ở ngoài nhìn con đau. Ta ở trên cây Thánh Giá của con.”
Sự khôn ngoan của Thiên Chúa khác với sự khôn ngoan của thế gian chính ở điểm ấy. Thế gian dạy ta tránh mọi yếu đuối, che giấu mọi thất bại, xây dựng hình ảnh thật hoàn hảo, không để ai thấy vết thương. Thiên Chúa lại cứu thế giới bằng những vết thương của Đức Kitô. Sau khi sống lại, Đức Giêsu không xóa những dấu đinh. Người mang chúng vào trong thân thể phục sinh. Khi Tôma không tin, Đức Giêsu không đưa ra một chứng chỉ nào; Người nói: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy” (Ga 20,27). Vết thương trở thành căn cước của Đấng Phục Sinh. Điều ấy có ý nghĩa vô cùng lớn cho đời sống chúng ta. Chúng ta thường xin Chúa xóa hết những vết thương quá khứ. Nhưng nhiều khi Chúa không xóa chúng; Người biến đổi chúng. Người không làm như thể chuyện ấy chưa từng xảy ra; Người làm cho chính nơi từng làm ta đau lại trở thành nơi ta có thể cảm thông với người khác. Một người từng trải qua nghèo khó có thể hiểu người nghèo sâu hơn. Một người đã từng thất bại có thể dịu dàng với người đang vấp ngã hơn. Một người đã từng mất người thân có thể ngồi bên một tang gia mà không cần nói nhiều. Một người đã từng được tha thứ có thể học cách tha thứ. Một người đã từng cảm nghiệm mình được Chúa kéo ra khỏi bóng tối sẽ không dễ dàng kết án người còn đang ở trong bóng tối. Đó là logic của Thánh Giá: Thiên Chúa không nhất thiết vứt bỏ những mảnh vỡ; Người có thể ghép chính những mảnh vỡ ấy thành một cửa sổ để ánh sáng đi qua.
Thập Giá còn là sự điên rồ bởi nó đảo ngược bản năng tự vệ của con người. Khi bị xúc phạm, phản ứng tự nhiên của ta là trả lại. Khi bị nói xấu, ta muốn thanh minh. Khi bị hiểu lầm, ta muốn chứng minh mình đúng. Khi bị tổn thương, ta muốn người kia phải biết ta đau đến mức nào. Khi bị phản bội, ta muốn đóng cửa lòng. Nhưng Đức Giêsu trên Thánh Giá không đi theo con đường ấy. Người không nguyền rủa những kẻ hành hạ mình. Người không xin Chúa Cha phóng lửa xuống trên họ. Người không dùng quyền năng để trả thù. Người cầu xin: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đây không phải là sự yếu đuối. Tha thứ không phải là phủ nhận sự dữ. Tha thứ cũng không có nghĩa là gọi điều sai thành đúng, hay buộc nạn nhân phải tiếp tục để người khác làm hại mình. Tha thứ Kitô giáo là từ chối để sự dữ của người khác biến mình thành một con người giống họ. Người ta ném vào ta hận thù; ta không tiếp tục chuyền hận thù ấy đi. Người ta gây cho ta một vết thương; ta không lấy chính vết thương ấy làm dao đâm người khác. Người ta làm điều bất công; ta vẫn tìm công lý, nhưng không để lòng mình bị nuôi bằng độc tố báo thù. Có những cuộc chiến kéo dài nhiều thế hệ chỉ vì mỗi bên đều nói: “Họ đã làm trước.” Có những gia đình anh chị em không nhìn mặt nhau hàng chục năm chỉ vì một mảnh đất. Có những người đã chết mà con cháu vẫn tiếp tục giữ hận thay cho họ. Có những cuộc hôn nhân không tan vỡ vì một tội lớn nhưng chết dần vì mỗi người đều giữ cuốn sổ ghi lỗi người kia. Thánh Giá đứng giữa chúng ta và nói: Ai đó phải là người ngưng lại. Ai đó phải chịu “thua” theo cách thế gian để tình yêu có thể thắng. Ai đó phải đủ mạnh để nói lời xin lỗi trước. Ai đó phải đủ tự do để không nhắc mãi món nợ cũ. Ai đó phải đủ tin vào Chúa để trao việc xét xử cuối cùng cho Người. Chính vì thế, sống Thánh Giá không dành cho người yếu. Người yếu thường trả đũa vì không chịu nổi cảm giác bị tổn thương. Người mạnh trong Đức Kitô mới có thể chịu thiệt mà không trở nên cay độc, có thể nói sự thật mà không hủy diệt người khác, có thể bị hiểu lầm mà vẫn giữ lòng ngay thẳng, có thể tha thứ mà không phủ nhận công lý.
Thánh Giá cũng phơi bày những thần tượng mà chúng ta thường thờ lạy mà không nhận ra. Thần tượng thành công bảo rằng giá trị của tôi nằm ở chỗ tôi đạt được gì. Thần tượng tiền bạc nói rằng có nhiều thì đời tôi mới an toàn. Thần tượng danh tiếng nói rằng người khác nghĩ tốt về tôi thì tôi mới có giá trị. Thần tượng quyền lực nói rằng tôi phải kiểm soát được mọi thứ. Thần tượng hưởng thụ nói rằng điều gì làm tôi khó chịu thì phải loại bỏ. Thần tượng cái tôi nói rằng đời sống phải xoay quanh nhu cầu của tôi. Thánh Giá đập vỡ tất cả. Đức Giêsu trên Thánh Giá không còn gì để chứng minh theo tiêu chuẩn thế gian. Người nghèo đến mức ngay cả áo cũng bị lấy đi. Người bất lực đến mức phải nhờ người khác cho uống. Người không còn một chỗ để đặt đầu, bởi ngay thân xác sau khi chết cũng được đặt trong ngôi mộ mượn của người khác. Nhưng chính lúc không còn gì, Người vẫn là Con yêu dấu của Chúa Cha. Như vậy giá trị con người không tùy thuộc vào việc người ấy sở hữu bao nhiêu, làm được bao nhiêu, được khen bao nhiêu, còn khỏe mạnh hay đã yếu đuối, còn hữu dụng hay tưởng như chẳng thể làm gì. Một cụ già nằm trên giường bệnh vẫn có giá trị vô cùng trước mặt Thiên Chúa. Một người khuyết tật không kiếm được nhiều tiền vẫn mang phẩm giá bất khả xâm phạm. Một em bé chưa kịp làm nên thành tích nào vẫn quý giá. Một người thất nghiệp không mất phẩm giá vì không có chức danh trên danh thiếp. Một linh mục già yếu không còn giảng hay, không còn đi mục vụ xa được, vẫn quý giá trước mặt Chúa không kém ngày còn trẻ khỏe. Một nữ tu âm thầm làm việc trong bếp cả đời không kém giá trị một người nổi tiếng trước công chúng. Thánh Giá nói với chúng ta rằng trước khi ta làm được bất cứ điều gì cho Thiên Chúa, ta đã được Thiên Chúa yêu. Và tình yêu ấy được đóng dấu không phải bằng mực, nhưng bằng máu Con của Người.
Có một cám dỗ rất tinh tế nơi đời sống đạo: chúng ta thích Đức Kitô nhưng không thích Thánh Giá; muốn phục sinh nhưng không muốn chết đi; muốn vinh quang nhưng sợ con đường tự hủy; muốn theo Chúa nhưng vẫn giữ nguyên cái tôi. Nhưng Đức Giêsu chưa bao giờ mời chúng ta theo một con đường khác con đường Người đã đi. Người nói rất rõ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Đáng chú ý là Chúa không nói “vác Thánh Giá của Thầy”, mà nói “thập giá mình”. Mỗi người có một thập giá không hoàn toàn giống nhau. Có người mang thập giá bệnh tật. Có người mang thập giá tính khí của người thân. Có người mang thập giá một cuộc hôn nhân đầy thử thách. Có người mang thập giá con cái ngỗ nghịch. Có người mang thập giá cô đơn. Có người mang thập giá tuổi già. Có người mang thập giá một lỗi lầm quá khứ không thể sửa lại. Có người mang thập giá trách nhiệm nặng nề mà chẳng ai thấy. Có người mang thập giá bị hiểu lầm ngay trong cộng đoàn mà mình phục vụ. Có linh mục mang thập giá của đoàn chiên khó khăn. Có cha mẹ mang thập giá của những đứa con xa nhà, xa Chúa. Có những người chẳng ai biết họ đang chiến đấu mỗi ngày để không tuyệt vọng. Chúa không bảo ta đi tìm đau khổ. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Đau khổ tự nó không cứu độ. Cái cứu độ là tình yêu được sống giữa đau khổ. Một thập giá không có tình yêu chỉ là gánh nặng; một thập giá được kết hợp với Đức Kitô có thể trở thành nơi sinh ơn cứu độ. Hai người có thể chịu cùng một hoàn cảnh: một người trở nên cay đắng, một người trở nên thánh thiện. Không phải vì người thứ hai đau ít hơn, mà vì họ đã để Đức Kitô bước vào nỗi đau ấy.
Chúng ta cũng cần phân biệt rất rõ: vác thập giá không có nghĩa là cam chịu mọi bất công mà không làm gì. Một người vợ bị bạo hành không được bảo rằng cứ chịu đòn vì đó là “thập giá Chúa gửi”. Một đứa trẻ bị tổn hại không thể bị buộc im lặng nhân danh hy sinh. Một người bị áp bức có quyền tìm công lý. Đức Giêsu vác Thánh Giá không phải vì Người yêu sự bất công, nhưng vì Người yêu nhân loại đến cùng và biến chính sự bất công con người gây ra thành nơi Thiên Chúa thực hiện ơn cứu độ. Vì thế, người Kitô hữu không đi tìm sự dữ, nhưng khi sự dữ xảy đến, họ từ chối để sự dữ có tiếng nói cuối cùng. Đó là một điều hoàn toàn khác. Chúng ta chống lại bệnh tật, nhưng nếu bệnh không khỏi, ta vẫn có thể sống những ngày còn lại trong yêu thương. Chúng ta cố gắng hòa giải gia đình, nhưng nếu người kia chưa thay đổi, ta vẫn giữ lòng mình không hóa đá. Chúng ta chống lại bất công, nhưng không trở thành bất công trong lúc chống bất công. Chúng ta bảo vệ sự thật, nhưng không dùng sự thật như viên đá để ném người khác. Thánh Giá dạy chúng ta rằng phương tiện cũng phải mang khuôn mặt của mục đích: không thể xây hòa bình bằng hận thù; không thể bảo vệ chân lý bằng dối trá; không thể nhân danh Đức Kitô mà chà đạp con người.
Cũng chính trước Thánh Giá, chúng ta hiểu sâu hơn thế nào là tình yêu. Ngày nay người ta nói rất nhiều về yêu, nhưng thường yêu được hiểu như một cảm giác: ở bên người khiến tôi vui, chọn điều khiến tôi dễ chịu, giữ mối quan hệ khi nó còn đem lại lợi ích cho tôi. Thánh Giá cho ta một định nghĩa khác: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình” (Ga 15,13). Tình yêu thật luôn có giá. Người mẹ thức trắng đêm bên đứa con bệnh đang sống một chút mầu nhiệm Thánh Giá. Người cha lặng lẽ làm việc nhiều năm để gia đình được bình an đang sống một chút Thánh Giá. Một người con chăm sóc cha mẹ già mà không than trách đang sống một chút Thánh Giá. Một người vợ biết nhường một lời trong lúc nóng giận để bảo vệ bình an gia đình đang sống một chút Thánh Giá. Một người chồng chung thủy giữa những cám dỗ đang sống một chút Thánh Giá. Một linh mục vẫn bước lên bàn thờ vào một sáng lòng mình nặng trĩu nhưng vẫn trao cho cộng đoàn lời hy vọng đang sống một chút Thánh Giá. Một tu sĩ trung thành với đời cầu nguyện qua những năm khô khan đang sống một chút Thánh Giá. Một người âm thầm làm điều tốt mà chẳng ai biết đang bước trên đường Thánh Giá. Bởi tình yêu không được đo chủ yếu bằng điều ta cảm thấy, nhưng bằng điều ta sẵn sàng trao ban.
Thánh Phaolô nói tiếp một câu mà ta cần giữ trong lòng: “Cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cr 1,25). Dĩ nhiên nơi Thiên Chúa không có điên rồ hay yếu đuối thật sự. Phaolô dùng chính ngôn ngữ của người đời để làm nổi bật nghịch lý: điều con người gọi là “điên” nơi Thiên Chúa thật ra khôn ngoan hơn mọi triết lý của chúng ta; điều con người gọi là “yếu” nơi Thiên Chúa thật ra mạnh hơn mọi đế quốc. Hãy nhìn lại lịch sử. Đức Giêsu không viết một cuốn sách nào. Người không xây một cung điện nào. Người không chỉ huy một đạo quân. Người không giữ một chức vụ chính trị. Khi chết, Người chỉ khoảng ba mươi mấy tuổi, và số người trung thành đứng dưới chân Thánh Giá chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nếu một chuyên gia chiến lược đứng dưới chân Núi Sọ chiều hôm ấy, có lẽ ông ta sẽ kết luận: phong trào này kết thúc rồi. Người sáng lập đã chết, lãnh đạo nòng cốt bỏ chạy, thủ quỹ phản bội rồi tự kết liễu, người đứng đầu nhóm môn đệ chối Thầy, chính quyền đã niêm phong mộ. Hết. Nhưng ba ngày sau, tảng đá lăn ra. Và từ một nhóm người sợ hãi khóa cửa kín mít, Tin Mừng đi tới tận cùng thế giới. Không phải nhờ sức mạnh quân sự. Không nhờ tài chính khổng lồ. Không nhờ quyền lực chính trị. Nhưng nhờ những con người tin vào Đấng bị đóng đinh và phục sinh. Bao triều đại qua đi. Bao hệ tư tưởng xuất hiện rồi biến mất. Bao cuộc bách hại tìm cách xóa tên Kitô giáo. Thánh Giá vẫn còn đó. Không phải vì Kitô hữu luôn mạnh, nhưng bởi Đấng chịu đóng đinh đã sống lại.
Vì thế, Thánh Giá không bao giờ tách khỏi Phục Sinh. Nếu Đức Giêsu chỉ chết và không sống lại, Thánh Giá thật sự chỉ là bi kịch. Nhưng ánh sáng buổi sáng Phục Sinh chiếu ngược về chiều Thứ Sáu Tuần Thánh và làm ta hiểu rằng tình yêu đã không thất bại. Cái chết không nuốt được Đấng là Sự Sống. Hòn đá không giam được Người. Nấm mồ không giữ được Người. Sự dữ có thể làm Người bị thương nhưng không thể chiến thắng tình yêu. Đây là niềm hy vọng vô cùng lớn cho chúng ta. Người Kitô hữu không lạc quan ngây thơ. Chúng ta biết đời có Thứ Sáu Tuần Thánh. Chúng ta biết có những đêm không thấy bình minh. Chúng ta biết nước mắt là thật, tang tóc là thật, phản bội là thật, bệnh tật là thật, cái chết là thật. Nhưng chúng ta cũng biết chúng không phải là chương cuối cùng. Trong Đức Kitô, Thứ Sáu không bao giờ là ngày cuối của câu chuyện. Sau Thứ Sáu có Chúa Nhật. Sau mồ đá có phục sinh. Sau hạt lúa mục đi có mùa gặt. Sau cơn đau sinh nở có tiếng khóc của một sự sống mới. Người Kitô hữu có thể khóc, nhưng không tuyệt vọng. Có thể đau, nhưng không buông xuôi. Có thể bị dồn đến chân tường, nhưng vẫn tin rằng Thiên Chúa còn một cánh cửa mà mình chưa nhìn thấy.
Có lẽ điều khó nhất không phải là đeo một cây Thánh Giá trên cổ, mà là để Thánh Giá thay đổi cách chúng ta sống. Ta có thể hôn Thánh Giá trong phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng sáng hôm sau vẫn không tha cho người xúc phạm ta. Ta có thể làm dấu Thánh Giá nhiều lần mỗi ngày mà vẫn sống theo logic hơn-thua của thế gian. Ta có thể đặt Thánh Giá lớn trong nhà nhưng lại không chấp nhận hy sinh một chút cái tôi cho người trong nhà. Ta có thể giảng rất hay về Thập Giá mà lại sợ mọi điều làm mình mất danh dự. Vì vậy mỗi lần làm dấu Thánh Giá, ta cần nhớ mình đang tuyên xưng điều gì. “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” không phải là một động tác mở đầu cho nhanh trước khi cầu nguyện. Khi bàn tay chạm trán, ngực và hai vai, cả con người ta như được đặt dưới dấu của một Thiên Chúa đã yêu đến chết. Dấu Thánh Giá hỏi ta: tư tưởng của con có mang tình yêu của Đức Kitô không? Trái tim con có mang lòng thương xót của Người không? Đôi tay con có sẵn sàng phục vụ không? Đôi vai con có chấp nhận mang gánh nặng cho người khác không? Nếu Thánh Giá chỉ nằm trên tường mà không đi vào cách ta nói, cách ta cư xử, cách ta dùng tiền, cách ta đối xử với người yếu, cách ta tha thứ, cách ta chịu thiệt, thì Thánh Giá vẫn chưa thật sự đi vào đời ta.
Đứng trước Thánh Giá, ta cũng được chữa khỏi căn bệnh so sánh. Người đời nói: phải hơn người khác mới có giá trị. Thánh Giá nói: con được yêu đến mức Con Thiên Chúa đã trao mạng sống vì con. Còn cần chứng minh điều gì nữa? Người đời nói: phải được người khác công nhận. Thánh Giá nói: Chúa Cha biết con. Người đời nói: phải giữ hình ảnh. Thánh Giá nói: hãy sống thật trước mặt Thiên Chúa. Người đời nói: không được thất bại. Thánh Giá nói: Thiên Chúa có thể biến thất bại thành con đường cứu độ. Người đời nói: đừng bao giờ để ai thấy mình yếu. Thánh Giá nói: “Ơn của Thầy đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (x. 2 Cr 12,9). Bao nhiêu mệt mỏi của chúng ta đến từ việc cố chứng minh mình! Phải chứng minh mình đúng, mình giỏi, mình được yêu, mình thành công, mình quan trọng. Đến dưới chân Thánh Giá, ta có thể ngừng chứng minh. Người đang treo trên đó biết tất cả những điều xấu nhất nơi ta mà vẫn yêu ta đến cùng. Chẳng còn gì để che.
Và có lẽ đó chính là sự khôn ngoan sâu nhất của Thánh Giá: con người được cứu không phải bằng việc leo lên đến Thiên Chúa, nhưng bằng việc Thiên Chúa cúi xuống tận đáy thân phận con người. Từ thuở ban đầu, cám dỗ của con người là muốn “nên như thần”. Chúng ta muốn đi lên. Muốn cao hơn. Muốn hơn người. Muốn làm chủ. Nhưng Con Thiên Chúa lại đi con đường ngược lại. Người vốn dĩ là Thiên Chúa nhưng đã tự hủy, mang thân phận tôi tớ, trở nên giống phàm nhân, hạ mình vâng lời cho đến chết và chết trên cây Thập Tự (x. Pl 2,6-8). Con người muốn leo lên để thành thần; Thiên Chúa đi xuống để làm người. Con người muốn nắm lấy; Đức Kitô buông bỏ. Con người muốn được phục vụ; Người quỳ xuống rửa chân. Con người tranh chỗ nhất; Người chọn chỗ cuối. Và cuối cùng, chính Người được Chúa Cha siêu tôn. Con đường đi lên trong Nước Trời lại bắt đầu bằng việc đi xuống. Muốn sống thì phải biết chết đi. Muốn được đầy thì phải dám trở nên trống rỗng. Muốn giữ sự sống thì phải biết trao ban. “Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12,25). Với thế gian, đó là nghịch lý. Với Thiên Chúa, đó là con đường của hạt lúa: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Cây Thánh Giá chính là nơi Hạt Lúa Giêsu rơi xuống lòng đất nhân loại, chịu nghiền nát, chịu chết, để từ đó mọc lên một mùa gặt không ai có thể đếm được.
Cho nên khi đời ta gặp thập giá, đừng quá vội kết luận rằng Thiên Chúa đã bỏ mình. Có thể chính nơi ấy Người đang làm một công việc sâu hơn điều ta hiểu. Điều ấy không có nghĩa mọi đau khổ đều do Chúa trực tiếp gửi đến. Có đau khổ đến từ tự do sai lầm của con người; có đau khổ đến từ bệnh tật; có đau khổ là hậu quả của những lựa chọn; có đau khổ thuộc về giới hạn của một thế giới chưa được hoàn tất. Nhưng Tin Mừng bảo đảm một điều: không có nỗi đau nào ta trao cho Đức Kitô mà lại hoàn toàn vô ích. Người có thể lấy nước mắt làm nước tưới cho những hạt giống ta chưa nhìn thấy. Người có thể dùng một thất bại để phá một lòng kiêu ngạo từng làm ta xa Người. Người có thể dùng một thời gian cô độc để dạy ta cầu nguyện. Người có thể dùng tuổi già để dạy ta buông bỏ. Người có thể dùng một cánh cửa đóng lại để đưa ta đến một cánh cửa khác. Người có thể dùng chính những lần ta ngã để làm ta nhân hậu hơn với người đang ngã. Không phải mọi sự đều tốt, nhưng “Thiên Chúa làm cho mọi sự sinh ích cho những ai yêu mến Người” (Rm 8,28). Đây là niềm tin của người đứng dưới chân Thánh Giá mà vẫn chờ bình minh Phục Sinh.
Có những lúc ta chẳng thể làm gì hơn ngoài việc ở lại. Mẹ Maria đã làm như thế. Tin Mừng Gioan viết thật ngắn: “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Chỉ một chữ “đứng” thôi mà chứa cả một thế giới của đau thương và trung tín. Mẹ không thể tháo đinh. Mẹ không thể đuổi quân lính. Mẹ không thể thay đổi bản án. Mẹ chỉ đứng. Nhưng đôi khi đứng lại bên người đau khổ là tình yêu lớn nhất ta có thể trao. Chúng ta thường muốn nói gì đó để giải thích đau khổ của người khác, trong khi có những lúc lời nói chỉ làm đau hơn. Người mẹ mất con không cần nghe một bài giảng rằng “Chúa có ý”. Người bệnh nặng không cần bị trách rằng “đức tin yếu”. Người đang khủng hoảng không cần một công thức dễ dàng. Họ cần một người có thể đứng bên họ như Mẹ Maria đứng dưới Thánh Giá: không chạy trốn, không giải thích quá nhiều, không phán xét, chỉ ở đó. Thế giới có rất nhiều người nói, nhưng thiếu những người biết đứng bên cạnh. Có rất nhiều người đưa lời khuyên, nhưng ít người chịu cùng khóc. Chính dưới Thánh Giá, Hội Thánh học được mục vụ của sự hiện diện.
Sau cùng, Thánh Giá mời mỗi chúng ta chọn một thứ khôn ngoan để sống. Khôn ngoan của thế gian hay khôn ngoan của Thiên Chúa? Thế gian sẽ còn nói: giữ lấy mình trước đã. Đức Kitô nói: hãy trao ban. Thế gian nói: ai mạnh người ấy thắng. Đức Kitô nói: người hiền lành sẽ được Đất Hứa. Thế gian nói: trả đũa mới là công bằng. Đức Kitô nói: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho người ngược đãi anh em. Thế gian nói: danh dự quan trọng nhất. Đức Kitô chấp nhận bị lột áo và chế nhạo. Thế gian nói: chết là hết. Đức Kitô bước ra khỏi mồ. Hai con đường ấy vẫn chạy song song trước mặt ta mỗi ngày. Không phải chỉ trong những quyết định lớn, mà cả trong những chuyện rất nhỏ: lúc ta chọn nhịn một lời hay nói cho hả giận; lúc ta chọn trung thực hay gian dối để có lợi; lúc ta chọn ở lại chăm sóc một người hay bỏ đi cho nhẹ; lúc ta chọn dùng tiền cho mình hay chia sẻ; lúc ta chọn cầu nguyện cho người làm mình đau hay tiếp tục nuôi hận; lúc ta chọn âm thầm làm điều đúng dù chẳng ai khen. Chính trong những lựa chọn nhỏ ấy, Thánh Giá được dựng lên giữa đời thường.
Một ngày nào đó tất cả chúng ta cũng sẽ đi tới thập giá cuối cùng của đời mình: cái chết. Khi ấy chức vụ sẽ ở lại phía sau. Tiền bạc ở lại. Nhà cửa ở lại. Danh tiếng ở lại. Những lời khen chê ở lại. Những cuộc tranh cãi từng làm ta mất ngủ rồi cũng chẳng còn quan trọng. Có lẽ khi nằm xuống, ta mới thấy bao điều mình từng bám víu thật nhỏ bé. Điều còn lại sẽ là tình yêu. Ta đã yêu thế nào. Đã tha thứ bao nhiêu. Đã làm ai bớt đau. Đã giúp ai đứng lên. Đã để Đức Kitô biến đổi lòng mình đến đâu. Và lúc ấy, cây Thánh Giá mà ta từng làm dấu mỗi ngày sẽ trở thành cánh cửa. Bởi Đấng đã đi qua cái chết trước ta đang đứng ở phía bên kia. Người không nói với ta từ một ngai vàng xa xôi: “Hãy tự tìm đường.” Người nói: “Thầy là Đường.” Người không đứng ngoài mồ và bảo ta đừng sợ; Người đã vào mồ trước rồi bước ra. Vì thế người Kitô hữu có thể nhìn cái chết mà không tuyệt vọng. Chúng ta không yêu cái chết. Chúng ta cũng sợ như mọi người. Nhưng ta biết rằng phía sau Thánh Giá là Phục Sinh.
Thánh Giá vẫn là sự điên rồ đối với thế gian, vì thế gian khó hiểu một Thiên Chúa chấp nhận thua để con người được thắng, chấp nhận nghèo để con người được giàu, chấp nhận bị thương để con người được chữa lành, chấp nhận chết để con người được sống. Nhưng chính điều điên rồ ấy đã cứu chúng ta. Vì nếu Thiên Chúa đối xử với chúng ta theo sự khôn ngoan lạnh lùng của phép tính công bằng, ai có thể đứng vững? Nếu mỗi tội đều lập tức nhận đúng hình phạt, ai còn hy vọng? May thay, nơi Thánh Giá, công lý và lòng thương xót đã gặp nhau. Tội lỗi được nhìn nhận là nghiêm trọng đến mức Con Thiên Chúa phải chết, nhưng tội nhân lại được yêu quý đến mức Con Thiên Chúa sẵn sàng chết cho họ. Không thể xem nhẹ tội khi nhìn Thánh Giá, nhưng cũng không thể tuyệt vọng vì tội khi nhìn Thánh Giá. Cây Thánh Giá vừa nói cho ta biết tội lỗi khủng khiếp đến đâu, vừa nói cho ta biết tình yêu Thiên Chúa còn lớn hơn đến mức nào.
Vậy thì mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, xin đừng chỉ thấy một tượng chịu nạn quen thuộc đến mức không còn làm lòng ta rung động. Hãy nhìn thật lâu. Đôi tay ấy đã bị đóng vì yêu ta. Đôi chân ấy đã đi tìm những người lạc mất. Cạnh sườn ấy đã bị đâm mở ra để trở thành nguồn suối. Trái tim ấy không giữ lại điều gì. Và hãy nghe trong thinh lặng lời Người nói với từng người: “Ta đã yêu con đến thế này.” Nếu một ngày ta thấy mình không được ai hiểu, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu thấy tội mình quá lớn, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu thấy đau khổ quá nặng, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu đang hận một người, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu đang kiêu ngạo vì thành công, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu đang tuyệt vọng vì thất bại, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu không biết phải yêu thế nào, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu không biết Thiên Chúa là ai, hãy nhìn Thánh Giá. Bởi ở đó, Thiên Chúa không còn giải thích tình yêu. Người cho thấy tình yêu.
Và rồi xin Chúa cho ta can đảm bước đi dưới dấu của Thánh Giá. Không phải chỉ đeo Thánh Giá, nhưng sống Thánh Giá. Không phải chỉ kính Thánh Giá, nhưng để logic của Thánh Giá đi vào từng lựa chọn. Không phải tìm đau khổ, nhưng khi đau khổ đến thì biết biến nó thành của lễ. Không phải yếu đuối, nhưng đủ mạnh để yêu trong một thế giới dạy ta hận. Không phải nhu nhược, nhưng đủ tự do để tha thứ trong một thế giới thích trả đũa. Không phải thất bại, nhưng tin rằng có những chiến thắng chỉ có thể đạt được bằng việc dám mất chính mình vì tình yêu. Đến cuối cùng, ta sẽ hiểu lời thánh Phaolô không phải là một nghịch lý để suy luận, nhưng là một sự thật để sống: “Cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người.” Thập Giá đã từng là cây gỗ của nhục nhã, nhưng Đức Giêsu đã biến nó thành ngai tòa của tình yêu. Thập Giá từng là dấu chấm hết, nhưng Đức Kitô đã biến nó thành cánh cửa mở vào Phục Sinh. Thập Giá từng nói rằng con người đã giết Thiên Chúa; từ ngày Thứ Sáu ấy, Thánh Giá lại nói rằng ngay cả khi con người giết chết Tình Yêu, Tình Yêu vẫn không ngừng yêu con người.
Đó là sự điên rồ của Thiên Chúa.
Và phúc cho chúng ta nếu một ngày đủ “điên” để tin vào sự điên rồ ấy, đủ khôn ngoan để chọn sự khôn ngoan ấy, đủ can đảm để ôm lấy Thánh Giá của đời mình, và đủ yêu để cùng Đức Kitô biến những cây gỗ chết chóc của cuộc đời thành những cây sự sống cho mình và cho anh chị em.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ MẶC KHẢI DUNG NHAN THIÊN CHÚA YÊU THƯƠNG ĐẾN CÙNG
Có lẽ trong tất cả những biểu tượng của Kitô giáo, không có biểu tượng nào quen thuộc bằng Thánh Giá, nhưng cũng không có biểu tượng nào dễ bị chúng ta nhìn quen đến độ không còn thấy hết chiều sâu nhiệm mầu của nó. Thánh Giá được đặt trên nóc nhà thờ, treo nơi cung thánh, hiện diện trong mỗi gia đình Công giáo, nằm trên bàn làm việc, trên đầu giường, đeo nơi cổ của nhiều người, được ghi trên trán trẻ thơ ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, được linh mục dùng để chúc lành, được người tín hữu ghi trên thân mình mỗi sáng thức dậy và mỗi tối trước khi ngủ. Chúng ta làm dấu Thánh Giá quá nhiều đến nỗi đôi khi bàn tay vẫn đưa lên trán, xuống ngực, sang vai trái, vai phải, mà tâm hồn lại chẳng còn rung động gì. Ta nhìn thấy cây Thánh Giá mà quên mất trên đó có một Con Người đã bị đóng đinh. Ta nhìn thấy Đức Giêsu bị đóng đinh mà đôi khi lại quên rằng chính nơi Người, Thiên Chúa đang nói với nhân loại lời cuối cùng và trọn vẹn nhất về chính Ngài. Và lời ấy không phải là một bài diễn văn. Lời ấy là một thân xác bị thương. Lời ấy là những bàn tay bị đóng đinh. Lời ấy là một cạnh sườn bị đâm thâu. Lời ấy là một trái tim bị nghiền nát vì yêu. Lời ấy chính là Thánh Giá.
Con người từ thuở ban đầu vẫn luôn đi tìm dung nhan Thiên Chúa. Có người tìm Ngài trong sức mạnh của bão tố, trong sự hùng vĩ của núi cao, trong ánh sáng của mặt trời, trong những biến động của lịch sử. Có người hình dung Thiên Chúa như một vị vua quyền uy ngự trên cao, nhìn xuống thế giới và thưởng người lành, phạt kẻ dữ. Có người sợ Thiên Chúa hơn là yêu Ngài. Có người chỉ đến với Chúa khi gặp bất hạnh, rồi nghĩ rằng phải làm một điều gì đó để “xin Chúa nguôi giận”. Có người tưởng Thiên Chúa giống như con người chúng ta: yêu người tốt, ghét người xấu; gần người thánh thiện, xa người tội lỗi; vui khi được tôn kính, nổi giận khi bị xúc phạm. Nhưng nếu muốn biết Thiên Chúa thật sự là ai, Kitô hữu không thể chỉ dựa vào những hình dung của mình. Chúng ta phải nhìn lên Đức Giêsu Kitô, và đặc biệt phải nhìn lên Đức Giêsu chịu đóng đinh. Bởi vì như Người đã nói: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9). Nhìn Đức Kitô là nhìn thấy Thiên Chúa. Và nhìn Đức Kitô trên Thánh Giá là nhìn thấy tận đáy trái tim của Thiên Chúa.
Thánh Giá nói với chúng ta rằng Thiên Chúa không yêu nhân loại từ một khoảng cách an toàn. Ngài không đứng trên trời nhìn xuống những đau khổ của con người như một khán giả. Ngài đã bước vào chính đau khổ ấy. Thiên Chúa đã làm người. Người đã biết đói, biết khát, biết mệt, biết bị từ chối, biết cô đơn, biết bị hiểu lầm, biết bị phản bội. Và cuối cùng, Người đã bước vào nơi đáng sợ nhất của kiếp người: đau đớn, nhục nhã và cái chết. Điều gây kinh ngạc trong Kitô giáo không chỉ là con người đau khổ vì Thiên Chúa, nhưng là Thiên Chúa chấp nhận đau khổ vì con người. Không chỉ là con người tìm Thiên Chúa, nhưng là Thiên Chúa đi tìm con người. Không chỉ là con người hy sinh cho Thiên Chúa, nhưng trước hết chính Thiên Chúa đã trao chính mình cho con người. Thánh Phaolô đã diễn tả điều ấy bằng một lời thật đơn sơ mà quá đỗi lớn lao: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” (Rm 5,8). Không phải khi chúng ta đã tốt. Không phải sau khi chúng ta đã sửa mình. Không phải lúc chúng ta đã xứng đáng. Nhưng “ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi”.
Đó là điều cần được suy đi nghĩ lại cả một đời. Thiên Chúa không đợi tôi trở nên dễ thương rồi mới yêu tôi. Ngài yêu tôi để tôi có thể trở nên tốt hơn. Ngài không đợi tôi sạch sẽ rồi mới ôm tôi. Ngài ôm lấy tôi giữa bùn đất để đưa tôi ra khỏi đó. Ngài không đợi đứa con hoang đàng tắm rửa, thay áo, giải thích hết những lỗi lầm rồi mới cho vào nhà. Người cha trong Tin Mừng đã chạy ra khi đứa con còn ở đàng xa. Chính cái “chạy ra” ấy đã hé lộ trái tim Thiên Chúa. Và trên đồi Golgotha, Thiên Chúa còn đi xa hơn nữa: Ngài chạy đến tận nơi con người đóng đinh Con của Ngài, để ngay giữa tội ác ấy, Ngài vẫn mở ra một con đường tha thứ.
Đoạn Tin Mừng theo thánh Luca kể lại một cảnh có lẽ phải được đọc thật chậm mỗi khi chúng ta muốn hiểu dung nhan Thiên Chúa: “Khi đến nơi gọi là Đồi Sọ, họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái. Bấy giờ Đức Giêsu cầu nguyện rằng: ‘Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm’” (x. Lc 23,33-34). Hãy thử đứng lại trước câu này. Những chiếc đinh vừa xuyên qua tay Người. Thân thể Người đang rách nát. Những kẻ đóng đinh Người vẫn còn đứng đó. Những người chế giễu vẫn đang chế giễu. Người có quyền nguyền rủa, nhưng Người cầu nguyện. Người có quyền xin Chúa Cha trừng phạt, nhưng Người xin tha thứ. Người không nói: “Lạy Cha, hãy nhìn xem chúng đã làm gì Con.” Người nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Nếu chúng ta hỏi: Thiên Chúa là ai? Câu trả lời nằm ở đây. Thiên Chúa là Đấng, ngay khi bị con người đóng đinh, vẫn tìm lý do để tha thứ cho chính những kẻ đóng đinh mình. “Vì họ không biết việc họ làm.” Tình yêu ấy đã đi đến tận cùng.
Chúng ta thường yêu có điều kiện. Ta yêu người tử tế với mình. Ta quý người quý mình. Ta nhớ người nhớ mình. Ta gọi người gọi mình. Ta mời người từng mời mình. Ta tha thứ cho người biết xin lỗi. Ta giúp người biết ơn. Nhưng Thiên Chúa yêu theo một cách khác. Chúa Giêsu trên Thánh Giá không chờ lính Rôma buông búa xuống và quỳ gối xin lỗi rồi mới tha. Người tha khi họ vẫn còn chưa hiểu. Người cầu nguyện cho họ trong khi họ vẫn đang phạm tội. Tình yêu Thiên Chúa không phải phần thưởng cho lòng tốt của con người. Tình yêu ấy là nguồn mạch có thể làm phát sinh lòng tốt trong con người.
Bởi vậy, Thánh Giá đánh đổ hình ảnh về một Thiên Chúa luôn chờ đợi để bắt lỗi. Có những người sống đạo hàng chục năm nhưng sâu trong lòng vẫn sợ Chúa như sợ một quan tòa khó tính. Họ đọc kinh nhưng bất an. Họ đi lễ nhưng sợ hãi. Họ xưng tội nhưng không bao giờ tin rằng mình thật sự được tha thứ. Họ nghĩ rằng tội của họ quá lớn, quá xấu, quá nhiều đến mức ngay cả Thiên Chúa cũng khó lòng tha nổi. Nếu ai đang mang tâm trạng ấy, xin hãy nhìn Thánh Giá. Đừng chỉ nhìn tội mình. Hãy nhìn Đấng đã chết cho mình. Tội lỗi của chúng ta có thể sâu, nhưng lòng thương xót còn sâu hơn. Quá khứ chúng ta có thể tối, nhưng tình yêu của Chúa còn có thể đi vào tận bóng tối ấy. Không một vực thẳm nào của đời người sâu hơn vực thẳm của trái tim bị đâm thâu của Đức Kitô.
Tin Mừng Gioan kể rằng sau khi Đức Giêsu tắt thở, một người lính lấy giáo đâm cạnh sườn Người, và lập tức máu cùng nước chảy ra (x. Ga 19,34). Một trái tim đã chết vẫn còn mở ra. Một Thiên Chúa đã bị con người khước từ vẫn để cạnh sườn mình mở rộng. Hội Thánh từ rất sớm đã nhìn thấy nơi máu và nước ấy dấu chỉ của ân sủng, của Bí tích Thánh Thể, của Bí tích Rửa Tội, của Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô. Nhưng xét ở bình diện sâu xa nhất, cạnh sườn bị mở ra còn nói với chúng ta một điều: trái tim Thiên Chúa không đóng lại trước sự vô ơn của nhân loại. Con người đã mở cạnh sườn Chúa bằng một mũi giáo; Chúa biến chính vết thương ấy thành cửa ngõ của ân sủng. Con người trao cho Chúa một vết thương; Chúa trả lại cho con người một nguồn sống. Đó là cách Thiên Chúa yêu.
Thánh Giá cũng cho thấy tình yêu thật không chỉ là cảm xúc. Nhiều người nói về tình yêu rất hay, nhưng tình yêu chỉ thật sự được đo khi phải trả giá. Một người mẹ thức trắng đêm bên đứa con bệnh sẽ hiểu điều ấy. Một người cha âm thầm gánh những nhọc nhằn để gia đình được bình an sẽ hiểu điều ấy. Một người vợ chăm sóc người chồng đau yếu nhiều năm sẽ hiểu điều ấy. Một người con hy sinh thời gian và tự do để chăm cha mẹ già sẽ hiểu điều ấy. Một linh mục ở lại với đoàn chiên giữa những giai đoạn khó khăn sẽ hiểu điều ấy. Yêu mà chưa từng phải hy sinh thì tình yêu ấy chưa được thử lửa. Trên Thánh Giá, tình yêu Thiên Chúa không còn là lời tuyên bố. Tình yêu ấy có giá bằng máu.
Có một câu trong Tin Mừng Gioan chứa đựng gần như toàn bộ ý nghĩa của cuộc đời Đức Giêsu: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). “Đến cùng” không chỉ là đến cuối đời. “Đến cùng” còn là đến tận mức cuối cùng của tình yêu. Người yêu đến lúc bị phản bội. Yêu đến lúc bị bỏ rơi. Yêu đến khi các môn đệ chạy trốn. Yêu đến khi Phêrô chối Người. Yêu đến khi Giuđa bán Người. Yêu đến khi người ta nhổ vào mặt Người. Yêu đến khi bị đội mão gai. Yêu đến khi bị đánh đòn. Yêu đến khi phải vác cây gỗ nặng lên đồi. Yêu đến khi những chiếc đinh xuyên qua tay chân. Yêu đến khi không còn gì để cho nữa, và lúc ấy Người trao chính sự sống mình.
Thánh Giá vì thế không phải là thất bại của Đức Giêsu. Nếu nhìn bằng con mắt quyền lực thế gian, đó là một thất bại. Người bị bắt. Người không chống cự. Môn đệ bỏ trốn. Đám đông quay lưng. Lãnh đạo tôn giáo loại trừ Người. Đế quốc Rôma xử tử Người. Người chết như một tội nhân bên ngoài thành. Nhưng nếu nhìn bằng con mắt của Thiên Chúa, Thánh Giá chính là chiến thắng của tình yêu. Bởi trên đó, hận thù đã không thể làm cho Đức Giêsu ngừng yêu. Bạo lực không thể biến Người thành kẻ bạo lực. Sự phản bội không làm Người phản bội lại. Tội lỗi con người không làm Người rút lại lòng thương xót. Cái chết không thể làm tình yêu của Người chết theo. Đó là chiến thắng lớn nhất.
Chúng ta thường nghĩ chiến thắng là làm cho đối phương thất bại. Đức Giêsu cho thấy một chiến thắng khác: không để điều ác biến mình thành kẻ ác. Người chiến thắng không phải bằng cách đóng đinh người khác, nhưng bằng cách chấp nhận bị đóng đinh mà vẫn yêu. Người không tiêu diệt kẻ thù. Người tiêu diệt sự thù địch bằng lòng tha thứ. Người không bước xuống khỏi Thánh Giá để chứng minh quyền năng, dù người ta thách thức: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi!” Chính vì là Con Thiên Chúa nên Người không xuống. Nếu Người xuống để tự cứu mình, có thể người ta sẽ kinh ngạc trước một phép lạ. Nhưng khi Người ở lại để cứu người khác, nhân loại được thấy một điều lớn hơn phép lạ: thấy trái tim của Thiên Chúa.
Có khi ta cũng thách Chúa theo cách ấy mà không nhận ra. Khi đau khổ xảy đến, ta nói: “Nếu Chúa thương con, sao Chúa không cất điều này đi?” Khi một người thân đau bệnh, ta hỏi: “Nếu Chúa toàn năng, sao Chúa không chữa?” Khi gia đình gặp biến cố, ta tự hỏi: “Chúa ở đâu?” Câu hỏi ấy không sai. Đức Giêsu trên Thánh Giá cũng đã kêu: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34). Đức tin Kitô giáo không bắt người đau khổ giả vờ không đau. Chúa Giêsu cũng đã run sợ trong vườn Cây Dầu. Người đã xin: “Lạy Cha, nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén này.” Nhưng Người nói thêm: “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (x. Mt 26,39). Đức tin không phải là không có nước mắt. Đức tin là biết khóc trong tay Thiên Chúa. Đức tin không phải là không có câu hỏi. Đức tin là giữa những câu hỏi vẫn không buông bàn tay Chúa.
Thánh Giá không cho chúng ta câu trả lời dễ dàng về lý do của mọi đau khổ. Nó cho chúng ta một điều còn quý hơn: trong đau khổ, Thiên Chúa ở đâu. Ngài ở với người đau khổ. Một Thiên Chúa chịu đóng đinh không phải là Thiên Chúa đứng ngoài nước mắt của nhân loại. Khi một người mẹ khóc bên quan tài con mình, Chúa không đứng xa. Khi một người bệnh nằm trong phòng ung thư và nghe bác sĩ nói những lời nặng nề, Chúa không xa. Khi một gia đình tan vỡ, khi một người bị bỏ rơi, khi ai đó sống trong cô đơn tưởng như không ai hiểu mình, người ấy có thể nhìn lên Thánh Giá và biết rằng: có một Đấng hiểu. Không phải hiểu bằng lý thuyết. Người hiểu vì Người đã đi qua đêm tối.
Có những vết thương không ai nhìn thấy. Có người vẫn cười nhưng bên trong đã kiệt sức. Có người vẫn đi làm, vẫn chăm sóc gia đình, vẫn nói chuyện bình thường, nhưng đêm xuống lại cảm thấy lòng trống rỗng. Có người bị tổn thương bởi chính những người mình từng tin tưởng nhất. Có người mang một mặc cảm suốt hàng chục năm. Có người bị một lời nói trong quá khứ ám ảnh mãi. Có người sống bên cạnh nhiều người mà vẫn thấy mình cô độc. Thánh Giá nói với tất cả họ: Thiên Chúa không ghê sợ vết thương của con. Người mang vết thương trong chính thân thể phục sinh của Người.
Điều thật lạ là sau khi sống lại, Đức Giêsu không xóa các dấu đinh. Người có một thân xác vinh hiển, vậy mà những vết thương vẫn còn. Người nói với Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy” (Ga 20,27). Những vết thương đã được biến đổi. Chúng không còn là dấu hiệu của thất bại, mà trở thành chứng tích của tình yêu. Đây là một niềm hy vọng rất lớn cho cuộc đời chúng ta: Chúa không nhất thiết xóa khỏi lịch sử ta mọi điều từng xảy ra, nhưng Ngài có thể biến đổi ý nghĩa của chúng. Một vết thương được chữa lành có thể trở thành nơi ta biết cảm thông với người khác. Một thất bại có thể làm ta khiêm tốn hơn. Một lần được tha thứ có thể dạy ta biết tha thứ. Một giai đoạn cô đơn có thể làm ta biết trân trọng sự hiện diện. Một lần té ngã có thể khiến ta dịu dàng hơn với người đang té ngã.
Người Kitô hữu không tôn thờ đau khổ. Chúng ta tôn thờ một Thiên Chúa đã biến đau khổ thành con đường của tình yêu. Có sự khác biệt rất lớn. Không phải mọi đau khổ đều do Chúa gửi đến. Không được lấy Thánh Giá để bảo một nạn nhân phải cam chịu bạo lực. Không được lấy hai chữ “hy sinh” để che đậy bất công. Đức Giêsu không yêu sự dữ. Người chống lại sự dữ. Người chữa người bệnh, giải phóng người bị quỷ ám, bênh vực người yếu thế, lên án sự giả hình. Nhưng khi sự dữ dồn Người đến Thánh Giá, Người không để nó có tiếng nói cuối cùng. Người biến nơi hành hình thành bàn thờ của tình yêu.
Bởi vậy, mang Thánh Giá không có nghĩa là đi tìm đau khổ. Mang Thánh Giá có nghĩa là khi đau khổ không thể tránh, ta chọn đi qua nó bằng tình yêu thay vì bằng hận thù. Mang Thánh Giá là tiếp tục trung thành khi trung thành phải trả giá. Là tha thứ khi lòng mình có đủ lý do để trả đũa. Là giữ lòng ngay thẳng khi gian dối đem lại lợi ích nhanh hơn. Là chăm sóc một người bệnh dù rất mệt. Là kiên nhẫn với một người già lặp đi lặp lại một câu chuyện. Là không bỏ rơi đứa con đang lầm đường. Là dám xin lỗi khi lòng kiêu hãnh bảo ta im lặng. Là làm điều đúng ngay cả khi không ai biết. Những cây thánh giá như thế không được làm bằng gỗ, nhưng vẫn nặng.
Đức Giêsu nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). Người không nói: “Hãy vác thập giá của người khác.” Mỗi người có một thập giá riêng. Điều làm ta dễ mệt mỏi đôi khi là cứ nhìn sang người khác. “Sao đời họ nhẹ hơn đời tôi? Sao gia đình họ yên hơn nhà tôi? Sao người kia thành công mà tôi thất bại?” Nhưng ta chỉ nhìn thấy phần bên ngoài của họ. Có những thập giá được che bằng một nụ cười. Có những đêm tối không bao giờ được kể. Có những giọt nước mắt chỉ Thiên Chúa biết. Vì thế, thay vì so sánh thập giá, hãy xin ơn mang thập giá mình bằng tình yêu.
Thánh Giá còn mặc khải một sự thật làm chúng ta phải xấu hổ: tình yêu chân thật luôn hướng ra khỏi mình. Đức Giêsu trên Thánh Giá, trong những giây phút đau đớn nhất, vẫn nghĩ đến người khác. Người cầu nguyện cho những kẻ giết mình. Người hứa thiên đàng cho người trộm lành: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43). Người nhìn thấy Mẹ mình và người môn đệ yêu dấu, rồi trao họ cho nhau: “Thưa Bà, đây là con của Bà… Đây là mẹ của anh” (Ga 19,26-27). Người sắp chết nhưng vẫn lo cho mẹ. Người đau nhưng vẫn thấy nỗi đau của người khác. Còn chúng ta, chỉ cần đau một chút là cả thế giới phải xoay quanh mình. Chỉ cần buồn là ta dễ làm người khác buồn theo. Chỉ cần bị tổn thương là ta có thể tổn thương lại. Nhìn Thánh Giá, ta học được rằng tình yêu trưởng thành không phải là không đau, nhưng là ngay trong đau vẫn có khả năng yêu.
Và có lẽ đó là một trong những phép lạ lớn nhất mà ân sủng có thể làm trong một tâm hồn: biến người bị tổn thương thành người chữa lành thay vì thành người gây thêm tổn thương. Trên đời này, biết bao điều xấu cứ truyền từ người này sang người khác. Một người từng bị xúc phạm lại đi xúc phạm người khác. Một người lớn lên trong bạo lực lại dễ dùng bạo lực. Một người bị phản bội trở nên nghi ngờ mọi người. Vết thương không được chữa lành thường tạo ra vết thương mới. Nhưng nơi Đức Kitô, chuỗi dây ấy có thể bị cắt đứt. Người nhận vào mình tất cả bạo lực và trả lại bằng tha thứ. Người nhận lấy hận thù và trả lại bằng tình yêu. Người nhận cái chết và trả lại bằng sự sống.
Vì vậy, người môn đệ của Đức Kitô không được chỉ đeo Thánh Giá trên cổ; phải để Thánh Giá đi vào cách mình sống. Một cây Thánh Giá bằng vàng trên cổ mà trong lòng đầy cay độc thì vẫn chưa đủ. Làm dấu Thánh Giá mỗi ngày mà về nhà nói những lời làm người thân đau thì ta chưa hiểu dấu mình làm. Hôn kính Thánh Giá Thứ Sáu Tuần Thánh mà không chịu tha thứ cho một người nào đó thì còn khoảng cách rất xa giữa nghi lễ và cuộc đời. Tôn kính Đức Kitô chịu đóng đinh đồng nghĩa với việc nhận ra Người trong những con người đang bị đóng đinh của thời đại mình: người nghèo, người bị bỏ rơi, người bệnh, người già cô độc, trẻ em thiếu tình thương, những gia đình đang gãy đổ, những người lầm lỡ đang tìm đường trở về.
Trong dụ ngôn ngày phán xét, Đức Giêsu không hỏi người ta đã có bao nhiêu ảnh tượng trong nhà, nhưng Người nói: “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước…” (x. Mt 25,35). Một Kitô giáo chỉ dừng ở lòng đạo đức bên ngoài mà không chạm đến người đau khổ thì chưa phải là Kitô giáo của Thánh Giá. Vì Đấng bị đóng đinh đã tự đồng hóa mình với những người bé nhỏ.
Thánh Giá cũng là trường học của lòng tha thứ. Tha thứ không phải là chuyện dễ. Có những lời khuyên “thôi bỏ qua đi” nghe rất nhẹ đối với người nói nhưng rất nặng với người đang đau. Đức Giêsu không dạy tha thứ từ một chiếc ghế êm. Người dạy tha thứ khi bị đóng đinh. Vì thế, mỗi khi thấy mình không thể tha thứ, ta không cần giả vờ rằng mình đã tha. Hãy đem chính sự bất lực ấy đến trước Thánh Giá: “Lạy Chúa, con chưa làm được. Con vẫn đau. Con vẫn giận. Con vẫn nhớ. Nhưng xin Chúa đừng để lòng con trở thành nơi nuôi hận thù.” Tha thứ có thể là một hành trình rất dài. Có khi phải tha thứ mỗi ngày cho cùng một vết thương. Có những sáng ta tưởng đã tha, tối đến nỗi đau lại về. Không sao. Hãy tiếp tục đặt nó vào trái tim Đức Kitô.
Tha thứ cũng không có nghĩa là nói điều sai là đúng. Đức Giêsu tha cho những kẻ đóng đinh Người nhưng việc đóng đinh vẫn là tội ác. Tha thứ không luôn có nghĩa là lập tức quay lại mối quan hệ cũ. Có những trường hợp cần khoảng cách, cần sự thật, cần công lý, cần bảo vệ người yếu thế. Nhưng Kitô hữu được mời gọi không để lòng mình bị hận thù làm chủ. Bởi nếu kẻ làm ta tổn thương đã đi khỏi mà nhiều năm sau vẫn điều khiển được tâm trạng và suy nghĩ của ta, họ vẫn đang giữ ta trong một nhà tù vô hình. Thánh Giá mở cửa nhà tù ấy.
Có một chi tiết rất đẹp trong Tin Mừng: Đức Giêsu chịu đóng đinh giữa hai người trộm. Người không chết giữa hai thiên thần. Người chết giữa những tội nhân. Cả cuộc đời Người là như thế. Khi sinh ra, Người ở trong máng cỏ vì không có chỗ trong nhà trọ. Khi sống, Người ngồi ăn với những người thu thuế và tội lỗi. Khi chết, Người chết giữa những kẻ bị kết án. Người luôn đứng ở nơi con người xấu hổ nhất. Vì vậy, đừng bao giờ nghĩ rằng mình phải che giấu phần đổ vỡ của mình khỏi Chúa. Chính nơi ta xấu hổ nhất có khi lại là nơi Người muốn gặp ta nhất.
Người trộm lành chẳng còn gì để dâng cho Chúa. Hai tay anh bị đóng đinh. Anh không thể xuống khỏi thập giá để làm việc thiện. Không còn thời gian sửa lại đời mình. Không còn cơ hội đền bù. Anh chỉ còn một lời cầu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Đức Giêsu trả lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Một đời có thể đã sai, nhưng một phút cuối vẫn có thể mở vào vĩnh cửu nếu con người thật lòng quay về. Không phải vì tội chẳng đáng kể, mà vì lòng thương xót quá lớn.
Câu chuyện ấy là niềm hy vọng cho biết bao gia đình đang đau vì người thân lầm lạc. Đừng tuyệt vọng. Khi chúng ta không còn làm gì được, Chúa vẫn có thể làm. Khi mọi cánh cửa dường như đóng lại, trái tim Chúa vẫn mở. Có người trở về rất muộn, nhưng miễn là còn một hơi thở, vẫn còn có thể có một lời: “Lạy Chúa, xin nhớ đến con.”
Và kỳ lạ thay, lời cuối cùng của Đức Giêsu không phải tiếng tuyệt vọng. Tin Mừng Luca ghi: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Sau tất cả bóng tối, Người vẫn gọi Thiên Chúa là Cha. Đó là chiều sâu của đức tin: khi không còn cảm thấy gì, vẫn phó thác. Khi không hiểu, vẫn phó thác. Khi không kiểm soát được ngày mai, vẫn phó thác. Khi sự sống đang rời khỏi tay mình, vẫn tin rằng mình đang ở trong một Bàn Tay khác.
Chúng ta thường muốn nắm mọi thứ: sức khỏe, con cái, công việc, tương lai, danh dự, tài sản. Nhưng đời sống rồi sẽ dạy ta rằng có rất nhiều điều ta không nắm được. Con cái lớn lên và đi con đường của chúng. Người thân có thể rời xa. Sức khỏe thay đổi. Những kế hoạch có thể đổ vỡ. Cuối cùng, người Kitô hữu phải học lời của Đức Giêsu: “Con xin phó thác.” Phó thác không phải buông xuôi. Phó thác là làm hết điều mình có thể, rồi trao phần còn lại vào tay Chúa.
Một ngày kia, tất cả chúng ta cũng sẽ phải đi đến lời cầu nguyện cuối cùng ấy. Khi đó, bằng cấp ở đâu, chức vụ ở đâu, tiền bạc ở đâu, lời khen chê ở đâu? Chỉ còn ta và Thiên Chúa. Và có lẽ điều nâng đỡ ta lúc ấy không phải là mình đã sống một đời hoàn hảo, bởi chẳng ai hoàn hảo, mà là biết rằng Đấng đang chờ mình chính là Đấng từng giang hai tay trên Thánh Giá.
Hai cánh tay ấy đã không khép lại.
Thánh Giá có hình một đường dọc và một đường ngang. Có thể xem đường dọc như tình yêu nối trời với đất, nối con người với Thiên Chúa. Đường ngang như tình yêu nối con người với con người. Hai chiều không thể tách rời. Không thể thật sự yêu Chúa mà khinh người. Không thể quỳ lâu trước nhà tạm rồi bước ra chà đạp anh em. Thánh Gioan nói rất rõ: ai nói mình yêu Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình thì là kẻ nói dối (x. 1 Ga 4,20). Thánh Giá luôn buộc tình yêu đi cả hai chiều.
Và tâm điểm nơi hai thanh gỗ gặp nhau là trái tim Đức Kitô.
Mọi con đường của Kitô giáo đều dẫn về trái tim ấy. Cầu nguyện để học yêu như Người. Thánh Thể để được nuôi bằng tình yêu của Người. Bí tích Hòa Giải để được tình yêu ấy chữa lành. Lời Chúa để nghe lại tiếng của Người. Phục vụ người nghèo để chạm vào thân thể Người. Đời sống Kitô hữu không phải trước hết là cố gắng trở thành một người đạo đức theo nghĩa hoàn hảo không lỗi lầm. Đó là để mình được yêu, được tha thứ, được biến đổi, rồi học yêu người khác bằng chính tình yêu mình đã nhận.
Có lẽ bi kịch lớn nhất không phải là con người có tội, mà là con người không tin mình được yêu. Khi một người tin rằng mình không đáng được yêu, họ có thể tìm đủ thứ để lấp khoảng trống ấy: tiền bạc, quyền lực, tiếng khen, những mối quan hệ lệ thuộc, những thú vui chóng qua. Nhưng không gì đủ. Bởi trái tim con người được tạo dựng cho một tình yêu vô điều kiện. Thánh Giá là câu trả lời của Thiên Chúa cho cơn đói ấy: “Con đáng giá đến mức Ta trao Con Một vì con.”
“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một” (Ga 3,16). Không phải Thiên Chúa yêu một thế gian hoàn hảo. Người yêu “thế gian” này: một thế gian có chiến tranh, phản bội, ích kỷ, bất công; một thế gian từng đóng đinh Con của Người. Vậy mà Người vẫn yêu. Nếu Chúa không bỏ thế gian này, ta cũng đừng vội tuyệt vọng về nó. Nếu Chúa không bỏ một tội nhân, ta cũng đừng vội đóng cửa đối với họ. Nếu Chúa còn kiên nhẫn với ta đến hôm nay, ta cũng nên học kiên nhẫn hơn với người khác.
Nhìn thật lâu lên Thánh Giá, ta sẽ thấy Thiên Chúa khác với rất nhiều tưởng tượng của mình. Ngài không phải Thiên Chúa của khoảng cách mà là Thiên Chúa của sự gần gũi. Không phải Thiên Chúa của lạnh lùng mà là Thiên Chúa có trái tim bị đâm thâu. Không phải Thiên Chúa yêu con người vì họ xứng đáng, mà là Thiên Chúa làm cho họ trở nên xứng đáng bằng tình yêu. Không phải Thiên Chúa đứng về phía những kẻ mạnh để nghiền nát những người yếu, mà là Thiên Chúa đã tự đặt mình vào vị trí của một người bị hành hình. Không phải Thiên Chúa chỉ ở trong những nơi sáng sủa, mà còn bước xuống những vực sâu nhất của kiếp người.
Vì thế, mỗi lần nhìn Thánh Giá, xin đừng chỉ nhìn một vật thánh. Hãy nghe một lời yêu. Một lời không được viết bằng mực nhưng bằng máu: “Ta yêu con.” Khi thất bại, hãy nghe: “Ta vẫn yêu con.” Khi phạm tội rồi thật lòng trở về: “Ta vẫn yêu con.” Khi mọi người hiểu lầm: “Ta biết con.” Khi bị bỏ rơi: “Ta ở đây.” Khi sợ chết: “Ta đã đi qua con đường ấy.” Khi không còn cầu nguyện nổi: hãy chỉ nhìn lên Người.
Có những ngày chúng ta chẳng cần nói nhiều với Chúa. Chỉ cần ngồi trước Thánh Giá. Nhìn bàn tay bị đinh xuyên và nghĩ đến những việc Chúa đã làm cho mình. Nhìn đôi chân bị đóng lại và nhớ Người đã đi bao xa để tìm mình. Nhìn đầu đội mão gai và nhớ những kiêu ngạo của mình. Nhìn cạnh sườn mở ra và đặt vào đó tất cả những gì ta chẳng biết nói với ai. Có những lời cầu nguyện không có câu chữ, chỉ có nước mắt. Chúa hiểu.
Rồi một ngày ta sẽ nhận ra rằng Thánh Giá không chỉ ở trước mặt ta. Nó phải được khắc vào đời ta. Khi ta nhịn một lời có thể làm người khác đau, Thánh Giá đang sống. Khi ta bước tới làm hòa, Thánh Giá đang sống. Khi ta chăm sóc một người không thể trả ơn, Thánh Giá đang sống. Khi ta chịu mất phần lợi để giữ lương tâm ngay thẳng, Thánh Giá đang sống. Khi ta cầu nguyện cho người đã làm khổ mình, dù lòng còn đau, Thánh Giá đang sống. Khi ta chọn ở lại bên một người trong giờ tăm tối thay vì bỏ đi, Thánh Giá đang sống.
Thế giới hôm nay có quá nhiều lời về tình yêu nhưng vẫn thiếu tình yêu. Người ta nói rất nhiều về quyền của mình nhưng ít nói đến sự hy sinh cho người khác. Người ta dễ kết nối nhưng cũng dễ bỏ nhau. Một cú nhấp chuột có thể kết bạn và cũng có thể chặn nhau. Một mối quan hệ có thể bắt đầu rất nhanh và kết thúc cũng rất nhanh. Trong một thế giới ấy, Thánh Giá vẫn đứng im và nói một điều ngược dòng: tình yêu thật là ở lại. Đức Giêsu đã ở lại trên Thánh Giá. Người không bước xuống khi tình yêu trở nên đau đớn. Người yêu “đến cùng”.
Có những gia đình sẽ được cứu nếu người ta học lại chữ “ở lại”. Không phải ở lại trong bạo lực hay sự hủy hoại, nhưng ở lại với trách nhiệm, với đối thoại, với tha thứ, với nỗ lực. Có những ơn gọi sẽ được cứu nếu người ta nhớ rằng ngày đầu mình đã trao lời gì. Có những tình bạn sẽ được chữa lành nếu ai đó chịu bước bước đầu tiên. Có những cộng đoàn sẽ bình an hơn nếu mỗi người bớt bảo vệ cái tôi và nhìn lên Đấng đã “tự hủy mình” vì yêu.
Thánh Phaolô đã viết một câu làm rung động người tin qua mọi thời đại: “Người đã yêu tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20). Không chỉ “yêu nhân loại”. Không chỉ “chết cho thế gian”. Nhưng “yêu tôi”. Đức tin chỉ thực sự trở thành một kinh nghiệm sống động khi từ cái chung ta đi vào cái riêng ấy. Người đã yêu tôi. Giữa hàng tỷ con người, tôi không phải một con số. Mỗi vết thương của tôi Người biết. Mỗi lần tôi khóc Người biết. Mỗi điều tôi đã sai Người biết. Và Người vẫn yêu tôi.
Nếu ta thật sự tin điều ấy, đời sống sẽ thay đổi. Người biết mình được yêu không cần giành giật tình yêu bằng mọi giá. Người biết mình được Chúa nhìn nhận không cần sống chết vì lời khen. Người biết giá trị của mình trước Thiên Chúa không cần hạ người khác xuống để thấy mình cao hơn. Người từng được tha nhiều sẽ biết thương người yếu đuối. Có lẽ rất nhiều sự dữ bắt đầu từ một trái tim không biết mình được yêu. Và rất nhiều sự thánh thiện bắt đầu khi một người bất ngờ nhận ra: “Chúa yêu tôi thật.”
Nhưng xin đừng dừng lại ở cảm xúc. Tình yêu của Thánh Giá luôn đặt ta trước một lời mời gọi. Đức Giêsu đã yêu ta đến cùng; ta sẽ yêu đến đâu? Ta có thể chịu thiệt một chút vì người khác không? Ta có thể tha một món nợ tình cảm đã giữ nhiều năm không? Ta có thể gọi điện cho người mình đang giận không? Ta có thể ngồi bên một người già thay vì chỉ gửi tiền không? Ta có thể bớt một giờ cho điện thoại để có một giờ thật sự hiện diện với gia đình không? Ta có thể ngừng nói xấu một người mình không thích không? Ta có thể dành một phần thu nhập để giúp một người không bao giờ biết tên mình không?
Thánh Giá luôn rất cụ thể.
Đức Giêsu không yêu chúng ta bằng một ý tưởng. Người yêu bằng thân xác. Bàn tay. Bàn chân. Máu. Hơi thở. Vì vậy, Kitô hữu cũng không thể chỉ yêu bằng lời. “Tôi thương người nghèo” nhưng chưa từng chia sẻ gì là chưa đủ. “Tôi yêu gia đình” nhưng không có thời gian cho gia đình là chưa đủ. “Tôi yêu Chúa” nhưng không dành thời gian gặp Chúa là chưa đủ. Tình yêu cần có thân xác. Nó phải đi vào lịch của ta, ví tiền của ta, cách ta sử dụng thời gian, lời nói, quyết định.
Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, khi cộng đoàn tiến lên hôn kính Thánh Giá, phụng vụ mời gọi: “Đây là cây Thánh Giá, nơi treo Đấng Cứu Độ trần gian.” Và cộng đoàn thưa: “Chúng ta hãy đến thờ lạy.” Ta cúi xuống hôn chân Đấng chịu đóng đinh. Nhưng nụ hôn ấy sẽ thật hơn nếu sau đó ta biết cúi xuống trước nỗi đau của một người. Chúa Giêsu đã từng quỳ xuống rửa chân các môn đệ. Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa biết quỳ xuống. Nếu ta theo Ngài mà chỉ muốn người khác cúi trước mình, ta đã đi ngược đường của Thầy.
Không có con đường nào khác để hiểu Kitô giáo ngoài con đường ấy. Một Kitô giáo không có Thánh Giá sẽ trở thành thứ tôn giáo chỉ tìm an ủi. Một Kitô giáo có Thánh Giá nhưng không có tình yêu sẽ biến thành khắc khổ vô nghĩa. Thánh Giá Kitô giáo luôn là Thánh Giá của tình yêu và dẫn đến Phục Sinh. Đêm tối không phải chương cuối. Ngôi mộ không phải câu cuối. Thứ Sáu Tuần Thánh dẫn đến sáng Chúa Nhật Phục Sinh.
Điều đó có nghĩa là chúng ta có quyền hy vọng. Không phải thứ hy vọng ngây thơ cho rằng mọi chuyện rồi sẽ dễ dàng, mà là niềm hy vọng cứng cỏi phát xuất từ ngôi mộ trống: tình yêu mạnh hơn sự chết. Nếu Thiên Chúa có thể làm cho một cây gỗ tử hình trở thành cây cứu độ, Người cũng có thể làm điều gì đó từ những mảnh vỡ đời ta. Nếu Người biến Thứ Sáu Tuần Thánh thành cửa ngõ Phục Sinh, Người cũng có thể viết một chương mới sau những ngày tưởng như chấm hết.
Đừng bao giờ đặt dấu chấm nơi Thiên Chúa chỉ mới đặt dấu phẩy.
Một cuộc hôn nhân gặp khủng hoảng chưa chắc là hết. Một đứa con đang lầm lạc chưa chắc là mất. Một người đã ngã sâu chưa chắc không thể đứng lên. Một trái tim bị tổn thương chưa chắc không thể yêu lại. Một tuổi già bệnh tật chưa chắc là vô nghĩa. Một thất bại chưa chắc là dấu hiệu Chúa bỏ ta. Có khi chính trong nơi ta tưởng đã chết, Thiên Chúa chuẩn bị một mầm sống mới.
Nhưng Phục Sinh không xóa Thánh Giá; Phục Sinh đi xuyên qua Thánh Giá. Chúa không cứu thế giới bằng cách né tránh đau khổ, mà bằng cách đi qua đau khổ với một tình yêu không bị đánh bại. Đó cũng là con đường chúng ta.
Cuối cùng, đứng trước Thánh Giá, điều đẹp nhất có lẽ không phải là hiểu hết, bởi chẳng ai hiểu hết mầu nhiệm ấy. Điều đẹp nhất là để mình được yêu. Như người môn đệ Chúa yêu đứng dưới chân Thánh Giá. Như Đức Maria đứng đó, không nói nhiều. Có những mầu nhiệm chỉ có thể đứng trước chúng trong thinh lặng.
Nếu hôm nay lòng ta đang bình an, hãy nhìn Thánh Giá và tạ ơn.
Nếu hôm nay ta đang tội lỗi, hãy nhìn Thánh Giá và trở về.
Nếu hôm nay ta đang đau, hãy nhìn Thánh Giá và biết mình không cô độc.
Nếu hôm nay ta đang giận một người, hãy nhìn Thánh Giá và xin ơn tha thứ.
Nếu hôm nay ta đang sợ tương lai, hãy nhìn Thánh Giá và tập thưa: “Lạy Cha, con xin phó thác.”
Nếu hôm nay ta đang nghi ngờ rằng Chúa còn yêu mình hay không, đừng hỏi thêm nữa. Hãy nhìn đôi tay bị đóng đinh.
Thiên Chúa đã trả lời rồi.
Ngài yêu con người không phải bằng một lời nói mau qua. Ngài yêu bằng chính Con Một. Ngài yêu bằng máu. Ngài yêu bằng sự sống. Ngài yêu trong cả lúc nhân loại tốt đẹp lẫn khi nhân loại tồi tệ nhất. Ngài yêu những môn đệ trung tín và yêu cả Phêrô vừa chối Ngài. Ngài yêu Gioan dưới chân Thánh Giá và yêu cả những người đang đóng đinh Ngài. Ngài yêu người mẹ đau khổ bên cạnh và yêu tên trộm chỉ còn vài phút để sống. Ngài yêu đến cùng.
Và đó chính là dung nhan thật của Thiên Chúa.
Không phải một dung nhan khiến con người kinh hãi mà trốn chạy, nhưng một dung nhan bị thương để con người dám trở về. Không phải đôi tay nắm chặt để kết án, nhưng đôi tay mở rộng trên Thánh Giá. Không phải trái tim khép kín vì bị xúc phạm, nhưng trái tim bị đâm thâu và mở ra. Thiên Chúa không thể nói thêm lời nào lớn hơn nữa về tình yêu của Ngài, bởi trên Thánh Giá, Ngài đã nói tất cả.
Có lẽ từ nay, mỗi lần làm dấu Thánh Giá, chúng ta nên làm chậm lại một chút. “Nhân danh Cha” – Đấng đã yêu thế gian đến mức trao ban Con Một. “Và Con” – Đấng đã yêu tôi và hiến mạng vì tôi. “Và Thánh Thần” – Đấng đổ tình yêu Thiên Chúa vào lòng chúng ta. “Amen” – con tin. Con nhận. Con muốn sống trong tình yêu ấy.
Và nếu có một lời cầu nguyện để kết thúc khi đứng trước Thánh Giá, có lẽ chỉ cần rất đơn sơ:
Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, con đã nhìn Thánh Giá quá nhiều lần mà chưa thật sự nhìn thấy tình yêu. Con đã làm dấu Thánh Giá quá nhiều lần mà đôi khi đời sống con lại đi ngược với dấu ấy. Xin cho con hôm nay biết dừng lại dưới chân Chúa. Xin cho con nhìn thấy nơi những vết thương của Chúa trái tim của Chúa Cha. Xin cho con hiểu rằng không một tội lỗi nào của con lớn hơn lòng thương xót của Ngài, không một đêm tối nào sâu hơn tình yêu đã xuống tận âm phủ để tìm con. Xin dạy con yêu như Chúa: yêu không chỉ khi dễ, yêu cả lúc phải trả giá; tha thứ không chỉ khi người khác xứng đáng, nhưng vì chính con đã được tha; phục vụ không phải để được nhìn thấy, mà vì Chúa đã cúi xuống rửa chân con. Khi con đau khổ, xin cho con nhớ rằng Chúa đã đi con đường ấy. Khi con cô đơn, xin cho con nhớ Chúa từng kêu lên trong cô độc. Khi con sợ hãi, xin cho con nhớ lời phó thác của Chúa. Khi con không còn sức, xin cho con tựa đầu vào cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa. Và khi một ngày cuộc đời con đi đến những giây phút cuối cùng, xin cho con có thể nhìn lên Thánh Giá mà thưa bằng tất cả niềm tin của một đời người: Lạy Chúa, con không có gì để khoe, con chỉ có một điều để bám lấy: Chúa đã yêu con đến cùng. Xin nhớ đến con trong Nước của Chúa.
Thánh Giá vẫn đứng đó giữa lòng thế giới. Hai cánh tay Đức Kitô vẫn mở. Trái tim Người vẫn là nơi trú ẩn cho những người mệt mỏi. Và từ cây gỗ tưởng là dấu chấm hết của một cuộc đời, Thiên Chúa đã viết nên lời yêu thương đẹp nhất của vĩnh cửu: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).
Hãy nhìn lên Thánh Giá.
Ở đó, ta sẽ biết Thiên Chúa là ai.
Ở đó, ta cũng sẽ biết mình quý giá biết bao trong mắt Ngài.
Ở đó, ta hiểu rằng câu trả lời cuối cùng của Thiên Chúa cho tội lỗi con người không phải là hủy diệt, mà là lòng thương xót; câu trả lời cho hận thù không phải là hận thù lớn hơn, mà là tình yêu lớn hơn; câu trả lời cho cái chết không phải là tuyệt vọng, mà là Phục Sinh.
Và ở đó, trong Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh, dung nhan của Thiên Chúa đã được mặc khải trọn vẹn:
Một Thiên Chúa yêu thương.
Một Thiên Chúa tự hiến.
Một Thiên Chúa tha thứ.
Một Thiên Chúa ở lại.
Một Thiên Chúa yêu con người cho đến cùng.
Lm. Anmai, CSsR.

KHI NÀO TÔI ĐƯỢC GIƯƠNG CAO, TÔI SẼ KÉO MỌI NGƯỜI LÊN VỚI TÔI
“Khi nào Tôi được giương cao lên khỏi mặt đất, Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi” (Ga 12,32). Có những lời của Chúa Giêsu nghe qua tưởng như rất đơn sơ, nhưng càng sống lâu với đời, càng đi sâu vào những vui buồn của phận người, càng đứng bên những chiếc giường bệnh, những nấm mồ, những cuộc chia ly, những thất bại, những phản bội và những giọt nước mắt không ai nhìn thấy, ta càng nhận ra có những lời không thể hiểu bằng trí óc mà chỉ có thể hiểu bằng cả một đời người. Câu nói của Chúa Giêsu về việc Người được “giương cao” là một lời như thế. “Giương cao” nghe như một cuộc tôn vinh, nhưng nơi Chúa Giêsu, đó lại là cây thập giá. “Giương cao” nghe như một chiến thắng, nhưng trước mắt người đời hôm ấy lại là một người bị đóng đinh, bị lột áo, bị chế nhạo, bị kết án, bị treo giữa trời và đất như một kẻ thất bại. “Giương cao” nghe như bước lên ngai vàng, nhưng ngai của Đức Kitô lại là một cây gỗ thô nhám trên đồi Canvê; triều thiên của Người là vòng gai; áo hoàng bào của Người là thân thể đầy thương tích; những kẻ đứng hai bên ngai không phải các quan đại thần mà là hai người tử tội. Vậy mà chính từ nơi tưởng như thấp nhất ấy, Con Thiên Chúa lại nói: “Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi.” Không phải từ một ngai vàng trần thế, không phải từ một cuộc biểu dương quyền lực, không phải từ tiếng vỗ tay của đám đông, nhưng từ thập giá, Đức Giêsu kéo con người về với Thiên Chúa. Đó là nghịch lý sâu thẳm nhất của Tin Mừng: Thiên Chúa cứu thế giới không bằng cách đứng trên con người, nhưng bằng cách hạ mình xuống tận đáy khổ đau của con người; Người không kéo con người lên bằng sức mạnh cưỡng bức, nhưng bằng một tình yêu chịu để cho chính mình bị đóng đinh.
Muốn hiểu câu nói ấy, phải trở lại với bối cảnh Tin Mừng Gioan. Có mấy người Hy Lạp lên Giêrusalem thờ phượng trong dịp lễ. Họ đến gặp ông Philípphê và nói một câu rất đẹp: “Thưa ông, chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu” (Ga 12,21). Một câu nói tưởng nhỏ nhưng lại mở ra cả một chân trời. Những người ngoài biên giới Israel bắt đầu tìm đến Đức Giêsu. Giờ của Người đã đến. Khi nghe các môn đệ báo lại, Đức Giêsu không vội bước ra để được đám đông tung hô, nhưng Người nói: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh.” Và lập tức Người nói đến hạt lúa mì: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Rồi Người nói đến chính giờ phút thập giá đang tiến đến: “Phần Tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi.” Thánh Gioan còn giải thích rất rõ: “Đức Giêsu nói thế để ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào” (Ga 12,33). Như vậy, “được giương cao” chính là bị giương lên thập giá. Nhưng trong ngôn ngữ của Tin Mừng Gioan, thập giá không chỉ là cái chết. Thập giá đồng thời là sự tôn vinh. Ngày Đức Giêsu bị treo lên lại chính là ngày tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ đến tận cùng. Nơi thập giá, tất cả những gì Chúa Giêsu đã nói, đã sống, đã làm trong suốt cuộc đời công khai được thu lại trong một cử chỉ duy nhất: trao ban chính mình. Người đã chữa người bệnh, tha thứ cho người tội lỗi, chạm vào người phong cùi, ngồi ăn với người bị khinh khi, khóc trước mộ Ladarô, bênh vực người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội, rửa chân cho môn đệ; nhưng trên thập giá, Người không còn trao cho con người một phép lạ, một lời giảng hay một sự chữa lành nữa. Người trao chính Người. Không còn gì để giữ lại. “Người yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). “Đến cùng” nghĩa là đến giới hạn cuối cùng, và cũng có nghĩa là không còn một giới hạn nào cho tình yêu ấy nữa.
Thập giá vì thế là nơi ta phải học lại ý nghĩa của chữ “Thiên Chúa”. Có lúc con người hình dung Thiên Chúa như một Đấng ngự thật cao, nhìn xuống những con người bé nhỏ đang quằn quại dưới đất. Có người khi đau khổ đã hỏi: Thiên Chúa ở đâu? Tại sao Người im lặng? Tại sao Người không can thiệp? Tại sao Người để tôi mất người thân? Tại sao Người để căn bệnh này xảy đến? Tại sao người lành lại khổ? Tại sao kẻ sống tử tế lại bị phản bội? Tại sao tôi cầu nguyện bao nhiêu năm mà điều tôi xin vẫn không đến? Những câu hỏi ấy không phải là tội. Chính Đức Giêsu trên thập giá cũng đã thốt lên: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Thiên Chúa không trách con người vì những tiếng kêu bật ra từ vết thương. Nhưng câu trả lời của Kitô giáo trước đau khổ không phải là một bài lý luận khép kín. Câu trả lời là một Người bị đóng đinh. Khi con người hỏi: “Thiên Chúa ở đâu trong nỗi đau của tôi?”, thập giá trả lời: Người ở trong đó. Người không đứng bên ngoài. Người đã bước vào. Người biết đau là gì. Người biết bị hiểu lầm là gì. Người biết bị bạn bè bỏ rơi là gì. Người biết bị phản bội bằng một nụ hôn là gì. Người biết cầu nguyện trong sợ hãi đến toát mồ hôi máu là gì. Người biết bị xét xử bất công là gì. Người biết thân thể kiệt sức là gì. Người biết thế nào là tiếng kêu không được trả lời ngay lập tức. Người biết chết là gì. Không có vực thẳm nào của kiếp người mà Đức Kitô không đi xuống. Vì vậy, không có vực thẳm nào mà tình yêu Thiên Chúa không thể chạm tới.
“Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi.” Có một chữ vô cùng đẹp: “mọi người”. Đức Giêsu không nói: Tôi chỉ kéo những người đạo đức. Người không nói: Tôi chỉ kéo những ai chưa từng phạm tội. Người không nói: Tôi chỉ kéo những người giữ đạo thật tốt, những người chưa từng ngã quỵ, những người chưa bao giờ nghi ngờ. Người nói: “mọi người”. Dưới chân thập giá có chỗ cho tất cả. Có chỗ cho người thánh thiện và người tội lỗi. Có chỗ cho người mạnh mẽ và kẻ yếu đuối. Có chỗ cho người đã giữ đạo cả đời và người mới quay về trong phút cuối. Có chỗ cho Phêrô từng chối Thầy. Có chỗ cho Tôma từng nghi ngờ. Có chỗ cho người trộm lành mà cả cuộc đời có thể đã đi lạc nhưng phút cuối chỉ thưa một câu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Đức Giêsu lập tức mở cho anh cánh cửa hy vọng: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Thập giá không dựng một bức tường để loại trừ. Thập giá dang hai cánh tay ra. Hai cánh tay bị đóng đinh nhưng vẫn mở rộng. Hai bàn tay không thể khép lại nữa, như thể Thiên Chúa muốn nói với nhân loại rằng: từ nay tình yêu của Ta sẽ không bao giờ đóng lại trước các con.
Nhưng Chúa “kéo” chúng ta lên bằng cách nào? Không phải như một sức mạnh lấy mất tự do. Thiên Chúa không lôi con người về phía Người bằng cưỡng ép. Tình yêu thật không cưỡng ép. Người kéo bằng sức hấp dẫn của tình yêu. Một người có thể chống lại quyền lực, chống lại lời đe dọa, chống lại luật lệ, nhưng rất khó đứng mãi trước một tình yêu chân thật mà lòng không rung động. Nhìn lên Đấng chịu đóng đinh, ta thấy một Thiên Chúa không trả đũa. Người bị nguyền rủa nhưng không nguyền rủa lại. Người bị đóng đinh nhưng không xin lửa từ trời xuống thiêu những kẻ đóng đinh mình. Người nghe những lời chế nhạo nhưng không sử dụng quyền năng để bước xuống khỏi thập giá. Trái lại Người cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Chính lời ấy đã làm thay đổi lịch sử. Ở nơi mà lòng hận thù tưởng như phải sinh thêm hận thù, Đức Giêsu chặn đứng vòng xoáy ấy bằng tha thứ. Người không truyền lại cho môn đệ một món nợ báo thù. Người truyền lại lòng thương xót. Người không chết với bàn tay nắm chặt. Người chết với bàn tay mở ra. Và từ đó, biết bao con người suốt hai ngàn năm đã nhìn lên thập giá mà thay đổi cuộc đời. Những con người từng mang hận thù đã học tha thứ. Những con người từng sống ích kỷ đã học cho đi. Những con người từng tuyệt vọng đã tìm lại hy vọng. Những con người từng nghĩ đời mình vô nghĩa đã nhận ra họ được yêu với một giá không thể đo lường.
Có lẽ điều con người cần nhất không phải trước tiên là được bảo rằng mình phải sống tốt hơn, nhưng là được biết rằng mình được yêu. Một đứa trẻ lớn lên mà không cảm nhận được tình yêu sẽ mang nhiều vết thương. Một người trưởng thành sống giữa những mối quan hệ lạnh lùng có thể có đủ tiền bạc mà lòng vẫn trống vắng. Có những người cười rất nhiều nhưng bên trong lại cô đơn. Có những người được hàng ngàn người biết đến mà chẳng có ai thật sự hiểu mình. Có người sống cả đời trong mặc cảm rằng mình không đủ tốt, không đủ đẹp, không đủ thành công, không đáng được yêu. Và đôi khi người ta mang cả tâm trạng ấy vào đời sống đức tin: “Tôi tội lỗi thế này, chắc Chúa không muốn nhìn đến tôi nữa.” Nhưng thập giá nói điều ngược lại. Thập giá không nói tội của con người là nhỏ. Nếu tội không nghiêm trọng, đã không cần đến giá máu của Con Thiên Chúa. Nhưng thập giá còn nói một điều lớn hơn: tình yêu của Thiên Chúa lớn hơn tội lỗi của con người. Thánh Phaolô viết: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” (Rm 5,8). Không phải khi ta đã sửa mình xong Chúa mới yêu. Chính vì Chúa yêu nên ta mới có thể đứng dậy mà sửa mình. Không phải vì ta đáng yêu nên Người chịu đóng đinh. Người chịu đóng đinh để nói với ta rằng trong mắt Thiên Chúa, một con người không bao giờ là món đồ có thể vứt đi.
Nhiều người sống trong mặc cảm quá khứ. Có những chuyện xảy ra đã mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm mà mỗi khi nhớ lại lòng vẫn đau. Có những sai lầm ta không thể sửa hoàn toàn được nữa. Có những lời đã nói ra không thể thu về. Có những người ta muốn xin lỗi nhưng họ đã không còn ở đây. Có những cánh cửa đã khép. Có những hậu quả phải mang theo suốt đời. Chính trong những giờ phút ấy, cần nhìn lên thập giá. Thập giá không xóa quá khứ theo kiểu làm như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Những vết đinh vẫn còn trên thân thể Đức Kitô phục sinh. Nhưng điều lạ lùng là những vết thương ấy không còn là dấu hiệu thất bại; chúng trở thành dấu hiệu của tình yêu chiến thắng. Đức Giêsu phục sinh hiện ra với các môn đệ mà vẫn mang những dấu đinh. Người không che chúng lại. Điều đó cho ta một niềm hy vọng rất lớn: Thiên Chúa không nhất thiết xóa mọi vết thương của đời ta, nhưng Người có thể biến ý nghĩa của chúng. Một vết thương từng làm ta cay đắng có thể trở thành nơi ta biết cảm thông với người khác. Một thất bại từng khiến ta nhục nhã có thể trở thành trường học của khiêm nhường. Một lần đi lạc có thể làm ta biết thương những người đang lạc đường. Một cuộc đổ vỡ có thể làm ta hiểu thế nào là nâng đỡ người đang khóc. Một tội lỗi được tha thứ có thể làm ta bớt khắc nghiệt khi nhìn tội lỗi của anh em. Chúa không lãng phí những giọt nước mắt đã được trao vào tay Người.
“Khi nào Tôi được giương cao…” Câu nói này còn mời ta nhìn lại cách ta hiểu sự thành công. Thế gian thường gọi một người là “được nâng cao” khi người ấy có chức, có tiền, có quyền, có danh tiếng, được nhiều người biết đến. Đức Giêsu lại được “nâng cao” khi bị đóng đinh. Không phải Kitô giáo yêu thích đau khổ hay cổ võ thất bại. Nhưng Tin Mừng đảo ngược thang giá trị của con người. Người lớn nhất không phải người bắt nhiều người phục vụ mình nhưng là người phục vụ. Người đứng đầu phải trở nên người rốt hết. Người muốn giữ mạng sống mình thì sẽ mất; người dám mất mạng sống vì tình yêu thì sẽ tìm lại. Hạt lúa muốn sinh nhiều bông hạt phải đi vào lòng đất và chết đi. Vì vậy, một cuộc đời xem ra nhỏ bé nhưng được sống trong tình yêu có thể lớn lao hơn một cuộc đời vang danh nhưng chỉ xoay quanh cái tôi. Một bà mẹ thức đêm bên người con đau bệnh có thể đang sống Tin Mừng sâu xa hơn bao nhiêu lời nói hoa mỹ. Một người chồng âm thầm chăm sóc người vợ bệnh tật nhiều năm có thể đang bước rất gần Đấng chịu đóng đinh. Một người con kiên nhẫn với cha mẹ già, dù đôi lúc mỏi mệt, đang làm cho thập giá trở thành sự sống. Một linh mục trung thành với đoàn chiên trong những ngày không ai biết đến, một tu sĩ vẫn cầu nguyện và phục vụ khi chẳng nhận lời khen, một giáo dân giữ lòng ngay thẳng giữa môi trường người ta dễ dàng gian dối, một người bị xúc phạm nhưng quyết định không trả thù: tất cả những điều ấy đều có một phần của mầu nhiệm “được giương cao”. Bởi khi cái tôi chịu hạ xuống để tình yêu được nâng lên, thập giá đang trổ sinh hoa trái.
Thế nhưng không phải thập giá nào trong đời cũng là “thập giá Chúa gửi”. Cần nói điều này để đức tin không biến thành sự cam chịu sai lầm. Có những đau khổ phát sinh từ tội lỗi, bạo lực, bất công và sự ích kỷ của con người; chúng ta không được lấy danh nghĩa “vác thập giá” để bắt nạn nhân tiếp tục chịu đựng điều ác. Đức Giêsu vác thập giá không phải vì Người yêu sự dữ, nhưng vì Người yêu con người đến mức bước vào nơi sự dữ tưởng như đang chiến thắng để đánh bại nó từ bên trong. Đi theo Chúa không có nghĩa là khoanh tay trước bất công. Trái lại, càng đứng dưới chân thập giá, ta càng phải bảo vệ phẩm giá con người, bởi nơi thập giá ta thấy giá trị của một con người lớn đến mức nào trong mắt Thiên Chúa. Người bị áp bức cần được bảo vệ. Người bị tổn thương cần được chữa lành. Người yếu thế cần một bàn tay. Người bị xúc phạm cần công lý. Tha thứ không có nghĩa là gọi điều ác thành điều tốt. Tha thứ là không cho điều ác có tiếng nói cuối cùng trong lòng mình.
Chúa Giêsu nói: “Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi.” Người kéo ta ra khỏi đâu? Trước hết, Người kéo ta ra khỏi chính cái tôi khép kín. Nhiều đau khổ của đời người đến từ việc ta quay quanh bản thân mình quá nhiều: người ta nghĩ gì về tôi, người ta có tôn trọng tôi không, tại sao tôi không được công nhận, tại sao người khác hơn tôi, tại sao tôi phải chịu thiệt, tại sao không ai hiểu tôi. Càng đặt mình ở trung tâm, ta càng dễ bị tổn thương. Thập giá kéo ta ra khỏi nhà tù của cái tôi bằng cách chỉ cho ta thấy một tình yêu hoàn toàn hướng về người khác. Đức Giêsu trên thập giá vẫn nghĩ đến người khác. Người nghĩ đến những kẻ đóng đinh mình và xin Cha tha cho họ. Người nghĩ đến người trộm bên cạnh và trao cho anh lời hứa Thiên Đàng. Người nhìn Mẹ và người môn đệ yêu dấu, trao họ cho nhau: “Thưa Bà, đây là con của Bà… Đây là Mẹ của anh.” Người chết mà vẫn trao ban. Có lẽ ta chưa thể yêu như Người ngay lập tức, nhưng mỗi lần biết bước ra khỏi mình để nhìn nỗi đau của người bên cạnh, ta đã được Người kéo lên một chút.
Người kéo ta ra khỏi hận thù. Hận thù có sức nặng khủng khiếp. Một người có thể tưởng mình đang giữ người khác trong nhà tù của sự không tha thứ, nhưng thật ra chính mình bị nhốt. Ngày nào ta còn để một người khác quyết định tâm trạng của mình chỉ vì điều họ đã làm năm xưa, ngày ấy họ vẫn có quyền trên cuộc đời ta. Tha thứ không phải chuyện một đêm. Có những vết thương phải tha thứ nhiều lần vì ký ức cứ trở lại. Có khi miệng đã nói “tôi tha” nhưng tim chưa kịp theo. Chúa không đòi ta giả vờ không đau. Người mời ta đem chính nỗi đau ấy đến dưới thập giá. Ta có thể nói với Chúa: “Con chưa tha được, nhưng con muốn muốn tha. Xin Chúa làm trong con điều con chưa làm nổi.” Đó đã là khởi đầu của tự do. Khi nhìn Đấng bị đóng đinh cầu xin cho kẻ giết mình, ta hiểu rằng tha thứ không phải yếu đuối; đôi khi đó là một trong những sức mạnh lớn nhất của một con người.
Người kéo ta ra khỏi tuyệt vọng. Tuyệt vọng thường nói: “Hết rồi.” Thập giá cũng có vẻ là “hết rồi”. Chiều thứ Sáu hôm ấy, các môn đệ chắc tưởng mọi chuyện đã chấm dứt. Người họ đặt hy vọng đã chết. Tảng đá đã lấp cửa mồ. Nhưng Thiên Chúa bắt đầu nơi con người tưởng là kết thúc. Bình minh Phục Sinh mọc lên từ chính ngôi mộ ấy. Vì thế người Kitô hữu có quyền buồn nhưng không có quyền tuyệt vọng như thể Thiên Chúa đã chết. Có những lúc ta không thấy con đường phía trước. Không sao. Đức tin không phải lúc nào cũng là thấy đường. Đức tin nhiều khi chỉ là vẫn nắm tay Chúa khi không thấy gì. Có những lời cầu nguyện không làm hoàn cảnh đổi ngay nhưng làm con người đủ sức bước tiếp. Có những đêm không ngắn lại, nhưng trong đêm ấy bỗng có một ngọn đèn. Có những căn bệnh không được chữa theo điều ta xin, nhưng người bệnh lại tìm thấy một bình an mà người khỏe mạnh chưa chắc có. Có những mất mát không gì bù được, nhưng trong chính khoảng trống ấy, người ta cảm nhận một sự hiện diện rất lạ: Chúa không giải thích tất cả, nhưng Chúa ở đó.
Người kéo ta ra khỏi nỗi sợ chết. Đây có lẽ là dây xích sâu nhất của con người. Bao nhiêu điều ta tranh giành, tích lũy, giữ lấy cũng vì biết một ngày tất cả sẽ tuột khỏi tay. Thập giá và Phục Sinh tuyên bố rằng cái chết không còn là bức tường cuối cùng. Đức Kitô bước vào cái chết và mở một cánh cửa nơi trước đó chỉ có bức tường. Người Kitô hữu vẫn khóc khi mất người thân. Đức Giêsu cũng khóc trước mộ Ladarô. Đức tin không làm ta thành đá. Nhưng nước mắt Kitô hữu có một chân trời. Ta tiễn một người không phải vào hư vô. Ta đặt thân xác họ vào lòng đất với niềm tin như gieo một hạt giống. “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi…” Hình ảnh ấy giờ đây trở nên gần gũi biết bao. Nghĩa trang Kitô giáo vì vậy không chỉ là nơi của ký ức mà còn là cánh đồng chờ ngày mùa. Thân xác được gieo xuống trong yếu đuối sẽ trỗi dậy trong vinh quang. Ta không biết ngày ấy thế nào, nhưng ta biết Đấng hứa điều đó đã đi qua mồ và sống lại.
Có một điều đặc biệt trong thập giá: Chúa Giêsu được giương lên giữa trời và đất. Như thể Người nối lại điều đã bị chia cách. Tội lỗi làm con người xa Thiên Chúa, xa người khác và xa chính mình. Thập giá có chiều dọc hướng lên trời và chiều ngang mở ra với nhân loại. Một tình yêu thật đối với Thiên Chúa luôn phải mở ra thành tình yêu đối với anh em. Ta không thể quỳ thật lâu trước thánh giá rồi đứng dậy để đối xử tàn nhẫn với người bên cạnh. Ta không thể hôn chân Chúa vào Thứ Sáu Tuần Thánh rồi dùng chính đôi môi ấy để làm nhục người khác. Ta không thể tôn kính những vết thương của Đức Kitô mà thờ ơ với những vết thương của người nghèo, người bệnh, người cô độc, người thất bại. Nếu thập giá không làm trái tim ta mềm lại thì ta mới chỉ nhìn cây gỗ mà chưa nhìn thấy Người đang ở trên đó.
Đời người rồi sẽ có những lúc chính ta cảm thấy mình như bị “treo” giữa trời và đất. Không còn quay về được với ngày hôm qua mà cũng chưa biết ngày mai ra sao. Một người mất việc. Một gia đình đứng trước đổ vỡ. Một người mẹ nhìn đứa con đi sai đường mà không biết phải làm gì. Một người cha cảm thấy bất lực trước hoàn cảnh. Một người già nhìn bạn bè lần lượt ra đi. Một người bệnh chờ kết quả xét nghiệm. Một người phục vụ lâu năm bỗng bị hiểu lầm. Một người làm điều tốt nhưng nhận lại sự vô ơn. Có những lúc chẳng còn gì để bám. Chính lúc ấy hãy nhớ: Đức Giêsu đã từng ở đó. Hai bàn tay Người cũng không còn bám được gì vì đã bị đóng vào gỗ. Đôi chân Người cũng bị đóng lại. Điều còn lại chỉ là phó thác: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Đó có thể là lời cầu nguyện cuối cùng của một ngày rất mệt. Có khi chúng ta không cần nói nhiều. Chỉ cần thưa: “Lạy Cha, con không hiểu, nhưng con phó thác.” Phó thác không phải là hiểu hết. Phó thác là tin vào Người khi mình không hiểu.
Nhìn lên thập giá lâu hơn một chút, ta còn khám phá điều rất đau nhưng rất thật: Chúa không cứu mình khỏi thập giá bằng cách bước xuống. Những người đứng dưới chân thập giá đã thách thức: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi.” Đó là một cám dỗ tinh vi. Nếu Đức Giêsu xuống, có thể họ sẽ kinh ngạc trước quyền năng của Người. Nhưng Người đã không xuống, vì tình yêu giữ Người ở lại. Đinh sắt đóng tay chân Người, nhưng đinh sắt không đủ giữ Con Thiên Chúa. Chính tình yêu giữ Người trên thập giá. Nếu chỉ cần chứng minh quyền năng, Người có thể xuống. Nhưng để cứu con người, Người ở lại. Có những lúc trong đời, trung thành cũng có nghĩa là ở lại: ở lại bên một người đang bệnh, ở lại với lời cam kết khi tình cảm không còn nồng nhiệt như ban đầu, ở lại trong trách nhiệm khi người khác bỏ đi, ở lại với Chúa trong thời kỳ cầu nguyện khô khan, ở lại với điều thiện khi gian dối dễ dàng hơn. Không phải mọi sự “ở lại” đều đúng, nhất là khi có bạo lực hay sự dữ, nhưng có những cuộc ở lại được sinh ra từ tình yêu. Và chính những cuộc ở lại ấy làm cho thế giới bớt lạnh.
“Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi.” Câu nói ấy không chỉ dành cho ngày ta chết. Chúa muốn kéo ta lên ngay từ hôm nay: từ thấp hèn của ích kỷ lên cao cả của quảng đại; từ bóng tối của dối trá lên ánh sáng của sự thật; từ cay nghiệt lên lòng thương xót; từ tuyệt vọng lên hy vọng; từ đời sống chỉ biết mình lên đời sống biết trao ban. Mỗi lần ta thắng được một chút ích kỷ, Chúa đang kéo ta lên. Mỗi lần ta nhịn một lời có thể làm người khác đau, Chúa đang kéo ta lên. Mỗi lần ta chủ động làm hòa dù mình cũng có lý, Chúa đang kéo ta lên. Mỗi lần ta dành thời gian cho người già cô đơn, cho người bệnh, cho một đứa trẻ cần được lắng nghe, Chúa đang kéo ta lên. Mỗi lần ta trở về tòa giải tội sau một thời gian xa cách, Chúa đang kéo ta lên. Mỗi lần ta ngồi trước Thánh Thể và thành thật nói với Chúa về đời mình, Chúa đang kéo ta lên. Ơn cứu độ không chỉ là chuyện sau khi chết. Ơn cứu độ bắt đầu mỗi lần con người để cho tình yêu của Chúa nâng mình khỏi một điều đang kéo mình xuống.
Và rồi chính chúng ta, một khi đã được Chúa kéo lên, cũng phải trở thành bàn tay kéo người khác lên. Thế giới có quá nhiều người thích đẩy nhau xuống. Một lỗi lầm bị đưa lên mạng, người ta chen nhau ném đá. Một người thất bại, người ta chế giễu. Một người yếu đuối, người ta coi thường. Một người khác mình, người ta vội phán xét. Trong một thế giới như vậy, người môn đệ của Đấng chịu đóng đinh phải sống khác. Không phải dung túng cho điều sai, nhưng biết phân biệt giữa tội lỗi và người có tội. Chúa ghét tội nhưng cứu người tội lỗi. Chúng ta có thể nói sự thật mà không nghiền nát một con người. Có thể sửa lỗi mà vẫn giữ phẩm giá cho người được sửa. Có thể bất đồng mà không thù ghét. Có thể bênh vực chân lý mà không biến mình thành quan tòa của tâm hồn người khác. Có thể giúp một người đứng lên thay vì nhắc mãi chuyện họ đã ngã thế nào. Có những người không cần một bài giảng nữa; họ cần một bàn tay. Có những người đã nghe đủ lời kết án; họ cần nghe rằng vẫn còn đường trở về. Có những người tự trách mình suốt nhiều năm; họ cần ai đó nói: “Hãy đứng lên, Chúa chưa xong với đời anh.”
Một ngày kia, tất cả chúng ta sẽ phải buông mọi thứ. Tiền bạc ở lại. Nhà cửa ở lại. Chức vụ ở lại. Danh tiếng rồi cũng phai. Những điều hôm nay ta mất bao nhiêu sức để tranh giành, đến cuối đời bỗng trở nên rất nhỏ. Có lẽ trên giường bệnh cuối cùng, chẳng mấy ai xin được nhìn lại bằng cấp của mình, bảng thành tích của mình hay số tiền trong tài khoản. Người ta muốn nhìn những khuôn mặt mình yêu. Người ta muốn biết mình đã sống có ý nghĩa hay không. Người ta muốn được nắm một bàn tay. Và người có đức tin muốn nhìn lên thập giá. Bởi ở đó có một Người đã đi qua con đường mà ta sắp đi. Khi tất cả buông khỏi tay ta, bàn tay bị đóng đinh ấy vẫn nắm lấy ta. Lúc ta không còn đủ sức để đi về phía Người, chính Người sẽ kéo ta lên với Người. Có lẽ lúc ấy câu Tin Mừng này sẽ trở thành lời đẹp nhất ta từng nghe: “Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi.”
Ước gì mỗi lần làm dấu Thánh Giá, ta đừng làm quá vội. Trán: xin cho tư tưởng thuộc về Chúa. Ngực: xin cho trái tim biết yêu như Chúa. Vai trái, vai phải: xin cho đôi vai biết mang lấy trách nhiệm và biết đỡ lấy gánh nặng của anh em. Dấu Thánh Giá không phải một động tác mở đầu và kết thúc kinh nguyện cho xong. Đó là dấu của một tình yêu đã trả giá bằng máu. Mỗi thánh giá treo trong nhà không phải một vật trang trí Công giáo. Đó là một câu hỏi âm thầm: hôm nay ta đã yêu ai đến mức chịu thiệt một chút chưa? Ta đã tha thứ chưa? Ta đã nâng ai đứng lên chưa? Ta đã bỏ một chút cái tôi chưa? Ta đã biết nhìn người khổ đau bằng ánh mắt của Chúa chưa? Nếu chưa, cây thánh giá vẫn đang chờ được chuyển từ bức tường vào cuộc đời.
Có người hỏi: tại sao Kitô hữu lại đặt một người bị đóng đinh ở nơi trang trọng nhất trong nhà thờ? Tại sao không chỉ đặt hình ảnh Đức Kitô Phục Sinh huy hoàng? Bởi vì chúng ta cần nhớ rằng vinh quang của Thiên Chúa mang khuôn mặt của tình yêu tự hiến. Phục Sinh không xóa Thứ Sáu Tuần Thánh; Phục Sinh làm sáng tỏ Thứ Sáu Tuần Thánh. Vết thương không biến mất; vết thương phát sáng. Thập giá không còn là biểu tượng của thất bại, bởi Đấng bị đóng đinh đã sống lại. Từ cây gỗ của tử hình, Thiên Chúa làm nên cây sự sống. Từ nơi con người thi hành bản án, Thiên Chúa công bố ơn tha thứ. Từ nơi tưởng là Thiên Chúa vắng mặt nhất, Người lại mặc khải tình yêu rõ nhất. Và từ nơi con người đẩy Con Thiên Chúa ra khỏi thế giới, Người lại ôm cả thế giới vào lòng.
“Khi nào Tôi được giương cao lên khỏi mặt đất, Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi.” Xin cho mỗi người chúng ta biết để mình được Chúa kéo lên. Đừng bám mãi vào những gì đang kéo lòng mình xuống. Đừng ôm mãi một mối hận. Đừng sống mãi trong mặc cảm. Đừng coi một thất bại là toàn bộ cuộc đời. Đừng nghĩ một tội lỗi là tên gọi cuối cùng của mình. Đừng tưởng ngôi mộ là trang cuối cùng. Hãy nhìn lên. Trên đó có Đấng đã bị thương vì ta. Đôi tay ấy đang mở. Trái tim ấy đã bị đâm thâu nhưng chưa bao giờ ngừng yêu. Nếu mỏi mệt, hãy nhìn lên. Nếu thất vọng, hãy nhìn lên. Nếu phạm tội, hãy nhìn lên rồi đứng dậy trở về. Nếu đang thành công, cũng hãy nhìn lên để đừng tưởng mình là trung tâm. Nếu đang mang một thập giá nặng, hãy nhìn lên để biết có Người đã đi trước. Nếu đang đứng bên thập giá của một người khác, đừng bỏ đi; hãy ở lại như Đức Maria đã ở lại. Và khi ngày cuối cùng đến, khi mọi tiếng nói của thế gian lặng xuống, khi đôi mắt khép lại và bàn tay không còn giữ được gì nữa, xin cho chúng ta vẫn nghe được tiếng của Đấng chịu đóng đinh và phục sinh: “Đừng sợ. Ta ở đây. Ta đã đi qua con đường này. Hãy để Ta kéo con lên với Ta.”
Rồi khi ấy, ta sẽ hiểu: cả đời Kitô hữu thực ra chỉ là một hành trình để cho Chúa kéo mình lên. Lên khỏi những nhỏ nhen. Lên khỏi những ích kỷ. Lên khỏi những vết thương biến thành cay độc. Lên khỏi những thần tượng ta đã dựng cho mình. Lên khỏi nỗi sợ mất mát. Lên khỏi sự chết. Nhưng Chúa không kéo ta lên một mình. Người kéo “mọi người”. Bởi thế, ta không thể lên với Chúa mà bỏ anh em lại phía sau. Đường lên trời đi qua trái tim của người bên cạnh. Bàn tay nắm lấy thập giá cũng phải là bàn tay biết nắm lấy người đang ngã. Đôi mắt nhìn lên Chúa cũng phải biết cúi xuống nhìn người bé nhỏ. Một đời cầu nguyện thật phải sinh ra một đời yêu thương thật. Và có lẽ đến cuối cùng, Chúa sẽ không hỏi chúng ta đã nói bao nhiêu điều lớn lao về thập giá, nhưng liệu ta có để tình yêu từ thập giá ấy đi qua đời mình mà chạm đến một người nào đó hay không.
Thập giá vẫn đứng đó giữa thế giới hôm nay, lặng lẽ mà mãnh liệt. Bao đế quốc đã đến rồi đi. Bao quyền lực từng tưởng mình bất tử đã thành bụi. Bao tiếng tung hô đã im. Nhưng Đấng chịu đóng đinh vẫn kéo người ta đến với Người. Không bằng quảng cáo. Không bằng bạo lực. Không bằng cưỡng ép. Chỉ bằng tình yêu. Một tình yêu trần trụi, mang thương tích, không còn gì để chứng minh ngoài việc đã trao hết. Có lẽ đó chính là quyền năng mạnh nhất trên đời: quyền năng của một tình yêu không bỏ cuộc trước con người. Cho dù ta đã đi xa đến đâu, Người vẫn chờ. Cho dù đời ta mang bao vết xước, Người vẫn có thể viết tiếp. Cho dù ta đang ở đáy sâu nào, thập giá vẫn vươn tới đó. Và từ trên cao, đôi tay ấy vẫn mở rộng như từ chiều thứ Sáu năm xưa để làm trọn lời hứa: “Khi nào Tôi được giương cao lên khỏi mặt đất, Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi.”
Xin Chúa cho ta đừng chỉ đeo thánh giá trên cổ mà quên mang tinh thần thánh giá trong lòng; đừng chỉ cúi đầu trước tượng Chúa chịu nạn mà lại ngẩng cao cái tôi trước anh em; đừng chỉ hát về tình yêu hy sinh mà sợ phải hy sinh; đừng chỉ cầu xin được Chúa thương mà quên thương người khác. Xin cho ta biết sống sao để người khác, khi gặp ta, cảm thấy mình được nâng lên chứ không bị đẩy xuống; được hy vọng chứ không tuyệt vọng; được tôn trọng chứ không bị kết án; được dẫn gần Chúa hơn chứ không xa Chúa hơn. Nếu làm được như vậy, đời ta dù âm thầm cũng đã trở thành một phần nhỏ bé của lời Đức Kitô: “Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi.” Và đến cuối hành trình, khi nhìn lại tất cả, có lẽ ta sẽ nhận ra rằng những ngày đẹp nhất không phải là những ngày mình được người khác nâng lên, nhưng là những ngày mình đã cúi xuống để nâng một ai đó. Những khoảnh khắc gần Chúa nhất không nhất thiết là lúc lòng tràn đầy cảm xúc sốt sắng, nhưng có thể là lúc ta đau mà vẫn yêu, mệt mà vẫn trung thành, bị tổn thương mà vẫn không làm tổn thương người khác, mất mát mà vẫn tin, nước mắt rơi mà vẫn thưa: “Lạy Cha, con phó thác.” Vì chính lúc ấy, thập giá không còn ở ngoài ta nữa. Thập giá đã trở thành con đường. Và trên con đường ấy, Đấng đã được giương cao đang âm thầm kéo ta, kéo anh em ta, kéo cả nhân loại về với trái tim của Thiên Chúa, nơi không một giọt nước mắt nào bị quên, không một hy sinh vì yêu thương nào trở nên vô ích, không một cuộc đời nào bị xem là quá nhỏ bé, và không một con người nào nằm ngoài vòng tay cứu độ của Đấng đã yêu chúng ta cho đến cùng.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ LÀ BÀN THỜ CỦA GIAO ƯỚC MỚI
Có những điều trong đời sống đức tin càng nhìn lâu càng thấy sâu, càng suy niệm càng thấy mình bé nhỏ, càng bước đến gần càng thấy lòng mình phải lặng đi. Thánh Giá là một mầu nhiệm như thế. Người ta có thể nhìn Thánh Giá như một hình phạt, như một dụng cụ hành quyết, như dấu chấm hết của một cuộc đời bị nghiền nát bởi bạo lực và bất công. Nhưng người môn đệ Đức Kitô không thể chỉ dừng lại ở đó. Đứng dưới chân Thánh Giá, người Kitô hữu được mời gọi nhìn xa hơn những chiếc đinh, sâu hơn những vết thương, xuyên qua bóng tối của chiều Thứ Sáu năm ấy để nhận ra một bàn thờ đang được dựng lên giữa đất và trời, một lễ tế đang được cử hành không bằng chiên bò, không bằng máu súc vật, nhưng bằng chính Con Một Thiên Chúa; một Giao Ước đang được thiết lập không phải trên những bia đá có thể vỡ, nhưng trong trái tim con người bằng Máu của Đấng đã yêu thương họ đến cùng. Thánh Giá chính là bàn thờ của Giao Ước Mới. Trên bàn thờ ấy, Đức Kitô vừa là Tư Tế, vừa là Lễ Vật, vừa là Đền Thờ, vừa là Đấng Trung Gian. Người không dâng một vật gì ở ngoài mình. Người dâng chính mình. Người không đứng xa lễ vật như những tư tế của giao ước cũ. Người trở thành chính lễ vật. Người không lấy máu của một con vật để rảy trên dân. Người để chính Máu mình đổ xuống. Người không nói với Chúa Cha bằng một nghi thức bên ngoài. Người thưa bằng cả thân xác tan nát, bằng trái tim bị đâm thâu, bằng hơi thở cuối cùng, bằng sự vâng phục trọn vẹn của một Người Con: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Chính vì thế, muốn hiểu Thánh Giá, ta phải hiểu Giao Ước; và muốn hiểu Giao Ước Mới, ta phải quỳ xuống trước Thánh Giá.
Từ những trang đầu của lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã đi tìm con người để thiết lập tương quan với họ. Sau tội lỗi, con người trốn chạy, còn Thiên Chúa đi tìm. Con người phá vỡ, Thiên Chúa nối lại. Con người phản bội, Thiên Chúa vẫn trung tín. Từ Nôê đến Abraham, từ Sinai đến lời hứa với Đavít, lịch sử Kinh Thánh là lịch sử của một Thiên Chúa không mệt mỏi cúi xuống để nói với con người rằng: “Ta muốn là Thiên Chúa của ngươi và ngươi sẽ là dân của Ta.” Nhưng cũng chính lịch sử ấy cho thấy sự mong manh khủng khiếp của lòng người. Dân Chúa nhận giao ước rồi lại phản bội giao ước. Họ nghe tiếng Chúa rồi lại chạy theo ngẫu tượng. Họ hứa trung thành rồi lại quên. Họ xây bàn thờ cho Thiên Chúa nhưng đồng thời dựng những bàn thờ khác cho các thần tượng. Họ dâng lễ nhưng tâm hồn xa Chúa. Họ giữ luật trên môi mà để trái tim khô cứng. Vì thế, qua các ngôn sứ, Thiên Chúa đã loan báo một ngày Người sẽ thực hiện một Giao Ước Mới, không giống giao ước mà dân đã phá bỏ. Luật của Người sẽ không còn chỉ được khắc trên đá nhưng sẽ được ghi vào lòng. Người sẽ ban một trái tim mới, đặt một thần khí mới vào bên trong. Người sẽ lấy đi trái tim chai đá và ban một trái tim bằng thịt. Lời hứa ấy đã âm thầm đi qua bao thế kỷ để rồi đạt đến sự viên mãn trên đồi Golgotha. Không phải trong cung điện. Không phải giữa tiếng nhạc khải hoàn. Không phải dưới ánh hào quang của một đế quốc. Giao Ước Mới được ký kết trên một ngọn đồi đầy tiếng chế nhạo, giữa hai tên tử tội, trong thân phận của một người bị lột trần, đóng đinh và loại bỏ. Thiên Chúa đã chọn nơi mà con người cho là ô nhục nhất để làm nơi mặc khải vinh quang cao cả nhất của tình yêu.
Chiều Tiệc Ly, trước khi bước vào cuộc Thương Khó, Đức Giêsu cầm lấy chén rượu và nói những lời mà Hội Thánh sẽ không bao giờ quên: “Chén này là Giao Ước Mới, lập bằng Máu Thầy, Máu đổ ra vì anh em.” Lời ấy không dừng lại trong căn phòng trên lầu. Nó hướng thẳng về Golgotha. Chén trên bàn Tiệc Ly và Thánh Giá trên đồi Sọ là một mầu nhiệm duy nhất. Điều Đức Giêsu diễn tả dưới dấu chỉ bánh và rượu trong bữa Tiệc Ly, Người thực hiện bằng chính thân mình ngày hôm sau trên Thánh Giá. “Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” Vài giờ sau, thân mình ấy bị đánh đòn, bị xé nát, bị đóng đinh. “Này là Máu Thầy, Máu Giao Ước đổ ra cho muôn người.” Vài giờ sau, Máu ấy thật sự chảy từ đầu đội mão gai, từ bàn tay, bàn chân, từ cả cạnh sườn bị lưỡi đòng mở ra. Không còn là một biểu tượng xa xôi. Không còn là lời hứa. Giao Ước Mới đã được đóng ấn bằng Máu. Bởi thế, Thánh Giá không chỉ là nơi Đức Giêsu chết. Thánh Giá là bàn thờ nơi Người tự hiến. Cái chết của Người không phải một tai nạn ngoài dự tính, không phải thất bại bất ngờ của một vị ngôn sứ bị kẻ thù chiến thắng. Trong tự do của tình yêu và trong sự vâng phục Chúa Cha, Đức Giêsu biến chính cái chết mà người ta áp đặt trên Người thành một lễ hiến dâng: “Không ai lấy mạng sống của Thầy được, nhưng chính Thầy tự ý hy sinh mạng sống mình.” Con người dựng Thánh Giá để giết Người; Người biến Thánh Giá thành bàn thờ để cứu con người. Con người đóng đinh Người vì hận thù; Người dùng chính nơi ấy để nói lời tha thứ. Con người muốn đẩy Người ra khỏi thế giới; Người lại dang hai tay ôm lấy thế giới. Người ta tưởng mình đang kết thúc câu chuyện của Giêsu Nadarét; Thiên Chúa lại làm cho nơi ấy trở thành khởi đầu của một nhân loại mới.
Trên bàn thờ Thánh Giá không có khăn bàn tinh sạch, không có hoa, không có nến, không có hương thơm. Chỉ có bụi đất, máu, mồ hôi, nước mắt và những tiếng nhạo cười. Nhưng đó lại là bàn thờ đẹp nhất trong lịch sử cứu độ, bởi trên đó có lễ vật đẹp lòng Chúa Cha nhất: sự vâng phục của Người Con yêu dấu. Điều cứu chuộc chúng ta không phải là số lượng đau đớn Đức Giêsu chịu như thể đau khổ tự nó có sức cứu độ. Điều cứu chúng ta là tình yêu nằm trong đau khổ ấy, là sự vâng phục nằm trong cái chết ấy, là trái tim vẫn yêu khi bị ghét, vẫn tha thứ khi bị đóng đinh, vẫn tin tưởng Chúa Cha khi bóng tối phủ kín trời đất. Adam xưa đã nói “không” với Thiên Chúa giữa vườn đầy hoa trái; Đức Kitô, Adam mới, nói “xin vâng” giữa vườn Dầu và trên cây Thánh Giá. Con người xưa đưa tay ra hái trái cấm để muốn trở nên như Thiên Chúa; Con Thiên Chúa dang tay trên cây gỗ để hạ mình đến tận cùng và đưa con người trở về với Thiên Chúa. Từ một cây đã đi vào thế gian sự bất tuân; trên một cây khác, sự vâng phục được hoàn tất. Vì vậy, Thánh Giá không chỉ xóa một món nợ; Thánh Giá khai sinh một cách làm người mới. Cách làm người của Đức Kitô là sống không còn cho mình, nhưng cho Cha và cho anh em. Đó là trái tim của Giao Ước Mới.
Nếu bàn thờ là nơi lễ vật được dâng lên Thiên Chúa, thì trên Golgotha, chính Đức Giêsu là lễ vật. Nhưng kỳ diệu hơn, Người cũng chính là Tư Tế. Trong giao ước cũ, tư tế dâng một lễ vật khác với mình. Còn Đức Kitô “đã hiến dâng chính mình làm lễ tế vẹn toàn”. Người không có gì quý hơn để dâng ngoài chính bản thân Người, và Người đã trao tất cả. Người trao đôi tay từng chạm đến người phong cùi, từng nâng người bệnh dậy, từng bẻ bánh cho đám đông; giờ đây đôi tay ấy bị đóng đinh. Người trao đôi chân từng đi qua làng mạc tìm những người bé nhỏ, từng bước vào nhà người tội lỗi, từng đi tìm con chiên lạc; giờ đây đôi chân ấy không còn bước được nữa. Người trao đôi mắt từng nhìn người phụ nữ ngoại tình mà không kết án, từng nhìn Phêrô sau ba lần chối Thầy, từng khóc trước mồ Ladarô; giờ đây đôi mắt ấy mờ đi vì máu và đau đớn. Người trao đôi môi từng giảng về lòng thương xót; giờ đây đôi môi khô khát ấy vẫn nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người trao trái tim từng chạnh lòng trước đám đông bơ vơ; cuối cùng trái tim ấy bị đâm thâu. Người chẳng giữ lại gì. Đó là của lễ toàn thiêu của tình yêu. Giao Ước Mới không được ký bằng một phần của Đức Kitô, mà bằng toàn bộ con người Người.
Chính ở đây ta hiểu câu “Đã hoàn tất” sâu hơn rất nhiều. Đó không chỉ là tiếng thở của một người biết đời mình sắp kết thúc. “Đã hoàn tất” là lời của Đấng đã đi đến tận cùng con đường Cha trao. Đã hoàn tất lời hứa. Đã hoàn tất sự vâng phục. Đã hoàn tất lễ tế. Đã hoàn tất tình yêu đến cùng. Đã hoàn tất cuộc Vượt Qua từ cái chết sang sự sống. Giao Ước Mới từ nay được mở ra cho nhân loại. Bức màn Đền Thờ xé ra từ trên xuống dưới như muốn nói rằng khoảng cách đã bị phá vỡ. Lối vào nơi cực thánh được mở. Con người không còn đứng xa. Nhờ Máu Đức Kitô, người tội lỗi được mời bước lại gần. Không phải vì con người bỗng trở nên xứng đáng, nhưng vì Con Chiên đã mở đường. Có lẽ không có hình ảnh nào cảm động bằng cạnh sườn Chúa bị đâm thâu, từ đó máu và nước chảy ra. Trái tim đã yêu đến cùng nay bị mở ra, như thể Thiên Chúa không còn muốn giữ điều gì trong lòng mình nữa. Mọi bí mật của Thiên Chúa được nói bằng một vết thương. Muốn biết Thiên Chúa yêu con người đến mức nào, hãy nhìn cạnh sườn bị mở. Muốn biết giá trị của một linh hồn, hãy nhìn Máu Đức Kitô. Muốn biết tội lỗi nghiêm trọng đến đâu, hãy nhìn cái giá mà Con Thiên Chúa đã trả. Nhưng muốn biết lòng thương xót lớn hơn tội lỗi đến đâu, cũng hãy nhìn lên chính Thánh Giá ấy.
Thánh Giá là bàn thờ của Giao Ước Mới còn bởi ở đó Đức Giêsu quy tụ một gia đình mới. Dưới chân Thánh Giá có Đức Maria và người môn đệ Chúa yêu. Trong giây phút đau đớn nhất, Đức Giêsu lại nói về tương quan: “Thưa Bà, đây là con của Bà”; rồi với người môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Ngay lúc thân thể Người bị xé nát, Người đang quy tụ một thân thể mới là Hội Thánh. Ngay khi Người bị loại trừ, Người đang xây dựng một cộng đoàn thuộc về nhau. Ngay khi các môn đệ tản mác, Người bắt đầu gom họ lại dưới bóng Thánh Giá. Giao Ước Mới vì thế không chỉ là “tôi với Chúa”. Nó làm chúng ta trở thành anh chị em của nhau. Không thể uống chung một Chén Giao Ước mà lại nuôi hận thù. Không thể cùng ăn một Bánh mà lại xé nát nhau bằng lời nói. Không thể quỳ trước Thánh Giá xin lòng thương xót rồi đứng dậy từ chối lòng thương xót đối với người khác. Không thể gọi Thiên Chúa là Cha mà xem người bên cạnh như kẻ không liên hệ gì với mình. Máu Giao Ước nối trời với đất và cũng nối người với người. Vì vậy, mỗi lần ta từ bỏ hận thù để làm hòa, mỗi lần ta tha thứ dù lòng còn đau, mỗi lần ta chấp nhận chịu thiệt để bảo vệ tình huynh đệ, mỗi lần ta ngừng một lời độc ác trước khi nó được nói ra, mỗi lần ta đến với người cô đơn, người bị bỏ rơi, người thất bại, ta đang để cho Giao Ước Mới được viết thêm vào đời mình.
Và đây là điều phải làm ta suy nghĩ nhiều nhất: bàn thờ Thánh Giá không tách khỏi bàn thờ Thánh Thể. Mỗi Thánh Lễ là sự hiện tại hóa lễ tế duy nhất của Đức Kitô. Không phải Đức Giêsu lại chết thêm một lần nữa; cái chết và sự phục sinh của Người là biến cố duy nhất, trọn vẹn, không lặp lại. Nhưng Hội Thánh được đưa vào chính mầu nhiệm ấy. Khi linh mục đọc lời truyền phép: “Này là Mình Thầy… Này là chén Máu Thầy, Máu Giao Ước Mới và vĩnh cửu…”, cộng đoàn không đứng trước một kỷ niệm xa xưa. Golgotha mở ra giữa Hội Thánh. Bàn thờ của giáo xứ nhỏ bé, bàn thờ trong một ngôi nhà nguyện đơn sơ, bàn thờ trong một nhà thờ lớn, tất cả đều quy hướng về bàn thờ duy nhất của Thánh Giá. Điều xảy ra bằng máu trên Golgotha được hiện tại hóa cách bí tích dưới hình bánh và rượu. Bởi thế, người Kitô hữu đi dự lễ mà không mang đời mình đến bàn thờ là chưa hiểu hết Thánh Lễ. Bánh rượu được đặt trên bàn thờ không chỉ đại diện cho của cải vật chất; chúng còn mang theo mồ hôi, công việc, niềm vui, nước mắt, bệnh tật, thất bại, những mối quan hệ đổ vỡ, những ước mơ chưa thành, những hy sinh không ai biết. Khi linh mục nâng bánh và rượu lên, mỗi người được mời âm thầm đặt chính mình vào của lễ ấy: “Lạy Chúa, con xin dâng Chúa đời con. Điều đẹp nhất và cả điều xấu xí nhất. Điều con hiểu và điều con không hiểu. Niềm vui và vết thương. Thành công và thất bại. Xin nhận tất cả, kết hợp với của lễ của Đức Kitô.”
Có người đi lễ rất nhiều năm nhưng cuộc đời vẫn không trở thành lễ dâng. Họ hiện diện trước bàn thờ nhưng không muốn trở thành của lễ. Họ muốn Chúa ban ơn nhưng không muốn Chúa đụng vào ý riêng. Họ muốn rước Mình Thánh Chúa nhưng không muốn thân mình mình phải hao mòn vì người khác. Họ muốn uống Chén Giao Ước nhưng tránh mọi chén đắng của bổn phận. Họ muốn bình an của Phục Sinh nhưng không muốn bước qua Thứ Sáu Tuần Thánh. Đức tin như vậy rất dễ trở thành một thứ trang trí thiêng liêng cho đời sống hơn là một cuộc biến đổi đời sống. Giao Ước Mới không chỉ được ghi bằng Máu Đức Kitô; nó phải được ghi vào trái tim chúng ta. Nghĩa là đời ta phải từ từ mang hình dáng Thánh Giá: biết chết đi cho ích kỷ, chết đi cho kiêu ngạo, chết đi cho nhu cầu luôn luôn phải thắng, luôn luôn phải đúng, luôn luôn phải được người khác công nhận; biết hy sinh một chút tiện nghi để chăm sóc người già, biết nhịn một lời để giữ bình an gia đình, biết thức thêm một giờ vì một người đang đau bệnh, biết cho đi mà không tính toán, biết làm việc âm thầm dù không ai khen, biết trung thành với bổn phận trong những ngày chẳng còn cảm xúc. Những điều ấy có thể rất nhỏ trước mắt thế gian, nhưng nếu được kết hợp với tình yêu của Đức Kitô, chúng trở thành lễ vật trên bàn thờ đời mình.
Giao Ước Mới là giao ước của một trái tim mới. Đây là điều người ta dễ quên. Kitô giáo không phải trước hết là thay một hệ thống luật cũ bằng một hệ thống luật mới nghiêm hơn. Nếu chỉ như vậy, ta vẫn ở bên ngoài mầu nhiệm. Thiên Chúa không chỉ muốn chúng ta “làm đúng”; Người muốn đổi trái tim để ta yêu điều thiện. Người không chỉ cấm ta giết người; Người muốn giải thoát ta khỏi hận thù. Người không chỉ cấm ngoại tình; Người muốn làm sạch cái nhìn và dạy ta biết yêu một con người như một nhân vị chứ không phải như một đồ vật phục vụ ham muốn. Người không chỉ truyền ta bố thí; Người muốn trái tim ta chạnh thương. Người không chỉ truyền tha thứ bảy lần; Người muốn ta mang trái tim của Đấng trên Thánh Giá có thể cầu xin cho chính những kẻ đóng đinh mình. Luật mới của Giao Ước Mới chính là luật của tình yêu được Thánh Thần ghi vào tim. Và trường học cao nhất của luật ấy chính là Thánh Giá.
Nhìn lên Thánh Giá, ta cũng hiểu rằng giao ước của Thiên Chúa không tùy thuộc vào sự thay đổi của cảm xúc con người. Con người hôm nay có thể hứa, ngày mai có thể quên. Hôm nay có thể sốt sắng, ngày mai có thể nguội lạnh. Hôm nay có thể nói yêu, ngày mai có thể quay lưng. Nhưng Đức Kitô đã đóng Giao Ước bằng Máu Người. Nghĩa là lòng trung tín của Thiên Chúa có một chiều sâu không thể đo bằng sự trung tín nghèo nàn của chúng ta. Phêrô chối Thầy, nhưng Chúa vẫn nhìn ông bằng ánh mắt yêu thương. Các Tông đồ bỏ chạy, nhưng Đấng Phục Sinh vẫn trở lại tìm họ. Tôma nghi ngờ, Chúa vẫn đưa những vết thương cho ông chạm vào. Hai môn đệ Emmaus bỏ Giêrusalem vì thất vọng, Chúa vẫn đi bên cạnh họ. Saolô bách hại Hội Thánh, Chúa vẫn gọi ông trở thành Tông đồ. Điều ấy không làm tội lỗi trở nên nhẹ, nhưng cho ta hy vọng rằng sự phản bội của con người không thể làm Thiên Chúa thôi là Thiên Chúa của lòng trung tín. Người có thể chữa một hôn nhân bị thương, nếu người ta thật lòng quay về. Người có thể dựng lại một đời linh mục đã mỏi mệt, nếu người linh mục lại để mình được Chúa yêu. Người có thể kéo một người tội lỗi ra khỏi vực sâu, nếu họ chịu giơ tay cho Người nắm. Người có thể làm lại từ đống tro những điều ta tưởng đã hoàn toàn mất. Vì Giao Ước được dựa trên lòng trung tín của Đức Kitô trước khi dựa trên sự đáp trả của chúng ta.
Có những ngày người ta không còn thấy gì đẹp trong đời mình. Có những vết thương kéo dài nhiều năm. Có những lời cầu nguyện tưởng như chẳng được đáp lời. Có những mái gia đình vẫn ngồi cùng bàn nhưng trái tim đã cách nhau rất xa. Có những người già sống giữa con cháu mà vẫn cô độc. Có người mang nỗi đau mất một người thân và cứ tự hỏi vì sao Chúa im lặng. Có người bước vào tuổi xế chiều nhìn lại đời mình với nhiều tiếc nuối. Có người làm mục vụ rất nhiều nhưng bên trong kiệt sức. Có người vẫn cười với mọi người nhưng tối về chỉ còn biết ngồi một mình trong bóng tối. Những lúc ấy, Thánh Giá là bàn thờ đặc biệt gần gũi. Vì trên bàn thờ ấy cũng có một Đấng đã biết thế nào là bị hiểu lầm, bị bỏ rơi, bị phản bội, bị đau đớn, bị chế nhạo và đã kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Người không cứu chúng ta bằng cách đứng ngoài đau khổ để đưa lời khuyên. Người bước vào tận đáy đau khổ. Người không nói với người đang khóc: “Đừng khóc nữa”, rồi bỏ đi. Người đã khóc. Người không nói với người bị phản bội: “Hãy mạnh mẽ lên”, rồi đứng xa. Chính Người đã bị Giuđa bán bằng một nụ hôn và bị Phêrô chối giữa sân dinh thượng tế. Người không giải thích mọi bí ẩn của đau khổ; Người biến đau khổ thành nơi gặp gỡ. Bởi vậy, một giọt nước mắt được dâng lên với Đức Kitô không còn là một giọt nước mắt vô nghĩa. Một cơn bệnh được kết hợp với Người có thể trở thành lời cầu nguyện. Một hy sinh âm thầm có thể trở thành lễ vật. Một sự cô đơn được sống trong Người có thể trở thành nơi hiệp thông sâu thẳm.
Thánh Giá là bàn thờ, nhưng bàn thờ không phải là ngôi mộ. Giao Ước Mới không kết thúc lúc Đức Giêsu trút hơi thở. Nó mở vào sự Phục Sinh. Chính vì thế người Kitô hữu không tôn thờ đau khổ, cũng không đi tìm đau khổ. Chúng ta tôn thờ một Đấng đã yêu trong đau khổ và chiến thắng đau khổ bằng tình yêu. Thánh Giá không nói rằng thất bại là lời cuối; nó nói rằng Thiên Chúa có thể lấy chính điều tưởng là thất bại cuối cùng để mở ra chiến thắng. Thánh Giá không nói rằng cái chết đáng yêu; nó nói rằng ngay cả cái chết cũng không đủ sức ngăn Thiên Chúa yêu. Thánh Giá không ca tụng sự dữ; nó vạch trần sự dữ và cho thấy tình yêu mạnh hơn sự dữ. Kẻ dữ đóng đinh Đức Giêsu, nhưng không thể bắt Người ghét. Họ lấy áo Người, nhưng không lấy được tình yêu. Họ khóa tay Người bằng đinh, nhưng không khóa được lòng thương xót. Họ làm Người im tiếng bằng cái chết, nhưng ba ngày sau lời của Người vang lên mạnh hơn bao giờ hết: “Bình an cho anh em.” Đó là chiến thắng của Giao Ước Mới.
Có lẽ điều cần thiết nhất đối với người Kitô hữu hôm nay là đưa Thánh Giá trở lại trung tâm đời sống. Ta có thể rất dễ biến đạo thành những sinh hoạt, chương trình, hội họp, công việc, tổ chức, những tranh luận đúng sai, những con số thành công, những lời khen của đám đông. Tất cả có thể có giá trị, nhưng nếu mất Thánh Giá ở trung tâm, đời Kitô hữu sẽ dần trống rỗng. Một linh mục có thể giảng rất hay nhưng nếu không còn biết hy sinh, lời giảng sẽ thiếu sức nặng. Một tu sĩ có thể làm nhiều việc nhưng nếu không còn đời sống hiến dâng, hoạt động sẽ trở thành nghề nghiệp. Một người giáo dân có thể tham gia mọi hội đoàn nhưng nếu trở về nhà lại không biết yêu vợ, yêu chồng, kiên nhẫn với con cái, kính trọng cha mẹ, thì đạo vẫn đứng ngoài cửa gia đình. Một cộng đoàn có thể hát rất hay nhưng nếu đầy chia rẽ và nói xấu nhau, bài ca chưa đi đến bàn thờ Thánh Giá. Một người có thể bảo vệ giáo lý rất nhiệt thành nhưng nếu dùng sự thật để làm nhục người khác, thì chưa hiểu Đấng là Sự Thật đã chết cho chính kẻ thù của mình. Thánh Giá luôn buộc ta hỏi một câu rất đơn giản nhưng đau: trong điều tôi đang làm, có tình yêu tự hiến của Đức Kitô không?
Trên Thánh Giá, Đức Giêsu không có gì để “làm” theo nghĩa hoạt động nữa. Tay Người bị đóng, chân Người bị đóng. Người không đi rao giảng được, không chữa bệnh, không hóa bánh, không làm phép lạ trước mắt dân chúng. Xét theo tiêu chuẩn hiệu quả, đó là lúc Người bất lực nhất. Nhưng chính giờ ấy lại là giờ cứu độ thế gian. Điều đó nói với chúng ta rất nhiều. Giá trị của một đời người không chỉ nằm ở những gì họ làm được, nhưng trước hết ở tình yêu họ mang vào những gì họ sống. Một người già nằm liệt giường vẫn có thể dâng đời mình như lễ vật. Một người bệnh không còn phục vụ được ai như trước vẫn có thể trở thành một lời cầu nguyện sống động. Một linh mục về hưu không còn đứng trước những cộng đoàn đông đảo vẫn có thể sinh hoa trái bằng lời cầu nguyện âm thầm. Một người mẹ quanh năm chăm một đứa con khuyết tật mà chẳng ai biết đến đang có thể cử hành một “phụng vụ” của tình yêu ngay trong căn nhà nhỏ. Một người cha lặng lẽ làm việc, chịu thiệt thòi để nuôi gia đình, không kể công, cũng đang đặt từng ngày mình lên bàn thờ. Những bàn thờ ấy không có chuông, không có nến, không có cộng đoàn vỗ tay, nhưng Chúa nhìn thấy.
Khi hiểu Thánh Giá là bàn thờ của Giao Ước Mới, ta cũng hiểu thế nào là “vác thập giá”. Vác thập giá không phải cố làm cho đời mình đau hơn. Không phải cam chịu sự dữ một cách mù quáng. Không phải cổ võ bất công hay bạo lực. Thập giá Kitô giáo chỉ có ý nghĩa khi được gắn với tình yêu và sự trung thành. Một người vợ kiên nhẫn đồng hành với chồng trong bệnh tật đang vác thập giá. Một người chồng từ bỏ thói ích kỷ để chăm lo gia đình đang vác thập giá. Một người trẻ từ chối gian lận dù có thể mất cơ hội đang vác thập giá. Một người bị xúc phạm nhưng chọn không trả thù đang vác thập giá. Một người dám nhận lỗi thay vì bảo vệ sĩ diện đang vác thập giá. Một linh mục vẫn trung thành với giờ cầu nguyện trong những ngày khô khan, vẫn đi thăm bệnh dù mệt, vẫn ngồi tòa giải tội khi chẳng ai biết sự hy sinh của mình, đang vác thập giá. Thập giá ấy không phải là những chuyện phi thường. Nó thường được làm bằng những mẩu gỗ rất nhỏ của đời thường: một bổn phận, một sự nhẫn nại, một lời xin lỗi, một sự từ bỏ, một giờ thức khuya, một sáng dậy sớm, một nụ cười khi lòng đang mệt, một lần im lặng để khỏi làm người khác tổn thương.
Điều làm cho những “mẩu gỗ” ấy trở thành Thánh Giá không phải là mức độ nặng nề của chúng mà là tình yêu. Nếu chịu khổ mà đầy cay đắng, ta chỉ đang chịu khổ. Nếu hy sinh mà suốt ngày kể công, lễ vật đã mất đi phần nào hương thơm. Nếu phục vụ để được công nhận, bàn thờ đã bị cái tôi chiếm chỗ. Đức Giêsu trên Thánh Giá không nói: “Các ngươi hãy nhìn xem Ta đã hy sinh cho các ngươi bao nhiêu.” Người im lặng yêu. Người tha thứ. Người trao Mẹ mình. Người khát. Người hoàn tất. Có một vẻ đẹp rất sâu của tình yêu là càng thật thì càng ít ồn ào. Tình yêu của Thánh Giá không cần quảng cáo. Hạt lúa chết âm thầm dưới đất. Men hòa tan trong bột. Muối tan đi trong thức ăn. Ngọn nến cháy và tự hao mòn. Người thật sự yêu thường không có nhiều thời gian để nói về việc mình yêu thế nào, bởi họ đang bận yêu.
Và có một điều thật lạ: con người thường sợ mất mình khi phải hiến mình, nhưng Thánh Giá cho thấy chỉ khi trao mình, ta mới thật sự tìm được mình. Đức Giêsu mất tất cả trên Golgotha nhưng chính ở đó căn tính Người tỏa sáng trọn vẹn: Con yêu dấu hoàn toàn thuộc về Cha, Người Anh hoàn toàn thuộc về nhân loại. Chúng ta cũng vậy. Một đời chỉ lo bảo vệ bản thân cuối cùng có thể trở thành một đời rất nghèo. Càng giữ, lòng càng hẹp. Càng sợ mất, càng bất an. Càng đặt cái tôi ở trung tâm, càng dễ bị tổn thương. Nhưng khi học cách trao đi, trái tim bắt đầu rộng ra. Người mẹ mất rất nhiều tự do khi có con, nhưng khám phá một chiều sâu của tình yêu mà trước đó chị chưa biết. Người linh mục từ bỏ một mái gia đình riêng không phải để sống ít yêu hơn, nhưng để trái tim được mở rộng cho nhiều người. Người tu sĩ từ bỏ nhiều sở hữu không phải vì vật chất là xấu, nhưng để tuyên bố rằng Thiên Chúa đủ cho đời mình. Người Kitô hữu tập tha thứ không phải vì người làm mình đau luôn xứng đáng được tha, nhưng vì mình đã được tha một món nợ lớn hơn rất nhiều dưới chân Thánh Giá.
Mỗi lần nhìn Thánh Giá, ta nên nhớ: trên đó có chữ ký của Thiên Chúa vào Giao Ước với nhân loại. Chữ ký ấy không bằng mực, nhưng bằng Máu. Và Thiên Chúa không rút lại chữ ký của Người. Dù ta có bao lần ngã, đường về vẫn mở. Dù ta có bao lần làm vỡ lời hứa, Chúa vẫn gọi ta trở lại. Dù quá khứ có nhiều vết nhơ, Máu Giao Ước vẫn có thể thanh tẩy. Kẻ trộm lành chỉ còn vài giờ sống cũng tìm được cửa Thiên Đàng ngay bên cạnh Thánh Giá: “Hôm nay, anh sẽ được ở với Tôi trên Thiên Đàng.” Chỉ một câu ấy đủ để những người tưởng mình quá muộn không tuyệt vọng. Không bao giờ quá muộn để trở về, bao lâu trái tim còn có thể thưa: “Lạy Chúa, xin nhớ đến con.” Trên bàn thờ Thánh Giá, lòng thương xót không hỏi người trộm ấy còn bao nhiêu năm để sửa lại đời. Lòng thương xót nhìn vào một trái tim vừa mở ra trong phút cuối. Điều ấy không cho phép ta trì hoãn hoán cải; trái lại, nó cho ta can đảm hoán cải ngay hôm nay.
Nhưng đứng trước bàn thờ Thánh Giá, ta cũng không thể dễ dãi với tội lỗi. Nếu tội chẳng đáng kể, Con Thiên Chúa đâu cần đi đến tận Thánh Giá. Nếu sự ích kỷ chỉ là chuyện nhỏ, nếu hận thù chỉ là một chút yếu đuối không đáng bận tâm, nếu gian dối chẳng có gì nghiêm trọng, nếu bất công không làm tổn thương Thiên Chúa, thì Golgotha trở nên vô nghĩa. Thánh Giá đồng thời nói hai điều: tội lỗi thật khủng khiếp và tình yêu Thiên Chúa còn lớn hơn. Không được chỉ nói một nửa. Nếu chỉ nói tội lỗi mà không nói lòng thương xót, người ta tuyệt vọng. Nếu chỉ nói lòng thương xót mà coi nhẹ tội lỗi, người ta không còn cần hoán cải. Nhìn Thánh Giá đúng nghĩa là vừa khóc vì tội mình, vừa hy vọng vì tình yêu Người. Nước mắt thống hối của Phêrô không làm ông xa Chúa; nó đưa ông trở thành một con người mới. Người biết mình đã được tha thứ sẽ thôi kiêu ngạo. Người biết mình sống nhờ lòng thương xót sẽ bớt nghiêm khắc với những yếu đuối của người khác.
Giao Ước Mới cũng đòi chúng ta trung thành trong những điều nhỏ. Người ta thích những giây phút cảm động dưới chân Thánh Giá, nhưng sau đó lại trở về đời sống cũ. Có thể hôn Thánh Giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh mà vẫn đóng đinh người trong nhà bằng lời nói ngày Thứ Bảy. Có thể quỳ thật lâu trước tượng Chúa chịu nạn mà vẫn không chịu tha thứ một món nợ nhỏ. Có thể đeo Thánh Giá trên cổ nhưng không mang tinh thần Thánh Giá trong cách cư xử. Thánh Giá không phải bùa hộ mạng. Thánh Giá là một lối sống. Dấu Thánh Giá ta làm mỗi sáng phải kéo dài vào ngày sống: “Nhân danh Cha” – hôm nay tôi sống như con của Cha; “và Con” – hôm nay tôi bước theo Đức Kitô; “và Thánh Thần” – hôm nay tôi để Thần Khí hướng dẫn; “Amen” – tôi đồng ý để đời mình thuộc về Thiên Chúa. Một dấu Thánh Giá làm thật chậm, thật ý thức có thể là cả một chương trình sống.
Có một câu hỏi mà có lẽ mỗi người nên đem vào giờ cầu nguyện: “Đời tôi đang được đặt trên bàn thờ nào?” Vì ai cũng đang dâng đời mình cho một điều gì đó. Có người đặt cả đời lên bàn thờ tiền bạc. Có người dâng mọi thứ cho danh vọng. Có người hy sinh gia đình cho sự nghiệp. Có người dâng bình an cho lòng ghen tị. Có người dâng tình bạn cho một chút tự ái. Có người dâng cả lương tâm chỉ để được người khác công nhận. Bàn thờ nào cũng đòi lễ vật. Vấn đề là bàn thờ ấy đưa ta đến sự sống hay làm ta cạn kiệt. Bàn thờ Thánh Giá cũng đòi ta trao mình, nhưng kỳ lạ thay, ai trao mình ở đó lại nhận được mình sâu hơn. Vì ở đó, đời ta được kết hợp với Đức Kitô và trở nên hoa trái.
Thế giới hôm nay rất thích hình ảnh thành công nhưng rất sợ hình ảnh tự hiến. Người ta nói nhiều về quyền của mình nhưng ít nói về khả năng hiến mình. Người ta muốn được hiểu nhưng ít chịu khó hiểu. Muốn được lắng nghe nhưng ít lắng nghe. Muốn được yêu nhưng ngại trả giá cho tình yêu. Trong bầu khí ấy, Thánh Giá vẫn đứng đó như một dấu hỏi khổng lồ đối với con người: Bạn nghĩ tình yêu là gì? Tình yêu có phải chỉ là cảm xúc dễ chịu? Tình yêu có còn tồn tại khi người kia làm bạn thất vọng? Khi phải hy sinh? Khi phải tha thứ? Khi không ai cảm ơn? Khi không được đáp lại? Đức Kitô trả lời không bằng một định nghĩa nhưng bằng thân thể đóng đinh. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” Yêu là ban. Yêu thật thì có giá. Không có tình yêu sâu nào hoàn toàn không có hy sinh. Nhưng khi hy sinh sinh ra từ tình yêu, nó không còn chỉ là mất mát; nó trở thành sinh hoa trái.
Trong mỗi Thánh Lễ, khi nghe lời: “Anh chị em hãy cầu nguyện để hy lễ của tôi cũng là của anh chị em được Thiên Chúa là Cha toàn năng chấp nhận”, có lẽ ta nên giật mình. “Hy lễ của tôi cũng là của anh chị em.” Không chỉ của linh mục. Không chỉ bánh và rượu. Là hy lễ của cả cộng đoàn. Tôi đem gì lên bàn thờ hôm nay? Có thể là nỗi đau chưa nói với ai. Có thể là người tôi chưa tha thứ. Có thể là đứa con làm tôi mất ngủ. Có thể là bệnh tật. Có thể là tuổi già. Có thể là sự thất bại trong công việc. Có thể là một cơn cám dỗ tôi phải chiến đấu từng ngày. Có thể là cuộc hôn nhân đang nguội lạnh. Có thể là sứ vụ mục vụ làm tôi kiệt sức. Đừng để những điều ấy chỉ nằm trong lòng như một gánh nặng. Hãy đặt chúng lên bàn thờ. Lễ vật không biến mất, nhưng được đổi nghĩa khi kết hợp với Đức Kitô. Cùng một nỗi đau, nếu sống một mình, có thể nghiền nát ta; nếu sống trong Đức Kitô, nó có thể trở thành nơi ta trưởng thành, cầu nguyện, cảm thông và sinh hoa trái cho người khác.
Sau Thánh Lễ, linh mục nói: “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an.” Nhưng thật ra đó không phải là kết thúc; đó là sai đi. Bàn thờ trong nhà thờ phải kéo dài thành bàn thờ ngoài đời. Gia đình là một bàn thờ. Công sở là một bàn thờ. Bệnh viện là một bàn thờ. Bếp ăn là một bàn thờ. Bàn học là một bàn thờ. Một phòng bệnh nơi người con chăm cha mẹ già là bàn thờ. Một phòng giải tội nơi linh mục kiên nhẫn lắng nghe những cuộc đời tan vỡ là bàn thờ. Một lớp giáo lý nơi giáo lý viên âm thầm gieo đức tin là bàn thờ. Một công trường nơi người lao động làm việc lương thiện là bàn thờ. Một căn phòng nhỏ nơi một cụ già lần chuỗi cầu cho con cháu là bàn thờ. Ở đâu có một đời được hiến dâng trong tình yêu, ở đó bóng Thánh Giá xuất hiện. Và ở đâu bóng Thánh Giá xuất hiện, ở đó Giao Ước Mới đang âm thầm sinh hoa trái.
Có thể rồi một ngày chúng ta chẳng còn làm được gì. Sức khỏe yếu đi. Tay run. Chân chậm. Trí nhớ kém. Những người từng cần ta có thể không cần ta nữa. Chỗ đứng từng quan trọng có thể được người khác thay. Khi ấy điều còn lại không phải là ta đã có bao nhiêu chức vụ, bao nhiêu người biết tên mình, bao nhiêu công trình mang dấu tay mình. Điều còn lại là: ta đã yêu thế nào. Bàn thờ Thánh Giá dạy ta chuẩn bị cho giờ cuối bằng cách sống mỗi ngày như một lễ dâng. Để đến lúc không còn gì trong tay, ta vẫn có thể thưa như Đức Giêsu: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Đó là lời của một người đã trao dần đời mình từng ngày nên giờ cuối chỉ là trao nốt điều còn lại.
Thánh Giá vì thế không chỉ được treo trên cung thánh. Thánh Giá phải được khắc vào đời. Không phải bằng một vẻ mặt buồn bã, không phải bằng thái độ cam chịu, nhưng bằng một tình yêu bền bỉ. Thánh Giá đẹp nhất không phải Thánh Giá bằng vàng ta mang trên ngực, nhưng là Thánh Giá được nhìn thấy trong một đời biết quên mình. Thánh Giá thật nhất không phải Thánh Giá ta hôn nhiều lần, nhưng là Thánh Giá ta chấp nhận sống khi phải yêu một người khó yêu, kiên nhẫn với một người làm mình mệt, tha thứ cho một người đã làm mình đau, trung thành với Chúa lúc không cảm thấy gì, làm điều thiện khi chẳng ai nhìn thấy. Chính những lúc ấy, Giao Ước Mới được viết bằng những nét rất thật trong trái tim.
Một ngày kia, khi tất cả những gì ta cố giữ lại đều phải buông, khi tiền bạc ở lại, nhà cửa ở lại, danh tiếng ở lại, những lời khen và cả những lời chê cũng ở lại, ta sẽ đứng trước Đấng đã dang tay trên Thánh Giá vì ta. Có lẽ lúc ấy ta sẽ hiểu rõ hơn bao giờ hết rằng điều quý nhất trong đời không phải là những gì mình sở hữu mà là những gì mình đã trao đi vì yêu. Những bữa cơm đã nấu cho gia đình. Những lần thức bên giường bệnh. Những lời tha thứ rất khó nói. Những đồng tiền sẻ chia với người nghèo. Những buổi chiều âm thầm phục vụ. Những giờ cầu nguyện trong khô khan. Những giọt nước mắt không ai biết. Những lần chọn sự thật dù phải thiệt. Những lần cắn răng im lặng để khỏi gây thêm một vết thương. Những lần cúi xuống nâng một người khác đứng lên. Tất cả những điều ấy, nếu được làm trong tình yêu, đều đã được đặt lên bàn thờ của Giao Ước.
Và cuối cùng, Thánh Giá vẫn mãi nói với mỗi chúng ta một lời rất dịu dàng: Thiên Chúa không ký giao ước với bạn bằng một lời hứa suông. Người đã ký bằng Máu. Bạn quý giá đến mức Con Thiên Chúa đã không tiếc chính mình. Vì vậy, đừng sống một cuộc đời rẻ tiền. Đừng bán lương tâm cho vài lợi ích chóng qua. Đừng đánh đổi bình an lấy chút hơn thua. Đừng để hận thù chiếm một trái tim đã được mua bằng Máu Đức Kitô. Đừng coi thường một người mà Chúa đã chết cho họ. Đừng tuyệt vọng về chính mình, bởi Đấng chịu đóng đinh vẫn đang dang tay. Hãy trở về. Hãy để Máu Giao Ước tẩy sạch những gì đã cũ. Hãy để Thánh Thần viết luật yêu thương vào trái tim. Hãy để đời mình trở thành một lời “Amen” đối với lễ dâng của Đức Kitô.
Thánh Giá là bàn thờ của Giao Ước Mới. Trên bàn thờ ấy, Thiên Chúa không đòi con người nộp một lễ vật để mua tình yêu của Người; chính Thiên Chúa trao Con mình trước. Trên bàn thờ ấy, tội lỗi bị phơi bày nhưng người tội lỗi lại được ôm lấy. Công lý không bị xóa bỏ nhưng được đi đến tận cùng trong lòng thương xót. Cái chết tưởng như chiến thắng nhưng lại trở thành cánh cửa của sự sống. Hận thù tung đòn cuối cùng nhưng tình yêu nói lời cuối cùng. Và từ bàn thờ ấy, một dòng Máu vẫn âm thầm chảy qua lịch sử Hội Thánh, qua mỗi Thánh Lễ, qua mỗi bí tích, qua mỗi cuộc hoán cải, qua mỗi đời người dám trao mình vì yêu.
Xin cho ta đừng chỉ nhìn Thánh Giá mà không hiểu Thánh Giá. Đừng chỉ đeo Thánh Giá mà không sống Thánh Giá. Đừng chỉ hát về Thánh Giá mà né tránh những hy sinh của tình yêu. Đừng chỉ hôn chân Chúa chịu đóng đinh mà rồi quay sang đóng đinh nhau bằng lời nói, thái độ và sự lạnh lùng. Xin cho mỗi lần đứng trước Thánh Giá, ta biết thưa thật chậm: “Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đặt tất cả lên bàn thờ vì con. Xin dạy con cũng biết đặt đời con trên bàn thờ với Chúa.” Và xin cho đến ngày cuối cùng, sau mọi vui buồn, được mất, thành công, thất bại, ta có thể nhìn lại đời mình và nhận ra rằng đời ấy tuy nghèo, tuy đầy giới hạn, nhưng đã trở thành một của lễ nhỏ kết hợp với của lễ vô giá của Đức Kitô. Khi ấy, Thánh Giá không còn là điều ta chỉ nhìn từ xa. Nó đã trở thành hình dáng của cuộc đời ta. Và Giao Ước Mới không còn chỉ là một chân lý ta tuyên xưng bằng môi miệng. Nó đã được viết thật sâu, bằng tình yêu, trong chính trái tim mình.
Lm. Anmai, CSsR

MÁU VÀ NƯỚC CHẢY RA TỪ CẠNH SƯỜN – NGUỒN MẠCH CỦA HỘI THÁNH
Có những chi tiết trong Tin Mừng chỉ được kể bằng một câu rất ngắn, nhưng nếu dừng lại thật lâu trước câu ấy, người ta có cảm tưởng như đang đứng trước một vực sâu không thể dò thấu của tình yêu Thiên Chúa. Một trong những câu như thế nằm ở cuối trình thuật Thương Khó theo thánh Gioan: “Một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34). Chỉ một câu. Không một lời giải thích dài dòng. Không một bài diễn từ. Không một tiếng sấm từ trời. Không một phép lạ làm rung chuyển đám đông. Chỉ là một thân xác đã chết trên thập giá, một mũi giáo lạnh lùng xuyên qua cạnh sườn, rồi máu và nước chảy ra. Thế nhưng chính trong khoảnh khắc tưởng như chỉ còn sự im lặng của cái chết ấy, Hội Thánh từ bao thế kỷ đã nhận ra một mầu nhiệm vô cùng lớn lao: từ cạnh sườn Đức Kitô bị đâm thâu, một nhân loại mới được khai sinh; từ trái tim đã bị mở ra của Đấng Cứu Thế, nguồn ân sủng tuôn xuống; từ máu và nước chảy ra, đời sống bí tích của Hội Thánh được nuôi dưỡng; từ một thân mình đã trao hiến đến tận cùng, một thân mình khác là Hội Thánh được sinh ra. Đồi Canvê vì thế không chỉ là nơi Chúa Giêsu chết. Đồi Canvê còn là nơi một sự sống mới bắt đầu. Thập giá không chỉ là dấu chấm hết của một cuộc đời trần thế. Thập giá trở thành chiếc nôi của Hội Thánh. Cạnh sườn bị đâm thâu không chỉ là một vết thương. Đó là một cánh cửa. Và qua cánh cửa ấy, con người được bước vào trái tim của Thiên Chúa.
Thánh Gioan kể lại sự kiện này với một sự trang trọng đặc biệt. Sau khi nói đến máu và nước, ngài lập tức thêm: “Người xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực; và người ấy biết mình nói sự thật, để cả anh em nữa cũng tin” (Ga 19,35). Tại sao một chi tiết tưởng chừng nhỏ bé lại cần một lời xác nhận mạnh mẽ đến như vậy? Bởi vì đối với Gioan, điều đang diễn ra không phải chỉ là một thủ tục của lính Rôma nhằm kiểm tra xem tử tội đã chết thật hay chưa. Ngài đang nhìn thấy một dấu chỉ. Ngài nhìn thấy cả lịch sử cứu độ như đang cô đọng trong khoảnh khắc ấy. Ngài nhìn thấy Con Chiên đã chịu sát tế. Ngài nhìn thấy Đền Thờ mới. Ngài nhìn thấy nguồn nước đã được các ngôn sứ loan báo. Ngài nhìn thấy tình yêu của Thiên Chúa đã đi đến tận cùng. Ngài nhìn thấy Đấng mà nhân loại đã khước từ lại đang mở chính cạnh sườn mình ra để đón nhận nhân loại trở về. Thật lạ lùng: người ta đóng đinh đôi tay Chúa, nhưng đôi tay bị đóng đinh ấy vẫn là đôi tay cứu độ. Người ta đóng đinh đôi chân Chúa, nhưng chính đôi chân ấy vẫn dẫn nhân loại về với Chúa Cha. Người ta đội mão gai lên đầu Chúa, nhưng chính Đấng bị chế giễu ấy lại là Vua của lòng thương xót. Và khi người lính tưởng rằng mũi giáo của mình chỉ có thể mở thêm một vết thương trên thân xác người đã chết, thì Thiên Chúa lại biến chính vết thương ấy thành một nguồn suối cứu độ. Con người dùng giáo đâm vào trái tim Thiên Chúa, còn Thiên Chúa đáp lại bằng máu và nước. Con người trao cho Thiên Chúa bạo lực, Thiên Chúa trả lại bằng ân sủng. Con người trao cho Thiên Chúa cái chết, Thiên Chúa trả lại bằng sự sống. Con người khép lòng mình lại trước Thiên Chúa, Thiên Chúa lại mở trái tim Người ra cho con người. Có lẽ không còn hình ảnh nào nói về tình yêu Thiên Chúa sâu hơn thế.
Máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Chúa không phải là một hình ảnh tình cờ xuất hiện ở cuối Tin Mừng Gioan. Từ đầu Tin Mừng, nước đã xuất hiện như một dấu chỉ của sự sống mới. Tại Cana, nước được biến thành rượu, báo trước niềm vui của giao ước mới. Trong cuộc đối thoại với ông Nicôđêmô, Chúa nói đến việc phải sinh lại bởi nước và Thần Khí. Bên bờ giếng Giacóp, Người nói với người phụ nữ Samari về thứ nước hằng sống mà ai uống sẽ không bao giờ khát nữa. Tại hồ Bếtdatha, Người chữa lành một người bất toại vốn bao năm chờ đợi nước chuyển động. Trong ngày cuối của lễ Lều, Đức Giêsu đứng lên và lớn tiếng nói: “Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống!” rồi thánh Gioan giải thích Người nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận. Từng trang Tin Mừng đưa người đọc đến gần một nguồn nước nào đó, cho đến cuối cùng, nguồn nước ấy không còn nằm ở một cái giếng, một hồ nước hay một nghi lễ thanh tẩy, nhưng tuôn ra từ chính cạnh sườn Đức Kitô. Nguồn nước cứu độ không còn ở bên ngoài Thiên Chúa. Nguồn nước ấy chảy ra từ chính trái tim Người. Con người khát sự sống, và Thiên Chúa cho uống bằng chính sự sống của Người. Con người khát được tha thứ, và Thiên Chúa mở cạnh sườn để dòng nước thanh tẩy chảy xuống. Con người khát một tình yêu không phản bội, và Thiên Chúa cho thấy một trái tim vẫn mở ngay cả sau khi đã bị phản bội đến chết.
Cùng với nước là máu. Trong Kinh Thánh, máu là sự sống. Máu cũng gắn liền với giao ước. Khi dân Israel được giải phóng khỏi Ai Cập, máu con chiên Vượt Qua được bôi lên cửa nhà như dấu chỉ cứu độ. Khi giao ước Sinai được ký kết, ông Môsê lấy máu rảy trên dân và nói: “Đây là máu giao ước Đức Chúa đã lập với anh em” (Xh 24,8). Đến Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu cầm chén rượu và nói: “Đây là máu Thầy, máu giao ước, đổ ra cho muôn người” (x. Mc 14,24). Và trên thập giá, điều đã được nói bằng lời trong phòng Tiệc Ly nay được thực hiện bằng chính thân mình Người. Máu thực sự được đổ ra. Giao ước mới không được ký bằng mực, cũng không được bảo đảm bằng quyền lực của một đế quốc hay lời cam kết mong manh của con người. Giao ước mới được đóng ấn bằng máu Con Thiên Chúa. Vì thế, mỗi khi Hội Thánh cử hành Thánh Thể, Hội Thánh không làm lại một kỷ niệm xa xưa như người ta giở một cuốn album cũ. Hội Thánh được đặt vào chính mầu nhiệm tự hiến của Đức Kitô. Chén Máu Thánh trên bàn thờ nối chúng ta với dòng máu đã chảy xuống từ Canvê. Tấm bánh được bẻ ra nối chúng ta với thân mình đã bị trao nộp. Thánh lễ nối mỗi bàn thờ trên khắp thế giới với thập giá duy nhất của Chúa. Và chính nơi đó, Hội Thánh sống bằng sự sống của Đấng đã chết cho mình.
Các Giáo phụ từ rất sớm đã nhìn thấy nơi máu và nước hình ảnh của hai bí tích nền tảng: Bí tích Thánh Tẩy và Bí tích Thánh Thể. Nước thanh tẩy, máu nuôi sống. Nước sinh ra người Kitô hữu, máu nuôi người Kitô hữu lớn lên. Qua Thánh Tẩy, chúng ta được dìm vào cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô, trở nên chi thể của Người và thành phần của Hội Thánh. Qua Thánh Thể, chúng ta liên tục được nuôi bằng chính Mình và Máu Đức Kitô để sống sự sống của Người. Hội Thánh vì thế không phải trước hết là một tổ chức xã hội được thành lập bởi một nhóm người có cùng một sở thích tôn giáo. Hội Thánh phát sinh từ một biến cố cứu độ. Hội Thánh được sinh ra từ Đức Kitô chịu đóng đinh. Hội Thánh sống từ các bí tích phát sinh nơi cuộc Vượt Qua của Chúa. Nói cách khác, căn tính sâu xa nhất của Hội Thánh không nằm ở cơ cấu, tài sản, số lượng tín hữu, những công trình lớn hay những hoạt động nổi bật. Hội Thánh là cộng đoàn những người đã được rửa trong nước của Đức Kitô và được nuôi bằng máu của Đức Kitô. Nếu một ngày nào đó Hội Thánh có rất nhiều công trình mà quên mất cạnh sườn bị đâm thâu, Hội Thánh sẽ trở nên nghèo nàn ngay giữa những vẻ huy hoàng của mình. Nếu một cộng đoàn Kitô hữu rất thành công về tổ chức nhưng không còn sống từ Thánh Thể, không còn biết quỳ trước thập giá, không còn biết để lòng mình được thanh tẩy trong Bí tích Hòa Giải, không còn biết yêu thương như Đức Kitô đã yêu, cộng đoàn ấy có thể mang tên Hội Thánh nhưng sẽ dần đánh mất linh hồn của Hội Thánh.
Một truyền thống rất đẹp của Kitô giáo còn nhìn thấy nơi cạnh sườn Chúa Giêsu sự song song với trình thuật sáng tạo trong sách Sáng Thế. Ađam chìm vào một giấc ngủ sâu, và từ cạnh sườn ông, người nữ được tạo thành. Đức Kitô, Ađam mới, cũng chìm vào “giấc ngủ” của cái chết trên thập giá, và từ cạnh sườn Người, Hiền Thê mới là Hội Thánh được sinh ra. Hình ảnh ấy thật táo bạo nhưng cũng thật dịu dàng. Hội Thánh không sinh ra từ đầu Đức Kitô để thống trị Người, cũng không sinh ra từ chân Người để làm một nô lệ, nhưng từ cạnh sườn, gần trái tim, như Hiền Thê của Con Chiên. Hội Thánh được yêu bằng tình yêu của một Đấng trao hiến chính mình. Thánh Phaolô sau này sẽ nói rằng Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh để thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh (x. Ep 5,25-27). Trước khi Hội Thánh làm bất cứ điều gì cho Chúa, Chúa đã làm tất cả cho Hội Thánh. Trước khi Hội Thánh rao giảng tình yêu, Hội Thánh đã được sinh ra bởi tình yêu. Trước khi Hội Thánh cử hành bí tích, Hội Thánh đã được tắm gội và nuôi dưỡng bằng dòng ân sủng tuôn ra từ Chúa. Trước khi Hội Thánh gọi Thiên Chúa là Cha, Con Một của Cha đã chết để đưa Hội Thánh vào trong tương quan con thảo ấy. Bởi thế, mỗi người Kitô hữu muốn hiểu mình là ai cần trở lại Canvê. Không phải trở lại như một khách tham quan nhìn một di tích đau thương, nhưng trở lại như một người con tìm về nơi mình đã được sinh ra.
Có một điều rất cảm động: trái tim Chúa Giêsu bị mở ra sau khi Người đã chết. Khi còn sống, Người đã trao lời giảng, trao những phép lạ, trao sự tha thứ, trao thời giờ, trao sức lực, trao tình bạn, trao Mình và Máu trong Bữa Tiệc Ly. Người đã trao đến mức không còn gì để giữ lại. Trên thập giá, Người trao cả Mẹ mình cho môn đệ và trao môn đệ cho Mẹ. Người trao Thần Khí. Người nói: “Thế là đã hoàn tất”, rồi gục đầu xuống. Ta tưởng rằng Người không còn gì để trao nữa. Nhưng chưa hết. Người còn để cho cạnh sườn mình được mở ra. Người còn trao cả trái tim đã ngừng đập. Đây chính là tình yêu “đến cùng” mà thánh Gioan nói ở đầu trình thuật Bữa Tiệc Ly: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). “Đến cùng” không chỉ là đến cuối cuộc đời. “Đến cùng” còn là đến tận cùng khả năng tự hiến. Không giữ lại gì. Không đòi lại gì. Không đặt điều kiện. Người yêu ngay khi bị chối bỏ. Người yêu ngay khi bị bán đứng. Người yêu ngay khi bị bỏ rơi. Người yêu ngay khi những người Người chữa lành không còn ở đó. Người yêu ngay khi đám đông từng tung hô Người nay hò hét đòi đóng đinh Người. Người yêu ngay cả những người đang hành hình Người. Và từ chính trái tim bị tổn thương bởi sự phản bội của con người, Người làm tuôn ra nguồn chữa lành cho con người.
Chúng ta thường yêu theo cách khác. Khi bị tổn thương, phản ứng tự nhiên của ta là đóng cửa lòng mình. Một lần bị phản bội, ta ngại tin. Một lần bị hiểu lầm, ta không muốn giải thích nữa. Một lần bị lợi dụng, ta muốn giữ khoảng cách. Một lần trao đi mà không được đáp lại, ta tự nhủ từ nay đừng trao nữa. Càng đau, ta càng đóng kín. Còn Đức Kitô thì ngược lại: càng bị thương tích, trái tim Người càng mở ra. Mũi giáo không làm cho nguồn yêu thương khép lại, nhưng làm nó tuôn trào. Đây có lẽ là một trong những bài học khó nhất của thập giá. Người môn đệ không được mời gọi trở thành kẻ không biết đau. Kitô giáo không dạy người ta giả vờ rằng phản bội không đau, bất công không đau, mất mát không đau. Đức Giêsu đã khóc. Người đã buồn đến chết được. Người đã run sợ trong vườn Cây Dầu. Người đã cảm thấy nỗi cô đơn của thập giá. Nhưng Người không để nỗi đau biến trái tim mình thành đá. Vết thương nơi Chúa trở thành nguồn cứu độ. Còn vết thương nơi chúng ta sẽ trở thành gì? Một cái cớ để cay nghiệt hơn, hay một nơi để lòng thương xót lớn lên? Một nhà tù giữ chúng ta lại trong quá khứ, hay một cánh cửa giúp ta hiểu những người đang đau khổ? Một lý do để trả thù, hay một nơi cho ân sủng Chúa đi qua?
Nhìn cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa, ta còn học được rằng Hội Thánh chân thật phải là một Hội Thánh có trái tim mở. Hội Thánh sinh ra từ một trái tim bị mở, thì không thể sống bằng một trái tim khép kín. Hội Thánh của Chúa không thể chỉ lo bảo vệ mình, giữ phần mình, chăm chút hình ảnh mình, trong khi ngoài kia có những người đang đói, đang khóc, đang mất hy vọng, đang bị loại trừ và đang cần một bàn tay. Nếu Hội Thánh sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô, thì Hội Thánh phải mang lấy phong cách của cạnh sườn ấy: bị thương nhưng vẫn yêu, chịu thiệt nhưng vẫn trao, không ngại để mình bị “mở ra” vì phần rỗi của con người. Một giáo xứ sống thật sự từ Canvê sẽ không chỉ đông người trong các ngày lễ, mà phải có chỗ cho người nghèo. Một cộng đoàn tu trì sống thật sự từ cạnh sườn Chúa sẽ không chỉ giữ kỷ luật chính xác, mà phải có sự dịu dàng của Đức Kitô. Một linh mục sống từ Máu Chúa không chỉ chu toàn nghi lễ nhưng phải biết để đời mình được bẻ ra vì đoàn chiên. Một gia đình Kitô hữu sống từ nước của cạnh sườn Chúa sẽ không chỉ treo thánh giá trên tường nhưng phải biết tha thứ, phục vụ và bắt đầu lại. Một người giáo dân đã uống Máu Thánh mỗi ngày hay mỗi Chúa nhật không thể ra khỏi nhà thờ rồi tiếp tục làm tổn thương người khác bằng lời nói, gian dối trong công việc, lạnh lùng trước người túng thiếu, hay nuôi hận thù trong lòng như thể mình chưa từng đến bàn tiệc của Đấng đã đổ máu vì kẻ thù.
Thánh Gioan còn nối hình ảnh cạnh sườn bị đâm với lời Kinh Thánh: “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu” (Ga 19,37; x. Dcr 12,10). Đức tin Kitô giáo bắt đầu rất nhiều lần bằng một ánh nhìn. Nhìn lên Đấng chịu đóng đinh. Không chạy trốn. Không quay mặt đi. Không vội vàng giải thích đau khổ bằng những công thức dễ dãi. Chỉ nhìn. Nhìn thật lâu. Người ta có thể đọc hàng trăm cuốn sách thần học về tình yêu Thiên Chúa, nhưng đôi khi chỉ cần đứng trước một cây thánh giá và nhìn cạnh sườn bị đâm thâu, mọi điều cần biết đã ở đó. Thiên Chúa yêu ta đến đâu? Hãy nhìn. Tội lỗi nghiêm trọng đến đâu? Hãy nhìn. Con người quý giá đến đâu? Hãy nhìn. Giá của sự tha thứ là gì? Hãy nhìn. Thiên Chúa gần người đau khổ đến đâu? Hãy nhìn. Khi không còn hiểu nổi cuộc đời mình, hãy nhìn. Khi cảm thấy mình không đáng được yêu, hãy nhìn. Khi thấy tội mình quá lớn, hãy nhìn. Khi bị người khác làm cho tan nát, hãy nhìn. Khi lòng mình muốn khép lại, hãy nhìn. Cạnh sườn ấy sẽ dạy ta những điều ngôn từ không thể dạy.
Có người từng nghĩ rằng Thiên Chúa phải ở rất xa những giọt nước mắt của mình. Nhưng Canvê nói ngược lại. Thiên Chúa không đứng trên cao nhìn con người đau. Người bước vào nỗi đau ấy. Người mang một thân thể có thể bị đánh. Một khuôn mặt có thể bị tát. Một đôi vai có thể bị đè dưới cây gỗ. Một bàn tay có thể bị đinh xuyên. Một trái tim có thể bị giáo đâm. Từ đây, không ai có thể nói rằng Thiên Chúa không biết đau đớn của con người. Người mẹ đứng bên giường con bệnh, người chồng mất vợ, người vợ bị phản bội, người cha đau vì đứa con lạc lối, người trẻ thất vọng vì tương lai mù mịt, người già cô đơn trong căn phòng im ắng, người bị vu oan, người bị bỏ rơi, người sống một căn bệnh kéo dài, người cảm thấy những lời cầu nguyện của mình như rơi vào thinh không — tất cả có thể đến với cạnh sườn Đức Kitô và nói: “Lạy Chúa, Chúa biết.” Không phải một cái biết của người đứng ngoài quan sát, nhưng cái biết của Đấng đã đi xuống tận đáy đau khổ của con người.
Và cũng chính vì đã đi xuống tận đáy ấy, Chúa có thể biến đáy vực thành điểm khởi đầu của một con đường đi lên. Máu và nước chảy ra sau cái chết. Đây là nghịch lý của đức tin. Ở nơi người ta chỉ nhìn thấy kết thúc, Thiên Chúa bắt đầu. Ở nơi mọi hy vọng nhân loại dường như đã tắt, nguồn nước lại chảy. Trong đêm tối nhất của Canvê, bình minh phục sinh đã âm thầm được chuẩn bị. Điều này rất quan trọng cho đời sống chúng ta. Có những thời điểm ta tưởng mọi chuyện đã hết: một mối quan hệ không thể cứu vãn, một dự định thất bại, một căn bệnh lấy đi nhiều điều, một người thân ra đi, một lỗi lầm khiến ta không còn dám nhìn chính mình, một cộng đoàn trải qua khủng hoảng, một ơn gọi bị thử thách. Ta nói: hết rồi. Nhưng Đức Kitô chết trên thập giá lại bảo ta rằng “hết” theo cách nhìn của con người chưa chắc là hết theo cách của Thiên Chúa. Chính từ cạnh sườn của một người đã chết, dòng nước sự sống chảy ra. Thiên Chúa có khả năng làm xuất hiện một nguồn suối tại nơi chúng ta chỉ thấy sa mạc. Người có thể làm nảy sinh một ơn gọi sâu hơn từ khủng hoảng, một lòng thương xót lớn hơn từ vết thương, một đức tin tinh tuyền hơn từ đêm tối, một đời sống mới từ điều mà ta tưởng chỉ còn là đổ vỡ.
Máu và nước còn nhắc mỗi người nhớ đến Bí tích Hòa Giải. Nếu Thánh Tẩy là lần tắm đầu tiên đưa ta vào đời sống mới, thì Hòa Giải là nơi dòng nước lòng thương xót tiếp tục tẩy rửa những bụi bặm mà ta để bám vào đời mình. Chúng ta thường sợ thú nhận tội lỗi vì xấu hổ, nhưng cạnh sườn mở ra của Chúa nói rằng lòng thương xót đã có trước khi ta thú tội. Chúa không bắt đầu yêu ta sau khi ta trở nên tốt. Người đã đổ máu khi ta còn là tội nhân. Thánh Phaolô nói: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” (Rm 5,8). Người Kitô hữu bước vào tòa giải tội không phải như một bị cáo đi đến trước một vị quan tòa khắc nghiệt, nhưng như người con trở về với trái tim đã bị mở ra vì mình. Ở đó, tội được gọi đúng tên, nhưng tội nhân không bị nghiền nát. Sự thật được nói ra, nhưng sự thật được bao bọc trong lòng thương xót. Chúng ta được tha không phải vì tội không quan trọng, mà chính vì tội quá nghiêm trọng đến nỗi Con Thiên Chúa đã phải đổ máu để cứu ta. Người nào đã thực sự hiểu giá của Máu Chúa sẽ không coi thường tội lỗi, nhưng cũng sẽ không tuyệt vọng vì tội lỗi.
Mỗi Thánh lễ vì thế phải là một cuộc trở về cạnh sườn Chúa. Khi linh mục nâng chén Máu Thánh lên, ta không đứng trước một biểu tượng trống rỗng. Chúng ta đứng trước mầu nhiệm tình yêu tự hiến của Đức Kitô. “Máu Giao Ước mới và vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho anh em và nhiều người được tha tội.” Mỗi lần nghe những lời ấy, lẽ ra lòng ta phải rung lên. Máu ấy được đổ “cho anh em”. Cho chính tôi. Cho người bên cạnh tôi. Cho người tôi yêu và cả người tôi rất khó yêu. Chúa đã đổ cùng một Máu cho người mà tôi đang khinh thường. Chúa đã chịu đâm thâu vì người mà tôi đang không muốn tha thứ. Chúa đã trao mạng sống vì người mà tôi xem là không đáng được tôn trọng. Nếu hiểu Thánh Thể đến tận chiều sâu này, ta sẽ thấy không thể vừa rước lấy Mình Máu Chúa rồi lại nuôi hận thù như cũ. Bàn tiệc Thánh Thể đòi ta phải để cho trái tim mình ngày càng giống trái tim đã bị mở ra trên Canvê.
Có một sự nối kết rất sâu giữa Thánh Thể và sự hiệp nhất của Hội Thánh. Một Hội Thánh được sinh từ một cạnh sườn, sống nhờ một Máu, uống từ một chén, không thể coi chia rẽ là chuyện bình thường. Chúng ta có thể khác nhau về tính khí, tuổi tác, văn hóa, quan điểm, cách phục vụ, nhưng không thể quên rằng tất cả đang sống từ một nguồn. Người giàu và người nghèo quỳ trước cùng một bàn thờ. Người học cao và người ít học nhận cùng một tấm bánh. Người nổi tiếng và người chẳng ai biết tên uống cùng một Máu. Trước cạnh sườn Chúa, các bảng xếp hạng của thế gian trở nên vô nghĩa. Không ai có thể nói máu Chúa đổ cho mình nhiều hơn người khác. Không ai có thể độc quyền ân sủng. Không ai có thể tự hào rằng mình gần Chúa đến mức được phép khinh người anh em. Càng gần cạnh sườn Đức Kitô, ta càng phải gần những người Người đã chết cho họ.
Hội Thánh cũng được sai đi từ nguồn mạch ấy. Nước không chảy để ở lại trong một chiếc hồ kín. Máu Chúa không được đổ để chúng ta giữ riêng cho mình. Người Kitô hữu được thanh tẩy để trở thành nguồn nước cho người khác; được nuôi bằng Máu Thánh để biết trao chính đời mình. Truyền giáo trước hết không phải là làm cho người khác thua trong một cuộc tranh luận tôn giáo, nhưng là giúp họ gặp được trái tim đang mở của Thiên Chúa. Có những người sẽ không bao giờ đọc Tin Mừng nếu họ không đọc được Tin Mừng nơi cách chúng ta sống. Họ sẽ không hiểu lòng thương xót nếu chỉ nghe ta giảng mà không thấy ta biết tha thứ. Họ sẽ không tin rằng Thiên Chúa yêu người nghèo nếu Hội Thánh quay lưng với người nghèo. Họ sẽ không hiểu thập giá nếu người mang thập giá trên cổ lại sống ích kỷ. Họ sẽ không hiểu Máu Chúa là nguồn hiệp nhất nếu những người cùng rước lễ lại nói xấu, loại trừ và làm tổn thương nhau. Người môn đệ được gọi trở nên như một “cạnh sườn mở” giữa thế gian: một nơi người khác có thể tìm được sự đón nhận, chữa lành và hy vọng.
Ở đây, ta cũng hiểu sâu hơn lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Thánh Tâm không phải là một thứ tình cảm đạo đức mềm yếu. Trái tim Đức Kitô là trái tim bị đâm thâu. Tình yêu Kitô giáo không phải thứ tình yêu chỉ đẹp khi mọi người tốt với nhau. Đó là tình yêu chịu được thập giá. Một tình yêu biết trung tín khi bị hiểu lầm, biết tha thứ khi bị xúc phạm, biết ở lại khi bỏ đi dễ hơn, biết hy sinh khi ích kỷ hấp dẫn hơn. Thánh Tâm là trái tim cháy lửa yêu mến nhưng mang vết thương. Chính vết thương ấy làm cho tình yêu Kitô giáo không còn là một ý tưởng mơ hồ. Thiên Chúa không chỉ nói “Ta yêu con”. Người để cho thân mình mang dấu tích của lời nói ấy. Tình yêu của Chúa có vết đinh, có mão gai, có cạnh sườn bị giáo đâm. Và thật kỳ lạ, sau phục sinh, Đức Giêsu vẫn giữ những dấu thương. Người có thể phục sinh với một thân thể không còn dấu tích gì của cuộc thương khó, nhưng Người đã không làm thế. Người hiện ra và cho Tôma thấy tay, thấy cạnh sườn. Những vết thương không biến mất, nhưng được biến đổi. Đó là niềm hy vọng lớn cho chúng ta: ân sủng không nhất thiết xóa khỏi ký ức mọi vết thương, nhưng có thể biến vết thương thành nơi ánh sáng đi qua.
Biết bao người sống nhiều năm với những vết thương kín đáo. Có người chưa bao giờ nói với ai về một tuổi thơ thiếu tình thương. Có người mang theo lời xúc phạm từ nhiều chục năm trước. Có người đã tha thứ bằng miệng nhưng lòng vẫn đau. Có người thấy đời mình bị một lỗi lầm quá khứ đóng dấu. Có người sống giữa gia đình nhưng cô độc. Có người phục vụ rất nhiều nhưng bên trong kiệt sức. Có người vẫn cười trong nhà thờ nhưng đêm về lại khóc một mình. Cạnh sườn Chúa là nơi dành cho tất cả những người ấy. Không phải để bảo họ rằng đừng đau nữa, nhưng để họ thấy rằng một vết thương được đặt trong tình yêu Thiên Chúa có thể trở thành nơi cứu độ. Khi Thomas được mời đặt tay vào cạnh sườn, ông không chỉ kiểm chứng một sự kiện phục sinh. Ông được chạm vào tình yêu đã đi xuyên qua cái chết. Và từ đó lời tuyên xưng bật ra: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Có những lúc đức tin của ta cũng chỉ trở nên sâu thật sau khi đã đi qua một vết thương.
Cạnh sườn Chúa còn là nơi Đức Maria đã đứng rất gần. Tin Mừng không nói Mẹ nhìn thấy mũi giáo hay dòng máu nước chảy ra thế nào, nhưng Mẹ đã ở dưới chân thập giá. Người Mẹ đã cưu mang thân xác ấy, từng ôm Con vào lòng tại Bêlem, từng chăm sóc những bàn tay bé nhỏ ấy, nay đứng nhìn bàn tay bị đinh xuyên. Trái tim Mẹ cũng bị một lưỡi gươm đâm thâu như lời cụ già Simêon đã tiên báo. Và trong chính giờ ấy, Mẹ được trao cho người môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Nếu Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô, thì Hội Thánh cũng được sinh ra dưới ánh mắt của Đức Maria. Mẹ đứng bên chiếc nôi Bêlem khi Con Thiên Chúa bước vào thế gian; Mẹ đứng bên “chiếc nôi” Canvê khi Hội Thánh bắt đầu đi vào lịch sử. Mẹ dạy Hội Thánh đứng lại bên những thập giá của con người. Không phải thập giá nào cũng có thể giải quyết bằng một lời khuyên. Có những thập giá người ta chỉ có thể đứng bên cạnh. Có những nỗi đau không cần một bài diễn văn, mà cần một sự hiện diện. Đức Maria không kéo Con xuống khỏi thập giá, nhưng Mẹ không bỏ Người một mình. Một Hội Thánh mang dung mạo của Mẹ cũng phải biết nghệ thuật ở lại.
“Một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người.” Người lính ấy có lẽ không biết mình đang làm gì. Có lẽ anh chỉ đang thi hành nhiệm vụ. Nhưng bao thế hệ Kitô hữu lại nhìn vào hành động ấy và nhận ra một mầu nhiệm. Đời ta cũng có những việc lúc đang xảy ra ta không hiểu. Có những biến cố dường như chỉ là một mũi giáo. Nhiều năm sau nhìn lại, ta mới thấy Chúa đã để một nguồn nước chảy ra từ chính nơi ấy. Không phải vì sự dữ trở thành điều tốt, nhưng vì Thiên Chúa lớn hơn sự dữ. Ngài không cần gọi bóng tối là ánh sáng để cứu ta; Ngài có thể làm ánh sáng chiếu lên ngay trong bóng tối. Thập giá vẫn là tội ác. Việc giết Đức Giêsu vẫn là bất công. Mũi giáo vẫn là một hành vi bạo lực. Nhưng tình yêu Thiên Chúa mạnh đến mức có thể lấy chính hậu quả của bạo lực để làm phát sinh dấu chỉ chữa lành. Đó là lý do Kitô hữu không tuyệt vọng. Hy vọng của chúng ta không dựa trên ảo tưởng rằng đời sẽ không bao giờ có thập giá. Hy vọng dựa trên niềm tin rằng thập giá không có tiếng nói cuối cùng.
Khi một người bước vào nhà thờ và chấm tay vào nước thánh làm dấu thánh giá, có lẽ ít ai nghĩ đến dòng nước từ cạnh sườn Chúa. Nhưng cử chỉ nhỏ ấy nhắc ta về Bí tích Thánh Tẩy, nhắc ta rằng ta đã được sinh lại trong Đức Kitô. Khi một linh mục cầm chén thánh, khi giáo dân tiến lên rước lễ, khi một tân tòng được dội nước trên đầu, khi một tội nhân được giải tội, khi một người bệnh được xức dầu, khi đôi tân hôn trao lời cam kết trước Chúa, khi một người quỳ xuống lãnh nhận tác vụ thánh — toàn bộ đời sống bí tích ấy đều bắt nguồn từ mầu nhiệm Vượt Qua. Hội Thánh không tự tạo ra ân sủng. Hội Thánh chỉ kín múc từ cạnh sườn Chúa và phân phát điều mình đã nhận. Vì vậy, các thừa tác viên của Hội Thánh càng phải sống khiêm tốn. Không linh mục nào sở hữu Bí tích. Không giám mục nào sở hữu Hội Thánh. Không ai sở hữu ân sủng. Tất cả chỉ là những người đứng bên nguồn nước, múc nước cho đoàn dân đang khát.
Và cũng vì vậy, mọi cuộc canh tân Hội Thánh chân thật cuối cùng đều phải trở về nguồn. Người ta có thể cải tổ cơ cấu, thay đổi phương pháp, ứng dụng công nghệ, tổ chức hội nghị, viết kế hoạch mục vụ, phát triển truyền thông, xây dựng nhiều sáng kiến — tất cả có thể tốt và cần thiết — nhưng nếu không trở lại với Đức Kitô bị đâm thâu, cuộc canh tân ấy chỉ thay chiếc áo mà không chạm vào trái tim. Hội Thánh được đổi mới khi các Kitô hữu trở về với Tin Mừng, với Thánh Thể, với cầu nguyện, với lòng thương xót, với người nghèo, với đời sống thánh thiện. Hội Thánh trẻ lại khi người ta biết kinh ngạc trước Máu và Nước. Hội Thánh có sức truyền giáo khi người ta nhận ra mình đã được yêu đến thế nào. Một người đã thực sự biết mình được cứu bằng giá máu sẽ khó sống hời hợt. Một linh mục đã thực sự cảm được Máu ấy đổ vì mình sẽ khó cử hành Thánh lễ như một thói quen. Một tu sĩ đã thực sự chạm vào cạnh sườn Chúa sẽ khó sống lời khấn như một hình thức. Một đôi vợ chồng đã thật sự quỳ trước trái tim bị đâm thâu sẽ hiểu rằng tình yêu không chỉ là cảm xúc, mà là trao mình mỗi ngày.
Có lẽ bi kịch của nhiều người Kitô hữu không phải là họ hoàn toàn bỏ Chúa, nhưng là họ đã quen với những điều đáng lẽ phải làm họ kinh ngạc. Quen nhìn thánh giá. Quen nghe “Mình Thánh Chúa Kitô”. Quen nghe “Máu Giao Ước mới và vĩnh cửu”. Quen làm dấu thánh giá. Quen đọc trình thuật Thương Khó. Quen đến mức cạnh sườn bị đâm thâu không còn làm lòng mình rung động. Nhưng ngày nào ta lại biết dừng trước câu “tức thì máu cùng nước chảy ra” và để câu ấy đi thật sâu vào tâm hồn, ngày ấy có thể đời sống đức tin của ta bắt đầu mới. Tôi đang sống bằng giá của Máu này. Tôi đã được rửa trong nguồn nước này. Hội Thánh mà tôi thuộc về được sinh ra từ vết thương này. Người bên cạnh tôi cũng được yêu bằng chính tình yêu này. Và kẻ tôi đang ghét cũng là người Đức Kitô đã chịu đâm thâu vì họ.
Đến cuối cùng, tất cả đời Kitô hữu có thể được gom lại trong một chuyển động rất đơn giản: đến với nguồn và trở thành nguồn. Đến với Đức Kitô để uống, rồi ra đi để trao. Đến với Người khi ta khô cạn, để rồi trở thành chút nước mát cho người khác. Đến với Máu Thánh để được sống, rồi dám tiêu hao đời mình vì tình yêu. Đến với cạnh sườn bị đâm thâu để được chữa lành, rồi học cách không dùng vết thương của mình làm người khác bị thương. Đến với trái tim mở để lòng ta thôi đóng kín. Hội Thánh sinh ra như thế, và Hội Thánh chỉ sống đúng căn tính của mình khi tiếp tục sống như thế.
Mai này, khi tất cả những gì ta xây dựng đã qua đi, những thành công bị quên lãng, những danh dự không còn ý nghĩa, có lẽ điều còn lại chỉ là câu hỏi: tôi đã để cho tình yêu từ cạnh sườn Đức Kitô đi qua cuộc đời mình đến với bao nhiêu người? Tôi đã làm gì với Máu đã đổ ra vì tôi? Tôi đã làm gì với nước đã thanh tẩy tôi? Tôi có để đời mình trở nên một dòng nhỏ nối từ nguồn mạch Canvê đến những vùng đất khô hạn của nhân loại hay không? Có những người cả đời không làm được việc gì lẫy lừng, nhưng họ biết yêu, biết tha thứ, biết phục vụ, biết âm thầm mang lấy nỗi đau của người khác. Có thể trong mắt thế gian họ chẳng để lại dấu ấn lớn lao, nhưng trong mầu nhiệm của Thiên Chúa, họ đang tiếp tục làm cho dòng nước từ cạnh sườn Đức Kitô chảy qua lịch sử.
Xin cho chúng ta đừng bao giờ đi ngang qua thập giá như đi ngang một vật quen thuộc. Xin cho mỗi lần nhìn cạnh sườn Chúa bị đâm thâu, lòng ta biết dừng lại. Dừng lại để nhớ mình đã được yêu bằng một tình yêu có giá. Dừng lại để biết tội lỗi mình đã được rửa bằng một dòng nước không bao giờ cạn. Dừng lại để nhớ Hội Thánh không thuộc về chúng ta mà thuộc về Đấng đã mua chuộc Hội Thánh bằng máu mình. Dừng lại để học cách yêu như Người: yêu không phải chỉ khi dễ yêu, cho không phải chỉ khi được trả lại, ở lại không phải chỉ khi được biết ơn. Và nếu một ngày nào đó chính lòng ta cũng bị một “mũi giáo” của cuộc đời đâm thâu, xin đừng để từ đó chỉ chảy ra cay đắng, oán hận và tuyệt vọng. Xin cho từ những vết thương của ta cũng có thể chảy ra một chút nước của cảm thông, một chút máu của hy sinh, một chút lòng thương xót của Đức Kitô.
Bởi vì Hội Thánh đã được sinh ra từ một vết thương. Sự sống đã chảy ra từ nơi tưởng chỉ còn cái chết. Ân sủng đã tuôn trào từ một cạnh sườn bị đâm thâu. Và từ ngày ấy cho đến tận cùng thời gian, bất cứ ai khát đều có thể đến. Bất cứ ai mang tội đều có thể đến. Bất cứ ai mang vết thương đều có thể đến. Bất cứ ai đã mỏi mệt vì cuộc đời đều có thể đến. Nguồn vẫn còn đó. Trái tim vẫn mở. Máu Giao Ước vẫn nói lời tha thứ. Nước sự sống vẫn chảy. Hội Thánh vẫn được sinh ra từng ngày từ mầu nhiệm Vượt Qua ấy, mỗi khi một con người chết đi cho tội lỗi và sống lại trong Đức Kitô, mỗi khi một tội nhân được tha thứ, mỗi khi một người rước lấy Mình Máu Chúa rồi trở thành tấm bánh bẻ ra cho anh chị em mình, mỗi khi một trái tim khép kín được tình yêu Chúa mở ra.
“Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.” Xin cho chúng ta biết nhìn. Nhìn cho đến khi hiểu rằng mình được yêu. Nhìn cho đến khi dám để mình được tha thứ. Nhìn cho đến khi thôi sợ trao ban. Nhìn cho đến khi những vết thương của ta không còn là nơi bóng tối trú ngụ nhưng thành khe cửa cho ánh sáng đi vào. Nhìn cho đến khi ta hiểu Hội Thánh không bắt đầu từ quyền lực nhưng từ một trái tim bị đâm; không được nuôi bằng danh vọng nhưng bằng Máu; không được thanh tẩy bởi thành công nhưng bởi dòng nước từ Đức Kitô; không sống để bảo vệ chính mình nhưng để trao cho thế giới điều mình đã lãnh nhận.
Và rồi, sau khi đã nhìn thật lâu, ta hãy quỳ xuống mà thưa với Người: Lạy Chúa Giêsu, cạnh sườn Chúa đã mở vì con, xin mở trái tim con. Máu Chúa đã đổ vì con, xin cho đời con cũng biết được đổ ra trong yêu thương. Nước từ cạnh sườn Chúa đã thanh tẩy con, xin rửa sạch trong con mọi ích kỷ, kiêu căng, hận thù và vô cảm. Chúa đã sinh Hội Thánh từ trái tim bị đâm thâu, xin làm cho Hội Thánh hôm nay luôn mang trái tim của Chúa: một trái tim rộng mở cho người nghèo, cho người tội lỗi, cho người bị bỏ rơi, cho người thất vọng, cho cả những người chưa biết Chúa. Xin đừng để chúng con chỉ nói về tình yêu của Chúa, nhưng xin làm cho đời chúng con trở thành chứng từ rằng tình yêu ấy vẫn đang chảy giữa thế giới này. Và khi cuộc đời chúng con khép lại, xin cho chúng con được trở về chính nguồn mạch từ đó mình đã được sinh ra, được bước qua cạnh sườn đã mở mà đi vào trái tim Chúa, nơi không còn nước mắt, không còn chia lìa, không còn vết thương nào không được chữa lành, nhưng chỉ còn tình yêu đã yêu chúng con đến cùng.
Lm. Anmai, CSsR

SỰ TỰ HỦY CỦA CON THIÊN CHÚA TRÊN THÁNH GIÁ
Có những lúc đứng trước Thánh Giá, người ta không còn biết phải nói gì. Mọi lời giải thích dường như đều trở nên quá nhỏ trước một Thiên Chúa bị đóng đinh. Mọi lý luận về quyền năng cũng trở nên nghèo nàn trước đôi bàn tay đã từng chữa lành người bệnh, chạm vào người phong cùi, bẻ bánh nuôi đám đông, nâng người chết dậy, nay lại để cho người ta đóng đinh vào gỗ. Mọi hình dung của con người về vinh quang đều bị đảo lộn khi Đấng mà các thiên thần tung hô lại bị treo giữa trời và đất như một người thất bại. Và có lẽ chính tại đây, dưới chân Thánh Giá, người tín hữu mới bắt đầu hiểu đôi chút thế nào là mầu nhiệm “tự hủy” của Con Thiên Chúa mà thánh Phaolô đã diễn tả bằng những lời vừa hùng tráng vừa đau đớn trong thư gửi tín hữu Philípphê: Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế; Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây Thập Giá. Không có câu nào về Đức Kitô mà người Kitô hữu có thể đọc cách hời hợt hơn những câu ấy. Bởi vì trong vài dòng ngắn ngủi đó là cả một vực thẳm của tình yêu, là cả con đường Thiên Chúa đi xuống để tìm con người, là cả lịch sử cứu độ được thu lại trong hai chuyển động kỳ diệu: từ trời xuống đất, từ ngai vinh quang xuống máng cỏ, từ máng cỏ xuống những nẻo đường bụi bặm của Galilê, từ những nẻo đường ấy xuống tận phòng tiệc ly để quỳ dưới chân các môn đệ, rồi từ phòng tiệc ly xuống Ghếtsêmani, từ Ghếtsêmani đến dinh Philatô, từ dinh Philatô đến đồi Canvê, và cuối cùng từ Canvê xuống tận cõi chết. Thiên Chúa cứ đi xuống, đi xuống mãi, cho đến nơi thấp nhất mà con người có thể rơi xuống, để không còn một vực sâu nào của phận người mà Con Thiên Chúa chưa bước vào, không còn một bóng tối nào của kiếp người mà ánh sáng tình yêu của Người chưa chạm tới.
“Sự tự hủy” không có nghĩa là Đức Giêsu thôi là Thiên Chúa. Người không đánh mất thần tính, cũng không từ bỏ bản tính Thiên Chúa. Điều Người từ bỏ là cách biểu lộ quyền năng theo kiểu thống trị, cách sử dụng vinh quang cho chính mình, cách đứng ngoài đau khổ của con người. Người là Thiên Chúa, nhưng không dùng Thiên Chúa tính như một đặc quyền để giữ khoảng cách với nhân loại. Người có quyền, nhưng chọn phục vụ. Người có thể truyền cho thiên thần đến giải cứu, nhưng lại để tay mình bị trói. Người có thể khiến những kẻ đến bắt Người ngã xuống đất chỉ bằng một lời, nhưng lại tự trao mình cho họ. Người có thể bước xuống khỏi Thánh Giá để chứng minh quyền năng, nhưng lại ở lại trên Thánh Giá để chứng minh tình yêu. Đây chính là điều gây choáng váng nhất của mầu nhiệm Kitô giáo: Thiên Chúa cứu thế giới không phải bằng cách phô diễn sức mạnh, nhưng bằng cách để cho tình yêu của Người đi đến tận cùng của sự bất lực. Thiên Chúa chiến thắng không phải bằng cách tiêu diệt kẻ thù, nhưng bằng cách để cho kẻ thù giết mình và từ trong cái chết ấy mở ra con đường tha thứ. Thiên Chúa không cứu con người từ bên ngoài đau khổ, nhưng bước vào chính đau khổ; không cứu con người bằng cách đứng trên cao kéo họ lên như người ta kéo một vật rơi xuống hố, nhưng Người xuống tận đáy hố, đứng bên cạnh họ, ôm lấy họ và từ đó đưa họ về nhà Cha. Đó là sự tự hủy. Không phải sự phủ nhận chính mình vì mặc cảm, nhưng là sự hiến trao chính mình vì yêu. Không phải tự làm cho mình trở nên vô nghĩa, nhưng làm cho tình yêu trở thành ý nghĩa tuyệt đối. Không phải một Thiên Chúa đánh mất phẩm giá, nhưng là một Thiên Chúa mặc khải phẩm giá cao nhất của mình chính trong việc yêu thương đến cùng.
Con người thường nghĩ quyền lực là khả năng bắt người khác cúi xuống. Đức Kitô cho thấy quyền năng của Thiên Chúa là khả năng cúi xuống trước con người. Con người nghĩ cao trọng là có người phục vụ mình. Đức Kitô nói Người đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người. Con người thường bảo vệ danh dự bằng cách trả đũa kẻ xúc phạm. Đức Kitô bảo vệ phẩm giá của tình yêu bằng cách cầu nguyện cho những người đóng đinh mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Con người muốn chiến thắng bằng việc làm cho đối phương thất bại. Đức Kitô chiến thắng bằng cách để chính mình mang lấy thất bại. Chúng ta muốn chứng minh mình đúng; Người chọn cứu người khác. Chúng ta sợ mất; Người trao ban. Chúng ta sợ bị quên; Người ẩn mình. Chúng ta sợ bị hạ xuống; Người tự hạ. Chúng ta muốn bước lên; Người bước xuống. Đó là nghịch lý của Tin Mừng. Và nếu không bước vào nghịch lý ấy, chúng ta có thể đeo Thánh Giá trên cổ, đặt Thánh Giá trên bàn thờ, làm dấu Thánh Giá mỗi ngày, nhưng vẫn chưa thật sự hiểu Thánh Giá.
Tin Mừng cho chúng ta một hình ảnh rất đẹp để hiểu sự tự hủy ấy. Trong bữa Tiệc Ly, thánh Gioan kể rằng Đức Giêsu biết giờ của Người đã đến, biết mình từ Thiên Chúa mà đến và sắp trở về cùng Thiên Chúa, biết Chúa Cha đã trao mọi sự trong tay Người. Điều đáng chú ý là ngay sau khi nói Đức Giêsu biết mình có tất cả quyền năng, Tin Mừng không kể Người ngồi lên ngai, không kể Người đòi các môn đệ phủ phục, nhưng kể một chuyện gây sửng sốt: Người đứng dậy khỏi bàn, cởi áo ngoài, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu rồi bắt đầu rửa chân cho từng môn đệ. Đấng biết mình từ Thiên Chúa mà đến lại quỳ xuống. Đấng có mọi sự trong tay Cha lại cầm lấy bàn chân bụi bặm của con người. Đấng mà Gioan Tẩy Giả từng nói mình không xứng đáng cúi xuống cởi quai dép, nay lại cúi xuống rửa chân cho những con người yếu đuối, trong đó có cả Giuđa, kẻ sắp phản bội Người; có Phêrô, người chỉ vài giờ nữa sẽ chối Người; có những môn đệ sẽ bỏ chạy khi Người bị bắt. Chính khung cảnh này là cánh cửa dẫn vào Thánh Giá. Cái cúi xuống bên chậu nước tối hôm trước sẽ trở thành cái cúi xuống tận cùng trên cây gỗ ngày hôm sau. Chiếc áo được cởi ra trong phòng tiệc ly báo trước áo Người sẽ bị quân lính lột khỏi thân thể. Nước Người đổ vào chậu báo trước máu và nước sẽ chảy từ cạnh sườn. Người quỳ dưới chân các môn đệ trước khi bị treo trên đầu họ. Người tự nguyện trở thành tôi tớ trước khi bị đối xử như một tên tội phạm. Và sau khi rửa chân, Người nói: “Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.” Chính ở đây chúng ta hiểu rằng sự tự hủy của Đức Kitô không phải một ý niệm thần học xa xôi. Nó là con đường dành cho người môn đệ. Thánh Giá không chỉ là điều chúng ta chiêm ngắm. Thánh Giá là hình dạng đời sống mà chúng ta được mời gọi mang lấy.
Nhìn vào cuộc đời Đức Giêsu, ta thấy sự tự hủy không bắt đầu vào chiều Thứ Sáu Tuần Thánh. Canvê chỉ là đỉnh cao của một sự tự hủy đã bắt đầu từ mầu nhiệm Nhập Thể. Đấng dựng nên trời đất lại bước vào thế giới trong hình hài một thai nhi. Đấng nắm vận mệnh các dân tộc lại được một người phụ nữ nghèo bồng trên tay. Đấng mà trời cao không chứa nổi lại nằm trong máng cỏ. Đấng tạo dựng các vì sao lại cần một mái nhà trú qua đêm. Đấng ban bánh cho mọi loài lại biết đói. Đấng khiến mạch nước tuôn trào lại biết khát. Đấng dựng nên con người lại học làm người. Đấng là Lời vĩnh cửu của Chúa Cha lại có một thời thơ ấu thinh lặng ở Nadarét mà Tin Mừng gần như không kể gì. Ba mươi năm âm thầm cho ba năm rao giảng. Ba mươi năm không phép lạ được ghi nhận, không đám đông reo hò, không danh tiếng, không một bài giảng lớn lao được truyền lại. Thiên Chúa không vội tỏ mình. Thiên Chúa có thể sống trong sự ẩn khuất. Đó cũng là tự hủy. Và điều ấy chạm đến căn bệnh rất sâu của con người hôm nay: chúng ta sợ không được biết đến, sợ không được công nhận, sợ những gì mình làm không được nhìn thấy, sợ đời mình không có tiếng vang. Đức Giêsu lại sống phần lớn cuộc đời trong một làng nhỏ đến nỗi Nathanael có thể hỏi: “Từ Nadarét, làm sao có cái gì hay được?” Thiên Chúa không cần sân khấu để là Thiên Chúa. Tình yêu không cần được vỗ tay để có giá trị.
Rồi Đức Giêsu đi vào đời sống công khai. Người tìm những người bị xã hội bỏ quên. Người chạm vào kẻ phong cùi mà mọi người tránh xa. Người ngồi ăn với người thu thuế và kẻ tội lỗi. Người để một phụ nữ bị mang tiếng xấu khóc dưới chân mình. Người nói chuyện với người phụ nữ Samari bên bờ giếng giữa lúc những ranh giới tôn giáo và xã hội không khuyến khích điều đó. Người dừng lại trước tiếng kêu của người mù trong khi đám đông muốn anh im tiếng. Người để trẻ nhỏ đến gần mình khi các môn đệ xua chúng đi. Người không giữ mình trong một thứ thánh thiện đóng kín, nhưng để sự thánh thiện đi vào những nơi ô uế nhất của đời người. Và rồi Người bị hiểu lầm. Đó cũng là tự hủy. Người làm điều tốt nhưng bị nói là nhờ quỷ vương mà trừ quỷ. Người chữa lành ngày sa-bát và bị xem là kẻ phá luật. Người nói sự thật và bị chống đối. Người yêu thương và bị nghi ngờ. Người đến nhà mình mà người nhà chẳng chịu đón nhận. Một trong những đau đớn lớn nhất của con người là làm điều tốt mà bị hiểu sai. Đức Giêsu đã đi vào nỗi đau ấy. Vì thế ai đang sống ngay lành mà bị hiểu lầm, ai đang phục vụ mà bị chê trách, ai đang cố yêu thương mà lại nhận về lạnh nhạt, có thể nhìn lên Đức Kitô và biết rằng Người hiểu.
Nhưng tất cả mới chỉ là con đường dẫn đến sự tự hủy cuối cùng trên Thánh Giá. Ở Ghếtsêmani, Đức Giêsu bắt đầu nếm sự cô độc tận cùng. Người nói với các môn đệ rằng tâm hồn Người buồn đến chết được. Người xin họ ở lại và tỉnh thức với Người. Nhưng họ ngủ. Một Thiên Chúa đã thức biết bao đêm cho con người, nay cần con người thức với mình một giờ, vậy mà họ không làm được. Người cầu nguyện đến nỗi mồ hôi như những giọt máu rơi xuống đất. Người không đóng kịch làm người. Người thật sự sợ hãi trước cái chết. Người không vô cảm trước đau đớn. Người thưa với Cha: nếu có thể, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng ngay trong khoảnh khắc ấy, Người lại thưa: đừng theo ý con, một theo ý Cha. Đó chính là sự tự hủy nơi ý muốn. Không phải vì ý riêng của Đức Giêsu xấu, nhưng vì Người hoàn toàn trao nó vào ý muốn cứu độ của Chúa Cha. Sự vâng phục Kitô giáo không phải là mất nhân cách. Sự vâng phục là tự do lớn đến mức có thể dâng chính tự do của mình cho tình yêu.
Rồi Giuđa đến. Một cái hôn trở thành dấu chỉ phản bội. Tình bạn bị dùng làm phương tiện bán đứng. Phêrô rút gươm, nhưng Đức Giêsu bảo hãy xỏ gươm vào vỏ. Đây là một khoảnh khắc quan trọng. Người không để vương quốc của Thiên Chúa được bảo vệ bằng bạo lực. Nếu Người muốn, Người có thể xin Cha gửi đến hơn mười hai đạo binh thiên thần. Nhưng Người không xin. Sức mạnh ở đây nằm trong việc không sử dụng sức mạnh. Quyền năng lớn nhất đôi khi là khả năng không trả đũa dù mình có thể. Đức Kitô bị bắt, bị trói, bị dẫn đi như một kẻ nguy hiểm, dù chính Người đã chữa lành tai của người đến bắt mình. Người bị đưa từ nơi này sang nơi khác, bị xét xử bởi những con người mà hơi thở của họ cũng do Người ban cho. Đấng là Sự Thật đứng trước những lời cáo gian. Đấng là Thẩm Phán của kẻ sống và kẻ chết đứng trước tòa án của loài người. Người im lặng. Có những sự im lặng không phải vì yếu, nhưng vì tình yêu đã đi xa hơn nhu cầu tự biện hộ cho mình.
Phêrô chối Người. Có lẽ trong cuộc Thương Khó, vết thương từ người thân còn đau hơn roi đòn từ kẻ thù. Một người đã từng thề rằng dù mọi người bỏ Thầy, con sẽ không bỏ, bây giờ lại nói: “Tôi không biết người ấy.” Không chỉ một lần. Ba lần. Đức Giêsu quay lại nhìn Phêrô. Tin Mừng không ghi Người nói gì. Có những cái nhìn nói nhiều hơn lời. Và kỳ lạ thay, cái nhìn ấy không làm Phêrô tuyệt vọng mà khiến ông khóc. Tình yêu của Đức Giêsu không tự hủy theo nghĩa để cho tội lỗi có tiếng nói cuối cùng. Người hạ mình để cứu kẻ đã làm mình đau. Người biết Phêrô sẽ chối, nhưng trước đó vẫn trao cho ông sứ mạng củng cố anh em. Người biết Giuđa sẽ phản bội, nhưng trong bữa ăn vẫn để hắn ngồi cùng bàn. Người biết các môn đệ sẽ chạy trốn, nhưng vẫn gọi họ là bạn hữu. Đó là tình yêu khiến chúng ta xấu hổ mỗi khi nhớ lại bao lần mình giữ mãi một lỗi lầm của người khác, nhắc đi nhắc lại một câu làm mình tổn thương, dựng hàng rào chỉ vì một lần bị phản bội. Chúng ta nói mình theo Đấng chịu đóng đinh, nhưng nhiều khi một lời xúc phạm nhỏ cũng đủ khiến chúng ta không nhìn mặt nhau nhiều năm.
Trên đường lên Canvê, sự tự hủy trở nên hữu hình trong từng bước chân. Người bị đánh đòn, đội mão gai, khoác áo đỏ như một trò nhạo báng. “Vua dân Do Thái” bị đem ra làm trò cười. Mão triều thiên trở thành vòng gai. Vương trượng trở thành cây sậy. Lời tung hô trở thành lời chế giễu. Người ta quỳ trước Người nhưng không phải để thờ lạy mà để nhục mạ. Tuy nhiên, trong chính sự nhục mạ ấy, một sự thật lớn lao lại được mặc khải mà những kẻ nhạo báng không biết: đây thật là Vua. Nhưng ngai của Người là Thánh Giá. Triều thiên của Người là gai. Quyền trượng của Người là tình yêu. Luật của Người là tha thứ. Vương quốc của Người không mở rộng bằng gươm giáo nhưng bằng những trái tim được chinh phục bởi lòng thương xót.
Đến Canvê, Người bị lột áo. Không còn gì để giữ. Bethlehem đã là nghèo khó, nhưng Canvê còn nghèo hơn Bethlehem. Ở Bethlehem, Người còn có áo quấn. Trên Canvê, áo Người bị chia cho quân lính. Người đến với thế gian không mang gì và rời thế gian cũng chẳng giữ lại gì. Người trao lời giảng. Người trao phép lạ. Người trao thời gian. Người trao sức lực. Người trao chính Thịt Máu mình trong Thánh Thể. Và cuối cùng Người trao cả mạng sống. Không còn gì để trao nữa thì Người trao Mẹ mình cho người môn đệ: “Đây là Mẹ của anh.” Rồi Người trao người môn đệ cho Mẹ: “Đây là con của Bà.” Sau cùng Người trao thần khí: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Đức Giêsu chết trong tư thế của một người đã cho đi tất cả. Tình yêu đạt đến sự viên mãn khi không còn giữ lại điều gì cho mình.
Và đây là điểm con người khó hiểu nhất: tại sao Thiên Chúa phải đi xa đến thế? Tại sao không cứu chúng ta bằng một lời? Tại sao phải có máu, có đinh, có nước mắt, có cái chết? Không phải vì Chúa Cha tàn nhẫn đòi Con mình phải chịu đau mới chịu tha thứ cho nhân loại. Không phải Thánh Giá là sự trừng phạt của một Thiên Chúa khát máu. Thánh Giá là nơi tội lỗi của con người và tình yêu của Thiên Chúa gặp nhau. Tội lỗi đi đến tận cùng khi con người giết Con Thiên Chúa. Tình yêu đi đến tận cùng khi Con Thiên Chúa vẫn yêu những kẻ giết mình. Trên Thánh Giá, Thiên Chúa không đứng về phía những người hành hình Đức Giêsu; Thiên Chúa ở nơi chính Người Con đang chịu hành hình. Chúa Cha và Chúa Con không đối nghịch nhau. Cả Ba Ngôi cùng hiện diện trong hành vi cứu độ: Chúa Cha trao ban Con Một vì yêu thế gian, Chúa Con tự nguyện hiến mình trong tình yêu, Chúa Thánh Thần là tình yêu nối kết lễ hiến dâng ấy. Thánh Giá vì thế không cho ta thấy Thiên Chúa cần máu mới nguôi giận. Thánh Giá cho ta thấy Thiên Chúa sẵn sàng đổ chính máu mình để con người biết họ được yêu đến mức nào.
Có một câu Tin Mừng có lẽ phải được đọc thật chậm dưới chân Thánh Giá: “Người đã yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng.” Đến cùng không chỉ là đến cuối đời. Đến cùng là đến tận giới hạn cuối cùng mà tình yêu có thể đi. Khi bị hiểu lầm, Người vẫn yêu. Khi bị phản bội, Người vẫn yêu. Khi bị chối bỏ, Người vẫn yêu. Khi bị đánh, Người vẫn yêu. Khi bị nhổ vào mặt, Người vẫn yêu. Khi bàn tay bị đóng đinh, Người vẫn yêu. Khi người ta thách Người bước xuống khỏi Thánh Giá, Người vẫn ở lại. Và có lẽ chính việc “ở lại” ấy là hình ảnh đẹp nhất của tình yêu. Người có thể xuống, nhưng Người ở lại. Không phải đinh giữ Người trên gỗ. Tình yêu giữ Người ở đó. Đinh chỉ xuyên qua tay chân; tình yêu đã xuyên qua cả trái tim.
Người ta chế nhạo: “Hắn cứu được người khác mà chẳng cứu nổi mình.” Nhưng chính câu chế nhạo ấy lại nói đúng điều sâu thẳm nhất của Thánh Giá. Nếu Đức Giêsu cứu mình, Người sẽ không cứu chúng ta theo con đường Người đã chọn. Người cứu người khác bằng cách không cứu mình khỏi Thánh Giá. Người mất sự sống để trao sự sống. Người trở nên nghèo để chúng ta được giàu có. Người bị loại trừ để chúng ta được đón nhận. Người chịu lời kết án để chúng ta được tha thứ. Người bước vào bóng tối để chúng ta được bước trong ánh sáng. Người nếm cái chết để cái chết không còn là lời cuối cùng của phận người. Đây là lôgic của hạt lúa mì: nếu hạt lúa không rơi xuống đất mà chết đi, nó chỉ trơ trọi một mình; nhưng nếu chết đi, nó mới sinh nhiều bông hạt. Toàn bộ đời Đức Kitô là một hạt lúa được gieo vào lòng nhân loại. Thánh Giá là lúc hạt ấy vỡ ra. Phục Sinh là mùa gặt.
Thánh Phaolô không dừng lại ở câu “Người vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây Thập Giá.” Ngay sau đó là một chữ “vì thế”: “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.” Con đường đi xuống của Đức Kitô không kết thúc trong mồ. Sự tự hủy không phải là thất bại. Hạ mình không phải là bị tiêu diệt. Vâng phục không dẫn đến hư vô. Tình yêu tự hiến không mất đi. Phục Sinh là lời của Chúa Cha xác nhận rằng con đường của Con là đúng. Thiên Chúa nâng Người lên chính vì Người đã đi xuống tận cùng. Mọi đầu gối phải bái quỳ trước danh Giêsu, mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chúa. Điều nghịch lý là danh hiệu “Chúa” được mặc khải rõ nhất khi Người trở thành tôi tớ. Người là Vua rõ nhất khi đội mão gai. Người chiến thắng rõ nhất khi bị coi là bại trận. Người sống viên mãn nhất khi trao mạng sống.
Đây cũng là ánh sáng lớn cho cuộc đời chúng ta. Chúng ta sống trong một thế giới dạy phải khẳng định mình, phải hơn người, phải được nhìn thấy, phải thắng, phải nổi bật, phải xây dựng hình ảnh, phải bảo vệ cái tôi. Nhiều điều trong đó tự nó không xấu. Con người có trách nhiệm phát triển những khả năng Chúa ban. Nhưng vấn đề bắt đầu khi toàn bộ đời sống trở thành cuộc chiến nhằm làm cho cái tôi lớn lên. Khi ấy, ngay cả việc đạo đức cũng có thể trở thành sân khấu. Ta làm việc tốt nhưng cần người biết. Ta phục vụ nhưng cần được ghi nhận. Ta hy sinh nhưng ngấm ngầm chờ một lời cảm ơn. Ta nói mình khiêm nhường nhưng lại khó chịu khi không được tôn trọng. Ta muốn theo Chúa chịu đóng đinh nhưng lại không chịu được một lần bị xếp sau người khác. Ta đọc kinh “xin cho ý Cha thể hiện”, nhưng khi ý riêng không thành thì lòng đầy cay đắng. Chính vì thế, bài ca Philípphê không phải chỉ để hát trong phụng vụ. Nó là tấm gương soi cái tôi của mỗi người.
Sự tự hủy Kitô giáo không có nghĩa là khinh thường bản thân, chấp nhận lạm dụng, dung túng bất công hay để người khác chà đạp phẩm giá. Đức Giêsu khiêm hạ nhưng không hèn yếu. Người im lặng trước nhiều lời tố cáo nhưng cũng nói thẳng với kẻ đánh mình: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” Người phục vụ nhưng không để mình bị điều khiển bởi kỳ vọng của đám đông. Người hiền lành nhưng mạnh mẽ đuổi những người buôn bán khỏi Đền Thờ. Người tha thứ nhưng gọi tội là tội. Sự tự hủy theo Đức Kitô không phải tự xóa mình để người khác muốn làm gì thì làm. Đó là tự do khỏi cái tôi để có thể yêu đúng, nói đúng, làm đúng và chịu đau vì điều đúng nếu cần. Người khiêm nhường thật không nghĩ mình vô giá trị. Người khiêm nhường biết giá trị của mình đến từ Thiên Chúa nên không cần giành giật giá trị từ cái nhìn của người khác.
Trong gia đình, sự tự hủy mang một khuôn mặt rất cụ thể. Đó có thể là một người cha đi làm mệt mỏi nhưng tối về vẫn ngồi nghe con kể một câu chuyện vụn vặt. Đó có thể là một người mẹ thức đêm chăm con bệnh mà không ai biết những giọt nước mắt của bà. Đó là người vợ biết nhường một lời để giữ bình an nhưng cũng can đảm nói sự thật với tình yêu. Đó là người chồng biết xin lỗi trước dù không phải mọi lỗi đều thuộc về mình. Đó là người con kiên nhẫn chăm cha mẹ già dù một câu chuyện được nghe lặp lại đến mười lần. Đó là anh chị em trong nhà biết bỏ bớt một phần quyền lợi để người khác được sống. Những việc ấy chẳng ai gọi là anh hùng. Không có máy quay. Không có tiếng vỗ tay. Nhưng biết bao Thánh Giá đã được dựng lên âm thầm như thế trong những căn bếp, phòng bệnh, gian nhà nhỏ. Và biết bao ơn cứu độ đã đi qua thế giới bằng những con người chẳng ai biết tên.
Trong đời sống linh mục và tu sĩ, bài ca tự hủy của Đức Kitô càng đáng sợ và càng cần thiết. Người được trao thừa tác vụ rất dễ bị cám dỗ biến việc phục vụ thành một thứ vị thế. Ta có thể giảng về Đức Kitô tự hủy mà trong lòng lại muốn mình được kính trọng. Ta có thể mặc phẩm phục của người phục vụ nhưng thích những dấu hiệu của quyền hành. Ta có thể nói về người nghèo nhưng sống xa nỗi đau của họ. Ta có thể nói “Tôi tớ của Chúa” nhưng khó chịu khi người khác không đối xử với mình như một nhân vật quan trọng. Thánh Giá đặt mọi thừa tác vụ trở về đúng chỗ. Linh mục không được truyền chức để người khác phục vụ mình. Linh mục được truyền chức để cuộc đời mình được bẻ ra như tấm bánh. Một linh mục càng thuộc về Đức Kitô bao nhiêu thì càng phải mang hình dáng của Đức Kitô trong việc cúi xuống bấy nhiêu. Không phải cúi xuống giả tạo, không phải đóng vai dễ thương, nhưng thật sự có chỗ trong tim cho những người chẳng đem lại lợi ích gì cho mình, cho người nghèo, người phiền phức, người tội lỗi, người thất bại, người bị quên lãng. Bàn tay đã được xức dầu để nâng Mình Thánh Chúa cũng phải biết nâng một con người đang ngã. Miệng đọc lời truyền phép cũng phải biết nói lời chữa lành. Đôi chân bước lên cung thánh cũng phải biết bước đến những căn nhà chẳng có gì để đáp lại.
Trong đời sống cộng đoàn cũng thế. Có những cộng đoàn tan vỡ không vì thiếu những người tài, mà vì có quá nhiều cái tôi không chịu chết. Ai cũng đúng. Ai cũng giữ lập trường. Ai cũng muốn người khác thay đổi. Ai cũng chờ người kia xin lỗi trước. Và rồi tất cả cùng cầu nguyện trước một Đức Giêsu đã không chờ con người xin lỗi mới xuống thế làm người. Thánh Phaolô dẫn vào bài ca Philípphê bằng lời khuyên rất cụ thể: đừng làm gì vì ganh tị hay hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình; mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác. Rồi ngài nói: “Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu.” Như vậy bài ca tự hủy không phải một bài thơ đẹp được đặt giữa bức thư. Nó là câu trả lời cho những rạn nứt của cộng đoàn. Muốn cộng đoàn sống, cái tôi phải chịu đóng đinh. Muốn gia đình bình an, có những tự ái phải chết. Muốn tình bạn bền, có những hơn thua phải được chôn xuống. Muốn Giáo Hội trở thành dấu chỉ của Đức Kitô, chúng ta phải thôi tìm chính mình dưới danh nghĩa phục vụ Chúa.
Có lẽ mỗi tối chúng ta nên tự hỏi: hôm nay trong tôi có điều gì đã được đóng đinh? Một chút tự ái? Một ham muốn được khen? Một cơn giận? Một lời tôi có quyền nói nhưng đã chọn im lặng vì nói ra chỉ làm người khác đau? Một món lợi tôi có thể lấy nhưng đã nhường? Một người tôi không ưa nhưng tôi đã cầu nguyện cho họ? Một lỗi lầm tôi đã tha? Một công việc không ai muốn làm mà tôi âm thầm làm? Một người cô độc mà tôi đã ngồi lại với họ? Nếu có, Thánh Giá không còn chỉ nằm trên tường. Thánh Giá đang đi vào đời ta.
Nhưng cũng phải nói điều này: không ai tự hủy theo Đức Kitô được chỉ nhờ ý chí. Nếu chỉ cố hy sinh, con người sẽ mau kiệt sức rồi trở nên cay đắng. Nếu chỉ “chịu đựng” mà không yêu, Thánh Giá sẽ biến thành gánh nặng. Đức Giêsu có thể tự hiến vì Người sống từ tình yêu của Chúa Cha. Trước khi bước vào sứ vụ, Người nghe tiếng từ trời: “Đây là Con yêu dấu của Ta.” Căn tính đến trước sứ mạng. Được yêu đến trước hy sinh. Chỉ người biết mình được yêu mới có thể trao mình mà không sợ mất. Chỉ người biết mình thuộc về Cha mới có thể không bám víu vào vinh quang. Chỉ người biết giá trị của mình nằm trong tình yêu Thiên Chúa mới không phải sống bằng tiếng vỗ tay của con người. Vì thế, muốn sống tinh thần tự hủy, chúng ta phải để Chúa yêu mình trước. Phải ở lại trước Thánh Thể. Phải để Lời Chúa nói vào lòng ta rằng ta là con yêu dấu. Phải học nhận mọi sự như ân ban. Khi ấy, hy sinh không còn là lấy dao cắt bớt đời mình, mà là mở bàn tay để chia điều mình đã lãnh nhận.
Có những người đang mang những Thánh Giá rất nặng. Một căn bệnh không khỏi. Một người thân ra đi. Một cuộc hôn nhân nhiều nước mắt. Một đứa con lạc đường. Một thất bại không ai hiểu. Một sự cô đơn kéo dài. Một lời vu oan chưa được giải thích. Một tuổi già bị lãng quên. Với họ, nói “hãy vác Thánh Giá” rất dễ trở thành lời nói lạnh lùng nếu chúng ta không bước đến bên cạnh họ. Đức Giêsu không đứng từ xa bảo nhân loại chịu đau. Người chịu đau cùng chúng ta. Vì thế tinh thần tự hủy trước hết đòi chúng ta hiện diện bên người đau khổ. Đôi khi không cần lời khuyên. Chỉ cần ngồi xuống. Chỉ cần nghe. Chỉ cần cầm lấy một bàn tay. Chỉ cần khóc với người đang khóc. Đó là cách Đức Kitô tiếp tục tự hủy trong Hội Thánh của Người.
Và chính người đang đau khổ cũng có thể tìm thấy trong Thánh Giá một điều mà không triết lý nào có thể cho: Thiên Chúa biết đau là gì. Khi tôi bị bỏ rơi, Người biết. Khi tôi sợ, Người biết. Khi tôi cầu nguyện mà tưởng như trời im lặng, Người biết, vì chính Người từng kêu: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Tiếng kêu ấy không phải sự tuyệt vọng mất đức tin. Đó là lời cầu nguyện của Thánh Vịnh, lời của một Con người đang đi đến tận cùng kinh nghiệm tối tăm của nhân loại. Đức Giêsu đã bước vào cảm giác bị Thiên Chúa bỏ rơi để không một ai khi thấy mình bị bỏ rơi phải ở đó một mình nữa. Từ nay, ngay trong nơi ta tưởng không có Chúa, Thánh Giá nói rằng Chúa đã từng ở đó.
Hãy nhìn tên trộm lành. Anh ta chẳng còn gì. Không còn thời gian sửa đời. Không còn cơ hội đền bù. Không còn khả năng làm một việc đạo đức nào lớn lao. Hai tay anh bị đóng đinh. Hai chân anh bị đóng. Tương lai ở trần gian đã khép lại. Anh chỉ còn một điều: nhìn sang Người bị đóng đinh bên cạnh và nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Đức Giêsu nói: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Thật lạ lùng. Trong lúc chính mình đang đau đớn tột cùng, Đức Giêsu vẫn còn tâm hồn để cứu một người khác. Người chết mà vẫn trao sự sống. Người nghèo đến tận cùng mà vẫn còn Thiên Đàng để ban. Người bị kết án mà vẫn tuyên án tha thứ. Đây là sự tự hủy mang tính cứu độ: Người không thu mình lại trong đau khổ riêng. Người biến đau khổ thành nơi trao ban.
Hãy nhìn Đức Maria dưới chân Thánh Giá. Mẹ đứng đó. Không phép lạ nào xảy ra để giải cứu Con Mẹ trước mắt Mẹ. Lời thiên thần năm xưa rằng Con Mẹ sẽ nên cao cả, sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao, giờ đây dường như bị phủ nhận bởi một thân xác tan nát. Nhưng Mẹ vẫn đứng. Có một sự tự hủy của Đức Maria song song với sự tự hủy của Người Con: Mẹ cũng phải từ bỏ cách hiểu của mình về lời hứa, từ bỏ ước muốn giữ Con, từ bỏ quyền của một người mẹ muốn bảo vệ con mình. Mẹ trao Con lại cho Chúa Cha. Và từ Thánh Giá, Mẹ nhận một người con mới nơi người môn đệ. Từ đau đớn, Hội Thánh được sinh ra. Từ mất mát, một tình mẫu tử mới mở rộng đến muôn người. Trong đời sống chúng ta cũng có những lúc Chúa đòi ta buông một điều rất quý để nhận một sứ mạng rộng hơn. Không dễ. Nhưng chính tại những nơi ấy, đức tin trưởng thành.
Khi suy niệm sự tự hủy của Con Thiên Chúa, ta cũng phải nhìn lại cách mình cầu nguyện. Nhiều khi chúng ta chỉ muốn một Thiên Chúa quyền năng theo ý mình: Chúa phải cất bệnh, phải giải quyết vấn đề, phải làm người kia thay đổi, phải mở cánh cửa này, phải cho ta thành công. Khi Chúa không làm, ta nghĩ Người không nghe. Nhưng Thánh Giá cho thấy quyền năng Thiên Chúa không phải lúc nào cũng là làm biến mất đau khổ. Có lúc quyền năng của Chúa là biến đau khổ thành tình yêu. Người không cất Thánh Giá khỏi Đức Giêsu; Người làm cho Thánh Giá trở thành con đường Phục Sinh. Chúa có thể không cất hết khó khăn của chúng ta, nhưng Người có thể làm một điều lớn hơn: không để khó khăn ấy làm chúng ta trở thành những người cay độc. Chúa có thể không ngăn mọi vết thương, nhưng có thể biến vết thương thành cửa ngõ để chúng ta hiểu người khác hơn. Chúa có thể không trả lại những gì đã mất, nhưng có thể làm cho chính mất mát ấy sinh hoa trái cho nhiều người.
Sự tự hủy cũng chạm đến cách Giáo Hội sống giữa thế giới. Giáo Hội trung thành với Thầy mình không thể chỉ tìm uy tín, ảnh hưởng, vị thế và những dấu hiệu thành công bên ngoài. Giáo Hội mạnh nhất khi phục vụ. Giáo Hội đẹp nhất khi cúi xuống. Giáo Hội đáng tin nhất khi đứng về phía người bị thương, người nghèo, người bị bỏ rơi, người không có tiếng nói. Một Giáo Hội nói nhiều về Thánh Giá nhưng sợ mất đặc quyền sẽ trở thành khó hiểu. Một cộng đoàn Kitô hữu chỉ lo bảo vệ hình ảnh mình mà không dám chạm vào vết thương của thế giới sẽ rất xa Đức Kitô. Người không cứu thế giới bằng cách đứng ngoài thế giới. Người mang lấy mùi của phận người. Hội Thánh cũng phải thế.
Mỗi Thánh Lễ là trường học của sự tự hủy. Bánh được cầm lấy, chúc tụng, bẻ ra và trao ban. “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì anh em.” Không phải chỉ có bốn động từ phụng vụ. Đó là tiểu sử của Đức Giêsu. Người được Chúa Cha sai đến, được Thánh Thần xức dầu, bị bẻ ra trên Thánh Giá và trao cho nhân loại. Và đó cũng phải là tiểu sử của người Kitô hữu. Chúng ta đến dự lễ không phải chỉ để nhận một điều gì từ Chúa. Chúng ta đến để học làm tấm bánh. Khi linh mục nâng Mình Thánh lên, chúng ta đang nhìn hình ảnh cuộc đời mình phải trở thành: được bẻ ra vì người khác. Người mẹ là tấm bánh cho con. Người cha là tấm bánh cho gia đình. Linh mục là tấm bánh cho đoàn chiên. Tu sĩ là tấm bánh cho sứ vụ. Người giáo dân là tấm bánh trong công sở, xưởng máy, bệnh viện, trường học, chợ đời. Một Kitô hữu không chịu được bẻ ra thì khó trở thành lương thực cho ai.
Tuy nhiên, tấm bánh chỉ có thể được bẻ ra khi trước đó nó đã được cầm trong tay Chúa. Đây là điều rất quan trọng. Nếu ta để đời mình bị người đời bẻ mà không ở trong tay Chúa, ta sẽ vỡ vụn. Nếu ta để Chúa cầm lấy, ngay cả những vết vỡ cũng trở thành sự trao ban. Sự khác biệt giữa một đời bị nghiền nát và một đời được hiến dâng không nằm ở mức độ đau khổ, mà ở bàn tay đang giữ nó. Vì thế, khi đau, đừng chỉ hỏi: “Tại sao điều này xảy ra với tôi?” Hãy thử hỏi thêm: “Lạy Chúa, trong điều này, con có thể yêu thế nào?” Câu hỏi thứ hai không làm nỗi đau biến mất, nhưng có thể cứu nỗi đau khỏi sự vô nghĩa.
Thánh Giá cũng chữa chúng ta khỏi một ảo tưởng: tưởng rằng hạnh phúc là không phải mất gì. Đức Giêsu nói ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai mất mạng sống mình vì Người thì sẽ tìm thấy. Càng giữ chặt, ta càng nghèo. Càng trao ban, ta càng giàu. Một bàn tay nắm chặt không mất gì, nhưng cũng không nhận được gì. Một trái tim đóng kín có thể tránh vài vết thương, nhưng cũng không biết thế nào là yêu. Đức Kitô mở hai tay trên Thánh Giá. Người không thể nắm giữ gì nữa. Và chính trong tư thế không giữ gì ấy, Người ôm cả nhân loại.
Có lẽ đó là biểu tượng đẹp nhất của Kitô giáo: hai cánh tay dang ra. Một cánh tay hướng đến Thiên Chúa, một cánh tay hướng đến nhân loại; hay đúng hơn, cả hai cánh tay ôm lấy tất cả. Thánh Giá nói với mỗi người: không có ai đứng ngoài vòng tay ấy. Người thánh thiện và kẻ tội lỗi. Người trung thành và kẻ phản bội. Người đang tin và người đang nghi ngờ. Người thành công và người thất bại. Người được xã hội trọng vọng và người chẳng ai nhớ. Chúa Giêsu không chết cho một nhóm người xứng đáng. Người chết “khi chúng ta còn là tội nhân”. Tình yêu đi trước sự hoán cải. Ân sủng đến trước thành tích. Đó là Tin Mừng.
Và có lẽ cũng chính tại đây chúng ta hiểu vì sao ma quỷ luôn muốn Đức Giêsu tránh con đường tự hủy. Trong hoang địa, cám dỗ luôn là: hãy dùng quyền lực cho mình; hãy biến đá thành bánh; hãy gieo mình xuống để chứng tỏ mình; hãy nhận lấy các vương quốc bằng một con đường dễ hơn. Khi Phêrô ngăn Thầy nói về Thánh Giá, Đức Giêsu nói rất mạnh: “Xa-tan, lui lại đằng sau Thầy!” Bởi vì cám dỗ lớn nhất không nhất thiết là làm điều xấu. Đôi khi là làm điều tốt nhưng tránh con đường yêu đến cùng. Là cứu thế giới mà không cần Thánh Giá. Là làm môn đệ nhưng không cần mất mình. Là theo Chúa nhưng vẫn giữ nguyên cái tôi. Đức Giêsu không chọn đường tắt.
Ngày nay chúng ta cũng thích đường tắt. Muốn bình an mà không tha thứ. Muốn gia đình hạnh phúc mà không hy sinh. Muốn cộng đoàn hiệp nhất mà không chịu nhường. Muốn nên thánh mà không từ bỏ. Muốn phục vụ nhưng không chịu bị hiểu lầm. Muốn theo Chúa nhưng Thánh Giá phải vừa sức mình và do mình chọn. Nhưng Thánh Giá thật thường không phải cái ta chọn. Nếu được chọn, có lẽ ta sẽ chọn một Thánh Giá đẹp, vừa đủ để người khác ngưỡng mộ. Thánh Giá thật thường đến bằng một người khó tính, một hoàn cảnh trái ý, một căn bệnh, một giới hạn, một sự thất bại, một bổn phận âm thầm. Và chính ở đó, sự tự hủy của Đức Kitô trở thành câu hỏi dành cho ta: con có yêu được ở đây không?
Một ngày nào đó, mọi điều chúng ta cố giữ đều phải buông. Chức vụ, tiền bạc, tiếng tăm, sức khỏe, thân xác, thành công, cả những người thân yêu. Cái chết là sự tự hủy cuối cùng mà không ai tránh. Nhưng Đức Kitô đã đi vào cái chết và biến nó thành cuộc vượt qua. Người Kitô hữu vì thế có thể học chết mỗi ngày trong những từ bỏ nhỏ để một ngày kia biết trao sự sống mình vào tay Cha. Mỗi lần ta chết cho cái tôi, ta tập Phục Sinh. Mỗi lần ta tha thứ, một ngôi mộ mở ra. Mỗi lần ta phục vụ mà không đòi đáp lại, một hạt giống được gieo. Mỗi lần ta chọn yêu trong lúc rất có lý do để ghét, ánh sáng Phục Sinh đã lóe lên giữa đời.
Và cuối cùng, trước Thánh Giá, có lẽ không cần cố hiểu hết. Không ai hiểu hết một Thiên Chúa chịu đóng đinh. Chúng ta chỉ cần ở lại đủ lâu để Thánh Giá hiểu chúng ta. Hãy để đôi tay bị đâm thâu ấy chạm vào những nơi ta đang nắm quá chặt. Hãy để trái tim bị đâm thâu ấy chữa trái tim khép kín của ta. Hãy để Đấng đã tự hủy hỏi ta: con đang giữ điều gì mà tình yêu đang mời con trao? Con đang bảo vệ cái tôi nào đến mức làm người khác đau? Con đang đòi thắng trong cuộc tranh luận nào mà lẽ ra con nên cứu lấy một mối tương quan? Con đang tránh người nào vì họ không đem lại gì cho con? Con đang từ chối tha thứ điều gì? Con đang muốn người khác phục vụ mình ở nơi Chúa đang mời con cúi xuống rửa chân?
Thánh Giá không phải lời ca tụng đau khổ. Kitô giáo không yêu đau khổ vì đau khổ. Kitô giáo yêu Đức Kitô, và vì yêu Người, người Kitô hữu khám phá rằng ngay cả đau khổ cũng có thể trở thành nơi tình yêu sinh hoa trái. Chúng ta không tìm Thánh Giá vì Thánh Giá. Chúng ta tìm tình yêu. Nhưng khi yêu thật, Thánh Giá sẽ đến, bởi yêu nghĩa là mở mình cho người khác, mà mở mình thì có thể bị thương. Đức Giêsu không chết vì yêu cái chết. Người chết vì yêu chúng ta. Và Phục Sinh cho thấy cuối cùng không phải đau khổ chiến thắng, không phải cái chết chiến thắng, mà tình yêu chiến thắng.
“Sự tự hủy” của Đức Kitô vì thế không kết thúc bằng một khoảng trống. Nó kết thúc trong sự viên mãn. Người trút bỏ mình và Chúa Cha siêu tôn Người. Người mất và Người nhận lại tất cả trong một cách mới. Người chết và sự sống bừng lên. Đây là quy luật sâu xa của Tin Mừng: điều được trao trong tình yêu không bao giờ mất. Một lời tha thứ không mất. Một giọt nước mắt vì người khác không mất. Một giờ âm thầm chăm người bệnh không mất. Một hy sinh chẳng ai biết không mất. Một đời âm thầm trung tín không mất. Một linh mục lặng lẽ sống cho đoàn chiên không mất. Một người mẹ quên mình vì con không mất. Một người cha âm thầm gánh gia đình không mất. Một người trẻ chọn sống tử tế giữa môi trường gian dối không mất. Tất cả đều được đặt vào mầu nhiệm của Đấng đã tự hủy và được siêu tôn.
Rồi một ngày, khi mọi danh hiệu ở đời rơi xuống, khi mọi tiếng vỗ tay tắt đi, khi chúng ta chẳng còn gì để trình bày trước Thiên Chúa ngoài một đời sống với những yếu đuối và vài cố gắng yêu thương rất nhỏ, có lẽ lúc ấy chúng ta mới hiểu tại sao Con Thiên Chúa đã chọn con đường này. Trước ngai Thiên Chúa, điều còn lại không phải chúng ta đã được bao nhiêu người biết đến, nhưng đã có bao nhiêu người được yêu nhờ đời chúng ta. Không phải chúng ta đứng cao đến đâu, nhưng đã cúi xuống sâu đến mức nào. Không phải chúng ta giữ được bao nhiêu, nhưng đã trao được bao nhiêu. Không phải chúng ta thắng bao nhiêu cuộc tranh luận, nhưng đã cứu được bao nhiêu mối tương quan. Không phải người khác phục vụ ta thế nào, nhưng ta đã rửa chân cho ai.
Xin cho chúng ta mỗi lần nhìn lên Thánh Giá đừng chỉ thấy một biểu tượng quen thuộc treo trên tường. Xin hãy thấy một Thiên Chúa đang mở trái tim. Hãy thấy Con Thiên Chúa đã đi xuống tận cùng để nói với từng người: “Con đáng giá đến mức Ta không giữ lại chính mình.” Và nếu một ngày nào đó chúng ta thật sự tin lời ấy, cuộc đời chúng ta sẽ khác. Ta sẽ bớt sợ mất. Bớt cần thắng. Bớt đòi được nhìn nhận. Bớt chấp nhất. Bớt giữ lấy cái tôi. Ta sẽ có thể cúi xuống mà không thấy mình thấp đi, phục vụ mà không thấy mình thiệt, tha thứ mà không nghĩ mình thua, trao ban mà không sợ mình nghèo. Bởi chúng ta đã nhìn thấy nơi Đức Kitô rằng con đường đi xuống trong tình yêu chính là con đường đi lên trong vinh quang.
Lạy Đức Giêsu Kitô, Đấng vốn dĩ là Thiên Chúa nhưng đã không nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa; Đấng đã trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân; Đấng đã hạ mình và vâng lời cho đến chết, chết trên cây Thập Giá, xin làm cho tâm hồn chúng con nên giống Trái Tim Chúa. Xin phá tan nơi chúng con lòng kiêu căng âm thầm, sự háo danh kín đáo, nhu cầu luôn phải đúng, nỗi sợ bị xem thường, cơn đói được công nhận. Xin dạy chúng con biết đi xuống cùng Chúa: xuống khỏi ngai của cái tôi, xuống khỏi sự tự mãn, xuống khỏi những thành kiến, xuống khỏi khoảng cách chúng con dựng lên với anh chị em. Xin cho chúng con đủ tự do để phục vụ, đủ mạnh mẽ để hiền lành, đủ lớn để xin lỗi, đủ khiêm tốn để tha thứ, đủ tin tưởng để trao mình.
Và khi Thánh Giá đến trong đời, xin đừng để chúng con chỉ hỏi làm sao thoát khỏi nó, nhưng trước hết biết hỏi làm sao yêu Chúa và yêu người ngay trên Thánh Giá ấy. Khi bị hiểu lầm, xin cho chúng con nhớ Chúa. Khi bị phản bội, xin cho chúng con nhớ Chúa. Khi cô đơn, xin cho chúng con nhớ Ghếtsêmani. Khi bị xúc phạm, xin cho chúng con nhớ lời Chúa cầu xin tha thứ. Khi mất mát, xin cho chúng con nhớ đôi tay trống không của Chúa trên Canvê. Khi cái chết đến gần, xin cho chúng con nhớ rằng Chúa đã đi qua cái chết và biến nó thành cửa ngõ dẫn về nhà Cha.
Xin cho mỗi ngày của chúng con trở thành một chút “tự hủy” vì yêu, để mỗi ngày cũng trở thành một chút Phục Sinh. Xin cho đời chúng con như hạt lúa chịu vùi xuống nhưng sinh nhiều bông hạt. Xin cho chúng con hiểu rằng không phải người giữ được mình mới là người sống, nhưng người dám trao mình trong tình yêu mới thật sự sống. Và đến ngày cuối cùng, khi mọi sự đã qua, xin cho chúng con được nghe Danh Giêsu mà mọi đầu gối trên trời, dưới đất và trong nơi âm phủ đều phải bái quỳ; Danh của Đấng đã tự hủy nhưng được siêu tôn; Danh của Đấng chịu đóng đinh nhưng đang sống; Danh của Đấng đã mất tất cả nhưng lại có tất cả; Danh của Tình Yêu đã đi xuống tận đáy sâu để đưa chúng con lên đến tận lòng Chúa Cha.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ LÀ NƠI THIÊN CHÚA “YẾU ĐUỐI” NHẤT LẠI LÀ NƠI QUYỀN NĂNG NHẤT
Có lẽ không nơi nào trong toàn bộ mầu nhiệm Kitô giáo làm con người bối rối cho bằng Thánh Giá. Nếu chỉ nhìn bằng đôi mắt tự nhiên, Thánh Giá là một thất bại. Một con người bị bắt, bị trói, bị xét xử, bị kết án, bị đánh đòn, bị chế nhạo, bị lột áo, bị đóng đinh và cuối cùng chết giữa hai tên gian phi thì còn gì để gọi là quyền năng? Người ta thường hình dung quyền năng bằng một ngai vàng, một đạo quân, một tiếng nói khiến kẻ khác phải cúi đầu, một bàn tay đủ sức thay đổi cục diện, một vị trí khiến không ai dám chống lại. Còn trên đồi Canvê, Đức Giêsu chẳng có gì trong tay. Không binh lính. Không khí giới. Không đám đông tung hô. Không môn đệ đứng thành hàng để bảo vệ. Không phép lạ nào được thực hiện để cứu chính Người. Hai tay Người bị đóng vào gỗ. Hai chân Người không còn bước đi được nữa. Đầu đội mão gai. Thân thể rướm máu. Miệng khát khô. Những người đi ngang qua lắc đầu nhạo báng. Các thủ lãnh chế giễu. Quân lính chia nhau áo Người. Một kẻ cùng chịu đóng đinh còn buông lời thách thức. Và rồi Người chết. Có thể nói theo ngôn ngữ của thế gian rằng đó là lúc Thiên Chúa xem ra “yếu đuối” nhất. Thế nhưng chính nơi ấy, điều mà mắt người tưởng là tận cùng của bất lực lại là nơi quyền năng Thiên Chúa được biểu lộ sâu xa nhất. Chính khi Đức Kitô không xuống khỏi Thánh Giá, Người đang thực hiện một quyền năng lớn hơn quyền năng bước xuống. Chính khi Người không tiêu diệt những kẻ đóng đinh mình, Người đang chiến thắng sự dữ tận căn. Chính khi Người để cho mình bị giết chết, Người đang tiêu diệt quyền lực của sự chết. Chính khi Người bị người đời xem như kẻ thua cuộc, Người lại đang mở ra chiến thắng không ai có thể đảo ngược: chiến thắng của tình yêu, của sự tha thứ, của vâng phục, của hiến dâng, của sự sống trên tội lỗi và sự chết.
Thánh Phaolô đã chạm tới nghịch lý ấy khi viết rằng: “Cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cr 1,25). Một câu nghe qua thật lạ. Thiên Chúa làm sao có thể yếu? Thiên Chúa toàn năng thì làm sao có giây phút bất lực? Thánh Phaolô không nói Thiên Chúa yếu theo nghĩa bản tính của Người thiếu quyền năng. Ngài muốn đưa chúng ta vào một chân lý sâu hơn: quyền năng của Thiên Chúa không vận hành theo kiểu quyền lực của thế gian. Con người mạnh thường dùng sức để buộc người khác phải phục tùng mình; Thiên Chúa mạnh đến nỗi Người có thể cúi xuống mà không sợ mất đi thần tính. Con người càng có quyền càng sợ bị coi thường; Thiên Chúa quyền năng đến nỗi có thể chấp nhận bị khinh miệt. Con người muốn chứng minh mình mạnh bằng cách làm cho kẻ thù phải chết; Thiên Chúa chứng minh sức mạnh bằng cách chết cho chính những người thù nghịch. Con người chiến thắng bằng cách khiến đối phương quỳ xuống; Đức Kitô chiến thắng bằng chính việc Người quỳ xuống rửa chân cho môn đệ và giang tay chịu đóng đinh cho họ. Con người thường bảo vệ quyền lực bằng khoảng cách; Thiên Chúa biểu lộ quyền năng bằng sự gần gũi. Con người muốn giữ sự sống; Con Thiên Chúa lại trao sự sống. Con người sợ mất; Người tự nguyện mất tất cả, để rồi chính trong cái mất ấy mà cứu được tất cả.
Đoạn Tin Mừng theo thánh Mátthêu đưa ta vào một trong những giờ phút cay đắng nhất của Đức Giêsu: “Những kẻ qua đường đều nhục mạ Người, vừa lắc đầu vừa nói: ‘Mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, hãy cứu lấy mình đi! Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào!’ Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Người mà nói: ‘Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là Vua Israel! Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền!’” (x. Mt 27,39-42). Đó không chỉ là lời chế giễu của những người đứng dưới chân Thánh Giá năm xưa. Đó còn là cám dỗ cuối cùng nhắm thẳng vào căn tính và sứ mạng của Đức Giêsu. “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi Thánh Giá.” Nghe quen lắm. Trong sa mạc, ma quỷ cũng đã nói: “Nếu ông là Con Thiên Chúa…” Cám dỗ ấy đi theo Đức Giêsu từ sa mạc tới Canvê: hãy dùng quyền năng cho mình; hãy chứng minh mình bằng một phép lạ ngoạn mục; hãy khiến người ta tin bằng cách cho họ thấy sức mạnh. Thế nhưng Đức Giêsu không xuống. Người hoàn toàn có thể xuống, nhưng Người không xuống. Người không xuống không phải vì Người không đủ sức, mà bởi Người yêu đủ nhiều. Nếu xuống khỏi Thánh Giá, Người có thể làm câm miệng những kẻ chế nhạo trong vài phút; nhưng ở lại trên Thánh Giá, Người cứu nhân loại muôn đời. Nếu xuống khỏi Thánh Giá, Người có thể chứng minh mình mạnh trước đám đông đang đứng đó; nhưng ở lại trên Thánh Giá, Người mặc khải cho mọi thế hệ biết Thiên Chúa yêu con người đến mức nào. Nếu xuống khỏi Thánh Giá, Người cứu được thân xác mình khỏi đau đớn; nhưng ở lại trên đó, Người cứu những thân phận tội lỗi khỏi cái chết đời đời. Người không xuống, bởi tình yêu giữ Người ở lại. Những chiếc đinh chỉ xuyên qua tay chân Người; chính tình yêu mới là điều giữ Người trên cây gỗ ấy.
Và có lẽ đây là điều chúng ta phải suy niệm thật lâu. Quyền năng lớn nhất của Đức Giêsu trên Thánh Giá không phải là khả năng xuống khỏi Thánh Giá, nhưng là khả năng ở lại trên Thánh Giá vì yêu. Xuống thì dễ hơn ở lại. Trả đũa thì dễ hơn tha thứ. Chứng minh mình đúng thì dễ hơn im lặng chịu hiểu lầm. Bỏ đi thì dễ hơn trung thành. Khép lòng thì dễ hơn tiếp tục yêu sau khi bị phản bội. Làm cho kẻ khác đau như mình đã đau thì dễ hơn cầu nguyện cho người gây đau khổ cho mình. Thánh Giá mặc khải một thứ sức mạnh mà thế gian rất khó hiểu: sức mạnh của người có thể trả thù nhưng không trả thù; sức mạnh của người có thể lên án nhưng lại tha thứ; sức mạnh của người có thể bỏ cuộc nhưng vẫn trung thành; sức mạnh của người bị tổn thương mà không biến tổn thương thành vũ khí để làm người khác tổn thương. Chúa Giêsu trên Thánh Giá không bất lực. Người đang thực hiện hành vi tự do nhất của đời mình: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (Ga 10,18). Người không phải nạn nhân bất lực của hoàn cảnh. Người là Đấng tự hiến. Người trao chính mình. Và trao chính mình bao giờ cũng là hình thức cao nhất của tình yêu.
Ta thường nghĩ rằng quyền năng nghĩa là thay đổi hoàn cảnh. Nhưng Thánh Giá dạy rằng có một quyền năng còn lớn hơn: quyền năng biến đổi ý nghĩa của hoàn cảnh. Đức Giêsu không biến đồi Canvê thành một khu vườn đầy hoa. Người không làm cho đinh biến mất, roi ngừng đau, mão gai trở nên mềm mại. Người không làm những kẻ chế nhạo bỗng trở thành những người lịch sự. Người không xóa đau khổ bằng một phép màu. Người đi vào đau khổ và biến nó thành lễ dâng. Người đi vào cái chết và biến nó thành cửa ngõ sự sống. Người đi vào nỗi cô đơn và biến nó thành sự liên đới với mọi người cô đơn trên trần gian. Người đi vào bất công và biến nơi bất công ấy thành ngai tòa của lòng thương xót. Người đi vào lời nguyền của cây thập giá và biến cây thập giá thành cây cứu độ. Đây chính là quyền năng của Thiên Chúa: không phải lúc nào Người cũng cất cây thập giá khỏi vai ta, nhưng Người có thể làm cho chính cây thập giá ấy sinh ra sự sống; không phải lúc nào Người cũng khiến đêm tối biến mất lập tức, nhưng Người có thể làm cho một ánh sáng chưa từng có được sinh ra từ chính bóng tối ấy.
Nhìn lên Thánh Giá, ta thấy một Thiên Chúa chẳng giữ lại gì cho mình. Trên đó Đức Giêsu đã cho hết. Áo Người cũng bị chia. Máu Người đã chảy. Sức lực Người cạn dần. Hơi thở cuối cùng Người cũng trao. Và sau khi Người chết, cạnh sườn Người còn bị lưỡi đòng đâm thâu, để máu cùng nước chảy ra. Thiên Chúa tự làm mình nên nghèo đến tận cùng. Nhưng kỳ lạ thay, chính khi không còn gì để giữ, Người trở thành nguồn mạch trao ban vô tận. Thế gian thường nghĩ giàu là có nhiều để giữ; Thánh Giá cho thấy giàu là có nhiều để cho. Thế gian bảo quyền lực nằm ở bàn tay nắm chặt; Thánh Giá cho thấy quyền năng cứu độ nằm trong bàn tay mở ra. Hai bàn tay Đức Kitô trên Thánh Giá không thể nắm lấy gì nữa vì đã bị đóng đinh, nhưng chính hai bàn tay mở ấy đang ôm cả nhân loại. Người không giữ lại một ai ngoài vòng tay cứu độ. Cánh tay giang rộng ấy là lời mời không lời: người công chính cũng như tội nhân, người mạnh cũng như người yếu, người tin cũng như kẻ đang nghi ngờ, người trung thành cũng như người vừa phản bội, người sống tử tế cũng như kẻ đang muốn làm lại cuộc đời – tất cả đều có chỗ trong vòng tay bị đóng đinh ấy.
Thánh Giá cũng cho thấy một nghịch lý khác: Đức Giêsu xem ra không cứu nổi chính mình, nhưng lại cứu được một tên trộm đang chết bên cạnh. Trong Tin Mừng Luca, giữa những lời chế giễu, một người gian phi quay sang thưa: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Chúa đáp: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Người đang hấp hối mà vẫn có thể mở cửa Thiên Đàng. Tay Người bị đóng đinh mà vẫn trao được ơn cứu độ. Chân Người bị giữ chặt trên gỗ mà Người vẫn dẫn được một tội nhân về nhà Cha. Người xem ra chẳng còn gì mà lại có thể ban điều lớn nhất. Đó là quyền năng của Đức Kitô. Và người gian phi ấy chẳng có gì để dâng. Anh không còn thời gian để làm việc lành bù lại quá khứ. Không thể xuống khỏi thập giá để trả những món nợ cũ. Không còn cơ hội sửa lại những hậu quả mình đã gây ra. Anh chỉ có một trái tim vào phút cuối nhận ra Đấng đang ở cạnh mình. Một lời: “Xin nhớ đến tôi.” Thế là đủ để lòng thương xót mở cửa. Thánh Giá quyền năng bởi trên Thánh Giá, tội lỗi con người chạm vào tình yêu của Thiên Chúa và tình yêu ấy lớn hơn tội lỗi.
Lại còn một quyền năng lạ lùng hơn nữa: Đức Giêsu tha thứ ngay giữa lúc bị đóng đinh. “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Người không đợi khi sống lại mới tha. Người không đợi vết thương lành mới tha. Người không đợi những kẻ đóng đinh đến xin lỗi rồi mới tha. Lời tha thứ được cất lên khi đinh vẫn còn trong tay, khi vết thương còn tươi, khi kẻ làm đau Người vẫn đang đứng đó. Con người chúng ta thường nói: “Tôi sẽ tha khi người kia biết lỗi.” “Tôi sẽ tha khi họ xin lỗi.” “Tôi sẽ tha khi lòng tôi hết đau.” “Tôi sẽ tha nhưng tôi không quên.” Còn Đức Giêsu biến chính nơi bị tổn thương thành nơi phát sinh lời cầu nguyện cho kẻ làm tổn thương mình. Nếu đó không phải là quyền năng thì quyền năng là gì? Một người mạnh có thể đánh bại đối thủ. Nhưng chỉ một tình yêu phi thường mới có thể làm cho kẻ thù không còn là kẻ thù trong trái tim mình. Quyền lực có thể khóa một người trong nhà tù; tình yêu có thể giải phóng cả người gây thương tích lẫn người bị thương tích khỏi nhà tù hận thù. Thánh Giá quyền năng vì trên đó vòng xoáy bạo lực bị chặn lại. Bạo lực đổ vào Đức Giêsu nhưng từ Người không chảy ngược ra bạo lực; từ Người chảy ra sự tha thứ. Hận thù đổ vào Người nhưng từ Người không bật lại hận thù; từ Người bật lên lời cầu nguyện. Tội lỗi đổ lên Người và từ cạnh sườn Người lại tuôn ra máu và nước cứu độ.
Thế gian từ xưa đến nay vẫn dùng một logic rất đơn giản: mạnh thắng yếu, lớn thắng nhỏ, nhiều thắng ít, giàu thắng nghèo, có quyền thắng người không quyền. Nhưng Thiên Chúa đảo lộn tất cả trên Canvê. Người chiến thắng không phải bằng cách mạnh hơn kẻ thù theo cùng một kiểu sức mạnh của kẻ thù. Nếu thế, Thiên Chúa chỉ là một sức mạnh lớn hơn những sức mạnh khác. Không. Người chiến thắng bằng một cách hoàn toàn khác. Người để sự dữ phơi bày hết sức dữ của nó, để rồi tình yêu chứng minh rằng sự dữ không phải là tiếng nói cuối cùng. Người để cái chết làm điều tệ nhất nó có thể làm, rồi từ lòng sự chết Người mở ra Phục Sinh. Cái chết có thể giết Đức Giêsu, nhưng không thể buộc Người ngừng yêu. Người ta có thể lấy áo Người, nhưng không lấy được lòng thương xót. Có thể đóng đinh tay Người, nhưng không đóng đinh được tình yêu. Có thể làm Người im tiếng bằng cái chết, nhưng không thể ngăn lời cứu độ vang lên qua các thế hệ. Đó là thất bại của sự dữ. Sự dữ tưởng rằng chỉ cần giết được Người là xong. Nhưng nó không hiểu rằng tình yêu tự hiến không thể bị tiêu diệt bằng cái chết.
Đây cũng là lý do tại sao Kitô giáo không giấu Thánh Giá. Nếu chỉ muốn xây dựng một tôn giáo dễ chịu, có lẽ người ta đã chọn một biểu tượng đẹp hơn. Một mặt trời, một cánh chim, một vương miện, một ngôi sao, một cây xanh. Nhưng Kitô giáo đặt ngay giữa cung thánh một con người bị đóng đinh. Người tín hữu làm dấu Thánh Giá trên mình từ ngày được rửa tội cho tới lúc quan tài được đưa ra nghĩa trang. Trên đầu giường có Thánh Giá. Trên bàn thờ có Thánh Giá. Trên ngọn tháp nhà thờ có Thánh Giá. Bởi chúng ta không thờ đau khổ, càng không tôn vinh bạo lực; chúng ta tôn thờ một tình yêu đã đi xuyên qua đau khổ và biến đau khổ thành con đường cứu độ. Chúng ta không nói rằng đau khổ tự nó là tốt. Đau khổ vẫn là đau khổ, nước mắt vẫn mặn, chia lìa vẫn đau, bệnh tật vẫn làm con người kiệt sức, phản bội vẫn để lại vết thương. Nhưng từ Thánh Giá Đức Kitô, ta biết đau khổ không còn là một miền đất Thiên Chúa vắng mặt. Không có vực sâu nào con người rơi xuống mà Đức Kitô chưa đi xuống sâu hơn. Không có nỗi cô đơn nào mà lời “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” không chạm tới. Không có nước mắt nào Người không hiểu. Không có vết thương nào Người nhìn mà xa lạ. Kitô hữu không được hứa rằng sẽ không đau; Kitô hữu được hứa rằng trong đau khổ mình không bao giờ đau một mình.
Có những lúc trong đời, ta cũng cảm thấy Thiên Chúa “yếu”. Ta cầu xin mà bệnh vẫn còn. Ta khẩn khoản mà người thân vẫn ra đi. Ta sống tử tế mà vẫn bị hiểu lầm. Ta cố gìn giữ gia đình mà gia đình vẫn có những rạn nứt. Ta cầu cho con cái mà chúng vẫn có những lựa chọn khiến lòng cha mẹ tan nát. Ta phục vụ tận tình nhưng nhận lại lời trách móc. Ta trung thành nhưng có khi bị phản bội. Ta cầu nguyện nhiều tháng, nhiều năm cho một điều chính đáng mà trời dường như vẫn lặng. Và trong những lúc ấy, cám dỗ dưới chân Thánh Giá trở lại: “Nếu Ngài là Thiên Chúa thì hãy xuống đi. Nếu Ngài thương con thì hãy làm một phép lạ. Nếu Ngài toàn năng thì tại sao Ngài để chuyện này xảy ra?” Đây là những câu hỏi rất người. Không cần phải xấu hổ vì đã từng hỏi như vậy. Chính Thánh Giá cho phép chúng ta mang câu hỏi ấy đến trước mặt Chúa. Nhưng rồi Thánh Giá cũng nhắc rằng sự im lặng của Thiên Chúa không đồng nghĩa với sự vắng mặt của Thiên Chúa; việc Thiên Chúa chưa thay đổi hoàn cảnh không có nghĩa Người không đang hành động; việc Người không xuống khỏi Thánh Giá không có nghĩa Người đã thua.
Có những quyền năng chỉ được nhận ra sau một thời gian rất dài. Một người mẹ âm thầm chịu đựng, cầu nguyện và yêu thương đứa con ngang bướng suốt nhiều năm, trong mắt đời có thể bị xem là yếu. Bà không thắng được con bằng lý lẽ, không ép được nó quay về bằng quyền lực, không thể kiểm soát cuộc đời nó. Nhưng chính sự kiên trì yêu thương ấy có thể một ngày trở thành con đường để đứa con tìm về. Một người chồng hay người vợ không trả đũa khi bị xúc phạm, nhưng bình tĩnh nói sự thật trong tình yêu, kiên nhẫn làm điều đúng, đó không phải hèn yếu. Một linh mục tiếp tục phục vụ dù đôi khi bị hiểu lầm, không dùng bục giảng để trả lời những người làm mình tổn thương, không dùng quyền hạn để bảo vệ cái tôi, đó là một thứ sức mạnh mang hình Thánh Giá. Một người bị vu oan nhưng vẫn giữ được tâm hồn không cay độc có thể nhìn bề ngoài như kẻ thua; nhưng trong chiều sâu, người ấy đã không cho sự dữ quyền biến mình thành một con người xấu hơn. Có những chiến thắng không nằm ở chỗ ta làm người khác im tiếng, mà ở chỗ ta không để tiếng xấu của người khác làm mất tiếng nói lương tâm trong ta.
Đừng hiểu điều này theo nghĩa người Kitô hữu phải cam chịu mọi bất công một cách thụ động. Thánh Giá không dạy ta dung túng bạo hành, che giấu sự dữ hay để kẻ mạnh tiếp tục giày đạp người yếu. Đức Giêsu đã nói sự thật, đã vạch trần giả hình, đã bảo vệ người bé nhỏ, đã thanh tẩy Đền Thờ, đã đối diện với quyền lực bất công. Nhưng ngay cả khi chống lại sự dữ, Người không để mình trở nên giống sự dữ. Đây là khác biệt lớn. Ta có thể chống bất công mà không trở thành bất công. Có thể bảo vệ sự thật mà không nuôi hận thù. Có thể đặt giới hạn mà không nguyền rủa. Có thể nói “không” với điều ác nhưng vẫn cầu nguyện cho người gây ra điều ác. Thánh Giá không biến con người thành kẻ yếu; Thánh Giá giải phóng con người khỏi thứ sức mạnh giả tạo phải hạ người khác xuống để tự thấy mình cao hơn.
Chúng ta cần học lại chữ “mạnh”. Nhiều khi một người nói lớn chưa chắc mạnh; có khi vì bên trong quá yếu nên phải nói thật lớn. Một người thích áp đặt chưa chắc mạnh; có khi họ sợ người khác không nghe mình. Một người không bao giờ nhận lỗi chưa chắc mạnh; có thể vì cái tôi quá mong manh nên không chịu nổi việc mình sai. Một người trả đũa ngay khi bị xúc phạm chưa chắc mạnh; có khi họ đang bị cảm xúc điều khiển. Người mạnh thật sự có khả năng làm chủ chính mình. Chúa Giêsu trên Thánh Giá là người tự do nhất giữa một đám người tưởng mình đang kiểm soát Người. Philatô tưởng mình có quyền. Quân lính tưởng mình có quyền. Đám đông tưởng mình có quyền. Nhưng chính Đức Giêsu mới là người tự do, vì không một ai trong số họ có thể khiến Người phản bội tình yêu của mình. Họ có thể quyết định chuyện xảy đến với thân xác Người; họ không thể quyết định Người sẽ trở thành con người như thế nào trước điều xảy đến. Người vẫn yêu. Người vẫn tha. Người vẫn phó thác. Người vẫn gọi Thiên Chúa là Cha. Đó là tự do. Đó là sức mạnh.
Chúa Giêsu còn thưa: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Lời cuối ấy không phải tiếng kêu của kẻ bại trận mà là hành vi tín thác. Thân xác Người đang rơi vào tay cái chết, nhưng Người đặt chính mình trong tay Cha. Đây là bí quyết của sức mạnh Kitô giáo. Người mạnh không phải là người kiểm soát được tất cả. Không ai kiểm soát được tất cả. Người mạnh là người biết mình thuộc về ai khi mọi thứ vượt khỏi tầm kiểm soát. Biết đời mình nằm trong tay Thiên Chúa làm cho người tín hữu có khả năng đi qua những giờ phút không hiểu nổi mà không tuyệt vọng. Có thể ta không hiểu tại sao một cánh cửa đóng lại. Có thể ta không hiểu tại sao một người ra đi. Có thể ta không hiểu tại sao sau bao nhiêu cầu nguyện mọi chuyện vẫn chưa thay đổi. Nhưng giữa những điều không hiểu ấy, ta có thể lặp lại lời Chúa: “Lạy Cha, con xin phó thác đời con trong tay Cha.”
Thánh Giá không trả lời mọi câu hỏi đau khổ bằng một công thức. Thiên Chúa không đứng ngoài giải thích cho con người tại sao phải đau. Người đi vào đau khổ. Người không gửi xuống từ trời một cuốn sách để giải thích nước mắt; Người gửi Con của Người đến khóc với chúng ta. Người không chỉ nói “Ta hiểu”; Người mang trên thân mình những vết thương để chúng ta biết Người thật sự hiểu. Đây là điều làm đức tin Kitô giáo khác với một lý thuyết dễ chịu về cuộc đời. Thiên Chúa của chúng ta có những vết sẹo. Sau khi sống lại, Đức Giêsu vẫn cho Tôma xem tay và cạnh sườn. Phục Sinh không xóa dấu đinh. Các vết thương đã được biến đổi nhưng không bị phủ nhận. Có lẽ điều ấy cũng nói với chúng ta rằng những vết thương đời mình, khi được đặt trong ân sủng, không nhất thiết phải biến mất khỏi ký ức mới có thể được chữa lành. Có những vết sẹo vẫn còn, nhưng không còn chảy máu. Ta vẫn nhớ, nhưng ký ức không còn đầu độc. Ta vẫn biết mình từng bị tổn thương, nhưng vết thương ấy có thể trở thành nơi ta biết cảm thông hơn với nỗi đau của người khác. Trong tay Chúa, thậm chí những điều từng làm ta tan vỡ cũng có thể trở thành nơi ánh sáng đi qua.
Một Thánh Giá không dẫn tới Phục Sinh thì chỉ là bi kịch. Nhưng Thánh Giá Đức Kitô luôn hướng về sáng ngày thứ nhất trong tuần. Thứ Sáu Tuần Thánh không phải chương cuối cùng. Tảng đá được lăn ra. Ngôi mộ trống. Đấng bị đóng đinh đã sống lại. Đây là lời xác nhận của Chúa Cha rằng con đường tự hiến của Đức Giêsu không phải thất bại. Tình yêu mạnh hơn sự chết. Những kẻ đóng đinh có thể khép một ngôi mộ nhưng không thể giam sự sống. Quyền lực Rôma có thể niêm phong tảng đá nhưng không thể niêm phong chương trình của Thiên Chúa. Sự sống lại không hủy ý nghĩa của Thánh Giá; sự sống lại chứng minh ý nghĩa của Thánh Giá. Đức Kitô sống lại không phải bất chấp việc Người đã yêu đến chết, mà chính tình yêu vâng phục ấy được Chúa Cha tôn vinh. Như thánh Phaolô viết: “Người đã tự hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người” (Pl 2,8-9).
Vì thế, mỗi lần nhìn lên tượng Chúa chịu nạn, ta đừng chỉ thấy máu và đinh. Hãy thấy một ngai vàng. Tin Mừng Gioan có một cái nhìn rất đặc biệt: Thánh Giá chính là giờ Đức Giêsu được “tôn vinh”. Điều thế gian gọi là hạ nhục, Thiên Chúa biến thành vinh quang. Cây gỗ người ta dựng để phơi bày sự xấu hổ của một tử tội trở thành ngai của Vua Tình Yêu. Vương miện của Người là mão gai. Áo hoàng bào là tấm thân đầy thương tích. Ngai vàng là cây Thánh Giá. Triều thần là vài người đang khóc và một đám đông chế giễu. Thế mà từ ngai ấy một vương quốc bắt đầu lan ra khắp thế giới. Không nhờ gươm giáo. Không nhờ ép buộc. Không nhờ những đạo quân. Vương quốc ấy lan qua những người để cho tình yêu của Đấng chịu đóng đinh biến đổi cuộc đời mình.
Hai ngàn năm trôi qua, biết bao đế quốc từng tưởng mình bất khả chiến bại đã chỉ còn lại những trang sách lịch sử, trong khi Thánh Giá vẫn đứng trên khắp thế giới. Những ngai vàng từng khiến hàng triệu người run sợ đã biến mất, nhưng lời của Người chịu đóng đinh vẫn làm mềm những trái tim. Những đạo quân hùng mạnh từng đi qua các lục địa rồi tan biến, còn Tin Mừng của một người thợ mộc Nazareth chết trần trụi trên cây gỗ vẫn được công bố mọi ngày. Điều ấy tự nó đã là một nghịch lý. Cái mà thế gian nghĩ là yếu đã sống lâu hơn những thứ từng khoe mình mạnh. Cái mà thế gian nghĩ là thất bại lại sinh ra một cộng đoàn trải khắp địa cầu. Cái chết của một người vô tội đã làm phát sinh vô số cuộc đời thánh thiện. Máu các vị tử đạo tiếp tục minh chứng cùng một logic: người ta có thể giết thân xác nhưng không thể giết đức tin; có thể cướp sự sống trần gian nhưng không thể tước hy vọng phục sinh.
Thánh Giá cũng đặt một câu hỏi rất thật trước mỗi người: ta đang tìm thứ sức mạnh nào? Ta muốn mạnh vì có nhiều người nghe mình hay mạnh vì ta biết lắng nghe? Ta muốn mạnh vì chẳng ai dám làm mình tổn thương hay mạnh đến mức vẫn biết yêu sau khi bị tổn thương? Ta muốn mạnh vì mình luôn thắng trong tranh luận hay mạnh vì đủ khiêm tốn để nhận lỗi khi mình sai? Ta muốn mạnh vì người khác sợ mình hay vì người khác tìm được bình an khi ở gần mình? Có những gia đình chẳng thiếu tiền mà thiếu một người đủ mạnh để nói lời xin lỗi. Có những cộng đoàn chẳng thiếu người tài mà thiếu người đủ mạnh để nhường nhau. Có những cuộc hôn nhân không tan vì một biến cố lớn mà chết dần vì cả hai đều muốn thắng. Có những tình bạn mất đi vì chẳng ai chịu hạ cái tôi. Có những anh chị em ruột không nhìn mặt nhau hàng chục năm chỉ vì không ai đủ “yếu” để bước tới trước. Chúng ta đôi khi mạnh trong mắt đời nhưng lại quá yếu trước cái tôi của mình.
Thánh Giá mời ta học một sức mạnh khác. Mạnh để nói: “Tôi xin lỗi.” Mạnh để nói: “Tôi tha thứ.” Mạnh để nói: “Anh nói đúng, tôi đã sai.” Mạnh để im khi một lời đáp trả chỉ làm vết thương sâu thêm. Mạnh để nói khi im lặng đồng nghĩa với dung túng điều xấu. Mạnh để ở lại với một người đau khổ mà mình không biết phải nói gì. Mạnh để tiếp tục yêu một người thân đang đi lạc mà không đồng lõa với điều sai của họ. Mạnh để cầu nguyện khi không còn cảm thấy gì. Mạnh để trung thành với một lời hứa khi cảm xúc ban đầu đã phai nhạt. Mạnh để phục vụ trong âm thầm không cần ai biết tên. Mạnh để làm điều đúng khi làm điều sai sẽ có lợi hơn. Mạnh để chấp nhận mình không phải trung tâm. Đó là sức mạnh của Thánh Giá.
Đặc biệt đối với những người đang phục vụ trong Hội Thánh, Thánh Giá luôn là một cuộc xét mình. Quyền bính Kitô giáo chỉ thật sự mang khuôn mặt Đức Kitô khi biết cúi xuống, biết chịu thiệt, biết phục vụ và biết chết đi cho cái tôi. Một mục tử có thể có chức vụ nhưng chưa chắc có quyền năng Tin Mừng. Quyền năng Tin Mừng không đến từ chiếc ghế, nhưng từ khả năng trao mình cho đoàn chiên. Không đến từ việc người khác gọi mình bằng danh xưng gì, nhưng từ việc người đau khổ có dám tìm đến mình hay không. Không nằm trong khả năng điều khiển cộng đoàn, nhưng trong khả năng làm cho cộng đoàn gặp được Đức Kitô. Người mục tử càng gần Thánh Giá càng bớt dùng quyền để bảo vệ mình và càng dùng quyền để bảo vệ người yếu. Đức Kitô trên Thánh Giá không cứu “uy tín” của mình. Người cứu con người. Đôi khi chúng ta dành quá nhiều sức để giữ hình ảnh, giữ danh dự, giữ tiếng nói cuối cùng, trong khi Thánh Giá hỏi ta một câu đơn giản: những con người Chúa giao cho ta có được yêu hơn không?
Và đối với người đau khổ, Thánh Giá là một nơi để tựa đầu. Có khi không cần phải hiểu ngay. Có những đêm chỉ cần biết rằng Chúa cũng từng thức trong đau đớn. Có những lần khóc chỉ cần biết Chúa không khinh nước mắt. Có những mất mát không có câu nói nào đủ sức an ủi; chỉ cần một Đấng đã đi qua cái chết nắm tay ta. Người tín hữu có quyền khóc. Đức tin không đòi ta phải mỉm cười giả tạo trước tang tóc. Đức Giêsu đã khóc trước mộ Lazarô. Người đã xao xuyến ở Ghếtsêmani. Người đã thốt lên trong cô đơn trên Thánh Giá. Đức tin không làm chúng ta hết đau; đức tin làm cho đau khổ không còn tuyệt vọng.
Có người từng hỏi: nếu Thiên Chúa toàn năng, tại sao Người không ngăn mọi đau khổ? Thánh Giá không cho một câu trả lời giản đơn, nhưng cho ta một điều còn quý hơn một lý thuyết: Thiên Chúa không dùng toàn năng để đứng xa con người; Người dùng toàn năng để đến gần đến mức mang lấy đau khổ của con người. Toàn năng của Thiên Chúa biểu lộ trong khả năng yêu đến cùng. Người đủ lớn để trở thành nhỏ. Đủ giàu để trở nên nghèo. Đủ cao để cúi xuống. Đủ thánh thiện để bước vào thế giới tội nhân mà không khinh chê họ. Đủ mạnh để cho phép những bàn tay yếu đuối của con người đóng đinh mình mà vẫn yêu chính những bàn tay ấy.
Đây có lẽ là điều gây xúc động nhất của Thánh Giá: Chúa đã biết tất cả mà vẫn đi tới. Người biết Giuđa sẽ bán mình. Người biết Phêrô sẽ chối. Người biết các môn đệ sẽ bỏ chạy. Người biết đám đông từng tung hô “Hoan hô” có thể biến thành tiếng “Đóng đinh nó đi.” Người biết các thủ lãnh sẽ tìm cách giết Người. Người biết những roi đòn, mão gai, đinh sắt đang chờ. Người biết, nhưng vẫn yêu. Tình yêu của chúng ta thường bền khi chưa biết hết về nhau. Khi biết những giới hạn, những yếu đuối, những bất toàn của người kia, chúng ta bắt đầu thất vọng. Còn Đức Kitô biết chúng ta từ đầu đến cuối mà vẫn chọn Thánh Giá. Người không chết cho một nhân loại lý tưởng. Người chết cho con người thật: ích kỷ, yếu đuối, phản bội, thất thường, có khi vừa cầu nguyện sáng nay chiều đã phạm tội; vừa hứa trung thành hôm qua hôm nay đã ngã. Người biết hết, và vẫn dang tay.
Nếu một ngày nào đó ta nghĩ mình đã đi quá xa để quay về, hãy nhìn tên gian phi bên phải. Nếu nghĩ tội mình quá nặng, hãy nhìn cạnh sườn bị đâm thâu. Nếu nghĩ Thiên Chúa không còn muốn nghe mình, hãy nghe lời “Hôm nay anh sẽ ở với tôi trên Thiên Đàng.” Nếu nghĩ người khác đã làm ta đau quá nên ta không thể tha, hãy nghe “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Nếu nghĩ mình quá cô đơn, hãy nhìn Đức Maria và người môn đệ đứng dưới chân Thánh Giá, nơi một gia đình mới đang được sinh ra giữa đau khổ. Nếu nghĩ mọi sự đã hết, hãy nhớ chiều Thứ Sáu Tuần Thánh nhìn cũng giống như mọi sự đã hết. Nhưng Thiên Chúa vẫn còn ngày Chúa Nhật.
Chúng ta thường muốn Chúa chứng minh quyền năng bằng việc giải quyết vấn đề theo ý mình. Nhưng có khi phép lạ lớn nhất không phải là Chúa thay đổi những người chung quanh, mà là Chúa thay đổi trái tim ta. Có người cầu xin Chúa cất một người khó chịu ra khỏi đời mình, cuối cùng Chúa không cất người ấy mà dạy họ kiên nhẫn. Có người xin thoát khỏi một hoàn cảnh, Chúa lại dùng chính hoàn cảnh đó để thanh luyện họ. Có người cầu xin hết thử thách, Chúa trao đủ sức đi qua thử thách. Có người xin Chúa trả lại những gì đã mất, Chúa lại giúp họ khám phá những gì không bao giờ có thể mất. Không phải lúc nào đó cũng là điều ta muốn. Nhưng nhìn lại nhiều năm sau, có khi ta nhận ra ân sủng đã âm thầm làm việc ngay trong những ngày tưởng như Chúa chẳng làm gì.
Thánh Giá cũng giúp ta thôi đo giá trị đời mình bằng thành công bên ngoài. Đức Giêsu kết thúc đời công khai với một cảnh tượng mà bất cứ bảng đánh giá thành tích nào của thế gian cũng có thể gọi là thất bại: đám đông bỏ đi, môn đệ chạy trốn, một người phản bội, một người chối bỏ, người ta hành quyết Người như tội phạm. Nhưng trong cái “thất bại” đó, Người hoàn tất công trình Chúa Cha trao. Vì vậy có những người chẳng nổi tiếng nhưng rất thành công trước mặt Thiên Chúa. Một người mẹ cả đời chăm một đứa con khuyết tật. Một người cha âm thầm lao động và gìn giữ lòng ngay thẳng. Một nữ tu sống nhiều thập niên trong một tu viện nhỏ mà chẳng ai ngoài cộng đoàn biết tên. Một linh mục già ngồi hàng giờ nơi tòa giải tội. Một người bệnh nằm trên giường dâng đau đớn cầu cho con cháu. Một người nghèo chia phần ít ỏi cho người nghèo hơn. Trong mắt thế gian chẳng có gì đáng kể. Nhưng dưới ánh sáng Thánh Giá, trời cao có cách tính khác.
Đừng sợ những lúc ta cảm thấy mình yếu. Thánh Phaolô đã học một bài học rất sâu khi cầu xin Chúa cất “cái dằm” khỏi ông mà không được. Chúa nói: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cr 12,9). Ta không cần giả vờ mạnh trước Chúa. Có thể đến với Người trong nước mắt. Có thể nói rằng mình mệt. Có thể thú nhận mình sợ. Có thể nói mình không biết phải làm sao. Sự yếu đuối được đặt trong tay Thiên Chúa có thể trở thành nơi ân sủng hoạt động. Điều nguy hiểm không phải là biết mình yếu; điều nguy hiểm là tưởng mình mạnh đến mức không cần Chúa. Phêrô mạnh miệng rằng dù mọi người bỏ Thầy ông sẽ không bỏ, và chỉ vài giờ sau ông chối Thầy ba lần. Nhưng khi đã khóc vì nhận ra sự yếu đuối của mình, Phêrô mới trở thành một con người khác, một mục tử biết cảm thông với người yếu.
Thánh Giá vì thế phá vỡ ảo tưởng tự cứu mình. Con người hiện đại có thể làm được rất nhiều điều, nhưng vẫn không tự giải cứu mình khỏi mọi giới hạn. Khoa học chữa được nhiều bệnh nhưng không làm con người bất tử. Tiền bạc giải quyết nhiều khó khăn nhưng không mua được tình yêu thật. Công nghệ kết nối hàng tỷ người nhưng không bảo đảm một trái tim hết cô đơn. Danh tiếng khiến nhiều người biết tên ta nhưng không nhất thiết có một người thật sự hiểu ta. Quyền lực làm người khác nghe ta nhưng không buộc họ yêu ta. Và đến một lúc, mỗi người đều đứng trước những giới hạn không tiền bạc, địa vị hay tài năng nào vượt qua được. Thánh Giá không làm chúng ta tuyệt vọng trước giới hạn. Nó cho biết chính nơi con người thôi tự cứu mình, họ có thể mở lòng để được cứu.
Điều cuối cùng Đức Giêsu làm trên Thánh Giá là trao ban: trao Mẹ cho môn đệ, trao môn đệ cho Mẹ, trao sự tha thứ cho kẻ giết mình, trao Thiên Đàng cho người gian phi, trao Thần Khí, trao chính mình cho Chúa Cha. Người chết như Người đã sống: trao ban. Và đó là bí quyết của một cuộc đời có ý nghĩa. Cuối cùng, điều còn lại không phải ta đã nắm giữ được bao nhiêu nhưng là đã trao được bao nhiêu; không phải bao nhiêu người phục vụ ta nhưng bao nhiêu người nhờ ta mà cuộc đời bớt nặng; không phải tên ta xuất hiện bao nhiêu lần nhưng tình yêu của Chúa đã đi qua ta bao nhiêu lần.
Có lẽ mỗi tối trước khi ngủ, ta nên nhìn Thánh Giá và hỏi: hôm nay tôi đã dùng sức mạnh theo cách nào? Tôi đã dùng lời nói để chữa lành hay để làm đau? Tôi đã dùng vị trí để nâng người khác lên hay củng cố cái tôi? Khi bị xúc phạm, tôi phản ứng theo logic của thế gian hay của Thánh Giá? Tôi có biến những vết thương của mình thành vũ khí không? Có ai đang chờ một lời tha thứ của tôi? Có ai đang cần tôi đủ khiêm tốn để xin lỗi? Có một cây thập giá nào tôi chỉ muốn ném xuống trong khi Chúa đang mời tôi mang nó cùng Người? Và cũng cần hỏi một câu khác: có cây thập giá nào không phải Chúa gửi nhưng do bất công con người gây ra mà tôi được mời gọi giúp người khác tháo xuống? Bởi người môn đệ Thánh Giá không chỉ biết vác thập giá mình; họ còn trở thành Simon thành Kyrênê giúp người khác gánh thập giá.
Thế giới hôm nay không thiếu sức mạnh, nhưng thiếu thứ sức mạnh của Thánh Giá. Chúng ta có những vũ khí đủ sức hủy diệt cả thành phố nhưng lại không đủ sức nói lời hòa giải trong một gia đình. Chúng ta có công nghệ gửi thông điệp vòng quanh thế giới trong một giây nhưng nhiều người không đủ can đảm bước sang phòng bên cạnh để nói “xin lỗi”. Chúng ta biết chinh phục không gian nhưng chưa chắc chinh phục được tính nóng nảy trong lòng. Chúng ta có thể đưa con người lên rất cao nhưng vẫn khó cúi xuống thật thấp để rửa chân cho nhau. Và vì thế Thánh Giá vẫn thời sự. Nó đặt giữa một thế giới say mê quyền lực hình ảnh của một Thiên Chúa giang hai tay. Nó nói: đây mới là sức mạnh cứu được thế giới.
Khi gia đình chỉ còn tranh hơn thua, hãy nhìn Thánh Giá. Khi cộng đoàn chia rẽ vì quyền lợi, hãy nhìn Thánh Giá. Khi cái tôi bị tổn thương và muốn trả đũa, hãy nhìn Thánh Giá. Khi phục vụ mà không được ghi nhận, hãy nhìn Thánh Giá. Khi đau đớn đến mức không còn biết cầu nguyện thế nào, hãy nhìn Thánh Giá. Đôi khi chẳng cần nói gì. Chỉ cần ngồi trước Đấng chịu đóng đinh đủ lâu. Thánh Giá sẽ từ từ dạy ta biết yêu mà không mặc cả, chịu đựng mà không cay độc, nói sự thật mà không hận thù, tha thứ mà không coi nhẹ sự dữ, hy vọng khi chưa nhìn thấy bình minh.
Và rồi ta sẽ hiểu tại sao nơi Thiên Chúa xem ra “yếu đuối” nhất lại chính là nơi Người quyền năng nhất. Bởi quyền năng cao nhất không phải quyền năng bắt người khác chết cho mình, mà là quyền năng chết vì người khác. Không phải quyền năng làm kẻ thù biến mất, mà là quyền năng biến kẻ thù thành người được yêu. Không phải quyền năng tránh mọi vết thương, mà là quyền năng biến vết thương thành nguồn chữa lành. Không phải quyền năng xuống khỏi Thánh Giá, mà là quyền năng ở lại trên đó cho đến khi tình yêu được hoàn tất.
“Thế là đã hoàn tất” (Ga 19,30). Lời ấy không phải “Thế là hết.” Đó là “Đã hoàn tất.” Một bên là tuyệt vọng; một bên là viên mãn. Với mắt trần, Đức Giêsu đã hết. Với chương trình cứu độ, Người đã hoàn tất. Tình yêu đã đi đến cùng. Vâng phục đã đi đến cùng. Trao ban đã đi đến cùng. Lòng thương xót đã đi đến cùng. Và chính lúc ấy, một kỷ nguyên mới bắt đầu.
Xin cho chúng ta mỗi khi làm dấu Thánh Giá đừng làm như một cử chỉ máy móc. Khi đưa tay lên trán, xin Chúa thanh luyện suy nghĩ của ta theo sự khôn ngoan của Thánh Giá. Khi đưa tay xuống ngực, xin Chúa làm trái tim ta biết yêu theo trái tim Đấng chịu đóng đinh. Khi đưa tay qua hai vai, xin Chúa cho ta đủ sức gánh lấy trách nhiệm, tha thứ và phục vụ. Mỗi dấu Thánh Giá là một lời tuyên xưng rằng ta không muốn sống theo logic hơn thua của thế gian nhưng theo logic tự hiến của Đức Kitô.
Và nếu hôm nay có ai đang ở trong một “Thứ Sáu Tuần Thánh” của đời mình, xin đừng vội kết luận câu chuyện đã kết thúc. Có thể mọi thứ đang tối. Có thể Thiên Chúa dường như im lặng. Có thể những điều ta từng dựa vào đang lần lượt mất đi. Hãy nhớ đồi Canvê. Khi bóng tối bao phủ mặt đất, công trình cứu chuộc không dừng lại; nó đang đi đến hoàn tất. Khi tảng đá khép cửa mồ, Thiên Chúa vẫn làm việc trong thinh lặng. Không phải mọi Thứ Sáu đều lập tức trở thành Chúa Nhật theo cách ta mong, nhưng đối với người thuộc về Đức Kitô, không một Thứ Sáu nào có quyền trở thành lời cuối cùng.
Thánh Giá đứng đó, giữa trời và đất, như lời tuyên bố đời đời rằng tình yêu mạnh hơn hận thù, tha thứ mạnh hơn báo thù, sự thật mạnh hơn dối trá, khiêm nhường mạnh hơn kiêu căng, tự hiến mạnh hơn chiếm hữu, và sự sống mạnh hơn sự chết. Một Thiên Chúa bị đóng đinh xem ra chẳng còn làm được gì, nhưng chính lúc ấy Người đang làm điều không một quyền lực nào của trần gian làm nổi: cứu con người từ tận căn của tội lỗi và đưa con người trở về với Thiên Chúa.
Bởi thế, người Kitô hữu không xấu hổ về Thánh Giá. Ta hôn Thánh Giá. Ta mang Thánh Giá. Ta đặt Thánh Giá trên mộ người thân. Ta làm dấu Thánh Giá trên đứa trẻ vừa được sinh ra trong đời sống đức tin và trên người tín hữu sắp khép mắt. Bởi từ khi Đức Kitô treo mình trên cây gỗ ấy, Thánh Giá không còn là dấu chấm hết. Nó trở thành dấu cộng của tình yêu: Thiên Chúa cộng đời mình vào đời ta, cộng đau khổ của ta vào cuộc khổ nạn của Người, cộng sự chết của ta vào cuộc Phục Sinh của Người, để cuối cùng mọi mất mát trong Người đều có thể được biến đổi.
Xin cho ta đừng chỉ đeo Thánh Giá trước ngực mà từ chối Thánh Giá trong đời. Đừng hôn tượng Chúa chịu nạn rồi về nhà không chịu tha cho người thân. Đừng quỳ trước Đấng bị đóng đinh vì yêu rồi đứng dậy dùng lời nói đóng đinh người khác. Đừng ca ngợi sự khiêm nhường của Chúa rồi bảo vệ cái tôi bằng mọi giá. Đừng xúc động trước lời “Lạy Cha, xin tha cho họ” mà vẫn nuôi một danh sách dài những người ta quyết không tha. Đức tin vào Thánh Giá chỉ trưởng thành khi hình Thánh Giá từ bức tường đi vào cách ta sống, từ bàn thờ đi vào gia đình, từ nhà thờ đi vào công sở, từ lời kinh đi vào những xung đột rất thật mỗi ngày.
Một ngày kia, khi tất cả quyền lực trần thế đều phải buông khỏi tay, khi danh vọng không còn nghĩa gì, khi những gì ta từng sở hữu được trao cho người khác, điều còn lại sẽ là ta đã yêu thế nào. Và khi ấy, Thánh Giá sẽ không còn là một bài học thần học nhưng là tiêu chuẩn của cả cuộc đời. Có lẽ Chúa sẽ không hỏi ta đã thắng bao nhiêu cuộc tranh luận, nhưng hỏi bao nhiêu lần ta chọn yêu. Không hỏi bao nhiêu người sợ ta, nhưng bao nhiêu người tìm được lòng thương xót nơi ta. Không hỏi ta giữ được bao nhiêu, nhưng đã trao bao nhiêu.
Xin cho ánh mắt ta dừng lại thật lâu nơi Đức Giêsu chịu đóng đinh. Đừng thương hại Người. Hãy để Người thương xót ta. Đừng chỉ hỏi tại sao Người phải đau như vậy. Hãy hỏi vì sao Người yêu ta đến như vậy. Và khi hiểu được phần nào câu trả lời, ta sẽ không còn gọi Thánh Giá là nơi Thiên Chúa bất lực. Ta sẽ nhận ra đây là nơi quyền năng Thiên Chúa đạt đến hình thức tinh tuyền nhất: quyền năng của một tình yêu không điều gì khiến ngừng yêu.
Trên Thánh Giá, Chúa “yếu” đến mức không tự cứu mình, vì Người đang cứu chúng ta. Chúa “yếu” đến mức không giáng phạt kẻ đóng đinh, vì Người muốn tha thứ cho họ. Chúa “yếu” đến mức để người ta xuyên thủng cạnh sườn mình, để từ cạnh sườn ấy tuôn ra nguồn sống. Chúa “yếu” đến mức chết, để cái chết từ nay không còn có tiếng nói cuối cùng.
Đó là sức mạnh của Thiên Chúa.
Đó là sự khôn ngoan của Thánh Giá.
Đó là tình yêu cứu độ.
Và đó cũng là con đường của bất cứ ai muốn thật sự thuộc về Đức Kitô: không phải tìm cách trở nên mạnh để đứng trên người khác, nhưng mạnh đủ để cúi xuống; không phải mạnh để giữ mình khỏi mọi vết thương, nhưng mạnh đủ để tiếp tục yêu; không phải mạnh để chứng minh mình luôn đúng, nhưng mạnh đủ để hiến mình cho điều đúng; không phải mạnh để tránh Thánh Giá, nhưng mạnh đủ để bước qua Thánh Giá cùng Đức Kitô, trong niềm tin chắc chắn rằng bên kia Thánh Giá bao giờ cũng là sự sống của Đấng Phục Sinh.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH HÊLENA TÌM THẤY THÁNH GIÁ THẬT – KHI MỘT KHÚC GỖ BỊ CHÔN VÙI TRỞ THÀNH DẤU CHỈ CỨU ĐỘ
Có những thứ người đời tìm kiếm vì chúng quý giá. Người ta đào đất để tìm vàng, lặn xuống biển để tìm ngọc, vượt núi băng rừng để tìm những kho báu đã thất lạc. Nhưng trong lịch sử Kitô giáo có một cuộc kiếm tìm rất khác: một người phụ nữ đã cao tuổi, lại đang ở địa vị cao sang bậc nhất đế quốc, rời cung điện để đi đến một miền đất xa xôi, không phải tìm vàng bạc, cũng chẳng tìm quyền lực, nhưng tìm một khúc gỗ. Khúc gỗ ấy đã từng bị cả một đế quốc coi là dụng cụ hành hình dành cho những kẻ đáng khinh nhất. Khúc gỗ ấy từng nhuốm máu một người bị kết án giữa hai tên gian phi. Khúc gỗ ấy, dưới mắt thế gian, chẳng có gì đáng quý. Thế nhưng đối với người Kitô hữu, đó lại là nơi Con Thiên Chúa dang đôi tay ôm lấy cả nhân loại; nơi trời và đất gặp nhau; nơi tội lỗi của con người chạm vào lòng thương xót của Thiên Chúa; nơi cái chết tưởng thắng được sự sống nhưng cuối cùng lại bị sự sống đánh bại. Người phụ nữ ấy là Thánh Hêlena, thân mẫu Hoàng đế Constantinô. Truyền thống Kitô giáo gắn cuộc hành hương của bà đến Đất Thánh và việc tìm thấy Thánh Giá của Chúa vào khoảng năm 326. Những nguồn cổ không hoàn toàn đồng nhất về từng chi tiết: sử gia Eusêbiô, người sống khá gần thời ấy và thuật khá kỹ việc khai quật Mộ Thánh, không kể câu chuyện tìm thấy Thánh Giá; nhưng những chứng từ Kitô giáo sau đó, đặc biệt từ thế kỷ IV và V, đã gắn rất mạnh tên tuổi Thánh Hêlena với việc tìm lại Thánh Giá tại Giêrusalem. Thánh Cyrillô Giêrusalem, chỉ vài thập niên sau thời Constantinô, đã nói đến gỗ Thánh Giá được phân phát khắp nơi; các truyền thống của Rufinô, Socrates và những tác giả cổ khác dần lưu giữ câu chuyện Hêlena tìm thấy Thánh Giá. Bởi thế, khi nhắc đến năm 326, ta nên hiểu đó là niên đại truyền thống của một biến cố đã ăn rất sâu vào ký ức và lòng đạo của Hội Thánh, chứ không nên biến những chi tiết truyền tụng thành thứ sử liệu mà tất cả các nhà sử học đều xác nhận giống nhau. Nhưng có một điều còn lớn hơn cả vấn đề khảo cổ: câu chuyện Hêlena tìm kiếm Thánh Giá đã trở thành một hình ảnh thiêng liêng tuyệt đẹp về hành trình đức tin của con người – phải đào xuống thật sâu, phải dọn đi nhiều lớp đất đá, phải gỡ bỏ những gì che khuất, mới có thể gặp lại điều quý giá nhất từng bị đời mình chôn vùi.
Hãy thử hình dung Giêrusalem của đầu thế kỷ IV. Gần ba trăm năm đã trôi qua kể từ ngày Đức Giêsu bị đóng đinh ngoài thành. Bao biến động đã quét qua thành thánh. Giêrusalem từng bị tàn phá. Những địa điểm gắn với cuộc thương khó của Chúa đã bị thay đổi, san lấp, che phủ qua thời gian. Truyền thống cổ kể rằng khu vực Canvê và Mộ Thánh bị bao phủ bởi đất đá và các công trình ngoại giáo. Eusêbiô thuật rằng dưới triều Constantinô, khi người ta tháo dỡ những công trình đang che phủ địa điểm được Kitô hữu kính nhớ, đất bị đào đi đến một độ sâu đáng kể, thì ngôi mộ được nhận là Mộ Thánh xuất hiện trở lại. Đọc câu chuyện ấy, ta không thể không nghĩ đến đời mình. Có những lúc Chúa không mất khỏi đời ta; chỉ là ta đã để quá nhiều lớp đất phủ lên Ngài. Một lớp tham vọng. Một lớp tự ái. Một lớp tiền bạc. Một lớp danh vọng. Một lớp hưởng thụ. Một lớp tổn thương. Một lớp thất vọng. Một lớp thành kiến. Một lớp tội quen. Một lớp những bận rộn tưởng rất chính đáng nhưng cứ ngày này qua ngày khác khiến lòng ta chẳng còn chỗ cho Chúa. Chúng ta vẫn có tượng Thánh Giá trong nhà nhưng có khi đã không còn nhìn Thánh Giá. Chúng ta vẫn đeo Thánh Giá trên cổ nhưng có khi chẳng còn muốn mang thánh giá trong đời. Chúng ta vẫn làm dấu Thánh Giá mỗi ngày nhưng có khi lại tìm mọi cách tránh né con đường tự hiến mà dấu Thánh Giá ấy nói lên. Chúng ta có thể thuộc rất nhiều kinh mà chưa bao giờ thực sự đứng im dưới chân Thập Giá để hỏi: “Lạy Chúa, vì sao Chúa yêu con đến như vậy?” Câu chuyện khai quật Canvê vì thế không chỉ nằm trong thế kỷ IV. Nó có thể đang xảy ra trong linh hồn mỗi người. Chúa vẫn ở đó. Mầu nhiệm cứu độ vẫn ở đó. Chỉ có điều phải dọn đất đi. Phải đào. Phải đau. Phải chấp nhận vứt bỏ những thứ ta đã quen giữ. Có những lớp đất muốn lấy đi phải mất một ngày; có những lớp đất phải mất cả đời.
Hêlena lúc ấy không còn trẻ. Truyền thống cho thấy bà thực hiện chuyến hành hương Đất Thánh khi tuổi đã cao. Đó là một chi tiết làm tôi xúc động. Người trẻ đi xa thì bình thường; một bà mẹ già giữa thế kỷ IV lại vượt một hành trình dài để đến miền đất Đức Kitô đã sống, đã chết và đã phục sinh thì đó không còn là chuyện du lịch, mà là chuyện của một trái tim bị Đức Kitô chiếm hữu. Tuổi già thường làm người ta muốn dừng lại. Khi đã có địa vị, người ta thường muốn người khác đến với mình hơn là mình phải đi tìm. Khi đã sống đủ lâu, người ta dễ nghĩ mình chẳng còn gì phải học, chẳng còn gì phải kiếm, chẳng còn gì phải thay đổi. Nhưng Hêlena lại lên đường. Bà dạy chúng ta một điều: trong đời sống đức tin, không có tuổi nào là tuổi đã tìm Chúa đủ rồi. Người tám mươi tuổi vẫn phải tìm Chúa. Linh mục năm mươi năm vẫn phải tìm Chúa. Tu sĩ đã khấn trọn đời vẫn phải tìm Chúa. Một Kitô hữu giữ đạo từ nhỏ vẫn phải tìm Chúa. Bởi điều nguy hiểm nhất không phải là người chưa từng gặp Chúa, mà là người tưởng mình đã biết Chúa quá rõ nên không còn tìm Ngài nữa. Có thể ta đã giảng về Thánh Giá hàng trăm lần mà chưa một lần để Thánh Giá đụng đến một vết thương sâu nhất của mình. Có thể ta đã cử hành Tuần Thánh nhiều năm mà vẫn chưa để Đức Kitô chịu đóng đinh chữa lành tính ích kỷ trong ta. Có thể ta đã hôn kính Thánh Giá mỗi Thứ Sáu Tuần Thánh mà trong đời sống hằng ngày lại không chịu hạ mình xin lỗi một người. Có thể môi ta hôn chân Chúa nhưng lòng ta vẫn đóng đinh anh em. Có thể ta kính một mảnh gỗ Thánh Giá nhưng lại không muốn đón lấy những con người đang là “thánh giá” của đời mình. Nếu thế, Thánh Giá vẫn còn đang bị chôn trong lòng ta. Hêlena tìm một Thánh Giá đã bị đất đá phủ kín; còn chúng ta phải tìm lại Thánh Giá đã bị thói quen tôn giáo phủ kín. Đôi khi lớp đất nguy hiểm nhất không phải vô thần, mà là một đời sống đạo đã trở thành máy móc.
Theo truyền thống được các tác giả Kitô giáo cổ lưu lại, cuộc đào tìm đã đưa đến việc phát hiện ba cây thập giá, tương ứng với việc Đức Giêsu bị đóng đinh cùng hai người khác trên đồi Sọ. Từ đó nảy sinh câu hỏi: đâu là Thánh Giá của Đức Kitô? Những trình thuật về cách phân biệt ba cây thập giá có những dị bản khác nhau. Một truyền thống kể về một người bệnh được chữa lành khi chạm đến cây Thánh Giá thật; một truyền thống khác nhấn mạnh đến một phép lạ liên quan đến người đã chết. Những chi tiết ấy thuộc phạm vi truyền thống đạo đức cổ hơn là những điều chúng ta có thể chứng minh bằng phương pháp lịch sử hiện đại. Nhưng nếu vượt khỏi chuyện phải chứng minh từng chi tiết, có một câu hỏi lại đụng thẳng vào lòng ta: giữa vô vàn cây thập giá của thế gian, làm sao nhận ra Thánh Giá của Đức Kitô? Bởi cuộc đời đâu thiếu thập giá. Bệnh tật là thập giá. Nghèo khó là thập giá. Mất mát là thập giá. Gia đình bất hòa là thập giá. Một cuộc hôn nhân đầy nước mắt là thập giá. Một đứa con hư hỏng là thập giá. Một lời vu oan là thập giá. Tuổi già cô đơn là thập giá. Một căn bệnh kéo dài là thập giá. Một thất bại không thể sửa chữa là thập giá. Một lỗi lầm cứ ám ảnh lương tâm là thập giá. Nhưng không phải cứ đau khổ là tự động trở thành Thánh Giá cứu độ. Có thứ đau khổ làm ta cay độc hơn. Có thứ đau khổ khiến ta căm hờn. Có thứ đau khổ do chính tội lỗi và cố chấp của mình gây ra. Thánh Giá của Đức Kitô khác ở chỗ trên đó có tình yêu. Nếu đời ta đau mà vẫn còn yêu, thập giá đang dần nên thánh. Nếu bị tổn thương mà vẫn không muốn trả thù, thập giá đang mang dáng Đức Kitô. Nếu chịu thiệt mà vẫn giữ được lòng ngay thẳng, thập giá đang sinh ơn cứu độ. Nếu thất bại mà không bỏ Chúa, nếu bệnh tật mà không tuyệt vọng, nếu bị bỏ rơi mà vẫn không làm điều ác, nếu mang trong mình một nỗi đau lớn mà vẫn còn biết dịu dàng với người khác, thì cây gỗ đau khổ ấy đang được máu Đức Kitô thánh hóa. Điều làm nên Thánh Giá không phải trước hết là hai thanh gỗ bắt chéo nhau; điều làm nên Thánh Giá là tình yêu dám tự hiến trên đó.
Tin Mừng đã cho ta một hình ảnh mạnh hơn mọi truyền thuyết khi thánh Gioan kể lại giây phút Chúa Giêsu ở trên Thập Giá: “Khi Đức Giêsu thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Người nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,26-27). Tôi vẫn thấy đây là một trong những cảnh đẹp nhất để hiểu ý nghĩa của Thánh Giá mà Hêlena đã đi tìm. Chúa Giêsu đang đau đến tận cùng mà vẫn nghĩ đến người khác. Hai tay đã bị đóng đinh, nhưng trái tim vẫn tự do để yêu. Ngài gần chết, nhưng vẫn lo cho Mẹ. Ngài không còn gì để cho, nhưng vẫn trao Mẹ cho người môn đệ và trao người môn đệ cho Mẹ. Chính ở đó ta nhận ra Thánh Giá thật. Thánh Giá thật là nơi con người đau mà không khép lòng. Thánh Giá thật là nơi bị tước đoạt mà vẫn biết trao ban. Thánh Giá thật là nơi người ta có lý do để căm giận mà lại chọn yêu thương. Thánh Giá thật là nơi một người tưởng như đã mất hết lại trở thành nguồn sống cho người khác. Chúa không bước xuống khỏi Thập Giá để chứng minh mình là Con Thiên Chúa; Người ở lại trên đó để chứng minh Thiên Chúa yêu con người đến cùng. Chúa không dùng quyền năng tiêu diệt những người đóng đinh Người; Người dùng tình yêu để phá vỡ vòng tròn bạo lực của thế gian. Chúa không trả đũa. Chúa không nguyền rủa. Chúa không đòi công lý cho mình. Trên Thánh Giá, Người cầu xin: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đó là cây Thánh Giá mà nhân loại cần tìm lại. Không phải chỉ cây Thánh Giá trong một cuộc khai quật năm 326, nhưng Thánh Giá đang bị chôn trong một thế giới muốn thắng bằng sức mạnh, muốn giải quyết xung đột bằng loại trừ, muốn đáp lại xúc phạm bằng xúc phạm, muốn đáp lại bạo lực bằng bạo lực. Giữa một thế giới như thế, Kitô hữu đi tìm Thánh Giá nghĩa là đi tìm lại con đường yêu đến cùng của Đức Kitô.
Cũng phải nhớ rằng trước thời Constantinô, Thập Giá không phải biểu tượng trang sức đẹp đẽ. Đó là dụng cụ hành hình nhục nhã. Người ta không đeo thập giá bằng vàng trên cổ như hôm nay. Không ai đặt nó giữa những vương miện và ngai vàng. Thập giá là cái chết của kẻ nô lệ, người phản loạn, người bị xã hội coi là đáng khinh. Vì thế, điều Kitô giáo thực hiện không chỉ là biến một vật xấu thành vật đẹp; Kitô giáo công bố một cuộc đảo ngược tận căn: chính nơi thế gian thấy thất bại, Thiên Chúa làm nên chiến thắng; chính nơi con người thấy ô nhục, Thiên Chúa bày tỏ vinh quang; chính nơi tưởng như chỉ có cái chết, sự sống đời đời bắt đầu. Nếu Hêlena quả thực đã cầm trong tay một phần gỗ được tin là Thánh Giá Chúa, chắc hẳn điều gây xúc động nhất không phải vẻ đẹp của nó. Gỗ cũ thì đâu đẹp. Một thanh gỗ từng dùng hành hình chẳng có gì đáng ngắm. Cái làm người ta quỳ xuống là ký ức của tình yêu đã diễn ra trên đó. Chúng ta cũng vậy. Ta không quỳ trước vật chất như thể gỗ tự nó là thần linh. Kitô hữu kính Thánh Giá vì Thánh Giá không thể tách khỏi Đấng chịu đóng đinh. Khi hôn kính Thánh Giá, ta đang hôn tình yêu của Đấng đã chịu chết cho mình. Khi làm dấu Thánh Giá, ta đang tuyên xưng rằng đời ta thuộc về Cha, Con và Thánh Thần; rằng ơn cứu độ của ta đến qua Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Khi treo Thánh Giá trong nhà, ta đang nhắc mình: ở căn nhà này, người mạnh phải biết cúi xuống phục vụ người yếu; người có lỗi phải biết xin tha thứ; người bị xúc phạm phải tập tha thứ; vợ chồng phải học hy sinh; cha mẹ phải biết cho đi; con cái phải biết hiếu thảo; và tất cả phải nhớ rằng tình yêu nếu không biết chịu đau thì vẫn chưa phải thứ tình yêu đã được học từ Thập Giá.
Có một nét khác rất đẹp nơi Hêlena: địa vị của bà không làm bà quên những nơi thấp bé. Các nguồn cổ nói đến lòng quảng đại của bà đối với người nghèo, các cộng đoàn và các nơi thánh tại Palestine. Một người có thể đứng gần ngai vàng nhưng lại cúi xuống trước cây gỗ của một tử tội. Đó chính là điều Thánh Giá làm với con người: nó hạ cái tôi xuống. Trước Thánh Giá, hoàng đế cũng chỉ là người cần được cứu. Linh mục cũng chỉ là người được cứu bởi máu Đức Kitô. Giám mục cũng chỉ là người cần lòng thương xót. Người giàu cũng phải chết. Người nghèo cũng được Đức Kitô chết cho. Người nổi tiếng không được Chúa yêu hơn người vô danh. Người thánh thiện không thể khoe công trước Thập Giá, vì tất cả ơn cứu độ đều khởi đi từ ân sủng. Nếu một ngày nào đó ta đứng lâu dưới chân Thánh Giá mà vẫn còn tự cao, có lẽ ta chưa nhìn đủ lâu. Nếu còn khinh người khác, chưa nhìn đủ lâu. Nếu còn cho mình luôn đúng, chưa nhìn đủ lâu. Nếu còn nghĩ mình đạo đức hơn người, chưa nhìn đủ lâu. Vì nhìn lên một Thiên Chúa trần trụi, bị đóng đinh, không còn gì để giữ cho mình, người ta sẽ thấy bao nhiêu thứ mình tranh giành thật nhỏ. Một chức vụ nhỏ. Một tiếng khen. Một chỗ ngồi. Một danh xưng. Một cuộc hơn thua. Một câu người ta không chào mình. Một lần mình không được nhắc tên. Một việc người ta không hỏi ý mình. Chúng ta có thể làm tan vỡ cả một tương quan chỉ để bảo vệ một chút tự ái, trong khi Chúa Kitô đã để người ta lột cả áo mình đi mà vẫn yêu. Thánh Giá làm cho rất nhiều “chuyện lớn” của ta trở thành nhỏ và rất nhiều điều ta tưởng nhỏ – một lời tha thứ, một cử chỉ thương người, một hy sinh âm thầm – trở thành lớn.
Truyền thống kể rằng những phần Thánh Giá sau đó được lưu giữ và phân chia để tôn kính ở nhiều nơi. Thánh Cyrillô Giêrusalem, vào giữa thế kỷ IV, đã nhắc đến gỗ Thánh Giá được phân phát ở nhiều miền. Điều ấy giúp ta hiểu tại sao lòng tôn kính Thánh Giá lan rộng rất sớm trong Kitô giáo. Nhưng có một nghịch lý đáng suy nghĩ: một mảnh Thánh Giá thật quý, nhưng một người mang Thánh Giá thật trong đời còn quý hơn. Hội Thánh có thể gìn giữ thánh tích, nhưng nếu các Kitô hữu không sống tinh thần Thập Giá thì thánh tích ấy sẽ trở thành lời chất vấn. Ta có thể đi hàng ngàn cây số hành hương để kính một mảnh Thánh Giá, nhưng trở về nhà lại không chịu nổi một câu nói trái ý. Ta có thể xúc động trước đồi Canvê mà vẫn làm khổ người sống chung với mình. Ta có thể quỳ trước Mộ Thánh nhưng lòng vẫn chôn một người anh em trong nấm mồ của thành kiến. Ta có thể kính Máu Chúa nhưng lại làm anh em chảy nước mắt. Ta có thể hát rất hay về tình yêu Thập Giá mà sống rất ít hy sinh. Điều Chúa cần không phải chỉ là những người đi tìm mảnh gỗ của năm xưa, mà là những môn đệ để hình dáng Thập Giá in vào cuộc đời mình hôm nay.
Và có lẽ đây mới là cuộc “tìm Thánh Giá thật” khó nhất. Hêlena phải đào đất; ta phải đào lòng. Đất đá không biết chống lại người đào; cái tôi thì chống rất dữ. Người ta có thể xúc hàng tấn đất trong vài tuần, nhưng mất mười năm chưa chắc đào nổi một mảng kiêu ngạo trong lòng. Có những người đã sáu mươi tuổi vẫn không nói nổi hai chữ “xin lỗi”. Có những anh chị em ruột xa nhau hàng chục năm vì một miếng đất. Có vợ chồng sống cùng mái nhà nhưng không còn nói chuyện vì chẳng ai chịu xuống nước trước. Có người làm việc trong Hội Thánh nhưng lại mang trong lòng những trận chiến âm thầm về ảnh hưởng và vị trí. Có người rao giảng lòng thương xót rất hay nhưng khó tha thứ cho người làm mình tổn thương. Có người yêu Chúa thật nhưng yêu cái tôi của mình cũng thật. Thế nên đào tìm Thánh Giá là để cho Chúa đào ta. Đào đến chỗ ta đau nhất. Đào đến cái tên ta không muốn nghe. Đào đến câu chuyện ta muốn chôn. Đào đến thất bại ta chưa chấp nhận. Đào đến tội lỗi ta vẫn tìm lý do biện minh. Đào đến nỗi sợ khiến ta muốn kiểm soát người khác. Đào đến sự ghen tị ta không dám gọi tên. Khi ấy, nếu đủ can đảm để không bỏ chạy, ta sẽ gặp một cây Thánh Giá. Và trên cây Thánh Giá đó có Đức Kitô đang đợi ta. Ngài không đứng đó để kết án. Ngài đứng đó để nói rằng: “Con đưa cho Ta chỗ này đi. Chỗ này con không tự chữa được đâu. Để Ta chịu đóng đinh vào đó với con.”
Nhiều người xin Chúa cất thánh giá nhưng ít người xin Chúa dạy mình mang thánh giá. Đó là hai lời cầu rất khác. Xin cất thánh giá là tự nhiên. Chính Đức Giêsu tại Ghếtsêmani cũng đã thưa: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Chúa hiểu ta sợ đau. Chúa không bắt ta giả vờ thích đau khổ. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Điều Kitô giáo tôn thờ là một Thiên Chúa đã bước vào đau khổ để biến đổi nó. Vì thế Đức Giêsu nói tiếp: “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Đó là khoảnh khắc một thập giá trở thành Thánh Giá: lúc con người ngừng hỏi chỉ một câu “Tại sao chuyện này xảy ra với con?” để bắt đầu hỏi thêm: “Lạy Chúa, trong chuyện này Chúa muốn con yêu thế nào?” Có những thánh giá không biến mất nhưng con người mang nó biến đổi. Căn bệnh vẫn đó nhưng lòng bình an hơn. Người gây tổn thương chưa xin lỗi nhưng ta đã thôi để oán hận điều khiển đời mình. Mất mát không được hoàn trả nhưng ta bắt đầu nhận ra những điều khác đáng quý. Đứa con chưa quay về nhưng cha mẹ thôi nguyền trách và kiên trì cầu nguyện. Một ước mơ đã chết nhưng trong đống tro ấy một ơn gọi khác được sinh ra. Cây thập giá không đổi mà trái tim thay đổi, và chính lúc ấy một phép lạ sâu hơn chữa bệnh đã xảy ra.
Có lẽ Hêlena đã không thể hình dung rằng nhiều thế kỷ sau, hàng triệu Kitô hữu trên khắp địa cầu mỗi ngày sẽ làm dấu Thánh Giá. Từ căn nhà tranh nghèo nhất đến nhà thờ chính tòa nguy nga, từ chiếc nôi trẻ thơ đến giường hấp hối của người già, từ bàn ăn gia đình đến bàn thờ Thánh Thể, từ người lính giữa chiến tranh đến bệnh nhân trong phòng cấp cứu, từ người mẹ trước giờ sinh con đến một linh mục trước khi giảng lễ, dấu Thánh Giá được ghi trên thân xác con người như một lời tuyên xưng: tôi thuộc về Đấng đã yêu tôi và hiến mạng vì tôi. Thế nhưng làm dấu Thánh Giá cho đúng không chỉ là đưa tay từ trán xuống ngực rồi từ vai này sang vai kia. Dấu Thánh Giá phải đi từ trán xuống đời. Trán đã mang dấu Thánh Giá thì tư tưởng phải bớt độc ác. Miệng tuyên xưng Ba Ngôi thì lời nói phải bớt làm tổn thương. Vai mang dấu Thánh Giá thì phải biết gánh trách nhiệm. Ngực mang dấu Thánh Giá thì trái tim phải biết thương. Không thể vừa làm dấu Thánh Giá vừa sống trái Thánh Giá. Một dấu Thánh Giá làm thật chậm đôi khi là cả một bài giảng: “Nhân danh Cha” – con không phải chủ tuyệt đối đời con. “Và Con” – đời con đã được mua bằng giá máu Đức Kitô. “Và Thánh Thần” – con không sống bằng sức riêng. “Amen” – con xin đặt toàn bộ đời mình dưới dấu tình yêu này.
Lịch sử còn nối việc tìm thấy Thánh Giá với sự phát triển của lòng tôn kính Thánh Giá và các cử hành tại Giêrusalem. Ngày 14 tháng Chín trở thành ngày lễ Suy Tôn Thánh Giá trong truyền thống Hội Thánh, gắn với Giêrusalem và các thánh đường được xây dựng tại khu vực Mộ Thánh và Canvê. Các nguồn truyền thống có khác nhau khi xác định chính xác ngày tháng và cách các lễ phát triển, nhưng điều Hội Thánh muốn giữ lại không phải là lòng tò mò về một cổ vật. Hội Thánh giơ cao Thánh Giá để chỉ cho thế giới thấy con đường của Thiên Chúa. “Suy tôn” không phải là ca tụng đau đớn; suy tôn Thánh Giá là ca tụng Tình Yêu mạnh hơn đau đớn. Không ca tụng cái chết; ca tụng Đấng đi xuyên qua cái chết để mở đường sự sống. Không đề cao sự nhục nhã; đề cao Đức Kitô đã biến nhục nhã thành vinh quang. Vì vậy, mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, ta không chỉ được mời nhớ lại thứ đã xảy ra hai ngàn năm trước; ta được hỏi: ngày hôm nay tôi sẽ chọn sống theo logic nào? Logic của quyền lực hay logic của phục vụ? Logic trả đũa hay tha thứ? Logic giữ lại hay trao ban? Logic cứu mình bằng mọi giá hay dám mất mình vì tình yêu?
Chúa Giêsu từng nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). Chúa nói “thập giá mình”, nghĩa là mỗi người có một cây. Không ai được quyền chọn thánh giá của người khác rồi mang. Ta thường thấy thánh giá người khác nhẹ vì ta không ở trong da thịt họ. Một người đau khớp có thể không hiểu người trầm cảm. Một người con ngoan khó hiểu nỗi đau cha mẹ có con nghiện ngập. Một gia đình khá giả không dễ hiểu nỗi sợ của người cuối tháng không còn tiền đóng học cho con. Một người khỏe mạnh không hiểu người thức dậy mỗi sáng với một căn bệnh không biết ngày nào khỏi. Bởi vậy, Thánh Giá cũng dạy lòng thương xót. Ai đã từng đau thật sẽ bớt phán xét. Ai từng khóc trong đêm sẽ biết tôn trọng nước mắt người khác. Ai từng phải bám lấy Chúa để sống qua một ngày sẽ không dễ nói với người khác rằng: “Có vậy mà cũng buồn.” Thánh Giá đào sâu trái tim. Đau khổ không tự động làm con người tốt; nhưng đau khổ được mang với Đức Kitô có thể làm con người hiền hơn, sâu hơn, biết cảm thông hơn.
Có lẽ vì thế mà câu chuyện Thánh Hêlena tìm thấy Thánh Giá vẫn còn sức sống sau gần mười bảy thế kỷ. Không phải vì chúng ta mê những chuyện bí ẩn. Không phải vì Kitô giáo cần một món cổ vật để chứng minh đức tin. Đức tin Kitô giáo đặt nền trên Đức Kitô chịu chết và phục sinh, chứ không đặt trên việc một thánh tích khảo cổ có được phòng thí nghiệm xác nhận đến mức nào. Nhưng câu chuyện Hêlena chạm vào một khát vọng rất người: ai cũng muốn tìm thấy dấu vết của một tình yêu lớn. Người mẹ giữ chiếc áo của đứa con đã mất không phải vì chiếc áo đắt tiền. Người vợ giữ lá thư cũ của người chồng quá cố không phải vì tờ giấy quý. Những vật ấy quý vì tình yêu đã đi qua đó. Người Kitô hữu kính Thánh Giá cũng như thế, nhưng sâu hơn gấp bội: đây là dấu vết của tình yêu Thiên Chúa đi qua lịch sử nhân loại. “Người đã yêu tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20). Chỉ một câu ấy đủ để Thánh Giá từ dụng cụ tử hình trở thành báu vật.
Và rồi tôi tự hỏi: nếu hôm nay Thánh Hêlena đi qua nhà mình, bà sẽ tìm Thánh Giá ở đâu? Có khi bà chẳng cần đào dưới đất. Bà sẽ thấy nó trên chiếc giường của người bệnh nằm lâu ngày mà vẫn kiên nhẫn. Thấy nó trong đôi tay chai sần của người mẹ tần tảo nuôi con. Thấy nó nơi người cha thức khuya làm thêm nhưng sáng vẫn mỉm cười với gia đình. Thấy nó trong phòng của một người vợ lặng lẽ chăm chồng bệnh. Thấy nó nơi người con đang chăm cha mẹ già mắc chứng quên. Thấy nó trong tòa giải tội, nơi một linh mục ngồi nhiều giờ nghe những câu chuyện đau lòng mà chẳng ai khác biết. Thấy nó trong một người bị hiểu lầm nhưng quyết không trả đũa. Thấy nó trong một người làm điều tốt mà không được ghi nhận. Thấy nó nơi người dám ở lại khi tất cả đều bỏ đi. Thấy nó trong một tiếng “con tha thứ” được nói qua nước mắt. Thấy nó trong một lời “xin lỗi” rất khó thốt ra. Thấy nó nơi một người trẻ chọn sống trong sạch giữa một thời đại coi sự buông thả là bình thường. Thấy nó nơi người làm ăn từ chối gian dối dù mất lợi nhuận. Thấy nó nơi người bị bệnh biết mình không còn sống lâu nhưng dùng những ngày cuối để làm hòa với mọi người. Đó là những mảnh Thánh Giá thật đang nằm khắp thế giới mà chẳng viện bảo tàng nào giữ được.
Có những người mong tìm được một mảnh Thánh Giá ở Giêrusalem nhưng lại không nhận ra cây thánh giá đang nằm trong chính căn nhà mình. Có khi Thánh Giá tên là “người chồng khó tính”. Có khi tên là “người vợ đang bệnh”. Có khi tên là “đứa con làm ta thất vọng”. Có khi tên là “tuổi già”. Có khi tên là “cô đơn”. Có khi tên là “một quá khứ không sửa được”. Có khi tên là “một bổn phận phải làm mỗi ngày”. Ta cứ muốn chạy sang Giêrusalem tìm Chúa trong khi Chúa đang chờ ta tại phòng bệnh bên cạnh. Ta muốn quỳ trên đồi Canvê trong khi không chịu ngồi xuống nghe một người trong gia đình đang đau. Ta muốn hôn mảnh gỗ Thánh Giá nhưng không muốn chạm tay vào thân thể già nua của cha mẹ. Đức tin dễ trở thành lãng mạn nếu không đi vào đời thực. Đức Kitô không nói: “Ai muốn theo Thầy hãy đến Giêrusalem tìm cây gỗ của Thầy.” Người nói: “Hãy vác thập giá mình mà theo Thầy.” Chính cây thánh giá đang có trong đời ta mới là nơi Chúa muốn gặp ta trước hết.
Thánh Hêlena đã đi tìm một dấu tích của cuộc thương khó; còn ta được mời đi tìm Đấng Chịu Đóng Đinh. Tìm dấu tích mà không gặp Ngài thì chưa đủ. Tôn kính Thánh Giá mà không yêu Đức Kitô thì chưa đủ. Yêu Đức Kitô mà không yêu người Ngài đã chết cho thì vẫn chưa đủ. Cuối cùng, con đường của Thánh Giá luôn dẫn đến tha nhân. Từ Thánh Giá, Đức Giêsu trao Mẹ cho môn đệ. Từ Thánh Giá, Người tha kẻ đóng đinh mình. Từ Thánh Giá, Người mở cửa thiên đàng cho người trộm biết ăn năn. Từ Thánh Giá, cạnh sườn Người mở ra. Cả lúc chết, Người vẫn mở, không đóng. Đó là câu hỏi cho chúng ta: đau khổ đã làm lòng ta mở ra hay khép lại? Nếu càng đau ta càng khép, hãy đưa nỗi đau ấy đến Thập Giá. Nếu bị phản bội khiến ta không còn tin ai, hãy đem nó đến Thập Giá. Nếu thất bại làm ta trở nên cay đắng, đem đến Thập Giá. Nếu thành công làm ta kiêu, càng phải đến Thập Giá. Bởi Thập Giá không chỉ an ủi người đau; Thập Giá còn thanh luyện người thành công. Người nghèo cần Thập Giá để có hy vọng; người giàu cần Thập Giá để nhớ của cải không cứu được mình. Người yếu cần Thập Giá để có sức mạnh; người mạnh cần Thập Giá để đừng dùng sức mạnh chà đạp người khác.
Một ngày nào đó, tất cả những thứ ta từng tranh giành sẽ ở lại. Ngôi nhà ở lại. Tiền ở lại. Danh tiếng ở lại. Bằng cấp ở lại. Những cuộc hơn thua ở lại. Chức vụ ở lại. Người ta sẽ đặt một cây Thánh Giá trên quan tài ta. Lúc ấy cây Thánh Giá ấy giống như bản tóm tắt cuối cùng của đời Kitô hữu: người này đã được Đức Kitô chết cho, người này đã được đóng ấn Thánh Giá ngày chịu Phép Rửa, người này suốt đời bước đi dưới bóng Thập Giá, và bây giờ được trao vào tay Đấng đã chết và sống lại. Hạnh phúc biết bao nếu lúc ấy cây Thánh Giá trên quan tài không phải biểu tượng xa lạ, nhưng là hình ảnh của con đường người ấy đã thật sự sống: đã yêu, đã hy sinh, đã ngã rồi đứng lên, đã được tha và biết tha, đã đau nhưng không bỏ Chúa, đã có lúc yếu đuối nhưng vẫn cố sống tử tế, đã mang cây thập giá của mình cho đến cuối đường.
Thánh Hêlena tìm thấy Thánh Giá – nhưng điều đáng mong hơn là để Thánh Giá tìm thấy chúng ta. Tìm thấy ta trong những năm tháng chạy theo điều chóng qua. Tìm thấy ta giữa lúc lòng đầy oán giận. Tìm thấy ta khi đức tin nguội lạnh. Tìm thấy ta khi không còn biết cầu nguyện. Tìm thấy ta trong một đêm bệnh tật. Tìm thấy ta sau một thất bại. Tìm thấy ta ngay lúc ta tưởng đời mình chẳng còn giá trị. Và khi Thánh Giá tìm thấy ta, Đức Kitô sẽ nói rằng: đời con chưa hết đâu. Nỗi đau này chưa phải tiếng nói cuối cùng. Tội lỗi này chưa phải căn tính cuối cùng. Nấm mồ này chưa phải nơi cuối cùng. Bởi sau Canvê là Phục Sinh. Sau Thứ Sáu Tuần Thánh là sáng Chúa Nhật. Sau lời “Mọi sự đã hoàn tất” là ngôi mộ trống. Kitô hữu không dừng dưới chân Thập Giá như người tuyệt vọng; chúng ta đứng dưới đó vì biết rằng cây gỗ của chiều Thứ Sáu đã trở thành cây sự sống của buổi sáng Phục Sinh.
Ước gì câu chuyện năm 326 không chỉ để chúng ta nhớ một bà hoàng hậu thánh thiện đã hành hương Giêrusalem, nhưng thúc chúng ta làm một cuộc khai quật trong chính tâm hồn mình. Đào bỏ lớp đất của kiêu ngạo. Đào bỏ đá của oán thù. Dọn đi đống đổ nát của quá khứ. Gỡ đi những thần tượng ta dựng lên thay Chúa. Đào cho đến khi gặp lại Đức Kitô. Đào cho đến khi nhận ra cây Thánh Giá ta từng muốn tránh chính là con đường có thể dẫn mình nên thánh. Đào cho đến khi hiểu rằng điều cứu đời ta không phải là không bao giờ đau, nhưng là trong đau khổ vẫn có một Đấng yêu ta. Và rồi, khi gặp được Thánh Giá, đừng chỉ đứng ngắm. Hãy quỳ xuống. Hãy đặt trán mình vào đó. Hãy đặt những giọt nước mắt vào đó. Hãy đặt tên từng người ta chưa tha thứ vào đó. Hãy đặt bệnh tật vào đó. Đặt gia đình vào đó. Đặt tuổi già vào đó. Đặt cả những thất bại mà ta vẫn xấu hổ vào đó. Rồi hãy ngước lên Đấng Chịu Đóng Đinh và nói thật chậm: “Lạy Chúa Giêsu, con không xin một cuộc đời không có thánh giá. Con chỉ xin đừng bao giờ phải vác thánh giá mà không có Chúa. Nếu Chúa ở với con, xin cho con đủ sức đi. Nếu phải đau, xin đừng để con trở nên cay độc. Nếu phải mất, xin đừng để con mất Chúa. Nếu phải chết, xin cho con chết trong vòng tay Đấng đã chết vì con. Và nếu có một điều con phải tìm cho đến cuối đời, xin cho con không tìm danh vọng, không tìm hơn thua, không tìm lời khen của thế gian, nhưng tìm cho được Thánh Giá của Chúa – bởi dưới chân Thánh Giá ấy, con tìm được tình yêu; trong tình yêu ấy, con tìm được ơn tha thứ; trong ơn tha thứ ấy, con tìm được bình an; và đi xuyên qua Thánh Giá ấy, con sẽ tìm được sự sống đời đời.”
Lm. Anmai, CSsR.

KHI THÁNH GIÁ TRỞ VỀ: HOÀNG ĐẾ HERACLIUS VÀ BÀI HỌC CỦA MỘT VỊ VUA PHẢI CÚI MÌNH
Có những biến cố lịch sử nếu chỉ đọc bằng đôi mắt của người ghi niên biểu, chúng ta sẽ thấy vài cái tên, vài trận chiến, vài cuộc đổi ngôi, vài hiệp ước, vài năm tháng đã lùi rất xa vào dĩ vãng. Nhưng nếu đọc bằng đôi mắt của đức tin, ta lại thấy bên dưới những biến động ấy có một câu chuyện khác sâu hơn: câu chuyện về lòng người, về sự kiêu căng và khiêm hạ, về quyền lực của thế gian và quyền lực của Thiên Chúa, về những gì con người tưởng mình đã chiếm được nhưng cuối cùng vẫn phải trả lại, và nhất là về Thánh Giá Đức Kitô, một cây gỗ từng bị thế gian coi là dấu hiệu nhục nhã nhưng đã trở nên dấu chỉ của niềm hy vọng không gì có thể tiêu diệt. Khoảng năm 629, sau nhiều năm chiến tranh khốc liệt giữa Đế quốc Byzantine và Ba Tư Sassanid, hoàng đế Heraclius đã giành lại được thánh tích Thánh Giá mà quân Ba Tư đã mang khỏi Giêrusalem khi họ chiếm thành vào năm 614. Niên đại của từng chặng trong việc hoàn trả và long trọng đưa thánh tích về Giêrusalem có những cách ghi khác nhau trong truyền thống lịch sử, nhưng điều đọng lại trong ký ức Kitô giáo không chỉ là câu chuyện một vị hoàng đế chiến thắng lấy lại một thánh tích. Điều còn lại sâu xa hơn là hình ảnh một con người quyền thế cuối cùng phải học cách bước đến với Thánh Giá bằng đôi chân trần, với lòng khiêm hạ, bởi không ai có thể thực sự mang Thánh Giá Đức Kitô nếu vẫn còn khoác trên mình chiếc áo của kiêu căng.
Năm 614 là một năm đau thương đối với Giêrusalem. Quân Ba Tư tiến vào thành, thành thánh bị tàn phá, nhiều người thiệt mạng, nhiều nhà thờ bị hư hại và thánh tích được Kitô hữu tôn kính như Thánh Giá thật của Đức Kitô bị mang đi. Đối với những Kitô hữu thời ấy, đó không chỉ là mất một báu vật tôn giáo. Đó còn giống như một vết thương đâm thẳng vào trái tim của cộng đoàn. Giêrusalem là thành của cuộc Thương Khó, của Golgotha, của ngôi mộ trống, của những bước chân cuối cùng Đức Giêsu đi trước khi trao phó mạng sống cho Chúa Cha. Thánh Giá được tôn kính không vì bản thân gỗ có một thứ ma lực nào, nhưng bởi nó gợi nhớ nơi tình yêu của Thiên Chúa đã đi đến tận cùng. Vậy mà giờ đây, dấu chỉ ấy bị kẻ chiến thắng mang đi như chiến lợi phẩm. Người ta có thể tưởng rằng Thánh Giá đã thất bại. Người ta có thể nhìn về phía quân đội chiến thắng và nghĩ rằng sức mạnh thuộc về gươm giáo, rằng lịch sử thuộc về những ai có quân đông, thành cao, kho lương đầy và vó ngựa hùng mạnh. Nhưng đó cũng chính là nghịch lý đã xảy ra trên đồi Golgotha. Ngày Đức Giêsu bị đóng đinh, những kẻ đứng dưới chân Thánh Giá cũng tưởng rằng Người đã thua. Họ chế giễu: “Hắn cứu được thiên hạ mà chẳng cứu nổi mình.” Họ nhìn một con người bị đóng đinh trần trụi và cho rằng quyền lực của Người đã chấm hết. Họ đâu biết rằng chính lúc con người tưởng mình thắng Thiên Chúa lại là lúc Thiên Chúa đang chiến thắng tội lỗi bằng tình yêu. Chính lúc sự chết tưởng đã nuốt chửng Con Thiên Chúa lại là lúc sự chết bắt đầu bị đánh bại từ bên trong.
Hoàng đế Heraclius lên ngôi trong một hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Đế quốc của ông bị đe dọa từ nhiều phía, lãnh thổ bị mất, ngân khố kiệt quệ, tinh thần dân chúng suy sụp. Có lúc người ta tưởng đế quốc không còn khả năng đứng dậy. Nhưng Heraclius tổ chức lại lực lượng, tiến hành những chiến dịch táo bạo và sau nhiều năm chiến tranh đã đảo ngược tình thế. Quân Byzantine tiến sâu vào lãnh thổ đối phương; quyền lực của vua Ba Tư Khosrow II sụp đổ, và một thỏa thuận hòa bình mở đường cho việc hoàn trả những lãnh thổ cũng như thánh tích Thánh Giá. Đối với người dân đương thời, Heraclius hẳn xuất hiện như một vị hoàng đế chiến thắng. Ông đã làm được điều tưởng như không thể. Những thành phố bị mất được trả lại. Danh dự của đế quốc được phục hồi. Và đặc biệt, Thánh Giá được đưa trở về. Nhưng nếu câu chuyện chỉ kết thúc ở đó, đây mới chỉ là một câu chuyện chính trị. Điều làm nó trở thành một câu chuyện thiêng liêng là truyền thống đạo đức kể lại một chi tiết đẹp đến mức nhiều thế hệ Kitô hữu đã ghi nhớ: khi Heraclius muốn mang Thánh Giá vào Giêrusalem trong tư cách của một hoàng đế chiến thắng, mặc long bào, mang vương miện, khoác trên người những dấu hiệu của quyền lực, ông bỗng không thể tiến bước. Vị thượng phụ nhắc ông rằng Đức Kitô đã mang Thánh Giá không trong y phục của một vị vua trần thế, nhưng trong cảnh nghèo hèn và nhục nhã. Heraclius liền cởi bỏ những biểu tượng quyền quý, hạ mình xuống, và khiêm tốn mang Thánh Giá tiến vào thành. Chi tiết ấy thuộc truyền thống đạo đức được kể lại qua nhiều thế kỷ hơn là một bản tường thuật có thể kiểm chứng từng nét theo tiêu chuẩn sử học hiện đại, nhưng ý nghĩa thiêng liêng của nó thì thật kỳ diệu: muốn mang Thánh Giá, trước hết phải bỏ vương miện xuống.
Đó có lẽ cũng chính là điều khó nhất đối với mỗi chúng ta. Chúng ta thích Thánh Giá đặt trên bàn thờ, nhưng lại sợ Thánh Giá đặt trên vai mình. Chúng ta thích đeo Thánh Giá trên cổ, nhưng không dễ gì để Thánh Giá chạm vào lòng tự ái. Chúng ta hôn kính Thánh Giá vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng khi phải chịu một lời hiểu lầm, một sự xúc phạm, một bệnh tật kéo dài, một thất bại không ngờ, một người thân làm ta tổn thương, một dự định bị đổ vỡ, ta lại muốn chạy khỏi cây Thánh Giá ấy. Chúng ta muốn theo Đức Kitô Phục Sinh nhưng lại muốn bỏ qua Đức Kitô chịu đóng đinh. Chúng ta muốn vinh quang nhưng không thích con đường hạt lúa phải chết đi. Chúng ta muốn bình an nhưng không muốn chết cho cái tôi. Chúng ta muốn được Chúa nâng lên nhưng rất ngại cúi mình. Và thế là nhiều khi người Kitô hữu mang Thánh Giá trên ngực nhưng lại mang một chiếc vương miện vô hình trong lòng: vương miện của tự ái, của tiếng tăm, của quyền lực, của địa vị, của cái đúng của mình, của nhu cầu phải được nhìn nhận, phải được tôn trọng, phải được người khác biết đến công lao. Chính chiếc vương miện ấy khiến Thánh Giá trở nên nặng. Không hẳn vì Thánh Giá quá nặng, nhưng vì chúng ta vừa muốn mang Thánh Giá vừa không chịu bỏ vương miện.
Tin Mừng kể một câu thật đơn sơ mà soi sáng cách lạ lùng cho câu chuyện này. Khi Đức Giêsu báo trước cuộc Thương Khó, Phêrô kéo Người ra riêng và trách Người. Phêrô không thể chấp nhận một Đấng Mêsia phải chịu đau khổ. Trong suy nghĩ của ông, Đấng Mêsia phải chiến thắng, phải mạnh mẽ, phải làm cho dân chúng hãnh diện. Một Thiên Chúa bị bắt, bị đánh, bị đóng đinh là điều quá nghịch lý. Nhưng Đức Giêsu quay lại và nói rất mạnh với Phêrô, rồi Người gọi các môn đệ và đám đông mà nói: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (x. Mc 8,34). Chúa không nói: ai muốn theo Ta hãy tìm một cuộc đời không có đau khổ. Người cũng không nói: ai muốn theo Ta thì cố gắng làm sao để người khác mang thập giá thay mình. Người nói: “từ bỏ chính mình”. Đây mới là cây Thánh Giá đầu tiên. Trước khi vác thập giá bên ngoài, phải đóng đinh cái tôi bên trong. Từ bỏ chính mình không có nghĩa là ghét bản thân, không phải là chối bỏ phẩm giá Chúa ban, càng không phải là cam chịu mọi bất công. Từ bỏ mình là không còn đặt cái tôi làm trung tâm vũ trụ. Là biết rằng có những lúc mình phải im để tình yêu được nói. Có những lúc mình phải nhường để gia đình được bình an. Có những lúc mình phải xin lỗi dù rất đau. Có những lúc mình phải chấp nhận không được hiểu. Có những lúc mình phải phục vụ mà chẳng ai cảm ơn. Có những lúc phải tiếp tục làm điều tốt dù chẳng ai biết. Có những lúc phải đặt chiếc vương miện của mình xuống để hai tay đủ trống mà ôm lấy Thánh Giá.
Cũng trong Tin Mừng, Đức Giêsu cho chúng ta thấy cách Người mang Thánh Giá. Người không mang nó như kẻ thất bại bất lực, nhưng như người Con hoàn toàn trao mình cho Chúa Cha. Vườn Ghếtsêmani là nơi chiếc vương miện của ý riêng được đặt xuống: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Câu ấy có lẽ là một trong những lời cầu nguyện khó nhất của đời người. Chúng ta vẫn đọc “ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”, nhưng khi ý Chúa đi qua một con đường khác với dự tính của mình, lòng ta đau biết bao. Chúng ta muốn Chúa làm theo chương trình của ta. Ta đã lên kế hoạch, đã cầu nguyện, đã hy vọng, đã chờ đợi, vậy mà sự việc lại không xảy ra như mong muốn. Khi đó, Thánh Giá xuất hiện. Thánh Giá không nhất thiết là một tai họa lớn. Đôi khi Thánh Giá là chuyện phải sống một ngày bình thường mà không được như ý. Là phải chăm một người bệnh từng ngày. Là tuổi già và sức lực giảm sút. Là thấy con cái trưởng thành rồi chọn những con đường mình không thể kiểm soát. Là đứng bên một người hấp hối mà biết rằng tất cả tiền bạc trên thế gian cũng không mua thêm được một giờ. Là một linh mục nhìn lại đời mình và nhận ra có những điều đã cố gắng nhưng kết quả không như mong đợi. Là một người mẹ cầu cho đứa con nhiều năm mà chưa thấy nó trở lại. Là người chồng phải học cách xin lỗi. Là người vợ phải tha thứ cho một vết thương sâu. Là một tu sĩ phải trung thành giữa những tháng ngày chẳng có cảm xúc thiêng liêng. Những Thánh Giá ấy không có hào quang bên ngoài. Nhưng nếu được mang cùng Đức Kitô, chính nơi ấy con người được biến đổi.
Có một nghịch lý đáng suy nghĩ trong biến cố Heraclius lấy lại Thánh Giá. Một đội quân có thể giành lại một thánh tích, nhưng chỉ lòng khiêm nhường mới thực sự “đón nhận” được Thánh Giá. Gươm giáo có thể đưa cây gỗ trở lại Giêrusalem; nhưng gươm giáo không thể đưa Thánh Giá vào trái tim. Một hoàng đế có thể chiến thắng ngoài chiến trường nhưng vẫn thất bại trong tâm hồn nếu không thắng được chính mình. Ngược lại, một con người có thể chẳng có danh vọng gì, chẳng ai biết tên, chẳng giữ chức vụ nào, nhưng nếu mỗi ngày biết chết đi cho ích kỷ, biết yêu thương, nhẫn nại, tha thứ, phục vụ, thì người ấy đang mang chiến thắng của Thánh Giá trong lòng. Đó là điều Kitô giáo đảo ngược mọi tiêu chuẩn của thế gian. Thế gian nói: chiến thắng là đứng trên người khác. Đức Kitô nói: chiến thắng là cúi xuống rửa chân. Thế gian nói: quyền lực là bắt người khác phục vụ. Đức Kitô nói: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ.” Thế gian nói: giữ lấy mạng sống. Đức Kitô nói: “Ai liều mất mạng sống mình vì Ta và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy.” Thế gian nói: trả đũa để chứng minh sức mạnh. Đức Kitô trên Thánh Giá nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Thế gian nói: xuống khỏi thập giá rồi chúng tôi sẽ tin. Đức Kitô không xuống. Người ở lại. Và chính vì Người ở lại nên nhân loại được cứu.
Có lẽ đó cũng là lý do Thánh Giá luôn là một dấu hỏi đối với lòng người. Thánh Giá không cho chúng ta một câu trả lời dễ dàng về đau khổ. Chúa Giêsu không đứng ngoài đau khổ để giải thích đau khổ bằng vài luận đề. Người đi vào trong đau khổ. Người khóc trước mộ Lazarô. Người run sợ trong Ghếtsêmani. Người kêu lên trên Thánh Giá: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Kitô giáo không nói với người đang đau rằng: “Đừng đau nữa.” Kitô giáo cũng không gọi đau khổ tự nó là điều tốt. Đau khổ vẫn là đau khổ. Nước mắt vẫn mặn. Mất mát vẫn xé lòng. Một người mẹ mất con không thể được an ủi bằng vài lời đạo đức dễ dãi. Một bệnh nhân ung thư không thể nghe ai nói rằng cứ vui lên là đủ. Một người bị phản bội không thể lành vết thương chỉ vì người khác bảo phải tha thứ ngay. Nhưng Thánh Giá nói rằng trong nơi sâu nhất của khổ đau, Thiên Chúa đã ở đó. Không có vực thẳm nào của con người mà Đức Kitô chưa bước xuống. Không có đêm tối nào mà Người không biết. Không có tiếng khóc nào hoàn toàn xa lạ với Người. Và vì vậy, khi ta không hiểu tại sao, ta vẫn có thể hỏi: “Lạy Chúa, con phải sống điều này với Chúa thế nào?” Câu hỏi ấy khác hẳn với câu hỏi: “Tại sao Chúa làm điều này với con?” Câu hỏi thứ nhất mở ra một con đường. Con đường ấy có thể dài, có thể đầy nước mắt, nhưng có Chúa đi cùng.
Heraclius đưa Thánh Giá trở lại một thành phố bằng đá. Chúng ta được mời gọi đưa Thánh Giá trở lại “thành phố” của chính tâm hồn mình. Có những thời kỳ trong cuộc đời, Thánh Giá bị lưu đày khỏi lòng ta mà ta không hay. Ta vẫn đi lễ, vẫn cầu nguyện, vẫn đọc kinh, nhưng trung tâm đời ta có khi lại là tiền bạc, danh dự, công việc, hình ảnh của mình, lời khen của người khác, hoặc một thứ quyền lực nào đó. Ta treo Thánh Giá trong nhà nhưng những cuộc nói chuyện trong nhà lại đầy cay nghiệt. Ta làm dấu Thánh Giá trước bữa ăn nhưng sau đó không ngần ngại làm tổn thương nhau. Ta cúi đầu trước tượng Chúa chịu nạn nhưng không chịu cúi đầu xin lỗi người ngay bên cạnh. Ta hôn chân Chúa trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng cả năm không chịu hạ mình trước một người mình đã xúc phạm. Như thế, Thánh Giá vẫn còn trên tường nhưng đã bị lưu đày khỏi trái tim.
Đưa Thánh Giá trở về nghĩa là đưa logic của Đức Kitô trở về. Trong gia đình, đó là khi người cha biết nói “ba sai rồi”. Đó là khi người mẹ không dùng hy sinh của mình như một món nợ để buộc con cái phải sống theo ý mình. Đó là khi vợ chồng thôi đếm xem ai hy sinh nhiều hơn, ai đúng nhiều hơn, ai chịu thiệt nhiều hơn. Bởi tình yêu mà phải ghi sổ thì đã bắt đầu nghèo đi. Trong cộng đoàn, đưa Thánh Giá trở về là khi người ta thôi tranh giành ảnh hưởng, thôi dùng việc đạo đức để tạo phe nhóm, thôi khoác áo phục vụ bên ngoài nhưng bên trong tìm quyền lực. Trong đời sống linh mục, Thánh Giá trở về không phải khi người ta có thêm một chức vụ, một công trình, một thành công mục vụ, nhưng khi người mục tử còn biết quỳ trước Thánh Thể, biết khóc với người đau khổ, biết chịu nghe những lời khó nghe, biết xin lỗi khi mình sai và biết nhớ rằng đoàn chiên không thuộc về mình. Người linh mục nguy hiểm nhất không phải là người yếu đuối biết mình yếu, nhưng là người tưởng rằng mình không còn cần được sửa. Chiếc áo dòng, chiếc cổ cồn, chức vụ, kiến thức thần học, khả năng giảng thuyết – tất cả đều có thể trở thành một “vương miện” nếu ta không đặt chúng dưới chân Thánh Giá.
Đưa Thánh Giá trở về đời sống cũng có nghĩa là trả lại cho đức tin sự nghiêm túc của nó. Kitô giáo không phải chỉ là những lời dễ nghe. Đức Giêsu yêu người phụ nữ ngoại tình nhưng Người cũng nói: “Hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa.” Người thương người thanh niên giàu có nhưng không hạ tiêu chuẩn để giữ anh lại. Người nói với anh: “Hãy bán những gì anh có, cho người nghèo, rồi hãy đến theo tôi.” Anh buồn rầu bỏ đi. Đức Giêsu để anh đi. Tình yêu của Thiên Chúa không phải là một tình yêu chiều chuộng mọi lựa chọn. Tình yêu ấy cứu chúng ta bằng cách kéo chúng ta ra khỏi cái chết. Và có những cái chết trong ta phải được đặt lên Thánh Giá: một mối thù lâu năm, một thói quen tội lỗi, một lòng tham âm thầm, một sự dối trá đã trở thành lối sống, một mối quan hệ không ngay chính, một lối sống hai mặt, một cái tôi không chịu ai chạm tới. Chúng ta có thể cầu xin rất nhiều ơn, nhưng đôi khi điều Chúa muốn ban trước tiên lại là ơn can đảm để cắt bỏ điều đang giết linh hồn mình.
Ngày Heraclius lấy lại Thánh Giá từ tay người Ba Tư, nếu nhìn bằng mắt chính trị, đó là chiến thắng của một hoàng đế. Nhưng dưới ánh sáng Tin Mừng, ta có thể đọc khác: Thánh Giá chẳng bao giờ thuộc về bất cứ đế quốc nào. Người Ba Tư không thực sự sở hữu nó khi mang đi, Byzantine cũng không sở hữu nó khi lấy lại. Thánh Giá thuộc về Đức Kitô. Và Đức Kitô không cho phép bất kỳ quyền lực nào biến Thánh Giá thành biểu tượng để tự tôn mình. Bao lần lịch sử Kitô giáo đau đớn vì người ta đã dùng dấu Thánh Giá nhưng hành xử ngược với tinh thần Thánh Giá! Bao lần người ta nhân danh Chúa để nuôi hận thù, nhân danh sự thật để làm nhục người khác, nhân danh bảo vệ đạo để quên mất đức ái! Một người có thể cầm Thánh Giá trong tay mà lòng rất xa Đấng chịu đóng đinh. Vì thế, câu hỏi quan trọng không phải là: “Tôi có Thánh Giá hay không?” mà là: “Tôi có tâm tình của Đức Kitô chịu đóng đinh hay không?”
Thánh Phaolô viết một câu thật dữ dội: “Phần tôi, ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài Thập Giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6,14). Thánh nhân không hãnh diện vì đau khổ tự nó. Ngài hãnh diện vì trên Thánh Giá, tình yêu đã thắng. Thánh Giá là nơi cho thấy điều gì xảy ra khi Thiên Chúa yêu con người đến cùng. Người không quay lưng khi bị phản bội. Người không ngừng yêu khi bị đóng đinh. Người không trả đũa khi bị chế nhạo. Người không dùng quyền năng để nghiền nát kẻ thù. Người chiến thắng bằng cách yêu cho đến hết. Đây là cuộc cách mạng Kitô giáo sâu nhất. Từ đó, người Kitô hữu không còn hỏi: “Làm sao tôi thắng người này?” mà phải hỏi: “Làm sao tình yêu của Đức Kitô thắng trong tôi?” Không hỏi: “Làm sao tôi chứng minh mình đúng?” nhưng hỏi: “Làm sao sự thật và lòng bác ái cùng được gìn giữ?” Không hỏi: “Ai phải xin lỗi trước?” mà hỏi: “Nếu Đức Kitô ở vị trí của tôi, Người sẽ làm gì?”
Ta nhớ đến cảnh Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly. Người biết Giuđa sắp phản bội. Người biết Phêrô sẽ chối mình. Người biết các môn đệ sẽ bỏ chạy. Vậy mà Người đứng dậy, cởi áo ngoài, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu rồi cúi xuống rửa chân cho họ. Thiên Chúa quỳ dưới chân con người. Chỉ một hình ảnh ấy cũng đủ làm đảo lộn mọi quan niệm của ta về quyền lực. Heraclius muốn bước vào Giêrusalem với tư thế của hoàng đế. Đức Kitô bước vào Giêrusalem trên lưng một con lừa. Heraclius có vương miện vàng. Đức Kitô đội mão gai. Heraclius có quân đội. Đức Kitô có mười hai môn đệ, đến lúc nguy nan thì phần lớn bỏ chạy. Heraclius cầm chiến lợi phẩm của chiến thắng. Đức Kitô vác chính khí cụ hành hình của mình. Và ai thực sự là Vua? Lịch sử đã trả lời. Các đế quốc đến rồi đi. Những ngai vàng trở thành cổ vật. Những cung điện thành phế tích. Những đạo quân từng làm thế giới run sợ trở thành vài dòng trong sách sử. Nhưng một Người bị đóng đinh ngoài thành Giêrusalem hơn hai ngàn năm trước vẫn khiến hàng tỷ con người hôm nay quỳ xuống.
Đó là sự nghịch lý của Thánh Giá. Con người tưởng rằng sức mạnh nằm ở chỗ không bao giờ chịu thua. Đức Kitô cho thấy sức mạnh có khi nằm ở khả năng không trả đũa. Con người tưởng tự do là làm bất cứ điều gì mình muốn. Đức Kitô cho thấy tự do lớn nhất là có thể cho đi chính mình. Con người tưởng giữ lấy mình là cách tồn tại. Đức Kitô nói: hạt lúa phải rơi xuống đất và chết đi thì mới sinh nhiều bông hạt. Con người tưởng được phục vụ là dấu hiệu của địa vị. Đức Kitô quỳ xuống rửa chân. Con người tưởng vua phải đứng cao. Đức Kitô làm Vua từ Thánh Giá. Bảng án phía trên đầu Người viết: “Giêsu Nazareth, Vua dân Do Thái.” Philatô viết để chế giễu hoặc để xác định tội danh; nhưng Tin Mừng Gioan dường như muốn chúng ta nhìn thấy một sự thật lớn hơn: đúng, Người là Vua. Ngai của Người là Thánh Giá. Vương miện của Người là mão gai. Áo hoàng bào của Người đã bị quân lính chia nhau. Triều đình của Người gồm Đức Maria, người môn đệ yêu dấu và vài phụ nữ đứng khóc. Nhưng từ ngai ấy Người đã mở một vương quốc không bao giờ cùng tận.
Vì thế, người đứng trước Thánh Giá không thể giữ mãi sự kiêu căng. Ta có thể giữ nó một lúc, nhưng nếu nhìn lâu vào Chúa chịu đóng đinh, một ngày nào đó lòng ta sẽ phải mềm lại. Nhìn đôi tay bị đóng đinh ấy rồi ta còn nắm chặt hận thù đến bao giờ? Nhìn cạnh sườn bị đâm thâu ấy rồi ta còn đóng kín trái tim với người khác đến bao giờ? Nhìn Người tha cho kẻ giết mình rồi ta còn tuyên bố “tôi không bao giờ tha” đến bao giờ? Nhìn Người trần trụi rồi ta còn quá bám vào những thứ chóng qua đến bao giờ? Nhìn Người thưa “Con khát” rồi ta còn vô cảm trước cơn khát của người nghèo đến bao giờ? Nhìn Người trao Mẹ cho môn đệ rồi ta còn sống đức tin mà không có trách nhiệm với anh chị em đến bao giờ?
Mỗi người đều có một “Ba Tư” nào đó đã lấy mất Thánh Giá khỏi đời mình. Với người này là thành công. Thành công không xấu, nhưng thành công có thể khiến người ta nghĩ mình không cần Chúa nữa. Với người khác là tiền bạc. Tiền không xấu, nhưng khi tiền trở thành nơi đặt niềm tin tuyệt đối, nó lấy Thánh Giá khỏi trung tâm. Với người khác là tổn thương. Có những vết thương lớn đến mức người ta để chúng định nghĩa toàn bộ đời mình. Từ người bị tổn thương, họ dần trở thành người làm tổn thương người khác. Với người khác là tội lỗi. Một tội được lặp đi lặp lại đủ lâu có thể khiến lương tâm chai cứng. Ban đầu còn ray rứt, sau tìm lý do biện hộ, cuối cùng gọi bóng tối là ánh sáng. Với người khác nữa là đạo đức hình thức. Người ta giữ nhiều việc đạo nhưng không còn gặp Chúa. Cầu nguyện trở thành thói quen, Thánh lễ thành nghĩa vụ, việc bác ái thành hình ảnh. Khi đó, Thánh Giá cần được lấy lại.
Nhưng lấy lại Thánh Giá không phải bằng một trận chiến với người khác. Cuộc chiến quan trọng nhất là chiến đấu với chính mình. Có khi chúng ta rất mạnh mẽ trong việc sửa người khác nhưng lại rất yếu đuối trong việc sửa mình. Nhìn thấy một lỗi nơi người khác thì rõ lắm, nhìn lỗi mình thì mờ. Nhớ điều người khác làm mình đau cách đây mười năm nhưng quên điều mình đã làm họ đau hôm qua. Đó là lý do Đức Giêsu nói về cái xà trong mắt mình trước khi nói tới cái rác trong mắt anh em. Thánh Giá dựng lên một tấm gương không cho ta trốn. Khi nhìn Chúa chịu đóng đinh, ta không thể chỉ nhìn tội của Giuđa, của các thượng tế, của Philatô, của đám đông. Ta phải nhận rằng trong ta có chút Giuđa khi đặt lợi ích lên trên tình nghĩa; có chút Phêrô khi sợ hãi mà chối Chúa; có chút Philatô khi biết điều đúng nhưng không dám làm; có chút đám đông khi dễ bị lôi cuốn bởi dư luận; có chút người lính khi vô tình làm đau người khác chỉ vì “ai cũng làm vậy”. Và điều kỳ diệu là Đức Kitô biết hết những điều ấy mà vẫn dang tay trên Thánh Giá.
Thánh Giá vì vậy không phải trước hết là bản án dành cho ta. Thánh Giá là bằng chứng rằng ta được yêu ngay cả khi không xứng đáng. Nếu muốn biết mình đáng giá bao nhiêu trước mặt Thiên Chúa, đừng nhìn tài khoản ngân hàng, bằng cấp, chức vụ, số người biết đến mình. Hãy nhìn Thánh Giá. Đó là “giá” Thiên Chúa đã sẵn lòng trả vì tình yêu dành cho con người. Một người tội lỗi nhìn Thánh Giá không cần tuyệt vọng. Phêrô đã chối Chúa ba lần nhưng được phục hồi. Người trộm lành cả đời lầm lỗi nhưng trong giây phút cuối quay sang nói: “Lạy ông Giêsu, khi vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi”, và nghe câu trả lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Không có quá khứ nào mạnh hơn lòng thương xót nếu con người thật sự quay về. Không có đêm nào đen đến mức ánh sáng Phục Sinh không thể đi vào. Không có cây Thánh Giá nào mà Thiên Chúa không thể biến thành con đường đưa đến sự sống.
Nhưng xin đừng hiểu điều đó một cách dễ dãi. Ơn tha thứ không rẻ. Chúng ta được tha không phải vì tội lỗi nhỏ, nhưng vì tình yêu của Chúa lớn. Thánh Giá cho ta thấy tội nghiêm trọng đến mức nào và tình yêu lớn đến mức nào. Nếu tội không nghiêm trọng, Golgotha trở thành thừa. Nếu tình yêu không lớn, Golgotha không thể xảy ra. Trên Thánh Giá, hai sự thật gặp nhau: con người thực sự cần được cứu và Thiên Chúa thực sự muốn cứu con người đến cùng.
Có lẽ ngày nay chúng ta cần trở lại trước Thánh Giá hơn bao giờ hết. Thời đại chúng ta rất thích thể hiện. Người ta có thể dành nhiều giờ để xây dựng hình ảnh của mình trước người khác. Ai cũng muốn được nhìn thấy, được công nhận, được nghe. Mạng xã hội làm nhu cầu ấy mạnh hơn. Một việc tốt cũng có thể nhanh chóng biến thành một nội dung. Một hy sinh có thể trở thành câu chuyện để người ta khen. Một thành tựu có thể trở thành lý do để ta nhìn người khác từ trên xuống. Nhưng Thánh Giá thì hoàn toàn ngược lại. Đức Giêsu bị treo giữa trời và đất, chẳng còn gì để giữ lấy. Người nghèo đến mức ngay cả áo cũng không còn. Đó là sự trần trụi của tình yêu: không khoe, không đòi đáp trả, không tính toán. Trước một tình yêu như thế, những chiếc vương miện nhỏ bé mà chúng ta tranh nhau bỗng thật buồn cười.
Và rồi một ngày tất cả chúng ta cũng phải đặt vương miện xuống. Dù hôm nay là ai, có chức gì, có bao nhiêu tiền, có bao nhiêu người kính trọng, một ngày chúng ta cũng nằm yên để người khác làm dấu Thánh Giá trên thân xác mình. Người ta có thể đặt vài vòng hoa quanh quan tài. Có thể đọc một bản tiểu sử đẹp. Có thể kể những thành tựu. Nhưng khi nắp quan tài khép lại, câu hỏi còn lại không phải là ta đã được bao nhiêu người vỗ tay. Câu hỏi là: ta đã yêu chưa? Ta đã tha thứ chưa? Ta đã làm cho đời ai nhẹ hơn chưa? Ta đã có Chúa trong lòng chưa? Ta đã mang Thánh Giá của mình thế nào?
Heraclius đã giành lại Thánh Giá từ một đế quốc. Còn chúng ta có lẽ phải giành lại Thánh Giá từ chính những điều đã âm thầm chiếm lấy trái tim mình. Và có khi trận chiến ấy kéo dài suốt đời. Mỗi sáng phải giành lại. Khi thức dậy mà mệt mỏi, giành lại bằng một lời dâng ngày. Khi bị xúc phạm, giành lại bằng cách không trả đũa ngay. Khi bị cám dỗ, giành lại bằng việc chạy đến với Chúa. Khi thành công, giành lại bằng cách nhớ tất cả là ơn. Khi thất bại, giành lại bằng niềm tin rằng giá trị đời mình không nằm trong thành công. Khi bệnh tật, giành lại bằng việc đặt nỗi sợ trong tay Chúa. Khi tuổi già đến, giành lại bằng cách học buông từng thứ một. Và khi cái chết đến, lần cuối cùng ta đặt chiếc vương miện của sự sống trần gian xuống để bước qua ngưỡng cửa đời đời với hai bàn tay trắng.
Điều đẹp nhất trong hình ảnh Heraclius không phải là lúc ông cưỡi ngựa chiến thắng. Điều đẹp nhất là lúc ông phải hạ mình. Chúng ta cũng vậy. Điều đẹp nhất trong đời không hẳn là ngày chúng ta được nâng lên, nhưng có khi là ngày chúng ta biết cúi xuống. Không phải ngày người ta biết mình là ai, nhưng là ngày mình biết mình là ai trước mặt Chúa. Không phải ngày mình chiến thắng đối thủ, nhưng là ngày mình chiến thắng được lòng kiêu ngạo. Không phải ngày người khác xin lỗi mình, nhưng là ngày mình có thể chân thành nói: “Tôi xin lỗi.” Không phải ngày mình chứng minh người kia sai, nhưng là ngày tình yêu trong mình đủ lớn để không cần chiến thắng họ nữa.
Xin Thánh Giá Đức Kitô trở về với từng gia đình chúng ta. Không chỉ trở về trên bàn thờ, mà trở về giữa cách vợ chồng nói với nhau, giữa cách cha mẹ đối xử với con cái, giữa cách con cái chăm sóc cha mẹ già. Xin Thánh Giá trở về với cộng đoàn chúng ta, để phục vụ không còn là tranh giành, để chức vụ không còn là vương miện, để người đứng đầu biết cúi xuống và người ở dưới biết cộng tác trong yêu thương. Xin Thánh Giá trở về với đời sống linh mục và tu sĩ, để chúng ta không rao giảng một Đức Kitô mà chính đời mình không muốn mang lấy lối sống của Người. Xin Thánh Giá trở về với những người đang khổ đau, không phải như một lời giải thích dễ dàng nhưng như sự hiện diện của Đấng đã chịu đau cùng họ. Xin Thánh Giá trở về với người tội lỗi để họ không tuyệt vọng. Xin Thánh Giá trở về với người thành công để họ không kiêu căng. Xin Thánh Giá trở về với người thất bại để họ không mất hy vọng.
Và nếu một ngày chúng ta thấy Thánh Giá quá nặng, hãy nhớ cảnh Đức Giêsu ngã xuống trên đường lên Golgotha. Người cũng đã cần Simon thành Kyrênê ghé vai vác đỡ. Kitô giáo không dạy ta phải mạnh một mình. Có lúc cần để người khác giúp. Có lúc cần nói rằng mình đang mệt. Có lúc cần đi xưng tội. Có lúc cần tìm một người khôn ngoan để tâm sự. Có lúc cần khóc. Có lúc cần dừng lại trước Nhà Tạm và chẳng nói được gì ngoài câu: “Lạy Chúa, con không chịu nổi nữa.” Một lời cầu nguyện như thế có khi thật hơn cả trăm lời hoa mỹ. Chúa không đòi ta phải giả vờ mạnh trước mặt Người. Người chỉ xin ta đừng bỏ tay Người.
Sau cùng, Thánh Giá không kết thúc ở Thứ Sáu Tuần Thánh. Nếu chỉ có Golgotha mà không có sáng Phục Sinh, Kitô giáo sẽ là một bi kịch. Nhưng ngôi mộ đã trống. Người bị đóng đinh đã sống lại. Chính vì thế người Kitô hữu có thể hôn Thánh Giá. Chúng ta không hôn đau khổ; chúng ta hôn tình yêu đã đi xuyên qua đau khổ và chiến thắng. Chúng ta không thờ một cây gỗ; chúng ta thờ Đấng đã dùng cây gỗ ấy làm ngai của tình yêu. Chúng ta không tôn vinh cái chết; chúng ta tuyên xưng rằng từ cái chết ấy sự sống đã bật lên.
Năm 629, Heraclius có thể đã nghĩ rằng mình đưa Thánh Giá trở lại với dân Kitô giáo. Nhưng nhìn bằng đức tin, có lẽ chính Thánh Giá đang đưa Heraclius trở về với điều cốt yếu: một vị vua cũng chỉ là một con người trước mặt Thiên Chúa. Một hoàng đế rồi cũng phải cúi mình. Một vương miện rồi cũng phải tháo xuống. Một chiến thắng rồi cũng qua đi. Chỉ có tình yêu của Đấng chịu đóng đinh là còn mãi.
Và đó là lời cuối cùng Thánh Giá muốn nói với mỗi chúng ta: đừng sợ cúi xuống, vì Đức Kitô đã cúi xuống trước. Đừng sợ mất, vì Người đã mất tất cả và đã nhận lại sự sống trong vinh quang. Đừng sợ tha thứ, vì Người đã tha trước. Đừng sợ yêu mà không được đáp lại, vì Người đã yêu như thế. Đừng sợ mang Thánh Giá, miễn là mang với Người.
Có thể ta chẳng bao giờ như Heraclius đưa một thánh tích qua cổng Giêrusalem. Nhưng mỗi ngày ta đều đứng trước một cánh cổng khác: cánh cổng của tình yêu. Và để bước qua, có những thứ phải bỏ xuống. Một chút kiêu ngạo. Một chút tự ái. Một chút cố chấp. Một chút tham vọng. Một mối hận. Một lời chưa chịu xin lỗi. Một người chưa chịu tha thứ. Một tội chưa dám từ bỏ.
Hãy đặt chiếc vương miện ấy xuống.
Rồi hãy ôm lấy Thánh Giá.
Và bước đi.
Bởi cuối con đường Thánh Giá không phải là mồ tối.
Cuối con đường ấy là bình minh Phục Sinh.
Lm. Anmai, CSsR

LỊCH SỬ LỄ SUY TÔN THÁNH GIÁ 14/9 TRONG PHỤNG VỤ ĐÔNG VÀ TÂY
Có những ngày lễ trong đời sống Giáo Hội khởi đi từ một biến cố lịch sử rồi dần dần dẫn người tín hữu đi sâu vào một mầu nhiệm. Cũng có những ngày lễ mà càng lần giở lịch sử, người ta càng nhận ra lịch sử chỉ là cánh cửa, còn điều Giáo Hội thực sự muốn chúng ta bước vào chính là mầu nhiệm cứu độ. Lễ Suy Tôn Thánh Giá ngày 14 tháng 9 thuộc về những ngày lễ như thế. Nếu chỉ nhìn bên ngoài, người ta có thể tưởng đây là ngày kỷ niệm một di tích thánh, một ngày tưởng nhớ việc tìm được cây Thánh Giá, một ngày liên hệ đến những cuộc chiến tranh xa xưa giữa đế quốc Byzantine và Ba Tư, hoặc là ngày nhắc lại việc một phần thánh tích Thánh Giá được long trọng đưa trở về Giêrusalem. Nhưng phụng vụ không dừng lại ở những mảnh gỗ, những hoàng đế, những đoàn rước hay những vương cung thánh đường. Giáo Hội không cử hành ngày 14 tháng 9 để làm sống lại một viện bảo tàng của quá khứ. Giáo Hội nâng Thánh Giá lên bởi vì trên Thánh Giá ấy Đức Kitô đã được nâng lên. Giáo Hội cúi mình trước Thánh Giá bởi vì nơi đó Con Thiên Chúa đã hạ mình xuống tận cùng. Giáo Hội hát mừng Thánh Giá bởi vì cái cây từng là dụng cụ hành hình đã trở thành cây sự sống; nơi người đời nhìn thấy thất bại, Thiên Chúa làm phát sinh chiến thắng; nơi thế gian thấy nhục nhã, đức tin nhận ra vinh quang; nơi con người tưởng rằng sự chết đã nói lời cuối cùng, Thiên Chúa lại viết những dòng đầu tiên của một tạo thành mới. Vì thế, muốn hiểu Lễ Suy Tôn Thánh Giá, phải đi từ lịch sử đến phụng vụ, từ phụng vụ đến Tin Mừng, từ Tin Mừng đến chính cuộc đời mỗi người. Và rồi sau cùng phải trở về với một câu hỏi rất đơn sơ nhưng không dễ trả lời: tôi có thực sự tin rằng con đường đi qua Thánh Giá có thể dẫn tới sự sống hay không?
Nguồn gốc xa xưa của lễ ngày 14 tháng 9 gắn chặt với Giêrusalem, nơi Đức Giêsu chịu đóng đinh, chịu mai táng và phục sinh. Sau thời kỳ Kitô hữu bị bách hại, thế kỷ IV mở ra một hoàn cảnh hoàn toàn mới. Hoàng đế Constantine dành cho Kitô giáo quyền tự do và cho xây dựng tại Giêrusalem một quần thể thánh đường nguy nga trên những địa điểm được truyền thống Kitô giáo kính nhớ là nơi Chúa chịu chết và sống lại. Trong truyền thống lâu đời của Giáo Hội, thánh Hêlêna, thân mẫu hoàng đế Constantine, được liên kết với việc tìm thấy Thánh Giá thật tại Giêrusalem. Quần thể thánh đường Constantine tại khu vực Golgotha và Mộ Thánh được hoàn thành và long trọng cung hiến vào thế kỷ IV; truyền thống phụng vụ Giêrusalem gắn ngày 14 tháng 9 với việc tôn kính Thánh Giá tại nơi này. Từ Giêrusalem, việc cử hành dần lan rộng sang các Giáo Hội Đông phương. Các nguồn lịch sử phụng vụ cho thấy ngày 14 tháng 9 ban đầu mang đậm dấu ấn của Giêrusalem và những nơi có thánh tích Thánh Giá, rồi dần trở thành lễ chung rộng khắp Đông phương, mang tên “Nâng cao”, “Tôn vinh” hay “Suy tôn” Thánh Giá. Điều rất đẹp là ngay từ lúc hình thành, ngày lễ đã nối kết hai điều không thể tách rời: nơi thánh và mầu nhiệm thánh. Người ta đến Giêrusalem không phải chỉ để nhìn một cây gỗ; người ta đến để nhớ Đấng đã chết trên cây gỗ ấy. Người ta tôn kính thánh tích không phải vì gỗ có quyền năng tự nó, nhưng vì cây gỗ ấy đưa tâm hồn trở về với tình yêu của Đức Kitô. Nếu tách Thánh Giá khỏi Đức Kitô, Kitô giáo chỉ còn một biểu tượng buồn bã. Nếu nhìn Thánh Giá cùng với Đức Kitô, ta hiểu tại sao một dụng cụ tử hình lại có thể trở thành dấu hiệu hy vọng của hàng tỷ con người. Có lẽ đây cũng là điều con người thời nay phải học lại. Chúng ta đeo Thánh Giá trên cổ, đặt Thánh Giá trong nhà, dựng Thánh Giá trên nóc nhà thờ, làm dấu Thánh Giá trước khi cầu nguyện, nhưng rất có thể lại tìm mọi cách loại bỏ thập giá khỏi đời mình. Ta thích biểu tượng Thánh Giá nhưng sợ nội dung của Thánh Giá. Ta muốn một Đức Kitô ban ơn nhưng không muốn một Đức Kitô mời gọi từ bỏ. Ta muốn Phục Sinh nhưng không muốn chiều Thứ Sáu Tuần Thánh. Ta muốn vinh quang nhưng không muốn yêu cho đến đau. Bởi đó, Lễ Suy Tôn Thánh Giá không đơn giản là ngày nhìn lên một cây Thánh Giá, nhưng là ngày để xét lại xem Thánh Giá của Chúa đã thực sự bước vào cách sống của ta hay chưa.
Trong truyền thống Đông phương, Lễ Suy Tôn Thánh Giá ngày 14 tháng 9 mang một tầm quan trọng đặc biệt và được xếp trong số những đại lễ của năm phụng vụ Byzantine. Chính tên gọi Đông phương đã diễn tả rất rõ hành vi phụng vụ: Thánh Giá được “nâng lên”. Nhưng việc nâng cao cây Thánh Giá trước mắt cộng đoàn không có nghĩa là Giáo Hội tôn thờ vật chất. Cử chỉ ấy tuyên xưng rằng chính Đức Kitô chịu đóng đinh là Chúa, và Thánh Giá là ngai của vị Vua đã chiến thắng bằng tình yêu. Trong truyền thống Byzantine, lễ này còn mang một nét khổ chế rất mạnh: đây là một ngày ăn chay nghiêm nhặt, dù lễ rơi vào ngày nào trong tuần. Điều đó nghe có vẻ lạ: đã gọi là lễ lớn, tại sao lại ăn chay? Nhưng chính ở đây ta thấy linh đạo Đông phương hết sức sâu sắc. Không thể hát về chiến thắng của Thánh Giá mà quên cái giá của chiến thắng ấy. Không thể tung hô cây sự sống mà quên rằng trên đó một thân thể đã bị đóng đinh. Không thể mừng vinh quang mà xóa mất thương tích. Kitô giáo không tô son cho đau khổ. Kitô giáo nhìn thẳng vào đau khổ và tuyên bố rằng tình yêu của Thiên Chúa còn sâu hơn đau khổ. Trong các cử hành Đông phương, Thánh Giá được long trọng đưa ra giữa cộng đoàn, được nâng lên và được tín hữu phủ phục tôn kính. Những lời kinh liên tục nối Thánh Giá với sự sống, chiến thắng, lòng thương xót và ơn cứu độ. Chính sự phủ phục trước Thánh Giá lại chứa một nghịch lý tuyệt đẹp: con người cúi xuống trước Đấng đã tự hạ, để rồi được Người nâng lên. Ta hạ mình trước Thánh Giá không phải để sống mãi trong mặc cảm tội lỗi, nhưng để niềm kiêu căng chết đi; và khi kiêu căng chết, con người mới bắt đầu thật sự sống. Đông phương đã giữ ngày 14 tháng 9 một cách bền vững và xem lễ Suy Tôn Thánh Giá là một điểm sáng lớn trong chu kỳ phụng vụ. Cho đến hôm nay, ngày 14 tháng 9 vẫn được các Giáo Hội Chính Thống cử hành như Lễ Suy Tôn Thánh Giá.
Rồi lịch sử bước sang một khúc quanh đau đớn. Đầu thế kỷ VII, quân Ba Tư chiếm Giêrusalem, và thánh tích Thánh Giá bị mang đi. Đối với Kitô hữu lúc ấy, đây không chỉ là sự mất mát của một báu vật quý giá. Giêrusalem, Mộ Thánh và Thánh Giá đã trở thành những dấu chỉ hữu hình gắn liền với ký ức về cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa. Vì thế, khi thánh tích bị lấy đi, nỗi đau lan rộng trong thế giới Kitô giáo. Sau những cuộc chiến dữ dội, hoàng đế Byzantine Heraclius đánh bại người Ba Tư và thánh tích Thánh Giá được thu hồi. Truyền thống Kitô giáo nhớ cách đặc biệt việc Thánh Giá được đưa trở lại Giêrusalem vào thế kỷ VII. Các nguồn lịch sử phụng vụ cho thấy biến cố thu hồi Thánh Giá dưới thời Heraclius đã tạo một tiếng vang rất lớn, đặc biệt trong lịch sử phát triển của các lễ kính Thánh Giá tại Tây phương, trong khi Đông phương vốn đã có lễ ngày 14 tháng 9 từ trước. Chung quanh biến cố Heraclius còn xuất hiện một truyền thống đạo đức rất đẹp: hoàng đế, mặc vương phục huy hoàng, muốn mang Thánh Giá bước lên đồi Calvê nhưng không thể tiến bước; chỉ khi ông cởi bỏ phẩm phục hoàng đế, mặc lấy dáng vẻ khiêm hạ, ông mới có thể mang Thánh Giá tiến lên. Dù những chi tiết này thuộc bình diện truyền thống đạo đức hơn là điều chúng ta có thể xác quyết từng nét như một biên bản lịch sử hiện đại, thông điệp của câu chuyện thì thật đáng suy nghĩ: không ai có thể thật sự mang Thánh Giá của Đức Kitô với chiếc áo của kiêu ngạo. Có những thứ ta phải cởi ra trước khi đi theo Chúa: danh dự quá lớn về chính mình, lòng tự ái, tham vọng được nhìn nhận, nhu cầu luôn đúng, ham muốn đứng trên người khác, sự cay cú vì không được đối xử như ý. Thánh Giá không vừa với con người phình to bởi cái tôi. Muốn đi dưới bóng Thánh Giá, ta phải nhỏ lại. Heraclius dù là hoàng đế cũng phải bước xuống khỏi ngai của mình; còn ta nhiều khi chẳng có ngai nào mà lại cứ sống như một ông vua bị xúc phạm mỗi khi người khác không chiều ý. Có người mang Thánh Giá bằng vàng trên ngực nhưng trong lòng không chịu nổi một câu phê bình. Có người quỳ hàng giờ trước tượng Chúa chịu nạn nhưng cả tháng không chịu nói chuyện với người thân vì tự ái. Có người hôn chân Chúa vào Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng không chịu cúi xuống xin lỗi vợ, chồng, cha mẹ, con cái, anh em mình. Nếu như thế, ta mới hôn cây Thánh Giá chứ chưa hôn mầu nhiệm Thánh Giá.
Tại Tây phương, lịch sử các lễ kính Thánh Giá có một quá trình riêng. Trong nhiều thế kỷ, phụng vụ Latinh từng biết đến cả lễ kính việc tìm thấy Thánh Giá vào ngày 3 tháng 5 và lễ Suy Tôn Thánh Giá ngày 14 tháng 9. Những truyền thống, niên lịch và cách diễn giải lịch sử không phải lúc nào cũng phát triển giống nhau ở Đông và Tây. Nhưng điều đáng chú ý là lễ 14 tháng 9, vốn có nguồn gốc rất sâu nơi Giêrusalem và Đông phương, cuối cùng cũng được Tây phương đón nhận và trở thành ngày lễ chung của phụng vụ Rôma. Trong lịch Rôma hiện nay, ngày 14 tháng 9 được cử hành là Lễ Suy Tôn Thánh Giá. Sự hội tụ giữa Đông và Tây trong ngày này mang một ý nghĩa đẹp hơn nhiều tranh luận về niên đại. Kitô giáo Đông phương và Tây phương đã trải qua biết bao thăng trầm, khác biệt văn hóa, thần học, kỷ luật và lịch sử, thậm chí những chia rẽ đau lòng; nhưng khi đứng trước Thánh Giá, cả Đông lẫn Tây đều phải im lặng. Không có cây Thánh Giá Đông phương và cây Thánh Giá Tây phương. Chỉ có một Đức Kitô đã chịu đóng đinh. Máu từ tay Người không chảy về một phía. Cạnh sườn Người bị đâm mở ra không dành cho một truyền thống phụng vụ riêng biệt. Hai cánh tay Người dang ra đủ rộng để ôm cả Đông lẫn Tây, cả người công chính lẫn tội nhân, cả người gần lẫn người xa. Có lẽ chính vì thế mà ngày 14 tháng 9 còn có thể được nhìn như một ngày rất thích hợp để cầu nguyện cho sự hiệp nhất Kitô hữu. Bởi càng đến gần Đức Kitô chịu đóng đinh, chúng ta càng khó giữ mãi thái độ kiêu căng đối với nhau. Dưới chân Thánh Giá, chẳng ai có gì để khoe. Phêrô đã chối Thầy. Các môn đệ bỏ chạy. Dân chúng thay đổi từ “Hoan hô” thành “Đóng đinh nó đi”. Những người lãnh đạo tôn giáo tưởng mình bảo vệ Thiên Chúa mà lại đóng đinh Con Thiên Chúa. Người tốt lành nhất cũng chỉ có thể đấm ngực mà nói: “Lạy Chúa, xin thương xót con.” Chính Thánh Giá lột bỏ những lớp áo mà chúng ta dùng để chứng minh mình hơn người khác.
Tin Mừng soi sáng tuyệt vời nhất cho Lễ Suy Tôn Thánh Giá là lời Đức Giêsu nói với ông Nicôđêmô: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ” (x. Ga 3,13-17). Đó chính là chìa khóa mở toàn bộ ý nghĩa ngày lễ. Đức Giêsu không nói Thánh Giá trước hết như một dụng cụ đau khổ; Người nói về việc “được giương cao”. Trong Tin Mừng Gioan, chữ “giương cao” chứa cùng lúc hai chiều kích tưởng như nghịch nhau: Đức Giêsu bị nâng lên khỏi mặt đất để chịu chết, nhưng chính lúc ấy Người cũng được tôn vinh. Người bị hạ nhục, nhưng chính nơi ấy tình yêu Thiên Chúa được mặc khải đến tận cùng. Người bị người ta loại bỏ, nhưng chính từ nơi bị loại bỏ ấy Người kéo mọi người về với Chúa Cha. Đây là nghịch lý Kitô giáo mà người ta không bao giờ có thể hiểu chỉ bằng lý luận. Tại sao thất bại lại là chiến thắng? Tại sao cái chết lại mở đường cho sự sống? Tại sao một người bị treo trần trụi giữa trời lại được Giáo Hội gọi là Vua? Tại sao cây gỗ ô nhục lại được “suy tôn”? Chỉ có một câu trả lời: vì trên cây gỗ đó có Tình Yêu. Không phải đau khổ cứu độ chúng ta; tình yêu trong đau khổ cứu độ chúng ta. Không phải đinh sắt cứu độ nhân loại; bàn tay chấp nhận bị đinh đóng vì yêu mới cứu độ. Không phải máu tự nó cứu độ; Máu của Đấng tự hiến vì yêu mới cứu độ. Nếu Đức Giêsu chết trong hận thù, Thánh Giá chỉ là thảm kịch. Nhưng Người chết trong lời tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Nếu Người chết trong tuyệt vọng, Thánh Giá chỉ là bóng tối. Nhưng Người chết trong tín thác: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Nếu Người chết để nguyền rủa nhân loại, chẳng có Tin Mừng nào cả. Nhưng Người chết vì “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một”. Bởi thế, trung tâm của Thánh Giá không phải là đau đớn mà là tình yêu. Cái đau là hình thức bên ngoài; tình yêu mới là linh hồn của Thánh Giá.
Cũng phải nói rằng qua nhiều thế kỷ, Kitô hữu đôi khi dễ hiểu Thánh Giá theo một cách thiếu quân bình. Có người nghĩ càng khổ càng thánh, càng đau càng đẹp lòng Chúa. Không phải thế. Đức Giêsu không đi tìm đau khổ vì đau khổ. Người chữa người bệnh, cho người đói ăn, cho người mù thấy, giải thoát người bị quỷ ám, cho người chết sống lại. Người khóc trước mồ Ladarô. Người không ca ngợi cái ác. Thánh Giá xảy đến vì Người trung thành với tình yêu đến cùng giữa một thế giới có thể giết chết tình yêu. Vì thế, “vác thập giá” không có nghĩa là thụ động chịu mọi điều xấu người khác áp đặt. Một người vợ bị bạo hành không được bảo rằng cứ im lặng vì đó là thập giá. Một đứa trẻ bị tổn thương không được dạy rằng chịu đựng bất công là đẹp lòng Chúa. Một người bị bóc lột không phải cứ để người khác bóc lột rồi gọi đó là hy sinh. Thánh Giá của Đức Kitô không bao giờ là giấy phép cho kẻ mạnh hành hạ kẻ yếu. Thánh Giá trước hết vạch trần tội lỗi, bạo lực và sự tàn nhẫn của con người, đồng thời cho thấy Thiên Chúa đáp lại chúng không bằng một thứ bạo lực lớn hơn mà bằng tình yêu mạnh hơn. Vì thế, có những lúc mang Thánh Giá là nhẫn nhịn, nhưng cũng có lúc mang Thánh Giá là can đảm nói sự thật. Có lúc mang Thánh Giá là im lặng, có lúc lại phải lên tiếng. Có lúc là ở lại, có lúc phải bước ra khỏi một hoàn cảnh hủy hoại phẩm giá con người. Điều quyết định không phải tôi đau bao nhiêu, nhưng tôi có yêu như Đức Kitô hay không; tôi có sống trong sự thật hay không; tôi có để đau khổ biến mình thành một con người cay độc, hay để ân sủng biến chính vết thương thành nơi lòng thương xót có thể đi qua hay không.
Lễ Suy Tôn Thánh Giá còn làm chúng ta nhớ rằng Thánh Giá đã trải qua một cuộc đảo ngược ý nghĩa kỳ lạ nhất trong lịch sử nhân loại. Đối với người Rôma, thập giá là hình phạt nhục nhã. Nó được dành cho những người bị coi là thấp hèn, phản loạn, tội phạm. Một công dân Rôma có địa vị thường không phải chịu thứ hình phạt ấy. Thế mà hôm nay Thánh Giá đứng trên đỉnh những ngôi thánh đường đẹp nhất thế giới. Thánh Giá được đặt trên bàn thờ. Thánh Giá được mang đi đầu các cuộc rước. Các giám mục, linh mục, tu sĩ và tín hữu mang Thánh Giá trên người. Cha mẹ làm dấu Thánh Giá trên trán con trước khi chúng đi xa. Người hấp hối nắm Thánh Giá trong tay. Người ta đặt Thánh Giá trên mộ. Một dụng cụ chết chóc trở thành lời tuyên xưng sự sống. Nhưng ta phải rất cẩn thận: khi Thánh Giá trở nên quá quen thuộc, ta có nguy cơ quên sự dữ dội của nó. Một cây Thánh Giá bằng vàng, được chế tác tinh xảo, đôi khi khiến ta quên cây Thánh Giá ban đầu thô ráp đến mức nào. Chúa Giêsu đã không chết giữa hương trầm và tiếng đại phong cầm. Người chết giữa tiếng chế nhạo, mùi máu, mồ hôi, bụi đất, sự cô đơn và nỗi đau. Không có hào quang hữu hình nào vào lúc đó. Chính vì vậy, mỗi lần nhìn Thánh Giá, chúng ta đừng nhìn quá nhanh. Hãy nhìn lâu hơn một chút. Nhìn đôi tay ấy và nhớ rằng có lần ta dùng tay làm tổn thương người khác. Nhìn đôi chân ấy và nhớ có lần ta bước đi trên con đường không nên bước. Nhìn miệng Chúa và nhớ lời tha thứ của Người, rồi nhớ những câu ta đã nói làm người khác đau. Nhìn cạnh sườn bị mở ra và hỏi lòng mình đã mở ra cho ai chưa. Nhìn đầu đội mão gai và hỏi ta có đang làm ai phải đội những vòng gai do tính khí, sự vô tâm hay ích kỷ của mình không.
Điều làm Lễ Suy Tôn Thánh Giá đặc biệt còn nằm ở chữ “suy tôn”. Chúng ta suy tôn điều mà thế gian muốn loại bỏ. Thế gian suy tôn sức mạnh; Giáo Hội suy tôn Đấng chịu đóng đinh. Thế gian suy tôn người chiến thắng bằng cách đè bẹp đối thủ; Giáo Hội nhìn lên Đấng chiến thắng bằng cách tha thứ cho kẻ giết mình. Thế gian suy tôn quyền lực tích lũy; Đức Kitô biểu lộ quyền năng bằng cách tự hiến. Thế gian nói: giữ lấy mình. Đức Kitô nói: ai mất mạng sống mình vì Thầy sẽ tìm thấy. Thế gian bảo rằng phải làm cho người khác sợ mình; Đức Giêsu làm cho người khác dám đến gần mình. Người phong cùi dám đến. Người phụ nữ tội lỗi dám đến. Người thu thuế dám đến. Kẻ trộm bị đóng đinh bên cạnh cũng dám nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Một vị vua lạ lùng: ngai là cây gỗ; triều thiên là mão gai; áo choàng đã bị quân lính lột mất; thần dân đứng dưới chân phần lớn là những người chế nhạo; sắc chỉ cuối cùng lại là lời tha thứ. Và chính vị Vua ấy đã thay đổi thế giới.
Ngày 14 tháng 9 vì thế không phải là lễ của những người thích đau khổ. Đây là lễ của những người tin rằng tình yêu có thể biến đổi đau khổ. Đây không phải là ngày ca tụng cái chết, nhưng là ngày tuyên bố cái chết không còn có quyền lực tuyệt đối. Không phải lễ của thất bại, nhưng là lễ nói rằng có những thất bại trước mắt người đời lại là chiến thắng trước mặt Thiên Chúa. Người mẹ chăm sóc đứa con bệnh tật nhiều năm có thể chẳng được ai biết, nhưng dưới ánh sáng Thánh Giá, tình yêu âm thầm ấy có giá trị đời đời. Người chồng kiên nhẫn chăm vợ già yếu; người vợ trung thành bên chồng khi bệnh tật; người con hy sinh những vui thú riêng để chăm cha mẹ; một linh mục tiếp tục phục vụ giữa những hiểu lầm; một tu sĩ sống âm thầm không ai khen; một người dám từ chối tiền bất chính và vì thế mất cơ hội thăng tiến; một người chịu thiệt nhưng nhất quyết không trả thù; một người xin lỗi trước dù mình cũng bị tổn thương; tất cả những điều ấy, nếu được thực hiện trong tình yêu và sự thật, đều có bóng của Thánh Giá đi qua. Thế giới có thể không vỗ tay. Nhưng Thiên Chúa nhìn thấy.
Điều đau lòng nhất không phải là chúng ta có thập giá. Ai rồi cũng có. Người giàu có thập giá của người giàu. Người nghèo có thập giá của người nghèo. Người có gia đình có nỗi đau của gia đình. Người sống đời thánh hiến có những cô đơn riêng. Linh mục có những Thứ Sáu Tuần Thánh không ai biết. Người khỏe hôm nay không biết ngày mai thân thể mình sẽ thế nào. Người được yêu hôm nay không bảo đảm ngày mai không trải qua chia lìa. Vấn đề không phải “làm sao để tôi không bao giờ gặp thập giá?” Câu hỏi ấy không thực tế. Câu hỏi thật là: “Khi thập giá đến, tôi sẽ mang nó với ai?” Nếu mang một mình, nó có thể nghiền nát ta. Nếu mang với Đức Kitô, nó có thể trở thành nơi gặp Người. Không phải thập giá nào cũng tự động thánh hóa. Có người đau khổ rồi trở nên cay nghiệt. Có người thất bại rồi hận đời. Có người bị phản bội rồi từ đó không tin ai. Có người bị tổn thương rồi đi làm người khác tổn thương. Đau khổ không tự nó biến con người thành thánh. Chỉ khi đau khổ được đặt vào tình yêu Đức Kitô, nó mới có thể được biến đổi. Thánh Giá cứu độ không phải bởi nó là thánh giá, nhưng bởi Đức Giêsu ở trên đó. Cuộc đời ta cũng vậy: đau khổ chỉ bắt đầu có ý nghĩa cứu độ khi ta để Chúa hiện diện trong nó.
Có một chi tiết đáng suy nghĩ nữa. Khi Giáo Hội suy tôn Thánh Giá, Giáo Hội không nâng cây Thánh Giá lên để chúng ta đứng từ xa mà ngắm. Thánh Giá được nâng cao để ta nhìn thấy hướng đi của đời mình. Đức Giêsu từng nói: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,32). Chúa không nói: Ta sẽ đứng đó để mọi người chiêm ngưỡng. Người nói: “Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta.” Thánh Giá có một lực hút. Nhưng lực hút của nó không cưỡng bách. Đó là lực hút của tình yêu. Một Thiên Chúa toàn năng có thể buộc con người quỳ xuống; nhưng trên Thánh Giá, Người chọn làm cho con người muốn quỳ xuống vì nhận ra mình được yêu. Đây mới là quyền năng ghê gớm của Thiên Chúa: quyền năng không nghiền nát tự do mà chinh phục trái tim. Bạo lực có thể bắt người ta im lặng, nhưng không làm họ yêu. Quyền lực có thể bắt người ta phục tùng, nhưng không làm họ hiến thân. Chỉ tình yêu mới có thể tạo nên tình yêu. Vì thế Chúa chịu đóng đinh trở thành trung tâm của Giáo Hội không phải vì Người mạnh theo cách thế gian hiểu, nhưng vì chưa ai yêu con người đến như Người.
Và có lẽ đây là điều lịch sử Lễ Suy Tôn Thánh Giá muốn nói với chúng ta sau gần mười bảy thế kỷ. Các đế quốc đã đến rồi đi. Constantine đã qua đi. Hêlêna đã qua đi. Heraclius đã qua đi. Đế quốc Byzantine chỉ còn trong sách sử. Đế quốc Ba Tư của thời ấy cũng chỉ còn dấu tích. Những vua chúa từng tranh giành thành phố, đất đai, thánh tích, quyền lực đều đã nằm xuống. Nhưng một người thợ mộc Nadarét bị đóng đinh như tên tử tội vẫn được hàng triệu con người quỳ xuống trước mặt mỗi ngày. Thật lạ. Những kẻ đóng đinh Người tưởng họ đã kết thúc câu chuyện của Người. Thực ra họ chỉ mở sang trang quan trọng nhất. Philatô cho viết một tấm bảng trên đầu Người; ông không biết rằng hai ngàn năm sau người ta vẫn nhắc tên ông mỗi Chúa nhật trong Kinh Tin Kính. Những đinh sắt tưởng đã giữ được Đức Giêsu trên cây gỗ, nhưng không ngôi mộ nào giữ được Người. Thánh Giá tưởng là dấu chấm hết lại trở thành dấu cộng vĩ đại nối trời với đất, nối Thiên Chúa với con người, nối người với người, nối đau khổ với hy vọng, nối cái chết với sự sống.
Bởi vậy, ngày 14 tháng 9, khi Giáo Hội Đông và Tây cùng hướng mắt về Thánh Giá, điều quan trọng không phải là chúng ta biết thêm bao nhiêu dữ kiện lịch sử, dù lịch sử rất quý. Điều quan trọng là đứng trước Thánh Giá ấy, chúng ta có để Chúa hỏi mình điều gì không. Có thể Người hỏi: “Con còn giận người ấy đến bao giờ?” Có thể Người hỏi: “Tại sao con muốn được tha nhưng không chịu tha?” Có thể Người hỏi một linh mục: “Con đã giảng về Thánh Giá rất nhiều, nhưng con có chịu để chính mình bị bẻ ra như tấm bánh cho đoàn chiên chưa?” Có thể Người hỏi một người cha: “Con làm việc vất vả cho gia đình, nhưng con đã cho con cái thời gian và sự dịu dàng chưa?” Có thể Người hỏi một người mẹ: “Con hy sinh nhiều, nhưng có khi nào sự hy sinh trở thành lý do để con kiểm soát đời con cái?” Có thể Người hỏi người sống đạo lâu năm: “Con hôn Thánh Giá của Ta, nhưng con có nhận ra Ta trong người làm con khó chịu không?” Những câu hỏi ấy mới làm cho ngày lễ sống động.
Suy tôn Thánh Giá không phải là đặt Thánh Giá cao hơn trên tường, mà là đặt tình yêu của Đấng chịu đóng đinh cao hơn cái tôi trong lòng mình. Suy tôn Thánh Giá là khi đứng giữa chọn lựa trả thù hay tha thứ, ta để lời Chúa cao hơn cảm xúc của mình. Suy tôn Thánh Giá là khi có cơ hội gian dối để được lợi, ta để sự thật cao hơn tiền bạc. Suy tôn Thánh Giá là khi quyền lực nằm trong tay mà ta chọn phục vụ thay vì thống trị. Suy tôn Thánh Giá là khi có thể làm người khác nhục mà ta chọn giữ phẩm giá cho họ. Suy tôn Thánh Giá là khi đau mà không làm người khác đau thêm. Suy tôn Thánh Giá là khi thất vọng nhưng không tuyệt vọng; khóc nhưng vẫn tin; bị bỏ rơi nhưng không bỏ Chúa; không hiểu nhưng vẫn trao đời mình vào tay Người. Và đôi khi Suy tôn Thánh Giá chỉ là một chuyện rất bé: nhịn một câu đáng lẽ có thể làm gia đình tan nát, nhấc điện thoại gọi cho người đã lâu không nói chuyện, đến thăm một người cô độc, ngồi cạnh một bệnh nhân không biết nói gì nhưng không bỏ họ một mình, hay quỳ xuống cuối ngày và nói với Chúa: “Con mệt lắm, con chẳng hiểu gì cả, nhưng con vẫn tin Ngài.”
Ngày 14 tháng 9 rồi sẽ qua như mọi ngày lễ. Hoa trên bàn thờ rồi tàn. Nến rồi tắt. Lời kinh kết thúc. Áo lễ được cất vào tủ. Nhưng Thánh Giá vẫn còn đó. Và sáng hôm sau, thập giá đời thường lại chờ ta: một người khó chịu, một căn bệnh chưa khỏi, một nỗi cô đơn, một khoản nợ, một lời hiểu lầm, một trách nhiệm phải gánh, một lỗi lầm cần sửa, một người cần tha thứ, một điều phải buông bỏ. Chính ở đó Lễ Suy Tôn Thánh Giá mới thật sự bắt đầu. Không phải lúc linh mục nâng Thánh Giá trước cộng đoàn, mà lúc mỗi người cho phép Đức Kitô nâng mình ra khỏi ích kỷ. Không phải khi miệng hát “Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy Chúa và chúc tụng Chúa”, mà khi đời sống dám nói tiếp: “vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.”
Lịch sử Đông và Tây cuối cùng dẫn chúng ta đến chính điểm này: Thánh Giá đã được tìm thấy, đã từng bị cướp mất, đã được thu hồi, đã được cung nghinh, đã được nâng cao, đã được hôn kính qua nhiều thế kỷ. Nhưng có một cuộc tìm kiếm Thánh Giá khác vẫn chưa kết thúc: Thánh Giá phải được tìm lại trong trái tim Kitô hữu. Có khi chúng ta đã đánh mất ý nghĩa Thánh Giá dù cây Thánh Giá vẫn treo ngay trước mặt. Ta phải tìm lại một Kitô giáo biết hy sinh. Tìm lại một đời sống đạo biết cúi xuống. Tìm lại lòng thương xót. Tìm lại sự trung thành. Tìm lại khả năng chịu thiệt vì điều thiện. Tìm lại niềm tin rằng yêu thương không bao giờ là uổng phí, ngay cả khi người mình yêu không hiểu, không biết ơn hay không đáp trả. Chừng nào điều ấy chưa được tìm lại, cây Thánh Giá trên tháp nhà thờ có thể rất cao mà Thánh Giá trong đời tín hữu vẫn rất thấp.
Ngày xưa người ta nâng Thánh Giá lên giữa Giêrusalem để dân chúng nhìn thấy. Hôm nay Giáo Hội lại nâng Thánh Giá lên giữa một thế giới đang say mê quyền lực, tiện nghi, thành công và cái tôi. Giáo Hội không nâng Thánh Giá lên để nguyền rủa thế giới, nhưng để nhắc thế giới rằng vẫn còn một cách sống khác: yêu đến cùng. Không nâng lên để kết án người tội lỗi, nhưng để họ nhìn thấy rằng trên đó có một Đấng đã chết cho họ. Không nâng lên để tôn vinh đau khổ, nhưng để bảo những người đang đau rằng đau khổ không nhất thiết là chương cuối cùng. Không nâng lên để nói rằng Thiên Chúa thích con người khổ, nhưng để tuyên bố rằng Thiên Chúa đã bước vào chính nơi con người khổ nhất và không bỏ họ một mình.
Và rồi sau mọi dữ kiện, mọi truyền thống, mọi nghi thức Đông phương và Tây phương, ta có thể đứng rất lâu trước Thánh Giá mà không cần nói gì nữa. Trên đó là câu trả lời của Thiên Chúa cho con người. Ta hỏi: “Thiên Chúa yêu tôi đến đâu?” Người không trả lời bằng một định nghĩa. Người dang hai tay. Ta hỏi: “Tôi đáng giá bao nhiêu?” Người trả lời bằng Máu. Ta hỏi: “Tội tôi có thể được tha không?” Cạnh sườn Người mở ra. Ta hỏi: “Khi đau khổ, Thiên Chúa ở đâu?” Người ở trên Thánh Giá. Ta hỏi: “Sau cái chết còn gì?” Phía sau Thánh Giá là ngôi mộ trống.
Đó là lý do ngày 14 tháng 9 vẫn còn được cử hành. Không phải bởi nhân loại say mê một cây gỗ cổ. Nhưng bởi nhân loại không thể sống nếu thiếu hy vọng rằng tình yêu mạnh hơn sự chết. Lễ Suy Tôn Thánh Giá nói với mọi thế hệ rằng sự dữ không có tiếng nói cuối cùng, tội lỗi không có tiếng nói cuối cùng, thất bại không có tiếng nói cuối cùng, bệnh tật không có tiếng nói cuối cùng, ngôi mộ cũng không có tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng thuộc về Thiên Chúa. Và lời cuối cùng của Thiên Chúa không phải là Thứ Sáu Tuần Thánh mà là sáng Phục Sinh.
Vậy ngày 14 tháng 9 này, khi nhìn lên Thánh Giá, xin đừng chỉ nhìn. Hãy để mình được nhìn. Hãy để đôi mắt của Đấng chịu đóng đinh nhìn vào những góc sâu nhất của đời ta, nơi ta đang giấu một vết thương, một tội lỗi, một mối hận, một thất vọng, một nỗi sợ. Và hãy nghe Người nói bằng chính thân thể bị đóng đinh của Người: “Con không cô độc. Ta đã ở đây trước con.” Rồi nếu có thể, hãy đặt thập giá của mình cạnh Thánh Giá của Người. Ta sẽ nhận ra một điều kỳ lạ: Thánh Giá không biến mất, nhưng ta không còn mang nó một mình. Và từ khoảnh khắc ấy, một cây gỗ có thể bắt đầu nảy mầm; một vết thương có thể trở thành cửa ngõ của lòng thương xót; một thất bại có thể trở thành khởi đầu; một chiều thứ Sáu có thể âm thầm chứa trong nó bình minh của Chúa nhật.
Đông phương gọi đó là nâng cao Thánh Giá. Tây phương gọi đó là Suy Tôn Thánh Giá. Còn người Kitô hữu có thể gọi đơn giản hơn: đây là ngày nhìn lại xem mình đã yêu đến đâu. Bởi cuối cùng, người mang Thánh Giá không phải là người đau khổ nhất, nhưng là người giữa đau khổ vẫn còn biết yêu. Người giống Đức Kitô nhất không nhất thiết là người nói về Thánh Giá nhiều nhất, nhưng là người có thể bị tổn thương mà vẫn không chọn hận thù, có thể chịu mất mát mà không đánh mất lòng nhân hậu, có thể bị hiểu lầm mà không ngừng sống chân thật, có thể bước vào bóng tối mà tay vẫn nắm lấy tay Chúa.
Xin Thánh Giá Chúa Kitô được suy tôn không chỉ trên nóc nhà thờ, nhưng trong đời sống chúng ta. Xin Thánh Giá được nâng cao không chỉ trong phụng vụ ngày 14 tháng 9, nhưng trong từng chọn lựa âm thầm mỗi ngày. Và xin khi ngày đời khép lại, sau tất cả những lần ta ngã xuống dưới sức nặng của thập giá, ta vẫn còn đủ sức nhìn lên Đấng chịu đóng đinh và thưa một lời cuối cùng: “Lạy Chúa Giêsu, con tin tình yêu của Chúa lớn hơn tất cả những gì con đã mất. Xin nhớ đến con trong Nước của Ngài.”
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ THẬT VÀ NHỮNG MẢNH THÁNH GIÁ ĐƯỢC TÔN KÍNH TRÊN THẾ GIỚI
Có những vật rất nhỏ nhưng mang trong mình một ký ức lớn hơn cả kích thước của nó. Một tấm ảnh cũ có thể chỉ bằng bàn tay, nhưng người mẹ nhìn vào đó mà thấy cả tuổi thơ của đứa con đã khuất. Một chiếc nhẫn chẳng đáng bao nhiêu tiền, nhưng người vợ già giữ suốt đời vì đó là kỷ vật của người chồng đã cùng mình đi qua mấy chục năm vui buồn. Một mảnh áo, một trang thư, một chiếc tràng hạt đã sờn, một cây thánh giá nhỏ được trao trong ngày khấn dòng hay chịu chức, đối với người ngoài có thể chẳng đáng gì, nhưng đối với người đã sống câu chuyện gắn với nó thì đó là cả một thế giới. Có lẽ phải bắt đầu từ kinh nghiệm rất con người ấy mới hiểu được tại sao suốt gần hai ngàn năm, các Kitô hữu lại kính cẩn cúi mình trước những di tích liên hệ đến cuộc thương khó của Chúa Giêsu, và đặc biệt là những mảnh gỗ được truyền thống Kitô giáo tôn kính như di tích của Thánh Giá thật. Người Kitô hữu không thờ một khúc gỗ. Người Kitô hữu cũng không đặt hy vọng cứu độ vào một mảnh vật chất. Gỗ không cứu con người. Chỉ Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh và phục sinh mới cứu con người. Nhưng chính vì trên một cây gỗ thật, trong một ngày thật của lịch sử, một thân xác thật đã bị đóng đinh, một trái tim thật đã bị đâm thâu, một dòng máu thật đã đổ xuống, nên đối với đức tin Kitô giáo, Thánh Giá không phải là một ý niệm đẹp được người đời nghĩ ra sau này. Thánh Giá đã đi vào lịch sử bằng máu. Thánh Giá đã đứng trên một ngọn đồi. Có một người tên là Giêsu thành Nazareth đã bị treo trên đó dưới thời tổng trấn Philatô. Có một người Mẹ đã đứng dưới chân Thánh Giá ấy. Có một môn đệ Chúa yêu đã đứng bên Mẹ. Có những người lính Rôma. Có đám đông. Có bóng tối. Có tiếng chế nhạo. Có lời cầu xin tha thứ. Có tiếng kêu “Ta khát”. Có lời trao phó người Mẹ cho người môn đệ. Có tiếng nói cuối cùng: “Thế là đã hoàn tất”. Và rồi có một cạnh sườn bị lưỡi đòng mở ra. Từ ngày ấy, cây gỗ vốn là dụng cụ hành hình nhục nhã của đế quốc lại trở thành dấu chỉ thiêng liêng nhất của Kitô giáo. Điều con người dùng để giết, Thiên Chúa biến thành nơi ban sự sống. Điều thế gian gọi là thất bại, Thiên Chúa biến thành chiến thắng. Điều được dựng lên để làm nhục một tử tội lại trở thành ngai của Vua tình yêu.
Truyền thống lâu đời của Giáo Hội gắn việc tìm thấy Thánh Giá Chúa với thánh Hêlêna, thân mẫu hoàng đế Constantinô, vào thế kỷ IV. Sau nhiều thế hệ Kitô hữu bị bách hại và sau những biến động lớn của Giêrusalem, nơi Chúa chịu đóng đinh và mai táng đã thay đổi rất nhiều. Vào thời Constantinô, các công trình được thực hiện tại vùng Golgotha và nơi mộ Chúa, và từ đây hình thành một truyền thống rất mạnh mẽ về việc khám phá cây Thánh Giá của Đức Kitô. Những bản tường thuật của các tác giả cổ không hoàn toàn giống nhau trong mọi chi tiết; vì thế, khi kể lại câu chuyện này, cần vừa trân trọng truyền thống của Giáo Hội vừa giữ sự cẩn trọng cần thiết của lịch sử. Đức tin không cần chúng ta tô thêm những điều mà tài liệu cổ không cho phép khẳng định chắc chắn. Điều đáng chú ý là từ thế kỷ IV, việc tôn kính di tích Thánh Giá tại Giêrusalem đã được ghi nhận rất sớm và rất rõ. Những chứng từ cổ cho thấy vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, tín hữu đến kính gỗ Thánh Giá với lòng trang nghiêm. Di tích được bảo vệ cẩn mật, được đưa ra cho tín hữu kính viếng, và từ Giêrusalem, những phần nhỏ của di tích Thánh Giá dần được trao tặng hoặc đưa đến nhiều cộng đoàn Kitô hữu khác. Chính từ đó hình thành việc tôn kính những mảnh Thánh Giá tại nhiều miền của thế giới Kitô giáo.
Ta phải hiểu câu chuyện này bằng tâm hồn của Giáo Hội sơ khai. Những Kitô hữu ấy không sống cách biến cố Canvê hàng ngàn năm như chúng ta hôm nay. Với họ, Giêrusalem chưa phải là một trang trong sách lịch sử; đó là thành phố nơi Chúa đã đi qua. Golgotha không chỉ là địa danh trong bản đồ Kinh Thánh; đó là nơi các thế hệ trước họ vẫn còn truyền cho nhau ký ức về cuộc đóng đinh. Ngôi mộ trống không phải là biểu tượng thơ mộng; đó là nơi họ tuyên xưng rằng Người đã chết nhưng Người không còn nằm ở đó. Vì thế, khi người Kitô hữu thế kỷ IV quỳ xuống trước Thánh Giá, họ không tìm kiếm một thứ phép thuật. Họ đang chạm đến một ký ức. Họ hôn một dấu tích để thưa với Đấng đã chết trên Thánh Giá: “Lạy Chúa, con nhớ. Con không muốn quên cái giá Chúa đã trả cho con.” Có lẽ đây cũng là chìa khóa để hiểu tất cả các thánh tích Kitô giáo. Thánh tích không giữ Chúa lại trong quá khứ. Trái lại, thánh tích nhắc con người hôm nay rằng đức tin của chúng ta đã đi qua những con người thật, những nơi chốn thật và một lịch sử thật. Kitô giáo không bắt đầu bằng một triết thuyết nhưng bằng biến cố: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.” Một Thiên Chúa đã có đôi tay. Một Thiên Chúa đã bước đi trên đất. Một Thiên Chúa đã ăn bánh, uống nước, mệt mỏi, khóc, bị đánh, bị đóng đinh. Chính tính cụ thể gây kinh ngạc ấy làm cho Kitô giáo trân trọng vật chất. Nước có thể trở thành dấu chỉ của Bí tích Thánh Tẩy. Dầu có thể được dùng trong việc xức dầu. Bánh và rượu được Đức Kitô chọn làm bí tích Mình và Máu Người. Bàn tay giám mục đặt trên đầu người chịu chức. Tro được xức trên trán. Thánh giá được ghi trên thân thể. Vật chất không phải là Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa có thể dùng vật chất để dẫn con người đến với Người.
Trong lịch sử, một phần quan trọng của Thánh Giá được lưu giữ tại Giêrusalem. Những phần khác được đưa về Constantinopolis và Rôma, rồi theo dòng lịch sử, những mảnh nhỏ được phân chia để tặng cho các nhà thờ, các vị vua, giám mục, đan viện và cộng đoàn Kitô hữu. Tại Rôma, Vương cung thánh đường Santa Croce in Gerusalemme – Thánh Giá Giêrusalem – từ lâu nổi tiếng là một trong những nơi lưu giữ và tôn kính các di tích liên hệ đến cuộc thương khó của Chúa. Tại Giêrusalem, Vương cung thánh đường Mộ Thánh vẫn là trung tâm đặc biệt của ký ức Kitô giáo về Golgotha và ngôi mộ Chúa. Trong thế giới Đông phương, Constantinopolis ngày xưa từng giữ vị trí rất quan trọng trong việc bảo tồn các thánh tích Thánh Giá. Qua chiến tranh, những cuộc cướp phá, việc trao tặng, di chuyển và chia nhỏ thánh tích trong nhiều thế kỷ, các mảnh được truyền thống kính như gỗ Thánh Giá đã hiện diện tại nhiều nhà thờ và đan viện ở châu Âu cũng như tại Đông phương. Núi Athos, Rôma, Giêrusalem và nhiều trung tâm hành hương cổ kính khác đều có truyền thống liên quan tới những di tích ấy. Sau này, khi Kitô giáo được truyền bá khắp thế giới, những mảnh rất nhỏ được chứng nhận theo thủ tục Giáo Hội cũng xuất hiện tại các nhà thờ ở nhiều quốc gia. Nhưng ở đây cần nói một điều rất quan trọng: không phải chỉ vì một vật được gọi là “mảnh Thánh Giá thật” thì khoa học lịch sử có thể chứng minh chắc chắn nguồn gốc của từng mảnh ấy đi thẳng từ cây Thánh Giá trên Golgotha đến nơi đang lưu giữ hôm nay. Đối với nhiều thánh tích cổ, chuỗi lịch sử trải dài hàng thế kỷ phức tạp đến mức không thể xác minh bằng những tiêu chuẩn khảo cổ hiện đại. Giáo Hội, khi tôn kính thánh tích, không buộc tín hữu phải biến những vấn đề lịch sử chưa thể chứng minh tuyệt đối thành tín điều. Điều chúng ta phải tin để được cứu độ không phải là mảnh gỗ này hay mảnh gỗ kia chắc chắn thuộc cây nào, mà là Đức Giêsu Kitô thật sự chịu đóng đinh, thật sự chết, thật sự được mai táng và thật sự sống lại. Thánh Giá cứu độ là một chân lý trung tâm của đức tin; nguồn gốc chính xác của từng thánh tích lại thuộc một bình diện khác và phải được tiếp cận với sự thận trọng.
Sự thận trọng ấy không làm giảm lòng đạo đức; trái lại, nó thanh luyện lòng đạo đức. Đức tin chân thật không sợ sự thật. Nếu một thánh tích có lịch sử vững chắc, chúng ta biết ơn. Nếu nguồn gốc của một thánh tích có những khoảng trống mà lịch sử không còn khả năng lấp đầy, chúng ta vẫn có thể nhìn nó như một dấu chỉ dẫn lòng mình về cuộc thương khó của Chúa, nhưng không cần gán cho nó một sự chắc chắn vượt quá điều có thể chứng minh. Điều làm nên sức mạnh của việc kính Thánh Giá không nằm ở số năm của một miếng gỗ mà nằm ở tình yêu của Đấng đã chết trên gỗ. Một Kitô hữu có thể không bao giờ được nhìn thấy một mảnh Thánh Giá thật trong đời, nhưng vẫn có thể sống sâu xa mầu nhiệm Thánh Giá. Ngược lại, một người có thể đi khắp thế giới, kính hết thánh tích này đến thánh tích khác, mà nếu trở về vẫn không chịu tha thứ cho người làm mình đau, vẫn bóc lột người nghèo, vẫn nói xấu anh em, vẫn mang hận thù, thì người ấy mới chỉ chạm môi vào cây gỗ chứ chưa để Thánh Giá chạm vào trái tim mình.
Tin Mừng cho ta một ánh sáng rất đẹp để hiểu điều đó. Thánh Gioan kể lời Đức Giêsu nói với ông Nicôđêmô: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (x. Ga 3,14-16). Chúa Giêsu không nói: ai nhìn cây gỗ sẽ được cứu. Người nói: ai tin vào Con Người được giương cao thì được sống. Thánh Giá chỉ có ý nghĩa vì trên Thánh Giá có Đức Kitô. Nếu lấy Đức Kitô ra khỏi Thánh Giá, cây gỗ trở lại là dụng cụ hành hình. Nhưng khi Con Thiên Chúa tự nguyện nằm trên cây gỗ ấy, Thánh Giá trở thành nơi tình yêu Thiên Chúa được nói bằng ngôn ngữ không còn gì có thể hiểu lầm: Người yêu đến mức cho Con Một. Không phải yêu từ xa. Không phải yêu bằng lời. Không phải yêu trong điều kiện thuận lợi. Nhưng yêu khi con người đang phản bội Người; yêu trong lúc người ta đóng đinh Người; yêu khi những bàn tay Người đã chữa lành bị đóng vào gỗ; yêu khi đôi chân từng đi tìm con chiên lạc không còn bước được nữa; yêu khi môi Người khô cháy vẫn còn thốt lời tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đó mới là Thánh Giá thật sâu xa nhất mà mọi mảnh Thánh Giá trên thế giới phải dẫn chúng ta về.
Cũng trong Tin Mừng Gioan, ta gặp một cảnh không thể đọc vội: “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu có thân mẫu Người…” (x. Ga 19,25). Hãy thử đứng đó một chút. Không phải đứng trong nhà thờ sạch sẽ dưới một cây thánh giá bằng gỗ bóng đẹp. Không phải đứng dưới một thánh giá được chiếu đèn. Nhưng đứng ở Golgotha. Đứng bên một tử tội đang thở từng hơi cuối. Nghe tiếng đinh. Nghe tiếng chế nhạo. Ngửi mùi máu. Nhìn những vết thương. Nhìn người Mẹ. Nhìn người Con. Rồi ta mới hiểu tại sao những Kitô hữu đầu tiên, khi tìm lại được những dấu tích của nơi ấy, lại run lên vì xúc động. Có lẽ họ không cần ai phải giảng dài. Chỉ cần nhìn mảnh gỗ, họ đã nhớ rằng đây là thứ vật liệu con người từng dùng để đóng đinh Chúa mình. Và nếu một phần của cây Thánh Giá thực sự còn tồn tại trước mắt họ, làm sao họ có thể cầm nó như một khúc gỗ bình thường? Nhưng chính tại đây ta cũng phải hỏi mình: Tôi hôn Thánh Giá để làm gì? Tôi quỳ trước Thánh Giá để làm gì? Tôi mang Thánh Giá trên cổ để làm gì? Nếu chỉ để được bình an, may mắn, tránh tai họa thì ta đã làm nhỏ Thánh Giá đi rất nhiều. Thánh Giá không phải bùa hộ mạng. Thánh Giá là lời mời gọi bước vào cách yêu của Đức Kitô.
Có một nghịch lý rất buồn trong đời sống Kitô hữu: người ta có thể rất quý một mảnh gỗ được cho là từ Thánh Giá Chúa mà lại không quý “mảnh Thánh Giá” đang sống trong chính ngôi nhà mình. Một người mẹ già bệnh tật có thể là thánh giá ta phải mang. Một người chồng khó tính, một người vợ đang kiệt sức, một đứa con lầm lạc, một người anh em từng làm ta tổn thương, một người nghèo phiền toái trước cửa nhà thờ, một bệnh nhân không ai thăm, một người già kể đi kể lại cùng một câu chuyện – tất cả có thể là những nơi Chúa mời ta chạm vào Thánh Giá hôm nay. Ta có thể vượt hàng ngàn cây số để kính một thánh tích nhưng lại không chịu bước vài mét sang phòng bên cạnh để nói một lời xin lỗi. Ta có thể chen nhau chạm tay vào hộp thánh tích mà lại rút tay về trước một người cần được nâng dậy. Ta có thể rơi nước mắt khi suy niệm năm dấu thánh nhưng lại không nhận ra vết thương của người sống bên cạnh. Nếu vậy, lòng sùng kính của ta cần được Thánh Giá thanh luyện.
Mảnh Thánh Giá quý nhất không phải là mảnh lớn nhất. Trong lịch sử, những mảnh được trao đi thường rất nhỏ. Nhưng chính điều ấy có một vẻ đẹp lạ lùng. Thánh Giá không cần lớn để nhắc con người nhớ đến một tình yêu vô hạn. Một hạt bụi của gỗ cũng đủ để trí nhớ đi về Canvê. Cũng như một giọt nước thánh nhỏ bé có thể làm người tín hữu nhớ lại Bí tích Thánh Tẩy, một mảnh gỗ nhỏ có thể trở thành lời nhắc: “Đấng yêu tôi đã chết vì tôi.” Điều quan trọng không phải là ta sở hữu thánh tích, mà là thánh tích có đánh thức được ký ức cứu độ trong ta hay không. Kitô giáo không phải đạo của những người sưu tập đồ thiêng. Chúng ta là những người được mời gọi trở thành môn đệ của Đấng chịu đóng đinh.
Lịch sử việc phân chia các mảnh Thánh Giá cũng đã từng làm nảy sinh nhiều câu hỏi và thậm chí những lời chế giễu. Có người cho rằng nếu gom tất cả những mảnh được tuyên bố là gỗ Thánh Giá trên thế giới lại thì chắc phải tạo thành cả một cánh rừng. Câu nói ấy được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, nhưng những khảo sát lịch sử về các thánh tích đã cho thấy hình ảnh “cả một cánh rừng” là sự phóng đại. Dẫu vậy, vấn đề thật sự không nằm ở việc thắng thua một cuộc tranh luận về thể tích gỗ. Người Công giáo không cần bảo vệ lòng đạo đức bằng những khẳng định vượt quá bằng chứng. Nếu có thánh tích giả trong lịch sử, điều đó phản ánh sự yếu đuối hoặc gian dối của con người, chứ không làm cho Thánh Giá Đức Kitô thành giả. Nếu từng có người lợi dụng lòng đạo của tín hữu để buôn bán hay tạo ra thánh tích không xác thực, ta phải nói đó là sai. Chính vì thế, truyền thống Giáo Hội dần có những quy định nghiêm ngặt về việc chứng nhận, bảo quản và tôn kính thánh tích. Thánh tích không phải món hàng. Không ai có thể mua bán sự thánh thiện. Không thể lấy lòng kính Chúa làm cơ hội trục lợi. Càng yêu Thánh Giá, càng phải yêu sự thật.
Trong phụng vụ, Giáo Hội diễn tả điều ấy cách tuyệt đẹp. Thứ Sáu Tuần Thánh, khi Thánh Giá được đưa ra cho cộng đoàn kính, lời mời vang lên: “Đây là cây Thánh Giá, nơi treo Đấng Cứu Độ trần gian.” Và cộng đoàn đáp: “Chúng ta hãy đến thờ lạy.” Điều đang được thờ lạy không phải phân tử của gỗ. Sự thờ phượng chỉ thuộc về Thiên Chúa. Cử chỉ kính Thánh Giá hướng qua dấu chỉ hữu hình đến chính Đức Kitô, Con Thiên Chúa đã chịu đóng đinh để cứu nhân loại. Giáo Hội quỳ trước Thánh Giá vì trên đó tình yêu cứu độ đã được mặc khải đến cùng. Bởi thế, một cây thánh giá mới làm hôm qua vẫn có thể được kính trong phụng vụ. Không ai phải chứng minh cây ấy lấy từ Golgotha. Bởi vì sức mạnh của biểu tượng Thánh Giá phát xuất từ biến cố cứu độ mà nó diễn tả. Còn những mảnh được tôn kính như di tích của Thánh Giá thật mang thêm một chiều kích lịch sử đặc biệt: chúng nối trí nhớ Kitô hữu với truyền thống lâu đời bắt nguồn từ Giêrusalem.
Thật cảm động khi nghĩ rằng qua bao cuộc chiến, bao đế quốc hưng vong, bao triều đại xuất hiện rồi biến mất, hình bóng Thánh Giá vẫn đi cùng nhân loại. Thánh Giá từng được giương lên trong những đại thánh đường của Constantinopolis. Thánh Giá hiện diện trong những ngôi nhà thờ Rôma. Thánh Giá được các đan sĩ Đông phương cung kính giữ gìn. Thánh Giá nằm trên bàn thờ của những ngôi nhà thờ quê nhỏ bé. Thánh Giá treo trên cổ người mẹ. Thánh Giá được đặt vào tay người hấp hối. Thánh Giá được vẽ trên trán em bé vừa chịu phép Rửa. Thánh Giá được linh mục ghi trên mình trước khi đọc Tin Mừng. Thánh Giá đứng trên những ngôi mộ. Thánh Giá được dựng nơi đầu đường, bên sườn núi, trong phòng bệnh, trên bàn học của một chủng sinh, trong túi áo của một người lính, bên giường một người già. Có những cây thánh giá làm bằng vàng. Có cây làm bằng bạc. Có cây chỉ bằng hai thanh tre cột lại nơi vùng truyền giáo nghèo. Nhưng Đức Kitô chịu đóng đinh là một. Và tình yêu được loan báo từ Thánh Giá ấy cũng chỉ là một.
Có lẽ vì thế, trước một mảnh Thánh Giá được tôn kính, điều thích hợp nhất không phải là tò mò hỏi nó dài bao nhiêu, nặng bao nhiêu, thuộc loại gỗ gì trước tiên. Điều thích hợp nhất là im lặng. Im lặng và hỏi: “Lạy Chúa, con đã sống thế nào với cái giá Chúa trả cho con?” Nếu một người đứng trước Thánh Giá mà vẫn kiêu ngạo, hãy nhìn lại Đấng đã tự hạ. Nếu đang hận ai đó, hãy nhìn Đấng cầu nguyện cho kẻ đóng đinh mình. Nếu đang tham lam, hãy nhìn Đấng chết trần trụi chẳng giữ lại gì. Nếu đang sợ mất danh dự, hãy nhìn Đấng chấp nhận bị chế nhạo. Nếu đang đau khổ, hãy nhìn Đấng không đứng bên ngoài đau khổ mà đã bước vào tận đáy của nó. Nếu đang cảm thấy bị Thiên Chúa bỏ quên, hãy nghe tiếng Đức Giêsu từ Thánh Giá: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Người đã đi vào cả kinh nghiệm tăm tối ấy. Không một vực sâu nào của con người mà Chúa không dám bước xuống.
Thánh Giá thật, vì thế, không chỉ nằm ở Giêrusalem hay trong những hộp thánh tích được niêm phong. Thánh Giá thật còn phải được dựng trong đời ta. Có những Thánh Giá bằng gỗ mà người ta hôn rồi đi. Có một Thánh Giá khác ta phải mang mỗi ngày. Đức Giêsu nói rất rõ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Đó là mảnh Thánh Giá Chúa trao riêng cho từng người. Không phải để nghiền nát ta nhưng để làm tình yêu trong ta trưởng thành. Thập giá của một người mẹ có thể là những đêm thức vì con. Thập giá của một người cha là những năm tháng âm thầm gánh gia đình. Thập giá của linh mục có thể là cô đơn, hiểu lầm, trách nhiệm với đoàn chiên, những lần phải mỉm cười khi lòng mình đang đau. Thập giá của người già là chấp nhận đôi chân yếu dần, trí nhớ giảm dần, thế giới chung quanh chạy nhanh hơn mình. Thập giá của người bệnh là sống từng ngày với thân xác không còn vâng lời. Thập giá của người trẻ có thể là giữ mình ngay thẳng trong một môi trường mà gian dối dễ hơn trung thực. Và có một thứ thập giá rất nặng mà ai cũng phải tập mang: thập giá của việc chết đi cho cái tôi.
Người ta thường muốn Chúa cất thập giá hơn là muốn Chúa dạy mình yêu trên thập giá. Ta cầu: “Xin Chúa giải quyết người này cho con. Xin Chúa thay đổi người kia. Xin Chúa lấy hoàn cảnh này đi.” Nhưng nhiều khi Chúa không lấy cây thập giá xuống. Người đứng cạnh ta và hỏi: “Con có để Thầy biến cây thập giá này thành nơi con học yêu không?” Vì điều làm Thánh Giá của Đức Kitô thành thánh không phải đau khổ tự nó. Đau khổ tự nó không cứu ai. Hận thù cũng tạo đau khổ. Chiến tranh tạo đau khổ. Bệnh tật tạo đau khổ. Điều làm Thánh Giá cứu độ là tình yêu với đó Đức Giêsu đón nhận và hiến dâng chính mình. Vì vậy, người Kitô hữu không đi tìm đau khổ. Ta được phép chữa bệnh, tránh nguy hiểm, chống bất công, bảo vệ người yếu thế, giải thoát con người khỏi những thập giá do tội lỗi gây ra. Nhưng khi có những đau khổ không thể tránh khỏi, chúng ta được mời gọi đừng để chúng trở thành nơi cay đắng lớn lên, mà hãy kết hợp chúng với Thánh Giá Đức Kitô.
Một mảnh gỗ Thánh Giá được lưu giữ qua mười bảy thế kỷ là điều đáng kính. Nhưng một tâm hồn đã chịu khổ suốt bảy mươi năm mà vẫn biết tha thứ còn là một phép lạ sống động. Một thánh tích được đặt trong hộp vàng rất quý, nhưng một người đau yếu vẫn chắp tay cầu nguyện cho người khác cũng quý biết bao trước mặt Chúa. Một cuộc hành hương đến Giêrusalem có thể làm đời ta thay đổi; nhưng nếu chưa có điều kiện đến đó, ta vẫn có thể đến Canvê mỗi ngày qua Tin Mừng, qua Thánh lễ, qua Bí tích Thánh Thể và qua những người đang đau khổ bên cạnh mình. Đức Maria đã không đến Golgotha như một khách hành hương. Mẹ đến đó như một người Mẹ. Mẹ không nhìn Thánh Giá từ xa. Mẹ đứng dưới chân Thánh Giá. Đó là khoảng cách rất gần. Gần đến mức thấy máu Con mình. Gần đến mức nghe hơi thở Con. Gần đến mức nhận Gioan làm con trong chính giờ mất Người Con duy nhất. Có lẽ ai muốn hiểu Thánh Giá hãy xin Đức Maria dạy mình đứng gần như Mẹ. Không chạy. Không giải thích quá nhiều. Không đòi Thiên Chúa phải trả lời mọi câu hỏi ngay lập tức. Chỉ đứng đó trong đức tin.
Ngày nay, những mảnh Thánh Giá được kính tại nhiều nơi trên thế giới vẫn tiếp tục thu hút các tín hữu hành hương. Người đến có người vì đức tin sâu sắc, có người vì tò mò, có người vì đang đau bệnh, có người mang theo một gia đình tan vỡ, có người xin cho con cái, có người chỉ muốn được một lần quỳ xuống thật gần một dấu tích liên hệ đến Thập Giá Chúa. Chúng ta đừng vội xét đoán những giọt nước mắt của họ. Có những điều chỉ người đang đau mới hiểu. Đôi khi một dấu chỉ hữu hình giúp một trái tim đã khô cứng bật khóc. Một mảnh gỗ không chữa lành bằng quyền năng riêng của nó, nhưng Thiên Chúa có thể dùng một cuộc hành hương, một cử chỉ hôn kính, một giây phút thinh lặng để chạm vào tâm hồn con người. Chúa đã từng dùng bùn để mở mắt người mù. Chúa để người phụ nữ chạm vào tua áo Người. Các Tông đồ đặt tay trên bệnh nhân. Đức tin Kitô giáo luôn hiểu rằng Thiên Chúa có thể dùng những thực tại hữu hình để hướng con người đến ân sủng vô hình. Nhưng dấu chỉ chỉ hoàn thành nhiệm vụ của mình khi nó đưa ta tới Chúa chứ không giữ ta lại nơi chính nó.
Có một câu hỏi đáng sợ mà mỗi người kính Thánh Giá phải tự hỏi: Nếu tôi thật sự được trao vào tay một mảnh gỗ chắc chắn thuộc cây Thánh Giá Chúa Giêsu, tôi sẽ làm gì? Có lẽ tay tôi sẽ run. Có lẽ tôi sẽ khóc. Có lẽ tôi sẽ hôn nó. Nhưng sau đó thì sao? Tôi có trở về nhà và sống khác không? Nếu không, cuộc gặp ấy chưa hoàn tất. Thánh Giá phải làm ta mềm hơn. Thánh Giá phải làm ta biết thương hơn. Thánh Giá phải cắt bớt trong ta lòng tự mãn. Thánh Giá phải khiến ta chậm lại trước khi kết án một người. Thánh Giá phải làm ta sợ làm đau người khác. Bởi vì khi đã nhìn đủ lâu vào một Thiên Chúa bị con người làm đau, ta không thể bình thản tiếp tục làm đau anh em mình.
Thánh Phaolô đã nhìn thấy nơi Thánh Giá điều thế gian không thể hiểu: “Lời rao giảng về Thập Giá là sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đường hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa.” Sức mạnh ấy không phải kiểu sức mạnh nghiền nát kẻ thù. Đó là sức mạnh chịu để kẻ thù đóng đinh mà vẫn không ngừng yêu. Thế gian nói: mạnh là trả đũa. Thánh Giá nói: mạnh là có thể tha thứ mà không để sự ác biến mình thành kẻ ác. Thế gian nói: thắng là bắt người khác quỳ xuống. Thánh Giá nói: thắng là chính mình quỳ xuống rửa chân cho người khác. Thế gian nói: giữ lấy mạng sống. Thánh Giá nói: ai hiến mạng vì yêu thì tìm lại sự sống trong Thiên Chúa. Chính vì thế, mỗi mảnh Thánh Giá được tôn kính trên thế giới phải là một lời phản kháng âm thầm đối với logic bạo lực của thế gian.
Thật đẹp nếu một ngày nào đó ta được đến Giêrusalem, đặt tay lên đá Golgotha, bước vào Mộ Thánh, hoặc đến một nơi lưu giữ thánh tích Thánh Giá. Nhưng còn đẹp hơn nếu từ chuyến hành hương ấy trở về, người chồng biết ôm lấy vợ mình hơn, người vợ bớt một lời cay nghiệt, cha mẹ biết lắng nghe con, con cái biết nhớ đến cha mẹ, người già được chăm sóc, người nghèo được nhìn như anh em, người linh mục trở về với đoàn chiên dịu dàng hơn, người tín hữu thôi biến đạo thành lý do để hơn thua. Đó mới là lúc di tích Thánh Giá thực hiện điều nó phải làm: đưa ta từ gỗ đến Đức Kitô, từ Đức Kitô đến anh em, từ việc kính một dấu chỉ đến việc sống mầu nhiệm mà dấu chỉ ấy công bố.
Có thể một ngày những mảnh gỗ cổ sẽ mục đi. Những hộp thánh tích có thể thất lạc. Những đền thờ có thể bị chiến tranh phá hủy như biết bao công trình từng bị phá trong lịch sử. Nhưng có một điều không ai phá được: tình yêu đã diễn ra trên Canvê. Không đế quốc nào có thể làm cho sự kiện ấy chưa từng xảy ra. Không cuộc bách hại nào có thể xóa khỏi ký ức Giáo Hội lời Đức Giêsu: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Không triết thuyết nào có thể làm cho những vết đinh thôi nói với nhân loại rằng Thiên Chúa đã yêu đến cùng. Người ta có thể đốt một cây thánh giá; nhưng nếu Thánh Giá đã được khắc vào trái tim người môn đệ, ngọn lửa ấy không thể thiêu nó. Người ta có thể cướp một thánh tích; nhưng không ai cướp khỏi Kitô hữu quyền yêu như Đức Kitô.
Vì thế, khi nghe nói đến “Thánh Giá thật”, xin đừng chỉ nghĩ đến cuộc tranh luận xem mảnh gỗ nào thật, mảnh nào giả. Câu hỏi lịch sử ấy có giá trị và cần được trả lời với sự nghiêm túc. Nhưng còn một câu hỏi lớn hơn: “Thánh Giá có thật trong đời tôi không?” Tôi có thực sự tin rằng Con Thiên Chúa đã yêu tôi đến mức ấy không? Nếu tin, tại sao tôi còn sống như một người không được yêu? Tại sao tôi phải hơn thua mọi chuyện? Tại sao tôi phải giữ mãi một mối hận? Tại sao tôi sợ mất mát đến thế? Tại sao tôi đánh giá mình bằng tiền bạc, địa vị và tiếng khen của người đời? Nếu Thánh Giá là thật, thì tình yêu Thiên Chúa dành cho tôi cũng là thật. Nếu Đấng bị đóng đinh đã sống lại, thì thất bại cuối cùng không thuộc về sự chết. Nếu Người đã tha thứ cho kẻ đóng đinh mình, thì tôi cũng có thể bắt đầu tha thứ. Nếu Người đã biến cây gỗ tử hình thành cây sự sống, Người cũng có thể biến những vùng chết trong cuộc đời tôi thành nơi ân sủng mọc lên.
Ngày xưa, người ta đóng Chúa vào Thánh Giá bằng đinh sắt. Ngày nay, có khi ta đóng Người lại bằng sự dửng dưng. Mỗi lần ta bỏ mặc người đau khổ, ta đi ngang Canvê mà không nhìn lên. Mỗi lần ta dùng lời nói làm nhục một người, ta góp thêm tiếng chế giễu vào đám đông. Mỗi lần ta kết án mà không biết thương, ta đứng về phía những người chỉ thấy nơi Đức Giêsu một tử tội. Nhưng mỗi lần ta tha thứ, một chiếc đinh được rút khỏi thế giới. Mỗi lần ta nâng một người đang ngã, một cánh tay của Đấng chịu đóng đinh lại được nhận ra. Mỗi lần ta chia sẻ với người nghèo, ta như ông Giuse Arimathêa trao cho Chúa một nơi nghỉ. Mỗi lần ta đứng bên một người đang đau mà không bỏ chạy, ta học đứng cùng Đức Maria dưới chân Thánh Giá.
Và đó có lẽ là cách đẹp nhất để tôn kính mọi mảnh Thánh Giá trên thế giới: đừng để Thánh Giá chỉ được giữ trong hộp kính; hãy để Thánh Giá sống trong lòng mình. Đừng chỉ thắp nến trước Thánh Giá; hãy trở thành một ngọn nến cho ai đang tối. Đừng chỉ hôn những vết thương của tượng Chúa; hãy biết cúi xuống những vết thương của con người. Đừng chỉ gọi cây gỗ ấy là “Thánh Giá thật”; hãy làm cho tình yêu của Thánh Giá trở thành một điều thật trong cách mình sống. Khi ấy, dù ta chưa từng đặt chân đến Giêrusalem, Golgotha đã ở rất gần. Dù ta chưa từng chạm vào một mảnh thánh tích nào, ta đã chạm đến mầu nhiệm mà mọi thánh tích muốn chỉ về.
Cuối cùng, Thánh Giá thật nhất vẫn là Thánh Giá trên đó có Đấng thật sự yêu. Và di tích quý nhất của Canvê mà Chúa muốn để lại cho thế giới không chỉ là những mảnh gỗ, nhưng là một cộng đoàn những người biết yêu như Người. Chính Đức Giêsu đã nói: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.” Một thế giới có thể không bao giờ đến Rôma để kính thánh tích. Có người cả đời không thể đến Giêrusalem. Có người không biết gì về lịch sử thánh Hêlêna. Nhưng họ có thể gặp Thánh Giá qua chúng ta. Khi họ gặp một Kitô hữu biết tha thứ điều rất khó tha, họ nhìn thấy một mảnh của Canvê. Khi họ gặp một linh mục vẫn kiên nhẫn với một người đã làm mình tổn thương, họ nhìn thấy một mảnh của Canvê. Khi họ gặp một gia đình đón nhận người đau yếu thay vì bỏ rơi, họ nhìn thấy một mảnh của Canvê. Khi họ thấy Giáo Hội cúi xuống người nghèo mà không hỏi người ấy có thể trả lại gì, họ nhìn thấy một mảnh của Canvê. Và khi người đời hỏi tại sao chúng ta có thể sống như vậy, lúc ấy ta chỉ cần chỉ vào Thánh Giá và nói: bởi vì Người đã yêu chúng tôi trước.
Xin cho mỗi lần chúng ta làm dấu Thánh Giá: “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”, ta đừng làm vội. Trên trán là một Thánh Giá. Trên ngực là một Thánh Giá. Trên thân thể ta là dấu của Đấng đã chết và sống lại. Xin cho mỗi lần bước vào nhà thờ nhìn thấy Thánh Giá, ta nhớ rằng mình được yêu. Mỗi khi đau khổ, nhớ rằng mình không đau một mình. Mỗi khi phạm tội, nhớ rằng có một cạnh sườn đã mở để mình trở về. Mỗi khi muốn bỏ cuộc, nhớ rằng sau Thứ Sáu Tuần Thánh còn có sáng Phục Sinh. Và nếu một ngày nào đó được phúc quỳ trước một mảnh gỗ được truyền thống Giáo Hội kính như di tích Thánh Giá thật, xin đừng chỉ thưa: “Lạy Chúa, con kính Thánh Giá Chúa.” Hãy thưa thêm một lời khó hơn nhiều: “Lạy Chúa, xin cho con sống điều Thánh Giá dạy con. Xin cho con biết yêu khi yêu rất khó. Xin cho con biết tha thứ khi lòng còn đau. Xin cho con biết cho đi khi bản thân đang thiếu. Xin cho con biết ở lại với người đau khổ khi mọi người bỏ đi. Xin cho con đừng chỉ đeo Thánh Giá trên ngực mà từ chối Thánh Giá trong đời. Và xin cho đến ngày cuối cùng, khi tay con không còn giữ nổi gì nữa, con vẫn còn đủ sức nắm lấy Thánh Giá Chúa và tin rằng bên kia cái chết là vòng tay của Đấng đã yêu con đến cùng.”
Bởi vì rồi một ngày tất cả những gì chúng ta đang giữ sẽ phải buông. Tiền sẽ ở lại. Nhà sẽ ở lại. Danh tiếng sẽ ở lại. Những cuộc hơn thua tưởng lớn lao hôm nay sẽ thành vô nghĩa. Có thể trên chiếc giường cuối đời, người ta đặt vào tay ta một cây thánh giá nhỏ. Lúc ấy, ta sẽ hiểu vì sao suốt hai ngàn năm Giáo Hội vẫn giữ Thánh Giá giữa lòng mình. Không phải vì mê một dụng cụ tử hình, nhưng vì trên dụng cụ ấy, cái chết đã bị tình yêu đánh bại. Không phải vì một khúc gỗ, nhưng vì Đấng đã nằm trên khúc gỗ ấy đang chờ chúng ta ở phía bên kia sự chết. Và khi ấy, dù cây thánh giá trong tay ta chỉ là hai miếng gỗ bình thường, nó vẫn chỉ về một Thánh Giá rất thật, một tình yêu rất thật, một ơn cứu độ rất thật và một Đấng Cứu Độ đang sống thật.
Lm. Anmai, CSsR

TỪ “THẬP GIÁ” ĐẾN “THÁNH GIÁ” – HÀNH TRÌNH NGÔN NGỮ VÀ ĐỨC TIN
Có những chữ đi qua đời người như một âm thanh rồi mất hút. Có những chữ ở lại trong trí nhớ vì gắn với một khuôn mặt, một biến cố, một vết thương hay một niềm vui. Nhưng cũng có những chữ phải đi qua cả một cuộc biến đổi mới có thể mang lấy ý nghĩa mà chúng ta quen thuộc hôm nay. “Thập giá” và “Thánh Giá” là một trường hợp như thế. Hai chữ ấy thoạt nghe tưởng như chỉ khác nhau một tiếng “thánh”, nhưng trong chiều sâu đức tin Kitô giáo, khoảng cách giữa “thập giá” và “Thánh Giá” lại là cả một hành trình từ nhục nhã đến vinh quang, từ dụng cụ tử hình đến biểu tượng cứu độ, từ nơi con người giết chết một người vô tội đến nơi Thiên Chúa ban sự sống cho nhân loại, từ cái chết đến sự phục sinh, từ tuyệt vọng đến hy vọng, từ bản án của con người đến phán quyết yêu thương của Thiên Chúa. Chính vì thế, nói đến Thánh Giá không chỉ là nói đến hai thanh gỗ giao nhau. Nói đến Thánh Giá là nói đến toàn bộ mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh, chết và sống lại; là nói đến một Thiên Chúa đã yêu con người không phải từ trên cao nhưng từ trong chính nỗi đau của phận người; là nói đến một tình yêu đi đến tận cùng, đến mức chấp nhận bị treo giữa trời và đất để nối lại trời với đất, nối con người với Thiên Chúa và nối những con người vốn xa cách nhau bằng một giao ước mới được ký không bằng mực nhưng bằng máu.
Trong thế giới cổ đại, cây thập tự không hề mang vẻ đẹp tôn giáo. Không ai đeo nó trên cổ như một món trang sức. Không ai đặt nó trên bàn thờ. Không ai dựng nó trên nóc nhà để cầu bình an. Không ai hôn kính nó trong những ngày phụng vụ. Trái lại, thập giá là hình ảnh khiến người ta sợ hãi, ghê tởm và tránh né. Dưới quyền Rôma, đóng đinh là một trong những hình phạt tàn khốc và nhục nhã nhất. Nó không chỉ nhằm giết một con người mà còn nhằm nghiền nát phẩm giá người ấy trước công chúng. Người bị đóng đinh bị phơi bày, bị chế giễu, bị kéo dài cơn hấp hối giữa những đau đớn thể xác và sự khinh bỉ của đám đông. Cái chết ấy được sử dụng như một lời cảnh cáo: đây là số phận dành cho những kẻ bị xem là phản loạn, nô lệ hay tội phạm nguy hiểm. Chính vì thế, khi những Kitô hữu đầu tiên rao giảng rằng Đấng Cứu Thế đã chết trên thập giá, điều ấy đối với thế giới chung quanh quả thật là một nghịch lý không thể hiểu nổi. Người ta có thể chấp nhận một vị thần quyền năng, một đấng cứu tinh chiến thắng, một vị vua được tung hô; nhưng một Đấng Cứu Thế bị đóng đinh giữa hai tên tội phạm thì thật khó chấp nhận. Thánh Phaolô đã không che giấu sự nghịch lý ấy khi viết rằng lời rao giảng về Thập Giá là sự điên rồ đối với những kẻ hư mất, nhưng đối với những người được cứu độ lại là quyền năng của Thiên Chúa. Ở đó ta thấy một trong những cuộc đảo lộn lớn nhất trong lịch sử tôn giáo của nhân loại: cái người đời gọi là thất bại, Thiên Chúa lại biến thành chiến thắng; cái người đời coi là ô nhục, Thiên Chúa lại làm thành vinh quang; cái con người sử dụng để tiêu diệt sự sống, Thiên Chúa lại dùng để mở ra sự sống đời đời.
Bởi vậy, hành trình từ “thập giá” đến “Thánh Giá” trước hết không phải là một sự thay đổi từ ngữ mà là một sự thay đổi ý nghĩa do chính biến cố Đức Kitô tạo nên. Gỗ vẫn là gỗ, nhưng Đấng bị treo trên gỗ ấy là Con Thiên Chúa. Đinh vẫn là đinh, nhưng đôi tay bị đinh xuyên qua lại là đôi tay từng đặt trên người bệnh để chữa lành, từng chạm vào người phong hủi, từng bẻ bánh nuôi dân, từng nâng đứa trẻ lên, từng viết trên đất trước người phụ nữ ngoại tình, từng nắm lấy tay Phêrô khi ông sắp chìm dưới nước. Máu vẫn là máu, nhưng máu chảy ra trên Golgotha là máu của Đấng đã nói trong bữa Tiệc Ly: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội.” Chính Đức Giêsu đã làm cho cây thập giá trở nên Thánh Giá, không phải bằng một nghi thức làm phép, không phải bằng vàng bạc người đời đắp lên nó về sau, nhưng bằng tình yêu tuyệt đối của Người. Nếu bỏ Đức Kitô ra khỏi Thánh Giá, ta chỉ còn hai thanh gỗ. Nếu bỏ tình yêu ra khỏi Thánh Giá, ta chỉ còn một cuộc hành hình. Nếu bỏ sự phục sinh ra khỏi Thánh Giá, ta chỉ còn một cái chết. Nhưng khi nhìn Thánh Giá trong toàn bộ mầu nhiệm Vượt Qua, người tín hữu nhận ra: nơi tưởng như Thiên Chúa im lặng nhất lại là nơi Thiên Chúa đang nói lớn nhất; nơi tưởng như Thiên Chúa vắng mặt nhất lại là nơi Thiên Chúa đang ở gần con người nhất; nơi tưởng như tình yêu đã bị giết chết lại là nơi tình yêu chứng minh rằng không gì có thể giết chết được nó.
Tin Mừng theo thánh Gioan cho chúng ta một hình ảnh tuyệt đẹp giúp hiểu hành trình ấy. Trong cuộc trò chuyện với Nicôđêmô, Đức Giêsu nhắc lại câu chuyện con rắn đồng trong sa mạc và nói: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (x. Ga 3,14-16). Chữ “được giương cao” ở đây thật lạ lùng. Theo mắt người đời, Đức Giêsu bị “treo lên” để làm nhục. Nhưng theo ngôn ngữ Tin Mừng Gioan, Người được “giương cao”. Cái nhìn của thế gian thấy một tử tội; cái nhìn đức tin thấy một vị Vua đang đăng quang. Cái nhìn của người lính Rôma thấy một bản án đã thi hành xong; cái nhìn đức tin thấy Con Chiên đang hiến mình. Cái nhìn của đám đông thấy một người thất bại; cái nhìn của Hội Thánh thấy Đấng đang kéo mọi người lên với Người. Chính Đức Giêsu còn nói: “Phần Tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi” (Ga 12,32). Thánh Giá vì thế không còn chỉ là nơi Đức Giêsu bị giữ lại bằng những chiếc đinh; Thánh Giá trở thành nơi Người dang rộng hai cánh tay để ôm lấy nhân loại. Những chiếc đinh có thể giữ tay Người trên gỗ, nhưng không thể giữ tình yêu Người trong giới hạn. Cái chết có thể làm Người im tiếng, nhưng không thể làm lời yêu thương của Người ngừng vang vọng qua các thế kỷ.
Có lẽ một trong những điều sâu sắc nhất của đức tin Kitô giáo là không phủ nhận sự ghê rợn của thập giá. Kitô giáo không gọi đau khổ là điều tốt chỉ vì Đức Giêsu đã chịu đau khổ. Giáo Hội không dạy rằng bạo lực trở nên thánh vì Đức Giêsu từng là nạn nhân của bạo lực. Không phải cây gỗ, chiếc đinh, cây giáo, roi đòn hay bản án tự chúng có sức cứu độ. Điều cứu độ nhân loại chính là tình yêu và sự vâng phục của Đức Kitô được thể hiện đến tận cùng qua những đau khổ ấy. Đây là điểm phải nói thật rõ, bởi nếu không, người ta rất dễ biến linh đạo Thánh Giá thành một thứ tôn thờ đau khổ. Thiên Chúa không vui vì con người đau. Đức Giêsu không xuống thế để đi tìm đau khổ. Trong vườn Cây Dầu, Người đã run sợ trước chén đắng và cầu xin: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Người không yêu đau khổ; Người yêu Chúa Cha và yêu nhân loại đến mức không chạy trốn khi con đường trung thành đưa Người qua đau khổ. Đây chính là ranh giới giữa “thập giá” và “Thánh Giá”. Đau khổ tự nó không thánh. Nhưng đau khổ được đón nhận và biến đổi bởi tình yêu có thể trở thành nơi thánh. Nước mắt tự nó không cứu độ. Nhưng nước mắt được đặt trong lòng tin có thể trở thành lời cầu nguyện. Vết thương tự nó không phải ân sủng. Nhưng vết thương được trao vào tay Đức Kitô có thể trở thành cánh cửa để ân sủng bước vào đời người.
Điều ấy cũng giải thích vì sao ngay từ những thế kỷ đầu, các Kitô hữu dần dần nhìn cây Thập Giá bằng một cái nhìn khác hẳn thế giới Rôma. Ban đầu, vì sự nhục nhã gắn với hình phạt đóng đinh và vì hoàn cảnh bách hại, biểu tượng Thánh Giá chưa xuất hiện công khai với mức độ phổ biến như những thời kỳ sau. Người Kitô hữu thường sử dụng những biểu tượng kín đáo hơn như con cá, người mục tử, mỏ neo hay chữ viết tắt danh Đức Kitô. Nhưng càng suy niệm mầu nhiệm Vượt Qua, Hội Thánh càng hiểu rằng không thể nói về Đức Kitô mà né tránh Thập Giá. Đức Kitô Phục Sinh không phải là một Đức Kitô chưa từng chịu đóng đinh; thân xác phục sinh của Người vẫn mang dấu đinh. Khi hiện ra với các môn đệ, Người cho họ xem tay và cạnh sườn. Với Tôma, Người nói: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20,27). Thật kỳ lạ: Chúa sống lại không xóa những vết thương. Người biến chúng thành dấu chỉ nhận dạng của tình yêu. Đó cũng là lý do Hội Thánh không cần xấu hổ trước Thánh Giá. Một vết thương được Thiên Chúa biến đổi không còn chỉ kể chuyện về điều đã làm ta đau; nó còn kể câu chuyện về Đấng đã đưa ta đi qua đau đớn ấy.
Từ đây, chữ “thánh” trong “Thánh Giá” bừng lên tất cả chiều sâu của nó. “Thánh” không có nghĩa là cây gỗ ấy bỗng có một thứ quyền lực ma thuật. “Thánh” nghĩa là được dành riêng cho Thiên Chúa, thuộc về Thiên Chúa, được Thiên Chúa sử dụng trong công trình cứu độ. Thập giá là sản phẩm của sự tàn bạo con người; Thánh Giá là kết quả của tình yêu Thiên Chúa khi Người bước vào chính sự tàn bạo ấy và biến đổi nó từ bên trong. Con người dựng thập giá để giết; Thiên Chúa biến Thánh Giá thành nơi ban sự sống. Con người dựng nó như một dấu chấm hết; Thiên Chúa biến nó thành dấu mở đầu. Con người muốn dùng nó để nói: “Mọi sự đã kết thúc.” Đức Giêsu lại thốt lên: “Thế là đã hoàn tất.” Hai câu tưởng gần nhau nhưng hoàn toàn khác nhau. “Kết thúc” là không còn gì nữa. “Hoàn tất” là một công trình đã đạt tới viên mãn. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu hoàn tất cuộc đời hiến dâng đã bắt đầu từ tiếng “xin vâng” khi Người đến trong trần gian; hoàn tất những gì Người đã giảng dạy; hoàn tất giới răn yêu thương; hoàn tất sự vâng phục đối với Chúa Cha; hoàn tất giao ước cứu độ bằng chính máu mình.
Và đây cũng là điều làm cho Thánh Giá trở nên gần gũi lạ lùng với đời người. Không phải ai cũng hiểu thần học sâu xa. Không phải ai cũng đọc được những trang sách dài về cứu chuộc, hy lễ, công chính hóa hay mầu nhiệm Vượt Qua. Nhưng bất cứ ai sống đủ lâu cũng biết thế nào là một “thập giá”. Một người mẹ thức bên giường bệnh của con biết. Một người chồng bất lực nhìn vợ đau yếu biết. Một người mất đứa con duy nhất biết. Một người bị người mình tin tưởng phản bội biết. Một gia đình sống trong nợ nần biết. Một người già nghe căn nhà từng đầy tiếng con cháu giờ chỉ còn tiếng đồng hồ tích tắc biết. Một linh mục có những ngày bước lên bàn thờ với trái tim đầy thương tích nhưng vẫn phải nói “Chúa ở cùng anh chị em” biết. Một tu sĩ trung thành với lời khấn qua những năm khô khan biết. Một người trẻ loay hoay tìm hướng đi giữa bao thất bại biết. Một người bị hiểu lầm mà không thể thanh minh biết. Một người phải tha thứ cho điều tưởng không thể tha biết. Một người ngồi trước cửa phòng cấp cứu lúc ba giờ sáng biết. Đời sống không thiếu thập giá. Nhưng Tin Mừng không dừng ở đó. Đức tin đặt cho người Kitô hữu một câu hỏi khác: liệu những thập giá ấy có thể trở thành Thánh Giá không?
Câu trả lời không nằm ở việc đau nhiều hay đau ít. Một người chịu đau rất nhiều chưa chắc vì thế mà nên thánh. Đau khổ có thể làm người ta trưởng thành, nhưng cũng có thể làm người ta cay độc. Thử thách có thể mở lòng con người ra với Thiên Chúa, nhưng cũng có thể khép lòng họ lại. Điều quyết định chính là cách con người sống điều không thể tránh. Thập giá đời ta trở thành Thánh Giá khi nó được nối với Thánh Giá Đức Kitô. Khi đau khổ không còn chỉ là điều tôi chịu nhưng trở thành điều tôi dâng. Khi nước mắt không còn chỉ là nước mắt tuyệt vọng mà thành nước mắt cầu nguyện. Khi tổn thương không còn được dùng làm lý do để làm người khác tổn thương. Khi một người bị phản bội vẫn quyết định không trở thành kẻ phản bội. Khi một người bị xúc phạm vẫn không chọn trả thù. Khi một người đau vẫn còn biết cảm thông với nỗi đau của người khác. Khi một người mất mát mà vẫn không đánh mất lòng nhân hậu. Khi một người đứng dưới Thánh Giá và nói được, dù trong nước mắt: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con vẫn tin Ngài.” Chính lúc ấy, thập giá bắt đầu được thánh hóa.
Ta đừng quên rằng dưới chân Thánh Giá ngày thứ Sáu Tuần Thánh có một người Mẹ. Đức Maria đứng đó. Tin Mừng Gioan không nói Mẹ ngất xỉu, cũng không ghi Mẹ gào khóc hay chất vấn Thiên Chúa. Chỉ một chữ rất mạnh: “đứng”. “Đứng gần thập giá Đức Giêsu có thân mẫu Người.” Đứng dưới Thánh Giá không phải vì Mẹ không đau mà vì tình yêu đã làm Mẹ mạnh hơn đau khổ. Có những lúc trong đời, đức tin không phải là hiểu được Thiên Chúa. Đức tin chỉ là còn đứng được trước mặt Người. Có những ngày ta cầu nguyện mà không có một cảm xúc thiêng liêng nào. Có những biến cố ta hỏi hàng trăm lần “tại sao?” mà trời vẫn im lặng. Có những vết thương ta mang suốt đời không bao giờ tìm thấy câu trả lời trọn vẹn. Khi ấy, điều Chúa xin không phải luôn luôn là ta hiểu; đôi khi Người chỉ xin ta đứng lại với Người dưới Thánh Giá. Đức Maria đã không tháo được đinh khỏi tay Con mình, nhưng Mẹ không bỏ đi. Mẹ không thay đổi được bản án của Philatô, nhưng Mẹ có thể hiện diện. Và đôi khi tình yêu lớn nhất của một con người đối với người khác cũng chẳng phải là giải quyết được đau khổ của họ mà chỉ là đừng bỏ họ một mình trong đau khổ.
Từ “thập giá” đến “Thánh Giá” cũng là hành trình của các môn đệ. Trước cuộc Khổ Nạn, Phêrô không thể chấp nhận ý tưởng về một Đấng Mêsia chịu đau khổ. Khi Đức Giêsu loan báo Người phải lên Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ, bị giết và ngày thứ ba sẽ sống lại, Phêrô kéo Người riêng ra và can ngăn. Đối với Phêrô, Thập Giá là một sai lầm cần tránh. Ông muốn một Đức Kitô không Thập Giá. Nhưng đến cuối đời, chính truyền thống Kitô giáo lại ghi nhớ Phêrô như một vị tử đạo đã bước theo con đường của Thầy. Giữa Phêrô của Cêsarê Philípphê và Phêrô của những năm cuối đời là cả một hành trình đức tin: từ chống lại Thập Giá đến ôm lấy Thập Giá, từ suy nghĩ theo kiểu loài người đến học cách suy nghĩ theo cách của Thiên Chúa. Có lẽ đời Kitô hữu chúng ta cũng vậy. Khi mới tin, ta thường nghĩ Chúa sẽ cất khỏi đời mình mọi khó khăn. Khi trưởng thành hơn trong đức tin, ta mới hiểu Chúa không hứa rằng người theo Người sẽ không gặp Thập Giá; Người hứa rằng trong mọi Thập Giá, Người sẽ không bỏ ta.
Đức Giêsu nói rất rõ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). Câu ấy nhiều khi bị hiểu sai. Vác thập giá không có nghĩa là tự tìm đau khổ, càng không có nghĩa là cam chịu mọi bất công mà không được lên tiếng. Người bị bạo hành không có bổn phận phải ở lại trong bạo hành vì nghĩ đó là “thập giá Chúa gửi”. Người bị áp bức có quyền tìm công lý. Người bệnh có quyền chữa bệnh. Người đau khổ có quyền tìm sự giúp đỡ. Đức Giêsu chữa bệnh cho người đau, bênh vực người bị loại trừ và lên án giả hình. “Vác thập giá” trước hết là chấp nhận cái giá của tình yêu, chân lý, công lý và lòng trung thành. Có những thập giá ta phải loại bỏ vì chúng đến từ tội lỗi, bạo lực hay bất công. Nhưng cũng có những thập giá không thể loại bỏ nếu ta muốn sống đúng với Tin Mừng: thập giá của tha thứ, của trung thành, của hy sinh, của sự thật, của trách nhiệm, của việc chọn yêu thương khi ích kỷ dễ dàng hơn nhiều.
Ở đây mới thấy Thánh Giá vừa an ủi vừa chất vấn. Ta dễ treo Thánh Giá trên tường hơn là sống theo Thánh Giá. Ta dễ làm dấu Thánh Giá hơn là để Thánh Giá làm thay đổi cách ta cư xử. Ta có thể đeo một cây Thánh Giá bằng vàng rất đẹp trên ngực nhưng trong lòng lại không chịu tha thứ cho một người. Ta có thể quỳ hôn Thánh Giá ngày thứ Sáu Tuần Thánh nhưng sau đó dùng miệng lưỡi đóng đinh người khác bằng vu khống, cay nghiệt và xúc phạm. Ta có thể đặt Thánh Giá thật lớn trên cung thánh nhưng trong cộng đoàn lại không nhường nhau một bước. Ta có thể giảng về Thánh Giá mà lại sợ tất cả những hy sinh nhỏ bé đòi hỏi trong đời sống thường ngày. Khi ấy, Thánh Giá vẫn ở trước mặt ta nhưng chưa đi vào trong ta. Đức Kitô không chỉ muốn Thánh Giá được treo trong nhà; Người muốn Thánh Giá được ghi trong cách ta sống.
Dấu Thánh Giá mà người Công giáo làm mỗi ngày vì thế không phải một cử chỉ phụng vụ nhỏ bé vô nghĩa. Có người làm dấu quá nhanh đến nỗi tay chưa chạm trán đã chạm ngực, môi chưa nói hết “nhân danh Cha” đã gần kết thúc “Amen”. Nhưng nếu làm với ý thức, đó là một bản tuyên xưng đức tin cô đọng đến kỳ lạ. Ta chạm vào trán như trao trí óc cho Thiên Chúa; chạm vào ngực như trao trái tim cho Người; chạm từ vai này sang vai kia như để toàn bộ con người được bao bọc trong mầu nhiệm Ba Ngôi và cứu chuộc. Mỗi lần làm dấu Thánh Giá, ta nhắc mình rằng đời ta được đặt dưới dấu của Đấng đã chết và sống lại. Buổi sáng làm dấu Thánh Giá là nói: hôm nay con thuộc về Chúa. Trước bữa ăn làm dấu Thánh Giá là nói: sự sống này là quà tặng. Khi lên đường làm dấu Thánh Giá là nói: con xin Chúa đi cùng. Trước một quyết định khó khăn làm dấu Thánh Giá là nói: xin đừng để ý riêng con thắng ý Chúa. Bên giường bệnh làm dấu Thánh Giá là nói: ngay cả ở đây Chúa vẫn hiện diện. Khi khép mắt một người thân đã qua đời và vẽ dấu Thánh Giá trên trán họ, người Kitô hữu như trao người ấy trở lại cho Đấng đã chết và sống lại vì họ.
Có lẽ vì quá quen, chúng ta không còn kinh ngạc trước biểu tượng Thánh Giá. Thánh Giá có mặt trong nhà thờ, nghĩa trang, trường học, bệnh viện, trên cổ áo, trên bàn làm việc, trên chuỗi Mân Côi, trên các phần mộ, trên nóc tháp chuông. Nhưng nếu một người Rôma thế kỷ thứ nhất sống lại và bước vào một thánh đường Công giáo hôm nay, có lẽ họ sẽ sửng sốt. Làm sao dụng cụ hành hình đáng sợ nhất lại được đặt nơi trang trọng nhất? Làm sao dấu hiệu của tử tội lại xuất hiện trên vương miện, bàn thờ, nhà thờ và trên ngực hàng triệu người? Câu trả lời chỉ có thể là: vì Đức Giêsu đã đi qua đó. Cũng giống như một căn phòng bình thường có thể trở thành nơi thiêng liêng đối với một gia đình vì tại đó người cha đã trút hơi thở cuối cùng; một chiếc khăn bình thường có thể thành kỷ vật vô giá vì là vật người mẹ để lại; cây gỗ Golgotha cũng được biến đổi mãi mãi bởi Đấng đã trao mạng sống trên đó. Nhưng hơn mọi kỷ vật, Thánh Giá không chỉ nhắc một cái chết trong quá khứ. Nó công bố một Đấng đang sống.
Thánh Giá Kitô giáo không bao giờ được tách khỏi ngôi mộ trống. Nếu chỉ có Thứ Sáu Tuần Thánh mà không có sáng Phục Sinh, Kitô giáo sẽ là tôn giáo của một thất bại cao thượng. Nhưng vì ngôi mộ trống, Thánh Giá trở thành biểu tượng của chiến thắng. Chiến thắng ấy không giống chiến thắng của những đoàn quân. Không có kẻ thù bị giẫm dưới chân. Không có thành phố bị đốt. Không có chiến lợi phẩm. Chiến thắng của Thánh Giá là chiến thắng của Đấng bị giết nhưng không trả thù, bị xúc phạm nhưng vẫn tha thứ, bị bỏ rơi nhưng vẫn yêu thương, chết đi nhưng sống lại. Thế gian thường chiến thắng bằng cách làm kẻ khác yếu đi. Đức Kitô chiến thắng bằng cách tự hiến mình. Thế gian chứng minh quyền lực bằng việc bắt người khác phục vụ. Đức Kitô chứng minh quyền năng bằng việc rửa chân. Thế gian dựng ngai vàng cao hơn người khác. Đức Kitô chọn cây Thánh Giá. Chính vì vậy, Thánh Giá là cuộc cách mạng thầm lặng nhất nhưng sâu xa nhất về ý nghĩa của quyền lực.
Trên đồi Golgotha, người ta thách thức Đức Giêsu: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá.” Cám dỗ cuối cùng cũng chính là cám dỗ đầu tiên: hãy chứng minh mình bằng quyền lực. Nhưng Đức Giêsu không xuống. Không phải vì Người không thể, nhưng vì nếu xuống để cứu mình, Người sẽ không hoàn tất việc hiến mình vì chúng ta. Tình yêu giữ Người trên Thánh Giá mạnh hơn những chiếc đinh. Và có lẽ đây là một trong những bài học đau đớn nhất cho người môn đệ. Có những lúc quyền lực thật sự không phải là thoát khỏi một tình thế khó khăn bằng mọi giá, nhưng là trung thành với điều đúng cho đến cùng. Có những lúc chiến thắng không phải là làm đối phương im tiếng, nhưng là giữ trái tim mình khỏi biến thành trái tim của đối phương. Có những lúc sự mạnh mẽ không phải trả đũa, mà là không để sự dữ quyết định con người mình sẽ trở thành.
Khi người lính đâm cạnh sườn Chúa, Tin Mừng Gioan ghi: “Tức thì, máu cùng nước chảy ra.” Hội Thánh từ rất sớm đã chiêm ngắm nơi dòng máu và nước ấy một biểu tượng sâu xa của đời sống bí tích và của chính Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô. Điều thật lạ: từ một vết thương lại chảy ra nguồn sống. Đó chính là quy luật của Thánh Giá. Thiên Chúa không nói rằng vết thương là tốt; Người nói rằng Người có thể làm điều tốt nảy sinh ngay cả từ vết thương. Người không nói cái chết là bạn; Kinh Thánh gọi cái chết là kẻ thù sau cùng. Nhưng Người bước vào cái chết và phá vỡ nó từ bên trong. Người không nói tội lỗi là cần thiết; nhưng nơi tội lỗi con người lên đến đỉnh điểm trong việc đóng đinh Con Thiên Chúa, ân sủng lại tỏ hiện mạnh mẽ hơn. Con người nói “không” với Thiên Chúa; Thiên Chúa vẫn nói “có” với con người. Con người đóng cánh cửa; Thiên Chúa mở cạnh sườn mình.
Cho nên Thánh Giá là nơi không ai có thể nói: “Thiên Chúa không biết tôi đau thế nào.” Một Thiên Chúa chỉ ngự trên trời có thể làm người đau khổ cảm thấy xa lạ. Nhưng Thiên Chúa của Kitô giáo có đôi tay mang dấu đinh. Người biết bị phản bội là gì vì Giuđa từng hôn Người. Người biết bị bạn bè bỏ rơi là gì vì các môn đệ từng chạy trốn. Người biết bị xét xử bất công là gì vì Người đã đứng trước Thượng Hội Đồng và Philatô. Người biết bị chế giễu là gì vì lính tráng từng khoác áo choàng đỏ và đội mão gai lên đầu Người. Người biết đau đớn thể xác là gì. Người biết khát. Người biết cô đơn. Người biết tiếng kêu bật ra từ nơi sâu thẳm nhất của phận người: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Vì thế, khi một người khóc trước Thánh Giá, người ấy không khóc trước một lý thuyết về đau khổ mà trước một Thiên Chúa đã bước vào đau khổ.
Nhưng Thánh Giá cũng không cho phép ta ở mãi trong đau khổ. Đức Kitô không sống lại để chúng ta cứ ngồi mãi dưới mồ. Người đưa ta đi từ thứ Sáu sang Chúa nhật, từ bóng tối sang ánh sáng. Có những người ôm vết thương như một căn cước: “Tôi là người đã bị phản bội”, “Tôi là người bị bỏ rơi”, “Tôi là người thất bại”. Thánh Giá nói rằng điều đã xảy đến với bạn không có quyền định nghĩa toàn bộ con người bạn. Đức Giêsu đã bị đóng đinh, nhưng Người không mãi là “nạn nhân của đóng đinh”. Người là Đấng Phục Sinh. Những vết đinh còn đó, nhưng chúng không còn là dấu của thất bại; chúng trở thành dấu của chiến thắng. Người Kitô hữu cũng được mời gọi sống như thế: không chối bỏ quá khứ, nhưng không để quá khứ giam cầm mình; không phủ nhận vết thương, nhưng để ân sủng biến nó thành lòng cảm thông; không quên những gì đã xảy ra, nhưng không cho nó quyền quyết định tương lai.
Từ “thập giá” đến “Thánh Giá” cuối cùng cũng chính là hành trình đời người Kitô hữu. Ngày được rửa tội, dấu Thánh Giá được vẽ trên trán ta. Cha mẹ đỡ đầu và cộng đoàn cũng ghi dấu ấy. Đó như dấu ấn đầu tiên nói rằng từ nay đời người này thuộc về Đức Kitô. Khi lớn lên, có thể ta quên dấu ấy. Ta chạy theo bao điều khác. Ta tìm một Kitô giáo không hy sinh, một đức tin chỉ xin ơn lành, một Thiên Chúa chỉ để giải quyết khó khăn. Rồi đời dạy ta rằng không ai đi hết cuộc đời mà không có thập giá. Lúc đó ta mới phải quyết định: thập giá này sẽ làm tôi trở nên cay đắng hay sâu sắc hơn? Nó sẽ đóng trái tim tôi lại hay mở tôi ra? Nó sẽ kéo tôi xa Chúa hay đưa tôi vào sâu hơn trong mầu nhiệm của Người? Đây không phải câu hỏi trả lời một lần. Có những ngày ta trả lời bằng đức tin; có những ngày chỉ trả lời được bằng nước mắt.
Và cuối đời, khi người Kitô hữu nằm xuống, Thánh Giá lại xuất hiện. Một cây Thánh Giá đặt bên quan tài. Dấu Thánh Giá trên phần mộ. Linh mục làm phép với dấu Thánh Giá. Cả một đời người dường như được đặt giữa hai dấu Thánh Giá: dấu được ghi trên trán khi bắt đầu hành trình đức tin và dấu được đặt trên mộ khi kết thúc hành trình trần thế. Nhưng người Kitô hữu tin rằng dấu thứ hai không phải dấu chấm hết. Thánh Giá đứng trên mộ chính vì ngôi mộ của Đức Kitô đã trống. Nó nói với người sống rằng người nằm đây không đi vào hư vô. Nó nhắc rằng cái chết đã bị một cái chết khác đánh bại. Nó thì thầm giữa nghĩa trang điều mà Hội Thánh đã tuyên xưng suốt hai ngàn năm: “Nếu chúng ta cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người.”
Vì thế, mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, có lẽ ta nên nhìn lâu hơn một chút. Đừng nhìn như nhìn một món đồ quen thuộc. Hãy nhìn đôi tay ấy và nhớ rằng chẳng ai bị loại khỏi vòng tay Thiên Chúa. Hãy nhìn đôi chân ấy và nhớ con đường yêu thương có giá của nó. Hãy nhìn cạnh sườn mở ra và nhớ rằng trái tim Thiên Chúa chưa bao giờ đóng lại với con người. Hãy nhìn mão gai và nhớ rằng Đức Vua của chúng ta không cai trị bằng sự thống trị. Hãy nhìn tấm bảng INRI và nhớ rằng ngai của Đức Kitô khác với ngai thế gian. Hãy nhìn Đức Maria đứng phía dưới và nhớ rằng trong những giờ tối tăm nhất, trung thành đôi khi chỉ có nghĩa là vẫn đứng đó. Hãy nhìn người trộm lành và nhớ rằng không bao giờ là quá muộn để nói: “Lạy Ngài, khi vào Nước Ngài, xin nhớ đến tôi.” Hãy nghe Đức Giêsu nói với anh: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng,” để hiểu rằng ngay nơi tưởng chỉ có án chết, Thiên Chúa vẫn mở cửa sự sống.
Thập giá của Rôma từng nói với con người: “Ngươi đã bị kết án.” Thánh Giá Đức Kitô nói: “Ngươi đã được yêu.” Thập giá từng bảo: “Đây là nơi mọi hy vọng chấm dứt.” Thánh Giá nói: “Đây là nơi hy vọng bắt đầu.” Thập giá từng dựng khoảng cách giữa người bị đóng đinh và cộng đồng. Thánh Giá Đức Kitô quy tụ muôn dân. Thập giá từng là biểu tượng của quyền lực đế quốc. Thánh Giá trở thành biểu tượng của một Đấng không có quân đội nhưng đã chinh phục hàng triệu trái tim. Đó là cuộc biến đổi mà chỉ Thiên Chúa mới làm được.
Và điều Người đã làm với cây gỗ Golgotha, Người vẫn muốn làm với cuộc đời chúng ta. Có thể trong đời ta hôm nay đang có một “thập giá” chưa thành “Thánh Giá”: một ký ức còn khiến ta cay đắng, một con người ta chưa tha thứ, một căn bệnh ta chưa chấp nhận, một thất bại ta vẫn thấy nhục nhã, một lời cầu nguyện chưa được đáp, một nỗi cô đơn không ai hiểu. Ta không cần giả vờ rằng nó không đau. Đức Giêsu cũng không giả vờ trên Golgotha. Ta chỉ cần đem nó đến với Người. Có những điều ta không thể thay đổi, nhưng có thể trao. Có những biến cố không bao giờ trở thành tốt, nhưng ân sủng có thể làm điều tốt nảy sinh từ chúng. Có những câu chuyện không thể viết lại phần đầu, nhưng Thiên Chúa có thể viết một phần kết khác.
Đó chính là đức tin Thánh Giá: không phải tin rằng mọi sự đều tốt đẹp, nhưng tin rằng Thiên Chúa có thể hoạt động trong mọi sự để dẫn những ai yêu mến Người đến điều thiện; không phải nói rằng đêm tối không đáng sợ, nhưng tin rằng bình minh có thật; không phải nói cái chết không đau, nhưng tuyên xưng rằng cái chết không có tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng thuộc về Đấng Phục Sinh.
Một ngày kia, mọi cây thập giá đời ta sẽ được đặt xuống. Những điều làm ta mất ngủ sẽ qua. Những lời người ta từng nói về ta rồi cũng chìm vào quên lãng. Những cuộc tranh giành mà ta từng xem là sống còn sẽ trở thành bụi. Những thân xác hôm nay ta cố giữ bằng mọi cách rồi cũng trở về lòng đất. Khi ấy, điều còn lại không phải là ta đã tránh được bao nhiêu thập giá, nhưng là ta đã yêu thế nào khi mang chúng. Có những người đi qua đau khổ mà làm đau thêm biết bao người. Có những người đi qua đau khổ và trở thành nơi trú ẩn cho người khác. Khác biệt nằm ở chỗ một người chỉ mang thập giá, còn người kia để Đức Kitô biến thập giá ấy thành Thánh Giá.
Xin cho mỗi lần làm dấu Thánh Giá, chúng ta đừng làm như một thói quen trống rỗng. Xin cho mỗi lần ngước nhìn Thánh Giá trong nhà thờ, ta nhớ rằng ở đó có giá máu của tình yêu dành cho mình. Xin cho mỗi khi đời đặt lên vai một thập giá, ta đủ khiêm tốn để không hỏi chỉ rằng: “Tại sao lại là con?” nhưng còn biết hỏi: “Lạy Chúa, con phải sống điều này với Ngài thế nào?” Và xin cho đến cuối cùng, khi mọi sự đã qua đi, người khác có thể nhìn vào đời ta mà nhận ra điều kỳ diệu Thiên Chúa từng làm trên Golgotha: biến đau khổ thành hiến lễ, biến vết thương thành lòng thương xót, biến mất mát thành trao ban, biến cái chết thành con đường dẫn tới sự sống.
Bởi từ “thập giá” đến “Thánh Giá” chỉ có thêm một chữ “thánh”, nhưng để chữ ấy xuất hiện, Con Thiên Chúa đã phải đi trọn con đường tình yêu đến cùng. Và từ những thập giá của đời ta đến một đời sống thánh thiện cũng vậy: không phải chỉ thêm vào vài lời kinh, vài nghi thức hay vài biểu tượng đạo đức, nhưng là để Đức Kitô bước vào chính nơi đau nhất, tối nhất, khó chấp nhận nhất trong cuộc đời mình. Khi Người bước vào, Thập Giá không biến mất, nhưng nó không còn như cũ. Vì nơi nào Đức Kitô hiện diện, nơi ấy đau khổ có thể trở thành hiến lễ; nơi ấy sự chết không còn là dấu chấm hết; và nơi ấy, cây gỗ từng là biểu tượng của ô nhục mãi mãi trở thành THÁNH GIÁ – DẤU CHỈ CỦA TÌNH YÊU MẠNH HƠN SỰ CHẾT.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ TRONG CÁC CUỘC BÁCH HẠI ĐẦU TIÊN CỦA KITÔ GIÁO
Có những biểu tượng chỉ cần nhìn một lần là người ta hiểu ngay chúng muốn nói gì. Có những dấu hiệu đi qua lịch sử rồi phai nhạt theo thời gian. Nhưng cũng có những dấu hiệu càng bị chôn vùi lại càng sáng, càng bị cấm đoán lại càng lan rộng, càng bị người đời khinh miệt lại càng trở nên thiêng thánh. Thánh Giá của Đức Giêsu Kitô là một dấu hiệu như thế. Ngày hôm nay, chúng ta quen nhìn thấy Thánh Giá trên đỉnh tháp nhà thờ, trên bàn thờ, trên tường các gia đình Công giáo, nơi nghĩa trang, trên ngực các linh mục và tu sĩ, trong bàn tay những người hấp hối, trên những chuỗi Mân Côi đã sờn vì năm tháng. Chúng ta làm dấu Thánh Giá khi thức dậy, trước bữa ăn, trước một chuyến đi, trước khi bắt đầu công việc, khi gặp hiểm nguy và trước khi nhắm mắt ngủ. Vì quá quen, đôi khi chúng ta quên rằng đã có một thời chỉ cần một người bị nhận ra là môn đệ của Đấng chịu đóng đinh thì chính người ấy có thể phải trả giá bằng máu. Đã có một thời Thánh Giá không phải là món đồ trang sức bằng vàng đeo trên cổ, mà là bóng tối của pháp trường, là tiếng roi quất trên thân thể, là máu chảy trên đấu trường, là ngọn lửa bập bùng giữa đêm Rôma, là hơi thở cuối cùng của những người không chịu nói một lời chối Chúa. Chính trong những thế kỷ đầu tiên ấy, khi Kitô giáo còn bị xem là một tôn giáo đáng nghi ngại, khi những cộng đoàn nhỏ bé phải tụ họp kín đáo trong các gia đình hay quanh mộ các vị tử đạo, Thánh Giá đã từ một dụng cụ hành hình nhục nhã của đế quốc trở thành dấu chỉ âm thầm nhưng bất khả chiến bại của một niềm tin: tình yêu mạnh hơn sự chết.
Muốn hiểu được sự táo bạo của các Kitô hữu đầu tiên khi tin vào Thánh Giá, ta phải trở về với ý nghĩa khủng khiếp của thập giá trong thế giới Rôma. Đối với người Rôma, đóng đinh là một trong những hình phạt nhục nhã và kinh hoàng nhất, thường dành cho nô lệ, quân phản loạn và những người bị xem là nguy hiểm đối với trật tự của đế quốc. Người công dân Rôma thông thường được tránh khỏi cái chết ô nhục này. Kẻ bị đóng đinh không chỉ bị giết; họ còn bị biến thành một lời cảnh cáo công khai. Thân xác bị treo lên giữa trời như muốn nói với tất cả những ai đi ngang qua: đây là số phận của kẻ chống lại quyền lực. Bởi thế, khi các Tông đồ bắt đầu rao giảng rằng một người bị đóng đinh chính là Đấng Cứu Thế, là Con Thiên Chúa, là Chúa của sự sống, họ đang nói một điều khiến cả thế giới cổ đại phải sửng sốt. Thánh Phaolô đã diễn tả rất rõ nghịch lý ấy: lời rao giảng về Thập Giá là điều vấp phạm đối với người Do Thái và là sự điên rồ đối với dân ngoại. Nhưng ngài cũng khẳng định ngay: cái mà người đời coi là điên rồ lại chính là sự khôn ngoan của Thiên Chúa; cái mà người đời tưởng là yếu đuối lại chính là quyền năng của Thiên Chúa. Như thế, ngay từ khởi đầu, đức tin Kitô giáo đã mang trong mình một nghịch lý không thể xoá bỏ: Kitô hữu không thờ một Thiên Chúa chiến thắng bằng gươm giáo, nhưng thờ một Thiên Chúa chiến thắng bằng việc để cho đôi tay mình bị đóng đinh; không thờ một Thiên Chúa tiêu diệt kẻ thù, nhưng thờ một Thiên Chúa cầu xin tha thứ cho những người đang giết mình.
Tin Mừng đã ghi lại hình ảnh làm nền tảng cho tất cả linh đạo tử đạo của Hội Thánh sơ khai. Trên đồi Golgotha, khi Đức Giêsu bị treo giữa trời và đất, những người chung quanh chế nhạo Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi!” Đó là cám dỗ cuối cùng. Xuống khỏi thập giá để chứng minh quyền năng. Xuống khỏi thập giá để làm cho kẻ thù câm miệng. Xuống khỏi thập giá để mọi người phải quỳ xuống khiếp sợ. Nhưng Đức Giêsu không xuống. Người ở lại. Người ở lại không phải vì bất lực, mà vì yêu đến cùng. Và giữa những lời nguyền rủa, Người thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Chính câu nói ấy đã trở thành linh hồn của các vị tử đạo sau này. Các Kitô hữu đầu tiên hiểu rằng theo Đức Kitô không chỉ là mang danh Kitô hữu, không chỉ là đọc những lời Người dạy, mà là bước vào cùng một con đường: yêu khi bị ghét, tha thứ khi bị xúc phạm, trung tín khi bị đe dọa, và nếu phải chết thì chết với tên của Đức Giêsu trên môi chứ không chết với lòng căm thù trong tim.
Những cuộc bách hại đầu tiên không phải lúc nào cũng diễn ra đồng loạt trên toàn đế quốc và không phải tất cả các hoàng đế Rôma đều bách hại Kitô hữu với cùng một mức độ. Có thời kỳ sự đàn áp mang tính địa phương, có lúc bùng phát dữ dội ở một vùng rồi lắng xuống, có lúc lại trở thành chính sách rộng lớn hơn của nhà nước. Nhưng từ thế kỷ I đến đầu thế kỷ IV, cộng đoàn Kitô hữu nhiều lần phải sống trong tình trạng mong manh. Họ có thể bị tố cáo, bị bắt giữ, bị buộc phải dâng hương trước tượng hoàng đế hay thần linh Rôma. Chỉ một chút hương. Chỉ một hành vi nhỏ. Chỉ một lời phủ nhận. Có lẽ nhiều người thời nay sẽ nghĩ: chuyện gì mà nghiêm trọng đến thế? Cứ làm bên ngoài rồi trong lòng vẫn tin Chúa có sao đâu. Nhưng các vị tử đạo hiểu rằng chính nơi những điều tưởng nhỏ ấy, căn tính của người môn đệ được thử luyện. Nếu Đức Giêsu đã không chối bỏ con người khi bị treo trên Thánh Giá, làm sao họ có thể chối bỏ Người để giữ lấy mạng sống? Nếu Người đã không quay lưng với họ trong giờ chết, làm sao họ quay lưng với Người vì sợ chết?
Cuộc bách hại dưới thời hoàng đế Nêrô sau vụ cháy lớn tại Rôma năm 64 thường được nhắc đến như một trong những trang đẫm máu đầu tiên. Kitô hữu bị biến thành những người chịu trách nhiệm cho tai họa. Theo sử liệu cổ, nhiều người bị tra tấn và giết chết bằng những hình thức tàn bạo. Truyền thống Hội Thánh gắn cuộc tử đạo của hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô với bối cảnh này. Thánh Phêrô, người đã từng run sợ trong sân dinh thượng tế, người đã ba lần nói “Tôi không biết người ấy”, cuối cùng lại trở thành người dám hiến mạng vì chính Đức Giêsu mà mình từng chối bỏ. Có một quãng đường rất dài giữa sân dinh Caipha và pháp trường Rôma; nhưng quãng đường ấy được lấp đầy bằng nước mắt sám hối, bằng tình yêu và bằng ân sủng. Người môn đệ từng sợ một đầy tớ gái đã trở thành vị mục tử dám đối diện với quyền lực đế quốc. Truyền thống kể rằng Phêrô chịu đóng đinh và xin được đóng ngược vì tự thấy mình không xứng đáng chết giống Thầy. Dù chi tiết ấy thuộc truyền thống cổ chứ không được Tin Mừng thuật lại, ý nghĩa thiêng liêng của nó vẫn lay động biết bao thế hệ: cuộc đời Phêrô khởi đi từ một người sợ Thánh Giá, tránh Thánh Giá, thậm chí từng can ngăn Chúa đi con đường Thánh Giá, nhưng cuối cùng chính ông lại ôm lấy Thánh Giá như con đường trở về với Thầy.
Chúng ta nhớ câu chuyện ở Cêsarê Philípphê. Khi Đức Giêsu loan báo rằng Người phải lên Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ, bị giết chết rồi ngày thứ ba sống lại, Phêrô kéo Người riêng ra mà trách: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” Phêrô yêu Thầy, nhưng lúc đó ông chưa hiểu cách Thiên Chúa cứu độ. Ông muốn một Đức Kitô không có Thánh Giá. Ông muốn vinh quang mà không có hy sinh, chiến thắng mà không phải mất mát. Đức Giêsu đã nghiêm khắc sửa ông rồi nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” Nhiều năm sau, khi Rôma trở thành nơi thử thách cuối đời, Phêrô mới hiểu trọn vẹn câu nói ngày xưa. Thánh Giá không còn là điều ông muốn cản Chúa bước vào. Thánh Giá trở thành con đường ông chọn để đi theo Chúa đến cùng. Cuộc biến đổi ấy cũng là cuộc biến đổi mà mọi Kitô hữu phải trải qua: từ chỗ xin Chúa cất hết thập giá khỏi đời mình đến chỗ xin Chúa ban sức để mang nó cùng Người.
Sau Nêrô, Kitô hữu tiếp tục trải qua những giai đoạn căng thẳng và bách hại dưới nhiều triều đại. Dưới thời Đômixianô, vào cuối thế kỷ I, truyền thống Kitô giáo ghi nhớ những thử thách nặng nề của Hội Thánh. Sang thế kỷ II, những chứng từ tử đạo trở nên rõ nét và phong phú hơn. Điều làm người ta kinh ngạc không chỉ là sự tàn bạo của những hình phạt, nhưng là cách các Kitô hữu đối diện với chúng. Họ không phải là những con người không biết đau. Họ không phải những thân xác bằng đá. Họ cũng run, cũng sợ, cũng nhớ cha mẹ, con cái, gia đình. Chính vì thế mà chứng tá của họ mới đẹp. Đức tin không biến con người thành kẻ vô cảm; đức tin làm cho người ta có thể đi xuyên qua nỗi sợ mà vẫn trung thành. Can đảm Kitô giáo không phải là không biết sợ chết. Can đảm Kitô giáo là biết mình sợ nhưng vẫn không bán linh hồn để đổi lấy vài năm sống nữa.
Một trong những chứng từ cổ kính và xúc động nhất là cuộc tử đạo của thánh Polycarp, giám mục Smyrna, vào thế kỷ II. Khi đã cao tuổi, ngài bị bắt và được yêu cầu nguyền rủa Đức Kitô để được sống. Theo bản văn tử đạo cổ, ngài trả lời bằng một lời đã đi vào lịch sử Kitô giáo: suốt bao năm ngài phụng sự Đức Kitô và Người không làm điều gì xấu cho ngài, vậy làm sao ngài có thể xúc phạm đến Vua đã cứu ngài? Một ông già đứng trước lửa. Một bên là tuổi già, sự mệt mỏi, bản năng muốn sống. Một bên là lời mời gọi rất đơn giản: chỉ cần chối Chúa. Thế mà ông già ấy đã chọn ngọn lửa. Người ta có thể đốt thân xác ông, nhưng không thể đốt được tình yêu đã bén rễ suốt một đời. Đó chính là sức mạnh của Thánh Giá. Thánh Giá không làm cho người tín hữu tránh khỏi lửa; Thánh Giá làm cho họ đi qua lửa mà không đánh mất Đức Kitô.
Ở Lyon thuộc xứ Gallia vào năm 177, những Kitô hữu cũng phải trải qua một cuộc bách hại kinh hoàng. Trong số họ, lịch sử Hội Thánh đặc biệt nhớ đến Blandina, một nữ nô lệ trẻ bé nhỏ về địa vị xã hội nhưng phi thường về sức mạnh đức tin. Những kẻ hành hình tưởng rằng thân thể yếu đuối của cô sẽ nhanh chóng đầu hàng. Nhưng chính nơi con người bị xã hội coi là nhỏ bé ấy lại xuất hiện một sức mạnh khiến những người tra tấn kinh ngạc. Blandina chịu những cực hình ghê gớm nhưng vẫn trung thành. Có lúc cô được treo lên một cột trong tư thế làm các tín hữu khác liên tưởng đến Đức Kitô chịu đóng đinh. Khi nhìn cô, họ được thêm sức mạnh. Thật lạ lùng: một người đang chịu đau lại trở thành nguồn an ủi cho những người đang chịu đau. Một người tưởng như chẳng có gì lại trở nên như một biểu tượng sống động của Thánh Giá. Thiên Chúa vẫn thường làm như vậy. Người lấy những gì thế gian coi là yếu để làm cho cái mạnh phải xấu hổ; Người lấy những gì nhỏ bé để làm cho những kẻ tự cho mình lớn lao phải bối rối.
Những thế kỷ đầu cũng cho chúng ta biết rằng Kitô hữu không phải ngay lập tức trưng bày hình Thánh Giá công khai theo cách chúng ta quen thấy hôm nay. Điều này rất dễ hiểu. Trong thế giới cổ đại, thập giá vẫn còn gợi đến pháp trường, sự nhục nhã và án tử. Hơn nữa, trong thời bách hại, việc công khai biểu tượng Kitô giáo có thể đưa cả cộng đoàn vào nguy hiểm. Vì thế, người Kitô hữu đã sử dụng nhiều biểu tượng khác như con cá, vị mục tử, chiếc neo, chim bồ câu, hình người cầu nguyện. Nhưng điều đó không có nghĩa Thánh Giá vắng bóng khỏi đời sống đức tin. Trái lại, Thánh Giá đã ở rất sâu trong lời giảng, trong phụng vụ, trong dấu chỉ cầu nguyện và đặc biệt trong cách các Kitô hữu hiểu sự tử đạo. Các giáo phụ thời sơ khai đã nói tới việc làm dấu Thánh Giá, cho thấy dấu này sớm trở thành một cử chỉ thân thuộc trong đời sống người tín hữu. Trước khi Thánh Giá được dựng cao trên vương cung thánh đường, Thánh Giá đã được ghi trên thân xác và trong tâm hồn người Kitô hữu.
Có lẽ đây là điều chúng ta cần suy nghĩ nhiều nhất: những Kitô hữu thời bách hại không mang Thánh Giá như một vật trang trí. Họ mang Thánh Giá bằng đời sống. Người ta có thể tịch thu sách của họ, phá nơi họ tụ họp, bắt các mục tử, giam các tín hữu, nhưng không thể lấy Thánh Giá ra khỏi lòng họ. Có những Thánh Giá không làm bằng gỗ. Có Thánh Giá là một người mẹ chứng kiến con mình bị dẫn đi vì đức tin. Có Thánh Giá là người chồng phải chọn giữa sự an toàn của gia đình và việc phản bội Chúa. Có Thánh Giá là đêm dài trong nhà tù chờ sáng mai ra pháp trường. Có Thánh Giá là tiếng khóc của đứa trẻ mất cha. Có Thánh Giá là sự cô độc của một cộng đoàn khi vị mục tử bị bắt. Có Thánh Giá là việc những người từng là bạn bè bỗng tránh xa vì sợ bị liên lụy. Có Thánh Giá là lời vu khống, là sự khinh miệt, là bị xem như kẻ thù của xã hội. Và chính giữa những Thánh Giá ấy, các tín hữu đã khám phá điều Đức Giêsu từng hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”
Đến thế kỷ III, những cuộc bách hại mang tính hệ thống hơn xuất hiện, đặc biệt dưới thời Đêxiô. Đế quốc đang trải qua nhiều khủng hoảng và việc củng cố sự thống nhất tôn giáo được coi như một cách bảo vệ trật tự. Người dân bị yêu cầu thực hiện nghi lễ tế thần và có chứng nhận. Đối với Kitô hữu, đây không còn chỉ là vấn đề chính trị; đó là một cuộc thử lửa của lương tâm. Một số người can đảm từ chối và chịu tù đày hay tử đạo. Một số người vì quá sợ hãi đã nhượng bộ. Và chính ở đây ta gặp một khía cạnh rất người của Hội Thánh sơ khai: không phải tất cả đều anh hùng. Có những người đã ngã quỵ. Có người đã dâng hương. Có người đã tìm cách có được giấy chứng nhận mà không thực sự tế thần. Sau khi cơn bách hại qua đi, Hội Thánh phải đối diện với câu hỏi đau đớn: phải làm gì với những người đã chối bỏ hay nhượng bộ nhưng nay ăn năn muốn trở về?
Câu hỏi ấy đưa chúng ta đến chiều sâu khác của Thánh Giá. Thánh Giá không chỉ là nơi tôn vinh những người mạnh mẽ. Thánh Giá còn là nơi những kẻ yếu đuối được tha thứ. Phêrô đã chối Chúa và được phục hồi. Hội Thánh không thể quên điều đó. Nếu chỉ tôn vinh những người không bao giờ ngã xuống, chúng ta có thể biến Kitô giáo thành tôn giáo của những người hoàn hảo. Nhưng Tin Mừng là Tin Mừng của ân sủng. Người môn đệ có thể sa ngã; điều quan trọng là có dám khóc như Phêrô và trở về hay không. Chính vì thế, những tranh luận quanh việc đón nhận lại các “lapsi” – những người sa ngã trong bách hại – đã giúp Hội Thánh suy nghĩ sâu hơn về lòng thương xót, việc sám hối và quyền tha tội. Thánh Giá vừa là đòi hỏi trung tín đến cùng, vừa là cánh cửa mở ra cho người hối cải. Đức Kitô đã chết cho cả vị tử đạo không chối Người lẫn người môn đệ đã từng chối Người nhưng quay trở về trong nước mắt.
Cuộc bách hại dưới thời Valerian vào giữa thế kỷ III đã khiến nhiều vị lãnh đạo Hội Thánh phải chịu chết. Thánh Cyprianô, giám mục Carthage, là một trong những gương mặt nổi bật. Khi án tử được tuyên, ngài đón nhận với bình an. Điều đáng suy nghĩ là quyền lực của đế quốc có thể tuyên án tử cho một giám mục, nhưng không thể tuyên án tử cho đức tin của Hội Thánh. Một mục tử ngã xuống thì cộng đoàn lại được củng cố. Một người bị giết vì danh Đức Kitô thì câu hỏi về Đức Kitô lại lan xa hơn. Chính vì vậy mà Tertullianô, nhà văn Kitô giáo cuối thế kỷ II đầu thế kỷ III, đã để lại một tư tưởng nổi tiếng: máu các Kitô hữu là hạt giống. Người ta giết một người nhưng từ cái chết ấy lại nảy sinh những người tin khác. Lịch sử Hội Thánh sơ khai quả thực mang hình ảnh hạt lúa mì mà Đức Giêsu nói trong Tin Mừng: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.”
Chính lời Tin Mừng ấy soi sáng mầu nhiệm của các vị tử đạo. Nếu chỉ nhìn bằng mắt thế gian, một người tử đạo là một cuộc đời bị cắt ngang, một thất bại, một bi kịch. Nhưng dưới ánh sáng Thánh Giá, cái chết vì Đức Kitô không phải là kết thúc vô nghĩa. Hạt lúa biến mất trong lòng đất nhưng mùa màng bắt đầu từ chính nơi nó biến mất. Vị tử đạo mất mạng sống nhưng chứng tá của người ấy bắt đầu một cuộc đời mới trong ký ức Hội Thánh. Những cái tên tưởng như bị đế quốc xoá bỏ lại được nhớ suốt hàng nghìn năm. Những viên chức từng ký án tử cho họ phần lớn chẳng còn ai biết tên, nhưng những người bị kết án thì hôm nay vẫn được đọc tên trong phụng vụ. Đó cũng là một nghịch lý của Thánh Giá: kẻ tưởng mình chiến thắng có thể biến mất, người tưởng như thất bại lại bước vào sự sống.
Đỉnh cao của các cuộc bách hại trong đế quốc Rôma thường được nhắc đến với cuộc bách hại lớn khởi đầu dưới thời Diocletian vào đầu thế kỷ IV. Những sắc lệnh chống Kitô giáo được ban hành, nhà thờ bị phá, sách thánh bị tịch thu và thiêu hủy, nhiều giáo sĩ bị bắt, rồi các biện pháp khắc nghiệt được mở rộng. Đó là một giai đoạn đen tối. Sau gần ba thế kỷ kể từ Đức Kitô, người ta có thể tưởng Hội Thánh sắp bị nghiền nát. Nhưng thật kỳ lạ: ngay khi quyền lực đế quốc tung ra một trong những nỗ lực quyết liệt nhất để xoá Kitô giáo, thì chỉ ít năm sau, hoàn cảnh lịch sử lại đổi thay. Đầu thế kỷ IV, Kitô giáo dần bước ra khỏi thời kỳ bị đặt ngoài vòng pháp luật và cuối cùng được hưởng sự khoan dung. Cây Thánh Giá từng là dấu hiệu của tử tội rồi sẽ được dựng công khai giữa lòng đế quốc. Không thể không nhìn thấy ở đó một hình ảnh sâu xa của mầu nhiệm Vượt Qua: chiều Thứ Sáu tưởng như tất cả kết thúc, nhưng sáng Chúa Nhật, ngôi mộ trống.
Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ kể câu chuyện bách hại để ca ngợi sự anh hùng của quá khứ thì chưa đủ. Điều quan trọng hơn là hỏi: điều gì đã khiến những con người ấy có thể sống như thế? Câu trả lời không nằm trong bản chất đặc biệt của họ. Họ không sinh ra để làm tử đạo. Họ là những người bình thường. Có người già, người trẻ, nô lệ, quý tộc, binh lính, mẹ gia đình, trinh nữ, giám mục, linh mục, giáo dân. Sức mạnh của họ đến từ việc họ biết mình thuộc về ai. Họ tin rằng Đức Kitô đã chết và đã sống lại. Họ tin rằng sự chết không còn là tiếng nói cuối cùng. Khi một người tin thực sự rằng phía sau cái chết là vòng tay của Thiên Chúa, người ta có thể cướp rất nhiều thứ của họ nhưng không thể cướp điều cuối cùng. Nhà tù không còn là bức tường tuyệt đối. Lưỡi gươm không còn là dấu chấm hết. Ngọn lửa không còn là quyền lực tối hậu. Cái chết không còn là vị thần đáng sợ nhất. Đó là lý do quyền lực thế gian bối rối trước các vị tử đạo: người ta rất khó khống chế một người không còn coi mạng sống trần gian là tài sản tối cao.
Đức Giêsu đã nói: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được mạng sống ấy.” Câu Tin Mừng ấy không phải lời khuyến khích coi thường sự sống. Kitô giáo yêu quý sự sống bởi sự sống là quà tặng của Thiên Chúa. Các vị tử đạo không đi tìm cái chết. Họ không tự sát. Họ không tìm đau khổ vì đau khổ. Khi có thể tránh nguy hiểm cách chính đáng, nhiều Kitô hữu đã tránh. Nhưng có một ranh giới mà họ không bước qua: giữ mạng sống bằng cách phản bội Đức Kitô. Họ yêu sự sống, nhưng họ yêu Đấng ban sự sống hơn. Họ quý thân xác, nhưng họ biết thân xác này sẽ sống lại. Họ yêu gia đình, nhưng họ tin rằng tình yêu của Thiên Chúa còn sâu hơn tất cả mọi tình yêu trần thế. Và chính vì biết đặt mọi sự đúng chỗ, họ trở thành những con người tự do.
Tự do ấy là hoa trái của Thánh Giá. Người đời thường nghĩ tự do là muốn làm gì thì làm. Tin Mừng cho thấy một thứ tự do khác: tự do là không để bất cứ thứ gì bắt mình phản bội điều mình biết là chân thật. Một người có thể đang ở ngoài tù mà vẫn là nô lệ của sợ hãi, tiền bạc, danh dự, dư luận. Một Kitô hữu bị xích trong ngục nhưng không chịu chối Chúa có thể lại là người tự do nhất trong thành phố. Những người cai ngục có chìa khóa nhưng chưa chắc tự do. Người tử đạo không có chìa khóa nhưng tâm hồn không ai khóa được. Đây chính là chiến thắng sâu thẳm của Thánh Giá: Đức Kitô bị đóng đinh, tay chân bị giữ chặt, tưởng như hoàn toàn bất lực, nhưng chính lúc ấy Người thực hiện hành vi tự do tuyệt đối: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Người không thể rời cây gỗ, nhưng không ai có thể buộc Người ngừng yêu.
Có một chi tiết trong Tin Mừng Gioan đặc biệt đẹp khi suy niệm về các Kitô hữu bị bách hại. Trước cuộc Thương Khó, Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian.” Lời ấy thật lạ. Khi nói câu đó, Đức Giêsu vẫn chưa bị bắt. Giuđa đang chuẩn bị phản bội. Phêrô sắp chối Thầy. Các môn đệ sắp bỏ chạy. Thập Giá đang chờ trước mặt. Vậy mà Người nói: “Thầy đã thắng thế gian.” Chiến thắng của Đức Giêsu không phụ thuộc vào việc Người tránh được Thánh Giá, nhưng nằm ở chỗ bóng tối không làm Người ngừng yêu. Thế gian có thể làm Người đau nhưng không làm Người ghét. Có thể giết Người nhưng không làm Người trở thành kẻ giết người. Có thể đóng đinh tay Người nhưng không đóng đinh được lòng thương xót của Người. Chính chiến thắng ấy được lập lại nơi các vị tử đạo.
Một trong những điều gây ấn tượng mạnh nơi chứng tá tử đạo Kitô giáo là tinh thần tha thứ. Nếu các vị tử đạo chết với lòng căm thù, cái chết của họ chỉ là một bi kịch chính trị. Nhưng khi họ cầu nguyện cho những người bách hại mình, cái chết của họ mang hình dáng Thánh Giá Đức Kitô. Thánh Stêphanô, vị tử đạo đầu tiên được sách Công vụ Tông đồ kể lại, là mẫu mực tuyệt vời. Khi bị ném đá, ngài cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, xin nhận lấy hồn con.” Rồi ngài quỳ xuống kêu lớn tiếng: “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này.” Hãy dừng lại ở cảnh ấy. Đá đang ném vào người ông. Máu đang chảy. Những khuôn mặt giận dữ vây quanh. Một thanh niên tên Saolô đang đứng đó đồng thuận với việc giết ông. Nếu Stêphanô muốn nguyền rủa họ, con người có thể hiểu được. Nhưng ông lại cầu xin tha thứ. Và rồi chính Saolô sau này trở thành Phaolô, vị Tông đồ dân ngoại. Ta không thể chứng minh rằng lời cầu của Stêphanô là nguyên nhân duy nhất của cuộc hoán cải ấy, nhưng Hội Thánh qua bao thế kỷ vẫn thích chiêm ngắm mối liên hệ huyền nhiệm giữa máu của người tử đạo và sự ra đời của một vị Tông đồ. Một người chết mà không căm thù; một người bách hại rồi trở thành người rao giảng. Đó là logic của Thánh Giá.
Nếu nhìn kỹ, ta thấy các cuộc bách hại đã vô tình giúp Hội Thánh hiểu rõ mình hơn. Người Kitô hữu phải trả lời câu hỏi: Đức Giêsu là ai đối với tôi? Nếu Người chỉ là một vị thầy đáng kính, có lẽ không cần phải chết vì Người. Nếu Tin Mừng chỉ là một triết lý hay, ta có thể điều chỉnh nó để sống yên ổn. Nhưng nếu Đức Giêsu thực sự là Chúa, là Đấng đã chết và sống lại vì tôi, thì mọi sự thay đổi. Các vị tử đạo đã trả lời bằng chính máu mình rằng Đức Kitô không phải một phần trong đời họ; Người là trung tâm đời họ. Người không đứng ngang hàng với những giá trị khác; Người là Đấng nhờ đó mọi giá trị khác có ý nghĩa. Chính vì thế, bách hại giống như lửa thử vàng. Nó làm lộ ra đâu là đức tin thật, đâu chỉ là thói quen.
Ngày nay nhiều người trong chúng ta không bị dẫn ra đấu trường. Không ai bắt chúng ta phải chọn giữa dâng hương cho tượng thần và bị giết. Nhưng điều đó không có nghĩa thời đại chúng ta không có những cuộc thử thách đối với Thánh Giá. Có những cuộc bách hại bằng gươm súng vẫn còn xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới, nơi Kitô hữu có thể phải trả giá rất đắt vì đức tin. Nhưng cũng có một kiểu bách hại tinh vi hơn: sự chế giễu, áp lực của dư luận, cám dỗ sống như thể Thiên Chúa không tồn tại, sự ngượng ngùng khi phải công khai mình là người tin Chúa, sự im lặng vì sợ mất lợi ích, sự thỏa hiệp để được chấp nhận. Có khi chẳng ai bắt ta chối Chúa bằng lời, nhưng cuộc sống của ta tự chối Người mỗi ngày. Ta vẫn đeo Thánh Giá trên cổ nhưng sống như thể Thánh Giá chẳng có nghĩa gì. Ta làm dấu Thánh Giá trước bữa ăn nhưng sau đó có thể nói xấu người khác. Ta hôn Thánh Giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh rồi lại không muốn tha thứ cho một người làm mình đau. Ta cúi đầu trước tượng Chúa chịu nạn nhưng không chịu cúi mình trước người nghèo. Ta hát “vinh quang của ta là Thánh Giá Đức Kitô” nhưng chỉ cần gặp một chút mất mát đã oán trách Chúa. Nếu các vị tử đạo đầu tiên nhìn chúng ta, có lẽ họ sẽ hỏi: các bạn mang Thánh Giá bằng vàng, nhưng Thánh Giá có thực sự nằm trong đời các bạn không?
Đây có lẽ là cuộc xét mình đau nhất. Vấn đề không phải chúng ta có đủ can đảm để chết vì Chúa hay không. Vấn đề trước hết là chúng ta có đang sống cho Chúa không. Chết một lần đôi khi còn dễ hơn trung tín từng ngày. Có những cuộc tử đạo không đổ máu nhưng kéo dài cả đời. Một người mẹ hy sinh âm thầm cho gia đình là đang vác Thánh Giá. Một người chồng trung thành khi phải chống lại cám dỗ là đang vác Thánh Giá. Một người bệnh chấp nhận những tháng năm đau đớn mà vẫn giữ lòng tin là đang vác Thánh Giá. Một người bị vu oan nhưng không trả thù là đang vác Thánh Giá. Một người sống giữa môi trường gian dối mà vẫn quyết không gian dối là đang vác Thánh Giá. Một người trẻ chấp nhận bị bạn bè cười vì không chạy theo lối sống sai trái là đang vác Thánh Giá. Một linh mục trung thành với sứ vụ trong lúc bị hiểu lầm, cô đơn, mệt mỏi cũng đang vác Thánh Giá. Một tu sĩ tiếp tục sống lời khấn khi cảm xúc không còn nồng nhiệt cũng đang vác Thánh Giá. Thánh Giá hôm nay có thể không làm bằng hai thanh gỗ, nhưng vẫn có trọng lượng.
Điều đáng sợ không phải là Thánh Giá nặng. Điều đáng sợ là chúng ta muốn một Kitô giáo không Thánh Giá. Muốn theo Chúa nhưng không muốn từ bỏ. Muốn được Phục Sinh nhưng không muốn đi qua Thứ Sáu Tuần Thánh. Muốn bình an nhưng không muốn tha thứ. Muốn được Chúa thương nhưng không muốn thương người làm mình đau. Muốn Hội Thánh được kính trọng nhưng không muốn Hội Thánh nghèo khó, khiêm tốn và chịu hiểu lầm. Muốn Đức Giêsu làm Vua nhưng không muốn Vua đội mão gai. Đó chính là cơn cám dỗ mà Phêrô từng trải qua: “Xin Thầy đừng gặp chuyện ấy.” Nhưng Đức Giêsu không cứu thế giới bằng cách tránh Thánh Giá. Người cứu thế giới từ chính Thánh Giá.
Các Kitô hữu thời sơ khai hiểu điều này bằng giá máu. Khi bước xuống các hầm mộ, khi cầu nguyện quanh phần mộ của những người đã chết vì Đức Kitô, họ không chỉ tưởng nhớ người quá cố. Họ cử hành niềm tin rằng sự chết đã bị đánh bại. Mộ tử đạo trở thành nơi sinh ra hy vọng. Ngày qua đời của vị tử đạo thường được nhìn như ngày sinh vào trời. Đây là một cách nhìn hoàn toàn khác với logic thế gian. Với thế gian, cái chết là mất. Với Kitô hữu, chết trong Đức Kitô là trở về. Với thế gian, một vị tử đạo là nạn nhân. Với Hội Thánh, họ là chứng nhân. Từ “martyr” trong truyền thống Kitô giáo mang nghĩa “chứng nhân”. Người tử đạo không chủ yếu là người bị giết; đó là người làm chứng. Họ làm chứng rằng Đức Giêsu đáng để trao cả mạng sống. Họ làm chứng rằng thiên đàng là thật. Họ làm chứng rằng tình yêu của Thiên Chúa không phải một ý tưởng đẹp nhưng là một thực tại mạnh đến mức con người có thể đặt cả cuộc đời mình vào đó.
Ta hãy hình dung một đêm nào đó ở Rôma cổ đại. Trong một căn nhà kín đáo, một nhóm nhỏ Kitô hữu tụ họp. Ánh đèn dầu yếu ớt. Có thể một vài người trong số họ vừa nghe tin một người thân bị bắt. Có thể ngày mai sẽ đến lượt họ. Không có tháp chuông. Không có nhà thờ nguy nga. Không có dàn nhạc. Không có sự bảo vệ của luật pháp. Họ chỉ có Lời Chúa, bánh và rượu, lời cầu nguyện, ký ức về Đức Giêsu và tình thương dành cho nhau. Một vị chủ sự đọc lại lời Chúa: “Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” Những người nghe biết rằng “hiến tế vì anh em” có thể trở thành chuyện của chính họ. Họ rước lấy Mình Đức Kitô chịu đóng đinh, để rồi có sức mà trở thành thân mình hiến trao. Thánh Thể và Thánh Giá gặp nhau trong đời họ. Họ không chỉ tưởng niệm hy lễ của Chúa; họ được mời bước vào hy lễ ấy.
Có lẽ vì vậy mà Hội Thánh của các thế kỷ bách hại dù nghèo lại có một sức sống đáng kinh ngạc. Khi người ta không biết ngày mai mình có còn được tự do hay không, người ta học được điều gì thực sự quan trọng. Khi người ta có thể chết vì đức tin, người ta không dễ phí thời gian cho những tranh cãi nhỏ nhặt. Khi người ta cùng nhau chôn cất một người vừa tử đạo, người ta hiểu sâu hơn lời “chúng ta là anh em”. Khi một giám mục có thể bị bắt bất cứ lúc nào, chức vụ trong Hội Thánh không phải địa vị để hưởng nhưng là trách nhiệm có thể phải trả giá bằng mạng sống. Khi trở thành Kitô hữu có nghĩa là bước vào nguy hiểm, phép Rửa không còn là một nghi thức xã hội; đó là quyết định thuộc trọn về Đức Kitô.
Chúng ta đôi khi nuối tiếc sức sống mạnh mẽ ấy nhưng lại quên rằng nó được sinh ra trong lửa. Một đức tin chưa từng bị thử thách có thể dễ dàng trở thành một lớp sơn bên ngoài. Một đức tin đi qua đau khổ và vẫn còn đứng vững sẽ trở thành xương thịt. Thánh Giá làm việc ấy. Nó lấy khỏi chúng ta những ảo tưởng. Khi đau khổ đến, tiền không cứu được hết. Danh tiếng không cứu được hết. Những lời khen không cứu được hết. Cuối cùng con người đứng trước câu hỏi: tôi bám vào ai? Các vị tử đạo trả lời: Đức Kitô.
Nhưng cũng cần nói rõ một điều để tránh hiểu sai: Kitô giáo không thần thánh hóa đau khổ. Thánh Giá thánh không phải vì đau khổ tự nó tốt đẹp. Thánh Giá thánh vì trên đó có tình yêu. Hai người có thể cùng chịu đau nhưng đau khổ của họ mang ý nghĩa khác nhau. Điều cứu độ không phải những cái đinh, mà là tình yêu của Đấng chịu đóng đinh. Điều làm nên tử đạo không phải chỉ là việc bị giết, mà là bị giết vì trung thành với Đức Kitô và trong tinh thần của Đức Kitô. Nếu một người chết vì căm thù, đó không phải tinh thần Thánh Giá. Nếu một người tìm cái chết để tôn mình lên, đó không phải tinh thần Thánh Giá. Đức Giêsu không yêu đau khổ; Người yêu con người đến mức chấp nhận đau khổ để cứu con người. Các vị tử đạo cũng vậy. Họ không mê cái chết. Họ yêu Đức Kitô đến mức cái chết không làm họ chối Người.
Sức mạnh của họ cũng đến từ niềm tin vào sự Phục Sinh. Nếu câu chuyện kết thúc ở Golgotha, Thánh Giá sẽ chỉ là thất bại. Nhưng Thánh Giá Kitô giáo luôn được nhìn dưới ánh sáng của ngôi mộ trống. Đấng chịu đóng đinh đã sống lại. Những dấu đinh vẫn còn nhưng chúng đã trở thành dấu tích của chiến thắng. Khi Đức Giêsu hiện ra với Tôma, Người không che những vết thương. Người nói: “Đặt ngón tay anh vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy.” Thân xác phục sinh vẫn mang dấu tích Thánh Giá. Điều đó thật đẹp. Thiên Chúa không xóa quá khứ đau đớn như thể nó chưa từng xảy ra. Người biến những vết thương thành vinh quang. Vì thế, người Kitô hữu có thể tin rằng chẳng giọt nước mắt nào trung thành với Chúa bị lãng phí, chẳng hy sinh nào vì yêu thương bị quên lãng, chẳng vết thương nào trao cho Đức Kitô lại vô nghĩa.
Các vị tử đạo sống nhờ hy vọng đó. Họ biết thân xác có thể bị hủy hoại nhưng họ tin vào sự sống lại của thân xác. Họ có thể mất tài sản nhưng tin mình có kho tàng trên trời. Họ có thể mất gia đình trong một thời gian nhưng tin vào sự hiệp thông vĩnh cửu trong Thiên Chúa. Họ có thể bị xóa tên khỏi danh sách công dân nhưng tin tên mình được ghi trên trời. Chính vì vậy, họ không phải những người tuyệt vọng. Điều đáng kinh ngạc trong nhiều trình thuật tử đạo cổ là nét bình an, đôi khi là niềm vui, giữa đau khổ. Không phải niềm vui bệnh hoạn vì được đau, mà là niềm vui của người biết mình sắp gặp Đấng mình yêu.
Hãy nhớ người trộm lành trên Thánh Giá. Trong Tin Mừng Luca, giữa lúc Đức Giêsu bị sỉ nhục, người ấy thưa: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Đức Giêsu đáp: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Câu ấy đã nâng đỡ biết bao người trước giờ chết. “Hôm nay anh sẽ ở với tôi.” Đó là lời hứa của Thánh Giá. Không phải: anh sẽ không chết. Nhưng: anh chết mà không cô độc. Không phải: anh sẽ không đau. Nhưng: trong đau khổ, Ta ở với anh. Không phải: kẻ thù sẽ không đụng được đến anh. Nhưng: không ai giật anh khỏi tay Ta. Các vị tử đạo đầu tiên đã bước vào cái chết với chính niềm tin ấy.
Càng suy nghĩ về họ, chúng ta càng thấy mình cần khiêm tốn. Chúng ta có quá nhiều phương tiện nâng đỡ đức tin: nhà thờ, sách vở, Kinh Thánh, internet, các khóa học, hành hương, phương tiện truyền thông Công giáo, biết bao cộng đoàn và phong trào. Nhưng đôi khi đức tin lại mong manh trước một lời chê. Người xưa chỉ có một bản văn Kinh Thánh chép tay mà có thể chết vì Lời ấy; chúng ta có Kinh Thánh trên điện thoại nhưng nhiều ngày không mở. Người xưa phải lén lút dự Thánh Thể và có thể bị bắt; chúng ta có nhà thờ gần nhà nhưng đôi khi thấy một giờ lễ quá dài. Người xưa đặt mạng sống vào một dấu Thánh Giá; chúng ta làm dấu vội vàng đến mức chẳng còn ý thức mình vừa tuyên xưng mầu nhiệm Ba Ngôi và sự cứu độ.
Có lẽ việc kính nhớ các cuộc bách hại đầu tiên không nhằm làm chúng ta mặc cảm, mà đánh thức chúng ta. Đức tin của cha ông không phải chuyện trong viện bảo tàng. Máu tử đạo là câu hỏi đặt vào lương tâm mỗi Kitô hữu hôm nay: Đức Giêsu đáng giá bao nhiêu trong đời tôi? Tôi có một mức giá nào mà nếu thế gian trả đủ, tôi sẽ bỏ Người không? Một chức vụ? Một hợp đồng? Một mối quan hệ? Một chút danh tiếng? Một sự thuận lợi? Một sự yên ổn? Tôi có dám mất điều gì để giữ lương tâm không?
Bách hại ngày nay có thể bước vào đời ta dưới hình thức rất nhẹ. Một nhóm bạn nói một câu xúc phạm đức tin và ta cười theo để khỏi khác người. Một cơ hội làm ăn đòi ta gian dối và ta tự nhủ ai cũng làm. Một mối quan hệ kéo ta xa Chúa nhưng ta sợ mất người ấy hơn sợ mất bình an tâm hồn. Một người xúc phạm ta và ta biết Tin Mừng đòi tha thứ nhưng ta quyết giữ hận thù. Những lúc ấy, đâu có lính Rôma, đâu có đấu trường, đâu có lưỡi gươm. Nhưng vẫn có một cuộc tử đạo nhỏ: hoặc cái tôi chết để Đức Kitô sống, hoặc Đức Kitô bị đẩy ra để cái tôi tồn tại.
“Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Chúa nói “hằng ngày”. Tử đạo lớn được chuẩn bị từ những lần tử đạo nhỏ. Không ai bỗng nhiên có sức chết vì Đức Kitô nếu cả đời chưa từng chịu mất một điều nhỏ vì Người. Người biết nói không với một đồng tiền bất chính hôm nay đang chuẩn bị cho sự trung tín lớn hơn ngày mai. Người biết tha thứ một xúc phạm hôm nay đang học tinh thần của Thánh Stêphanô. Người biết đứng về sự thật dù bị chế giễu hôm nay đang đi cùng các Kitô hữu sơ khai. Người biết cầu nguyện khi mọi sự tối tăm đang tập bước vào Vườn Cây Dầu với Chúa.
Thánh Giá trong những cuộc bách hại đầu tiên vì thế không chỉ là chuyện của quá khứ. Nó là tấm gương soi Hội Thánh mọi thời. Nó nhắc Hội Thánh rằng sức mạnh thật không nằm trong quyền lực chính trị, tài sản hay ảnh hưởng xã hội. Có thời Hội Thánh không có gì trong tay nhưng vẫn chinh phục được lòng người bởi các Kitô hữu biết chết mà không căm thù. Đây là điều Hội Thánh hôm nay phải luôn nhớ. Khi Hội Thánh muốn bảo vệ mình bằng cách hành xử giống hệt quyền lực thế gian, Hội Thánh có nguy cơ quên nguồn sức mạnh của mình. Nguồn sức mạnh của Hội Thánh là Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh.
Ngày xưa người ta nhìn Kitô hữu đi ra pháp trường và tự hỏi: tại sao những người này không sợ? Tại sao họ không nguyền rủa? Tại sao họ vẫn hát? Chính câu hỏi ấy mở cánh cửa cho Tin Mừng. Một bài giảng có thể bị bác bỏ. Một lý luận có thể bị tranh cãi. Nhưng một cuộc đời yêu đến cùng thì rất khó phủ nhận. Các vị tử đạo là bài giảng không cần bục giảng. Máu của họ là mực. Đấu trường là trang giấy. Thánh Giá là nội dung. Và câu kết của bài giảng là: Đức Kitô sống.
Ngày hôm nay, Hội Thánh cần những chứng nhân như thế, không nhất thiết phải chết bằng máu nhưng phải sống đến mức người ta nhìn vào và tự hỏi: tại sao người này có thể tha thứ? Tại sao người này không gian dối dù thiệt thòi? Tại sao gia đình này vẫn cầu nguyện giữa đau khổ? Tại sao người bệnh ấy vẫn bình an? Tại sao vị linh mục ấy vẫn phục vụ dù bị hiểu lầm? Tại sao người tu sĩ ấy vẫn vui dù đời sống âm thầm? Nếu đời ta khiến người khác đặt câu hỏi về nguồn hy vọng nơi ta, Thánh Giá lại đang được rao giảng.
Có một điều thật đẹp: kẻ bách hại tưởng rằng Thánh Giá là cách làm Đức Giêsu biến mất. Nhưng chính Thánh Giá lại làm danh Người lan đến tận cùng trái đất. Người ta đóng đinh Người bên ngoài thành Giêrusalem, vậy mà từ ngọn đồi ấy Tin Mừng đi tới Rôma, Alexandria, Antiochia, Carthage, Gaul, rồi qua các đại dương đến tận những vùng đất mà các Tông đồ chưa từng biết. Người ta giết các môn đệ để dập tắt lời chứng, nhưng lời chứng lại lan rộng hơn. Thánh Giá giống như hạt giống: càng bị vùi sâu càng mọc.
Và có lẽ đó là lời cuối cùng cho mỗi chúng ta khi đứng trước những Thánh Giá của đời mình. Đừng vội nghĩ nơi mình đang đau là nơi Thiên Chúa vắng mặt. Golgotha từng có vẻ là nơi Thiên Chúa thất bại nhất, nhưng lại là nơi tình yêu Thiên Chúa được tỏ lộ trọn vẹn nhất. Có những ngày cuộc đời ta như Thứ Sáu Tuần Thánh: lời cầu nguyện dường như không được nghe, người thân bỏ đi, bệnh tật kéo dài, công việc đổ vỡ, danh dự bị tổn thương, tuổi già đến gần, cái chết gõ cửa. Ta nhìn lên và hỏi như Đức Giêsu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Đức tin của các vị tử đạo nhắc ta rằng câu chuyện chưa kết thúc vào chiều Thứ Sáu. Hãy ở lại với Chúa. Đừng xuống khỏi Thánh Giá bằng cách phản bội tình yêu. Đừng đổi lương tâm lấy sự dễ chịu. Đừng đổi Đức Kitô lấy một chút bình an giả tạo. Bình minh Phục Sinh có giờ của nó.
Các vị tử đạo đầu tiên của Kitô giáo không để lại những lâu đài. Nhiều người thậm chí không để lại một ngôi mộ có tên. Nhưng họ để lại một Hội Thánh. Một Hội Thánh được xây không chỉ bằng đá nhưng bằng những cuộc đời. Họ đã trao ngọn đuốc đức tin từ tay này sang tay khác cho đến hôm nay ngọn đuốc ấy đến tay chúng ta. Chúng ta đang sống đức tin mà có người trước ta đã trả bằng máu để gìn giữ. Chúng ta đọc Tin Mừng mà có người đã chết vì không chịu trao nộp Sách Thánh. Chúng ta tuyên xưng “Tôi tin kính một Thiên Chúa” trong tự do mà đã có người nói câu ấy trước quan tòa rồi bị dẫn đi hành hình.
Đừng để máu ấy trở thành chuyện cổ tích.
Mỗi khi làm dấu Thánh Giá, hãy làm chậm lại một chút. Nhân danh Cha: Đấng đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một. Và Con: Đấng đã giang tay trên cây gỗ. Và Thánh Thần: Đấng ban sức mạnh cho những người yếu đuối trở thành chứng nhân. Amen. Một dấu Thánh Giá nhỏ bé chứa cả lịch sử cứu độ, cả máu tử đạo, cả niềm hy vọng Phục Sinh. Khi đưa tay lên trán, xuống ngực, sang hai vai, ta đang vẽ trên thân mình chính dấu hiệu mà bao thế hệ đã sống và chết vì nó.
Xin đừng để Thánh Giá chỉ nằm trên tường nhà chúng ta mà không đi vào đời chúng ta. Xin đừng để Thánh Giá chỉ bằng vàng trên ngực mà trái tim lại sợ mất tất cả vì Tin Mừng. Xin đừng để chúng ta tôn kính những vị tử đạo đã chết từ hai ngàn năm trước nhưng lại không dám chịu một chút thiệt thòi vì sự thật hôm nay. Xin Chúa ban cho Hội Thánh không phải một tinh thần hiếu chiến, nhưng tinh thần tử đạo: mạnh mẽ mà hiền lành, trung tín mà không thù hận, kiên quyết mà đầy lòng thương xót. Xin cho chúng ta hiểu rằng chiến thắng Kitô giáo không phải là làm kẻ khác quỳ dưới chân mình, nhưng là quỳ xuống rửa chân cho họ; không phải trả đũa kẻ thù, nhưng cầu nguyện cho họ; không phải tránh mọi đau khổ, nhưng biến đau khổ thành lễ dâng yêu thương.
Thánh Giá đã đứng giữa những đấu trường Rôma mà không cần được dựng lên bằng gỗ. Nó hiện diện trong thân xác các vị tử đạo. Nó hiện diện trong tiếng cầu nguyện của họ. Nó hiện diện trong sự tha thứ của họ. Nó hiện diện trong lòng can đảm của những người thà mất mạng sống hơn đánh mất Đức Kitô. Và cũng chính Thánh Giá ấy hôm nay đang đứng giữa cuộc đời ta, âm thầm hỏi: “Con có yêu Thầy hơn những điều này không?”
Nếu một ngày câu hỏi ấy trở nên thật khó, hãy nhìn lên Đấng chịu đóng đinh. Người đã yêu chúng ta trước. Người đã không đòi chúng ta đi con đường mà chính Người chưa đi. Người đã bước qua đêm tối, qua phản bội, roi đòn, nhục nhã, cô độc và cái chết. Người biết sức nặng của cây gỗ. Người biết nỗi sợ của con người. Người biết thế nào là máu chảy và trái tim tan vỡ. Vì thế, khi Người nói: “Hãy theo Thầy”, đó không phải lời của một vị vua đứng xa chiến trường. Đó là lời của Đấng đang mang Thánh Giá đi trước.
Và sau Thánh Giá là Phục Sinh.
Đó là bí mật của các vị tử đạo.
Đó là sức mạnh của Hội Thánh.
Đó là niềm hy vọng của chúng ta.
Và đó là lý do sau gần hai ngàn năm, những đế quốc từng bách hại Kitô hữu đã đi vào lịch sử, những đấu trường đã thành phế tích, những thanh gươm đã rỉ sét, những bản án đã hóa bụi; còn dấu Thánh Giá vẫn được một bà mẹ kính cẩn ghi trên trán con mình mỗi tối, vẫn được một người già run run làm trước giờ chết, vẫn được một linh mục vẽ trên cộng đoàn khi ban phép lành, vẫn được hàng triệu con người trên khắp thế giới tuyên xưng bằng chính thân thể mình: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen.
Thánh Giá vẫn đứng đó.
Không phải như dấu hiệu của thất bại.
Nhưng như dấu hiệu rằng tình yêu đã đi qua sự chết và sự chết đã không thể thắng được tình yêu.
Lm. Anmai, CSsR

CON RẮN ĐỒNG CỦA ÔNG MÔSÊ – HÌNH BÓNG CỦA THÁNH GIÁ
Có những trang Kinh Thánh đọc qua tưởng như chỉ kể lại một biến cố xa xưa của một dân tộc đã đi qua sa mạc cách chúng ta hàng ngàn năm, nhưng càng đọc, càng cầu nguyện, càng để Lời Chúa thấm vào những đổ vỡ của đời mình, ta càng nhận ra rằng đó không phải chỉ là chuyện của ngày xưa. Đó là chuyện của chính ta hôm nay. Câu chuyện con rắn đồng trong sách Dân Số chương 21 là một trang như thế. Dân Israel đã được Thiên Chúa giải thoát khỏi Ai Cập, đã chứng kiến biển đỏ mở ra, đã ăn manna từ trời, đã uống nước từ tảng đá, đã được dẫn đường bằng cột mây ban ngày và cột lửa ban đêm, vậy mà giữa sa mạc họ vẫn mất kiên nhẫn, vẫn kêu trách Thiên Chúa, vẫn chống lại ông Môsê. Họ nói: “Tại sao lại đưa chúng tôi từ Ai Cập lên để chúng tôi chết trong sa mạc? Ở đây chẳng có bánh ăn, chẳng có nước uống, chúng tôi đã chán ngấy thứ đồ ăn vô vị này.” Những lời ấy nghe thật quen. Quen đến mức nếu thành thật, ta phải thú nhận nhiều lần chính mình cũng đã nói như thế, tuy không nhất thiết bằng môi miệng. Ta nói bằng thái độ bất mãn, bằng sự cay đắng trước những gì không theo ý mình, bằng việc quên rất nhanh những ơn lành Thiên Chúa đã ban và chỉ nhìn chăm chăm vào một điều mình đang thiếu. Dân Israel nhớ những nồi thịt của Ai Cập mà quên những roi đòn của Ai Cập. Họ nhớ những gì họ cho rằng mình từng có mà quên rằng họ từng là nô lệ. Họ thấy sa mạc khô cháy trước mắt mà quên Đấng đang dẫn họ đi. Cái bi đát nhất của con người không phải là đi qua sa mạc; cái bi đát nhất là đi qua sa mạc mà quên mất Thiên Chúa đang ở cùng mình. Và khi lòng người không còn nhìn thấy ân huệ, thì một miếng manna cũng trở thành “thứ đồ ăn vô vị”; điều từng cứu sống họ lại trở thành điều họ chê chán. Đó chính là bi kịch của tội lỗi: không chỉ làm ta xa Thiên Chúa, tội còn làm đôi mắt ta mù đi trước những điều tốt lành Thiên Chúa vẫn đang âm thầm ban tặng.
Sách Dân Số kể rằng khi ấy rắn độc xuất hiện, cắn dân chúng và nhiều người Israel phải chết. Người ta có thể dừng lại ở hình ảnh đáng sợ ấy, nhưng nếu đọc trong toàn bộ mạch văn của Kinh Thánh, ta hiểu rằng con rắn không chỉ là một con vật gây chết chóc. Từ những trang đầu sách Sáng Thế, con rắn đã gợi đến sức mạnh của cám dỗ, gian dối và sự chết. Trong vườn Êđen, con rắn gieo vào lòng con người một lời nghi ngờ: Thiên Chúa có thật sự yêu ngươi không? Thiên Chúa có thật sự muốn điều tốt cho ngươi không? Và từ câu hỏi độc ấy, con người quay khỏi Thiên Chúa. Trong sa mạc, Israel cũng đang bị một thứ nọc độc tương tự cắn vào lòng: “Thiên Chúa có thực sự chăm sóc chúng ta không? Tại sao Người lại đưa chúng ta đến đây?” Con rắn bên ngoài chỉ làm lộ ra con rắn đã bò vào trong tâm hồn họ từ trước: con rắn của bất tín, của kêu trách, của phản nghịch, của việc muốn tự mình định đoạt Thiên Chúa phải hành động ra sao. Và chuyện lạ bắt đầu khi dân chúng nhận ra tội lỗi của mình. Họ chạy đến với ông Môsê và thú nhận: “Chúng tôi đã phạm tội vì đã kêu trách Đức Chúa và kêu trách ông. Xin ông khẩn cầu Đức Chúa để Người xua đuổi rắn khỏi chúng tôi.” Một câu ngắn thôi, nhưng chứa đựng cả một con đường cứu độ: nhận ra mình đã sai, gọi đúng tên tội lỗi của mình, quay trở về và cầu xin lòng thương xót. Không có sự chữa lành sâu xa nào bắt đầu bằng việc đổ lỗi. Chữa lành bắt đầu từ giây phút con người thôi chỉ tay sang người khác và có đủ can đảm đấm ngực mình mà nói: “Tôi đã phạm tội.” Bao nhiêu gia đình cứ mãi đau vì không ai chịu nói câu ấy. Bao nhiêu cộng đoàn cứ mãi căng thẳng vì mỗi người chỉ thấy cái sai của người khác. Bao nhiêu cuộc đời cứ mãi mang vết thương vì người ta muốn Thiên Chúa thay đổi mọi người chung quanh mà không để Người thay đổi chính mình. Dân Israel chỉ bắt đầu được cứu khi họ nhìn nhận: “Chúng tôi đã phạm tội.”
Điều gây ngạc nhiên là Thiên Chúa không đơn giản làm cho mọi con rắn biến mất. Người nói với Môsê: “Ngươi hãy làm một con rắn và treo lên một cây cột. Ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó thì sẽ được sống.” Ông Môsê làm một con rắn bằng đồng và treo lên. Ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng thì được sống. Thật lạ lùng! Chính hình ảnh của vật gây chết chóc lại trở thành dấu chỉ của sự sống. Chính cái khiến người ta kinh hãi lại được dựng lên trước mắt họ như con đường chữa lành. Đây chính là một trong những hình bóng sâu xa nhất của mầu nhiệm Thánh Giá. Hàng thế kỷ sau, trong cuộc trò chuyện ban đêm với ông Nicôđêmô, Đức Giêsu đã lấy chính biến cố này để nói về cuộc tử nạn của Người: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (x. Ga 3,14-15). Chúa Giêsu không chỉ gợi lại một câu chuyện cổ. Người mở tấm màn che phủ lịch sử cứu độ và cho thấy con rắn đồng ngày xưa đã hướng về Người. Cột gỗ trong sa mạc hướng về cây gỗ trên đồi Canvê. Israel bị rắn cắn hướng về nhân loại bị tội lỗi cắn thương. Người Israel nhìn lên con rắn đồng mà được sống hướng về mọi tội nhân nhìn lên Đấng Chịu Đóng Đinh trong lòng tin mà nhận được sự sống đời đời. Có một sợi chỉ đỏ kỳ diệu nối từ sa mạc Dân Số đến đồi Golgotha; và sợi chỉ ấy chính là lòng thương xót của Thiên Chúa.
Thánh Giá vì thế không thể được hiểu đơn giản như một vật trang trí của Kitô giáo. Thánh Giá không phải một món nữ trang đeo trước ngực cho đẹp, không phải biểu tượng treo trong nhà chỉ để nói rằng gia đình này có đạo, càng không phải một thứ bùa hộ mạng. Thánh Giá là nơi tội lỗi của con người được phơi bày đến tận cùng và cũng là nơi tình yêu của Thiên Chúa được phơi bày đến tận cùng. Nhìn lên Thánh Giá, ta nhìn thấy con người có thể độc ác tới đâu: một người vô tội bị kết án, một Đấng chữa lành bị đánh đập, Đấng tha thứ bị nguyền rủa, Đấng trao ban sự sống bị đóng đinh cho đến chết. Nhưng cũng chính tại đó, ta nhìn thấy Thiên Chúa có thể yêu đến đâu: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Tội lỗi nói: giết nó đi. Tình yêu nói: tha cho họ. Tội lỗi đóng đinh đôi tay Đức Giêsu; tình yêu khiến chính đôi tay bị đóng đinh ấy vẫn mở ra như muốn ôm lấy nhân loại. Tội lỗi đâm thủng trái tim Người; tình yêu khiến từ trái tim bị đâm thâu ấy chảy ra máu và nước. Tội lỗi dựng Thánh Giá lên như dấu chấm hết; Thiên Chúa biến nó thành cánh cửa mở vào sự sống. Bởi vậy, Thánh Giá vừa là bản cáo trạng nghiêm khắc nhất đối với tội lỗi vừa là lời công bố mạnh mẽ nhất về lòng thương xót. Ta không thể nhìn lên Đấng Chịu Đóng Đinh mà coi tội nhẹ nhàng, bởi chính tội đã đưa Người đến đó; nhưng ta cũng không thể nhìn lên Đấng Chịu Đóng Đinh mà tuyệt vọng, bởi Người ở đó chính để nói với ta rằng không có vực sâu nào của tội lỗi mà tình yêu Người không thể đi xuống để tìm ta.
Tin Mừng theo thánh Gioan đưa ta vào trung tâm của mầu nhiệm khi kể Đức Giêsu nói với Nicôđêmô: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ” (x. Ga 3,14-17). Có lẽ ta đã nghe câu “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một” quá nhiều đến độ đôi khi không còn rúng động nữa. Nhưng nếu đặt câu ấy ngay sau hình ảnh con rắn đồng, ta mới thấy toàn bộ chiều sâu. Thế gian mà Thiên Chúa yêu không phải là một thế gian ngoan ngoãn, tốt đẹp, xứng đáng. Đó là thế gian đã bị rắn cắn. Đó là nhân loại đầy những vết thương, phản loạn, bất trung. Thiên Chúa không yêu chúng ta vì chúng ta đáng yêu; chính tình yêu của Người làm cho ta có thể trở thành những con người đáng yêu. Người không chờ chúng ta lành mạnh mới đến; Người đến vì chúng ta đang hấp hối. Đức Kitô không xuống trần như phần thưởng cho những người công chính; Người đến như Đấng Cứu Độ của những kẻ tội lỗi. Điều này quan trọng biết bao cho đời sống đức tin. Có người nghĩ mình phải trở nên tốt rồi mới dám đến với Chúa. Họ nói: “Bao giờ tôi sửa được đời tôi, tôi sẽ đi lễ. Bao giờ tôi bỏ được tội ấy, tôi sẽ xưng tội. Bao giờ tôi sống đàng hoàng hơn, tôi mới dám cầu nguyện.” Không. Người bị rắn cắn không phải tự chữa lành rồi mới nhìn lên con rắn đồng. Chính vì họ đang mang nọc độc, họ phải nhìn lên. Ta cũng vậy. Chính trong lúc ta yếu đuối nhất, xấu hổ nhất, hỗn độn nhất, ta cần nhìn lên Đức Kitô hơn bao giờ hết.
Nhưng “nhìn lên” trong Kinh Thánh không chỉ là đưa mắt nhìn một vật. Nếu chỉ nhìn vật lý thì những người đứng dưới chân Thánh Giá trên đồi Canvê đều đã được cứu hết, kể cả những kẻ đang nhạo báng Chúa. “Nhìn lên” là tin. Là trao phó đời mình. Là nhìn nhận rằng mình không thể tự cứu mình. Người Israel bị rắn cắn không được yêu cầu chế ra thuốc giải độc cho riêng mình; họ được yêu cầu tin vào con đường Thiên Chúa ban. Tương tự, Tin Mừng không nói rằng ta tự leo lên trời bằng thành tích đạo đức của mình. Tin Mừng nói Con Thiên Chúa đã đi xuống tận nơi ta nằm gục và mở cho ta con đường về. Cái khó của con người là ta thích tự cứu mình. Ta muốn có thể nói: “Tôi làm được. Tôi xứng đáng. Tôi không cần ai.” Nhưng Thánh Giá làm tan vỡ mọi kiêu căng. Người đứng trước Thánh Giá với lòng tin phải thú nhận: nếu Thiên Chúa không cứu tôi, tôi không thể tự cứu mình. Nếu Đức Kitô không chết cho tôi, tôi không có gì để khoe. Nếu ân sủng không nâng tôi lên, mọi công trạng của tôi cũng không đủ đưa tôi qua vực thẳm giữa tội lỗi và sự thánh thiện của Thiên Chúa. Bởi thế Thánh Giá vừa an ủi vừa làm ta khiêm tốn. Nó nói với người tội lỗi: “Đừng tuyệt vọng.” Nhưng đồng thời nói với người kiêu căng: “Đừng tự phụ.”
Một chi tiết rất đáng suy nghĩ là Thiên Chúa đã không cất hết rắn đi ngay, nhưng ban một dấu chỉ để ai bị cắn thì nhìn lên mà sống. Ta thường cầu xin một Thiên Chúa làm biến mất mọi con rắn trong đời mình: xin cho con đừng đau, đừng bệnh, đừng thất bại, đừng bị hiểu lầm, đừng mất mát, đừng chịu thử thách. Chúng ta nghĩ rằng nếu Chúa yêu ta, Người phải làm sa mạc biến thành vườn hoa, phải làm đường đời phẳng lặng, phải dẹp hết gai góc. Nhưng nhiều khi Chúa không cất Thánh Giá đi. Người cho ta sức để đi qua Thánh Giá. Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu đã cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén này”, nhưng Người còn thêm: “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Chén đắng không biến mất. Canvê vẫn ở đó. Đinh vẫn xuyên qua tay chân. Lưỡi đòng vẫn đâm vào cạnh sườn. Nhưng qua chính điều dường như là thất bại ấy, ơn cứu độ được thực hiện. Có những lúc trong cuộc đời, phép lạ không phải là bệnh tật biến mất nhưng là ta vẫn giữ được bình an giữa bệnh tật. Phép lạ không phải là người làm ta tổn thương bỗng thay đổi, mà là trái tim ta được giải thoát khỏi hận thù. Phép lạ không phải là mọi vấn đề gia đình được giải quyết trong một đêm, mà là giữa những rối ren ấy ta không bỏ Chúa, không bỏ nhau, không đánh mất tình yêu. Phép lạ không phải là không có sa mạc, nhưng là trong sa mạc ta biết nhìn lên.
Và đó có lẽ là điều con người thời nay cần học lại: nhìn lên. Chúng ta nhìn xuống quá nhiều. Nhìn xuống màn hình, nhìn xuống những lợi ích nhỏ nhoi, nhìn xuống những hơn thua vụn vặt, nhìn xuống những lỗi lầm của người khác, nhìn xuống những vết thương của mình đến độ chỉ còn thấy bóng tối. Chúng ta cũng nhìn ngang quá nhiều: người khác có gì, người kia thành công ra sao, tại sao họ được mà tôi không được, tại sao đời họ dễ hơn đời tôi. Càng nhìn ngang, càng so sánh; càng so sánh, càng bất mãn. Lời Chúa mời ta nhìn lên. Không phải nhìn lên để trốn khỏi thực tại, nhưng để tìm thấy ánh sáng đủ sức giúp ta sống thực tại ấy. Người Israel vẫn mang vết rắn cắn trên thân thể khi họ nhìn lên con rắn đồng, nhưng nọc độc mất quyền lực. Kitô hữu vẫn mang những vết thương đời mình khi nhìn lên Đức Kitô, nhưng vết thương ấy không còn quyền định nghĩa số phận cuối cùng của ta. Tôi có thể đã bị phản bội, nhưng tôi không buộc phải trở thành người cay độc. Tôi có thể đã thất bại, nhưng thất bại không phải tên của tôi. Tôi có thể đã phạm những tội rất nặng, nhưng tội không phải lời cuối cùng về đời tôi. Tôi có thể đang khóc, nhưng nước mắt không phải nơi cuộc đời kết thúc. Bởi có một Đấng đã bước qua sự chết và sống lại. Bởi có một Thánh Giá đã từng đứng trong chiều thứ Sáu đen tối nhưng phía sau nó là bình minh Phục Sinh.
Con rắn đồng còn giúp ta hiểu một điều tinh tế hơn: Thiên Chúa chữa lành con người bằng cách buộc họ phải đối diện với điều đã làm họ bị thương. Người bị rắn cắn phải nhìn lên hình con rắn. Điều ấy thật nghịch lý. Ta thường chữa đau bằng cách trốn đau, cố quên, cố đè xuống, giả vờ như chưa từng có gì xảy ra. Nhưng những vết thương bị chôn sâu thường không chết; chúng chỉ đổi cách xuất hiện. Một người từng bị bỏ rơi có thể trở thành người luôn sợ bị bỏ rơi. Một người từng bị xúc phạm có thể vô thức xúc phạm kẻ khác. Một người từng thiếu tình thương có thể trở thành người cố nắm giữ người mình yêu đến nghẹt thở. Một người từng thất bại có thể sống cả đời để chứng minh mình hơn người. Thiên Chúa không chữa bằng cách bảo ta: “Chuyện đó chưa từng xảy ra.” Người chữa bằng cách đưa chính quá khứ đau đớn ấy vào ánh sáng cứu độ. Thánh Giá của Đức Kitô là bằng chứng. Thiên Chúa không xóa ngày thứ Sáu Tuần Thánh khỏi lịch sử; Người phục sinh chính Đấng đã bị đóng đinh vào thứ Sáu ấy. Đức Kitô Phục Sinh vẫn mang dấu đinh. Khi hiện ra với Tôma, Người không có một thân thể như chưa từng bị thương; Người nói: hãy đặt ngón tay vào đây, hãy nhìn xem tay Thầy. Những dấu đinh không biến mất nhưng không còn là dấu của thất bại. Chúng đã trở thành dấu của một tình yêu chiến thắng. Thiên Chúa cũng có thể làm như thế với những vết thương của đời ta. Người không nhất thiết xóa ký ức, nhưng Người có thể đổi ý nghĩa của ký ức. Điều từng khiến ta xấu hổ có thể trở thành nơi ta học lòng cảm thông. Điều từng làm ta khóc có thể giúp ta biết lau nước mắt cho người khác. Cuộc ngã đau nhất có thể làm ta bớt kiêu căng và biết đỡ người đang ngã. Chính những vết thương được đặt vào tay Thiên Chúa có thể trở thành những cánh cửa để ân sủng bước qua.
Tuy nhiên, câu chuyện con rắn đồng còn chứa một lời cảnh báo rất cần thiết. Sách các Vua sau này cho biết con rắn đồng ấy được lưu giữ, nhưng rồi dân Israel lại đốt hương kính nó, khiến vua Khítkigia phải phá hủy nó (x. 2 V 18,4). Một dấu chỉ Thiên Chúa ban để dẫn người ta đến Người đã bị con người biến thành ngẫu tượng. Đây là cám dỗ tôn giáo rất thật: ta có thể bám vào dấu chỉ mà quên Đấng dấu chỉ hướng tới. Ta có thể mang Thánh Giá mà không sống tinh thần Thánh Giá. Ta có thể hôn Thánh Giá nhưng lại không tha thứ. Ta có thể quỳ trước tượng Chúa chịu nạn nhưng về nhà đóng đinh người thân bằng những lời cay nghiệt. Ta có thể tham dự nghi thức suy tôn Thánh Giá thật long trọng nhưng lại khước từ những hy sinh nhỏ bé vì người nghèo, người bệnh, người già, người bị bỏ rơi. Khi ấy, Thánh Giá trên tường vẫn còn nhưng Thánh Giá trong đời đã mất. Một Kitô giáo chỉ giữ biểu tượng mà không sống mầu nhiệm sẽ trở thành thứ tôn giáo bên ngoài. Thánh Giá không được ban để trang trí đời ta; Thánh Giá được ban để biến đổi đời ta. Nếu tôi thật sự tôn kính Đấng đã tha thứ cho kẻ đóng đinh mình, tôi không thể nuôi hận thù mãi. Nếu tôi thật sự thờ lạy Đấng đã tự hạ đến cùng, tôi không thể sống bằng kiêu ngạo. Nếu tôi thực sự yêu mến Đấng đã hiến mạng vì người khác, tôi không thể biến cả đời thành cuộc săn tìm ích lợi riêng. Nếu tôi nhìn lên Đấng nghèo khó chết trần trụi trên Thánh Giá, tôi phải đặt lại câu hỏi về cách mình chạy theo tiền bạc và sự bảo đảm của thế gian. Thánh Giá thật sự là một cuộc phán xét đối với lối sống của chúng ta.
Nhìn lên Thánh Giá còn có nghĩa là học lại dung mạo của Thiên Chúa. Con người có thể tưởng Thiên Chúa là Đấng chỉ chờ ta phạm lỗi để trừng phạt. Có người lớn lên trong sợ hãi: sợ Chúa phạt, sợ Chúa giận, sợ Chúa ghi sổ mọi sai phạm. Nhưng khi Đức Giêsu nhắc đến con rắn đồng, Người lập tức nói: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” Và Người nói rõ: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ.” Điều ấy không làm tội lỗi trở nên nhẹ nhàng. Trái lại, chỉ khi biết Thiên Chúa yêu ta đến mức nào ta mới hiểu tội nghiêm trọng ra sao, vì tội là khước từ một tình yêu lớn đến thế. Nhưng trung tâm Tin Mừng không phải là một Thiên Chúa say mê kết án. Trung tâm Tin Mừng là một Thiên Chúa đi tìm con người để cứu. Ngay sau khi Ađam phạm tội, người đầu tiên lên tiếng tìm kiếm không phải Ađam mà là Thiên Chúa: “Ngươi ở đâu?” Sau khi Phêrô chối Thầy, Chúa Phục Sinh không quay lại để sỉ nhục ông trước các môn đệ, nhưng hỏi ba lần: “Con có yêu mến Thầy không?” Sau khi Saolô bách hại Hội Thánh, Đức Kitô không tiêu diệt ông trên đường Đamát nhưng biến ông thành Phaolô, vị Tông đồ của dân ngoại. Thiên Chúa ghét tội nhưng không mệt mỏi cứu tội nhân. Đó là điều Thánh Giá nói lớn hơn mọi bài giảng.
Có những người mang trong mình nọc độc của quá khứ nhiều năm. Một câu nói của cha mẹ thuở nhỏ vẫn ám ảnh. Một lần bị phản bội vẫn khiến họ không còn tin ai. Một lỗi lầm thời trẻ khiến họ nghĩ mình vĩnh viễn không xứng đáng. Một cuộc hôn nhân đổ vỡ, một người con đi lạc, một lần phá sản, một căn bệnh, một cái chết không kịp nói lời chia tay… tất cả trở thành những con rắn cắn sâu vào tâm hồn. Có người sống nhưng trong lòng đã chết một phần. Cười ngoài mặt nhưng đêm xuống lại không ngủ được. Làm việc bình thường nhưng trong lòng có một vùng không ai bước vào được. Tin Mừng không hứa rằng ta chỉ cần đọc một kinh là ký ức biến mất. Nhưng Tin Mừng trao cho ta Đấng Chịu Đóng Đinh. Khi không biết phải làm gì với nỗi đau, hãy đem nó đến chân Thánh Giá. Khi không thể tha thứ, đừng giả vờ rằng mình đã tha; hãy nói thật với Chúa: “Con chưa thể, xin Chúa dạy con.” Khi thấy đời mình đầy thất bại, hãy nhìn Đấng mà thế gian tưởng là thất bại hoàn toàn vào chiều thứ Sáu. Khi thấy mình bị bỏ rơi, hãy nghe tiếng Người: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Người không cứu ta từ một ngai vàng xa xôi. Người bước xuống tận nỗi cô đơn của ta. Không một giọt nước mắt nào của con người mà Đức Kitô không hiểu. Không một đêm tối nào mà Người chưa từng đi qua. Không một nỗi đau nào mà trái tim bị đâm thâu của Người không thể ôm lấy.
Thật ra, tất cả chúng ta đều đã bị “rắn cắn”. Không ai vô thương tích. Có người bị nọc độc của tiền bạc: càng có càng muốn nhiều hơn, cuối cùng không biết thế nào là đủ. Có người bị nọc độc danh vọng: sống bằng ánh mắt người khác, một lời khen làm vui cả ngày, một lời chê khiến mất bình an cả tuần. Có người bị nọc độc dục vọng, biến người khác thành phương tiện thỏa mãn mình. Có người bị nọc độc quyền lực, thích điều khiển, áp đặt, luôn muốn tiếng nói cuối cùng thuộc về mình. Có người bị nọc độc ghen tị, không chịu nổi khi người khác thành công. Có người bị nọc độc tự ái, không bao giờ nhận sai, không bao giờ xin lỗi. Có người mang nọc độc của một đời sống đạo hình thức: đi lễ đầy đủ nhưng lòng chai cứng, đọc kinh rất nhiều nhưng miệng vẫn làm đau người khác, làm việc trong giáo xứ rất hăng nhưng gia đình lại thiếu sự hiện diện của mình. Nọc độc nguy hiểm nhất thường là nọc độc ta không biết mình đang mang. Người bệnh biết mình bệnh còn tìm thầy thuốc; người tưởng mình khỏe thì chẳng tìm ai. Chính vì thế, một trong những ơn lớn nhất Chúa ban không phải là cảm giác mình tốt, mà là ánh sáng để nhận ra chỗ nào trong mình còn cần được chữa.
Và thuốc giải cuối cùng là Đức Kitô. Không phải một lý thuyết, không phải một hệ thống luân lý, không phải một vài cố gắng tự hoàn thiện, nhưng là một Con Người: Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Kitô giáo trước hết không nói: “Hãy cố lên để trở nên tốt hơn.” Kitô giáo nói: “Hãy nhìn lên Đấng đã yêu anh đến chết vì anh.” Rồi từ cái nhìn ấy, cuộc đời mới thay đổi. Thánh Phaolô không nói rằng mình sống tốt nhờ ý chí mạnh mẽ hơn mọi người; ngài nói: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” Cốt lõi của đời Kitô hữu là để sự sống của Đức Kitô đi vào trong những vùng đã bị nọc độc làm chết. Để lòng thương xót Người đi vào vùng hận thù. Để sự khiêm nhường của Người đi vào vùng kiêu ngạo. Để sự trong sạch của Người đi vào những ham muốn hỗn loạn. Để lòng tin của Người đi vào nỗi sợ. Để sự phó thác của Người đi vào nơi ta muốn kiểm soát tất cả. Để ánh sáng Phục Sinh đi vào những mồ tối trong tâm hồn.
Thánh Giá còn dạy ta rằng cứu độ không đến bằng cách chạy khỏi đau khổ nhưng bằng tình yêu đi xuyên qua đau khổ. Hai người cùng mang một thập giá nhưng không nhất thiết cùng sống một cách. Một người đau khổ rồi trở nên cay độc; người kia đau khổ mà trưởng thành trong lòng nhân hậu. Một người gặp bất công rồi dành cả đời trả thù; người kia biến chính kinh nghiệm ấy thành động lực bảo vệ người yếu thế. Một người bệnh tật rồi chỉ hỏi “Tại sao là tôi?”; người kia cũng có lúc hỏi như vậy nhưng dần dần học nói: “Trong hoàn cảnh này, Chúa muốn con yêu thế nào?” Không phải đau khổ tự nó thánh hóa. Đau khổ cũng có thể phá hủy. Điều thánh hóa là đau khổ được kết hợp với tình yêu của Đức Kitô. Hai cây gỗ đóng chéo nhau tự chúng chỉ là dụng cụ hành hình. Cái làm cho Thập giá trở thành Thánh Giá chính là Đấng đã yêu trên đó. Và cái có thể làm cho những thập giá đời ta trở thành đường cứu độ cũng chính là tình yêu. Một người mẹ thức đêm bên con bệnh vì yêu: đó là thập giá được biến đổi. Một người chồng kiên nhẫn chăm vợ đau yếu nhiều năm vì lời hứa hôn nhân: đó là thập giá được tình yêu thánh hóa. Một linh mục vẫn trung thành phục vụ giữa cô đơn, hiểu lầm, mệt mỏi vì yêu Chúa và đoàn chiên: đó là thập giá mang mùi hương của Tin Mừng. Một người âm thầm chịu thiệt để giữ bình an cho gia đình mà không nuôi cay đắng: đó là nơi Canvê đang nở hoa. Thánh Giá không bảo chúng ta yêu đau khổ; Thánh Giá dạy chúng ta yêu trong đau khổ.
Có lẽ vì thế mà trong phụng vụ, Hội Thánh dám hát về Thánh Giá bằng những lời tưởng như nghịch lý: cây Thánh Giá là cây cao quý, là nguồn cứu độ, là niềm hy vọng. Nếu chỉ nhìn bằng mắt trần, cây gỗ Canvê là thất bại. Đức Giêsu không xuống khỏi Thánh Giá dù người ta thách thức: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi!” Nhưng chính việc Người không xuống lại là chiến thắng. Nếu xuống để chứng minh quyền năng, Người có thể làm kẻ thù câm miệng; nhưng ở lại để yêu đến cùng, Người cứu được nhân loại. Quyền năng của thế gian nói: mạnh là làm người khác quỳ xuống. Quyền năng của Thánh Giá nói: mạnh là có thể yêu ngay cả khi bị tổn thương. Thế gian nói: chiến thắng là tiêu diệt kẻ thù. Đức Kitô chiến thắng bằng cách biến kẻ thù thành anh em. Thế gian nói: hãy giữ mạng sống mình bằng mọi giá. Đức Giêsu nói: ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm thấy. Chính ở đây ta hiểu tại sao Thánh Giá là sự khôn ngoan của Thiên Chúa mà thế gian khó hiểu.
Con rắn đồng được dựng lên giữa sa mạc, nơi không có gì che khuất tầm mắt. Thánh Giá cũng được dựng lên trên đồi cao, bên ngoài thành Giêrusalem, trước mắt mọi người. Ơn cứu độ của Thiên Chúa không diễn ra trong góc tối. Đức Giêsu chết công khai, giữa trời và đất, như thể đôi tay Người mở ra nối con người với con người và nối đất với trời. Một cánh tay hướng về người bên phải, một cánh tay hướng về người bên trái, như muốn nói không ai bị loại khỏi lời mời gọi của lòng thương xót. Người chết giữa hai tên tội phạm, không giữa hai thiên thần. Một trong hai người ấy, vào những phút cuối cùng của đời, chỉ kịp nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và câu trả lời lập tức đến: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Thật khó tìm một hình ảnh nào rõ hơn về ơn cứu độ. Người ấy không còn thời gian để sửa lại quá khứ. Không còn thời gian trả nợ. Không thể xuống khỏi thập giá để bắt đầu một cuộc đời mới. Điều duy nhất anh có thể làm là nhìn sang Đấng đang bị đóng đinh bên cạnh và trao phó phần đời cuối cùng. Một cái nhìn cứu anh. Một lời cầu xin cứu anh. Một lòng tin nảy sinh giữa giờ chết cứu anh. Đó chính là mầu nhiệm con rắn đồng được hoàn tất: người bị nọc độc sự chết cắn đến tận cùng nhìn lên Đấng được giương cao và nhận sự sống.
Nhưng có một sự khác biệt kỳ diệu: con rắn đồng chỉ là dấu chỉ; Đức Kitô là chính Đấng Cứu Độ. Con rắn đồng không có quyền năng nơi bản thân nó; quyền năng đến từ Thiên Chúa. Còn trên Thánh Giá, chính Con Thiên Chúa đang trao ban chính mình. Người không chỉ chỉ cho ta đường sống; Người nói: “Thầy là đường.” Người không chỉ ban chân lý; Người là Sự Thật. Người không chỉ phục hồi sự sống; Người là Sự Sống. Vì thế người Kitô hữu không chỉ “dùng” Thánh Giá khi gặp nạn. Ta sống dưới bóng Thánh Giá mỗi ngày. Mỗi dấu Thánh Giá ta làm trên mình phải là một lời tuyên xưng: đời tôi thuộc về Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần; tư tưởng, lời nói, hành động của tôi phải mang dấu của tình yêu tự hiến. Tiếc rằng có khi ta làm dấu Thánh Giá quá nhanh đến mức chẳng còn biết mình đang làm gì. Bàn tay vừa vẽ dấu tình yêu của Đức Kitô, vài phút sau đã chỉ trỏ kết án người khác. Miệng vừa đọc “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”, rồi lại nói lời làm người khác tổn thương. Nếu mỗi lần làm dấu Thánh Giá ta thật sự ý thức, có lẽ đời ta đã khác. Trán tôi thuộc về Chúa: xin thanh luyện những suy nghĩ. Ngực tôi thuộc về Chúa: xin thanh luyện những ước muốn. Vai tôi thuộc về Chúa: xin cho tôi biết mang gánh nặng với anh em. Cả con người tôi được bao phủ bởi dấu của Đấng đã chết và sống lại.
Có một câu hỏi cần đặt ra: hôm nay tôi đang nhìn đâu khi bị “rắn cắn”? Khi bị xúc phạm, tôi nhìn vào lời xúc phạm ấy hàng trăm lần, nhai đi nhai lại, rồi nọc độc càng lan. Khi thất bại, tôi chỉ nhìn vào thất bại và nghĩ đời mình chấm hết. Khi mắc tội, tôi hoặc tự bào chữa hoặc tuyệt vọng, thay vì chạy đến lòng thương xót. Khi lo sợ tương lai, tôi nhìn vào những kịch bản đen tối tự mình dựng nên. Lời Chúa hôm nay nói rất đơn sơ: hãy nhìn lên. Hãy nhìn Đấng đã chịu đóng đinh. Không phải nhìn một cách mê tín. Hãy nhìn bằng ký ức: nhớ Người đã yêu ta thế nào. Nhìn bằng lòng tin: tin rằng tình yêu ấy vẫn dành cho ta hôm nay. Nhìn bằng sự sám hối: đặt tội lỗi dưới chân Người. Nhìn bằng phó thác: trao cho Người điều ta không kiểm soát nổi. Nhìn bằng hy vọng: tin rằng Canvê không phải chương cuối.
Có những lúc ta sẽ không đủ sức cầu nguyện dài. Chỉ cần ngồi trước Thánh Giá và nhìn. Có những ngày chẳng còn lời nào để nói. Cứ nhìn. Người mẹ vừa mất con, người cha lo cho gia đình, người bệnh vừa nghe một chẩn đoán đáng sợ, người trẻ không biết tương lai đi đâu, người tu sĩ mệt mỏi, người linh mục trải qua đêm tối của sứ vụ, người vợ bị tổn thương, người chồng đang mang một gánh nặng không nói được với ai… nhiều khi không cần một bài giảng dài. Chỉ cần một Thánh Giá. Và trong thinh lặng, Đấng Chịu Đóng Đinh nói một thứ ngôn ngữ không có chữ: “Ta biết.” “Ta ở đây.” “Ta cũng đã đau.” “Đừng sợ.” “Hãy ở lại với Ta.” Có những câu trả lời Chúa không cho bằng lý luận. Người trả lời bằng sự hiện diện. Tại sao Người không tránh cho tôi đau khổ này? Ta có thể không biết. Nhưng Thánh Giá cho ta biết ít nhất một điều: Người không đứng ngoài đau khổ của ta. Người bước vào đó.
Và từ Thánh Giá, người Kitô hữu được sai đi làm những “dấu chỉ chữa lành” giữa một thế giới đầy nọc độc. Nếu mạng xã hội đầy nọc độc của vu khống, ta đừng thêm một lời cay độc. Nếu gia đình đang đầy nọc độc của trách móc, hãy có một người dừng lại. Nếu cộng đoàn có nọc độc của phe phái, hãy trở thành người xây cầu. Nếu người bên cạnh đã bị cuộc đời cắn thương, đừng hỏi trước tiên “anh đã làm gì để ra nông nỗi này?”, hãy hỏi “tôi có thể làm gì để giúp anh sống?” Đức Kitô trên Thánh Giá không chữa lành ta để ta chỉ lo bình an cho riêng mình. Người chữa ta để ta trở thành khí cụ chữa lành. Người đã tha thứ cho ta để ta đem sự tha thứ đến những nơi đầy hận thù. Người đã nâng ta dậy để ta biết cúi xuống nâng người khác. Người đã nhìn ta bằng lòng thương xót để mắt ta thôi nhìn người khác bằng thành kiến. Một cộng đoàn Kitô hữu thực sự sống dưới bóng Thánh Giá phải là nơi những người bị thương dám bước vào mà không sợ bị kết án.
Hãy trở lại sa mạc một lần nữa. Những người Israel bị rắn cắn nằm giữa cát nóng. Nọc độc chạy trong máu. Họ không còn sức để đi xa. Điều cần thiết duy nhất là ngước mắt lên. Có lẽ người này phải dìu người kia, có lẽ người còn khỏe phải nói với người đang hấp hối: “Nhìn lên đi!” Hình ảnh ấy đẹp biết bao nếu áp dụng vào Hội Thánh. Chúng ta không phải cộng đoàn của những người chưa từng bị rắn cắn; chúng ta là cộng đoàn của những kẻ đã được cứu nhờ nhìn lên Đức Kitô. Vì thế chẳng ai có quyền kiêu căng. Người đang đứng hôm nay có thể là nhờ bao lần Chúa đã nâng dậy. Người thánh thiện cũng là tội nhân được ân sủng biến đổi. Và nhiệm vụ của ta là chỉ cho nhau nơi phải nhìn. Khi một người anh em tuyệt vọng, ta nói: “Hãy nhìn lên.” Khi một người chìm trong tội, không phải nói “anh hết cứu rồi”, nhưng nói: “Hãy trở về.” Khi chính ta ngã, đừng nằm đó phân tích mãi vết thương, hãy nhìn lên. Có một Thánh Giá vẫn đứng đó. Có một Trái Tim vẫn mở. Có một dòng Máu vẫn nói lời tha thứ. Có một ngôi mộ đã trống.
Rốt cuộc, con rắn đồng của Môsê chỉ cho chúng ta một chân lý vừa đơn sơ vừa sâu thẳm: sự sống được tìm thấy khi con người thôi nhìn vào mình và hướng mắt về ơn cứu độ Thiên Chúa ban. Bao nhiêu năm sống đạo mà vẫn mệt mỏi, có thể vì ta nhìn vào mình quá nhiều: tôi tốt hay xấu, tôi thành công hay thất bại, người ta nghĩ gì về tôi, tôi được gì, tôi mất gì. Đức tin bắt đầu được tự do khi trung tâm chuyển từ “tôi” sang “Người”. Không còn là tôi giỏi thế nào, nhưng Người yêu tôi thế nào. Không còn là tội tôi lớn bao nhiêu, nhưng lòng thương xót Người lớn bao nhiêu. Không còn là thập giá tôi nặng thế nào, nhưng Đấng đang cùng vác với tôi là ai. Không còn là đêm tối dài bao nhiêu, nhưng bình minh Phục Sinh chắc chắn đến thế nào.
Đến một ngày cuối cùng, mỗi người chúng ta cũng sẽ đi qua sa mạc lớn nhất: cái chết. Khi ấy tiền bạc không chữa được, danh vọng không cứu được, chức vụ không còn ý nghĩa, những lời khen của thiên hạ không thể đi cùng ta. Có lẽ đôi mắt thể xác lúc ấy cũng không còn đủ sức nhìn một cây Thánh Giá trên tường. Nhưng ước gì trái tim còn biết nhìn lên. Nhìn lên Đấng đã từng nói: “Ai tin vào Người thì được sống muôn đời.” Nhìn lên Đấng đã nói với người trộm lành: “Hôm nay, anh sẽ ở với tôi trên Thiên Đàng.” Nhìn lên Đấng đã chết cái chết của ta để ta được sống sự sống của Người. Nếu suốt đời ta đã tập nhìn lên Thánh Giá trong những đau khổ nhỏ, thì giờ cuối cùng sẽ không phải một cái nhìn xa lạ. Đó chỉ là cái nhìn cuối cùng của một đời đã quen phó thác.
Thế nên, mỗi khi đi ngang một cây Thánh Giá, đừng vội vàng quá. Mỗi khi bước vào nhà thờ và thấy Đấng Chịu Đóng Đinh, hãy dừng một chút. Mỗi khi cúi xuống hôn Thánh Giá ngày thứ Sáu Tuần Thánh, hãy nhớ rằng ta không hôn một thất bại; ta đang hôn tình yêu đã cứu mình. Và những lúc nọc độc của buồn phiền, ghen ghét, tội lỗi, thất vọng, cô đơn, bệnh tật hay sợ hãi chạy trong tâm hồn, hãy nhớ con đường sa mạc năm xưa: nhìn lên và sống. Nhưng giờ đây, ta không nhìn lên một con rắn bằng đồng. Ta nhìn lên Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng đã mang lấy tội lỗi chúng ta, đã để mình bị “giương cao” giữa trời và đất, để bất cứ ai, dù tội lỗi đến đâu, thương tích đến đâu, mệt mỏi đến đâu, nếu tin tưởng nhìn lên Người thì không phải chết nhưng được sống.
Con rắn đồng chỉ đứng trong sa mạc một thời. Thánh Giá Đức Kitô đứng giữa lịch sử nhân loại cho đến tận cùng. Con rắn đồng cứu con người khỏi một thứ nọc độc của thân xác. Đức Kitô cứu chúng ta khỏi nọc độc sâu nhất là tội lỗi và sự chết. Con rắn đồng là hình bóng; Thánh Giá là sự viên mãn. Và từ trên Thánh Giá, Đức Kitô vẫn đang âm thầm gọi từng người: đừng nhìn mãi xuống vết thương; hãy nhìn lên Ta. Đừng để tội lỗi nói lời cuối cùng; hãy nhìn lên Ta. Đừng để quá khứ giam cầm con; hãy nhìn lên Ta. Đừng tưởng rằng con đã đi quá xa để có thể trở về; hãy nhìn lên Ta. Đừng sợ cái chết như thể nó là dấu chấm hết; hãy nhìn lên Ta. Bởi từ nơi cây gỗ của sự chết, sự sống đã nở hoa. Từ nơi con người tưởng Thiên Chúa đã thua, tình yêu đã chiến thắng. Và từ nơi một Đấng bị giương cao trong ô nhục, cả nhân loại nhận được con đường trở về nhà Cha.
Xin cho ta trong những ngày bình an biết nhìn lên Thánh Giá để học yêu; trong những ngày tội lỗi biết nhìn lên để xin tha thứ; trong những ngày đau khổ biết nhìn lên để có sức chịu đựng; trong những ngày thành công biết nhìn lên để khỏi kiêu căng; trong những ngày thất bại biết nhìn lên để không tuyệt vọng; trong những ngày bị người khác làm tổn thương biết nhìn lên để học tha thứ; và đến giờ cuối cùng của cuộc đời, xin cho đôi mắt đức tin của ta vẫn hướng về Đấng đã được giương cao vì mình. Khi ấy, lời đã vang lên giữa sa mạc năm xưa sẽ đạt đến sự viên mãn nơi cuộc đời ta: người bị thương nhìn lên và được sống. Không chỉ sống thêm vài năm dưới mặt trời này, mà sống đời đời trong Đấng đã chịu chết và đã sống lại vì chúng ta.
Lm. Anmai, CSsR.

CON RẮN ĐỒNG CỦA ÔNG MÔSÊ – HÌNH BÓNG CỦA THÁNH GIÁ
Có những trang Kinh Thánh đọc qua tưởng như chỉ kể lại một biến cố xa xưa của một dân tộc đã đi qua sa mạc cách chúng ta hàng ngàn năm, nhưng càng đọc, càng cầu nguyện, càng để Lời Chúa thấm vào những đổ vỡ của đời mình, ta càng nhận ra rằng đó không phải chỉ là chuyện của ngày xưa. Đó là chuyện của chính ta hôm nay. Câu chuyện con rắn đồng trong sách Dân Số chương 21 là một trang như thế. Dân Israel đã được Thiên Chúa giải thoát khỏi Ai Cập, đã chứng kiến biển đỏ mở ra, đã ăn manna từ trời, đã uống nước từ tảng đá, đã được dẫn đường bằng cột mây ban ngày và cột lửa ban đêm, vậy mà giữa sa mạc họ vẫn mất kiên nhẫn, vẫn kêu trách Thiên Chúa, vẫn chống lại ông Môsê. Họ nói: “Tại sao lại đưa chúng tôi từ Ai Cập lên để chúng tôi chết trong sa mạc? Ở đây chẳng có bánh ăn, chẳng có nước uống, chúng tôi đã chán ngấy thứ đồ ăn vô vị này.” Những lời ấy nghe thật quen. Quen đến mức nếu thành thật, ta phải thú nhận nhiều lần chính mình cũng đã nói như thế, tuy không nhất thiết bằng môi miệng. Ta nói bằng thái độ bất mãn, bằng sự cay đắng trước những gì không theo ý mình, bằng việc quên rất nhanh những ơn lành Thiên Chúa đã ban và chỉ nhìn chăm chăm vào một điều mình đang thiếu. Dân Israel nhớ những nồi thịt của Ai Cập mà quên những roi đòn của Ai Cập. Họ nhớ những gì họ cho rằng mình từng có mà quên rằng họ từng là nô lệ. Họ thấy sa mạc khô cháy trước mắt mà quên Đấng đang dẫn họ đi. Cái bi đát nhất của con người không phải là đi qua sa mạc; cái bi đát nhất là đi qua sa mạc mà quên mất Thiên Chúa đang ở cùng mình. Và khi lòng người không còn nhìn thấy ân huệ, thì một miếng manna cũng trở thành “thứ đồ ăn vô vị”; điều từng cứu sống họ lại trở thành điều họ chê chán. Đó chính là bi kịch của tội lỗi: không chỉ làm ta xa Thiên Chúa, tội còn làm đôi mắt ta mù đi trước những điều tốt lành Thiên Chúa vẫn đang âm thầm ban tặng.
Sách Dân Số kể rằng khi ấy rắn độc xuất hiện, cắn dân chúng và nhiều người Israel phải chết. Người ta có thể dừng lại ở hình ảnh đáng sợ ấy, nhưng nếu đọc trong toàn bộ mạch văn của Kinh Thánh, ta hiểu rằng con rắn không chỉ là một con vật gây chết chóc. Từ những trang đầu sách Sáng Thế, con rắn đã gợi đến sức mạnh của cám dỗ, gian dối và sự chết. Trong vườn Êđen, con rắn gieo vào lòng con người một lời nghi ngờ: Thiên Chúa có thật sự yêu ngươi không? Thiên Chúa có thật sự muốn điều tốt cho ngươi không? Và từ câu hỏi độc ấy, con người quay khỏi Thiên Chúa. Trong sa mạc, Israel cũng đang bị một thứ nọc độc tương tự cắn vào lòng: “Thiên Chúa có thực sự chăm sóc chúng ta không? Tại sao Người lại đưa chúng ta đến đây?” Con rắn bên ngoài chỉ làm lộ ra con rắn đã bò vào trong tâm hồn họ từ trước: con rắn của bất tín, của kêu trách, của phản nghịch, của việc muốn tự mình định đoạt Thiên Chúa phải hành động ra sao. Và chuyện lạ bắt đầu khi dân chúng nhận ra tội lỗi của mình. Họ chạy đến với ông Môsê và thú nhận: “Chúng tôi đã phạm tội vì đã kêu trách Đức Chúa và kêu trách ông. Xin ông khẩn cầu Đức Chúa để Người xua đuổi rắn khỏi chúng tôi.” Một câu ngắn thôi, nhưng chứa đựng cả một con đường cứu độ: nhận ra mình đã sai, gọi đúng tên tội lỗi của mình, quay trở về và cầu xin lòng thương xót. Không có sự chữa lành sâu xa nào bắt đầu bằng việc đổ lỗi. Chữa lành bắt đầu từ giây phút con người thôi chỉ tay sang người khác và có đủ can đảm đấm ngực mình mà nói: “Tôi đã phạm tội.” Bao nhiêu gia đình cứ mãi đau vì không ai chịu nói câu ấy. Bao nhiêu cộng đoàn cứ mãi căng thẳng vì mỗi người chỉ thấy cái sai của người khác. Bao nhiêu cuộc đời cứ mãi mang vết thương vì người ta muốn Thiên Chúa thay đổi mọi người chung quanh mà không để Người thay đổi chính mình. Dân Israel chỉ bắt đầu được cứu khi họ nhìn nhận: “Chúng tôi đã phạm tội.”
Điều gây ngạc nhiên là Thiên Chúa không đơn giản làm cho mọi con rắn biến mất. Người nói với Môsê: “Ngươi hãy làm một con rắn và treo lên một cây cột. Ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó thì sẽ được sống.” Ông Môsê làm một con rắn bằng đồng và treo lên. Ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng thì được sống. Thật lạ lùng! Chính hình ảnh của vật gây chết chóc lại trở thành dấu chỉ của sự sống. Chính cái khiến người ta kinh hãi lại được dựng lên trước mắt họ như con đường chữa lành. Đây chính là một trong những hình bóng sâu xa nhất của mầu nhiệm Thánh Giá. Hàng thế kỷ sau, trong cuộc trò chuyện ban đêm với ông Nicôđêmô, Đức Giêsu đã lấy chính biến cố này để nói về cuộc tử nạn của Người: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (x. Ga 3,14-15). Chúa Giêsu không chỉ gợi lại một câu chuyện cổ. Người mở tấm màn che phủ lịch sử cứu độ và cho thấy con rắn đồng ngày xưa đã hướng về Người. Cột gỗ trong sa mạc hướng về cây gỗ trên đồi Canvê. Israel bị rắn cắn hướng về nhân loại bị tội lỗi cắn thương. Người Israel nhìn lên con rắn đồng mà được sống hướng về mọi tội nhân nhìn lên Đấng Chịu Đóng Đinh trong lòng tin mà nhận được sự sống đời đời. Có một sợi chỉ đỏ kỳ diệu nối từ sa mạc Dân Số đến đồi Golgotha; và sợi chỉ ấy chính là lòng thương xót của Thiên Chúa.
Thánh Giá vì thế không thể được hiểu đơn giản như một vật trang trí của Kitô giáo. Thánh Giá không phải một món nữ trang đeo trước ngực cho đẹp, không phải biểu tượng treo trong nhà chỉ để nói rằng gia đình này có đạo, càng không phải một thứ bùa hộ mạng. Thánh Giá là nơi tội lỗi của con người được phơi bày đến tận cùng và cũng là nơi tình yêu của Thiên Chúa được phơi bày đến tận cùng. Nhìn lên Thánh Giá, ta nhìn thấy con người có thể độc ác tới đâu: một người vô tội bị kết án, một Đấng chữa lành bị đánh đập, Đấng tha thứ bị nguyền rủa, Đấng trao ban sự sống bị đóng đinh cho đến chết. Nhưng cũng chính tại đó, ta nhìn thấy Thiên Chúa có thể yêu đến đâu: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Tội lỗi nói: giết nó đi. Tình yêu nói: tha cho họ. Tội lỗi đóng đinh đôi tay Đức Giêsu; tình yêu khiến chính đôi tay bị đóng đinh ấy vẫn mở ra như muốn ôm lấy nhân loại. Tội lỗi đâm thủng trái tim Người; tình yêu khiến từ trái tim bị đâm thâu ấy chảy ra máu và nước. Tội lỗi dựng Thánh Giá lên như dấu chấm hết; Thiên Chúa biến nó thành cánh cửa mở vào sự sống. Bởi vậy, Thánh Giá vừa là bản cáo trạng nghiêm khắc nhất đối với tội lỗi vừa là lời công bố mạnh mẽ nhất về lòng thương xót. Ta không thể nhìn lên Đấng Chịu Đóng Đinh mà coi tội nhẹ nhàng, bởi chính tội đã đưa Người đến đó; nhưng ta cũng không thể nhìn lên Đấng Chịu Đóng Đinh mà tuyệt vọng, bởi Người ở đó chính để nói với ta rằng không có vực sâu nào của tội lỗi mà tình yêu Người không thể đi xuống để tìm ta.
Tin Mừng theo thánh Gioan đưa ta vào trung tâm của mầu nhiệm khi kể Đức Giêsu nói với Nicôđêmô: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ” (x. Ga 3,14-17). Có lẽ ta đã nghe câu “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một” quá nhiều đến độ đôi khi không còn rúng động nữa. Nhưng nếu đặt câu ấy ngay sau hình ảnh con rắn đồng, ta mới thấy toàn bộ chiều sâu. Thế gian mà Thiên Chúa yêu không phải là một thế gian ngoan ngoãn, tốt đẹp, xứng đáng. Đó là thế gian đã bị rắn cắn. Đó là nhân loại đầy những vết thương, phản loạn, bất trung. Thiên Chúa không yêu chúng ta vì chúng ta đáng yêu; chính tình yêu của Người làm cho ta có thể trở thành những con người đáng yêu. Người không chờ chúng ta lành mạnh mới đến; Người đến vì chúng ta đang hấp hối. Đức Kitô không xuống trần như phần thưởng cho những người công chính; Người đến như Đấng Cứu Độ của những kẻ tội lỗi. Điều này quan trọng biết bao cho đời sống đức tin. Có người nghĩ mình phải trở nên tốt rồi mới dám đến với Chúa. Họ nói: “Bao giờ tôi sửa được đời tôi, tôi sẽ đi lễ. Bao giờ tôi bỏ được tội ấy, tôi sẽ xưng tội. Bao giờ tôi sống đàng hoàng hơn, tôi mới dám cầu nguyện.” Không. Người bị rắn cắn không phải tự chữa lành rồi mới nhìn lên con rắn đồng. Chính vì họ đang mang nọc độc, họ phải nhìn lên. Ta cũng vậy. Chính trong lúc ta yếu đuối nhất, xấu hổ nhất, hỗn độn nhất, ta cần nhìn lên Đức Kitô hơn bao giờ hết.
Nhưng “nhìn lên” trong Kinh Thánh không chỉ là đưa mắt nhìn một vật. Nếu chỉ nhìn vật lý thì những người đứng dưới chân Thánh Giá trên đồi Canvê đều đã được cứu hết, kể cả những kẻ đang nhạo báng Chúa. “Nhìn lên” là tin. Là trao phó đời mình. Là nhìn nhận rằng mình không thể tự cứu mình. Người Israel bị rắn cắn không được yêu cầu chế ra thuốc giải độc cho riêng mình; họ được yêu cầu tin vào con đường Thiên Chúa ban. Tương tự, Tin Mừng không nói rằng ta tự leo lên trời bằng thành tích đạo đức của mình. Tin Mừng nói Con Thiên Chúa đã đi xuống tận nơi ta nằm gục và mở cho ta con đường về. Cái khó của con người là ta thích tự cứu mình. Ta muốn có thể nói: “Tôi làm được. Tôi xứng đáng. Tôi không cần ai.” Nhưng Thánh Giá làm tan vỡ mọi kiêu căng. Người đứng trước Thánh Giá với lòng tin phải thú nhận: nếu Thiên Chúa không cứu tôi, tôi không thể tự cứu mình. Nếu Đức Kitô không chết cho tôi, tôi không có gì để khoe. Nếu ân sủng không nâng tôi lên, mọi công trạng của tôi cũng không đủ đưa tôi qua vực thẳm giữa tội lỗi và sự thánh thiện của Thiên Chúa. Bởi thế Thánh Giá vừa an ủi vừa làm ta khiêm tốn. Nó nói với người tội lỗi: “Đừng tuyệt vọng.” Nhưng đồng thời nói với người kiêu căng: “Đừng tự phụ.”
Một chi tiết rất đáng suy nghĩ là Thiên Chúa đã không cất hết rắn đi ngay, nhưng ban một dấu chỉ để ai bị cắn thì nhìn lên mà sống. Ta thường cầu xin một Thiên Chúa làm biến mất mọi con rắn trong đời mình: xin cho con đừng đau, đừng bệnh, đừng thất bại, đừng bị hiểu lầm, đừng mất mát, đừng chịu thử thách. Chúng ta nghĩ rằng nếu Chúa yêu ta, Người phải làm sa mạc biến thành vườn hoa, phải làm đường đời phẳng lặng, phải dẹp hết gai góc. Nhưng nhiều khi Chúa không cất Thánh Giá đi. Người cho ta sức để đi qua Thánh Giá. Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu đã cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén này”, nhưng Người còn thêm: “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Chén đắng không biến mất. Canvê vẫn ở đó. Đinh vẫn xuyên qua tay chân. Lưỡi đòng vẫn đâm vào cạnh sườn. Nhưng qua chính điều dường như là thất bại ấy, ơn cứu độ được thực hiện. Có những lúc trong cuộc đời, phép lạ không phải là bệnh tật biến mất nhưng là ta vẫn giữ được bình an giữa bệnh tật. Phép lạ không phải là người làm ta tổn thương bỗng thay đổi, mà là trái tim ta được giải thoát khỏi hận thù. Phép lạ không phải là mọi vấn đề gia đình được giải quyết trong một đêm, mà là giữa những rối ren ấy ta không bỏ Chúa, không bỏ nhau, không đánh mất tình yêu. Phép lạ không phải là không có sa mạc, nhưng là trong sa mạc ta biết nhìn lên.
Và đó có lẽ là điều con người thời nay cần học lại: nhìn lên. Chúng ta nhìn xuống quá nhiều. Nhìn xuống màn hình, nhìn xuống những lợi ích nhỏ nhoi, nhìn xuống những hơn thua vụn vặt, nhìn xuống những lỗi lầm của người khác, nhìn xuống những vết thương của mình đến độ chỉ còn thấy bóng tối. Chúng ta cũng nhìn ngang quá nhiều: người khác có gì, người kia thành công ra sao, tại sao họ được mà tôi không được, tại sao đời họ dễ hơn đời tôi. Càng nhìn ngang, càng so sánh; càng so sánh, càng bất mãn. Lời Chúa mời ta nhìn lên. Không phải nhìn lên để trốn khỏi thực tại, nhưng để tìm thấy ánh sáng đủ sức giúp ta sống thực tại ấy. Người Israel vẫn mang vết rắn cắn trên thân thể khi họ nhìn lên con rắn đồng, nhưng nọc độc mất quyền lực. Kitô hữu vẫn mang những vết thương đời mình khi nhìn lên Đức Kitô, nhưng vết thương ấy không còn quyền định nghĩa số phận cuối cùng của ta. Tôi có thể đã bị phản bội, nhưng tôi không buộc phải trở thành người cay độc. Tôi có thể đã thất bại, nhưng thất bại không phải tên của tôi. Tôi có thể đã phạm những tội rất nặng, nhưng tội không phải lời cuối cùng về đời tôi. Tôi có thể đang khóc, nhưng nước mắt không phải nơi cuộc đời kết thúc. Bởi có một Đấng đã bước qua sự chết và sống lại. Bởi có một Thánh Giá đã từng đứng trong chiều thứ Sáu đen tối nhưng phía sau nó là bình minh Phục Sinh.
Con rắn đồng còn giúp ta hiểu một điều tinh tế hơn: Thiên Chúa chữa lành con người bằng cách buộc họ phải đối diện với điều đã làm họ bị thương. Người bị rắn cắn phải nhìn lên hình con rắn. Điều ấy thật nghịch lý. Ta thường chữa đau bằng cách trốn đau, cố quên, cố đè xuống, giả vờ như chưa từng có gì xảy ra. Nhưng những vết thương bị chôn sâu thường không chết; chúng chỉ đổi cách xuất hiện. Một người từng bị bỏ rơi có thể trở thành người luôn sợ bị bỏ rơi. Một người từng bị xúc phạm có thể vô thức xúc phạm kẻ khác. Một người từng thiếu tình thương có thể trở thành người cố nắm giữ người mình yêu đến nghẹt thở. Một người từng thất bại có thể sống cả đời để chứng minh mình hơn người. Thiên Chúa không chữa bằng cách bảo ta: “Chuyện đó chưa từng xảy ra.” Người chữa bằng cách đưa chính quá khứ đau đớn ấy vào ánh sáng cứu độ. Thánh Giá của Đức Kitô là bằng chứng. Thiên Chúa không xóa ngày thứ Sáu Tuần Thánh khỏi lịch sử; Người phục sinh chính Đấng đã bị đóng đinh vào thứ Sáu ấy. Đức Kitô Phục Sinh vẫn mang dấu đinh. Khi hiện ra với Tôma, Người không có một thân thể như chưa từng bị thương; Người nói: hãy đặt ngón tay vào đây, hãy nhìn xem tay Thầy. Những dấu đinh không biến mất nhưng không còn là dấu của thất bại. Chúng đã trở thành dấu của một tình yêu chiến thắng. Thiên Chúa cũng có thể làm như thế với những vết thương của đời ta. Người không nhất thiết xóa ký ức, nhưng Người có thể đổi ý nghĩa của ký ức. Điều từng khiến ta xấu hổ có thể trở thành nơi ta học lòng cảm thông. Điều từng làm ta khóc có thể giúp ta biết lau nước mắt cho người khác. Cuộc ngã đau nhất có thể làm ta bớt kiêu căng và biết đỡ người đang ngã. Chính những vết thương được đặt vào tay Thiên Chúa có thể trở thành những cánh cửa để ân sủng bước qua.
Tuy nhiên, câu chuyện con rắn đồng còn chứa một lời cảnh báo rất cần thiết. Sách các Vua sau này cho biết con rắn đồng ấy được lưu giữ, nhưng rồi dân Israel lại đốt hương kính nó, khiến vua Khítkigia phải phá hủy nó (x. 2 V 18,4). Một dấu chỉ Thiên Chúa ban để dẫn người ta đến Người đã bị con người biến thành ngẫu tượng. Đây là cám dỗ tôn giáo rất thật: ta có thể bám vào dấu chỉ mà quên Đấng dấu chỉ hướng tới. Ta có thể mang Thánh Giá mà không sống tinh thần Thánh Giá. Ta có thể hôn Thánh Giá nhưng lại không tha thứ. Ta có thể quỳ trước tượng Chúa chịu nạn nhưng về nhà đóng đinh người thân bằng những lời cay nghiệt. Ta có thể tham dự nghi thức suy tôn Thánh Giá thật long trọng nhưng lại khước từ những hy sinh nhỏ bé vì người nghèo, người bệnh, người già, người bị bỏ rơi. Khi ấy, Thánh Giá trên tường vẫn còn nhưng Thánh Giá trong đời đã mất. Một Kitô giáo chỉ giữ biểu tượng mà không sống mầu nhiệm sẽ trở thành thứ tôn giáo bên ngoài. Thánh Giá không được ban để trang trí đời ta; Thánh Giá được ban để biến đổi đời ta. Nếu tôi thật sự tôn kính Đấng đã tha thứ cho kẻ đóng đinh mình, tôi không thể nuôi hận thù mãi. Nếu tôi thật sự thờ lạy Đấng đã tự hạ đến cùng, tôi không thể sống bằng kiêu ngạo. Nếu tôi thực sự yêu mến Đấng đã hiến mạng vì người khác, tôi không thể biến cả đời thành cuộc săn tìm ích lợi riêng. Nếu tôi nhìn lên Đấng nghèo khó chết trần trụi trên Thánh Giá, tôi phải đặt lại câu hỏi về cách mình chạy theo tiền bạc và sự bảo đảm của thế gian. Thánh Giá thật sự là một cuộc phán xét đối với lối sống của chúng ta.
Nhìn lên Thánh Giá còn có nghĩa là học lại dung mạo của Thiên Chúa. Con người có thể tưởng Thiên Chúa là Đấng chỉ chờ ta phạm lỗi để trừng phạt. Có người lớn lên trong sợ hãi: sợ Chúa phạt, sợ Chúa giận, sợ Chúa ghi sổ mọi sai phạm. Nhưng khi Đức Giêsu nhắc đến con rắn đồng, Người lập tức nói: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” Và Người nói rõ: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ.” Điều ấy không làm tội lỗi trở nên nhẹ nhàng. Trái lại, chỉ khi biết Thiên Chúa yêu ta đến mức nào ta mới hiểu tội nghiêm trọng ra sao, vì tội là khước từ một tình yêu lớn đến thế. Nhưng trung tâm Tin Mừng không phải là một Thiên Chúa say mê kết án. Trung tâm Tin Mừng là một Thiên Chúa đi tìm con người để cứu. Ngay sau khi Ađam phạm tội, người đầu tiên lên tiếng tìm kiếm không phải Ađam mà là Thiên Chúa: “Ngươi ở đâu?” Sau khi Phêrô chối Thầy, Chúa Phục Sinh không quay lại để sỉ nhục ông trước các môn đệ, nhưng hỏi ba lần: “Con có yêu mến Thầy không?” Sau khi Saolô bách hại Hội Thánh, Đức Kitô không tiêu diệt ông trên đường Đamát nhưng biến ông thành Phaolô, vị Tông đồ của dân ngoại. Thiên Chúa ghét tội nhưng không mệt mỏi cứu tội nhân. Đó là điều Thánh Giá nói lớn hơn mọi bài giảng.
Có những người mang trong mình nọc độc của quá khứ nhiều năm. Một câu nói của cha mẹ thuở nhỏ vẫn ám ảnh. Một lần bị phản bội vẫn khiến họ không còn tin ai. Một lỗi lầm thời trẻ khiến họ nghĩ mình vĩnh viễn không xứng đáng. Một cuộc hôn nhân đổ vỡ, một người con đi lạc, một lần phá sản, một căn bệnh, một cái chết không kịp nói lời chia tay… tất cả trở thành những con rắn cắn sâu vào tâm hồn. Có người sống nhưng trong lòng đã chết một phần. Cười ngoài mặt nhưng đêm xuống lại không ngủ được. Làm việc bình thường nhưng trong lòng có một vùng không ai bước vào được. Tin Mừng không hứa rằng ta chỉ cần đọc một kinh là ký ức biến mất. Nhưng Tin Mừng trao cho ta Đấng Chịu Đóng Đinh. Khi không biết phải làm gì với nỗi đau, hãy đem nó đến chân Thánh Giá. Khi không thể tha thứ, đừng giả vờ rằng mình đã tha; hãy nói thật với Chúa: “Con chưa thể, xin Chúa dạy con.” Khi thấy đời mình đầy thất bại, hãy nhìn Đấng mà thế gian tưởng là thất bại hoàn toàn vào chiều thứ Sáu. Khi thấy mình bị bỏ rơi, hãy nghe tiếng Người: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Người không cứu ta từ một ngai vàng xa xôi. Người bước xuống tận nỗi cô đơn của ta. Không một giọt nước mắt nào của con người mà Đức Kitô không hiểu. Không một đêm tối nào mà Người chưa từng đi qua. Không một nỗi đau nào mà trái tim bị đâm thâu của Người không thể ôm lấy.
Thật ra, tất cả chúng ta đều đã bị “rắn cắn”. Không ai vô thương tích. Có người bị nọc độc của tiền bạc: càng có càng muốn nhiều hơn, cuối cùng không biết thế nào là đủ. Có người bị nọc độc danh vọng: sống bằng ánh mắt người khác, một lời khen làm vui cả ngày, một lời chê khiến mất bình an cả tuần. Có người bị nọc độc dục vọng, biến người khác thành phương tiện thỏa mãn mình. Có người bị nọc độc quyền lực, thích điều khiển, áp đặt, luôn muốn tiếng nói cuối cùng thuộc về mình. Có người bị nọc độc ghen tị, không chịu nổi khi người khác thành công. Có người bị nọc độc tự ái, không bao giờ nhận sai, không bao giờ xin lỗi. Có người mang nọc độc của một đời sống đạo hình thức: đi lễ đầy đủ nhưng lòng chai cứng, đọc kinh rất nhiều nhưng miệng vẫn làm đau người khác, làm việc trong giáo xứ rất hăng nhưng gia đình lại thiếu sự hiện diện của mình. Nọc độc nguy hiểm nhất thường là nọc độc ta không biết mình đang mang. Người bệnh biết mình bệnh còn tìm thầy thuốc; người tưởng mình khỏe thì chẳng tìm ai. Chính vì thế, một trong những ơn lớn nhất Chúa ban không phải là cảm giác mình tốt, mà là ánh sáng để nhận ra chỗ nào trong mình còn cần được chữa.
Và thuốc giải cuối cùng là Đức Kitô. Không phải một lý thuyết, không phải một hệ thống luân lý, không phải một vài cố gắng tự hoàn thiện, nhưng là một Con Người: Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Kitô giáo trước hết không nói: “Hãy cố lên để trở nên tốt hơn.” Kitô giáo nói: “Hãy nhìn lên Đấng đã yêu anh đến chết vì anh.” Rồi từ cái nhìn ấy, cuộc đời mới thay đổi. Thánh Phaolô không nói rằng mình sống tốt nhờ ý chí mạnh mẽ hơn mọi người; ngài nói: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” Cốt lõi của đời Kitô hữu là để sự sống của Đức Kitô đi vào trong những vùng đã bị nọc độc làm chết. Để lòng thương xót Người đi vào vùng hận thù. Để sự khiêm nhường của Người đi vào vùng kiêu ngạo. Để sự trong sạch của Người đi vào những ham muốn hỗn loạn. Để lòng tin của Người đi vào nỗi sợ. Để sự phó thác của Người đi vào nơi ta muốn kiểm soát tất cả. Để ánh sáng Phục Sinh đi vào những mồ tối trong tâm hồn.
Thánh Giá còn dạy ta rằng cứu độ không đến bằng cách chạy khỏi đau khổ nhưng bằng tình yêu đi xuyên qua đau khổ. Hai người cùng mang một thập giá nhưng không nhất thiết cùng sống một cách. Một người đau khổ rồi trở nên cay độc; người kia đau khổ mà trưởng thành trong lòng nhân hậu. Một người gặp bất công rồi dành cả đời trả thù; người kia biến chính kinh nghiệm ấy thành động lực bảo vệ người yếu thế. Một người bệnh tật rồi chỉ hỏi “Tại sao là tôi?”; người kia cũng có lúc hỏi như vậy nhưng dần dần học nói: “Trong hoàn cảnh này, Chúa muốn con yêu thế nào?” Không phải đau khổ tự nó thánh hóa. Đau khổ cũng có thể phá hủy. Điều thánh hóa là đau khổ được kết hợp với tình yêu của Đức Kitô. Hai cây gỗ đóng chéo nhau tự chúng chỉ là dụng cụ hành hình. Cái làm cho Thập giá trở thành Thánh Giá chính là Đấng đã yêu trên đó. Và cái có thể làm cho những thập giá đời ta trở thành đường cứu độ cũng chính là tình yêu. Một người mẹ thức đêm bên con bệnh vì yêu: đó là thập giá được biến đổi. Một người chồng kiên nhẫn chăm vợ đau yếu nhiều năm vì lời hứa hôn nhân: đó là thập giá được tình yêu thánh hóa. Một linh mục vẫn trung thành phục vụ giữa cô đơn, hiểu lầm, mệt mỏi vì yêu Chúa và đoàn chiên: đó là thập giá mang mùi hương của Tin Mừng. Một người âm thầm chịu thiệt để giữ bình an cho gia đình mà không nuôi cay đắng: đó là nơi Canvê đang nở hoa. Thánh Giá không bảo chúng ta yêu đau khổ; Thánh Giá dạy chúng ta yêu trong đau khổ.
Có lẽ vì thế mà trong phụng vụ, Hội Thánh dám hát về Thánh Giá bằng những lời tưởng như nghịch lý: cây Thánh Giá là cây cao quý, là nguồn cứu độ, là niềm hy vọng. Nếu chỉ nhìn bằng mắt trần, cây gỗ Canvê là thất bại. Đức Giêsu không xuống khỏi Thánh Giá dù người ta thách thức: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi!” Nhưng chính việc Người không xuống lại là chiến thắng. Nếu xuống để chứng minh quyền năng, Người có thể làm kẻ thù câm miệng; nhưng ở lại để yêu đến cùng, Người cứu được nhân loại. Quyền năng của thế gian nói: mạnh là làm người khác quỳ xuống. Quyền năng của Thánh Giá nói: mạnh là có thể yêu ngay cả khi bị tổn thương. Thế gian nói: chiến thắng là tiêu diệt kẻ thù. Đức Kitô chiến thắng bằng cách biến kẻ thù thành anh em. Thế gian nói: hãy giữ mạng sống mình bằng mọi giá. Đức Giêsu nói: ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm thấy. Chính ở đây ta hiểu tại sao Thánh Giá là sự khôn ngoan của Thiên Chúa mà thế gian khó hiểu.
Con rắn đồng được dựng lên giữa sa mạc, nơi không có gì che khuất tầm mắt. Thánh Giá cũng được dựng lên trên đồi cao, bên ngoài thành Giêrusalem, trước mắt mọi người. Ơn cứu độ của Thiên Chúa không diễn ra trong góc tối. Đức Giêsu chết công khai, giữa trời và đất, như thể đôi tay Người mở ra nối con người với con người và nối đất với trời. Một cánh tay hướng về người bên phải, một cánh tay hướng về người bên trái, như muốn nói không ai bị loại khỏi lời mời gọi của lòng thương xót. Người chết giữa hai tên tội phạm, không giữa hai thiên thần. Một trong hai người ấy, vào những phút cuối cùng của đời, chỉ kịp nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và câu trả lời lập tức đến: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Thật khó tìm một hình ảnh nào rõ hơn về ơn cứu độ. Người ấy không còn thời gian để sửa lại quá khứ. Không còn thời gian trả nợ. Không thể xuống khỏi thập giá để bắt đầu một cuộc đời mới. Điều duy nhất anh có thể làm là nhìn sang Đấng đang bị đóng đinh bên cạnh và trao phó phần đời cuối cùng. Một cái nhìn cứu anh. Một lời cầu xin cứu anh. Một lòng tin nảy sinh giữa giờ chết cứu anh. Đó chính là mầu nhiệm con rắn đồng được hoàn tất: người bị nọc độc sự chết cắn đến tận cùng nhìn lên Đấng được giương cao và nhận sự sống.
Nhưng có một sự khác biệt kỳ diệu: con rắn đồng chỉ là dấu chỉ; Đức Kitô là chính Đấng Cứu Độ. Con rắn đồng không có quyền năng nơi bản thân nó; quyền năng đến từ Thiên Chúa. Còn trên Thánh Giá, chính Con Thiên Chúa đang trao ban chính mình. Người không chỉ chỉ cho ta đường sống; Người nói: “Thầy là đường.” Người không chỉ ban chân lý; Người là Sự Thật. Người không chỉ phục hồi sự sống; Người là Sự Sống. Vì thế người Kitô hữu không chỉ “dùng” Thánh Giá khi gặp nạn. Ta sống dưới bóng Thánh Giá mỗi ngày. Mỗi dấu Thánh Giá ta làm trên mình phải là một lời tuyên xưng: đời tôi thuộc về Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần; tư tưởng, lời nói, hành động của tôi phải mang dấu của tình yêu tự hiến. Tiếc rằng có khi ta làm dấu Thánh Giá quá nhanh đến mức chẳng còn biết mình đang làm gì. Bàn tay vừa vẽ dấu tình yêu của Đức Kitô, vài phút sau đã chỉ trỏ kết án người khác. Miệng vừa đọc “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”, rồi lại nói lời làm người khác tổn thương. Nếu mỗi lần làm dấu Thánh Giá ta thật sự ý thức, có lẽ đời ta đã khác. Trán tôi thuộc về Chúa: xin thanh luyện những suy nghĩ. Ngực tôi thuộc về Chúa: xin thanh luyện những ước muốn. Vai tôi thuộc về Chúa: xin cho tôi biết mang gánh nặng với anh em. Cả con người tôi được bao phủ bởi dấu của Đấng đã chết và sống lại.
Có một câu hỏi cần đặt ra: hôm nay tôi đang nhìn đâu khi bị “rắn cắn”? Khi bị xúc phạm, tôi nhìn vào lời xúc phạm ấy hàng trăm lần, nhai đi nhai lại, rồi nọc độc càng lan. Khi thất bại, tôi chỉ nhìn vào thất bại và nghĩ đời mình chấm hết. Khi mắc tội, tôi hoặc tự bào chữa hoặc tuyệt vọng, thay vì chạy đến lòng thương xót. Khi lo sợ tương lai, tôi nhìn vào những kịch bản đen tối tự mình dựng nên. Lời Chúa hôm nay nói rất đơn sơ: hãy nhìn lên. Hãy nhìn Đấng đã chịu đóng đinh. Không phải nhìn một cách mê tín. Hãy nhìn bằng ký ức: nhớ Người đã yêu ta thế nào. Nhìn bằng lòng tin: tin rằng tình yêu ấy vẫn dành cho ta hôm nay. Nhìn bằng sự sám hối: đặt tội lỗi dưới chân Người. Nhìn bằng phó thác: trao cho Người điều ta không kiểm soát nổi. Nhìn bằng hy vọng: tin rằng Canvê không phải chương cuối.
Có những lúc ta sẽ không đủ sức cầu nguyện dài. Chỉ cần ngồi trước Thánh Giá và nhìn. Có những ngày chẳng còn lời nào để nói. Cứ nhìn. Người mẹ vừa mất con, người cha lo cho gia đình, người bệnh vừa nghe một chẩn đoán đáng sợ, người trẻ không biết tương lai đi đâu, người tu sĩ mệt mỏi, người linh mục trải qua đêm tối của sứ vụ, người vợ bị tổn thương, người chồng đang mang một gánh nặng không nói được với ai… nhiều khi không cần một bài giảng dài. Chỉ cần một Thánh Giá. Và trong thinh lặng, Đấng Chịu Đóng Đinh nói một thứ ngôn ngữ không có chữ: “Ta biết.” “Ta ở đây.” “Ta cũng đã đau.” “Đừng sợ.” “Hãy ở lại với Ta.” Có những câu trả lời Chúa không cho bằng lý luận. Người trả lời bằng sự hiện diện. Tại sao Người không tránh cho tôi đau khổ này? Ta có thể không biết. Nhưng Thánh Giá cho ta biết ít nhất một điều: Người không đứng ngoài đau khổ của ta. Người bước vào đó.
Và từ Thánh Giá, người Kitô hữu được sai đi làm những “dấu chỉ chữa lành” giữa một thế giới đầy nọc độc. Nếu mạng xã hội đầy nọc độc của vu khống, ta đừng thêm một lời cay độc. Nếu gia đình đang đầy nọc độc của trách móc, hãy có một người dừng lại. Nếu cộng đoàn có nọc độc của phe phái, hãy trở thành người xây cầu. Nếu người bên cạnh đã bị cuộc đời cắn thương, đừng hỏi trước tiên “anh đã làm gì để ra nông nỗi này?”, hãy hỏi “tôi có thể làm gì để giúp anh sống?” Đức Kitô trên Thánh Giá không chữa lành ta để ta chỉ lo bình an cho riêng mình. Người chữa ta để ta trở thành khí cụ chữa lành. Người đã tha thứ cho ta để ta đem sự tha thứ đến những nơi đầy hận thù. Người đã nâng ta dậy để ta biết cúi xuống nâng người khác. Người đã nhìn ta bằng lòng thương xót để mắt ta thôi nhìn người khác bằng thành kiến. Một cộng đoàn Kitô hữu thực sự sống dưới bóng Thánh Giá phải là nơi những người bị thương dám bước vào mà không sợ bị kết án.
Hãy trở lại sa mạc một lần nữa. Những người Israel bị rắn cắn nằm giữa cát nóng. Nọc độc chạy trong máu. Họ không còn sức để đi xa. Điều cần thiết duy nhất là ngước mắt lên. Có lẽ người này phải dìu người kia, có lẽ người còn khỏe phải nói với người đang hấp hối: “Nhìn lên đi!” Hình ảnh ấy đẹp biết bao nếu áp dụng vào Hội Thánh. Chúng ta không phải cộng đoàn của những người chưa từng bị rắn cắn; chúng ta là cộng đoàn của những kẻ đã được cứu nhờ nhìn lên Đức Kitô. Vì thế chẳng ai có quyền kiêu căng. Người đang đứng hôm nay có thể là nhờ bao lần Chúa đã nâng dậy. Người thánh thiện cũng là tội nhân được ân sủng biến đổi. Và nhiệm vụ của ta là chỉ cho nhau nơi phải nhìn. Khi một người anh em tuyệt vọng, ta nói: “Hãy nhìn lên.” Khi một người chìm trong tội, không phải nói “anh hết cứu rồi”, nhưng nói: “Hãy trở về.” Khi chính ta ngã, đừng nằm đó phân tích mãi vết thương, hãy nhìn lên. Có một Thánh Giá vẫn đứng đó. Có một Trái Tim vẫn mở. Có một dòng Máu vẫn nói lời tha thứ. Có một ngôi mộ đã trống.
Rốt cuộc, con rắn đồng của Môsê chỉ cho chúng ta một chân lý vừa đơn sơ vừa sâu thẳm: sự sống được tìm thấy khi con người thôi nhìn vào mình và hướng mắt về ơn cứu độ Thiên Chúa ban. Bao nhiêu năm sống đạo mà vẫn mệt mỏi, có thể vì ta nhìn vào mình quá nhiều: tôi tốt hay xấu, tôi thành công hay thất bại, người ta nghĩ gì về tôi, tôi được gì, tôi mất gì. Đức tin bắt đầu được tự do khi trung tâm chuyển từ “tôi” sang “Người”. Không còn là tôi giỏi thế nào, nhưng Người yêu tôi thế nào. Không còn là tội tôi lớn bao nhiêu, nhưng lòng thương xót Người lớn bao nhiêu. Không còn là thập giá tôi nặng thế nào, nhưng Đấng đang cùng vác với tôi là ai. Không còn là đêm tối dài bao nhiêu, nhưng bình minh Phục Sinh chắc chắn đến thế nào.
Đến một ngày cuối cùng, mỗi người chúng ta cũng sẽ đi qua sa mạc lớn nhất: cái chết. Khi ấy tiền bạc không chữa được, danh vọng không cứu được, chức vụ không còn ý nghĩa, những lời khen của thiên hạ không thể đi cùng ta. Có lẽ đôi mắt thể xác lúc ấy cũng không còn đủ sức nhìn một cây Thánh Giá trên tường. Nhưng ước gì trái tim còn biết nhìn lên. Nhìn lên Đấng đã từng nói: “Ai tin vào Người thì được sống muôn đời.” Nhìn lên Đấng đã nói với người trộm lành: “Hôm nay, anh sẽ ở với tôi trên Thiên Đàng.” Nhìn lên Đấng đã chết cái chết của ta để ta được sống sự sống của Người. Nếu suốt đời ta đã tập nhìn lên Thánh Giá trong những đau khổ nhỏ, thì giờ cuối cùng sẽ không phải một cái nhìn xa lạ. Đó chỉ là cái nhìn cuối cùng của một đời đã quen phó thác.
Thế nên, mỗi khi đi ngang một cây Thánh Giá, đừng vội vàng quá. Mỗi khi bước vào nhà thờ và thấy Đấng Chịu Đóng Đinh, hãy dừng một chút. Mỗi khi cúi xuống hôn Thánh Giá ngày thứ Sáu Tuần Thánh, hãy nhớ rằng ta không hôn một thất bại; ta đang hôn tình yêu đã cứu mình. Và những lúc nọc độc của buồn phiền, ghen ghét, tội lỗi, thất vọng, cô đơn, bệnh tật hay sợ hãi chạy trong tâm hồn, hãy nhớ con đường sa mạc năm xưa: nhìn lên và sống. Nhưng giờ đây, ta không nhìn lên một con rắn bằng đồng. Ta nhìn lên Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng đã mang lấy tội lỗi chúng ta, đã để mình bị “giương cao” giữa trời và đất, để bất cứ ai, dù tội lỗi đến đâu, thương tích đến đâu, mệt mỏi đến đâu, nếu tin tưởng nhìn lên Người thì không phải chết nhưng được sống.
Con rắn đồng chỉ đứng trong sa mạc một thời. Thánh Giá Đức Kitô đứng giữa lịch sử nhân loại cho đến tận cùng. Con rắn đồng cứu con người khỏi một thứ nọc độc của thân xác. Đức Kitô cứu chúng ta khỏi nọc độc sâu nhất là tội lỗi và sự chết. Con rắn đồng là hình bóng; Thánh Giá là sự viên mãn. Và từ trên Thánh Giá, Đức Kitô vẫn đang âm thầm gọi từng người: đừng nhìn mãi xuống vết thương; hãy nhìn lên Ta. Đừng để tội lỗi nói lời cuối cùng; hãy nhìn lên Ta. Đừng để quá khứ giam cầm con; hãy nhìn lên Ta. Đừng tưởng rằng con đã đi quá xa để có thể trở về; hãy nhìn lên Ta. Đừng sợ cái chết như thể nó là dấu chấm hết; hãy nhìn lên Ta. Bởi từ nơi cây gỗ của sự chết, sự sống đã nở hoa. Từ nơi con người tưởng Thiên Chúa đã thua, tình yêu đã chiến thắng. Và từ nơi một Đấng bị giương cao trong ô nhục, cả nhân loại nhận được con đường trở về nhà Cha.
Xin cho ta trong những ngày bình an biết nhìn lên Thánh Giá để học yêu; trong những ngày tội lỗi biết nhìn lên để xin tha thứ; trong những ngày đau khổ biết nhìn lên để có sức chịu đựng; trong những ngày thành công biết nhìn lên để khỏi kiêu căng; trong những ngày thất bại biết nhìn lên để không tuyệt vọng; trong những ngày bị người khác làm tổn thương biết nhìn lên để học tha thứ; và đến giờ cuối cùng của cuộc đời, xin cho đôi mắt đức tin của ta vẫn hướng về Đấng đã được giương cao vì mình. Khi ấy, lời đã vang lên giữa sa mạc năm xưa sẽ đạt đến sự viên mãn nơi cuộc đời ta: người bị thương nhìn lên và được sống. Không chỉ sống thêm vài năm dưới mặt trời này, mà sống đời đời trong Đấng đã chịu chết và đã sống lại vì chúng ta.
Lm. Anmai, CSsR.

CÂY SỰ SỐNG TRONG VƯỜN ĐỊA ĐÀNG VÀ CÂY THÁNH GIÁ
Có những hình ảnh đi xuyên suốt toàn bộ Kinh Thánh như một dòng sông âm thầm, lúc ẩn lúc hiện, nhưng càng đi về cuối càng sáng lên ý nghĩa. Một trong những hình ảnh ấy là cây. Kinh Thánh bắt đầu bằng một khu vườn có cây sự sống ở giữa, và hành trình cứu độ đạt tới đỉnh cao trên một ngọn đồi có một cây gỗ khác được dựng lên: cây Thánh Giá. Rồi khi sách Khải Huyền khép lại toàn bộ mặc khải, cây sự sống lại xuất hiện bên dòng sông nước trường sinh trong thành thánh của Thiên Chúa. Giữa hai cây ấy là cả lịch sử của con người: được tạo dựng, được yêu thương, được tự do, sa ngã, lưu đày, đau khổ, được tìm kiếm, được tha thứ và cuối cùng được cứu chuộc. Một cây đứng trong vườn Êđen nhắc con người rằng sự sống là quà tặng của Thiên Chúa; một cây đứng trên đồi Canvê mặc khải rằng khi con người đánh mất quà tặng ấy, chính Thiên Chúa đã trả giá để trao lại cho họ. Cây thứ nhất gắn với buổi bình minh của tạo dựng. Cây thứ hai đứng giữa bóng tối của chiều Thứ Sáu. Nhưng chính nơi bóng tối ấy, một bình minh mới đã bắt đầu. Vì thế, nhìn Thánh Giá mà chỉ thấy một dụng cụ hành hình là chưa nhìn đủ; nhìn Thánh Giá mà chỉ thấy đau khổ cũng chưa chạm tới mầu nhiệm. Người Kitô hữu nhìn Thánh Giá và nhận ra nơi đó cây sự sống mới đang trổ sinh giữa miền đất chết của nhân loại. Quả của cây ấy không phải một thứ trái có thể hái bằng tay, nhưng là chính Đức Kitô, Đấng đã trao thân mình làm lương thực cho thế gian. Nhựa sống của cây ấy không phải nước của đất, nhưng là Máu và Nước từ cạnh sườn Đấng chịu đóng đinh. Bóng mát của cây ấy không chỉ che một vài người được tuyển chọn, nhưng dang rộng hai cánh tay để ôm lấy cả nhân loại. Và từ cây ấy, một lời đã vang lên cho đến tận cùng lịch sử: “Mọi sự đã hoàn tất.”
Ngay những trang đầu của sách Sáng Thế, ta đọc thấy Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Êđen và đặt con người vào đó. Trong khu vườn ấy, giữa bao nhiêu cây “trông thì đẹp, ăn thì ngon”, có hai cây mang ý nghĩa đặc biệt: cây sự sống và cây cho biết điều thiện điều ác. Cây sự sống không đơn thuần là một chi tiết trang trí trong câu chuyện tạo dựng. Nó biểu tượng cho điều căn bản nhất của thân phận con người: con người không tự mình là nguồn sự sống. Con người nhận sự sống. Con người sống vì được Thiên Chúa cho sống. Con người trường tồn không phải nhờ nắm giữ sự sống trong tay nhưng nhờ ở lại trong tương quan với Đấng là nguồn mạch sự sống. Đó chính là vẻ đẹp ban đầu của tạo dựng. Ađam và Evà không phải những kẻ nghèo nàn bị Thiên Chúa cấm đoán đủ thứ. Trái lại, họ được trao cả một khu vườn. Thiên Chúa quảng đại đến mức hầu như mọi cây đều được ban cho con người hưởng dùng. Chỉ một giới hạn được đặt ra, không phải để làm nghèo con người, nhưng để nhắc họ nhớ rằng mình là thụ tạo. Có một ranh giới mà con người phải kính trọng nếu muốn tiếp tục sống trong sự thật. Bi kịch bắt đầu khi con người không còn muốn đón nhận sự sống nhưng muốn sở hữu sự sống; không còn muốn tin tưởng Thiên Chúa nhưng muốn tự mình quyết định thiện ác; không còn vui mừng vì được làm người nhưng muốn chiếm lấy địa vị của Thiên Chúa. Con rắn không cám dỗ con người bằng một điều hoàn toàn xấu xa. Nó cám dỗ bằng một lời hứa nghe rất hấp dẫn: “Các ngươi sẽ nên như những vị thần.” Chính ở đó, tội lỗi lộ nguyên hình. Tội không chỉ là ăn một trái cây bị cấm. Tội là sự khước từ thân phận thụ tạo. Tội là nói với Thiên Chúa: con không muốn nhận từ Ngài nữa, con muốn tự lấy; con không muốn lệ thuộc vào tình yêu của Ngài, con muốn tự mình làm chủ; con không muốn Ngài nói cho con biết đâu là thiện đâu là ác, con muốn tự mình quyết định. Và khi bàn tay con người giơ lên để hái lấy điều không thuộc về mình, một vết nứt đi vào trong toàn bộ lịch sử. Con người tưởng mình sẽ mở mắt để trở thành thần, nhưng đôi mắt vừa mở ra thì điều đầu tiên họ nhận thấy lại là sự trần truồng của chính mình. Tội lỗi luôn hứa nhiều hơn điều nó có thể trao. Nó hứa tự do nhưng đem lại nô lệ. Nó hứa ánh sáng nhưng để lại bóng tối. Nó hứa lớn lên nhưng khiến con người nhỏ bé. Nó hứa sự sống nhưng gieo mầm sự chết.
Sau sa ngã, Ađam và Evà phải rời khỏi vườn. Sách Sáng Thế kể rằng các Kêrubim được đặt ở phía đông vườn Êđen cùng với lưỡi gươm sáng loé để canh giữ đường đến cây sự sống. Cánh cửa dẫn vào cây sự sống như đã khép lại. Đó là một hình ảnh buồn đến nao lòng. Con người từng sống giữa khu vườn của Thiên Chúa nay phải bước ra miền đất gai góc. Từ đó, lịch sử nhân loại trở thành lịch sử của một cuộc lưu đày. Không chỉ lưu đày khỏi một địa điểm, nhưng sâu xa hơn là lưu đày khỏi sự hiệp thông nguyên thủy với Thiên Chúa, với chính mình, với nhau và với tạo thành. Con người bắt đầu biết sợ. Ađam sợ Thiên Chúa nên trốn. Con người bắt đầu đổ lỗi. Ađam đổ lỗi cho Evà, và kín đáo đổ lỗi cả cho Thiên Chúa: “Người đàn bà Ngài cho ở với con…” Con người bắt đầu thống trị nhau, làm tổn thương nhau, giết nhau. Cain giết Abel. Bạo lực lan rộng. Đất vốn là nơi sự sống mọc lên nay uống máu con người. Từ vườn Êđen đến tháp Babel, ta thấy nhân loại không ngừng tìm cách xây thiên đường bằng sức riêng nhưng càng xây càng chia rẽ. Cây sự sống vẫn ở phía sau, còn con người đi về phía trước với một nỗi khát mà không thứ gì trên thế gian có thể làm nguôi. Từ đó, dường như trong mọi con người đều có một nỗi nhớ về Êđen. Ta gọi nó bằng nhiều tên khác nhau: khát vọng hạnh phúc, khát vọng bình an, khát vọng được yêu thương, khát vọng không chết, khát vọng một đời sống không chia lìa. Những khát vọng ấy sâu hơn tiền bạc, danh vọng hay thành công. Con người muốn sống mãi không chỉ vì sợ chết, nhưng bởi tận đáy lòng mình, họ được dựng nên cho sự sống. Con người đau trước cái chết bởi cái chết chưa bao giờ là quê hương thật của con người. Con người được dựng nên để sống với Thiên Chúa. Vì thế, đứng trước một nấm mồ, dù đức tin mạnh đến đâu, ta vẫn thấy lòng mình nghẹn lại; đứng trước một cuộc chia ly, dù biết phải chấp nhận, ta vẫn mong có một ngày không còn chia lìa. Đó là tiếng vọng rất xa của cây sự sống trong vườn Êđen.
Nhưng Thiên Chúa không bỏ mặc con người bên ngoài khu vườn. Đây có lẽ là điều cảm động nhất của toàn bộ Kinh Thánh: khi con người rời khỏi Thiên Chúa, Thiên Chúa bắt đầu lên đường tìm con người. Ngay sau tội đầu tiên, câu hỏi của Thiên Chúa vang lên: “Ngươi ở đâu?” Thiên Chúa biết Ađam ở đâu. Ngài hỏi không phải vì thiếu thông tin. Ngài hỏi vì muốn con người bước ra khỏi chỗ trốn. “Ngươi ở đâu?” là câu hỏi Thiên Chúa vẫn hỏi mỗi chúng ta. Con đang ở đâu trong đời con? Con đang trốn sau điều gì? Con đang chạy về đâu? Con đang sống trong ánh sáng hay bóng tối? Con còn nhớ Ta không? Cả lịch sử cứu độ có thể được đọc như hành trình Thiên Chúa đi tìm câu trả lời cho câu hỏi ấy. Ngài gọi Abraham ra khỏi quê cha đất tổ. Ngài nghe tiếng dân Israel kêu than ở Ai Cập. Ngài đưa họ qua Biển Đỏ. Ngài lập giao ước. Ngài sai các ngôn sứ. Ngài sửa dạy, tha thứ, lại tìm kiếm. Và cuối cùng, “khi thời gian tới hồi viên mãn”, Thiên Chúa không chỉ sai thêm một sứ giả. Ngài sai chính Con Một của Ngài. Nếu trong Êđen, con người trốn khi nghe tiếng Thiên Chúa, thì trong mầu nhiệm Nhập Thể, Thiên Chúa bước vào chính nơi con người đang trốn. Ngôi Lời trở thành xác phàm. Đấng vô hình mang lấy một khuôn mặt. Đấng vĩnh cửu bước vào thời gian. Đấng ban sự sống chấp nhận một thân xác có thể đau, có thể chảy máu, có thể chết. Thiên Chúa không đứng ngoài vết thương nhân loại để giảng về đau khổ. Ngài đi vào trong vết thương ấy.
Và rồi con đường từ Bêlem dẫn tới Canvê. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà cuộc đời trần thế của Đức Giêsu lại gắn với gỗ từ đầu đến cuối. Người sinh ra nơi nghèo khó, lớn lên trong gia đình của một người thợ mộc, và cuối cùng chết trên một cây gỗ. Người đã từng chạm vào gỗ bằng đôi tay lao động ở Nadarét, rồi một ngày chính đôi tay ấy bị đóng đinh vào gỗ. Cây gỗ từng phục vụ sự sống của một gia đình giờ trở thành dụng cụ của cái chết. Nhưng nghịch lý của Thiên Chúa nằm ở đó: Người không phá huỷ cây thập giá từ bên ngoài; Người biến đổi nó từ bên trong. Người để sự dữ làm hết điều nó có thể làm, rồi từ chính nơi sự dữ tưởng mình đã chiến thắng, Người làm phát sinh ơn cứu độ. Thập giá là sáng kiến độc ác của con người, nhưng Thánh Giá là kỳ công của tình yêu Thiên Chúa. Con người dựng thập giá để giết; Thiên Chúa dùng chính thập giá ấy để cứu. Con người đóng đinh Đức Giêsu nhằm làm cho Người im tiếng; nhưng từ đó lời yêu thương của Người vang xa hơn mọi bài giảng. Con người nâng Người lên để làm nhục; nhưng chính lúc được nâng lên, Người trở thành Đấng kéo mọi người đến với mình. Con người tưởng cây gỗ ấy là dấu chấm hết; Thiên Chúa biến nó thành cánh cửa mở vào sự sống đời đời.
Tin Mừng theo thánh Gioan đã để lại một cảnh tượng làm sáng lên toàn bộ mầu nhiệm ấy. Đức Giêsu nói với ông Nicôđêmô: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (x. Ga 3,14-16). Chữ “giương cao” thật lạ lùng. Theo cái nhìn của thế gian, Đức Giêsu bị treo lên bởi Người đã bị loại trừ. Theo cái nhìn đức tin, chính lúc ấy Người được tôn vinh. Cái mà con người gọi là thất bại, Thiên Chúa gọi là giờ vinh quang. Cái mà thế gian xem là nhục nhã, Tin Mừng nhìn thấy như ngai toà của Vua. Cái mà luật Rôma dùng để khiến người ta khiếp sợ, Thiên Chúa biến thành dấu chỉ hy vọng. Và thánh Gioan đặt ngay bên cạnh hình ảnh Thánh Giá lời tuyên bố có lẽ quen thuộc nhất nhưng cũng sâu nhất của Tin Mừng: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” Thánh Giá vì thế trước hết không phải là câu chuyện về mức độ đau khổ của Đức Giêsu, nhưng là câu chuyện về mức độ Thiên Chúa yêu con người. Nếu ta chỉ nhìn những chiếc đinh, ta có thể xúc động; nếu nhìn thấy tình yêu phía sau những chiếc đinh, ta mới bắt đầu tin. Nếu chỉ nhìn mão gai, ta có thể thương cảm; nếu nhận ra Đấng đội mão gai đang tự nguyện hiến mình cho ta, ta mới hiểu Thánh Giá. Thánh Giá không bảo rằng Thiên Chúa thích đau khổ. Thánh Giá nói rằng không có đau khổ nào của con người mà Thiên Chúa không dám đi vào để cứu họ. Thánh Giá không nói rằng cái chết là tốt. Thánh Giá tuyên bố rằng tình yêu của Thiên Chúa mạnh hơn cái chết.
Nếu cây ở Êđen gắn liền với sự bất tuân của Ađam, cây Thánh Giá gắn liền với sự vâng phục của Đức Kitô. Đây là một đối chiếu rất đẹp trong truyền thống Kitô giáo. Ađam cũ đứng trước một cây và nói bằng hành động: “Ý con, không phải ý Ngài.” Đức Kitô, Ađam mới, bước vào vườn Ghếtsêmani và thưa: “Xin đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha.” Chính trong một khu vườn, sự bất tuân đã mở cửa cho tội lỗi; cũng trong một khu vườn, sự vâng phục bắt đầu cuộc chiến cuối cùng chống lại tội lỗi. Ađam đưa tay ra lấy điều không được ban; Đức Kitô giang tay ra để trao chính mình. Ađam muốn chiếm lấy địa vị Thiên Chúa; Đức Kitô, vốn là Thiên Chúa, lại tự hạ mang thân phận tôi tớ. Ađam trốn khỏi Thiên Chúa vì xấu hổ; Đức Kitô bị lột trần trước mắt thiên hạ để khoác lại phẩm giá cho con người. Ađam đổ lỗi; Đức Kitô nhận lấy trên mình tội lỗi của muôn người. Ađam đem cái chết vào lịch sử; Đức Kitô bước vào cái chết và phá vỡ nó từ bên trong. Một cây trở thành nơi con người nói lời bất tín; cây kia trở thành nơi Con Thiên Chúa bày tỏ sự tín trung đến cùng. Vì thế, Thánh Giá không chỉ xóa một bản án. Thánh Giá chữa lại thái độ căn bản đã bị tội lỗi làm hư hỏng: thay cho chiếm đoạt là tự hiến; thay cho kiêu ngạo là khiêm hạ; thay cho bất tuân là vâng phục; thay cho đổ lỗi là gánh lấy; thay cho trốn chạy là ở lại; thay cho “tôi phải cứu tôi” là “Lạy Cha, con phó thác.”
Hãy dừng lại thật lâu ở hình ảnh đôi tay. Tội nguyên tổ bắt đầu với một bàn tay đưa ra để lấy. Ơn cứu độ được hoàn tất với hai bàn tay giang ra để cho. Bao nhiêu bi kịch của đời người cũng bắt đầu từ động tác muốn lấy: lấy phần hơn, lấy danh dự, lấy quyền lực, lấy tiền bạc, lấy người khác làm sở hữu, lấy cả Thiên Chúa làm phương tiện cho những tính toán của mình. Con người muốn lấy để mình đầy hơn, nhưng lạ thay càng lấy càng trống. Còn Đức Giêsu không lấy gì trên Thánh Giá. Áo Người cũng bị quân lính chia nhau. Danh dự bị tước bỏ. Các môn đệ bỏ chạy. Thân xác đầy thương tích. Cuối cùng Người trao cả Thần Khí: “Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.” Người chẳng còn gì để giữ, bởi Người đã trao tất cả. Và chính lúc chẳng còn gì theo tiêu chuẩn thế gian, Người lại ban cho nhân loại mọi sự. Đó là quy luật của cây sự sống mới: sự sống nảy sinh từ tình yêu biết hiến mình. Hạt lúa mì nếu không rơi xuống đất và chết đi thì vẫn trơ trọi một mình; nhưng nếu chết đi, nó mới sinh nhiều bông hạt. Đức Giêsu đã không chỉ giảng quy luật ấy. Người trở thành chính hạt lúa ấy. Người đi vào lòng đất. Người để thân mình được chôn trong mồ. Nhưng sáng ngày thứ nhất trong tuần, ngôi mộ trống. Cây Thánh Giá vì thế không thể tách khỏi Phục Sinh. Nếu Thứ Sáu Thánh là ngày cây sự sống mới được trồng xuống lòng đất nhân loại, thì Phục Sinh là mùa quả đầu tiên của cây ấy.
Có một chi tiết khác trong Tin Mừng Gioan rất đáng suy niệm. Khi Đức Giêsu đã chết, một người lính lấy giáo đâm cạnh sườn Người, và lập tức máu cùng nước chảy ra. Truyền thống Hội Thánh từ lâu đã chiêm ngắm nơi dòng máu và nước ấy dấu chỉ của các bí tích và của chính Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô. Như Evà được dựng nên từ cạnh sườn Ađam đang ngủ, Hội Thánh được nhìn như phát sinh từ cạnh sườn Đức Kitô đang ngủ giấc ngủ của cái chết. Cây Thánh Giá vì thế không khô cằn như mắt thường nhìn thấy. Từ cây gỗ tưởng đã chết ấy, một dòng sông đang chảy. Từ thân thể bị đâm thâu ấy, nước sự sống tuôn ra. Có một nghịch lý kỳ diệu: Đức Giêsu chết nhưng từ Người lại chảy ra nguồn sống; trái tim Người bị mở ra nhưng chính qua vết mở ấy, nhân loại được dẫn vào trái tim Thiên Chúa. Từ đó, người Kitô hữu hiểu rằng vết thương của Đức Kitô không chỉ là điều để khóc thương; đó còn là cửa ngõ. Ta được mời đi vào đó. Đi vào trái tim đã bị đâm thâu để khám phá Thiên Chúa không phải là một ý tưởng lạnh lùng trên trời cao, nhưng là Tình Yêu đã để cho mình bị thương vì con người.
Tại sao Thiên Chúa lại chọn Thánh Giá? Người có thể cứu chúng ta bằng một cách khác chăng? Đứng trước câu hỏi này, ta phải khiêm tốn. Không ai có thể đo lường hết mầu nhiệm của Thiên Chúa. Nhưng Kinh Thánh cho ta thấy rằng cách Thiên Chúa cứu không phải bằng việc phô diễn quyền lực theo kiểu thế gian. Người cứu bằng tình yêu đi đến tận cùng. Nếu Thiên Chúa chỉ dùng quyền năng để nghiền nát những kẻ dữ, có thể ta sẽ sợ Người, nhưng chưa chắc ta biết Người là Cha. Nếu Người chỉ xuất hiện trong vinh quang để kết án tội nhân, ta sẽ hiểu sự công thẳng nhưng chưa hiểu lòng thương xót. Trên Thánh Giá, Thiên Chúa cho ta thấy cả sự nghiêm trọng của tội lỗi lẫn sự vô biên của tình yêu. Tội nghiêm trọng đến mức dẫn Con Thiên Chúa đến Thánh Giá; nhưng tình yêu lớn đến mức chính trên Thánh Giá, Người vẫn nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đó là điều không trí óc nào tự nghĩ ra được. Bị xúc phạm mà không trả thù đã khó. Bị đóng đinh mà còn cầu xin ơn tha thứ cho người đóng đinh mình là điều vượt quá sức con người. Ở đó, ta không còn đứng trước một luân lý cao đẹp. Ta đứng trước chính trái tim Thiên Chúa.
Cũng trên cây Thánh Giá ấy, một câu chuyện nhỏ nhưng đẹp đến xót xa đã xảy ra. Hai tên gian phi bị đóng đinh cùng Đức Giêsu. Một người chế nhạo; người kia quay về phía Người và thưa: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Anh ta chẳng còn cơ hội để sửa chữa quá khứ. Tay đã bị đóng đinh, không thể làm việc lành để bù đắp. Chân bị đóng đinh, không thể đi hành hương. Thời gian chỉ còn được tính bằng những hơi thở khó nhọc. Anh không thể dâng một cuộc đời thánh thiện; anh chỉ còn có thể dâng một lời tín thác. Và Đức Giêsu trả lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Hãy nghe hai chữ “Thiên Đàng”. Nhân loại đã mất vườn địa đàng bởi tội lỗi, và giờ đây ngay bên cây Thánh Giá, cánh cửa Thiên Đàng được mở lại cho một tội nhân biết tin. Quả thật, cây sự sống đang ở đây. Không phải phía sau lưỡi gươm của các Kêrubim nữa, nhưng trước mặt một người hấp hối. Và điều kiện để đến gần không phải là một quá khứ hoàn hảo, mà là một trái tim dám phó thác vào lòng thương xót. Câu chuyện người trộm lành là một trong những minh họa xúc động nhất cho ý nghĩa của cây Thánh Giá: trên cây ấy, Đức Kitô mở lại con đường dẫn về nhà.
Bởi vậy, trong đời sống Kitô hữu, Thánh Giá không bao giờ chỉ là một vật trang trí. Ta treo Thánh Giá trong nhà, đặt Thánh Giá trên bàn thờ, đeo Thánh Giá trên ngực, làm dấu Thánh Giá trên thân mình không phải vì ta say mê đau khổ, càng không phải vì Kitô giáo tôn thờ sự chết. Ta tôn kính Thánh Giá bởi đó là dấu chỉ của Tình Yêu đã thắng sự chết. Mỗi lần đưa tay lên trán rồi xuống ngực, sang vai trái và vai phải để làm dấu Thánh Giá, người Kitô hữu đang vẽ trên chính thân thể mình dấu chỉ của cây sự sống. Ta nhắc mình rằng đời mình thuộc về Cha, Con và Thánh Thần. Ta nhắc mình rằng con đường cứu độ không phải con đường tự tôn nhưng tự hiến. Ta nhắc mình rằng trong những giờ tối tăm nhất, Thiên Chúa vẫn có thể làm nảy sinh sự sống. Ta nhắc mình rằng đau khổ không có tiếng nói cuối cùng. Ta nhắc mình rằng người đã được cứu bởi tình yêu thì cũng được gọi sống bằng tình yêu.
Nhưng ở đây cần nói thật rõ: “vác thập giá” không có nghĩa là cam chịu mọi điều xấu xa và gọi chúng là ý Chúa. Đức Giêsu không dạy người ta tìm kiếm đau khổ vì đau khổ. Người chữa bệnh, giải thoát những ai bị áp bức, cho người đói ăn, trả lại phẩm giá cho người bị loại trừ. Thánh Giá không thánh hóa bạo lực. Thánh Giá phơi bày sự độc ác của bạo lực và chiến thắng nó bằng tình yêu. Vì thế, một người bị lạm dụng không buộc phải coi sự lạm dụng là “thánh giá Chúa gửi”. Một người bị bất công có quyền tìm công lý. Một bệnh nhân có quyền chữa bệnh. Một gia đình đang đổ vỡ cần tìm cách chữa lành. Điều làm cho thập giá của đời ta trở nên liên kết với Thánh Giá Đức Kitô không phải bản thân sự đau đớn, nhưng là cách ta sống đau đớn ấy trong tình yêu, sự thật và niềm tín thác. Có những thập giá không thể tránh: bệnh tật, tuổi già, sự giới hạn, những mất mát, những hiểu lầm, cái chết của người thân, những thất bại dù đã cố gắng hết sức. Trong những giờ ấy, Đức Kitô không đứng xa nói: “Hãy chịu đi.” Người nói bằng những vết thương của mình: “Thầy ở đây. Thầy biết. Thầy đã đi qua con đường này. Hãy ở lại trong Thầy.”
Cây Thánh Giá trở thành cây sự sống chính vì Đức Kitô ở trên đó. Không có Đức Kitô, cây ấy chỉ là một dụng cụ tử hình. Có Đức Kitô, nó trở thành biểu tượng cứu độ. Điều này cũng đúng với những thập giá trong đời ta. Đau khổ tự nó không cứu ai. Có người đau khổ rồi trở nên cay đắng. Có người đau khổ rồi khép lòng. Có người đau khổ rồi làm người khác đau khổ theo. Nhưng khi đau khổ được đặt trong tương quan với Đức Kitô, nó có thể trở thành nơi một con người học yêu sâu hơn, khiêm nhường hơn, biết cảm thông hơn, biết mình cần Chúa hơn. Không phải vì đau khổ tốt, nhưng vì ân sủng của Thiên Chúa có thể làm nảy mầm sự sống ngay cả trong vùng đất đau khổ. Một người từng bệnh nặng có thể trở nên dịu dàng với người bệnh. Một người từng thất bại có thể thôi xét đoán người thất bại. Một người từng được tha thứ sâu xa có thể học tha thứ. Một người đã khóc rất nhiều có thể biết ngồi im bên người đang khóc mà không cần nói những câu sáo rỗng. Đó là những hoa trái kín đáo của cây Thánh Giá.
Có lẽ điều đau lòng trong đời sống đức tin hôm nay là ta có thể quá quen với Thánh Giá đến mức không còn kinh ngạc nữa. Thánh Giá hiện diện khắp nơi nên đôi khi trở thành một hình ảnh quen mắt. Ta bước vào nhà thờ, thấy Thánh Giá. Ta bước ra, quên mất Thánh Giá đang đòi hỏi điều gì nơi mình. Ta hôn Thánh Giá trong phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng ngày hôm sau có thể dùng lời nói đóng đinh người khác. Ta đeo Thánh Giá trên cổ, nhưng lại giữ trong lòng một mối hận nhiều năm. Ta phủ phục trước Thánh Giá, nhưng lại không muốn cúi xuống trước nỗi đau của một người nghèo. Ta hát về tình yêu hy sinh, nhưng trong gia đình lại chỉ muốn người khác hy sinh cho mình. Nếu thế, Thánh Giá mới chỉ ở trên tường chứ chưa đi vào trái tim. Người Kitô hữu không được mời gọi chỉ “nhìn” cây sự sống mới mà phải ăn quả của nó và để nhựa sống của nó chảy vào đời mình. Điều đó có nghĩa là học lối sống của Đức Kitô: biết cho hơn nhận, biết phục vụ hơn đòi phục vụ, biết tha thứ hơn tích lũy oán hờn, biết nói sự thật trong yêu thương, biết ở lại khi người khác cần mình, biết chịu thiệt một chút để gìn giữ hiệp nhất, biết im lặng khi một lời nói chỉ làm tổn thương, biết lên tiếng khi sự im lặng trở thành đồng lõa với bất công.
Cây ở Êđen cho thấy cám dỗ của con người là muốn trở thành trung tâm. Cây Canvê cho thấy con đường của Đức Kitô là tự làm mình nên nhỏ bé. Đây là hai hướng đi trái ngược nhau. Một bên nói: “Mọi sự phải phục vụ tôi.” Bên kia nói: “Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống.” Một bên nắm chặt. Bên kia mở tay. Một bên tích lũy. Bên kia trao ban. Một bên sợ mất. Bên kia dám mất vì yêu. Và kỳ lạ thay, chính người muốn giữ mạng sống thì lại mất, còn người dám mất mạng sống vì Đức Kitô và Tin Mừng lại tìm được sự sống. Đó là nghịch lý của Kitô giáo. Cây sự sống không lớn lên trong mảnh đất ích kỷ. Nó lớn lên nơi nào tình yêu biết chết đi cho mình.
Nhìn vào gia đình, ta hiểu điều ấy rất rõ. Một gia đình không sống được nếu mọi người chỉ hỏi: “Tôi được gì?” Người mẹ thức đêm bên đứa con bệnh, người cha âm thầm gánh những lo toan mà ít ai biết, người vợ kiên nhẫn chăm sóc chồng đau yếu, người chồng dịu dàng với vợ trong những ngày mệt mỏi, những người con chăm sóc cha mẹ già, tất cả đều đang sống một điều gì đó của logic Thánh Giá. Không phải mọi hy sinh đều ồn ào. Phần lớn những cây Thánh Giá đẹp nhất trong đời được dựng lên rất âm thầm. Không ai chụp hình. Không ai vỗ tay. Không có tiếng chuông. Chỉ có một người chọn yêu thay vì bỏ đi, chọn nhẫn nại thay vì nổi nóng, chọn tha thứ thay vì trả đũa, chọn trung tín khi chẳng ai kiểm soát. Chính từ những hy sinh ấy, sự sống được gìn giữ. Có những đứa trẻ trưởng thành trong bình an vì cha mẹ chúng đã biết chết đi cho cái tôi mỗi ngày. Có những gia đình vượt qua khủng hoảng vì ít nhất một người đã đủ khiêm nhường để nói: “Tôi sai rồi, xin tha cho tôi.” Có những cộng đoàn không tan vỡ vì có những con người chấp nhận chịu thiệt để bảo vệ tình hiệp nhất. Đó là cây sự sống đang âm thầm trổ lá.
Nhìn vào đời linh mục, tu sĩ cũng vậy. Nếu đời thánh hiến không đi qua Thánh Giá, nó rất dễ biến thành một nghề tôn giáo. Người linh mục có thể giảng rất hay về Thánh Giá nhưng lại sợ những hy sinh nhỏ bé của bổn phận. Có thể hôn bàn thờ mỗi ngày mà trái tim lại xa dần sự tự hiến. Có thể mặc áo dòng như một dấu chỉ thuộc về Chúa nhưng vẫn sống theo logic của cây cũ: tìm mình, bảo vệ mình, khẳng định mình, muốn được nhìn nhận, muốn người khác theo ý mình. Khi đó cần quay lại Canvê. Người linh mục được sinh ra từ hy lễ Đức Kitô và được gọi đứng mỗi ngày bên bàn thờ để nói: “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con.” Câu ấy không chỉ thuộc về Đức Kitô. Nó trở thành khuôn mẫu đời người linh mục. Sau khi đọc lời truyền phép, chính đời linh mục cũng phải trở thành một tấm bánh được bẻ ra. Nếu bàn tay nâng Mình Thánh mà không muốn cúi xuống nâng người đau khổ, có điều gì đó chưa trọn. Nếu môi đọc lời tha tội nhưng lòng lại nuôi hận, có điều gì đó chưa giống Đấng chịu đóng đinh. Nếu rao giảng Đấng đã tự hạ mà mình lại thích được tôn cao, phải trở về dưới chân Thánh Giá. Không phải để tự kết án, nhưng để được thanh luyện. Bởi Thánh Giá vừa là gương vừa là nguồn ân sủng. Nó cho ta thấy mình chưa giống Đức Kitô, nhưng đồng thời cũng ban sức để ta bắt đầu lại.
Điều làm Thánh Giá trở nên thấm thía nhất có lẽ là sự cô đơn của Đức Giêsu. Những người từng tung hô “Hosanna” không còn. Các môn đệ phần lớn bỏ chạy. Phêrô đã chối Người. Dưới chân Thánh Giá chỉ còn một nhóm nhỏ, trong đó có Đức Maria và người môn đệ Đức Giêsu yêu mến. Đức Maria đứng đó. Tin Mừng không kể Mẹ nói gì. Mẹ đứng. Có những nỗi đau quá sâu khiến lời nói trở nên nhỏ bé. Người mẹ đã từng ôm Hài Nhi Bêlem giờ đứng nhìn Con mình bị treo trên cây gỗ. Simeon từng nói một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn Mẹ; giờ lời ấy thành sự thật. Nhưng chính dưới chân cây Thánh Giá, một gia đình mới được hình thành: “Thưa Bà, đây là con của Bà”; rồi Người nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Ngay giữa cái chết, Đức Giêsu vẫn tạo ra những tương quan mới. Ngay khi bị tước hết, Người vẫn trao ban. Người trao Mẹ cho môn đệ, trao môn đệ cho Mẹ, trao sự sống cho nhân loại. Đó là bản tính của tình yêu Thiên Chúa: đến hơi thở cuối cùng vẫn cho.
Nếu cây sự sống trong Êđen gắn với sự sống con người đã đánh mất, thì cây Thánh Giá không chỉ trả lại điều đã mất mà còn mở ra một sự sống lớn hơn. Ơn cứu độ không đơn thuần là đưa chúng ta quay ngược lại tình trạng của Ađam trước sa ngã. Trong Đức Kitô, ta được nhận làm nghĩa tử. Ta được đi vào tương quan với Chúa Cha trong Người Con. Ta được dự phần vào sự sống thần linh. Thánh Phaolô có thể nói rằng nơi Đức Kitô, chúng ta trở nên một thụ tạo mới. Đó không chỉ là sửa chữa một căn nhà cũ; đó là khai mở một tạo dựng mới. Vì thế, buổi sáng Phục Sinh diễn ra trong một khu vườn. Thánh Gioan kể bà Maria Mácđala đến mộ và gặp Đức Giêsu Phục Sinh nhưng lúc đầu bà tưởng Người là người làm vườn. Chi tiết ấy thật đẹp nếu đọc trong ánh sáng toàn bộ Kinh Thánh. Ađam cũ từng được đặt vào một khu vườn nhưng đã thất bại trong sứ mạng của mình. Giờ đây, trong khu vườn của ngôi mộ, Đức Kitô Phục Sinh xuất hiện như khởi đầu của một tạo dựng mới. Maria Mácđala tưởng Người là người làm vườn; theo một nghĩa sâu xa, bà không hoàn toàn sai. Đức Kitô quả thật là Đấng làm cho khu vườn của nhân loại sống lại. Người biến nghĩa trang thành nơi loan báo sự sống. Người làm cho đất từng nhận xác chết trở thành nơi phát xuất Tin Mừng Phục Sinh.
Và đến những trang cuối cùng của Kinh Thánh, sách Khải Huyền đưa chúng ta trở lại với cây sự sống. Không còn một khu vườn nhỏ bị đóng kín, nhưng là Thành Thánh Giêrusalem mới. Một dòng sông nước trường sinh chảy ra từ ngai của Thiên Chúa và Con Chiên. Hai bên bờ sông có cây sự sống sinh mười hai mùa trái, mỗi tháng một lần, và lá cây dùng để chữa lành các dân nước. Kinh Thánh bắt đầu với một cây sự sống mà con người không thể đến gần sau khi phạm tội; Kinh Thánh kết thúc với cây sự sống mở ra giữa thành của Thiên Chúa. Khoảng cách giữa hai hình ảnh ấy chính là con đường Đức Kitô đã đi. Con đường ấy đi qua máng cỏ, qua Galilê, qua Ghếtsêmani, qua Canvê, qua ngôi mộ và đến Phục Sinh. Cánh cửa đóng lại ở Êđen đã được mở bởi Đấng chịu đóng đinh. Lưỡi gươm từng ngăn đường cây sự sống được thay bằng cạnh sườn bị lưỡi đòng đâm thâu. Con người từng đưa tay ra trong bất tuân nay được mời đưa tay trong đức tin để đón nhận sự sống như quà tặng.
Mỗi Thánh Lễ chính là nơi mầu nhiệm cây sự sống ấy đến với chúng ta cách lạ lùng. Trên bàn thờ, hy tế Thánh Giá được hiện tại hóa cách bí tích; không phải Đức Kitô bị đóng đinh lại, nhưng hy tế duy nhất của Người trở nên hiện diện cho Hội Thánh. Và ta được mời đến ăn. Điều mà Êđen đã mất, bàn tiệc Thánh Thể mở ra dưới một hình thức mới và viên mãn trong Đức Kitô. “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết.” Có thể nào nghe lời này mà không nhớ đến cây sự sống? Quả của cây Thánh Giá được trao cho chúng ta trong Thánh Thể. Ta không đứng xa nhìn cây. Ta được nuôi sống bởi Đấng đã hiến mình trên cây. Vì thế, rước lễ không thể chỉ là một thói quen đạo đức. Mỗi lần tiến lên đón Mình Thánh Chúa, ta đang nói: “Lạy Chúa, con không thể tự cho mình sự sống. Con nhận sự sống từ Chúa. Con không cứu nổi con. Chúa cứu con. Con không muốn sống bằng logic chiếm đoạt của Ađam cũ nữa. Xin cho con sống bằng sự tự hiến của Đức Kitô.”
Nếu hiểu như thế, Thánh Giá sẽ thay đổi cách ta nhìn cả sự sống lẫn cái chết. Ta sẽ không còn tưởng hạnh phúc là không bao giờ gặp đau khổ. Đức Giêsu là Con yêu dấu của Chúa Cha mà vẫn đi qua đau khổ. Đức Maria đầy ân sủng mà vẫn đứng dưới Thánh Giá. Các thánh không phải những người không có thập giá; nhiều khi họ có những thập giá rất nặng. Điều khác biệt là họ không mang thập giá một mình. Họ để thập giá của mình được ghép vào Thánh Giá Đức Kitô, như một cành cây được ghép vào thân cây sống. Khi đó, điều tưởng chỉ có thể giết chết lại trở thành nơi trưởng thành. Những giọt nước mắt không mất đi, nhưng có thể tưới một mảnh đất nào đó trong tâm hồn. Những đêm tối không tự nó là ánh sáng, nhưng trong đêm tối ta có thể học tin vào Đấng mà mắt không còn nhìn thấy. Những mất mát không trở thành điều tốt, nhưng lòng trung tín của Thiên Chúa có thể làm nảy sinh điều tốt ngay giữa mất mát.
Có người hỏi: nếu Thiên Chúa yêu tôi, tại sao tôi phải mang thập giá? Nhưng Thánh Giá Đức Kitô mời ta đặt câu hỏi sâu hơn: khi tôi phải mang thập giá, Thiên Chúa ở đâu? Và câu trả lời của Kitô giáo không phải một công thức triết học, mà là một con người bị đóng đinh: Ngài ở đây. Người ở trong nước mắt. Người ở trong tiếng kêu “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Người biết cảm giác bị phản bội, bị hiểu lầm, bị bỏ rơi, bị đau thân xác, bị nhục mạ, bị đối xử bất công. Vì thế, không ai có thể nói với Đức Kitô: “Chúa không hiểu.” Người đã đi xuống tận cùng vực sâu con người. Nhưng Người không ở lại đó. Và đây là hy vọng lớn nhất: nơi nào Đức Kitô đi vào, Người mở một con đường đi ra. Người đi vào đau khổ và mở đường cho sự an ủi. Người đi vào tội lỗi của nhân loại và mở đường tha thứ. Người đi vào mồ và mở đường Phục Sinh. Người đi vào cái chết và biến cái chết thành ngưỡng cửa của sự sống.
Cây Thánh Giá vì thế là cây mà dưới bóng nó, người tội lỗi có thể trở về. Không ai phải quá xấu hổ để đến gần Thánh Giá. Nếu ta nghĩ tội mình quá lớn, hãy nhìn đôi tay bị đóng đinh vẫn mở ra. Nếu ta nghĩ mình không đáng được tha thứ, hãy nghe lời Đức Giêsu dành cho người trộm lành. Nếu ta đã bỏ Chúa như Phêrô, hãy nhớ Đấng chịu đóng đinh đã sống lại và đi tìm Phêrô, không phải để sỉ nhục ông nhưng để hỏi ba lần: “Con có yêu mến Thầy không?” Nếu ta như Tôma không thể tin vì mang quá nhiều nghi ngờ, Đấng Phục Sinh không xua đuổi Tôma mà đưa cho ông xem những vết thương. Điều kỳ lạ là khi sống lại, Đức Giêsu vẫn giữ các dấu đinh. Người có thể làm cho chúng biến mất, nhưng Người giữ lại. Những vết thương đã được vinh hiển. Điều từng là dấu tích của bạo lực trở thành dấu chứng của tình yêu. Có lẽ đó cũng là điều Thiên Chúa muốn làm với những vết thương của đời ta: không phải luôn luôn xóa khỏi ký ức, nhưng chữa lành đến mức chúng không còn đầu độc ta; thậm chí một ngày nào đó, chính nơi từng đau nhất lại trở thành nơi ta có thể yêu người khác sâu nhất.
Người Kitô hữu vì thế không phải là người né tránh Thánh Giá, nhưng cũng không dừng ở Thánh Giá. Ta đi qua Thánh Giá đến Phục Sinh. Nếu chỉ có Thánh Giá mà không có Phục Sinh, Kitô giáo sẽ là một tôn giáo bi thương. Nếu muốn Phục Sinh mà không đi qua Thánh Giá, đức tin sẽ trở thành một thứ lạc quan rẻ tiền. Tin Mừng giữ cả hai. Đức Kitô thật sự chết. Đức Kitô thật sự sống lại. Đau khổ thật. Hy vọng cũng thật. Nước mắt thật. Niềm vui cũng thật. Đêm Thứ Sáu thật tối, nhưng sáng Chúa Nhật thật sự đến. Đây là điều người Kitô hữu có thể nói trước một quan tài: chúng ta đau, nhưng không đau như những người không có hy vọng. Đây là điều ta có thể thì thầm trong bệnh viện, trong những ngày không biết tương lai sẽ ra sao: Thánh Giá chưa bao giờ là chương cuối cùng của Đức Giêsu; vì vậy, nếu tôi ở trong Người, thập giá cũng không phải chương cuối cùng của tôi.
Có lẽ mỗi tối, ta nên nhìn lên Thánh Giá và tự hỏi: hôm nay tôi đã sống theo cây nào? Tôi đã sống theo cây cũ của Êđen, nghĩa là tìm nắm giữ, chiếm đoạt, làm trung tâm, tự quyết mọi điều không cần Thiên Chúa? Hay tôi sống theo cây mới của Canvê: trao ban, khiêm nhường, vâng phục sự thật, tha thứ, phục vụ? Hôm nay lời nói của tôi làm người khác sống hay làm họ chết? Ánh mắt của tôi nâng ai lên hay khiến ai thấy mình bị khinh thường? Tiền bạc trong tay tôi chỉ phục vụ sự an toàn của tôi hay có phần nào trở thành bánh cho người thiếu thốn? Quyền lực tôi có trong gia đình, cộng đoàn, công việc được dùng để phục vụ hay để kiểm soát? Thời gian của tôi được giữ cho mình hay biết dành cho người đang cần một người lắng nghe? Đức tin không thể chỉ nằm trong những suy tư đẹp về Thánh Giá. Cuối cùng, nó phải biến thành một cách sống.
Cây sự sống trong Êđen nhắc ta về điều con người được dựng nên để trở thành. Cây Thánh Giá cho ta biết Thiên Chúa đã làm gì khi con người đánh mất ơn gọi ấy. Cây sự sống trong sách Khải Huyền cho ta thấy nơi Thiên Chúa đang dẫn lịch sử đến. Như thế, toàn bộ hành trình nhân loại được ôm giữa hai khu vườn và được cứu bởi một cây gỗ ở giữa. Khu vườn đầu tiên đã mất vì bất tuân. Khu vườn Phục Sinh mở ra nhờ sự vâng phục. Thành Thánh cuối cùng sẽ là nơi không còn sự chết, tang tóc, kêu than và đau khổ. Nhưng con đường đi đến đó mang hình Thánh Giá.
Và thật lạ, điều nhân loại xem là dấu hiệu của thất bại lại trở thành niềm hãnh diện của Kitô hữu. Thánh Phaolô có thể nói ông chẳng hãnh diện về điều gì ngoài Thập Giá Đức Giêsu Kitô. Không phải vì ông mê đau khổ, nhưng vì trên Thánh Giá ông đã gặp một tình yêu không phản bội. Mọi thứ trên đời có thể thay đổi. Sức khỏe có thể mất. Danh tiếng có thể tan. Người ta có thể từng tung hô rồi quay lưng. Tiền bạc có thể đến rồi đi. Những kế hoạch tưởng chắc chắn có thể sụp đổ trong một buổi sáng. Nhưng người đã nhìn vào Thánh Giá biết có một điều không thay đổi: Thiên Chúa yêu. Và yêu đến cùng. Không phải tình yêu bằng lời nói. Không phải tình yêu chỉ tồn tại khi con người tốt. Thánh Phaolô nói: ngay khi chúng ta còn là tội nhân, Đức Kitô đã chết vì chúng ta. Người không chờ chúng ta xứng đáng rồi mới yêu. Chính tình yêu của Người làm ta dần trở nên xứng đáng với ơn gọi làm con.
Vậy nên, khi đời mình một ngày nào đó đi vào mùa thu, khi sức lực giảm xuống, khi những điều từng quan trọng bỗng trở nên nhỏ bé, khi ta phải buông từng thứ một, hãy nhớ đến cây sự sống. Đời người không đi về hư vô. Người tin Đức Kitô không bước vào cái chết như bước vào một bức tường, nhưng như đi qua một cánh cửa. Cánh cửa ấy đã được Người mở trước. Cây Thánh Giá đứng đó như chiếc cầu nối đất với trời, nối con người tội lỗi với Thiên Chúa thánh thiện, nối cái chết với sự sống, nối lưu đày với quê hương. Một ngày kia, những gì ta chỉ thấy trong đức tin sẽ trở thành điều ta chiêm ngắm. Một ngày kia, không còn phải nhìn Thánh Giá từ phía đau đớn nữa, nhưng từ phía Phục Sinh. Một ngày kia, cây sự sống mà nhân loại từng đánh mất sẽ không còn xa cách.
Cho đến ngày ấy, ta vẫn bước đi dưới bóng Thánh Giá. Có ngày bước nhẹ. Có ngày chân nặng như chì. Có ngày lời cầu nguyện dâng lên dễ dàng. Có ngày chỉ còn một tiếng thở dài. Có ngày ta thấy Chúa thật gần. Có ngày Người dường như im lặng. Nhưng Thánh Giá vẫn đứng đó. Hai cánh tay Đức Kitô vẫn mở. Trái tim bị đâm thâu vẫn là nguồn lòng thương xót. Và lời hứa của Người vẫn không đổi: “Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.”
Từ cây trong vườn Địa Đàng đến cây trên đồi Canvê là một hành trình dài của tình yêu Thiên Chúa đi tìm con người. Một cây kể câu chuyện con người đã đưa tay ra để chiếm lấy; cây kia kể câu chuyện Thiên Chúa đã giang tay ra để trao ban. Một cây chứng kiến con người mất Thiên Đàng; cây kia nghe một tội nhân được hứa: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Một cây gắn với sự chết đi vào thế gian; cây kia trở thành nơi Đấng chịu chết đánh bại sự chết. Thế nên, mỗi khi nhìn lên Thánh Giá, ta đừng chỉ thấy cây gỗ. Hãy thấy một khu vườn đang được mở lại. Hãy thấy con đường về nhà. Hãy thấy cây sự sống mới đang đứng giữa thế giới đầy thương tích. Hãy thấy trên cây ấy một trái tim đã yêu ta đến giọt máu cuối cùng. Và hãy nghe Người nói không bằng lý thuyết nhưng bằng chính đôi tay bị đóng đinh: Con đáng giá đến mức Ta đã không giữ lại chính mình.
Ước gì trong những giờ bình an cũng như trong những ngày giông bão, ta biết đến dưới cây Thánh Giá mà nghỉ. Khi tội lỗi làm ta xấu hổ, hãy đến. Khi đời làm ta mệt mỏi, hãy đến. Khi bị hiểu lầm, hãy đến. Khi không thể tha thứ, hãy đến để học từ Đấng đã cầu nguyện cho kẻ đóng đinh mình. Khi quá tự hào, hãy đến nhìn vị Vua đội mão gai. Khi sợ mất mát, hãy đến nhìn Đấng đã trao tất cả nhưng cuối cùng nhận lại mọi sự trong Phục Sinh. Khi sợ chết, hãy đến nhìn cây đã biến thành cửa sự sống. Và khi cảm thấy chẳng còn gì để bám víu, hãy bám lấy Thánh Giá. Bởi đó không phải là cây của tuyệt vọng. Đó là cây sự sống.
Cây sự sống ngày xưa ở giữa vườn. Cây Thánh Giá hôm nay cũng phải được đặt ở giữa đời người Kitô hữu. Không phải bên lề. Không phải như một món trang sức. Không phải chỉ nhớ đến khi gặp hoạn nạn. Nhưng ở giữa: giữa những chọn lựa, giữa gia đình, giữa tiền bạc, giữa công việc, giữa chức vụ, giữa những mối quan hệ, giữa đời cầu nguyện. Bởi khi Thánh Giá ở giữa, Đức Kitô ở giữa. Và khi Đức Kitô ở giữa, ngay cả những miền đất cằn cỗi nhất cũng có thể bắt đầu xanh lại. Những gì tưởng đã chết có thể nảy mầm. Người tưởng đã mất có thể trở về. Tội nhân có thể thành thánh nhân. Nước mắt có thể trở thành hạt giống. Vết thương có thể thành cửa ngõ của lòng thương xót. Ngôi mộ có thể trở thành nơi bắt đầu một buổi sáng mới.
Cuối cùng, mầu nhiệm cây sự sống và cây Thánh Giá đưa ta về một chân lý thật đơn sơ mà cả đời vẫn chưa học hết: sự sống chỉ thật sự được tìm thấy khi được nhận từ Thiên Chúa và được trao đi trong tình yêu. Ađam muốn chiếm lấy và đã mất. Đức Kitô trao đi và đã mở ra nguồn sống cho muôn người. Đó cũng là con đường của chúng ta. Ta càng giữ chặt đời mình, càng sợ mất; càng biết trao đời mình cho Chúa và cho anh chị em, đời ta càng sinh hoa trái. Không phải ai cũng được gọi làm những việc lớn lao, nhưng ai cũng có thể trở thành một cành nhỏ của cây sự sống bằng một đời biết yêu. Một lời tha thứ. Một lần nhịn nhục. Một bữa cơm dành cho người đói. Một giờ bên giường bệnh. Một lời cầu nguyện cho người làm ta đau. Một sự trung tín âm thầm. Một bàn tay đưa ra thay vì nắm lại. Một trái tim biết nói: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin theo ý Cha.”
Và khi ngày cuối cùng đến, có lẽ điều quan trọng không phải ta đã sở hữu được bao nhiêu, đã được bao nhiêu người biết đến, đã đứng ở vị trí nào, nhưng là ta đã để cây Thánh Giá bén rễ trong đời mình sâu đến đâu. Ta đã trở thành người trao sự sống hay hút cạn sự sống của người khác? Ta đã để tình yêu Đức Kitô biến đổi mình chưa? Ta đã biết đi từ bàn tay muốn lấy của Ađam đến đôi tay biết cho của Đức Giêsu chưa? Nếu có, dù đời ta nhỏ bé, cây sự sống đã bắt đầu mọc trong ta.
Xin cho mỗi chúng ta, khi ngước nhìn cây Thánh Giá, nhận ra đó không phải nơi một Thiên Chúa thất bại, nhưng là nơi Tình Yêu chiến thắng. Không phải nơi sự sống chấm dứt, nhưng là nơi sự sống đời đời bắt đầu tuôn chảy. Không phải dấu hiệu rằng Thiên Chúa bỏ rơi con người, nhưng là bằng chứng rằng Người đã đi đến tận nơi sâu nhất để tìm chúng ta. Và từ dưới chân cây ấy, xin ta đủ khiêm nhường để thưa: Lạy Chúa Giêsu, Ađam xưa đã đưa tay ra để lấy và nhân loại đã mất cây sự sống. Còn Chúa đã giang tay trên Thánh Giá để trao ban và mở lại cho chúng con đường về sự sống đời đời. Xin đừng để con chỉ đeo Thánh Giá mà không sống Thánh Giá; chỉ hôn Thánh Giá mà không yêu như Đấng chịu đóng đinh; chỉ nói về hy sinh mà không biết tự hiến; chỉ mong Phục Sinh mà trốn chạy mọi trung tín của ngày Thứ Sáu. Xin trồng cây Thánh Giá thật sâu vào lòng con. Xin cho rễ của cây ấy hút lấy mọi kiêu căng, ích kỷ và sợ hãi trong con; cho thân cây ấy nâng đỡ đời con trong những ngày giông bão; cho cành cây ấy vươn ra thành những nghĩa cử yêu thương; cho hoa trái của cây ấy trở thành bình an, lòng thương xót, sự tha thứ và hy vọng cho những người sống bên con. Và khi hành trình trần gian của con khép lại, xin cho con được bước qua cây Thánh Giá để gặp cây sự sống trong Thành Thánh của Chúa, nơi không còn nước mắt, không còn chia lìa, không còn sự chết, chỉ còn một sự sống không bao giờ tàn và một Tình Yêu không bao giờ mất.
Lm. Anmai, CSsR

NGƯỜI TÔI TRUNG ĐAU KHỔ – KHI THIÊN CHÚA CỨU CON NGƯỜI BẰNG NHỮNG VẾT THƯƠNG
Có những trang Kinh Thánh đọc lên làm lòng người bừng sáng vì hy vọng; có những trang khiến ta bình an như nghe tiếng nước chảy giữa buổi trưa hè; nhưng cũng có những trang càng đọc càng thấy lòng mình chùng xuống, bởi từng câu, từng chữ dường như đã được viết bằng nước mắt, bằng máu và bằng những đau đớn không thể diễn tả hết bằng ngôn từ. Những chương cuối của sách ngôn sứ Isaia, đặc biệt từ Is 52,13 đến hết chương 53, thuộc về những trang như thế. Ở đó xuất hiện một con người rất lạ: không phải một vị vua ngự trên ngai vàng, không phải một chiến binh oai phong dẫn đoàn quân chiến thắng, cũng không phải một nhân vật được dân chúng tung hô giữa tiếng kèn trống tưng bừng. Người ấy được gọi là Người Tôi Trung của Đức Chúa. Và điều gây kinh ngạc là Người Tôi Trung ấy thực hiện công trình của Thiên Chúa không bằng sức mạnh theo kiểu trần gian, nhưng bằng sự khiêm hạ; không bằng thanh gươm, nhưng bằng những vết thương; không bằng việc tiêu diệt kẻ thù, nhưng bằng việc mang lấy tội lỗi của chính những người làm khổ mình; không bằng cách tránh khỏi đau khổ, nhưng bằng cách bước vào tận đáy đau khổ của kiếp người để từ đó mở ra một con đường cứu độ. Hàng thế kỷ trước khi Đức Giêsu chịu đóng đinh trên đồi Canvê, Isaia đã viết những lời khiến người Kitô hữu hôm nay đọc lại mà không khỏi rùng mình: “Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật… Người đã mang lấy các bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta… Chính Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; Người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành.” Đọc những câu ấy dưới ánh sáng của cuộc thương khó Đức Giêsu, người ta có cảm tưởng như Isaia không chỉ là một ngôn sứ sống nhiều thế kỷ trước Chúa Kitô, nhưng như một người đang đứng ngay dưới chân Thánh Giá, đang nhìn thấy thân mình Đức Giêsu đầy thương tích, đang nghe tiếng búa đóng đinh, đang thấy máu chảy từ tay chân Người, đang nhìn chiếc mão gai đâm sâu vào đầu Người và đang chứng kiến người vô tội chết thay cho những kẻ có tội.
Điều đầu tiên khiến ta phải dừng lại thật lâu trước hình ảnh Người Tôi Trung đau khổ là một nghịch lý quá lớn: người công chính lại phải chịu đau khổ. Con người thường có một lối suy nghĩ rất đơn giản: ai sống tốt thì phải được thưởng, ai làm điều xấu thì phải chịu phạt. Vì thế khi gặp đau khổ, người ta thường đặt câu hỏi: “Tôi đã làm gì nên tội mà phải khổ thế này?” Đó cũng là câu hỏi rất cũ của nhân loại. Nhưng nơi Người Tôi Trung của Isaia, mọi công thức dễ dãi đều bị đảo lộn. Người đau khổ không phải bởi Người có tội. Trái lại, chính vì Người vô tội nên đau khổ của Người có thể trở thành đau khổ mang tính cứu độ. Người không bị nghiền nát vì lỗi lầm của mình, nhưng “vì chúng ta lỗi lầm”. Người không mang thương tích bởi tội riêng của Người, nhưng “cho chúng ta được chữa lành”. Ở đây mở ra một chân trời hoàn toàn mới về tình yêu: tình yêu đích thực không chỉ là trao cho người khác những gì dư thừa của mình; tình yêu đi đến tận cùng là dám mang lấy phần đau của người khác. Người mẹ yêu con không chỉ cho con cơm ăn áo mặc, nhưng có những đêm con sốt, mẹ thức trắng bên giường. Người cha yêu gia đình không chỉ nói những lời trìu mến, nhưng có khi âm thầm gánh cả những lo âu mà không muốn vợ con biết. Người thật lòng yêu một người khác không đứng bên ngoài nỗi khổ của họ rồi nói vài lời an ủi cho xong, nhưng bước vào trong nỗi khổ ấy, ở lại với họ, có khi chịu thiệt thòi vì họ. Isaia đã nhìn thấy trước một tình yêu như vậy nơi Người Tôi Trung. Và Tin Mừng cho chúng ta biết Người Tôi Trung ấy đạt tới sự viên mãn nơi Đức Giêsu Kitô.
Người Tôi Trung được mô tả bằng một câu rất đau: “Người bị đời khinh khi ruồng rẫy.” Đau thể xác đã khủng khiếp, nhưng nhiều khi đau vì bị khinh miệt còn nhức nhối hơn. Một vết thương trên thân xác có thể lành, nhưng một lời làm nhục có khi nằm trong ký ức người ta suốt cả đời. Người Tôi Trung không chỉ chịu đau; Người còn bị người đời nhìn với ánh mắt coi thường. “Thấy Người, người ta che mặt không nhìn.” Đó là nỗi đau của một người trở nên quá xấu xí trong mắt thiên hạ đến nỗi người khác không muốn nhìn nữa. Và chẳng phải điều ấy đã xảy ra trong cuộc thương khó của Đức Giêsu hay sao? Người từng làm cho người mù được thấy, người điếc được nghe, người què bước đi, người chết sống lại; Người từng cầm tay bao bệnh nhân, cúi xuống trên bao phận người bị bỏ rơi; Người từng làm bánh cho đám đông ăn no và nói những lời khiến người tội lỗi tìm lại được hy vọng. Thế nhưng vào ngày cuối cùng, chính đôi tay từng chữa lành ấy bị đóng vào gỗ; gương mặt từng nhìn người khác bằng lòng thương xót bị khạc nhổ; đầu từng cúi xuống trên những người bất hạnh bị đội vòng gai; đôi chân từng đi qua các làng mạc để tìm người đau khổ bị đóng đinh; miệng từng nói “Tội con đã được tha” bị người ta chế nhạo; và thân thể từng trở thành nơi người đau khổ tìm được sự sống bị treo lên giữa trời như thân thể của một người bị nguyền rủa. Isaia viết: “Dung mạo Người chẳng còn dáng vẻ người ta nữa.” Còn Tin Mừng kể về Đức Giêsu bị đánh đòn, đội mão gai, khoác áo đỏ để quân lính chế nhạo rồi bị Philatô đưa ra trước dân chúng với lời: “Đây là người!” Có lẽ chẳng có lời nào diễn tả mầu nhiệm Nhập Thể và Thập Giá đau đớn hơn thế: “Đây là người!” Thiên Chúa đã làm người, và Người đã bước xuống tận nơi con người bị làm nhục nhất.
Nhưng điều làm cho đau khổ của Người Tôi Trung trở nên đặc biệt không phải chỉ là mức độ đau đớn, mà là cách Người đón nhận nó. Isaia viết: “Bị ngược đãi, Người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Người chẳng hề mở miệng.” Sự thinh lặng ấy không phải là yếu đuối. Có những sự thinh lặng vì sợ hãi, nhưng cũng có những sự thinh lặng vì tình yêu đã đi xa hơn mọi tranh luận. Đức Giêsu trong cuộc thương khó cũng thinh lặng trước rất nhiều cáo buộc. Người hoàn toàn có thể tự bảo vệ mình. Người hoàn toàn có thể vạch trần sự giả hình của những kẻ kết án Người. Người hoàn toàn có thể kêu gọi dân chúng từng tung hô Người đứng lên bênh vực Người. Nhưng Người không làm vậy. Trước Philatô, trước Hêrôđê, trước những lời tố cáo, trước những tiếng chế giễu, Chúa Giêsu nhiều lần im lặng. Không phải vì Người không có gì để nói, nhưng vì tình yêu của Người đang nói bằng một thứ ngôn ngữ lớn hơn lời nói. Cây Thánh Giá chính là lời cuối cùng. Máu chảy chính là lời cuối cùng. Cánh tay dang ra chính là lời cuối cùng. Trái tim bị đâm thâu chính là lời cuối cùng. Thiên Chúa không đứng từ trời cao để giải thích tình yêu của Người; Người xuống trần gian, dang tay trên Thánh Giá và cho con người nhìn thấy tình yêu ấy bằng mắt.
Đoạn Tin Mừng về cuộc thương khó trong Tin Mừng Gioan soi sáng cách kỳ diệu lời Isaia. Sau khi Đức Giêsu bị kết án, Người tự mình vác lấy Thập Giá đi đến nơi gọi là Đồi Sọ. Ở đó, người ta đóng đinh Người giữa hai người khác. Dưới chân Thánh Giá có Đức Maria, người môn đệ Chúa yêu và một vài phụ nữ. Rồi khi biết mọi sự đã hoàn tất, Đức Giêsu nói: “Ta khát.” Người ta đưa giấm cho Người. Sau đó Người nói: “Thế là đã hoàn tất!” rồi gục đầu xuống và trao Thần Khí. Nhưng câu chuyện chưa dừng ở đó. Người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người; tức thì máu cùng nước chảy ra. Thánh Gioan làm chứng rằng mình đã tận mắt nhìn thấy những điều ấy. Một người đã chết, cạnh sườn đã bị đâm, máu và nước đã chảy ra. Nếu đặt bên cạnh lời Isaia: “Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội… nhờ những vết thương của Người mà chúng ta được chữa lành”, ta mới hiểu tại sao Giáo Hội từ những ngày đầu đã đọc bài ca Người Tôi Trung dưới ánh sáng cuộc tử nạn và phục sinh của Đức Kitô. Thánh Phêrô sau này cũng sẽ dùng chính ngôn ngữ của Isaia khi nói về Đức Giêsu: “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây Thập Giá… vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành.” Thập Giá vì thế không phải là một tai nạn ngoài dự tính của Thiên Chúa. Nó nằm trong mầu nhiệm của một tình yêu tự hiến. Đức Giêsu không chết vì Người bất lực trước kẻ thù; Người trao ban mạng sống. Người đã nói rất rõ: “Mạng sống của Tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính Tôi tự ý hy sinh mạng sống mình.” Chính ở đây Isaia được hoàn tất: Người Tôi Trung tự hiến mình để nhiều người được nên công chính.
Ta cũng cần chú ý đến một chi tiết rất sâu trong Isaia: những người đứng nhìn Người Tôi Trung ban đầu tưởng rằng Người bị Thiên Chúa trừng phạt. “Chúng ta lại tưởng Người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng họa, phải nhục nhã ê chề.” Con người luôn dễ kết án từ bên ngoài. Thấy ai khổ, ta dễ nghĩ chắc họ có lỗi. Thấy ai thất bại, ta nghĩ chắc họ kém cỏi. Thấy ai mang tai tiếng, ta nhanh chóng tránh xa. Thấy một cuộc đời tan nát, ta thường hỏi người ấy đã làm gì sai hơn là hỏi họ đang đau đến mức nào. Nhưng Người Tôi Trung phơi bày sự nông cạn của phán đoán con người. Người bị coi là kẻ đáng bị Thiên Chúa đánh phạt, nhưng thực ra chính Người đang mang lấy hình phạt của người khác. Đức Giêsu cũng vậy. Trên Thánh Giá, người ta chế nhạo: “Hắn cứu được thiên hạ mà chẳng cứu nổi mình.” Nếu Người xuống khỏi Thánh Giá, có lẽ đám đông sẽ tin vào quyền năng của Người. Nhưng Người không xuống. Và chính việc Người không xuống mới mặc khải một quyền năng sâu xa hơn. Xuống khỏi Thập Giá có thể chứng minh rằng Người mạnh hơn những chiếc đinh; nhưng ở lại trên Thập Giá cho đến chết chứng minh rằng tình yêu của Người mạnh hơn sự chết. Người không đến để tự cứu mình khỏi đau khổ; Người đến để cứu chúng ta qua chính đau khổ ấy.
Ở điểm này, ta cần hiểu cho đúng câu “Người đã mang lấy tội lỗi của chúng ta”. Đức Kitô không phải là một nạn nhân bất đắc dĩ bị một Thiên Chúa giận dữ trừng phạt thay cho nhân loại. Mầu nhiệm Thập Giá không thể được hiểu như một cuộc trừng phạt tàn nhẫn của Chúa Cha trên Chúa Con. Thiên Chúa là tình yêu; chính Thiên Chúa trong Đức Kitô bước vào hậu quả của tội lỗi con người để cứu con người. “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” Trên Thánh Giá, Chúa Cha không đứng ở một phía còn Chúa Con ở phía đối diện. Chính Ba Ngôi Thiên Chúa đang thực hiện mầu nhiệm cứu độ trong tình yêu. Đức Kitô tự hiến trong Thánh Thần cho Chúa Cha và cho nhân loại. Vì vậy nhìn lên Thập Giá, ta không được thấy một vị Thiên Chúa đang thỏa mãn cơn giận bằng máu của một nạn nhân; ta phải thấy một vị Thiên Chúa chấp nhận mang vết thương của chính loài người. Con người đóng đinh Thiên Chúa, còn Thiên Chúa đáp lại bằng tha thứ. Con người đâm cạnh sườn Người, còn Người mở cạnh sườn ấy thành nguồn sự sống. Con người đội mão gai cho Người, còn Người trao cho con người vương miện của những người con Thiên Chúa. Con người trao cho Người cây Thập Giá, còn Người biến cây tử hình ấy thành cây cứu độ. Đó là sự đảo ngược kỳ diệu chỉ tình yêu Thiên Chúa mới có thể làm.
“Người đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi.” Đây có lẽ là một trong những câu đẹp nhất của Isaia 53. Người Tôi Trung không chỉ gánh tội người khác; Người còn cầu thay cho họ. Và trên Canvê, lời ấy trở thành một câu nói cụ thể phát ra từ môi Đức Giêsu: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Hãy thử đứng dưới chân Thập Giá mà nghe câu ấy. Người đang xin tha cho ai? Không phải cho những người vừa đem hoa đến tặng Người. Không phải cho những môn đệ trung thành đang bảo vệ Người. Người cầu cho chính những kẻ đang đóng đinh mình. Những bàn tay vừa cầm búa đóng đinh Người vẫn được Người yêu. Những khuôn miệng vừa nhục mạ Người vẫn được Người xin Cha tha thứ. Những trái tim vừa loại bỏ Người vẫn được Người giữ trong trái tim mình. Đây không còn là một bài học luân lý đơn thuần. Đây là vực sâu của tình yêu Thiên Chúa. Chúng ta có thể tha thứ cho người xin lỗi mình; đôi khi điều đó đã khó. Chúng ta có thể thương người tốt với mình; điều đó còn tương đối dễ. Nhưng yêu người làm mình đau, cầu nguyện cho người đang xúc phạm mình, xin ơn cho người đang gây khổ cho mình – đó là điều chỉ có thể hiểu được khi nhìn thật lâu lên Đấng chịu đóng đinh.
Có lẽ vì vậy mà một Kitô hữu không bao giờ có thể nhìn Thánh Giá như một vật trang trí. Chúng ta treo Thánh Giá trong nhà, đeo Thánh Giá trên cổ, đặt Thánh Giá trên bàn thờ, làm dấu Thánh Giá mỗi ngày. Nhưng đáng sợ nhất là khi Thánh Giá trở nên quá quen đến mức ta không còn thấy gì nữa. Làm dấu nhân danh Cha và Con và Thánh Thần rất nhanh nhưng vẫn sống ích kỷ; hôn Thánh Giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng vẫn không tha thứ cho một người trong gia đình; quỳ dưới chân Chúa chịu nạn nhưng bước ra khỏi nhà thờ lại nói lời làm người khác tổn thương; rước Mình Thánh của Đấng đã “mang lấy tội lỗi chúng ta” nhưng lại nhất quyết không mang nổi một chút yếu đuối của anh chị em mình – đó là những nghịch lý mà Isaia 53 buộc ta phải nhìn lại. Nếu Người Tôi Trung đã mang lấy gánh nặng của ta, người môn đệ của Người cũng phải học mang gánh nặng cho nhau. Nếu Người đã chịu thương tích để ta được chữa lành, ta không thể tiếp tục dùng lời nói và hành vi của mình để gây thêm thương tích cho người khác. Nếu Người bị khinh khi nhưng không khinh lại, bị xúc phạm nhưng không nguyền rủa, bị loại bỏ nhưng vẫn yêu, thì ai mang danh Kitô hữu cũng phải để cách sống ấy chất vấn từng ngày.
Đau khổ tự nó không phải là điều tốt. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Đức Giêsu chữa bệnh, cho kẻ đói ăn, an ủi người khóc, phục hồi phẩm giá cho những ai bị đẩy ra bên lề. Người không bao giờ dạy con người đi tìm đau khổ chỉ vì đau khổ. Nhưng Tin Mừng cho thấy một điều lớn lao hơn: khi đau khổ không thể tránh khỏi, tình yêu có thể biến đổi ý nghĩa của nó. Thập Giá vốn là công cụ giết người, nhưng tình yêu của Đức Kitô biến nó thành dấu cứu độ. Những chiếc đinh vốn nhằm giữ Người lại trong cái chết, nhưng chính từ thân thể bị đóng đinh ấy ơn cứu độ tuôn trào. Ngôi mộ vốn là dấu chấm hết của đời người, nhưng sau ba ngày lại trở thành cửa ngõ của Phục Sinh. Chính vì thế người Kitô hữu không yêu đau khổ, nhưng không tuyệt vọng khi đau khổ đến. Ta không xin bệnh tật, nhưng nếu bệnh tật đến, ta có thể sống những ngày ấy trong Đức Kitô. Ta không xin bị phản bội, nhưng nếu bị phản bội, ta có thể đặt vết thương mình vào những vết thương của Chúa. Ta không xin thất bại, cô độc, tuổi già, mất mát hay cái chết, nhưng khi những điều ấy bước vào đời, ta biết có một Đấng đã đi qua con đường ấy trước chúng ta. Không còn một giọt nước mắt nào của con người mà Chúa có thể nói: “Ta không biết.” Không còn một cô độc nào mà Người chưa từng nếm. Không còn một sự phản bội nào Người chưa từng chịu. Không còn một nỗi nhục nào Người chưa từng trải. Không còn cái chết nào Người chưa từng bước vào. Đức Kitô không cứu ta bằng cách đứng ngoài cuộc đời ta; Người cứu ta bằng cách đi vào tận đáy của nó.
Nhiều người hỏi: nếu Thiên Chúa yêu tôi, tại sao Ngài để tôi đau? Không phải lúc nào chúng ta cũng có câu trả lời cho chữ “tại sao”. Trước một người mẹ mất con, trước một gia đình tan vỡ, trước người bệnh đau đớn lâu ngày, trước một người bị phản bội sau nhiều năm hy sinh, những câu giải thích quá nhanh đôi khi trở thành tàn nhẫn. Người đau không cần một bài diễn thuyết. Họ cần một người ở lại. Và chính đó là cách Thiên Chúa trả lời sâu nhất trong Đức Giêsu: Người ở lại. Người không trả lời mọi câu hỏi của Gióp bằng một công thức; cuối cùng Người bước vào chính đau khổ của Gióp. Thiên Chúa không đứng trên trời bảo chúng ta: “Hãy can đảm chịu đau.” Người mang một thân xác có thể bị đánh, một trái tim có thể buồn, đôi mắt có thể khóc, những bàn chân có thể mệt, một tâm hồn có thể thốt lên: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được”, và cuối cùng một thân xác có thể chết. Vì vậy khi ta hỏi: “Chúa ở đâu khi con đau?” Thập Giá trả lời: “Ta ở đây.” Khi ta hỏi: “Chúa có hiểu con không?” những vết đinh trả lời: “Ta hiểu.” Khi ta hỏi: “Con có bị bỏ rơi không?” cạnh sườn bị đâm trả lời: “Không, Ta đang ở cạnh con.” Khi ta hỏi: “Sau tất cả những chuyện này còn hy vọng nào không?” ngôi mộ trống trả lời: “Còn.”
Người Tôi Trung của Isaia không kết thúc trong thất bại. Đây là điều rất quan trọng. Sau tất cả đau khổ, bài ca nói tới việc Người “sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện”; Người sẽ làm cho muôn người nên công chính; Người sẽ được phần thưởng vì đã hiến thân chịu chết. Nghĩa là đau khổ không có lời cuối cùng. Sự chết không có lời cuối cùng. Người Tôi Trung bị nghiền nát, nhưng chương trình Thiên Chúa qua Người lại thành tựu. Đức Giêsu chết thật trên Thánh Giá, nhưng ngày thứ ba Người sống lại. Nếu chỉ có Thứ Sáu Tuần Thánh mà không có sáng Phục Sinh, Kitô giáo sẽ chỉ là một câu chuyện bi thảm. Nhưng nếu chỉ muốn Phục Sinh mà không đi qua Thập Giá, Kitô giáo sẽ trở thành một thứ hy vọng rẻ tiền. Con đường của Đức Kitô là vượt qua: qua đau khổ đến vinh quang, qua cái chết đến sự sống, qua tự hiến đến chiến thắng. Người môn đệ không được hứa rằng mình sẽ tránh được Thập Giá; điều được hứa là Thập Giá không phải điểm cuối.
Điều này đặc biệt quan trọng cho những ai đang phải mang một thập giá dài ngày. Có những thập giá chỉ kéo dài vài giờ, nhưng cũng có những thập giá kéo dài vài chục năm. Một người chăm sóc người thân bệnh tật lâu ngày; một người mẹ âm thầm lo cho đứa con khiến mình bao lần khóc; một người chồng hoặc người vợ cố giữ lòng trung tín trong một cuộc hôn nhân đầy thử thách; một linh mục đi qua những giai đoạn cô đơn trong sứ vụ; một tu sĩ nhiều năm đối diện với sự khô khan nội tâm; một người nghèo làm việc từ sáng tới tối vẫn không đủ trang trải; một người già mỗi ngày cảm thấy sức lực rời khỏi mình; một bệnh nhân sống giữa những lần điều trị nối tiếp nhau; một người bị hiểu lầm nhưng không có cơ hội thanh minh; một người sống tử tế nhưng cứ gặp thất bại. Với những người ấy, Isaia 53 không trao một lời an ủi hời hợt. Bài ca Người Tôi Trung nói rằng đời sống hiến trao không bao giờ vô nghĩa trong mắt Thiên Chúa. Có những hy sinh chẳng ai biết, nhưng Thiên Chúa biết. Có những giọt nước mắt chẳng ai lau, nhưng Thiên Chúa đếm. Có những lời cầu nguyện dường như chẳng được đáp, nhưng Thiên Chúa không bỏ sót. Có những cuộc đời tưởng như thất bại hoàn toàn theo tiêu chuẩn thế gian, nhưng lại có thể là một cuộc đời vô cùng phong phú trong mầu nhiệm cứu độ. Người Tôi Trung đã chết giữa những kẻ tội lỗi và bị chôn như một người thất bại, vậy mà chính từ sự tự hiến của Người, một dân mới được sinh ra.
Isaia còn nói rằng “Đức Chúa đã muốn Người phải bị nghiền nát vì đau khổ”. Câu này cần được hiểu trong toàn bộ mạc khải về Thiên Chúa, nếu không ta rất dễ hình dung sai về Ngài. Thiên Chúa không thích nhìn con người đau. Ý muốn của Thiên Chúa không phải là đau khổ như một mục tiêu, nhưng là sự cứu độ được thực hiện qua việc Người Tôi Trung tự hiến trong một thế giới bị tội lỗi làm tổn thương. Đức Giêsu trong vườn Ghếtsêmani đã cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Chén đắng không dễ uống ngay cả đối với Con Thiên Chúa trong thân phận con người. Người run sợ trước đau khổ. Người không giả vờ mạnh mẽ. Nhưng Người đặt tự do của mình vào tay Chúa Cha. Đây là bí mật lớn của đời sống thiêng liêng: không phải là không cảm thấy đau, mà là giữa đau vẫn có thể thưa “xin vâng”. Không phải là không sợ, mà là trong sợ hãi vẫn tín thác. Không phải là hiểu tất cả, mà là dù không hiểu vẫn tin rằng tình yêu Thiên Chúa lớn hơn điều mình đang thấy.
Ta thường cầu xin Chúa cất thập giá. Và ta cứ cầu như vậy; Đức Giêsu cũng đã cầu xin chén đắng nếu có thể thì cất đi. Nhưng đôi khi Chúa không cất thập giá mà ban sức để ta mang. Có lúc Người không thay đổi hoàn cảnh mà thay đổi trái tim ta trong hoàn cảnh ấy. Có lúc vấn đề vẫn còn, nhưng ta không còn là con người cũ nữa. Có lúc bệnh không khỏi, nhưng người bệnh lại trở thành nguồn bình an cho cả gia đình. Có lúc một thất bại không được sửa lại, nhưng chính nó phá vỡ sự kiêu ngạo và mở ra một con người mới. Có lúc một vết thương không bao giờ biến mất hoàn toàn, nhưng từ vết thương ấy ta biết cảm thông với những ai đang đau. Chính Đức Kitô Phục Sinh vẫn mang những dấu đinh. Đây là một hình ảnh thật lạ. Người đã sống lại, nhưng các vết thương không bị xóa. Tôma được mời đặt ngón tay vào dấu đinh và đặt bàn tay vào cạnh sườn Người. Điều ấy như muốn nói với chúng ta rằng ơn cứu độ không luôn xóa sạch lịch sử đau thương; nhiều khi ân sủng biến chính những vết thương thành dấu chỉ của tình yêu chiến thắng. Một vết thương được chữa lành không giống như chưa từng bị thương; nó trở thành chứng tích rằng mình đã đi qua đau đớn mà vẫn còn sống.
Nếu Isaia 53 là chân dung Người Tôi Trung, thì Thánh Giá là nơi chân dung ấy trở thành hữu hình. Trên đó Đức Giêsu không còn gì để cho ngoài chính mình. Áo Người đã bị chia. Uy tín đã bị lấy mất. Bạn hữu đa số đã bỏ chạy. Sức lực đã cạn. Máu đã đổ. Hơi thở chỉ còn từng nhịp. Cuối cùng Người trao cả mạng sống. Tình yêu đến cùng là như thế: không giữ lại gì. “Người đã hiến thân chịu chết và bị liệt vào hàng tội nhân.” Nhưng cũng chính lúc bị liệt vào hàng tội nhân, Người lại mở cửa thiên đàng cho một người tội lỗi bị đóng đinh bên cạnh: “Hôm nay, anh sẽ được ở với Tôi trên Thiên Đàng.” Đẹp biết bao! Ngay khi thân thể Chúa bị khóa chặt trên Thập Giá, cánh cửa thiên đàng lại mở. Ngay khi người ta tuyên án tử hình cho Người, Người tuyên án sự sống cho một tên trộm biết sám hối. Ngay khi thế gian tước khỏi Người mọi quyền lực bên ngoài, quyền tha thứ và cứu độ của Người lại tỏa sáng hơn bao giờ hết.
Người Tôi Trung cũng giúp ta hiểu thế nào là sức mạnh Kitô giáo. Chúng ta thường nghĩ mạnh là không bị tổn thương, là luôn thắng, là không bao giờ cúi đầu, là làm cho người khác phải sợ. Nhưng Đức Kitô cho thấy một sức mạnh khác: mạnh là có khả năng yêu trong khi bị ghét; giữ lòng hiền lành trong khi bị xúc phạm; tha thứ trong khi có đủ lý do để trả đũa; tiếp tục phục vụ dù không được ghi nhận; đứng vững trong sự thật mà không cần làm nhục người khác; chấp nhận mất phần mình để người khác được sống. Đó không phải sự nhu nhược. Đó là sức mạnh của Thánh Giá. Một người có thể đánh trả vì tức giận; điều đó không khó. Nhưng bị xúc phạm mà vẫn làm chủ được mình mới khó. Một người có thể cắt đứt một mối quan hệ trong một phút; nhưng kiên nhẫn chữa lành nó có thể mất nhiều năm. Một người có thể nói một lời làm người khác đau; nhưng nuốt lại lời ấy vì lòng bác ái đòi hỏi sức mạnh rất lớn. Người Tôi Trung “chẳng mở miệng kêu ca” không phải vì Người không có phẩm giá, nhưng vì phẩm giá của Người không lệ thuộc vào lời phán xét của những người đang làm nhục Người.
Vì thế mỗi lần đọc Isaia 52–53, ta không chỉ đọc một lời tiên báo về Đức Giêsu; ta còn đọc một lời mời gọi cho đời môn đệ. Đức Giêsu đã nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Người không nói hãy vác thập giá của người khác để phán xét họ. Người nói hãy vác “thập giá mình”. Thập giá của ta có thể là những trách nhiệm rất bình thường mà ta muốn trốn tránh. Có khi thập giá là một người thân khó tính cần ta kiên nhẫn. Có khi là việc phải xin lỗi dù lòng tự ái đang chống lại. Có khi là phải tiếp tục làm điều tốt dù không ai công nhận. Có khi là phải trung thực trong một môi trường nơi gian dối dễ đem lại lợi ích. Có khi là phải nói “không” với cám dỗ mà chẳng ai khác biết. Có khi là chấp nhận tuổi già, giới hạn và bệnh tật. Có khi là ở lại với một người đang đau mà ta chẳng biết nói gì. Có khi chỉ là học cách im lặng khi một lời đáp trả có thể làm mọi chuyện tệ hơn. Những thập giá ấy không có vẻ anh hùng, nhưng chính trên những cây thập giá nhỏ ấy, người Kitô hữu được nên giống Người Tôi Trung.
Nhưng phải nhớ rằng vác thập giá không có nghĩa là dung túng cho bạo lực, bất công hay sự lạm dụng. Đức tin Kitô giáo không bắt một người bị áp bức phải cam chịu mãi trong nguy hiểm và gọi đó là thập giá. Đức Giêsu tha thứ nhưng Người cũng nói sự thật. Người hiền lành nhưng Người không thỏa hiệp với sự dữ. Người tự hiến vì tình yêu trong tự do, chứ không cổ võ việc kẻ mạnh nghiền nát kẻ yếu. Vì thế noi gương Người Tôi Trung là yêu cho đến cùng, chứ không phải biến mình thành công cụ cho tội lỗi của người khác. Có những lúc tình yêu đòi ta phải chịu đựng; cũng có những lúc chính tình yêu đòi phải lên tiếng, đặt giới hạn, bảo vệ người yếu thế và ngăn điều ác tiếp tục. Thập Giá chỉ có ý nghĩa cứu độ khi nó được mang trong sự thật và tình yêu.
Đọc Isaia 53, có lẽ điều thấm thía nhất không phải là biết thêm một lời tiên tri đã được ứng nghiệm, nhưng là nhận ra: trong những thương tích của Đức Kitô có câu chuyện của chính mình. “Người đã mang lấy các bệnh tật của chúng ta.” Chữ “chúng ta” ấy bao gồm tôi. Tội của tôi. Sự phản bội của tôi. Những lần tôi làm tổn thương người khác. Những lần tôi quay lưng với Thiên Chúa. Những sự ích kỷ chỉ mình tôi biết. Những lời tôi không nên nói mà đã nói. Những việc tôi đáng làm nhưng đã không làm. Tất cả không phải những khái niệm trừu tượng; chúng được Đức Kitô mang lên Thánh Giá. Vì thế người đứng trước Thánh Giá không thể chỉ trách Giuđa, Philatô, quân lính hay đám đông ngày xưa. Tôi cũng có phần trong đó. Nhưng chính tại đây Tin Mừng bừng sáng: Người biết tôi có phần trong tội lỗi ấy mà vẫn yêu tôi. Người không chờ tôi trở nên tốt rồi mới chết cho tôi. Thánh Phaolô nói: “Ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, Đức Kitô đã chết vì chúng ta.” Tình yêu Thiên Chúa đi trước sự hoán cải của con người. Tôi không được cứu vì tôi đáng yêu; chính vì được yêu mà tôi có thể trở nên một con người mới.
Có lẽ ta nên học cách cầu nguyện trước Thánh Giá thật chậm. Không cần nói nhiều. Hãy nhìn đôi tay bị đóng đinh và nhớ những lần tay mình gây tổn thương, rồi xin Chúa làm cho đôi tay ấy trở thành bàn tay phục vụ. Hãy nhìn đôi chân Chúa và nhớ những con đường sai mình đã đi, rồi xin Người dẫn mình trở về. Hãy nhìn đầu đội mão gai và nhớ những ý nghĩ kiêu căng, phán xét, rồi xin cho tâm trí được thanh sạch. Hãy nhìn miệng Chúa khô khát và nhớ những lời thiếu bác ái của mình, rồi xin học nói những lời đem bình an. Hãy nhìn cạnh sườn bị đâm và xin trái tim chai cứng của mình được mở ra. Và cuối cùng hãy nghe câu Isaia: “Nhờ những vết thương của Người mà chúng ta được chữa lành.” Đó không chỉ là lời cho một ngày nào đó trên thiên đàng; việc chữa lành có thể bắt đầu ngay hôm nay khi ta dám đưa những vùng đau nhất của đời mình cho Chúa.
Có những người mang vết thương từ tuổi thơ. Có người lớn lên trong thiếu thốn tình thương. Có người vẫn đau vì một câu nói của cha mẹ từ mấy chục năm trước. Có người mất lòng tin vì bị phản bội. Có người sống ngoài mặt rất vui nhưng bên trong có một khoảng tối không ai biết. Có người mang mặc cảm về một tội đã được xưng từ lâu mà vẫn không tha thứ nổi cho chính mình. Với tất cả những con người ấy, Người Tôi Trung không đứng xa. Đức Kitô mang vết thương để gặp người mang vết thương. Người Phục Sinh không hiện ra với một thân thể hoàn toàn không dấu tích; Người cho thấy những dấu đinh. Như thể Người nói: “Con không cần giấu vết thương của con với Ta. Ta cũng có vết thương.” Nhưng vết thương của Người đã trở thành vết thương vinh hiển. Và đó là hy vọng cho chúng ta: điều làm ta đau hôm nay, nếu được đặt trong tay Chúa, một ngày kia có thể trở thành nơi ánh sáng đi qua.
Isaia nói: “Sau khi đã hiến thân làm lễ vật đền tội, Người sẽ thấy được dòng dõi, sẽ được trường tồn.” Người Tôi Trung sinh hoa trái chính bởi đã tự hiến. Đây là định luật của Tin Mừng: hạt lúa phải rơi xuống đất và chết đi mới sinh nhiều bông hạt. Đức Giêsu đã dùng chính hình ảnh ấy để nói về cái chết của mình: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.” Chúng ta sợ mất, nhưng Tin Mừng nói có những điều chỉ sinh hoa trái khi được trao đi. Một đời sống cứ giữ mình thật chặt cuối cùng có thể trở nên cằn cỗi. Một trái tim không bao giờ chấp nhận bị tổn thương cũng có thể không bao giờ thật sự yêu. Người Tôi Trung cho thấy sự sống lớn lên từ tự hiến. Cha mẹ trao thời gian cho con cái; nhà giáo trao tâm huyết cho học sinh; người mục tử trao đời mình cho đoàn chiên; người chăm sóc bệnh nhân trao những đêm mất ngủ; người phục vụ người nghèo trao sức lực và thời giờ. Tất cả những hy sinh âm thầm ấy, nếu được sống trong tình yêu, đều mang một chút dáng hình của Người Tôi Trung.
Rồi sẽ có ngày mỗi người chúng ta phải đi đến giờ phút cuối cùng. Khi ấy những điều từng khiến ta bận tâm đến mất ngủ có thể trở nên rất nhỏ. Danh tiếng, tiền bạc, hơn thua, những cuộc tranh cãi, những lời khen chê sẽ lùi lại. Có lẽ điều còn lại sẽ rất đơn giản: tôi đã yêu thế nào? Tôi đã sống cho ai? Tôi đã chữa lành hay gây thương tích? Tôi đã tha thứ hay ôm hận? Tôi đã dùng những năm tháng Chúa ban để chỉ giữ lấy mình hay đã trao mình? Người Tôi Trung bước vào cái chết với đôi tay tưởng như trắng tay, nhưng thực ra mang theo cả nhân loại được cứu chuộc. Đức Giêsu chết trần trụi trên Thập Giá, không sở hữu gì, nhưng từ trái tim bị đâm thủng của Người, Hội Thánh được sinh ra. Thế gian nhìn Người và nói: thất bại. Chúa Cha nhìn Người và nói: tình yêu đã hoàn tất.
Bởi thế, Isaia 52–53 cuối cùng không phải là bài ca của tuyệt vọng, nhưng là bài ca của hy vọng được viết bằng ngôn ngữ của đau khổ. Nó nói cho chúng ta biết Thiên Chúa có thể làm gì với một cuộc đời được trao phó hoàn toàn cho Người. Người có thể làm cho sự nhục nhã thành vinh quang, làm cho vết thương thành nguồn chữa lành, làm cho cái chết thành cửa dẫn đến sự sống, làm cho cây Thập Giá trở thành cây cứu độ. Điều Thiên Chúa đã làm nơi Người Tôi Trung, Người vẫn đang làm âm thầm trong vô số cuộc đời hôm nay. Có những người đang đau mà vẫn yêu. Có những người đang khóc mà vẫn biết an ủi người khác. Có những người bị hiểu lầm mà vẫn không cay độc. Có những người bệnh nặng mà vẫn cầu nguyện cho gia đình. Có những người đã mất rất nhiều nhưng vẫn biết tạ ơn. Ở nơi họ, bóng dáng Người Tôi Trung lại hiện ra.
Và có lẽ đó cũng là lời mời cuối cùng dành cho chúng ta khi đứng trước Isaia 53: đừng chỉ nhìn Người Tôi Trung từ xa. Hãy để Người đưa ta vào con đường của Người. Khi bị tổn thương, hãy xin được giống Người một chút trong cách đáp lại. Khi gặp người đau khổ, hãy nhớ Người đã mang đau khổ của chúng ta để ta biết mang lấy đau khổ của nhau. Khi phạm tội, đừng chạy khỏi Người vì xấu hổ; hãy chạy đến những vết thương đã chịu vì chính tội ta. Khi cuộc đời trở nên tối, hãy nhớ đêm Canvê không phải đêm cuối cùng. Khi không còn hiểu nổi chương trình của Thiên Chúa, hãy nhớ Người Tôi Trung đã đi qua một con đường mà mọi người tưởng là thất bại nhưng cuối cùng lại trở thành con đường cứu độ cho thế giới.
“Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; Người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành.” Có lẽ không cần thêm một lời nào lớn hơn câu ấy. Mỗi chữ là một lời yêu. “Vì chúng ta.” Không phải vì một nhân loại xa lạ nào, nhưng vì tôi và vì bạn, vì những con người yếu đuối hôm nay đang loay hoay giữa tội lỗi, thương tích, bệnh tật, cô đơn và hy vọng. Trên Thánh Giá, Đức Kitô đã mang tất cả. Và từ Thánh Giá, Người vẫn dang tay. Hai cánh tay ấy không còn khép lại nữa, như muốn nói rằng chẳng có ai quá tội lỗi để không thể trở về, chẳng có ai quá thương tích để không thể được chữa lành, chẳng có ai quá cô độc để không thể được ôm lấy, chẳng có cuộc đời nào quá tan vỡ để Thiên Chúa không thể làm nên điều mới.
Xin cho mỗi lần đọc lại bài ca Người Tôi Trung đau khổ, chúng ta đừng chỉ thán phục một lời tiên báo kỳ diệu đã ứng nghiệm nơi Đức Kitô, nhưng biết cúi đầu trước mầu nhiệm một Thiên Chúa yêu đến nỗi mang lấy thương tích của chính những người mình yêu. Xin cho chúng ta hiểu rằng Kitô giáo không phải là tôn giáo của một Thiên Chúa đứng ngoài đau khổ, nhưng là đức tin vào một Thiên Chúa có những vết đinh. Và khi cuộc đời mình có những vết đinh, xin đừng vội nghĩ Thiên Chúa đã bỏ mình. Có thể chính tại nơi đau nhất ấy, Người đang ở gần ta nhất. Hãy đặt vết thương của ta vào vết thương của Người. Hãy đặt giọt nước mắt của ta vào giọt máu của Người. Hãy đặt những điều không thể hiểu của đời ta vào tiếng “xin vâng” của Người. Rồi một ngày, khi mọi Thứ Sáu Tuần Thánh đã đi qua, ta sẽ hiểu rằng chẳng một hy sinh nào vì tình yêu bị mất, chẳng một giọt nước mắt nào được trao cho Chúa rơi xuống vô nghĩa, chẳng một Thập Giá nào được mang cùng Đức Kitô lại kết thúc trong mồ. Bởi Người Tôi Trung đã đi trước chúng ta: từ bị khinh khi đến được tôn vinh, từ bị nghiền nát đến trở thành nguồn chữa lành, từ cái chết đến sự sống. Và nơi Người, tất cả chúng ta được quyền hy vọng rằng cuối cùng, tình yêu sẽ thắng.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH PHAOLÔ VÀ “THẦN HỌC THÁNH GIÁ”
Có lẽ không ai trong lịch sử Kitô giáo đã nói về Thánh Giá với một giọng vừa quyết liệt, vừa say mê, vừa đau đớn, lại vừa chan chứa niềm vui như Thánh Phaolô. Với ngài, Thánh Giá không phải là một đề tài thần học để bàn luận cho hay, cũng không phải là một biểu tượng tôn giáo để người tín hữu đeo trên ngực, treo trên tường hay đặt trên bàn thờ cho đẹp. Thánh Giá đối với Phaolô là trung tâm của tất cả. Bỏ Thánh Giá ra khỏi Tin Mừng thì Tin Mừng không còn là Tin Mừng nữa. Bỏ Đức Kitô chịu đóng đinh ra khỏi đời sống Kitô hữu thì Kitô giáo chỉ còn là một hệ thống luân lý, một nền triết học, một truyền thống văn hóa hoặc một thứ đạo đức hướng thiện như bao con đường khác. Phaolô hiểu rất rõ điều ấy, và vì hiểu rõ nên ngài đã dám nói một câu khiến mọi thời đại phải giật mình: “Tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô, mà là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá” (1 Cr 2,2). Câu nói ấy không phải là một cách nói cường điệu. Nó là lời tuyên xưng của cả cuộc đời Phaolô. Một con người từng kiêu hãnh về gốc gác, về Lề Luật, về lòng nhiệt thành, về học thức, về truyền thống của mình, cuối cùng lại coi mọi sự là thiệt thòi trước mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô. Nhưng Đức Kitô mà Phaolô muốn biết không phải chỉ là Đức Kitô làm phép lạ, Đức Kitô được dân chúng tung hô, Đức Kitô chữa lành bệnh tật, Đức Kitô hóa bánh ra nhiều, mà trước hết và tận cùng là Đức Kitô chịu đóng đinh. Chính ở nơi tưởng như thất bại nhất ấy, Phaolô nhận ra quyền năng của Thiên Chúa. Chính ở nơi tưởng như ô nhục nhất ấy, Phaolô nhận ra vinh quang. Chính ở nơi tưởng như Thiên Chúa im lặng nhất ấy, Phaolô nghe được lời cuối cùng của tình yêu.
Muốn hiểu tại sao Thánh Giá lại trở thành trung tâm thần học của Phaolô, người ta phải nhớ lại chính cuộc gặp gỡ đã làm đảo lộn đời ngài. Trên đường đi Đamát, Saolô đang hăng say truy bắt những người tin vào Đức Giêsu. Ông nghĩ mình đang bảo vệ Thiên Chúa. Ông tin mình đang phụng sự chân lý. Ông có kiến thức, có lòng nhiệt thành, có truyền thống, có lý lẽ, có quyền hành. Thế nhưng ánh sáng từ trời đã quật ngã tất cả những gì ông từng cho là vững chắc. “Saolô, Saolô, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” Câu hỏi ấy mở ra một thế giới hoàn toàn mới. Người mà Saolô tưởng đã chết lại đang sống. Người mà Saolô cho là kẻ bị Thiên Chúa nguyền rủa vì chết treo trên cây gỗ lại chính là Chúa. Và lạ hơn nữa, Đức Giêsu phục sinh đồng hóa mình với những người bé nhỏ đang bị Saolô truy bắt: “Tại sao ngươi bắt bớ Ta?” Từ khoảnh khắc ấy, toàn bộ cách nhìn của Phaolô về Thiên Chúa, về công chính, về tội lỗi, về cứu độ, về Lề Luật, về con người và về chính bản thân mình phải được viết lại. Không phải sức mạnh cứu con người, nhưng là một Đấng đã để mình bị đóng đinh. Không phải công trạng của con người đưa họ tới Thiên Chúa, nhưng chính Thiên Chúa đã cúi xuống nơi thấp nhất của thân phận con người để kéo họ lên. Không phải con người trèo lên trời bằng những bậc thang đạo đức của mình; Thiên Chúa đã xuống tận vực sâu của đau khổ, tội lỗi và cái chết để tìm con người. Từ đó, Phaolô không thể nói về Thiên Chúa mà không nói về Thánh Giá; cũng không thể nói về con người mà không đặt con người dưới ánh sáng của Thánh Giá.
Bởi vậy, khi viết cho tín hữu Côrintô, một cộng đoàn vốn rất mê sự khôn ngoan, tài hùng biện và những biểu hiện đặc biệt của quyền năng, Phaolô đã cố ý đặt họ trước nghịch lý của Kitô giáo: “Lời rao giảng về Thập Giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa” (1 Cr 1,18). Đây có lẽ là một trong những câu tóm tắt đẹp nhất “thần học Thánh Giá” của Phaolô. Thế gian nhìn Thánh Giá và thấy thất bại. Thiên Chúa nhìn Thánh Giá và cho thấy chiến thắng. Thế gian nhìn một người bị đóng đinh và nói: người ấy đã mất tất cả. Tin Mừng nhìn Đức Giêsu chịu đóng đinh và nói: chính lúc ấy Người đang trao ban tất cả. Thế gian bảo mạnh là phải chiến thắng đối thủ; Thánh Giá nói mạnh là có thể yêu cả người đang làm mình đau. Thế gian bảo khôn là biết giữ lấy mình; Thánh Giá nói khôn ngoan của Thiên Chúa là biết trao hiến chính mình. Thế gian bảo muốn sống thì phải bảo vệ bằng mọi giá; Đức Kitô nói rằng chính khi dám mất mạng sống vì yêu mà con người tìm được sự sống thật. Vì thế, Thánh Giá là cuộc xét xử âm thầm đối với mọi tiêu chuẩn của thế gian. Nó đảo ngược những bảng giá mà con người vẫn dùng để định giá một đời người.
Người Do Thái đòi dấu lạ, người Hy Lạp tìm sự khôn ngoan, còn Phaolô lại rao giảng một Đấng Mêsia chịu đóng đinh. Với người Do Thái, một Đấng Mêsia bị đóng đinh là điều khó chấp nhận, bởi họ mong chờ một Đấng chiến thắng, giải phóng, phục hồi Israel. Với người Hy Lạp, một vị thần bị đóng đinh nghe như một sự phi lý. Thần linh phải bất tử, cao sang, bất khả xâm phạm; làm sao Thiên Chúa có thể liên hệ với một thân xác bị đánh đập, trần truồng, chảy máu và chết trên cây gỗ dành cho kẻ tội phạm? Thế nhưng chính tại điểm làm cho lý trí con người vấp phạm ấy, mầu nhiệm Kitô giáo xuất hiện trong vẻ đẹp khủng khiếp của nó: Thiên Chúa không cứu con người từ xa. Người không đứng bên ngoài đau khổ để gửi một lời an ủi xuống. Người bước vào trong đó. Người mang lấy nó. Người nếm cái chết. Người đi tới tận cùng sự cô độc của con người. Thập Giá không bảo rằng đau khổ tự nó là tốt đẹp. Thập Giá cũng không thần thánh hóa bất công. Trái lại, Thập Giá phơi bày sự ghê gớm của tội lỗi, bạo lực và bất công; đồng thời cho thấy một tình yêu đủ lớn để đi xuyên qua tất cả những điều ấy mà không biến thành hận thù.
Tin Mừng minh họa điều này bằng một cảnh tượng không thể nào quên. Trên đồi Golgotha, Đức Giêsu bị đóng giữa hai người tử tội. Bên dưới là những tiếng chế giễu: “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình.” Người ta coi việc Người không xuống khỏi Thập Giá là bằng chứng cho thấy Người bất lực. Nhưng chính đây là nghịch lý. Nếu Đức Giêsu xuống khỏi Thập Giá để chứng minh quyền năng, có lẽ đám đông sẽ kinh ngạc; nhưng nhân loại sẽ không được cứu bằng một màn biểu diễn sức mạnh. Người không xuống bởi Người đã quyết định đi tới cùng con đường yêu thương. Khi bị đóng đinh, Người không ngừng yêu. Khi bị xúc phạm, Người không trả thù. Khi bị bỏ rơi, Người vẫn phó thác. Khi một người trộm bị đóng đinh bên cạnh thưa: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi”, Người đáp: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (x. Lc 23,42-43). Hãy nghĩ mà xem: vào giờ phút Đức Giêsu không còn gì trong mắt người đời, Người vẫn còn một thiên đàng để trao cho một người tội lỗi. Hai bàn tay Người bị đóng đinh, nhưng lòng thương xót không bị đóng đinh. Chân Người không thể bước nữa, nhưng ơn cứu độ vẫn đi tới tận một linh hồn bên cạnh. Người không còn một đồng tiền, một mái nhà, một quyền lực trần thế, nhưng vẫn có thể ban cả Nước Trời. Đó chính là quyền năng mà Phaolô đã nhận ra: quyền năng của một tình yêu mà đau khổ không thể làm cạn, bất công không thể làm méo mó, phản bội không thể làm nguội lạnh, và cái chết cũng không thể tiêu diệt.
Đối với Phaolô, Thánh Giá còn là nơi tội lỗi của nhân loại bị phơi bày cách nghiêm trọng nhất. Chúng ta thường có khuynh hướng làm nhẹ tội lỗi. Ta gọi ích kỷ là biết lo cho mình, gọi kiêu ngạo là tự tin, gọi tham lam là cầu tiến, gọi gian dối là khôn ngoan, gọi trả thù là công bằng, gọi vô cảm là sống thực tế. Nhưng hãy đặt tất cả dưới chân Thập Giá, chúng ta sẽ hiểu tội lỗi đi xa đến đâu. Tội lỗi cuối cùng là con người loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời. Và trên Golgotha, điều ấy được biểu lộ hữu hình: Đấng Thánh bị kết án như người có tội, Đấng ban sự sống bị giết, Đấng là Chân Lý bị xét xử bởi những lời gian dối, Tình Yêu bị đóng đinh bởi hận thù. Nhưng cũng chính nơi tội lỗi đạt tới đỉnh cao, ân sủng lại tuôn trào mạnh hơn. Phaolô không bao giờ nhìn Thánh Giá chỉ như bản cáo trạng kết án loài người. Nếu chỉ có thế, Thánh Giá sẽ khiến con người tuyệt vọng. Ngài nhìn Thánh Giá như lời tuyên bố rằng Thiên Chúa yêu con người ngay khi con người còn là tội nhân. “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” (Rm 5,8). Cần dừng lại thật lâu trước chữ “ngay khi”. Không phải khi con người đã tốt, không phải khi đã xứng đáng, không phải khi đã sửa mình hoàn toàn, không phải khi đã biết yêu Chúa đủ; nhưng ngay khi còn là tội nhân, Đức Kitô đã chết cho họ. Điều ấy không làm cho tội trở thành nhẹ. Trái lại, nó cho thấy tình yêu của Thiên Chúa lớn đến mức nào.
Có những người sống đạo nhiều năm nhưng trong sâu thẳm vẫn nghĩ rằng mình phải làm cho Chúa yêu mình. Họ cầu nguyện để Chúa thương. Họ giữ luật để Chúa thương. Họ làm việc đạo đức để Chúa thương. Và mỗi khi sa ngã, họ tưởng rằng Chúa bớt yêu mình. Thánh Giá phá vỡ lối suy nghĩ ấy. Phaolô nói rằng tình yêu đi trước. Ân sủng đi trước. Đức Kitô chết cho con người trước khi con người có thể làm gì để đáp lại. Kitô hữu không sống tốt để mua tình yêu Thiên Chúa; Kitô hữu sống tốt bởi mình đã được yêu. Không phải việc lành tạo ra ân sủng; ân sủng làm nảy sinh việc lành. Không phải ta bước tới Thánh Giá với một bảng thành tích để trình cho Đức Kitô; ta đến với hai bàn tay trắng và nhận ra Người đã dang đôi tay vì ta từ lâu rồi. Có khi điều khó nhất trong đời sống thiêng liêng không phải là yêu Chúa, mà là để cho Chúa yêu mình. Con người kiêu ngạo muốn tự cứu mình. Họ muốn tự chứng minh mình xứng đáng. Họ không muốn mang ơn. Thánh Giá nói rằng tất cả chúng ta đều là những người mang ơn. Ơn cứu độ không phải lương thưởng; đó là quà tặng được mua bằng tình yêu của Đức Kitô.
Phaolô còn nhìn cái chết của Đức Kitô bằng một chiều kích vô cùng sâu xa: Đức Kitô đã mang lấy lời nguyền của con người để giải thoát con người khỏi lời nguyền. Trong thư Galát, ngài viết: “Đức Kitô đã chuộc chúng ta cho khỏi bị nguyền rủa vì Lề Luật, khi vì chúng ta chính Người trở nên đồ bị nguyền rủa” (x. Gl 3,13). Đó là một ngôn ngữ mạnh. Đức Kitô bước vào nơi tăm tối nhất, nơi con người cảm thấy bị kết án, bị loại trừ, bị bỏ rơi. Không phải vì Người có tội, nhưng vì tình yêu khiến Người liên đới với kẻ có tội. Người đứng vào chỗ của chúng ta. Không phải để một Thiên Chúa giận dữ trút cơn giận trên một người vô tội theo cách con người báo thù nhau, nhưng để chính Thiên Chúa, nơi Người Con, mang lấy hậu quả của sự đoạn tuyệt do tội lỗi gây nên và mở lại con đường hiệp thông. Thiên Chúa không cứu ta bằng cách đứng phía bên kia và bắt ta trả đủ món nợ. Người bước sang phía chúng ta, gánh lấy món nợ mà chúng ta không thể trả, rồi dẫn chúng ta trở về nhà.
Vì thế, thần học Thánh Giá của Phaolô không thể tách khỏi thần học về hòa giải. “Trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Người” (x. 2 Cr 5,19). Thánh Giá dựng đứng giữa đất trời, nhưng hai cánh của nó như dang ra giữa người với người. Tội làm con người phân rẽ: phân rẽ với Thiên Chúa, phân rẽ với chính mình, phân rẽ với tha nhân, phân rẽ với tạo thành. Thánh Giá chữa lành sự phân rẽ ấy bằng sự tự hiến. Bởi vậy, một người nói rằng mình yêu Thánh Giá mà vẫn nuôi hận thù thì người ấy chưa hiểu Thánh Giá. Một cộng đoàn đặt Thánh Giá thật lớn trên cung thánh nhưng lại chia bè kết phái, nói xấu, loại trừ, tranh quyền, làm tổn thương nhau thì Thánh Giá trên tường có thể rất đẹp nhưng thần học Thánh Giá chưa đi vào lòng. Thánh Giá không được trao cho Hội Thánh để trang trí; Thánh Giá được trao để tạo nên một lối sống. Không thể quỳ trước Đức Kitô bị đâm cạnh sườn rồi đứng lên đâm vào lòng anh em. Không thể hôn chân Chúa chịu đóng đinh rồi dùng miệng mình đóng đinh danh dự người khác. Không thể khóc trước năm dấu thánh mà dửng dưng với những vết thương ngay bên cạnh mình.
Phaolô đi còn xa hơn nữa khi nói rằng Thánh Giá không chỉ là điều đã xảy ra với Đức Giêsu; Thánh Giá phải trở thành hình thức của đời sống người Kitô hữu. “Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thập giá. Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,19-20). Đây không phải lời của một nhà thần bí xa rời thực tế. Đây là trái tim của linh đạo Phaolô. “Cùng chịu đóng đinh” nghĩa là để cái tôi ích kỷ chết đi. Cái tôi luôn muốn mình đúng, muốn mình hơn, muốn được công nhận, muốn được phục vụ, muốn chiếm hữu, muốn trả đũa, muốn người khác phải theo ý mình. Cái tôi ấy không chết trong một ngày. Nó vùng vẫy rất lâu. Có người đã theo Chúa mấy chục năm nhưng cái tôi vẫn còn lớn đến mức không ai góp ý được. Có người mang áo dòng, mang chức vụ, mang trách nhiệm trong Hội Thánh, nhưng chỉ cần không được trọng vọng là đau; chỉ cần người khác được khen là buồn; chỉ cần ý kiến mình không được chấp nhận là giận. Thánh Giá Phaolô không chỉ là hy sinh những điều bên ngoài; đó là để Đức Kitô đóng đinh cái tôi cũ của chúng ta, để một con người mới được sinh ra.
Câu “không còn là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” có lẽ là một trong những đỉnh cao nhất của đời sống Kitô hữu. Người tín hữu không bị xóa mất cá tính. Phaolô vẫn là Phaolô, với tính mạnh mẽ, nhiệt thành, thẳng thắn của mình. Nhưng trung tâm đời sống không còn là bản ngã. Đức Kitô trở thành trung tâm. Trước một quyết định, người ấy không chỉ hỏi: tôi thích gì?, mà hỏi: Chúa muốn gì? Khi bị xúc phạm, không chỉ hỏi: làm sao lấy lại danh dự?, mà hỏi: nếu Đức Kitô ở trong tôi, Người sẽ phản ứng thế nào? Khi gặp người nghèo, không chỉ hỏi: họ có đáng giúp không?, mà hỏi: trái tim Đức Kitô muốn tôi làm gì? Khi đứng trước tiền bạc, quyền lực, dục vọng, danh tiếng, người Kitô hữu không chỉ cân nhắc điều gì có lợi cho mình, nhưng điều gì giữ mình trung thành với Đấng đã yêu mình và hiến mạng vì mình. Thần học Thánh Giá đến đây không còn nằm trong sách. Nó đi vào từng lựa chọn nhỏ của một ngày.
Và rồi Phaolô nói một câu còn táo bạo hơn: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài Thập Giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6,14). Con người hãnh diện về nhiều thứ lắm. Hãnh diện về tiền, bằng cấp, gia đình, chức vụ, ảnh hưởng, danh tiếng, tài năng, thành công. Người có đạo cũng có những kiểu hãnh diện đạo đức rất tinh vi: tôi đạo đức hơn, tôi hy sinh hơn, tôi thuộc nhóm này, tôi phục vụ lâu năm hơn, tôi biết thần học hơn, tôi gần gũi các đấng bậc hơn, tôi làm được nhiều việc hơn người khác. Phaolô từng có một danh sách dài những điều có thể tự hào, nhưng sau cuộc gặp Đức Kitô, ngài đặt tất cả dưới chân Thánh Giá. Không phải vì những điều ấy tự nó xấu, nhưng vì không điều nào có thể là nền tảng cuối cùng cho căn tính một con người. Chức vụ rồi mất. Danh tiếng rồi phai. Sức khỏe suy tàn. Nhan sắc biến đổi. Những tràng pháo tay rồi im. Người từng được bao người tìm đến có thể một ngày nằm cô đơn trên giường bệnh. Khi ấy còn gì? Còn một điều: “Người đã yêu tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20). Ai có điều đó, người ấy có một nền tảng không ai lấy mất được.
Điều kỳ diệu là Phaolô không rao giảng đau khổ vì thích đau khổ. Ngài không phải người bi quan. Đọc thư Phaolô, người ta gặp niềm vui khắp nơi. Ngay trong tù, ngài vẫn nói: “Anh em hãy vui luôn trong Chúa.” Điều này rất quan trọng. Thần học Thánh Giá không phải là thứ thần học làm con người yêu bóng tối, tìm đau khổ hoặc coi buồn bã là thánh thiện. Phaolô yêu Thánh Giá vì qua Thánh Giá ngài gặp Đấng yêu mình. Trung tâm không phải cái đau, mà là tình yêu trong cái đau. Không phải cây gỗ cứu ta, nhưng là Đức Kitô đã yêu trên cây gỗ ấy. Nếu tách khỏi tình yêu, đau khổ có thể làm con người cay đắng. Nếu kết hợp với tình yêu của Đức Kitô, đau khổ có thể trở thành nơi hiệp thông, thanh luyện và trao hiến. Không phải mọi đau khổ đều do Chúa gửi đến. Có đau khổ do bệnh tật, do giới hạn, do tội lỗi của chính mình, do bất công của người khác, do những biến cố không ai muốn. Đức tin không buộc ta gọi điều dữ là điều tốt. Nhưng Thánh Giá nói rằng không có đau khổ nào mà Thiên Chúa không thể bước vào, không có vết thương nào nằm ngoài khả năng cứu chuộc của Người.
Phaolô đã sống điều ấy. Đời ngài đầy thương tích. Bị đánh đòn, bị ném đá, bị tù, bị chống đối, bị hiểu lầm, bị chính những cộng đoàn mình sinh ra trong đức tin làm cho đau lòng, lênh đênh trên biển, gặp nguy hiểm đủ loại. Có lúc ngài thú nhận mình đã bị dồn ép quá mức, vượt quá sức chịu đựng, đến nỗi gần như tuyệt vọng về sự sống. Phaolô không phải một khối thép không biết đau. Ngài biết mệt, biết sợ, biết buồn, biết bị tổn thương. Chính vì vậy lời của ngài có sức nặng. Một người chưa từng khóc nói về Thánh Giá nghe khác với một người đã đi qua đêm tối mà vẫn giữ lòng tin. Phaolô đã học rằng sức mạnh Thiên Chúa biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối. Khi ngài xin Chúa cất “cái dằm” đang làm mình đau khổ, câu trả lời là: “Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (x. 2 Cr 12,9). Từ đó Phaolô có thể tự hào về những yếu đuối của mình, không phải vì yếu đuối tự nó tốt, nhưng vì nó không còn là lý do để tuyệt vọng. Chính nơi ta thôi cậy vào mình, ta có thể bắt đầu cậy vào Chúa.
Đó là một bài học rất khó đối với con người hôm nay. Chúng ta được dạy phải mạnh, phải thành công, phải thể hiện phiên bản tốt nhất của mình. Trên mạng xã hội, người ta thường cho nhau xem những phần đẹp nhất của đời mình. Ít ai đưa lên những lần thất bại, những buổi tối mất ngủ, những vết thương không biết kể với ai, những lần cầu nguyện mà chẳng cảm thấy gì, những lúc gia đình căng thẳng, những lần mình đã sai thật sự. Dần dần, người ta sợ sự yếu đuối. Người ta tưởng yếu là vô dụng. Nhưng Thánh Giá cho thấy một điều khác: sự yếu đuối được trao cho Thiên Chúa có thể trở thành cánh cửa của ân sủng. Điều đáng sợ không phải là yếu; điều đáng sợ là yếu mà vẫn giả vờ mạnh đến mức không còn biết cần Chúa, không cần ai, không xin tha thứ, không nhận mình sai, không để ai đỡ mình lên.
Thần học Thánh Giá của Phaolô còn có một chiều kích cộng đoàn rất mạnh. Trong thư gửi tín hữu Philípphê, Phaolô đặt trước họ bài thánh thi về Đức Kitô: Người vốn dĩ là Thiên Chúa nhưng đã tự hủy, mang thân phận tôi tớ, vâng lời cho đến chết, và chết trên Thập Giá; chính vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người (x. Pl 2,6-11). Nhưng Phaolô trích dẫn mầu nhiệm cao cả ấy không phải chỉ để các tín hữu chiêm ngưỡng. Trước đó ngài nói: “Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu.” Nghĩa là Thánh Giá phải chữa bệnh cạnh tranh trong cộng đoàn. Thánh Giá phải chữa thói háo danh. Thánh Giá phải chữa nhu cầu hơn người. Đức Kitô “tự hủy”; còn ta nhiều lúc lại tìm cách “tự đầy”. Chúa đi xuống, ta muốn đi lên. Chúa chọn chỗ cuối, ta tranh chỗ đầu. Chúa rửa chân, ta thích người khác phục vụ. Chúa im lặng trước xúc phạm, ta chỉ bị chạm tự ái một chút đã phải kể cho cả thế giới biết mình bị đối xử bất công thế nào.
Nhìn vào Thánh Giá, ta mới hiểu quyền bính Kitô giáo. Quyền bính không phải quyền đứng trên người khác mà là khả năng cúi xuống phục vụ. Một linh mục càng nhìn Thánh Giá càng phải sợ việc dùng chức thánh để tìm danh dự cho mình. Một người đứng đầu cộng đoàn càng nhìn Thánh Giá càng phải tự hỏi có bao nhiêu vết thương của người khác mình đang mang thay, chứ không phải có bao nhiêu người đang phục vụ mình. Một người cha trong gia đình càng nhìn Thánh Giá càng hiểu làm đầu không có nghĩa là áp đặt mà là chết đi từng chút cho vợ con. Một người mẹ hiểu Thánh Giá qua vô số việc âm thầm không ai biết. Một người trẻ hiểu Thánh Giá khi biết hy sinh cái tôi để giữ một tình bạn, giữ sự trong sạch, chăm sóc cha mẹ, trung thành với điều đúng dù bạn bè chế giễu. Người ta không cần đi tìm những cây thập giá kỳ lạ. Những cây thập giá thật thường mọc ngay giữa bàn ăn, phòng bệnh, nơi làm việc, trong cộng đoàn, trong một cuộc hôn nhân đang cần được cứu, trong việc chăm sóc một người già lẩm cẩm, trong nỗ lực tha thứ cho một người đã làm ta tổn thương.
Nhưng cần phân biệt thật rõ: vác Thánh Giá không có nghĩa là dung túng cái ác. Có người nhân danh Thánh Giá để bắt người khác cam chịu bạo hành, bất công, áp bức. Đó là lạm dụng Thánh Giá. Đức Giêsu tự nguyện hiến mạng vì tình yêu; Người không ban quyền cho ai đóng đinh người khác. Kitô hữu có thể chấp nhận đau khổ vì trung thành với điều thiện, nhưng không được biến việc làm tổn thương người khác thành “thánh giá Chúa gửi”. Có những hoàn cảnh cần kiên nhẫn, nhưng cũng có những hoàn cảnh cần lên tiếng, cần bảo vệ nạn nhân, cần tìm sự trợ giúp, cần chấm dứt bất công. Thập Giá đứng về phía nạn nhân trước khi trở thành lời mời gọi tha thứ. Chính Đức Giêsu bị kết án bất công cho thấy Thiên Chúa biết rất rõ nỗi đau của người bị chà đạp.
Một điểm hết sức quan trọng trong thần học của Phaolô là Thánh Giá không bao giờ tách khỏi Phục Sinh. Nếu Đức Kitô chỉ chết mà không sống lại, Phaolô nói thẳng: đức tin của chúng ta vô ích. Nhưng nếu chỉ nói Phục Sinh mà bỏ Thánh Giá, Kitô giáo sẽ trở thành một thứ lạc quan dễ dãi. Con đường của Đức Kitô là Thánh Giá dẫn tới Phục Sinh. Không phải thất bại có tiếng nói cuối cùng. Không phải mồ có tiếng nói cuối cùng. Không phải tội lỗi có tiếng nói cuối cùng. Nhưng cũng không có buổi sáng Phục Sinh nào mà trước đó không có chiều Thứ Sáu. Người Kitô hữu không được phép dùng niềm hy vọng Phục Sinh để né tránh những Thứ Sáu của cuộc đời. Ta phải đi xuyên qua chúng cùng Đức Kitô.
Phaolô hiểu rằng phép Rửa chính là việc người tín hữu được dìm vào mầu nhiệm ấy: cùng chết với Đức Kitô để cùng sống với Người. Con người cũ phải chết để con người mới sống. Điều đó kéo dài suốt đời. Mỗi lần tha thứ thay vì trả thù là một chút con người cũ chết đi. Mỗi lần nói thật khi nói dối có lợi hơn, con người cũ chết đi. Mỗi lần từ bỏ một lợi ích bất chính, con người cũ chết đi. Mỗi lần âm thầm làm điều tốt mà không cần ai biết, con người cũ chết đi. Mỗi lần chấp nhận xin lỗi trước, dù cái tôi rất đau, con người cũ chết đi. Mỗi lần cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin đừng theo ý con, nhưng theo ý Chúa”, một chút Thánh Giá đi vào đời ta. Và chính trong những cái chết nhỏ ấy, sự sống mới lớn dần.
Có một kiểu mang Thánh Giá rất âm thầm mà có lẽ chỉ Chúa biết. Đó là tiếp tục yêu khi tình yêu không được đáp lại như mình mong. Tiếp tục làm điều đúng dù chẳng ai cảm ơn. Tiếp tục trung thành khi người ta chẳng nhìn thấy. Tiếp tục cầu nguyện cho một đứa con đang xa Chúa. Tiếp tục chăm sóc một người bệnh ngày này qua ngày khác. Tiếp tục giữ lòng hiền lành giữa một môi trường thích đạp nhau mà đi lên. Tiếp tục sống tử tế dù đã nhiều lần bị sự tử tế của mình làm cho thiệt thòi. Những điều ấy không vang động. Không lên báo. Không có huy chương. Nhưng rất gần Golgotha. Bởi trên Golgotha cũng chẳng có tiếng vỗ tay. Chỉ có một tình yêu tiếp tục yêu đến cùng.
Nếu Phaolô sống hôm nay, có lẽ ngài vẫn phải nói với chúng ta điều đã nói với người Côrintô: chúng tôi rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh. Bởi thời nào con người cũng thích một Kitô giáo không có Thánh Giá. Ta thích Chúa ban bình an nhưng không muốn chết cho cái tôi. Ta thích Chúa chữa lành nhưng không muốn tha thứ. Ta thích Chúa chúc lành công việc nhưng không muốn làm ăn ngay chính khi sự ngay chính khiến mình mất lợi nhuận. Ta thích nhà thờ đẹp nhưng không muốn cộng đoàn phải trả giá cho tình bác ái. Ta thích nói về yêu thương nhưng không thích yêu những người khó yêu. Ta muốn Phục Sinh ngay mà không qua Thứ Sáu Tuần Thánh.
Thậm chí có một thứ Tin Mừng rất hấp dẫn nhưng rất xa Phaolô: cứ tin mạnh thì sẽ thành công, cầu nguyện đúng thì sẽ giàu, sống tốt thì sẽ tránh được đau khổ, theo Chúa thì mọi chuyện sẽ thuận lợi. Nhưng hãy thử nói điều ấy trước Thập Giá xem. Đức Giêsu có thiếu đức tin không? Các Tông đồ tử đạo có cầu nguyện không đủ sao? Phaolô có sống không tốt nên mới bị tù sao? Không. Tin Mừng không hứa rằng người tin Chúa sẽ không có Thập Giá. Tin Mừng hứa rằng trong Thập Giá họ không cô độc, và Thập Giá không phải chương cuối cùng.
Có lẽ điều cảm động nhất trong Phaolô là cách ngài cá vị hóa Thánh Giá: “Người đã yêu tôi và hiến mạng vì tôi.” Không chỉ “yêu nhân loại”. “Yêu tôi.” Không chỉ chết cho thế giới. “Hiến mạng vì tôi.” Mỗi người có thể đặt tên mình vào câu ấy. Đứng trước Thánh Giá, ta không đứng trước một tư tưởng. Có một Đấng đã yêu tôi. Ngay cả khi biết tất cả những điều xấu trong tôi mà người khác không biết, Người vẫn yêu tôi. Người biết những lần tôi phản bội. Những điều tôi xấu hổ. Những lời cầu nguyện hời hợt. Những ơn tôi đã nhận mà chẳng biết ơn. Những lần tôi làm đau người khác. Người biết cả những tội tôi đã quên. Nhưng Người vẫn yêu tôi và hiến mạng vì tôi. Không tình yêu nào trên đời này có thể nói câu ấy ở mức tuyệt đối như Đức Kitô.
Và một khi biết mình được yêu như thế, ta không thể sống như cũ. Ân sủng không phải cái gối cho ta ngủ yên trong tội. Ân sủng là ngọn lửa đánh thức ta. Phaolô được yêu nhưng chính vì thế ngài lao vào sứ vụ. “Tình yêu Đức Kitô thúc bách chúng tôi.” Người đã chết cho mọi người để những ai đang sống không còn sống cho chính mình nữa. Đây chính là kết quả của thần học Thánh Giá: không sống cho mình. Thế thôi, nhưng cũng là tất cả. Tội là co cuộc đời về phía mình. Thánh Giá mở cuộc đời ra. Tội nói: của tôi. Thánh Giá nói: cho anh em. Tội hỏi: tôi được gì? Thánh Giá hỏi: tôi có thể trao gì? Tội sợ mất. Tình yêu biết hiến.
Chính vì thế, người hiểu Thánh Giá thật sự sẽ ngày càng hiền hơn, không dữ hơn; khiêm tốn hơn, không tự mãn hơn; thương người yếu hơn, không kết án họ; biết ơn hơn, không đòi hỏi hơn. Nếu càng giữ đạo mà càng khắt khe với người khác, có lẽ ta đã đứng gần một cây thánh giá bằng gỗ nhưng còn xa mầu nhiệm Thánh Giá. Phaolô, người từng hăng hái bắt bớ nhân danh Thiên Chúa, sau khi gặp Đức Kitô chịu đóng đinh đã trở thành người có thể nói: “Nếu thức ăn làm cho anh em tôi sa ngã, tôi sẽ không bao giờ ăn thịt nữa.” Đó là thay đổi tận căn: trước đây bảo vệ chân lý bằng cách làm người khác đau; sau này sẵn sàng hy sinh quyền lợi chính đáng của mình vì người khác.
Thế giới hôm nay vẫn cần thần học Thánh Giá, không phải thêm những diễn từ về đau khổ, nhưng cần những con người biết sống logic của Thánh Giá. Khi người khác xúc phạm mà ta không trả lại cùng thứ độc ấy, Thánh Giá được dựng lên. Khi một gia đình đang rạn nứt mà có người chịu hạ mình nói câu “tôi xin lỗi”, Thánh Giá được dựng lên. Khi một người có quyền không dùng quyền để nghiền nát kẻ yếu, Thánh Giá được dựng lên. Khi một người trẻ từ chối gian lận dù có thể thiệt, Thánh Giá được dựng lên. Khi một người già cô đơn vẫn cầu nguyện cho con cháu, Thánh Giá được dựng lên. Khi một linh mục tiếp tục phục vụ giữa mệt mỏi mà không biến đoàn chiên thành nơi nuôi cái tôi, Thánh Giá được dựng lên. Khi một cộng đoàn chọn bảo vệ người bé nhỏ thay vì bảo vệ danh tiếng của mình, Thánh Giá được dựng lên.
Nhưng giữa tất cả những điều ấy, ta cũng cần nhớ rằng mình không tự đóng đinh mình để chứng tỏ là đạo đức. Trước tiên, ta đứng dưới chân Thánh Giá như người được cứu. Ta không cứu thế giới. Đức Kitô đã cứu thế giới. Ta không phải Mêsia. Ta là người cần Mêsia. Nhiều người kiệt sức trong đời sống phục vụ vì âm thầm nghĩ rằng tất cả tùy vào mình. Phaolô không như thế. Ngài làm việc đến kiệt sức, nhưng biết rằng tất cả là ân sủng: “Tôi có là gì cũng là nhờ ơn Thiên Chúa.” Người sống thần học Thánh Giá cũng học biết giới hạn. Có lúc phải làm, có lúc phải dừng. Có lúc phải nói, có lúc phải im. Có lúc phải mang người khác, có lúc phải cho phép người khác mang mình. Ngay Đức Giêsu trên đường lên Golgotha cũng đã để Simon thành Kyrênê vác đỡ Thập Giá. Đôi khi khiêm nhường nhất không phải là nói “tôi chịu được”, mà là thừa nhận “xin giúp tôi”.
Và rồi cuối cùng, thần học Thánh Giá đưa ta đến một niềm hy vọng không gì phá nổi. Phaolô có thể hỏi: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô?” Gian truân? Khốn khổ? Bách hại? Đói rách? Hiểm nguy? Gươm giáo? Câu trả lời là không. Tại sao Phaolô dám chắc đến thế? Vì tình yêu ấy đã đi qua Thánh Giá. Một tình yêu đã chịu được Golgotha thì còn gì làm nó quay lưng với ta? Nếu Đức Kitô yêu ta khi ta còn là tội nhân, Người có bỏ ta khi ta đang chiến đấu để trở về không? Nếu Người đã đi vào cái chết để tìm ta, có vực sâu nào Người không thể xuống? Nếu bàn tay đã bị đóng đinh ấy vẫn mở ra, còn ai có thể đóng cửa lòng thương xót của Người?
Có những ngày người ta nhìn lại đời mình và chỉ thấy những mảnh vỡ. Những ước mơ không thành. Những người đã mất. Những điều không thể sửa lại. Những cánh cửa đã đóng. Những lỗi lầm mà dù được tha thứ vẫn để lại hậu quả. Những bệnh tật không khỏi. Những lời cầu nguyện dường như chưa được trả lời. Chính lúc ấy, đức tin Phaolô không bảo ta giả vờ rằng mọi sự đều đẹp. Đức tin chỉ tay về Thánh Giá và nói: hãy nhìn đây. Có một ngày trên Golgotha mọi thứ cũng có vẻ chấm hết. Người môn đệ bỏ chạy. Đức Giêsu chết. Tảng đá lấp cửa mồ. Không ai nhìn chiều Thứ Sáu ấy mà đoán được sáng Chúa nhật. Nhưng Thiên Chúa đang làm việc ngay trong nơi con người tưởng chỉ còn cái chết.
Vì thế, Kitô hữu có quyền hy vọng ngay khi chưa thấy lối ra. Không phải một niềm hy vọng ngây thơ rằng mọi chuyện rồi sẽ diễn ra đúng như ý mình. Niềm hy vọng Kitô giáo lớn hơn thế: dù chuyện gì xảy ra, ta không rơi ra ngoài bàn tay Thiên Chúa. Thậm chí nếu ta đi qua cái chết, Đức Kitô đã ở đó trước. Ngôi mộ không còn là căn phòng chưa ai bước vào. Chúa đã nằm trong đó và đã bước ra.
Đó là lý do Thánh Giá có thể được gọi là vinh quang. Không phải vì đau đớn là vinh quang, nhưng vì tình yêu chiến thắng ngay giữa đau đớn. Không phải vì cái chết đẹp, nhưng vì cái chết bị đánh bại từ bên trong. Không phải vì tội lỗi không nghiêm trọng, nhưng vì ân sủng mạnh hơn tội lỗi. Không phải vì con người xứng đáng, nhưng vì Thiên Chúa là tình yêu.
Phaolô đã dành đời mình để rao giảng một điều xem ra điên rồ ấy. Ngài đi từ thành này sang thành khác, qua những con đường bụi bặm của đế quốc Rôma, đem theo một Tin Mừng mà người đời có thể cười nhạo: một người Do Thái bị Rôma đóng đinh chính là Chúa và Đấng Cứu Độ. Ngài không có quân đội. Không có tiền bạc khổng lồ. Không có phương tiện truyền thông. Không có địa vị chính trị. Cuối đời lại bị xiềng xích. Nhưng lời ngài đi xa hơn tất cả những đạo quân của thời đại ấy. Những đế quốc từng đóng đinh con người đã sụp đổ; Đức Kitô chịu đóng đinh vẫn được hàng tỷ người gọi là Chúa. Có lẽ chính lịch sử cũng đang âm thầm minh họa lời Phaolô: cái yếu đuối của Thiên Chúa mạnh hơn cái mạnh của loài người.
Thế nên, mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, ta hãy đừng nhìn quá nhanh. Đừng để Thánh Giá trở thành vật quá quen đến mức không còn làm tim ta rung động. Có một con người thật đã bị đóng đinh ở đó. Có máu. Có nước mắt. Có cô độc. Có đau đớn. Nhưng sâu hơn tất cả là một quyết định: yêu đến cùng. Thánh Giá nói rằng Thiên Chúa không yêu chúng ta bằng lời. Người yêu bằng chính mình. Và Phaolô, cả đời mình, chỉ cố gắng nói cho thế giới một câu: hãy để tình yêu ấy chinh phục bạn.
Nếu một ngày nào đó tất cả những công trình ta làm đều bị quên, những lời ta nói không còn ai nhớ, chức vụ ta từng giữ không còn nữa, chỉ cần ta đã để Thánh Giá Đức Kitô biến đổi trái tim mình, đời ta đã không uổng phí. Bởi cuối cùng, Thiên Chúa không hỏi ta đã nổi tiếng bao nhiêu, nhưng đã yêu bao nhiêu; không hỏi bao nhiêu người phục vụ ta, nhưng ta đã phục vụ ai; không hỏi ta đã tránh được bao nhiêu Thánh Giá, nhưng trong những Thánh Giá không thể tránh, ta đã để Đức Kitô ở cùng mình thế nào.
Xin cho chúng ta có thể nói với Phaolô, không chỉ bằng môi miệng mà bằng cuộc đời: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài Thập Giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.” Xin cho mỗi ngày của ta bớt đi một chút cái tôi để Đức Kitô lớn lên. Xin cho những vết thương không biến ta thành người cay nghiệt, nhưng thành người biết cảm thông. Xin cho những thất bại không làm ta mất lòng tin, nhưng giúp ta hiểu rằng quyền năng Thiên Chúa thường nở hoa nơi con người đã hết chỗ để tự hào. Xin cho khi bị đặt trước lựa chọn giữa yêu mình và yêu như Chúa, ta đủ can đảm chọn con đường Thánh Giá. Và khi cuối hành trình, bàn tay ta không còn giữ được gì nữa, xin ta vẫn có thể đặt cả đời mình vào đôi tay đã từng bị đóng đinh vì ta, mà bình an thưa rằng: “Lạy Chúa Giêsu, con chẳng còn gì để khoe. Con chỉ có lòng thương xót của Chúa. Con chỉ có Thánh Giá. Và thế là đủ.”
Lm. Anmai, CSsR.

CÁC TƯỜNG THUẬT THƯƠNG KHÓ TRONG BỐN SÁCH TIN MỪNG – NHỮNG ĐIỂM NHẤN KHÁC NHAU
Có những trang Tin Mừng người ta có thể đọc thật nhanh, nhưng có những trang phải đọc bằng đầu gối, bằng nước mắt, bằng sự thinh lặng và bằng cả một đời người. Tường thuật cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu thuộc về những trang như thế. Không ai có thể đứng trước đồi Canvê như đứng trước một câu chuyện bình thường. Không ai có thể nghe tiếng búa đóng vào tay Đấng Cứu Thế, nghe tiếng đám đông gào thét, nhìn chiếc áo bị chia nhau, thấy Đức Maria đứng dưới chân thập giá, nghe tiếng Chúa kêu lên trong giờ hấp hối, rồi bình thản quay đi như thể mình vừa nghe xong một câu chuyện của quá khứ. Thương Khó không chỉ là chuyện Chúa Giêsu đã chịu đau khổ cách đây gần hai ngàn năm. Thương Khó là nơi mọi tấm màn bị kéo xuống. Ở đó người ta thấy tội lỗi khủng khiếp đến mức nào, tình yêu Thiên Chúa sâu đến mức nào, con người yếu đuối đến mức nào, và lòng thương xót của Thiên Chúa đi xa đến mức nào. Bốn sách Tin Mừng đều kể lại cuộc Thương Khó ấy, nhưng không kể hoàn toàn giống nhau. Không phải vì các thánh sử mâu thuẫn, càng không phải vì các ngài kể bốn cuộc khổ nạn khác nhau, nhưng vì mỗi người đứng trước cùng một mầu nhiệm và được Chúa Thánh Thần dẫn vào một chiều sâu riêng. Cũng như bốn người đứng quanh một ngọn núi, cùng nhìn một đỉnh núi nhưng từ những hướng khác nhau, mỗi người sẽ nhận ra những đường nét mà người kia không thấy rõ. Hoặc như một viên kim cương chỉ có một viên nhưng khi ánh sáng chiếu qua nhiều mặt, mỗi mặt phát ra một vẻ đẹp khác. Bốn Tin Mừng cho ta bốn cửa sổ mở vào cùng một Thập Giá. Mátthêu làm nổi bật Đức Giêsu là Đấng hoàn tất Kinh Thánh, là Đấng Mêsia của Israel và là Con Thiên Chúa bị dân Người khước từ nhưng được Thiên Chúa xác nhận. Máccô dẫn người đọc bước vào sự cô độc cùng cực của Đức Giêsu, để giữa nơi tưởng như thất bại hoàn toàn lại vang lên lời tuyên xưng đầu tiên của viên đại đội trưởng dân ngoại: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa.” Luca làm cho đồi Canvê bừng sáng lòng thương xót: Chúa chữa lành tai người đầy tớ, nhìn Phêrô, an ủi phụ nữ Giêrusalem, tha thứ cho những kẻ đóng đinh mình và mở cửa thiên đàng cho người trộm lành. Còn Gioan cho ta thấy một Đức Kitô không đơn thuần bị dẫn đến cái chết nhưng tiến vào giờ của Người như một vị Vua, hoàn toàn tự do, hoàn toàn ý thức, hoàn toàn làm chủ; Thập Giá trong Gioan đồng thời là ngai tòa, là giờ được tôn vinh, là lúc Con Người được “giương cao” để kéo mọi người lên với mình. Đặt bốn tường thuật cạnh nhau, ta không thấy bốn Đức Giêsu khác nhau. Ta thấy cùng một Chúa Giêsu trong một mầu nhiệm quá lớn đến độ một ngòi bút không thể diễn tả hết.
Điều đáng lưu ý trước hết là các Tin Mừng dành cho cuộc Thương Khó một dung lượng rất lớn so với toàn bộ cuộc đời công khai của Đức Giêsu. Có biết bao năm tháng đời Chúa tại Nadarét mà Tin Mừng chỉ nói vài câu. Ba mươi năm âm thầm gần như đi qua trong im lặng. Nhưng khi đến những giờ cuối cùng tại Giêrusalem, từng biến cố được kể lại tương đối chi tiết: bữa ăn cuối cùng, lời loan báo phản bội, vườn Cây Dầu, việc bắt giữ, những phiên xét xử, lời chối của Phêrô, việc trao nộp cho Philatô, cuộc hành hình, cái chết, mai táng. Điều đó đã nói với chúng ta rằng Thập Giá không phải một tai nạn xảy đến bất ngờ ở cuối đời Đức Giêsu. Thập Giá nằm ở trung tâm sứ mạng cứu độ của Người. Đức Giêsu không đến trần gian chỉ để dạy cho ta một số nguyên tắc sống tốt. Nếu chỉ cần một bộ giáo huấn đạo đức, nhân loại đã có thể nhận một cuốn sách từ trời. Người Con đã làm người vì muốn đi vào tận đáy phận người, mang lấy tội lỗi, đau khổ và sự chết của con người, rồi từ bên trong sự chết mà mở một lối đi sang sự sống. Chúng ta vì thế sẽ không hiểu được Kitô giáo nếu loại Thập Giá ra khỏi Kitô giáo. Một Kitô giáo chỉ nói đến thành công, chữa lành, bình an, hạnh phúc và phúc lành mà không còn nói tới bỏ mình, hy sinh, đau khổ, thập giá, sự chết và phục sinh thì đã đánh mất trái tim của Tin Mừng. Chúa Giêsu không nói: ai muốn theo Ta thì hãy tìm cách để cuộc đời đừng bao giờ đau. Người nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” Và chính Người đã đi trước trên con đường đó.
Trong Tin Mừng Mátthêu, cuộc Thương Khó được kể trong một bầu khí đậm đặc Kinh Thánh. Mátthêu viết rất nhiều cho một cộng đoàn có nền tảng Do Thái, vì vậy ngài đặc biệt quan tâm cho thấy điều xảy ra với Đức Giêsu không phải là sự sụp đổ của chương trình Thiên Chúa, nhưng là sự hoàn tất chương trình ấy. Những lời tiên tri, những hình ảnh của Cựu Ước, những lời Thánh Vịnh như âm thầm hiện ra sau từng biến cố. Đức Giêsu là Người Công Chính bị bách hại, là Người Tôi Trung đau khổ, là Đấng Mêsia đi qua khổ đau để bước vào vinh quang. Khi Giuđa phản bội Người với ba mươi đồng bạc, người đọc Kinh Thánh lập tức nghe vang lên những âm hưởng của ngôn sứ Dacaria. Khi lính chia nhau áo Chúa, khi kẻ qua đường lắc đầu chế nhạo, khi Người bị thách thức: “Nếu mi là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi”, bóng dáng Thánh Vịnh 22 xuất hiện. Và chính tiếng kêu của Đức Giêsu: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” mở đầu Thánh Vịnh ấy. Đây không phải tiếng kêu của một người mất đức tin. Trái lại, đó là lời cầu nguyện của một Người Con đi vào tận cùng kinh nghiệm bị bỏ rơi của nhân loại mà vẫn hướng về Cha bằng hai tiếng “Thiên Chúa của con”. Có những giờ trong đời ta cầu nguyện mà không cảm thấy gì, xin mà không thấy được nhận lời, khóc mà dường như trời vẫn đóng kín. Có những người đã từng tự hỏi: Chúa ở đâu khi con mình chết? Chúa ở đâu khi gia đình tan vỡ? Chúa ở đâu khi bệnh tật hành hạ? Chúa ở đâu khi một người vô tội bị chà đạp? Mátthêu không đưa cho ta một câu trả lời dễ dãi. Mátthêu đưa ta lên Canvê và bảo: hãy nhìn Đấng chịu đóng đinh. Chính Con Thiên Chúa cũng đã đi vào nơi con tưởng Thiên Chúa vắng mặt. Từ nay không một vực sâu nào của đau khổ con người còn là nơi Đức Kitô chưa từng bước xuống.
Mátthêu còn cho ta những chi tiết rất mạnh khi Đức Giêsu chết. Màn trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới, đất rung, đá vỡ, mồ mả mở ra. Toàn thể công trình sáng tạo như rung động trước cái chết của Đấng Tạo Hóa. Màn Đền Thờ vốn phân cách nơi cực thánh được xé ra: con đường đến với Thiên Chúa được mở. Không phải con người từ dưới xé lên, mà màn được xé “từ trên xuống”; sáng kiến cứu độ đến từ Thiên Chúa. Thập Giá không phải là con người trèo lên trời, nhưng là Thiên Chúa cúi xuống tận vực thẳm của con người để kéo con người lên. Một chi tiết khác của Mátthêu cũng khiến người ta phải suy nghĩ: vợ Philatô báo cho chồng đừng can dự đến “người công chính ấy”, trong khi giới lãnh đạo lại tìm cách kết án Đức Giêsu. Một người ngoại có thể nhận ra phần nào sự vô tội của Người, trong khi những người tưởng mình gần Thiên Chúa lại có thể bị lòng ghen ghét làm cho mù. Đó là một cảnh báo đáng sợ cho đời sống đạo. Gần Nhà Tạm chưa chắc đã gần Chúa nếu lòng ta đầy kiêu căng. Đọc nhiều Kinh Thánh chưa chắc đã hiểu ý Thiên Chúa nếu ta chỉ dùng Lời Chúa để củng cố ý riêng. Mang danh người đạo đức không ngăn được ta đóng đinh người khác bằng lời nói nếu lòng ta không chịu hoán cải.
Một chi tiết đặc biệt khác trong Mátthêu là kết thúc bi thảm của Giuđa. Giuđa nhận ra mình đã nộp người vô tội, đem ba mươi đồng bạc trả lại rồi tuyệt vọng tìm đến cái chết. Phêrô cũng phạm một tội rất nặng: ba lần chối Thầy. Hai người đều ngã. Một người phản bội, một người chối bỏ. Nhưng kết cuộc khác nhau. Phêrô “ra ngoài, khóc lóc thảm thiết” và sau đó để cho lòng thương xót dựng mình dậy. Giuđa đóng kín mình trong tuyệt vọng. Điều giết chết Giuđa cuối cùng không chỉ là ba mươi đồng bạc, nhưng là việc ông không còn tin có một tình yêu lớn hơn tội của mình. Đó có lẽ là cám dỗ nguy hiểm nhất sau khi phạm tội: nghĩ rằng mình không còn đường về. Satan trước khi ta phạm tội thường nói: “Không sao đâu.” Nhưng sau khi ta phạm tội, nó đổi giọng: “Mày hết rồi. Chúa không thể tha cho mày nữa.” Tin Mừng Thương Khó cho ta biết cả hai đều là lời dối trá. Tội lỗi luôn nghiêm trọng, nhưng lòng thương xót còn lớn hơn. Không có tội nhân nào vì tội quá lớn mà bị đóng cửa nếu người ấy còn biết trở về. Chỉ có người tự khóa cánh cửa từ bên trong khi không còn tin rằng mình có thể được tha.
Nếu Mátthêu nhấn mạnh việc hoàn tất Kinh Thánh và căn tính Mêsia của Đức Giêsu, Máccô lại đưa ta vào một cuộc Thương Khó trần trụi, nghiệt ngã và cô độc đến rợn người. Máccô thường được coi là Tin Mừng cổ nhất và tường thuật của ngài có một sức mạnh rất nguyên sơ. Trong suốt hành trình Tin Mừng, các môn đệ nhiều lần không hiểu Đức Giêsu là ai. Họ thấy phép lạ nhưng vẫn không hiểu Thập Giá. Họ tranh nhau xem ai lớn hơn trong khi Thầy đang nói về việc mình sẽ bị giết. Họ hứa trung thành nhưng cuối cùng tháo chạy. Trong vườn Ghếtsêmani, Đức Giêsu “bắt đầu cảm thấy hãi hùng xao xuyến”. Người nói với ba môn đệ thân tín: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được.” Đó là một trong những câu làm ta thấy Chúa Giêsu gần nhân loại đến lạ lùng. Người không diễn một vở kịch đau khổ. Người thực sự sợ, thực sự buồn, thực sự cô đơn. Đức tin Kitô giáo không dạy rằng người thánh thiện là người không biết sợ. Chúa Giêsu cũng run sợ trước chén đắng. Điều làm nên sự vâng phục không phải là không cảm thấy sợ, nhưng là giữa sợ hãi vẫn nói được: “Abba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con. Nhưng xin đừng theo điều con muốn, mà theo điều Cha muốn.” Nếu có một câu cầu nguyện đủ cho những giờ khủng hoảng của cuộc đời, có lẽ đó là câu này. Con được phép nói với Chúa điều con muốn. Con được phép xin Chúa cất chén đắng. Đức tin không bắt con giả vờ rằng đau mà không đau, sợ mà không sợ. Nhưng sau cùng, đức tin dẫn con đến chỗ đặt ý riêng trong bàn tay Cha: “Xin đừng theo ý con.”
Trong Máccô, sự cô độc tăng dần. Các môn đệ ngủ khi Chúa cầu nguyện. Giuđa đến hôn Thầy để phản bội. Mọi người bỏ Người mà chạy. Phêrô chối Người. Thượng hội đồng kết án Người. Đám đông xin tha Baraba và đóng đinh Giêsu. Lính nhạo báng Người. Người qua đường chế giễu Người. Các thượng tế cùng kinh sư cũng chế nhạo. Ngay cả những người cùng chịu đóng đinh cũng nhục mạ Người. Cuối cùng chỉ còn tiếng kêu: “Ê-lô-i, Ê-lô-i, la-ma xa-bác-tha-ni?” – “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Có thể nói Máccô đưa Đức Giêsu đến đáy tận cùng của cô độc. Nhưng chính ở đáy sâu ấy, một điều kỳ diệu xảy ra. Không phải một Tông đồ, không phải một kinh sư, không phải một thầy tư tế, nhưng một viên đại đội trưởng Rôma đứng đối diện với Đức Giêsu, thấy Người tắt thở như vậy, đã nói: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa.” Đó là một nghịch lý đẹp đến sửng sốt. Khi Đức Giêsu làm phép lạ, người ta còn hỏi Người là ai. Khi Người bị treo bất lực trên thập giá, một người ngoại lại nhận ra Người là Con Thiên Chúa. Chính cách Đức Giêsu chết đã mặc khải Người là ai.
Điều này đánh thẳng vào quan niệm của chúng ta về quyền năng. Ta nghĩ quyền năng là khiến người khác phải phục mình; Chúa cho thấy quyền năng là đủ mạnh để yêu người đang giết mình. Ta nghĩ chiến thắng là hạ được đối thủ; Chúa cho thấy chiến thắng là không để lòng mình biến thành hận thù ngay cả khi bị đối xử bất công. Ta nghĩ Con Thiên Chúa phải xuống khỏi thập giá để chứng minh mình là Con Thiên Chúa. Máccô nói ngược lại: chính vì Người không xuống khỏi thập giá mà Người cho thấy Người là Con Thiên Chúa. Nếu Chúa xuống khỏi thập giá khi người ta thách thức, Người có thể làm đám đông kinh ngạc, nhưng nhân loại vẫn chưa được cứu. Người ở lại không phải vì những chiếc đinh mạnh hơn Người. Người ở lại vì tình yêu mạnh hơn những chiếc đinh. Những chiếc đinh giữ được đôi tay, nhưng không thể giữ được Con Thiên Chúa nếu Người muốn xuống. Chính tình yêu giữ Người ở đó. Đây là điều phải nhớ mỗi lần ta nhìn cây Thánh Giá trong nhà, trong nhà thờ, trên cổ mình: không phải cây gỗ cứu ta, không phải đinh sắt cứu ta, mà là Tình Yêu đã chấp nhận bị đóng vào cây gỗ ấy vì ta.
Tin Mừng Luca lại có một sắc thái khác. Nếu đọc kỹ, ta thấy cuộc Thương Khó trong Luca được thấm đẫm bởi lòng thương xót và sự bình an lạ lùng. Chúa Giêsu vẫn đau, vẫn bị phản bội, vẫn bị đánh đập, nhưng giữa bóng tối ấy, Người liên tục quay về phía những người khác. Trong vườn Cây Dầu, khi một môn đệ chém đứt tai người đầy tớ của thượng tế, chỉ Luca kể rằng Đức Giêsu chạm vào tai người ấy và chữa lành. Hãy dừng lại ở hình ảnh đó. Người ta đến bắt Chúa, và Chúa chữa lành cho người đến bắt mình. Người ta dùng bạo lực, Chúa đáp bằng chữa lành. Thậm chí trong giờ tự do của mình đang bị tước đi, Người vẫn dùng quyền năng để trả lại sự nguyên vẹn cho kẻ thuộc về phía đối nghịch. Nếu thế giới sống được một phần tinh thần ấy, bao cuộc chiến đã không xảy ra. Nếu gia đình sống được một phần tinh thần ấy, bao vết thương đã không kéo dài từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chúng ta thường lấy lý do mình bị thương để làm người khác bị thương. Chúa Giêsu lại mang thương tích của mình để chữa thương tích người khác.
Cũng chỉ Luca nói đến cái nhìn của Chúa dành cho Phêrô sau lần chối thứ ba: “Chúa quay lại nhìn ông Phêrô.” Không có một bài giảng. Không có một lời trách móc. Chỉ một cái nhìn. Nhưng cái nhìn ấy làm một người đàn ông vỡ vụn. Phêrô đi ra ngoài khóc lóc thảm thiết. Có lẽ trong đời có những lúc Chúa không cần nói nhiều với ta. Một cái nhìn của Người vào tận lương tâm đủ làm ta nhớ lại mình đã hứa gì, mình đã sống ra sao, mình đã làm tổn thương tình yêu Người thế nào. Nhưng cái nhìn ấy không nghiền nát Phêrô. Nó làm ông khóc để rồi được phục hồi. Cái nhìn của Đức Giêsu không phải cái nhìn của quan tòa khoái chí khi bắt được tội phạm. Đó là cái nhìn của người yêu bị phản bội nhưng vẫn yêu. Chính vì biết mình vẫn được yêu nên nước mắt của Phêrô không trở thành nước mắt tuyệt vọng.
Trên đường lên Canvê, Luca kể Đức Giêsu quay lại với những phụ nữ đang khóc và nói: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu.” Người đang vác Thập Giá mà vẫn nghĩ đến người khác. Đến khi bị đóng đinh, Luca đặt trên môi Chúa một câu làm nhân loại phải cúi đầu: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Nếu muốn hiểu Kitô giáo khác với bản năng tự nhiên của con người ở đâu, hãy đứng ở câu này. Bản năng nói: người làm tôi đau phải trả giá. Tin Mừng nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Điều ấy không phải yếu đuối. Tha thứ là một sức mạnh lớn đến mức người yếu không làm nổi. Hận thù đôi khi rất dễ; tha thứ mới khó. Chúa không gọi điều ác là điều tốt, không phủ nhận bất công, nhưng không cho phép điều ác của kẻ khác sinh thêm điều ác trong trái tim Người. Thập Giá chặn lại dây chuyền báo thù bằng lòng thương xót.
Rồi Luca kể câu chuyện người trộm lành, một trong những đoạn Tin Mừng đẹp nhất để minh họa cho toàn bộ mầu nhiệm Thương Khó. Hai người phạm tội cùng bị đóng đinh bên Đức Giêsu. Một người nhục mạ: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình và cứu chúng tôi.” Người kia trách bạn, rồi quay sang Chúa: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Người ấy không còn gì để dâng. Tay bị đóng đinh, không thể làm việc thiện. Chân bị đóng đinh, không thể đi hành hương. Cuộc đời đã gần hết, không còn thời gian sửa lại quá khứ. Trong mắt xã hội, ông là một tử tội. Nhưng ông còn một điều: một lời tin tưởng. Và câu trả lời của Đức Giêsu là cả một Tin Mừng: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Không phải tuần sau. Không phải sau khi ông làm đủ việc đền tội. “Hôm nay.” Không phải ở một góc xa. “Ở với tôi.” Đây là lòng thương xót Kitô giáo. Thiên Đàng mở cửa ngay bên cạnh một cây thập giá. Người đầu tiên được nghe lời hứa thiên đàng trong giờ Đức Kitô chịu đóng đinh không phải một người được cả thế giới kính nể, mà là một tội nhân biết quay về vào phút cuối. Điều này không khuyến khích ta trì hoãn hoán cải. Ngược lại, nó nói rằng bao lâu ta còn thở thì không bao giờ là quá muộn để gọi tên Giêsu. Có khi một đời người chỉ còn đủ sức nói: “Xin nhớ đến con”, nhưng đối với Chúa, lời ấy đã đủ để bắt đầu một cõi đời đời.
Luca còn cho Đức Giêsu chết bằng một lời hoàn toàn phó thác: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Nếu Máccô và Mátthêu làm nổi bật vực sâu của cảm giác bị bỏ rơi, Luca làm nổi bật sự tín thác cuối cùng của Người Con. Hai điều không loại trừ nhau. Đức tin trưởng thành không phải luôn luôn cảm thấy Cha gần. Đức tin trưởng thành là ngay cả khi bóng tối phủ kín, ta vẫn có thể trao mình vào tay Cha. Có những người chỉ tin khi mọi việc thuận lợi. Nhưng đức tin chỉ thật sự lộ chiều sâu khi trong tay không còn gì để nắm mà ta vẫn nói: “Con xin phó thác đời con trong tay Chúa.” Đức Giêsu chết như thế. Và trong Luca, viên đại đội trưởng không chỉ kinh ngạc; ông tôn vinh Thiên Chúa và nói: “Người này đích thực là người công chính.” Cái chết của Người bắt đầu làm đổi lòng những người đứng quanh.
Nếu ba Tin Mừng Nhất Lãm để người đọc cảm nhận mạnh sự đau khổ, nhục nhã và cô độc của Đức Giêsu, Tin Mừng Gioan đưa chúng ta vào một chiều kích khác: Thương Khó là “giờ” của Đức Giêsu, là giờ Người được tôn vinh. Ngay từ đầu Tin Mừng Gioan, toàn bộ hành trình đã hướng đến “giờ” ấy. Ở tiệc cưới Cana, Người nói: “Giờ của tôi chưa đến.” Nhiều lần kẻ thù muốn bắt nhưng không thể vì “giờ của Người chưa đến”. Nhưng khi cuộc Thương Khó đến gần, Người tuyên bố: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh.” Thật kỳ lạ. Ta tưởng “giờ tôn vinh” phải là lúc đám đông tung hô, lúc phép lạ vang danh, lúc vinh quang chói lọi. Gioan lại gọi giờ bị đóng đinh là giờ tôn vinh. Vì vinh quang của Thiên Chúa không chủ yếu là quyền lực khiến người khác khiếp sợ, nhưng là tình yêu đi đến cùng. “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng.” “Đến cùng” không chỉ có nghĩa đến phút cuối, mà còn là đến mức tận cùng, đến độ không còn gì giữ lại.
Trong vườn, Gioan không nhấn mạnh cơn xao xuyến như các Tin Mừng Nhất Lãm. Khi đoàn lính đến bắt, Đức Giêsu chủ động bước ra hỏi: “Các anh tìm ai?” Họ nói: “Giêsu Nadarét.” Người đáp: “Chính tôi đây.” Theo cách diễn tả của Gioan, lời ấy còn vang lên chiều sâu của danh Thiên Chúa: “Ta là.” Và đoàn người lùi lại, ngã xuống đất. Hình ảnh thật nghịch lý: người sắp bị bắt lại là người hoàn toàn làm chủ. Người không bị cuốn đi như nạn nhân bất lực. Người tự trao mình. Khi Phêrô rút gươm, Đức Giêsu nói: “Hãy xỏ gươm vào vỏ. Chén Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?” Người biết mình đang đi đâu.
Trong cuộc xét xử trước Philatô, Gioan đặc biệt nhấn mạnh vương quyền Đức Kitô. Philatô hỏi: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?” Cuộc đối thoại xoay quanh vương quốc, quyền lực và sự thật. Cuối cùng, tấm bảng được đặt trên thập giá: “Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái”, viết bằng tiếng Hípri, Latinh và Hy Lạp. Những người lãnh đạo muốn sửa lại nhưng Philatô nói: “Ta viết sao, cứ để vậy.” Con người có thể viết với ý chế giễu hoặc chính trị, nhưng trong cái nhìn đức tin, một sự thật lớn hơn đang được công bố cho cả thế giới. Đức Giêsu thực sự là Vua, nhưng ngai của Người là Thập Giá, vương miện của Người là vòng gai, áo hoàng bào của Người là tấm áo lính khoác để nhạo báng, quyền trượng của Người không phải thanh kiếm. Người trị vì bằng cách hiến mạng sống. Và chính vì thế vương quốc của Người không qua đi như mọi đế quốc.
Gioan cũng kể một cảnh vô cùng xúc động dưới chân Thập Giá: Đức Maria và người môn đệ Chúa yêu. Đức Giêsu nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi nói với môn đệ: “Đây là Mẹ của anh.” Trong lúc hấp hối, Chúa vẫn trao ban. Người đã trao lời, trao Thịt Máu, trao sự sống, và trước khi chết còn trao Mẹ mình cho người môn đệ. Truyền thống Hội Thánh nhìn ở đây một chiều sâu vượt quá câu chuyện chăm sóc gia đình. Dưới chân Thập Giá, một gia đình mới được sinh ra. Đức Maria trở thành Mẹ của những môn đệ Đức Kitô; người môn đệ được mời đón Mẹ “về nhà mình”. Hội Thánh sinh ra từ mầu nhiệm Thập Giá không phải một tổ chức lạnh lùng nhưng là một gia đình.
Rồi Đức Giêsu nói: “Ta khát.” Đây là một cơn khát thể lý khủng khiếp của người đã mất nhiều máu, nhưng truyền thống Kitô giáo luôn nghe trong đó một cơn khát sâu hơn: Người khát con người, khát tình yêu của con người, khát cứu độ các linh hồn. Đáng sợ biết bao nếu Đấng đã tạo nên đại dương lại phải nói “Ta khát”, và còn đáng sợ hơn nếu Người khát lòng ta mà ta cứ để Người khát. Sau đó là lời: “Thế là đã hoàn tất.” Không phải: “Thế là hết.” “Hoàn tất” là khác. Một thất bại thì kết thúc. Một sứ mạng thì hoàn tất. Đức Giêsu không chết với tiếng thở dài của người thua cuộc nhưng với lời xác nhận công trình Cha trao đã đi đến cùng.
Một chi tiết riêng của Gioan mở ra cả một đại dương thần học: người lính lấy giáo đâm cạnh sườn Chúa, “tức thì máu cùng nước chảy ra”. Hội Thánh từ rất sớm đã nhìn thấy trong máu và nước những dấu chỉ của các bí tích, đặc biệt Thánh Tẩy và Thánh Thể, và hình ảnh Hội Thánh sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô, như Evà xưa được hình thành từ cạnh sườn Ađam. Ađam mới ngủ giấc sự chết trên Thập Giá, từ cạnh sườn Người một dân mới được sinh ra. Như vậy, ngay cái chết cũng trở thành nguồn sự sống. Người ta đâm vào trái tim Chúa để kiểm chứng Người đã chết, nhưng từ trái tim bị đâm ấy lại chảy ra nguồn sống cho thế giới. Con người dùng giáo để mở cạnh sườn Người; Thiên Chúa biến vết thương thành cánh cửa lòng thương xót.
Khi đặt bốn tường thuật cạnh nhau, ta còn nhận ra một điều rất đẹp: không một Tin Mừng nào giữ độc quyền trên mầu nhiệm. Mátthêu dạy ta nhìn Thập Giá trong ánh sáng lời hứa và sự hoàn tất. Máccô dạy ta ở lại với Đức Giêsu trong bóng tối và cô độc, không vội vàng che phủ đau khổ bằng những câu nói dễ dãi. Luca dạy ta nhìn Thập Giá như nơi lòng thương xót nở hoa giữa bạo lực. Gioan dạy ta thấy nơi chính Thập Giá vinh quang và vương quyền của tình yêu. Ta cần cả bốn. Nếu chỉ đọc Gioan mà quên Máccô, ta có thể nói về vinh quang đến mức quên sự khủng khiếp của đau khổ. Nếu chỉ đọc Máccô mà quên Gioan, ta có thể bị bóng tối của Canvê đè nặng mà quên rằng chính ở đó chiến thắng đang xảy ra. Nếu chỉ thấy việc “ứng nghiệm” mà không thấy lòng thương xót, ta có thể biến Thương Khó thành một sơ đồ thần học khô cứng. Nếu chỉ nói lòng thương xót mà quên sự nghiêm trọng của tội, ta có thể làm Thập Giá thành một câu chuyện tình cảm. Bốn Tin Mừng giữ cho nhau một sự cân bằng tuyệt vời.
Một điều khác cần được nhấn mạnh: các tường thuật Thương Khó không được viết để ta tìm một nhóm người nào đó trong lịch sử rồi đổ lỗi cho họ về cái chết Đức Giêsu. Mỗi lần nghe bài Thương Khó mà chỉ tức giận Giuđa, trách Phêrô, lên án giới lãnh đạo, khinh đám đông hay ghét quân lính, ta chưa đọc đến nơi. Những nhân vật đó còn là những tấm gương soi. Giuđa hiện diện trong ta mỗi khi ta đổi tình nghĩa lấy lợi lộc. Phêrô hiện diện trong ta mỗi khi ta mạnh miệng lúc bình yên nhưng im tiếng khi đức tin phải trả giá. Philatô hiện diện trong ta mỗi khi biết điều đúng mà vẫn nhượng bộ đám đông để giữ chiếc ghế, giữ an toàn hay giữ hình ảnh. Đám đông hiện diện trong ta mỗi khi hôm nay tung hô một người, ngày mai vì một tin đồn đã quay sang kết án. Các môn đệ ngủ trong ta mỗi khi người thân đang đau mà ta quá bận với chính mình để nhận ra. Người lính chế giễu hiện diện trong ta mỗi khi ta lấy nỗi yếu đuối của người khác làm trò cười. Người trộm dữ hiện diện trong ta khi chỉ muốn Chúa cứu mình khỏi hậu quả mà không muốn đổi lòng. Người trộm lành hiện diện khi ta biết mình chẳng còn gì để khoe nhưng vẫn nói: “Lạy Chúa, xin nhớ đến con.” Simon Kyrênê hiện diện khi ta miễn cưỡng vác một gánh nặng rồi từ từ khám phá rằng mình đang được đi gần Chúa. Đức Maria hiện diện nơi những ai không thể tháo đinh cho người mình yêu, chỉ còn biết đứng bên cạnh mà không bỏ đi. Người môn đệ Chúa yêu hiện diện nơi những ai đủ can đảm ở lại khi những người khác đã chạy trốn.
Câu chuyện Phêrô đặc biệt đáng để mỗi Kitô hữu suy gẫm. Ông từng nói: “Dầu mọi người có vấp ngã đi nữa, con cũng không.” Đó là câu nói của một người yêu Chúa nhưng chưa biết mình. Ông tưởng lòng nhiệt thành của mình đủ sức bảo đảm trung thành. Đêm ấy ông khám phá ra mình yếu đến đâu. Một câu hỏi của người đầy tớ gái cũng đủ khiến ông chối Thầy. Ba năm đi với Chúa, thấy người chết sống lại, thấy biển yên sóng lặng, nghe bài giảng trên núi, chứng kiến bánh hóa nhiều… vậy mà vẫn có thể nói: “Tôi không biết người ấy.” Đừng ai quá tự tin về đức tin của mình. Có khi ta chưa phản bội chỉ vì chưa bị thử đúng chỗ. Có khi ta tưởng mình khiêm nhường chỉ vì chưa bị xúc phạm. Tưởng mình thanh thoát chỉ vì chưa đứng trước món lợi đủ lớn. Tưởng mình trung tín chỉ vì chưa có một cơ hội hấp dẫn để bước ra ngoài giao ước. Cuộc Thương Khó lột bỏ mọi ảo tưởng ấy. Nhưng điều tuyệt đẹp là Phêrô không bị định nghĩa mãi bởi đêm chối Thầy. Sau Phục Sinh, bên bờ hồ, Chúa ba lần hỏi ông: “Con có yêu mến Thầy không?” Ba lần chối được chữa bằng ba lần tuyên xưng tình yêu. Chúa không xóa lịch sử, nhưng biến vết thương thành nơi của ân sủng. Phêrô sau khi ngã không còn là người tự tin nói “dù mọi người bỏ Thầy, con không bỏ”. Ông trở thành người hiểu mình cần ơn Chúa từng ngày. Và chính con người đã từng sợ một cô đầy tớ sau này có thể đứng trước quyền lực mà tuyên xưng Đức Kitô đến chết. Ân sủng không tìm những người chưa từng yếu. Ân sủng làm người yếu trở thành chứng nhân.
Philatô cũng là một nhân vật làm ta lạnh người vì ông rất hiện đại. Ông không hoàn toàn không biết sự thật. Ông biết Đức Giêsu không đáng chết. Ông nhiều lần tìm cách thả Người. Nhưng cuối cùng ông trao Người để bị đóng đinh. Tại sao? Vì sự thật va chạm với quyền lợi. Đám đông nói: “Nếu ông thả người này, ông không phải là bạn của Xêda.” Đến đó, cán cân nghiêng. Philatô có thể rửa tay, nhưng nước không rửa được trách nhiệm của một lương tâm biết điều đúng mà không dám làm. Có những người không trực tiếp làm ác, nhưng vì sợ mất lòng, sợ mất chức, sợ bị cô lập mà trao người vô tội cho đám đông. Có những cái ác lớn lên không chỉ nhờ người ác, mà còn nhờ sự im lặng của người biết điều đúng. Cuộc Thương Khó hỏi mỗi chúng ta: trong những tình huống phải chọn giữa sự thật và lợi ích, ta đứng ở đâu? Ta có bao lần “rửa tay” rồi tự bảo rằng việc ấy không liên quan đến mình?
Còn đám đông, họ cũng là một bí ẩn đau đớn. Chỉ ít ngày trước có tiếng “Hoan hô Con vua Đavít”; giờ lại vang “Đóng đinh nó vào thập giá!” Đám đông luôn dễ thay đổi. Người sống bằng tiếng vỗ tay của đám đông sẽ chết vì tiếng la ó của đám đông. Chúa Giêsu không xây căn tính mình trên dư luận. Người biết mình là Con của Cha. Vì thế Người có thể bước qua cả tiếng tung hô lẫn tiếng nguyền rủa. Đây là một bài học rất cần trong thời đại mạng xã hội. Hôm nay người ta có thể đưa một người lên mây; ngày mai cũng chính đám đông ấy có thể kéo người đó xuống đất. Một lời cắt khỏi ngữ cảnh, một đoạn phim vài giây, một tin chưa kiểm chứng đủ làm cả đám đông lập tòa án. Canvê nhắc ta cẩn thận trước tâm lý bầy đàn. Có khi ta tưởng mình chỉ đang “chia sẻ”, nhưng mỗi lần chia một lời vu khống ta đang góp một tiếng vào câu “đóng đinh nó”. Có khi ta tưởng mình chỉ bình luận vui, nhưng câu chữ của ta trở thành một chiếc gai trên đầu ai đó.
Simon thành Kyrênê là một nhân vật ít lời nhưng rất đẹp. Ông đi ngang qua, có lẽ chẳng dự định dính dáng gì đến câu chuyện. Người ta bắt ông vác Thập Giá đỡ Đức Giêsu. Có những thập giá trong đời cũng đến như thế. Ta không chọn bệnh tật. Không chọn tai nạn. Không chọn người thân qua đời. Không chọn một đứa con làm mình đau lòng. Không chọn một biến cố phá tan kế hoạch. Ta bị “bắt” vác một điều mình không muốn. Simon ban đầu có thể đã rất bực. Nhưng ông được đặt vào một đặc ân mà các vua chúa phải mơ ước: đi sau Đức Giêsu, mang cùng một cây Thập Giá, bước trên con đường cứu độ. Một thập giá tự nó không thánh. Nhưng thập giá được mang với Chúa có thể trở thành con đường nên thánh. Điều đáng sợ không phải ta có thập giá, vì ai rồi cũng có. Điều đáng sợ là vác thập giá mà không có Chúa, rồi để đau khổ làm trái tim mình cay độc.
Đức Maria dưới chân Thập Giá lại nói với ta một thứ ngôn ngữ khác: ngôn ngữ của sự hiện diện. Mẹ không giảng một bài. Mẹ không làm phép lạ. Mẹ không thể tháo đinh. Mẹ không thể đổi phán quyết. Mẹ chỉ đứng đó. Nhưng có những lúc “đứng đó” đã là tình yêu lớn nhất. Khi một người hấp hối, đôi khi ta không cần nói điều gì thông thái. Khi ai đó mất con, đừng vội đưa một bài thần học về ý Chúa. Khi người bạn tan vỡ, có khi họ không cần lời giải thích mà cần một người không bỏ đi. Đức Maria đứng dưới chân Thập Giá dạy Hội Thánh mục vụ bằng sự hiện diện. “Stabat Mater” – Mẹ đứng. Đau đến tan tim mà vẫn đứng. Không chạy trốn. Không buông bỏ. Có những người trên thế giới hôm nay đang bị đóng trên những thập giá riêng của họ. Có khi ta không kéo họ xuống được, nhưng ta có thể đứng gần.
Một trong những nét đẹp nhất khi đọc bốn cuộc Thương Khó là nhận ra Đức Giêsu không ngừng trao ban ngay cả lúc dường như Người bị lấy mất tất cả. Họ lấy tự do của Người, Người tự trao chính mình. Họ lột áo Người, Người trao thân mình. Họ đóng tay Người, Người vẫn tha thứ. Họ nâng Người lên thập giá, Người kéo nhân loại lên với mình. Họ mở cạnh sườn Người, máu và nước chảy ra. Con người tưởng đang lấy đi, nhưng Đức Giêsu biến mọi thứ thành trao ban. Đây chính là logic của Thánh Thể: “Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” Thương Khó không thể tách khỏi Bữa Tiệc Ly. Bữa Tiệc Ly giải thích Thập Giá, và Thập Giá làm cho lời Bữa Tiệc Ly thành hiện thực. Thập Giá là một Thánh Lễ được cử hành bằng chính thân thể Con Thiên Chúa. Bàn thờ là cây gỗ. Lễ vật là chính Người. Vị tư tế cũng chính Người. Và tình yêu là lửa thiêu lễ vật.
Vì thế, người Kitô hữu mỗi lần dự Thánh Lễ không đi dự một nghi thức xa lạ với Canvê. Hy tế duy nhất của Đức Kitô được hiện tại hóa cách bí tích. Ta không đóng đinh Chúa lại lần nữa. Nhưng ta được đặt cách nhiệm mầu trước cùng một tình yêu đã trao mình “cho anh em”. Nếu hiểu điều ấy, người ta khó có thể dự lễ cách hời hợt. Khi linh mục nâng Mình Thánh và nói “Này là Mình Thầy”, phía sau tấm bánh nhỏ ấy là cả vườn Ghếtsêmani, là Giuđa và nụ hôn, là Phêrô và tiếng gà, là Philatô và chậu nước, là vòng gai, là đường lên Canvê, là những chiếc đinh, là cạnh sườn bị đâm, là lời “Ta khát”, là lời “đã hoàn tất”. Bí tích Thánh Thể là tình yêu Thập Giá ở lại với Hội Thánh cho đến tận thế.
Các tường thuật Thương Khó còn trả lời một câu hỏi rất sâu: Thiên Chúa ở đâu khi con người đau khổ? Kitô giáo không trả lời rằng Thiên Chúa đứng thật xa trên trời nhìn xuống. Thiên Chúa ở trên cây Thập Giá. Người không miễn cho Con mình mọi đau đớn của phận người. Người đi vào đau khổ. Điều đó không giải thích mọi bí ẩn của sự dữ theo cách lý trí muốn, nhưng nó thay đổi hoàn toàn cách ta ở trong đau khổ. Từ Canvê trở đi, một bệnh nhân không bao giờ đau một mình. Một người bị phản bội có thể nhìn Chúa bị Giuđa hôn. Một người bị bạn bè bỏ có thể nhìn các môn đệ chạy trốn. Một người bị kết án oan có thể nhìn Chúa trước Philatô. Một người bị nhục mạ có thể nhìn vòng gai. Một người mất hết danh dự có thể nhìn Đức Giêsu bị lột áo. Một người cảm thấy Chúa im lặng có thể nghe “sao Ngài bỏ rơi con?” Một người sắp chết có thể nói với Chúa: “Con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Không phải vì thế mà đau khổ hết đau, nhưng đau khổ không còn là căn phòng khóa kín. Đức Kitô đã mở một cánh cửa trong đó.
Và Thương Khó không kết thúc trong mồ. Đây là điều phải nói thật rõ. Nếu câu chuyện kết thúc chiều Thứ Sáu, Kitô giáo chỉ là tôn giáo tưởng niệm một người tử đạo cao cả. Nhưng bình minh ngày thứ nhất trong tuần đã thay đổi tất cả. Người bị đóng đinh đã sống lại. Những vết thương vẫn còn, nhưng không còn chảy máu; chúng trở thành dấu chỉ chiến thắng. Phục Sinh không xóa Thập Giá, nhưng biến ý nghĩa Thập Giá. Vì thế Hội Thánh không thờ một cây Thập Giá của tuyệt vọng mà tôn kính Thánh Giá của Đấng Phục Sinh. Điều này rất quan trọng cho đời sống thiêng liêng. Chúa không hứa ta sẽ không có Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng Người hứa Thứ Sáu không phải ngày cuối. Có những ngôi mộ ta chưa thấy mở. Có những đêm ta chưa thấy sáng. Có những câu hỏi chưa được trả lời. Nhưng người Kitô hữu sống bằng xác tín rằng câu cuối cùng thuộc về Thiên Chúa, và câu cuối ấy là sự sống.
Bốn sách Tin Mừng vì thế không chỉ cho ta bốn bản tường thuật lịch sử. Các ngài mời ta bước vào Thương Khó bằng bốn con đường. Với Mátthêu, hãy nhận ra Thiên Chúa vẫn trung thành với lời hứa ngay cả khi lịch sử dường như đổ vỡ. Với Máccô, hãy dám ở lại với Đức Giêsu trong những giờ không hiểu gì, khi tất cả dấu hiệu hữu hình của chiến thắng biến mất. Với Luca, hãy để lòng thương xót của Đấng chịu đóng đinh chữa căn bệnh trả đũa trong tim mình. Với Gioan, hãy nhìn xuyên qua nhục nhã để nhận ra vinh quang của tình yêu tự hiến. Và sau cùng, cả bốn cùng hỏi: còn bạn, bạn đứng ở đâu trước Thập Giá?
Có thể ta đứng với đám đông. Có thể ta là Phêrô. Có khi là Philatô. Có lúc là Simon. Có lúc là người trộm lành. Có những ngày ta chỉ đủ sức đứng bên Đức Maria mà khóc. Nhưng Tin Mừng không cho ta đứng mãi ngoài câu chuyện. Người bị đóng đinh nhìn xuống từng chúng ta. Không phải để kết án, nhưng để kéo ta vào tình yêu Người. “Khi nào Tôi được giương cao lên khỏi mặt đất, Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi.” Thập Giá có một sức hút kỳ lạ. Nó không hấp dẫn vì đau khổ, nhưng vì trên đó có một tình yêu không bỏ chạy. Bao người đã quỳ trước Thập Giá trong giờ đen tối nhất rồi đứng dậy được. Bao tội nhân đã nhìn lên Đấng chịu đóng đinh và bắt đầu lại. Bao linh mục, tu sĩ, cha mẹ, người bệnh, người bị bỏ rơi đã tìm được sức mạnh nơi năm dấu thánh. Không phải vì cây Thập Giá cất gánh nặng khỏi vai họ, nhưng vì nó bảo đảm rằng gánh nặng của họ không vô nghĩa nếu được kết hợp với Đức Kitô.
Có một đoạn Tin Mừng đủ để gom lại rất nhiều điều ấy. Trên Canvê, giữa hai tử tội, một người quay sang Đức Giêsu và chỉ nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Chỉ thế. Không có thành tích. Không có lời biện hộ. Không còn cơ hội làm lại cuộc đời. Nhưng Đức Giêsu đáp: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Hãy giữ câu ấy cho đời mình. Có ngày ta có thể đến trước Chúa với hai bàn tay trắng. Có ngày nhìn lại quá khứ chỉ thấy điều đáng tiếc. Có lúc không còn gì để khoe ngoài một trái tim tan nát. Khi ấy đừng chạy khỏi Thập Giá. Hãy nhìn lên và nói: “Giêsu ơi, xin nhớ đến con.” Đấng đã nhớ đến người trộm trên cây thập giá sẽ không quên ta. Người đã cầu xin tha thứ cho kẻ đóng đinh mình sẽ không xua đuổi người biết trở về. Người đã trao Mẹ cho môn đệ sẽ không bỏ ta mồ côi. Người đã nói “Ta khát” vẫn đang khát một tiếng đáp lại của lòng ta. Người đã nói “Đã hoàn tất” đã làm trọn điều cần thiết để mở con đường về nhà Cha.
Có lẽ điều cuối cùng mà các trình thuật Thương Khó muốn thay đổi không phải kiến thức của ta về những giờ cuối đời Đức Giêsu mà là chính cách ta sống. Đọc Thương Khó rồi mà vẫn dễ dàng phản bội người khác, ta chưa thật sự đọc. Đọc cảnh Phêrô rồi mà vẫn tự phụ, ta chưa hiểu. Đọc Philatô rồi mà vẫn im lặng trước bất công chỉ để giữ an toàn, ta chưa để Tin Mừng đi vào mình. Nghe Chúa nói “xin tha cho họ” mà vẫn nuôi hận thù nhiều năm, ta còn đứng rất xa Canvê. Nghe “Ta khát” mà lòng vẫn lạnh trước người nghèo, người cô độc, người đang cần một bàn tay, ta chưa cho Chúa uống. Nhìn Mẹ đứng dưới chân Thập Giá mà dễ bỏ người khác khi họ trở thành gánh nặng, ta chưa học được cách ở lại. Nghe người trộm lành mà tuyệt vọng về bất cứ tội nhân nào, kể cả chính mình, ta chưa hiểu lòng thương xót.
Và nếu một ngày nào đó chính ta bước vào cuộc thương khó của đời mình, xin đừng quên bốn khuôn mặt Đức Giêsu mà bốn Tin Mừng đã trao cho Hội Thánh. Khi mọi lời hứa dường như tan vỡ, hãy nhớ Đức Giêsu của Mátthêu: Thiên Chúa vẫn đang hoàn tất chương trình của Người theo cách ta chưa thấy. Khi cô độc đến mức tưởng chẳng còn ai, hãy nhớ Đức Giêsu của Máccô đã đi xuống sâu hơn nơi cô độc ấy. Khi bị tổn thương và cám dỗ trả thù, hãy nhớ Đức Giêsu của Luca: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Khi bị hạ xuống tận đáy và tưởng cuộc đời chẳng còn giá trị, hãy nhớ Đức Giêsu của Gioan: chính giờ tưởng như nhục nhã nhất lại có thể trở thành giờ tôn vinh nếu ta yêu cho đến cùng. Đó là điều kỳ diệu của Thập Giá: Thiên Chúa không luôn thay đổi hoàn cảnh ngay lập tức, nhưng Người có thể biến chính nơi thất bại thành nơi cứu độ, biến vết thương thành cửa ngõ, biến nước mắt thành lời cầu, biến cái chết thành đường vào sự sống.
Chiều Canvê ngày ấy rồi cũng im. Đám đông lần lượt trở về. Những người lính hoàn thành nhiệm vụ. Ba cây thập giá đứng lại dưới bầu trời. Một thân xác được hạ xuống, quấn khăn và đặt vào mộ. Tảng đá được lăn vào cửa. Trong mắt con người, câu chuyện có vẻ đã đóng lại. Nhưng Thiên Chúa chưa viết xong. Và đó cũng là niềm hy vọng cho tất cả chúng ta. Đừng bao giờ đặt dấu chấm hết ở nơi Thiên Chúa chỉ đặt một dấu phẩy. Đừng gọi một cuộc đời là thất bại chỉ vì đang ở Thứ Sáu Tuần Thánh. Đừng tuyệt vọng về một người chỉ vì họ đang ở dưới đáy. Đừng tuyệt vọng về chính mình chỉ vì ta đã ngã. Con đường từ Canvê đến ngôi mộ trống chỉ cách nhau một khoảng thời gian rất ngắn, nhưng trong khoảng ấy toàn thể nhân loại tưởng mọi hy vọng đã chết. Thiên Chúa làm việc cả trong sự im lặng của ngày Thứ Bảy.
Vì thế, đọc các tường thuật Thương Khó không phải để chọn xem Tin Mừng nào hay hơn. Mỗi Tin Mừng trao ta một chìa khóa, và phải dùng cả bốn mới mở rộng được cánh cửa mầu nhiệm. Mátthêu nói: đây là Đấng đã được các ngôn sứ loan báo, chương trình cứu độ đang được hoàn tất. Máccô nói: hãy nhìn Người bị bỏ rơi và nhận ra chính nơi ấy Người là Con Thiên Chúa. Luca nói: hãy đến gần, vì từ Thập Giá này lòng thương xót đang chảy xuống cho tội nhân. Gioan nói: hãy ngước lên, Vua của anh đang ngự trên ngai của tình yêu và giờ tôn vinh đã đến. Bốn giọng nói, một Tin Mừng. Bốn góc nhìn, một Thập Giá. Bốn chứng nhân, một Đấng Cứu Độ. Và tất cả cuối cùng đều đưa ta đến một lời tuyên xưng mà không ai có thể nói thay ta: “Lạy Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh, con tin Chúa đã yêu con và hiến mình vì con.”
Ước gì mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, ta đừng chỉ thấy một tượng chịu nạn quen thuộc đã treo trên tường nhiều năm. Hãy thấy ở đó Giuđa để biết mình có thể phản bội; Phêrô để biết mình có thể ngã và được dựng dậy; Philatô để biết sự hèn nhát có thể giết người; Simon để biết thập giá bất ngờ có thể thành con đường ân sủng; người trộm lành để biết phút cuối vẫn có cửa về; Đức Maria để học đứng lại trong đau khổ; người môn đệ yêu dấu để học đón nhận Mẹ; viên đại đội trưởng để biết đôi khi chính dưới bóng Thập Giá mắt ta mới mở ra. Nhưng trên tất cả, hãy thấy Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, Đấng không cứu mình để cứu chúng ta, Đấng không xuống khỏi Thập Giá vì muốn xuống tận vực sâu của đời ta, Đấng không đáp trả hận thù bằng hận thù, Đấng biến một dụng cụ hành hình thành cây sự sống. Và rồi hãy nghe Người nói từ Thập Giá với chính mình, không phải với đám đông chung chung: “Ta khát con. Ta đã yêu con đến cùng. Con có để Ta kéo con lên với Ta không?”
Nếu một ngày cuối cùng của đời ta đến, khi mọi danh vọng đã ở lại phía sau, tài khoản không đi theo, bằng cấp không còn ý nghĩa, lời khen chê đều im, và ta đứng trước cánh cửa đời đời với đôi tay trống, có lẽ ta cũng chẳng cần một lời cầu thật dài. Chỉ cần học người trộm lành: “Lạy Giêsu, xin nhớ đến con.” Và niềm hy vọng của người Kitô hữu là Đấng từng trả lời trên Canvê vẫn là Đấng ấy hôm nay, ngày mai và mãi mãi: “Con sẽ ở với Ta.” Đó là điểm đến cuối cùng của tất cả các trình thuật Thương Khó. Không phải đau khổ vì đau khổ. Không phải cái chết vì cái chết. Nhưng là “ở với Người”. Thập Giá là chiếc cầu đưa kẻ lạc trở về. Thương Khó là con đường Tình Yêu mở xuyên qua sự chết. Và phía sau ngọn đồi đầy máu ấy đã ló rạng ánh sáng của một buổi sáng không bao giờ tắt.
Lm. Anmai, CSsR

TÔI CHỈ MUỐN BIẾT ĐỨC GIÊSU KITÔ, VÀ LÀ ĐẤNG BỊ ĐÓNG ĐINH
“Tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô, mà là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá” (1 Cr 2,2). Có lẽ trong tất cả những lời Thánh Phaolô để lại cho Hội Thánh, đây là một trong những câu ngắn nhất nhưng cũng là một trong những câu nặng nhất. Nặng không phải vì khó hiểu, nhưng vì muốn sống được câu ấy, người ta phải để cho cả đời mình đi qua một cuộc thanh luyện rất dài. Phaolô không nói rằng ngài không biết gì khác. Ngài là người có học, am tường Kinh Thánh, từng được đào tạo dưới chân Gamaliel, hiểu luật Môsê, hiểu truyền thống cha ông, biết tranh luận, biết suy luận, biết dùng ngôn ngữ của người Do Thái và cả thế giới Hy Lạp. Ngài đã đi qua nhiều thành phố lớn, đã gặp đủ hạng người, đã đối diện với triết gia, nhà cầm quyền, dân ngoại, người Do Thái, người trí thức lẫn người bình dân. Vậy mà sau tất cả những gì đã biết, đã thấy, đã nếm trải, Phaolô nói một câu nghe gần như nghịch lý: “Tôi chỉ muốn biết Đức Giêsu Kitô, và là Đấng bị đóng đinh.” Nghĩa là cuối cùng, giữa một biển điều có thể biết, Phaolô tìm thấy một điều đáng để biết hơn tất cả: Đức Kitô chịu đóng đinh. Giữa hàng ngàn tiếng nói, ngài chọn lắng nghe tiếng của Đấng hấp hối trên Thánh Giá. Giữa bao nhiêu thứ khôn ngoan, ngài chọn sự “điên rồ” của Thập Giá. Giữa bao nhiêu con đường để đi tới vinh quang, ngài chọn con đường của một Đấng đã bị lột trần, bị chế nhạo, bị đóng đinh ngoài thành và chết như một người thất bại. Chính ở đó, Phaolô khám phá điều thế gian không thể tự mình khám phá: có một thứ thất bại lại là chiến thắng, có một sự yếu đuối lại là sức mạnh, có một cái chết lại mở cửa cho sự sống, và có một con người bị đóng đinh lại chính là dung nhan của Thiên Chúa đang yêu nhân loại đến tận cùng.
Muốn hiểu câu nói ấy của Phaolô, cần nhớ Phaolô đã từng là một con người rất mạnh. Ông mạnh trong xác tín, mạnh trong lý luận, mạnh trong ý chí, mạnh đến mức có thể nhân danh lòng nhiệt thành mà truy bắt những người theo Đức Giêsu. Ông từng tưởng mình biết Thiên Chúa. Ông từng tưởng mình đang bảo vệ Thiên Chúa. Ông từng tưởng rằng sự công chính của mình nằm trong những gì mình làm được cho Thiên Chúa. Nhưng trên đường Đamát, tất cả những gì ông tưởng là ánh sáng bỗng trở thành bóng tối, và chính khi mắt ông không còn nhìn thấy, lòng ông mới bắt đầu nhìn thấy. “Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” Câu hỏi ấy đã phá vỡ thế giới cũ của Phaolô. Từ đó ông phải học lại tất cả. Học lại Thiên Chúa là ai. Học lại sự công chính là gì. Học lại sức mạnh là gì. Học lại chiến thắng là gì. Học lại thế nào là yêu. Và trên hết, ông học lại rằng Thiên Chúa không cứu nhân loại bằng cách đứng xa đau khổ của họ, nhưng bằng cách bước vào chính đau khổ ấy; không cứu bằng quyền lực áp đảo, nhưng bằng tình yêu tự hiến; không đứng trên cao mà truyền lệnh, nhưng hạ mình xuống tận đáy kiếp người. Con đường từ Đamát cho đến cuối đời Phaolô chính là con đường ngài ngày càng đi sâu vào mầu nhiệm ấy, cho tới khi ngài có thể nói rằng tất cả mọi sự khác, nếu so với Đức Kitô, đều trở thành thứ yếu. “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi” (Pl 3,8). Và Đức Kitô mà Phaolô muốn biết không phải một Đức Kitô được tô son bằng thành công của thế gian, không phải một Đức Kitô chỉ làm phép lạ, chữa bệnh, hóa bánh, được đám đông tung hô; nhưng là Đức Kitô chịu đóng đinh. Bởi vì chính trên Thánh Giá, tất cả những gì Đức Giêsu đã nói và đã sống đạt tới điểm cuối cùng, nơi không còn lời nào có thể thay thế cho hành động yêu đến chết.
Người ta có thể biết rất nhiều về Đức Giêsu mà vẫn chưa thực sự biết Đức Giêsu. Có thể đọc nhiều sách thần học, thuộc nhiều câu Kinh Thánh, biết nhiều tín điều, hiểu nhiều lịch sử Hội Thánh, có thể nói rất hay về đời sống thiêng liêng, mà vẫn đứng rất xa Thánh Giá. Bởi vì biết Đức Kitô theo nghĩa của Phaolô không chỉ là biết bằng trí óc; đó là để cuộc đời mình bị Đức Kitô chạm vào, đảo lộn, thay đổi và dẫn đi. Biết Đấng chịu đóng đinh là để Thánh Giá chất vấn cách mình yêu, cách mình tha thứ, cách mình chịu thiệt, cách mình nhìn người làm mình đau, cách mình đón nhận những ngày không thành công, cách mình đối diện với bệnh tật, tuổi già, thất vọng và cái chết. Người thật sự biết Đức Kitô chịu đóng đinh sẽ không còn dễ dàng định nghĩa một đời người bằng thành tích, chức vụ, tiền bạc, danh tiếng hay số người tung hô nữa, vì trên Golgotha, Đấng cứu độ thế giới chẳng có gì trong tay. Áo của Người cũng bị người ta chia nhau. Bạn hữu bỏ chạy. Đám đông từng tung hô nay im tiếng hoặc quay sang chế giễu. Người không xuống khỏi Thập Giá để chứng minh mình là Con Thiên Chúa. Người không gọi đạo binh thiên thần đến tiêu diệt kẻ thù. Người chết với đôi tay bị đóng đinh, hoàn toàn bất lực theo cái nhìn của thế gian. Nhưng chính trong sự bất lực đó, một quyền năng lớn hơn mọi quyền lực đã xuất hiện: quyền năng không trả thù, quyền năng tha thứ; quyền năng không tiêu diệt kẻ thù, quyền năng biến kẻ thù thành người có thể được yêu; quyền năng không giữ mạng sống cho mình, quyền năng trao mạng sống cho người khác. Thế gian biết thứ quyền lực khiến người khác phải quỳ xuống. Thánh Giá cho thấy thứ quyền năng của Đấng tự mình cúi xuống để nâng người khác đứng lên.
Tin Mừng cho chúng ta một khung cảnh không thể nào quên. Trên đồi Sọ, người ta đóng Đức Giêsu giữa hai tên gian phi. Những người qua đường lắc đầu chế giễu Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi!” Các thượng tế cũng nói: “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình.” Theo logic của thế gian, đó là một lời thách thức hợp lý: nếu thật sự có quyền năng, hãy xuống đi; nếu thật sự là Con Thiên Chúa, hãy chứng minh đi; nếu thật sự có Cha ở cùng, hãy thoát khỏi đau khổ đi. Nhưng Đức Giêsu không xuống. Và chính vì Người không xuống nên chúng ta mới được cứu. Nếu Người xuống khỏi Thập Giá, có thể Người chứng minh được sức mạnh, nhưng sẽ không mặc khải được tình yêu đến cùng. Nếu Người cứu mình, chúng ta không được cứu. Người ở lại trên Thập Giá không phải vì những chiếc đinh mạnh hơn Người, mà vì tình yêu mạnh hơn bản năng tự cứu lấy mình. Giữa tiếng nhạo cười, Người vẫn thưa: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Một tên gian phi quay sang Người và nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Đức Giêsu trả lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Và dưới chân Thập Giá, khi nhìn thấy Mẹ mình và người môn đệ Người thương mến, Người nói: “Thưa Bà, đây là con của Bà”, rồi nói với môn đệ: “Đây là Mẹ của anh” (Ga 19,26-27). Đang hấp hối mà Người vẫn nghĩ đến người khác. Đang đau đớn mà Người vẫn tha thứ. Đang bị tước đoạt mà Người vẫn trao ban. Đang chết mà Người vẫn mở cửa Thiên Đàng cho một người tội lỗi. Đó là Đức Kitô mà Phaolô muốn biết. Không phải một lý thuyết về tình yêu, nhưng là Tình Yêu đang bị đóng đinh.
Có một chi tiết trong cuộc Thương Khó khiến người môn đệ của Thánh Giá phải suy nghĩ rất lâu: người ta nói với Đức Giêsu rằng “hãy cứu lấy mình”. Cám dỗ ấy đã xuất hiện từ đầu sứ vụ của Người. Trong hoang địa, ma quỷ nói: nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy biến đá thành bánh; hãy gieo mình xuống; hãy nắm lấy quyền lực. Đến cuối đời, cùng một cám dỗ trở lại: hãy xuống khỏi Thập Giá. Nói một cách khác: hãy dùng quyền năng cho chính mình, hãy đặt mình ở trung tâm, hãy chứng minh mình. Nhưng cả đời Đức Giêsu là một đời đi ngược lại tiếng gọi ấy. Người không sống để cứu lấy mình nhưng để trao chính mình. Và đây có lẽ là một trong những điểm đau nhất khi chúng ta nhìn vào Thánh Giá, bởi vì bản năng sâu xa của chúng ta thường là cứu lấy mình trước. Chúng ta bảo vệ danh dự mình, lợi ích mình, quan điểm mình, chỗ đứng mình, cái tôi mình. Có khi chỉ vì muốn chứng minh mình đúng mà chúng ta làm một người khác bị tổn thương. Có khi chỉ vì không muốn mất mặt mà một gia đình không thể hòa giải. Có khi chỉ vì không chịu thiệt một câu mà tình bạn đổ vỡ. Có khi trong cộng đoàn, người ta có thể nói rất nhiều về hy sinh nhưng không ai muốn mình phải hy sinh trước. Có khi chúng ta cúi mình trước Thánh Giá nhưng lại không chịu cúi mình trước một con người đã làm mình buồn. Và như thế, Thánh Giá vẫn treo trên tường nhưng chưa thực sự được dựng lên trong lòng.
“Tôi chỉ muốn biết Đức Giêsu Kitô, và là Đấng bị đóng đinh.” Càng đọc câu ấy, ta càng nhận ra Phaolô đang nói đến một chọn lựa sống còn. Bởi người Kitô hữu có thể bị cám dỗ tìm một Kitô giáo không có Thánh Giá: một đời sống đạo chỉ mong được bình an, thành công, khỏe mạnh, thuận lợi; một Thiên Chúa chỉ được tìm đến để giải quyết khó khăn; một lời cầu nguyện chỉ được đánh giá là hiệu nghiệm khi điều mình xin được thực hiện; một đức tin trong đó Chúa phải làm theo kế hoạch của mình. Nhưng Đức Giêsu chưa bao giờ hứa với môn đệ một con đường không có Thánh Giá. Người nói rất rõ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). Người không nói: ai theo Thầy sẽ không đau khổ. Người nói: hãy vác thập giá mà theo. Sự khác biệt nằm ở chữ “theo”. Đau khổ tự nó không cứu ai. Thập giá tự nó không phải Tin Mừng. Điều biến thập giá thành con đường cứu độ là có Đức Kitô đi trước và ta đi theo Người. Có những người đau khổ rồi trở nên cay đắng. Có người bị tổn thương rồi làm tổn thương người khác. Có người chịu bất công rồi biến mình thành tù nhân của hận thù. Nhưng cũng có người đi qua đau khổ mà trở nên nhân hậu hơn, vì họ đã để cho Đức Kitô ở với mình trong đau khổ ấy. Thánh Giá Kitô giáo không phải là tôn thờ đau khổ; đó là tuyên xưng rằng tình yêu có thể đi xuyên qua đau khổ mà không bị đau khổ tiêu diệt.
Đây cũng là điều cần nói thật rõ: vác thập giá không có nghĩa là cam chịu sự dữ một cách mù quáng. Không ai được dùng Thánh Giá để bảo một người phải im lặng trước bạo lực, phải ở yên trong một hoàn cảnh bị lạm dụng, phải chấp nhận bất công mà không được tìm sự thật và công lý. Đức Giêsu chịu Thánh Giá vì yêu, không phải vì sự dữ là tốt. Người tha thứ nhưng Người không gọi điều ác là điều thiện. Người im lặng trước Hêrôđê nhưng Người cũng nói thẳng với những kẻ giả hình. Người hiến mạng sống tự do chứ không cổ võ cho việc con người áp bức nhau. Thánh Giá không thần thánh hóa đau khổ; Thánh Giá cho thấy Thiên Chúa đứng về phía những người đau khổ và đi vào nơi con người bị nghiền nát để cứu họ. Vì thế, người yêu Thánh Giá phải là người chống lại điều làm người khác bị đóng đinh. Không thể hôn kính Thánh Giá vào Thứ Sáu Tuần Thánh mà ngày thứ bảy lại đóng đinh anh em bằng lời nói. Không thể quỳ lâu trước tượng Chúa chịu nạn mà sống vô cảm trước người nghèo, người bị bỏ rơi, người bị hiểu lầm. Không thể nói mình yêu Đấng chịu đóng đinh mà lại thích đóng đinh người khác trên những chiếc thập giá của phán xét, đồn đoán, vu khống và loại trừ.
Ở Côrintô, Phaolô đứng trước một cộng đoàn bị cuốn hút bởi tài hùng biện, sự khôn ngoan và uy tín con người. Côrintô là một thành phố năng động, phức tạp, nơi nhiều dòng tư tưởng gặp nhau. Người ta thích những diễn giả nói hay. Người ta dễ bị chinh phục bởi lời lẽ sắc bén. Trong chính cộng đoàn Kitô hữu cũng nảy sinh chia rẽ: người thì nói “tôi thuộc về Phaolô”, người khác “tôi thuộc về Apôlô”, người khác nữa “tôi thuộc về Kêpha”. Phaolô nhìn thấy một nguy cơ rất lớn: Đức Kitô có thể bị che khuất ngay trong một cộng đoàn mang danh Đức Kitô. Người ta có thể tranh luận về những người rao giảng mà quên Đấng được rao giảng. Người ta có thể tôn người này, hạ người kia, lập phe nhóm, so sánh, cạnh tranh, rồi cuối cùng Thánh Giá trở thành một biểu tượng trang trí. Vì thế ngài kéo tất cả trở về trung tâm: Đức Kitô chịu đóng đinh. Không phải Phaolô. Không phải Apôlô. Không phải Kêpha. Đức Kitô. Và là Đức Kitô bị đóng đinh. Bởi vì trước Thánh Giá, mọi kiêu căng của con người phải im tiếng. Trước Thánh Giá, chẳng ai có quyền tự hào mình lớn hơn người khác. Máu Đức Kitô đổ ra cho tất cả. Nếu đã cùng được cứu bởi một Đấng chịu đóng đinh, làm sao chúng ta có thể lấy mình làm thước đo để loại trừ anh em?
Thánh Giá luôn phá đổ ảo tưởng của cái tôi. Cái tôi thích được nhìn thấy; Đức Giêsu chọn ẩn mình. Cái tôi muốn được tôn trọng; Đức Giêsu chịu nhạo báng. Cái tôi muốn thắng; Đức Giêsu chấp nhận bị coi là thua. Cái tôi muốn người khác xin lỗi trước; Đức Giêsu cầu xin Cha tha thứ cho những người chưa hề xin lỗi Người. Cái tôi muốn được đáp trả; Đức Giêsu yêu ngay cả khi tình yêu không được đáp lại. Cái tôi tính toán “tôi đã làm cho anh bao nhiêu”; Đức Giêsu trao ban mà không lập sổ. Cái tôi hỏi “tại sao luôn là tôi phải chịu?”; Đức Giêsu bước vào cuộc Thương Khó và không biến đau khổ của mình thành lý do để ngừng yêu. Chính vì thế Thánh Giá khó. Không khó vì hình dạng hai thanh gỗ, nhưng khó vì nó đụng tới nơi sâu nhất trong ta, nơi ta muốn giữ lại chính mình. Đóng một cây thánh giá lên tường rất dễ. Để Thánh Giá đóng đinh tính kiêu ngạo, ích kỷ, hận thù và nhu cầu phải luôn luôn thắng trong lòng mình mới thật khó.
Phaolô đã hiểu điều đó bằng chính thân xác mình. Sau Đamát, đời ngài không phải là một chuỗi thành công theo nghĩa thông thường. Ngài bị đánh đòn, bị ném đá, bị tù, bị chống đối, bị hiểu lầm, bị chính những cộng đoàn mình phục vụ làm đau. Ngài kể rằng nhiều lần phải đối diện với hiểm nguy trên sông, hiểm nguy vì trộm cướp, hiểm nguy vì đồng bào, hiểm nguy vì dân ngoại, hiểm nguy trong thành, trong hoang địa, ngoài biển; phải lao nhọc, thức đêm, chịu đói khát. Và cuối cùng, ngài thú nhận một điều rất con người: ngài mang một “cái dằm” trong thân xác, đã ba lần xin Chúa lấy nó đi, nhưng Chúa nói: “Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cr 12,9). Đây là một cuộc hoán cải còn sâu hơn Đamát. Con người vốn quen mạnh phải học đón nhận sự yếu đuối. Con người vốn quen làm phải học để Chúa làm. Con người vốn muốn chiến thắng phải học rằng có những chiến thắng chỉ đến khi mình không còn khả năng tự cứu mình. Và Phaolô đi tới câu lạ lùng: “Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh.” Không phải ngài yêu sự yếu đuối, nhưng ngài đã khám phá rằng nơi mình không đủ, Đức Kitô có thể trở thành đủ.
Đời chúng ta cũng có những “cái dằm” mà cầu nguyện mãi vẫn không được lấy đi. Có một căn bệnh cứ còn đó. Có một người thân không thay đổi. Có một vết thương cũ thỉnh thoảng lại nhói lên. Có một thất bại không thể quay ngược thời gian. Có một ước mơ đã đóng cửa. Có một người mình đã cầu nguyện rất nhiều mà họ vẫn ra đi. Có một lời oan mà không thể giải thích. Có những cha mẹ đau vì con cái. Có những người con đau vì gia đình. Có những người phục vụ rất nhiều nhưng nhận lại sự hiểu lầm. Có những linh mục đã hiến cả tuổi trẻ cho đoàn chiên rồi một ngày cảm thấy mình cô đơn giữa chính những người mình phục vụ. Có những tu sĩ âm thầm chiến đấu với sự khô khan kéo dài mà không ai biết. Có những người già nằm một chỗ, nhìn thế giới tiếp tục chạy trong khi đôi chân mình không còn đi được nữa. Có người nhìn người bạn đời nằm bệnh mà bất lực. Những lúc ấy, lời “Đức Kitô chịu đóng đinh” không còn là một đề tài để suy niệm đẹp; nó trở thành một chỗ để bám vào mà sống.
Có những ngày, người ta không cần một lời giải thích dài về tại sao đau khổ tồn tại. Người ta chỉ cần biết rằng trong đau khổ này mình không một mình. Và Thánh Giá nói điều đó. Thánh Giá không trả lời mọi câu hỏi theo cách trí óc mong muốn, nhưng Thánh Giá cho ta một sự hiện diện. Thiên Chúa không đứng bên ngoài mà giải thích nước mắt; Người đã khóc. Người không đứng bên ngoài mà giảng về đau đớn; Người đã bị đánh. Người không đứng bên ngoài mà nói về cô đơn; Người đã kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Người không đứng bên ngoài cái chết; Người đã chết. Vì thế, chẳng có một vực thẳm nào của con người mà Đức Kitô không từng bước xuống. Khi chúng ta rơi vào vực sâu, ta không gặp ở đó một khoảng trống hoàn toàn; ta có thể gặp dấu chân của Đấng đã xuống trước mình.
Nhưng Thánh Giá không phải điểm cuối. Nếu Phaolô chỉ biết một người bị đóng đinh và chết, Kitô giáo chỉ là tưởng niệm một bi kịch. Đấng bị đóng đinh là Đấng đã sống lại. Tuy nhiên điều rất đáng chú ý là sau Phục Sinh, những dấu đinh vẫn còn trên thân thể Đức Giêsu. Người hiện ra với các môn đệ và nói với Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy” (Ga 20,27). Chúa sống lại không xóa các vết thương như thể chúng chưa từng xảy ra. Người biến chúng thành dấu chỉ của tình yêu chiến thắng. Điều ấy thật an ủi. Thiên Chúa không hứa rằng khi chữa lành ta, Người nhất thiết xóa mọi ký ức đau buồn. Có những vết sẹo sẽ còn đó. Nhưng vết sẹo không còn chảy máu. Điều từng là bằng chứng của đau khổ có thể trở thành chứng từ rằng ân sủng đã giúp ta đi qua. Tôma nhận ra Chúa qua những vết thương. Có khi người khác cũng nhận ra Đức Kitô nơi chúng ta không phải vì đời ta chưa từng đau, nhưng vì sau tất cả những gì đã đau, ta vẫn còn biết yêu.
Người môn đệ của Đấng chịu đóng đinh không phải là người không có vết thương; họ là người không để vết thương biến mình thành kẻ gây thương tích. Đây là một dấu chỉ trưởng thành của đức tin. Chúng ta đều mang những vết thương. Có người bị cha mẹ làm tổn thương, rồi sau này họ có thể vô thức làm con mình tổn thương. Có người từng bị người khác xúc phạm, rồi trở nên cay nghiệt với tất cả. Có người từng bị phản bội, rồi không còn tin ai. Có người từng bị bỏ rơi, rồi luôn luôn sợ mất người khác và trở thành chiếm hữu. Thánh Giá không bảo chúng ta giả vờ như chưa từng đau. Thánh Giá mời ta mang điều đã đau đến với Đức Kitô để nó được cứu chuộc. “Nhờ những vết thương của Người mà anh em được chữa lành” (1 Pr 2,24). Chữa lành không phải quên hết; chữa lành là khi ký ức vẫn còn nhưng nó không còn điều khiển cách mình yêu.
“Tôi chỉ muốn biết Đức Giêsu Kitô.” Biết Người là biết cách Người nhìn con người. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu nhìn những kẻ giết mình mà vẫn gọi Thiên Chúa là Cha của họ: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người không phủ nhận tội của họ; họ thực sự đang đóng đinh Người. Nhưng Người không cho phép tội của họ quyết định tình yêu của Người. Đây là điều vô cùng khó. Chúng ta thường yêu người khác dựa trên cách họ đối xử với mình. Họ tốt, ta tốt. Họ lạnh, ta lạnh. Họ nói nặng, ta nói nặng hơn. Họ không chào, ta quay mặt. Họ không nhớ đến mình, ta xóa họ khỏi đời. Tình yêu của chúng ta nhiều khi chỉ là phản ứng. Nhưng Đức Giêsu không phản ứng; Người hành động từ căn tính của mình. Người yêu bởi vì Người là tình yêu, không phải bởi vì người kia xứng đáng. Đó là tự do của Thánh Giá. Người tự do nhất trên đồi Sọ không phải Philatô, dù ông có quyền kết án; không phải những người lính, dù họ cầm vũ khí; không phải đám đông, dù họ có tiếng nói. Người tự do nhất chính là Đức Giêsu bị đóng đinh, bởi không ai có thể buộc Người phải ngừng yêu.
Đây cũng là một câu hỏi cho mỗi người chúng ta: ai đang quyết định cách tôi sống? Nếu một lời nói của ai đó đủ làm tôi mất bình an cả tuần, người ấy đang có quyền trên tôi. Nếu một cái nhìn khinh thường đủ khiến tôi muốn trả thù, tôi chưa tự do. Nếu tôi chỉ vui khi được khen và suy sụp khi bị chê, tôi đang trao chìa khóa tâm hồn cho người khác. Đức Kitô trên Thánh Giá cho thấy tự do sâu xa nhất: người ta có thể lấy áo Người, đóng đinh chân tay Người, lấy mạng sống Người, nhưng không ai lấy được tình yêu khỏi trái tim Người. Kitô hữu trưởng thành không phải người không bị tổn thương; là người dần dần có một nội tâm mà hành vi của người khác không thể làm cho mình trở thành điều mình không muốn trở thành.
Biết Đức Kitô chịu đóng đinh cũng là học lại ý nghĩa của thành công. Thế gian thường đo thành công bằng số lượng, vị trí, ảnh hưởng, tiền bạc, tiếng tăm. Ngay cả trong đời sống tôn giáo, chúng ta không hoàn toàn miễn nhiễm với lối suy nghĩ ấy. Một công việc đông người thì thấy vui; ít người thì buồn. Được khen thì nhiệt tình; không được ghi nhận thì nản. Một bài nói được nhiều người nghe thì nghĩ mình thành công; nói với vài người thì thấy chẳng đáng. Nhưng thử đứng trước Thánh Giá. Khi Đức Giêsu chết, nếu đo bằng những tiêu chuẩn thông thường, sứ vụ của Người có vẻ thất bại. Mười hai người thân cận thì một người bán, một người chối, phần lớn bỏ chạy. Người bị xử tử như tội phạm. Không có một tổ chức hùng mạnh nào đứng bên cạnh. Nhưng chính giờ phút tưởng như thất bại ấy Người nói: “Thế là đã hoàn tất.” Không phải thất bại, mà hoàn tất. Bởi tiêu chuẩn của Cha không phải là bao nhiêu người vỗ tay, mà là Người đã yêu đến cùng hay chưa.
Có khi câu hỏi quan trọng nhất cuối một ngày không phải “hôm nay tôi làm được bao nhiêu việc?” nhưng “hôm nay tôi đã yêu thế nào?” Có khi một bà mẹ suốt ngày chăm một đứa con bệnh, chẳng tạo ra điều gì khiến xã hội biết đến, nhưng trước mắt Thiên Chúa đó là một ngày rất lớn. Có khi một người âm thầm chăm cha mẹ già, chẳng ai trao bằng khen, nhưng họ đang đứng rất gần Thánh Giá. Có khi một linh mục dâng lễ cho một cộng đoàn nhỏ, giảng mà chẳng ai khen, đi xức dầu cho một bệnh nhân lúc đêm khuya, ngồi nghe một người đau khổ kể đi kể lại câu chuyện của họ; đó có thể là những giờ phút đẹp hơn trước mặt Chúa so với những điều gây tiếng vang. Có khi một tu sĩ trung thành với một bổn phận nhỏ trong nhà mà chẳng ai thấy đang sống Tin Mừng hơn một người nói về Tin Mừng rất hay. Thánh Giá dạy chúng ta rằng giá trị lớn nhất thường ẩn bên trong sự trao ban mà chẳng ai vỗ tay.
Một trong những bi kịch của con người hôm nay là luôn phải chứng minh mình. Phải chứng minh mình hạnh phúc, mình thành công, mình được yêu, mình đáng nể. Mạng xã hội càng làm cơn khát ấy lớn hơn. Một món ăn cũng phải chụp; một chuyến đi cũng phải cho người khác biết; một thành tựu cũng cần được công nhận. Không phải mọi việc chia sẻ đều sai, nhưng nếu không cẩn thận, chúng ta dần sống dưới ánh mắt của người khác. Và khi không được nhìn thấy, ta cảm thấy mình vô nghĩa. Thánh Giá là nơi Đức Giêsu giải thoát chúng ta khỏi nhu cầu ấy. Người đã sống giờ phút quan trọng nhất của lịch sử cứu độ trong sự nhục nhã trước mắt thế gian. Thiên Chúa Cha nhìn thấy. Thế là đủ. Người môn đệ Thánh Giá cũng phải học câu ấy: Chúa thấy. Có những việc tốt không ai biết, Chúa thấy. Có những nước mắt mình nuốt vào để khỏi làm ai đau, Chúa thấy. Có những lần mình muốn trả lời một câu cay độc nhưng đã im lặng vì yêu, Chúa thấy. Có những hy sinh chẳng ai cảm ơn, Chúa thấy. Nếu thật sự tin Chúa thấy, ta bớt phải sống để người khác thấy.
Thánh Giá cũng nói rất nhiều về sự tha thứ. Tha thứ là một trong những chữ dễ nói trong nhà thờ nhưng rất khó sống ngoài đời. Khi vết thương còn mới, lời “hãy tha thứ” đôi khi nghe rất đau. Tha thứ Kitô giáo không phải là nói chuyện xảy ra không quan trọng. Không phải là phủ nhận công lý. Không nhất thiết là quay lại một mối tương quan đã trở nên nguy hiểm. Tha thứ trước hết là từ chối để sự dữ của người kia tiếp tục sinh thêm sự dữ trong lòng mình. Đức Giêsu tha thứ trên Thánh Giá không phải vì những chiếc đinh không đau. Người tha thứ ngay giữa đau đớn. Tha thứ không làm quá khứ khác đi, nhưng có thể làm tương lai khác đi. Khi tôi không tha thứ, người làm tôi đau có thể đã đi khỏi đời tôi từ lâu mà họ vẫn sống trong tâm trí tôi. Tôi mang họ đi ngủ, thức dậy với họ, tranh cãi với họ trong đầu. Tha thứ là đưa chìa khóa tâm hồn trở về tay mình và trao lại cho Chúa quyền xét xử cuối cùng.
Nhìn Đấng chịu đóng đinh, ta còn thấy một Thiên Chúa rất khác với những hình ảnh sai lệch mà đôi khi con người dựng lên. Có người sợ Thiên Chúa như sợ một quan tòa chỉ chờ mình sai để phạt. Có người nghĩ phải làm thật nhiều để mua lấy tình yêu của Người. Nhưng trên Thánh Giá, Thiên Chúa không đòi ta chết cho Người trước; Người chết cho ta trước. “Đức Kitô đã chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” (Rm 5,8). Người không chờ chúng ta trở nên tốt rồi mới yêu. Chính vì được yêu mà ta có khả năng trở nên khác. Đây là nền tảng của đời Kitô hữu. Không phải: hãy trở nên hoàn hảo để Chúa yêu con. Nhưng: con đã được yêu bằng một tình yêu đến chết; hãy để tình yêu ấy làm con nên mới.
Có những người sống đạo rất vất vả bởi họ luôn cảm thấy mình chưa đủ. Cầu nguyện chưa đủ. Hy sinh chưa đủ. Làm việc chưa đủ. Và sâu trong lòng, họ không thực sự tin mình được yêu nhưng chỉ tin mình phải cố gắng để xứng đáng được yêu. Đứng trước Thánh Giá, hãy nghe một điều: giá trị của con đã được nói bằng máu của Đức Kitô. Nếu muốn biết mình đáng giá bao nhiêu trước mặt Thiên Chúa, đừng nhìn số tiền trong tài khoản, đừng nhìn bằng cấp, đừng nhìn sắc đẹp, sức khỏe hay thành công; hãy nhìn Đấng chịu đóng đinh. Người đã không tiếc mạng sống vì con. Đó không phải lý do để sống dễ dãi, mà là lý do để không tuyệt vọng về chính mình.
Phaolô từng là người bách hại Hội Thánh. Nếu có ai có lý do để bị quá khứ đè bẹp thì đó là ngài. Ngài không quên chuyện mình đã làm. Ngài gọi mình là kẻ từng bắt bớ Hội Thánh. Nhưng ngài không để lỗi lầm cũ có tiếng nói cuối cùng. “Nhờ ơn Thiên Chúa, tôi là tôi” (1 Cr 15,10). Đây là hoa trái của Thánh Giá. Thập Giá nói rằng tội rất nghiêm trọng, nghiêm trọng đến mức Con Thiên Chúa phải chết; nhưng đồng thời Thập Giá cũng nói lòng thương xót lớn hơn tội. Không có quá khứ nào quá xa đến mức Máu Đức Kitô không thể chạm đến, nếu con người mở lòng đón nhận. Người trộm lành chẳng có thời gian để sửa chữa cả một đời trước đó. Anh chỉ có vài giờ trên thập giá. Anh quay sang Đức Giêsu bằng một lời cầu nghèo nàn: “Xin nhớ đến tôi.” Và anh nhận được một lời lớn hơn tất cả những gì dám mơ: “Hôm nay anh sẽ ở với tôi trên Thiên Đàng.” Đó là Tin Mừng. Không phải rằng tội không quan trọng, nhưng rằng lòng thương xót không bao giờ mệt mỏi cứu một người biết quay về.
Có khi chúng ta cần học lời cầu nguyện của người trộm ấy. Không phải lúc nào cầu nguyện cũng cần nhiều chữ. Có những ngày chẳng còn sức đọc một kinh dài. “Lạy Chúa, xin nhớ đến con.” Thế là đủ. Có những lúc tâm hồn chỉ còn nói được: “Lạy Chúa, xin cứu con.” Như Phêrô chìm trong sóng. Có lúc chỉ có thể thưa: “Lạy Chúa, con tin, nhưng xin nâng đỡ lòng tin yếu kém của con.” Có khi người ta nghĩ phải cầu nguyện cho thật sốt sắng mới được Chúa nghe. Thánh Giá nói ngược lại: chính khi chẳng còn gì để mang đến, hãy mang sự nghèo nàn của mình. Người trộm lành không có công trạng nào để trình bày. Anh chỉ có một trái tim quay lại. Và thế là đủ để lòng thương xót mở cửa.
“Tôi chỉ muốn biết Đức Giêsu Kitô, và là Đấng bị đóng đinh.” Biết Người như vậy cuối cùng sẽ làm thay đổi cả cách ta nhìn Hội Thánh. Hội Thánh không phải cộng đoàn của những người hoàn hảo đứng nhìn thế giới tội lỗi. Hội Thánh là cộng đoàn của những người được cứu bởi Đấng chịu đóng đinh. Không ai bước vào nhà thờ vì mình không cần lòng thương xót; ta bước vào vì cần lòng thương xót. Bàn thờ ở trung tâm, Thánh Giá ở trung tâm, không phải để trang trí nhưng để nhắc mọi người rằng chẳng ai có gì để tự hào trước mặt Thiên Chúa. Linh mục cần Thánh Giá. Tu sĩ cần Thánh Giá. Giám mục cần Thánh Giá. Giáo dân cần Thánh Giá. Người đạo đức lâu năm cũng cần Thánh Giá như người mới trở về. Nếu quên điều ấy, Hội Thánh dễ biến thành nơi người ta xét đoán nhau thay vì nâng nhau lên.
Đặc biệt đối với người có trách nhiệm phục vụ trong Hội Thánh, câu của Phaolô là một lời cảnh tỉnh rất mạnh. “Tôi chỉ muốn biết Đức Giêsu Kitô.” Không phải làm cho người ta biết tôi. Không phải xây dựng một hình ảnh về tôi. Không phải biến sứ vụ thành sân khấu của bản thân. Người rao giảng Tin Mừng phải mờ đi để Đức Kitô hiện lên. Gioan Tẩy Giả nói: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Phaolô cũng sống như thế. Chúng ta có thể vô tình nói về Đức Kitô mà cuối cùng người nghe chỉ nhớ tài ăn nói của người giảng. Có thể phục vụ Hội Thánh nhưng sâu bên trong lại rất cần được công nhận. Thánh Giá thanh luyện tất cả. Trên đó, Đức Kitô không xây dựng thương hiệu cho mình; Người trao chính mình. Người mục tử càng gần Thánh Giá càng bớt dùng quyền để bảo vệ mình và càng biết dùng quyền để bảo vệ người yếu. Càng gần Thánh Giá càng bớt tìm danh dự, càng biết cúi xuống. Càng gần Thánh Giá càng ít nhu cầu chiến thắng trong mọi tranh luận, bởi biết rằng có những lúc tình yêu quan trọng hơn việc chứng minh mình đúng.
Đức Kitô chịu đóng đinh cũng là lời phán xét mạnh mẽ đối với mọi thứ Kitô giáo chỉ dừng ở hình thức. Có thể mang một cây Thánh Giá đẹp trên cổ nhưng sống hoàn toàn theo logic của quyền lực. Có thể trang trí Thánh Giá thật lớn trong nhà nhưng không chịu tha thứ. Có thể làm dấu Thánh Giá nhiều lần trong ngày mà bàn tay ấy vẫn làm tổn thương người khác, miệng ấy vẫn nói những lời giết người, lòng ấy vẫn nuôi hận. Làm dấu Thánh Giá thực ra là một lời tuyên xưng rất lớn: nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. Mỗi lần đưa tay từ trán xuống ngực rồi sang hai vai, ta vẽ trên thân thể dấu của Đấng đã chết vì yêu. Giá mà mỗi lần làm dấu, ta nhớ mình đang mang biểu tượng nào. Một người làm dấu Thánh Giá rồi bước ra khỏi nhà thờ phải cố gắng trở thành một Thánh Giá sống: một con người biết nối trời với đất bằng cầu nguyện, nối người với người bằng yêu thương, dang tay ra để đón nhận hơn là khép lại để loại trừ.
Có những thập giá trong đời không do mình chọn. Bệnh tật, mất mát, tuổi già, giới hạn, những biến cố không thể thay đổi. Nhưng cũng có những thập giá phát sinh từ việc yêu. Cha mẹ thức đêm vì con là thập giá của tình yêu. Người chồng kiên nhẫn chăm vợ bệnh là thập giá của tình yêu. Một người con thay đổi kế hoạch riêng để chăm cha mẹ già là thập giá của tình yêu. Người phục vụ cộng đoàn chịu mệt mà không than trách là thập giá của tình yêu. Người tha thứ khi có đủ lý do để trả đũa đang vác một thập giá của tình yêu. Và chính những thập giá ấy làm ta giống Đức Kitô. Không phải cứ đau là thánh; nhưng đau vì đã chọn yêu có thể trở thành nơi đời ta sinh hoa trái.
Trong Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu dùng một hình ảnh rất đẹp trước giờ Thương Khó: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Hạt lúa phải mất hình dạng cũ để sự sống ẩn bên trong được giải phóng. Con người cũng vậy. Có những thứ trong ta phải chết để ta thật sự sống: lòng tự ái phải chết một chút để gia đình có bình an; tính cố chấp phải chết một chút để cuộc đối thoại được cứu; nhu cầu được khen phải chết một chút để việc phục vụ trở nên trong sáng; thói quen kiểm soát người khác phải chết một chút để tình yêu có chỗ thở; sự ích kỷ phải chết một chút để người bên cạnh được sống. Thánh Giá không chỉ là một biến cố xảy ra với Đức Giêsu hai ngàn năm trước; nó phải trở thành một quy luật của tình yêu trong đời chúng ta: điều gì không biết trao đi cuối cùng sẽ khô cứng, điều gì dám trao đi trong yêu thương sẽ sinh hoa trái.
Ngày nay người ta nói rất nhiều về việc “tìm chính mình”. Điều ấy có phần đúng, vì con người cần hiểu mình. Nhưng Tin Mừng đưa ta đến một nghịch lý sâu hơn: muốn tìm được mình, có lúc phải biết mất mình. Đức Giêsu nói: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được” (Mt 16,25). Người mẹ dường như “mất” nhiều tự do khi sinh con nhưng có thể tìm được một chiều sâu của tình yêu mà trước đó chưa biết. Người chọn sống trung thành có vẻ “mất” nhiều lựa chọn nhưng tìm được sự tự do của một trái tim đã biết mình thuộc về ai. Người tha thứ tưởng như mất quyền trả thù nhưng tìm lại bình an. Người phục vụ người khác mất thời gian nhưng tìm được ý nghĩa. Đây là logic của Thánh Giá: cái nắm chặt sẽ mất, cái trao đi trong yêu thương sẽ còn.
Đời người càng về sau càng hiểu Thánh Giá theo một cách khác. Khi còn trẻ, nhiều người nghĩ Thánh Giá là những biến cố lớn. Nhưng sống lâu mới thấy những thập giá thật sự đôi khi rất nhỏ và lặp lại mỗi ngày. Đó là chịu đựng một tính nết khó của người sống chung. Là giữ lời khi chẳng còn ai kiểm tra. Là làm việc bổn phận khi không có cảm hứng. Là im một câu thay vì đáp trả. Là xin lỗi trước. Là kiên nhẫn với một người già nói đi nói lại một câu chuyện. Là chấp nhận cơ thể mình không còn khỏe như xưa. Là từ bỏ việc phải kiểm soát con cái khi chúng đã trưởng thành. Là học chấp nhận mình không còn quan trọng như trước. Những chiếc đinh của đời thường nhỏ nhưng đóng lâu thì đau. Và chính ở đó, Đấng chịu đóng đinh dạy ta yêu.
Đối với người lớn tuổi, Thánh Giá còn có một bài học đặc biệt: học buông. Một đời ta gom góp, xây dựng, làm việc, quản lý. Rồi tuổi tác từ từ lấy khỏi tay ta từng thứ. Sức khỏe giảm, trí nhớ giảm, khả năng làm việc giảm. Con cái có đời riêng. Những người quen lần lượt ra đi. Cái chết cuối cùng là lần buông lớn nhất. Thánh Giá là trường học của sự buông ấy. Đức Giêsu cuối cùng nói: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Từ “phó thác” có lẽ là từ cuối cùng người Kitô hữu phải học. Một ngày nào đó tay mình không còn nắm được gì. Nhưng nếu cả đời đã tập đặt cuộc đời trong tay Cha, cái chết không còn hoàn toàn là rơi vào bóng tối; nó là rơi vào một bàn tay.
Và đối với những người trẻ, Thánh Giá nói rằng một đời đáng sống không phải là đời tránh được mọi hy sinh. Văn hóa hôm nay dễ khiến người ta tin rằng hạnh phúc đồng nghĩa với thuận tiện. Điều gì khó thì bỏ. Mối quan hệ nào đòi kiên nhẫn thì đổi. Bổn phận nào làm mình mệt thì tìm cách tránh. Nhưng không có tình yêu trưởng thành nào mà không có hy sinh. Một cuộc hôn nhân không thể bền nếu hai người chỉ ở lại khi mọi thứ dễ chịu. Một ơn gọi không thể đi xa nếu người ta chỉ trung thành khi có cảm xúc. Một tình bạn thật không thể tồn tại nếu không có lúc phải chịu thiệt cho nhau. Thánh Giá không phá hủy niềm vui; nó cứu niềm vui khỏi sự nông cạn. Niềm vui sâu nhất thường nằm bên kia một sự trung thành đã phải trả giá.
Phaolô nói rằng lời rao giảng về Thập Giá là sự điên rồ đối với những người đang trên đà hư mất nhưng đối với những người được cứu độ, đó là sức mạnh của Thiên Chúa. Hai ngàn năm trôi qua, Thánh Giá vẫn “điên rồ”. Một thế giới nói “hãy trả đũa” thì Đức Giêsu nói “hãy tha thứ”. Thế giới nói “hãy tích lũy” thì Người nói “hãy cho đi”. Thế giới nói “hãy đặt mình lên trên” thì Người quỳ xuống rửa chân. Thế giới nói “hãy cứu mình trước” thì Người trao mạng sống. Thế giới nói “hãy làm cho kẻ khác sợ mình” thì Người làm cho người tội lỗi dám đến gần. Quả thật, Tin Mừng không phải chỉ là một phiên bản đạo đức hơn của lối sống thế gian; đó là một cuộc đảo ngược.
Có lẽ vì vậy mà Thánh Giá vừa an ủi vừa gây khó chịu. Nó an ủi người đau khổ nhưng làm bất an người tự mãn. Nó nâng người tội lỗi biết sám hối nhưng hạ người tự cho mình công chính. Nó nói với người thất bại rằng đời họ vẫn có giá trị nhưng nói với người thành công rằng thành công không phải cứu độ. Nó nói với người nghèo rằng Thiên Chúa không bỏ họ, nhưng nói với người giàu rằng của cải phải được biến thành sự chia sẻ. Nó nói với nạn nhân rằng Thiên Chúa đứng bên họ nhưng nói với kẻ gây đau khổ rằng họ phải hoán cải. Không ai có thể đứng lâu trước Thánh Giá mà không bị chất vấn.
Vào Thứ Sáu Tuần Thánh, Hội Thánh mời tín hữu tiến lên hôn kính Thánh Giá. Động tác ấy rất đẹp, nhưng cũng rất nguy hiểm nếu ta làm mà không hiểu. Ta hôn gì? Ta hôn một khúc gỗ ư? Không. Ta hôn tình yêu đã cứu mình. Nhưng khi môi ta chạm vào Thánh Giá, dường như Thánh Giá cũng hỏi lại: con có sẵn lòng yêu như Đấng này đã yêu không? Con có chịu tha thứ không? Con có chịu hy sinh không? Con có chịu ngừng đóng đinh người khác không? Con có chịu để cái tôi của mình chết đi không? Nếu không, nụ hôn ấy có nguy cơ dừng ở cảm xúc.
Có một lời cầu có thể phát sinh từ câu nói của Phaolô: Lạy Chúa, xin cho con biết Chúa, không chỉ biết về Chúa. Xin cho con biết Chúa trong Tin Mừng, nhưng cũng nhận ra Chúa khi Chúa đến dưới hình dạng một con người làm con khó chịu. Xin cho con biết Chúa trong Thánh Thể, nhưng cũng nhận ra Chúa trong người nghèo. Xin cho con biết Chúa khi đời bình an, nhưng đặc biệt xin cho con nhận ra Chúa trong những ngày con chẳng hiểu điều gì đang xảy ra. Xin đừng chỉ cất thập giá khỏi đời con; xin ở cùng con khi con phải vác. Xin đừng để đau khổ làm lòng con cứng lại. Xin để những gì con chịu trở thành một khoảng trống cho tình yêu lớn hơn đi qua.
“Tôi chỉ muốn biết Đức Giêsu Kitô, và là Đấng bị đóng đinh.” Cuối cùng, đó không phải một câu của người bi quan. Ngược lại, đó là câu của một người đã tìm thấy niềm hy vọng mà không gì có thể lấy mất. Nếu Đức Kitô đã đi qua cái chết và sống lại, thì không có đêm nào là tuyệt đối. Nếu một ngôi mộ đã từng mở ra từ bên trong, thì mọi ngôi mộ đều không còn là tiếng nói cuối cùng. Nếu Thánh Giá đã trở thành cây sự sống, thì ngay cả những điều tưởng như vô nghĩa trong đời ta cũng có thể được ân sủng biến đổi. Người Kitô hữu không hy vọng vì tin mình sẽ tránh hết khổ đau; họ hy vọng vì biết rằng chẳng đau khổ nào có quyền nói lời cuối cùng sau khi Đức Kitô đã sống lại.
Có những lúc ta sẽ đứng dưới chân Thánh Giá như Đức Maria. Mẹ không thể tháo đinh. Mẹ không thể dừng cuộc hành hình. Mẹ chỉ có thể ở đó. “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Chỉ một chữ “đứng” thôi đã nói rất nhiều. Không chạy. Không hiểu hết nhưng vẫn ở lại. Có những hoàn cảnh trong đời chúng ta chẳng làm được gì ngoài việc ở lại. Ở bên một người bệnh. Ở bên một người đang tang chế. Ở bên một người con khủng hoảng. Chúng ta không có lời giải, nhưng có thể có mặt. Đừng coi thường sự hiện diện ấy. Dưới chân Thánh Giá, Đức Maria không giảng gì, không làm phép lạ gì; Mẹ chỉ đứng đó. Nhưng chính sự hiện diện trung thành ấy là một thứ ngôn ngữ mà tình yêu hiểu.
Có lẽ đến một lúc nào đó, đời sống đức tin không còn cần quá nhiều điều mới lạ. Ta trở lại những điều rất đơn giản: một Thánh Giá, một trang Tin Mừng, một Thánh Lễ, một lời cầu nhỏ. Càng đi xa trong đời thiêng liêng, người ta càng nhận ra Thiên Chúa không phức tạp như mình tưởng. Chúng ta phức tạp. Chúa đơn giản: Người yêu. Người yêu đến cùng. Mọi thần học cuối cùng phải đưa ta tới đó. Mọi bài giảng nếu không đưa người nghe gần hơn với tình yêu ấy thì vẫn còn thiếu. Mọi việc đạo đức nếu không làm ta hiền hơn, nhân hậu hơn, biết tha thứ hơn, biết cúi xuống hơn thì cần được xét lại. Thánh Giá là thước đo.
Một ngày kia, mọi điều chúng ta từng tranh cãi sẽ nhỏ đi. Những chức danh sẽ được bỏ lại. Những thành tựu sẽ thuộc về quá khứ. Những căn nhà sẽ có chủ khác. Những tài khoản sẽ chẳng đi theo mình. Người ta có thể quên tên ta. Khi đứng trước Thiên Chúa, có lẽ câu hỏi không phải “con đã nổi tiếng bao nhiêu?” nhưng “con đã yêu bao nhiêu?” Không phải “bao nhiêu người phục vụ con?” mà “con đã phục vụ ai?” Không phải “con đã thắng bao nhiêu cuộc tranh luận?” mà “con đã cứu được bao nhiêu tương quan khỏi đổ vỡ vì con biết khiêm nhường?” Không phải “con đã mang Thánh Giá đẹp đến đâu?” mà “đời con đã mang hình dáng Thánh Giá đến mức nào?”
Phaolô đã dành cả đời để học một bài học ấy. Từ một người đầy tự tin, ngài trở thành người nói: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Đây mới là điểm cuối của việc “biết Đức Kitô”. Không phải tôi có thêm kiến thức về Người, nhưng Người dần dần sống trong tôi. Tay tôi biết nâng người khác như tay Người. Mắt tôi biết nhìn người tội lỗi bằng ánh mắt của Người. Miệng tôi biết nói lời tha thứ như Người. Trái tim tôi dần biết đau với nỗi đau của người khác. Những chọn lựa của tôi mang hình dáng Tin Mừng. Và khi ấy, Thánh Giá không còn ở trước mặt tôi như một vật để chiêm ngắm; nó bắt đầu được viết vào đời tôi.
Điều đáng sợ không phải là cuộc đời có Thánh Giá. Điều đáng sợ hơn là vác rất nhiều thập giá mà không để chúng làm mình giống Chúa hơn. Có người chịu đau nhiều nhưng càng ngày càng cay. Có người gặp thử thách nhiều nhưng càng ngày càng đóng cửa. Điều chúng ta xin không nhất thiết là một đời không đau, mà là đừng để một giọt nước mắt nào trở nên vô ích. Xin Chúa dùng ngay cả điều khó hiểu nhất để mở lòng ta rộng hơn. Một người từng cô đơn có thể trở thành người tinh tế với người cô đơn. Người từng thất bại có thể dịu dàng với người thất bại. Người từng được tha thứ nhiều có thể học tha thứ nhiều. Khi đó vết thương bắt đầu sinh hoa.
Và rồi có những lúc chỉ còn một câu để nhìn Thánh Giá và thưa: “Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, xin nhớ đến con.” Không cần mạnh mẽ. Không cần chứng minh. Không cần làm ra vẻ mình ổn. Người trên Thánh Giá hiểu tất cả. Ngài biết đau là gì. Ngài biết bị phản bội là gì. Ngài biết cô đơn là gì. Ngài biết bị hiểu lầm là gì. Ngài biết cái chết là gì. Hãy để mình được yếu trước mặt Người. Có thể trước mặt thiên hạ ta phải mạnh, nhưng trước Thánh Giá ta không cần diễn. Hãy khóc nếu cần. Hãy nói thật. Hãy đặt vết thương mình cạnh những vết đinh của Người.
Và hãy nghe trong thinh lặng một Tin Mừng: con không bị bỏ rơi. Có một Đấng đã đi vào tận nơi con đang đau. Có một Đấng đã mang những gì con không mang nổi. Có một Đấng vẫn yêu con ngay khi chính con chán ghét mình. Có một Đấng đã mở đôi tay trên Thánh Giá và đôi tay ấy chưa bao giờ khép lại trước người trở về.
“Tôi chỉ muốn biết Đức Giêsu Kitô, và là Đấng bị đóng đinh.” Ước gì câu ấy không chỉ là câu của Phaolô nhưng dần trở thành câu của mỗi chúng ta. Khi còn trẻ, ta có thể muốn biết rất nhiều điều. Khi thành đạt, ta có thể muốn sở hữu rất nhiều điều. Khi bị tổn thương, ta có thể muốn đòi lại rất nhiều điều. Nhưng càng đi gần cuối đường, ước gì lòng ta trở nên đơn sơ hơn: chỉ cần biết Đức Kitô, chỉ cần thuộc về Người, chỉ cần học yêu như Người.
Và nếu một ngày người khác nhìn vào đời ta mà không nhớ hết những gì ta đã làm, nhưng họ nhớ rằng khi ở gần ta họ được nâng lên, được tha thứ, được tôn trọng, được yêu thương; nếu người yếu không sợ đến gần ta, người tội lỗi không cảm thấy bị kết án, người đau khổ tìm thấy một chỗ để tựa; nếu bàn tay ta đã từng lau một giọt nước mắt, lời nói ta đã từng cứu một người khỏi tuyệt vọng, sự im lặng của ta đã từng ngăn một cuộc chia rẽ, sự khiêm nhường của ta đã từng cứu một gia đình; thì có lẽ lúc ấy, dù chẳng ai nói, Đức Kitô chịu đóng đinh đã bắt đầu hiện hình nơi cuộc đời ta.
Trên đồi Golgotha chiều năm ấy, người ta tưởng một câu chuyện đã kết thúc. Một tảng đá lăn trước cửa mồ. Các môn đệ trở về với đôi vai nặng trĩu. Nhưng sáng ngày thứ nhất trong tuần, ngôi mộ trống. Thiên Chúa đã viết tiếp câu chuyện nơi con người đặt dấu chấm hết. Đó cũng là niềm hy vọng của chúng ta. Đừng quá vội đặt dấu chấm hết cho một con người. Đừng đặt dấu chấm hết cho một gia đình. Đừng đặt dấu chấm hết cho một người con đang lạc đường. Đừng đặt dấu chấm hết cho chính mình sau một thất bại. Thiên Chúa chuyên viết tiếp sau những dấu chấm hết của con người. Thập Giá và Phục Sinh là bằng chứng.
Cho nên, nếu hôm nay đang vui, hãy nhìn Thánh Giá để niềm vui không biến thành tự mãn. Nếu hôm nay đang đau, hãy nhìn Thánh Giá để biết mình không một mình. Nếu đang thành công, hãy nhìn Thánh Giá để nhớ thành công không phải cứu độ. Nếu đang thất bại, hãy nhìn Thánh Giá để nhớ thất bại không phải tiếng nói cuối cùng. Nếu đang giận ai, hãy nhìn Thánh Giá thật lâu trước khi nói. Nếu đang tuyệt vọng về bản thân, hãy nhìn Đấng đã chết vì mình. Nếu đang sợ tương lai, hãy nhớ rằng bàn tay từng bị đóng đinh cũng là bàn tay đang nắm giữ tương lai ấy.
Sau cùng, có lẽ lời cầu nguyện đẹp nhất không phải là xin Chúa cho đời mình không còn Thánh Giá, nhưng xin Chúa đừng để mình rời khỏi Người khi Thánh Giá đến: “Lạy Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh, xin dạy con biết Chúa. Xin cho con đừng chỉ biết một Đức Giêsu của phép lạ mà không biết Đức Giêsu của Golgotha; đừng chỉ muốn theo Chúa trên núi Tabor mà bỏ Người trong vườn Ghếtsêmani; đừng chỉ tung hô Chúa ngày Chúa Nhật Lễ Lá rồi biến mất ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Xin dạy con ở lại. Khi con không hiểu, xin cho con ở lại. Khi con thất vọng, xin cho con ở lại. Khi lời cầu nguyện dường như không được trả lời, xin cho con ở lại. Khi phải yêu mà không được đáp lại, xin cho con ở lại. Khi phải tha thứ mà lòng còn đau, xin cho con ở lại. Khi sức khỏe yếu dần, xin cho con ở lại. Và đến giờ cuối cùng, khi mọi thứ trong tay con phải buông xuống, xin cho con có thể nói như Chúa: Lạy Cha, con xin phó thác đời con trong tay Cha.”
Bởi cuối cùng, chỉ có tình yêu còn lại. Và trên Thánh Giá, tình yêu ấy đã có một khuôn mặt, một thân thể, một trái tim bị đâm thâu, hai bàn tay bị đóng đinh và một tên gọi: Đức Giêsu Kitô.
Nếu suốt một đời chúng ta học được Người, yêu được Người, để Người sống trong mình, thì dù chẳng biết được bao nhiêu điều khác, đời ấy cũng đã không uổng.
“Tôi chỉ muốn biết Đức Giêsu Kitô, và là Đấng bị đóng đinh.”
Lm. Anmai, CSsR

ƯỚC GÌ TÔI CHẲNG HÃNH DIỆN VỀ ĐIỀU GÌ NGOÀI THÁNH GIÁ
“Ước gì tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài Thập Giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta!” (Gl 6,14). Có lẽ phải đi hết một đoạn đường rất dài của đời người, phải trải qua không ít thành công và thất bại, những lần được người ta tung hô và những lúc bị người ta bỏ quên, những ngày tưởng mình có tất cả và những đêm nhận ra mình chẳng giữ được gì, người ta mới hiểu được phần nào câu nói tưởng như nghịch lý ấy của Thánh Phaolô. Bởi tự nhiên ai trong chúng ta cũng muốn có một điều gì đó để hãnh diện. Người có học hãnh diện về kiến thức; người có tiền hãnh diện về của cải; người có địa vị hãnh diện về quyền lực; người có nhan sắc hãnh diện về vẻ đẹp; người thành công hãnh diện về những gì mình đã làm được; người đạo đức đôi khi cũng hãnh diện về chính lòng đạo đức của mình. Ta có thể hãnh diện về bằng cấp, nhà cửa, công việc, con cái, dòng họ, danh tiếng, tài năng, những mối quan hệ, những lời khen, những thành tích. Ngay cả trong đời sống đức tin, ta cũng có thể âm thầm xây cho mình một thứ “bảng thành tích thiêng liêng”: tôi đã cầu nguyện bao nhiêu, tôi đã làm việc bác ái bao nhiêu, tôi đã phục vụ Giáo Hội bao nhiêu năm, tôi đã hy sinh thế nào, tôi đã chịu đựng những gì. Con người rất dễ lấy cái mình có, cái mình làm được và cái người khác nghĩ về mình để dựng nên căn tính của mình. Thế nhưng Thánh Phaolô, một con người có thừa lý do để hãnh diện theo tiêu chuẩn của người đời và ngay cả theo tiêu chuẩn tôn giáo thời bấy giờ, cuối cùng lại nói một câu như thể ông đem tất cả những gì từng làm nên niềm kiêu hãnh của mình đặt xuống dưới chân một cây gỗ: “Ước gì tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài Thánh Giá Đức Giêsu Kitô.” Điều đáng kinh ngạc nằm ở chỗ Thánh Giá vào thời ấy không phải là một biểu tượng đẹp đẽ để người ta đeo trên cổ, đặt trên bàn thờ hay dựng trên tháp chuông. Thập giá là dụng cụ hành hình dành cho những kẻ bị xem là thấp hèn, là dấu hiệu của thất bại, ô nhục và bị loại trừ. Người ta không khoe một thập giá. Người ta tránh nhìn nó. Người ta không dựng thập giá giữa quảng trường để tôn kính; người ta dựng nó ngoài thành để làm cho kẻ chịu đóng đinh trở thành trò cảnh cáo cho thiên hạ. Vậy mà Phaolô lại nói: chính điều thế gian xem là nhục nhã nhất, tôi lại hãnh diện nhất; chính nơi người đời tưởng Thiên Chúa thất bại, tôi lại nhìn thấy chiến thắng; chính nơi con người tưởng mọi sự đã kết thúc, tôi lại nhận ra tất cả bắt đầu; chính nơi Đức Giêsu chẳng còn gì ngoài một thân thể trần trụi, những vết thương và hơi thở cuối cùng, tôi lại gặp được kho tàng lớn nhất là tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại.
Muốn hiểu lời của Phaolô, có lẽ phải nhìn lại chính con người ông. Phaolô không phải một người thất bại rồi tìm đến Thánh Giá để an ủi mình. Ông từng là người có lý lịch đáng tự hào. Ông thuộc dân Israel, được giáo dục nghiêm túc trong truyền thống cha ông, nhiệt thành với Lề Luật đến mức từng bách hại Hội Thánh. Ông có nhiệt huyết, có kiến thức, có ý chí, có bản lĩnh. Nếu muốn lấy thành tích tôn giáo làm vốn liếng, ông không thiếu. Nhưng trên đường Đamas, mọi điều ông từng tưởng là ánh sáng bỗng trở thành bóng tối, còn Đấng ông từng cho là kẻ đáng bị loại trừ lại hiện ra như Chúa của đời ông. Từ đó cuộc đời Phaolô bị đảo lộn tận căn. Ông phải học lại tất cả. Ông phải học rằng người ta không được cứu vì mình hoàn hảo, nhưng vì Đức Kitô đã yêu mình. Người ta không đứng vững trước Thiên Chúa bằng những bảng thành tích, nhưng nhờ ân sủng. Người ta không đi vào sự sống bằng cách tự nâng mình lên, nhưng bằng cách để cho Chúa cứu mình. Và nhất là ông phải học một điều rất khó: sức mạnh của Thiên Chúa nhiều khi xuất hiện trong hình thức mà con người gọi là yếu đuối. Chính vì vậy, càng sống, Phaolô càng không còn muốn lấy mình làm trung tâm. Ông không muốn rao giảng bản thân. Ông không muốn cộng đoàn gắn bó với tài năng hay con người của ông. Ông chỉ muốn đưa họ đến với Đức Kitô, và là Đức Kitô chịu đóng đinh. Hãnh diện về Thánh Giá, bởi vậy, không phải là yêu đau khổ vì đau khổ, cũng không phải là tìm kiếm khổ đau hay tô màu thiêng liêng cho những bất công của cuộc sống. Kitô giáo không thờ đau khổ. Kitô giáo thờ một Thiên Chúa đã bước vào đau khổ của con người và biến nó thành nơi tình yêu chiến thắng. Điều làm Thánh Giá trở nên thánh không phải vì trên đó có quá nhiều đau đớn, nhưng vì trên đó có một tình yêu lớn hơn mọi đau đớn. Điều cứu thế giới không phải là những chiếc đinh, không phải là mão gai, không phải là cây gỗ, nhưng là tình yêu của Đấng chấp nhận những chiếc đinh, mão gai và cây gỗ ấy vì con người. Nếu trên Thánh Giá chỉ có đau khổ thì Thánh Giá chẳng cứu được ai. Nhưng trên Thánh Giá có Đức Giêsu, có Con Thiên Chúa yêu thương “đến cùng”, có một tình yêu không rút lại ngay cả khi bị phản bội, một tình yêu không nguyền rủa ngay cả khi bị đóng đinh, một tình yêu vẫn gọi Thiên Chúa là Cha giữa lúc trời đất như im tiếng, một tình yêu còn đủ dịu dàng để nghĩ đến người mẹ, đủ xót thương để mở thiên đàng cho tên trộm, đủ bao dung để cầu nguyện cho những kẻ đang giết mình. Vì thế, hãnh diện về Thánh Giá thực ra là hãnh diện về một tình yêu không gì đánh bại được.
Tin Mừng cho ta một khung cảnh khiến lời của Phaolô trở nên sống động đến xé lòng. Trong cuộc Thương Khó theo Thánh Luca, khi bị đóng đinh giữa hai người gian phi, chung quanh là tiếng chế giễu, Đức Giêsu lại thưa: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Chỉ một câu ấy thôi cũng đủ cho thấy Thánh Giá khác mọi cái chết khác. Con người thường tha thứ sau khi vết thương đã lành; Đức Giêsu tha thứ khi vết thương đang được gây ra. Ta thường nói đến tha thứ khi kẻ xúc phạm đã xin lỗi; Đức Giêsu cầu xin cho những kẻ chưa hề xin lỗi Người. Ta có thể yêu người tốt với mình; Người yêu ngay cả những kẻ đang đóng đinh mình. Rồi một người gian phi bên cạnh, cả cuộc đời chẳng còn gì để khoe, chẳng còn thời gian để sửa chữa quá khứ, cũng chẳng thể xuống khỏi thập giá để làm một việc thiện bù lại những lỗi lầm, chỉ thốt lên: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Đức Giêsu đáp: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Đó chính là Tin Mừng của Thánh Giá: một con người đến cuối đời chẳng còn gì để mang đến cho Thiên Chúa ngoài một lời van xin, lại nhận được cả thiên đàng. Một kẻ không còn thành tích, không còn tương lai để lập công, không còn khả năng chứng minh mình xứng đáng, lại được cứu chỉ vì dám trao phần đời tan nát của mình vào lòng thương xót của Đức Kitô. Thánh Giá đập vỡ ảo tưởng lâu đời nhất của con người: ảo tưởng rằng tôi phải đủ tốt thì mới được Thiên Chúa yêu. Không. Tin Mừng nói ngược lại: chính vì Thiên Chúa yêu nên Người đến cứu ta khi ta chưa đủ tốt. Chính vì ta không tự cứu nổi mình nên Con Thiên Chúa mới dang tay trên Thánh Giá. Nếu con người có thể tự cứu mình bằng đạo đức, kiến thức, tiền bạc, công trạng hay ý chí, thì Calvariô là dư thừa. Nhưng bởi chẳng ai có thể tự rửa sạch tận căn những bóng tối của mình, chẳng ai có thể tự mình đánh bại tội lỗi và sự chết, nên Thánh Giá trở thành cánh cửa của ơn cứu độ.
“Hãnh diện về Thánh Giá” còn là chấp nhận để Thánh Giá xét lại cách ta đang sống. Chúng ta rất dễ yêu cây Thánh Giá bằng gỗ mà lại tránh né Thánh Giá sống động trong đời mình. Ta cúi đầu trước Thánh Giá trong nhà thờ nhưng có thể không chịu cúi mình trước một người anh em. Ta hôn kính Thánh Giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng lại khó tha thứ cho một người đã xúc phạm đến ta. Ta đeo Thánh Giá trên ngực nhưng trong lòng vẫn muốn hơn thua, vẫn giữ một cuốn sổ âm thầm ghi những món nợ người khác còn thiếu mình. Ta làm dấu Thánh Giá rất nhiều lần nhưng chưa chắc đã để cho logic của Thánh Giá bước vào những chọn lựa hằng ngày. Logic của thế gian bảo rằng ai làm tôi đau thì tôi phải làm cho họ đau lại; Thánh Giá nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Thế gian bảo rằng phải giữ lấy mình bằng mọi giá; Thánh Giá nói: “Ai mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được.” Thế gian bảo rằng phải đứng trên người khác mới là thành công; Thánh Giá cho thấy Con Thiên Chúa quỳ xuống rửa chân môn đệ và chết giữa những kẻ tử tội. Thế gian nói sức mạnh là bắt người khác làm theo ý mình; Thánh Giá nói sức mạnh lớn nhất là có thể trả thù nhưng chọn tha thứ, có thể giữ lại nhưng chọn trao ban, có thể bỏ đi nhưng chọn ở lại, có thể cứu mình nhưng chọn cứu người khác. Nếu Thánh Giá chỉ được đặt trên bàn thờ mà không bước xuống đời sống, đức tin dễ trở thành một thứ trang trí tôn giáo. Người môn đệ thật sự của Đức Kitô phải để Thánh Giá trở thành tiêu chuẩn cho cách mình yêu, cách mình nói, cách mình sử dụng quyền lực, cách mình phản ứng khi bị hiểu lầm, cách mình sống với tiền bạc, danh dự, thành công và thất bại.
Đời người có một sự thật mà sớm muộn gì ai cũng phải chạm tới: những điều ta thường hãnh diện rồi sẽ qua. Nhan sắc rồi phai. Sức khỏe rồi yếu. Trí nhớ rồi giảm. Chức vụ rồi phải trao lại. Quyền lực rồi hết. Tiền bạc rồi nằm trong tay người khác. Nhà cửa rồi sang tên. Những tràng pháo tay rồi im. Những người hôm nay nhớ tên ta, một ngày kia cũng đi qua cuộc đời này. Ngay cả các tác phẩm, công trình, danh tiếng mà ta cố gắng giữ gìn, rồi cũng có thể chìm trong lớp bụi của thời gian. Nếu căn tính của một người chỉ được dựng trên những điều sẽ mất, đến ngày những thứ đó ra đi, người ấy sẽ không biết mình là ai. Thánh Phaolô đã chọn một nền tảng khác. Ông hãnh diện về điều không mất: tình yêu của Đức Kitô chịu đóng đinh. Ông đặt đời mình trên một biến cố không lệ thuộc vào lời khen của thiên hạ. Người đời có thể khen hay chê Phaolô, ông vẫn biết một điều: Đức Kitô đã yêu ông và hiến mạng vì ông. Người ta có thể đón nhận hay loại bỏ ông, ông vẫn biết mình thuộc về Đấng đã chịu đóng đinh. Ông có thể bị đánh đòn, bị tù đày, bị chống đối, bị hiểu lầm, bị bỏ rơi, nhưng chẳng ai có thể lấy khỏi ông sự thật rằng trên đồi Golgotha, Con Thiên Chúa đã yêu thế gian đến tận cùng. Ai đặt đời mình trên sự thật ấy sẽ có một thứ tự do kỳ lạ: không còn phải chạy khắp nơi xin người khác xác nhận giá trị của mình. Tôi có thể vui khi được người ta yêu quý, nhưng không sống nhờ lời khen của họ. Tôi có thể buồn khi bị hiểu lầm, nhưng không sụp đổ vì sự phán xét của họ. Tôi cố gắng làm điều tốt không phải để được ngưỡng mộ, nhưng vì tôi đã được yêu quá nhiều. Tôi phục vụ không phải để người ta nhớ tên mình, nhưng vì Đấng chịu đóng đinh đã nhớ đến tôi.
Có những lúc Chúa cho phép cuộc đời ta bị lột bỏ từng lớp kiêu hãnh để cuối cùng chỉ còn lại Thánh Giá. Khi trẻ, ta hãnh diện về sức lực; rồi bệnh tật đến. Khi thành công, ta hãnh diện về khả năng; rồi một biến cố cho thấy ta bất lực. Khi được nhiều người chung quanh, ta tưởng mình quan trọng; rồi có lúc cô đơn, ta mới thấy nhiều tương quan mong manh đến mức nào. Khi làm được nhiều điều cho Chúa, ta có thể âm thầm nghĩ mình đang mang Giáo Hội trên vai; rồi một ngày không làm được nữa, ta mới hiểu Giáo Hội là của Chúa chứ không phải của mình. Những lần mất mát ấy đau, nhưng nếu được đón nhận trong đức tin, chúng có thể trở thành cuộc thanh luyện. Chúa không lấy đi giá trị của ta; Chúa tháo khỏi ta những chỗ dựa giả để ta nhận ra chỗ dựa thật. Đến một tuổi nào đó, người ta mới hiểu sống không phải là chất đầy bàn tay, mà là học mở bàn tay. Những gì ta nắm chặt rồi cũng phải buông. Điều đáng hỏi không phải cuối đời tôi đã giữ lại được bao nhiêu, nhưng tôi đã trao đi được bao nhiêu; không phải có bao nhiêu người biết đến tôi, nhưng tôi đã yêu bao nhiêu người; không phải tên tôi được khắc ở đâu, nhưng tên tôi có được ghi trong trái tim Thiên Chúa hay không. Và Thánh Giá bảo đảm điều ấy: ta đã được khắc vào lòng Thiên Chúa bằng chính những vết thương của Đức Kitô.
Hãnh diện về Thánh Giá còn có nghĩa là không xấu hổ vì một Thiên Chúa chịu đóng đinh. Điều này ngày nay vẫn không hề dễ. Con người vẫn thích một Thiên Chúa thành công hơn một Thiên Chúa thất bại, thích phép lạ hơn sự thinh lặng, thích vinh quang hơn hy sinh, thích Phục Sinh mà không muốn đi qua Thứ Sáu Tuần Thánh. Ta muốn Chúa giải quyết ngay vấn đề, chữa ngay căn bệnh, thay đổi ngay con người làm ta khổ, mở ngay cánh cửa bị đóng, trả lời ngay lời cầu xin. Và khi Chúa thinh lặng, ta bắt đầu hoang mang. Nhưng Thánh Giá nhắc rằng sự thinh lặng của Thiên Chúa không đồng nghĩa với sự vắng mặt của Thiên Chúa. Trên Golgotha, Thiên Chúa dường như thinh lặng nhất nhưng lại đang hành động sâu xa nhất. Khi Đức Giêsu chết, người ta tưởng mọi sự đã thất bại; chính lúc ấy công trình cứu độ được hoàn tất. Có những điều Thiên Chúa làm trong bóng tối mà mắt ta chưa nhìn thấy. Có những hạt giống phải nằm dưới lòng đất trước khi mọc lên. Có những cánh cửa chỉ mở sau khi ta đã tưởng không còn lối. Đức tin nơi Thánh Giá không nói rằng đau khổ tự nó tốt; đức tin nói rằng chẳng có đau khổ nào, khi được trao cho Thiên Chúa, nằm ngoài khả năng cứu chuộc của Người. Chúa có thể viết thẳng trên những đường cong. Người có thể dùng một vết thương để làm ta nhân hậu hơn, một thất bại để làm ta khiêm nhường hơn, một lần bị bỏ rơi để giúp ta hiểu người cô độc, một bệnh tật để dạy ta điều quý giá của từng ngày, một mất mát để mở mắt ta trước điều vĩnh cửu. Không phải vì Chúa vui khi ta đau, nhưng vì tình yêu của Người mạnh đến mức có thể đi vào tận đau khổ và không để đau khổ có tiếng nói cuối cùng.
Một trong những điều đẹp nhất của Thánh Giá là hai cánh tay Đức Giêsu được dang ra. Người chết trong tư thế như muốn ôm cả nhân loại. Không còn phân biệt người lành hay kẻ dữ, người thánh thiện hay người tội lỗi, người thành công hay người thất bại. Máu từ Thánh Giá không chảy cho một nhóm hoàn hảo. Người chết “cho chúng ta khi chúng ta còn là những người tội lỗi”. Vì thế, nếu ta thật sự hãnh diện về Thánh Giá, trái tim ta cũng phải rộng ra. Ta không thể đứng dưới một Thánh Giá ôm cả thế giới mà lại nuôi một trái tim chật hẹp. Không thể tôn thờ Đấng chết cho kẻ thù mà cứ nhất quyết không tha thứ. Không thể ca ngợi lòng thương xót mà lại thích kết án. Không thể nói mình thuộc về Đức Kitô chịu đóng đinh mà lòng đầy kiêu căng, khinh miệt, phân chia. Đời sống Kitô hữu nhiều khi không thất bại vì thiếu lời hay, nhưng vì thiếu dấu đinh. Người ta có thể không đọc Kinh Thánh, nhưng họ đọc cách ta sống. Họ nhìn cách ta cư xử khi bị xúc phạm, cách ta đối diện với người yếu thế, cách ta dùng tiền, cách ta nói về người vắng mặt, cách ta đối xử với những người chẳng thể đem lại lợi ích gì cho mình. Thánh Giá phải hiện ra ở đó. Một Kitô hữu biết nhịn một lời để giữ bình an, đó là dấu Thánh Giá. Một người dám xin lỗi khi mình sai, đó là dấu Thánh Giá. Một người chăm sóc cha mẹ già yếu dù mệt mỏi, đó là dấu Thánh Giá. Một người vợ tiếp tục yêu trong những tháng ngày gian khó, một người chồng trung tín khi chẳng ai biết, một người mẹ thức đêm bên con bệnh, một người cha âm thầm hy sinh để gia đình được bình an, một linh mục vẫn phục vụ khi không được hiểu, một tu sĩ vẫn trung thành trong những ngày khô khan, một người trẻ từ chối điều sai dù phải chịu thiệt, một người bị xúc phạm nhưng không biến trái tim mình thành nơi cư trú của hận thù: những điều ấy có thể chẳng được đăng tải, chẳng có tiếng vỗ tay, nhưng trước mặt Thiên Chúa, đó là những tia sáng từ Thánh Giá.
Có một nghịch lý khác: càng hãnh diện về Thánh Giá, người ta càng bớt hãnh diện về chính mình, nhưng lại càng nhận ra phẩm giá của mình. Bởi Thánh Giá vừa phá tan kiêu ngạo vừa chữa lành mặc cảm. Nó nói với kẻ kiêu ngạo: “Anh không thể tự cứu mình.” Nhưng nó cũng nói với người tự ti: “Anh quý giá đến mức Con Thiên Chúa đã hiến mạng vì anh.” Trước Thánh Giá, chẳng ai có quyền kiêu căng, nhưng cũng chẳng ai có lý do tuyệt vọng. Kẻ thánh thiện không được phép khinh người tội lỗi, vì nếu không có ân sủng, mình cũng chẳng đứng vững. Người tội lỗi cũng không được nghĩ rằng đời mình hết hy vọng, vì máu Đức Kitô mạnh hơn quá khứ. Thánh Giá đặt tất cả chúng ta trên cùng một nền đất: đất của lòng thương xót. Đây là điều rất cần cho đời sống Hội Thánh. Khi quên Thánh Giá, người đạo đức dễ trở thành quan tòa. Khi nhớ Thánh Giá, người đạo đức trở thành chứng nhân của lòng thương xót. Khi quên Thánh Giá, ta phân chia người tốt và người xấu rồi tự đặt mình ở phía tốt. Khi đứng trước Thánh Giá, ta hiểu tất cả đều cần được cứu. Có thể tội lỗi mỗi người khác nhau, nhưng không ai đứng trước Chúa với tư cách người tự cứu được mình. Chỉ có những người đã được thương xót. Và người đã được thương xót thì phải học thương xót.
Phaolô còn viết một câu rất sâu sau lời hãnh diện về Thánh Giá: “Nhờ Thập Giá ấy, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian” (Gl 6,14). Đây không phải là thái độ ghét thế giới hay trốn khỏi cuộc đời. “Thế gian” ở đây là hệ giá trị chống lại Tin Mừng, nơi con người đo giá trị bằng tiền, quyền, hưởng thụ, danh tiếng và thắng thua. Khi đã gặp Đức Kitô chịu đóng đinh, Phaolô không còn để những điều ấy làm ông mê hoặc như trước. Chúng vẫn tồn tại, nhưng không còn thống trị ông. Đây chính là tự do Kitô giáo. Người tự do không phải người có thể làm tất cả điều mình thích, nhưng là người không còn bị những thần tượng của thời đại điều khiển. Người khác có thể hơn tôi về tiền bạc mà tôi không ghen. Người khác có thể nổi tiếng hơn mà tôi không cay đắng. Tôi có thể bị mất một chức vụ mà vẫn biết đời mình có ý nghĩa. Tôi có thể không được ghi nhận nhưng vẫn tiếp tục làm điều đúng. Tôi không cần dẫm lên người khác để thấy mình cao. Tôi không cần phô bày mọi việc tốt để thấy mình có giá trị. Tôi không cần thiên hạ vỗ tay mới dám sống trung thành. Tất cả điều ấy chỉ có thể xảy ra khi Thánh Giá thật sự trở thành niềm hãnh diện sâu nhất, vì lúc ấy tôi không còn hỏi: “Người ta nghĩ gì về tôi?” như câu hỏi quan trọng nhất, nhưng hỏi: “Đức Kitô đã yêu tôi thế nào, và hôm nay tôi đáp lại tình yêu ấy ra sao?”
Có lẽ bi kịch lớn nhất của đời người không phải là không thành công, nhưng là thành công trong những điều cuối cùng chẳng có ý nghĩa. Có người dành cả đời leo lên một chiếc thang, đến khi lên đến đỉnh mới nhận ra chiếc thang dựa nhầm bức tường. Có người có tất cả nhưng lòng trống rỗng. Có người được bao người biết đến nhưng chẳng còn biết chính mình. Có người thắng mọi cuộc tranh luận nhưng đánh mất tình thân. Có người kiếm được nhiều tiền nhưng không còn thời gian cho người mình yêu. Có người bảo vệ hình ảnh của mình đến mức không còn sống thật. Có người giữ được thể diện nhưng mất bình an. Thánh Giá đứng giữa cuộc đời như một câu hỏi lớn: điều gì cuối cùng đáng để sống, đáng để chết, đáng để trao cả đời mình? Đức Giêsu trả lời không bằng một bài diễn văn nhưng bằng chính thân thể Người: tình yêu. Cuối cùng chỉ tình yêu còn lại. Không phải thứ tình yêu ngọt ngào chỉ tồn tại khi mọi sự thuận lợi, nhưng tình yêu mang dấu đinh, tình yêu chịu trách nhiệm, tình yêu trung tín, tình yêu biết hy sinh, tình yêu ở lại khi có lý do để bỏ đi. Chính tình yêu ấy làm cho cuộc đời có trọng lượng trước cõi đời đời.
Thánh Giá còn là nơi người đau khổ tìm thấy một người hiểu mình từ bên trong. Có những nỗi đau lời khuyên chẳng giải quyết được. Một người mất người thân không cần quá nhiều lý thuyết. Một người mắc bệnh nặng đôi khi đã mệt với những câu giải thích. Một người bị phản bội chẳng dễ được chữa bằng một câu “hãy quên đi”. Một người bị hiểu lầm sâu sắc cần hơn cả là biết có ai đó hiểu mình. Và Kitô giáo không đưa cho người đau khổ trước tiên một lời giải thích, nhưng đưa cho họ một Đấng chịu đóng đinh. Đức Giêsu biết bị phản bội là thế nào: Giuđa đã hôn Người. Người biết bị bạn bè bỏ rơi là thế nào: các môn đệ chạy trốn. Người biết bị kết án bất công là gì. Người biết thân xác đau đớn, danh dự bị chà đạp, lời cầu xin dường như không được trả lời. Người biết cảm giác cô độc đến mức phải kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Khi tôi nhìn Thánh Giá và khóc, tôi không khóc trước một Thiên Chúa đứng xa quan sát nỗi đau nhân loại. Tôi khóc trước một Thiên Chúa có vết thương. Chính vì thế tôi có thể đem đến với Người những gì chẳng nói được với ai. Tôi không cần giả vờ mạnh trước Thánh Giá. Tôi không cần che nước mắt. Tôi có thể nói rằng mình mệt, mình sợ, mình thất vọng, mình không hiểu. Thánh Giá không xấu hổ về sự yếu đuối của tôi, bởi chính Đức Kitô đã đi qua yếu đuối. Nhưng Thánh Giá cũng không để tôi nằm mãi trong tuyệt vọng. Sau Thứ Sáu Tuần Thánh là sáng Phục Sinh. Vết thương vẫn còn trên thân thể Đấng Phục Sinh, nhưng vết thương không còn là dấu của thất bại; nó trở thành dấu của chiến thắng. Đó là niềm hy vọng cho mọi vết thương của chúng ta: Thiên Chúa không nhất thiết xóa khỏi lịch sử điều ta đã chịu, nhưng Người có thể biến chính vết thương thành nơi ánh sáng đi qua.
“Ước gì tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài Thánh Giá.” Câu ấy cũng là một lời xét mình cho những người phục vụ trong Hội Thánh. Ta có thể rao giảng Đức Kitô mà âm thầm tìm vinh quang cho mình. Có thể làm việc cho Chúa nhưng lại rất nhạy cảm về việc người khác có ghi nhận mình hay không. Có thể nói về khiêm nhường nhưng lại khổ sở khi không được nhắc tên. Có thể xây nhà thờ, tổ chức chương trình, làm nhiều dự án tốt đẹp, nhưng nếu không cẩn thận, ta lại xây một tượng đài vô hình cho chính bản thân. Thánh Giá phá vỡ tất cả những điều ấy. Trên Calvariô, Đức Giêsu không giữ lại gì cho mình. Người không có khán đài, không có những lời tán thưởng, không có một đám đông trung thành. Ngay cả áo cũng bị chia. Người chết trong cảnh trắng tay, nhưng chính cái trắng tay ấy cứu thế giới. Người phục vụ theo tinh thần Thánh Giá phải dần học niềm vui của việc nhỏ đi để Chúa lớn lên, vui khi công việc tốt đẹp dù chẳng ai biết mình góp phần, vui khi người khác được tỏa sáng, vui khi hạt giống mình gieo được người khác gặt. Điều khó nhất không phải làm việc cho Chúa, mà là làm việc của Chúa mà không biến nó thành sở hữu của mình. Thánh Giá dạy ta điều đó.
Và rồi sẽ đến một ngày mỗi người chúng ta phải đặt xuống tất cả. Chẳng ai mang theo được chức danh trên bia mộ như một tấm vé vào thiên đàng. Chẳng ai trình với Chúa sổ ngân hàng. Chẳng ai lấy số người theo dõi mình làm chứng từ cho giá trị đời đời. Khi giờ cuối cùng đến, những câu hỏi của cuộc đời bỗng trở nên rất đơn giản. Tôi đã yêu chưa? Tôi đã tha thứ chưa? Tôi có để cho mình được Thiên Chúa yêu chưa? Tôi đã làm gì với thời gian được trao? Có ai được sống tốt hơn vì tôi đã hiện diện trong đời họ không? Tôi có mang trong mình khuôn mặt của Đức Kitô không? Lúc ấy có lẽ điều quý nhất trong căn phòng của một người hấp hối chẳng phải những gì người ấy tích lũy, mà là cây Thánh Giá nhỏ đặt gần giường. Bao nhiêu người đã ra đi với bàn tay nắm lấy Thánh Giá! Một đời từng bận rộn với hàng ngàn điều, đến phút cuối chỉ còn cây Thánh Giá. Không phải tình cờ. Bởi cuối cùng, Thánh Giá tóm lại toàn bộ Tin Mừng trong một hình ảnh: có một Đấng đã yêu tôi hơn chính mạng sống Người. Khi tôi chẳng còn sức làm gì, tôi vẫn có thể để mình được yêu. Khi tôi không còn nói được, những cánh tay dang rộng của Đức Kitô vẫn nói với tôi: “Con thuộc về Ta.” Khi tất cả mọi người phải đứng lại ở cửa sự chết, Đấng chịu đóng đinh và phục sinh sẽ đi với tôi qua cánh cửa ấy.
Vậy nên, xin đừng chỉ đeo Thánh Giá; hãy sống Thánh Giá. Đừng chỉ đặt Thánh Giá trên tường; hãy để Thánh Giá được đặt giữa những chọn lựa của mình. Khi đứng trước một cơ hội để hơn thua, hãy nhìn Thánh Giá. Khi muốn trả đũa một lời xúc phạm, hãy nhìn Thánh Giá. Khi lòng đầy kiêu căng vì thành công, hãy nhìn Thánh Giá. Khi thất vọng vì thất bại, hãy nhìn Thánh Giá. Khi không tha thứ nổi, hãy nhìn Đấng đang cầu xin cho những kẻ đóng đinh mình. Khi cảm thấy mình chẳng đáng được yêu, hãy nhìn những cánh tay đã dang ra vì mình. Khi nghĩ tội lỗi quá lớn, hãy nhìn dòng máu chảy xuống từ Calvariô. Khi tưởng cuộc đời hết hy vọng, hãy nhớ rằng từ ngôi mộ tưởng như kết thúc mọi sự, Thiên Chúa đã làm bật lên buổi sáng Phục Sinh. Khi người ta hỏi niềm hy vọng của ta ở đâu, ta có thể chỉ vào Thánh Giá. Không phải vì ta yêu thất bại, nhưng vì ta đã nhìn thấy trong Thánh Giá một chiến thắng mà thế gian không hiểu: chiến thắng của tình yêu trên hận thù, của tha thứ trên báo oán, của trao ban trên chiếm hữu, của sự sống trên cái chết.
Và nếu có một lời để xin Chúa cho quãng đời còn lại, có lẽ ta hãy xin điều này: “Lạy Chúa, xin làm cho con nhỏ đi đủ để Thánh Giá của Chúa lớn lên trong đời con. Xin đừng để con hãnh diện đến mức quên rằng tất cả là ân sủng. Xin đừng để con thành công đến mức không còn cần Chúa. Xin đừng để con đạo đức đến mức bắt đầu khinh người khác. Xin đừng để con đau khổ đến mức tưởng Chúa đã bỏ con. Xin đừng để con bám vào những gì sẽ qua mà bỏ quên điều tồn tại đời đời. Khi con được khen, xin cho con nhớ Thánh Giá. Khi con bị chê, xin cho con nhớ Thánh Giá. Khi con mạnh mẽ, xin cho con nhớ Thánh Giá. Khi con yếu đuối, xin cho con ôm lấy Thánh Giá. Khi con có thể trả đũa, xin cho con chọn tha thứ. Khi con có thể bỏ đi, xin cho con biết ở lại nếu tình yêu đòi hỏi. Khi con có thể giữ lấy, xin cho con biết trao đi. Khi con phải chết đi cho ý riêng mình để một người khác được sống, xin cho con đừng sợ. Và đến ngày cuối cùng, khi mọi niềm hãnh diện trần thế rơi khỏi tay con, xin cho con vẫn còn một điều để hãnh diện: Đức Giêsu Kitô đã yêu con và đã chịu đóng đinh vì con.”
Có thể cả đời ta sẽ còn nhiều điều chưa làm được. Có những ước mơ dang dở, có những lời chưa nói, có những lỗi lầm không thể quay lại sửa, có những vết thương vẫn còn đau. Nhưng nếu cuối cùng ta học được cách đứng dưới chân Thánh Giá như Đức Maria, như người môn đệ Chúa yêu, như người trộm lành, như Phaolô sau một đời bôn ba rao giảng, và thưa rằng: “Con chẳng còn gì để cậy dựa ngoài lòng thương xót của Chúa”, thì đời ấy không thất bại. Bởi khi mọi mặt nạ rơi xuống, khi mọi thành tích trở nên nhỏ bé, khi mọi tiếng vỗ tay đã tắt, chỉ còn một điều thật sự đủ sức nâng đỡ linh hồn: tôi được yêu. Được yêu không phải vì tôi hoàn hảo, mà trong chính sự bất toàn của tôi. Được yêu không phải vì tôi xứng đáng, nhưng vì Thiên Chúa là Tình Yêu. Được yêu đến mức Con Thiên Chúa không đứng trên trời nói với tôi rằng Người yêu tôi, nhưng xuống tận nơi thấp nhất của thân phận con người, để đôi tay Người bị đóng đinh, trái tim Người bị đâm thâu, và từ nơi ấy nói lời cuối cùng không bằng miệng mà bằng chính mạng sống: “Ta yêu con đến mức này.”
Đó là lý do người Kitô hữu có thể ngước nhìn Thánh Giá mà không tuyệt vọng. Đó là lý do Thánh Phaolô có thể hãnh diện về điều mà thế gian xem là ô nhục. Và đó cũng là lý do giữa một thế giới chạy theo những thứ phải mất, Hội Thánh vẫn đặt cây Thánh Giá ở nơi cao nhất. Không phải để ca ngợi đau khổ, nhưng để tuyên bố rằng tình yêu mạnh hơn đau khổ. Không phải để tôn vinh cái chết, nhưng để loan báo rằng sự chết đã bị đánh bại từ bên trong. Không phải để con người cúi đầu trong sợ hãi, nhưng để mọi kẻ mỏi mệt biết rằng có một vòng tay vẫn đang mở ra. Thánh Giá không nói rằng cuộc đời sẽ dễ dàng. Thánh Giá nói rằng chẳng đoạn đường nào ta phải đi một mình. Thánh Giá không bảo rằng ta sẽ không khóc. Thánh Giá nói rằng nước mắt của ta đã được Thiên Chúa chia sẻ. Thánh Giá không hứa rằng ta sẽ không chết. Thánh Giá công bố rằng ngay cả cái chết cũng không thể tách ta khỏi tình yêu của Đức Kitô.
Vậy thì giữa bao điều con người có thể tự hào, xin cho ta biết chọn niềm tự hào của Phaolô. Khi người khác tự hào vì họ được phục vụ, xin cho ta tự hào vì mình được phục vụ người khác. Khi người khác tự hào vì đã thắng, xin cho ta tự hào vì đã có lúc biết chịu thiệt để giữ tình yêu. Khi người khác tự hào vì quyền lực, xin cho ta tự hào vì đã dùng quyền để bảo vệ người yếu. Khi người khác tự hào vì được biết đến, xin cho ta vui cả khi bị quên lãng, miễn là Đức Kitô được nhận biết. Khi người khác đếm những gì họ sở hữu, xin cho ta học đếm những gì mình đã cho đi. Và khi cuối cùng chẳng còn gì để đếm, xin cho ta vẫn nhìn lên Thánh Giá và nói với Phaolô, bằng cả cuộc đời mình chứ không chỉ bằng đôi môi: “Ước gì tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài Thánh Giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.”
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ TRONG THƯ DO THÁI – HY TẾ MỘT LẦN LÀ ĐỦ
Có những câu Kinh Thánh càng đọc lâu người ta càng thấy mình chưa đọc hết. Có những mầu nhiệm càng suy niệm nhiều lại càng thấy phía trước vẫn còn một vực sâu không đáy của tình yêu Thiên Chúa. Và có lẽ không nơi nào mầu nhiệm Thánh Giá được nhìn với chiều sâu của hy tế, tư tế, giao ước, máu, cung thánh và sự cứu chuộc cách mạnh mẽ như trong thư gửi tín hữu Do Thái. Nếu các sách Tin Mừng đưa chúng ta lên đồi Canvê để nhìn thấy Đức Giêsu bị đóng đinh giữa hai tên gian phi, để nghe tiếng búa đóng vào gỗ, để thấy mão gai, cạnh sườn bị đâm thâu, những giọt máu cuối cùng và tiếng kêu “Thế là đã hoàn tất”, thì thư Do Thái như đưa chúng ta đi xuyên qua bức màn hữu hình của Canvê để nhìn vào điều đang thực sự xảy ra trong thế giới của Thiên Chúa: trên Thánh Giá không chỉ có một người công chính bị giết chết; trên Thánh Giá đang có một Thượng Tế đời đời tự hiến chính mình làm lễ vật; trên Thánh Giá đang có một Giao Ước Mới được ký kết bằng máu; trên Thánh Giá đang có một cuộc thanh tẩy không phải bằng máu dê bò nhưng bằng chính Máu Con Thiên Chúa; trên Thánh Giá có một hy tế không cần lặp lại, bởi vì hy tế ấy hoàn hảo đến mức chỉ một lần là đủ cho muôn đời.
Đó là điều rất lạ đối với tâm thức của chúng ta. Con người vốn quen với chuyện phải làm đi làm lại. Hôm nay sai thì ngày mai sửa. Hôm nay thất bại thì ngày mai làm lại. Món nợ chưa trả hết thì phải trả tiếp. Công việc chưa hoàn thành thì phải tiếp tục. Những hy tế của Cựu Ước cũng mang dáng dấp ấy. Năm này qua năm khác, lễ vật tiếp tục được dâng. Ngày này qua ngày khác, các tư tế đứng phục vụ. Máu súc vật lại đổ. Khói hương lại bay lên. Bàn thờ lại thấm máu. Nhưng chính việc phải lặp đi lặp lại đã âm thầm nói lên một sự thật: tất cả những lễ tế ấy chưa phải là lời cuối cùng. Nếu đã hoàn tất thì đâu còn cần lặp lại. Nếu tội lỗi đã được xóa tận căn thì đâu còn phải dâng lễ vật mãi. Nếu con người đã được đưa hoàn toàn trở lại trong tình nghĩa với Thiên Chúa thì đâu cần mỗi năm lại bước vào nghi lễ đền tội như trước. Thư Do Thái nhìn thấy rất rõ giới hạn ấy và đặt trước mắt chúng ta một sự tương phản đến choáng ngợp: “Mọi tư tế ngày ngày đứng phục vụ và nhiều lần dâng cũng những lễ tế như thế, nhưng chẳng bao giờ xóa bỏ được tội lỗi. Còn Đức Kitô, sau khi dâng lễ tế duy nhất để đền tội, Người đã ngự bên hữu Thiên Chúa đến muôn đời” (x. Dt 10,11-12).
Chỉ một lần. Một lần mà đủ cho muôn đời. Một lễ vật mà đủ cho cả nhân loại. Một dòng Máu mà đủ để rửa sạch những vết nhơ sâu nhất của lịch sử con người. Một thân mình bị trao nộp mà mở được con đường về nhà Cha. Một cái chết mà phá tan quyền lực của sự chết. Một Thánh Giá mà trở thành chiếc cầu nối trời với đất. Một người chịu đóng đinh mà trở thành nguồn cứu độ cho muôn người.
Nhưng phải hiểu cho thật đúng chữ “một lần”. “Một lần là đủ” không có nghĩa là Thánh Giá chỉ là một biến cố xa xưa đã đóng lại trong quá khứ. Càng không có nghĩa là cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu đã qua rồi nên chẳng còn liên quan gì đến đời sống hôm nay. Trái lại, chính vì hy tế ấy chỉ xảy ra một lần mà giá trị của nó lại tồn tại mãi mãi. Thánh Giá không cần lặp lại vì Thánh Giá không bao giờ mất hiệu lực. Đức Kitô không phải chết thêm lần nữa, bởi cái chết của Người đã đi thẳng vào tận căn nguyên của tội lỗi và sự chết. Người không dâng một thứ gì bên ngoài mình. Người dâng chính mình. Người vừa là Tư Tế, vừa là bàn thờ, vừa là lễ vật. Người vừa là Đấng dâng lễ, vừa là Đấng được hiến dâng. Chính vì thế hy tế ấy không thể được thay thế bởi bất kỳ hy tế nào khác.
Ở đây, thư Do Thái đưa chúng ta đến một trong những trung tâm sâu nhất của thần học Thánh Giá: Đức Giêsu là vị Thượng Tế đích thực. Trong Cựu Ước, vị thượng tế mỗi năm một lần bước vào nơi Cực Thánh, mang theo máu của lễ vật để làm nghi thức xá tội. Nhưng trước khi cầu xin cho dân, ông cũng phải dâng lễ vì chính tội của mình, bởi ông cũng là một con người yếu đuối. Ông bước vào nơi thánh rồi lại bước ra. Năm sau lại phải bước vào. Thế hệ tư tế này qua đi, thế hệ khác tiếp tục. Không ai ở lại mãi. Không ai có thể hoàn thành việc cứu độ một cách vĩnh viễn. Nhưng Đức Giêsu thì khác. Người là Thượng Tế thánh thiện, vô tội, tinh tuyền. Người không cần dâng lễ đền tội cho chính mình. Và điều kỳ diệu nhất: Người không mang máu dê, máu bò hay máu chiên vào cung thánh. Người mang chính Máu của mình. Thư Do Thái viết một câu có thể khiến bất cứ ai đang đứng dưới chân Thánh Giá phải lặng người: “Người đã vào cung thánh chỉ một lần mà thôi, không phải với máu các con dê, con bò, nhưng với chính Máu của mình, và đã lãnh được ơn cứu chuộc vĩnh viễn cho chúng ta” (Dt 9,12).
“Với chính Máu của mình.” Cả Kitô giáo nằm trong mấy chữ ấy.
Thiên Chúa không cứu con người từ xa. Người không đứng trên trời rồi ném xuống một chiếc phao. Người không xóa tội bằng một sắc lệnh lạnh lùng. Người không cứu chúng ta bằng một lễ vật chẳng liên quan gì đến Người. Người bước vào lịch sử. Người mang lấy xác phàm. Người biết đói, biết khát, biết mệt, biết buồn. Người bị hiểu lầm, bị phản bội, bị bỏ rơi, bị kết án. Rồi cuối cùng Người mang chính thân xác ấy lên Thánh Giá. Máu đổ ra là Máu thật. Đau đớn là đau đớn thật. Cái chết là cái chết thật. Tình yêu cũng là tình yêu thật. Một tình yêu không dừng ở lời nói, không dừng ở cảm xúc, không dừng ở lời hứa, nhưng đi đến chỗ trao chính mạng sống.
Chúng ta thường nói mình yêu Chúa, nhưng có khi tình yêu của chúng ta chỉ sống được trong những ngày thuận lợi. Khi Chúa cho khỏe mạnh, ta yêu Chúa. Khi gia đình yên ổn, ta cảm tạ Chúa. Khi công việc thuận lợi, ta thấy Chúa thật tốt lành. Nhưng đến lúc cầu mãi mà bệnh vẫn chưa khỏi, xin mãi mà hoàn cảnh vẫn chưa đổi, sống tốt mà vẫn bị hiểu lầm, hy sinh mà chẳng ai biết, yêu thương mà lại bị phản bội, lúc ấy tình yêu của ta bắt đầu chao đảo. Ta hỏi Chúa: “Chúa ở đâu?” Nhưng đứng trước Thánh Giá, có lẽ chính Đức Giêsu lại hỏi chúng ta: “Con có tin rằng Ta vẫn yêu con khi Ta không cất Thánh Giá khỏi đời con không? Con có tin vào tình yêu của Ta khi con không cảm thấy gì không? Con có tin rằng Máu Ta đổ ra cho con đã đủ để chứng minh Ta yêu con chưa?”
Có một điều rất đau lòng: người ta có thể đứng trước Thánh Giá mà vẫn nghi ngờ mình có được Thiên Chúa yêu hay không. Người ta có thể nhìn một Thiên Chúa chịu đóng đinh mà vẫn hỏi: “Không biết Chúa có thương tôi không?” Nếu Thánh Giá vẫn chưa đủ để thuyết phục ta rằng Thiên Chúa yêu ta thì không biết Thiên Chúa còn phải làm gì hơn nữa. Người đã trao Con Một. Người Con ấy đã trao thân mình. Những bàn tay từng chạm vào người phong cùi đã bị đóng đinh. Đôi chân từng đi tìm người tội lỗi đã bị xuyên thủng. Trái tim từng thổn thức trước nỗi đau con người đã bị lưỡi đòng đâm thâu. Còn gì nữa để trao? Còn gì nữa để chứng minh?
Chính ở đây ta hiểu tại sao thư Do Thái liên tục nhấn mạnh rằng hy tế của Đức Kitô là hoàn hảo. Không phải vì đau đớn thể lý của Người lớn hơn mọi đau đớn khác, nhưng vì Đấng hiến dâng chính là Con Thiên Chúa và vì sự tự hiến ấy phát xuất từ một tình yêu cùng một sự vâng phục trọn vẹn. Thư Do Thái đặt trên môi Đức Kitô lời Thánh Vịnh: “Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (x. Dt 10,7). Thánh Giá trước hết là tiếng “xin vâng” của Chúa Con đối với Chúa Cha. Một lời xin vâng đi từ máng cỏ đến Nazareth, từ Nazareth đến những nẻo đường Galilê, từ Galilê đến Giêrusalem, từ phòng Tiệc Ly đến Ghếtsêmani, và từ Ghếtsêmani lên Canvê. Chúa Giêsu không bất ngờ bị cuốn vào Thánh Giá. Người bước về phía Thánh Giá trong tự do. Người biết điều đang chờ mình. Người có thể quay đi. Người có thể tránh Giêrusalem. Người có thể im lặng trước những xung đột. Người có thể chọn con đường an toàn hơn. Nhưng Người vẫn đi.
Tin Mừng Gioan làm sáng lên điều này một cách đặc biệt trong cuộc Thương Khó. Khi toán quân đến bắt Chúa trong vườn, Đức Giêsu không chạy trốn. Người bước ra và hỏi: “Các anh tìm ai?” Họ đáp: “Tìm Giêsu Nazareth.” Người nói: “Chính tôi đây” (x. Ga 18,4-5). Câu chuyện tưởng rất đơn giản, nhưng bên trong lại chứa cả sự tự do của hy tế. Không phải họ có quyền lực tuyệt đối để bắt Người. Người tự trao mình. Cũng vậy, trong Tin Mừng Gioan, trước khi tắt thở, Chúa Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất” (Ga 19,30). Không phải “Thế là hết.” Hai câu hoàn toàn khác nhau. Nếu chỉ nhìn bằng mắt trần, người ta sẽ nói: hết rồi. Một đời người kết thúc. Một phong trào bị dập tắt. Các môn đệ tan tác. Đức Giêsu chết. Nhưng Chúa lại nói: hoàn tất rồi. Điều gì hoàn tất? Công trình yêu thương. Sự vâng phục. Hy tế. Giao Ước. Con đường trở về với Cha. Lời hứa cứu độ.
Canvê vì thế không phải nơi Chúa Giêsu thất bại. Đó là nơi Người hoàn tất.
Và thư Do Thái như nghe tiếng “Thế là đã hoàn tất” ấy rồi giải thích cho Hội Thánh hiểu: chính vì đã hoàn tất nên hy tế không cần lặp lại nữa. “Chúng ta được thánh hóa nhờ Đức Giêsu Kitô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ” (x. Dt 10,10). Một câu nghe thật bình thản nhưng đằng sau là cả biển máu của Golgotha.
“Đã hiến dâng thân mình.”
Kitô giáo không được xây trên một lý thuyết. Đức tin của chúng ta đứng trên một thân mình bị trao nộp. Cũng vì thế, mỗi lần bước vào Thánh lễ, ta không đến tham dự một buổi tưởng niệm đơn thuần như nhớ lại một biến cố đã qua. Thánh lễ không đóng đinh Chúa Giêsu thêm một lần nữa. Hội Thánh không lặp lại hy tế Canvê như thể lần đầu chưa đủ. Hy tế Thánh Thể làm cho hy tế duy nhất ấy trở nên hiện diện cách bí tích. Chỉ có một Đức Kitô. Chỉ có một Thánh Giá. Chỉ có một hy tế cứu độ. Chỉ có một lễ vật là chính Người. Chính vì thế, lời “một lần là đủ” không làm giảm giá trị Thánh lễ; ngược lại, chính lời ấy giúp ta hiểu Thánh lễ. Nếu hy tế của Đức Kitô phải được thực hiện lại thì hy tế đầu tiên chưa hoàn hảo. Nhưng vì hy tế ấy hoàn hảo nên Hội Thánh qua mọi thời đại được bước vào chính hy tế duy nhất ấy.
Có lẽ nhiều người Công giáo đã tham dự hàng ngàn Thánh lễ nhưng chưa bao giờ thực sự giật mình trước câu: “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con.” Đó không chỉ là lời của phòng Tiệc Ly. Đó là lời của cả cuộc đời Đức Giêsu. Người là một cuộc đời được trao đi. Người không giữ lại. Người không sống cho mình. Người không yêu nửa vời. Người không tha thứ một nửa. Người không cứu chúng ta một phần. Người đi đến cùng.
Tin Mừng Luca kể rằng khi Chúa Giêsu bị đóng đinh, những người chung quanh chế nhạo Người: “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa” (x. Lc 23,35). Câu chế nhạo ấy vô tình chạm vào chính nghịch lý của Thánh Giá. Người có thể cứu mình. Nhưng nếu cứu mình thì Người không cứu chúng ta theo cách Người đã chọn. Chính bởi không xuống khỏi Thánh Giá mà Người cứu những người đứng dưới Thánh Giá. Chính bởi không giữ mạng sống mình mà Người ban sự sống cho chúng ta. Chính bởi chấp nhận bàn tay bị đóng vào gỗ mà Người mở bàn tay Thiên Chúa để ôm lấy tội nhân. Chính bởi đi vào sự chết mà Người phá được cánh cửa sự chết từ bên trong.
Một trong hai người trộm bị đóng đinh bên cạnh Chúa hiểu điều ấy bằng một thứ ánh sáng rất kỳ lạ. Trong khi hầu hết mọi người chỉ nhìn thấy một kẻ thất bại, anh lại nhìn thấy một vị Vua. Anh nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Chúa đáp: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Hãy thử nghĩ xem: lúc ấy Chúa Giêsu không có ngai vàng, không quân đội, không vương miện bằng vàng, không người hầu. Người không có gì ngoài một cây Thánh Giá, những vết thương và vài giờ sống cuối. Thế mà người trộm lại nhận ra Nước Trời đang ở đó. Và chính từ Thánh Giá, Đức Giêsu ban ơn cứu độ cho anh.
Đó là hình ảnh sống động nhất của điều thư Do Thái nói: chúng ta được đến gần Thiên Chúa nhờ Máu Đức Giêsu.
Người trộm ấy không còn thời gian để sửa lại cuộc đời. Anh không thể xuống khỏi thập giá để trả những món nợ cũ. Anh không còn cơ hội làm việc lành nhiều năm. Anh không thể hành hương. Anh không thể đền bù mọi điều mình đã gây ra. Anh chỉ còn một điều: đặt toàn bộ sự nghèo nàn của mình vào lòng thương xót của Đấng đang chịu đóng đinh bên cạnh. Và hy tế của Đức Kitô đủ cho anh. Một lần là đủ.
Điều ấy không khuyến khích chúng ta coi nhẹ tội lỗi. Trái lại, Thánh Giá cho thấy tội lỗi nghiêm trọng đến mức nào. Nếu tội chỉ là chuyện nhỏ, đâu cần Con Thiên Chúa chết. Nếu sự dữ chỉ là một chút yếu đuối không đáng kể, đâu cần máu đổ. Thánh Giá vừa mặc khải mức độ kinh khủng của tội vừa mặc khải mức độ vô biên của lòng thương xót. Tội của con người có thể đóng đinh Con Thiên Chúa, nhưng tội của con người không đủ lớn để làm Thiên Chúa ngừng yêu con người.
Đây là điều chúng ta cần nghe nhiều lần, nhất là những ai mang trong mình một quá khứ nặng nề. Có người đã xưng tội rồi nhưng vẫn không tha thứ cho chính mình. Thiên Chúa đã tha nhưng họ tiếp tục kết án bản thân. Họ sống như thể Máu Đức Kitô chưa đủ. Họ mang tội cũ đi khắp nơi, mở lại những vết thương Chúa đã chữa, lấy những bản án đã được xóa ra đọc lại mỗi đêm. Có những linh hồn tin Chúa tha cho mọi người nhưng không tin Chúa có thể tha cho mình. Họ nói: “Tội của con quá lớn.” Nhưng khi nói như thế, vô tình chúng ta đặt tội mình lớn hơn Thánh Giá. Có tội nào lớn hơn Máu Con Thiên Chúa không? Có quá khứ nào đen đến mức ánh sáng Phục Sinh không thể bước vào không?
Thư Do Thái nói: “Máu Đức Kitô sẽ thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết” (x. Dt 9,14). Không chỉ thanh tẩy hồ sơ bên ngoài. Thanh tẩy lương tâm. Nghĩa là Chúa muốn đi vào tận nơi sâu nhất chúng ta tự kết án mình. Người muốn trả lại cho ta một trái tim có thể đứng trước mặt Cha mà không phải bỏ chạy.
Nhớ lại sách Sáng Thế, sau khi phạm tội, Ađam và Eva trốn khỏi Thiên Chúa. Tội lỗi luôn khiến con người trốn. Trốn Thiên Chúa. Trốn người khác. Trốn chính mình. Nhưng công trình cứu chuộc làm điều ngược lại: đưa con người trở về. Vì thế thư Do Thái có một lời mời thật đẹp: “Ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần” (Dt 4,16). Hãy để ý chữ “mạnh dạn”. Không phải mạnh dạn vì ta tốt. Không phải vì ta không phạm tội. Không phải vì ta đã trả hết món nợ. Ta mạnh dạn vì có một Thượng Tế hiểu sự yếu đuối của ta và đã tự hiến cho ta.
Có một thứ đạo đức rất nguy hiểm: sống như thể mình phải tự cứu mình. Làm thêm một việc lành để cảm thấy Chúa yêu mình hơn. Cầu nguyện nhiều để mua sự an toàn. Hy sinh để trả giá cho ơn cứu độ. Rồi mỗi lần sa ngã thì tuyệt vọng vì nghĩ mình đã phá hỏng tất cả. Không. Chúng ta không cứu được mình. Nếu có thể tự cứu, Thánh Giá là thừa. Việc lành, cầu nguyện, hy sinh, bác ái, đời sống luân lý đều vô cùng cần thiết, nhưng không phải để mua ơn cứu độ. Chúng là hoa trái của người đã được cứu, chứ không phải giá tiền để mua việc cứu độ.
“Một lần là đủ” đặt lại toàn bộ đời sống Kitô hữu trên nền tảng ân sủng.
Ta không sống tốt để buộc Thiên Chúa yêu ta. Ta sống tốt vì Thiên Chúa đã yêu ta đến chết.
Ta không cầu nguyện để mua lòng thương xót. Ta cầu nguyện vì lòng thương xót đã mở cửa cho ta.
Ta không làm việc lành để trả tiền cho Máu Chúa. Ta làm việc lành vì đã được Máu ấy thanh tẩy và muốn cho người khác nếm được tình yêu mình đã nhận.
Ta không vác Thánh Giá để tự chuộc tội cho mình như thể hy tế Đức Kitô thiếu điều gì. Ta vác Thánh Giá để kết hợp đời mình với hy tế duy nhất của Người.
Đây là một phân biệt rất quan trọng. Thánh Giá của chúng ta không cứu thế giới độc lập với Thánh Giá Đức Kitô. Chỉ có Đức Kitô là Đấng Cứu Độ. Nhưng những đau khổ, hy sinh, nước mắt và mất mát của chúng ta khi được kết hợp với Người thì không còn vô nghĩa. Một người mẹ thức đêm bên đứa con bệnh. Một người cha âm thầm gánh nợ để giữ gia đình. Một linh mục tiếp tục phục vụ khi mệt mỏi và cô đơn. Một tu sĩ trung thành với lời khấn giữa khô khan. Một người bệnh chịu đau mà vẫn cầu nguyện cho người khác. Một người bị xúc phạm nhưng không trả thù. Một người bị phản bội mà vẫn cố giữ lòng khỏi cay độc. Những điều ấy tự thân không phải hy tế cứu chuộc nhân loại; nhưng khi đặt vào Thánh Giá Đức Kitô, chúng trở thành của lễ yêu thương.
Cũng vì thế, “hy tế một lần là đủ” không dẫn chúng ta đến đời sống dễ dãi, nhưng dẫn đến một đời sống hiến dâng. Đã được cứu bằng một tình yêu tự hiến, người Kitô hữu không thể chỉ sống cho mình.
Thư Do Thái viết: “Nhờ Đức Giêsu, chúng ta hãy luôn luôn dùng lời ngợi khen làm lễ tế dâng lên Thiên Chúa… Anh em chớ quên làm việc thiện và chia sẻ của cải, vì Thiên Chúa ưa thích những lễ tế như thế” (x. Dt 13,15-16). Lễ tế của Đức Kitô không cần bổ sung, nhưng đời ta cần được biến đổi bởi lễ tế ấy. Người đã trao mình thì ta cũng học trao mình. Người tha thứ thì ta học tha thứ. Người phục vụ thì ta học phục vụ. Người yêu kẻ thù thì ta tập yêu người làm mình tổn thương. Người không xuống khỏi Thánh Giá để cứu mình thì ta cũng phải từ bỏ thói quen chỉ chọn điều có lợi cho bản thân.
Ở đây ta mới thấy Thánh Giá nguy hiểm thế nào đối với một Kitô giáo chỉ muốn dễ chịu. Chúng ta có thể đeo Thánh Giá mà không muốn sống Thánh Giá. Có thể đặt Thánh Giá ở phòng khách nhưng không chấp nhận hy sinh cho người trong nhà. Có thể cúi đầu trước Thánh Giá ở nhà thờ nhưng ra khỏi nhà thờ lại không chịu nhường một lời trong gia đình. Có thể hôn kính Thánh Giá Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng không chịu tha thứ cho người đã xúc phạm mình năm năm trước. Có thể hát “vinh quang của ta là Thánh Giá Đức Kitô” nhưng lại coi thất bại, bệnh tật, nghèo khó, hiểu lầm như bằng chứng Thiên Chúa đã bỏ mình.
Thánh Giá không phải đồ trang trí của Kitô giáo. Thánh Giá là hình dạng của tình yêu Kitô giáo.
Nhìn vào Đức Kitô trong thư Do Thái, chúng ta còn gặp một chân lý khác rất an ủi: vị Thượng Tế của chúng ta biết đau. “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta” (x. Dt 4,15). Có những lúc người ta đau đến mức không cần ai giải thích. Họ chỉ cần biết có ai hiểu. Khi một người vừa mất người thân, đôi khi bài thần học dài nhất cũng không bằng một bàn tay nắm lấy bàn tay. Khi một người bị phản bội, những lời “hãy cố lên” có thể nghe rất xa lạ. Khi một người cầu nguyện nhiều năm mà chẳng thấy câu trả lời, họ cần một Thiên Chúa không chỉ ở trên cao nói về đau khổ, nhưng đã từng đi xuyên qua đau khổ.
Đức Giêsu của thư Do Thái là vị Thượng Tế đã “trải qua thử thách và đau khổ” nên có thể nâng đỡ những ai bị thử thách. Người không cứu chúng ta bằng lý thuyết về đau khổ. Người cứu bằng cách đi vào đau khổ. Ghếtsêmani không phải chuyện kể tượng trưng. Chúa thực sự buồn đến chết được. Người thực sự run sợ trước chén đắng. Người cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén này.” Chính vì thế, một người đang sợ hãi có thể đến với Người. Người hiểu.
Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu đã thốt lên: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46). Bao nhiêu người đã từng không dám nói câu ấy vì sợ phạm thượng. Nhưng Chúa Giêsu đã nói. Có nghĩa là ngay cả tiếng kêu của người cảm thấy bị Thiên Chúa bỏ rơi cũng đã được Con Thiên Chúa mang vào trong lời cầu nguyện. Từ nay, không có vực thẳm nào của con người hoàn toàn xa lạ với Người.
Có người nói: “Chúa không hiểu đâu.” Nhưng Thánh Giá trả lời: Người hiểu.
“Chúa không biết cô đơn là gì.” Thánh Giá trả lời: các môn đệ đã bỏ Người chạy hết.
“Chúa không biết bị phản bội.” Thánh Giá trả lời: Giuđa đã hôn Người.
“Chúa không biết bị người mình yêu chối bỏ.” Thánh Giá trả lời: Phêrô ba lần nói không biết Người.
“Chúa không biết bị vu oan.” Thánh Giá trả lời: những chứng gian đứng lên chống lại Người.
“Chúa không biết đau thể xác.” Thánh Giá trả lời bằng mão gai, roi đòn, đinh sắt và cạnh sườn bị đâm.
“Chúa không biết thế nào là cầu nguyện mà trời im lặng.” Ghếtsêmani và Canvê trả lời thay Người.
Vị Thượng Tế ấy hiểu ta.
Nhưng Người không chỉ hiểu. Người còn mở đường.
Một trong những hình ảnh đẹp nhất của thư Do Thái là bức màn. Trong Đền Thờ, bức màn phân cách nơi thánh với nơi Cực Thánh. Nó vừa nói Thiên Chúa hiện diện, vừa nói con người tội lỗi chưa thể tự do bước vào. Nhưng khi Đức Giêsu chết, các sách Tin Mừng kể bức màn Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Và thư Do Thái giải thích ý nghĩa sâu xa của biến cố ấy: nhờ Máu Đức Giêsu, chúng ta có một con đường mới và sống động đi qua bức màn, tức là chính thân xác Người (x. Dt 10,19-20).
Thân xác bị xé mở của Đức Kitô trở thành cánh cửa.
Đinh đóng vào tay Chúa nhưng mở cửa trời.
Lưỡi đòng mở cạnh sườn Người nhưng cũng mở nguồn ân sủng.
Con người đóng cửa đời Người bằng tảng đá mồ, nhưng Thiên Chúa mở ngôi mộ vào sáng Phục Sinh.
Từ đó, Thánh Giá không còn chỉ là dấu của đau khổ. Nó là lối đi.
Có lẽ chúng ta cần học lại cách nhìn Thánh Giá. Khi gặp khổ đau, phản ứng đầu tiên thường là: “Làm sao thoát khỏi chuyện này?” Câu hỏi ấy không sai. Chúa Giêsu cũng cầu xin cho chén đắng qua đi. Nhưng có lúc Thánh Giá không được cất đi. Khi ấy câu hỏi cần đổi thành: “Lạy Chúa, con phải đi qua chuyện này với Chúa thế nào?” Có những đau khổ không thể giải quyết ngay, chỉ có thể đi xuyên qua. Có những mất mát không thể lấy lại. Có những người sẽ không quay về. Có những vết thương để lại sẹo suốt đời. Có những câu hỏi đến khi chết ta vẫn chưa có câu trả lời đầy đủ. Nhưng nếu Đức Kitô đã biến chính cái chết thành con đường đi vào sự sống, thì không có gì trong tay Người là hoàn toàn vô nghĩa.
Thư Do Thái mời gọi chúng ta “hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt hướng về Đức Giêsu, Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin. Chính Người, trước niềm vui đang chờ đón, đã chịu khổ hình Thập Giá, chẳng nề chi ô nhục” (x. Dt 12,1-2).
Mắt hướng về Đức Giêsu.
Không phải mắt hướng về vấn đề.
Không phải mắt hướng về người làm ta đau.
Không phải mắt hướng về những gì ta đã mất.
Mắt hướng về Đức Giêsu.
Có những Thánh Giá càng nhìn lâu càng nặng. Nhưng nếu nhìn vào Đấng đang ở trên Thánh Giá với mình, ta có thể đi tiếp. Thánh Giá Kitô giáo khác đau khổ thuần túy ở chỗ ấy. Không phải cứ đau là thánh. Không phải cứ khổ là đẹp. Có những đau khổ do tội lỗi gây ra cần phải chấm dứt. Có những bất công phải chống lại. Có những bạo lực không thể được tô màu đạo đức rồi gọi là “Thánh Giá Chúa gửi”. Không. Thiên Chúa không yêu sự dữ. Nhưng khi đau khổ không thể tránh và ta đem nó kết hợp với Đức Kitô, Người có thể biến nơi tưởng chỉ có bóng tối thành nơi gặp gỡ.
Thánh Giá của Đức Giêsu vốn là sản phẩm của bạo lực con người. Nhưng Thiên Chúa đã biến chính dụng cụ giết người thành dấu chỉ cứu độ. Điều ấy không làm bạo lực trở thành tốt. Nó cho thấy tình yêu Thiên Chúa có thể đi vào tận nơi sự dữ tưởng thắng thế và làm nảy sinh sự sống.
Đó là niềm hy vọng cho những ai nhìn lại đời mình và thấy quá nhiều mảnh vỡ. Thiên Chúa không cần một quá khứ hoàn hảo để làm nên một vị thánh. Người chỉ cần ta trao những mảnh vỡ ấy vào tay Người. Phêrô đã chối Chúa nhưng trở thành người củng cố anh em. Phaolô đã bách hại Hội Thánh nhưng trở thành Tông đồ dân ngoại. Người trộm lành đã sống một đời sai lạc nhưng cuối ngày lại nghe lời hứa Thiên Đàng. Không ai được cứu vì quá khứ của họ đẹp. Tất cả được cứu vì Đức Kitô đẹp, vì lòng thương xót lớn, vì hy tế một lần ấy đủ.
“Đủ” là một chữ chúng ta cần nghe thật sâu.
Đủ cho người đã lỡ một đời.
Đủ cho người đang trở về.
Đủ cho người nghĩ mình không xứng đáng.
Đủ cho người đã phạm lại cùng một tội quá nhiều lần nhưng vẫn thật lòng muốn đứng lên.
Đủ cho người hấp hối chỉ còn kịp thốt: “Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con.”
Đủ cho nhân loại từ Ađam cho đến người cuối cùng trên trần gian.
Nhưng nói “đủ” không có nghĩa mọi người tự động được cứu bất kể họ có muốn hay không. Quà tặng cần được đón nhận. Cánh cửa đã mở, nhưng ta phải bước vào. Bàn tay Chúa đã đưa ra, nhưng ta phải nắm lấy. Máu đã đổ, nhưng con người có thể vẫn quay lưng. Đức Kitô đã hoàn tất công trình cứu chuộc, nhưng tình yêu không cưỡng ép tự do.
Người trộm lành và người trộm còn lại đứng cách Chúa Giêsu gần như nhau. Cùng nhìn thấy một Thánh Giá. Cùng nghe những lời Người nói. Cùng ở những giờ cuối đời. Một người mở lòng. Một người đóng lại. Thánh Giá ở giữa hai người như một lời mời. Đó cũng là hình ảnh của nhân loại.
Trước Thánh Giá, không ai có thể hoàn toàn trung lập.
Hoặc ta để tình yêu ấy làm mềm trái tim, hoặc ta tiếp tục đi ngang.
Hoặc ta nói như viên đại đội trưởng: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa”, hoặc ta quay lưng về nhà.
Hoặc ta như người trộm lành: “Xin nhớ đến tôi”, hoặc ta tiếp tục chế nhạo.
Và có lẽ bi kịch lớn nhất không phải là ta quá tội lỗi để được cứu, nhưng là ta quá tự mãn để nhận mình cần được cứu.
Thư Do Thái phá vỡ mọi tự mãn ấy. Không có máu Đức Kitô, ta không thể tự mở đường vào cung thánh. Không có vị Thượng Tế này, ta không có nền tảng nào để đứng trước sự thánh thiện tuyệt đối của Thiên Chúa. Nhưng một khi đã ở trong Đức Kitô, ta không cần sống trong nỗi sợ của kẻ nô lệ nữa. Ta có thể tiến đến gần.
Điều này có ý nghĩa đặc biệt với Bí tích Hòa Giải. Mỗi lần xưng tội, chúng ta không yêu cầu Đức Giêsu chết lại cho mình. Ta trở về với chính nguồn tha thứ đã tuôn ra từ hy tế duy nhất ấy. Linh mục không tạo ra lòng thương xót. Linh mục phục vụ lòng thương xót đã được mua bằng Máu Đức Kitô. Lời xá giải không phải một câu dễ dãi nói rằng tội chẳng đáng kể. Ngược lại, lời xá giải nói rằng tội nghiêm trọng đến mức Đức Kitô đã phải chết, nhưng tình yêu còn lớn hơn đến mức Người đã tự nguyện chết để tha.
Thật đẹp biết bao nếu sau mỗi lần xưng tội, ta biết đứng trước Thánh Giá một lúc. Không cần nói nhiều. Chỉ nhìn thôi. Nhìn những vết thương và hiểu: bình an mình vừa nhận không rẻ. Ơn tha thứ không rẻ. Nó miễn phí đối với ta, nhưng đã có giá vô cùng đối với Người.
“Anh em đã được mua bằng một giá đắt.”
Và khi biết mình đã được mua bằng giá nào, ta sẽ thôi bán rẻ đời mình.
Ta sẽ không dễ dàng ném lương tâm vào những thú vui nhất thời.
Ta sẽ không coi thân xác mình như món đồ vô nghĩa.
Ta sẽ không xem người khác như vật dụng để khai thác.
Ta sẽ không dễ dàng dùng lời nói giết chết danh dự người anh em.
Bởi vì người kia cũng là người Đức Kitô đã đổ máu để cứu.
Đây là hệ quả rất cụ thể của thần học Thánh Giá. Không thể tin rằng Đức Kitô chết cho mọi người rồi lại khinh thường một người nào đó. Không thể quỳ trước Thánh Giá mà về nhà hành hạ người thân. Không thể rước Mình Thánh Đấng đã tự hiến rồi tiếp tục sống ích kỷ như chẳng mắc nợ ai. Không thể nói “Chúa tha thứ cho con” nhưng nhất quyết tuyên bố “tôi sẽ không bao giờ tha cho nó”.
Chúng ta không tha thứ vì người khác luôn xứng đáng. Ta tha thứ vì chính ta đang sống nhờ sự tha thứ.
Không ai dưới chân Thánh Giá có thể khoe tay sạch. Chính vì thế không ai có quyền ném đá.
“Hy tế một lần là đủ” còn là lời giải thoát cho những người luôn nghĩ phải chứng minh giá trị của mình. Xã hội bảo ta: phải thành công thì mới đáng trọng. Phải giàu mới có tiếng nói. Phải đẹp mới được chú ý. Phải có chức vụ mới có giá trị. Ngay trong đời sống đạo, đôi khi ta cũng bị cám dỗ nghĩ Chúa chỉ hài lòng khi mình làm được những chuyện lớn. Nhưng Thánh Giá nói một ngôn ngữ khác: giá trị của con không nằm ở điều con sở hữu mà nằm ở giá đã được trả để cứu con.
Nếu Con Thiên Chúa đã trao mạng sống vì một linh hồn thì linh hồn ấy quý biết bao.
Một em bé chưa làm được gì vẫn quý.
Một người già không còn lao động vẫn quý.
Một người bệnh phải nằm một chỗ vẫn quý.
Một người thất bại vẫn quý.
Một người bị thế gian lãng quên vẫn quý.
Một tội nhân đang muốn quay về vẫn quý.
Không phải vì chúng ta hoàn hảo, nhưng vì chúng ta được yêu bằng một tình yêu đã đi đến Thánh Giá.
Có những ngày ta thấy mình chẳng làm được gì tốt. Có những ngày cầu nguyện khô khan. Có những ngày sa ngã làm ta xấu hổ. Có những lúc nhìn mình chỉ thấy thất bại. Khi ấy đừng nhìn mình quá lâu. Hãy nhìn Đức Kitô. Ơn cứu độ không dựa trên cảm giác của ta hôm nay. Nó dựa trên hy tế Người đã hoàn tất.
Đó là sự bình an sâu xa của người Kitô hữu.
Không phải bình an vì đời không có sóng gió.
Không phải bình an vì mình không yếu đuối.
Không phải bình an vì tương lai chắc chắn theo kế hoạch của mình.
Nhưng bình an vì điều quan trọng nhất đã được hoàn tất.
Cánh cửa về nhà Cha đã mở.
Món nợ căn bản đã được trả.
Cái chết đã bị đánh bại.
Tội lỗi không còn lời cuối.
Thánh Giá đứng đó giữa lịch sử như một lời tuyên bố không thể rút lại: Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi trao ban Con Một.
Và hy tế ấy đủ.
Có lẽ câu hỏi cuối cùng còn lại là: Thánh Giá ấy có đủ cho tôi không?
Không phải về phía Thiên Chúa. Về phía Thiên Chúa, câu trả lời đã rõ. Nhưng trong lòng tôi, tôi có thực sự để Thánh Giá là đủ không? Hay tôi vẫn đi tìm sự cứu rỗi ở tiền bạc, danh vọng, quyền lực, lời khen, sự công nhận? Tôi vẫn muốn người khác phải xác nhận tôi có giá trị? Tôi vẫn nghĩ nếu người ấy không yêu mình thì đời mình vô nghĩa? Tôi vẫn đặt niềm hy vọng cuối cùng nơi những thứ rồi sẽ qua?
Có thể chính lúc ấy lời “một lần là đủ” trở thành lời chất vấn.
Đức Kitô đủ chưa?
Tình yêu của Người đủ chưa?
Ơn tha thứ của Người đủ chưa?
Lời hứa của Người đủ chưa?
Hay ta vẫn muốn thêm một cái gì đó để bảo đảm mình được hạnh phúc?
Thánh Augustinô từng diễn tả trái tim con người không ngừng thao thức cho đến khi nghỉ yên trong Thiên Chúa. Con người có một cơn đói vô hạn, nên không vật hữu hạn nào làm no được. Ta có thể có thêm tiền nhưng vẫn sợ thiếu. Có thêm danh nhưng vẫn sợ bị quên. Có thêm quyền nhưng vẫn sợ mất. Có thêm người yêu mến nhưng vẫn sợ bị bỏ. Chỉ có một tình yêu không đổi khi ta đổi, không bỏ khi ta yếu, không chết khi ta chết. Đó là tình yêu đã được đóng đinh.
Một ngày nào đó, tất cả chúng ta sẽ phải bỏ lại mọi thứ. Chức vụ sẽ ở lại. Nhà cửa ở lại. Tài khoản ở lại. Những người từng khen ta cũng không thể đi cùng qua cánh cửa sự chết. Khi ấy ta chẳng mang được gì ngoại trừ linh hồn mình và lòng thương xót Chúa. Và thật lạ lùng: điều sẽ cứu ta trong giờ ấy đã được hoàn tất gần hai ngàn năm trước trên một ngọn đồi bên ngoài thành Giêrusalem.
Một cây gỗ.
Ba cây đinh.
Một mão gai.
Một thân mình tan nát.
Một trái tim mở ra.
Một lời cuối: “Thế là đã hoàn tất.”
Một hy tế.
Một lần.
Đủ cho muôn đời.
Bởi thế, người tín hữu có thể nhìn cái chết mà không tuyệt vọng. Thư Do Thái nói Đức Kitô đã mang lấy máu thịt để “nhờ cái chết của Người, Người tiêu diệt tên lãnh chúa gây ra sự chết, tức là ma quỷ, và giải thoát những ai vì sợ chết mà suốt đời sống trong tình trạng nô lệ” (x. Dt 2,14-15). Chúng ta vẫn sợ chết. Đức tin không biến ta thành đá. Chúa Giêsu cũng đã run sợ. Nhưng người Kitô hữu biết cái chết không còn là căn phòng kín. Đức Kitô đã đi qua đó trước ta.
Vị Thượng Tế của ta đã bước qua bức màn.
Người đang ở phía bên kia.
Và Người sẽ đưa ta qua.
Có lẽ đó là lý do Thánh Giá thường được đặt trên phần mộ người Kitô hữu. Không phải vì chúng ta say mê cái chết, nhưng vì Thánh Giá nói rằng cái chết đã gặp Đấng mạnh hơn nó. Một ngôi mộ có Thánh Giá không nói: “Ở đây mọi sự kết thúc.” Nó nói: “Ở đây một người đang chờ ngày sống lại.”
Đức tin Kitô giáo không phủ nhận nước mắt trước phần mộ. Chính Chúa Giêsu đã khóc trước mộ Lazarô. Nhưng chúng ta khóc khác một chút, bởi đằng sau nước mắt có lời hứa.
Và lời hứa ấy được đóng dấu bằng Máu.
Thư Do Thái gọi Đức Giêsu là “Đấng trung gian của Giao Ước Mới”. Giao ước ấy không được viết bằng mực nhưng bằng Máu. Vì thế Thánh Giá là nơi Thiên Chúa ký tên vào lời hứa yêu thương nhân loại. Người không thể yêu ta hơn nữa, không phải vì tình yêu Người có giới hạn, nhưng vì trên Thánh Giá Người đã trao tất cả.
Chính vì vậy, khi cuộc đời làm ta nghi ngờ tình yêu Thiên Chúa, đừng cố đọc tình yêu Chúa từ hoàn cảnh. Hoàn cảnh thay đổi từng ngày. Hôm nay nắng, mai mưa. Hôm nay khỏe, mai bệnh. Hôm nay người ta gần mình, mai có thể rời đi. Nếu đo tình yêu Chúa bằng những điều ấy, đức tin sẽ lên xuống như thủy triều. Hãy đọc tình yêu Chúa từ Thánh Giá.
Thánh Giá không thay đổi.
Nếu hôm nay ta bệnh, Thánh Giá vẫn nói: “Ta yêu con.”
Nếu hôm nay ta thất bại, Thánh Giá vẫn nói: “Ta yêu con.”
Nếu hôm nay người ta bỏ ta, Thánh Giá vẫn nói: “Ta không bỏ con.”
Nếu hôm nay ta vừa sa ngã và đang hối hận, Thánh Giá nói: “Hãy trở về.”
Nếu hôm nay ta không hiểu tại sao Chúa im lặng, Thánh Giá nói: “Ta đã đi qua đêm tối ấy trước con.”
Và nếu một ngày ta không còn đủ sức nói lời cầu nguyện dài, chỉ cần nhìn Thánh Giá và thưa: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Ngài.”
Có thể như thế đã đủ.
Cuối cùng, thư Do Thái không muốn chúng ta chỉ hiểu một giáo thuyết về hy tế. Thư muốn chúng ta bước vào một lối sống. Sau khi trình bày những chiều sâu thần học lớn lao, tác giả mời gọi cộng đoàn kiên trì, đừng bỏ cuộc, đừng quay lui. Người Kitô hữu sống giữa thử thách phải nhìn lên Đức Giêsu chịu đóng đinh và hiểu rằng con đường Phục Sinh luôn đi qua sự trung tín.
Có những chiến thắng không nằm ở việc thoát khỏi Thánh Giá, nhưng ở việc không bỏ Chúa trên Thánh Giá.
Có những ngày cầu nguyện mà không cảm thấy gì, vẫn cầu nguyện: đó là trung tín.
Có những ngày phục vụ chẳng ai cảm ơn, vẫn phục vụ: đó là trung tín.
Có những người rất khó yêu, ta vẫn không cho phép mình căm thù: đó là trung tín.
Có những lời khấn, lời hứa hôn nhân, lời hứa linh mục, lời cam kết với Chúa trở nên nặng nề theo năm tháng, nhưng ta vẫn thưa lại: “Này con đây”: đó là trung tín.
Đức Giêsu không cứu thế giới bằng một phút xúc động. Người cứu bằng sự trung tín cho đến chết.
Vì vậy, Thánh Giá dạy chúng ta rằng tình yêu thật không chỉ được đo bằng những phút nồng nhiệt nhưng bằng khả năng ở lại.
Đức Maria đã ở lại.
Tin Mừng Gioan kể: “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Chỉ một chữ “đứng” thôi cũng đủ thành một bài giảng. Mẹ không cứu được Con khỏi cây gỗ. Mẹ không tháo được đinh. Mẹ không đổi được bản án. Mẹ không hiểu hết mọi điều đang xảy ra. Nhưng Mẹ đứng đó.
Có những lúc yêu một người chỉ còn có thể làm một điều: ở lại.
Ở bên giường bệnh.
Ở bên người đang hấp hối.
Ở bên một người con đang khủng hoảng.
Ở bên người bạn đã mất mọi thứ.
Không giải quyết được. Không có câu trả lời đẹp. Chỉ ở lại.
Dưới chân Thánh Giá, Đức Maria dạy Hội Thánh một thứ tình yêu như thế.
Và Đức Giêsu cũng ở lại trên Thánh Giá đến cùng.
Người không xuống.
Không phải vì đinh mạnh hơn Người.
Nhưng vì tình yêu giữ Người ở lại.
Đó chính là hy tế.
Không phải Máu tự nó cứu chúng ta như một thứ vật chất ma thuật, nhưng là Máu của một đời sống hoàn toàn được trao trong tình yêu và vâng phục. Chính tình yêu ấy làm Thánh Giá trở thành hy tế đẹp lòng Chúa Cha. Chính tình yêu ấy khiến một lần là đủ.
Vì thế, mỗi lần làm dấu Thánh Giá, có lẽ ta nên chậm lại một chút. “Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.” Một cử chỉ chúng ta làm từ bé, nhiều khi nhanh đến mức chẳng còn ý thức. Nhưng trên chính thân thể mình, ta đang vẽ dấu của hy tế cứu độ. Trán, ngực, vai. Tư tưởng, trái tim, hành động. Cả con người được đặt dưới Thánh Giá.
Làm dấu Thánh Giá là nói: đời con thuộc về Đấng đã chết cho con.
Là nói: con không muốn sống như thể Người chưa từng chết.
Là nói: tội lỗi không phải chủ của con nữa.
Là nói: sự chết không có lời cuối.
Là nói: nếu hôm nay con phải vác Thánh Giá, xin cho con vác cùng Đức Kitô.
Là nói: con tin một hy tế đã đủ.
Và đến một ngày, khi cuộc đời sắp khép lại, có lẽ mọi lời dài đều rơi xuống. Khi đôi mắt không còn nhìn rõ, trí nhớ mờ đi, hơi thở ngắn lại, điều còn lại có thể chỉ là một cây Thánh Giá được đặt vào tay. Khi ấy ta không cần hiểu thêm một bài thần học nào nữa. Chỉ cần nhớ: Đấng trên cây Thánh Giá ấy là vị Thượng Tế của tôi. Người biết tôi. Người hiểu những yếu đuối của tôi. Người đã mang tội tôi. Người đã chết cho tôi. Người đã mở đường. Người đã bước qua sự chết. Người đang chờ tôi.
Và hy tế của Người đủ.
Đủ cho những năm tháng tôi đã sống tốt.
Đủ cho những ngày tôi đã sống dở.
Đủ cho những điều tôi đã làm được.
Đủ cho những điều tôi chưa kịp sửa.
Đủ cho những giọt nước mắt.
Đủ cho những vết thương.
Đủ cho một đời người nghèo nàn đặt vào lòng thương xót vô biên.
Lúc ấy, có thể lời cầu nguyện cuối cùng không cần dài:
“Lạy Đức Giêsu, Thượng Tế đời đời, con không có gì để mang theo. Con chỉ có tội lỗi đã được con thú nhận, những cố gắng nhỏ bé, những vết thương, những thất bại và một niềm tin đôi khi rất yếu. Nhưng con tin Máu Chúa mạnh hơn tội con. Con tin Thánh Giá Chúa lớn hơn quá khứ con. Con tin lòng thương xót Chúa rộng hơn trái tim con. Con tin hy tế Chúa đã hoàn tất. Con xin đặt đời con vào hy tế duy nhất ấy. Xin đưa con qua bức màn. Xin đưa con về với Cha.”
Và có lẽ từ bên kia cánh cửa, ta sẽ nghe lại lời Đức Giêsu từng nói với người trộm bên cạnh Người trên Canvê:
“Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.”
Thế là đủ.
Thực sự đủ.
Bởi trên Thánh Giá, Con Thiên Chúa đã không trao cho chúng ta một phần của Người. Người đã trao tất cả.
Và một khi Thiên Chúa đã trao tất cả, con người không còn cần một hy tế nào khác để mở con đường cứu độ.
Chỉ một Thánh Giá.
Chỉ một Đức Kitô.
Chỉ một lần.
Và đủ cho muôn đời.
Lm. Anmai, CSsR

AI MUỐN THEO TÔI, HÃY TỪ BỎ MÌNH, VÁC THẬP GIÁ MÌNH MÀ THEO
Có những lời của Chúa Giêsu nghe qua tưởng như đã quá quen, quen đến độ người ta có thể đọc thuộc lòng mà lòng vẫn chưa từng run lên vì sức nặng của nó. “Ai muốn theo Tôi, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo.” Một câu ngắn thôi, nhưng nếu đem câu ấy đặt thật sâu vào cuộc đời, có lẽ không ai còn có thể sống đạo một cách hời hợt nữa. Bởi Chúa Giêsu không nói: ai muốn theo Tôi thì hãy mang một huy hiệu, hãy thuộc một vài kinh, hãy có tên trong một hội đoàn, hãy giữ một vài tập tục đạo đức, hãy xuất hiện trong nhà thờ vào những dịp cần thiết. Người nói thẳng vào nơi khó nhất của con người: “hãy từ bỏ mình”. Rồi Người lại đụng đến nơi chúng ta thường tìm mọi cách tránh né: “hãy vác thập giá mình”. Và cuối cùng, Người đặt tất cả vào một chuyển động không ngừng: “mà theo Tôi”. Kitô giáo vì thế không phải là con đường đi tìm một cuộc đời không có thập giá. Kitô giáo cũng không phải là nghệ thuật xin Chúa cất hết mọi gian nan khỏi cuộc sống. Kitô giáo trước hết là bước theo một Đấng đã đi trước chúng ta trên con đường tình yêu, và con đường ấy đã dẫn Người đến tận đồi Canvê. Chúa Giêsu không lừa dối môn đệ. Người không dùng những lời hứa dễ chịu để thu hút người ta đi theo mình. Người không bảo rằng theo Chúa thì sẽ luôn thuận lợi, làm người tốt thì sẽ không gặp oan khiên, sống ngay lành thì sẽ không bị hiểu lầm, cầu nguyện nhiều thì bệnh tật sẽ biến mất, phục vụ Chúa thì gia đình sẽ không gặp khủng hoảng, sống đức tin thì mọi cánh cửa đời mình sẽ tự động mở ra. Không. Người nói rất rõ: nếu muốn theo Người, hãy chuẩn bị từ bỏ chính mình và vác thập giá của mình. Điều làm ta phải suy nghĩ là Chúa nói “ai muốn”. Người không ép. Tình yêu không bao giờ bắt buộc. Chúa để con người tự do đứng trước Người và lựa chọn. Có thể đi theo, cũng có thể quay lưng. Có thể bước vào con đường hẹp, cũng có thể tìm con đường rộng. Có thể chọn Tin Mừng, cũng có thể chọn chính mình. Chúa chỉ nói sự thật về cái giá của người môn đệ. Người như đứng đó và hỏi từng người chúng ta: Con có thật sự muốn theo Thầy không? Không phải theo Thầy khi mọi chuyện thuận lợi, nhưng theo Thầy cả khi phải mất mát; không phải theo Thầy khi người khác khen con tốt lành, nhưng cả khi con làm điều đúng mà chẳng ai biết; không phải theo Thầy khi cầu nguyện được an ủi, nhưng cả những đêm con cầu nguyện mà tưởng như Thiên Chúa im lặng; không phải theo Thầy lúc con mạnh khỏe, nhưng cả khi thân xác đau đớn; không phải theo Thầy khi gia đình êm ấm, nhưng cả khi trong mái nhà có nước mắt; không phải theo Thầy khi người ta hiểu con, nhưng cả khi thiện chí của con bị xuyên tạc; không phải theo Thầy chỉ trong những ngày lễ trọng rực rỡ, nhưng theo Thầy cả trong những ngày đời rất bình thường, nơi những hy sinh chẳng ai vỗ tay và những trung thành chẳng ai nhìn thấy.
“Từ bỏ mình” có lẽ là phần khó nhất. Vì con người có thể bỏ nhiều thứ mà vẫn chưa bỏ được mình. Có người bỏ tiền của nhưng vẫn giữ cái tôi. Có người bỏ quê hương đi làm việc tông đồ nhưng vẫn mang theo lòng tự ái. Có người hy sinh thời giờ nhưng lại mong được nhìn nhận. Có người phục vụ rất nhiều, nhưng trong sâu thẳm vẫn muốn người khác phải biết ơn. Có người mang danh là người của Chúa nhưng trong đời sống lại luôn muốn Chúa phải đi theo ý mình. Bỏ mình không có nghĩa là ghét chính mình, phủ nhận phẩm giá của mình hay xem mình là vô giá trị. Thiên Chúa yêu con người và muốn con người sống sung mãn. Từ bỏ mình là từ bỏ cái tôi ích kỷ, cái tôi luôn muốn mình làm trung tâm, cái tôi muốn mọi người phục vụ mình, cái tôi chỉ vui khi được khen, chỉ bình an khi được chiều, chỉ tử tế với người tử tế với mình, chỉ cho đi khi chắc chắn sẽ nhận lại. Từ bỏ mình là mỗi ngày bớt hỏi: “Tôi được gì?” để tập hỏi: “Tôi có thể trao gì?”; bớt hỏi: “Tại sao người ta không hiểu tôi?” để hỏi: “Tôi đã cố hiểu người ta chưa?”; bớt hỏi: “Ai làm tôi đau?” để hỏi: “Tôi đang làm ai đau?”; bớt hỏi: “Tại sao Chúa không làm theo điều tôi xin?” để hỏi: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì trong hoàn cảnh này?” Người ta thường tưởng rằng tự do là được làm điều mình thích. Tin Mừng cho thấy tự do sâu xa hơn: tự do là không còn bị cái tôi cai trị. Một người không thể tha thứ vì tự ái, người ấy chưa tự do. Một người phải luôn thắng trong tranh luận, người ấy chưa tự do. Một người chỉ cần bị phê bình một câu là mất bình an cả tuần, người ấy chưa tự do. Một người cứ phải sống bằng ánh mắt của người khác, người ấy chưa tự do. Một người cứ khư khư giữ những tổn thương cũ và dùng chúng để xét xử người khác, người ấy chưa tự do. Từ bỏ mình là để Đức Kitô giải phóng ta khỏi nhà tù của chính cái tôi, để ta có khả năng yêu như Người yêu.
Rồi Chúa nói: “vác thập giá mình”. Người không nói hãy đi tìm thập giá. Cuộc đời tự nó đã có đủ thập giá. Có thập giá của bệnh tật, của tuổi già, của những giới hạn thân xác. Có thập giá của một cuộc hôn nhân phải học yêu nhau lại sau những tháng năm mỏi mệt. Có thập giá của cha mẹ khi nhìn con cái đi một con đường mình không mong muốn. Có thập giá của người con chăm sóc cha mẹ già yếu mà anh chị em khác không thể chia sẻ. Có thập giá của người vợ âm thầm chịu đựng một người chồng khó tính, và cũng có thập giá của người chồng nhẫn nại với những đổ vỡ không biết kể cùng ai. Có thập giá của người trẻ đứng giữa một tương lai mù mịt. Có thập giá của người thất nghiệp, của người làm ăn thất bại, của người mang một món nợ, của người mất danh dự, của người bị phản bội, của người sống cô độc giữa một căn nhà đông người. Có thập giá của một linh mục khi mọi lời mình nói bị soi xét nhưng những đêm thao thức vì đoàn chiên chẳng ai hay. Có thập giá của một tu sĩ khi đã trao cả đời cho Chúa mà vẫn phải chiến đấu với sự khô khan, cô đơn, giới hạn cộng đoàn và những góc tối trong chính mình. Có thập giá của người phục vụ khi làm mười điều tốt không ai nhớ, sơ suất một điều mọi người đều nói. Có thập giá mang tên một căn bệnh. Có thập giá mang tên một người. Có thập giá mang tên một ký ức. Có thập giá chẳng bao giờ nói thành lời. Và điều đặc biệt là Chúa gọi đó là “thập giá mình”. Không phải thập giá của người bên cạnh. Điều này rất quan trọng, bởi một trong những cám dỗ lớn nhất của con người là luôn nhìn thập giá của người khác và nghĩ rằng thập giá của mình nặng hơn. Ta nhìn một gia đình bên cạnh và nói: giá mà gia đình tôi được như họ. Ta nhìn người khỏe mạnh và tự hỏi tại sao tôi lại bệnh. Ta nhìn người thành công và trách sao đời tôi lận đận. Ta nhìn một linh mục được nhiều người quý mến và hỏi sao tôi lại gặp toàn chống đối. Ta nhìn người khác rồi tưởng cuộc đời họ dễ dàng, trong khi ta đâu biết những đêm họ khóc. Mỗi người có một thập giá vừa với hành trình mà Thiên Chúa cho phép đi qua. Không ai được cứu bằng cách vác thập giá của người khác. Mỗi người phải bước với Chúa trên con đường của chính đời mình.
Nhưng phải nói cho thật rõ: không phải mọi đau khổ đều tự động trở thành thập giá cứu độ. Có những đau khổ do tội lỗi gây ra mà con người cần phải chấm dứt, có những bất công phải được chống lại, có những bạo lực không được nhân danh “vác thập giá” để bắt nạn nhân tiếp tục chịu đựng. Đức Kitô không ca tụng đau khổ vì đau khổ. Người không yêu cây thập giá bằng gỗ; Người yêu Chúa Cha và yêu nhân loại đến mức chấp nhận thập giá khi con đường trung tín dẫn Người đến đó. Thập giá Kitô giáo không phải là tìm kiếm đau đớn, nhưng là vẫn yêu khi tình yêu phải trả giá, vẫn trung thành khi trung thành gây thiệt thòi, vẫn sống sự thật khi sự thật khiến mình cô độc, vẫn tha thứ khi lòng mình còn đau, vẫn tin tưởng khi chưa thấy lối ra, vẫn làm điều thiện khi chẳng ai ghi nhận. Chính tình yêu biến đau khổ thành lễ dâng. Chính tình yêu biến cây gỗ tử hình thành Thánh Giá. Nếu không có tình yêu, thập giá chỉ còn là đau khổ. Nhưng khi kết hợp với Đức Kitô, điều làm ta đau có thể trở thành nơi ta học yêu, học khiêm nhường, học phó thác, học cảm thông và học trở nên giống Chúa hơn.
Tin Mừng kể một cảnh khiến lời này của Chúa trở nên vô cùng sống động. Sau khi ông Phêrô tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, người ta tưởng từ đó mọi chuyện sẽ huy hoàng. Nhưng ngay sau lời tuyên xưng ấy, Đức Giêsu bắt đầu cho các môn đệ biết Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ mục, thượng tế và kinh sư loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại. Phêrô kéo Người ra riêng và can ngăn. Trong cái nhìn của Phêrô, Đấng Mêsia không thể thất bại, Đấng được Thiên Chúa tuyển chọn không thể chịu nhục, người tốt không thể kết thúc đời mình trên thập giá. Nhưng Đức Giêsu quay lại và nói một lời rất nặng: “Xatan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” Rồi Người nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (x. Mt 16,21-25). Cái hay của đoạn Tin Mừng nằm ở chỗ Phêrô không phải là người xấu. Ông thương Thầy. Chính vì thương nên ông không muốn Thầy đau. Nhưng tình thương của Phêrô lúc ấy vẫn mang cái nhìn của con người: yêu nghĩa là tránh mọi đau khổ, thành công nghĩa là không thất bại, chiến thắng nghĩa là không có Canvê. Chúa phải sửa ông. “Lui lại đằng sau Thầy” cũng có nghĩa là hãy trở về đúng vị trí người môn đệ: đừng đi trước để chỉ đường cho Thầy, hãy đi sau Thầy. Đó cũng là câu Chúa nói với mỗi chúng ta. Biết bao lần chúng ta muốn đi trước Chúa. Chúng ta vạch sẵn một con đường rồi xin Chúa chúc lành. Chúng ta quyết định một điều rồi cầu nguyện xin Chúa đồng ý. Chúng ta muốn Chúa theo chương trình của mình hơn là mình theo chương trình của Chúa. Nhưng người môn đệ không đi trước Thầy. Người môn đệ đi sau Thầy. Và trước mặt Đức Giêsu là Giêrusalem, là phòng Tiệc Ly, là Vườn Dầu, là dinh Philatô, là con đường lên Núi Sọ, là cây Thập Giá, và cuối cùng là bình minh Phục Sinh.
Đó là điều ta không được quên: câu “vác thập giá” không kết thúc ở thập giá. Đức Kitô bị đóng đinh đã sống lại. Kitô giáo không phải đạo của một ngôi mộ đóng kín, nhưng là đức tin vào Đấng đã đi xuyên qua cái chết và mở nó ra từ bên trong. Vì thế người Kitô hữu vác thập giá không phải trong tuyệt vọng mà trong hy vọng. Nước mắt vẫn là nước mắt. Cái đau vẫn là cái đau. Mất một người thân không vì có đức tin mà hết đau. Người bị ung thư không vì cầu nguyện mà lập tức thấy thân xác nhẹ nhàng. Một người mẹ nhìn đứa con lầm đường không thể chỉ nói vài câu đạo đức rồi lòng bình thản. Một người bị phản bội không thể sáng hôm sau thức dậy và coi như chưa có chuyện gì. Đức tin không làm cho trái tim thành đá. Đức tin không xóa đau khổ bằng một phép tính đơn giản. Nhưng đức tin đặt vào đau khổ một sự hiện diện: Đức Kitô ở đó. Người đã ở Vườn Cây Dầu khi mồ hôi như máu rơi xuống đất. Người biết cảm giác bị người thân bỏ chạy. Người biết nụ hôn phản bội. Người biết bị vu oan. Người biết bị chế giễu. Người biết đau thể xác. Người biết khát. Người biết cả lời kêu tưởng như bị bỏ rơi: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Vì thế không ai có thể đứng trước Chúa Giêsu chịu đóng đinh mà nói: “Chúa không hiểu con.” Người hiểu. Không chỉ hiểu bằng trí biết của Thiên Chúa, Người đã bước vào thân phận con người và nếm trải những gì trái tim con người có thể chịu.
Có khi điều ta cần nhất giữa thập giá không phải là câu trả lời cho câu hỏi “tại sao?”, nhưng là sự bảo đảm rằng “Chúa đang ở đây”. Có những đau khổ đời này ta sẽ không tìm được lời giải thích thỏa đáng. Tại sao một đứa trẻ bệnh nặng? Tại sao người tốt gặp tai họa? Tại sao một gia đình đang hạnh phúc lại gặp biến cố? Tại sao có lời cầu nguyện nhiều năm tưởng như chưa được nhận lời? Nếu cố giải thích tất cả quá nhanh, đôi khi ta vô tình làm vết thương của người đau trở nên sâu hơn. Chúa Giêsu trên thập giá không trao cho nhân loại một bài lý luận dài về vấn đề sự dữ. Người trao chính mình. Đó là câu trả lời của Thiên Chúa: Ta ở với con. Ta chịu đau với con. Ta bước vào bóng tối của con. Và Ta sẽ không để bóng tối có tiếng nói cuối cùng. Có lẽ vì thế mà nhiều khi bên giường một bệnh nhân, một người biết ngồi im và nắm tay còn có giá trị hơn mười bài giảng. Trước một người vừa mất người thân, sự hiện diện yêu thương thường quý hơn mọi lời giải thích. Thập giá dạy chúng ta rằng tình yêu không phải lúc nào cũng giải quyết ngay đau khổ; nhiều khi tình yêu trước hết là ở lại với người đau khổ.
“Vác thập giá mình” còn là chấp nhận những giới hạn của chính mình. Đây là thập giá ít được nhắc tới nhưng rất thật. Có người cả đời khổ vì không chấp nhận được chính mình. Không chấp nhận tuổi tác, không chấp nhận ngoại hình, không chấp nhận khả năng có hạn, không chấp nhận quá khứ, không chấp nhận rằng mình không thể làm hài lòng tất cả mọi người, không chấp nhận rằng có những điều mình từng mơ nhưng có thể sẽ không bao giờ thành hiện thực. Thế là họ sống bằng so sánh, ghen tị, mặc cảm hoặc cay đắng. Có những ngày thập giá của ta chính là phải bình an sống với điều mình không thể thay đổi. Không phải buông xuôi, mà là khi đã làm tất cả điều có thể, ta biết đặt phần còn lại trong tay Thiên Chúa. Có một sự bình an rất sâu chỉ đến khi ta thôi bắt Thiên Chúa phải viết cuộc đời theo bản thảo mình đã chuẩn bị. Nhiều người đau không chỉ vì hoàn cảnh khó, mà đau gấp đôi vì họ nhất quyết nói: “Đời tôi không được phép như thế này.” Nhưng đời đã như thế. Và từ chính chỗ ấy, Chúa nói: “Con theo Thầy từ đây.” Ta thường muốn bắt đầu theo Chúa từ một hoàn cảnh lý tưởng: khi hết nợ tôi sẽ bình an, khi con tôi ổn định tôi sẽ sống vui, khi khỏi bệnh tôi sẽ phục vụ Chúa, khi người kia thay đổi tôi sẽ tha thứ, khi công việc khá lên tôi sẽ cầu nguyện. Chúa lại nói: không, hãy theo Thầy ngay từ chính nơi con đang đứng. Đừng chờ một cuộc đời khác rồi mới nên thánh. Cuộc đời đang có này chính là chất liệu của sự thánh thiện.
Có một thập giá khác rất nặng: thập giá của tha thứ. Người ta nói “tha thứ” dễ hơn sống nó rất nhiều. Tha thứ cho một lỗi nhỏ đã khó, tha thứ cho một người làm tổn thương mình sâu sắc có thể là hành trình nhiều năm. Nhưng thử nhìn Chúa trên thập giá. Khi những chiếc đinh vừa xuyên qua tay, khi những người đóng đinh Người vẫn còn đứng đó, Chúa cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Người không chờ họ xin lỗi mới yêu. Người không chờ họ hiểu tội của mình rồi mới mở lòng. Tình yêu đi trước. Điều này vượt quá sức tự nhiên con người. Vì thế tha thứ Kitô giáo không thể chỉ là một quyết định của ý chí kiểu “tôi phải quên đi”. Tha thứ thường bắt đầu bằng một lời cầu nguyện rất nghèo: “Lạy Chúa, con chưa tha được. Nhưng con muốn một ngày nào đó có thể tha. Xin Chúa bắt đầu điều con chưa làm nổi.” Có khi đó đã là bước đầu của ân sủng. Tha thứ không có nghĩa là nói điều sai là đúng, không có nghĩa là xóa trách nhiệm, cũng không phải lúc nào cũng có nghĩa là trở lại mối quan hệ như cũ. Tha thứ là không để người đã làm đau mình tiếp tục kiểm soát trái tim mình bằng hận thù. Tha thứ là trao quyền phán xét cuối cùng lại cho Thiên Chúa. Tha thứ là tự do. Nhưng để có tự do đó, nhiều khi phải vác một thập giá lâu dài.
Trong gia đình, câu “từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo” có thể rất cụ thể. Là người chồng bước vào nhà sau một ngày mệt mỏi nhưng vẫn biết đặt điện thoại xuống để nghe vợ nói. Là người vợ biết dừng một lời cay nghiệt dù đang giận. Là cha mẹ không biến con cái thành công cụ thực hiện giấc mơ dang dở của mình. Là người con biết về thăm cha mẹ già dù chẳng ai bắt buộc. Là hai vợ chồng sau một trận cãi nhau có người can đảm nói trước: “Anh xin lỗi”, “Em xin lỗi”. Chúng ta thường nghĩ thập giá là chuyện gì rất lớn lao, trong khi phần nhiều thập giá của đời sống lại nằm trong những điều nhỏ bé lặp đi lặp lại. Một lời không nói để tránh làm người khác đau. Một lần nhường nhịn. Một buổi tối chăm người bệnh. Một bữa cơm nấu khi đã mệt. Một sự trung thành với lời hứa. Một sự trong sạch khi không ai nhìn thấy. Một đồng tiền kiếm cách lương thiện dù có cơ hội gian dối. Một lần dám nói “không” với điều sai dù có thể mất lợi ích. Những điều ấy không lên báo, không ai phong huy chương, nhưng đó chính là nơi người môn đệ vác thập giá và bước theo Chúa.
Trong đời sống linh mục và tu trì, lời này lại càng không thể chỉ là đề tài để giảng cho người khác. Người đã công khai nói mình muốn đi theo Đức Kitô phải tự hỏi mỗi ngày: tôi có còn đi sau Người không, hay đã bắt đầu bắt Người đi sau tôi? Có một loại thập giá đến từ công việc, nhưng cũng có một loại thập giá đến từ chính việc phải chết đi cho cái tôi trong sứ vụ. Làm việc nhiều chưa chắc đã là từ bỏ mình. Một người có thể hoạt động không ngừng mà cái tôi ngày càng lớn. Có thể giảng hay nhưng không chịu nghe ai góp ý. Có thể xây dựng nhiều công trình nhưng không xây nổi sự hiền lành. Có thể được nhiều người kính trọng mà trong lòng lại khát danh vọng. Có thể phục vụ người nghèo nhưng khó chịu với người sống bên cạnh. Có thể nói rất hay về Thánh Giá nhưng chạy khỏi mọi điều làm tổn thương tự ái. Thánh Giá của người tận hiến đôi khi chính là để chương trình của mình bị thay đổi, để công sức mình không được ghi nhận, để một người trẻ hơn làm tốt hơn mình mà lòng vẫn vui, để công trình đã xây phải trao cho người khác, để biết lui xuống khi đến lúc, để không xem một nhiệm sở hay một sứ vụ là “của tôi”. Không có từ bỏ mình, đời tận hiến dễ trở thành nơi cái tôi mặc áo đạo đức.
Chúa nói “theo Tôi”. Đây là trung tâm. Chúng ta không theo một học thuyết về đau khổ. Chúng ta theo một con người: Đức Giêsu Kitô. Vì thế mắt người môn đệ phải nhìn vào Người. Nếu chỉ nhìn thập giá, ta có thể tuyệt vọng. Nếu nhìn Đức Kitô đang vác thập giá, ta tìm thấy đường. Có một hình ảnh trong cuộc Thương Khó rất đẹp: ông Simon thành Kyrênê bị bắt vác thập giá đỡ Đức Giêsu. Tin Mừng nói ông “vác thập giá theo sau Đức Giêsu”. Không biết lúc ấy Simon nghĩ gì. Ông chỉ là người từ ngoài đồng về, vô tình đi ngang qua, rồi bỗng bị kéo vào câu chuyện lớn nhất của lịch sử cứu độ. Có lẽ ban đầu ông khó chịu. Đó không phải thập giá của ông. Đó không nằm trong kế hoạch ngày hôm ấy. Nhưng rồi ông đi sau Đức Giêsu, trên vai là cây gỗ mang mùi máu của Người. Bao nhiêu thập giá trong đời chúng ta cũng vậy: chúng không nằm trong kế hoạch. Không ai lên kế hoạch mắc bệnh. Không ai lập gia đình để một ngày sống giữa khủng hoảng. Không ai sinh con rồi mong con đau yếu. Không ai chọn bị phản bội. Không ai chuẩn bị để mất người thân quá sớm. Thập giá thường đi vào đời mà không xin phép. Nhưng câu hỏi quyết định không phải “tại sao nó đến?” mà là “tôi sẽ vác nó với ai?” Nếu vác một mình, thập giá có thể nghiền nát ta. Nếu vác sau Đức Kitô, chính con đường đau đớn ấy có thể trở thành hành trình biến đổi.
Có người mang thập giá và trở nên dịu dàng hơn. Có người mang thập giá và trở nên cay độc hơn. Cùng một đau khổ nhưng không tạo ra cùng một con người. Đau khổ tự nó không thánh hóa ai. Cách ta sống trong đau khổ mới là điều quan trọng. Một người từng bệnh nặng có thể từ đó rất cảm thông với người đau yếu; nhưng cũng có thể trở thành người luôn than trách. Một người từng nghèo có thể trở nên quảng đại; nhưng cũng có thể vì ám ảnh thiếu thốn mà suốt đời bám lấy tiền. Một người từng bị tổn thương có thể trở thành người chữa lành người khác; nhưng cũng có thể dùng vết thương của mình để làm người khác đau. Thập giá là ngã ba đường: hoặc nó làm tim ta khép lại, hoặc nếu trao nó cho Chúa, nó làm tim ta rộng hơn. Đức Kitô không hứa mọi thập giá sẽ biến mất. Người hứa ở với ta để thập giá không vô nghĩa.
“Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được.” Đây là nghịch lý kỳ lạ của Tin Mừng. Càng giữ mình, ta càng mất mình. Càng cho mình đi vì tình yêu, ta càng tìm thấy mình. Hãy nhìn một người mẹ. Những năm tháng đẹp nhất của tuổi trẻ có thể được trao cho con cái, những đêm mất ngủ, những bữa cơm ăn vội, những kế hoạch cá nhân phải gác lại. Xét theo logic “giữ đời mình”, bà mất rất nhiều. Nhưng chính trong việc trao đời ấy bà khám phá một chiều sâu mà người chỉ sống cho mình không thể hiểu. Người cha cũng vậy, lặng lẽ gánh trách nhiệm mà đôi khi chẳng bao giờ kể. Một bác sĩ ở lại thêm bên bệnh nhân. Một giáo viên không bỏ rơi học sinh yếu nhất. Một linh mục ngồi hàng giờ trong tòa giải tội. Một nữ tu chăm sóc người hấp hối chẳng ai biết tên. Những con người ấy đang “mất” cuộc đời theo nghĩa của thế gian, nhưng họ đang tìm lại nó trong ý nghĩa sâu nhất.
Thế gian nói: hãy bảo vệ cái tôi. Đức Giêsu nói: hãy từ bỏ mình. Thế gian nói: hãy tránh bằng mọi giá điều làm con khó chịu. Đức Giêsu nói: hãy vác thập giá. Thế gian nói: hãy làm theo ý con. Đức Giêsu nói: hãy theo Thầy. Chính vì vậy Tin Mừng luôn là một cuộc lội ngược dòng. Một xã hội dễ dạy con người rằng giá trị của mình nằm ở việc người khác nghĩ gì về mình; Chúa nói giá trị của con nằm trong tình yêu của Cha. Xã hội nói phải nổi bật; Chúa dạy hãy âm thầm. Xã hội nói phải thắng; Chúa dạy đôi khi hãy chấp nhận thua một cuộc tranh cãi để giữ một người anh em. Xã hội nói phải tích lũy; Chúa dạy cho đi. Xã hội nói kẻ làm con đau phải trả giá; Chúa dạy tha thứ. Xã hội nói người phục vụ là kẻ dưới; Chúa quỳ xuống rửa chân. Xã hội sợ thập giá; Đức Kitô biến thập giá thành ngai tòa của tình yêu.
Nhìn lên Thánh Giá, ta sẽ thấy Chúa Giêsu đã sống trọn vẹn lời Người dạy. Người không bắt môn đệ làm điều Người đứng ngoài. Người nói từ bỏ mình, và chính Người đã “hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ”. Người nói vác thập giá, và chính Người vác. Người nói mất mạng sống, và chính Người trao mạng sống. Người không cứu thế giới bằng sức mạnh cưỡng bức nhưng bằng tình yêu tự hiến. Tay Người bị đóng đinh nên không thể nắm giữ gì. Chân Người bị đóng đinh nên không thể chạy trốn. Trái tim Người bị đâm thâu nên hoàn toàn mở ra. Cây Thánh Giá trở thành bài giảng hùng hồn nhất về một Thiên Chúa không giữ lại chính mình. Đứng trước cây Thánh Giá, người ta hiểu rằng yêu không phải là nói “con yêu”, mà là dám trao mình. Yêu bao giờ cũng có một giá. Tình yêu không phải lúc nào cũng ngọt ngào. Có những lúc yêu là ở lại khi muốn bỏ đi. Yêu là nhẫn nại khi mình đã mệt. Yêu là sửa lỗi mà không hạ nhục. Yêu là nói sự thật mà vẫn giữ lòng nhân hậu. Yêu là biết im khi một lời có thể làm tổn thương. Yêu là để người khác được lớn lên dù điều đó có nghĩa mình không còn cần thiết như trước. Yêu là có thể đau mà vẫn không biến cái đau thành vũ khí.
Có lẽ một trong những thập giá lớn nhất của thời đại này là con người rất khó chấp nhận điều gì không theo ý mình. Ta quen với sự nhanh chóng: bấm một cái là có tin, đặt một cái là hàng tới, tìm một cái là có câu trả lời. Rồi ta vô thức đem não trạng ấy vào đời sống thiêng liêng. Cầu nguyện hôm nay, muốn ngày mai có kết quả. Làm một tuần việc tốt, muốn đời lập tức bình an. Xin một ơn, muốn Chúa trả lời đúng cách mình tưởng tượng. Nhưng Thiên Chúa không phải một dịch vụ đáp ứng mong muốn. Đức tin là tương quan. Và trong tương quan ấy, có những giai đoạn phải chờ. Abraham chờ. Môsê chờ. Israel chờ. Đức Maria chờ. Các môn đệ chờ giữa ngày Thứ Bảy Tuần Thánh khi viên đá vẫn còn lấp cửa mộ. Chờ cũng là một thập giá. Có người đang vác thập giá của một lời cầu chưa được trả lời. Đã cầu nhiều năm cho người thân trở lại, cho con cái đổi đời, cho gia đình hòa thuận, cho một căn bệnh thuyên giảm. Xin đừng vội nghĩ Thiên Chúa không nghe. Có những hạt giống nằm lâu trong lòng đất. Ta không thấy gì nhưng điều đó không có nghĩa là không có gì đang xảy ra. Đức tin đôi khi là tiếp tục tưới một mảnh đất khi chưa thấy mầm xanh.
Cũng có một thập giá gọi là thinh lặng của Thiên Chúa. Ai đã sống đời cầu nguyện đủ lâu sẽ biết có những lúc linh hồn chẳng cảm được gì. Đi lễ vẫn đi, đọc kinh vẫn đọc, nhưng mọi thứ khô khan. Ngày xưa cầu nguyện thấy bình an, bây giờ chỉ thấy trống rỗng. Nếu lúc ấy ta vẫn trung thành, sự trung thành trở nên tinh tuyền hơn. Ta không còn tìm Chúa vì cảm giác Chúa cho, mà tìm Chúa vì chính Chúa. Cũng giống một đôi vợ chồng sống bên nhau nhiều năm: tình yêu trưởng thành không thể dựa mãi trên cảm xúc ban đầu. Có những ngày họ ở lại với nhau không vì cảm giác mãnh liệt mà vì lời đã hứa, vì một tình yêu đã trở thành chọn lựa. Đức tin cũng vậy. Có ngày ta cầu nguyện vì lòng đầy lửa. Có ngày ta quỳ xuống chỉ vì nói: “Lạy Chúa, con chẳng cảm thấy gì, nhưng con vẫn ở đây.” Lời cầu ấy có thể đẹp hơn nhiều lời cầu trong lúc đầy cảm xúc.
“Vác thập giá mình mà theo” cũng có nghĩa là đừng biến thập giá thành căn cước duy nhất của mình. Có người bị một biến cố đau thương rồi cả đời chỉ nói về biến cố ấy, đến mức dần dần họ không còn biết mình là ai ngoài vết thương. Chúa mời gọi ta vác thập giá, không phải ôm thập giá và ngồi lì dưới đất. “Mà theo” nghĩa là vẫn bước. Có thể bước chậm. Có thể vừa đi vừa khóc. Có thể phải dừng nghỉ. Nhưng vẫn đi. Một người mất người thân có quyền đau, nhưng rồi với ơn Chúa, sẽ học sống tiếp. Một người thất bại có thể thương tiếc điều đã mất, nhưng không được để thất bại trở thành bản án chung thân. Một người phạm tội và thật lòng sám hối phải biết tin vào lòng thương xót, không được kiêu ngạo đến mức cho rằng tội mình lớn hơn lòng Chúa. Đường Thánh Giá có chặng Đức Giêsu ngã xuống, nhưng Người lại đứng lên. Một lần. Rồi lần nữa. Rồi lần nữa. Thánh thiện không phải là không bao giờ ngã. Thánh thiện nhiều khi chỉ là sau mỗi lần ngã, ta vẫn quay mặt về phía Đức Kitô và đứng dậy.
Có những người nói: “Thập giá của tôi nặng quá.” Có lẽ đúng. Ta không nên vội trả lời bằng những câu như: “Chúa không bao giờ gửi thập giá quá sức con.” Những câu nói ấy nếu nói không đúng lúc có thể làm người đau cảm thấy mình còn có lỗi vì không chịu nổi. Có lúc họ thực sự không chịu nổi một mình. Và đó là lúc cộng đoàn phải xuất hiện. Đức Giêsu trên đường Canvê đã nhận sự giúp đỡ của Simon Kyrênê. Điều ấy nhắc ta rằng vác thập giá mình không có nghĩa là từ chối mọi trợ giúp. Có lúc khiêm nhường nhất là dám nói: “Tôi cần người giúp.” Có người đang trầm mình trong gánh nặng gia đình nhưng cố giấu vì sợ người ta đánh giá. Có người mệt mỏi đến mức gần gục nhưng vẫn cố tỏ ra mạnh. Đức tin không bắt ta giả vờ mạnh. Ngay Đức Giêsu đã để Simon đỡ thập giá. Và Hội Thánh phải trở thành những Simon Kyrênê cho nhau. Khi một người yếu, người khác đỡ. Khi một gia đình gặp nạn, cộng đoàn đỡ. Khi một linh mục kiệt sức, anh em đỡ. Khi một người trẻ mất phương hướng, người trưởng thành đỡ. Đừng chỉ đứng bên đường nhìn người khác vác thập giá rồi nói: “Cố lên.” Hãy bước tới và đặt vai mình dưới một phần cây gỗ.
Đôi khi ta lại là người chất thêm thập giá lên vai người khác. Đây là điều cần xét mình. Có thể ta cầu nguyện rất nhiều nhưng lời nói trong nhà lại làm người khác khổ. Có thể ta nhiệt thành việc đạo nhưng tính nóng nảy khiến cả gia đình khiếp sợ. Có thể ta đòi người khác vác thập giá nhưng bản thân không chịu nhường một chút. Chúa không bao giờ mời ta trở thành thập giá của người khác bằng sự ích kỷ và vô trách nhiệm của mình. Nếu một người chồng uống rượu rồi gây khổ cho vợ con, đừng gọi đó là “thập giá Chúa gửi cho gia đình”. Đó là hậu quả của một tự do bị sử dụng sai và cần hoán cải. Nếu một người dùng quyền hành để áp bức người khác, đừng thiêng liêng hóa sự bất công. Tin Mừng của Thánh Giá luôn đòi người gây đau phải sám hối, đồng thời nâng đỡ người đang đau. Tôn kính Thánh Giá mà làm người khác phải mang những cây thập giá do sự độc đoán của ta tạo ra là một nghịch lý đau lòng.
Nếu mỗi tối chúng ta đặt câu Tin Mừng này trước lòng và xét mình, có lẽ đời sống sẽ đổi khác: Hôm nay tôi đã từ bỏ điều gì trong cái tôi của mình? Hôm nay tôi có vác điều phải vác hay tôi đã ném nó lên vai người khác? Hôm nay tôi theo Chúa hay bắt Chúa theo tôi? Hôm nay có điều gì tôi đã làm chỉ để bảo vệ danh dự, quyền lợi và cái tôi? Hôm nay tôi có chấp nhận một thiệt thòi vì sự thật không? Hôm nay tôi đã tha thứ thêm được một chút chưa? Hôm nay tôi có là Simon Kyrênê của ai không? Hôm nay tôi đã chất thêm thập giá cho ai không? Những câu hỏi ấy nghe đơn giản nhưng có thể dẫn đến một đời hoán cải.
Cuối cùng, điều làm người Kitô hữu dám vác thập giá không phải là sức chịu đựng phi thường, nhưng là vì biết mình đang theo ai. Đừng nhìn cây thập giá của mình lâu hơn nhìn Đức Kitô. Đừng đếm những vết thương nhiều hơn đếm những ân huệ. Đừng để đêm Thứ Sáu Tuần Thánh làm ta quên sáng Phục Sinh. Có thể hôm nay ta đang đứng giữa Vườn Dầu và chẳng hiểu gì. Có thể ta đang ở trước dinh Philatô và thấy sự bất công thắng thế. Có thể ta đang trên con đường Canvê, kiệt sức. Có thể ta đang ở dưới chân Thánh Giá và tất cả điều từng hy vọng dường như đã chết. Nhưng lịch sử của Đức Giêsu không kết thúc ở đó. Viên đá sẽ lăn. Sự chết không giữ được Người. Và người gắn đời mình với Người cũng không đi về phía hư vô.
Nhiều năm sau nhìn lại, ta có thể phát hiện những thập giá từng muốn Chúa cất khỏi đời mình lại trở thành những trường học lớn nhất. Một căn bệnh dạy ta biết cuộc sống mong manh. Một thất bại dạy ta khiêm nhường. Một người khó tính dạy ta nhẫn nại. Một lần bị hiểu lầm dạy ta thôi lệ thuộc vào lời khen. Một lần mất mát dạy ta biết cái gì thật sự quý. Một giai đoạn cô đơn đưa ta vào sâu hơn trong cầu nguyện. Không phải vì những điều ấy tự nó tốt, nhưng vì Thiên Chúa có thể làm phát sinh điều tốt ngay trong nơi ta tưởng chỉ có bóng tối. Thiên Chúa không luôn cất cây thập giá, nhưng Người có thể biến đôi vai người vác. Người không luôn thay đổi hoàn cảnh, nhưng Người thay đổi trái tim trong hoàn cảnh. Và nhiều khi điều kỳ diệu nhất không phải là ta thoát khỏi đau khổ, mà là sau tất cả, ta vẫn yêu được, vẫn tin được, vẫn tử tế được, vẫn không để điều xấu biến mình thành một con người xấu.
Một ngày kia, tất cả những thập giá đời này sẽ được đặt xuống. Cây thập giá cuối cùng có thể là tuổi già, bệnh tật và cái chết. Nhưng ngay cả lúc ấy, người môn đệ vẫn nghe tiếng Thầy: “Hãy theo Thầy.” Theo Người qua cánh cửa cuối cùng. Người đã đi qua đó trước. Kitô hữu không chết một mình. Đấng đã nói “hãy theo Tôi” sẽ không bỏ môn đệ ở ngưỡng cửa sự chết. Thánh Phaolô có thể nói rằng nếu ta cùng chết với Đức Kitô, ta cũng sẽ cùng sống với Người. Vì thế thập giá cuối cùng cũng không có quyền nói tiếng cuối cùng.
Có lẽ hôm nay Chúa không hỏi chúng ta những chuyện quá xa. Người chỉ chỉ vào cây thập giá đang nằm ngay trong đời ta và nói: “Con có muốn theo Thầy không?” Có thể đó là một người con phải tiếp tục yêu dù đã thất vọng nhiều lần. Có thể đó là người bạn đời mà ta phải tập nói lại những lời dịu dàng. Có thể đó là một căn bệnh cần chấp nhận điều trị. Có thể đó là một bổn phận đã nhiều lần muốn bỏ. Có thể đó là một người cần tha thứ. Có thể đó là một sự thật cần can đảm đối diện. Có thể đó là một tật xấu cần chặt bỏ. Có thể thập giá của ngày hôm nay chỉ là phải im lặng trước một câu xúc phạm thay vì trả đũa. Đừng đợi thập giá lớn mới tập vác. Người biết chết đi cho mình trong những điều nhỏ sẽ có sức đứng vững trong những giờ lớn.
Lạy Chúa Giêsu, con thường muốn theo Chúa nhưng lại muốn chọn con đường. Con muốn làm môn đệ nhưng sợ mất mát. Con muốn yêu nhưng không muốn đau. Con muốn Phục Sinh nhưng ngại Canvê. Con muốn vòng hào quang nhưng run trước vòng gai. Con muốn bình an nhưng lại không muốn buông cái tôi. Xin Chúa dạy con hiểu rằng thập giá không phải dấu Chúa bỏ con, bởi chính Con Một Chúa đã đi qua thập giá. Xin cho con đừng đi tìm đau khổ, nhưng khi đau khổ đến, biết tìm thấy Chúa ở trong đó. Xin cho con đủ khiêm nhường để nhận sự giúp đỡ khi cây thập giá quá nặng, và đủ lòng thương để trở thành Simon Kyrênê cho người đang kiệt sức bên cạnh con. Xin đừng để con dùng lời đạo đức mà chất thêm gánh nặng cho người đau khổ. Xin cho con biết khóc với người khóc, ở lại với người cô đơn, nâng người ngã xuống, tha cho người làm con đau, xin lỗi người bị con làm tổn thương. Xin cho con mỗi ngày chết đi một chút cho kiêu ngạo, ích kỷ, tự ái, tham vọng và ý riêng, để Đức Kitô được lớn lên trong con.
Và lạy Chúa, khi con mỏi mệt, xin cho con ngước nhìn Thánh Giá. Không phải để thấy một Thiên Chúa thích con người đau khổ, nhưng để thấy một Thiên Chúa đã yêu con đến mức không giữ lại gì. Khi con nghĩ không ai hiểu mình, xin cho con nhìn đôi tay bị đâm thủng của Chúa. Khi con bị phản bội, xin cho con nhớ nụ hôn Giuđa. Khi con cô đơn, xin cho con nhớ Vườn Cây Dầu. Khi con bị hiểu lầm, xin cho con nhớ phiên tòa bất công. Khi con kiệt sức, xin cho con nhớ Chúa đã ngã trên đường lên Núi Sọ. Khi con tưởng Thiên Chúa im lặng, xin cho con nhớ tiếng kêu của Chúa trên Thánh Giá. Và khi con tưởng mọi chuyện đã hết, xin cho con nhớ ngôi mộ trống vào buổi sáng ngày thứ nhất trong tuần.
“Ai muốn theo Tôi, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo.” Lời ấy không phải lời đe dọa. Đó là lời mời của tình yêu. Đức Giêsu không đứng cuối con đường để chờ chúng ta tự tìm đến. Người đi trước. Trên những con đường đời ta, nếu nhìn kỹ, ta sẽ thấy dấu chân Người. Người đã đi qua đau khổ trước ta. Người đã đi qua cô đơn trước ta. Người đã đi qua sự chết trước ta. Và cuối con đường, Người đã mở cánh cửa Phục Sinh.
Vậy nên, nếu hôm nay thập giá còn nặng, cứ bước thêm một bước. Nếu nước mắt còn rơi, cứ khóc nhưng đừng buông tay Chúa. Nếu chưa hiểu tại sao, cứ tin rằng không phải mọi điều cần được hiểu ngay mới có thể được trao phó. Nếu phải mất một điều vì trung thành với Tin Mừng, hãy nhớ rằng không có hy sinh nào vì tình yêu mà mất trước mặt Thiên Chúa. Nếu đang mệt vì làm điều tốt chẳng ai biết, hãy nhớ Cha trên trời thấy điều kín đáo. Nếu đang chiến đấu với chính mình, đừng nản vì cuộc chiến ấy chính là nơi người môn đệ đang được sinh ra. Nếu đã ngã, hãy đứng dậy. Nếu đã lạc xa, hãy trở về. Nếu thập giá quá nặng, hãy gọi người khác đến đỡ. Và nếu thấy một người đang gục bên đường, đừng hỏi tại sao họ yếu; hãy ghé vai vào cây thập giá của họ.
Cuối cùng, đời người Kitô hữu có lẽ chỉ là học cho đến tận hơi thở cuối cùng ba động từ Chúa đã nói trong câu Tin Mừng ấy: từ bỏ, vác lấy, bước theo. Từ bỏ cái tôi để trái tim có chỗ cho Thiên Chúa và anh em. Vác lấy thực tại đời mình với tình yêu thay vì oán trách. Bước theo Đức Kitô thay vì bắt Đức Kitô đi theo những dự tính của mình. Ba điều tưởng như mất mát nhưng lại chính là con đường dẫn đến tự do. Bởi khi không còn phải bảo vệ cái tôi bằng mọi giá, ta tự do. Khi không còn chạy trốn thực tại đời mình, ta bình an. Khi không còn tự mình tìm đường nhưng bước theo Đức Kitô, ta biết mình đang đi đâu.
Và có lẽ đến ngày đứng trước Chúa, điều quan trọng không còn là chúng ta đã có bao nhiêu thành công, được bao nhiêu người biết đến, xây được bao nhiêu công trình, giữ bao nhiêu chức vụ hay để lại bao nhiêu tiếng khen. Điều còn lại sẽ là: trong quãng đời được trao, ta đã yêu thế nào. Ta có dám mất mình vì yêu không. Ta có làm nhẹ thập giá của ai không. Ta có trung thành khi trung thành phải trả giá không. Ta có theo Chúa cho đến cùng không. Khi ấy, những cây thập giá từng làm ta khóc sẽ không còn trên vai. Những vết thương được đặt vào lòng thương xót sẽ được chữa lành. Những điều ta mất vì tình yêu sẽ được tìm lại trong Thiên Chúa. Và ta sẽ hiểu trọn điều hôm nay mới chỉ tin bằng đức tin: sau Thánh Giá luôn có Phục Sinh; sau việc mất mình vì Đức Kitô là tìm được chính mình; và con đường của người môn đệ, dù nhiều khi hẹp, dốc và đẫm nước mắt, vẫn là con đường đẹp nhất, bởi cuối con đường ấy có Người đang chờ.
Lm. Anmai, CSsR.

VÁC THẬP GIÁ MỖI NGÀY – NHỮNG THẬP GIÁ NHỎ TRONG ĐỜI THƯỜNG
Có những ngày chúng ta bước vào nhà thờ, ngước mắt nhìn lên Thánh Giá và cảm thấy lòng mình thật sốt sắng. Ta có thể quỳ rất lâu trước tượng Chúa chịu đóng đinh. Ta có thể hôn kính Thánh Giá bằng tất cả lòng thành. Ta có thể xúc động khi nghe kể về những chiếc đinh xuyên qua tay chân Chúa, về vòng gai trên đầu, về ngọn giáo đâm thấu cạnh sườn, về những giọt máu cuối cùng rơi xuống trên đồi Canvê. Thế nhưng điều kỳ lạ là vừa bước ra khỏi nhà thờ, chỉ cần một lời nói trái ý, một người làm ta khó chịu, một công việc không như dự tính, một chút mệt mỏi trong thân xác, một lần phải chờ đợi lâu hơn bình thường, một bữa cơm không vừa miệng, một người trong gia đình không hiểu mình, một đồng nghiệp không cộng tác, một người dưới quyền làm sai ý, một người trên quyền đối xử thiếu tế nhị, là ta có thể quên ngay Thánh Giá mà mình vừa cúi đầu tôn kính. Thánh Giá bằng gỗ treo trên cung thánh thì ta yêu, nhưng những thập giá bằng xương bằng thịt bước vào cuộc đời ta thì nhiều khi ta lại muốn tránh. Thánh Giá của Đức Kitô cách đây hai ngàn năm làm ta cảm động, nhưng thập giá của hôm nay, ngay trong căn nhà của mình, ngay trong cộng đoàn của mình, ngay nơi bàn làm việc của mình, ngay trong chính con người mình, lại làm ta bực bội. Có lẽ bởi vì chúng ta vẫn nghĩ thập giá phải là một điều gì thật lớn lao: một cơn bệnh hiểm nghèo, một tai họa khủng khiếp, một cuộc bách hại đức tin, một mất mát kinh hoàng, một hy sinh phi thường. Nhưng Đức Giêsu không chỉ nói về những thập giá lớn. Người nói một câu rất âm thầm mà rất quyết liệt: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (x. Lc 9,23). Chữ “hằng ngày” làm cho lời mời gọi ấy trở nên gần gũi đến đáng sợ. Nghĩa là thập giá không chỉ đến một vài lần trong đời. Thập giá có mặt trong từng ngày. Không phải ngày nào cũng có Canvê lớn, nhưng ngày nào cũng có những Canvê bé nhỏ. Không phải ngày nào cũng có những chiếc đinh bằng sắt, nhưng ngày nào cũng có những chiếc đinh của sự nhẫn nhịn, của bổn phận, của từ bỏ ý riêng, của chấp nhận giới hạn, của chịu đựng một người khó tính, của giữ im lặng khi đáng lẽ ta muốn trả đũa, của mỉm cười khi trong lòng đang rất mệt, của đứng dậy làm việc khi ta chỉ muốn nằm xuống, của tiếp tục yêu khi tình yêu không được đáp lại như mình mong muốn. Chính ở đó, giữa những điều rất nhỏ ấy, người môn đệ được hỏi một câu không thể né tránh: con có muốn theo Thầy không?
Vác thập giá mỗi ngày trước hết không phải là đi tìm đau khổ. Kitô giáo không phải là tôn giáo tôn thờ đau khổ. Chúa Giêsu không đến để dạy con người thích đau đớn, cũng không bảo người Kitô hữu phải tự làm khổ mình để chứng minh lòng đạo đức. Đau khổ tự nó không cứu được ai. Thập giá chỉ trở thành Thánh Giá khi có tình yêu. Hai tên trộm cùng bị đóng đinh bên cạnh Chúa Giêsu, cùng đau, cùng mất máu, cùng hấp hối, nhưng thái độ của họ không giống nhau. Một người để đau khổ biến mình thành cay độc; người kia để đau khổ mở lòng mình ra cho niềm tin. Cũng một bệnh tật, có người trở nên dịu dàng hơn, có người trở nên cay nghiệt hơn. Cũng một nghịch cảnh, có người gần Chúa hơn, có người xa Chúa hơn. Cũng một cuộc hiểu lầm, có người học được tha thứ, có người nuôi hận cả đời. Vì vậy, điều làm nên giá trị của thập giá không phải là thập giá nặng bao nhiêu, nhưng là ta vác nó bằng tình yêu nào. Có những người chịu đau khổ rất nhiều nhưng cả đời chỉ than trách. Có những người chỉ mang một thập giá nhỏ nhưng mang với lòng tin sâu xa đến mức thập giá ấy trở thành con đường nên thánh. Thiên Chúa không cân đời ta bằng kilogram đau khổ. Người nhìn vào tình yêu mà ta đặt trong từng hy sinh. Một bà mẹ thức suốt đêm bên đứa con sốt không làm điều gì khiến báo chí phải đăng, nhưng trong ánh mắt mỏi mệt ấy có thể có một tình yêu rất gần Thánh Giá. Một người cha âm thầm đi làm mỗi ngày, chịu nắng chịu mưa, chịu áp lực, không than thở để gia đình có cơm ăn áo mặc, có thể đang vác thập giá của mình rất đẹp. Một người vợ biết nhịn một lời để gia đình khỏi thêm căng thẳng; một người chồng biết từ bỏ một cuộc vui để về bên vợ con; một người con biết bỏ điện thoại xuống để ngồi nghe cha mẹ già kể đi kể lại một câu chuyện cũ; một linh mục dù mệt vẫn kiên nhẫn ngồi lại với một người đang đau khổ; một tu sĩ âm thầm chu toàn một công việc không ai biết, không ai khen; một nhân viên không gian dối dù gian dối có thể đem lại lợi lộc; một người bệnh không để căn bệnh biến mình thành gánh nặng tinh thần cho mọi người; một người bị xúc phạm vẫn giữ lời nói khỏi trở thành mũi dao đâm ngược người khác: tất cả những điều đó nhỏ lắm, nhưng chính là những mảnh gỗ của cây thập giá mỗi ngày.
Tin Mừng kể rằng khi Đức Giêsu trên đường lên Giêrusalem, Người biết trước điều đang chờ đợi mình. Người không lên Giêrusalem như một người bị số phận đẩy đi. Người đi trong tự do. Người biết ở đó có phản bội, có bắt bớ, có roi đòn, có nhục mạ, có Thánh Giá, nhưng Người vẫn đi, vì tình yêu đối với Chúa Cha và tình yêu dành cho con người. Và khi nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”, Đức Giêsu không nói một lý thuyết Người chưa từng sống. Người đi trước. Người không đứng bên đường chỉ tay về phía Canvê rồi bảo chúng ta tự đi. Người đã bước trên con đường ấy. Người đã ngã dưới sức nặng cây gỗ. Người đã để Simon thành Kyrênê ghé vai vào nâng đỡ. Người đã gặp những phụ nữ khóc thương. Người đã nhìn thấy Mẹ mình đứng dưới chân Thánh Giá. Người đã uống đến giọt cuối cùng chén đắng của phận người. Vì thế, khi một người Kitô hữu vác thập giá, người ấy không bao giờ đi trên con đường chưa từng có dấu chân Chúa. Đường đau khổ của ta đã có dấu chân của Đức Giêsu. Nước mắt của ta đã từng chạm vào nước mắt của Người. Cô đơn của ta đã có trong lời Người kêu lên trên Thánh Giá. Sự phản bội ta chịu đã có trong nụ hôn của Giuđa. Nỗi đau bị người thân không hiểu đã có trong cuộc đời của Người. Sự bất công ta chịu đã có trong phiên tòa của Philatô. Những lời vu khống ta nghe đã từng vang lên quanh sân dinh thượng tế. Khi ta nói: “Không ai hiểu tôi”, hãy nhìn Thánh Giá. Có một Đấng hiểu. Khi ta nói: “Tôi không chịu nổi nữa”, hãy nhìn Thánh Giá. Có một Đấng đã đi qua giới hạn đau đớn của con người và đang đứng bên ta. Khi ta nói: “Tại sao lại là tôi?”, hãy nhìn Người vô tội đang bị treo giữa hai tên tội phạm. Thánh Giá không trả lời mọi chữ “tại sao” bằng một công thức, nhưng Thánh Giá nói với ta một điều lớn hơn: trong đau khổ, Thiên Chúa không đứng xa.
Những thập giá nhỏ trong đời thường thường khó nhận ra bởi chúng không mang hình cây thánh giá. Có khi thập giá mang hình một người. Người ấy có thể là người sống cạnh ta mỗi ngày. Một tính tình trái ngược. Một thói quen làm ta khó chịu. Một cách nói chuyện khiến ta phải cố gắng rất nhiều để không nổi nóng. Có những người chúng ta chỉ cần gặp năm phút đã thấy mệt, nhưng Thiên Chúa lại để họ sống cạnh ta năm năm, mười năm, thậm chí cả đời. Ta cầu xin: “Lạy Chúa, xin cất người này khỏi đời con.” Có khi Chúa lại nói: “Không, Cha muốn dùng người này để cất khỏi con tính ích kỷ, kiêu ngạo và nóng nảy.” Có những người không thay đổi theo lời cầu nguyện của ta, bởi vì có thể Chúa đang muốn dùng chính họ để thay đổi ta. Ta cứ xin Chúa sửa người kia; Chúa lại âm thầm sửa chính ta. Ta xin Chúa làm cho người kia dễ thương hơn; Chúa lại muốn làm cho trái tim ta rộng hơn. Ta xin Chúa làm cho họ nói ít lại; Chúa muốn ta biết lắng nghe nhiều hơn. Ta xin Chúa làm cho họ hiểu ta; Chúa muốn ta học cách hiểu họ. Thật ra, người khó sống bên cạnh ta nhiều khi là chiếc gương cho ta nhìn thấy những góc cạnh của chính mình mà ta không muốn nhìn. Không phải mọi điều người khác làm đều đúng, và người Kitô hữu không được biến chịu đựng thành đồng lõa với sự ác hay chấp nhận bạo hành. Nhưng trong vô vàn va chạm bình thường của đời sống, ta phải thú nhận rằng rất nhiều lần nỗi đau của ta không đến từ tội ác ghê gớm của người khác, mà đến từ việc ý họ không giống ý ta. Thập giá lớn nhất nhiều khi không phải người kia, mà là cái tôi của mình.
Và vì thế, từ bỏ mình là phần không thể tách rời của việc vác thập giá. Không từ bỏ mình, chẳng ai vác được thập giá lâu. Cái tôi của ta rất thích được công nhận, được hiểu, được nghe lời, được ưu tiên, được đối xử đặc biệt. Nó muốn lời cuối cùng phải thuộc về mình. Nó muốn nếu mình làm việc tốt thì người khác phải biết. Nó muốn nếu mình hy sinh thì người khác phải cảm ơn. Nó muốn nếu mình yêu thì phải được đáp lại. Nó muốn nếu mình tha thứ thì người kia phải biết mình cao thượng thế nào. Nhưng tình yêu của Thánh Giá không tính toán như thế. Chúa Giêsu trên Thánh Giá không nói: “Ta đã yêu các ngươi đến thế này, các ngươi phải trả lại cho Ta.” Người chỉ yêu. Và chính tình yêu không đòi trả giá ấy cứu nhân loại. Những thập giá nhỏ mỗi ngày vì thế thường là những lần cái tôi không được như ý. Người khác không khen khi ta đáng được khen. Người khác quên cảm ơn. Công sức của ta bị coi như chuyện đương nhiên. Người khác được ghi nhận trong khi ta làm nhiều hơn. Một ý kiến ta cho là rất hay bị bác bỏ. Một người trẻ không nghe kinh nghiệm của ta. Một người dưới quyền không làm đúng cách ta muốn. Một người trên quyền quyết định điều ta không thích. Một người thân không đáp lại kỳ vọng của ta. Nếu mỗi lần như thế ta lập tức đau đớn, nổi giận, trách móc, có thể vấn đề không hoàn toàn nằm ở họ. Có khi Chúa đang chạm đến thần tượng âm thầm nhất trong ta: chính mình.
Một trong những thập giá nhỏ nhưng nặng nhất là thập giá của sự lặp lại. Người ta dễ hào hứng với một hy sinh lớn nhưng chỉ xảy ra một lần. Khó hơn nhiều là làm một công việc nhỏ mỗi ngày, không ai thấy, không ai khen, không có gì mới mẻ. Một bà mẹ nấu cơm một ngày không khó; nấu cơm cho gia đình ba mươi năm là một hành trình yêu thương. Một người cha đi làm một ngày không khó; thức dậy mỗi sáng suốt bốn mươi năm để gánh trách nhiệm gia đình mới cho thấy trọng lượng của tình yêu. Một linh mục giảng một bài thật hay trước đông người có thể đem lại cảm xúc; nhưng thức dậy mỗi ngày để cầu nguyện, dâng lễ, lắng nghe những câu chuyện quen thuộc, đi thăm người bệnh, giải quyết những việc nhỏ nhặt, chịu đựng những hiểu lầm, giữ lòng mình khỏi nguội lạnh qua hàng chục năm đời linh mục mới là thập giá âm thầm. Một tu sĩ khấn một ngày thì trang trọng, nhưng sống lời khấn từng ngày, khi tuổi trẻ qua đi, khi cảm xúc ban đầu không còn, khi cộng đoàn có những va chạm, khi công việc chẳng như mong ước, khi không còn ai vỗ tay, mới là sự trung tín thật. Tình yêu không được chứng minh chủ yếu trong khoảnh khắc phi thường, mà trong sự bền bỉ của những điều bình thường. Chúa Giêsu đã sống ba mươi năm đời ẩn dật trước ba năm rao giảng. Ba mươi năm ấy gần như Tin Mừng không kể gì nhiều. Ngày nối ngày ở Nazareth, lao động, cầu nguyện, sống trong một gia đình bình thường. Thiên Chúa đã thánh hóa cái bình thường bằng việc bước vào cái bình thường. Vì thế, đừng coi thường một ngày chẳng có gì đặc biệt. Chính ngày ấy có thể là nơi ta nên thánh.
Thập giá mỗi ngày còn là chấp nhận giới hạn của bản thân. Có những người rất dễ chấp nhận sự yếu đuối của người khác nhưng không chịu nổi sự yếu đuối của mình. Ta già đi. Ta không còn khỏe như trước. Trí nhớ không còn tốt. Công việc từng làm rất nhanh giờ phải làm chậm. Những người trẻ xuất hiện, giỏi hơn ta trong nhiều lãnh vực. Một ngày kia ta nhận ra thế giới vẫn tiếp tục dù không có mình. Điều đó đau. Không phải đau nơi thân xác mà đau ở cái tôi. Người ta thường nói đến thập giá của bệnh tật, nhưng ít nói đến thập giá của tuổi già, của sự giảm sút khả năng, của việc phải nhờ người khác giúp. Khi còn khỏe, ta cho người khác một ly nước; khi già, phải để người khác mang nước cho mình. Khi còn trẻ, ta chăm sóc người khác; đến lúc ta phải để người khác chăm sóc ta. Cả hai đều có thể là tình yêu. Biết cho là một ân sủng; biết nhận trong khiêm tốn cũng là một ân sủng. Có những người cuối đời không còn làm được những việc lớn, rồi tưởng đời mình vô ích. Không. Một người nằm trên giường bệnh mà dâng sự đau đớn với Đức Kitô có thể đang làm một việc lớn trước mặt Thiên Chúa. Giá trị đời người không nằm ở năng suất. Ta không được Thiên Chúa yêu vì ta còn làm được bao nhiêu việc. Người yêu ta vì ta là con của Người. Khi mọi khả năng dần bị lấy đi, vẫn còn một khả năng cuối cùng không ai lấy được: khả năng yêu.
Có một thập giá nhỏ nhưng ngày nào cũng gặp: phải chờ đợi. Chờ một người đến muộn. Chờ một câu trả lời. Chờ kết quả khám bệnh. Chờ một lời xin lỗi. Chờ một người thay đổi. Chờ một lời cầu nguyện được đáp. Ta ghét chờ vì ta muốn kiểm soát thời gian. Nhưng Thiên Chúa làm rất nhiều điều trong thời gian chờ đợi. Abraham phải chờ. Môsê phải chờ. Dân Israel đi bốn mươi năm trong sa mạc. Đức Maria mang Chúa trong lòng chín tháng. Đức Giêsu sống ba mươi năm trước khi bắt đầu sứ vụ công khai. Không phải mọi sự trì hoãn đều vô nghĩa. Có những hoa trái chỉ chín được nhờ thời gian. Có những tính cách chỉ trưởng thành được khi ta không có ngay điều mình muốn. Một lời cầu nguyện được đáp lập tức có thể cho ta một món quà; một lời cầu nguyện phải chờ lâu có thể biến đổi cả con người ta. Ta cứ hỏi: “Bao giờ Chúa cho con điều này?” Có khi Chúa lại hỏi: “Trong thời gian chờ điều ấy, con đang trở thành người thế nào?”
Thập giá nhỏ cũng là những điều ta phải làm dù không có cảm hứng. Đức tin trưởng thành không thể lệ thuộc vào cảm xúc. Có ngày cầu nguyện rất ngọt ngào; có ngày đọc một kinh cũng thấy khô khan. Có ngày đi lễ tâm hồn sốt sắng; có ngày ngồi trong nhà thờ mà lòng đầy chia trí. Có ngày phục vụ người khác với niềm vui; có ngày chỉ thấy mệt. Nếu ta chỉ trung thành khi có cảm xúc, đó chưa phải tình yêu trưởng thành. Người mẹ không chỉ chăm con lúc có cảm hứng làm mẹ. Người cha không chỉ chu toàn trách nhiệm khi tâm trạng vui. Vợ chồng không chỉ yêu nhau khi trái tim rung động. Người tu không chỉ sống lời khấn vào những ngày bình an. Linh mục không chỉ là linh mục lúc đứng trên cung thánh. Chính những ngày không cảm thấy gì mà vẫn làm điều phải làm mới cho thấy ta thuộc về ai. Thập giá nhiều khi không đau theo nghĩa thể lý; nó là sự trung thành âm thầm khi tâm hồn chẳng thấy phần thưởng nào. “Lạy Chúa, hôm nay con chẳng cảm thấy gì, nhưng con vẫn ở đây.” Câu nói ấy đôi khi đẹp hơn rất nhiều lời cầu nguyện đầy cảm xúc.
Có những thập giá mang tên “không được hiểu”. Ta cố gắng rất nhiều nhưng người khác chỉ nhìn thấy một lỗi. Ta có ý tốt nhưng bị hiểu sai. Ta im lặng vì muốn giữ bình an, người khác lại cho là khinh thường. Ta lên tiếng vì trách nhiệm, người ta nói ta thích kiểm soát. Ta mềm mỏng, người ta bảo yếu đuối. Ta cứng rắn đúng lúc, người ta bảo thiếu yêu thương. Sống giữa con người, không thể tránh hoàn toàn hiểu lầm. Đức Giêsu cũng bị hiểu lầm. Người chữa bệnh ngày Sabát và bị kết án. Người ăn với người tội lỗi và bị gọi là bạn của kẻ xấu. Người nói sự thật và bị cho là phạm thượng. Người im lặng trước Philatô cũng chẳng vì thế mà được tha. Nếu Đức Giêsu hoàn hảo còn bị hiểu lầm, tại sao ta nghĩ mình có thể sống một đời mà tất cả mọi người đều hiểu đúng về mình? Có lúc ta phải giải thích. Có lúc ta phải sửa một điều sai. Nhưng cũng có lúc ta phải học để một sự hiểu lầm nằm đó mà không chạy khắp nơi thanh minh. Đó là một thập giá rất thật: giao danh dự của mình vào tay Thiên Chúa.
Thập giá còn là những điều không thể thay đổi. Có những cánh cửa đã đóng. Một người thân đã qua đời. Một cơ hội đã mất. Một quyết định sai trong quá khứ để lại hậu quả không thể đảo ngược. Một vết thương có thể lành nhưng để lại sẹo. Có những người mất cả đời chống lại một điều đã xảy ra. Họ vẫn sống trong câu: “Giá như ngày ấy…” Nhưng quá khứ không trở lại. Đức tin không có nghĩa là giả vờ rằng chuyện ấy không đau. Đức tin là dám đưa chính điều không thể thay đổi ấy đặt vào tay Thiên Chúa. Phục Sinh không xóa những vết đinh khỏi thân thể Đức Kitô. Sau khi sống lại, Người vẫn cho Tôma nhìn thấy vết thương. Nhưng vết thương không còn chảy máu. Vết thương đã trở thành dấu chứng của tình yêu chiến thắng. Có những vết thương trong đời ta cũng thế. Chúng có thể không biến mất hoàn toàn, nhưng ân sủng có thể biến chúng từ nơi chảy máu thành nơi ta biết cảm thông. Người từng mất mát hiểu người mất mát. Người từng thất bại bớt khắt khe với người thất bại. Người từng được tha thứ biết tha thứ. Thiên Chúa không tạo ra mọi vết thương của ta, nhưng Người có thể làm cho không một vết thương nào trở thành vô ích nếu ta trao nó cho Người.
Có khi thập giá rất nhỏ: một cơn đau đầu mà vẫn phải tử tế. Một đêm mất ngủ mà sáng hôm sau vẫn không trút bực tức lên người khác. Một chiếc xe hỏng đúng lúc vội. Một cuộc điện thoại đến khi mình đang bận. Một người hỏi điều mình đã giải thích ba lần. Một đứa trẻ làm đổ ly nước vừa lau xong. Một người già kể cùng một câu chuyện lần thứ mười. Một cuộc họp kéo dài. Một hàng người chờ trước mặt. Một mạng internet chậm. Một chuyến bay trễ. Một bữa ăn nguội. Một căn phòng nóng. Một cơn mưa làm hỏng kế hoạch. Những chuyện ấy nhỏ đến mức nhắc ra có vẻ buồn cười. Nhưng chính những chuyện nhỏ làm lộ rõ con người thật của ta. Nhiều người có thể nói những điều cao đẹp về tình yêu nhưng nổi giận chỉ vì người trước mặt đi xe chậm. Có người sẵn sàng làm một việc bác ái lớn nhưng không chịu nổi một tiếng động trong nhà. Có người muốn cứu thế giới nhưng không thể nhẹ lời với người sống cạnh mình. Đời sống thiêng liêng được kiểm chứng không phải trước hết ở những phút sốt sắng, mà trong phản ứng của ta trước những điều trái ý rất nhỏ. Thánh thiện không phải là bay khỏi mặt đất. Thánh thiện là đặt tình yêu vào những điều bình thường nhất của mặt đất.
Vác thập giá hằng ngày cũng là học không chuyển thập giá của mình sang vai người khác. Ta mệt, rồi làm cả nhà mệt theo. Ta buồn, rồi bắt mọi người phải buồn. Ta thất bại, rồi trách người khác. Ta bị người này làm tổn thương, rồi trút giận lên người kia. Ta mang một thập giá nhưng thay vì vác nó, ta lấy nó đánh người bên cạnh. Đó không còn là Thánh Giá. Đức Giêsu bị đóng đinh nhưng không dùng đau khổ của mình để làm đau người khác. Trong lúc chịu cực hình, Người vẫn nói lời tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người vẫn quan tâm đến Mẹ và người môn đệ. Người vẫn mở cửa thiên đàng cho người trộm biết sám hối. Đau khổ không làm Người co lại trong chính mình; đau khổ làm tình yêu Người mở rộng đến tận cùng. Đây là một tiêu chuẩn đáng sợ để xét mình: đau khổ đang làm ta trở nên dịu dàng hơn hay cay nghiệt hơn? Sau những điều ta đã chịu, ta hiểu người khác hơn hay xét đoán họ hơn? Thập giá đang đưa ta gần Đức Kitô hay chỉ làm cái tôi của ta to thêm?
Một thập giá khác là tha thứ. Nói “con tha thứ” thì dễ; sống sự tha thứ rất lâu mới khó. Tha thứ không phải là quên như chưa từng xảy ra. Tha thứ cũng không có nghĩa là gọi điều sai thành đúng, hay tiếp tục đặt mình vào một tình huống nguy hiểm. Tha thứ là từ chối để sự dữ của người khác tiếp tục điều khiển trái tim mình. Tôi có thể nhớ nhưng không còn muốn trả thù. Tôi có thể đau nhưng không nuôi hận. Có những cuộc tha thứ phải làm nhiều lần đối với cùng một vết thương. Hôm nay ta tha, ngày mai ký ức trở lại, ta phải tha nữa. Không phải vì lần tha trước giả tạo, mà vì vết thương sâu. Mỗi lần ký ức trở lại, ta lại đặt nó dưới chân Thánh Giá. Thánh Phêrô hỏi phải tha đến bảy lần chăng; Chúa Giêsu mở ra một chân trời gần như không giới hạn. Bởi tha thứ chính là vác thập giá. Ta từ bỏ quyền trả đũa. Ta không để nỗi đau biến mình thành phiên bản của người đã làm đau mình. Và kỳ lạ thay, người được giải thoát đầu tiên nhờ tha thứ thường chính là ta.
Vác thập giá cũng có nghĩa là nói “không” với chính mình. Không phải điều gì thích cũng làm. Không phải lời gì muốn nói cũng nói. Không phải cảm xúc nào cũng phải biểu lộ ngay. Không phải món gì muốn mua cũng cần mua. Không phải tin gì nghe được cũng phải kể. Không phải điều gì biết về người khác cũng có quyền công bố. Không phải người nào làm ta khó chịu cũng phải nhận ngay một bài học. Khả năng tự chủ là một dạng thập giá. Trong thời đại tôn vinh sự thoải mái, người ta rất dễ nghĩ tự do là muốn gì làm nấy. Nhưng người không thể nói “không” với bản năng của mình chưa thật sự tự do. Chúa Giêsu tự do nhất chính khi Người có thể xuống khỏi Thánh Giá mà không xuống. Người đã chọn ở lại. Tự do Kitô giáo không phải là không có giới hạn; là có khả năng chọn điều tốt ngay cả khi điều tốt làm ta đau.
Có người nói: “Thập giá của tôi nặng quá.” Đúng, có những thập giá thật sự rất nặng. Khi ấy đừng quên Simon thành Kyrênê. Đức Giêsu đã cho một người khác đỡ cây Thánh Giá của mình. Nếu chính Con Thiên Chúa đã chấp nhận một bờ vai giúp đỡ, ta không cần phải xấu hổ khi cần người khác. Vác thập giá không có nghĩa là cô độc. Có những lúc phải đi gặp bác sĩ. Có những lúc cần một người linh hướng, một nhà chuyên môn, một người bạn đáng tin, một cộng đoàn nâng đỡ. Có những gánh nặng sẽ nhẹ đi khi được chia sẻ đúng người. Khi ta để người khác trở thành Simon cho mình, ta cũng cho họ cơ hội sống tình yêu. Và một ngày khác, ta lại trở thành Simon cho người khác. Hội Thánh đẹp nhất không phải khi mọi người đều mạnh, mà khi người mạnh hôm nay đỡ người yếu hôm nay, để ngày mai người được đỡ lại biết đỡ một người khác.
Nhưng cũng cần phân định để đừng gọi mọi hậu quả của sự thiếu khôn ngoan là “thập giá Chúa gửi”. Có những người sống bất cẩn, rồi khi hậu quả đến lại nói: “Chúa gửi thập giá.” Có người không chăm sóc sức khỏe, không giữ lời, không quản lý tài chính, không làm việc có trách nhiệm, rồi gọi rắc rối phát sinh là thử thách Chúa gửi. Có những “thập giá” thật ra do ta tự đóng lấy. Khi ấy việc đúng không phải chỉ cam chịu, mà là hoán cải, sửa sai, học lại cách sống. Người Kitô hữu không được dùng hai chữ “thập giá” để hợp thức hóa sự vô trách nhiệm. Vác thập giá không phải là buông xuôi. Đức Giêsu đón nhận Thánh Giá khi đó là đường trung thành với Chúa Cha, nhưng Người cũng chữa bệnh, cho kẻ đói ăn, bênh vực người bị áp bức. Vì thế, nếu một đau khổ có thể được chữa, hãy chữa. Nếu một bất công có thể được sửa, hãy sửa. Nếu một mối quan hệ độc hại cần có ranh giới, hãy đặt ranh giới. Nếu một sai lầm cần xin lỗi, hãy xin lỗi. Đừng thần thánh hóa điều Thiên Chúa muốn ta thay đổi.
Cũng có những thập giá rất riêng tư mà người ngoài không thấy. Một người cười nói bình thường nhưng bên trong đang chiến đấu với nỗi cô đơn. Một người vẫn đi làm đều đặn nhưng mỗi tối về căn phòng trống trải. Một đôi vợ chồng đã nhiều năm mong con. Một người cha đau đáu vì đứa con đi sai đường. Một người mẹ cầu nguyện mỗi tối cho gia đình đang rạn nứt. Một người trẻ bối rối trước tương lai. Một người lớn tuổi cảm thấy mình không còn cần thiết. Một linh mục đứng trước cộng đoàn rất vững vàng nhưng có những đêm chỉ mình Chúa biết những gì trong lòng. Một tu sĩ sống giữa cộng đoàn đông người mà vẫn có lúc cảm thấy sâu xa cô độc. Đừng vội xét đoán ai bởi vẻ ngoài. Ta không biết chiếc thập giá họ đang mang. Có khi người nói một câu khó nghe đang đau. Có khi người lạnh lùng đang sợ bị tổn thương lần nữa. Có khi người khép kín từng tin người rồi bị phản bội. Lòng thương xót bắt đầu khi ta nhớ rằng mọi người ta gặp đều có một câu chuyện mà ta không biết hết.
Chính vì thế, có một cách rất đẹp để vác thập giá của mình: đừng làm nặng thêm thập giá của người khác. Nếu hôm nay không làm được điều lớn, ít nhất đừng trở thành một chiếc đinh trong thập giá của ai. Đừng thêm một lời cay nghiệt vào ngày vốn đã khó của họ. Đừng lấy chuyện riêng của người khác làm đề tài giải trí. Đừng kết án một con người chỉ từ một sai lầm. Đừng dùng mạng xã hội như một tòa án nơi ta vừa là công tố viên, vừa là thẩm phán, vừa là người thi hành án. Đừng đem nỗi yếu đuối của người khác ra để chứng minh mình đạo đức. Đừng nhân danh sự thật mà quên tình yêu. Nhiều khi giúp người khác vác thập giá không cần tiền bạc hay việc phi thường; chỉ cần bớt một lời làm họ đau, thêm một câu nâng đỡ, một cuộc gọi đúng lúc, một cái nắm tay, một bữa cơm, một giờ lắng nghe mà không phán xét.
Điều làm chúng ta mệt không phải lúc nào cũng là trọng lượng thật của thập giá, mà còn là việc ta cứ nhìn sang thập giá của người khác. “Tại sao họ khỏe còn tôi bệnh? Tại sao gia đình họ thuận hòa còn nhà tôi rối ren? Tại sao người ấy làm ít mà được khen nhiều? Tại sao người kia cầu nguyện dường như được nhận lời, còn tôi chờ mãi?” So sánh làm thập giá nặng gấp đôi. Đức Giêsu đã nói với Phêrô khi ông quay sang hỏi về Gioan: “Phần anh, hãy theo Thầy.” Đó là một lời rất cần cho chúng ta. Đừng sống đời mình bằng cách nhìn mãi con đường người khác. Mỗi người có một ơn gọi, một lịch sử, một thập giá, một ân sủng riêng. Chúa không hỏi ta tại sao không sống giống người kia. Chúa hỏi ta đã yêu thế nào trong cuộc đời được trao cho ta.
Vác thập giá mỗi ngày không phải là một thái độ buồn bã. Người mang Thánh Giá với Đức Kitô có thể vẫn rất vui. Kitô giáo không tôn thờ một cây Thánh Giá trống rỗng hy vọng. Ta biết sau Thứ Sáu Tuần Thánh là sáng Phục Sinh. Nhưng Phục Sinh không phải con đường tránh Thánh Giá; là con đường đi xuyên qua Thánh Giá. Hạt lúa phải rơi xuống đất mới sinh nhiều bông hạt. Người mẹ đau khi sinh con nhưng niềm vui mới được mở ra. Một con người phải từ bỏ nhiều điều trẻ con mới trưởng thành. Có những cái chết nhỏ cần xảy ra trong ta để một sự sống mới xuất hiện: cái chết của kiêu ngạo để khiêm nhường sống; cái chết của ích kỷ để quảng đại sống; cái chết của hận thù để tha thứ sống; cái chết của thói kiểm soát để tín thác sống; cái chết của ý riêng để ý Chúa có chỗ. Vì thế, mỗi thập giá nhỏ được vác trong tình yêu có thể trở thành một cuộc Phục Sinh nhỏ.
Có một câu hỏi đáng để đặt ra mỗi buổi sáng: “Thập giá hôm nay của tôi là gì?” Không cần tìm xa. Có thể nó đang nằm ngay trong lịch làm việc. Có thể là một người mình sắp gặp. Có thể là một trách nhiệm đã trì hoãn. Có thể là một cuộc nói chuyện cần sự khiêm tốn. Có thể là xin lỗi trước dù ta cho rằng mình chỉ sai hai phần còn người kia sai tám phần. Có thể là bỏ bớt một giờ trên điện thoại để dành cho gia đình. Có thể là thức dậy đúng giờ. Có thể là uống thuốc đều đặn. Có thể là cầu nguyện khi không muốn. Có thể là không nói một câu có khả năng làm tổn thương. Có thể là làm công việc của mình tử tế dù chẳng ai kiểm tra. Có thể chỉ là chấp nhận hôm nay không diễn ra theo kế hoạch mình muốn. Nếu nhận ra nó và nói: “Lạy Chúa, con vác điều này với Chúa”, thập giá không còn là một vật vô nghĩa. Nó trở thành nơi gặp gỡ.
Buổi tối, ta lại có thể hỏi: “Hôm nay con đã vác thập giá thế nào?” Có lẽ ta đã vác rất dở. Ta đã cáu. Ta đã than. Ta đã nói lời không nên nói. Ta đã đặt thập giá xuống giữa đường. Không sao, hãy quay lại. Thánh Phêrô đã từng bỏ chạy. Các môn đệ đã từng trốn. Người môn đệ không phải người không bao giờ ngã, mà là người biết đứng dậy để tiếp tục theo Thầy. Đường Thánh Giá truyền thống cho ta thấy Đức Giêsu ngã rồi đứng dậy. Hình ảnh ấy an ủi vô cùng. Người thánh không phải là người chưa từng mệt; là người biết mệt nhưng không bỏ cuộc. Không phải là người chưa từng khóc; là người biết khóc trước mặt Chúa rồi tiếp tục yêu. Không phải người chưa từng thất bại; là người để ân sủng biến thất bại thành khiêm nhường.
Và cuối cùng, bí quyết để vác thập giá không nằm ở việc nghiến răng chịu đựng, mà là bước sau Đức Giêsu. “Vác thập giá mình mà theo Thầy.” Nếu chỉ có thập giá mà không có “theo Thầy”, đời Kitô hữu sẽ trở thành một cuộc chịu đựng nặng nề. Điều làm thập giá mang ý nghĩa chính là Đấng đang đi trước. Ta không yêu đau khổ; ta yêu Đức Kitô. Vì yêu Đức Kitô, ta có thể đi qua đau khổ mà không để nó hủy diệt mình. Một đứa trẻ có thể đi qua con đường tối khi nắm tay cha. Con đường không bớt tối ngay, nhưng có bàn tay làm nó bớt sợ. Đời Kitô hữu cũng vậy. Chúa không hứa mọi ngày đều nhẹ. Chúa hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày.” Có Người ở cùng, căn bệnh vẫn có thể còn đó nhưng ta không còn bệnh một mình. Vết thương vẫn đau nhưng không còn đau một mình. Công việc vẫn nặng nhưng không còn làm một mình. Một người vẫn khó tính nhưng ta không phải yêu họ bằng sức riêng. Ta có thể thưa mỗi sáng: “Lạy Chúa Giêsu, con không biết hôm nay điều gì đang chờ con. Con chỉ xin một điều: khi thập giá đến, xin đừng để con vác nó một mình; và nhất là xin đừng để con quên rằng Chúa đang ở bên.”
Có lẽ đến cuối đời, khi đứng trước mặt Chúa, chúng ta sẽ ngạc nhiên. Những việc mà đời này cho là lớn có khi chẳng lớn bao nhiêu trước mặt Người; còn rất nhiều điều ta từng nghĩ quá nhỏ lại rực sáng trong ánh mắt Thiên Chúa. Một ly nước trao khi đang mệt. Một lời nhịn khi có thể trả đũa. Một bữa cơm nấu bằng tình yêu. Một đêm thức bên người bệnh. Một lời cầu nguyện âm thầm cho người từng làm mình đau. Một lần không nói xấu dù có cơ hội. Một lần đứng dậy làm bổn phận dù chẳng ai biết. Một lần trở về xin lỗi. Một lần tha thứ. Một lần giữ lòng trung thành khi không còn cảm xúc. Một lần nói “xin vâng” trong nước mắt. Tất cả những mảnh rất nhỏ ấy, Thiên Chúa có thể ghép thành một cây Thánh Giá đẹp của cả cuộc đời.
Chúng ta thường xin Chúa cất thập giá. Có lẽ đôi khi nên đổi lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, nếu thập giá này cần được cất, xin Chúa cất đi. Nhưng nếu đây là con đường con phải đi qua, xin đừng để con đi qua nó mà chẳng học được gì, chẳng yêu thêm ai, chẳng giống Chúa hơn một chút nào.” Đau khổ lớn nhất không phải là có thập giá; đau khổ lớn nhất là vác thập giá mà không có tình yêu, đi qua thử thách mà lòng ngày càng cứng, chịu đau mà không trở nên nhân hậu hơn. Đừng để một giọt nước mắt nào vô ích. Đừng để một vết thương nào chỉ sinh cay đắng. Hãy đặt tất cả vào Thánh Giá Đức Kitô. Ở đó, điều tưởng là thất bại đã trở thành chiến thắng; điều tưởng là kết thúc đã trở thành khởi đầu; cây gỗ của tử hình đã trở thành cây sự sống.
Ngày mai ta lại thức dậy. Chiếc thập giá đời thường vẫn ở đó. Có thể chẳng ai thấy. Có thể nó rất nhỏ. Có thể chỉ là một người, một căn bệnh, một tính xấu phải chiến đấu, một bổn phận, một sự chờ đợi, một lời chưa được đáp, một ước mơ chưa thành, một tuổi già đang đến, một nỗi cô đơn không biết kể cùng ai. Đừng sợ vì nó nhỏ. Đừng khinh vì nó bình thường. Chính những giọt nước nhỏ làm đầy biển cả. Chính những bước chân nhỏ làm nên cuộc hành trình dài. Chính những lần “xin vâng” bé nhỏ từng ngày làm nên sự trung tín của cả đời. Đức Maria không chỉ thưa “xin vâng” trong ngày Truyền Tin; Mẹ phải sống lời xin vâng ấy trên từng chặng đường cho đến tận chân Thánh Giá. Người môn đệ cũng thế. Không phải một lần vác thập giá là xong. Hôm nay vác. Ngày mai lại vác. Khi khỏe vác. Khi mệt cũng vác. Khi được hiểu vác một kiểu; khi bị hiểu lầm vác kiểu khác. Khi trẻ vác thập giá của tuổi trẻ; khi già vác thập giá của tuổi già. Và cứ từng ngày như vậy, ta đi sau một Người đã yêu ta đến cùng.
Đến một ngày, chiếc thập giá cuối cùng của đời ta sẽ là chính cái chết. Khi ấy mọi thập giá nhỏ đã vác trong đời sẽ chuẩn bị cho lời phó thác cuối cùng: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Người đã tập phó thác trong những chuyện nhỏ sẽ biết phó thác trong giờ lớn nhất. Người đã tập chết đi cho cái tôi từng ngày sẽ không hoàn toàn xa lạ với cuộc vượt qua cuối cùng. Và khi chiếc thập giá cuối cùng được đặt xuống, người môn đệ sẽ hiểu rằng Chúa chưa từng gọi mình vác thập giá để nghiền nát mình, nhưng để dẫn mình qua con đường mà chính Người đã đi: con đường từ sự chết tới sự sống, từ mất mát tới viên mãn, từ Canvê tới Phục Sinh.
Vậy hôm nay, đừng tìm một cây thập giá thật lớn để chứng minh rằng mình yêu Chúa. Hãy cúi xuống nhặt cây thập giá nhỏ đang nằm ngay dưới chân mình. Làm việc phải làm. Yêu người phải yêu. Tha người phải tha. Xin lỗi người cần xin lỗi. Giữ lời đã hứa. Chịu đựng điều không thể thay đổi. Thay đổi điều cần thay đổi. Im lặng khi lời nói chỉ làm đau thêm. Lên tiếng khi im lặng là hèn nhát. Cầu nguyện khi khô khan. Cảm ơn khi được giúp. Cho đi khi có thể. Nghỉ ngơi khi cần. Chăm sóc thân xác Chúa trao. Đừng làm thập giá của người khác nặng hơn. Và khi lòng mỏi mệt, hãy nhìn lên Đức Giêsu chịu đóng đinh để nhớ rằng: thập giá không phải dấu chấm hết. Người đang đi trước ta. Người đang ở bên ta. Người đã biến cây gỗ tử hình thành ngai tòa của tình yêu. Và nếu mỗi ngày ta đặt những thập giá nhỏ của mình vào tình yêu của Người, thì chính những điều âm thầm, vụn vặt, chẳng ai biết ấy sẽ trở thành những bậc thang đưa ta về nhà Cha.
Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, xin đừng cho con chỉ biết yêu cây Thánh Giá treo trên tường mà ghét những thập giá Chúa cho phép xuất hiện trong đời con. Xin cho con nhận ra Chúa trong những điều trái ý, trong những bổn phận âm thầm, trong những người khó yêu, trong bệnh tật, tuổi già, thất bại, chờ đợi và những giới hạn con không thể thay đổi. Xin dạy con không đi tìm đau khổ nhưng cũng không chạy trốn tình yêu khi tình yêu đòi con phải hy sinh. Khi thập giá nhẹ, xin cho con vác với lòng biết ơn. Khi thập giá nặng, xin cho con nhớ rằng con có thể tựa vào Chúa. Khi con ngã, xin cho con biết đứng dậy. Khi người khác ngã, xin cho con biết đưa tay. Khi con đau, xin đừng để con làm đau người khác. Khi con bị hiểu lầm, xin giữ lòng con khỏi cay đắng. Khi con được yêu, xin cho con biết cảm ơn. Khi con phải yêu mà không được đáp lại, xin cho con nhìn lên Chúa trên Thánh Giá. Và khi một ngày con phải đặt xuống tất cả để bước qua cánh cửa cuối cùng của cuộc đời, xin cho con có thể thưa với Chúa bằng một trái tim đã được luyện qua những thập giá nhỏ từng ngày: “Lạy Chúa, con đã cố gắng đi theo Chúa. Giờ đây xin đón con về.”
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ KHÔNG PHẢI LÀ HÌNH PHẠT MÀ LÀ CON ĐƯỜNG NÊN THÁNH
Có một ngộ nhận rất dễ len vào đời sống đức tin của chúng ta, nhất là khi đau khổ bất ngờ gõ cửa: cứ hễ gặp chuyện không may, người ta lại nghĩ ngay rằng chắc Chúa phạt. Làm ăn thất bại, Chúa phạt. Bệnh tật kéo dài, Chúa phạt. Gia đình lục đục, Chúa phạt. Con cái hư hỏng, Chúa phạt. Bị hiểu lầm, bị phản bội, mất mát một người thân, gặp những chuyện trái ý nghịch lòng, người ta cũng dễ tự hỏi: “Tôi đã làm gì nên tội mà Chúa phạt tôi như thế này?” Có khi câu hỏi ấy bật ra trong nước mắt. Có khi nó nằm âm thầm trong lòng nhiều năm. Và cũng có khi chính vì hiểu sai như thế mà người tín hữu nhìn Thánh Giá với ánh mắt sợ hãi hơn là yêu mến, nhìn đau khổ như một bản án hơn là một con đường, nhìn Thiên Chúa như một vị quan tòa đang chờ con người phạm lỗi để giáng hình phạt xuống hơn là một Người Cha đang kiên nhẫn dẫn con mình đi qua những đoạn đường tối tăm để thanh luyện, nâng đỡ và đưa nó đến chỗ trưởng thành. Nhưng Tin Mừng không cho phép chúng ta nhìn Thánh Giá theo cách ấy. Thánh Giá của Đức Giêsu không phải là dấu hiệu cho thấy Người bị Chúa Cha ruồng bỏ; trái lại, chính nơi Thánh Giá, tình yêu của Chúa Cha và sự vâng phục yêu mến của Chúa Con được biểu lộ đến tận cùng. Và vì thế, những thập giá trong đời người Kitô hữu, nếu được đón nhận trong đức tin, không còn chỉ là những bất hạnh vô nghĩa, càng không nhất thiết là hình phạt, nhưng có thể trở thành con đường nên thánh, con đường đưa con người ra khỏi cái tôi chật hẹp của mình, con đường dạy ta yêu sâu hơn, khiêm nhường hơn, tự do hơn và giống Đức Kitô hơn.
Ngay trong Tin Mừng, Đức Giêsu đã sửa lại một quan niệm rất phổ biến của con người về đau khổ. Khi các môn đệ gặp một người mù từ thuở mới sinh, họ hỏi Người: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?” Câu hỏi ấy cho thấy họ đang suy nghĩ theo một thứ công thức rất đơn giản: có đau khổ thì chắc chắn phải có tội; đã gặp tai họa thì chắc chắn phải có một lỗi lầm nào đó phía sau. Nhưng Đức Giêsu trả lời: “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để công việc của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh” (x. Ga 9,1-3). Câu trả lời ấy vô cùng quan trọng. Đức Giêsu không phủ nhận thực tế rằng tội lỗi có thể gây ra hậu quả đau đớn. Một người sống buông thả có thể làm tan nát gia đình mình; một người nghiện ngập có thể làm hại sức khỏe; một người ích kỷ có thể đánh mất tình bạn; một xã hội bất công có thể tạo ra biết bao nạn nhân. Có những đau khổ quả thực là hậu quả của những lựa chọn sai trái. Nhưng không phải mọi đau khổ đều là hình phạt trực tiếp của Thiên Chúa. Không thể cứ nhìn một người đau bệnh rồi kết luận rằng người ấy tội lỗi hơn người khỏe mạnh. Không thể nhìn một gia đình gặp tai ương rồi nghĩ họ bị Chúa trừng phạt. Không thể nhìn người nghèo khó, người gặp hoạn nạn, người bị bỏ rơi rồi ngầm cho rằng họ đáng chịu như thế. Đức Giêsu đã phá tan lối suy nghĩ lạnh lùng đó. Người mở ra một chân trời khác: ngay trong những hoàn cảnh mà con người chỉ nhìn thấy bóng tối, công trình của Thiên Chúa vẫn có thể được tỏ hiện. Ngay nơi vết thương, ân sủng có thể mở một lối đi. Ngay trong đêm tối, một ánh sáng mới có thể được sinh ra. Ngay giữa mất mát, con người có thể khám phá một chiều sâu của đức tin mà những ngày bình an chưa bao giờ cho họ biết.
Thánh Giá của Đức Kitô là bằng chứng mạnh mẽ nhất. Nếu đau khổ luôn luôn là hình phạt dành cho người tội lỗi, thì làm sao giải thích được Thánh Giá của Đức Giêsu, Đấng vô tội? Người không làm điều gì gian ác, miệng Người không hề nói lời gian dối, vậy mà Người bị phản bội, bị bắt, bị vu cáo, bị chế nhạo, bị đánh đòn, bị đội mão gai, bị đóng đinh và chết giữa hai người tội phạm. Trên đồi Golgotha, người công chính nhất lại là người chịu đau khổ nhất. Như thế, chính Thánh Giá đã phá vỡ thứ toán học đơn giản của con người: tốt thì luôn gặp may, xấu thì luôn gặp họa; thánh thiện thì không đau khổ, tội lỗi thì bị đau khổ. Cuộc đời không vận hành theo một bảng tính dễ dàng như thế. Có người sống rất tốt mà vẫn phải mang bệnh hiểm nghèo. Có người cả đời hy sinh cho gia đình mà cuối cùng vẫn bị con cái hiểu lầm. Có người sống ngay thẳng mà bị vu khống. Có người hiền lành mà gặp toàn những chuyện cay nghiệt. Có người cầu nguyện rất nhiều mà một lời cầu xin tha thiết nhất vẫn không được đáp lại theo cách họ mong muốn. Điều đó không có nghĩa Thiên Chúa đã quên họ. Càng không có nghĩa Người đang trừng phạt họ. Có những điều chúng ta không hiểu được ở đời này, nhưng nơi Thánh Giá Đức Kitô, chúng ta biết một điều chắc chắn: Thiên Chúa không đứng xa để nhìn con người đau khổ. Người đã bước vào chính đau khổ ấy. Người đã khóc. Người đã cô đơn. Người đã bị hiểu lầm. Người đã nếm phản bội. Người đã run sợ trước cái chết. Người đã mang lấy thân phận con người đến tận nơi sâu thẳm nhất của đau thương để từ đó biến đau thương thành nơi gặp gỡ giữa con người và Thiên Chúa.
Vì thế, khi Đức Giêsu nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (x. Lc 9,23), Người không bảo chúng ta đi tìm đau khổ. Kitô giáo không phải là đạo tôn thờ đau đớn. Thiên Chúa không thích nhìn con cái Người đau khổ. Chúng ta không cần tự tạo ra những thập giá rồi cho rằng càng đau càng thánh. Nếu bệnh thì phải chữa. Nếu bị áp bức thì phải tìm cách thoát khỏi sự áp bức. Nếu gia đình có thể hòa giải thì phải cố gắng hòa giải. Nếu bất công có thể sửa chữa thì phải lên tiếng và hành động. Nếu một nỗi khổ có thể được giảm nhẹ bằng tình thương, bằng khoa học, bằng y học, bằng trách nhiệm cộng đồng thì người Kitô hữu càng phải dấn thân để giảm bớt nỗi khổ ấy. Đức Giêsu đã chữa người bệnh, cho người đói ăn, nâng người sa ngã đứng dậy, trả phẩm giá cho người bị loại trừ. Người không bao giờ bảo người mù cứ mù đi để dễ nên thánh, cũng không bảo người phong cứ mang bệnh để được công nghiệp. Vì vậy, vác Thánh Giá không có nghĩa là yêu thích đau khổ. Vác Thánh Giá là khi đau khổ không thể tránh khỏi, ta không để nó làm mình trở nên cay độc; khi bổn phận đòi hỏi hy sinh, ta không bỏ chạy; khi tình yêu đòi ta phải chịu thiệt, ta vẫn yêu; khi sự thật khiến ta bị cô đơn, ta vẫn chọn sự thật; khi trung thành với Chúa khiến ta phải trả giá, ta không bán rẻ lương tâm để đổi lấy một chút dễ chịu nhất thời.
Có những thập giá rất lớn mà ai nhìn vào cũng nhận ra: bệnh nan y, mất người thân, tai nạn, thất nghiệp, đổ vỡ hôn nhân, con cái lạc đường, bị phản bội, phá sản, tuổi già cô quạnh. Nhưng phần lớn những thập giá làm nên đời sống nên thánh lại rất nhỏ, rất âm thầm, đến nỗi chẳng ai gọi tên chúng là thập giá. Thập giá của một người mẹ đôi khi chỉ là thức dậy sớm hơn mọi người và đi ngủ muộn hơn mọi người. Thập giá của một người cha đôi khi là những lo toan tài chính không dám nói ra để vợ con khỏi lo lắng. Thập giá của một người vợ có thể là nhiều năm kiên nhẫn với những thiếu sót của chồng. Thập giá của một người chồng có thể là học cách hạ bớt cái tôi để xin lỗi vợ dù trong lòng còn thấy mình có lý. Thập giá của người trẻ có thể là sống trong sạch giữa một môi trường coi sự buông thả là bình thường. Thập giá của một người già có thể là chấp nhận rằng đôi chân mình không còn đi nhanh, đôi mắt không còn nhìn rõ, trí nhớ không còn sắc bén và mình ngày càng phải nhờ đến người khác. Thập giá của người sống đời thánh hiến có khi là một cộng đoàn không như mình mơ ước, một người anh em khó tính, một sứ vụ chẳng ai biết đến, một lời hiểu lầm không thể thanh minh. Thập giá của linh mục có khi không nằm ở những công việc lớn lao trên cung thánh, mà nằm trong những đêm dài lắng nghe những cuộc đời tan vỡ, trong sự cô đơn sau cánh cửa phòng, trong những lời phê bình rất dễ nói nhưng rất khó đón nhận, trong trách nhiệm phải tiếp tục phục vụ ngay cả những lúc chính mình đang mệt mỏi và cần được nâng đỡ.
Những thập giá nhỏ ấy mới là xưởng luyện nên các vị thánh. Người ta thường ngưỡng mộ các thánh vì những việc phi thường, nhưng phần lớn đời sống của họ được đan từ những điều hết sức bình thường được làm bằng một tình yêu phi thường. Nên thánh không nhất thiết là làm những chuyện khiến cả thế giới phải biết đến. Nên thánh trước hết là để Đức Kitô lớn lên trong mình mỗi ngày. Và muốn Đức Kitô lớn lên thì cái tôi ích kỷ phải nhỏ lại. Chính Thánh Giá làm công việc ấy. Thánh Giá bẻ đi nơi ta ảo tưởng rằng đời phải diễn ra theo đúng ý mình. Thánh Giá phá vỡ sự kiêu ngạo rằng mình kiểm soát được mọi sự. Thánh Giá dạy ta rằng có những lúc không thể thay đổi hoàn cảnh, nhưng có thể thay đổi cách mình sống trong hoàn cảnh ấy. Có những người trải qua đau khổ rồi trở nên cay nghiệt. Nhưng cũng có những người đi qua cùng một loại đau khổ lại trở nên dịu dàng lạ thường. Có những người bị phản bội nên từ đó không tin ai nữa; có người bị phản bội nhưng nhờ thế hiểu sâu hơn nỗi đau của người khác và trở nên giàu lòng cảm thông. Có người nghèo khó nên ghen ghét; có người từ nghèo khó lại học được cách trân trọng từng món quà nhỏ. Có người bệnh tật rồi chỉ còn nhìn vào bản thân; có người bệnh tật lại trở nên một nguồn bình an cho cả những người khỏe mạnh đến thăm mình. Không phải đau khổ tự nó làm người ta nên thánh. Đau khổ có thể làm một người nên tốt hơn, cũng có thể làm họ trở nên tệ hơn. Điều quyết định chính là ta để Chúa bước vào đau khổ ấy như thế nào.
Điều kỳ diệu của Thánh Giá là Thiên Chúa không luôn cất thập giá khỏi vai ta, nhưng Người có thể biến đổi trái tim đang mang thập giá. Chúng ta thường cầu xin: “Lạy Chúa, xin thay đổi hoàn cảnh này.” Nhưng có những lúc lời Chúa âm thầm đáp lại: “Cha sẽ thay đổi con trong hoàn cảnh này.” Ta muốn Chúa lấy người khó chịu kia ra khỏi đời ta, nhưng có khi Người dùng chính người ấy để dạy ta kiên nhẫn. Ta muốn Chúa cho công việc thuận lợi hơn, nhưng Người dùng những thất bại để giải thoát ta khỏi kiêu ngạo. Ta muốn những dự định của mình thành công, nhưng có khi qua những cánh cửa đóng lại, Người đưa ta đến một con đường mà trước đó ta không bao giờ chọn. Ta xin sức khỏe, nhưng trong bệnh tật lại khám phá ra những tình thương mà ngày khỏe mạnh ta chưa từng nhận thấy. Ta xin được người khác hiểu, nhưng qua những lần bị hiểu lầm, ta học được cách tìm giá trị của mình nơi ánh mắt Thiên Chúa chứ không còn sống lệ thuộc vào lời khen tiếng chê của người đời. Đó là những phép lạ âm thầm. Không phải phép lạ thay đổi thế giới bên ngoài, nhưng là phép lạ thay đổi thế giới bên trong một con người.
Nhìn vào cuộc Thương Khó, chúng ta thấy Đức Giêsu không bước lên Golgotha như một người cam chịu số phận. Người tự do trao ban chính mình. Chính sự tự do ấy biến khổ hình thành hy lễ, biến cái chết thành sự sống, biến nhục nhã thành vinh quang. “Không ai lấy mạng sống của Tôi được, nhưng chính Tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (x. Ga 10,18). Cũng vậy, có nhiều điều xảy đến mà chúng ta không được chọn: ta không chọn bệnh tật, không chọn tuổi già, không chọn cái chết của người thân, không chọn sự phản bội, không chọn những biến cố bất ngờ. Nhưng ta vẫn có thể chọn cách đáp lại. Và chính trong sự lựa chọn ấy, tự do Kitô giáo xuất hiện. Tôi không chọn vết thương, nhưng tôi có thể chọn không biến vết thương thành vũ khí để làm đau người khác. Tôi không chọn bị hiểu lầm, nhưng tôi có thể chọn không trả đũa bằng vu khống. Tôi không chọn sự cô đơn, nhưng tôi có thể chọn biến khoảng trống ấy thành nơi gặp Chúa. Tôi không chọn bệnh tật, nhưng tôi có thể chọn sống những ngày còn lại với lòng biết ơn thay vì oán trách. Tôi không chọn những giới hạn của tuổi già, nhưng tôi có thể chọn trở thành một người già hiền hòa thay vì một người già luôn cay cú. Đó chính là lúc thập giá bắt đầu trở thành Thánh Giá.
Điều làm nên Thánh Giá không phải chỉ là cây gỗ, nhưng là tình yêu của Đấng bị đóng đinh trên đó. Hai tên trộm cùng bị đóng đinh cạnh Đức Giêsu, cùng đau đớn, cùng đứng trước cái chết, nhưng hai thái độ khác nhau dẫn đến hai cách sống đau khổ hoàn toàn khác nhau. Một người dùng đau khổ để nguyền rủa; người kia dùng chính giây phút cuối đời để mở lòng ra với lòng thương xót. Anh ta nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Đức Giêsu đáp: “Hôm nay, anh sẽ được ở với Tôi trên Thiên Đàng” (x. Lc 23,42-43). Cùng một đồi Golgotha, cùng một giờ khắc, cùng một bản án tử hình, nhưng một người khép lòng trong cay đắng, người kia mở lòng trong tín thác. Điều đó cho chúng ta thấy: không phải cứ chịu khổ là tự động nên thánh. Chính đức tin, tình yêu, sự khiêm nhường và lòng phó thác mới biến đau khổ thành con đường nên thánh.
Nhiều khi chúng ta xin Chúa một đời không có Thánh Giá. Nhưng nếu thật sự không có bất cứ thập giá nào, có lẽ chúng ta cũng khó học được nhiều bài học quan trọng nhất của đời người. Khi mọi chuyện luôn thuận lợi, ta dễ tưởng mình mạnh. Cho đến khi thất bại, ta mới biết sức mình giới hạn. Khi khỏe mạnh, ta dễ coi từng ngày là chuyện đương nhiên. Đến khi nằm trên giường bệnh, ta mới biết một buổi sáng có thể tự đứng lên đã là hồng ân. Khi còn cha mẹ, ta có khi ít gọi điện. Đến khi chiếc ghế trong nhà trống đi, ta mới hiểu có những giọng nói không thể nghe lại lần thứ hai. Khi còn đủ tiền, ta dễ tiêu mà không nghĩ. Khi túng thiếu, ta mới biết giá trị của một bữa cơm bình thường. Khi được người khác yêu mến, ta dễ dựa vào họ. Khi bị bỏ rơi, ta mới bị buộc phải đặt câu hỏi: đời mình cuối cùng đứng trên nền tảng nào? Có những bài học không đọc được trong sách. Chỉ Thánh Giá mới dạy được.
Nhưng nói thế không có nghĩa chúng ta phải lãng mạn hóa đau khổ. Có những đau khổ quá lớn đến nỗi lời nói dễ trở nên rẻ tiền. Đứng trước một người mẹ vừa mất con, đừng vội giảng cho bà về ích lợi của Thánh Giá. Đứng trước một người vừa nhận kết quả ung thư, đừng dễ dàng nói: “Chúa gửi thập giá này cho anh để anh nên thánh.” Đứng trước một gia đình vừa gặp tai nạn, đừng giải thích thay Thiên Chúa. Có những lúc điều thánh thiện nhất ta có thể làm chỉ là ngồi bên cạnh, khóc với người đang khóc, nắm lấy một bàn tay và ở đó. Chính Đức Giêsu trước mộ Lazarô cũng đã khóc. Người biết Lazarô sẽ sống lại, vậy mà Người vẫn khóc trước nỗi đau của Mácta và Maria. Nước mắt ấy dạy Hội Thánh rằng đức tin không làm con người mất quyền đau. Người tín hữu vẫn được khóc. Vẫn được buồn. Vẫn được hỏi: “Lạy Chúa, tại sao?” Vẫn có thể thấy mệt. Vẫn có những đêm không cầu nguyện nổi. Vẫn có thể xin Chúa cất chén đắng này đi như chính Đức Giêsu đã xin trong vườn Cây Dầu. Sự thánh thiện không nằm ở việc giả vờ mạnh mẽ. Sự thánh thiện nằm ở chỗ, ngay cả khi yếu đuối, ta vẫn cố trao mình vào tay Chúa: “Nhưng xin đừng theo ý con, một xin theo ý Cha.”
Đó có lẽ là lời cầu nguyện khó nhất đời người. Nói “xin theo ý Cha” khi ý ta và hoàn cảnh đang trùng hợp thì dễ. Nhưng nói được lời ấy khi kế hoạch đời mình đang đổ vỡ, khi một cánh cửa mình đã cầu nguyện rất nhiều vẫn khép lại, khi người mình yêu không được chữa lành, khi điều mình mong mỏi không thành, khi phải bước vào một tương lai hoàn toàn khác điều mình từng vẽ ra, đó mới thật sự là vác Thánh Giá. Sự vâng phục của Đức Giêsu không phải sự thụ động của người không còn lựa chọn, nhưng là hành vi yêu thương cao nhất của một Người Con hoàn toàn tin cậy vào Cha. Và trên con đường nên thánh, mỗi người chúng ta rồi cũng sẽ có những giờ Cây Dầu như thế, những giờ phải học nói: “Con không hiểu, nhưng con tin. Con không muốn điều này, nhưng con xin đừng để điều này làm con xa Chúa. Con đang đau, nhưng xin đừng để nỗi đau làm trái tim con hóa đá. Con đang mất mát, nhưng xin đừng để mất mát lấy đi khả năng yêu thương của con.”
Có một dấu hiệu rất rõ cho thấy ta đang mang Thánh Giá theo tinh thần Đức Kitô: đó là sau những thử thách, lòng ta trở nên thương người hơn. Nếu đau khổ khiến ta khinh người, cay nghiệt, xét đoán và đóng cửa, có lẽ thập giá ấy chưa được biến đổi trong Đức Kitô. Nhưng nếu sau những tháng ngày khó khăn, ta bắt đầu ít phán xét người khác hơn, biết cảm thông với những yếu đuối của họ hơn, biết trân trọng những điều nhỏ bé hơn, biết nói lời tử tế hơn, biết tha thứ hơn, biết mình cần Chúa hơn, thì chính từ vết thương ấy một chút thánh thiện đã được sinh ra. Người từng đói sẽ hiểu người đói. Người từng cô đơn sẽ nhận ra ánh mắt cô đơn giữa một đám đông. Người từng thất bại sẽ biết dịu dàng với người đang thất bại. Người từng được tha thứ nhiều sẽ bớt khắt khe với lỗi lầm người khác. Người từng đi qua đêm tối mà vẫn được Chúa giữ lấy sẽ trở thành một ngọn đèn nhỏ cho người khác trong đêm tối của họ.
Thánh Giá cũng dạy chúng ta từ bỏ ảo tưởng về một đời sống hoàn hảo. Biết bao người đau khổ không chỉ vì điều đang xảy ra, mà còn vì cứ so sánh đời thật với một cuộc đời lý tưởng mà họ nghĩ lẽ ra mình phải có. Lẽ ra chồng tôi phải thế này. Lẽ ra vợ tôi phải thế kia. Lẽ ra con tôi phải thành công như con người khác. Lẽ ra cộng đoàn của tôi phải tốt đẹp hơn. Lẽ ra sức khỏe của tôi phải còn như mười năm trước. Lẽ ra ở tuổi này tôi phải có những điều người kia đang có. Những chữ “lẽ ra” có thể trở thành một cây thập giá rất nặng do chính ta tự đóng lấy. Nên thánh bắt đầu khi ta thôi đòi một cuộc đời khác và bắt đầu yêu Chúa trong chính cuộc đời mình đang có. Không phải cuộc đời tưởng tượng. Không phải gia đình lý tưởng. Không phải cộng đoàn hoàn hảo. Không phải sức khỏe ngày xưa. Nhưng là hôm nay, với những con người đang ở bên cạnh, với cơ thể này, với lịch sử này, với những giới hạn này, với những vết thương này. Chính nơi đây Chúa đang chờ tôi. Thánh thiện không nằm ở một nơi khác. Thánh thiện luôn bắt đầu từ mặt đất dưới chân mình.
Có khi thập giá lớn nhất chính là phải chịu đựng bản thân mình. Ta mang trong mình những giới hạn mà nhiều năm vẫn chưa sửa được. Một tính nóng. Một sự nhạy cảm quá mức. Một ký ức cũ. Một nỗi sợ. Một khuynh hướng hay lo lắng. Một vết thương tuổi thơ. Một thất bại cứ quay lại trong trí nhớ. Ta cầu nguyện nhiều mà vẫn thấy mình yếu đuối. Và chính ở đây, Thánh Giá dạy một bài học quan trọng: nên thánh không có nghĩa là trở thành một con người không còn giới hạn, nhưng là biết để ân sủng Chúa hoạt động ngay trong giới hạn của mình. Thánh Phaolô từng xin Chúa ba lần cất khỏi ông “cái dằm trong thân xác”, nhưng lời đáp ông nhận được là: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (x. 2 Cr 12,9). Có những cái dằm Chúa cất đi. Có những cái dằm vẫn còn. Nhưng điều quan trọng không phải là ta có hoàn hảo hay không; điều quan trọng là chính trong nơi ta yếu nhất, ta có cho phép Chúa làm việc không.
Thế giới hôm nay hứa hẹn rất nhiều con đường tránh Thánh Giá: cứ làm điều mình thích, bỏ điều làm mình khó chịu, tránh người khiến mình mệt, đổi lựa chọn khi không còn hứng thú, tìm cảm giác dễ chịu ngay lập tức. Nhưng không có tình yêu bền vững nào mà không đi qua Thánh Giá. Cha mẹ nuôi con mà không hy sinh thì không thể gọi là tình yêu trưởng thành. Vợ chồng chỉ ở bên nhau lúc dễ chịu thì chưa hiểu giao ước. Linh mục chỉ phục vụ khi được khen thì chưa hiểu chức vụ. Tu sĩ chỉ vui khi cộng đoàn đáp ứng mong muốn của mình thì chưa hiểu đời dâng hiến. Tình bạn chỉ tồn tại khi đôi bên luôn vừa ý nhau thì quá mong manh. Tình yêu thật luôn có cái giá của nó, bởi yêu là chấp nhận rời khỏi trung tâm để người khác có chỗ trong đời mình. Và mỗi lần ta rời khỏi cái tôi, một cây Thánh Giá nhỏ lại xuất hiện.
Cho nên, điều làm người Kitô hữu khác biệt không phải là họ đau khổ nhiều hơn người khác. Mọi người đều có thập giá. Người có đạo cũng bệnh, cũng mất người thân, cũng thất bại, cũng bị phản bội, cũng già, cũng chết. Điều khác biệt nằm ở chỗ người Kitô hữu không mang thập giá một mình. Trên mọi con đường Golgotha của cuộc đời, có một Đấng đã đi trước. Người không đứng ở cuối đường để chờ ta. Người đi bên cạnh. Có lúc Người không làm cây thập giá nhẹ đi, nhưng Người đặt vai dưới cây gỗ cùng ta. Có lúc Người không trả lời câu “tại sao?”, nhưng Người trả lời bằng sự hiện diện: “Thầy ở đây.” Và nhiều khi như thế đã đủ để con người bước thêm một bước nữa.
Một ngày nào đó, khi nhìn lại đời mình từ bên kia những biến cố, có lẽ chúng ta sẽ ngạc nhiên nhận ra rằng một vài điều từng làm mình khóc nhiều nhất lại là những điều đã thay đổi mình sâu nhất. Có cánh cửa đóng lại đã cứu ta khỏi một con đường sai. Có thất bại đã dạy ta khiêm tốn. Có người rời đi đã khiến ta học đứng vững trong Chúa. Có căn bệnh khiến một gia đình vốn xa cách lại ngồi gần nhau. Có mất mát làm ta bắt đầu biết quý từng ngày. Có một giai đoạn tưởng như hoàn toàn vô nghĩa lại là nơi đời sống cầu nguyện được sinh ra. Khi đang ở giữa đêm, ta không thấy điều ấy. Chỉ khi trời sáng, ta mới nhận ra Chúa đã âm thầm đi qua đêm với mình.
Vì vậy, đừng vội gọi mọi thập giá là hình phạt. Có thể nó là hậu quả của một lựa chọn sai và ta cần hoán cải. Có thể nó là hậu quả của giới hạn con người. Có thể nó đến từ sự tự do sai trái của người khác. Có thể nó chỉ là một phần của thân phận mong manh trong một thế giới chưa hoàn tất. Và cũng có những đau khổ chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được trọn vẹn ở đời này. Nhưng trong tất cả những trường hợp ấy, người Kitô hữu vẫn tin rằng Thiên Chúa có thể bước vào và biến đổi. Người không cần tạo ra sự dữ để làm chúng ta nên thánh. Nhưng một khi sự dữ và đau khổ đã xuất hiện, Người có quyền năng đến mức có thể làm cho từ chính mảnh đất tưởng chỉ toàn tro tàn ấy mọc lên một mầm sống mới. Golgotha là bằng chứng. Con người dựng lên cây thập giá để giết Đức Giêsu. Thiên Chúa dùng chính cây thập giá ấy để cứu thế giới. Con người đóng đinh một Người Công Chính. Thiên Chúa biến cái chết ấy thành nguồn ơn cứu độ. Con người tưởng đã khép lại câu chuyện vào chiều thứ Sáu. Thiên Chúa mở ra một bình minh mới vào sáng Chúa Nhật.
Nếu hôm nay ai đó đang mang một thập giá rất nặng, xin đừng nghĩ ngay rằng Chúa đang phạt mình. Có thể Người đang ở gần bạn hơn bao giờ hết, dù cảm giác của bạn lại nói điều ngược lại. Nếu đang phải khóc, cứ khóc trước mặt Người. Nếu mệt, hãy nói mình mệt. Nếu không hiểu, hãy nói mình không hiểu. Đức tin không buộc ta phải giả vờ. Nhưng sau tất cả, xin giữ một lời rất nhỏ trong tim: “Lạy Chúa, xin đừng để thập giá này trở nên vô ích. Nếu con chưa thể yêu nó, ít là xin giúp con đừng nguyền rủa nó. Nếu con chưa thể cảm tạ, xin giúp con đừng tuyệt vọng. Nếu con chưa nhìn thấy đường đi, xin cho con đủ ánh sáng để bước một bước hôm nay. Và nếu Chúa chưa cất thập giá khỏi vai con, xin đừng để con quên rằng chính Chúa đang đi cùng con.”
Cuối cùng, nên thánh không phải là một cuộc sống không có Thánh Giá. Chính Đức Maria, Đấng đầy ân sủng, vẫn đứng dưới chân Thánh Giá. Chính các Tông đồ đã đi theo Đức Kitô, phần lớn cũng phải trải qua những con đường gian nan. Chính các vị thánh không phải là những người được miễn khỏi thử thách, nhưng là những người để thử thách đưa họ gần Chúa hơn thay vì xa Chúa hơn. Các ngài đau nhưng không mất tình yêu. Khóc nhưng không mất hy vọng. Yếu đuối nhưng không bỏ cuộc. Ngã nhưng lại đứng lên. Không hiểu nhưng vẫn tin. Không thấy nhưng vẫn bước đi. Và có lẽ đó chính là vẻ đẹp sâu xa nhất của sự thánh thiện: không phải là một con người chưa từng bị thương, nhưng là một con người mang những vết thương mà vẫn còn có thể yêu.
Thánh Giá, vì thế, không phải là dấu chấm hết. Thánh Giá là cánh cửa. Không phải là bằng chứng của thất bại, mà là nơi tình yêu chứng minh rằng nó có thể đi đến cùng. Không phải là lời tuyên bố rằng Thiên Chúa bỏ rơi con người, mà là lời khẳng định rằng không có vực sâu nào của đau khổ con người mà Đức Kitô chưa đi xuống. Không phải mọi thập giá đều do Chúa gửi đến, nhưng mọi thập giá đều có thể được trao vào tay Chúa. Và một khi được đặt vào đôi tay mang dấu đinh của Người, những gì tưởng chỉ có thể nghiền nát chúng ta lại có thể trở thành những bậc thang âm thầm đưa chúng ta lên cao hơn; những vết thương tưởng chỉ có thể làm tim chai đá lại có thể trở thành nơi lòng thương xót chảy qua; những mất mát tưởng chỉ để lại khoảng trống lại có thể mở ra một khoảng trời cho Thiên Chúa.
Xin cho mỗi chúng ta, khi làm dấu Thánh Giá mỗi ngày, đừng làm một cách máy móc. Hãy nhớ rằng ta đang chạm vào chính mầu nhiệm của đời mình: nhân danh Cha, Đấng không bao giờ bỏ con; và Con, Đấng đã đi qua Thánh Giá trước con; và Thánh Thần, Đấng đang âm thầm biến những gì đau đớn nhất trong con thành nơi sinh ra sự sống mới. Và khi một cây thập giá bất ngờ đặt trên vai, thay vì chỉ hỏi: “Lạy Chúa, tại sao lại là con?”, có lẽ ta có thể học hỏi thêm một câu khác: “Lạy Chúa, trong điều này, Chúa muốn con yêu như thế nào?” Chính câu hỏi ấy có thể đổi cả một cuộc đời. Bởi từ giây phút đó, thập giá không còn chỉ là thứ ta phải chịu. Nó bắt đầu trở thành nơi ta học yêu. Và nơi nào con người học yêu như Đức Kitô, nơi đó con đường nên thánh đã bắt đầu.
Lm. Anmai, CSsR

TỪ CHỐI THẬP GIÁ LÀ TỪ CHỐI CHÍNH CHÚA GIÊSU
Có một điều rất lạ trong đời sống đức tin: người ta có thể yêu Chúa Giêsu nhưng lại không muốn yêu con đường của Chúa Giêsu; người ta có thể thích nghe những lời dịu dàng của Chúa nhưng lại sợ những lời đòi hỏi của Chúa; người ta có thể quỳ thật lâu trước một cây Thánh Giá trong nhà thờ, hôn kính Thánh Giá trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, mang Thánh Giá trên cổ, treo Thánh Giá trong nhà, đặt Thánh Giá trên bàn làm việc, nhưng khi một cây thập giá thật sự xuất hiện trong đời mình thì lại tìm mọi cách né tránh. Chúng ta thích một Đức Giêsu chữa lành nhưng không thích một Đức Giêsu bảo mình phải vác thập giá; thích một Đức Giêsu làm bánh hóa nhiều nhưng không thích một Đức Giêsu bước lên đồi Canvê; thích một Đức Giêsu làm cho người mù được thấy, người què được đi, người chết sống lại, nhưng lại rất khó chấp nhận Đức Giêsu bị đánh đòn, đội mão gai, bị đóng đinh và chết trần trụi trên cây gỗ. Thế nhưng Tin Mừng không cho phép chúng ta tách Đức Giêsu ra khỏi Thập Giá. Không có một Đức Kitô không Thập Giá. Và cũng không có một Kitô hữu thật sự mà hoàn toàn không có thập giá. Bởi thế, từ chối thập giá không chỉ là từ chối đau khổ; sâu xa hơn, đó có thể là từ chối chính con đường mà Chúa Giêsu đã chọn, và cuối cùng là từ chối chính Chúa Giêsu.
Tin Mừng theo thánh Matthêu kể một câu chuyện rất đáng suy nghĩ. Sau khi Phêrô tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, Đức Giêsu bắt đầu mặc khải cho các môn đệ biết Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ bởi các kỳ mục, thượng tế và kinh sư, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại. Nghe đến đó, Phêrô kéo riêng Người ra và trách: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” Xét theo tình người, lời của Phêrô rất dễ thương. Ông yêu Thầy nên không muốn Thầy đau. Ông quý Thầy nên không muốn Thầy chết. Có lẽ nếu chúng ta đứng ở đó, chúng ta cũng sẽ nói như Phêrô: “Thầy đừng đi Giêrusalem nữa. Thầy ở lại Galilê đi. Dân chúng đang yêu mến Thầy. Người bệnh cần Thầy. Người nghèo cần Thầy. Các môn đệ cần Thầy. Tại sao lại phải đi vào chỗ chết?” Nhưng phản ứng của Đức Giêsu thật dữ dội: “Xatan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” Rồi Người nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (x. Mt 16,21-24). Câu chuyện ấy cho thấy một sự thật đáng sợ: Phêrô không từ chối Đức Giêsu, ông chỉ từ chối Thập Giá của Đức Giêsu; vậy mà chính lúc từ chối Thập Giá, ông đã vô tình trở thành người cản đường Đức Giêsu. Ông vẫn yêu Thầy, nhưng tình yêu ấy lúc đó chưa hiểu Thầy. Ông muốn giữ Thầy lại bằng một thứ tình yêu rất người, trong khi Đức Giêsu đang đi vào kế hoạch yêu thương của Chúa Cha.
Chúng ta cũng thế. Có những lúc chúng ta tưởng mình yêu Chúa, nhưng thật ra chúng ta chỉ yêu một hình ảnh về Chúa hợp với ý mình. Chúng ta muốn Chúa phải làm cho đời mình bình an, gia đình mình thuận lợi, công việc mình thành công, sức khỏe mình tốt, con cái mình ngoan, tương lai mình sáng. Chúng ta cầu xin và mong rằng nếu mình sống tốt thì cuộc đời phải bớt khổ; nếu mình đi lễ, đọc kinh, làm việc bác ái thì Chúa phải bảo vệ mình khỏi tai họa. Rồi đến ngày bệnh tật xảy đến, một người thân ra đi, công việc thất bại, gia đình bất hòa, bị hiểu lầm, bị phản bội, lời cầu nguyện xem ra không được đáp lại, chúng ta bắt đầu hoang mang: “Chúa ở đâu? Tại sao Chúa để chuyện này xảy ra?” Có khi từ câu hỏi ấy chúng ta đi đến giận Chúa, bỏ cầu nguyện, bỏ lễ, nguội lạnh, thậm chí quay lưng với Chúa. Không phải vì Chúa đã thay đổi, nhưng vì Đức Giêsu thật không giống Đức Giêsu mà chúng ta đã tưởng tượng. Đức Giêsu thật có Thập Giá. Đức Giêsu thật không hứa rằng ai theo Người sẽ không đau. Người chỉ hứa rằng trong mọi đau khổ, Người sẽ ở cùng họ; và nếu họ đi với Người đến Canvê thì cuối con đường ấy không phải là mồ tối nhưng là buổi sáng Phục Sinh.
Thập giá trong đời Kitô hữu trước hết không phải là một thứ khổ đau do Chúa cố tình gửi xuống để thử thách con người. Đừng vội gán mọi tai họa cho Thiên Chúa. Thiên Chúa không phải là người thích nhìn con cái mình đau để xem chúng chịu được bao nhiêu. Có những thập giá do thân phận con người: bệnh tật, tuổi già, chia ly và cái chết. Có những thập giá do tội lỗi của người khác: phản bội, bất công, bạo lực, xúc phạm. Có những thập giá do chính sự yếu đuối và lựa chọn sai lầm của chúng ta. Có những đau khổ chúng ta phải tìm cách chữa trị, thay đổi và loại bỏ, chứ không được khoác cho nó cái tên “thánh giá” rồi cam chịu một cách thụ động. Nhưng có những thập giá, sau khi đã làm tất cả những gì có thể, ta vẫn phải mang. Chính ở đó câu hỏi không còn là: “Làm thế nào để tôi không đau?” nhưng là: “Tôi sẽ đau như thế nào? Tôi sẽ đau một mình, trong cay đắng, hay tôi sẽ đau với Đức Kitô?” Đó là khác biệt giữa một nỗi khổ vô nghĩa và một thập giá được cứu chuộc.
Chúa Giêsu không bảo: “Ai muốn theo Thầy hãy đi tìm thập giá.” Người nói: “Hãy vác thập giá mình.” Hai điều hoàn toàn khác nhau. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Kitô hữu không cần đi tìm bệnh tật, thất bại hay khốn khó. Cuộc đời tự nó đã có đủ thập giá. Điều Chúa đòi hỏi là khi thập giá đến, đừng vì nó mà bỏ Người. Khi phải sống với một căn bệnh kéo dài, đừng vì thế mà thôi tin. Khi bị hiểu lầm dù mình đã sống ngay lành, đừng vì thế mà trở nên độc ác. Khi hy sinh cho gia đình mà không được ghi nhận, đừng vì thế mà thôi yêu thương. Khi sống trung thực khiến mình chịu thiệt, đừng vì thế mà bán rẻ lương tâm. Khi phải tha thứ cho một người đã làm mình đau, đừng vì thế mà chọn hận thù. Khi phải nói “không” với một cám dỗ dù lòng rất muốn, hãy chấp nhận cái đau của việc từ bỏ. Khi bổn phận nặng nề mà chẳng ai vỗ tay, hãy tiếp tục vì tình yêu. Đó là những cây thập giá rất thật, rất đời thường, không có hào quang, không có tiếng nhạc, không có người đứng nhìn, nhưng chính những cây thập giá ấy đang làm nên một vị thánh.
Có người mang thập giá của bệnh tật. Buổi sáng thức dậy đã đau, buổi tối đi ngủ vẫn đau. Người khác nhìn họ vài phút rồi về; còn họ phải sống trong thân xác ấy ngày này qua ngày khác. Có người mang thập giá của một cuộc hôn nhân đầy thử thách, vẫn cố giữ lòng trung thành, vẫn cầu nguyện, vẫn nhẫn nại, vẫn làm điều mình phải làm dù trong lòng có những ngày cạn kiệt. Có người mang thập giá vì con cái: một đứa con bệnh tật, một đứa con lạc đường, một đứa con bỏ nhà, một đứa con sống xa Chúa. Có người mang thập giá của cô đơn. Nhà đầy người mà lòng chẳng biết nói với ai. Có người mang thập giá của quá khứ: một lỗi lầm không thể sửa lại, một ký ức cứ quay về, một vết thương tưởng đã lành nhưng bất chợt nhói lên. Có người mang thập giá của tuổi già: mắt mờ, chân yếu, trí nhớ kém, những người bạn đời lần lượt ra đi, cảm giác mình ngày càng trở thành gánh nặng. Có người mang thập giá của một đời phục vụ mà chẳng mấy ai hiểu, làm bao nhiêu người ta không nhớ, chỉ sơ suất một lần thì người ta nhắc mãi. Có những thập giá bên ngoài ai cũng thấy; nhưng cũng có những thập giá chỉ Chúa biết. Và có lẽ những thập giá nặng nhất lại chính là những thập giá không thể kể cùng ai.
Vậy mà thật lạ, chính trong những nơi ấy Đức Kitô thường ở gần con người nhất. Người không đứng trên cao nhìn xuống và nói: “Cố chịu đi!” Người đã đi xuống tận đáy của đau khổ. Người biết thế nào là bị phản bội bởi một người bạn. Người biết thế nào là bị người ta vu cáo. Người biết thế nào là cô độc giữa đám đông. Người biết thế nào là bị sỉ nhục công khai. Người biết thế nào là đau thể xác. Người biết thế nào là khát mà không có nước. Người biết thế nào là cầu nguyện giữa bóng tối: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Vì thế khi một người Kitô hữu khóc dưới thập giá, họ không khóc trước một vị Thiên Chúa xa lạ. Trước họ là một Thiên Chúa đã khóc. Khi họ đau, trước họ là một Thiên Chúa đã mang thương tích. Khi họ bị bỏ rơi, trước họ là một Đức Giêsu từng bị các môn đệ chạy trốn. Khi họ đứng trước cái chết, trước họ là Đấng đã thực sự chết. Không một vực thẳm nào của thân phận con người mà Đức Kitô chưa từng bước xuống.
Bởi vậy, từ chối mọi thập giá bằng mọi giá đôi khi là từ chối cơ hội gặp Đức Kitô ở nơi sâu nhất của cuộc đời. Có những điều ta chỉ hiểu về Chúa sau khi đã khóc. Có những câu Kinh Thánh đọc cả trăm lần vẫn thấy bình thường, cho đến một ngày đau khổ làm câu ấy bừng sáng. “Ơn Ta đủ cho con” nghe rất đẹp khi đời bình an, nhưng chỉ khi bất lực ta mới biết câu ấy có sức mạnh thế nào. “Đừng sợ, vì Ta ở với ngươi” là một câu rất quen, nhưng giữa đêm bệnh viện, khi người thân nằm sau cánh cửa phòng cấp cứu, câu ấy trở thành chiếc neo giữ tâm hồn khỏi chìm. “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” là lời dễ đọc, nhưng đến lúc chẳng còn gì kiểm soát được nữa, nó trở thành lời cầu nguyện cuối cùng và đẹp nhất. Có những lớp học về Thiên Chúa mang tên đau khổ; không ai tự nguyện ghi danh, nhưng nhiều người sau khi đi qua đã hiểu tình yêu của Người sâu hơn cả những năm tháng đời mình trước đó.
Tuy nhiên, điều khó nhất của thập giá không hẳn là đau. Điều khó nhất là phải từ bỏ ý riêng. Đức Giêsu trong vườn Ghếtsêmani đã cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Chúa Giêsu không giả vờ mạnh mẽ. Người không nói đau khổ là dễ chịu. Người run sợ trước chén đắng. Người xin nếu có thể thì chén ấy được cất đi. Nhưng sau tất cả, Người đặt ý mình trong tay Chúa Cha. Đó chính là cốt lõi của việc vác thập giá: không phải không cảm thấy đau, nhưng giữa đau vẫn tín thác; không phải không muốn thoát khổ, nhưng khi không thể thoát, vẫn không buông tay Chúa; không phải hiểu hết tại sao, nhưng vẫn nói: “Con không hiểu, nhưng con tin.”
Chúng ta thường muốn Chúa giải thích trước rồi mới vâng lời. Nhưng đức tin thường đi theo chiều ngược lại: bước đi trước rồi nhiều năm sau mới hiểu. Abraham rời quê hương mà chưa biết mình sẽ đi đâu. Môsê đưa dân ra khỏi Ai Cập mà phía trước là biển đỏ. Đức Maria thưa “Xin vâng” mà không biết con đường ấy sẽ đưa Mẹ đến chân Thập Giá. Các Tông đồ bỏ lưới theo Chúa mà chưa hiểu một ngày nào đó chính họ cũng sẽ uống chén của Thầy. Đức tin không phải là cầm trong tay bản đồ đầy đủ về tương lai. Đức tin là nắm tay một Đấng mà ta biết Người yêu mình. Đứa trẻ đi trong đêm không cần hiểu con đường; chỉ cần bàn tay cha nó còn ở đó. Người Kitô hữu cũng vậy. Có những đoạn đời chúng ta chẳng hiểu gì, nhưng nếu bàn tay còn ở trong tay Chúa thì vẫn có thể tiếp tục.
Từ chối thập giá còn có thể xuất hiện dưới hình thức tinh vi hơn: chọn một Kitô giáo không đòi thay đổi chính mình. Ta muốn Chúa chúc lành nhưng không muốn Chúa sửa mình. Muốn được tha thứ nhưng không muốn tha thứ. Muốn bình an nhưng vẫn giữ lòng ghen ghét. Muốn Chúa thương mình nhưng không chịu thương người khó thương. Muốn nên thánh nhưng không muốn bỏ thói quen xấu. Muốn theo Chúa nhưng không muốn từ bỏ cái tôi. Trong khi đó, ngay sau lời “vác thập giá”, Đức Giêsu nói đến “từ bỏ chính mình”. Có lẽ cây thập giá nặng nhất không ở ngoài đời mà nằm ngay trong lòng ta: cái tôi muốn thắng, muốn được nhìn nhận, muốn người khác theo ý mình, muốn mình luôn đúng, muốn giữ thể diện, muốn trả đũa khi bị tổn thương. Đóng đinh cái tôi ấy đau lắm. Im lặng khi có thể trả đũa là một cây đinh. Xin lỗi khi mình sai là một cây đinh. Tha thứ khi lòng còn đau là một cây đinh. Chấp nhận người khác được khen hơn mình là một cây đinh. Làm một việc tốt mà không kể cho ai là một cây đinh. Nhận phần thiệt để giữ bình an là một cây đinh. Sống trung thành ngày này qua ngày khác với những việc nhỏ không ai thấy là một cây đinh. Chính bằng những cây đinh nhỏ ấy mà con người cũ trong ta dần chết đi để Đức Kitô lớn lên.
Không lạ gì thế gian luôn muốn một Tin Mừng không Thập Giá. Người ta sẵn sàng nghe về thành công, chữa lành, thịnh vượng, chiến thắng, nhưng rất khó nghe về từ bỏ, hy sinh, trung tín và đau khổ. Thế nhưng nếu lấy Thập Giá ra khỏi Kitô giáo, còn lại chỉ là một thứ triết lý sống dễ chịu. Thánh Phaolô đã không rao giảng một Đức Kitô thành công theo tiêu chuẩn thế gian; ngài rao giảng “Đức Kitô chịu đóng đinh”. Với người Do Thái đó là cớ vấp phạm, với dân ngoại là sự điên rồ, nhưng với những người được Thiên Chúa kêu gọi, đó lại là sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Kitô giáo bắt đầu bằng một máng cỏ nghèo và đạt tới đỉnh cao trên một cây Thập Giá. Đường của Chúa đi xuống trước khi đi lên, mất trước khi được, chết trước khi sống lại. “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được.” Đó là nghịch lý không thể xóa khỏi Tin Mừng.
Nhìn lên Thánh Giá, ta thấy Chúa Giêsu dường như mất tất cả. Áo Người bị chia. Danh dự Người bị nghiền nát. Các môn đệ bỏ chạy. Đám đông chế nhạo. Thân xác Người bị đóng đinh. Cuối cùng ngay cả sự sống Người cũng trao đi. Người chẳng còn gì. Nhưng chính lúc chẳng còn gì, Người lại đang trao cho nhân loại tất cả. Hai bàn tay bị đóng đinh là hai bàn tay mở rộng nhất. Người không thể bước xuống khỏi cây gỗ, nhưng tình yêu của Người lại đi đến tận cùng thế giới. Người không còn lời nào dài, nhưng sự im lặng của Người nói lớn hơn mọi bài giảng. Người có vẻ thất bại hoàn toàn, nhưng chính ở đó tội lỗi bị đánh bại. Người chết, nhưng cái chết của Người mở cửa sự sống. Thánh Giá vì thế làm đảo lộn mọi tiêu chuẩn của thế gian.
Có lẽ chúng ta cần thôi hỏi: “Tại sao tôi lại có thập giá này?” và bắt đầu hỏi: “Lạy Chúa, Chúa muốn con yêu như thế nào trong hoàn cảnh này?” Câu hỏi thứ nhất đôi khi không có câu trả lời. Câu hỏi thứ hai luôn mở ra một con đường. Khi bệnh, tôi vẫn có thể yêu. Khi nghèo, tôi vẫn có thể yêu. Khi bị hiểu lầm, tôi vẫn có thể yêu. Khi tuổi già đến, tôi vẫn có thể yêu. Khi một kế hoạch đổ vỡ, tôi vẫn có thể yêu. Khi mất một người thân, giữa những giọt nước mắt tôi vẫn có thể yêu. Và nếu còn yêu được, thập giá chưa chiến thắng tôi. Bởi chiến thắng của Kitô hữu không phải là không đau, nhưng là đau mà không thôi yêu; không phải không bị tổn thương, nhưng bị tổn thương mà không trở thành người gây tổn thương; không phải không khóc, nhưng trong nước mắt vẫn giữ được lòng tin.
Một trong những hình ảnh đẹp nhất của Tin Mừng là Simon thành Kyrênê. Ông không định vác Thập Giá. Ông chỉ từ ngoài đồng về và tình cờ đi ngang qua. Quân lính bắt ông vác Thập Giá đỡ Đức Giêsu. Có lẽ lúc đầu ông bực bội. Ông đâu có gây ra chuyện gì. Ông cũng chẳng xin tham dự cuộc hành hình ấy. Nhưng rồi tên ông được ghi vào Tin Mừng. Hàng triệu người qua hai ngàn năm nhớ đến một người chỉ vì một đoạn đường ông đã vác Thập Giá bên cạnh Chúa. Đời chúng ta cũng có những thập giá như thế: chẳng chọn, chẳng muốn, chẳng hiểu tại sao lại rơi vào mình. Có lúc ta giống Simon, bị cuộc đời đặt lên vai một khúc gỗ. Nhưng nếu ta vác nó bên Chúa Giêsu, chính đoạn đường ta từng muốn tránh lại có thể trở thành đoạn đường thánh thiện nhất của đời mình.
Và còn một chi tiết khác rất cảm động: trên đường lên Canvê, Đức Giêsu đã ngã. Truyền thống suy niệm về những lần Chúa ngã để nhắc ta rằng vác thập giá không có nghĩa là lúc nào cũng mạnh. Có những ngày ta ngã. Có ngày cầu nguyện không nổi. Có ngày chỉ muốn buông. Có ngày tin yếu lắm. Có ngày ta hỏi những câu tưởng như không được phép hỏi. Nhưng ngã dưới thập giá không phải là bỏ thập giá. Đức Giêsu ngã rồi đứng lên. Người không đòi ta trở thành những con người bằng thép. Người chỉ xin ta mỗi lần ngã lại để Người nâng dậy và đi tiếp. Nên thánh không phải là chưa bao giờ yếu; nên thánh là trong yếu đuối vẫn trở về với Chúa.
Thật ra nhiều khi chúng ta không sợ Thập Giá bằng sợ việc Thập Giá phá tan những dự tính của mình. Ta đã hình dung đời phải thế này, gia đình phải thế kia, con cái phải thế nọ, tuổi già phải bình an, công việc phải thuận lợi. Rồi một biến cố đến và xé tấm bản đồ ấy. Ta đau vì mất điều đã có, nhưng còn đau hơn vì mất tương lai mình từng tưởng tượng. Chính lúc đó lời Chúa vang lên: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ chính mình.” Từ bỏ chính mình đôi khi là từ bỏ cả quyền đòi cuộc đời phải xảy ra theo kịch bản mình đã viết. Ta không buông xuôi, nhưng học đặt cây bút lại trong tay Thiên Chúa.
Thập Giá cũng dạy ta đừng vội phán xét thập giá của người khác. Một người vẫn cười không có nghĩa là họ không đau. Một gia đình nhìn ngoài yên ổn không có nghĩa bên trong không có nước mắt. Một linh mục vẫn giảng, một tu sĩ vẫn phục vụ, một người cha vẫn đi làm, một người mẹ vẫn chăm con, một người trẻ vẫn vui vẻ với bạn bè, không có nghĩa họ không mang những cuộc chiến âm thầm. Có những người mỗi ngày đang làm một việc anh hùng mà chẳng ai gọi là anh hùng: họ thức dậy và tiếp tục sống. Họ tiếp tục cầu nguyện. Tiếp tục tử tế. Tiếp tục không bỏ cuộc. Chỉ Chúa biết cái giá của những điều rất bình thường ấy.
Có khi thập giá lớn nhất của một người lại là chính một người khác mà họ phải yêu mỗi ngày. Một người thân khó tính, một người bệnh cần chăm sóc lâu dài, một người con khiến cha mẹ hết lần này đến lần khác đau lòng. Nhưng cần nhớ: Chúa không bao giờ bảo chúng ta dung túng bạo lực, bất công hay những hành vi hủy hoại phẩm giá con người với lý do “vác thập giá”. Có những hoàn cảnh cần phải tìm sự trợ giúp, cần thiết lập giới hạn, cần bảo vệ người yếu thế, cần rời khỏi nguy hiểm. Vác thập giá không đồng nghĩa với để cho cái ác tự do hành hạ mình. Đức Giêsu vác Thập Giá vì yêu, nhưng Người cũng luôn gọi sự dữ đúng tên của nó. Thập Giá Kitô giáo không thánh hóa sự ác; Thập Giá biến đổi điều ác đã xảy ra bằng sức mạnh của tình yêu.
Nhìn vào cuộc đời Đức Maria ta càng hiểu điều ấy. Ngày truyền tin, Mẹ thưa “Xin vâng”. Nhưng lời xin vâng ấy không đưa Mẹ vào một con đường đầy hoa. Nó đưa Mẹ đến Bêlem không chỗ trọ, sang Ai Cập chạy trốn, đến những năm tháng âm thầm ở Nadarét, và cuối cùng đứng dưới chân Thập Giá nhìn Con mình chết. Nếu có ai xứng đáng được miễn đau khổ thì có lẽ là Mẹ. Nhưng Mẹ lại đứng gần Thập Giá nhất. Không phải vì Thiên Chúa ít yêu Mẹ, mà chính vì Mẹ đã yêu Thiên Chúa sâu đến mức có thể ở lại với Người khi mọi người bỏ đi. Đức tin trưởng thành không được đo bằng việc chúng ta nhận được bao nhiêu điều thuận lợi, nhưng bằng việc ta còn đứng được dưới chân Thập Giá hay không.
Điều quan trọng nhất là Thập Giá không phải chương cuối. Nếu Tin Mừng kết thúc chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, Kitô giáo là một bi kịch. Nhưng sau chiều tối trên Golgotha là sáng ngày thứ nhất trong tuần. Ngôi mộ trống thay đổi tất cả. Phục Sinh không xóa sự thật rằng Đức Giêsu đã đau; Phục Sinh nói rằng đau khổ không có tiếng nói cuối cùng. Những lỗ đinh vẫn còn trên thân xác Đấng Phục Sinh. Điều đó thật đẹp: Chúa không xóa những vết thương, Người biến chúng thành dấu chỉ chiến thắng. Có lẽ đời chúng ta cũng vậy. Thiên Chúa không nhất thiết làm như thể chưa từng có gì xảy ra. Có những vết sẹo sẽ ở lại. Nhưng trong ân sủng, chính nơi từng làm ta khóc có thể trở thành nơi ta hiểu người khác hơn; chính thất bại từng nghiền nát ta có thể làm ta khiêm nhường; chính mất mát từng làm ta tưởng không sống nổi có thể làm ta biết quý từng phút giây; chính vết thương của ta có thể trở thành nơi người khác tìm được sự an ủi.
Bởi vậy, người Kitô hữu không tôn thờ Thập Giá vì yêu sự chết. Chúng ta suy tôn Thánh Giá vì trên đó tình yêu đã mạnh hơn cái chết. Chúng ta không chạy đến Thập Giá vì thích đau, nhưng vì ở đó có Chúa. Và nơi nào có Chúa, ngay cả đau khổ cũng không còn hoàn toàn vô nghĩa. Có một câu rất đáng để giữ trong lòng: ta không biết mình có thể tránh được bao nhiêu thập giá trong đời, nhưng ta có thể quyết định không vác bất cứ thập giá nào một mình. Khi mệt, hãy nói với Chúa: “Chúa vác với con.” Khi sợ: “Chúa đi cùng con.” Khi không hiểu: “Chúa dẫn con.” Khi gần buông xuôi: “Chúa giữ con lại.” Đôi khi lời cầu nguyện thật nhất không dài hơn thế.
Và rồi có ngày mỗi người phải vác cây thập giá cuối cùng là chính cái chết. Không ai tránh được. Dù giàu nghèo, nổi tiếng hay vô danh, khỏe mạnh hay yếu đau, cuối cùng đều phải đặt xuống mọi thứ. Lúc ấy tất cả những gì chúng ta từng giữ chặt sẽ phải buông. Nhưng Kitô hữu bước đến cái chết không phải như người đi vào nơi Đức Giêsu chưa từng đến. Người đã đi trước. Ngôi mộ từng giữ Người nay trở thành một cánh cửa. Vì thế, ngay cả cây thập giá cuối cùng cũng không thể tách người tin khỏi Đức Kitô. Thánh Phaolô có thể mạnh mẽ nói: không gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu.
Có lẽ hôm nay mỗi người nên nhìn lại cây thập giá mình đang muốn chạy trốn. Nó có thể mang một cái tên cụ thể. Một con người. Một căn bệnh. Một bổn phận. Một sự chờ đợi. Một nỗi cô đơn. Một thất vọng. Một cuộc chiến trong chính lòng mình. Đừng vội xin Chúa cất nó đi bằng mọi giá. Hãy xin trước hết: “Lạy Chúa, nếu có thể, xin cất chén này khỏi con; nhưng nếu đây là con đường con phải đi, xin đừng để con đi một mình. Xin đừng để thập giá này làm con cay đắng. Xin dùng nó để làm con hiền hơn, sâu hơn, khiêm nhường hơn, biết thương người hơn và thuộc về Chúa hơn.”
Từ chối thập giá là từ chối chính Chúa Giêsu không có nghĩa rằng ta không bao giờ được khóc, không được than, không được cầu xin được giải thoát. Chính Chúa Giêsu đã xin chén đắng được cất đi. Điều đáng sợ không phải là sợ thập giá; ngay cả Chúa trong nhân tính cũng đã run sợ. Điều đáng sợ là vì thập giá mà bỏ Chúa. Điều đáng sợ là khi đau thì đóng cửa lòng mình với Người. Điều đáng sợ là chọn mọi con đường miễn sao không phải sống Tin Mừng. Điều đáng sợ là vì tránh mất mát mà đánh mất lương tâm, vì tránh thiệt thòi mà đánh mất lòng trung thành, vì tránh bị tổn thương mà không còn yêu, vì giữ mạng sống mà đánh mất linh hồn.
Sau cùng, có lẽ ta chỉ cần nhớ một hình ảnh: Chúa Giêsu đang đi phía trước, trên vai là Thập Giá. Người quay lại và nói: “Theo Thầy.” Người không đứng bên đường sai ta đến một nơi Người chưa đi. Người đi trước. Con đường có dốc, nhưng có dấu chân Người. Có máu Người trên đó. Có những lần Người đã ngã trên đó. Có Mẹ Maria đã từng đi trên đó. Có các thánh đã từng đi trên đó. Và cuối con đường ấy không phải là tuyệt vọng. Cuối con đường ấy là Phục Sinh.
Vậy nên, lạy Chúa Giêsu, khi con xin theo Chúa, xin cho con đừng chỉ muốn theo Chúa trên núi Tabor mà quên đường Canvê; đừng chỉ muốn ở bên Chúa lúc bánh hóa nhiều mà bỏ Người khi đám đông la lên “Đóng đinh nó vào Thập Giá”; đừng chỉ hát Alleluia sáng Phục Sinh mà sợ thinh lặng chiều Thứ Sáu Tuần Thánh. Xin cho con hiểu rằng cây Thập Giá trên tường nhà con không phải đồ trang trí, Thánh Giá trên ngực con không phải món nữ trang, dấu Thánh Giá con làm mỗi ngày không phải một cử chỉ máy móc. Đó là lời tuyên xưng rằng con thuộc về một Đấng đã yêu con đến chết và chết trên Thập Giá.
Khi cuộc đời nhẹ nhàng, xin cho con biết tạ ơn. Khi cuộc đời nặng nề, xin cho con biết tín thác. Khi con không còn sức vác, xin gửi cho con một Simon Kyrênê. Và khi người khác kiệt sức, xin cho con trở thành Simon của họ. Khi con đứng dưới Thập Giá của người thân mà chẳng làm gì được, xin cho con biết đứng như Đức Maria: không giải quyết được mọi sự nhưng không bỏ đi. Khi chính con bị đóng vào những điều mình không thể thay đổi, xin cho con nhớ đến Chúa và nói: “Lạy Cha, con xin phó thác đời con trong tay Cha.”
Xin cho con đừng bao giờ quên: không phải mọi đau khổ đều do Chúa gửi đến, nhưng không có đau khổ nào con trao cho Chúa mà Người không thể dùng để sinh hoa trái. Không phải mọi cây thập giá đều được lựa chọn, nhưng mọi cây thập giá được vác trong tình yêu đều có thể trở thành con đường nên thánh. Không phải vì có thập giá mà Chúa bỏ con; có khi chính dưới chân thập giá con mới nhận ra Người gần mình hơn bao giờ hết.
Và nếu một ngày con hỏi: “Lạy Chúa, con còn phải vác bao lâu nữa?”, xin cho con nghe Người nói thật khẽ: “Chỉ cần con đi với Thầy hôm nay.” Bởi Chúa không bắt ta vác thập giá của cả cuộc đời trong một ngày. Người chỉ bảo: “Hãy vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta.” Hôm nay đủ cho hôm nay. Ngày mai lại có ơn của ngày mai. Một bước bên Chúa rồi một bước nữa. Một ngày trung thành rồi một ngày nữa. Cho đến khi con đường Thập Giá âm thầm trở thành con đường Phục Sinh.
Khi ấy chúng ta sẽ hiểu điều mà hôm nay mình chỉ có thể tin: không một giọt nước mắt nào đã trao cho Chúa là vô ích; không một hy sinh nào vì yêu mà bị quên lãng; không một lần tha thứ nào là uổng phí; không một cây thập giá nào được vác với Đức Kitô mà kết thúc trong mồ. Vì Đấng đã nói “Ai muốn theo Thầy, hãy vác thập giá mình mà theo” cũng chính là Đấng đã bước ra khỏi mồ vào sáng ngày thứ ba. Và Người vẫn đang đứng ở cuối mọi con đường Thập Giá của chúng ta, không phải với mão gai nhưng với ánh sáng Phục Sinh, không phải để hỏi ta đã đau bao nhiêu, nhưng để đón ta vào nơi không còn tiếng khóc, không còn chia ly, không còn sự chết.
Cho nên, xin đừng bỏ Chúa chỉ vì con đường của Người có Thập Giá. Đừng bỏ Thập Giá, vì trên Thập Giá có Chúa. Và nếu phải chọn giữa một con đường dễ dàng không có Đức Kitô với một con đường đầy thập giá nhưng có Người, xin cho ta đủ đức tin để chọn con đường có Chúa. Bởi sau cùng, điều cứu chúng ta không phải là một cuộc đời không đau khổ, mà là một cuộc đời không bao giờ buông tay Đức Giêsu.
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ VÀ NIỀM VUI PHỤC SINH KHÔNG THỂ TÁCH RỜI
Có một cám dỗ rất âm thầm trong đời sống đức tin, đó là người ta muốn có một Đức Kitô Phục Sinh nhưng lại không muốn đi ngang qua Đức Kitô chịu đóng đinh; muốn có ánh sáng của buổi sáng Phục Sinh nhưng không muốn bước vào bóng tối của chiều Thứ Sáu Tuần Thánh; muốn nghe tiếng hát Alleluia nhưng lại không muốn nghe tiếng búa đóng vào đinh trên đồi Canvê; muốn vòng hoa chiến thắng mà không muốn đội mão gai; muốn sự sống nhưng lại sợ phải chết đi cho chính mình; muốn bình an nhưng lại không muốn tha thứ; muốn được chữa lành nhưng lại không muốn chạm vào vết thương; muốn theo Chúa nhưng lại tìm một con đường không có thập giá. Thế nhưng Tin Mừng không bao giờ cho phép chúng ta tách đôi mầu nhiệm của Đức Kitô như thế. Đức Giêsu chịu đóng đinh và Đức Giêsu Phục Sinh không phải là hai Đức Giêsu khác nhau. Đấng sống lại sáng ngày thứ nhất trong tuần chính là Đấng đã bị người ta kết án, đánh đòn, đội mão gai, đóng đinh và đâm thủng cạnh sườn vào chiều thứ Sáu. Những vết thương không biến mất khi Người phục sinh. Người có thể xóa chúng đi, nhưng Người đã giữ lại. Khi hiện ra với các môn đệ, Chúa không chỉ nói: “Thầy đây”, Người còn cho họ xem tay và cạnh sườn. Thật lạ lùng: vinh quang Phục Sinh vẫn mang dấu tích của Thập Giá. Chính điều ấy nói với chúng ta một chân lý vô cùng sâu xa: trong Đức Kitô, đau khổ được cứu chuộc chứ không bị phủ nhận; vết thương được biến đổi chứ không bị giả vờ như chưa từng có; Thập Giá không bị Phục Sinh xóa bỏ, nhưng được Phục Sinh mặc cho một ý nghĩa hoàn toàn mới. Từ đây, Thập Giá không còn là dấu chấm hết. Từ đây, ngôi mộ không còn là tiếng nói cuối cùng. Từ đây, cái chết không còn quyền tuyên bố chiến thắng. Từ đây, nước mắt của con người có thể vẫn rơi, nhưng nó không còn rơi trong tuyệt vọng. Bởi vì phía sau Thập Giá là bình minh Phục Sinh, và con đường đi tới bình minh ấy vẫn là con đường ngang qua Thập Giá.
Nếu chỉ nhìn Thập Giá mà không nhìn Phục Sinh, Kitô giáo sẽ trở thành một tôn giáo buồn bã, nặng nề, bi quan, chỉ nói về hy sinh, đau khổ và nước mắt. Nhưng nếu chỉ nói Phục Sinh mà quên Thập Giá, Kitô giáo lại dễ trở thành một thứ niềm tin rẻ tiền, chỉ thích thành công, thích phép lạ, thích bình an, thích chiến thắng, thích những điều dễ chịu mà không dám đối diện với tội lỗi, hy sinh, từ bỏ và cái giá của tình yêu. Đức tin Kitô giáo không chọn một trong hai. Đức tin Kitô giáo ôm lấy cả Thập Giá và Phục Sinh trong cùng một mầu nhiệm Vượt Qua. Chính vì thế, đêm Vọng Phục Sinh bắt đầu trong bóng tối. Nhà thờ tối. Mọi ngọn đèn tắt. Rồi từ một ngọn lửa mới, cây nến Phục Sinh được thắp lên và ánh sáng dần truyền từ người này sang người khác. Phụng vụ ấy không phải chỉ đẹp về hình thức. Nó kể lại chính câu chuyện của đời người. Có những lúc đời chúng ta tối thật. Tối đến mức không thấy đường. Tối vì bệnh tật. Tối vì một người thân ra đi. Tối vì gia đình tan vỡ. Tối vì bị hiểu lầm. Tối vì thất bại. Tối vì tuổi già. Tối vì cô đơn. Tối vì mang một nỗi đau mà không biết nói với ai. Tối vì cầu nguyện nhiều mà dường như Chúa vẫn im lặng. Có người trong những đêm tối ấy đã hỏi: “Chúa đâu rồi?” Thật ra đó cũng là tiếng kêu vọng lại từ Canvê: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Đức Giêsu đã không đứng ngoài bóng tối của con người để giảng cho chúng ta về hy vọng. Người bước vào chính bóng tối ấy. Người đã biết thế nào là bị phản bội bởi người mình tuyển chọn, bị chối bỏ bởi người từng thề sống chết với mình, bị bỏ rơi bởi những người từng đi theo mình, bị nhạo báng bởi đám đông, bị xét xử bất công bởi quyền lực, bị đóng đinh giữa hai tên tội phạm và cuối cùng được đặt vào một ngôi mộ đá. Thiên Chúa đã đi xuống tận đáy của thân phận con người. Vì thế không có vực sâu nào của đời ta mà Đức Kitô chưa từng đi qua. Và cũng chính vì Người đã đi qua, nên không vực sâu nào còn tuyệt đối vô vọng.
Tin Mừng thuật lại một chi tiết rất đẹp trong trình thuật các môn đệ trên đường Emmau. Hai người môn đệ rời Giêrusalem trong buổi chiều buồn bã. Họ từng hy vọng vào Đức Giêsu, nhưng Thập Giá đã làm tan vỡ mọi giấc mơ. Họ nói với người khách lạ đang cùng đi: “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Israel.” Hai chữ “trước đây” nghe đau biết bao. Trước đây chúng tôi hy vọng. Còn bây giờ thì hết rồi. Trước đây chúng tôi tin. Còn bây giờ mọi sự đã chôn trong mồ. Chính lúc ấy Đức Giêsu Phục Sinh đến gần và cùng đi với họ, nhưng họ không nhận ra Người. Người không trách họ trước tiên vì buồn, cũng không lập tức làm phép lạ để xóa nỗi đau. Người giải thích cho họ Kinh Thánh và nói: “Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” (Lc 24,26). Câu hỏi ấy gần như là chiếc chìa khóa mở toàn bộ mầu nhiệm Kitô giáo: chịu khổ hình rồi vào vinh quang. Thập Giá rồi Phục Sinh. Không phải đau khổ vì đau khổ. Không phải Thập Giá là đích đến. Nhưng Thập Giá là con đường tình yêu đi qua để tới sự sống. Và thật cảm động, khi đến bàn ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho họ, mắt họ mở ra. Hai người môn đệ lập tức quay lại Giêrusalem. Con đường vẫn thế, đêm có lẽ đã xuống, nhưng lòng họ không còn như cũ. Trước khi gặp Chúa Phục Sinh, họ đi trong tuyệt vọng. Sau khi gặp Chúa, họ chạy trong hy vọng. Trước đó họ quay lưng với cộng đoàn. Bây giờ họ trở về. Trước đó Thập Giá đối với họ là dấu hiệu thất bại. Bây giờ họ hiểu rằng chính từ nơi tưởng như thất bại ấy, chương trình cứu độ đã được hoàn tất. Một cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh không làm lịch sử Thập Giá biến mất, nhưng làm cho người môn đệ nhìn Thập Giá bằng một đôi mắt mới.
Chúng ta cũng vậy. Có những chuyện xảy ra trong đời mà ngay khi nó xảy ra, ta không thể hiểu nổi. Có những mất mát mà mọi lời giải thích đều trở nên quá nhỏ bé. Có những tiếng khóc mà những lời khuyên đạo đức, dù đúng, cũng không đủ sức làm người ta nguôi ngoai. Có những người cầu nguyện xin Chúa chữa bệnh cho người thân nhưng rồi người thân vẫn ra đi. Có những cha mẹ sống tử tế mà con cái vẫn lạc đường. Có những người vợ hết lòng vì gia đình mà vẫn bị phản bội. Có những người sống ngay thẳng mà vẫn bị vu oan. Có những linh mục tận tụy mà vẫn bị hiểu lầm. Có những người cả đời làm điều tốt nhưng cuối đời vẫn nghèo, vẫn bệnh, vẫn cô đơn. Nếu chỉ nhìn từng biến cố riêng lẻ, đôi khi ta thấy đời thật bất công. Nếu chỉ đứng dưới chân Thập Giá chiều thứ Sáu, mọi sự dường như là một thảm họa. Người tốt nhất lại chết đau đớn nhất. Đấng vô tội lại bị kết án. Tình yêu lại bị đóng đinh. Sự thật lại bị chôn xuống mồ. Nhưng Thiên Chúa chưa nói lời cuối vào chiều thứ Sáu. Lời cuối của Thiên Chúa được nói vào sáng ngày thứ nhất trong tuần: “Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy.” Đó chính là hy vọng của chúng ta. Chúng ta không được đánh giá toàn bộ đời mình bằng một ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Có những trang đời đang viết dở. Có những câu chuyện Thiên Chúa chưa viết đến đoạn cuối. Có những giọt nước mắt hôm nay mà ta chưa biết ngày nào sẽ trở thành hạt giống của niềm vui. Có những cánh cửa đóng lại mà sau này nhìn lại ta mới hiểu chính nó đã cứu mình khỏi một con đường sai. Có những lời cầu xin tưởng Chúa không nghe nhưng rồi nhiều năm sau mới thấy Chúa đã trả lời bằng một cách khác. Đức tin không phải là hiểu hết mọi chuyện. Đức tin là dám tin rằng khi mình chưa hiểu, Thiên Chúa vẫn đang hành động.
Điều ấy không có nghĩa người Kitô hữu phải giả vờ vui khi đang đau. Chúa Giêsu không bao giờ dạy như thế. Người đã khóc trước mộ Ladarô dù Người biết lát nữa mình sẽ cho ông sống lại. Người đã buồn đến chết được trong vườn Ghếtsêmani dù Người biết Phục Sinh đang ở phía trước. Người đã xin Chúa Cha nếu có thể thì cất chén đắng khỏi mình. Đức tin không biến trái tim thành đá. Niềm vui Phục Sinh không phải là một nụ cười giả tạo được dán lên khuôn mặt đang đầy nước mắt. Niềm vui Kitô giáo có thể sống chung với nước mắt. Thánh Phaolô có một câu rất đẹp: “Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt.” Đó là niềm vui Phục Sinh. Không phải chẳng bao giờ bị quật ngã, mà bị quật ngã nhưng không bị tiêu diệt. Không phải chẳng bao giờ hoang mang, mà hoang mang nhưng không tuyệt vọng. Không phải chẳng bao giờ khóc, mà khóc nhưng biết rằng nước mắt không phải tiếng nói cuối cùng. Người Kitô hữu có thể đứng trước quan tài của người thân mà khóc, nhưng trong lòng vẫn thì thầm: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.” Người Kitô hữu có thể đau vì bệnh tật nhưng vẫn tin rằng thân xác này một ngày kia sẽ được biến đổi. Người Kitô hữu có thể bước vào tuổi già, tóc bạc, mắt mờ, chân yếu, nhưng vẫn biết mình đang đi về một cuộc gặp gỡ chứ không đi vào hư vô. Đó là sự khác biệt. Phục Sinh không làm chúng ta tránh khỏi cái chết. Phục Sinh làm cho cái chết mất quyền thống trị trên chúng ta.
Vì thế, Thập Giá mà người Kitô hữu mang mỗi ngày cũng không phải là một lời nguyền. Cần phải phân biệt thật rõ: không phải đau khổ nào cũng do Chúa gửi đến. Có những đau khổ do tội lỗi của con người, do ích kỷ, bất công, chiến tranh, bạo lực, phản bội, tham lam. Không thể gán tất cả những điều ấy cho ý Chúa. Một người chồng bạo hành vợ không được gọi đó là “thập giá Chúa gửi”. Một người bị áp bức không được bảo phải cam chịu vì đó là thập giá. Chúa không muốn sự dữ. Nhưng điều kỳ diệu là khi sự dữ đã xảy ra, Thiên Chúa có thể bước vào đó, ở với chúng ta trong đó, và biến chính nơi tưởng chỉ có sự chết thành nơi phát sinh sự sống. Canvê là bằng chứng lớn nhất. Người ta đóng đinh Con Thiên Chúa vì tội lỗi, ghen ghét và sợ hãi. Thiên Chúa không tạo ra tội ấy. Nhưng Thiên Chúa biến chính cây thập giá do con người dựng lên thành cây cứu độ. Đây là quyền năng đáng kinh ngạc của Thiên Chúa: Người không để sự dữ có tiếng nói cuối cùng. Con người dùng Thập Giá để giết; Thiên Chúa dùng chính Thập Giá để cứu. Con người đóng đinh; Thiên Chúa mở đôi tay ấy thành vòng tay ôm lấy cả nhân loại. Con người đâm cạnh sườn; Thiên Chúa làm từ cạnh sườn ấy tuôn ra máu và nước. Con người đặt một tảng đá trước mồ; Thiên Chúa biến ngôi mộ thành chứng nhân của sự sống.
Và cũng chính từ đó, người môn đệ hiểu rằng “vác thập giá” không phải là thích đau khổ, càng không phải đi tìm đau khổ. Vác thập giá là trung thành với tình yêu ngay khi tình yêu đòi giá. Một người mẹ thức đêm chăm con bệnh đang vác thập giá của tình yêu. Một người chồng trung tín với vợ khi gia đình gặp thử thách đang vác thập giá. Một người con chăm sóc cha mẹ già dù công việc bận rộn đang vác thập giá. Một người bị xúc phạm nhưng quyết định không trả thù đang vác thập giá. Một người từ bỏ khoản lợi bất chính dù mình đang cần tiền đang vác thập giá. Một người dám xin lỗi dù tự ái bị tổn thương đang vác thập giá. Một người sống trong đời tu vẫn kiên trì cầu nguyện khi tâm hồn khô khan đang vác thập giá. Một linh mục vẫn âm thầm phục vụ dù không được ghi nhận đang vác thập giá. Một người mang bệnh lâu năm vẫn cố giữ lòng nhân hậu, không biến đau khổ thành cay nghiệt đối với người bên cạnh, đó là một cuộc vác thập giá rất đẹp. Những thập giá ấy chẳng có gì lãng mạn. Có khi rất mệt. Có khi rất chán. Có lúc muốn buông. Nhưng nếu được mang với Đức Kitô và vì tình yêu, chúng trở thành nơi sự sống Phục Sinh đang âm thầm nảy mầm.
Hạt lúa là một hình ảnh Chúa Giêsu dùng để nói về chính mầu nhiệm này: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Hạt lúa nằm trong lòng đất nhìn như đã mất. Nó tối. Nó cô độc. Vỏ hạt nứt ra. Hình dạng ban đầu biến mất. Nhưng chính lúc tưởng như chết đi, một mầm sống bắt đầu bật lên. Mùa Phục Sinh luôn được chuẩn bị trong lòng đất của Thập Giá. Những điều đẹp nhất trong đời thường cũng như thế. Không có tình bạn sâu sắc nếu không có hy sinh. Không có hôn nhân bền vững nếu hai người không nhiều lần chết đi cho cái tôi. Không có đời linh mục sinh hoa trái nếu người mục tử chỉ tìm tiện nghi cho mình. Không có đời tu thánh thiện nếu người tu sĩ giữ nguyên mọi sở thích, mọi ý riêng và mọi tham vọng cá nhân. Không có một đời Kitô hữu trưởng thành nếu mỗi ngày ta không học chết đi một chút cho ích kỷ, nóng giận, ganh tị, kiêu căng, tham lam và thói quen chỉ nghĩ đến mình. Mỗi lần một cái tôi ích kỷ chết đi, một phần con người mới được sinh ra. Đó là Phục Sinh đang xảy ra từng ngày.
Thật ra, Phục Sinh không chỉ là biến cố sau khi ta chết. Phục Sinh đã bắt đầu ngay trong đời này. Mỗi lần một người đang hận mà có thể tha thứ, một cuộc phục sinh xảy ra. Mỗi lần một gia đình tưởng sắp tan vỡ mà biết ngồi lại, xin lỗi và ôm nhau, một cuộc phục sinh xảy ra. Mỗi lần một người sa ngã lâu năm bước vào tòa giải tội và trở về, một cuộc phục sinh xảy ra. Mỗi lần một người đang tuyệt vọng tìm lại được ý nghĩa để sống, một cuộc phục sinh xảy ra. Mỗi lần người Kitô hữu đứng dậy sau thất bại và tiếp tục làm điều thiện, một cuộc phục sinh xảy ra. Mỗi lần một người chọn yêu thương thay cho trả thù, chọn sự thật thay cho gian dối, chọn phục vụ thay cho ích kỷ, chọn nhẫn nại thay cho nóng giận, chọn cầu nguyện thay cho buông xuôi, sự sống của Đức Kitô Phục Sinh đang chiến thắng trong người ấy. Chúng ta vẫn còn mang thân phận mỏng giòn, vẫn còn khóc, vẫn còn bệnh, vẫn còn già, vẫn còn chết, nhưng sự sống đời đời đã được gieo trong ta từ ngày chịu phép Rửa. Một hạt giống Phục Sinh đang nằm trong thân phận phải chết này.
Có lẽ vì thế mà trong những thế kỷ đầu, các Kitô hữu có thể hát ngay giữa những cuộc bách hại. Không phải họ không sợ đau. Họ cũng là con người. Nhưng họ biết những kẻ giết thân xác không thể lấy mất sự sống mà Đức Kitô đã ban. Các vị tử đạo không yêu cái chết; họ yêu Đức Kitô hơn sự sống trần gian. Có những người bước đến nơi hành hình với một bình an làm những kẻ đứng xem phải kinh ngạc. Tại sao? Bởi họ đã hiểu một điều mà thế gian khó hiểu: nếu Đức Kitô đã sống lại thì sự chết không còn là bức tường, chỉ còn là cánh cửa. Nếu Đức Kitô đã sống lại thì mất tất cả vì Người cũng không phải mất tất cả. Nếu Đức Kitô đã sống lại thì người thất bại trước mắt thế gian vẫn có thể là người chiến thắng trong mắt Thiên Chúa. Chính vì thế, Thập Giá đã trở thành biểu tượng của Kitô giáo. Điều này thật nghịch lý. Nếu Đức Giêsu chết trên một dụng cụ hành hình, vì sao người Kitô hữu lại treo dụng cụ ấy trên cổ, trên tường nhà, trên bàn thờ và trên tháp nhà thờ? Bởi vì cây gỗ ấy đã bị Phục Sinh biến đổi ý nghĩa. Một biểu tượng ô nhục trở thành biểu tượng vinh quang. Một dấu chỉ tử hình trở thành dấu chỉ cứu độ. Một nơi tưởng là thất bại của Thiên Chúa lại trở thành nơi biểu lộ quyền năng kỳ diệu nhất của tình yêu.
Ta hãy nhìn kỹ Đức Giêsu trên Thập Giá. Người không chiến thắng bằng cách bước xuống khỏi Thập Giá như những kẻ nhạo báng thách thức: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi!” Nếu Chúa xuống lúc ấy, có lẽ đám đông sẽ kinh ngạc. Nhưng Người sẽ không cứu chúng ta bằng tình yêu đến cùng. Quyền năng của Thiên Chúa được tỏ ra không phải ở chỗ Người tránh đau khổ, nhưng ở chỗ đau khổ không thể làm Người ngừng yêu. Đinh đóng được bàn tay, nhưng không đóng được lòng thương xót. Người ta có thể lột áo Người, nhưng không lột được phẩm giá Người. Người ta có thể chế nhạo Người, nhưng không khiến Người nguyền rủa. Người ta có thể giết Người, nhưng không giết được tình yêu. Trong giờ phút đau đớn nhất, Người vẫn nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đó đã là mầm Phục Sinh xuất hiện ngay trên Thập Giá. Khi hận thù không làm tình yêu chết đi, sự sống đã chiến thắng. Sáng Phục Sinh chỉ làm cho chiến thắng ấy trở nên hữu hình.
Cũng vậy, đôi khi Phục Sinh trong đời chúng ta không bắt đầu bằng việc hoàn cảnh thay đổi, mà bằng việc trái tim ta thay đổi ngay giữa hoàn cảnh ấy. Ta cầu xin bệnh khỏi nhưng bệnh chưa khỏi; tuy nhiên ta bớt sợ hơn, biết tín thác hơn, biết quý từng ngày hơn: đó đã là một chút Phục Sinh. Ta cầu xin người khác thay đổi nhưng họ chưa thay đổi; tuy nhiên ta không còn để lòng mình bị hận thù ăn mòn: đó là Phục Sinh. Ta cầu xin một cánh cửa mở ra nhưng nó vẫn đóng; tuy nhiên ta tìm thấy sức mạnh để đi tiếp: đó là Phục Sinh. Đừng chỉ tìm phép lạ bên ngoài. Có những phép lạ lớn nhất xảy ra trong lòng người. Một người từng cay đắng mà trở nên hiền hòa là phép lạ. Một người từng ích kỷ mà biết cho đi là phép lạ. Một người từng xa Chúa nhiều năm mà trở về quỳ trước Thánh Thể là phép lạ. Một cuộc đời tan vỡ được Chúa nhặt lên và làm thành lời chứng cho người khác cũng là phép lạ. Phục Sinh không phải lúc nào cũng lấy cây Thập Giá khỏi vai ta; nhiều khi Chúa ban cho ta một đôi vai mới để mang nó.
Thế nên đừng vội nguyền rủa mọi thập giá trong đời. Dĩ nhiên ta có quyền xin Chúa cất nó đi. Chính Đức Giêsu cũng đã xin như thế trong vườn Cây Dầu. Nhưng sau lời xin ấy là một lời sâu hơn: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Có những điều ta phải tìm cách thay đổi vì đó là trách nhiệm. Có bệnh thì phải chữa. Có bất công thì phải chống. Có hiểu lầm thì phải giải thích. Có sai lầm thì phải sửa. Đức tin không phải thụ động. Nhưng sau khi đã làm tất cả những gì có thể mà vẫn còn một phần đời ta không thể thay đổi, khi ấy câu hỏi không còn là “Tại sao chuyện này xảy ra với tôi?” mà có thể trở thành: “Lạy Chúa, trong hoàn cảnh này, Chúa muốn làm gì nơi con? Con có thể yêu thế nào? Con có thể trưởng thành thế nào? Con có thể gần Chúa hơn thế nào?” Không phải thập giá tự nó làm người ta thánh. Có người đau khổ rồi trở nên cay nghiệt. Có người đau khổ rồi mất niềm tin. Nhưng khi đau khổ được đặt trong tay Đức Kitô, khi ta để Người cùng mang với mình, chính nơi đau đớn nhất có thể trở thành trường học của lòng thương xót, khiêm nhường và cảm thông.
Có những người trước khi đau chưa hiểu người khác. Sau một lần bệnh nặng, họ biết cảm thông với người bệnh. Trước khi mất một người thân, họ nói với người có tang những câu rất dễ dàng. Sau khi chính mình đứng trước quan tài một người mình yêu, họ học được cách im lặng và nắm tay. Trước khi thất bại, họ dễ phán xét người thất bại. Sau khi chính mình ngã xuống, họ trở nên bao dung. Không phải vì đau khổ là điều tốt, nhưng vì Thiên Chúa có thể dùng ngay cả những điều không tốt để sinh ích lợi cho những ai yêu mến Người. Một vết thương được chữa lành có thể trở thành cánh cửa giúp ta bước vào nỗi đau của người khác. Người từng khóc sẽ biết lau nước mắt nhẹ nhàng hơn. Người từng được tha thứ sẽ biết tha thứ rộng rãi hơn. Người từng được Chúa kéo lên khỏi vực sâu sẽ không dễ dàng khinh thường những người còn đang ở dưới đó.
Đặc biệt, Thập Giá và Phục Sinh phải trở thành tiêu chuẩn để ta nhìn những thất bại trong đời. Thế gian nói chiến thắng là đứng trên người khác. Tin Mừng cho thấy chiến thắng là có thể cúi xuống rửa chân. Thế gian nói thành công là được biết đến. Tin Mừng kể về ba mươi năm Chúa Giêsu sống âm thầm ở Nadarét. Thế gian nói mạnh là không bao giờ yếu. Tin Mừng cho thấy Con Thiên Chúa run sợ trong vườn Cây Dầu mà vẫn trung thành đến cùng. Thế gian nói thắng là không bị thua. Tin Mừng cho thấy Đấng bị người ta coi là thua hoàn toàn trên Thập Giá lại là Đấng chiến thắng tội lỗi và sự chết. Vì vậy, đừng quá vội vàng kết luận về một đời người khi chỉ nhìn vào những thành bại bên ngoài. Có người rất thành công trước mắt thiên hạ nhưng tâm hồn đã chết từ lâu. Có người sống âm thầm, nghèo khó, chẳng ai biết đến, nhưng mỗi ngày đang sinh hoa trái đời đời. Có những người mẹ cả đời chỉ quanh quẩn với gian bếp, ruộng vườn, con cái, nhưng những hy sinh âm thầm ấy đã dựng nên cả một thế hệ. Có những người cha chưa từng được ai tặng bằng khen nhưng đã đổ mồ hôi cả đời để con mình được học. Có những linh mục không xây được công trình lớn nào, nhưng đã ngồi hàng ngàn giờ trong tòa giải tội để đưa các linh hồn trở về với Chúa. Có những nữ tu không ai biết tên, nhưng đã chăm sóc người bệnh trong âm thầm suốt hàng chục năm. Phục Sinh của Thiên Chúa nhiều khi mọc lên từ những hạt lúa mà thế gian không bao giờ chú ý.
Khi Chúa Giêsu hiện ra với ông Tôma, Người nói: “Đưa ngón tay của con vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay của con ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy.” Chúa Phục Sinh cho Tôma chạm vào vết thương. Chi tiết này thật đẹp. Con đường đi tới đức tin của Tôma đi ngang qua vết thương của Đức Kitô. Có lẽ đức tin trưởng thành của chúng ta cũng vậy. Khi còn trẻ, người ta dễ tin bằng những lý tưởng đẹp. Đi qua năm tháng, đức tin phải bước ngang qua bệnh tật, cái chết, thất vọng, phản bội, những lời cầu nguyện chưa được đáp theo ý mình. Có lúc ta tưởng vết thương sẽ làm ta mất Chúa. Nhưng nếu đi đến cùng, chính vết thương có thể trở thành nơi ta gặp Chúa sâu hơn. Tôma chạm vào vết thương rồi thốt lên: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Một trong những lời tuyên xưng đức tin mạnh mẽ nhất của Tin Mừng được sinh ra trước những dấu đinh.
Có lẽ đời mỗi người đều có một vài “dấu đinh” không thể xóa. Một ký ức. Một sự mất mát. Một lần bị phản bội. Một biến cố khiến đời ta không bao giờ trở lại như trước. Ta thường cầu xin Chúa làm cho mọi thứ như chưa từng xảy ra. Nhưng nhiều khi ân sủng không đưa chúng ta trở lại con người cũ. Ân sủng làm chúng ta thành con người mới. Đức Giêsu Phục Sinh không trở lại như thể Canvê chưa từng xảy ra. Người sống lại với những dấu đinh. Nhưng giờ đây dấu đinh không còn nói “Người đã bị đánh bại”, mà nói “Người đã yêu đến cùng”. Vết thương của chúng ta cũng có thể được biến đổi như thế. Không nhất thiết biến mất, nhưng không còn là nơi chảy máu mãi mãi. Một ngày kia ta nhìn lại và thấy: chính nơi này Chúa đã giữ mình; chính biến cố ấy dạy mình biết thế nào là tín thác; chính lúc tưởng đã mất hết mình lại tìm được điều quan trọng nhất; chính người từng làm mình đau khiến mình học được tha thứ; chính giai đoạn khô khan làm đức tin mình thôi dựa trên cảm xúc. Khi đó vết thương vẫn là vết thương, nhưng nó đã trở thành sẹo. Và một vết sẹo là bằng chứng rằng ta đã từng bị thương, nhưng cũng là bằng chứng rằng ta đã được chữa lành.
Chính vì thế, Giáo Hội đặt Thập Giá ở trung tâm nhưng không dừng lại nơi Thập Giá. Mỗi Thánh lễ là tưởng niệm hy tế Thập Giá, nhưng cũng là bàn tiệc của Đấng Phục Sinh. Chúng ta công bố: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến.” Chịu chết và sống lại nằm trong cùng một lời tuyên xưng. Bánh được bẻ ra là thân mình đã hiến tế, nhưng cũng là thân mình của Đấng đang sống. Chén thánh là máu đã đổ ra, nhưng cũng là chén của Giao Ước vĩnh cửu. Mỗi lần dự lễ, chúng ta được đưa vào mầu nhiệm ấy để học một lối sống: biết bẻ chính mình ra vì người khác nhưng không tuyệt vọng; biết cho đi nhưng tin rằng những gì trao trong tình yêu không bao giờ mất; biết chết đi cho mình vì tin rằng Chúa có thể làm nảy sinh một sự sống lớn hơn.
Người Kitô hữu vì thế không phải là người trốn chạy Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng cũng không phải là người sống mãi ở Thứ Sáu Tuần Thánh. Có những người cứ ôm mãi vết thương cũ và xem nó như căn tính của mình. Mười năm rồi vẫn kể một câu chuyện bị tổn thương với cùng một sự cay đắng. Hai mươi năm rồi vẫn không tha. Cứ mỗi lần nhớ lại lại sống lại tất cả như chuyện vừa xảy ra hôm qua. Chúa không muốn chúng ta phủ nhận quá khứ, nhưng Người muốn lăn tảng đá khỏi mồ. “Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết?” Có những ngôi mộ trong lòng ta cần nghe câu ấy. Tại sao cứ quay về tìm sự sống trong những điều đã chết? Tại sao cứ đào lại một lỗi lầm người khác đã xin lỗi? Tại sao cứ tự kết án mình về một tội đã được Chúa tha trong bí tích Hòa Giải? Tại sao cứ sống như một người bị quá khứ giam giữ khi Đấng Phục Sinh đang gọi tên mình và bảo bước ra? Phục Sinh là cho phép Thiên Chúa mở một tương lai sau điều ta tưởng là kết thúc.
Phêrô chắc hẳn đã nghĩ đời mình chấm dứt trong sân dinh thượng tế khi ông ba lần chối Thầy. Một người từng nói “dù mọi người có bỏ Thầy, con cũng không” giờ lại nói “tôi không biết người ấy”. Và gà gáy. Ông đi ra ngoài khóc lóc thảm thiết. Đó là Thứ Sáu của Phêrô. Nhưng Chúa Phục Sinh không bỏ câu chuyện ông ở đó. Trên bờ hồ Tibêria, Chúa hỏi ông ba lần: “Con có yêu mến Thầy không?” Ba lần yêu được đặt vào nơi ba lần chối. Không phải để làm Phêrô xấu hổ, nhưng để chữa lành ông. Và sau đó Người trao đoàn chiên cho chính người đã từng ngã. Đây là Phục Sinh. Chúa không chỉ sống lại từ cõi chết; Người làm sống lại ơn gọi tưởng đã chết của Phêrô. Người biến người thất bại thành mục tử. Người không sử dụng những con người chưa bao giờ ngã; Người sử dụng những con người biết mình đã được tha thứ. Nếu Phêrô có thể đứng lên, chúng ta cũng có thể đứng lên. Một tội lỗi không nhất thiết là chương cuối của đời mình. Một thất bại không định nghĩa cả con người. Một quá khứ đen tối không mạnh hơn lòng thương xót. Trong tay Đấng Phục Sinh, đổ vỡ vẫn có thể trở thành khởi đầu.
Maria Mácđala cũng vậy. Bà đứng ngoài mộ mà khóc. Bà khóc đến mức Chúa đứng trước mặt mà bà không nhận ra. Đau khổ đôi khi làm mắt người ta như thế. Ta nhìn đâu cũng chỉ thấy mất mát. Thiên Chúa ở ngay bên mà ta tưởng Người vắng mặt. Rồi Chúa chỉ nói một tiếng: “Maria!” Khi nghe tên mình được gọi, bà nhận ra Người. Phục Sinh bắt đầu khi giữa nước mắt ta nghe thấy Chúa gọi tên mình. Không phải một Thiên Chúa xa lạ, không phải một giáo thuyết trừu tượng, nhưng là Đấng biết tên ta, biết ta đã khóc đêm nào, biết vết thương nào ta đang giấu, biết điều gì làm ta sợ, biết ta đang cố gắng ra sao. Đấng Phục Sinh gọi ta ra khỏi ngôi mộ của tuyệt vọng, mặc cảm và sợ hãi.
Có một điều thật đẹp: lần nào Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra, lời đầu tiên Người thường nói là “Bình an cho anh em!” Các môn đệ đang sợ hãi, cửa đóng kín. Người không đến để trách họ: “Các anh bỏ Thầy chạy hết, bây giờ còn mặt mũi nào gặp Thầy?” Nếu muốn trách, Chúa có đủ lý do. Nhưng Người nói: “Bình an cho anh em.” Phục Sinh là sự bình an mạnh hơn lỗi lầm. Bình an ấy được mua bằng Thập Giá. Bởi thế, bình an Kitô giáo không phải là đời không có giông bão, mà là giữa giông bão có Đức Kitô đứng đó. Không phải chẳng còn vấn đề, mà là ta không còn phải đối diện vấn đề một mình. Không phải mọi câu hỏi đều có câu trả lời, mà là ngay cả khi chưa có câu trả lời, ta biết mình đang ở trong tay ai.
Chúng ta thường xin Chúa một cuộc đời không có thập giá. Có lẽ nên xin một điều khác: xin một cuộc đời mà không thập giá nào làm ta xa Chúa. Xin khi vui biết tạ ơn, khi đau biết tín thác. Xin khi thành công không kiêu căng, khi thất bại không tuyệt vọng. Xin khi được yêu biết trân trọng, khi bị tổn thương vẫn không đánh mất khả năng yêu. Xin khi còn khỏe biết phục vụ, khi yếu đau biết phó thác. Xin khi còn người thân biết yêu họ thật nhiều, để một ngày họ ra đi ta không phải đau vì đã yêu quá ít. Xin khi tuổi đời khép lại có thể nói như Đức Kitô: “Mọi sự đã hoàn tất.” Và nếu có một Thứ Sáu Tuần Thánh nào đó phải đến trong đời, xin đừng quên rằng Thiên Chúa vẫn đang chuẩn bị một sáng Phục Sinh.
Niềm vui Phục Sinh vì thế không phải một cảm xúc nhất thời của ngày lễ. Đó là một cách sống. Là mỗi sáng thức dậy tin rằng hôm nay sự thiện vẫn đáng để chọn. Là sau một lần bị phản bội vẫn tin tình yêu không vô nghĩa. Là sau một lần thất bại vẫn bắt đầu lại. Là sau một lần phạm tội vẫn dám trở về. Là khi đứng trước một ngôi mộ vẫn tin sự sống. Là khi thế giới đầy chiến tranh vẫn tiếp tục xây hòa bình. Là khi con người đối xử tàn nhẫn vẫn chọn lòng nhân hậu. Là biết rằng mình có thể chưa thấy thành quả của điều thiện mình làm, nhưng không vì thế mà ngừng gieo hạt. Bởi vì người gieo giống hiểu một nguyên tắc rất sâu: hạt phải nằm dưới đất trước khi cây mọc lên.
Thế giới hôm nay rất sợ Thập Giá. Người ta muốn mọi thứ nhanh, dễ, tiện nghi, ít đau, ít chờ đợi. Một mối quan hệ khó thì bỏ. Một lời cam kết nặng thì rút. Một trách nhiệm gây mệt thì trốn. Một cuộc đời không như ý thì than trách. Nhưng chính vì thế con người ngày nay dù có nhiều tiện nghi lại không hẳn có nhiều bình an. Vì ai không học mang những thập giá nhỏ sẽ dễ gục trước thập giá lớn. Đức Giêsu không hứa với môn đệ một đời không đau khổ. Người nói rất rõ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” Nhưng Người cũng nói: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Điều làm Thập Giá có thể mang nổi không phải vì nó nhẹ, mà vì có Người cùng mang.
Hãy nhớ ông Simon thành Kyrênê. Ông bị lính bắt vác đỡ Thập Giá Đức Giêsu. Có thể lúc đầu ông rất khó chịu. Ông chỉ đi ngang qua. Chẳng liên quan. Tự nhiên bị lôi vào một chuyện chẳng phải của mình. Nhưng tên ông đã đi vào Tin Mừng chỉ vì một đoạn đường ông mang Thập Giá cùng Chúa. Đời chúng ta cũng có những thập giá “bị bắt phải mang”: một căn bệnh không chọn, một hoàn cảnh gia đình không chọn, một mất mát không chọn, một trách nhiệm đến bất ngờ. Điều quan trọng không phải lúc nào cũng là tại sao nó đến, mà là ta sẽ mang nó với ai. Nếu mang một mình, nó có thể nghiền nát. Nếu mang cùng Đức Kitô, chính con đường ấy có thể trở thành con đường thánh hóa.
Và rồi sau Canvê là khu vườn. Sau tiếng “Mọi sự đã hoàn tất” là tiếng gọi “Maria”. Sau căn phòng cửa đóng kín là lời “Bình an cho anh em”. Sau ba lần Phêrô chối Chúa là ba lần “Con có yêu mến Thầy không?” Sau con đường Emmau buồn bã là trái tim bừng cháy. Sau ngôi mộ có tảng đá là một ngôi mộ trống. Đó là cách Thiên Chúa viết câu chuyện cứu độ: Người không phủ nhận Thứ Sáu, nhưng Người không để Thứ Sáu là ngày cuối cùng.
Xin đừng bao giờ nhìn Thập Giá mà quên Phục Sinh. Nhưng cũng đừng nói về Phục Sinh mà quên giá của tình yêu trên Thập Giá. Hai mầu nhiệm ấy thuộc về nhau như hạt lúa và mùa gặt, như đêm tối và bình minh, như giọt nước mắt và bàn tay lau khô nước mắt. Không có Canvê thì Phục Sinh chỉ là một chiến thắng không có tình yêu; không có Phục Sinh thì Canvê chỉ là một bi kịch không có hy vọng. Nhưng khi Thập Giá và Phục Sinh gặp nhau, ta hiểu toàn bộ Tin Mừng: Thiên Chúa yêu con người đến mức đi vào sự chết của con người để mở cho con người con đường đi vào sự sống của Thiên Chúa.
Có lẽ hôm nay ai đó đang ở trong một ngày Thứ Sáu của đời mình. Một kết quả xét nghiệm. Một nấm mồ mới đắp. Một cuộc hôn nhân đầy vết nứt. Một đứa con làm cha mẹ mất ngủ. Một món nợ chưa biết trả bằng cách nào. Một lời vu oan chưa được minh giải. Một sự cô đơn không ai hiểu. Một ơn gọi đang khô cạn. Một đức tin đang chao đảo. Xin người ấy đừng vội bỏ cuộc. Không ai có quyền hứa rằng mọi chuyện ngày mai sẽ tốt ngay. Nhưng Tin Mừng cho phép ta nói chắc một điều: nếu đặt đời mình trong tay Đức Kitô, không một Thứ Sáu nào là vĩnh viễn. Có thể sáng Phục Sinh không đến theo cách ta tưởng. Có thể Chúa không trả lại đúng điều ta đã mất. Nhưng Người có thể ban một sự sống mà hôm nay ta chưa hình dung nổi. Ngôi mộ của Đức Giêsu không được trở lại ngày trước khi Người chết. Một điều mới đã xảy ra: Người phục sinh.
Và đó có lẽ là điều chúng ta cần tin nhất: Thiên Chúa không chỉ sửa chữa cái cũ; Người có thể làm nên điều mới. Một đời tưởng đã hỏng vẫn có thể trở thành đẹp. Một người từng rất xa Chúa vẫn có thể trở thành chứng nhân. Một gia đình từng tan vỡ vẫn có thể học lại cách yêu. Một trái tim từng đầy hận thù vẫn có thể trở thành trái tim biết thương xót. Một thất bại có thể mở ra một sứ mạng. Một nỗi đau có thể trở thành lòng cảm thông. Một vết thương có thể trở thành cửa ngõ của ân sủng. Đó là quyền năng Phục Sinh.
Ngày nào người Kitô hữu còn làm dấu Thánh Giá trên mình, ngày ấy người ấy đang tuyên xưng cả một mầu nhiệm. Bàn tay chạm trán, ngực và hai vai không chỉ là một thói quen đạo đức. Đó là đặt cả con người dưới dấu của Đấng đã chết và sống lại. Ta làm dấu Thánh Giá trước khi ăn, trước khi ngủ, trước chuyến đi, trước công việc, trước lúc đau, trước một quyết định quan trọng. Như thể muốn nói: “Lạy Chúa, đời con ở trong mầu nhiệm Vượt Qua của Ngài. Niềm vui của con ở trong Ngài. Nước mắt của con ở trong Ngài. Thành công và thất bại của con ở trong Ngài. Sự sống và cái chết của con cũng ở trong Ngài.”
Một ngày kia, thập giá cuối cùng của chúng ta sẽ là chính cái chết. Không ai tránh được. Mọi danh vọng, tiền bạc, chức vụ rồi cũng dừng trước cánh cửa ấy. Nhưng Kitô hữu bước đến cái chết với một bí mật trong lòng: có Một Người đã đi qua cánh cửa đó và trở lại. Ngôi mộ không còn là vùng đất chưa ai vượt qua. Đức Kitô đã vào đó trước. Người đã phá cửa sự chết từ bên trong. Vì thế Thánh Phaolô mới có thể thách thức: “Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi? Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi?” Đó không phải lời của một người ngây thơ chưa biết đau khổ. Đó là lời của một người từng bị đánh đập, tù đày, bách hại, suýt chết nhiều lần, nhưng đã gặp Đấng Phục Sinh.
Cho nên, người Kitô hữu có một niềm vui rất lạ. Không phải vui vì đời luôn thuận lợi. Không phải vui vì mọi lời cầu xin đều được như ý. Không phải vui vì mình không bao giờ phải khóc. Nhưng vui vì biết rằng trong mọi sự, kể cả khi đi qua thung lũng tối, mình không đi một mình. Vui vì biết tội không mạnh hơn ân sủng. Vui vì biết thất bại không mạnh hơn lòng thương xót. Vui vì biết sự chết không mạnh hơn sự sống. Vui vì biết Thứ Sáu Tuần Thánh không bao giờ là chương cuối.
Và nếu hôm nay Thập Giá đang nặng trên vai, xin cứ khóc nếu cần. Đức Giêsu cũng đã khóc. Xin cứ xin Chúa cất nó đi nếu lòng mong muốn. Đức Giêsu cũng đã xin. Nhưng sau tất cả, hãy cố gắng nói với Người: “Lạy Chúa, nếu con chưa thể hiểu, xin cho con vẫn tin. Nếu con chưa thể vui, xin cho con đừng tuyệt vọng. Nếu con chưa thấy ánh sáng, xin cho con tiếp tục bước. Nếu con không còn sức mang thập giá, xin Chúa mang cùng con. Và nếu ngày Phục Sinh của con chưa đến, xin cho con tin rằng Chúa vẫn đang chuẩn bị nó.”
Bởi cuối cùng, tất cả Tin Mừng có thể được gom lại trong một câu rất đơn sơ: Tình yêu đã bị đóng đinh, nhưng tình yêu không chết. Người ta đặt tình yêu vào mồ, nhưng tình yêu đã bước ra. Người ta tưởng đã kết thúc, nhưng Thiên Chúa lại bắt đầu. Và kể từ sáng Phục Sinh đầu tiên ấy, không một người nào thuộc về Đức Kitô còn phải tuyệt vọng trước bất cứ thập giá nào nữa.
Thập Giá không phải đối nghịch với niềm vui Phục Sinh. Thập Giá chính là nơi niềm vui ấy được sinh ra. Phục Sinh không loại bỏ những dấu đinh. Phục Sinh làm cho dấu đinh trở thành chứng tích của một tình yêu đã chiến thắng. Vì vậy, người môn đệ Đức Kitô không xin một con đường hoàn toàn không có Thập Giá; người môn đệ xin cho mình đủ đức tin để đi qua Thập Giá mà không đánh mất niềm hy vọng, đủ tình yêu để biến đau khổ thành hiến dâng, đủ kiên nhẫn để chờ bình minh, và đủ xác tín để giữa đêm tối vẫn thì thầm: “Chúa đã sống lại thật rồi. Vì thế, cuộc đời tôi, dù hôm nay đang ở trên Canvê, vẫn còn một ngày Phục Sinh.”
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ CỦA NGƯỜI BỆNH, NGƯỜI GIÀ, NGƯỜI THẤT NGHIỆP, NGƯỜI BỊ BỎ RƠI
Có những cây thập giá người ta có thể nhìn thấy bằng mắt: một thân thể nằm bất động trên giường bệnh, một mái đầu bạc ngồi lặng lẽ nơi góc nhà, một người đàn ông sáng nào cũng cầm hồ sơ đi xin việc rồi chiều lại trở về với đôi bàn tay trắng, một người mẹ bị chồng bỏ lại với đàn con, một người cha già quanh năm chờ một tiếng điện thoại của những đứa con đang sống rất gần mà lòng lại quá xa. Nhưng cũng có những cây thập giá không ai nhìn thấy. Nó không làm chảy máu bàn tay, không để lại vết thương trên khuôn mặt, không có cây gỗ nào đặt trên vai, vậy mà mỗi ngày nó vẫn đè xuống tâm hồn con người nặng hơn đá. Đó là thập giá của nỗi cô đơn, của cảm giác mình trở thành người thừa, của những đêm thức trắng vì đau mà không muốn đánh thức người bên cạnh, của những buổi sáng mở mắt ra mà chẳng biết hôm nay mình sống để làm gì, của một người từng là trụ cột gia đình nay phải ngửa tay xin tiền con cái, của một người từng khỏe mạnh nay ngay cả việc tự bước vào nhà vệ sinh cũng phải nhờ người khác. Có những đau khổ người ngoài nhìn vào tưởng nhỏ, nhưng người đang mang nó mới biết nó nặng đến chừng nào. Và cũng chính tại những nơi tưởng như chỉ còn bóng tối ấy, mầu nhiệm Thập Giá của Đức Kitô trở nên gần gũi một cách lạ lùng. Bởi Chúa Giêsu không cứu con người bằng cách đứng ngoài đau khổ mà giảng cho chúng ta vài lời đạo đức. Người đã bước vào đau khổ. Người đã nếm sự cô độc. Người đã biết thế nào là bị từ chối, bị hiểu lầm, bị bỏ rơi, bị tước đoạt, bị làm nhục, bị đau đớn đến tận cùng. Vì thế, khi đứng trước giường bệnh, trước tuổi già, trước cảnh thất nghiệp hay trước một con người bị bỏ lại bên lề, Kitô hữu không chỉ nói: “Hãy cố gắng chịu đựng.” Chúng ta còn có thể nói một điều sâu hơn nhiều: “Có Chúa đang ở đây với anh, với chị, với ông bà. Chính Người cũng đã đi qua con đường này.”
Tin Mừng kể lại một câu chuyện rất đẹp. Khi Đức Giêsu đi ra khỏi thành Giêrikhô, một người mù tên là Batimê ngồi ăn xin bên vệ đường. Nghe biết Đức Giêsu Nadarét đang đi ngang qua, anh kêu lên: “Lạy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” Nhiều người quát nạt bảo anh im đi. Nhưng anh càng kêu lớn hơn. Đức Giêsu dừng lại. Người nói: “Gọi anh ta lại đây.” Rồi Người hỏi anh: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh thưa: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” Đức Giêsu nói: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh.” Lập tức anh nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi (x. Mc 10,46-52). Đọc câu chuyện ấy thật chậm, ta sẽ nhận ra một chi tiết rất đáng suy nghĩ: đám đông đang đi theo Chúa nhưng chính đám đông ấy lại muốn người đau khổ im tiếng. Người ta bận đi theo Đức Giêsu đến mức không còn nghe được tiếng kêu của một người cần Đức Giêsu. Thật nghịch lý! Chúng ta cũng có thể đi lễ, đọc kinh, tham gia hội đoàn, nói nhiều về lòng thương xót, nhưng lại khó chịu khi một người bệnh cứ than đau, khi một cụ già kể đi kể lại một câu chuyện, khi một người thất nghiệp cứ nhờ giới thiệu việc làm, khi một người cô độc cứ gọi điện tìm người chuyện trò. Ta có thể ở rất gần Đức Giêsu về mặt nghi thức mà lại rất xa trái tim Đức Giêsu trong cách cư xử với người đau khổ. Điều kỳ diệu trong câu chuyện Batimê không chỉ là đôi mắt anh được mở ra. Điều kỳ diệu đầu tiên là Đức Giêsu đã dừng lại. Giữa một đám đông, Người nghe được tiếng của một con người mà mọi người muốn bắt im. Đức Giêsu luôn có khả năng dừng lại trước nỗi đau. Người không bao giờ coi một con người đau khổ là phiền phức. Người không bảo Batimê: “Anh ngồi đây lâu rồi, phải quen với số phận chứ.” Người cũng không nói: “Có biết bao người khổ hơn anh.” Người hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Câu hỏi ấy trả lại phẩm giá cho người bị coi là một kẻ ăn xin bên vệ đường. Và có lẽ hôm nay, đứng trước những người bệnh, người già, người thất nghiệp, người bị bỏ rơi, điều Hội Thánh cần học trước tiên cũng là học cách dừng lại như Đức Giêsu.
Thập giá của người bệnh trước hết là thập giá của một thân xác không còn nghe lời mình. Người khỏe mạnh đôi khi không hiểu nổi điều ấy. Khi còn khỏe, ta muốn đứng thì đứng, muốn đi thì đi, muốn ăn thì ăn, muốn ngủ thì ngủ, muốn ra khỏi nhà thì chỉ cần mở cửa. Nhưng một ngày nào đó, bệnh tật đến. Cơ thể từng là người bạn đồng hành bỗng trở thành một giới hạn. Một cơn đau có thể kéo dài từ sáng đến tối. Một đêm mất ngủ có thể dài như một năm. Một lần hóa trị, một ca phẫu thuật, một kết quả xét nghiệm có thể làm đảo lộn tất cả dự định. Có người bệnh không sợ đau bằng sợ trở thành gánh nặng. Họ nằm đó và nghe tiếng người thân đi lại, nấu ăn, làm việc, chạy thuốc, đóng viện phí. Họ nhìn thấy sự mệt mỏi trên khuôn mặt người chăm sóc. Và rồi một câu hỏi âm thầm bắt đầu xuất hiện: “Giá như mình chết đi cho họ đỡ khổ?” Đó là một trong những thập giá đáng sợ nhất: không chỉ thân xác đau mà còn cảm thấy chính sự tồn tại của mình là một gánh nặng cho người khác. Khi ấy, người bệnh rất cần nghe một lời không phải bằng môi miệng mà bằng cả cách chúng ta hiện diện: “Ông vẫn quý giá. Bà vẫn quý giá. Anh vẫn quý giá. Chị vẫn quý giá. Không phải vì ông bà còn làm được gì cho chúng tôi, nhưng chỉ vì ông bà là người chúng tôi yêu.” Giá trị một con người không bao giờ được đo bằng năng suất. Con người không phải một cỗ máy mà khi không sản xuất được nữa thì trở thành đồ bỏ. Trước mặt Thiên Chúa, một người đang nằm bất động trên giường vẫn có phẩm giá vô cùng lớn. Một người không thể làm gì ngoài việc thở vẫn đáng được yêu thương như ngày họ còn khỏe mạnh.
Người ta thường khuyên bệnh nhân: “Dâng đau khổ cho Chúa.” Lời khuyên ấy đúng, nhưng nếu nói quá dễ dàng, đôi khi lại trở thành một gánh nặng khác. Không phải người bệnh nào cũng có thể ngay lập tức biến nỗi đau thành lời cầu nguyện. Có những ngày đau quá, người ta chỉ còn biết rên. Có những lúc sợ quá, người ta không cầu nguyện nổi. Có những thời điểm tâm hồn nổi loạn: “Tại sao Chúa để con ra nông nỗi này?” Xin đừng vội kết án đó là thiếu đức tin. Chính Đức Giêsu trên Thập Giá đã từng thốt lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34). Có những lời cầu nguyện không thành câu. Một giọt nước mắt cũng có thể là lời cầu nguyện. Một tiếng thở dài cũng có thể là lời cầu nguyện. Một bàn tay yếu ớt nắm lấy tràng hạt rồi ngủ quên cũng có thể là lời cầu nguyện. Một người đau đớn chỉ còn đủ sức nói: “Giêsu ơi!” thì hai tiếng ấy đã có thể chứa cả một đời phó thác. Thiên Chúa không đòi người bệnh phải trở thành anh hùng thiêng liêng. Người chỉ mời họ để Người nằm xuống bên cạnh họ, như Người từng để cho Simon thành Kyrênê ghé vai mang đỡ cây thập giá của mình. Có khi dâng đau khổ không phải là nói: “Con vui vẻ chấp nhận tất cả”, nhưng đơn giản chỉ là: “Lạy Chúa, con đau lắm. Con sợ lắm. Con không hiểu gì cả. Nhưng nếu hôm nay con chưa thể yêu cây thập giá này, xin Chúa giúp con đừng buông tay Chúa.”
Thập giá của tuổi già cũng âm thầm không kém. Tuổi già có một nỗi buồn rất riêng mà người trẻ khó hiểu. Đó là nỗi buồn khi thấy thế giới vẫn chạy rất nhanh mà mình thì chậm lại. Ngày trước, một người mẹ có thể làm cả trăm việc trong ngày; bây giờ cài một chiếc cúc áo cũng lâu. Ngày trước, người cha là người quyết định mọi chuyện; bây giờ đi đâu cũng phải hỏi con: “Con có rảnh chở bố đi không?” Ngày trước, căn nhà đầy tiếng trẻ; bây giờ tiếng đồng hồ treo tường nghe rõ đến nao lòng. Có những ông bà không thiếu tiền, không thiếu thuốc, không thiếu thức ăn, nhưng thiếu người ngồi xuống bên cạnh. Con cái mỗi tháng gửi tiền đầy đủ và nghĩ như thế là tròn bổn phận. Nhưng người già đôi khi không cần thêm một phong bì; họ cần một buổi chiều. Không cần thêm một hộp thuốc bổ; họ cần một người nghe câu chuyện đã nghe mười lần mà vẫn mỉm cười như lần đầu. Không cần chiếc điện thoại đời mới; họ cần chiếc điện thoại ấy reo lên bằng giọng của con mình. Một cụ già có thể chịu được đau lưng, đau gối, nhưng rất khó chịu nổi cảm giác mình bị quên. Bệnh của tuổi già đáng sợ nhất đôi khi không nằm trong cơ thể mà nằm trong câu hỏi: “Có ai còn cần đến mình không?”
Hãy nhớ rằng Đức Giêsu không bao giờ nhìn con người theo tiêu chuẩn “còn hữu dụng hay không”. Người nhìn người ta bằng tình yêu. Khi Thánh Phêrô già, Đức Giêsu nói với ông: “Khi anh còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy và đi đâu tùy ý; nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn” (x. Ga 21,18). Câu nói ấy thật gần với kinh nghiệm của tuổi già. Khi còn trẻ, ta tự đi. Khi già, người khác dìu ta. Khi còn trẻ, ta chăm con. Khi già, con chăm lại ta. Khi còn trẻ, ta quyết định. Khi già, có những quyết định phải trao vào tay người khác. Đó không phải là sự mất giá trị. Đó là một hình thức khác của đời sống. Có những người già làm cho gia đình nên thánh không phải bằng những việc lớn lao, nhưng bằng sự hiện diện của họ. Một bà nội ngồi lần chuỗi nơi góc phòng có khi đang giữ bình an cho cả nhà mà không ai biết. Một ông ngoại mỗi tối âm thầm cầu nguyện cho con cháu có thể đang làm một việc lớn hơn rất nhiều những gì người đời nhìn thấy. Người già có thể không còn chạy được, nhưng họ vẫn có thể yêu. Không còn lao động nhiều được, nhưng vẫn có thể cầu nguyện. Không còn đứng ở hàng đầu, nhưng có thể trở thành gốc rễ. Một cây già không còn lớn nhanh, nhưng bóng mát của nó vẫn che cả một khoảng sân.
Rồi đến thập giá của người thất nghiệp. Có lẽ đây là một trong những nỗi đau dễ bị xem nhẹ nhất. Người ta nhìn một người khỏe mạnh đang ở nhà và nói: “Có tay có chân mà không chịu đi làm.” Nhưng mấy ai biết người ấy đã gửi bao nhiêu hồ sơ? Mấy ai biết bao nhiêu lần họ bước vào một cuộc phỏng vấn với hy vọng rồi bước ra với câu: “Chúng tôi sẽ liên hệ lại”? Mấy ai biết cảm giác thức dậy buổi sáng trong khi vợ hoặc chồng đi làm còn mình ngồi lại? Mấy ai biết nỗi đau khi con xin tiền học mà trong túi không còn? Thất nghiệp không chỉ lấy đi thu nhập; nhiều khi nó tấn công thẳng vào lòng tự trọng. Một người đàn ông từng nuôi cả gia đình có thể cảm thấy mình thất bại khi phải vay tiền. Một người phụ nữ sau nhiều năm làm việc bỗng mất việc có thể cảm thấy mọi kinh nghiệm của mình chẳng còn ý nghĩa. Người thất nghiệp bắt đầu tránh bạn bè vì sợ bị hỏi: “Dạo này làm ở đâu rồi?” Họ ngại về quê vì sợ người ta hỏi mức lương. Họ lặng lẽ rời những nhóm bạn từng thân vì mỗi cuộc gặp đều tốn tiền. Dần dần, thất nghiệp có thể biến thành cô lập, mặc cảm, trầm uất, mất niềm tin vào chính mình.
Trong Tin Mừng, Đức Giêsu kể dụ ngôn người chủ vườn nho ra chợ thuê thợ. Ông đi từ sáng sớm, rồi giờ thứ ba, giờ thứ sáu, giờ thứ chín, thậm chí giờ thứ mười một vẫn thấy có những người đứng không. Ông hỏi: “Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?” Họ đáp: “Vì không ai mướn chúng tôi” (x. Mt 20,1-16). Câu trả lời ngắn ngủi ấy chứa biết bao tủi nhục: “Vì không ai mướn chúng tôi.” Không phải họ không muốn làm. Không phải tất cả đều lười. Chỉ là không ai cho họ một cơ hội. Đức Giêsu đã nhìn thấy những con người đứng ngoài chợ đời và Người kể câu chuyện ấy để chúng ta biết rằng phía sau một người “đang không làm gì” có thể là cả một câu chuyện không ai biết. Vì thế, trước một người thất nghiệp, đừng vội dạy đời. Đừng nói: “Việc gì chẳng có, quan trọng là chịu làm.” Có lúc câu nói ấy đúng, nhưng cũng có lúc nó giống một nhát dao. Hãy hỏi: “Tôi có thể giúp gì?” Có thể ta biết một chỗ đang cần người. Có thể ta giúp họ sửa một bản hồ sơ. Có thể giới thiệu một mối quan hệ. Có thể cho họ một công việc tạm thời. Có thể đơn giản là không làm họ xấu hổ. Bác ái không phải lúc nào cũng là cho tiền. Đôi khi bác ái là mở một cánh cửa.
Và còn thập giá của những người bị bỏ rơi. Có lẽ trong mọi đau khổ, bị bỏ rơi là nỗi đau giống cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu nhất. Người đã từng bị những kẻ thù chống đối, nhưng đau hơn là bị những người thân cận bỏ đi. Giuđa bán Người. Phêrô chối Người. Các môn đệ chạy trốn. Trên Thập Giá, Đức Giêsu đi đến tận cùng kinh nghiệm cô độc. Người hiểu thế nào là cần một người bên cạnh mà không có. Vì thế, chẳng có người bị bỏ rơi nào có thể nói rằng: “Chúa không hiểu tôi.” Người hiểu. Một người vợ bị chồng bỏ hiểu thế nào là căn nhà vẫn vậy mà mọi thứ bỗng trở nên xa lạ. Một người chồng bị phản bội hiểu thế nào là mất niềm tin vào điều mình từng chắc chắn nhất. Một đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi lớn lên với một câu hỏi dai dẳng: “Tại sao họ không cần mình?” Một người cao tuổi bị con cái gửi vào nơi chăm sóc rồi nhiều tháng không đến thăm có thể ngồi hàng giờ nhìn ra cổng. Một người bạn bị chính nhóm bạn loại ra khỏi cuộc sống hiểu cảm giác đang tồn tại mà như không ai nhìn thấy. Những vết thương ấy đôi khi không bao giờ biến mất hoàn toàn.
Có người mang vết thương bị bỏ rơi đến tận cuối đời. Họ cười, làm việc, phục vụ, thậm chí giúp đỡ rất nhiều người, nhưng bên trong vẫn có một đứa trẻ đang hỏi: “Có ai thực sự muốn ở lại với tôi không?” Chính trong vùng sâu ấy, Đức Kitô chịu đóng đinh muốn bước vào. Người không hứa rằng mọi người từng bỏ ta sẽ quay lại. Người cũng không hứa rằng mọi mối quan hệ tan vỡ sẽ được phục hồi như cũ. Nhưng Người hứa một điều lớn hơn: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Có những lúc ta phải sống chỉ nhờ câu ấy. Khi không còn bàn tay nào nắm, vẫn có một bàn tay mang dấu đinh. Khi không ai hiểu, vẫn có một Đấng đã từng bị hiểu lầm. Khi người mình yêu bỏ đi, vẫn có Đấng nói: “Thầy không để anh em mồ côi” (Ga 14,18). Đức tin không xóa ngay cảm giác cô đơn, nhưng đức tin đặt vào giữa cô đơn một sự hiện diện. Và đôi khi chỉ cần một sự hiện diện trung thành cũng đủ để một người sống tiếp.
Nhưng nói đến Thập Giá Kitô giáo, chúng ta phải rất cẩn thận để không biến đau khổ thành một thứ đáng được tôn thờ. Kitô giáo không yêu đau khổ vì đau khổ. Đức Giêsu không đi khắp Galilê để bảo người bệnh hãy cứ bệnh. Người chữa họ. Người làm cho kẻ mù thấy, người què đi, người phong được sạch. Người khóc trước mồ Lazarô. Người chạnh lòng trước đám đông đói khát. Vì thế, nói “hãy vác thập giá” không bao giờ được trở thành cái cớ để chúng ta thờ ơ với nỗi đau của người khác. Không thể đứng trước một người đói mà nói: “Đó là thập giá Chúa gửi cho anh.” Hãy cho họ ăn. Không thể đứng trước người bệnh mà chỉ bảo: “Ráng dâng cho Chúa.” Hãy tìm thuốc, đưa đi bác sĩ, chăm sóc họ. Không thể thấy một người thất nghiệp rồi nói: “Chúa thử thách đấy.” Hãy giúp họ tìm việc. Không thể thấy một cụ già cô đơn mà nói: “Bà cứ cầu nguyện.” Hãy ngồi xuống với bà. Kitô giáo không phải là tôn giáo chuyên giải thích vì sao người ta phải khổ. Kitô giáo là tôn giáo của một Thiên Chúa bước xuống để cùng mang đau khổ với con người và cứu con người khỏi mọi hình thức của sự dữ.
Simon thành Kyrênê có lẽ là hình ảnh đẹp nhất cho điều ấy. Trên đường lên Núi Sọ, Đức Giêsu không còn đủ sức mang cây thập giá. Người ta bắt Simon vác đỡ cho Người (x. Lc 23,26). Một Thiên Chúa toàn năng đã chấp nhận để một con người giúp mình. Điều đó thật lạ. Nhưng chính từ đó, chúng ta hiểu một điều: mỗi khi ta ghé vai dưới cây thập giá của người khác, ta đang làm công việc của Simon. Một bữa cơm mang đến nhà người bệnh, một buổi chiều đưa cụ già đi khám, một cuộc điện thoại giới thiệu việc làm, một giờ ngồi nghe người bị bỏ rơi kể chuyện, một khoản tiền đóng viện phí, một lần thức đêm chăm người đau, một tin nhắn gửi đến người đang tuyệt vọng — tất cả những điều ấy có vẻ rất nhỏ, nhưng dưới ánh sáng Tin Mừng, đó là những lần ta đang ghé vai vào cây thập giá của chính Đức Kitô. Chúa Giêsu đã nói rất rõ: “Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom… Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (x. Mt 25,36.40).
Có khi chúng ta tìm Chúa quá xa. Ta muốn gặp Chúa trong những giờ cầu nguyện thật sốt sắng, trong những cuộc hành hương, trong những nơi linh thánh. Những điều ấy rất quý. Nhưng Chúa cũng đang nằm trên một chiếc giường bệnh trong nhà mình. Chúa đang ngồi ở chiếc ghế cũ ngoài hiên dưới hình hài một người cha già ít nói. Chúa đang ngồi trước màn hình máy tính gửi đơn xin việc lần thứ ba mươi. Chúa đang ở trong căn phòng của một người vừa bị người bạn đời bỏ đi. Chúa đang đứng ngoài cửa một viện dưỡng lão chờ con. Chúa đang ở rất gần. Vấn đề không phải Chúa có hiện diện hay không; vấn đề là mắt chúng ta có nhận ra Người hay không.
Và cũng phải thú nhận rằng chăm sóc một người mang thập giá không hề dễ. Người bệnh có thể cáu gắt. Người già có thể khó tính. Người thất nghiệp có thể trở nên bi quan. Người bị tổn thương có thể đóng kín, nghi ngờ, thậm chí làm đau người đang muốn giúp họ. Bác ái trong những trường hợp ấy không phải là một cảm xúc ngọt ngào. Bác ái là kiên nhẫn. Là cùng một câu chuyện nhưng nghe lần thứ mười một. Là một đêm bị đánh thức nhiều lần. Là bị người bệnh nổi nóng rồi sáng hôm sau vẫn mang cháo vào. Là một người con mỗi tuần chạy hàng chục cây số về tắm cho cha. Là người vợ âm thầm chăm chồng sau tai biến dù bản thân đã kiệt sức. Là một người bạn không biến mất khi người kia thất nghiệp lâu ngày. Những tình yêu ấy không ồn ào. Không ai trao huân chương. Không ai chụp hình đưa lên mạng. Nhưng có lẽ trên trời, đó là những câu chuyện được viết bằng chữ rất lớn.
Ngược lại, người đang mang thập giá cũng cần được nhắc rằng họ không chỉ là người nhận. Một người bệnh vẫn có thể ban tặng. Một người già vẫn có thể ban tặng. Một người thất nghiệp vẫn có thể ban tặng. Một người bị bỏ rơi vẫn có thể ban tặng. Có những bệnh nhân làm cho người chăm sóc thay đổi cả đời chỉ nhờ cách họ chịu đau trong bình an. Có những ông bà truyền cho con cháu cả một kho tàng đức tin. Có người đang thất nghiệp lại có thời gian chăm sóc cha mẹ mà trước đây họ chưa từng có. Có người bị bỏ rơi, sau khi đi qua vết thương của mình, trở thành người hiểu và nâng đỡ biết bao người khác. Không phải Thiên Chúa gây ra đau khổ để đạt một mục đích nào đó; nhưng Thiên Chúa có khả năng làm cho ngay cả mảnh đất đau khổ cũng nở được hoa. Thập Giá của Đức Kitô chứng minh điều ấy. Con người đã làm điều dữ nhất: đóng đinh Con Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa đã biến chính nơi ấy thành nguồn cứu độ. Từ cây gỗ của nhục nhã, Người làm phát sinh sự sống. Từ vết thương, Người làm tuôn trào lòng thương xót. Từ cái chết, Người mở cửa Phục Sinh.
Bởi vậy, đừng bao giờ nói với một người đang đau rằng đời họ vô ích. Một người bệnh nằm trên giường suốt mười năm vẫn có thể sống một cuộc đời vô cùng có ý nghĩa. Một người già không còn đi đâu được vẫn có thể trở thành người canh giữ ký ức và đức tin cho gia đình. Một người đang thất nghiệp không mất đi phẩm giá chỉ vì chưa có việc. Một người bị bỏ rơi không trở thành kẻ không đáng yêu chỉ vì một ai đó đã chọn rời bỏ họ. Giá trị của chúng ta nằm trước hết ở chỗ chúng ta là con cái Thiên Chúa. Trước khi làm được một việc gì, trước khi kiếm được một đồng nào, trước khi được ai đó yêu, ta đã được Thiên Chúa yêu. “Con là con yêu dấu của Cha” — đó là căn tính sâu nhất của đời Kitô hữu. Nếu cả thế giới không cần ta nữa, Thiên Chúa vẫn cần ta. Nếu cả thế giới quên tên ta, Thiên Chúa vẫn gọi tên ta.
Có những người bệnh từng hỏi: “Cha ơi, con cầu mãi mà Chúa không chữa.” Có lẽ không ai có quyền đưa ra một câu trả lời dễ dàng. Mầu nhiệm đau khổ luôn có một phần chúng ta không hiểu. Chúng ta có thể cầu xin chữa lành, và phải cầu xin. Chúng ta có thể tìm mọi phương tiện y khoa thích hợp, và phải làm. Nhưng cũng có lúc bệnh không hết. Khi ấy phép lạ có thể xảy ra theo một cách khác: không phải thân thể được chữa khỏi, nhưng tâm hồn nhận được sức mạnh để đi qua bệnh tật mà không đánh mất niềm tin; không phải cây thập giá được lấy đi, nhưng đôi vai được làm cho mạnh hơn; không phải đêm tối biến mất, nhưng một ngọn đèn được thắp lên trong đêm tối. Thánh Phaolô đã ba lần xin Chúa cất khỏi ông “cái dằm” đang hành hạ, nhưng Chúa trả lời: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cr 12,9). Có những lời cầu nguyện được nhận lời bằng cách Chúa thay đổi hoàn cảnh. Nhưng cũng có những lời cầu nguyện được nhận lời bằng cách Chúa thay đổi chính chúng ta trong hoàn cảnh ấy.
Tuổi già cũng vậy. Có người cầu xin: “Lạy Chúa, xin đừng để con làm phiền con cháu.” Lời cầu ấy nghe thương vô cùng. Nhưng có khi chính việc phải chăm sóc cha mẹ già lại là trường học mà Thiên Chúa dùng để dạy những đứa con biết yêu. Khi chúng ta còn bé, cha mẹ đã thức bao nhiêu đêm mà không tính toán. Cha mẹ đã bế chúng ta khi ta chưa biết đi, đút cho ta từng thìa cơm khi ta chưa biết ăn, lau dọn khi ta chưa thể tự chăm sóc. Rồi một ngày trật tự đảo ngược. Đứa con bế cha. Đứa con đút cho mẹ. Đứa con dắt cha mẹ từng bước. Đó không phải là điều đáng xấu hổ. Đó là vòng tròn đẹp của tình yêu. Một người mẹ già để con gái chải tóc cho mình có thể đang dạy con một bài học cuối cùng về lòng biết ơn. Một người cha yếu đuối để con trai dìu vào nhà thờ có thể đang cho con một cơ hội trở thành người nhân hậu hơn. Đừng sợ mình trở thành gánh nặng. Tình yêu chân thật không gọi người mình yêu là gánh nặng. Chỉ có tình yêu chưa đủ sâu mới tính toán rằng ai đang cho nhiều hơn ai.
Với người thất nghiệp, cũng xin đừng để một giai đoạn của đời mình trở thành định nghĩa cho toàn bộ con người mình. Bạn đang thất nghiệp, nhưng bạn không phải là “kẻ thất bại”. Công việc rất quan trọng, nhưng nghề nghiệp không phải là toàn bộ căn tính. Hôm nay một cánh cửa đóng lại không có nghĩa mọi cánh cửa đều đóng. Có những đoạn đời Chúa dẫn ta qua một hành lang rất tối trước khi mở một căn phòng mới. Điều quan trọng là đừng để thất nghiệp biến thành buông xuôi. Hãy tiếp tục học, tiếp tục tìm, tiếp tục gặp gỡ, tiếp tục làm những việc nhỏ, tiếp tục giữ kỷ luật cho ngày sống. Và nếu phải bắt đầu lại từ một công việc khiêm tốn hơn, đừng xấu hổ. Đức Giêsu đã sống phần lớn cuộc đời trần thế trong một gia đình lao động tại Nadarét. Lao động chân chính không bao giờ là điều đáng hổ thẹn. Chỉ có gian dối, lười biếng và chà đạp phẩm giá người khác mới đáng xấu hổ.
Với người bị bỏ rơi, có lẽ điều khó nhất là học lại cách tin. Bị phản bội khiến người ta sợ mọi lời hứa. Bị bỏ rơi khiến người ta đề phòng mọi tình cảm. Nhưng xin đừng để một người đã làm tổn thương mình được quyền quyết định toàn bộ phần đời còn lại. Tha thứ không có nghĩa là nói điều họ làm là đúng. Tha thứ cũng không nhất thiết có nghĩa là quay lại một mối quan hệ độc hại. Tha thứ trước hết là không để vết thương trở thành ông chủ của cuộc đời mình. Có một lúc ta phải đặt người đã làm đau mình vào tay Chúa và nói: “Con không thể mang họ mãi trong lòng theo cách này nữa.” Tha thứ có thể cần nhiều năm. Có những ngày ta tưởng mình đã tha, rồi vết thương lại đau. Không sao cả. Hãy lại đặt nó vào tay Chúa. Tha thứ đôi khi không phải một quyết định duy nhất mà là một con đường phải đi rất nhiều lần.
Nhìn lên Thập Giá, chúng ta thấy hai cánh tay Đức Giêsu dang rộng. Một cánh tay như ôm lấy tất cả những ai đang đau; cánh tay kia như mời gọi những người còn khỏe hãy trở thành cánh tay nối dài của Người. Không ai được phép đứng ngoài mầu nhiệm này. Nếu hôm nay ta khỏe mạnh, hãy nhớ một ngày ta có thể bệnh. Nếu hôm nay ta còn trẻ, hãy nhớ tuổi già đang đến. Nếu hôm nay công việc ổn định, hãy nhớ đời sống kinh tế có thể đổi thay rất nhanh. Nếu hôm nay ta đang được bao quanh bởi gia đình và bạn bè, hãy nhớ cô đơn có thể gõ cửa bất cứ lúc nào. Nhận ra sự mong manh ấy không làm ta bi quan; nó làm ta nhân hậu. Người hiểu mình cũng có thể ngã sẽ không chế giễu người đang nằm dưới đất. Người biết mình rồi cũng già sẽ biết cúi xuống trước người già. Người ý thức mình cũng có thể mất việc sẽ không khinh người thất nghiệp. Người biết lòng mình cũng có thể tan vỡ sẽ không phán xét người đang khóc.
Có lẽ ngày phán xét, Chúa sẽ không hỏi chúng ta đã nói bao nhiêu lời hay về Thập Giá. Người sẽ hỏi chúng ta đã làm gì với những cây thập giá đang đi ngang đời mình. Có một người bệnh trong gia đình, ta đã làm gì? Có một cụ già sống một mình bên cạnh, ta đã làm gì? Có một người bạn mất việc, ta đã làm gì? Có một người bị bỏ rơi đang cần được nghe, ta đã làm gì? Chúng ta có thể không giải quyết được tất cả, nhưng ta có thể làm một điều. Không ai cứu được cả thế giới, nhưng ai cũng có thể làm nhẹ cây thập giá của một người.
Đôi khi điều người đau khổ cần nhất không phải là một bài giảng, mà là một người ở lại. Đức Maria dưới chân Thập Giá không tháo được đinh cho Con. Mẹ không ngăn được quân lính. Mẹ không thay đổi được bản án. Mẹ chỉ đứng đó. “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người…” (Ga 19,25). Hai chữ “đứng gần” chứa cả một linh đạo. Có những lúc yêu thương là giải quyết vấn đề. Nhưng cũng có những lúc chẳng giải quyết được gì nữa, yêu thương chỉ còn là đứng gần. Khi bác sĩ nói không còn phương pháp điều trị, hãy đứng gần. Khi một cụ già không còn nhớ tên mình, hãy đứng gần. Khi người thất nghiệp chưa tìm được lối ra, hãy đứng gần. Khi một người vừa mất gia đình, hãy đứng gần. Sự hiện diện trung thành có sức chữa lành mà nhiều lời nói không thể có.
Và với những ai lúc này đang mang một trong những cây thập giá ấy, xin được nói với anh chị em một điều: anh chị em không bị Thiên Chúa quên. Có thể anh chị em cảm thấy mình đang ở ngày Thứ Sáu Tuần Thánh của cuộc đời. Nhưng câu chuyện của Đức Giêsu không dừng lại ở chiều Thứ Sáu. Sau Thập Giá là ngôi mộ. Sau ngôi mộ là buổi sáng. Sau bóng tối là một tiếng gọi tên: “Maria!” Sau nước mắt là lời loan báo: “Tôi đã thấy Chúa.” Đức tin Kitô giáo không hứa rằng đời này sẽ không có Thứ Sáu Tuần Thánh. Đức tin nói rằng Thứ Sáu Tuần Thánh không phải chương cuối cùng. Thập Giá không có tiếng nói cuối cùng. Bệnh tật không có tiếng nói cuối cùng. Tuổi già không có tiếng nói cuối cùng. Thất nghiệp không có tiếng nói cuối cùng. Bị bỏ rơi không có tiếng nói cuối cùng. Ngay cả cái chết cũng không có tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng thuộc về Thiên Chúa, và lời cuối cùng của Thiên Chúa là sự sống.
Nếu hôm nay anh chị em đang đau, hãy cho phép mình khóc. Chúa không trách nước mắt. Nếu mệt, hãy nghỉ. Chúa không đòi ta phải mạnh mọi lúc. Nếu sợ, hãy nói với Chúa rằng mình sợ. Nếu giận Chúa, cứ nói thật với Người. Một mối tương quan thật với Thiên Chúa có thể chứa cả nước mắt, thắc mắc và những câu hỏi không có câu trả lời. Nhưng xin đừng bỏ cầu nguyện hoàn toàn. Nếu không đọc nổi một kinh dài, hãy nói một câu: “Lạy Chúa Giêsu, xin ở với con.” Nếu một câu cũng khó, hãy chỉ cầm lấy cây Thánh Giá. Khi không còn lời, hãy để đôi bàn tay nói thay trái tim.
Và nếu hôm nay chúng ta không phải là người nằm trên giường bệnh, không phải là người già, không phải người thất nghiệp, cũng chưa phải người bị bỏ rơi, thì rất có thể Thiên Chúa đang hỏi chúng ta một câu khác: “Con có sẵn lòng làm Simon cho ai đó không?” Đừng chờ làm việc lớn. Một cuộc gọi hôm nay. Một chuyến thăm chiều nay. Một phần ăn. Một lần đưa đi bệnh viện. Một hồ sơ xin việc được chuyển giúp. Một chỗ làm được giới thiệu. Một giờ ngồi với cha mẹ mà không cầm điện thoại. Một câu: “Con nhớ mẹ.” Một câu: “Bố đừng lo, có chúng con ở đây.” Một câu: “Anh chưa tìm được việc không có nghĩa anh vô dụng.” Một câu: “Chị cứ khóc đi, tôi ở đây.” Những câu rất nhỏ ấy có thể cứu một người khỏi một đêm rất dài.
Cuối cùng, Thập Giá của người bệnh, người già, người thất nghiệp, người bị bỏ rơi không phải là những cây thập giá xa lạ với Đức Kitô. Người đã mang tất cả trong Thập Giá của Người. Mỗi đau đớn của nhân loại đều đã có chỗ trong trái tim bị đâm thâu của Chúa. Vì thế, đừng bao giờ nghĩ mình đang đau một mình. Trên chiếc giường bệnh, có Đấng đã từng nằm bất lực trong mồ. Trong sự yếu đuối tuổi già, có Đấng đã chấp nhận để người khác dẫn mình đi chịu chết. Trong cảnh mất việc và mất chỗ đứng, có Đấng đã từng nói: “Con Người không có chỗ tựa đầu.” Trong nỗi bị bỏ rơi, có Đấng đã từng kêu lên giữa bóng tối của đồi Canvê.
Và cũng từ chính Canvê ấy, một niềm hy vọng không ai dập tắt được đã bắt đầu. Cây gỗ tưởng chỉ để giết người đã trở thành cây cứu độ. Dấu nhục nhã trở thành dấu chiến thắng. Vết thương trở thành cửa ngõ của lòng thương xót. Vì thế, người Kitô hữu không phủ nhận đau khổ, nhưng cũng không tuyệt vọng trước đau khổ. Ta khóc, nhưng khóc trong hy vọng. Ta đau, nhưng đau trong vòng tay của Đấng đã phục sinh. Ta mang thập giá, nhưng không mang một mình.
Xin Chúa cho những người bệnh gặp được những bàn tay dịu dàng. Xin Chúa cho những người già gặp được những đứa con biết nhớ đường về. Xin Chúa cho những người thất nghiệp tìm được công việc xứng đáng và không đánh mất lòng tự trọng trong thời gian chờ đợi. Xin Chúa cho những người bị bỏ rơi gặp được một cộng đoàn biết mở cửa, một người bạn biết ở lại, một trái tim không đặt điều kiện cho tình thương. Và xin Chúa cho mỗi chúng ta đừng bao giờ trở thành một phần của cây thập giá người khác phải mang vì sự vô tâm, ích kỷ hay lạnh lùng của mình.
Ngày nào chúng ta còn biết cúi xuống trước một người đau, ngày ấy Tin Mừng vẫn đang được viết tiếp. Ngày nào một cụ già còn được con mình nắm tay, ngày ấy Thập Giá đang nở hoa. Ngày nào một người thất nghiệp được trao thêm một cơ hội, ngày ấy viên đá trước mồ đang được lăn đi. Ngày nào một người bị bỏ rơi nghe được câu “tôi ở đây với bạn”, ngày ấy Đức Kitô Phục Sinh lại bước vào một căn phòng đang đóng kín.
Bởi sau cùng, điều cứu chúng ta không phải là một đời không có thập giá. Điều cứu chúng ta là giữa thập giá, ta gặp được một Tình Yêu không bỏ ta. Và khi đã gặp được Tình Yêu ấy, ngay cả cây thập giá nặng nhất cũng không còn là con đường cụt. Nó trở thành con đường dẫn về nhà.
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ CỦA NGƯỜI LÀM CHA MẸ, NGƯỜI LÀM CON, NGƯỜI SỐNG ĐỜI HÔN NHÂN
Có những cây thập giá được dựng lên giữa nhà thờ, được đặt trang trọng trên cung thánh, được người ta cúi đầu kính viếng. Nhưng cũng có những cây thập giá không ai nhìn thấy, không có nến sáng hai bên, không có hoa đặt dưới chân, không có ai quỳ xuống tôn kính. Đó là những cây thập giá nằm ngay trong một mái nhà, giữa một gia đình tưởng như rất bình thường. Có cây thập giá nằm trên đôi vai của một người cha sáng sớm bước ra khỏi nhà với nỗi lo cơm áo mà không dám than. Có cây thập giá nằm trong trái tim một người mẹ đêm khuya vẫn thức, nghe tiếng con trở mình mà lòng đầy những nỗi sợ không gọi được thành tên. Có cây thập giá nằm trong sự im lặng của một người con nhìn cha mẹ ngày một già đi, bất lực trước bệnh tật và thời gian. Có cây thập giá nằm giữa hai người đã từng nắm tay nhau trước bàn thờ mà hứa rằng sẽ yêu thương và tôn trọng nhau mọi ngày suốt đời, nhưng rồi có những ngày chính hai người ấy nhìn nhau mà thấy xa lạ. Thập giá gia đình hiếm khi ầm ĩ. Nó thường rất âm thầm. Nó được làm nên bởi những hóa đơn phải trả, những đêm mất ngủ, những bữa cơm nguội lạnh, những lời nói vô tình, những lần nhường nhịn mà không ai biết, những thất vọng không thể kể cùng ai, những hy sinh không bao giờ được cảm ơn, và đôi khi bởi chính người mình yêu thương nhất.
Chúa Giêsu nói một câu mà không ai có thể hiểu hết nếu chỉ đứng ngoài đời sống: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Chúa không nói: hãy vác một thập giá nào đó. Chúa nói: “thập giá mình”. Nghĩa là mỗi người có một cây thập giá mang tên mình, vừa đúng với cuộc đời mình, vừa đi theo mình trên con đường riêng của mình. Người độc thân có thập giá của người độc thân. Người tu hành có thập giá của đời dâng hiến. Người bệnh có thập giá của thân xác. Và gia đình cũng có những thập giá của gia đình. Ngày cưới, ít ai nghĩ đến thập giá. Người ta nghĩ đến hoa, áo cưới, tiếng nhạc, bàn tiệc, lời chúc, những bức ảnh thật đẹp. Nhưng chính trong bí tích Hôn Phối, hai người không chỉ trao cho nhau những ngày vui. Họ trao cho nhau cả tương lai chưa biết sẽ thế nào. Họ nhận nhau khi khỏe mạnh cũng như lúc đau yếu, khi thuận lợi cũng như lúc gian nan. Có thể nói rằng phía sau lời “con nhận em làm vợ”, “con nhận anh làm chồng” là một lời khác âm thầm hơn: “Con nhận cả cây thập giá sẽ đến cùng với người này.” Và cũng chính tại đó, tình yêu bắt đầu bước ra khỏi sự lãng mạn để trở thành một ơn gọi.
Thập giá đầu tiên của người làm cha mẹ chính là yêu một người mà mình không thể sống thay cuộc đời của nó. Khi con còn nằm trong vòng tay, cha mẹ có thể bế nó đi đâu tùy ý. Khi con khóc, mẹ có thể dỗ. Khi con đói, mẹ cho bú. Khi con té, cha chạy đến đỡ. Nhưng con càng lớn, cha mẹ càng phải học một bài học đau đớn: có những đoạn đường cha mẹ chỉ có thể đứng nhìn con bước đi. Có những quyết định cha mẹ không thể quyết thay. Có những vấp ngã cha mẹ thấy trước mà vẫn không thể ngăn. Có những nỗi đau của con mà cha mẹ sẵn sàng chịu thay, nhưng không được quyền chịu thay. Đó là thập giá. Một người mẹ có thể thức suốt đêm khi con sốt, nhưng không thể sống thay tương lai của con. Một người cha có thể làm lụng cả đời để con được học hành, nhưng không thể bảo đảm con sẽ trở thành người tử tế. Cha mẹ có thể gieo hạt, tưới nước, che nắng, chắn gió, nhưng đến một ngày phải chấp nhận rằng đứa con ấy là một con người tự do trước mặt Thiên Chúa.
Nhiều cha mẹ đau nhất không phải vì nghèo mà vì con. Cơm rau cũng ăn được, áo cũ cũng mặc được, nhà nhỏ cũng ở được; nhưng thấy con hư thì lòng cha mẹ như có dao cắt. Một đứa con bỏ học, một đứa con nghiện ngập, một đứa con vướng vào cờ bạc, một đứa con sống buông thả, một đứa con bỏ nhà đi, một đứa con quay lưng với đức tin, một đứa con lập gia đình rồi đổ vỡ… những chuyện ấy có thể biến mái tóc người mẹ bạc đi chỉ trong vài năm. Có những người cha ngoài đời rất cứng rắn nhưng khi nói về con thì mắt đỏ. Có những bà mẹ vẫn đi lễ mỗi sáng, không xin Chúa cho mình sống lâu, chỉ xin một điều: “Lạy Chúa, xin cứu lấy con của con.” Có những lời cầu nguyện được lập đi lập lại suốt mười năm, hai mươi năm mà chưa thấy câu trả lời. Chính lúc ấy, cha mẹ bước rất gần Đức Maria dưới chân Thánh Giá. Đức Maria cũng từng ôm Hài Nhi Giêsu trong tay. Mẹ từng cho Con bú, từng ru Con ngủ, từng dắt Con đi những bước đầu tiên. Nhưng trên đồi Golgotha, Mẹ không thể kéo Con xuống khỏi Thập Giá. Mẹ chỉ có thể đứng đó. Tin Mừng Gioan viết một câu rất ngắn nhưng đủ chứa cả một đại dương đau đớn: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Mẹ đứng. Không bỏ đi. Không la hét. Không tuyệt vọng. Không hiểu hết nhưng vẫn tin. Không cứu Con khỏi Thập Giá, nhưng ở cùng Con trong Thập Giá. Đó có lẽ là bài học lớn nhất cho những người cha người mẹ đang đau khổ vì con mình: có những lúc tình yêu không còn làm được gì hơn ngoài việc đứng lại, không bỏ con, và trao con cho Thiên Chúa.
Nhưng thập giá của cha mẹ không chỉ đến khi con hư. Có khi nó đến bởi những điều rất bình thường. Một người cha thức dậy khi trời chưa sáng, chạy xe hàng chục cây số đi làm, tối về mệt đến mức chỉ muốn nằm xuống, nhưng vẫn hỏi con hôm nay học thế nào. Một người mẹ ăn miếng thịt nhỏ nhất trong mâm cơm rồi nói rằng mẹ không thích ăn thịt. Cha mẹ Việt Nam có những câu nói rất lạ: “Ba không đói”, “Mẹ ăn rồi”, “Ba không cần đâu”, “Con cứ giữ tiền mà dùng”. Đôi khi những câu ấy là những lời nói dối rất đẹp của tình yêu. Thật ra cha đói. Mẹ chưa ăn. Cha cũng cần chiếc áo mới. Mẹ cũng muốn đi đâu đó nghỉ ngơi. Nhưng tình thương khiến người ta tự nhiên đặt nhu cầu của người khác lên trước mình. Thập giá trong gia đình thường bắt đầu từ những điều nhỏ như thế. Không phải một lần chết dữ dội, nhưng là chết từng chút cho cái tôi, cho sở thích, cho tự do riêng, cho sự thoải mái của mình để người mình yêu được sống tốt hơn.
Có những người cha cả đời chẳng bao giờ nói “ba thương con”. Thế hệ của họ không quen nói những lời đó. Nhưng bàn tay chai sần là một cách nói. Chiếc xe cũ chạy mưa chạy nắng là một cách nói. Đồng tiền học phí được chuẩn bị đúng ngày là một cách nói. Cái nhìn qua cửa sổ khi con đi học về muộn cũng là một cách nói. Có những người mẹ không biết diễn đạt tình yêu bằng những câu hoa mỹ, nhưng biết để dành phần ngon cho con, biết thức đợi cửa, biết nhớ ngày con thi, biết giữ từng món đồ con từng dùng thuở nhỏ. Đến khi cha mẹ mất rồi, người con mới nhận ra: trong ngôi nhà ngày xưa có rất nhiều lời “mẹ yêu con”, “ba thương con”, chỉ là chúng không được nói bằng miệng.
Người làm con cũng có thập giá của mình. Có những người con đã từng nghĩ cha mẹ mình sẽ khỏe mãi. Ngày bé, cha rất cao, mẹ rất mạnh. Cha có thể bế con lên vai. Mẹ có thể thức cả đêm chăm con rồi sáng hôm sau vẫn làm việc. Nhưng rồi một ngày, con chợt thấy cha bước chậm hơn. Một ngày khác, mẹ hỏi lại một câu đã hỏi hai lần. Tóc cha trắng. Lưng mẹ còng. Bàn tay từng dắt mình nay run. Người từng đưa mình đến bệnh viện nay chính mình phải đưa đi bệnh viện. Người từng đút từng muỗng cháo cho mình có ngày chính mình phải đút lại. Cuộc đời có một vòng tròn rất lạ. Khi ta còn nhỏ, cha mẹ kiên nhẫn nghe ta nói một câu mười lần. Khi cha mẹ già, đôi khi họ cũng kể một câu mười lần, và thập giá của người con là phải học lại sự kiên nhẫn mà ngày xưa cha mẹ từng dành cho mình.
Có những người chăm cha mẹ già mới hiểu chữ hiếu không lãng mạn như trong sách. Người già có thể khó tính. Người bệnh lâu ngày có thể cáu gắt. Có người sa sút trí nhớ hỏi cùng một chuyện liên tục. Có người không tự chủ được những nhu cầu căn bản. Có người đêm gọi con năm bảy lần. Có lúc người con cũng mệt, cũng bực, cũng muốn chạy trốn. Nhưng chính lúc ấy, tình yêu được thử. Yêu một người khi họ còn giúp được mình thì dễ. Yêu một người khi họ không còn đem lại lợi ích gì, thậm chí làm đảo lộn cuộc sống mình, mới là thứ tình yêu mang dáng Thập Giá. Chúa Giêsu đã nói với Phêrô sau khi phục sinh: “Khi còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy và đi đâu tùy ý; nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn” (Ga 21,18). Câu ấy nói về cái chết của Phêrô, nhưng cũng diễn tả rất thật thân phận tuổi già: càng già, con người càng phải phó mình cho người khác. Và thật đẹp biết bao nếu bàn tay đỡ mình lúc cuối đời chính là bàn tay của những đứa con ngày xưa mình từng bồng bế.
Có những người con mang một cây thập giá khác: cha mẹ không hoàn hảo. Không phải ai sinh ra cũng gặp được một người cha dịu dàng hay một người mẹ tâm lý. Có người lớn lên giữa những trận cãi vã. Có người từng bị cha nghiêm khắc quá mức. Có người mang vết thương vì sự thiên vị trong gia đình. Có người đi qua tuổi thơ với cảm giác mình chưa bao giờ được công nhận. Có người lớn lên rồi vẫn chưa tha thứ được cho cha mẹ. Đây cũng là một thập giá. Đạo hiếu không có nghĩa phải gọi điều sai là đúng. Tha thứ cũng không có nghĩa xóa bỏ mọi ranh giới cần thiết. Nhưng người Kitô hữu được mời gọi không để vết thương trở thành độc tố truyền sang thế hệ sau. Có người vì từng bị cha nóng tính nên khi làm cha cũng nóng tính như vậy. Có người vì từng thiếu tình thương nên khi có gia đình lại không biết cách yêu. Nếu không để Chúa chữa lành, những cây thập giá không được cứu chuộc sẽ sinh thêm những cây thập giá mới. Vì thế, đôi khi bổn phận hiếu thảo sâu xa nhất không chỉ là nuôi dưỡng cha mẹ khi già, mà còn là học cách tha thứ cho những giới hạn của cha mẹ, vì cha mẹ cũng là những con người đã từng mang những vết thương của họ.
Và rồi là thập giá của đời hôn nhân. Không cuộc hôn nhân nào chỉ có tuần trăng mật. Sau hoa cưới là tiền điện, tiền nước, tiền nhà, bệnh tật, con cái, công việc, hai bên nội ngoại, tính khí, khác biệt, tuổi tác. Một người đàn ông và một người phụ nữ bước vào hôn nhân với hai lịch sử khác nhau, hai gia đình khác nhau, hai cách suy nghĩ khác nhau, hai cách tiêu tiền khác nhau, hai cách thể hiện tình cảm khác nhau, rồi được mời gọi trở nên “một xương một thịt”. Điều kỳ diệu không phải là họ không bao giờ xung đột. Điều kỳ diệu là sau mỗi xung đột, họ vẫn học cách trở về với nhau.
Có những cuộc hôn nhân chết không phải vì một biến cố lớn mà vì hàng ngàn vết xước rất nhỏ. Một câu nói thiếu tôn trọng hôm nay. Một cái nhìn lạnh lùng ngày mai. Một bữa cơm mỗi người cầm một chiếc điện thoại. Một lần không chịu xin lỗi. Một lần đem khuyết điểm của vợ chồng kể cho người ngoài. Một chút nghi ngờ. Một chút ích kỷ. Một chút coi người kia là điều đương nhiên. Những “một chút” ấy lâu ngày có thể dựng lên một bức tường. Rồi hai người vẫn sống dưới một mái nhà, vẫn ngủ cùng một căn phòng, vẫn đứng cạnh nhau trong ảnh gia đình, nhưng tâm hồn đã xa nhau hàng ngàn cây số.
Thập giá của hôn nhân nhiều khi là phải yêu một con người thật chứ không phải con người mình tưởng tượng ngày mới yêu. Lúc yêu nhau người ta thường nhìn điều đẹp nhất. Sống với nhau rồi mới thấy cả những yếu đuối. Người chồng phát hiện vợ mình hay lo xa, dễ tổn thương, có lúc cằn nhằn. Người vợ phát hiện chồng mình ít nói, vụng về, đôi khi vô tâm. Thập giá chính là thôi đòi người kia phải trở thành phiên bản mình muốn, để học cách yêu con người đang đứng trước mặt mình. Bao nhiêu cuộc hôn nhân khổ vì người ta không yêu người bạn đời thật, mà yêu một hình ảnh lý tưởng rồi bắt người kia phải sống theo hình ảnh đó.
Có người nói: “Nếu người ấy thay đổi, tôi sẽ yêu.” Nhưng Tin Mừng lại dạy ngược: hãy yêu để người ấy có không gian mà thay đổi. Thiên Chúa không đợi chúng ta tốt rồi mới yêu. Thánh Phaolô nói: “Ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, Đức Kitô đã chết vì chúng ta” (Rm 5,8). Đó là logic của Thập Giá. Chúa không nói: “Khi nào con xứng đáng, Ta sẽ yêu con.” Chúa yêu trước. Chính tình yêu ấy làm chúng ta có khả năng trở về. Trong hôn nhân cũng thế. Không phải dung túng cho điều xấu, càng không phải chịu đựng bạo lực hay sự lạm dụng như thể đó là đạo đức; nhưng trong những giới hạn bình thường của con người, đôi khi một gia đình được cứu không phải vì ai đúng hơn, mà vì có một người chịu yêu trước, chịu xuống giọng trước, chịu bước đến trước, chịu nói câu “anh xin lỗi”, “em xin lỗi” trước.
Có một đoạn Tin Mừng rất đẹp để soi sáng đời sống gia đình. Đó là tiệc cưới Cana (Ga 2,1-11). Một đám cưới đang vui thì hết rượu. Trong văn hóa Do Thái, hết rượu giữa tiệc cưới là một sự xấu hổ lớn. Và điều đáng chú ý là đôi tân hôn dường như không biết cuộc khủng hoảng đang xảy ra. Đức Maria nhận ra trước. Mẹ nói với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi.” Rồi Mẹ bảo những người giúp việc: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Cuối cùng, nước lã được biến thành rượu ngon.
Cana là hình ảnh của rất nhiều gia đình. Ngày cưới nào cũng có rượu. Có tiếng cười, hy vọng, lời hứa. Nhưng sống mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm rồi, đôi khi “rượu” cạn. Rượu của sự dịu dàng cạn. Rượu của những lời yêu thương cạn. Rượu của niềm vui cạn. Người ta nói với nhau toàn chuyện học phí, hóa đơn, công việc, con cái mà quên hỏi: “Hôm nay anh có mệt không?”, “Dạo này em có buồn chuyện gì không?” Có những đôi vợ chồng vẫn rất trách nhiệm nhưng không còn thân mật. Họ không phản bội nhau, không bỏ nhau, nhưng tình yêu đã biến thành một bản hợp đồng vận hành gia đình. Và Chúa vẫn đứng ở Cana ấy. Mẹ Maria vẫn nói: “Họ hết rượu rồi.” Điều gia đình cần lúc đó không phải nhất thiết là đổi một người chồng khác, một người vợ khác, mà là mời Chúa bước lại vào giữa đời sống của hai người. Những chum nước lã của bổn phận, nhẫn nại, cầu nguyện, hy sinh có thể được Chúa biến thành thứ rượu ngon hơn cả buổi ban đầu.
Tin Mừng không nói rượu ngon xuất hiện từ hư không. Chúa bảo người ta đổ đầy nước vào sáu chum đá. Những gia nhân đã phải làm phần của họ. Hôn nhân muốn được Chúa chữa lành cũng vậy. Không thể chỉ cầu nguyện rồi tiếp tục xúc phạm nhau. Không thể xin Chúa cứu gia đình nhưng nhất quyết không thay đổi một thói quen nào. Phép lạ cần sáu chum nước được đổ đầy. Một lời xin lỗi là một gáo nước. Một tối tắt điện thoại để ngồi nói chuyện là một gáo nước. Một lần kiềm lại câu nói cay độc là một gáo nước. Một quyết định cùng nhau đi lễ trở lại là một gáo nước. Một lần ôm nhau sau những ngày lạnh nhạt là một gáo nước. Một cuộc tư vấn hôn nhân cần thiết cũng có thể là một gáo nước. Con người đổ nước. Chúa làm thành rượu.
Thập giá của hôn nhân còn nằm trong sự chung thủy. Chung thủy không phải chỉ là không ngoại tình. Chung thủy là mỗi ngày tiếp tục chọn người mình đã chọn. Có những ngày chọn rất dễ. Nhưng có những ngày phải chọn bằng ý chí. Ngày người kia dễ thương thì yêu chẳng khó. Nhưng lúc họ bệnh, họ thất nghiệp, họ thất bại, họ già đi, thân hình thay đổi, tính khí trở nên khó chịu, lúc ấy lời thề hôn nhân mới bắt đầu có trọng lượng. Một người vợ chăm chồng tai biến nhiều năm. Một người chồng chăm vợ ung thư từng đêm. Họ có thể chẳng xuất hiện trên báo, chẳng ai trao huy chương, nhưng trước mặt Thiên Chúa, những căn phòng bệnh ấy có khi là những cung thánh, những chiếc giường bệnh là bàn thờ, những chiếc khăn lau mồ hôi là khăn thánh, và mỗi lần người ta nâng người bạn đời của mình dậy là một lần Simon thành Kyrênê được sống lại.
Tin Mừng kể rằng khi Chúa Giêsu đang vác Thập Giá, quân lính bắt một người tên Simon Kyrênê “vác thập giá đỡ Đức Giêsu” (Lc 23,26). Đời hôn nhân cũng là như thế: hôm nay anh khỏe, anh vác giúp em. Mai em mạnh, em đỡ giúp anh. Không ai mạnh suốt đời. Có lúc người chồng là Simon cho vợ. Có lúc người vợ là Simon cho chồng. Có lúc cha mẹ là Simon cho con. Rồi đến cuối đời, con trở thành Simon cho cha mẹ. Gia đình đẹp không phải là gia đình không có thập giá. Gia đình đẹp là gia đình mà khi một người khuỵu xuống, vẫn có một bàn tay của người nhà đưa ra.
Nhưng phải nói rất rõ: Thập Giá Kitô giáo không phải là sự tôn thờ đau khổ. Thiên Chúa không vui khi con cái Người đau. Và không được dùng chữ “thập giá” để bắt một người tiếp tục chịu bạo hành, bị đánh đập, bị xâm hại hay sống trong nguy hiểm. Chúa Giêsu đón nhận Thập Giá vì yêu, không phải vì sự dữ tự nó là tốt. Người Kitô hữu mang thập giá nghĩa là trung thành với tình yêu và sự thiện ngay cả khi điều ấy đắt giá, chứ không có nghĩa là dung túng cho tội lỗi hoặc cộng tác với bạo lực. Có những hoàn cảnh cần tìm sự trợ giúp của gia đình, cộng đoàn, mục tử, chuyên viên hay cơ quan có trách nhiệm. Bảo vệ sự sống và phẩm giá cũng là bổn phận trước mặt Thiên Chúa.
Một trong những cây thập giá khó nhất trong gia đình là thập giá của sự không được hiểu. Có người cha nghĩ mình hy sinh tất cả vì con nhưng con lại bảo cha độc đoán. Có người mẹ nghĩ mình quan tâm nhưng con lại thấy ngột ngạt. Có người chồng nghĩ mình đi làm kiếm tiền là đã yêu gia đình, trong khi người vợ chỉ mong được nghe một câu chuyện và được chồng lắng nghe. Có người vợ làm mọi thứ trong nhà nhưng vẫn cảm thấy mình không được nhìn nhận. Mỗi người nói một thứ ngôn ngữ của tình yêu và đôi khi không ai hiểu ai. Vì thế, có những gia đình cần học lại nghệ thuật lắng nghe. Không phải nghe để trả lời, nhưng nghe để hiểu. Không phải vừa nghe vừa chuẩn bị lý lẽ phản bác. Không phải nghe câu chữ, nhưng nghe nỗi đau phía sau câu chữ.
Đôi khi người vợ nói: “Anh chẳng bao giờ quan tâm đến em”, thực ra nàng không đưa ra một bản thống kê. Nàng đang nói: “Em đang cô đơn.” Người chồng nói: “Em lúc nào cũng cằn nhằn”, có khi phía sau đó là: “Anh cảm thấy mình không được ghi nhận.” Đứa con đóng cửa phòng và nói: “Ba mẹ đừng làm phiền con”, đôi khi trong đó là một nỗi đau nó chưa biết cách diễn đạt. Người cha già nổi nóng vô cớ có khi vì ông sợ mình trở thành gánh nặng. Nếu chỉ nghe lời nói, ta sẽ đáp trả bằng lời nói. Nếu nghe được trái tim, ta có thể đáp lại bằng tình thương.
Chúa Giêsu trên Thập Giá cũng đã chịu nỗi đau không được hiểu. Người cứu thế gian nhưng bị coi là kẻ phạm thượng. Người yêu nhân loại nhưng bị nhân loại đóng đinh. Người chữa lành biết bao người nhưng lúc Người đau thì đám đông chế giễu. Thập Giá cho thấy một sự thật: có những lúc làm điều đúng vẫn bị hiểu sai; yêu thật vẫn có thể bị tổn thương; hy sinh không nhất thiết được biết ơn. Bởi vậy, cha mẹ đừng làm mọi điều cho con chỉ để sau này con phải trả ơn. Vợ chồng đừng hy sinh để tích lũy một cuốn sổ nợ tình cảm rồi một ngày mở ra tính toán: “Anh đã làm cho em bao nhiêu”, “Em đã chịu vì anh bao nhiêu.” Tình yêu Kitô giáo không phải một ngân hàng. Yêu là trao ban, dĩ nhiên trong sự khôn ngoan và tự do, nhưng không biến hy sinh thành món nợ để đòi người khác trả.
Trong gia đình, một trong những câu khó nói nhất là “xin lỗi”. Ta có thể xin lỗi người ngoài rất dễ: va nhẹ vào ai cũng nói “xin lỗi”. Nhưng với người thân, nhiều khi biết mình sai vẫn im. Bởi cái tôi ở nhà thường lớn hơn cái tôi ngoài đường. Người ta lịch sự với đồng nghiệp rồi về nhà quát vợ. Người ta kiên nhẫn với khách hàng nhưng cáu với con. Người ta nói năng mềm mỏng với bạn bè nhưng cay nghiệt với cha mẹ. Kỳ lạ thay, chúng ta thường làm đau nhất những người yêu mình nhất, bởi trong thâm tâm ta nghĩ rằng họ sẽ không bỏ mình. Nhưng chính vì họ không bỏ mình nên càng phải trân trọng.
Một gia đình có khả năng xin lỗi là một gia đình có tương lai. Một người cha biết nói với con: “Hôm qua ba nóng quá, ba sai rồi”, không mất quyền làm cha. Trái lại, ông dạy con một bài học về khiêm nhường. Một người mẹ biết nói: “Mẹ đã hiểu lầm con”, không mất uy tín. Một người chồng nói “anh xin lỗi” không trở nên yếu đuối. Một người vợ chịu bước đến trước không phải thua. Trong tình yêu, thắng người mình yêu đôi khi chính là thua cả gia đình. Có những cuộc cãi nhau mà người thắng cuối cùng lại là người cô độc nhất.
Thập Giá là nơi Chúa Giêsu không chiến thắng bằng cách hạ đối phương. Người thắng bằng cách yêu đến cùng. Khi bị đóng đinh, Người còn cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Nếu câu ấy vang lên được trong các gia đình, biết bao cuộc chiến sẽ dừng lại. “Họ không biết việc họ làm.” Có những lời người chồng nói vì đang kiệt sức. Có những câu người vợ nói lúc bị tổn thương. Có những phản ứng của đứa con tuổi mới lớn chính nó cũng không hiểu. Có những sự khó chịu của cha mẹ già xuất phát từ bệnh tật. Không phải mọi lỗi đều có thể bỏ qua dễ dàng, nhưng đôi khi nhìn thấy sự yếu đuối của nhau giúp chúng ta bớt kết án.
Gia đình còn mang một thập giá rất nặng khác: tiền bạc. Không ít cuộc hôn nhân bắt đầu bằng tình yêu rồi bị tiền bạc bào mòn. Khi thiếu tiền, người ta dễ trách nhau. Khi nhiều tiền, người ta lại có những cám dỗ khác. Tiền không xấu, nhưng tiền làm lộ ra lòng người. Có những người cha đi làm xa nhiều năm vì muốn con có tương lai nhưng rồi đánh mất sự gần gũi với con. Có những gia đình kiếm được rất nhiều nhưng không còn bữa cơm chung. Có những vợ chồng có nhà đẹp mà không còn tiếng cười. Ngược lại, cũng có những mái nhà nhỏ, bữa ăn đạm bạc nhưng đầy bình an. Hạnh phúc gia đình không tỷ lệ thuận với diện tích căn nhà, mà với khoảng cách giữa các trái tim.
Có một thứ nghèo đáng sợ hơn nghèo tiền: nghèo sự hiện diện. Một đứa trẻ có thể có phòng riêng, máy tính tốt, học trường tốt nhưng thiếu cha. Không phải thiếu một người đàn ông trong nhà, mà thiếu một người cha thật sự có mặt trong cuộc đời nó. Một đứa trẻ có thể được mẹ chuẩn bị mọi thứ nhưng không có mười lăm phút mỗi ngày được mẹ nghe nó kể chuyện. Chúng ta đang sống trong thời đại rất nhiều gia đình ở chung nhưng mỗi người sống trong một màn hình riêng. Cha cầm điện thoại. Mẹ cầm điện thoại. Con cầm máy tính bảng. Bốn người ngồi một bàn mà như ở bốn quốc gia. Có khi thập giá ngày hôm nay không phải là phải làm thêm điều gì, mà là can đảm đặt chiếc điện thoại xuống để nhìn vào mắt nhau.
Rồi sẽ đến lúc con cái lớn, rời nhà. Căn nhà từng ồn ào trở nên yên. Đôi dép nhỏ không còn ngoài cửa. Căn phòng vẫn đó nhưng người đã đi học xa, lập gia đình, ra nước ngoài, vào đời sống riêng. Đó cũng là thập giá của cha mẹ: học cách buông. Yêu con không phải giữ con mãi bên mình. Trong Tin Mừng, Đức Maria cũng để Chúa Giêsu rời Nazareth đi rao giảng. Người không thuộc về Mẹ theo cách chiếm hữu. Con cái là quà Thiên Chúa gửi đến, không phải tài sản cha mẹ sở hữu. Cha mẹ sinh con cho cuộc đời và cuối cùng cho Thiên Chúa. Có những người mẹ phải học câu rất khó: “Con cứ đi đi.” Có những người cha phải học đừng can thiệp vào mọi quyết định của gia đình con. Nếu tình yêu không biết buông, nó dễ biến thành kiểm soát.
Ngược lại, người làm con khi trưởng thành cũng phải học rằng cha mẹ không cần nhiều như mình nghĩ. Người già đôi khi không cần con đưa nhiều tiền. Họ cần một cuộc điện thoại. Không cần món quà đắt, cần con về ăn một bữa cơm. Không cần con nói những chuyện lớn lao, cần nghe câu: “Ba khỏe không?”, “Mẹ ngủ được không?” Có những người mải đi làm để nói rằng đang lo cho cha mẹ, nhưng vài năm không ngồi với cha mẹ được một buổi chiều. Rồi một ngày điện thoại reo: “Ba mất rồi.” Lúc đó người ta mới hiểu có những món nợ không thể trả bằng tiền, vì thời gian không quay lại.
Điều đáng sợ nhất không phải cha mẹ chết. Đó là quy luật của đời người. Điều đáng sợ là đến lúc cha mẹ nhắm mắt, người con còn quá nhiều điều chưa nói, quá nhiều cái ôm chưa trao, quá nhiều lời xin lỗi chưa kịp thốt ra. Vì thế, nếu còn cha còn mẹ, đừng để lòng hiếu thảo chỉ nằm trong suy nghĩ. Hãy biến nó thành một cuộc điện thoại, một chuyến về nhà, một bữa cơm, một lần đưa cha đi khám, một cái xoa bóp vai cho mẹ, một câu cảm ơn. Đừng đợi đến lúc đứng trước di ảnh mới nói: “Con thương ba, con thương mẹ.” Người chết không cần nghe nữa. Hãy nói khi người còn sống.
Có một lúc mọi cây thập giá gia đình dường như gặp nhau: lúc một người ra đi. Người chồng mất vợ sau mấy chục năm sống chung. Người vợ nhìn chiếc ghế chồng thường ngồi nay trống. Người con đứng trước quan tài cha mẹ. Cha mẹ tiễn một đứa con đi trước mình – có lẽ đó là một trong những đau đớn trái tự nhiên nhất của kiếp người. Khi ấy, ngôn ngữ trở nên bất lực. Không có câu an ủi nào đủ. Chỉ còn Thập Giá Đức Kitô. Chính trên Thập Giá, Thiên Chúa đã bước vào tận cùng đau khổ của con người. Kitô giáo không trả lời đau khổ bằng một lý thuyết. Thiên Chúa trả lời bằng việc chính Người chịu đau với chúng ta.
Bởi thế Thập Giá không nói rằng gia đình Kitô hữu sẽ không đau. Thập Giá nói rằng không nỗi đau nào nhất thiết phải vô nghĩa. Một đêm thức chăm con có thể trở thành lời cầu nguyện. Một lần nhịn để khỏi làm tổn thương vợ chồng có thể trở thành lễ dâng. Một ngày chăm cha mẹ già có thể trở thành việc thờ phượng. Một giọt nước mắt âm thầm có thể được đặt vào chén lễ của đời mình. Điều quyết định không phải chúng ta có thập giá hay không, nhưng có để Chúa cùng vác với mình không.
Chúa không muốn các thành viên trong gia đình trở thành thập giá cho nhau bằng ích kỷ và tội lỗi. Nhưng khi thập giá không thể tránh đến từ giới hạn, bệnh tật, khác biệt, tuổi già, trách nhiệm, nghịch cảnh, Chúa mời gọi ta biến nó thành nơi tình yêu trưởng thành. Vì có những điều chỉ học được khi yêu lâu. Người ta học kiên nhẫn khi sống với một người không hoàn hảo. Học tha thứ khi bị tổn thương. Học khiêm nhường khi phải xin lỗi. Học tín trung khi cảm xúc thay đổi. Học hy sinh khi có con. Học biết ơn khi cha mẹ già. Học buông bỏ khi người thân qua đời. Và cuối cùng học rằng yêu thật luôn có giá.
Nhìn Thập Giá Chúa Giêsu, ta thấy hai thanh gỗ. Một thanh đứng hướng lên trời, một thanh ngang mở sang hai phía. Có thể coi đó như biểu tượng của đời sống gia đình Kitô hữu. Nếu chỉ có thanh ngang – chỉ tương quan giữa người với người – gia đình sớm muộn cũng kiệt sức, bởi con người không đủ sức yêu mãi bằng sức riêng. Cần thanh đứng nối với Thiên Chúa. Gia đình cần cầu nguyện. Không nhất thiết phải những giờ kinh dài. Một dấu Thánh Giá trước bữa ăn. Một lời kinh tối. Một lần vợ chồng cầm tay cầu nguyện khi gặp khủng hoảng. Một lời chúc lành của cha mẹ cho con trước lúc đi xa. Một kinh Lạy Cha bên giường người bệnh. Những điều nhỏ ấy giữ thanh ngang của gia đình khỏi rơi xuống.
Có những vợ chồng nói với nhau đủ thứ nhưng chưa bao giờ cầu nguyện cùng nhau. Có những cha mẹ nói với con rất nhiều về việc học nhưng rất ít về Thiên Chúa. Có những gia đình chỉ tìm đến Chúa khi xảy ra chuyện. Thế nhưng ngôi nhà nào cũng cần một bàn thờ nhỏ, không chỉ bằng gỗ, mà là một nơi trong trái tim dành cho Chúa. Khi Chúa có chỗ trong nhà, những bất đồng không tự biến mất, nhưng ta có một Đấng lớn hơn bất đồng ấy. Bệnh tật không biến mất, nhưng ta không chịu bệnh một mình. Cái chết vẫn đến, nhưng cái chết không còn là lời cuối.
Người ta thường hỏi: làm sao để gia đình hạnh phúc? Có lẽ không có một công thức. Nhưng có một con đường: mỗi người bớt đòi người khác vác thập giá cho mình và học vác thập giá của người khác một chút. Người chồng hỏi: hôm nay mình có thể làm nhẹ gánh cho vợ điều gì? Người vợ hỏi: hôm nay mình có thể làm nhẹ gánh cho chồng điều gì? Cha mẹ hỏi: mình có đang áp đặt những kỳ vọng khiến con quá nặng không? Người con hỏi: mình có làm cha mẹ buồn vì sự vô tâm của mình không? Một gia đình sẽ đổi khác nếu mỗi sáng mọi người không hỏi “hôm nay ai sẽ làm tôi hạnh phúc?” nhưng hỏi “hôm nay tôi có thể làm ai bớt mệt?”
Thập Giá Chúa không có bàn tay nắm lại. Hai bàn tay Người bị mở ra. Yêu là mở. Mở thời gian. Mở lòng. Mở tai để nghe. Mở miệng để xin lỗi. Mở tay để phục vụ. Mở cửa cho người trở về. Người cha trong dụ ngôn đứa con hoang đàng đã mở cửa cho con (Lc 15,11-32). Ông cũng mang một thập giá của người cha: con lấy phần gia tài rồi bỏ đi. Ông không thể giữ nó. Ông chờ. Có lẽ mỗi chiều ông đều nhìn ra đường. Và khi con còn ở đằng xa, ông chạy ra ôm lấy nó. Đó là trái tim của Thiên Chúa và cũng là khuôn mẫu cho cha mẹ: có khi điều duy nhất ta làm được cho một đứa con lạc đường là giữ cho cánh cửa trở về vẫn còn mở.
Không biết trong giây phút này, ai đang đọc những dòng này và mang cây thập giá nào. Có thể một người mẹ đang khóc vì con. Có thể một người cha đang lo không biết tháng tới lấy đâu tiền đóng học phí. Có thể một người con đang ngồi ngoài hành lang bệnh viện chờ kết quả của mẹ. Có thể một người vợ đang sống cạnh chồng mà lòng rất cô đơn. Có thể một người chồng đang chịu những áp lực chẳng biết nói với ai. Có thể một đôi vợ chồng đang đứng sát bờ vực chia tay. Có thể một gia đình vừa mất một người thân. Không ai biết hết cây thập giá của nhà người khác. Vì thế xin đừng vội phán xét những gia đình mình nhìn thấy. Sau cánh cửa đóng kín có thể có những trận chiến rất âm thầm.
Nếu đang mệt vì gia đình, hãy nhớ Chúa Giêsu từng mệt dưới cây Thập Giá. Nếu đang thấy mình cô đơn, Người từng kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Nếu đang bị hiểu lầm, Người từng chịu như thế. Nếu đang phải tha thứ, Người đã tha thứ trước. Nếu đang phải chăm sóc một người yếu đuối, hãy nhớ chính Người đã đồng hóa mình với những người bé nhỏ. Nếu đang đứng trước cái chết, hãy nhớ sau chiều Thứ Sáu Tuần Thánh là sáng Phục Sinh.
Đừng xin một gia đình không có thập giá. Có lẽ không có gia đình như thế trên đời. Hãy xin một gia đình biết cùng nhau vác thập giá. Đừng xin người bạn đời hoàn hảo. Hãy xin mình biết yêu một con người chưa hoàn hảo và cùng nhau nên thánh. Đừng xin con cái không bao giờ làm mình đau. Hãy xin đủ khôn ngoan để yêu con đúng cách. Đừng xin cha mẹ sống mãi. Hãy xin biết yêu thương các ngài khi còn thời gian. Đừng xin cuộc đời không nước mắt. Hãy xin mỗi giọt nước mắt rơi xuống đều được Chúa biến thành hạt giống của một điều tốt đẹp.
Và có lẽ vào cuối một đời người, khi nhìn lại, ta sẽ ngạc nhiên nhận ra rằng những điều làm nên gia đình không phải chủ yếu là những ngày lễ lớn, những chuyến du lịch, những món quà đắt tiền. Điều còn lại là những buổi sáng mẹ gọi dậy. Những tối cha đợi cửa. Những bữa cơm tưởng bình thường. Những lần vợ chồng cãi nhau rồi làm hòa. Những đêm chăm con bệnh. Những ngày đưa cha mẹ đi khám. Những tiếng dép quen trong hành lang. Một chiếc ghế cũ. Một giọng nói đã từng làm ta khó chịu nhưng đến lúc không còn nghe nữa lại nhớ quay quắt. Gia đình được tạo nên từ những điều nhỏ đến mức khi đang có ta chẳng nhận ra đó là hạnh phúc.
Thập Giá của người làm cha mẹ, người làm con, người sống đời hôn nhân không phải lúc nào cũng là những bi kịch lớn. Nhiều khi chỉ là mỗi ngày sống thêm một chút vì nhau. Bớt một câu làm đau. Thêm một câu cảm ơn. Bớt một chút tự ái. Thêm một chút kiên nhẫn. Bớt thời gian cho màn hình. Thêm thời gian cho người trước mặt. Bớt tính toán. Thêm bao dung. Bớt nhớ lỗi. Thêm nhớ ơn. Những việc rất nhỏ ấy chính là những chiếc đinh đóng cái tôi của ta vào Thập Giá để tình yêu được sống.
Sau cùng, mầu nhiệm lớn nhất của Thập Giá không nằm ở đau khổ mà nằm ở tình yêu. Hai người có thể chịu cùng một nỗi khổ, nhưng nếu không có tình yêu, đó chỉ là khổ đau. Khi tình yêu bước vào, đau khổ có thể trở thành hy lễ. Chính tình yêu đã biến cây gỗ tử hình trên Golgotha thành Thánh Giá cứu độ. Và cũng chính tình yêu có thể biến căn bếp nhỏ thành nơi nên thánh, phòng bệnh thành nhà nguyện, chiếc giường của người già thành bàn thờ, bữa cơm gia đình thành một thứ phụng vụ của đời thường.
Một ngày kia, mọi người cha người mẹ sẽ phải buông tay con. Mọi người con sẽ phải buông tay cha mẹ. Mọi đôi vợ chồng, dù yêu nhau đến đâu, rồi cũng có một người phải đi trước. Chẳng ai giữ được ai mãi. Điều duy nhất ta có thể làm là trong quãng đường Chúa cho được đi cùng nhau, hãy yêu sao để khi phải chia tay, điều còn lại không phải là nuối tiếc vì đã yêu quá ít.
Vì cuối cùng, khi đứng trước mặt Chúa, có lẽ Người sẽ không hỏi căn nhà ta lớn bao nhiêu, tài khoản còn bao nhiêu, con cái thành đạt tới đâu. Có lẽ Người chỉ hỏi những điều rất đơn giản: Con đã yêu người Ta trao cho con thế nào? Khi cha mẹ con già, con có ở bên không? Khi con cái yếu đuối, con có kiên nhẫn không? Khi vợ chồng con vấp ngã, con có đưa tay đỡ không? Khi gia đình con đi qua những ngày tối tăm, con có giữ Chúa ở lại trong nhà không?
Ước gì khi ấy, dù đôi tay chúng ta chai sần vì đã vác quá nhiều thập giá, ta vẫn có thể thưa với Chúa rằng: “Lạy Chúa, con đã không yêu hoàn hảo. Con đã có những lúc nóng nảy, ích kỷ, vô tâm. Con đã làm những người thân của con khóc. Nhưng con đã cố gắng trở về. Con đã học xin lỗi. Con đã học tha thứ. Con đã ở lại khi lẽ ra con có thể bỏ đi. Con đã chăm sóc khi con mệt. Con đã cầu nguyện khi chẳng biết làm gì khác. Và những người Chúa trao cho con, con đã cố yêu họ bằng tất cả trái tim nhỏ bé của mình.”
Nếu được như thế, thì những cây thập giá âm thầm trong mỗi gia đình sẽ không mất đi vô ích. Chúng sẽ trở thành con đường đưa cả nhà về trời. Bởi nơi nào có một người dám chết đi cho cái tôi để người khác được sống, nơi ấy Thập Giá Chúa đang hiện diện. Nơi nào một người vẫn tiếp tục yêu dù mệt mỏi, nơi ấy Đức Kitô đang sống. Nơi nào cha mẹ không bỏ con, con cái không bỏ cha mẹ, vợ chồng không ngừng tìm đường trở về với nhau, nơi ấy, giữa những đổ vỡ rất người, Nước Thiên Chúa đã âm thầm bắt đầu.
Và rồi ta hiểu: gia đình không phải nơi người ta tìm được những con người hoàn hảo để sống với nhau. Gia đình là nơi những con người đầy giới hạn được Thiên Chúa đặt bên nhau để học yêu, học tha thứ, học hy sinh và học nên thánh. Thập giá của gia đình vì thế vừa nặng, vừa quý. Nặng vì nó lấy đi nhiều điều ta muốn giữ. Quý vì chính trên con đường ấy, ta được uốn lại theo hình dáng của Đức Kitô, Đấng đã yêu những kẻ thuộc về mình và “yêu họ đến cùng” (Ga 13,1).
Xin Chúa cho mỗi mái gia đình, dù đang vui hay đang khóc, dù đang thuận hòa hay đang trải qua những ngày giông bão, biết nhìn lên Thánh Giá. Không phải để than rằng đời mình quá khổ, nhưng để nhớ rằng đã có Một Người yêu chúng ta đến mức không bỏ chúng ta giữa đau khổ. Và nếu Người đã ở lại với ta, ta cũng có thể học ở lại với nhau. Ở lại trong trách nhiệm. Ở lại trong lòng trung tín. Ở lại trong sự thật. Ở lại trong tha thứ. Ở lại trong lời cầu nguyện. Ở lại dưới chân Thập Giá cho đến khi bình minh Phục Sinh xuất hiện.
Bởi thập giá không phải là trang cuối của câu chuyện Kitô giáo. Phục Sinh mới là trang cuối. Và những gia đình dám đi với Chúa qua Thứ Sáu Tuần Thánh rồi cũng sẽ hiểu rằng không giọt nước mắt nào được dâng trong tình yêu là vô ích, không hy sinh nào âm thầm vì người mình yêu bị Thiên Chúa quên lãng, không lời cầu nguyện nào của cha mẹ cho con rơi xuống khoảng không, không sự chăm sóc nào của con cái dành cho cha mẹ già mất phần thưởng, không một lần vợ chồng thật lòng tha thứ cho nhau mà không làm thế giới này bớt lạnh hơn.
Xin cho những người làm cha mẹ biết vác thập giá bằng trái tim của Đức Maria: đau nhưng không tuyệt vọng, lo nhưng không ngừng tin, yêu mà không chiếm hữu. Xin cho những người làm con biết vác thập giá bằng lòng biết ơn, để khi cha mẹ còn sống thì yêu thương, lúc các ngài yếu thì chăm sóc, khi các ngài đã qua đời thì trung thành cầu nguyện. Xin cho những người sống đời hôn nhân biết nhìn Thánh Giá Chúa để mỗi ngày nhớ lại rằng tình yêu không chỉ là cảm xúc ngọt ngào của một thuở ban đầu, nhưng là quyết định ở lại, phục vụ, tha thứ và trao ban cho đến cùng.
Và xin cho mỗi chúng ta, khi bước vào căn nhà của mình tối nay, biết nhìn người thân bằng một ánh mắt khác. Vì ta không biết còn được nhìn nhau bao nhiêu lần nữa. Hãy nói lời cần nói khi còn có thể. Hãy ôm người cần ôm khi vòng tay còn ấm. Hãy tha thứ điều cần tha thứ khi người ấy còn ngồi trước mặt. Hãy trở về khi vẫn còn con đường trở về. Hãy yêu khi vẫn còn thời gian để yêu.
Bởi rồi sẽ có một ngày mọi cây thập giá được đặt xuống. Mọi giọt nước mắt được lau khô. Mọi tiếng thở dài im bặt. Mọi cuộc chia ly chấm dứt. Khi ấy, trong ngôi nhà của Cha trên trời, những người đã từng vác thập giá vì yêu nhau sẽ nhận ra rằng chính những năm tháng tưởng như rất nặng nề ấy lại là con đường âm thầm đưa họ đến bên nhau một lần nữa, trong một gia đình không còn bệnh tật, không còn hiểu lầm, không còn ly biệt, không còn nước mắt, nơi tình yêu đã được hoàn tất trong Thiên Chúa.
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ CỦA LINH MỤC VÀ TU SĨ – “VÁC THẬP GIÁ TRONG ƠN GỌI”
Có những thập giá người ta nhìn thấy ngay: một căn bệnh hiểm nghèo, một tai nạn bất ngờ, một gia đình đổ vỡ, một người thân qua đời, một thất bại ê chề, một tuổi già cô độc. Nhưng cũng có những thập giá rất ít người nhìn thấy, bởi chúng được giấu dưới một chiếc áo dòng, một chiếc áo giáo sĩ, một nụ cười mục tử, một lời giảng bình an, một bàn tay vẫn đều đặn nâng Mình Thánh Chúa mỗi ngày. Thập giá của linh mục và tu sĩ nhiều khi không có hình dáng của một biến cố kinh hoàng. Nó âm thầm hơn. Nó nằm trong những ngày phải tiếp tục bước đi khi lòng đã mệt; trong những lần phải mỉm cười với người khác khi chính mình đang muốn khóc; trong những buổi phải nói về hy vọng giữa lúc lòng mình cũng đang phải chiến đấu để đừng tuyệt vọng; trong những lần phải tha thứ khi bị hiểu lầm; phải yêu thương khi tình thương không được đáp lại; phải ở lại khi bản năng chỉ muốn bỏ đi; phải trung thành khi cảm xúc đã cạn; phải cúi xuống phục vụ những con người có khi chẳng bao giờ hiểu được giá phải trả của sự phục vụ ấy. Người linh mục, người tu sĩ không bước vào đời dâng hiến vì thích đau khổ. Chẳng ai khấn dòng để đi tìm thập giá. Chẳng ai chịu chức linh mục vì muốn sống một cuộc đời cô độc và nhọc nhằn. Họ đi vì đã nghe một tiếng gọi. Họ đi vì một ngày nào đó, giữa bao tiếng nói của cuộc đời, họ đã nghe rất sâu trong lòng một tiếng rất nhẹ mà rất mạnh: “Hãy theo Thầy.” Và từ giây phút trả lời tiếng gọi ấy, họ bắt đầu hiểu dần rằng theo Đức Kitô không phải chỉ là đi với Người lên núi Tabor để nhìn thấy dung nhan rực sáng; cũng không phải chỉ là đứng trước đám đông nghe tiếng tung hô; lại càng không phải là được khoác trên mình một chiếc áo đặc biệt hay được người đời kính trọng. Theo Đức Kitô cuối cùng là đi cùng Người về Giêrusalem. Là bước vào Vườn Dầu với Người. Là nghe những lời chống đối. Là nếm sự cô đơn. Là chấp nhận bị hiểu sai. Là cúi xuống rửa chân. Là trao chính mình làm của ăn. Và có những ngày, theo Người nghĩa là đứng dưới bóng của một cây thập giá mà mình chẳng hề lựa chọn.
Chúa Giêsu đã không che giấu điều ấy khi gọi các môn đệ. Người không quảng cáo con đường theo Người như một hành trình nhẹ nhàng. Tin Mừng thuật lại lời Chúa thật thẳng thắn: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). Có ba động từ rất ngắn: từ bỏ, vác, theo. Nhưng có lẽ cả đời người môn đệ vẫn chưa học xong ba động từ ấy. “Từ bỏ mình” không chỉ là bỏ một ít tiền bạc, một vài tiện nghi, một vài thú vui. Có khi khó nhất là bỏ chính cái tôi của mình: bỏ nhu cầu được công nhận, bỏ khát vọng được mọi người yêu mến, bỏ ý muốn lúc nào mình cũng đúng, bỏ thói quen muốn người khác hiểu mình, bỏ nhu cầu phải nhìn thấy kết quả của những gì mình làm. “Vác thập giá mình” không phải là đi tìm đau khổ, càng không phải tự hành hạ đời mình, nhưng là đón nhận phần trách nhiệm, giới hạn, thử thách và hy sinh gắn liền với tình yêu mà mình đã chọn. Và “theo Thầy” nghĩa là không vác thập giá một mình. Người môn đệ không đi trước Chúa. Người môn đệ cũng không đi một con đường khác. Chúa đi trước. Người môn đệ bước theo dấu chân Người. Chính điểm này làm cho thập giá Kitô giáo khác với một nỗi bất hạnh vô nghĩa: trên con đường thập giá, Đức Kitô đã đi trước chúng ta.
Thập giá đầu tiên của đời linh mục và tu sĩ có lẽ chính là thập giá của việc thuộc về. Khi còn ở ngoài đời, người ta có thể tự hoạch định phần lớn đời mình: thích ở đâu thì ở, thích làm gì thì làm, muốn chọn công việc nào thì chọn, muốn xây dựng gia đình với ai thì cố gắng đi đến với người ấy. Nhưng khi một người dâng đời mình cho Chúa, một sự chuyển giao âm thầm xảy ra: cuộc đời ấy không còn hoàn toàn thuộc về chính mình nữa. Một linh mục có thể yêu một giáo xứ đến mức coi nơi ấy như quê hương, nhưng rồi một ngày nhận bài sai đi nơi khác. Một tu sĩ có thể đang sống giữa một cộng đoàn thân quen, đang làm một công việc mình yêu thích, nhưng rồi được sai đến một nơi hoàn toàn xa lạ. Có những bài sai được nhận trong niềm vui. Có những bài sai được nhận trong nước mắt. Có những nơi mình muốn đi mà không được đi. Có những nơi mình chẳng bao giờ nghĩ mình sẽ đến mà lại phải đến. Người ngoài nhìn vào có thể nói rất dễ: “Khấn vâng phục rồi thì đi thôi.” Nhưng chỉ người phải xếp từng cuốn sách vào vali, phải đóng cánh cửa căn phòng đã sống nhiều năm, phải chào những người mình đã yêu thương, phải bước lên xe đi vào một tương lai chưa biết mới hiểu vâng phục đôi khi đau thế nào. Vâng phục không phải vì người bề trên lúc nào cũng hoàn hảo. Vâng phục trước hết vì người tu sĩ tin rằng, qua những trung gian rất con người và bất toàn, mình vẫn có thể tìm kiếm ý Chúa. Và chính ở chỗ ấy, cái tôi bị đóng đinh từng chút một.
Thập giá thứ hai là thập giá của đời sống độc thân thánh hiến. Người ta thường nói đến sự cao quý của đời độc thân, và quả thật đó là một hồng ân rất đẹp. Nhưng hồng ân không có nghĩa là không có giá phải trả. Một linh mục vẫn là một con người. Một tu sĩ vẫn có một trái tim. Họ không mất khả năng rung động sau ngày chịu chức hay ngày khấn dòng. Họ vẫn có nhu cầu được yêu, được lắng nghe, được hiểu, được có một nơi để trở về sau một ngày dài. Có những buổi tối, nhà xứ rất rộng mà lòng người lại rất vắng. Có những lúc sau một ngày tiếp bao nhiêu người, nghe bao nhiêu câu chuyện, giải quyết bao nhiêu vấn đề, người linh mục trở về phòng và bất chợt nhận ra rằng chẳng có ai hỏi mình: “Hôm nay cha có mệt không?” Có những tu sĩ dành cả ngày chăm sóc bệnh nhân, trẻ em, người nghèo, học sinh, người già; tối về cộng đoàn vẫn còn những bổn phận phải chu toàn, và trong một khoảnh khắc rất người, họ cũng ước có một người hiểu hết những điều mình không biết nói cùng ai. Cô đơn trong đời thánh hiến không phải lúc nào cũng là dấu hiệu mất ơn gọi. Đôi khi đó chính là vùng đất mà người môn đệ phải đi qua để tình yêu được thanh luyện. Có những lúc Chúa lấy đi những cảm giác ngọt ngào để người tu sĩ phải tự hỏi: tôi yêu Chúa vì Chúa, hay tôi yêu cảm giác dễ chịu khi mình ở gần Chúa? Tôi trung thành vì tình yêu, hay vì mọi việc đang thuận lợi? Đời độc thân đẹp không phải vì người sống đời ấy không bao giờ cô đơn, nhưng vì giữa cô đơn họ vẫn có thể dâng trái tim mình một lần nữa: “Lạy Chúa, con đã chọn Chúa. Hôm nay con vẫn chọn Chúa.”
Rồi có thập giá của cộng đoàn. Người ta có thể nghĩ vào nhà dòng là bước vào một nơi toàn những con người đạo đức, hiền lành, thánh thiện và dễ sống với nhau. Thật ra, tu viện không phải thiên đàng. Nhà dòng là nơi những con người rất khác nhau được Chúa gọi về để học yêu nhau. Người nhanh phải sống với người chậm. Người kỹ tính phải sống với người xuề xòa. Người hướng nội sống bên người hướng ngoại. Người thích im lặng ngồi cạnh người nói chuyện không biết mệt. Người thích mọi thứ đúng giờ sống với người thường xuyên trễ vài phút. Người được đào tạo khác nhau, xuất thân khác nhau, khí chất khác nhau, tuổi tác khác nhau, cách cầu nguyện khác nhau, cách nhìn mục vụ khác nhau. Chính nơi ấy, đời sống cộng đoàn trở thành một trường học không có ngày tốt nghiệp. Có khi thập giá chẳng phải điều gì lớn lao, chỉ là một tiếng cửa đóng hơi mạnh, một câu nói thiếu tế nhị, một việc chung người khác quên làm, một quyết định mình không đồng ý, một cách cư xử lặp đi lặp lại làm mình khó chịu. Những điều ấy nhỏ thôi, nhưng nhỏ mà mỗi ngày thì cũng đủ làm người ta mệt. Nên thánh nhiều khi không phải bằng những việc phi thường, mà bằng việc vẫn chào người anh em ấy vào sáng hôm sau; vẫn ngồi cùng bàn ăn; vẫn cầu nguyện cho người làm mình khó chịu; vẫn không nói xấu khi có cơ hội; vẫn cố hiểu trước khi kết án. Có những vị thánh không chết vì gươm giáo. Các ngài chết cho cái tôi mỗi ngày giữa cộng đoàn.
Thập giá của linh mục còn là thập giá của người đứng giữa dân Chúa. Làm mục tử nghĩa là được yêu rất nhiều, nhưng cũng có nghĩa là có thể bị tổn thương rất sâu. Cùng một bài giảng, người này nói tuyệt vời, người kia bảo dài quá, người khác lại cho rằng ngắn quá. Một quyết định mục vụ, người này khen sáng suốt, người kia trách độc đoán. Làm điều này thì bị hỏi sao không làm điều kia. Im lặng thì bị cho là lạnh lùng. Nói thẳng thì bị cho là khó tính. Gần gũi quá người ta có thể mất sự kính trọng; giữ khoảng cách một chút lại bị nói là xa dân. Linh mục cũng có thể bị hiểu lầm, bị nói oan, bị đồn đại, đôi khi chẳng có cơ hội tự bào chữa. Trong thời đại mạng xã hội, một câu nói thiếu ngữ cảnh có thể bị cắt khỏi cả một bài giảng. Một hành động có thể bị diễn giải theo hàng chục cách. Một lỗi nhỏ có thể bị phóng đại. Tất nhiên người mục tử phải khiêm tốn nhận lỗi thật của mình. Linh mục không đứng ngoài bổn phận sửa mình. Một chức thánh không biến con người thành người không thể sai. Trái lại, người mang trách nhiệm càng lớn càng phải xét mình nghiêm túc hơn. Nhưng cũng có những điều không phải lỗi của mình mà vẫn phải mang. Có những lời mình chưa hề nói nhưng người ta tin rằng mình đã nói. Có những động cơ mình chưa từng có nhưng người khác lại gán cho mình. Khi ấy thập giá đau nhất không phải là bị chê, mà là không được hiểu bởi chính những người mình đang cố gắng phục vụ.
Nhìn Chúa Giêsu, linh mục và tu sĩ sẽ thấy đây không phải con đường xa lạ. Người đã chữa lành người bệnh, vậy mà bị nói là dựa thế quỷ vương. Người đã cho kẻ đói ăn, vậy mà có ngày đám đông la lớn: “Đóng đinh nó vào thập giá!” Người đã yêu Giuđa, rửa chân cho Giuđa, trao bánh cho Giuđa, cuối cùng lại nhận nụ hôn phản bội từ chính môn đệ của mình. Người đã trao cho Phêrô một vị trí đặc biệt, vậy mà trong sân dinh thượng tế, Phêrô ba lần nói: “Tôi không biết người ấy.” Người đã chữa lành, tha thứ, nâng dậy biết bao người, nhưng khi Người bị treo trên thập giá thì phần đông biến mất. Nếu người môn đệ một ngày nào đó phải nếm một chút hiểu lầm, một chút phản bội, một chút cô đơn vì sứ vụ, thì có lẽ đó cũng là lúc người ấy đứng gần Thầy mình hơn.
Có một cảnh Tin Mừng đặc biệt có thể soi sáng thập giá của người sống đời ơn gọi: cảnh Chúa Giêsu trong Vườn Ghếtsêmani. Đêm ấy Người mang theo Phêrô, Giacôbê và Gioan. Người thổ lộ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy” (x. Mt 26,38). Thật lạ: Con Thiên Chúa cũng muốn có người bên cạnh. Người không giả vờ mạnh mẽ. Người không giấu nỗi buồn. Người sấp mặt xuống đất cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này. Tuy nhiên, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Rồi Người trở lại và thấy các môn đệ đang ngủ. Có lẽ đây là một trong những hình ảnh gần nhất với kinh nghiệm của nhiều linh mục, tu sĩ: lúc mình cần một người thức với mình nhất thì người ấy lại đang “ngủ”; lúc mình mong được hiểu nhất thì chẳng ai hiểu; lúc mình mong được nâng đỡ nhất lại phải tự mình đi vào cầu nguyện. Chúa Giêsu đã trở lại cầu nguyện. Không phải một lần mà nhiều lần. Và sau lời cầu nguyện ấy, hoàn cảnh bên ngoài không thay đổi: Giuđa vẫn đến, quân lính vẫn bắt, thập giá vẫn chờ phía trước. Điều thay đổi chính là Người đã sẵn sàng bước vào cuộc thương khó trong sự phó thác cho Cha. Cầu nguyện không phải lúc nào cũng làm thập giá biến mất. Có khi cầu nguyện làm đôi vai đủ mạnh để tiếp tục mang thập giá.
Thập giá của đời linh mục còn nằm trong những giới hạn của chính mình. Đây có lẽ là cây thập giá khó mang nhất, vì ta không thể bỏ nó lại phía sau. Người ta có thể đổi cộng đoàn, đổi nhiệm sở, đổi công việc, nhưng không thể đổi chính mình như thay một chiếc áo. Một người có thể mang trong mình tính nóng nảy phải chiến đấu cả đời. Người khác quá nhạy cảm. Người khác dễ tự ái. Người khác gặp khó khăn trong giao tiếp. Người khác có khả năng hạn chế, sức khỏe yếu, trí nhớ không tốt, giảng không hay, tổ chức không giỏi, làm gì cũng chậm hơn người khác. Có linh mục nhìn anh em mình thành công, được nhiều người yêu mến, làm được nhiều công trình, trong khi mình cố gắng mãi mà vẫn âm thầm, vẫn ít người biết đến. Chính lúc ấy có thể xuất hiện một cám dỗ rất kín: so sánh. So sánh làm đời ơn gọi mất bình an. “Tại sao người ấy được mà tôi không được? Tại sao họ được sai đến nơi tốt còn tôi ở đây? Tại sao người ấy được bề trên tin tưởng hơn? Tại sao họ giảng có người nghe còn tôi thì không? Tại sao họ có tài mà tôi chỉ bình thường?” Nếu không tỉnh thức, người ta có thể vẫn mặc áo tu nhưng lòng đã đầy cay đắng. Thập giá trong trường hợp này chính là chấp nhận mình là mình, với những ân huệ và giới hạn Chúa đã cho, rồi trung thành sinh hoa trái trên mảnh đất của mình thay vì đứng nhìn vườn người khác.
Thập giá nữa là thập giá của sự âm thầm. Có những linh mục cả đời chẳng xây được một nhà thờ lớn, chẳng viết một cuốn sách, chẳng có một bài giảng nổi tiếng, chẳng bao giờ xuất hiện trước đám đông. Một đời chỉ có những Thánh lễ sáng sớm với vài chục người, những giờ giải tội kéo dài, những lần xức dầu lúc nửa đêm, những chuyến xe đến với bệnh nhân, những buổi dạy giáo lý, những cuộc điện thoại an ủi, những lần ngồi nghe một người đang tuyệt vọng kể chuyện đời mình. Có những nữ tu cả đời đứng trong nhà bếp, chăm người già, giặt áo cho cộng đoàn, dạy những đứa trẻ chẳng nhớ tên cô giáo năm xưa. Có những tu sĩ được sai đến những vùng chẳng ai biết đến. Không danh tiếng. Không tràng pháo tay. Không những con số để báo cáo cho đẹp. Nhưng Nước Trời đôi khi lớn lên chính từ những cuộc đời như thế. Hạt lúa khi rơi xuống đất thì biến mất khỏi mắt người ta. Nếu cứ nằm trên bàn, nó có thể được ngắm nhìn, được giữ nguyên hình dáng, nhưng chẳng sinh được gì. Chỉ khi chấp nhận bị chôn trong đất, vỏ hạt nứt ra và hạt lúa dường như “chết” đi, sự sống mới bắt đầu. Chúa Giêsu đã nói: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Có những ơn gọi cũng được sinh hoa trái như thế: chẳng ai nhìn thấy lúc hạt giống vỡ ra dưới lòng đất. Chỉ Thiên Chúa biết.
Thập giá của người linh mục còn là mang nỗi đau của người khác vào chính lòng mình. Một mục tử thật sự không thể sống hoàn toàn vô cảm. Khi nghe một người mẹ khóc vì đứa con nghiện ngập, cha mang câu chuyện ấy vào lời cầu nguyện. Khi chứng kiến một đôi vợ chồng đứng bên bờ tan vỡ, cha trăn trở. Khi nghe một người trẻ nói mình không còn muốn sống, cha thao thức. Khi đứng bên một người hấp hối, khi an táng một đứa trẻ, khi nhìn một gia đình nghèo không đủ tiền chữa bệnh, nếu trái tim linh mục còn là trái tim mục tử, những câu chuyện ấy sẽ không đơn giản biến mất khi cha đóng cửa phòng. Có những linh mục nhớ tên người chết nhiều năm sau khi gia đình họ đã nguôi ngoai. Có những tu sĩ chăm bệnh nhân đến kiệt sức vì đã cho đi quá nhiều. Người sống đời dâng hiến có thể phải học một nghệ thuật rất khó: thương người mà không để mình bị nghiền nát; đồng cảm mà không chìm xuống cùng nỗi đau; trao ban mà vẫn biết trở về với Chúa để được Người phục hồi. Nếu không, người mục tử có thể kiệt sức ngay trong điều tốt mình đang làm.
Rồi có một thập giá mà có lẽ chẳng linh mục hay tu sĩ chân thành nào muốn nghĩ đến, nhưng vẫn phải nhìn nhận: thập giá của những lần chính mình thất bại. Có lúc người mục tử làm người khác tổn thương. Có lúc sự nóng nảy khiến một lời nói đi quá xa. Có lúc sự tự ái khiến ta khép lòng. Có lúc ta làm điều đúng nhưng bằng một cách sai. Có khi đời cầu nguyện khô khan. Có khi việc mục vụ cuốn người linh mục đi đến mức bàn thờ còn đó nhưng lòng đã nguội. Có lúc người ta giảng cho người khác điều mà chính mình đang chật vật sống. “Hãy tha thứ,” nhưng trong lòng mình vẫn có người chưa tha. “Hãy tin tưởng,” nhưng mình đang lo lắng. “Hãy cầu nguyện,” nhưng chính mình đang khô khan. “Hãy phó thác,” nhưng mình đang muốn kiểm soát mọi sự. Những lúc ấy người linh mục có thể cảm thấy mình giả hình. Nhưng không hẳn. Người mục tử không giảng Lời Chúa vì mình đã sống hoàn hảo Lời ấy; người mục tử giảng vì Lời Chúa đúng, còn chính người giảng cũng phải đứng dưới Lời ấy để được xét xử và chữa lành. Bác sĩ cũng có thể mắc bệnh. Người chỉ đường cũng có thể mệt trên hành trình. Linh mục không phải là người đã đến đích rồi quay lại chỉ đường cho người khác. Linh mục cũng là một người đang đi, chỉ khác ở chỗ được trao trách nhiệm nhắc mọi người rằng con đường dẫn về Đức Kitô.
Có khi thập giá lớn nhất của người dâng hiến chính là cảm giác Chúa im lặng. Thuở đầu ơn gọi có thể đầy nhiệt huyết. Cầu nguyện dễ dàng. Thánh lễ sốt sắng. Sứ vụ mang nhiều niềm vui. Nhưng rồi năm tháng trôi qua, cảm xúc thay đổi. Có những giai đoạn cầu nguyện chẳng thấy gì. Mở Kinh Thánh mà câu chữ cứ khô. Chầu Thánh Thể mà tâm hồn trống rỗng. Cử hành Thánh lễ vẫn trang nghiêm nhưng lòng không còn cảm thấy sự ngọt ngào như xưa. Và người ta có thể hoảng: “Có phải tôi đã mất ơn gọi không? Có phải Chúa đã bỏ tôi không?” Chưa chắc. Có thể Chúa đang dẫn người ấy từ một tình yêu dựa nhiều trên cảm xúc đến một tình yêu tinh tuyền hơn. Người mẹ chăm đứa con bệnh suốt đêm không phải vì lúc ba giờ sáng bà đang cảm thấy “rất hứng thú” với việc làm mẹ. Bà làm vì yêu. Tình yêu trưởng thành không chỉ sống bằng cảm giác. Ơn gọi cũng vậy. Có những ngày linh mục dâng Thánh lễ với tâm hồn tràn đầy an ủi. Có những ngày chỉ còn sự trung thành. Và trước mặt Chúa, đôi khi một Thánh lễ được dâng trong khô khan nhưng với tất cả lòng trung thành lại là một của lễ rất đẹp.
Nhưng phải nói thật rằng không phải mọi đau khổ trong đời tu đều là “thập giá Chúa gửi”. Có những nỗi đau do con người gây ra mà chúng ta không được vội vàng thần thánh hóa. Một môi trường thiếu bác ái, sự lạm dụng quyền bính, bất công, bạo lực, những cấu trúc làm tổn thương phẩm giá con người không thể đơn giản được biện minh bằng câu: “Hãy vác thập giá.” Chúa Giêsu bảo ta vác thập giá, nhưng Người không bảo ta biến điều sai thành điều đúng. Vâng phục Kitô giáo không phải là xóa bỏ lương tâm. Khiêm nhường không có nghĩa là chấp nhận mọi sự xúc phạm phẩm giá. Tha thứ không có nghĩa là che giấu điều ác để điều ác tiếp tục. Người sống đời dâng hiến cũng có quyền được tôn trọng, được chăm sóc, được nâng đỡ, được bảo vệ khỏi những hình thức lạm dụng. Phân biệt điều gì thực sự là thập giá cần đón nhận và điều gì là bất công cần sửa đổi cũng là một phần của sự trưởng thành thiêng liêng. Chúa đã vác thập giá vì yêu, nhưng Người cũng từng lên tiếng trước sự giả hình, bảo vệ người yếu thế, chất vấn kẻ đánh mình: “Nếu tôi nói sai, hãy chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” (x. Ga 18,23). Thập giá không phải là cái cớ để sự dữ tồn tại.
Vác thập giá trong ơn gọi còn là chấp nhận những mùa khác nhau của đời dâng hiến. Có mùa xuân của nhiệt huyết, mùa hè của hoạt động, mùa thu của lặng lẽ và mùa đông của tuổi già. Người linh mục trẻ có thể từng chạy từ điểm này đến điểm khác, giảng nhiều nơi, tổ chức bao chương trình; rồi một ngày sức khỏe không cho phép nữa. Người tu sĩ từng giữ những trách nhiệm quan trọng, rồi đến lúc phải trao lại cho người trẻ. Có những người từng được nhiều người tìm đến, rồi tuổi già đến và điện thoại thưa dần. Cánh cửa phòng không còn người gõ như trước. Đây là một sự từ bỏ rất sâu. Từ bỏ không chỉ những điều xấu mà còn cả những điều tốt mình từng làm. Từ bỏ vai trò. Từ bỏ ảnh hưởng. Từ bỏ cảm giác “người ta cần tôi”. Cuối cùng người tu sĩ phải trở về với câu hỏi nền tảng: nếu một ngày tôi chẳng còn làm được gì cho Chúa nữa, tôi có tin rằng tôi vẫn có giá trị trước mặt Người không? Nếu câu trả lời là có, thì đời dâng hiến bắt đầu đi vào chiều sâu. Chúa không yêu người linh mục vì cha giảng hay. Chúa không yêu nữ tu vì chị làm được bao nhiêu công việc. Chúa không yêu tu sĩ vì người ấy hữu ích. Trước khi ta làm gì cho Chúa, ta đã là con của Người.
Chúng ta cũng đừng quên thập giá của những gia đình đã trao con mình cho Chúa. Đằng sau một linh mục thường có một người mẹ từng khóc âm thầm. Đằng sau một nữ tu có thể là một người cha đã chấp nhận đứa con gái mình yêu quý sẽ không xây dựng gia đình riêng. Có những cha mẹ vui vì con đi tu nhưng vẫn nhớ con trong những bữa cơm. Có những ngày lễ người khác sum họp đông đủ, còn đứa con của họ đang phục vụ ở nơi xa. Có khi người linh mục muốn về thăm mẹ bệnh nhưng trách nhiệm mục vụ không cho phép ở lâu. Có khi tu sĩ nhận được tin nhà có việc mà chẳng thể lập tức trở về. Ơn gọi không chỉ là hy lễ của một người. Nhiều khi cả gia đình cùng dâng. Và có lẽ vì thế, trong lời cầu nguyện cho ơn gọi, ta cũng nên nhớ đến những người cha người mẹ đã âm thầm dâng con mình cho Hội Thánh.
Có những người hỏi: “Nếu đời linh mục, tu sĩ nhiều thập giá như thế, tại sao vẫn có người đi tu?” Câu trả lời rất đơn giản: bởi vì thập giá không phải là tất cả câu chuyện. Nếu chỉ có thập giá mà không có tình yêu, người ta không thể đi lâu như vậy. Nếu chỉ có hy sinh mà không có Đức Kitô, đời tu sẽ trở thành một sự chịu đựng khắc nghiệt. Người linh mục không trung thành bốn mươi, năm mươi năm chỉ vì kỷ luật. Người tu sĩ không trao cả tuổi xuân, tuổi trung niên rồi tuổi già chỉ vì một lời hứa pháp lý. Ở tận đáy của mọi sự vẫn phải có một cuộc gặp gỡ. Một Đức Kitô nào đó đã đi vào đời người ấy. Một tiếng gọi nào đó đã từng làm trái tim rung động. Và cho dù trải qua những mùa khô hạn, ngọn lửa ấy vẫn còn một hòn than đỏ dưới lớp tro. Đôi khi chỉ cần một giờ chầu, một lần đứng trước bàn thờ, một người nghèo nói “cảm ơn cha”, một đứa trẻ nắm tay nữ tu, một hối nhân sau nhiều năm trở về với Chúa, một người hấp hối được lãnh các bí tích trong bình an… là đủ để người dâng hiến nhớ lại: à, đây là lý do mình ở đây.
Sau khi sống lại, Chúa Giêsu gặp Phêrô bên bờ hồ Tibêria. Người không nhắc lại ba lần Phêrô chối Thầy để làm ông xấu hổ. Người chỉ hỏi: “Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy không?” (Ga 21,15). Ba lần chối được chữa lành bằng ba lần tuyên xưng tình yêu. Nhưng điều đáng chú ý là sau khi Phêrô nói yêu Thầy, Chúa không bảo ông: “Vậy từ nay đời anh sẽ dễ dàng.” Trái lại, Người nói đến ngày Phêrô sẽ phải dang tay và người khác sẽ dẫn ông đến nơi ông không muốn đến. Rồi Chúa nói một câu rất quen, cũng chính là câu đã vang lên từ thuở ban đầu: “Hãy theo Thầy.” Có lẽ đó là toàn bộ bí mật của một ơn gọi. Những năm đầu: “Hãy theo Thầy.” Sau những thành công: “Hãy theo Thầy.” Sau thất bại: “Hãy theo Thầy.” Khi trẻ: “Hãy theo Thầy.” Khi già: “Hãy theo Thầy.” Khi được tung hô: “Hãy theo Thầy.” Khi bị hiểu lầm: “Hãy theo Thầy.” Khi lòng đầy ánh sáng: “Hãy theo Thầy.” Khi chẳng cảm thấy gì: “Hãy theo Thầy.” Cuối cùng, ơn gọi không phải là trung thành với một chương trình; ơn gọi là trung thành với một Người.
Điều làm cho thập giá của người linh mục và tu sĩ trở nên nguy hiểm nhất không phải là nó nặng, nhưng là người mang nó có thể bắt đầu mang một mình. Khi một linh mục thôi cầu nguyện, thập giá mục vụ sẽ mau trở thành gánh nặng. Khi tu sĩ không còn trở về với Chúa, sự vâng phục có thể trở thành cay đắng, đời cộng đoàn trở thành nhà tù, khiết tịnh trở thành cô đơn, khó nghèo trở thành thiếu thốn, công việc trở thành lao dịch. Nhưng khi mọi lời khấn được đặt lại trong tương quan với Đức Kitô, ý nghĩa thay đổi. Khiết tịnh không chỉ là “không lập gia đình” mà là để trái tim rộng ra cho nhiều người. Khó nghèo không chỉ là “không sở hữu” mà là học để chính Chúa trở thành kho tàng. Vâng phục không chỉ là “làm theo lệnh” mà là tập thưa với Chúa: “Xin ý Cha được thể hiện.” Chức linh mục không chỉ là một công việc tôn giáo mà là để đời mình dần dần mang hình dáng của câu Chúa nói trong Bữa Tiệc Ly: “Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.”
Có lẽ câu “Này là Mình Thầy” là câu đáng sợ nhất và đẹp nhất của đời linh mục. Mỗi ngày linh mục đọc những lời ấy trên bánh. Nhưng từ từ, nếu sống thật ơn gọi, ngài phải học đọc những lời ấy trên chính đời mình: đây là thời gian của tôi, được trao cho anh em; đây là sức khỏe của tôi, được trao cho anh em; đây là tuổi trẻ của tôi, được trao cho anh em; đây là khả năng của tôi, được trao cho anh em; đây là những năm tháng còn lại, được trao cho anh em. Thánh Thể không kết thúc khi Thánh lễ kết thúc. Linh mục bước từ bàn thờ vào cuộc đời để chính đời mình trở thành phần tiếp nối của hy lễ ấy. Tu sĩ cũng vậy. Lời khấn không chỉ được đọc một lần trước bàn thờ, nhưng được đọc lại bằng cuộc sống mỗi sáng thức dậy. “Con xin dâng.” Lúc khỏe: con xin dâng. Lúc bệnh: con xin dâng. Lúc được hiểu: con xin dâng. Lúc bị hiểu lầm: con xin dâng. Lúc sứ vụ thành công: con xin dâng. Lúc chẳng thấy kết quả: con xin dâng. Và có lẽ đến ngày cuối đời, khi chẳng còn gì để trao ngoài hơi thở cuối cùng, lời khấn đạt tới sự trọn vẹn sâu xa nhất: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Dĩ nhiên không ai có thể mang nổi thập giá ấy nếu Hội Thánh chỉ đứng nhìn. Linh mục cần lời cầu nguyện của giáo dân. Tu sĩ cần sự cảm thông của cộng đoàn. Đừng lý tưởng hóa họ đến mức không cho phép họ được yếu. Nhưng cũng đừng soi mói họ đến mức quên rằng họ là con người. Có khi người ta muốn linh mục phải luôn vui, luôn khỏe, luôn có mặt, luôn sẵn sàng, luôn trả lời điện thoại, luôn nói đúng câu mình muốn nghe. Nhưng linh mục cũng cần nghỉ. Cũng có thể đau. Cũng có ngày buồn. Cũng cần một người bạn. Cũng cần được hỏi han mà không có mục đích xin xỏ điều gì. Nếu thấy một linh mục mệt, thay vì hỏi “sao cha không nhiệt tình như trước?”, có lẽ ta có thể nói: “Con cầu nguyện cho cha.” Nếu thấy một tu sĩ tuổi già, đừng chỉ nhớ chị từng làm được gì; hãy nhớ cả một đời chị đã trao cho Chúa. Một lời biết ơn đôi khi nhẹ lắm đối với người nói, nhưng có thể nâng được một góc thập giá của người nghe.
Và chính các linh mục, tu sĩ cũng phải học cho phép người khác giúp mình. Có một thứ kiêu ngạo tinh vi là tưởng rằng người mục tử phải luôn mạnh. Không. Chúa Giêsu cũng đã để ông Simon Kyrênê vác đỡ thập giá. Nếu chính Đức Giêsu chấp nhận có một người vác đỡ, tại sao người môn đệ lại nghĩ mình phải tự làm mọi chuyện? Có lúc cần nói với anh em: “Tôi đang mệt.” Có lúc cần tìm người đồng hành thiêng liêng. Có lúc cần nghỉ ngơi. Có lúc cần sự trợ giúp chuyên môn. Có lúc cần thừa nhận mình không ổn. Điều đó không làm ơn gọi kém thánh thiện. Trái lại, khiêm tốn đón nhận sự giúp đỡ cũng là một hình thức vác thập giá. Không ai được cứu một mình. Và không ai nên sống ơn gọi một mình.
Nhìn lên Thánh Giá, người linh mục và tu sĩ cũng học được rằng kết quả cuối cùng không nằm trong tay mình. Chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, nếu chỉ dùng tiêu chuẩn của thế gian mà đánh giá, sứ vụ của Đức Giêsu dường như thất bại. Mười hai môn đệ: một người phản bội, một người chối, phần còn lại bỏ chạy. Đám đông từng theo Người nay biến mất. Người bị treo giữa hai tử tội. Không một công trình đồ sộ. Không một tổ chức hùng mạnh. Không một chiến thắng chính trị. Chỉ có một thân thể bị đóng đinh. Nhưng ngay ở nơi con người tưởng là thất bại ấy, công trình cứu độ đang được hoàn tất. Điều này là nguồn an ủi lớn cho người mục tử. Có những hạt giống ta gieo mà không bao giờ được nhìn thấy ngày chúng nảy mầm. Có một người nghe bài giảng của cha hôm nay, hai mươi năm sau mới hoán cải. Có một đứa trẻ được một nữ tu yêu thương, nhiều thập niên sau mới hiểu giá trị của tình thương ấy. Chúng ta không được gọi để nhìn thấy mọi kết quả. Chúng ta được gọi để trung thành gieo hạt. Thiên Chúa lo phần mùa gặt.
Một đời ơn gọi cuối cùng không được đo bằng số giáo xứ đã coi sóc, số công trình đã xây, số lớp đã dạy, số người theo dõi, số bài giảng được chia sẻ hay số chức vụ từng nắm giữ. Tất cả có thể tốt, nhưng rồi cũng qua. Câu hỏi còn lại đơn giản hơn nhiều: người này có yêu không? Có trung thành không? Có để đời mình trở thành một tấm bánh được bẻ ra không? Có làm cho người khác gần Chúa hơn không? Có trở nên hiền lành hơn sau nhiều năm theo Chúa không? Có biết xin lỗi hơn không? Có bớt cái tôi hơn không? Có thương người nghèo hơn không? Có biết cúi xuống hơn không? Nếu sau năm mươi năm linh mục mà chiếc áo vẫn đẹp nhưng trái tim cứng hơn, thì cần phải tự hỏi. Nếu sau năm mươi năm tu mà thuộc mọi kinh nhưng không còn thương nổi người sống bên cạnh mình, thì cũng cần phải tự hỏi. Thập giá chỉ làm người ta nên thánh khi được mang trong tình yêu. Nếu không, đau khổ có thể làm người ta cay đắng.
Vì thế, thập giá của linh mục và tu sĩ không phải dấu hiệu cho thấy Chúa đã quên họ. Có khi chính thập giá là nơi Chúa đang đưa họ gần trái tim Người nhất. Nhưng cần nhớ: Kitô giáo không dừng ở Thứ Sáu Tuần Thánh. Sau đêm tối là bình minh Phục Sinh. Sau hạt lúa chết đi là mùa gặt. Sau lời “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” là lời “Bình an cho anh em.” Một linh mục trung thành đi qua thập giá sẽ dần trở thành người biết cảm thông với những ai đang đau khổ. Một tu sĩ đã đi qua cô đơn sẽ biết ngồi im bên người cô độc mà không cần nói nhiều. Một người đã từng bị hiểu lầm sẽ bớt nhanh chóng kết án người khác. Một người từng thất bại sẽ biết nâng người vấp ngã bằng lòng thương xót. Nếu được đón nhận trong ân sủng, những vết thương của đời ơn gọi có thể trở thành những cửa sổ qua đó ánh sáng của Chúa chiếu vào đời người khác.
Có lẽ linh mục và tu sĩ không cần cầu xin một đời không có thập giá. Một lời cầu thực tế hơn là: “Lạy Chúa, xin đừng để con mang thập giá mà không có Chúa. Xin đừng để đau khổ làm con cay đắng. Xin đừng để những hiểu lầm làm con mất tình yêu. Xin đừng để những thất bại làm con mất lòng tin. Xin đừng để tuổi tác làm con tiếc nuối. Xin đừng để thành công làm con kiêu ngạo. Xin cho con biết lúc nào phải bước tới, lúc nào phải dừng lại; lúc nào phải nói, lúc nào phải im; lúc nào phải chiến đấu, lúc nào phải phó thác. Và khi thập giá quá nặng, xin cho con đủ khiêm tốn để cho một Simon Kyrênê bước vào đời con.”
Một ngày nào đó, chiếc áo dòng sẽ cũ. Một ngày nào đó, bàn tay linh mục từng nâng chén thánh sẽ run. Một ngày nào đó, giọng từng giảng mạnh mẽ sẽ yếu dần. Một ngày nào đó, người khác sẽ làm những việc ta từng làm. Tên tuổi rồi cũng mờ đi. Có thể chẳng còn mấy ai nhớ một linh mục từng phục vụ ở giáo xứ nọ bốn mươi năm trước, hay một nữ tu từng âm thầm chăm sóc bệnh nhân trong căn phòng nhỏ. Nhưng trước mặt Thiên Chúa, chẳng giọt nước mắt nào vì tình yêu bị mất. Chẳng lời cầu nguyện nào cho đoàn chiên bị quên. Chẳng bước chân nào đi thăm người nghèo vô nghĩa. Chẳng đêm thức nào bên người hấp hối biến mất. Chẳng sự từ bỏ nào trong tình yêu là phí phạm. Tất cả được gìn giữ trong trái tim Thiên Chúa.
Và khi cuộc hành trình kết thúc, có lẽ người linh mục, người tu sĩ sẽ hiểu rằng cây thập giá mình từng sợ đã trở thành cây cầu dẫn mình về Nhà. Những vết thương từng khiến mình khóc đã dạy mình yêu. Những người từng làm mình đau đã dạy mình tha thứ. Những lần thất bại đã dạy mình khiêm tốn. Những lúc cô độc đã dạy mình tìm Chúa. Những bài sai bất ngờ đã dạy mình buông tay. Những năm tháng âm thầm đã dạy mình rằng chỉ cần Chúa biết là đủ. Và mọi sự rồi thu lại trong lời mà người môn đệ đã nghe từ thuở ban đầu: “Hãy theo Thầy.”
Theo Thầy khi đường đầy hoa. Theo Thầy khi đường đầy đá. Theo Thầy khi người ta vỗ tay. Theo Thầy khi người ta quay lưng. Theo Thầy khi còn trẻ và mạnh. Theo Thầy khi tóc bạc và chân chậm. Theo Thầy khi thấy rõ Người. Theo Thầy cả trong những đêm chỉ còn biết tin Người vẫn ở đó. Vác thập giá trong ơn gọi không có nghĩa là yêu đau khổ. Là yêu Đức Kitô đến mức không bỏ Người khi con đường đi qua đau khổ. Và đó có lẽ là vẻ đẹp sâu nhất của đời dâng hiến: không phải một cuộc đời không có nước mắt, nhưng là một cuộc đời mà giữa nước mắt vẫn có thể nói: “Lạy Chúa, con vẫn thuộc về Chúa.”
Xin cho những ai đã bước vào đời linh mục và đời thánh hiến đừng bao giờ quên tiếng gọi đầu tiên. Khi mệt, xin nhớ Người đã gọi. Khi cô đơn, xin nhớ Người đang ở đó. Khi thất bại, xin nhớ Phêrô đã từng ngã rồi vẫn trở thành đá tảng. Khi bị hiểu lầm, xin nhìn lên Đấng vô tội đã bị kết án. Khi phải từ bỏ, xin nhìn hạt lúa rơi xuống lòng đất. Khi phải trao chính mình, xin nhìn tấm bánh trên bàn thờ. Và khi thập giá trở nên quá nặng, xin nhìn Đức Giêsu đang đi phía trước.
Bởi rốt cuộc, ơn gọi không được cứu bằng tài năng. Không được giữ bằng danh tiếng. Không tồn tại nhờ những cảm xúc ban đầu. Ơn gọi được giữ bằng ân sủng và một tiếng “xin vâng” được lặp lại mỗi ngày. Có ngày tiếng “xin vâng” ấy vang rất mạnh. Có ngày chỉ là một tiếng thở dài. Có ngày được nói giữa nhà nguyện tràn ánh sáng. Có ngày được nói trong căn phòng tối với đôi mắt ướt. Nhưng nếu mỗi sáng người môn đệ vẫn còn có thể thưa: “Lạy Chúa, hôm nay con lại trao đời con cho Chúa,” thì thập giá vẫn đang được biến đổi thành tình yêu, hy lễ vẫn đang trở thành Thánh Thể, và con đường vẫn đang âm thầm dẫn về Phục Sinh.
Đời linh mục và tu sĩ vì thế không phải là câu chuyện của những con người phi thường. Đó là câu chuyện của những con người rất bình thường được một Thiên Chúa phi thường yêu thương, kêu gọi và kiên nhẫn dẫn đi. Họ cũng yếu, cũng mệt, cũng có những ngày muốn dừng. Nhưng vẻ đẹp của ơn gọi nằm ở chỗ giữa hàng ngàn lý do để buông, người ta vẫn tìm được một lý do để ở lại: Đức Kitô. Một Đức Kitô đã yêu họ trước. Một Đức Kitô đã không xuống khỏi thập giá để cứu chính mình nhưng ở lại vì yêu. Một Đức Kitô mỗi ngày vẫn hỏi rất khẽ: “Con có yêu Thầy không?” Và người môn đệ, sau tất cả những yếu đuối, có lẽ chẳng còn dám nói nhiều, chỉ có thể thưa như Phêrô bên bờ hồ năm ấy: “Thưa Thầy, Thầy biết mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy.”
Nếu còn câu trả lời ấy, ơn gọi vẫn còn hy vọng.
Nếu còn tình yêu ấy, thập giá vẫn có thể mang.
Và nếu vẫn còn Đức Kitô đi phía trước, chẳng con đường nào của đời dâng hiến là con đường vô nghĩa.
Lm. Anmai, CSsR.

KHI THẬP GIÁ QUÁ NẶNG – LÀM SAO KHÔNG BỎ CUỘC?
Có những ngày người ta nói về thập giá rất dễ. Khi đời còn bình yên, sức khỏe còn đó, gia đình chưa có chuyện, túi tiền chưa cạn, người thân chưa quay lưng, những dự tính vẫn còn nguyên vẹn, ta có thể nói rất hay rằng: “Kitô hữu phải biết vác thập giá”, “đau khổ có giá trị cứu độ”, “hãy tín thác vào Chúa”. Nhưng rồi có một ngày thập giá không còn là một đề tài để suy niệm nữa. Nó bước thẳng vào nhà. Nó nằm trên giường bệnh. Nó hiện ra trong một kết quả xét nghiệm. Nó nằm trong ánh mắt lạnh nhạt của người từng thề sống chết bên ta. Nó nằm trong đứa con khiến cha mẹ khóc hết nước mắt. Nó nằm trong một món nợ không biết lấy gì trả. Nó nằm trong tuổi già cô quạnh. Nó nằm trong một cuộc hôn nhân đã kiệt sức. Nó nằm trong những đêm một người phải nuốt nước mắt vào trong vì không muốn ai biết mình đang đau. Và khi ấy, câu hỏi không còn là “thập giá có ý nghĩa gì?” nhưng là một câu hỏi rất thật, rất người, có khi bật ra giữa nước mắt: “Lạy Chúa, con còn chịu được bao lâu nữa?”
Thật ra, không phải ai đang vác thập giá cũng mạnh mẽ. Có người vừa đi vừa khóc. Có người đi được vài bước rồi ngồi xuống. Có người vẫn đến nhà thờ nhưng lòng đã rỗng. Có người vẫn lần chuỗi nhưng từng hạt kinh nặng như đá. Có người quỳ trước Thánh Thể mà không tìm được một lời để nói. Có người ngoài miệng vẫn cười với mọi người nhưng đêm xuống lại hỏi Chúa: “Sao Chúa để con khổ đến thế?” Chúng ta thường nhìn thấy khuôn mặt của nhau, nhưng ít khi nhìn thấy cây thập giá mà người bên cạnh đang âm thầm vác. Có những thập giá nhìn thấy được, nhưng cũng có những thập giá không có tên, không có hình dáng, chẳng ai biết, chẳng ai hiểu, chỉ người mang nó mới biết nó nặng đến mức nào. Có những vết thương kể ra được. Có những vết thương kể ra chỉ làm đau thêm. Có những nỗi khổ người ta có thể khóc trước mặt bạn bè. Có những nỗi khổ chỉ dám khóc trước mặt Chúa. Và cũng có những lúc người ta chẳng còn khóc nổi nữa.
Điều đầu tiên cần nhớ khi thập giá trở nên quá nặng là: Chúa Giêsu không bao giờ đòi chúng ta phải giả vờ rằng thập giá nhẹ. Tin Mừng không kể rằng Chúa Giêsu ôm lấy cây thập giá rồi mỉm cười như thể chẳng có chuyện gì xảy ra. Tin Mừng cho chúng ta thấy một Đức Giêsu thực sự đau, thực sự kiệt sức, thực sự đổ máu, thực sự ngã xuống, thực sự cần người khác giúp đỡ. Trước khi bước lên Canvê, tại vườn Ghếtsêmani, chính Người đã thốt lên: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mt 26,38). Người sấp mặt xuống đất cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39). Tôi rất thích dừng lại ở lời cầu nguyện ấy, bởi vì nó phá tan một quan niệm sai lầm rằng người có đức tin thì không được sợ, không được buồn, không được xin Chúa cất đau khổ đi. Chúa Giêsu đã xin. Người không yêu đau khổ vì đau khổ. Người không tìm thập giá chỉ để chịu đau. Người run sợ trước chén đắng, nhưng giữa nỗi sợ ấy Người vẫn đặt mình vào tay Cha. Đức tin không có nghĩa là ta không được nói: “Con đau quá.” Đức tin là sau khi nói “Con đau quá”, ta còn có thể nói thêm: “Nhưng lạy Chúa, xin đừng bỏ con.”
Đôi khi ta cứ tưởng một người thánh thiện là người không bao giờ than. Không phải vậy. Thánh Vịnh đầy những tiếng than. Ông Gióp đã than. Ngôn sứ Giêrêmia đã than. Chúa Giêsu cũng đã khóc. Trên thập giá, Người còn kêu lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34). Một lời cầu nguyện khủng khiếp đến mức nếu chính Chúa Giêsu không nói, có lẽ chúng ta chẳng dám nói. Thế nên khi đau khổ quá sức, đừng sợ nói thật với Chúa. Đừng nghĩ phải lựa những câu đẹp mới được cầu nguyện. Có khi lời cầu nguyện thật nhất chỉ còn là: “Chúa ơi, con mệt.” Có khi chỉ là: “Chúa ơi, cứu con.” Có khi chỉ còn một tiếng khóc. Có khi không còn một tiếng nào, chỉ ngồi trước Chúa mà nước mắt chảy. Chúa hiểu tất cả. Chúa không cần câu chữ hoa mỹ. Người cần một trái tim không đóng cửa với Người.
Có một đoạn Tin Mừng có lẽ là hình ảnh đẹp nhất để hiểu phải làm gì khi thập giá quá nặng. Trên đường lên đồi Sọ, Chúa Giêsu đã kiệt sức. Quân lính bắt một người từ miền quê đi tới, tên là Simon thành Kyrênê, “đặt thập giá lên vai cho ông vác theo sau Đức Giêsu” (Lc 23,26). Hãy để ý: Con Thiên Chúa đã chấp nhận cho một con người giúp mình vác thập giá. Nếu Chúa Giêsu đã chấp nhận bàn tay của Simon, tại sao chúng ta lại nghĩ mình phải mạnh đến mức chẳng cần ai? Có người đau khổ nhưng không chịu nói với ai vì sợ phiền. Có người gồng mình đến kiệt quệ vì nghĩ rằng mình phải tự giải quyết tất cả. Có người đóng cửa trái tim lại vì đã từng bị tổn thương. Nhưng đôi khi chính sự kiêu hãnh âm thầm ấy làm cây thập giá nặng thêm. Thiên Chúa không phải lúc nào cũng lấy thập giá khỏi vai ta. Có khi Người gửi đến một Simon. Simon có thể là người vợ ngồi bên chồng những tháng ngày bệnh tật. Có thể là người chồng kiên nhẫn với người vợ đang suy sụp. Có thể là một đứa con trở về đúng lúc cha mẹ già yếu. Có thể là một người bạn gọi điện vào một buổi chiều rất buồn. Có thể là một linh mục ngồi lắng nghe mà không phán xét. Có thể là bác sĩ, y tá, một người hàng xóm, một cộng đoàn, một người ta chẳng bao giờ nghĩ sẽ giúp mình. Có những Simon chúng ta đã gặp mà không nhận ra rằng họ được Thiên Chúa gửi đến.
Và ngược lại, cũng có khi ta đang là Simon cho một người nào đó. Đừng nghĩ mình phải làm điều gì lớn lao. Simon không tháo đinh cho Chúa, không ngăn được án tử, không thay đổi được con đường dẫn lên Golgotha. Ông chỉ giúp Chúa mang cây gỗ thêm một đoạn. Nhưng đoạn đường ấy chắc chắn đã nhẹ hơn. Đời người cũng vậy. Có những nỗi đau chúng ta không thể giải quyết cho nhau. Ta không thể làm người chết sống lại. Ta không thể chữa mọi bệnh. Ta không thể sửa chữa tức khắc một cuộc hôn nhân đã đầy thương tích. Ta không thể trả hết nợ cho người khác. Ta cũng chẳng thể lấy nỗi cô đơn ra khỏi lòng họ chỉ bằng vài câu an ủi. Nhưng ta có thể ngồi bên họ. Ta có thể nghe. Ta có thể nấu một bữa cơm. Ta có thể đưa họ đi bệnh viện. Ta có thể nắm lấy một bàn tay. Ta có thể nói: “Tôi ở đây.” Đôi khi một con người không cần ai giải quyết cuộc đời mình. Họ chỉ cần biết rằng họ không phải đi qua đoạn đường này một mình.
Khi thập giá quá nặng, xin đừng nhìn cả quãng đường. Hãy chỉ đi một bước hôm nay. Có những lúc chúng ta suy sụp không phải chỉ vì nỗi đau của hôm nay, nhưng vì đem cả ngày mai, tháng sau, năm tới chất lên vai mình. Người bệnh nghĩ: “Nếu bệnh này kéo dài mười năm thì sao?” Người đang nợ nghĩ: “Cả đời này biết bao giờ mới trả hết?” Người có đứa con hư nghĩ: “Tương lai nó rồi sẽ ra sao?” Người vừa mất người thân nghĩ: “Tôi phải sống những năm còn lại thế nào?” Những câu hỏi ấy có thật, nhưng ta không cần sống mười năm trong một ngày. Chúa Giêsu dạy: “Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6,34). Ơn Chúa được ban cho ngày hôm nay. Ngày mai sẽ có ơn của ngày mai. Có những người đã đi qua những đoạn đời mà nếu lúc đầu họ nhìn thấy toàn bộ con đường, có lẽ họ đã gục. Nhưng họ đã sống từng ngày. Sáng thức dậy, làm điều phải làm. Chiều đến, cố gắng thêm một chút. Tối về đặt đầu xuống và nói: “Lạy Chúa, hôm nay con đã đi hết sức rồi. Phần còn lại con trao cho Chúa.” Ngày mai lại đứng lên. Cuộc đời có những lúc chỉ cần như thế.
Đừng bao giờ khinh thường một bước nhỏ. Người kiệt sức không cần chạy. Chỉ cần đừng quay lưng lại với Chúa. Có hôm cầu nguyện được một giờ. Có hôm chỉ đọc nổi một Kinh Lạy Cha. Có hôm dự lễ với lòng sốt sắng. Có hôm ngồi trong nhà thờ mà đầu óc chẳng tập trung được câu nào. Có hôm tha thứ được. Có hôm chỉ cố không nói một lời làm tổn thương người khác. Có hôm lòng đầy hy vọng. Có hôm chỉ đủ sức nói: “Lạy Chúa, xin giữ con đừng bỏ cuộc hôm nay.” Một lời cầu nguyện như thế đã quý lắm rồi. Chúa không đo tình yêu của chúng ta bằng cảm xúc. Người nhìn sự trung thành. Một người tiếp tục bước khi chẳng còn cảm thấy gì có thể đang yêu Chúa sâu hơn rất nhiều người cầu nguyện trong những ngày đầy an ủi.
Nhưng một điều cũng cần nói thật: có những cây thập giá do chính ta tạo nên, và có những “thập giá” Chúa không hề yêu cầu ta phải ôm. Một người cứ sống trong nghiện ngập rồi gọi hậu quả là thập giá; một người nóng giận làm tan nát gia đình rồi bảo đó là Chúa thử thách; một người cố chấp không chịu thay đổi rồi nói rằng mình đang chịu khổ vì đạo; như thế không đúng. Vác thập giá không có nghĩa là dung dưỡng điều sai. Cũng không có nghĩa là một người phải cam chịu mọi hình thức bạo hành, xúc phạm, bóc lột hay hủy hoại nhân phẩm mà không tìm sự trợ giúp thích hợp. Có lúc trung thành với Chúa chính là đủ can đảm bước ra khỏi điều ác, tìm người giúp đỡ, đặt giới hạn, chữa trị, xin tư vấn, thú nhận sự thật và bắt đầu lại. Chúng ta phải phân biệt giữa thập giá cần ôm và gánh nặng cần buông; giữa đau khổ không thể tránh và đau khổ do tội lỗi gây ra mà ta có trách nhiệm thay đổi.
Thập giá Kitô giáo không phải là yêu khổ đau. Kitô giáo yêu Đấng đang ở trên thập giá. Hai điều rất khác nhau. Nếu chỉ có đau khổ mà không có Đức Kitô, thập giá dễ trở thành tuyệt vọng. Nhưng khi Đức Kitô bước vào đau khổ, đau khổ không còn là căn phòng khóa kín. Nó có một cánh cửa. Cánh cửa ấy dẫn đến Phục Sinh. Vì thế người Kitô hữu không nói rằng đau khổ là tốt. Ta nói rằng Thiên Chúa có thể làm nảy sinh điều tốt ngay giữa đau khổ. Ta không nói cái chết là đẹp. Ta nói rằng Đức Kitô đã đi xuyên qua cái chết và mở nó về phía sự sống. Ta không nói nước mắt là điều đáng tìm kiếm. Ta nói rằng không một giọt nước mắt nào rơi xuống trong tình yêu mà Thiên Chúa lại không biết.
Có người hỏi: “Tại sao Chúa không cất thập giá khỏi tôi?” Tôi không biết trả lời tất cả. Và có lẽ không một con người nào trên đời có thể giải thích hết mầu nhiệm đau khổ. Có những lời giải thích nghe rất đúng khi đứng ngoài cuộc nhưng lại trở nên tàn nhẫn khi nói với người đang đau. Đứng trước một người vừa mất con, đừng vội giảng rằng “Chúa có chương trình”. Đứng trước một người đang hấp hối, đừng vội nói rằng “Chúa thử thách để tăng công phúc”. Đứng trước một người bị phản bội, đừng mau chóng bảo họ “phải tha thứ ngay”. Có những lúc thần học đẹp nhất là im lặng ngồi bên cạnh. Chúa Giêsu trước mồ Ladarô đã khóc. Người biết chỉ ít phút nữa mình sẽ gọi Ladarô ra khỏi mồ, vậy mà Người vẫn khóc với những người đang khóc. Điều ấy cho ta thấy trái tim Thiên Chúa: Người không đứng bên ngoài đau khổ để đưa ra một bài giải thích. Người bước vào đau khổ và khóc với con người.
Có lẽ câu trả lời lớn nhất của Kitô giáo trước đau khổ không phải là một lý thuyết, mà là một con người bị đóng đinh. Khi chúng ta hỏi: “Thiên Chúa ở đâu khi tôi đau?”, hãy nhìn lên thập giá. Người ở đó. Không phải một Thiên Chúa xa xôi ngồi trên trời quan sát con người vật lộn dưới đất, nhưng một Thiên Chúa đã biết thế nào là bị phản bội, bị hiểu lầm, bị vu khống, bị bỏ rơi, bị đánh đòn, bị đóng đinh và chết. Người đã nếm nỗi đau của thân xác lẫn nỗi đau của tâm hồn. Vì thế, khi một người nói: “Không ai hiểu tôi”, vẫn còn một Đấng có thể nói: “Ta hiểu.”
Nhưng “Chúa hiểu” không có nghĩa là Chúa luôn lập tức thay đổi hoàn cảnh. Có những lời cầu xin Chúa đáp ngay. Có những lời cầu xin phải chờ rất lâu. Có những lời cầu xin được đáp theo một cách khác hoàn toàn điều ta mong muốn. Thánh Phaolô từng nói về “một cái dằm đâm vào thân xác” và ba lần xin Chúa lấy nó đi. Chúa không lấy đi, nhưng nói với ông: “Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cr 12,9). Chúng ta thường xin Chúa đổi hoàn cảnh. Đôi khi Chúa đổi. Đôi khi Người không đổi hoàn cảnh ngay mà đổi chính chúng ta trong hoàn cảnh đó. Ta xin khỏi bão, Người ban sức đi qua bão. Ta xin khỏi khóc, Người cho ta một bờ vai. Ta xin con đường bằng phẳng, Người ban đôi chân khỏe hơn. Ta xin hiểu tại sao, Người không trả lời tại sao mà chỉ nói: “Con cứ đi với Ta.”
Một trong những cám dỗ nguy hiểm nhất khi thập giá nặng là nghĩ rằng Chúa đã bỏ mình. Khi cuộc đời liên tục xảy ra những điều trái ý, lòng dễ tự hỏi: “Nếu Chúa thương tôi, tại sao Người để vậy?” Nhưng tình yêu của Chúa không được đo bằng việc hôm nay ta có gặp khó khăn hay không. Nếu đau khổ là dấu hiệu Chúa không yêu thì không ai được Chúa Cha yêu bằng chính Đức Giêsu, vậy mà Con Một của Cha lại đi qua Golgotha. Có những khi ta cảm thấy Chúa rất gần. Có những khi ta chẳng cảm thấy gì. Nhưng sự hiện diện của Chúa không phụ thuộc vào cảm giác của ta. Mặt trời vẫn ở đó khi mây che kín. Đức tin trưởng thành không phải lúc nào cũng là thấy Chúa, mà đôi khi là vẫn bước tiếp dù không thấy Người.
Phêrô có một kinh nghiệm rất đẹp. Khi thấy Chúa Giêsu đi trên mặt biển, ông bước khỏi thuyền để đi đến với Người. Bao lâu mắt ông nhìn Chúa, ông đi được. Nhưng khi nhìn gió mạnh, ông hoảng sợ và bắt đầu chìm. Phêrô kêu: “Lạy Ngài, xin cứu con!” Và Tin Mừng nói: “Đức Giêsu liền đưa tay nắm lấy ông” (Mt 14,30-31). Tôi rất thích chữ “liền”. Phêrô chưa kịp cầu nguyện dài. Ông không nói một bài thần học. Ông chỉ kêu cứu. Và Chúa nắm tay. Những lúc thập giá nặng cũng vậy. Ta sẽ chìm nếu chỉ nhìn sức mình. Ta sẽ hoảng nếu cứ nhìn mãi vào sóng gió. Hãy tập nhìn lại Chúa. Không phải để sóng biến mất tức thì, nhưng để biết rằng giữa sóng có một bàn tay.
Có những lúc không bỏ cuộc đơn giản là đừng quyết định điều lớn lao khi đang quá đau. Khi tâm hồn kiệt sức, người ta dễ muốn kết thúc mọi thứ, rời bỏ mọi người, phá bỏ một tương quan, buông một ơn gọi, bỏ một trách nhiệm, đóng sập tất cả những cánh cửa. Nhưng một quyết định được đưa ra trong một đêm tuyệt vọng chưa chắc là điều ta muốn khi trời sáng. Những ngày tối tăm, việc cần làm không phải lúc nào cũng là tìm ra đáp án cho cả cuộc đời. Đôi khi chỉ là ăn một bữa cơm, ngủ một giấc, gọi cho người đáng tin, đi gặp người có khả năng giúp đỡ, cầu nguyện một chút, rồi chờ lòng lắng xuống. Đừng bắt một trái tim đang chảy máu phải lập tức giải quyết tương lai.
Người tín hữu cũng phải học khiêm tốn tìm sự giúp đỡ chuyên môn khi cần. Đức tin và những trợ giúp con người không chống nhau. Người bệnh đến bác sĩ không có nghĩa là thiếu đức tin. Người khủng hoảng tìm người có chuyên môn đồng hành không phải là yếu đuối. Người gặp bế tắc trong gia đình tìm một người khôn ngoan để tham vấn không phải là thất bại. Chúa chữa lành bằng nhiều con đường. Có khi qua Bí tích. Có khi qua Lời Chúa. Có khi qua một viên thuốc. Có khi qua một ca phẫu thuật. Có khi qua một cuộc trò chuyện. Có khi qua một người biết lắng nghe. Ân sủng không phá bỏ tự nhiên; ân sủng chữa lành và nâng tự nhiên lên.
Khi thập giá nặng, hãy nhớ lại những lần trước Chúa đã đưa mình qua. Con người có một nhược điểm: ta nhớ vết thương rất lâu nhưng hay quên ân huệ. Mỗi lần gặp biến cố mới, ta tưởng lần này chắc mình không qua nổi. Nhưng hãy quay lại nhìn: có những ngày ta từng nghĩ mình sẽ chết vì đau, vậy mà hôm nay vẫn còn đây. Có những chuyện từng tưởng là tận thế, rồi cũng trôi qua. Có những cánh cửa đóng lại khiến ta khóc, sau này mới biết nếu cánh cửa ấy không đóng, ta đã chẳng gặp được một con đường khác. Có những người bỏ ta đi và ta tưởng đời mình hết, nhưng năm tháng dạy rằng Chúa vẫn còn rất nhiều người khác. Có những lời cầu nguyện tưởng không được nhận, sau nhiều năm mới thấy Chúa trả lời theo cách khôn ngoan hơn điều ta xin.
Trong Cựu Ước, dân Israel thường được mời gọi: “Hãy nhớ.” Nhớ bàn tay Chúa đã dẫn ra khỏi Ai Cập. Nhớ biển Đỏ đã mở. Nhớ manna trong sa mạc. Nhớ nước từ tảng đá. Đức tin sống rất nhiều nhờ ký ức. Người đang trong bóng tối cần nhớ đã từng có ánh sáng. Người hôm nay không cảm thấy Chúa cần nhớ những ngày Chúa từng rất gần. Và đôi khi ta phải viết ra những ơn lành ấy để những ngày u tối còn có cái mà đọc.
Một điều nữa rất quan trọng: khi thập giá nặng, đừng cô lập mình. Ma quỷ rất thích sự cô độc. Khi đau, người ta thường thu mình, không muốn nói với ai, bỏ cộng đoàn, bỏ lễ, bỏ cầu nguyện, tránh những người yêu thương mình. Có thể ta cần thinh lặng một thời gian, nhưng đừng biến thinh lặng thành một căn phòng khóa kín. Cành cây tách khỏi thân cây rất dễ khô. Than hồng lấy khỏi bếp chẳng bao lâu sẽ tắt. Có những lúc đức tin của ta quá yếu, ta phải nhờ đức tin của cộng đoàn mang mình đi. Trong Tin Mừng có người bại liệt không thể tự đến với Chúa. Bốn người bạn đã khiêng ông đến, thậm chí dỡ mái nhà để thả ông xuống trước mặt Đức Giêsu. Tin Mừng nói rằng Đức Giêsu “thấy họ có lòng tin” (Mc 2,5). Đẹp làm sao: có lúc ta không đủ sức tin, nhưng người khác có thể tin thay ta một đoạn đường.
Nếu hôm nay ai đó đang quá mệt, xin đừng xấu hổ vì mình mệt. Mệt không phải là tội. Khóc không phải là mất đức tin. Ngã không có nghĩa là thất bại. Chính Chúa Giêsu trên đường Canvê đã cần Simon. Điều quan trọng không phải là chưa bao giờ ngã, nhưng là sau mỗi lần ngã còn để Chúa nâng mình lên. Có người tưởng thánh thiện là không có vết thương. Không. Các thánh là những người mang vết thương đến tận cùng nhưng không để vết thương tách mình khỏi Thiên Chúa.
Thập giá cũng có một khả năng lạ lùng: nó bóc hết những gì giả tạo trong đời ta. Khi mọi chuyện thuận lợi, ta tưởng mình mạnh. Khi mất đi vài thứ, ta mới biết chỗ dựa thật của mình ở đâu. Khi được người khác khen, ta thấy mình có giá trị. Khi bị quên lãng, ta phải học rằng giá trị của mình không nằm ở tiếng vỗ tay. Khi tiền còn, ta tưởng an toàn nằm ở tài khoản. Khi tiền mất, ta mới hiểu có những thứ tiền không mua được. Khi khỏe mạnh, ta chạy từ việc này sang việc khác. Khi nằm bệnh, ta mới hiểu một ngày bình thường cũng là quà tặng. Khi một người thân ra đi, ta mới biết những cuộc điện thoại mình từng nghĩ “để mai gọi” quý đến mức nào.
Thập giá không tự động làm một người tốt hơn. Đau khổ có thể làm người ta sâu sắc, nhưng cũng có thể làm người ta cay đắng. Có người đi qua đau khổ rồi trở nên dịu dàng vì hiểu nỗi đau của người khác. Có người đi qua đau khổ lại khép lòng và làm đau tất cả những ai đến gần. Điều khác nhau nằm ở chỗ ta để ai bước vào nỗi đau ấy. Nếu chỉ có ta và vết thương, nó có thể trở thành độc tố. Nếu có Chúa bước vào, vết thương có thể thành cửa sổ của lòng thương xót.
Chúa Phục Sinh hiện ra với các môn đệ không bằng một thân thể không còn dấu vết, nhưng bằng một thân thể còn những dấu đinh. Điều ấy vô cùng thấm thía. Phục Sinh không xóa lịch sử Thập Giá. Chúa không giả vờ rằng ngày Thứ Sáu Tuần Thánh chưa từng xảy ra. Những vết thương vẫn đó, nhưng chúng không còn chảy máu. Chúng trở thành dấu chứng của chiến thắng. Tôi tin rằng đời chúng ta cũng vậy. Có những điều sẽ chẳng bao giờ trở lại như trước. Có những mất mát không thể bù. Có những vết thương vẫn còn dấu sẹo. Nhưng được chữa lành không nhất thiết là quên hết. Được chữa lành là một ngày ta có thể chạm vào vết sẹo mà không còn bị nó điều khiển.
Có người nói: “Con cầu nguyện mãi mà chẳng thấy gì thay đổi.” Có thể. Nhưng xin thử hỏi thêm: “Có gì đang thay đổi trong con không?” Có khi người làm ta đau vẫn vậy, nhưng lòng ta dần bớt hận. Bệnh vẫn còn, nhưng ta biết quý từng buổi sáng. Hoàn cảnh vẫn khó, nhưng ta bớt hoảng loạn. Một người vẫn chưa quay về, nhưng ta biết trao họ cho Chúa hơn. Có khi phép lạ không xảy ra bên ngoài nhưng đang xảy ra rất âm thầm bên trong. Và không phải phép lạ nào cũng có tiếng động.
Một cây ôliu bị ép mới cho dầu. Một hạt lúa mì phải rơi xuống đất và chết đi mới sinh nhiều bông hạt. Chính Chúa Giêsu dùng hình ảnh ấy để nói về con đường của Người: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Có những mùa đời nhìn như chỉ toàn mất mát, nhưng trong lòng đất tối tăm, một điều mới đang bắt đầu mà mắt ta chưa thấy. Hạt giống nằm dưới đất có thể tưởng mình bị chôn. Nhưng thật ra nó đang được gieo. Rất nhiều lúc chúng ta không phân biệt nổi mình đang bị chôn hay đang được gieo. Chỉ thời gian và ân sủng mới trả lời.
Tuy nhiên, đừng dùng những câu ấy để ép người đau phải vui. Có mùa phải khóc thì cứ khóc. Hạt giống cũng cần nằm trong đất một thời gian. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh không lập tức biến thành sáng Phục Sinh. Giữa hai ngày ấy có Thứ Bảy thinh lặng, một ngày tưởng như Thiên Chúa vắng mặt, một ngày chẳng có phép lạ nào xảy ra, một ngày các môn đệ đóng cửa vì sợ hãi. Đời chúng ta cũng có những “Thứ Bảy Tuần Thánh” kéo dài. Cầu nguyện mà trời im. Chờ đợi mà chẳng thấy gì. Không còn quá sốc như ngày đầu nhưng cũng chưa thấy ánh sáng. Những lúc ấy, việc phải làm chỉ là ở lại. Đừng bỏ Chúa trong ngày Thứ Bảy chỉ vì chưa thấy sáng Chúa Nhật.
Có lẽ một trong những từ đẹp nhất của đời sống thiêng liêng là “ở lại”. “Hãy ở lại trong Thầy” (Ga 15,4). Chúa không nói rằng phải luôn cảm thấy vui. Người nói hãy ở lại. Ở lại khi cầu nguyện ngọt ngào. Ở lại khi khô khan. Ở lại khi mọi người ca tụng. Ở lại khi bị hiểu lầm. Ở lại khi thấy tương lai rộng mở. Ở lại khi con đường phía trước chỉ còn sương mù. Có những cuộc đời nên thánh không bằng những việc lẫy lừng mà chỉ bằng một điều âm thầm: họ đã không bỏ đi.
Tôi nghĩ đến Đức Maria dưới chân thập giá. Mẹ không làm được gì để tháo Con xuống. Mẹ không ngăn nổi người ta đóng đinh. Mẹ không hiểu hết những gì đang xảy ra. Mẹ chỉ đứng đó. Tin Mừng Gioan dùng một từ rất mạnh: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Mẹ đứng. Không bỏ chạy. Không làm phép lạ. Không nói những lời hùng hồn. Chỉ đứng cạnh Con. Có những lúc đức tin của chúng ta cũng chỉ còn như thế: đứng dưới chân thập giá. Không hiểu, không giải quyết được gì, không còn sức để nói nhiều, nhưng không bỏ đi. Và đôi khi đó chính là một hành vi đức tin lớn lao nhất.
Nếu đang mang một thập giá gia đình, xin đừng nghĩ tình yêu chỉ được đo bằng những ngày dễ dàng. Có những tình yêu lớn lên trong những đêm thức bên giường bệnh. Có những cuộc hôn nhân được thánh hóa bởi hàng ngàn lần nhịn nhau, tha nhau, bắt đầu lại. Có những cha mẹ nên thánh bên cạnh một đứa con khiến mình đau lòng. Có những người con nên thánh trong những năm chăm cha mẹ già. Không ai chụp hình những khoảnh khắc ấy. Không ai vỗ tay. Nhưng trên trời có một Đấng thấy.
Nếu đang mang thập giá bệnh tật, hãy nhớ thân xác yếu đi không làm giá trị con người giảm đi. Xã hội thường coi trọng người còn làm được nhiều việc, nhưng trước mặt Chúa, giá trị một người không nằm ở năng suất. Một người nằm trên giường bệnh, không tự phục vụ được, vẫn có phẩm giá nguyên vẹn của một người con Thiên Chúa. Có những lời cầu nguyện từ giường bệnh nâng đỡ Hội Thánh nhiều hơn ta tưởng. Một đau khổ được kết hợp với Đức Kitô có một chiều kích mà mắt thường không đo được.
Nếu đang mang thập giá tuổi già, xin nhớ rằng già không phải là hết hữu ích. Có những việc bàn tay không làm nổi nữa nhưng trái tim còn làm được: cầu nguyện, chúc lành, tha thứ, trao lại ký ức đức tin, dạy con cháu lòng biết ơn, chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ cuối cùng. Một cụ già biết bình an trao từng ngày cho Chúa có thể giảng một bài về đức tin mạnh hơn hàng trăm lời nói.
Nếu đang mang thập giá của sự thất bại, xin đừng đồng hóa thất bại với chính mình. Bạn có thể đã thất bại trong một việc; điều ấy không có nghĩa bạn là một người thất bại. Phêrô từng chối Chúa ba lần. Nếu cuộc đời ông dừng lại ở sân dinh thượng tế, ta chỉ nhớ ông như kẻ phản bội. Nhưng câu chuyện chưa kết thúc. Bên bờ hồ Tibêria, Chúa Phục Sinh hỏi ông ba lần: “Con có yêu mến Thầy không?” và trao lại cho ông sứ mạng chăn dắt đoàn chiên. Chúa có khả năng viết tiếp câu chuyện ở nơi ta nghĩ dấu chấm hết đã được đặt xuống.
Nếu đang mang thập giá của một tội lỗi trong quá khứ, hãy nhớ rằng ăn năn khác với tự kết án mình. Ma quỷ nhắc lại quá khứ để nói: “Mày không thể thay đổi.” Chúa nhắc quá khứ để nói: “Ta đã cứu con khỏi nơi đó.” Bí tích Hòa Giải không chỉ xóa tội, nhưng trả lại cho ta một tương lai. Có người được Chúa tha từ lâu mà vẫn tự nhốt mình trong nhà tù của mặc cảm. Đừng mạnh hơn lòng thương xót của Chúa. Nếu Người đã mở cửa, hãy bước ra.
Nếu đang mang thập giá vì bị người khác hiểu lầm, hãy học nơi Chúa Giêsu sự thinh lặng đúng lúc. Không phải mọi lời buộc tội đều cần trả lời. Không phải ai hiểu sai mình cũng cần phải được thuyết phục. Có những việc càng giải thích càng rối. Hãy sống sao để thời gian nói thay. Chúa Giêsu đứng trước Philatô có lúc im lặng. Sự thật không luôn cần la lớn.
Nếu đang mang thập giá vì một người đã ra đi, xin đừng ép trái tim phải “ổn” quá sớm. Tình yêu càng lớn, khoảng trống càng sâu. Đức tin vào sự sống đời sau không làm ta hết nhớ. Chính Chúa Giêsu trước mộ Ladarô đã khóc. Khóc vì nhớ một người không phải là thiếu tin vào Phục Sinh. Nước mắt có thể cùng tồn tại với hy vọng. Ta khóc vì đã yêu, và hy vọng vì tin rằng tình yêu mạnh hơn sự chết.
Rồi sẽ có những đêm ta tưởng mình đã đi đến giới hạn. Lúc ấy, đừng hỏi: “Con có đủ sức cho cả đời không?” Hãy hỏi: “Con có đủ sức cho mười phút tới không?” Nếu có, sống mười phút ấy. Rồi thêm mười phút. Có những cuộc chiến thắng rất nhỏ nhưng rất thật. Đứng dậy khỏi giường. Ăn một chút. Mở cửa sổ. Đi lễ. Gọi một người. Đừng xem thường những điều nhỏ ấy. Khi một người đang kiệt sức, bước nhỏ cũng là anh hùng.
Và xin hãy cho phép mình nghỉ ngơi. Chúa Giêsu từng nói với các môn đệ: “Anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6,31). Có người tưởng mình đang vác thập giá nhưng thật ra đang tự hành hạ vì không biết nghỉ. Ta không phải Đấng Cứu Thế. Thế giới vẫn tiếp tục quay khi ta ngủ. Có những mệt mỏi không cần một bài giảng, chỉ cần một giấc ngủ. Có những lúc linh hồn thấy mọi thứ tối tăm vì thân xác đã kiệt sức. Chăm sóc thân xác cũng là một hình thức biết ơn Thiên Chúa.
Điều cuối cùng tôi muốn nhắc cho bất cứ ai đang cảm thấy cây thập giá của mình quá nặng: đừng đo đoạn cuối bằng đoạn đang đi. Chúng ta đang ở giữa câu chuyện, nên không nhìn thấy hết. Các môn đệ chiều Thứ Sáu nghĩ mọi sự đã chấm dứt. Người họ tin là Đấng Mêsia đã chết. Tảng đá đã lăn vào cửa mồ. Đối với họ, chẳng còn gì để hy vọng. Nhưng Thiên Chúa vẫn đang làm việc trong một nơi mắt họ không thấy. Sáng ngày thứ nhất trong tuần, ngôi mộ trống.
Đó là niềm hy vọng của Kitô hữu. Không phải rằng chúng ta sẽ không chết, nhưng cái chết không phải câu cuối. Không phải chúng ta sẽ không khóc, nhưng “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ” (Kh 21,4). Không phải chúng ta sẽ không có Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng Thứ Sáu không có quyền quyết định kết thúc câu chuyện. Phục Sinh mới là lời cuối của Thiên Chúa.
Cho nên, nếu hôm nay thập giá quá nặng, xin đừng bỏ cuộc. Nếu không đi nhanh được, hãy đi chậm. Nếu không đứng được, hãy quỳ. Nếu không cầu nguyện dài được, hãy kêu tên Giêsu. Nếu không còn lời, hãy khóc trước mặt Người. Nếu không tự vác nổi, hãy để một Simon đến gần. Nếu đã ngã, hãy đưa tay ra. Nếu không thấy đường, chỉ cần bước một bước kế tiếp. Nếu chẳng còn cảm thấy Chúa, hãy cứ ở lại.
Rồi một ngày, có thể rất lâu sau này, ta sẽ quay đầu nhìn lại và ngạc nhiên nhận ra: “Thì ra Chúa đã ở đó.” Người ở trong vị bác sĩ hôm ấy. Người ở trong người bạn gọi điện đúng lúc. Người ở trong một câu Kinh Thánh bất chợt chạm vào lòng. Người ở trong vị linh mục ngồi nghe mình khóc. Người ở trong một bữa cơm có người đem đến. Người ở trong sức mạnh kỳ lạ khiến ta thức dậy thêm một buổi sáng. Người ở trong chính việc ta tưởng mình không thể chịu thêm, vậy mà vẫn đi qua.
Và lúc ấy ta hiểu rằng điều giữ ta sống không phải vì ta mạnh. Ta đã có những ngày rất yếu. Không phải vì ta hiểu. Có nhiều điều đến tận cuối đời vẫn chẳng hiểu. Không phải vì ta không bao giờ nghi ngờ. Ta đã có những đêm đầy câu hỏi. Ta còn đây chỉ vì, bằng cách nào đó, giữa tất cả những lần tưởng mình đã buông tay Chúa, Chúa chưa bao giờ buông tay ta.
Thập giá có thể nặng. Rất nặng. Có những cây thập giá làm vai ta trầy xước, đầu gối ta rớm máu, trái tim ta như vỡ ra. Nhưng trên con đường ấy có dấu chân của một Người đã đi trước. Chúa Giêsu không đứng ở cuối đường mà gọi ta từ xa: “Cố lên mà đi.” Người bước bên cạnh. Người biết từng khúc quanh. Người biết chỗ nào dốc. Người biết nơi nào ta sẽ ngã. Và nếu phải đi xuyên qua thung lũng tối, Người cũng đi xuyên qua đó với ta.
Cho nên, khi mệt quá, đừng cố làm anh hùng. Chỉ cần làm một người con. Hãy nói với Chúa như đứa trẻ nói với cha mình: “Cha ơi, con không đi nổi nữa.” Và tin rằng sẽ có một bàn tay.
Có thể thập giá chưa nhẹ đi.
Nhưng ta không còn vác một mình.
Và đôi khi, chỉ cần biết điều ấy thôi, ta đã có thể đứng lên thêm một lần nữa.
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT: ĐỪNG BỦN XỈN VỚI LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA
Có những lúc nhìn lên Thánh Giá, người ta chỉ thấy đau đớn. Thấy những chiếc đinh. Thấy mão gai. Thấy cạnh sườn bị đâm thủng. Thấy một thân xác rã rời treo giữa trời và đất. Thấy sự phản bội của Giuđa, sự chối bỏ của Phêrô, sự hèn nhát của Philatô, tiếng la ó của đám đông, sự độc ác của những kẻ hành hình và nỗi cô độc khôn tả của một người đang hấp hối. Nhưng nếu chỉ nhìn Thánh Giá như thế, ta mới nhìn được một nửa. Phần sâu nhất của Thánh Giá không phải là những chiếc đinh đóng vào tay chân Đức Giêsu, mà là một Trái Tim bị đâm thâu nhưng vẫn còn yêu. Không phải là máu đã chảy bao nhiêu, nhưng là tình yêu đã trao đi đến mức nào. Không phải là con người đã độc ác với Thiên Chúa ra sao, nhưng là Thiên Chúa đã thương xót con người đến tận cùng như thế nào. Thánh Giá, vì thế, chính là nơi lòng thương xót của Thiên Chúa được viết ra bằng máu. Một thứ lòng thương xót không đứng xa mà thương hại, không ban cho một chút rồi thôi, không tính toán xem con người có xứng đáng hay không, nhưng là lòng thương xót đi xuống tận đáy vực của phận người, ôm lấy tội nhân, gánh lấy thương tích của họ, nhận lấy cái chết của họ để trả lại cho họ sự sống. Và nếu đã đứng trước một Thiên Chúa rộng lòng như thế mà ta vẫn sống bủn xỉn trong lòng thương xót với anh chị em mình, có lẽ ta chưa thực sự hiểu Thánh Giá.
Con người chúng ta thường rất lạ. Ta muốn Chúa rộng lượng với mình nhưng lại muốn Chúa nghiêm khắc với người khác. Ta mong Chúa quên tội của ta thật nhanh nhưng lại nhớ rất lâu lỗi lầm của người đã làm ta đau. Ta xin Chúa cho mình thêm một cơ hội nhưng có khi không chịu dành cho người bên cạnh một cơ hội làm lại. Ta mong Chúa hiểu hoàn cảnh của ta, hiểu những yếu đuối, những nóng nảy, những lần sa ngã của ta, nhưng khi đứng trước yếu đuối của người khác, ta lại dễ dàng kết án. Ta muốn người khác đừng xét đoán mình, nhưng lại có thể ngồi hàng giờ để phân tích, phê bình, kể lại những sai sót của họ. Ta muốn được tha thứ mà không phải giải thích quá nhiều, nhưng khi người khác đến xin lỗi, ta lại muốn họ phải đau đủ, phải xấu hổ đủ, phải trả giá đủ, phải cúi đầu đủ rồi ta mới chịu nói hai chữ “tha thứ”. Cái nghèo đáng sợ nhất của đời người có lẽ không phải là nghèo tiền bạc. Có những người rất ít tiền nhưng lòng rất rộng. Cái nghèo đáng sợ hơn là nghèo lòng thương xót: một trái tim nhỏ đến mức không còn chỗ cho lỗi lầm của người khác, một tâm hồn hẹp đến mức chỉ một vết thương cũng có thể bị giữ lại suốt nhiều năm, một ký ức đầy những món nợ mà ta nhất quyết không cho ai được xóa.
Thánh Giá của Đức Giêsu là lời phản bác mạnh mẽ nhất đối với kiểu sống ấy. Trên Thánh Giá, Chúa không đợi con người ăn năn hoàn toàn rồi mới yêu. Ngài yêu ngay khi người ta còn đang đóng đinh Ngài. Ngài không chờ quân lính quỳ xuống xin lỗi rồi mới cầu nguyện cho họ. Chính trong lúc họ đang chế nhạo, đang chia áo, đang đứng dưới chân Thánh Giá với đôi tay còn vấy máu, Đức Giêsu đã thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Có lẽ không có một câu Tin Mừng nào diễn tả lòng thương xót của Thánh Giá sâu sắc hơn thế. Chúa không nói rằng việc họ làm là đúng. Chúa cũng không gọi sự dữ là sự thiện. Đóng đinh một người vô tội vẫn là tội ác. Phản bội vẫn là phản bội. Bất công vẫn là bất công. Nhưng lòng thương xót không có nghĩa là phủ nhận sự thật; lòng thương xót là nhìn thấy sự thật mà vẫn không đóng cánh cửa cứu độ trước mặt người phạm lỗi. Đức Giêsu thấy tất cả. Ngài biết rõ họ đang làm gì. Ngài cảm được từng chiếc đinh xuyên qua thịt. Ngài nghe được từng lời nhạo báng. Nhưng Ngài vẫn tìm cho họ một lý do để được tha: “Họ không biết việc họ làm.” Tình yêu luôn tìm một lý do để cứu. Hận thù luôn tìm một lý do để kết án. Đó là khoảng cách giữa trái tim của chúng ta và Trái Tim của Đấng chịu đóng đinh.
Bên cạnh Đức Giêsu còn có hai người tử tội. Một người vẫn khép lòng mình trong cay đắng. Người kia chỉ còn một chút ánh sáng cuối cùng trong tâm hồn. Anh chẳng có công trạng nào để đem ra trước Chúa. Cả cuộc đời của anh có lẽ đầy những sai lầm đến mức xã hội đã kết án tử hình. Anh cũng chẳng còn thời gian để sửa lại quá khứ, chẳng còn ngày mai để trả lại những gì đã lấy, chẳng còn tháng năm để làm việc lành bù đắp tội lỗi. Anh chỉ còn vài hơi thở. Và trong vài hơi thở ấy, anh nói một lời rất nhỏ: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Đức Giêsu không mở một cuộc điều tra. Không hỏi anh đã phạm bao nhiêu tội. Không bắt anh kể lại lý lịch. Không yêu cầu một danh sách những việc đền bù mà lúc ấy anh cũng chẳng còn khả năng thực hiện. Chúa chỉ đáp: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43). Chỉ một câu ấy thôi cũng đủ làm vỡ tung mọi tính toán nhỏ nhen của chúng ta về lòng thương xót. Con người tính toán bằng quá khứ. Thiên Chúa mở cửa bằng tình yêu. Con người nói: “Hắn đã sống như vậy thì phải chết như vậy.” Chúa nói: “Hôm nay, anh sẽ ở với tôi.” Con người đóng hồ sơ. Thiên Chúa mở Thiên Đàng.
Có khi chúng ta rất khó chịu trước lòng thương xót của Chúa vì lòng thương xót ấy vượt quá cái thước đo công bằng nhỏ bé của ta. Ta giống người anh cả trong dụ ngôn người cha nhân hậu. Anh không chịu bước vào nhà vì cha đã mở tiệc cho đứa em hoang đàng. Anh kể công. Anh tính năm tháng phục vụ. Anh nhắc đến con bê béo. Anh gọi người em là “thằng con của cha”, như thể đã từ lâu không còn nhìn nhận nó là em mình. Người cha phải đi ra năn nỉ anh. Câu chuyện ấy thật đau bởi vì đứa con đi xa đã trở về, còn đứa con ở trong nhà lại có nguy cơ đứng ngoài bữa tiệc. Có khi người xa Chúa được cứu nhờ lòng thương xót, còn người tưởng mình gần Chúa lại tự đứng ngoài lòng thương xót vì không chịu thương xót người khác. Người em hoang đàng nghèo tiền, nghèo danh dự, nghèo cả tư cách; nhưng người anh cả lại nghèo lòng thương xót. Và cái nghèo thứ hai nguy hiểm hơn cái nghèo thứ nhất, bởi người nghèo vật chất biết mình cần cha, còn người nghèo lòng thương xót lại tưởng mình đủ tốt để chẳng cần ai thương xót nữa.
Đừng bủn xỉn với lòng thương xót Chúa. Nói như thế trước hết là đừng bủn xỉn với chính mình. Có những người tin Chúa tha thứ cho cả thế giới nhưng lại không tin Chúa có thể tha thứ cho mình. Họ mang quá khứ như một bản án. Một lỗi lầm đã xảy ra mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm trước vẫn trở về dằn vặt. Họ đã xưng tội, đã ăn năn, đã nhận ơn tha thứ, nhưng trong sâu thẳm vẫn không dám tin rằng Chúa thật sự đã quên. Họ giữ tội của mình kỹ hơn cả Thiên Chúa. Chúa đã ném nó xuống đáy biển, họ lại lặn xuống tìm lên. Chúa đã đóng hồ sơ, họ cứ mở lại. Chúa nói: “Con hãy về bình an”, họ lại nói: “Không, chắc Chúa chưa tha cho con đâu.” Đó cũng là một dạng bủn xỉn với lòng thương xót, vì ta vô tình giới hạn lòng thương xót vô hạn của Chúa bằng cảm xúc tội lỗi của mình. Chúng ta cần khiêm tốn nhìn nhận tội lỗi, nhưng cũng phải đủ khiêm tốn để nhận ơn tha thứ. Có một thứ kiêu ngạo rất kín đáo: nghĩ rằng tội mình lớn hơn lòng thương xót Chúa. Không. Không có quá khứ nào lớn hơn Thánh Giá. Không có vực sâu nào sâu hơn tình yêu của Đức Kitô. Không có đêm tối nào mà ánh sáng Phục Sinh không thể đi vào. Phêrô đã chối Thầy ba lần nhưng vẫn được trao đoàn chiên. Phaolô từng bắt bớ Hội Thánh nhưng trở thành Tông đồ dân ngoại. Người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội được nghe lời: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu.” Người thu thuế Giakêu đã bước xuống khỏi cây và đón Chúa vào nhà. Maria Mácđala đã đứng dưới chân Thánh Giá và sau này trở thành người báo tin Phục Sinh. Kitô giáo không phải là câu chuyện về những con người chưa từng ngã; đó là câu chuyện về những người đã để cho lòng thương xót nâng mình đứng lên.
Nhưng nhận lòng thương xót rồi thì phải biết trao lòng thương xót. Nếu ơn tha thứ của Chúa chỉ dừng lại nơi ta, nó sẽ trở thành một dòng sông bị chặn. Nước bị chặn lâu ngày sẽ tù đọng. Lòng thương xót cũng thế. Chúa tha cho ta để qua ta, người khác được nếm một chút lòng tha thứ của Ngài. Chúa kiên nhẫn với ta để ta học kiên nhẫn với người bên cạnh. Chúa không loại bỏ ta sau bao lần thất bại để ta đừng vội loại bỏ một con người chỉ vì họ đã làm ta thất vọng. Chúa giữ cửa mở cho ta để ta đừng đóng cửa quá sớm trước người khác. Chúa cho ta cơ hội thứ một trăm để ta đừng keo kiệt với cơ hội thứ hai của anh em mình. Điều đáng buồn là nhiều khi chúng ta sống như người đầy tớ trong dụ ngôn Mt 18: vừa được chủ tha một món nợ khổng lồ, bước ra khỏi cửa lại bóp cổ người bạn vì một món nợ rất nhỏ. Người chủ đã xóa cho anh tất cả, nhưng anh chẳng học được gì từ lòng thương xót của chủ. Anh được tha mà không trở thành người biết tha. Và chính vì thế, anh đã đánh mất món quà mình vừa nhận.
Có những món nợ giữa con người với nhau không thể đo bằng tiền. Một câu nói đã làm ta đau. Một lần bị phản bội. Một sự vô ơn. Một lời vu khống. Một cuộc hôn nhân bị tổn thương. Một người con khiến cha mẹ thất vọng. Một người cha đã để lại những vết thương cho con cái. Một người bạn đã bỏ ta đúng lúc ta cần họ nhất. Một người trong cộng đoàn đã xúc phạm ta. Một người đồng nghiệp đã lấy công sức của ta. Một người đã nói sai về ta trên mạng xã hội. Có những chuyện nghe qua tưởng nhỏ nhưng người chịu đựng mới biết nó đau đến mức nào. Vì thế, nói về tha thứ không được phép nói hời hợt. Không thể đứng ngoài vết thương của người ta rồi nói một câu lạnh lùng: “Thôi bỏ qua đi.” Có những vết thương cần nhiều năm mới lành. Có những ký ức chẳng bao giờ biến mất hoàn toàn. Có những mối quan hệ sau tổn thương sẽ không thể trở về như trước. Lòng thương xót không bắt một người bị bạo hành phải tiếp tục đặt mình trong nguy hiểm. Tha thứ không có nghĩa là dung túng sự dữ. Tha thứ không luôn đồng nghĩa với việc phục hồi ngay lập tức một mối quan hệ đã bị phá vỡ. Hòa giải cần sự thật, hoán cải và đôi khi cần cả một hành trình rất dài. Nhưng dù thế nào, người môn đệ Đức Kitô vẫn được mời gọi đừng để hận thù trở thành ông chủ của trái tim mình. Có thể ta chưa quên được, nhưng ta có thể bắt đầu không cầu điều dữ cho người làm ta đau. Có thể chưa nói chuyện lại được, nhưng ta có thể cầu xin Chúa chữa lành cả mình lẫn họ. Có thể ta vẫn khóc khi nhớ chuyện cũ, nhưng ta không muốn lấy nước mắt của mình để tưới lớn cây hận thù.
Tha thứ nhiều khi là một thập giá. Và chính vì là thập giá nên không dễ. Có những lần tha thứ rất nhẹ: một lời xin lỗi, một cái ôm, thế là xong. Nhưng có những lần tha thứ là đóng đinh cái tôi của mình mỗi ngày. Hôm nay nói “con tha” nhưng ngày mai ký ức lại trở về. Hôm nay bình an nhưng tuần sau nghe ai nhắc tên người ấy lòng lại nhói lên. Ta tưởng mình đã tha hết rồi, bỗng một biến cố làm vết thương bật máu. Đừng vội thất vọng. Tha thứ nhiều khi không phải một khoảnh khắc mà là một hành trình. Chúa không đòi chúng ta phải có cảm xúc dễ chịu ngay lập tức. Ngài mời ta chọn không trả thù, chọn không nuôi hận, chọn trao quyền xét xử cuối cùng cho Thiên Chúa, rồi từng ngày để ân sủng chữa lành phần còn lại. Có khi lời cầu nguyện đầu tiên cho người làm ta đau chỉ là: “Lạy Chúa, con chưa thể yêu người này. Xin Chúa yêu họ thay con.” Rồi một thời gian sau có thể thành: “Xin Chúa đừng để họ làm điều xấu nữa.” Rồi lâu hơn: “Xin Chúa cho họ được hoán cải.” Và một ngày nào đó, thật lạ lùng, ta có thể thưa: “Xin Chúa ban bình an cho họ.” Đó đã là một phép lạ của lòng thương xót.
Chúng ta rất dễ bủn xỉn lòng thương xót trong lời nói. Chẳng phải lúc nào ta cũng cầm đá ném ai, nhưng lời nói có thể là những viên đá. Người ta đã yếu rồi, ta nói thêm một câu cho họ gục. Người ta đã xấu hổ, ta kể lại chuyện của họ cho nhiều người biết. Người ta đã xin lỗi, ta vẫn lâu lâu nhắc lại để họ nhớ rằng họ từng sai. Ta gọi đó là “nói sự thật”, nhưng nhiều khi sự thật ấy không còn phục vụ tình yêu mà chỉ phục vụ niềm vui được thấy người khác thấp xuống. Có những câu nói đúng nhưng không cần nói. Có những điều thật nhưng không thuộc quyền ta kể. Có những lỗi lầm cần được sửa nhưng phải sửa trong yêu thương, đúng nơi, đúng lúc, đúng người, đúng cách. Đức Giêsu có thể gọi tội là tội nhưng Ngài không nghiền nát tội nhân. Người phụ nữ ngoại tình bị kéo đến trước mặt Ngài trong tình trạng nhục nhã nhất. Những người Pharisêu muốn biến chị thành một trường hợp pháp lý. Chúa lại nhìn chị như một con người. Khi mọi người bỏ đi, Ngài hỏi: “Không ai lên án chị sao?” Chị đáp: “Thưa ông, không có ai cả.” Chúa nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8,10-11). Hai vế phải đi cùng nhau: “Tôi không lên án chị” và “đừng phạm tội nữa.” Lòng thương xót đích thực không hạ thấp đòi hỏi của sự thánh thiện, nhưng tạo cho con người một khoảng trời để họ có thể đứng lên mà sống thánh thiện.
Chúng ta cũng dễ bủn xỉn lòng thương xót trong đời sống gia đình. Cha mẹ có khi nhớ mãi một lần đứa con làm mình thất vọng và vô tình đóng khung nó trong lỗi lầm ấy: “Mày từ nhỏ đã vậy”, “Con chẳng bao giờ thay đổi”, “Cha mẹ hết hy vọng vào con.” Những câu như thế có thể theo một đứa trẻ đến tận tuổi trưởng thành. Vợ chồng có thể sống chung một mái nhà nhưng giữ cả một kho hồ sơ về nhau. Mỗi lần cãi nhau lại mở tất cả hồ sơ từ mười năm trước. Một chuyện hôm nay kéo theo mười chuyện hôm qua. Xin lỗi rồi nhưng chưa bao giờ được thực sự tha. Cứ thế, ngôi nhà không còn là nơi người ta được trở về mà thành một tòa án lúc nào cũng có thể tái thẩm. Một gia đình Kitô hữu không phải là gia đình không có lỗi lầm. Không gia đình nào như thế. Gia đình Kitô hữu là nơi lỗi lầm không có tiếng nói cuối cùng. Là nơi vẫn còn một chiếc ghế cho người đi lạc trở về. Là nơi có thể nói: “Việc con làm khiến cha mẹ đau, nhưng con vẫn là con.” Là nơi người vợ có thể nói: “Em rất tổn thương, nhưng em không muốn hủy đời anh.” Là nơi người chồng có thể hạ cái tôi xuống để nói: “Anh xin lỗi.” Là nơi anh chị em không vì chuyện tiền bạc mà biến nhau thành người dưng. Là nơi Thánh Giá treo trên tường không chỉ để trang trí, nhưng âm thầm hỏi từng người: “Trong căn nhà này, ai đang cần lòng thương xót của con nhất?”
Trong đời sống cộng đoàn và Hội Thánh cũng vậy. Chúng ta có thể nói rất nhiều về lòng thương xót Chúa nhưng lại đối xử với nhau bằng những phán quyết không thương xót. Một linh mục sai một điều, người ta có thể quên hàng chục năm phục vụ của ngài. Một tu sĩ lỡ vấp, người ta có thể truyền tai câu chuyện ấy từ nơi này sang nơi khác. Một giáo dân có quá khứ không đẹp, đôi khi mãi mãi bị nhìn bằng ánh mắt nghi ngờ dù đã đổi đời. Một người từng bỏ lễ nay quay lại nhà thờ có khi chưa kịp gặp Chúa đã gặp những câu hỏi làm họ muốn quay ra. Chúng ta phải nghiêm túc với sự thật, trách nhiệm và công lý; không ai được dùng chữ “thương xót” để che đậy sai phạm hay trốn tránh việc sửa chữa hậu quả. Nhưng một Hội Thánh mang khuôn mặt Đức Kitô không thể biến thành nơi con người sợ bước vào vì sợ bị nhắc lại quá khứ. Bệnh viện mà bệnh nhân sợ bác sĩ thì còn chữa được ai? Hội Thánh là nơi người tội lỗi được nghe lời mời hoán cải, nhưng trước hết họ phải cảm nhận rằng vẫn còn một chỗ cho họ dưới chân Thánh Giá.
Điều này càng cần trong thời đại mạng xã hội. Chưa bao giờ con người có thể kết án nhau nhanh như hôm nay. Một đoạn video vài chục giây có thể đủ để hàng ngàn người đưa ra phán quyết về cả một cuộc đời. Một tin chưa kiểm chứng có thể được chia sẻ chỉ vì nó làm ta tức giận. Một sai lầm có thể bị chụp lại và lưu mãi. Người phạm lỗi có thể xin lỗi, có thể thay đổi, nhưng internet không dễ quên. Và lạ thay, có lúc chính những người mang danh Kitô hữu cũng tham gia ném đá rất hăng. Ta bảo mình bảo vệ sự thật, nhưng ta có cầu nguyện cho người đang bị ta phê bình không? Ta bảo mình bênh vực công lý, nhưng trong lòng ta có vui ngầm khi thấy họ bị hạ nhục không? Ta có kiểm chứng thông tin trước khi chia sẻ không? Ta có nghĩ tới cha mẹ, con cái, gia đình của người ấy khi một câu chuyện bị lan truyền không? Nếu Thánh Giá được đặt giữa những lần ta gõ bàn phím, có lẽ nhiều lời bình luận sẽ không bao giờ được gửi đi.
Đừng bủn xỉn với lòng thương xót Chúa. Bởi chính ta cũng đang sống nhờ lòng thương xót ấy từng ngày. Nếu Thiên Chúa tính toán với ta như ta tính toán với nhau, liệu ta còn đứng vững được bao lâu? Chúng ta thức dậy mỗi sáng không phải vì hôm qua mình đã hoàn hảo, mà vì Chúa cho thêm một ngày. Chúng ta được đến bàn thờ không phải vì chưa bao giờ phạm lỗi, mà vì đã được thanh tẩy bằng Máu Chiên Con. Chúng ta được gọi Thiên Chúa là Cha không phải vì xứng đáng, mà vì Đức Kitô đã mở đường. Chúng ta có quyền hy vọng không phải vì hồ sơ đời mình sạch sẽ, mà vì trên đồi Canvê có một Đấng đã trả giá thay cho ta. Mỗi Thánh Lễ là một lời nhắc rằng ta là người mắc nợ lòng thương xót. Mỗi lần bước đến tòa giải tội là một lần thú nhận: nếu không có lòng thương xót, tôi không sống nổi. Vậy mà lạ thay, vừa bước ra khỏi tòa giải tội, có khi ta lại rất khắt khe với người bên cạnh.
Thánh Giá dạy ta rằng lòng thương xót luôn có giá. Với ta, tha thứ có thể mất một chút tự ái. Với Đức Giêsu, lòng thương xót đã phải trả bằng máu. Chúng ta thường nói: “Tại sao tôi phải tha? Người ấy đâu xứng đáng.” Nhưng nếu sự tha thứ chỉ dành cho người xứng đáng thì đó không còn là lòng thương xót. Chính vì không xứng đáng nên mới cần được thương xót. Ta nói: “Họ chưa xin lỗi.” Quân lính dưới chân Thánh Giá có xin lỗi đâu, Chúa vẫn cầu xin Cha tha cho họ. Ta nói: “Họ đã làm tôi đau quá.” Không ai trong chúng ta bị đóng đinh như Đức Giêsu. Ta nói: “Tôi không quên được.” Chúa không yêu cầu trí nhớ bị xóa; Ngài muốn hận thù không còn điều khiển trí nhớ ấy. Ta nói: “Tha rồi họ lại phạm nữa thì sao?” Phêrô từng hỏi Chúa phải tha đến bảy lần không, và Chúa mở rộng con số ấy đến mức không còn chỗ cho việc đếm. Người Kitô hữu không phải là người mất trí để không nhớ mình đã bị đau, nhưng là người không cho phép nỗi đau biến mình thành người giống kẻ đã làm mình đau.
Lòng thương xót không làm chúng ta yếu đi. Trái lại, phải rất mạnh mới có thể không trả đũa khi mình có khả năng trả đũa. Phải rất mạnh mới có thể im lặng trước một lời xúc phạm thay vì lập tức đáp trả. Phải rất mạnh mới có thể nói tốt về một người từng nói xấu mình. Phải rất mạnh mới có thể cầu nguyện cho người không ưa mình. Phải rất mạnh mới có thể để Thiên Chúa làm quan tòa thay vì tự tay xử án. Người ta thường nghĩ trả thù mới mạnh, nhưng nhiều lúc trả thù chỉ là phản xạ của một trái tim chưa được chữa lành. Chúa Giêsu trên Thánh Giá không bất lực theo nghĩa sâu xa nhất. Ngài có thể xin Chúa Cha sai đạo binh thiên thần đến. Nhưng Ngài chọn ở lại. Không phải vì không thể xuống, mà vì tình yêu không muốn xuống. Sức mạnh lớn nhất của Đức Kitô trên Canvê chính là Ngài có đủ quyền để tiêu diệt kẻ thù nhưng lại dùng quyền ấy để cứu họ.
Có lẽ chúng ta cần tập một thói quen rất nhỏ: trước khi kết án ai, hãy nhớ lại một lần Chúa đã tha cho mình. Trước khi kể lỗi người khác, hãy nhớ một lỗi của mình mà ta không muốn ai biết. Trước khi đóng cánh cửa với một người, hãy nhớ biết bao lần Chúa vẫn để cửa mở cho ta. Trước khi nói “hết thuốc chữa”, hãy nhìn Phêrô, Phaolô, người trộm lành, Giakêu. Trước khi nói “tôi không thể tha”, hãy nhìn lên Đấng chịu đóng đinh. Nhìn thật lâu. Không phải nhìn Thánh Giá như một món đồ đạo đức quen thuộc, nhưng nhìn hai bàn tay bị đóng đinh vì chính ta. Nếu một người biết mình đã được cứu khỏi một món nợ không thể trả, họ sẽ dần bớt khắt khe với món nợ của người khác.
Và cũng đừng bủn xỉn lòng thương xót với những người bị cuộc đời bỏ quên. Lòng thương xót không chỉ là tha thứ. Nó còn là biết chạnh lòng. Đức Giêsu chạnh lòng trước đám đông đói khát. Ngài chạnh lòng trước bà góa thành Nain mất con. Ngài khóc trước mộ Ladarô. Ngài chạm vào người phong cùi. Ngài dừng lại với người mù đang kêu bên vệ đường. Ngài cho người đàn bà băng huyết được bước ra khỏi sự xấu hổ. Lòng thương xót có đôi chân để đi đến, có đôi mắt để nhìn thấy, có đôi tai để nghe, có đôi tay để chạm vào vết thương. Chúng ta không thể nói mình yêu Thánh Giá nếu mỗi ngày lại bước qua quá nhiều thập giá sống động chung quanh: một người già cô đơn, một bệnh nhân cần người ngồi bên, một gia đình đang túng thiếu, một người trẻ tuyệt vọng, một người vừa mất việc, một người đang bị cộng đồng xa lánh, một đứa trẻ thiếu tình thương, một người nhập cư bơ vơ, một người phạm lỗi đang cố gắng làm lại cuộc đời. Có khi họ không cần ta giải quyết cả đời họ. Họ chỉ cần một cuộc điện thoại, một chén cơm, một lời hỏi thăm, một sự hiện diện không xét đoán. Lòng thương xót thường bắt đầu bằng những điều nhỏ như thế.
Đáng sợ nhất không phải là chúng ta không thể làm những việc lớn. Đáng sợ là ta có thể làm một điều nhỏ mà vẫn không làm. Một ly nước không đưa. Một cuộc gọi không thực hiện. Một lời tha thứ không nói. Một tin nhắn xin lỗi không gửi. Một lần đến thăm cứ trì hoãn. Một món quà nhỏ cứ tính toán. Một câu nói tử tế cứ giữ lại. Có những người giàu tiền mà nghèo lòng. Có những người sở hữu rất nhiều nhưng khi phải cho đi một chút tình thương thì lại cân đo từng gam. Chúng ta có thể bủn xỉn tiền bạc, nhưng xin đừng bủn xỉn lòng thương xót. Tiền cho đi thì ít đi; lòng thương xót cho đi thì thường lại lớn thêm. Người biết tha thứ nhiều sẽ có một trái tim ngày càng rộng. Người biết chạnh lòng sẽ ngày càng giống Chúa.
Có một điều rất đẹp nơi Thánh Giá: cánh tay Đức Giêsu bị giang ra. Ta có thể nhìn đó như tư thế của một người bị đóng đinh, nhưng cũng có thể nhìn như cử chỉ của một người không còn muốn khép tay lại trước bất kỳ ai. Hai tay Chúa mở về hai phía như ôm cả nhân loại: người tốt và kẻ xấu, người thánh thiện và tội nhân, người đang cầu nguyện và kẻ đang nguyền rủa Ngài, người đứng gần và người bỏ chạy. Không có bàn tay nào nắm lại để giữ riêng tình yêu cho một nhóm. Đó là hình ảnh đẹp nhất của lòng thương xót: một Thiên Chúa không co tay lại. Còn chúng ta thì sao? Có ai mà chỉ cần nghe tên họ thôi, lòng ta đã khép lại? Có nhóm người nào ta cho rằng không đáng thương? Có người nào ta âm thầm mong Chúa cũng đừng thương họ? Nếu có, Thánh Giá đang mời ta mở thêm một chút. Có thể hôm nay chưa mở hết được. Nhưng xin đừng khóa trái.
Một ngày kia, khi đời ta khép lại, có lẽ điều quan trọng không phải là ta đã thắng bao nhiêu cuộc tranh luận, đã chứng minh mình đúng bao nhiêu lần, đã khiến bao nhiêu người phải nhận lỗi. Điều quan trọng có thể chỉ là: trái tim này sau một đời sống đã giống Trái Tim Chúa hơn chưa? Ta có trở nên dịu dàng hơn không? Ta có dễ tha thứ hơn không? Ta có bớt xét đoán không? Ta có biết khóc với người khóc không? Ta có cho người khác cơ hội để bắt đầu lại không? Ta có đủ khiêm tốn để xin tha thứ khi chính mình sai không? Nếu sau nhiều năm đi lễ, đọc kinh, nghe Lời Chúa mà lòng ta ngày càng cứng hơn, dễ giận hơn, thích kết án hơn, khó tha thứ hơn, thì có lẽ ta phải nghiêm túc hỏi lại mình đã gặp Đức Kitô nào. Vì Đức Kitô thật luôn dẫn người ta về phía lòng thương xót.
Thánh Giá không cho phép ta coi nhẹ tội lỗi, nhưng cũng không cho phép ta tuyệt vọng về tội nhân. Thánh Giá nói rằng tội nghiêm trọng đến mức Con Thiên Chúa phải chết, nhưng con người quý giá đến mức Con Thiên Chúa sẵn sàng chết vì họ. Hai sự thật ấy phải được giữ cùng nhau. Nếu chỉ nói về tội mà không nói về lòng thương xót, ta biến Tin Mừng thành bản án. Nếu chỉ nói về lòng thương xót mà không mời gọi hoán cải, ta biến lòng thương xót thành sự dễ dãi. Đức Giêsu vừa nói “Tôi không lên án chị đâu”, vừa nói “đừng phạm tội nữa.” Ngài vừa tha cho Phêrô, vừa hỏi ông ba lần: “Con có yêu mến Thầy không?” Ngài vừa vào nhà Giakêu, vừa khiến Giakêu tự nguyện sửa lại những bất công. Lòng thương xót thật luôn nâng người ta lên để sống một đời mới.
Vì thế, mỗi khi nhìn Thánh Giá, xin ta đừng chỉ xin Chúa cất thập giá của mình. Hãy xin một điều sâu hơn: “Lạy Chúa, xin làm cho trái tim con giống Trái Tim Chúa trên Thánh Giá.” Một trái tim dù bị thương vẫn biết yêu. Một trái tim bị hiểu lầm vẫn không nguyền rủa. Một trái tim bị phản bội vẫn còn chỗ cho người phản bội quay về. Một trái tim biết đau trước nỗi đau của kẻ khác. Một trái tim không gọi tội là điều tốt nhưng cũng không đồng hóa một con người với tội lỗi của họ. Một trái tim đủ rộng để hiểu rằng ai cũng đang chiến đấu với những trận chiến mà ta không nhìn thấy. Có người nóng nảy vì họ đang kiệt sức. Có người khép kín vì từng bị phản bội. Có người khó gần vì họ mang một tuổi thơ đầy thương tích. Có người phạm lỗi bởi sự yếu đuối mà chính họ cũng ghét nơi mình. Biết như thế không phải để biện minh cho mọi sự, nhưng để trước khi kết án, ta còn biết chạnh lòng.
Rồi sẽ có ngày chính ta cần người khác thương xót mình. Có thể một ngày ta già và vụng về. Một ngày đầu óc không còn minh mẫn. Một ngày ta lỡ nói điều làm người khác tổn thương. Một ngày ta thất bại. Một ngày ta mang tiếng xấu. Một ngày những người từng kính trọng ta nhìn ta bằng ánh mắt khác. Một ngày ta nằm trên giường bệnh và chẳng còn làm được gì hữu ích. Khi đó, ta sẽ hiểu một ánh mắt thương xót quý đến mức nào. Ta sẽ hiểu có người ngồi bên mà không trách móc quý đến đâu. Ta sẽ hiểu được người khác nhìn mình không bằng lỗi lầm cuối cùng mà bằng cả hành trình đời mình là một ân huệ lớn biết bao. Điều ta mong nhận trong ngày yếu đuối ấy, hãy tập trao cho người khác từ hôm nay.
Và cuối cùng, đừng quên rằng Thánh Giá không phải điểm kết thúc. Đức Giêsu chịu đóng đinh đã sống lại. Lòng thương xót không chỉ tha quá khứ; lòng thương xót mở ra tương lai. Người trộm lành được mở cửa Thiên Đàng. Phêrô được làm lại ơn gọi. Các môn đệ bỏ chạy được quy tụ lại. Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn bị đâm thâu. Chính những nơi tưởng như thất bại nhất lại trở thành nguồn của một khởi đầu mới. Vì thế, khi ta thương xót một người, ta đang nói với họ rằng: “Câu chuyện của anh chưa kết thúc.” Khi tha thứ cho một người, ta nói: “Lỗi lầm này không phải là định nghĩa cuối cùng về con người anh.” Khi cho ai đó cơ hội làm lại, ta đang tham dự vào chính công trình Phục Sinh của Thiên Chúa.
Hãy nhìn lên Thánh Giá. Hãy nhìn thật lâu. Trên đó không có một Thiên Chúa bủn xỉn. Ngài cho đến giọt máu cuối cùng. Ngài trao cả Mẹ mình cho người môn đệ. Ngài trao sự tha thứ cho kẻ đóng đinh. Trao Thiên Đàng cho người trộm. Trao Thánh Thần cho Hội Thánh. Trao chính mình làm lương thực cho nhân loại. Một Thiên Chúa đã cho tất cả thì làm sao người môn đệ của Ngài có thể sống với một trái tim lúc nào cũng tính toán?
Xin đừng bủn xỉn với lòng thương xót Chúa. Đừng bủn xỉn khi xin Chúa thương mình. Đừng bủn xỉn khi tin rằng Chúa có thể cứu một người tưởng như hết hy vọng. Đừng bủn xỉn khi phải tha thứ. Đừng bủn xỉn với một lời động viên. Đừng bủn xỉn với một cơ hội làm lại. Đừng bủn xỉn với người già, người bệnh, người nghèo, người lầm lỗi, người bị bỏ rơi. Đừng bủn xỉn cả với người đã từng làm mình đau. Bởi đến cuối cùng, tất cả chúng ta đều là những người nghèo đứng dưới chân Thánh Giá, đưa hai bàn tay trắng ra xin một điều duy nhất: “Lạy Chúa Giêsu, xin nhớ đến con.”
Và thật may mắn cho chúng ta, Đấng ở trên Thánh Giá chưa bao giờ bủn xỉn lòng thương xót.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIOAN THÁNH GIÁ – “ĐÊM TỐI CỦA LINH HỒN” VÀ THÁNH GIÁ
Có những lúc trong đời sống đức tin, người ta không còn thấy Chúa như đã từng thấy; cầu nguyện mà lòng khô khan, dự lễ mà tâm hồn lạnh lẽo, đọc Lời Chúa mà chữ nghĩa dường như nằm im trên trang giấy, quỳ trước Nhà Tạm mà chẳng có một cảm xúc nào, kêu xin mà trời cứ lặng thinh. Có những ngày người ta không phạm một tội gì đặc biệt, vẫn cố gắng sống tử tế, vẫn trung thành với bổn phận, vẫn cầu nguyện, vẫn phục vụ, vậy mà trong lòng lại tối hơn đêm. Những gì trước kia từng làm mình sốt sắng bỗng trở nên nhạt nhẽo; những nâng đỡ quen thuộc biến mất; những người mình trông cậy có khi không còn hiểu mình; một lời cầu xin đã kéo dài nhiều năm vẫn chưa được đáp lại; một vết thương tưởng đã lành bỗng đau trở lại; một người thân rời xa; một căn bệnh đến; một biến cố làm đảo lộn tất cả; thậm chí có lúc ta phải thốt lên: “Lạy Chúa, Chúa ở đâu?” Chính trong miền đất khô cằn ấy, linh đạo của Thánh Gioan Thánh Giá trở nên đặc biệt quý giá. Ngài nói đến “đêm tối”, nhưng không phải để làm cho đời Kitô hữu thêm u ám. Ngài nói đến đêm tối để chỉ cho ta thấy một điều tưởng như nghịch lý: nhiều khi chính lúc ta tưởng mình xa Chúa nhất lại là lúc Chúa đang âm thầm kéo ta đến gần Ngài nhất; nhiều khi chính lúc ta không cảm thấy gì lại là lúc đức tin đang được thanh luyện để chỉ còn bám vào một mình Thiên Chúa; và nhiều khi chính Thánh Giá tưởng như đang đè nặng trên vai lại là con đường đưa linh hồn vào một tình yêu tự do hơn, tinh tuyền hơn và sâu xa hơn.
Thánh Gioan Thánh Giá không phải là một con người ngồi trong phòng yên tĩnh để nghĩ ra một lý thuyết đẹp về đau khổ. Ngài đã đi qua đau khổ thật. Ngài sinh năm 1542 tại Tây Ban Nha, lớn lên trong cảnh nghèo khó, sớm nếm trải mất mát và thiếu thốn. Sau này, khi cùng Thánh Têrêsa Avila tham gia công cuộc cải tổ đời sống dòng Cát Minh, ngài gặp những chống đối dữ dội. Có lúc ngài bị chính những người anh em của mình bắt giữ và giam trong một căn phòng chật hẹp, tối tăm, bị đối xử khắc nghiệt, thiếu thốn cả vật chất lẫn sự cảm thông. Điều đau nhất không phải chỉ là những bức tường đá. Điều đau nhất là bị hiểu lầm bởi chính những người tưởng ra phải hiểu mình. Thập giá lớn nhất của đời người đôi khi không đến từ kẻ thù mà đến từ những người gần gũi; không đến từ người xa lạ mà đến từ người cùng chung một mái nhà, cùng chung một bàn ăn, cùng chung một cộng đoàn, thậm chí cùng chung một lý tưởng. Gioan Thánh Giá đã đi qua thứ thập giá ấy. Trong cảnh tăm tối đó, ngài không trở thành một con người cay độc. Trái lại, chính nơi bóng tối, những lời thơ huyền nhiệm tuyệt đẹp đã được khai sinh. Cái nhà tù bên ngoài không giam được linh hồn; bóng đêm bên ngoài không dập tắt được ánh sáng bên trong. Và từ kinh nghiệm ấy, ngài hiểu rất sâu rằng có một thứ bóng tối không phải là sự vắng mặt của Thiên Chúa, mà là sự hiện diện của một Thiên Chúa quá lớn khiến đôi mắt nhỏ bé của ta chưa thể nhận ra.
Ta thường nghĩ ánh sáng là thấy rõ, còn bóng tối là không thấy gì. Trong đời thiêng liêng, không phải lúc nào cũng như vậy. Khi bước vào một căn phòng quá sáng sau một thời gian dài ở trong bóng tối, mắt ta có thể đau và tưởng như chẳng thấy gì. Không phải vì thiếu ánh sáng, nhưng vì ánh sáng quá mạnh. Gioan Thánh Giá dùng kinh nghiệm đêm tối để diễn tả một công trình Thiên Chúa thực hiện trong linh hồn: thanh luyện con người khỏi những bám víu, kể cả những bám víu rất tinh tế vào các cảm giác đạo đức, để linh hồn học yêu Thiên Chúa vì chính Ngài chứ không chỉ vì những an ủi Ngài ban. Điều này rất quan trọng. Có người yêu Chúa khi lời cầu nguyện ngọt ngào, nhưng khi cầu nguyện khô khan thì bỏ. Có người tin Chúa khi mọi chuyện thuận lợi, nhưng khi tai họa xảy đến thì nghi ngờ. Có người sốt sắng khi được khen, được nhìn nhận, được giao việc, nhưng khi bị quên lãng thì chán nản. Có người phục vụ rất hăng hái chừng nào còn thấy mình quan trọng, nhưng khi người khác được chọn thay mình thì trong lòng nổi giận. Có người tưởng mình yêu Chúa, nhưng thực ra đang yêu cảm giác dễ chịu do việc đạo đức đem lại. Chúa thương ta quá nhiều nên không muốn ta dừng ở đó. Ngài muốn đưa ta từ việc yêu những món quà đến yêu chính Đấng ban quà; từ việc tìm cảm giác về Chúa đến tìm chính Chúa; từ một đức tin cần được nhìn thấy đến một đức tin có thể bước đi ngay cả khi chẳng nhìn thấy gì.
Vì thế, “đêm tối của linh hồn” không đơn giản là buồn, thất vọng, mệt mỏi hay một giai đoạn tâm lý nặng nề. Càng không nên vội vàng gán mọi đau khổ, mọi khủng hoảng tinh thần, mọi tình trạng kiệt sức hay bệnh lý tâm thần thành một “đêm tối huyền nhiệm”. Đời sống con người có thân xác, tâm lý, tương quan, lịch sử và những giới hạn rất thật; khi cần thiết, việc tìm sự giúp đỡ thích hợp không phải là thiếu đức tin. Nhưng trong ý nghĩa thiêng liêng mà Gioan Thánh Giá nói tới, đêm tối là một tiến trình thanh luyện sâu xa trong đó Thiên Chúa dạy linh hồn buông khỏi những chỗ dựa không phải là Ngài, để sống bằng đức tin tinh tuyền hơn. Có “đêm tối của giác quan”, khi những cảm giác sốt sắng, những thú vị đạo đức, những an ủi bên ngoài dần bị lấy đi. Và còn có sự thanh luyện sâu hơn nơi tinh thần, nơi con người phải đối diện với chính sự bất lực, tối tăm và nghèo nàn tận đáy của mình. Lúc ấy ta không những không thấy Chúa, mà đôi khi còn không thấy chính mình. Ta không biết mình đang tiến hay lùi. Ta không còn dựa được trên thành công của mình. Ta không còn lấy những việc mình làm để tự chứng minh rằng mình tốt. Mọi lớp áo tinh thần mà cái tôi dùng để che thân lần lượt rơi xuống. Và linh hồn đứng nghèo trước Thiên Chúa, chẳng còn gì ngoài một lời rất nhỏ: “Lạy Chúa, con tin, dù con không thấy.”
Đó chính là nơi Thánh Giá xuất hiện. Thánh Giá không phải chỉ là một vật được treo trên tường, đeo trước ngực hay đặt trên bàn thờ. Thánh Giá trước hết là mầu nhiệm của Đức Kitô hoàn toàn trao mình trong tình yêu ngay giữa lúc mọi chỗ dựa hữu hình dường như bị lấy đi. Trên đồi Golgotha, Đức Giêsu không chết giữa những tràng pháo tay. Ngài chết trong cô đơn. Đám đông từng tung hô Ngài đã biến mất hoặc quay sang chế nhạo. Các môn đệ tản mác. Phêrô chối Thầy. Giuđa phản bội. Những người qua đường lắc đầu. Những kẻ có quyền chế nhạo: nếu thật là Con Thiên Chúa thì hãy xuống khỏi thập giá. Và điều khủng khiếp hơn cả là từ trên cây gỗ ấy vang lên một lời khiến bất cứ ai từng đi qua bóng tối cũng phải rùng mình: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Đức Giêsu đã bước vào tận cùng kinh nghiệm của con người đau khổ. Ngài không đứng bên ngoài bóng tối để giảng về bóng tối. Ngài bước vào bóng tối. Ngài không đứng trên bờ để bảo người đang chìm hãy cố bơi. Ngài xuống tận dòng nước của đau khổ và cái chết. Từ đó, không một đêm tối chân thành nào của con người còn là nơi Đức Kitô chưa từng đi qua.
Tin Mừng kể lại một cảnh rất đáng để ta dừng thật lâu. Khi Đức Giêsu hấp hối, trời tối sầm. Người ta có thể nhìn bóng tối ấy như một chi tiết của cuộc Thương Khó, nhưng trong ánh sáng linh đạo Thánh Gioan Thánh Giá, bóng tối của Golgotha gần như trở thành một biểu tượng lớn lao của hành trình đức tin. Đức Giêsu đang ở chính giữa bóng tối mà vẫn thưa với Chúa Cha. Ngài không cảm nhận một cuộc giải cứu tức khắc. Không có đạo binh thiên thần nào xuống tháo đinh. Không có phép lạ nào khiến thập giá biến mất. Không có tiếng từ trời vang lên như tại sông Giođan hay trên núi Hiển Dung. Chỉ có thân thể bị đóng đinh, những vết thương, cơn khát, sự chế nhạo, và một lời phó thác cuối cùng: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Đây chính là đức tin khi đức tin không còn dựa trên cảm giác. Đây chính là tình yêu khi tình yêu không còn được nâng đỡ bởi thành công. Đây chính là sự phó thác khi không có dấu hiệu hữu hình nào bảo đảm rằng mọi chuyện sẽ lập tức tốt đẹp. Đức Giêsu chết trong bóng tối của Thứ Sáu, nhưng bình minh Phục Sinh đã ở trong chương trình của Chúa Cha. Ngài chưa nhìn thấy bằng đôi mắt xác thịt điều sẽ xảy ra sáng ngày thứ nhất, nhưng Ngài phó mình. Đó là Thánh Giá. Và đó cũng là bí mật của đêm tối.
Có lẽ một trong những sai lầm lớn nhất trong đời sống đạo là nghĩ rằng càng gần Chúa thì càng ít đau khổ. Không. Tin Mừng không hứa như thế. Đức Maria càng gần Chúa hơn bất cứ ai, nhưng Mẹ đứng dưới chân Thập Giá. Các Tông đồ càng đi sâu vào sứ vụ thì càng phải trả giá. Phaolô càng gắn bó với Đức Kitô thì càng trải qua tù đày, đòn vọt, hiểu lầm và cuối cùng là cái chết. Các thánh không phải là những người được miễn trừ thập giá. Các ngài là những người học được cách vác thập giá với Đức Kitô. Sự khác nhau không nằm ở chỗ người tin Chúa không đau, nhưng ở chỗ người tin Chúa khám phá rằng đau khổ không còn là một con đường vô nghĩa nếu được kết hợp với Đức Kitô. Thánh Giá không tự nó là điều tốt. Bạo lực không tốt. Bệnh tật không tốt. Phản bội không tốt. Bất công không tốt. Chúa không muốn ta yêu đau khổ vì đau khổ. Nhưng tình yêu của Thiên Chúa có một quyền năng kỳ diệu: Ngài có thể đi vào điều xấu mà ta không lựa chọn, không gây nên, rồi biến chính nơi đó thành nơi gặp gỡ, thanh luyện và cứu độ. Con người đóng đinh Đức Giêsu; Thiên Chúa biến cây thập giá thành cây cứu độ. Con người tạo nên một ngày Thứ Sáu đẫm máu; Thiên Chúa mở từ đó con đường đi tới sáng Phục Sinh.
Gioan Thánh Giá hiểu rất rõ điều ấy nên linh đạo của ngài không phải là linh đạo yêu sự đau đớn, mà là linh đạo của sự tự do. Khi nói đến từ bỏ, trút bỏ, thanh luyện, ngài không muốn làm con người nhỏ lại. Ngài muốn linh hồn được tự do đủ để yêu. Một chiếc ly đầy nước đục phải được đổ đi để chứa rượu ngon. Một bàn tay đang nắm chặt quá nhiều thứ không thể nhận thêm một món quà lớn. Một con tim dính chặt vào danh dự, tiền bạc, quyền lực, sự công nhận, cảm xúc, ý riêng, hình ảnh bản thân, thậm chí cả sự thành công trong việc tông đồ, sẽ không còn chỗ cho Thiên Chúa làm chủ hoàn toàn. Chính vì vậy, Thánh Giá đi vào đời ta như một cuộc tháo gỡ. Có những điều Chúa không cất đi vì chúng xấu, nhưng vì ta đang bám vào chúng quá chặt. Có những thành công Chúa cho qua đi để ta hiểu rằng giá trị của mình không nằm ở thành công. Có những người Chúa để rời khỏi đời ta để ta nhận ra không một thụ tạo nào có thể thay thế Ngài. Có những thời gian cầu nguyện trở nên khô khan để ta học quỳ xuống không phải vì mình được an ủi mà chỉ vì Ngài là Chúa. Có những lần phục vụ không ai nhớ đến để ta học làm điều tốt không vì tiếng vỗ tay. Có những khi bị hiểu lầm mà không thể giải thích để ta học trao danh dự của mình vào tay Thiên Chúa. Nếu đón nhận trong đức tin, từng kinh nghiệm ấy có thể trở thành một mảnh nhỏ của đêm tối thanh luyện.
Nhưng nói thì dễ, sống mới khó. Khi người khác đau, ta có thể nói: “Hãy tin Chúa.” Khi chính mình đau, ba chữ ấy có khi nặng như đá. Khi người khác gặp thất bại, ta bảo: “Chúa có chương trình.” Đến khi chính kế hoạch của mình tan vỡ, ta mới biết tin vào chương trình của Chúa khó đến mức nào. Khi người khác mất một người thân, ta có thể nói về sự sống đời sau. Đến ngày chiếc ghế bên cạnh bàn ăn của nhà mình trống đi, ta mới hiểu một khoảng trống có thể đau ra sao. Khi người khác bị hiểu lầm, ta khuyên họ khiêm tốn. Đến khi danh dự của mình bị tổn thương, ta mới thấy cái tôi có bao nhiêu rễ sâu. Khi người khác bệnh, ta khuyên dâng lên Chúa. Đến khi chính thân xác mình đau từng đêm, ta mới hiểu một đêm dài như thế nào. Thánh Gioan Thánh Giá không phủ nhận những điều ấy. Đức tin chân thật không bắt người đau phải giả vờ không đau. Đức Giêsu trong Vườn Cây Dầu đã buồn đến chết được. Ngài xin: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Kitô giáo không dạy người ta phải cười trong mọi hoàn cảnh như thể nước mắt là dấu hiệu yếu đức tin. Đức Giêsu đã khóc trước mộ Ladarô. Đức Maria đã đau. Các thánh đã đau. Điều đức tin làm không phải xóa nước mắt, nhưng là không để nước mắt trở thành lời cuối cùng.
Đêm tối nguy hiểm nhất không phải là khi ta không cảm thấy Chúa. Đêm tối nguy hiểm nhất là khi ta vì không cảm thấy Chúa mà quyết định rằng Chúa không còn hiện diện. Cảm giác và sự thật không phải lúc nào cũng trùng nhau. Một đứa trẻ ngủ trong xe giữa đêm có thể không nhìn thấy cha mình, nhưng cha vẫn đang lái. Một người đang phẫu thuật không biết bác sĩ đang làm gì, nhưng việc mình không biết không có nghĩa là chẳng có ai đang chăm sóc. Trong đời thiêng liêng cũng vậy. Có thời điểm Chúa cho ta cảm thấy sự hiện diện của Ngài. Có thời điểm Ngài dạy ta tin vào sự hiện diện ấy mà không cần cảm giác. Khi còn mới bước đi, một đứa trẻ cần mẹ nắm tay. Khi lớn hơn, mẹ buông tay ra vài bước. Việc buông tay không có nghĩa mẹ bỏ con. Đó là cách con học đứng vững. Những người đã từng sống một đời cầu nguyện lâu năm sẽ hiểu: có lúc Chúa nâng đỡ bằng sự ngọt ngào, nhưng cũng có lúc Ngài nâng đỡ bằng chính sự im lặng. Sự im lặng của Thiên Chúa không nhất thiết là sự vắng mặt của Thiên Chúa.
Có những linh hồn đã cầu xin một điều rất chính đáng suốt nhiều năm mà vẫn chưa thấy câu trả lời. Một người mẹ cầu cho đứa con trở về. Một người chồng cầu cho gia đình khỏi tan vỡ. Một người con cầu cho cha mẹ khỏi bệnh. Một linh mục cầu cho cộng đoàn được bình an. Một người trẻ cầu xin biết đường tương lai. Một người nghèo xin một công việc. Một người bị vu oan xin sự thật được sáng tỏ. Ngày này qua ngày khác, họ vẫn cầu. Có khi dường như Chúa không nói gì. Chính tại đó câu hỏi thật sự của đức tin xuất hiện: “Nếu Chúa chưa cho điều tôi xin, tôi còn yêu Chúa không? Nếu Chúa không giải thích cho tôi, tôi còn tin Ngài không? Nếu con đường trước mặt vẫn tối, tôi có bước thêm một bước nữa không?” Đây là nơi đức tin không còn là một ý tưởng mà trở thành hành vi phó thác. Ápraham ra đi mà chưa thấy miền đất. Đức Maria nói “xin vâng” mà chưa biết tất cả những gì lời xin vâng ấy sẽ đưa Mẹ đến. Phêrô bước ra khỏi thuyền khi mặt biển vẫn còn sóng. Và Đức Giêsu đi lên Golgotha khi Phục Sinh vẫn còn nằm sau bức màn của cái chết.
Một trong những hình ảnh Tin Mừng đẹp nhất để hiểu đêm tối là câu chuyện các môn đệ trên biển hồ. Đêm xuống. Gió ngược. Sóng đánh vào thuyền. Các môn đệ vật lộn giữa biển. Đức Giêsu lại không ở trong thuyền với họ. Ngài ở trên núi cầu nguyện. Nếu là một môn đệ trong khoảnh khắc ấy, có lẽ ta sẽ hỏi: Thầy ở đâu? Tại sao Thầy để chúng con một mình? Tại sao Thầy biết có bão mà vẫn bảo chúng con xuống thuyền? Thế nhưng chính trong đêm, Đức Giêsu đi trên mặt biển đến với họ. Các môn đệ nhìn Ngài mà lại tưởng là ma. Đây là một chi tiết rất sâu: Chúa đang đến nhưng họ tưởng là điều đáng sợ. Chúa ở rất gần nhưng vì bóng tối nên họ nhận lầm Ngài. Trong đời chúng ta cũng có những biến cố như thế. Có một cánh cửa đóng lại, ta tưởng là tai họa; nhiều năm sau mới nhận ra nhờ cánh cửa ấy ta đã không đi vào con đường sai. Có một công việc mất đi, lúc đầu tưởng đời mình sụp đổ; sau này chính biến cố ấy mở ra một hướng khác. Có một sự thất bại làm ta nhục nhã; về sau ta mới hiểu nó cứu ta khỏi kiêu ngạo. Không phải đau khổ nào cũng có thể giải thích dễ dàng, và ta không nên rẻ tiền hóa nỗi đau bằng cách gán cho mọi sự một lý do giản đơn. Nhưng Tin Mừng cho ta một niềm hy vọng: giữa đêm tối, Chúa vẫn có thể đang bước tới. Và lời đầu tiên Ngài nói là: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ.”
“Chính Thầy đây.” Có lẽ thế là đủ cho người đang trong đêm tối. Không phải câu trả lời cho tất cả các câu hỏi. Không phải lời giải thích chi tiết tại sao chuyện này xảy ra, tại sao người ấy ra đi, tại sao căn bệnh ấy đến, tại sao lời cầu nguyện ấy chưa được nhận. Chỉ là: “Chính Thầy đây.” Đức tin Kitô giáo cuối cùng không đặt nền trên việc ta hiểu hết mọi biến cố, mà trên việc ta biết Ai đang cùng đi với mình. Người ta có thể chịu được rất nhiều nếu biết mình không cô độc. Một đứa trẻ có thể đi qua căn phòng tối khi nắm tay cha. Căn phòng không sáng hơn, nhưng bàn tay làm nên khác biệt. Đêm tối của linh hồn cũng thế. Chúa không luôn bật đèn ngay tức khắc. Nhiều khi Ngài chỉ đưa tay. Và ta phải quyết định có đặt tay mình trong tay Ngài hay không.
Thánh Giá chính là bàn tay ấy của Thiên Chúa đưa xuống tận vực sâu con người. Khi nhìn lên Thánh Giá, ta không được một lời giải thích triết học cho mọi đau khổ. Ta nhận được một Đấng cùng chịu đau khổ với ta. Thiên Chúa của Kitô giáo không đứng xa trên trời nói với con người rằng: “Hãy chịu đựng đi.” Ngài mang thân phận con người, bước vào thế giới, bị đói, khát, mệt, bị phản bội, bị bỏ rơi, bị đánh đập, bị đóng đinh và chết. Vì thế, khi một người đứng trước thập giá và nói: “Chúa không hiểu con,” thì từ Thập Giá, Đức Giêsu có thể trả lời bằng chính những vết thương của Ngài. Chúa hiểu sự phản bội, vì Giuđa đã hôn Ngài. Chúa hiểu bị bạn bè bỏ rơi, vì các môn đệ đã chạy trốn. Chúa hiểu bị vu cáo, vì Ngài đã bị kết án dù vô tội. Chúa hiểu đau đớn thể xác, vì tay chân Ngài bị đóng đinh. Chúa hiểu khát, vì Ngài nói: “Ta khát.” Chúa hiểu cảm giác bị bỏ rơi, vì Ngài đã kêu lên giữa bóng tối. Không có vực sâu nào của đau khổ con người mà tình yêu của Đức Kitô không thể bước xuống.
Nhưng Thánh Giá còn nói một điều lớn hơn: bóng tối không thắng được tình yêu. Người ta làm tất cả những gì tệ nhất có thể làm với Đức Giêsu, nhưng họ không thể bắt Ngài ngừng yêu. Họ đóng đinh đôi tay đã chữa lành, nhưng đôi tay ấy vẫn mở ra. Họ xúc phạm Ngài, nhưng Ngài cầu xin: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Họ lấy áo Ngài, danh dự Ngài, tự do Ngài, sự sống Ngài, nhưng không ai lấy được tình yêu của Ngài. Và đây có lẽ là chiến thắng lớn nhất của Thánh Giá. Thắng không phải vì thoát khỏi đau khổ, mà vì ngay giữa đau khổ vẫn yêu. Có những cuộc chiến ta thắng khi hoàn cảnh thay đổi. Nhưng cũng có những cuộc chiến sâu hơn ta thắng khi hoàn cảnh chưa thay đổi mà lòng ta không trở nên cay độc. Một người bị tổn thương mà vẫn không trả thù; một người bị bỏ quên mà vẫn phục vụ; một người chịu bệnh mà vẫn biết quan tâm người khác; một người bị hiểu lầm mà vẫn giữ lòng bình an; một người mất tất cả mà vẫn không đánh mất Thiên Chúa — đó là những chiến thắng âm thầm mang hình dáng Thánh Giá.
Gioan Thánh Giá từng nhấn mạnh rằng vào buổi chiều của cuộc đời, con người sẽ được xét xử về tình yêu. Đây là điểm cuối cùng của mọi cuộc thanh luyện. Chúa lấy đi không phải để làm ta trắng tay, mà để ta có thể yêu bằng một trái tim tự do. Nếu ta cần người khác khen mới yêu họ, đó chưa phải tình yêu tự do. Nếu ta chỉ phục vụ khi được biết ơn, đó còn là trao đổi. Nếu ta chỉ trung thành với Chúa khi được an ủi, đức tin ấy vẫn còn điều kiện. Đêm tối làm lộ những điều kiện ta đã âm thầm đặt ra với Thiên Chúa. “Con sẽ theo Chúa nếu Chúa cho con sức khỏe.” “Con sẽ phục vụ nếu người ta tôn trọng con.” “Con sẽ vui nếu công việc thành công.” “Con sẽ tin nếu Chúa làm điều con xin.” Và rồi có lúc, tất cả chữ “nếu” ấy bị thử thách. Lúc đó linh hồn học một lời cầu nguyện khác: “Lạy Chúa, dù thế nào, Chúa vẫn là Chúa của con.” Đây không phải là sự cam chịu mù quáng. Đây là tình yêu trưởng thành.
Nhiều người muốn lên núi Tabor nhưng không muốn đi Golgotha. Ta thích Đức Giêsu Hiển Dung, áo trắng chói lọi, hơn Đức Giêsu mặt đầy máu. Ta thích những Thánh lễ sốt sắng hơn những Thánh lễ mà đầu óc mệt mỏi. Ta thích những ngày Chúa trả lời cầu nguyện hơn những tháng năm im lặng. Ta thích câu chuyện Phục Sinh hơn Thứ Sáu Tuần Thánh. Nhưng Kitô giáo không cho phép ta tách hai điều ấy. Chính Đấng Hiển Dung cũng là Đấng chịu đóng đinh. Chính bàn tay bẻ bánh trong Bữa Tiệc Ly là bàn tay bị đóng đinh hôm sau. Chính trái tim yêu môn đệ đến cùng là trái tim bị lưỡi đòng đâm thâu. Và chính thân xác được đặt trong mồ là thân xác sống lại. Muốn đi với Đức Kitô, ta phải đi trọn con đường. Đêm tối không phải đích đến. Thánh Giá không phải chương cuối. Nhưng không có con đường tắt để đến sáng Phục Sinh mà né hoàn toàn Golgotha.
Điều này đặc biệt quan trọng cho những người đã sống đạo lâu năm. Khi mới bắt đầu, ta có thể rất hăng hái. Đi lễ thấy vui. Cầu nguyện cảm động. Làm việc tông đồ đầy nhiệt tình. Nhưng rồi năm tháng qua đi, đời sống bước vào sự bình thường. Công việc lặp lại. Cộng đoàn không hoàn hảo. Những người mình phục vụ đôi khi vô ơn. Chính mình cũng thấy những giới hạn của bản thân. Có khi càng lớn tuổi càng nhận ra mình chẳng thánh thiện như mình từng tưởng. Đây có thể là một ân sủng rất lớn. Khi còn trẻ trong đời thiêng liêng, ta tưởng thánh thiện là làm được nhiều điều cho Chúa. Khi trưởng thành hơn, ta khám phá thánh thiện trước hết là để Chúa làm điều Ngài muốn nơi mình. Khi còn trẻ ta hỏi: “Con sẽ làm gì cho Chúa?” Về sau ta phải học câu hỏi khó hơn: “Con có để Chúa làm gì Ngài muốn với cuộc đời con không?” Câu hỏi thứ hai dẫn thẳng tới Thánh Giá.
Một linh mục có thể trải qua đêm tối khi nhiệt huyết mục vụ giảm xuống, khi lời giảng không còn được người ta đón nhận như trước, khi sức khỏe yếu, khi cộng đoàn thay đổi, khi những hy sinh âm thầm chẳng mấy ai biết. Một tu sĩ có thể trải qua đêm tối khi đời sống cộng đoàn trở nên nặng nề, khi sứ vụ không còn hấp dẫn, khi lời khấn đã đi qua nhiều năm và mọi điều mới mẻ đã trở thành bổn phận hằng ngày. Một người sống đời hôn nhân có thể gặp đêm tối khi cảm xúc thuở ban đầu nhường chỗ cho những lo toan, bệnh tật, kinh tế, bất đồng, con cái. Một người làm cha mẹ có thể gặp đêm tối khi đứa con mình đã nuôi dưỡng bằng bao yêu thương đi theo con đường khiến lòng cha mẹ tan nát. Một người trẻ gặp đêm tối khi nhìn tương lai chẳng biết đi đâu. Một người già gặp đêm tối khi thấy mình chậm lại, yếu đi, ngày càng phụ thuộc người khác. Mỗi ơn gọi có một Golgotha riêng. Nhưng trong mọi Golgotha, Đức Kitô đã có mặt trước ta.
Và có một điều rất lạ: Chúa thường làm những việc sâu nhất trong linh hồn mà ta không nhìn thấy. Hạt giống nằm trong lòng đất không ồn ào. Rễ cây lớn trong bóng tối. Một em bé thành hình trong cung lòng mẹ trong thinh lặng. Men làm dậy cả khối bột mà không phát ra tiếng. Nước ngấm vào đất rất âm thầm. Công trình của ân sủng nhiều khi cũng như vậy. Ta cứ đòi thấy kết quả, nhưng Chúa đang làm việc ở nơi sâu hơn kết quả. Ta xin Chúa thay đổi hoàn cảnh, Ngài có khi đang thay đổi trái tim ta. Ta xin Ngài cất người khó chịu khỏi đời mình, Ngài lại dùng người ấy để cho ta thấy sự thiếu kiên nhẫn trong ta. Ta xin Ngài làm cho mọi việc thành công, Ngài lại muốn giải thoát ta khỏi nhu cầu phải thành công. Ta xin Ngài nói, Ngài lại dạy ta nghe sự thinh lặng. Ta xin ánh sáng, Ngài cho ta một ngọn đèn vừa đủ cho bước kế tiếp, vì nếu thấy cả con đường, có lẽ ta sẽ không còn cần tin.
Thánh Gioan Thánh Giá giúp ta hiểu rằng đức tin không phải sở hữu Thiên Chúa, nhưng để Thiên Chúa sở hữu mình. Ta thường muốn giữ Chúa trong những khuôn khổ an toàn: Chúa phải hành động thế này, phải trả lời thế kia, phải cứu mình theo cách này. Nhưng Thiên Chúa luôn lớn hơn những hình ảnh ta có về Ngài. Có khi “đêm tối” chính là lúc những hình ảnh quá nhỏ của ta về Thiên Chúa phải sụp xuống để Thiên Chúa thật xuất hiện. Ta từng nghĩ Chúa yêu mình nghĩa là Ngài sẽ không để mình thất bại. Khi thất bại đến, hình ảnh ấy sụp. Rồi ta khám phá Chúa vẫn yêu ta trong thất bại. Ta từng nghĩ Chúa ở với mình nghĩa là mình phải luôn cảm thấy bình an. Khi khô khan đến, hình ảnh ấy sụp. Rồi ta học rằng Chúa vẫn ở đó ngay cả khi lòng chẳng có cảm giác gì. Ta từng nghĩ người tốt sẽ luôn được đối xử công bằng. Khi bất công xảy đến, hình ảnh ấy sụp. Rồi ta nhìn Đức Giêsu vô tội trên Thập Giá và hiểu rằng tình yêu của Thiên Chúa không phải tấm vé miễn trừ mọi đau khổ, nhưng là lời bảo đảm rằng đau khổ không có quyền quyết định ý nghĩa cuối cùng của đời ta.
Đêm tối cũng dạy ta khiêm nhường. Khi mọi việc tốt đẹp, ta rất dễ nghĩ mình mạnh. Khi cầu nguyện sốt sắng, ta tưởng mình đạo đức. Khi phục vụ thành công, ta tưởng mình có khả năng. Khi được người ta yêu quý, ta tưởng mình đáng yêu hơn người khác. Nhưng chỉ cần một cơn gió lớn, chiếc thuyền tự tin của ta chao đảo. Khi ấy ta mới hiểu lời Đức Giêsu: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” Đó không phải một lời làm nhục con người. Đó là lời giải thoát. Ta không cần giả vờ mạnh nữa. Không cần mang gương mặt lúc nào cũng ổn. Không cần chứng minh mình là người hoàn hảo. Ta có thể đến với Chúa như mình là: nghèo, mệt, bối rối, có khi đầy nước mắt. Thánh Phêrô đã không đọc một bài thần học khi chìm xuống nước. Ông chỉ kêu: “Lạy Ngài, xin cứu con!” Có lẽ đó là một trong những lời cầu nguyện chân thật nhất. Khi mọi lời dài dòng biến mất, chỉ còn tiếng kêu ấy. Và Tin Mừng nói Đức Giêsu lập tức đưa tay nắm lấy ông.
Đó là điều ta phải nhớ trong những đêm đen nhất: bàn tay Chúa gần hơn ta tưởng. Ta có thể không cảm thấy. Ta có thể không hiểu. Nhưng hãy cứ kêu. Có những người bỏ cầu nguyện vì họ thấy mình cầu không hay. Không cần hay. Có người bỏ lễ vì lòng nguội lạnh. Chính lúc nguội lạnh lại càng cần đến. Có người xấu hổ vì cứ lặp đi lặp lại một lời: “Lạy Chúa, xin giúp con.” Hãy cứ lặp. Người thu thuế trong Tin Mừng chỉ đấm ngực và nói: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.” Người trộm lành trên thập giá chỉ nói: “Khi vào Nước Ngài, xin nhớ đến tôi.” Những lời cầu nguyện lớn đôi khi rất ngắn. Trong đêm tối, đừng cố tạo cảm xúc. Hãy trung thành. Một kinh Lạy Cha đọc trong khô khan có khi quý hơn nhiều lời cầu nguyện đầy cảm xúc. Một Thánh lễ ta tham dự khi lòng nặng như chì có thể là một hành vi yêu mến rất tinh tuyền. Một việc bác ái làm âm thầm khi chẳng ai cảm ơn có thể là một bông hoa đẹp trước mặt Chúa. Đức tin lớn lên không chỉ trong những giây phút bay bổng mà rất nhiều trong những bước chân nặng nề vẫn không quay lại.
Ta cũng cần phân biệt giữa vác Thánh Giá và tự tạo thập giá cho mình. Chúa không đòi ta ở lại trong một tình trạng bị lạm dụng, bạo lực hoặc bất công chỉ để gọi đó là “vác thập giá”. Chúa Giêsu đón nhận Thập Giá trong sự tự do và tình yêu, nhưng Ngài cũng lên án sự giả hình, bảo vệ người yếu thế, đối diện với bất công. Có những thập giá ta phải ôm; có những thập giá ta phải tìm cách tháo xuống cho người khác; có những tình trạng ta phải can đảm thay đổi. Sự phân định rất cần thiết. Linh đạo đêm tối không phải lời mời sống thụ động. Trái lại, ai càng thuộc về Thiên Chúa càng được tự do khỏi sợ hãi để tìm kiếm sự thật và điều thiện. Điều cần chết trên Thánh Giá trước hết là con người cũ trong ta: kiêu ngạo, ích kỷ, oán thù, dính bén, ý riêng tuyệt đối, khát vọng kiểm soát người khác. Có khi ta than thập giá nặng nhưng thực ra điều nặng nhất là vì ta không muốn từ bỏ ý mình.
Thánh Giá cũng thanh luyện cách ta yêu người khác. Ta thường yêu người khác khi họ đáp ứng mong đợi. Cha mẹ yêu con nhưng đôi khi vô tình muốn con trở thành điều mình mong. Vợ chồng yêu nhau nhưng có khi muốn người kia phải giống mình. Linh mục yêu cộng đoàn nhưng có khi muốn giáo dân phải luôn nghe mình. Người phục vụ Giáo Hội yêu sứ vụ nhưng có khi cũng yêu vị trí của mình trong sứ vụ. Đêm tối bóc những điều ấy ra. Khi người kia không làm theo ý mình, ta mới biết tình yêu của ta sâu đến đâu. Chúa Giêsu yêu Phêrô khi biết Phêrô sẽ chối Ngài. Ngài rửa chân Giuđa khi biết Giuđa sắp phản bội. Ngài cầu xin tha cho những người đang đóng đinh mình. Đây là thứ tình yêu đã đi qua đêm tối. Nó không ngây thơ. Nó biết cái giá phải trả. Nhưng nó vẫn yêu. Chính vì vậy nó có sức cứu độ.
Nếu ta hỏi Thánh Gioan Thánh Giá rằng phải làm gì khi đang trong đêm tối, có lẽ lời đầu tiên không phải là tìm cách thoát thật nhanh, nhưng là trung thành. Trung thành với điều Chúa đã cho ta biết trong ánh sáng khi ta bước vào bóng tối. Người thủy thủ giữa đêm không đổi hướng chỉ vì không nhìn thấy bờ; ông dựa vào la bàn. Đời thiêng liêng cũng cần những chiếc la bàn: Lời Chúa, các Bí tích, cầu nguyện, bổn phận, sự hướng dẫn khôn ngoan của Hội Thánh, những quyết định đúng đã được phân định trong thời gian bình an. Khi đang khô khan, đừng vội phá bỏ mọi điều. Khi đang bị tổn thương, đừng quyết định tất cả chỉ bằng cảm xúc. Khi đang tối, hãy bám những điều chắc chắn. Chúa là Đấng trung tín. Đức Kitô đã chết và đã sống lại. Ta thuộc về Ngài. Ân sủng của Ngài không phụ thuộc vào cảm giác của ta. Những chân lý ấy là những ngôi sao vẫn còn trên trời dù mây che mắt ta.
Hãy nhớ Đức Maria ngày Thứ Bảy Tuần Thánh. Tin Mừng không kể nhiều về ngày ấy. Một ngày rất im lặng. Đức Giêsu đã chết. Mồ đã đóng. Các môn đệ hoảng loạn. Những lời hứa về Nước Thiên Chúa xem ra tan biến. Nếu có một “đêm tối” lớn trong lịch sử cứu độ, đó chính là khoảng thời gian giữa Thứ Sáu và sáng Chúa Nhật. Đức Maria ở đâu? Mẹ làm gì? Ta không biết chi tiết, nhưng đức tin của Hội Thánh vẫn nhìn Mẹ như người đã giữ lời Chúa trong lòng. Mẹ không có bằng chứng hữu hình của Phục Sinh trong ngày thứ Bảy ấy. Mẹ chỉ có lời của Con. Và Mẹ chờ. Có những thời gian đời ta cũng là một “Thứ Bảy Tuần Thánh”: cái cũ đã chết, cái mới chưa xuất hiện; cánh cửa sau lưng đã đóng, cửa trước chưa mở; lời hứa có đó nhưng dấu chỉ chưa thấy. Đừng vội tuyệt vọng trong ngày thứ Bảy. Chúa đang làm điều ta không nhìn thấy. Ngôi mộ tưởng như điểm kết thúc đang chuẩn bị trở thành nơi khởi đầu.
Thật ra, đời sống đức tin trưởng thành rất nhiều ở khả năng chờ. Ta muốn Chúa trả lời ngay. Chúa lại có thời giờ của Ngài. Ta muốn chữa lành ngay. Ngài đôi khi chữa từng lớp. Ta muốn hiểu ngay. Ngài cho ta hiểu sau nhiều năm, hoặc có điều chỉ hiểu khi gặp Ngài. Ta muốn mùa xuân, nhưng Chúa cho một mùa đông. Cây trong mùa đông nhìn như chết, nhưng nhựa sống vẫn chạy sâu trong thân. Linh hồn có những mùa đông như thế. Đừng chặt cây chỉ vì nó chưa ra lá. Đừng bỏ cầu nguyện chỉ vì chưa thấy hoa. Đừng kết luận Chúa bỏ mình chỉ vì mùa đông kéo dài. Đừng gọi một trang là kết thúc khi Thiên Chúa vẫn đang viết cuốn sách.
Có khi sau nhiều năm, ta nhìn lại và kinh ngạc rằng những thời gian làm mình đau nhất lại là những thời gian đã thay đổi mình nhiều nhất. Không phải vì đau khổ tự nó thánh hóa. Có người đau khổ rồi trở nên cay độc. Nhưng đau khổ được đưa vào tình yêu của Đức Kitô có thể trở thành trường học. Ta học thương người hơn vì mình từng đau. Ta bớt xét đoán vì mình từng yếu. Ta kiên nhẫn hơn vì từng chờ. Ta bớt kiêu ngạo vì từng thất bại. Ta biết lắng nghe vì từng không được ai lắng nghe. Ta biết ngồi im bên người khóc vì đã từng hiểu rằng đôi khi người đau không cần bài giảng, chỉ cần một người không bỏ đi. Khi ấy, những vết thương không biến mất hoàn toàn, nhưng chúng có thể trở thành những cánh cửa qua đó lòng thương xót đi vào thế giới.
Chúa Giêsu sống lại mà vẫn mang dấu đinh. Đây là một chi tiết kỳ diệu. Phục Sinh không xóa lịch sử Thương Khó. Thân xác vinh hiển vẫn có những vết thương. Ngài cho Tôma chạm vào đó. Điều ấy dạy ta rằng cứu độ không nhất thiết có nghĩa là đời ta trở lại y như trước khi bị thương. Có những biến cố thay đổi ta mãi mãi. Một người mất người thân không bao giờ hoàn toàn trở về như trước. Một người từng bị phản bội sẽ mang dấu vết. Một người qua bệnh nặng nhìn đời khác đi. Chúa không nhất thiết xóa mọi dấu vết. Ngài có thể biến vết thương thành dấu chỉ của ân sủng. Từ cạnh sườn bị đâm, máu và nước chảy ra. Từ những vết đinh, Tôma đi tới lời tuyên xưng: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Chính những gì từng là dấu của bạo lực trở thành bằng chứng của tình yêu chiến thắng. Đây là điều Thánh Giá có thể làm với những vết thương ta trao cho Chúa.
Bởi vậy, nếu hôm nay ai đó đang sống trong một đêm tối, xin đừng vội kết luận cuộc đời mình đã mất hướng. Có thể bạn đang không hiểu. Cứ thưa với Chúa rằng bạn không hiểu. Có thể bạn đang giận. Hãy nói với Chúa cả cơn giận. Các Thánh Vịnh đầy những tiếng kêu như thế. Có thể bạn không còn sức cầu nguyện dài. Chỉ cần nói: “Lạy Chúa, con đây.” Có thể bạn chỉ đủ sức nhìn lên cây Thánh Giá. Hãy nhìn. Đôi khi nhìn cũng đã là cầu nguyện. Có thể bạn không thể nói một lời. Hãy ngồi trước Chúa. Im lặng của một trái tim bị thương vẫn có thể là lời cầu nguyện. Chúa không đòi một người đang chảy máu phải trình bày thật đẹp. Ngài chỉ cần ta đừng chạy khỏi tình yêu của Ngài.
Đừng sợ bóng tối đến mức quên rằng có những điều đẹp nhất chỉ nhìn thấy ban đêm. Ban ngày ta không thấy các vì sao, không phải vì chúng không có đó, nhưng vì ánh sáng khác che khuất chúng. Có những chân lý về Thiên Chúa chỉ khi những ánh sáng nhỏ của đời ta tắt bớt ta mới bắt đầu thấy. Khi sức khỏe còn tốt, ta nói “Chúa là sức mạnh của con” nhưng có thể chưa hiểu. Khi sức lực giảm xuống, câu ấy có ý nghĩa khác. Khi mọi người còn bên cạnh, ta nói “Chúa là phần gia nghiệp của con”, nhưng khi cô đơn đến ta mới biết câu ấy nặng bao nhiêu. Khi mọi việc thành công, ta nói “Chúa là tất cả”, nhưng khi thất bại mà vẫn nói được câu ấy, linh hồn đã đi xa hơn rất nhiều. Đêm tối không tạo ra Thiên Chúa. Nó làm ta nhận ra những vì sao vốn đã ở đó.
Thánh Gioan Thánh Giá đã đi qua đêm để đến sự kết hợp với Thiên Chúa. Con đường của ngài không phải một công thức dành riêng cho các nhà thần bí. Ở một mức nào đó, mọi Kitô hữu đều được mời đi con đường Vượt Qua: mất để nhận, chết để sống, buông để được tự do, đi qua đêm để gặp bình minh. Đức Giêsu nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” Chúa không nói: hãy vác thập giá rồi đứng một mình. Ngài nói: “mà theo Thầy.” Điểm quan trọng nằm ở đó. Thánh Giá của Kitô hữu không bao giờ được vác một mình. Trước mặt ta có dấu chân Đức Kitô. Ngài đi trước. Khi mệt, hãy nhìn Ngài. Khi ngã, hãy gọi Ngài. Khi không hiểu, cứ bước theo Ngài. Điều cứu ta không phải khả năng vác giỏi đến đâu, mà là ta đang đi sau Ai.
Có những đêm kéo dài. Có những câu hỏi không được trả lời ngay. Có những vết thương chỉ lành rất chậm. Nhưng người Kitô hữu có quyền hy vọng, không vì mình lạc quan hơn người khác, mà vì Đức Kitô đã sống lại. Phục Sinh không phải một câu chuyện đẹp để an ủi tinh thần. Đó là nền tảng của niềm hy vọng Kitô giáo. Cái chết đã xảy ra thật, nhưng không giữ được Ngài. Ngôi mộ đã đóng thật, nhưng không phải mãi mãi. Thứ Sáu Tuần Thánh là thật, nhưng sáng Chúa Nhật cũng thật. Vì thế, khi đời mình đang ở Thứ Sáu, đừng quên Chúa Nhật. Khi đang ở trong mồ tối, đừng tưởng tảng đá là điều cuối cùng. Khi đang mất mát, đừng nghĩ tình yêu đã mất. Khi đang không cảm thấy Chúa, đừng nghĩ Chúa không còn đó.
Có lẽ lời cầu nguyện thích hợp nhất trong đêm tối không phải là: “Lạy Chúa, xin cho con hiểu tất cả,” nhưng là: “Lạy Chúa, xin cho con đừng buông tay Chúa.” Không phải: “Xin cất hết mọi thập giá,” nhưng là: “Xin cho con đừng đánh mất tình yêu khi đang mang thập giá.” Không phải: “Xin con luôn cảm thấy Chúa,” nhưng là: “Xin cho con tin Chúa ngay cả lúc không cảm thấy.” Không phải: “Xin mọi người hiểu con,” nhưng là: “Xin cho con đủ bình an khi chỉ mình Chúa hiểu.” Không phải: “Xin đời con luôn thành công,” nhưng là: “Xin cho đời con thuộc về Chúa.” Đó là tự do mà Gioan Thánh Giá đã tìm kiếm. Đó là sự nghèo khó nội tâm khiến linh hồn không còn sở hữu gì, để rồi khám phá rằng có Thiên Chúa là có tất cả.
Và rồi đến một ngày, linh hồn nhìn lại con đường đã qua. Những đêm từng làm ta sợ không còn đáng sợ như trước. Ta thấy ở những nơi mình tưởng Chúa vắng mặt, hóa ra Ngài đã nâng mình bằng một bàn tay vô hình. Ở những biến cố mình tưởng chỉ có mất mát, Ngài đã âm thầm cắt bỏ những dây ràng buộc. Ở những lần thất bại, Ngài đã cứu ta khỏi một cái tôi quá lớn. Ở những thời gian im lặng, Ngài dạy ta nghe bằng trái tim. Ở những giọt nước mắt, Ngài làm mềm một tâm hồn cứng. Ở những cây thập giá, Ngài dạy ta hình dáng của tình yêu. Và ta hiểu rằng Chúa chưa bao giờ hứa con đường không có đêm. Ngài chỉ hứa rằng bóng tối không có tiếng nói cuối cùng.
Đêm tối của linh hồn, dưới ánh sáng của Thánh Gioan Thánh Giá, vì thế không phải một hố sâu tuyệt vọng nhưng có thể là một ngưỡng cửa. Thánh Giá không phải dấu chấm hết nhưng là cánh cửa Vượt Qua. Những gì Chúa thanh luyện, Ngài thanh luyện để làm cho tự do. Những gì Ngài cho chết đi, Ngài có thể làm sống lại theo cách sâu hơn. Những gì Ngài lấy khỏi tay ta, có lúc để đôi tay ấy đủ trống mà đón lấy chính Ngài. Và cuối cùng, sau tất cả những ân huệ, những cảm giác, những thành công, những thất bại, những mùa sáng và những mùa tối, điều còn lại chỉ là một mình Thiên Chúa và một trái tim đã học yêu.
Nếu có ai đang ở trong đêm tối hôm nay, xin hãy nhìn lên Thánh Giá. Đừng đòi Thánh Giá giải thích tất cả. Hãy để Thánh Giá nói với bạn một điều thôi: bạn không cô độc. Đấng đang treo ở đó biết bóng tối là gì. Ngài đã đi qua nó. Ngài đã mang nó. Ngài đã bước xuống tận cùng cái chết và mở ở đó một lối đi. Vì thế, bạn có thể khóc nhưng đừng tuyệt vọng. Bạn có thể mệt nhưng đừng bỏ đường. Bạn có thể không hiểu nhưng đừng buông tay. Bạn có thể chẳng cảm thấy gì nhưng cứ trung thành. Một bước thôi. Rồi thêm một bước. Có khi đức tin không phải bay cao, mà chỉ là sáng nay vẫn thức dậy, vẫn làm dấu Thánh Giá, vẫn nói một câu “Lạy Chúa, con tín thác nơi Ngài”, rồi tiếp tục sống bổn phận trong ngày. Những bước bé nhỏ ấy, trong mắt Thiên Chúa, có thể là một cuộc tử đạo âm thầm của lòng trung tín.
Rồi sẽ đến bình minh. Có thể bình minh ấy đến theo cách ta mong. Có thể đến theo một cách khác. Có những đêm kết thúc ngay trong đời này. Có những đêm chỉ thật sự kết thúc khi ta bước qua ngưỡng cửa vĩnh cửu. Nhưng chắc chắn đêm không phải quê hương cuối cùng của người thuộc về Đức Kitô. Quê hương của ta là ánh sáng. Thánh Giá đứng giữa đời Kitô hữu, nhưng phía sau Thánh Giá là ngôi mộ trống. Gioan Thánh Giá đã đi qua “đêm tối” không phải để cư trú trong đêm, mà để gặp Đấng mình yêu. Và đó cũng là ơn gọi của mỗi chúng ta: đi qua tất cả những gì phải đi qua, để cuối cùng không còn tìm kiếm quà tặng, không tìm kiếm cảm giác, không tìm kiếm chính mình, mà chỉ tìm một mình Thiên Chúa.
Khi ấy ta sẽ hiểu vì sao có những lần Chúa im lặng. Ta sẽ hiểu vì sao một số cánh cửa đã đóng. Ta sẽ hiểu vì sao có những điều đã bị lấy đi. Hoặc nếu có những điều vẫn vượt quá hiểu biết của ta, ta sẽ không còn cần câu trả lời nữa, bởi chính Thiên Chúa sẽ là câu trả lời. Một đứa trẻ đang khóc hỏi mẹ rất nhiều điều, nhưng khi được ôm vào lòng, có những câu hỏi tự nhiên im xuống. Cuối hành trình đức tin cũng vậy. Ta không bước về phía một lời giải thích. Ta bước về phía một vòng tay. Và khi được ở trong vòng tay ấy, tất cả những đêm tối của đời ta sẽ được nhìn lại dưới một thứ ánh sáng mà hôm nay ta chưa thể hình dung.
Thế nên, xin đừng sợ đêm nếu Chúa cho phép ta bước qua đêm. Đừng yêu đêm, nhưng đừng sợ nó đến mức bỏ đường. Đừng đi tìm Thánh Giá, nhưng khi Thánh Giá đến mà không thể tránh, hãy xin ơn vác nó với Đức Kitô. Đừng tự hào rằng mình mạnh, nhưng hãy tựa vào Đấng đã ngã dưới sức nặng Thập Giá rồi lại đứng lên. Đừng xấu hổ vì nước mắt, vì Đức Giêsu cũng đã khóc. Đừng xấu hổ vì lời cầu nguyện nghèo nàn. Một tiếng “Lạy Chúa!” từ đáy vực có khi đẹp hơn hàng ngàn lời nói ngoài môi. Đừng vội nghĩ rằng Chúa bỏ mình chỉ vì trời đang tối. Ngày Đức Giêsu hoàn thành công trình cứu độ, bầu trời cũng tối. Và ngay giữa bóng tối ấy, tình yêu lớn nhất lịch sử đang được hoàn tất.
Thánh Gioan Thánh Giá đưa tay chỉ về Thánh Giá và nói với mỗi người đang mệt mỏi rằng: hãy đi sâu hơn cảm giác, sâu hơn những gì mắt nhìn thấy, sâu hơn những thành công và thất bại, sâu hơn cả sự hiểu biết của mình. Ở đó, trong phần sâu nhất của linh hồn, hãy để Thiên Chúa là Thiên Chúa. Hãy để Ngài thanh luyện điều cần thanh luyện, cắt tỉa điều cần cắt tỉa, chữa lành điều cần chữa lành. Đừng đo tình yêu của Chúa bằng những gì đang xảy ra hôm nay. Hãy đo tình yêu ấy bằng Đức Giêsu chịu đóng đinh. Khi nhìn vào Thánh Giá, ta không còn quyền nói Thiên Chúa yêu ta ít. Ngài đã yêu đến cùng. Và Đấng đã yêu đến cùng sẽ không bỏ dở công trình Ngài đã bắt đầu nơi ta.
Cuối cùng, đêm tối chỉ là đêm tối vì ta chưa nhìn thấy bình minh. Thánh Giá chỉ xem như thất bại vì người ta chưa bước tới sáng Phục Sinh. Hạt lúa chỉ giống như mất đi vì nó đang nằm dưới đất. Và cuộc đời chúng ta cũng vậy. Có rất nhiều điều hôm nay ta gọi là mất, nhưng trong tay Thiên Chúa có thể đang trở thành hạt giống. Có nhiều điều ta gọi là chấm hết, nhưng Chúa đang viết dấu phẩy. Có nhiều đêm ta tưởng Chúa ngủ, nhưng Ngài đang chuẩn bị một bình minh. Việc của ta không phải hiểu hết. Việc của ta là trung thành, yêu, phó thác, và bước theo.
“Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, khi đời con sáng, xin cho con đừng quên Chúa; khi đời con tối, xin cho con càng bám lấy Chúa. Khi con cảm thấy Chúa gần, xin cho con biết tạ ơn; khi con tưởng Chúa xa, xin cho con vẫn tin. Khi Thánh Giá nhẹ, xin cho con vác với lòng biết ơn; khi Thánh Giá nặng, xin cho con nhớ rằng Chúa đang vác cùng con. Khi con không còn lời để cầu nguyện, xin nhận lấy sự im lặng của con. Khi con không còn sức để bước, xin nắm lấy tay con. Khi mọi ánh sáng nhỏ bé quanh con tắt đi, xin cho con nhận ra Chúa chính là Ánh Sáng không bao giờ tắt. Và nếu con phải đi qua đêm tối, xin đừng để con đi một mình. Xin cho con biết rằng phía sau Golgotha vẫn có bình minh Phục Sinh, phía sau ngôi mộ vẫn có sự sống, phía sau mọi giọt nước mắt trung thành vẫn có ngày Chúa lau sạch nước mắt trên khuôn mặt chúng con. Xin cho con, như Thánh Gioan Thánh Giá, không dừng lại ở bóng tối nhưng đi xuyên qua bóng tối để gặp Chúa, yêu Chúa và cuối cùng thuộc trọn về Chúa. Amen.”
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH PHANXICÔ ASSISI – NHẬN NĂM DẤU THÁNH: KHI THÂN XÁC TRỞ THÀNH TẤM GƯƠNG CỦA ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH
Có những cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa chỉ để lại trong lòng người ta một kỷ niệm đẹp. Có những cuộc gặp gỡ làm người ta thay đổi một quyết định, từ bỏ một con đường, bắt đầu một hành trình mới. Nhưng cũng có những cuộc gặp gỡ sâu đến nỗi sau đó con người không còn thuộc về mình nữa, cả tâm hồn lẫn thân xác đều mang dấu vết của Đấng mình đã gặp. Cuộc đời Thánh Phanxicô Assisi là một cuộc gặp gỡ như thế. Người ta thường nhớ đến Phanxicô như vị thánh của nghèo khó, vị thánh của hòa bình, người anh em của mặt trời, mặt trăng, chim trời và muông thú; người ta thích hình ảnh một Phanxicô hiền lành bước giữa thiên nhiên, nói chuyện với chim, gọi mặt trời là anh, gọi mặt trăng là chị, ôm người phong cùi, sống thanh thoát giữa một thế giới đầy sở hữu. Tất cả những hình ảnh ấy đều đúng, nhưng nếu dừng lại ở đó thì vẫn chưa chạm tới trung tâm của Phanxicô. Trung tâm của đời ngài không phải là thiên nhiên. Trung tâm của đời ngài cũng không phải là nghèo khó tự nó. Trung tâm của Phanxicô là Đức Giêsu Kitô, và đặc biệt là Đức Giêsu Kitô nghèo khó, chịu đóng đinh và bị bỏ rơi. Phanxicô yêu cái nghèo bởi vì Đức Kitô đã nghèo. Phanxicô yêu người bé nhỏ bởi vì Đức Kitô đã tự làm mình nên bé nhỏ. Phanxicô ôm người phong cùi bởi vì trong thân xác ghê sợ ấy ngài nhận ra khuôn mặt Đức Kitô đau khổ. Phanxicô yêu tạo thành bởi vì tạo thành phát xuất từ bàn tay của Cha mà Đức Giêsu đã gọi bằng tiếng “Abba”. Và cuối cùng, Phanxicô mang trên thân thể mình năm dấu thương của Chúa không phải bởi vì ngài đi tìm một phép lạ, càng không phải vì ngài khát khao một thứ vinh dự thiêng liêng khác thường, nhưng bởi vì suốt đời ngài đã khao khát một điều duy nhất: nên giống Đức Kitô đến mức không còn khoảng cách nào giữa người môn đệ và Thầy mình. Năm dấu thánh tại La Verna vì thế không phải là một chương lạ lùng đặt bên lề cuộc đời Phanxicô. Đó là dấu ấn cuối cùng của một cuộc tình. Đó là lúc điều ngài đã mang trong tâm hồn suốt nhiều năm bỗng được ghi vào thân xác. Đó là khi Thánh Giá mà Phanxicô đã ôm lấy bằng đức tin, bằng nước mắt, bằng từ bỏ, bằng phục vụ, bằng nghèo khó, bằng vâng phục, nay như được đóng ấn trên chính con người ngài. Năm 1224, tại nơi thanh vắng La Verna, khoảng hai năm trước khi qua đời, Phanxicô đã trải qua cuộc gặp gỡ đặc biệt với Đức Kitô chịu đóng đinh và nhận các dấu thương nơi tay, chân và cạnh sườn. Đức Bênêđictô XVI diễn tả biến cố ấy như sự biểu lộ việc Phanxicô được đồng hình đồng dạng cách sâu xa với Chúa chịu đóng đinh; và khi kỷ niệm tám trăm năm biến cố này, Đức Phanxicô cũng nhấn mạnh rằng các dấu thánh chính là dấu chỉ của sự nên giống “Đức Kitô nghèo khó và chịu đóng đinh”, đồng thời nhắc chúng ta rằng chính qua những vết thương của Đấng Chịu Đóng Đinh và Phục Sinh mà lòng thương xót tuôn chảy đến nhân loại.
Muốn hiểu năm dấu thánh của Phanxicô, có lẽ phải trở lại thật xa, không phải trước hết về La Verna, nhưng về một nhà nguyện nhỏ đổ nát ở San Damiano, nơi một chàng trai trẻ tên Francesco quỳ trước cây Thánh Giá và nghe tiếng Chúa nói trong lòng: “Phanxicô, hãy đi sửa lại nhà Ta.” Thuở ấy Phanxicô chưa phải là vị thánh mà thế giới kính phục. Anh là con của một thương gia giàu có, từng mơ mộng về danh vọng, hiệp sĩ, chiến công và địa vị. Anh đã biết những buổi tiệc của tuổi trẻ, từng ôm những tham vọng rất trần gian, từng nghĩ hạnh phúc ở phía trước nếu mình đủ giàu, đủ nổi tiếng, đủ được người khác ngưỡng mộ. Nhưng Thiên Chúa có những con đường kỳ lạ để gọi một người. Có khi Ngài không phá vỡ ước mơ của ta bằng một tiếng sét, nhưng để cho chính những ước mơ ấy dần trở nên nhạt nhẽo. Có khi Ngài không lấy mọi thứ khỏi tay ta ngay lập tức, nhưng làm cho ta nhận ra rằng ngay cả khi tay đầy, lòng vẫn có thể trống. Phanxicô đã trải qua bệnh tật, chiến tranh, thất bại, tù đày, khủng hoảng, rồi dần dần nhận ra tiếng gọi của một Tình Yêu khác. Cuộc đổi đời ấy đi qua một hành động rất nổi tiếng nhưng cũng rất đau: ôm lấy người phong cùi. Điều trước đây khiến anh ghê sợ bỗng trở thành nơi anh gặp Đức Kitô. Từ giây phút ấy, một điều thay đổi trong cái nhìn của Phanxicô: anh không còn hỏi “điều gì dễ chịu cho tôi?”, mà bắt đầu hỏi “Đức Kitô đang ở đâu?” Và rồi câu trả lời cứ dẫn anh xuống thấp hơn: Đức Kitô ở nơi người nghèo; Đức Kitô ở nơi người bị loại trừ; Đức Kitô ở trong Tin Mừng; Đức Kitô ở nơi bàn thờ; Đức Kitô ở trong anh em; Đức Kitô ở nơi cây Thánh Giá. Càng bước theo Chúa, Phanxicô càng hiểu một điều mà cả đời người Kitô hữu phải học đi học lại: yêu Đức Kitô thật không phải là yêu một hình ảnh đẹp về Đức Kitô do mình tưởng tượng ra. Yêu Đức Kitô là yêu chính Đức Kitô của Tin Mừng, Đấng sinh ra trong máng cỏ, không có chỗ tựa đầu, rửa chân cho môn đệ, bị phản bội, bị đánh đòn, đội mão gai, bị đóng đinh, tha thứ cho kẻ giết mình và chết trần trụi trên Thập Giá. Nhiều khi chúng ta muốn theo Chúa nhưng chỉ muốn theo đến trước cổng dinh Philatô. Chúng ta muốn Chúa ban bình an nhưng không muốn chia phần cô đơn của Chúa; muốn được Chúa an ủi nhưng ngại an ủi người khác; muốn Chúa chữa lành vết thương của mình nhưng lại không muốn chạm vào vết thương của anh em; muốn mang thánh giá bằng vàng trên cổ nhưng không muốn nhận lấy những thánh giá bằng thịt và máu trong gia đình, cộng đoàn, bệnh tật, thất bại, hiểu lầm và những ngày dài không ai biết mình đang đau. Phanxicô thì khác. Ngài không yêu cây Thánh Giá như một đồ vật. Ngài yêu Đấng đang ở trên cây Thánh Giá. Và bởi yêu Đấng chịu đóng đinh, ngài không còn chạy trốn những nơi Đấng ấy hiện diện.
Tin Mừng soi sáng rất đẹp cho bí nhiệm này bằng lời Đức Giêsu: “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Tôi” (x. Lc 9,23). Chúa không nói: ai muốn theo Tôi, hãy đi tìm những hiện tượng khác thường. Chúa cũng không nói: ai muốn theo Tôi, hãy xin cho mình được mang năm dấu thánh. Chúa chỉ nói: hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mỗi ngày và theo. Chính chữ “mỗi ngày” ấy mới là điều đáng sợ và cũng đáng quý. Bởi một cuộc tử đạo trong vài phút đôi khi còn dễ tưởng tượng hơn một đời trung thành trong những việc nhỏ. Một lần hy sinh lớn có thể khiến người ta xúc động, nhưng một ngàn lần âm thầm nhường nhịn mà chẳng ai biết mới làm lòng tự ái đau. Một ngày cầu nguyện sốt sắng có thể không khó, nhưng cầu nguyện khi tâm hồn khô khan, khi Chúa dường như im lặng, khi mình chẳng cảm thấy gì, ấy mới là thập giá. Cho đi một món tiền có khi dễ, nhưng dành thời gian lắng nghe một người già kể mãi một câu chuyện, kiên nhẫn với một người làm mình mệt, tha thứ cho người làm tổn thương danh dự mình, sống tử tế với người không tử tế với mình, trung thành với bổn phận chẳng ai nhìn thấy, ấy mới là thứ thập giá cứa vào “cái tôi” từng chút một. Năm dấu thánh của Phanxicô trên núi La Verna chỉ xuất hiện sau biết bao năm những “dấu thánh vô hình” đã được in trong tâm hồn ngài. Trước khi bàn tay Phanxicô mang vết thương, đôi tay ấy đã biết trao ban. Trước khi bàn chân ngài mang dấu đinh, đôi chân ấy đã đi đến những nơi người khác không muốn đi. Trước khi cạnh sườn ngài mang vết thương, trái tim ấy đã nhiều lần bị đâm thâu bởi đau khổ của Hội Thánh, của anh em, của người nghèo và bởi chính nỗi khát khao được nên giống Chúa. Nếu chỉ nhìn năm dấu thương mà quên cả một đời tự hiến phía trước, chúng ta sẽ biến một mầu nhiệm tình yêu thành một hiện tượng lạ. Điều kỳ diệu nhất nơi Phanxicô không phải là các vết thương xuất hiện trên thân xác; điều kỳ diệu hơn là một con người đã cho phép Tin Mừng đi sâu vào mình đến mức không còn vùng nào được giữ lại cho riêng mình. Ngài để Chúa chạm tới tiền bạc. Ngài để Chúa chạm tới danh dự. Ngài để Chúa chạm tới tương lai. Ngài để Chúa chạm tới tương quan với cha ruột. Ngài để Chúa chạm tới sự an toàn. Ngài để Chúa chạm tới thân xác, sức khỏe, giấc ngủ, dự tính, danh tiếng và cả công trình do chính mình khởi sự. Phanxicô chẳng giữ lại cái gì và nói: “Chúa ơi, phần này của con, xin đừng đụng tới.” Đó mới là nghèo khó tận căn. Nghèo không chỉ là không có tiền. Nghèo là không còn sở hữu cả chính mình. Khi một người thuộc trọn về Chúa, người ấy bắt đầu hiểu tại sao Phanxicô có thể hát giữa đau đớn, có thể gọi cái chết là “chị”, có thể bình an khi sức khỏe suy sụp. Không phải ngài thích đau. Không Kitô hữu nào được dạy phải yêu đau khổ vì đau khổ. Nhưng Phanxicô yêu Chúa đến mức ngay cả đau khổ cũng không đủ sức tách ngài khỏi Chúa.
La Verna vì thế là một đỉnh núi không chỉ về địa lý mà còn là đỉnh cao nội tâm. Năm 1224, Phanxicô lên nơi ấy để cầu nguyện và chay tịnh. Theo truyền thống Phanxicô, vào khoảng giữa tháng Chín, trong thời gian ngài sống ẩn mình cầu nguyện, Phanxicô được chìm sâu đặc biệt trong tình yêu đối với Đức Kitô chịu đóng đinh. Truyền thống do Thánh Bonaventura thuật lại nói đến thị kiến một nhân vật giống thiên thần Seraphim với sáu cánh và hình ảnh người chịu đóng đinh; sau cuộc gặp gỡ ấy, những dấu của Cuộc Thương Khó được ghi trên thân thể Phanxicô. Các nguồn Phanxicô đặt biến cố này vào năm 1224, trong thời gian ngài ở La Verna, khoảng hai năm trước ngày qua đời; truyền thống thường gắn việc nhận dấu thánh với ngày 14 tháng Chín. Nhưng đừng chỉ nhìn lên bầu trời của La Verna để tìm điều ngoạn mục. Hãy nhìn vào trái tim Phanxicô lúc đó. Đây là một Phanxicô đã đi khá xa trên đường đời. Ngài không còn là chàng trai trẻ đầy hứng khởi của buổi đầu. Hội dòng đã lớn lên, và khi một công trình lớn lên, những phức tạp cũng lớn theo. Có những khác biệt về cách hiểu lý tưởng ban đầu, có những sức ép của tổ chức, luật lệ, tương lai; sức khỏe của Phanxicô sa sút, mắt đau, thân xác yếu mệt. Con người từng làm say mê bao người bằng sức sống Tin Mừng nay phải học một bài khó hơn nhiều: chấp nhận rằng công trình của Chúa không phải là tài sản của mình. Có lẽ một trong những thập giá nặng nhất của người làm việc cho Chúa là đến lúc phải để Chúa làm công việc của Chúa theo cách Chúa muốn, chứ không theo cách mình tưởng. Chúng ta dễ nói “mọi sự là của Chúa” khi mọi chuyện xảy ra đúng như dự tính; nhưng khi người khác sửa chương trình mình, khi người khác không hiểu mình, khi công trình mình vun trồng đi theo một hướng khác, khi tuổi già làm mình phải đứng sang bên, lúc ấy mới biết ta làm vì Chúa hay dùng Chúa để làm điều của mình. Phanxicô tại La Verna là một người đã bị lột bỏ rất nhiều. Và trong chính sự lột bỏ ấy, ngài gần Đức Kitô chịu đóng đinh hơn bao giờ hết. Chúa Giêsu trên Golgotha cũng bị lột áo. Người không còn gì để giữ, không địa vị, không vẻ đẹp, không tự do di chuyển, không sức khỏe, không lời tán thưởng của đám đông từng reo hò. Hai tay bị đóng lại. Hai chân bị đóng lại. Chỉ còn một điều không ai đóng được: tình yêu. Và tình yêu ấy vẫn đi ra khỏi Người: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Phanxicô đã đi gần đến bí mật ấy. Người ta có thể lấy nhiều thứ khỏi một Kitô hữu, nhưng nếu vẫn còn tình yêu thì người ấy chưa mất tất cả. Người ta có thể hiểu lầm ta, nhưng không ai buộc ta phải hận. Người ta có thể làm tổn thương ta, nhưng không ai có quyền quyết định thay ta rằng ta sẽ trở thành người cay độc. Người ta có thể lấy địa vị, công việc, sức khỏe, tuổi trẻ, thậm chí sự hiện diện bên ngoài của những người thân yêu, nhưng không ai có thể lấy Đức Kitô khỏi lòng ta nếu ta không tự bỏ Người.
Có một đoạn Tin Mừng khác càng làm sáng thêm câu chuyện năm dấu thánh, đó là cuộc gặp giữa Đức Giêsu Phục Sinh và Tôma. Tôma đã nói ông không thể tin nếu không thấy dấu đinh nơi tay Chúa và không đặt tay vào cạnh sườn Người. Tám ngày sau, Đức Giêsu hiện đến. Điều kỳ lạ là Đấng Phục Sinh vẫn mang vết thương. Chúa có thể sống lại với một thân xác không còn dấu vết gì của Golgotha, nhưng Người đã không xóa các vết thương. Người đưa chính những vết thương ấy ra cho Tôma và nói đại ý: hãy nhìn tay Thầy, hãy chạm vào cạnh sườn Thầy và đừng cứng lòng nữa (x. Ga 20,24-29). Đây là một trong những mạc khải thấm thía nhất của Tin Mừng: Phục Sinh không có nghĩa là quá khứ đau đớn chưa từng xảy ra. Phục Sinh là để Thiên Chúa biến những vết thương từng làm ta đau thành nơi phát ra ánh sáng. Đức Kitô sống lại nhưng vẫn có dấu đinh. Và chính những dấu đinh trở thành căn cước của tình yêu: “Đây là Thầy, Đấng đã yêu con đến mức này.” Năm dấu thánh của Phanxicô cũng phải được nhìn trong ánh sáng ấy. Chúng không phải dấu hiệu của một thứ sùng bái đau khổ bệnh hoạn. Chúng là dấu chỉ Vượt Qua. Đức Phanxicô đã nói rất đẹp rằng các dấu thương nhắc đến đau khổ Đức Giêsu chịu vì yêu ta, nhưng đồng thời cũng là dấu của chiến thắng Phục Sinh, bởi chính qua các vết thương ấy lòng thương xót của Đấng Chịu Đóng Đinh và Phục Sinh tuôn đến chúng ta. Như vậy, vết thương trong Kitô giáo không phải là tiếng nói cuối cùng. Cái chết không phải tiếng nói cuối cùng. Thất bại không phải tiếng nói cuối cùng. Nước mắt không phải tiếng nói cuối cùng. Người đời nhìn một vết thương và nói: “Ở đây đã có một điều bị phá hủy.” Thiên Chúa nhìn một vết thương được trao cho Người và nói: “Từ đây Ta có thể mở một con đường cho ân sủng.” Có những người sau khi bị phản bội trở thành cay nghiệt. Nhưng có người nhờ đi qua phản bội lại biết cảm thương sâu sắc với những ai bị bỏ rơi. Có người sau bệnh tật chỉ còn oán trách. Nhưng có người sau những tháng ngày trên giường bệnh lại trở thành người hiểu nỗi đau của bệnh nhân hơn bất cứ sách vở nào. Có người sau nghèo khó tìm mọi cách tích lũy cho riêng mình. Nhưng có người vì đã từng đói mà cả đời không chịu để ai bên cạnh mình phải đói. Cùng một vết thương, nhưng nếu không có Chúa, nó có thể trở thành một cái hố; nếu trao cho Chúa, nó có thể trở thành một cánh cửa. Thánh Phanxicô không chỉ mang những vết thương của Đức Kitô; ngài còn học nhìn thế giới qua những vết thương ấy.
Nhìn năm dấu thánh của Phanxicô, người tín hữu hôm nay cần thận trọng với một cám dỗ rất tinh tế: chúng ta thích những điều phi thường nhưng lại thường trốn những điều bình thường. Nghe chuyện Phanxicô mang dấu thánh, ta cảm động. Nghe chuyện cha Piô mang dấu thánh, ta kinh ngạc. Nghe chuyện các vị thánh xuất thần, thị kiến, phép lạ, ta tò mò. Nhưng Chúa không hỏi phần đông chúng ta: “Con có muốn mang những vết đinh hữu hình không?” Chúa hỏi: “Con có muốn mang lấy tâm tình của Đấng bị đóng đinh không?” Và đó mới là điều khó. Có thể tay chúng ta không bao giờ chảy máu vì dấu đinh, nhưng đôi tay có mang dấu của Đức Kitô khi biết làm việc lương thiện, biết phục vụ, biết mở ra để cho, biết nâng người ngã xuống, biết chắp lại cầu nguyện và biết dừng lại trước một hành động bất công. Có thể chân chúng ta không có vết thương thần bí, nhưng đôi chân mang dấu của Đức Kitô khi biết bước về nhà để làm hòa trước, bước đến thăm người cô đơn, bước đến nhà thờ dù mệt, bước ra khỏi vùng an toàn để phục vụ, và nhất là không bước vào những nơi biết rõ sẽ kéo mình xa Chúa. Có thể cạnh sườn chúng ta không mang một vết thương hữu hình, nhưng trái tim mang dấu của Đức Kitô khi biết đau nỗi đau của người khác, khi không thể bình thản trước người nghèo, khi còn biết khóc vì một gia đình tan vỡ, một đứa trẻ bị bỏ rơi, một người già không ai thăm, một người tội lỗi đang mất hy vọng. Dấu thánh đích thực trước hết là dấu của tình yêu. Người nào suốt đời không chịu bị tình yêu làm tổn thương thì chưa hiểu Thánh Giá. Yêu là chấp nhận có thể bị đau. Cha mẹ yêu con thì sẽ có ngày đau vì con. Linh mục yêu đoàn chiên sẽ có lúc đau vì đoàn chiên. Vợ chồng yêu nhau thật sẽ phải nhiều lần chết đi cho tự ái. Người sống đời cộng đoàn mà muốn không bao giờ bị ai làm phiền thì chỉ đang ở chung nhà, chưa chắc đã sống hiệp thông. Có một kiểu “bình an” chỉ là giữ khoảng cách để không ai đụng tới mình. Bình an của Đức Kitô thì khác: Người đi vào giữa các môn đệ với những vết thương còn nguyên và nói: “Bình an cho anh em.” Bình an Kitô giáo không phải không có vết thương. Bình an là vết thương đã được tình yêu chiến thắng.
Năm dấu thánh cũng dạy chúng ta một bài nữa: đừng xin Chúa cất ngay mọi thập giá trước khi hỏi Ngài muốn làm gì trong ta qua thập giá ấy. Đây không có nghĩa là ta phải thụ động trước bệnh tật, bất công hay bạo lực. Bệnh thì phải chữa; bất công thì phải chống; bạo lực thì phải ngăn; nạn nhân cần được bảo vệ. Kitô giáo không thần thánh hóa đau khổ. Nhưng có những thập giá không thể tháo xuống bằng một quyết định: tuổi già, giới hạn, những hậu quả không thể đảo ngược, sự ra đi của người thân, những vết thương quá khứ, một trách nhiệm mình không thể bỏ, một căn bệnh phải chung sống, một lời khấn đã nói, một lời hứa hôn nhân phải trung thành, một con người mà Chúa đặt bên đời mình và mình phải học yêu trong sự thật. Ta thường cầu: “Lạy Chúa, xin đổi hoàn cảnh.” Có lúc Chúa đổi. Nhưng có lúc Ngài nói: “Ta sẽ đổi con trước.” Và đôi khi phép lạ lớn nhất không phải là thập giá biến mất, mà là một con người từng chỉ biết khóc dưới chân thập giá nay có thể ôm lấy nó với bình an. Phanxicô không lên La Verna để tìm đau đớn. Ngài lên đó tìm Chúa. Và khi tìm được Chúa đủ sâu, ngài có thể nhận lấy cả những gì thuộc về Chúa, kể cả dấu thương. Đó là khác biệt giữa khổ hạnh Kitô giáo và việc tự hành hạ mình: người Kitô hữu không tìm đau khổ, người Kitô hữu tìm Đức Kitô; nhưng nếu con đường đến với Đức Kitô đi ngang Golgotha, họ không bỏ Người để chọn đường dễ hơn.
Và ở đây ta hiểu tại sao Thánh Giá lại quan trọng đến vậy trong đời Phanxicô. Ngài không thể tách máng cỏ khỏi Thánh Giá. Greccio và La Verna là hai điểm rất gần nhau về thần học dù khác địa lý. Một nơi là Thiên Chúa làm trẻ thơ, một nơi là Thiên Chúa chịu đóng đinh. Một nơi là đôi tay nhỏ bé của Hài Nhi, một nơi là đôi tay bị đinh xuyên. Nhưng cùng một tình yêu tự hạ. Thiên Chúa xuống thấp ở Bêlem và xuống thấp tận cùng trên Golgotha. Phanxicô yêu Hài Nhi nghèo vì ngài yêu Đức Kitô tự hạ; Phanxicô mang dấu thương vì ngài tiếp tục yêu cùng Đức Kitô tự hạ ấy cho đến tận cùng. Nếu Giáng Sinh chỉ là hang đá đẹp, đèn sáng, bài hát êm, mà không dẫn ta đến sự tự hiến của Thập Giá, ta chưa hiểu Giáng Sinh. Nếu Thánh Giá chỉ là u buồn, đau đớn, máu và chết mà không nhìn thấy tình yêu đã bắt đầu nơi Thiên Chúa nhập thể, ta cũng chưa hiểu Thánh Giá. Toàn bộ đời Đức Giêsu chỉ là một chuyển động tình yêu: từ cung lòng Chúa Cha xuống cung lòng Đức Maria, từ Bêlem xuống Nadarét, từ Nadarét ra đường phố Galilê, từ bàn Tiệc Ly xuống chân các môn đệ, từ vườn Cây Dầu lên Golgotha, từ Golgotha xuống mồ và từ mồ bước vào vinh quang Phục Sinh. Phanxicô đã để cho chuyển động ấy trở thành đường đi của đời mình. Ngài đi xuống. Xuống khỏi ước mơ danh vọng. Xuống khỏi địa vị gia đình. Xuống sống giữa người nghèo. Xuống phục vụ người phong cùi. Xuống làm “người anh em hèn mọn”. Và ai đi xuống đủ sâu với Đức Kitô sẽ gặp một nghịch lý: nơi thấp nhất lại chính là nơi gần trời nhất. Golgotha chỉ cao vài chục mét so với vùng chung quanh, nhưng là đỉnh cao nhất của tình yêu. La Verna là một ngọn núi, nhưng điều làm nó cao không phải số mét mà là một con người đã để tình yêu đưa mình đến tận cùng.
Có lẽ điều thấm thía nhất khi nghĩ về năm dấu thánh là thế này: Phanxicô không còn cần nói nhiều về Thánh Giá, vì thân thể ngài đã trở thành một bài giảng. Có thời gian chúng ta phải giảng bằng miệng. Có lúc phải viết. Có lúc phải giải thích giáo lý, bảo vệ chân lý, truyền đạt đức tin. Nhưng rồi đến một lúc, bài giảng đáng tin nhất là đời sống. Người ta có thể quên hàng ngàn lời ta nói, nhưng khó quên cách ta chịu đau. Một linh mục giảng rất hay về phó thác nhưng khi gặp khó khăn lại cay độc thì bài giảng mất sức. Một người nói nhiều về tha thứ nhưng mười năm không nhìn mặt anh em thì lời nói rỗng. Một người treo Thánh Giá trong nhà nhưng gia đình sống với nhau bằng sợ hãi và tổn thương thì cây Thánh Giá ấy chưa đi vào đời. Ngược lại, có những người rất ít nói về Chúa nhưng đời họ thơm mùi Tin Mừng: người mẹ chăm con bệnh nhiều năm mà vẫn dịu dàng; người chồng kiên nhẫn bên người vợ đau yếu; người con không bỏ cha mẹ già; một linh mục vẫn trung thành với đoàn chiên dù bị hiểu lầm; một tu sĩ âm thầm làm việc nhỏ không ai khen; một người nghèo vẫn chia nửa ổ bánh cho người nghèo hơn; một người bị xúc phạm vẫn không trả thù. Những con người ấy không có dấu đinh trên tay nhưng có khi đang mang dấu thánh sâu hơn ta tưởng. Năm dấu thánh không phải để làm Phanxicô xa chúng ta. Trái lại, chúng nhắc rằng mỗi người đã chịu Phép Rửa đều được mời gọi mang trong đời mình những nét của Đức Kitô. Đức Phanxicô khi nói về tám trăm năm dấu thánh cũng đặt biến cố ấy trong chính căn tính Kitô hữu: người tín hữu thuộc về Thân Thể sống động là Hội Thánh và được mời gọi ngày càng nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô.
Một điều khác rất đáng suy nghĩ: Phanxicô nhận năm dấu thánh nhưng lại không biến nó thành lý do để khoe mình. Những điều thánh thiêng nhất thường thích ẩn. Người càng thật sự gặp Chúa càng ít nhu cầu chứng minh mình đặc biệt. Người chưa sâu thường thích kể mình được ơn này ơn kia; người đã chìm sâu chỉ sợ làm người ta chú ý đến mình hơn đến Chúa. Đây là bài học vô cùng cần cho đời sống đạo hôm nay, khi những câu chuyện về phép lạ, thị kiến, mặc khải tư, chữa lành, hiện tượng lạ có thể lan rất nhanh. Đức tin Kitô giáo không được xây trên sự tò mò. Người ta có thể chạy hàng ngàn cây số để xem một hiện tượng lạ mà không chịu bước mười mét sang phòng bên để xin lỗi người thân. Có thể mê những câu chuyện dấu thánh nhưng không chịu mang một chút vết thương vì yêu. Có thể khóc trước tượng Chúa nhưng lạnh lùng trước người nghèo. Khi đó, ta đang thích cái lạ của tôn giáo chứ chưa chắc đã yêu Đức Kitô. Dấu thánh có ý nghĩa chỉ khi đưa ta về với Đấng mang dấu đinh. Phép lạ có ý nghĩa khi giúp ta hoán cải. Thị kiến có ý nghĩa nếu sau đó ta sống Tin Mừng trung thành hơn. Nếu một kinh nghiệm thiêng liêng làm ta kiêu ngạo, xem mình cao hơn người khác, thích được chú ý, thích kiểm soát, thích tự cho mình có đặc quyền trước Chúa, thì cần hết sức dè chừng. Phanxicô càng được Chúa nâng lên thì càng hạ mình. Càng được in dấu Đức Kitô, ngài càng ý thức mình chỉ là một người anh em bé nhỏ. Đó mới là dấu hiệu của sự thánh thiện thật.
Phanxicô mang năm dấu thánh trong những năm cuối đời, khi thân xác đã yếu nhiều. Và đây lại là một bài giảng lớn cho một thế giới sợ già, sợ bệnh, sợ xấu, sợ mất năng suất. Thời đại chúng ta ca tụng thân xác khỏe, đẹp, trẻ, nhanh, hiệu quả. Người già dễ cảm thấy mình trở thành gánh nặng. Người bệnh có thể nghĩ đời mình vô ích. Người mất khả năng lao động có khi cảm thấy phẩm giá cũng mất theo. Nhưng Kitô giáo nhìn thân xác khác. Giá trị một thân xác không nằm ở việc nó còn làm được bao nhiêu, nhưng ở chỗ nó được Thiên Chúa yêu và có thể trở thành lễ dâng. Thân xác Phanxicô cuối đời không phải thân xác “hoàn hảo” theo chuẩn thế gian. Nó đau, yếu, mệt, đôi mắt bệnh, đôi chân khó đi, mang vết thương. Nhưng chính thân xác ấy trở thành một biểu tượng sống động về Đức Kitô. Có những người trên giường bệnh tưởng mình chẳng còn làm được gì cho ai, nhưng lời cầu nguyện của họ đang nâng đỡ cả gia đình. Có những người già không còn đi đâu, nhưng sự hiện diện hiền lành của họ giữ cho con cháu còn nhớ đường về. Có người không còn giảng được, không còn làm việc lớn, nhưng cách họ chịu bệnh với lòng tin lại là bài giảng cuối đời mạnh hơn mọi bài giảng trước đó. Thánh Giá dạy ta rằng sự hữu ích không phải thước đo cuối cùng của giá trị con người. Đức Giêsu trong những giờ cuối trên Thập Giá nhìn theo tiêu chuẩn năng suất thì “không làm được gì”: tay không chữa người bệnh nữa, chân không đi rao giảng nữa, miệng chỉ nói vài lời đứt quãng. Thế mà chính lúc ấy Người đang cứu thế giới. Có những giờ đời ta tưởng vô dụng nhất lại có thể là giờ sinh hoa trái nhất nếu được hiệp với Đức Kitô.
Năm dấu thánh của Phanxicô cũng chất vấn cách ta đối diện những vết thương của chính mình. Ai mà không có vết thương? Có vết thương trên thân xác, có vết thương trong ký ức. Có lời nói đã qua ba mươi năm mà nhớ lại vẫn đau. Có sự phản bội làm một người mất lòng tin. Có đứa con khiến cha mẹ khóc. Có người phối ngẫu làm trái tim mình nát. Có cộng đoàn khiến ta mỏi mệt. Có lời vu khống không thể thanh minh hết. Có những thất bại ta giấu rất kỹ sau nụ cười. Và cám dỗ thường là che vết thương, chối vết thương, hoặc dùng vết thương như giấy phép để làm người khác đau. Nhưng nhìn Đức Kitô Phục Sinh, nhìn Phanxicô mang dấu thánh, ta được mời gọi một con đường khác: không phủ nhận vết thương, nhưng đặt nó trong tay Chúa. Có những vết thương Chúa không xóa khỏi ký ức, bởi nếu xóa hết có khi ta cũng mất luôn lòng cảm thương mà mình học được qua nó. Chúa chữa lành không phải lúc nào cũng bằng cách làm ta quên. Có khi Ngài chữa lành bằng cách để ta nhớ mà không còn oán hận; nhớ mà không muốn trả thù; nhớ mà có thể cầu nguyện; nhớ mà có thể dùng chính kinh nghiệm ấy để cứu một người khác khỏi tuyệt vọng. Khi đó vết thương đã đổi tên. Nó không còn là vết thương đang chảy máu, nó trở thành sẹo. Sẹo nói rằng: “Tôi đã từng đau ở đây, nhưng tôi đã sống qua.” Và nếu có Chúa, người tín hữu còn có thể nói thêm: “Tôi đã từng đau ở đây, và chính ở đây tôi đã gặp Đấng không bỏ tôi.”
Ngày nay người ta nói nhiều đến chữa lành, và đó là nhu cầu thật. Nhưng Kitô giáo có một lời sâu hơn: không chỉ chữa lành, mà còn cứu độ. Chữa lành thường khiến ta nghĩ đến việc trở lại trạng thái trước khi bị thương. Cứu độ có thể đi xa hơn: Thiên Chúa không nhất thiết đưa ta trở lại con người cũ; Ngài có thể dùng chính điều đã xảy ra để làm nên một con người mới. Đức Giêsu sau Phục Sinh không trở lại đơn giản như Ladarô được sống lại để tiếp tục đời cũ. Người bước vào một sự sống mới, và những dấu thương trở thành dấu của chiến thắng. Phanxicô cũng vậy. Năm dấu thánh không nói: “Đau khổ tốt đẹp.” Nó nói: “Tình yêu mạnh hơn đau khổ.” Không nói: “Vết thương là điều phải tìm.” Nó nói: “Không một vết thương nào nhất thiết phải vô nghĩa nếu được đặt trong Đức Kitô.” Không nói: “Hãy cam chịu tất cả.” Nó nói: “Trong điều không thể tránh, hãy để tình yêu biến nó thành lễ dâng.” Đây là một phân biệt rất quan trọng. Có những thập giá do trung thành mà có, hãy vác. Có những đau khổ do tội lỗi và bất công gây ra, hãy chống lại. Có những gánh nặng do chính sự kiêu ngạo, nghiện ngập, cố chấp hoặc lựa chọn sai của ta tạo nên, đừng gọi chúng vội là “thập giá Chúa gửi”; hãy hoán cải. Thập giá Kitô giáo không phải cái cớ để hợp thức hóa mọi đau khổ. Thập giá là nơi ta gặp Đức Kitô trong sự thật và tình yêu.
Thánh Gioan Phaolô II khi đến La Verna năm 1993 đã nối các dấu thánh của Phanxicô với chính lời Đức Giêsu về việc vác thập giá mỗi ngày. Ngài nhìn những vết thương nơi thân xác Phanxicô như dấu đặc biệt cho thấy cây thập giá mà vị thánh ấy đã vác trong toàn bộ đời sống của mình. Điều ấy đưa ta trở lại với câu hỏi thiết thân: “Thập giá của tôi hôm nay là gì?” Không phải thập giá hôm qua. Không phải thập giá của người khác. Không phải những thập giá tưởng tượng trong tương lai. Hôm nay. Có khi là tính khí của một người sống bên ta. Có khi là chính tính khí của ta mà ta phải tập sửa. Có khi là việc lặp lại mỗi ngày khiến ta chán. Có khi là chờ đợi. Có khi là im lặng khi rất muốn nói một câu làm người khác đau. Có khi là đứng dậy cầu nguyện khi chỉ muốn ngủ thêm. Có khi là trung thành với đời sống gia đình trong lúc cảm xúc đã nguội. Có khi là tiếp tục làm mục vụ khi không thấy kết quả. Có khi là chấp nhận người khác giỏi hơn mình mà không ghen. Có khi là nói “xin lỗi”. Có khi là nói “tôi tha thứ”. Có khi là nói “xin Chúa tha cho con”. Những cây thập giá thật hiếm khi có hào quang. Chúng thường rất bình thường, thậm chí tẻ nhạt. Nhưng chính những nơi ấy người môn đệ được đóng đinh cái tôi để Đức Kitô lớn lên.
Phanxicô dạy ta rằng người mang dấu của Đức Kitô phải trở thành người mang bình an, không phải người gây thêm thương tích. Thật vô lý nếu trên tay mang dấu Chúa mà tay ấy lại đánh anh em; miệng nói yêu Thánh Giá mà miệng ấy cứ đóng đinh người khác bằng lời độc địa; quỳ lâu trước Nhà Tạm mà về nhà lại lạnh lùng; hôn tượng Chúa chịu nạn trong Thứ Sáu Tuần Thánh mà từ chối chạm vào vết thương của người bên cạnh. Sự tôn kính Thánh Giá phải đi vào cách sống. Mỗi lần nhìn năm dấu thánh của Phanxicô, ta nên tự hỏi: tay tôi hôm nay làm lành hay gây thương tích? Chân tôi đưa tôi gần Chúa hay xa Chúa? Trái tim tôi đang mở hay đang đóng? Tôi có dùng quá khứ đau đớn để biện minh cho sự khắc nghiệt hiện tại không? Tôi có nhân danh chân lý để làm tổn thương người khác không? Có khi ta đúng nhưng không có tình yêu. Và một chân lý không có tình yêu có thể biến thành cái đinh. Đức Kitô không cứu nhân loại bằng cách thắng một cuộc tranh luận. Người cứu bằng cách yêu cho đến cùng. Phanxicô không cải cách Hội Thánh bằng cách đứng ngoài ném đá. Ngài để Tin Mừng cải cách chính mình trước. Khi một người thật sự nên thánh, chính sự hiện diện của họ đã đặt câu hỏi cho thế giới.
Ta cũng không thể nói về Phanxicô và dấu thánh mà quên Hội Thánh. Năm dấu của Đức Kitô không chỉ ở trên thân thể cá nhân. Thánh Phaolô gọi Hội Thánh là Thân Thể Đức Kitô. Và Thân Thể ấy hôm nay vẫn có những vết thương. Vết thương chia rẽ. Vết thương lạm dụng quyền bính. Vết thương tai tiếng. Vết thương nghèo đói. Vết thương của những người rời xa cộng đoàn vì đã từng bị đối xử thiếu tình thương. Vết thương của những linh mục kiệt sức. Vết thương của những gia đình đổ vỡ. Vết thương của những người trẻ không tìm được ý nghĩa. Yêu Hội Thánh như Phanxicô không phải là giả vờ Hội Thánh không có vết thương. Nhưng cũng không phải đứng ngoài chỉ tay vào các vết thương với thái độ khinh miệt. Yêu là ở lại, cầu nguyện, hoán cải mình, làm phần mình, chữa lành nơi mình có thể chữa. Phanxicô đã nghe lời “hãy sửa lại nhà Ta” và bắt đầu bằng những viên đá, rồi mới hiểu căn nhà Chúa muốn sửa sâu hơn là Hội Thánh. Nhưng cách Phanxicô sửa Hội Thánh không phải bằng phá Hội Thánh. Ngài sửa bằng thánh thiện. Đây là điều mọi thời đại cần: Hội Thánh không thiếu người phê bình; Hội Thánh thiếu những vị thánh. Gia đình cũng vậy. Cộng đoàn cũng vậy. Đôi khi điều một nơi cần nhất không phải thêm một người phân tích xem ai sai, nhưng một người chịu bắt đầu sống Tin Mừng.
Có một chi tiết thật đẹp: Phanxicô nhận dấu thương vào cuối đời chứ không phải đầu đời. Thiên Chúa không vội. Chúa thường chuẩn bị một linh hồn rất lâu trước khi trao cho linh hồn ấy điều sâu hơn. Cũng như trái cây phải chín từ từ. Ta sống trong thời đại muốn nhanh: cầu nguyện vài ngày đã muốn bình an, đi tĩnh tâm một khóa muốn đổi đời, bắt đầu phục vụ muốn thấy kết quả, gieo hôm nay muốn gặt ngày mai. Nhưng nên thánh là công trình của cả đời. Phanxicô của La Verna được tạo nên bởi vô số lựa chọn trước đó. Mỗi lần nói không với ý riêng. Mỗi lần chọn nghèo. Mỗi lần tha thứ. Mỗi lần thức cầu nguyện. Mỗi lần cúi xuống với người phong. Mỗi lần nghe Tin Mừng và làm theo. Không có La Verna nào tự nhiên xuất hiện trong đời thiêng liêng. Đỉnh núi được xây bằng từng bước. Nếu hôm nay ta chưa yêu Chúa như Phanxicô, đừng nản. Hãy yêu Chúa bằng quyết định nhỏ hôm nay. Nếu chưa cầu nguyện được một giờ, hãy cầu nguyện mười phút thật lòng. Nếu chưa tha thứ hoàn toàn, ít nhất đừng nuôi thêm oán hận. Nếu chưa cho đi được nhiều, hãy bắt đầu bằng điều nhỏ. Nếu chưa nên thánh, hãy thôi làm điều mình biết chắc là tội. Thiên Chúa không đòi ta nhảy lên La Verna trong một ngày. Ngài chỉ hỏi ta có chịu bước bước kế tiếp hay không.
Và rồi, cuối cùng, năm dấu thánh dẫn chúng ta về một câu hỏi đơn giản nhưng không dễ trả lời: tôi muốn giống ai? Cả thế giới này đang âm thầm in dấu lên chúng ta. Những gì ta nhìn mỗi ngày in dấu vào mắt. Những gì ta nghe in dấu vào tâm trí. Người ta ngưỡng mộ in dấu vào ước muốn. Tiền bạc có thể in dấu lên cách ta nhìn người. Danh vọng có thể in dấu lên cách ta phục vụ. Những tổn thương có thể in dấu lên cách ta phản ứng. Mạng xã hội có thể in dấu lên lòng tự trọng. Ta tưởng mình tự do, nhưng thật ra ai cũng đang mang dấu của một điều gì. Phanxicô đã chọn để Đức Kitô in dấu lên mình. Trước khi năm dấu hiện trên thân xác, Đức Kitô đã in sự hiền lành vào ánh mắt, nghèo khó vào cách sống, lòng thương xót vào đôi tay, vâng phục vào ý chí, bình an vào lời nói. Năm dấu thương hữu hình chỉ làm lộ ra điều đã xảy ra vô hình từ lâu. Đây có lẽ là câu hỏi đáng đem vào cầu nguyện: nếu một ngày những gì đang in trong linh hồn tôi bỗng hiện ra ngoài thân xác, người ta sẽ thấy hình ảnh của ai? Đức Kitô hay cái tôi? Tin Mừng hay thế gian? Lòng thương xót hay cay đắng? Bình an hay tranh chấp? Khiêm nhường hay nhu cầu được công nhận?
Thánh Phanxicô Assisi nhận năm dấu thánh ở La Verna không phải để chúng ta đứng xa mà trầm trồ. Ngài đứng đó như một tấm gương và nói với từng người: Đức Kitô có thể đi sâu vào một đời người đến mức như thế. Một người có thể thuộc về Chúa đến mức như thế. Một trái tim có thể yêu Chúa chịu đóng đinh đến mức như thế. Nhưng con đường bắt đầu không phải ở La Verna. Nó bắt đầu ngay hôm nay, trong căn phòng của ta, nơi bàn làm việc, trong nhà bếp, bên giường bệnh, trong cộng đoàn, trong gia đình, trong tòa giải tội, trong một cuộc điện thoại cần thực hiện, trong một lời xin lỗi còn nợ, trong một món nợ cần trả, trong một thói quen xấu phải bỏ, trong một người nghèo cần nhìn thấy, trong một giờ cầu nguyện ta vẫn trì hoãn. La Verna có thể bắt đầu ở những nơi rất bình thường như thế. Mỗi khi ta để cái tôi chết đi một chút vì yêu, một nét của Đức Kitô được khắc thêm trong ta. Mỗi lần tha thứ, một dấu thánh vô hình xuất hiện. Mỗi lần chọn sự thật thay vì lợi ích, một dấu thánh được khắc thêm. Mỗi lần chịu thiệt mà không trả đũa, một dấu thánh được ghi vào tim. Mỗi lần cúi xuống phục vụ người không thể trả ơn, một dấu thánh được hình thành. Không ai nhìn thấy, nhưng Chúa thấy.
Và có lẽ đến cuối đời, điều quan trọng không phải là chúng ta đã để lại bao nhiêu công trình, có bao nhiêu người biết tên, có bao nhiêu của cải, có được bao nhiêu lời khen. Điều quan trọng là người ta có nhận ra Đức Kitô nơi chúng ta không. Khi nhìn vào một Phanxicô nghèo, yếu, mang những dấu thương, thế gian không thấy một người thất bại. Hội Thánh thấy một người đã để Chúa viết xong Tin Mừng trên đời mình. Đó là vẻ đẹp của năm dấu thánh: một cuộc đời trở thành bản sao sống động của tình yêu chịu đóng đinh. Phanxicô không còn chỉ cầm Thánh Giá trên tay; ngài mang Thánh Giá trên thân mình. Không còn chỉ suy niệm Cuộc Thương Khó; Cuộc Thương Khó đã đi vào thịt da ngài. Không còn chỉ nói “Chúa của con”; toàn thân ngài nói: “Con thuộc về Chúa.”
Xin Thánh Phanxicô dạy chúng ta đừng xin những dấu thánh lạ thường, nhưng hãy xin trái tim của người mang dấu thánh. Xin cho đôi tay chúng ta mang dấu của sự phục vụ; đôi chân mang dấu của sứ vụ; đôi mắt mang dấu của lòng thương xót; miệng mang dấu của lời chúc lành; trái tim mang dấu của tình yêu biết chịu đau mà vẫn yêu. Xin cho chúng ta đừng chạy khỏi mọi Thập Giá đến mức một ngày kia chạy luôn khỏi Đức Kitô. Xin cho chúng ta biết phân biệt thập giá phải tránh vì nó do tội lỗi gây nên, thập giá phải chống vì nó là bất công, và thập giá phải ôm vì đó là phần của tình yêu trung thành. Xin Chúa cho những vết thương của chúng ta, thay vì làm ta cay nghiệt, trở thành những khe hở để ánh sáng đi qua. Xin cho những gì đã từng làm ta khóc lại giúp ta biết lau nước mắt cho người khác. Xin cho những gì từng làm tim ta tan vỡ lại làm tim ta rộng hơn. Và khi một ngày cuộc đời đã đi đến buổi chiều, khi hai tay không còn sức làm nhiều, đôi chân không còn đi xa, đôi mắt mờ đi, những người từng cần đến ta có thể không còn ở bên, xin chỉ còn một điều rõ ràng: ta đã cố gắng thuộc về Đức Kitô.
Phanxicô đã lên La Verna với một thân xác của riêng mình và bước xuống với những dấu của Đức Kitô. Còn chúng ta, mỗi ngày bước vào Thánh Lễ, bước vào cầu nguyện, bước đến bên Thánh Giá, liệu có bước ra khác đi chút nào không? Nếu đã gặp Chúa mà không có gì trong ta thay đổi, có lẽ ta mới đứng gần Người chứ chưa để Người chạm vào. Cuộc gặp thật luôn để lại dấu. Có thể chẳng ai thấy. Có thể không có máu. Không có vết đinh. Không có điều kỳ lạ. Nhưng sẽ có thêm một chút hiền lành, thêm một chút nhẫn nại, thêm một chút tự do khỏi tiền bạc, thêm một chút quảng đại, thêm một chút khiêm tốn, thêm một chút yêu thương kẻ khó yêu. Đó chính là những dấu thánh mà thế giới hôm nay đang cần. Một thế giới đầy thương tích không cần thêm những người gây thương tích nhân danh tôn giáo; nó cần những con người mang trong mình những vết thương đã được Đức Kitô biến thành lòng thương xót.
Xin Thánh Phanxicô Assisi, người anh em nghèo của Đức Kitô nghèo, người đã yêu Đấng Chịu Đóng Đinh đến mức thân xác cũng mang hình ảnh Cuộc Thương Khó, cầu cho chúng ta. Xin ngài dạy chúng ta biết đứng dưới chân Thánh Giá lâu hơn, nhìn Chúa kỹ hơn, yêu Chúa thật hơn. Và nhất là xin ngài dạy chúng ta điều sâu nhất của La Verna: không phải hỏi làm sao để có dấu thương của Chúa trên thân xác, nhưng hỏi làm sao để trái tim ta mang trái tim của Chúa. Bởi nếu trái tim đã giống Chúa, đôi tay rồi sẽ biết phục vụ như Chúa; đôi chân sẽ biết đi như Chúa; môi miệng sẽ biết tha thứ như Chúa; cuộc đời sẽ biết được bẻ ra như Chúa. Khi ấy, dù không ai nhìn thấy năm dấu thánh trên chúng ta, Thiên Chúa vẫn nhận ra dấu của Con Một Ngài trong cuộc đời ta. Và thế là đủ.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH TÊRÊSA AVILA VÀ KINH NGHIỆM THÁNH GIÁ
Có những người nói về Thánh Giá vì đã đọc nhiều sách về Thánh Giá. Có những người giảng về Thánh Giá vì đã học thần học về mầu nhiệm cứu chuộc. Có những người chiêm ngắm Thánh Giá vì trước mắt họ luôn có một cây thánh giá treo trên tường. Nhưng cũng có những con người mà cuộc đời họ như được Thiên Chúa đưa thẳng vào trong lòng Thánh Giá, để họ không còn chỉ “biết” Thánh Giá bằng trí óc, nhưng nếm Thánh Giá bằng nước mắt, bằng cô đơn, bằng bệnh tật, bằng hiểu lầm, bằng những đêm dài không cảm thấy Chúa, bằng những lần muốn buông mà vẫn phải bước, bằng những vết thương không ai nhìn thấy và bằng một tình yêu càng đau lại càng cháy. Thánh Têrêsa Avila là một trong những con người như thế. Nhìn cuộc đời vị nữ thánh lớn của Giáo Hội, người ta dễ bị thu hút bởi những kinh nghiệm thần bí, những lần xuất thần, những thị kiến, những lời cầu nguyện sâu xa, những trang sách được Giáo Hội trân trọng qua nhiều thế kỷ. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, chúng ta có thể hiểu sai Têrêsa. Têrêsa không phải là một tâm hồn được Thiên Chúa đưa lên cao để tránh khỏi đau khổ của mặt đất. Ngược lại, chính trên con đường đi sâu vào Thiên Chúa, Têrêsa càng được đưa gần hơn tới Thánh Giá của Đức Kitô. Càng yêu Chúa, ngài càng hiểu rằng tình yêu đích thực không thể đứng xa đồi Canvê. Càng cầu nguyện sâu, ngài càng nhận ra rằng kết hợp với Đức Kitô không có nghĩa là tìm kiếm những an ủi thiêng liêng, nhưng là để cho đời mình trở nên giống đời Người, và đời của Đức Kitô cuối cùng đã đi qua Giếtsêmani, qua phiên tòa, qua con đường lên Núi Sọ, qua đinh sắt, qua khát, qua cô độc, qua tiếng kêu tưởng như bị bỏ rơi, rồi mới tới bình minh Phục Sinh.
Têrêsa sinh tại Avila, Tây Ban Nha, năm 1515. Ngay từ nhỏ, tâm hồn cô bé đã có một nét rất đặc biệt: muốn sống cho những điều không qua đi. Có một thời, Têrêsa và người anh từng nung nấu ý tưởng đi tìm phúc tử đạo. Cái nhìn trẻ thơ khi ấy chưa thể hiểu hết Thánh Giá, nhưng trong trái tim non trẻ đã có một trực giác: nếu Thiên Chúa là Đấng đáng yêu hơn mọi sự, thì cũng đáng để người ta trao cho Người tất cả. Thế rồi Têrêsa lớn lên như bao thiếu nữ khác. Ngài biết đến những quyến rũ của cuộc đời, biết thích được quý mến, biết quan tâm đến dáng vẻ bên ngoài, biết những rung động rất con người. Chính điều ấy làm cho Têrêsa gần chúng ta. Thánh nhân không phải một bức tượng sinh ra đã không biết đến những giằng co của lòng người. Têrêsa đã phải học yêu Chúa trong chính một trái tim từng bị nhiều thứ chia sẻ. Và đó đã là cây thập giá đầu tiên: cuộc chiến giữa một bên là lời mời gọi của Thiên Chúa và một bên là những quyến luyến mà con người không dễ gì buông bỏ. Có những thập giá đến với chúng ta từ bệnh tật, nghèo túng, mất mát. Nhưng cũng có một thứ thập giá nằm ngay trong lòng mình: biết điều tốt mà chưa làm nổi, muốn thuộc trọn về Chúa mà lòng còn giữ lại vài góc cho mình, muốn cầu nguyện mà trí cứ chạy theo trăm thứ, muốn nên thánh mà vẫn tiếc những tiện nghi, muốn yêu Chúa mà lại sợ Chúa đòi quá nhiều. Thánh Giá ấy chẳng ai thấy, nhưng người thật lòng tìm Chúa đều đã từng mang.
Têrêsa vào đan viện Nhập Thể tại Avila. Người ngoài có thể tưởng rằng từ ngày cánh cửa đan viện đóng lại phía sau, cuộc chiến đã xong: một người đã từ bỏ thế gian, khoác áo dòng, dâng đời mình cho Chúa, còn gì để nói nữa? Nhưng không. Chính khi đã vào nhà Chúa, Têrêsa mới bắt đầu hiểu rằng từ bỏ bên ngoài nhiều khi dễ hơn từ bỏ bên trong. Người ta có thể rời một căn nhà mà chưa rời những quyến luyến. Có thể bỏ của cải mà còn giữ cái tôi. Có thể ở trong tu viện mà tâm hồn vẫn phân tán. Có thể đọc kinh rất nhiều mà chưa thực sự cầu nguyện. Có thể làm việc cho Chúa nhưng lại chưa hoàn toàn để Chúa làm việc trong mình. Têrêsa trải qua nhiều năm như vậy. Có những giai đoạn ngài cầu nguyện sốt sắng, rồi lại nguội lạnh; muốn tiến tới, rồi lại chùn bước; thấy Chúa gọi, nhưng vẫn còn thương lượng với Chúa. Những năm tháng ấy là một kinh nghiệm vô cùng quý giá, bởi sau này khi nói về đời sống cầu nguyện, Têrêsa không nói như một người đứng trên cao chỉ đường cho những kẻ phía dưới. Ngài nói như một người từng ngã, từng mệt, từng sợ, từng trì hoãn, từng thấy mình bất xứng, nhưng rồi đã khám phá ra rằng Thiên Chúa kiên nhẫn hơn tất cả sự yếu đuối của con người.
Thập giá bệnh tật cũng đồng hành với Têrêsa rất sớm. Ngài mang một thân thể yếu đuối và phải chịu những cơn bệnh nặng nề. Có thời gian bệnh trạng nghiêm trọng đến mức người ta tưởng ngài đã chết. Những cơn đau, những lần suy kiệt, những giới hạn thể xác cứ trở đi trở lại suốt đời. Đây là điều rất đáng suy nghĩ. Một người có đời sống nội tâm sâu xa như Têrêsa không vì thế mà được miễn khỏi những giới hạn của thân xác. Thiên Chúa không biến ngài thành một con người không biết đau. Ơn thần bí không làm cho cơn đau bớt đau. Sự thánh thiện không làm thân xác trở nên miễn nhiễm trước bệnh tật. Có những lúc chúng ta ngầm nghĩ rằng người sống tốt thì đáng lẽ phải gặp may, người cầu nguyện nhiều thì đáng lẽ Chúa phải giữ cho khỏi bệnh, người làm việc cho Chúa thì đáng lẽ Chúa phải dọn đường bằng phẳng. Nhưng Tin Mừng chưa bao giờ hứa như thế. Đức Giêsu là Con yêu dấu của Chúa Cha, mà Người vẫn đi vào cuộc Thương Khó. Đức Maria đầy ân sủng, mà một lưỡi gươm vẫn đâm thâu tâm hồn Mẹ. Các Tông đồ thuộc về Chúa, mà phần lớn đã kết thúc cuộc đời trong thử thách và tử đạo. Têrêsa yêu Chúa tha thiết, nhưng vẫn đau. Điều khác biệt không nằm ở chỗ người thánh thiện không có Thánh Giá; điều khác biệt là giữa Thánh Giá ấy, họ dần học được cách không để đau khổ cướp mất Thiên Chúa khỏi trái tim mình.
Có lẽ bước ngoặt đẹp nhất của Têrêsa không diễn ra trong một biến cố huy hoàng theo kiểu thế gian. Đó là một cuộc gặp gỡ âm thầm với hình ảnh Đức Kitô chịu thương khó. Têrêsa nhìn thấy một tượng Chúa bị đánh đòn, thân mình đầy thương tích. Và trước Đức Kitô chịu đau khổ ấy, một cái gì đó trong lòng ngài vỡ ra. Têrêsa nhận ra tình yêu mà mình đã đáp lại quá ít trước tình yêu Chúa đã dành cho mình quá nhiều. Có những khoảnh khắc trong đời thiêng liêng không cần một bài giảng dài. Chỉ cần nhìn Chúa. Nhìn đủ lâu. Nhìn thật. Nhìn Người không như nhìn một pho tượng quen thuộc, nhưng như nhìn một Đấng đã chịu những vết thương ấy vì mình. Rất nhiều Kitô hữu đã quen với cây Thánh Giá đến độ không còn giật mình trước Thánh Giá nữa. Thánh Giá treo trước bàn thờ, trên tường nhà, trên cổ, trên nóc nhà thờ, nhưng đôi khi lại ở quá xa trái tim. Chúng ta có thể làm dấu Thánh Giá hàng chục lần một ngày mà chưa một lần để cho câu hỏi này xuyên qua lòng mình: “Tại sao Người chịu như thế?” Và khi câu trả lời vang lên: “Vì yêu tôi”, thì câu hỏi thứ hai còn đáng sợ hơn: “Còn tôi đã yêu Người thế nào?” Têrêsa đã để cho hình ảnh Đức Kitô đau khổ đặt câu hỏi ấy vào tận đáy lòng mình. Từ đó, ngài không còn muốn một đời sống thiêng liêng nửa vời nữa.
Tin Mừng có một cảnh rất thích hợp để soi sáng kinh nghiệm ấy của Têrêsa. Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (x. Mt 16,24-25). Chúa không nói: ai muốn theo Thầy thì hãy tìm một cây thập giá của người khác. Người nói: “thập giá mình”. Mỗi đời người có một cây thập giá có kích thước riêng. Có cây thập giá mang tên bệnh tật. Có cây mang tên người phối ngẫu khó tính. Có cây mang tên đứa con làm cha mẹ đau lòng. Có cây mang tên cô đơn tuổi già. Có cây mang tên thất bại. Có cây mang tên bị hiểu lầm. Có cây mang tên một quá khứ không thể sửa lại. Có cây mang tên trách nhiệm. Có cây mang tên ơn gọi. Có cây mang tên chính bản thân mình, với những giới hạn mà mình đã cầu xin Chúa cất đi nhiều lần nhưng Chúa vẫn để đó. Đức Giêsu không bảo chúng ta yêu đau khổ vì đau khổ. Người bảo chúng ta đi theo Người, mà trên con đường ấy sẽ có Thánh Giá. Thánh Giá chỉ có ý nghĩa khi ở trong tương quan với Đức Kitô. Nếu không có Chúa, đau khổ chỉ là đau khổ. Nhưng nếu có Chúa ở đó, đau khổ có thể trở thành nơi gặp gỡ, nơi thanh luyện, nơi trao hiến, nơi trưởng thành, thậm chí nơi con người yêu sâu hơn tất cả những ngày bình an.
Têrêsa hiểu điều ấy ngày một sâu. Với ngài, cầu nguyện không phải là tìm một nơi trú ẩn để khỏi phải đối diện với đời sống. Cầu nguyện là đi vào tình bạn với Đức Kitô. Và nếu Người Bạn ấy đang mang Thánh Giá thì người bạn thật không thể đứng ngoài nhìn. Có lẽ đây là một trong những điều chúng ta phải học lại về cầu nguyện. Chúng ta thường đến với Chúa để xin Chúa giải quyết vấn đề: xin khỏi bệnh, xin gia đình yên, xin công việc thuận lợi, xin con cái ngoan, xin hết nợ, xin thi đậu, xin thành công. Không có gì sai khi xin những điều ấy. Đức Giêsu cũng dạy chúng ta xin bánh hằng ngày. Nhưng nếu cả đời cầu nguyện chỉ là tìm cách làm cho Thánh Giá biến mất thì chúng ta chưa đi hết chiều sâu của cầu nguyện Kitô giáo. Có lúc Chúa cất Thánh Giá. Có lúc Chúa làm phép lạ. Có lúc cánh cửa tưởng đóng lại bỗng mở. Nhưng cũng có lúc Chúa không cất cây thập giá mà lại đến đứng dưới cây thập giá với chúng ta. Có những lời cầu nguyện không làm hoàn cảnh thay đổi, nhưng làm người cầu nguyện thay đổi. Có những bệnh không khỏi, nhưng người bệnh bình an hơn. Có những mất mát không lấy lại được, nhưng trái tim thôi oán trách. Có những hiểu lầm không được giải thích, nhưng người bị hiểu lầm không còn cần chứng minh mình bằng mọi giá. Có những vết thương vẫn còn đó nhưng không còn chảy máu mỗi khi chạm tới. Đó cũng là phép lạ.
Têrêsa từng trải qua những kinh nghiệm thần bí sâu xa, nhưng chính những ân huệ đặc biệt ấy lại trở thành một thứ thập giá khác. Người ta có thể tưởng thấy Chúa là sung sướng. Nhưng điều thuộc về Thiên Chúa mà vượt khỏi khuôn khổ thông thường thường dễ gây nghi ngờ. Têrêsa đã phải chịu sự dò xét, nghi ngại, hiểu lầm. Ngài phải tự hỏi những kinh nghiệm của mình đến từ Thiên Chúa hay là ảo tưởng. Ngài tìm đến các cha giải tội, các nhà thần học, phải vâng phục trong nhiều điều khiến bản thân đau khổ. Có lúc người khác không hiểu điều Chúa đang thực hiện nơi ngài. Nhưng Têrêsa không biến kinh nghiệm thần bí thành lý do để đặt mình trên Giáo Hội. Đây là một nét rất đẹp của ngài. Têrêsa càng gần Chúa lại càng ý thức mình cần phân định. Càng được những ơn đặc biệt lại càng muốn bước trong vâng phục. Điều đó tự nó cũng là Thánh Giá. Bởi con người chúng ta rất thích được công nhận rằng mình đúng. Bị hiểu lầm đã khó; bị hiểu lầm trong chính điều mình xác tín là của Chúa lại càng khó. Nhưng nhiều khi Thiên Chúa dùng chính sự vâng phục, chờ đợi và khiêm nhường để thanh luyện những ân huệ Người ban, để người nhận ơn không yêu ân huệ hơn Đấng ban ơn.
Rồi Chúa đưa Têrêsa vào công cuộc cải tổ đời sống đan tu. Đó là một chương đầy Thánh Giá. Cải tổ luôn đẹp khi nằm trên giấy, nhưng khi chạm vào con người, thói quen, quyền lợi, truyền thống và sự an toàn, nó bắt đầu đau. Têrêsa mong muốn một đời sống khó nghèo hơn, cầu nguyện sâu hơn, trung thành hơn với đặc sủng. Nhưng chính mong muốn ấy khiến ngài gặp chống đối. Người ta chỉ trích. Người ta nghi ngờ. Có những người không đồng tình. Có những cánh cửa đóng lại. Có những hành trình mệt nhọc. Có những năm tháng một phụ nữ với sức khỏe mong manh phải đi trên những con đường xấu, trong điều kiện khó khăn, để thành lập những cộng đoàn mới. Chúng ta ngày nay nhìn lại thấy một vị Tiến sĩ Hội Thánh, một thánh nữ vĩ đại, và dễ tưởng rằng khi còn sống ai cũng nhận ra sự thánh thiện của ngài. Không phải vậy. Các thánh thường phải đi qua thời gian bị hiểu sai trước khi được hiểu đúng. Hạt giống thường bị chôn xuống trước khi mọc lên. Việc của Thiên Chúa đôi khi phải mang hình dáng thất bại trước mắt con người trước khi hoa trái xuất hiện.
Đây là kinh nghiệm Thánh Giá mà bất cứ ai thật lòng phục vụ Giáo Hội cũng có thể gặp. Không phải cứ làm việc Chúa là được người ta hiểu. Không phải cứ có thiện chí là tránh khỏi lời ra tiếng vào. Không phải cứ hy sinh là người khác biết ơn. Không phải cứ sống tử tế thì sẽ được đối xử tử tế. Có những người đã đau nhất không phải vì kẻ thù, nhưng vì những người cùng một mái nhà, cùng một cộng đoàn, cùng một sứ mạng. Có những linh mục đau vì giáo dân. Có những giáo dân đau vì linh mục. Có những tu sĩ đau vì cộng đoàn. Có những người làm việc chung với nhau nhưng lại làm nhau đau. Đau ấy đôi khi sâu hơn đau thể xác vì nó chạm đến nơi mình đã đặt niềm tin. Têrêsa đã nếm điều đó. Nhưng ngài không bỏ Giáo Hội vì những giới hạn của con người trong Giáo Hội. Ngài yêu Giáo Hội đến mức chịu đau để phục vụ Giáo Hội. Đó là một bài học vô cùng cần thiết. Người yêu Giáo Hội thật không phải là người chưa từng bị tổn thương trong Giáo Hội. Có khi người ấy đã bị tổn thương rất sâu. Nhưng giữa những vết thương đó, họ vẫn phân biệt được khuôn mặt Đức Kitô với những yếu đuối của con người. Họ không biến một kinh nghiệm đau buồn thành lý do để mất Đức Kitô.
Thánh Giá của Têrêsa còn là cuộc thanh luyện bên trong. Càng tiến sâu vào đời cầu nguyện, ngài càng hiểu rằng Thiên Chúa không chỉ muốn vài hành vi đạo đức, Người muốn chính con người. Chúng ta thường muốn dâng cho Chúa một phần: một giờ lễ, một chuỗi Mân Côi, vài việc bác ái, một ít tiền, một vài hy sinh. Nhưng rồi có lúc Chúa chạm tới điều mình không muốn dâng. Có thể là ý riêng. Có thể là danh tiếng. Có thể là một mối gắn bó. Có thể là nhu cầu luôn được người khác hiểu. Có thể là lòng tự ái. Có thể là một dự định rất đẹp mà mình đã gắn cho cái nhãn “làm cho Chúa”, nhưng thực tế trong đó có rất nhiều “tôi”. Khi Chúa chạm vào đó, chúng ta đau. Và chính ở nơi ấy bắt đầu kinh nghiệm Thánh Giá thật. Bởi từ bỏ một điều xấu đôi khi dễ hơn từ bỏ một điều tốt mà Chúa không muốn mình bám vào. Từ bỏ tội đã khó; từ bỏ ý riêng đạo đức đôi khi còn khó hơn.
Têrêsa hiểu rằng kết hợp với Chúa không phải là cảm thấy Chúa liên tục. Có những giai đoạn tâm hồn được an ủi, nhưng cũng có những thời gian khô khan. Người cầu nguyện lâu năm hiểu rất rõ điều này. Có ngày quỳ xuống và lòng như mở ra; có ngày quỳ xuống mà thấy chỉ có im lặng. Có ngày một câu Tin Mừng làm mình rơi nước mắt; có ngày đọc cả chương mà chẳng thấy gì. Có ngày Thánh Lễ là thiên đàng; có ngày dự lễ bằng một tâm hồn mỏi mệt, đầu óc chạy khắp nơi. Nếu chúng ta chỉ trung thành khi cảm thấy sốt sắng, đời sống đức tin sẽ lệ thuộc vào cảm xúc. Thiên Chúa đôi khi rút lại cảm giác ngọt ngào không phải vì Người đi xa, nhưng vì Người muốn tình yêu trưởng thành. Người mẹ có thể cho đứa trẻ vịn tay tập đi; rồi có lúc bà buông tay, không phải để bỏ con mà để con biết bước. Trong đời sống thiêng liêng cũng vậy. Có những lúc Chúa như im lặng để xem chúng ta tìm Người hay tìm cảm giác về Người. Có những lúc cầu nguyện trở thành Thánh Giá. Nhưng chính lời cầu nguyện khô khan mà vẫn trung thành đôi khi quý hơn rất nhiều những giờ cầu nguyện đầy cảm xúc. Yêu khi được an ủi thì dễ. Yêu khi không cảm thấy gì mới là tình yêu đã bắt đầu có chiều sâu.
Người ta thường nhắc đến một lời cầu nguyện gắn với tâm tình của Têrêsa: “Lạy Chúa, hoặc là đau khổ, hoặc là chết.” Đọc bằng cái nhìn hời hợt, người hôm nay có thể thấy câu ấy quá mạnh. Nhưng không thể hiểu ngôn ngữ của các nhà thần bí bằng tâm lý thích đau đớn. Các thánh không yêu đau khổ vì đau khổ. Điều họ yêu là Đức Kitô. Khi tình yêu ấy lớn lên đến mức không muốn sống một phút nào tách khỏi Người, họ sẵn sàng đón cả đau khổ nếu đau khổ làm họ nên giống Người hơn và sinh ích cho các linh hồn. Đó không phải là sự coi thường sự sống, nhưng là tình yêu đã thoát khỏi việc lấy sự dễ chịu của bản thân làm tiêu chuẩn tối hậu. Chúng ta không cần tìm thêm đau khổ. Cuộc đời đã có đủ. Người Kitô hữu không được tự gây đau khổ cho mình hoặc cho người khác rồi gọi đó là Thánh Giá. Có những đau khổ phải chữa trị. Có những bất công phải chống lại. Có những bạo hành phải chấm dứt. Có những tình cảnh độc hại cần rời khỏi. Thánh Giá Kitô giáo không phải là thần thánh hóa mọi đau khổ. Đức Giêsu chữa bệnh, bênh vực người yếu, giải phóng kẻ bị áp bức. Nhưng khi có những đau khổ không thể tránh khỏi trên con đường trung thành với tình yêu, người môn đệ không để chúng làm mình thôi yêu.
Điều làm Têrêsa lớn không phải số lượng đau khổ ngài chịu, nhưng là cách ngài để Thiên Chúa biến đau khổ thành tình yêu. Hai người có thể chịu cùng một thử thách mà kết quả hoàn toàn khác nhau. Một người đau rồi trở nên cay nghiệt. Một người đau rồi trở nên cảm thông. Một người bị phản bội rồi không còn tin ai. Một người bị phản bội nhưng hiểu hơn những ai đang bị tổn thương. Một người nghèo rồi đố kỵ. Một người nghèo mà biết chia chiếc bánh cuối cùng. Một người bệnh rồi chỉ nhìn vào mình. Một người bệnh lại cầu nguyện cho người bệnh khác. Thánh Giá tự nó không tự động làm chúng ta nên thánh. Có người mang thập giá mà trở nên cứng lòng. Thứ làm thập giá biến thành đường nên thánh chính là tình yêu được kết hợp với Đức Kitô. Hai cây gỗ đóng chéo lại chưa đủ trở thành “Thánh Giá”; nó trở thành Thánh Giá vì trên đó có Đấng yêu đến cùng.
Đức Giêsu trong vườn Giếtsêmani chính là ánh sáng lớn nhất cho kinh nghiệm này. Người nói: “Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Đó là lời cầu nguyện của một con người thật. Đức Giêsu không giả vờ không sợ đau. Người không nói: “Con thích chén đắng.” Người xin nó đi qua. Nhưng trong tận cùng, Người đặt tình yêu lớn hơn nỗi sợ: “Xin theo ý Cha.” Có lẽ chúng ta cũng phải học cầu nguyện như thế. Không cần giả vờ mạnh. Không cần nói “con vui lắm” khi lòng đang tan nát. Không cần cảm ơn Chúa vì căn bệnh như thể bệnh là điều tốt. Chúng ta có thể nói thật: “Lạy Chúa, con sợ. Con mệt. Con không muốn điều này. Con không hiểu. Con chịu hết nổi rồi.” Đó vẫn là cầu nguyện. Nhưng sau tất cả, nếu còn có thể thì thêm một câu: “Xin Chúa đừng để con mất Chúa trong chuyện này.” Đôi khi đó là câu cầu nguyện đẹp nhất của một đời người.
Têrêsa còn dạy chúng ta một điều khác: giữa Thánh Giá, đừng đánh mất sự bình an căn bản vì Thiên Chúa không thay đổi. Những dòng gắn với linh đạo của ngài đã nâng đỡ không biết bao nhiêu tâm hồn: “Đừng để điều gì làm con xao xuyến, đừng để điều gì làm con sợ hãi; mọi sự rồi sẽ qua, Thiên Chúa không thay đổi.” Đây không phải lời của một người chưa từng đau. Chính vì đã trải qua quá nhiều bất ổn mà Têrêsa có thể nói như thế. Mọi sự rồi sẽ qua. Sức khỏe qua. Tuổi trẻ qua. Tiền bạc qua. Lời khen qua. Lời chê cũng qua. Thành công qua. Thất bại cũng qua. Người yêu mình có thể qua đời. Người ghét mình rồi cũng qua đời. Những chuyện hôm nay khiến ta mất ngủ, một ngày kia có thể chẳng còn quan trọng. Chỉ có Thiên Chúa không qua đi. Khi người ta đặt đời mình vào những gì thay đổi, lòng sẽ thay đổi theo chúng. Khi tiền lên thì vui, tiền xuống thì buồn. Khi được khen thì hăng hái, bị chê thì bỏ cuộc. Khi người khác thương thì thấy đời đẹp, người khác lạnh nhạt thì thấy đời vô nghĩa. Nhưng nếu điểm tựa cuối cùng là Thiên Chúa, chúng ta có thể đau mà không sụp, khóc mà không tuyệt vọng, mất mà không mất tất cả.
“Thiên Chúa không thay đổi.” Đây có lẽ là chiếc neo của người vác Thánh Giá. Ngày chúng ta hạnh phúc, Người là Chúa. Ngày chúng ta đau khổ, Người vẫn là Chúa. Ngày lời cầu xin được nhận, Người yêu ta. Ngày trời im lặng, Người vẫn yêu ta. Ngày chúng ta thành công, Người ở đó. Ngày tất cả tan vỡ, Người chưa bỏ đi. Vấn đề là chúng ta thường đo tình yêu của Chúa bằng hoàn cảnh. Khi được việc thì nói Chúa thương; gặp tai họa lại hỏi Chúa bỏ con sao. Nhưng Thánh Giá của Đức Kitô đảo ngược cách nhìn ấy. Nếu có một lúc bên ngoài xem ra Chúa Cha bỏ Đức Giêsu nhất, đó là Canvê. Vậy mà chính Canvê lại là nơi mầu nhiệm tình yêu cứu độ đạt tới đỉnh cao. Như thế, hoàn cảnh tối tăm không nhất thiết có nghĩa là Thiên Chúa vắng mặt. Có những nơi Người hiện diện sâu nhất lại chính là nơi chúng ta cảm thấy Người ít nhất.
Têrêsa không để kinh nghiệm Thánh Giá biến mình thành một người u sầu. Đây cũng là nét rất đáng yêu của ngài. Thánh thiện không đồng nghĩa với mặt lúc nào cũng buồn. Ngài có tinh thần thực tế, óc hài hước, sự mạnh mẽ, khả năng tổ chức và một tình yêu rất con người đối với chị em. Có một thứ đạo đức dễ khiến người khác ngột ngạt: nói về hy sinh suốt ngày, nghiêm nghị suốt ngày, nhìn đâu cũng thấy tội, thấy nguy hiểm, thấy phải từ bỏ. Nhưng Đức Kitô vác Thánh Giá không phải để làm con người ít sống hơn; Người vác Thánh Giá để chúng ta được sống và sống dồi dào. Têrêsa hiểu rằng người thuộc về Chúa có thể vừa nghiêm túc trong đời sống nội tâm vừa vui vẻ trong đời thường. Khổ chế không phải để giết chết nhân tính, nhưng để giải phóng nhân tính khỏi ích kỷ. Cầu nguyện không khiến con người xa thực tế, nhưng phải làm họ sống thực tế hơn. Ai nói mình gặp Chúa mà càng ngày càng khó chịu với mọi người thì cần xem lại cuộc gặp đó. Ai càng cầu nguyện càng dễ tha thứ, càng biết cười, càng hiểu người yếu đuối, càng ít đòi hỏi người khác hoàn hảo, người ấy đang đi đúng hướng.
Đến đây, chúng ta có thể nhìn lại cây thập giá của chính mình. Có thể nhiều năm rồi chúng ta vẫn xin Chúa cất nó. Và có lẽ Chúa sẽ cất. Nhưng cũng có thể nó sẽ còn ở lại. Một người thân chưa trở về. Một căn bệnh mãn tính. Một vết thương gia đình. Một đứa con khiến cha mẹ thao thức. Một cuộc hôn nhân đã mất sự ngọt ngào ban đầu nhưng hai người vẫn cố trung thành. Một ơn gọi có những ngày rất khô. Một trách nhiệm không ai hiểu. Một nỗi cô đơn mà càng lớn tuổi càng rõ. Một thất bại khiến mình mất tự tin. Một lỗi lầm quá khứ mà dù đã xưng tội và được tha, mình vẫn khó tha cho chính mình. Có lẽ điều Chúa muốn hôm nay không phải là chúng ta hiểu hết tại sao. Nhiều thập giá không có câu trả lời ở đời này. Chúa có thể không giải thích. Nhưng Người nói: “Theo Thầy.” Khi không hiểu con đường, hãy nhìn Người đi trước.
Đừng nghĩ rằng vác Thánh Giá nghĩa là không được khóc. Đức Giêsu đã khóc. Đừng nghĩ vác Thánh Giá nghĩa là không được mệt. Đức Giêsu đã ngã xuống trên đường Núi Sọ theo truyền thống đạo đức của Hội Thánh, và Tin Mừng kể người ta đã bắt Simon Kyrênê vác đỡ. Chúng ta cũng cần một Simon. Có lúc Thánh Giá quá nặng và Chúa gửi một người đến. Một người bạn biết nghe. Một linh mục. Một nữ tu. Một người vợ. Một người chồng. Một đứa con. Một bác sĩ. Một chuyên viên. Một cộng đoàn. Đừng biến câu “tôi vác thập giá” thành lý do để từ chối mọi trợ giúp. Chính Chúa Giêsu cũng để cho Simon đặt vai dưới cây gỗ của Người. Có lẽ khi để người khác giúp, chúng ta không yếu đi; chúng ta đang sống chính con đường Thánh Giá trong sự hiệp thông.
Thánh Têrêsa cho thấy rằng những linh hồn lớn không phải là những người không có những giây phút yếu đuối, nhưng là những người sau mỗi lần yếu lại trở về với Chúa. Có thể chúng ta đã bỏ cầu nguyện nhiều lần. Bắt đầu lại. Có thể đã hứa thay đổi rồi lại ngã. Bắt đầu lại. Có thể đã sống nửa vời nhiều năm. Bắt đầu lại. Têrêsa không nên thánh trong một ngày. Thiên Chúa có đủ kiên nhẫn để làm việc với một con người suốt hàng chục năm. Điều đáng sợ không phải là mình tiến chậm; điều đáng sợ là mình ngừng tiến. Đừng nói: “Tôi như thế này rồi.” Khi còn thở, Chúa còn có thể viết tiếp câu chuyện của đời mình.
Đi sâu hơn nữa vào kinh nghiệm của Têrêsa, chúng ta thấy Thánh Giá cuối cùng là trường dạy tự do. Bao lâu con người còn cần mọi thứ diễn ra theo ý mình mới bình an, người ấy chưa tự do. Bao lâu phải được người khác hiểu mới sống nổi, chưa tự do. Bao lâu phải được công nhận mới tiếp tục phục vụ, chưa tự do. Bao lâu phải cảm thấy sốt sắng mới cầu nguyện, chưa tự do. Bao lâu phải có sức khỏe mới thấy đời đáng sống, chưa tự do. Thánh Giá từ từ cắt đi những sợi dây ấy. Nó đau, vì những sợi dây đã dính vào da thịt. Nhưng khi được thanh luyện, con người bắt đầu có thể nói: tôi vẫn yêu khi không được yêu lại; tôi vẫn phục vụ khi không được khen; tôi vẫn cầu nguyện khi không cảm thấy gì; tôi vẫn hy vọng khi chưa thấy kết quả; tôi vẫn tin rằng Chúa tốt lành khi cuộc đời không diễn ra như tôi mong muốn. Đó là tự do của các thánh.
Và cũng chính nơi ấy xuất hiện một nghịch lý tuyệt đẹp: người trao mình cho Chúa lại tìm thấy mình; người từ bỏ lại được nhận; người chấp nhận mất lại trở nên giàu; người cúi xuống lại được nâng lên. Tin Mừng không ngừng lặp lại nghịch lý này. Hạt lúa phải chết mới sinh nhiều bông hạt. Người muốn cứu mạng sống thì sẽ mất, người mất mạng sống vì Chúa lại tìm được. Hạt giống nằm yên trong bàn tay có vẻ an toàn, nhưng nó không sinh hoa trái. Hạt giống bị ném xuống đất, bị vùi trong tối tăm, lớp vỏ bị nứt ra, tưởng như chết, nhưng chính từ vết nứt ấy mầm sống xuất hiện. Thánh Giá của một đời người cũng vậy. Có những điều chỉ có thể mọc lên sau khi một cái gì đó trong ta chịu chết: cái tôi, tính kiêu căng, nhu cầu kiểm soát, sự cố chấp, nỗi oán hận, ý muốn luôn thắng.
Têrêsa yêu Đức Kitô chịu đóng đinh bởi ngài nhận ra trong Người không phải một Thiên Chúa thích làm con người đau, nhưng là một Thiên Chúa đã tự mình bước vào đau khổ của con người. Đây là trung tâm của Kitô giáo. Khi chúng ta khóc, Chúa không đứng xa giải thích nước mắt. Người đã khóc. Khi chúng ta bị phản bội, Người biết nụ hôn của Giuđa. Khi chúng ta bị hiểu lầm, Người từng bị gọi là kẻ phạm thượng. Khi chúng ta cô đơn, Người biết đêm Giếtsêmani khi các môn đệ ngủ. Khi chúng ta bị bỏ rơi, Người biết những người từng tung hô “Hosanna” rồi ít ngày sau biến mất. Khi thân xác đau, Người biết đòn roi và đinh sắt. Khi chúng ta đứng trước cái chết, Người đã đi vào mồ. Kitô giáo không đưa cho người đau khổ một lý thuyết. Kitô giáo đưa cho họ một Đấng chịu đóng đinh.
Vì thế, khi không biết nói gì trước Thánh Giá của mình, hãy làm như Têrêsa: nhìn Chúa. Có lúc không cần nói. Chỉ ngồi đó. Nhìn bàn tay bị đinh đóng. Nhìn cạnh sườn bị đâm. Nhìn đầu đội mão gai. Và hiểu rằng Người không xa. Có một câu mà trái tim có thể nói rất chậm: “Lạy Chúa, Chúa biết.” Chúa biết điều tôi không diễn tả được. Chúa biết tôi đã cố thế nào. Chúa biết có những đêm tôi không ngủ. Chúa biết tôi cười trước mặt người khác nhưng khi về phòng lại khóc. Chúa biết nỗi thất vọng tôi không dám nói. Chúa biết cả sự giận dữ của tôi với Chúa. Chúa biết. Và kỳ lạ thay, đôi khi chỉ cần biết rằng có một Người biết hết mà vẫn yêu mình, cây thập giá đã nhẹ đi một chút.
Cuối đời, Têrêsa vẫn là người lữ hành của Thánh Giá. Thân xác mệt mỏi, công việc nhiều, những chuyến đi dài, những trách nhiệm không dứt. Nhưng lúc ấy, đời ngài đã thuộc về Chúa theo một cách khác. Thập giá không còn chỉ là điều phải chịu; nó đã trở thành một phần của cuộc kết hợp với Đấng ngài yêu. Đây là điều chỉ tình yêu mới hiểu. Một người mẹ thức trắng vì con bệnh, nếu chỉ tính theo đau khổ thì đó là cực hình. Nhưng vì yêu, bà không gọi đêm ấy vô nghĩa. Một người cha làm việc vất vả cho gia đình, nếu chỉ nhìn mệt nhọc thì thật nặng, nhưng tình yêu làm cho sự vất vả mang tên hy sinh. Một linh mục vẫn đi xức dầu giữa đêm dù thân xác rã rời, nếu không có tình yêu thì chỉ là phiền toái; với tình yêu, đó là mục tử đi tìm một con chiên ở giờ cuối cùng. Tình yêu không làm đau khổ biến mất, nhưng làm đau khổ có một tên khác: hiến dâng.
Có lẽ đó là bí mật của Têrêsa Avila. Ngài không giải thích được mọi Thánh Giá. Ngài yêu Đấng ở trên Thánh Giá. Và khi yêu Đấng ấy đủ sâu, những gì xảy đến có thể được đặt vào trong một câu chuyện lớn hơn chính mình. Nỗi đau của tôi có thể trở thành lời cầu nguyện cho người khác. Bệnh tật của tôi có thể trở thành của lễ. Sự cô đơn của tôi có thể mở lòng tôi cho những người cô đơn. Kinh nghiệm thất bại có thể khiến tôi dịu dàng với người thất bại. Những ngày khô khan có thể làm đức tin tôi bớt phụ thuộc cảm xúc. Những lần bị hiểu lầm có thể làm tôi bớt phán xét người khác. Nếu để Chúa chạm vào, không một giọt nước mắt nào hoàn toàn vô ích.
Và cuối cùng, Thánh Giá không có tiếng nói cuối cùng. Đây là điều chúng ta không được quên. Têrêsa không sống cho đau khổ; ngài sống cho Thiên Chúa. Và Thiên Chúa là Thiên Chúa của sự sống. Đức Kitô không ở mãi trong mồ. Nếu Kitô giáo chỉ dừng ở chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, thì đó là một tôn giáo của thất bại. Nhưng sau Canvê là buổi sáng Phục Sinh. Sau tiếng “Mọi sự đã hoàn tất” là ngôi mộ trống. Sau nước mắt Maria Magđalêna là tiếng gọi: “Maria!” Sau các cửa đóng kín vì sợ là lời: “Bình an cho anh em.” Vì thế, đức tin Kitô giáo dám nhìn thẳng vào Thánh Giá mà không tuyệt vọng. Chúng ta biết vết thương không phải chương cuối. Ngay cả cái chết cũng không phải chương cuối. Chương cuối thuộc về Thiên Chúa.
Nếu hôm nay ai đó đang mang một cây thập giá rất nặng, hãy nhớ đến Têrêsa. Đừng ép mình phải hiểu ngay. Đừng nghĩ vì đau nên Chúa bỏ. Đừng lấy cảm giác khô khan làm thước đo tình yêu của Chúa. Đừng bỏ cầu nguyện chỉ vì cầu nguyện chẳng còn ngọt ngào. Đừng nghĩ những năm tháng trung thành trong âm thầm là vô ích. Và nhất là đừng nhìn cây thập giá mà quên nhìn Đấng đang đi trước mình. Có thể Chúa chưa cất gánh nặng. Có thể hoàn cảnh sáng mai vẫn vậy. Nhưng xin Người cho chúng ta một điều lớn hơn: một trái tim không bỏ Người.
Thánh Têrêsa Avila đã đi một con đường rất dài để khám phá ra điều tưởng như đơn sơ ấy: chỉ một mình Thiên Chúa là đủ. Không phải “đủ” theo nghĩa người có Chúa thì không cần cơm ăn, thuốc men, bạn bè hay tình thương con người. Nhưng đủ theo nghĩa khi mọi điểm tựa khác lung lay, vẫn còn một điểm tựa không sụp. Khi mọi người có thể rời đi, vẫn còn một Người. Khi sức khỏe hao mòn, vẫn còn một Người. Khi trí nhớ yếu đi, khi tay chân không còn làm được những điều xưa kia, khi danh tiếng không còn, khi chức vụ được trao lại cho người khác, khi căn phòng đời mình ngày càng trống, vẫn còn một Người. Và đến giờ cuối cùng, khi phải buông cả thân xác, cũng chính Người đứng bên kia cái chết để đón chúng ta.
Thánh Giá vì thế không còn là dấu chấm hết. Đối với người tin, nó trở thành cánh cửa. Một cánh cửa rất hẹp, đôi khi rất đau, nhưng dẫn vào sự sống. Têrêsa đã đi qua cánh cửa ấy bằng những năm tháng cầu nguyện, bệnh tật, hiểu lầm, cải tổ, hành trình, từ bỏ và yêu mến. Ngài để Chúa lấy khỏi tay mình từng chút một những gì không bền vững, để đến cuối cùng hai bàn tay đủ trống mà nhận lấy chính Thiên Chúa.
Xin Thánh Têrêsa Avila dạy chúng ta đừng chỉ xin Chúa cho một đời không có Thánh Giá, nhưng xin một trái tim đủ lớn để gặp Chúa trong Thánh Giá. Xin ngài dạy chúng ta cầu nguyện khi không muốn cầu nguyện, tin khi không cảm thấy gì, trung thành khi không được ai nhìn thấy, bước tiếp khi đường còn tối, yêu khi phải trả giá, tha thứ khi vết thương còn đau, và nhất là biết đặt tất cả những gì mình không hiểu vào bàn tay của Đấng đã từng bị đóng đinh.
Có thể một ngày chúng ta sẽ nhận ra: cây thập giá mà mình từng muốn quăng đi lại chính là nơi Chúa đã âm thầm gặp mình sâu nhất. Những năm tháng mình tưởng là phí phạm lại là những năm Chúa đào lòng mình sâu hơn. Những giọt nước mắt mình tưởng rơi xuống đất lại được Người giữ lại. Những lần tưởng Chúa im lặng lại là lúc Người đang làm những việc mà mắt mình chưa thấy. Và những điều từng làm mình hỏi: “Lạy Chúa, tại sao?” có thể một ngày sẽ được nhìn dưới ánh sáng Phục Sinh để chúng ta chỉ còn thốt lên: “Lạy Chúa, giờ đây con hiểu rằng Người đã ở đó suốt cả thời gian.”
Khi ấy, lời của Têrêsa trở thành lời dành cho từng người đang mệt mỏi giữa cuộc đời: đừng để lòng hoảng sợ. Mọi sự trần gian đều đang đi qua. Chỉ Thiên Chúa không đi qua. Người ở đó khi ta bắt đầu. Người ở đó giữa con đường. Người ở đó khi ta ngã. Người ở đó khi ta đứng dậy. Người ở đó dưới chân Thánh Giá. Và Người sẽ còn ở đó khi cây Thánh Giá cuối cùng được đặt xuống.
Chỉ cần đừng buông tay Người.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GEMMA GALGANI VÀ CÁC VẾT THƯƠNG THÁNH – KHI TÌNH YÊU ĐỨC KITÔ ĐÓNG ĐINH TRỞ THÀNH VẾT THƯƠNG TRONG LÒNG NGƯỜI
Có những vị thánh làm người ta kinh ngạc vì những công trình lớn lao. Có những vị thánh khiến người ta khâm phục vì trí tuệ, vì những tác phẩm thần học, vì những chuyến truyền giáo không biết mệt mỏi, vì những cộng đoàn các ngài đã xây dựng hay những cuộc canh tân các ngài để lại trong lòng Hội Thánh. Nhưng cũng có những vị thánh chẳng để lại một công trình nào đồ sộ theo cách thế gian thường đo đếm, chẳng đứng trên bục giảng trước hàng vạn người, chẳng điều khiển một tổ chức lớn, chẳng sống một cuộc đời dài, mà chỉ lặng lẽ để cho Đức Kitô đóng đinh đi vào thật sâu trong thân phận mình đến độ cuộc đời họ trở thành một câu chuyện tình giữa linh hồn và Thánh Giá. Thánh Gemma Galgani là một con người như thế. Đời của Gemma ngắn, rất ngắn, nhưng dường như Thiên Chúa đã đặt vào quãng đời ngắn ngủi ấy một mật độ đau khổ và tình yêu mà có khi cả một đời dài cũng chưa chắc chứa nổi. Nhắc đến Gemma, người ta thường nhắc đến những hiện tượng thần bí, những lần xuất thần, những cuộc chiến thiêng liêng, lòng sùng kính Cuộc Thương Khó và đặc biệt là những dấu thương được truyền thống Công giáo thuật lại trong cuộc đời của ngài. Nhưng nếu chỉ dừng ở những điều lạ thường ấy, chúng ta có thể ngắm Gemma mà vẫn chưa gặp được Gemma. Điều đáng suy nghĩ nhất nơi vị thánh trẻ này không phải trước hết là hỏi: “Những vết thương ấy xuất hiện thế nào?”, nhưng phải hỏi sâu hơn: “Tại sao một con người có thể yêu Đức Giêsu chịu đóng đinh đến như thế?” Và sâu hơn nữa: “Tại sao Thánh Giá, một điều mà con người tự nhiên muốn tránh, lại có thể trở thành nơi gặp gỡ tình yêu thân mật nhất giữa một linh hồn với Thiên Chúa?”
Gemma Galgani sinh năm 1878 tại Ý và qua đời năm 1903, khi mới hai mươi lăm tuổi. Hai mươi lăm tuổi, tuổi mà nhiều người còn đang bắt đầu vẽ những giấc mơ cho tương lai, còn chuẩn bị xây dựng đời mình, còn mong bước vào những năm tháng đẹp nhất của tuổi trẻ. Thế nhưng đời Gemma lại đi qua rất nhiều mất mát, bệnh tật, thiếu thốn và thử thách. Mẹ mất khi Gemma còn nhỏ. Cha cũng qua đời khi cô chưa trưởng thành bao lâu. Gia đình từng khá giả rồi rơi vào khó khăn. Thân xác Gemma nhiều lần yếu đau. Ước muốn sống đời thánh hiến của cô cũng không thành theo cách cô mong đợi. Có thể nói, từng lớp một, cuộc đời đã lấy khỏi tay Gemma nhiều điều mà một cô gái trẻ bình thường có quyền hy vọng. Nhưng có một điều không ai lấy khỏi Gemma được: Đức Giêsu. Và chính khi nhiều chỗ dựa bên ngoài lần lượt rời khỏi cuộc đời, Gemma càng bám lấy Người. Đó là điều đáng nhớ. Vì đôi khi chúng ta nghĩ đời sống thiêng liêng phát triển mạnh nhất khi mọi sự bình an, thuận lợi, sức khỏe tốt, gia đình ổn định, công việc hanh thông. Thực ra, có những linh hồn chỉ khám phá được chiều sâu của Đức Kitô sau khi tất cả những chiếc nạng của họ lần lượt gãy đi. Không phải vì Thiên Chúa thích làm con người đau, nhưng bởi giữa đau khổ, con người bắt đầu nhìn rõ đâu là điều tồn tại mãi và đâu là điều chỉ tạm thời. Khi không còn nhiều điều để nắm, Gemma nắm lấy Chúa. Và điều kỳ lạ là càng nắm lấy Đấng chịu đóng đinh, cô càng không thấy mình nghèo đi; trái lại, cô thấy mình được yêu.
Ở đây chúng ta phải rất cẩn thận để không hiểu sai linh đạo Thánh Giá. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Đức Giêsu không bao giờ bảo chúng ta đi tìm bệnh tật, tự gây thương tích hay chủ động tạo đau khổ cho mình. Người chữa người mù, cho kẻ què đi được, làm người phong được sạch, cho kẻ chết sống lại. Kitô giáo không yêu đau khổ vì đau khổ. Kitô giáo yêu một Con Người đã đi vào đau khổ để cứu con người, và Con Người ấy là Đức Giêsu Kitô. Đây là khoảng cách rất lớn giữa một thứ say mê đau đớn bệnh hoạn và linh đạo Thánh Giá Kitô giáo. Gemma không phải là người yêu vết thương; Gemma yêu Đấng mang những vết thương. Cô không yêu máu; cô yêu Đấng đã đổ máu vì mình. Cô không yêu cái chết; cô yêu Đấng đã đi qua cái chết để mở đường vào sự sống. Bởi thế, nếu nhìn các vết thương thánh nơi Gemma mà chỉ thấy hiện tượng, chúng ta đã bỏ lỡ trung tâm của câu chuyện. Trung tâm không phải Gemma. Trung tâm là Đức Kitô chịu đóng đinh.
Có một đoạn Tin Mừng rất thích hợp để soi sáng cuộc đời ấy. Sau khi Chúa Giêsu sống lại, Tôma không có mặt khi Người hiện ra với các môn đệ. Khi những người khác nói: “Chúng tôi đã được thấy Chúa”, ông không tin và nói rằng nếu không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu không đặt ngón tay vào dấu đinh và đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, ông sẽ chẳng tin. Tám ngày sau, Đức Giêsu lại hiện đến. Người không trách Tôma bằng một bài diễn văn dài. Người chỉ nói: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Và Tôma thưa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (x. Ga 20,24-29). Điều lạ là Đức Kitô phục sinh vẫn mang những dấu thương. Người đã chiến thắng sự chết, nhưng Người không xóa các vết đinh. Người sống lại trong vinh quang, nhưng dấu tích tình yêu vẫn còn đó. Như thể Người muốn nói với nhân loại rằng: đây là căn cước của Ta; Ta là Đấng đã yêu các ngươi đến mức mang thương tích vì các ngươi. Những vết thương nơi Đức Kitô không còn là dấu của thất bại mà trở thành dấu của chiến thắng; không còn là bằng chứng quyền lực của những kẻ đóng đinh Người, mà là bằng chứng tình yêu của Đấng đã tự nguyện hiến mình.
Có lẽ chính ở điểm này ta mới bắt đầu hiểu Gemma. Người ta có thể nói rằng những vết thương của Đức Giêsu đã đi từ trí nhớ của Gemma xuống tận trái tim cô. Cuộc Thương Khó không còn là một biến cố xảy ra gần hai ngàn năm trước mà thôi. Với Gemma, Đức Giêsu chịu đóng đinh là một Đấng đang sống, đang yêu, đang nhìn, đang gọi và đang chờ được đáp lại. Đây là điều mà người Kitô hữu hôm nay rất dễ đánh mất. Chúng ta quen nhìn Thánh Giá đến mức không còn thấy Thánh Giá. Thánh Giá trên bàn thờ, Thánh Giá trên tường, Thánh Giá trên chuỗi Mân Côi, Thánh Giá trên cổ, dấu Thánh Giá đầu ngày và cuối ngày. Quá quen nên đôi khi chỉ còn là một hình ảnh. Nhưng thử có một ngày nào đó chúng ta nhìn Thánh Giá như lần đầu tiên và tự hỏi: “Người trên đó là ai? Vì sao Người ở đó? Người chết cho ai?” Có lẽ lúc ấy đức tin của chúng ta sẽ khác. Người trên Thánh Giá không chết cho một khái niệm gọi là “nhân loại” chung chung. Người chết cho từng người. Thánh Phaolô đã diễn tả rất riêng tư: “Con Thiên Chúa đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20). Không chỉ yêu “chúng ta”. Người yêu “tôi”. Nếu một ngày nào đó chữ “tôi” ấy thực sự đi vào tim, người ta sẽ không còn đứng trước Thánh Giá như đứng trước một biểu tượng lạnh lùng nữa.
Gemma đã sống trong ý thức ấy. Đối với cô, những vết thương của Chúa là những cánh cửa mở vào tình yêu. Bàn tay bị đinh đóng ấy là bàn tay từng chạm người phong cùi, đặt trên mắt kẻ mù, nâng người phụ nữ bị khom lưng, bẻ bánh cho đám đông đói, chúc lành cho trẻ nhỏ. Đôi chân bị đóng đinh ấy từng đi trên đường Galilê, đi tìm người tội lỗi, bước vào nhà Dakêu, đến bên những kẻ bị xã hội loại trừ. Cạnh sườn bị đâm thủng ấy che chở một trái tim đã từng rung động trước bà góa thành Nain, khóc trước mộ Ladarô, chạnh lòng trước đám đông bơ vơ như chiên không người chăn. Những vết thương không xuất hiện ngẫu nhiên. Mỗi vết thương kể lại lịch sử của một tình yêu đã đi đến cùng. Gemma nhìn những vết thương ấy không phải bằng sự tò mò nhưng bằng một trái tim muốn đáp lại.
Truyền thống về cuộc đời Gemma kể rằng vào những thời điểm nhất định, đặc biệt gắn với việc tưởng niệm Cuộc Thương Khó của Chúa, cô đã trải nghiệm những dấu thương tương tự những thương tích của Đức Kitô. Những kinh nghiệm thần bí như vậy luôn thuộc lãnh vực cần phân định thận trọng; chính Hội Thánh cũng không xây dựng đức tin trên các hiện tượng lạ, bởi nền tảng đức tin là Đức Kitô và Tin Mừng. Một người có thể nên thánh mà không bao giờ có thị kiến, không bao giờ xuất thần, không bao giờ mang bất cứ dấu lạ hữu hình nào. Thật vậy, tuyệt đại đa số các Kitô hữu được mời gọi nên thánh bằng những việc rất bình thường. Nhưng điều đời Gemma có thể nói với chúng ta là: khi một linh hồn chìm sâu trong mầu nhiệm Đức Kitô, Cuộc Thương Khó có thể trở thành một thực tại nội tâm mạnh mẽ đến mức toàn bộ con người họ dường như được cuốn vào đó. Điều đáng ngưỡng mộ không phải là hiện tượng ở thân xác, nhưng là cuộc biến đổi nơi tâm hồn.
Vì có một loại “dấu thương” quan trọng hơn nhiều mà bất cứ Kitô hữu nào cũng có thể mang: dấu thương của lòng thương xót. Một người bị xúc phạm nhưng vẫn không trả thù đang mang dấu thương của Đức Kitô. Một bà mẹ thức đêm nhiều năm chăm đứa con bệnh tật mà không một lời oán trách đang mang một dấu thương. Một người chồng vẫn chung thủy giữa những thử thách của hôn nhân đang mang một dấu thương. Một người vợ chịu bao vất vả để gìn giữ gia đình trong yêu thương đang mang một dấu thương. Một linh mục tiếp tục phục vụ khi sức đã yếu, khi bị hiểu lầm, khi những hy sinh chẳng mấy ai biết đến, đang mang những vết thương của sứ vụ. Một tu sĩ âm thầm trung thành với lời khấn trong những ngày không cảm thấy một chút an ủi thiêng liêng nào đang mang dấu thương. Một người con nhẫn nại chăm cha mẹ già, dù công việc ngổn ngang và bản thân mệt mỏi, đang mang dấu thương. Một người bị phản bội nhưng quyết định không để cay đắng biến mình thành kẻ độc ác đang mang dấu thương. Không chảy máu. Không ai nhìn thấy. Không được kể trong sách. Nhưng Thiên Chúa thấy.
Có những vết thương làm con người khép lại, và có những vết thương làm con người mở ra. Đó là một trong những nghịch lý lớn nhất của đời sống thiêng liêng. Khi bị tổn thương, phản ứng tự nhiên là dựng tường lên. Tôi bị lừa một lần, tôi không tin ai nữa. Tôi yêu một lần rồi bị phản bội, tôi không yêu nữa. Tôi giúp người rồi bị lợi dụng, từ nay mặc kệ. Tôi nói thật rồi bị hiểu lầm, từ nay im. Tôi phục vụ rồi bị chỉ trích, thôi không phục vụ nữa. Từng vết thương có thể trở thành một viên gạch xây bức tường quanh trái tim. Sau nhiều năm, bức tường dày đến mức chẳng ai làm chúng ta đau được nữa, nhưng cũng chẳng ai bước vào được nữa. Và cuối cùng, người bị nhốt trong bức tường ấy chính là mình.
Đức Giêsu thì ngược lại. Những vết thương làm Người mở ra. Tay Người bị đâm nhưng vẫn như đang dang ra. Chân bị đóng chặt nhưng trái tim vẫn đi tìm tội nhân. Cạnh sườn bị đâm xuyên và chính từ cạnh sườn mở ra ấy, Tin Mừng Gioan kể rằng máu và nước chảy ra. Người ta làm Chúa bị thương, nhưng từ vết thương ấy lại trào ra sự sống. Đây có lẽ là điều sâu nhất mà Gemma học nơi Thánh Giá: đừng để đau khổ làm trái tim mình trở thành đá. Hãy để ân sủng biến vết thương thành nơi tình yêu đi qua.
Nói thì dễ. Sống thì rất khó. Có người mang một vết thương ba mươi năm vẫn chưa lành. Một câu cha nói với con khi con còn nhỏ. Một lần mẹ thiên vị. Một lời nhục mạ của người bạn đời. Một sự phản bội của người mình tin nhất. Một bất công trong cộng đoàn. Một thất bại khiến người ta xấu hổ đến mức chẳng dám nhắc lại. Một lời vu khống. Một lần bị bỏ rơi đúng lúc mình cần người ta nhất. Một người con không trở về. Một cuộc hôn nhân đổ vỡ. Một căn bệnh bỗng nhiên lấy mất tương lai. Một cái chết đến không báo trước. Những vết thương ấy không biến mất chỉ vì chúng ta đọc vài lời đạo đức. Đức tin Kitô giáo không nói với người đau khổ: “Đừng buồn nữa.” Đức tin dẫn người đau khổ đến một Người cũng mang thương tích và nói: “Con không đau một mình.”
Đây là vẻ đẹp lạ lùng của Kitô giáo. Thiên Chúa chúng ta tin không đứng xa đau khổ để đưa ra lời giải thích. Người bước vào đau khổ. Nếu con hỏi: “Chúa có hiểu đau thân xác không?”, hãy nhìn những chiếc đinh. Nếu con hỏi: “Chúa có hiểu bị phản bội không?”, hãy nhớ nụ hôn của Giuđa. Nếu hỏi: “Chúa có hiểu bị bạn bè bỏ chạy không?”, hãy nhớ các môn đệ trong đêm Vườn Dầu. Nếu hỏi: “Chúa có hiểu bị kết án oan không?”, hãy đứng trước dinh Philatô. Nếu hỏi: “Chúa có hiểu bị nhục mạ không?”, hãy nhìn vòng gai. Nếu hỏi: “Chúa có hiểu cảm giác bị bỏ rơi không?”, hãy nghe tiếng kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Nếu hỏi: “Chúa có hiểu mất người mình thương không?”, hãy nhìn Người khóc bên mộ Ladarô. Thiên Chúa của Kitô giáo không trả lời đau khổ bằng một công thức. Người trả lời bằng chính những vết thương của Người.
Gemma cảm được điều ấy rất sâu. Vì thế cô không nhìn đau khổ của mình như một căn phòng không cửa. Cô đặt nó bên đau khổ của Đức Kitô. Và đây là bí mật của các thánh: không phải họ ít đau hơn chúng ta, nhưng họ biết đặt nỗi đau ở đâu. Chúng ta thường đặt đau khổ vào ký ức rồi nhai đi nhai lại; đặt nó vào lòng tự ái rồi hỏi tại sao người khác đối xử với mình như vậy; đặt nó vào sự so sánh rồi than rằng người ta sung sướng còn mình bất hạnh; đặt nó vào tương lai rồi sợ hãi rằng mọi thứ sẽ càng tệ hơn. Các thánh đặt đau khổ vào Thánh Giá. Khi đau khổ được đặt vào Thánh Giá, nó không nhất thiết biến mất, nhưng ý nghĩa của nó thay đổi.
Hãy tưởng tượng hai người cùng mang một căn bệnh. Người thứ nhất chỉ thấy căn bệnh như kẻ thù đã lấy mất tuổi trẻ, công việc, tự do và tương lai. Người thứ hai cũng khóc, cũng sợ, cũng phải điều trị, cũng đau như người thứ nhất, nhưng mỗi ngày nói với Chúa: “Con không hiểu, nhưng con xin kết hợp những giờ đau này với Chúa. Xin đừng để một giọt nước mắt nào của con trở nên vô ích. Xin dùng nó cho một người nào đó đang cần ơn Chúa.” Căn bệnh không tự nhiên thành tốt. Đau vẫn là đau. Nhưng đau khổ đã được đưa vào mầu nhiệm hiến dâng. Chính ở đó xuất hiện một tự do rất kỳ lạ: tôi không chọn điều xảy đến với mình, nhưng tôi có thể chọn cách tôi sống điều đó.
Đức Giêsu cũng từng cầu xin cho chén đau khổ qua đi: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Cho nên cầu xin khỏi đau khổ không phải thiếu đức tin. Đi bác sĩ không phải thiếu đức tin. Tìm cách thoát khỏi một hoàn cảnh bất công không phải từ chối Thánh Giá. Bảo vệ mình khỏi bạo lực không phải chống lại ý Chúa. Có những đau khổ chúng ta phải chiến đấu để loại bỏ. Có những bất công phải lên tiếng. Có những bệnh tật phải chữa trị. Có những tương quan độc hại phải thiết lập ranh giới. Nhưng có những đau khổ, sau khi đã làm tất cả những gì trong khả năng, vẫn ở đó. Chính lúc ấy câu tiếp theo của Đức Giêsu trở nên con đường: “Nhưng đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Không phải sự cam chịu tuyệt vọng, nhưng là hành vi phó thác của một Người Con.
Gemma dạy chúng ta rằng tình yêu có thể đi vào nơi đau nhất của đời người. Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên lãng mạn hóa cuộc đời của các thánh. Có những lúc Gemma phải vật lộn. Có những giai đoạn đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần. Sự thánh thiện không có nghĩa là lúc nào cũng cảm thấy Chúa gần. Người thánh không phải là người không còn yếu đuối; người thánh là người trong yếu đuối vẫn quay về với Chúa. Có lúc trái tim bừng cháy, có lúc khô khan. Có lúc cầu nguyện ngọt ngào, có lúc chỉ còn sự trung thành. Có lúc Thánh Giá được ôm bằng nước mắt. Và chính những lúc ấy, tình yêu tinh tuyền hơn, bởi ta không còn yêu vì cảm giác dễ chịu nhưng yêu vì Đấng mình đã chọn.
Một sai lầm thường thấy trong đời sống đạo là nghĩ rằng càng có nhiều cảm xúc thiêng liêng càng thánh thiện. Chúng ta đọc chuyện các nhà thần bí rồi mong có những cảm nghiệm tương tự. Nhưng Chúa không gọi mọi người đi cùng một con đường. Có người được Người dẫn bằng những an ủi lớn lao. Có người đi cả đời trong đức tin đơn sơ. Một bà cụ lần chuỗi mỗi tối có khi chẳng bao giờ xuất thần, nhưng sáu mươi năm trung thành với Chúa. Một ông bố sáng nào cũng dậy sớm đi làm nuôi gia đình, tối mệt vẫn quỳ đọc vài kinh. Một nữ tu suốt bốn mươi năm chăm bệnh nhân, chẳng bao giờ thấy một thị kiến. Một linh mục ngày nào cũng ngồi tòa giải tội, dâng lễ, thăm bệnh, chôn người chết, giảng cho vài chục người trong một giáo xứ nhỏ. Họ có thể chẳng bao giờ mang dấu thương hữu hình, nhưng đời họ được khắc bằng Thánh Giá từng ngày.
Bởi vậy, điều quan trọng khi đọc đời Thánh Gemma không phải là ao ước những hiện tượng của Gemma, mà là học tình yêu của Gemma. Thiên Chúa không hỏi chúng ta: “Con có mang năm dấu thánh không?” Người sẽ hỏi: “Con đã yêu chưa?” Những dấu thương hữu hình, nếu có, thuộc về ân ban đặc biệt và chẳng phải thước đo sự thánh thiện. Nhưng những dấu của tình yêu thì người môn đệ nào cũng phải có. Chúa Giêsu đã nói: “Cứ dấu này mà mọi người nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em có lòng yêu thương nhau.” Người không nói: “Cứ dấu lạ này.” Người nói: “Cứ tình yêu này.”
Có một câu chuyện xảy ra trong Tin Mừng mà nếu đọc thật chậm sẽ thấy vô cùng xúc động. Khi Chúa Giêsu sống lại, những người đã đóng đinh Người không bị Người truy tìm. Phêrô, người đã chối Người ba lần, không bị Người làm nhục trước cộng đoàn. Các môn đệ bỏ trốn không bị Người kể tội. Lời đầu tiên Người nói khi hiện ra giữa họ là: “Bình an cho anh em.” Rồi Người cho họ xem tay và cạnh sườn. Nghĩa là Người đứng giữa cộng đoàn với cả bình an lẫn vết thương. Người không giấu thương tích, nhưng cũng không dùng thương tích để buộc tội. Đây là một bài học khủng khiếp cho chúng ta. Có người đi qua đời với vết thương trên tay như một hồ sơ tố cáo: “Anh đã làm tôi đau thế này. Chị đã làm tôi thành thế này. Gia đình đã làm tôi khổ thế này.” Đức Kitô cũng có thể nói như vậy. Nhưng Người đưa tay có dấu đinh ra và nói: “Bình an.”
Có lẽ đó là phép lạ lớn hơn cả những dấu thương nơi các nhà thần bí: mang vết thương mà vẫn có thể ban bình an.
Chúng ta thường cầu xin Chúa chữa các vết thương. Điều đó đúng và cần. Nhưng có khi Chúa chữa bằng cách không xóa ký ức mà thay đổi sức mạnh của ký ức trên chúng ta. Chuyện cũ vẫn nhớ, nhưng không còn làm ta căm thù. Người đã làm ta đau vẫn là người đã làm ta đau, nhưng ta không còn muốn họ bị đau lại. Mất mát vẫn là mất mát, nhưng lòng ta không còn chỉ toàn bóng tối. Vết sẹo còn đó, nhưng khi chạm vào không còn chảy máu. Đó là chữa lành. Đức Kitô Phục Sinh vẫn mang dấu đinh; nhưng dấu đinh không còn làm Người chết nữa. Có lẽ đó cũng là hình ảnh đẹp cho chữa lành tâm hồn: dấu vết có thể còn, nhưng quyền lực của vết thương đã bị Phục Sinh đánh bại.
Gemma đưa chúng ta về với một chân lý thường bị lãng quên: sự thánh thiện không phải là sống một đời không có thương tích, mà là để Đức Kitô biến thương tích thành tình yêu. Ai sống đủ lâu cũng sẽ có vết thương. Người giàu có vết thương của người giàu. Người nghèo có vết thương của người nghèo. Người có gia đình có thập giá của gia đình. Người độc thân có cô đơn riêng. Linh mục có thập giá của linh mục. Tu sĩ có thập giá của tu sĩ. Người thành công có những khoảng trống không ai thấy. Người thất bại có những tủi hổ chẳng muốn kể. Không ai đi hết cuộc đời mà nguyên vẹn theo nghĩa chưa từng đau. Câu hỏi không phải là “Tôi có bị thương không?” nhưng là “Vết thương ấy sẽ làm tôi thành người thế nào?”
Nó có làm tôi cay nghiệt hơn không? Nó có khiến tôi phán xét mọi người không? Nó có làm tôi mất khả năng tin tưởng không? Nó có biến tôi thành người luôn thấy mình là nạn nhân không? Hay nó làm tôi dịu dàng hơn trước nỗi đau người khác?
Một người từng nghèo có thể sau này khinh người nghèo, hoặc có thể hiểu họ hơn. Một người từng bị bỏ rơi có thể trở thành người hay bỏ rơi người khác, hoặc trở thành người quyết không để ai bên cạnh mình phải chịu cảm giác ấy. Một người từng bị xúc phạm có thể dùng quyền lực để xúc phạm những người yếu hơn, hoặc quyết sống nhân hậu vì biết lời nói đau thế nào. Vết thương tự nó không làm ta thánh. Nó chỉ mở ra một ngã rẽ. Một đường dẫn tới cay đắng; một đường dẫn tới lòng thương xót. Thánh Giá của Đức Kitô cho ta khả năng chọn con đường thứ hai.
Gemma Galgani được gọi đôi khi như một người con của Cuộc Thương Khó bởi đời sống thiêng liêng của ngài xoay quanh tình yêu dành cho Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Nhưng nếu Gemma có thể nói với chúng ta hôm nay, có lẽ ngài không bảo chúng ta tìm kiếm những đau khổ đặc biệt. Có lẽ ngài sẽ nói: “Hãy yêu Chúa trong chính thập giá đang có trước mặt bạn.” Đừng đi tìm một thập giá khác khi thập giá hôm nay chưa được yêu. Người ta có thể mơ hy sinh lớn lao cho Chúa nhưng lại không chịu nổi một lời góp ý. Có thể tưởng tượng mình tử đạo nhưng không nhường được một câu trong gia đình. Có thể muốn làm việc lớn cho Hội Thánh nhưng giận cả tuần vì không được ghi nhận. Có thể thích đọc đời các thánh khổ hạnh nhưng khó chịu khi bữa ăn không đúng ý. Thập giá thật thường rất nhỏ, rất đều đặn và rất nhàm chán. Nó không có hào quang. Nó mang khuôn mặt của một người mình phải chịu đựng mỗi ngày, một trách nhiệm lặp đi lặp lại, một cơn đau mãn tính, một giới hạn không thay đổi, một lời cầu nguyện khô khan, một công việc âm thầm chẳng ai cảm ơn.
Và chính ở đó Chúa đang chờ.
Chúa nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (x. Lc 9,23). Người nói “hằng ngày”. Không phải thỉnh thoảng mới có một biến cố bi thảm. Thánh Giá phần lớn nằm trong chữ “hằng ngày”. Hằng ngày nhẫn nại. Hằng ngày tha thứ. Hằng ngày bắt đầu lại. Hằng ngày không nói một lời có thể làm người khác tổn thương. Hằng ngày chu toàn trách nhiệm dù chẳng có hứng thú. Hằng ngày cầu nguyện dù tâm trí khô khan. Hằng ngày sống tử tế với người chẳng tử tế với mình. Hằng ngày chấp nhận mình già đi. Hằng ngày chấp nhận một giới hạn của thân xác. Hằng ngày sống với một người không bao giờ hoàn toàn như mình mong muốn. Hằng ngày chịu đựng chính mình.
Có lẽ thập giá khó nhất đôi khi lại là chính bản thân chúng ta. Ta muốn mình tốt hơn nhưng vẫn yếu. Muốn hết nóng giận nhưng lại nóng. Muốn cầu nguyện sốt sắng nhưng cứ chia trí. Muốn khiêm nhường mà vẫn thích được khen. Muốn tha thứ nhưng nhớ lại vẫn đau. Muốn dứt một thói quen mà cứ tái phạm. Có người ghét chính mình vì sự yếu đuối ấy. Nhưng Thánh Giá cũng nói với ta: Chúa biết con là ai và Người vẫn chết cho con. Chúa không đợi con hoàn hảo mới yêu. Chính khi chúng ta còn là tội nhân, Đức Kitô đã chết vì chúng ta. Nếu Thiên Chúa kiên nhẫn với ta như thế, tại sao ta không học kiên nhẫn với chính mình?
Thánh Gemma còn nhắc ta một điều khác: tình yêu đối với Chúa chịu đóng đinh phải đưa đến tình yêu đối với những người đang chịu đóng đinh quanh ta. Nếu chúng ta quỳ hàng giờ trước Thánh Giá nhưng bước ra ngoài lại vô cảm với người đau khổ, thì việc chiêm niệm ấy chưa đi tới cùng. Chúa chịu đóng đinh hôm nay vẫn hiện diện nơi người bệnh không ai thăm, người già bị lãng quên, người nghèo xấu hổ vì không đủ tiền, đứa trẻ thiếu tình thương, người tù khao khát một cơ hội làm lại, người thất nghiệp bị coi là vô dụng, người phụ nữ âm thầm khóc trong một cuộc hôn nhân đầy nước mắt, người thanh niên bị khủng hoảng chẳng biết kể với ai, vị linh mục cô đơn sau cánh cửa nhà xứ, người tu sĩ đang đi qua khủng hoảng ơn gọi. Chúng ta không cần đi tìm Golgotha ở đâu xa. Golgotha có thể đang ở căn nhà kế bên.
Nếu yêu những vết thương của Đức Kitô, hãy học chạm vào vết thương của người khác bằng sự dịu dàng.
Đừng giống những người đứng dưới chân Thánh Giá mà chỉ nhìn. Hãy giống Đức Maria đứng đó với một trái tim bị đâm thâu nhưng vẫn ở lại. Có những lúc yêu không làm được gì ngoài ở lại. Không chữa được bệnh. Không trả được món nợ. Không giải quyết được bi kịch. Không có câu trả lời. Nhưng ở lại. Đôi khi người đau không cần một bài giảng; họ cần một người ngồi bên cạnh. Không cần nghe “Chúa có ý hết”, vì câu ấy đôi lúc được nói quá dễ dàng. Họ cần một ánh mắt nói rằng: “Tôi không bỏ bạn một mình.”
Gemma đã tìm thấy nơi Đức Giêsu một Đấng không bỏ mình một mình. Và đó là lý do cô yêu Người đến mức Cuộc Thương Khó trở thành trung tâm đời mình. Có lẽ ai từng thật sự cảm nghiệm mình được Chúa yêu sẽ hiểu phần nào điều ấy. Khi người ta biết có một Đấng đã yêu mình đến chết, những hy sinh dành cho Người không còn chỉ là mất mát. Một người mẹ thức đêm vì con không cảm thấy đó chỉ là mất ngủ; vì có tình yêu ở giữa. Một người cha lao động vất vả không tính từng giọt mồ hôi nếu biết mình làm vì những người mình thương. Hai người yêu nhau có thể đi hàng trăm cây số chỉ để gặp nhau vài giờ và không gọi đó là phí công. Tình yêu thay đổi trọng lượng của hy sinh. Thập giá cũng vậy. Không có tình yêu, Thánh Giá là vô lý. Có tình yêu, Thánh Giá vẫn đau nhưng không vô nghĩa.
Có một câu rất nên đặt vào lòng mỗi khi nhìn Thánh Giá: “Người yêu tôi.” Không phải: Người chết vì tội lỗi nhân loại, mặc dù điều đó đúng. Không phải chỉ: Người cứu thế giới, mặc dù điều đó đúng. Nhưng: “Người yêu tôi.” Bàn tay đó vì tôi. Vết đinh đó vì tôi. Cạnh sườn đó vì tôi. Vòng gai đó vì tôi. Và rồi hỏi: “Tôi sẽ đáp lại thế nào?”
Không nhất thiết bằng một việc phi thường. Có thể hôm nay chỉ cần tha một người. Gọi điện cho cha mẹ. Thăm một người bệnh. Ngừng một lời nói xấu. Xin lỗi vợ. Ôm con. Trả một món nợ. Đi xưng tội. Cầu nguyện mười phút thật lòng. Bỏ một thói quen xấu. Làm một việc tốt mà không cho ai biết. Kiên nhẫn thêm một chút với một người khó chịu. Đó có thể là cách các dấu đinh của Đức Kitô bắt đầu in vào đời ta.
Các vết thương thánh nơi Gemma, dù được nhắc đến nhiều, cuối cùng cũng phải đưa chúng ta đến những vết thương của Đức Kitô. Và những vết thương của Đức Kitô lại đưa chúng ta đến trái tim Thiên Chúa. Một Thiên Chúa không yêu từ xa. Một Thiên Chúa mang sẹo. Một Thiên Chúa không cứu nhân loại bằng sức mạnh nghiền nát kẻ thù, nhưng bằng tình yêu để cho mình bị nghiền nát mà vẫn không ngừng yêu. Đây là sự điên rồ của Thánh Giá. Thế giới nói: mạnh là làm người khác đau. Đức Kitô nói: mạnh là bị đau mà vẫn không đánh mất tình yêu. Thế giới nói: chiến thắng là hạ kẻ thù xuống. Đức Kitô chiến thắng bằng cách xin Cha tha cho những kẻ đóng đinh mình. Thế giới nói: giữ mạng sống mình. Đức Kitô nói: ai mất mạng sống vì tình yêu sẽ tìm lại được nó.
Gemma bước vào trường học ấy.
Và trường học ấy vẫn mở cho chúng ta mỗi ngày.
Có thể ta không bao giờ mang dấu thương trên tay. Không sao cả. Xin chỉ mong sau nhiều năm theo Chúa, tay ta có dấu của việc phục vụ. Đôi chân có dấu của những con đường đã đi đến với người cần mình. Đôi mắt có dấu của những lần đã khóc với người đau khổ. Khuôn mặt có dấu của sự hiền lành. Giọng nói có dấu của lòng nhân hậu. Trái tim có dấu của những lần bị tổn thương nhưng vẫn chọn tha thứ. Nếu cuối đời người ta nhìn chúng ta và nhận ra một chút gì đó của Đức Kitô chịu đóng đinh, thế là đủ.
Có một loại dấu thương không hiện trên da nhưng hiện trong cách một người sống. Người từng sống cho mình bắt đầu biết sống cho người khác. Người từng rất nóng nảy dần trở nên hiền. Người từng mang mối hận nhiều năm bỗng có ngày nói: “Tôi tha thứ.” Người từng chỉ biết đòi hỏi bắt đầu biết cho đi. Người từng né tránh Thánh Giá bắt đầu biết nói: “Lạy Chúa, nếu đây là con đường con phải đi, xin đi với con.” Những dấu thương ấy đẹp hơn mọi hiện tượng lạ, vì đó là dấu của một đời đang được biến đổi theo hình ảnh Đức Kitô.
Chúng ta cũng cần nhớ rằng sau Thánh Giá là Phục Sinh. Nếu tách Gemma khỏi niềm hy vọng Phục Sinh, chúng ta sẽ biến linh đạo của ngài thành một câu chuyện u tối. Kitô giáo không kết thúc vào chiều Thứ Sáu Tuần Thánh. Ngôi mộ có một buổi sáng. Tảng đá có lúc được lăn ra. Những giọt nước mắt của Maria Mađalêna có lúc nghe thấy tên mình được gọi. Các môn đệ đang sợ hãi sau cánh cửa đóng kín có lúc thấy Chúa đứng giữa và nói: “Bình an cho anh em.” Chính vì có Phục Sinh nên người Kitô hữu mới dám nhìn thẳng Thánh Giá. Chúng ta biết đau khổ không có tiếng nói cuối cùng. Bệnh tật không có tiếng nói cuối cùng. Bất công không có tiếng nói cuối cùng. Tội lỗi không có tiếng nói cuối cùng. Ngay cả cái chết cũng không có tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng thuộc về Thiên Chúa của sự sống.
Vậy nên, người đang vác một thập giá nặng hôm nay đừng nghĩ câu chuyện của mình đã kết thúc. Nếu đang ngồi trong một ngày Thứ Sáu Tuần Thánh của cuộc đời, đừng quên Chúa vẫn đang viết tiếp. Có những điều hôm nay ta chỉ thấy là mất mát, nhiều năm sau nhìn lại mới hiểu nó đã đào sâu linh hồn ta thế nào. Có những cánh cửa đóng lại khiến ta tưởng đời hết đường, nhưng rồi Chúa dẫn qua một con đường khác. Có những lời cầu xin tưởng như không được nghe, nhưng về sau ta mới thấy câu trả lời đến dưới một hình thức khác. Không phải mọi đau khổ đều được giải thích ở đời này. Có những câu hỏi chỉ khi đứng trước mặt Chúa chúng ta mới hiểu. Nhưng đức tin nói rằng không giọt nước mắt nào rơi ngoài ánh mắt Người.
Thánh Gemma qua đời rất trẻ. Theo tiêu chuẩn thế gian, hai mươi lăm năm là một cuộc đời dang dở. Nhưng trước mặt Thiên Chúa, đời người không được đo chỉ bằng độ dài mà bằng độ sâu của tình yêu. Có người sống chín mươi năm nhưng gần như cả đời chỉ xoay quanh mình. Có người sống hai mươi lăm năm mà đã trao trọn trái tim cho Chúa. Đó là một câu hỏi cho chúng ta: nếu hôm nay là đoạn cuối đời tôi, điều gì thực sự còn lại? Những lần tranh hơn thua? Những danh dự? Những món đồ đã mua? Những lời khen? Những thành tích? Rốt cuộc chúng ta sẽ mang gì qua cánh cửa sự chết ngoài tình yêu đã sống?
Các vết thương của Đức Kitô nói rằng tình yêu có giá. Tình yêu thật luôn có giá. Tha thứ có giá. Chung thủy có giá. Sự thật có giá. Ơn gọi có giá. Gia đình có giá. Đời dâng hiến có giá. Làm người tử tế giữa một thế giới nhiều ích kỷ có giá. Nhưng chính vì có giá nên tình yêu mới quý.
Nếu không bao giờ phải hy sinh, có khi điều ta gọi là yêu mới chỉ là thích.
Gemma đã yêu. Và tình yêu ấy dẫn cô rất gần với Đấng chịu đóng đinh.
Hôm nay, đứng trước Thánh Giá, có lẽ chúng ta không cần xin Chúa cho mình những dấu thương lạ thường. Chỉ xin Người ba điều thôi. Xin cho con biết nhìn những vết thương của Chúa mà hiểu con được yêu đến mức nào. Xin cho con biết mang những vết thương đời mình mà không biến chúng thành thù hận. Và xin cho con biết chạm vào vết thương của người khác bằng chính lòng thương xót con đã nhận từ Chúa.
Nếu được như vậy, cuộc đời chúng ta cũng sẽ mang dấu của Thánh Giá.
Không phải một Thánh Giá chỉ treo trên tường.
Không phải một Thánh Giá chỉ đeo trên cổ.
Mà là Thánh Giá được viết vào cách ta yêu.
Và đến cuối đời, khi mọi sự đi qua, nếu Chúa nhìn vào đôi tay ta và thấy đôi tay ấy đã biết cho đi; nhìn vào trái tim ta và thấy trái tim ấy đã từng bị thương nhưng không thôi yêu; nhìn vào đời ta và nhận ra thấp thoáng hình ảnh Con Một của Người, thì có lẽ đó chính là dấu thương đẹp nhất một người Kitô hữu có thể mang.
Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, con thường sợ những vết thương của đời mình. Con muốn tránh đau, tránh mất, tránh bị hiểu lầm, tránh thất bại, tránh những điều làm con phải từ bỏ chính mình. Nhưng khi nhìn lên Chúa, con thấy một tình yêu không chạy trốn. Xin cho con đừng đi tìm đau khổ, nhưng khi đau khổ không thể tránh, xin đừng để con chịu nó một mình. Xin đặt thập giá của con bên Thánh Giá Chúa. Xin lấy những gì trong con đang cay đắng mà biến thành lòng thương xót; lấy những gì đang khép kín mà mở ra; lấy những ký ức đang làm con đau mà chữa lành; lấy những giọt nước mắt không ai biết mà kết hợp với nước mắt của Chúa. Xin cho con nhớ rằng những vết thương của Chúa không phải dấu thất bại nhưng là bằng chứng rằng con đã được yêu đến cùng.
Lạy Thánh Gemma Galgani, người đã say mê Chúa Giêsu chịu đóng đinh, xin cầu cho chúng con. Xin dạy chúng con đừng tò mò tìm dấu lạ, nhưng biết tìm Chúa. Đừng ước ao những đau khổ phi thường, nhưng biết trung thành với thập giá bình thường của mỗi ngày. Đừng chỉ cảm động trước những vết thương của Chúa, nhưng biết băng bó những vết thương của anh chị em. Và khi chính chúng con bị thương, xin giúp chúng con đừng đóng cửa trái tim, nhưng biết để cho Chúa Phục Sinh bước vào, đưa tay có dấu đinh của Người chạm đến những nơi đau nhất trong lòng chúng con và nói một lần nữa: “Bình an cho con.”
Vì cuối cùng, điều kỳ diệu nhất của Thánh Giá không phải là Đức Giêsu đã bị thương.
Mà là sau tất cả những thương tích ấy, Người vẫn yêu.
Vẫn tha thứ.
Vẫn dang tay.
Vẫn tìm con người.
Vẫn gọi chúng ta là bạn hữu.
Và vẫn mang những dấu thương ấy vào trong vinh quang Phục Sinh như lời bảo đảm muôn đời rằng: tình yêu mạnh hơn sự chết.
Đó cũng là bí mật của Thánh Gemma Galgani.
Và đó phải là bí mật của mỗi người chúng ta.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH MAXIMILIAN KOLBE – TÌNH YÊU HY SINH TRÊN THẬP GIÁ THỜI HIỆN ĐẠI
Có những cây thập giá được dựng lên trên đồi cao để người ta nhìn thấy từ xa. Có những cây thập giá được đặt trang trọng trên bàn thờ, được thắp nến, được phủ hoa, được hôn kính trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Nhưng cũng có những cây thập giá không mang hình dáng của hai thanh gỗ, không có nến, không có hoa, không có tiếng chuông nhà thờ, không có cộng đoàn quỳ chung quanh. Có những cây thập giá nằm giữa một trại tập trung đầy dây thép gai, trong một căn hầm đói tối tăm, giữa tiếng khóc của những con người bị tước mất tên tuổi và chỉ còn lại một con số. Và cũng chính ở nơi mà người ta tưởng rằng Thiên Chúa đã vắng mặt nhất, tình yêu của Thiên Chúa lại có thể bừng sáng cách lạ lùng nhất. Thánh Maximilian Maria Kolbe là một trong những con người như thế. Ngài không chết trên đồi Golgotha của Giêrusalem, nhưng ngài đã sống mầu nhiệm Golgotha giữa Auschwitz. Ngài không bị đóng đinh bằng những chiếc đinh sắt vào một cây gỗ, nhưng đã để cho đời mình được đóng đinh bằng một quyết định kinh khủng mà cũng đẹp đẽ vô cùng: chết thay cho một người khác. Nếu có ai hỏi rằng trong thế kỷ XX, giữa chiến tranh, hận thù, chủ nghĩa toàn trị, trại tập trung và những lò thiêu người, Thánh Giá Đức Kitô còn có ý nghĩa gì không, thì cuộc đời và cái chết của Maximilian Kolbe chính là một câu trả lời. Thánh Giá vẫn còn đó. Tình yêu vẫn còn đó. Và Tin Mừng vẫn có thể được viết tiếp, không phải bằng mực trên giấy, mà bằng chính máu và sự sống của một con người.
Maximilian Kolbe sinh năm 1894 tại Ba Lan, với tên khai sinh là Rajmund Kolbe. Ngay từ thuở nhỏ, cuộc đời ngài đã gắn với Đức Maria một cách rất đặc biệt. Truyền thống kể lại rằng khi còn bé, Rajmund đã có một kinh nghiệm thiêng liêng sâu xa: Đức Mẹ hiện ra với hai triều thiên, một màu trắng tượng trưng cho đời sống thanh khiết và một màu đỏ tượng trưng cho tử đạo, rồi hỏi cậu muốn nhận triều thiên nào. Cậu bé trả lời rằng mình muốn cả hai. Không ai lúc ấy có thể hiểu hết câu trả lời ấy sẽ dẫn một con người đi xa đến đâu. Trẻ con nhiều khi nói những lời rất đơn sơ, nhưng Thiên Chúa lại có thể nghe trong những lời đơn sơ ấy một lời hứa của cả cuộc đời. Maximilian sau này trở thành linh mục dòng Phanxicô, trở thành một nhà truyền giáo nhiệt thành, một người say mê Đức Mẹ Vô Nhiễm, một con người biết sử dụng những phương tiện truyền thông tiên tiến của thời đại mình để loan báo Tin Mừng. Ngài thành lập phong trào Đạo Binh Đức Mẹ Vô Nhiễm, xuất bản báo chí với số lượng rất lớn, xây dựng Niepokalanów, “Thành của Đức Mẹ Vô Nhiễm”, và thậm chí còn sang Nhật Bản truyền giáo. Ngài không phải một người chỉ biết khép mình trong bốn bức tường tu viện. Trái lại, ngài có một tâm hồn truyền giáo mạnh mẽ, một trí óc nhanh nhạy, một khả năng tổ chức đáng kinh ngạc và một trực giác rất hiện đại về sức mạnh của truyền thông. Nhưng điều lớn lao nhất nơi Kolbe không phải là số báo ngài đã in, không phải cơ sở ngài đã xây dựng, không phải số người biết đến ngài. Điều lớn lao nhất là trong những năm tháng chuẩn bị ấy, Thiên Chúa đang âm thầm dạy một người biết trao mình đi. Bởi cuối cùng, tất cả hoạt động tông đồ, tất cả lòng sùng kính, tất cả lời giảng, tất cả những gì một linh mục làm đều phải dẫn tới một câu hỏi cuối cùng: khi giờ của tình yêu đến, mình có dám trao chính mình không?
Năm 1939, chiến tranh bùng nổ. Ba Lan bị xâm lược. Bầu trời châu Âu bị bao phủ bởi khói súng và lòng người bị bao phủ bởi một thứ bóng tối còn đáng sợ hơn chiến tranh: người ta bắt đầu xem con người như những con số, những chủng loại, những đối tượng phải thanh trừng. Khi phẩm giá của con người bị xóa đi, bạo lực rất dễ trở thành bình thường. Khi một người không còn được nhìn như một người anh em, người ta có thể đánh họ, bỏ đói họ, giết họ mà không cảm thấy lương tâm bị lay động. Thế giới của trại tập trung chính là một thế giới như thế. Con người bị cạo đầu, bị mặc cùng một thứ quần áo, bị gọi bằng số, bị bóc lột sức lao động, bị hành hạ, bị bỏ đói và có thể bị giết bất cứ lúc nào. Người ta cố tình phá hủy nơi tù nhân không chỉ thân xác mà cả niềm tin rằng mình còn là một con người. Chính trong thế giới ấy, cha Maximilian Kolbe bị bắt và cuối cùng bị đưa tới trại tập trung Auschwitz năm 1941. Từ một linh mục từng đứng giữa những cơ sở truyền giáo rộng lớn, ngài trở thành một tù nhân. Áo dòng không còn. Tự do không còn. Phòng làm việc không còn. Nhà in không còn. Cộng đoàn quen thuộc không còn. Người ta có thể lấy đi khỏi ngài hầu như mọi thứ. Nhưng có một điều họ không lấy được: tự do yêu thương. Đây chính là mầu nhiệm mà thế gian rất khó hiểu. Người ta có thể khóa tay một người, nhưng không nhất thiết khóa được trái tim họ. Người ta có thể giam một thân xác sau hàng rào thép gai, nhưng không nhất thiết giam được một linh hồn. Người ta có thể tước hết quyền lợi của một con người, nhưng vẫn còn một quyền cuối cùng mà không chế độ nào hoàn toàn cướp nổi: quyền chọn cách mình đối xử với người khác. Và Kolbe đã sử dụng thứ tự do cuối cùng ấy để yêu thương.
Trong Auschwitz, ngài không làm những việc lớn theo nghĩa người đời. Không còn nhà in để điều hành, không còn hàng vạn độc giả để giảng dạy. Ngài chỉ còn những người tù kiệt sức bên cạnh. Nhưng đôi khi chính khi tất cả những gì bên ngoài bị lấy đi, bản chất thật của một con người mới lộ rõ. Một linh mục không còn áo lễ vẫn có thể là linh mục. Một người rao giảng không còn bục giảng vẫn có thể rao giảng. Một Kitô hữu không còn nhà thờ vẫn có thể mang Đức Kitô đến cho người khác. Kolbe chia sẻ khẩu phần ít ỏi của mình, nâng đỡ những người tuyệt vọng, giải tội khi có thể, cầu nguyện với những người sợ hãi và nhắc họ đừng để lòng thù hận chiếm lấy tâm hồn. Có lẽ đó mới là một trong những thử thách khó nhất của Kitô giáo: yêu khi mình đang đau, tha thứ khi mình đang bị xúc phạm, còn nghĩ đến người khác khi chính mình đang thiếu thốn. Yêu người khác khi ta khỏe mạnh và bình an đã khó. Yêu người khác khi ta đói, bị đánh, bị làm nhục và mỗi ngày đều nhìn thấy cái chết lại càng khó hơn. Và chính ở đó người ta mới hiểu rằng tình yêu Kitô giáo không đơn giản là một cảm xúc dễ chịu. Tình yêu theo Tin Mừng đôi khi là một cuộc đóng đinh.
Rồi một ngày, một tù nhân trốn khỏi trại. Theo cách trừng phạt tàn bạo của Auschwitz, một số tù nhân khác bị chọn để chết đói nhằm gieo kinh hoàng cho những người còn lại. Viên chỉ huy đi qua hàng tù nhân và chọn từng người. Có một người tên Franciszek Gajowniczek bị chọn. Khi nghe án chết, ông bật lên trong tuyệt vọng khi nghĩ tới vợ con mình. Chỉ một tiếng kêu của một người cha trước cái chết. Chỉ một lời nhắc đến gia đình. Nhưng có lẽ tiếng kêu ấy đã xuyên qua cả hàng rào thép gai và chạm vào trái tim của một linh mục. Kolbe bước ra khỏi hàng. Trong một nơi mà bước ra khỏi hàng có thể đồng nghĩa với chết ngay tức khắc, ngài bước ra. Người ta hỏi ngài muốn gì. Ngài xin được chết thay cho người đàn ông ấy. Và ngài nói lý do rất đơn giản: ông ấy có vợ con; còn tôi là một linh mục Công giáo. Có những câu nói dài hàng ngàn chữ mà người ta nghe xong rồi quên. Có những câu chỉ vài chữ mà nhân loại nhớ mãi. Bởi vì sức mạnh của một lời nói không nằm ở số chữ, mà nằm ở cái giá người nói sẵn sàng trả cho lời ấy. Kolbe nói mình muốn chết thay một người khác, và ngài trả cho câu nói đó bằng mạng sống.
Đọc tới đây, người Kitô hữu không thể không nhớ lời Đức Giêsu trong Tin Mừng Gioan: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Câu Tin Mừng ấy thường được đọc trong nhà thờ, được in trên thiệp, được trích trong sách đạo đức. Nhưng tại Auschwitz, câu ấy đã bước ra khỏi trang sách. Câu ấy có chân để bước ra khỏi hàng tù nhân. Câu ấy có miệng để nói: “Tôi xin chết thay cho người này.” Câu ấy có thân xác để bước xuống căn hầm đói. Và câu ấy có một cái tên: Maximilian Kolbe. Đó là điều kỳ diệu của các thánh. Các ngài không viết thêm một Tin Mừng mới, bởi Tin Mừng đã trọn vẹn nơi Đức Giêsu Kitô. Nhưng các ngài làm cho Tin Mừng cũ trở thành mới trong từng thời đại. Các ngài khiến người ta nhận ra rằng lời Đức Giêsu không chỉ là một lý tưởng đẹp nhưng bất khả thi. Có người đã sống được. Có người đã làm thật. Có người đã dám chết vì một người khác. Và vì vậy, thế giới không thể nói rằng tình yêu ấy chỉ là một giấc mơ.
Kolbe cùng những tù nhân khác bị đưa vào căn hầm chết đói. Có lẽ không có hình ảnh nào đối nghịch hơn giữa văn hóa sự chết và Tin Mừng sự sống. Người ta muốn căn hầm ấy trở thành nơi tuyệt vọng. Người ta muốn những người bị nhốt ở đó từ từ bị cơn đói nghiền nát cả thân xác lẫn tinh thần. Nhưng rồi điều kỳ lạ xảy ra: từ căn hầm ấy vang lên lời cầu nguyện và những bài thánh ca. Kolbe biến nơi chờ chết thành nơi cầu nguyện. Ngài không làm phép lạ để phá cửa. Ngài không xin thiên thần xuống giải thoát mình. Ngài không nguyền rủa những người hành hạ mình. Ngài ở lại. Cũng như Đức Giêsu đã không bước xuống khỏi Thập Giá khi người ta thách thức: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi”, Kolbe cũng không tìm cách chứng minh quyền năng bằng việc thoát khỏi đau khổ. Ngài chứng minh sức mạnh của tình yêu bằng cách ở lại trong đau khổ mà không để đau khổ biến mình thành một con người đầy hận thù. Đó mới là chiến thắng. Chiến thắng của Kitô giáo không phải lúc nào cũng là thoát khỏi đau khổ. Nhiều khi chiến thắng của Kitô giáo là đi xuyên qua đau khổ mà vẫn không đánh mất tình yêu.
Thật đáng suy nghĩ: những kẻ cai trị Auschwitz có súng, có chó nghiệp vụ, có nhà tù, có quyền sinh sát. Kolbe không có gì cả. Nhưng cuối cùng ai là người mạnh hơn? Những kẻ hành hạ đã có thể giết thân xác Kolbe nhưng không thể bắt ngài căm thù. Họ có thể bỏ đói ngài nhưng không thể làm cho tình yêu trong ngài chết đói. Họ có thể lấy đi tự do thể xác nhưng không thể ngăn ngài tự do hiến mạng. Người ta thường nghĩ quyền lực là khả năng buộc người khác làm theo ý mình. Tin Mừng lại cho thấy một thứ quyền lực cao hơn: quyền lực của người không ai buộc được mình thôi yêu. Đức Giêsu trên Thập Giá trông như một người thất bại. Hai tay bị đóng đinh, chân không thể bước đi, trên đầu chỉ có vòng gai, chung quanh là những lời nhạo báng. Nhưng chính lúc không còn làm được gì theo nghĩa bên ngoài, Người lại đang làm điều lớn lao nhất: yêu đến cùng. Kolbe cũng vậy. Trong căn hầm đói, ngài chẳng còn khả năng thay đổi cấu trúc chính trị, chẳng còn phương tiện truyền thông, chẳng còn tiếng nói trước công chúng. Nhưng chính lúc ấy ngài thực hiện hành động tông đồ lớn nhất đời mình: ngài trở thành dấu chỉ của Đức Kitô chịu đóng đinh.
Cuối cùng, những người khác lần lượt qua đời. Kolbe vẫn còn sống. Ngày 14 tháng 8 năm 1941, người ta kết liễu mạng sống của ngài bằng một mũi tiêm độc. Ngài chết vào chiều trước ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, người Mẹ mà suốt đời ngài yêu mến và gọi mình là khí cụ của Đức Mẹ Vô Nhiễm. Một đời bắt đầu với câu chuyện hai triều thiên dường như đã đi tới chỗ hoàn tất: triều thiên trắng của đời tận hiến và triều thiên đỏ của tử đạo. Nhưng nếu chỉ dừng ở chuyện một vị thánh chết anh hùng, ta vẫn chưa chạm tới điều sâu xa nhất. Điều sâu xa nhất không phải là Kolbe thích đau khổ. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Đức Giêsu cũng không đến trần gian để dạy con người phải tìm kiếm đau đớn. Điều Kitô giáo tôn kính là tình yêu lớn hơn đau khổ. Kolbe không đi tìm cái chết vì chán sống. Ngài chọn chết vì có một người khác đang muốn được sống. Đó là khác biệt rất lớn. Hy sinh Kitô giáo không phải khinh thường sự sống, nhưng chính vì sự sống của một người khác quý giá đến mức tôi sẵn sàng đặt sự sống mình xuống để bảo vệ họ.
Franciszek Gajowniczek, người được Kolbe chết thay, đã sống sót qua chiến tranh. Một người bước ra khỏi hàng để chết, và một người khác được trở về với sự sống. Hình ảnh ấy làm người Kitô hữu không thể không nghĩ tới chính mình. Bởi tất cả chúng ta, theo một nghĩa sâu xa hơn nhiều, cũng là những Franciszek đứng trong hàng tử tội. Tội lỗi đưa nhân loại đến chỗ chết. Và Đức Kitô bước ra. Người không nói: “Hắn đáng chết.” Người nói bằng cả cuộc đời: “Hãy để người này sống; Tôi sẽ nhận lấy cái chết.” Thánh Phaolô viết: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi.” Thánh Giá trước hết là một cuộc thế chỗ kỳ diệu của tình yêu. Đấng vô tội đứng vào vị trí của kẻ có tội. Đấng đáng sống nhận lấy cái chết để người đáng chết nhận được sự sống. Maximilian Kolbe không thể cứu chuộc nhân loại như Đức Kitô. Không vị thánh nào có thể. Nhưng hành vi chết thay của ngài phản chiếu, như một giọt nước phản chiếu mặt trời, tình yêu cứu độ của Đấng chịu đóng đinh.
Và ở đây, câu chuyện về Kolbe bắt đầu trở nên khó chịu với chúng ta. Bởi nếu chỉ nghe để cảm phục, câu chuyện rất đẹp. Nhưng nếu nghe như một lời mời gọi, câu chuyện trở nên nhức nhối. Không phải ai cũng được gọi chết thay một người khác trong một trại tập trung. Có lẽ phần lớn chúng ta sẽ không bao giờ đứng trước lựa chọn như Kolbe. Nhưng mỗi ngày đều có những “Auschwitz nhỏ” nơi lòng người: những nơi ích kỷ chiến đấu với yêu thương, nơi ta phải chọn mình hay người khác, chọn tha thứ hay trả đũa, chọn nhường nhịn hay hơn thua, chọn lên tiếng bảo vệ người yếu thế hay im lặng để giữ an toàn, chọn dành thời gian cho một người đang đau khổ hay tiếp tục công việc riêng của mình. Không phải mọi thập giá đều đẫm máu. Có những thập giá chỉ là phải kiên nhẫn thêm một chút với người bạn đời khó tính. Có những thập giá là chăm một người cha già lú lẫn, một người mẹ bệnh lâu năm. Có những thập giá là thức đêm với đứa con đau bệnh. Có những thập giá là tha thứ cho một người đã làm mình đau. Có những thập giá là im lặng để không nói một lời làm người khác tổn thương. Có những thập giá là trả lại tiền mình có thể chiếm giữ mà chẳng ai biết. Có những thập giá là chấp nhận mất một cơ hội để không phải làm điều trái lương tâm. Có những thập giá là không bỏ một người khi họ không còn gì hấp dẫn để mình tiếp tục yêu.
Điều làm người ta xa Thập Giá không phải lúc nào cũng là những thử thách lớn. Nhiều người có thể sẵn sàng nói rằng nếu một ngày nào đó phải chết vì Đức Kitô, họ sẽ chết; nhưng lại không chịu nhường một lời trong gia đình. Ta có thể mơ một ngày mình trở thành anh hùng, nhưng sáng nay lại khó chịu vì người khác làm phiền. Ta có thể khóc khi nghe chuyện Kolbe chết thay một người cha, nhưng lại không dành nổi mười phút ngồi nghe một người thân nói chuyện. Ta có thể hôn Thánh Giá trong nhà thờ, nhưng lại từ chối vác thập giá của sự nhẫn nại khi trở về nhà. Bởi vậy, mầu nhiệm của Kolbe không chỉ đặt trước mắt ta một cái chết phi thường, mà còn hỏi ta về hàng ngàn cái chết nhỏ mỗi ngày: chết cho cái tôi, chết cho sự tự ái, chết cho nhu cầu luôn phải đúng, chết cho ham muốn được người khác phục vụ, chết cho thói quen đặt mình vào trung tâm của mọi chuyện. Nếu không tập chết những cái chết nhỏ ấy, rất khó tin rằng khi giờ lớn đến ta sẽ đủ sức chết một cái chết lớn.
Đức Giêsu đã nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). Chúa không nói “vác thập giá của người khác”, cũng không nói “vác thập giá mình thích”, mà nói “thập giá mình”. Điều ấy có nghĩa là con đường nên thánh của mỗi người thường nằm ngay trong hoàn cảnh hiện tại của mình. Đừng đợi một Auschwitz để sống như Kolbe. Có thể Auschwitz của ta chính là một căn nhà nơi hai vợ chồng đã lâu không còn hiểu nhau. Có thể là một bệnh viện. Có thể là một cộng đoàn tu trì nơi những khác biệt tính tình mỗi ngày làm ta mệt mỏi. Có thể là một giáo xứ có những người không hiểu mình. Có thể là một văn phòng nơi ta bị đối xử bất công. Có thể là tuổi già, cô đơn, bệnh tật, thất nghiệp, thất bại, một đứa con ngỗ nghịch, một cuộc hôn nhân đầy thử thách, một lỗi lầm quá khứ cứ đeo đuổi. Ta thường xin Chúa lấy thập giá đi. Không có gì sai khi cầu xin như thế. Chính Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu cũng đã cầu: “Lạy Cha, nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén này.” Nhưng Người nói thêm: “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Đức tin trưởng thành không phải là không đau, mà là trong đau vẫn có thể phó thác.
Kolbe còn dạy chúng ta một điều đặc biệt quan trọng trong thời đại hôm nay: đừng để hận thù biến mình thành bản sao của người làm điều ác. Thế giới hiện đại đầy những cuộc đối đầu. Người ta chia phe rất nhanh. Chỉ một khác biệt quan điểm cũng có thể đủ để người ta xúc phạm nhau. Mạng xã hội đôi khi biến con người thành những chiến binh không ngừng tìm kẻ thù. Người ta nhân danh sự thật để hạ nhục người khác, nhân danh công lý để nuôi hận thù, nhân danh đạo đức để kết án. Nhưng Kolbe đứng giữa một trong những hệ thống tàn ác nhất lịch sử mà vẫn không để lòng mình bị đầu độc bởi căm ghét. Đây là một phép lạ lớn. Bởi kẻ thù lớn nhất không nhất thiết là người đang hành hạ ta. Kẻ thù đáng sợ hơn là lòng hận thù của họ có thể chui vào trong ta, khiến ta trở thành giống họ. Nếu người khác làm điều ác khiến ta cũng trở nên ác, thì họ đã thắng hai lần. Họ làm tổn thương thân xác ta và đồng thời phá hủy linh hồn ta. Đức Kitô đã thắng trên Thập Giá vì Người không để sự độc ác của con người quyết định cách Người yêu. Người vẫn cầu: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Kolbe bước theo con đường ấy.
Có lẽ vì thế, Thánh Giá luôn là một cuộc cách mạng âm thầm. Thế gian nói: mạnh là làm cho người khác sợ mình. Đức Kitô nói: mạnh là dám phục vụ. Thế gian nói: giữ lấy mạng sống mình. Đức Kitô nói: ai mất mạng sống vì Ta sẽ tìm được nó. Thế gian nói: hãy tiêu diệt kẻ thù. Đức Kitô nói: hãy yêu kẻ thù. Thế gian nói: đừng để người khác lợi dụng mình. Đức Kitô quỳ xuống rửa chân cho cả Giuđa. Thế gian nói: hãy bảo vệ mình bằng mọi giá. Kolbe nói: “Tôi xin chết thay người này.” Vì thế Kitô giáo sẽ luôn là một nghịch lý đối với thế gian. Nhưng chính nghịch lý ấy đã làm thay đổi lịch sử.
Đôi khi người ta hỏi: Thiên Chúa ở đâu tại Auschwitz? Một câu hỏi đau đớn và không thể trả lời bằng những câu khẩu hiệu đơn giản. Trước đau khổ quá lớn, lời nói phải biết khiêm tốn. Nhưng nơi Maximilian Kolbe, người Kitô hữu có thể nhận ra một dấu chỉ: Thiên Chúa không đứng xa nhìn con người đau khổ. Trong Đức Kitô, Người đã bước vào đau khổ của nhân loại. Và trong những môn đệ để cho Đức Kitô sống trong mình, tình yêu ấy tiếp tục hiện diện. Thiên Chúa ở đâu trong căn hầm đói? Người ở nơi một linh mục đang cầu nguyện với những người sắp chết. Người ở nơi một con người cất tiếng hát thay vì nguyền rủa. Người ở nơi một người chấp nhận chết để người khác được sống. Không phải vì thế mà điều ác trở thành điều tốt. Auschwitz vẫn là tội ác. Đau khổ vẫn là đau khổ. Nhưng điều mà Thập Giá khẳng định là: sự dữ không có tiếng nói cuối cùng. Con người có thể tạo ra địa ngục, nhưng ngay giữa địa ngục tình yêu vẫn có thể nở hoa.
Thánh Maximilian Kolbe vì thế không chỉ là “vị thánh của Auschwitz”. Ngài là một câu hỏi dành cho mỗi người chúng ta: “Tôi đang sống cho ai?” Một đời sống chỉ quanh quẩn với mình cuối cùng sẽ trở nên rất nhỏ. Người ta có thể có nhiều tiền, nhiều tài sản, nhiều danh tiếng, nhiều người theo dõi, nhưng nếu trái tim chỉ biết nói “tôi”, cuộc đời vẫn nghèo. Ngược lại, một con người chẳng còn gì ngoài một bộ quần áo tù nhân vẫn có thể trở nên vô cùng giàu có nếu họ còn khả năng nói: “Tôi sống cho người khác.” Điều đáng sợ nhất của cuộc đời không phải là chết. Điều đáng sợ hơn là sống hết một đời mà chưa từng thật sự trao mình cho ai.
Đối với người linh mục, cuộc đời Kolbe còn mang một âm vang đặc biệt. Khi ngài nói: “Tôi là một linh mục Công giáo”, đó không phải là một danh xưng để xin đặc quyền. Ngược lại, chính căn tính linh mục trở thành lý do để ngài nhận phần chết về mình. Linh mục không phải là người đứng trên cộng đoàn nhưng là người được đặt vào giữa cộng đoàn để trao mạng sống. Chức linh mục tìm được ý nghĩa sâu nhất của nó không phải ở phẩm phục đẹp, không phải ở lời tung hô, không phải ở chức vụ, nhưng ở câu: “Mạng sống tôi đây, xin trao cho đoàn chiên.” Một linh mục có thể giảng rất hay về Thập Giá, nhưng bài giảng đáng tin nhất vẫn là đời sống biết chết cho đoàn chiên. Chết không nhất thiết bằng máu. Có khi là chết cho thời giờ riêng, chết cho sự tiện nghi, chết cho tham vọng, chết cho nhu cầu được công nhận, chết cho những đòi hỏi của cái tôi, để người khác được sống. Ngày linh mục chỉ còn tìm cách giữ mình, bảo vệ mình, vun đắp cho mình, ngày ấy Thập Giá trên bàn thờ rất dễ chỉ còn là một vật trang trí. Nhưng khi linh mục biết hao mòn vì đoàn chiên, thì chính cuộc đời linh mục trở thành lời truyền phép kéo dài: “Này là mình Thầy, hiến tế vì anh em.”
Gia đình cũng cần tinh thần Kolbe. Hôn nhân không tồn tại lâu dài nếu hai người chỉ hỏi: “Tôi được gì?” Một gia đình sống được là vì có những con người mỗi ngày âm thầm nói: “Để tôi chịu phần này.” Người chồng đi làm mệt vẫn cố dành thời gian cho vợ con. Người vợ chịu nhiều vất vả nhưng vẫn giữ hơi ấm trong nhà. Người mẹ thức trắng vì con. Người cha nuốt nước mắt vì gia đình. Những đứa con trưởng thành chăm sóc cha mẹ già. Anh chị em nhường nhau một phần quyền lợi để giữ tình nghĩa. Đó là những hình thức chết thay rất nhỏ nhưng rất thật. Có thể chẳng ai phong thánh cho những con người ấy. Nhưng Thiên Chúa biết. Và một gia đình có những người biết hy sinh cho nhau đã trở thành một thứ “Nhà thờ nhỏ”, nơi Thập Giá không chỉ treo trên tường mà được sống giữa đời.
Thế giới hôm nay cũng rất cần Kolbe vì con người đang ngày càng sợ mất phần của mình. Chúng ta sợ thiệt. Sợ bị lợi dụng. Sợ không được công nhận. Sợ người khác hơn mình. Sợ cho mà không được trả lại. Và vì sợ, chúng ta xây những bức tường quanh mình. Nhưng điều nghịch lý là càng giữ chặt, lòng ta càng nghèo; càng cho đi, lòng ta càng rộng. Hạt lúa mà Đức Giêsu nói trong Tin Mừng Gioan chỉ sinh nhiều bông hạt khi nó chấp nhận rơi xuống đất và chết đi. “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Kolbe đã trở thành một hạt lúa như thế. Cái chết của ngài không biến mất trong căn hầm Auschwitz. Nó tiếp tục sinh hoa trái qua nhiều thế hệ. Một tù nhân được sống. Một gia đình giữ lại được người cha. Một thế giới nhìn thấy giữa bóng tối vẫn có thể có ánh sáng. Biết bao người đọc câu chuyện của ngài đã tìm lại niềm tin vào phẩm giá con người. Một hạt lúa chết đi và sinh nhiều hạt khác.
Điều làm ta xúc động nhất có lẽ không phải chỉ là việc Kolbe chết, mà là ngài đã chết trong bình an. Bình an ấy không thể được chế tạo trong một ngày. Không ai có thể sống ích kỷ bảy mươi năm rồi đột nhiên trở thành một vị tử đạo của tình yêu trong năm phút cuối. Những quyết định lớn được chuẩn bị bằng những trung thành nhỏ. Kolbe có thể bước ra khỏi hàng tù nhân ngày hôm ấy vì suốt đời ngài đã tập bước ra khỏi chính mình. Ngài đã trao trí tuệ cho việc truyền giáo, trao sức khỏe cho công việc tông đồ, trao thời giờ cho cộng đoàn, trao cuộc đời cho Đức Mẹ và cho Đức Kitô. Khi người ta đã tập nói “xin vâng” mỗi ngày, lời “xin vâng” cuối cùng không xuất hiện từ khoảng không. Nó là hoa trái của cả một đời. Bởi thế, đừng xem thường những hy sinh nhỏ hôm nay. Mỗi lần ta nhịn một câu nóng giận, mỗi lần ta tha thứ, mỗi lần ta phục vụ mà không được cảm ơn, mỗi lần ta giữ lòng trong sạch giữa cám dỗ, mỗi lần ta trung thành cầu nguyện dù khô khan, mỗi lần ta làm điều đúng dù chẳng ai nhìn thấy, ta đang tập cho trái tim mình biết yêu. Và không ai biết một ngày nào đó Thiên Chúa sẽ mời ta yêu đến mức nào.
Ngày 10 tháng 10 năm 1982, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II tuyên thánh Maximilian Kolbe và nhìn nhận ngài như một vị tử đạo của đức ái. Franciszek Gajowniczek, người được ngài cứu sống, hiện diện trong biến cố ấy. Hình ảnh ấy có sức nói hơn rất nhiều bài thần học. Một người đã chết và một người nhờ cái chết ấy mà còn sống đứng trước Hội Thánh. Đó chẳng phải cũng là hình ảnh của Kitô giáo đó sao? Mỗi lần chúng ta đứng trước Thánh Giá, chúng ta chính là người còn sống vì có một Đấng đã chết thay cho mình. Có lẽ vì quá quen với Thánh Giá nên ta quên kinh ngạc. Ta làm dấu Thánh Giá từ nhỏ, nhìn Thánh Giá mỗi ngày, nghe kể cuộc Khổ Nạn mỗi năm. Nhưng hãy thử đứng lại thật lâu trước tượng Chúa chịu nạn và tự hỏi: “Ai đang ở trên đó?” Không phải một người xa lạ. Đó là Đấng đã nói với từng người chúng ta: “Để con được sống, Ta nhận lấy cái chết.”
Bởi vậy, cách tốt nhất để tôn kính Thánh Maximilian Kolbe không chỉ là đặt tượng ngài trong nhà thờ, đọc tiểu sử ngài hay kính nhớ ngài mỗi ngày 14 tháng 8. Cách tốt nhất là học cách yêu như ngài. Mỗi sáng có thể hỏi mình một câu rất đơn giản: “Hôm nay tôi có thể chết đi cho ai một chút?” Có thể chết cho tính nóng để người nhà được bình an. Chết cho sự lười biếng để hoàn thành trách nhiệm. Chết cho tính ích kỷ để chia sẻ với người nghèo. Chết cho lòng tự ái để làm hòa trước. Chết cho ham muốn nói xấu để giữ danh dự người khác. Chết cho thời giờ riêng để ngồi bên một người cô đơn. Chết cho sự lạnh lùng để gọi một cuộc điện thoại hỏi thăm. Những cái chết ấy chẳng ai đưa lên báo. Nhưng Nước Trời thường lớn lên từ những điều chẳng ai đưa lên báo.
Và nếu có ngày thập giá của đời ta trở nên quá nặng, hãy nhớ Kolbe trong căn hầm đói. Không phải để so sánh đau khổ và tự trách rằng mình yếu đuối. Mỗi người có sức chịu đựng khác nhau. Nhưng để nhớ rằng con người có thể mất rất nhiều mà vẫn chưa mất tất cả. Khi ta còn có thể yêu, ta vẫn còn tự do. Khi ta còn có thể cầu nguyện, bóng tối chưa hoàn toàn chiến thắng. Khi ta còn có thể tha thứ, kẻ làm ta đau chưa chiếm được linh hồn ta. Khi ta còn có thể trao một chút sự sống cho người khác, cuộc đời ta vẫn còn ý nghĩa.
Maximilian Kolbe đã chết, nhưng Auschwitz không có lời cuối cùng về cuộc đời ngài. Những kẻ cai tù tưởng rằng họ đã ném một người vào một căn hầm để xóa tên người ấy khỏi thế giới. Nhưng hôm nay người cai tù ấy hầu như chẳng ai nhớ, còn tên Maximilian Kolbe được nhắc đến trên khắp hoàn cầu. Bạo lực tưởng mình mạnh nhưng chỉ tồn tại một thời. Tình yêu tưởng mình yếu nhưng đi xuyên qua lịch sử. Đó cũng chính là nghịch lý của Thập Giá. Philatô đã chết. Caipha đã chết. Những người đóng đinh Đức Giêsu đều đã đi qua. Nhưng Người bị đóng đinh vẫn đang được hàng tỷ người gọi bằng một danh xưng: Chúa. Không phải vì Người có quân đội mạnh hơn, nhưng vì tình yêu mạnh hơn sự chết.
Có lẽ lời cuối cùng ta nên giữ lại khi rời câu chuyện về Kolbe vẫn là lời của Đức Giêsu: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” Đây không chỉ là câu nói để đọc trong lễ các thánh tử đạo. Đây là thước đo cho một đời Kitô hữu. Cuối đời, Thiên Chúa có lẽ sẽ không hỏi ta đã có bao nhiêu, đã nổi tiếng đến đâu, được bao nhiêu người biết đến, thành công bao nhiêu dự án. Người sẽ hỏi: “Con đã yêu thế nào?” Và khi ấy, từng hy sinh nhỏ mà hôm nay ta nghĩ chẳng đáng kể sẽ hiện ra dưới một ánh sáng khác. Một chén nước đã trao. Một người nghèo đã được giúp. Một lỗi lầm đã được tha. Một người già đã được chăm sóc. Một đứa trẻ đã được ôm vào lòng. Một người cô đơn đã được lắng nghe. Một lần ta chịu thiệt để người khác được bình an. Một lần ta bước ra khỏi “hàng” của cái tôi để đứng vào vị trí của người khác.
Thánh Maximilian Kolbe đã bước ra khỏi hàng tù nhân Auschwitz một lần. Nhưng thực ra, ngài đã bước ra khỏi cái tôi suốt cả cuộc đời. Và đó mới là bí mật của sự thánh thiện. Thánh nhân không phải là người không biết sợ. Thánh nhân là người tìm thấy một tình yêu lớn hơn nỗi sợ. Không phải là người không quý mạng sống. Nhưng là người đã gặp được một tình yêu khiến mạng sống trở thành một món quà có thể trao đi. Không phải là người yêu đau khổ. Nhưng là người yêu một con người cụ thể đến mức sẵn sàng bước vào đau khổ thay họ.
Giữa một thế giới vẫn còn chiến tranh, bạo lực, hận thù, chia rẽ, cạnh tranh và vô cảm, câu chuyện của Maximilian Kolbe chưa bao giờ cũ. Bởi thế giới hôm nay không thiếu người thông minh, không thiếu người giàu, không thiếu người có quyền, không thiếu phương tiện kỹ thuật; thế giới thiếu những con người dám nói: “Phần đau này, để tôi mang với anh. Phần nặng này, để tôi gánh với chị. Anh hãy sống. Chị hãy đứng dậy. Tôi sẽ không bỏ anh một mình.” Khi một người nói được như thế bằng cả đời mình, Thập Giá Đức Kitô lại được dựng lên giữa thời đại.
Xin Thánh Maximilian Kolbe dạy chúng ta đừng chỉ đeo Thánh Giá trên cổ mà không mang Thánh Giá trong tim. Đừng chỉ cúi đầu trước tượng Chúa chịu nạn mà lại quay mặt trước người đang đau khổ. Đừng chỉ hát về tình yêu mà sợ phải hy sinh. Đừng chỉ ngưỡng mộ các thánh mà không dám bước theo con đường các ngài đã đi. Xin cho mỗi người biết chết đi một chút mỗi ngày để người khác được sống hơn; biết nhỏ lại để người khác được lớn lên; biết nhường đi để người khác được bình an; biết mất đi để tìm lại sự sống trong Đức Kitô.
Và khi ngày cuối cùng đến, xin cho chúng ta có thể nhìn lại cuộc đời mà không tiếc vì đã yêu quá ít. Bởi rốt cuộc, điều còn lại không phải là ta đã giữ được bao nhiêu cho mình, mà là ta đã trao được bao nhiêu cho người khác. Thập Giá của Đức Kitô đã cho thế giới biết điều đó. Căn hầm đói Auschwitz đã một lần nữa chứng minh điều đó. Và cuộc đời Thánh Maximilian Kolbe vẫn đang âm thầm nói với chúng ta hôm nay: tình yêu thật luôn có hình dáng của một cây thập giá; nhưng chính cây thập giá ấy, khi được ôm lấy vì yêu, sẽ trở thành cây sự sống.
Lm. Anmai, CSsR.

ĐỨC HỒNG Y PHANXICÔ XAVIÊ NGUYỄN VĂN THUẬN – THÁNH GIÁ TRONG TÙ
Có những cây thánh giá được đặt trang trọng trên cung thánh, có những cây thánh giá bằng gỗ quý được chạm trổ công phu, có những cây thánh giá bằng vàng người ta đeo trên ngực như một dấu chỉ của niềm tin. Nhưng cũng có những cây thánh giá chẳng ai nhìn thấy, không được đặt trên bàn thờ, không được thắp nến hai bên, không có hoa trang hoàng dưới chân. Đó là những cây thánh giá nằm trong một căn phòng giam lạnh lẽo, trong một đêm dài không biết bao giờ mới sáng, trong nỗi cô đơn của một con người bị tách khỏi đoàn chiên, khỏi anh em, khỏi những người mình yêu thương, khỏi công việc mà mình đã dâng cả đời để phục vụ. Có lẽ phải đi vào những năm tháng tù đày của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, người ta mới hiểu thêm một điều rất lạ của Kitô giáo: thánh giá không trở thành Thánh Giá vì nó bớt đau, nhưng vì giữa đau khổ ấy có một người quyết định yêu; nhà tù không trở thành tu viện vì những bức tường bỗng nhiên biến mất, nhưng vì trong những bức tường ấy có một người bắt đầu cầu nguyện; bóng tối không biến thành ánh sáng vì cánh cửa nhà giam được mở, nhưng vì trong bóng tối ấy có một người nhất định không để lòng mình tối đi. Cuộc đời Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận vì thế không chỉ là câu chuyện của một vị mục tử bị tù đày. Đó còn là câu chuyện về một người đã học cách ôm lấy Thánh Giá khi không còn có thể chọn cho mình một con đường khác; một người đã khám phá rằng khi tất cả bị lấy đi, Thiên Chúa vẫn còn đó; và một người đã chứng minh bằng chính đời sống rằng người ta có thể khóa một con người trong bốn bức tường, nhưng không dễ gì khóa được một trái tim đã thuộc trọn về Đức Kitô.
Ngày 15 tháng 8 năm 1975 là một dấu mốc đặc biệt đau đớn trong cuộc đời Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Chỉ ít tháng trước đó, ngài được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI bổ nhiệm làm Tổng Giám mục phó Tổng Giáo phận Sài Gòn với quyền kế vị. Một con đường mục vụ tưởng như đang mở ra trước mắt ngài thì bỗng nhiên khép lại. Ngài bị bắt, bị đưa đi, bị tách khỏi cộng đoàn. Từ một vị giám mục quen với bàn giấy mục vụ, những chuyến kinh lý, những cuộc gặp gỡ linh mục, tu sĩ và giáo dân, ngài bước vào một thế giới khác: thế giới của những cánh cửa khóa, những ánh mắt dò xét, những ngày dài chờ đợi, những đêm không biết tương lai sẽ thế nào. Tổng cộng, ngài trải qua mười ba năm bị giam giữ, trong đó có những năm tháng biệt giam khắc nghiệt. Những con số ấy nghe qua thật ngắn: mười ba năm. Người ta viết được chỉ bằng vài chữ. Nhưng thử nghĩ mà xem, mười ba năm là bao nhiêu mùa Giáng Sinh, bao nhiêu Tuần Thánh, bao nhiêu lễ Phục Sinh, bao nhiêu ngày sinh nhật, bao nhiêu lần nhớ nhà, bao nhiêu lần thèm một Thánh lễ giữa cộng đoàn, bao nhiêu lần muốn được nhìn thấy khuôn mặt của người thân, bao nhiêu đêm nằm xuống mà không biết ngày mai có điều gì xảy ra. Đau khổ lớn nhất đôi khi không phải là một trận đòn, nhưng là sự kéo dài. Một vết thương nếu chỉ đau một giờ người ta có thể nghiến răng chịu được; nhưng một thử thách không biết khi nào kết thúc mới thực sự thử thách lòng người. Và chính ở đó, Thánh Giá bắt đầu nói.
Nếu chỉ nhìn Thánh Giá như một hình phạt, con người rất dễ cay đắng. Nếu chỉ nhìn nhà tù như nơi mình bị tước đoạt, con người rất dễ hận thù. Nếu chỉ nhìn những người canh giữ mình như kẻ thù, trái tim rất dễ biến thành một nhà tù thứ hai, thậm chí còn đáng sợ hơn nhà tù bằng bê tông và song sắt. Đức cha Nguyễn Văn Thuận phải đối diện với cuộc chiến ấy. Cuộc chiến lớn nhất không phải là chống lại người giam giữ mình, nhưng là chống lại sự tuyệt vọng đang có thể lớn lên trong lòng mình. Ngài nhớ giáo phận, nhớ đoàn chiên, nhớ công việc. Một vị mục tử mà không được ở với đoàn chiên thì đau lắm. Một người đã dâng đời mình để phục vụ mà bỗng nhiên bị buộc phải sống trong tình trạng tưởng như hoàn toàn vô dụng thì đau lắm. Có một cám dỗ rất tinh vi xuất hiện: “Tôi phải ra khỏi đây để làm việc cho Chúa. Tôi phải được tự do để phục vụ Giáo Hội. Tôi phải trở lại với đoàn chiên của mình.” Những ước muốn ấy tự nó rất đẹp. Nhưng rồi trong cầu nguyện, ngài dần nhận ra một điều còn sâu hơn: Chúa không nhất thiết đòi ngài làm “công việc của Chúa”; Chúa đòi ngài chọn chính Chúa. Đó là một trong những cuộc hoán cải thiêng liêng quan trọng nhất trong đời ngài: phân biệt giữa Thiên Chúa và công việc của Thiên Chúa. Người ta có thể say mê làm việc cho Chúa mà vô tình quên mất Chúa. Người ta có thể đau đớn khi sứ vụ bị lấy đi đến mức tưởng rằng đời mình chẳng còn ý nghĩa. Nhưng nếu Chúa là tất cả, thì ngay cả khi không còn được làm gì, con người vẫn có thể yêu Chúa. Nếu Chúa là cùng đích, thì ngay trong nhà tù, đời sống vẫn có thể trở thành một sứ vụ.
Đây là điều rất đáng để chúng ta dừng lại. Chúng ta thường nghĩ Thánh Giá của mình là những điều đang cản trở mình sống. Người mẹ nghĩ rằng nếu đứa con bớt khó thì mình sẽ bình an. Người chồng nghĩ rằng nếu người vợ hiểu mình hơn thì gia đình sẽ hạnh phúc. Người linh mục nghĩ rằng nếu giáo dân dễ thương hơn, công việc ít rắc rối hơn, sức khỏe tốt hơn, mình sẽ phục vụ Chúa sốt sắng hơn. Người bệnh nghĩ rằng nếu khỏi bệnh mình mới có thể sống có ích. Người già nghĩ rằng nếu còn khỏe như ngày trước mình mới có thể giúp người khác. Và chúng ta cứ chờ một ngày nào đó mọi sự thuận lợi để bắt đầu sống đẹp. Nhưng Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận cho ta một bài học hoàn toàn ngược lại: đừng chờ Thánh Giá biến mất rồi mới bắt đầu yêu Chúa. Hãy yêu Chúa ngay trên cây thánh giá mình đang mang. Đừng đợi cửa tù mở mới bắt đầu tự do. Có một thứ tự do có thể bắt đầu ngay trong phòng giam. Đừng đợi người khác thay đổi rồi mới tha thứ. Tha thứ chính là cách ta bắt đầu thoát khỏi nhà tù của lòng mình. Đừng đợi cuộc đời trả lại những gì nó đã lấy đi rồi mới bình an. Bình an Kitô giáo không phải là có lại tất cả; bình an Kitô giáo là nhận ra rằng dù mất rất nhiều, ta vẫn chưa mất Chúa.
Tin Mừng đã nói điều ấy từ lâu. Chúa Giêsu không bao giờ hứa với các môn đệ rằng ai theo Người sẽ được miễn khỏi đau khổ. Người nói rất rõ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). Điều đáng chú ý là Chúa không nói: hãy vác thập giá người khác, cũng không nói: hãy chọn một cây thập giá theo sở thích của mình. Người nói “thập giá mình”. Thập giá của mình có nghĩa là chính thực tại đời mình đang phải mang: một bệnh tật không muốn có, một thất bại không muốn nhớ, một người thân khó sống chung, một cuộc chia ly không thể đảo ngược, một hiểu lầm không giải thích được, một tuổi già ngày càng bất lực, một sứ vụ không thành công như mong đợi, một căn phòng tù không biết ngày ra. Đức cha Nguyễn Văn Thuận đã không chọn nhà tù. Chúa Giêsu cũng không yêu thích đau khổ vì đau khổ. Nhưng khi cây thập giá đã ở trước mặt, Chúa Giêsu không biến nó thành nơi nguyền rủa mà biến nó thành nơi yêu thương. Người bị đóng đinh nhưng vẫn cầu xin: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người bị lột hết mọi sự nhưng vẫn trao Mẹ mình cho người môn đệ. Người đang hấp hối nhưng vẫn mở cửa thiên đàng cho người trộm biết sám hối. Đó chính là bí mật của Thánh Giá: đau khổ tự nó không cứu ai; tình yêu trong đau khổ mới làm cho cây khổ giá trở thành Thánh Giá.
Và Đức cha Nguyễn Văn Thuận đã bước vào chính trường học ấy. Ngài không thể thay đổi cánh cửa nhà tù, nhưng có thể thay đổi cách mình nhìn những người đứng ngoài cánh cửa ấy. Ngài không thể buộc người canh giữ phải yêu mình, nhưng ngài có thể quyết định yêu họ. Điều này nghe rất đẹp khi chúng ta đọc trong sách, nhưng sống được thì không hề dễ. Yêu một người thương mình đã khó; yêu người nghi ngờ mình, canh giữ mình, hạn chế tự do của mình còn khó gấp bội. Thế nhưng chính ở điểm ấy Kitô giáo mới bắt đầu khác với phản ứng tự nhiên của con người. Chúa Giêsu từng nói: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,44). Câu Tin Mừng ấy nếu chỉ đọc trong nhà thờ có thể nghe rất êm. Nhưng đọc nó trong nhà tù thì hoàn toàn khác. Khi người đang đứng trước mặt mình chính là người đang giữ chìa khóa căn phòng giam, câu “hãy yêu kẻ thù” không còn là một ý tưởng đạo đức. Nó trở thành một cây thập giá.
Đức cha đã chọn con đường ấy. Ngài trò chuyện với những người canh giữ khi có thể. Ngài quan tâm đến họ như những con người chứ không chỉ nhìn họ bằng nhãn “người cai tù”. Ngài không để lòng mình bị đầu độc bởi hận thù. Và chính sự kiên trì yêu thương đó dần dần tạo nên những điều kỳ lạ. Những khoảng cách bắt đầu thay đổi. Những người ban đầu nhìn ngài bằng nghi ngại có thể dần nhận ra trước mặt họ không phải một kẻ thù, nhưng là một con người có một sức bình an khó hiểu. Tình yêu không phải lúc nào cũng làm cho đối phương thay đổi ngay, nhưng trước hết tình yêu cứu chính người yêu khỏi trở thành giống điều mình đang chống lại. Nếu ai đó đối xử tàn nhẫn với ta mà ta cũng để lòng mình trở nên tàn nhẫn, thì người ấy đã thắng thêm một lần nữa. Nếu ai đó làm ta đau rồi ta để nỗi đau biến thành hận thù, nhà tù đã đi từ bên ngoài vào bên trong. Đức cha Nguyễn Văn Thuận không muốn điều ấy. Ngài có thể mất tự do bên ngoài, nhưng không để mất tự do nội tâm. Người khác có thể kiểm soát bước chân của ngài, nhưng không thể quyết định ngài sẽ yêu hay ghét. Đó là một thứ tự do không chế độ nào có thể tịch thu.
Một trong những hình ảnh đẹp nhất gắn với đời tù của ngài là Thánh lễ. Một linh mục có thể mất nhiều thứ, nhưng nỗi đau khi không thể cử hành Thánh Thể như bình thường là một nỗi đau rất riêng. Đức cha đã tìm cách có được chút rượu lễ với lý do như thuốc chữa bệnh dạ dày. Một chút bánh, một chút rượu, những phương tiện nghèo nàn đến mức người ta khó có thể gọi đó là một bàn thờ. Có những lúc ngài cử hành Thánh lễ với vài giọt rượu và chút nước trong lòng bàn tay. Không nhà thờ, không chuông, không đàn, không áo lễ huy hoàng, không cộng đoàn đông đảo. Chỉ có một người tù và Đức Kitô. Nhưng có lẽ chính nơi ấy người ta hiểu sâu hơn bao giờ hết Thánh lễ là gì. Bàn thờ không nhất thiết phải bằng đá cẩm thạch; đôi khi bàn tay run run của một tù nhân cũng có thể trở thành bàn thờ. Nhà thờ không nhất thiết phải có tháp chuông; một phòng giam cũng có thể trở thành cung thánh. Điều làm nên Thánh lễ không phải sự sang trọng bên ngoài, nhưng là Đức Kitô hiến mình. Và khi một người đang mang thập giá cử hành hy tế của Đấng chịu đóng đinh, Thánh lễ và đời sống dường như hòa vào nhau. Người linh mục không chỉ nói: “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con”; chính đời ngài cũng đang bị trao nộp. Không chỉ chén rượu trên tay trở thành Máu Chúa; nước mắt, cô đơn, khắc khoải, chờ đợi và hy sinh của ngài cũng được đặt vào trong chén đời mà dâng lên Thiên Chúa.
Có lẽ nhiều người trong chúng ta đã tham dự hàng ngàn Thánh lễ mà vẫn chưa thực sự nhận ra mình đang có một kho tàng lớn đến mức nào. Ta có nhà thờ đẹp mà dễ chia trí. Ta có ghế ngồi thoải mái mà vẫn thấy một giờ lễ quá dài. Ta có tự do bước vào nhà thờ bất cứ lúc nào nhưng nhiều khi cả tuần chẳng nhớ đến Chúa. Trong khi đó có những người từng phải giữ từng mẩu bánh Thánh trong những điều kiện hết sức thiếu thốn và nguy hiểm. Điều ấy không nhằm làm ta mặc cảm, nhưng để đánh thức lòng biết ơn. Có những điều khi đang có ta tưởng rất bình thường; đến khi mất rồi mới biết đó là ân huệ. Đức cha Nguyễn Văn Thuận đã sống Thánh Thể trong hoàn cảnh mà mọi thứ phụ thuộc bên ngoài gần như đều bị tước đi. Vì thế, điều còn lại hiện lên nguyên tuyền hơn: Đức Giêsu. Và khi Đức Giêsu là đủ, căn phòng giam không còn hoàn toàn là nơi của sự vắng mặt. Có một Đấng ở đó.
Thánh Giá trong tù còn là Thánh Giá của thời gian. Có một loại đau khổ đặc biệt mang tên “chờ đợi”. Chờ nhưng không biết chờ đến bao giờ. Nếu người ta nói với ta rằng chỉ phải chịu một tháng, ta đếm được từng ngày. Nếu người ta nói một năm, ta còn có thể đánh dấu lịch. Nhưng khi tương lai hoàn toàn mù mịt, mỗi buổi sáng là một câu hỏi. Và chính trong tình trạng ấy con người rất dễ bị quá khứ và tương lai xé nát. Quá khứ làm ta tiếc; tương lai làm ta sợ. Đức cha Nguyễn Văn Thuận đã học một linh đạo rất đơn sơ mà sâu sắc: sống phút hiện tại và làm cho phút hiện tại đầy tình yêu. Không phải vì quá khứ không quan trọng, cũng không phải vì tương lai không đáng chuẩn bị, nhưng bởi chỉ có phút hiện tại là nơi ta thực sự gặp được Thiên Chúa. Ngày hôm qua đã đi qua. Ngày mai chưa đến. Hôm nay là phần đời đang nằm trong tay ta. Nếu hôm nay ở trong tù, hãy yêu Chúa trong tù. Nếu hôm nay đau bệnh, hãy yêu Chúa trong bệnh tật. Nếu hôm nay phải chịu một người làm mình khó chịu, hãy sống Tin Mừng với người ấy hôm nay. Nếu hôm nay chỉ có thể làm một việc nhỏ, hãy làm việc nhỏ ấy với tình yêu lớn.
Đó là một linh đạo rất cần cho thời đại chúng ta. Con người hôm nay thường không sống ở nơi mình đang đứng. Thân xác ở bàn cơm nhưng tâm trí ở điện thoại. Đang nói chuyện với người trước mặt nhưng lòng lại chạy đến hàng chục chuyện khác. Đang có một người thân còn sống bên cạnh nhưng chẳng dành thời gian, đến khi người ấy mất mới khóc. Đang khỏe thì tiêu phí sức khỏe, đến lúc nằm bệnh mới ước có thêm một ngày khỏe mạnh. Chúng ta cứ tưởng đời mình nằm ở “ngày mai”: ngày mai tôi sẽ cầu nguyện, ngày mai tôi sẽ xin lỗi, ngày mai tôi sẽ tha thứ, ngày mai tôi sẽ sống tử tế hơn. Nhưng biết bao cái “ngày mai” đã không bao giờ đến. Thánh Giá trong tù dạy Đức cha Nguyễn Văn Thuận và qua ngài dạy chúng ta rằng nơi cứu độ xảy ra luôn là “hôm nay”. Chúa Giêsu nói với người trộm lành: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43). Không phải một ngày xa xôi. “Hôm nay.” Giữa ba cây thập giá, giữa máu và đau đớn, Thiên Đàng đã bắt đầu bằng một chữ “hôm nay”. Nghĩ cho cùng, người trộm lành chẳng còn làm được gì. Anh không thể xuống khỏi thập giá để sửa chữa quá khứ. Không thể trả lại những gì đã lấy. Không thể bắt đầu một cuộc đời mới theo nghĩa thông thường. Anh chỉ còn vài giờ sống. Nhưng anh còn một điều: giây phút hiện tại. Và anh dùng giây phút cuối cùng ấy để quay về với Chúa. Thế là đủ cho một cánh cửa thiên đàng mở ra.
Có lẽ đây cũng là một trong những đoạn Tin Mừng đẹp nhất để soi vào những năm tháng lao tù của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận. Trên đồi Canvê hôm ấy, một người bị đóng đinh bên cạnh Chúa Giêsu đã nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Anh không xin xuống khỏi thập giá. Có lẽ anh biết đã quá muộn để xin điều đó. Anh chỉ xin Chúa nhớ đến mình. Và Chúa đáp bằng một lời lớn hơn cả điều anh dám xin: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Thập giá vẫn còn đó. Đinh vẫn còn đó. Cái chết vẫn đang đến. Nhưng mọi sự đã thay đổi vì giữa đau khổ xuất hiện một tương quan: “ở với tôi”. Bí mật Kitô giáo nằm ở đó. Chúng ta thường cầu xin Chúa lấy thập giá đi. Chúa có thể làm điều ấy, và ta hoàn toàn có quyền cầu xin. Nhưng có những lúc Thánh Giá không được lấy đi ngay. Khi ấy, ân huệ lớn hơn không phải là “không còn thập giá”, nhưng là “có Chúa ở cùng”. Người có Chúa trong nhà tù vẫn có một thứ tự do. Người không có Chúa giữa mọi tiện nghi vẫn có thể là một tù nhân.
Đức cha Nguyễn Văn Thuận đã dần biến nhà tù thành nơi gặp Chúa. Không phải bằng một phép lạ làm tường sập xuống, nhưng bằng phép lạ âm thầm hơn: lòng người không sập xuống. Và phép lạ ấy có khi còn lớn hơn. Ai cũng có thể vui khi được tự do, được khen, được yêu, được thành công. Nhưng giữ được bình an khi bị tước đoạt mới cho thấy bình an ấy đến từ đâu. Ai cũng có thể nói về tha thứ khi chưa bị tổn thương sâu. Nhưng cầu nguyện cho người làm mình đau mới cho thấy Tin Mừng đã đi từ trang sách vào máu thịt. Ai cũng có thể nói “Chúa là tất cả” khi mình vẫn còn đủ mọi thứ. Nhưng đến ngày mọi thứ bị lấy đi mà vẫn nói được “Chúa là tất cả”, câu ấy mới có trọng lượng.
Thánh Giá của Đức Hồng Y không chỉ là tù đày; còn là cảm giác bất lực. Trong đời hoạt động, ta dễ đồng hóa giá trị của mình với những gì mình làm được. Làm được nhiều thì thấy mình có ích; không làm được thì thấy mình vô dụng. Nhưng trước mặt Thiên Chúa, giá trị của một con người không nằm ở năng suất. Một người nằm liệt giường vẫn có giá trị vô cùng. Một cụ già không còn tự chăm sóc được bản thân vẫn có giá trị vô cùng. Một người khuyết tật không làm được những gì xã hội đánh giá cao vẫn có giá trị vô cùng. Một người bị quên lãng trong phòng giam vẫn có giá trị vô cùng. Vì giá trị của họ đến từ việc họ là người được Thiên Chúa yêu, không phải từ việc họ sản xuất được bao nhiêu, kiếm được bao nhiêu hay được bao nhiêu người biết đến. Thánh Giá phá vỡ ảo tưởng rằng đời ta chỉ đáng sống khi ta còn hữu dụng theo tiêu chuẩn thế gian.
Nhiều khi Chúa cho phép một người bước vào giai đoạn chẳng còn làm được gì để người ấy học một điều rất khó: để cho mình được Chúa yêu. Chúng ta thích làm cho Chúa hơn là để Chúa làm trong ta. Thích chứng minh mình có ích hơn là thừa nhận mình nghèo. Thích đứng bằng đôi chân mình hơn là để Chúa bế. Nhưng đến một lúc nào đó trong đời, ai rồi cũng phải học bài học nghèo khó ấy. Tuổi già sẽ dạy. Bệnh tật sẽ dạy. Những thất bại sẽ dạy. Cái chết cuối cùng sẽ dạy. Đức Hồng Y học bài học ấy sớm hơn và khắc nghiệt hơn: không phải lúc nào ngài cũng có thể làm điều mình muốn, nhưng trong từng giây phút ngài vẫn có thể trao mình cho Chúa.
Và thật lạ, chính người tưởng như bị buộc im tiếng lại để lại một tiếng nói vang rất xa. Những suy tư được hình thành từ cảnh tù đày về sau trở thành nguồn nâng đỡ cho biết bao tâm hồn. Những hạt giống mọc trong bóng tối lại sinh hoa trái ở những nơi người gieo không ngờ tới. Đó cũng là quy luật của Thánh Giá. Chúa Giêsu nói: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Hạt lúa dưới đất nhìn như mất rồi. Không ai thấy nó. Không ai vỗ tay. Không ai khen nó. Nó mục đi trong âm thầm. Nhưng chính lúc ấy sự sống đang bắt đầu. Mười ba năm tù của Đức cha Nguyễn Văn Thuận, nếu nhìn bằng tiêu chuẩn hiệu quả tức thời, có thể được coi như mười ba năm bị lấy mất. Nhưng trong chương trình nhiệm mầu của Thiên Chúa, không gì được hiến dâng trong tình yêu lại mất đi. Những năm ấy trở thành một phần quan trọng nhất trong chứng từ của ngài. Có những bài giảng được viết bằng mực. Có những bài giảng được viết bằng nước mắt. Bài giảng của nhà tù thuộc loại thứ hai.
Sau này, khi được tự do, rồi khi phục vụ Giáo Hội hoàn vũ, khi được trao những trách nhiệm lớn và cuối cùng được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nâng lên hàng Hồng Y năm 2001, cây Thánh Giá cũ không biến mất khỏi đời ngài. Những năm tù không phải một chương bị xé bỏ. Chúng trở thành một phần căn tính thiêng liêng của ngài. Con người từng ở nơi thấp nhất lại được trao những sứ vụ cao trọng, nhưng có lẽ điều làm người ta nhớ đến Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận không chủ yếu là phẩm phục đỏ, chức vụ hay những danh xưng. Người ta nhớ đến một tù nhân biết hy vọng. Nhớ một giám mục có thể sống Thánh lễ trong nghèo khó. Nhớ một con người đã không để hận thù thắng mình. Nhớ một chứng nhân nhắc nhân loại rằng sự thánh thiện không đòi một hoàn cảnh lý tưởng.
Điều ấy rất quan trọng. Chúng ta thường trì hoãn nên thánh vì tưởng mình đang sống trong hoàn cảnh không thích hợp. “Gia đình tôi thế này thì làm sao sống đạo?” “Công việc tôi bận thế kia thì làm sao cầu nguyện?” “Người bên cạnh tôi khó quá thì làm sao hiền?” “Tôi bị người ta đối xử bất công thì làm sao tha thứ?” Nhưng nếu phải đợi cuộc đời trở nên hoàn hảo rồi mới nên thánh thì chẳng ai nên thánh cả. Các thánh không sống trong thế giới không có rắc rối. Các ngài nên thánh chính giữa rắc rối. Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận không nên thánh bất chấp nhà tù; có thể nói, ngài để cho chính những năm tù trở thành một phần con đường Thiên Chúa thanh luyện ngài. Không phải vì nhà tù là điều tốt. Bất công vẫn là bất công. Đau khổ vẫn là đau khổ. Nhưng ân sủng có khả năng lấy một hoàn cảnh xấu mà sinh ra trong đó một điều tốt đẹp. Thiên Chúa không cần sự dữ để làm điều thiện, nhưng khi con người ném sự dữ vào đời ta, Thiên Chúa vẫn có thể làm cho tình yêu lớn lên giữa đống đổ nát ấy. Canvê là bằng chứng lớn nhất: con người đóng đinh Con Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa biến chính nơi ấy thành nguồn cứu độ.
Thế nên đừng bao giờ nói rằng đời mình đã hết đường chỉ vì một cánh cửa vừa đóng lại. Trong đời Đức Hồng Y, có những cánh cửa bị khóa thật. Nhưng khi một cánh cửa bị khóa, Thiên Chúa vẫn có thể mở một con đường trong lòng người. Đừng nói “tôi không làm gì được nữa”. Bao lâu còn có thể yêu, ta vẫn còn làm được điều quan trọng nhất. Bao lâu còn có thể cầu nguyện, ta vẫn còn có thể ôm cả thế giới vào lòng. Bao lâu còn có thể tha thứ, ta vẫn còn có thể cắt đứt một dây chuyền hận thù. Bao lâu còn có thể dâng một nỗi đau cho Chúa, đau khổ vẫn chưa phải là tiếng nói cuối cùng.
Có một thứ nhà tù khác đáng sợ hơn phòng giam: nhà tù của quá khứ. Có người được đi lại tự do nhưng đã nhốt mình mười năm, hai mươi năm trong một kỷ niệm đau. Một câu xúc phạm xảy ra từ rất lâu mà ngày nào cũng nhớ. Một người đã mất nhưng lòng vẫn không chấp nhận. Một sự phản bội đã qua nhưng cứ mang theo như một vết thương không cho lành. Có người nhốt mình trong mặc cảm tội lỗi; có người trong đố kỵ; có người trong lòng thù hận. Họ có chìa khóa nhưng không chịu mở cửa. Nhìn Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, ta phải tự hỏi: tôi có đang là tù nhân của điều gì không? Người ta có thể đã làm tôi đau một lần, nhưng tôi có đang tự làm mình đau lại mỗi ngày bằng cách lặp lại nó trong tâm trí không? Người kia có thể đã sai, nhưng tại sao tôi lại giao cả đời mình cho lỗi lầm của họ điều khiển? Tha thứ không nói rằng điều xấu trở thành điều tốt. Tha thứ là nói rằng điều xấu ấy sẽ không còn được quyền thống trị trái tim tôi nữa.
Thánh Giá của Chúa Giêsu chính là nơi mọi nhà tù ấy bắt đầu mở cửa. Trên thập giá, Chúa không thắng bằng cách tiêu diệt kẻ thù; Người thắng bằng cách không để kẻ thù biến Người thành kẻ hận thù. Người ta làm nhục Người, Người không làm nhục lại. Người ta đóng đinh Người, Người cầu xin tha thứ. Người ta lấy áo Người, Người vẫn trao ban Mẹ mình. Người ta lấy mạng sống Người, Người biến chính mạng sống ấy thành quà tặng. Đây là quyền lực của Thánh Giá. Không phải quyền lực ép buộc, mà là quyền lực của tình yêu không chịu biến thành hận thù.
Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã học thứ quyền lực ấy trong nhà tù. Vì vậy, Thánh Giá trong tù không phải chuyện riêng của một thời kỳ lịch sử. Nó là câu hỏi dành cho từng người hôm nay: khi đời không như mình muốn, mình sẽ trở thành người như thế nào? Khi bị hiểu lầm, mình sẽ trở nên cay độc hay sâu sắc hơn? Khi bị phản bội, mình sẽ đóng cửa lòng hay học cách yêu trưởng thành hơn? Khi bệnh tật đến, mình sẽ chỉ hỏi “tại sao là tôi?” hay dần dần có thể hỏi “Lạy Chúa, trong hoàn cảnh này, Chúa muốn con yêu thế nào?” Khi một kế hoạch sụp đổ, mình có nghĩ rằng Thiên Chúa đã bỏ mình hay có đủ đức tin để nói rằng có lẽ Người đang dẫn mình qua một con đường khác?
Đức tin không bảo ta giả vờ rằng đau không đau. Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu đã buồn đến chết được. Người cầu xin nếu có thể thì chén đắng được cất đi. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Không ai phải đi tìm thập giá một cách bệnh hoạn. Khi có thể chữa bệnh, hãy chữa. Khi có thể chấm dứt bất công, hãy làm. Khi có thể giúp người đang đau thoát khỏi hoàn cảnh đau, hãy giúp. Nhưng có những cây thập giá dù ta đã làm tất cả vẫn còn đó. Và lúc ấy, câu hỏi không còn là “làm sao để không đau”, mà là “làm sao để đau khổ này không làm tôi mất tình yêu”.
Đây có lẽ là một trong những nét đẹp nhất nơi Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận. Nhà tù có thể làm con người co lại trong chính nỗi đau mình. Nhưng ngài vẫn nghĩ đến người khác. Sự đau khổ không được phép trở thành lý do để mình ích kỷ. Đau khổ đúng nghĩa Kitô giáo phải làm trái tim rộng ra. Nếu sau một thử thách ta thương người khác hơn, hiểu người đau hơn, bớt phán xét hơn, biết quý những điều nhỏ hơn, biết cảm thông hơn, cây thập giá ấy đã bắt đầu sinh hoa trái. Còn nếu sau đau khổ ta trở nên cứng cỏi, cay nghiệt, khinh người, muốn người khác cũng đau như mình, thì nỗi đau vẫn chưa được cứu chuộc trong lòng ta.
Chúng ta cần học nơi ngài nghệ thuật biến nhà tù thành nơi truyền giáo. Không nhất thiết bằng lời. Nhiều lúc lời nói bị hạn chế, nhưng đời sống vẫn nói. Người ta có thể cấm một bài giảng, nhưng khó cấm một ánh mắt hiền. Có thể lấy sách đi, nhưng không lấy được lòng bác ái. Có thể ngăn một linh mục đứng trên tòa giảng, nhưng không thể ngăn ngài biến cả cuộc đời thành bài giảng. Thật ra bài giảng mạnh nhất luôn là đời sống. Người ta có thể tranh luận với giáo lý của ta, nhưng khó tranh luận với một người bị xúc phạm mà vẫn tử tế, một người chịu đau mà vẫn hy vọng, một người có quyền trả thù nhưng chọn tha thứ. Đó là Tin Mừng bằng xương bằng thịt.
Ngày nay chúng ta có vô số phương tiện để truyền giáo. Điện thoại, mạng xã hội, video, sách báo, âm thanh, hình ảnh. Tất cả đều quý nếu dùng đúng. Nhưng đừng quên phương tiện đầu tiên và cuối cùng vẫn là một đời sống được biến đổi. Một người Công giáo đi lễ đều mà về nhà cay nghiệt thì khó thuyết phục ai tin vào Tin Mừng. Một người nói nhiều về Chúa nhưng không tha thứ thì lời nói trở nên nhẹ. Một người mang thánh giá trên cổ mà lại đóng đinh người khác bằng lời nói thì cây thánh giá ấy chỉ còn là trang sức. Thánh Giá chỉ thật sự được suy tôn khi đời ta bắt đầu có dáng của Đấng chịu đóng đinh.
Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã đi qua tù đày và về sau còn đi qua bệnh tật. Ngài qua đời tại Rôma ngày 16 tháng 9 năm 2002. Một cuộc đời nhìn bề ngoài đã trải qua biết bao biến động. Nhưng có một sợi chỉ chạy xuyên suốt tất cả: hy vọng. Không phải thứ lạc quan dễ dãi kiểu “mọi chuyện rồi sẽ ổn” mà người ta nói để tự trấn an. Hy vọng Kitô giáo sâu hơn nhiều. Có những chuyện trên đời này không “ổn” theo nghĩa ta mong. Có người bệnh không khỏi. Có người không bao giờ lấy lại điều đã mất. Có những bất công ở đời này không được sửa chữa trọn vẹn. Hy vọng Kitô giáo không dựa trên việc hoàn cảnh nhất định phải đổi theo ý ta. Nó dựa trên việc Thiên Chúa trung tín. Thánh Giá dẫn tới Phục Sinh, nhưng không phải vì chiều Thứ Sáu tự nhiên đẹp lên. Thứ Sáu vẫn đẫm máu. Ngôi mộ vẫn đóng lại. Người môn đệ vẫn khóc. Nhưng Thiên Chúa vẫn đang làm việc trong sự im lặng của ngày Thứ Bảy.
Có những giai đoạn đời ta cũng giống Thứ Bảy Tuần Thánh. Chúa dường như im lặng. Cầu nguyện không thấy gì. Tương lai không rõ. Cửa mồ còn đóng. Nếu đang sống trong những ngày ấy, hãy nhớ đến Đức Hồng Y trong phòng giam. Có những lúc không cần làm điều gì vĩ đại. Chỉ cần đừng bỏ Chúa. Chỉ cần hôm nay vẫn cầu nguyện. Hôm nay vẫn không nuôi hận. Hôm nay vẫn sống tử tế. Hôm nay vẫn làm một việc nhỏ với tình yêu. Có thể ta chưa thấy Phục Sinh, nhưng điều ấy không có nghĩa Phục Sinh không đến.
Thánh Giá trong tù của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận cuối cùng đặt trước chúng ta một câu hỏi rất riêng: cây thập giá của tôi hôm nay là gì? Đừng trả lời bằng lý thuyết. Có lẽ ta biết rất rõ tên của nó. Có thể đó là một người. Có thể một căn bệnh. Một món nợ. Một đứa con. Một cuộc hôn nhân đầy vết xước. Một sự cô độc không ai hiểu. Một tội lỗi đã thú nhận nhưng ta vẫn không tha cho chính mình. Một ơn gọi đang khô khan. Một công việc không còn niềm vui. Một tuổi già đi vào buổi chiều. Một cái chết của người thân vẫn còn khoảng trống. Một điều ta cầu xin nhiều năm mà Chúa vẫn im lặng. Đó là cây thập giá của ta. Câu hỏi không phải chỉ là bao giờ nó được lấy đi. Câu hỏi sâu hơn là: ta sẽ để Chúa làm gì trong ta qua cây thập giá ấy?
Có thể Chúa chưa cất nó đi vì Người đang muốn dạy ta một thứ tự do sâu hơn. Có thể Người đang dạy ta buông một điều ta bám quá chặt. Có thể Người đang làm mềm một trái tim từng cứng. Có thể Người đang cho ta hiểu nỗi đau của người khác. Có thể Người đang thanh luyện niềm tin của ta khỏi thứ đức tin chỉ yêu Chúa khi Chúa làm theo ý mình. Và cũng có thể ta chẳng hiểu gì cả. Trong trường hợp ấy, ta vẫn có thể làm điều Đức Hồng Y đã làm: trao phút hiện tại cho Chúa.
Không phải mọi câu hỏi đều được trả lời trong đời này. Đức tin không phải sở hữu toàn bộ lời giải. Đức tin là nắm lấy một bàn tay ngay cả khi chưa thấy con đường. Trên Canvê, Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá mà không được giải thích điều gì. Mẹ chỉ đứng đó. Có những lúc đời sống thiêng liêng cao nhất không phải là hiểu, mà là đứng lại với Chúa. Không chạy. Không bỏ. Không nguyền rủa. Không để tình yêu chết.
Nhìn lại cuộc đời Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, ta nhận ra nhà tù đã không có tiếng nói cuối cùng. Những bức tường từng giới hạn thân xác ngài hôm nay đã biến mất, nhưng chứng tá phát sinh từ nơi ấy vẫn tiếp tục đi xa. Người từng bị buộc phải sống trong âm thầm đã trở thành tiếng nói của hy vọng cho nhiều người. Đó là nghịch lý quen thuộc của Thiên Chúa. Ngài thích gieo hạt trong những nơi con người tưởng chẳng còn gì mọc được. Ngài làm Abraham trở thành cha của một dân đông đảo khi ông đã già. Ngài gọi Môsê khi Môsê nghĩ mình không biết nói. Ngài chọn Đavít nhỏ bé. Ngài làm Con Thiên Chúa sinh ra trong máng cỏ. Ngài cứu thế giới bằng một cây thập giá. Vì vậy, đừng quá nhanh kết luận về một giai đoạn tối trong đời mình. Chỗ ta gọi là “kết thúc” có khi Thiên Chúa gọi là “hạt giống”.
Và xin đừng chỉ ngưỡng mộ Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận như một nhân vật lớn rồi khép câu chuyện lại. Các chứng nhân được ban cho Giáo Hội không phải chỉ để ta khen, nhưng để ta soi mình. Có thể chúng ta chẳng bao giờ bị giam trong một nhà tù giống ngài. Nhưng mỗi ngày đều có cơ hội để sống linh đạo của nhà tù ấy: khi bị hiểu lầm mà không trả đũa; khi mệt nhưng vẫn tử tế; khi cầu nguyện dù không cảm thấy gì; khi âm thầm tha thứ; khi chấp nhận làm bổn phận không ai biết; khi ngưng than trách về điều mình không thể đổi và bắt đầu yêu trong điều đang có; khi biến một bữa cơm gia đình thành nơi hiện diện thật sự; khi đến với Thánh lễ không như một thói quen nhưng như người đói tìm bánh; khi đặt Chúa trên công việc của Chúa; khi chọn Chúa thay vì chọn thành công.
Thế giới hôm nay rất thích những con đường không có thập giá. Người ta quảng cáo mọi thứ phải nhanh, tiện, dễ, thoải mái. Nhưng đời thật không như quảng cáo. Ai yêu cũng sẽ có lúc đau. Ai sống cũng sẽ mất. Ai trung thành với một ơn gọi cũng phải từ bỏ. Ai đi đến cuối đời cũng phải bước qua sự nghèo đi từng ngày của thân xác. Không thể loại bỏ thập giá khỏi kiếp người. Câu hỏi là thập giá ấy sẽ làm gì với chúng ta. Nó sẽ nghiền nát ta hay trở thành nơi ta gặp Đức Kitô? Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã trả lời bằng cuộc đời mình: nếu có Chúa, ngay nhà tù cũng có thể trở thành nơi tự do; nếu có tình yêu, ngay hy sinh cũng có thể sinh hoa trái; nếu có hy vọng, ngay đêm dài cũng không phải vĩnh viễn.
Có một hình ảnh rất đẹp để kết lại. Hãy tưởng tượng một căn phòng giam tối. Không cung thánh. Không tiếng chuông. Không cộng đoàn. Không ai biết ngoài vài người canh giữ. Trong căn phòng ấy, một người tù giơ bàn tay mình lên. Trong lòng bàn tay chỉ có một chút bánh, vài giọt rượu. Những lời truyền phép được đọc rất nhỏ. Và giữa nơi tưởng như Thiên Chúa vắng mặt nhất, Đấng Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta – lại hiện diện. Đó chính là Kitô giáo. Không có nơi nào quá tối để Chúa không thể bước vào. Không có nhà tù nào quá kín để Thánh Thể không thể trở thành nguồn sống. Không có đời người nào quá tan vỡ để ân sủng không thể bắt đầu lại. Không có cây thập giá nào quá nặng đến mức Chúa Giêsu không thể đặt vai Người bên dưới.
Nếu hôm nay ai đó đang mệt, hãy nhìn lên Thánh Giá. Nếu ai đó đang bị hiểu lầm, hãy nhìn lên Thánh Giá. Nếu ai đó thấy đời mình như một căn phòng đóng kín, hãy nhớ đến Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận. Đừng hỏi ngay bao giờ cửa mở. Trước hết hãy hỏi: “Lạy Chúa, Chúa đang ở đâu trong căn phòng này?” Và rồi có thể ta sẽ nghe câu trả lời rất khẽ: “Thầy ở đây.”
Ở đây, trong nước mắt của con.
Ở đây, trong đêm con không ngủ.
Ở đây, trong lời cầu nguyện con tưởng chẳng ai nghe.
Ở đây, trong người con rất khó tha thứ.
Ở đây, trong tấm bánh nhỏ trên bàn thờ.
Ở đây, trên cây thập giá con đang muốn chạy trốn.
Và nếu Chúa ở đó, thì không nơi nào hoàn toàn là địa ngục. Nếu Chúa ở đó, vẫn còn hy vọng. Nếu Chúa ở đó, Thánh Giá không còn chỉ là gỗ của khổ đau mà trở thành cây của sự sống. Đó là bài học từ nhà tù của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Một bài học không được viết trước hết bằng chữ, nhưng bằng mười ba năm của một đời người. Một bài học nói với chúng ta rằng đức tin không phải là bảo đảm sẽ chẳng bao giờ bước vào đêm tối; đức tin là biết rằng trong đêm tối vẫn có Một Đấng đang đi cùng mình. Hy vọng không phải là chắc chắn ngày mai sẽ dễ hơn; hy vọng là chắc chắn rằng ngày mai, dù xảy ra điều gì, Thiên Chúa vẫn trung tín. Và nên thánh không phải là không có thập giá; nên thánh là để tình yêu của Đức Kitô biến cây thập giá của đời mình thành nơi trao hiến.
Cuối cùng, đứng trước chứng tá của Đức Hồng Y, có lẽ chúng ta không cần nói nhiều nữa. Chỉ cần cúi đầu trước cây Thánh Giá và cầu xin một điều rất đơn sơ: “Lạy Chúa, con không xin Chúa cho đời con không có thập giá. Con chỉ xin khi thập giá đến, đừng để con vác nó một mình. Khi con bị tổn thương, xin đừng để lòng con trở thành cay độc. Khi con bị lấy mất một điều quý giá, xin đừng để con quên rằng con vẫn còn Chúa. Khi cửa này đóng lại, xin cho con nhận ra một cánh cửa khác đang mở trong lòng. Khi con không còn làm được điều lớn, xin dạy con làm điều nhỏ với tình yêu lớn. Khi con không hiểu đường Chúa, xin cho con vẫn tin. Khi đêm xuống quá sâu, xin cho con nhớ rằng bình minh không phải do con tạo ra. Và khi cây thập giá của đời con trở nên quá nặng, xin cho con nhìn thấy dấu chân của một người tù năm xưa đã đi qua đêm tối mà vẫn giữ được hy vọng, để con hiểu rằng: người ta có thể bị cầm tù, nhưng hy vọng thì không; người ta có thể bị tước đoạt nhiều thứ, nhưng không ai có thể lấy Đức Kitô khỏi một trái tim đã chọn Người.”
Lm. Anmai, CSsR

CÁC VỊ TỬ ĐẠO VIỆT NAM VÀ THÁNH GIÁ
Có những trang sử được viết bằng mực, có những trang sử được viết bằng nước mắt, và cũng có những trang sử không thể viết bằng gì khác ngoài máu. Lịch sử Hội Thánh Việt Nam có những trang như thế. Đó không phải là những trang sử để chúng ta đọc rồi tự hào theo kiểu người đời tự hào về những chiến công của cha ông, càng không phải để chúng ta nhìn về quá khứ rồi kể lại những cực hình như những chuyện đau thương xa xưa. Đó là những trang Tin Mừng đã được viết bằng chính cuộc đời của những con người Việt Nam bình thường, những linh mục, thầy giảng, chủng sinh, quan lại, binh lính, nông dân, người cha trong gia đình, người mẹ giữa đời thường; những người cũng biết đau, biết sợ, biết thương vợ nhớ con, biết quyến luyến mái nhà, biết khát sống như bất cứ ai, nhưng đến giờ phải chọn giữa Đức Kitô và mạng sống mình, họ đã ôm lấy Thánh Giá. Nhìn vào các vị tử đạo Việt Nam, ta mới hiểu rằng Thánh Giá không phải chỉ là cây gỗ treo trên cung thánh, không phải món đồ trang sức trên ngực, cũng không chỉ là dấu ta làm trên mình mỗi sáng tối. Thánh Giá là một chọn lựa. Thánh Giá là giờ phút con người phải quyết định điều gì quý nhất trong đời mình. Thánh Giá là lúc đức tin không còn là lời đọc trên môi mà trở thành giá máu. Thánh Giá là khi người môn đệ có thể mất hết mọi thứ nhưng nhất quyết không để mất Chúa.
Người Kitô hữu Việt Nam hôm nay bước vào nhiều ngôi nhà thờ và nhìn thấy Thánh Giá được đặt ở vị trí trang trọng. Chúng ta cúi đầu, bái gối, làm dấu Thánh Giá rất dễ dàng. Nhưng đã có một thời trên quê hương này, chỉ cần công khai nhận mình là Kitô hữu đã có thể phải trả giá. Có những lúc người ta đặt một cây thập giá xuống đất và buộc tín hữu bước qua. Chỉ một bước chân thôi. Chỉ cần bước qua là có thể trở về nhà. Chỉ cần bước qua là khỏi tù. Chỉ cần bước qua là được gặp vợ, gặp chồng, gặp con. Chỉ cần bước qua là khỏi những roi đòn, gông cùm, đói rét và cả cái chết đang chờ phía trước. Người ta đâu bắt phải viết một cuốn sách chối đạo. Người ta cũng chẳng đòi phải đứng giữa công đường mà nguyền rủa Đức Kitô. Đôi khi chỉ một bước chân. Một bước rất nhỏ đối với thân xác, nhưng lại là vực thẳm đối với lương tâm. Và chính trong khoảnh khắc ấy, vẻ đẹp của các vị tử đạo hiện lên. Có những người chân đã kiệt sức, thân thể đã đầy thương tích, lòng nhớ gia đình như xé ruột, nhưng vẫn không thể đặt chân lên Thánh Giá. Bởi họ hiểu rằng dưới chân mình không phải chỉ là hai thanh gỗ. Đó là dấu của Đấng đã chết cho mình. Đạp lên Thánh Giá nghĩa là họ cảm thấy mình đang đạp lên chính tình yêu đã cứu họ. Họ có thể chịu người khác đạp lên thân mình, nhưng không thể tự mình đạp lên Đấng đã yêu mình đến chết.
Ta phải dừng thật lâu ở điểm này mới hiểu được đức tin của cha ông mình lớn đến mức nào. Chúng ta thường tưởng rằng tử đạo là chuyện của những con người phi thường, những tâm hồn gần như không biết sợ. Không phải vậy. Nếu các ngài không biết sợ thì cái chết của các ngài đâu còn mang hết chiều sâu của một hy lễ. Các ngài là con người. Roi đánh vẫn đau. Gông cùm vẫn nặng. Đói vẫn cồn cào ruột gan. Một đêm lạnh trong ngục vẫn dài. Nỗi nhớ người thân vẫn làm lòng người thắt lại. Trước cái chết, trái tim tự nhiên của con người vẫn run. Đức tin không biến các ngài thành đá. Đức tin cũng không làm thần kinh các ngài mất cảm giác. Điều kỳ diệu nằm ở chỗ các ngài sợ mà vẫn trung thành, đau mà vẫn yêu, yếu mà vẫn đứng vững, nhớ nhà mà vẫn không bỏ Chúa. Can đảm Kitô giáo không phải là không sợ. Can đảm Kitô giáo là giữa nỗi sợ vẫn chọn Đức Kitô. Vì vậy, đừng nhìn các thánh tử đạo như những nhân vật quá xa chúng ta. Nếu ta biến các ngài thành những pho tượng không biết khóc, ta đã làm mất vẻ đẹp của các ngài. Chính vì các ngài rất người mà sự trung tín của các ngài mới đẹp đến thế.
Tin Mừng đã từng ghi lại một lời của Chúa Giêsu, và lời ấy dường như vang lên đặc biệt rõ ràng trong lịch sử tử đạo của Hội Thánh Việt Nam: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (x. Mc 8,34-35). Khi Chúa Giêsu nói lời ấy, các môn đệ chưa hiểu hết. Phêrô vừa nghe Chúa báo trước cuộc thương khó đã kéo Người ra và trách Người. Phêrô muốn một Đấng Messia chiến thắng chứ không muốn một Đấng Messia bị đóng đinh. Phêrô yêu Chúa nhưng chưa hiểu đường của Chúa. Và chính lúc ấy Đức Giêsu nói về Thánh Giá. Chúa không nói: ai muốn theo Ta thì tìm cho mình một đời dễ chịu. Chúa không hứa: ai theo Ta sẽ được miễn đau khổ. Người nói rất rõ: “vác thập giá mình mà theo”. Các vị tử đạo Việt Nam đã làm cho câu Tin Mừng ấy trở thành thịt, thành máu, thành đời sống ngay trên quê hương mình. Khi cổ mang gông, các ngài đã vác thập giá. Khi chân mang xiềng, các ngài đã vác thập giá. Khi bị tách khỏi gia đình, các ngài đã vác thập giá. Khi bị dụ dỗ chỉ cần một hành động nhỏ để được sống, các ngài đã vác thập giá. Và khi bước đến pháp trường, các ngài đã đi những bước cuối cùng phía sau Đức Giêsu trên đường lên Canvê.
Có lẽ điều khiến chúng ta xúc động nhất không phải chỉ là các vị tử đạo đã chết thế nào, nhưng là các ngài đã sống thế nào trong những ngày trước khi chết. Cái chết chỉ kéo dài một khoảnh khắc, nhưng lòng trung thành nhiều khi phải kéo dài hàng tháng, hàng năm trong lao tù, thiếu thốn và bất định. Một nhát gươm có thể kết thúc đời người rất nhanh, nhưng sự chờ đợi trước cái chết mới là thử thách khủng khiếp. Mỗi sáng thức dậy không biết hôm nay mình có bị gọi tên ra pháp trường không. Mỗi đêm nằm xuống không biết còn thấy bình minh nữa không. Nghe một tiếng chân ngoài hành lang cũng có thể nghĩ rằng giờ của mình đã đến. Trong hoàn cảnh ấy, người ta có rất nhiều thời gian để nghĩ đến chuyện bỏ cuộc. Chỉ cần nói một lời. Chỉ cần làm một cử chỉ. Chỉ cần nhượng bộ một lần. Thế nhưng chính trong những ngày dài ấy, các vị tử đạo đã học nhìn Thánh Giá không phải bằng con mắt của bản năng nhưng bằng con mắt của đức tin. Người đời nhìn Thánh Giá thấy thất bại; các ngài nhìn Thánh Giá thấy Đức Kitô. Người đời nhìn cái chết thấy chấm hết; các ngài nhìn cái chết thấy cửa mở. Người đời nghĩ mất mạng là mất tất cả; các ngài tin rằng mất Chúa mới thực sự là mất tất cả.
Thánh Giá của các vị tử đạo Việt Nam còn đẹp ở chỗ đó không phải là một thứ anh hùng chủ nghĩa để chứng minh rằng mình gan dạ hơn người. Người tử đạo Kitô giáo không chết vì muốn trở thành anh hùng. Họ cũng không chết vì khinh thường sự sống. Ngược lại, chính vì biết sự sống quý mà việc hiến dâng sự sống càng có giá trị. Họ không tìm cái chết. Hội Thánh chẳng bao giờ dạy người ta đi tìm đau khổ hay khát khao bị giết. Nhưng khi cái chết được đặt trước mặt như cái giá phải trả để không phản bội Đức Kitô, họ chấp nhận. Đây là khác biệt vô cùng quan trọng. Một người tử đạo không chết vì yêu cái chết; người tử đạo chết vì có một Tình Yêu lớn hơn nỗi sợ chết. Các ngài không khước từ sự sống; các ngài chọn sự sống đời đời. Các ngài không căm ghét trần gian; các ngài yêu Thiên Chúa hơn tất cả những gì trần gian có thể trao.
Khi suy niệm cuộc tử đạo của Thánh Anrê Dũng Lạc, Thánh Phêrô Trương Văn Thi, Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh, Thánh Tôma Thiện, Thánh Phaolô Tống Viết Bường, Thánh Micae Hồ Đình Hy, Thánh Matthêu Lê Văn Gẫm và biết bao chứng nhân khác, ta nhìn thấy rất nhiều khuôn mặt khác nhau nhưng chỉ một Thánh Giá. Có vị là linh mục, có vị là quan trong triều, có vị là binh sĩ, có vị là thương gia, có vị còn rất trẻ, có vị đã có gia đình. Đức tin không xóa đi sự khác biệt của cuộc đời họ, nhưng Thánh Giá nối tất cả họ lại với nhau. Người trí thức cũng quỳ dưới Thánh Giá. Người ít học cũng quỳ dưới Thánh Giá. Người giàu cũng quỳ dưới Thánh Giá. Người nghèo cũng quỳ dưới Thánh Giá. Trước Thánh Giá, mọi danh dự trần gian trở nên nhỏ bé. Người ta có thể có chức quyền hôm nay và mất ngày mai. Có thể có tiền hôm nay và trắng tay ngày mai. Có thể khỏe hôm nay và bệnh ngày mai. Nhưng Đức Kitô, một khi đã được chọn là kho tàng lớn nhất của đời người, thì chẳng có nhà tù nào tước được, chẳng có xiềng xích nào trói được, chẳng có bản án nào lấy đi được.
Đọc cuộc đời các vị tử đạo, có khi ta tự hỏi: sức mạnh ấy từ đâu mà có? Chắc chắn không phải từ ý chí con người mà thôi. Ý chí con người có giới hạn. Ai cũng có lúc mệt. Ai cũng có lúc chao đảo. Nếu chỉ dựa vào khí phách, không ai dám chắc mình đứng vững đến cùng. Sức mạnh của các vị tử đạo đến từ chính Đức Kitô chịu đóng đinh. Người đã đi trước họ. Đó là điều hết sức quan trọng. Kitô hữu không bao giờ vác một thập giá mà Chúa Giêsu chưa từng chạm đến. Trước khi có những nhà tù của các vị tử đạo Việt Nam, đã có đêm Chúa Giêsu bị bắt. Trước những lời vu khống đổ trên đầu các ngài, Chúa đã từng bị tố cáo gian. Trước những roi đòn của các ngài, lưng Chúa đã từng rách dưới làn roi. Trước khi thân xác các ngài bị kéo lê, Chúa đã từng ngã dưới cây Thập Giá. Trước khi các ngài nghe bản án chết, Chúa đã từng nghe đám đông kêu: “Đóng đinh nó đi!” Trước khi các ngài cô đơn trong phút cuối, Đức Giêsu đã kêu lên trên Thập Giá: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Vì vậy, các vị tử đạo không đi vào một con đường xa lạ. Họ bước vào dấu chân đã có sẵn của Thầy.
Đây cũng là nét đẹp nhất của linh đạo Thánh Giá: người Kitô hữu không yêu đau khổ vì đau khổ. Kitô hữu yêu Đức Kitô trong đau khổ. Nếu tách Đức Kitô ra khỏi Thánh Giá, ta chỉ còn một dụng cụ hành hình. Nhưng vì trên Thánh Giá có Đức Kitô nên cây gỗ chết chóc đã trở thành cây sự sống. Các vị tử đạo không ôm lấy đòn roi; các ngài ôm lấy Đức Kitô đang ở trong đòn roi. Các ngài không ôm nhà tù; các ngài tìm thấy Đức Kitô trong nhà tù. Các ngài không yêu cảnh chia lìa; các ngài yêu Đức Kitô hơn cả nỗi đau chia lìa. Và khi hiểu như thế, chúng ta mới hiểu tại sao có những tâm hồn trong cảnh tù đày vẫn bình an. Cánh cửa nhà tù có thể khóa thân xác, nhưng không khóa được một linh hồn đã thuộc trọn về Chúa.
Một trong những cám dỗ lớn nhất đối với người Kitô hữu là tưởng rằng nếu Thiên Chúa yêu mình thì đời mình phải ít thập giá. Ta cầu xin, rồi khi bệnh vẫn còn ta buồn. Ta sống tốt, nhưng bị hiểu lầm, ta trách. Ta đi lễ, đọc kinh, rồi gia đình vẫn có chuyện, ta hỏi Chúa ở đâu. Ta tưởng lòng đạo đức phải là một hợp đồng với Thiên Chúa: con sống tốt thì Chúa phải làm cho đời con êm. Các vị tử đạo phá tan cái ảo tưởng ấy. Nếu cứ dựa vào tiêu chuẩn “được Chúa yêu thì phải được yên ổn”, các ngài là những người bị Thiên Chúa bỏ rơi nhất. Nhưng chính họ lại là những người được kết hợp sâu xa nhất với Đức Kitô. Điều này buộc ta phải thay đổi cách nhìn về đau khổ. Không phải mọi đau khổ đều do Chúa gửi đến. Không phải bất công, bạo lực và sự dữ là điều Chúa muốn. Nhưng Thiên Chúa có thể bước vào ngay chính nơi đau khổ ấy và biến nó thành nơi gặp gỡ. Con người làm ra thập giá, nhưng Thiên Chúa có thể biến thập giá thành con đường cứu độ. Đó chính là điều đã xảy ra trên đồi Canvê.
Thánh Giá cũng dạy chúng ta rằng lòng trung thành được chuẩn bị từ những chuyện rất nhỏ. Không ai sáng ngủ dậy bỗng nhiên trở thành tử đạo. Một người có thể đứng vững trước cái chết là vì trước đó đã học đứng vững trước hàng ngàn cám dỗ nhỏ. Các vị tử đạo đã cầu nguyện trước khi bị bắt. Các ngài đã tham dự Thánh Lễ trước khi bước vào ngục. Các ngài đã tập yêu Chúa trong những ngày bình thường trước khi phải chọn Chúa trong ngày quyết định. Đây là bài học quan trọng cho chúng ta. Có người nghe chuyện tử đạo rồi tự hỏi: “Nếu ngày ấy đến, không biết tôi có dám chết cho Chúa không?” Câu hỏi ấy không sai, nhưng có một câu hỏi gần hơn: “Hôm nay tôi có dám sống cho Chúa không?” Bởi tử đạo không bắt đầu ở pháp trường. Tử đạo bắt đầu ở căn bếp, bàn làm việc, phòng ngủ, xứ đạo, cộng đoàn, gia đình. Tử đạo bắt đầu khi ta từ bỏ một lời gian dối dù nói dối có lợi cho mình. Tử đạo bắt đầu khi ta từ bỏ một mối quan hệ tội lỗi dù lòng còn quyến luyến. Tử đạo bắt đầu khi ta trả lại thứ không thuộc về mình dù không ai phát hiện. Tử đạo bắt đầu khi ta tha thứ dù lòng bị tổn thương. Tử đạo bắt đầu khi ta giữ lời hứa hôn nhân trong những ngày tình cảm nguội lạnh. Tử đạo bắt đầu khi một linh mục trung thành với đời sống cầu nguyện giữa trăm thứ công việc. Tử đạo bắt đầu khi một tu sĩ tiếp tục sống lời khấn giữa những khô khan. Tử đạo bắt đầu khi một người trẻ dám nói không với điều cả nhóm đang làm sai. Những cuộc tử đạo không đổ máu ấy chính là trường học chuẩn bị một con tim thuộc về Chúa.
Có điều đáng suy nghĩ: ngày xưa, người ta đặt Thánh Giá dưới đất để ép Kitô hữu bước qua. Ngày nay, có thể chẳng ai đặt một cây Thánh Giá bằng gỗ trước chân chúng ta nữa, nhưng biết bao lần cuộc đời vẫn đặt trước chúng ta cùng một lựa chọn. Chỉ khác là hình thức tinh tế hơn. “Chỉ một lần gian dối thôi, ai biết đâu.” “Chỉ một chút tiền không sạch thôi, ai chẳng làm.” “Chỉ một lần phản bội thôi.” “Chỉ một lần im lặng trước bất công thôi.” “Chỉ một lần bỏ nguyên tắc để giữ chức vụ thôi.” “Chỉ một lần chiều lòng người ta để khỏi mất lợi ích thôi.” Những lời ấy nghe rất giống: “Chỉ bước qua Thánh Giá một lần thôi.” Và nhiều khi chúng ta đã bước qua mà chẳng hay. Không có tiếng trống pháp trường. Không có quân lính. Không có bản án. Nhưng lương tâm biết. Đức Kitô biết. Có những người không chối Chúa bằng miệng nhưng lại chối Chúa bằng cách sống. Có người mang Thánh Giá trên cổ nhưng trong việc làm ăn lại đạp lên sự thật. Có người treo Thánh Giá trong nhà nhưng trong chính gia đình lại làm tổn thương nhau bằng bạo lực, ích kỷ và lạnh lùng. Có người đọc kinh trước Thánh Giá nhưng sẵn sàng chà đạp danh dự người khác. Nếu vậy, Thánh Giá chỉ còn là đồ trang trí chứ chưa trở thành Tin Mừng.
Các vị tử đạo Việt Nam nhắc chúng ta rằng đức tin không phải chuyện trang trí cho cuộc đời. Đức tin đòi hỏi toàn bộ con người. Đức tin chạm đến tiền bạc, danh dự, nghề nghiệp, tình cảm, quan hệ, chọn lựa, lời nói, hành vi. Chúa Giêsu không xin một góc trong đời ta. Người xin cả trái tim. Các vị tử đạo hiểu điều ấy nên khi người ta đòi các ngài giữ mạng sống bằng cách bỏ Chúa, các ngài không thể. Không phải vì các ngài xem thường gia đình hay trách nhiệm, nhưng vì nếu đánh mất nền tảng sâu nhất của đời mình thì mọi thứ khác rồi cũng mất ý nghĩa. Chúng ta thường nói: “Đạo tại tâm.” Câu ấy đúng nếu tâm thực sự thuộc về Chúa. Nhưng nếu dùng “đạo tại tâm” như cái cớ để đức tin không bao giờ ảnh hưởng tới đời sống, thì đó không còn là đức tin của các vị tử đạo. Đức tin trong tim phải đi xuống bàn tay, bước chân, lời nói và chọn lựa.
Các vị tử đạo cũng cho ta hiểu một điều rất đẹp: Thánh Giá không sản sinh hận thù. Nếu một người chịu đau khổ mà trở nên cay độc, Thánh Giá vẫn chưa được đón nhận theo tinh thần Đức Kitô. Trên Thập Giá, Chúa Giêsu cầu nguyện cho những kẻ giết mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Đây là đỉnh cao của Thánh Giá. Không chỉ chịu đau, mà còn yêu ngay giữa đau. Không chỉ không trả thù, mà còn cầu nguyện cho người làm mình đau. Các vị tử đạo Kitô giáo bước theo con đường ấy. Đó là lý do Giáo Hội kính nhớ họ như chứng nhân tình yêu chứ không dựng họ thành biểu tượng cho sự căm thù. Nếu hôm nay chúng ta mừng các thánh tử đạo rồi dùng lịch sử đau thương để nuôi lòng oán ghét, chúng ta đã phản bội chính các ngài. Máu tử đạo không kêu gọi trả thù. Máu tử đạo kêu gọi hòa giải. Thánh Giá không làm con người chia rẽ. Thánh Giá phá đổ bức tường hận thù.
Thật đáng buồn nếu người Công giáo Việt Nam rất kính các thánh tử đạo nhưng lại không biết tha thứ. Chúng ta có thể tổ chức lễ rất long trọng, rước kiệu rất trang nghiêm, hát những bài ca rất hùng tráng, nhưng nếu về nhà vẫn giữ một mối hận mười năm, hai mươi năm, thì ta chưa học được tinh thần tử đạo. Các ngài đã tha thứ cho người dẫn mình ra pháp trường, còn chúng ta đôi khi không tha cho người chỉ nói một câu làm mình tự ái. Các ngài mất mạng mà vẫn yêu, còn ta mất chút danh dự đã nuôi hận. Các ngài chịu roi mà vẫn cầu nguyện, còn ta nghe vài lời phê bình đã muốn đoạn tuyệt. Nhìn vào các vị tử đạo, ta phải xấu hổ về sự nhỏ nhen của mình. Thánh Giá của Đức Kitô lớn quá, còn cái tôi của chúng ta nhiều khi cũng lớn quá. Muốn ôm Thánh Giá thì phải để cái tôi nhỏ lại.
Có một cuộc tử đạo nữa rất cần cho thời đại hôm nay: tử đạo vì sự thật. Chúng ta đang sống trong một thế giới mà sự thật nhiều lúc bị mặc cả. Người ta có thể đổi một nguyên tắc lấy lợi ích, đổi lương tâm lấy chức vụ, đổi sự trung thực lấy chút tiền, đổi nhân phẩm lấy tiếng vỗ tay trên mạng. Trong hoàn cảnh ấy, các vị tử đạo Việt Nam hỏi mỗi người: “Đức Kitô đáng giá bao nhiêu đối với con?” Nếu một hợp đồng đủ lớn có thể khiến ta gian dối, Chúa đáng giá bao nhiêu? Nếu vài lời khen đủ làm ta đánh mất lương tâm, Chúa đáng giá bao nhiêu? Nếu sợ mất việc mà ta im lặng trước điều nghiêm trọng mình phải lên tiếng, Chúa đáng giá bao nhiêu? Tử đạo trước hết có nghĩa là “làm chứng”. Không phải ai làm chứng cũng phải đổ máu. Nhưng mọi Kitô hữu đều được gọi làm chứng. Một người mẹ sống trung tín trong gia đình đang làm chứng. Một người cha từ chối đồng tiền bất chính đang làm chứng. Một bác sĩ tôn trọng phẩm giá sự sống đang làm chứng. Một giáo viên không gian lận thành tích đang làm chứng. Một doanh nhân trả lương công bằng đang làm chứng. Một linh mục sống đúng điều mình giảng đang làm chứng. Một người trẻ bảo vệ sự trong sạch giữa nền văn hóa chế giễu sự trong sạch đang làm chứng. Một người dám nhận lỗi thay vì đổ lỗi đang làm chứng. Đó là máu tử đạo của đời thường: không đỏ trên áo, nhưng đôi khi rất đau trong lòng.
Thánh Giá của các vị tử đạo còn là lời nhắc cho các gia đình Công giáo. Không ít vị tử đạo là những người có vợ, có chồng, có con. Tử đạo của họ chắc chắn khiến người thân đau đớn. Có lẽ trong những đêm trước cái chết, ký ức về căn nhà, khuôn mặt vợ con, bữa cơm gia đình đã trở về. Một người cha biết mình chết đi thì con sẽ thiếu cha. Một người chồng biết vợ mình sẽ thành góa phụ. Đó không phải nỗi đau nhỏ. Chính vì vậy, việc các ngài trung thành không thể bị hiểu như một thứ lạnh lùng với gia đình. Trái lại, các ngài muốn để lại cho con cháu một gia tài lớn hơn tài sản: một đức tin không bán được. Tiền bạc rồi hết. Ruộng đất có thể mất. Nhà cửa có thể đổi chủ. Nhưng một người cha để lại cho con ký ức rằng “cha của con đã không bán Chúa để đổi lấy mạng mình” thì đó là gia tài khó gì sánh được.
Có lẽ vì thế mà hạt giống đức tin trên đất Việt đã được tưới bằng máu. Tertullianô đã từng nói rằng máu các vị tử đạo là hạt giống các Kitô hữu. Điều nghịch lý của Hội Thánh là càng bị tưởng sẽ bị tiêu diệt, Tin Mừng lại càng bén rễ. Người ta có thể giết người rao giảng nhưng không giết được Tin Mừng mà họ đã sống. Có thể phá một nhà nguyện nhưng không phá được đức tin đã được khắc trong trái tim. Có thể giam một Kitô hữu nhưng không giam được Đức Kitô. Có thể chém đầu một chứng nhân nhưng không thể chém đứt sự thật mà người ấy làm chứng. Chính Thánh Giá đã chứng minh điều ấy trước tiên. Chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, người ta tưởng đã kết thúc Đức Giêsu. Phiến đá được lăn vào cửa mồ. Các môn đệ tản mác. Đối với thế gian, câu chuyện đã đóng lại. Nhưng sáng ngày thứ nhất trong tuần, ngôi mộ trống. Từ đó, bất cứ cuộc tử đạo nào của Kitô hữu cũng mang trong mình một bí mật Phục Sinh: cái chết không có tiếng nói cuối cùng.
Vì vậy chúng ta không kính các vị tử đạo với một nỗi buồn bi lụy. Máu của các ngài là máu chiến thắng. Không phải chiến thắng người bách hại, nhưng chiến thắng nỗi sợ. Không phải chiến thắng bằng gươm, nhưng bằng lòng trung tín. Không phải chiến thắng để đối phương chết, nhưng bằng việc chính mình dám chết mà không đánh mất tình yêu. Đây là chiến thắng rất khác với thế gian. Thế gian nói: mạnh là làm cho người khác khuất phục. Thánh Giá nói: mạnh là có thể yêu cả khi bị làm đau. Thế gian nói: chiến thắng là giữ được mạng. Tin Mừng nói: có những lúc mất mạng vì sự thật mới là chiến thắng. Thế gian nói: cứu mình trước đã. Chúa Giêsu nói: “Ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm thấy được.”
Chúng ta cũng cần nhớ rằng các thánh tử đạo không chỉ thuộc về quá khứ. Các ngài là tổ tiên trong đức tin đang chất vấn Hội Thánh Việt Nam hôm nay. Một Hội Thánh được xây trên máu tử đạo không thể sống một đức tin nhạt nhẽo. Một Hội Thánh có cha ông đã chết vì Thánh Giá không thể biến Thánh Giá thành vật trang trí. Một Hội Thánh mà người xưa đã chịu tù vì Thánh Lễ thì người hôm nay không thể quá dễ dàng bỏ lễ chỉ vì bận một cuộc vui. Người xưa đi nhiều cây số để gặp linh mục lãnh bí tích; người hôm nay nhà thờ cách vài phút mà thấy đi lễ là nặng. Người xưa có thể mất mạng vì giữ đạo; người hôm nay đôi khi chỉ vì một lời chế giễu đã giấu mình là Công giáo. Người xưa thuộc kinh, giữ đạo trong nhà tù; người hôm nay có mọi phương tiện nhưng nhiều gia đình không còn kinh tối. Nghĩ đến đây thật đau. Chúng ta thừa hưởng một gia tài mua bằng máu, nhưng có nguy cơ tiêu xài gia tài ấy bằng sự hời hợt.
Không ai muốn thời bách hại trở lại. Ta cầu xin để đất nước luôn được bình an, để mọi người được tự do sống niềm tin và tôn trọng nhau. Nhưng thời bình cũng có những thử thách riêng của thời bình. Khi bị bách hại, kẻ thù đức tin dễ thấy. Khi sống tiện nghi, kẻ thù đức tin có khi nằm ngay trong lòng mình: sự nguội lạnh, thỏa hiệp, ích kỷ, tham lam, hưởng thụ, kiêu ngạo, mê tiền, mê quyền, sợ mất mặt. Bạo lực có thể không làm ta bỏ Chúa, nhưng tiện nghi lại có thể. Gươm có thể không khiến ta chối đạo, nhưng tiền có thể. Nhà tù không làm ta mất đức tin, nhưng một đời sống quá dễ chịu đôi khi làm đức tin ngủ quên. Bởi thế, có khi tử đạo trong thời bình khó theo một cách khác: chết đi mỗi ngày cho cái tôi.
Chúa Giêsu nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình.” Trước khi nói “vác thập giá”, Chúa nói “từ bỏ chính mình”. Chính cái “mình” ấy là cây thập giá khó nhất. Ta dễ đeo Thánh Giá bằng kim loại hơn đóng đinh tính ích kỷ. Dễ cúi đầu trước Thánh Giá hơn cúi đầu xin lỗi. Dễ hôn chân Chúa trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh hơn hôn một vết thương trong gia đình bằng sự tha thứ. Dễ hát “Vinh quang của ta là Thánh Giá Đức Kitô” hơn chấp nhận mất một quyền lợi vì trung thực. Các vị tử đạo nhắc chúng ta rằng Thánh Giá phải đi từ bàn thờ vào đời sống. Nếu Thánh Giá chỉ ở nhà thờ, Tin Mừng chưa đi hết đường.
Với các linh mục và tu sĩ, các vị tử đạo Việt Nam là lời gọi đặc biệt. Trong số các chứng nhân có những mục tử đã không bỏ đoàn chiên dù biết nguy hiểm. Có những linh mục tiếp tục thi hành sứ vụ trong hoàn cảnh bị truy lùng. Điều ấy khiến người sống đời thánh hiến hôm nay phải tự hỏi: mình đang sợ điều gì? Không còn gươm đao, nhưng có thể sợ bị hiểu lầm, sợ mất uy tín, sợ vất vả, sợ những nơi khó khăn, sợ sống nghèo, sợ nói sự thật, sợ đi ngược đám đông. Người mục tử mang Thánh Giá không nhất thiết bằng một cái chết đổ máu, nhưng bằng việc hao mòn đời mình cho đoàn chiên. Có những cuộc tử đạo kéo dài ba mươi, bốn mươi, năm mươi năm: mỗi ngày dậy sớm cầu nguyện, mỗi ngày đến với người bệnh, mỗi ngày nghe những câu chuyện buồn, mỗi ngày giải tội, giảng dạy, chịu đựng những hiểu lầm, giữ lòng trong sạch, giữ đời sống đơn sơ và không biến sứ vụ thành nơi tìm danh tiếng. Đó cũng là Thánh Giá.
Với người giáo dân cũng vậy. Đức tin của các vị tử đạo làm cho ơn gọi giáo dân trở nên rất đẹp. Các thánh tử đạo Việt Nam chứng minh rằng sự thánh thiện không bị nhốt trong tu viện hay nhà xứ. Một người làm quan có thể nên thánh. Một người lính có thể nên thánh. Một người làm ăn có thể nên thánh. Một người cha gia đình có thể nên thánh. Một thanh niên có thể nên thánh. Nơi nào có một con người dám đặt Đức Kitô trên hết, nơi ấy có thể bắt đầu con đường nên thánh. Không cần đợi đến lúc rảnh. Không cần đợi về già. Không cần đợi hoàn cảnh lý tưởng. Các vị tử đạo đã nên thánh chính giữa những hoàn cảnh không lý tưởng nhất.
Có một hình ảnh rất đẹp có thể giúp ta suy nghĩ: cây Thánh Giá có một thanh dọc và một thanh ngang. Thanh dọc hướng từ đất lên trời, như tình yêu con người dành cho Thiên Chúa. Thanh ngang mở ra hai phía, như đôi tay dang rộng với anh em. Nếu chỉ có thanh dọc mà không có thanh ngang, đó chưa phải Thánh Giá. Nếu nói yêu Chúa mà ghét người, đức tin méo mó. Nếu chỉ có thanh ngang mà không có thanh dọc, cũng chưa thành Thánh Giá. Nếu chỉ lo hoạt động xã hội mà quên nguồn mạch là Thiên Chúa, người Kitô hữu dễ cạn. Các vị tử đạo sống cả hai chiều ấy. Họ yêu Thiên Chúa đến mức dám chết, nhưng chính vì yêu Thiên Chúa nên họ không nuôi hận đối với người giết mình.
Giờ đây, nếu các thánh tử đạo Việt Nam có thể trở về đứng giữa chúng ta, có lẽ các ngài sẽ không hỏi trước tiên rằng chúng ta đã xây được bao nhiêu nhà thờ, tổ chức bao nhiêu lễ lớn, có bao nhiêu đoàn hội. Có lẽ các ngài sẽ nhìn vào từng người và hỏi rất nhỏ: “Con còn yêu Chúa không?” Không phải “con biết bao nhiêu về Chúa”, mà “con còn yêu Chúa không?” Không phải “con có mang Thánh Giá không”, mà “con có để Thánh Giá đi vào đời con không?” Không phải “con có thuộc tên các vị tử đạo không”, mà “con có sống điều các ngài đã chết để làm chứng không?”
Câu hỏi ấy thật đáng sợ. Vì có thể chúng ta biết rất nhiều mà yêu rất ít. Có thể ta nói về Thánh Giá rất hay nhưng tránh mọi hy sinh. Có thể ta ca ngợi các vị tử đạo nhưng chính mình không chịu chết đi một chút. Có thể ta xúc động khi nghe chuyện cha ông không bước qua Thánh Giá nhưng mỗi ngày ta lại âm thầm bước qua những thánh giá khác khi đặt lợi ích cao hơn lương tâm.
Thế nên mừng kính các thánh tử đạo Việt Nam không phải là đứng nhìn những pho tượng trên cao. Là đứng trước một tấm gương. Nhìn các ngài để soi mình. Nhìn máu các ngài để hỏi đức tin mình đang sống đáng giá bao nhiêu. Nhìn gông cùm của các ngài để thấy đôi khi ta đang bị trói bởi những thứ nhỏ bé hơn rất nhiều: một mối hận, một đam mê, một đồng tiền, một lời khen, một chiếc ghế, một cái tôi.
Và rồi cuối cùng, ta lại phải trở về với Đức Giêsu trên đồi Canvê. Bởi nếu chỉ nhìn các vị tử đạo mà không nhìn Chúa, ta sẽ chỉ thấy những con người can đảm. Nhưng khi nhìn các ngài trong ánh sáng Thánh Giá Đức Kitô, ta mới hiểu bí mật đời họ: các ngài đã yêu vì được yêu trước. Trước khi một vị tử đạo trao máu mình cho Chúa, Chúa đã trao Máu Người cho vị ấy. Trước khi họ chịu đóng đinh ý riêng, Đức Kitô đã bị đóng đinh vì họ. Trước khi họ dám chết cho Chúa, Chúa đã chết cho họ.
Đây chính là nguồn sức mạnh sâu nhất của tử đạo: không phải “tôi mạnh nên tôi không sợ chết”, nhưng là “tôi đã được yêu quá nhiều nên tôi không thể phản bội Tình Yêu ấy.”
Có lẽ đó cũng là lời đẹp nhất ta có thể nói về các vị tử đạo Việt Nam. Họ không phải những người yêu cái chết. Họ là những người đã gặp một Tình Yêu lớn hơn sự chết.
Máu của các ngài đã đổ xuống đất Việt. Những giọt máu ấy đã khô từ lâu, nhưng lời chứng vẫn còn nóng. Gông cùm đã mục. Nhà tù đã đổi thay. Những pháp trường xưa đã im tiếng. Các triều đại đã đi qua. Những người tuyên án các ngài cũng đã trở về bụi đất. Nhưng Đức Kitô mà các ngài chọn vẫn sống. Hội Thánh mà họ muốn tiêu diệt vẫn sống. Tin Mừng mà các ngài bảo vệ vẫn được rao giảng. Thánh Giá mà người ta bắt các ngài bước qua vẫn đứng giữa các nhà thờ trên quê hương này.
Và mỗi lần chúng ta làm dấu Thánh Giá, xin hãy làm chậm lại một chút.
Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.
Một dấu rất nhỏ.
Nhưng đằng sau dấu ấy là cả một lịch sử máu và nước mắt.
Một dấu rất quen.
Nhưng cha ông ta từng phải chết để được quyền giữ dấu ấy trong lòng.
Một dấu rất đơn sơ.
Nhưng trong đó có cả mầu nhiệm của một Thiên Chúa yêu con người đến chết và những con người đã đáp lại tình yêu ấy bằng chính mạng sống mình.
Xin các Thánh Tử Đạo Việt Nam cầu cho chúng ta. Xin cho chúng ta đừng chỉ là con cháu các ngài theo huyết thống hay địa lý, nhưng thực sự là con cháu các ngài trong đức tin. Xin cho chúng ta không phải đợi đến khi đứng trước một pháp trường mới trung thành với Chúa, nhưng trung thành từ những việc nhỏ hôm nay. Xin cho mỗi gia đình Công giáo biết giữ ngọn lửa mà cha ông đã trao lại. Xin cho người trẻ đừng xấu hổ về đức tin. Xin cho những người cha người mẹ dạy con bằng đời sống nhiều hơn lời nói. Xin cho linh mục, tu sĩ biết mang trong mình tinh thần của những mục tử tử đạo. Xin cho Hội Thánh Việt Nam không bao giờ quên rằng nền đất mình đang đứng đã từng được tưới bằng máu của những chứng nhân.
Và nếu một ngày nào đó đời ta gặp một Thánh Giá thật nặng, xin đừng vội hỏi: “Tại sao lại là con?” Hãy nhớ những người đã đi trước. Hãy nhìn Đức Kitô. Hãy thưa thật khẽ: “Lạy Chúa, con không mạnh. Con cũng sợ. Con cũng đau. Nhưng Chúa đã đi con đường này trước con. Xin đừng cất Thánh Giá khỏi con nếu Thánh Giá ấy là đường con phải đi; chỉ xin đừng để con phải vác nó một mình.”
Rồi ta sẽ nhận ra: không có người môn đệ nào vác Thánh Giá một mình.
Đầu kia của Thánh Giá luôn có bàn tay Chúa.
Các vị tử đạo Việt Nam đã tin như thế.
Các ngài đã sống như thế.
Các ngài đã chết như thế.
Và hôm nay, từ quê trời, các ngài vẫn đang nói với từng người chúng ta:
Đừng sợ Thánh Giá.
Hãy sợ một đời sống không còn Đức Kitô.
Đừng sợ phải mất một điều gì vì Chúa.
Hãy sợ một ngày vì giữ mọi sự mà đánh mất Chúa.
Đừng sợ những vết thương của lòng trung thành.
Bởi sau Thánh Giá là Phục Sinh.
Sau nước mắt là niềm vui.
Sau sự trung tín đến cùng là vòng hoa sự sống.
Và sau cái chết vì Đức Kitô là cuộc gặp gỡ mặt đối mặt với chính Đấng mà suốt đời ta đã yêu.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH NỮ FAUSTINA VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT CHẢY TỪ THÁNH GIÁ
Có những lúc người ta đứng trước Thánh Giá và chỉ nhìn thấy đau khổ. Có người nhìn thấy những chiếc đinh, những vết thương, mão gai, máu, nước mắt và cái chết. Có người nhìn Thánh Giá rồi sợ, bởi cuộc đời mình đã có quá nhiều thập giá, quá nhiều đêm dài, quá nhiều lần mất mát. Nhưng có một người nữ nhỏ bé của thế kỷ XX đã được Chúa dẫn vào một kinh nghiệm khác: nhìn Thánh Giá không chỉ để thấy đau khổ của Đức Kitô, mà để thấy một đại dương lòng thương xót đang mở ra cho nhân loại. Người nữ ấy là Thánh nữ Maria Faustina Kowalska. Faustina không phải là một nhà thần học nổi tiếng theo nghĩa hàn lâm, không phải một người có địa vị trong Giáo Hội, không phải một nữ tu được người đời biết đến vì tài năng hay học thức. Chị chỉ là một nữ tu bé nhỏ, làm những công việc rất bình thường trong cộng đoàn, từng ở nhà bếp, ngoài vườn, nơi cổng tu viện. Thế nhưng chính trong sự nhỏ bé ấy, Thiên Chúa đã muốn làm vang lên một sứ điệp lớn lao cho thời đại đầy thương tích: Thiên Chúa giàu lòng thương xót, và nguồn mạch của lòng thương xót ấy chính là trái tim bị đâm thâu của Đức Giêsu trên Thánh Giá. Muốn hiểu Faustina, phải đứng dưới chân Thập Giá. Muốn hiểu lòng thương xót Chúa, cũng phải đứng dưới chân Thập Giá. Bởi lòng thương xót không phải là một thứ tình cảm dễ dãi của Thiên Chúa dành cho con người. Lòng thương xót mang giá của máu. Lòng thương xót có hình của một thân xác bị đóng đinh. Lòng thương xót mang dấu đinh nơi tay chân Chúa. Lòng thương xót chảy ra từ cạnh sườn bị lưỡi đòng mở toang. Và chính vì thế, ai nhìn Thánh Giá mà chỉ thấy hình phạt thì chưa nhìn hết; ai nhìn Thánh Giá mà chỉ thấy đau khổ thì vẫn chưa nhìn sâu; phải nhìn đến tận trái tim Đức Giêsu để nhận ra rằng trên đồi Canvê, Thiên Chúa không đứng xa nhân loại để kết án, nhưng chính Người bước vào chỗ đau nhất của nhân loại, mang lấy tội lỗi nhân loại và chết vì nhân loại.
Trong linh đạo của Thánh Faustina, Thánh Giá không bao giờ tách khỏi lòng thương xót. Hai tia sáng đỏ và nhạt trong bức ảnh Lòng Chúa Thương Xót mà chị được trao sứ mạng cổ võ không phải là một chi tiết trang trí đạo đức. Chúng hướng lòng người tín hữu đến cạnh sườn Đức Kitô, đến máu và nước đã chảy ra từ thân thể Người. Chính Tin Mừng Gioan ghi lại một chi tiết vừa đau đớn vừa nhiệm mầu: khi quân lính đến với Đức Giêsu, thấy Người đã chết nên không đánh giập ống chân Người, “nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34). Chỉ một câu ngắn ngủi, nhưng cả một biển trời thần học nằm trong đó. Máu và nước không chỉ là dấu chỉ một thân xác đã bị trao nộp đến tận cùng. Truyền thống Kitô giáo từ lâu đã nhìn thấy nơi đó dấu chỉ của các bí tích, của Thánh Thể và Thánh Tẩy, của Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô, và đặc biệt là nguồn sống tuôn trào từ Đấng chịu đóng đinh. Trong kinh nghiệm thiêng liêng của Faustina, chân lý ấy trở nên gần gũi đến lạ lùng: từ trái tim bị mở ra của Chúa Giêsu, lòng thương xót không còn bị giữ lại nữa. Thiên Chúa như thể đã mở tung trái tim mình cho nhân loại. Con người có thể khước từ, có thể chạy trốn, có thể cứng lòng, nhưng phía Thiên Chúa thì cánh cửa vẫn mở. Trái tim đã bị đâm thâu ấy không đóng lại.
Có lẽ điều làm người ta cảm động nhất nơi sứ điệp của Faustina không phải là những thị kiến lạ lùng, mà là một điều rất đơn sơ: hãy tin tưởng. Dưới chân hình Chúa Giêsu Thương Xót là lời: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa.” Một câu ngắn đến mức trẻ nhỏ cũng có thể thuộc, nhưng có khi người ta phải mất cả đời mới học được cách sống. Bởi nói tín thác khi trời yên biển lặng thì dễ; nói tín thác khi bệnh tật kéo dài, khi gia đình đổ vỡ, khi người thân ra đi, khi bị hiểu lầm, khi lời cầu nguyện dường như không được đáp lại, khi tội lỗi cũ cứ quay về hành hạ lương tâm, khi chính mình thấy mình không còn xứng đáng với Chúa nữa, lúc ấy mới biết tín thác khó đến thế nào. Faustina đã không học tín thác trong một cuộc đời toàn hoa hồng. Chị biết đau khổ thân xác. Chị biết những thử thách nội tâm. Chị biết bị nghi ngờ, bị hiểu lầm. Chị biết những giờ phút mà linh hồn như bước vào bóng tối. Nhưng điều Chúa dạy chị không phải là cách loại bỏ tất cả đau khổ, mà là cách đi xuyên qua đau khổ với một lời duy nhất trong tim: Giêsu, con tín thác nơi Ngài. Thập Giá không biến mất, nhưng Thập Giá không còn là ngõ cụt. Nước mắt vẫn rơi, nhưng nước mắt không còn rơi vào khoảng không. Cái chết vẫn có đó, nhưng cái chết đã gặp Đấng Phục Sinh. Tội lỗi vẫn là một thực tại khủng khiếp, nhưng tội lỗi không mạnh hơn Máu Đức Kitô.
Đó chính là điều nhân loại hôm nay cần nghe. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà người ta có thể nói rất nhiều về lòng nhân ái nhưng lại rất khó tha thứ; nói rất nhiều về quyền con người nhưng cũng rất dễ nghiền nát nhau bằng một lời bình luận; nói rất nhiều về chữa lành nhưng không ít người vẫn mang những vết thương kín đáo suốt nhiều năm; nói rất nhiều về tự do nhưng lại bị cầm tù bởi quá khứ, bởi mặc cảm, bởi thù hận, bởi những ham muốn không kiểm soát. Người ta có thể sở hữu rất nhiều tiện nghi mà vẫn cô đơn; có thể được hàng ngàn người biết tên mà không có một người thật sự hiểu lòng; có thể cười trên mạng xã hội mà đêm về lại khóc một mình. Giữa một thế giới ấy, sứ điệp mà Chúa gửi qua một nữ tu nghèo Ba Lan nghe như một lời gọi từ tận Thánh Giá: đừng tuyệt vọng về Thiên Chúa. Có thể con đã thất vọng về mình. Có thể con đã thất vọng về người khác. Có thể đời sống của con đã có những trang mà con chỉ muốn xé đi. Nhưng đừng tuyệt vọng về lòng thương xót Chúa. Đừng đóng cánh cửa mà Đức Kitô đã mở bằng chính cạnh sườn của Người.
Tin Mừng cho ta một hình ảnh tuyệt đẹp để hiểu điều này. Chiều ngày Phục Sinh, các môn đệ đóng kín cửa vì sợ hãi. Họ không phải những người chiến thắng. Họ là những người vừa trải qua một thất bại tinh thần khủng khiếp. Thầy đã bị đóng đinh. Giuđa phản bội. Phêrô chối Thầy. Những người còn lại bỏ chạy. Họ đóng cửa lại, có lẽ không chỉ vì sợ người Do Thái, mà còn vì sợ chính ký ức của mình. Nhưng Đức Giêsu Phục Sinh hiện đến giữa họ và nói: “Bình an cho anh em!” Rồi Người cho họ xem tay và cạnh sườn. Thật lạ! Chúa sống lại nhưng các vết thương không biến mất. Bàn tay Phục Sinh vẫn mang dấu đinh. Cạnh sườn vinh hiển vẫn mang vết giáo. Như thể Đức Giêsu muốn nói: “Anh em hãy nhìn đây. Chính những gì tưởng là thất bại đã trở thành dấu chỉ tình yêu. Chính nơi người ta đâm Ta, Ta lại mở ra cho anh em một nguồn sống. Chính nơi người ta muốn kết thúc Ta, Chúa Cha lại bắt đầu một tạo thành mới.” Và rồi Người lại nói: “Bình an cho anh em!” (x. Ga 20,19-23). Đó là Tin Mừng của lòng thương xót. Chúa không bước vào căn phòng ấy để hỏi Phêrô: “Tại sao anh chối Thầy?” Chúa không hỏi nhóm Mười Một: “Tại sao các anh bỏ chạy?” Chúa đến với bình an. Dĩ nhiên, bình an ấy không xóa trách nhiệm; lòng thương xót không biến điều xấu thành điều tốt. Nhưng lòng thương xót nói rằng tội lỗi không được phép có lời cuối cùng. Tội lỗi có thể là chương đen, nhưng Đức Kitô mới là tác giả của trang cuối.
Faustina đã trở thành một chứng nhân đặc biệt cho chân lý ấy. Chị hiểu rằng đau khổ lớn nhất của con người đôi khi không phải là nghèo, bệnh hay thất bại, mà là cảm giác mình không còn đáng được yêu. Có những người vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn sống giữa cộng đoàn, nhưng sâu bên trong họ mang một ý nghĩ rất đau: “Chúa chắc chán tôi rồi.” Có người sau một tội nặng không dám nhìn lên Thánh Giá. Có người xưng đi xưng lại một tội đã được tha mà vẫn không tin mình được tha. Có người mang vết nhơ của quá khứ như mang một bản án chung thân. Đối với những linh hồn như thế, Faustina được trao một lời rất mạnh: hãy đến với lòng thương xót. Không phải vì tội lỗi là chuyện nhỏ, nhưng chính vì tội lỗi là chuyện quá lớn nên chúng ta cần một tình yêu lớn hơn tội lỗi. Thánh Giá chứng minh rằng Thiên Chúa không coi tội là nhẹ. Nếu tội là nhẹ, Con Thiên Chúa đâu cần phải bước lên Golgotha. Nhưng Thánh Giá đồng thời chứng minh một điều còn lớn hơn: Thiên Chúa yêu tội nhân đến mức không tiếc chính Con Một mình để cứu họ.
Đừng bao giờ lẫn lộn lòng thương xót với sự dễ dãi. Thiên Chúa thương xót không có nghĩa là Thiên Chúa nói: “Con cứ phạm tội đi, chẳng sao cả.” Nếu nghĩ như thế, người ta đã xúc phạm chính Thánh Giá, bởi Thánh Giá cho thấy cái giá khủng khiếp của tội lỗi. Lòng thương xót đúng nghĩa luôn đưa con người đến hoán cải. Khi người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình được đưa đến trước Chúa Giêsu, Người không ném đá chị. Người cũng không nói tội của chị không đáng kể. Sau khi những người kết án rút đi, Chúa nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8,11). Hai vế ấy phải đi với nhau: “Tôi không lên án chị” và “đừng phạm tội nữa.” Chỉ có vế thứ hai mà không có vế thứ nhất thì Kitô giáo trở thành một tòa án lạnh lùng. Chỉ có vế thứ nhất mà bỏ vế thứ hai thì lòng thương xót bị biến thành thứ dung túng giả tạo. Đức Giêsu làm cả hai: Người cứu phẩm giá của người phụ nữ, rồi mở cho chị một tương lai mới. Đó cũng là điều lòng thương xót muốn làm trong đời mỗi người: không chỉ xóa quá khứ mà còn tái tạo tương lai.
Faustina rất gần với những linh hồn tội lỗi chính vì chị hiểu trái tim Đức Giêsu khát khao họ đến mức nào. Có một bi kịch lạ lùng trong đời sống thiêng liêng: người cần lòng thương xót nhất lại thường là người sợ đến gần lòng thương xót nhất. Người khỏe không cần thầy thuốc; người bệnh mới cần. Vậy mà người bệnh lại ngại bước vào phòng khám vì xấu hổ về căn bệnh của mình. Trong đời sống đức tin cũng thế. Người tội lỗi nghĩ: “Đợi tôi tốt hơn rồi tôi sẽ trở về với Chúa.” Không! Nếu con tự làm mình tốt đủ rồi mới cần đến Chúa, thì Thập Giá còn để làm gì? Chúng ta không tắm sạch rồi mới bước xuống dòng nước; chúng ta bước xuống nước để được tắm sạch. Ta không hết bệnh rồi mới đến bác sĩ; ta đến vì mình đang bệnh. Ta cũng không cần phải trở nên thánh thiện trước rồi mới bước đến lòng thương xót; chính lòng thương xót sẽ làm ta nên mới.
Dụ ngôn người cha nhân hậu trong Tin Mừng Luca có lẽ là một trong những minh họa đẹp nhất cho linh đạo Faustina. Người con thứ đã lấy phần gia tài, bỏ nhà đi xa, tiêu tán tất cả, rơi xuống tận đáy của đời mình. Khi trở về, anh có sẵn trong đầu một bài diễn văn: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa…” Nhưng điều đáng chú ý là khi anh còn ở đằng xa, người cha đã thấy anh. Cha chạnh lòng thương, chạy ra, ôm cổ anh và hôn lấy hôn để (x. Lc 15,11-32). Người con nghĩ về công trạng; người cha nghĩ về tình phụ tử. Người con chuẩn bị xin làm đầy tớ; người cha chuẩn bị áo đẹp, nhẫn, dép và tiệc mừng. Người con chỉ thấy tội lỗi của mình; người cha thấy một đứa con đã chết mà nay sống lại. Đây không phải là một câu chuyện khuyến khích phung phí. Đây là câu chuyện về một tình yêu mạnh hơn sự phung phí. Và đó chính là chìa khóa để hiểu sứ điệp của Faustina: trước khi ta kịp chạy hết con đường trở về với Thiên Chúa, lòng thương xót đã chạy về phía ta.
Thế nhưng, còn một chiều kích nữa không thể bỏ quên: ai đã nhận lòng thương xót thì phải trở thành người có lòng thương xót. Không thể quỳ trước ảnh Lòng Chúa Thương Xót, đọc chuỗi kinh lòng thương xót mỗi ngày, mà ra khỏi nhà thờ lại cay nghiệt với người khác. Không thể thưa “Giêsu, con tín thác nơi Ngài” rồi lại nhất quyết không tha cho người đã làm tổn thương mình. Không thể tôn kính trái tim bị đâm thâu của Chúa mà lại dùng lời nói đâm vào trái tim anh chị em. Faustina hiểu rất rõ điều ấy. Sứ điệp lòng thương xót không chỉ có chiều dọc giữa linh hồn với Thiên Chúa mà còn phải có chiều ngang giữa người với người. Cây Thánh Giá có một thanh dọc hướng lên trời và một thanh ngang mở ra hai bên. Nếu chỉ có thanh dọc, không còn là thập giá. Nếu chỉ có lòng đạo đức với Chúa mà không có lòng thương đối với anh em, đời sống Kitô hữu cũng bị méo mó như thế.
Lòng thương xót phải đi vào căn bếp gia đình. Đi vào bàn ăn. Đi vào phòng bệnh. Đi vào điện thoại và mạng xã hội. Đi vào những cuộc họp. Đi vào giáo xứ. Đi vào nhà dòng. Đi vào mối tương quan giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái, linh mục và giáo dân, bề trên và bề dưới. Có những gia đình không tan vỡ vì thiếu tiền mà vì thiếu thương xót. Có những cộng đoàn không chết vì thiếu người mà vì người ta không chịu tha thứ cho nhau. Có những đôi vợ chồng vẫn sống chung một mái nhà mà lòng đã cách nhau hàng ngàn cây số vì một vết thương cũ cứ bị đem ra nhắc đi nhắc lại. Có những đứa con lớn lên nhưng cả đời vẫn bị một câu nói cay nghiệt của cha mẹ ám ảnh. Có những cha mẹ già chỉ mong một cuộc điện thoại của con. Có những người bệnh không cần chúng ta giải thích thần học về đau khổ; họ chỉ cần một bàn tay nắm lấy bàn tay họ. Có những người lầm lỗi không cần thêm một bản cáo trạng; họ cần một người đủ yêu thương để nói sự thật mà không nghiền nát họ. Lòng thương xót không phải lúc nào cũng làm được những việc lớn. Nhiều khi nó bắt đầu từ việc bớt nói một câu làm người khác đau. Bớt nhớ một lỗi cũ. Bớt xét đoán một người mình không hiểu. Gọi điện cho một người cô đơn. Ghé thăm một người bệnh. Kiên nhẫn với một người già đã chậm chạp. Ngồi nghe một người đang đau mà không vội giảng cho họ phải sống thế nào. Có những lúc lòng thương xót mang hình của một chén cơm. Có lúc mang hình của một lời xin lỗi. Có lúc là một sự im lặng. Có lúc là một quyết định không trả đũa.
Nhìn lên Thánh Giá, ta còn nhận ra một điều rất khó sống: Đức Giêsu thương xót ngay cả khi Người đang đau. Đó mới là mức độ sâu thẳm của tình yêu. Khi bị đóng đinh, Người không chỉ chịu đựng; Người còn cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Hãy tưởng tượng điều ấy. Những chiếc đinh vẫn còn xuyên qua thịt. Những kẻ chế nhạo vẫn đang đứng dưới chân Thập Giá. Bản án bất công chưa được rút lại. Vậy mà Người đã tha thứ. Chúa không đợi người ta tháo đinh cho mình rồi mới thương xót. Người thương xót ngay trong lúc đang bị đóng đinh. Đây là thước đo khiến chúng ta phải cúi đầu, bởi phần lớn chúng ta chỉ muốn tha khi người kia đã xin lỗi, đã thay đổi, đã đền bù, đã chứng minh rằng họ xứng đáng được tha. Đức Giêsu thì tha trước. Không phải vì Người chấp nhận cái ác, nhưng vì Người không cho phép cái ác biến trái tim mình thành nơi chứa hận thù.
Có những thập giá trong đời sẽ không bao giờ được giải thích trọn vẹn ở đời này. Faustina cũng không đưa ra một công thức để giải thích mọi đau khổ. Kitô giáo không đứng trước một người mẹ mất con mà nói vài câu đạo đức là xong. Không ai có quyền biến đau khổ người khác thành một bài học dễ dàng. Có những nỗi đau chỉ có thể đứng bên cạnh trong thinh lặng. Nhưng Thánh Giá cho ta một điều hơn cả lời giải thích: cho ta một Đấng cùng chịu đau với ta. Thiên Chúa không trả lời đau khổ bằng một lý thuyết. Người trả lời bằng Con của Người chịu đóng đinh. Từ đó, câu hỏi của người đau khổ không chỉ còn là “Tại sao Chúa để điều này xảy ra?” mà có thể dần dần trở thành: “Lạy Chúa, Chúa đang ở đâu trong đau khổ này?” Và Thập Giá trả lời: “Ta ở đây. Trong vết thương của con, Ta đã có vết thương. Trong sự cô đơn của con, Ta đã từng kêu: ‘Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?’ Trong nước mắt của con, Ta đã khóc. Trong cái chết của người con yêu, Ta đã bước qua cái chết.”
Vì thế, lòng thương xót không hứa rằng cuộc đời tín hữu sẽ không còn thập giá. Nếu ai rao giảng một thứ Kitô giáo không có thập giá, đó không còn là Tin Mừng của Đức Giêsu. Nhưng lòng thương xót hứa một điều khác: không một thập giá nào được vác với Đức Kitô lại vô nghĩa. Giọt nước mắt dâng cho Chúa không mất. Một cơn đau dâng cho Chúa không mất. Một lời tha thứ tưởng chẳng ai biết vẫn không mất. Một hy sinh của người mẹ thức đêm bên con bệnh không mất. Một người cha âm thầm lao động, chịu nhọc nhằn để nuôi gia đình không mất. Một linh mục cô đơn nhưng vẫn trung thành với đoàn chiên không mất. Một tu sĩ sống âm thầm trong bổn phận không mất. Một bệnh nhân nằm bất động mà biết kết hợp đau khổ mình với Đức Kitô không phải là một cuộc đời vô ích. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu đã biến đau khổ thành lễ dâng. Và nhờ Người, những đau khổ của chúng ta cũng có thể trở thành lời cầu.
Một trong những cám dỗ nguy hiểm nhất của đời sống thiêng liêng là nghĩ rằng lòng thương xót dành cho “người khác”, còn mình thì đã quá xa. Có người nghe nói Chúa tha thứ cho tội nhân thì tin, nhưng khi nói đến chính mình thì lại không tin. Họ tin vào tín điều về lòng thương xót nhưng không dám bước vào lòng thương xót. Đó cũng là một dạng thiếu tín thác. Tội của Giuđa không phải chỉ là phản bội Thầy; bi kịch sâu hơn là sau khi phản bội, ông không tin tình yêu của Thầy còn có thể lớn hơn tội mình. Phêrô cũng phản bội theo cách khác: ông đã ba lần chối rằng mình biết Đức Giêsu. Nhưng Phêrô đã khóc và ở lại trong cộng đoàn. Ông cho phép ánh mắt Đức Giêsu chạm đến mình. Sau Phục Sinh, bên bờ hồ Tibêria, Chúa không đẩy Phêrô ra. Người ba lần hỏi: “Anh có yêu mến Thầy không?” và trao đoàn chiên cho ông (x. Ga 21,15-17). Nơi Phêrô, ta thấy điều Faustina muốn toàn thể Hội Thánh tin: một người đã ngã vẫn có thể trở thành thánh nếu biết để lòng thương xót nâng mình dậy.
Thánh thiện không phải là chưa bao giờ ngã. Thánh thiện là không làm hòa với tội, nhưng cũng không làm hòa với tuyệt vọng. Có người ngã một lần rồi nằm luôn vì nghĩ rằng không còn hy vọng. Có người ngã trăm lần nhưng trăm lần đứng lên chạy về với Chúa. Người thứ hai gần lòng thương xót hơn. Chúa không thích tội lỗi chúng ta, nhưng Người không mệt vì chúng ta trở về. Đừng lấy sự mệt mỏi của con người mà áp đặt lên Thiên Chúa. Ta có thể mệt vì phải tha cho ai đó nhiều lần, nhưng lòng Chúa không có một đồng hồ đếm số lần Người tha thứ. Khi Phêrô hỏi Đức Giêsu: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” Chúa đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy” (Mt 18,21-22). Nếu Chúa đòi môn đệ có lòng thương xót như thế, chẳng lẽ lòng thương xót của chính Người lại nhỏ hơn?
Thánh Faustina vì thế không dẫn chúng ta đến một lòng đạo đức ủy mị, nhưng dẫn đến trung tâm của Tin Mừng. Chúa Giêsu mà chị chiêm ngắm là Đức Giêsu chịu đóng đinh và phục sinh. Hai tia sáng phát ra từ trái tim Người nhắc rằng lòng thương xót đã đi qua Thập Giá. Những vết thương trên thân thể Đức Kitô phục sinh nhắc rằng Thiên Chúa có trí nhớ rất lạ: Người nhớ vết thương nhưng không để kết án; Người biến vết thương thành chứng tích tình yêu. Chúng ta thường nhớ vết thương để giữ oán. Chúa giữ vết thương để cho ta thấy Người đã yêu ta đến đâu.
Đó cũng là một lời mời gọi cho những người đang mang thương tích. Có người cầu xin: “Lạy Chúa, xin xóa hết những gì đã xảy ra.” Nhưng có những điều không thể xóa khỏi lịch sử. Một cái chết đã xảy ra không thể làm như chưa xảy ra. Một cuộc phản bội để lại hậu quả thật. Một tuổi thơ bị tổn thương không thể quay ngược đồng hồ. Một căn bệnh có thể để lại dấu vết suốt đời. Lòng thương xót không làm cho quá khứ chưa từng tồn tại. Điều kỳ diệu hơn là lòng thương xót có thể biến ý nghĩa của quá khứ. Cũng như Chúa Phục Sinh vẫn mang các vết thương nhưng những vết thương ấy không còn là dấu chiến thắng của sự dữ; chúng đã trở thành huy hiệu của tình yêu. Những vết thương đời ta cũng có thể như thế. Điều từng làm ta cay đắng có thể khiến ta biết cảm thông. Điều từng làm ta bật khóc có thể khiến ta nhận ra nước mắt người khác. Điều từng làm ta cô đơn có thể khiến ta trở thành người không để ai khác phải cô đơn. Chính khi ấy, vết thương bắt đầu được cứu chuộc.
Có lẽ đây là điều đẹp nhất ta học được nơi Faustina: đừng chỉ xin Chúa lấy đau khổ đi; hãy xin Người làm cho đau khổ sinh hoa trái. Đừng chỉ xin Chúa sửa người làm ta tổn thương; hãy xin Người gìn giữ trái tim ta khỏi trở nên cay độc. Đừng chỉ xin Chúa thay đổi hoàn cảnh; hãy xin Người thay đổi cách ta sống trong hoàn cảnh ấy. Có những phép lạ xảy ra bên ngoài; cũng có những phép lạ âm thầm hơn nhưng không kém lớn lao xảy ra trong lòng. Một người từng hận mà có thể tha, đó là phép lạ. Một người từng tuyệt vọng mà dám tin lại, đó là phép lạ. Một người từng nghĩ Chúa ghét mình mà một ngày có thể ngước lên Thánh Giá và thưa “Con tín thác nơi Chúa”, đó cũng là phép lạ.
Nhưng tín thác không phải là cảm giác. Đây là điều cần nói thật rõ. Có những ngày ta cảm thấy Chúa rất gần, cầu nguyện rất sốt sắng, mọi sự như sáng rõ. Tín thác lúc ấy tương đối dễ. Nhưng có những ngày cầu nguyện khô khan, tâm hồn mù mịt, chẳng thấy gì ngoài im lặng. Tín thác lúc ấy trở thành một hành vi của ý chí: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con vẫn tin.” Đức Giêsu trên Thánh Giá đã đi đến tận cùng của sự tín thác ấy. Trong bóng tối, Người vẫn thưa: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Hãy để ý: Người phó thác khi đang chết, chứ không phải khi mọi sự đã được giải quyết. Đó là đỉnh cao của tín thác. Không phải: “Lạy Chúa, khi nào Chúa cho con thấy kết quả, con sẽ tin.” Nhưng là: “Lạy Chúa, dù con chưa thấy, con vẫn trao mình cho Chúa.”
Và đây có lẽ là lời Faustina muốn nói với từng người trong chúng ta hôm nay: đừng sợ trao chính vết thương của con cho Chúa. Ta thường đem đến Chúa những gì đẹp nhất: kinh nguyện, việc lành, hoa nến. Nhưng có lúc Chúa lại chờ ta trao cho Người những thứ xấu xí nhất: sự thất bại, nỗi xấu hổ, cơn giận, những câu hỏi chưa có đáp án, một tội mà ta ghét chính mình vì đã phạm, một mối quan hệ đã đổ vỡ, một cơn nghiện mà ta đang vật lộn, một ký ức mà ta không thể quên. Chúa không sợ những thứ đó. Người đã đi xuống tận địa ngục của đau khổ con người. Không có căn phòng tối nào trong đời ta mà Đức Kitô không dám bước vào.
Hãy nhớ người trộm lành trên Thánh Giá. Cuộc đời ông gần như đã đi đến phút cuối. Ông không còn thời gian để sửa lại quá khứ, không còn cơ hội xuống khỏi thập giá để làm nhiều việc đạo đức, không còn khả năng trả lại những gì đã lấy, nếu quả thực ông đã cướp bóc. Ông chỉ còn một lời cầu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Đức Giêsu đáp: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Hôm nay! Không phải sau khi anh chuộc đủ quá khứ. Không phải sau khi anh chứng minh mình tốt. Hôm nay. Đó là lòng thương xót. Nhưng đừng quên: người trộm ấy đã nhìn nhận tội mình, đã nhìn nhận Đức Giêsu vô tội, và đã đặt niềm tin nơi Người. Lòng thương xót gặp một trái tim biết mở ra, và Thiên Đàng mở cửa.
Bởi vậy, khi đứng trước ảnh Chúa Giêsu Thương Xót, ta đừng chỉ đọc câu “Giêsu, con tín thác nơi Ngài” bằng môi. Hãy để câu ấy đi xuống tận chỗ mình đang sợ nhất. Nếu đang sợ bệnh, hãy nói trong chính nỗi sợ ấy. Nếu đang sợ tương lai, hãy đặt tương lai vào câu ấy. Nếu đang lo cho con cái, hãy đặt từng đứa con vào lòng Chúa và nói câu ấy. Nếu đang mang một tội, hãy bước vào bí tích Hòa Giải rồi nói câu ấy. Nếu đang hấp hối, hãy nói câu ấy. Nếu đang đứng trước quan tài người thân, hãy nói câu ấy trong nước mắt. Tín thác không có nghĩa là không khóc. Đức Maria đứng dưới chân Thập Giá đâu phải không đau. Nhưng Mẹ đứng đó. Mẹ không chạy khỏi Thập Giá. Đức tin trưởng thành đôi khi chỉ là đứng lại bên Chúa khi ta không còn hiểu gì.
Mẹ Maria chính là người đã đứng gần nguồn lòng thương xót nhất trong chiều Canvê. Mẹ đã thấy máu Con mình chảy. Mẹ đã nghe những lời cuối cùng. Mẹ đã nhận thân xác Con xuống khỏi Thập Giá. Nếu có ai hiểu cái giá của lòng thương xót thì đó là Mẹ. Ta thường muốn lòng thương xót mà không muốn trả giá. Ta muốn tha thứ nhưng không muốn đau. Ta muốn hòa giải nhưng không muốn nhún. Ta muốn yêu nhưng không muốn bị tổn thương. Mẹ Maria đứng dưới Thánh Giá dạy ta rằng tình yêu thật luôn có giá. Nhưng chính tình yêu dám trả giá ấy mới cứu được thế giới.
Sứ điệp của Faustina vì thế không chỉ dành cho những giờ chầu hay những buổi đọc kinh. Nó phải trở thành cách ta nhìn người khác. Khi gặp một người tội lỗi, ta đừng quên rằng Đức Kitô cũng đã đổ máu cho họ. Khi gặp người khó chịu, ta hãy nhớ họ có thể đang mang một cuộc chiến mà ta không biết. Khi gặp người đã sai, hãy giúp họ trở về mà không biến mình thành quan tòa. Khi phải sửa lỗi, hãy sửa bằng sự thật nhưng bằng sự thật được ngâm trong lòng thương xót. Khi phải nói “không” với điều xấu, hãy nói “không” mà vẫn giữ “có” đối với phẩm giá của con người. Đức Giêsu ghét tội nhưng chưa bao giờ ghét tội nhân. Trên Thánh Giá, Người chết chính vì những người đang giết Người.
Thế giới không thiếu người lên án. Thế giới thiếu người cứu. Mạng xã hội không thiếu người nhanh tay chỉ lỗi người khác. Gia đình không thiếu những ký ức được lôi ra để kết tội nhau. Cộng đoàn cũng có khi không thiếu những lời đồn. Điều thiếu là những con người biết cúi xuống. Đức Giêsu đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ trước khi lên Thánh Giá. Ngài rửa cả chân Giuđa. Một chi tiết đáng sợ và đáng yêu biết bao! Chúa biết người này sắp phản bội mình mà vẫn quỳ xuống rửa chân cho ông. Lòng thương xót không mù. Chúa biết Giuđa là ai. Nhưng tình yêu vẫn yêu cho đến cùng.
Cho nên, ai nói mình yêu Lòng Chúa Thương Xót thì hãy hỏi: tôi có đang thương xót người sống chung nhà với tôi không? Tôi có dễ tha cho người thân như dễ đọc kinh không? Tôi có đang giữ một món nợ trong lòng quá lâu không? Tôi có lấy lỗi lầm của người khác làm căn cước của họ không? Tôi có gọi người ta bằng cái tên của tội họ không: “thằng đó là…”, “con đó là…”? Chúa không làm thế với ta. Chúa biết mọi tội ta nhưng vẫn gọi ta bằng tên. Khi Phục Sinh, Người bảo Maria Mácđala bằng một tiếng gọi: “Maria!” Và chỉ một tiếng ấy đủ làm chị nhận ra Thầy (Ga 20,16). Lòng thương xót trả lại tên cho con người. Tội lỗi biến người ta thành nhãn hiệu; lòng thương xót trả họ về với phẩm giá một người con.
Có lẽ trong những ngày này, mỗi chúng ta cần dành một ít phút thật yên trước Thánh Giá. Không cần nói nhiều. Hãy nhìn cạnh sườn Chúa. Hãy nhìn hai bàn tay. Hãy nhớ rằng đó là bàn tay từng chạm người phong, nâng người chết, bẻ bánh cho đám đông, rửa chân môn đệ, chúc lành trẻ nhỏ. Bây giờ đôi tay ấy bị đóng đinh. Vì ai? Vì ta. Không phải vì một nhân loại trừu tượng. Vì chính ta. Đức tin Kitô giáo trở nên sống động khi ta dám đổi câu “Chúa yêu nhân loại” thành “Chúa yêu tôi”. Phaolô đã sống điều ấy khi ngài viết về “Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20). Không phải chỉ “yêu chúng ta”, nhưng “yêu tôi”. Một tình yêu mang tính cá vị. Nếu trên trái đất chỉ có mình con cần được cứu, tình yêu của Thánh Giá vẫn không nhỏ hơn.
Và khi đã dám tin mình được yêu như thế, ta sẽ bớt phải tranh giành để chứng minh giá trị của mình. Nhiều sự cay nghiệt của con người đến từ vết thương không được yêu. Người ta công kích để cảm thấy mình mạnh. Người ta khoe khoang để cảm thấy mình có giá trị. Người ta hạ người khác xuống để thấy mình cao hơn. Nhưng một người thật sự biết mình được yêu bởi Đấng chịu đóng đinh sẽ dần được tự do khỏi những cuộc chiến ấy. Tôi không cần dẫm lên ai để biết mình đáng giá, vì giá của tôi đã được viết bằng máu Đức Kitô.
Thánh Faustina qua đời khi còn rất trẻ, nhưng sứ điệp mà Chúa trao cho chị đã đi rất xa. Từ một tu viện âm thầm, lời mời gọi tín thác đã vang đến khắp thế giới. Điều ấy tự nó cũng đã là một bài học. Thiên Chúa không cần sự lớn lao của ta để làm những điều lớn lao. Người chỉ cần một trái tim chịu để Người sử dụng. Faustina không có truyền thông hiện đại, không có một tổ chức khổng lồ, không có vị trí quyền lực. Chị có một đời sống vâng phục, đau khổ, cầu nguyện và một “xin vâng”. Cũng như Đức Maria ngày xưa. Thiên Chúa luôn thích bắt đầu những công trình rất lớn bằng những con người rất nhỏ.
Và cuối cùng, đứng trước Thánh Giá cùng với Thánh Faustina, ta hiểu rằng lòng thương xót không phải chỉ là một việc đạo đức trong số nhiều việc đạo đức. Lòng thương xót là trái tim của Tin Mừng. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một” (Ga 3,16). Câu ấy được viết trọn vẹn trên Thánh Giá. Nếu hỏi Thiên Chúa yêu đến đâu, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu hỏi Thiên Chúa tha được đến đâu, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu hỏi một người tội lỗi có còn hy vọng không, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu hỏi đau khổ có thể sinh ý nghĩa không, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu hỏi cái chết có phải là dấu chấm hết không, hãy nhìn Thánh Giá rồi nhìn ngôi mộ trống.
Thánh Giá nói với người đang khỏe: hãy biết thương người đau. Thánh Giá nói với người đang thành công: hãy đừng khinh người thất bại. Thánh Giá nói với người công chính: hãy đừng trở thành Pharisêu. Thánh Giá nói với người tội lỗi: hãy trở về. Thánh Giá nói với người tuyệt vọng: chưa hết đâu. Thánh Giá nói với người đang hấp hối: cái chết không phải cánh cửa cuối cùng. Thánh Giá nói với người đang hận: hãy tha vì chính con đã được tha. Thánh Giá nói với người đang tự kết án mình: Máu này đã đổ ra cho con.
Vậy thì, xin đừng để lòng thương xót Chúa chảy uổng bên cạnh đời ta. Có một bi kịch lớn hơn cả phạm tội, đó là phạm tội rồi không chịu để Chúa tha. Có một nghèo đói khủng khiếp hơn thiếu cơm áo, đó là đứng cạnh đại dương lòng thương xót mà vẫn chết khát vì không dám uống. Đừng nghĩ tội mình lớn hơn Thánh Giá. Đừng nghĩ quá khứ mình đen hơn Máu Đức Kitô có thể rửa. Đừng nghĩ Chúa hết kiên nhẫn. Hãy trở về. Có thể chậm, nhưng hãy trở về. Có thể phải bò về như người con hoang đàng, nhưng hãy trở về. Có thể trong lòng chỉ còn đủ sức nói một câu, thì hãy nói câu ấy: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa.”
Rồi một ngày, khi đã nếm được lòng thương xót, ta cũng hãy trở thành dòng chảy của lòng thương xót ấy cho người khác. Đừng giữ nó lại. Cạnh sườn Chúa đã mở thì lòng người môn đệ cũng phải mở. Hãy để từ đời ta chảy ra một chút dịu dàng cho người đang mệt, một chút kiên nhẫn cho người chậm chạp, một chút tha thứ cho người đã xúc phạm, một chút cơm cho người đói, một chút thời gian cho người cô đơn, một chút hy vọng cho người tuyệt vọng. Ta có thể không làm được những điều vang dội, nhưng có thể làm cho một người hôm nay bớt đau. Và rất có thể, đó chính là cách lòng thương xót chảy từ Thánh Giá qua trái tim ta để đi vào thế giới.
Xin Thánh nữ Faustina dạy chúng ta biết nhìn Thánh Giá không bằng ánh mắt sợ hãi nhưng bằng ánh mắt tín thác; không chỉ thấy máu mà thấy tình yêu; không chỉ thấy vết thương mà thấy nguồn chữa lành; không chỉ thấy cái chết mà thấy cánh cửa Phục Sinh. Xin cho mỗi lần làm dấu Thánh Giá, ta nhớ rằng mình đang chạm vào dấu chỉ của một tình yêu đã đi đến tận cùng. Xin cho mỗi lần nhìn ảnh Lòng Chúa Thương Xót, câu “Giêsu, con tín thác nơi Ngài” không chỉ nằm dưới bức ảnh nhưng được viết vào tim mình. Và xin cho đến giờ phút cuối cùng, khi mọi lời khác không còn cần thiết nữa, ta vẫn còn đủ sức đặt cả cuộc đời mình vào hai tiếng tín thác, để thưa với Đấng đã mở cạnh sườn vì ta: “Lạy Chúa Giêsu, con không có gì để khoe ngoài lòng thương xót của Chúa. Con không có gì để bám ngoài Thánh Giá của Chúa. Con không biết ngày mai sẽ ra sao, nhưng con biết con thuộc về Chúa. Giêsu, con tín thác nơi Ngài.”
Lm. Anmai, CSsR

LỄ SUY TÔN THÁNH GIÁ 14/9 – THẦN HỌC PHỤNG VỤ
Có những ngày trong năm phụng vụ, Hội Thánh mời chúng ta nhìn vào một biến cố, một mầu nhiệm hay một vị thánh để tạ ơn Thiên Chúa. Nhưng ngày 14 tháng 9 có một nét rất đặc biệt: Hội Thánh mời con cái mình nhìn lên một cây gỗ. Không phải một ngai vàng, không phải một vương miện, không phải một biểu tượng của chiến thắng theo cách người đời vẫn hiểu, nhưng là cây Thánh Giá. Càng lạ hơn nữa, Hội Thánh không gọi ngày này là lễ tưởng niệm Thánh Giá, cũng không gọi là lễ thương tiếc Thánh Giá, nhưng gọi bằng một danh xưng rất mạnh: Lễ Suy Tôn Thánh Giá. “Suy tôn” nghĩa là nâng cao, tôn kính, ca tụng, nhìn nhận vinh quang. Thế mà thứ được nâng cao lại chính là một dụng cụ hành hình, thứ từng làm người Do Thái ghê sợ và người Rôma khinh bỉ. Người bị đóng đinh không chỉ chết; họ còn bị phơi bày trong nhục nhã. Thập giá vốn là dấu chỉ của thất bại, của tội phạm, của sự nguyền rủa, của cái chết. Vậy mà Kitô giáo đã đặt cây Thập Giá ấy trên đỉnh tháp nhà thờ, trên bàn thờ, trong gia đình, trên ngực người tín hữu, nơi đầu giường người hấp hối và trên phần mộ của người đã khuất. Điều gì đã xảy ra? Chỉ có một câu trả lời: Đức Giêsu Kitô đã đi qua cây thập giá ấy. Chính Người đã biến thập giá thành Thánh Giá. Chính tình yêu của Người đã biến dụng cụ giết người thành cây ban sự sống. Chính sự vâng phục của Người đã biến nơi ô nhục thành ngai vương đế. Chính máu Người đã làm cho cây gỗ khô trở thành cây trổ sinh ơn cứu độ. Và đó chính là điểm khởi đầu để hiểu thần học phụng vụ của ngày 14 tháng 9: Hội Thánh không tôn thờ một mảnh gỗ; Hội Thánh tôn thờ Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh, Đấng đã dùng Thánh Giá như phương thế biểu lộ đến tận cùng tình yêu cứu độ của Thiên Chúa đối với nhân loại.
Nếu chỉ nhìn Lễ Suy Tôn Thánh Giá như một ngày kỷ niệm lịch sử về việc tìm được Thánh Giá tại Giêrusalem hay việc Thánh Giá được đưa trở lại Thành Thánh, chúng ta mới đứng ngoài cửa của mầu nhiệm. Những biến cố lịch sử có ý nghĩa của chúng, nhưng phụng vụ luôn đi xa hơn lịch sử. Phụng vụ không chỉ nói: “Ngày xưa đã có chuyện ấy.” Phụng vụ nói: “Hôm nay mầu nhiệm ấy đang được cử hành giữa chúng ta.” Trong phụng vụ, quá khứ cứu độ không bị nhốt trong một cuốn sách. Những gì Thiên Chúa đã thực hiện nơi Đức Kitô được Hội Thánh tưởng niệm trong quyền năng của Chúa Thánh Thần, để trở thành nguồn ân sủng cho cộng đoàn đang cử hành. Vì thế, ngày 14 tháng 9 không phải là ngày người Kitô hữu đứng dưới chân Thánh Giá như những khách tham quan một di tích. Chúng ta đứng trước Thánh Giá như những người biết rằng vận mệnh đời mình đã được quyết định ở đó. Chính nơi ấy, Con Thiên Chúa đã mang lấy tội lỗi chúng ta. Chính nơi ấy, bản án dành cho nhân loại tội lỗi được tình yêu Thiên Chúa ôm lấy. Chính nơi ấy, sự chết tưởng đã nuốt chửng sự sống, nhưng cuối cùng sự sống lại nuốt chửng sự chết. Chính nơi ấy, nhân loại tưởng đã loại trừ Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa lại mở rộng hai tay để ôm lấy nhân loại. Chính nơi ấy, con người nói lời cuối cùng của hận thù, còn Thiên Chúa nói lời cuối cùng của tình yêu. Vì thế, phụng vụ không cho phép chúng ta nhìn Thánh Giá với ánh mắt bi quan. Có nước mắt, nhưng không tuyệt vọng. Có đau đớn, nhưng không thất bại. Có cái chết, nhưng cái chết đã mang thai sự sống. Có bóng tối, nhưng ngay trong bóng tối ấy bình minh Phục Sinh đã bắt đầu.
Ba bài đọc của Lễ Suy Tôn Thánh Giá dẫn chúng ta vào một đường dây thần học tuyệt đẹp. Bài đọc thứ nhất kể chuyện con rắn đồng trong sa mạc. Dân Israel mất kiên nhẫn, kêu trách Thiên Chúa và ông Môsê. Nọc độc của những con rắn khiến nhiều người phải chết. Khi dân ăn năn, Thiên Chúa truyền cho Môsê làm một con rắn bằng đồng và treo lên cao; ai bị rắn cắn mà nhìn lên thì được sống. Nếu đọc câu chuyện ấy chỉ theo mặt chữ, người ta có thể thắc mắc tại sao một hình ảnh giống thứ gây ra cái chết lại trở thành phương thế chữa lành. Nhưng chính ở đây, phụng vụ đưa chúng ta đến Tin Mừng Gioan. Đức Giêsu đã tự mình giải thích hình ảnh ấy: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (x. Ga 3,14-15). Con rắn bằng đồng không tự nó cứu ai; quyền năng thuộc về Thiên Chúa. Việc nhìn lên là hành vi tin tưởng vào lời Thiên Chúa. Cũng vậy, Thánh Giá không phải một thứ bùa thiêng. Một cây Thánh Giá bằng vàng đeo trên cổ mà lòng đầy hận thù vẫn không cứu được người ta. Một cây Thánh Giá thật lớn đặt trong nhà mà gia đình không biết tha thứ cho nhau cũng chưa đủ. Một cây Thánh Giá đặt trên bàn làm việc nhưng người chủ vẫn gian dối, bóc lột, chà đạp người khác thì cây Thánh Giá ấy đang bị biến thành món trang trí. Phụng vụ mời ta nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh bằng đức tin. Nhìn là nhận ra mình đang bị nọc độc nào làm cho chết dần: ích kỷ, kiêu căng, tham lam, dục vọng, oán hận, ganh tị, dối trá, tham quyền, vô cảm. Nhìn lên Đấng bị đâm thâu để nhận ra rằng chỉ có tình yêu của Người mới chữa được vết thương sâu nhất trong lòng mình.
Tin Mừng của ngày lễ đưa chúng ta đến một câu mà có lẽ cả Kitô giáo có thể quỳ xuống trước đó suốt đời mà vẫn chưa suy cho hết: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Nếu muốn hiểu Thánh Giá, hãy bắt đầu từ chữ “yêu”. Không phải từ đau khổ. Không phải từ hình phạt. Không phải từ máu. Không phải từ cái chết. Bắt đầu từ tình yêu. Bởi nếu tách Thánh Giá ra khỏi tình yêu, chúng ta sẽ biến Kitô giáo thành một tôn giáo u tối, như thể Thiên Chúa thích thấy Con mình đau đớn. Không. Chúa Cha không vui vì những cây đinh. Chúa Cha không khoái trá vì máu chảy. Điều cứu độ nhân loại không phải là lượng đau đớn thể lý Đức Giêsu chịu, nhưng là tình yêu tuyệt đối của Người được diễn tả trong sự tự hiến hoàn toàn, cho đến mức chấp nhận cả đau khổ và cái chết vì trung thành với Chúa Cha và vì yêu thương nhân loại. Thánh Giá cứu độ bởi vì trên Thánh Giá có một tình yêu không rút lại lời hứa. Người bị phản bội nhưng vẫn yêu. Người bị bỏ rơi nhưng vẫn yêu. Người bị chế nhạo nhưng vẫn yêu. Người bị đóng đinh nhưng vẫn yêu. Người nghe kẻ thù thách thức mình xuống khỏi Thánh Giá nhưng vẫn ở lại, bởi nếu Người xuống để cứu mình thì Người sẽ không còn ở đó để cứu chúng ta. Có lẽ đây là nghịch lý đẹp nhất của Golgotha: Đức Giêsu có thể xuống khỏi Thánh Giá, nhưng tình yêu đã giữ Người ở lại. Đinh sắt đâm tay chân Người, nhưng những chiếc đinh ấy không mạnh bằng tình yêu. Chính tình yêu mới là thứ “đóng” Người vào Thánh Giá. Người ở lại đến cùng vì Người đã yêu những kẻ thuộc về mình “đến cùng”.
Bởi thế, khi Hội Thánh suy tôn Thánh Giá, Hội Thánh đang suy tôn tình yêu đến cùng. Đây là điều quan trọng trong thần học phụng vụ. Phụng vụ không say mê đau khổ vì đau khổ. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Người Kitô hữu không cần đi tìm đau khổ để chứng minh lòng đạo đức. Đức Giêsu cũng không tìm đau khổ như một người mê khổ hạnh bệnh hoạn. Trong vườn Ghếtsêmani, Người đã cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Người run sợ trước cái chết, buồn sầu đến chết được. Người không đóng kịch. Người thực sự đau. Nhưng lời cầu nguyện chưa dừng ở đó: “Tuy nhiên, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Chính câu sau làm nên ý nghĩa của câu trước. Đức Giêsu không yêu đau khổ; Người yêu Chúa Cha và yêu nhân loại đến mức chấp nhận đau khổ khi đau khổ trở thành cái giá của sự trung tín. Đó là một khác biệt vô cùng lớn. Và sự khác biệt ấy phải được rao giảng cho những người đang mang thập giá đời mình. Một người bệnh không cần giả vờ nói: “Tôi thích bệnh.” Một người mẹ mất con không cần nói: “Tôi vui vì mất con.” Một người bị phản bội không cần nói: “Tôi yêu sự phản bội.” Đức tin không bắt con người gọi điều dữ là điều tốt. Đức tin dạy rằng ngay trong điều dữ mà chúng ta không chọn, Thiên Chúa vẫn có thể gặp chúng ta, nâng chúng ta lên, thanh luyện chúng ta và biến đau khổ thành nơi tình yêu sinh hoa trái. Thánh Giá không nói rằng đau khổ tự nó là thánh. Thánh Giá nói rằng không đau khổ nào của con người còn nằm ngoài khả năng cứu chuộc của tình yêu Thiên Chúa.
Bài đọc thứ hai trong thư gửi tín hữu Philípphê mở ra chiều sâu khác của ngày lễ: sự tự hạ của Con Thiên Chúa. Đức Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa nhưng không nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa; Người đã tự hủy, mặc lấy thân phận tôi đòi, trở nên giống phàm nhân, lại còn hạ mình vâng lời cho đến chết, và chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và ban tặng danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu, để khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ. Ở đây có một chuyển động tuyệt đẹp: tự hạ – vâng phục – Thánh Giá – siêu tôn. Đức Giêsu đi xuống tận cùng để được Chúa Cha nâng lên. Người không tự nâng mình lên. Người không giành lấy quyền lực. Người không bảo vệ danh dự bằng cách nghiền nát kẻ thù. Người chiến thắng bằng cách trao ban chính mình. Đó là logic hoàn toàn trái ngược với logic của thế gian. Thế gian nói: muốn lớn, hãy leo lên. Đức Giêsu nói: muốn lớn, hãy cúi xuống. Thế gian nói: muốn thắng, hãy làm cho đối thủ quỳ xuống. Đức Giêsu quỳ xuống rửa chân cho môn đệ. Thế gian nói: muốn sống, hãy bảo vệ mình bằng mọi giá. Đức Giêsu nói: ai liều mất mạng sống vì Người sẽ tìm lại được. Thế gian nói quyền lực là khả năng bắt người khác phục vụ mình. Đức Giêsu nói Con Người đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người. Vì thế, Thánh Giá không chỉ là biến cố cứu chuộc; Thánh Giá còn là mặc khải về cách Thiên Chúa hành động.
Điều này có sức chất vấn rất mạnh đối với đời sống Hội Thánh. Chúng ta có thể đặt Thánh Giá trên cao mà lại sống ngược tinh thần Thánh Giá. Một linh mục có thể đeo Thánh Giá nhưng vẫn tìm quyền lực. Một tu sĩ có thể quỳ lâu trước Thánh Giá nhưng lại không chịu nổi một lời góp ý. Một người làm việc tông đồ có thể nói rất hay về hy sinh nhưng lại đòi người khác phải hy sinh cho mình. Một cộng đoàn có thể tổ chức Lễ Suy Tôn Thánh Giá thật long trọng mà bên trong vẫn còn những cuộc chiến hơn thua. Một gia đình Công giáo có Thánh Giá treo ngay phòng khách nhưng giữa vợ chồng lại dựng những cây thập giá cho nhau bằng lời nói cay độc. Khi ấy, Thánh Giá trên tường rất cao mà Thánh Giá trong đời lại rất thấp. Có khi ta cúi mình trước Thánh Giá trong nhà thờ, rồi ra khỏi nhà thờ lại bắt người khác cúi mình trước cái tôi của ta. Phụng vụ không cho phép sự phân đôi ấy. Chúng ta hôn kính Thánh Giá để học cách sống như Đấng trên Thánh Giá. Chúng ta cúi đầu trước Đức Kitô để cái tôi biết cúi xuống. Chúng ta ngắm cánh tay Người mở rộng để bàn tay mình thôi khép lại trước người nghèo. Chúng ta nhìn cạnh sườn Người bị đâm thâu để trái tim chai đá của mình được mở ra. Chúng ta nhìn Đấng tha thứ cho kẻ đóng đinh mình để thấy những lý do mình viện ra nhằm không tha thứ cho người khác bỗng trở nên quá nhỏ.
Thần học phụng vụ của Lễ Suy Tôn Thánh Giá còn cho thấy một điều kỳ diệu: Thánh Giá chính là ngai của Đức Kitô. Trong Tin Mừng Gioan, cái chết của Chúa Giêsu không chỉ là giờ đau đớn mà còn là “giờ” Người được tôn vinh. Khi Người nói đến việc “được giương cao”, Gioan cố ý để hai ý nghĩa gặp nhau: Người sẽ được nâng lên trên Thánh Giá, đồng thời chính trong việc bị nâng lên ấy Người được tôn vinh. Vinh quang Thiên Chúa không phải là thứ ánh sáng che giấu đau khổ; vinh quang ấy tỏa ra ngay từ tình yêu tự hiến. Một vị vua trần gian ngồi trên ngai, đội vương miện bằng vàng, tay cầm vương trượng. Đức Giêsu có một chiếc ngai bằng gỗ, một vương miện bằng gai và đôi tay bị đóng đinh. Phía trên đầu Người có tấm bảng: “Giêsu Nazareth, Vua dân Do Thái.” Philatô viết như một bản án, nhưng đức tin đọc đó như một lời tuyên xưng ngoài ý muốn của người viết: đúng vậy, Người là Vua. Một vị Vua kỳ lạ. Vương quốc Người không được xây bằng máu của kẻ thù nhưng bằng máu chính Người. Người không có binh sĩ bảo vệ ngai; Người có hai tên tội phạm bị đóng đinh bên cạnh. Người không nguyền rủa kẻ chống đối; Người cầu xin: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người không tích trữ kho báu; ngay cả áo của Người cũng bị chia nhau. Người không còn gì để cho ngoài chính mình, và Người đã cho nốt điều cuối cùng ấy.
Chính ở điểm này, đoạn Tin Mừng về người trộm lành có thể trở thành một hình ảnh rất đẹp để minh họa mầu nhiệm Thánh Giá, dù bài Tin Mừng chính của ngày lễ là Ga 3,13-17. Trên đồi Canvê có ba cây thập giá. Một người chửi rủa. Một người cầu xin. Ở giữa là Đức Giêsu. Người trộm lành không còn gì trong tay để dâng Chúa. Ông không thể xuống khỏi thập giá để sửa lại cuộc đời. Không còn thời gian làm việc lành. Không còn cơ hội đền bù. Không còn tiền bạc. Không còn danh dự. Ông chỉ còn một chút lòng tin: “Lạy ông Giêsu, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Đức Giêsu trả lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Thật lạ! Cánh cửa Thiên Đàng được mở ra bên cạnh một cây thập giá. Người đầu tiên nghe lời hứa trực tiếp ấy trong giờ Đức Giêsu chịu chết lại là một tên tử tội. Điều ấy nói gì với chúng ta? Nó nói rằng chẳng ai ở quá xa lòng thương xót của Thiên Chúa, nếu còn biết quay nhìn lên Đấng chịu đóng đinh. Có thể đời ta đã hỏng nhiều thứ. Có thể ta đã làm bao người đau. Có thể ta cảm thấy mình không xứng đáng để bước vào nhà thờ nữa. Có thể quá khứ cứ đeo bám. Nhưng dưới Thánh Giá, không ai được quyền tuyệt vọng. Nếu tên trộm bên cạnh Chúa còn có một “hôm nay” của ơn cứu độ, thì chúng ta cũng còn một “hôm nay” để quay về.
Và đó cũng là lý do phụng vụ của ngày 14 tháng 9 mang một sắc thái rất khác Thứ Sáu Tuần Thánh. Cùng một Thánh Giá, nhưng điểm nhấn không hoàn toàn giống nhau. Thứ Sáu Tuần Thánh đưa Hội Thánh vào sự trang nghiêm của cuộc Thương Khó, cái chết của Chúa, sự im lặng của Golgotha. Lễ Suy Tôn Thánh Giá lại nhìn Thánh Giá trong ánh sáng chiến thắng của Đức Kitô Phục Sinh. Màu đỏ phụng vụ không chỉ gợi đến máu đổ ra nhưng còn nói đến tình yêu, đến chứng tá, đến chiến thắng được mua bằng sự tự hiến. Hội Thánh đã hiểu từ rất sớm rằng không thể tách Thánh Giá khỏi Phục Sinh. Nếu chỉ có Thánh Giá mà không có Phục Sinh, Kitô giáo kết thúc bằng một ngôi mộ. Nếu chỉ nói Phục Sinh mà né Thánh Giá, chúng ta sẽ biến Tin Mừng thành một thứ lạc quan rẻ tiền, không chạm tới đau khổ thật của nhân loại. Nhưng Kitô giáo tuyên xưng cả hai: Đấng bị đóng đinh đã sống lại; Đấng sống lại vẫn mang những dấu đinh. Sau Phục Sinh, Chúa Giêsu không xóa những vết thương khỏi thân thể Người. Người cho Tôma xem tay và cạnh sườn. Những vết thương từng là dấu của bạo lực nay trở thành dấu căn cước của tình yêu. Thiên Chúa không cứu chúng ta bằng cách giả vờ rằng những vết thương chưa từng xảy ra. Người cứu bằng cách làm cho vết thương không còn quyền nói lời cuối cùng.
Đẹp biết bao khi phụng vụ đặt Thánh Giá ở trung tâm đời sống Kitô hữu. Dấu Thánh Giá mở đầu và kết thúc hầu hết những giờ kinh. Ta làm dấu Thánh Giá khi bắt đầu Thánh lễ: “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.” Ta lại được chúc lành trong dấu Thánh Giá trước khi trở về đời thường. Đứa trẻ được cha mẹ tập làm dấu Thánh Giá từ thuở nhỏ. Người hấp hối được linh mục làm dấu Thánh Giá trên trán. Ngày chịu phép Rửa, dấu Thánh Giá được ghi trên người dự tòng như dấu của Đức Kitô. Khi cử hành bí tích, khi cầu nguyện, khi bắt đầu một công việc, người Kitô hữu làm dấu Thánh Giá. Nhưng đáng buồn thay, một cử chỉ quá quen có thể trở thành quá hời hợt. Có người làm dấu nhanh đến mức chính họ cũng chẳng biết tay mình đang vẽ gì trên thân thể. Trong khi ấy, mỗi lần làm dấu Thánh Giá là một lời tuyên xưng đức tin rất lớn. Ta đang nói rằng đời mình thuộc về Thiên Chúa Ba Ngôi. Ta đang vẽ trên chính thân thể mình dấu của tình yêu cứu chuộc. Ta đang tuyên bố rằng mẫu mực đời mình không phải là thống trị nhưng là tự hiến, không phải ích kỷ nhưng là yêu thương, không phải giữ lấy nhưng là trao ban. Làm dấu Thánh Giá thật chậm đôi khi cũng đủ thành một bài giảng. Đưa tay lên trán: xin Chúa thánh hóa những suy nghĩ của con. Xuống ngực: xin Chúa thánh hóa trái tim và những ước muốn của con. Qua hai vai: xin Chúa thánh hóa công việc và gánh nặng đời con. Cả con người được đặt dưới dấu Thánh Giá.
Trong Thánh lễ, mầu nhiệm Thánh Giá hiện diện cách đặc biệt. Thánh lễ không đóng đinh Đức Kitô một lần nữa. Hy tế của Người là hy tế duy nhất, hoàn tất một lần cho tất cả. Nhưng trong bí tích Thánh Thể, hy tế ấy được hiện tại hóa cách bí tích để Hội Thánh được tham dự. Bàn thờ Kitô giáo vì thế không thể hiểu nếu tách khỏi Thánh Giá. Trên bàn thờ, bánh và rượu trở thành Mình và Máu Đức Kitô, Đấng đã nói: “Này là Mình Thầy, bị nộp vì anh em… Này là chén Máu Thầy, Máu Giao Ước mới và vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho anh em và nhiều người được tha tội.” Thánh Thể là tình yêu Thánh Giá được trao cho Hội Thánh làm lương thực. Người Kitô hữu rước lễ là rước lấy Đấng đã tự hiến, để rồi đời họ cũng được biến thành lễ vật. Nếu rước Mình Đấng đã bẻ mình ra mà ta nhất quyết không chịu bẻ một chút thời giờ, tiền bạc, sức lực, lòng tự ái cho tha nhân, thì việc rước lễ chưa sinh đủ hoa trái. Nếu uống chén Máu của Đấng tha thứ mà ta giữ mãi một mối hận, phải chăng có một nghịch lý đau lòng? Phụng vụ Thánh Thể dạy chúng ta rằng không thể đứng dưới chân Thánh Giá như khán giả. Đức Kitô kéo Hội Thánh vào hy tế của Người để cả Hội Thánh trở thành một dân biết hiến mình trong tình yêu.
Ngày 14 tháng 9 vì thế không chỉ là ngày để ngắm Thánh Giá, nhưng còn là ngày hỏi: Tôi có đang để Thánh Giá định hình cách sống của mình không? Người ta dễ yêu một cây Thánh Giá hơn yêu một con người gây phiền toái cho mình. Cây Thánh Giá trên bàn thờ im lặng; người bên cạnh lại nói những lời khó nghe. Thánh Giá bằng gỗ không đòi ta tha thứ; người làm ta tổn thương thì có. Thánh Giá bằng kim loại không chen vào kế hoạch riêng của ta; một người bệnh trong gia đình thì có. Thánh Giá treo trên cổ nhẹ; thập giá của trách nhiệm có khi rất nặng. Và chính ở đó mới biết chúng ta có thực sự tôn kính Thánh Giá hay chỉ tôn kính một biểu tượng. Thánh Gioan nói rất rõ: ai nói mình yêu Thiên Chúa mà ghét anh em mình là người nói dối. Đức Giêsu trên Thánh Giá đã nối tình yêu Thiên Chúa với tình yêu nhân loại đến mức không thể tách ra nữa. Thanh dọc của Thánh Giá có thể gợi tương quan giữa con người với Thiên Chúa; thanh ngang mở rộng về phía anh chị em. Không thể giữ thanh dọc mà bẻ thanh ngang. Không thể nói “con yêu Chúa” trong khi từ chối người Chúa yêu.
Thánh Giá cũng thanh luyện một căn bệnh rất phổ biến trong đời sống thiêng liêng: chúng ta thường muốn một Thiên Chúa giải quyết mọi chuyện theo ý mình hơn là một Thiên Chúa cứu mình theo đường lối của Người. Phêrô là một thí dụ. Khi Đức Giêsu báo trước Người phải lên Giêrusalem, chịu nhiều đau khổ, bị giết chết và ngày thứ ba sống lại, Phêrô kéo Người riêng ra và can trách. Phêrô yêu Thầy, nhưng ông muốn một Đức Kitô không có Thánh Giá. Đức Giêsu đáp rất mạnh: “Satan, lui lại đằng sau Thầy!” Tại sao mạnh đến thế? Vì cám dỗ loại bỏ Thánh Giá chính là cám dỗ làm lệch con đường cứu độ. Phêrô muốn vinh quang không qua tự hiến. Ông muốn Đức Kitô nhưng không muốn đường của Đức Kitô. Chúng ta cũng thế. Ta thích Chúa ban bình an, nhưng không muốn tha thứ. Ta thích Chúa chúc lành gia đình, nhưng không muốn hy sinh cho gia đình. Ta thích Giáo Hội phát triển, nhưng không muốn phục vụ âm thầm. Ta muốn đời linh mục có hoa trái nhưng không muốn những đêm cô đơn. Ta muốn đời tu thánh thiện nhưng không muốn từ bỏ ý riêng. Ta muốn hôn nhân hạnh phúc nhưng không muốn chết đi cho ích kỷ. Ta muốn con cái ngoan nhưng không muốn dành thời giờ đồng hành với chúng. Ta muốn được cứu mà không muốn từ bỏ điều đang giết chết mình. Nhưng Đức Giêsu nói rất rõ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.”
Tuy nhiên, phải hiểu câu ấy đúng. Vác thập giá không có nghĩa là cam chịu mọi bất công một cách thụ động. Có những “thập giá” do tội lỗi con người tạo ra mà chúng ta có trách nhiệm chống lại. Người phụ nữ bị bạo hành không được bảo rằng hãy cứ chịu đựng vì đó là thập giá Chúa gửi. Trẻ em bị lạm dụng phải được bảo vệ. Người nghèo bị bóc lột phải được bênh vực. Người yếu thế bị chà đạp cần công lý. Đức Giêsu vác Thánh Giá không phải để hợp thức hóa bạo lực, nhưng để chiến thắng bạo lực bằng tình yêu và mở ra một nhân loại mới. Thần học Thánh Giá nếu bị hiểu sai có thể biến thành cái cớ cho kẻ mạnh bắt người yếu cam chịu. Nhưng Thánh Giá thật của Đức Kitô luôn đứng về phía nạn nhân, bởi chính Người đã trở thành nạn nhân của bất công. Người chịu kết án trong một phiên xử đầy gian dối. Người bị đánh đập, chế nhạo, lột áo, đóng đinh. Vì thế, đứng dưới Thánh Giá mà vẫn thản nhiên trước đau khổ của người bị áp bức là phản bội chính Thánh Giá.
Suy Tôn Thánh Giá còn là dịp để chúng ta nhìn lại quan niệm về thành công. Có những lúc đời sống của Đức Giêsu nhìn theo tiêu chuẩn thế gian dường như kết thúc bằng thất bại hoàn toàn. Ba năm rao giảng, cuối cùng một môn đệ bán Người, một môn đệ chối Người, phần lớn môn đệ bỏ chạy. Đám đông từng tung hô nay la ó. Nhà cầm quyền kết án. Các nhà lãnh đạo tôn giáo chế giễu. Người chết ngoài thành như một tội nhân. Nếu chiều Thứ Sáu Tuần Thánh có một tờ báo Giêrusalem viết bản tổng kết sự nghiệp Đức Giêsu Nazareth, có lẽ người ta sẽ ghi: “Phong trào đã kết thúc.” Nhưng Thiên Chúa viết câu chuyện khác. Sáng ngày thứ nhất trong tuần, ngôi mộ trống. Từ một nhóm môn đệ sợ hãi, Tin Mừng lan đến tận cùng thế giới. Cây thập giá mà đế quốc dùng để thị uy cuối cùng lại được đặt trên những vương miện và nóc thánh đường. Đế quốc Rôma của ngày ấy qua đi; Đấng bị đóng đinh vẫn được hàng tỷ con người gọi là Chúa. Thánh Giá dạy rằng tiêu chuẩn của Thiên Chúa khác tiêu chuẩn của con người. Có những đời sống xem ra âm thầm, bé nhỏ, không thành tích, nhưng rất lớn trước mặt Chúa. Một bà mẹ thức đêm chăm con bệnh có thể chẳng ai biết nhưng đó là một phụng vụ của tình yêu. Một người chồng trung thành bên người vợ đau yếu nhiều năm đang sống một bài giảng về Thánh Giá. Một linh mục già ngồi tòa giải tội hàng giờ, không ai chụp hình, chẳng ai vỗ tay, nhưng biết bao linh hồn được trở về. Một nữ tu âm thầm chăm người già, lau những vết thương mà người khác sợ nhìn, đang đứng rất gần Đấng chịu đóng đinh. Một người con kiên nhẫn với cha mẹ già lẩm cẩm có thể đang cử hành “Lễ Suy Tôn Thánh Giá” mỗi ngày mà không cần một nghi thức long trọng nào.
Trong thế giới hôm nay, Thánh Giá càng trở nên một lời chất vấn. Chúng ta sống trong nền văn hóa thường đề cao cái đẹp, sức mạnh, tốc độ, thành tích, hình ảnh. Người ta muốn xuất hiện hoàn hảo. Mạng xã hội đầy những khuôn mặt được chỉnh sửa, những khoảnh khắc được chọn lọc, những thành công được phô bày. Còn Thánh Giá thì chẳng “đẹp” theo tiêu chuẩn ấy. Một thân thể bị thương. Một khuôn mặt đầy máu. Một con người bị lột hết những lớp bảo vệ. Thánh Giá nói: Thiên Chúa không yêu bạn vì bạn hoàn hảo. Người yêu bạn ngay nơi bạn mong manh nhất. Bạn không cần trang điểm linh hồn trước khi đến với Người. Hãy đến với những vết thương. Hãy đến với những thất bại. Hãy đến với những câu hỏi chưa có câu trả lời. Hãy đến với một đời sống đã có những đoạn rất xấu. Hãy nhìn lên Đấng chịu đóng đinh. Người hiểu vết thương, vì Người mang vết thương. Người hiểu bị phản bội. Người hiểu cô đơn. Người hiểu bị hiểu lầm. Người hiểu đau đớn. Người hiểu tiếng kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Không có đáy vực nào của thân phận con người mà Đức Kitô không từng chạm đến. Và vì Người đã đi xuống tận đó, chẳng nơi nào ta rơi xuống mà Người không thể tìm gặp ta.
Có lẽ điều thấm thía nhất của Thánh Giá là Đức Giêsu không cứu thế giới từ một nơi an toàn. Người không đứng trên trời nói với chúng ta: “Hãy cố gắng chịu đựng.” Người bước vào đau khổ. Người trở thành Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta – không chỉ ở tiệc cưới Cana, không chỉ trong những phép lạ, mà cả trên Golgotha. Khi con người khóc, Thiên Chúa đã khóc. Khi con người bị thương, Thiên Chúa đã mang thương tích. Khi con người chết, Con Thiên Chúa đã đi vào cái chết. Chính vì vậy, Kitô giáo có quyền nói về hy vọng giữa đau khổ, bởi Đức Kitô không nói từ bên ngoài đau khổ. Người nói từ bên trong một thân thể từng bị đóng đinh. Chúng ta không có một Thiên Chúa lạnh lùng ngồi quan sát những giọt nước mắt của nhân loại. Ta có một Thiên Chúa đã khóc trước mộ Ladarô, đã toát mồ hôi máu trong Ghếtsêmani, đã kêu khát trên Thánh Giá và đã để cạnh sườn mình bị đâm thâu.
Nhưng Thánh Giá cũng không cho chúng ta dừng lại trong việc thương hại Chúa Giêsu. Chúa không cần chúng ta tội nghiệp Người. Người muốn chúng ta nhận ra tình yêu và đáp lại. Các phụ nữ thành Giêrusalem khóc khi thấy Người vác Thánh Giá. Đức Giêsu nói: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu.” Nghĩa là đừng biến cuộc Thương Khó thành một bi kịch để xúc động vài phút rồi trở lại cuộc sống cũ. Hãy để Thánh Giá phán xét đời ta. Những gì trong ta đã góp phần dựng nên Golgotha? Một chút dối trá của Giuđa? Một chút hèn nhát của Phêrô? Một chút rửa tay của Philatô? Một chút ganh ghét của các thủ lãnh? Một chút hiếu kỳ của đám đông? Một chút chế giễu của quân lính? Thật dễ đứng hai ngàn năm sau và nói: “Nếu tôi ở đó, tôi đã không đóng đinh Chúa.” Nhưng mỗi lần ta chà đạp phẩm giá một người, mỗi lần ta kết án mà không biết sự thật, mỗi lần ta chọn quyền lợi riêng thay vì công lý, mỗi lần ta biết điều tốt mà không dám làm vì sợ mất vị trí, ta đang nghe tiếng búa Golgotha vang lại đâu đó trong đời mình.
Và đồng thời, Tin Mừng hỏi: ta có thể trở thành ai dưới chân Thánh Giá? Có thể là Đức Maria, đứng đó trong thinh lặng và trung tín. Có thể là Gioan, người môn đệ ở lại khi nhiều người đã chạy. Có thể là Simon Kyrênê, ban đầu bị bắt vác đỡ nhưng rồi trở thành người gần Đức Giêsu trên con đường đau khổ. Có thể là Vêrônica theo truyền thống đạo đức của Hội Thánh, người trao một cử chỉ nhỏ giữa đám đông thờ ơ. Có thể là viên đại đội trưởng, người cuối cùng nhìn Đấng đã chết và tuyên xưng: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa.” Mỗi ngày, cuộc đời vẫn có những con đường Thánh Giá. Có người đang vác bệnh tật. Có gia đình đang vác món nợ. Có cha mẹ đang vác nỗi đau vì con cái. Có linh mục đang vác cô đơn. Có tu sĩ đang vác khủng hoảng ơn gọi. Có người trẻ đang vác sự lạc hướng. Có cụ già đang vác cảm giác mình trở thành gánh nặng. Có người bị bỏ rơi trong hôn nhân. Có người thất nghiệp. Có người bị hiểu lầm. Ta không thể gỡ hết mọi thập giá, nhưng ta có thể giống Simon: ghé vai vào. Nhiều khi “suy tôn Thánh Giá” đẹp nhất không phải là nâng cây Thánh Giá lên thật cao trong cuộc rước, nhưng cúi thật thấp xuống để nâng một con người đang ngã.
Thánh Giá còn dạy chúng ta nghệ thuật tha thứ. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu không chờ kẻ đóng đinh mình xin lỗi rồi mới tha. Người cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Đây không phải là sự yếu đuối. Tha thứ trên Thánh Giá là một sức mạnh siêu nhiên. Hận thù rất dễ; ai cũng có thể hận. Trả đũa rất tự nhiên. Nhưng bị tổn thương mà vẫn không để tâm hồn trở thành bản sao của kẻ làm mình tổn thương, đó là chiến thắng. Khi tha thứ, ta không nói rằng điều xấu người khác đã làm là đúng. Ta cũng không nhất thiết khôi phục một mối quan hệ nguy hiểm. Tha thứ là từ chối để tội lỗi người khác tiếp tục điều khiển trái tim mình. Ta trao việc phán xét cho Thiên Chúa và xin Người giải phóng ta khỏi chất độc của oán hận. Trong ý nghĩa ấy, mỗi lần tha thứ thật lòng, Thánh Giá lại chiến thắng một lần nữa.
Ngày 14 tháng 9 cũng là một lời nhắc dành cho những ai phục vụ trong Hội Thánh: chúng ta không được rao giảng một Đức Kitô không còn dấu đinh. Hội Thánh sẽ mất căn tính nếu quá bận tâm đến hình ảnh, quyền lực, địa vị, ảnh hưởng mà quên Đấng chịu đóng đinh. Thánh Phaolô đã nói: “Chúng tôi rao giảng một Đấng Kitô chịu đóng đinh.” Không phải vì ngài thích thất bại nhưng vì ở đó ngài thấy sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa. Một Giáo Hội trung thành với Thánh Giá phải là Giáo Hội ở gần người bị thương, người nghèo, người tội lỗi muốn trở về, người bị bỏ quên, người không có tiếng nói. Nếu chỉ thích đứng cạnh người thành công và quyền lực, Hội Thánh sẽ trở nên khó nhận ra Đấng sáng lập mình – Đấng đã chết giữa hai người tử tội. Một linh mục sống thần học Thánh Giá không phải là người luôn mang vẻ khắc khổ, nhưng là người biết tiêu hao đời mình vì đoàn chiên. Tòa giải tội có thể là một Thánh Giá. Một cuộc điện thoại lúc đang mệt có thể là Thánh Giá. Một người giáo dân khó tính có thể trở thành cơ hội học kiên nhẫn. Một lời hiểu lầm mà mình không thể giải thích hết có thể là Thánh Giá. Nhưng nếu tất cả được mang trong tình yêu, những thứ ấy không còn vô nghĩa.
Có một câu hỏi thường xuất hiện khi đau khổ quá lớn: “Tại sao Chúa để chuyện này xảy ra?” Thánh Giá không trả lời mọi chữ “tại sao” bằng một công thức. Chính Đức Giêsu cũng đã kêu lên lời Thánh vịnh: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Có những đau khổ trên đời này chúng ta sẽ không bao giờ giải thích được cho thỏa đáng. Đứng trước cái chết của một em bé, một tai nạn vô nghĩa, một căn bệnh nghiệt ngã, đôi khi lời giải thích lại trở thành tàn nhẫn. Thánh Giá không đưa cho ta một lý thuyết; Thánh Giá đưa cho ta một Người. Thiên Chúa không giải thích đau khổ từ xa; Người bước vào đó. Và Phục Sinh là lời của Chúa Cha rằng đau khổ và sự chết sẽ không thắng. Có lẽ đức tin trưởng thành không phải là lúc ta có câu trả lời cho mọi sự, nhưng là lúc giữa những câu hỏi chưa có câu trả lời, ta vẫn dám đặt tay mình vào bàn tay mang dấu đinh và nói: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con tin Chúa.”
Thật đẹp khi nghĩ rằng đời Kitô hữu bắt đầu dưới dấu Thánh Giá và cũng kết thúc dưới dấu ấy. Khi ta sinh ra, cha mẹ đưa ta đến giếng Rửa Tội, và linh mục ghi dấu Thánh Giá trên trán. Khi ta nằm xuống lần cuối, người thân lại đặt cây Thánh Giá bên cạnh. Ở giữa hai dấu Thánh Giá ấy là cả một cuộc đời. Một cuộc đời có lúc sáng, lúc tối; có lúc trung thành, lúc vấp ngã; có lúc hăng say, lúc mệt mỏi. Nhưng nếu cuối cùng ta có thể nói như Thánh Phaolô rằng mình đã cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô và không còn sống cho chính mình nữa, thì đời ấy đã không uổng phí. Chúng ta không biết mình sẽ chết lúc nào hay chết cách nào, nhưng người Kitô hữu biết mình muốn chết dưới dấu nào: dấu của Đấng đã chết vì mình.
Lễ Suy Tôn Thánh Giá vì thế không thể kết thúc ở một nghi thức. Ngày lễ phải kéo dài sang ngày 15, 16, 17 tháng 9 và tất cả những ngày còn lại. Ngày mai, có thể chẳng còn bài hát về Thánh Giá trong nhà thờ, nhưng Thánh Giá sẽ xuất hiện dưới hình dạng một người mình khó chịu. Ngày mai, có thể chẳng còn hương trầm trước Thánh Giá, nhưng có một bệnh nhân cần được chăm sóc. Ngày mai, có thể không có cuộc rước, nhưng có một đoạn đường ta phải đi trong trung tín. Ngày mai, cây Thánh Giá trên bàn thờ vẫn đứng đó, nhưng điều quan trọng là nó có đi vào lựa chọn của ta hay không. Khi phải chọn giữa nói thật và nói dối để được lợi, Thánh Giá ở đó. Khi phải chọn tha thứ hay nuôi hận, Thánh Giá ở đó. Khi phải chọn phục vụ hay bảo vệ tiện nghi, Thánh Giá ở đó. Khi phải chọn trung thành hay phản bội, Thánh Giá ở đó. Khi phải chọn đứng về phía người yếu hay làm ngơ để được an toàn, Thánh Giá ở đó.
Có người hỏi tại sao người Công giáo cứ nhìn lên hình Đức Giêsu chịu đóng đinh, tại sao không chỉ dùng cây thập giá trống để nhấn mạnh Phục Sinh. Câu trả lời là chúng ta cần cả mầu nhiệm Vượt Qua trọn vẹn. Ta cần nhớ Đấng đã sống lại chính là Đấng đã bị đóng đinh. Ta cần nhìn thân thể bị thương ấy để không quên cái giá của tình yêu. Ta cần nhìn đôi tay bị đóng đinh để nhớ những bàn tay ấy từng chạm người phong cùi. Ta cần nhìn đôi chân bị đóng đinh để nhớ đôi chân ấy đã đi tìm những người bị loại trừ. Ta cần nhìn cạnh sườn bị mở ra để nhớ trái tim Thiên Chúa không đóng lại trước tội lỗi nhân loại. Ta cần nhìn đầu đội mão gai để nhớ vị Vua của mình khác những vua chúa thế gian. Ta cần nhìn đôi mắt khép lại của Người để tin rằng ngay cả cái chết cũng đã trở thành nơi Thiên Chúa đi qua.
Và rồi, trong những ngày đời mình quá nặng, hãy cứ nhìn lên Thánh Giá. Không nhất thiết phải nói nhiều. Có những lúc cầu nguyện không còn lời. Chỉ ngồi đó thôi. Chỉ nhìn. Như dân Israel trong sa mạc nhìn lên con rắn đồng. Nhìn lên Đấng đã đi trước mình. Người mẹ mất con nhìn lên Đức Maria đứng dưới Thánh Giá. Người bị phản bội nhìn lên Đức Giêsu bị Giuđa bán. Người cô đơn nhìn lên Đấng nghe các môn đệ bỏ chạy. Người bị vu oan nhìn lên Đấng bị cáo gian. Người nghèo nhìn lên Đấng chết không còn áo mặc. Người hấp hối nhìn lên Đấng đã bước vào cái chết. Người mang mặc cảm tội lỗi nhìn lên Đấng nói với tên trộm: “Hôm nay anh sẽ ở với tôi trên Thiên Đàng.” Người không thể tha thứ nhìn lên Đấng cầu xin cho kẻ giết mình. Người muốn bỏ cuộc nhìn lên Đấng đã nói: “Thế là đã hoàn tất.”
“Thế là đã hoàn tất” không phải tiếng thở dài của một người thua cuộc. Đó là lời của một Đấng đã yêu đến cùng và đã hoàn thành công trình Chúa Cha trao phó. Cây Thánh Giá vì vậy không còn là dấu chấm hết. Nó trở thành dấu cộng của Thiên Chúa đặt giữa trời và đất, nối điều tưởng chừng không thể nối: Thiên Chúa và tội nhân, sự thánh thiện và con người yếu đuối, trời và đất, đau khổ và hy vọng, cái chết và sự sống. Thanh dọc cắm xuống đất nhưng hướng lên trời; thanh ngang dang ra như hai cánh tay ôm lấy nhân loại. Ở giao điểm của hai thanh gỗ là trái tim Đức Kitô. Và có lẽ cả thần học Thánh Giá cuối cùng có thể thu lại trong hình ảnh ấy: một trái tim bị đâm thâu nhưng vẫn mở ra.
Ngày 14 tháng 9, Hội Thánh nâng cao Thánh Giá để nhắc cả thế giới rằng tình yêu mạnh hơn hận thù. Sự tha thứ mạnh hơn trả thù. Tự hiến mạnh hơn chiếm đoạt. Khiêm hạ mạnh hơn kiêu căng. Sự sống mạnh hơn sự chết. Và Thiên Chúa không cứu thế giới bằng cách đứng xa nó, nhưng bằng cách bước vào tận vết thương của nó. Chúng ta suy tôn Thánh Giá không phải vì yêu đau khổ, nhưng vì trên đó chúng ta nhìn thấy một tình yêu mà đau khổ cũng không thể làm cho quay lui. Chúng ta suy tôn Thánh Giá không phải vì say mê cái chết, nhưng vì qua cái chết ấy sự sống đã bừng lên. Chúng ta suy tôn Thánh Giá không phải vì cây gỗ có quyền năng tự nó, nhưng vì trên cây gỗ ấy đã treo Đấng yêu chúng ta “đến cùng”.
Ước gì mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, chúng ta đừng chỉ thấy những chiếc đinh, nhưng thấy tình yêu. Đừng chỉ thấy máu, nhưng thấy lòng thương xót. Đừng chỉ thấy đau khổ, nhưng thấy sự tự hiến. Đừng chỉ thấy cái chết, nhưng thấy cánh cửa Phục Sinh đang mở. Đừng chỉ hỏi: “Chúa đã chịu gì vì tôi?” mà còn dám hỏi: “Tôi sẽ sống thế nào vì Chúa?” Và khi một ngày nào đó thập giá đời mình trở nên quá nặng, khi đôi chân muốn dừng lại, khi lời cầu nguyện khô khan, khi bóng tối kéo dài, xin đừng vội buông tay. Hãy nhìn lên. Người đang ở đó. Đấng chịu đóng đinh không hứa rằng môn đệ sẽ không có Thánh Giá; Người hứa rằng người vác Thánh Giá sẽ không vác một mình. Người đi phía trước. Người đi bên cạnh. Và cuối con đường không phải Golgotha, mà là buổi sáng Phục Sinh.
Lạy Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh, trong ngày Hội Thánh suy tôn Thánh Giá Chúa, xin cho chúng con đừng chỉ biết nâng cao cây Thánh Giá trong nhà thờ mà quên nâng cao tình yêu trong cuộc sống. Xin cho chúng con biết cúi mình trước Thánh Giá để học cúi mình phục vụ anh em. Xin cho chúng con nhìn đôi tay bị đóng đinh của Chúa mà biết mở bàn tay mình cho người nghèo. Nhìn trái tim bị đâm thâu mà biết mở trái tim cho người làm chúng con tổn thương. Nhìn lời tha thứ của Chúa mà học buông bỏ hận thù. Nhìn sự vâng phục của Chúa mà học đặt ý Chúa trên ý riêng. Nhìn cái chết của Chúa mà không còn quá sợ cái chết. Nhìn sự Phục Sinh đang ẩn mình sau Thánh Giá mà không thất vọng trước bất cứ đêm tối nào của cuộc đời. Và xin cho đến cuối đời, dù vui hay buồn, thành công hay thất bại, khỏe mạnh hay bệnh tật, được người đời hiểu hay bị hiểu lầm, chúng con vẫn có thể ôm lấy Thánh Giá và thưa bằng tất cả niềm tin: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa, vì Chúa đã dùng Thánh Giá mà cứu chuộc trần gian.”
Lm. Anmai, CSsR

VIỆC LÀM DẤU THÁNH GIÁ – Ý NGHĨA SÂU XA
Có những điều trong đời sống đạo quá quen đến nỗi người ta không còn thấy hết vẻ đẹp của nó nữa. Có những cử chỉ được làm mỗi ngày, nhiều lần trong ngày, từ thuở còn bé cho đến lúc tóc đã bạc, nhưng chính vì quá quen mà đôi khi bàn tay làm trước, lòng theo sau; có khi bàn tay làm mà lòng chẳng kịp theo. Làm Dấu Thánh Giá là một cử chỉ như thế. Người Công giáo vừa thức dậy đã làm Dấu Thánh Giá, bước vào nhà thờ làm Dấu Thánh Giá, bắt đầu cầu nguyện làm Dấu Thánh Giá, trước bữa ăn làm Dấu Thánh Giá, trước một chuyến đi làm Dấu Thánh Giá, gặp lúc sợ hãi cũng làm Dấu Thánh Giá, đứng bên giường người hấp hối lại càng làm Dấu Thánh Giá. Một đứa trẻ chưa thuộc hết kinh Lạy Cha đã được mẹ cầm bàn tay bé nhỏ tập đặt lên trán, xuống ngực, sang vai trái, rồi vai phải: “Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. Amen.” Một cụ già có khi trí nhớ đã phai, tên người quen có thể quên, đường về nhà có lúc lẫn, nhưng bàn tay vẫn còn nhớ con đường từ trán xuống ngực và ngang hai vai. Cử chỉ ấy tưởng nhỏ, nhưng chứa cả một trời mầu nhiệm. Một Dấu Thánh Giá được làm thật chậm, thật ý thức, thật tin yêu, có thể là một bản tuyên xưng đức tin ngắn nhất mà cũng đầy đủ nhất của người Kitô hữu. Trong mấy giây đồng hồ, người tín hữu tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi, tưởng niệm cuộc Khổ nạn và Phục Sinh của Đức Kitô, nhận mình thuộc về Chúa, xin được đặt trọn cuộc đời dưới quyền năng và tình yêu của Người, đồng thời nhắc mình rằng con đường Kitô hữu không phải con đường trốn tránh thập giá nhưng là con đường đi qua thập giá để bước vào sự sống.
“Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.” Ta không nói “nhân danh các Cha, Con và Thánh Thần”, cũng không nói “nhân danh ba Đấng”, nhưng nói “nhân danh” – một Danh duy nhất. Chỉ mấy chữ ấy thôi đã đưa ta vào tận trung tâm mầu nhiệm đức tin Kitô giáo: một Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi vị, Cha, Con và Thánh Thần. Chính Chúa Giêsu, trước khi về trời, đã truyền cho các môn đệ: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19). Bởi thế, mỗi khi làm Dấu Thánh Giá, người Kitô hữu như trở về với ngày mình được lãnh nhận Bí tích Rửa Tội. Ngày ấy có thể ta còn quá nhỏ để nhớ, nhưng Hội Thánh nhớ thay cho ta. Nước đã đổ trên đầu ta, và Danh Ba Ngôi được đọc trên đời ta. Kể từ giây phút ấy, ta không còn chỉ thuộc về mình. Ta đã được ghi dấu cho Thiên Chúa. Cuộc đời ta được đặt vào trong tương quan với Chúa Cha là nguồn mọi sự, với Chúa Con là Đấng cứu chuộc ta, với Chúa Thánh Thần là Đấng thánh hóa và làm cho ta sống sự sống của Thiên Chúa. Vì thế, làm Dấu Thánh Giá không phải là một thứ “bùa đạo” để cầu may, càng không phải là một động tác theo thói quen để chống lại điều xui xẻo. Làm Dấu Thánh Giá là nói: “Lạy Chúa, con thuộc về Chúa. Con bắt đầu việc này trong Chúa. Con muốn sống giây phút này trong Chúa. Con xin đặt trí óc, trái tim, thân xác, công việc, niềm vui và cả nỗi đau của con dưới Danh thánh Chúa.”
Bàn tay đưa lên trán. Trán là nơi người ta vẫn coi như biểu tượng của trí khôn, suy nghĩ, dự định, ký ức. Khi đặt tay lên trán và thưa “Nhân danh Cha”, ta có thể âm thầm dâng cho Chúa Cha tất cả những gì đang diễn ra trong đầu mình. Những toan tính, những lo âu, những câu hỏi không có lời giải, những ký ức làm ta đau, những dự tính cho ngày mai, cả những ý nghĩ không đẹp mà ta xấu hổ không muốn ai biết – tất cả đều cần được đặt dưới ánh sáng của Thiên Chúa. Có người mang một khuôn mặt bình thản nhưng trong đầu là cả một cơn bão. Có người vẫn đi lễ, vẫn cười nói, vẫn làm việc bình thường, nhưng đêm về không ngủ nổi vì một chuyện gia đình, một món nợ, một đứa con, một căn bệnh, một tương lai không biết sẽ ra sao. Khi ấy, Dấu Thánh Giá trên trán có thể trở thành một lời cầu nguyện rất thật: “Lạy Cha, đầu óc con rối quá. Con không biết phải tính thế nào. Xin Cha nghĩ với con. Xin cho những suy nghĩ của con đừng chạy xa khỏi đường lối của Cha.” Người tín hữu không chỉ xin Chúa chúc lành cho ý nghĩ của mình; sâu hơn, ta xin Chúa thanh luyện cách nghĩ của ta. Có những lúc điều ta tưởng đúng chưa chắc là điều Chúa muốn. Có những phán đoán ta tin chắc lại chất chứa thành kiến. Có những kế hoạch xem ra rất khôn nhưng đằng sau chỉ là tham vọng. Đặt Dấu Thánh Giá trên trán là xin trí khôn của Đức Kitô thay thế sự khôn ngoan ích kỷ của mình.
Từ trán, bàn tay đi xuống ngực. Khoảng cách rất ngắn, nhưng đó lại là một cuộc hành trình dài nhất của con người: từ cái đầu xuống trái tim. Biết về Chúa chưa phải đã yêu Chúa. Thuộc rất nhiều kinh chưa chắc đã sống được một lời Tin Mừng. Có thể nói đúng cả một bài thần học về bác ái mà vẫn không tha thứ nổi cho người trong nhà. Có thể hiểu rất kỹ về Thánh Giá nhưng vẫn cay nghiệt với người làm mình đau. Đức tin phải đi từ đầu xuống tim. “Và Con.” Chúa Con đã từ trời xuống đất. Người không đứng xa đau khổ nhân loại để giảng cho con người một bài học về đau khổ. Người đi xuống. Đi xuống Bêlem nghèo hèn. Đi xuống Nazareth âm thầm. Đi xuống những con đường bụi bặm của Galilê. Đi xuống bên người bệnh, người tội lỗi, người bị xã hội loại trừ. Cuối cùng Người đi xuống tận thân phận của kẻ bị đóng đinh và xuống tận cõi chết. Khi bàn tay từ trán đi xuống ngực, ta có thể nhớ đến cuộc tự hạ của Con Thiên Chúa: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa… đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ… Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (x. Pl 2,6-8). Thiên Chúa cứu ta không bằng cách đứng trên cao kéo ta lên như người ta kéo một vật khỏi hố sâu. Người xuống tận hố sâu với ta rồi dẫn ta ra. Vì thế, đặt tay lên ngực mà đọc “và Con” là chạm vào nơi của tình yêu, nơi Chúa Giêsu muốn ngự trị.
Rồi bàn tay đi ngang hai vai khi đọc “và Thánh Thần”. Hai vai gợi đến gánh nặng, công việc, trách nhiệm, thập giá mỗi ngày. Người ta nói “gánh trên vai”, “mang trên vai”. Mỗi người đều có cái phải mang. Người cha mang nỗi lo cơm áo cho gia đình. Người mẹ mang biết bao bận tâm về con cái. Người trẻ mang những câu hỏi về tương lai. Linh mục mang đoàn chiên và những nỗi đau nhiều khi không thể kể ra. Tu sĩ mang sự trung thành với lời khấn qua những năm tháng khô khan. Người bệnh mang thân xác mỏi mòn. Người già mang sự cô đơn và cảm giác mình dần trở thành gánh nặng cho người khác. Có những thập giá nhìn thấy được; có những thập giá chẳng ai nhìn thấy. Dấu Thánh Giá đi qua hai vai như muốn nói rằng: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin ở trong những gì con đang phải mang. Nếu con không thể bỏ gánh này xuống, xin cho con sức để mang nó mà không trở thành cay đắng. Nếu con không thay đổi được hoàn cảnh, xin biến đổi trái tim con trong hoàn cảnh ấy.” Thánh Thần không nhất thiết làm biến mất thập giá; nhiều khi Người làm một điều sâu hơn: biến một người sắp gục dưới thập giá thành một người có thể tiếp tục bước đi trong bình an.
Và toàn bộ cử chỉ ấy vẽ trên thân thể ta hình Thánh Giá. Trán – ngực – vai – vai. Người tín hữu tự ghi lên chính mình dấu của Đấng đã chết vì mình. Điều này thật đáng suy nghĩ. Kitô giáo không chọn một biểu tượng dễ thương làm dấu hiệu trung tâm. Hội Thánh không chọn một ngai vàng, một vầng hào quang hay một vương miện, nhưng chọn cây Thánh Giá, vốn từng là dụng cụ hành hình đáng sợ của đế quốc Rôma. Tại sao? Vì chính ở nơi con người tưởng chỉ có thất bại, Thiên Chúa đã làm xuất hiện chiến thắng; nơi người ta nhìn thấy ô nhục, Thiên Chúa bày tỏ vinh quang; nơi sự chết dường như nói lời cuối cùng, tình yêu đã chứng minh rằng sự chết không còn là lời cuối. Thánh Giá trở thành Thánh Giá không phải vì gỗ ấy tự nó thánh, nhưng vì trên cây gỗ ấy Con Thiên Chúa đã yêu nhân loại “đến cùng” (Ga 13,1). Người ta có thể chết vì nhiều lý do; Đức Giêsu chết vì yêu. Chính tình yêu biến cây tử hình thành cây sự sống.
Có một đoạn Tin Mừng giúp ta hiểu rất sâu điều này. Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,14-17). Đây có thể xem là một trong những chìa khóa đẹp nhất để đọc Dấu Thánh Giá. Thánh Giá không nói trước hết rằng con người tội lỗi đến mức nào; Thánh Giá nói trước hết rằng Thiên Chúa yêu con người đến mức nào. Nếu chỉ nhìn Thánh Giá và nghĩ về hình phạt, ta chưa nhìn đủ. Hãy nhìn lâu hơn một chút. Đằng sau những chiếc đinh là đôi tay đã chữa lành biết bao người. Đằng sau vòng gai là khuôn mặt từng cúi xuống trên người đau khổ. Đằng sau cạnh sườn bị đâm thâu là trái tim đã rung động trước đám đông “như bầy chiên không người chăn dắt”. Đằng sau tiếng kêu trên đồi Canvê là một đời chỉ biết sống cho Chúa Cha và cho con người. Thánh Giá là lời tuyên bố của Thiên Chúa rằng: “Ta không bỏ con, ngay cả khi con bỏ Ta. Ta không ngừng yêu con, ngay cả khi con không đáng yêu. Ta đi tìm con tận nơi tăm tối nhất của đời con.”
Bởi thế, một người làm Dấu Thánh Giá thật sự không thể sống như thể mình chưa từng được yêu như thế. Dấu Thánh Giá vừa an ủi, vừa đòi hỏi. An ủi vì ta được yêu vô điều kiện; đòi hỏi vì ai đã được tình yêu ấy chạm đến thì không thể cứ tiếp tục sống vô cảm. Ta làm Dấu Thánh Giá mà rồi trong gia đình cứ giữ hận thù, thì Dấu Thánh Giá đang chất vấn ta. Ta làm Dấu Thánh Giá trước bữa ăn mà ngoài kia người nghèo đói không làm lòng ta chạnh lại, thì Thánh Giá hỏi ta: “Con vừa nhân danh ai?” Ta làm Dấu Thánh Giá trước khi lên mạng mà rồi viết những lời xúc phạm, làm nhục, vu khống người khác, thì bàn tay vừa vẽ Thánh Giá trên người mình lại đang dùng chính những ngón tay ấy làm tổn thương người khác. Ta làm Dấu Thánh Giá bước vào nhà thờ mà lại mang trong lòng sự khinh bỉ với người ngồi bên cạnh, thì cử chỉ đạo đức và đời sống đang tách khỏi nhau. Điều đáng sợ trong đời sống đức tin không phải chỉ là phạm những lỗi lớn; đáng sợ còn là quen với điều thánh đến nỗi không còn để điều thánh ấy biến đổi mình.
“Amen.” Một chữ ngắn cuối Dấu Thánh Giá nhưng không phải để kết thúc cho xong. Amen nghĩa là: “Đúng vậy”, “Con tin”, “Xin được như thế”. Khi nói Amen sau Dấu Thánh Giá, ta như ký tên vào điều vừa tuyên xưng. “Con tin Thiên Chúa là Cha. Con tin Đức Giêsu là Chúa và là Đấng cứu độ con. Con tin Chúa Thánh Thần đang hiện diện và hoạt động. Con tin Thánh Giá không phải ngõ cụt. Con xin sống hôm nay trong Danh Ba Ngôi.” Amen không chỉ là chữ cuối của kinh; nếu hiểu đúng, đó là chữ đầu của một đời sống. Sau Amen, ta phải sống điều mình vừa nói. Dấu Thánh Giá trước giờ làm việc nghĩa là phải làm công việc ấy với lương tâm ngay thẳng. Dấu Thánh Giá trước bữa ăn mời gọi ta sống biết ơn. Dấu Thánh Giá trước chuyến xe nhắc ta biết trân trọng sự sống của mình và người khác. Dấu Thánh Giá trước khi ngủ là trao cả một ngày – những gì thành công lẫn thất bại – vào tay Chúa. Dấu Thánh Giá trước một quyết định quan trọng không phải là xin Chúa đóng dấu vào điều ta đã quyết sẵn, nhưng là xin mình đủ tự do để chọn điều đúng.
Đặc biệt, Dấu Thánh Giá dạy người Kitô hữu một điều mà con người hôm nay rất khó chấp nhận: đời không thể tránh mọi thập giá. Có một thứ tôn giáo trong trí tưởng tượng của người ta cho rằng tin Chúa tốt thì đời sẽ thuận lợi, cầu nguyện nhiều thì bệnh sẽ khỏi, sống đạo đàng hoàng thì gia đình sẽ không gặp biến cố. Nhưng Tin Mừng không hứa như vậy. Chúa Giêsu không bảo: “Ai theo Ta sẽ không bao giờ đau khổ.” Người nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). Chúa không ca tụng đau khổ vì đau khổ. Đau vẫn là đau. Mất một người thân vẫn khiến tim tan nát. Một căn bệnh hiểm nghèo vẫn làm người ta sợ. Bị phản bội vẫn buốt. Thất nghiệp vẫn lo. Bị hiểu lầm vẫn đau. Đức tin không biến Kitô hữu thành những con người không biết khóc. Đức Giêsu đã khóc trước mộ Ladarô. Người đã buồn đến chết được trong vườn Cây Dầu. Người đã thốt lên trên Thánh Giá: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Nhưng chính vì Đức Giêsu đã đi qua tận cùng đau khổ con người nên từ nay không còn nỗi đau nào hoàn toàn vắng bóng Thiên Chúa. Làm Dấu Thánh Giá giữa khổ đau nghĩa là tuyên xưng: “Con chưa hiểu chuyện này, nhưng con tin Chúa đang ở đây. Con chưa thấy ánh sáng, nhưng con tin bóng tối không phải là tất cả. Con đang đau, nhưng con không đau một mình.”
Có những Dấu Thánh Giá đẹp hơn mọi bài giảng. Đó là Dấu Thánh Giá của một người mẹ ngồi bên giường đứa con bệnh lúc nửa đêm. Bà chẳng biết nói gì nữa. Bao nhiêu kinh đã đọc, bao nhiêu lời đã cầu. Cuối cùng bà chỉ đặt tay lên trán con rồi làm một Dấu Thánh Giá. Trong cử chỉ nhỏ ấy có cả nỗi bất lực và niềm cậy trông. Có Dấu Thánh Giá của người chồng đứng trước phòng cấp cứu nơi người vợ đang nằm bên trong. Có Dấu Thánh Giá của người con trước linh cữu cha mẹ. Có Dấu Thánh Giá của bệnh nhân trước khi bước vào phòng mổ. Có Dấu Thánh Giá của một linh mục già trước khi bước lên bàn thờ dâng Thánh lễ mà không biết đó có phải Thánh lễ cuối cùng đời mình hay không. Có Dấu Thánh Giá của người thanh niên đứng trước một quyết định không dễ dàng giữa lương tâm và lợi ích. Có Dấu Thánh Giá của người vừa bị xúc phạm nhưng cố giữ miệng để không đáp trả bằng một câu làm tổn thương người kia. Những Dấu Thánh Giá ấy không ồn ào, chẳng ai chụp hình, chẳng ai vỗ tay, nhưng có thể rất đẹp trước mặt Thiên Chúa.
Cũng có một Dấu Thánh Giá đặc biệt cảm động: Dấu Thánh Giá cha mẹ ghi trên trán con cái. Nhiều gia đình Công giáo ngày trước vẫn giữ thói quen trước khi con đi xa, cha mẹ làm dấu trên trán con. Đứa con đi học xa, đi làm xa, lập gia đình, xuất ngoại, cha mẹ chẳng có gì quý hơn để cho bằng một lời chúc lành. Người cha hay người mẹ đặt ngón tay lên trán con, vẽ một dấu nhỏ và nói: “Xin Chúa gìn giữ con.” Có thể người con đi rồi sẽ quên nhiều lời cha mẹ dặn, nhưng cái chạm nhẹ trên trán hôm ấy có khi theo cả đời. Chúng ta thường tìm rất nhiều thứ để lại cho con: tiền bạc, nhà cửa, học vấn, cơ hội; những điều ấy đều cần. Nhưng đừng quên để lại một gia sản đức tin. Một đứa trẻ thấy cha mình mỗi sáng làm Dấu Thánh Giá nghiêm trang trước khi đi làm sẽ học được nhiều hơn một bài giáo lý dài. Một đứa trẻ thấy mẹ nó làm Dấu Thánh Giá trước khi giải quyết chuyện khó sẽ hiểu rằng trong nhà này còn có Một Đấng lớn hơn mọi nỗi lo. Trẻ con học đạo trước hết không bằng tai nhưng bằng mắt. Chúng nhìn cách người lớn sống.
Làm Dấu Thánh Giá cũng là một cách thánh hóa thân xác. Đức tin Kitô giáo không khinh thân xác. Ta không chỉ cầu nguyện bằng trí óc. Ta quỳ, đứng, chắp tay, cúi đầu, mở tay, ăn chay, lãnh nhận nước rửa tội, dầu thánh, Mình Máu Chúa. Thiên Chúa dựng nên cả hồn lẫn xác; Con Thiên Chúa đã mang lấy thân xác thật; thân xác sẽ được phục sinh. Vì thế thân thể cũng tham dự vào cầu nguyện. Khi bàn tay chạm trán, ngực và vai, chính thân thể đang cầu nguyện. Có lúc đầu óc ta phân tán, lời kinh khô khan, nhưng thân xác vẫn giúp kéo linh hồn trở lại. Một Dấu Thánh Giá thật chậm có thể gom lại cả con người đang tản mác. Ta đang sống trong một thời đại bị kéo đi trăm hướng. Mắt nhìn màn hình này, tai nghe tin kia, đầu nghĩ việc nọ, tim lo chuyện khác. Chỉ ít giây đứng yên, làm thật chậm Dấu Thánh Giá, cũng có thể là một hành vi trở về: “Lạy Chúa, con đây. Toàn thân con đây. Con đang ở trước mặt Chúa.”
Dấu Thánh Giá còn là lời nhắc nhớ rằng ta được cứu nhờ ân sủng chứ không phải chỉ nhờ khả năng riêng. Con người hiện đại rất dễ tin vào sức mình. Chúng ta lập kế hoạch, đo lường, tính toán, tối ưu mọi việc; rồi đôi khi tưởng đời mình nằm hoàn toàn trong tay mình. Nhưng một biến cố bất ngờ đủ cho thấy con người mong manh biết bao. Một cuộc gọi lúc nửa đêm. Một kết quả xét nghiệm. Một vụ tai nạn. Một quyết định của người khác. Một biến chuyển kinh tế. Một cái chết không báo trước. Chỉ trong vài phút, bao kế hoạch có thể đổi hướng. Điều này không có nghĩa ta sống thụ động; Kitô hữu phải trách nhiệm hết sức. Nhưng sau khi đã làm điều cần làm, ta biết mình không phải Thiên Chúa. Làm Dấu Thánh Giá là đặt lại mình đúng vị trí: tạo vật trước Đấng Tạo Hóa, người con trước Chúa Cha, người được cứu trước Đấng Cứu Độ, người cần được dẫn dắt trước Chúa Thánh Thần. Người biết làm Dấu Thánh Giá bằng lòng tin sẽ bớt kiêu căng khi thành công và bớt tuyệt vọng khi thất bại, vì biết rằng cuộc đời mình không chỉ nằm trong những gì bàn tay mình kiểm soát được.
Nhưng có lẽ một trong những điều cần nhắc nhất là: đừng làm Dấu Thánh Giá cách cẩu thả. Có khi tay vừa chạm đâu đó trước mặt, miệng lẩm bẩm thật nhanh, chẳng biết mình vừa nói gì. Ta sẽ thấy lạ nếu một người đứng trước người mình yêu mà chào cho có lệ, nói tên người ấy méo mó và quay đi. Vậy mà trước Danh Ba Ngôi, ta nhiều khi làm điều tương tự. Không phải lúc nào cũng cần làm thật chậm đến mức hình thức, nhưng ít nhất hãy làm có ý thức. Hãy để bàn tay thực sự chạm trán, ngực, hai vai. Hãy đọc rõ: “Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. Amen.” Chỉ vài giây thôi. Nhưng vài giây ấy có thể thay đổi cách ta bước vào lời cầu nguyện. Cái quan trọng không phải vẻ ngoài hoàn hảo mà là lòng hiện diện. Ta đang gọi Danh Thiên Chúa. Ta đang vẽ dấu cứu độ trên mình. Ta đang nhớ mình thuộc về ai.
Một ngày sống của người tín hữu có thể được bao bọc bằng hai Dấu Thánh Giá: một khi thức dậy và một trước khi ngủ. Buổi sáng mở mắt, trước cả khi cầm điện thoại, hãy làm Dấu Thánh Giá. Đừng để tin nhắn, tin tức, công việc hay mạng xã hội là thứ đầu tiên bước vào tâm hồn. Hãy để Danh Chúa bước vào trước. Một Dấu Thánh Giá buổi sáng có thể là lời dâng: “Lạy Cha, ngày này là của Cha. Lạy Chúa Giêsu, xin đi với con. Lạy Chúa Thánh Thần, xin hướng dẫn con.” Rồi tối đến, khi mọi âm thanh của ngày đã lắng, hãy làm lại Dấu Thánh Giá. Ngày hôm nay có thể rất đẹp hoặc rất tệ; có thể ta làm được nhiều điều tốt, cũng có thể ta đã làm tổn thương ai đó; có thể ta được khen hoặc bị chê; có thể khỏe mạnh hoặc kiệt sức. Dấu Thánh Giá cuối ngày như đưa tất cả vào lòng Chúa: “Con trả lại cho Chúa ngày hôm nay. Điều tốt xin Chúa nhận lấy. Điều sai xin Chúa tha thứ. Điều dang dở xin Chúa tiếp tục. Điều con không hiểu, con trao cho Chúa.” Rồi ngủ. Người tín hữu ngủ không phải vì mọi vấn đề đã được giải quyết, nhưng vì tin rằng trong khi mình ngủ, Thiên Chúa vẫn thức.
Một Dấu Thánh Giá trước bữa ăn cũng có chiều sâu mà ta thường bỏ qua. Khi làm dấu trước chén cơm, ta thú nhận rằng cơm này không tự nhiên mà có. Đằng sau một hạt gạo là đất, nước, nắng, người nông dân, người vận chuyển, người nấu, và cuối cùng là sự quan phòng của Thiên Chúa. Làm Dấu Thánh Giá trước bữa ăn là tập lòng biết ơn trong một thế giới rất dễ coi mọi thứ là quyền đương nhiên. Nhưng Dấu Thánh Giá ấy cũng phải làm ta nhớ đến người không có cơm ăn. Không thể cảm tạ Chúa vì bàn ăn đầy mà chẳng bao giờ nghĩ đến người đói. Càng biết ơn, ta càng phải biết chia sẻ.
Một Dấu Thánh Giá trước khi lái xe cũng không chỉ để “xin đi đường bình an”. Nó còn buộc ta phải lái xe có trách nhiệm. Không thể vừa xin Chúa giữ mình rồi phóng ẩu, uống rượu lái xe, vượt đèn đỏ hay coi thường mạng sống người khác. Xin Chúa bảo vệ không phải là miễn cho ta bổn phận thận trọng. Một Dấu Thánh Giá trước khi làm việc cũng vậy: nó nhắc người bác sĩ khám bệnh với lương tâm, người giáo viên dạy học bằng trách nhiệm, người kinh doanh không gian dối, người công chức không lợi dụng quyền lực, người lao động không làm qua loa. Nếu ta thật sự bắt đầu công việc “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”, có những việc ta sẽ không thể làm, có những đồng tiền ta sẽ không thể nhận, có những chữ ký ta sẽ không thể ký.
Và hãy thử làm Dấu Thánh Giá khi bị cám dỗ. Lúc nóng giận sắp buông một câu độc địa, hãy làm Dấu Thánh Giá. Lúc một hình ảnh hay một lời mời kéo ta vào điều sai, hãy làm Dấu Thánh Giá. Lúc muốn trả đũa, muốn gian dối, muốn bỏ cuộc, muốn tuyệt vọng, hãy làm Dấu Thánh Giá và gọi tên Chúa. Không phải như một động tác ma thuật khiến cám dỗ lập tức biến mất, nhưng như một quyết định: “Tôi thuộc về Đức Kitô.” Trong Bí tích Rửa Tội, ta đã thuộc về Người. Khi làm Dấu Thánh Giá giữa cám dỗ, ta đánh thức căn tính ấy. Có những trận chiến thiêng liêng không cần những lời cầu nguyện dài; chỉ một tiếng “Giêsu” thật lòng và một Dấu Thánh Giá cũng đủ để ta nhớ mình đang đứng về phía nào.
Đặc biệt, hãy làm Dấu Thánh Giá trên chính nỗi đau của mình. Người ta có thói quen làm dấu trên bánh, trên người bệnh, trên mộ phần, trên vật đạo; nhưng nhiều khi quên làm dấu trên vết thương trong lòng. Có những chuyện đã qua mười năm mà cứ nhắc lại là đau. Có người đã tha thứ bằng miệng nhưng ký ức vẫn nhói. Có người mang mặc cảm vì lỗi lầm quá khứ. Có người cảm thấy đời mình thất bại. Có người mang một câu nói của cha mẹ, vợ chồng hay người thân như chiếc gai cắm trong tim nhiều năm. Hãy đặt bàn tay lên ngực và làm Dấu Thánh Giá thật chậm: “Nhân danh Cha…” – con vẫn là con của Cha. “Và Con…” – Chúa Giêsu đã mang vết thương của con vào vết thương Người. “Và Thánh Thần…” – xin chữa lành và làm mới lòng con. “Amen.” Không phải vết thương sẽ lập tức biến mất. Nhưng dần dần, ta để Thánh Giá của Đức Kitô được đặt lên thập giá của mình; và khi hai thập giá gặp nhau, thập giá của ta không còn vô nghĩa nữa.
Tin Mừng còn cho ta một hình ảnh rất đẹp ở đồi Canvê. Khi Đức Giêsu bị đóng đinh, người ta tưởng mọi sự đã hết. Các môn đệ chạy trốn. Những ước mơ của họ xem ra tan vỡ. Nhưng bên Thánh Giá vẫn có Đức Maria đứng đó. Tin Mừng Gioan viết thật đơn giản: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người…” (Ga 19,25). Chỉ một chữ “đứng” mà chứa biết bao nhiêu. Đức Maria không làm được gì để tháo đinh cho Con. Mẹ không thể ngăn cái chết. Mẹ không hiểu hết những gì đang xảy ra. Nhưng Mẹ đứng đó. Đôi khi đức tin cũng chỉ là đứng lại bên Thánh Giá. Không chạy khỏi Chúa khi lời cầu chưa được nhận. Không bỏ Chúa khi đời tối đi. Không kết luận rằng Chúa không thương mình chỉ vì Chúa không làm theo điều mình xin. Có những lúc ta chẳng thể làm gì ngoài một Dấu Thánh Giá và tiếp tục đứng đó. Chính sự trung thành nhỏ bé ấy đã là đức tin.
Thánh Giá cũng dạy một nghịch lý: đôi tay của Chúa Giêsu bị đóng lại, nhưng chính lúc ấy Người ôm được cả nhân loại. Chân Người bị đóng vào gỗ, nhưng từ đó con đường cứu độ mở ra cho muôn dân. Miệng Người khô khát, nhưng vẫn nói lời tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Người bị lột hết mọi sự nhưng lại trao tất cả: trao Mẹ cho môn đệ, trao môn đệ cho Mẹ, trao thần khí, trao mạng sống. Vì vậy mỗi Dấu Thánh Giá ta làm còn là lời mời gọi bước vào cung cách sống của Đức Kitô: cho đi thay vì giữ lại, tha thứ thay vì trả đũa, phục vụ thay vì thống trị, khiêm nhường thay vì phô trương, trung thành thay vì chạy trốn.
Nếu mỗi Dấu Thánh Giá chỉ dừng ở cử chỉ mà không chạm đến cách sống, cử chỉ ấy chưa đạt đến ý nghĩa trọn vẹn. Người mang Thánh Giá trên cổ nhưng sống gian dối thì chiếc Thánh Giá đang gọi người ấy trở về. Nhà treo Thánh Giá thật lớn mà vợ chồng lạnh nhạt, cha mẹ con cái không nói với nhau, thì Thánh Giá trên tường đang âm thầm hỏi: “Tình yêu của Ta ở đâu trong căn nhà này?” Một cơ sở Công giáo đặt Thánh Giá thật trang trọng nhưng đối xử thiếu công bằng với người nghèo, người lao động, thì Thánh Giá ấy trở thành lời chất vấn. Thánh Giá không phải đồ trang trí để làm cho một nơi có vẻ Công giáo. Thánh Giá là tiêu chuẩn. Nơi nào treo Thánh Giá, nơi đó phải cố gắng có lòng thương xót. Người nào mang Thánh Giá, người ấy phải cố gắng mang lấy người khác.
Có người hỏi: tại sao cứ phải nhắc đến Thánh Giá, nghe nặng nề quá? Tại sao không nói nhiều hơn về niềm vui, hy vọng, Phục Sinh? Thật ra Kitô giáo không dừng ở Thứ Sáu Tuần Thánh. Nếu Đức Kitô không sống lại, Thánh Giá chỉ là một thảm kịch. Nhưng Người đã sống lại. Chính Phục Sinh làm sáng Thánh Giá; và chính Thánh Giá cho thấy Phục Sinh là chiến thắng của tình yêu đã đi qua cái chết. Vì thế người Công giáo không tôn thờ sự đau khổ. Ta tôn thờ Đấng chịu đóng đinh và đã sống lại. Thánh Giá không nói: “Hãy đi tìm đau khổ.” Thánh Giá nói: “Khi đau khổ đến, đừng để nó làm con mất tình yêu.” Chúa Giêsu không chiến thắng bằng cách tránh Thánh Giá nhưng bằng cách yêu ngay trên Thánh Giá. Đây có lẽ là bài học lớn nhất. Không phải ta luôn chọn được điều xảy đến với mình, nhưng ta có thể chọn cách sống trong điều xảy đến. Ta không chọn được người khác đối xử thế nào với ta, nhưng có thể chọn mình sẽ trở thành người thế nào sau tổn thương ấy. Thập giá có thể làm một người trở nên cay nghiệt hoặc sâu sắc, đóng kín hoặc cảm thông, tuyệt vọng hoặc phó thác. Chúa Giêsu chỉ cho ta con đường thứ hai.
Đến cuối đời, Dấu Thánh Giá càng trở nên quý. Có những người hấp hối không còn đọc được một kinh dài. Hơi thở đã yếu. Ý thức chập chờn. Người thân cầm tay họ, giúp làm Dấu Thánh Giá. Cuộc đời bắt đầu trong Danh Ba Ngôi khi lãnh Bí tích Rửa Tội và giờ cũng được trao lại trong Danh Ba Ngôi. Từ Dấu Thánh Giá mẹ dạy thuở bé đến Dấu Thánh Giá cuối đời – cả một hành trình nằm giữa hai chữ “Nhân danh”. Con người đến trần gian tay trắng và ra đi cũng tay trắng. Những gì từng làm ta lo đến mất ngủ – tài sản, hơn thua, địa vị, tiếng khen chê – lúc ấy bỗng trở nên nhỏ. Điều còn lại là ta đã yêu thế nào, đã sống thế nào và đang trao linh hồn mình cho ai. Có lẽ chẳng có lời nào đẹp hơn lúc ấy: “Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. Amen.”
Bởi vậy, từ hôm nay, xin đừng bao giờ coi Dấu Thánh Giá là chuyện nhỏ. Cử chỉ nhỏ không có nghĩa là mầu nhiệm nhỏ. Một giọt nước nhỏ có thể chứa hình ảnh cả bầu trời. Một Dấu Thánh Giá vài giây cũng có thể chứa cả Tin Mừng cứu độ. Khi tay chạm trán, hãy xin Chúa thánh hóa suy nghĩ. Khi tay xuống ngực, xin Chúa thanh luyện trái tim. Khi tay chạm hai vai, xin Thánh Thần nâng đỡ những gánh nặng. Khi toàn thân được ghi hình Thánh Giá, hãy nhớ: mình là người đã được Đức Kitô yêu đến chết. Và khi nói Amen, hãy nói bằng cả đời mình.
Có khi chúng ta đi tìm những phương pháp cầu nguyện mới, những kinh nghiệm thiêng liêng đặc biệt, những lời kinh thật dài; những điều ấy có thể tốt. Nhưng đừng để vì tìm cái xa mà bỏ quên kho tàng ngay trong bàn tay. Hãy học lại Dấu Thánh Giá như đứa trẻ học từ đầu. Hãy làm chậm hơn một chút. Tin hơn một chút. Yêu hơn một chút. Có thể ngày mai những vấn đề của ta chưa hết. Người làm ta đau vẫn thế. Căn bệnh vẫn còn. Công việc vẫn khó. Gia đình vẫn còn chuyện phải giải quyết. Nhưng nếu ta bắt đầu ngày mới dưới Dấu Thánh Giá, ta không còn đi một mình nữa. Ta bước đi trong Danh Cha, Đấng không ngừng yêu thương; trong Danh Con, Đấng đã đi qua mọi đau khổ của con người; trong Danh Thánh Thần, Đấng ở lại, an ủi, đổi mới và dẫn ta đến cùng.
Và nếu một ngày nào đó không còn đủ sức đọc nhiều kinh, hãy còn giữ lấy Dấu Thánh Giá. Nếu tâm trí quá rối chẳng tìm được lời cầu nguyện, hãy làm Dấu Thánh Giá. Nếu đang vui mà không biết cảm tạ sao cho đủ, hãy làm Dấu Thánh Giá. Nếu đang đau đến mức không còn nói được gì, cũng hãy làm Dấu Thánh Giá. Nếu đứng trước một người mình rất khó tha thứ, hãy làm Dấu Thánh Giá rồi xin Chúa cho mình đừng đóng thêm một chiếc đinh nào vào người khác. Nếu đứng trước một quyết định khiến lòng phân vân, hãy làm Dấu Thánh Giá và xin cho điều mình chọn thuộc về ánh sáng. Nếu đứng trước cái chết, hãy làm Dấu Thánh Giá như người con đặt bàn tay mình vào bàn tay Cha và nói: “Con về.”
Thánh Giá không hứa đời ta sẽ không có ngày mưa; Thánh Giá cho ta biết trong ngày mưa vẫn có một Đấng đứng bên. Thánh Giá không hứa ta không bị thương; Thánh Giá cho ta thấy những vết thương có thể trở thành nơi tình yêu đi vào. Thánh Giá không hứa ta sẽ không chết; Thánh Giá công bố rằng sự chết đã bị đánh bại. Thánh Giá không giải thích hết những câu hỏi “tại sao” của cuộc đời; Thánh Giá cho ta một câu trả lời lớn hơn mọi lời giải thích: Thiên Chúa ở với ta và Thiên Chúa yêu ta đến cùng.
Vậy nên, lần tới khi bàn tay đưa lên trán, xin đừng vội. Hãy nhớ Chúa Cha đang nhìn ta bằng ánh mắt của người Cha. Khi bàn tay xuống ngực, hãy nhớ Chúa Con đã yêu ta và hiến mạng vì ta. Khi bàn tay chạm hai vai, hãy nhớ Thánh Thần đang nâng đỡ điều ta không đủ sức mang một mình. Và khi nói “Amen”, hãy để cả cuộc đời trở thành tiếng Amen ấy.
Một đời người có thể rất dài, nhưng cuối cùng được gói lại trong vài điều đơn sơ: mình từ đâu đến, mình thuộc về ai, mình đã yêu thế nào, và mình sẽ đi về đâu. Dấu Thánh Giá trả lời cả bốn. Ta đến từ tình yêu của Chúa Cha. Ta được cứu nhờ Chúa Con. Ta sống nhờ Chúa Thánh Thần. Và qua Thánh Giá, ta đi về nhà Cha.
Xin cho bàn tay ta đừng bao giờ làm Dấu Thánh Giá một cách vô hồn. Xin cho mỗi lần làm dấu là một lần trở về. Trở về với căn tính người con. Trở về với mầu nhiệm mình đã được cứu chuộc. Trở về với tình yêu đã đổ máu vì mình. Trở về với lời mời gọi tha thứ. Trở về với trách nhiệm sống tử tế. Trở về với niềm hy vọng rằng, dù con đường hôm nay có đi qua Canvê, phía cuối cùng vẫn là buổi sáng Phục Sinh.
Và khi cuộc đời chỉ còn đủ sức cho một cử chỉ cuối cùng, ước gì bàn tay ta vẫn còn nhớ con đường ấy: từ trán xuống tim, từ vai này sang vai kia – con đường nhỏ bé của bàn tay nhưng là con đường vĩ đại của ơn cứu độ. Rồi trong hơi thở cuối, ta còn đủ sức thưa, hoặc nếu môi không nói được thì lòng vẫn thưa:
“Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. Amen.”
Lm. Anmai, CSsR

NGHI THỨC TÔN KÍNH THÁNH GIÁ NGÀY THỨ SÁU TUẦN THÁNH
Có lẽ trong suốt năm phụng vụ, hiếm có một khoảnh khắc nào vừa đơn sơ, vừa trang nghiêm, vừa làm lòng người lặng xuống sâu như lúc Thánh Giá được đưa lên giữa cộng đoàn trong chiều Thứ Sáu Tuần Thánh và lời xướng vang lên: “Đây là cây Thánh Giá, nơi treo Đấng Cứu Độ trần gian.” Cả cộng đoàn đáp lại: “Chúng ta hãy đến thờ lạy.” Chỉ mấy lời thôi, nhưng dường như cả mầu nhiệm cứu độ của Kitô giáo được gom lại trong đó. Không còn những lời giải thích dài. Không còn những lý luận phải trái. Không còn những câu hỏi vì sao. Trước mặt chúng ta chỉ còn một cây Thánh Giá, một Đấng chịu đóng đinh, và một lời mời: hãy đến. Hãy đến mà nhìn. Hãy đến mà cúi đầu. Hãy đến mà thờ lạy. Hãy đến để hiểu rằng Thiên Chúa đã yêu con người đến mức nào. Hãy đến để thấy giá của tội lỗi nặng đến đâu. Hãy đến để nhận ra rằng không có một nỗi đau nào của con người lại xa lạ với trái tim Thiên Chúa. Và cũng hãy đến để học một điều rất khó: con đường cứu độ không đi vòng qua Thánh Giá, nhưng đi xuyên qua Thánh Giá.
Thứ Sáu Tuần Thánh là một ngày lạ lùng trong đời sống Hội Thánh. Bàn thờ trống. Nhà tạm trống. Không cử hành Thánh Lễ. Chuông im. Không khí phụng vụ mang một sự trầm mặc gần như đau đớn. Vị chủ tế tiến vào trong thinh lặng và phủ phục trước bàn thờ. Cộng đoàn cũng quỳ xuống. Chưa cần nói gì cả. Có những nỗi đau quá lớn mà lời nói trở thành thừa. Có những mầu nhiệm quá sâu mà chỉ còn biết cúi mình. Hội Thánh nằm phủ phục trước mầu nhiệm Con Thiên Chúa chịu chết. Không phải vì tuyệt vọng. Không phải vì cái chết đã chiến thắng. Nhưng bởi trước một tình yêu quá lớn, con người chỉ còn có thể quỳ xuống. Và rồi, sau phần Phụng vụ Lời Chúa với cuộc Thương Khó theo thánh Gioan, sau những lời cầu long trọng cho Hội Thánh và cho toàn thể nhân loại, Hội Thánh bước vào một cử chỉ đặc biệt: tôn kính Thánh Giá. Không phải tôn kính một mảnh gỗ như thể nó có phép thuật. Không phải thờ một vật chất. Hội Thánh tôn kính Thánh Giá vì trên cây gỗ ấy, Đức Giêsu Kitô đã trao ban chính mình; cây khổ hình của đế quốc đã trở thành ngai của Vua Tình Yêu; dụng cụ hành quyết đã trở thành dấu chỉ cứu độ; nơi con người định tiêu diệt Thiên Chúa lại trở thành nơi Thiên Chúa cứu con người.
Muốn hiểu nghi thức này, phải trở về với đồi Canvê. Thánh Gioan kể rất ít lời nhưng mỗi chữ đều nặng như máu: “Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: ‘Tôi khát!’ Ở đó có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. Nhắp xong, Đức Giêsu nói: ‘Thế là đã hoàn tất!’ Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí” (x. Ga 19,28-30). “Thế là đã hoàn tất.” Không phải là lời thở dài của một người thất bại. Không phải: hết rồi, mọi sự tan vỡ rồi. Nhưng là: sứ mạng đã hoàn tất; tình yêu đã đi đến tận cùng; lời hứa cứu độ đã được thực hiện; Con Chiên đã hiến tế chính mình; Con Một đã uống cạn chén Chúa Cha trao; không còn gì Thiên Chúa giữ lại cho riêng mình nữa. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu không còn áo để cho, vì quân lính đã chia nhau; không còn sức để bước, vì chân Người bị đóng đinh; không còn đôi tay để chữa lành, vì tay đã bị ghim vào gỗ; không còn gì của thân xác mà chưa bị tổn thương. Nhưng Người vẫn còn một điều để trao: chính mạng sống Người. Và Người trao luôn. “Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.”
Chính vì thế, khi Hội Thánh đưa Thánh Giá lên trong chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, Hội Thánh không muốn chúng ta nhìn một thất bại. Hội Thánh muốn chúng ta nhìn thấy tình yêu đã đi đến cùng. “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). “Đến cùng” nghĩa là không còn một giới hạn nào nữa. Người yêu Phêrô dù biết Phêrô sẽ chối mình. Người yêu Giuđa dù biết Giuđa sẽ phản bội. Người yêu các môn đệ dù biết họ sẽ bỏ chạy. Người yêu những kẻ đóng đinh Người. Người yêu người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Người yêu đám đông từng tung hô Người rồi ít ngày sau gào lên “Đóng đinh nó vào thập giá.” Người yêu cả những người không hiểu Người. Người yêu những người từ chối Người. Và Người yêu cả chúng ta, những con người hai ngàn năm sau vẫn tiếp tục phạm tội, tiếp tục bội bạc, tiếp tục làm đau nhau, tiếp tục nhiều lần sống như thể Thiên Chúa không hiện hữu. Thánh Giá là câu trả lời cuối cùng của Thiên Chúa trước sự phản bội của con người: con người có thể ngừng yêu Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa không ngừng yêu con người.
Bởi vậy, thật xúc động khi nghe câu: “Đây là cây Thánh Giá, nơi treo Đấng Cứu Độ trần gian.” Hội Thánh không nói: đây là cây gỗ đau khổ. Không nói: đây là hình phạt. Không nói: đây là bằng chứng thất bại của một nhà giảng thuyết thành Nadarét. Hội Thánh nói: “nơi treo Đấng Cứu Độ trần gian.” Chính trên đó, Đấng Cứu Độ cứu trần gian. Không phải bằng sức mạnh quân sự. Không bằng quyền lực chính trị. Không bằng sự áp đảo. Người cứu bằng việc để cho mình bị tổn thương mà không trả thù, bị xúc phạm mà không nguyền rủa, bị bỏ rơi mà vẫn tha thứ, bị giết mà vẫn yêu. Đây là điều thế gian khó hiểu nhất. Thế gian thường nghĩ người mạnh là người thắng người khác. Tin Mừng cho thấy người mạnh thật là người có thể yêu ngay cả khi bị tổn thương. Thế gian cho rằng chiến thắng là làm cho đối phương quỳ xuống. Đức Giêsu chiến thắng bằng cách chính Người quỳ xuống rửa chân. Thế gian nghĩ muốn tồn tại phải giữ lấy mình. Đức Giêsu nói: “Ai liều mất mạng sống mình vì Tôi thì sẽ cứu được mạng sống ấy.” Thế gian bảo hãy trả đũa. Thánh Giá nói hãy tha thứ. Thế gian bảo hãy cứu lấy mình trước. Đức Giêsu trên Thánh Giá lại cứu người khác.
Có một chi tiết trong trình thuật Thương Khó rất đáng để chúng ta dừng lại. Khi Đức Giêsu đã chết, một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người, “tức thì, máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34). Một trái tim đã ngừng đập vẫn còn mở ra. Một thân xác đã chết vẫn còn trao ban. Con người đã làm hết những gì tàn nhẫn nhất có thể làm đối với Thiên Chúa, nhưng điều cuối cùng chảy ra từ Thiên Chúa vẫn không phải là lời nguyền rủa, mà là máu và nước. Đó là hình ảnh sâu xa của lòng thương xót. Con người đâm vào trái tim Thiên Chúa, và từ vết thương ấy, ân sủng chảy ra cho con người. Chúng ta xúc phạm Người, Người tha thứ. Chúng ta quay lưng, Người chờ đợi. Chúng ta sa ngã, Người cúi xuống nâng lên. Chúng ta làm tổn thương trái tim Người, nhưng từ chính trái tim bị thương ấy, sự sống lại tuôn trào. Có lẽ vì thế mà không nơi nào chúng ta hiểu lòng thương xót rõ bằng dưới chân Thánh Giá.
Và rồi cộng đoàn tiến lên hôn kính Thánh Giá. Có người cúi đầu. Có người quỳ gối. Có người đặt môi mình lên Thánh Giá. Có người chỉ khẽ chạm tay vào đó. Có người nước mắt chảy. Cử chỉ bên ngoài có thể khác nhau, nhưng Hội Thánh muốn mỗi người thực hiện một chuyển động sâu hơn bên trong: đưa cuộc đời mình đến gần Thánh Giá của Đức Kitô. Hôn Thánh Giá không phải là một nghi thức đẹp để làm cho xong. Một nụ hôn chỉ có ý nghĩa khi nó phát xuất từ trái tim. Chúng ta hôn Thánh Giá nghĩa là chúng ta thưa với Chúa: “Lạy Chúa, con tin tình yêu của Chúa. Con không hiểu hết con đường đời con, nhưng con tin Chúa. Con không hiểu vì sao gia đình con phải trải qua điều này, nhưng con tin Chúa. Con không hiểu vì sao bệnh tật đến, vì sao người con yêu thương ra đi, vì sao con cầu nguyện mãi mà dường như Chúa im lặng, nhưng con vẫn muốn đặt đời con dưới chân Thánh Giá.” Hôn Thánh Giá là một hành vi đức tin trong bóng tối. Chính lúc không hiểu mà vẫn tin, đức tin mới bắt đầu đi vào chiều sâu.
Có những năm chúng ta đến hôn Thánh Giá với một tâm hồn bình an. Nhưng có những năm chúng ta đến với rất nhiều thương tích. Có người vừa mất một người thân. Có người đang mang căn bệnh không biết ngày mai ra sao. Có người gia đình đang tan vỡ. Có người có đứa con làm mình đau lòng. Có người đang sống trong một cuộc hôn nhân nguội lạnh. Có người chịu oan mà không thể giải thích. Có người làm việc thiện nhưng lại bị hiểu lầm. Có người đã cầu nguyện rất lâu cho một chuyện mà vẫn chưa thấy ánh sáng. Có người mang trong lòng một tội lỗi cũ chưa tha thứ được cho chính mình. Có người bị phản bội. Có người bị bỏ rơi. Có người mang một nỗi cô đơn mà chẳng ai hay. Đến ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, tất cả những con người ấy bước lên, không phải để ngắm một cây gỗ xa lạ, nhưng để gặp một Đức Kitô cũng từng bị phản bội, bị bỏ rơi, bị vu cáo, bị chế giễu, bị lột áo, bị đánh đập, bị đóng đinh, và đã từng kêu lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Đứng trước một Thiên Chúa chịu đau khổ như thế, con người mới dám kể nỗi đau của mình.
Thánh Giá không đưa ra một lời giải thích đơn giản cho đau khổ. Kitô giáo không dạy rằng mọi đau khổ đều do Thiên Chúa trực tiếp gửi đến. Cũng không được phép lấy hai chữ “Thánh Giá” để bắt một người phải cam chịu bất công, bạo hành hay sự dữ mà không tìm cách thoát ra. Thiên Chúa không vui khi con cái Người bị hành hạ. Đức Giêsu đã chữa người bệnh, bênh vực người yếu thế, giải thoát những người bị áp bức. Nhưng Thánh Giá nói cho chúng ta một điều khác: khi đau khổ không thể tránh được, Thiên Chúa không đứng ngoài đau khổ của ta. Người bước vào đó. Người không ngồi trên trời để giảng cho ta một bài triết lý về đau khổ. Người mang lấy thân phận con người, bước lên đồi Sọ và chịu đau với con người. Vì thế, người Kitô hữu không bao giờ có thể nói: “Chúa chẳng biết tôi đang đau thế nào.” Người biết. Không chỉ biết bằng sự toàn tri của Thiên Chúa. Người biết bằng những vết đinh.
Đó là lý do nghi thức tôn kính Thánh Giá có sức chữa lành rất sâu nếu chúng ta cử hành bằng cả tâm hồn. Có những vết thương không chữa được bằng lời khuyên. Có những mất mát không bù lại được bằng tiền bạc. Có những câu hỏi không ai trả lời được. Có những đêm trong đời chỉ còn một nơi để đến: dưới chân Thánh Giá. Ta có thể không tìm được lời giải, nhưng có thể tìm được một Đấng cùng chịu đau với ta. Có khi như thế đã đủ để một con người tiếp tục bước. Một người mẹ mất con có thể không hiểu vì sao. Một người chồng mất vợ không thể nghe vài câu đạo đức mà hết đau. Một người mắc bệnh nặng cũng không cần ai nói rằng “hãy vui lên”. Điều họ cần nhiều khi chỉ là biết rằng trong tận cùng cô độc ấy, có một Đấng đã đi trước họ. Đấng ấy không đứng bên ngoài và nói: “Cố lên.” Người bước vào chính vực sâu của đau khổ và nói: “Ta ở đây với con.”
Thánh Giá vì thế không phải là sự tôn vinh đau khổ vì đau khổ. Kitô giáo không yêu đau khổ. Kitô giáo yêu Đức Kitô, Đấng đã biến đau khổ thành nơi tình yêu chiến thắng. Hai điều ấy khác nhau rất xa. Người Kitô hữu không đi tìm đau khổ. Nhưng khi đau khổ đến, họ cố gắng không để đau khổ biến mình thành người cay độc. Đây mới là phép lạ của Thánh Giá. Bị tổn thương mà không trở thành người làm tổn thương người khác. Bị phản bội mà không sống cả đời bằng lòng thù hận. Bị đối xử bất công mà không đánh mất lương tâm. Bị hiểu lầm mà không biến mình thành người độc ác. Bị xúc phạm mà vẫn giữ được một trái tim có khả năng yêu. Đó là sức mạnh của Thánh Giá.
Hãy nhìn Đức Giêsu trên đồi Sọ. Người ta lấy áo Người, nhưng không lấy được phẩm giá của Người. Người ta đóng đinh tay Người, nhưng không đóng đinh được tình yêu của Người. Người ta bịt đường sống của Người, nhưng không bịt được lòng thương xót của Người. Người ta giết thân xác Người, nhưng không giết được sự sống mà Người đang trao ban. Giữa lúc đau đớn nhất, Người vẫn nói lời tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Giữa lúc chính mình sắp chết, Người vẫn nhớ đến người trộm lành: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Giữa lúc mọi sự bị lấy đi, Người vẫn trao Mẹ cho môn đệ và trao môn đệ cho Mẹ. Đức Giêsu chết như Người đã sống: sống cho người khác và chết cho người khác. Đó là vẻ đẹp làm cho Thánh Giá từ một dụng cụ tử hình trở thành dấu thánh.
Bởi vậy, nếu sau khi hôn kính Thánh Giá chúng ta vẫn tiếp tục nuôi một mối thù không chịu buông, có lẽ chúng ta chưa thực sự hôn Thánh Giá. Nếu môi ta chạm vào tượng Chúa chịu nạn nhưng miệng ta vẫn cố ý nói những lời làm nhục người khác, nụ hôn ấy cần được xét lại. Nếu chúng ta quỳ trước Thánh Giá nhưng về nhà lại lạnh lùng với người thân, nghi thức chưa đi vào cuộc sống. Nếu chúng ta cảm động trước những vết thương của Chúa nhưng dửng dưng trước vết thương của người nghèo, người bệnh, người bị bỏ rơi, người đang bị cô lập ngay bên cạnh ta, chúng ta mới chỉ nhìn Thánh Giá bằng mắt mà chưa nhìn bằng trái tim. Đức Giêsu không nói: “Ai muốn theo Ta, hãy đeo một cây thánh giá thật đẹp.” Người nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). Cây thánh giá trên cổ rất quý, nhưng thập giá trong đời sống còn quan trọng hơn.
Có những thập giá không lớn lao. Đó là một người vợ nhẫn nại chăm sóc người chồng bệnh lâu năm. Một người chồng âm thầm gánh gia đình mà không than trách. Một người mẹ thức khuya với đứa con đau bệnh. Một người cha dù mệt vẫn cố dành giờ nghe con nói. Một người con chăm sóc cha mẹ già và chấp nhận lặp đi lặp lại những công việc nhỏ không ai biết. Một linh mục tiếp tục phục vụ dù đôi khi bị hiểu lầm. Một tu sĩ trung thành với lời khấn trong những ngày khô khan. Một người trẻ giữ lòng ngay thẳng giữa một môi trường mà gian dối đem lại lợi ích nhanh hơn. Một người bị xúc phạm chọn im lặng thay vì trả đũa. Một người từng bị làm tổn thương nhưng không truyền vết thương ấy cho thế hệ sau. Những điều ấy chẳng ai gọi là anh hùng, nhưng trước mặt Thiên Chúa, nhiều khi đó chính là những cây Thánh Giá đang được dựng lên giữa đời.
Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh cũng nhắc chúng ta rằng Thánh Giá bóc trần rất nhiều ảo tưởng của đời người. Trước Thánh Giá, tiền bạc nhỏ lại. Quyền lực nhỏ lại. Danh tiếng nhỏ lại. Những hơn thua từng khiến ta mất ngủ bỗng trở nên rất nhỏ. Đức Giêsu chết trần trụi. Người chẳng mang theo một đồng tiền, một chức danh, một tài sản nào. Những kẻ đi ngang chế nhạo Người. Các lãnh đạo chế giễu Người. Một số môn đệ biến mất. Nếu chúng ta chỉ đo thành công bằng tiếng vỗ tay, thì chiều Thứ Sáu Tuần Thánh là một thất bại toàn diện. Nhưng Thiên Chúa nhìn khác. Chính nơi con người cho là thất bại nhất, công trình cứu độ lại đạt đến đỉnh cao. Điều đó an ủi biết bao người đang sống một cuộc đời âm thầm mà chẳng ai biết đến. Có những người cả đời không nổi tiếng. Không ai ghi tên họ. Không ai viết về họ. Nhưng họ yêu gia đình, sống tử tế, chịu đựng trong đức tin, chia sẻ với người nghèo, tha thứ khi bị xúc phạm, và cuối đời ra đi rất lặng lẽ. Trước mắt thế gian, cuộc đời họ có thể chẳng có gì đặc biệt. Nhưng trước mắt Thiên Chúa, có khi đó là một cuộc đời rất đẹp.
Thánh Giá còn dạy chúng ta đừng đánh giá một câu chuyện khi nó chưa kết thúc. Nếu chỉ dừng ở chiều Thứ Sáu, Kitô giáo quả thật là một bi kịch. Một người công chính bị giết. Một nhóm môn đệ tan tác. Một người mẹ mất con. Một thân xác được hạ xuống và đặt vào mồ. Hết. Nhưng Tin Mừng không kết thúc ở đó. Sau Thứ Sáu có Chúa Nhật. Sau Thánh Giá có Phục Sinh. Sau ngôi mộ đóng kín có tảng đá được lăn ra. Chính vì biết Chúa Nhật đang đến nên Hội Thánh dám đứng dưới Thánh Giá chiều Thứ Sáu. Không phải để phủ nhận đau khổ, nhưng để tuyên xưng rằng đau khổ không có tiếng nói cuối cùng. Cái chết không có tiếng nói cuối cùng. Tội lỗi không có tiếng nói cuối cùng. Sự dữ không có tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng thuộc về Thiên Chúa, và tiếng nói ấy là sự sống.
Đây là điều cần nhớ trong những Thứ Sáu Tuần Thánh của đời mình. Có những giai đoạn cuộc đời giống như chiều Thứ Sáu: mọi cánh cửa đóng lại, mọi hy vọng dường như bị chôn, lời cầu nguyện chỉ gặp im lặng. Đừng vội kết luận câu chuyện. Các môn đệ chiều Thứ Sáu không biết điều gì đang xảy ra trong ngôi mộ. Maria Mađalêna không biết bình minh Chúa Nhật sắp đến. Phêrô trong đêm cay đắng của tội lỗi không biết rằng sẽ có một buổi sáng bên bờ hồ, nơi Đức Giêsu hỏi ông ba lần: “Anh có yêu mến Thầy không?” Chúng ta cũng vậy. Có những điều hôm nay ta không hiểu. Có những mất mát hôm nay chỉ thấy là mất mát. Có những cánh cửa đóng lại mà nhiều năm sau mới nhận ra chính nhờ nó mà một con đường khác được mở ra. Đức tin không phải là biết trước mọi chuyện sẽ diễn tiến thế nào. Đức tin là tin rằng ngay cả khi ta chưa thấy, Thiên Chúa vẫn đang làm việc.
Một đoạn Tin Mừng rất đẹp để soi sáng nghi thức tôn kính Thánh Giá chính là lời Đức Giêsu nói với ông Nicôđêmô: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ” (Ga 3,14-17). Đây chính là chìa khóa để hiểu Thánh Giá. Chúa Giêsu không nói: Thiên Chúa ghét thế gian nên đã phạt Con mình. Người nói: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” Khởi đầu của Thánh Giá là tình yêu. Trung tâm của Thánh Giá là tình yêu. Kết quả của Thánh Giá là sự sống. Nếu nhìn Thánh Giá mà chỉ thấy đau đớn, ta mới nhìn một nửa. Phải nhìn thấy phía sau những vết đinh là một trái tim đang yêu.
“Thiên Chúa yêu thế gian.” Không phải chỉ yêu người thánh thiện. Không phải chỉ yêu người đạo đức. Không phải chỉ yêu những ai sống tốt. Người yêu “thế gian” – một thế gian vừa đẹp vừa đầy vết thương, vừa có những con người quảng đại vừa có những kẻ phản bội, một thế gian có cả Canvê. Và Người yêu thế gian đến mức trao Con Một. Đây là điều ta phải nhớ mỗi khi thấy mình không xứng đáng. Có những người tưởng rằng vì mình phạm quá nhiều tội nên Chúa không còn muốn nhìn mình. Hãy nhìn Thánh Giá. Nếu Chúa không muốn cứu tội nhân, Thánh Giá chẳng cần thiết. Chính vì chúng ta là tội nhân mà Đức Kitô đã đến. Vấn đề không phải là ta đã ngã bao nhiêu lần, mà là sau mỗi lần ngã có chịu quay về nhìn Đấng chịu đóng đinh hay không.
Chúng ta cũng phải cẩn thận để đừng biến nghi thức hôn kính Thánh Giá thành một khoảnh khắc cảm xúc rồi thôi. Khóc trước Thánh Giá thì dễ hơn sống tinh thần Thánh Giá. Hôn chân Chúa thì dễ hơn rửa chân cho người làm mình khó chịu. Quỳ trước tượng Chúa thì dễ hơn hạ mình xin lỗi một người trong gia đình. Cảm động trước lời “Lạy Cha, xin tha cho họ” thì dễ hơn tha cho người đã làm ta đau. Chúng ta có thể hát những bài Thương Khó rất hay nhưng vẫn không chịu nói chuyện với người anh em. Có thể giữ chay rất nghiêm mà vẫn nói xấu. Có thể đi Đàng Thánh Giá nhiều lần mà vẫn bước qua người đang cần giúp đỡ. Nghi thức phụng vụ chỉ đạt tới sự viên mãn khi điều ta cử hành trên cung thánh trở thành điều ta sống giữa cuộc đời.
Có lẽ một trong những câu hỏi cần mang theo khi bước lên tôn kính Thánh Giá là: Tôi đang đóng đinh ai? Chúng ta thường nhìn những người lính Rôma và nghĩ họ độc ác. Nhưng nhiều lúc lời nói của ta cũng là đinh. Một câu nói hạ nhục có thể đóng đinh lòng tự trọng của người khác. Một lần tung tin chưa kiểm chứng có thể đóng đinh danh dự của một con người. Một sự lạnh lùng kéo dài có thể đóng đinh trái tim người sống chung nhà. Một sự xét đoán thiếu công bằng có thể làm người khác đau rất lâu. Có những cây đinh bằng sắt được rút khỏi thân xác, nhưng những cây đinh của lời nói đôi khi ở lại trong lòng người khác cả đời. Hôn kính Thánh Giá mà không xét lại lời nói, ánh mắt, thái độ của mình thì đáng tiếc biết bao.
Một câu hỏi khác: Tôi cần tha cho ai? Dưới chân Thánh Giá, mọi lý do để căm ghét đều bị đặt lại. Không phải vì điều người khác làm là nhỏ. Có những tổn thương thực sự rất lớn. Tha thứ không có nghĩa là nói rằng điều sai trái chưa từng xảy ra. Tha thứ cũng không có nghĩa là lập tức tin tưởng trở lại một người chưa thay đổi. Có những trường hợp còn cần khoảng cách, cần công lý, cần bảo vệ chính mình. Nhưng tha thứ trước hết là từ chối để cái ác của người khác tiếp tục điều khiển trái tim mình. Tôi không muốn người đã làm tôi đau tiếp tục sống trong đầu tôi mỗi ngày. Tôi trao họ cho Thiên Chúa. Tôi xin Chúa chữa lành tôi. Tôi không trả thù. Có thể tôi chưa quên. Có thể lòng tôi vẫn đau. Nhưng tôi bắt đầu xin ơn để một ngày có thể nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.”
Rồi câu hỏi thứ ba: Tôi đang chạy trốn thập giá nào? Có những thập giá phải bỏ ngay vì đó là bất công hay bạo hành. Nhưng cũng có những thập giá là trách nhiệm mà ta cứ muốn né tránh: trách nhiệm làm cha mẹ, trách nhiệm trong hôn nhân, trách nhiệm chăm sóc người già, trách nhiệm với cộng đoàn, trách nhiệm giữ lời hứa, trách nhiệm sửa mình, trách nhiệm bỏ một thói quen xấu, trách nhiệm xin lỗi, trách nhiệm bắt đầu lại. Nhiều người muốn theo Chúa nhưng chỉ muốn một Kitô giáo không Thánh Giá: cầu nguyện để mọi việc thuận lợi, xin ơn để khỏi gặp khó khăn, tìm Chúa như một cách để cuộc đời dễ hơn. Nhưng Đức Giêsu chưa bao giờ hứa điều đó. Người hứa một điều lớn hơn: Người sẽ ở cùng ta. “Ai phục vụ Thầy thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó” (Ga 12,26). Theo Người nghĩa là có lúc phải lên đồi Canvê. Nhưng cũng chính vì đi với Người đến Canvê, ta sẽ đi với Người đến Phục Sinh.
Có một hình ảnh rất đẹp trong Phúc Âm: dưới chân Thánh Giá vẫn có Đức Maria. Người Mẹ không làm được gì để tháo đinh cho Con. Không cứu Con khỏi chết. Không thay đổi được bản án. Mẹ chỉ đứng đó. “Đứng gần thập giá Đức Giêsu có thân mẫu Người…” (Ga 19,25). Chữ “đứng” thật đẹp. Mẹ không hiểu hết, nhưng Mẹ đứng. Mẹ đau đến tận cùng, nhưng Mẹ đứng. Đức tin đôi khi chỉ là thế: đứng lại với Chúa khi không thể làm gì khác. Có những lúc ta không sửa được tình hình, không chữa được người bệnh, không cứu được cuộc hôn nhân của một người thân, không thay đổi được quá khứ, không có câu trả lời. Điều duy nhất ta có thể làm là ở lại. Ở lại với Chúa. Ở lại bên người đang đau. Đừng bỏ chạy. Đừng tìm những câu giải thích dễ dãi. Chỉ cần hiện diện. Đức Maria dưới chân Thánh Giá dạy ta một mục vụ rất đẹp: đôi khi hiện diện trong yêu thương còn quý hơn rất nhiều lời khuyên.
Trong chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, khi từng người tiến lên hôn Thánh Giá, giữa đám đông ấy, hãy thử nghĩ rằng mình đang đi một mình đến Canvê. Trước mặt là Đức Giêsu. Đừng vội đọc kinh. Đừng vội nói quá nhiều. Hãy nhìn Người một chút. Nhìn đôi tay đã từng đặt trên đầu trẻ nhỏ nay bị đóng đinh. Nhìn đôi chân đã từng đi tìm người tội lỗi nay không thể bước. Nhìn khuôn mặt từng cúi xuống trên người phong cùi nay đầy máu. Nhìn cạnh sườn bị đâm thủng. Rồi hỏi: “Lạy Chúa, tại sao Chúa yêu con đến thế?” Có thể ta sẽ chẳng nghe một câu trả lời thành tiếng. Nhưng Thánh Giá chính là câu trả lời.
Chúa yêu con không phải vì con hoàn hảo. Chúa yêu con không phải vì con chưa từng phản bội Người. Chúa yêu con không phải vì con cầu nguyện giỏi. Chúa yêu trước khi con xứng đáng. Thật ra chẳng ai có thể làm mình xứng đáng với Thánh Giá. Ân sủng luôn đi trước. Chúa không chết vì những người hoàn hảo. Thánh Phaolô nói rất mạnh: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” (Rm 5,8). Chính điều đó làm Thánh Giá trở thành niềm hy vọng cho bất cứ ai. Dù quá khứ có thế nào, con đường trở về vẫn mở. Dù đã đi xa đến đâu, vẫn có một Đấng đứng đợi. Dù đã thất bại bao nhiêu lần, vẫn có thể bắt đầu lại.
Nghi thức Tôn kính Thánh Giá cũng mời Hội Thánh nhớ đến những người đang bị đóng đinh trên vô số “canvê” của thời đại: nạn nhân chiến tranh, những người mất nhà cửa, người nghèo bị lãng quên, bệnh nhân không người chăm sóc, người già cô độc, những đứa trẻ thiếu tình thương, những người di dân, những người bị loại trừ, người mang bệnh hiểm nghèo, người bị bạo lực, người tuyệt vọng, những gia đình tan vỡ. Không thể tôn kính Đức Kitô bị đóng đinh mà không nhận ra Người nơi những thân phận bị đóng đinh hôm nay. Có khi cây Thánh Giá gần ta nhất không nằm trong nhà thờ, mà đang ngồi bên cạnh ta. Đó là một người cần được lắng nghe. Một người cần một bữa cơm. Một người già cần được thăm. Một bệnh nhân cần có người nắm tay. Một người phạm lỗi cần một cơ hội làm lại. Đức Kitô đã nói: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).
Cho nên, nụ hôn trên Thánh Giá chiều Thứ Sáu phải tiếp tục bằng những nụ hôn của lòng thương xót giữa đời. Không nhất thiết là nụ hôn bằng môi, nhưng là một bàn tay đỡ người té ngã, một lời xin lỗi, một cuộc điện thoại làm hòa, một bữa cơm sẻ chia, một lần nhịn nói để giữ bình an, một hành động bảo vệ người yếu thế, một lần đến với người bị mọi người tránh né. Nếu làm được như thế, Thánh Giá không còn chỉ treo trên tường nhà ta; Thánh Giá bắt đầu sống trong đời ta.
Và cuối cùng, khi đến tôn kính Thánh Giá, ta đừng quên trao cho Chúa chính cây thập giá mình đang mang. Đừng chỉ nhìn Thánh Giá của Chúa mà giấu thập giá của mình. Hãy đặt nó cạnh Thánh Giá Người. Hãy nói rất thật: “Lạy Chúa, con mệt.” Chúa không khó chịu vì lời ấy. “Con đau.” Người hiểu. “Con không biết phải làm gì nữa.” Người đã từng ở trong Vườn Cây Dầu. “Con sợ.” Người đã từng đổ mồ hôi như máu. “Con thấy bị bỏ rơi.” Người đã từng kêu lên từ Thánh Giá. “Con không muốn vác nữa.” Hãy cứ nói thật. Cầu nguyện không phải là diễn trước mặt Thiên Chúa. Người biết tất cả rồi. Điều Người muốn là một trái tim thật.
Có khi sau khi cầu nguyện, thập giá vẫn còn đó. Người bệnh vẫn bệnh. Vấn đề gia đình chưa giải quyết. Người làm ta đau chưa thay đổi. Nhưng một điều có thể thay đổi: ta không còn vác một mình. Và chỉ điều ấy thôi cũng làm cho gánh nặng khác đi rất nhiều. Hai cây thập giá đặt cạnh nhau thì chưa chắc nhẹ hơn, nhưng khi thập giá của ta được đặt vào Thánh Giá Đức Kitô, nó có một ý nghĩa mới. Từ đó, đau khổ có thể trở thành lời cầu nguyện. Nước mắt có thể trở thành hy lễ. Sự kiên nhẫn có thể trở thành tình yêu. Một ngày sống trong bệnh tật có thể trở thành lời chuyển cầu cho con cái. Một sự hy sinh âm thầm có thể trở thành hạt giống cho một ơn mà ta không bao giờ thấy.
Khi nghi thức kết thúc, Thánh Giá vẫn ở đó. Nhưng người Kitô hữu được mời gọi ra về với một cái nhìn mới. Thứ Sáu Tuần Thánh không dạy ta yêu bóng tối. Nó dạy ta tin rằng ngay trong bóng tối vẫn có Thiên Chúa. Không dạy ta tìm sự chết. Nó dạy ta tin sự chết không phải tận cùng. Không dạy ta cam chịu cái ác. Nó dạy ta chiến thắng cái ác bằng tình yêu. Không dạy ta cúi đầu trước bất công. Nó cho ta sức mạnh để chống lại bất công mà không trở thành giống chính điều ác mình chống lại.
Vậy chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, khi nghe vang lên: “Đây là cây Thánh Giá, nơi treo Đấng Cứu Độ trần gian,” xin đừng để câu đáp “Chúng ta hãy đến thờ lạy” chỉ là một lời đọc theo cộng đoàn. Hãy để đó là quyết định của cả đời mình: con sẽ đến. Khi vui con sẽ đến. Khi đau con sẽ đến. Khi thành công con sẽ đến. Khi thất bại con sẽ đến. Khi mạnh con sẽ đến. Khi yếu con cũng sẽ đến. Khi hiểu con sẽ đến. Khi không hiểu con vẫn đến. Khi thánh thiện con đến. Khi vừa sa ngã con càng phải đến. Bởi dưới chân Thánh Giá không có một con người nào phải giả vờ.
Và khi môi chúng ta chạm vào Thánh Giá, hãy thì thầm trong lòng: “Lạy Chúa Giêsu, con không có gì để trả lại tình yêu này. Con chỉ có chính con, với những yếu đuối, những thất bại, những tội lỗi, những cố gắng nhỏ bé và cả cây thập giá con đang mang. Con xin trao tất cả cho Chúa. Xin dạy con yêu như Chúa đã yêu. Xin dạy con tha thứ như Chúa đã tha thứ. Xin dạy con biết ở lại khi người khác đau khổ. Xin cho con đừng bao giờ làm thập giá của người khác nặng thêm. Và khi thập giá đời con trở nên quá nặng, xin cho con nhớ rằng trên con đường Canvê, Chúa đang đi trước con.”
Thứ Sáu Tuần Thánh rồi sẽ qua. Đèn nhà thờ sẽ lại sáng. Chuông sẽ lại ngân trong đêm Vọng Phục Sinh. Bài Alleluia sẽ lại vang lên. Nhưng xin cho Thánh Giá đừng bao giờ “qua” khỏi đời ta. Bởi người quên Thánh Giá sẽ sớm biến Kitô giáo thành một tôn giáo tìm dễ dãi. Người nhớ Thánh Giá sẽ hiểu rằng trọng tâm của đức tin không phải là mình đã làm gì cho Thiên Chúa, nhưng trước hết là Thiên Chúa đã làm gì cho mình. Người đã yêu. Người đã đến. Người đã mang lấy thân phận chúng ta. Người đã đi đến tận cùng của cô đơn con người. Người đã dang tay trên cây gỗ. Và Người đã chết để nói với từng người một lời mà có lẽ cả đời ta cũng không hiểu hết chiều sâu của nó: “Con quý giá đối với Ta đến mức Ta sẵn sàng trao mạng sống vì con.”
Nếu hiểu được một chút thôi điều ấy, chúng ta sẽ không thể rời Thánh Giá mà vẫn sống như cũ. Chúng ta sẽ bớt xét đoán. Bớt kiêu căng. Bớt đòi người khác phải hoàn hảo. Bớt giữ thù. Bớt làm đau nhau. Và sẽ biết thương nhau nhiều hơn, bởi người đã thật sự đứng dưới chân Thánh Giá sẽ hiểu rằng tất cả chúng ta đều sống nhờ lòng thương xót.
Chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, Hội Thánh không chỉ dựng lên trước mắt chúng ta một cây Thánh Giá. Hội Thánh dựng lên trước mắt ta thước đo của tình yêu. Yêu đến đâu? Đến tận cùng. Tha thứ bao nhiêu? Cho đến cùng. Cho đi bao nhiêu? Cho cả mạng sống. Và từ đó, Thánh Giá âm thầm hỏi mỗi người: “Con có muốn yêu như thế không?”
Có lẽ ta chưa dám trả lời lớn. Hãy bắt đầu bằng một nụ hôn.
Một nụ hôn thật lòng trên Thánh Giá.
Rồi đứng lên.
Và đem tình yêu của Đấng chịu đóng đinh vào cuộc đời.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ TRONG NHÀ THỜ, NHÀ NGUYỆN, NHÀ TƯ – Ý NGHĨA MỤC VỤ
Có những hình ảnh vì nhìn quá quen nên người ta không còn nhìn thấy nữa. Có những điều vì hiện diện mỗi ngày nên dần dần trở thành bình thường. Và có lẽ Thánh Giá cũng là một trong những thực tại như thế. Người Công giáo bước vào nhà thờ thấy Thánh Giá. Vào nhà nguyện của một cộng đoàn tu trì thấy Thánh Giá. Bước vào nhiều gia đình Công giáo, ngước mắt lên gian chính cũng thấy Thánh Giá. Trên bàn thờ có Thánh Giá. Trên tường có Thánh Giá. Đầu giường có Thánh Giá. Trên cổ một người tín hữu có cây Thánh Giá nhỏ. Trước khi ăn người ta làm dấu Thánh Giá. Trước khi ngủ người ta làm dấu Thánh Giá. Khi bắt đầu một chuyến đi, khi sợ hãi, khi nhận tin buồn, khi đứng trước quan tài một người thân, bàn tay người tín hữu lại chạm lên trán, xuống ngực, sang vai trái, vai phải và thầm thì: “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.” Thánh Giá gần gũi đến độ đôi khi chúng ta quên mất rằng mình đang sống dưới một dấu chỉ khủng khiếp và kỳ diệu nhất của đức tin Kitô giáo: dấu chỉ của một Thiên Chúa đã yêu con người đến mức chịu treo mình trên cây gỗ.
Thánh Giá trong nhà thờ, nhà nguyện hay nhà tư không phải là một món đồ trang trí Công giáo. Thánh Giá càng không phải là thứ biểu tượng được đặt lên tường để người khác nhìn vào mà biết gia chủ “có đạo”. Nếu chỉ như thế thì quá nghèo nàn. Một căn nhà có Thánh Giá nhưng trong đó người ta căm ghét nhau thì Thánh Giá ấy đang bị làm cho câm lặng. Một nhà nguyện có Thánh Giá rất đẹp nhưng những người cầu nguyện trong đó vẫn không biết tha thứ cho nhau thì cây Thánh Giá ấy chưa thật sự đi xuống đời sống. Một nhà thờ có tượng Chúa chịu nạn lớn lao, nghệ thuật và trang nghiêm, nhưng cộng đoàn bước ra khỏi nhà thờ vẫn sống gian dối, chia rẽ, lạnh lùng trước người nghèo, thì người ta đã nhìn Thánh Giá bằng mắt mà chưa để Thánh Giá chạm đến trái tim. Thánh Giá chỉ thực sự có ý nghĩa khi từ bức tường nó đi vào lòng người, từ bàn thờ nó bước vào cuộc đời, từ một biểu tượng bên ngoài nó trở thành một lối sống bên trong.
Có một câu Tin Mừng có thể giúp chúng ta hiểu tất cả điều ấy. Thánh Gioan kể rằng khi Đức Giêsu bị treo trên Thập Giá, “đứng gần Thập Giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người” (x. Ga 19,25). Chỉ một câu ngắn, nhưng nếu đọc chậm, ta sẽ thấy cả một vực sâu. Đức Maria đứng gần Thánh Giá. Mẹ không chạy trốn. Mẹ không hiểu hết tất cả những gì đang xảy ra theo cách hiểu của con người, nhưng Mẹ đứng đó. Mẹ đứng dưới chân Con mình đang hấp hối. Mẹ nhìn thấy đôi tay từng ôm Mẹ ở Nazareth giờ bị đóng đinh. Mẹ nhìn thấy đôi chân từng bước đi trên những con đường Galilê để chữa lành và loan báo Tin Mừng giờ bị ghim vào gỗ. Mẹ nghe những lời chế giễu. Mẹ nhìn thấy máu. Mẹ cảm nhận sự bất lực khủng khiếp của một người mẹ không thể làm gì để cứu con. Nhưng Mẹ đứng đó. Đó có lẽ là thái độ đẹp nhất của người Kitô hữu trước Thánh Giá: đứng lại. Đừng đi qua quá nhanh. Đừng nhìn rồi thôi. Đừng làm dấu Thánh Giá như một phản xạ vô thức. Hãy đứng lại. Hãy nhìn. Hãy để mình được hỏi: Người trên cây gỗ kia là ai? Tại sao Người ở đó? Người đã làm gì cho tôi? Và tôi đang sống thế nào trước một tình yêu như thế?
Trong nhà thờ, Thánh Giá trước hết nhắc cho cộng đoàn biết trung tâm của đức tin không phải là chúng ta mà là Đức Kitô. Người ta có thể xây một ngôi thánh đường nguy nga, có thể có cung thánh đẹp, ánh sáng đẹp, âm thanh tốt, phụng vụ trang trọng, ca đoàn hát hay, cộng đoàn đông đảo, nhưng nếu mất Đức Kitô chịu đóng đinh thì tất cả chỉ còn là một không gian tôn giáo đẹp đẽ mà thôi. Chính Thánh Giá đặt chúng ta trở về đúng vị trí. Linh mục nhìn lên Thánh Giá để nhớ mình không phải là trung tâm của bàn thờ. Ca đoàn nhìn lên Thánh Giá để nhớ tiếng hát không phải để biểu diễn. Người đọc sách nhìn lên Thánh Giá để nhớ mình đang phục vụ Lời Chúa chứ không trình diễn giọng đọc. Hội đồng mục vụ nhìn lên Thánh Giá để nhớ quyền hạn trong Hội Thánh là để phục vụ chứ không phải để thống trị. Giáo dân nhìn lên Thánh Giá để nhớ rằng đi lễ không phải là hoàn thành một nghĩa vụ rồi trở về sống thế nào cũng được. Tất cả đều phải nhìn lên cùng một Đấng đã nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24).
Thánh Giá trong nhà thờ còn là lời giải thích âm thầm nhưng mạnh mẽ nhất về Thánh Lễ. Mỗi lần Thánh Lễ được cử hành, Hội Thánh không đóng đinh Đức Giêsu một lần nữa. Hy tế Thập Giá chỉ một lần và vĩnh viễn. Nhưng trong mầu nhiệm Thánh Thể, hy tế duy nhất ấy trở nên hiện diện cách bí tích giữa cộng đoàn. Bởi thế, nhìn Thánh Giá trong khi tham dự Thánh Lễ, người tín hữu được nhắc rằng trên bàn thờ không chỉ có bánh và rượu, không chỉ có những nghi thức đẹp đẽ, mà có chính tình yêu tự hiến của Đức Kitô. “Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” “Này là Máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người.” Những lời ấy chỉ có thể hiểu trọn vẹn dưới ánh sáng Thánh Giá. Thánh Thể là tình yêu trao ban. Thánh Giá là hình hài hữu hình của tình yêu ấy. Vì thế một người rước lễ nhưng nhất quyết không chịu hy sinh cho ai, không chịu tha thứ cho ai, không chịu nhường nhịn ai, không chịu mang lấy gánh nặng của ai, cần tự hỏi xem mình đã thực sự hiểu điều mình vừa lãnh nhận chưa.
Có khi người ta đến nhà thờ với một trái tim rất nặng. Có người vừa biết mình mắc bệnh. Có người vừa mất việc. Có người đang sống một cuộc hôn nhân đầy nước mắt. Có người có đứa con khiến họ đêm nào cũng mất ngủ. Có người bị phản bội. Có người bị hiểu lầm. Có người vừa mất một người thân. Có người đến nhà thờ mà chẳng còn biết cầu nguyện gì. Họ ngồi đó và nhìn lên Thánh Giá. Trong những lúc ấy, Thánh Giá trở thành một bài giảng không cần lời. Người trên Thánh Giá không nói với họ rằng: “Ta sẽ làm cho con không còn đau.” Người cũng không nói: “Theo Ta thì con sẽ không bao giờ phải khóc.” Nhưng Người nói bằng chính những vết thương của mình: “Ta biết đau là gì. Ta biết bị bỏ rơi là gì. Ta biết bị phản bội là gì. Ta biết cô đơn là gì. Ta biết thân xác kiệt quệ là gì. Ta biết cảm giác kêu lên mà dường như trời vẫn im lặng là gì.” Kitô giáo không đưa cho người đau khổ một Thiên Chúa đứng xa để giảng giải về đau khổ. Kitô giáo đưa họ đến trước một Thiên Chúa mang thương tích.
Đó là điều mục vụ vô cùng quan trọng. Có những lúc chúng ta không cần giải thích quá nhiều cho người đang khổ. Đứng trước một người mẹ vừa mất con, những lý luận thần học dài dòng đôi khi chỉ làm vết thương đau hơn. Đứng trước một bệnh nhân giai đoạn cuối, những câu nói dễ dàng như “Chúa thử thách” có khi trở thành một gánh nặng nữa đè lên họ. Nhưng ta có thể ngồi bên cạnh họ. Ta có thể cùng họ nhìn lên Thánh Giá. Ta có thể nói rất ít: “Chúa Giêsu đang ở đây với anh, với chị.” Thánh Giá không giải đáp mọi câu hỏi của đau khổ theo kiểu một bài toán. Thánh Giá cho chúng ta một sự hiện diện. Và nhiều khi, điều con người cần nhất giữa đêm tối không phải là một câu trả lời mà là một người ở lại.
Trong nhà nguyện cũng vậy. Một nhà nguyện nhỏ trong tu viện, trong chủng viện, trong bệnh viện, trong trường học, trong một mái ấm có thể rất đơn sơ. Có khi chỉ một bàn thờ nhỏ, một nhà tạm, vài hàng ghế và một cây Thánh Giá. Nhưng chính nơi đó đã chứng kiến biết bao câu chuyện không ai biết. Có những tu sĩ đã quỳ dưới Thánh Giá mà khóc vì thấy ơn gọi quá nặng. Có những chủng sinh đã ngồi hàng giờ trước Thánh Giá trong một thời gian phân định đầy hoang mang. Có những linh mục sau một ngày mệt mỏi trở về nhà nguyện, chẳng đọc nổi một kinh dài, chỉ ngồi im nhìn Chúa. Có những nữ tu mang trong lòng những nỗi đau không thể nói với ai, chỉ biết đem đến đặt dưới chân Thánh Giá. Có những người đã từng muốn bỏ cuộc nhưng rồi nhờ một giờ lặng lẽ trước Chúa chịu đóng đinh mà có sức đứng dậy đi tiếp. Không phải Thánh Giá biến mất. Nhưng người ta nhận được sức để vác nó.
Nhà nguyện vì thế không chỉ là nơi “đọc kinh cho đủ”. Nhà nguyện là trường học của Thánh Giá. Ở đó, người môn đệ học sự thinh lặng của Đức Kitô. Học sự vâng phục của Người. Học cách không trả đũa khi bị xúc phạm. Học cách yêu khi tình yêu không được đáp lại. Học cách kiên trì khi không thấy kết quả. Học cách trao đời mình mà không tính toán. Học cách để một phần cái tôi chết đi mỗi ngày. Nếu một người cầu nguyện rất nhiều nhưng ngày càng khó sống với người khác, có lẽ họ phải xem lại cách mình cầu nguyện. Cầu nguyện thật không làm chúng ta lớn cái tôi hơn; cầu nguyện thật đưa chúng ta đến gần Đấng đã “tự hủy mình” và vâng phục cho đến chết, “chết trên cây thập tự” (x. Pl 2,8).
Thánh Giá trong đời sống linh mục và tu sĩ lại càng không thể chỉ là một vật dụng đạo đức. Linh mục có thể đeo Thánh Giá, tu sĩ có thể đặt Thánh Giá trong phòng, nhưng cây Thánh Giá thật sự của đời thánh hiến nằm ở chỗ khác: là trung thành khi không còn hứng thú; là phục vụ khi không được biết ơn; là tiếp tục yêu cộng đoàn dù đã bị cộng đoàn làm tổn thương; là giữ lời khấn khi thế giới mời gọi mình chọn một con đường dễ hơn; là chấp nhận mình không được hiểu; là âm thầm hoàn tất một công việc chẳng ai thấy; là dám chết đi cho những tham vọng cá nhân để sứ vụ của Hội Thánh được lớn lên. Người ta có thể hôn Thánh Giá mỗi ngày nhưng vẫn tránh tất cả những gì làm mình thiệt thòi. Khi ấy, cái hôn chưa đi đến đời sống.
Và rồi có Thánh Giá trong nhà tư. Tôi nghĩ đây là hình ảnh rất đẹp của các gia đình Công giáo Việt Nam. Ngày xưa, bước vào một ngôi nhà Công giáo, nhiều khi người ta chẳng cần hỏi cũng biết. Gian giữa thường có bàn thờ Chúa. Trên cao là cây Thánh Giá. Bên cạnh có tượng Đức Mẹ, Thánh Giuse hay thánh bổn mạng. Trước bàn thờ có bình hoa, đôi khi có ngọn đèn nhỏ. Sáng sớm người mẹ làm dấu Thánh Giá trước khi đi chợ. Buổi tối cả nhà quỳ đọc kinh. Khi con đi xa, cha mẹ đứng dưới Thánh Giá cầu nguyện. Khi gia đình có người bệnh, mọi người tụ lại đọc kinh. Khi một người qua đời, cũng dưới cây Thánh Giá ấy, những lời kinh tiễn biệt được cất lên. Cây Thánh Giá đã nhìn thấy đám cưới, ngày rửa tội, những bữa cơm, những cuộc cãi vã, những lần hòa giải, những giọt nước mắt, những đứa trẻ lớn lên và những người già dần đi. Có những cây Thánh Giá treo trên tường gia đình đã ở đó năm mươi năm, bảy mươi năm, thậm chí đi cùng một gia đình qua nhiều thế hệ. Nó im lặng, nhưng nó là chứng nhân.
Tuy nhiên, treo Thánh Giá trong nhà không phải để “trấn”. Đây là điều người Công giáo cần hiểu rất rõ. Thánh Giá không phải một lá bùa. Không phải cứ treo một cây Thánh Giá thật lớn thì ma quỷ không dám vào, làm ăn sẽ may mắn, gia đình sẽ không gặp tai nạn. Nếu nghĩ như vậy, chúng ta đã biến một dấu chỉ đức tin thành một vật mê tín. Quyền năng của Thánh Giá không nằm ở kích thước của cây gỗ, ở chất liệu bằng vàng, bạc hay gỗ quý. Quyền năng của Thánh Giá đến từ Đức Kitô đã chết và sống lại. Và quyền năng ấy được đón nhận trong đức tin, trong đời sống bí tích, trong sự hoán cải và trong tình yêu.
Một gia đình có Thánh Giá cần để Thánh Giá trở thành “hiến pháp” của gia đình mình. Điều đó nghĩa là gì? Nghĩa là khi vợ chồng giận nhau, hãy nhìn lên Đấng đã tha thứ cho kẻ đóng đinh mình trước khi quyết định nói một câu làm tổn thương nhau. Khi cha mẹ thất vọng về con cái, hãy nhìn lên Đấng kiên nhẫn với những môn đệ yếu đuối của Người. Khi con cái thấy cha mẹ già yếu, khó tính, lẩm cẩm, hãy nhìn lên Đấng đã chấp nhận để người khác chăm sóc mình trong giờ cuối đời. Khi anh chị em tranh chấp tiền bạc, đất đai, hãy nhìn lên Đấng chết trần trụi, chẳng mang theo gì ngoài tình yêu. Khi người trong nhà muốn hơn thua, hãy nhìn Đấng đã không xuống khỏi Thập Giá để chứng minh mình có quyền năng. Cứ như thế, Thánh Giá trên tường trở thành một câu hỏi đặt vào từng tình huống cụ thể: “Nếu Đức Kitô ở trong hoàn cảnh này, Người sẽ yêu thế nào?”
Có lẽ điều đau lòng nhất không phải là một gia đình Công giáo không có Thánh Giá trên tường, mà là một gia đình có Thánh Giá nhưng sống trái hoàn toàn với Thánh Giá. Thánh Giá ở gian giữa, còn lời nói độc ác ở trong bếp. Thánh Giá trên cao, còn vợ chồng ở dưới không nhìn mặt nhau. Thánh Giá được lau sạch mỗi tuần, còn những vết thương trong lòng người thân thì không ai chịu chạm tới. Người ta thắp đèn trước tượng Chúa nhưng lại tắt niềm hy vọng của nhau bằng những lời khinh miệt. Người ta đọc kinh rất lớn nhưng không ai chịu nói một câu xin lỗi. Người ta cúi đầu trước Thánh Giá nhưng không chịu cúi cái tôi của mình trước người thân. Nếu thế thì cây Thánh Giá trong nhà trở thành một lời chất vấn hơn là một sự an ủi.
Chúng ta thường nghĩ “vác thập giá” là chịu bệnh tật, nghèo khó, tai nạn. Đúng, những điều ấy có thể trở thành thập giá. Nhưng trong gia đình, rất nhiều thập giá lại rất bình thường. Là mỗi sáng dậy sớm chuẩn bị bữa ăn cho cả nhà. Là người cha đi làm dù mệt mỏi vì biết mình còn trách nhiệm. Là người mẹ thức đêm bên đứa con sốt. Là một người vợ nhịn một câu để tránh làm chồng bị tổn thương. Là một người chồng tập bỏ tính nóng để căn nhà bớt sợ hãi. Là người con dành thời gian ngồi bên cha mẹ già dù câu chuyện cứ lặp đi lặp lại. Là người chị chấp nhận phần thiệt về mình để anh em được hòa thuận. Là một thành viên trong gia đình âm thầm cầu nguyện nhiều năm cho một người đang xa Chúa. Những điều đó chẳng ai phong thánh, chẳng ai vỗ tay, chẳng ai đưa lên mạng xã hội, nhưng đó có thể là những cây Thánh Giá rất thật.
Đức Giêsu nói: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy thì không xứng với Thầy” (Mt 10,38). Chúa không nói “vác thập giá của người khác”. Người nói “thập giá mình”. Mỗi người có phần của mình. Có những thập giá chúng ta không chọn. Có những thập giá đến từ hoàn cảnh. Có những thập giá do người khác gây ra. Có những thập giá do chính sai lầm của mình tạo nên. Và cũng cần phân định: không phải mọi đau khổ đều là “Thánh Giá Chúa gửi”. Có những đau khổ do bạo lực, bất công, nghiện ngập, lạm dụng, vô trách nhiệm; những điều ấy cần được ngăn chặn, chữa lành và đôi khi phải nhờ đến sự trợ giúp chuyên môn hay pháp lý. Kitô giáo không dạy người bị bạo hành cứ ở yên để “vác thập giá”. Thánh Giá Đức Kitô không hợp thức hóa sự dữ. Trái lại, Thánh Giá vạch trần sự dữ và chiến thắng nó bằng tình yêu cùng sự thật.
Điều này đặc biệt quan trọng trong mục vụ. Đừng bao giờ dùng Thánh Giá để bắt người khác chịu đựng một cách vô lý. Người chồng không được nói với người vợ đang bị mình hành hạ rằng: “Em phải vác thập giá.” Một người lãnh đạo cộng đoàn không được đối xử bất công rồi bảo người dưới quyền “hãy học vâng phục như Chúa Giêsu”. Một người cha người mẹ không được nhân danh chữ hiếu để áp đặt con cái vào những lựa chọn phá hủy đời chúng. Thánh Giá trước hết phải là điều tôi vác vì yêu, chứ không phải cây gỗ tôi đặt lên vai người khác cho mình được nhẹ.
Nhìn lên Đức Giêsu chịu đóng đinh, ta thấy Người không bắt người khác chết thay. Người tự hiến. “Không ai lấy mạng sống của tôi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (Ga 10,18). Đó là điểm khác biệt. Thánh Giá Kitô giáo luôn gắn với tự do của tình yêu. Tôi hy sinh không phải vì bị ép buộc, nhưng vì yêu. Người mẹ hy sinh cho con không phải vì con có quyền bóc lột mẹ, nhưng vì tình yêu khiến mẹ sẵn lòng trao ban. Người linh mục phục vụ không phải vì cộng đoàn có quyền vắt kiệt ngài, nhưng vì ngài đã tự nguyện dâng đời mình cho Chúa và dân Người. Tình yêu làm cho hy sinh có ý nghĩa; không có tình yêu, đau khổ chỉ còn là đau khổ.
Thánh Giá trong nhà còn có một chức năng mục vụ rất đẹp: dạy đức tin cho trẻ em. Một đứa trẻ có thể chưa hiểu thần học cứu chuộc, nhưng nó có thể chỉ vào cây Thánh Giá và hỏi: “Sao Chúa bị đóng đinh vậy mẹ?” Câu hỏi ấy mở ra cả một cánh cửa. Người mẹ có thể trả lời thật đơn sơ: “Vì Chúa thương con người lắm.” Có khi đó là bài giáo lý đầu tiên và sâu nhất của một đời người. Trẻ em cần biết Đức Giêsu không phải chỉ là một nhân vật hiền lành trong tranh ảnh. Người đã yêu đến cùng. Và rồi cha mẹ có thể dạy con rằng mỗi lần nhìn Thánh Giá, con nhớ đừng làm đau người khác, nhớ biết tha thứ, biết chia sẻ, biết xin lỗi, biết thương người yếu hơn mình.
Nhưng trẻ em cũng nhìn cha mẹ nhiều hơn nhìn Thánh Giá. Nếu cha mẹ vừa đọc kinh dưới Thánh Giá xong lại quay sang chửi nhau thì bài giáo lý bằng đời sống sẽ mạnh hơn bài giáo lý bằng lời. Nếu người cha làm dấu Thánh Giá trước bữa ăn nhưng làm ăn gian dối ngoài xã hội, đứa con sẽ học rằng đạo chỉ là nghi thức. Nếu người mẹ dạy con hôn Thánh Giá nhưng luôn nói xấu hàng xóm, đứa con sẽ không hiểu Thánh Giá là tình yêu. Bởi vậy, điều quan trọng nhất không phải chỉ “đặt Thánh Giá ở đâu trong nhà” mà là “để tinh thần Thánh Giá ở đâu trong đời sống”.
Có người hỏi nên đặt Thánh Giá ở đâu. Dĩ nhiên, trong truyền thống tốt đẹp của người Công giáo, Thánh Giá nên được đặt ở một vị trí trang trọng, dễ thấy, nhất là nơi gia đình cầu nguyện. Không cần phô trương. Không cần quá cầu kỳ. Nhưng nên sạch sẽ, xứng hợp, diễn tả sự tôn kính. Đừng để Thánh Giá lẫn giữa một đống đồ trang trí như một món đồ nội thất. Đừng để bụi phủ nhiều năm. Đừng đặt những vật mê tín bên cạnh rồi xem tất cả như cùng một loại “đồ linh”. Cách chúng ta chăm sóc góc cầu nguyện cũng phần nào nói lên cách chúng ta coi trọng đời sống thiêng liêng.
Tuy nhiên, đừng quá bận tâm chuyện cây Thánh Giá phải quay hướng nào, cao bao nhiêu, làm bằng gỗ gì, có “hợp phong thủy” hay không. Người Kitô hữu không đặt niềm tin vào phương hướng. Thánh Giá không cần phong thủy; chính Thánh Giá thánh hóa ngôi nhà bằng việc nhắc mọi người sống trong Đức Kitô. Căn nhà trở nên bình an không phải vì cây Thánh Giá treo đúng “cung”, nhưng vì những người sống trong căn nhà ấy biết cầu nguyện, tha thứ, tôn trọng, trung tín và yêu thương nhau. Nếu cả nhà sống theo Tin Mừng, đó là sự bảo vệ đẹp nhất.
Một tập quán đáng quý là cha mẹ làm dấu Thánh Giá trên trán con trước khi con đi ngủ, đi học hay đi xa. Một dấu nhỏ thôi nhưng rất đẹp. Người cha đặt tay lên trán con: “Xin Chúa chúc lành cho con.” Người mẹ làm dấu Thánh Giá: “Chúa gìn giữ con.” Nhiều đứa trẻ lớn lên có thể quên nhiều bài học, nhưng vẫn nhớ bàn tay của cha mẹ trên trán mình mỗi tối. Đó là mục vụ gia đình ở hình thức giản dị nhất. Đức tin không phải chỉ được truyền trong lớp giáo lý. Đức tin được truyền qua bàn tay, ánh mắt, giọng nói, thói quen cầu nguyện và cách cha mẹ sống.
Thánh Giá cũng nên hiện diện trong những biến cố của gia đình. Ngày cưới, đôi vợ chồng có thể quỳ trước Thánh Giá để hiểu rằng tình yêu hôn nhân không chỉ là những ngày đẹp. Sẽ đến những ngày phải hy sinh. Sẽ có lúc người kia không còn đáng yêu như ngày đầu. Sẽ có những mùa khô khan, bệnh tật, khó khăn tài chính, khác biệt tính tình. Khi ấy lời hứa “khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe” bắt đầu mang dáng dấp Thánh Giá. Nhưng chính ở đó tình yêu trưởng thành. Tình yêu không được chứng minh chủ yếu vào ngày người ta nắm tay nhau trong lễ cưới; tình yêu được chứng minh trong những ngày một người phải nâng người kia dậy.
Ngày có người bệnh, Thánh Giá lại mang một ý nghĩa khác. Đừng vội nói với bệnh nhân rằng phải “chịu khó dâng cho Chúa” như thể đau đớn không đáng kể. Hãy chăm sóc họ. Hãy giảm đau cho họ. Hãy đưa họ đi khám. Hãy ở bên họ. Và nếu họ muốn, hãy cùng họ cầu nguyện dưới Thánh Giá. Đức Giêsu trên Thánh Giá không biến chúng ta thành những người yêu đau khổ; Người biến chúng ta thành những người biết yêu trong đau khổ. Đau khổ tự nó không thánh hóa ai. Tình yêu giữa đau khổ mới có thể trở thành con đường thánh hóa.
Ngày trong nhà có người qua đời, cây Thánh Giá bỗng trở nên đặc biệt gần gũi. Người thân nhìn quan tài rồi nhìn lên Đức Kitô chịu chết. Đó là một trong những khoảnh khắc Kitô giáo nói lời mạnh nhất về niềm hy vọng. Chúng ta không thờ một người chết. Chúng ta thờ Đấng đã đi qua cái chết và sống lại. Cây Thánh Giá có Chúa chịu nạn nhắc rằng cái chết là thật, đau đớn là thật, chia lìa là thật; nhưng nó không phải tiếng nói cuối cùng. Phía sau Thứ Sáu Tuần Thánh là sáng Phục Sinh. Phía sau ngôi mộ là lời thiên thần: “Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy” (Mt 28,6).
Chính vì thế, người Công giáo không được tách Thánh Giá khỏi Phục Sinh. Nếu chỉ nhìn Thánh Giá như đau khổ, Kitô giáo dễ trở thành u buồn. Nếu chỉ nói Phục Sinh mà không muốn đi qua Thánh Giá, đức tin trở thành một thứ lạc quan rẻ tiền. Hai mầu nhiệm đi chung. Đức Giêsu phục sinh chính là Đức Giêsu mang dấu đinh. Khi hiện ra với các môn đệ, Người vẫn cho họ xem tay và cạnh sườn (x. Ga 20,20). Những vết thương không biến mất; chúng được biến đổi. Đây là một niềm hy vọng lớn cho chúng ta. Có những vết thương trong đời sẽ không thể xóa như chưa từng xảy ra. Nhưng trong ân sủng Chúa, chúng có thể được chữa lành đến độ không còn là nơi rỉ máu mà trở thành nơi ánh sáng đi qua.
Có những gia đình mang những vết thương kéo dài hàng chục năm. Cha con không nói chuyện. Anh em tranh chấp. Vợ chồng sống chung mà xa lạ. Một người nghiện rượu. Một đứa con bỏ nhà. Một người mang mặc cảm vì quá khứ. Có khi cây Thánh Giá đã treo trên tường suốt những năm ấy. Điều cần làm có lẽ là một ngày nào đó cả nhà can đảm ngồi xuống dưới cây Thánh Giá ấy và nói thật với nhau. Không phải nói để kết tội. Nói để chữa lành. Có thể một người bắt đầu bằng câu rất khó: “Tôi xin lỗi.” Có thể một người khác nói: “Tôi đã giận anh quá lâu.” Có thể một người cha nói với con: “Ba đã làm con tổn thương.” Có thể một người con nói: “Con tha thứ.” Những giây phút như thế, cây Thánh Giá trên tường không còn là tượng nữa. Thánh Giá đang sống.
Tôi vẫn nghĩ có một câu của Đức Giêsu trên Thánh Giá mà mọi gia đình nên thuộc lòng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Người nói lời ấy khi những chiếc đinh còn đang ở trong tay. Chúa không đợi vết thương lành rồi mới tha thứ. Chúa tha ngay trong lúc đang bị thương. Điều đó vượt quá sức con người, nên chúng ta cần ân sủng. Có những người nói: “Cha ơi, con không tha được.” Tôi hiểu. Có những vết thương quá sâu. Đừng ép mình giả vờ rằng mình đã tha khi lòng chưa thể. Nhưng có thể bắt đầu bằng một lời cầu nguyện nhỏ: “Lạy Chúa, con chưa tha được. Xin Chúa giúp con muốn tha.” Chỉ vậy thôi. Đó đã là một bước về phía Thánh Giá.
Thánh Giá cũng dạy chúng ta một điều rất khó: không phải lúc nào yêu cũng là giữ người khác lại. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu trao Mẹ mình cho Gioan và trao Gioan cho Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà… Đây là mẹ của anh” (Ga 19,26-27). Ngay trong giờ đau khổ nhất, Người vẫn nghĩ đến người khác. Tình yêu thật không co mình lại quanh nỗi đau của riêng mình. Có những người càng đau càng làm người khác đau theo. Nhưng Đức Giêsu càng đau lại càng trao ban. Người khát nhưng vẫn tha thứ. Người bị bỏ rơi nhưng vẫn lo cho Mẹ. Người sắp chết nhưng vẫn mở thiên đàng cho người trộm biết ăn năn. Đó là tình yêu Thánh Giá.
Nếu mỗi gia đình Công giáo học được một chút tình yêu ấy, xã hội sẽ khác. Nếu mỗi người chồng trước khi nổi nóng nhìn Thánh Giá một phút; mỗi người vợ trước khi nói một câu cay độc nhìn Thánh Giá một phút; mỗi người con trước khi đối xử bất kính với cha mẹ nhìn Thánh Giá một phút; mỗi cha mẹ trước khi dùng những lời làm tổn thương con nhìn Thánh Giá một phút; có lẽ rất nhiều nước mắt đã không phải rơi. Thánh Giá không cần nói. Chỉ cần chúng ta chịu nhìn đủ lâu.
Trong nhà thờ cũng vậy. Sau Thánh Lễ, trước khi vội vàng ra về, thử ở lại một vài phút. Nhìn lên Thánh Giá. Có khi cả bài giảng dài không chạm được vào lòng, nhưng một cái nhìn lại có thể làm được điều ấy. Hãy nói với Chúa: “Chúa đã yêu con đến mức này sao?” Rồi đừng nói gì nữa. Cứ nhìn. Có những cuộc hoán cải bắt đầu bằng một cái nhìn. Tin Mừng Gioan nhắc lại lời ngôn sứ: “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu” (Ga 19,37). Nhìn lên không chỉ bằng đôi mắt. Nhìn lên là để nhận ra. Nhìn lên là để mình bị đánh động. Nhìn lên là để thấy tội mình và thấy tình yêu lớn hơn tội mình.
Một trong những nguy cơ của đời sống đạo là chúng ta quá quen với Thánh Giá. Đeo trên cổ mà quên. Treo trên tường mà quên. Làm dấu mà quên. Cúi đầu mà quên. Hôn Thánh Giá mà quên. Cái quen có thể làm điều thánh trở nên bình thường. Bởi vậy đôi khi cần nhìn Thánh Giá như thể đây là lần đầu tiên. Hãy tưởng tượng chưa bao giờ bạn nghe chuyện Đức Giêsu. Hôm nay ai đó nói với bạn: Thiên Chúa đã làm người. Người chữa lành bệnh nhân, tha thứ tội nhân, ăn uống với những người bị khinh miệt, rửa chân cho môn đệ. Cuối cùng con người bắt Người, đánh đập, chế giễu, đóng đinh. Và khi có thể nguyền rủa, Người lại cầu xin tha thứ cho họ. Khi có thể xuống khỏi Thập Giá, Người vẫn ở lại. Tại sao? “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một” (Ga 3,16).
Có lẽ từ khóa để hiểu Thánh Giá là hai chữ: “ở lại”. Đức Giêsu ở lại trên Thập Giá. Người có thể xuống, nhưng Người ở lại. Đức Maria ở lại dưới chân Thập Giá. Gioan ở lại. Tình yêu thật biết ở lại. Trong một thời đại mà người ta rất dễ bỏ đi khi một mối quan hệ trở nên khó khăn, Thánh Giá nói: hãy học ở lại. Không phải ở lại trong bạo lực hay sự dữ, nhưng ở lại trong tình yêu, trong trách nhiệm, trong sự trung tín. Người cha ở lại với gia đình khi khó khăn. Người mẹ ở lại với đứa con lầm lạc. Vợ chồng ở lại với lời hứa của mình và tìm cách chữa lành. Linh mục ở lại với đoàn chiên ngay cả khi mệt mỏi. Tu sĩ ở lại với ơn gọi trong những ngày khô khan. Kitô hữu ở lại với Chúa ngay cả khi cầu nguyện không còn cảm thấy gì.
Thánh Giá trong nhà thờ, nhà nguyện, nhà tư vì thế là một lời mời gọi ở lại với tình yêu. Mỗi nơi lại có một sắc thái. Trong nhà thờ, Thánh Giá quy tụ cộng đoàn quanh hy tế Đức Kitô. Trong nhà nguyện, Thánh Giá trở thành người bạn của sự thinh lặng và đời sống nội tâm. Trong nhà tư, Thánh Giá đi vào bữa cơm, hôn nhân, giáo dục con cái, bệnh tật, tuổi già, xung đột, hòa giải và cái chết. Nhưng ở đâu cũng chỉ một sứ điệp: “Người đã yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1).
Đừng chỉ treo Thánh Giá. Hãy sống dưới Thánh Giá. Đừng chỉ nhìn Thánh Giá. Hãy để Thánh Giá nhìn lại mình. Đừng chỉ hôn những vết thương của Chúa. Hãy học cách không tạo thêm vết thương cho người bên cạnh. Đừng chỉ nói mình yêu Chúa chịu đóng đinh. Hãy nhận ra Người trong những người đang bị cuộc đời đóng đinh hôm nay: người nghèo, người bệnh, người già cô đơn, người thất nghiệp, người di dân, người bị bỏ rơi, người mắc sai lầm đang tìm đường quay về, người trong chính gia đình mình mà lâu nay ta coi như không tồn tại.
Có lần Đức Giêsu nói: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt 25,40). Vì thế, lòng tôn kính Thánh Giá không dừng ở việc cúi đầu hay hôn kính. Nó phải đi tới người đau khổ. Một cộng đoàn tôn kính Thánh Giá thật sẽ biết cúi xuống trước những người bé nhỏ. Một gia đình yêu Thánh Giá thật sẽ không bỏ rơi người già. Một nhà nguyện đặt Thánh Giá ở trung tâm phải đào tạo những người biết bước ra phục vụ. Nếu chúng ta quỳ rất lâu trước Đức Kitô chịu đóng đinh mà đi ngang qua một Đức Kitô đang đau khổ nơi người anh em thì việc cầu nguyện của chúng ta vẫn còn thiếu.
Đặc biệt, Thánh Giá nói với chúng ta rằng giá trị của một con người không nằm ở vẻ ngoài, sức khỏe, năng suất hay thành công. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu nhìn bằng con mắt thế gian là một người hoàn toàn thất bại: không tiền, không quyền, không áo mặc, môn đệ bỏ chạy, đám đông chế giễu, thân xác bị treo lên như một tử tội. Nhưng chính ở khoảnh khắc ấy tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ mạnh mẽ nhất. Điều này đem lại phẩm giá cho mọi người yếu đuối. Người bệnh nằm liệt giường vẫn có giá trị. Người già không còn làm ra tiền vẫn có giá trị. Người khuyết tật vẫn có giá trị. Người thất nghiệp không vì thế mà trở thành vô dụng. Giá trị con người không đến từ việc họ còn “có ích” cho ai hay không. Họ có giá trị vì được Thiên Chúa yêu.
Đó cũng là lý do rất mục vụ để đặt Thánh Giá trong bệnh viện, nhà dưỡng lão, nhà dành cho người khuyết tật và những nơi chăm sóc người đau yếu. Không phải để nhắc họ “hãy chịu đau”, nhưng để nói với họ: “Anh chị không cô độc.” Một bệnh nhân có thể mất khả năng đi lại, nhưng không mất phẩm giá. Một người già có thể không còn nhớ tên con cháu, nhưng không bị Thiên Chúa quên. Một người hấp hối có thể không còn nói được, nhưng Đức Kitô chịu đóng đinh hiểu ngôn ngữ của từng hơi thở cuối cùng.
Và khi chính chúng ta đến ngày cuối đời, có lẽ chẳng cần nhiều thứ. Một căn phòng. Vài người thân. Một linh mục nếu có thể. Các bí tích. Một lời kinh. Và một cây Thánh Giá trong tầm mắt. Suốt đời ta đã nhìn Thánh Giá; ngày ấy ta nhìn thêm một lần nữa và hiểu sâu hơn bao giờ hết: Đấng đang treo trên đó đã đi qua cánh cửa mà ta sắp đi qua. Người đã chết. Người biết cái chết. Nhưng Người đã sống lại. Vì vậy người tín hữu có thể nhắm mắt với một niềm cậy trông mà thế gian không thể ban.
Tôi rất thích hình ảnh người Kitô hữu hấp hối cầm cây Thánh Giá nhỏ trong tay. Bàn tay đã từng cầm bao thứ trong đời: tiền bạc, chìa khóa, dụng cụ lao động, bút, điện thoại, tay người mình yêu. Cuối cùng mọi thứ phải buông. Chỉ còn cây Thánh Giá. Thực ra cây Thánh Giá ấy tượng trưng cho một điều sâu hơn: cuối cùng con người chẳng mang được gì, chỉ mang tình yêu mình đã sống. Và trước cửa vĩnh cửu, chúng ta không được cứu bởi thành tích của mình nhưng bởi Đức Kitô đã chết và sống lại cho chúng ta.
Thế nên từ hôm nay, mỗi lần bước vào nhà thờ, đừng đi ngang qua Thánh Giá như đi ngang một vật quen thuộc. Hãy nhìn một chút. Mỗi khi vào nhà nguyện, trước khi mở sách kinh, hãy nhìn Chúa một chút. Mỗi khi về nhà, nếu có cây Thánh Giá ở gian chính, thỉnh thoảng hãy đứng dưới đó một phút. Không cần lời dài. Có thể chỉ thưa: “Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, xin dạy con biết yêu như Chúa.” Một lời ấy đủ làm chương trình cho cả đời.
Khi trong nhà có bất hòa, hãy gặp nhau dưới Thánh Giá. Khi phải đưa ra một quyết định lớn, hãy cầu nguyện dưới Thánh Giá. Khi con cái chuẩn bị rời nhà đi học xa, hãy chúc lành cho chúng dưới Thánh Giá. Khi kỷ niệm ngày cưới, hãy cùng nhau nhìn lại lời hứa dưới Thánh Giá. Khi một người trở về sau sai lầm, hãy đón họ dưới Thánh Giá. Khi người thân hấp hối, hãy đặt cây Thánh Giá gần họ. Như thế, Thánh Giá sẽ không chỉ treo trong nhà mà sẽ đi cùng lịch sử của gia đình.
Và có một điều còn đẹp hơn: hãy để khách bước vào nhà không chỉ nhìn thấy cây Thánh Giá trên tường mà cảm thấy được tinh thần Thánh Giá trong cách gia đình tiếp đón họ. Một căn nhà có Thánh Giá phải là căn nhà người nghèo không sợ bước vào. Người lỗi lầm không sợ bị kết án. Người buồn tìm được một chỗ ngồi. Người cô đơn được hỏi han. Người khách được mời một ly nước bằng sự chân thành. Bởi nếu Đức Giêsu chịu đóng đinh là trung tâm căn nhà, thì lòng hiếu khách, nhân hậu và thương xót phải là bầu khí của căn nhà ấy.
Cũng vậy, một nhà thờ có cây Thánh Giá rất lớn nhưng người nghèo bước vào cảm thấy bị khinh thường thì chúng ta cần xét lại. Nhà của Đấng chịu đóng đinh phải là nơi những người bị đời đóng đinh có thể tìm được chỗ trú. Người tội lỗi phải dám bước vào. Người thất bại phải dám bước vào. Người không ăn mặc sang trọng phải dám bước vào. Người đang mang một quá khứ rối ren phải dám bước vào. Nhà thờ không phải viện bảo tàng của những người hoàn hảo. Nhà thờ là nơi những con người bị thương đến gặp Đấng mang thương tích để được chữa lành.
Cây Thánh Giá cũng dạy Hội Thánh cách làm mục vụ. Mục vụ theo Thánh Giá không phải tìm thành công bằng mọi giá. Không đo đời sống Hội Thánh chỉ bằng số người tham dự, số công trình xây dựng, số chương trình tổ chức. Có những công việc mục vụ rất âm thầm nhưng mang chiều sâu Thánh Giá: một linh mục ngồi hai giờ nghe một người đau khổ kể đi kể lại câu chuyện của họ; một nữ tu chăm một cụ già không ai nhớ tới; một giáo lý viên kiên trì với một em khó dạy; một người trong hội đoàn đều đặn đem cơm cho một gia đình nghèo. Không sân khấu. Không tiếng vỗ tay. Không hình ảnh đẹp để đăng. Nhưng đó có thể là Tin Mừng đang được viết bằng đời sống.
Thánh Phaolô từng nói một câu rất mạnh: “Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh” (1 Cr 1,22-23). Thế giới thích sức mạnh; Kitô giáo đặt ở trung tâm một Đấng bị đóng đinh. Thế giới thích thắng; Kitô giáo nhìn một người xem ra thua. Thế giới muốn lên cao; Đức Kitô đi xuống thấp. Thế giới muốn giữ; Đức Kitô cho đi. Thế giới muốn trả đũa; Đức Kitô tha thứ. Thế giới hỏi “tôi được gì?”; Thánh Giá hỏi “tôi có thể trao gì?”
Đó là lý do Thánh Giá luôn gây khó chịu nếu chúng ta nhìn thật sự. Nó không để chúng ta sống Kitô giáo dễ dãi. Nó đụng đến tiền bạc của ta, thời gian của ta, quyền lợi của ta, cách ta cư xử, lòng tự ái của ta. Ta có thể thích một cây Thánh Giá đẹp nhưng không thích điều Thánh Giá đòi hỏi. Ta thích Chúa hy sinh cho mình nhưng lại ngại hy sinh cho người khác. Ta thích được Chúa tha nhưng khó tha cho người khác. Ta thích Chúa kiên nhẫn với mình nhưng dễ hết kiên nhẫn với người bên cạnh. Chính ở đó Thánh Giá trở thành tấm gương.
Hãy đứng trước cây Thánh Giá trong nhà mình và thử tự hỏi: Trong năm qua tôi đã làm ai đau? Tôi đang không tha thứ cho ai? Tôi đang trốn trách nhiệm nào? Có người nào trong gia đình đang cần tôi nhưng tôi không muốn nhìn thấy? Có lời xin lỗi nào tôi biết mình phải nói nhưng vẫn trì hoãn? Có một sự thật nào tôi phải đối diện? Có thói quen tội lỗi nào tôi cứ viện lý do để giữ lại? Nếu can đảm hỏi như thế, cây Thánh Giá sẽ bắt đầu làm công việc mục vụ của nó.
Nhưng đừng sợ. Thánh Giá không chỉ kết án. Nếu chỉ kết án, đó không phải Tin Mừng. Thánh Giá trước hết là lòng thương xót. Chính lúc con người tệ nhất, Thiên Chúa lại yêu đến cùng. Những kẻ đóng đinh Đức Giêsu không xứng đáng được tha, nhưng Người vẫn cầu xin cho họ. Người trộm bị đóng đinh bên cạnh không còn cơ hội làm lại cuộc đời, không còn thời gian đền bù, chỉ kịp nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Đức Giêsu trả lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Nếu có ai trong căn nhà này nghĩ mình đã đi quá xa để quay về, hãy nhìn Thánh Giá. Không ai đi xa hơn lòng thương xót của Thiên Chúa.
Đó có lẽ là sứ điệp cuối cùng và đẹp nhất của Thánh Giá trong mọi nhà thờ, mọi nhà nguyện, mọi gia đình: bạn được yêu. Không phải vì bạn hoàn hảo. Không phải vì bạn đã làm mọi thứ đúng. Không phải vì bạn xứng đáng. Bạn được yêu vì Thiên Chúa là Tình Yêu. Cây Thánh Giá nói điều ấy bằng một thứ ngôn ngữ không thể hiểu lầm: hai cánh tay mở ra và không khép lại nữa.
Ngày nào đó những ngôi nhà chúng ta đang ở sẽ thuộc về người khác. Nhà thờ có thể được sửa chữa. Nhà nguyện có thể thay đổi. Những cây Thánh Giá bằng gỗ rồi cũng mục, bằng kim loại rồi cũng cũ. Nhưng điều quan trọng là trong những năm tháng được sống dưới bóng Thánh Giá, chúng ta đã để Thánh Giá tạo nên con người nào trong mình. Ta có nhân hậu hơn không? Biết tha thứ hơn không? Bớt ích kỷ hơn không? Biết hy sinh hơn không? Biết thương người đau khổ hơn không? Biết đặt Chúa ở trung tâm hơn không? Nếu có, cây Thánh Giá đã hoàn thành sứ mạng mục vụ của nó.
Và có lẽ từ tối nay, khi mọi việc trong nhà đã yên, hãy tắt bớt những âm thanh. Đặt điện thoại xuống. Đứng trước cây Thánh Giá một lát. Nhìn thật lâu vào khuôn mặt Đức Giêsu. Nhìn đôi tay bị đóng đinh. Nhìn cạnh sườn bị đâm thâu. Nhìn thân mình đã kiệt sức. Rồi nhớ rằng tất cả những điều ấy không phải là một câu chuyện xa xưa. Người đã làm điều ấy vì yêu chúng ta. Vì yêu tôi. Vì yêu người đang đứng bên cạnh tôi. Vì yêu cả người mà tôi đang khó tha thứ nhất.
Rồi hãy thưa thật nhỏ: “Lạy Chúa, xin đừng để Thánh Giá chỉ treo trên tường nhà con. Xin treo Thánh Giá vào trái tim con. Xin cho con biết chết đi mỗi ngày một chút với tính ích kỷ, nóng giận, kiêu căng, tham lam và hơn thua. Xin cho tình yêu của Chúa sống trong con. Xin cho căn nhà này, cộng đoàn này, giáo xứ này trở thành nơi người khác có thể gặp được một chút tình yêu của Đấng chịu đóng đinh.”
Và nếu lời cầu nguyện ấy được sống thật, thì dù căn nhà rất nhỏ, nó cũng thành một nhà nguyện. Dù nhà nguyện rất đơn sơ, nó cũng thành một nơi thánh. Dù nhà thờ không nguy nga, cộng đoàn ấy vẫn đẹp trong mắt Chúa. Bởi vẻ đẹp lớn nhất của Hội Thánh chưa bao giờ nằm ở đá cẩm thạch, kính màu hay những công trình đồ sộ. Vẻ đẹp lớn nhất của Hội Thánh là những con người đã nhìn lên Thánh Giá đủ lâu để rồi chính đời họ mang hình dáng của tình yêu chịu đóng đinh.
Thánh Giá trên tường là dấu chỉ. Thánh Giá trong lòng mới là đời sống. Thánh Giá trên bàn thờ là mầu nhiệm được cử hành. Thánh Giá trong gia đình là mầu nhiệm được đem ra sống. Thánh Giá trong nhà nguyện là nơi ta chiêm ngắm. Thánh Giá ngoài cuộc đời là nơi ta thực hành. Và đến cuối cùng, điều Chúa mong không phải là chúng ta đã sở hữu bao nhiêu cây Thánh Giá, đã hôn kính bao nhiêu lần, đã làm dấu bao nhiêu lượt, nhưng là sau tất cả những lần nhìn lên Đấng chịu đóng đinh, chúng ta đã biết yêu giống Người hơn được bao nhiêu.
Xin cho mỗi nhà thờ có Thánh Giá là một ngôi nhà của lòng thương xót. Xin cho mỗi nhà nguyện có Thánh Giá là một trường học của tình yêu tự hiến. Xin cho mỗi gia đình treo Thánh Giá biết biến những gian nan đời thường thành cơ hội để yêu nhau sâu hơn. Xin cho mỗi người chúng ta, mỗi lần ngước nhìn cây Thánh Giá, không chỉ thấy một Đức Giêsu đã chết hai ngàn năm trước, nhưng nhận ra Đấng đang sống, đang yêu, đang gọi tên mình và đang nhắc lại lời Người đã nói từ thuở nào: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Thầy.”
Và xin cho ta đủ can đảm mà thưa: “Lạy Chúa, con xin theo. Không phải vì con mạnh. Không phải vì con thích đau khổ. Nhưng vì con tin rằng con đường Chúa đi, dù qua đồi Canvê, cuối cùng vẫn dẫn tới Phục Sinh. Con xin đặt căn nhà của con dưới bóng Thánh Giá. Con xin đặt gia đình con dưới bóng Thánh Giá. Con xin đặt ơn gọi, công việc, những niềm vui, những vết thương, những người con yêu và cả những người con chưa thể yêu dưới bóng Thánh Giá. Xin Thánh Giá Chúa không chỉ được treo trong nhà con, nhưng trở thành nhịp sống của nhà con. Để ai bước vào đây, dù không nhìn thấy cây Thánh Giá, vẫn có thể cảm nhận được rằng trong căn nhà này có một Đấng đã yêu đến cùng.”
Lm. Anmai, CSsR

CHUỖI MÂN CÔI VÀ VIỆC SUY NGẮM NĂM SỰ THƯƠNG – ĐI VỚI MẸ TRÊN CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ
Có những lúc người ta cầm chuỗi Mân Côi trên tay mà lòng thật bình an. Cũng có những lúc cầm chuỗi mà nước mắt cứ chảy. Có khi lần chuỗi giữa một ngôi nhà đầy tiếng cười, có khi lần chuỗi bên giường bệnh, bên quan tài của người thân, trong một đêm mất ngủ, giữa một cuộc hôn nhân đang rạn nứt, giữa nỗi lo con cái, giữa những ngày thất nghiệp, giữa căn phòng bệnh viện nồng mùi thuốc sát trùng, hay giữa một tâm hồn tưởng như chẳng còn sức để cầu nguyện nữa. Lạ lùng thay, cũng vẫn những hạt chuỗi nhỏ bé ấy, cũng những lời Kính Mừng quen thuộc ấy, nhưng mỗi hoàn cảnh của đời người lại khiến lời kinh mang một âm sắc khác. Và có lẽ không mầu nhiệm nào của chuỗi Mân Côi gần với những giờ phút đau thương của đời người cho bằng Năm Sự Thương. Năm Sự Thương không dẫn chúng ta đi tìm đau khổ. Đạo Công giáo không phải là đạo tôn thờ đau khổ. Thiên Chúa cũng không vui khi thấy con người đau đớn. Nhưng Năm Sự Thương đưa chúng ta đến một điều sâu hơn: khi đau khổ không thể tránh khỏi, khi chén đắng đã đặt vào tay mình, khi thập giá đã nằm trên vai mình, người Kitô hữu không còn phải bước đi một mình. Có Chúa Giêsu đi trước. Có Đức Maria đi bên cạnh. Và có chuỗi Mân Côi như một sợi dây nhỏ bé nối bàn tay run rẩy của con người với bàn tay của Mẹ.
Chuỗi Mân Côi nhìn bên ngoài chẳng có gì lớn lao. Chỉ là một cây Thánh Giá nhỏ, vài chục hạt được xâu lại với nhau. Người đời có thể nhìn và cho rằng đó chỉ là một vật đạo đức bình dân, dành cho người già, cho những bà mẹ quê, cho những người ít học thần học. Nhưng ai đã từng thực sự sống với chuỗi Mân Côi sẽ hiểu: đằng sau những hạt chuỗi nhỏ bé ấy là cả Tin Mừng. Chuỗi Mân Côi không giữ người ta ở bên ngoài cuộc đời Chúa Giêsu, nhưng dẫn người ta bước vào trong cuộc đời của Người, nhìn Chúa với đôi mắt của Đức Maria, nhớ Chúa bằng ký ức của Mẹ, yêu Chúa bằng trái tim của Mẹ và học theo Chúa dưới sự hướng dẫn của Mẹ. Vì thế, lần chuỗi không phải chỉ là đọc nhiều kinh Kính Mừng. Nếu môi đọc mà tâm trí hoàn toàn vắng bóng Chúa, chuỗi Mân Côi có nguy cơ trở thành một chuỗi âm thanh. Nhưng khi lời kinh và mầu nhiệm gặp nhau, khi từng lời “Kính mừng Maria” trở thành nhịp nền để tâm hồn chiêm ngắm Đức Kitô, thì chuỗi Mân Côi trở thành một trường học Tin Mừng, một trường học cầu nguyện, một trường học của lòng trung tín, và nhất là trong Năm Sự Thương, một trường học dạy chúng ta biết đau khổ như thế nào mà không đánh mất tình yêu.
Năm Sự Thương đưa ta từ vườn Cây Dầu đến đồi Canvê. Con đường ấy không dài nếu tính bằng cây số, nhưng lại là con đường dài nhất của tình yêu. Bắt đầu bằng giọt mồ hôi máu trong đêm tối, rồi đến những roi đòn, vòng gai, cây thập giá trên vai, và cuối cùng là cái chết trần trụi trên đồi Sọ. Năm mầu nhiệm như năm cánh cửa dẫn vào trái tim của Đấng Cứu Thế. Càng bước vào, ta càng nhận ra một điều: điều làm nên giá trị cứu độ của cuộc Thương Khó không đơn giản là Chúa Giêsu đã đau khổ bao nhiêu, nhưng là Người đã yêu bao nhiêu trong đau khổ ấy. Hai người có thể cùng chịu một nỗi đau, nhưng một người có thể chỉ còn cay đắng, người kia lại có thể biến đau khổ thành của lễ của tình yêu. Đức Giêsu không cứu thế giới chỉ vì Người bị đóng đinh. Trong lịch sử, rất nhiều người đã bị đóng đinh. Người cứu thế giới bởi vì trên thập giá Người đã hiến dâng chính mình trong sự vâng phục và tình yêu tuyệt đối đối với Chúa Cha và nhân loại. Năm Sự Thương vì thế không dạy chúng ta mê đau khổ; Năm Sự Thương dạy chúng ta biết yêu giữa đau khổ.
Tin Mừng cho chúng ta một hình ảnh không thể nào quên trong vườn Ghếtsêmani. Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy.” Rồi Người đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống đất mà cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (x. Mt 26,38-39). Chỉ một cảnh Tin Mừng ấy cũng đủ soi sáng cả Năm Sự Thương. Chúa Giêsu không giả vờ mạnh mẽ. Người không phủ nhận nỗi sợ. Người không nói rằng đau khổ chẳng đáng kể. Người buồn. Người kinh hãi. Người cảm thấy cô đơn. Người mong chén đắng có thể qua đi. Thế nhưng ở chính nơi ý chí con người run rẩy nhất, Người thưa lên lời quyết định tất cả: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Đó không phải sự đầu hàng của một kẻ yếu đuối. Đó là sự tự do của một người con hoàn toàn tín thác. Đó là tiếng “xin vâng” của Đức Giêsu, tương ứng với tiếng “xin vâng” của Đức Maria tại Nazareth. Mẹ đã thưa “xin vâng” để Con Thiên Chúa đi vào cuộc đời. Con thưa “xin vâng” tại Ghếtsêmani để nhân loại được đưa về với Chúa Cha. Và khi ta lần Năm Sự Thương, ta đứng giữa hai tiếng “xin vâng” ấy mà học lại cách sống cuộc đời mình.
Sự Thương thứ nhất: Đức Chúa Giêsu lo buồn đổ mồ hôi máu. Mầu nhiệm đầu tiên không xảy ra trước đám đông, nhưng trong bóng tối. Có những đau khổ ồn ào, ai cũng biết; nhưng phần lớn những đau khổ sâu nhất của một đời người lại diễn ra trong thinh lặng. Có những giọt nước mắt không ai nhìn thấy. Có những đêm một người mẹ nằm bên cạnh chồng mà không dám khóc thành tiếng vì sợ các con nghe. Có người cha sáng mai vẫn cười với gia đình nhưng cả đêm không ngủ vì món nợ chưa biết lấy gì để trả. Có linh mục vẫn bước lên bàn thờ, vẫn giảng, vẫn cười với cộng đoàn, nhưng bên trong là một sự cô đơn chỉ Chúa biết. Có người trẻ đăng một tấm hình thật vui lên mạng, nhưng sau màn hình là một trái tim đang rạn vỡ. Có người bệnh khi người nhà vào thăm vẫn nói: “Tôi khỏe mà”, nhưng khi cánh cửa đóng lại, họ nhìn lên trần nhà và tự hỏi không biết mình còn sống được bao lâu. Đó là Ghếtsêmani của đời thường.
Khi đọc chục kinh thứ nhất, điều đầu tiên không phải là xin Chúa lấy hết mọi đau khổ đi. Ta được phép xin điều đó, vì chính Chúa Giêsu cũng đã xin: “Nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Đức tin không cấm chúng ta cầu xin được chữa lành, được giải thoát, được có việc làm, được cứu khỏi một cuộc khủng hoảng. Nhưng lời cầu của người Kitô hữu không dừng ở đó. Cuối cùng phải có chỗ cho câu: “Nhưng xin đừng theo ý con, mà theo ý Cha.” Khó vô cùng! Dễ đọc nhưng khó sống. Đọc trong vài giây, có khi phải mất cả đời mới học được. Ta muốn Chúa làm theo ý ta. Ta có sẵn một kịch bản cho cuộc đời và muốn Chúa ký tên vào cuối trang. Ta muốn người này phải thay đổi, căn bệnh kia phải khỏi, cánh cửa nọ phải mở, người ta phải hiểu mình, dự định phải thành công. Nhưng đôi khi Chúa im lặng. Và chính trong sự im lặng ấy, Ghếtsêmani bắt đầu.
Lần chuỗi trong những lúc ấy không phải là làm cho mọi câu hỏi biến mất. Chuỗi Mân Côi không phải viên thuốc an thần thiêng liêng. Nó là cách ta ngồi lại bên Chúa. Ngày xưa Chúa nói với ba môn đệ: “Anh em hãy ở lại đây và canh thức với Thầy.” Ngày nay, đôi khi Người cũng chỉ cần ta ở lại. Không cần nói nhiều. Một chuỗi Mân Côi chậm rãi trong đêm đôi khi chính là cách ta nói: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con không bỏ Chúa.” Và có lẽ đó là một trong những lời tuyên xưng đức tin đẹp nhất con người có thể dâng lên Thiên Chúa.
Sự Thương thứ hai: Đức Chúa Giêsu chịu đánh đòn. Nếu Ghếtsêmani là đau khổ của tâm hồn thì cột đá là đau khổ của thân xác. Thân thể Con Thiên Chúa trở thành nơi bạo lực của con người trút xuống. Đấng đã dùng đôi tay chữa người phong, mở mắt người mù, nâng người bại liệt, chúc lành cho trẻ nhỏ, bẻ bánh cho đám đông, giờ đây để thân mình chịu những roi đòn. Có một nghịch lý thật đau: chính thân thể từng trở thành dụng cụ của lòng thương xót nay lại bị con người làm cho tan nát. Khi suy mầu nhiệm này, chúng ta không chỉ nhớ lại một cực hình của hai ngàn năm trước. Ta được mời nhìn lại cách nhân loại hôm nay đang đối xử với thân xác con người: bạo lực gia đình, hành hạ, chiến tranh, bóc lột, mua bán con người, lạm dụng, phá thai, nghiện ngập, những hình thức biến con người thành món hàng và thân xác thành phương tiện tiêu thụ. Mỗi thân xác con người đều có một phẩm giá vì đã được Thiên Chúa dựng nên, và từ ngày Ngôi Lời mang lấy xác phàm, thân xác con người còn được mặc thêm một phẩm giá lạ lùng.
Nhưng suy mầu nhiệm Chúa chịu đánh đòn còn khiến ta nghĩ đến người bệnh. Nhiều người không bị roi da đánh vào thân thể nhưng bị bệnh tật đánh từng ngày. Một lần hóa trị là một trận chiến. Một ca phẫu thuật là một chặng đường. Một người già không thể tự bước xuống giường phải chịu một sự bất lực mà người khỏe mạnh khó hiểu. Có những căn bệnh khiến người ta không chỉ đau mà còn xấu hổ vì phải nhờ người khác chăm sóc từng việc nhỏ. Khi đó, Năm Sự Thương cho họ một người bạn đồng hành. Chúa Giêsu không đứng xa để nói: “Con hãy cố chịu đi.” Người mang trên thân mình những vết thương. Thiên Chúa của Kitô giáo là Thiên Chúa có những vết sẹo. Sau khi sống lại, Đức Giêsu vẫn cho Tôma nhìn thấy dấu đinh. Người phục sinh không xóa bỏ lịch sử đau thương như thể chưa từng xảy ra; Người biến những vết thương thành dấu chỉ của tình yêu chiến thắng. Đó là niềm hy vọng cho mọi người đang mang thương tích: vết thương không nhất thiết là chương cuối cùng của đời ta.
Sự Thương thứ ba: Đức Chúa Giêsu chịu đội mão gai. Nếu những roi đòn làm đau thân xác, thì mão gai còn mang một nỗi nhục. “Vua dân Do Thái muôn năm!” Họ quỳ xuống không phải để thờ lạy mà để chế nhạo. Đau vì gai đâm đã khủng khiếp; đau vì phẩm giá bị chà đạp còn cay đắng hơn. Con người có thể chịu một vết thương thể xác rồi lành, nhưng một lời sỉ nhục có thể nằm lại trong ký ức hàng chục năm. Có những người chưa từng quên một câu nói cha mẹ nói với họ khi còn bé. Có người mang vết thương vì bị bạn đời coi thường. Có người bị đồng nghiệp hạ nhục. Có người bị vu khống trên mạng xã hội, bị những người chưa từng gặp mình phán xét bằng vài dòng chữ. Có người sống tử tế nhưng bị hiểu lầm. Có linh mục bị chỉ trích, có giáo dân bị loại trừ, có những người cố sống ngay thẳng nhưng bị cười nhạo. Mão gai vẫn còn đó, chỉ khác hình thức.
Trước những chiếc mão gai của đời mình, ta thường phản ứng bằng cách dựng lên một mão gai khác cho người khác. Người ta xúc phạm tôi, tôi xúc phạm lại. Người ta hạ thấp tôi, tôi tìm cách bêu xấu họ. Người ta nói một câu, tôi đáp mười câu. Thế là từ một chiếc mão gai sinh ra thêm hàng chục chiếc mão gai. Nhưng Đức Giêsu im lặng. Sự im lặng ấy không phải hèn nhát. Có những lúc phải lên tiếng bảo vệ sự thật và công lý. Nhưng cũng có những lúc mọi lời thanh minh chỉ đổ thêm dầu vào lửa. Chúa dạy ta một thứ tự do khó nhất: không để phẩm giá của mình tùy thuộc hoàn toàn vào lời khen tiếng chê của người đời. Hôm Chúa vào Giêrusalem, người ta tung hô. Vài ngày sau họ la: “Đóng đinh nó đi!” Nếu sống bằng tiếng vỗ tay, ta cũng sẽ chết vì tiếng la ó. Chỉ người biết mình là ai trước mặt Thiên Chúa mới có thể đứng vững giữa những thay đổi của lòng người.
Lần chục kinh thứ ba, ta nên xin một ơn rất khó: xin Chúa chữa lòng tự ái của mình. Không phải để trở thành người vô cảm, nhưng để đừng biến mỗi lời phê bình thành một cây gai. Có người đau khổ phần lớn không phải vì điều người khác làm, nhưng vì cái tôi quá dễ bị tổn thương. Chỉ một ánh mắt đã nghĩ người ta khinh mình. Chỉ một câu góp ý đã cho rằng người ta ghét mình. Chỉ không được nhắc tên đã thấy bị bỏ quên. Mão gai của Chúa Giêsu có thể chữa lành thứ vương miện vô hình mà ta vẫn đặt lên cái tôi của mình. Đấng là Vua thật lại chấp nhận chiếc vương miện bằng gai; còn chúng ta đôi khi chẳng là gì mà lại muốn ai cũng phải nhận ra giá trị của mình. Nhìn Chúa đội mão gai lâu một chút, lòng ta sẽ bớt ồn ào.
Sự Thương thứ tư: Đức Chúa Giêsu vác cây Thánh Giá. Đây có lẽ là mầu nhiệm gần với đời sống nhất. Không ai sống trên đời mà không có thập giá. Người giàu có thập giá của người giàu. Người nghèo có thập giá của người nghèo. Người lập gia đình có thập giá của hôn nhân; người sống độc thân có thập giá của cô đơn; người làm cha mẹ có thập giá của con cái; người làm con có thập giá của bổn phận; linh mục có thập giá của mục vụ; tu sĩ có thập giá của cộng đoàn và lời khấn; người khỏe lo ngày mình bệnh; người bệnh nhớ những ngày mình khỏe. Nếu nhìn kỹ, cuộc đời chẳng có chỗ nào hoàn toàn vắng bóng thập giá. Điều khác nhau không phải là người này có thập giá, người kia không có; điều khác nhau là người ta vác thập giá với ai và vác như thế nào.
Chính Chúa Giêsu đã nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Chúa không nói: “Vác thập giá của người khác.” Cũng không nói: “Hãy chọn một thập giá mình thích.” Người nói “thập giá mình”. Cái khó nhất thường chính là chữ “mình”. Ta dễ tưởng tượng mình sẽ can đảm nếu gặp thử thách lớn lao, nhưng lại không chịu nổi những phiền toái rất nhỏ của đời thường. Ta có thể mơ làm thánh tử đạo, nhưng lại nổi nóng vì ai đó để xe không đúng chỗ. Ta muốn hy sinh cho Chúa, nhưng không chịu được một người trong gia đình có tính khí trái ý. Ta sẵn sàng nói về yêu thương, nhưng không chịu nhường một câu trong cuộc tranh luận. Thập giá lớn hiếm khi đến; thập giá nhỏ đến từ sáng đến tối. Và chính những thập giá nhỏ ấy mới là nơi đời sống thiêng liêng của ta được thử thật.
Đường lên Canvê còn có ông Simon thành Kyrênê. Người ta bắt ông vác đỡ thập giá Chúa. Chi tiết ấy thật đẹp cho đời sống Kitô hữu. Không phải lúc nào ta cũng phải vác một mình. Có những lúc cần để người khác làm Simon cho mình. Người mạnh không phải là người chẳng bao giờ cần ai. Có những lúc phải đủ khiêm tốn để nói: “Xin giúp tôi.” Đó có thể là một người bạn, một vị linh hướng, một linh mục, một bác sĩ, một người trong gia đình. Ngược lại, Chúa cũng gửi ta đến làm Simon cho người khác. Đôi khi ta không thể lấy thập giá khỏi vai họ, nhưng ta có thể làm nó nhẹ đi. Một cuộc điện thoại, một bữa cơm, một lần thăm bệnh, một khoản trợ giúp nhỏ, một lời không phán xét, một giờ ngồi nghe người khác khóc – tất cả đều có thể là đôi vai Simon giữa đời.
Khi lần chục kinh thứ tư, ta có thể đặt tên cho thập giá của mình. Đừng cầu nguyện chung chung quá. “Lạy Chúa, đây là thập giá của con: người này, căn bệnh này, món nợ này, nỗi cô đơn này, thất bại này, ký ức này, trách nhiệm này.” Khi dám gọi đúng tên nó, ta thôi chạy trốn. Rồi xin: “Chúa đừng để con vác một mình.” Nhiều khi thập giá không nhẹ ngay, nhưng vai ta mạnh hơn vì nhận ra bên kia thanh gỗ có một bàn tay khác đang nâng.
Sự Thương thứ năm: Đức Chúa Giêsu chịu chết trên cây Thánh Giá. Tất cả dừng lại ở đây. Không còn đường để bước nữa. Không còn lời giảng nào nữa. Đôi tay từng chữa lành bị đóng lại. Đôi chân từng đi khắp làng mạc nay bất động. Đấng từng gọi Lazarô ra khỏi mồ nay chính Người bước đến cửa mồ. Người ta có thể nghĩ đây là thất bại hoàn toàn. Nhưng Tin Mừng Gioan kể một lời cuối hết sức kỳ lạ: “Thế là đã hoàn tất” (Ga 19,30). Không phải “thế là hết”, mà là “đã hoàn tất”. Hai cách nói khác nhau một trời một vực. “Thế là hết” là tiếng của tuyệt vọng. “Đã hoàn tất” là lời của một sứ mạng được đưa đến cùng. Tình yêu đã đi đến tận cùng. Chúa Giêsu không chết vì tình yêu thất bại. Người chết vì đã yêu “đến cùng”.
Và dưới chân thập giá có Đức Maria. Tin Mừng Gioan ghi thật giản dị: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Chỉ một động từ: “đứng”. Mẹ không ngất đi để khỏi nhìn. Mẹ không bỏ chạy. Mẹ đứng đó. Đó là tư thế của đức tin. Có lúc chúng ta chẳng làm được gì hơn ngoài việc đứng bên thập giá. Mẹ không thể tháo đinh cho Con, không thể ngăn lưỡi đòng, không thể buộc những người lính dừng tay. Quyền lực của một người mẹ lúc ấy dường như bằng không. Nhưng Mẹ ở đó. Và có những lúc tình yêu không còn có thể sửa chữa hoàn cảnh, nhưng vẫn có thể hiện diện. Người hấp hối đôi khi không cần ta nói gì. Chỉ cần nắm tay. Người đau khổ không cần mười bài giảng. Chỉ cần biết có ai đó không bỏ họ. Đức Maria dưới chân thập giá dạy Hội Thánh một mục vụ vô cùng quan trọng: mục vụ của sự hiện diện.
Chính dưới chân thập giá, Chúa nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà”, rồi nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh” (Ga 19,26-27). Trong giây phút mất Con, Mẹ lại nhận thêm những người con. Trong giây phút đau đớn nhất, trái tim Mẹ được mở rộng để ôm lấy Hội Thánh. Vì thế, khi lần chuỗi Mân Côi, ta không cầm một vật vô tri. Ta đang bước vào mối tương quan với người Mẹ đã đứng dưới chân thập giá. Mẹ hiểu thế nào là mất mát. Mẹ hiểu cảm giác nhìn người mình yêu đau mà không cứu được. Mẹ hiểu sự im lặng của Thiên Chúa. Mẹ hiểu câu hỏi không có câu trả lời tức thì. Có lẽ vì vậy mà những người đau khổ thường rất gần Đức Mẹ. Họ không cần một bài thần học phức tạp để hiểu Mẹ; nước mắt nhận ra nước mắt.
Nhưng điều đáng chú ý là chuỗi Mân Côi không kết thúc ở Năm Sự Thương. Sau Thương là Mừng. Sau Canvê là sáng Phục Sinh. Nếu chỉ dừng ở thập giá, Kitô giáo sẽ là một tôn giáo của bi kịch. Nhưng thập giá của Đức Kitô là thập giá hướng về phục sinh. Năm Sự Thương dạy ta nhìn thẳng vào đau khổ mà không tuyệt vọng bởi vì ta biết ngày thứ Sáu không phải ngày cuối cùng. Có một ngày thứ Bảy thinh lặng, rồi có sáng Chúa Nhật. Nhiều người trong chúng ta đang sống “ngày thứ Bảy” của cuộc đời: điều cũ đã chết nhưng điều mới chưa xuất hiện; đã cầu nguyện nhưng chưa thấy câu trả lời; đã cố gắng nhưng chưa thấy kết quả; đã chôn một giấc mơ mà chưa biết Chúa sẽ mở cánh cửa nào. Ngày thứ Bảy rất khó sống vì chẳng có gì để nhìn. Nhưng giữa ngày thứ Sáu và Chúa Nhật luôn có ngày thứ Bảy. Đức tin là khả năng ở lại với Thiên Chúa ngay trong ngày chưa thấy gì.
Có người hỏi: “Tại sao phải lặp đi lặp lại năm mươi kinh Kính Mừng? Chúa có cần nghe nhiều như thế không?” Chúa không cần. Ta mới cần. Người mẹ ru con cũng lặp đi lặp lại vài câu. Người yêu nhau có thể nói “anh yêu em”, “em yêu anh” hàng ngàn lần mà chẳng thấy dư thừa. Sự lặp lại trong tình yêu không phải nghèo nàn; nó tạo nên nhịp điệu. Chuỗi Mân Côi cũng vậy. Kinh Kính Mừng là tiếng nhịp đều đặn để tâm hồn chìm sâu vào mầu nhiệm. Có lúc ta đọc một chục kinh mà đầu óc vẫn chia trí. Đừng nản. Đưa tâm trí trở lại. Lại tiếp tục. Việc lần chuỗi tự nó cũng là một bài tập trung tín: đi lạc rồi trở về, chia trí rồi trở lại. Cuộc đời thiêng liêng chẳng phải cũng vậy sao? Chẳng ai cầu nguyện hoàn hảo. Điều Thiên Chúa chờ không phải sự hoàn hảo của kỹ thuật nhưng là sự trung thành của một trái tim cứ trở về.
Có người lần chuỗi rất nhanh. Không hẳn sai, nhất là khi đã quen. Nhưng Năm Sự Thương thật đáng để đọc chậm. Trước mỗi chục kinh, có thể dừng vài giây. Hình dung cảnh Tin Mừng. Ghếtsêmani trong đêm. Chúa quỳ xuống. Tiếng roi. Chiếc áo choàng đỏ. Vòng gai. Con đường bụi bặm lên đồi Sọ. Simon ghé vai. Những người phụ nữ khóc. Chúa ngã. Đức Mẹ nhìn Con. Tiếng búa. Ba giờ chiều. Bầu trời tối lại. “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Rồi im lặng. Không cần tưởng tượng cầu kỳ. Chỉ cần để Tin Mừng trở nên gần. Khi đó kinh Kính Mừng không kéo ta khỏi Đức Giêsu. Ngược lại, mỗi lần thưa “và Giêsu, con lòng Bà gồm phúc lạ”, ta đang gọi chính tên Đấng mà ta chiêm ngắm. Tâm điểm của kinh Kính Mừng là tên Giêsu. Và Mẹ luôn đưa ta đến với Người.
Năm Sự Thương còn chữa chúng ta khỏi một hiểu lầm nguy hiểm: cứ hễ gặp đau khổ là nghĩ Thiên Chúa phạt. Không phải mọi đau khổ đều là hình phạt. Người vô tội nhất lịch sử lại là Người chịu đau khổ dữ dội nhất. Đức Giêsu trên thập giá phá vỡ lối suy nghĩ đơn giản rằng ai đau nhiều chắc hẳn tội nhiều. Có đau khổ do tội của chính ta; có đau khổ do tội của người khác; có đau khổ do giới hạn của thân phận con người; có những đau khổ mà ta chẳng thể giải thích. Đức tin không cho ta một công thức giải nghĩa hết mọi nước mắt. Đức tin cho ta một Đấng đã đi vào trong nước mắt ấy. Kitô giáo không trả lời câu hỏi đau khổ chỉ bằng một lý thuyết. Câu trả lời của Thiên Chúa mang một thân xác bị đóng đinh.
Bởi vậy, khi đứng trước người đang đau, hãy cẩn thận với những lời dễ dãi: “Chúa thử thách thôi”, “Chúa gửi thập giá đó”, “Ráng chịu để có công.” Những câu ấy đôi khi đúng trong một nghĩa nào đó, nhưng nói không đúng lúc có thể trở thành chiếc gai mới đặt vào đầu người đang khổ. Đức Maria dưới chân thập giá không thuyết giảng cho Chúa Giêsu về ý nghĩa đau khổ. Mẹ đứng đó. Trước hết hãy hiện diện. Hãy thương. Hãy khóc với người khóc. Khi tình yêu đã đủ sâu, người ta mới có thể cùng nhau tìm ra ánh sáng.
Chuỗi Mân Côi đặc biệt quý giá trong gia đình. Một gia đình lần chuỗi không phải là gia đình sẽ không gặp sóng gió. Gia đình Nazareth có Chúa Giêsu, có Đức Maria, có thánh Giuse mà vẫn có những ngày phải trốn sang Ai Cập, có những ngày tìm Con thất lạc, có ngày Mẹ đứng dưới chân thập giá. Cầu nguyện không miễn cho gia đình khỏi thử thách; cầu nguyện tạo cho gia đình một nơi để trở về trong thử thách. Nhiều cuộc tranh cãi trở nên dữ dội vì mỗi người đều muốn nói và chẳng ai muốn lắng nghe. Chuỗi Mân Côi có thể tạo ra một khoảng lặng. Mười phút cùng đọc kinh đôi khi chữa được điều mười cuộc tranh luận không chữa nổi. Không phải vì phép lạ xảy ra ngay, nhưng bởi vì khi cùng nhìn về Chúa, cái tôi của mỗi người bắt đầu nhỏ lại.
Cha mẹ nên dạy con cái lần chuỗi không chỉ bằng cách bắt chúng đọc kinh nhưng bằng cách cho chúng thấy mình thật sự yêu chuỗi Mân Côi. Một đứa trẻ sẽ nhớ hình ảnh bà ngoại cầm chuỗi hơn hàng chục bài dạy về kinh Mân Côi. Nó sẽ nhớ bàn tay chai sần của mẹ lần từng hạt khi cha đang nằm bệnh viện. Nó sẽ nhớ buổi tối mất điện cả nhà ngồi bên ánh nến đọc kinh. Có thể nhiều năm sau nó bỏ kinh, nhưng những hình ảnh đó vẫn nằm đâu đó trong linh hồn. Rồi một ngày đau khổ đến, nó có thể mở ngăn kéo, tìm lại chuỗi hạt cũ và bất giác đọc: “Kính mừng Maria…” Đức tin đôi khi trở về bằng những con đường rất nhỏ.
Với người già, chuỗi Mân Côi có thể trở thành người bạn của những ngày dài. Khi mắt không còn đọc sách được, tai nghe không rõ, chân không thể đến nhà thờ thường xuyên, những hạt chuỗi vẫn nằm gọn trong tay. Có những cụ già quên nhiều điều nhưng vẫn nhớ kinh Kính Mừng. Thật cảm động khi một trí nhớ đang dần rời rạc vẫn còn giữ được tên Đức Mẹ và tên Chúa Giêsu. Có lẽ vì những lời kinh được lặp lại suốt mấy chục năm đã đi từ trí nhớ xuống sâu hơn, vào trong trái tim. Người trẻ hôm nay thường muốn cái gì cũng nhanh, mới, hấp dẫn. Nhưng có những điều chỉ thời gian mới làm nên chiều sâu. Một chuỗi Mân Côi đã được lần suốt bốn mươi, năm mươi năm không còn chỉ là một món đồ; từng hạt đã thấm mồ hôi, nước mắt, hy vọng và cả những cái tên được mang đến trước Mẹ.
Với người bệnh và người hấp hối, Năm Sự Thương có một vẻ đẹp đặc biệt. Có lúc người bệnh không còn đủ sức đọc. Người thân có thể ngồi bên và đọc thay. Đừng nghĩ họ không nghe. Ngay cả khi họ không đáp được, lời kinh vẫn tạo nên một bầu khí bình an. “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử.” Chúng ta đã đọc câu ấy hàng chục ngàn lần, nhưng chỉ khi đứng bên một người sắp chết mới thấy nó sâu đến đâu. Mỗi kinh Kính Mừng là một lần ta tập cho giờ chết: “khi nay và trong giờ lâm tử”. Nay và giờ chết. Toàn bộ cuộc đời nằm giữa hai chữ đó. Và ta xin Mẹ đừng để ta một mình ở giờ quyết định.
Có người mang chuỗi Mân Côi trong túi nhưng hiếm khi lần. Cũng tốt vì đó là dấu nhắc nhớ, nhưng chuỗi Mân Côi đẹp nhất khi những hạt chuỗi được sử dụng. Một cây đàn đẹp không phải để treo trên tường. Chuỗi cũng không chỉ để trang trí trong xe, đeo trên cổ hay treo nơi đầu giường. Hãy cầm lên. Hãy lần. Một chục thôi nếu không có thời gian. Người bận rộn có thể chia năm chục kinh ra trong ngày: một chục trên đường đi làm nếu hoàn cảnh cho phép, một chục giờ nghỉ, một chục trước khi ngủ. Điều quan trọng là đừng biến kinh Mân Côi thành gánh nặng rồi bỏ luôn. Mẹ không đếm số kinh như người thu thuế. Một chục kinh được đọc với lòng thật đôi khi có giá trị thiêng liêng hơn năm chục kinh đọc chỉ vì sợ thiếu chỉ tiêu.
Cũng đừng dùng chuỗi Mân Côi để trốn trách nhiệm. Người chồng không thể đọc kinh rồi tiếp tục làm tổn thương vợ. Người vợ không thể lần chuỗi rồi tiếp tục gieo cay nghiệt. Người chủ không thể đọc kinh rồi bóc lột người làm. Người tín hữu không thể hôn chuỗi rồi lên mạng nhục mạ người khác. Cầu nguyện đích thực phải đi vào cách sống. Suy Chúa chịu đánh đòn mà mình lại dùng lời nói làm roi đánh người khác thì chưa hiểu mầu nhiệm. Suy Chúa đội mão gai mà vẫn thích bêu xấu người khác thì lời kinh chưa xuống đến tim. Suy Chúa vác thập giá mà cứ trốn mọi trách nhiệm thì chưa theo Chúa. Suy Chúa chịu chết vì yêu mà mình không chịu chết đi một chút cho cái tôi thì Năm Sự Thương mới chỉ ở trên môi.
Có một câu hỏi rất đáng đặt ra sau mỗi lần lần Năm Sự Thương: “Hôm nay tôi phải chết đi điều gì?” Có khi phải chết đi một tự ái. Có khi phải chết đi thói quen hơn thua. Có khi phải chôn một mối hận. Có khi phải từ bỏ nhu cầu luôn được người khác công nhận. Có khi phải thôi kiểm soát một người con đã trưởng thành. Có khi phải xin lỗi. Có khi phải tha thứ. Có khi phải nhận rằng mình sai. Những cái chết ấy nhỏ, nhưng đau thật. Và không có chúng, đời sống mới không xuất hiện. Hạt lúa phải chết mới sinh nhiều bông hạt. Chúa Giêsu phải đi qua thập giá mới đến phục sinh. Người Kitô hữu cũng không có con đường nào khác để trưởng thành.
Năm Sự Thương còn dạy chúng ta đừng phí đau khổ. Nói như vậy không có nghĩa là đau khổ tự nó quý. Đau vẫn là đau. Nếu có thể chữa được bệnh, phải chữa. Nếu có thể thoát khỏi bạo lực, phải tìm cách thoát. Nếu có thể giải quyết bất công, phải hành động. Kitô hữu không được lấy “vác thập giá” làm lý do để bắt nạn nhân chịu đựng sự dữ có thể ngăn chặn. Nhưng có những đau khổ dù đã làm hết sức vẫn còn đó. Khi ấy ta có thể để nó trở thành của lễ. “Lạy Chúa, con không chọn điều này, nhưng vì nó đã ở đây và hôm nay con chưa thể thay đổi, con xin kết hợp nó với cuộc Thương Khó của Chúa. Xin dùng nó để làm cho con biết thương người hơn. Xin dùng nó cho người con đang cầu nguyện.” Một đau khổ được dâng lên không còn hoàn toàn vô nghĩa.
Có những người sau khi đi qua đau khổ trở nên cay nghiệt. Nhưng cũng có những người đi qua đau khổ lại trở nên hiền hơn. Họ ít phán xét hơn vì biết mỗi người đều có một cuộc chiến giấu kín. Họ dễ tha thứ hơn vì biết đời quá ngắn. Họ nhạy cảm hơn trước nước mắt của người khác. Họ không còn quá quan trọng chuyện hơn thua. Tại sao cùng đau mà kết quả khác nhau? Một phần nằm ở cách ta mang nó. Năm Sự Thương là trường học giúp đau khổ không biến thành chất độc. Khi đau được đưa vào trong tình yêu của Đức Kitô, nó có thể trở thành lòng trắc ẩn.
Đức Maria là người dạy ta điều đó. Mẹ không chỉ cầm Con trong hang đá Bêlem; Mẹ còn đón xác Con dưới chân thập giá. Nếu chỉ có Giáng Sinh mà không có Canvê, tình mẫu tử của Mẹ chưa đi đến tận cùng. Mẹ đã yêu Đức Giêsu trong cả tiếng cười và nước mắt, trong ngày thiên thần truyền tin và ngày trời đất tối tăm. Đó cũng là tình yêu mà Chúa mời gọi chúng ta dành cho Người. Nhiều người yêu Chúa khi mọi sự thuận lợi. Khi cầu được, họ tạ ơn. Khi việc làm tốt, gia đình bình an, sức khỏe dồi dào, họ thấy Chúa thật gần. Nhưng khi bóng tối đến, họ hỏi: “Chúa đâu rồi?” Đức Maria dưới chân thập giá không thấy phép lạ nào. Chúa Giêsu không bước xuống khỏi thập giá. Trời không mở ra giải cứu Người. Mẹ chỉ đứng. Tình yêu trưởng thành là tình yêu vẫn ở lại khi không được an ủi.
Có lẽ đó là ân huệ lớn nhất của Năm Sự Thương: dạy ta “ở lại”. Ở lại với Chúa khi cầu nguyện khô khan. Ở lại trong bổn phận khi không ai cảm ơn. Ở lại với người bệnh khi họ trở nên khó tính. Ở lại với gia đình khi mọi người đang cần học lại cách yêu. Ở lại với một ơn gọi qua những mùa không còn cảm xúc ban đầu. Dĩ nhiên “ở lại” không có nghĩa là ở lại trong những hoàn cảnh nguy hiểm hoặc bị lạm dụng; những trường hợp ấy cần tìm sự bảo vệ và trợ giúp. Nhưng trong rất nhiều thử thách bình thường của đời sống, thế giới hôm nay dễ dạy người ta bỏ khi khó, thay khi chán, chạy khi đau. Canvê dạy một điều khác: có những hoa trái chỉ xuất hiện cho người biết trung tín.
Và sau cùng, hãy nhìn cây Thánh Giá nhỏ ở cuối chuỗi Mân Côi. Mỗi lần cầm chuỗi, ngón tay ta bắt đầu từ Thánh Giá. Ta làm dấu Thánh Giá, đọc kinh Tin Kính, rồi đi qua những hạt kinh. Cuối cùng ta lại trở về. Cả đời Kitô hữu cũng vậy: bắt đầu trong dấu Thánh Giá khi chịu phép Rửa, sống dưới bóng Thánh Giá, và khi nhắm mắt, người thân lại làm dấu Thánh Giá trên thân xác ta. Nhưng Thánh Giá ấy không phải dấu của thất bại. Nó là dấu của một tình yêu mạnh hơn tội lỗi, mạnh hơn đau khổ, mạnh hơn cái chết.
Nếu một ngày nào đó ta không còn biết cầu nguyện gì, hãy cầm chuỗi lên. Nếu tâm trí quá rối, cứ đọc một kinh Kính Mừng. Nếu đau quá, chỉ cần giữ hạt chuỗi trong tay và gọi: “Mẹ Maria.” Nếu chẳng nói được gì, cũng không sao. Mẹ của Chúa Giêsu từng đứng dưới thập giá trong im lặng. Mẹ hiểu thứ ngôn ngữ không thành tiếng.
Nếu gia đình đang có chuyện, hãy lần chuỗi. Nếu con cái đang xa Chúa, hãy lần chuỗi, nhưng đồng thời hãy yêu chúng nhiều hơn và bớt kết án. Nếu đang mang bệnh, hãy lần chuỗi và vẫn đi bác sĩ. Nếu bị tổn thương, hãy lần chuỗi và xin ơn để tha thứ từng bước. Nếu đang có một quyết định khó, hãy lần chuỗi trước khi quyết định. Nếu bình an, cũng hãy lần chuỗi, đừng chỉ tìm đến Mẹ khi đau khổ. Và nếu đã lâu không cầm chuỗi, hôm nay bắt đầu lại cũng chưa muộn.
Năm Sự Thương không làm người Kitô hữu trở nên u buồn. Trái lại, ai đi thật sâu vào Năm Sự Thương sẽ có một niềm vui mà thế gian khó lấy mất, bởi họ khám phá ra rằng chẳng nơi nào của đau khổ con người mà Chúa Giêsu chưa đi qua. Sợ hãi ư? Người đã run sợ trong Ghếtsêmani. Đau thể xác ư? Người đã chịu roi đòn. Bị làm nhục ư? Người đã đội mão gai. Gánh nặng ư? Người đã vác thập giá. Đối diện cái chết ư? Người đã nằm trong mồ. Không có vực sâu nào của thân phận con người mà Con Thiên Chúa đứng ngoài. Bởi thế, nơi nào ta rơi xuống, ở đáy vực ấy cũng có thể gặp Người.
Và còn Đức Maria. Mẹ không đứng trước mặt để ngăn ta khỏi mọi thập giá; nhiều khi Mẹ đi bên cạnh để giúp ta qua thập giá. Đó mới là phép lạ lớn hơn. Chúng ta thường muốn phép lạ là thập giá biến mất. Nhưng đôi khi phép lạ là thập giá vẫn còn mà tâm hồn không tuyệt vọng; bệnh còn mà người bệnh vẫn bình an; nước mắt còn mà lòng không cay đắng; người khác chưa thay đổi mà ta đã biết yêu khác đi. Có những phép lạ không làm ngoại cảnh đổi thay nhưng biến đổi chính người đang chịu thử thách.
Vì vậy, xin đừng khinh thường những hạt chuỗi bé nhỏ. Biết bao bà mẹ đã giữ gia đình bằng những hạt chuỗi. Biết bao người con được trở về nhờ những chuỗi kinh âm thầm của cha mẹ. Biết bao linh mục đã đi qua khủng hoảng nhờ bàn tay bám lấy chuỗi Mân Côi. Biết bao người hấp hối đã ra đi trong tiếng kinh “cầu cho chúng con… trong giờ lâm tử”. Không ai thống kê được những nước mắt đã rơi trên các hạt chuỗi qua bao thế hệ. Cũng chẳng ai đo được những ơn Chúa đã âm thầm đi qua lời kinh của những con người chẳng có gì ngoài niềm tin.
Tối nay, nếu có thể, hãy cầm chuỗi Mân Côi lên và lần Năm Sự Thương thật chậm. Ở sự thứ nhất, hãy đặt nỗi sợ của mình vào vườn Cây Dầu. Ở sự thứ hai, đặt những thương tích của thân xác và tâm hồn dưới những vết roi của Chúa. Ở sự thứ ba, đặt những nhục nhã, hiểu lầm và tự ái dưới mão gai. Ở sự thứ tư, gọi tên thập giá mình đang vác và xin Chúa đi cùng. Ở sự thứ năm, đặt cả sự sống và cái chết của mình dưới chân Thánh Giá. Rồi nhìn Đức Maria. Mẹ vẫn đứng đó. Hai ngàn năm trước Mẹ đã đứng bên Con. Hôm nay Mẹ cũng đứng bên những người con đang khóc.
Và hãy tin rằng sau Năm Sự Thương còn Năm Sự Mừng. Sau đêm Ghếtsêmani còn sáng Phục Sinh. Sau cây thập giá còn ngôi mộ trống. Sau tiếng khóc của ngày thứ Sáu còn lời chào “Bình an cho anh em” của Đấng Phục Sinh. Đời chúng ta cũng vậy. Có thể hôm nay chưa thấy. Có thể ngày mai vẫn chưa thấy. Nhưng người cầm chuỗi Mân Côi với Đức Maria không đi về phía một ngôi mộ đóng kín. Ta đang đi về phía bình minh.
Xin Mẹ dạy chúng ta biết lần chuỗi không chỉ bằng môi nhưng bằng cuộc sống. Xin Mẹ dạy chúng ta suy Năm Sự Thương không phải để yêu đau khổ nhưng để yêu Chúa hơn giữa đau khổ. Xin Mẹ dạy chúng ta khi không thể thay đổi thập giá thì biết thay đổi cách mình vác nó; khi không thể hiểu đường Chúa thì vẫn tin vào trái tim Chúa; khi mọi người bỏ đi thì biết ở lại; khi không còn lời nào thì biết thinh lặng; khi nước mắt rơi thì để nước mắt trở thành lời cầu nguyện; và khi giờ cuối cùng đến, xin Mẹ ở đó như Mẹ đã ở dưới chân Thánh Giá, để lời kinh chúng ta đọc cả đời được hoàn tất trong bình an: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.”
Lm. Anmai, CSsR

ĐÀNG THÁNH GIÁ – TỪ 14 CHẶNG TRUYỀN THỐNG ĐẾN CÁC HÌNH THỨC MỚI
Có những con đường người ta đi để đến một nơi nào đó, nhưng cũng có những con đường càng đi lại càng dẫn người ta trở về với chính lòng mình. Có những con đường đo bằng cây số, có những con đường đo bằng thời gian, nhưng cũng có một con đường trong đời Kitô hữu không dài bao nhiêu mà có thể đi suốt cả một đời vẫn chưa đi hết: đó là Đàng Thánh Giá. Mười bốn chặng. Mười bốn lần dừng lại. Mười bốn khung cảnh tưởng chừng rất quen thuộc. Mười bốn lần nghe lại câu chuyện của một Người bị kết án, vác cây gỗ trên vai, ngã xuống, gặp mẹ, được giúp đỡ, bị lột áo, bị đóng đinh và cuối cùng được đặt vào huyệt đá. Người Công giáo đã quá quen với những hình ảnh ấy. Nhiều nhà thờ có mười bốn bức Đàng Thánh Giá treo đều đặn dọc hai bên tường. Nhiều gia đình vẫn giữ thói quen đi Đàng Thánh Giá trong Mùa Chay. Có những người thuộc lòng từng chặng, thuộc cả lời xướng đáp, có thể nhắm mắt vẫn biết sau chặng này là chặng nào. Nhưng điều đáng sợ nhất của đời sống đạo đôi khi không phải là ta không biết, mà chính là ta biết quá quen. Quen đến độ Thánh Giá không còn làm mình đau. Quen đến độ nghe “Chúa Giêsu chịu chết trên Thánh Giá” mà lòng vẫn lạnh. Quen đến độ đi hết mười bốn chặng mà không có một chặng nào đi vào được bên trong đời mình. Vì thế, khi nói đến Đàng Thánh Giá, điều quan trọng nhất không phải chỉ là hỏi: tại sao lại có mười bốn chặng, chặng nào có trong Kinh Thánh, chặng nào thuộc truyền thống, ngày nay có những hình thức Đàng Thánh Giá nào mới; nhưng phải hỏi sâu hơn: tôi đang đứng ở đâu trên con đường ấy? Tôi chỉ đang nhìn Chúa Giêsu vác Thánh Giá, hay tôi đang thực sự bước theo Người?
Đàng Thánh Giá trước hết phát xuất từ một ký ức rất đơn sơ và rất người: ký ức về con đường cuối cùng Đức Giêsu đã đi trên trần gian. Sau khi bị Philatô kết án, Người rời nơi xét xử, mang lấy Thập Giá và đi đến nơi gọi là Golgotha, Đồi Sọ, bên ngoài thành Giêrusalem. Kitô hữu những thế kỷ đầu đã trân trọng những nơi gắn với cuộc Khổ Nạn của Chúa. Khi việc hành hương Thánh Địa ngày càng phát triển, các tín hữu ước ao được bước trên những con đường mà Đức Giêsu đã đi, dừng lại tại những nơi gợi nhớ những biến cố cuối đời Người, cầu nguyện, suy niệm và khóc với Đấng đã chịu chết vì mình. Về sau, khi không phải ai cũng có thể đến Giêrusalem, lòng đạo đức Kitô giáo tìm cách mang Giêrusalem về gần với cộng đoàn tín hữu. Những “chặng” tưởng niệm cuộc Khổ Nạn dần được hình thành tại các nhà thờ, đan viện và những nơi hành hương. Qua nhiều thế kỷ, dưới ảnh hưởng rất lớn của linh đạo Phanxicô và lòng sùng kính cuộc Thương Khó, hình thức mười bốn chặng trở nên quen thuộc trong Giáo Hội Tây phương. Đàng Thánh Giá như chúng ta biết ngày nay vì thế không xuất hiện trong một ngày, cũng không phải mười bốn chặng đã được ghi nguyên vẹn thành một danh sách trong một sách Tin Mừng. Đó là hoa trái của nhiều thế kỷ cầu nguyện, suy niệm và chiêm ngắm cuộc Thương Khó của dân Chúa.
Mười bốn chặng truyền thống mà bao thế hệ Công giáo đã thân quen gồm: Chúa Giêsu bị kết án tử; Chúa Giêsu vác Thánh Giá; Chúa Giêsu ngã xuống đất lần thứ nhất; Chúa Giêsu gặp Đức Mẹ; ông Simon thành Kyrênê vác đỡ Thánh Giá Chúa; bà Veronica lau mặt Chúa; Chúa Giêsu ngã lần thứ hai; Chúa Giêsu an ủi những phụ nữ thành Giêrusalem; Chúa Giêsu ngã lần thứ ba; Chúa Giêsu bị lột áo; Chúa Giêsu bị đóng đinh vào Thánh Giá; Chúa Giêsu chết trên Thánh Giá; Chúa Giêsu được tháo xác xuống khỏi Thánh Giá; và Chúa Giêsu được táng trong huyệt đá. Trong mười bốn chặng ấy, có những biến cố được các sách Tin Mừng thuật lại rõ ràng, nhưng cũng có những chi tiết đến từ truyền thống đạo đức lâu đời, chẳng hạn những lần Đức Giêsu ngã xuống dưới sức nặng Thập Giá hay cuộc gặp gỡ với bà Veronica. Nhận ra điều này không làm cho Đàng Thánh Giá mất giá trị; trái lại, giúp ta hiểu đúng bản chất của một việc đạo đức: đây không phải là một bản tường thuật lịch sử theo nghĩa hiện đại, nhưng là một hành trình suy niệm về mầu nhiệm Khổ Nạn, trong đó Kinh Thánh, ký ức phụng vụ và lòng đạo đức của dân Chúa gặp nhau. Điều cần tránh là biến một truyền thống đạo đức thành một thứ “Tin Mừng thứ năm” rồi khẳng định mọi chi tiết đều được Kinh Thánh ghi lại. Đức tin không cần chúng ta thêm thắt sự chắc chắn giả tạo. Điều cần thiết là để những hình ảnh ấy giúp ta bước vào chân lý sâu hơn: Con Thiên Chúa đã thật sự chịu đau khổ, thật sự bị từ chối, thật sự mang lấy sự dữ và tội lỗi của nhân loại, và thật sự đi đến tận cùng của tình yêu.
Đọc lại Tin Mừng Luca, ta gặp một cảnh đặc biệt rất đẹp để hiểu tinh thần của Đàng Thánh Giá: “Khi điệu Đức Giêsu đi, họ bắt một người từ miền quê lên, tên là Simon, gốc Kyrênê, đặt Thập Giá lên vai cho ông vác theo sau Đức Giêsu” (x. Lc 23,26). Chỉ một câu rất ngắn, nhưng trong đó đã có cả một linh đạo. Simon hôm ấy có lẽ chẳng hề chuẩn bị để vác Thánh Giá. Ông chỉ đi ngang qua. Ông không xin. Ông không chọn. Có lẽ ông còn khó chịu vì bị bắt làm một việc chẳng liên quan gì đến mình. Thế nhưng chính cây Thập Giá mà ông miễn cưỡng mang lại đặt ông vào một vị trí mà hàng triệu người Kitô hữu sau này phải ao ước: ông được đi ngay phía sau Chúa Giêsu, mang chính cây gỗ của Người. Đời ta cũng thế. Có những thập giá ta không chọn. Không ai chọn bệnh tật. Không ai chọn một cuộc hôn nhân đổ vỡ. Không ai chọn đứa con phản nghịch. Không ai chọn cảnh thất nghiệp, món nợ, sự phản bội, tuổi già cô độc, một căn bệnh hiểm nghèo, một lời vu khống, một cái chết bất ngờ của người thân. Có những ngày ta cũng giống Simon: đang đi trên con đường của mình thì bỗng có một cây thập giá được đặt lên vai. Ta phản ứng: “Tại sao lại là tôi?” Nhưng điều Tin Mừng không nói thành lời mà Đàng Thánh Giá cho ta nhận ra là: nếu cây thập giá ấy được mang “theo sau Đức Giêsu”, thì nó không còn chỉ là một tai họa nữa. Nó có thể trở thành con đường gặp Chúa. Không phải đau khổ tự nó cứu độ. Không phải cứ khổ là thánh. Có những đau khổ làm người ta cay độc, tuyệt vọng và khép lòng. Điều biến đau khổ thành thập giá có sức cứu độ chính là tình yêu và sự kết hợp với Đức Kitô. Simon không vác một khúc gỗ trong vô nghĩa; ông vác nó phía sau Đức Giêsu. Đó chính là khác biệt.
Đi Đàng Thánh Giá vì thế không phải là đứng ngoài cuộc mà thương hại Chúa. Chúa không cần lòng thương hại của chúng ta. Người cần tình yêu và sự hoán cải của chúng ta. Khi dừng lại ở chặng thứ nhất, ta không chỉ nhìn Philatô kết án Đức Giêsu; ta phải hỏi xem đã bao lần mình kết án anh em bằng một lời nói, bằng một ánh mắt, bằng một câu chuyện chưa được kiểm chứng. Khi nhìn Chúa vác Thánh Giá, ta phải hỏi mình đã mang gánh nặng của người khác hay suốt đời chỉ tìm người mang gánh nặng cho mình. Khi thấy Chúa ngã, ta phải nhớ những người đã ngã trong đời mà ta từng đứng nhìn, từng khinh, từng kết án thay vì cúi xuống. Khi gặp Đức Maria trên đường Thánh Giá, ta phải nhớ những người mẹ không thể lấy đau khổ khỏi đời con mình mà chỉ còn có thể đứng bên cạnh con. Khi thấy Simon vác đỡ Thập Giá, ta phải hỏi mình có bao giờ chịu bước vào nỗi khổ của một người xa lạ. Khi nghĩ đến khuôn mặt Chúa được lau giữa bụi đường, ta phải hỏi mình đã bao giờ làm một cử chỉ nhỏ để giữ lại phẩm giá cho một người đang bị đời làm nhục. Khi nghe Chúa nói với những phụ nữ thành Giêrusalem, ta phải hiểu rằng nước mắt đạo đức không đủ nếu đời sống không đổi thay. Khi nhìn Chúa bị lột áo, ta phải nhớ đến những con người hôm nay bị lột mất danh dự, quyền sống, sự riêng tư và nhân phẩm. Khi nhìn những chiếc đinh xuyên qua tay chân Đức Giêsu, ta phải nghĩ đến những lời nói của mình từng đóng đinh người khác. Khi đứng dưới chân Thánh Giá và nghe lời cuối cùng của Người, ta không thể tiếp tục sống như chưa từng có một Người đã chết vì mình.
Có một cám dỗ khá tinh tế trong việc đi Đàng Thánh Giá: chúng ta dễ cảm động trước những đau đớn thể lý của Chúa mà lại bỏ quên điều đau hơn rất nhiều là tình yêu bị khước từ. Thập Giá không chỉ đau vì roi, vì gai, vì đinh. Thập Giá đau vì Người yêu mà bị ghét, ban ơn mà bị phản bội, tha thứ mà bị nguyền rủa, cứu người mà bị người ta muốn loại bỏ. Chúa Giêsu không chết chỉ vì vài chiếc đinh. Người chết trong toàn bộ bi kịch của tội lỗi nhân loại. Giuđa phản bội. Phêrô chối Thầy. Các môn đệ bỏ chạy. Các lãnh đạo tôn giáo kết án. Philatô rửa tay. Đám đông la hét. Những người lính nhạo cười. Và giữa tất cả, Đức Giêsu vẫn yêu. Đây mới là điều làm Thánh Giá trở thành Thánh Giá. Nếu trên đồi Golgotha chỉ có đau đớn, nó chỉ là một cuộc hành hình. Nhưng trên đồi Golgotha có tình yêu. Chính tình yêu đã biến dụng cụ tử hình thành cây cứu độ. Chính tình yêu biến nơi nhục nhã thành ngai của Vua. Chính tình yêu làm cho giờ tưởng như thất bại hoàn toàn lại trở thành “giờ” Đức Kitô được tôn vinh.
Vì vậy, Đàng Thánh Giá không phải là nghệ thuật làm cho người Kitô hữu buồn. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Chúng ta không tìm đau khổ vì đau khổ. Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu đã cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Người không giả vờ mạnh mẽ. Người không phủ nhận nỗi sợ. Nhưng Người nói tiếp: “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (x. Mt 26,39). Đó là trung tâm của mọi Đàng Thánh Giá. Không phải “con thích đau khổ”, nhưng là “dù đau khổ, con vẫn không bỏ Cha”. Không phải “con muốn Thánh Giá”, nhưng là “nếu Thánh Giá nằm trên con đường trung tín, con sẽ không vì nó mà rời bỏ tình yêu”. Trong đời sống thiêng liêng, có một khác biệt rất lớn giữa việc tự đi tìm thập giá và việc trung tín vác thập giá đời mình. Có khi người ta nhân danh hy sinh mà gây đau khổ cho chính mình hoặc cho người khác; đó không phải linh đạo Thánh Giá. Chúa không đòi ta yêu đau khổ; Chúa đòi ta yêu đến mức không bỏ cuộc chỉ vì đau khổ xuất hiện.
Mười bốn chặng truyền thống rất đẹp, nhưng Giáo Hội cũng không coi đó là khuôn mẫu duy nhất bất biến đến mức không thể có một cách suy niệm nào khác. Trong thời hiện đại, đã xuất hiện những hình thức Đàng Thánh Giá bám sát trực tiếp vào các trình thuật Kinh Thánh hơn, thường được gọi là Đàng Thánh Giá theo Kinh Thánh. Một hình thức gây chú ý rộng rãi được Đức Gioan Phaolô II sử dụng tại Colosseum vào Thứ Sáu Tuần Thánh năm 1991. Thay vì giữ nguyên tất cả các chặng truyền thống, hành trình này chọn các biến cố được minh nhiên kể lại trong Tân Ước, khởi đi từ lời cầu nguyện của Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu, qua việc Người bị bắt, bị Thượng Hội Đồng xét xử, bị Phêrô chối, bị Philatô kết án, bị đánh đòn và đội mão gai, vác Thập Giá, được Simon thành Kyrênê giúp đỡ, gặp các phụ nữ Giêrusalem, bị đóng đinh, hứa Nước Trời cho người trộm lành, trao Đức Maria và người môn đệ yêu dấu cho nhau, chết trên Thánh Giá và được mai táng. Hình thức này không nhằm phủ nhận mười bốn chặng truyền thống. Nó chỉ giúp tín hữu trở về gần hơn với chính bản văn Kinh Thánh và khám phá rằng cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô có nhiều chiều kích phong phú hơn những gì một danh sách duy nhất có thể diễn tả.
Điều này rất quan trọng. Đôi khi ta tưởng trung thành với truyền thống có nghĩa là không được phép có bất cứ hình thức mới nào. Nhưng truyền thống sống động của Giáo Hội không phải là bảo tàng. Cái cốt lõi phải được giữ nguyên, còn cách diễn tả có thể phát triển để giúp con người thời đại gặp được mầu nhiệm. Đàng Thánh Giá truyền thống vẫn có giá trị vô cùng lớn. Hàng triệu người đã khóc, đã trở lại, đã tìm thấy sức mạnh nhờ mười bốn chặng ấy. Không ai cần phải thay thế nó. Nhưng bên cạnh đó, Đàng Thánh Giá theo Kinh Thánh giúp ta nghe trực tiếp hơn tiếng nói của Lời Chúa. Một số cộng đoàn thực hiện Đàng Thánh Giá dành cho giới trẻ, nối cuộc Thương Khó của Đức Kitô với những đau khổ của người trẻ: áp lực học tập, nghiện ngập, cô đơn, khủng hoảng căn tính, sự thao túng trên mạng xã hội, bạo lực, đổ vỡ gia đình. Có những Đàng Thánh Giá dành cho gia đình, cho người bệnh, người di dân, người nghèo, cho hòa bình, cho những nạn nhân chiến tranh và buôn người, cho việc bảo vệ sự sống, cho môi trường, cho những người đang sống trong các vùng xung đột. Có nơi tổ chức Đàng Thánh Giá ngoài trời, đi qua phố xá, nghĩa trang, bệnh viện, nhà tù hoặc những khu vực nghèo, để cho lời cầu nguyện gặp được những “Golgotha” đang hiện diện giữa đời. Những hình thức ấy có thể rất đẹp nếu giữ được trung tâm là Đức Kitô chịu đóng đinh và tránh biến Đàng Thánh Giá thành một diễn đàn thuần túy xã hội hay một chương trình biểu diễn.
Vấn đề không phải mới hay cũ. Vấn đề là có đưa ta đến gần Chúa hơn không. Một Đàng Thánh Giá dù sử dụng đúng mười bốn chặng truyền thống nhưng đọc cách máy móc, lê thê, không chạm đến đời sống thì có khi chẳng giúp ích bao nhiêu. Ngược lại, một Đàng Thánh Giá được viết theo hoàn cảnh hiện đại nhưng chỉ nói về con người, chính trị, xã hội, môi trường, chiến tranh, nghèo đói mà cuối cùng Đức Kitô chỉ còn là cái cớ mở đầu thì cũng đánh mất linh hồn. Mọi Đàng Thánh Giá đích thực phải có một trục duy nhất: Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, đã yêu thương chúng ta và hiến mình vì chúng ta. Từ Người, chúng ta mới nhìn sang những người đang đau khổ. Không phải lấy nỗi đau con người thay thế Thánh Giá Chúa, mà nhìn nỗi đau con người trong ánh sáng Thánh Giá Chúa. Không phải biến Chúa thành biểu tượng cho chương trình của ta, nhưng để Chúa biến đổi cái nhìn của ta về thế giới.
Ngày nay người ta còn tổ chức những hình thức Đàng Thánh Giá dành cho trẻ em với ngôn ngữ đơn giản, Đàng Thánh Giá bằng hình ảnh, âm nhạc và thinh lặng, Đàng Thánh Giá trong các cuộc hành hương, Đàng Thánh Giá trên núi, Đàng Thánh Giá trong những đêm giới trẻ, Đàng Thánh Giá qua những chứng từ đời sống, thậm chí trong những hoàn cảnh đặc biệt người ta có thể suy niệm trực tuyến khi không thể quy tụ cộng đoàn. Phương tiện có thể thay đổi, nhưng có một điều không thể thay đổi: phải có sự dừng lại. Vì bản chất của Đàng Thánh Giá không phải chạy. Nó bắt ta dừng. Dừng trước một Người bị kết án. Dừng trước một thân xác kiệt sức. Dừng trước nước mắt của một bà mẹ. Dừng trước một người xa lạ bị bắt vác đỡ. Dừng trước sự nhục nhã của một thân thể bị lột trần. Dừng trước một người hấp hối. Dừng trước một ngôi mộ. Trong một thế giới mà con người cứ chạy, một trong những ân huệ lớn nhất của Đàng Thánh Giá có khi chính là bắt chúng ta đứng lại. Ta chạy quá nhanh nên không còn nghe tiếng người khác khóc. Ta lướt quá nhanh trên màn hình nên một cuộc chiến, một trận động đất, một cái chết có khi chỉ tồn tại trong mắt ta vài giây. Ta đọc một tin về một người tự tử rồi kéo tiếp. Ta thấy một khuôn mặt nghèo khổ rồi bỏ qua. Ta quen với đau khổ đến độ đau khổ của người khác không còn làm mình đau. Đàng Thánh Giá chống lại sự vô cảm ấy. Nó nói: dừng lại. Nhìn đi. Đây là một con người đang đau. Và trong khuôn mặt ấy, có Đức Kitô.
Chặng thứ nhất có thể đang diễn ra trong một phòng họp, nơi một người bị kết án khi không có cơ hội tự bảo vệ. Chặng thứ hai có thể xảy ra trong căn nhà của một người mẹ gánh nợ cho gia đình. Chặng thứ ba có thể là người trẻ vừa thất bại một kỳ thi và tưởng đời mình chấm hết. Chặng gặp Đức Mẹ có thể ở hành lang một bệnh viện nơi một bà mẹ nghe bác sĩ nói về căn bệnh của con. Simon có thể là người tài xế dừng xe đưa người bị nạn đi cấp cứu. Veronica có thể là cô y tá lau mặt cho một bệnh nhân không còn người thân. Những phụ nữ thành Giêrusalem có thể là những người khóc trước nỗi đau của thế giới nhưng Chúa nhắc họ rằng khóc thôi chưa đủ, phải thay đổi đời mình. Chúa bị lột áo đang hiện diện nơi người bị xúc phạm nhân phẩm trên mạng, nơi hình ảnh riêng tư bị phát tán, nơi người nghèo bị nhìn như một con số. Những chiếc đinh hôm nay có thể là lời nói nhục mạ, sự kỳ thị, bạo lực gia đình, sự phản bội. Và Golgotha có thể ở gần ta hơn ta tưởng.
Nhưng nói như thế không có nghĩa Đàng Thánh Giá chỉ là một phép ẩn dụ xã hội. Nếu chỉ dừng ở đó, ta vẫn chưa hiểu. Đàng Thánh Giá còn dẫn ta vào một sự thật khó chịu hơn: không những tôi phải nhận ra Đức Kitô nơi những người bị đóng đinh, tôi còn phải nhận ra mình đôi khi đứng trong đám người đóng đinh họ. Không ai thích nhận vai Philatô, nhưng ta đã bao lần rửa tay để nói: “Không phải việc của tôi.” Không ai muốn giống đám đông, nhưng ta đã bao lần hùa theo một lời đồn chỉ vì mọi người đều nói. Không ai muốn giống các môn đệ bỏ chạy, nhưng ta đã bao lần biến mất khi một người bạn rơi vào rắc rối. Không ai muốn giống Phêrô, nhưng ta đã bao lần vì sợ mất quyền lợi mà không dám nhận mình thuộc về Chúa. Không ai muốn giống những người lính, nhưng ta đã bao lần dùng sự yếu thế của người khác làm trò vui. Đi Đàng Thánh Giá nghiêm túc là để cho Thập Giá xét xử chính mình. Không phải ta xét xử những người đã đóng đinh Chúa hai ngàn năm trước. Rất dễ căm phẫn Giuđa. Rất dễ trách Philatô. Rất dễ buồn vì Phêrô. Khó hơn nhiều là nhận ra một chút Giuđa, một chút Philatô, một chút Phêrô nằm ngay trong lòng ta.
Có lẽ vì vậy mà lời kinh truyền thống trước mỗi chặng rất sâu sắc: “Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô, vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.” Đó không phải câu mở đầu cho một hoạt cảnh bi thương. Đó là một lời tuyên xưng đức tin. “Chúng con thờ lạy.” Người đang vác Thập Giá ấy là Chúa. Người bị nhổ vào mặt ấy là Chúa. Người đang bị đóng đinh ấy là Chúa. Đây chính là nghịch lý khiến Kitô giáo làm thế giới kinh ngạc: Thiên Chúa không cứu thế giới bằng cách đứng từ xa ban lệnh. Người đi vào tận đáy thân phận con người. Người biết mùi mồ hôi, máu, bụi đường, nước mắt. Người biết cảm giác bị hiểu lầm, bị phản bội, bị bỏ rơi. Người đã kinh nghiệm cái chết. Vì vậy, khi đứng trước một người đau khổ, người Kitô hữu không thể nói một cách rẻ tiền: “Chúa thử thách anh đó, cứ chịu đi.” Không. Người môn đệ của Đấng chịu đóng đinh phải biết ngồi xuống bên người đau khổ trước khi giảng cho họ về ý nghĩa đau khổ. Đức Maria dưới chân Thánh Giá không giảng một bài thần học. Mẹ đứng đó. Có những lúc sự hiện diện quan trọng hơn ngàn lời giải thích.
Tin Mừng Gioan ghi lại một trong những cảnh đau đớn mà dịu dàng nhất của cuộc Thương Khó: “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu có thân mẫu Người… Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh’” (x. Ga 19,25-27). Giữa lúc chính mình đang hấp hối, Đức Giêsu vẫn nghĩ đến người khác. Tay bị đóng đinh không còn làm được gì, nhưng trái tim vẫn trao ban. Người trao Mẹ cho môn đệ và môn đệ cho Mẹ. Thập Giá không làm tình yêu của Chúa co lại; Thập Giá làm tình yêu ấy mở rộng đến cùng. Đây là bài học lớn của Đàng Thánh Giá. Khổ đau thường làm ta co vào chính mình. Khi đau, ta dễ nghĩ chỉ mình đáng được quan tâm. Khi bị tổn thương, ta dễ trở nên khắc nghiệt. Nhưng Đức Giêsu cho thấy một con đường khác: giữa đau khổ, vẫn có thể yêu. Không nhất thiết làm những việc lớn. Có khi chỉ là nhớ đến một người khác. Chỉ là không để nỗi đau biến mình thành người cay đắng. Chỉ là không dùng vết thương của mình để làm người khác bị thương.
Đàng Thánh Giá cũng phải đi đến chặng mười bốn. Chúa được đặt trong mồ. Đây là một chi tiết rất quan trọng. Ta thường muốn đi quá nhanh từ Thứ Sáu Tuần Thánh đến Chúa Nhật Phục Sinh. Ta thích câu “sau Thánh Giá là Phục Sinh”, nhưng đôi khi quên rằng giữa Thánh Giá và Phục Sinh có một ngày Thứ Bảy rất im lặng. Có những đau khổ không được giải quyết ngay. Có những lời cầu nguyện phải chờ nhiều năm. Có những cuộc đời ra đi mà ta chưa kịp hiểu tại sao. Có những vết thương không bao giờ trở lại như trước. Đức tin không phải phép thuật khiến mọi đau khổ lập tức biến mất. Đàng Thánh Giá dạy ta đứng trước ngôi mộ. Tảng đá đã lăn lại. Không còn gì để làm. Người mà các môn đệ đặt hy vọng đã chết. Chính trong bóng tối ấy, Đức Chúa đang làm một điều không ai nhìn thấy. Phục Sinh chưa xuất hiện trước mắt, nhưng đã nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa. Có những mùa trong đời ta cũng thế. Ta không thấy gì. Ta không cảm nhận gì. Ta tưởng Chúa im lặng. Có thể lúc ấy ta đang ở chặng mười bốn chứ chưa đến sáng Chúa Nhật. Đức tin là biết rằng huyệt đá không có tiếng nói cuối cùng.
Một số hình thức Đàng Thánh Giá hiện đại vì thế còn thêm chặng Phục Sinh, hoặc nối Đàng Thánh Giá với một “Đàng Ánh Sáng” – Via Lucis – suy niệm các cuộc hiện ra và biến cố sau Phục Sinh. Điều ấy có thể rất hữu ích về mục vụ, miễn là chúng ta không làm mất sự nghiêm túc của Thứ Sáu Tuần Thánh bằng cách vội vàng “giải quyết” mọi đau buồn. Mầu nhiệm Vượt Qua gồm cả Khổ Nạn, cái chết và Phục Sinh. Không có Thánh Giá mà chỉ nói Phục Sinh, đức tin dễ trở thành lạc quan rẻ tiền. Không có Phục Sinh mà chỉ dừng ở Thánh Giá, Kitô giáo biến thành tôn giáo của buồn thảm. Kitô hữu đứng dưới chân Thánh Giá nhưng hướng về ngôi mộ trống. Chúng ta khóc, nhưng không khóc như những người không có hy vọng. Chúng ta chôn người chết, nhưng vẫn tuyên xưng sự sống đời sau. Chúng ta mang thập giá, nhưng biết Thập Giá đã bị Đức Kitô biến thành con đường dẫn tới sự sống.
Có người hỏi: hình thức mới có làm mai một lòng đạo đức cũ không? Câu trả lời tùy vào cách ta sống. Nếu cái mới sinh ra từ nhu cầu đào sâu Kinh Thánh, đưa mầu nhiệm vào đời sống, giúp người trẻ và những người thời nay hiểu hơn cuộc Khổ Nạn, thì đó có thể là một sự phong phú. Nhưng nếu cái mới chỉ để lạ mắt, để trình diễn, để quay phim đẹp, để tạo cảm xúc nhất thời, thì dù rất hiện đại cũng có thể rất nghèo. Và ngược lại, cái cũ không tự nhiên thánh chỉ vì nó cũ. Một cộng đoàn đi mười bốn chặng trong một giờ mà sau đó vẫn chia rẽ, nói xấu nhau, vô cảm với người nghèo thì đã đi bằng chân mà chưa đi bằng lòng. Chúa không cần ta đi thật nhiều Đàng Thánh Giá nếu ta tiếp tục chất thập giá lên vai người khác.
Có lẽ hình thức Đàng Thánh Giá cần thiết nhất cho thời đại hôm nay là “Đàng Thánh Giá của lòng thương xót”. Nghĩa là sau mỗi chặng, ta phải có một hành động. Chặng Chúa bị kết án: hôm nay đừng kết án một người khi chưa nghe họ. Chặng Chúa vác Thập Giá: hôm nay giúp ai đó một việc mà họ đang không đủ sức làm. Chặng Chúa ngã: hôm nay đừng nhắc lại quá khứ của một người đang cố gắng đứng lên. Chặng Chúa gặp Mẹ: hôm nay gọi điện cho cha mẹ. Chặng Simon vác đỡ: hôm nay chia sẻ gánh nặng với một người. Chặng Veronica: hôm nay giữ gìn phẩm giá cho ai đó bằng một lời nói tử tế. Chặng phụ nữ Giêrusalem: hôm nay biến nước mắt thành một quyết định sửa đổi. Chặng Chúa bị lột áo: hôm nay đừng phát tán chuyện riêng tư của người khác. Chặng Chúa bị đóng đinh: hôm nay đừng dùng lời cay độc. Chặng Chúa chết: hôm nay tha thứ. Chặng Chúa được mai táng: hôm nay ngồi bên một người đang chịu tang. Khi đó Đàng Thánh Giá bước ra khỏi nhà thờ. Mười bốn bức tượng trên tường trở thành mười bốn cách sống Tin Mừng.
Và có lẽ mỗi người đều có một “chặng thứ mười lăm” của riêng mình: trở về nhà. Sau Đàng Thánh Giá, ta trở về bàn ăn, trở về phòng làm việc, trở về cộng đoàn, trở về với người vợ, người chồng, người con, người anh em mà có khi ta đang bất hòa. Nếu ta đã quỳ trước Thánh Giá mà vẫn không chịu nói một lời làm hòa, cuộc đi ấy còn dang dở. Nếu ta đã xúc động khi nghe Chúa nói “Lạy Cha, xin tha cho họ” mà vẫn nhất quyết không tha cho người xúc phạm mình, ta mới chỉ đi Đàng Thánh Giá bằng môi. Nếu ta thương Chúa bị lột áo nhưng thích phơi bày khuyết điểm của người khác, ta chưa gặp Người. Nếu ta thương Chúa ngã mà khinh người sa ngã, ta chưa hiểu Thánh Giá. Đàng Thánh Giá đích thực phải tiếp tục trong căn bếp, phòng khách, bệnh viện, công sở, trên đường phố và cả trên mạng xã hội.
Đặc biệt với thời đại kỹ thuật số, chúng ta đang đứng trước những “chặng Thánh Giá” rất mới. Có người bị đóng đinh bởi một đoạn video cắt ghép. Có người bị kết án bởi hàng ngàn bình luận của những người chưa từng gặp họ. Có thanh thiếu niên ngã xuống dưới áp lực của sự so sánh trên mạng. Có gia đình bị lột trần đời tư trước công chúng. Có người cô đơn ngay giữa hàng ngàn người theo dõi. Đàng Thánh Giá hiện đại không thể làm ngơ trước những hình thức đau khổ ấy. Nhưng đáp trả của Kitô hữu không phải chỉ là thêm chúng vào một bài suy niệm. Đáp trả là thay đổi cách ta sử dụng điện thoại, cách ta viết bình luận, cách ta chia sẻ thông tin, cách ta đối xử với một người đang bị cả đám đông tấn công. Đừng đi Đàng Thánh Giá trong nhà thờ rồi ra khỏi cửa nhà thờ lại tham gia đóng đinh người khác bằng bàn phím.
Với các gia đình, Đàng Thánh Giá cũng có thể trở thành một trường dạy yêu thương. Cha mẹ có thập giá của cha mẹ. Con cái có thập giá của con cái. Vợ chồng có những thập giá mà không ai bên ngoài hiểu được. Nhưng tuyệt đối không được dùng thần học Thánh Giá để hợp thức hóa bạo lực, bất công hay sự lạm dụng. Không ai có quyền nói với một người bị bạo hành rằng: “Đó là thập giá Chúa gửi, cứ chịu đi.” Thánh Giá của Đức Kitô không bao giờ là cái cớ để kẻ mạnh tiếp tục làm đau người yếu. Đức Giêsu đã mang Thánh Giá vì tình yêu, chứ Người không bảo người khác đóng đinh nhau. Có những thập giá cần vác; cũng có những cây thập giá giả do tội lỗi con người chất lên vai người khác cần phải được tháo xuống. Giúp một nạn nhân thoát khỏi bạo lực không phải là làm họ “trốn Thánh Giá”; đó có thể chính là kéo họ xuống khỏi một thứ thập giá không đến từ Thiên Chúa.
Với người bệnh và người già, Đàng Thánh Giá có một ngôn ngữ rất riêng. Họ hiểu cái chậm của từng chặng. Người khỏe mạnh có thể đi mười bốn chặng trong bốn mươi phút. Một người bệnh có khi phải đi một chặng suốt nhiều tháng. Chặng Chúa ngã có thể là một lần tái phát bệnh. Chặng bị lột áo có thể là nỗi đau mất dần khả năng tự chăm sóc bản thân. Chặng đóng đinh có thể là ngày không còn tự bước được nữa. Chặng mười bốn có thể là lúc phải đối diện với cái chết. Khi ấy Đàng Thánh Giá không còn là một việc đạo đức bên ngoài. Nó trở thành chính cơ thể người bệnh. Và Giáo Hội phải ở đó, không phải chỉ để nói với họ “hãy hy sinh”, mà để trở thành Simon và Veronica: mang đỡ, lau mặt, ngồi bên, cầm tay, chăm sóc.
Với linh mục và tu sĩ, Đàng Thánh Giá lại là một cuộc xét mình khắc nghiệt hơn nữa. Chúng ta có thể hướng dẫn người khác suy niệm rất hay về Thập Giá nhưng lại tìm mọi cách tránh những thập giá của trách nhiệm, sự kiên nhẫn, vâng phục, phục vụ âm thầm, chịu hiểu lầm, nhận lỗi và sửa mình. Có thể hôn Thánh Giá trong phụng vụ mà lại khó cúi xuống trước một con người khó chịu. Có thể giảng hùng hồn về Chúa khiêm nhường mà lại đau vì không được trọng vọng. Đàng Thánh Giá nhắc người môn đệ được thánh hiến rằng không thể theo một Đức Kitô chịu đóng đinh bằng một đời sống chỉ tìm sự tiện nghi. Nhưng cũng phải nói thêm rằng thập giá trong ơn gọi không có nghĩa là dung túng cho những cơ cấu bệnh hoạn, sự lạm quyền hay những bất công có thể sửa chữa. Trung thành không đồng nghĩa với im lặng trước điều sai. Chính Chúa Giêsu trong cuộc Thương Khó vừa im lặng khi cần, vừa nói sự thật khi cần.
Có một câu Tin Mừng phải vang suốt mọi hình thức Đàng Thánh Giá: “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (x. Lc 9,23). Chúa nói “thập giá mình”, không phải thập giá của người khác. Biết bao lần ta rất giỏi chỉ cho người khác phải vác gì, phải chịu gì, phải hy sinh thế nào, trong khi chính mình né tránh bổn phận. Và Chúa nói “hằng ngày”. Thập Giá không chỉ xuất hiện ở những biến cố lớn. Phần lớn thập giá đời người rất nhỏ. Một người thân nói một câu trái ý. Một kế hoạch bị hỏng. Một buổi sáng mệt mỏi vẫn phải đi làm. Một người già kể lại câu chuyện cũ lần thứ mười mà ta vẫn phải kiên nhẫn nghe. Một đứa trẻ quấy khóc. Một người trong cộng đoàn khó tính. Một cơn đau âm ỉ. Một lời xin lỗi phải nói dù lòng tự ái không muốn. Một sự thật phải bảo vệ dù có thể mất lợi ích. Thập giá hằng ngày không hoành tráng. Nhưng chính những thập giá nhỏ ấy định hình tâm hồn.
Đàng Thánh Giá từ mười bốn chặng truyền thống đến những hình thức mới vì thế không phải là lịch sử của việc người ta thay đổi một phương pháp cầu nguyện. Đó là câu chuyện về cách Giáo Hội qua các thế hệ cố gắng đứng gần Thánh Giá hơn. Có thế hệ quỳ trước những bức tượng cổ trong nhà thờ làng. Có thế hệ bước trong đoàn hành hương dưới trời mưa. Có thế hệ trẻ ngồi quanh Thánh Giá giữa một đêm cầu nguyện. Có người đi Đàng Thánh Giá bằng những câu kinh thuộc lòng. Có người đọc từng đoạn Tin Mừng. Có người không thể đi mà chỉ nằm trên giường bệnh, nhìn cây Thánh Giá treo trên tường. Hình thức khác nhau, nhưng nếu thật sự gặp Đức Kitô, tất cả đều đứng chung một nơi: dưới chân Thánh Giá.
Và cuối cùng, ta phải nhớ: Đàng Thánh Giá không kết thúc bằng việc chúng ta thương Chúa. Nó kết thúc bằng việc chúng ta để Chúa dạy mình yêu như Người. Đức Giêsu trên Thánh Giá đã không nguyền rủa. Người tha thứ. Người không trả đũa. Người trao ban. Người không giữ lại mạng sống cho mình. Người phó thác: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Đó là chặng cuối sâu nhất mà mỗi người phải đi: phó thác. Có ngày ta còn sức làm nhiều việc cho Chúa. Có ngày ta chỉ còn biết để Chúa làm mọi sự nơi mình. Có ngày ta cầu nguyện bằng lời. Có ngày chỉ còn bằng nước mắt. Có ngày ta đi được cả mười bốn chặng. Có ngày chỉ một bước cũng khó. Nhưng miễn là còn giữ bàn tay trong tay Chúa, con đường vẫn tiếp tục.
Thế nên, đừng hỏi Đàng Thánh Giá kiểu cũ hay kiểu mới tốt hơn. Hãy hỏi: Đàng Thánh Giá ấy có làm tôi yêu Chúa hơn không? Có làm tôi bớt xét đoán không? Có làm tôi biết cúi xuống trước người đau khổ không? Có làm tôi tha thứ không? Có làm tôi trung tín hơn với bổn phận không? Có làm tôi biết nhận lỗi không? Có làm tôi bớt gây thập giá cho người khác không? Nếu có, hãy đi. Đi chậm thôi. Đừng vội. Mỗi chặng hãy để Chúa nhìn mình. Có thể một ngày nào đó ta sẽ hiểu rằng mình không chỉ đi Đàng Thánh Giá. Suốt cả đời, chính Chúa Giêsu đã đi Đàng Thánh Giá với mình. Những lần ta ngã, Người đã ở đó. Những lần ta tưởng không còn ai, Người đã ở đó. Những lần người thân bất lực nhìn ta đau, Mẹ Người cũng từng đứng như thế. Những lúc có một Simon bất ngờ xuất hiện giúp ta, có lẽ Chúa đã gửi người ấy. Những lúc một bàn tay rất nhỏ lau nước mắt cho ta, có lẽ Veronica vẫn đang đi qua đời mình. Và cả những ngày tưởng như mọi sự đã bị chôn kín trong huyệt đá, Đức Kitô vẫn âm thầm chuẩn bị một bình minh.
Mười bốn chặng truyền thống sẽ còn được đi. Những hình thức mới sẽ còn xuất hiện. Có thể cách cầu nguyện sẽ đổi, ngôn ngữ sẽ đổi, phương tiện sẽ đổi, nhưng một điều sẽ không bao giờ cũ: giữa thế giới này vẫn có một cây Thánh Giá, và trên Thánh Giá ấy có một Tình Yêu đã đi đến tận cùng. Bao lâu con người còn đau khổ, Đàng Thánh Giá vẫn còn cần thiết. Bao lâu con người còn phản bội nhau, lời tha thứ từ Golgotha vẫn còn cần thiết. Bao lâu có những người ngã xuống bên đường, Simon vẫn còn cần thiết. Bao lâu có những khuôn mặt bị nhục nhã, Veronica vẫn còn cần thiết. Bao lâu có những bà mẹ đứng bất lực bên nỗi đau của con mình, Đức Maria vẫn còn cần thiết. Và bao lâu chúng ta còn sợ Thánh Giá, chúng ta vẫn cần bước lại con đường ấy để hiểu rằng điều Chúa mời ta mang không phải là một gánh nặng vô nghĩa, nhưng là cây cầu của tình yêu.
Hãy đi Đàng Thánh Giá, nhưng đừng chỉ đi quanh những bức tường nhà thờ. Hãy đi vào lòng mình. Hãy đi vào gia đình. Hãy đi đến bên người đang đau. Hãy đi ngang qua những định kiến của mình. Hãy đi qua sự tự ái. Hãy đi qua nhu cầu phải thắng. Hãy đi qua nỗi sợ phải xin lỗi. Hãy đi qua những gì đang ngăn ta yêu. Và rồi sẽ có lúc, sau tất cả những chặng đường, ta hiểu rằng người môn đệ không được gọi chỉ để đứng dưới chân Thánh Giá nhìn Đức Giêsu chết. Người môn đệ được gọi để sống bằng chính tình yêu của Đấng chịu đóng đinh.
Bởi lẽ Thánh Giá không bao giờ là lời cuối.
Lời cuối thuộc về tình yêu.
Lời cuối thuộc về sự sống.
Lời cuối thuộc về Đấng đã đi qua Thánh Giá và bước ra khỏi mồ.
Và vì thế, người Kitô hữu đi Đàng Thánh Giá không phải để học cách chết trong tuyệt vọng, nhưng để học cách yêu đến cùng, phó thác đến cùng và hy vọng đến cùng.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VÀ CÔNG LÝ XÃ HỘI – ĐỨNG VỀ PHÍA NGƯỜI BỊ ĐÓNG ĐINH
Có một điều rất lạ trong đời sống Kitô hữu: chúng ta có thể đeo Thánh Giá trên cổ, treo Thánh Giá thật lớn trong nhà, đặt Thánh Giá ở nơi trang trọng nhất trong nhà thờ, làm dấu Thánh Giá nhiều lần mỗi ngày, cúi đầu trước Thánh Giá, hôn kính Thánh Giá vào chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng rồi lại có thể bước ngang qua những con người đang bị cuộc đời “đóng đinh” mà lòng không hề rung động. Ta kính Thánh Giá bằng môi miệng nhưng đôi khi lại rất xa Đấng chịu đóng đinh. Ta có thể xúc động trước tượng Chúa Giêsu với đôi tay bị đóng đinh trên gỗ, nhưng lại dửng dưng trước đôi tay chai sần của người lao động bị bóc lột; có thể rơi nước mắt khi suy niệm những vết thương của Chúa, nhưng lại quay mặt trước vết thương của người nghèo; có thể đau lòng khi nghe kể Chúa bị kết án bất công, nhưng lại im lặng khi một người vô tội bị chà đạp ngay bên cạnh mình. Và chính ở đó, Thánh Giá đặt cho người Kitô hữu một câu hỏi không dễ trả lời: nếu tôi thật sự yêu mến Đấng chịu đóng đinh, tôi có dám đứng về phía những người đang bị đóng đinh trong xã hội hôm nay không?
Thánh Giá của Đức Giêsu không xảy ra trong khoảng không. Chúa không chết vì một tai nạn. Người không chết vì bệnh tật. Người cũng không chết trong sự bình yên của một căn phòng với những người thân yêu đứng chung quanh. Chúa Giêsu bị bắt, bị xét xử, bị vu cáo, bị nhục mạ, bị tra tấn và bị hành quyết. Thập giá vốn là công cụ của quyền lực dùng để trừng phạt những người bị coi là nguy hiểm, những kẻ bị đẩy ra ngoài lề, những người không còn tiếng nói và phẩm giá trong mắt xã hội. Bởi vậy, khi Con Thiên Chúa chọn đi đến tận cùng con đường Thập Giá, Người đã bước xuống tận đáy của thân phận những người bị loại trừ. Người để mình bị xếp vào hàng tội phạm. Người bị tước áo, bị bêu giữa đám đông, bị đóng đinh ngoài thành. Tác giả thư Do Thái nói Đức Giêsu đã chịu khổ “ở ngoài cửa thành” (x. Dt 13,12). Một chi tiết tưởng nhỏ nhưng rất sâu: Người chết ở bên ngoài, nơi của những kẻ không còn chỗ trong cộng đồng. Vì thế, muốn tìm Đức Kitô chịu đóng đinh, nhiều khi ta phải đi ra “ngoài cửa thành”; ra khỏi vùng an toàn, ra khỏi những nơi sang trọng, ra khỏi những cuộc gặp gỡ chỉ toàn những người giống mình, để đến với những người đang bị xã hội đẩy ra bên lề.
Tin Mừng Matthêu cho chúng ta một đoạn Lời Chúa có lẽ là một trong những bản văn mạnh mẽ nhất giúp hiểu mối tương quan giữa đức tin và công lý xã hội. Trong cuộc phán xét cuối cùng, Đức Giêsu nói: “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm.” Những người công chính ngạc nhiên hỏi: “Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa như thế đâu?” Và Đức Giêsu trả lời: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (x. Mt 25,31-46). Câu Tin Mừng ấy không cho phép chúng ta tách Đức Kitô trên bàn thờ khỏi Đức Kitô ngoài đường phố. Không thể quỳ trước Thánh Thể mà khinh người nghèo. Không thể hôn chân Chúa chịu đóng đinh rồi dùng chính đôi môi ấy để xúc phạm một người yếu thế. Không thể đọc kinh kính Thánh Giá mỗi ngày mà lại làm ngơ trước những bất công khiến người khác phải khổ đau. Chúa đã tự đồng hóa mình với những người bé nhỏ đến mức điều ta làm hoặc không làm cho họ, Chúa nói rằng ta làm hoặc không làm cho chính Người.
Bởi vậy, công lý xã hội đối với Kitô hữu không phải là một đề tài phụ, càng không phải thứ trang trí bên ngoài đời sống đạo. Nó phát xuất từ chính mầu nhiệm Nhập Thể và đạt tới đỉnh cao nơi Thánh Giá. Thiên Chúa không cứu con người từ xa. Người nhập thể. Người mang lấy xác phàm. Người đi vào một thế giới có người giàu và người nghèo, người quyền thế và người thấp cổ bé miệng, người được trọng vọng và người bị khinh chê. Chúa Giêsu đã sinh ra trong cảnh nghèo. Gia đình Người từng phải chạy sang Ai Cập lánh nạn. Người lớn lên trong một làng nhỏ bé mà Nathanael từng hỏi với giọng coi thường: “Từ Nazareth, làm sao có cái gì hay được?” Người sống bằng lao động. Người đi giữa đám dân nghèo. Người chạm vào người phong cùi. Người bênh vực người phụ nữ bị kết án. Người ngồi ăn với người bị xã hội gọi là tội lỗi. Người để những kẻ bị xem là ô uế đến gần. Và sau cùng, Người chết cái chết của một kẻ bị loại trừ. Đó không phải những chi tiết tình cờ. Đó là khuôn mặt của một Thiên Chúa luôn đi xuống để nâng con người lên.
Có người sợ nói đến công lý xã hội vì nghĩ rằng đó là chuyện chính trị, chuyện xã hội học hay chuyện của những nhà hoạt động. Nhưng công lý theo Tin Mừng trước hết là chuyện của lòng trung thành với Thiên Chúa. Các ngôn sứ Cựu Ước đã từng lên tiếng rất mạnh. Họ không chấp nhận một tôn giáo đầy nghi lễ nhưng thiếu công lý. Isaia truyền lại lời Thiên Chúa: hãy học làm điều thiện, tìm kiếm công lý, sửa trị kẻ áp bức, bảo vệ cô nhi, bênh vực quả phụ (x. Is 1,17). Ngôn sứ Amos còn mạnh hơn khi Thiên Chúa từ chối những lễ hội và tiếng hát của một dân vẫn để bất công tràn lan, rồi kêu gọi: “Hãy để cho lẽ phải như nước tuôn trào, cho công lý như dòng suối không bao giờ cạn” (Am 5,24). Điều đó có nghĩa là người ta có thể giữ rất nhiều nghi thức tôn giáo nhưng đời sống vẫn xa Thiên Chúa nếu đồng thời người ta bóc lột, gian dối, chèn ép hoặc lạnh lùng trước đau khổ của người khác.
Đức Giêsu tiếp tục truyền thống ngôn sứ ấy, nhưng Người đi xa hơn: Người không chỉ nói về nạn nhân của bất công, Người trở thành một nạn nhân của bất công. Người không chỉ giảng rằng phải thương người nghèo, Người trở nên nghèo. Người không chỉ kêu gọi thăm người tù, Người bị bắt như một tù nhân. Người không chỉ lên án những bản án bất công, chính Người chịu một bản án bất công. Người không chỉ nói hãy đứng bên người đau khổ, Người trở thành Người Tôi Trung đau khổ. Bởi vậy, từ chiều Canvê, bất cứ nơi nào một con người vô tội bị nghiền nát dưới sức mạnh của bạo lực, nơi đó bóng Thánh Giá hiện diện. Bất cứ nơi nào một người bị lấy mất phẩm giá, một người lao động không được trả công xứng đáng, một người nghèo bị khinh bỉ vì không có tiền, một người di dân bị coi như gánh nặng, một người già bị bỏ rơi, một đứa trẻ bị lợi dụng, một người phụ nữ bị xúc phạm hay bạo hành, một người khuyết tật bị xem như vô ích, một tù nhân bị đối xử như không còn nhân phẩm, một gia đình mất nhà vì sự tham lam của người khác, ở đó người Kitô hữu phải nghe được tiếng vọng của Đồi Sọ.
Nhưng đứng về phía người bị đóng đinh không có nghĩa là biến Tin Mừng thành một khẩu hiệu đấu tranh, càng không có nghĩa nuôi dưỡng hận thù giữa các tầng lớp hay dùng bạo lực chống lại bạo lực. Đức Giêsu đứng về phía nạn nhân mà không biến mình thành kẻ căm thù. Ngay trên Thánh Giá, Người vẫn cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ” (Lc 23,34). Đây chính là điểm đặc biệt của công lý Kitô giáo. Công lý của Tin Mừng không tìm cách đổi vai để người bị áp bức hôm nay trở thành kẻ áp bức ngày mai. Nó tìm cách giải phóng cả nạn nhân lẫn người gây ra bất công khỏi quyền lực của sự dữ. Người nghèo cần được trả lại phẩm giá; người giàu cần được giải thoát khỏi lòng tham. Người bị xúc phạm cần được bảo vệ; người xúc phạm cần được hoán cải. Người bị bóc lột cần công lý; người bóc lột cần được giải thoát khỏi thứ thần tượng tiền bạc đang làm khô cằn linh hồn họ. Thánh Giá không kích động hận thù. Thánh Giá phơi bày sự dữ, nhưng đồng thời mở ra con đường hòa giải.
Cũng cần nói rõ rằng lòng bác ái không thể thay thế công lý. Cho một người nghèo một bữa cơm là điều tốt; nhưng nếu chính chúng ta đang trả cho người ấy một đồng lương bất công thì bữa cơm kia không thể che lấp sự bất công. Tặng quà cho nhân viên vào dịp lễ là điều đáng quý; nhưng điều quan trọng hơn là họ có được tôn trọng, được trả công hợp lý, được nghỉ ngơi và được đối xử như con người hay không. Giúp một gia đình nghèo vài triệu đồng có thể rất tốt; nhưng nếu ta lại dùng quyền lực của mình để chiếm phần lợi ích thuộc về họ thì việc từ thiện trở thành một cách làm dịu lương tâm hơn là sống Tin Mừng. Công lý hỏi một câu sâu hơn bác ái tức thời: tại sao người ấy nghèo? Tại sao người ấy không được học? Tại sao người lao động ấy phải làm việc trong điều kiện thiếu an toàn? Tại sao người yếu thế luôn là người phải chịu thiệt? Tại sao có những người không bao giờ có cơ hội lên tiếng? Và tôi đang đứng ở đâu trong những cơ chế ấy?
Một người Kitô hữu không thể chỉ hỏi: “Tôi có làm điều ác không?” Chúng ta còn phải hỏi: “Tôi có im lặng để điều ác tiếp tục xảy ra không?” Philatô là một hình ảnh đáng sợ về thứ vô trách nhiệm này. Ông biết Đức Giêsu không đáng chết. Tin Mừng cho thấy ông nhiều lần tìm cách tha Người. Nhưng cuối cùng trước áp lực của đám đông và vì muốn giữ sự yên ổn cho mình, Philatô rửa tay. Ông tưởng rằng rửa tay là vô can. Nhưng có những lúc im lặng cũng là một lựa chọn. Có những lúc không đứng về phía người bị áp bức chính là mặc nhiên đứng về phía sức mạnh đang áp bức họ. Có những lúc “tôi không liên quan” trở thành một cách trốn chạy trách nhiệm. Nước trong chiếc chậu của Philatô có thể rửa sạch bụi trên tay nhưng không thể rửa sạch một quyết định bất công.
Trong cuộc sống hôm nay cũng vậy. Chúng ta thường không trực tiếp đóng đinh ai. Nhưng ta có thể góp một chiếc đinh bằng lời nói, bằng thái độ, bằng sự im lặng. Một lời vu khống có thể là chiếc đinh. Một cái nhãn dán lên đời người khác có thể là chiếc đinh. Một quyết định thiếu công bằng có thể là chiếc đinh. Một mức lương quá thấp dành cho người không có khả năng phản kháng có thể là chiếc đinh. Một sự lợi dụng người yếu thế có thể là chiếc đinh. Một tin giả được chia sẻ vô trách nhiệm có thể là chiếc đinh. Một lời xúc phạm trên mạng xã hội có thể là chiếc đinh. Một thái độ coi thường người nghèo có thể là chiếc đinh. Một lần ngoảnh mặt trước tiếng kêu cứu có thể là chiếc đinh. Thập giá của người khác đôi khi không do một kẻ ác duy nhất dựng lên, nhưng được ghép từ hàng trăm mảnh vô cảm rất nhỏ của những người chung quanh.
Điều đáng sợ là con người rất dễ quen với đau khổ của người khác. Ngày đầu tiên nhìn thấy một người ngủ bên vỉa hè, ta thấy nhói lòng. Nhìn nhiều lần, ta quen. Ngày đầu nghe tin một gia đình bị đẩy vào đường cùng, ta thương. Nghe quá nhiều, ta trở nên chai lì. Một đứa bé nhặt ve chai ngoài đường, một người già bán vé số dưới cơn mưa, một người bệnh không đủ tiền điều trị, một người lao động xa quê ở trọ trong căn phòng chật chội, lúc đầu khiến ta nghĩ ngợi, rồi dần dần trở thành một phần quen thuộc của cảnh quan đô thị. Nhưng Tin Mừng không cho phép người môn đệ quen với nước mắt. Chúa Giêsu không đi ngang nỗi đau như đi ngang một phong cảnh. Người dừng lại. Người thấy. Người chạnh lòng thương. Người chạm vào.
Trong dụ ngôn người Samari nhân hậu, thầy tư tế và thầy Lêvi đều nhìn thấy người bị đánh nằm bên đường, nhưng họ đi qua. Người Samari cũng thấy, nhưng khác ở chỗ ông “chạnh lòng thương” (x. Lc 10,33). Công lý bắt đầu từ khả năng không bước qua người đang nằm bên đường. Đó có thể là người ngay trong gia đình mình. Có những ông bố nói chuyện cứu giúp thiên hạ nhưng chẳng bao giờ lắng nghe con. Có những người nhiệt tình với công việc bác ái nhưng nhân viên trong nhà lại bị đối xử rất tệ. Có những Kitô hữu nói rất hay về người nghèo nhưng gặp một người ăn mặc lem luốc thì lập tức khó chịu. Công lý xã hội không bắt đầu từ những bài diễn văn vĩ đại. Nó bắt đầu từ cách ta đối xử với con người ở ngay trước mặt mình.
Và công lý Kitô giáo trước hết phát xuất từ một chân lý căn bản: mỗi con người mang hình ảnh Thiên Chúa. Phẩm giá con người không đến từ tiền bạc, học vấn, chức vụ, sức khỏe, quốc tịch hay địa vị xã hội. Một người nằm trên giường bệnh vẫn có phẩm giá. Một cụ già không còn khả năng lao động vẫn có phẩm giá. Một người khuyết tật trí tuệ vẫn có phẩm giá. Một người đang ở tù vẫn có phẩm giá. Một em bé chưa thể nói lên tiếng nói của mình vẫn có phẩm giá. Một người nghèo rách rưới không có gì trong tay vẫn có phẩm giá. Không ai có quyền ban phẩm giá cho người khác, bởi phẩm giá đã được Thiên Chúa ban từ trước khi xã hội đặt lên họ bất cứ nhãn nào. Và cũng vì thế, không một cơ chế, luật lệ, tập tục, nền kinh tế hay lợi ích nào được phép biến con người thành phương tiện.
Một trong những cám dỗ lớn nhất của thời đại là đo giá trị con người bằng khả năng sinh lợi. Người làm ra nhiều tiền thì được xem là quan trọng. Người không còn sản xuất được gì dễ bị coi như gánh nặng. Cách suy nghĩ ấy hoàn toàn trái với logic Thánh Giá. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu không “sản xuất” được gì theo tiêu chuẩn kinh tế. Hai tay Người bị đóng đinh, hai chân Người không thể bước, Người không thể chữa bệnh, không thể giảng cho đám đông, không thể làm phép lạ như trước. Xét theo tiêu chuẩn hiệu suất, Đức Giêsu trên Thập Giá hoàn toàn “vô dụng”. Nhưng chính ở đó, Người thực hiện hành vi cứu độ vĩ đại nhất. Thánh Giá vì thế phá tan tư tưởng rằng một người chỉ có giá trị khi còn hữu dụng. Con người đáng được yêu không phải vì họ làm được gì cho ta, nhưng vì họ là người.
Điều ấy đặc biệt quan trọng khi chúng ta nhìn người già, người bệnh, người khuyết tật và những người sống lệ thuộc vào sự chăm sóc của người khác. Một xã hội văn minh không được đo trước hết bằng những tòa nhà cao, đường cao tốc hay con số tăng trưởng, nhưng bằng cách xã hội ấy đối xử với những thành viên yếu nhất của mình. Một cộng đoàn Kitô hữu cũng vậy. Một giáo xứ có thể có nhà thờ đẹp, âm thanh tốt, những lễ hội lớn, nhưng câu hỏi Tin Mừng vẫn là: những người nghèo nhất có cảm thấy đây là nhà của họ không? Người bệnh có được nhớ đến không? Người già cô đơn có người thăm không? Những gia đình đang khủng hoảng có nơi tìm đến không? Người khuyết tật có được tạo điều kiện tham dự phụng vụ không? Người vừa ra khỏi tù có cơ hội bắt đầu lại không? Người trẻ thất nghiệp có được giúp đỡ không? Nếu những người bị tổn thương luôn cảm thấy mình đứng ngoài cửa, ta cần nhìn lại xem cộng đoàn mình có thật sự đang đứng dưới chân Thánh Giá hay không.
Đức Maria dưới chân Thánh Giá là một hình ảnh tuyệt đẹp cho Giáo Hội trong tương quan với những người bị đóng đinh. Mẹ không thể tháo đinh cho Chúa. Mẹ không thể chấm dứt cuộc hành hình. Mẹ không thể thay đổi bản án của Philatô. Nhưng Mẹ đứng đó: “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu có thân mẫu Người…” (Ga 19,25). Chỉ một động từ “đứng” thôi mà chứa cả một linh đạo. Mẹ không bỏ đi. Mẹ không trốn. Mẹ không giải thích đau khổ bằng những lời đạo đức dễ dãi. Mẹ hiện diện. Có những người đau khổ không cần ta lập tức giải quyết mọi vấn đề cho họ; họ cần biết có một người không bỏ họ một mình. Đứng về phía người bị đóng đinh trước hết có thể đơn giản là đứng cạnh họ.
Nhưng rồi sự hiện diện ấy phải dẫn đến hành động khi chúng ta có khả năng hành động. Đối diện bất công, không thể lúc nào cũng nói: “Thôi thì cầu nguyện.” Cầu nguyện là cần thiết, nhưng cầu nguyện thật sẽ thay đổi đôi tay chúng ta. Người đã cầu nguyện với Thiên Chúa không thể tiếp tục bình thản trước tiếng khóc của anh em. Khi dân Israel bị áp bức ở Ai Cập, Thiên Chúa nói với Môsê rằng Người đã thấy nỗi khổ của dân, đã nghe tiếng họ kêu than, đã biết những đau khổ của họ, và Người xuống để giải thoát họ (x. Xh 3,7-8). Một Thiên Chúa “thấy – nghe – biết – xuống” cũng mời gọi con cái Người làm như vậy. Đừng chỉ nhìn. Hãy nghe. Đừng chỉ nghe. Hãy để nỗi đau ấy đi vào lòng. Đừng chỉ xúc động. Hãy xuống khỏi sự an toàn của mình và làm một điều cụ thể.
Có những bất công chỉ cần một lời nói đúng lúc để ngăn lại. Có những người yếu thế chỉ cần một người có uy tín đứng lên bênh vực. Có những người lao động chỉ cần một người chủ chịu trả công công bằng. Có những đứa trẻ chỉ cần người lớn chịu lắng nghe. Có những phụ nữ bị bạo hành cần một cộng đoàn đừng khuyên họ cứ âm thầm chịu đựng một cách sai lầm. Có những người bị vu khống cần một người biết sự thật nhưng dám mở miệng. Có những gia đình nghèo cần được trao cơ hội hơn là chỉ được trao quà. Có những người lầm lỗi cần một cánh cửa để quay về hơn là một bản án kéo dài suốt đời. Những việc ấy chính là cách Thánh Giá đi vào đời sống xã hội.
Nhưng khi nói “đứng về phía người bị đóng đinh”, cũng phải cẩn thận để không lý tưởng hóa nghèo khổ. Nghèo không tự động làm một người thánh thiện, giàu cũng không tự động làm một người xấu xa. Tin Mừng không xây dựng cuộc chiến giữa người giàu và người nghèo. Đức Giêsu yêu mọi người. Người đến nhà Dakêu, một người rất giàu. Người có những người bạn khá giả như Lazarô, Maria và Mácta. Ông Giuse Arimathê, người xin xác Chúa đem chôn, cũng là người có địa vị. Vấn đề không nằm ở chỗ sở hữu của cải, nhưng ở chỗ của cải sở hữu con người. Vấn đề là khi tiền bạc làm trái tim mù đi, khiến người ta không còn nhìn thấy Lazarô nằm trước cổng nhà mình.
Dụ ngôn người giàu và Lazarô trong Luca 16 rất đáng sợ ở điểm người giàu không được mô tả là đã đánh Lazarô, đã đuổi Lazarô hay đã lấy của Lazarô. Tội của ông là sự dửng dưng. Ông ăn uống linh đình mỗi ngày trong khi Lazarô đói ngay trước cửa. Khoảng cách giữa họ khi còn sống chỉ là một cánh cổng, nhưng người giàu không bao giờ bước qua. Đến đời sau, khoảng cách ấy trở thành vực thẳm. Một cánh cổng không được bước qua hôm nay có thể thành vực sâu ngày mai. Công lý xã hội vì thế không chỉ hỏi ta đã làm điều xấu nào; nó còn hỏi ta đã bỏ qua điều tốt nào.
Có lẽ điều đáng sợ nhất không phải là thế giới có những người tàn ác. Điều đáng sợ hơn là có quá nhiều người tốt im lặng. Bởi những cơ cấu bất công thường tồn tại không chỉ nhờ người xấu, mà nhờ sự yên lặng của những người biết nhưng không muốn phiền. Ai cũng có một chút gì để mất: vị trí, lợi ích, quan hệ, danh tiếng, sự an toàn. Philatô cũng có cái để mất. Các môn đệ bỏ chạy cũng vì sợ. Phêrô chối Chúa cũng vì sợ. Và người Kitô hữu hôm nay cũng phải đối diện câu hỏi ấy: khi việc bảo vệ người yếu thế khiến tôi bị thiệt, tôi có còn đứng về phía họ không?
Đứng dưới chân Thánh Giá không phải tư thế dễ chịu. Nếu đứng đủ gần Thánh Giá, ta có thể bị người khác hiểu lầm. Đức Maria đứng cạnh một người đang bị nhà cầm quyền xử tử. Gioan đứng cạnh một người bị kết án. Những người trung thành với Đức Giêsu không đứng ở nơi danh dự, nhưng đứng tại pháp trường. Và qua mọi thời đại, những người thật sự sống Tin Mừng cũng thường phải trả giá khi bênh vực con người. Không nhất thiết bằng những hành động lớn lao. Một người chủ doanh nghiệp chấp nhận lợi nhuận ít hơn để người lao động được trả công xứng đáng cũng đang vác Thánh Giá. Một người từ chối tham gia một thương vụ bất chính dù có thể mất cơ hội làm giàu cũng đang vác Thánh Giá. Một viên chức không ký vào điều mình biết là sai dù có thể mất chức cũng đang vác Thánh Giá. Một người dám nói “không” với việc hạ nhục người yếu thế dù cả nhóm đều cười nhạo người ấy cũng đang vác Thánh Giá. Một người không chia sẻ tin chưa kiểm chứng làm tổn thương danh dự người khác cũng đang sống công lý. Thánh Giá không phải lúc nào cũng là những biến cố lớn; nhiều khi nó nằm trong những lựa chọn lương tâm rất âm thầm.
Và người Kitô hữu phải bắt đầu từ chính nơi mình có quyền lực. Ai cũng có một chút quyền lực trên ai đó. Cha mẹ có quyền với con cái. Người chủ có quyền với nhân viên. Linh mục có một loại quyền bính trong cộng đoàn. Thầy cô có quyền với học sinh. Người khỏe mạnh có lợi thế hơn người bệnh. Người có học có lợi thế hơn người ít học. Người có tiền có nhiều lựa chọn hơn người nghèo. Người có tiếng nói trên mạng có sức ảnh hưởng trên người khác. Công lý Kitô giáo hỏi: tôi dùng quyền lực ấy để nâng người khác lên hay để củng cố chính mình?
Nhìn lên Thánh Giá, ta thấy một kiểu sử dụng quyền lực hoàn toàn khác. Đức Giêsu có quyền nhưng Người không dùng quyền để cứu mình. Những kẻ đứng dưới chân Thập Giá chế nhạo: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá!” Nhưng Người không xuống. Không phải vì Người bất lực, nhưng vì quyền lực của Thiên Chúa được biểu lộ trong tình yêu tự hiến. Thế giới thường nghĩ quyền lực là khả năng bắt người khác phục vụ mình. Đức Giêsu dạy rằng quyền lực thật là khả năng trao mình để phục vụ người khác. Người nói: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,45).
Nếu những người có quyền trong gia đình, Giáo Hội, xã hội, kinh tế, giáo dục và các tổ chức sống tinh thần ấy, biết bao thập giá của con người sẽ nhẹ đi. Một người cha dùng quyền để bảo vệ chứ không để áp chế. Một người mẹ dùng ảnh hưởng để nâng đỡ chứ không thao túng. Một người lãnh đạo xem người dưới quyền là con người chứ không phải công cụ. Một linh mục coi quyền bính là khăn thắt lưng để cúi xuống rửa chân hơn là chiếc ghế để người khác phục vụ. Một doanh nhân xem lợi nhuận là cần thiết nhưng không bao giờ đặt lợi nhuận cao hơn con người. Một nhà giáo không làm nhục học trò yếu. Một người có tiền không biến người nghèo thành đối tượng để mình phô trương lòng tốt. Đó là công lý được soi sáng từ Thánh Giá.
Thánh Giá còn dạy ta rằng đứng về phía nạn nhân cũng có nghĩa là dám nghe tiếng nói của họ. Người nghèo thường bị người khác nói thay. Người đau khổ thường được khuyên bảo rất nhiều nhưng ít được lắng nghe. Ta dễ đưa ra giải pháp khi chưa hiểu câu chuyện. Công lý bắt đầu bằng việc trả lại cho người yếu thế quyền được nói. Đức Giêsu thường hỏi con người trước khi chữa họ: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” (Mc 10,51). Chúa biết rõ người mù cần gì, nhưng Người vẫn hỏi. Người tôn trọng tự do và tiếng nói của anh. Chúng ta cũng vậy. Trước khi quyết định người nghèo cần gì, hãy nghe họ. Trước khi phán xét một gia đình đổ vỡ, hãy nghe câu chuyện của họ. Trước khi kết luận một người thất nghiệp là lười, hãy biết con đường họ đã đi. Trước khi gọi một người trẻ là hư hỏng, hãy hỏi xem họ đã từng bị tổn thương thế nào. Không ít bất công bắt đầu từ việc những người có quyền tự cho mình quyền định nghĩa người khác.
Và người Kitô hữu phải đặc biệt cảnh giác với thứ công lý chọn lọc. Ta dễ phẫn nộ khi nạn nhân là người mình yêu, nhưng im lặng khi nạn nhân là người mình không thích. Ta đòi công bằng cho phe mình, nhưng vui khi phe khác bị đối xử bất công. Đó chưa phải công lý Tin Mừng. Công lý không có phe. Sự thật không đổi tùy người. Một lời vu khống vẫn là sai dù nhắm vào người ta không ưa. Một bản án bất công vẫn là bất công dù người chịu án thuộc nhóm ta chống đối. Một người yếu thế vẫn phải được bảo vệ cho dù họ không chia sẻ quan điểm của chúng ta. Đức Giêsu chết cho cả những người yêu Người lẫn những kẻ đóng đinh Người. Thánh Giá phá tan thứ đạo đức phe nhóm.
Từ Thánh Giá, Giáo Hội được mời gọi trở thành nơi trú ẩn cho những người bị thương. Không phải một pháo đài của người hoàn hảo, nhưng một bệnh viện cho người đau yếu; không phải nơi người mạnh tụ tập để tự hào về đức hạnh, nhưng là mái nhà nơi kẻ mệt mỏi được nghỉ. Khi một người bước vào nhà thờ với đôi dép cũ, đừng để ánh mắt của chúng ta làm họ xấu hổ. Khi một bà mẹ đơn thân bước vào cộng đoàn, đừng để lời xì xào khiến chị cảm thấy mình bị kết án. Khi một người đã từng phạm lỗi quay lại, đừng đóng đinh họ lần thứ hai bằng quá khứ. Khi một người nghèo không thể đóng góp như người khác, đừng để họ cảm thấy mình là Kitô hữu hạng hai. Khi một gia đình đang nợ nần, đừng biến họ thành đề tài bàn tán. Nếu Thánh Giá thật sự đứng giữa nhà thờ, thì những người bị đời đóng đinh phải tìm thấy một chỗ đứng dưới Thánh Giá ấy.
Tất nhiên, phục vụ công lý không đồng nghĩa với phủ nhận trách nhiệm cá nhân. Người Kitô hữu không thể biến mọi lỗi lầm thành lỗi của xã hội, cũng không thể dùng hoàn cảnh để biện minh mọi hành vi. Tin Mừng luôn mời gọi hoán cải cá nhân. Nhưng chính Đức Giêsu cũng nhìn thấy những cấu trúc làm con người bị đè nặng. Người quở trách những kẻ “chất lên vai người ta những gánh nặng không thể gánh nổi” mà bản thân không muốn động một ngón tay vào (x. Lc 11,46). Một đức tin trưởng thành phải biết nhìn cả hai: trách nhiệm của cá nhân và trách nhiệm của cộng đồng, tội trong trái tim và tội đi vào cơ cấu.
Có những bất công không do một người duy nhất gây ra. Nó đã thành thói quen. “Xưa nay vẫn thế.” Câu nói ấy đôi khi là cái nôi nuôi dưỡng những điều sai. Phân biệt đối xử có thể thành tập tục. Bóc lột có thể trở thành “luật chơi”. Gian dối có thể được gọi là “biết làm ăn”. Hối lộ có thể được gọi là “chi phí quan hệ”. Chèn ép người yếu có thể được biện minh là “thực tế cuộc sống”. Khi sự dữ được bình thường hóa, lương tâm rất dễ ngủ. Người Kitô hữu cần để Thánh Giá đánh thức lương tâm mình.
Trên Đồi Sọ, cả một hệ thống đã phối hợp để giết một người vô tội. Có sự phản bội của Giuđa, sự toan tính của giới lãnh đạo, sự hèn nhát của Philatô, sự hung hăng của đám đông, sự tàn bạo của lính tráng, sự bỏ chạy của các môn đệ. Không ai một mình làm nên Thập Giá, nhưng mỗi người góp một phần. Điều ấy cũng đúng với nhiều bất công hôm nay. Một con người bị nghiền nát không hẳn vì một kẻ ác duy nhất, mà vì một chuỗi người ai cũng nói: “Tôi chỉ làm phần việc của tôi.” Chính vì thế, Tin Mừng đòi người môn đệ không chỉ sống tốt riêng mình mà còn phải đặt câu hỏi về hệ thống mình đang tham dự.
Tuy nhiên, công lý xã hội theo Thánh Giá luôn phải bắt đầu từ sự hoán cải. Chúng ta rất dễ chống bất công của người khác mà không nhận ra những bất công trong chính mình. Người lớn tiếng nhất về quyền lợi người nghèo chưa chắc đối xử tử tế với người giúp việc. Người nói nhiều về nhân phẩm có thể đang xúc phạm chính người trong gia đình. Người kêu gọi minh bạch có thể không minh bạch trong tiền bạc của mình. Người chỉ trích quyền lực người khác có thể lạm dụng chút quyền lực nhỏ bé mình đang có. Thánh Giá trước khi là cây gỗ để chúng ta chỉ sang người khác, là tấm gương để ta nhìn chính mình.
Đứng dưới Thánh Giá, không ai có thể tự nhận mình hoàn toàn vô tội. “Mọi người đã phạm tội” (Rm 3,23). Ta vừa có thể là người bị đóng đinh, vừa có thể là người đóng đinh người khác. Có lúc ta là nạn nhân. Có lúc ta là đám đông. Có lúc ta là Phêrô yếu đuối. Có lúc ta là Philatô rửa tay. Có lúc ta là Simon vác đỡ Thánh Giá. Có lúc ta là Veronica lau mặt Chúa theo truyền thống đạo đức. Có lúc ta là Gioan đứng lại. Cuộc đời chúng ta đi qua rất nhiều vị trí quanh Đồi Sọ. Câu hỏi là càng ngày ta có đứng gần Đức Giêsu hơn không.
Simon thành Kyrênê là một hình ảnh rất đẹp của công lý xã hội. Ông không thể tháo Thánh Giá khỏi đời Đức Giêsu, nhưng ông vác đỡ một đoạn đường. Chúng ta cũng không thể giải quyết tất cả đau khổ trên thế giới. Nỗi khổ quá nhiều. Nghèo đói quá lớn. Bất công quá phức tạp. Nếu nhìn toàn bộ, ta dễ nản và rồi chẳng làm gì. Nhưng Kitô giáo không yêu cầu ta cứu thế giới; đã có một Đấng Cứu Thế. Điều Chúa mời ta là vác một phần Thánh Giá của người đang đi ngang đời mình. Một học bổng. Một công việc. Một lời giới thiệu. Một lần bảo vệ. Một cuộc thăm viếng. Một khoản nợ được cho thêm thời gian. Một lời nói bênh vực người bị oan. Một bữa ăn. Một cuộc gọi cho người cô đơn. Một sự hiện diện. Một cơ hội làm lại. Những điều tưởng nhỏ ấy có thể là bàn tay Simon trên con đường Canvê của ai đó.
Nhưng đừng bao giờ quên rằng mục tiêu của công lý Kitô giáo không chỉ là làm cho người nghèo sống dễ chịu hơn trong hoàn cảnh bất công; mục tiêu còn là làm cho chính hoàn cảnh bất công được thay đổi. Nếu một cây cầu có lỗ nguy hiểm, không thể cứ đứng bên cầu chăm sóc những người rơi xuống mà không bao giờ nghĩ đến chuyện sửa cây cầu. Bác ái chăm sóc người bị thương; công lý hỏi tại sao họ cứ bị thương mãi. Cả hai đều cần. Một Kitô giáo chỉ có bác ái mà thiếu công lý có nguy cơ biến thành việc cứu trợ không đụng đến nguyên nhân. Một thứ công lý không có bác ái lại có nguy cơ trở thành lạnh lùng, ý thức hệ và bạo lực. Thánh Giá nối hai điều ấy lại: sự thật và lòng thương xót, công lý và tha thứ, bảo vệ nạn nhân và kêu gọi kẻ gây ra sự dữ hoán cải.
Đức Giáo Hội không thể rao giảng một Đức Kitô chịu đóng đinh nếu không nghe tiếng kêu của những người đang chịu đóng đinh. Một bài giảng về tình yêu sẽ trở nên trống rỗng nếu người nghe bước ra khỏi nhà thờ và thấy cộng đoàn không quan tâm đến những người yếu thế. Một Thánh Lễ đẹp phải tiếp tục trong đời sống. Bánh được bẻ trên bàn thờ phải dạy chúng ta biết bẻ đời mình cho anh em. Máu Chúa được trao ban phải làm trái tim ta không thể bình thản trước máu và nước mắt của con người. Người nhận Mình Thánh Chúa mà không nhận ra thân mình bị thương của Đức Kitô nơi người nghèo thì việc hiệp lễ vẫn còn một điều gì chưa trọn.
Thánh Gioan nói rất rõ: “Ai không yêu thương người anh em mà mình trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà mình không trông thấy” (1 Ga 4,20). Đó là một câu rất khó né tránh. Chúng ta có thể dựng lên rất nhiều lý do thần học, nhưng cuối cùng tình yêu Chúa vẫn phải đi qua một con người cụ thể. Người ấy có thể khó thương. Người ấy có thể không biết ơn. Người ấy có thể làm ta mệt. Người ấy có thể thuộc một nhóm khác. Nhưng Đức Giêsu không nói: “Điều gì các ngươi làm cho những người dễ thương nhất.” Người nói: “một trong những anh em bé nhỏ nhất.”
Có khi “người bé nhỏ nhất” lại ở ngay cạnh chúng ta. Một người mẹ già trong nhà bị mọi người coi như phiền phức. Một người chồng đang thất nghiệp và mất tự tin. Một người vợ làm việc không tên suốt ngày nhưng không được trân trọng. Một đứa con học không giỏi như kỳ vọng của cha mẹ nên thường xuyên bị so sánh. Một người em trong cộng đoàn ít khả năng nên luôn bị bỏ qua. Một nhân viên không khéo nói nên không được ưu ái. Công lý xã hội bắt đầu từ công lý trong căn nhà của mình.
Và có một loại bất công rất tinh vi: lấy đi danh dự người khác bằng lời nói. Người nghèo về tiền bạc có thể được ta thương, nhưng người nghèo về danh dự lại thường bị ta đóng đinh thêm. Một lỗi lầm được kể đi kể lại. Một câu chuyện riêng tư bị truyền từ người này sang người khác. Một tin chưa kiểm chứng được chia sẻ. Mạng xã hội có thể trở thành một Đồi Sọ mới, nơi đám đông ném đá bằng bàn phím và đóng đinh người khác bằng những bình luận. Trong thời đại ấy, công lý Kitô giáo còn là biết dừng lại trước nút “chia sẻ”. Tôi có chắc điều này đúng không? Điều này có cần phải nói không? Điều này có làm tổn thương danh dự một người không? Nếu Đức Giêsu đang đứng cạnh tôi, tôi có nhấn nút này không?
Những người đóng đinh Chúa đã lột áo Người trước khi đóng đinh. Họ không chỉ lấy mạng Người; họ lấy cả phẩm giá công khai của Người. Mỗi khi chúng ta phơi bày một người để thiên hạ chế giễu, dù qua màn hình điện thoại, có một điều gì đó của cảnh lột áo trên Đồi Sọ đang được tái diễn. Người môn đệ Đức Kitô phải là người che phủ sự xấu hổ cho anh em chứ không phải người kiếm niềm vui từ việc phơi bày họ.
Đứng về phía người bị đóng đinh cũng có nghĩa là không đồng hóa một người với lỗi lầm của họ. Người trộm lành bên cạnh Đức Giêsu đã phạm tội thật. Ông tự nhận mình chịu hình phạt xứng với việc mình làm. Nhưng Đức Giêsu vẫn nhìn thấy trong ông một con người có thể được cứu. “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43). Chỉ một câu ấy đủ phá tan não trạng cho rằng một người lầm lỗi là bỏ đi. Công lý có thể đòi họ chịu trách nhiệm, nhưng công lý Kitô giáo không bao giờ tước mất hy vọng. Nhà tù không được trở thành nấm mồ của phẩm giá. Một bản án không phải tên gọi cuối cùng của một con người. Sau mọi lỗi lầm vẫn còn khả năng hoán cải.
Đây cũng là điều xã hội rất cần: công lý phục hồi thay vì chỉ công lý trừng phạt. Người gây hại cần chịu trách nhiệm, nhưng mục tiêu cuối cùng phải là sự thật được sáng tỏ, nạn nhân được bảo vệ, thiệt hại được sửa chữa trong khả năng, và con người có cơ hội thay đổi. Đức Giêsu trên Thánh Giá vừa phơi bày hậu quả khủng khiếp của tội vừa mở ra ơn tha thứ. Thánh Giá không coi tội là chuyện nhỏ. Nếu tội nhỏ, đã không cần đến Canvê. Nhưng Thánh Giá cũng nói rằng không tội nhân nào vượt khỏi khả năng cứu độ của Thiên Chúa.
Và đây là điều người Kitô hữu cần giữ rất chặt khi dấn thân cho công lý: đừng để việc chống cái ác làm mình trở thành cay độc. Thật dễ để bắt đầu bằng lòng yêu người bị áp bức rồi kết thúc bằng lòng căm thù kẻ áp bức. Nhưng trên Thánh Giá, Đức Giêsu không cho phép ta đi con đường ấy. Người bảo vệ sự thật nhưng không nuôi hận thù. Người gọi tội là tội nhưng vẫn cầu nguyện cho tội nhân. Đây là con đường cực khó: vừa kiên quyết vừa hiền lành, vừa đấu tranh cho sự thật vừa giữ trái tim khỏi độc tố căm ghét.
Người môn đệ Chúa không thể nói: “Tôi yêu công lý nên tôi có quyền xúc phạm.” Không. Công lý mà đánh mất phẩm giá của đối phương đã bị biến dạng. Ta có thể phản đối một hành vi mà không hạ nhục một con người. Ta có thể đòi trách nhiệm mà không nguyền rủa. Ta có thể bảo vệ nạn nhân mà không lấy sự trả thù làm mục tiêu. Ta có thể nói sự thật mà không dùng sự thật như con dao để thỏa mãn cơn giận. Bởi nếu để hận thù điều khiển, cuối cùng ta lại dựng một cây thập giá mới.
Thánh Giá còn nhắc rằng công lý luôn có giá. Nếu chỉ bảo vệ sự thật khi không mất gì, đó chưa chắc là lòng can đảm. Đức Giêsu biết con đường Người đi dẫn đến đâu. Người đã nói: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu” (Ga 15,13). Tình yêu luôn trả giá. Người chủ tử tế có thể mất lợi nhuận. Người trung thực có thể mất cơ hội. Người bênh vực người bị oan có thể mất thiện cảm của người khác. Người từ chối gian lận có thể bị coi là ngây thơ. Người không tham gia vào một hệ thống sai trái có thể bị gạt ra ngoài. Nhưng đó chính là nơi Thánh Giá trở thành thật.
Chúng ta thường cầu xin Chúa cất Thánh Giá. Nhưng đôi khi Thánh Giá mà Chúa mời ta vác chính là cái giá phải trả để sống ngay thẳng. Có những khổ đau không phải do Chúa gửi đến mà do lòng trung thành với điều thiện đưa đến. Đức Giêsu không bị đóng đinh vì làm điều ác; Người bị đóng đinh vì trung thành với tình yêu và sự thật. Các vị tử đạo không chết vì tìm đau khổ; các ngài chết vì không phản bội lương tâm. Người sống công lý hôm nay cũng có thể gặp những thập giá như thế.
Nhưng cuối cùng Thánh Giá không kết thúc ở Thứ Sáu Tuần Thánh. Nếu chỉ có Thánh Giá mà không có Phục Sinh, chúng ta sẽ tuyệt vọng. Công lý Kitô giáo cũng được nuôi bằng niềm hy vọng Phục Sinh. Ta làm việc cho công lý không phải vì tin mình sẽ xây được một thế giới hoàn hảo. Ta biết tội vẫn có đó, bất công vẫn còn, con người vẫn yếu đuối. Nhưng ta tin cái ác không có tiếng nói cuối cùng. Bản án bất công của Thứ Sáu không thắng được bình minh Chúa Nhật. Phiến đá của ngôi mộ không giữ được Đấng Phục Sinh. Quyền lực của đế quốc tưởng đã kết thúc câu chuyện của Giêsu Nazareth bằng mấy chiếc đinh, nhưng chính người bị đóng đinh ấy đã trở thành niềm hy vọng của nhân loại.
Bởi vậy, người Kitô hữu có thể kiên trì làm điều thiện ngay cả khi kết quả rất nhỏ. Ta không cứu hết người nghèo, nhưng vẫn cứu một người. Ta không sửa được mọi bất công, nhưng không để sự bất công đi qua tay mình. Ta không thay đổi được cả xã hội, nhưng có thể làm nơi mình sống nhân bản hơn một chút. Ta không tháo được tất cả những cây thập giá, nhưng có thể làm Simon cho một người.
Có lẽ ngày sau, khi đứng trước Chúa, Người sẽ không hỏi chúng ta đã có bao nhiêu tài sản, đã đạt bao nhiêu danh vọng, người khác đã gọi ta bằng bao nhiêu chức danh. Theo Matthêu 25, câu hỏi cuối cùng lại rất đơn sơ: khi Ta đói, con đã làm gì? Khi Ta khát? Khi Ta là khách lạ? Khi Ta trần truồng? Khi Ta đau yếu? Khi Ta ở tù? Và có lẽ lúc ấy ta cũng ngạc nhiên như những người trong dụ ngôn: “Lạy Chúa, có bao giờ con thấy Chúa như thế đâu?”
Chúa sẽ chỉ cho chúng ta một khuôn mặt.
Khuôn mặt người nghèo mà ta đã gặp.
Khuôn mặt người già mà ta đã đi ngang.
Khuôn mặt người lao động dưới quyền ta.
Khuôn mặt người bị vu oan mà ta biết sự thật.
Khuôn mặt đứa trẻ cần được bảo vệ.
Khuôn mặt người bệnh nằm cô độc.
Khuôn mặt người từng phạm lỗi xin một cơ hội trở về.
Khuôn mặt người không có tiếng nói.
Và Chúa sẽ nói: “Đó là Ta.”
Thật ra, Thánh Giá chưa bao giờ chỉ là cây gỗ trên đồi Canvê hai ngàn năm trước. Thánh Giá đang xuất hiện mỗi ngày nơi thân phận con người. Có những bàn tay vẫn bị “đóng đinh” vì nghèo đói. Có những đôi chân vẫn bị “đóng đinh” vì không có cơ hội bước đi. Có những tiếng nói vẫn bị “đóng đinh” vì chẳng ai muốn nghe. Có những phẩm giá vẫn bị “đóng đinh” vì định kiến. Có những cuộc đời vẫn bị “đóng đinh” vì lòng tham của kẻ khác. Và Đức Giêsu vẫn nói với chúng ta: “Điều gì các con làm cho một trong những người bé nhỏ nhất này là làm cho chính Ta.”
Vì thế, đừng chỉ hỏi: “Tôi có yêu Thánh Giá không?” Hãy hỏi thêm: “Tôi có yêu người đang bị đóng đinh không?”
Đừng chỉ hỏi: “Nhà tôi có treo Thánh Giá không?” Hãy hỏi: “Có ai trong nhà tôi đang mang một thập giá mà tôi chưa từng muốn nhìn thấy không?”
Đừng chỉ hỏi: “Tôi có hôn kính Thánh Giá vào Thứ Sáu Tuần Thánh không?” Hãy hỏi: “Tôi có dám cúi xuống trước phẩm giá của một người nghèo không?”
Đừng chỉ hỏi: “Tôi có bênh vực Đức Giêsu không?” Hãy hỏi: “Khi một người yếu thế bị chèn ép, tôi đứng ở đâu?”
Có thể chúng ta không bao giờ được mời chết trên một cây thập giá bằng gỗ. Nhưng mỗi ngày ta đều được hỏi mình sẽ đứng phía nào của Thập Giá: phía của những người đóng đinh hay phía của Người bị đóng đinh; phía của đám đông la hét hay phía của những người âm thầm đứng lại; phía của Philatô rửa tay hay phía của Simon ghé vai; phía của sự dửng dưng hay phía của lòng thương xót; phía của quyền lực nghiền nát con người hay phía của tình yêu nâng con người dậy.
Xin cho mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, chúng ta đừng chỉ thấy một tượng ảnh quen thuộc. Xin cho ta thấy một lời gọi. Một lời gọi ra khỏi sự vô cảm. Một lời gọi biết chạnh lòng. Một lời gọi sống ngay thẳng. Một lời gọi bênh vực phẩm giá con người. Một lời gọi trả lại tiếng nói cho người không được nghe. Một lời gọi chia sẻ quyền lực với người yếu thế. Một lời gọi làm Simon cho người đang kiệt sức. Một lời gọi đứng như Đức Maria dưới chân những thập giá của nhân loại.
Và xin Chúa cho chúng ta đừng bao giờ dùng Thánh Giá để trang trí một đời sống khép kín. Thánh Giá phải làm chúng ta đau trước nỗi đau người khác. Thánh Giá phải khiến đôi chân chúng ta bước về phía người bị bỏ rơi. Thánh Giá phải khiến miệng chúng ta dám nói khi người khác bị oan. Thánh Giá phải khiến bàn tay chúng ta biết mở ra. Thánh Giá phải khiến quyền lực nơi chúng ta trở thành phục vụ. Thánh Giá phải khiến tiền bạc trở thành phương tiện sẻ chia. Thánh Giá phải khiến Giáo Hội trở thành nhà của người nghèo.
Ngày nào người Kitô hữu còn có thể bình thản trước một con người bị chà đạp, ngày đó chúng ta vẫn chưa hiểu hết Thánh Giá.
Ngày nào chúng ta chỉ thương Đức Giêsu của hai ngàn năm trước mà không nhận ra Đức Giêsu đang đau nơi anh em hôm nay, ngày đó lòng đạo của chúng ta vẫn còn thiếu một điều cốt lõi.
Và ngày nào ta dám cúi xuống nâng một người bị đời xô ngã, dám đứng cạnh người bị mọi người bỏ rơi, dám bảo vệ người không tự bảo vệ được mình, dám trả công công bằng cho người lao động, dám mở cửa cho người bị loại trừ, dám từ bỏ một chút quyền lợi của mình để người khác được sống xứng với phẩm giá của họ, ngày đó ta không chỉ nói về Thánh Giá nữa.
Ta đang đứng dưới Thánh Giá.
Ta đang chạm vào Thánh Giá.
Ta đang vác Thánh Giá cùng Đức Kitô.
Và sâu xa hơn hết, ta đang chạm vào chính thân thể của Đấng chịu đóng đinh, Đấng đã nói một lời không bao giờ cũ: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.”
Xin cho Thánh Giá Chúa không bao giờ trở thành một biểu tượng vô hại trong đời ta. Xin cho Thánh Giá mãi là tiếng gọi làm lương tâm ta thao thức trước bất công, làm trái tim ta mềm lại trước nước mắt, làm đôi mắt ta nhận ra người bị bỏ quên và làm đôi chân ta biết bước về phía họ. Bởi cuối cùng, yêu mến Đấng chịu đóng đinh mà không yêu những người đang bị đóng đinh thì tình yêu ấy vẫn còn dang dở. Kính Thánh Giá mà không đứng về phía người bị chà đạp thì việc kính ấy vẫn chưa đi đến tận cùng. Theo Đức Kitô chịu đóng đinh chính là chấp nhận đứng ở nơi Người đã đứng: bên người nghèo, người yếu, người bị loại trừ, người không còn tiếng nói, người bị tổn thương; và từ nơi ấy, cùng Người làm cho công lý và lòng thương xót gặp nhau, để giữa một thế giới còn quá nhiều những cây thập giá, người ta vẫn nhận ra rằng tình yêu có thể thắng hận thù, lòng thương xót có thể thắng vô cảm, sự thật có thể thắng gian dối, và sự sống, cuối cùng, vẫn mạnh hơn sự chết.
Lm. Anmai, CSsR.

THÁNH GIÁ VÀ SỰ THA THỨ – “LẠY CHA, XIN THA CHO HỌ”
Có lẽ trong tất cả những lời Chúa Giêsu nói từ trên Thánh Giá, không lời nào làm cho lòng người bối rối và cũng không lời nào đẹp đến nhói lòng cho bằng lời này: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đó không phải là lời của một người đang đứng ngoài cuộc đau khổ để khuyên người khác hãy quảng đại. Đó là lời của một người vừa bị phản bội, bị bỏ rơi, bị vu cáo, bị kết án bất công, bị đánh đòn, bị đội mão gai, bị nhạo báng, bị lột áo, bị đóng đinh và đang phải thở từng hơi đau đớn trên cây gỗ. Đó không phải là lời được nói ra sau nhiều năm vết thương đã lành, khi kỷ niệm đã phai và lòng đã nguôi. Đó là lời được nói ngay giữa lúc những chiếc đinh còn nằm trong tay chân, máu còn chảy, tiếng chế nhạo còn vang bên tai và những kẻ gây ra tất cả đau khổ ấy vẫn đang đứng ở đó. Chính vào lúc con người thường dễ nguyền rủa nhất, Đức Giêsu lại cầu xin. Chính vào lúc con người dễ trả đũa nhất, Người lại tha thứ. Chính vào lúc dường như Người có đủ lý do để nói: “Lạy Cha, xin xử công bằng với họ”, Người lại nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Và từ khoảnh khắc ấy, Thánh Giá trở thành trường học lớn nhất về sự tha thứ. Không phải trường học của những lời nói đẹp, nhưng là trường học được viết bằng máu. Không phải bài học cho những người chưa bao giờ bị tổn thương, nhưng là Tin Mừng cho tất cả những ai đang mang trong mình một vết thương vì người khác.
Thật ra, nói về tha thứ thì dễ. Khi mình chưa bị ai phản bội, chưa bị ai xúc phạm, chưa bị ai lấy mất danh dự, chưa bị người mình thương làm cho tan nát, chưa bị những lời vu khống đẩy vào ngõ cụt, ta có thể nói rất hay về lòng quảng đại. Ta có thể bảo người khác rằng hãy bỏ qua, hãy quên đi, hãy sống cao thượng. Nhưng khi chính mình là người bị tổn thương, mọi lý thuyết bỗng trở nên nặng nề. Khi người làm ta đau lại là người ta từng tin tưởng; khi bàn tay đâm ta lại là bàn tay ta từng nắm; khi lời làm ta khóc lại phát ra từ đôi môi từng nói rằng thương ta; khi người bỏ rơi ta lại là người đã từng hứa sẽ không bao giờ bỏ ta, lúc đó tha thứ không còn là một khẩu hiệu đạo đức nữa. Tha thứ trở thành một thập giá. Có những vết thương người ngoài nhìn vào thấy rất nhỏ nhưng người trong cuộc phải mang hàng chục năm. Có những câu nói chỉ mất vài giây để thốt ra nhưng mất cả đời người mới chữa lành. Có những phản bội xảy ra một lần nhưng ký ức của nó trở về cả ngàn lần. Có những người vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn làm việc, vẫn cười với mọi người, nhưng trong một góc rất sâu của tâm hồn vẫn có một cái tên mà chỉ cần nhớ đến là lòng lại đau. Có người không còn gặp kẻ đã làm mình tổn thương nữa, nhưng người ấy vẫn sống trong trí nhớ mình mỗi ngày. Người kia đã đi khỏi cuộc đời ta, nhưng vết thương họ để lại vẫn ở trong ta. Và đáng sợ nhất là có khi người làm ta đau đã quên từ lâu, trong khi ta vẫn tiếp tục tự làm đau mình bằng cách nhớ lại.
Bởi vậy, khi Giáo Hội đặt trước mắt chúng ta Đức Kitô chịu đóng đinh và cho chúng ta nghe lời Người: “Lạy Cha, xin tha cho họ”, Giáo Hội không đưa ra một lời khuyên dễ dãi. Giáo Hội chỉ cho chúng ta nhìn vào nơi sâu nhất của Tin Mừng. Kitô giáo không phải là tôn giáo của sự trả thù. Kitô giáo không dạy người môn đệ phải thắng bằng cách nghiền nát kẻ thù. Chúa Giêsu thắng sự dữ không bằng cách sử dụng một thứ bạo lực mạnh hơn sự dữ, nhưng bằng một tình yêu mạnh hơn hận thù. Người không phá vòng tròn của bạo lực bằng một cú đánh mạnh hơn, nhưng bằng sự tha thứ. Đó chính là điều làm Thánh Giá khác với mọi cây thập tự khác trên đồi Canvê hôm ấy. Có ba người bị đóng đinh, nhưng chỉ có một người biến nơi hành hình thành nơi cứu độ. Không phải vì những chiếc đinh khác nhau, không phải vì cây gỗ khác nhau, nhưng vì trên cây Thánh Giá ở giữa có một trái tim vẫn yêu giữa lúc bị ghét, vẫn cầu nguyện giữa lúc bị nguyền rủa và vẫn tha thứ giữa lúc bị giết.
Đoạn Tin Mừng theo thánh Luca kể lại cảnh ấy thật ngắn mà đau xé lòng: khi đến nơi gọi là Đồi Sọ, người ta đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá cùng với hai tên gian phi, một người bên phải và một người bên trái. Và giữa lúc mọi sự dữ tưởng như đang chiến thắng, Chúa Giêsu thưa cùng Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (x. Lc 23,33-34). Hãy thử đứng lại thật lâu trước câu Tin Mừng này. Ai là “họ”? Là những người lính vừa đóng đinh Người? Là những kẻ đã vu cáo Người? Là đám đông từng hô “Hoan hô” rồi ít ngày sau lại gào “Đóng đinh nó đi”? Là các thủ lãnh đã tìm cách loại trừ Người? Là Philatô biết Người vô tội nhưng vẫn trao Người cho người ta giết vì sợ mất vị trí? Là Giuđa đã bán Người? Là Phêrô đã chối Người? Là các môn đệ đã bỏ chạy? Có lẽ chữ “họ” rộng hơn tất cả những khuôn mặt ấy. “Họ” là cả nhân loại. “Họ” là mỗi chúng ta. Bởi vì tội lỗi của con người đã đặt Con Thiên Chúa lên Thánh Giá, nhưng từ trên chính Thánh Giá ấy, Con Thiên Chúa không xin Cha tiêu diệt nhân loại. Người xin Cha tha thứ cho nhân loại.
Chúng ta thường nghĩ rằng tha thứ bắt đầu từ người bị xúc phạm. Nhưng trên Canvê, Đức Giêsu cho thấy tha thứ trước hết bắt đầu từ Thiên Chúa. Trước khi chúng ta học tha cho người khác, chúng ta phải nhận ra mình là những người đã được tha. Đây là điều rất quan trọng. Một người chỉ nhìn mình như nạn nhân rất khó tha thứ. Nhưng khi người ấy nhận ra rằng mình cũng đã từng làm người khác đau, đã từng ích kỷ, từng nói sai, từng nóng giận, từng bất công, từng làm tổn thương những người yêu thương mình, người ấy sẽ bớt khắt khe hơn. Không ai trong chúng ta chỉ là người bị thương. Nhiều khi ta cũng là người gây thương tích. Ta có thể rất đau vì người khác nói một lời xúc phạm mình, nhưng lại quên những lời mình từng nói làm đau người khác. Ta đòi người khác phải hiểu hoàn cảnh của mình nhưng không muốn hiểu hoàn cảnh của họ. Ta muốn Thiên Chúa kiên nhẫn với mình nhưng lại muốn Ngài xử ngay người làm mình đau. Ta xin Chúa tha thứ tội mình mỗi ngày nhưng đôi khi giữ chặt tội của người khác trong ký ức hàng chục năm.
Kinh Lạy Cha chúng ta đọc có một lời nguy hiểm vô cùng nếu đọc mà không suy nghĩ: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.” Có nghĩa là mỗi lần đọc Kinh Lạy Cha, ta đang đặt sự tha thứ dành cho người khác ngay bên cạnh lời cầu xin Thiên Chúa tha thứ cho mình. Chúa Giêsu đã nói rất rõ về điều ấy. Người kể dụ ngôn một người đầy tớ được chủ tha một món nợ khổng lồ, nhưng vừa bước ra khỏi cửa lại bóp cổ người bạn chỉ mắc mình một món nợ nhỏ hơn rất nhiều. Ta đọc dụ ngôn ấy và thấy người đầy tớ thật vô lý. Nhưng đôi khi ta chính là người đó. Trước mặt Thiên Chúa, ta xin lòng thương xót vô hạn. Đối với người khác, ta lại dùng cân tiểu ly để cân từng lỗi lầm. Với mình, ta muốn Chúa nhìn đến hoàn cảnh; với người khác, ta chỉ nhìn hành vi. Với mình, ta muốn Chúa nhớ những việc tốt; với người khác, ta nhớ mãi một điều xấu. Với mình, ta nói: “Con yếu đuối mà”; với người khác, ta nói: “Con người đó là vậy rồi, không thay đổi được đâu.”
Thánh Giá phá vỡ thứ đạo đức hai tiêu chuẩn ấy. Đứng dưới Thánh Giá, ta không còn quyền tự xem mình là người hoàn toàn vô tội đối diện với những kẻ hoàn toàn có tội. Dưới chân Thánh Giá chỉ có những con người cần lòng thương xót. Người nhiều, kẻ ít. Người lỗi kiểu này, kẻ lỗi kiểu khác. Nhưng tất cả đều sống nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa. Chính vì thế, tha thứ không có nghĩa là ta bảo rằng điều người khác làm là đúng. Tha thứ không phải gọi bóng tối là ánh sáng, gọi phản bội là trung thành, gọi bất công là công lý. Đức Giêsu tha thứ cho những người đóng đinh Người nhưng Người không nói rằng đóng đinh người vô tội là đúng. Tha thứ không xóa sự thật. Tha thứ làm cho sự thật không biến thành vũ khí trả thù. Ta vẫn có thể nói: “Điều anh làm đã khiến tôi đau.” Ta vẫn có thể bảo vệ mình. Ta vẫn có thể đặt một ranh giới cần thiết. Ta vẫn có thể tìm công lý. Ta vẫn có thể yêu cầu người gây thiệt hại chịu trách nhiệm. Tha thứ không buộc một người phải tiếp tục ở trong một tương quan đang phá hủy họ. Tha thứ cũng không đồng nghĩa với việc phải tin tưởng ngay lập tức trở lại. Tin tưởng có thể mất chỉ trong vài phút nhưng cần nhiều năm để xây dựng lại. Tha thứ là một quyết định của lòng yêu thương; hòa giải là công việc cần hai phía. Có khi tôi tha cho người kia nhưng người kia không hối cải, không xin lỗi, không thay đổi. Khi ấy sự hòa giải trọn vẹn chưa thể xảy ra, nhưng trái tim tôi vẫn có thể được giải thoát khỏi hận thù.
Đây là điểm nhiều người nhầm lẫn. Có người nói: “Tôi không thể tha vì người ấy chưa xin lỗi.” Nhưng nếu sự bình an của tôi hoàn toàn tùy thuộc vào việc người làm tôi đau có chịu xin lỗi hay không, thì tôi đã trao chìa khóa tâm hồn mình cho họ. Họ xin lỗi thì tôi được bình an; họ không xin lỗi thì tôi phải khổ suốt đời. Chúa Giêsu trên Thánh Giá không chờ những người đóng đinh Người quỳ xuống xin lỗi rồi mới cầu xin Chúa Cha tha thứ. Người đi bước trước. Tha thứ Kitô giáo luôn có một phần như thế: tôi không đợi người kia trở nên xứng đáng rồi mới thôi hận họ. Tôi tha không phải vì họ xứng đáng, nhưng vì tôi không muốn sự dữ họ gây ra tiếp tục sinh thêm sự dữ trong lòng tôi. Tôi tha bởi vì tôi muốn được tự do. Tôi tha bởi vì tôi thuộc về Đức Kitô chứ không thuộc về vết thương của mình.
Có một kiểu giam cầm rất lạ: người làm ta tổn thương không cần nhốt ta trong căn phòng nào cả. Chỉ cần ta không thể tha, họ đã có thể ở trong đầu ta ngày đêm. Ta đang ăn cơm cũng nhớ. Đang cầu nguyện cũng nhớ. Đang vui cũng chợt nhớ. Một câu nói của ai đó giống câu họ từng nói cũng làm vết thương sống lại. Một ngày kỷ niệm cũng làm lòng quặn đau. Ta không gặp họ mà vẫn đối thoại với họ trong đầu. Ta tưởng tượng những câu mình sẽ nói nếu gặp lại. Ta tưởng tượng một ngày họ phải trả giá. Ta mong họ thất bại để thấy mình được minh oan. Và như thế, không cần làm gì thêm, người kia vẫn điều khiển cuộc đời ta. Tha thứ là lúc ta lấy lại chìa khóa của tâm hồn. Tôi có thể nói: “Anh đã làm tôi đau, đó là sự thật. Nhưng tôi không cho phép điều anh đã làm quyết định phần còn lại của đời tôi. Tôi không cho phép vết thương của hôm qua giết chết bình an của hôm nay. Tôi trao anh cho Thiên Chúa. Công lý thuộc về Ngài. Phần tôi, tôi chọn không nuôi thù hận nữa.”
Nhưng phải nói thật rằng không phải cứ muốn là tha được ngay. Có những vết thương rất sâu. Có những người nói với một người mẹ vừa mất con vì lỗi của ai đó rằng: “Phải tha đi chứ, mình là người Công giáo mà”, câu nói ấy có thể trở thành một sự tàn nhẫn. Có những vết thương cần thời gian. Chúa không đòi ta giả vờ rằng mình không đau. Đức tin không bắt ta mỉm cười khi lòng đang vỡ. Chính Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu đã buồn đến chết được. Người đã đổ mồ hôi như máu. Người đã kêu lên trên Thánh Giá: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Đau thì có quyền nói mình đau. Khóc thì có quyền khóc. Tha thứ không có nghĩa là phủ nhận nước mắt. Có khi bước đầu của tha thứ chỉ là thành thật nói với Chúa: “Lạy Chúa, con chưa tha được. Con còn giận. Con còn đau. Chỉ cần nghe tên người ấy là con không chịu nổi. Nhưng con muốn một ngày nào đó có thể tha. Xin Chúa bắt đầu nơi con điều con chưa làm nổi.” Một lời cầu nguyện như thế đã là một bước rất lớn.
Có khi ta không thể nói ngay: “Con tha cho họ”, nhưng ta có thể bắt đầu bằng câu: “Lạy Chúa, xin đừng để con trở thành một người cay độc vì những gì họ đã làm cho con.” Rồi một ngày khác: “Lạy Chúa, xin chữa lành con.” Rồi một ngày khác nữa: “Lạy Chúa, xin cho con thôi mong điều xấu xảy đến với họ.” Và có thể sau rất nhiều ngày, rất nhiều lần xưng tội, rất nhiều Thánh lễ, rất nhiều giờ ngồi yên trước Thánh Thể, ta mới có thể nói: “Lạy Chúa, con trao người ấy cho Chúa.” Tha thứ nhiều khi không phải một giây phút mà là một con đường. Có những sáng ta tưởng mình đã tha; chiều gặp một chuyện gợi lại, lòng lại đau như cũ. Điều ấy không có nghĩa là ta thất bại. Nó chỉ có nghĩa là vết thương vẫn đang lành. Một vết thương thể lý sâu cần được băng nhiều lần. Một vết thương tâm hồn cũng vậy. Mỗi lần ký ức trở về, ta lại tha thêm một lần nữa. Có khi phải tha “bảy mươi lần bảy” không phải cho bảy mươi lần bảy lỗi khác nhau, mà cho cùng một lỗi cứ bảy mươi lần bảy lần trở lại trong trí nhớ.
Thánh Phêrô từng hỏi Chúa Giêsu: “Nếu anh em con xúc phạm đến con, con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” Phêrô tưởng bảy lần đã là quảng đại lắm. Chúa Giêsu trả lời: “Không phải đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy” (x. Mt 18,21-22). Nghĩa là đừng biến tha thứ thành một cuốn sổ kế toán. Tình yêu không ngồi đếm: lần thứ nhất, lần thứ hai, lần thứ ba, hết hạn. Điều Chúa muốn không phải là một phép tính, mà là một trái tim không cho hận thù quyền thống trị. Thế nhưng để có trái tim ấy, chúng ta phải nhìn lên Thánh Giá. Bởi tự sức mình, con người rất khó tha. Bản năng của ta là tự vệ. Bị xúc phạm, ta muốn đáp lại. Bị làm nhục, ta muốn người kia cũng phải nhục. Bị nói xấu, ta muốn nói xấu lại. Bị loại trừ, ta mong người kia cũng bị loại trừ. Hận thù có một logic rất dễ hiểu: anh làm tôi đau, tôi làm anh đau; rồi anh đau vì tôi nên anh lại làm tôi đau hơn. Và vòng tròn ấy cứ thế chạy qua gia đình, cộng đoàn, dòng họ, xã hội, thậm chí qua nhiều thế hệ.
Biết bao gia đình đã tan vỡ chỉ vì không ai chịu bước xuống trước. Hai anh em không nói chuyện với nhau hàng chục năm vì một chuyện đất đai. Hai chị em nhìn nhau như người xa lạ vì một cuộc chia gia tài. Con không về thăm cha mẹ vì một lời đã nghe từ hai mươi năm trước. Mẹ con giận nhau rồi ai cũng chờ người kia mở lời. Vợ chồng ngủ cùng một mái nhà nhưng trái tim cách nhau ngàn dặm vì những chuyện không được giải quyết. Có những đám tang mà anh chị em ruột đứng gần quan tài cha mẹ nhưng quay mặt không nhìn nhau. Có những người đến khi người kia chết rồi mới đứng trước quan tài khóc: “Giá mà hồi đó mình nói với nhau một câu.” Nhưng người chết không trả lời nữa. Cái giá của tự ái đôi khi quá đắt. Ta thắng được một cuộc cãi vã mà mất một người thân. Ta chứng minh được mình đúng mà mất một gia đình. Ta giữ được sĩ diện nhưng mất bình an. Cuối cùng thử hỏi: ai thắng?
Thánh Giá dạy chúng ta một con đường khác. Trên Canvê, Chúa Giêsu có thể chứng minh Người đúng bằng quyền năng. Người có thể bước xuống khỏi Thánh Giá. Người có thể làm cho những kẻ chế nhạo phải câm miệng. Nhưng Người chọn ở lại. Người không chiến thắng bằng cách làm cho đối phương phải xấu hổ. Người chiến thắng bằng cách không để sự dữ biến trái tim mình thành sự dữ. Đây có lẽ là chiến thắng khó nhất. Thắng một người khác đôi khi dễ. Thắng cơn giận trong chính mình mới khó. Làm người xúc phạm mình im miệng đôi khi dễ; làm cho hận thù trong lòng mình im đi mới khó. Có người rất mạnh ngoài đời nhưng bất lực trước một ký ức. Có người điều hành cả một tổ chức nhưng không điều khiển nổi cơn giận của mình. Có người nói về Tin Mừng rất hay nhưng chỉ một người không hợp ý xuất hiện là mất bình an. Chúa Giêsu trên Thánh Giá không chỉ cứu ta khỏi tội; Người còn cho ta thấy một con người hoàn toàn tự do: không ai có thể ép Người thôi yêu.
Đó là tự do mà người Kitô hữu được mời gọi. Tôi không thể quyết định người khác sẽ đối xử với tôi thế nào, nhưng tôi có thể quyết định vết thương ấy sẽ biến tôi thành người nào. Tôi không thể thay đổi quá khứ, nhưng với ơn Chúa, tôi có thể không cho quá khứ đầu độc tương lai. Tôi không thể buộc người kia phải hối cải, nhưng tôi có thể cầu nguyện để lòng mình không trở thành cái bóng của lòng họ. Nếu họ đã đối xử tàn nhẫn với tôi, tôi không cần trở thành một người tàn nhẫn để chứng minh rằng tôi mạnh. Nếu họ đã phản bội tôi, tôi không cần học phản bội. Nếu họ nói xấu tôi, tôi không cần đi khắp nơi trả đũa bằng một chiến dịch nói xấu khác. Nếu họ ném bùn vào tôi, tôi không cần cúi xuống nhặt chính bùn ấy để ném lại. Người ta ném vào ta thứ gì là lựa chọn của họ; ta giữ thứ gì trong lòng là lựa chọn của ta.
Có người hỏi: “Tha rồi có quên được không?” Có lẽ câu trả lời chân thật là nhiều khi không. Não bộ con người không có một nút bấm để xóa ký ức. Những biến cố sâu sắc vẫn ở đó. Chúa không đòi ta mắc chứng mất trí để chứng minh mình đã tha thứ. Tha thứ không phải là quên sự kiện; tha thứ là khi nhớ lại sự kiện mà không còn muốn trả thù. Vết sẹo vẫn còn nhưng không còn chảy máu. Người ta vẫn có thể nhìn thấy đường sẹo, nhưng chạm vào không còn đau như trước. Đó là dấu hiệu của sự chữa lành. Thật đẹp khi nhìn vào Đức Kitô Phục Sinh: Người sống lại nhưng các dấu đinh vẫn còn. Người không trở lại với một thân xác không có vết thương. Người cho Tôma thấy tay và cạnh sườn. Các vết thương không biến mất, nhưng chúng đã được biến đổi. Những nơi từng là dấu hiệu của bạo lực nay trở thành dấu chứng của tình yêu. Đó cũng có thể là hành trình của những vết thương trong đời ta. Ta không cần phủ nhận chúng. Ta có thể để Chúa biến những vết thương ấy thành nơi lòng thương xót được sinh ra.
Một người từng đau vì bị bỏ rơi có thể trở thành người biết nhận ra những ai cô đơn. Một người từng nghèo có thể hiểu người nghèo. Một người từng bị hiểu lầm có thể học cách đừng vội xét đoán. Một người từng bị phản bội có thể trở thành người trung thành hơn. Một người từng khóc trong đêm có thể biết ngồi bên cạnh người khác mà không cần nói nhiều. Khi vết thương được trao cho Chúa, nó có thể trở thành một cánh cửa của lòng trắc ẩn. Nhưng khi vết thương được trao cho hận thù, nó thường sinh thêm vết thương. Ta hoặc để đau khổ làm trái tim mình sâu hơn, hoặc để nó làm trái tim mình cứng hơn. Thánh Giá cho thấy Đức Giêsu đã chọn con đường thứ nhất.
Nhìn kỹ hơn vào lời “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”, ta còn thấy một điều rất lạ. Chúa Giêsu tìm một lý do để bênh vực cho chính những người đang làm Người đau. Người nói: “Họ không biết việc họ làm.” Chúng ta thường làm ngược lại. Khi giận ai, ta tìm thêm bằng chứng để kết án họ. Một lỗi của họ ta kể thành mười lỗi. Một lần họ làm mình đau, ta diễn giải cả con người họ là xấu. Họ làm một việc sai, ta nói: “Con người đó bản chất là như vậy.” Ta không chỉ xét hành động; ta kết án con người. Chúa Giêsu thì tìm phần còn lại của sự thật mà lòng thương xót có thể nhìn thấy: họ không biết hết điều họ đang làm. Không có nghĩa họ hoàn toàn vô trách nhiệm. Nhưng tình yêu nhìn sâu hơn tội lỗi.
Có lẽ nếu ta biết toàn bộ câu chuyện đời một con người, ta sẽ bớt giận họ hơn. Người hay nóng giận có thể đã lớn lên trong một gia đình toàn tiếng la hét. Người lạnh lùng có thể từng bị tổn thương đến mức không dám tin ai nữa. Người khắt khe có thể cả đời chưa bao giờ được đón nhận. Người thích hạ thấp người khác có thể đang che giấu mặc cảm của chính mình. Điều đó không biến sai thành đúng, nhưng giúp ta hiểu rằng con người phức tạp hơn một hành vi của họ. Chỉ Thiên Chúa mới biết hoàn toàn những gì nằm sau một khuôn mặt, một phản ứng, một lỗi lầm. Bởi vậy, khi tha thứ, ta không cần giả vờ rằng điều người kia làm không quan trọng. Ta chỉ từ chối đóng vai Thiên Chúa để tuyên án toàn bộ con người họ.
Một trong những điều khó nhất của tha thứ là buông quyền được trả thù. Có những lúc ta muốn công lý nhưng thực ra dưới chữ “công lý” là một ước muốn rất kín: mong người ấy phải đau giống như mình đã đau. Ta muốn nghe tin họ thất bại. Muốn họ bị người khác đối xử như họ từng đối xử với ta. Thậm chí đôi lúc miệng đọc kinh nhưng trong lòng lại nghĩ: “Rồi Chúa sẽ phạt nó.” Đó không hẳn là phó thác cho công lý Thiên Chúa; nhiều khi chỉ là nhờ Thiên Chúa trả thù hộ. Nhưng Đức Kitô trên Thánh Giá không nói: “Lạy Cha, xin cho họ nếm mùi đau đớn này.” Người nói: “Xin tha cho họ.” Đây là đỉnh cao mà ta không thể đạt tới nếu không có ân sủng.
Tha thứ vì thế không phải biểu hiện của yếu đuối. Người yếu có thể trả đũa rất nhanh. Tha thứ cần một sức mạnh khác. Người yếu cần nhìn kẻ thù khổ mới thấy mình hả dạ. Người mạnh có thể buông xuống. Người yếu bị người khác điều khiển bằng một lời xúc phạm; người mạnh có thể nghe lời xúc phạm mà không để nó định nghĩa mình. Tha thứ cũng không có nghĩa là thiếu lòng tự trọng. Đức Giêsu rất hiền lành nhưng không nhu nhược. Khi bị một người thuộc hạ vị thượng tế vả mặt, Người hỏi: nếu tôi nói sai, hãy chứng minh điều sai; còn nếu tôi nói đúng, sao lại đánh tôi? Người bảo vệ sự thật nhưng không trả bằng một cái tát khác. Đó là sự khác biệt giữa công lý và trả thù.
Trong đời sống cộng đoàn cũng vậy. Một giáo xứ, một hội đoàn, một cộng đoàn tu trì, thậm chí một nhóm nhỏ có thể có đủ kinh nguyện, phụng vụ, hoạt động và chương trình, nhưng nếu không có khả năng tha thứ, cộng đoàn ấy từ từ trở thành một nơi ngột ngạt. Người ta không nói thẳng với nhau nhưng nói về nhau. Một lỗi cũ được nhắc đi nhắc lại. Một người đã thay đổi nhưng mãi mãi vẫn bị nhìn qua quá khứ. Ta nói rằng Thiên Chúa tha tội, nhưng ta không cho người anh em quyền bắt đầu lại. Có khi người ấy đã xưng tội, Chúa đã tha, nhưng cộng đoàn vẫn chưa tha. Chúa đã ném tội lỗi họ xuống đáy biển, còn ta cứ lặn xuống tìm lên. Thử hỏi như thế ta có thực sự tin vào quyền năng của lòng thương xót hay không?
Nhiều người trong chúng ta cần học cách để người khác được có một quá khứ mà không bị nhốt mãi trong quá khứ ấy. Chúng ta cũng cần điều đó cho chính mình. Có khi người khó tha nhất không phải là một người bên ngoài mà là chính bản thân ta. Ta đã xưng một tội từ lâu, linh mục đã ban phép giải, nhưng ta vẫn không tha cho mình. Ta nhớ những lựa chọn sai. Ta tiếc một thời tuổi trẻ. Ta ân hận vì đã làm đau người thân. Ta mang mặc cảm về một biến cố không sửa được nữa. Ta tin Chúa có thể tha cho cả thế giới nhưng không chắc Người tha nổi mình. Khi ấy hãy nhìn Thánh Giá. Máu Đức Kitô không chảy cho “những người khác”; máu ấy cũng chảy cho ta. Nếu Thiên Chúa đã tha, ta là ai mà tiếp tục tuyên án mình? Ăn năn là cần. Đền bù những gì có thể đền bù là cần. Học bài học từ quá khứ là cần. Nhưng tự hành hạ mình vô tận không phải là khiêm nhường; đôi khi đó là một cách không tin vào sức mạnh của ơn cứu chuộc.
Chúa không bảo ta gọi tội lỗi là chuyện nhỏ. Chính vì tội nghiêm trọng nên Thánh Giá mới nghiêm trọng. Nhưng Thánh Giá nói rằng không có tội nào lớn hơn lòng thương xót của Thiên Chúa nếu con người thật lòng trở về. Phêrô đã chối Chúa ba lần nhưng không bị nhốt cả đời trong cái sân nhà thượng tế. Ông khóc, ông trở về và Chúa trao cho ông đoàn chiên. Phaolô từng bắt bớ Hội Thánh nhưng ân sủng biến ông thành Tông đồ dân ngoại. Người trộm lành có cả một đời đầy sai lầm, nhưng chỉ vài giờ trước khi chết đã quay sang Đức Giêsu và nghe lời hứa về thiên đàng. Trong Thiên Chúa, quá khứ có trọng lượng nhưng không có quyền lực tuyệt đối. Ân sủng có thể mở một tương lai mà tội lỗi tưởng đã đóng lại.
Cũng cần nói đến một sự tha thứ khác: tha thứ cho Thiên Chúa, nếu có thể dùng cách nói của con người như vậy. Dĩ nhiên Thiên Chúa không làm điều gì sai để cần chúng ta tha. Nhưng có những người trong đau khổ đã giận Chúa. “Tại sao Chúa để chuyện này xảy ra? Tại sao Chúa không cứu con tôi? Tại sao con cầu nguyện mà Chúa im lặng? Tại sao người tốt lại đau khổ, còn kẻ gian ác lại bình an?” Những câu hỏi ấy đôi khi làm người ta xa Chúa nhiều năm. Họ không dám nói ra vì sợ mang tội, nhưng trong lòng có một sự trách móc âm thầm. Chính Đức Giêsu trên Thánh Giá cho phép ta mang những câu hỏi ấy đến trước Chúa Cha. Người cũng đã đi qua kinh nghiệm của sự tối tăm. Đức tin trưởng thành không phải là không bao giờ hỏi “tại sao”; đức tin trưởng thành là giữa khi không có câu trả lời vẫn giữ một sợi dây với Thiên Chúa: “Lạy Cha, con không hiểu, nhưng con vẫn phó mình trong tay Cha.”
Có những sự việc trong cuộc đời không thể giải thích bằng vài câu thần học. Đứng trước nỗi đau quá lớn, đôi khi điều tử tế nhất là im lặng. Nhưng Thánh Giá cho ta một điều chắc chắn: Thiên Chúa không đứng bên ngoài đau khổ để giảng bài cho con người. Người đã đi vào trong nó. Người đã bị phản bội, bị kết án, bị cô đơn, bị tra tấn, bị giết. Khi một người khóc, họ có thể nhìn lên Thánh Giá và nói: “Ít nhất Chúa hiểu.” Và đôi khi được hiểu đã là khởi đầu của chữa lành.
Sự tha thứ trên Thánh Giá còn mở ra một con đường cho xã hội. Một xã hội chỉ biết trả đũa sẽ không bao giờ chữa lành được những vết thương lịch sử. Một gia đình truyền lại hận thù cho con cháu sẽ kéo dài cuộc chiến của những người đã chết. Một thế hệ kể cho thế hệ sau chỉ để nuôi giận dữ sẽ biến quá khứ thành nhà tù của tương lai. Nhớ lại sự thật là cần. Công lý là cần. Trách nhiệm là cần. Nhưng nếu ký ức không được thanh luyện bởi lòng thương xót, nó có thể trở thành kho vũ khí. Kitô giáo không kêu gọi mất trí nhớ lịch sử; Kitô giáo kêu gọi ký ức được cứu chuộc. Ta nhớ để đừng tái phạm, chứ không nhớ để tiếp tục ghét.
Và có lẽ điều đau nhất là nhiều cuộc chiến lớn của nhân loại bắt đầu từ những cuộc chiến rất nhỏ trong lòng người: tôi không chịu thua, tôi phải chứng minh mình đúng, tôi phải trả lại điều người ta đã làm cho tôi. Thánh Giá đứng giữa thế giới như một dấu hỏi cho toàn bộ logic ấy. Đức Giêsu có thực sự thất bại khi tha thứ không? Nhìn bề ngoài, Người chết. Nhưng hai ngàn năm qua, đế quốc đóng đinh Người đã biến mất, còn lời “Lạy Cha, xin tha cho họ” vẫn được đọc trên khắp thế giới. Hận thù có thể thắng trong một ngày; tình yêu mới có tiếng nói cuối cùng.
Mỗi Thánh lễ thực ra đều đưa chúng ta trở về Canvê. Ta đứng dưới Thánh Giá, nhận lấy Mình và Máu của Đấng đã tha cho kẻ đóng đinh Người. Rồi ta ra về. Thật là một nghịch lý nếu ta vừa đón nhận lòng thương xót vô hạn mà bước khỏi nhà thờ lại tiếp tục nuôi một mối hận không chịu buông. Có lẽ trước mỗi lần lên rước lễ, ta nên để Chúa hỏi nhỏ: “Trong lòng con còn ai con không muốn tha không?” Không phải để ta sợ hãi, nhưng để Thánh Thể thực sự trở thành sức mạnh biến đổi. Có những sự tha thứ vượt sức con người. Khi ấy ta cần rước lấy chính Đức Kitô, để Người tha trong ta điều ta không thể tha bằng sức riêng mình.
Một lời cầu nguyện rất đơn sơ có thể bắt đầu thế này: “Lạy Chúa Giêsu, con không muốn ghét người ấy nữa. Nhưng con chưa đủ sức yêu. Xin Chúa đứng giữa con và họ. Xin Chúa nhận lấy cơn giận của con. Xin chữa những gì họ đã làm tổn thương trong con. Xin cho con không làm người khác đau chỉ vì con từng bị đau. Xin cho ký ức của con được thanh luyện. Và nếu hôm nay con chưa thể cầu xin điều tốt đẹp cho họ, ít nhất xin đừng để con cầu điều dữ cho họ.” Ta cứ cầu như vậy. Không cần giả vờ. Chúa không sợ sự thật của lòng ta. Đôi khi sau nhiều tháng hoặc nhiều năm, một ngày ta bất ngờ nhận ra rằng khi nghe tên người ấy lòng mình không còn thắt lại như trước. Ta không quên, nhưng ta tự do. Đó là một phép lạ thầm lặng.
Có những phép lạ không làm người què đứng lên ngay giữa nhà thờ. Có những phép lạ xảy ra trong một căn phòng mà không ai biết: một người con quyết định gọi điện cho cha sau mười năm không nói chuyện; một người vợ thôi nhắc lại lỗi cũ của chồng trong mỗi cuộc cãi vã; hai anh em bắt tay nhau sau cuộc tranh chấp kéo dài; một người đến bên giường bệnh của người từng làm mình đau và nói: “Chuyện cũ, mình để lại đi”; một người quỳ trước Thánh Giá và lần đầu tiên có thể đọc tên kẻ đã xúc phạm mình mà không nguyền rủa. Những điều ấy cũng là phép lạ. Và nhiều khi đó là những phép lạ khó hơn cả chữa một căn bệnh thể lý.
Đừng hiểu lầm rằng người tha thứ sẽ luôn cảm thấy nhẹ ngay lập tức. Có lúc sau khi quyết định tha, ta vẫn đau. Quyết định của ý chí đi trước, cảm xúc đi sau. Ta có thể nói: “Tôi tha” nhưng ngày mai vẫn khóc. Điều ấy bình thường. Tha thứ không phải là một cảm giác ngọt ngào; trước hết là một lựa chọn. Tôi chọn không trả thù. Tôi chọn không nói xấu. Tôi chọn không nuôi những tưởng tượng độc ác. Tôi chọn trao công lý cho Thiên Chúa và những cơ chế chính đáng. Tôi chọn cầu xin được chữa lành. Rồi cảm xúc từ từ học theo quyết định ấy.
Cũng đừng dùng lời mời gọi tha thứ để ép những người bị tổn thương quay trở lại ngay với người đang tiếp tục gây hại. Có những trường hợp phải giữ khoảng cách. Có những tương quan cần giới hạn rõ ràng. Có những hành vi nghiêm trọng cần được báo cáo cho người có trách nhiệm và xử lý theo công lý. Người Kitô hữu tha thứ nhưng không cổ vũ cho sự lạm dụng. Đức ái không đồng nghĩa với ngây thơ. Chúa Giêsu bảo chúng ta hiền lành như chim bồ câu nhưng cũng khôn ngoan. Tha thứ giải phóng trái tim khỏi hận thù; nó không bắt trái tim giao mình lại cho cùng một sự nguy hiểm mà không có dấu hiệu thay đổi.
Điều quan trọng nhất là đừng để người làm ta đau làm ta xa Thiên Chúa. Có khi một Kitô hữu bị chính một người trong Giáo Hội làm tổn thương và từ đó bỏ lễ, bỏ cầu nguyện, bỏ luôn Chúa. Thế là người gây vết thương đã lấy của ta nhiều hơn họ đáng được lấy. Họ làm ta đau một lần, nhưng ta vì họ mà mất nguồn chữa lành. Đừng trao cho bất kỳ ai quyền ấy. Một linh mục có thể làm ta thất vọng, một tu sĩ có thể làm ta tổn thương, một người đạo đức có thể cư xử sai, một cộng đoàn có thể bất công. Nhưng Đức Kitô không phải lỗi lầm của những người mang danh Người. Hãy đi thẳng đến Thánh Giá. Hãy nói với Chúa tất cả. Chính nơi cộng đoàn đôi khi làm ta đau, nhưng chính nơi Đức Kitô ta tìm được sức để không cho vết đau biến thành cay đắng.
Người ta thường nói thời gian chữa lành mọi vết thương. Không hoàn toàn đúng. Thời gian chỉ làm vết thương cũ đi. Có những vết thương sau ba mươi năm vẫn đau nguyên nếu chưa bao giờ được chữa. Điều chữa lành là sự thật, tình yêu, ân sủng, sự tha thứ và đôi khi cả sự trợ giúp của những người khôn ngoan. Thời gian chỉ là khoảng không để những điều ấy có thể làm việc. Ta có thể sống rất lâu nhưng vẫn mang trái tim bị kẹt ở một ngày trong quá khứ. Chúa muốn dẫn ta ra khỏi ngày đó.
Có lẽ mỗi người nên một lần thật sự ngồi dưới chân Thánh Giá và hỏi: “Ai là người tôi vẫn đang giữ trên cây thập giá của lòng mình?” Có ai mà mỗi lần nhắc đến, tôi lại kể tất cả lỗi của họ? Có ai mà tôi không cho quyền thay đổi? Có ai mà tôi mong họ phải đau? Có ai mà dù Chúa tha rồi, tôi vẫn muốn kết án? Và cũng hỏi thêm: “Có người nào đang phải vác thập giá vì tôi không?” Có người nào bị thương bởi lời tôi nói? Có ai chờ một lời xin lỗi của tôi nhiều năm? Đừng chỉ đọc bài này và nghĩ đến những người phải xin lỗi mình. Đôi khi ta cần đứng ở phía bên kia câu chuyện.
Chúa Giêsu nói: “Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ mà nhớ ra người anh em đang có chuyện bất bình với anh, hãy để của lễ lại đó, đi làm hòa với người anh em trước đã” (x. Mt 5,23-24). Chúa không nói: nếu con nhớ ra con đang giận ai. Người nói: nếu con nhớ ra người anh em đang có chuyện bất bình với con. Nghĩa là Tin Mừng đòi ta không chỉ xem xét những vết thương mình nhận, nhưng cả những vết thương mình gây ra. Có những người đang không thể bình an vì một câu của ta. Có người con vẫn nhớ lời cha mẹ từng mắng: “Mày chẳng làm nên trò trống gì đâu.” Có người vợ cả đời mang mặc cảm vì những lời chồng dùng để hạ thấp. Có người tu sĩ mất tự tin vì một lời người có trách nhiệm nói trong lúc nóng giận. Có người đã rời cộng đoàn vì cảm thấy mình bị làm nhục. Có những lời ta quên rồi nhưng người khác chưa quên.
Vậy nên dưới Thánh Giá, ngoài lời “con tha”, còn cần lời “xin tha cho con”. Đó là hai cánh cửa của hòa giải. Người trưởng thành thiêng liêng không chỉ biết đòi lời xin lỗi; họ cũng biết xin lỗi. Và một lời xin lỗi thật bao giờ cũng khó. Nó không kèm chữ “nhưng”: “Tôi xin lỗi, nhưng tại anh trước.” Đó chưa phải xin lỗi. Xin lỗi thật là: “Tôi đã làm bạn đau. Điều ấy là sai. Tôi không biện minh. Tôi xin lỗi. Nếu có thể, xin cho tôi biết tôi cần làm gì để sửa lại.” Có những gia đình sẽ được cứu chỉ bởi một câu như thế. Có những cuộc hôn nhân sẽ không tan nếu một người chịu nói câu ấy trước khi quá muộn.
Ở tận cùng, tha thứ là bước vào trái tim của Chúa. Ta càng đến gần Thánh Giá, ta càng hiểu lòng thương xót không phải một phụ kiện của Kitô giáo. Nó là trung tâm. Đức Giêsu không chỉ giảng về tha thứ; Người chết trong tư thế tha thứ. Tay Người bị đóng mở rộng như ôm lấy cả kẻ giết mình. Trái tim Người bị đâm thâu nhưng không khép lại. Máu Người rơi xuống đất nơi những kẻ vừa đóng đinh Người đang đứng. Thiên Chúa thật lạ lùng: con người dùng cây gỗ để giết Con Ngài, Ngài dùng chính cây gỗ ấy để cứu con người; con người lấy đinh đóng Người, Người lấy những lỗ đinh ấy làm chứng tích tình yêu; con người đổ máu Người, Người dùng Máu ấy rửa tội con người.
Nếu chỉ có công lý lạnh lùng, không ai đứng nổi dưới Thánh Giá. Nhưng Thánh Giá là nơi công lý và lòng thương xót gặp nhau. Tội không bị coi nhẹ: cái giá của nó là máu Con Thiên Chúa. Nhưng tội nhân cũng không bị hủy diệt: chính máu ấy được đổ ra để cứu họ. Do đó sự tha thứ Kitô giáo không phải là một thứ dễ dãi “thôi cho qua”. Nó rất đắt. Có khi người tha phải chết đi một phần tự ái của mình. Phải từ bỏ quyền kể đi kể lại câu chuyện để được người khác đứng về phía mình. Phải chấp nhận không phải lúc nào mình cũng nhận được một lời xin lỗi tương xứng. Phải chôn đi ước muốn trả thù. Đó là lý do tha thứ có hình dáng của Thánh Giá.
Nhưng bên kia Thánh Giá là Phục Sinh. Người tha thứ không mất; người ấy được tự do. Người buông thù hận không thua; người ấy lấy lại đời mình. Có những người đã làm ta mất tiền, mất danh dự, mất thời gian, mất cơ hội. Đừng để họ lấy thêm bình an. Đừng để họ lấy luôn khả năng yêu thương. Đừng để họ biến ta thành phiên bản cay độc của chính họ. Nếu họ đã làm ta đau, hãy để cái đau dừng lại ở ta. Đừng truyền nó cho con cái. Đừng ném nó lên người bạn đời. Đừng trút nó lên cộng đoàn. Đừng lấy vết thương mình làm giấy phép để làm người khác đau.
Có một thứ di sản rất đẹp cha mẹ có thể để lại cho con cái: một gia đình biết xin lỗi và tha thứ. Con trẻ không cần cha mẹ hoàn hảo. Chúng cần thấy cha có thể nói với mẹ: “Anh sai rồi, anh xin lỗi.” Chúng cần thấy mẹ có thể nói với con: “Lúc nãy mẹ nóng quá, mẹ nói lời làm con đau, mẹ xin lỗi.” Những đứa trẻ lớn lên trong một căn nhà nơi người lớn biết xin lỗi sẽ học được rằng sai lầm không phải tận thế, rằng yêu thương lớn hơn tự ái, rằng một mối quan hệ có thể được chữa lành. Ngược lại, nơi người lớn không bao giờ nhận sai, trẻ sẽ học cách đổ lỗi hoặc sống trong mặc cảm.
Và rồi sẽ có một ngày chính chúng ta cần được người khác tha. Sẽ có ngày ta nhìn lại đời mình và nhận ra bao điều lẽ ra phải làm khác. Khi ấy ta sẽ hiểu tại sao Tin Mừng của sự tha thứ lại quý đến thế. Không ai muốn cuối đời đứng trước một Thiên Chúa chỉ có cuốn sổ ghi tội mà không có lòng thương xót. Ta muốn nghe lời của Đức Kitô. Ta muốn được nhìn bằng ánh mắt đã nhìn Phêrô sau ba lần chối Chúa. Ta muốn nghe lời như người trộm lành: hôm nay anh sẽ ở với tôi. Ta muốn được tha. Nếu ta muốn nhận lòng thương xót ấy, ngay từ hôm nay hãy để lòng thương xót đi qua đời ta đến với người khác.
Có thể hôm nay người đọc những dòng này đang mang một cái tên trong lòng. Một người mà nghĩ tới là đau. Đừng ép mình làm những điều vượt sức ngay. Chỉ cần cầm lấy Thánh Giá. Nhìn Đức Giêsu. Hãy tưởng tượng giữa tiếng búa, tiếng chế giễu, máu và đau đớn, Người nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Rồi nói với Người: “Lạy Chúa, con chưa làm được như Chúa. Nhưng con muốn học. Xin cho con mượn trái tim của Chúa.” Đó đã là khởi đầu.
Có thể ngày mai vết thương lại đau. Hãy trở lại. Ngày kia lại giận. Hãy trở lại. Tha một lần chưa đủ thì tha thêm một lần. Không phải vì người kia xứng đáng hơn hôm qua, nhưng vì ta muốn thuộc về Chúa hơn hôm qua. Đến một lúc nào đó, ta sẽ nhận ra rằng cái tên ấy không còn quyền làm ta mất ngủ. Ta có thể nhớ mà không nguyền rủa. Có thể cầu nguyện mà không giả tạo. Có thể nói: “Lạy Chúa, xin dẫn họ về đường tốt.” Và khi ta cầu được như thế, cây thập giá trong đời ta bắt đầu trở thành Thánh Giá.
Cuối cùng, mỗi Kitô hữu đều phải học bài học này vì chúng ta theo một Đấng chịu đóng đinh. Không có Kitô giáo không Thánh Giá, và cũng không có Thánh Giá Kitô giáo mà không có tha thứ. Nếu trên cổ ta đeo một cây Thánh Giá nhưng trong lòng treo một người anh em để kết án mãi mãi, ta cần tự hỏi mình đã hiểu Thánh Giá chưa. Nếu trong nhà ta có tượng Chúa chịu nạn nhưng nhiều năm ta không nói với một người thân vì tự ái, cây Thánh Giá ấy đang âm thầm chất vấn ta. Nếu mỗi ngày ta làm dấu Thánh Giá nhân danh Cha và Con và Thánh Thần mà vẫn nuôi một mối thù, dấu Thánh Giá ấy mời ta đi sâu hơn.
Một ngày nào đó, tất cả chúng ta sẽ chết. Những cuộc tranh hơn thua hôm nay rồi sẽ nhỏ lại. Những điều ta từng nghĩ không thể bỏ qua có thể trở nên rất nhỏ trước ngưỡng cửa vĩnh cửu. Khi nằm trên giường cuối đời, ta sẽ không ước mình đã giận lâu hơn. Ta sẽ không tiếc rằng mình đã tha quá sớm. Ta sẽ chỉ tiếc những lời yêu thương không kịp nói, những cuộc điện thoại không kịp gọi, những cái ôm đã trì hoãn, những lời xin lỗi để quá muộn. Vậy thì nếu hôm nay còn có thể, sao không bắt đầu?
Thánh Giá vẫn đứng đó. Hai cánh tay Đức Kitô vẫn mở. Trái tim bị đâm thâu vẫn mở. Và từ đỉnh Canvê, lời cầu nguyện năm xưa vẫn rơi xuống thế giới đầy chia rẽ của chúng ta: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Ước gì lời ấy không chỉ là một câu Tin Mừng ta nghe trong Tuần Thánh, nhưng trở thành nhịp đập trong đời sống Kitô hữu. Xin cho những ai đang bị tổn thương tìm được sức để không biến đau khổ thành hận thù. Xin cho những ai đã gây tổn thương có can đảm xin lỗi và sửa đổi. Xin cho những gia đình đang chia rẽ biết bước qua tự ái để tìm lại nhau. Xin cho những cộng đoàn đang mang những vết thương cũ được chữa lành. Và xin cho mỗi chúng ta, trước khi khép lại cuộc đời, có thể buông xuống những món nợ của lòng mình, để ra đi với đôi tay nhẹ nhàng.
Bởi cuối cùng, trước mặt Thiên Chúa, ta chẳng mang theo được bao nhiêu. Tiền bạc để lại. Danh vọng để lại. Nhà cửa để lại. Những cuộc tranh thắng thua cũng để lại. Chỉ có tình yêu đi theo ta. Và có lẽ một trong những hành động yêu thương lớn nhất đời người chính là có một ngày, giữa những giọt nước mắt thật sự của mình, ta nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh và nói: “Lạy Chúa, vì Chúa đã tha cho con, hôm nay con cũng xin tha. Con không muốn mang người ấy như một món nợ đến tận mồ. Con trả họ lại cho Chúa. Xin Chúa xét xử bằng công lý của Chúa, nhưng xin cho lòng con được sống bằng lòng thương xót của Ngài.”
Khi nói được như thế, ta không còn đứng xa Thánh Giá nữa. Ta đã bắt đầu bước vào mầu nhiệm của Thánh Giá. Và nơi tưởng chỉ có mất mát, ta tìm thấy tự do; nơi tưởng chỉ có đau thương, ta gặp lòng thương xót; nơi tưởng chỉ có sự chết, một đời sống mới bắt đầu. Bởi vì lời cuối cùng của Thánh Giá không phải là hận thù. Lời cuối cùng của Thánh Giá là tình yêu. Và một trong những tên đẹp nhất của tình yêu ấy chính là tha thứ.
Lm. Anmai, CSsR.

THÁNH GIÁ VÀ SỰ THA THỨ – “LẠY CHA, XIN THA CHO HỌ”
Có lẽ trong tất cả những lời Chúa Giêsu nói từ trên Thánh Giá, không lời nào làm cho lòng người bối rối và cũng không lời nào đẹp đến nhói lòng cho bằng lời này: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đó không phải là lời của một người đang đứng ngoài cuộc đau khổ để khuyên người khác hãy quảng đại. Đó là lời của một người vừa bị phản bội, bị bỏ rơi, bị vu cáo, bị kết án bất công, bị đánh đòn, bị đội mão gai, bị nhạo báng, bị lột áo, bị đóng đinh và đang phải thở từng hơi đau đớn trên cây gỗ. Đó không phải là lời được nói ra sau nhiều năm vết thương đã lành, khi kỷ niệm đã phai và lòng đã nguôi. Đó là lời được nói ngay giữa lúc những chiếc đinh còn nằm trong tay chân, máu còn chảy, tiếng chế nhạo còn vang bên tai và những kẻ gây ra tất cả đau khổ ấy vẫn đang đứng ở đó. Chính vào lúc con người thường dễ nguyền rủa nhất, Đức Giêsu lại cầu xin. Chính vào lúc con người dễ trả đũa nhất, Người lại tha thứ. Chính vào lúc dường như Người có đủ lý do để nói: “Lạy Cha, xin xử công bằng với họ”, Người lại nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Và từ khoảnh khắc ấy, Thánh Giá trở thành trường học lớn nhất về sự tha thứ. Không phải trường học của những lời nói đẹp, nhưng là trường học được viết bằng máu. Không phải bài học cho những người chưa bao giờ bị tổn thương, nhưng là Tin Mừng cho tất cả những ai đang mang trong mình một vết thương vì người khác.
Thật ra, nói về tha thứ thì dễ. Khi mình chưa bị ai phản bội, chưa bị ai xúc phạm, chưa bị ai lấy mất danh dự, chưa bị người mình thương làm cho tan nát, chưa bị những lời vu khống đẩy vào ngõ cụt, ta có thể nói rất hay về lòng quảng đại. Ta có thể bảo người khác rằng hãy bỏ qua, hãy quên đi, hãy sống cao thượng. Nhưng khi chính mình là người bị tổn thương, mọi lý thuyết bỗng trở nên nặng nề. Khi người làm ta đau lại là người ta từng tin tưởng; khi bàn tay đâm ta lại là bàn tay ta từng nắm; khi lời làm ta khóc lại phát ra từ đôi môi từng nói rằng thương ta; khi người bỏ rơi ta lại là người đã từng hứa sẽ không bao giờ bỏ ta, lúc đó tha thứ không còn là một khẩu hiệu đạo đức nữa. Tha thứ trở thành một thập giá. Có những vết thương người ngoài nhìn vào thấy rất nhỏ nhưng người trong cuộc phải mang hàng chục năm. Có những câu nói chỉ mất vài giây để thốt ra nhưng mất cả đời người mới chữa lành. Có những phản bội xảy ra một lần nhưng ký ức của nó trở về cả ngàn lần. Có những người vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn làm việc, vẫn cười với mọi người, nhưng trong một góc rất sâu của tâm hồn vẫn có một cái tên mà chỉ cần nhớ đến là lòng lại đau. Có người không còn gặp kẻ đã làm mình tổn thương nữa, nhưng người ấy vẫn sống trong trí nhớ mình mỗi ngày. Người kia đã đi khỏi cuộc đời ta, nhưng vết thương họ để lại vẫn ở trong ta. Và đáng sợ nhất là có khi người làm ta đau đã quên từ lâu, trong khi ta vẫn tiếp tục tự làm đau mình bằng cách nhớ lại.
Bởi vậy, khi Giáo Hội đặt trước mắt chúng ta Đức Kitô chịu đóng đinh và cho chúng ta nghe lời Người: “Lạy Cha, xin tha cho họ”, Giáo Hội không đưa ra một lời khuyên dễ dãi. Giáo Hội chỉ cho chúng ta nhìn vào nơi sâu nhất của Tin Mừng. Kitô giáo không phải là tôn giáo của sự trả thù. Kitô giáo không dạy người môn đệ phải thắng bằng cách nghiền nát kẻ thù. Chúa Giêsu thắng sự dữ không bằng cách sử dụng một thứ bạo lực mạnh hơn sự dữ, nhưng bằng một tình yêu mạnh hơn hận thù. Người không phá vòng tròn của bạo lực bằng một cú đánh mạnh hơn, nhưng bằng sự tha thứ. Đó chính là điều làm Thánh Giá khác với mọi cây thập tự khác trên đồi Canvê hôm ấy. Có ba người bị đóng đinh, nhưng chỉ có một người biến nơi hành hình thành nơi cứu độ. Không phải vì những chiếc đinh khác nhau, không phải vì cây gỗ khác nhau, nhưng vì trên cây Thánh Giá ở giữa có một trái tim vẫn yêu giữa lúc bị ghét, vẫn cầu nguyện giữa lúc bị nguyền rủa và vẫn tha thứ giữa lúc bị giết.
Đoạn Tin Mừng theo thánh Luca kể lại cảnh ấy thật ngắn mà đau xé lòng: khi đến nơi gọi là Đồi Sọ, người ta đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá cùng với hai tên gian phi, một người bên phải và một người bên trái. Và giữa lúc mọi sự dữ tưởng như đang chiến thắng, Chúa Giêsu thưa cùng Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (x. Lc 23,33-34). Hãy thử đứng lại thật lâu trước câu Tin Mừng này. Ai là “họ”? Là những người lính vừa đóng đinh Người? Là những kẻ đã vu cáo Người? Là đám đông từng hô “Hoan hô” rồi ít ngày sau lại gào “Đóng đinh nó đi”? Là các thủ lãnh đã tìm cách loại trừ Người? Là Philatô biết Người vô tội nhưng vẫn trao Người cho người ta giết vì sợ mất vị trí? Là Giuđa đã bán Người? Là Phêrô đã chối Người? Là các môn đệ đã bỏ chạy? Có lẽ chữ “họ” rộng hơn tất cả những khuôn mặt ấy. “Họ” là cả nhân loại. “Họ” là mỗi chúng ta. Bởi vì tội lỗi của con người đã đặt Con Thiên Chúa lên Thánh Giá, nhưng từ trên chính Thánh Giá ấy, Con Thiên Chúa không xin Cha tiêu diệt nhân loại. Người xin Cha tha thứ cho nhân loại.
Chúng ta thường nghĩ rằng tha thứ bắt đầu từ người bị xúc phạm. Nhưng trên Canvê, Đức Giêsu cho thấy tha thứ trước hết bắt đầu từ Thiên Chúa. Trước khi chúng ta học tha cho người khác, chúng ta phải nhận ra mình là những người đã được tha. Đây là điều rất quan trọng. Một người chỉ nhìn mình như nạn nhân rất khó tha thứ. Nhưng khi người ấy nhận ra rằng mình cũng đã từng làm người khác đau, đã từng ích kỷ, từng nói sai, từng nóng giận, từng bất công, từng làm tổn thương những người yêu thương mình, người ấy sẽ bớt khắt khe hơn. Không ai trong chúng ta chỉ là người bị thương. Nhiều khi ta cũng là người gây thương tích. Ta có thể rất đau vì người khác nói một lời xúc phạm mình, nhưng lại quên những lời mình từng nói làm đau người khác. Ta đòi người khác phải hiểu hoàn cảnh của mình nhưng không muốn hiểu hoàn cảnh của họ. Ta muốn Thiên Chúa kiên nhẫn với mình nhưng lại muốn Ngài xử ngay người làm mình đau. Ta xin Chúa tha thứ tội mình mỗi ngày nhưng đôi khi giữ chặt tội của người khác trong ký ức hàng chục năm.
Kinh Lạy Cha chúng ta đọc có một lời nguy hiểm vô cùng nếu đọc mà không suy nghĩ: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.” Có nghĩa là mỗi lần đọc Kinh Lạy Cha, ta đang đặt sự tha thứ dành cho người khác ngay bên cạnh lời cầu xin Thiên Chúa tha thứ cho mình. Chúa Giêsu đã nói rất rõ về điều ấy. Người kể dụ ngôn một người đầy tớ được chủ tha một món nợ khổng lồ, nhưng vừa bước ra khỏi cửa lại bóp cổ người bạn chỉ mắc mình một món nợ nhỏ hơn rất nhiều. Ta đọc dụ ngôn ấy và thấy người đầy tớ thật vô lý. Nhưng đôi khi ta chính là người đó. Trước mặt Thiên Chúa, ta xin lòng thương xót vô hạn. Đối với người khác, ta lại dùng cân tiểu ly để cân từng lỗi lầm. Với mình, ta muốn Chúa nhìn đến hoàn cảnh; với người khác, ta chỉ nhìn hành vi. Với mình, ta muốn Chúa nhớ những việc tốt; với người khác, ta nhớ mãi một điều xấu. Với mình, ta nói: “Con yếu đuối mà”; với người khác, ta nói: “Con người đó là vậy rồi, không thay đổi được đâu.”
Thánh Giá phá vỡ thứ đạo đức hai tiêu chuẩn ấy. Đứng dưới Thánh Giá, ta không còn quyền tự xem mình là người hoàn toàn vô tội đối diện với những kẻ hoàn toàn có tội. Dưới chân Thánh Giá chỉ có những con người cần lòng thương xót. Người nhiều, kẻ ít. Người lỗi kiểu này, kẻ lỗi kiểu khác. Nhưng tất cả đều sống nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa. Chính vì thế, tha thứ không có nghĩa là ta bảo rằng điều người khác làm là đúng. Tha thứ không phải gọi bóng tối là ánh sáng, gọi phản bội là trung thành, gọi bất công là công lý. Đức Giêsu tha thứ cho những người đóng đinh Người nhưng Người không nói rằng đóng đinh người vô tội là đúng. Tha thứ không xóa sự thật. Tha thứ làm cho sự thật không biến thành vũ khí trả thù. Ta vẫn có thể nói: “Điều anh làm đã khiến tôi đau.” Ta vẫn có thể bảo vệ mình. Ta vẫn có thể đặt một ranh giới cần thiết. Ta vẫn có thể tìm công lý. Ta vẫn có thể yêu cầu người gây thiệt hại chịu trách nhiệm. Tha thứ không buộc một người phải tiếp tục ở trong một tương quan đang phá hủy họ. Tha thứ cũng không đồng nghĩa với việc phải tin tưởng ngay lập tức trở lại. Tin tưởng có thể mất chỉ trong vài phút nhưng cần nhiều năm để xây dựng lại. Tha thứ là một quyết định của lòng yêu thương; hòa giải là công việc cần hai phía. Có khi tôi tha cho người kia nhưng người kia không hối cải, không xin lỗi, không thay đổi. Khi ấy sự hòa giải trọn vẹn chưa thể xảy ra, nhưng trái tim tôi vẫn có thể được giải thoát khỏi hận thù.
Đây là điểm nhiều người nhầm lẫn. Có người nói: “Tôi không thể tha vì người ấy chưa xin lỗi.” Nhưng nếu sự bình an của tôi hoàn toàn tùy thuộc vào việc người làm tôi đau có chịu xin lỗi hay không, thì tôi đã trao chìa khóa tâm hồn mình cho họ. Họ xin lỗi thì tôi được bình an; họ không xin lỗi thì tôi phải khổ suốt đời. Chúa Giêsu trên Thánh Giá không chờ những người đóng đinh Người quỳ xuống xin lỗi rồi mới cầu xin Chúa Cha tha thứ. Người đi bước trước. Tha thứ Kitô giáo luôn có một phần như thế: tôi không đợi người kia trở nên xứng đáng rồi mới thôi hận họ. Tôi tha không phải vì họ xứng đáng, nhưng vì tôi không muốn sự dữ họ gây ra tiếp tục sinh thêm sự dữ trong lòng tôi. Tôi tha bởi vì tôi muốn được tự do. Tôi tha bởi vì tôi thuộc về Đức Kitô chứ không thuộc về vết thương của mình.
Có một kiểu giam cầm rất lạ: người làm ta tổn thương không cần nhốt ta trong căn phòng nào cả. Chỉ cần ta không thể tha, họ đã có thể ở trong đầu ta ngày đêm. Ta đang ăn cơm cũng nhớ. Đang cầu nguyện cũng nhớ. Đang vui cũng chợt nhớ. Một câu nói của ai đó giống câu họ từng nói cũng làm vết thương sống lại. Một ngày kỷ niệm cũng làm lòng quặn đau. Ta không gặp họ mà vẫn đối thoại với họ trong đầu. Ta tưởng tượng những câu mình sẽ nói nếu gặp lại. Ta tưởng tượng một ngày họ phải trả giá. Ta mong họ thất bại để thấy mình được minh oan. Và như thế, không cần làm gì thêm, người kia vẫn điều khiển cuộc đời ta. Tha thứ là lúc ta lấy lại chìa khóa của tâm hồn. Tôi có thể nói: “Anh đã làm tôi đau, đó là sự thật. Nhưng tôi không cho phép điều anh đã làm quyết định phần còn lại của đời tôi. Tôi không cho phép vết thương của hôm qua giết chết bình an của hôm nay. Tôi trao anh cho Thiên Chúa. Công lý thuộc về Ngài. Phần tôi, tôi chọn không nuôi thù hận nữa.”
Nhưng phải nói thật rằng không phải cứ muốn là tha được ngay. Có những vết thương rất sâu. Có những người nói với một người mẹ vừa mất con vì lỗi của ai đó rằng: “Phải tha đi chứ, mình là người Công giáo mà”, câu nói ấy có thể trở thành một sự tàn nhẫn. Có những vết thương cần thời gian. Chúa không đòi ta giả vờ rằng mình không đau. Đức tin không bắt ta mỉm cười khi lòng đang vỡ. Chính Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu đã buồn đến chết được. Người đã đổ mồ hôi như máu. Người đã kêu lên trên Thánh Giá: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Đau thì có quyền nói mình đau. Khóc thì có quyền khóc. Tha thứ không có nghĩa là phủ nhận nước mắt. Có khi bước đầu của tha thứ chỉ là thành thật nói với Chúa: “Lạy Chúa, con chưa tha được. Con còn giận. Con còn đau. Chỉ cần nghe tên người ấy là con không chịu nổi. Nhưng con muốn một ngày nào đó có thể tha. Xin Chúa bắt đầu nơi con điều con chưa làm nổi.” Một lời cầu nguyện như thế đã là một bước rất lớn.
Có khi ta không thể nói ngay: “Con tha cho họ”, nhưng ta có thể bắt đầu bằng câu: “Lạy Chúa, xin đừng để con trở thành một người cay độc vì những gì họ đã làm cho con.” Rồi một ngày khác: “Lạy Chúa, xin chữa lành con.” Rồi một ngày khác nữa: “Lạy Chúa, xin cho con thôi mong điều xấu xảy đến với họ.” Và có thể sau rất nhiều ngày, rất nhiều lần xưng tội, rất nhiều Thánh lễ, rất nhiều giờ ngồi yên trước Thánh Thể, ta mới có thể nói: “Lạy Chúa, con trao người ấy cho Chúa.” Tha thứ nhiều khi không phải một giây phút mà là một con đường. Có những sáng ta tưởng mình đã tha; chiều gặp một chuyện gợi lại, lòng lại đau như cũ. Điều ấy không có nghĩa là ta thất bại. Nó chỉ có nghĩa là vết thương vẫn đang lành. Một vết thương thể lý sâu cần được băng nhiều lần. Một vết thương tâm hồn cũng vậy. Mỗi lần ký ức trở về, ta lại tha thêm một lần nữa. Có khi phải tha “bảy mươi lần bảy” không phải cho bảy mươi lần bảy lỗi khác nhau, mà cho cùng một lỗi cứ bảy mươi lần bảy lần trở lại trong trí nhớ.
Thánh Phêrô từng hỏi Chúa Giêsu: “Nếu anh em con xúc phạm đến con, con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” Phêrô tưởng bảy lần đã là quảng đại lắm. Chúa Giêsu trả lời: “Không phải đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy” (x. Mt 18,21-22). Nghĩa là đừng biến tha thứ thành một cuốn sổ kế toán. Tình yêu không ngồi đếm: lần thứ nhất, lần thứ hai, lần thứ ba, hết hạn. Điều Chúa muốn không phải là một phép tính, mà là một trái tim không cho hận thù quyền thống trị. Thế nhưng để có trái tim ấy, chúng ta phải nhìn lên Thánh Giá. Bởi tự sức mình, con người rất khó tha. Bản năng của ta là tự vệ. Bị xúc phạm, ta muốn đáp lại. Bị làm nhục, ta muốn người kia cũng phải nhục. Bị nói xấu, ta muốn nói xấu lại. Bị loại trừ, ta mong người kia cũng bị loại trừ. Hận thù có một logic rất dễ hiểu: anh làm tôi đau, tôi làm anh đau; rồi anh đau vì tôi nên anh lại làm tôi đau hơn. Và vòng tròn ấy cứ thế chạy qua gia đình, cộng đoàn, dòng họ, xã hội, thậm chí qua nhiều thế hệ.
Biết bao gia đình đã tan vỡ chỉ vì không ai chịu bước xuống trước. Hai anh em không nói chuyện với nhau hàng chục năm vì một chuyện đất đai. Hai chị em nhìn nhau như người xa lạ vì một cuộc chia gia tài. Con không về thăm cha mẹ vì một lời đã nghe từ hai mươi năm trước. Mẹ con giận nhau rồi ai cũng chờ người kia mở lời. Vợ chồng ngủ cùng một mái nhà nhưng trái tim cách nhau ngàn dặm vì những chuyện không được giải quyết. Có những đám tang mà anh chị em ruột đứng gần quan tài cha mẹ nhưng quay mặt không nhìn nhau. Có những người đến khi người kia chết rồi mới đứng trước quan tài khóc: “Giá mà hồi đó mình nói với nhau một câu.” Nhưng người chết không trả lời nữa. Cái giá của tự ái đôi khi quá đắt. Ta thắng được một cuộc cãi vã mà mất một người thân. Ta chứng minh được mình đúng mà mất một gia đình. Ta giữ được sĩ diện nhưng mất bình an. Cuối cùng thử hỏi: ai thắng?
Thánh Giá dạy chúng ta một con đường khác. Trên Canvê, Chúa Giêsu có thể chứng minh Người đúng bằng quyền năng. Người có thể bước xuống khỏi Thánh Giá. Người có thể làm cho những kẻ chế nhạo phải câm miệng. Nhưng Người chọn ở lại. Người không chiến thắng bằng cách làm cho đối phương phải xấu hổ. Người chiến thắng bằng cách không để sự dữ biến trái tim mình thành sự dữ. Đây có lẽ là chiến thắng khó nhất. Thắng một người khác đôi khi dễ. Thắng cơn giận trong chính mình mới khó. Làm người xúc phạm mình im miệng đôi khi dễ; làm cho hận thù trong lòng mình im đi mới khó. Có người rất mạnh ngoài đời nhưng bất lực trước một ký ức. Có người điều hành cả một tổ chức nhưng không điều khiển nổi cơn giận của mình. Có người nói về Tin Mừng rất hay nhưng chỉ một người không hợp ý xuất hiện là mất bình an. Chúa Giêsu trên Thánh Giá không chỉ cứu ta khỏi tội; Người còn cho ta thấy một con người hoàn toàn tự do: không ai có thể ép Người thôi yêu.
Đó là tự do mà người Kitô hữu được mời gọi. Tôi không thể quyết định người khác sẽ đối xử với tôi thế nào, nhưng tôi có thể quyết định vết thương ấy sẽ biến tôi thành người nào. Tôi không thể thay đổi quá khứ, nhưng với ơn Chúa, tôi có thể không cho quá khứ đầu độc tương lai. Tôi không thể buộc người kia phải hối cải, nhưng tôi có thể cầu nguyện để lòng mình không trở thành cái bóng của lòng họ. Nếu họ đã đối xử tàn nhẫn với tôi, tôi không cần trở thành một người tàn nhẫn để chứng minh rằng tôi mạnh. Nếu họ đã phản bội tôi, tôi không cần học phản bội. Nếu họ nói xấu tôi, tôi không cần đi khắp nơi trả đũa bằng một chiến dịch nói xấu khác. Nếu họ ném bùn vào tôi, tôi không cần cúi xuống nhặt chính bùn ấy để ném lại. Người ta ném vào ta thứ gì là lựa chọn của họ; ta giữ thứ gì trong lòng là lựa chọn của ta.
Có người hỏi: “Tha rồi có quên được không?” Có lẽ câu trả lời chân thật là nhiều khi không. Não bộ con người không có một nút bấm để xóa ký ức. Những biến cố sâu sắc vẫn ở đó. Chúa không đòi ta mắc chứng mất trí để chứng minh mình đã tha thứ. Tha thứ không phải là quên sự kiện; tha thứ là khi nhớ lại sự kiện mà không còn muốn trả thù. Vết sẹo vẫn còn nhưng không còn chảy máu. Người ta vẫn có thể nhìn thấy đường sẹo, nhưng chạm vào không còn đau như trước. Đó là dấu hiệu của sự chữa lành. Thật đẹp khi nhìn vào Đức Kitô Phục Sinh: Người sống lại nhưng các dấu đinh vẫn còn. Người không trở lại với một thân xác không có vết thương. Người cho Tôma thấy tay và cạnh sườn. Các vết thương không biến mất, nhưng chúng đã được biến đổi. Những nơi từng là dấu hiệu của bạo lực nay trở thành dấu chứng của tình yêu. Đó cũng có thể là hành trình của những vết thương trong đời ta. Ta không cần phủ nhận chúng. Ta có thể để Chúa biến những vết thương ấy thành nơi lòng thương xót được sinh ra.
Một người từng đau vì bị bỏ rơi có thể trở thành người biết nhận ra những ai cô đơn. Một người từng nghèo có thể hiểu người nghèo. Một người từng bị hiểu lầm có thể học cách đừng vội xét đoán. Một người từng bị phản bội có thể trở thành người trung thành hơn. Một người từng khóc trong đêm có thể biết ngồi bên cạnh người khác mà không cần nói nhiều. Khi vết thương được trao cho Chúa, nó có thể trở thành một cánh cửa của lòng trắc ẩn. Nhưng khi vết thương được trao cho hận thù, nó thường sinh thêm vết thương. Ta hoặc để đau khổ làm trái tim mình sâu hơn, hoặc để nó làm trái tim mình cứng hơn. Thánh Giá cho thấy Đức Giêsu đã chọn con đường thứ nhất.
Nhìn kỹ hơn vào lời “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”, ta còn thấy một điều rất lạ. Chúa Giêsu tìm một lý do để bênh vực cho chính những người đang làm Người đau. Người nói: “Họ không biết việc họ làm.” Chúng ta thường làm ngược lại. Khi giận ai, ta tìm thêm bằng chứng để kết án họ. Một lỗi của họ ta kể thành mười lỗi. Một lần họ làm mình đau, ta diễn giải cả con người họ là xấu. Họ làm một việc sai, ta nói: “Con người đó bản chất là như vậy.” Ta không chỉ xét hành động; ta kết án con người. Chúa Giêsu thì tìm phần còn lại của sự thật mà lòng thương xót có thể nhìn thấy: họ không biết hết điều họ đang làm. Không có nghĩa họ hoàn toàn vô trách nhiệm. Nhưng tình yêu nhìn sâu hơn tội lỗi.
Có lẽ nếu ta biết toàn bộ câu chuyện đời một con người, ta sẽ bớt giận họ hơn. Người hay nóng giận có thể đã lớn lên trong một gia đình toàn tiếng la hét. Người lạnh lùng có thể từng bị tổn thương đến mức không dám tin ai nữa. Người khắt khe có thể cả đời chưa bao giờ được đón nhận. Người thích hạ thấp người khác có thể đang che giấu mặc cảm của chính mình. Điều đó không biến sai thành đúng, nhưng giúp ta hiểu rằng con người phức tạp hơn một hành vi của họ. Chỉ Thiên Chúa mới biết hoàn toàn những gì nằm sau một khuôn mặt, một phản ứng, một lỗi lầm. Bởi vậy, khi tha thứ, ta không cần giả vờ rằng điều người kia làm không quan trọng. Ta chỉ từ chối đóng vai Thiên Chúa để tuyên án toàn bộ con người họ.
Một trong những điều khó nhất của tha thứ là buông quyền được trả thù. Có những lúc ta muốn công lý nhưng thực ra dưới chữ “công lý” là một ước muốn rất kín: mong người ấy phải đau giống như mình đã đau. Ta muốn nghe tin họ thất bại. Muốn họ bị người khác đối xử như họ từng đối xử với ta. Thậm chí đôi lúc miệng đọc kinh nhưng trong lòng lại nghĩ: “Rồi Chúa sẽ phạt nó.” Đó không hẳn là phó thác cho công lý Thiên Chúa; nhiều khi chỉ là nhờ Thiên Chúa trả thù hộ. Nhưng Đức Kitô trên Thánh Giá không nói: “Lạy Cha, xin cho họ nếm mùi đau đớn này.” Người nói: “Xin tha cho họ.” Đây là đỉnh cao mà ta không thể đạt tới nếu không có ân sủng.
Tha thứ vì thế không phải biểu hiện của yếu đuối. Người yếu có thể trả đũa rất nhanh. Tha thứ cần một sức mạnh khác. Người yếu cần nhìn kẻ thù khổ mới thấy mình hả dạ. Người mạnh có thể buông xuống. Người yếu bị người khác điều khiển bằng một lời xúc phạm; người mạnh có thể nghe lời xúc phạm mà không để nó định nghĩa mình. Tha thứ cũng không có nghĩa là thiếu lòng tự trọng. Đức Giêsu rất hiền lành nhưng không nhu nhược. Khi bị một người thuộc hạ vị thượng tế vả mặt, Người hỏi: nếu tôi nói sai, hãy chứng minh điều sai; còn nếu tôi nói đúng, sao lại đánh tôi? Người bảo vệ sự thật nhưng không trả bằng một cái tát khác. Đó là sự khác biệt giữa công lý và trả thù.
Trong đời sống cộng đoàn cũng vậy. Một giáo xứ, một hội đoàn, một cộng đoàn tu trì, thậm chí một nhóm nhỏ có thể có đủ kinh nguyện, phụng vụ, hoạt động và chương trình, nhưng nếu không có khả năng tha thứ, cộng đoàn ấy từ từ trở thành một nơi ngột ngạt. Người ta không nói thẳng với nhau nhưng nói về nhau. Một lỗi cũ được nhắc đi nhắc lại. Một người đã thay đổi nhưng mãi mãi vẫn bị nhìn qua quá khứ. Ta nói rằng Thiên Chúa tha tội, nhưng ta không cho người anh em quyền bắt đầu lại. Có khi người ấy đã xưng tội, Chúa đã tha, nhưng cộng đoàn vẫn chưa tha. Chúa đã ném tội lỗi họ xuống đáy biển, còn ta cứ lặn xuống tìm lên. Thử hỏi như thế ta có thực sự tin vào quyền năng của lòng thương xót hay không?
Nhiều người trong chúng ta cần học cách để người khác được có một quá khứ mà không bị nhốt mãi trong quá khứ ấy. Chúng ta cũng cần điều đó cho chính mình. Có khi người khó tha nhất không phải là một người bên ngoài mà là chính bản thân ta. Ta đã xưng một tội từ lâu, linh mục đã ban phép giải, nhưng ta vẫn không tha cho mình. Ta nhớ những lựa chọn sai. Ta tiếc một thời tuổi trẻ. Ta ân hận vì đã làm đau người thân. Ta mang mặc cảm về một biến cố không sửa được nữa. Ta tin Chúa có thể tha cho cả thế giới nhưng không chắc Người tha nổi mình. Khi ấy hãy nhìn Thánh Giá. Máu Đức Kitô không chảy cho “những người khác”; máu ấy cũng chảy cho ta. Nếu Thiên Chúa đã tha, ta là ai mà tiếp tục tuyên án mình? Ăn năn là cần. Đền bù những gì có thể đền bù là cần. Học bài học từ quá khứ là cần. Nhưng tự hành hạ mình vô tận không phải là khiêm nhường; đôi khi đó là một cách không tin vào sức mạnh của ơn cứu chuộc.
Chúa không bảo ta gọi tội lỗi là chuyện nhỏ. Chính vì tội nghiêm trọng nên Thánh Giá mới nghiêm trọng. Nhưng Thánh Giá nói rằng không có tội nào lớn hơn lòng thương xót của Thiên Chúa nếu con người thật lòng trở về. Phêrô đã chối Chúa ba lần nhưng không bị nhốt cả đời trong cái sân nhà thượng tế. Ông khóc, ông trở về và Chúa trao cho ông đoàn chiên. Phaolô từng bắt bớ Hội Thánh nhưng ân sủng biến ông thành Tông đồ dân ngoại. Người trộm lành có cả một đời đầy sai lầm, nhưng chỉ vài giờ trước khi chết đã quay sang Đức Giêsu và nghe lời hứa về thiên đàng. Trong Thiên Chúa, quá khứ có trọng lượng nhưng không có quyền lực tuyệt đối. Ân sủng có thể mở một tương lai mà tội lỗi tưởng đã đóng lại.
Cũng cần nói đến một sự tha thứ khác: tha thứ cho Thiên Chúa, nếu có thể dùng cách nói của con người như vậy. Dĩ nhiên Thiên Chúa không làm điều gì sai để cần chúng ta tha. Nhưng có những người trong đau khổ đã giận Chúa. “Tại sao Chúa để chuyện này xảy ra? Tại sao Chúa không cứu con tôi? Tại sao con cầu nguyện mà Chúa im lặng? Tại sao người tốt lại đau khổ, còn kẻ gian ác lại bình an?” Những câu hỏi ấy đôi khi làm người ta xa Chúa nhiều năm. Họ không dám nói ra vì sợ mang tội, nhưng trong lòng có một sự trách móc âm thầm. Chính Đức Giêsu trên Thánh Giá cho phép ta mang những câu hỏi ấy đến trước Chúa Cha. Người cũng đã đi qua kinh nghiệm của sự tối tăm. Đức tin trưởng thành không phải là không bao giờ hỏi “tại sao”; đức tin trưởng thành là giữa khi không có câu trả lời vẫn giữ một sợi dây với Thiên Chúa: “Lạy Cha, con không hiểu, nhưng con vẫn phó mình trong tay Cha.”
Có những sự việc trong cuộc đời không thể giải thích bằng vài câu thần học. Đứng trước nỗi đau quá lớn, đôi khi điều tử tế nhất là im lặng. Nhưng Thánh Giá cho ta một điều chắc chắn: Thiên Chúa không đứng bên ngoài đau khổ để giảng bài cho con người. Người đã đi vào trong nó. Người đã bị phản bội, bị kết án, bị cô đơn, bị tra tấn, bị giết. Khi một người khóc, họ có thể nhìn lên Thánh Giá và nói: “Ít nhất Chúa hiểu.” Và đôi khi được hiểu đã là khởi đầu của chữa lành.
Sự tha thứ trên Thánh Giá còn mở ra một con đường cho xã hội. Một xã hội chỉ biết trả đũa sẽ không bao giờ chữa lành được những vết thương lịch sử. Một gia đình truyền lại hận thù cho con cháu sẽ kéo dài cuộc chiến của những người đã chết. Một thế hệ kể cho thế hệ sau chỉ để nuôi giận dữ sẽ biến quá khứ thành nhà tù của tương lai. Nhớ lại sự thật là cần. Công lý là cần. Trách nhiệm là cần. Nhưng nếu ký ức không được thanh luyện bởi lòng thương xót, nó có thể trở thành kho vũ khí. Kitô giáo không kêu gọi mất trí nhớ lịch sử; Kitô giáo kêu gọi ký ức được cứu chuộc. Ta nhớ để đừng tái phạm, chứ không nhớ để tiếp tục ghét.
Và có lẽ điều đau nhất là nhiều cuộc chiến lớn của nhân loại bắt đầu từ những cuộc chiến rất nhỏ trong lòng người: tôi không chịu thua, tôi phải chứng minh mình đúng, tôi phải trả lại điều người ta đã làm cho tôi. Thánh Giá đứng giữa thế giới như một dấu hỏi cho toàn bộ logic ấy. Đức Giêsu có thực sự thất bại khi tha thứ không? Nhìn bề ngoài, Người chết. Nhưng hai ngàn năm qua, đế quốc đóng đinh Người đã biến mất, còn lời “Lạy Cha, xin tha cho họ” vẫn được đọc trên khắp thế giới. Hận thù có thể thắng trong một ngày; tình yêu mới có tiếng nói cuối cùng.
Mỗi Thánh lễ thực ra đều đưa chúng ta trở về Canvê. Ta đứng dưới Thánh Giá, nhận lấy Mình và Máu của Đấng đã tha cho kẻ đóng đinh Người. Rồi ta ra về. Thật là một nghịch lý nếu ta vừa đón nhận lòng thương xót vô hạn mà bước khỏi nhà thờ lại tiếp tục nuôi một mối hận không chịu buông. Có lẽ trước mỗi lần lên rước lễ, ta nên để Chúa hỏi nhỏ: “Trong lòng con còn ai con không muốn tha không?” Không phải để ta sợ hãi, nhưng để Thánh Thể thực sự trở thành sức mạnh biến đổi. Có những sự tha thứ vượt sức con người. Khi ấy ta cần rước lấy chính Đức Kitô, để Người tha trong ta điều ta không thể tha bằng sức riêng mình.
Một lời cầu nguyện rất đơn sơ có thể bắt đầu thế này: “Lạy Chúa Giêsu, con không muốn ghét người ấy nữa. Nhưng con chưa đủ sức yêu. Xin Chúa đứng giữa con và họ. Xin Chúa nhận lấy cơn giận của con. Xin chữa những gì họ đã làm tổn thương trong con. Xin cho con không làm người khác đau chỉ vì con từng bị đau. Xin cho ký ức của con được thanh luyện. Và nếu hôm nay con chưa thể cầu xin điều tốt đẹp cho họ, ít nhất xin đừng để con cầu điều dữ cho họ.” Ta cứ cầu như vậy. Không cần giả vờ. Chúa không sợ sự thật của lòng ta. Đôi khi sau nhiều tháng hoặc nhiều năm, một ngày ta bất ngờ nhận ra rằng khi nghe tên người ấy lòng mình không còn thắt lại như trước. Ta không quên, nhưng ta tự do. Đó là một phép lạ thầm lặng.
Có những phép lạ không làm người què đứng lên ngay giữa nhà thờ. Có những phép lạ xảy ra trong một căn phòng mà không ai biết: một người con quyết định gọi điện cho cha sau mười năm không nói chuyện; một người vợ thôi nhắc lại lỗi cũ của chồng trong mỗi cuộc cãi vã; hai anh em bắt tay nhau sau cuộc tranh chấp kéo dài; một người đến bên giường bệnh của người từng làm mình đau và nói: “Chuyện cũ, mình để lại đi”; một người quỳ trước Thánh Giá và lần đầu tiên có thể đọc tên kẻ đã xúc phạm mình mà không nguyền rủa. Những điều ấy cũng là phép lạ. Và nhiều khi đó là những phép lạ khó hơn cả chữa một căn bệnh thể lý.
Đừng hiểu lầm rằng người tha thứ sẽ luôn cảm thấy nhẹ ngay lập tức. Có lúc sau khi quyết định tha, ta vẫn đau. Quyết định của ý chí đi trước, cảm xúc đi sau. Ta có thể nói: “Tôi tha” nhưng ngày mai vẫn khóc. Điều ấy bình thường. Tha thứ không phải là một cảm giác ngọt ngào; trước hết là một lựa chọn. Tôi chọn không trả thù. Tôi chọn không nói xấu. Tôi chọn không nuôi những tưởng tượng độc ác. Tôi chọn trao công lý cho Thiên Chúa và những cơ chế chính đáng. Tôi chọn cầu xin được chữa lành. Rồi cảm xúc từ từ học theo quyết định ấy.
Cũng đừng dùng lời mời gọi tha thứ để ép những người bị tổn thương quay trở lại ngay với người đang tiếp tục gây hại. Có những trường hợp phải giữ khoảng cách. Có những tương quan cần giới hạn rõ ràng. Có những hành vi nghiêm trọng cần được báo cáo cho người có trách nhiệm và xử lý theo công lý. Người Kitô hữu tha thứ nhưng không cổ vũ cho sự lạm dụng. Đức ái không đồng nghĩa với ngây thơ. Chúa Giêsu bảo chúng ta hiền lành như chim bồ câu nhưng cũng khôn ngoan. Tha thứ giải phóng trái tim khỏi hận thù; nó không bắt trái tim giao mình lại cho cùng một sự nguy hiểm mà không có dấu hiệu thay đổi.
Điều quan trọng nhất là đừng để người làm ta đau làm ta xa Thiên Chúa. Có khi một Kitô hữu bị chính một người trong Giáo Hội làm tổn thương và từ đó bỏ lễ, bỏ cầu nguyện, bỏ luôn Chúa. Thế là người gây vết thương đã lấy của ta nhiều hơn họ đáng được lấy. Họ làm ta đau một lần, nhưng ta vì họ mà mất nguồn chữa lành. Đừng trao cho bất kỳ ai quyền ấy. Một linh mục có thể làm ta thất vọng, một tu sĩ có thể làm ta tổn thương, một người đạo đức có thể cư xử sai, một cộng đoàn có thể bất công. Nhưng Đức Kitô không phải lỗi lầm của những người mang danh Người. Hãy đi thẳng đến Thánh Giá. Hãy nói với Chúa tất cả. Chính nơi cộng đoàn đôi khi làm ta đau, nhưng chính nơi Đức Kitô ta tìm được sức để không cho vết đau biến thành cay đắng.
Người ta thường nói thời gian chữa lành mọi vết thương. Không hoàn toàn đúng. Thời gian chỉ làm vết thương cũ đi. Có những vết thương sau ba mươi năm vẫn đau nguyên nếu chưa bao giờ được chữa. Điều chữa lành là sự thật, tình yêu, ân sủng, sự tha thứ và đôi khi cả sự trợ giúp của những người khôn ngoan. Thời gian chỉ là khoảng không để những điều ấy có thể làm việc. Ta có thể sống rất lâu nhưng vẫn mang trái tim bị kẹt ở một ngày trong quá khứ. Chúa muốn dẫn ta ra khỏi ngày đó.
Có lẽ mỗi người nên một lần thật sự ngồi dưới chân Thánh Giá và hỏi: “Ai là người tôi vẫn đang giữ trên cây thập giá của lòng mình?” Có ai mà mỗi lần nhắc đến, tôi lại kể tất cả lỗi của họ? Có ai mà tôi không cho quyền thay đổi? Có ai mà tôi mong họ phải đau? Có ai mà dù Chúa tha rồi, tôi vẫn muốn kết án? Và cũng hỏi thêm: “Có người nào đang phải vác thập giá vì tôi không?” Có người nào bị thương bởi lời tôi nói? Có ai chờ một lời xin lỗi của tôi nhiều năm? Đừng chỉ đọc bài này và nghĩ đến những người phải xin lỗi mình. Đôi khi ta cần đứng ở phía bên kia câu chuyện.
Chúa Giêsu nói: “Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ mà nhớ ra người anh em đang có chuyện bất bình với anh, hãy để của lễ lại đó, đi làm hòa với người anh em trước đã” (x. Mt 5,23-24). Chúa không nói: nếu con nhớ ra con đang giận ai. Người nói: nếu con nhớ ra người anh em đang có chuyện bất bình với con. Nghĩa là Tin Mừng đòi ta không chỉ xem xét những vết thương mình nhận, nhưng cả những vết thương mình gây ra. Có những người đang không thể bình an vì một câu của ta. Có người con vẫn nhớ lời cha mẹ từng mắng: “Mày chẳng làm nên trò trống gì đâu.” Có người vợ cả đời mang mặc cảm vì những lời chồng dùng để hạ thấp. Có người tu sĩ mất tự tin vì một lời người có trách nhiệm nói trong lúc nóng giận. Có người đã rời cộng đoàn vì cảm thấy mình bị làm nhục. Có những lời ta quên rồi nhưng người khác chưa quên.
Vậy nên dưới Thánh Giá, ngoài lời “con tha”, còn cần lời “xin tha cho con”. Đó là hai cánh cửa của hòa giải. Người trưởng thành thiêng liêng không chỉ biết đòi lời xin lỗi; họ cũng biết xin lỗi. Và một lời xin lỗi thật bao giờ cũng khó. Nó không kèm chữ “nhưng”: “Tôi xin lỗi, nhưng tại anh trước.” Đó chưa phải xin lỗi. Xin lỗi thật là: “Tôi đã làm bạn đau. Điều ấy là sai. Tôi không biện minh. Tôi xin lỗi. Nếu có thể, xin cho tôi biết tôi cần làm gì để sửa lại.” Có những gia đình sẽ được cứu chỉ bởi một câu như thế. Có những cuộc hôn nhân sẽ không tan nếu một người chịu nói câu ấy trước khi quá muộn.
Ở tận cùng, tha thứ là bước vào trái tim của Chúa. Ta càng đến gần Thánh Giá, ta càng hiểu lòng thương xót không phải một phụ kiện của Kitô giáo. Nó là trung tâm. Đức Giêsu không chỉ giảng về tha thứ; Người chết trong tư thế tha thứ. Tay Người bị đóng mở rộng như ôm lấy cả kẻ giết mình. Trái tim Người bị đâm thâu nhưng không khép lại. Máu Người rơi xuống đất nơi những kẻ vừa đóng đinh Người đang đứng. Thiên Chúa thật lạ lùng: con người dùng cây gỗ để giết Con Ngài, Ngài dùng chính cây gỗ ấy để cứu con người; con người lấy đinh đóng Người, Người lấy những lỗ đinh ấy làm chứng tích tình yêu; con người đổ máu Người, Người dùng Máu ấy rửa tội con người.
Nếu chỉ có công lý lạnh lùng, không ai đứng nổi dưới Thánh Giá. Nhưng Thánh Giá là nơi công lý và lòng thương xót gặp nhau. Tội không bị coi nhẹ: cái giá của nó là máu Con Thiên Chúa. Nhưng tội nhân cũng không bị hủy diệt: chính máu ấy được đổ ra để cứu họ. Do đó sự tha thứ Kitô giáo không phải là một thứ dễ dãi “thôi cho qua”. Nó rất đắt. Có khi người tha phải chết đi một phần tự ái của mình. Phải từ bỏ quyền kể đi kể lại câu chuyện để được người khác đứng về phía mình. Phải chấp nhận không phải lúc nào mình cũng nhận được một lời xin lỗi tương xứng. Phải chôn đi ước muốn trả thù. Đó là lý do tha thứ có hình dáng của Thánh Giá.
Nhưng bên kia Thánh Giá là Phục Sinh. Người tha thứ không mất; người ấy được tự do. Người buông thù hận không thua; người ấy lấy lại đời mình. Có những người đã làm ta mất tiền, mất danh dự, mất thời gian, mất cơ hội. Đừng để họ lấy thêm bình an. Đừng để họ lấy luôn khả năng yêu thương. Đừng để họ biến ta thành phiên bản cay độc của chính họ. Nếu họ đã làm ta đau, hãy để cái đau dừng lại ở ta. Đừng truyền nó cho con cái. Đừng ném nó lên người bạn đời. Đừng trút nó lên cộng đoàn. Đừng lấy vết thương mình làm giấy phép để làm người khác đau.
Có một thứ di sản rất đẹp cha mẹ có thể để lại cho con cái: một gia đình biết xin lỗi và tha thứ. Con trẻ không cần cha mẹ hoàn hảo. Chúng cần thấy cha có thể nói với mẹ: “Anh sai rồi, anh xin lỗi.” Chúng cần thấy mẹ có thể nói với con: “Lúc nãy mẹ nóng quá, mẹ nói lời làm con đau, mẹ xin lỗi.” Những đứa trẻ lớn lên trong một căn nhà nơi người lớn biết xin lỗi sẽ học được rằng sai lầm không phải tận thế, rằng yêu thương lớn hơn tự ái, rằng một mối quan hệ có thể được chữa lành. Ngược lại, nơi người lớn không bao giờ nhận sai, trẻ sẽ học cách đổ lỗi hoặc sống trong mặc cảm.
Và rồi sẽ có một ngày chính chúng ta cần được người khác tha. Sẽ có ngày ta nhìn lại đời mình và nhận ra bao điều lẽ ra phải làm khác. Khi ấy ta sẽ hiểu tại sao Tin Mừng của sự tha thứ lại quý đến thế. Không ai muốn cuối đời đứng trước một Thiên Chúa chỉ có cuốn sổ ghi tội mà không có lòng thương xót. Ta muốn nghe lời của Đức Kitô. Ta muốn được nhìn bằng ánh mắt đã nhìn Phêrô sau ba lần chối Chúa. Ta muốn nghe lời như người trộm lành: hôm nay anh sẽ ở với tôi. Ta muốn được tha. Nếu ta muốn nhận lòng thương xót ấy, ngay từ hôm nay hãy để lòng thương xót đi qua đời ta đến với người khác.
Có thể hôm nay người đọc những dòng này đang mang một cái tên trong lòng. Một người mà nghĩ tới là đau. Đừng ép mình làm những điều vượt sức ngay. Chỉ cần cầm lấy Thánh Giá. Nhìn Đức Giêsu. Hãy tưởng tượng giữa tiếng búa, tiếng chế giễu, máu và đau đớn, Người nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Rồi nói với Người: “Lạy Chúa, con chưa làm được như Chúa. Nhưng con muốn học. Xin cho con mượn trái tim của Chúa.” Đó đã là khởi đầu.
Có thể ngày mai vết thương lại đau. Hãy trở lại. Ngày kia lại giận. Hãy trở lại. Tha một lần chưa đủ thì tha thêm một lần. Không phải vì người kia xứng đáng hơn hôm qua, nhưng vì ta muốn thuộc về Chúa hơn hôm qua. Đến một lúc nào đó, ta sẽ nhận ra rằng cái tên ấy không còn quyền làm ta mất ngủ. Ta có thể nhớ mà không nguyền rủa. Có thể cầu nguyện mà không giả tạo. Có thể nói: “Lạy Chúa, xin dẫn họ về đường tốt.” Và khi ta cầu được như thế, cây thập giá trong đời ta bắt đầu trở thành Thánh Giá.
Cuối cùng, mỗi Kitô hữu đều phải học bài học này vì chúng ta theo một Đấng chịu đóng đinh. Không có Kitô giáo không Thánh Giá, và cũng không có Thánh Giá Kitô giáo mà không có tha thứ. Nếu trên cổ ta đeo một cây Thánh Giá nhưng trong lòng treo một người anh em để kết án mãi mãi, ta cần tự hỏi mình đã hiểu Thánh Giá chưa. Nếu trong nhà ta có tượng Chúa chịu nạn nhưng nhiều năm ta không nói với một người thân vì tự ái, cây Thánh Giá ấy đang âm thầm chất vấn ta. Nếu mỗi ngày ta làm dấu Thánh Giá nhân danh Cha và Con và Thánh Thần mà vẫn nuôi một mối thù, dấu Thánh Giá ấy mời ta đi sâu hơn.
Một ngày nào đó, tất cả chúng ta sẽ chết. Những cuộc tranh hơn thua hôm nay rồi sẽ nhỏ lại. Những điều ta từng nghĩ không thể bỏ qua có thể trở nên rất nhỏ trước ngưỡng cửa vĩnh cửu. Khi nằm trên giường cuối đời, ta sẽ không ước mình đã giận lâu hơn. Ta sẽ không tiếc rằng mình đã tha quá sớm. Ta sẽ chỉ tiếc những lời yêu thương không kịp nói, những cuộc điện thoại không kịp gọi, những cái ôm đã trì hoãn, những lời xin lỗi để quá muộn. Vậy thì nếu hôm nay còn có thể, sao không bắt đầu?
Thánh Giá vẫn đứng đó. Hai cánh tay Đức Kitô vẫn mở. Trái tim bị đâm thâu vẫn mở. Và từ đỉnh Canvê, lời cầu nguyện năm xưa vẫn rơi xuống thế giới đầy chia rẽ của chúng ta: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Ước gì lời ấy không chỉ là một câu Tin Mừng ta nghe trong Tuần Thánh, nhưng trở thành nhịp đập trong đời sống Kitô hữu. Xin cho những ai đang bị tổn thương tìm được sức để không biến đau khổ thành hận thù. Xin cho những ai đã gây tổn thương có can đảm xin lỗi và sửa đổi. Xin cho những gia đình đang chia rẽ biết bước qua tự ái để tìm lại nhau. Xin cho những cộng đoàn đang mang những vết thương cũ được chữa lành. Và xin cho mỗi chúng ta, trước khi khép lại cuộc đời, có thể buông xuống những món nợ của lòng mình, để ra đi với đôi tay nhẹ nhàng.
Bởi cuối cùng, trước mặt Thiên Chúa, ta chẳng mang theo được bao nhiêu. Tiền bạc để lại. Danh vọng để lại. Nhà cửa để lại. Những cuộc tranh thắng thua cũng để lại. Chỉ có tình yêu đi theo ta. Và có lẽ một trong những hành động yêu thương lớn nhất đời người chính là có một ngày, giữa những giọt nước mắt thật sự của mình, ta nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh và nói: “Lạy Chúa, vì Chúa đã tha cho con, hôm nay con cũng xin tha. Con không muốn mang người ấy như một món nợ đến tận mồ. Con trả họ lại cho Chúa. Xin Chúa xét xử bằng công lý của Chúa, nhưng xin cho lòng con được sống bằng lòng thương xót của Ngài.”
Khi nói được như thế, ta không còn đứng xa Thánh Giá nữa. Ta đã bắt đầu bước vào mầu nhiệm của Thánh Giá. Và nơi tưởng chỉ có mất mát, ta tìm thấy tự do; nơi tưởng chỉ có đau thương, ta gặp lòng thương xót; nơi tưởng chỉ có sự chết, một đời sống mới bắt đầu. Bởi vì lời cuối cùng của Thánh Giá không phải là hận thù. Lời cuối cùng của Thánh Giá là tình yêu. Và một trong những tên đẹp nhất của tình yêu ấy chính là tha thứ.
Lm. Anmai, CSsR.

THÁNH GIÁ TRONG GIA ĐÌNH CÔNG GIÁO VIỆT NAM
Có những vật trong một căn nhà, càng nhìn lâu càng quen mắt đến mức người ta không còn để ý nữa. Chiếc đồng hồ treo trên tường, bộ bàn ghế đã cũ, tấm ảnh gia đình chụp từ nhiều năm trước, bàn thờ ông bà với làn khói hương mỏng mỗi ngày giỗ chạp, và trong rất nhiều gia đình Công giáo Việt Nam còn có một Thánh Giá được treo ở nơi trang trọng nhất. Thánh Giá ấy có khi được làm bằng gỗ quý, có khi chỉ là một cây Thánh Giá nhỏ mua từ một nhà sách Công giáo, có khi đã bạc màu theo năm tháng, có khi là kỷ vật ngày cưới của cha mẹ, có khi được mang về sau một chuyến hành hương, có khi đã theo gia đình qua bao lần dời nhà, chạy loạn, đổi quê, đổi xứ. Có những cây Thánh Giá đã chứng kiến một đứa trẻ được sinh ra, một người con lớn lên rồi đi lập gia đình, một người cha nhắm mắt, một người mẹ qua đời, những bữa cơm đông đủ rồi thưa dần, những tiếng cười và những tiếng khóc, những lần vợ chồng giận nhau, những đêm cha mẹ thao thức vì con, những buổi cả nhà quỳ xuống đọc kinh, và cả những ngày chẳng ai còn nhớ nhìn lên cây Thánh Giá nữa. Thánh Giá vẫn ở đó, lặng lẽ. Không lên tiếng, không trách móc, không đòi hỏi. Nhưng nếu một gia đình Công giáo biết dừng lại thật lâu trước cây Thánh Giá trong nhà mình, có lẽ họ sẽ nghe được một lời rất sâu: “Nhà này có thật sự là nhà của Ta không?”
Người Công giáo Việt Nam vốn có một nét đẹp rất riêng: coi trọng bàn thờ gia đình. Trong nhiều ngôi nhà, dù rộng hay chật, dù giàu hay nghèo, người ta vẫn dành một chỗ tương đối trang trọng để đặt Thánh Giá, ảnh tượng Đức Mẹ, Thánh Giuse, các thánh bổn mạng, rồi phía dưới hoặc gần đó là bàn thờ kính nhớ tổ tiên. Cách bài trí ấy, nếu được hiểu đúng, nói lên một điều rất đẹp: gia đình này có gốc có nguồn, có cha có mẹ, có ông có bà, nhưng trên tất cả vẫn là Thiên Chúa; gia đình này biết kính nhớ người đã khuất, nhưng đặt niềm hy vọng cuối cùng nơi Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh; gia đình này trân trọng huyết thống, nhưng hiểu rằng còn một mối dây sâu hơn huyết thống, đó là được trở nên con cái Thiên Chúa trong Đức Kitô. Vì thế, cây Thánh Giá treo trong gia đình Công giáo không phải món trang trí tôn giáo, càng không phải một thứ “bùa bình an” để người ta treo lên rồi mong rằng từ đó gia đình sẽ tránh được tai nạn, bệnh tật, xui xẻo. Thánh Giá không bảo đảm rằng nhà có Thánh Giá thì sẽ không đau khổ. Ngược lại, nhìn vào Thánh Giá, người Kitô hữu phải nhớ rằng chính Con Thiên Chúa đã đi qua đau khổ. Điều Thánh Giá bảo đảm không phải là chúng ta sẽ không có nước mắt, nhưng là không có giọt nước mắt nào của người tin Chúa phải rơi xuống trong tuyệt vọng. Không phải chúng ta sẽ không có thập giá, nhưng chẳng có thập giá nào phải được vác một mình. Không phải gia đình sẽ không có những ngày tối tăm, nhưng trong căn nhà ấy đã có Đấng từng bước qua bóng tối của Golgotha và từ trong mồ tối đã mở ra buổi sáng Phục Sinh.
Đáng buồn là đôi khi người ta treo Thánh Giá rất cao nhưng lại sống rất xa tinh thần Thánh Giá. Thánh Giá ở giữa phòng khách, nhưng trong gia đình chẳng ai chịu nhường ai. Thánh Giá trên bàn thờ, nhưng lời nói trong nhà lại đầy những mũi đinh. Thánh Giá được lau chùi sạch sẽ, nhưng vết thương trong lòng vợ chồng đã nhiều năm chẳng ai muốn chữa lành. Thánh Giá được hôn kính ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng người già trong nhà lại cô đơn ngay bên cạnh con cháu. Thánh Giá sáng đèn mỗi tối, nhưng cha mẹ chẳng có thời gian ngồi xuống nghe con nói một câu cho hết. Thánh Giá đặt trước mặt, nhưng anh em ruột thịt có khi vì một miếng đất, một phần gia tài, một câu xúc phạm mà chẳng nhìn mặt nhau nhiều năm. Có người mỗi lần đi ngang qua Thánh Giá đều cúi đầu, nhưng lại không chịu cúi cái tôi của mình xuống trước người bạn đời. Có người làm dấu Thánh Giá rất thành kính trước bữa ăn, nhưng trong bữa ăn lại nói những lời khiến người khác đau lòng. Có người sẵn sàng bỏ tiền mua một cây Thánh Giá thật đẹp, nhưng không chịu bỏ một chút tự ái để giữ lấy bình an gia đình. Nếu thế thì cây Thánh Giá có đó mà Tin Mừng của Thánh Giá chưa thật sự đi vào nhà.
Thánh Giá trước hết là câu chuyện của một tình yêu đi đến tận cùng. Thánh Gioan kể lại một trong những cảnh cảm động nhất của Tin Mừng: “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Clôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,25-27). Đọc thật chậm đoạn Tin Mừng này mới thấy lạ lùng. Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu đang chết. Người đang đau đớn đến tận cùng. Thân thể bị hành hạ, tay chân bị đóng đinh, môi khát cháy, hơi thở cạn dần. Theo lẽ thường, vào giây phút ấy con người chỉ còn đủ sức nghĩ đến chính mình. Vậy mà Chúa vẫn nghĩ đến Mẹ. Người nhìn thấy sự cô đơn sẽ đến với Mẹ sau cái chết của mình. Người trao Mẹ cho môn đệ, trao môn đệ cho Mẹ, và giữa đau khổ tột cùng, Chúa lại khai sinh một gia đình mới. Đó chính là điều đẹp nhất của Thánh Giá: khi chịu đau đớn nhất, Chúa vẫn nghĩ đến người khác; khi bị lấy mất gần như tất cả, Chúa vẫn còn cho đi; khi đôi tay đã bị đóng chặt, Chúa vẫn ôm lấy nhân loại; khi chẳng còn gì để giữ, Chúa trao cả Mẹ mình. Một gia đình Công giáo có Thánh Giá là một gia đình được mời gọi sống thứ tình yêu như thế: yêu không phải chỉ lúc dễ thương, nhưng cả lúc khó thương; lo cho nhau không phải chỉ khi mình khỏe mạnh, nhưng cả khi chính mình đang mệt; biết nghĩ đến nỗi đau của người khác ngay cả khi bản thân cũng đang mang thương tích.
“Người môn đệ rước bà về nhà mình.” Câu Tin Mừng ngắn ngủi ấy rất đáng để mỗi gia đình suy niệm. Rước Đức Maria về nhà nghĩa là rước cả ký ức về Thánh Giá vào nhà. Nhà có Mẹ thì nhà có Chúa. Nhà có Chúa thì không thể thiếu tinh thần Thánh Giá. Một gia đình Công giáo không chỉ cần treo Thánh Giá trong nhà; họ phải “rước” mầu nhiệm Thánh Giá vào cách sống. Rước Thánh Giá vào căn bếp, nghĩa là biết phục vụ nhau trong những công việc rất nhỏ mà chẳng cần ai cảm ơn. Rước Thánh Giá vào phòng khách, nghĩa là bớt những lời châm chọc, bớt tiếng quát tháo, bớt sự lạnh lùng. Rước Thánh Giá vào phòng ngủ của đôi vợ chồng, nghĩa là trung tín với lời hứa ngày cưới, biết hy sinh cái tôi, biết tha thứ, biết tôn trọng thân xác và phẩm giá của nhau. Rước Thánh Giá vào phòng con cái, nghĩa là cha mẹ giáo dục con bằng tình thương và gương sáng, chứ không bằng áp lực, so sánh hay những trận giận dữ. Rước Thánh Giá vào bàn ăn nghĩa là còn biết chờ nhau, còn biết hỏi nhau một ngày hôm nay thế nào, còn biết tắt chiếc điện thoại xuống để nhìn vào mắt người đang ngồi cạnh mình. Rước Thánh Giá vào chuyện tiền bạc nghĩa là biết sống ngay thẳng, không vì tiền mà đánh mất lương tâm, không vì tài sản mà đánh mất anh em. Rước Thánh Giá vào những giờ phút cuối đời nghĩa là không bỏ người già, không xem người bệnh như gánh nặng, không để một người trong nhà bước qua cánh cửa sự chết trong cô độc nếu mình còn có thể ở bên.
Có lẽ thập giá đau nhất trong nhiều gia đình không nằm trên tường mà nằm trong lòng. Có người mẹ mang thập giá vì một đứa con bỏ nhà đi. Có người cha mang thập giá vì bao nhiêu năm làm lụng vẫn không đủ cho gia đình. Có người vợ sống bên một người chồng nhưng cô đơn như không có chồng. Có người chồng mang một nỗi buồn chẳng biết nói với ai. Có những người con lớn lên với những vết thương do chính cha mẹ mình vô tình gây ra. Có cha mẹ già sống trong căn nhà chính mình dựng nên mà lại cảm thấy mình như người thừa. Có gia đình mang thập giá bệnh tật, nợ nần, thất nghiệp, thất bại, hiếm muộn, tang chế. Có nhà ngoài mặt bình yên nhưng bên trong đã lạnh từ rất lâu. Có đôi vợ chồng vẫn chụp những tấm ảnh đẹp đăng lên mạng nhưng đêm về không còn nói với nhau. Có những đứa trẻ được cho đủ mọi thứ trừ thời gian và sự hiện diện của cha mẹ. Có những người trẻ không dám kể nỗi đau của mình vì sợ vừa nói ra đã bị mắng. Và cũng có biết bao người trong gia đình Công giáo mang những cây thập giá âm thầm đến độ người thân sống bên cạnh cũng chẳng hay biết.
Chính trong những nơi đó, Thánh Giá của Chúa Giêsu mới thật sự có ý nghĩa. Chúa không đứng bên ngoài đau khổ mà giảng cho chúng ta một bài học. Người đã bước vào trong đau khổ. Người biết bị hiểu lầm là gì, bị phản bội là gì, bị bỏ rơi là gì. Người biết nỗi đau khi kẻ mình thương quay lưng. Người biết cảm giác cô đơn giữa đám đông. Người đã thốt lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Một người mẹ mất con có thể đứng dưới Thánh Giá và biết rằng Đức Maria hiểu mình. Một người bị phản bội có thể nhìn Đức Giêsu và nhớ rằng Chúa từng bị Giuđa hôn để nộp Người. Một người bị người thân chối bỏ có thể nhớ Phêrô. Người vô tội bị kết án có thể nhìn Chúa đứng trước Philatô. Người bị chế nhạo có thể nhìn mão gai. Người đang mang bệnh có thể nhìn những thương tích trên thân thể Đức Kitô. Người hấp hối có thể nhìn Chúa trút hơi thở cuối cùng và thưa: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Thánh Giá không xóa ngay đau khổ, nhưng Thánh Giá làm một việc lớn lao hơn: biến đau khổ từ một ngõ cụt thành một con đường. Từ ngày Đức Kitô chịu đóng đinh, nơi nào con người đau khổ, nơi ấy Thiên Chúa có thể gặp họ.
Gia đình Công giáo Việt Nam xưa kia có một truyền thống thật đẹp: tối đến, cả nhà quây quần đọc kinh. Dù không phải nhà nào cũng đọc thật sốt sắng, dù đôi khi mấy đứa nhỏ ngủ gật, dù có người vừa đọc vừa ngáp, nhưng hình ảnh ông bà, cha mẹ, con cháu cùng quỳ trước bàn thờ vẫn là một hình ảnh quý giá. Những lời kinh ấy đã giữ đức tin qua nhiều thế hệ. Có biết bao người đi xa vẫn nhớ tiếng kinh của mẹ. Có những người từng nguội lạnh, nhưng giữa một đêm cô độc ở phương xa bỗng nhớ tiếng cha đọc Kinh Lạy Cha năm nào. Có những đứa con từng than phiền vì tối nào cũng bị gọi vào đọc kinh, nhưng sau này khi cha mẹ mất lại thèm được nghe giọng cha mẹ một lần nữa. Không phải vì việc đọc kinh tự nó giải quyết hết mọi vấn đề gia đình, nhưng việc cả nhà quỳ xuống trước Chúa có một sức mạnh âm thầm: nó nhắc mọi người rằng trong nhà này không ai là Chúa của ai cả. Người chồng phải quỳ trước Chúa. Người vợ phải quỳ trước Chúa. Cha mẹ quỳ trước Chúa. Con cái quỳ trước Chúa. Người lớn, người nhỏ, người có tiền, người ít tiền, người đúng, người sai cuối cùng đều phải đứng dưới Thánh Giá như những người cần được thương xót. Nếu gia đình còn biết cùng nhau quỳ xuống thì có lẽ người ta cũng dễ bớt kiêu căng khi đứng lên.
Thật đáng tiếc nếu trong một gia đình Công giáo, cây Thánh Giá còn đó mà lời kinh gia đình dần biến mất. Người ta có thể viện đủ lý do: bận làm, bận học, khác giờ, con cái lớn rồi, mỗi người có lịch riêng. Những lý do ấy có cái đúng. Đời sống hiện đại quả thật bận rộn. Nhưng thử nghĩ, mỗi người một ngày có thể dành hàng giờ nhìn vào điện thoại mà một gia đình lại không còn tìm được mười phút để cùng nhìn lên Thánh Giá, đó có thật chỉ là vấn đề thời gian không? Có lẽ sâu xa hơn là chúng ta đã đánh mất cảm thức cần Chúa. Khi sung túc, người ta dễ nghĩ mình tự lo được. Khi mọi thứ thuận lợi, bàn thờ có thể dần trở thành một góc trang trí. Nhưng rồi có những biến cố xảy đến mà tiền không giải quyết nổi, kiến thức không đủ trả lời, các mối quan hệ không cứu nổi, và lúc ấy người ta mới nhìn cây Thánh Giá đã treo trên tường nhiều năm mà khóc. Thật ra Chúa vẫn ở đó từ trước. Chỉ là chúng ta quá bận nên không nhìn.
Thánh Giá trong gia đình còn là trường học của sự tha thứ. Không có gia đình nào sống chung lâu mà không làm nhau tổn thương. Vợ chồng làm đau nhau. Cha mẹ làm đau con. Con cái làm đau cha mẹ. Anh chị em làm đau nhau. Có những tổn thương do ác ý, nhưng phần nhiều lại do yếu đuối, nóng nảy, ích kỷ, thiếu hiểu biết, hoặc chỉ vì người này chẳng biết người kia đang đau. Điều nguy hiểm không phải là gia đình có mâu thuẫn. Điều nguy hiểm là mâu thuẫn bị ủ thành oán hận. Có những câu nói chỉ mất vài giây để thốt ra nhưng người nghe mất nhiều năm vẫn chưa quên. Có những người sống chung một mái nhà nhưng trong lòng đã dựng những bức tường cao hơn bất cứ bức tường nào bằng gạch. Người ta vẫn ăn cùng bàn mà không nói chuyện. Vẫn gọi nhau là vợ chồng nhưng đã trở thành hai người xa lạ. Vẫn là anh em nhưng chỉ chờ một dịp là nhắc lại chuyện cũ.
Lúc ấy hãy nhìn lên Thánh Giá. Từ trên đó, Đức Giêsu đã nói một lời khiến mọi lý lẽ báo thù của chúng ta phải im đi: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Người nói lời đó không phải sau khi quân dữ xin lỗi. Không ai xin lỗi Chúa cả. Họ vẫn đóng đinh Người, vẫn chia áo Người, vẫn chế giễu Người. Chúa tha thứ không phải vì cái ác bỗng trở thành cái thiện, nhưng vì Người không để cái ác của kẻ khác biến trái tim mình thành nơi cư trú của hận thù. Tha thứ trong gia đình cũng vậy. Tha thứ không phải là gọi điều sai thành điều đúng. Không phải là cho phép bạo lực tiếp tục. Không phải là im lặng trước bất công. Không phải là xóa hết hậu quả. Có những hoàn cảnh cần sự thật, cần ranh giới, cần sự trợ giúp, thậm chí cần những quyết định rất mạnh mẽ để bảo vệ người yếu thế. Nhưng trong tất cả, người Kitô hữu vẫn được mời gọi không để oán hận trở thành ông chủ của tâm hồn mình. Thánh Giá dạy ta rằng sự thật và lòng thương xót có thể gặp nhau.
Nếu người chồng nhìn lên Thánh Giá trước khi quát vợ, có lẽ nhiều lời sẽ được nuốt lại. Nếu người vợ nhìn lên Thánh Giá trước khi dùng những yếu điểm của chồng để làm nhục chồng, có lẽ nhiều vết thương sẽ không xuất hiện. Nếu cha mẹ nhìn Thánh Giá trước khi nói với con: “Mày chẳng bằng con nhà người ta”, có lẽ họ sẽ hiểu rằng Đức Kitô không hạ nhục con người để làm con người tốt hơn. Nếu người con nhìn Thánh Giá trước khi nặng lời với cha mẹ già, có lẽ nó sẽ nhớ ngày mình còn bé đã từng được những bàn tay già ấy bồng bế bao nhiêu lần. Nếu anh chị em nhìn Thánh Giá trước khi tranh nhau một phần gia tài, có lẽ họ sẽ tự hỏi: cuối cùng khi nằm xuống, mình mang theo được bao nhiêu mét vuông đất? Nếu cả gia đình nhìn lên Thánh Giá trước mỗi quyết định lớn, có lẽ nhiều lựa chọn sẽ khác.
Thánh Giá cũng là trường học của lòng trung tín. Ngày đôi nam nữ bước vào nhà thờ cử hành bí tích Hôn Phối, họ thường đứng trước bàn thờ, trước Thánh Giá, nắm tay nhau và hứa yêu thương, tôn trọng nhau mọi ngày suốt đời. Lúc ấy ai cũng đẹp. Hoa đẹp, áo đẹp, nhạc đẹp, nụ cười đẹp. Nhưng bí tích Hôn Phối không chỉ dành cho ngày cưới. Thực chất, lời hứa ấy bắt đầu được kiểm chứng vào những ngày không còn đẹp như thế. Khi người kia bệnh. Khi tiền bạc khó khăn. Khi tính xấu lộ ra. Khi gia đình hai bên có vấn đề. Khi con cái làm hai người kiệt sức. Khi tuổi trẻ qua đi. Khi một người thành công hơn người kia. Khi có những cám dỗ tình cảm xuất hiện. Khi người bạn đời không còn hấp dẫn như ngày đầu. Chính lúc ấy cây Thánh Giá trong phòng hoặc trên bàn thờ gia đình trở thành một câu hỏi: “Ngày xưa con đã hứa trước mặt Ta điều gì?” Tình yêu Kitô giáo không phải cảm xúc kéo dài vô tận. Nó là một quyết định được làm mới mỗi ngày. Có những sáng thức dậy, yêu nghĩa là pha cho nhau một ly cà phê. Có những ngày yêu nghĩa là im đi một câu đáng lẽ có thể nói. Có những tối yêu nghĩa là thức cạnh giường bệnh. Có những năm yêu nghĩa là kiên nhẫn đồng hành với người kia qua khủng hoảng. Những điều ấy rất nhỏ so với đồi Calvê, nhưng chính từ những thập giá nhỏ ấy mà hôn nhân trở thành con đường nên thánh.
Cha mẹ cũng cần học dưới chân Thánh Giá cách yêu con. Người Việt Nam có truyền thống hy sinh cho con rất lớn. Nhiều cha mẹ lao động gần như cả đời chỉ mong con được ăn học, được bằng người, được có tương lai. Tình thương ấy đáng quý vô cùng. Nhưng chính vì thương mà đôi khi cha mẹ vô tình muốn sống thay đời con. Có người đặt trên vai con những kỳ vọng nặng đến mức đứa trẻ không thở nổi. Có người chỉ biết hỏi: “Hôm nay được mấy điểm?” mà hiếm khi hỏi: “Hôm nay con có vui không?” Có người mong con thành công để mình hãnh diện hơn là để con được trở thành con người Chúa muốn. Nhìn lên Thánh Giá, cha mẹ sẽ gặp một Thiên Chúa yêu con người nhưng không cưỡng ép. Đức Giêsu đã có thể xuống khỏi Thánh Giá để bắt mọi người tin, nhưng Người không làm. Tình yêu của Chúa tôn trọng tự do đến mức chấp nhận bị từ chối. Cha mẹ Công giáo cũng phải học yêu con mà không sở hữu con. Con cái là quà tặng Chúa giao, không phải tài sản riêng của cha mẹ. Có ngày phải nắm tay con. Có ngày phải chỉ đường. Có ngày phải sửa dạy. Nhưng rồi cũng có ngày phải biết mở tay ra để con đi con đường của nó dưới ánh mắt Chúa.
Con cái cũng phải học dưới chân Thánh Giá. Đức Giêsu, trong những phút cuối cùng, vẫn lo cho Mẹ. Hình ảnh ấy phải đánh động những người trưởng thành đang có cha mẹ già. Đừng để đến ngày cha mẹ nằm xuống mới mua thật nhiều hoa, mới viết những lời thật xúc động, mới tổ chức tang lễ thật lớn, trong khi lúc còn sống cha mẹ chỉ cần một bữa cơm có mặt con mà cũng không có. Người già không cần con cái lúc nào cũng ở bên, vì đời sống mỗi người có trách nhiệm riêng. Nhưng họ cần biết rằng mình chưa bị bỏ quên. Một cuộc điện thoại, một bữa cơm, một câu hỏi thăm, một lần đưa cha mẹ đi khám bệnh, một chút kiên nhẫn nghe lại câu chuyện đã kể mười lần – đôi khi đó chính là vác Thánh Giá. Chúa không hỏi chúng ta đã nói về chữ hiếu hay đến đâu; Người có thể hỏi đơn giản rằng lúc cha mẹ yếu nhất, chúng ta đã ở đâu.
Thánh Giá còn phải hiện diện trong cách một gia đình đối diện với tiền bạc. Tiền rất cần. Nghèo không phải là một nhân đức tự động, và người Kitô hữu chẳng có lý do gì để xem nhẹ lao động, tiết kiệm, hoạch định tương lai. Nhưng tiền là một người đầy tớ hữu ích và là một ông chủ rất tàn nhẫn. Bao nhiêu gia đình Việt Nam đã tan vỡ vì tiền. Có người đi làm xa vì muốn lo cho gia đình, cuối cùng lại đánh mất chính gia đình. Có anh em từ mặt nhau vì chia tài sản. Có vợ chồng nghi ngờ nhau vì tiền chung tiền riêng. Có người vì muốn con cái “không thua người ta” mà lao vào vòng xoáy kiếm tiền đến chẳng còn ngày Chúa nhật, chẳng còn bữa cơm chung, chẳng còn một cuộc trò chuyện. Thánh Giá nhắc ta rằng giá trị một con người không nằm ở số tiền người ấy kiếm được. Người treo trên Calvê hôm đó chẳng có tài sản, thậm chí áo cũng bị chia mất, nhưng chính Người lại là Đấng cứu độ trần gian. Một căn nhà lớn chưa chắc là một mái ấm. Một chiếc xe đắt tiền không chở nổi một cuộc hôn nhân đã hết yêu thương. Một tài khoản nhiều số không mua được một đứa con tin cha mẹ đủ để kể những bí mật sâu nhất của nó. Gia đình cần tiền, nhưng gia đình còn cần hiện diện, lòng tin và thời gian hơn tiền rất nhiều.
Có một điều rất cần được nói: đừng biến Thánh Giá thành lý do để buộc người khác cam chịu điều ác. Đã có khi người ta nói với một người đang bị đối xử tàn tệ rằng: “Đó là thánh giá của chị, cứ chịu đi.” Nói như thế có thể là một sự xuyên tạc nguy hiểm về Thánh Giá. Đức Giêsu tự do hiến mạng sống vì yêu; Người không dạy người ta dung dưỡng bạo lực, lạm dụng, nghiện ngập hay bất công. Trong gia đình, nếu có bạo lực thể xác, lạm dụng, đe dọa, những hành vi gây nguy hiểm cho người khác, thì cần tìm sự trợ giúp thích hợp và bảo vệ người dễ bị tổn thương. Vác thập giá không có nghĩa là giúp kẻ khác tiếp tục phạm tội. Tha thứ không có nghĩa là xóa bỏ mọi ranh giới. Đức tin không mời người ta phủ nhận sự thật. Thánh Giá là nơi cái ác bị phơi bày và bị chiến thắng bởi tình yêu, chứ không phải nơi cái ác được che đậy dưới hai chữ “hy sinh”.
Trong gia đình Công giáo, Thánh Giá còn dạy cách đi qua bệnh tật và sự chết. Không gia đình nào thoát khỏi ngày này. Sẽ có ngày một người chúng ta thương nằm trên giường bệnh. Sẽ có ngày bác sĩ nói một câu khiến cả gia đình im lặng. Sẽ có ngày trên bàn thờ có thêm một di ảnh. Chính lúc ấy người ta mới hiểu vì sao nhiều thế hệ Kitô hữu muốn đặt Thánh Giá gần người hấp hối. Không phải vì Thánh Giá là dấu của sự chết, mà bởi đó là dấu của một cái chết đã bị Phục Sinh đánh bại. Người hấp hối nhìn Thánh Giá để biết rằng có Đấng đã đi qua cánh cửa mình sắp đi. Người ở lại nhìn Thánh Giá để tin rằng cái chết không có tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng thuộc về tình yêu Thiên Chúa.
Có những gia đình khi một người bệnh nặng thì người ta cầu nguyện xin phép lạ. Điều ấy tốt. Hãy cầu. Hãy xin Chúa chữa lành. Chính Tin Mừng đầy những câu chuyện Chúa chữa bệnh. Nhưng nếu Chúa không chữa theo cách chúng ta mong muốn, đừng vội kết luận rằng Chúa không nghe. Có những phép lạ không nằm ở việc người bệnh sống thêm, mà ở việc một gia đình đang chia rẽ bỗng hòa giải quanh giường bệnh. Có phép lạ là một người từng xa Chúa nhiều năm trở về lãnh nhận các bí tích. Có phép lạ là một người sắp chết tìm lại bình an. Có phép lạ là những đứa con từng bất hòa nắm tay nhau. Có phép lạ là một người mẹ đủ sức nói: “Con tha thứ.” Chúng ta thường muốn Chúa cất Thánh Giá đi; có khi Chúa làm. Nhưng cũng có khi Chúa không cất Thánh Giá mà ban đôi vai mới để ta mang nó.
Đặc biệt trong văn hóa Việt Nam, đời sống gia đình gắn chặt với việc kính nhớ tổ tiên. Một gia đình Công giáo trưởng thành không cần phải chọn một trong hai: hoặc yêu Chúa hoặc nhớ ông bà. Chính đức tin làm tình hiếu thảo sâu hơn. Trước Thánh Giá, ta hiểu rằng tình thân không kết thúc nơi nấm mồ. Chúng ta cầu nguyện cho tổ tiên vì tin rằng trong Đức Kitô, sự hiệp thông vượt qua ranh giới của cái chết. Bàn thờ gia tiên trong một gia đình Công giáo, khi được đặt đúng ý nghĩa, không cạnh tranh với bàn thờ Chúa, nhưng nói lên lòng biết ơn của những người nhận rằng mình không tự nhiên mà có. Có cha mẹ mới có mình. Có tổ tiên mới có hôm nay. Và trên tất cả, có Thiên Chúa là nguồn của mọi sự sống. Vì thế, một người cúi đầu trước di ảnh cha mẹ rồi nhìn lên Thánh Giá có thể thưa: “Lạy Chúa, con cảm ơn Chúa vì cha mẹ con. Xin đón nhận những người đã sinh thành dưỡng dục con vào lòng thương xót của Chúa.”
Nhưng điều quan trọng hơn cả vẫn là: hãy để trẻ em trong nhà nhìn thấy Thánh Giá không chỉ bằng mắt mà bằng đời sống của người lớn. Trẻ em học đức tin bằng những gì chúng thấy trước khi hiểu những điều chúng nghe. Một đứa trẻ thấy cha mình làm dấu Thánh Giá sốt sắng nhưng sau đó đánh mẹ, nó sẽ rất khó hiểu Thánh Giá là tình yêu. Một đứa trẻ thấy mẹ đọc kinh mỗi tối nhưng suốt ngày nói xấu người khác, nó sẽ nhận một sứ điệp méo mó. Ngược lại, khi nó thấy cha mẹ xin lỗi nhau, nó hiểu Tin Mừng. Khi thấy cha biết cúi xuống chăm sóc ông nội đã già, nó hiểu điều răn thứ bốn. Khi thấy mẹ mang thức ăn sang cho một gia đình nghèo, nó hiểu bác ái. Khi thấy cả nhà trước một biến cố khó khăn cùng quỳ xuống cầu nguyện thay vì đổ lỗi cho nhau, nó hiểu đức tin. Khi cha mẹ làm sai và dám nói với con: “Cha sai rồi, cha xin lỗi con”, lúc ấy cây Thánh Giá trên tường bắt đầu biết nói.
Đừng nghĩ rằng uy quyền của cha mẹ sẽ mất nếu xin lỗi con cái. Ngược lại, một người cha biết nhận sai dạy con bài học về sự thật lớn hơn trăm bài giáo huấn. Một người mẹ biết xin lỗi con dạy con rằng tình yêu lớn hơn sĩ diện. Trên Thánh Giá, Đức Kitô đã hạ mình đến tận cùng. Nếu Thiên Chúa không sợ hạ mình, tại sao chúng ta lại sợ? Nhiều gia đình tan vỡ không phải vì một lỗi quá lớn, nhưng vì chẳng ai chịu nói một câu quá nhỏ: “Tôi xin lỗi.” Có những khoảng cách kéo dài nhiều năm chỉ cần một người bước trước. Ai bước trước không phải người thua. Trên Calvê, Thiên Chúa là người bước trước.
Thánh Giá cũng nói với những gia đình đang có người trẻ xa nhà, xa Giáo Hội, thậm chí xa đức tin. Đây là một thập giá rất đau của nhiều cha mẹ Công giáo. Cha mẹ từng đưa con đi Rửa Tội, dạy con làm dấu, đưa con học giáo lý, ngày thêm sức vui mừng, rồi một ngày con nói: “Con không muốn đi lễ nữa.” Đừng vội tuyệt vọng. Đừng biến đức tin thành cây gậy để đánh con. Đừng ngày nào cũng trách móc khiến mỗi lần nhắc đến Chúa là con chỉ nhớ đến căng thẳng. Hãy nhìn Đức Maria dưới chân Thánh Giá. Mẹ không thể kéo Chúa Giêsu xuống. Mẹ chỉ đứng đó. Có những giai đoạn cha mẹ chẳng còn làm được gì ngoài “đứng đó”: vẫn yêu, vẫn cầu nguyện, vẫn làm chứng bằng đời sống, vẫn giữ cánh cửa nhà và cánh cửa lòng mở. Thiên Chúa có những con đường đi vào lòng người mà cha mẹ không nhìn thấy. Một lời kinh của mẹ có thể phải chờ hai mươi năm mới nở hoa. Một gương lành của cha có thể đến lúc cha đã qua đời mới được đứa con hiểu.
Với những người đang sống một mình, người góa bụa, người không có con cái, hay những gia đình không trọn vẹn như người ta mong ước, Thánh Giá cũng nói rằng họ không bị đứng ngoài gia đình của Thiên Chúa. Dưới chân Thánh Giá, Chúa Giêsu đã tạo nên một mối tương quan mới giữa Đức Maria và Gioan. Không cùng huyết thống, nhưng trở thành mẹ và con trong đức tin. Giáo Hội chính là gia đình rộng lớn sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô. Vì thế, một giáo xứ thực sự sống tinh thần Thánh Giá sẽ không để người già neo đơn một mình, không để người góa bụa bị lãng quên, không để những gia đình nghèo phải tự xoay xở, không để một người trẻ lạc lõng mà không ai hỏi thăm. Gia đình Kitô giáo không đóng cửa lại để giữ hạnh phúc cho riêng mình. Tình yêu từ Thánh Giá luôn mở rộng cánh tay.
Nếu có thể, mỗi gia đình hãy dành một lúc nào đó để nhìn lại cây Thánh Giá trong nhà. Không cần nghi thức lớn. Chỉ cần cha mẹ cùng con cái đứng trước Thánh Giá một vài phút. Có thể chẳng cần nói nhiều. Hãy nhìn những bàn tay bị đóng đinh và hỏi: bàn tay mình trong tuần qua đã dùng để nâng người thân hay chỉ tay trách móc? Nhìn đôi chân Chúa và hỏi: chân mình đã bước đến với người đang cần mình hay chỉ tìm sự tiện nghi cho riêng mình? Nhìn cạnh sườn bị đâm và hỏi: trái tim mình còn mềm không? Nhìn vòng gai và hỏi: trong gia đình có ai đang phải đội một vòng gai do chính lời nói của mình tạo nên không? Nhìn đôi mắt Chúa và hỏi: đã bao lâu mình không thật sự nhìn người bạn đời, nhìn con cái, nhìn cha mẹ như một con người có những nỗi đau cần được hiểu?
Và rồi hãy nhìn hai cánh tay Chúa dang rộng. Dường như đó là hình ảnh đẹp nhất dành cho một mái nhà. Cánh tay ấy không khép lại. Gia đình sống tinh thần Thánh Giá cũng phải là nơi con người được đón về. Đứa con thất bại vẫn có đường về. Người chồng vấp ngã nhưng thật lòng hoán cải vẫn có cơ hội bắt đầu. Người vợ kiệt sức có một bờ vai để dựa. Người già yếu biết mình không bị bỏ. Đứa trẻ phạm lỗi biết rằng nó cần chịu trách nhiệm nhưng không vì lỗi lầm mà mất tình thương. Một mái nhà Kitô giáo không phải nơi không ai phạm sai lầm. Đó là nơi sai lầm không mạnh hơn tình yêu.
Người Việt vẫn thường nói: “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn.” Nhưng đối với gia đình Kitô hữu, sự thuận hòa không chỉ dựa trên tính hợp nhau. Hai con người khác nhau sống vài chục năm chắc chắn sẽ có những điều không hợp. Điều giữ họ lại sâu hơn là biết cùng nhìn về một hướng. Nếu người chồng nhìn về Đức Kitô, người vợ nhìn về Đức Kitô, thì dù đôi khi họ chưa nhìn được nhau, ít nhất cả hai còn một điểm gặp. Nếu cha mẹ và con cái cùng đứng dưới Thánh Giá, họ được nhắc rằng tất cả đều là những người được cứu chuộc bằng cùng một giá máu. Đó là lý do cầu nguyện gia đình quan trọng. Không phải để làm cho căn nhà “đạo đức” hơn bên ngoài, mà để có một nơi người ta cùng trở về khi chẳng còn biết phải nói gì với nhau.
Có những tối vợ chồng đang giận nhau, có lẽ chưa cần giải quyết hết. Hãy thử cùng nhau đọc một Kinh Lạy Cha. Đọc đến câu “xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”, chắc hẳn cả hai sẽ thấy khó. Nhưng chính cái khó ấy là ân sủng đang gõ cửa. Có những cha mẹ thất vọng về con, hãy đọc lại dụ ngôn người cha nhân hậu. Có những anh em tranh chấp, hãy đọc lời Chúa: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào có ích gì?” Có người đang bệnh, hãy đọc cuộc khổ nạn. Có người đang sợ chết, hãy đọc câu Chúa nói với người trộm lành: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Kinh Thánh đặt dưới chân Thánh Giá sẽ biến bàn thờ gia đình thành trường học của hy vọng.
Ước gì Thánh Giá trong gia đình Công giáo Việt Nam đừng chỉ xuất hiện lúc làm phép nhà mới, đừng chỉ được lau vào những ngày lễ lớn, đừng chỉ là phông nền phía sau bàn thờ. Ước gì mỗi cây Thánh Giá thực sự trở thành trái tim thiêng liêng của mái ấm. Khi vui, nhìn Thánh Giá để biết cảm tạ. Khi buồn, nhìn Thánh Giá để không tuyệt vọng. Khi giận, nhìn Thánh Giá để biết dừng lại. Khi bị tổn thương, nhìn Thánh Giá để học tha thứ. Khi thành công, nhìn Thánh Giá để không kiêu ngạo. Khi thất bại, nhìn Thánh Giá để biết giá trị của mình không mất. Khi gia đình có người ra đi, nhìn Thánh Giá để tin vào Phục Sinh. Khi chẳng còn biết phải làm gì, cứ ngồi dưới chân Thánh Giá. Có những lúc cầu nguyện hay nhất không phải là nói thật nhiều, mà chỉ là ở đó.
Rồi đến một ngày, mỗi chúng ta cũng sẽ rời căn nhà của mình. Những đồ vật ta từng nâng niu sẽ thuộc về người khác. Căn phòng ta từng ngủ sẽ có người khác ở hoặc sẽ trở nên trống vắng. Quần áo được đem cho. Những giấy tờ được thu dọn. Một tấm ảnh của ta có thể được đặt lên bàn thờ. Con cháu sẽ nhớ ta một thời gian rồi cuộc sống tiếp tục. Đến lúc ấy điều đáng hỏi không phải là ta đã để lại cho con bao nhiêu đất, bao nhiêu tiền, bao nhiêu tài sản. Câu hỏi lớn hơn là: ta có để lại cho chúng một con đường về với Chúa không? Chúng có nhớ một người cha thường đứng trước Thánh Giá không? Chúng có nhớ một người mẹ dù đau khổ vẫn tin cậy Chúa không? Chúng có nhớ trong những lúc gian nan nhất, cha mẹ không nguyền rủa đời nhưng quỳ xuống cầu nguyện không? Chúng có nhớ rằng căn nhà tuổi thơ của chúng là một nơi có tha thứ không?
Đó mới là gia tài quý nhất.
Một cây Thánh Giá cũ có thể chẳng đáng bao nhiêu tiền, nhưng nếu dưới cây Thánh Giá ấy từng có một người mẹ cầu nguyện suốt đời cho con, nó quý hơn vàng. Một bàn thờ gia đình đơn sơ chẳng đáng để khoe với ai, nhưng nếu trước bàn thờ ấy một người cha từng khóc và xin Chúa giữ gìn các con, đó là nơi thánh. Một căn nhà nhỏ có thể chẳng ai chú ý, nhưng nếu trong căn nhà ấy người ta biết yêu nhau, tha thứ cho nhau, chăm sóc người yếu, chia cơm cho người nghèo và cầu nguyện với nhau, thì căn nhà ấy đã trở thành một Hội Thánh tại gia.
Và có lẽ đó là điều Chúa mong nhất khi Người nhìn thấy cây Thánh Giá mang hình Người đang được treo trong nhà chúng ta.
Chúa không cần một chỗ thật đẹp trên bức tường nếu Người không có chỗ trong lòng người sống dưới mái nhà ấy. Chúa không cần chúng ta thắp cho Người nhiều đèn nếu chính chúng ta đang làm tối cuộc đời nhau. Chúa không cần một cây Thánh Giá thật đắt nếu người trong nhà không chịu vác lấy gánh nặng của nhau. Chúa không cần những lời kinh thật dài nếu sau khi đọc kinh chúng ta vẫn không chịu nói với nhau một lời tử tế. Điều Chúa muốn là khi nhìn lên Người chịu đóng đinh, chúng ta hiểu rằng tình yêu thật luôn có giá. Giá của tình yêu là biết quên mình. Giá của hạnh phúc gia đình là hy sinh. Giá của sự hiệp nhất là biết nhường. Giá của tha thứ là chấp nhận buông một phần tự ái. Giá của lòng trung tín là nói “không” với những cám dỗ có thể làm đau người mình đã hứa yêu suốt đời.
Nhưng trên hết, Thánh Giá nói rằng cái giá ấy đáng để trả.
Bởi sau Thánh Giá là Phục Sinh.
Không có gia đình nào quá tan vỡ đến mức Chúa không thể chạm tới. Không có vết thương nào quá cũ để lòng thương xót Chúa không thể bắt đầu chữa lành. Không có người con nào đi quá xa để Chúa không biết đường tìm. Không có cuộc hôn nhân nào đang khủng hoảng mà lời cầu nguyện, sự thật, thiện chí và những trợ giúp đúng đắn hoàn toàn vô nghĩa. Không có tuổi già nào vô dụng trước mặt Chúa. Không có giọt nước mắt âm thầm nào rơi dưới chân Thánh Giá mà Người không thấy.
Vậy nên, mỗi lần bước vào nhà, hãy thử một lần nhìn lên cây Thánh Giá.
Nếu đang bình an, hãy tạ ơn.
Nếu đang đau khổ, hãy thưa: “Lạy Chúa, xin ở với gia đình con.”
Nếu đang giận một người trong nhà, hãy nhìn lâu thêm một chút.
Nếu đang muốn bỏ cuộc, hãy nhìn những bàn tay vẫn còn dang ra.
Nếu chẳng biết cầu nguyện thế nào, chỉ cần thưa: “Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, xin dạy gia đình con biết yêu như Chúa đã yêu.”
Chỉ một lời ấy thôi, nếu được nói bằng cả trái tim, có thể là khởi đầu của rất nhiều điều.
Và khi mỗi căn nhà Công giáo Việt Nam không chỉ treo Thánh Giá mà còn sống Thánh Giá, thì trong những con hẻm nhỏ, trong những làng quê, trên phố thị, ở miền xuôi cũng như miền ngược, trong những căn nhà giàu có cũng như những mái nhà nghèo, sẽ có biết bao ngọn đèn âm thầm được thắp lên. Đó là những gia đình mà người ta bước vào và cảm thấy một điều khó gọi tên: có bình an. Không phải vì họ chẳng có vấn đề, nhưng vì giữa mọi vấn đề vẫn có Chúa. Không phải vì chẳng ai khóc, nhưng nước mắt có một nơi để rơi. Không phải chẳng ai phạm lỗi, nhưng lỗi lầm có một con đường dẫn đến tha thứ. Không phải chẳng ai chết, nhưng cái chết không giết được niềm hy vọng. Và giữa căn nhà ấy, cây Thánh Giá lặng lẽ vẫn dang hai cánh tay, như đã dang trên đồi Golgotha hai ngàn năm trước, để ôm lấy người cha, người mẹ, người con, người già, người trẻ, người thành công, người thất bại, người thánh thiện và cả người đang yếu đuối mà nói với tất cả: “Hãy ở lại trong tình thương của Thầy.”
Gia đình nào ở lại dưới bóng Thánh Giá, gia đình ấy có thể còn nhiều nước mắt, nhưng sẽ không thiếu hy vọng. Có thể còn nhiều thử thách, nhưng sẽ không thiếu một con đường. Có thể đôi khi tưởng như mọi sự đã đến tận cùng, nhưng người Kitô hữu biết rằng nơi con người thấy tận cùng, Thiên Chúa có thể bắt đầu một buổi sáng Phục Sinh.
Xin cho Thánh Giá trong mỗi gia đình Công giáo Việt Nam không bao giờ chỉ là một vật được treo lên, nhưng là một Tin Mừng được sống. Xin cho những đôi tay từng làm dấu Thánh Giá cũng biết giang ra để ôm lấy nhau. Xin cho đôi môi từng hôn kính Thánh Giá cũng biết nói những lời chữa lành. Xin cho những đầu gối từng quỳ dưới Thánh Giá cũng biết cúi xuống phục vụ người thân. Xin cho những người vẫn gọi Đức Giêsu chịu đóng đinh là Chúa biết nhận ra Người trong người bạn đời, trong cha mẹ già, trong đứa con khó dạy, trong người anh em đang làm mình tổn thương, trong người bệnh cần chăm sóc, trong người yếu đuối đang cần được nâng đỡ.
Và xin cho đến ngày căn nhà trần thế khép lại, chúng ta có thể nhìn lại gia đình mình mà thưa với Chúa một lời thật đơn sơ: “Lạy Chúa, gia đình con không hoàn hảo. Chúng con đã từng làm nhau đau. Chúng con đã có những ngày mệt mỏi, những lần thất vọng, những lúc tưởng không thể đi tiếp. Nhưng nhờ Thánh Giá Chúa, chúng con đã học lại cách yêu. Nhờ Thánh Giá Chúa, chúng con đã biết tha thứ. Nhờ Thánh Giá Chúa, chúng con đã không buông tay nhau. Và hôm nay, xin Chúa đưa tất cả chúng con về Nhà Cha, nơi không còn chia ly, không còn nước mắt, không còn thập giá, chỉ còn tình yêu tồn tại đến muôn đời.”
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VỚI GIỚI TRẺ: KHI NGƯỜI TRẺ KHÔNG MUỐN “VÁC” GÌ CẢ
Có lẽ chưa bao giờ người trẻ có nhiều thứ trong tay như hôm nay, nhưng cũng có lẽ chưa bao giờ người trẻ lại dễ cảm thấy nặng nề như hôm nay. Một chiếc điện thoại nhỏ có thể đưa cả thế giới vào lòng bàn tay. Một cú chạm có thể gọi xe, đặt thức ăn, mua một món hàng, xem một bộ phim, trò chuyện với một người ở bên kia bán cầu. Người trẻ quen với tốc độ, quen với tiện lợi, quen với việc cái gì lâu quá thì bỏ qua, cái gì khó quá thì tìm đường khác, cái gì không thích thì lướt sang, cái gì khiến mình mệt thì tắt đi. Và rồi, giữa một thế giới luôn hứa hẹn rằng mọi thứ phải nhanh hơn, nhẹ hơn, dễ hơn, vui hơn, Tin Mừng lại đặt trước mặt người trẻ một câu nói nghe chẳng dễ chịu chút nào: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Chúa Giêsu không quảng cáo một con đường không có mồ hôi. Người không nói: theo Thầy rồi con sẽ khỏi đau, khỏi buồn, khỏi thất bại, khỏi bị hiểu lầm. Người cũng không hứa rằng người môn đệ sẽ luôn thành công, luôn được tung hô, luôn gặp thuận lợi. Ngược lại, Người nói rất rõ đến mức nghe mà thấy ngại: từ bỏ mình, vác thập giá mình, và không phải thỉnh thoảng mà là hằng ngày. Đối với một thế hệ đang được dạy phải “yêu bản thân”, phải “sống cho mình”, phải tránh những điều “toxic”, phải bảo vệ cảm xúc của mình bằng mọi giá, lời mời gọi ấy dễ bị hiểu như một điều lỗi thời, nặng nề, thậm chí khắc nghiệt. Nhưng nếu đọc Tin Mừng bằng cả trái tim, ta sẽ thấy Chúa Giêsu không muốn nghiền nát tuổi trẻ dưới một cây thập giá; Người muốn cứu tuổi trẻ khỏi một đời sống nhẹ đến mức rỗng, vui đến mức chóng chán, tự do đến mức lạc đường, và chỉ biết giữ mình đến mức cuối cùng chẳng còn gì để trao cho ai.
Người trẻ hôm nay không hẳn là không muốn hy sinh. Nói cho công bằng, có rất nhiều người trẻ đang hy sinh dữ lắm. Có em thức khuya học hành vì tương lai. Có bạn làm hai ba công việc để phụ giúp cha mẹ. Có người trẻ rời quê lên thành phố, ăn uống dè sẻn, ở phòng trọ chật hẹp, chịu cô đơn để học hành và lập nghiệp. Có bạn trẻ chăm cha mẹ đau yếu, chăm em nhỏ, chấp nhận bỏ những cuộc vui để lo cho gia đình. Có những người trẻ làm thiện nguyện, vào vùng lũ, đến mái ấm, chăm bệnh nhân, hiến máu, phục vụ giáo xứ, dạy giáo lý, sinh hoạt thiếu nhi, làm những việc chẳng ai trả lương và cũng chẳng mấy ai biết tên. Như vậy, vấn đề không phải người trẻ hôm nay hoàn toàn không biết “vác”. Vấn đề là nhiều người trẻ chỉ muốn vác cái mình tự chọn, còn khi cuộc đời đặt lên vai một điều mình không chọn thì lập tức muốn quăng xuống. Ta sẵn sàng cực khổ để có một thân hình đẹp, nhưng khó hy sinh một giấc ngủ để giúp cha mẹ. Ta có thể nhẫn nại hàng tháng để đạt một mục tiêu nghề nghiệp, nhưng lại thiếu kiên nhẫn vài phút với người thân. Ta có thể dành nhiều giờ tập luyện một kỹ năng mình thích, nhưng thấy mười lăm phút cầu nguyện đã dài. Ta có thể cố gắng đến kiệt sức để được người đời công nhận, nhưng một chút hiểu lầm trong cộng đoàn đã muốn bỏ cuộc. Điều đáng suy nghĩ ở đây không phải là người trẻ không chịu khổ; nhiều người chịu khổ ghê gớm. Nhưng người trẻ rất dễ chấp nhận đau khổ nào giúp mình đạt cái mình muốn, còn đau khổ nào dạy mình yêu, dạy mình trung thành, dạy mình chịu trách nhiệm, dạy mình ra khỏi cái tôi thì lại thường bị xem như một gánh nặng vô nghĩa.
Thánh Giá của Đức Kitô đi ngược lại não trạng ấy. Thánh Giá không phải là yêu đau khổ vì đau khổ. Kitô giáo chưa bao giờ dạy con người đi tìm bệnh tật, thất bại, bất công hay nhục nhã. Chúa Giêsu chữa người bệnh, cho người đói ăn, an ủi người khóc, giải thoát người bị áp bức. Người không tôn thờ khổ đau. Nhưng Người biết có những đau khổ không thể tránh nếu con người thật sự muốn yêu. Một người mẹ sinh con phải chịu đau. Một người cha nuôi con phải chịu cực. Một sinh viên muốn trưởng thành phải chịu kỷ luật. Một đôi vợ chồng muốn đi với nhau cả đời phải biết nhịn, biết tha, biết sửa mình. Một linh mục muốn ở với đoàn chiên phải chấp nhận những ngày mệt mà vẫn phải lên đường. Một người trẻ muốn sống tử tế giữa một môi trường gian dối có khi phải chịu thiệt. Một Kitô hữu muốn giữ đức tin giữa một thế giới cười nhạo đức tin có khi phải chịu cô độc. Không phải mọi đau khổ đều là Thánh Giá, nhưng bất cứ đau khổ nào được đón nhận vì tình yêu, vì sự thật, vì trách nhiệm và vì lòng trung thành với Chúa đều có thể trở thành Thánh Giá cứu độ. Điều làm nên Thánh Giá không phải chỉ là cái đau; điều làm nên Thánh Giá là tình yêu nằm bên trong cái đau ấy.
Điều đáng sợ nhất của tuổi trẻ không phải là vác một cây thập giá quá nặng. Điều đáng sợ nhất là sống cả tuổi trẻ mà chẳng có gì đáng để mình vác. Một đời người không chịu hy sinh cho ai, không chịu trách nhiệm về điều gì, không dám trung thành với bất cứ điều gì, có thể rất nhẹ, nhưng đó là một sự nhẹ nhàng khủng khiếp. Một chiếc thuyền không chở gì thì rất nhẹ, nhưng cũng chính vì chẳng chở gì nên chuyến đi của nó chẳng có bao nhiêu ý nghĩa. Một trái tim không yêu ai thì ít bị tổn thương, nhưng cũng chẳng biết hạnh phúc của tình yêu là gì. Một người không dấn thân vào đâu sẽ ít thất vọng, nhưng cuối đời cũng chẳng có gì để nhớ. Một người không bao giờ trao mình thì có vẻ giữ được tất cả, nhưng thực ra cuối cùng mất chính mình. Chúa Giêsu đã nói một nghịch lý mà mỗi người trẻ cần nghe thật lâu: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Lc 9,24). Con người chỉ thật sự có mình khi biết trao mình. Ta chỉ trưởng thành khi bắt đầu sống cho một điều lớn hơn sở thích của mình. Tuổi trẻ đẹp không phải vì không có gánh nặng; tuổi trẻ đẹp vì dám chọn những gánh nặng xứng đáng.
Có một kiểu giáo dục đang âm thầm làm người trẻ yếu đi: người lớn cố loại khỏi đời con trẻ mọi khó khăn. Con muốn gì cũng được. Con buồn một chút là cả nhà cuống lên. Con bị nhắc nhở thì cha mẹ bênh. Con thất bại thì tìm người để đổ lỗi. Con có vấn đề ở trường thì trước hết phải hỏi xem thầy cô đã làm gì con, chứ hiếm khi hỏi con đã làm gì. Con không thích việc nhà thì thôi. Con thấy đi lễ mệt thì thôi. Con không thích học giáo lý thì thôi. Con muốn ngủ thì khỏi cầu nguyện. Con khó chịu với ai thì cắt người ấy ra khỏi đời mình. Dần dần người trẻ hình thành một ảo tưởng nguy hiểm: đời sống tốt là đời sống trong đó không ai làm mình khó chịu. Nhưng cuộc sống thật không như thế. Hôn nhân sẽ có người làm ta khó chịu. Gia đình sẽ có người khiến ta tổn thương. Công việc sẽ có đồng nghiệp không hợp ý. Cộng đoàn sẽ có người ta không thích. Giáo Hội cũng có những con người bất toàn. Và chính mình cũng là một người khiến người khác phải chịu đựng biết bao lần mà mình không hay. Nếu một người trẻ chỉ học cách rời khỏi mọi điều làm mình khó chịu mà không học phân định điều gì phải rời bỏ và điều gì cần kiên trì, người ấy có thể chạy suốt đời mà không tìm được một nơi bình an. Bởi vì đến một lúc, điều làm mình khó chịu nhất không còn nằm bên ngoài nữa; nó nằm ngay trong chính mình.
Chúa Giêsu không nói: “Ai muốn theo Thầy hãy vác thập giá của người khác.” Người nói: “vác thập giá mình.” Có một chữ “mình” nghe nhỏ thôi mà sâu vô cùng. Thập giá của mỗi người không giống nhau. Có người mang mặc cảm về thân thể. Có người sống trong một gia đình cha mẹ bất hòa. Có người mang nỗi đau cha mẹ ly dị. Có người phải chịu một người cha nghiện ngập, một người mẹ nóng tính, một người thân đau bệnh. Có người vật lộn với tính khí của chính mình. Có bạn học không giỏi như mong muốn. Có người bị thất tình. Có người bị phản bội. Có người mang một giấc mơ dang dở. Có người muốn đi tu nhưng gia đình ngăn cản. Có người muốn lập gia đình nhưng mãi không gặp được người phù hợp. Có người ra trường mà chưa có việc. Có người nhìn bạn bè thành công rồi thấy mình vô dụng. Có người đăng một tấm hình chỉ mong vài lời yêu thương nhưng nhận về những câu bình luận độc ác. Có người mỗi tối cầm điện thoại đến khuya, thấy cả thế giới dường như đang sống một cuộc đời hạnh phúc hơn mình, rồi nằm xuống với cảm giác chẳng ai hiểu mình. Những cây thập giá ấy có thể chẳng ai nhìn thấy. Không có cây gỗ nào đặt lên vai, không có mão gai, không có đinh sắt, nhưng lòng người vẫn có thể đau như bị đóng đinh.
Chúa không bảo người trẻ giả vờ rằng những điều ấy không đau. Đức tin không phải là một lớp sơn phủ lên vết thương rồi bảo: “Con có Chúa thì đừng buồn nữa.” Chính Chúa Giêsu trong vườn Ghếtsêmani đã buồn đến chết được. Người nói với các môn đệ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mt 26,38). Người không đóng vai anh hùng. Người không nói: “Ta là Con Thiên Chúa nên chẳng sao cả.” Người quỳ xuống cầu nguyện, mồ hôi như những giọt máu, và thưa với Cha: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này. Tuy nhiên, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39). Đây có lẽ là đoạn Tin Mừng rất cần cho người trẻ hôm nay. Chúa Giêsu không muốn uống chén đắng. Người không thích đau khổ. Người xin nếu có thể hãy cất nó đi. Như vậy, sợ thập giá không phải là tội. Mệt vì thập giá không phải là thiếu đức tin. Khóc trước thập giá không có nghĩa là mình yếu. Có những lúc người trẻ được quyền nói với Chúa: “Con mệt quá.” Được quyền nói: “Con không muốn chuyện này xảy ra.” Được quyền khóc. Được quyền xin Chúa cất đi điều đang làm mình đau. Nhưng đức tin bắt đầu trưởng thành ở câu sau cùng: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Nghĩa là: nếu điều này không thể tránh, xin cho con đừng trở thành người xấu vì nó. Nếu con phải đi qua, xin Chúa đi cùng con. Nếu con không thay đổi được hoàn cảnh, xin thay đổi trái tim con. Nếu con không thể bỏ cây thập giá xuống, xin dạy con cách vác nó mà không đánh mất tình yêu.
Một trong những cám dỗ lớn nhất của người trẻ là tưởng rằng tự do nghĩa là không phải mang bất cứ điều gì. Nhưng tự do Kitô giáo không phải là không có ràng buộc; tự do là có khả năng chọn điều tốt ngay cả khi điều tốt đòi mình trả giá. Người nghiện điện thoại muốn bỏ mà không bỏ được, người ấy không tự do. Người nổi nóng muốn nhịn mà không nhịn được, người ấy không tự do. Người cứ phải được người khác khen mới vui, người ấy không tự do. Người biết một mối quan hệ làm mình xa Chúa nhưng không dứt ra được, người ấy không tự do. Người luôn phải làm theo cảm xúc của mình không phải là người tự do nhất; có khi đó lại là người bị cảm xúc sai khiến nhất. Chúa Giêsu trên Thánh Giá có vẻ như mất hết tự do: hai tay bị đóng đinh, chân không thể bước, thân mình không thể xoay trở. Nhưng chính trên Thánh Giá Người lại biểu lộ một tự do tuyệt đối: không ai có thể ép Người ngừng yêu. Người có thể bị đóng đinh nhưng không ai đóng đinh được tình yêu của Người. Người bị người ta lăng nhục nhưng vẫn nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Người bị bỏ rơi mà vẫn trao Mẹ cho môn đệ, trao môn đệ cho Mẹ. Người bị lấy hết mọi sự mà vẫn còn một điều không ai cướp được: quyền yêu cho đến cùng. Đó mới là tự do.
Người trẻ ngày nay nói rất nhiều về quyền lựa chọn. Đó là điều tốt. Nhưng trưởng thành không chỉ là biết mình có quyền chọn; trưởng thành còn là biết chịu trách nhiệm cho điều mình chọn. Ta chọn yêu một người thì phải học trung thành. Ta chọn một ơn gọi thì phải có ngày sống vì ơn gọi dù hôm ấy không còn cảm xúc đẹp. Ta chọn làm môn đệ Chúa thì sẽ có những lúc phải nói không với một điều mọi người đều nói có. Nếu đời sống đức tin chỉ còn là chọn điều nào hợp cảm xúc, nhà thờ nào mình thích, linh mục nào giảng hợp mình, cộng đoàn nào khiến mình vui, bài giáo lý nào nghe dễ chịu, thì Chúa Giêsu rất dễ bị biến thành một sản phẩm tinh thần để tiêu thụ. Hôm nào thấy Chúa làm mình vui thì gần Chúa. Hôm nào cầu nguyện không cảm thấy gì thì bỏ. Hôm nào Giáo Hội dạy điều hợp ý mình thì vâng. Điều nào không hợp thì cho là Giáo Hội cổ hủ. Nhưng môn đệ không phải là khách hàng. Chúa Giêsu không phải là một dịch vụ tâm linh. Đức tin không phải là một ứng dụng ta mở khi cần bình an rồi đóng khi cuộc đời đang vui.
Thánh Giá đặt ra một câu hỏi rất thật cho người trẻ: Con có yêu điều gì đủ để chịu đau vì nó không? Nếu câu trả lời là không, thì điều đáng lo không phải vì con chưa đủ đạo đức; điều đáng lo là con chưa tìm ra điều gì đủ lớn để đáng sống. Người mẹ có thể thức trắng đêm cạnh đứa con bệnh vì bà yêu. Một người trẻ có thể đi hàng trăm cây số để gặp người mình yêu vì tình yêu làm quãng đường ngắn lại. Các vị tử đạo chịu mất mạng không phải vì thích chết nhưng vì đã gặp một Đấng quý hơn mạng sống. Các thánh không đi tìm thập giá; các ngài tìm Đức Kitô, và vì Đức Kitô đi qua Thánh Giá nên các ngài cũng đi qua đó. Nếu chỉ nhìn cây gỗ, Thánh Giá là vô lý. Nếu nhìn Đấng đang ở trên cây gỗ ấy, Thánh Giá trở thành câu chuyện của một tình yêu không bỏ cuộc.
Có nhiều người trẻ bỏ cầu nguyện khi gặp đau khổ vì nghĩ: “Con cầu nguyện mà Chúa đâu có giải quyết.” Đằng sau câu ấy là một quan niệm rất tự nhiên: Chúa tốt thì Chúa phải cất khó khăn đi. Nhưng thử nhìn Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá. Mẹ là người được thiên thần gọi là “đầy ân sủng”. Nếu ai đáng được Chúa bảo vệ khỏi đau khổ thì có lẽ phải là Mẹ. Vậy mà một lưỡi gươm xuyên qua tâm hồn Mẹ. Mẹ đứng nhìn Con mình chết mà không làm được gì. Chúa không cất Thánh Giá khỏi đời Đức Maria, nhưng làm cho Mẹ đủ sức đứng bên Thánh Giá. Và có những phép lạ trong đời chúng ta cũng như thế. Ta thường chỉ gọi là phép lạ khi bệnh được chữa, thất nghiệp tìm được việc, gia đình hết xung đột, người yêu quay về, kỳ thi thành công. Nhưng có một phép lạ thầm lặng hơn: bệnh không khỏi mà mình vẫn không tuyệt vọng; người ta bỏ mình mà mình không đánh mất lòng tốt; thất bại mà mình không cay độc; bị phản bội mà vẫn còn khả năng tin; cầu nguyện mãi chưa thấy đổi hoàn cảnh nhưng trái tim mình dần đổi khác. Đôi khi Chúa không làm cây thập giá nhẹ đi; Người làm đôi vai ta mạnh hơn. Đôi khi Người không dẹp con sóng; Người dạy ta đi qua con sóng. Đôi khi Người không cho ta một cuộc đời như mình tưởng, nhưng làm cho cuộc đời đang có trở thành nơi ta gặp Người.
Và cũng phải nói thật với người trẻ rằng không phải cái gì nặng cũng phải vác. Có những cái phải bỏ xuống. Một mối quan hệ bạo hành không phải Thánh Giá Chúa bắt con chịu. Một sự thao túng, lợi dụng, xúc phạm nhân phẩm không phải điều phải cam chịu nhân danh đức tin. Một thói nghiện ngập phải được chữa trị chứ không phải ôm giữ rồi gọi là thập giá. Một môi trường kéo mình vào tội lỗi có khi phải can đảm rời đi. Một gánh nặng tâm lý vượt quá sức cần được chia sẻ và tìm sự trợ giúp thích hợp. Có những cây thập giá Chúa mời ta vác, nhưng cũng có những cây thập giá do tội lỗi của con người chất lên vai người khác mà ta phải cùng nhau tháo xuống. Người Kitô hữu không được thần thánh hóa đau khổ. Đức Giêsu vác Thánh Giá vì yêu, nhưng Người cũng chống lại những kẻ biến Lề Luật thành gánh nặng trên vai dân. Phân định là điều rất quan trọng: cái gì tôi phải kiên trì, cái gì tôi phải thay đổi, cái gì tôi phải buông bỏ, cái gì tôi phải chiến đấu chống lại. Không phải cứ chịu đựng là thánh thiện. Có khi thánh thiện là đứng lên. Có khi thánh thiện là nói “không”. Có khi thánh thiện là tìm người giúp. Có khi thánh thiện là tha thứ. Có khi thánh thiện lại là thiết lập một khoảng cách cần thiết để ngăn điều xấu tiếp tục.
Nhưng có một điều chắc chắn: không ai trưởng thành mà không đi qua thập giá. Ta có thể trì hoãn nó, che giấu nó, chạy khỏi nó, nhưng không thể loại bỏ nó khỏi thân phận con người. Nếu không học mang thập giá nhỏ khi còn trẻ, ta sẽ rất dễ gãy trước thập giá lớn khi trưởng thành. Những việc rất nhỏ mỗi ngày chính là trường học của Thánh Giá: tắt điện thoại để ngồi ăn với gia đình; thức dậy đúng giờ dù còn muốn ngủ; hoàn thành công việc dù chẳng ai kiểm tra; giữ lời hứa dù mình đã hết hứng; xin lỗi dù lòng tự ái đau; tha thứ dù ký ức vẫn còn; nhường một câu trong cuộc tranh luận để giữ tình thân; đến thăm ông bà thay vì chỉ gửi một biểu tượng trái tim qua tin nhắn; cầu nguyện khi không có cảm xúc; đi lễ khi trời mưa; phục vụ khi không ai cảm ơn; kiêng một thú vui để chia sẻ với người nghèo; nói sự thật khi một lời nói dối có thể giúp mình thoát trách nhiệm. Đó là những chiếc đinh rất nhỏ. Nhưng chính chúng đóng cái tôi ích kỷ xuống để một con người mới được sinh ra.
Thế giới thường nói với người trẻ: “Hãy là chính mình.” Tin Mừng nói thêm: hãy trở thành con người đẹp nhất mà Thiên Chúa đã mơ về con. Bởi vì “chính mình” không phải lúc nào cũng đáng giữ nguyên. Trong tôi có lòng tốt nhưng cũng có ích kỷ. Trong tôi có khả năng yêu nhưng cũng có ghen tuông. Trong tôi có những ước mơ cao đẹp nhưng cũng có lười biếng. Nếu cứ “là chính mình” theo nghĩa cảm thấy sao sống vậy thì ta sẽ không bao giờ lớn. Chúa Giêsu nói “từ bỏ chính mình” không phải là ghét bản thân, không phải chà đạp nhân phẩm, nhưng là từ bỏ con người cũ đang ngăn ta trở thành con người thật. Từ bỏ cái tôi muốn luôn đúng. Từ bỏ nhu cầu phải hơn người. Từ bỏ thói quen đổ lỗi. Từ bỏ sự lệ thuộc vào lời khen. Từ bỏ lối sống chỉ hỏi: “Tôi được gì?” để bắt đầu hỏi: “Tôi có thể trao gì?” Thánh Giá cắt bỏ cái giả để con người thật xuất hiện.
Có lẽ một trong những thập giá đặc biệt của người trẻ thời nay là thập giá của sự so sánh. Ngày trước người ta chỉ so mình với vài người hàng xóm. Hôm nay mở điện thoại lên là có thể so cuộc đời mình với hàng nghìn người. Một người khoe chuyến du lịch. Người khác khoe nhà mới. Người nọ đính hôn. Người kia thăng chức. Người khác có thân hình đẹp. Có người mới hai mươi mấy tuổi đã thành công. Và người trẻ ngồi trong căn phòng của mình bỗng thấy cuộc đời mình quá tầm thường. Nhưng mạng xã hội thường cho ta xem sân khấu của người khác trong khi ta biết cả hậu trường của mình. Ta thấy ảnh cưới mà không thấy những lần họ cãi nhau. Ta thấy thành công mà không thấy những đêm họ mất ngủ. Ta thấy nụ cười mà không thấy vết thương. Ta nhìn những đoạn đẹp nhất của đời người khác rồi đem so với toàn bộ sự lộn xộn của đời mình. Thập giá lúc ấy là học sống đời mình. Chấp nhận nhịp độ Chúa dành cho mình. Có người nở hoa năm hai mươi tuổi, có người năm bốn mươi. Có hạt giống bật mầm sau một cơn mưa, có hạt nằm rất lâu trong đất. Điều quan trọng không phải tôi đi nhanh hơn ai, nhưng tôi có đang đi đúng hướng không.
Thập giá của người trẻ còn là thập giá của việc chờ đợi. Thời đại này không thích chờ. Video vài giây không hấp dẫn thì bỏ. Trang web chậm vài giây đã sốt ruột. Nhưng những điều đẹp nhất trong đời đều cần thời gian. Một nhân cách cần thời gian. Một ơn gọi cần thời gian. Một tình yêu thật cần thời gian. Đức tin cần thời gian. Chúa Giêsu sống ba mươi năm âm thầm trước khi ba năm rao giảng. Người trẻ thường muốn thấy ngay kết quả của cầu nguyện, của cố gắng, của phục vụ. Nhưng hạt lúa phải nằm trong lòng đất. Chúa Giêsu nói: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Câu ấy rất đẹp nhưng cũng rất đau. Hạt giống phải chấp nhận biến mất dưới đất trước khi xuất hiện thành cây. Trong đời người cũng có những mùa như thế: ta không thấy mình tiến bộ, không ai nhận ra cố gắng của mình, lời cầu nguyện như rơi vào thinh lặng, cuộc sống tưởng như chẳng đi đến đâu. Nhưng có thể chính trong vùng đất tối ấy, Thiên Chúa đang làm những điều ta chưa nhìn thấy.
Người trẻ cũng cần hiểu rằng Chúa không bao giờ bảo ta vác thập giá một mình. Trên đường lên Canvê, Đức Giêsu đã để ông Simon thành Kyrênê ghé vai vào Thánh Giá của Người. Thiên Chúa làm người đã chấp nhận để một con người giúp mình. Thế thì tại sao ta lại xấu hổ khi cần giúp đỡ? Có những người trẻ cố tỏ ra mạnh, cười ngoài mặt, đăng những câu vui vẻ nhưng bên trong đang sụp đổ. Vì sợ người khác nghĩ mình yếu, họ im lặng quá lâu. Không. Có lúc vác thập giá nghĩa là đủ khiêm tốn để nói: “Xin giúp tôi.” Hãy tìm một người lớn đáng tin, một linh mục, một tu sĩ, một người đồng hành, một người bạn trưởng thành. Hãy nói. Hãy để người khác ghé vai. Và ngược lại, đừng chỉ hỏi “Ai sẽ giúp tôi?” mà hãy nhìn quanh: có Thánh Giá nào đang cần vai của mình không? Có người bạn đang cô đơn? Có một người trong nhà lâu nay chẳng ai chịu nghe? Có người bạn học đang bị chế giễu? Có một ông bà già cần được thăm? Có người nghèo cần một phần nhỏ trong số tiền mình đang tiêu? Simon không biết rằng một buổi chiều tình cờ ghé vai vào cây gỗ ấy sẽ khiến tên ông được nhắc lại suốt hai ngàn năm. Có những điều rất nhỏ ta làm cho người đau khổ cũng sẽ đi vào cõi đời đời như thế.
Một người trẻ hỏi: “Tại sao phải vác thập giá?” Có lẽ câu trả lời sâu nhất không phải “vì Chúa bắt,” nhưng là vì Chúa đã vác trước. Kitô giáo không phải tôn giáo của một Thiên Chúa ngồi trên trời chỉ xuống và nói: “Con chịu đi.” Thiên Chúa đã bước xuống. Người biết cảm giác bị bạn bè bỏ chạy. Người biết cảm giác bị phản bội bằng một nụ hôn. Người biết thế nào là bị vu oan, bị chế giễu, bị đánh, bị lột trần, bị cô độc, bị đau đến không còn sức. Người đã đi vào phần tối nhất của thân phận con người. Vì thế, khi một người trẻ ngồi khóc trong căn phòng không ai biết, Chúa không đứng ngoài cửa. Khi một người trẻ thấy mình thất bại, Chúa không khinh. Khi ta bị người khác bỏ, ta có thể nhìn lên Đấng từng kêu: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34). Không có vực thẳm nào trong lòng người mà Đức Kitô chưa từng bước xuống. Thánh Giá là lời Thiên Chúa nói với con người: “Con không đau một mình.”
Nhưng Tin Mừng không kết thúc vào chiều Thứ Sáu Tuần Thánh. Đây là điểm người trẻ phải nhớ. Nếu chỉ có Thánh Giá mà không có Phục Sinh, Kitô giáo sẽ là một tôn giáo buồn bã. Nhưng Thánh Giá của Đức Kitô luôn hướng đến bình minh ngày thứ nhất trong tuần. Ngôi mộ không giữ được Người. Hòn đá đã lăn ra. Các vết thương vẫn còn trên thân thể Phục Sinh, nhưng những vết thương ấy không còn là dấu của thất bại; chúng trở thành dấu của chiến thắng. Điều này rất đẹp: Chúa Phục Sinh không xóa sẹo. Người cho Tôma chạm vào những vết đinh. Có lẽ trong vĩnh cửu, Thiên Chúa cũng không xóa sạch lịch sử đau khổ của ta như thể chưa từng xảy ra; Người biến nó thành một phần của vẻ đẹp được cứu chuộc. Những điều hôm nay làm ta xấu hổ có thể mai này trở thành nơi ta giúp được một người khác. Một thất bại có thể làm ta khiêm tốn hơn. Một lần bị bỏ rơi có thể làm ta biết thương người cô độc. Một thời gian nghèo khó có thể làm ta hiểu người nghèo. Một vết thương được chữa lành có thể trở thành cánh cửa để ta bước vào nỗi đau của người khác. Chúa không lãng phí nước mắt.
Vì thế, đừng nói với người trẻ rằng theo Chúa là phải cắn răng chịu đựng tất cả. Hãy nói với họ rằng theo Chúa là học cách biến điều mình phải chịu thành một nơi để yêu. Đừng bảo họ phải tìm Thánh Giá. Cuộc đời sẽ mang Thánh Giá đến đủ rồi. Hãy dạy họ nhận ra cây Thánh Giá nào cần ôm, cây nào cần tháo xuống, cây nào cần giúp người khác mang. Hãy cho họ thấy Đức Kitô chứ đừng chỉ cho họ thấy luật. Một người trẻ sẽ không thể yêu Thánh Giá nếu chưa yêu Đấng chịu đóng đinh. Không ai ôm một cây gỗ chỉ vì cây gỗ. Người Kitô hữu ôm Thánh Giá vì trên đó có Đấng mình yêu.
Và nếu hôm nay có một người trẻ đang mệt, đang thấy mình chẳng còn muốn “vác” gì nữa, xin đừng vội trách em yếu đuối. Có thể em đã vác quá lâu mà chẳng ai biết. Có thể đằng sau câu “con không cần ai” là một đứa trẻ từng bị bỏ rơi. Đằng sau thái độ bất cần có thể là một tâm hồn đã thất vọng quá nhiều. Đằng sau một người không muốn cam kết có thể là ký ức của những cam kết đã bị người lớn phá vỡ trước mắt em. Đằng sau một người trẻ không tin tình yêu có thể là một gia đình mà tình yêu từng biến thành những tiếng cãi nhau. Chúa Giêsu khi gặp người mệt mỏi không ném thêm đá lên vai họ. Người nói: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28). Kỳ lạ thay, cũng chính Chúa nói “hãy vác thập giá” lại nói “hãy đến cùng Ta mà nghỉ”. Vì Thánh Giá Kitô giáo không phải là gánh nặng ta mang một mình. Chúa mang cùng ta.
Người trẻ thân mến, con không cần chứng minh rằng mình mạnh. Con chỉ cần đừng bỏ cuộc với tình yêu. Có ngày con sẽ vác rất khá. Có ngày con chỉ lê được một bước. Có ngày con sẽ cầu nguyện rất sốt sắng. Có ngày con chỉ đủ sức thưa: “Chúa ơi, con đây.” Có ngày con vui vẻ làm điều đúng. Có ngày con làm điều đúng mà nước mắt chảy. Không sao. Chúa không đo đời con bằng tốc độ. Người nhìn hướng con đang đi. Khi ngã, hãy đứng dậy. Khi không đứng nổi, hãy để người khác đỡ. Khi chẳng còn lời cầu nguyện, hãy nhìn Thánh Giá. Có lúc chỉ nhìn thôi cũng đã là cầu nguyện.
Rồi một ngày, khi lớn hơn, con sẽ hiểu rằng những điều từng làm mình đau chưa chắc là những điều tệ nhất xảy ra cho mình. Có những nỗi đau đã cứu con khỏi kiêu ngạo. Có những lần thất bại khiến con biết thương người. Có những cánh cửa đóng lại để con không đi nhầm đường. Có những người ra khỏi đời con để chỗ trống ấy dành cho một điều tốt hơn. Có những lời cầu xin Chúa không nhận theo cách con muốn nhưng về sau con mới hiểu nếu ngày ấy Chúa chiều con, có khi con đã đi rất xa. Và cũng có những đau khổ mãi đến đời sau ta mới hiểu. Đức tin không có nghĩa là hiểu hết; đức tin là biết tay Ai đang nắm tay mình khi mình chưa hiểu.
Thế giới có thể tiếp tục dạy người trẻ làm sao sống nhẹ hơn. Tin Mừng dạy người trẻ làm sao sống sâu hơn. Thế giới hỏi: “Làm sao tránh mọi đau khổ?” Đức Kitô hỏi: “Con sẽ yêu thế nào ngay trong đau khổ?” Thế giới bảo: “Hãy giữ lấy mình.” Đức Kitô nói: “Hãy trao ban chính mình.” Thế giới nói: “Điều gì nặng thì bỏ.” Đức Kitô nói: “Có những điều vì yêu mà con đáng mang đến cùng.” Và lịch sử cho thấy những con người làm thế giới đẹp hơn không phải là những người chưa từng mang gánh nặng, nhưng là những người đã nhận lấy một gánh nặng vì người khác. Một người cha gánh gia đình. Một người mẹ gánh con. Một bác sĩ gánh bệnh nhân. Một giáo viên gánh học trò. Một linh mục gánh đoàn chiên. Một nhà truyền giáo gánh sứ mạng. Một người trẻ gánh một ước mơ tốt đẹp. Cái làm đời người cao quý không phải là đôi vai chưa từng đau, nhưng là trên đôi vai ấy đã từng có ai được nâng lên.
Và cuối cùng, khi nhìn lên Thánh Giá, người trẻ đừng chỉ thấy một lời đòi hỏi. Hãy thấy một lời tỏ tình. Trước khi Chúa nói với con: “Hãy vác thập giá con,” Người đã nói bằng chính thân thể mình: “Thầy đã vác con.” Cây Thánh Giá trên đồi Canvê trước hết không phải trọng lượng con phải mang cho Chúa; đó là trọng lượng Chúa đã mang vì con. Tội lỗi của con, yếu đuối của con, những lần con chạy xa, những lần con phản bội, những vết thương của con, nỗi sợ của con, tương lai của con – tất cả đã được Người ôm vào thân thể bị đóng đinh. Vậy nên, nếu một ngày con hỏi: “Có ai yêu con đến mức nào?” đừng chỉ tìm câu trả lời trong những trái tim, những biểu tượng, những lời nhắn hay những lời hứa của con người. Hãy đứng trước Thánh Giá. Hai cánh tay ấy không thể khép lại nữa như muốn nói rằng tình yêu này đã mở ra và sẽ không rút lại.
Người trẻ không cần một Kitô giáo làm cuộc đời dễ đi. Người trẻ cần một Đức Kitô làm cuộc đời đáng sống. Không phải một Thiên Chúa hứa rằng sẽ không có Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng là một Thiên Chúa bảo đảm rằng Thứ Sáu Tuần Thánh không bao giờ là ngày cuối cùng. Đêm có thể dài, nhưng Phục Sinh sẽ đến. Nước mắt có thể rơi, nhưng không giọt nào rơi ngoài bàn tay Chúa. Thập giá có thể nặng, nhưng không cây Thánh Giá nào được vác cùng Đức Kitô lại dẫn đến ngõ cụt. Vì phía sau Thánh Giá luôn có ngôi mộ trống. Phía sau cái chết là sự sống. Phía sau sự trao ban là sự viên mãn. Và chính lúc tưởng mình mất tất cả vì yêu, con người lại tìm thấy mình sâu xa nhất.
Thế nên, người trẻ thân mến, đừng hỏi mãi: “Làm sao để đời con không phải vác gì?” Hãy hỏi một câu đẹp hơn: “Điều gì đáng để con vác?” Nếu là vì tình yêu, hãy vác. Nếu là vì sự thật, hãy vác. Nếu là vì trách nhiệm, hãy vác. Nếu là vì người yếu thế hơn mình, hãy vác. Nếu là vì ơn gọi Chúa trao, hãy vác. Nếu là vì để trở nên người tử tế hơn, hãy vác. Và những lúc nặng quá, đừng vác một mình. Hãy đặt một đầu cây Thánh Giá lên vai Đức Giêsu. Thật ra Người đã đứng ở đó từ lâu rồi.
Một ngày nào đó, khi hành trình khép lại và ta gặp Chúa mặt đối mặt, có lẽ Người sẽ chẳng hỏi ta đã né được bao nhiêu đau khổ, kiếm được bao nhiêu tiền, có bao nhiêu người theo dõi, được bao nhiêu lượt thích, đi qua bao nhiêu nơi, sở hữu bao nhiêu thứ. Có lẽ Người chỉ nhìn đôi vai ta và hỏi: “Con đã mang ai trong đời con?” Và hạnh phúc biết bao nếu ngày ấy, giữa những vết chai và những vết sẹo của một đời đã sống, ta có thể thưa: “Lạy Chúa, con đã có lúc sợ Thánh Giá. Có lúc con chạy. Có lúc con ngã. Có lúc con muốn bỏ hết. Nhưng vì Chúa đã không bỏ con trên đường Canvê của đời con, nên cuối cùng con cũng đã cố không bỏ những người Chúa trao cho con.”
Đó là lúc ta hiểu: Thánh Giá không cướp mất tuổi trẻ. Thánh Giá cứu tuổi trẻ khỏi bị phí hoài. Thánh Giá không làm con người bé lại. Thánh Giá làm trái tim rộng ra. Thánh Giá không giết chết tự do. Thánh Giá giải thoát ta khỏi nhà tù của cái tôi. Thánh Giá không phải dấu chấm hết của niềm vui. Chính Thánh Giá mở cánh cửa dẫn vào thứ niềm vui mà thế gian không thể ban và cũng không thể lấy mất.
Và đó cũng là lý do, giữa một thế giới luôn khuyên người trẻ hãy tìm con đường nhẹ nhất, Đức Giêsu vẫn đứng đó, không cưỡng ép, không dụ dỗ, chỉ âm thầm mời gọi: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Không phải vì Người muốn đời con nặng hơn, nhưng vì Người biết rằng có những điều chỉ người dám vác mới có thể chạm tới: một tình yêu trưởng thành, một tự do sâu xa, một đời sống có ý nghĩa, một trái tim đủ lớn để chứa người khác, và cuối con đường – sự sống không bao giờ mất.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VÀ NGƯỜI BỆNH NAN Y, NGƯỜI HẤP HỐI
Có lẽ trong cuộc đời con người, không có giờ phút nào làm cho mọi thứ trở nên thật như giờ phút đứng trước một căn bệnh không còn đường chữa và đứng trước cái chết đang đến gần. Khi còn khỏe, người ta có thể nói rất nhiều về cuộc đời. Khi còn mạnh, người ta có thể tính chuyện năm năm, mười năm, mua thêm một căn nhà, dành dụm thêm một khoản tiền, lo cho con học hành, lo công việc, lo danh dự, lo những chuyện ngày mai. Nhưng đến một ngày bác sĩ khẽ nói một câu mà cả gia đình không ai muốn nghe: “Bệnh đã ở giai đoạn cuối”, thì dường như tất cả những gì hôm qua còn rất lớn bỗng trở nên rất nhỏ. Một căn nhà rộng cũng chỉ cần một chiếc giường để nằm. Tiền bạc rất nhiều cũng không mua được thêm một nhịp thở nếu sự sống đã đến lúc phải trao trả. Chức vụ cao đến đâu cũng không thể ra lệnh cho trái tim đừng ngừng đập. Những lời khen chê ngoài xã hội bỗng trở nên xa xôi. Và người bệnh, trong những đêm dài không ngủ, có khi chỉ cần một bàn tay nắm lấy bàn tay mình, một người chịu ngồi bên cạnh, một tiếng kinh khe khẽ, một dấu Thánh Giá đặt lên trán, một lời nhắc rất đơn sơ: “Có Chúa ở đây. Chúa không bỏ ông. Chúa không bỏ bà. Chúa không bỏ anh chị.” Chính ở nơi mà con người thấy mình yếu nhất, Thánh Giá của Đức Kitô lại trở nên gần nhất. Chính khi mọi con đường của sức người dường như khép lại, con đường từ Thánh Giá đi vào sự sống đời đời lại mở ra.
Nói về Thánh Giá với một người đang khỏe thì dễ. Nói về Thánh Giá bên giường của người bệnh nan y lại là chuyện khác. Ta không được nói bằng những câu thuộc lòng, càng không được biến đau khổ của người khác thành một bài giáo lý lạnh lùng. Một người đang đau đến mức không ngủ được, một người vừa biết mình chỉ còn vài tháng, vài tuần hay vài ngày để sống, không cần người khác đến giải thích dài dòng rằng đau khổ là tốt. Đau khổ tự nó không tốt. Ung thư không phải điều tốt. Suy tim không phải điều tốt. Một khối u ác tính không phải quà tặng. Cơn khó thở, những mũi kim, những lần hóa trị, những vết loét, những đêm mất ngủ, cảm giác phải lệ thuộc người khác trong từng việc nhỏ không phải là điều Thiên Chúa vui thích nhìn thấy. Đức tin Kitô giáo không dạy chúng ta yêu bệnh tật; Đức tin dạy chúng ta nhận ra rằng ngay giữa bệnh tật, Thiên Chúa vẫn có thể làm cho tình yêu nở hoa. Kitô hữu không thờ đau khổ; Kitô hữu thờ một Thiên Chúa đã đi vào đau khổ của con người để không một người đau khổ nào còn phải đau khổ một mình. Đó là sự khác biệt rất lớn. Và vì thế, khi nhìn lên Thánh Giá, người bệnh không nhìn thấy một Thiên Chúa đứng bên ngoài mà giảng giải về đau khổ. Họ nhìn thấy một Thiên Chúa có bàn tay bị đóng đinh, có đôi chân rướm máu, có thân xác kiệt sức, có môi khô khát, có hơi thở đứt quãng, có một trái tim bị đâm thâu. Đức Giêsu không nói với người bệnh rằng: “Ta hiểu con” từ một ngai vàng xa xôi. Người nói điều ấy từ chính cây Thập Giá.
Tin Mừng đã giữ lại cho chúng ta một trong những hình ảnh cảm động nhất của toàn bộ mầu nhiệm cứu độ. Trên đồi Canvê chiều hôm ấy có ba cây thập giá. Ở giữa là Đức Giêsu. Hai bên là hai người tử tội. Một người nhục mạ Chúa, nhưng người kia quay sang nhìn Người và nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Đức Giêsu đáp: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Có lẽ không có Tin Mừng nào thích hợp hơn để đọc bên giường một người hấp hối. Người trộm lành ấy không còn thời gian để sửa lại quá khứ. Anh không thể xuống khỏi thập giá để đền bù những việc mình đã làm. Anh không còn cơ hội đi hành hương, làm việc bác ái, ăn chay hay bắt đầu lại cuộc đời. Anh chỉ còn vài hơi thở. Nhưng trong vài hơi thở cuối cùng ấy, anh làm được một điều lớn lao: anh quay về phía Đức Giêsu. Anh trao cho Chúa phần đời còn lại của mình, dù phần đời ấy chỉ còn tính bằng phút. Và chừng ấy là đủ để cánh cửa Thiên Đàng mở ra. Điều này là niềm hy vọng vô cùng lớn cho những người bệnh nặng, cho những người hấp hối và cho cả gia đình họ. Bao lâu một người còn một hơi thở, bấy lâu lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn còn có thể đi vào. Bao lâu trái tim còn có thể hướng về Chúa, dù miệng không còn nói được, dù ý thức đã mờ dần, thì chúng ta vẫn có quyền hy vọng.
Có những người rất sợ chết. Đừng vội trách họ yếu đức tin. Chính Đức Giêsu trong vườn Ghếtsêmani đã buồn đến chết được. Tin Mừng không che giấu sự run sợ ấy. Người cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất. Đức Giêsu biết mình sẽ phục sinh, nhưng Người vẫn đi qua nỗi kinh hoàng của cái chết. Vì thế, một người Công giáo run sợ trước cái chết không có nghĩa là người ấy không tin. Một bà cụ nắm tay con mà khóc: “Cha ơi, con sợ lắm”, không phải lúc để trả lời: “Có gì mà sợ, phải tin Chúa chứ!” Câu ấy có thể đúng về giáo lý nhưng quá đau nếu thiếu tình thương. Có khi điều người hấp hối cần nhất chỉ là nghe: “Sợ cũng được. Chúa hiểu. Chúa Giêsu cũng đã đi qua giờ này. Bà cứ nắm lấy Chúa. Chúng ta cùng đi với Chúa.” Đức tin không loại bỏ mọi run rẩy. Đức tin giúp con người run rẩy mà vẫn đặt bàn tay mình vào bàn tay Thiên Chúa.
Thánh Giá, vì thế, không bảo đảm rằng người bệnh sẽ hết đau, nhưng bảo đảm một điều lớn hơn: không một cơn đau nào phải chịu trong cô độc. Thánh Giá không hứa mọi người bệnh nan y đều được chữa khỏi bằng phép lạ, nhưng nói rằng ngay cả khi phép lạ chữa lành thân xác không xảy ra, phép lạ của tình yêu và ơn cứu độ vẫn có thể xảy ra từng giờ. Có những gia đình cầu nguyện tha thiết xin người thân được khỏi bệnh. Họ xin lễ, lần chuỗi, đi hành hương, xin cộng đoàn cầu nguyện. Tất cả đều tốt. Chúng ta hoàn toàn có quyền xin Chúa chữa lành. Người cha trong Tin Mừng xin Đức Giêsu cứu con mình. Hai chị em Mácta và Maria nhắn với Chúa: “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang đau nặng.” Chính Hội Thánh vẫn cầu xin chữa lành cho bệnh nhân. Nhưng đức tin trưởng thành cũng phải đi thêm một bước: “Lạy Chúa, con xin điều con mong muốn, nhưng con tín thác điều Chúa biết là tốt nhất.” Có một khoảng cách rất lớn giữa xin phép lạ và đòi phép lạ. Ta xin vì tin Chúa quyền năng. Ta không đòi vì tin Chúa là Cha.
Có những lúc gia đình bám chặt vào sự sống của người thân đến mức chính tình yêu trở thành một sự níu kéo đau đớn. Người bệnh đã kiệt sức, hơi thở rất yếu, nhưng người nhà cứ ghé tai nói: “Má đừng bỏ tụi con nghe má!” “Ba phải ráng sống với con!” Những lời ấy phát xuất từ thương yêu, nhưng đôi khi lại khiến người đang ra đi cảm thấy mình có lỗi vì phải chết. Có lẽ đến một lúc, tình yêu phải biết đổi ngôn ngữ. Thay vì “Má đừng đi”, ta có thể nói: “Má cứ bình an. Chúng con thương má. Chúng con sẽ cố gắng sống tốt. Má cứ phó thác cho Chúa.” Thay vì “Ba phải ráng”, có thể là: “Ba mệt rồi thì cứ nghỉ trong Chúa. Chúng con ở đây.” Đó không phải là muốn người thân chết. Đó là cho phép người mình yêu được ra đi trong bình an khi thời giờ đã đến. Tình yêu đích thực không chỉ biết giữ; tình yêu còn biết trao.
Có những giây phút rất thiêng liêng xảy ra bên một giường bệnh mà người ngoài không bao giờ biết. Một người con lau mặt cho mẹ. Một người chồng đút từng thìa nước cho vợ. Một bà vợ già ngồi suốt đêm bên ông chồng đang mê man, tay lần chuỗi, miệng đọc kinh nhỏ đến mức gần như chỉ còn hơi thở. Một linh mục đến xức dầu, đặt tay cầu nguyện. Một người con đã giận cha nhiều năm, cuối cùng cúi xuống thì thầm: “Ba, con xin lỗi.” Một người cha không còn nói được nhưng nước mắt chảy ra. Một gia đình tưởng đã tan vỡ nhưng quanh chiếc giường bệnh, họ bắt đầu nắm tay nhau lại. Có những phép lạ không làm cho khối u biến mất, nhưng làm cho hận thù biến mất. Có những phép lạ không làm cho người bệnh bước ra khỏi bệnh viện, nhưng làm cho một người con quay trở về với cha mình. Có những phép lạ không kéo dài sự sống thêm mười năm, nhưng chữa lành một vết thương đã kéo dài ba mươi năm. Nếu chỉ tìm phép lạ nơi thân xác, ta có thể bỏ lỡ rất nhiều phép lạ của ân sủng.
Một trong những nỗi đau lớn nhất của người bệnh nan y không hẳn là đau thể xác mà là cảm giác mình trở thành gánh nặng. Họ thấy con cái phải bỏ việc chăm mình. Họ nghe người nhà bàn tiền thuốc. Họ thấy người khác phải thay quần áo, vệ sinh, đỡ mình ngồi dậy. Một người từng mạnh mẽ, từng nuôi cả gia đình, giờ không tự đi vệ sinh được. Sự lệ thuộc ấy đánh vào lòng tự trọng rất sâu. Vì thế người bệnh dễ nói: “Ước gì tôi chết cho rồi, để khỏi làm khổ con cháu.” Khi nghe câu ấy, xin đừng đáp vội bằng một bài giảng. Hãy ngồi xuống, nắm tay họ và nói cho họ biết rằng giá trị của họ không nằm ở chỗ họ còn làm được bao nhiêu việc. Một em bé mới sinh chưa làm được gì mà cả nhà vẫn quý. Một người già nằm liệt giường cũng không vì thế mà bớt phẩm giá. Trong mắt Thiên Chúa, giá trị của con người không đo bằng năng suất. Chúng ta quý nhau không chỉ vì người kia làm được gì cho mình, nhưng vì người kia là người mình yêu.
Thế giới ngày nay rất thích những gì mạnh, nhanh, đẹp, hữu dụng. Một xã hội bị ám ảnh bởi hiệu quả rất dễ coi người yếu là gánh nặng. Nhưng dưới chân Thánh Giá, mọi thước đo ấy bị đảo ngược. Một Đức Kitô bị đóng đinh dường như chẳng còn “hữu dụng” gì theo tiêu chuẩn thế gian. Người không giảng được nữa, không chữa bệnh nữa, không đi được nữa, hai tay bị giữ chặt, hai chân bị đóng vào gỗ. Thế mà chính trong tình trạng tưởng như bất lực hoàn toàn ấy, Người đang thực hiện công trình lớn nhất: cứu độ nhân loại. Điều này mở ra một ánh sáng rất sâu cho người bệnh. Có thể một người không còn đi làm, không còn phục vụ cộng đoàn, không còn giúp con cháu như trước, nhưng sự hiện diện, lời cầu nguyện, sự nhẫn nại, việc trao những đau đớn cho Chúa vẫn có một giá trị mà chúng ta không đo được. Một người nằm trên giường bệnh vẫn có thể yêu. Và bao lâu còn có thể yêu, cuộc đời vẫn còn ý nghĩa.
Dĩ nhiên, ta cũng phải rất thận trọng khi nói với người bệnh câu “hãy dâng đau khổ cho Chúa”. Câu ấy đẹp, nhưng nếu nói quá dễ dàng từ môi người đang khỏe mạnh, nó có thể trở thành vô tình. Người bệnh có quyền đau. Họ có quyền khóc. Họ có quyền mệt. Họ có quyền nói rằng hôm nay họ không chịu nổi nữa. Chúa không cần những màn trình diễn anh hùng. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu cũng đã thốt lên: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Đó không phải lời mất đức tin. Đó là lời cầu nguyện sinh ra từ tận đáy đau khổ. Có lúc cầu nguyện không còn là những câu đẹp. Có lúc lời cầu nguyện chỉ còn là: “Chúa ơi, đau quá!” “Chúa ơi, con sợ!” “Chúa ơi, con mệt rồi!” Và Thiên Chúa hiểu tất cả.
Có người nghĩ rằng một người thánh thiện khi hấp hối phải rất bình thản, miệng luôn mỉm cười, tay cầm tràng chuỗi. Không phải lúc nào cũng vậy. Những biến đổi sinh lý, thuốc men, thiếu oxy, đau đớn hay rối loạn ý thức có thể làm một người vốn hiền lành bỗng cáu gắt, la hét, mê sảng. Gia đình đừng vì thế mà buồn rằng người thân “mất đức tin vào giờ cuối”. Thiên Chúa nhìn sâu hơn những phản ứng bên ngoài. Người biết cả một đời người. Người biết lời “xin vâng” đã được nói bằng bao năm trung thành chứ không chỉ bằng vài phút cuối cùng. Ta đừng xét đoán một linh hồn qua những biểu hiện của một thân xác đã quá kiệt quệ.
Và cũng xin đừng để một người Công giáo hấp hối phải ra đi mà thiếu sự chăm sóc thiêng liêng chỉ vì gia đình ngại mời linh mục. Có người sợ rằng mời cha đến xức dầu thì bệnh nhân sẽ nghĩ mình sắp chết. Bởi vậy người nhà cứ chờ, chờ đến lúc bệnh nhân mê hoàn toàn mới vội vàng gọi. Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân không phải “bí tích báo tử”. Đó là bí tích Chúa Kitô đến nâng đỡ người bệnh bằng ân sủng của Người. Khi bệnh trở nên nghiêm trọng, hãy mời linh mục sớm. Nếu bệnh nhân còn tỉnh, họ có thể xưng tội, rước lễ, lãnh Bí tích Xức Dầu và chuẩn bị tâm hồn trong bình an. Đừng để những giờ phút quý giá nhất trôi qua chỉ vì một nỗi sợ không cần thiết. Nếu người bệnh lâu ngày xa Chúa, càng nên tìm cách nhẹ nhàng giúp họ gặp linh mục, nhưng tuyệt đối đừng biến giường bệnh thành nơi ép buộc. Chúa gõ cửa; Chúa không phá cửa.
Đối với một người hấp hối, có lẽ món quà lớn nhất gia đình trao được không phải là nói thật nhiều, mà là tạo một bầu khí bình an. Hãy hạn chế những cuộc tranh cãi ngay bên giường bệnh. Đừng đứng đó bàn chuyện chia tài sản. Đừng khóc lóc quá mức khiến người bệnh hoảng sợ. Đừng tranh nhau trách móc chuyện thuốc men. Nếu người bệnh còn nghe được, hãy nói những lời họ cần nghe nhất: “Con thương ba.” “Con cảm ơn mẹ.” “Anh tha thứ cho em.” “Em tha thứ cho anh.” “Chúng con sẽ chăm sóc nhau.” “Ba cứ bình an với Chúa.” Những câu ấy đôi khi là bản kinh đẹp nhất của một gia đình.
Tôi từng nghĩ rằng người hấp hối là người cần được chúng ta giúp đỡ nhiều nhất. Nhưng càng ở bên những người sắp chết, người ta càng nhận ra một điều ngược lại: nhiều khi chính họ dạy người sống cách sống. Một người biết mình sắp chết thường không còn hứng thú với những điều giả tạo. Họ không hỏi tài khoản còn bao nhiêu bằng việc con cái có thương nhau không. Họ không lo ai thắng mình trong một cuộc tranh luận năm trước. Những điều tưởng rất quan trọng khi khỏe mạnh bỗng rơi xuống. Cái còn lại thường rất ít: tình yêu, sự tha thứ, những người thân, và Thiên Chúa. Có lẽ đó cũng là bài học Thánh Giá dành cho tất cả chúng ta: đừng đợi đến khi nằm trên giường bệnh mới nhận ra điều gì thực sự đáng giá.
Thánh Gioan kể rằng dưới chân Thánh Giá có Đức Maria đứng đó. “Đứng” là một chữ rất đẹp. Mẹ không chạy được khỏi đau khổ. Mẹ cũng không làm cho Con mình hết đau. Mẹ không rút được đinh khỏi tay Con. Mẹ chỉ đứng đó. Nhưng sự hiện diện ấy quý biết bao. Đây là bài học rất lớn cho người chăm sóc bệnh nhân nan y. Có khi ta bất lực vì không làm bệnh khỏi được, rồi nghĩ rằng mình chẳng giúp gì. Không đúng. Có một thứ tình yêu không chữa được bệnh nhưng chữa được sự cô độc. Có một thứ tình yêu không cất được đau nhưng làm người đau đủ sức chịu đựng. Có một thứ tình yêu chỉ đơn giản là không bỏ đi. Đức Maria dưới chân Thánh Giá đã yêu Chúa Giêsu bằng một tình yêu như thế.
Người chăm bệnh cũng mang một thánh giá riêng mà ít người hiểu. Những tháng ngày ngủ chập chờn. Tiếng chuông điện thoại lúc nửa đêm. Những chuyến đi bệnh viện. Hóa đơn. Thuốc men. Mùi bệnh. Những lần nâng người bệnh khiến lưng đau. Cảm giác tội lỗi vì một phút mình thấy mệt và chỉ mong mọi chuyện sớm kết thúc. Xin đừng tự kết án mình vì những cảm xúc ấy. Chăm một người bệnh nặng rất mệt. Tình yêu không làm thân xác hết mỏi. Gia đình cũng cần biết chia sẻ công việc chăm sóc, biết nghỉ ngơi, biết nhờ người giúp. Một người kiệt sức không thể chăm người khác tốt lâu dài. Thánh Giá không có nghĩa là cố tình làm cho mình gãy gục.
Và rồi sẽ đến giờ phút mà y khoa không còn có thể đảo ngược tiến trình của cái chết. Khi ấy, chăm sóc không còn nhắm chủ yếu đến chữa khỏi nhưng đến giảm đau, giữ phẩm giá, giúp người bệnh ra đi thanh thản và được yêu thương. Đức tin không chống lại việc giảm đau. Đừng sợ rằng dùng thuốc giảm đau đúng chỉ định là thiếu tinh thần hy sinh. Chúa không cần một người phải đau dữ dội để chứng minh rằng họ tin Người. Chúng ta được mời gọi chăm sóc sự sống cho đến cùng, không chủ động kết thúc sự sống, nhưng cũng không nhất thiết phải dùng mọi biện pháp y khoa bằng bất cứ giá nào để kéo dài một tiến trình hấp hối khi việc điều trị đã trở nên quá nặng nề mà không còn lợi ích tương xứng. Giữa bỏ rơi người bệnh và cố kéo dài sự chết có một con đường của khôn ngoan, nhân phẩm và tình thương.
Đối với người Kitô hữu, chết không phải là chuyện nhỏ. Ta không tô hồng cái chết. Thánh Phaolô gọi chết là “kẻ thù cuối cùng”. Cái chết chia lìa những người yêu nhau. Nó làm một chiếc ghế trong nhà trống đi. Nó làm chiếc điện thoại không còn người để gọi. Nó để lại một bàn thờ có di ảnh. Nó khiến ta theo thói quen vẫn muốn gọi “Má ơi”, rồi chợt nhớ má không còn ở phòng bên nữa. Kitô giáo không phủ nhận những giọt nước mắt ấy. Chính Đức Giêsu đã khóc trước mộ Ladarô. Nhưng Kitô giáo dám nói một điều mà ngoài Đức Kitô phục sinh, không ai dám nói: cái chết không có tiếng nói cuối cùng.
Thánh Giá không kết thúc vào chiều Thứ Sáu. Nếu câu chuyện kết thúc ở ngôi mộ, chúng ta chẳng có gì để nói với người hấp hối ngoài vài lời an ủi. Nhưng sáng ngày thứ nhất trong tuần, ngôi mộ trống. Đấng bị đóng đinh đã sống lại. Những vết thương vẫn còn trên thân thể phục sinh của Người, nhưng những vết thương ấy không còn chảy máu. Chúng trở thành dấu chỉ chiến thắng. Đó là nền tảng của niềm hy vọng Kitô giáo. Người hấp hối không đi vào hư vô. Họ đi qua một cánh cửa. Đúng, cánh cửa ấy đáng sợ vì ta chưa từng đi qua. Nhưng Đức Giêsu đã đi qua trước. Người nói: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em.” Có lẽ một trong những hình ảnh đẹp nhất về cái chết Kitô giáo là như một người con đi qua hành lang tối để về căn phòng nơi Cha đang đợi.
Người bệnh nan y nhiều khi hỏi: “Tại sao là tôi?” Chúng ta thường không có câu trả lời. Và cũng không cần giả vờ có. Không phải mọi đau khổ đều có thể được giải thích trên đời này. Sách Gióp cho thấy một người công chính có thể chất vấn Thiên Chúa rất lâu mà cuối cùng không nhận được một công thức giải thích đơn giản. Đức tin không cho ta đáp án cho mọi chữ “tại sao”. Đức tin cho ta một Đấng để bám lấy khi không còn đáp án. Đó là Đức Kitô chịu đóng đinh.
Có người lại hỏi: “Chúa phạt tôi phải không?” Đây là một vết thương thiêng liêng rất cần được chữa. Không được đồng hóa căn bệnh với hình phạt cá nhân của Thiên Chúa. Trong Tin Mừng, khi người ta hỏi Đức Giêsu về người mù từ thuở mới sinh: “Ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?”, Người bác bỏ lối suy nghĩ đơn giản ấy. Bệnh tật không phải bằng chứng rằng một người bị Chúa ghét. Có người rất đạo đức vẫn mắc ung thư. Có trẻ nhỏ vẫn mắc bệnh hiểm nghèo. Có những người hiền lành vẫn phải chịu những năm cuối đời rất đau. Mầu nhiệm sự dữ lớn hơn những công thức thưởng-phạt đơn giản của chúng ta.
Có một lời khác của Đức Giêsu trên Thánh Giá rất thích hợp cho giờ hấp hối: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Có lẽ cuối cùng toàn bộ đời Kitô hữu là học nói câu ấy. Khi trẻ, ta phó thác tương lai. Khi trưởng thành, phó thác gia đình. Khi đau bệnh, phó thác thân xác. Và đến giờ chết, ta phó thác chính mình. “Trong tay Cha.” Không phải trong bóng tối. Không phải trong hư vô. Không phải trong một sức mạnh vô danh. Trong tay Cha. Bàn tay từng tạo dựng tôi. Bàn tay từng nâng tôi dậy. Bàn tay từng tha thứ cho tôi. Và bây giờ cũng là bàn tay đón tôi về.
Nếu người bệnh còn tỉnh táo, đây có thể là thời gian rất quý để họ thu xếp những điều chưa xong trong lòng. Không chỉ di chúc vật chất mà còn di chúc của trái tim. Có ai cần xin lỗi không? Có ai cần tha thứ không? Có người con nào lâu rồi chưa nói chuyện không? Có điều gì muốn nói mà bao năm cứ trì hoãn? Đừng nghĩ nhắc đến những chuyện ấy là bi quan. Chính vì sự sống quý nên ta không muốn rời cuộc đời với quá nhiều món nợ của tình yêu. Một cuộc điện thoại xin lỗi có thể nhẹ hơn rất nhiều viên thuốc an thần. Một lời tha thứ đôi khi làm hơi thở người hấp hối bình an lạ thường.
Người hấp hối cũng cần được giúp để cảm nhận rằng họ vẫn là một thành viên của gia đình, chứ không phải một “ca bệnh”. Đừng chỉ nói về họ với bác sĩ mà quên nói với họ. Nếu họ còn đủ khả năng hiểu, hãy cho họ được tham gia những quyết định liên quan đến chính mình. Hỏi họ muốn gặp ai. Muốn nghe kinh gì. Muốn linh mục nào đến. Muốn người thân ở bên ra sao. Một người đang yếu không vì thế mà mất quyền được tôn trọng.
Với những người đã không còn đáp ứng, ta vẫn có thể nói chuyện nhẹ nhàng. Không ai trong chúng ta biết chính xác họ còn nghe được bao nhiêu. Hãy đọc kinh. Hãy nói lời yêu thương. Hãy xin lỗi. Hãy cảm ơn. Hãy làm dấu Thánh Giá trên trán họ. Đừng đứng bên giường nói những chuyện khiến họ bất an chỉ vì nghĩ rằng “họ đâu còn biết gì”. Hãy đối xử với một người đang hấp hối bằng tất cả phẩm giá mà ta muốn người khác dành cho mình ở giờ cuối.
Có một điều cũng cần nói với những gia đình đang cầu nguyện cho người bệnh lâu ngày. Đôi khi lời cầu nguyện phải thay đổi. Ban đầu ta cầu: “Lạy Chúa, xin chữa lành.” Rồi khi bác sĩ cho biết không còn khả năng chữa khỏi, có lẽ ta cầu: “Lạy Chúa, xin giảm đau và ban sức mạnh.” Và đến những giờ cuối, có lúc lời cầu nguyện trở thành: “Lạy Chúa, nếu giờ đã đến, xin đón người thân của chúng con về bình an.” Cả ba lời cầu ấy đều là lời của tình yêu. Không lời nào phản bội hy vọng.
Tôi rất thích hình ảnh ông Simôn Kyrênê trong cuộc Thương Khó. Đức Giêsu đã quá kiệt sức, nên người ta bắt Simôn vác đỡ Thánh Giá. Mỗi người chăm bệnh cũng là một Simôn. Bạn không thể vác thay toàn bộ Thánh Giá của người thân. Bạn không thể chịu thay cơn đau của họ. Nhưng bạn có thể đỡ một đoạn đường. Bạn có thể giúp họ uống nước. Bạn có thể đưa họ đến bệnh viện. Bạn có thể ở bên trong đêm. Bạn có thể lau mồ hôi. Bạn có thể đọc kinh khi họ không còn đọc nổi. Bạn có thể thay họ nói với Chúa: “Lạy Chúa, xin thương.” Những việc ấy nhỏ trong mắt thế gian nhưng rất lớn trong Nước Trời.
Và xin nhớ rằng người bệnh cũng có thể là Simôn cho chính gia đình mình. Có những người mẹ nằm hấp hối nhưng vẫn lo các con cãi nhau. Có những người cha sắp chết chỉ xin một điều: “Các con thương nhau.” Có người bệnh, qua sự bình an của mình, giúp cả nhà tìm lại đức tin. Có khi chính người mà ta tưởng là yếu nhất lại trở thành người nâng cả nhà lên.
Thánh Giá cũng dạy chúng ta rằng không phải mọi lời yêu thương đều cần nhiều tiếng nói. Đức Maria dưới chân Thánh Giá gần như không được Tin Mừng ghi lại một lời nào. Có lúc chỉ cần hiện diện. Người chăm bệnh thường cảm thấy phải nói điều gì thật hay. Không cần. Nếu không biết nói gì, hãy ngồi bên. Nếu người bệnh muốn im lặng, hãy tôn trọng. Nếu họ muốn kể lại chuyện cũ lần thứ mười, hãy nghe nếu có thể. Người sắp rời đời đôi khi cần kể lại đời mình để thấy rằng cuộc đời ấy đã có ý nghĩa.
Một ngày nào đó, tất cả chúng ta cũng sẽ nằm xuống. Có thể là bệnh viện. Có thể là tại nhà. Có thể có con cháu chung quanh, cũng có thể chỉ có một người. Ta không biết. Nhưng điều đáng sợ nhất không phải là chết, mà là sống cả đời mà chưa từng học cách trao mình cho Thiên Chúa. Người sống mỗi ngày trong sự phó thác sẽ dần học được cách phó thác giờ cuối. Mỗi lần làm dấu Thánh Giá là một lần tập cho cái chết: “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.” Tôi thuộc về Chúa Cha. Tôi được cứu bởi Chúa Con. Tôi sống trong Chúa Thánh Thần. Một ngày nào đó, dấu Thánh Giá cuối cùng sẽ được người khác làm trên trán tôi. Nhưng đó không phải dấu chấm hết. Đó là dấu của Đấng đã chết và đã sống lại.
Thế nên, nếu hôm nay có ai đang mang trong mình một căn bệnh nan y, xin đừng nghĩ cuộc đời mình đã hết giá trị. Có thể cơ thể đang yếu dần, nhưng tình yêu vẫn có thể lớn lên. Có thể đôi chân không bước được nữa, nhưng tâm hồn vẫn có thể tiến gần Thiên Chúa. Có thể không còn sức đọc một kinh dài, nhưng chỉ một câu “Giêsu ơi, con tín thác nơi Ngài” cũng đủ là một lời cầu nguyện. Nếu không nói nổi nữa, hãy để trái tim nói. Nếu trái tim cũng mệt mỏi, hãy để Hội Thánh cầu nguyện thay mình.
Và nếu hôm nay có ai đang chăm một người thân sắp chết, xin nhớ rằng những ngày tháng này tuy rất đau nhưng cũng rất quý. Đừng để tất cả chỉ trôi qua trong việc đo huyết áp, thay thuốc, gọi bác sĩ, kiểm tra máy móc. Hãy dành thời gian để nói lời cảm ơn. Nói lời xin lỗi. Nói lời yêu thương. Nói về Chúa nếu người bệnh muốn nghe. Mời linh mục đến khi còn kịp. Đọc một đoạn Tin Mừng. Lần một chục kinh. Nắm tay nhau. Có những gia đình sau tang lễ đau đớn nhất không phải vì người thân đã chết mà vì một câu đáng lẽ phải nói đã không kịp nói.
Nếu hôm nay có ai đang hấp hối, tôi ước mong người ấy được nghe lời Đức Giêsu nói với người trộm lành như đang nói riêng với mình: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi.” Chú ý hai chữ: “với tôi”. Thiên Đàng trước hết không phải một nơi đẹp. Thiên Đàng là được ở với Chúa. Và chính điều đó làm cho cái chết Kitô giáo khác với tuyệt vọng. Ta không đi vào khoảng không. Ta đi “với Người”.
Thánh Giá đứng bên giường người bệnh vì thế không phải là biểu tượng của thất bại. Nó nói với căn phòng ấy rằng đau khổ không phải tiếng nói cuối. Nó nói với người bệnh rằng Chúa hiểu. Nó nói với gia đình rằng hãy yêu cho đến cùng. Nó nói với người đang hấp hối rằng phía sau đêm tối là bình minh Phục Sinh. Và nó nói với tất cả chúng ta rằng có một Người đã bước qua cái chết trước ta, rồi quay lại nói: “Đừng sợ.”
Có lẽ chúng ta chẳng cần nói điều gì cao siêu hơn với người sắp chết. Chỉ cần đặt cây Thánh Giá trong tầm mắt họ nếu họ muốn, nắm bàn tay đã gầy đi vì bệnh tật, và nhẹ nhàng thưa với Chúa: “Lạy Đức Giêsu chịu đóng đinh, Chúa đã biết thế nào là đau. Chúa đã biết thế nào là khát. Chúa đã biết thế nào là hơi thở trở nên nặng nề. Chúa đã biết thế nào là phải rời những người mình yêu. Xin ở lại với người anh em của chúng con trong giờ này. Khi người ấy sợ, xin Chúa là bình an. Khi người ấy đau, xin Chúa là sức mạnh. Khi người ấy không còn cầu nguyện được, xin Chúa nhận lấy cả sự im lặng làm lời cầu. Khi bàn tay chúng con không giữ người ấy lại được nữa, xin chính bàn tay bị đóng đinh của Chúa đón lấy người ấy. Và khi đôi mắt người ấy khép lại với thế gian này, xin cho đôi mắt ấy mở ra trước dung nhan Chúa.”
Cuối cùng, Thánh Giá dạy chúng ta một điều tưởng như nghịch lý nhưng lại là cốt lõi của Tin Mừng: cái chết có thể lấy khỏi ta rất nhiều thứ nhưng không thể lấy khỏi ta tình yêu của Thiên Chúa. “Dầu là sự chết hay sự sống”, không gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Kitô Giêsu. Người bệnh nan y có thể mất dần sức khỏe, mất khả năng đi lại, mất tiếng nói, mất ý thức về những gì chung quanh; nhưng họ không bao giờ ra khỏi tầm tay Thiên Chúa. Và nếu một ngày người thân của ta phải ra đi, ta có thể khóc, có thể đau đến quặn lòng, nhưng trong nước mắt vẫn còn một niềm hy vọng: người mà ta không còn giữ được bằng bàn tay mình đã được trao vào một Bàn Tay lớn hơn.
Đó là lý do người Kitô hữu đặt Thánh Giá bên người hấp hối. Không phải để nhắc họ rằng họ sắp chết, nhưng để nhắc rằng Đức Kitô đã chết vì họ và đã sống lại. Không phải để làm căn phòng thêm u buồn, nhưng để nói rằng ngay nơi sự chết tưởng như chiến thắng, sự sống đời đời đã bắt đầu. Không phải để bắt người bệnh phải tỏ ra mạnh mẽ, nhưng để cho họ được yếu đuối trong vòng tay của một Thiên Chúa đã từng yếu đi trên Thánh Giá vì yêu.
Và khi giờ cuối cùng đến, khi những tiếng động trong căn phòng nhỏ dần, khi máy móc không còn quan trọng nữa, khi mọi lời nói trở nên thừa, có lẽ chỉ còn lại một lời rất đơn sơ mà cả người sống lẫn người sắp ra đi đều có thể thưa: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Nếu sống được lời ấy, thì cái chết không còn là rơi xuống vực thẳm.
Đó là rơi vào lòng Cha.
Lm. Anmai, CSsR.

THÁNH GIÁ TRONG ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN – “YÊU NHAU ĐẾN CÙNG”
Có lẽ chẳng có đôi bạn trẻ nào trong ngày cưới lại đứng trước bàn thờ mà nghĩ rằng: từ hôm nay chúng tôi bắt đầu bước vào con đường Thánh Giá. Ngày cưới thường là ngày của hoa, của áo đẹp, của tiếng hát, của những nụ cười, của lời chúc, của những tấm hình được giữ lại như kỷ niệm của một đời. Người ta nhìn nhau bằng ánh mắt rạng rỡ. Người ta nắm tay nhau và tin rằng chỉ cần có tình yêu thì mọi chuyện rồi sẽ ổn. Người ta hứa sẽ yêu nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu, để yêu thương và tôn trọng nhau mọi ngày suốt đời. Những lời ấy được nói rất đẹp, nhưng có khi phải mất mười năm, hai mươi năm, bốn mươi năm sống chung, người ta mới hiểu mỗi chữ trong lời hứa ấy nặng đến thế nào. Bởi hôn nhân Kitô giáo không chỉ là hai người tìm được một người khiến mình hạnh phúc. Hôn nhân Kitô giáo sâu hơn rất nhiều: đó là hai con người bất toàn được mời gọi cùng nhau học cách yêu như Đức Kitô đã yêu; mà Đức Kitô đã yêu thế nào thì Thánh Giá chính là câu trả lời rõ nhất. Ngày thành hôn, đôi vợ chồng nhận nhẫn cưới; nhưng phía sau chiếc nhẫn tròn không có điểm đầu và điểm cuối ấy thấp thoáng bóng một cây Thánh Giá. Ngày thành hôn, họ trao cho nhau lời thề; nhưng lời thề ấy chỉ thực sự trưởng thành khi một ngày nào đó chẳng còn hoa, chẳng còn tiếng đàn, chẳng còn cảm xúc ban đầu, và một người vẫn có thể nhìn người kia mà nói trong thinh lặng: “Tôi vẫn ở đây. Tôi vẫn chọn anh. Tôi vẫn chọn em. Không phải vì hôm nay anh dễ thương, không phải vì hôm nay em làm tôi vui, nhưng bởi vì trước mặt Chúa tôi đã trao đời tôi cho anh, cho em, và tôi muốn học với Chúa Giêsu thế nào là yêu cho đến cùng.”
Tin Mừng theo Thánh Gioan mở ra những giờ phút cuối cùng của Chúa Giêsu bằng một câu làm người ta phải dừng lại thật lâu: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). “Đến cùng” là một cách nói rất lạ của Tin Mừng. Yêu khi người kia tốt với mình thì chưa phải đến cùng. Yêu khi còn được đáp lại thì chưa phải đến cùng. Yêu khi cuộc đời đang êm đềm cũng chưa phải đến cùng. Đức Giêsu yêu các môn đệ trong một đêm mà họ chẳng có gì đáng để Người tự hào. Giuđa đang chuẩn bị phản bội. Phêrô rồi sẽ chối Thầy. Những người khác sẽ bỏ chạy. Thế mà Chúa vẫn cúi xuống rửa chân cho họ. Chúa biết rất rõ những bàn chân Người đang rửa rồi ít giờ nữa sẽ chạy khỏi Người. Chúa biết người mình yêu sẽ làm mình đau. Chúa biết sự yếu đuối, phản bội, hèn nhát của họ. Nhưng Người vẫn yêu. Và Người yêu đến cùng. Đó chính là đoạn Tin Mừng đẹp nhất để đặt vào giữa đời sống hôn nhân, bởi vợ chồng rồi cũng sẽ có ngày phải học bài học rửa chân cho nhau. Không phải rửa bằng nước trong một nghi thức đẹp đẽ, nhưng rửa bằng sự nhẫn nại, bằng những lần nhịn một lời cay nghiệt, bằng việc thức đêm khi người kia đau bệnh, bằng việc chăm sóc cha mẹ già của nhau, bằng việc cùng trả một món nợ, cùng nuôi một đứa con khó dạy, cùng chịu đựng một giai đoạn thất nghiệp, cùng đi qua những hiểu lầm, những tổn thương, những ngày chẳng còn gì lãng mạn. Khi ấy người ta mới hiểu: hôn nhân không sống được chỉ nhờ những ngày hạnh phúc; hôn nhân sống được nhờ những con người biết ở lại trong những ngày không hạnh phúc.
Thánh Giá trong đời sống hôn nhân trước hết không phải là người chồng hay người vợ. Có người hay nói đùa: “Vợ tôi là thánh giá của tôi”, “chồng tôi là thánh giá Chúa gửi đến”. Nói vui thì được, nhưng nếu nghĩ thật như thế thì rất nguy hiểm. Người bạn đời không phải là cây thập giá để mình ghét bỏ và miễn cưỡng vác. Người ấy là người Chúa trao vào đời mình để cùng mình đi trên con đường nên thánh. Thánh Giá nằm trong chính sự ích kỷ của mỗi người, trong cái tôi quá lớn, trong những khác biệt phải học cách dung hòa, trong những hy sinh mà tình yêu đòi hỏi, trong những biến cố không ai chọn nhưng cả hai phải cùng nhau đón nhận. Đôi khi thánh giá là căn bệnh bất ngờ. Đôi khi là chuyện hiếm muộn. Đôi khi là một đứa con sinh ra không được khỏe mạnh như mong đợi. Đôi khi là kinh tế sa sút. Đôi khi là cha mẹ hai bên đau yếu. Đôi khi là một hiểu lầm kéo dài nhiều năm. Đôi khi thánh giá chẳng có gì lớn: chỉ là tính nóng của chồng, sự nhạy cảm của vợ; là cái khăn để sai chỗ, bát cơm nguội, tiếng ngáy giữa đêm, một cuộc điện thoại quên gọi, một lời nói thiếu suy nghĩ, những thói quen ngày nào cũng gặp mà ngày nào cũng bực. Chính những điều nhỏ ấy, nếu không có tình yêu, sẽ tích tụ thành bức tường. Nhưng nếu biết đặt vào trong tình yêu của Đức Kitô, chúng có thể trở thành những viên đá âm thầm xây nên một mái nhà.
Ngày yêu nhau, người ta thường nhìn vào điểm đẹp của nhau. Ngày sống với nhau, người ta bắt đầu nhìn thấy cả những phần chẳng đẹp. Yêu một hình ảnh lý tưởng thì dễ. Yêu một con người thật khó hơn nhiều. Người thật có quá khứ, có vết thương, có giới hạn, có những nỗi sợ mà đôi khi chính họ cũng không hiểu. Người chồng có thể mang vào hôn nhân những thiếu thốn từ tuổi thơ. Người vợ có thể bước vào gia đình với những tổn thương chưa bao giờ được chữa lành. Có người lớn lên trong một gia đình ít lời yêu thương nên chẳng biết biểu lộ tình cảm. Có người từng chứng kiến cha mẹ cãi nhau nên rất sợ xung đột. Có người mang mặc cảm nghèo khó nên quá nhạy cảm với tiền bạc. Có người từng bị bỏ rơi nên chỉ cần người bạn đời lạnh nhạt một chút đã cảm thấy mình không còn được yêu. Nếu hai người không hiểu những câu chuyện nằm phía sau con người của nhau, họ sẽ dễ kết án nhau. “Anh vô tâm.” “Em khó tính.” “Anh ích kỷ.” “Em chẳng bao giờ hài lòng.” Nhưng có khi phía sau cái gọi là vô tâm là một người chưa bao giờ được dạy cách bày tỏ tình cảm; phía sau sự khó tính là một trái tim luôn sợ bị bỏ rơi. Tình yêu hôn nhân trưởng thành khi người ta không chỉ hỏi: “Tại sao anh lại như vậy?” mà còn đủ hiền để hỏi: “Điều gì đã khiến anh trở thành như vậy?” Không chỉ hỏi: “Tại sao em cứ làm tôi mệt?” mà hỏi: “Trong lòng em đang đau điều gì mà tôi chưa hiểu?”
Thánh Giá bắt đầu rất gần: từ việc chết đi cho cái tôi của mình. Chúa Giêsu nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Câu ấy đúng với mọi Kitô hữu, nhưng trong đời hôn nhân nó cụ thể đến từng bữa cơm. Từ bỏ mình đôi khi là thôi muốn mình luôn đúng. Có những gia đình đổ vỡ không phải vì chuyện lớn mà vì hai người đều quyết thắng. Trong một cuộc cãi nhau, người chồng muốn chứng minh mình đúng; người vợ muốn chứng minh mình không sai. Cuối cùng có thể một người thắng cuộc tranh luận nhưng cả hai thua cuộc hôn nhân. Gia đình không phải tòa án để mỗi ngày tìm xem ai có lỗi. Gia đình là nơi những người có lỗi vẫn được thương. Đôi khi câu cứu một cuộc hôn nhân không phải “Anh thấy chưa, tôi đã nói mà”, nhưng là “Thôi, mình cùng làm lại.” Không phải “Em phải xin lỗi tôi trước”, nhưng là “Anh xin lỗi vì đã làm em buồn.” Người trưởng thành không phải người không bao giờ sai; người trưởng thành là người đủ khiêm tốn để nhận phần sai của mình mà không chờ người kia nhận trước.
Có những câu xin lỗi trong hôn nhân nặng hơn cả một cây Thánh Giá. Bởi nói “anh xin lỗi” nghĩa là đóng đinh lòng kiêu hãnh của mình. Nói “em đã sai” nghĩa là để cái tôi chết đi một chút. Nhưng kỳ lạ thay, cái tôi chết đi bao nhiêu thì tình yêu lại sống dậy bấy nhiêu. Có những đôi vợ chồng chẳng còn nói chuyện với nhau chỉ vì mỗi người đợi người kia mở lời trước. Một ngày thành một tuần. Một tuần thành một tháng. Cùng nhà nhưng hai thế giới. Cùng bàn nhưng mỗi người một điện thoại. Cùng giường nhưng hai trái tim xa lạ. Và tất cả có khi chỉ cần một người đủ can đảm bước qua vài bước, ngồi xuống, nắm lấy tay người kia và nói: “Mình đừng sống thế này nữa.” Đó cũng là vác Thánh Giá. Không phải chịu đựng một đau khổ do trời giáng xuống, mà là chiến thắng chính lòng kiêu căng đang ngăn mình làm hòa.
Thánh Giá trong hôn nhân còn là nghệ thuật tha thứ. Không có hôn nhân nào đi dài mà không phải tha thứ nhiều lần. Hai người càng gần nhau càng có khả năng làm nhau đau. Người ngoài nói một lời có thể ta quên trong buổi chiều; người mình thương nói một câu có thể mười năm sau vẫn nhớ. Bởi ta đã mở cửa trái tim cho người ấy. Vì thế người ấy có thể đi vào những chỗ rất sâu và cũng có thể làm đau những chỗ rất sâu. Chúa Giêsu không dạy Phêrô tha thứ bảy lần nhưng “bảy mươi lần bảy” (x. Mt 18,21-22). Trong hôn nhân, lời ấy không phải lý thuyết. Có những lỗi phải tha nhiều hơn một lần, bởi ký ức có thể trở về. Có những buổi sáng ta tưởng mình đã tha, tối đến vết đau lại nhói. Tha thứ không nhất thiết là quên ngay. Tha thứ trước hết là quyết định không dùng vết thương ấy làm vũ khí để giết người kia. Là không moi lại chuyện cũ mỗi lần tranh luận. Là không biến một lỗi trong quá khứ thành bản án chung thân. Là dám tin rằng con người có thể thay đổi nhờ ơn Chúa và nhờ tình yêu kiên nhẫn.
Dĩ nhiên tha thứ không có nghĩa là dung túng cho bạo lực, lạm dụng, phản bội kéo dài hay hành vi gây nguy hiểm. Thánh Giá của Đức Kitô không bao giờ là cái cớ để người mạnh bắt người yếu im lặng chịu đựng bất công. Chúa Giêsu hiến mạng sống vì yêu; Người không dạy ai lấy danh nghĩa hôn nhân để làm nhục, đánh đập hay hủy hoại người khác. Có những hoàn cảnh cần sự trợ giúp nghiêm túc của gia đình, mục tử, chuyên viên và nếu có nguy cơ bạo lực thì phải ưu tiên bảo vệ người đang bị tổn thương. Kitô giáo tôn trọng sự hy sinh, nhưng không thần thánh hóa sự hành hạ. Thánh Giá cứu độ là Thánh Giá của tình yêu tự hiến, không phải thập giá do tội lỗi người khác cố tình đặt lên vai một người rồi bắt họ phải im lặng.
Một trong những Thánh Giá âm thầm nhất của đời sống vợ chồng là sự thay đổi của người mình yêu. Hai mươi lăm tuổi và năm mươi lăm tuổi không phải cùng một con người. Thời gian thay đổi thân xác, tính khí, sở thích, sức khỏe và cả cách người ta nhìn cuộc đời. Người con gái năm nào nhanh nhẹn rồi một ngày có thể đau lưng, mất ngủ, tóc bạc. Chàng trai ngày nào khỏe mạnh rồi có lúc phải uống thuốc mỗi sáng. Tình yêu trẻ thường nói: “Em đẹp quá.” Tình yêu trưởng thành nói: “Em mệt thì để anh làm.” Tình yêu trẻ nói: “Anh mạnh mẽ quá.” Tình yêu già nói: “Anh đi chậm thôi, em đợi.” Có một vẻ đẹp của hôn nhân mà máy ảnh ngày cưới không bao giờ chụp được: đó là bàn tay nhăn nheo của một ông cụ đút từng thìa cháo cho người vợ đã quên gần hết mọi chuyện; là người vợ ngồi ngoài phòng cấp cứu chờ chồng; là ông chồng mỗi sáng chuẩn bị thuốc cho bà; là hai người già đi lễ, bước chậm cạnh nhau, không còn nói với nhau những lời tình tứ như thuở nào nhưng chỉ cần một người hụt chân thì bàn tay kia lập tức đưa ra. Đó là tình yêu đã qua lửa. Đó là “yêu đến cùng”.
Người ta thường hỏi: “Làm sao biết tôi thật sự yêu một người?” Đừng chỉ hỏi lúc người ấy đẹp, khỏe, thành công và làm mình vui. Hãy hỏi: “Nếu một ngày người ấy chẳng còn mang lại cho tôi điều tôi từng mong, tôi còn có thể ở lại để yêu không?” Chúa Giêsu trên Thánh Giá chẳng nhận lại được bao nhiêu. Người cho tất cả mà gần như bị lấy hết: danh dự bị bêu nhục, áo bị chia, thân xác bị đóng đinh, môn đệ bỏ chạy. Nhưng chính khi dường như không còn gì để nhận, tình yêu của Người lại đạt đến tận cùng. Hôn nhân cũng có những thời điểm tình yêu phải đi qua vùng đất ấy. Người kia có thể trầm cảm, thất nghiệp, bệnh tật, già yếu, thất bại. Nếu tình yêu chỉ là trao đổi – anh cho tôi hạnh phúc, tôi cho anh tình cảm – thì khi một bên không còn khả năng “đóng góp”, giao kèo sẽ tan. Nhưng bí tích hôn phối không phải một hợp đồng thương mại. Đó là giao ước. Giao ước nói: tôi trao chính mình cho anh, cho em. Và khi một người yếu đi, tình yêu của người kia được mời gọi mạnh hơn.
Có một Thánh Giá đặc biệt trong đời hôn nhân là chuyện con cái. Trước khi có con, hai người có thể nghĩ gia đình là câu chuyện của họ. Khi đứa con xuất hiện, thế giới thay đổi. Những đêm mất ngủ bắt đầu. Tiền bạc phải chia lại. Thời gian riêng ít đi. Những dự định cá nhân phải điều chỉnh. Rồi con lớn và không phải đứa trẻ nào cũng đi theo con đường cha mẹ mong. Có đứa học không giỏi. Có đứa ngang bướng. Có đứa mang trong mình những giới hạn khiến cha mẹ đau từng ngày. Có đứa trưởng thành rồi rời nhà và rất ít khi trở về. Có đứa lầm đường khiến cha mẹ khóc không biết bao nhiêu đêm. Khi ấy Thánh Giá không chỉ nằm giữa vợ chồng mà cả hai cùng đứng dưới một cây Thánh Giá là nỗi đau về con mình. Lúc ấy điều cần nhất là đừng quay sang đổ lỗi. “Tại anh chiều nó.” “Tại em dạy nó thế.” Những câu ấy chẳng cứu được đứa con mà chỉ làm gia đình có thêm hai người đau. Một hôn nhân trưởng thành biết biến câu hỏi “Ai có lỗi?” thành câu hỏi “Bây giờ chúng ta cùng làm gì cho con?”
Cũng có những đôi phải mang Thánh Giá không có con. Người ngoài nhiều khi không hiểu nên vô tình làm đau bằng những câu tưởng là bình thường: “Bao giờ có em bé?” “Sao cưới lâu rồi chưa sinh?” Mỗi câu hỏi có thể chạm vào một vết thương mà hai người đang âm thầm mang đến trước nhà tạm mỗi ngày. Hôn nhân của họ không kém ý nghĩa chỉ vì chưa có tiếng trẻ. Giá trị của bí tích hôn phối không được đo bằng số con nhưng trước hết bằng tình yêu giao ước của đôi bạn, một tình yêu luôn được mời gọi mở ra cho sự sống và hoa trái theo những cách mà Thiên Chúa có thể dẫn dắt. Trong nỗi đau hiếm muộn, hai người càng cần nắm tay nhau, đừng biến nỗi buồn chung thành khoảng cách riêng. Có khi người vợ khóc một cách, người chồng đau một cách khác. Người vợ muốn nói, người chồng im lặng. Sự khác biệt ấy không có nghĩa ai đau ít hơn ai. Hãy cho nhau quyền được buồn theo cách của mình và cùng đặt nỗi đau dưới chân Thánh Giá.
Thánh Giá trong hôn nhân nhiều lúc mang tên “cơm áo gạo tiền”. Tình yêu rất đẹp, nhưng hóa đơn vẫn đến mỗi tháng. Tiền học của con, thuốc của cha mẹ, tiền thuê nhà, tiền điện nước, một khoản nợ, một lần làm ăn thất bại có thể kéo căng tình nghĩa vợ chồng. Không ít gia đình đã mất bình an không hẳn vì thiếu tiền mà vì tiền trở thành nơi người ta nghi ngờ, giấu giếm và kiểm soát nhau. Khi đồng tiền được đưa vào ánh sáng của sự chân thành, nó là phương tiện phục vụ gia đình. Khi đồng tiền bị giấu trong bóng tối, nó dễ thành mầm chia rẽ. Vợ chồng cần học nói thật với nhau về tiền. Không giấu nợ. Không có những khoản chi bí mật gây tổn thương niềm tin. Không dùng tiền để thống trị người kia. Và đặc biệt, đừng để giá trị của người chồng chỉ còn là số tiền anh kiếm được, hay giá trị của người vợ chỉ còn là số việc cô làm trong nhà. Có những mùa một người kiếm nhiều, người kia kiếm ít. Có những năm người chồng thất nghiệp. Có lúc người vợ phải nghỉ làm để chăm con hoặc chăm cha mẹ. Hôn nhân không phải bảng cân đối để cuối tháng xem ai đóng góp hơn ai. Gia đình là thân thể: khi một phần yếu thì phần kia gánh nhiều hơn, và rồi sẽ có ngày đổi lại.
Có một cây Thánh Giá rất nặng mà thời đại hôm nay đặt vào hôn nhân: thiếu thời gian cho nhau. Người ta có thể sống trong cùng một căn nhà nhưng mỗi người nhìn một màn hình. Người chồng mang công việc về nhà. Người vợ vừa ăn vừa kiểm tra điện thoại. Con cái cũng có thiết bị riêng. Tất cả được kết nối với cả thế giới nhưng lại mất kết nối với người ngồi cách mình một mét. Nhiều cuộc hôn nhân không chết vì một biến cố lớn; chúng chết vì hàng ngàn lần bỏ qua nhau. Người vợ kể chuyện nhưng chồng vẫn nhìn điện thoại. Người chồng muốn nói nhưng vợ trả lời “để lát nữa”. Lát nữa thành ngày mai. Ngày mai thành nhiều năm. Rồi một hôm họ nhận ra họ biết rất nhiều chuyện trên mạng nhưng chẳng biết trong lòng người bên cạnh đang buồn gì. Yêu đến cùng hôm nay có khi chẳng cần một hành động phi thường. Chỉ cần đặt điện thoại xuống và nhìn nhau. Chỉ cần mỗi ngày dành một chút thời gian hỏi thật: “Hôm nay anh thế nào?” “Hôm nay em có chuyện gì không?” Và rồi nghe, không phải nghe để sửa, không phải nghe để phản bác, chỉ nghe để người kia biết rằng trái tim họ vẫn có một chỗ trong đời mình.
Có người nói: “Ngày xưa chúng tôi nói chuyện cả đêm, bây giờ chẳng biết nói gì.” Thật ra không hẳn hết chuyện; có khi chúng ta đã hết tò mò về nhau. Ta tưởng mình biết người kia quá rõ. Nhưng một con người là một thế giới không bao giờ khám phá hết. Người vợ sau hai mươi năm vẫn có thể có những ước mơ chồng chưa từng biết. Người chồng sau ba mươi năm vẫn có những nỗi sợ chưa từng nói. Hãy học yêu nhau bằng cách tiếp tục khám phá nhau. Đừng chỉ hỏi chuyện con cái, hóa đơn và công việc. Hỏi về linh hồn nhau. “Dạo này em có bình an không?” “Có chuyện gì anh đang lo mà chưa nói?” “Anh có mệt với cuộc sống này không?” “Em cần anh thay đổi điều gì?” Những câu ấy có thể khó, nhưng đó là những chiếc đinh nhỏ đóng cái tôi của chúng ta vào thập giá để tình yêu sống.
Đời sống thân mật vợ chồng cũng cần được đặt dưới ánh sáng của Thánh Giá. Thân xác người phối ngẫu không phải một đồ vật thuộc quyền sở hữu của mình. Người ấy là một ngôi vị phải được yêu, được kính trọng, được lắng nghe. Trong tình yêu Kitô giáo, sự trao hiến thân xác phải diễn tả sự trao hiến con người: tự do, trung tín, tôn trọng và trách nhiệm. Nếu một người chỉ tìm thỏa mãn mình mà không quan tâm đến cảm xúc, sức khỏe, phẩm giá của người kia thì đó không còn là ngôn ngữ của tình yêu tự hiến. Chúa Giêsu trao thân mình: “Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” Hôn nhân cũng mang trong mình logic của sự hiến trao ấy: không phải “tôi lấy từ em điều tôi muốn”, mà là “tôi trao chính mình cho em”. Chính khi thân xác già đi, khi bệnh tật xuất hiện, khi những thay đổi của tuổi tác đến, tình yêu càng được mời gọi đi từ hấp dẫn sang dịu dàng, từ chiếm hữu sang chăm sóc, từ ham muốn sang hiến trao.
Một trong những điều gây đau đớn nhất trong hôn nhân là khi người ta bắt đầu coi những điều tốt người kia làm là chuyện đương nhiên. Cơm có mỗi ngày nên không còn cảm ơn người nấu. Tiền lương về đều nên chẳng còn nhớ người kia đã lao động thế nào. Nhà cửa được chăm sóc nên tưởng mọi thứ tự nhiên sạch. Con cái được đưa đón nên chẳng thấy công sức. Hôn nhân mất dần hơi ấm khi lòng biết ơn chết. Đừng đợi mất nhau rồi mới kể người ấy đã tốt thế nào. Hãy nói khi còn có thể nghe. “Cảm ơn em.” “Cảm ơn anh.” Những câu rất nhỏ nhưng là dầu cho ngọn đèn gia đình. Nhiều người ngoài xã hội rất lịch sự, cảm ơn từng ly nước người lạ mang đến, nhưng về nhà thì xem mọi phục vụ của người thân là bổn phận. Người ta dễ tử tế với người mình gặp một lần mà lại cộc cằn với người sẽ sống cùng mình cả đời. Nếu có một nơi cần sự tử tế nhất thì đó phải là gia đình.
Thánh Giá cũng dạy vợ chồng giữ miệng. Có những vết thương trên da vài ngày là lành; vết thương từ lời nói có thể đi theo cả đời. Một câu xúc phạm lúc nóng giận có thể phá hủy thứ người kia đã xây nhiều năm. “Anh chẳng làm nên trò trống gì.” “Em giống hệt mẹ em.” “Giá ngày xưa tôi đừng cưới anh.” “Tôi hết yêu cô rồi.” Có những câu nói xong người ta xin lỗi, nhưng người nghe không thể trở lại như trước. Trên Thánh Giá, giữa đau đớn, Chúa Giêsu không nguyền rủa những kẻ đóng đinh mình. Người cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ” (Lc 23,34). Nếu Chúa có thể giữ trái tim khỏi hận thù giữa những chiếc đinh thì một người môn đệ Chúa trong gia đình cũng phải học dừng lại trước khi dùng lời làm nhục người mình từng quỳ trước bàn thờ để hứa yêu. Có lúc im lặng mười phút là cứu được mười năm hôn nhân. Im lặng không phải để trừng phạt, nhưng để trái tim nguội đi trước khi nói điều không thể thu lại.
Tuy vậy, đừng biến im lặng thành bức tường. Có người không la mắng nhưng dùng im lặng để hành hạ người kia. Không nói chuyện ngày này qua ngày khác. Không trả lời. Không nhìn mặt. Đó không phải bình an, đó là chiến tranh lạnh. Chúa Giêsu thinh lặng trước những lời vu khống, nhưng Người luôn mở lòng với kẻ tìm Người. Trong hôn nhân, cần có những khoảng lặng để bình tâm, nhưng sau đó phải trở lại đối thoại. Hai người không thể chữa một vết thương mà không bao giờ dám nhìn vào nó.
Có một câu Tin Mừng rất thích hợp với đời hôn nhân: “Điều Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19,6). Câu ấy không chỉ là một luật cấm ly dị. Sâu hơn, đó là lời mời gọi nhận ra rằng giữa hai con người yếu đuối đang đứng trước nhau có bàn tay Thiên Chúa. Người phối ngẫu không chỉ là người “tôi chọn”, nhưng trong đức tin, còn là người tôi được trao phó để yêu. Và vì có Thiên Chúa ở giữa, mỗi khi cuộc hôn nhân gặp khủng hoảng, câu hỏi không chỉ là: “Tôi còn cảm xúc với người ấy không?” nhưng còn là: “Thiên Chúa đang mời tôi làm gì với giao ước này?” Cảm xúc rất quý, nhưng cảm xúc không đủ sức giữ một giao ước trọn đời. Có ngày cảm xúc dâng cao, có ngày khô cạn. Nếu mỗi khi hết cảm xúc ta kết luận hết tình yêu thì chẳng cuộc hôn nhân nào sống nổi. Tình yêu trưởng thành là khi ý chí tiếp tục chọn điều thiện cho người kia ngay cả trong những ngày cảm xúc vắng mặt.
Chính ở đây ta hiểu tại sao hôn nhân Kitô giáo cần cầu nguyện. Hai con người không thể chỉ dựa vào sức mình để hứa yêu suốt đời. Lời hứa ấy lớn hơn sức con người. Vì thế họ hứa trước bàn thờ, trước mặt Thiên Chúa, để nói một điều rất khiêm nhường: “Chúng con không thể yêu nhau như thế nếu không có ơn Ngài.” Một gia đình bỏ cầu nguyện lâu ngày rất dễ quên rằng hôn nhân là ơn gọi. Khi chỉ còn công việc, con cái, học hành, tiền bạc, giải trí, hôn nhân từ một bí tích có thể dần biến thành một dự án quản trị gia đình. Hai người trở thành hai cộng sự vận hành một ngôi nhà: người này lo tiền, người kia lo con, cùng đóng phí, cùng đưa đón, nhưng linh hồn của giao ước đã nhạt. Cầu nguyện đưa Chúa trở lại trung tâm. Không cần lúc nào cũng dài. Có khi chỉ là làm dấu trước bữa ăn. Một kinh Lạy Cha trước khi ngủ. Một tối vợ chồng cùng đọc một đoạn Tin Mừng. Một lần nắm tay nhau khi con bệnh và nói: “Lạy Chúa, xin thương con chúng con.” Nhưng những điều nhỏ đó âm thầm nhắc rằng gia đình này không chỉ có hai người.
Đẹp biết bao khi một người chồng biết cầu nguyện cho vợ. Không phải chỉ cầu “xin Chúa sửa vợ con”, mà cầu: “Xin Chúa giúp con hiểu vợ hơn.” Khi một người vợ cầu cho chồng: “Xin Chúa giữ anh ấy, cho con biết nâng đỡ chồng con.” Có những điều ta nói với nhau không được, hãy nói với Chúa về nhau. Nhưng đừng cầu nguyện như người đứng ngoài tố cáo bị cáo trước quan tòa. Hãy cầu như người mang người mình yêu đến với Đấng đã trao người ấy cho mình.
Thánh Giá trong hôn nhân đặc biệt sáng lên khi một người đau yếu. Lúc khỏe, lời hứa “khi đau yếu cũng như lúc mạnh khỏe” nghe rất nhẹ. Đến ngày bệnh viện xuất hiện mới hiểu. Một chẩn đoán có thể chia cuộc đời thành trước và sau. Bỗng dưng những chuyện từng làm hai người cãi nhau trở nên nhỏ. Người ta không còn quan tâm ai quên tắt đèn, ai để đồ không đúng chỗ. Chỉ mong người kia còn thở. Chỉ mong xét nghiệm tốt hơn. Chỉ mong được đưa người ấy về nhà. Có những người vợ hàng tháng đưa chồng đi hóa trị. Có người chồng chăm vợ nằm liệt nhiều năm. Có những đêm người này ngủ ngồi cạnh giường người kia. Chẳng có đám đông vỗ tay. Chẳng ai đăng hình. Nhưng trước mặt Thiên Chúa, đó có thể là một trong những thánh lễ đẹp nhất của đời hôn nhân: một con người trao thời gian, sức khỏe, giấc ngủ và tuổi già để chăm người mình đã hứa yêu.
Và rồi sẽ có một ngày lời hứa “mọi ngày suốt đời” đi đến chữ cuối cùng. Một người phải đi trước. Hôn nhân nào sống lâu đủ cũng phải đối diện với cuộc chia tay ấy. Có những ông cụ đứng bên quan tài vợ mà cứ vuốt mãi tấm ảnh. Có những bà cụ sau mấy chục năm chung sống bỗng sáng thức dậy không còn ai bên cạnh. Lúc ấy người ta mới hiểu người kia đã trở thành một phần đời mình sâu đến thế nào. Nhưng đức tin Kitô giáo không để câu chuyện kết thúc trước huyệt mộ. Thánh Giá không kết thúc ở chiều Thứ Sáu Tuần Thánh. Sau Thánh Giá là Phục Sinh. Đôi vợ chồng đã cùng nhau sống một giao ước trong Đức Kitô có thể hy vọng rằng sự chết không phải lời cuối. Người này có thể tiễn người kia bằng nước mắt nhưng vẫn cầu nguyện: “Chúng ta tạm xa nhau. Xin Chúa cho một ngày được gặp lại.”
Có lẽ điều đáng sợ nhất trong hôn nhân không phải là gặp Thánh Giá, bởi gia đình nào cũng sẽ gặp. Điều đáng sợ là gặp Thánh Giá mà không có Chúa. Đau khổ tự nó không làm người ta nên thánh. Có đau khổ làm người ta cay đắng. Có đau khổ làm người ta xa nhau. Thánh Giá trở thành con đường cứu độ khi đau khổ được đưa vào tình yêu của Đức Kitô. Hai thanh gỗ chỉ là dụng cụ hành hình; nhưng khi Đức Giêsu dang tay trên đó, nó trở thành Thánh Giá. Cũng thế, nghèo khó, bệnh tật, bất đồng, thất bại tự chúng chẳng thánh thiện. Nhưng khi vợ chồng mang chúng với nhau trong đức tin, chúng có thể trở thành nơi tình yêu được thanh luyện.
Có những đôi mới cưới nghĩ hôn nhân hạnh phúc là hôn nhân không có vấn đề. Không phải. Hôn nhân hạnh phúc là hôn nhân biết cùng nhau đi qua vấn đề. Biển không có sóng thì chẳng cần người thủy thủ giỏi. Một mái ấm chưa từng thử thách cũng chưa biết tình yêu mình sâu đến đâu. Có những đôi yêu nhau ba năm tưởng hiểu hết nhau; rồi có con mới khám phá nhau. Có người mười năm hôn nhân mới gặp thất nghiệp, hai mươi năm mới gặp bệnh tật, ba mươi năm mới phải chăm cha mẹ già. Mỗi chặng là một bài học khác. Hôn nhân không phải một ngày cưới kéo dài; đó là trường học của tình yêu, nơi hai người học cả đời và chẳng ai tốt nghiệp trước khi nhắm mắt.
Trong trường ấy, Thánh Giá là chiếc bảng lớn nhất. Trên đó Đức Giêsu dạy bài học mà không cần nhiều chữ: đôi tay bị đóng đinh nhưng vẫn mở rộng; trái tim bị đâm nhưng vẫn tuôn nước và máu; môi khát nhưng vẫn nói lời tha thứ; thân xác kiệt sức nhưng vẫn trao Mẹ cho môn đệ và môn đệ cho Mẹ. Thánh Giá nói rằng yêu là mở tay chứ không nắm chặt. Yêu là trao chứ không chỉ nhận. Yêu là tha thứ. Yêu là trung tín khi phải trả giá. Yêu là ở lại khi bỏ đi dễ hơn. Yêu là chịu phần thiệt để người kia được sống. Nhưng Thánh Giá cũng nói một điều rất quan trọng: sự hy sinh Kitô giáo luôn dẫn đến sự sống. Nếu một kiểu “hy sinh” chỉ làm cho tội lỗi của người kia ngày càng lớn, bạo lực ngày càng nặng và nhân phẩm một người ngày càng bị hủy hoại, cần tìm sự trợ giúp và phân định nghiêm túc. Đức Kitô chết để giải thoát con người khỏi tội, không phải để bảo vệ tội.
Có một hình ảnh trong Tin Mừng rất đẹp cho hôn nhân: tại tiệc cưới Cana, Đức Maria nói với Đức Giêsu: “Họ hết rượu rồi” (Ga 2,3). Hôn nhân nào rồi cũng có lúc “hết rượu”. Rượu của cảm xúc ban đầu có thể cạn. Rượu của sức khỏe có thể cạn. Rượu của tiền bạc có thể cạn. Rượu của kiên nhẫn cũng có ngày gần cạn. Vấn đề không phải là gia đình có lúc hết rượu hay không. Vấn đề là khi hết rượu, người ta có mời Chúa vào hay không. Cana trở thành tiệc cưới của phép lạ không phải vì đôi tân hôn chuẩn bị hoàn hảo, nhưng bởi trong đám cưới ấy có Chúa Giêsu. Khi con người cạn, Thiên Chúa vẫn có thể biến nước thành rượu. Khi tình yêu con người mệt, ân sủng có thể làm nó sống lại. Có những cuộc hôn nhân tưởng không cứu được nhưng sau những tháng năm cầu nguyện, đối thoại, tư vấn, tha thứ và thay đổi thật sự, họ tìm lại nhau. Không phải trở về giống như ngày đầu. Đôi khi còn đẹp hơn ngày đầu, bởi tình yêu được tìm lại sau đổ vỡ thường không còn ngây thơ nhưng sâu hơn rất nhiều.
Đừng xấu hổ khi hôn nhân cần giúp đỡ. Người đau răng đi nha sĩ, người bệnh tim đi bác sĩ, vậy tại sao một cuộc hôn nhân đang đau lại ngại tìm người giúp? Có những cặp đợi đến khi mọi thứ tan nát mới tìm đến linh mục hoặc chuyên viên. Trong khi nhiều vết nứt nếu được chăm sóc sớm có thể lành. Tìm giúp đỡ không phải dấu hiệu thất bại; nhiều khi là bằng chứng cho thấy hai người còn quý hôn nhân đủ để chiến đấu cho nó. Đừng đợi đến lúc một người nói “tôi không còn chịu nổi nữa” mới bắt đầu lắng nghe.
Và xin những người đang sống hôn nhân đừng so gia đình mình với hình ảnh gia đình khác trên mạng. Người ta đăng ảnh kỷ niệm, ít ai đăng những đêm hai vợ chồng quay lưng. Người ta đăng chuyến du lịch, ít ai đăng hóa đơn phải trả. Người ta đăng hoa ngày lễ, ít ai đăng những lúc thất vọng. Một cuộc hôn nhân thật bao giờ cũng có phần lộn xộn. Đừng vì nhìn thấy bức ảnh đẹp của người khác mà tưởng đời mình thất bại. Thiên Chúa không gọi anh chị sống cuộc hôn nhân của người khác. Ngài trao cho anh chị con người đang ở bên cạnh mình, với tất cả cái đẹp và cái chưa đẹp, để chính ở đó anh chị học nên thánh.
Nên thánh trong hôn nhân không nhất thiết là làm những điều phi thường. Có khi nên thánh là sáng dậy sớm hơn để chuẩn bị cho cả nhà. Là đi làm mệt vẫn ghé mua thuốc cho mẹ vợ. Là không nói xấu chồng trước mặt con. Là bảo vệ danh dự của vợ trước gia đình mình. Là nhớ ngày người kia đi khám bệnh. Là chủ động xin lỗi. Là chia sẻ việc nhà. Là có tiền nhưng không tiêu riêng ích kỷ. Là chung thủy khi chẳng ai biết. Là tắt một cuộc trò chuyện không lành mạnh trước khi nó vượt quá giới hạn. Là không nhắn những tin mà mình không dám cho vợ hay chồng đọc. Là giữ khoảng cách với những mối tương quan có thể đe dọa hôn nhân. Trung tín thường không bị mất trong một ngày. Nó bị bào mòn qua những bước rất nhỏ. Và cũng vậy, một hôn nhân vững chắc thường không được xây bằng một hành động anh hùng, nhưng bằng hàng vạn lựa chọn nhỏ mỗi ngày.
Đừng bao giờ coi thường sự chung thủy. Trong một thế giới thích nói “tôi phải sống cho tôi”, lời hứa trọn đời có vẻ cổ. Nhưng chính vì tình yêu có thể thay đổi nên lời hứa mới quý. Nếu cảm xúc chắc chắn vĩnh viễn thì đâu cần lời thề. Ta hứa bởi biết mình yếu. Ta hứa để khi cảm xúc lung lay, lời hứa nhắc mình nhớ mình là ai. Chiếc nhẫn cưới nằm trên tay không chỉ để nói với người khác “tôi đã kết hôn”; nó còn nói với chính mình trong những lúc bị cám dỗ: “Tôi đã trao đời tôi cho một người.”
Và khi đã trao đời cho nhau, xin đừng giữ sẵn một cánh cửa thoát trong tâm trí. Có người mỗi lần cãi nhau lại nói “ly dị đi”. Một từ được ném ra nhiều lần sẽ trở thành một bóng ma trong nhà. Người kia bắt đầu sống bất an: “Không biết cuộc hôn nhân này có còn an toàn không?” Hãy cẩn thận với những lời đe dọa đụng đến nền móng giao ước. Cãi nhau về chuyện gì thì giải quyết chuyện đó. Đừng mỗi lần một cái ly vỡ lại đe phá cả căn nhà.
Đời sống hôn nhân còn cần một điều rất khó: biết chấp nhận rằng mình không thể biến người kia thành bản sao của mình. Người hướng ngoại lấy người hướng nội. Người thích kế hoạch lấy người ngẫu hứng. Người tiết kiệm lấy người rộng rãi. Người ít nói lấy người thích chia sẻ. Ban đầu khác biệt tạo hấp dẫn; sau cưới khác biệt tạo bực mình. Ta bắt đầu nghĩ nếu người kia yêu mình thì phải làm giống mình. Nhưng yêu không phải đồng hóa. Có những khác biệt không phải lỗi cần sửa, chỉ là điều cần hiểu. Hôn nhân không phải hai người trở thành một tính cách, nhưng hai người khác nhau học trở nên một trong tình yêu.
Thánh Phaolô đã để lại một bản mô tả tình yêu mà đôi vợ chồng nên đọc nhiều lần trong đời: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù… Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (x. 1 Cr 13,4-7). Đoạn ấy thường được đọc trong lễ cưới, lúc mọi người mặc đẹp và xúc động. Nhưng thật ra nó cần được đọc nhất sau mười lăm năm cưới, vào một tối hai người vừa cãi nhau. “Nhẫn nhục” nghĩa là gì khi người kia lại lặp một thói quen mình đã nhắc một trăm lần? “Không nóng giận” nghĩa gì khi mình rất mệt? “Không tìm tư lợi” nghĩa gì khi phải bỏ một kế hoạch riêng vì gia đình? “Hy vọng tất cả” nghĩa gì khi người mình yêu đang trải qua một giai đoạn rất tệ? Chính lúc ấy Lời Chúa mới từ trang giấy bước vào thịt xương.
Có lẽ điều đẹp nhất mà vợ chồng có thể làm cho nhau là giúp nhau về trời. Đích cuối của hôn nhân không phải nhà đẹp, con giỏi, tiền nhiều hay tuổi già yên ổn. Những điều ấy đáng quý nhưng chưa phải cuối cùng. Một ngày tất cả đều phải để lại. Ơn gọi của người chồng là yêu vợ đến mức người vợ nhờ tình yêu ấy hiểu thêm Thiên Chúa yêu mình thế nào. Ơn gọi của người vợ cũng vậy. Thật đẹp khi cuối đời một người có thể nói: “Nhờ sống với anh, em gần Chúa hơn.” “Nhờ sống với em, anh trở thành người tốt hơn.” Nếu một cuộc hôn nhân làm hai người giàu hơn mà xa Chúa hơn, thành đạt hơn mà ích kỷ hơn, người ngoài có thể gọi đó là thành công, nhưng Tin Mừng sẽ đặt câu hỏi khác.
Vì vậy, đừng chỉ cầu xin: “Lạy Chúa, cho gia đình con không có Thánh Giá.” Hầu như đó là lời cầu không thể thành hiện thực. Hãy cầu: “Lạy Chúa, khi Thánh Giá đến, xin cho chúng con đừng buông tay nhau. Khi một người yếu, xin người kia biết mạnh. Khi cả hai cùng yếu, xin Chúa đứng giữa. Khi chúng con giận, xin giữ miệng chúng con khỏi làm đau nhau. Khi chúng con tổn thương, xin dạy chúng con tha thứ. Khi chúng con không hiểu nhau, xin cho chúng con biết lắng nghe. Khi cơm áo làm chúng con mệt, xin đừng để tiền bạc lấy mất tình nghĩa. Khi bệnh tật đến, xin cho chúng con biết chăm nhau. Khi tuổi già đến, xin cho bàn tay chúng con vẫn tìm được nhau. Và khi một người phải đi trước, xin người còn lại vẫn tin rằng tình yêu trong Chúa không chết.”
Trên đồi Canvê, người ta tưởng tình yêu đã thất bại. Đức Giêsu treo đó, chẳng còn dáng vẻ của một Đấng chiến thắng. Nhưng chính nơi ấy tình yêu đạt tới sự viên mãn. “Mọi sự đã hoàn tất” (Ga 19,30). Hôn nhân Kitô giáo cũng có những ngày giống chiều Canvê: chẳng thấy phép lạ, chẳng thấy lối ra, chẳng thấy niềm vui. Đừng vội kết luận Thiên Chúa đã bỏ mình. Có những điều chỉ sáng nghĩa sau Phục Sinh. Có những cuộc khủng hoảng khi đang ở giữa nó người ta chỉ thấy đau; nhiều năm sau nhìn lại mới nhận ra chính thời gian ấy làm họ trưởng thành, buộc họ thôi sống hời hợt, học cầu nguyện, học xin lỗi, học lắng nghe và học yêu thật.
Ngày cưới, hai người thường đứng dưới cây Thánh Giá trong nhà thờ mà chẳng để ý nhiều. Nhưng rồi cả cuộc đời sẽ từ từ giải thích cây Thánh Giá ấy. Khi sinh con, hiểu một chút. Khi thức trắng đêm chăm con, hiểu thêm chút nữa. Khi tha thứ cho nhau, hiểu thêm. Khi một người bệnh, hiểu thêm. Khi chăm cha mẹ già, hiểu thêm. Khi kinh tế khó khăn mà vẫn không bỏ nhau, hiểu thêm. Khi tóc bạc mà vẫn ngồi cạnh nhau trong Thánh lễ, hiểu thêm. Và có lẽ đến cuối đời, nhìn lại người đã cùng mình đi qua năm mươi năm mưa nắng, người ta mới hiểu hết lời Chúa: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).
Hy sinh mạng sống không phải lúc nào cũng chết một lần. Trong hôn nhân, người ta có thể “chết” từng chút mỗi ngày: chết cho ích kỷ để dành thời gian cho gia đình, chết cho nóng giận để giữ bình an, chết cho kiêu ngạo để xin lỗi, chết cho ham muốn riêng để trung tín, chết cho tiện nghi để chăm người bệnh, chết cho những giấc mơ cá nhân để cùng xây một giấc mơ chung. Những cái chết nhỏ ấy không làm con người nghèo đi. Ngược lại, chúng sinh ra một con người mới biết yêu.
Và nếu ai hỏi bí quyết để hôn nhân bền vững là gì, có lẽ không có một công thức duy nhất. Nhưng có một hình ảnh: hai người đừng chỉ nhìn nhau; hãy cùng nhìn về Đức Kitô chịu đóng đinh. Khi chỉ nhìn nhau, sẽ có ngày ta thất vọng bởi con người nào cũng giới hạn. Khi cùng nhìn Chúa, ta nhớ mình đã được tha thứ nhiều thế nào để biết tha thứ. Ta nhớ Chúa kiên nhẫn với mình thế nào để biết kiên nhẫn. Ta nhớ Chúa chẳng bỏ mình dù mình bao lần bất trung để học lại sự trung tín. Ta nhớ mình cũng là một người khó yêu mà Chúa vẫn yêu.
Hỡi những người đang sống đời hôn nhân, xin đừng sợ Thánh Giá. Hãy sợ một tình yêu không còn biết hy sinh. Đừng sợ những nếp nhăn xuất hiện trên khuôn mặt người mình yêu. Hãy sợ một trái tim trở nên lạnh lẽo. Đừng sợ nghèo bằng sợ mất lòng tin. Đừng sợ những lần bất đồng bằng sợ không còn muốn nói chuyện. Đừng sợ phải xin lỗi bằng sợ một ngày chẳng còn thấy cần xin lỗi nữa. Đừng sợ phải tha thứ nhiều lần, bởi chính ta cũng đang sống mỗi ngày nhờ được Thiên Chúa tha thứ nhiều lần.
Nếu hôm nay gia đình đang bình an, hãy tạ ơn Chúa và đừng coi bình an ấy là chuyện đương nhiên. Hãy chăm tình yêu khi nó còn khỏe, giống như người ta chăm sức khỏe trước khi bệnh. Nếu hôm nay hai người đang có khoảng cách, hãy bắt đầu bằng một bước nhỏ. Một câu nói. Một cái nắm tay. Một lời xin lỗi. Một buổi nói chuyện không điện thoại. Một giờ cầu nguyện. Đừng chờ người kia thay đổi hoàn toàn rồi mới yêu lại. Có khi phép lạ bắt đầu từ người chịu bước trước. Nếu hôm nay cuộc hôn nhân đang mang một cây Thánh Giá quá nặng, xin đừng tự mình mang tất cả. Hãy tìm sự trợ giúp thích hợp và nhất là đưa Thánh Giá ấy đến với Chúa Giêsu. Người hiểu thế nào là bị tổn thương bởi chính những người mình yêu. Người hiểu phản bội. Người hiểu cô đơn. Người hiểu nước mắt. Và vì hiểu, Người có thể bước vào căn nhà đang đau mà nói lời Người đã nói với các môn đệ sau Phục Sinh: “Bình an cho anh em.”
Rồi một ngày, nếu được ơn sống với nhau đến đầu bạc, có lẽ đôi vợ chồng sẽ không nhớ hết những món quà từng tặng, những nhà hàng từng đến hay những tấm ảnh từng chụp. Nhưng họ sẽ nhớ những lúc người kia đã không bỏ mình. Người vợ sẽ nhớ đêm chồng ngồi ngoài phòng mổ. Người chồng sẽ nhớ những tháng vợ cùng mình vượt qua thất nghiệp. Họ nhớ những lần tưởng chẳng thể tha nhưng cuối cùng vẫn tha. Nhớ căn phòng nhỏ thời mới cưới. Nhớ chiếc xe cũ. Nhớ những hôm chỉ đủ một món ăn mà cả nhà vẫn vui. Nhớ đứa con sốt cao hai người thay nhau thức. Nhớ ngày tiễn cha, tiễn mẹ. Nhớ những buổi sáng đi lễ cạnh nhau. Và lúc ấy họ hiểu: tình yêu không được đo bằng bao nhiêu ngày không có Thánh Giá, nhưng bằng bao nhiêu lần gặp Thánh Giá mà vẫn không bỏ nhau.
“Người yêu thương họ đến cùng.” Câu ấy của Tin Mừng cũng là ước mong đẹp nhất cho một đời hôn nhân. Không phải yêu đến khi người kia thay đổi. Không phải yêu đến khi mình mệt. Không phải yêu đến khi những điều kiện thuận lợi chấm dứt. Nhưng yêu đến cùng. Yêu đến tóc bạc. Yêu đến bệnh viện. Yêu đến chiếc gậy chống. Yêu đến khi một người chẳng nhớ nổi tên người kia mà người kia vẫn nhớ lời mình đã hứa. Yêu đến tận ngưỡng cửa sự chết và trao người mình yêu lại vào bàn tay Thiên Chúa.
Ngày cưới, hai người trao nhẫn cho nhau và nói lời hứa. Ngày cuối đời, chẳng cần nói nhiều nữa. Nếu đã sống được lời hứa ấy, cả cuộc đời tự nó trở thành lời chứng. Và biết đâu khi đứng trước mặt Chúa, giữa bao nhiêu điều người ta từng cố đạt được trên trần gian, điều đẹp nhất mà một người chồng có thể dâng lên chỉ là: “Lạy Chúa, người phụ nữ Chúa trao cho con năm ấy, con đã cố gắng yêu đến cùng.” Và điều đẹp nhất một người vợ có thể nói cũng chỉ là: “Lạy Chúa, người đàn ông Chúa trao cho con, dù có những ngày rất khó, con đã không thôi yêu.”
Thánh Giá của hôn nhân, cuối cùng, không phải câu chuyện của đau khổ. Nó là câu chuyện của một tình yêu đủ lớn để đi xuyên qua đau khổ. Không phải câu chuyện của hai người hoàn hảo, nhưng của hai người bất toàn mỗi ngày cùng quay về với nguồn tình yêu hoàn hảo là Đức Kitô. Cây Thánh Giá treo trong căn nhà Công giáo vì thế không chỉ là ảnh tượng trang trí. Mỗi khi nhìn lên, vợ chồng hãy nhớ: đây là cách Thiên Chúa yêu tôi. Và rồi quay sang người bên cạnh mà tự hỏi: hôm nay tôi có thể yêu người này giống Chúa hơn một chút bằng cách nào?
Chỉ một chút thôi mỗi ngày. Nhẫn nại thêm một chút. Dịu lời hơn một chút. Ít cái tôi hơn một chút. Lắng nghe thêm một chút. Tha thứ thêm một chút. Cầu nguyện thêm một chút. Ôm nhau lâu hơn một chút. Cảm ơn nhau nhiều hơn một chút. Và cứ thế, qua hàng ngàn “một chút” rất nhỏ, đôi vợ chồng sẽ đi được một con đường rất dài. Đến một ngày nhìn lại mới thấy cây Thánh Giá họ từng sợ đã trở thành cây sự sống giữa mái nhà mình.
Bởi yêu thật không phải chỉ là nói: “Anh yêu em” hay “Em yêu anh” trong những ngày đẹp trời. Yêu thật là có thể nói bằng cả đời mình: “Dù mưa hay nắng, dù khỏe hay bệnh, dù giàu hay nghèo, dù có những ngày chúng ta rất gần và những ngày tưởng như rất xa, anh vẫn muốn cùng em trở về với Chúa. Em vẫn muốn cùng anh bước tiếp. Nếu anh ngã, em nâng. Nếu em mệt, anh đỡ. Nếu cả hai cùng kiệt sức, chúng ta quỳ xuống. Và nếu không còn biết phải làm gì nữa, chúng ta nhìn lên Thánh Giá, nơi có một Đấng đã yêu chúng ta trước, đã yêu khi chúng ta không đáng yêu, đã tha khi chúng ta phản bội, đã ở lại khi chúng ta bỏ Người, và đã yêu chúng ta đến cùng.”
Đó là bí mật sâu xa của hôn nhân Công giáo: không phải hai người hứa rằng mình sẽ chẳng bao giờ làm nhau đau, nhưng họ hứa sẽ không để đau khổ có tiếng nói cuối cùng. Không phải hai người bảo đảm sẽ chẳng bao giờ ngã, nhưng họ chọn cùng nhau đứng dậy. Không phải họ chắc chắn rằng trái tim mình sẽ luôn nóng như ngày đầu, nhưng họ đặt trái tim ấy trong trái tim Đức Kitô để mỗi khi tình yêu con người cạn, họ lại kín múc từ một nguồn không bao giờ cạn.
Và như thế, từ căn bếp nhỏ, phòng khách, chiếc giường bệnh, bàn ăn, những chuyến xe đưa con đi học, những buổi tối đóng cửa tính tiền sinh hoạt, những lần làm hòa sau cãi vã, những sáng Chúa nhật cùng nhau đi lễ, một cuộc hôn nhân bình thường có thể trở thành một bài Tin Mừng sống động. Không cần diễn đàn. Không cần ai biết. Một ông chồng trung tín với vợ suốt đời đã là một bài giảng. Một người vợ kiên nhẫn chăm chồng lúc đau yếu đã là một bài giảng. Hai người sau bao nhiêu sóng gió vẫn ngồi cạnh nhau trước Thánh Thể đã là một bài giảng. Con cái nhìn thấy cha mẹ biết xin lỗi và tha thứ sẽ học về Thiên Chúa nhiều khi sâu hơn nghe hàng trăm lời giáo huấn.
Xin cho mỗi gia đình Công giáo có một cây Thánh Giá không chỉ treo trên tường nhưng được khắc vào cách người ta đối xử với nhau. Thánh Giá trong ánh mắt biết cảm thông. Thánh Giá trong bàn tay biết phục vụ. Thánh Giá trong lời nói biết chữa lành. Thánh Giá trong lòng chung thủy. Thánh Giá trong những hy sinh không ai thấy. Và trên tất cả, xin cho nơi mỗi mái nhà luôn có một niềm xác tín: phía bên kia Thánh Giá là Phục Sinh. Sau mỗi lần thật lòng xin lỗi có thể có một khởi đầu mới. Sau mỗi vết thương được tha thứ có thể có một tình yêu sâu hơn. Sau những mùa đông của hôn nhân có thể có mùa xuân nếu cả hai vẫn để Chúa ở giữa.
“Người yêu thương họ đến cùng.” Xin cho câu Tin Mừng ấy một ngày cũng có thể được viết như lời kết cho cuộc đời của mỗi đôi vợ chồng: họ đã yêu nhau, có lúc vụng về, có lúc yếu đuối, có nước mắt, có lỗi lầm, có những tháng ngày rất nặng; nhưng nhờ ơn Chúa họ đã không ngừng học yêu, không ngừng tha thứ, không ngừng trở về, và sau tất cả, họ đã yêu nhau đến cùng.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VÀ ƠN GỌI TRUYỀN GIÁO
Có một điều xem ra nghịch lý nhưng lại nằm ngay giữa lòng Kitô giáo: Chúa Giêsu sai các môn đệ đi loan báo Tin Mừng cứu độ, nhưng hành trang Người trao cho họ không phải là quyền lực, tiền bạc, danh tiếng hay những bảo đảm chắc chắn của thế gian. Người đặt trước mắt họ một con đường có Thánh Giá. Người không hứa rằng ai đi truyền giáo sẽ luôn được đón tiếp, sẽ nói đâu người ta nghe đó, sẽ gieo đâu gặt đó, sẽ bước vào đâu cũng được hoan nghênh. Trái lại, Người báo trước những chống đối, hiểu lầm, bách hại, cô đơn và cả mất mát. Kỳ lạ thay, chính trên con đường tưởng như thất bại ấy, Tin Mừng lại đi xa nhất. Chính từ một Đấng bị treo trên Thập Giá ngoài thành Giêrusalem, bị xem như kẻ thất bại, bị bỏ rơi giữa trời và đất, mà một dòng sông cứu độ đã chảy ra để tưới gội cả nhân loại. Bởi thế, nói đến truyền giáo mà không nói đến Thánh Giá là nói đến một Kitô giáo bị lấy mất trái tim; nói đến sứ vụ mà không nói đến hy sinh là nói đến một Tin Mừng đã bị làm cho dễ dãi; nói đến người môn đệ được sai đi mà không nói đến việc từ bỏ chính mình là quên mất con đường mà chính Đức Giêsu đã đi trước.
Tin Mừng kể một cảnh rất đẹp, mà cũng rất đau: sau khi Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Chúa bắt đầu nói với các môn đệ rằng Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ mục, thượng tế và kinh sư loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại. Phêrô không chịu nổi một Đấng Mêsia như thế. Ông kéo Chúa riêng ra và can ngăn: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” Nhưng Chúa Giêsu quay lại nói một lời rất mạnh: “Xa-tan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” Rồi Người nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (x. Mt 16,21-24). Đó không chỉ là lời dành cho một vài người thích đời sống khổ hạnh. Đó là căn tính của người môn đệ. Và vì mọi người môn đệ đều được sai đi, nên đó cũng là căn tính của người truyền giáo. Không thể bước theo Đức Kitô mà tránh Thánh Giá; cũng không thể đem Đức Kitô đến cho người khác nếu chính mình lại từ chối con đường Đức Kitô đã đi.
Chúng ta thường nghĩ truyền giáo là đi thật xa. Nghĩ đến truyền giáo, người ta dễ hình dung những vùng đất xa xôi, những miền rừng núi, những dân tộc chưa biết Chúa, những nhà truyền giáo vượt biển, học ngôn ngữ mới, sống giữa một nền văn hóa khác. Tất cả những điều ấy đúng và đáng trân trọng. Nhưng truyền giáo trước hết không phải là chuyện đi bao nhiêu cây số; truyền giáo là chuyện một con người đã để Tin Mừng đi sâu vào lòng mình đến đâu. Có người đi rất xa mà chưa chắc đã ra khỏi được cái tôi của mình. Có người ở ngay trong một căn nhà nhỏ, chăm sóc một người bệnh suốt mười năm, nhưng lại đang sống một cuộc truyền giáo rất lớn. Có người đứng trên bục giảng nói hàng ngàn lời về Chúa, nhưng cuộc đời lại không mang lấy một chút dáng dấp của Thánh Giá; cũng có một người mẹ âm thầm thức suốt đêm bên đứa con đau yếu, một người chồng kiên nhẫn với người vợ đang khủng hoảng, một người con chăm cha mẹ già, một người lao động nghèo vẫn sống ngay thẳng giữa bao cám dỗ gian dối, và chính họ đang loan báo Tin Mừng bằng một thứ ngôn ngữ không cần phiên dịch: ngôn ngữ của tình yêu biết hy sinh.
Ơn gọi truyền giáo bắt đầu từ việc được Chúa yêu. Không ai truyền giáo chỉ vì một mệnh lệnh. Nếu chỉ vì bổn phận, người ta sẽ mệt. Nếu chỉ vì thành tích, người ta sẽ nản khi không thấy kết quả. Nếu chỉ vì muốn người khác công nhận, người ta sẽ cay đắng khi bị quên lãng. Người truyền giáo đích thực phải là người đã bị tình yêu Đức Kitô chiếm lấy. Thánh Phaolô nói rất sâu: “Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi” (2 Cr 5,14). Không phải chiến lược thôi thúc. Không phải con số thôi thúc. Không phải lời khen thôi thúc. Chính tình yêu Đức Kitô. Và tình yêu Đức Kitô được nhìn thấy rõ nhất ở đâu nếu không phải trên Thánh Giá? Vì thế người truyền giáo phải thường xuyên trở lại dưới chân Thập Giá. Ở đó người ấy học lại mình được yêu đến mức nào. Ở đó người ấy hiểu rằng Chúa không cứu thế gian bằng những khẩu hiệu lớn lao nhưng bằng việc hiến chính thân mình. Ở đó người ấy học rằng truyền giáo không phải trước hết là cho người khác một giáo thuyết, nhưng là trao cho họ một tình yêu mà chính mình đã nhận được.
Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu không còn gì để giữ lại. Áo Người bị chia. Danh dự bị tước đoạt. Thân xác bị thương tích. Bạn hữu chạy trốn. Đám đông chế giễu. Những người từng reo hò đón Người vào Giêrusalem dường như biến mất. Người còn bị thử thách bằng lời cay độc: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi!” Nhưng Người không xuống. Không phải vì Người không thể xuống, nhưng vì Người muốn ở lại. Đó là điều làm nên sức mạnh cứu độ của Thánh Giá: Đức Giêsu ở lại với tình yêu cho đến cùng. Người không cứu chúng ta bằng cách trốn khỏi đau khổ, nhưng bằng cách đi xuyên qua đau khổ với một tình yêu không rút lại. Và đó cũng là bài học lớn của truyền giáo. Có khi truyền giáo không phải là làm thêm một việc, nhưng là ở lại. Ở lại với một cộng đoàn khó khăn. Ở lại với một người không dễ thương. Ở lại với một gia đình đang rạn nứt. Ở lại với những người nghèo không thể trả ơn mình. Ở lại với một người bệnh nói đi nói lại một câu. Ở lại với một người trẻ đang khủng hoảng đức tin. Ở lại với một người đã nhiều lần hứa sửa đổi rồi lại tái phạm. Ở lại không phải vì nhu nhược, nhưng vì tình yêu không dễ dàng bỏ cuộc.
Có lẽ một trong những cám dỗ lớn nhất của người làm việc tông đồ là muốn thấy kết quả ngay. Gieo hôm nay, mai muốn thấy cây. Nói hôm nay, mai muốn người ta thay đổi. Tổ chức một chương trình, muốn thấy số người tham dự đông. Làm một việc bác ái, muốn được nhắc tên. Viết một bài, muốn nhiều người đọc. Đăng một lời Tin Mừng, muốn nhiều người chia sẻ. Nhưng Thánh Giá dạy một lối khác. Chúa Giêsu chết giữa một sự im lặng khủng khiếp. Nếu đứng ở chiều thứ Sáu Tuần Thánh mà đánh giá “hiệu quả mục vụ” của Chúa Giêsu, người ta có thể kết luận rằng Người thất bại. Mười hai môn đệ: một người bán Người, một người chối Người, những người khác bỏ chạy. Dân chúng quay lưng. Các nhà lãnh đạo tôn giáo chống đối. Chính quyền Rôma đóng đinh Người. Đám đông chế nhạo. Một vài người đứng dưới chân Thập Giá. Chỉ vậy thôi. Nhưng hạt lúa đang rơi xuống đất. Và Đức Giêsu đã từng nói: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Truyền giáo mang quy luật của hạt lúa. Không chết thì không sinh nhiều hạt. Không chấp nhận nhỏ đi thì khó để Chúa lớn lên. Không chấp nhận khuất đi thì nhiều khi chính người truyền giáo lại che mất khuôn mặt Đức Kitô.
Thánh Giá vì thế thanh luyện người truyền giáo khỏi căn bệnh muốn làm trung tâm. Một người có thể nói về Chúa rất nhiều nhưng vô tình làm người khác chỉ nhớ đến mình. Có thể tổ chức những công việc nhân danh Tin Mừng nhưng sâu xa lại cần sự công nhận. Có thể phục vụ người nghèo nhưng thích hình ảnh mình đang phục vụ người nghèo hơn chính người nghèo. Có thể đứng về phía người đau khổ nhưng lại dùng nỗi đau của họ để xây dựng tên tuổi của mình. Có thể giảng về sự khiêm nhường nhưng đau đớn vô cùng khi không được nhắc đến. Thánh Giá bóc tất cả những điều ấy ra. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu không còn gì để phô trương. Người nghèo đến tận cùng. Người trần trụi đến tận cùng. Người trở thành một con người “không còn dáng vẻ oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn” như lời ngôn sứ Isaia. Nhưng chính lúc không còn gì để người ta ngưỡng mộ theo kiểu thế gian, vinh quang của tình yêu Thiên Chúa lại tỏ lộ trọn vẹn.
Người truyền giáo phải học nghệ thuật biến mất để Chúa xuất hiện. Gioan Tẩy Giả đã nói: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại” (Ga 3,30). Câu ấy dễ đọc nhưng khó sống. Nhỏ lại khi người khác được chú ý hơn mình. Nhỏ lại khi một người trẻ mình từng hướng dẫn nay làm tốt hơn mình. Nhỏ lại khi người khác tiếp nối công việc mình đã gây dựng. Nhỏ lại khi người ta quên mình nhưng vẫn nhớ đến Chúa. Nhỏ lại khi một công trình không mang tên mình. Nhỏ lại khi không được biết ơn. Nhỏ lại ngay cả khi bị hiểu lầm. Đó là Thánh Giá của sứ vụ. Và chỉ những ai đã đi qua Thánh Giá ấy mới có được thứ tự do tuyệt vời của người làm việc cho Nước Chúa: thành công thì tạ ơn, thất bại thì phó thác; được khen cũng không bay lên, bị chê cũng không sụp xuống; miễn là Đức Kitô được rao giảng, miễn là người nghèo được yêu thương, miễn là một tâm hồn tìm lại được hy vọng.
Chúa Giêsu đã sai các môn đệ đi từng hai người một. Người căn dặn họ đừng mang theo quá nhiều thứ. Điều đó không có nghĩa là Giáo Hội không cần tổ chức, không cần phương tiện, không cần đào tạo, không cần truyền thông, không cần những công cụ thích hợp với thời đại. Nhưng mọi phương tiện chỉ là phương tiện. Một Giáo Hội có thể rất nghèo về tiền bạc mà giàu sức truyền giáo; cũng có thể rất giàu phương tiện mà nghèo lửa Tin Mừng. Lịch sử Giáo Hội cho thấy biết bao thời điểm Tin Mừng được lan rộng không phải nhờ những điều kiện thuận lợi, nhưng ngay giữa bách hại. Máu các vị tử đạo trở thành hạt giống sinh Kitô hữu. Người ta có thể khóa cửa nhà thờ nhưng không khóa được một trái tim đang yêu Chúa. Người ta có thể cấm một cuốn sách nhưng không cấm được một người Kitô hữu sống tử tế. Có thể bắt một nhà truyền giáo im tiếng, nhưng không thể ngăn lời chứng phát ra từ một cuộc đời trung thành. Thánh Giá chưa bao giờ là dấu chấm hết của Tin Mừng. Rất nhiều lần trong lịch sử, Thánh Giá lại trở thành nơi Tin Mừng bắt đầu một hành trình mới.
Ở Việt Nam cũng thế. Hạt giống Tin Mừng trên quê hương này được tưới bằng biết bao mồ hôi, nước mắt và máu. Các nhà truyền giáo đã đến đây trong những điều kiện mà hôm nay chúng ta khó hình dung hết. Họ học một ngôn ngữ xa lạ, làm quen với phong tục khác biệt, sống giữa bệnh tật, thiếu thốn, những chuyến đi hiểm nguy và những thời kỳ cấm cách. Nhiều người chết trên mảnh đất không phải quê hương mình. Rồi những người Việt Nam đầu tiên đón nhận đức tin cũng đã trả một giá không nhỏ. Có những gia đình bị phân ly. Có người bị mất tài sản. Có người chịu tù đày. Có người bước ra pháp trường. Các thánh tử đạo Việt Nam không truyền giáo bằng những bài diễn thuyết hùng hồn vào giây phút cuối cùng. Các ngài truyền giáo bằng việc không chối Chúa. Chỉ một bước qua Thánh Giá có thể cứu mạng sống, nhưng các ngài không bước. Chính việc không bước qua ấy đã trở thành một bài giảng không bao giờ kết thúc. Máu các ngài đã nói rằng: Đức Kitô quý hơn mạng sống tôi. Và một lời chứng như thế có sức xuyên qua nhiều thế hệ.
Ngày nay, đa số chúng ta không phải đối diện với gươm đao hay pháp trường, nhưng không vì thế mà Thánh Giá của truyền giáo biến mất. Nó chỉ đổi hình dạng. Có khi Thánh Giá là sự dửng dưng. Người ta không chống đạo, chỉ đơn giản không quan tâm. Có khi Thánh Giá là một xã hội quá ồn ào khiến tiếng Tin Mừng khó được nghe. Có khi đó là chủ nghĩa tiêu thụ khiến con người đo giá trị bằng tiền bạc. Có khi đó là một thế giới kỹ thuật số trong đó người ta kết nối với hàng ngàn người nhưng lại cô đơn ngay trong gia đình. Có khi Thánh Giá là chính những gương xấu của người Kitô hữu làm người khác không muốn nghe nói về Chúa. Có khi đó là sự chia rẽ trong cộng đoàn, những tranh chấp rất nhỏ nhưng làm mất vẻ đẹp Tin Mừng. Có khi người truyền giáo phải đau vì thấy những người mình yêu thương rời xa Giáo Hội. Có những cha mẹ nhìn con cái lớn lên rồi không còn muốn đi lễ. Có những linh mục đau lòng khi giáo dân nguội lạnh. Có những giáo lý viên kiên trì nhiều năm mà thấy các em sau khi lãnh bí tích lại biến mất. Có những người làm mục vụ gia đình cố gắng hết lòng nhưng vẫn phải chứng kiến những cuộc hôn nhân đổ vỡ. Những lúc đó, người ta rất dễ nghĩ: công sức của mình có ích gì không?
Câu trả lời nằm dưới chân Thánh Giá. Đức Maria đã đứng đó. Mẹ không làm được gì để tháo đinh cho Con. Không cản được bản án. Không làm đám đông đổi ý. Không ngăn được lưỡi đòng. Trong mắt người đời, sự hiện diện của Mẹ hoàn toàn bất lực. Nhưng chính sự hiện diện ấy là một trong những hình ảnh đẹp nhất của lòng trung thành. Có những sứ vụ chúng ta không thể “giải quyết” được. Chúng ta chỉ có thể ở đó, cầu nguyện, yêu thương và tin tưởng. Một người mẹ không thể bắt con mình quay về với Chúa, nhưng có thể cầu nguyện cho con suốt đời. Một linh mục không thể ép một người ăn năn, nhưng có thể giữ cánh cửa lòng thương xót luôn mở. Một người vợ không thể thay đổi chồng trong một ngày, nhưng có thể kiên trì sống Tin Mừng. Một người bạn không thể xóa ngay nỗi đau của người khác, nhưng có thể ở bên họ. Có những cuộc truyền giáo lớn nhất lại diễn ra trong thinh lặng như thế.
Chúng ta cũng cần nhớ rằng chính Chúa Thánh Thần là tác nhân chính của truyền giáo. Điều này giúp người truyền giáo thoát khỏi một gánh nặng không thuộc về mình: tưởng rằng mình phải cứu thế giới. Không. Thế giới đã có Đấng Cứu Độ. Người ấy là Đức Giêsu Kitô. Chúng ta chỉ là những người được mời cộng tác. Một linh mục không cứu được đoàn chiên. Một giáo lý viên không cứu được học trò. Một người cha không cứu được con mình. Một nhà truyền giáo không cứu được dân tộc mà mình đến. Chỉ Chúa cứu. Người truyền giáo gieo. Chúa cho mọc. Người truyền giáo tưới. Chúa làm cây lớn lên. Thánh Phaolô đã nói: “Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên” (1 Cr 3,6). Người hiểu điều đó sẽ làm việc hết lòng nhưng ngủ được bình an. Người ấy không buông xuôi, nhưng cũng không kiêu ngạo. Không lười biếng, nhưng cũng không tuyệt vọng. Làm tất cả điều có thể, rồi đặt phần còn lại vào tay Chúa.
Thánh Giá còn dạy một nguyên tắc rất quan trọng khác của truyền giáo: không thể cứu người khác từ trên cao. Đức Giêsu đã cứu chúng ta bằng cách xuống thấp. Người “hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân”, rồi còn “hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (x. Pl 2,6-8). Truyền giáo vì thế không phải là đứng từ trên nói xuống. Không phải là chúng ta có mọi câu trả lời còn người khác chẳng biết gì. Không phải là ta tốt lành còn người khác tội lỗi. Không phải là ta ban phát còn người khác chỉ nhận. Người truyền giáo phải biết cúi xuống. Muốn loan báo Tin Mừng cho người nghèo, phải biết ngồi trong căn nhà nghèo của họ. Muốn đồng hành với người trẻ, phải chịu khó nghe những câu hỏi của họ, kể cả những câu hỏi làm mình khó chịu. Muốn đến với người đang xa Giáo Hội, trước hết phải nghe câu chuyện vì sao họ đã rời xa. Muốn nói với một người bị thương về tình yêu Thiên Chúa, đừng vội giảng; có khi hãy ngồi bên họ và khóc với họ trước đã.
Chúa Giêsu trên đường truyền giáo không chỉ giảng. Người dừng lại. Người nhìn. Người chạm. Người để người ta chạm vào mình. Người hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Người hỏi người mù dù biết anh cần gì. Người để người phụ nữ bị băng huyết chạm vào áo. Người ngồi ăn với người thu thuế. Người bước vào nhà Dakêu. Người nói chuyện với người phụ nữ Samari dù có bao rào cản tôn giáo, sắc tộc và luân lý. Người chạm người phong cùi dù người ấy bị xã hội tránh xa. Người khóc trước mộ Ladarô. Tin Mừng được loan báo không chỉ bằng lời từ miệng Chúa, mà bằng cách Người nhìn một con người. Có lẽ thế giới hôm nay cũng đang cần những nhà truyền giáo biết nhìn người khác bằng ánh mắt của Chúa hơn là những người chỉ biết nói đúng.
Bởi vậy, một trong những Thánh Giá khó nhất của truyền giáo chính là học lắng nghe. Nói thường dễ hơn nghe. Ta thích giải thích, khuyên bảo, sửa lỗi, trả lời. Nhưng có người đã bị cuộc đời làm cho đau đến mức họ chưa cần câu trả lời. Họ cần được lắng nghe. Có những người trẻ rời xa đức tin không hẳn vì ghét Thiên Chúa, nhưng vì họ chưa từng gặp một người Kitô hữu thật sự chịu ngồi nghe những hoang mang của họ mà không phán xét. Có những người ly dị cảm thấy mình đứng ngoài cửa Giáo Hội chỉ vì không ai hỏi họ đã đi qua những gì. Có những người nghèo đã nghe quá nhiều lời an ủi nhưng chưa ai thực sự nhìn thấy cái nghèo của họ. Truyền giáo mang hình Thánh Giá khi người môn đệ chấp nhận đặt câu chuyện của mình sang một bên để mang câu chuyện của người khác trong lòng.
Thánh Giá cũng ngăn người truyền giáo dùng bạo lực dưới bất cứ hình thức nào. Đức Giêsu không áp đặt đức tin. Khi người ta bỏ đi, Người đau nhưng không ép. Khi người thanh niên giàu có buồn rầu bỏ đi, Người không chạy theo hạ thấp đòi hỏi. Khi dân làng Samari không đón tiếp, Giacôbê và Gioan muốn gọi lửa từ trời xuống thiêu họ, Chúa đã quở trách các ông. Người không truyền giáo bằng lửa hận thù. Trên Thánh Giá, khi bị đóng đinh, Người còn cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đó là đỉnh cao của truyền giáo. Người đang bị giết vẫn yêu những người giết mình. Nếu Tin Mừng được rao giảng bằng cay độc, khinh miệt, xúc phạm hay áp đặt, thì dù lời nói có đúng, cách nói vẫn có thể làm khuôn mặt Đức Kitô bị méo mó.
Đặc biệt trong thời đại mạng xã hội, điều này trở thành một cuộc xét mình nghiêm túc. Có những người bảo vệ đức tin nhưng bằng thứ ngôn ngữ khiến người khác chẳng thấy Tin Mừng ở đâu. Có khi ta chiến thắng một cuộc tranh luận nhưng đánh mất một người anh em. Có khi ta chứng minh người khác sai nhưng không giúp họ đến gần Chúa hơn. Có khi nhân danh chân lý, ta quên bác ái; nhân danh bảo vệ Giáo Hội, ta làm tổn thương chính thân thể Giáo Hội. Chân lý cần được nói, nhưng chân lý Kitô giáo luôn mang hình Thánh Giá: chân lý của Đấng chịu đóng đinh vì yêu. Không thể loan báo Đức Kitô chịu đóng đinh bằng thái độ kiêu căng. Không thể rao giảng lòng thương xót bằng lời tàn nhẫn. Không thể bảo vệ phẩm giá con người bằng cách hạ nhục một con người.
Có lẽ người ta sẽ hỏi: vậy phải chăng truyền giáo chỉ là hiền lành, chịu đựng và im lặng? Không. Thánh Giá không phải sự yếu đuối hèn nhát. Chúa Giêsu hiền lành nhưng không bao giờ thỏa hiệp với giả dối. Người tha thứ cho người tội lỗi nhưng nói rất mạnh với thói giả hình. Người dịu dàng với người phụ nữ ngoại tình nhưng bảo bà: “Từ nay đừng phạm tội nữa.” Người ăn uống với người thu thuế nhưng sự hiện diện của Người khiến Dakêu đổi đời. Tình yêu trên Thánh Giá không phải thứ tình yêu cho phép mọi điều; đó là tình yêu dám chịu tổn thương để cứu người mình yêu khỏi điều hủy diệt họ. Người truyền giáo cũng vậy: phải nói sự thật, nhưng nói bằng nước mắt chứ không bằng lòng hả hê; sửa sai vì muốn cứu chứ không vì muốn thắng; có lúc phải cứng rắn nhưng không bao giờ được độc ác.
Thánh Giá còn biến người truyền giáo thành người mang hy vọng. Điều ấy rất quan trọng. Thế giới không thiếu người phân tích bóng tối. Mỗi ngày chúng ta đều nghe tin chiến tranh, bạo lực, gia đình tan vỡ, người trẻ mất phương hướng, tham nhũng, bất công, bệnh tật, thiên tai, những căn bệnh tâm hồn, những khoảng trống không dễ lấp đầy. Người truyền giáo không giả vờ rằng tất cả đều ổn. Kitô giáo không phải liều thuốc gây mê. Thánh Giá bắt người Kitô hữu nhìn thẳng vào đau khổ. Nhưng chúng ta nhìn đau khổ với một điều thế gian không tự sản xuất được: niềm hy vọng Phục Sinh. Chúng ta biết chiều thứ Sáu Tuần Thánh là thật, nhưng nó không phải ngày cuối cùng. Ngôi mộ là thật, nhưng ngôi mộ sẽ trống. Nước mắt là thật, nhưng nước mắt không có tiếng nói cuối cùng. Tội lỗi là thật, nhưng ân sủng lớn hơn. Cái chết là thật, nhưng Đức Kitô đã sống lại.
Do đó người truyền giáo không chỉ nói: “Hãy cố lên.” Người truyền giáo nói: “Có Chúa ở đây.” Không chỉ nói: “Rồi mọi sự sẽ qua.” Nhưng nói: “Ngay cả khi điều này không qua theo cách anh mong muốn, Chúa vẫn không bỏ anh.” Không hứa rằng ai tin Chúa sẽ hết bệnh, hết nghèo, hết đau, hết thất bại. Nếu rao giảng như thế, ta đang rao một Tin Mừng khác. Đức Giêsu không nói: “Ai theo Thầy sẽ không có thập giá.” Người nói: “Hãy vác thập giá mình mà theo.” Điều khác biệt không phải Kitô hữu không có Thánh Giá, mà là từ ngày có Đức Kitô, không còn Thánh Giá nào phải vác một mình.
Một người bệnh ung thư nằm trên giường vẫn có thể là nhà truyền giáo. Một cụ già không còn đi đâu được vẫn có thể là nhà truyền giáo. Một người khuyết tật, một người mẹ nội trợ, một người công nhân, một tài xế, một cô giáo, một bác sĩ, một sinh viên, một người buôn bán ngoài chợ, một người làm việc trong văn phòng đều có thể truyền giáo. Vì truyền giáo không phải độc quyền của những người lên đường đến phương trời xa. Công đồng Vaticanô II nhắc lại ơn gọi nên thánh và sứ vụ của mọi người đã chịu phép Rửa. Khi lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, ta không chỉ được gọi để “giữ đạo cho mình”. Đức tin không phải một món đồ quý để cất trong tủ. Tin Mừng có bản tính lan tỏa. Lửa thật thì tỏa nhiệt. Ánh sáng thật thì chiếu sáng. Một trái tim thật sự gặp Đức Kitô sẽ sớm hay muộn muốn người khác cũng biết Người.
Nhưng cách truyền giáo đáng tin nhất vẫn là đời sống. Người ta có thể tranh luận với lời ta nói, nhưng rất khó tranh luận với một đời sống thánh thiện. Một người chồng Công giáo trung thành trong hôn nhân đang truyền giáo. Một bà chủ trả lương công bằng cho người lao động đang truyền giáo. Một doanh nhân từ chối gian lận dù thiệt lợi nhuận đang truyền giáo. Một người trẻ từ chối sống buông thả đang truyền giáo. Một bác sĩ tôn trọng sự sống đang truyền giáo. Một người bị xúc phạm nhưng không trả thù đang truyền giáo. Một gia đình nghèo vẫn chia sẻ cho người nghèo hơn đang truyền giáo. Một linh mục âm thầm ngồi tòa giải tội nhiều giờ mà chẳng ai biết đang truyền giáo. Một nữ tu chăm sóc một bệnh nhân hôi hám mà vẫn dịu dàng đang truyền giáo. Những lúc ấy, Thánh Giá không còn là vật treo trên tường. Thánh Giá đã bước xuống cuộc đời.
Nhiều người không đọc Kinh Thánh, nhưng họ đọc người Kitô hữu. Có thể họ chưa bao giờ mở Tin Mừng Matthêu, Máccô, Luca hay Gioan, nhưng mỗi ngày họ đang “đọc” cách chúng ta sống. Họ nhìn cách người Công giáo làm ăn. Nhìn cách chúng ta đối xử với người giúp việc. Nhìn cách chúng ta chăm sóc cha mẹ. Nhìn cách các gia đình Công giáo giải quyết mâu thuẫn. Nhìn cách linh mục sống. Nhìn cách giáo dân cư xử sau Thánh Lễ. Họ nghe ta đọc “xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha”, rồi nhìn xem ta có tha không. Họ nghe ta nói về người nghèo, rồi nhìn xem ta đối xử với người nghèo thế nào. Họ thấy ta cúi đầu trước Thánh Giá, rồi nhìn xem ta có dám chịu thiệt vì chân lý và tình yêu không. Thế giới có quyền đặt những câu hỏi như thế với chúng ta.
Có một nỗi đau của Giáo Hội mà chúng ta phải khiêm tốn nhìn nhận: đôi khi trở ngại lớn cho việc truyền giáo không nằm ngoài Giáo Hội, mà ở chính những người trong Giáo Hội. Một người có thể rời xa cộng đoàn vì từng bị đối xử lạnh lùng. Một người trẻ có thể xa Chúa vì thấy người lớn nói một đàng sống một nẻo. Một người ngoài Công giáo có thể không muốn tìm hiểu đạo vì chứng kiến một Kitô hữu làm ăn gian dối. Một người đau khổ có thể cảm thấy bị bỏ rơi khi cộng đoàn chỉ xuất hiện trong những ngày vui. Những vết thương ấy có thật. Ta không được che giấu chúng bằng những lời đạo đức. Chính ở đây, Thánh Giá kêu gọi Giáo Hội truyền giáo bằng việc hoán cải chính mình.
Không có truyền giáo thực sự nếu không có hoán cải. Trước khi hỏi “làm sao đưa người ta vào Giáo Hội?”, có lẽ phải hỏi “làm sao để chúng ta sống giống Đức Kitô hơn?” Trước khi nghĩ cách làm người trẻ trở lại, hãy hỏi chúng ta có thật sự lắng nghe người trẻ không. Trước khi than người nghèo không đến nhà thờ, hãy hỏi nhà thờ có đến với người nghèo không. Trước khi trách thế giới tục hóa, hãy hỏi lửa Tin Mừng trong chúng ta có còn cháy không. Người truyền giáo không đứng ngoài thế giới chỉ tay vào bóng tối. Người truyền giáo thắp một ngọn đèn. Và đôi khi ngọn đèn đầu tiên phải được thắp lại trong chính lòng mình.
Ở chân Thánh Giá, chúng ta còn học được một điều nữa: sứ vụ luôn gắn với Đức Maria. Khi Đức Giêsu nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà”, rồi nói với người môn đệ: “Đây là Mẹ của anh” (Ga 19,26-27), một gia đình mới được sinh ra dưới chân Thập Giá. Giáo Hội truyền giáo cũng sinh ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Kitô, từ máu và nước tuôn trào. Đức Maria hiện diện ở đó như người Mẹ của cộng đoàn môn đệ. Rồi trong phòng Tiệc Ly, Mẹ lại ở giữa các Tông đồ cầu nguyện chờ Chúa Thánh Thần. Người truyền giáo cần học ở Mẹ cách cưu mang Lời, giữ Lời, sống Lời rồi đem Lời đến cho người khác. Cuộc thăm viếng bà Êlisabét là một hình ảnh truyền giáo tuyệt đẹp: Đức Maria vừa nhận Ngôi Lời đã “vội vã lên đường”. Ai cưu mang Đức Kitô thật sự thì sẽ lên đường. Nhưng Mẹ không lên đường để nói về mình. Mẹ mang Chúa trong lòng.
Đó là câu hỏi lớn cho mọi người làm tông đồ: ta đang mang Chúa hay mang chính mình? Người ta gặp ta rồi có muốn đến gần Đức Kitô hơn không? Sau một cuộc trò chuyện với ta, họ thấy được nâng dậy hay bị đè xuống? Sau khi nghe ta giảng, họ yêu Chúa hơn hay chỉ thấy người giảng giỏi? Sau khi làm việc với một người Công giáo, họ có thấy Tin Mừng đáng tin hơn không? Những câu hỏi ấy có thể làm chúng ta đau, nhưng là cái đau cần thiết. Thánh Giá không vuốt ve sự tự mãn. Thánh Giá làm chết cái tôi để Đức Kitô có thể sống trong ta.
Thánh Phaolô đã để lại một câu gần như tóm gọn cả đời truyền giáo của ngài: “Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thập giá. Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,19-20). Đó là đích đến của nhà truyền giáo. Không chỉ biết nói về Đức Kitô, nhưng để Đức Kitô sống trong mình. Để Người nhìn qua mắt mình. Để Người chạm người đau khổ qua bàn tay mình. Để Người tha thứ bằng trái tim mình. Để Người đi đến những nơi mình ngại đi. Để Người yêu những người mình khó yêu. Để Người chịu đựng trong mình. Để Người tiếp tục trao ban chính mình qua cuộc đời mình.
Khi ấy, Thánh Giá không còn chỉ là gánh nặng. Thánh Giá trở thành nơi tình yêu sinh hoa trái. Người truyền giáo sẽ hiểu rằng mỗi hy sinh được kết hợp với Đức Kitô đều không vô ích. Một giọt nước mắt vì đoàn chiên không vô ích. Một đêm thức cầu nguyện cho người con xa Chúa không vô ích. Một lần nhịn lời để giữ bình an không vô ích. Một chuyến đi thăm một người nghèo không vô ích. Một giờ ngồi bên người hấp hối không vô ích. Một bài giáo lý chuẩn bị kỹ nhưng chỉ có vài người nghe không vô ích. Một Thánh Lễ dâng trong âm thầm không vô ích. Một lần tha thứ không ai biết không vô ích. Nếu được đặt vào Thánh Giá Đức Kitô, tất cả trở thành hạt giống.
Chúng ta thường muốn làm những chuyện lớn cho Chúa. Nhưng có khi Chúa chỉ xin ta làm những chuyện nhỏ với một tình yêu lớn. Người đàn bà góa bỏ hai đồng tiền nhỏ vào thùng tiền Đền Thờ, chẳng ai để ý, nhưng Chúa thấy. Một ly nước lã cho người môn đệ, Chúa nói cũng không mất phần thưởng. Một người Samari dừng lại bên người bị đánh nằm bên đường, chỉ một người được cứu giúp, nhưng câu chuyện ấy đã được kể suốt hai ngàn năm. Một Simon thành Kyrênê bị bắt vác Thánh Giá giúp Chúa, có thể ông chẳng hiểu chuyện gì, nhưng tên ông đã đi vào Tin Mừng. Một bà Vêrônica theo truyền thống chỉ làm một việc rất nhỏ: lau khuôn mặt đầy máu của Chúa. Truyền giáo rất nhiều khi không phải là tạo ra những biến cố vang dội; là nhận ra khuôn mặt Đức Kitô đang đau khổ ngay trước mặt và không bước qua.
Chúa nói trong Tin Mừng Matthêu: “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm” (Mt 25,35-36). Những lời này đặt truyền giáo vào nơi rất cụ thể. Người nghèo không phải đối tượng để chúng ta làm tông đồ; họ là nơi Chúa đang chờ chúng ta. Người đau khổ không chỉ cần được nghe về Đức Kitô; trong một nghĩa sâu xa, Đức Kitô đang hiện diện nơi họ. Bởi thế một Giáo Hội truyền giáo phải là một Giáo Hội có bàn chân lấm bụi, có bàn tay biết chạm đến thương tích, có thời giờ cho người cô đơn, có chỗ cho người bị bỏ quên.
Nếu Giáo Hội chỉ nói mà không cúi xuống, thế giới khó tin. Nếu chỉ có phụng vụ đẹp mà người nghèo bên ngoài cửa không được nhìn thấy, có điều gì đó chưa trọn. Nếu chúng ta tôn kính Thánh Giá trong nhà thờ nhưng tránh né những “người bị đóng đinh” ngoài đời, việc tôn kính ấy cần được xét lại. Đức Kitô chịu đóng đinh vẫn đang mang rất nhiều khuôn mặt: khuôn mặt của người bệnh nan y, của em bé không được bảo vệ, của người già bị bỏ quên, của người di dân, của người thất nghiệp, của người bị bạo hành, của những gia đình đang vỡ vụn, của những người lầm lỗi muốn quay về nhưng sợ bị phán xét. Truyền giáo là nhận ra Chúa nơi những khuôn mặt ấy rồi bước đến gần.
Và điều cuối cùng, rất quan trọng: Thánh Giá không phải đích cuối cùng. Đích cuối cùng là Phục Sinh. Người truyền giáo phải là người mang niềm vui. Không phải thứ vui ồn ào, hời hợt, nhưng niềm vui đã đi qua nước mắt. Niềm vui của Maria Mađalêna sau đêm dài khóc bên mộ. Niềm vui của Phêrô sau khi được tha thứ. Niềm vui của hai môn đệ Emmau sau khi nhận ra Chúa lúc bẻ bánh. Niềm vui của những người biết rằng mình yếu đuối nhưng vẫn được Chúa sử dụng. Người truyền giáo mà lúc nào cũng cau có thì khó nói cho người khác rằng Tin Mừng là “tin vui”. Người môn đệ mang Thánh Giá không phải là người yêu đau khổ. Họ yêu Đức Kitô, và vì yêu Đức Kitô nên có thể đi qua đau khổ mà không đánh mất hy vọng.
Có lẽ hôm nay Chúa vẫn hỏi mỗi người chúng ta như đã hỏi Isaia ngày xưa: “Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?” Và Isaia đáp: “Dạ, con đây, xin sai con đi” (Is 6,8). Nhưng lời “xin sai con đi” ấy không nhất thiết đưa ta sang một lục địa khác. Có khi Chúa sai ta về chính căn bếp nhà mình để làm hòa với người thân. Sai ta đến giường bệnh của cha mẹ. Sai ta đến với một người hàng xóm đang cô đơn. Sai ta bước vào thế giới của một đứa con tuổi mới lớn. Sai ta đến nơi làm việc với một lối sống trung thực. Sai một linh mục trở về với đoàn chiên bằng trái tim mục tử hơn. Sai một tu sĩ trở về với niềm vui của lời khấn ban đầu. Sai một giáo dân đến với người nghèo. Sai một người trẻ vào mạng xã hội như một chứng nhân của lòng tử tế. Những cánh đồng truyền giáo đôi khi ở rất xa; nhưng nhiều khi cánh đồng ấy bắt đầu ngay sau cánh cửa phòng mình.
Và nếu ta hỏi: “Con phải mang theo gì?”, Chúa chỉ vào Thánh Giá. Không phải để làm ta sợ, nhưng để nói rằng: hãy mang theo cách yêu của Thầy. Hãy yêu đến cùng. Hãy cho mà không tính toán. Hãy tha thứ dù đau. Hãy ở lại khi người khác bỏ đi. Hãy phục vụ mà không cần được biết đến. Hãy gieo mà không nhất thiết được nhìn thấy mùa gặt. Hãy để người khác bước trên vai mình mà đến gần Chúa. Hãy chấp nhận mình nhỏ xuống để Nước Trời lớn lên.
Có những nhà truyền giáo tên tuổi được ghi trong sử sách. Nhưng cũng có vô số nhà truyền giáo mà chỉ Thiên Chúa biết tên. Những bà mẹ lần chuỗi mỗi tối cho con cháu. Những người cha lặng lẽ giữ đức tin qua bao khó khăn. Những ông bà đưa cháu đi lễ. Những giáo lý viên đi dạy nhiều năm mà chẳng có phần thưởng nào. Những người quét nhà thờ lúc chưa ai đến. Những người mang Mình Thánh Chúa cho bệnh nhân. Những người đưa một người nghèo đến bệnh viện. Những người âm thầm đóng học phí cho một đứa trẻ. Những người gọi điện cho một người đang tuyệt vọng. Những người không lên bục giảng bao giờ nhưng cả cuộc đời là một bài giảng. Tất cả đều có thể là những nhà truyền giáo của Thánh Giá.
Một ngày nào đó, chúng ta sẽ hiểu rằng điều làm cho Tin Mừng lan rộng không chỉ là những chương trình lớn, những hội nghị lớn, những chiến lược lớn hay những công trình lớn. Rất nhiều khi Tin Mừng đi vào lòng người qua một cử chỉ nhỏ có hình dáng Thánh Giá: một người chấp nhận thiệt phần mình, một lời tha thứ, một bàn tay nắm lấy bàn tay khác, một người ở lại khi tất cả đã bỏ đi. Chính trong những điều nhỏ ấy, Đức Kitô chịu đóng đinh lại hiện diện.
Thế nên đừng sợ Thánh Giá trong đời truyền giáo. Hãy sợ một đời truyền giáo không có Thánh Giá. Bởi một sứ vụ không làm ta phải từ bỏ gì, không khiến ta phải yêu hơn khả năng tự nhiên của mình, không có những lúc phải chết đi cho cái tôi, rất có thể vẫn còn quá nhiều “tôi” và quá ít Đức Kitô. Đừng sợ những ngày gieo mà chưa thấy mọc. Đừng sợ những lời cầu nguyện tưởng như chưa được đáp. Đừng sợ những thất bại bên ngoài. Thứ Sáu Tuần Thánh cũng từng giống một thất bại. Nhưng Thiên Chúa đã viết Phục Sinh phía sau Thánh Giá.
Người truyền giáo chỉ cần trung tín. Trung tín với Tin Mừng. Trung tín với những con người Chúa trao. Trung tín trong lúc được đón nhận cũng như lúc bị từ chối. Trung tín khi đầy lửa cũng như khi khô khan. Trung tín lúc thấy hoa trái cũng như khi chỉ thấy đất khô. Vì mùa gặt thuộc về Thiên Chúa.
Và nếu có ngày chúng ta mệt đến mức không còn biết nói gì về Chúa, hãy ngồi lại dưới chân Thánh Giá. Nhìn Người. Nhìn đôi tay bị đóng đinh. Nhìn cạnh sườn bị đâm thâu. Nhìn một Thiên Chúa đã đi đến tận cùng vì con người. Rồi ta sẽ hiểu: truyền giáo cuối cùng không phải là đem một ý tưởng đi khắp thế giới. Truyền giáo là đem tình yêu này đi. Tình yêu từ Thánh Giá. Tình yêu không rút lại. Tình yêu không bỏ cuộc. Tình yêu tha thứ. Tình yêu hiến mình. Tình yêu chết đi để người khác được sống.
Khi ấy, lời Chúa Giêsu phục sinh trước lúc về trời sẽ vang lên với một sức mạnh khác: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19). “Hãy đi” – nhưng hãy đi với đôi tay từng chạm Thánh Giá. “Hãy đi” – nhưng đừng đi như kẻ chinh phục, hãy đi như người phục vụ. “Hãy đi” – nhưng đừng đem chính mình, hãy đem Đức Kitô. “Hãy đi” – và khi đường xa, hãy nhớ Người đã đi trước. Khi bị từ chối, hãy nhớ Người cũng từng bị từ chối. Khi bị hiểu lầm, hãy nhớ Người từng bị vu cáo. Khi cô đơn, hãy nhớ Người từng thốt lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Khi phải hy sinh, hãy nhìn Người hiến mạng sống. Và khi tưởng mọi sự kết thúc, hãy nhớ ngôi mộ đã trống.
Thánh Giá và truyền giáo vì thế không phải hai đề tài đứng cạnh nhau. Đó là một mầu nhiệm duy nhất. Thánh Giá là cung cách Thiên Chúa truyền giáo. Trên Thánh Giá, Người mở rộng hai tay như muốn ôm cả nhân loại. Đôi tay ấy không còn có thể đi đâu nữa, nhưng tình yêu từ đôi tay ấy lại đi đến tận cùng trái đất. Đôi chân ấy bị đóng đinh tại một điểm, nhưng Tin Mừng từ ngọn đồi ấy đã đi qua mọi biên giới. Miệng Người khát khô, nhưng lời “Ta khát” vẫn vang qua các thế kỷ như cơn khát các linh hồn. Trái tim Người bị đâm thâu, nhưng từ đó Giáo Hội được sinh ra và được sai đi.
Ước gì mỗi người chúng ta, mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn, mỗi giáo xứ biết đặt sứ vụ của mình dưới bóng Thánh Giá. Không phải để buồn, nhưng để yêu thật hơn. Không phải để bi quan, nhưng để biết nơi nào có tình yêu tự hiến, nơi đó đã có mầm Phục Sinh. Và ước gì đến cuối đời, khi không còn đủ sức đi thêm một bước nào, ta vẫn có thể nói như một nhà truyền giáo đã hoàn tất hành trình: con đã cố gắng để người ta biết Chúa không phải chỉ qua những gì con nói, nhưng qua cách con yêu; con đã có lúc yếu đuối, có lúc thất bại, có lúc làm Chúa buồn, nhưng con đã trở lại với Thánh Giá; và nếu đời con đã giúp được dù chỉ một người hiểu rằng họ được Thiên Chúa yêu đến cùng, thì đời con đã không uổng.
Bởi rốt cuộc, thế giới sẽ không được cứu bởi những người nói về tình yêu nhiều nhất, nhưng bởi những người dám yêu theo cách Đức Kitô đã yêu. Và cách Đức Kitô yêu có một hình dáng không thể nhầm lẫn: hình dáng của Thánh Giá.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ TRONG THẾ GIỚI ẢO – LÀM SAO LOAN BÁO THÁNH GIÁ TRÊN MẠNG XÃ HỘI?
Có một điều khá nghịch lý trong đời sống hôm nay: chưa bao giờ con người có nhiều phương tiện để kết nối với nhau như bây giờ, nhưng cũng chưa bao giờ người ta dễ cảm thấy cô đơn đến thế. Một chiếc điện thoại nhỏ bé có thể đưa cả thế giới vào lòng bàn tay. Chỉ một cái chạm, ta có thể nhìn thấy một người ở nửa vòng trái đất; chỉ vài giây, một câu nói có thể đến với hàng chục ngàn người; chỉ một đoạn video ngắn, một người vô danh hôm qua có thể trở thành người được cả triệu người biết đến hôm nay. Mạng xã hội đã làm cho khoảng cách địa lý gần lại, làm cho tốc độ truyền thông nhanh chưa từng có, mở ra những cơ hội tuyệt vời cho việc học hỏi, gặp gỡ, chia sẻ, loan báo Tin Mừng. Nhưng cũng chính trong thế giới ấy, con người đang đứng trước một cám dỗ rất lớn: muốn được nhìn thấy mà không muốn bị nhìn thấu; muốn được yêu thích mà không muốn học yêu thương; muốn được tung hô mà không muốn chịu hiểu lầm; muốn thành công mà không muốn hy sinh; muốn phục sinh mà không muốn đi qua Thánh Giá. Và vì thế, có lẽ chưa bao giờ câu hỏi về Thánh Giá lại cần được đặt ra khẩn thiết như hôm nay: giữa Facebook, YouTube, TikTok, Instagram, những nhóm chat, những diễn đàn và đủ loại nền tảng kỹ thuật số, người Kitô hữu sẽ mang Thánh Giá của Đức Kitô vào đó bằng cách nào?
Thánh Giá vốn không phải là một điều dễ quảng cáo. Thánh Giá không có những tiêu chuẩn hấp dẫn theo kiểu thế gian. Trên Thánh Giá không có hào quang của người chiến thắng theo nghĩa thông thường, không có tiếng vỗ tay, không có lượng người theo dõi, không có bảng xếp hạng, không có những lời tâng bốc. Trên đồi Golgotha, Chúa Giêsu gần như mất tất cả. Người mất áo ngoài. Người mất danh dự trong con mắt người đời. Người mất đám đông từng chen nhau nghe Người giảng. Người mất những tiếng tung hô “Hoan hô Con vua Đavít” mới vang lên vài ngày trước. Ngay cả các môn đệ thân tín cũng phần lớn bỏ chạy. Một người từng nói sẵn sàng chết với Người lại chối Người ba lần. Dưới chân Thánh Giá chỉ còn một nhóm rất nhỏ: Đức Maria, người môn đệ Chúa yêu và vài người phụ nữ trung thành. Nếu Golgotha được đánh giá bằng những con số mà mạng xã hội hôm nay thường dùng để đo thành công, thì đó dường như là một thất bại thảm hại. Nhưng chính nơi dường như thất bại ấy lại là nơi tình yêu chiến thắng. Chính khi không còn gì để cho ngoài chính mạng sống mình, Chúa Giêsu đã yêu nhân loại đến cùng. Chính nơi chẳng có tiếng vỗ tay nào của con người, Thiên Chúa đang thực hiện công trình cứu độ lớn lao nhất cho nhân loại. Vì thế, người muốn loan báo Thánh Giá trên mạng xã hội trước tiên phải hiểu rằng Tin Mừng không thể được đo chỉ bằng lượt xem, lượt thích, lượt chia sẻ hay số người đăng ký. Có những bài viết hàng trăm ngàn người đọc nhưng chẳng làm ai trở lại. Cũng có một câu Lời Chúa âm thầm đến với một người đang tuyệt vọng lúc nửa đêm, và câu ấy giữ người đó lại bên bờ vực. Ai biết được cái nào lớn hơn trước mặt Thiên Chúa?
Tin Mừng kể rằng sau khi Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Chúa bắt đầu nói với các môn đệ về con đường Người phải đi: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày sẽ sống lại.” Phêrô không chịu nổi một Đấng Messia như thế. Ông kéo Người ra và can trách Người. Và chính lúc đó Chúa nói một lời rất mạnh: “Xa-tan! Lui lại đằng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” Rồi Người gọi đám đông cùng các môn đệ lại mà nói: “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (x. Mc 8,31-34). Đó là một trong những đoạn Tin Mừng rất cần cho người Kitô hữu thời đại mạng. Phêrô muốn một Đức Kitô không có Thập Giá. Con người hôm nay cũng rất dễ muốn một Kitô giáo không có Thập Giá: chỉ bình an, chỉ thành công, chỉ chữa lành, chỉ phép lạ, chỉ những lời khiến người nghe dễ chịu, chỉ những thông điệp được yêu thích. Nhưng Chúa Giêsu không bán một thứ Tin Mừng dễ dãi. Người không hứa rằng theo Người thì sẽ không đau khổ. Người nói thẳng: “Hãy vác thập giá mà theo.” Thế nên loan báo Tin Mừng mà giấu Thánh Giá đi để dễ được đón nhận thì cuối cùng không còn là loan báo trọn vẹn Tin Mừng nữa.
Có những trang Công giáo rất đẹp. Có những linh mục, tu sĩ, giáo dân đang ngày ngày dùng mạng xã hội để gieo Lời Chúa, giải đáp đức tin, hướng dẫn cầu nguyện, nâng đỡ người đau khổ, nối kết những người đang lạc lõng. Chúng ta phải biết ơn những nỗ lực ấy. Một bài suy niệm có thể đi đến nơi mà một linh mục chưa thể đến. Một Thánh lễ trực tuyến có thể nâng đỡ người bệnh không thể ra khỏi nhà, dù dĩ nhiên không thể thay thế việc tham dự Thánh lễ trực tiếp khi người tín hữu có khả năng tham dự. Một lời cầu nguyện được chia sẻ có thể đến với một người đang nằm trong bệnh viện. Một câu chuyện về lòng thương xót có thể làm mềm một trái tim đang chai cứng. Một video giáo lý tử tế có thể tháo gỡ những hiểu lầm mà một người đã mang nhiều năm. Công nghệ tự nó không phải là kẻ thù của Tin Mừng. Vấn đề nằm ở trái tim của người sử dụng nó. Cũng một chiếc điện thoại ấy, ta có thể dùng để xúc phạm hay để an ủi; để tung tin giả hay để nói sự thật; để hạ nhục hay để nâng đỡ; để tìm vinh quang cho mình hay để làm cho Đức Kitô được nhận biết.
Thế nhưng, phải thú nhận rằng đem Thánh Giá lên mạng xã hội không đơn giản là đăng hình cây Thánh Giá. Người ta có thể đặt Thánh Giá trên ảnh đại diện mà cách nói chuyện vẫn đầy cay độc. Người ta có thể đăng những câu Kinh Thánh rất đẹp nhưng vài phút sau lại bình luận bằng những lời làm người khác tổn thương. Người ta có thể livestream cầu nguyện nhưng sau đó lại dùng chính nền tảng ấy để đấu tố, chế giễu, kết án. Như thế, Thánh Giá chỉ xuất hiện trên màn hình nhưng chưa đi vào trái tim. Thánh Giá Kitô giáo không phải là một biểu tượng để trang trí cho căn tính tôn giáo của ta. Thánh Giá là một lối sống. Thánh Giá có nghĩa là tôi chấp nhận chết đi cho cái tôi của mình để người khác được sống. Thánh Giá có nghĩa là tôi có quyền đáp trả nhưng tôi chọn một lời hiền hòa. Thánh Giá có nghĩa là tôi biết một chuyện gây sốc nhưng tôi không vội chia sẻ khi chưa kiểm chứng. Thánh Giá có nghĩa là tôi có thể làm nhục một người nhưng tôi không làm. Thánh Giá có nghĩa là tôi chịu thiệt một chút để bảo vệ danh dự của người khác. Thánh Giá có nghĩa là tôi không kiếm tiền bằng sự sợ hãi, giận dữ và tò mò thấp kém của người xem. Thánh Giá có nghĩa là ngay cả khi nói một sự thật cần phải nói, tôi vẫn nói trong tình yêu.
Mạng xã hội có một căn bệnh rất dễ lây: người ta không còn nhìn người khác như một con người, mà như một “tài khoản”. Khi chỉ còn là một cái tên trên màn hình, người khác rất dễ trở thành đối tượng để chúng ta chửi, phán xét, chế giễu. Ta nói những câu trên mạng mà nếu đứng trước mặt người ấy, có lẽ ta không dám nói. Ta đẩy một nút “chia sẻ” mà quên rằng phía sau câu chuyện ấy là một gia đình, một người mẹ, một người cha, một người con, một danh dự, một cuộc đời. Có những người chỉ vì một sai lầm bị đưa lên mạng mà bị hàng ngàn người xúm vào kết án. Người này chửi một câu, người kia thêm một câu, người khác chế ảnh, người khác làm video. Mỗi người tưởng mình chỉ góp một viên đá nhỏ, nhưng khi hàng chục ngàn viên đá cùng ném xuống, một con người có thể bị nghiền nát. Người Kitô hữu đứng ở đâu trong cảnh đó? Nếu ta cũng cầm đá, dù viên đá của ta có gắn cây Thánh Giá trên đó, ta vẫn chưa đứng về phía Đức Kitô.
Hãy nhớ lại người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình trong Tin Mừng Gioan. Người ta kéo chị đến trước Đức Giêsu. Họ có luật. Họ có lý. Họ có bằng chứng. Họ chỉ thiếu lòng thương xót. Chúa Giêsu không gọi tội là điều tốt. Người cũng không phủ nhận sự thật. Nhưng Người đã đặt một câu hỏi làm những bàn tay đang cầm đá phải chùng xuống: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” Từng người một bỏ đi. Rồi Chúa nói với người phụ nữ: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa” (x. Ga 8,1-11). Đó là khuôn mẫu tuyệt đẹp cho cách người Kitô hữu hiện diện trên mạng: không thỏa hiệp với tội, nhưng không nghiền nát tội nhân; không bóp méo sự thật, nhưng nói sự thật bằng lòng thương xót; không giả vờ mọi chuyện đều đúng, nhưng cũng không biến mình thành quan tòa lạnh lùng của anh em mình.
Có một thứ “đóng đinh” mới đang diễn ra mỗi ngày trên thế giới ảo. Không cần búa. Không cần đinh sắt. Có khi chỉ cần vài dòng trạng thái. Một người bị chụp một khoảnh khắc xấu, bị đưa lên mạng, và cả cộng đồng lao vào kết án. Một linh mục nói một câu vụng về, một tu sĩ mắc một thiếu sót, một giáo dân phạm một lỗi, và lập tức người ta quên tất cả những điều tốt đẹp khác của cuộc đời họ. Sai thì phải sửa, tội thì phải gọi là tội, người làm điều sai phải chịu trách nhiệm thích hợp. Nhưng công lý khác với khoái cảm được nhìn người khác bị hạ nhục. Có người tưởng mình bảo vệ Giáo Hội nhưng cách họ bảo vệ lại làm người ta xa Giáo Hội hơn. Có người tưởng mình bảo vệ chân lý nhưng lời họ làm chân lý mang một khuôn mặt hung dữ. Có người nhân danh Chúa để nguyền rủa anh em. Thánh Giá không cho phép chúng ta làm như vậy, bởi trên Thánh Giá, khi bị sỉ nhục, Đức Giêsu đã không nguyền rủa; khi bị đóng đinh, Người lại cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).
Nếu muốn loan báo Thánh Giá trên mạng xã hội, có lẽ điều đầu tiên chúng ta phải tập là đừng đóng đinh thêm một ai. Một nguyên tắc thật đơn giản nhưng khó biết bao! Trước khi chia sẻ một chuyện xấu về người khác, hãy tự hỏi: chuyện này có thật không? Tôi có quyền phổ biến nó không? Việc phổ biến nó có đem lại ích lợi thực sự nào không? Tôi chia sẻ vì yêu sự thật hay vì thích chuyện giật gân? Nếu nhân vật trong câu chuyện là cha tôi, mẹ tôi, anh tôi, em tôi, tôi có đăng như vậy không? Nếu Chúa Giêsu đang ngồi bên cạnh tôi, tôi có bấm nút “chia sẻ” không? Chỉ vài câu hỏi như thế đã có thể cứu danh dự của biết bao người.
Loan báo Thánh Giá còn có nghĩa là không biến đức tin thành một thứ hàng hóa câu tương tác. Đây là cám dỗ rất tinh vi. Bất cứ ai làm nội dung đều biết rằng những tiêu đề gây sốc thường được chú ý hơn; tin scandal thường chạy nhanh hơn tin tốt; tranh cãi kéo tương tác cao hơn bình an. Và dần dần, nếu không tỉnh thức, ngay cả người làm nội dung tôn giáo cũng có thể bị thuật toán huấn luyện. Ban đầu ta dùng mạng xã hội để loan báo Tin Mừng; sau một thời gian, chính mạng xã hội định hình cách ta loan báo. Ta bắt đầu hỏi không phải “Điều này có đúng không?”, mà “Điều này có nhiều người xem không?”; không phải “Điều này có giúp người ta đến gần Chúa không?”, mà “Điều này có viral không?”; không phải “Chúa muốn tôi nói gì?”, mà “Khán giả thích nghe gì?”. Đó là lúc phải trở về với Thánh Giá. Chúa Giêsu đã không thay đổi chân lý để giữ đám đông. Khi giáo huấn của Người trở nên khó nghe và nhiều môn đệ bỏ đi, Người không chạy theo họ để hạ tiêu chuẩn xuống. Người quay sang Nhóm Mười Hai và hỏi: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” (Ga 6,67). Người tôn trọng tự do của con người hơn là tìm cách duy trì số lượng người theo mình.
Người làm việc tông đồ trên mạng vì thế cần một sự tự do nội tâm rất lớn. Nếu hôm nay bài viết ít người xem mà ta buồn đến mất bình an, nếu ngày mai video được nhiều người khen mà ta lâng lâng cả ngày, có thể chúng ta đã bắt đầu để những con số chi phối sứ vụ. Con số có giá trị của nó. Phải học cách truyền thông tốt hơn. Phải biết ngôn ngữ của thời đại. Phải đầu tư âm thanh, hình ảnh, cách kể chuyện, cách trình bày. Cẩu thả không phải là nhân đức. Loan báo Tin Mừng cho con người hôm nay thì phải học cách nói để con người hôm nay hiểu. Nhưng phương tiện không được biến thành ông chủ. Thuật toán không phải là Chúa Thánh Thần. “Xu hướng” không phải là Tin Mừng. Người theo dõi không phải là thước đo cuối cùng của hoa trái tông đồ. Sau tất cả, câu hỏi quan trọng nhất vẫn là: tôi có trung thành với Đức Kitô không?
Thánh Giá trên mạng xã hội còn được loan báo bằng sự thật. Thời đại kỹ thuật số là thời đại thông tin chạy quá nhanh. Một tin chưa kiểm chứng có thể đi khắp thế giới trước khi sự thật kịp mang dép. Đáng buồn hơn, những tin có màu sắc tôn giáo đôi khi lại được người tín hữu chia sẻ rất nhanh chỉ vì chúng hợp với điều mình muốn tin: phép lạ này, lời tiên tri kia, câu nói được gán cho vị thánh nọ, một sắc lệnh tưởng tượng, một thông báo không rõ nguồn, một câu chuyện cảm động nhưng không có thật. Người Kitô hữu không được lấy lý do “ý tốt” để phổ biến điều sai. Thiên Chúa không cần lời nói dối để bảo vệ chân lý. Nếu một câu chuyện cảm động nhưng bịa đặt, ta không cần nó để dẫn người ta đến Chúa. Đức Kitô đã nói: “Sự thật sẽ giải phóng anh em” (Ga 8,32). Vì vậy, một cú nhấp chuột kiểm chứng thông tin cũng có thể là một hành vi đạo đức. Không chia sẻ một tin chưa rõ nguồn cũng có thể là một cách vác Thánh Giá, vì ta từ bỏ niềm vui được là người đầu tiên loan một chuyện gây chú ý.
Thánh Giá cũng được loan báo bằng sự thinh lặng đúng lúc. Không phải chuyện gì ta biết cũng phải nói. Không phải tranh luận nào ta cũng phải tham gia. Không phải lời công kích nào cũng cần đáp trả. Trong cuộc Thương Khó, có những lúc Đức Giêsu nói rất rõ; nhưng cũng có những lúc Người im lặng. Trước những lời cáo buộc của những kẻ chỉ muốn tìm cớ kết án, Người không phí lời cho những cuộc tranh luận vô nghĩa. Thế giới mạng rất thích kéo ta vào những cuộc cãi vã bất tận. Người này bình luận một câu, ta đáp ba câu. Họ đáp năm câu, ta viết cả đoạn dài. Cuối cùng chẳng ai được gần Chúa hơn, chỉ có cái tôi của hai bên lớn thêm. Có khi hành vi truyền giáo mạnh mẽ nhất là dừng lại. Có khi một lời “xin Chúa chúc lành cho anh” mạnh hơn mười trang lý luận. Có khi không trả lời ngay là một chiến thắng thiêng liêng lớn hơn việc thắng một cuộc tranh luận.
Nhưng thinh lặng không có nghĩa là hèn nhát. Thánh Giá cũng đòi người Kitô hữu phải can đảm nói khi cần phải nói. Có những người yếu thế bị xúc phạm. Có người bị vu khống. Có những giá trị nhân phẩm bị chà đạp. Có những điều sai trái cần được gọi tên. Đức Giêsu hiền lành nhưng không nhu nhược. Người có thể im lặng trước Hêrôđê, nhưng Người cũng có thể mạnh mẽ nói với những kẻ biến Nhà Cha thành nơi buôn bán. Người có thể tha thứ cho kẻ đóng đinh mình, nhưng Người cũng lên án thói giả hình. Vì vậy, Kitô hữu trên mạng không phải là người lúc nào cũng nói những câu dịu ngọt để khỏi mất lòng ai. Có những lúc vì yêu thương, ta phải nói một sự thật khó nghe. Nhưng sự khác biệt nằm ở đây: ta nói để cứu người hay để hạ người? Ta nói vì đau trước cái sai hay vì khoái chí được chứng minh mình đúng? Ta sửa lỗi người khác mà trong lòng có cầu nguyện cho họ không? Đó là ranh giới rất mỏng giữa người môn đệ của Đấng chịu đóng đinh và người chỉ dùng chân lý như một vũ khí.
Một trong những Thánh Giá lớn nhất của người làm tông đồ trên mạng là bị hiểu lầm. Ai nói trước công chúng rồi cũng có lúc bị hiểu sai. Một câu bị cắt khỏi bối cảnh. Một ý bị diễn giải theo hướng mình không hề muốn. Một người gán cho ta động cơ mà ta không có. Có khi giải thích thì càng rối. Có khi càng thanh minh người ta càng nghi ngờ. Đó là lúc Thánh Giá không còn nằm trên màn hình mà nằm ngay trong lòng. Ta muốn lập tức trả đũa. Ta muốn đưa bằng chứng để làm người kia mất mặt. Ta muốn kéo những người ủng hộ mình vào cuộc. Nhưng chính ở đó, Tin Mừng được kiểm chứng. Chúa Giêsu đã bị kết án bằng những lời chứng gian. Người biết sự thật về mình nhưng không dùng quyền năng để nghiền nát những kẻ vu khống. Người trao sự thật của mình trong tay Chúa Cha.
Dĩ nhiên, khi cần đính chính để bảo vệ sự thật hoặc bảo vệ người khác, chúng ta nên đính chính. Tha thứ không đồng nghĩa với dung túng. Khi bị vu khống nghiêm trọng, đôi khi cần sử dụng những phương thế chính đáng để bảo vệ danh dự và công ích. Nhưng người môn đệ Chúa phải giữ trái tim mình không bị độc tố của hận thù chiếm hữu. Điều đáng sợ không phải chỉ là người khác nói sai về ta, mà là vì họ nói sai mà ta trở thành một con người khác: cay độc hơn, nghi ngờ hơn, hung hãn hơn. Nếu vậy, họ đã lấy khỏi ta nhiều hơn một chút danh dự; họ đã lấy mất bình an. Đừng trao cho họ quyền đó.
Loan báo Thánh Giá trên mạng còn là tập cho mình biết ở lại với người đau khổ. Trong thế giới mạng, người ta rất nhanh lướt qua nỗi đau của người khác. Một vụ tai nạn xuất hiện vài giây. Một gia đình mất người thân hiện lên rồi biến mất khi ngón tay ta vuốt màn hình. Một người kêu cứu nằm giữa hàng trăm nội dung giải trí. Nhưng dưới chân Thánh Giá, Đức Maria không “lướt qua”. Mẹ đứng đó. Tin Mừng Gioan chỉ nói một câu ngắn mà nặng vô cùng: “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Có những nỗi đau ta không giải quyết được, nhưng ta có thể đứng bên. Trên mạng xã hội cũng vậy. Một tin nhắn tử tế cho người vừa mất người thân. Một lời cầu nguyện cho người bệnh. Một cuộc gọi riêng thay vì chỉ bấm biểu tượng buồn. Một đóng góp âm thầm cho gia đình gặp hoạn nạn. Một sự hiện diện thực sự đằng sau những nút tương tác. Đó mới là Thánh Giá có thân xác.
Điều nguy hiểm là chúng ta dễ biến cả nỗi đau thành nội dung. Người khác đau, ta chụp. Người khác khóc, ta quay. Người nghèo nhận quà, ta bắt họ đứng trước máy ảnh. Một người gặp bi kịch, ta lập tức nghĩ đến tiêu đề. Phải hết sức cẩn trọng. Có những lúc truyền thông về nỗi đau là cần thiết để kêu gọi giúp đỡ, thức tỉnh lương tâm xã hội hoặc minh bạch công việc bác ái. Nhưng người nghèo không phải là đạo cụ cho lòng tốt của ta. Người bệnh không phải là phông nền cho hình ảnh đạo đức của ta. Danh dự con người luôn lớn hơn nội dung. Đức Giêsu đến với người đau khổ để trả lại cho họ phẩm giá, chứ không dùng đau khổ của họ để làm nổi bật bản thân mình.
Thánh Giá cũng dạy chúng ta một điều rất quan trọng trong thời đại “thương hiệu cá nhân”: hãy để Đức Kitô lớn lên, còn mình nhỏ lại. Gioan Tẩy Giả đã nói: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại” (Ga 3,30). Mạng xã hội lại thường dạy điều ngược lại: phải làm mình lớn lên, phải khiến mình được biết đến, phải xây dựng hình ảnh, phải xuất hiện liên tục để người ta không quên. Những kỹ năng truyền thông ấy tự chúng không xấu. Người làm mục vụ có thể cần xây dựng sự hiện diện ổn định để người nghe dễ tìm thấy nội dung. Nhưng có một câu hỏi phải thường xuyên xét mình: nếu một ngày người ta nhớ tôi nhưng quên Đức Kitô, tôi đã thành công hay thất bại? Nếu họ thích cách tôi nói nhưng không muốn cầu nguyện hơn, tôi đã đưa họ đến đâu? Nếu họ bênh vực tôi dữ dội nhưng lại đối xử tàn nhẫn với người khác, tôi đã đào tạo được loại môn đệ nào?
Người loan báo Thánh Giá phải chấp nhận rằng đôi khi mình làm một việc tốt mà chẳng ai biết. Đây là điều khó trong thời đại cái gì cũng được chụp và đăng. Có những thế hệ cha ông làm bao việc lành mà không có một tấm ảnh. Họ nuôi một đứa trẻ nghèo, chăm một người bệnh, giúp một gia đình, âm thầm đóng góp cho nhà thờ, tha một món nợ, mà chẳng có bài đăng nào. Thiên Chúa biết. Và họ thấy thế là đủ. Ngày nay chúng ta có nguy cơ nghĩ rằng nếu một điều không xuất hiện trên mạng thì như thể nó chưa từng xảy ra. Thánh Giá đưa ta trở về với cái nhìn của Chúa Cha “Đấng thấu suốt những gì kín đáo” (Mt 6,4). Có những việc nên chia sẻ để làm gương, để minh bạch, để lan tỏa điều tốt. Nhưng cũng phải giữ cho đời mình một miền kín đáo chỉ có Chúa biết. Nếu mọi việc lành của ta đều cần khán giả, linh hồn ta sẽ kiệt sức.
Một thách đố khác của thế giới ảo là tốc độ. Mạng xã hội buộc chúng ta phản ứng thật nhanh. Một chuyện vừa xảy ra, ai cũng phải có ý kiến. Không nói dường như bị xem là thiếu lập trường. Nhưng người Kitô hữu không nhất thiết phải chạy theo tốc độ ấy. Đức Maria đã “ghi nhớ mọi điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,19). Có lẽ linh đạo này rất cần cho thời đại điện thoại thông minh. Trước khi bình luận, hãy suy nghĩ. Trước khi kết luận về một người, hãy tìm hiểu. Trước khi phẫn nộ, hãy cầu nguyện. Trước khi chia sẻ, hãy đọc kỹ. Trước khi nói nhân danh Giáo Hội, hãy chắc rằng đó thật sự là giáo huấn của Giáo Hội chứ không phải cảm nghĩ cá nhân của ta. Một Kitô hữu chậm một chút nhưng chính xác và công bằng vẫn tốt hơn một Kitô hữu nhanh nhưng gây tổn thương rồi mới xin lỗi.
Thánh Giá trên mạng còn biểu lộ ở khả năng xin lỗi công khai khi mình sai. Điều này rất khó. Khi đã đăng một điều và được nhiều người hưởng ứng, việc thừa nhận rằng mình nhầm khiến cái tôi đau lắm. Ta tìm đủ lý do để tránh nói hai chữ “tôi sai”. Nhưng người môn đệ Chúa không bảo vệ hình ảnh của mình bằng mọi giá. Nếu đăng tin sai, hãy đính chính. Nếu xúc phạm ai, hãy xin lỗi. Nếu nhận định thiếu công bằng, hãy sửa lại. Không có gì làm giảm uy tín của người Kitô hữu bằng việc cố chấp bảo vệ cái sai chỉ vì không muốn mất mặt. Và cũng không có gì cho thấy Thánh Giá sống động bằng việc một người dám đóng đinh lòng tự ái của mình để trả lại sự thật và danh dự cho người khác.
Trong đời sống Giáo Hội, mạng xã hội còn đặt ra một thách thức đau đớn: chúng ta có thể biến những khác biệt nội bộ thành những cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Người thích phụng vụ kiểu này chê người thích kiểu kia. Người theo linh đạo này coi thường linh đạo khác. Người yêu mến vị mục tử này tấn công người có cảm tình với vị khác. Những vấn đề thần học phức tạp đôi khi được rút xuống thành vài dòng khẩu chiến. Người ta dán nhãn nhau rất nhanh: cấp tiến, bảo thủ, lạc giáo, cuồng tín, chống Giáo Hội… Có khi người ngoài nhìn vào không thấy một cộng đoàn môn đệ yêu thương nhau, mà chỉ thấy những phe nhóm cùng mang danh Kitô hữu đang cắn xé nhau.
Đêm trước khi chịu chết, Đức Giêsu đã cầu nguyện: “Xin cho tất cả nên một… để thế gian tin rằng Cha đã sai Con” (Ga 17,21). Người không nói rằng sự hiệp nhất chỉ là chuyện nội bộ dễ thương giữa chúng ta. Người gắn sự hiệp nhất với sức thuyết phục của sứ vụ. Thế gian có tin hay không phần nào tùy thuộc vào cách các môn đệ đối xử với nhau. Chúng ta không cần giả vờ đồng ý về mọi chuyện. Trong Giáo Hội có những vấn đề có thể tranh luận. Có những khác biệt chính đáng. Nhưng tranh luận của Kitô hữu phải khác với cuộc chiến của thế gian. Nếu sau một cuộc tranh luận, người đọc thấy ta thông minh hơn nhưng thấy Kitô giáo xấu xí hơn, thì chiến thắng ấy đáng để xem lại.
Thánh Giá dạy chúng ta yêu cả người không đồng ý với mình. Đó mới là khó. Yêu người cùng quan điểm thì mạng xã hội nào cũng làm được. Chỉ cần lập một nhóm những người nghĩ giống nhau, và mỗi ngày mọi người xác nhận cho nhau rằng mình đúng. Nhưng Đức Giêsu nói: “Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi?” (Mt 5,46). Thánh Giá bắt đầu ở chỗ ta nhìn người đang phản đối mình mà vẫn nhận ra đó là một người được Chúa yêu. Họ có thể sai. Ta có thể phải phản bác. Nhưng họ không trở thành kẻ thù để ta hủy diệt.
Đặc biệt, người loan báo Tin Mừng trên mạng phải cảnh giác với cám dỗ làm cho người khác sợ để kéo họ về với Chúa. Có những nội dung chỉ nói về trừng phạt, tai họa, âm mưu, ngày tận thế, những lời tiên tri kinh hoàng, khiến người yếu đức tin sống trong hoang mang. Thánh Giá có sự nghiêm túc của tội lỗi, nhưng trung tâm của Thánh Giá không phải là nỗi sợ; trung tâm là tình yêu. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một” (Ga 3,16). Đức Kitô bị đóng đinh không phải để nói rằng Thiên Chúa đang chờ nghiền nát con người, mà để mặc khải một Thiên Chúa đi đến tận cùng đau khổ của con người để cứu họ. Loan báo Thánh Giá mà làm người ta tuyệt vọng là chưa loan báo đúng Thánh Giá. Thánh Giá thật luôn mở về phía Phục Sinh.
Thế giới mạng có quá nhiều người đang mang những thập giá âm thầm mà chúng ta không thấy. Sau một tài khoản đăng ảnh vui vẻ có thể là một người đang khóc mỗi đêm. Sau những tấm hình gia đình hạnh phúc có thể là một cuộc hôn nhân đang rạn vỡ. Sau một người thường xuyên pha trò có thể là một tâm hồn kiệt sức. Sau một thiếu niên luôn xuất hiện đầy năng lượng có thể là một người không biết nói nỗi cô đơn của mình với ai. Vì thế, Kitô hữu trên mạng phải học nhìn sâu hơn bề mặt. Đừng vội ghen với đời sống được trình diễn của người khác. Cũng đừng làm người khác tuyệt vọng bằng cách chỉ trình diễn một cuộc đời hoàn hảo không có thật. Đức tin không bắt chúng ta phải lúc nào cũng tỏ ra ổn. Thánh Giá cho phép chúng ta nói rằng có những ngày mình yếu, có những đoạn đường mình không hiểu Chúa, có những lúc cầu nguyện rất khó. Một chứng tá chân thật về cách Thiên Chúa đồng hành trong yếu đuối đôi khi mạnh hơn hàng trăm câu khẩu hiệu đạo đức.
Nhưng cũng cần giữ sự khôn ngoan. Không phải mọi vết thương đều nên đem lên mạng. Có những điều phải được chữa lành trong thinh lặng, trong Bí tích Hòa Giải, trong linh hướng, trong gia đình, trong trị liệu chuyên môn, trong sự đồng hành trực tiếp. Mạng xã hội không phải tòa giải tội. Người theo dõi không phải cha linh hướng. Công khai mọi điều thầm kín không đồng nghĩa với chân thành. Chúa Giêsu sống giữa đám đông nhưng vẫn thường rút vào nơi thanh vắng để cầu nguyện. Người môn đệ sống trong thời đại kỹ thuật số cũng cần những khoảng không có màn hình để linh hồn mình thở.
Có lẽ vì thế, một cách rất thực tế để loan báo Thánh Giá trên mạng là biết đặt điện thoại xuống. Nghe có vẻ lạ, nhưng có khi việc tông đồ cần nhất của một người là tắt màn hình để nhìn vào mắt người đang ngồi bên mình. Ta có thể viết rất hay về gia đình mà chẳng còn trò chuyện với người nhà. Có thể đăng lời suy niệm về tình yêu nhưng ăn cơm cứ nhìn điện thoại. Có thể có hàng ngàn người theo dõi nhưng người thân lại không thể tìm được một giờ để nói chuyện với ta. Thánh Giá không phải chỉ được loan báo bằng nội dung; Thánh Giá được loan báo bằng đời sống. Nếu mạng xã hội lấy mất khả năng hiện diện của ta với những người Chúa đã trao ngay bên cạnh, cần xem lại.
Chúa Giêsu nói: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình” (Ga 15,13). Trong thế giới ảo, “hy sinh mạng sống” nhiều khi bắt đầu bằng những cái chết rất nhỏ: chết đi một chút nhu cầu phải được chú ý; chết đi một chút tò mò; chết đi ham muốn đáp trả; chết đi thói quen so sánh mình với người khác; chết đi cơn nghiện kiểm tra lượt thích; chết đi nhu cầu phải thắng trong mọi cuộc tranh luận; chết đi sự thích thú khi thấy đối phương bị hạ. Những cái chết nhỏ ấy không ai nhìn thấy, nhưng chính từ đó một con người tự do được sinh ra.
Ta cũng phải nói tới người trẻ, bởi người trẻ đang sống gần như đồng thời trong hai thế giới: thế giới hữu hình và thế giới trực tuyến. Với họ, mạng không chỉ là công cụ; nó là một môi trường sống. Giáo Hội không thể chỉ đứng ngoài và nói “mạng xã hội xấu lắm, đừng dùng”. Người mục tử phải bước vào đó như nhà truyền giáo bước vào một miền đất mới: học ngôn ngữ, hiểu văn hóa, nhìn thấy những khát vọng, nhận diện những cạm bẫy. Thánh Phaolô khi đến Athêna đã nhìn những bàn thờ của người Hy Lạp và từ chính ngôn ngữ văn hóa của họ mà bắt đầu loan báo Thiên Chúa (x. Cv 17,22-34). Hôm nay cũng vậy. Một video ngắn có thể chứa Tin Mừng. Một podcast có thể là nơi suy niệm. Một meme có thể gợi một câu hỏi về đức tin. Một livestream có thể nối kết những người xa xứ. Không nên khinh những hình thức mới chỉ vì chúng mới. Nhưng nội dung phải có chiều sâu. Không thể vì video chỉ sáu mươi giây mà đức tin cũng trở thành sáu mươi giây. Nội dung ngắn có thể mở cánh cửa; rồi phải dẫn người trẻ đi sâu hơn vào Lời Chúa, phụng vụ, bí tích, cộng đoàn và đời sống phục vụ thực tế.
Một nguy cơ đáng sợ khác là người Công giáo có thể trở thành người nghiện phẫn nộ. Mỗi ngày cần một chuyện để tức giận, một nhân vật để lên án, một biến cố để tranh cãi. Càng giận càng tương tác, càng tương tác thuật toán càng đưa thêm nội dung khiến ta giận. Cuối cùng người ta sống trong một thế giới mà đâu đâu cũng là kẻ thù. Điều này phá hủy đời sống thiêng liêng. Trái tim đầy giận dữ rất khó cầu nguyện. Thánh Giá không nuôi dưỡng sự phẫn nộ; Thánh Giá hấp thụ sự phẫn nộ và biến nó thành lời cầu xin tha thứ. Đức Giêsu trên Golgotha không phủ nhận sự ác đang xảy ra với mình, nhưng Người không để sự ác ấy biến Người thành ác. Đây có lẽ là một trong những phép lạ lớn nhất của Thánh Giá: bạo lực dừng lại nơi Đức Kitô. Người không chuyền nó tiếp.
Người Kitô hữu trên mạng cũng được gọi để trở thành nơi bạo lực dừng lại. Ai đó viết một câu độc ác cho ta; ta không chuyển cái độc ấy sang người khác. Ta đọc một tin khiến mình tức giận; ta không lập tức phát tán sự tức giận cho hàng trăm người. Một người làm mình tổn thương; ta không huy động cộng đồng mạng để trả thù. Ta đem cái đau ấy đến trước Thánh Giá. Đây không phải là yếu đuối. Phải rất mạnh mới không trả đũa khi có khả năng trả đũa. Đức Giêsu không bất lực trên Thánh Giá. Người có thể xin Chúa Cha gửi đạo binh thiên thần. Nhưng Người chọn yêu cho đến cùng.
Có người hỏi: vậy rốt cuộc chúng ta phải đăng gì để loan báo Thánh Giá? Câu trả lời không chỉ là đăng nhiều hình Chúa chịu nạn hơn. Hãy đăng những gì giúp người ta gặp Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Một đoạn Lời Chúa được suy niệm bằng chính kinh nghiệm đời thường. Một chứng từ chân thật về sự tha thứ. Một câu chuyện người mẹ hy sinh cho đứa con bệnh tật. Một người chồng âm thầm chăm vợ đau yếu. Một linh mục trung thành trong một giáo xứ nghèo. Một tu sĩ kiên trì phục vụ những người chẳng ai nhớ đến. Một người trẻ từ bỏ một cơ hội gian dối để giữ lương tâm trong sạch. Một người bị xúc phạm nhưng quyết định không trả thù. Một người đang bệnh vẫn cầu nguyện cho người khác. Đó là những hình ảnh sống động của Thánh Giá.
Nhưng còn quan trọng hơn nội dung ta đăng là con người đang đăng nội dung ấy. Người ta có thể chỉnh ảnh. Có thể dựng video. Có thể viết câu chữ rất đẹp. Ngày nay với trí tuệ nhân tạo, người ta còn có thể tạo ra những hình ảnh chưa từng có, những giọng nói giống thật, những bài viết rất trôi chảy. Chính vì thế, chứng tá đời sống càng trở nên quan trọng. Thế giới có thể sản xuất vô số “nội dung Kitô giáo”, nhưng không công nghệ nào thay thế được một người thực sự tha thứ cho kẻ làm mình đau. Không phần mềm nào thay được một người thức đêm chăm người bệnh. Không thuật toán nào thay được một linh mục ngồi nhiều giờ trong tòa giải tội. Không trí tuệ nhân tạo nào thay được giọt nước mắt thật của người trở về với Chúa. Kitô giáo cuối cùng không phải một hệ thống nội dung. Kitô giáo là gặp gỡ một Con Người: Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh và phục sinh.
Thánh Phaolô đã nói một câu mà người làm tông đồ thời kỹ thuật số cần viết vào lòng mình: “Chúng tôi không rao giảng chính mình, mà chỉ rao giảng Đức Giêsu Kitô là Chúa” (2 Cr 4,5). Thật dễ nói, nhưng sống rất khó. Khi người ta khen mình, phải trả vinh quang về cho Chúa. Khi người ta chỉ trích, phải biết phân định xem có điều gì mình cần sửa. Khi một nội dung thành công, đừng nghĩ mình là trung tâm của Nước Trời. Khi một nội dung thất bại, đừng tưởng Nước Trời sụp đổ. Ta chỉ là người gieo hạt. “Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên” (1 Cr 3,6).
Một ngày kia, chúng ta sẽ không đứng trước Thiên Chúa với bảng thống kê lượt xem. Có lẽ Chúa sẽ không hỏi ta có bao nhiêu người theo dõi, nhưng Người có thể hỏi: trong số những người đã gặp con, có ai được yêu thương hơn không? Con đã dùng lời nói để chữa lành hay làm đau? Con đã nói sự thật hay chạy theo tin đồn? Con đã đưa người ta đến với Ta hay kéo họ về quanh con? Con đã bảo vệ người yếu thế hay tham gia ném đá? Con đã làm cho thế giới ảo nhân bản hơn hay cay độc hơn? Con đã dùng ánh sáng màn hình để đưa người ta đến Ánh Sáng thật hay để làm nổi bật chính mình?
Và có lẽ câu hỏi khó nhất sẽ là: Con có mang Thánh Giá không?
Bởi cuối cùng, loan báo Thánh Giá không nằm trước hết ở việc nói thật nhiều về Thánh Giá, mà là sống theo logic của Thánh Giá. Logic của thế gian nói: ai làm mình đau thì làm họ đau lại. Thánh Giá nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Logic của mạng xã hội nói: hãy khiến người ta nhìn mình. Thánh Giá nói: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Logic của đám đông nói: hãy đứng về phía đang thắng. Thánh Giá mời ta đứng bên người bị bỏ rơi. Logic của thuật toán nói: thứ gì gây phẫn nộ thì sẽ lan nhanh. Thánh Giá nói: “Phúc thay ai xây dựng hòa bình.” Logic của cái tôi nói: phải chứng minh mình đúng. Thánh Giá nói: có khi phải chấp nhận mất phần thắng để giữ người anh em. Logic của thế giới ảo nói: chỉ cần hình ảnh đẹp. Thánh Giá đòi sự thật của cả cuộc đời.
Tôi vẫn nghĩ rằng nếu Chúa Giêsu bước vào mạng xã hội hôm nay, Người sẽ không chỉ đăng những câu khiến người ta dễ chịu. Người vẫn nói với người giàu về người nghèo. Người vẫn nói với người quyền lực về phục vụ. Người vẫn nói với người đạo đức về thói giả hình. Người vẫn ngồi với người bị coi là tội lỗi. Người vẫn bênh vực kẻ đang bị cả đám đông muốn ném đá. Người vẫn đi tìm một con chiên lạc dù chín mươi chín con đang ở lại. Người vẫn kể về người Samari nhân hậu, khiến những ai tự hào về căn tính tôn giáo phải xét lại lòng mình. Và chắc chắn Người vẫn đi về phía Golgotha, bởi Người không đến để được “thích”, nhưng để yêu; không đến để xây dựng hình ảnh, nhưng để cứu con người.
Có lẽ người Kitô hữu không cần phải biến mạng xã hội thành một nhà thờ. Nhưng bất cứ nơi nào người Kitô hữu bước vào, nơi đó phải có một chút hương của Tin Mừng. Một comment hiền hòa. Một bài viết trung thực. Một lần không chia sẻ tin chưa kiểm chứng. Một lời xin lỗi. Một cuộc tranh luận không xúc phạm. Một sự bênh vực người đang bị bắt nạt. Một lời cầu nguyện gửi đến người đang đau. Một nút “xóa” được bấm trước khi đăng một câu quá nặng. Những điều rất nhỏ ấy chính là những mảnh gỗ của Thánh Giá giữa thế giới kỹ thuật số.
Chúng ta đừng sợ mạng xã hội. Nhưng cũng đừng ngây thơ trước nó. Hãy bước vào đó với Thánh Giá trong tim. Hãy dùng công nghệ nhưng đừng để công nghệ dùng mình. Hãy học thuật toán nhưng đừng để thuật toán dạy mình yêu hay ghét ai. Hãy hiện diện nhưng đừng đánh mất thinh lặng. Hãy lên tiếng nhưng đừng đánh mất lòng thương xót. Hãy bảo vệ chân lý nhưng đừng biến chân lý thành viên đá. Hãy xây dựng cộng đồng nhưng đừng xây dựng giáo phái quanh bản thân mình. Hãy làm nội dung đẹp, nhưng trước hết hãy sống một đời đẹp trước mặt Chúa.
Và mỗi khi cầm điện thoại lên, có lẽ người môn đệ nên thầm hỏi một câu rất đơn giản: “Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, nếu Chúa ở vị trí của con, Chúa sẽ viết gì, sẽ chia sẻ gì, sẽ im lặng trước điều gì, sẽ trả lời người này thế nào?” Chỉ cần chúng ta thật sự hỏi câu ấy, nhiều bài đăng sẽ không bao giờ được đăng; nhiều lời cay độc sẽ chết trước khi ra khỏi đầu ngón tay; nhiều cuộc chiến vô nghĩa sẽ không xảy ra; và nhiều người có thể gặp được một khuôn mặt khác của Kitô giáo: khuôn mặt của Đấng bị đóng đinh nhưng vẫn yêu.
Thế giới ảo không cần thêm những người Công giáo chỉ giỏi nói về Thánh Giá. Thế giới ảo cần những người đã để Thánh Giá chạm vào lời nói, ánh mắt, bàn phím, chiếc điện thoại, cách tranh luận và cách đối xử của mình. Khi ấy, một dòng trạng thái cũng có thể trở thành lời chứng. Một bình luận cũng có thể trở thành bàn tay nâng đỡ. Một video cũng có thể là hạt giống Tin Mừng. Một sự im lặng cũng có thể là lời cầu nguyện. Một cú nhấp chuột cũng có thể là hành vi của lòng thương xót.
Và giữa biển dữ liệu khổng lồ của nhân loại, giữa hàng tỷ hình ảnh trôi qua mỗi ngày, Thánh Giá vẫn đứng đó như hai ngàn năm trước: không ồn ào, không chạy theo thị hiếu, không thay đổi thông điệp để được lòng đám đông. Hai cánh tay Đức Kitô vẫn mở rộng. Một cánh ôm lấy những người chúng ta yêu; một cánh ôm lấy cả những người chúng ta không chịu nổi. Và từ trái tim bị đâm thâu ấy, Người vẫn nói với thế giới – cả thế giới thật lẫn thế giới ảo – một Tin Mừng không bao giờ lỗi thời: “Thầy yêu anh em như Thầy đã yêu anh em.”
Nếu một ngày người ta lướt qua trang của chúng ta mà chưa nhớ tên chúng ta nhưng nhớ rằng mình cần sống tử tế hơn; chưa biết chúng ta là ai nhưng thấy muốn cầu nguyện; chưa đồng ý hết với điều ta nói nhưng cảm nhận được mình được tôn trọng; đang tuyệt vọng nhưng tìm lại một chút hy vọng; đang căm giận nhưng bắt đầu nghĩ đến tha thứ; đang xa Chúa nhưng bỗng muốn trở về – thì có lẽ lúc ấy Thánh Giá đã thực sự được loan báo trên mạng xã hội.
Không cần ồn ào.
Không cần huyên náo.
Chỉ cần trên thế giới ảo này, mỗi người môn đệ chịu để cái tôi của mình nhỏ xuống một chút, để tình yêu của Đấng chịu đóng đinh lớn lên thêm một chút.
Và như thế đã là truyền giáo.
Lm. Anmai, CSsR

KHI NGƯỜI TA “BỎ” THÁNH GIÁ KHỎI KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG
Có một điều nghe qua tưởng nhỏ mà nghĩ cho kỹ lại thấy buồn. Đó là có những nơi người ta bắt đầu cảm thấy khó chịu khi nhìn thấy Thánh Giá. Một cây Thánh Giá treo trên tường, một tượng Chúa chịu đóng đinh trong một căn phòng, một dấu Thánh Giá trên ngực áo, một biểu tượng Kitô giáo nơi công cộng… bỗng nhiên có thể bị coi là “không phù hợp”, là “nhạy cảm”, là “có tính tôn giáo quá”, là “không trung lập”. Người ta có thể chấp nhận đủ thứ biểu tượng của thời đại: logo thương mại thật lớn, bảng quảng cáo sáng choang, hình ảnh của người nổi tiếng, khẩu hiệu của doanh nghiệp, biểu tượng của tiền bạc, hưởng thụ, quyền lực, thành công; nhưng một cây Thánh Giá nhỏ bé, lặng lẽ, không quảng cáo cho bất cứ sản phẩm nào, không bắt người ta phải mua gì, không đòi người ta phải bỏ tiền ra, đôi khi lại trở thành điều khiến người ta băn khoăn. Có một nghịch lý rất đáng suy nghĩ: thế giới có thể chịu được hình ảnh của bạo lực trên màn ảnh, chịu được những lời xúc phạm tràn lan trên mạng, chịu được sự phô bày thân xác, chịu được những cuộc cạnh tranh tàn nhẫn, chịu được vô số thứ làm tổn thương tâm hồn con người, nhưng lại có lúc không chịu nổi hình ảnh một Con Người bị đóng đinh vì yêu. Và vì thế, chuyện “bỏ Thánh Giá khỏi không gian công cộng” không chỉ là chuyện một vật trang trí bị tháo xuống. Đối với người có đức tin, nó đặt ra một câu hỏi sâu hơn nhiều: nếu Thánh Giá biến mất khỏi những bức tường, liệu Thánh Giá có biến mất khỏi lòng người hay không? Và điều đáng sợ hơn nữa: nếu người ta không còn muốn nhìn thấy Thánh Giá bên ngoài, có phải vì Thánh Giá đang nhắc cho con người một điều mà con người hôm nay không muốn nghe nữa?
Thánh Giá luôn là một dấu chỉ gây khó chịu cho thế gian, bởi Thánh Giá nói những điều trái ngược với bản năng của một thế giới thích tự tôn mình. Thế gian nói: phải mạnh thì mới thắng. Thánh Giá nói: sức mạnh lớn nhất là tình yêu dám hiến mình. Thế gian nói: phải giữ lấy mạng sống. Chúa Giêsu nói: “Ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy.” Thế gian nói: phải trả đũa khi bị xúc phạm. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu lại cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Thế gian nói: phải leo lên cao để được người khác phục vụ. Đức Kitô cúi xuống rửa chân cho môn đệ rồi để người ta đóng đinh mình giữa hai tên gian phi. Thế gian nói: người thành công phải được tung hô. Đức Kitô cứu độ nhân loại trong cảnh bị chế giễu, bị khạc nhổ, bị lột áo, bị đội mão gai và chết trần trụi trên một ngọn đồi ngoài thành Giêrusalem. Cho nên Thánh Giá không bao giờ là một biểu tượng vô thưởng vô phạt. Thánh Giá là một lời chất vấn. Người ta có thể đi ngang qua một cây Thánh Giá mà không nói gì, nhưng cây Thánh Giá vẫn âm thầm hỏi: Anh đang sống cho ai? Anh có yêu ai đến mức dám hy sinh không? Anh có tha thứ cho người làm anh đau không? Anh có đứng về phía người yếu thế không? Anh có dùng quyền lực để phục vụ hay để thống trị? Anh có kiếm tiền bằng bất cứ giá nào không? Anh có thành thật không? Anh có dám thua thiệt vì sự thật không? Anh có biết cúi xuống trước nỗi đau của người khác không? Chính vì Thánh Giá hỏi những câu hỏi ấy nên Thánh Giá không bao giờ hoàn toàn “dễ chịu”.
Tin Mừng theo thánh Gioan kể một cảnh rất đáng để chúng ta dừng lại. “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (x. Ga 3,14-17). Cần đọc chậm những lời ấy. Thánh Giá được “giương cao”, không phải để đe dọa thế giới nhưng để cứu thế giới. Con Thiên Chúa được giương cao không phải để kết án con người mà để kéo con người ra khỏi vực thẳm của tội lỗi và sự chết. Thánh Giá, xét tận căn, là một lời tuyên bố của Thiên Chúa rằng: “Con người đáng được yêu đến mức Con của Ta chấp nhận chết cho họ.” Nhìn một cây Thánh Giá, người Kitô hữu không nhìn thấy trước hết một dụng cụ hành hình. Chúng ta nhìn thấy giá của một con người trong mắt Thiên Chúa. Một người nghèo đáng giá đến mức Đức Kitô chết cho họ. Một người bệnh đáng giá đến mức Đức Kitô chết cho họ. Một người già không còn khả năng lao động đáng giá đến mức Đức Kitô chết cho họ. Một đứa trẻ chưa chào đời đáng giá đến mức Đức Kitô chết cho em. Một người tù, một người thất bại, một người nghiện ngập, một người bị xã hội khinh thường, thậm chí một tội nhân đáng giá đến mức Đức Kitô đã đổ máu mình cho họ. Bởi vậy, nếu hiểu Thánh Giá cho đúng, người ta sẽ nhận ra đây không phải là biểu tượng chống lại phẩm giá con người mà chính là một trong những lời tuyên bố mạnh mẽ nhất về phẩm giá con người: anh đáng giá đến mức Thiên Chúa đã không tiếc Con Một của Người vì anh.
Dĩ nhiên, trong một xã hội đa tôn giáo và đa văn hóa, người Kitô hữu phải biết tôn trọng người khác. Đức tin Kitô giáo không cho phép chúng ta dùng Thánh Giá để cưỡng bách lương tâm của bất kỳ ai. Chúa Giêsu không bao giờ ép người ta tin. Người mời gọi: “Nếu ai muốn theo Thầy…” Chữ “nếu” ấy thật đẹp. Người tôn trọng tự do con người đến tận cùng. Người thanh niên giàu có quay lưng bỏ đi, Chúa buồn nhưng không cho các môn đệ chạy theo bắt anh trở lại. Người Samari không tiếp đón Chúa, Giacôbê và Gioan muốn gọi lửa từ trời xuống thiêu hủy họ, nhưng Đức Giêsu quở trách hai ông. Kitô giáo chân chính không bao giờ được truyền bá bằng cưỡng bức, bằng áp đặt hay bằng sự khinh thường người khác. Cho nên người Kitô hữu hoàn toàn có thể hiểu nhu cầu xây dựng một không gian chung trong đó mọi người được tôn trọng. Nhưng tôn trọng sự đa dạng không nhất thiết có nghĩa là phải xóa sạch mọi dấu chỉ tôn giáo. Một xã hội trưởng thành không phải là xã hội trong đó chẳng ai được mang bản sắc của mình ra ánh sáng; một xã hội trưởng thành là xã hội trong đó người khác biệt có thể hiện diện bên cạnh nhau mà không xem sự tồn tại của người kia như một mối đe dọa. Nếu một người Do Thái được quyền sống căn tính Do Thái, một người Hồi giáo được quyền sống căn tính Hồi giáo, một người không tôn giáo được quyền sống theo xác tín của mình, thì người Kitô hữu cũng có quyền không phải xấu hổ vì Thánh Giá của Đức Kitô. Tôn trọng không phải là làm cho tất cả trở nên giống nhau. Tôn trọng là học cách sống cạnh người khác mà vẫn để người khác được là chính họ.
Nhưng trước khi trách thế gian bỏ Thánh Giá khỏi quảng trường, trường học, bệnh viện, công sở hay những nơi công cộng, có lẽ người Kitô hữu cần thành thật hỏi mình một câu đau hơn: có khi nào chính chúng ta đã bỏ Thánh Giá khỏi đời mình từ lâu rồi không? Một cây Thánh Giá có thể vẫn treo rất trang trọng giữa phòng khách mà trong gia đình người ta không chịu tha thứ cho nhau. Một cây Thánh Giá có thể rất lớn trên cung thánh mà trong cộng đoàn người ta tranh giành ảnh hưởng, nói xấu, loại trừ nhau. Một cây Thánh Giá có thể đeo bằng vàng trên cổ, nhưng người đeo nó lại sống gian dối, bất công với nhân viên, lừa lọc khách hàng, chà đạp người yếu thế. Một người có thể làm dấu Thánh Giá mỗi ngày nhưng miệng vẫn làm tổn thương người khác không thương tiếc. Một người có thể cúi đầu hôn Thánh Giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng sau đó nhất định không làm hòa với người anh em đang sống dưới cùng một mái nhà. Một người có thể bảo vệ biểu tượng Thánh Giá rất mạnh mẽ nhưng lại không chịu vác bất cứ thập giá nào vì người khác. Như thế thì Thánh Giá vẫn còn trên bức tường mà đã bị tháo khỏi trái tim. Và đó mới là việc tháo Thánh Giá đáng sợ nhất.
Chúa Giêsu không nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, hãy treo thật nhiều Thánh Giá.” Người nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (x. Lc 9,23). Treo Thánh Giá là điều tốt nếu cây Thánh Giá giúp ta nhớ đến Đấng chịu đóng đinh. Đeo Thánh Giá là điều đẹp nếu cây Thánh Giá trên ngực nhắc ta sống tình yêu của Đức Kitô. Đặt Thánh Giá trong nhà là điều quý nếu mọi người trong nhà biết nhìn lên Chúa chịu đóng đinh mỗi khi muốn buông một câu cay độc, mỗi khi muốn giữ hận thù, mỗi khi muốn bỏ nhau, mỗi khi muốn đặt cái tôi cao hơn tình nghĩa. Nhưng Đức Giêsu không cứu thế giới bằng một biểu tượng. Người cứu thế giới bằng chính tình yêu được biểu tượng ấy diễn tả. Vì thế, cách mạnh nhất để người Kitô hữu giữ Thánh Giá trong không gian công cộng không phải chỉ là đấu tranh để cây Thánh Giá tiếp tục được treo trên tường, mà là làm cho tinh thần của Thánh Giá hiện diện giữa đời bằng chính cách sống của mình.
Hãy tưởng tượng một bệnh viện không còn cây Thánh Giá trên tường nhưng trong đó có một bác sĩ Kitô hữu thức thêm nửa giờ để ngồi bên giường một người bệnh nghèo đang sợ chết. Thánh Giá có thật sự biến mất không? Không. Thánh Giá đang sống trong đôi tay của người bác sĩ ấy. Hãy tưởng tượng một trường học nơi không còn biểu tượng Kitô giáo trong lớp, nhưng có một giáo viên Công giáo nhất định không làm nhục một học sinh yếu kém, kiên nhẫn giữ lại em sau giờ học và nói: “Cô tin em vẫn làm được.” Thánh Giá đã biến mất chưa? Không. Thánh Giá đang cúi xuống trên một cuộc đời nhỏ bé. Hãy tưởng tượng một cơ quan nơi người ta không được đặt ảnh tượng tôn giáo trên bàn làm việc, nhưng có một người Công giáo không nhận phong bì, không tham gia gian dối, không đổ lỗi cho đồng nghiệp, dám đứng ra nhận trách nhiệm khi mình sai. Có ai lấy được Thánh Giá khỏi nơi ấy không? Không. Bởi cây Thánh Giá đã đi vào lương tâm của người ấy. Hãy tưởng tượng một thành phố nơi chẳng còn một cây Thánh Giá nào ở quảng trường nhưng có hàng ngàn Kitô hữu biết phục vụ người nghèo, thăm người bệnh, bảo vệ trẻ nhỏ, chăm sóc người già, tha thứ cho kẻ xúc phạm, sống trung thực trong kinh doanh, trung thành trong hôn nhân, dịu dàng với con cái, tận tụy trong công việc. Thành phố ấy có thực sự không còn Thánh Giá không? Tôi nghĩ là không. Có khi lúc đó Thánh Giá lại hiện diện sâu hơn bao giờ hết.
Điều này không có nghĩa là hình thức bên ngoài không quan trọng. Con người không chỉ là tinh thần. Chúng ta cần biểu tượng. Một tấm ảnh của người mẹ đã mất đặt trên bàn có thể làm người con xúc động dù đó chỉ là một mảnh giấy. Một lá quốc kỳ khiến người ta đứng nghiêm dù đó chỉ là một tấm vải. Một chiếc nhẫn cưới nhỏ bé có thể mang ý nghĩa của cả một lời giao ước. Những dấu chỉ hữu hình chuyên chở những ký ức và giá trị vô hình. Thánh Giá cũng vậy. Khi một người đang tuyệt vọng bước vào nhà nguyện, nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh và nhận ra rằng Thiên Chúa cũng đã đi qua đau khổ, cây Thánh Giá ấy có thể giữ người đó lại bên bờ vực. Khi một bà mẹ mất con không còn lời nào để cầu nguyện, bà chỉ ngồi nhìn Chúa chịu đóng đinh và khóc, cây Thánh Giá ấy trở thành lời cầu nguyện thay bà. Khi một người bệnh ung thư nằm trong căn phòng trắng lạnh, nhìn cây Thánh Giá trên tường và thì thầm: “Chúa ơi, Chúa hiểu con”, cây Thánh Giá không phải một vật trang trí. Nó là một sự hiện diện. Khi một người hấp hối nhìn Thánh Giá lần cuối và nghe linh mục nói: “Hôm nay anh sẽ ở với Chúa”, Thánh Giá ấy trở thành cánh cửa của hy vọng. Vì vậy, chúng ta không cần coi nhẹ biểu tượng. Nhưng cũng đừng bao giờ tưởng rằng chỉ cần giữ được biểu tượng là đã giữ được đức tin.
Có khi sự phản đối Thánh Giá của thế giới cũng là một lời cảnh tỉnh dành cho chúng ta. Bởi đã có những thời điểm trong lịch sử, người ta mang Thánh Giá nhưng lại sống trái Thánh Giá. Người ta có thể nhân danh Chúa mà bạo lực. Người ta có thể nhân danh chân lý mà thiếu bác ái. Người ta có thể giơ cao biểu tượng của Đấng chịu đóng đinh nhưng lại đóng đinh người khác bằng lời nói, bằng thành kiến, bằng quyền lực. Điều đó làm Thánh Giá bị hiểu lầm. Và mỗi khi một Kitô hữu sống trái Tin Mừng, cây Thánh Giá mà người đó mang trên mình cũng phần nào bị che khuất. Thánh Phaolô đã từng đau đớn nói đến những người sống như “kẻ thù của Thập Giá Đức Kitô” (x. Pl 3,18). Điều đáng chú ý là kẻ thù của Thánh Giá không phải lúc nào cũng là người tháo cây Thánh Giá xuống. Có thể người ấy đang đeo Thánh Giá. Kẻ thù của Thánh Giá là người từ chối con đường tự hiến của Đức Kitô, dù môi miệng vẫn nói về Người.
Cho nên, khi nghe tin ở đâu đó người ta muốn bỏ một cây Thánh Giá khỏi một không gian công cộng, người Kitô hữu có thể buồn. Nhưng xin đừng chỉ nổi giận. Cơn giận rất hiếm khi làm cho người khác hiểu Thánh Giá hơn. Hãy tự hỏi: người ta đã nhìn thấy gì nơi chúng ta mà họ không còn cảm thấy Thánh Giá là dấu chỉ của tình yêu? Chúng ta cần bảo vệ quyền tự do tôn giáo bằng những phương thế ôn hòa, hợp pháp, tôn trọng và đối thoại; nhưng đồng thời phải làm một điều khó hơn nhiều: trả lại vẻ đẹp cho Thánh Giá bằng đời sống của chính mình. Một cây Thánh Giá được bảo vệ bởi một người cay độc sẽ không thuyết phục bằng một cây Thánh Giá bị tháo xuống nhưng được sống bởi một người dịu dàng. Một bài diễn văn dài về quyền treo Thánh Giá sẽ không mạnh bằng một Kitô hữu âm thầm chăm sóc người bệnh. Một cuộc tranh luận thắng lợi trên mạng không có sức biến đổi bằng một người chồng quyết định tha thứ cho vợ, một người vợ vẫn kiên nhẫn yêu thương chồng, một người con chăm sóc cha mẹ già, một chủ doanh nghiệp trả lương công bằng, một linh mục sống nghèo khó với đoàn chiên, một tu sĩ kiên trì với những người bị xã hội bỏ quên. Đó là những cây Thánh Giá biết đi.
Có một chi tiết rất lạ trong cuộc Thương Khó. Người ta muốn loại Đức Giêsu khỏi không gian công cộng. Họ đưa Người ra ngoài thành và đóng đinh Người ở Golgotha. Thư gửi tín hữu Do Thái nhắc rằng Đức Giêsu “đã chịu khổ hình ngoài cửa thành” (x. Dt 13,12). Họ đã đưa Người ra ngoài. Họ không muốn Người ở giữa họ nữa. Họ muốn loại Người khỏi đời sống của thành phố. Có thể nói, theo một nghĩa nào đó, cuộc đóng đinh chính là một hành động triệt để nhằm “loại Đức Giêsu khỏi không gian công cộng”. Nhưng điều gì xảy ra? Chính khi bị đẩy ra ngoài thành, Đức Giêsu lại mở vòng tay trên Thánh Giá để ôm lấy cả nhân loại. Chính khi người ta tưởng mình đã loại Người đi, Người bắt đầu cuộc chinh phục lạ lùng nhất của lịch sử – không bằng quân đội, không bằng vũ khí, không bằng quyền lực chính trị, nhưng bằng tình yêu. Vài chục năm sau, Tin Mừng đã đi khắp Đế quốc Rôma. Những cây Thánh Giá bắt đầu xuất hiện trong tâm hồn những con người mà quân đội Rôma không thể khuất phục. Và cuối cùng, dụng cụ hành hình đáng xấu hổ của đế quốc lại trở thành dấu chỉ hy vọng của hàng tỷ người. Đó là nghịch lý của Thiên Chúa. Người ta có thể tháo Thánh Giá khỏi một bức tường, nhưng không dễ tháo Thánh Giá khỏi lịch sử.
Thậm chí chính viên đại đội trưởng ngoại giáo đứng dưới chân Thánh Giá, sau khi nhìn cách Đức Giêsu chết, đã thốt lên: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Ông không được nghe một bài giáo lý dài. Ông không được chứng kiến một cuộc tranh luận thần học. Ông nhìn thấy một người chết. Nhưng ông nhìn thấy cách Người ấy chết. Có lẽ đó là bài giảng mạnh nhất về Thánh Giá: cách một người Kitô hữu chịu đau khổ, cách họ phản ứng khi bị xúc phạm, cách họ cư xử khi mất quyền lợi, cách họ đối diện với bệnh tật, cách họ tha thứ, cách họ yêu người không yêu mình. Người đời có thể không đọc Tin Mừng, nhưng họ đọc đời sống của chúng ta. Họ có thể không bước vào nhà thờ, nhưng họ gặp chúng ta trong văn phòng, ngoài chợ, trên đường phố, trong bệnh viện, nơi trường học, trên Facebook, TikTok, YouTube. Nếu nhìn chúng ta họ thấy cay nghiệt, khoe khoang, kết án, tham lam, chia rẽ, thì dù nhà chúng ta treo bao nhiêu Thánh Giá, họ cũng khó tin vào Đấng bị đóng đinh. Nhưng nếu họ gặp một người Kitô hữu có thể bị xúc phạm mà không trả thù, bị thiệt thòi mà không gian dối, có quyền mà không hách dịch, có tiền mà biết chia sẻ, có kiến thức mà không kiêu ngạo, đau khổ mà không tuyệt vọng, thì có thể một ngày nào đó họ cũng sẽ hỏi: “Tại sao người này sống được như vậy?” Và câu trả lời sẽ dẫn họ về phía Thánh Giá.
Thánh Giá cũng nhắc chúng ta rằng Kitô giáo không sống nhờ đặc quyền. Có những thời kỳ Kitô giáo được xã hội ưu ái. Có những thời kỳ Kitô giáo bị bách hại. Nhưng Tin Mừng không bao giờ phụ thuộc hoàn toàn vào việc được ưu ái hay bị chống đối. Hội Thánh khai sinh giữa một thế giới không hề ưu ái mình. Các Tông đồ không có nhà thờ nguy nga, không có truyền thông hiện đại, không có địa vị xã hội. Phêrô và Gioan từng bị cấm không được nói nhân danh Đức Giêsu. Các ngài vẫn nói. Phaolô viết nhiều thư từ nhà tù. Các vị tử đạo làm chứng bằng máu. Kitô giáo không lớn lên vì có vị trí thuận lợi trong quảng trường; Kitô giáo lớn lên vì có những con người chấp nhận biến đời mình thành Tin Mừng sống động. Điều đó phải cho chúng ta một sự bình an rất lớn. Đừng hoảng sợ như thể chỉ cần một biểu tượng bị tháo xuống là Đức Kitô đã thua. Chúa Giêsu đã bị đóng đinh. Còn thất bại nào lớn hơn dưới mắt người đời? Vậy mà chính từ đó phát sinh Phục Sinh.
Thánh Giá không cần chúng ta bảo vệ như một Thiên Chúa yếu đuối cần con người cứu. Thánh Giá cần chúng ta làm chứng. Phêrô đã từng rút gươm để bảo vệ Chúa Giêsu ở vườn Cây Dầu. Ông tưởng mình đang bảo vệ Thầy. Nhưng Đức Giêsu bảo ông xỏ gươm vào bao. Con đường của Người không phải là con đường dùng sức mạnh để buộc người khác chấp nhận Thiên Chúa. Một Kitô hữu bảo vệ Thánh Giá bằng thái độ không giống Đức Kitô có nguy cơ phản bội chính điều mình muốn bảo vệ. Ta không thể nhân danh Đấng tha thứ mà sống đầy thù hận. Không thể nhân danh Đấng hiền lành mà trở nên hung hăng. Không thể nhân danh Đấng bị đóng đinh để đóng đinh người khác. Không thể nhân danh Sự Thật mà nói sự thật không có tình yêu. “Nói sự thật trong lòng bác ái” mới là con đường Kitô giáo.
Và cũng cần nói một điều rất thực tế: người Kitô hữu đừng chờ đến khi người khác tháo Thánh Giá mới bắt đầu yêu Thánh Giá. Trong rất nhiều gia đình Công giáo, Thánh Giá vẫn treo đó nhưng gần như chẳng ai nhìn lên nữa. Nó phủ bụi. Nó trở thành một phần nội thất. Sáng đi ngang không chào Chúa. Tối đi qua chẳng nhớ cầu nguyện. Con cái hỏi Chúa Giêsu là ai thì cha mẹ lúng túng. Một ngày kia nếu ai đó yêu cầu tháo cây Thánh Giá ấy xuống, chúng ta có thể nổi giận; nhưng suốt nhiều năm cây Thánh Giá ở đó mà chẳng có chỗ trong đời sống gia đình thì có khác gì đâu? Xin hãy trả lại cho Thánh Giá vị trí trong nhà bằng việc cầu nguyện trước Thánh Giá. Khi gia đình bất hòa, hãy ngồi trước Chúa chịu đóng đinh. Khi vợ chồng muốn nói những lời làm đau nhau, hãy nhìn lên Người. Khi con cái hư hỏng, đừng chỉ nhìn lỗi của chúng, hãy nhìn Đấng đã chết cho chúng. Khi cha mẹ già yếu trở thành “gánh nặng”, hãy nhìn Người đang vác Thánh Giá. Khi kinh tế gia đình khủng hoảng, hãy nhìn Đấng đã từng không có chỗ tựa đầu. Khi có người hấp hối, hãy đặt Thánh Giá vào tay họ. Lúc ấy Thánh Giá không còn là đồ vật nữa. Thánh Giá trở thành trung tâm của mái nhà.
Có người sẽ hỏi: Nếu xã hội thực sự không muốn nhìn thấy Thánh Giá thì sao? Xin thưa: hãy để họ nhìn thấy Thánh Giá nơi chúng ta. Nếu không được đặt Thánh Giá trên bàn làm việc, hãy đặt Thánh Giá trong cách mình làm việc. Nếu không được treo Thánh Giá trong lớp học, hãy treo Thánh Giá trong trái tim người thầy. Nếu không được để biểu tượng Thánh Giá ở nơi công cộng, hãy để tinh thần Thánh Giá bước vào không gian công cộng qua đôi chân của chúng ta. Không luật lệ nào có thể cấm một người yêu thương. Không nghị định nào cấm một người tha thứ. Không ai có thể tháo khỏi lòng một người quyết định sống theo Đức Kitô. Không ai có thể cấm người Kitô hữu cúi xuống trước một người nghèo. Không ai có thể cấm chúng ta sống ngay thẳng. Không ai có thể ra lệnh rằng từ hôm nay anh không được hy sinh vì người khác nữa. Không ai có thể tịch thu lòng thương xót. Đó là “không gian công cộng” rộng lớn nhất của Thánh Giá.
Thế giới hôm nay có lẽ không cần nhiều cây Thánh Giá bằng vàng cho bằng cần những con người mang những vết thương của tình yêu. Có những bà mẹ cả đời âm thầm hy sinh cho con mà không ai biết. Đó là Thánh Giá. Có những người chồng đi làm mệt mỏi vẫn về chăm sóc người vợ bệnh. Đó là Thánh Giá. Có người con ở lại bên cha mẹ già trong khi bạn bè mình đã đi tìm một đời sống dễ dàng hơn. Đó là Thánh Giá. Có những bác sĩ ở vùng xa phục vụ người nghèo. Có những giáo viên không bỏ những học sinh cá biệt. Có những linh mục lặng lẽ đi hàng chục cây số để đem Mình Thánh Chúa cho một người hấp hối. Có những tu sĩ cả đời sống giữa người khuyết tật mà chẳng ai biết tên. Có những người Công giáo bị hiểu lầm nhưng không oán hận. Có những người đã bị phản bội nhưng vẫn lựa chọn tha thứ. Đó là những cây Thánh Giá mà không ai có thể tháo xuống.
Và cũng đừng quên: Thánh Giá không kết thúc ở chiều thứ Sáu. Nếu chỉ nhìn Thánh Giá như đau khổ thì chúng ta chưa nhìn đủ. Thánh Giá hướng đến Phục Sinh. Đức Kitô chịu đóng đinh đã sống lại. Bàn tay mang dấu đinh là bàn tay của Đấng chiến thắng sự chết. Vì vậy, mỗi khi một dấu chỉ đức tin bị loại bỏ, người Kitô hữu không cần rơi vào tâm trạng hoảng loạn hay cay đắng. Đức tin của chúng ta không dựa trên việc thế giới có đồng ý với mình hay không. Đức tin đặt trên Đức Kitô tử nạn và phục sinh. Các chế độ đã đến rồi đi. Các đế quốc từng tưởng mình bất tử đã trở thành những trang sách lịch sử. Những kẻ từng chế giễu Thánh Giá đã biến mất. Nhưng mỗi Thứ Sáu Tuần Thánh, trên khắp thế giới, vẫn có những con người quỳ xuống trước cây gỗ và hát: “Đây là cây Thánh Giá, nơi treo Đấng Cứu Độ trần gian.” Không phải vì Kitô hữu thích đau khổ, mà vì chúng ta biết rằng trên cây gỗ ấy, Tình Yêu đã đi đến cùng.
Điều đáng sợ nhất, vì vậy, không phải là một ngày nào đó người ta gỡ hết Thánh Giá khỏi công sở. Điều đáng sợ là người Kitô hữu gỡ Thánh Giá khỏi cách sống. Điều đáng sợ không phải là người ta không cho chúng ta treo hình Chúa; điều đáng sợ là người ta nhìn chúng ta mà không thấy chút gì giống Chúa. Điều đáng sợ không phải là một xã hội không còn biểu tượng Kitô giáo; điều đáng sợ là một cộng đoàn Kitô hữu đầy biểu tượng nhưng thiếu tình yêu. Điều đáng sợ không phải là Thánh Giá không còn ở quảng trường; điều đáng sợ là Thánh Giá không còn trong gia đình, không còn trong cách vợ chồng yêu nhau, không còn trong cách cha mẹ hy sinh, không còn trong cách người già đón nhận tuổi già, không còn trong cách linh mục phục vụ đoàn chiên, không còn trong cách người Công giáo làm ăn, không còn trong cách chúng ta sử dụng quyền lực, tiền bạc, danh vọng.
Có lẽ chúng ta cần trở lại đồi Canvê một lần nữa. Hãy đứng dưới chân Thánh Giá, nơi Đức Maria đứng. Mẹ không diễn thuyết. Mẹ không phản kháng bằng bạo lực. Mẹ đứng đó. “Stabat Mater” – Mẹ đứng. Một sự hiện diện trung thành. Khi thế giới tưởng đã loại Đức Giêsu ra khỏi mình, Mẹ vẫn ở cạnh Người. Khi các môn đệ bỏ chạy, Mẹ đứng đó. Khi đám đông chế giễu, Mẹ đứng đó. Khi Đức Giêsu dường như hoàn toàn thất bại, Mẹ vẫn đứng đó. Có lẽ thái độ Kitô hữu trong một thế giới ngày càng xa lạ với Thánh Giá cũng cần có cái “đứng” ấy: không cay đắng, không hèn nhát, không hung hăng, nhưng trung thành. Đứng bên Thánh Giá. Đứng bên người đau khổ. Đứng bên người bị bỏ rơi. Đứng về phía sự thật. Đứng với người nghèo. Đứng với những người không có tiếng nói. Đứng trong tình yêu. Và có những lúc chỉ cần đứng như thế thôi cũng đã là một lời chứng khổng lồ.
Ngày xưa, người ta đóng Đức Giêsu lên Thánh Giá để chấm dứt câu chuyện của Người. Họ nghĩ khi tảng đá lăn vào cửa mộ thì mọi sự kết thúc. Nhưng chính ở đó câu chuyện mới bắt đầu. Hai ngàn năm đã trôi qua, Người vẫn được yêu mến, vẫn được rao giảng, vẫn thay đổi các cuộc đời. Vì vậy, nếu một ngày nào đó một cây Thánh Giá bị tháo khỏi một bức tường, xin đừng nghĩ rằng Đức Kitô đã bị tháo khỏi thế giới. Câu hỏi quan trọng hơn là: Đức Kitô có còn ở trong tôi không? Nếu Người còn ở trong tôi, Người sẽ bước vào thế giới qua tôi. Người sẽ nhìn qua đôi mắt tôi. Người sẽ phục vụ bằng đôi tay tôi. Người sẽ tha thứ bằng trái tim tôi. Người sẽ đến bên người đau khổ bằng đôi chân tôi. Và khi đó, dù chẳng ai treo một cây Thánh Giá nào trước mắt, người ta vẫn có thể gặp Đấng chịu đóng đinh nơi một Kitô hữu sống thật với Tin Mừng.
Xin đừng chỉ tranh đấu để Thánh Giá ở lại trên tường. Hãy xin Chúa cho Thánh Giá ở lại trong tim. Đừng chỉ đau khi thấy người khác tháo Thánh Giá. Hãy đau hơn khi nhận ra mình đang sống không giống Đấng trên Thánh Giá. Đừng chỉ hỏi: “Tại sao thế giới không muốn Thánh Giá?” Hãy hỏi: “Tôi đã làm gì để thế giới nhận ra vẻ đẹp của Thánh Giá?” Bởi cuối cùng, cây Thánh Giá đẹp nhất không phải cây được làm bằng gỗ quý, bằng bạc hay bằng vàng. Cây Thánh Giá đẹp nhất là một đời người đã để cho tình yêu Đức Kitô đóng đinh cái tôi, sự ích kỷ, lòng tham, hận thù và kiêu ngạo của mình; rồi từ cuộc đời ấy, lòng thương xót bắt đầu chảy xuống cho những người chung quanh.
Người ta có thể bỏ Thánh Giá khỏi một căn phòng. Có thể bỏ Thánh Giá khỏi một hành lang. Có thể bỏ Thánh Giá khỏi một quảng trường. Có thể một thời đại nào đó còn muốn đẩy Thánh Giá ra khỏi ký ức văn hóa của mình. Nhưng không ai có thể lấy Thánh Giá khỏi một trái tim đã thực sự thuộc về Đức Kitô. Và chỉ cần còn những trái tim như thế, Thánh Giá vẫn ở giữa thế gian. Không phải như một biểu tượng tranh giành quyền lực, mà như lời thì thầm của tình yêu: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).
Thế giới có thể không muốn nhìn cây Thánh Giá nữa. Vậy thì xin cho thế giới nhìn thấy một Kitô hữu biết yêu như Đấng bị đóng đinh. Có lẽ đó mới chính là cách bảo vệ Thánh Giá mạnh mẽ nhất, đẹp nhất và Tin Mừng nhất.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VÀ VĂN HÓA SỰ CHẾT – KHI CON NGƯỜI HỦY DIỆT SỰ SỐNG MÀ TƯỞNG MÌNH ĐANG BẢO VỆ HẠNH PHÚC
Có những thời đại người ta giết người bằng gươm giáo, súng đạn, nhà tù và chiến tranh. Cũng có những thời đại người ta hủy diệt sự sống bằng những cách kín đáo hơn, sạch sẽ hơn, hợp pháp hơn, văn minh hơn, thậm chí được khoác lên những mỹ từ rất đẹp như “quyền lựa chọn”, “chất lượng cuộc sống”, “giải thoát khỏi đau khổ”, “tự do cá nhân”, “tiến bộ khoa học”, “quyền làm chủ thân thể”. Cái đáng sợ nhất của văn hóa sự chết không phải lúc nào cũng là tiếng súng ngoài chiến trường. Đáng sợ hơn là khi sự chết được bình thường hóa đến mức người ta không còn nhận ra đó là sự chết; khi một con người bị loại bỏ nhưng lương tâm xã hội vẫn bình thản; khi một sinh mạng bị cân đo bằng lợi ích, sức khỏe, khả năng lao động, tuổi tác, hoàn cảnh kinh tế hay sự thuận tiện của người khác; khi người yếu nhất không còn được hỏi: “Bạn cần chúng tôi làm gì để bạn được sống?”, nhưng lại bị đặt trước câu hỏi lạnh lùng: “Sự hiện diện của bạn còn có ích gì cho chúng tôi?”. Văn hóa sự chết bắt đầu từ chính nơi ấy. Nó bắt đầu khi con người ngừng nhìn nhau như quà tặng và bắt đầu nhìn nhau như gánh nặng. Nó bắt đầu khi sự sống không còn được đón nhận nhưng phải chứng minh mình xứng đáng được tồn tại. Nó bắt đầu khi người mạnh tự cho mình quyền quyết định số phận của người yếu. Và đứng trước một nền văn hóa như thế, Kitô giáo không đưa ra trước tiên một lý thuyết. Kitô giáo đưa ra một Đấng bị đóng đinh. Trước nền văn hóa loại trừ sự sống, Giáo Hội chỉ vào Thánh Giá và nói: Hãy nhìn xem một Con Người đã từng bị thế gian xem là vô ích, là đáng loại bỏ, là phải chết, nhưng chính nơi Người, Thiên Chúa đã mặc khải giá trị vô hạn của mỗi phận người.
Thánh Giá là lời phản bác quyết liệt nhất đối với văn hóa sự chết, bởi trên Thánh Giá, Đức Giêsu đã đứng về phía mọi sự sống bị tổn thương, bị ruồng bỏ, bị kết án, bị coi thường. Người đã không cứu thế giới bằng cách đứng bên phía những người mạnh, nhưng bằng việc để mình trở thành một trong những người yếu nhất. Người không xuống khỏi Thánh Giá để chứng minh quyền lực; Người ở lại trên Thánh Giá để chứng minh tình yêu. Người không chọn con đường loại bỏ đau khổ bằng cách loại bỏ người đau khổ; Người bước vào chính đau khổ ấy, mang lấy nó, ôm lấy nó, biến nó thành nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người. Đó là điều thế giới hôm nay rất khó hiểu. Thế giới muốn loại đau khổ khỏi cuộc sống. Điều ấy, tự nó, là chính đáng và cần thiết. Người Kitô hữu cũng phải chữa bệnh, giảm đau, chống nghèo đói, chống bạo lực, chống bất công, chăm sóc người hấp hối, bênh vực người bị bỏ rơi. Không ai có quyền lãng mạn hóa đau khổ. Không ai được phép nói với người bệnh rằng cứ đau đi vì đau khổ là tốt. Nhưng có một khoảng cách vô cùng lớn giữa việc loại bỏ đau khổ và việc loại bỏ người đang đau khổ. Có một khoảng cách khủng khiếp giữa chữa lành một căn bệnh và quyết định rằng người bệnh không đáng sống nữa. Có một khác biệt không thể xóa nhòa giữa việc nâng đỡ một người trong hoàn cảnh khó khăn và việc kết luận rằng tốt hơn hết người ấy đừng tồn tại. Văn hóa sự sống chữa lành con người. Văn hóa sự chết loại bỏ con người vì không chữa được hoàn cảnh của họ.
Có lẽ chưa bao giờ nhân loại có nhiều phương tiện để cứu sống con người như hôm nay, nhưng cũng chưa bao giờ con người có nhiều khả năng kỹ thuật để quyết định ai được sống và ai phải chết như hôm nay. Chúng ta có những bệnh viện hiện đại, những máy móc tinh vi, những phương pháp điều trị kỳ diệu; nhưng cùng lúc, cám dỗ xem con người như một đối tượng kỹ thuật cũng ngày càng lớn. Khi sự sống được đặt hoàn toàn dưới quyền kiểm soát của con người, chúng ta rất dễ đi từ quyền chữa trị đến ảo tưởng về quyền định đoạt. Người ta bắt đầu lựa chọn một sự sống “đạt chuẩn”, một đứa trẻ “được mong muốn”, một người già “còn chất lượng”, một bệnh nhân “còn đáng để điều trị”. Và khi ấy, vấn đề không chỉ còn nằm ở một hành vi riêng lẻ, nhưng ở cả một cách nhìn con người. Một đứa trẻ trong lòng mẹ có thể bị nhìn như sự cố. Một em bé khuyết tật có thể bị nhìn như gánh nặng. Một người bệnh nan y có thể bị nhìn như chi phí. Một người già mất trí có thể bị nhìn như một thân xác không còn giá trị. Một người nghèo có thể bị coi như thất bại của xã hội. Một người nghiện ngập có thể bị xem là đồ bỏ đi. Một tù nhân có thể bị đồng hóa hoàn toàn với tội lỗi của mình. Một người không còn khả năng sản xuất có thể bị xem là vô dụng. Và chỉ cần chấp nhận một lần rằng phẩm giá con người phụ thuộc vào khả năng, sức khỏe, sự hữu dụng hay mong muốn của người khác, chúng ta đã mở một cánh cửa vô cùng nguy hiểm: từ đó không còn ai chắc chắn rằng ngày mai mình vẫn đủ tiêu chuẩn để được tôn trọng.
Thánh Giá nói một điều hoàn toàn ngược lại. Đức Giêsu trên đồi Canvê chẳng còn “hữu dụng” theo tiêu chuẩn của thế gian. Hai bàn tay từng chữa bệnh đã bị đóng đinh. Đôi chân từng rong ruổi loan báo Tin Mừng không còn bước đi được nữa. Miệng Người khát khô. Thân thể Người đầy thương tích. Người không làm phép lạ. Người không giảng cho đám đông. Người không chữa thêm một người bệnh nào. Người không tổ chức một công trình nào. Người chẳng còn mang lại “năng suất”. Và kỳ lạ thay, chính trong khoảnh khắc dường như bất lực nhất đó, Người lại thực hiện công trình lớn nhất: cứu độ nhân loại. Điều ấy làm đảo lộn mọi thước đo của chúng ta. Giá trị một con người không nằm ở những gì người ấy làm được. Giá trị con người nằm ở chính việc người ấy là một con người được Thiên Chúa yêu thương. Một em bé chưa làm được gì vẫn có giá trị vô hạn. Một người già không còn nhớ tên con cháu vẫn có giá trị vô hạn. Một bệnh nhân nằm bất động vẫn có giá trị vô hạn. Một người khuyết tật cần người khác chăm sóc suốt đời vẫn có giá trị vô hạn. Một người thất bại, một người bị xã hội quên lãng, một người đang ở cuối đời vẫn có giá trị vô hạn. Bởi phẩm giá không phải chiếc huy chương xã hội trao cho người thành công. Phẩm giá là dấu ấn Thiên Chúa đặt vào con người khi tạo dựng họ theo hình ảnh Ngài.
Tin Mừng cho chúng ta một hình ảnh đau đến tận lòng. Khi Đức Giêsu bị đóng đinh, những người đi ngang qua nhục mạ Người, lắc đầu và nói: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá!” (x. Mt 27,40). Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu: “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình” (Mt 27,42). Đó chính là logic của văn hóa sự chết: nếu anh có giá trị, hãy chứng minh đi; nếu anh có quyền năng, hãy thể hiện đi; nếu anh thực sự đáng sống, hãy tự cứu mình đi. Kẻ yếu, kẻ không tự bảo vệ được mình, kẻ không thể nói thay cho mình, kẻ không thể chứng minh giá trị của mình thì dễ dàng bị đẩy ra ngoài. Nhưng Đức Giêsu không xuống khỏi Thánh Giá. Người ở lại. Và bằng việc ở lại ấy, Người mặc khải rằng Thiên Chúa hiện diện không chỉ nơi chiến thắng, sức mạnh và thành công, mà còn ở nơi một thân xác bị thương tích, một con người đang hấp hối, một tiếng kêu tưởng như bất lực. Từ đó, không ai còn có thể nói rằng một sự sống đau yếu là không có ý nghĩa, bởi chính Con Thiên Chúa đã mang lấy sự mong manh đến tận cùng.
Văn hóa sự chết không phải chỉ nằm ở những vấn đề lớn thường gây tranh luận. Nó len vào đời sống hằng ngày bằng những thái độ rất bình thường. Khi ta coi thường một người vì họ nghèo, một mầm của văn hóa sự chết đã có mặt. Khi cha mẹ xem đứa con chỉ có giá trị nếu học giỏi, thành đạt, làm mình hãnh diện, một phần logic ấy đã có mặt. Khi con cái thấy cha mẹ già là phiền phức, văn hóa sự chết đã gõ cửa gia đình. Khi một cộng đoàn chỉ yêu người dễ thương và lạnh nhạt với người khó chịu, chúng ta cũng đang tạo nên một thứ loại trừ. Khi mạng xã hội vui thú trước sự sụp đổ của một người, khi một sai lầm bị biến thành lý do để xóa bỏ toàn bộ nhân phẩm của họ, khi người ta hùa nhau làm nhục, kết án, chôn sống danh dự một người bằng những bình luận độc địa, đó cũng là một hình thức hủy diệt sự sống. Có những người vẫn còn thở nhưng lòng đã chết vì những lời chúng ta nói. Có những người chưa bị giết bằng dao nhưng đã bị đẩy xuống vực bởi sự khinh miệt. Có những người không chết thể lý nhưng mọi hy vọng trong họ đã bị nghiền nát bởi thái độ lạnh lùng của chính những người gần nhất. Bởi vậy, bảo vệ sự sống không thể chỉ là lên tiếng về một vài vấn đề luân lý rồi thôi. Bảo vệ sự sống phải trở thành một linh đạo, một cách sống, một cái nhìn, một ngôn ngữ, một cách đối xử.
Văn hóa sự chết còn được nuôi dưỡng bởi một thứ cá nhân chủ nghĩa ngày càng tinh vi: đời tôi là của tôi, thân thể tôi là của tôi, tiền bạc của tôi, thời gian của tôi, tự do của tôi; miễn tôi muốn thì tôi có quyền. Nhưng con người không bao giờ tồn tại một mình. Mỗi quyết định của chúng ta đều chạm tới người khác. Một đứa trẻ được sinh ra từ mối tương quan. Một người già đã từng hiến cả cuộc đời để nuôi dưỡng một gia đình. Một bệnh nhân đang tồn tại trong mạng lưới yêu thương của biết bao người. Không ai là một hòn đảo. Và tự do không phải là khả năng làm bất cứ điều gì mình muốn; tự do chân chính là khả năng chọn điều thiện, ngay cả khi điều thiện đòi ta phải hy sinh. Thánh Giá chính là hình ảnh cao nhất của tự do ấy. Không ai lấy mạng sống của Đức Giêsu một cách tuyệt đối; Người tự nguyện trao ban: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (x. Ga 10,18). Tự do Kitô giáo không phải là “tôi muốn gì tôi làm nấy”, nhưng là “tôi yêu đến mức có thể trao chính mình cho người khác”. Một nền văn minh chỉ nói đến quyền mà quên trách nhiệm cuối cùng sẽ trở thành một nền văn minh của những cái tôi đối đầu. Một nền văn minh của Thánh Giá lại dạy ta rằng sự sống lớn lên nhờ trao ban.
Đặc biệt đau lòng là khi văn hóa sự chết đụng đến những sự sống chưa có tiếng nói để tự bảo vệ. Một thai nhi không thể xuống đường biểu tình cho quyền được sống của mình. Em không thể thuê luật sư. Em không thể viết một bài phản biện. Em không thể kêu tên mình. Em chỉ có thể hiện diện, âm thầm, nhỏ bé, hoàn toàn lệ thuộc vào người khác. Chính vì yếu như thế nên em càng cần được bảo vệ. Thước đo đạo đức của một xã hội không phải là cách xã hội ấy đối xử với người mạnh, nhưng là cách nó bảo vệ người không thể tự bảo vệ mình. Một đứa trẻ chưa sinh không phải một “vấn đề” trước khi là một con người. Đằng sau mỗi hoàn cảnh mang thai khó khăn có thể là cả một biển nước mắt: nghèo đói, bị bỏ rơi, bị lừa dối, áp lực gia đình, sợ hãi, bệnh tật, cô độc. Nếu người Kitô hữu chỉ biết nói “không được” mà không chịu cúi xuống gánh lấy một phần nỗi khổ ấy, lời bảo vệ sự sống của chúng ta sẽ thiếu mất khuôn mặt của Đức Kitô. Bảo vệ đứa trẻ phải đồng thời là ôm lấy người mẹ. Bênh vực sự sống phải đồng thời là mở nhà, mở lòng, mở túi tiền, mở thời gian. Không thể nói với một người mẹ tuyệt vọng rằng hãy giữ lấy con rồi để họ một mình chống chọi với cả thế giới. Văn hóa sự sống không chỉ ngăn một cái chết; văn hóa sự sống phải tạo điều kiện để con người có thể sống.
Điều này cũng đúng với những người bệnh nặng và những người đang đi về cuối cuộc đời. Chúng ta sợ già, sợ bệnh, sợ phụ thuộc, sợ đau đớn. Nỗi sợ ấy rất thật. Không ai nên nói nhẹ về sự đau đớn của một người đang mắc bệnh nan y. Có những đêm dài kinh khủng. Có những cơn đau khiến con người kiệt sức. Có những gia đình chăm sóc người bệnh đến mức cạn tiền, cạn sức, cạn cả nước mắt. Chính nơi ấy, xã hội cần hiện diện mạnh mẽ hơn bằng chăm sóc y tế, chăm sóc giảm nhẹ, hỗ trợ tâm lý, tinh thần, tài chính, và trên hết là sự đồng hành. Câu trả lời nhân bản trước một người nói “tôi không muốn sống nữa” trước hết không phải là giúp họ chết, nhưng là hỏi: “Điều gì đang khiến ông, bà, anh, chị đau đến mức không còn muốn sống? Chúng tôi có thể ở lại với anh chị thế nào?”. Rất nhiều lần, phía sau mong muốn chết là một tiếng kêu: tôi sợ cô đơn; tôi sợ trở thành gánh nặng; tôi sợ đau; tôi sợ bị bỏ mặc. Người ta nói muốn chết, nhưng sâu hơn có thể là đang xin được yêu. Một nền văn hóa sự sống phải biết nghe tiếng kêu nằm phía sau lời tuyệt vọng ấy.
Trên Thánh Giá, Đức Giêsu cũng đã trải qua điều con người sợ nhất: đau đớn, cô độc, bị bỏ rơi, sự chết. Người kêu lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34). Câu ấy thật lạ. Con Thiên Chúa đã không bước qua đau khổ như một người miễn nhiễm với nó. Người đi vào tận vực sâu của kinh nghiệm con người. Vì vậy, một người đau khổ có thể nhìn Thánh Giá mà nói: “Ngài biết.” Không phải “Ngài biết” theo nghĩa Ngài nhìn tôi từ trời cao. Nhưng Ngài biết vì chính Ngài đã từng run rẩy trong Vườn Dầu, từng đổ mồ hôi máu, từng bị đánh, từng khát, từng kiệt sức, từng bị người thân bỏ chạy, từng trải qua bóng tối của cái chết. Chúa không luôn giải thích tại sao đau khổ xảy ra. Người làm một điều khác sâu xa hơn: Người bước vào đau khổ cùng chúng ta. Đó là điểm khác nhau căn bản giữa Thánh Giá và văn hóa sự chết. Văn hóa sự chết nói: nếu không xóa được đau khổ, hãy xóa người đau khổ. Thánh Giá nói: nếu chưa thể xóa đau khổ, tôi sẽ ở lại với người đau khổ, tôi sẽ mang nó cùng họ, tôi sẽ không để họ một mình.
Văn hóa sự chết cũng xuất hiện trong chiến tranh. Khi một con người bị biến thành “mục tiêu”, khi những người dân vô tội trở thành những con số thống kê, khi trẻ em chết được gọi là “thiệt hại phụ”, khi lòng thù hận làm người ta vui mừng trước xác chết của phía bên kia, nhân tính đã bị thương rất nặng. Người Kitô hữu không thể tôn kính Thánh Giá Chúa vào Thứ Sáu Tuần Thánh rồi bình thản trước những cây thập giá dựng lên bởi chiến tranh, bạo lực, khủng bố, tra tấn, buôn người, bóc lột và trả thù. Mỗi người bị giết oan đều nhắc chúng ta nhớ đến Đấng Vô Tội bị đóng đinh. Mỗi người mẹ mất con đều làm ta nhớ đến Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá. Mỗi đứa trẻ chạy khỏi bom đạn mang một phần khuôn mặt của Hài Nhi từng phải chạy trốn sang Ai Cập. Không có máu người vô tội nào là chuyện nhỏ trước mặt Thiên Chúa.
Nhưng còn một thứ văn hóa sự chết âm thầm khác: hủy diệt con người bằng nghèo đói và sự dửng dưng. Có những người chết không phải vì thiếu lương thực trên trái đất nhưng vì lương thực không đến được với họ. Có người chết vì bệnh có thể chữa nhưng không có tiền. Có trẻ em lớn lên trong điều kiện không có cơ hội học hành. Có người lao động kiệt quệ để người khác hưởng tiện nghi. Có người di dân bị xem như một con số. Có người vô gia cư nằm bên lề thành phố giàu có. Khi chúng ta sống thừa mứa nhưng hoàn toàn không bận tâm tới người thiếu thốn bên cạnh, chúng ta không trực tiếp giết họ, nhưng sự dửng dưng của chúng ta góp phần làm cho cái chết trở nên bình thường. Văn hóa sự sống không dừng lại ở nguyên tắc “đừng giết người”; nó tiến đến lời mời gọi của Đức Kitô: “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước” (x. Mt 25,35). Thiên Chúa không hỏi ta đã có bao nhiêu khẩu hiệu đẹp về sự sống. Ngài hỏi chúng ta đã làm gì khi sự sống của một người cụ thể đứng trước cửa nhà mình.
Một trong những căn nguyên sâu xa của văn hóa sự chết là việc con người đánh mất ý thức rằng sự sống là quà tặng. Khi sự sống được hiểu chỉ như tài sản cá nhân, chúng ta dễ tưởng mình là chủ nhân tuyệt đối. Nhưng nếu sự sống là quà tặng, thái độ của ta sẽ khác. Ta biết trân trọng. Ta biết cảm ơn. Ta biết gìn giữ. Ta biết mình không có quyền tùy tiện phá hủy điều mình không tạo ra. Đứa trẻ không tự xin sinh ra nhưng được trao ban. Cha mẹ cũng không “sản xuất” con người theo nghĩa tuyệt đối; họ đón nhận một sự sống đi qua tình yêu của mình nhưng sâu xa vẫn là mầu nhiệm vượt quá họ. Người bệnh không mất phẩm giá chỉ vì cơ thể suy yếu. Người già không hết quyền được kính trọng khi họ không còn đóng góp tài chính. Sự sống đến từ Thiên Chúa và trở về với Thiên Chúa. Khoảng thời gian ở giữa là một cuộc hành hương mà trong đó chúng ta được giao cho nhau.
Nhìn vào Thánh Giá, ta còn thấy một sự thật gây sửng sốt: Thiên Chúa cứu chúng ta bằng cách không loại bỏ những kẻ đã loại bỏ Ngài. Đức Giêsu có thể nguyền rủa những kẻ đóng đinh Người. Người có thể xin lửa trời xuống. Nhưng giữa lúc đinh đang ghim thân thể mình, Người lại thưa: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đây là cuộc chiến tận căn nhất chống lại văn hóa sự chết. Bởi văn hóa sự chết không chỉ giết thân xác. Nó còn giết các mối tương quan bằng hận thù. Hận thù luôn muốn người khác biến mất. Tha thứ lại nói: dù anh đã làm tổn thương tôi, tôi vẫn không phủ nhận nhân phẩm của anh. Tôi có thể đòi công lý. Tôi có thể yêu cầu anh chịu trách nhiệm. Tôi có thể tránh xa để không tiếp tục bị tổn thương. Nhưng tôi không biến anh thành một con quỷ không còn chút nhân tính. Chính cách Đức Giêsu đối xử với kẻ giết mình đã mở ra nền văn hóa của lòng thương xót.
Trong các gia đình, văn hóa sự chết thường không xuất hiện bằng những quyết định lớn mà bằng việc giết nhau từng chút một. Một người chồng giết niềm vui của vợ bằng lời khinh miệt. Một người vợ giết sự tự tin của chồng bằng việc so sánh. Cha mẹ giết ước mơ của con bằng việc áp đặt. Con cái giết trái tim cha mẹ già bằng thái độ vô ơn. Anh em giết tình ruột thịt vì vài mét đất. Người ta vẫn ăn chung mâm nhưng không còn nhìn nhau. Vẫn sống chung nhà nhưng lòng đã dựng tường. Vẫn gọi nhau là gia đình nhưng mỗi câu nói đều mang một mũi dao. Có những mái nhà không có án mạng nào nhưng sự sống tinh thần đang bị hủy diệt từng ngày. Thánh Giá phải được dựng lên chính ở giữa những mái nhà ấy, không phải như một vật trang trí trên tường nhưng như một lối sống: người này chịu chết đi một chút cho cái tôi của mình để người kia được sống; người này bớt một lời hơn thua để bình an được sống; người này chịu bước xuống trước để tình nghĩa được sống; người này tha thứ để cuộc hôn nhân được sống; cha mẹ hy sinh để con được sống; con cái kiên nhẫn để tuổi già của cha mẹ được sống trong phẩm giá. Chỗ nào có người dám chết đi cho ích kỷ của mình, chỗ đó văn hóa sự sống bắt đầu nảy mầm.
Chúng ta cũng phải cảnh giác với thứ văn hóa sự chết đang lan trên môi trường kỹ thuật số. Một cú nhấp chuột có thể không làm một thân xác đổ máu, nhưng có thể làm danh dự một người bị xé nát. Một tin giả có thể giết uy tín. Một đoạn phim bị cắt khỏi bối cảnh có thể giết sự thật. Một làn sóng phẫn nộ tập thể có thể khiến một con người mất việc, mất gia đình, mất bạn bè, thậm chí mất ý muốn sống. Chúng ta đang sống trong thời đại người ta có thể “đóng đinh” nhau bằng bàn phím. Đám đông ngày xưa la lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!” Đám đông hôm nay đôi khi chỉ cần hàng nghìn bình luận, hàng triệu lượt chia sẻ, một chiến dịch nhục mạ. Cơ chế tâm lý vẫn giống nhau: một người bị biến thành đối tượng để cả đám đông trút giận. Người Kitô hữu đứng dưới chân Thánh Giá phải học nói khác, viết khác, bình luận khác. Sự thật phải được nói, nhưng không có nghĩa ta được quyền làm nhục. Sai lầm phải được sửa, nhưng sửa lỗi khác với tiêu diệt người có lỗi. Công lý phải được tìm kiếm, nhưng công lý không đồng nghĩa với trả thù.
Đáng sợ hơn nữa là khi người Kitô hữu vô tình dùng chính đức tin để phục vụ văn hóa sự chết. Chúng ta có thể nói đúng giáo lý mà không có lòng thương xót. Có thể bảo vệ sự sống nhưng lại chà đạp người đang lầm lạc. Có thể chống một tội nhưng lại coi thường người phạm tội. Có thể nhân danh chân lý để làm đau người khác một cách không cần thiết. Đức Giêsu không bao giờ nhập nhằng giữa thiện và ác. Người gọi tội là tội. Nhưng Người không bao giờ đồng hóa con người với tội lỗi của họ. Với người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình, Người vừa nói: “Tôi không kết án chị”, vừa nói: “Từ nay đừng phạm tội nữa” (x. Ga 8,11). Hai điều ấy phải luôn đi cùng nhau: lòng thương xót và sự thật. Chỉ có sự thật mà không có lòng thương xót, ta có thể nghiền nát con người. Chỉ nói lòng thương xót mà không có sự thật, ta để họ ở lại trong điều làm họ tổn thương. Nơi Thánh Giá, sự thật về tội lỗi và lòng thương xót dành cho tội nhân gặp nhau.
Bảo vệ sự sống vì thế không được trở thành một khẩu hiệu dùng để kết án. Người phụ nữ đã từng phá thai cần được chữa lành chứ không cần bị đóng đinh thêm một lần nữa. Người từng có những quyết định sai lầm cần một con đường trở về. Người bác sĩ từng tham dự vào những điều trái với lương tâm vẫn có thể hoán cải. Người đã gây ra cái chết cho người khác mà thực lòng sám hối vẫn không nằm ngoài lòng thương xót của Thiên Chúa. Thánh Giá nói rằng tội rất nặng, nhưng ân sủng còn lớn hơn. Nếu bảo vệ sự sống mà không mở ra hy vọng cho người đã lầm lỗi, chúng ta chưa hiểu hết Tin Mừng. Đức Kitô chết không chỉ cho những người vô tội; Người chết cho cả chúng ta, những tội nhân.
Hình ảnh người trộm lành trên thập giá là minh họa tuyệt đẹp. Ông không còn cơ hội sửa lại quá khứ. Ông chẳng còn làm được việc lành nào lớn lao. Đời ông đã đi đến phút cuối. Theo tiêu chuẩn hiệu quả, cuộc đời ấy dường như đã thất bại hoàn toàn. Nhưng ông quay sang Đức Giêsu và thưa: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Đức Giêsu trả lời: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Chỉ một câu ấy đủ phá tan mọi thứ văn hóa tuyệt vọng. Khi con người nói “hết rồi”, Thiên Chúa vẫn nói “hôm nay”. Khi xã hội đóng dấu “vô dụng”, Đức Kitô vẫn mở cửa Thiên Đàng. Khi quá khứ của một người chỉ toàn đổ vỡ, lòng thương xót vẫn còn có thể viết câu cuối cùng. Vì thế, Kitô giáo không chấp nhận kết luận rằng một con người nào đó “không còn hy vọng”.
Một xã hội của văn hóa sự sống phải bắt đầu từ việc tái khám phá khả năng ngạc nhiên trước một con người. Ta đã quá quen với nhau nên không còn thấy nhau là phép lạ. Một đứa trẻ vừa chào đời là phép lạ. Người mẹ thức ba đêm chăm con sốt là phép lạ của tình yêu. Một người chồng chăm sóc vợ bị liệt hai mươi năm là một bài Tin Mừng không chữ. Một người con tắm rửa cho cha già mất trí đang thực hiện một phụng vụ của lòng hiếu thảo. Một bác sĩ chiến đấu để cứu bệnh nhân nghèo là chứng nhân của sự sống. Một người nhận nuôi đứa trẻ không cùng huyết thống đang nói rằng tình yêu lớn hơn sinh học. Một cộng đoàn mở cửa cho người cô độc đang chống lại văn hóa loại trừ. Một người ngồi bên giường người hấp hối, nắm tay họ cho đến hơi thở cuối, đang nói với họ một điều rất lớn mà không cần thành lời: “Ông không phải gánh nặng. Bà không phải đồ bỏ đi. Sự hiện diện của ông bà vẫn quý giá. Chúng tôi sẽ không bỏ ông bà một mình.”
Điều văn hóa sự chết sợ nhất có lẽ không phải là những cuộc tranh luận lý thuyết, mà là những cộng đoàn sống khác. Một gia đình dám đón nhận người yếu. Một giáo xứ biết chăm sóc người nghèo. Một bệnh viện đặt con người trên lợi nhuận. Một trường học dạy trẻ biết tôn trọng người khuyết tật. Một nhóm bạn không bỏ rơi người thất bại. Một xã hội biết dành nguồn lực cho những người không thể tự lên tiếng. Một Giáo Hội nơi người tội lỗi dám bước vào vì biết mình sẽ không bị ném đá. Những thực tại ấy là lời phản biện sống động với văn hóa sự chết. Chúng nói rằng con người không phải hàng hóa. Con người không phải chi phí. Con người không phải sản phẩm. Con người không phải một bộ gene tốt hay xấu. Con người không phải hồ sơ bệnh án. Con người không phải tài khoản ngân hàng. Con người không phải năng suất. Con người là một mầu nhiệm.
Văn hóa sự sống cũng đòi chúng ta học lại nghệ thuật chăm sóc. Thế giới hiện đại rất thích từ “giải pháp”. Nhưng có những hoàn cảnh không có giải pháp nhanh chóng. Một người mất con không cần chúng ta giải quyết nỗi đau của họ; họ cần một người ngồi bên. Một người mắc bệnh Alzheimer không thể được “sửa chữa” theo cách ta muốn; họ cần được chăm sóc. Một người hấp hối không cần nghe những lời sáo rỗng rằng mọi chuyện rồi sẽ ổn; họ cần một bàn tay. Một người mẹ đơn thân không cần bị giảng một bài dài về trách nhiệm trước khi được hỏi họ có đủ tiền mua sữa cho con không. Chăm sóc là thứ ngôn ngữ rất gần với Thánh Giá, bởi Đức Kitô không cứu chúng ta từ xa. Người đến gần. Người chạm vào người phong cùi. Người khóc trước mộ Lazarô. Người để người đàn bà tội lỗi lấy nước mắt rửa chân. Người dừng lại với Bartimê. Người hỏi người bất toại: “Anh có muốn khỏi bệnh không?”. Người hỏi đám đông đói: lấy gì cho họ ăn? Thiên Chúa của Tin Mừng là Thiên Chúa biết dừng lại trước sự mong manh.
Bởi vậy, khi nói đến văn hóa sự chết, chúng ta đừng vội chỉ tay ra ngoài. Mầm mống ấy nằm trong chính trái tim mỗi người. Mỗi lần tôi muốn một ai đó biến mất khỏi đời mình, mỗi lần tôi thấy người khác phiền phức vì họ làm gián đoạn kế hoạch của tôi, mỗi lần tôi đánh giá một người chỉ bằng lợi ích họ đem lại, mỗi lần tôi chọn sự tiện nghi của mình thay cho nhu cầu chính đáng của người yếu, mỗi lần tôi nhẫn tâm trước đau khổ của người khác, văn hóa sự chết đang tìm được một góc nhỏ trong tôi. Cuộc chiến lớn nhất không chỉ diễn ra trong quốc hội, bệnh viện hay tòa án. Nó diễn ra trong trái tim. Tôi sẽ chọn con người hay sự tiện lợi? Tôi sẽ chọn phục vụ hay ích kỷ? Tôi sẽ chọn tha thứ hay nuôi hận? Tôi sẽ chọn ở lại hay bỏ đi? Tôi sẽ chọn nâng người yếu lên hay bước qua họ?
Thánh Giá trả lời bằng một con người dang hai tay. Đôi tay ấy không khép lại để giữ lấy mình. Đôi tay ấy mở ra. Một cánh tay như ôm lấy những sự sống đang bắt đầu: những thai nhi bé nhỏ, những đứa trẻ không được mong đợi, những em bé khuyết tật. Cánh tay kia như ôm lấy những sự sống đang đi về cuối: người già, người bệnh, người hấp hối, những người không còn khả năng tự chăm sóc. Và giữa hai cánh tay ấy là trái tim bị đâm thâu. Đó là nơi mọi sự sống bị tổn thương có thể tìm được chỗ trú. Một Giáo Hội trung thành với Thánh Giá cũng phải dang tay như thế. Không chỉ giảng từ bục cao, nhưng bước xuống đường. Không chỉ viết tuyên bố, nhưng mở những mái ấm. Không chỉ lên án phá thai, nhưng giúp những người mẹ có thể giữ con. Không chỉ phản đối việc kết thúc sự sống, nhưng phát triển chăm sóc giảm nhẹ và ở bên người hấp hối. Không chỉ nói về người nghèo, nhưng chia cơm. Không chỉ cầu nguyện cho hòa bình, nhưng từ chối gieo hận thù. Không chỉ treo Thánh Giá trong nhà, nhưng để Thánh Giá làm thay đổi cách ta nhìn những người “khó sống” nhất bên cạnh mình.
Có người sẽ hỏi: vậy Kitô giáo có phải chỉ muốn con người chịu đựng? Không. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Kitô giáo tôn thờ một Thiên Chúa đã biến đau khổ thành tình yêu. Ta phải chống lại đau khổ khi có thể; chữa bệnh khi có thể; xóa nghèo khi có thể; chống chiến tranh khi có thể; bảo vệ người bị bạo hành khi có thể; làm cho luật pháp công bằng hơn khi có thể. Nhưng khi đã làm tất cả mà đau khổ vẫn còn, chúng ta không được kết luận rằng cuộc đời ấy vô nghĩa. Đây là điều Thánh Giá dạy chúng ta. Đức Giêsu không yêu đau đớn; Người yêu Chúa Cha và yêu nhân loại đến mức chấp nhận đi xuyên qua đau đớn. Chính tình yêu làm Thánh Giá thành thánh. Không có tình yêu, thập giá chỉ là dụng cụ tử hình. Có tình yêu, Thánh Giá trở thành cây sự sống.
Đó cũng là nghịch lý lớn nhất. Một dụng cụ giết người lại trở thành biểu tượng của sự sống. Nơi mà đế quốc Rôma dùng để thị uy bằng cái chết, Thiên Chúa lại dựng lên dấu chỉ hy vọng. Nơi con người nói “hãy chết đi”, Thiên Chúa làm phát sinh sự sống đời đời. Nơi người ta muốn chấm dứt câu chuyện của Đức Giêsu, Thiên Chúa mở một chương mới cho nhân loại. Thánh Giá vì thế không phải thất bại của sự sống nhưng là nơi sự sống đi xuyên qua cái chết và chiến thắng nó. Văn hóa sự chết nói rằng cái chết là lời cuối. Kitô giáo nói rằng sáng Phục Sinh mới là lời cuối. Điều này không làm cái chết bớt đau, nhưng làm cái chết không còn tuyệt đối. Nó không làm nước mắt biến mất ngay, nhưng bảo đảm rằng nước mắt không rơi vào hư vô.
Người Kitô hữu phải là người mang hy vọng ấy đến những nơi mà sự sống đang bị đe dọa. Ở phòng sinh, khi một người mẹ hoảng sợ. Ở phòng bệnh, khi bác sĩ nói không còn khả năng chữa khỏi. Ở viện dưỡng lão, nơi một cụ già cả ngày không ai đến thăm. Ở nhà tù, nơi một phạm nhân tưởng đời mình đã hết. Ở đường phố, nơi một người vô gia cư bị hàng trăm người đi qua mà không ai nhìn. Ở trường học, nơi một đứa trẻ bị bắt nạt vì khác biệt. Ở gia đình, nơi một người đang âm thầm tuyệt vọng. Ở mạng xã hội, nơi một ai đó đang bị cả đám đông ném đá. Chính ở đó Thánh Giá cần được dựng lên, không nhất thiết bằng gỗ, nhưng bằng sự hiện diện của một người dám yêu.
Chúng ta cần nhớ rằng sự sống không chỉ cần được bảo vệ lúc mới bắt đầu và lúc sắp kết thúc. Nó cần được bảo vệ suốt cả hành trình. Đứa trẻ được sinh ra phải được ăn, được học, được chữa bệnh, được yêu thương. Người mẹ phải được hỗ trợ. Người cha phải được giáo dục về trách nhiệm. Gia đình phải được nâng đỡ. Người lao động cần lương công bằng. Người khuyết tật cần cơ hội hòa nhập. Người bệnh tâm thần cần được chăm sóc thay vì kỳ thị. Người nghiện cần con đường phục hồi. Người tù cần cơ hội trở về. Người già cần được ở giữa gia đình và cộng đồng chứ không chỉ tồn tại ở một nơi nào đó cho khỏi vướng víu. Nếu chúng ta chỉ bảo vệ sự sống trong bụng mẹ mà thờ ơ với cuộc sống sau khi chào đời, chứng tá của chúng ta chưa trọn vẹn. Nếu chúng ta nói yêu người nghèo nhưng coi việc cố ý hủy diệt sự sống vô tội là chuyện nhỏ, chứng tá ấy cũng chưa trọn vẹn. Văn hóa sự sống là một tấm áo không thể xé thành từng mảnh tùy sở thích.
Thánh Giá cũng dạy ta rằng bảo vệ sự sống luôn có giá. Yêu một người thuận lợi thì dễ. Yêu một sự sống gây xáo trộn kế hoạch mới khó. Đón một em bé khi mọi điều kiện đều tốt thì dễ. Đón một em bé khi hoàn cảnh rối ren mới cần hy sinh. Chăm cha mẹ khi còn khỏe thì dễ. Chăm khi các ngài lẫn lộn, cáu gắt, không tự chủ được mới thật sự là thập giá. Ở bên người bệnh khi còn hy vọng hồi phục thì dễ. Ở bên người hấp hối nhiều tháng trời mới thử thách lòng trung thành. Bảo vệ sự sống không phải một cảm xúc đẹp. Nó là quyết định chấp nhận cho sự hiện diện của người khác làm thay đổi lịch trình, túi tiền, giấc ngủ, kế hoạch và đôi khi cả tương lai của mình. Chính vì thế văn hóa sự sống luôn mang hình Thánh Giá.
Mẹ Maria đứng dưới chân Thánh Giá là mẫu gương tuyệt vời của văn hóa sự sống. Mẹ không cứu được Con khỏi những chiếc đinh. Mẹ không thể khiến quân lính dừng tay. Mẹ không có quyền lực chính trị. Mẹ chẳng có phương tiện kỹ thuật. Mẹ chỉ làm một điều: Mẹ đứng đó. “Đứng gần thập giá Đức Giêsu có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Có những lúc yêu thương chỉ còn là đứng đó. Không bỏ chạy. Không để người đau khổ một mình. Đôi khi chúng ta không thể chữa bệnh cho ai, nhưng có thể ở lại. Không thể thay đổi quá khứ của ai, nhưng có thể bước cùng họ trong tương lai. Không thể giải đáp mọi câu hỏi, nhưng có thể để họ khóc trên vai mình. Thế giới hôm nay quá nhiều người muốn giải quyết người khác và quá ít người chịu ở lại với người khác. Mẹ Maria dạy ta nghệ thuật hiện diện.
Và rồi, từ trên Thánh Giá, Đức Giêsu nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà”, rồi nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh” (Ga 19,26-27). Ngay giữa cái chết, Đức Giêsu tạo ra một gia đình mới. Đây là điều kỳ diệu. Văn hóa sự chết chia rẽ, cô lập, loại trừ. Thánh Giá nối kết. Văn hóa sự chết nói: thân ai nấy lo. Thánh Giá nói: đây là mẹ anh, đây là con của bà. Văn hóa sự chết hỏi: người ấy có liên quan gì đến tôi? Thánh Giá trả lời: từ nay người ấy thuộc về anh. Kitô giáo là tôn giáo của những con người bị giao cho nhau. Không ai có quyền nói trước đau khổ của người khác rằng “không phải việc của tôi”.
Có lẽ câu hỏi mà mỗi cộng đoàn Kitô hữu cần tự đặt ra là: nếu một người đang gặp khủng hoảng vì mang thai ngoài ý muốn bước vào giáo xứ của chúng ta, họ sẽ tìm thấy điều gì? Một ánh mắt kết án hay một vòng tay? Nếu một bệnh nhân AIDS bước vào, họ có được ngồi bên cạnh chúng ta không? Nếu một người từng ở tù trở về, có ai dám trao cho họ cơ hội làm lại? Nếu một bà mẹ đơn thân không đủ tiền nuôi con, cộng đoàn có biết không? Nếu một cụ già trong xóm sống cô độc, có ai gõ cửa? Nếu một bạn trẻ đang tuyệt vọng, có người nào đủ kiên nhẫn nghe hết câu chuyện mà không vội dạy đời? Những câu hỏi ấy rất thực. Bởi văn hóa sự sống không được đo bằng những lời ta nói khi tranh luận, mà bằng số phận của những người yếu nhất khi họ gặp chúng ta.
Nếu một ngày nào đó người ta hỏi đâu là dấu hiệu để nhận ra người môn đệ của Đấng chịu đóng đinh, có lẽ một trong những câu trả lời đẹp nhất sẽ là: đó là người không bỏ ai lại phía sau. Người Kitô hữu không được phép vứt bỏ một con người. Có thể phải nói không với hành vi sai. Có thể phải dùng luật pháp để ngăn chặn tội ác. Có thể phải bảo vệ nạn nhân khỏi kẻ gây hại. Nhưng ngay cả kẻ phạm tội vẫn là một con người. Chính Đức Giêsu chết giữa hai tội phạm. Người không đồng tình với tội ác của họ, nhưng cũng không phủ nhận phẩm giá của họ. Và một trong hai người đã bước vào Thiên Đàng ngay chiều hôm ấy.
Thánh Giá cuối cùng đặt chúng ta trước lựa chọn rất rõ: hoặc sự sống là thánh thiêng vì đến từ Thiên Chúa, hoặc nó chỉ có giá trị khi đáp ứng tiêu chuẩn mà chúng ta đặt ra. Nếu chọn con đường thứ hai, sớm hay muộn chính chúng ta cũng sẽ sợ hãi, bởi ai bảo đảm rằng một ngày kia ta vẫn đáp ứng được tiêu chuẩn ấy? Hôm nay ta khỏe, mai ta có thể bệnh. Hôm nay ta minh mẫn, mai có thể mất trí. Hôm nay ta có tiền, mai có thể trắng tay. Hôm nay ta độc lập, mai có thể phải nhờ người khác đút từng muỗng cháo. Nếu phẩm giá dựa vào những gì ta có và làm được, tất cả chúng ta đều sống trên nền đất rung chuyển. Nhưng nếu phẩm giá nằm ở việc ta được Thiên Chúa yêu, thì ngay cả khi mọi khả năng khác biến mất, phẩm giá vẫn còn nguyên.
Có một ngày chúng ta cũng sẽ trở nên yếu. Đó không phải lời bi quan, mà là sự thật của kiếp người. Có thể sẽ đến lúc ta không tự mặc áo được. Có thể sẽ đến lúc phải có người đỡ ta bước đi. Có thể ta sẽ hỏi đi hỏi lại một câu vì trí nhớ không còn. Có thể thân thể từng rất mạnh sẽ nằm im trên giường. Khi ngày ấy đến, điều ta mong nhất không phải người thân cân đo xem sự sống của ta còn chất lượng đến đâu. Ta mong họ nắm tay mình và nói: “Cha vẫn là cha của con. Mẹ vẫn là mẹ của con. Dù cha mẹ không còn làm được gì, cha mẹ vẫn quý giá.” Điều ta mong cho mình lúc yếu nhất cũng chính là điều ta phải bảo vệ cho mọi con người hôm nay.
Vì thế, trước văn hóa sự chết, người môn đệ Đức Kitô không thể chỉ nổi giận. Ta phải xây dựng một điều đẹp hơn. Phải xây nền văn hóa sự sống bằng từng bữa cơm, từng mái ấm, từng bàn tay, từng sự tha thứ, từng chính sách nhân bản, từng quyết định y khoa có lương tâm, từng lời nói bảo vệ phẩm giá, từng phút dành cho người già, từng đồng bạc chia cho người nghèo, từng lần đứng bên một người đang khóc. Cái chết có tổ chức rất mạnh, nhưng tình yêu cũng có sức mạnh của nó. Một ngọn nến không cần tranh luận với bóng tối; nó chỉ cần cháy. Một gia đình sống yêu thương là một ngọn nến. Một người mẹ can đảm đón nhận con là một ngọn nến. Một bác sĩ tôn trọng sự sống là một ngọn nến. Một linh mục ngồi hàng giờ nghe người đau khổ là một ngọn nến. Một giáo dân chăm cha mẹ già là một ngọn nến. Một người trẻ từ chối hùa theo việc làm nhục ai đó trên mạng là một ngọn nến. Nhiều ngọn nến sẽ thành ánh sáng.
Sau cùng, văn hóa sự chết sẽ không bị đánh bại chỉ bằng luật lệ, cho dù luật pháp công bằng là rất cần thiết. Nó chỉ thực sự bị đánh bại khi trái tim con người thay đổi, khi chúng ta nhìn thấy nơi người khác một người anh em, một người chị em, một người con của Thiên Chúa. Chính Thánh Giá làm được cuộc hoán cải ấy. Nhìn thật lâu vào Đấng bị đóng đinh, ta sẽ không còn dễ dàng coi thường một thân xác bị thương tích. Nhìn đôi tay bị đâm thâu ấy, ta sẽ khó có thể lạnh lùng trước một bàn tay yếu ớt đang cầu cứu. Nhìn khuôn mặt đầy máu ấy, ta sẽ khó lòng khinh bỉ khuôn mặt méo mó vì bệnh tật. Nhìn Chúa bị bỏ rơi, ta sẽ không đành bỏ một người cô độc. Nhìn Chúa tha thứ, ta sẽ bớt muốn tiêu diệt kẻ mình ghét. Nhìn Chúa trao mạng sống, ta sẽ hiểu rằng ý nghĩa đời người không phải là giữ cho mình thật nhiều nhưng là trao mình thật nhiều.
Thánh Giá nói với thế giới hôm nay rằng không có sự sống nào là thừa. Không có con người nào là phế phẩm. Không có tuổi già nào là vô nghĩa. Không có bệnh nhân nào chỉ là một gánh nặng. Không có đứa trẻ nào chỉ là một sự cố. Không có người tội lỗi nào hoàn toàn mất hy vọng. Không có người nghèo nào đáng bị bỏ mặc. Không có người hấp hối nào đáng phải chết trong cô độc. Không có con người nào mà Thiên Chúa nhìn vào rồi nói: “Ngươi không đáng tồn tại.” Bởi nếu có một người như thế, Đức Kitô đã không chết cho tất cả.
Một ngày kia, khi đứng trước Thiên Chúa, có lẽ chúng ta sẽ không được hỏi đã thắng bao nhiêu cuộc tranh luận về sự sống. Có lẽ Ngài sẽ hỏi đơn giản hơn: khi Ta bé nhỏ, con có đón nhận Ta không? Khi Ta bệnh tật, con có đến thăm không? Khi Ta già yếu, con có kiên nhẫn không? Khi Ta nghèo, con có chia sẻ không? Khi Ta phạm lỗi và muốn trở về, con có mở cửa không? Khi Ta bị cả đám đông kết án, con có còn nhìn Ta như một con người không? Khi Ta hấp hối, con có ở lại bên Ta không? Và chúng ta sẽ ngạc nhiên hỏi: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con thấy Chúa như thế đâu?” Người sẽ trả lời: “Mỗi lần các con làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các con đã làm cho chính Ta” (x. Mt 25,40).
Đứng dưới chân Thánh Giá, xin cho chúng ta biết xấu hổ về mọi lần mình đã coi thường sự sống. Xin cho chúng ta biết khóc vì những sinh mạng đã bị hủy diệt, vì những người đã chết trong cô độc, vì những người đã mất hy vọng bởi sự dửng dưng của chúng ta. Nhưng xin đừng để nước mắt ấy biến thành tuyệt vọng. Từ cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Kitô vẫn chảy ra máu và nước. Nguồn thương xót chưa cạn. Một nền văn hóa mới vẫn có thể bắt đầu. Nó có thể bắt đầu từ gia đình tôi, cộng đoàn tôi, giáo xứ tôi, bệnh viện tôi, trường học tôi, nơi làm việc tôi, trang mạng xã hội của tôi. Nó bắt đầu khi tôi quyết định rằng từ hôm nay, trước bất cứ con người nào, dù nhỏ bé, bệnh tật, già nua, tội lỗi, nghèo khổ hay bất tiện đến đâu, tôi cũng sẽ cố gắng nhìn họ bằng ánh mắt của Đấng chịu đóng đinh.
Văn hóa sự chết nói: loại nó đi, vì nó làm phiền chúng ta. Thánh Giá nói: hãy đem nó đến đây, Ta sẽ mang cùng con.
Văn hóa sự chết nói: người ấy chẳng còn ích gì. Thánh Giá nói: người ấy đáng giá bằng chính Máu của Ta.
Văn hóa sự chết nói: hết hy vọng rồi. Thánh Giá nói: hôm nay anh sẽ ở với Ta trên Thiên Đàng.
Văn hóa sự chết nói: hãy cứu lấy mình. Thánh Giá nói: hãy hiến mạng sống mình vì người mình yêu.
Và rồi, sau chiều Thứ Sáu tối tăm ấy, bình minh Chúa Nhật đã đến. Tảng đá được lăn ra. Ngôi mộ trống. Đấng bị nền văn hóa sự chết kết án đã sống lại. Đây chính là niềm hy vọng cuối cùng của chúng ta: sự chết không thắng. Bạo lực không thắng. Hận thù không thắng. Sự loại trừ không thắng. Ngôi mộ không thắng. Tình yêu mới có tiếng nói cuối cùng.
Thế nên, giữa một thế giới có lúc lạnh lùng với sự sống, người Kitô hữu đừng tuyệt vọng. Hãy đứng dưới Thánh Giá. Hãy học lại giá trị của một con người. Hãy cúi xuống người yếu. Hãy ôm lấy người bị bỏ rơi. Hãy bảo vệ người không thể tự bảo vệ mình. Hãy chăm sóc người đang đau. Hãy tha thứ cho người muốn trở về. Hãy giúp người tuyệt vọng tìm lại lý do để sống. Hãy để không một ai phải cảm thấy rằng cuộc đời của họ là một sai lầm.
Bởi Đấng đang treo trên Thánh Giá đã dùng chính cái chết của Người để nói với từng con người một câu mà không một nền văn hóa sự chết nào có quyền xóa đi:
“Con quý giá đến nỗi Ta đã hiến mạng sống vì con.”
Và chỉ khi nhân loại nghe lại được câu ấy, chúng ta mới thật sự bắt đầu xây dựng một nền văn minh xứng đáng với tên gọi con người: nền văn minh của sự sống, của lòng thương xót và của tình yêu.
Lm. Anmai, CSsR

LÀM SAO NÓI VỀ THÁNH GIÁ VỚI NGƯỜI KHÔNG TIN, NGƯỜI TRẺ THẾ HỆ Z?
Có lẽ chưa bao giờ chuyện nói về Thánh Giá lại vừa cần thiết vừa khó khăn như hôm nay. Với những người đã sống lâu năm trong đời sống Kitô hữu, hai chữ “Thánh Giá” nghe thật quen. Bước vào nhà thờ thấy Thánh Giá. Bước vào một gia đình Công giáo thấy Thánh Giá. Trên cổ người tín hữu có Thánh Giá. Trước khi ăn, trước khi ngủ, khi bắt đầu một chuyến đi, khi gặp nguy nan, người Công giáo làm dấu Thánh Giá. Thế nhưng cái gì quá quen đôi khi lại trở thành cái gì người ta ít còn dừng lại để hỏi: Thánh Giá thực sự nói gì với con người? Và càng khó hơn nữa khi người đứng trước chúng ta không phải là một người đã quen với giáo lý, nhưng là một người chưa tin Chúa, một người không thuộc Kitô giáo, một người trẻ đang lớn lên giữa TikTok, Instagram, YouTube, trí tuệ nhân tạo, những video vài chục giây, những thông tin thay đổi từng giờ, những trào lưu hôm nay được tung hô và ngày mai đã chìm mất. Làm sao nói với họ về một Người đã chết trên thập giá cách đây gần hai ngàn năm mà không biến đức tin thành một bài giảng khô khan? Làm sao nói về hy sinh với một thế hệ được mời gọi phải “yêu bản thân”? Làm sao nói về từ bỏ mình giữa một nền văn hóa luôn thúc người ta phải thể hiện mình? Làm sao nói về đau khổ khi người trẻ chỉ mong được chữa lành? Làm sao nói về vác thập giá khi người ta đã quá mệt vì áp lực học hành, công việc, gia đình, tương lai, tiền bạc và những cuộc so sánh không bao giờ kết thúc trên mạng xã hội? Nếu ta chỉ nói: “Phải vác thập giá”, có khi người trẻ nghe xong lại tưởng Kitô giáo là một tôn giáo yêu thích đau khổ. Nếu ta chỉ nói: “Phải hy sinh”, có khi một người đang kiệt sức lại nghe thành: “Cứ chịu đựng đi.” Nếu ta chỉ nói về luật phải giữ mà không cho họ gặp được Đấng chịu đóng đinh vì yêu, ta có thể vô tình dựng thêm một bức tường giữa họ và Tin Mừng. Bởi vậy, trước khi hỏi phải nói gì về Thánh Giá với người không tin và người trẻ hôm nay, có lẽ chúng ta phải hỏi một câu sâu hơn: chúng ta đã sống Thánh Giá thế nào để lời mình còn đáng tin?
Người trẻ hôm nay không hẳn ghét Thánh Giá. Nhiều khi họ chỉ ghét những lời nói về Thánh Giá nhưng không thấy tình yêu của Thánh Giá nơi người nói. Họ không hẳn chống lại đức tin. Họ chống lại sự giả hình. Họ không hẳn từ chối Thiên Chúa. Nhiều người chỉ đang từ chối hình ảnh méo mó về Thiên Chúa mà họ đã từng gặp. Nếu một người Công giáo nói rất nhiều về yêu thương nhưng trong gia đình lại cay nghiệt; nói rất nhiều về tha thứ nhưng trên mạng xã hội lại sẵn sàng kết án; nói rất nhiều về Thánh Giá nhưng gặp một chút thiệt thòi đã nổi giận; nói về lòng thương xót nhưng lại khinh miệt người khác; nói về Đức Kitô nhưng cách cư xử lại không có chút gì giống Đức Kitô, thì người trẻ sẽ hỏi rất đúng rằng: “Nếu đạo của ông hay như thế, tại sao nó không làm ông trở nên hiền hơn?” Có khi câu hỏi ấy đau, nhưng đáng nghe. Bởi con đường ngắn nhất dẫn một người đến với Thánh Giá không phải luôn là một bài giáo lý xuất sắc. Có khi đó là gặp được một người đã từng bị tổn thương nhưng không trở nên cay độc; từng bị phản bội nhưng không sống bằng hận thù; từng mất mát nhưng vẫn còn lòng thương người; có quyền trả đũa nhưng chọn tha thứ; có thể sống cho mình nhưng lại chọn cúi xuống phục vụ. Người ấy chưa cần đeo cây Thánh Giá thật lớn. Chính đời sống của họ đã bắt đầu mang hình Thánh Giá rồi.
Muốn nói về Thánh Giá với người không tin, trước hết đừng bắt đầu từ một biểu tượng tôn giáo. Hãy bắt đầu từ một kinh nghiệm rất người: tình yêu luôn có giá của nó. Một người mẹ thức trắng đêm bên đứa con sốt cao đang mang một thập giá. Một người cha làm việc vất vả để con được học hành đang mang một thập giá. Một người vợ chăm sóc chồng bệnh nhiều năm đang mang một thập giá. Một người con từ chối cơ hội riêng để ở lại phụng dưỡng cha mẹ già cũng đang bước vào mầu nhiệm ấy. Một người trẻ thấy bạn mình tuyệt vọng mà kiên nhẫn ngồi bên cạnh hàng giờ, không bỏ đi, cũng đang chạm vào điều mà người Kitô hữu gọi là tình yêu tự hiến. Thánh Giá trước tiên không phải là cái đau. Thánh Giá là tình yêu dám ở lại khi ở lại phải trả giá. Nếu chỉ có đau mà không có yêu thì chưa phải là ý nghĩa Kitô giáo của Thánh Giá. Một tai nạn không tự nó là Thánh Giá. Một căn bệnh không tự nó là Thánh Giá. Một bất công không được phép gọi một cách dễ dãi là “Thánh Giá Chúa gửi đến”. Có những đau khổ phải chữa lành. Có những bạo lực phải chấm dứt. Có những bất công phải chống lại. Có những hoàn cảnh người ta phải can đảm bước ra chứ không phải cam chịu. Đức Giêsu không đến để thần thánh hóa đau khổ. Người đến để đi vào nơi đau khổ nhất của con người và nói rằng: ngay cả ở đây, tình yêu vẫn có thể chiến thắng.
Đó chính là điều tuyệt đẹp nhưng cũng dễ bị hiểu sai nhất nơi Kitô giáo. Kitô hữu không thờ một cây gỗ. Kitô hữu thờ Đấng đã yêu con người đến mức chấp nhận bị treo trên cây gỗ ấy. Cây thập giá từng là dụng cụ hành hình đáng sợ của đế quốc Rôma. Người ta dùng nó để làm nhục và tiêu diệt kẻ bị kết án. Thế mà từ ngày Đức Giêsu chịu đóng đinh, cái dụng cụ giết người ấy lại trở thành dấu chỉ của một tình yêu không chịu đầu hàng sự dữ. Người đời nói: “Nếu anh đánh tôi, tôi đánh lại.” Thánh Giá nói: “Anh có thể làm tôi đau, nhưng anh không bắt tôi phải trở thành người giống anh.” Người đời nói: “Kẻ thù phải bị tiêu diệt.” Đức Giêsu trên Thánh Giá lại cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đó không phải là yếu đuối. Tha thứ khi mình có thể trả thù là sức mạnh rất lớn. Không để cái ác của người khác biến mình thành một con người ác hơn mới là chiến thắng khó nhất. Bởi vậy, nếu một người trẻ hỏi: “Thánh Giá có gì đẹp? Tôi chỉ thấy một người bị tra tấn”, ta không cần vội phản bác. Hãy nói với họ: “Bạn nhìn đúng một phần. Đó thực sự là một cảnh khủng khiếp. Nhưng hãy nhìn thêm một chút nữa: giữa cảnh khủng khiếp ấy có một Người vẫn yêu. Người bị làm nhục nhưng không làm nhục ai. Người bị nguyền rủa nhưng không nguyền rủa. Người bị giết nhưng vẫn xin tha cho kẻ giết mình. Chính ở đó, người Kitô hữu thấy một điều lớn hơn cái chết.”
Có một đoạn Tin Mừng diễn tả điều này rất đẹp. Khi Đức Giêsu báo trước cuộc thương khó, Phêrô không chấp nhận. Ông kéo Người ra và trách Người. Ông không muốn một Đấng Mêsia thất bại. Ông muốn chiến thắng, quyền lực, vinh quang. Nhưng Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (x. Mt 16,24-25). Câu Tin Mừng này thường bị nghe như một mệnh lệnh rất nặng: phải từ bỏ, phải vác, phải mất. Nhưng nếu đọc trong ánh sáng toàn bộ cuộc đời Đức Giêsu, chúng ta sẽ thấy Người không bảo môn đệ làm điều Người đứng ngoài. Người đi trước. Người không đứng bên đường chỉ vào Golgotha và nói: “Các con đi đi.” Người bước lên trước, rồi nói: “Theo Thầy.” Chữ quan trọng nhất không chỉ là “vác”, cũng không chỉ là “từ bỏ”. Chữ quan trọng nhất là “theo Thầy”. Kitô giáo không phải một cuộc thi xem ai chịu khổ giỏi hơn. Kitô giáo là một tương quan. Người tín hữu vác thập giá không phải vì mê đau khổ, nhưng vì muốn đi cùng Đức Kitô trong tình yêu. Và điều người Kitô hữu “từ bỏ” trước hết không phải là từ bỏ giá trị của bản thân. Hoàn toàn ngược lại. Đức Giêsu nhìn mỗi người như một người có giá trị đến mức Người sẵn sàng trao mạng sống cho họ. Điều phải từ bỏ chính là cái tôi ích kỷ, cái tôi luôn muốn mình đúng, mình hơn, mình thắng, mình được phục vụ, mình là trung tâm của mọi chuyện.
Điều này lại đặc biệt gần với người trẻ hơn chúng ta tưởng. Một người trẻ có thể không hiểu thuật ngữ “từ bỏ mình”, nhưng họ hiểu thế nào là một tình bạn thật. Bạn thật không chỉ xuất hiện lúc vui. Bạn thật là người còn ở đó vào lúc mình chẳng có gì thú vị để đem lại. Một người trẻ có thể chưa hiểu “tự hiến”, nhưng họ hiểu cảm giác khi có ai đó thực sự lắng nghe mình mà không vừa nghe vừa nhìn điện thoại. Họ hiểu điều kỳ diệu của một người biết giữ bí mật của họ, không đem câu chuyện riêng của họ lên mạng để mua vài lượt thích. Họ hiểu thế nào là một người dám đứng bên bạn mình khi cả đám đông đang quay lưng. Đó đã là thứ ngôn ngữ rất gần với Thánh Giá. Bởi cốt lõi của Thánh Giá chính là: “Tôi không bỏ bạn.” Đức Giêsu trên Thánh Giá đang nói với nhân loại: “Ngay cả khi các con bỏ Ta, Ta vẫn không bỏ các con. Ngay cả khi các con đóng đinh Ta, Ta vẫn yêu các con. Ngay cả khi các con chạy xa Thiên Chúa, Thiên Chúa vẫn đi tìm các con.”
Với thế hệ Z, có lẽ một trong những điều cần tránh nhất là nói chuyện như thể chúng ta đang sở hữu tất cả câu trả lời còn họ chỉ có việc ngồi nghe. Người trẻ hôm nay đã tiếp xúc với quá nhiều thông tin. Chỉ vài phút họ có thể tìm ra hàng trăm video về Kitô giáo, vô thần, khoa học, triết học, tâm lý học, lịch sử Giáo Hội. Nếu ta nghĩ chỉ cần đưa ra một vài câu khẩu hiệu là có thể thuyết phục họ, ta sẽ thất vọng. Nhưng đây lại là một cơ hội rất đẹp: người trẻ muốn được tôn trọng đủ để họ được hỏi. Hãy cho họ hỏi. “Tại sao Thiên Chúa tốt lành lại để đau khổ xảy ra?” Hãy để họ hỏi. “Nếu Thiên Chúa toàn năng, tại sao Đức Giêsu phải chết?” Hãy để họ hỏi. “Tại sao Giáo Hội nói về tình yêu nhưng lịch sử Giáo Hội cũng có những điều đáng buồn?” Hãy để họ hỏi. “Nếu Chúa yêu tôi, tại sao cuộc đời tôi lại như vậy?” Hãy để họ hỏi. Người có đức tin không cần sợ câu hỏi. Một đức tin chỉ tồn tại được khi không ai được phép hỏi là một đức tin rất mong manh. Chính Đức Giêsu đã chịu đựng những câu hỏi của Nicôđêmô, của người phụ nữ Samari, của Tôma, của các môn đệ, của những người chống đối Người. Người không chỉ trả lời bằng lý luận. Người trả lời bằng chính cuộc đời mình.
Đặc biệt, đừng vội dùng Thánh Giá để giải thích mọi đau khổ của một người trẻ. Có một em vừa trải qua mất mát, đừng lập tức nói: “Đó là thập giá Chúa gửi.” Có một người trẻ đang suy sụp vì thất bại, đừng vội nói: “Cố vác thập giá đi.” Có một người đang bị bạo hành, đừng bao giờ dùng Thánh Giá để khuyên họ tiếp tục chịu bạo hành. Có một người mang một vết thương sâu, đôi khi việc đầu tiên họ cần không phải là một câu thần học nhưng là một người ngồi xuống bên cạnh. Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá không giảng cho Con một bài về giá trị cứu độ của đau khổ. Mẹ đứng đó. Có những lúc mục vụ lớn nhất là biết đứng đó. Không giải thích. Không phán xét. Không làm cho nỗi đau của người khác nhỏ đi. Không nói: “Có người còn khổ hơn con.” Khổ đau không phải một cuộc thi. Một trái tim đang đau cần được nhìn nhận nỗi đau của nó trước khi nó có thể nghe được một lời về ý nghĩa.
Có lẽ chúng ta phải học lại từ chính Đức Giêsu cách Người đồng hành với hai môn đệ trên đường Emmau. Họ thất vọng. Họ bỏ Giêrusalem. Giấc mơ của họ tan vỡ sau cái chết của Thầy. Đức Giêsu Phục Sinh đến gần nhưng không trách ngay: “Sao hai anh yếu tin thế!” Người hỏi: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” (Lc 24,17). Một câu hỏi tuyệt đẹp. Chúa biết mọi chuyện, nhưng Chúa vẫn hỏi. Chúa để họ kể. Chúa để họ buồn. Chúa để họ nói cả sự thất vọng của mình về Chúa: “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Israel.” Có lẽ đây là phương pháp truyền giáo cần nhất với thế hệ hôm nay: đi bên cạnh trước khi giảng giải; hỏi trước khi trả lời; lắng nghe trước khi sửa; yêu trước khi thuyết phục.
Nếu muốn một người trẻ hiểu Thánh Giá, hãy giúp họ phân biệt Thánh Giá với sự hành hạ bản thân. Đức tin Kitô giáo không dạy ghét bản thân. Chúa Giêsu nói: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.” Muốn yêu người khác lành mạnh, con người cũng phải biết mình được yêu. Từ bỏ mình không có nghĩa là coi mình vô giá trị. Khi một người mẹ thức chăm con, bà không coi mình vô giá trị. Bà hy sinh vì đứa con quá có giá trị đối với bà. Khi một người hiến tặng máu cứu người, người ấy không ghét thân thể mình. Họ cho đi một phần vì mạng sống của người khác đáng quý. Thánh Giá cũng vậy. Đức Giêsu không chết vì mạng sống Người vô giá trị. Người tự hiến vì con người có giá trị vô cùng trong mắt Người. Một trong những cách đẹp nhất để giải thích Thánh Giá với người trẻ là nói: “Hãy nhìn Thánh Giá để biết bạn đáng giá bao nhiêu đối với Thiên Chúa.” Không phải vì chúng ta hoàn hảo. Không phải vì chúng ta xứng đáng bằng thành tích. Không phải vì bảng điểm, ngoại hình, tài khoản ngân hàng, số lượt theo dõi hay vị trí xã hội. Người Kitô hữu tin mình có giá bởi được Thiên Chúa yêu. Trước khi ta làm được điều gì, Người đã yêu. Khi ta còn thất bại, Người vẫn yêu. Khi ta xấu hổ về chính mình, Người vẫn đi tìm.
Đây có thể là một Tin Mừng rất mạnh cho thế hệ đang sống giữa vô vàn cuộc so sánh. Mạng xã hội có nhiều điều tốt, nhưng cũng dễ khiến người ta có cảm giác đời người khác luôn đẹp hơn đời mình. Người kia đẹp hơn. Người kia giàu hơn. Người kia đi du lịch nhiều hơn. Người kia thành công sớm hơn. Người kia có người yêu. Người kia mua nhà. Người kia có hàng triệu lượt xem. Và một người trẻ có thể ngồi trong căn phòng của mình, cầm chiếc điện thoại, nhìn cả thế giới đang “thành công” rồi âm thầm nghĩ: “Còn mình là ai?” Thánh Giá bước vào đúng câu hỏi ấy. Trên Golgotha, Đức Giêsu không có gì để khoe theo tiêu chuẩn thế gian. Không tiền. Không quyền. Không hình ảnh đẹp. Không đám đông tung hô. Áo bị lột. Thân thể đầy thương tích. Bị người ta chế giễu. Nếu giá trị con người nằm ở hình ảnh thành công, thì người trên Thánh Giá là một kẻ thất bại hoàn toàn. Thế nhưng chính tại đó Kitô giáo tuyên xưng vinh quang của Thiên Chúa. Điều ấy đảo ngược tất cả thang giá trị của chúng ta. Nó nói rằng con người không mất phẩm giá khi thất bại. Người bệnh không kém giá trị vì không còn sản xuất được gì. Người già không vô ích. Người nghèo không thấp hơn người giàu. Người bị xã hội quên không bị Thiên Chúa quên. Một cuộc đời không cần phải nổi tiếng mới đáng sống. Bạn không cần cả thế giới biết tên bạn để cuộc đời bạn có ý nghĩa.
Nói về Thánh Giá với người trẻ vì thế không thể chỉ nói về chuyện “chịu đựng”. Phải nói về tự do. Thánh Giá là đỉnh cao của tự do yêu thương. Đức Giêsu nói: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (Ga 10,18). Người không bị tình yêu ép buộc. Người chọn yêu. Đây là thứ tự do rất khác với quan niệm “tôi thích gì làm nấy”. Nếu tự do chỉ là làm điều mình thích, một người nghiện cũng có thể gọi mình là tự do miễn là được thỏa mãn. Nhưng tự do trưởng thành là khả năng chọn điều tốt ngay cả khi điều tốt ấy khó. Một sinh viên muốn chơi nhưng vẫn ngồi học vì có trách nhiệm đang thực hành tự do. Một người nóng giận muốn nói một câu thật độc nhưng dừng lại vì không muốn làm người khác tổn thương đang thực hành tự do. Một người có cơ hội gian lận nhưng từ chối đang tự do hơn người bị lòng tham điều khiển. Một người yêu ai đó nhưng tôn trọng tự do của người ấy thay vì kiểm soát họ đang tự do hơn người chiếm hữu. Thánh Giá là nơi Đức Giêsu tự do đến mức không để sợ hãi, bạo lực, nhục nhã hay cái chết quyết định Người sẽ trở thành ai. Người vẫn chọn yêu.
Người không tin cũng có thể hiểu ngôn ngữ này. Hãy hỏi họ: “Bạn có tin rằng một tình yêu chỉ đáng tin khi nó còn tồn tại lúc phải trả giá không?” Hầu như ai cũng hiểu điều đó. Người yêu ta lúc ta đẹp, khỏe, thành công thì dễ. Người còn yêu khi ta thất bại mới cho ta thấy chiều sâu của tình yêu. Bạn bè đến dự tiệc sinh nhật thì nhiều; người đến bệnh viện lúc ba giờ sáng mới cho ta biết ai thật sự thương mình. Khi mọi chuyện thuận lợi, nói “tôi yêu bạn” rất dễ. Khi phải hy sinh thời gian, quyền lợi, tự ái và sự thoải mái, tình yêu mới có trọng lượng. Thánh Giá chính là Thiên Chúa nói câu “Ta yêu con” bằng một ngôn ngữ mà không ai có thể bảo là rẻ tiền.
Và cũng cần nói thật với người trẻ rằng theo Đức Giêsu không bảo đảm một cuộc đời không đau. Kitô giáo không bán một loại bảo hiểm chống đau khổ. Đức Giêsu không nói: “Theo Ta, con sẽ không bao giờ khóc.” Người nói: “Hãy theo Ta.” Khác biệt không phải người tin Chúa không còn thập giá. Khác biệt là họ tin rằng mình không vác một mình. Trong một bệnh viện, người Kitô hữu cũng run. Trước cái chết, họ cũng đau. Khi mất một người thân, họ cũng khóc. Đức Giêsu trước mộ Lazarô đã khóc. Trong vườn Giệtsimani, Người đã “buồn đến chết được”. Trên Thánh Giá, Người còn kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” (Mt 27,46). Tin Chúa không biến con người thành đá. Đức tin không làm ta hết cảm xúc. Đức tin cho phép ta đem cả nỗi đau vào trong tương quan với Thiên Chúa.
Có khi người trẻ cần được nghe điều này hơn mọi bài diễn thuyết: Bạn có thể nói thật với Chúa. Bạn giận, cứ nói. Bạn thất vọng, cứ nói. Bạn không hiểu, cứ hỏi. Bạn nghi ngờ, đừng giả bộ tin. Một lời cầu nguyện chân thật trong bóng tối đôi khi có giá trị hơn một trăm câu đạo đức mà lòng mình không có mặt. Chính Chúa Giêsu đã cầu nguyện giữa bóng tối. Chính các Thánh Vịnh đầy những tiếng kêu: “Tại sao?”, “Bao lâu nữa?”, “Ngài ở đâu?” Đức tin trưởng thành không phải là không bao giờ đặt câu hỏi. Đức tin trưởng thành là vẫn còn nói với Thiên Chúa ngay cả khi chưa hiểu Người.
Với người trẻ thế hệ Z, chúng ta cũng cần tránh biến Thánh Giá thành một thứ content. Một tấm hình Thánh Giá đẹp có thể nhận hàng ngàn lượt thích mà chưa chắc ai đã gặp Đức Kitô. Một câu Kinh Thánh có thể được chia sẻ rất nhanh nhưng đời sống lại chẳng thay đổi gì. Truyền giáo trên mạng là cần, nhưng Tin Mừng không được đo bằng lượt xem. Đức Giêsu không bảo: “Hãy làm cho Thầy viral.” Người bảo: “Hãy làm cho muôn dân trở thành môn đệ.” Một người xem clip Công giáo ba mươi giây khác rất xa một người bắt đầu bước theo Đức Kitô. Chúng ta phải sử dụng ngôn ngữ mới nhưng đừng làm mất nội dung cũ. Có thể dùng video ngắn, hình ảnh đẹp, podcast, câu chuyện, âm nhạc, AI hay bất kỳ phương tiện nào tốt lành để mở một cánh cửa; nhưng cuối cùng người ta vẫn phải gặp một cộng đoàn biết yêu, một người Kitô hữu biết lắng nghe, một Tin Mừng dám đòi thay đổi cuộc đời và một Đức Kitô không phải chỉ để “like” nhưng để bước theo.
Đừng sợ rằng Tin Mừng đòi hỏi quá nhiều nên người trẻ sẽ bỏ đi. Đức Giêsu không bao giờ hạ thấp Tin Mừng để giữ đám đông. Khi chàng thanh niên giàu có tìm đến Người và hỏi phải làm gì để được sự sống đời đời, Đức Giêsu nhìn anh và “đem lòng yêu mến” (Mc 10,21), rồi Người đưa ra một lời mời rất khó. Anh buồn rầu bỏ đi. Đức Giêsu không chạy theo để thương lượng: “Thôi thì giảm một nửa nhé.” Người tôn trọng tự do của anh. Đây là một bài học lớn. Muốn nói với người trẻ, đừng làm Tin Mừng nhạt đi; hãy làm cho họ thấy tại sao Tin Mừng đáng để sống. Người trẻ vẫn hy sinh rất nhiều cho điều họ tin là xứng đáng. Họ tập luyện hàng giờ vì muốn trở thành vận động viên. Họ thức đêm học vì muốn đạt mục tiêu. Họ vượt hàng ngàn cây số để gặp người mình yêu. Vấn đề không phải thế hệ trẻ không biết hy sinh. Vấn đề là họ cần biết: “Hy sinh vì điều gì?”
Và Thánh Giá trả lời: hy sinh vì tình yêu. Không hy sinh để chứng tỏ mình đạo đức. Không hy sinh để người khác khen. Không hy sinh để Thiên Chúa mắc nợ mình. Tình yêu Kitô giáo không phải mặc cả. Đức Giêsu không đứng trên Thánh Giá tính xem ai xứng đáng với máu của Người. Người yêu. Tình yêu ấy phải đi vào những chuyện rất nhỏ. Một người trẻ hỏi: “Vác thập giá hôm nay nghĩa là gì?” Có khi không phải làm điều gì anh hùng. Có thể chỉ là bỏ điện thoại xuống để thực sự nghe cha mẹ nói. Là xin lỗi trước dù lòng tự ái đang gào lên. Là không chia sẻ một clip làm nhục người khác dù ai cũng đang chia sẻ. Là không tham gia cuộc bắt nạt tập thể trên mạng. Là đứng về phía người bị cô lập trong lớp. Là từ chối một cuộc gian lận. Là giữ lòng chung thủy khi có cơ hội phản bội. Là kiên nhẫn chăm sóc một người bệnh trong nhà. Là tha thứ dù ký ức vẫn còn đau. Là sống trung thực trong một môi trường người ta bảo rằng “ai cũng làm thế”. Là không trả lời một lời độc bằng một lời độc hơn. Những cây thập giá ấy không có gỗ và đinh, nhưng cũng làm cái tôi đau lắm.
Nói về Thánh Giá với người không tin cũng đừng ngại thừa nhận những thất bại của chính người Kitô hữu. Có người sẽ nói: “Nếu Kitô giáo nói yêu thương, tại sao người Công giáo cũng làm nhau đau?” Câu trả lời không phải là phủ nhận. Đúng, Kitô hữu cũng có thể làm nhau đau. Linh mục cũng có thể sai. Giáo dân cũng có thể giả hình. Lịch sử Hội Thánh có những trang sáng và những trang khiến ta phải khiêm tốn sám hối. Nhưng điều đó không làm Thánh Giá vô nghĩa. Trái lại, nó nhắc rằng người Kitô hữu không tuyên bố: “Hãy nhìn chúng tôi vì chúng tôi hoàn hảo.” Kitô hữu nói: “Hãy nhìn Đức Kitô, và xin Người giúp chúng tôi trở nên giống Người hơn.” Hội Thánh không phải bảo tàng của những người hoàn hảo, nhưng là cộng đoàn của những người cần được cứu. Chúng ta không bảo vệ Đức Giêsu bằng cách che giấu tội lỗi của môn đệ Người. Chúng ta làm chứng cho Đức Giêsu bằng việc có can đảm gọi tội là tội, xin lỗi khi sai và đổi đời.
Người trẻ rất nhạy với sự chân thật. Một người lớn dám nói “Tôi không biết” đôi khi đáng tin hơn người luôn có câu trả lời. Một linh mục dám nói “Cha cũng từng có lúc không hiểu Chúa” có thể đến gần người trẻ hơn một bài diễn thuyết hoàn hảo. Một người cha dám xin lỗi con mở cửa Tin Mừng hơn mười bài dạy đạo đức. Một người mẹ dám nói: “Mẹ đã làm con tổn thương, mẹ xin lỗi” đang giảng về Thánh Giá rất sâu, bởi Thánh Giá là cái chết của lòng kiêu ngạo để tình yêu được sống.
Ta cũng có thể nói với người không tin về một nghịch lý rất đẹp: trên Thánh Giá, Đức Giêsu không cứu mình. Người ta chế nhạo: “Hắn đã cứu người khác mà chẳng cứu nổi mình” (x. Mt 27,42). Họ tưởng đó là bằng chứng Người thất bại. Nhưng chính vì không cứu mình mà Người đang cứu người khác. Người mẹ lao vào dòng nước cứu con cũng có lúc phải đặt mạng mình vào nguy hiểm. Người lính cứu hỏa chạy vào căn nhà cháy không “cứu mình” theo nghĩa chọn an toàn cho bản thân, vì anh đang cứu người. Tất nhiên Đức Giêsu là một mầu nhiệm vượt xa mọi ví dụ, nhưng logic tình yêu ở đây rất gần với trái tim con người: có những lúc một người chỉ có thể cứu điều mình yêu bằng cách chấp nhận mất một điều của chính mình.
Thánh Giá vì vậy không ca tụng cái chết. Thánh Giá tuyên bố rằng tình yêu mạnh hơn cái chết. Và chúng ta không bao giờ được dừng bài nói về Thánh Giá vào chiều Thứ Sáu Tuần Thánh. Nếu chỉ có Golgotha mà không có ngôi mộ trống, Kitô giáo chẳng có gì để loan báo ngoài một bi kịch cao đẹp. Nhưng trung tâm Tin Mừng là: Đấng chịu đóng đinh đã sống lại. Những vết thương không biến mất; Đức Giêsu Phục Sinh vẫn cho Tôma xem dấu đinh. Điều ấy vô cùng thấm thía. Phục Sinh không xóa lịch sử đau thương như thể nó chưa từng xảy ra. Phục Sinh biến vết thương thành dấu chỉ của tình yêu chiến thắng. Có lẽ người trẻ cần nghe điều này: Chúa không hứa rằng quá khứ của bạn sẽ biến mất. Một số vết thương có thể còn để lại sẹo. Nhưng sẹo không nhất thiết phải là dấu chấm hết. Trong Đức Kitô, nơi từng làm ta đau có thể trở thành nơi ta biết thương người khác hơn. Người từng được tha thứ có thể trở thành người biết tha thứ. Người từng cô đơn có thể học cách nhận ra người cô đơn. Người từng được nâng dậy có thể chìa tay cho người đang ngã.
Tuy vậy, ta phải hết sức cẩn thận đừng lãng mạn hóa tổn thương. Không phải cứ đau là sẽ trưởng thành. Đau cũng có thể làm người ta cay đắng. Điều biến đau khổ thành con đường cứu độ không phải bản thân đau khổ, nhưng là tình yêu, ân sủng và cách con người đáp lại. Hai người có thể trải qua cùng một mất mát, một người đóng lòng lại, một người trở nên dịu dàng hơn. Thánh Giá của Đức Kitô cho thấy sự dữ không có tiếng nói cuối cùng, nhưng con người vẫn cần cộng đoàn, chữa lành, cầu nguyện, đôi khi cả sự trợ giúp chuyên môn, và nhất là thời gian. Không được lấy một câu Kinh Thánh để ép một người phải “ổn” nhanh hơn khả năng của họ.
Một trong những điều đẹp nhất khi nói về Thánh Giá với người trẻ là giúp họ khám phá rằng Thánh Giá giải phóng họ khỏi ám ảnh phải luôn thắng. Hôm nay người ta rất sợ thất bại. Một lần thi rớt có thể bị xem như cả cuộc đời sụp đổ. Một mối quan hệ tan vỡ làm người ta nghĩ mình không đáng được yêu. Một dự án thất bại làm người ta nghĩ mình vô dụng. Một bài đăng không được tương tác đủ cũng có thể khiến tâm trạng xuống dốc. Thánh Giá nói rằng có những thất bại bên ngoài lại che giấu một chiến thắng sâu hơn bên trong. Đức Giêsu chết như người thất bại nhưng Người đã trung thành với tình yêu đến cùng. Vì thế, người Kitô hữu có thể thất bại trong công việc mà chưa thất bại trong cuộc đời; có thể bị hiểu lầm mà vẫn sống đúng; có thể không nổi tiếng mà vẫn thánh thiện; có thể mất một cuộc tranh luận mà vẫn giữ được người anh em.
Điều này đặc biệt quan trọng trong thời đại tranh luận trên mạng. Nhiều người nhân danh sự thật nhưng cư xử chẳng có gì giống Đức Giêsu chịu đóng đinh. Họ muốn thắng người khác hơn là cứu người khác. Họ thích làm đối phương câm miệng hơn là giúp họ đến gần chân lý. Nhưng trên Thánh Giá, Đức Giêsu không thắng theo kiểu làm kẻ thù nhục nhã. Người chiến thắng bằng cách yêu kẻ thù. Vì vậy, nếu muốn giới thiệu Thánh Giá với thế hệ Z, chính cách Kitô hữu hiện diện trên mạng phải có hình Thánh Giá. Trước khi bình luận, hãy hỏi: “Câu này giúp người khác đến gần sự thật hay chỉ làm tôi hả giận?” Trước khi chia sẻ một tin xấu về ai, hãy hỏi: “Nếu người đó là em mình, mình có làm vậy không?” Trước khi tham gia một cuộc ném đá tập thể, hãy nhớ Đức Giêsu đã từng đứng trước một người phụ nữ bị cả đám đông muốn ném đá và nói: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8,7). Truyền giáo trong thời đại số có khi bắt đầu bằng việc chúng ta ngừng ném đá.
Một người trẻ cũng có thể hỏi: “Nhưng tại sao lại cần Thánh Giá? Thiên Chúa không thể tha thứ đơn giản sao?” Đây là câu hỏi thần học rất sâu. Không nên trả lời như thể Thiên Chúa là một ông vua giận dữ cần máu của Con mình mới nguôi giận. Thánh Giá trước hết là hành động của chính Thiên Chúa đi vào hậu quả của tội lỗi con người. Trong Đức Kitô, Thiên Chúa không đứng ngoài đau khổ và đòi người khác trả giá. Người bước vào trong đó. Người mang lấy bạo lực của thế gian mà không trả lại bạo lực. Người mang lấy sự phản bội mà vẫn yêu. Người đi xuống tận đáy của thân phận con người, kể cả cái chết, để không còn đáy vực nào mà con người rơi xuống lại có thể nói: “Thiên Chúa chưa từng ở đây.” Đó là lý do Thánh Giá có sức an ủi kỳ lạ. Khi một người hỏi: “Chúa ở đâu khi tôi đau?”, Kitô hữu không chỉ chỉ lên trời. Kitô hữu chỉ lên Thánh Giá và nói: “Người đã đi vào trong đau khổ của con người.”
Có một chi tiết Tin Mừng mà tôi rất thích. Bên cạnh Đức Giêsu chịu đóng đinh là hai tên gian phi. Một người chế nhạo. Người kia quay sang và nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Đức Giêsu đáp: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Người này không còn thời gian sửa cuộc đời. Không còn cơ hội làm nhiều việc tốt. Không còn một tương lai dài để chuộc lỗi. Anh chỉ còn một lời kêu xin. Và ngay trong giờ cuối, cửa vẫn mở. Nếu muốn nói với một người đang nghĩ rằng mình “quá xa”, “quá hỏng”, “quá muộn”, hãy kể câu chuyện này. Thánh Giá không nói: “Bạn đủ tốt rồi hãy đến.” Thánh Giá nói: “Hãy đến.” Người trộm lành không leo xuống khỏi thập giá để chứng minh mình xứng đáng. Anh được cứu ngay nơi bất lực của mình.
Có lẽ đó là điều Tin Mừng khác hẳn nhiều thông điệp chúng ta nghe mỗi ngày. Thế giới thường nói: hãy nâng cấp bản thân, hãy trở thành phiên bản tốt hơn, hãy thành công, hãy chứng minh mình. Tin Mừng nói: hãy để mình được yêu. Rồi từ tình yêu ấy, hãy đổi đời. Trật tự rất quan trọng. Kitô giáo không nói: “Hãy hoàn hảo rồi Thiên Chúa sẽ yêu.” Kitô giáo nói: “Thiên Chúa yêu bạn; vì vậy đừng sống mãi dưới mức phẩm giá của người được yêu.”
Một người trẻ thật sự gặp Thánh Giá sẽ không chỉ hỏi: “Chúa yêu tôi thế nào?” mà còn phải hỏi: “Nếu tôi được yêu như vậy, tôi sẽ sống thế nào?” Thánh Giá không phải đồ trang sức tinh thần để làm ta cảm thấy dễ chịu. Thánh Giá đòi ta đổi đời. Nếu tôi quỳ dưới Thánh Giá mà vẫn quyết không tha thứ, có điều gì đó chưa chạm được vào tim tôi. Nếu tôi hôn Thánh Giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng hôm sau lại chà đạp một người yếu thế, cái hôn ấy còn thiếu. Nếu tôi đeo Thánh Giá trên cổ nhưng dùng lời nói giết danh dự người khác, cây Thánh Giá ấy đang trở thành một lời chất vấn đối với chính tôi. Nếu tôi rước Đấng chịu đóng đinh vào lòng rồi đi qua một người đau khổ mà không hề động lòng, có lẽ tôi chưa nhận ra Người.
Với người trẻ, đừng chỉ nói: “Hãy nhìn Thánh Giá.” Hãy mời họ hỏi: “Ai đang bị đóng đinh quanh tôi?” Một người bạn bị bắt nạt. Một ông bà già bị con cái quên. Một em nhỏ thiếu tình thương. Một người bệnh không ai thăm. Một người di dân bị coi thường. Một cô gái đang mang trong mình nỗi đau mà không ai biết. Một người vừa mất việc. Một người bị cả cộng đồng mạng lôi ra làm trò cười. Một gia đình đang vỡ. Nếu ta nhận ra những khuôn mặt ấy, Thánh Giá không còn là biểu tượng ở trên tường. Đức Kitô chịu đóng đinh đang đi ngang qua đời ta trong những người nhỏ bé.
Chính Chúa Giêsu đã nói: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt 25,40). Đây có lẽ là cây cầu rất đẹp với người không tin. Có thể họ chưa tin tất cả tín điều Kitô giáo, nhưng họ vẫn có thể cùng người Kitô hữu bảo vệ phẩm giá người yếu thế, chăm sóc người đau khổ, chống lại sự vô cảm. Và đôi khi chính khi cùng nhau cúi xuống trước một con người bị bỏ rơi, họ bắt đầu hiểu tại sao Kitô hữu lại quỳ trước một Người bị đóng đinh.
Nhưng muốn thế, người Công giáo phải thực sự đứng về phía người bị đóng đinh chứ không đứng về phía những người đóng đinh rồi treo Thánh Giá lên tường. Đây là điều đau nhưng phải nói. Không thể rao giảng Đức Giêsu nghèo khó rồi khinh người nghèo. Không thể tôn kính Đấng bị kết án bất công mà dửng dưng trước bất công. Không thể kính đôi tay bị đóng đinh mà lại dùng tay mình gây tổn thương. Không thể hôn chân Chúa trong nhà thờ mà bước ra ngoài đá người yếu thế. Thế hệ trẻ sẽ nhận ra sự mâu thuẫn ấy rất nhanh. Và họ có quyền nhận ra.
Có người lo rằng thế hệ Z ít quan tâm đến tôn giáo. Có lẽ chúng ta không nên quá bi quan. Con người trẻ hôm nay vẫn hỏi những câu hỏi muôn đời: Tôi là ai? Tôi sống để làm gì? Ai sẽ yêu tôi khi tôi thất bại? Có điều gì đáng để tôi trao cả cuộc đời không? Cái chết có phải là hết? Vì sao người tốt cũng đau? Tôi phải làm gì với vết thương trong lòng mình? Tại sao tôi có mọi thứ mà vẫn thấy trống? Những câu hỏi ấy chính là cánh cửa lớn cho Tin Mừng. Có thể người trẻ không bước vào bằng cánh cửa những thuật ngữ thần học truyền thống, nhưng nỗi khát của họ vẫn là nỗi khát rất con người. Đừng bắt đầu bằng cách trách họ không đến nhà thờ. Hãy hỏi xem họ đang khát điều gì. Đức Giêsu gặp người phụ nữ Samari bên giếng không mở đầu bằng việc kết án đời sống rối ren của bà. Người nói: “Chị cho tôi xin chút nước uống” (Ga 4,7). Một cuộc gặp bắt đầu. Một cuộc đối thoại mở ra. Cuối cùng bà chạy về làng nói với mọi người về Đức Kitô. Truyền giáo bắt đầu bằng một cuộc gặp.
Chúng ta cũng phải học ngôn ngữ kể chuyện. Đức Giêsu là bậc thầy kể chuyện. Người nói về hạt cải, đồng bạc bị mất, người cha có hai đứa con, người Samari nhân hậu, con chiên lạc, người gieo giống. Người không biến mọi cuộc gặp thành một lớp thần học. Với người trẻ hôm nay, đôi khi kể câu chuyện một người đã tha thứ còn mạnh hơn giảng mười định nghĩa về tha thứ. Kể câu chuyện một người chăm sóc cha mẹ già còn mạnh hơn nói trăm lần về hiếu thảo. Kể về một người lựa chọn trung thực khi có thể gian dối sẽ làm người ta hiểu “vác thập giá” là gì. Nhưng phải kể những câu chuyện thật, không tô son đến mức người nghe cảm thấy đạo đức xa vời.
Và nhất là, phải đưa họ gặp chính Đức Giêsu trong Tin Mừng. Đừng chỉ cho họ gặp những tranh luận về Kitô giáo. Nhiều người biết người Công giáo chống điều này, ủng hộ điều kia, nhưng chưa bao giờ được mời ngồi xuống đọc một chương Tin Mừng Marcô. Hãy nói: “Đừng vội tin tôi. Hãy thử đọc Đức Giêsu.” Hãy xem Người đối xử với người tội lỗi thế nào. Người chạm vào người phong cùi. Người ăn với người bị xã hội coi thường. Người bảo vệ phụ nữ bị ném đá. Người khóc trước mộ bạn. Người rửa chân môn đệ. Người tha thứ cho kẻ đóng đinh mình. Nếu sau khi nhìn Người, bạn vẫn không quan tâm, ít ra bạn đã từ chối Đức Giêsu thật chứ không phải một hình ảnh méo mó về Người.
Và khi đến với Thánh Giá, hãy đọc chậm chương 13 đến chương 20 của Tin Mừng Gioan, hoặc cuộc Thương Khó trong các Tin Mừng. Hãy hỏi không chỉ “chuyện gì xảy ra?” mà “Người này là ai?” Tại sao Người rửa chân Giuđa khi biết Giuđa sẽ phản bội? Tại sao Người gọi Giuđa là bạn? Tại sao Người lo cho Mẹ khi chính mình đang hấp hối: “Thưa Bà, đây là con của Bà… Đây là Mẹ của anh” (Ga 19,26-27)? Tại sao Người xin tha cho kẻ giết mình? Tại sao Người có thể nói: “Mọi sự đã hoàn tất” (Ga 19,30)? Có một vẻ đẹp lạ lùng ở Người chịu đóng đinh mà lý luận đơn thuần không diễn tả hết được. Đôi khi người ta không “bị thuyết phục” để trở thành Kitô hữu. Họ bị một dung nhan hấp dẫn.
Đó cũng là điều người Công giáo phải nhớ: chúng ta không rao giảng một hệ thống trước hết. Chúng ta rao giảng một Người. Thánh Phaolô đã viết: “Chúng tôi rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh” (1 Cr 1,23). Không phải vì Phaolô mê thất bại. Nhưng vì nơi Đức Kitô chịu đóng đinh, ông đã gặp một cách hoàn toàn mới để hiểu Thiên Chúa. Thiên Chúa không phải quyền lực lạnh lùng ở xa. Thiên Chúa mang vết thương. Thiên Chúa cúi xuống. Thiên Chúa phục vụ. Thiên Chúa yêu đến cùng.
Với người trẻ, ba chữ “đến cùng” có lẽ là một trong những cách đẹp nhất để nói về Thánh Giá. Tin Mừng Gioan mở đầu trình thuật Bữa Tiệc Ly bằng câu: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Thánh Giá chính là “đến cùng” ấy. Khi môn đệ chạy, Người vẫn yêu. Khi Phêrô chối, Người vẫn yêu. Khi Giuđa phản bội, Người vẫn yêu. Khi dân chúng đổi tiếng “Hoan hô” thành “Đóng đinh nó đi”, Người vẫn yêu. Tình yêu chúng ta thường có giới hạn: “Tôi yêu anh nếu…” “Tôi yêu cô miễn là…” “Tôi yêu bạn cho đến khi…” Tình yêu của Đức Kitô đi đến cùng.
Có một thế hệ đang rất sợ bị bỏ rơi. Những mối quan hệ đến nhanh và cũng có thể mất nhanh. Một nút “unfollow”, một thao tác “block”, một tin nhắn không được trả lời cũng có thể để lại cảm giác bị loại bỏ. Giữa thế giới ấy, Thánh Giá nói một câu lạ lùng: Có một Đấng không block bạn. Có một Đấng biết phiên bản tệ nhất của bạn mà vẫn không bỏ đi. Tất nhiên ngôn ngữ này rất đời thường, nhưng sự thật phía sau thì vô cùng sâu: lòng trung tín của Thiên Chúa không phụ thuộc vào tâm trạng của chúng ta.
Tuy nhiên, đừng biến câu “Chúa luôn yêu bạn” thành một thứ đường ngọt rẻ tiền. Tình yêu của Chúa vừa dịu dàng vừa đòi hỏi. Chính vì yêu người phụ nữ ngoại tình, Đức Giêsu không kết án bà nhưng cũng nói: “Từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8,11). Tình yêu thật không nói: “Bạn làm gì cũng được.” Người bác sĩ yêu bệnh nhân sẽ không bảo căn bệnh không có gì. Người cha thương con không thể dửng dưng khi con tự hủy hoại mình. Thiên Chúa yêu ta như ta đang là, nhưng yêu ta quá nhiều để mặc ta mãi như thế.
Đó là chỗ việc nói về Thánh Giá với người trẻ cần sự cân bằng. Đừng chỉ nói luật mà không nói tình yêu; người ta sẽ thấy đạo là gánh nặng. Đừng chỉ nói tình yêu mà không nói hoán cải; người ta sẽ biến Tin Mừng thành lời an ủi dễ dãi. Trên Thánh Giá có cả hai: sự nghiêm trọng của tội lỗi và sự vô hạn của lòng thương xót. Tội lỗi nghiêm trọng đến mức nó đóng đinh Đấng vô tội. Lòng thương xót lớn đến mức Đấng vô tội ấy vẫn tha thứ.
Và nếu người trẻ hỏi: “Tôi bắt đầu từ đâu?” Đừng đặt lên vai họ ngay một danh sách dài. Hãy mời họ bắt đầu rất đơn giản: hãy đứng trước một cây Thánh Giá vài phút mỗi ngày. Không cần phải cảm thấy gì đặc biệt. Nhìn Người. Đọc một đoạn Tin Mừng. Nói với Người bằng lời thật của mình: “Nếu Ngài có thật, xin cho con biết Ngài.” “Nếu Ngài yêu con, xin cho con cảm nhận được bằng cách Ngài muốn.” “Con chưa tin, nhưng con muốn hiểu.” Một lời cầu nguyện như thế đã là một cánh cửa.
Đức tin không phải lúc nào cũng bắt đầu từ xác tín. Có khi nó bắt đầu từ một câu hỏi. Nicôđêmô đến với Đức Giêsu ban đêm. Tôma nói phải thấy mới tin. Hai môn đệ Emmau bỏ cuộc. Phêrô từng chối Thầy. Không ai trong họ bị Đức Giêsu vứt bỏ. Vì thế đừng sợ người trẻ nghi ngờ. Điều đáng sợ hơn là họ không còn quan tâm để hỏi nữa. Nếu họ hỏi, hãy xem đó là cơ hội để cùng tìm.
Và người làm mục vụ phải chấp nhận rằng có những hạt giống hôm nay gieo nhưng nhiều năm sau mới mọc. Ta không sở hữu hành trình đức tin của ai. Một cuộc nói chuyện tốt không nhất thiết kết thúc bằng việc người kia nói: “Tôi tin.” Có khi kết quả chỉ là họ nói: “Tôi chưa tin, nhưng tôi không còn nghĩ Kitô giáo như trước.” Thế cũng đã là một bước. Đức Giêsu không ép. Tình yêu không ép.
Sau cùng, cách nói đẹp nhất về Thánh Giá vẫn là một đời sống mang hình Thánh Giá. Khi người trẻ gặp một cộng đoàn không bỏ người yếu; gặp một gia đình biết xin lỗi nhau; gặp một linh mục có thời gian cho người đau khổ; gặp một giáo dân không dùng đức tin để lên mặt; gặp một người Công giáo dám tha thứ; gặp một doanh nhân chọn công bằng dù phải mất lợi nhuận; gặp một người trẻ từ chối hùa theo đám đông để bảo vệ bạn mình; gặp một người đã chịu nhiều mà vẫn hiền — lúc ấy họ đã gặp một bài giảng về Thánh Giá bằng xương bằng thịt.
Thế giới hôm nay không thiếu cây Thánh Giá đeo trên cổ. Thế giới thiếu những con người mang tinh thần của Đấng chịu đóng đinh trong tim. Không thiếu những bài đăng về Đức Giêsu. Thiếu những người cư xử giống Đức Giêsu. Không thiếu những lời kêu gọi người khác phải hy sinh. Thiếu những người tự mình hy sinh trước. Không thiếu người bảo người khác phải tha thứ. Thiếu người dám tha thứ khi chính mình bị xúc phạm. Không thiếu người bênh vực chân lý. Thiếu những người bảo vệ chân lý với trái tim hiền lành.
Nếu có một người trẻ hỏi tôi: “Cha hãy nói cho con Thánh Giá là gì chỉ trong một câu thôi”, có lẽ tôi sẽ không bắt đầu bằng một định nghĩa thần học. Tôi sẽ nói: Thánh Giá là nơi Thiên Chúa cho con biết rằng Người yêu con đến mức nào, và cũng là nơi Người hỏi con: con có dám yêu như thế không?
Nếu họ hỏi thêm: “Nhưng con yếu lắm, làm sao con yêu được như Chúa?” Tôi sẽ nói: “Không ai tự sức mình sống được Thánh Giá. Phêrô cũng từng chạy. Các môn đệ cũng từng sợ. Điều Chúa cần không phải là con mạnh ngay lập tức. Người chỉ cần con để Người đi cùng.”
Nếu họ nói: “Con đã phạm quá nhiều sai lầm.” Hãy dẫn họ đến người trộm lành.
Nếu họ nói: “Con bị bỏ rơi.” Hãy dẫn họ đến Đức Giêsu bị các môn đệ chạy hết.
Nếu họ nói: “Con không thể tha thứ.” Hãy dẫn họ đến lời: “Lạy Cha, xin tha cho họ.”
Nếu họ nói: “Con không biết mình có giá trị gì.” Hãy chỉ vào Đấng giang tay trên Thánh Giá và nói: “Đây là cái giá Tình Yêu đã trả để tìm con.”
Nếu họ nói: “Con sợ chết.” Hãy đừng dừng ở Thứ Sáu Tuần Thánh. Hãy đưa họ đến sáng Phục Sinh.
Nếu họ hỏi: “Tại sao Chúa không xuống khỏi Thánh Giá?” Có lẽ hãy nói: “Vì nếu Người xuống để cứu mình, chúng ta sẽ chỉ thấy quyền năng. Nhưng khi Người ở lại vì yêu, chúng ta thấy trái tim của Thiên Chúa.”
Và đó chính là điều thế hệ nào cũng cần, không chỉ Gen Z. Bởi sâu thẳm bên dưới mọi chiếc điện thoại, mọi ứng dụng, mọi trào lưu, mọi cách diễn đạt mới, trái tim con người vẫn là trái tim từng khóc, từng yêu, từng sợ mất, từng mong được hiểu, từng khao khát có ai đó nói: “Dù chuyện gì xảy ra, tôi vẫn ở đây.” Thánh Giá là câu “Ta vẫn ở đây” của Thiên Chúa dành cho nhân loại.
Golgotha không phải nơi Thiên Chúa thất bại. Đó là nơi Người từ chối bỏ con người.
Đinh có thể giữ đôi tay Người trên gỗ, nhưng không giữ nổi tình yêu Người.
Ngọn giáo có thể mở cạnh sườn Người, nhưng từ chính vết thương ấy lại tuôn chảy máu và nước.
Người ta có thể cướp áo Người, nhưng không thể cướp lòng thương xót.
Người ta có thể đóng cửa mồ bằng một tảng đá, nhưng không thể nhốt sự sống mãi ở trong đó.
Thánh Giá vì thế không phải thông điệp của một thế giới cũ dành cho một thế hệ cũ. Thánh Giá là một câu hỏi không bao giờ lỗi thời: Con người sẽ sống bằng sức mạnh thống trị hay sức mạnh của tình yêu? Sẽ cứu mình bằng cách loại bỏ người khác, hay tìm thấy mình bằng cách trao ban? Sẽ để tổn thương sinh thêm tổn thương, hay để tình yêu chặn dòng truyền nhiễm của hận thù?
Và câu trả lời của Kitô giáo không phải một lý thuyết.
Câu trả lời có một khuôn mặt.
Một khuôn mặt đầy máu nhưng không đầy hận thù.
Một đôi tay bị đóng đinh nhưng vẫn mở rộng.
Một trái tim bị đâm thâu nhưng vẫn còn yêu.
Một lời cuối không phải lời nguyền rủa nhưng là phó thác:
“Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” (Lc 23,46)
Nếu muốn nói về Thánh Giá với một người trẻ hôm nay, có lẽ chúng ta không cần nói quá lớn. Hãy sống đủ thật. Hãy yêu đủ lâu. Hãy lắng nghe đủ sâu. Hãy khiêm tốn đủ để nói “tôi không biết” khi không biết. Hãy can đảm đủ để gọi sự dữ là sự dữ. Hãy dịu dàng đủ để không nghiền nát người đang yếu. Hãy trung thành đủ để ở lại bên một người khi người ấy không còn gì hấp dẫn. Hãy tha thứ đủ để người khác phải tự hỏi ta lấy sức mạnh ấy từ đâu. Và khi họ hỏi, lúc ấy hãy chỉ vào Thánh Giá.
Không cần nói: “Anh phải tin ngay.”
Chỉ cần nói:
“Tôi đã gặp một Người yêu tôi như thế.”
Rồi kể cho họ nghe về Đức Giêsu.
Đấng đã cúi xuống rửa chân.
Đấng đã chạm người phong cùi.
Đấng đã ngồi ăn với người bị coi là tội lỗi.
Đấng đã khóc cùng người đang khóc.
Đấng đã để Tôma chạm vào vết thương.
Đấng đã tha cho Phêrô sau ba lần chối Thầy.
Đấng đã cầu nguyện cho kẻ giết mình.
Đấng đã chết.
Và Đấng đã sống lại.
Thế là đủ để bắt đầu.
Phần còn lại, hãy để chính Người nói với trái tim họ.
Bởi cuối cùng, người trẻ không cần chúng ta “bán” cho họ một cây Thánh Giá.
Họ cần gặp Đấng ở trên Thánh Giá.
Và khi thực sự gặp Người, có thể một ngày nào đó chính họ sẽ hiểu tại sao một người như Thánh Phaolô có thể thốt lên rằng: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài Thập Giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6,14).
Không phải hãnh diện về đau khổ.
Không phải hãnh diện về thất bại.
Nhưng hãnh diện vì cuối cùng, trên một ngọn đồi ngoài thành Giêrusalem, nhân loại đã được nhìn thấy tình yêu đi xa đến mức nào.
Xa đến tận Thánh Giá.
Và rồi,
xa hơn Thánh Giá, đến Phục Sinh.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VÀ TÂM LÝ HỌC ĐƯƠNG ĐẠI – ĐAU KHỔ CÓ Ý NGHĨA KHÔNG?
Có những câu hỏi người ta chỉ đặt ra khi còn khỏe mạnh, nhưng cũng có những câu hỏi chỉ thật sự bật lên từ đáy lòng khi con người đã đi qua một đêm rất dài của cuộc đời. “Tại sao tôi phải khổ?” là một câu hỏi như thế. Khi mọi chuyện còn xuôi thuận, người ta có thể nói về đau khổ bằng những khái niệm rất đẹp. Nhưng khi đứa con duy nhất nằm trong phòng cấp cứu, khi người vợ nhận ra người chồng mình hết lòng tin tưởng đã phản bội, khi một người trẻ tưởng tương lai đang mở ra trước mắt bỗng nhận một chẩn đoán làm thay đổi cả đời mình, khi một người mẹ già nhìn căn nhà từng đầy tiếng cười nay trở thành căn phòng im lặng vì con cái mỗi người một phương, khi một người bị hiểu lầm đến mức không còn muốn giải thích, hay khi một người cầu nguyện hết ngày này qua tháng khác mà Thiên Chúa dường như vẫn thinh lặng, lúc ấy câu hỏi không còn là một bài toán trí thức nữa. Nó trở thành một tiếng kêu. Có khi là tiếng kêu thành lời. Có khi chỉ là một tiếng thở dài. Có khi là nước mắt chảy xuống mà chính người khóc cũng không biết mình đang khóc vì điều gì. Và trong khoảnh khắc ấy, một câu hỏi còn sâu hơn xuất hiện: đau khổ này có nghĩa gì không, hay đời người chỉ là một chuỗi ngẫu nhiên vô lý, trong đó ta sinh ra, yêu thương, hy vọng, rồi lần lượt mất đi những gì mình yêu quý?
Tâm lý học đương đại đã đi rất xa trong việc hiểu con người. Đó là một ân huệ. Người Kitô hữu không cần phải sợ khoa học tâm lý, cũng không cần đặt tâm lý học đối lập với đức tin. Tâm lý học giúp chúng ta hiểu những vết thương tuổi thơ, những cơ chế tự vệ, những sang chấn, những nỗi sợ bị bỏ rơi, những kiểu gắn bó, những nguyên nhân khiến con người lặp lại các mô thức đau khổ mà chính mình không ý thức. Nó dạy con người nhận biết cảm xúc, gọi tên cảm xúc, thiết lập ranh giới lành mạnh, tìm sự trợ giúp khi cần thiết, hiểu rằng có những đau đớn không thể chữa bằng một câu “ráng lên”, và cũng có những căn bệnh tinh thần không thể được giải quyết chỉ bằng vài lời khuyên đạo đức. Người đang trầm uất cần được chữa trị. Người mang sang chấn cần được đồng hành. Người bị bạo hành cần được bảo vệ. Người đang kiệt sức cần được nghỉ ngơi. Người bị tổn thương nặng không thể bị ép phải “tha thứ ngay đi” như thể đức tin là một thứ thuốc tê khiến người ta không còn cảm thấy đau. Thiên Chúa không khinh thường những con đường chữa lành tự nhiên mà chính Người đã đặt trong khả năng của con người. Nhưng sau tất cả những điều tâm lý học có thể giải thích và chữa lành, vẫn còn một câu hỏi mà khoa học không thể tự mình trả lời trọn vẹn: nếu có những đau khổ không thể lấy đi thì phải sống với chúng thế nào? Nếu một mất mát là không thể đảo ngược, nếu người chết không trở về, nếu tuổi trẻ đã qua không thể lấy lại, nếu một quyết định sai đã để lại hậu quả suốt đời, nếu một căn bệnh chỉ có thể kiểm soát chứ không thể chữa khỏi, nếu một vết thương dù đã lành vẫn để lại sẹo, thì phần còn lại của cuộc đời sẽ là gì?
Ở đó, Thánh Giá bắt đầu lên tiếng.
Điều đầu tiên phải nói thật rõ là Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Đức Giêsu không đến trần gian để dạy người ta yêu bệnh tật, yêu bất công, yêu thất bại hay đi tìm đau đớn. Người chữa người bệnh, làm cho người mù được thấy, người điếc được nghe, người què được bước đi, người phong cùi được sạch, người bị quỷ ám được giải thoát. Người khóc trước mộ Lazarô. Người chạnh lòng thương đám đông. Người không đứng trước nỗi đau của con người bằng thái độ lạnh lùng của một triết gia giải thích thế giới. Người bước vào trong nỗi đau ấy. Vì thế, khi nói rằng đau khổ có thể mang ý nghĩa, ta tuyệt đối không được biến điều ấy thành câu nói dễ dãi rằng mọi đau khổ đều tốt, hoặc Thiên Chúa thích nhìn con người đau khổ. Không. Bạo hành vẫn là bạo hành. Bất công vẫn là bất công. Chiến tranh vẫn là tội ác. Bệnh tật vẫn là điều cần chữa. Nghèo đói vẫn là điều phải chống lại. Một người phụ nữ bị chồng đánh không có bổn phận phải tiếp tục ở lại chịu đòn để gọi đó là “vác thánh giá”. Một đứa trẻ bị xâm hại không thể được dạy rằng đó là “ý Chúa”. Một người bị áp bức không thể bị buộc phải im lặng bằng câu “hãy chịu khó hy sinh”. Dùng Thánh Giá để hợp thức hóa điều ác là xúc phạm chính Đấng chịu đóng đinh.
Thánh Giá không nói rằng đau khổ tự nó là tốt. Thánh Giá nói một điều khác sâu hơn nhiều: ngay cả nơi điều xấu nhất con người có thể phải trải qua, tình yêu vẫn có khả năng xuất hiện; và khi tình yêu xuất hiện, đau khổ không còn nắm quyền quyết định lời cuối cùng của một đời người.
Đó cũng là nơi đức tin Kitô giáo gặp gỡ một trực giác rất sâu của tâm lý học hiện đại: con người có thể chịu đựng được rất nhiều nếu họ tìm thấy một ý nghĩa để sống. Không phải đau khổ nào cũng có lời giải thích. Thậm chí có những đau khổ mà cố giải thích lại trở thành tàn nhẫn. Đứng trước một bà mẹ vừa mất con mà hỏi “Chúa muốn dạy chị điều gì qua chuyện này?” có khi chẳng khác gì đặt thêm một hòn đá lên trái tim đã tan vỡ. Có những lúc điều cần nhất không phải là lời giải đáp nhưng là một người ở lại. Không phải lý luận nhưng là hiện diện. Không phải giải thích tại sao người kia phải đau mà là ngồi xuống bên cạnh người ấy và nói bằng chính sự có mặt của mình rằng: anh không phải chịu điều này một mình.
Thiên Chúa đã làm như vậy.
Tin Mừng không kể rằng Đức Giêsu đứng bên ngoài đau khổ và giảng cho nhân loại một bài về đau khổ. Tin Mừng kể rằng Người đi vào trong đó. Đêm Ghếtsêmani là một trong những đoạn Tin Mừng cảm động nhất để hiểu điều này. Đức Giêsu biết điều gì đang chờ mình. Người không giả vờ mạnh mẽ. Người không phủ nhận sợ hãi. Người nói với các môn đệ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được.” Rồi Người đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống đất và cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Có lẽ đây là một trong những lời cầu nguyện chân thật nhất của con người trước đau khổ. Đức Giêsu không nói: “Con thích chén này.” Người không tìm đau khổ. Người xin nó qua đi. Nhưng khi không thể tránh, Người không để đau khổ biến mình thành oán hận. Người biến nó thành một hành vi tín thác và yêu thương. Đó chính là cuộc chuyển hóa kỳ diệu của Thánh Giá: đau đớn vẫn đau, nhưng nó không còn vô nghĩa; mất mát vẫn là mất mát, nhưng nó không còn quyền hủy diệt tình yêu.
Con người thời nay rất sợ đau. Điều này dễ hiểu. Cả một nền văn hóa đang được xây dựng trên lời hứa rằng cuộc sống tốt phải là cuộc sống ít bất tiện nhất: thuốc giúp giảm đau, ứng dụng giúp tiết kiệm thời gian, mạng xã hội giúp được công nhận ngay lập tức, giải trí giúp quên nỗi buồn, mua sắm đem lại một chút phấn khích, công nghệ giúp loại bỏ càng nhiều khó chịu càng tốt. Không có gì sai khi làm cho đời sống nhẹ nhàng hơn. Nhưng có một nguy cơ âm thầm: nếu con người được huấn luyện để tin rằng bất cứ điều gì khó chịu đều phải được loại bỏ ngay lập tức, họ sẽ ngày càng ít sức chịu đựng đối với những đau khổ không thể loại bỏ. Và cuộc đời, dù hiện đại đến đâu, vẫn luôn chứa những điều không thể bấm nút để biến mất.
Không có ứng dụng nào giúp ta khỏi già. Không có công nghệ nào bảo đảm người mình yêu sẽ không chết. Không có liệu pháp nào làm cho ta không bao giờ bị hiểu lầm. Không có thành công nào bảo đảm con cái sẽ sống đúng như ta mong. Không có tiền bạc nào mua được một quá khứ không có sai lầm. Không có danh tiếng nào bảo vệ ta khỏi cô đơn. Và không có một kỹ thuật tâm lý nào làm cho trái tim con người trở thành một cỗ máy không biết đau.
Vì yêu nên ta đau.
Một người không yêu ai sẽ ít đau vì mất người khác, nhưng đời họ cũng nghèo đi rất nhiều. Một người không bao giờ đặt hy vọng vào điều gì sẽ ít thất vọng, nhưng họ cũng chẳng thật sự sống. Một người không gắn bó với ai sẽ ít đau khi chia lìa, nhưng cái giá phải trả là một cuộc đời không có thân tình. Cho nên có những nỗi đau không phải là bằng chứng rằng cuộc đời vô nghĩa. Trái lại, chính chúng chứng minh đã từng có một điều rất có nghĩa. Ta khóc vì một người ra đi bởi người ấy đã quan trọng. Ta đau vì một tình bạn vỡ bởi tình bạn ấy từng quý giá. Ta đau khi con mình lạc đường bởi ta yêu nó. Có những giọt nước mắt chính là mặt trái của tình yêu.
Tuy nhiên, Kitô giáo còn đi xa hơn nữa. Đức tin không chỉ nói rằng đau khổ có thể có ý nghĩa vì nó xuất phát từ tình yêu. Đức tin nói rằng đau khổ có thể trở thành nơi tình yêu trưởng thành.
Có những điều ta chỉ học được khi đời không còn theo ý mình.
Khi khỏe mạnh, ta tưởng mình làm chủ đời mình. Một lần nằm bệnh viện đủ lâu có thể làm ta hiểu rằng từng hơi thở là quà tặng. Khi thành công, ta dễ nghĩ những gì mình có là do mình giỏi. Một lần thất bại có thể dạy ta khiêm tốn. Khi mọi người còn ở bên, ta ít biết quý sự hiện diện. Một lần mất một người thân có thể khiến ta hiểu rằng một bữa cơm bình thường từng là hạnh phúc lớn biết bao. Khi chưa bị phản bội, ta nói về tha thứ rất dễ. Khi chính mình bị tổn thương, ta mới biết tha thứ cần một cuộc chiến nội tâm lớn đến mức nào. Khi chưa bao giờ bất lực, ta rất dễ khuyên người khác cố gắng. Khi đã có lúc cố hết sức mà vẫn không thay đổi được gì, ta mới biết thương những người yếu đuối.
Đau khổ đôi khi phá vỡ một con người. Nhưng cũng có những con người sau đau khổ trở nên sâu hơn, hiền hơn, biết cảm thông hơn, bớt phán xét hơn. Không phải vì đau khổ tự nó tốt, mà vì họ đã làm một điều rất khó: họ không để vết thương biến thành độc tố. Họ biến nó thành lòng trắc ẩn.
Một người từng nghèo có thể trở thành người khinh người nghèo vì muốn quên quá khứ của mình; nhưng họ cũng có thể trở thành người hiểu người nghèo nhất. Một người từng bị tổn thương có thể đi khắp đời làm tổn thương người khác; nhưng cũng có thể quyết định rằng bởi mình đã biết đau là gì, mình sẽ không gây đau cho ai nữa. Một đứa trẻ lớn lên thiếu tình thương có thể trở thành người đóng kín; nhưng cũng có thể trở thành một người cha, người mẹ quyết tâm để con mình không bao giờ phải sống trong cảnh thiếu thốn tình cảm như mình từng sống. Cùng một vết thương, nhưng hai hướng đi khác nhau. Đau khổ không tự động làm người ta tốt hơn. Có người đau rồi cay nghiệt hơn. Có người đau rồi khép kín hơn. Có người đau rồi trả thù. Vì thế, điều quan trọng không chỉ là “tôi đã đau thế nào?” nhưng là “tôi sẽ làm gì với điều đã làm tôi đau?”
Đó chính là câu hỏi đứng dưới chân Thánh Giá.
Trên Golgotha có ba cây thập giá. Cùng đau khổ, cùng bị đóng đinh, cùng ở rất gần cái chết, nhưng ba cách sống đau khổ khác nhau. Một người dùng những giờ cuối cùng để cay đắng và nhục mạ. Một người nhận ra sự thật về đời mình và quay sang Đức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và ở giữa họ là Đức Giêsu, Đấng chịu đau khổ nhưng vẫn có thể nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Ba cây thập giá cho thấy một sự thật: đau khổ không tự nó cứu con người. Cách con người đi qua đau khổ mới quyết định đau khổ sẽ trở thành vực thẳm hay con đường.
Có một điều rất gần với kinh nghiệm tâm lý hiện đại: con người không kiểm soát được mọi chuyện xảy đến với mình, nhưng vẫn còn một vùng tự do nội tâm nơi họ có thể chọn cách đáp lại. Ta không chọn được tất cả những lá bài cuộc đời phát cho mình, nhưng ta vẫn có thể chọn cách chơi những lá bài ấy. Ta không chọn cha mẹ mình. Không chọn nơi mình sinh. Không chọn nhiều biến cố đã xảy ra trong quá khứ. Không chọn được mọi căn bệnh. Không chọn được người khác có phản bội hay hiểu lầm ta không. Nhưng từng ngày, dù rất nhỏ bé, vẫn còn một vùng tự do: tôi sẽ trở thành người thế nào sau những điều ấy?
Đây là điểm Thánh Giá trở nên vô cùng hiện đại. Thánh Giá không phải một lời mời gọi cam chịu thụ động. Thánh Giá là lời mời gọi không trao quyền định nghĩa đời mình cho những gì đã làm mình tổn thương.
Nếu ai đó phản bội tôi, điều ấy nói điều gì đó về họ; nhưng việc tôi trở thành người thế nào sau đó lại là câu chuyện của tôi. Nếu quá khứ của tôi đầy những thiếu thốn, quá khứ ấy là một phần lịch sử nhưng không nhất thiết phải là bản án chung thân. Nếu tôi từng phạm một sai lầm lớn, tôi phải chịu trách nhiệm và sửa chữa những gì có thể sửa, nhưng tôi không buộc phải sống suốt đời dưới cái tên của lỗi lầm ấy. Phêrô đã chối Chúa, nhưng Phêrô không chỉ là “người chối Chúa”. Ông còn là người đã khóc, đã trở lại, đã yêu lại và cuối cùng đã trao mạng sống mình cho Đức Kitô. Tên của con người không nhất thiết phải là tên của vết thương lớn nhất trong đời họ.
Đức Giêsu phục sinh vẫn mang các dấu đinh.
Chi tiết ấy thật lạ. Nếu là chúng ta, có lẽ ta sẽ tưởng một thân xác phục sinh hoàn hảo phải là thân xác không còn dấu vết của đau thương. Nhưng Tin Mừng Gioan kể rằng Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ và cho Tôma xem tay và cạnh sườn Người. Những vết thương không biến mất. Chúng được biến đổi.
Đây có lẽ là một trong những hình ảnh đẹp nhất cho hành trình chữa lành của con người.
Chữa lành không có nghĩa là một ngày kia bạn tỉnh dậy và chẳng còn nhớ gì nữa. Chữa lành không nhất thiết là xóa sạch lịch sử. Có những vết sẹo sẽ còn. Có những ngày kỷ niệm vẫn khiến trái tim chùng xuống. Có những bài hát, con đường, căn phòng, mùi hương bất chợt làm một ký ức quay trở lại. Nhưng có một khác biệt rất lớn giữa vết thương đang chảy máu và vết sẹo đã lành. Cả hai đều nói rằng nơi đây từng bị thương. Nhưng vết sẹo nói thêm một điều: tôi đã sống sót.
Có những người rất xấu hổ về những chương đen tối trong đời mình. Họ ước gì có thể xóa chúng khỏi tiểu sử. Nhưng đôi khi chính nơi ấy, sau nhiều năm, trở thành nơi họ có thể chạm đến người khác sâu nhất. Người từng trải qua nghiện ngập có thể hiểu người đang vật lộn với nghiện ngập hơn nhiều người chỉ đọc sách về nó. Người từng sống trong một gia đình đổ vỡ có thể có một thứ nhạy cảm đặc biệt trước nỗi cô đơn của trẻ em. Người từng mất con có thể hiểu một bà mẹ vừa mất con bằng một cái ôm mà nghìn bài giảng không làm được. Vết thương khi được chữa lành có thể trở thành cửa sổ để lòng thương xót đi qua.
Đó là điều Thánh Giá làm.
Đức Kitô không cứu thế giới bất chấp các vết thương của Người. Người cứu thế giới qua những vết thương ấy.
Nhưng ở đây cần một phân biệt rất quan trọng. Tìm ý nghĩa trong đau khổ không có nghĩa phải lập tức tìm ra “lý do Thiên Chúa gửi đau khổ này”. Chúng ta thường quá vội vàng muốn biết “tại sao”. Có những câu “tại sao” đời này sẽ không bao giờ được giải đáp. Kinh Thánh không cho chúng ta một công thức đơn giản về nguyên nhân mọi đau khổ. Sách Gióp thậm chí dành cả một cuốn để phá vỡ suy nghĩ rằng người đau khổ chắc chắn đã làm điều gì sai. Các bạn của Gióp đến và cố giải thích cho ông. Lời lẽ của họ nghe rất đạo đức, rất hợp lý, nhưng cuối cùng Thiên Chúa lại trách họ. Có lẽ bởi vì trước nỗi đau quá lớn, đôi khi điều con người cần không phải một hệ thống giải thích mà là một sự hiện diện.
Thiên Chúa không trả lời mọi câu hỏi của Gióp bằng một sơ đồ nguyên nhân và hậu quả. Người dẫn Gióp đến một tương quan sâu hơn với chính Người.
Cũng vậy, trên Thánh Giá, Đức Giêsu kêu lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Lời ấy thật kinh khủng và cũng thật an ủi. Kinh khủng vì nó cho thấy Con Thiên Chúa đã đi sâu đến mức nào vào kinh nghiệm cô độc của nhân loại. An ủi vì từ đó không còn một tiếng kêu nào của con người có thể nói rằng “Thiên Chúa không hiểu”. Người đã biết sợ. Người đã biết buồn. Người đã biết phản bội là gì khi Giuđa bán Người bằng một nụ hôn. Người đã biết bị bạn bè bỏ chạy. Người đã biết bị vu cáo. Người đã biết bị chế nhạo. Người đã biết đau thể xác. Người đã biết cầu nguyện trong bóng tối. Người đã biết cái chết.
Kitô giáo không đưa cho người đau khổ một Thiên Chúa đứng trên trời và nói: “Ta biết con đang đau, cố chịu đi.” Kitô giáo đưa cho họ một Thiên Chúa có những vết đinh.
Điều ấy thay đổi tất cả.
Khi một người hỏi: “Thiên Chúa ở đâu khi tôi đau?” Thánh Giá không cho ta một câu trả lời triết học hoàn chỉnh. Thánh Giá chỉ cho ta thấy: Người ở đó, trong chính nơi con người tưởng Người vắng mặt nhất.
Thiên Chúa ở bên giường bệnh. Thiên Chúa trong căn phòng nơi người mẹ thức trắng chăm con. Thiên Chúa ở bên người cha thất nghiệp xấu hổ vì không đủ tiền lo cho gia đình. Thiên Chúa ngồi cạnh người góa phụ ăn một mình sau hàng chục năm quen có người bên cạnh. Thiên Chúa ở trong tiếng khóc của một người trẻ tưởng mình chẳng còn giá trị. Thiên Chúa ở nơi một linh mục mệt mỏi vẫn phải bước lên bàn thờ trong khi lòng mình đầy những chuyện không biết nói với ai. Thiên Chúa ở trong sự thinh lặng của một tu sĩ trải qua những năm khô khan. Thiên Chúa ở trong người chồng, người vợ đang cố hàn gắn điều tưởng như không thể hàn gắn. Thiên Chúa không phải lúc nào cũng lấy cây thập giá xuống khỏi vai con người. Nhưng rất nhiều lần, Người bước vào dưới cây thập giá ấy và mang nó với họ.
Tin Mừng kể một chi tiết thật đẹp: khi Đức Giêsu trên đường lên Golgotha, quân lính bắt một người tên Simon thành Kyrênê vác thập giá đỡ Người. Nếu Con Thiên Chúa còn chấp nhận một Simon giúp mình mang thập giá, tại sao chúng ta lại nghĩ rằng đức tin mạnh là phải tự mình chịu đựng mọi chuyện?
Có những người khổ gấp đôi vì họ không chỉ đau mà còn xấu hổ vì mình đau.
Họ nói: “Tại sao tôi có đạo mà vẫn buồn?” “Tại sao tôi cầu nguyện mà vẫn lo âu?” “Tại sao tôi tin Chúa mà vẫn phải đi gặp chuyên gia tâm lý?” Đây là một hiểu lầm rất tai hại. Đức tin không biến hệ thần kinh con người thành thép. Một người có thể yêu Chúa sâu sắc mà vẫn trải qua trầm cảm. Có thể có đời sống cầu nguyện thật mà vẫn bị những sang chấn quá khứ tác động. Có thể tin vào sự quan phòng mà vẫn có những cơn lo âu. Và đi tìm sự hỗ trợ chuyên môn không phải là dấu hiệu thiếu đức tin, cũng như đi bác sĩ khi đau tim không phải là dấu hiệu thiếu đức tin. Ơn Chúa không loại bỏ bản tính con người nhưng chữa lành và nâng nó lên.
Đôi khi một Simon thành Kyrênê của chúng ta chính là người bạn biết lắng nghe. Đôi khi là linh mục. Đôi khi là bác sĩ. Đôi khi là nhà tâm lý. Đôi khi là người phối ngẫu. Đôi khi là một nhóm hỗ trợ. Và có những lúc chính việc dám nói “tôi cần giúp đỡ” là một hành vi khiêm nhường sâu sắc hơn nhiều so với cố tỏ ra mạnh mẽ.
Có một kiểu “thánh giá” Thiên Chúa không hề yêu cầu ta mang: thánh giá do chính lòng kiêu ngạo tạo ra khi ta nhất quyết không cho ai giúp mình.
Người Kitô hữu được mời gọi vác thập giá, nhưng chưa bao giờ được dạy phải vác một mình.
Đức Giêsu nói: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Câu nói ấy thường bị hiểu như thể Chúa muốn mỗi ngày chúng ta đi tìm một điều đau đớn để chịu. Không. “Vác thập giá mình” trước hết là dám yêu trong một thế giới nơi tình yêu luôn có giá. Người mẹ thức đêm vì con là một thập giá. Người cha nhịn một nhu cầu của mình để lo học phí cho con là một thập giá. Người vợ chăm chồng bệnh lâu năm là một thập giá. Người chồng ở lại bên người vợ trong một giai đoạn rất khó thay vì tìm sự dễ chịu nơi khác là một thập giá. Người con kiên nhẫn chăm cha mẹ già lẫn lộn là một thập giá. Người dám nói thật dù có thể mất lợi ích là một thập giá. Người không trả đũa khi bị xúc phạm là một thập giá. Người cai nghiện từng ngày, từng ngày, từng ngày là một thập giá. Người học cách sống với một giới hạn mình không chọn là một thập giá.
Thánh Giá không phải đau khổ vì đau khổ.
Thánh Giá là cái giá của tình yêu trung tín.
Bởi thế, vấn đề không phải hỏi: “Tôi đau bao nhiêu?” như thể đau càng nhiều thì càng thánh. Vấn đề là hỏi: “Trong điều tôi đang chịu, tôi còn có thể yêu thế nào?”
Đây là câu hỏi làm thay đổi cách ta sống đau khổ.
Khi căn bệnh không thể chữa, tôi vẫn có thể yêu người chăm mình bằng lòng biết ơn thay vì chỉ cay đắng. Khi một người thân đã chết, tôi không thể đưa họ trở lại, nhưng tôi có thể để tình yêu dành cho họ tiếp tục sinh hoa trái trong cách tôi sống. Khi đã bị người khác làm tổn thương, tôi không thể thay đổi quá khứ, nhưng tôi có thể quyết định không để quá khứ biến tôi thành người mà chính mình không muốn trở thành. Khi một giấc mơ đổ vỡ, tôi vẫn có thể hỏi: “Phần đời còn lại của tôi có thể trở thành quà tặng thế nào?”
Có những người sống những năm đẹp nhất của đời họ sau một biến cố từng khiến họ tưởng đời đã chấm hết.
Không phải vì biến cố ấy tốt.
Mà bởi vì họ đã khám phá một cuộc sống sâu hơn bên kia biến cố ấy.
Điều ấy không phải lãng mạn hóa đau khổ. Nó là sức mạnh của hy vọng.
Hy vọng Kitô giáo không có nghĩa là tự nhủ: “Rồi mọi chuyện sẽ diễn ra đúng như tôi muốn.” Đó chỉ là lạc quan. Hy vọng Kitô giáo sâu hơn nhiều: dù chuyện gì xảy ra, Thiên Chúa vẫn có thể làm cho đời tôi sinh hoa trái. Ngay cả khi tôi không lấy lại điều đã mất. Ngay cả khi câu chuyện không kết thúc như tôi từng mơ.
Thánh Phaolô nói rằng “mọi sự đều sinh ích cho những ai yêu mến Thiên Chúa”. Câu ấy không có nghĩa mọi sự đều tốt. Nó có nghĩa quyền năng của Thiên Chúa lớn đến mức Người có thể dệt cả những sợi chỉ đen của cuộc đời vào một bức tranh mà ta chỉ hiểu khi đứng đủ xa.
Thứ Sáu Tuần Thánh là bằng chứng.
Nếu có ai đứng ở Golgotha chiều hôm ấy mà không biết chuyện gì sẽ xảy ra ngày thứ ba, người đó có quyền kết luận: mọi sự đã thất bại. Người tốt nhất đã chết. Người vô tội bị xử như tội phạm. Các môn đệ bỏ chạy. Người ta chế nhạo. Trời tối lại. Một thân xác được hạ xuống và đặt trong mồ.
Hết.
Nhưng Thiên Chúa chưa nói xong.
Đó là niềm hy vọng lớn của Kitô giáo: đừng đặt dấu chấm nơi Thiên Chúa mới đặt dấu phẩy.
Có những ngày cuộc đời chúng ta giống chiều Thứ Sáu hơn sáng Chúa Nhật. Ta chưa thấy Phục Sinh. Ta chỉ thấy tảng đá đóng cửa mồ. Và điều khó nhất của đức tin là sống trong ngày Thứ Bảy Tuần Thánh của cuộc đời – khoảng thời gian giữa lời hứa và sự hoàn tất, giữa cái chết và Phục Sinh, khi không có gì xảy ra, khi Thiên Chúa dường như im lặng.
Tâm lý học nói nhiều về khả năng chịu đựng sự bất định. Đức tin cũng đòi hỏi một khả năng như thế. Không phải mọi điều sẽ được hiểu ngay. Có những chuyện ta chỉ hiểu nhiều năm sau. Có chuyện đến cuối đời vẫn không hiểu. Có lẽ có những điều chỉ khi đứng trước Thiên Chúa ta mới hiểu vì sao cuộc đời mình đã đi con đường ấy.
Nhưng Kitô hữu không phải người đã có câu trả lời cho mọi đau khổ.
Kitô hữu là người biết Đấng mình nắm tay khi chưa có câu trả lời.
Đây là khác biệt lớn.
Có một câu hỏi nữa cần đặt ra: đau khổ có làm con người trưởng thành không?
Câu trả lời là: không tự động.
Đau khổ có thể làm người ta trưởng thành nhưng cũng có thể làm người ta cay đắng. Có người sau một cuộc hôn nhân đổ vỡ trở nên hiểu biết và nhân hậu hơn; có người lại kết luận rằng không bao giờ nên tin bất cứ ai. Có người sau bệnh tật biết quý từng ngày; có người chỉ sống trong giận dữ. Vì thế, để đau khổ có ý nghĩa, nó cần được xử lý. Cần được khóc. Cần được nói. Cần được hiểu. Cần được đặt trong một câu chuyện lớn hơn.
Người ta đôi khi muốn bước qua đau khổ quá nhanh. Vừa có người chết đã bảo gia đình “đừng khóc nữa, người ấy về với Chúa rồi”. Đúng, ta tin sự sống đời sau. Nhưng chính Đức Giêsu đã khóc trước mộ Lazarô. Nước mắt không chống lại đức tin. Có những giọt nước mắt là hình thức cầu nguyện chân thành nhất của một trái tim đang tan vỡ.
Đức tin không bắt ta phải giả vờ ổn.
Thánh Vịnh đầy những tiếng than. “Tới bao giờ, lạy Chúa?” “Sao Ngài quên con mãi?” Những lời ấy nằm ngay trong Kinh Thánh. Điều đó có nghĩa con người được phép đem cả sự hoang mang, giận dữ, thất vọng vào trong cầu nguyện. Một tương quan với Thiên Chúa chỉ cho phép những câu đẹp đẽ chưa chắc là một tương quan thật. Người cha không sợ tiếng khóc của con. Thiên Chúa cũng không bị xúc phạm bởi những lời cầu nguyện vụng về của một tâm hồn đang đau.
Có khi lời cầu nguyện duy nhất một người có thể nói là: “Chúa ơi, con mệt quá.”
Cũng đủ.
Có khi chỉ là: “Con không hiểu.”
Cũng đủ.
Có khi chẳng còn lời, chỉ ngồi trước Nhà Tạm.
Cũng đủ.
Bởi cầu nguyện không phải trước hết là nói cho đúng, mà là ở lại trong tương quan.
Một khía cạnh khác rất đáng suy nghĩ trong tâm lý học đương đại là sự khác biệt giữa đau đớn và khổ đau do sự kháng cự. Có những nỗi đau khách quan là không tránh được, nhưng con người có thể làm chúng nặng thêm khi liên tục chiến đấu với sự thật rằng nó đã xảy ra. “Tại sao lại là tôi?” “Đời tôi không được phép như thế này.” “Chuyện đó không thể xảy ra.” Những phản ứng ấy rất tự nhiên ở giai đoạn đầu, nhưng nếu mắc kẹt mãi trong chúng, ta không còn sống với thực tại mà sống trong cuộc chiến chống lại thực tại.
Chấp nhận không có nghĩa là thích.
Chấp nhận không có nghĩa đồng ý rằng điều ấy tốt.
Chấp nhận chỉ có nghĩa: đây là điều đã xảy ra, và tôi sẽ bắt đầu từ nơi tôi đang đứng.
Đức Giêsu trong Vườn Dầu đã đi chính con đường ấy: “Nếu có thể, xin cho chén này qua khỏi con.” Đó là ước muốn rất người. Nhưng rồi: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Đó là sự chấp nhận.
Chấp nhận không làm cây thập giá nhẹ ngay lập tức. Nhưng nó chấm dứt cuộc chiến vô vọng với một thực tại không thể thay đổi và giải phóng năng lượng để con người hỏi: từ đây tôi phải sống thế nào?
Nhiều cuộc đời bắt đầu hồi sinh ở câu hỏi ấy.
Một người sau tai nạn không còn đi lại được có thể dành nhiều năm hỏi “tại sao tôi không còn là tôi trước kia?” Nhưng đến một ngày, có thể một câu hỏi khác xuất hiện: “Với con người tôi hôm nay, tôi còn có thể trao điều gì?” Và chính câu hỏi thứ hai mở ra tương lai.
Một người mất người bạn đời có thể sống mãi trong câu “đáng lẽ họ phải còn ở đây”. Đúng, tình yêu luôn muốn thế. Nhưng rồi đến một ngày, nếu ân sủng cho phép, câu hỏi có thể chuyển thành: “Tôi sẽ sống phần đời còn lại thế nào để tình yêu chúng tôi từng có không trở thành một ngôi mộ nhưng trở thành một nguồn sống?”
Đó là lúc đau khổ bắt đầu có ý nghĩa.
Không phải vì ta hiểu “tại sao nó xảy ra”, nhưng vì ta khám phá “tôi sẽ làm gì với nó”.
Có thể đây là phân biệt quan trọng nhất: ý nghĩa của đau khổ không nhất thiết nằm ở nguyên nhân của nó. Ý nghĩa có thể nằm ở cách ta đáp lại.
Có những đau khổ do tội của người khác. Có những đau khổ do giới hạn của tự nhiên. Có những đau khổ do chính sai lầm của ta. Và có những đau khổ thật sự bí nhiệm. Không cần gán tất cả cho một kế hoạch chi tiết của Thiên Chúa như thể Người ngồi trên trời phân phát bệnh tật và tai họa. Nhưng ta có thể tin rằng không một đau khổ nào nằm ngoài khả năng cứu độ của Người.
Thiên Chúa có thể không muốn cây đinh.
Nhưng Người có thể làm cho vết đinh trở thành nơi Tôma gặp được Đức Kitô.
Thiên Chúa có thể không muốn nước mắt.
Nhưng Người có thể làm cho người từng khóc biết lau nước mắt người khác.
Thiên Chúa có thể không muốn vết thương.
Nhưng Người có thể làm cho vết thương đã lành trở thành cánh cửa của lòng thương xót.
Đó là logic của Phục Sinh.
Vì thế, khi nhìn Thánh Giá, người Kitô hữu không nhìn một biểu tượng của thất bại. Ta nhìn một lời tuyên bố rằng không có gì – kể cả đau khổ, tội lỗi và cái chết – nằm ngoài khả năng biến đổi của tình yêu Thiên Chúa.
Tâm lý học có một từ rất đẹp để nói về khả năng đứng dậy sau nghịch cảnh: sức bật, khả năng phục hồi. Nhưng Kitô giáo còn thêm vào đó một chiều kích khác. Ta không chỉ có thể trở lại như trước. Đôi khi, nhờ ân sủng, ta có thể trở thành một con người sâu hơn trước.
Hạt lúa rơi xuống đất không trở lại làm hạt lúa cũ. Nó chết đi để sinh nhiều bông hạt.
Đức Giêsu nói: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.”
Không phải mọi mất mát đều phải được gọi là “chết đi” theo nghĩa đạo đức. Nhưng hình ảnh ấy giúp ta hiểu một quy luật kỳ lạ của đời sống: có những lúc một phần của chúng ta phải chết để một con người mới có thể sinh ra.
Một ảo tưởng phải chết.
Một tham vọng phải chết.
Một hình ảnh lý tưởng về chính mình phải chết.
Một nhu cầu kiểm soát phải chết.
Một kỳ vọng không thực tế phải chết.
Ta thường rất đau khi những thứ ấy chết bởi ta đã đồng hóa chúng với chính mình. Nhưng nhiều năm sau nhìn lại, ta mới thấy nếu chúng không chết, ta sẽ không bao giờ trở thành con người hôm nay.
Có người sau thất bại nghề nghiệp mới khám phá gia đình mình đã bị bỏ quên bao lâu.
Có người sau bệnh nặng mới thôi sống để làm hài lòng thiên hạ.
Có người sau một cuộc khủng hoảng mới lần đầu tiên hỏi mình thật sự muốn sống vì điều gì.
Có người sau những tháng ngày khô khan mới bỏ được một thứ đức tin chỉ dựa trên cảm xúc để bước vào một đức tin sâu hơn.
Đau khổ đôi khi tước khỏi ta những thứ ta đã lầm tưởng là căn tính của mình để trả ta về câu hỏi căn bản: nếu không còn thành công, sắc đẹp, sức khỏe, địa vị, sự công nhận, tôi là ai?
Thánh Giá trả lời: bạn vẫn là người được yêu.
Đây có lẽ là nguồn chữa lành sâu nhất mà đức tin có thể đem lại cho tâm hồn.
Rất nhiều đau khổ tâm lý đến từ việc chúng ta đồng hóa giá trị bản thân với những gì có thể mất: ngoại hình, thành tích, tiền bạc, lời khen, vị trí xã hội, khả năng làm việc. Khi những điều đó lung lay, ta tưởng chính mình sụp đổ. Nhưng dưới chân Thánh Giá, một sự thật vang lên: giá trị của một con người không được đo bằng mức độ hữu dụng của họ.
Đức Giêsu trên Thánh Giá, xét theo tiêu chuẩn hiệu suất, chẳng làm được gì. Tay bị đóng đinh, chân không đi đâu, không giảng cho đám đông, không chữa bệnh. Nhưng chính ở nơi Người dường như “không làm được gì”, Người đang yêu đến cùng.
Một người già nằm liệt giường vẫn có giá trị.
Một người khuyết tật không tạo ra năng suất kinh tế vẫn có giá trị.
Một người mất trí nhớ vẫn có giá trị.
Một em bé chưa làm được gì cho xã hội vẫn có giá trị.
Giá trị của con người không đến từ điều họ sản xuất nhưng từ việc họ là một con người được Thiên Chúa yêu.
Đó là một Tin Mừng rất cần thiết cho thời đại ám ảnh bởi hiệu suất.
Bao nhiêu người trẻ kiệt sức bởi cảm giác mình chưa đủ giỏi, chưa đủ đẹp, chưa đủ thành công, chưa đủ nổi bật. Họ nhìn đời người khác qua màn hình rồi thấy đời mình thiếu thốn. Họ đo giá trị bằng lượt thích, mức lương, bằng cấp, cơ thể, thành tích. Và khi thất bại, họ không chỉ nói “tôi đã thất bại” mà nói “tôi là một thất bại”.
Thánh Giá phá vỡ lời nói dối ấy.
Đấng bị người đời loại bỏ lại là Con yêu dấu của Cha.
Đấng bị đóng giữa hai tên tội phạm vẫn là Đấng vô tội.
Những gì con người nói về bạn không có quyền cuối cùng định nghĩa bạn.
Thành công không làm bạn đáng yêu hơn trước mặt Thiên Chúa.
Thất bại cũng không làm bạn ít đáng yêu đi.
Có lẽ nếu một người thật sự tin điều đó, rất nhiều gánh nặng tâm lý sẽ được đặt xuống.
Ta không còn phải sống cả đời để chứng minh mình đáng được yêu.
Ta sống từ tình yêu đã được trao.
Và khi ấy ngay cả đau khổ cũng thay đổi màu sắc.
Không còn là bằng chứng rằng “Thiên Chúa bỏ tôi”, nhưng có thể trở thành nơi tôi khám phá rằng ngay khi mọi thứ khác rời bỏ, vẫn còn một tình yêu không rời bỏ.
Thánh Phaolô từng hỏi: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, bắt bớ, đói rách, hiểm nguy, gươm giáo?” Rồi ông trả lời: không có gì có thể tách chúng ta khỏi tình yêu Thiên Chúa trong Đức Kitô.
Đó là nền tảng của niềm hy vọng Kitô giáo.
Không phải “tôi sẽ không đau”.
Mà là “trong đau khổ, tôi không bị bỏ rơi”.
Không phải “tôi sẽ không chết”.
Mà là “cái chết không có lời cuối cùng”.
Không phải “mọi chuyện sẽ diễn ra theo ý tôi”.
Mà là “dù chuyện gì xảy ra, tôi vẫn ở trong tay Thiên Chúa”.
Cuối cùng, câu hỏi “đau khổ có ý nghĩa không?” không thể được trả lời bằng một chữ có hay không đơn giản.
Có những đau khổ vô nghĩa do con người gây ra và phải chấm dứt.
Có những đau khổ cần được chữa trị.
Có những đau khổ cần được lên tiếng.
Có những đau khổ phải chạy khỏi chứ không phải ở lại chịu đựng.
Có những đau khổ cần chuyên gia giúp đỡ.
Nhưng cũng có những đau khổ không thể tránh và không thể đảo ngược.
Với những đau khổ ấy, Thánh Giá nói: bạn vẫn còn tự do để yêu. Bạn vẫn còn khả năng biến điều mình không chọn thành một phần của món quà đời mình. Bạn có thể khóc. Bạn có thể yếu. Bạn có thể xin giúp đỡ. Bạn có thể mất nhiều thứ. Nhưng chưa ai có thể lấy khỏi bạn khả năng để trao phần còn lại của đời mình cho một ý nghĩa lớn hơn chính nỗi đau.
Và khi không làm được gì nữa, hãy nhìn Đức Giêsu.
Đừng nhìn Thánh Giá như một lời giải thích.
Hãy nhìn như một sự hiện diện.
Người ở đó.
Người biết.
Người hiểu.
Người đã đi con đường ấy.
Và Người đã đi đến tận cùng để nói với mọi người đang chịu đau khổ rằng: đây không phải là chương cuối.
Sau Golgotha còn có ngôi mộ trống.
Sau Thứ Sáu còn Chúa Nhật.
Sau tiếng “Lạy Thiên Chúa, sao Ngài bỏ con?” còn lời “Bình an cho anh em.”
Và những bàn tay đem bình an đến cho các môn đệ vẫn là những bàn tay mang dấu đinh.
Có lẽ đó là hình ảnh đẹp nhất để kết thúc suy tư này: Đức Kitô Phục Sinh không xóa các vết thương. Người biến chúng thành dấu chỉ của tình yêu chiến thắng.
Đời chúng ta cũng vậy.
Có thể ta sẽ mang vài vết sẹo đến cuối đời.
Nhưng vết sẹo không nhất thiết là chứng tích của thất bại.
Một ngày nào đó, nhờ ân sủng, chính những nơi ta từng đau nhất lại có thể trở thành những nơi ánh sáng đi qua nhiều nhất.
Và lúc ấy ta hiểu: ý nghĩa của Thánh Giá không phải là Thiên Chúa thích đau khổ.
Ý nghĩa của Thánh Giá là tình yêu mạnh hơn đau khổ.
Tình yêu mạnh hơn tội lỗi.
Tình yêu mạnh hơn phản bội.
Tình yêu mạnh hơn tuyệt vọng.
Và cuối cùng, tình yêu mạnh hơn cả cái chết.
Nếu hôm nay ai đó đang vác một cây thập giá rất nặng, có lẽ không cần nói với họ quá nhiều. Đừng vội giảng cho họ về ý nghĩa đau khổ. Hãy ngồi xuống. Hãy nghe. Hãy để họ khóc. Nếu có thể, hãy đỡ một đầu cây thập giá. Và nếu chẳng biết nói gì, hãy chỉ cùng họ nhìn lên Đấng chịu đóng đinh.
Bởi có những câu hỏi không được trả lời bằng lời.
Chúng được trả lời bằng một Đấng.
Một Đấng đã chịu thương tích.
Một Đấng đã chết.
Một Đấng đã sống lại.
Một Đấng đang âm thầm nói với từng người giữa đêm tối của đời họ:
“Con cứ đi tiếp. Ta biết con đau. Ta đang ở đây. Thập giá không phải là điểm cuối.”
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ TRONG NGHỆ THUẬT ĐƯƠNG ĐẠI VÀ ĐIỆN ẢNH
Có lẽ không có một hình ảnh nào trong lịch sử nhân loại vừa quen thuộc lại vừa gây tranh luận, vừa được yêu mến lại vừa bị chống đối, vừa được treo nơi cung thánh lại vừa xuất hiện trong viện bảo tàng, phòng triển lãm, tiểu thuyết, sân khấu và điện ảnh nhiều như Thánh Giá. Hai thanh gỗ giao nhau, xét về hình thức, đơn giản đến mức một đứa trẻ cũng có thể vẽ được. Nhưng đằng sau hai nét đơn sơ ấy là cả một vực sâu của đau khổ, tình yêu, tội lỗi, tha thứ, cái chết và sự sống. Bởi thế, khi nghệ thuật đương đại chạm vào Thánh Giá, nghệ thuật không bao giờ chỉ chạm vào một biểu tượng tôn giáo. Nghệ thuật đang chạm vào câu hỏi sâu nhất của con người: Tôi là ai giữa đau khổ này? Tại sao người vô tội lại phải đau? Tình yêu có thể đi xa đến đâu? Có điều gì nằm bên kia cái chết không? Và giữa một thế giới đầy những thân xác bị nghiền nát bởi chiến tranh, những gia đình tan vỡ, những người cô độc sau cánh cửa chung cư, những bệnh nhân nằm lặng lẽ dưới ánh đèn bệnh viện, những người trẻ cười trên mạng nhưng khóc một mình trong đêm, liệu Thánh Giá còn nói được điều gì với con người hôm nay hay chỉ còn là một dấu vết của quá khứ?
Thật lạ lùng, Thánh Giá vốn chẳng phải một vật đẹp. Nó không được tạo ra để trang trí. Nó từng là dụng cụ hành hình. Người Rôma không dựng thập giá để người ta chiêm ngắm cái đẹp nhưng để làm nhục, làm đau và làm chết. Người bị treo trên đó không có hào quang, không có ánh sáng sân khấu, không có những bản nhạc nền cảm động. Chỉ có máu, mồ hôi, tiếng thở đứt quãng, sự khinh bỉ của đám đông và cảm giác bị bỏ rơi đến tận cùng. Thế mà chính nơi ấy, Kitô giáo lại nhận ra dung mạo đẹp nhất của Thiên Chúa. Không phải cái đẹp của một thân thể không tì vết, nhưng cái đẹp của một tình yêu không giữ lại gì cho mình. Không phải cái đẹp của chiến thắng bằng sức mạnh, nhưng cái đẹp của một Đấng có thể bước xuống mà lại chọn ở lại. Không phải cái đẹp của quyền lực áp đảo, nhưng cái đẹp của đôi tay bị đóng đinh vẫn mở rộng. Có lẽ đây chính là nghịch lý đầu tiên khiến Thánh Giá vẫn tiếp tục ám ảnh nghệ thuật suốt hai ngàn năm: cái xấu nhất về mặt hình thức lại có thể chuyên chở cái đẹp nhất về mặt tình yêu.
Nghệ thuật xưa thường trình bày Thánh Giá trong không gian đức tin rõ ràng. Người tín hữu bước vào nhà thờ, nhìn lên tượng Chúa chịu nạn và hiểu ngay rằng đây là Đấng Cứu Độ. Chung quanh Người có Đức Maria, Thánh Gioan, các thiên thần, các biểu tượng phụng vụ. Mọi đường nét đều hướng người xem về mầu nhiệm cứu chuộc. Nghệ thuật đương đại thì khác. Nó sống trong một thế giới đã bị phân mảnh. Người nghệ sĩ hôm nay có thể không còn đứng trong một cộng đoàn đức tin. Họ có thể tin, nghi ngờ, phản kháng, tìm kiếm hay thậm chí hoàn toàn xa lạ với Kitô giáo. Vì thế, Thánh Giá bước vào nghệ thuật đương đại với nhiều dáng vẻ khác nhau. Có lúc Thánh Giá vẫn là lời tuyên xưng. Có lúc nó trở thành tiếng kêu của người bị áp bức. Có lúc chỉ còn là một hình ảnh biểu tượng cho đau đớn. Có lúc bị biến thành chất liệu gây sốc. Có lúc bị thương mại hóa, đặt lên áo quần, đồ trang sức, sân khấu trình diễn, quảng cáo như một ký hiệu văn hóa không còn nội dung tôn giáo. Có khi Thánh Giá được nâng niu. Có khi bị chất vấn. Có khi bị xuyên tạc. Nhưng ngay cả khi bị xuyên tạc, điều đáng suy nghĩ là người ta vẫn phải dùng đến Thánh Giá. Người ta có thể tuyên bố không còn tin vào nó, nhưng dường như vẫn không thể hoàn toàn làm ngơ trước nó.
Điều ấy nói lên một sự thật sâu xa: Thánh Giá chạm đến một kinh nghiệm phổ quát của con người. Người không tin vào Đức Kitô vẫn biết thế nào là bị phản bội. Người chưa bao giờ bước vào nhà thờ vẫn biết thế nào là mất người thân. Người chẳng đọc một câu Kinh Thánh nào vẫn từng có những đêm không ngủ vì một nỗi đau không biết kể cùng ai. Người ta có thể không gọi những điều ấy là “thập giá”, nhưng thập giá vẫn có mặt. Nó nằm trên giường bệnh. Nó đứng trước quan tài. Nó ở trong căn phòng nơi một cuộc hôn nhân vừa đổ vỡ. Nó ở trong đôi mắt của người mẹ có đứa con bỏ nhà. Nó ở trên gương mặt người cha thất nghiệp vẫn cố mỉm cười trước con. Nó nằm trong điện thoại của một người trẻ vừa đọc hàng trăm lời chế giễu nhắm vào mình. Nó có mặt nơi những người di dân rời quê hương, những nạn nhân chiến tranh, những trẻ em không hiểu tại sao người lớn lại giết nhau. Nghệ thuật đương đại khi trung thực với con người không thể tránh khỏi những vùng đau đớn ấy. Và khi đi đủ sâu vào đau đớn, dù biết hay không biết, người nghệ sĩ thường tiến rất gần đồi Golgotha.
Tin Mừng theo Thánh Gioan kể lại một cảnh tượng có thể xem như bức tranh vĩ đại nhất về Thánh Giá: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (x. Ga 19,25-27). Hãy thử nhìn cảnh ấy bằng đôi mắt của một nhà làm phim. Không cần nhiều lời thoại. Một ngọn đồi trơ trọi. Một thân thể bị treo cao. Một người mẹ đứng dưới chân con. Một người môn đệ trẻ. Vài người phụ nữ. Đám đông dần tan. Ánh chiều rơi xuống. Chẳng có gì “đẹp” theo nghĩa thông thường, nhưng lại có một vẻ đẹp khiến cả lịch sử phải dừng lại. Giữa lúc bản thân đang đau đến tận cùng, Đức Giêsu vẫn nhìn thấy nỗi cô đơn của mẹ mình và nỗi bơ vơ của người môn đệ. Người đang chết mà vẫn nghĩ đến người khác. Đó chính là nét đẹp mà nghệ thuật Kitô giáo phải bảo vệ. Nếu chỉ trình bày máu mà không trình bày tình yêu, nghệ thuật chưa hiểu Thánh Giá. Nếu chỉ làm người xem kinh hãi mà không dẫn họ vào lòng thương xót, nghệ thuật mới dừng lại ở cuộc hành hình. Nếu chỉ khai thác sự đau đớn để gây xúc động, người ta có thể tạo nên một tác phẩm mạnh, nhưng chưa chắc đã chạm đến mầu nhiệm Golgotha. Trung tâm Thánh Giá không phải là đau khổ. Trung tâm Thánh Giá là tình yêu đi xuyên qua đau khổ.
Đó cũng là điều điện ảnh có khả năng diễn tả đặc biệt. Điện ảnh là nghệ thuật của khuôn mặt, ánh mắt, im lặng, khoảng cách, ánh sáng, âm thanh và thời gian. Có những điều thần học phải dùng nhiều trang sách để diễn tả nhưng điện ảnh chỉ cần một ánh mắt. Một người mẹ nhìn đứa con chết trong tay mình. Một người lính ngồi bất động sau trận chiến. Một tù nhân chia miếng bánh cuối cùng cho bạn tù. Một người bị xúc phạm nhưng không trả thù. Một người cha quay lại ôm đứa con đã phản bội mình. Một người bệnh sắp chết nắm tay người bên cạnh và nói: “Đừng sợ.” Những khoảnh khắc như thế, dù bộ phim có nhắc đến Đức Kitô hay không, đều có thể mang âm vang của Thánh Giá. Bởi Thánh Giá không chỉ hiện diện khi trên màn ảnh có một cây thập tự. Có những bộ phim đầy những hình thánh giá nhưng chẳng có tinh thần Thánh Giá; ngược lại, có những câu chuyện không một lần nhắc đến Kitô giáo mà vẫn đặt trước mắt ta một con người dám hy sinh mạng sống vì người khác. Thánh Giá sâu hơn biểu tượng. Thánh Giá là một cách yêu.
Điện ảnh về cuộc Thương Khó của Chúa luôn đứng trước một thách đố đặc biệt: phải diễn tả bạo lực đến mức nào? Nếu giảm nhẹ quá, người xem có thể quên rằng đóng đinh là một cực hình khủng khiếp. Nhưng nếu nhấn mạnh quá mức vào máu, vết thương và tiếng kêu, người ta lại có nguy cơ biến Golgotha thành một màn trình diễn đau đớn. Người Kitô hữu phải nhớ rằng máu của Đức Giêsu không phải một thứ đạo cụ gây xúc động. Mỗi giọt máu ấy thuộc về một Con Người yêu thương. Điều làm ta quỳ xuống trước Thánh Giá không phải vì ta thích nhìn đau khổ, nhưng vì ta nhận ra: Người chịu điều đó vì yêu. Nếu tách đau khổ khỏi tình yêu, Thánh Giá trở thành bệnh hoạn. Nếu tách tình yêu khỏi đau khổ, Thánh Giá lại biến thành một thứ tình cảm mềm yếu. Mầu nhiệm nằm ở chỗ cả hai đi cùng nhau: tình yêu thật luôn có giá của nó.
Có một cảnh trong Tin Mừng Luca đặc biệt đáng cho mọi người làm nghệ thuật về Thánh Giá suy nghĩ. Một trong hai tên gian phi bị đóng đinh bên cạnh Đức Giêsu lên tiếng: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Người nói với anh: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Đó là một cuộc đối thoại xảy ra trong những phút hấp hối. Không có tòa giải tội. Không có thời gian sửa chữa quá khứ. Không có một đời sống đạo đức để trình bày. Chỉ có một lời van xin của một người mang cả cuộc đời thất bại và một câu trả lời đầy lòng thương xót của Đức Giêsu. Nếu điện ảnh muốn hiểu Thánh Giá, hãy dừng máy thật lâu ở đây. Người bị đóng đinh giữa vẫn còn đủ tự do để cứu một người khác. Đôi mắt sắp khép lại vẫn còn nhìn thấy một linh hồn. Cửa Thiên Đàng mở ra không bởi một bài diễn văn nhưng bởi một lời: “Hôm nay”. Thánh Giá ở đây trở thành nơi một con người không còn gì để khoe lại được ban tất cả. Đó là nghệ thuật của Thiên Chúa: Người có thể biến phút cuối cùng thành khởi đầu.
Nghệ thuật đương đại thường nói rất nhiều về những thân thể bị tổn thương. Điều này rất gần với Kitô giáo, bởi đức tin Kitô giáo không khinh thường thân xác. Thiên Chúa đã làm người. Đức Giêsu đã biết đói, khát, mệt, đau. Thân thể Người bị đánh đập. Tay Người bị đóng đinh. Cạnh sườn Người bị đâm thủng. Người không cứu thế giới từ xa. Người cứu thế giới trong một thân xác có thể bị thương. Vì thế, mỗi khi nghệ thuật trung thực nhìn vào thân thể con người bị chà đạp, bị mua bán, bị bạo hành, bị biến thành món hàng, bị khai thác, người Kitô hữu phải nhận ra một tiếng vọng của câu Đức Giêsu nói: “Các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta.” Thân thể người nghèo là một thứ “thánh đường” mà thế giới dễ xúc phạm. Thân thể người bệnh, người già, người khuyết tật, người hấp hối là những thân thể mà nền văn hóa tôn thờ vẻ đẹp và hiệu suất rất dễ quay mặt. Nhưng Thánh Giá buộc chúng ta phải nhìn lại. Thiên Chúa đã chọn một thân thể đầy thương tích để tỏ mình.
Vì vậy, nghệ thuật Kitô giáo hôm nay không thể chỉ vẽ Thánh Giá đẹp. Nó phải giúp người ta nhận ra những người đang bị đóng đinh. Một bức tượng Chúa chịu nạn bằng gỗ quý có thể rất đẹp, nhưng nếu cộng đoàn cầu nguyện trước bức tượng ấy lại làm ngơ trước một người nghèo nằm ngoài cổng nhà thờ thì vẻ đẹp kia đã bị phản bội. Một bộ phim về cuộc Khổ nạn có thể làm hàng triệu người khóc, nhưng nếu ra khỏi rạp chúng ta vẫn tiếp tục làm nhục người khác bằng lời nói, vẫn lạnh lùng trước người bị tổn thương, vẫn trả thù những ai xúc phạm mình, thì nước mắt ấy chưa chắc đã là sự hoán cải. Thánh Giá không muốn người ta chỉ khóc cho Đức Giêsu của hai ngàn năm trước. Thánh Giá muốn người ta nhận ra Đức Giêsu đang tiếp tục đau trong những con người hôm nay.
Đáng buồn là trong văn hóa đại chúng, Thánh Giá đôi khi bị sử dụng như một món phụ kiện. Người ta đeo nó mà không biết Đấng đã chết trên đó là ai. Người ta đưa nó vào sân khấu để tạo hình ảnh mạnh, dùng nó trong video ca nhạc để gây tranh cãi, đặt nó trong những bối cảnh cố tình xúc phạm để thu hút chú ý. Người tín hữu có thể đau lòng, và nỗi đau ấy là dễ hiểu. Nhưng phản ứng của người Kitô hữu cũng phải mang hình dáng Thánh Giá. Chúng ta không thể bảo vệ Thánh Giá bằng một thái độ hoàn toàn trái ngược với Đấng chịu đóng đinh. Chúa Giêsu không dạy các môn đệ bảo vệ Người bằng bạo lực. Khi Phêrô rút gươm trong vườn Cây Dầu và chém đứt tai người đầy tớ vị thượng tế, Đức Giêsu bảo ông tra gươm vào vỏ. Người còn chữa tai cho chính kẻ đến bắt mình. Một Kitô hữu có thể lên tiếng khi điều thánh thiêng bị xúc phạm, nhưng phải lên tiếng với sự thật, sự bình tĩnh và lòng bác ái. Nếu ta nhân danh Thánh Giá để làm nhục người khác, ta đang làm điều ngược lại với Thánh Giá.
Mặt khác, cũng không nên quá sợ hãi khi nghệ thuật đặt câu hỏi với đức tin. Đức tin trưởng thành không sợ câu hỏi. Có những tác phẩm làm ta khó chịu không phải vì chúng cố tình xúc phạm nhưng vì chúng phơi bày những góc tối mà người đạo đức thường tránh nhìn. Đâu đó trong lịch sử Kitô giáo đã từng có những người cầm Thánh Giá nhưng lại gây đau khổ cho người khác. Đâu đó người ta đã biến Thánh Giá thành dấu hiệu quyền lực thay vì dấu hiệu tự hiến. Đâu đó có những Kitô hữu thích bắt người khác “vác thập giá” hơn là cùng họ vác. Đâu đó người ta nói với người đau khổ: “Đó là thánh giá Chúa gửi” một cách quá dễ dàng, trong khi không hề đặt vai dưới gánh nặng của họ. Nếu nghệ thuật đương đại buộc chúng ta xét lại những méo mó ấy, đôi khi nó đang làm một công việc cần thiết.
Bởi có một sự khác biệt rất lớn giữa Thánh Giá của Đức Kitô và những cây thập giá chúng ta chất lên vai nhau. Không phải mọi đau khổ đều do Chúa muốn. Người chồng đánh vợ không phải “thánh giá Chúa gửi” cho người vợ. Sự bất công bóc lột công nhân không phải “thánh giá” họ phải âm thầm chịu đựng. Việc người lớn lạm dụng trẻ em không bao giờ có thể được thiêng liêng hóa bằng hai chữ “hy sinh”. Một chính quyền gây chiến rồi bảo dân chúng chịu đựng vì lý tưởng cũng không thể lấy Thánh Giá làm bình phong. Đức Giêsu mang Thánh Giá vì tội lỗi của con người; Người không phong thánh cho tội lỗi gây nên Thánh Giá. Người tha thứ cho kẻ đóng đinh mình nhưng cũng vạch trần sự gian dối, lên án giả hình và bênh vực người yếu thế. Nghệ thuật về Thánh Giá nếu đúng nghĩa phải giúp chúng ta phân biệt đau khổ được biến đổi bởi tình yêu với đau khổ do sự ác gây ra và cần phải chấm dứt.
Một trong những điều lớn lao mà điện ảnh có thể làm là cho chúng ta mượn đôi mắt của người khác. Ta ngồi trong bóng tối của rạp chiếu và trong vài giờ được bước vào cuộc đời của một người không giống mình. Ta nhìn thế giới qua mắt một đứa trẻ nghèo, một tù nhân, một người mẹ, một người lính, một người bệnh, một người bị bỏ rơi. Nếu bộ phim chân thật, ta có thể rời rạp với một trái tim khác. Đó là nơi điện ảnh gặp Tin Mừng. Đức Giêsu luôn làm điều ấy: Người đưa người nghe vào câu chuyện của người khác. Người kể về người Samari cúi xuống bên nạn nhân bị bỏ mặc. Người kể về đứa con hoang đàng trở về và người cha chạy ra ôm. Người kể về Lazarô nghèo nằm trước cửa nhà người giàu. Người buộc ta phải nhìn người mà ta thường bước qua. Nghệ thuật cũng có thể trở thành một dụ ngôn như thế.
Thánh Giá đặc biệt hiện diện trong những bộ phim về sự tha thứ. Tha thứ là một trong những cảnh khó làm nhất vì nó rất dễ trở thành giả tạo. Tha thứ thật không phải vài giọt nước mắt rồi mọi chuyện coi như chưa xảy ra. Tha thứ là một hành trình đôi khi rất dài, đi xuyên qua giận dữ, ký ức, công lý và chữa lành. Đức Giêsu trên Thánh Giá nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Người không nói rằng đóng đinh một người vô tội là chuyện nhỏ. Người không phủ nhận tội ác. Người không bảo không có gì xảy ra. Chính những vết đinh trên thân thể Người nói rằng một điều khủng khiếp đã xảy ra. Nhưng Người quyết định không để điều ác có tiếng nói cuối cùng. Đó là tha thứ Kitô giáo. Tôi không thể thay đổi điều người khác đã làm với tôi, nhưng nhờ ân sủng, tôi có thể không để việc ấy biến tôi thành một bản sao của kẻ đã làm tôi đau.
Nghệ thuật lớn thường xuất hiện nơi cái đẹp và vết thương gặp nhau. Một bản nhạc buồn có thể đẹp. Một bức tranh về một người mẹ khóc có thể đẹp. Một cảnh phim về cái chết có thể khiến người xem nhận ra giá trị của sự sống. Điều này không có nghĩa đau khổ tự nó đẹp. Ung thư không đẹp. Chiến tranh không đẹp. Một đứa trẻ mất cha mẹ không đẹp. Sự phản bội không đẹp. Nhưng tình yêu nảy sinh giữa những điều ấy có thể đẹp đến mức khiến chúng ta quỳ xuống. Một người vợ chăm người chồng bại liệt suốt nhiều năm. Một người mẹ thức đêm cạnh đứa con bệnh. Một bác sĩ ở lại thêm giờ bên bệnh nhân hấp hối vì không muốn họ chết một mình. Một người con kiên nhẫn chăm cha già mất trí nhớ dù mỗi ngày ông không còn nhận ra mình. Những cảnh ấy chẳng có hào quang, nhưng rất gần Golgotha. Đó là lúc Thánh Giá bước ra khỏi bức tượng và nhập thể vào cuộc đời.
Điện ảnh ngày nay có khả năng kỹ thuật gần như vô hạn. Người ta có thể tạo ra những thế giới chưa từng tồn tại, những thành phố khổng lồ, những trận chiến kinh hoàng, những hình ảnh khiến mắt người xem choáng ngợp. Nhưng điều điện ảnh cần nhất vẫn là một trái tim biết nhìn con người. Một cảnh quay đơn sơ về hai bàn tay già nua nắm lấy nhau đôi khi có sức mạnh hơn cả ngàn hiệu ứng. Một giọt nước mắt không bị ép buộc có thể nói nhiều hơn một bài diễn văn. Một khoảng lặng đúng chỗ có thể khiến người xem nghe được điều mà hàng trăm lời thoại không nói nổi. Golgotha cũng vậy. Tin Mừng không mô tả cuộc đóng đinh như một kịch bản giật gân. Thánh Gioan chỉ nói ngắn gọn: “Tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá.” Sự tiết chế ấy rất đáng suy nghĩ. Có những đau khổ quá lớn để đem ra trang trí.
Có lẽ một trong những thách đố lớn nhất của nghệ thuật tôn giáo đương đại là tránh biến Thánh Giá thành thứ quá quen. Khi một biểu tượng xuất hiện hàng ngày, ta có nguy cơ không còn nhìn thấy nó. Ta bước vào nhà, làm dấu trước tượng chịu nạn. Ta vào nhà thờ, nhìn lên Thánh Giá. Ta mang Thánh Giá ở cổ. Ta đặt Thánh Giá trên bàn. Nhưng có khi ta đã quen đến mức chẳng còn bàng hoàng. Hãy thử nhìn lại Thánh Giá như lần đầu tiên. Đây là một người đàn ông trẻ bị đóng đinh. Hai tay không thể ôm ai nữa. Hai chân không thể đi đâu nữa. Thân thể gần như bị tước hết phẩm giá. Bạn bè bỏ chạy. Đám đông nhạo báng. Một người mẹ đứng nhìn. Và người ấy là Con Thiên Chúa. Nếu chúng ta thật sự nhìn thấy điều ấy, ta không thể thản nhiên.
Nhưng nếu chỉ dừng ở Thứ Sáu Tuần Thánh, nghệ thuật Kitô giáo vẫn chưa nói hết câu. Thánh Giá của Kitô giáo luôn mở sang Phục Sinh. Đây là điểm phân biệt niềm tin Kitô giáo với một thứ mỹ học bi thương. Chúng ta không tôn thờ thất bại. Chúng ta không yêu đau khổ vì đau khổ. Chúng ta không dựng tượng một người chết để ca tụng cái chết. Người bị đóng đinh đã sống lại. Những vết thương vẫn còn trên thân thể phục sinh, nhưng chúng không còn chảy máu. Thánh Tôma được mời chạm vào dấu đinh. Điều này kỳ diệu vô cùng: Đức Kitô Phục Sinh không xóa vết thương khỏi lịch sử của mình. Người không giả vờ Golgotha chưa từng xảy ra. Nhưng các vết thương đã được biến đổi. Chúng không còn là dấu hiệu chiến thắng của bạo lực mà trở thành dấu chứng của tình yêu.
Đây là điều nghệ thuật đương đại rất cần nói với một thế giới đầy người mang sẹo. Có những vết thương không biến mất. Có những ký ức sẽ theo ta cả đời. Có những người đã mất không trở về. Có những giấc mơ đã vỡ không thể ráp lại như cũ. Kitô giáo không hứa rằng đức tin sẽ xóa mọi dấu vết của đau khổ. Đức Kitô sống lại vẫn mang dấu đinh. Nhưng Người cho thấy vết thương không nhất thiết phải là tên gọi cuối cùng của ta. Một người từng bị tổn thương có thể trở thành người chữa lành. Một người từng bị bỏ rơi có thể trở thành người biết đón nhận. Một người từng mất mát có thể trở thành người dịu dàng với nỗi đau của người khác. Một tội nhân có thể trở thành một vị thánh. Một kẻ từng chối Chúa như Phêrô có thể trở thành người chăn đoàn chiên. Đó chính là Phục Sinh xảy ra trong những thân phận tưởng như đã kết thúc.
Nếu một đạo diễn Kitô hữu hỏi: “Tôi phải làm phim về Thánh Giá thế nào?”, có lẽ câu trả lời đầu tiên không phải là hãy đặt thật nhiều cây Thánh Giá vào cảnh phim. Hãy kể một câu chuyện trong đó tình yêu phải trả giá. Hãy để người mạnh cúi xuống trước người yếu. Hãy để người bị tổn thương chiến đấu với cám dỗ trả thù. Hãy để một người dám nói sự thật dù phải mất lợi ích. Hãy để một người mẹ kiên trì yêu đứa con đã làm bà đau. Hãy để một người trẻ dám sống tử tế giữa một môi trường coi tử tế là ngây thơ. Hãy để một người đi vào bóng tối của người khác và không bỏ họ lại một mình. Khi ấy, dù cây Thánh Giá không xuất hiện trên màn ảnh, tinh thần Golgotha đã có mặt.
Và nếu một họa sĩ, một nhà điêu khắc, một nhiếp ảnh gia, một nhạc sĩ hỏi: “Làm sao đưa Thánh Giá vào nghệ thuật hôm nay?”, có lẽ cũng vậy. Đừng chỉ sao chép những hình thức cũ. Hãy đứng dưới những thập giá thật của con người hôm nay. Hãy vào bệnh viện. Hãy đến mái ấm. Hãy ngồi với người già. Hãy nghe người thất nghiệp kể chuyện. Hãy nhìn vào đôi mắt của một người mẹ mất con. Hãy đến những nơi chiến tranh vừa đi qua. Hãy gặp những người đang sống giữa những rạn vỡ mà chẳng ai biết. Hãy để họ dạy cho mình biết Thánh Giá là gì. Rồi hãy sáng tác. Bởi người nghệ sĩ chỉ nhìn Thánh Giá trong sách có thể tạo ra một hình ảnh đẹp; người nghệ sĩ đã ngồi dưới chân Thánh Giá của con người mới có thể tạo ra một tác phẩm có hồn.
Đức Maria là người đầu tiên dạy nghệ thuật Kitô giáo cách nhìn Thánh Giá. Mẹ không giải thích. Mẹ đứng. “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu có thân mẫu Người.” Chữ “đứng” ấy đẹp vô cùng. Không ngã quỵ trong tuyệt vọng, cũng không bỏ đi vì không chịu nổi. Mẹ đứng đó. Có những lúc tình yêu không thể làm gì khác ngoài việc ở lại. Không chữa được bệnh, nhưng ở lại. Không trả lại người đã mất, nhưng ở lại. Không giải quyết ngay được khủng hoảng của một người, nhưng ở lại. Thế giới hôm nay rất giỏi giải thích nhưng đôi khi rất kém ở lại. Chúng ta gửi một biểu tượng cảm xúc rồi đi. Chúng ta nói “cố lên” rồi biến mất. Đức Maria không nói “Con cố lên”. Mẹ đứng dưới chân Thánh Giá cho đến cùng.
Có lẽ những tác phẩm nghệ thuật lớn nhất về Thánh Giá cũng phải biết “đứng” như thế. Không giải thích đau khổ quá nhanh. Không vội nhét một câu trả lời đạo đức vào miệng người đang khóc. Không biến đau thương thành phương tiện truyền thông. Không sử dụng nạn nhân để tạo hiệu ứng. Chỉ nhìn thật sâu, ở lại thật lâu và yêu thật thật. Nghệ thuật có lòng thương xót sẽ không biến nỗi đau của người khác thành món hàng. Điện ảnh có lòng thương xót sẽ biết khi nào nên quay cận cảnh và khi nào phải hạ máy xuống. Có những giọt nước mắt cần được nhìn thấy; cũng có những giọt nước mắt cần được tôn trọng bằng sự kín đáo.
Một thế giới quá quen với hình ảnh bạo lực cũng cần được tái giáo dục về cách nhìn. Hằng ngày chúng ta lướt qua hàng trăm hình ảnh chiến tranh, tai nạn, người chết, người bị đánh, người bị làm nhục. Chỉ vài giây sau, ngón tay lại lướt xuống một quảng cáo món ăn, một video hài hước. Tâm hồn con người có nguy cơ chai lì. Đau khổ của người khác trở thành “nội dung”. Thánh Giá chống lại sự chai lì ấy. Thánh Giá buộc ta dừng lại trước một con người cụ thể. “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.” Hãy nhìn. Không phải tò mò. Không phải tiêu thụ hình ảnh. Nhưng nhìn đến mức để trái tim bị thương.
Và điều kỳ lạ là khi nhìn đủ lâu vào Đức Kitô chịu đóng đinh, ta sẽ bắt đầu nhìn thế giới khác đi. Ta bớt vội kết án. Ta hiểu rằng phía sau một người cáu gắt có thể là một vết thương. Phía sau một người nghiện có thể là một câu chuyện cô đơn. Phía sau một đứa trẻ nổi loạn có thể là một tiếng kêu không ai nghe. Phía sau một người cha khô khan có thể là cả cuộc đời chưa từng được ai ôm. Thánh Giá không làm chúng ta ngây thơ trước sự ác, nhưng làm chúng ta sâu hơn khi nhìn con người. Đức Giêsu nhìn những người đóng đinh mình và vẫn gọi Thiên Chúa là Cha của họ: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đó là cái nhìn mà nghệ thuật cần học.
Nghệ thuật đương đại thường thích phá vỡ các khuôn mẫu. Thánh Giá cũng từng là sự phá vỡ lớn lao nhất. Người ta mong Đấng Mêsia quyền lực; Thiên Chúa lại xuất hiện trong một người bị đóng đinh. Người ta nghĩ Thiên Chúa ở phía kẻ chiến thắng; Người lại đứng giữa những kẻ bị hành hình. Người ta nghĩ quyền năng nghĩa là không ai làm gì được mình; Đức Giêsu cho thấy quyền năng của Thiên Chúa là có thể yêu ngay cả khi bị người khác làm tổn thương. Trong nghĩa đó, chẳng có gì “đương đại” hơn Thánh Giá. Nó đảo ngược những hệ giá trị mà con người vẫn chạy theo. Thế giới nói: hãy được nhìn thấy. Thánh Giá nói: hãy biết trao ban. Thế giới nói: hãy thắng. Thánh Giá nói: hãy yêu. Thế giới nói: kẻ làm đau mình phải trả giá. Thánh Giá nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Thế giới nói: cứu lấy mình trước. Đám đông cũng từng nói với Đức Giêsu: “Hãy xuống khỏi thập giá đi!” Nhưng Người không xuống. Bởi nếu Người xuống, Người cứu được mình; ở lại, Người cứu được chúng ta.
Đó là cảnh phim không một đạo diễn nào có thể vượt qua: Con Thiên Chúa có thể bước xuống nhưng không bước xuống. Không phải vì đinh mạnh hơn Người. Không phải vì quân lính giữ được Người. Không phải vì thập giá có quyền trên Người. Chính tình yêu giữ Người lại. Những chiếc đinh đóng vào tay Đức Giêsu, nhưng tình yêu mới là điều giữ đôi tay ấy mở rộng đến cuối cùng. Và có lẽ đó là hình ảnh nghệ thuật đẹp nhất có thể dành cho Thánh Giá: đôi tay không khép lại.
Ngày nào con người còn đau khổ, Thánh Giá còn có điều để nói. Ngày nào có người bị bỏ rơi, Thánh Giá còn đứng đó. Ngày nào có người yêu đến mức chịu thiệt vì người mình yêu, Thánh Giá vẫn tiếp tục được vẽ vào lịch sử. Ngày nào một người chọn tha thứ thay vì trả thù, một người chọn ở lại thay vì bỏ đi, một người chọn nói thật thay vì bảo vệ mình, một người chọn chia sẻ thay vì tích trữ, một người chọn bảo vệ sự sống của người yếu thế, ngày ấy Golgotha lại hiện diện giữa đời.
Nghệ thuật có thể làm Thánh Giá đẹp hơn về hình thức, nhưng chỉ tình yêu mới làm cho Thánh Giá đúng nghĩa. Điện ảnh có thể tái dựng Golgotha bằng những kỹ thuật kỳ diệu nhất, nhưng chẳng máy quay nào quay được chiều sâu của một tình yêu nếu người kể chuyện không hiểu rằng Đức Giêsu không chết vì yêu cái chết; Người chết vì yêu sự sống. Người không tôn vinh đau khổ; Người đi vào đau khổ để không một người đau khổ nào còn phải ở đó một mình.
Và cuối cùng, có lẽ tác phẩm nghệ thuật vĩ đại nhất về Thánh Giá không nằm trong bất cứ bảo tàng nào, cũng chẳng được chiếu ở bất cứ liên hoan phim nào. Tác phẩm ấy chính là một đời người được tình yêu biến đổi. Một người từng ích kỷ biết cho đi. Một người từng cay đắng biết tha thứ. Một người từng chỉ sống cho mình nay biết sống cho người khác. Một người từng chạy trốn thập giá nay biết đặt vai dưới gánh nặng của anh chị em. Khi ấy, Thánh Giá không còn chỉ được treo trên tường. Nó đã được khắc vào trái tim.
Và đó mới là điều Đức Giêsu muốn khi Người nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Người không bảo chúng ta chiêm ngưỡng Thánh Giá từ xa. Người bảo hãy bước vào con đường của Thánh Giá. Nghệ thuật có thể giúp ta nhìn. Điện ảnh có thể khiến ta xúc động. Một bức tranh có thể làm ta lặng người. Một khúc nhạc có thể khiến ta rơi nước mắt. Nhưng cuối cùng, Tin Mừng vẫn hỏi một câu khó hơn: Sau khi nhìn Thánh Giá, đời ta có khác đi không?
Nếu rời khỏi một bộ phim về cuộc Thương Khó mà ta vẫn căm ghét người đã xúc phạm mình, ta chưa hiểu bộ phim. Nếu đứng trước một kiệt tác Thánh Giá mà ta vẫn lạnh lùng với người nghèo, ta chưa nhìn thấy tác phẩm. Nếu đeo Thánh Giá trên ngực nhưng lời nói mỗi ngày lại đóng đinh người khác, chiếc Thánh Giá ấy chưa đi được từ cổ xuống trái tim. Nếu hôn chân Chúa chịu nạn ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng không thể cúi xuống trước một người đau khổ, nụ hôn ấy còn dang dở.
Thánh Giá không cần chúng ta bảo vệ bằng những khẩu hiệu ồn ào cho bằng cần chúng ta làm cho nó trở nên khả tín bằng đời sống. Thế giới hôm nay có thể không đọc Tin Mừng, nhưng vẫn đọc cuộc đời người Kitô hữu. Có người sẽ không bao giờ bước vào nhà thờ, nhưng có thể gặp Thánh Giá nơi một Kitô hữu biết nhẫn nhịn mà không hèn nhát, biết tha thứ mà không dung túng sự ác, biết yêu mà không chiếm hữu, biết phục vụ mà không tìm tiếng khen, biết chịu thiệt mà không oán trách, biết đứng bên người đau khổ mà không giảng giải rẻ tiền. Một đời sống như thế chính là bức tranh Thánh Giá sống động nhất.
Và rồi, vào cuối mỗi câu chuyện Thánh Giá chân thật, người Kitô hữu vẫn phải để một tia sáng lọt vào. Không phải thứ ánh sáng giả tạo xóa sạch nước mắt, nhưng ánh sáng của bình minh Phục Sinh. Sau đêm Thứ Sáu là sự thinh lặng Thứ Bảy, rồi đến buổi sáng người phụ nữ chạy khỏi ngôi mộ trống. Điện ảnh Kitô giáo không bắt buộc mọi câu chuyện phải kết thúc bằng nụ cười; nhưng phải biết rằng tuyệt vọng không có quyền viết câu cuối cùng. Nghệ thuật Kitô giáo có thể vẽ bóng tối rất đậm, nhưng đừng quên đã có một ngôi mộ mở cửa.
Bởi Thánh Giá của chúng ta không phải dấu chấm hết. Nó là dấu cộng của Thiên Chúa đặt vào lịch sử con người: đau khổ cộng với tình yêu có thể sinh hy vọng; cái chết cộng với Đức Kitô mở ra sự sống; tội lỗi gặp lòng thương xót có thể trở thành một khởi đầu mới. Hai thanh gỗ giao nhau, một thanh nối đất với trời, một thanh mở sang hai phía như vòng tay. Có lẽ không một nhà thiết kế nào từng tạo được một hình ảnh cô đọng đến thế. Thiên Chúa ôm lấy con người và nối con người lại với Thiên Chúa bằng chính thân thể Con Một mình.
Giữa vô vàn màn ảnh sáng lên mỗi ngày, giữa hàng tỷ hình ảnh được tạo ra rồi biến mất chỉ sau vài giây, Thánh Giá vẫn đứng đó, âm thầm, không chạy theo thị hiếu. Nó không cần hiệu ứng. Nó không cần quảng bá. Nó không cần làm mới thông điệp, bởi con người vẫn còn cần được yêu, vẫn còn đau khổ, vẫn còn phạm tội, vẫn còn sợ chết và vẫn còn khát vọng được tha thứ. Thánh Giá vẫn hỏi nghệ thuật, điện ảnh và mỗi chúng ta: Ngươi sẽ làm gì với nỗi đau của con người? Biến nó thành sản phẩm, hay cúi xuống bên nó? Đứng nhìn, hay cùng vác? Khai thác nó, hay chữa lành nó? Bỏ chạy khỏi nó, hay ở lại như Đức Maria?
Có lẽ đó là lý do Thánh Giá sẽ không bao giờ cũ. Bao lâu con người còn yêu, còn đau, còn mất mát, còn hy vọng, thì hình bóng của Người chịu đóng đinh vẫn còn ở giữa chúng ta. Và bao lâu một người vẫn có thể nhìn lên Thánh Giá để thì thầm: “Lạy Chúa, xin nhớ đến con”, thì câu trả lời từ Golgotha vẫn vang lên, vượt qua mọi thời đại, mọi nền nghệ thuật, mọi màn ảnh và mọi bóng tối của đời người: “Hôm nay, con sẽ ở với Ta.”
Lm. Anmai, CSsR

SỐNG LỄ SUY TÔN THÁNH GIÁ: ĐỪNG CHỈ NGƯỚC NHÌN THÁNH GIÁ, HÃY ĐỂ THÁNH GIÁ ĐI VÀO ĐỜI MÌNH
Mỗi năm, khi ngày 14 tháng 9 trở về, Hội Thánh lại long trọng mừng lễ Suy Tôn Thánh Giá. Hai chữ “suy tôn” nghe thật trang trọng, nhưng nếu không cẩn thận, người Kitô hữu có thể chỉ dừng lại ở một cử chỉ đạo đức bên ngoài: nhìn lên cây Thánh Giá, cúi đầu, làm dấu, hôn kính, đọc một vài kinh, rồi sau đó trở về với đời sống cũ, với cách suy nghĩ cũ, với những giận hờn cũ, với sự ích kỷ cũ, với những vết thương mà mình vẫn không chịu tha thứ, với những tính toán mà mình vẫn khư khư giữ lấy. Nếu như thế thì chúng ta đã mừng lễ Thánh Giá nhưng chưa chắc đã sống mầu nhiệm Thánh Giá. Suy tôn Thánh Giá không chỉ là đặt cây Thánh Giá lên nơi cao nhất trong nhà thờ. Điều quan trọng hơn nhiều là đặt Thánh Giá vào chỗ sâu nhất của lòng mình. Không phải chỉ treo Thánh Giá trên tường, nhưng để tinh thần của Đấng chịu đóng đinh thấm vào từng suy nghĩ, từng lời nói, từng quyết định, từng tương quan và từng đau khổ của đời ta. Người Công giáo nào cũng quen với cây Thánh Giá. Từ khi còn bé, nhiều người đã được cha mẹ dạy làm dấu Thánh Giá trước khi ăn, trước khi ngủ, khi thức dậy, lúc lên đường, khi gặp nguy hiểm. Trong nhà có Thánh Giá. Trong nhà thờ có Thánh Giá. Trên bàn thờ có Thánh Giá. Trên cổ nhiều người cũng mang Thánh Giá. Nhưng một câu hỏi rất cần được đặt ra trong ngày lễ này là: Thánh Giá có thực sự hiện diện trong cách chúng ta đang sống hay không? Có thể trên cổ ta mang Thánh Giá mà trong lòng lại không có lòng thương xót. Có thể trên tường nhà ta có Thánh Giá mà trong gia đình lại đầy những lời cay nghiệt. Có thể tay ta làm dấu Thánh Giá rất nhanh mà miệng ta cũng nhanh chóng nói xấu người khác. Có thể ta hôn Thánh Giá trong phụng vụ mà lại không chịu ôm lấy một người đang đau khổ ngay bên cạnh mình. Có thể ta thuộc lòng câu “Lạy Chúa, chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô, vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ”, nhưng trong thực tế lại tìm mọi cách né tránh hy sinh, từ chối tha thứ, ngại phục vụ và chỉ muốn chọn phần nhẹ nhàng cho bản thân. Bởi thế, lễ Suy Tôn Thánh Giá là một lời mời gọi rất mạnh để mỗi người Kitô hữu trở về với cốt lõi của đức tin: chúng ta tin vào một Thiên Chúa đã cứu con người không bằng quyền lực áp đảo, nhưng bằng tình yêu tự hiến; không bằng việc tiêu diệt kẻ thù, nhưng bằng việc dang tay cho kẻ thù đóng đinh mình; không bằng sự trả thù, nhưng bằng lời tha thứ; không bằng xuống khỏi Thập Giá để chứng minh quyền năng, nhưng bằng ở lại trên Thập Giá cho đến cùng để chứng minh tình yêu.
Tin Mừng cho chúng ta một ánh sáng thật đẹp để bước vào ngày lễ này. Chúa Giêsu nói với ông Nicôđêmô: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ” (x. Ga 3,13-17). Có lẽ hiếm có đoạn Tin Mừng nào diễn tả mầu nhiệm Thánh Giá cô đọng và đẹp như thế. Thánh Giá trước hết không phải là câu chuyện về đau khổ; Thánh Giá là câu chuyện về tình yêu. Nếu chỉ nhìn thấy đinh, máu, mão gai, vết thương và cái chết thì ta mới nhìn được bề mặt của Thánh Giá. Phải đi sâu hơn nữa để thấy điều đang cháy ở bên trong tất cả những đau đớn ấy: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” Chìa khóa để hiểu Thánh Giá nằm ở chữ “yêu”. Không phải Thiên Chúa thích đau khổ. Không phải Chúa Cha vui khi thấy Con mình chịu chết. Không phải Kitô giáo tôn thờ đau đớn. Điều Kitô giáo tôn thờ là một tình yêu lớn đến mức chấp nhận đi xuyên qua đau khổ để cứu người mình yêu. Một người mẹ thức trắng đêm bên giường bệnh của con không yêu sự mất ngủ; bà yêu đứa con. Một người cha vất vả cả đời không yêu mồ hôi và nhọc nhằn; ông yêu gia đình. Một người chấp nhận tha thứ không yêu nỗi đau mình đã chịu; họ yêu sự bình an và yêu con người hơn lòng tự ái. Chúa Giêsu cũng vậy. Người không yêu chiếc đinh, Người yêu nhân loại. Người không yêu cái chết, Người yêu sự sống của chúng ta. Người không yêu Thập Giá như một dụng cụ hành hình, nhưng Người biến Thập Giá thành nơi tình yêu đạt đến tận cùng. Chính vì thế, suy tôn Thánh Giá là suy tôn tình yêu của Thiên Chúa đã không bỏ cuộc trước con người.
Muốn sống lễ Suy Tôn Thánh Giá cách sâu sắc, điều đầu tiên người tín hữu phải làm là dành thời gian nhìn thật lâu vào Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Không cần nói nhiều. Không cần đọc nhiều kinh. Có những lúc đứng trước Thánh Giá, điều tốt nhất là im lặng. Hãy nhìn đôi tay bị đóng đinh ấy và nhớ rằng đã có một Đấng không giữ lại gì cho mình. Hãy nhìn đôi chân ấy và nhớ rằng đó là đôi chân đã đi tìm người tội lỗi, đi vào làng mạc, đến với người bệnh, người nghèo, người bị loại trừ, và cuối cùng bị đóng lại trên gỗ. Hãy nhìn cạnh sườn bị đâm thâu và nhớ rằng trái tim ấy đã yêu cho đến khi không còn gì để cho nữa. Hãy nhìn gương mặt ấy và nhớ rằng Người đã bị nhổ vào mặt, bị chế giễu, bị đội mão gai, nhưng không nguyền rủa ai. Hãy nhìn đôi mắt ấy và nhớ rằng ngay trong đau đớn Người vẫn nhìn thấy người mẹ, người môn đệ, người trộm lành, những kẻ đang đóng đinh mình. Khi đứng trước Thánh Giá đủ lâu, con người sẽ bắt đầu thấy mình nhỏ lại. Những tự ái của ta bỗng trở nên quá nhỏ. Những tranh chấp hơn thua bỗng trở nên buồn cười. Những lần ta nhất định không chịu xin lỗi bỗng trở nên đáng xấu hổ. Những lời ta nói làm đau người khác bỗng trở nên nặng nề. Và ta bắt đầu hiểu rằng Kitô hữu không phải là người thắng người khác; Kitô hữu là người học cách yêu như Đấng chịu đóng đinh.
Ngày lễ Suy Tôn Thánh Giá cũng là dịp để giáo dân nhìn lại cách mình làm dấu Thánh Giá. Chúng ta làm dấu quá nhiều nên đôi khi làm dấu mà không còn ý thức mình đang làm gì. Tay vừa chạm trán đã xuống ngực, sang vai trái, vai phải trong vài giây, môi đọc “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”, nhưng tâm trí lại ở nơi khác. Thực ra mỗi lần làm dấu Thánh Giá là mỗi lần người tín hữu tuyên xưng cả một bản tóm lược đức tin. Tôi thuộc về Thiên Chúa Ba Ngôi. Tôi được cứu bởi Đức Kitô chịu đóng đinh và sống lại. Tôi đặt đời mình dưới dấu hiệu của tình yêu tự hiến. Vì thế trong ngày lễ này, hãy thử làm một dấu Thánh Giá thật chậm. Khi tay chạm trán, xin Chúa thánh hóa những suy nghĩ của mình. Khi tay chạm ngực, xin Chúa thanh tẩy trái tim mình. Khi tay chạm hai vai, xin Chúa ban sức để đôi vai biết gánh lấy trách nhiệm, biết mang lấy gánh nặng của anh chị em. Một dấu Thánh Giá làm với đức tin có thể trở thành một lời cầu nguyện rất sâu. Và nếu mỗi sáng trước khi bước ra khỏi nhà ta làm dấu Thánh Giá với ý thức: “Hôm nay con muốn sống như người thuộc về Đấng chịu đóng đinh”, có lẽ nhiều điều trong ngày sẽ thay đổi. Ta sẽ cẩn thận hơn trước khi nói một lời làm tổn thương người khác. Ta sẽ biết nhịn một chút. Ta sẽ biết nhường một chút. Ta sẽ biết dừng lại trước một cám dỗ. Ta sẽ nhớ rằng bàn tay vừa làm dấu Thánh Giá không thể ngay sau đó trở thành bàn tay làm điều gian dối; cái miệng vừa đọc danh Thiên Chúa không thể trở thành cái miệng gieo thị phi; trái tim vừa đặt dưới dấu Thánh Giá không thể cứ nuôi thù hận mãi.
Một cách rất thiết thực để sống lễ này là hãy đem một thập giá cụ thể của đời mình đặt trước Thánh Giá Chúa. Mỗi người đều có thập giá, chỉ khác nhau hình dạng và trọng lượng. Có người mang thập giá bệnh tật. Có người mang thập giá của một cuộc hôn nhân nhiều thử thách. Có người đau vì con cái. Có cha mẹ tuổi già chờ một cuộc điện thoại của những đứa con quá bận. Có người trẻ mang những khủng hoảng mà cha mẹ không hiểu. Có người thất nghiệp. Có người nợ nần. Có người sống bên cạnh một người nghiện ngập. Có người đang chăm sóc một bệnh nhân nhiều năm. Có người bị phản bội. Có người mang vết thương trong cộng đoàn. Có người mang cô đơn. Có người sống giữa một gia đình đông người mà vẫn cô độc. Có người giữ trong lòng một nỗi đau chẳng biết kể với ai. Trong ngày Suy Tôn Thánh Giá, đừng chỉ nhìn Thánh Giá của Chúa như một biến cố xảy ra hai ngàn năm trước. Hãy đặt thập giá hôm nay của ta sát cạnh Thánh Giá của Người và nói thật lòng: “Lạy Chúa, con không hiểu vì sao điều này xảy đến. Con cũng không dám nói rằng con thích nó. Nhưng xin Chúa ở với con trong điều con đang phải chịu. Xin đừng để đau khổ làm con trở nên cay độc. Xin đừng để thử thách làm con mất đức tin. Xin đừng để vết thương biến con thành người làm tổn thương người khác. Xin dạy con mang điều này với Chúa.” Đức tin không phải lúc nào cũng làm cho thập giá biến mất, nhưng đức tin có thể làm cho người đang mang thập giá không còn phải mang nó một mình.
Tuy nhiên cũng cần nói thật rằng không phải cái đau khổ nào cũng phải cam chịu. Đừng biến Thánh Giá thành một lý do để dung túng bất công. Một người bị bạo hành không được khuyên rằng cứ im lặng chịu đựng vì “đó là thánh giá Chúa gửi”. Một người bị bóc lột không cần phải coi sự bóc lột ấy là ý Chúa. Một người bị xúc phạm phẩm giá không phải cứ nhẫn nhịn để rồi người gây ác tiếp tục làm ác. Chúa Giêsu vác Thánh Giá vì yêu, chứ Người không thánh hóa sự dữ. Người chịu đau khổ nhưng đồng thời Người luôn đứng về phía sự thật, lên án giả hình, bảo vệ người yếu thế và giải thoát con người. Có những thập giá ta phải đón nhận vì không thể tránh, như bệnh tật, tuổi già, giới hạn của bản thân, cái chết của người thân. Nhưng cũng có những “thập giá” do tội lỗi, bất công, ích kỷ của người khác tạo ra, và người Kitô hữu có bổn phận tìm cách chấm dứt sự dữ ấy trong sự thật và bác ái. Suy tôn Thánh Giá không phải là yêu đau khổ. Suy tôn Thánh Giá là yêu đến mức sẵn sàng chịu thiệt để điều thiện chiến thắng, đồng thời không bao giờ gọi điều ác là điều thiện.
Một việc nữa mà giáo dân có thể làm trong ngày lễ này là tập tha thứ. Có lẽ chẳng có cách nào chạm vào mầu nhiệm Thánh Giá sâu hơn việc tha thứ cho một người đã làm ta đau. Trên Thập Giá, Chúa Giêsu không chỉ giảng về tha thứ; Người thực hiện điều ấy ở đúng nơi khó tha thứ nhất. “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Người nói câu ấy khi đinh vẫn còn xuyên qua tay. Người tha thứ không phải sau khi mọi chuyện đã ổn. Người tha thứ ngay trong khi đang bị tổn thương. Dĩ nhiên, sự tha thứ của chúng ta thường cần thời gian. Có những vết thương không thể sáng nay quyết định chiều nay đã hết đau. Tha thứ không có nghĩa là quên ngay. Không có nghĩa là phủ nhận chuyện đã xảy ra. Không có nghĩa là tiếp tục để người khác làm tổn thương mình. Tha thứ trước hết là từ chối nuôi ý định trả thù. Là trao quyền xét xử cuối cùng cho Thiên Chúa. Là cầu xin cho trái tim mình từng ngày được giải thoát khỏi chất độc của hận thù. Có khi ta chưa đủ sức nói: “Con tha thứ hoàn toàn”, nhưng có thể bắt đầu bằng lời cầu nguyện rất thật: “Lạy Chúa, con chưa tha được. Xin Chúa cho con muốn tha.” Chỉ một lời như thế thôi cũng đã là một bước trên con đường Thánh Giá.
Trong gia đình, sống lễ Suy Tôn Thánh Giá còn có nghĩa là nhìn xem ai đang phải vác thập giá nhiều nhất trong nhà. Có thể đó là người mẹ gần như một mình lo mọi thứ. Có thể là người cha ít nói nhưng đang gánh áp lực kinh tế. Có thể là ông bà tuổi già cảm thấy mình trở thành gánh nặng. Có thể là một đứa trẻ đang chịu áp lực học hành mà người lớn tưởng nó chẳng có vấn đề gì. Có thể là người con đang thất nghiệp nên lặng lẽ tránh các bữa họp mặt vì sợ bị hỏi. Có thể là một thành viên đang bệnh mà cả nhà đã quá quen với bệnh của họ đến mức quên mất họ vẫn đang đau mỗi ngày. Suy tôn Thánh Giá trong gia đình là đỡ cho nhau một phần gánh nặng. Simon thành Kyrênê ngày xưa không làm cho Thánh Giá biến mất, ông chỉ đi bên Chúa và mang giúp một đoạn đường. Có lẽ trong mỗi gia đình hôm nay cũng đang có một người cần một Simon. Một người cần được hỏi: “Có mệt lắm không?” Một người cần được nói: “Để đó, hôm nay tôi làm cho.” Một người cần được lắng nghe mà không bị phán xét. Một người cần một bữa cơm được dọn sẵn. Một người cần được đưa đi khám bệnh. Một người chỉ cần một cuộc điện thoại. Đừng tìm Thánh Giá ở đâu quá xa. Thánh Giá rất nhiều khi nằm trong căn bếp nhà mình, bên chiếc giường bệnh, trên chiếc xe đưa con đi học mỗi sáng, trong những hóa đơn chưa biết lấy tiền đâu trả, trong sự kiên nhẫn với một người thân khó tính. Ai biết yêu trong những nơi ấy đang sống mầu nhiệm Thánh Giá thật hơn nhiều người chỉ nói những lời đạo đức thật hay.
Sống lễ Suy Tôn Thánh Giá sâu sắc cũng đòi người tín hữu xét lại tương quan của mình với những người nghèo, người bệnh, người bị bỏ rơi và những người đang chịu đau khổ trong xã hội. Chúa Giêsu vẫn tiếp tục bị đóng đinh nơi những thân phận ấy. Ta không thể quỳ trước một tượng Chúa chịu nạn thật đẹp mà lại vô cảm trước một người nghèo thật đang đứng trước mặt. Không thể hôn đôi chân Chúa trên Thánh Giá mà khinh thường đôi chân lấm bụi của một người lao động. Không thể thương năm dấu thánh của Chúa mà dửng dưng trước vết thương của người hàng xóm. Thánh Gioan nhắc rất rõ: ai nói mình yêu Thiên Chúa mà ghét anh em mình là người nói dối. Suy tôn Thánh Giá vì thế phải dẫn đến lòng thương xót cụ thể. Trong ngày lễ này, một gia đình có thể bớt một bữa ăn sang để giúp một gia đình khó khăn. Một người có thể đi thăm bệnh nhân. Một nhóm giáo dân có thể chăm sóc người già neo đơn. Một người trẻ có thể dành thời gian cho một người đang khủng hoảng. Có khi chẳng cần tiền bạc. Một cuộc viếng thăm, một lời hỏi han, một giờ lắng nghe, một món ăn tự tay nấu cũng có thể trở thành một cử chỉ của Thánh Giá, vì tình yêu trên Thánh Giá luôn là tình yêu cụ thể.
Đặc biệt, hãy sống lễ này bằng cách tham dự Thánh Lễ thật ý thức. Thánh Giá và Thánh Thể không thể tách rời. Cùng một Đức Kitô đã nói trên đồi Canvê bằng chính thân thể mình: “Này là mình Thầy, trao nộp vì anh em”, cũng chính là Đấng trong Bữa Tiệc Ly cầm lấy bánh và nói: “Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” Mỗi Thánh Lễ là việc Hội Thánh bước vào mầu nhiệm tự hiến ấy. Bởi vậy, khi tham dự Thánh Lễ ngày Suy Tôn Thánh Giá, đừng chỉ “đi lễ cho xong”. Hãy mang đến bàn thờ một điều gì thật sự của đời mình. Hãy dâng một nỗi buồn. Dâng một người mình đang khó tha thứ. Dâng một căn bệnh. Dâng một đứa con đang làm mình mất ngủ. Dâng những thất bại. Dâng một tội lỗi mà mình đang cố gắng từ bỏ. Dâng cả những điều không hiểu nổi. Khi linh mục nâng chén rượu, hãy âm thầm nói: “Lạy Chúa, con đặt trong chén này cả những giọt nước mắt của con.” Khi bánh được bẻ ra, hãy nhớ rằng tình yêu đích thực luôn có một điều gì đó được bẻ ra vì người khác: thời gian của ta, cái tôi của ta, sự thoải mái của ta, kế hoạch riêng của ta. Và khi rước lễ, hãy ý thức rằng ta đang đón vào lòng Đấng đã yêu đến cùng. Một người vừa rước Chúa chịu đóng đinh vào lòng không thể bước ra khỏi nhà thờ rồi tiếp tục sống như thể mình chỉ có trách nhiệm với bản thân.
Ngày Suy Tôn Thánh Giá cũng là dịp tốt để xét lại những cây thánh giá trong nhà. Không phải xem chúng có đẹp hay không, đắt tiền hay không, nhưng xem gia đình mình có còn nhìn đến chúng hay chỉ để như một vật trang trí. Có những ngôi nhà Công giáo treo Thánh Giá rất trang trọng, nhưng nhiều năm cả nhà chưa từng đứng chung trước Thánh Giá để cầu nguyện. Có thể ngày lễ này là dịp đẹp để cả gia đình tụ họp, thắp một ngọn nến, đọc một đoạn Tin Mừng thương khó, giữ vài phút thinh lặng rồi mỗi người nói một lời cầu nguyện. Cha mẹ có thể giải thích cho con rằng Chúa Giêsu không chết vì Người yếu, nhưng vì Người yêu. Trẻ em cần hiểu rằng Thánh Giá không phải một hình ảnh đáng sợ, nhưng là bằng chứng rằng không có đau khổ nào của con người xa lạ với Thiên Chúa. Người già có thể kể cho con cháu nghe những lần mình đã được Chúa nâng đỡ trong đời. Một gia đình biết cầu nguyện dưới chân Thánh Giá sẽ học được cách yêu nhau dưới bóng Thánh Giá.
Những người trẻ càng cần khám phá lại ý nghĩa này. Thế giới hôm nay thường nói với người trẻ rằng phải thành công nhanh, phải nổi bật, phải được công nhận, phải có nhiều người theo dõi, phải chứng minh giá trị của mình. Trong một nền văn hóa như thế, Thánh Giá lại nói điều hoàn toàn khác: giá trị của con không nằm ở việc bao nhiêu người tán thưởng con; giá trị của con nằm ở việc con được Thiên Chúa yêu. Thánh Giá nói rằng không phải lúc nào thất bại cũng là vô nghĩa. Không phải lúc nào bị từ chối cũng có nghĩa là mình vô giá trị. Không phải lúc nào phải đi con đường khó cũng có nghĩa là chọn sai. Chúa Giêsu trên Thánh Giá, dưới mắt thế gian, là một người thất bại: bị bỏ rơi, bị nhục mạ, bị giết. Nhưng chính nơi tưởng như thất bại hoàn toàn ấy, công trình cứu độ được hoàn tất. Điều đó không có nghĩa người trẻ phải tìm thất bại; nhưng có nghĩa rằng khi thất bại xảy đến, đừng vội kết luận đời mình đã hết. Trong bàn tay Thiên Chúa, ngay cả những mảnh vỡ cũng có thể trở thành vật liệu của ơn cứu độ.
Thánh Giá cũng chữa một căn bệnh rất phổ biến của con người: căn bệnh muốn kiểm soát tất cả. Chúng ta muốn người khác phải hiểu mình, mọi kế hoạch phải đúng ý mình, con cái phải đi con đường mình chọn, tương lai phải diễn ra theo điều mình dự tính. Và khi cuộc đời không theo ý mình, ta khổ. Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu cũng đã cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén này.” Người không giả vờ rằng đau khổ dễ chịu. Nhưng rồi Người thưa: “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Đây là một trong những bài học lớn nhất của Thánh Giá: có một lúc người tín hữu phải tập buông điều mình không thể điều khiển và trao nó vào tay Thiên Chúa. Có những đứa con ta không thể sống thay. Có những căn bệnh ta không chữa được. Có những người ta không thể thay đổi. Có những điều đã xảy ra không thể quay lại. Có những cánh cửa đóng lại dù ta đã cố hết sức. Đức tin trưởng thành là có thể nói giữa những điều ấy: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con vẫn tin Ngài đang ở đây.”
Và xin đừng bao giờ tách Thánh Giá khỏi Phục Sinh. Nếu chỉ có Thánh Giá mà không có Phục Sinh, Kitô giáo chỉ là một câu chuyện buồn. Nhưng người đang chịu đóng đinh chính là Đấng sẽ sống lại. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh không phải chương cuối cùng. Tảng đá không thể giữ Chúa trong mồ. Vì thế mọi thập giá được mang trong Đức Kitô đều có một cánh cửa hướng về sự sống. Có những phục sinh ta thấy ngay trong đời này: một gia đình hòa giải sau nhiều năm, một người bỏ được nghiện ngập, một vết thương được chữa lành, một đức tin trưởng thành sau thử thách. Có những phục sinh chỉ được hoàn tất trong đời sau. Nhưng người Kitô hữu không bao giờ đứng dưới Thánh Giá như người tuyệt vọng. Chúng ta khóc, nhưng không tuyệt vọng. Chúng ta đau, nhưng không cô độc. Chúng ta có thể ngã, nhưng vẫn có thể đứng lên. Vì trên Thánh Giá, Chúa đã đi vào tận nơi tối nhất của con người và từ nơi đó mở ra một lối về ánh sáng.
Có lẽ một trong những cách sống lễ Suy Tôn Thánh Giá đẹp nhất là cuối ngày hãy ngồi lại trước cây Thánh Giá và tự hỏi vài câu rất đơn sơ nhưng rất thật: Hôm nay tôi đã làm cho ai nhẹ thập giá hơn? Hay tôi vừa đặt thêm thập giá lên vai người khác bằng lời nói, thái độ và sự vô tâm của mình? Tôi đang giận ai? Tôi đang không chịu tha thứ cho ai? Tôi đang né tránh hy sinh nào chỉ vì ích kỷ? Có ai trong gia đình đang cần tôi quan tâm hơn không? Có người nghèo, người bệnh, người cô độc nào Chúa đang đặt bên đường đời tôi? Và quan trọng hơn: nếu Chúa Giêsu chịu đóng đinh bước vào căn nhà tôi hôm nay, Người có nhận ra nơi cách tôi sống một người môn đệ của Người không?
Thánh Giá không chỉ được suy tôn bằng hoa, nến và lời ca. Thánh Giá được suy tôn khi một người chồng nuốt xuống một lời cay nghiệt để giữ bình an gia đình. Thánh Giá được suy tôn khi một người vợ vẫn chăm sóc chồng trong bệnh tật. Thánh Giá được suy tôn khi người con kiên nhẫn với cha mẹ già. Thánh Giá được suy tôn khi người già chấp nhận những giới hạn của tuổi tác mà không oán trách. Thánh Giá được suy tôn khi một người bị xúc phạm chọn không trả đũa. Thánh Giá được suy tôn khi người có quyền không dùng quyền để đè người yếu. Thánh Giá được suy tôn khi một người trẻ từ chối gian lận dù phải chịu thiệt. Thánh Giá được suy tôn khi người chủ trả lương công bằng cho người làm công. Thánh Giá được suy tôn khi một người có thể nói lời xin lỗi trước. Thánh Giá được suy tôn khi một gia đình mở cửa cho người nghèo. Thánh Giá được suy tôn khi một người bệnh dâng đau đớn của mình trong niềm tin. Thánh Giá được suy tôn khi một linh mục trung thành với đoàn chiên dù mệt mỏi. Thánh Giá được suy tôn khi một người âm thầm làm điều thiện mà chẳng ai biết. Thánh Giá được suy tôn ở bất cứ nơi nào con người chọn yêu thay vì ích kỷ, chọn tha thứ thay vì trả thù, chọn phục vụ thay vì thống trị, chọn sự thật thay vì gian dối, chọn trung thành thay vì bỏ cuộc.
Và cũng cần nhớ một điều thật cảm động: đôi khi chúng ta nghĩ mình đang ôm lấy Thánh Giá, nhưng thật ra chính Chúa chịu đóng đinh đang ôm lấy chúng ta. Hai cánh tay của Chúa bị đóng vào thanh gỗ, nhưng cũng chính hai cánh tay ấy dang rộng mãi mãi. Không ai có thể nói rằng Thiên Chúa không hiểu đau khổ của mình. Người đã biết thế nào là bị phản bội bởi một người thân cận, bị chối bỏ bởi môn đệ, bị bỏ rơi bởi đám đông từng tung hô, bị xét xử bất công, bị chế giễu, bị đánh đập, bị lột áo, bị cô đơn và bị giết. Khi ta khóc, ta khóc trước một Thiên Chúa đã từng khóc. Khi ta đau, ta đau trước một Thiên Chúa mang vết thương. Khi ta cảm thấy bị bỏ rơi, ta có thể nhìn lên Đấng đã kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Điều kỳ diệu của Kitô giáo không phải là Thiên Chúa đứng trên trời nói với người đau khổ rằng “hãy cố chịu đi”, nhưng là Thiên Chúa xuống tận chỗ đau khổ và nói: “Ta ở đây với con.”
Bởi thế, ai đang có thập giá nặng trong ngày lễ này xin đừng vội thất vọng. Có thể người khác không hiểu bạn, nhưng Chúa hiểu. Có thể chẳng ai nhìn thấy những giọt nước mắt bạn lau đi trong đêm, nhưng Chúa thấy. Có thể điều bạn đang gánh đã kéo dài quá lâu, nhưng xin đừng nghĩ rằng những ngày trung tín âm thầm ấy vô ích. Trên đồi Canvê, Chúa Giêsu cũng không lập tức làm cho mọi sự thay đổi trước mắt người ta. Người chỉ yêu cho đến cùng. Và chính tình yêu đến cùng ấy đã thay đổi lịch sử. Có những chiến thắng của đời sống Kitô hữu không ồn ào. Chúng nằm trong sự trung tín mỗi ngày: hôm nay vẫn cầu nguyện, hôm nay vẫn chăm sóc, hôm nay vẫn tha thứ, hôm nay vẫn đứng dậy, hôm nay vẫn không bỏ Chúa. Người ta có thể không thấy, nhưng Thiên Chúa thấy.
Lễ Suy Tôn Thánh Giá cuối cùng không phải là ngày chúng ta tôn vinh một dụng cụ hành hình. Chúng ta tôn vinh chiến thắng của tình yêu trên hận thù, của tha thứ trên trả thù, của sự sống trên sự chết, của Thiên Chúa trên tội lỗi. Cây gỗ từng là dấu hiệu nhục nhã đã trở thành ngai của Vua Tình Yêu. Nơi con người tưởng đã loại bỏ Đức Giêsu mãi mãi lại trở thành nơi Người kéo mọi người lên với mình. “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,32). Vì thế, hãy ngước nhìn Thánh Giá, nhưng đừng chỉ ngước nhìn. Hãy bước đến gần. Hãy để Thánh Giá chất vấn mình. Hãy đặt dưới chân Thánh Giá những vết thương, những tội lỗi, những người mình chưa tha thứ, những lo âu về tương lai. Hãy xin Chúa biến đổi chúng ta. Hãy để đôi tay bị đóng đinh dạy bàn tay ta biết cho đi. Hãy để đôi chân bị đóng đinh dạy ta biết dừng lại bên người đau khổ. Hãy để trái tim bị đâm thâu dạy trái tim ta biết mở ra. Hãy để lời tha thứ từ Thánh Giá chữa lành những oán hờn. Và hãy để tiếng nói cuối cùng của Chúa: “Mọi sự đã hoàn tất” cho ta niềm tin rằng đời mình, dù còn nhiều dang dở, vẫn đang nằm trong một chương trình yêu thương lớn hơn những gì ta thấy.
Ngày 14 tháng 9 rồi sẽ qua. Hoa trước Thánh Giá rồi sẽ héo. Nến rồi sẽ tắt. Bài hát rồi sẽ im. Áo lễ sẽ được cất vào tủ. Nhưng ước gì Thánh Giá đừng bao giờ rời khỏi trái tim chúng ta. Sáng hôm sau, khi trở về với công việc, gia đình, chợ búa, trường học, bệnh viện, văn phòng, ruộng đồng, những mối quan hệ và những phiền toái rất đời thường, ta vẫn nhớ rằng mình là môn đệ của Đấng chịu đóng đinh. Và nếu có ai hỏi: “Bạn suy tôn Thánh Giá bằng cách nào?”, ước gì chúng ta không chỉ chỉ vào cây Thánh Giá đang treo trên tường, nhưng có thể âm thầm chỉ vào một đời sống biết yêu hơn, hiền hơn, thật hơn, nhân hậu hơn, biết cho đi hơn và biết tha thứ hơn. Bởi sau tất cả, cây Thánh Giá đẹp nhất không phải cây Thánh Giá bằng vàng trên cung thánh, mà là Thánh Giá đã trở thành tình yêu trong đời một người Kitô hữu.
Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, trong ngày Hội Thánh suy tôn Thánh Giá Chúa, xin đừng để chúng con chỉ tôn kính Thánh Giá bằng môi miệng. Xin khắc Thánh Giá vào lòng chúng con. Khi chúng con muốn trả thù, xin cho chúng con nhớ lời Chúa tha thứ. Khi chúng con muốn bỏ cuộc, xin cho chúng con nhớ Chúa đã yêu đến cùng. Khi chúng con sợ hy sinh, xin cho chúng con nhìn đôi tay bị đóng đinh. Khi chúng con đau khổ, xin cho chúng con biết rằng Chúa đang ở gần. Khi chúng con thành công, xin giữ chúng con khỏi kiêu căng. Khi chúng con thất bại, xin giữ chúng con khỏi tuyệt vọng. Xin cho mỗi gia đình Công giáo trở thành một mái nhà dưới bóng Thánh Giá, nơi người yếu được nâng đỡ, người lỗi lầm được tha thứ, người đau khổ được yêu thương, người già được trân trọng, trẻ nhỏ được bảo vệ và mọi người học cách phục vụ lẫn nhau. Xin cho chúng con không đặt thêm thập giá lên vai người khác, nhưng trở thành những Simon thành Kyrênê của thời đại mình. Và khi thập giá cuối cùng của đời chúng con đến, xin cho chúng con vẫn có thể nhìn lên Chúa và thưa bằng tất cả niềm tin: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Ngài.” Amen.
Lm. Anmai, CSsR


TĨNH TÂM DƯỚI CHÂN THÁNH GIÁ – ĐỂ CÁC HỘI ĐOÀN KHÔNG CHỈ MANG THÁNH GIÁ TRÊN ÁO, NHƯNG MANG CHÚA GIÊSU TRONG ĐỜI
Có những buổi tĩnh tâm người ta đi về với một cuốn sổ đầy chữ nhưng lòng vẫn trống. Có những ngày tĩnh tâm nghe rất nhiều bài giảng, đọc rất nhiều kinh, hát rất nhiều bài hát, nhưng sau đó tương quan trong hội đoàn vẫn như cũ: người không nhìn mặt người, người này nói xấu người kia, người kia tranh chức với người nọ, người phục vụ lâu năm tự cho mình quyền phán xét người mới, người giữ một trách nhiệm nhỏ lại tưởng mình có một thứ quyền lực lớn. Và cũng có những buổi tĩnh tâm rất đơn sơ, chẳng có gì cầu kỳ, chỉ có một cây Thánh Giá đặt giữa cung nguyện, một đoạn Tin Mừng được đọc thật chậm, một giờ thinh lặng đủ dài, một lời xin lỗi được nói ra bằng nước mắt, vậy mà sau ngày ấy cả một hội đoàn đổi khác. Khác biệt không nằm ở số bài nói, không nằm ở chương trình dày hay mỏng, cũng không nằm ở diễn giả nổi tiếng hay không nổi tiếng. Khác biệt nằm ở chỗ người ta có thật sự gặp Đức Kitô chịu đóng đinh hay chỉ đến tham dự một chương trình đạo đức. Vì thế, nếu tổ chức một ngày tĩnh tâm về Thánh Giá cho các hội đoàn, điều đầu tiên cần nhớ là đừng biến tĩnh tâm thành một cuộc hội họp có thêm kinh nguyện. Tĩnh tâm là đưa con người ra khỏi tiếng ồn để họ đứng trước mặt Chúa; đưa một hội đoàn ra khỏi những sinh hoạt quen thuộc để họ nhìn lại căn tính của mình; đưa từng thành viên ra khỏi chiếc áo đồng phục, chức danh, huy hiệu, cờ đoàn, nội quy và những thành tích để đứng trần trụi trước cây Thánh Giá mà tự hỏi: “Tôi đang theo Đức Kitô hay tôi đang theo chính mình? Tôi đang phục vụ Hội Thánh hay tôi đang tìm một chỗ đứng trong Hội Thánh? Tôi đang vác thập giá hay tôi đang bắt người khác vác thập giá do tôi tạo ra?” Một ngày tĩnh tâm về Thánh Giá chỉ có ý nghĩa khi những câu hỏi ấy đủ sức làm người ta đau, vì Thánh Giá không phải một món trang trí thiêng liêng để ngắm cho đẹp; Thánh Giá là nơi sự thật về Thiên Chúa và sự thật về con người gặp nhau. Trên Thánh Giá, Thiên Chúa cho thấy Ngài yêu con người đến mức nào; đồng thời Thánh Giá cũng cho con người thấy tội lỗi, ích kỷ, kiêu căng, phản bội và bạo lực có thể đi xa đến mức nào.
Tin Mừng theo thánh Gioan cho chúng ta một khung cảnh tuyệt vời để đặt ở trung tâm ngày tĩnh tâm ấy: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Clôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,25-27). Hãy để ý một chữ rất nhỏ mà rất lớn: đứng. Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá. Người môn đệ Chúa yêu đứng dưới chân Thánh Giá. Những người phụ nữ trung tín đứng dưới chân Thánh Giá. Họ không giải thích đau khổ. Họ không tranh luận xem tại sao Chúa lại để chuyện này xảy ra. Họ không chạy đi tìm một phép lạ để tháo Chúa xuống. Họ đứng đó. Có những lúc đức tin lớn nhất của đời người chỉ là đứng lại bên Chúa khi không còn hiểu gì nữa. Có những lúc lòng trung thành không phải là làm được chuyện lớn, mà là không bỏ đi. Và có lẽ đó phải là tư thế đầu tiên của mọi hội đoàn khi tĩnh tâm về Thánh Giá: đứng lại dưới chân Chúa. Bao năm sinh hoạt rồi, chạy nhiều rồi, tổ chức nhiều rồi, họp nhiều rồi, làm lễ nhiều rồi, rước kiệu nhiều rồi, gây quỹ nhiều rồi, công tác nhiều rồi; bây giờ xin hãy đứng lại. Đừng làm gì cả. Hãy nhìn Chúa. Hãy để Chúa nhìn mình. Người ta thường sợ thinh lặng bởi trong thinh lặng những điều ta đã cố chôn giấu bắt đầu lên tiếng. Khi không còn điện thoại, không còn tiếng nói chuyện, không còn công việc để núp vào, ta bắt đầu gặp chính mình. Và khi gặp chính mình dưới ánh sáng Thánh Giá, người ta có thể nhận ra nhiều điều đau lòng: mình đã phục vụ Chúa mà có khi không giống Chúa; mình thuộc một hội đoàn mang danh Đức Mẹ mà cách nói năng lại làm Đức Mẹ buồn; mình thuộc Legio Mariae nhưng lại thích kể chuyện người khác; mình thuộc Gia trưởng nhưng trong nhà chẳng bao giờ xin lỗi vợ con; mình thuộc Hiền Mẫu nhưng dễ cay nghiệt với người khác; mình là Huynh trưởng nhưng thích được nghe lời hơn là biết lắng nghe; mình là thành viên hội đồng mục vụ nhưng lại xem chức vụ như địa vị; mình đi làm bác ái rất nhiều mà chưa từng tử tế với người sống ngay trong nhà mình; mình quỳ trước Thánh Giá hàng giờ mà vẫn giữ trong lòng một người mà mình nhất quyết không tha thứ. Thánh Giá khi ấy không kết án ta. Thánh Giá chỉ nói sự thật. Nhưng chính sự thật ấy làm ta được tự do.
Vì vậy, một cuộc tĩnh tâm về Thánh Giá cho các hội đoàn đừng bắt đầu bằng những điều quá cao xa. Hãy bắt đầu bằng câu hỏi rất đơn giản: Thánh Giá nào tôi đang mang? Thánh giá nào tôi đang trốn? Và thập giá nào tôi đang chất lên vai người khác? Ba câu hỏi ấy đủ cho cả một ngày. Có những người bước vào hội đoàn vì lòng đạo đức chân thành, nhưng dần dần biến việc phục vụ thành chỗ tìm sự công nhận. Làm nhiều thì muốn được nhắc tên. Không được cảm ơn thì buồn. Không được mời lên hàng đầu thì tự ái. Không được hỏi ý kiến thì giận. Thấy người trẻ được giao việc thì khó chịu. Thấy người khác được khen thì lòng bất an. Đến một lúc nào đó, ta không còn biết mình phục vụ Chúa hay phục vụ cái tôi của mình nữa. Thánh Giá chữa căn bệnh ấy bằng một bài học rất khó: tự hủy. Đức Kitô “đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ” và “hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (x. Pl 2,7-8). Thế nên, một người càng gần Thánh Giá càng ít nhu cầu chứng minh mình quan trọng. Một người càng giống Đức Kitô càng không cần tranh chỗ đứng. Một hội đoàn càng sống tinh thần Thánh Giá càng ít chuyện chức quyền, hơn thua, bè nhóm. Nơi nào cứ tranh ai làm trưởng, ai được phát biểu, ai ngồi hàng đầu, ai được cha xứ tin cậy hơn, ai đóng góp nhiều hơn, ai có công hơn, nơi ấy có thể treo rất nhiều Thánh Giá nhưng tinh thần Thánh Giá vẫn còn rất xa.
Nếu có thể, không gian tĩnh tâm nên được chuẩn bị thật đơn sơ. Đừng trang trí quá nhiều đến mức người tham dự chú ý đến hoa hơn là đến Chúa. Một cây Thánh Giá đủ lớn đặt ở vị trí trung tâm. Dưới chân Thánh Giá có thể đặt một ngọn đèn, một cuốn Kinh Thánh mở, một chiếc khăn trắng, và nếu thích hợp, một chiếc chậu nhỏ với vài viên đá. Mỗi viên đá tượng trưng cho những điều người ta đang mang trong lòng: một sự giận dữ, một ghen tị, một vết thương, một tội lỗi, một người mình chưa tha thứ, một điều mình không chấp nhận nơi bản thân. Khi đến giờ cầu nguyện, mỗi người có thể cầm một viên đá, ngồi thinh lặng trước Thánh Giá và rồi đặt viên đá xuống chân Chúa như một cử chỉ nội tâm: “Lạy Chúa, con không muốn mang khối đá này trong tim nữa.” Không cần giải thích dài. Những cử chỉ nhỏ nhiều khi nói được điều lời giảng không nói nổi. Tuy nhiên, phải hết sức tránh biến tĩnh tâm thành sân khấu cảm xúc. Không ép ai khóc. Không ép ai chia sẻ chuyện riêng tư. Không tạo áp lực phải đứng lên thú nhận trước cộng đoàn. Không khai thác vết thương của người khác để tạo bầu khí xúc động. Thánh Giá của Đức Kitô luôn tôn trọng tự do. Người đứng ngoài cửa và gõ; Người không phá cửa xông vào.
Một ngày tĩnh tâm tốt nên có nhịp điệu của Tin Mừng: nghe – nhìn – thinh lặng – sám hối – hòa giải – lên đường. Bắt đầu bằng việc nghe Lời Chúa. Đừng vội nói nhiều. Có thể chọn Luca 9,23: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Hãy nhấn vào chữ hằng ngày. Chúa không bảo chúng ta mỗi năm vác thập giá một lần vào Thứ Sáu Tuần Thánh. Người cũng không nói hãy vác thập giá trong những dịp đạo đức đặc biệt. Người nói: “hằng ngày”. Thập giá thật thường không có hình cây thập giá. Nó mang khuôn mặt của một người khó tính mà ta phải sống chung. Nó là căn bệnh dai dẳng. Là người chồng ít nói. Là người vợ hay lo. Là đứa con làm mình phiền lòng. Là người cha già lặp đi lặp lại một câu chuyện. Là bà mẹ lú lẫn hỏi một điều mười lần. Là người anh em trong hội đoàn mà vừa thấy mặt ta đã khó chịu. Là công việc chẳng ai biết. Là một lời hiểu lầm không thể thanh minh. Là lúc mình làm đúng mà vẫn bị trách. Là khi mình có công mà chẳng ai nhớ. Là lúc phải nhường mà biết mình có lý. Là khi sức khỏe yếu đi và không làm được như ngày trước. Là lúc người trẻ thay mình đảm nhận một công việc mà mình từng gắn bó bao năm. Có những thập giá không làm ta đau ở thân xác nhưng làm cái tôi đau dữ dội. Và chính những thập giá ấy nhiều khi mới là nơi Chúa thánh hóa ta.
Sau bài Tin Mừng, nên dành một khoảng thinh lặng thật sự. Đừng sợ mười lăm phút, hai mươi phút hay ba mươi phút không có tiếng nói. Chúng ta sống trong một thời đại dư thừa âm thanh nhưng thiếu tiếng nói nội tâm. Người ta vừa thức dậy đã cầm điện thoại, lên xe mở điện thoại, ăn cũng nhìn điện thoại, tối lên giường vẫn điện thoại. Đầu óc chưa bao giờ ngừng tiếp nhận, nên trái tim không còn nghe thấy Chúa. Tĩnh tâm mà cứ hết người này nói đến người kia nói thì chỉ là đổi loại tiếng ồn. Hãy để người tham dự nhìn Thánh Giá đủ lâu. Ban đầu họ sẽ thấy một cây gỗ. Rồi họ sẽ thấy những vết thương. Rồi có thể họ bắt đầu nhớ đến vết thương của đời mình. Rồi nếu ân sủng chạm tới, họ sẽ nhận ra rằng vết thương của mình đang nằm trong vết thương của Đức Kitô. Đó là khoảnh khắc chữa lành. Không phải vì đau khổ biến mất, nhưng vì người ta không còn chịu đau một mình nữa.
Bài gợi ý thứ nhất trong ngày tĩnh tâm có thể xoay quanh chủ đề: “THÁNH GIÁ – NƠI TÔI ĐƯỢC YÊU ĐẾN CÙNG.” Người Kitô hữu thường nghe nói phải yêu Chúa nhưng đôi khi quên rằng trước khi yêu Chúa, ta phải để mình được Chúa yêu. Gioan viết: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một” (Ga 3,16). Cây Thánh Giá là chữ “đến nỗi” của tình yêu Thiên Chúa. Nếu muốn biết Thiên Chúa yêu ta đến mức nào, đừng đo bằng tiền bạc mình có, sức khỏe mình được, công việc mình thuận lợi hay lời cầu xin mình được đáp ứng. Hãy nhìn Thánh Giá. Đó là câu trả lời cuối cùng. Một người sống sâu kinh nghiệm được yêu sẽ bớt cay nghiệt. Nhiều người làm tổn thương người khác bởi chính họ chưa bao giờ cảm thấy mình được yêu đủ. Người dễ tự ái thường là người bên trong rất mong manh. Người thích kiểm soát có khi vì quá sợ mất vị trí. Người hay phán xét có khi đang chạy trốn chính những bóng tối trong mình. Nếu trong ngày tĩnh tâm, một người thật sự nghe được trong lòng câu này: “Con được yêu”, có khi bao nhiêu lớp phòng thủ sụp xuống. Từ đó họ mới có khả năng yêu người khác.
Bài gợi ý thứ hai có thể là: “THÁNH GIÁ – NƠI CÁI TÔI PHẢI CHẾT.” Đây là bài khó nhất. Ai cũng thích một Đức Kitô an ủi; ít người thích Đức Kitô đòi mình từ bỏ chính mình. Thánh Phêrô từng phản ứng khi nghe Chúa nói về cuộc thương khó. Ông kéo Chúa ra và trách Người. Chúng ta cũng vậy. Ta muốn theo một Đấng Mêsia làm phép lạ, nhưng không muốn theo một Đấng Mêsia bị đóng đinh. Ta thích phục vụ khi được tôn trọng nhưng khó phục vụ khi bị hiểu lầm. Ta thích khi cộng đoàn làm theo ý mình nhưng khó khi mình phải vâng theo một quyết định không giống ý mình. Ta thích nói về hiệp nhất nhưng không muốn là người nhường trước. Ta thích nói về tha thứ nhưng mong người kia phải xin lỗi trước. Cái tôi luôn tìm cách sống sót, ngay cả trong những việc đạo đức. Nó có thể mặc áo hội đoàn. Nó có thể cầm chuỗi Mân Côi. Nó có thể quỳ rất lâu. Nó có thể nói những câu rất đạo đức. Nhưng hễ ai đụng đến danh dự của nó, nó lộ mặt. Vì vậy, tĩnh tâm Thánh Giá phải dẫn đến câu hỏi: Trong tôi, điều gì phải chết để Đức Kitô được sống? Có thể là tự ái. Có thể là tính nóng. Có thể là thói thích nói về người vắng mặt. Có thể là nhu cầu kiểm soát. Có thể là sự ganh tị. Có thể là thói quen giữ quyền. Có thể là việc không chịu nhận lỗi. Có thể là thái độ “tôi làm lâu năm nên tôi biết hết”. Hội đoàn nào cũng cần những người có kinh nghiệm, nhưng kinh nghiệm chỉ là phúc lành khi nó đi chung với khiêm nhường. Nếu không, kinh nghiệm có thể trở thành bức tường ngăn người trẻ bước vào.
Bài gợi ý thứ ba nên đi đến điều rất cụ thể: “TỪ THÁNH GIÁ ĐẾN HÒA GIẢI TRONG HỘI ĐOÀN.” Nếu cả ngày nói về Thánh Giá mà cuối ngày những người đang giận nhau vẫn không thể nhìn nhau, thì chúng ta cần tự hỏi tĩnh tâm đã chạm đến đâu. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Người không đợi quân lính xin lỗi. Người không đợi dân chúng rút lời chế nhạo. Người không đợi những người kết án nhận sai. Người tha thứ giữa lúc những cây đinh vẫn còn trong tay. Đó là điều làm ta choáng váng. Chúng ta thường nói: “Nó xin lỗi thì tôi tha.” Chúa nói: “Xin Cha tha cho họ.” Chúng ta nói: “Tôi tha nhưng tôi không quên.” Chúa phục sinh hiện ra với các môn đệ và câu đầu tiên là: “Bình an cho anh em.” Phêrô đã chối Chúa ba lần, nhưng bên bờ hồ Tibêria, Chúa không hỏi: “Tại sao anh phản bội tôi?” Người hỏi: “Anh có yêu mến Thầy không?” (x. Ga 21). Thiên Chúa chữa lành quá khứ bằng tình yêu chứ không bằng làm nhục con người.
Trong giờ cầu nguyện hòa giải, đừng yêu cầu người ta ôm nhau một cách hình thức. Cái ôm bên ngoài không có giá trị nếu lòng còn đóng kín. Hãy mời mỗi người trước hết xin Chúa cho mình thấy phần trách nhiệm của mình. Trong mọi xung đột, chúng ta thường có khả năng kể rất rõ lỗi của người kia và rất mù trước phần của mình. Một câu hỏi rất tốt là: “Trong chuyện này, dù chỉ mười phần trăm, phần lỗi của tôi là gì?” Chỉ cần mỗi người đủ khiêm tốn nhận mười phần trăm của mình, nhiều cuộc chia rẽ đã có đường chữa lành. Có thể mời mỗi người viết một tên người mà mình đang khó tha thứ vào một tờ giấy nhỏ, không ai xem, rồi giữ tờ giấy ấy trước Thánh Giá và cầu: “Lạy Chúa Giêsu, con chưa thể yêu người này như Chúa muốn. Con chưa thể tha thứ trọn vẹn. Nhưng hôm nay con xin trao họ cho Chúa. Xin đừng để vết thương này biến con thành một người cay nghiệt.” Tha thứ đôi khi là một quyết định phải lặp lại nhiều lần. Có những vết thương không lành trong một ngày tĩnh tâm. Nhưng ngày tĩnh tâm có thể là ngày người ta ngừng nuôi vết thương.
Nếu điều kiện mục vụ cho phép, Bí tích Hòa Giải phải có một vị trí rất quan trọng. Tĩnh tâm về Thánh Giá mà không dẫn con người đến lòng thương xót thì mới đi được nửa đường. Thánh Giá không được dựng lên để làm ta tuyệt vọng về tội mình, nhưng để ta biết rằng chẳng có tội nào lớn hơn tình yêu cứu độ của Đức Kitô đối với một người thật lòng sám hối. Hãy dành đủ thời gian để xưng tội, đừng chen Bí tích Hòa Giải vào một góc chương trình như thể đó là mục phụ. Có người đã đi lễ cả đời nhưng mang một tội nhiều năm chưa dám xưng. Có người không phạm điều gì “lớn” theo cách họ nghĩ nhưng mang một trái tim đầy cay đắng. Có người xưng tội đều mà chưa từng xưng rằng mình thích nói hành nói xấu. Có người chưa bao giờ nghĩ rằng sự lạnh lùng với vợ, chồng, cha mẹ, con cái cũng cần sám hối. Có người sốt sắng việc nhà thờ nhưng cả nhà phải sợ tính nóng của họ. Hãy để tòa giải tội nằm dưới bóng Thánh Giá. Người mục tử khi ấy không phải quan tòa ngồi chờ phạm nhân mà là người anh đứng bên một người em để cùng nhìn lên Đấng đã đổ máu vì cả hai.
Một yếu tố khác rất nên có là Đàng Thánh Giá dành riêng cho các hội đoàn. Nhưng đừng chỉ đọc lại những bản văn quen thuộc. Có thể mỗi chặng được nối với một thực tại của đời hội đoàn. Chúa Giêsu bị kết án – chúng ta xét lại những lần mình kết án một người chỉ vì nghe một phía. Chúa vác Thánh Giá – chúng ta nhớ đến những thành viên âm thầm mang bệnh tật, nghèo khó, gia đình bất hòa mà hội đoàn không hề biết. Chúa ngã lần thứ nhất – chúng ta cầu cho những thành viên yếu đuối đã bị chúng ta thất vọng rồi bỏ rơi. Đức Mẹ gặp Chúa Giêsu – chúng ta cầu cho các bà mẹ đang khóc vì con. Ông Simon vác đỡ Thánh Giá – chúng ta tự hỏi mình đã thực sự đỡ gánh cho ai hay chỉ nói những câu đạo đức. Bà Veronica lau mặt Chúa – chúng ta nhớ rằng một hành động tử tế nhỏ có thể làm dịu một nỗi đau lớn. Chúa bị lột áo – chúng ta sám hối những lần đã “lột áo” danh dự người khác bằng chuyện kể, tin nhắn, mạng xã hội, những câu nói đùa. Chúa chịu đóng đinh – chúng ta nhớ những lời mình từng nói như những cây đinh đóng vào lòng người khác. Chúa chết trên Thánh Giá – chúng ta đặt trước Chúa những điều trong mình cần chết. Chúa được tháo xuống – chúng ta cầu cho những người đang mất hy vọng. Chúa được táng xác – chúng ta học biết chờ đợi trong những giai đoạn dường như Thiên Chúa im lặng. Một Đàng Thánh Giá như thế không chỉ đi bằng chân quanh nhà thờ mà đi thẳng vào lương tâm.
Nên có một khoảnh khắc rất đặc biệt trong ngày: tôn kính Thánh Giá. Mỗi người tiến lên chậm rãi. Không vội. Không xếp hàng như nhận một phần quà. Khi đến trước Thánh Giá, có thể cúi mình, chạm tay, hôn Thánh Giá hoặc quỳ một giây lát tùy hoàn cảnh. Nhưng trước khi tiến lên, người hướng dẫn nên nói: “Khi hôn Thánh Giá, xin đừng chỉ hôn cây gỗ. Hãy hôn cả những gì Chúa đang cho phép trong cuộc đời mình mà mình chưa hiểu. Hãy hôn những ngày bệnh tật. Hãy hôn tuổi già. Hãy hôn giới hạn. Hãy hôn những thất bại đã làm mình khiêm tốn. Hãy hôn cả những vết thương đã khiến mình biết thương người. Nhưng đồng thời xin nhớ: Kitô giáo không dạy chúng ta yêu đau khổ vì đau khổ. Chúng ta yêu Đức Kitô ở giữa đau khổ. Chúng ta không tìm thập giá; chúng ta đón nhận những thập giá không thể tránh và cùng Chúa biến chúng thành tình yêu.” Điều ấy rất quan trọng. Đừng bao giờ giảng Thánh Giá theo cách khiến người đang bị bạo hành nghĩ rằng họ phải tiếp tục chịu đựng bạo hành để “vác thập giá”. Không. Thánh Giá không hợp thức hóa cái ác. Đức Kitô chịu đóng đinh để chiến thắng cái ác chứ không để cái ác được tiếp tục. Một người bị bạo hành cần được bảo vệ. Một người bị bóc lột cần được giúp đỡ. Một tình trạng bất công cần được sửa chữa. Vác thập giá không có nghĩa là thụ động trước tội lỗi.
Trong Thánh Lễ kết thúc ngày tĩnh tâm, hãy để mọi con đường quy tụ về bàn thờ. Thánh Giá và Thánh Thể không thể tách rời. Đấng chúng ta chiêm ngắm trên Thánh Giá chính là Đấng trao mình cho chúng ta trong tấm bánh. “Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” Cuộc đời Kitô hữu cũng phải trở thành câu ấy: “Này là đời tôi, trao cho anh em.” Một thành viên hội đoàn trưởng thành không còn hỏi: “Hội đoàn cho tôi được gì?” nhưng hỏi: “Tôi có thể trao gì?” Không hỏi: “Tại sao không ai quan tâm đến tôi?” trước khi tự hỏi: “Hôm nay tôi đã quan tâm ai?” Không hỏi: “Ai phải phục vụ tôi?” nhưng hỏi: “Tôi có thể rửa chân cho ai?” Vì ngay trước khi đi vào cuộc khổ nạn, Đức Giêsu đã quỳ xuống rửa chân các môn đệ. Đó là hình ảnh quyền bính Kitô giáo. Người trưởng là người quỳ xuống. Người đứng đầu là người phục vụ. Người có trách nhiệm không phải người được ưu tiên nhiều nhất mà là người phải hy sinh nhiều nhất. Một hội đoàn có người trưởng biết rửa chân thì dễ có bình an; một hội đoàn có người trưởng thích người khác cúi đầu trước mình thì sớm muộn cũng có chia rẽ.
Nhưng tĩnh tâm không được kết thúc bằng một cảm xúc đẹp. Cảm xúc rồi sẽ qua. Người ta trở về nhà, trở lại công việc, điện thoại lại reo, những người khó chịu vẫn còn đó, những vấn đề cũ lại xuất hiện. Vì vậy cuối ngày nên có một quyết tâm thật cụ thể. Đừng viết mười điều. Chỉ một điều thôi. “Từ ngày mai tôi sẽ ngưng nói xấu một người.” “Tôi sẽ gọi điện xin lỗi người mà tôi đã làm tổn thương.” “Tôi sẽ về nói chuyện tử tế với chồng.” “Tôi sẽ bớt kiểm soát con cái.” “Tôi sẽ không giành phần việc của người trẻ chỉ vì sợ họ làm không bằng tôi.” “Mỗi tối tôi sẽ đứng trước Thánh Giá năm phút.” “Tôi sẽ cầu nguyện cho người tôi không thích.” “Tôi sẽ đi thăm một thành viên hội đoàn đã lâu không sinh hoạt thay vì trách họ bỏ hội.” Một quyết tâm nhỏ được làm thật có giá trị hơn một trang quyết tâm rất hay rồi để trong sổ.
Các hội đoàn cũng nên làm một cuộc xét mình tập thể. Không phải xét lỗi của từng cá nhân, nhưng xét chính văn hóa của hội đoàn. Hội đoàn của chúng ta có thực sự là nơi người đau khổ muốn tìm đến không? Người nghèo bước vào có cảm thấy mình được tôn trọng không? Người mới có được chào đón hay bị để ngoài lề vì “chưa quen”? Người trẻ có chỗ nói không? Người già có cảm thấy mình vẫn được trân trọng khi không còn làm được nhiều việc không? Chúng ta có chăm sóc những thành viên đau bệnh hay chỉ nhớ tới họ khi cần đóng quỹ? Trong các cuộc họp, chúng ta dành bao nhiêu thời gian cho Tin Mừng và bao nhiêu thời gian cho tiền bạc, tổ chức, chương trình? Chúng ta có cầu nguyện cho nhau không? Khi một người phạm lỗi, phản ứng đầu tiên là cứu họ hay loại họ? Khi nghe một câu chuyện xấu về một thành viên, chúng ta kiểm chứng, im lặng và bảo vệ phẩm giá họ hay vui vẻ kể tiếp? Một hội đoàn có thể hoạt động rất mạnh nhưng đời sống Tin Mừng rất yếu. Số thành viên đông chưa nói được điều gì. Quỹ lớn chưa nói được điều gì. Đồng phục đẹp chưa nói được điều gì. Chương trình hoành tráng chưa nói được điều gì. Câu hỏi cuối cùng vẫn là: Nhìn hội đoàn này, người ta có thấy thấp thoáng khuôn mặt của Đức Giêsu không?
Đặc biệt, đừng quên những người không thể tham dự. Một ngày tĩnh tâm về Thánh Giá rất dễ trở thành sinh hoạt của những người khỏe mạnh, còn những thành viên đang nằm bệnh viện, nằm nhà, già yếu, nghèo, neo đơn lại bị bỏ quên. Vậy thì trước ngày tĩnh tâm, hãy lập danh sách những người ấy. Trong giờ cầu nguyện, đọc tên họ lên trước Chúa. Sau tĩnh tâm, chia nhóm đi thăm. Có thể mang cho họ một phần quà nhỏ, nhưng quan trọng hơn là mang chính sự hiện diện. Thánh Giá dạy rằng không ai bị bỏ lại. Giữa đám đông, Đức Giêsu vẫn nhìn thấy người trộm lành. Giữa đau đớn của chính mình, Người vẫn nghĩ đến Đức Maria. Hội đoàn sống Thánh Giá là hội đoàn biết nhìn thấy những người không còn đủ sức xuất hiện.
Một điều nữa cũng rất đáng suy nghĩ: chúng ta thường tổ chức tĩnh tâm để “nạp lại năng lượng”, nhưng ngôn ngữ Kitô giáo sâu hơn thế. Người môn đệ không chỉ cần năng lượng; người môn đệ cần hoán cải. Nạp năng lượng có thể giúp ta tiếp tục cách sống cũ mạnh hơn. Hoán cải làm ta đổi hướng. Chúa không muốn chỉ làm chúng ta dễ chịu. Có khi Lời Chúa làm chúng ta mất ngủ. Có khi một câu Tin Mừng phá vỡ cả cách ta nhìn chính mình. Hãy nhớ người thanh niên giàu có. Anh đến với Chúa rất đạo đức, giữ giới răn từ nhỏ, nhưng khi Đức Giêsu chạm tới nơi anh bám víu nhất – của cải – anh buồn rầu bỏ đi. Một ngày tĩnh tâm cũng phải có khả năng đưa ta đến điểm ấy: Chúa đặt tay lên chính điều ta không muốn buông. Với người này là tiền. Với người khác là danh dự. Với người khác nữa là quyền lực. Với người khác là sự oán hận. Có người sẵn sàng bỏ tiền nhưng không chịu bỏ ý mình. Có người sẵn sàng làm bao việc nhưng không chịu nói một câu “tôi sai”. Có người có thể đọc cả chuỗi Mân Côi nhưng không chịu xóa một tin nhắn làm nhục người khác. Thánh Giá luôn hỏi ta về điều ta bám chặt nhất.
Và xin đừng quên: nói về Thánh Giá mà thiếu Phục Sinh sẽ làm người nghe kiệt sức. Kitô giáo không phải tôn giáo của đau khổ; Kitô giáo là Tin Mừng của tình yêu đi qua đau khổ đến sự sống. Thứ Sáu Tuần Thánh không phải trang cuối. Ngôi mộ không phải dấu chấm hết. Nếu cây Thánh Giá là trung tâm của ngày tĩnh tâm, thì cuối ngày phải sáng lên niềm hy vọng Phục Sinh. Người đang mang bệnh phải được nghe rằng bệnh tật không phải tiếng nói cuối cùng. Người vừa mất người thân phải được nghe rằng tình yêu mạnh hơn sự chết. Người thất bại phải được nghe rằng Thiên Chúa có thể mở một con đường mới từ nơi tưởng như kết thúc. Hội đoàn đang chia rẽ phải tin rằng hòa giải là có thể. Người đang sống trong tội phải tin rằng một khởi đầu mới là có thể. Người đã cao tuổi phải tin rằng đời mình vẫn sinh hoa trái. Người trẻ đang lạc hướng phải tin rằng Chúa chưa bỏ cuộc với mình. Sau đêm tối của đồi Canvê là bình minh ngày thứ nhất trong tuần.
Ngày tĩnh tâm có thể kết thúc bằng đoạn Tin Mừng Chúa Phục Sinh hiện ra và nói: “Bình an cho anh em” (Ga 20,19). Rồi Người cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn. Thật lạ! Chúa đã sống lại nhưng những dấu đinh vẫn còn. Phục Sinh không xóa những vết thương; Phục Sinh biến vết thương thành chứng từ. Có những vết thương trong đời ta cũng vậy. Có những điều không bao giờ hoàn toàn biến mất khỏi ký ức. Nhưng khi được Đức Kitô chạm đến, chính nơi từng làm ta đau có thể trở thành nơi ta hiểu và thương người khác nhất. Người từng trải qua nghèo khó có thể hiểu người nghèo. Người từng mất con có thể ngồi bên một bà mẹ mất con mà không cần nói nhiều. Người từng bị phản bội có thể nâng đỡ người đang bị phản bội. Người từng lầm lạc rồi được tha thứ thường biết thương người lầm lạc. Thiên Chúa có tài biến sẹo thành cửa sổ cho ánh sáng đi qua.
Và đó mới là hoa trái đẹp nhất của một ngày tĩnh tâm về Thánh Giá: không phải người ta trở về và nói “bài giảng hôm nay hay quá”, nhưng người ta trở về sống khác. Người chồng về nhà dịu hơn. Người vợ bớt một câu chì chiết. Người con gọi điện cho cha mẹ. Người trưởng hội đoàn bắt đầu biết nghe. Người lớn tuổi biết lùi lại để người trẻ có chỗ trưởng thành. Người trẻ bớt phê phán người đi trước. Hai người lâu ngày tránh mặt nhau bắt đầu chào nhau. Một thành viên thôi kể câu chuyện làm tổn thương người khác. Một gia đình bắt đầu cầu nguyện lại. Một người sau nhiều năm trở lại tòa giải tội. Một người cất điện thoại xuống và dành thời gian ngồi bên người mẹ già. Một người từ bỏ ý định bỏ hội đoàn vì nhận ra Chúa đang mời mình yêu thêm một lần nữa. Những điều đó không ồn ào. Không đăng báo. Không lên sân khấu. Nhưng Nước Thiên Chúa lớn lên từ những thay đổi âm thầm như thế.
Có lẽ trước khi ra về, nên mời tất cả đứng trước Thánh Giá và cầu thật chậm: “Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, chúng con đã nhìn Chúa nhiều lần nhưng chưa chắc đã hiểu Chúa. Chúng con đã mang Thánh Giá trên cổ, treo Thánh Giá trong nhà, đặt Thánh Giá trên bàn thờ, nhưng nhiều khi lại chạy trốn Thánh Giá trong đời. Xin đừng cho chúng con yêu một Đức Kitô không có Thánh Giá, cũng đừng cho chúng con mang một thập giá không có Đức Kitô. Xin dạy chúng con biết đón nhận điều không thể thay đổi, can đảm thay đổi điều phải thay đổi, và đủ khôn ngoan để phân biệt hai điều ấy. Xin cho chúng con biết vác đỡ thập giá của nhau thay vì trở thành thập giá cho nhau. Xin cho hội đoàn chúng con đừng chỉ đông người nhưng nhiều tình yêu; đừng chỉ nhiều hoạt động nhưng nhiều Tin Mừng; đừng chỉ nhiều lời cầu nguyện nhưng nhiều lòng thương xót; đừng chỉ mặc đồng phục giống nhau nhưng có một trái tim giống Chúa. Xin cho chúng con, mỗi khi nhìn lên Thánh Giá, nhớ rằng chúng con đã được yêu đến cùng; và mỗi khi nhìn một người anh chị em, nhớ rằng Chúa cũng đã chết vì người ấy.”
Rồi mỗi người ra về. Cây Thánh Giá vẫn ở lại trong nhà thờ. Nhưng nếu ngày tĩnh tâm thật sự thành công, Thánh Giá ấy đã được đem theo trong lòng từng người. Và từ hôm ấy, Thánh Giá không còn chỉ là cây gỗ treo trên tường. Nó trở thành cách người ta sống. Biết nhịn một câu khi có thể làm người khác đau: đó là Thánh Giá. Biết nhận lỗi khi lòng tự ái muốn chống chế: đó là Thánh Giá. Biết phục vụ mà không cần ai biết: đó là Thánh Giá. Biết ở lại với người đau khổ: đó là Thánh Giá. Biết tha thứ khi có đủ lý do để oán hận: đó là Thánh Giá. Biết nói sự thật bằng tình yêu: đó là Thánh Giá. Biết từ bỏ một chút tiện nghi để người khác được sống tốt hơn: đó là Thánh Giá. Biết hy sinh ý riêng vì sự hiệp nhất của cộng đoàn: đó là Thánh Giá. Biết chấp nhận tuổi già, bệnh tật, giới hạn mà không cay đắng: đó là Thánh Giá. Biết chết đi cho cái tôi từng ngày để Đức Kitô lớn lên trong mình: đó chính là con đường của người môn đệ.
Sau cùng, có một điều người tổ chức tĩnh tâm cần khắc ghi: đừng cố làm cho ngày tĩnh tâm thật hoành tráng; hãy làm cho nó thật. Chúa không cần ánh sáng sân khấu. Chúa cần một trái tim mở. Chúa không cần những khẩu hiệu rất hay. Chúa cần một con người dám hoán cải. Chúa không cần chúng ta trang trí Thánh Giá bằng thật nhiều hoa nếu chúng ta không dám lấy những chiếc gai ra khỏi đời nhau. Thánh Giá đẹp nhất không phải Thánh Giá bằng gỗ quý, vàng hay bạc. Thánh Giá đẹp nhất là khi một con người chịu để tình yêu Đức Kitô biến đổi mình. Và hội đoàn đẹp nhất không phải hội đoàn có đồng phục đẹp nhất, đông người nhất, nhiều tiền nhất hay nổi tiếng nhất, nhưng là hội đoàn mà một người cô đơn bước vào được đón nhận, một người yếu đuối được nâng lên, một người lầm lỗi được cho cơ hội trở về, một người đau khổ tìm được một bờ vai, một người nghèo không thấy mình thấp kém, một người trẻ được tin tưởng, một người già không bị quên lãng, và mọi người nhìn nhau rồi nhận ra: chúng ta chẳng hoàn hảo gì, nhưng tất cả đều đang được cứu bởi một Đấng đã dang hai tay trên Thánh Giá.
Đến cuối cùng, cuộc tĩnh tâm về Thánh Giá không nhằm làm cho người ta hiểu thêm một đề tài. Nó nhằm làm cho người ta gặp một Người. Người ấy là Đức Giêsu Kitô, Đấng đã yêu chúng ta và hiến mạng vì chúng ta. Nếu sau ngày tĩnh tâm, một thành viên hội đoàn có thể đứng trước Thánh Giá và nói thật lòng: “Lạy Chúa, con vẫn sợ đau khổ, con vẫn yếu đuối, con vẫn chưa hiểu hết đường Chúa dẫn con đi, nhưng con tin Chúa yêu con; và vì Chúa đang đi trước, con xin tiếp tục bước theo”, thì ngày tĩnh tâm ấy đã sinh hoa trái. Nếu một người có thể trở về nhà, nhìn người mà mình từng giận và bắt đầu lại bằng một câu tử tế, Thánh Giá đã chiến thắng. Nếu một hội đoàn từ chỗ tranh nhau đứng trước chuyển sang tranh nhau đứng sau để phục vụ, Thánh Giá đã chiến thắng. Nếu một người từ chỗ chỉ hỏi “ai thương tôi?” chuyển sang hỏi “hôm nay tôi có thể thương ai?”, Thánh Giá đã chiến thắng. Và khi tình yêu chiến thắng như thế, dù âm thầm, dù nhỏ bé, dù chẳng ai biết, mầu nhiệm Vượt Qua đang xảy ra giữa cuộc đời này: từ chết đến sống, từ chia rẽ đến hiệp nhất, từ ích kỷ đến trao ban, từ bóng tối đến ánh sáng, từ cây Thánh Giá của chiều Thứ Sáu đến bình minh Phục Sinh.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ CHO MỌI NGƯỜI – MỖI NGƯỜI MỘT THẬP GIÁ, NHƯNG CHỈ CÓ MỘT TÌNH YÊU CỨU ĐỘ
Lễ Suy Tôn Thánh Giá là một ngày rất đặc biệt trong đời sống của Hội Thánh. Đặc biệt bởi vì hôm nay Hội Thánh không mời chúng ta nhìn lên một ngai vàng, không đặt trước mắt chúng ta một chiếc vương miện bằng vàng, không kể cho chúng ta nghe một câu chuyện thành công theo kiểu người đời vẫn thích nghe, nhưng lại đưa chúng ta đến đứng trước một cây gỗ, một cây gỗ từng là dụng cụ hành hình nhục nhã nhất của đế quốc Rôma, rồi nói với chúng ta: đây là niềm hy vọng của anh chị em, đây là dấu chỉ của ơn cứu độ, đây là nơi Thiên Chúa đã yêu con người đến tận cùng. Và có lẽ chính ở điểm ấy mà Kitô giáo luôn là một mầu nhiệm khó hiểu đối với thế gian. Người đời thường tìm cách tránh đau khổ, còn người Kitô hữu lại treo Thánh Giá ở nơi trang trọng nhất. Người đời xem thất bại là điều phải che giấu, còn Hội Thánh lại công bố một Đấng chịu đóng đinh. Người đời muốn chứng minh mình mạnh bằng cách làm cho người khác sợ, còn Chúa Giêsu lại bày tỏ quyền năng bằng việc để cho đôi tay mình bị đóng đinh, đôi chân mình bị giữ chặt và cạnh sườn mình bị đâm thâu. Nhưng Thánh Giá không nói rằng đau khổ tự nó là điều tốt. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Kitô giáo tôn thờ một Đấng đã đi vào đau khổ để biến đổi đau khổ bằng tình yêu. Không phải những chiếc đinh đã cứu độ nhân loại; chính tình yêu của Đấng chấp nhận những chiếc đinh ấy mới cứu độ chúng ta. Không phải cây gỗ tự nó làm nên ơn cứu độ; chính Con Thiên Chúa đã dang tay trên cây gỗ ấy và yêu chúng ta đến cùng.
Bởi vậy, hôm nay khi nhìn lên Thánh Giá, chúng ta đừng chỉ nhìn thấy một thân thể đầy thương tích. Hãy nhìn thấy một trái tim không còn giữ lại điều gì cho mình. Hãy nhìn đôi tay Chúa: đôi tay từng chúc lành cho trẻ nhỏ, đôi tay từng chạm đến người phong cùi, từng nâng người phụ nữ bị khòm lưng, từng bẻ bánh cho đám đông đói khát, từng rửa chân cho các môn đệ, giờ đây bị đóng vào gỗ. Hãy nhìn đôi chân Chúa: đôi chân đã đi qua bao làng mạc để tìm người nghèo, người đau bệnh, người tội lỗi, giờ đây không còn đi được nữa. Hãy nhìn đôi mắt Chúa: đôi mắt từng nhìn Phêrô bằng lòng thương xót, nhìn người thanh niên giàu có bằng tình yêu, nhìn người phụ nữ ngoại tình mà không kết án, giờ đây mờ đi giữa máu và nước mắt. Hãy nhìn miệng Chúa: miệng đã công bố Tin Mừng, đã nói lời chữa lành, đã tha thứ tội lỗi, giờ đây giữa cơn hấp hối vẫn không nguyền rủa nhưng cầu xin tha thứ. Tất cả thân thể Chúa trở thành một lời duy nhất: “Ta yêu con.” Không phải yêu khi con tốt. Không phải yêu khi con ngoan. Không phải yêu khi con thành công. Không phải yêu khi con cầu nguyện sốt sắng. Nhưng yêu cả khi con bỏ chạy, yêu cả khi con phản bội, yêu cả khi con làm cho trái tim Chúa đau, yêu cả khi con chẳng còn gì đáng yêu dưới con mắt của chính mình. Đó là Thánh Giá.
Tin Mừng lễ hôm nay đưa chúng ta trở lại cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và ông Nicôđêmô. Chúa nhắc đến con rắn đồng được ông Môsê giương cao trong sa mạc và nói rằng Con Người cũng phải được giương cao để những ai tin thì được sự sống đời đời. Rồi Thánh Gioan đưa chúng ta tới một trong những câu đẹp nhất của Tin Mừng: Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một. Xin để ý: Thiên Chúa yêu “thế gian”. Không phải chỉ yêu những người thánh thiện. Không phải chỉ yêu những người đã sửa mình. Không phải chỉ yêu những người thuộc về một hội đoàn đạo đức. Thế gian trong Tin Mừng Gioan là một thế gian mang đầy những bóng tối, chống đối, tội lỗi và khước từ Thiên Chúa, vậy mà chính thế gian ấy lại được Thiên Chúa yêu. Thánh Giá vì thế là lời tuyên bố long trọng của Thiên Chúa rằng tội lỗi của con người có thể rất lớn nhưng lòng thương xót của Người còn lớn hơn; sự phản bội của con người có thể rất sâu nhưng tình yêu của Người còn sâu hơn; con người có thể chạy thật xa nhưng Thiên Chúa còn đi xa hơn để tìm con người trở về.
Và hôm nay, đứng trước cùng một Thánh Giá, có thiếu nhi, có người trẻ, có những người làm cha làm mẹ, có người già, có người bệnh, có người đang hạnh phúc và cũng có người đang giấu trong lòng một nỗi đau không ai biết. Cùng nhìn một cây Thánh Giá nhưng mỗi người lại nhìn bằng một đôi mắt khác nhau, bởi mỗi cuộc đời có một thập giá khác nhau. Có những thập giá nhìn thấy được, nhưng cũng có vô số thập giá chẳng ai nhìn thấy. Có người bước vào nhà thờ hôm nay rất chỉnh tề nhưng trong lòng vừa trải qua một đêm đầy nước mắt. Có người vẫn cười với người bên cạnh nhưng gia đình đang rạn vỡ. Có người vẫn đi lễ đều đặn nhưng đã nhiều tháng không tìm thấy bình an. Có người đang mang bệnh. Có người đang lo cho một người bệnh. Có người mất ngủ vì đứa con. Có người mất ngủ vì cha mẹ già. Có người thấy mình cô đơn ngay trong căn nhà đầy người. Bởi vậy Thánh Giá hôm nay không chỉ nằm trên cung thánh. Thánh Giá đang hiện diện giữa cộng đoàn bằng biết bao cuộc đời.
Với các em thiếu nhi, cha muốn nói một điều rất đơn giản: các con đừng nghĩ rằng Thánh Giá là chuyện của người lớn. Các con cũng có những thập giá nhỏ của mình. Thập giá của một đứa trẻ đôi khi là phải thức dậy đi lễ trong khi muốn ngủ thêm. Là phải vâng lời cha mẹ trong khi rất muốn làm theo ý mình. Là phải nhường đồ chơi cho em. Là phải xin lỗi một người bạn dù thấy rất khó. Là không gian lận trong bài kiểm tra dù bạn bên cạnh đang chỉ bài. Là không nói dối khi biết rằng nếu nói thật có thể bị la. Là không hùa theo cả lớp để chế giễu một bạn học yếu hơn, nghèo hơn, béo hơn, chậm hơn hay khác biệt hơn. Là dám bênh vực một người đang bị cô lập. Đừng nghĩ rằng chỉ khi chịu những đau khổ thật lớn mới gọi là vác Thánh Giá. Mỗi lần một em bé chọn điều tốt thay vì điều dễ, em bé ấy đang đi theo Chúa Giêsu. Mỗi lần các con chịu khó làm một việc vì yêu cha mẹ, vì thương anh chị em, vì muốn làm vui lòng Chúa, cây thập giá nhỏ ấy đang biến thành một bông hoa.
Các con thiếu nhi thân mến, hãy nhớ hình ảnh Chúa Giêsu trên Thánh Giá. Người lớn chúng ta nhiều khi tưởng trẻ con chẳng đau khổ gì, nhưng không phải vậy. Có em rất sợ khi cha mẹ cãi nhau. Có em âm thầm khóc vì cha mẹ ly thân. Có em thấy mình không giỏi bằng bạn bè nên buồn. Có em bị bạn bè bắt nạt nhưng không dám nói. Có em muốn được cha ôm một lần mà cha bận quá. Có em muốn được mẹ ngồi nghe mình kể chuyện nhưng mẹ luôn nhìn vào điện thoại. Nếu trong lòng các con có một nỗi buồn như thế, các con hãy nhìn Chúa Giêsu và nói đơn sơ: “Chúa Giêsu ơi, Chúa biết con đang buồn.” Chỉ cần thế thôi. Chúa biết. Và đừng bao giờ nghĩ rằng vì mình nhỏ nên nỗi buồn của mình cũng nhỏ trong mắt Chúa. Một giọt nước mắt của trẻ thơ cũng quý trước mặt Người. Chúa Giêsu từng nói: “Hãy để trẻ nhỏ đến với Thầy.” Trên Thánh Giá, đôi tay Chúa không còn có thể ôm các trẻ nhỏ như ngày trước nữa, nhưng chính vì đôi tay ấy bị dang ra mà từ nay vòng tay của Chúa mở rộng đủ để ôm mọi trẻ em trên thế giới.
Với người trẻ, Thánh Giá lại có một tiếng nói khác. Tuổi trẻ ngày nay nghe rất nhiều lời mời gọi: hãy nổi bật, hãy thành công, hãy có thật nhiều người theo dõi, hãy đẹp hơn, giàu hơn, giỏi hơn, hãy chứng minh giá trị của mình. Mạng xã hội liên tục đặt người trẻ vào một cuộc thi âm thầm với thiên hạ. Người ta đăng lên những chuyến du lịch đẹp nhất, những bữa ăn ngon nhất, khuôn mặt đẹp nhất, những thành công đáng khoe nhất. Ít ai đăng lên những đêm mình khóc. Ít ai chụp ảnh lúc mình thất bại. Ít ai kể thật rằng mình đang hoang mang không biết tương lai đi đâu. Và vì mỗi người chỉ nhìn thấy “phiên bản đẹp nhất” của người khác, người trẻ rất dễ tưởng rằng cuộc đời của thiên hạ đều tốt đẹp, chỉ có đời mình lộn xộn. Chính lúc ấy, Thánh Giá nói với người trẻ: con không cần phải hoàn hảo mới xứng đáng được yêu.
Một người trẻ đôi khi mang những thập giá không ai nhìn thấy: chọn sai ngành học; thất nghiệp; thất tình; bị phản bội; một tương quan độc hại; áp lực phải thành công; kỳ vọng quá lớn của gia đình; mặc cảm về ngoại hình; cô đơn; mất phương hướng; những lần cầu nguyện mà chẳng cảm thấy Chúa; những câu hỏi về đức tin không tìm được câu trả lời. Có những người trẻ tưởng rằng theo Chúa nghĩa là cuộc đời sẽ thuận lợi. Không. Chúa chưa bao giờ nói: “Ai theo Thầy sẽ không có thập giá.” Chúa nói điều gần như ngược lại: ai muốn theo Người thì hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo. Nhưng xin đừng hiểu sai. Chúa không bảo chúng ta đi tìm đau khổ. Chúa cũng không bảo phải chấp nhận sự lạm dụng, bạo lực, bất công như thể đó là ý Chúa. Có những thập giá phải được vác, nhưng cũng có những thập giá do tội lỗi và bất công của con người đặt lên vai người khác mà chúng ta phải cùng nhau tháo xuống. Vác Thánh Giá không phải là cam chịu mọi sự. Chúa Giêsu hiền lành nhưng Người vẫn nói sự thật. Người tha thứ nhưng không gọi điều xấu là điều tốt. Người chịu khổ vì yêu chứ không tôn thờ đau khổ.
Người trẻ thân mến, điều nguy hiểm nhất không phải là đời con có thập giá. Điều nguy hiểm nhất là con phải vác nó một mình. Hãy tìm một người đáng tin để nói chuyện. Hãy tìm cha mẹ, một linh mục, một tu sĩ, một người đồng hành, một người bạn có chiều sâu. Đừng biến chiếc điện thoại thành người tâm sự duy nhất. Có những đêm càng lướt mạng càng cô độc. Có những lúc càng tìm sự công nhận từ người xa lạ càng quên mất mình quý giá trước mặt Thiên Chúa. Nhìn lên Thánh Giá đi. Con sẽ không thấy một Thiên Chúa nói: “Hãy chứng minh cho Ta thấy con xứng đáng.” Con thấy một Thiên Chúa nói: “Trước khi con chứng minh được bất cứ điều gì, Ta đã yêu con rồi.” Và chính khi biết mình được yêu như thế, con mới có sức sống một cuộc đời tử tế mà không cần lúc nào cũng trình diễn nó trước thiên hạ.
Với những người đang yêu và chuẩn bị bước vào đời sống hôn nhân, Thánh Giá lại đặt ra một câu hỏi rất thật: con yêu người kia vì người ấy làm con hạnh phúc, hay con thực sự muốn điều tốt cho người ấy? Tình yêu thời nay rất dễ bị hiểu thành cảm xúc. Còn vui thì ở. Hết vui thì đi. Còn hợp thì yêu. Không hợp nữa thì đổi. Nhưng tình yêu trên Thánh Giá là một tình yêu biết ở lại. Không phải ở lại trong bạo lực hay điều sai trái, nhưng ở lại trong lòng trung tín, trách nhiệm, kiên nhẫn, tha thứ, và trong quyết tâm cùng nhau đi qua những ngày không đẹp. Ngày cưới người ta dễ nói “anh yêu em”, “em yêu anh” khi hoa còn tươi, áo còn đẹp, tiếng nhạc còn vang. Nhưng câu ấy chỉ thực sự có trọng lượng khi nhiều năm sau một người nằm bệnh và người kia vẫn ngồi cạnh; khi gia đình gặp khó khăn tài chính và hai người không đổ lỗi cho nhau; khi một người yếu đuối và người kia không bỏ chạy; khi hai người đã nhìn thấy rất rõ khuyết điểm của nhau nhưng vẫn chọn tiếp tục học yêu. Hôn nhân Công giáo không được xây trên một lời hứa rằng “anh sẽ luôn làm em hạnh phúc”, bởi không ai đủ khả năng giữ lời hứa ấy. Hôn nhân được xây trên một lời hứa khiêm tốn hơn nhưng bền hơn: dù những ngày vui hay buồn, mạnh khỏe hay bệnh tật, anh vẫn cố gắng yêu em trong Chúa.
Với những người cha, người mẹ, Thánh Giá có khi nằm ngay trong căn nhà của mình. Thập giá của cha mẹ có tên của con cái. Nhưng xin đừng hiểu câu ấy theo nghĩa con cái là gánh nặng. Chính vì yêu nên mới đau. Một người mẹ có thể khóc vì đứa con không còn đi lễ. Một người cha mất ngủ khi con thất nghiệp. Có cha mẹ đau vì con chọn sai, vì hôn nhân của con trục trặc, vì con nghiện ngập, vì con xa nhà, vì con không còn nói chuyện với mình. Có người đã cầu nguyện cho con mười năm, hai mươi năm mà dường như chẳng thấy gì thay đổi. Xin hãy nhìn Đức Maria dưới chân Thánh Giá. Mẹ không thể tháo những chiếc đinh khỏi tay Con. Mẹ không thể dừng cuộc hành hình. Mẹ không hiểu hết kế hoạch của Thiên Chúa. Mẹ chỉ có thể đứng đó. Tin Mừng nói rất ngắn: Mẹ đứng gần Thánh Giá Đức Giêsu. Có những lúc yêu một người không phải là giải quyết được vấn đề cho họ. Yêu là vẫn đứng đó. Không bỏ họ. Không ngừng cầu nguyện. Không đóng cửa. Không dùng những lỗi lầm quá khứ làm vũ khí mỗi lần cãi nhau. Cha mẹ có thể không cứu được con mình, nhưng cha mẹ có thể giữ một cánh cửa luôn mở để khi đứa con muốn trở về, nó biết nhà vẫn còn ánh đèn.
Với những người già, Thánh Giá mang một vẻ rất lặng lẽ. Người già thường phải học một bài rất khó: học buông. Buông sức khỏe ngày trước. Buông công việc từng làm. Buông vị trí từng có. Buông quyền quyết định trong gia đình. Buông những người bạn lần lượt ra đi. Buông nhiều khả năng của thân thể. Có người già đau không chỉ vì đầu gối đau, lưng đau hay huyết áp, mà đau vì cảm giác mình không còn cần thiết. Ngày trước con cháu hỏi ý mọi chuyện; bây giờ chẳng ai hỏi nữa. Ngày trước mình nuôi cả gia đình; bây giờ phải nhờ người khác đưa đi khám bệnh. Ngày trước mình chăm sóc con cái; bây giờ phải để con cháu chăm lại mình. Cảm giác phải lệ thuộc là một thập giá không nhỏ.
Thưa các ông bà cao niên, xin đừng nghĩ rằng đời mình đã hết ích lợi. Trong Nước Chúa, giá trị của một con người không nằm ở việc còn làm được bao nhiêu. Chúa Giêsu trong những giờ cuối đời xem ra chẳng “làm” được gì nữa. Tay bị đóng, chân bị đóng, thân thể bất động. Nếu đo giá trị bằng năng suất, thì Đức Giêsu trên Thập Giá là hình ảnh của một con người hoàn toàn bất lực. Nhưng chính vào lúc xem ra chẳng làm được gì, Người lại đang thực hiện công trình lớn nhất: cứu độ nhân loại. Vì thế một người già nằm trên giường mà cầu nguyện cho con cháu có thể đang làm một công việc lớn hơn chúng ta tưởng. Một cụ bà lần chuỗi với đôi tay run có thể âm thầm nâng đỡ cả gia đình. Một cụ ông chẳng còn nói nhiều nhưng biết mỉm cười, biết chúc lành cho con cháu thay vì chỉ phàn nàn, có thể để lại một bài giảng cuối đời sâu sắc hơn hàng ngàn lời nói.
Người già còn có một sứ mạng mà người trẻ không thể thay thế: sứ mạng làm chứng rằng cuộc đời này có điểm đến. Người trẻ nhìn phía trước; người già đã đi qua nhiều đoạn đường. Người già biết rằng nhiều điều ngày trước tưởng ghê gớm rồi cũng qua. Những thành công từng làm mình kiêu hãnh rồi cũng mờ đi. Những thất bại từng tưởng không thể đứng dậy rồi cũng trở thành chuyện cũ. Những người mình giận đến mức tưởng không bao giờ tha thứ rồi cuối cùng cũng thấy chẳng đáng mang sự giận dữ vào tuổi xế chiều. Một người già biết sống thanh thản đang nói với thế hệ sau rằng cuối cùng chỉ tình yêu còn lại. Nhà cửa để lại. Tiền bạc để lại. Chức vụ để lại. Danh tiếng để lại. Ngay cả thân xác này rồi cũng phải trả về cho đất. Chỉ những gì đã yêu trong Chúa mới đi cùng chúng ta qua cánh cửa sự chết.
Với bệnh nhân, hôm nay có lẽ Thánh Giá gần hơn với anh chị em rất nhiều. Bởi người bệnh hiểu bằng thân xác điều mà người khỏe chỉ hiểu bằng trí óc: con người mong manh. Chỉ cần một kết quả xét nghiệm cũng đủ thay đổi cả cuộc đời. Chỉ một câu của bác sĩ có thể chia thời gian thành “trước khi biết bệnh” và “sau khi biết bệnh”. Một người bệnh không chỉ chịu cái đau của thân xác. Còn nỗi sợ. Sợ bệnh nặng hơn. Sợ tốn tiền cho gia đình. Sợ trở thành gánh nặng. Sợ một ngày nào đó nghe bác sĩ nói không còn phương pháp điều trị. Và đôi khi còn có nỗi đau thiêng liêng: “Tại sao Chúa để con ra như thế này?”
Tôi không muốn dùng những câu trả lời quá dễ trước một chiếc giường bệnh. Đứng trước nỗi đau thật, chúng ta phải rất khiêm tốn. Không phải mọi đau khổ đều có thể giải thích. Chúa Giêsu cũng không đứng trên bục cao để giảng một bài triết học về đau khổ. Người xuống tận đáy đau khổ. Người đã run sợ trong vườn Cây Dầu. Người đã cầu xin nếu có thể thì cho chén này qua đi. Người biết thế nào là thân thể đau đớn, thế nào là bị bỏ rơi, thế nào là khát, thế nào là không còn sức. Vì thế khi một bệnh nhân nói: “Chúa ơi, con đau quá”, người ấy đang nói với một Thiên Chúa hiểu chữ “đau” từ bên trong.
Người bệnh thân mến, Chúa không yêu anh chị em nhiều hơn khi anh chị em chịu đau giỏi. Và cũng đừng tự trách mình nếu có những ngày anh chị em mệt mỏi, than khóc hoặc không cầu nguyện được. Có khi lời cầu nguyện đẹp nhất của người bệnh chỉ là: “Chúa ơi, con mệt.” Có khi một giọt nước mắt cũng là kinh nguyện. Có khi nằm yên để người khác chăm sóc lại là một hành vi khiêm nhường rất lớn. Chúng ta thường thích làm người cho đi hơn là người nhận, bởi khi cho đi mình cảm thấy mạnh. Bệnh tật buộc chúng ta phải để người khác giúp mình, và điều ấy đau vào lòng tự trọng. Nhưng hãy nhớ: chính Chúa Giêsu cũng đã để ông Simon thành Kyrênê vác đỡ Thập Giá. Nếu Con Thiên Chúa đã chấp nhận có người đỡ Thập Giá của Người, chúng ta cũng không cần xấu hổ khi phải nhờ người khác nâng đỡ.
Với những người chăm sóc bệnh nhân cũng thế, thập giá của anh chị em có thể rất dài. Người ta thường hỏi thăm bệnh nhân nhưng quên hỏi người đang chăm bệnh nhân có mệt không. Có những người con nhiều tháng ngủ trên ghế bệnh viện. Có người vợ chăm chồng mất trí nhớ và mỗi ngày phải trả lời cùng một câu hỏi hàng chục lần. Có người chồng âm thầm thay tã cho vợ. Có người mẹ chăm đứa con khuyết tật suốt nhiều năm. Những việc ấy chẳng có tiếng vỗ tay. Không có huy chương. Không ai đăng báo. Nhưng trên Nước Trời, rất có thể đó lại là những câu chuyện được viết bằng chữ vàng. Mỗi lần lau một khuôn mặt bệnh nhân với tình thương, chúng ta đang chạm đến khuôn mặt Chúa. Mỗi lần kiên nhẫn thêm một chút dù quá mệt, chúng ta đang đứng dưới chân Thánh Giá với Đức Maria.
Với người đang chịu tang, Thánh Giá nói rằng Thiên Chúa cũng đã bước vào sự chết. Đức tin Kitô giáo không làm chúng ta khỏi khóc khi mất một người thân. Chúa Giêsu từng khóc trước mộ Ladarô. Đức Maria đứng dưới Thập Giá cũng không phải một pho tượng đá không biết đau. Mẹ là một người mẹ nhìn đứa con mình chết. Đức tin không có nghĩa là không khóc. Đức tin là có thể khóc nhưng không tuyệt vọng. Chúng ta có thể nhớ người đã mất mà đau, nhưng vẫn tin rằng sự chết không có tiếng nói cuối cùng. Bởi phía sau Thứ Sáu Tuần Thánh là sáng Phục Sinh. Nếu Tin Mừng kết thúc trên đồi Golgotha thì Kitô giáo chỉ là một bi kịch. Nhưng ngôi mộ đã trống. Đấng chịu đóng đinh đã sống lại. Vì thế Thánh Giá Kitô giáo luôn được nhìn trong ánh sáng Phục Sinh.
Với người đang thất nghiệp, vỡ nợ, làm ăn thất bại hay đang khủng hoảng kinh tế, thập giá đôi khi không đau trên thân xác mà đau vào phẩm giá. Một người cha không có tiền đóng học cho con rất dễ cảm thấy mình bất lực. Một người từng thành công nay phá sản có thể sợ cả những ánh mắt quen. Một người trẻ gửi hàng chục hồ sơ mà không được nhận có thể bắt đầu nghi ngờ giá trị bản thân. Xin hãy nhớ: thất bại của công việc không phải là thất bại của một con người. Chúng ta có thể mất việc nhưng không mất phẩm giá. Có thể mất tiền nhưng không mất giá trị trước mặt Thiên Chúa. Chúa Giêsu trên Thập Giá bị người đời xem như một kẻ thất bại hoàn toàn, nhưng chính lúc ấy Người đang chiến thắng. Điều đó không có nghĩa mọi thất bại của chúng ta đều tự nhiên trở thành thành công. Nó có nghĩa rằng thất bại không có quyền định nghĩa chúng ta. Thiên Chúa vẫn có thể viết tiếp câu chuyện sau trang mà chúng ta tưởng là trang cuối.
Với những người cảm thấy mình tội lỗi, Thánh Giá hôm nay là một tin mừng đặc biệt. Có người không dám nhìn lên Chúa vì nghĩ rằng mình đã phạm quá nhiều lỗi. Có người đi xưng tội rồi mà vẫn không tha thứ cho chính mình. Có người cứ sống mãi với một quá khứ: một lần phản bội, một quyết định sai, một cuộc phá vỡ, một năm tháng sống xa Chúa. Xin hãy nhìn người trộm lành trên thập giá bên cạnh Chúa Giêsu. Ông chẳng còn thời gian để sửa lại quá khứ. Chẳng còn cơ hội trả lại những gì đã lấy. Chẳng còn cả một đời dài để lập công. Ông chỉ có một lời cầu xin: xin Chúa nhớ đến tôi. Và câu trả lời của Đức Giêsu mở cả một cánh cửa thiên đàng. Điều ấy không làm tội lỗi trở thành chuyện nhỏ. Nó cho thấy lòng thương xót lớn đến mức nào. Khi một người thật lòng quay về, Thiên Chúa không đứng đó để kể lại từng thất bại nhằm làm người ấy xấu hổ. Người mở đường trở về.
Có lẽ một trong những thập giá nặng nhất là thập giá của người bị tổn thương bởi chính người mình yêu. Bị người xa lạ làm đau đã khó; bị người thân làm đau còn khó hơn. Có những lời nói chỉ vài giây nhưng nằm trong lòng hai mươi năm. Có những đứa con năm mươi tuổi vẫn đau vì một câu cha mẹ nói khi nó mười tuổi. Có những vợ chồng ngủ cạnh nhau nhưng nhiều năm chẳng thực sự nói chuyện. Có anh chị em ruột chỉ vì chuyện tiền bạc, đất đai mà từ mặt nhau. Có những gia đình đi lễ chung nhưng về nhà lại không nói với nhau một lời. Và rồi chúng ta làm dấu Thánh Giá mỗi ngày nhưng giữ trong lòng những bản án chung thân đối với người khác.
Nhìn lên Chúa chịu đóng đinh và nghe lời cầu xin tha thứ của Người, chúng ta hiểu rằng tha thứ nằm ở trung tâm của Thánh Giá. Nhưng tha thứ không phải là giả vờ chưa từng có chuyện gì. Tha thứ cũng không có nghĩa là người làm sai không phải chịu trách nhiệm. Tha thứ là từ chối để sự dữ của người khác biến mình thành một con người đầy cay độc. Có những vết thương cần rất nhiều thời gian. Có những trường hợp cần một khoảng cách an toàn. Có những chuyện cần công lý. Nhưng dù thế nào, người Kitô hữu được mời gọi đi từng bước về phía tự do nội tâm. Bởi khi tôi giữ một người trong nhà tù của lòng thù hận, nhiều khi chính tôi cũng trở thành tù nhân. Tha thứ không phải chủ yếu là thả người kia ra; nhiều lúc tha thứ là mở cửa cho chính linh hồn mình bước ra khỏi căn phòng đen tối.
Với những người phục vụ trong giáo xứ, các hội đoàn, ca đoàn, giáo lý viên, ban hành giáo, các nhóm bác ái, Thánh Giá cũng là một bài học không thể thiếu. Làm việc cho Chúa không có nghĩa là miễn nhiễm với tự ái. Nhiều khi chính trong nhà thờ, chúng ta lại đau vì những chuyện rất nhỏ: không được nhắc tên, không được ngồi đúng chỗ, không được mời, ý kiến không được nghe, người khác được khen còn mình thì không. Có người phục vụ Chúa mười năm rồi bỏ hết chỉ vì một câu nói. Có người làm rất nhiều nhưng trong lòng luôn mong người khác nhìn thấy. Có người nhân danh bảo vệ công việc của Chúa để tranh giành quyền lực. Nhìn lên Thánh Giá, chúng ta phải tự hỏi: tôi đang phục vụ Đấng chịu đóng đinh hay đang tìm cách dựng ngai cho cái tôi của mình?
Chúa Giêsu không cứu thế gian bằng cách thắng một cuộc tranh luận. Người cứu thế gian bằng cách hiến mình. Hội Thánh cũng vậy. Một giáo xứ không trở nên tốt đẹp vì có thật nhiều hội đoàn nếu các hội đoàn cạnh tranh với nhau. Một cộng đoàn không thánh thiện chỉ vì tổ chức nhiều việc lớn nếu người ta làm tổn thương nhau phía sau hậu trường. Thánh Giá đòi chúng ta chết đi cho cái tôi, cho nhu cầu phải hơn người, cho sự ham thích được công nhận. Và cái chết ấy đau lắm. Đôi khi nhường người khác một bước còn khó hơn nhịn một bữa ăn. Im lặng khi có thể trả đũa còn khó hơn đọc nhiều kinh. Nhận lỗi khi mình có phần sai còn khó hơn bỏ tiền làm việc bác ái. Nhưng chính ở những nơi ấy, Thánh Giá trở thành đời sống.
Với linh mục và tu sĩ, Thánh Giá hôm nay lại càng là một câu hỏi không thể né tránh. Chúng ta có thể đeo Thánh Giá trên ngực, đặt Thánh Giá trong phòng, giảng về Thánh Giá cho người khác, nhưng vẫn tìm mọi cách tránh thập giá của đời dâng hiến. Thập giá của đời linh mục đôi khi là cô đơn. Là bị hiểu lầm. Là phục vụ một cộng đoàn không đáp lại như mình mong. Là nhìn thấy giới hạn của chính mình. Là phải bắt đầu lại sau một thất bại mục vụ. Là giữ lòng trung thành trong những ngày không còn cảm xúc ban đầu. Tu sĩ cũng có những thập giá của đời cộng đoàn: sống với người mình không chọn, vâng phục khi ý mình khác, làm một công việc âm thầm không ai biết. Nhưng chính ở đó lời khấn và chức thánh mới đi từ nghi lễ vào da thịt. Một đời dâng hiến không đi ngang qua Thánh Giá rất dễ trở thành một nghề tôn giáo.
Chúng ta cũng phải nói với những người đang đứng trước một thập giá quá lớn rằng: đừng biến việc “vác thập giá” thành lý do từ chối sự trợ giúp cần thiết. Người bệnh cần đi khám thì hãy đi khám. Người bị bạo hành cần được bảo vệ. Người đang kiệt sức cần nghỉ ngơi. Người rơi vào khủng hoảng cần có người đồng hành chuyên môn và thiêng liêng phù hợp. Thiên Chúa có thể chữa lành qua thuốc men, qua bác sĩ, qua người tư vấn, qua một người bạn, qua cộng đoàn. Tin vào Chúa không đối nghịch với việc tìm sự giúp đỡ. Simon thành Kyrênê trong Tin Mừng là bằng chứng tuyệt đẹp rằng trên đường Thánh Giá, Thiên Chúa không bắt chúng ta lúc nào cũng phải tự mình gồng gánh.
Và đây có lẽ là điều quan trọng nhất của lễ hôm nay: Thánh Giá không chỉ là cây thập giá “của tôi”. Nếu cứ nhìn vào nỗi đau của mình, người ta rất dễ trở thành khép kín. Nhưng nhìn Thánh Giá Chúa đủ lâu, ta bắt đầu nhận ra thập giá của người khác. Người chồng nhận ra vợ mình cũng mệt. Người vợ nhận ra chồng mình cũng đang áp lực. Cha mẹ nhận ra con mình cũng có những nỗi sợ. Con cái nhận ra cha mẹ đang già. Người khỏe nhìn thấy người bệnh. Người giàu nhìn thấy người nghèo. Người đang được yêu nhìn thấy người cô đơn. Thánh Giá mở mắt chúng ta.
Đừng chỉ hỏi: “Tại sao Chúa gửi thập giá này cho con?” Đôi khi câu hỏi tốt hơn là: “Chúa muốn con yêu thế nào trong hoàn cảnh này?” Bởi không phải mọi sự đau khổ đều do Chúa gửi đến. Có những đau khổ từ tự nhiên, từ giới hạn của thân phận, từ lựa chọn sai của chúng ta, từ tội lỗi người khác. Nhưng bất cứ thập giá nào rơi vào cuộc đời, Thiên Chúa đều có thể bước vào đó và hỏi: “Con có để Ta ở cùng con không?” Sự khác biệt của người Kitô hữu không phải là chúng ta đau ít hơn người khác. Sự khác biệt là trong nỗi đau, chúng ta không đơn độc.
Ngày xưa trên đồi Golgotha có ba cây thập giá. Ba người cùng chịu đau. Nhưng không phải cả ba cây thập giá đều giống nhau. Một người trộm dùng đau khổ để cay độc và chế nhạo. Người kia biến đau khổ thành lời cầu xin. Còn cây ở giữa biến đau khổ thành tình yêu hiến tế. Cùng một nỗi đau, con người có thể trở thành cay đắng hoặc trưởng thành, tuyệt vọng hoặc cầu nguyện, khép kín hoặc biết thương người hơn. Thập giá không tự động làm chúng ta thánh thiện. Cách chúng ta mang nó với Chúa mới có thể biến đổi chúng ta.
Có những người chịu khổ rồi trở nên rất khó tính. Nhưng cũng có những người sau khi đi qua đau khổ lại dịu dàng hơn với thiên hạ. Vì từng nghèo nên họ thương người nghèo. Vì từng bị bệnh nên họ biết ngồi lâu với bệnh nhân. Vì từng mất một người thân nên họ biết im lặng ôm người đang tang chế thay vì nói những lời sáo rỗng. Vì từng thất bại nên họ không cười người thất bại. Vì từng được tha thứ nên họ bớt khắt khe với lỗi lầm người khác. Đó là lúc thập giá đã sinh hoa trái.
Một cây thập giá chỉ có hai chiều. Chiều dọc nối đất với trời. Chiều ngang mở ra với anh chị em. Người ta không thể ôm Thánh Giá mà chỉ có chiều dọc. Tôi không thể nói mình yêu Chúa mà ghét người bên cạnh. Nhưng cũng không có một Thánh Giá chỉ nằm ngang mà không hướng lên trời. Nếu chỉ phục vụ con người nhưng không còn nguồn mạch nơi Thiên Chúa, chúng ta sẽ mau kiệt sức. Người Kitô hữu sống Thánh Giá bằng cả hai chiều: để Thiên Chúa yêu mình và đem tình yêu ấy cho người khác.
Vì vậy hôm nay, khi hôn kính hoặc nhìn lên Thánh Giá, xin mỗi người đừng thực hiện một cử chỉ theo thói quen. Hãy dừng lại vài giây. Một em thiếu nhi có thể nói: “Chúa Giêsu ơi, xin giúp con ngoan hơn.” Một người trẻ có thể nói: “Chúa ơi, con không biết tương lai con đi đâu, nhưng xin đi với con.” Một người mẹ có thể nói tên đứa con đang làm mình đau. Một người cha có thể đặt gánh nặng gia đình vào đôi tay bị đóng đinh của Chúa. Một người già có thể nói: “Chúa ơi, con trao tuổi già của con cho Chúa.” Người bệnh có thể thì thầm: “Con đau, nhưng xin đừng để con đau một mình.” Người đang mang tội có thể nói: “Xin nhớ đến con.” Người đang giận có thể thưa: “Chúa ơi, con chưa tha thứ nổi; xin bắt đầu việc tha thứ trong con.” Chúng ta không cần những lời cầu nguyện dài. Đôi khi một câu thật từ trái tim có giá trị hơn cả trăm câu đọc mà lòng ở nơi khác.
Lễ Suy Tôn Thánh Giá không phải ngày Hội Thánh tôn vinh sự đau khổ. Hội Thánh tôn vinh tình yêu đã thắng đau khổ. Không tôn vinh cái chết, nhưng tôn vinh Đấng đã bước qua cái chết và biến nó thành cửa ngõ sự sống. Không tôn vinh sự nhục nhã, nhưng tôn vinh Đấng đã biến nơi nhục nhã thành ngai của lòng thương xót. Vì thế Thánh Giá không phải dấu chấm hết. Thánh Giá luôn chỉ về Phục Sinh.
Các em thiếu nhi, khi làm dấu Thánh Giá, hãy nhớ mình thuộc về Chúa. Các bạn trẻ, khi gặp những ngày chẳng biết phải đi đâu, hãy nhớ Đấng trên Thánh Giá vẫn biết đường dẫn các bạn tới sự sống. Những người cha người mẹ, khi mệt mỏi vì gia đình, hãy nhớ Đức Maria vẫn đứng dưới chân Thánh Giá. Các ông bà cao niên, khi cảm thấy mình chẳng còn làm được gì, hãy nhớ Chúa Giêsu đã làm công việc lớn nhất khi hai tay Người không còn cử động được. Anh chị em bệnh nhân, khi thân xác đau đớn, hãy nhớ bên cạnh giường mình có một Đấng cũng mang những vết thương. Những người đang có tội, hãy nhớ cạnh Chúa từng có một người trộm đã được nghe lời hứa thiên đàng. Những người đang khóc, hãy nhớ sáng Phục Sinh đã bắt đầu từ một ngôi mộ.
Và với tất cả chúng ta, xin nhớ điều này: có lẽ chúng ta không được quyền chọn hết những gì sẽ xảy đến trong cuộc đời. Không ai chọn ngày cha mẹ qua đời. Không ai chọn bệnh tật. Không ai chọn bị phản bội. Không ai chọn tuổi già. Không ai chọn mọi thất bại. Nhưng trong rất nhiều hoàn cảnh, chúng ta vẫn còn một sự tự do cuối cùng: tôi sẽ đi qua điều này với ai và bằng cách nào? Người Kitô hữu trả lời: tôi đi với Đấng chịu đóng đinh.
Khi thập giá nhẹ, hãy vác nó với lòng biết ơn. Khi thập giá nặng, hãy xin người khác đỡ. Khi thấy thập giá người bên cạnh nặng hơn mình, hãy trở thành Simon thành Kyrênê của họ. Khi ngã, hãy đứng dậy. Khi không đứng nổi, hãy để người khác nâng lên. Khi không cầu nguyện nổi, hãy để Hội Thánh cầu nguyện cho mình. Khi không thấy Chúa, hãy nhớ rằng trên Thánh Giá chính Đức Giêsu cũng đã đi vào kinh nghiệm tăm tối của con người. Và khi chẳng hiểu điều gì nữa, hãy nhìn Thánh Giá và giữ lấy một điều duy nhất: tôi chưa hiểu, nhưng tôi biết mình được yêu.
Cuối cùng, xin cho chúng ta đừng chỉ đeo Thánh Giá nhưng sống Thánh Giá; đừng chỉ treo Thánh Giá trong nhà nhưng để tinh thần của Đấng chịu đóng đinh đi vào gia đình; đừng chỉ hôn Thánh Giá trong phụng vụ nhưng rồi dùng miệng làm tổn thương người khác; đừng chỉ cúi đầu trước Thánh Giá nhưng lại bắt người yếu hơn mình phải cúi đầu; đừng chỉ làm dấu Thánh Giá trên thân xác nhưng để trái tim đầy hơn thua, ích kỷ và hận thù. Nếu Thánh Giá không biến đổi cách chúng ta yêu nhau, thì Thánh Giá vẫn chỉ nằm trên bức tường chứ chưa đi vào cuộc đời.
Ngày nào chúng ta biết cúi xuống với người yếu, ngày đó Thánh Giá đang sống. Ngày nào chúng ta biết nhịn một lời cay nghiệt, ngày đó Thánh Giá đang sống. Ngày nào người chồng biết về nhà sớm hơn để ngồi với vợ con, ngày đó Thánh Giá đang sống. Ngày nào người vợ biết bớt một lời trách móc để nghe chồng mình, ngày đó Thánh Giá đang sống. Ngày nào đứa con chịu ngồi cạnh cha mẹ già thay vì chỉ gửi tiền, ngày đó Thánh Giá đang sống. Ngày nào một người trẻ từ chối chế giễu người khác trên mạng, ngày đó Thánh Giá đang sống. Ngày nào chúng ta trả lại phẩm giá cho một người đang bị coi thường, ngày đó Thánh Giá đang được suy tôn đẹp hơn bất cứ cuộc rước long trọng nào.
Suy tôn Thánh Giá đẹp nhất không phải chỉ là nâng cây Thánh Giá lên thật cao. Suy tôn Thánh Giá đẹp nhất là để tình yêu của Đấng chịu đóng đinh được nâng cao trong đời chúng ta.
Ước gì chiều nay, khi trở về nhà, mỗi người vẫn còn nhớ khuôn mặt Chúa trên Thánh Giá. Và khi ngày mai thập giá đời mình lại xuất hiện dưới hình thức một đứa con khó dạy, một người bạn đời khó chịu, một đồng nghiệp làm mình bực, một căn bệnh tái phát, một khoản nợ chưa trả, một nỗi cô đơn, một tuổi già nặng nhọc, một vết thương chưa lành, chúng ta có thể nói rất khẽ: “Lạy Chúa Giêsu, con không xin Chúa cất khỏi đời con mọi thập giá. Con chỉ xin đừng để con vác một mình. Xin đi với con. Và xin đừng để những đau khổ con phải chịu biến con thành một người cay đắng. Xin làm cho con sau mỗi thập giá biết yêu hơn, hiền hơn, thương người hơn, giống Chúa hơn.”
Bởi sau cùng, chúng ta không được cứu vì mình đã vác thập giá giỏi đến đâu. Chúng ta được cứu vì trên một cây Thập Giá cách đây hơn hai ngàn năm, đã có Một Người vác chúng ta trong tình yêu của Người.
Và Người vẫn đang vác chúng ta cho đến hôm nay.
Lm. Anmai, CSsR

ĐÀNG THÁNH GIÁ GIỮA NHỮNG THẬP GIÁ CỦA CON NGƯỜI HÔM NAY
Lạy Chúa Giêsu, chiều năm ấy trên con đường từ dinh Philatô lên đồi Golgotha, Chúa đã đi một con đường không dài bao nhiêu nếu tính bằng cây số, nhưng dài vô tận nếu tính bằng đau đớn, cô đơn, nhục nhã và tình yêu. Con đường ấy đã khép lại cách đây gần hai ngàn năm, nhưng kỳ lạ thay, Đàng Thánh Giá của Chúa chưa bao giờ thực sự kết thúc. Hôm nay Chúa vẫn đang đi qua những con đường đầy khói bụi của thành phố, những khu nhà trọ công nhân, những bệnh viện ung bướu, những mái ấm của người già, những căn phòng nơi người trẻ đang trầm lặng trước màn hình điện thoại, những gia đình tưởng như bình yên nhưng đang rạn nứt từ bên trong, những vùng đất còn tiếng súng, những chiếc thuyền chở người di cư lênh đênh trên biển, những nơi người nghèo bị quên lãng, những đứa trẻ lớn lên thiếu vòng tay cha mẹ, những người lao động mất việc, những người bị bôi nhọ trên mạng xã hội, những người sống giữa đám đông mà lòng cô độc như giữa hoang mạc. Chúa vẫn đang vác Thánh Giá qua nhân loại. Và có khi chính chúng con là người vác với Chúa; có khi chúng con là Simon giúp Chúa; nhưng cũng có khi chúng con lại là đám đông la hét, là người lính đóng đinh, là người đứng nhìn, là kẻ kết án mà không biết mình đang kết án một người vô tội. Hôm nay chúng con đi lại mười bốn chặng Đàng Thánh Giá không chỉ để nhớ một biến cố xa xưa, nhưng để nhận ra Chúa đang hiện diện giữa những vết thương của thời đại, để nhìn lại những thập giá trong chính đời mình và nhất là để học một điều quan trọng nhất: Thánh Giá không phải tiếng nói cuối cùng. Sau chiều Thứ Sáu Tuần Thánh vẫn còn bình minh Phục Sinh.
CHẶNG THỨ NHẤT: CHÚA GIÊSU BỊ KẾT ÁN – THẬP GIÁ CỦA NHỮNG NGƯỜI BỊ PHÁN XÉT
“Philatô nói với họ: ‘Đây là Vua các người!’ Họ liền la lớn: ‘Đem đi! Đem nó đi! Đóng đinh nó vào thập giá!’” (x. Ga 19,14-16). Lạy Chúa Giêsu, Chúa đứng trước Philatô, im lặng giữa một rừng tiếng la. Người ta đã quyết định Chúa có tội trước khi phiên tòa kết thúc. Sự thật không còn quan trọng. Điều quan trọng là đám đông muốn gì, quyền lực muốn gì, dư luận muốn gì. Nhìn cảnh ấy, con thấy thế giới hôm nay sao mà giống đến nao lòng. Chỉ một đoạn video vài chục giây, một tấm ảnh, một lời tố cáo, một bài đăng chưa được kiểm chứng cũng có thể biến một con người thành tội nhân trước hàng ngàn, hàng triệu người. Người ta chia sẻ rất nhanh, bình luận rất nhanh, kết án rất nhanh, nhưng xin lỗi thì rất chậm. Người ta có thể hủy hoại danh dự mà chẳng cần biết toàn bộ câu chuyện. Có những người chỉ sau một đêm trở thành mục tiêu của cả cộng đồng mạng. Có những người đã đóng cửa phòng khóc một mình vì hàng ngàn lời xúc phạm của những người chưa từng gặp họ. Có những gia đình tan nát vì một lời đồn. Có những linh mục, tu sĩ, người cha, người mẹ, người trẻ, người nổi tiếng hay một người hoàn toàn bình thường bị kết án bởi những người chẳng biết họ là ai. Và đáng sợ nhất là có thể chính con cũng từng cầm chiếc điện thoại trong tay và trở thành một “Philatô” của thời đại. Con tưởng rằng một nút chia sẻ chẳng có gì nghiêm trọng; con tưởng một câu bình luận cay độc chỉ là lời nói vui; con tưởng việc nói xấu một người trong nhóm bạn chẳng gây hậu quả gì. Nhưng lạy Chúa, mỗi lần con xét đoán mà chưa hiểu, mỗi lần con tung tin mà chưa kiểm chứng, mỗi lần con dùng lời nói để làm nhục người khác, chính con đang góp thêm một tiếng “đóng đinh nó đi”. Xin cho con nhớ lời Chúa: “Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán” (Mt 7,1). Xin cho con đủ chậm để nghe trước khi phán xét, đủ khiêm tốn để hiểu rằng con không biết hết câu chuyện của một người, và đủ lòng thương xót để bênh vực người bị cả đám đông quay lưng.
CHẶNG THỨ HAI: CHÚA GIÊSU VÁC THÁNH GIÁ – THẬP GIÁ CỦA ÁP LỰC VÀ GÁNH NẶNG CUỘC ĐỜI
“Chính Người vác lấy thập giá đi ra, đến nơi gọi là Cái Sọ” (Ga 19,17). Lạy Chúa, người ta đặt trên vai Chúa một cây gỗ nặng. Chúa không chọn nó, nhưng Chúa đón nhận nó. Ngày hôm nay có biết bao người cũng đang mang trên vai những cây thập giá chẳng ai nhìn thấy. Một người cha gánh khoản nợ lớn và đêm nào cũng thức đến khuya tính xem tháng này tiền học của con, tiền nhà, tiền thuốc cho mẹ già sẽ lấy ở đâu. Một người mẹ vừa đi làm vừa chăm con, vừa chăm cha mẹ hai bên, vừa cố giữ cho gia đình khỏi tan vỡ. Một người trẻ mang áp lực phải thành công trước tuổi ba mươi, phải có nhà, có xe, có sự nghiệp, phải đẹp, phải giỏi, phải được mọi người công nhận. Một học sinh sợ điểm kém, sợ không đậu đại học, sợ làm cha mẹ thất vọng. Một người thất nghiệp thức dậy mỗi sáng chẳng biết hôm nay gửi hồ sơ nơi nào. Một linh mục mang gánh nặng của cộng đoàn mà ít người biết những đêm cha cũng mệt mỏi, cô đơn và bất lực. Một tu sĩ vẫn mỉm cười phục vụ nhưng trong lòng đang đi qua một cuộc khủng hoảng ơn gọi. Một người bệnh ung thư nghe bác sĩ nói những từ mà cả đời họ sợ nghe. Mỗi người một cây thập giá. Có cây thấy được, có cây vô hình. Chúa không nói: “Ai muốn theo Thầy thì phải có một cuộc đời không đau khổ.” Chúa nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Lạy Chúa, xin cho chúng con hiểu rằng đức tin không làm cho mọi gánh nặng biến mất, nhưng cho chúng con một Đấng cùng mang. Khi chúng con không còn đủ sức thay đổi hoàn cảnh, xin giúp chúng con thay đổi cách mình đi qua hoàn cảnh. Khi cây thập giá quá nặng, xin cho chúng con nhớ rằng vai Chúa đã từng rướm máu dưới một cây thập giá nặng hơn. Và khi đời hỏi chúng con: “Thiên Chúa của anh ở đâu?”, xin cho chúng con đủ bình an để thưa: “Người đang ở đây, ngay dưới cây thập giá này.”
CHẶNG THỨ BA: CHÚA GIÊSU NGÃ LẦN THỨ NHẤT – THẬP GIÁ CỦA NHỮNG THẤT BẠI ĐẦU ĐỜI
Lạy Chúa Giêsu, Chúa ngã xuống. Đấng đã từng làm cho người què đứng dậy, giờ đây chính Người ngã quỵ giữa đường. Người ta nhìn Chúa và tưởng rằng thế là hết. Nhưng Chúa đứng lên. Hôm nay biết bao người trẻ cũng đang ngã xuống trước những thất bại đầu đời. Thi rớt. Mất việc. Một dự án phá sản. Một tình yêu tan vỡ. Một cuộc hôn nhân đổ vỡ. Một lần phạm sai lầm khiến họ xấu hổ đến mức chẳng muốn gặp ai. Thế giới hiện đại dạy người trẻ phải chiến thắng, nhưng lại rất ít dạy họ cách thua. Mạng xã hội toàn cho người ta thấy thành công của người khác: người này mua nhà, người kia du lịch, người nọ thăng chức, người khác cưới vợ sinh con. Và rồi một người ngồi nhìn cuộc đời mình, thấy mình như đang đứng yên, thấy mình kém cỏi, vô dụng, thất bại. Nhưng lạy Chúa, Chúa ngã để dạy chúng con một chân lý dịu dàng: ngã không phải là hết. Thất bại không định nghĩa một con người. Phêrô đã từng chối Chúa ba lần, nhưng Chúa không gọi ông là “kẻ phản bội”; Chúa vẫn giao cho ông đàn chiên của Người. Người con hoang đàng đã phá tan gia sản, nhưng người cha không gọi anh là “đồ thất bại”; ông gọi anh là “con ta”. Lạy Chúa, xin đừng để chúng con biến một lần ngã thành bản án cho cả cuộc đời. Xin cho những người đang thất bại hôm nay đủ can đảm đứng lên ngày mai. Xin cho cha mẹ đừng biến điểm số của con thành giá trị của con. Xin cho cộng đoàn đừng đóng khung một người vào quá khứ của họ. Xin cho Giáo Hội luôn là nơi người ta được nâng dậy chứ không phải nơi người ta bị nhắc mãi về cú ngã của mình.
CHẶNG THỨ TƯ: CHÚA GIÊSU GẶP ĐỨC MẸ – THẬP GIÁ CỦA NHỮNG GIA ĐÌNH ĐANG ĐAU KHỔ
Lạy Chúa, giữa con đường khổ giá, Chúa gặp Mẹ. Không cần một lời nào. Chỉ một ánh mắt của Người Con và một ánh mắt của Người Mẹ cũng đủ chứa cả đại dương đau khổ. Mẹ đã từng ôm Chúa trong máng cỏ Bêlem; hôm nay Mẹ nhìn đôi vai Chúa rách nát vì đòn roi. Mẹ đã từng nghe thiên thần nói: “Con bà sẽ nên cao cả”; hôm nay Mẹ thấy Người bị kéo lê như một tử tội. Có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau của người mẹ nhìn con mình đau mà không thể đau thay? Hôm nay cũng có biết bao người mẹ như thế. Người mẹ ngồi ngoài phòng hồi sức chờ bác sĩ gọi tên. Người mẹ có đứa con nghiện ngập, biết con đang tự hủy mà không thể kéo con ra. Người mẹ nhìn con đi vào một cuộc hôn nhân đổ vỡ. Người mẹ có con bỏ nhà, mất liên lạc. Người mẹ có con đi làm xa nhiều năm chưa về. Người cha âm thầm nuốt nước mắt khi nhìn con thất bại. Người vợ đứng bên người chồng bệnh nặng. Người chồng chăm vợ mất trí nhớ mà mỗi ngày vợ không còn nhận ra mình. Gia đình nào cũng có những cuộc gặp gỡ Thánh Giá. Và lạy Chúa, có khi chúng con tưởng yêu là làm cho người mình yêu không bao giờ đau. Nhưng Đức Maria dạy chúng con rằng có những lúc yêu không phải là cất đau khổ khỏi người mình yêu, mà là không bỏ họ một mình trong đau khổ. Mẹ không tháo được Thánh Giá khỏi vai Chúa, nhưng Mẹ hiện diện. Xin cho gia đình chúng con biết hiện diện với nhau như thế. Khi không còn lời nào để nói, xin cho chúng con biết ngồi bên nhau. Khi không giải quyết được vấn đề, xin cho chúng con đừng bỏ nhau. Khi một thành viên sa ngã, xin cho gia đình vẫn là cánh cửa mở để họ trở về.
CHẶNG THỨ NĂM: ÔNG SIMON VÁC ĐỠ THÁNH GIÁ CHÚA – THẬP GIÁ CỦA SỰ VÔ CẢM
“Chúng bắt một người từ miền quê lên, tên là Simon, gốc Kyrênê, đặt thập giá lên vai cho ông vác theo sau Đức Giêsu” (Lc 23,26). Simon chẳng định giúp Chúa. Ông chỉ tình cờ đi ngang. Nhưng cuộc gặp bất ngờ ấy đã đưa tên ông vào Tin Mừng mãi mãi. Lạy Chúa, thế giới hôm nay không thiếu người đau khổ; điều đáng sợ là thế giới ngày càng quen với đau khổ của người khác. Chúng con xem một đoạn phim về chiến tranh rồi lướt qua. Xem cảnh một đứa trẻ đói rồi lướt qua. Xem một người già bán vé số trong mưa rồi lướt qua. Xem một lời kêu cứu rồi lướt qua. Mỗi ngày quá nhiều nỗi đau đi qua màn hình đến mức trái tim chúng con dần chai lì. Chúng con biết hết mọi chuyện nhưng lại ít xúc động trước bất cứ chuyện gì. Lạy Chúa, xin cho chúng con trở thành những Simon của thời đại. Có khi một cây thập giá không cần chúng con mang cả đời, chỉ cần mang vài bước. Một bữa cơm cho người đói. Một khoản học phí cho đứa trẻ nghèo. Một cuộc điện thoại cho người cô độc. Một giờ ngồi bên người bệnh. Một lời giới thiệu việc làm cho người thất nghiệp. Một lần đứng ra bảo vệ người đang bị bắt nạt. Một lần ghé thăm cha mẹ già thay vì chỉ gửi tiền. Những điều rất nhỏ ấy có thể là đoạn đường Simon mà Chúa đang chờ chúng con bước vào. Xin đừng để chúng con viện cớ rằng mình không thể giúp tất cả mọi người rồi cuối cùng chẳng giúp một ai.
CHẶNG THỨ SÁU: BÀ VÊRÔNICA LAU MẶT CHÚA – THẬP GIÁ CỦA NHỮNG KHUÔN MẶT BỊ LÃNG QUÊN
Lạy Chúa, giữa đám đông đang sợ hãi và tránh né, một người phụ nữ bước ra lau khuôn mặt đầy máu và bụi của Chúa. Bà không thể ngăn cuộc hành hình. Bà không có quyền lực. Bà không thay đổi được bản án. Bà chỉ có một tấm khăn và một trái tim. Thế mà chừng ấy cũng đủ làm nên một nghĩa cử được Giáo Hội nhớ mãi. Hôm nay Chúa vẫn mang rất nhiều khuôn mặt cần được lau sạch: khuôn mặt của người vô gia cư nằm dưới mái hiên; người bệnh tâm thần bị gọi bằng những tên miệt thị; người khuyết tật bị nhìn bằng ánh mắt thương hại; người tù sau ngày mãn án chẳng ai cho cơ hội; người phụ nữ bị bạo hành nhưng phải che giấu những vết bầm; đứa trẻ bị bắt nạt ở trường; người già bị bỏ quên trong viện dưỡng lão; người di dân bị xem như gánh nặng; người nghèo bước vào nơi sang trọng và cảm thấy mình như không thuộc về nơi đó. Lạy Chúa, trong dụ ngôn ngày phán xét, Chúa đã nói: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt 25,40). Xin cho con đừng tìm khuôn mặt Chúa chỉ trong nhà tạm mà quên khuôn mặt Chúa ngoài đường phố. Xin cho con biết lau một khuôn mặt bằng một lời tôn trọng, một ánh mắt không khinh thường, một thái độ không kỳ thị. Bởi nhiều khi một con người không cần tiền của chúng con trước tiên; họ cần được nhìn nhận rằng họ vẫn là một con người có phẩm giá.
CHẶNG THỨ BẢY: CHÚA GIÊSU NGÃ LẦN THỨ HAI – THẬP GIÁ CỦA NHỮNG NGƯỜI TÁI PHẠM VÀ NGHIỆN NGẬP
Lạy Chúa, Chúa lại ngã. Không phải một lần mà thêm một lần nữa. Chính chặng này làm con nghĩ đến những người đã hứa thay đổi nhưng rồi lại ngã. Người nghiện rượu đã bỏ được mấy tháng rồi uống lại. Người nghiện cờ bạc đã thề không chơi nữa nhưng lại vay tiền. Người nghiện ma túy đã cai rồi tái nghiện. Người cố thoát khỏi một thói quen xấu nhưng hết lần này đến lần khác trở về con đường cũ. Người quyết tâm không nóng giận nữa nhưng rồi vẫn làm tổn thương người thân. Người đã xưng tội một lỗi rất nhiều lần và xấu hổ vì lại phải thú nhận điều ấy. Chúng con thường mất kiên nhẫn với họ. “Bao nhiêu lần rồi?” “Tại sao vẫn thế?” Nhưng lạy Chúa, có lẽ Chúa nhìn họ khác chúng con. Chúa nhìn thấy phía sau mỗi cú ngã là một cuộc chiến. Chúa biết có những xiềng xích người ta không thể tháo chỉ bằng một quyết tâm. Trong Tin Mừng, Phêrô hỏi phải tha cho anh em đến bảy lần chăng, Chúa trả lời: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy” (Mt 18,22). Không phải Chúa coi nhẹ tội lỗi, nhưng Chúa không tuyệt vọng về con người. Xin cho các gia đình có người nghiện vừa biết yêu vừa biết đặt giới hạn, vừa kiên trì vừa khôn ngoan. Xin cho những ai đang chiến đấu với một nghiện ngập đừng tự nói rằng mình hết hy vọng. Chúa ngã lần thứ hai mà vẫn đứng dậy. Con cũng có thể đứng dậy lần nữa.
CHẶNG THỨ TÁM: CHÚA GIÊSU AN ỦI PHỤ NỮ GIÊRUSALEM – THẬP GIÁ CỦA MỘT THẾ HỆ ĐANG KHÓC
“Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23,28). Lạy Chúa, chính lúc đang đau nhất, Chúa vẫn nghĩ đến người khác. Hôm nay có cả một thế hệ đang khóc. Có người trẻ khóc vì tương lai bất định. Khóc vì không biết mình sống để làm gì. Khóc vì nhìn môi trường bị tàn phá, chiến tranh kéo dài, kinh tế khó khăn, giá nhà xa khỏi tầm tay, công việc bấp bênh. Có những người có hàng ngàn bạn trên mạng nhưng chẳng có một người để gọi lúc hai giờ sáng. Có người xuất hiện rất vui trên mạng nhưng đêm về không biết tâm sự cùng ai. Có người liên tục so sánh mình với những hình ảnh hoàn hảo đã được chỉnh sửa rồi ghét chính khuôn mặt và thân thể mình. Có người chạy theo những lượt thích đến mức quên hỏi mình thật sự là ai. Lạy Chúa, Chúa không trách nước mắt. Chúa từng khóc trước mồ Lazarô. Nhưng Chúa muốn nước mắt dẫn chúng con đến một sự thật sâu hơn. Xin cho người trẻ hôm nay đừng xây giá trị của mình trên ánh nhìn của đám đông. Xin cho họ hiểu rằng trước cả khi thành công, trước cả khi được công nhận, trước cả khi có địa vị, họ đã đáng quý vì là người con được Thiên Chúa yêu. Xin cho gia đình và Giáo Hội trở thành nơi họ có thể nói thật những nỗi sợ của mình mà không bị chế giễu, nơi những câu hỏi của họ được lắng nghe chứ không bị dập tắt, nơi đức tin không được áp đặt như một gánh nặng mà được giới thiệu như một cuộc gặp gỡ với Đấng yêu thương.
CHẶNG THỨ CHÍN: CHÚA GIÊSU NGÃ LẦN THỨ BA – THẬP GIÁ CỦA NHỮNG NGƯỜI MUỐN BỎ CUỘC
Lạy Chúa, lần này Chúa ngã rất gần đỉnh đồi. Có những lúc điều khó nhất không phải bắt đầu mà là tiếp tục. Người ta đã cố quá lâu. Đã cầu nguyện quá nhiều. Đã đi chữa bệnh quá nhiều nơi. Đã tha thứ quá nhiều lần. Đã cố cứu cuộc hôn nhân quá lâu. Đã tìm việc quá nhiều tháng. Đã phục vụ quá nhiều năm mà chẳng ai hiểu. Và rồi một ngày người ta chỉ muốn nói: “Con mệt rồi.” Lạy Chúa, có những mệt mỏi không ngủ một đêm là hết. Có những mệt mỏi nằm sâu trong linh hồn. Chính trong những lúc ấy, hình ảnh Chúa nằm trên đất ở chặng thứ chín trở nên gần gũi biết bao. Chúa hiểu cảm giác không còn sức. Nhưng Chúa đã đứng lên vì tình yêu chưa hoàn tất. Chúa đi thêm những bước cuối cùng. Xin cho những ai đang muốn buông xuôi hôm nay có một người đến bên. Xin cho họ đừng phải chịu đựng một mình. Xin cho chúng con đủ tinh tế nhận ra người bên cạnh đang mệt, dù họ vẫn cười. Và xin cho người đang kiệt sức hiểu rằng nghỉ ngơi không phải là thất bại, xin giúp đỡ không phải là yếu đuối, khóc không phải là mất đức tin. Khi không thể chạy, xin cho họ đi. Khi không thể đi, xin cho họ bò. Khi không thể làm gì, xin cho họ đơn giản ở lại trong vòng tay Chúa.
CHẶNG THỨ MƯỜI: CHÚA GIÊSU BỊ LỘT ÁO – THẬP GIÁ CỦA PHẨM GIÁ BỊ XÚC PHẠM
“Lính tráng lấy áo xống của Đức Giêsu chia làm bốn phần” (x. Ga 19,23). Lạy Chúa, người ta không chỉ muốn giết Chúa; người ta còn muốn lấy đi phẩm giá cuối cùng của Chúa trước mặt đám đông. Chúa bị lột trần. Hôm nay biết bao con người cũng bị “lột trần” theo những cách mới: hình ảnh riêng tư bị phát tán; bí mật bị đưa lên mạng; một sai lầm quá khứ bị đào lại để làm nhục; thân thể phụ nữ bị biến thành món hàng; trẻ em bị khai thác; người nghèo phải kể hết hoàn cảnh đau thương để xin vài đồng cứu trợ; người bệnh bị nói về như một ca bệnh mà quên họ là một con người. Văn hóa thời đại có lúc biến đời tư thành giải trí. Người ta tò mò trước nỗi đau của nhau. Người ta quay phim một tai nạn trước khi nghĩ tới việc cứu người. Người ta chụp ảnh người nghèo để chứng minh lòng tốt của mình mà quên hỏi họ có muốn khuôn mặt mình xuất hiện trên mạng hay không. Lạy Chúa, xin trả lại cho chúng con cảm thức về sự thánh thiêng của phẩm giá con người. Xin cho chúng con biết rằng thân thể người khác không phải món đồ để bình phẩm, đời tư người khác không phải tài sản chung, quá khứ người khác không phải vũ khí để sử dụng khi tranh cãi. Chúa đã nói với người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội: “Tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi và từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8,11). Chúa không phủ nhận lỗi của chị nhưng Chúa cũng không để đám đông nghiền nát phẩm giá của chị. Xin cho Giáo Hội học cách nói sự thật mà vẫn gìn giữ phẩm giá con người như Chúa.
CHẶNG THỨ MƯỜI MỘT: CHÚA GIÊSU BỊ ĐÓNG ĐINH – THẬP GIÁ CỦA BẠO LỰC VÀ CHIẾN TRANH
“Khi đến nơi gọi là Đồi Sọ, họ đóng đinh Người vào thập giá” (Lc 23,33). Tiếng búa năm xưa vẫn còn vang trong thế giới hôm nay. Nó vang trong tiếng bom rơi ở những vùng chiến sự. Vang trong tiếng súng. Vang trong căn nhà có người vợ bị chồng đánh. Vang trong lớp học có một đứa trẻ bị bắt nạt mỗi ngày. Vang trong nhà máy nơi người lao động bị bóc lột. Vang trong những cuộc buôn người. Vang trong những lời nói bạo lực trên mạng. Vang trong lòng một dân tộc khi hận thù được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Lạy Chúa, con người đã tiến rất xa về khoa học nhưng dường như vẫn chưa học xong bài học sống với nhau. Chúng con chế tạo những máy móc có thể đi đến các hành tinh nhưng vẫn chưa biết làm sao để người hàng xóm tha thứ cho nhau. Chúng con có công nghệ nối cả thế giới nhưng lòng người vẫn chia cắt. Trên Thánh Giá, giữa những kẻ đang giết mình, Chúa cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đó có lẽ là một trong những câu khó nhất của Tin Mừng. Tha thứ không phải bảo rằng điều ác là đúng. Tha thứ không có nghĩa bỏ qua công lý. Tha thứ là từ chối để hận thù biến mình thành giống kẻ đã làm mình đau. Xin Chúa chữa lành những vết thương chiến tranh, những gia đình đầy bạo lực, những cộng đoàn chia rẽ. Và xin bắt đầu nơi chính chúng con: bớt một lời cay nghiệt, bớt một thái độ muốn trả đũa, bớt một cuộc tranh thắng, bớt một lần dùng sự thật như vũ khí. Hòa bình của thế giới có thể bắt đầu từ một trái tim chịu bỏ chiếc búa xuống.
CHẶNG THỨ MƯỜI HAI: CHÚA GIÊSU CHẾT TRÊN THÁNH GIÁ – THẬP GIÁ CỦA CÁI CHẾT VÀ SỰ CÔ ĐỘC
“Đức Giêsu kêu lớn tiếng: ‘Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.’ Nói xong, Người tắt thở” (Lc 23,46). Lạy Chúa, đây là khoảnh khắc mọi tiếng động dường như dừng lại. Con Thiên Chúa chết. Trước cái chết, mọi sự phù phiếm của đời người bỗng trở nên nhỏ bé. Một ngày nào đó điện thoại sẽ im. Những kế hoạch dang dở. Tài khoản ngân hàng vẫn còn. Ngôi nhà vẫn đứng đó. Chiếc xe vẫn trong sân. Người khác sẽ tiếp tục công việc ta từng nghĩ rằng không ai thay được mình. Và ta ra đi. Dịch bệnh, tai nạn, ung thư, tuổi già đã nhắc nhân loại rằng cuộc sống mong manh hơn chúng con tưởng. Có những người chết trong vòng tay người thân. Nhưng cũng có người chết một mình trong phòng bệnh. Có người già sống những năm cuối đời với câu hỏi đau đáu: “Có ai còn nhớ đến tôi không?” Lạy Chúa, Chúa đã bước vào chính cái chết để từ nay không một người nào phải chết một mình nữa. Bất cứ nơi nào một người hấp hối, Chúa biết con đường ấy. Bất cứ nơi nào một gia đình khóc bên quan tài, Chúa đã từng nghe tiếng khóc dưới chân Thánh Giá. Xin cho chúng con biết sống sao để khi chết không phải tiếc vì đã dành cả đời cho những điều chẳng đáng. Xin cho chúng con biết nói lời yêu thương khi còn kịp, xin lỗi khi còn kịp, trở về với cha mẹ khi còn kịp, hòa giải khi còn kịp. Và khi giờ cuối đến, xin cho chúng con có thể thưa như Chúa: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
CHẶNG THỨ MƯỜI BA: HẠ XÁC CHÚA XUỐNG KHỎI THÁNH GIÁ – THẬP GIÁ CỦA NHỮNG NGƯỜI Ở LẠI
Lạy Chúa, xác Chúa được trao vào tay Mẹ. Ngày Bêlem, Mẹ nhận lấy một Hài Nhi đang thở. Chiều Golgotha, Mẹ nhận lại chính Người Con ấy nhưng thân thể đã lạnh. Không lời nào diễn tả nổi nỗi đau của người ở lại. Hôm nay cũng có những người mẹ ôm di ảnh đứa con chết vì tai nạn. Có người vợ nhìn chiếc ghế trống nơi chồng từng ngồi. Có người chồng mở tủ vẫn thấy áo của vợ. Có đứa trẻ hỏi mẹ: “Bao giờ ba về?” mà người mẹ không biết phải trả lời thế nào. Tang chế không kết thúc sau đám tang. Có những nỗi nhớ kéo dài nhiều năm. Có những ngày tưởng đã ổn, nhưng một bài hát, một món ăn, một con đường quen cũng đủ làm nước mắt trào ra. Lạy Chúa, xin cho cộng đoàn biết ở lại với người đau buồn lâu hơn vài ngày tang lễ. Xin đừng để sau khi vòng hoa đã dọn hết, mọi người trở về cuộc sống bình thường còn gia đình người mất lại phải bước vào những tháng ngày trống vắng một mình. Xin cho chúng con biết gọi điện, ghé thăm, nhắc họ rằng người đã mất vẫn được nhớ đến. Và xin cho người đang chịu tang tin rằng tình yêu không chấm dứt ở nấm mồ. Đức Maria đã ôm xác Chúa nhưng Mẹ vẫn tin. Có những lúc đức tin chỉ còn là một sợi chỉ rất mảnh, nhưng nếu còn nắm được sợi chỉ ấy, xin cho chúng con cứ nắm.
CHẶNG THỨ MƯỜI BỐN: TÁNG XÁC CHÚA TRONG MỒ – THẬP GIÁ CỦA NHỮNG NGÀY KHÔNG THẤY LỐI RA
“Ông Giuse lấy thi hài Đức Giêsu, quấn vào tấm vải gai sạch và đặt vào ngôi mộ mới” (x. Mt 27,59-60). Tảng đá được lăn lại. Với các môn đệ, câu chuyện dường như kết thúc. Bao giấc mơ về Nước Trời, bao lời hứa, bao phép lạ, tất cả nằm sau một tảng đá. Lạy Chúa, trong đời chúng con cũng có những “ngày thứ Bảy Tuần Thánh” như vậy: Chúa im lặng, tương lai đóng kín, chẳng thấy dấu hiệu nào rằng điều tốt đẹp sẽ xảy ra. Một gia đình chờ kết quả xét nghiệm. Một đôi vợ chồng chờ đứa con suốt nhiều năm. Một người chờ việc. Một người cầu nguyện cho con trở về mà chưa thấy gì. Một linh mục phục vụ nhiều năm mà nhìn cộng đoàn vẫn chia rẽ. Một người cầu xin chữa lành nhưng bệnh mỗi ngày nặng hơn. Những lúc ấy chúng con dễ hỏi: “Chúa ở đâu?” Nhưng lạy Chúa, chính khi mọi người tưởng Chúa chẳng làm gì, Thiên Chúa đang âm thầm chuẩn bị buổi sáng Phục Sinh. Ngôi mộ không phải điểm cuối. Tảng đá không giữ được Chúa. Bóng tối không thắng được Ánh Sáng. Cái chết không có tiếng nói cuối cùng. Xin cho chúng con biết chờ đợi trong đức tin. Không phải thứ lạc quan ngây thơ cho rằng mọi chuyện sẽ diễn ra đúng ý mình, nhưng là niềm hy vọng sâu hơn: dù chuyện gì xảy ra, Thiên Chúa vẫn có thể làm nảy sinh sự sống từ nơi tưởng chỉ còn sự chết. Chúa đã nói với Mácta trước mồ Lazarô: “Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy thì dù đã chết cũng sẽ được sống” (Ga 11,25). Xin cho câu ấy trở thành chiếc neo giữ đời chúng con khi mọi thứ chung quanh đang chao đảo.
Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, đi hết mười bốn chặng Đàng Thánh Giá, chúng con chợt hiểu rằng Thánh Giá không chỉ ở Golgotha. Thánh Giá có mặt trong căn bếp một người mẹ thức khuya chờ con. Thánh Giá nằm trên giường bệnh một cụ già chẳng còn tự ngồi dậy được. Thánh Giá ở trong chiếc điện thoại của người trẻ vừa nhận một lời xúc phạm. Thánh Giá ở nơi bàn làm việc của người lao động vừa nhận quyết định thôi việc. Thánh Giá trong căn nhà của đôi vợ chồng không còn nói chuyện với nhau. Thánh Giá trong trái tim người mang một bí mật đau đớn không dám kể cùng ai. Thánh Giá trên chiếc thuyền của người di cư. Thánh Giá trong vùng đất có chiến tranh. Thánh Giá trong xứ đạo nghèo. Thánh Giá trong đời linh mục khi những hy sinh âm thầm không ai hiểu. Thánh Giá ở bất cứ nơi nào có con người đang đau và vẫn cố yêu.
Nhưng lạy Chúa, xin đừng để chúng con chỉ nhìn Thánh Giá như một biểu tượng của đau khổ. Nếu Thánh Giá chỉ là đau khổ thì nhân loại đã có quá nhiều thánh giá mà chẳng cần Chúa. Điều làm Thánh Giá của Chúa khác mọi thập giá khác chính là Tình Yêu. Hai thanh gỗ tự nó chẳng cứu được ai. Điều cứu chúng con là Đấng đã dang tay trên đó và yêu “đến cùng”. Thánh Gioan đã viết một câu ngắn mà đủ giải thích cả cuộc Khổ Nạn: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Đến cùng – nghĩa là khi bị phản bội vẫn yêu. Khi bị bỏ rơi vẫn yêu. Khi bị hiểu lầm vẫn yêu. Khi bị nhục mạ vẫn yêu. Khi đau vẫn yêu. Khi không nhận lại gì vẫn yêu. Khi chỉ còn hơi thở cuối cùng vẫn dùng hơi thở ấy để tha thứ.
Có lẽ điều Chúa muốn chúng con học hôm nay không phải là đi tìm thêm thập giá. Cuộc sống tự nó đã có đủ. Chúa không bảo chúng con yêu đau khổ. Chúa bảo chúng con yêu giữa đau khổ. Và đó là điều khó nhất. Một người đau khổ có thể trở nên cay nghiệt, nhưng cũng có thể trở nên dịu dàng hơn. Một người từng bị tổn thương có thể đi làm tổn thương người khác, nhưng cũng có thể trở thành người hiểu nỗi đau của người khác hơn ai hết. Một người từng nghèo có thể khinh người nghèo khi mình giàu lên, nhưng cũng có thể trở thành bàn tay nâng đỡ họ. Một người từng bị hiểu lầm có thể thích kết án người khác, nhưng cũng có thể trở thành người rất chậm khi phán xét. Thánh Giá không tự động làm chúng ta nên thánh. Điều làm chúng ta nên thánh là cách chúng ta đi qua Thánh Giá với Chúa.
Xin cho mỗi khi nhìn lên tượng Chúa chịu nạn trong nhà thờ hay trong căn nhà nhỏ của mình, chúng con đừng chỉ nhìn một tượng ảnh quá quen đến mức chẳng còn cảm thấy gì. Xin cho chúng con nghe được câu hỏi từ Thánh Giá: “Con có yêu không?” Không phải: “Con thành công bao nhiêu?” Không phải: “Con có bao nhiêu tiền?” Không phải: “Bao nhiêu người biết tên con?” Không phải: “Bài con đăng được bao nhiêu lượt thích?” Nhưng là: “Con đã yêu bao nhiêu?” Con có yêu người sống cùng nhà với con không? Con có gọi điện cho cha mẹ không? Con có tha thứ cho người làm con đau không? Con có biết dừng lại trước người nghèo không? Con có nói lời tử tế trên mạng không? Con có dám bênh người bị cả đám đông tấn công không? Con có dành thời gian cho đứa con đang cần con hơn một món quà không? Con có dành cho Chúa một khoảng lặng mỗi ngày không?
Rồi một ngày, Đàng Thánh Giá của mỗi người cũng sẽ tới chặng cuối. Chúng ta sẽ đặt xuống mọi thứ từng ôm giữ. Nhưng xin cho lúc ấy, nhìn lại cuộc đời, chúng ta có thể nhận ra rằng những con đường gập ghềnh nhất lại chính là những nơi Chúa đi gần ta nhất; những giọt nước mắt cay đắng nhất đã làm trái tim ta mềm hơn; những lần bị tổn thương đã dạy ta thương người; những lần thất bại đã dạy ta khiêm nhường; những lần mất mát đã dạy ta biết điều gì thực sự quý giá. Và khi cánh cửa đời này khép lại, chúng ta sẽ nghe Đấng từng chết trên Thánh Giá nhưng nay đang sống nói với mình: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43).
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con đừng sợ Thánh Giá đến mức chạy khỏi Chúa, vì chính trên Thánh Giá Chúa đã ở gần chúng con hơn bao giờ hết. Xin cho chúng con đừng biến đạo thành một cách trốn khỏi đau khổ, nhưng để đức tin trở thành sức mạnh giúp chúng con bước qua đau khổ. Xin cho chúng con biết nhận ra Chúa nơi những người bị đóng đinh của thời đại và biết cúi xuống tháo bớt một chiếc đinh khỏi đời họ: chiếc đinh của đói nghèo, cô đơn, kỳ thị, xúc phạm, bất công, tuyệt vọng. Xin cho cuộc đời chúng con, dù chẳng làm được những chuyện lớn lao, ít nhất cũng trở thành một tấm khăn của Veronica, một bờ vai của Simon, một sự hiện diện của Đức Maria bên chân Thánh Giá.
Và nhất là, xin đừng để chúng con quên rằng Đàng Thánh Giá không kết thúc ở mồ đá. Nếu chỉ có Thứ Sáu Tuần Thánh, Kitô giáo sẽ là tôn giáo của nước mắt. Nhưng có sáng Chúa Nhật Phục Sinh. Tảng đá sẽ lăn. Ánh sáng sẽ vào. Những người đang khóc sẽ nghe tên mình được gọi như Maria Magdalena bên mồ. Những môn đệ thất vọng sẽ gặp Người trên đường Emmau. Phêrô từng chối Thầy sẽ được trao lại sứ mạng. Những vết thương vẫn còn trên thân thể Đấng Phục Sinh, nhưng các vết thương ấy không còn chảy máu; chúng trở thành dấu chỉ chiến thắng của tình yêu. Vì thế, người Kitô hữu có thể khóc nhưng không tuyệt vọng, có thể đau nhưng không buông xuôi, có thể đi qua đêm tối nhưng vẫn tin bình minh đang đến.
Lạy Chúa, giữa một thế giới đầy những thập giá mới, xin cho chúng con trở thành những người mang Tin Mừng cũ mà không bao giờ cũ: sự dữ không có tiếng nói cuối cùng, hận thù không có tiếng nói cuối cùng, bệnh tật không có tiếng nói cuối cùng, thất bại không có tiếng nói cuối cùng, ngay cả cái chết cũng không có tiếng nói cuối cùng.
Tiếng nói cuối cùng thuộc về Tình Yêu.
Và Tình Yêu đã sống lại.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VÀ BÍ TÍCH HÒA GIẢI – TỪ THẬP GIÁ ĐẾN LÒNG THƯƠNG XÓT
Có những người Công giáo nhìn tòa giải tội mà sợ. Sợ phải nói ra điều mình đã làm. Sợ phải gọi đúng tên một tội lỗi mà bao năm mình vẫn tìm cách biện minh. Sợ một con người ngồi bên kia tấm lưới sẽ biết được phần tối nhất của đời mình. Sợ xấu hổ. Sợ bị đánh giá. Sợ phải chạm lại một vết thương đã cố chôn thật sâu. Và có lẽ sâu xa hơn nữa, người ta sợ phải nhìn nhận rằng mình không tốt như hình ảnh mình vẫn cố giữ trước mặt người khác. Nhưng nếu hiểu đúng Bí tích Hòa Giải, người ta sẽ khám phá một điều rất đẹp: tòa giải tội không phải là nơi Thiên Chúa chờ để kết án một tội nhân; đó là nơi một Người Cha ngồi chờ đứa con trở về. Tòa giải tội không phải là chiếc ghế của một quan tòa lạnh lùng; đó là phần kéo dài của Thánh Giá Đức Kitô, nơi Đấng vô tội cúi xuống trên người có tội và nói: Con hãy trở về, vì Ta đã trả giá cho con rồi. Và cũng vì thế, nếu muốn hiểu Bí tích Hòa Giải, ta phải đứng dưới chân Thánh Giá. Nếu muốn biết lòng thương xót của Thiên Chúa sâu đến đâu, hãy nhìn lên Đấng bị đóng đinh. Nếu muốn biết tội lỗi nghiêm trọng đến mức nào, hãy nhìn vào những vết đinh trên tay Chúa. Nhưng nếu muốn biết con người được Thiên Chúa yêu đến mức nào, cũng hãy nhìn chính những vết đinh ấy. Tội lỗi đã đưa Đức Giêsu lên Thập Giá, nhưng tình yêu đã giữ Người ở lại trên Thập Giá cho đến cùng. Đinh sắt không đủ sức giữ Con Thiên Chúa. Chính tình yêu mới giữ Người ở đó. Và từ nơi ấy, giữa đau đớn, bị sỉ nhục, bị phản bội, bị bỏ rơi, Đức Giêsu đã thốt lên một lời mà cho đến tận cùng lịch sử nhân loại vẫn còn làm kinh ngạc mọi trái tim biết suy nghĩ: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đó chính là trái tim của Bí tích Hòa Giải. Trước khi con người kịp xin tha thứ, Thiên Chúa đã muốn tha thứ. Trước khi con người tìm đường trở về, Thiên Chúa đã bước ra khỏi nhà để tìm người con thất lạc. Trước khi tội nhân dám ngước mặt lên, Đức Kitô đã cúi đầu xuống trên Thập Giá. Lòng thương xót không bắt đầu từ sự xứng đáng của con người. Lòng thương xót bắt đầu từ trái tim của Thiên Chúa.
Thế nhưng con người thời nào cũng có một cám dỗ rất tinh tế: muốn có lòng thương xót mà không muốn nhìn nhận tội lỗi; muốn được chữa lành nhưng không muốn nhận mình đang mang thương tích; muốn được tha thứ nhưng không muốn thú nhận mình đã sai; muốn Thiên Chúa yêu mình nhưng lại không muốn để tình yêu ấy thay đổi đời mình. Có người nói: “Chúa biết hết rồi, cần gì phải xưng.” Đúng, Chúa biết hết. Nhưng chính vì Chúa biết hết mà Chúa vẫn hỏi Adam: “Ngươi ở đâu?” Không phải vì Thiên Chúa không biết Adam đang trốn ở đâu, nhưng vì Adam cần bước ra khỏi chỗ ẩn nấp của mình. Đức Giêsu cũng hỏi người mù: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Chẳng lẽ Chúa không biết người ấy muốn được thấy sao? Chúa biết. Nhưng Chúa muốn con người gọi tên nỗi đau của mình. Một vết thương được giấu kín thì khó được chữa lành. Một tội lỗi luôn được che đậy bằng lý do thì rất khó được biến đổi. Xưng tội, vì vậy, không phải là thông báo cho Thiên Chúa một điều Người chưa biết. Xưng tội là đứng trước Thiên Chúa mà nói: “Lạy Chúa, đây là con, con không chạy nữa. Đây là phần tối của con. Đây là điều con đã làm. Con không muốn gọi nó bằng một tên khác nữa. Con không muốn đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho người khác, cho quá khứ, cho tính tình, cho áp lực. Con đã phạm tội. Xin thương xót con.” Khoảnh khắc đó có thể đau, nhưng đó cũng là khoảnh khắc một người bắt đầu được tự do. Bởi vì người phải dùng cả đời để bảo vệ một hình ảnh giả về mình là người rất mệt. Người dám thừa nhận mình yếu đuối lại bắt đầu được bình an. Trước Thánh Giá, ta không cần diễn. Chúa đã biết con người thật của ta và Người vẫn yêu. Người biết cả những điều ta chưa từng nói với ai. Người biết những lần ta phản bội, những suy nghĩ đen tối, những ích kỷ nhỏ nhen, những đam mê xấu, những ghen ghét âm thầm, những lời nói đã làm người khác tổn thương, những lần ta sống hai mặt, những lần ta cầu nguyện mà lòng đầy cay độc, những lần ta đi lễ nhưng lại không chịu tha thứ, những lần ta mang danh Kitô hữu nhưng cách sống chẳng có chút gì giống Đức Kitô. Chúa biết tất cả. Và lạ lùng thay, Người vẫn giang tay.
Tin Mừng cho ta một hình ảnh thật đẹp về lòng thương xót ấy nơi người trộm lành bị đóng đinh bên cạnh Đức Giêsu. Đời ông xem ra đã đi đến tận cùng của thất bại. Ông không còn thời gian để sửa lại quá khứ, không còn cơ hội để đền bù những gì mình đã gây ra, không còn khả năng làm những việc lớn lao. Hai bàn tay của ông cũng đã bị đóng chặt vào thập giá. Điều duy nhất ông còn có thể làm là quay đầu về phía Đức Giêsu và thưa: “Ông Giêsu ơi, khi vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Đức Giêsu trả lời bằng một lời hứa không thể tưởng tượng nổi: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Thật lạ! Không có một bản lý lịch đẹp. Không có thành tích đạo đức. Không có một đời sống mẫu mực để trình lên. Chỉ có một tội nhân biết mình là tội nhân, một trái tim không còn biện minh, một ánh mắt quay về phía Đấng Cứu Độ, và lòng thương xót mở cửa Thiên Đàng. Người trộm lành không được cứu vì ông chưa từng phạm tội; ông được cứu vì vào giờ cuối cùng ông đã không tuyệt vọng về lòng thương xót. Đây là một Tin Mừng lớn cho tất cả chúng ta. Điều nguy hiểm nhất không hẳn là đã từng ngã. Điều nguy hiểm nhất là ngã rồi mà không chịu nắm lấy bàn tay Chúa. Không phải tội lỗi của ta lớn hơn lòng thương xót của Thiên Chúa; nhưng sự kiêu ngạo có thể khiến ta không chịu nhận lòng thương xót ấy. Giuđa đã phạm tội nặng. Phêrô cũng phạm tội nặng. Một người bán Chúa, một người chối Chúa. Cả hai đều phản bội tình yêu. Nhưng Phêrô khóc và trở về; Giuđa đóng kín mình trong tuyệt vọng. Một người nhìn tội lỗi rồi nhìn lên Chúa; người kia nhìn tội lỗi rồi chỉ còn nhìn vào chính mình. Và có lẽ một trong những bi kịch lớn nhất của đời sống thiêng liêng là khi người ta tin vào tội của mình nhiều hơn tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa.
Thánh Giá dạy chúng ta hai điều phải luôn đi chung với nhau: đừng bao giờ coi nhẹ tội lỗi, nhưng cũng đừng bao giờ tuyệt vọng vì tội lỗi. Nếu tội chẳng đáng kể, Thánh Giá trở nên vô nghĩa. Nếu lòng thương xót có giới hạn, Thánh Giá cũng trở nên vô nghĩa. Người Kitô hữu trưởng thành không nói: “Có gì đâu, ai chẳng thế.” Nhưng cũng không nói: “Tôi hết đường rồi, Chúa không thể tha cho tôi.” Cả hai thái độ đều sai. Một bên làm rẻ ân sủng, một bên xúc phạm lòng thương xót. Đứng dưới chân Thánh Giá, ta phải đủ thành thật để nói: “Tội của tôi đã làm tổn thương tình yêu.” Nhưng đồng thời cũng phải đủ khiêm nhường để nói: “Tình yêu của Chúa lớn hơn tội của tôi.” Thánh Giá không cho phép ta xem tội là chuyện nhỏ, bởi mỗi tội đều là một cách nói với Thiên Chúa: con chọn ý con hơn ý Ngài, con chọn bản thân hơn tình yêu, con chọn bóng tối hơn ánh sáng. Nhưng Thánh Giá cũng không cho phép ta tự kết án mình, vì chính nơi ấy Đức Kitô đã mang lấy án phạt của tội lỗi để mở cho chúng ta con đường trở về. Máu từ cạnh sườn Người không chảy xuống để chứng minh rằng con người không còn hy vọng; máu ấy chảy xuống để nói rằng không một vực sâu nào của con người sâu hơn lòng thương xót Thiên Chúa.
Có lẽ vì thế mà một lần xưng tội thật lòng luôn có cái gì giống như một cuộc trở về từ Golgotha vào buổi sáng Phục Sinh. Ta bước vào với một gánh nặng và bước ra nhẹ hơn. Ta bước vào với những điều không dám nhìn, rồi bước ra với một khởi đầu mới. Linh mục vẫn là một con người, tòa giải tội vẫn chỉ là một góc nhỏ trong nhà thờ, lời tha tội nghe rất bình thường, nhưng trong chiều sâu của đức tin, một điều lớn lao đang xảy ra: công nghiệp của Thánh Giá đang chạm vào một con người cụ thể. “Cha tha tội cho con…” Không phải vì linh mục thánh thiện hơn người xưng tội, nhưng vì Đức Kitô đã trao cho Hội Thánh sứ vụ hòa giải. Sau khi sống lại, Chúa hiện đến giữa các môn đệ, những người vừa bỏ chạy, vừa sợ hãi, vừa bất trung. Điều đầu tiên Người mang đến không phải một bài trách mắng mà là: “Bình an cho anh em.” Rồi Người trao cho họ quyền tha tội. Thật kỳ diệu: từ những con người đã kinh nghiệm sự yếu đuối của chính mình, Đức Kitô làm nên những thừa tác viên của lòng thương xót. Có lẽ đó cũng là lý do người linh mục khi ngồi tòa giải tội phải luôn nhớ rằng mình không ngồi đó như một người sạch sẽ phán xét một người nhơ bẩn. Linh mục cũng là một tội nhân được tha thứ đang phục vụ một tội nhân khác trên con đường trở về. Nếu quên điều ấy, tòa giải tội dễ trở thành nơi tạo thêm sợ hãi. Nếu nhớ điều ấy, tòa giải tội trở thành một góc nhỏ của nhà Cha.
Đời sống hôm nay lại khiến con người rất dễ mất cảm thức về tội. Người ta có hàng trăm cách để đổi tên tội lỗi. Ngoại tình được gọi là “đi tìm cảm xúc mới”. Tham lam được gọi là “biết nắm cơ hội”. Nói xấu được gọi là “chia sẻ sự thật”. Trả thù được gọi là “đòi công bằng”. Kiêu ngạo được gọi là “biết giá trị bản thân”. Vô cảm được gọi là “sống cho mình”. Gian dối được gọi là “linh hoạt”. Ích kỷ được gọi là “biết bảo vệ quyền lợi”. Người ta cứ thay tên cho bóng tối rồi ngạc nhiên tại sao lòng mình ngày càng thiếu bình an. Nhưng tên gọi không thay đổi bản chất. Ta có thể gọi một vết thương bằng một mỹ từ, nó vẫn là vết thương. Ta có thể tô son lên một sự dữ, nó vẫn làm linh hồn hao mòn. Có những tội không làm ta đau ngay nên ta tưởng nó vô hại. Một lời nói độc ác có thể mất năm giây để thốt ra nhưng nằm trong trái tim người nghe năm năm. Một lần phản bội chỉ diễn ra trong một đêm nhưng có thể phá hủy một gia đình được xây suốt ba mươi năm. Một chút tham tiền có thể biến một người lương thiện thành người bất chấp lương tâm. Một chút kiêu ngạo có thể biến việc phục vụ Chúa thành việc tìm danh cho mình. Một chút ganh tị có thể khiến ta buồn khi người khác được chúc phúc. Một chút cay độc giữ lâu ngày có thể làm đời sống cầu nguyện khô cứng. Một chút buông thả được lặp lại có thể thành xiềng xích. Tội lỗi thường không bước vào đời ta với bộ mặt ghê gớm. Nó bước vào bằng những thỏa hiệp nhỏ. “Một lần thôi.” “Có ai biết đâu.” “Người ta cũng làm thế.” “Tôi có lý do.” “Sau này tôi sửa.” Và rồi những cái “một lần thôi” kết thành một thói quen, những thói quen tạo thành một nếp sống, nếp sống dần trở thành một nhà tù.
Bí tích Hòa Giải chính là nơi Thiên Chúa bẻ gãy chiếc vòng ấy. Nhưng Bí tích không phải một thứ máy giặt thiêng liêng để ta cứ phạm tội rồi đi xưng, xưng xong lại bình thản trở về với nếp sống cũ. Lòng thương xót không bao giờ là sự dễ dãi. Chúa tha thứ cho người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội, nhưng Người cũng nói: “Hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.” Hai vế ấy phải đi với nhau. “Ta không kết án chị” là lòng thương xót. “Đừng phạm tội nữa” là lời mời gọi hoán cải. Chỉ giữ vế thứ hai mà quên vế thứ nhất, Kitô giáo trở thành luật lệ lạnh lùng. Chỉ giữ vế thứ nhất mà quên vế thứ hai, lòng thương xót trở thành một thứ dung túng rẻ tiền. Đức Giêsu không hạ thấp tiêu chuẩn của sự thánh thiện để tội nhân cảm thấy dễ chịu; Người nâng tội nhân dậy để họ có thể bước về phía sự thánh thiện. Tha thứ không phải là nói rằng tội không quan trọng. Tha thứ là nói rằng tội nghiêm trọng, nhưng tình yêu mạnh hơn. Hòa giải không phải là xóa bỏ sự thật. Hòa giải là đưa sự thật vào trong lòng thương xót để sự thật chữa lành thay vì nghiền nát.
Có những người xưng cùng một tội suốt nhiều năm rồi nản. “Con xưng mãi mà vẫn thế.” Nhưng xin đừng quên: một em bé tập đi cũng ngã rất nhiều lần. Không người cha nào nói với con: “Con đã ngã lần thứ mười rồi, từ nay đừng đứng dậy nữa.” Người cha lại đưa tay. Điều đáng lo không phải chỉ là ta còn ngã, mà là ta không còn muốn đứng dậy. Nếu mỗi lần ngã ta biết đau vì đã làm buồn lòng Chúa, biết trở về, biết chiến đấu, biết tránh dịp tội, biết xin ơn, biết làm lại, thì ngay cả cuộc chiến dai dẳng ấy cũng có thể trở thành con đường khiêm nhường. Có người được giải thoát khỏi một thói xấu rất nhanh. Có người phải chiến đấu nhiều năm. Ân sủng hoạt động theo những con đường mà ta không luôn hiểu hết. Điều quan trọng là đừng dùng lòng thương xót làm cớ để buông xuôi, nhưng cũng đừng dùng sự yếu đuối của mình làm cớ để tuyệt vọng. Mỗi lần bước vào tòa giải tội là mỗi lần nói với ma quỷ rằng: “Ngươi chưa thắng. Tôi còn trở về với Chúa.” Mỗi lần quỳ xuống là một hành vi của hy vọng. Mỗi lời thú nhận thành thật là một cánh cửa mở cho ánh sáng. Có những xiềng xích không vỡ ngay một lần, nhưng mỗi lần ta thành thật với Chúa, một mắt xích được yếu đi.
Và cũng cần nói thật rằng có khi điều làm ta xa Bí tích Hòa Giải không phải vì tội quá nhiều mà vì lòng tự ái quá lớn. Ta chịu được việc mình phạm tội, nhưng không chịu được việc phải nhận mình là người có tội. Ta muốn giữ hình ảnh tốt đẹp về mình ngay cả trước Thiên Chúa. Có người rất nghiêm khắc với lỗi của người khác nhưng lại rất khéo biện minh cho mình. Người khác nóng tính thì ta gọi họ là thiếu bác ái; mình nóng tính thì nói vì áp lực. Người khác ham tiền thì gọi là tham; mình ham tiền thì bảo phải lo cho tương lai. Người khác nói xấu thì gọi là độc miệng; mình nói xấu thì bảo chỉ nói sự thật. Người khác không tha thứ thì gọi là cố chấp; mình không tha thứ thì nói vì vết thương quá sâu. Cái tôi là một luật sư rất giỏi. Nó luôn tìm được lý do. Nhưng Thánh Giá làm tất cả những lời bào chữa ấy im tiếng. Trước Đấng bị đóng đinh, ta không thể mãi hỏi: “Ai làm tôi đau?” mà không một lần hỏi: “Tôi đã làm ai đau?” Không thể mãi đếm những món nợ người khác mắc với mình mà quên món nợ mình mắc với Thiên Chúa. Không thể ngày nào cũng xin “xin tha nợ chúng con” mà vẫn quyết giữ cổ người anh em vì một món nợ nhỏ hơn rất nhiều.
Bởi vậy, Bí tích Hòa Giải không chỉ hòa giải ta với Thiên Chúa mà còn phải mở đường cho việc hòa giải với nhau. Một người thường xuyên xưng tội nhưng ngày càng cay nghiệt thì phải tự hỏi mình đã thật sự để ân sủng chạm vào lòng chưa. Một người quỳ trước tòa giải tội xin Chúa tha nhưng đứng lên lại nhất quyết không tha cho người khác thì đang giữ lại một căn phòng khóa kín trong chính trái tim mình. Tha thứ dĩ nhiên không phải lúc nào cũng có nghĩa là quên ngay, tin lại ngay, trở về một tương quan nguy hiểm, hay phủ nhận những bất công đã xảy ra. Có những vết thương cần thời gian. Có những tương quan cần giới hạn. Có những sai phạm cần được sửa chữa trong công lý. Nhưng người Kitô hữu không được nuôi hận thù như một căn tính. Ta có thể chưa hết đau, nhưng ta có thể bắt đầu cầu nguyện: “Lạy Chúa, con chưa tha được. Xin Chúa cho con muốn tha.” Có khi bước đầu tiên của tha thứ chỉ nhỏ như thế. Nhưng ân sủng có thể bước qua một khe cửa rất nhỏ.
Nhìn lên Thánh Giá, ta thấy Đức Giêsu không đợi những kẻ đóng đinh Người xin lỗi rồi mới tha. Người cầu xin Chúa Cha tha cho họ ngay giữa lúc họ còn đang làm Người đau. Đó là điều vượt quá khả năng tự nhiên của con người. Nếu chỉ dùng sức mình, ta có thể tha một vài chuyện nhỏ. Có những phản bội, xúc phạm, bất công quá sâu khiến sức người không đủ. Khi ấy, Thánh Giá không chỉ là mẫu gương để ta bắt chước; Thánh Giá trở thành nguồn sức mạnh để ta nhận lấy. “Lạy Chúa, con không làm được. Xin Chúa tha trong con.” Chính nơi Bí tích Hòa Giải, người từng được tha thứ học dần cách tha thứ. Ai biết mình đã được xóa một món nợ lớn sẽ bớt hung dữ với món nợ của anh em. Ai đã quỳ xuống nhiều lần trong tư cách một tội nhân sẽ bớt thích đứng trên bục trong tư cách một quan tòa.
Có một điều rất đáng buồn là thời đại mạng xã hội đang tạo ra một văn hóa xét xử không thương xót. Một người có thể sai một câu, một hành động bị quay lại, một quá khứ bị đào lên, và hàng ngàn người lập tức trở thành thẩm phán. Người ta “đóng đinh” nhau bằng bình luận, chia sẻ, cắt ghép, chế giễu. Có khi người phạm lỗi đã xin lỗi nhưng đám đông không cho phép họ có một tương lai khác. Người ta muốn công lý nhưng nhiều khi chỉ thỏa mãn cơn giận. Tin Mừng thì khác. Tin Mừng không phủ nhận sự thật, nhưng Tin Mừng luôn tin rằng một tội nhân có thể trở thành một vị thánh. Nếu Thiên Chúa hành xử với chúng ta theo cách mạng xã hội hành xử với người lầm lỗi, có lẽ chẳng ai đứng nổi. Phêrô sẽ mãi mãi là “kẻ chối Thầy ba lần”. Phaolô sẽ mãi mãi là “kẻ bách hại Hội Thánh”. Augustinô sẽ mãi mãi bị đóng khung trong quá khứ của mình. Nhưng Thiên Chúa nhìn con người không chỉ bằng những gì họ đã làm; Người còn nhìn bằng những gì ân sủng có thể làm nơi họ. Đó là một trong những khác biệt đẹp nhất giữa lòng thương xót của Chúa và sự phán xét của thế gian.
Bí tích Hòa Giải còn dạy ta một điều rất cần thiết: chịu trách nhiệm. Lòng thương xót không loại bỏ trách nhiệm. Người thật lòng thống hối không chỉ nói “xin lỗi Chúa” rồi thôi. Nếu đã lấy của người khác, phải tìm cách hoàn trả. Nếu đã vu khống, phải tìm cách sửa lại. Nếu đã làm tổn thương, cần xin lỗi khi thích hợp. Nếu đã tạo nên một cơ cấu bất công, cần góp phần sửa đổi. Đền tội không phải là “trả giá” để mua ơn tha thứ, bởi ơn tha thứ là quà tặng của Đức Kitô; nhưng đền tội là dấu cho thấy ta muốn bước ra khỏi con người cũ. Zacchaeus khi gặp Đức Giêsu không chỉ xúc động trong lòng. Ông nói đến việc đền bù. Ân sủng thật luôn sinh hoa trái. Nếu một người nói mình đã gặp lòng thương xót mà vẫn cố ý sống y như cũ, ta có quyền tự hỏi cuộc gặp gỡ ấy đã đi sâu tới đâu.
Nhưng cũng có những người mang một gánh nặng ngược lại: đã được tha mà vẫn không tha cho chính mình. Họ xưng tội rồi, đã nghe lời tha tội, nhưng nhiều năm sau vẫn quay lại cào xé vết thương cũ. Họ tin Chúa tha cho người khác nhưng khó tin Người đã tha cho mình. Có khi đó trông giống lòng khiêm nhường, nhưng sâu xa lại là một dạng kiêu ngạo đau đớn: ta đặt phán quyết của mình cao hơn phán quyết của Thiên Chúa. Chúa nói “Ta tha”, còn ta nói “Không, tội của con lớn quá.” Chúa nói “Hãy đứng lên”, ta nói “Con phải nằm ở đây thêm.” Chúa mở cửa, ta vẫn ngồi trong nhà tù và giữ chìa khóa trong tay. Khi đã xưng tội thành thật, đã lãnh nhận ơn xá giải, ta cần học một hành vi đức tin rất đẹp: tin rằng mình được tha. Không phải vì ta cảm thấy mình sạch, mà vì Đức Kitô đã hứa. Cảm xúc có thể còn day dứt; ký ức có thể còn đau; hậu quả của tội có thể vẫn phải mang; nhưng tương quan với Thiên Chúa đã được chữa lành. Vết sẹo còn đó không có nghĩa vết thương còn đang chảy máu. Có những vết sẹo sẽ luôn nhắc ta về một quá khứ, nhưng chúng cũng có thể trở thành bằng chứng rằng lòng thương xót đã chữa lành điều tưởng không thể chữa.
Thật ra, người biết mình được tha thường sống khác. Họ bớt kiêu. Bớt kết án. Bớt thích nói về lỗi của người khác. Bớt cứng cỏi khi thấy ai ngã. Bởi họ biết họ cũng đã từng nằm dưới đất. Có một thứ thánh thiện rất đáng sợ: thánh thiện khiến người ta nhìn mọi người bằng ánh mắt khinh thường. Đó không phải thánh thiện của Tin Mừng. Các vị thánh càng gần Chúa càng thấy mình cần lòng thương xót. Không phải vì họ phạm nhiều tội hơn, nhưng vì ánh sáng càng mạnh thì hạt bụi càng hiện rõ. Một căn phòng tối nhìn có vẻ sạch; đưa ra nắng mới thấy bụi bay. Người sống xa Chúa đôi khi rất dễ hài lòng về mình. Người đến gần Chúa lại càng nhận ra những ích kỷ tinh tế, những kiêu căng ẩn kín, những tìm kiếm bản thân len lỏi ngay trong việc đạo đức. Nhưng sự nhận biết ấy không làm họ tuyệt vọng; nó làm họ khiêm nhường và biết ơn. Người được tha nhiều thì yêu nhiều.
Đó cũng là điều ta thấy nơi người phụ nữ tội lỗi quỳ dưới chân Đức Giêsu, lấy nước mắt mà rửa chân Người. Những người chung quanh chỉ thấy quá khứ của chị. Chúa thấy một trái tim đang trở về. Người ta nhìn chị và nói: “Một người tội lỗi.” Chúa nhìn chị và thấy một người có khả năng yêu lớn lao. Đó là ánh mắt của lòng thương xót. Và có lẽ nhiều người trong chúng ta cần được học lại cách nhìn ấy, trước hết đối với chính mình, rồi đối với người khác. Chúng ta không phải tổng số những sai lầm của mình. Một con người không thể bị rút gọn thành chương tồi tệ nhất trong cuộc đời họ. Khi Thiên Chúa tha thứ, Người không nói rằng quá khứ chưa từng xảy ra. Người nói rằng quá khứ không còn quyền quyết định tương lai.
Thánh Giá chính là bằng chứng mạnh nhất của điều đó. Vào chiều thứ Sáu, Thánh Giá trông giống thất bại tuyệt đối. Người công chính chết. Môn đệ tan tác. Hy vọng bị chôn vào mộ. Nhưng sáng Chúa Nhật, chính từ nơi tưởng như kết thúc ấy, Thiên Chúa mở ra một khởi đầu. Vì thế, người Kitô hữu không bao giờ được nói về một cuộc đời rằng: “Hết rồi.” Khi còn có thể quay về, còn có hy vọng. Một hôn nhân đã rạn nứt vẫn có thể được chữa lành nếu hai người biết khiêm nhường. Một người đã sống nhiều năm xa Chúa vẫn có thể trở về trong một buổi chiều. Một linh mục đã khô khan vẫn có thể bắt đầu lại. Một người cha từng làm con cái tổn thương vẫn có thể xin lỗi. Một người con từng bất hiếu vẫn có thể quay về. Một người mang một tội nặng nhiều năm vẫn có thể bước vào tòa giải tội và bước ra như một người mới. Không phải mọi hậu quả đều biến mất, nhưng một tương lai mới có thể bắt đầu. Đó là phép lạ âm thầm của lòng thương xót.
Có người hỏi: “Bao lâu nên xưng tội một lần?” Nhưng có lẽ trước câu hỏi về lịch, cần hỏi câu sâu hơn: “Tôi có còn khao khát được sống trong tình bạn với Chúa không?” Khi yêu ai, ta nhạy cảm với những gì làm tổn thương tương quan. Một người thật sự yêu Chúa sẽ không chỉ hỏi: “Tội này có nặng đến mức bắt buộc phải xưng không?” mà còn hỏi: “Điều này có làm lòng Chúa buồn không? Có làm tôi xa Chúa không? Có khiến tôi bớt yêu thương không?” Đời sống thiêng liêng không thể chỉ xây trên mức tối thiểu. Tình yêu luôn muốn đi xa hơn bổn phận. Người ta có thể hỏi: “Bao nhiêu là đủ để không phạm luật?” Nhưng người yêu lại hỏi: “Tôi có thể làm gì để gần người mình yêu hơn?” Bí tích Hòa Giải thường xuyên, nếu được cử hành với sự chuẩn bị nghiêm túc, không tạo ra mặc cảm tội lỗi; trái lại, nó giúp lương tâm trở nên tinh tế, giúp ta nhận ra những chuyển động nhỏ trong tâm hồn, giúp ta biết mình hơn và biết Chúa hơn.
Dĩ nhiên, việc xét mình cần tránh biến thành ám ảnh. Xét mình Kitô giáo không phải ngồi soi từng góc tối để ghét bản thân. Xét mình phải được thực hiện dưới ánh mắt của một Người Cha. Ta hỏi: hôm nay tôi đã nhận được những ơn nào? Tôi đã đáp lại ra sao? Tôi đã yêu ở đâu? Tôi đã thiếu yêu ở đâu? Tôi đã để cái tôi chi phối lúc nào? Tôi đã làm tổn thương ai? Tôi đã bỏ qua cơ hội làm điều tốt nào? Có một thói quen nào đang dần chiếm lấy tự do của tôi? Có một mối hận nào tôi đang nuôi? Có điều gì tôi không dám đưa ra trước mặt Chúa? Xét mình tốt sẽ dẫn đến thống hối, nhưng thống hối Kitô giáo luôn có hy vọng. Nó giống nước mắt Phêrô: đau vì đã làm tổn thương người mình yêu, nhưng vẫn còn hướng về ánh mắt của Đức Giêsu.
Nhiều khi chúng ta nghĩ điều đẹp nhất trong Bí tích Hòa Giải là mình nói hết tội. Không. Điều đẹp nhất là sau khi mình nói hết, Chúa vẫn nói lời tha thứ. Chúng ta đưa cho Chúa điều tệ nhất của mình và Người trao lại bình an. Chúng ta trao cho Người đống tro, Người nhóm lại một ngọn lửa. Chúng ta mang tới những mảnh vỡ, Người không ném đi. Đây là cách Thiên Chúa yêu: Người không chỉ yêu phiên bản tốt đẹp nhất của ta. Người yêu ta ngay trong lúc ta cần được cứu. Thánh Phaolô từng diễn tả chân lý ấy: Đức Kitô đã chết cho chúng ta khi chúng ta còn là tội nhân. Chính chữ “còn” ấy rất quan trọng. Chúa không đợi ta hoàn thiện mới yêu. Tình yêu của Người đi trước sự hoàn thiện và làm cho sự hoàn thiện trở nên có thể.
Ở đây, Thánh Giá và Bí tích Hòa Giải gặp nhau thật sâu. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu mang lấy tội trần gian. Trong Bí tích Hòa Giải, chiến thắng ấy được trao cho từng con người cụ thể. Trên Thánh Giá, Người nói lời tha thứ cho nhân loại; trong tòa giải tội, lời ấy dường như được gọi bằng chính tên ta. Trên Thánh Giá, cạnh sườn Người bị mở ra; trong Bí tích, trái tim ấy vẫn mở. Trên Thánh Giá, hai tay Người dang rộng; trong Bí tích, vòng tay ấy vẫn chờ. Vì vậy, người đi xưng tội không phải đang đi đến một văn phòng xử án mà đang đi về Golgotha, nhưng Golgotha được nhìn dưới ánh sáng Phục Sinh. Ta quỳ xuống dưới chân Thánh Giá với những gì xấu xí nhất và đứng lên trong phẩm giá của một người con được yêu.
Có lẽ một trong những lời cầu nguyện đẹp nhất trước khi xưng tội là: “Lạy Chúa, xin cho con thấy tội của con như Chúa thấy.” Nhưng phải nói thêm ngay: “Và xin cho con thấy chính con như Chúa thấy.” Nếu chỉ xin thấy tội mà không thấy tình yêu, ta dễ tuyệt vọng. Nếu chỉ muốn thấy tình yêu mà không thấy tội, ta dễ tự mãn. Cần cả hai. Chúa thấy tội ta rõ hơn ta thấy, nhưng Người cũng thấy một phẩm giá trong ta mà có khi ta đã quên. Người thấy điều cần chữa lành nhưng cũng thấy con người sẽ được chữa lành. Người thấy Phêrô chối Thầy nhưng đồng thời thấy vị mục tử sẽ củng cố anh em. Người thấy Saulô bắt đạo nhưng cũng thấy Phaolô tông đồ. Người thấy người phụ nữ Samari với năm đời chồng nhưng cũng thấy một người sẽ chạy về thành loan báo rằng mình đã gặp Đấng Mêsia. Chúa không bao giờ định nghĩa ta chỉ bằng thất bại hiện tại.
Và vì thế, người mục tử khi giải tội cũng phải học ánh mắt của Đức Kitô. Có những người đã phải chiến đấu rất lâu mới đủ can đảm bước vào tòa. Có người đã bỏ Bí tích hai mươi, ba mươi năm. Có người vừa ngồi xuống đã khóc. Có người nói vòng vo vì xấu hổ. Có người mang vết thương từ chính những kinh nghiệm tôn giáo không lành mạnh trong quá khứ. Một lời nói vô tình của linh mục đôi khi có thể làm họ đóng cửa thêm mười năm. Nhưng một thái độ hiền lành cũng có thể giúp một linh hồn trở về sau cả một đời xa cách. Điều đó không có nghĩa là linh mục bỏ qua sự thật hay không nói đến hoán cải. Đức Giêsu vừa đầy ân sủng vừa đầy sự thật. Nhưng sự thật trong Đức Kitô không được dùng như chiếc búa để đập người đang quỳ. Sự thật phải là ánh sáng mở đường. Người mục tử phải có khả năng gọi tội là tội mà người tội nhân vẫn cảm thấy mình được yêu. Đó là nghệ thuật của lòng thương xót.
Có những cuộc xưng tội mà con người sẽ nhớ suốt đời, không phải vì linh mục nói điều gì phi thường, nhưng vì đúng lúc họ tưởng Thiên Chúa đã chán mình thì họ nghe một câu đơn giản: “Chúa vẫn thương con. Hãy làm lại.” Có người chỉ cần nghe câu ấy là đủ khóc. Chúng ta sống trong một thế giới nơi con người rất dễ bị gắn nhãn. Một lần thất bại, họ gọi ta là thất bại. Một lần phạm sai lầm, họ gọi ta là người xấu. Một quá khứ, họ dùng để định nghĩa cả đời. Nhưng Thiên Chúa luôn nói: “Hãy làm lại.” Không phải vì Người ngây thơ về con người, nhưng vì Người biết sức mạnh của ân sủng.
Và khi rời tòa giải tội, ta đừng chỉ vui vì “hết tội”, nhưng hãy hỏi mình sẽ sống khác thế nào. Nếu ta vừa xưng tội nói xấu, hãy tập nói một lời tốt về người mình từng nói xấu. Nếu vừa xưng tội nóng giận, hãy tập im đi vài giây trước khi phản ứng. Nếu vừa xưng tội bỏ cầu nguyện, hãy bắt đầu lại bằng mười phút thật lòng. Nếu vừa xưng tội lạnh nhạt với gia đình, hãy chủ động một cuộc trò chuyện. Nếu vừa xưng tội không tha thứ, hãy ít nhất bắt đầu cầu nguyện cho người đã làm mình đau. Nếu vừa xưng tội sống hai mặt, hãy chọn một việc cụ thể để sống thật. Ân sủng cần được đem ra khỏi nhà thờ. Tòa giải tội là điểm khởi đầu chứ không phải điểm kết thúc. Chúa tha thứ để ta lại có thể yêu.
Cuối cùng, khi đứng trước Thánh Giá, có lẽ điều chúng ta cần nghe nhất không phải “Tại sao con lại phạm tội?” mà là “Con có để Ta yêu con lại từ đầu không?” Phêrô đã phải nghe câu hỏi ấy bên bờ hồ: “Con có yêu Thầy không?” Đức Giêsu không bắt ông sống mãi trong đêm đã chối Chúa. Người dẫn ông sang một buổi sáng khác, bên một bếp lửa khác. Ba lần chối được chữa bằng ba lần tuyên xưng tình yêu. Quá khứ không bị xóa khỏi ký ức, nhưng được cứu chuộc. Đó cũng là điều Bí tích Hòa Giải làm với chúng ta. Chúa không thay đổi những gì đã xảy ra; Người thay đổi ý nghĩa cuối cùng của chúng. Một thất bại có thể trở thành trường học của khiêm nhường. Một vết ngã có thể làm ta biết cảm thông. Một quá khứ tối có thể khiến lòng biết ơn sâu hơn. Một người đã từng xa Chúa có thể trở thành chứng nhân mạnh mẽ về lòng thương xót.
Cho nên, đừng sợ tòa giải tội. Hãy sợ một trái tim không còn muốn trở về. Đừng sợ phải nói sự thật về mình. Hãy sợ một đời sống được xây trên những lời tự dối mình. Đừng sợ rằng Chúa đã nghe tội ấy quá nhiều lần. Người không mệt vì tha thứ; nhiều khi chính ta mới mệt vì xin tha thứ. Đừng nghĩ rằng phải sạch rồi mới đến với Chúa. Nếu đã sạch, ta cần gì Đấng Cứu Độ? Hãy đến như người con hoang đàng, áo quần còn mùi chuồng heo, câu xin lỗi còn chưa nói hết, và để Người Cha chạy ra ôm lấy. Hãy đến như người trộm lành, chẳng còn gì để khoe ngoài một lời van xin. Hãy đến như Phêrô với đôi mắt đầy nước mắt. Hãy đến như người phụ nữ tội lỗi với bình dầu thơm và trái tim tan vỡ. Hãy đến như ta đang là, nhưng đừng ra về như ta đã đến.
Thánh Giá vẫn đứng đó giữa lòng Hội Thánh và giữa lòng nhân loại, hai cánh tay Đức Kitô vẫn mở. Một cánh tay dường như ôm lấy người thánh thiện; cánh tay kia ôm lấy người tội lỗi. Nhưng rồi ta nhận ra tất cả đều là những tội nhân đang được mời gọi nên thánh. Không ai đứng dưới chân Thánh Giá mà có quyền kiêu căng. Và cũng không ai đứng dưới chân Thánh Giá mà có lý do tuyệt vọng. Máu đã đổ. Giá đã trả. Cửa đã mở. Chỉ còn một điều: con người có chịu trở về không?
Có lẽ vào cuối đời, khi tất cả những mặt nạ rơi xuống, điều an ủi nhất của chúng ta sẽ không phải là đã sống không có lỗi lầm, bởi chẳng ai làm được điều ấy. Điều an ủi nhất sẽ là: mỗi khi ngã, ta đã biết đường trở về. Mỗi khi xa, ta đã nghe tiếng gọi. Mỗi khi tội lỗi làm ta xấu hổ, ta vẫn dám nhìn lên Thánh Giá và tin rằng lòng thương xót lớn hơn sự khốn cùng của mình. Và biết đâu, vào giây phút cuối, lời cầu của người trộm lành cũng trở thành lời cầu của chính ta: “Lạy Chúa, xin nhớ đến con.” Khi ấy, tất cả thần học về Bí tích Hòa Giải, tất cả những lần ta đã quỳ xuống thú tội, tất cả những nước mắt thống hối của một đời sẽ quy tụ vào niềm hy vọng cuối cùng này: Đấng từng mở Thiên Đàng cho một kẻ trộm biết ăn năn cũng sẽ không đóng cửa trước một người con đang trở về.
Thánh Giá nói với ta rằng tội lỗi là nghiêm trọng. Nhưng Thánh Giá còn nói lớn hơn rằng tình yêu là lời cuối cùng. Tòa giải tội nói với ta rằng ta đã sai. Nhưng lời tha tội nói lớn hơn rằng ta vẫn là người con được yêu. Hoán cải nói rằng ta phải thay đổi. Nhưng lòng thương xót nói rằng ta không phải thay đổi một mình. Đức Kitô đã đi vào tận đáy vực của con người để không ai còn phải nói: “Chỗ này Chúa không đến được.” Người đã mang lấy cô đơn, phản bội, đau đớn, nhục nhã và cái chết để không một tội nhân nào có thể nói: “Chúa không hiểu con.” Người đã sống lại để không một con người nào phải nói: “Đời tôi hết hy vọng.”
Bởi vậy, từ Thập Giá đến lòng thương xót không phải là một con đường dài. Thật ra lòng thương xót đã ở ngay trên Thập Giá. Mỗi vết thương là một cánh cửa. Mỗi giọt máu là một lời mời. Mỗi lần Đức Giêsu thở là một nhịp của trái tim đang yêu cho đến cùng. Và Bí tích Hòa Giải chính là nơi tình yêu ấy tiếp tục tìm đến từng người, từng tên gọi, từng lịch sử, từng vực sâu.
Xin cho chúng ta đừng bao giờ quá quen với tội đến mức không còn đau, nhưng cũng đừng bao giờ quá đau vì tội đến mức không còn tin. Xin cho mỗi lần nhìn Thánh Giá, ta không chỉ nhìn thấy điều mình đã làm cho Chúa, nhưng còn thấy điều Chúa đã làm cho mình. Xin cho mỗi lần bước đến Bí tích Hòa Giải, ta không bước vào như một bị cáo run rẩy trước một bản án đã định, nhưng như người con đang trở về với Người Cha vẫn để cửa sáng. Xin cho những lời “con thú nhận” được kết thúc bằng một niềm vui: con đã được tha. Xin cho người từng nhận lòng thương xót biết trở thành lòng thương xót cho người khác. Xin cho gia đình có những lời xin lỗi. Xin cho vợ chồng biết bắt đầu lại. Xin cho cha mẹ biết nhận lỗi với con. Xin cho con cái biết trở về với cha mẹ. Xin cho những cộng đoàn biết hạ những viên đá đang cầm trong tay. Xin cho những người phục vụ trong Hội Thánh nhớ rằng mình cũng sống nhờ lòng thương xót. Xin cho những ai đã nhiều năm xa Bí tích đủ can đảm trở về. Và xin cho những ai đang tuyệt vọng vì quá khứ nghe được từ Thánh Giá một lời rất khẽ nhưng mạnh hơn tất cả những tiếng kết án của thế gian: “Con vẫn còn đường về.”
Đường ấy đi qua Thánh Giá. Nhưng cuối con đường không phải là một bản án.
Cuối con đường là vòng tay.
Cuối con đường là bình an.
Cuối con đường là lòng thương xót.
Và cuối cùng của lòng thương xót chính là một khởi đầu mới.
Lm. Anmai, CSsR

LINH MỤC LÀ NGƯỜI CỦA THÁNH GIÁ
Có những câu nói về đời linh mục nghe qua tưởng rất đẹp, nhưng càng sống lâu trong chức thánh mới càng thấy chúng đẹp theo một cách rất khác: đẹp vì phải trả giá, đẹp vì có những giọt nước mắt không ai biết, đẹp vì đằng sau chiếc áo dòng, chiếc áo lễ, đằng sau những lần đứng trước cộng đoàn để nói về niềm vui và hy vọng, có khi là một con người đang âm thầm mang một thập giá rất nặng. Người ta thường gọi linh mục là người của bàn thờ, người của Thánh Thể, người của Lời Chúa, người của cộng đoàn, người của mọi người. Tất cả đều đúng. Nhưng nếu phải tìm một hình ảnh gom tất cả những căn tính ấy vào một điểm duy nhất, có lẽ phải nói rằng: linh mục là người của Thánh Giá. Bởi không có Thánh Giá thì chẳng có bàn thờ Kitô giáo; không có Thánh Giá thì chẳng có hy tế Thánh Thể; không có Thánh Giá thì Lời được rao giảng dễ trở thành những lời đẹp đẽ nhưng không có sức cứu độ; không có Thánh Giá thì đời mục tử dễ biến thành nghề nghiệp; không có Thánh Giá thì chức linh mục có thể chỉ còn là một địa vị tôn giáo, một vai trò xã hội, một chiếc áo mà người ta mặc lên người, chứ chưa hẳn là một cuộc đời được hiến tế. Chúa Giêsu không cứu thế gian bằng một bài diễn thuyết. Người không cứu nhân loại bằng phép lạ hóa bánh ra nhiều, dù phép lạ ấy làm hàng ngàn người kinh ngạc. Người không cứu thế gian bằng việc làm cho dân chúng tung hô mình. Người cứu thế gian khi hai tay bị đóng vào gỗ, đôi chân không còn bước đi được nữa, môi khô khát, thân thể rách nát, trái tim bị đâm thâu và đến hơi thở cuối cùng cũng trao lại cho Chúa Cha. Chính ở nơi mà mắt người đời chỉ thấy thất bại, Thiên Chúa lại hoàn tất công trình cứu độ. Và cũng từ đó, người linh mục hiểu rằng đời mình chỉ thật sự sinh hoa trái khi dám để đời mình mang hình dáng của Thánh Giá Đức Kitô.
Tin Mừng kể một chi tiết khiến người ta phải dừng lại thật lâu. Sau khi Phêrô tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, Chúa Giêsu bắt đầu nói với các môn đệ rằng Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ, phải bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại. Phêrô nghe vậy liền kéo Người ra và trách: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” Có lẽ Phêrô thương Thầy thật. Có lẽ ông nghĩ rằng đã là Đấng Kitô thì phải chiến thắng, đã là Con Thiên Chúa thì sao lại chịu nhục nhã, đã có quyền năng làm người chết sống lại thì tại sao phải để mình bị giết. Nhưng Chúa Giêsu quay lại và nói một câu rất nặng: “Xa-tan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” Rồi Người nói với mọi người: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (x. Mt 16,21-24). Điều đáng suy nghĩ là Chúa không chỉ nói lời đó cho những người sống đời gia đình, cho bệnh nhân, người nghèo hay những người đang gặp bất hạnh. Lời ấy trước hết được nói với các môn đệ, với những người sẽ trở thành nền móng của Hội Thánh, những người sẽ được sai đi rao giảng và trao ban các bí tích. Nghĩa là ngay từ đầu, ơn gọi tông đồ đã được đặt dưới bóng Thánh Giá. Không thể theo Đức Kitô mục tử mà lại muốn tránh con đường Đức Kitô đã đi. Không thể cầm lấy chén của Người trên bàn thờ mà lại từ chối chén đắng trong đời thường. Không thể đọc lời truyền phép “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con” mỗi ngày mà đời mình lại nhất quyết không muốn bị bẻ ra cho bất cứ ai.
Mỗi lần linh mục cầm tấm bánh trắng trong tay và đọc: “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con”, đó không chỉ là lời của Chúa Giêsu được lặp lại. Đó còn phải trở thành chương trình sống của chính người đang đọc lời ấy. Thật đáng sợ nếu bàn tay nâng Mình Thánh lên rất cao mà cuộc đời lại giữ cho mình quá nhiều. Thật đáng buồn nếu miệng đọc “bị nộp vì các con” nhưng trái tim lại chỉ muốn được người khác phục vụ. Thật mâu thuẫn nếu mỗi ngày linh mục bẻ bánh trên bàn thờ mà nhất định không chịu để thời giờ mình bị bẻ ra, sức khỏe mình bị bẻ ra, chương trình riêng mình bị bẻ ra, sự tiện nghi mình bị bẻ ra, lòng tự ái mình bị bẻ ra vì đoàn chiên. Chính Thánh Thể dạy linh mục nghệ thuật bị bẻ ra. Tấm bánh nguyên vẹn thì đẹp nhưng chưa nuôi được ai cho đến khi được bẻ ra và trao đi. Cuộc đời một linh mục cũng vậy. Một linh mục quá giữ mình, quá bảo vệ mình, quá tính toán phần mình, quá sợ thiệt thòi, có thể vẫn là một người rất chỉnh tề, rất đúng giờ, rất có tổ chức, nhưng chưa chắc đã trở thành tấm bánh cho đoàn chiên.
Có những thập giá của linh mục ai cũng nhìn thấy: bệnh tật, tuổi già, những nơi truyền giáo khó khăn, những giáo xứ nghèo, những công việc nặng nhọc, những hiểu lầm công khai. Nhưng có vô vàn thập giá chẳng ai nhìn thấy. Đó có thể là một buổi tối sau khi mọi người đã về hết, nhà xứ im lặng, linh mục ngồi một mình với nỗi buồn không biết kể cho ai. Đó có thể là lúc vừa chôn cất một người trẻ, vừa nhìn người mẹ khóc bên quan tài con, mà vài phút sau vẫn phải đứng lên an ủi người khác dù lòng mình cũng quặn đau. Đó có thể là những đêm nghe điện thoại vì một gia đình đang tan vỡ, một bệnh nhân sắp chết muốn gặp cha, một người tuyệt vọng đang cần một lời để bám víu. Đó có thể là lúc bị hiểu lầm mà không thể giải thích hết; bị người mình từng giúp quay lại trách móc; bị một câu nói trên mạng xã hội làm tổn thương; bị so sánh với linh mục này, linh mục kia; bị yêu cầu phải hoàn hảo đến mức người ta quên rằng linh mục cũng chỉ là một con người được gọi từ giữa những con người yếu đuối. Thập giá ấy cũng có thể là sự cô đơn rất riêng của đời độc thân: không vợ, không con, không một mái gia đình riêng để trở về sau một ngày mệt mỏi. Có người nhìn đời linh mục và nghĩ rằng cha nào cũng đông người chung quanh, đi đâu cũng được chào hỏi, lễ nào cũng có người thưa gửi. Nhưng đông người chung quanh không có nghĩa là không cô đơn. Có những cô đơn chỉ người mang nó mới hiểu. Có những nỗi đau không thể kể cho giáo dân vì sợ làm họ buồn, không thể kể với gia đình vì sợ cha mẹ lo, không dễ kể với anh em vì mỗi người cũng có thập giá riêng. Và trong những giờ ấy, nếu không biết quỳ xuống dưới chân Thánh Giá, người linh mục dễ trở nên cay đắng, khép kín hoặc tìm những bù đắp không lành mạnh. Chỉ Thánh Giá mới dạy người linh mục rằng cô đơn không nhất thiết là bị bỏ rơi; cô đơn có thể trở thành nơi gặp gỡ Đấng cũng từng nói: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”
Thập giá lớn của linh mục nhiều khi không phải là làm nhiều việc, mà là yêu những người không dễ thương. Yêu người biết ơn thì không khó. Yêu người luôn đồng ý với mình cũng không quá khó. Nhưng mục tử không được chọn đoàn chiên theo sở thích. Trong đàn chiên có con ngoan, có con bướng; có người nâng đỡ cha, cũng có người chỉ trích; có người đến với lòng chân thành, cũng có người mang theo những đòi hỏi vô lý; có người một câu nói là hiểu, có người nói mười lần vẫn không hiểu; có người được giúp rồi âm thầm biết ơn, có người được giúp rồi vẫn quay lại trách cha giúp chưa đủ. Mục tử không được quyền nói: “Người này tôi thích nên tôi phục vụ; người kia tôi không thích nên thôi.” Chúa Giêsu không chết cho một nhóm người dễ thương. Trên Thánh Giá có cả những kẻ đang chế nhạo Người. Và chính lúc bị đóng đinh, Người vẫn cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Nếu linh mục là người của Thánh Giá, người linh mục phải học yêu cả người làm mình đau. Không có nghĩa là dung túng sai trái, không có nghĩa là không được sửa sai, không có nghĩa là cứ để người khác chà đạp mình. Nhưng có nghĩa là ngay khi phải nói một lời cứng rắn, lòng vẫn không được chất chứa hận thù; ngay khi phải giữ khoảng cách, vẫn cầu nguyện cho người ấy; ngay khi bị xúc phạm, vẫn cố không biến bục giảng thành nơi trả đũa. Một bài giảng dùng để “nói ai đó cho bõ tức” thì dù có trích bao nhiêu câu Kinh Thánh cũng đã rời xa Thánh Giá.
Có một thập giá rất âm thầm khác: thập giá của sự trung thành. Người ta dễ xúc động với những hy sinh lớn, nhưng đời linh mục phần lớn không được làm nên bởi những việc phi thường. Đời linh mục được làm nên bằng hàng ngàn việc nhỏ lặp đi lặp lại trong hàng chục năm: thức dậy khi chuông báo thức vang lên dù thân thể mệt; đọc kinh khi tâm hồn khô khan; dâng lễ cả khi lòng chẳng cảm thấy gì; ngồi tòa giải tội cả khi người đến xưng tội thưa thớt; chuẩn bị bài giảng dù tuần nào cũng phải giảng; đến với bệnh nhân dù trời mưa; nghe lại một câu chuyện mà người già đã kể nhiều lần; kiên nhẫn với một em thiếu nhi nghịch ngợm; đi họp khi không muốn họp; hoàn thành công việc chẳng ai biết; sống tử tế cả lúc chẳng ai nhìn. Cái khó của ơn gọi không chỉ là một lần dâng mình, mà là dâng mình mỗi ngày. Ngày chịu chức, linh mục có thể nằm phủ phục trên nền nhà thờ trong tiếng hát Kinh Cầu Các Thánh. Khoảnh khắc đó long trọng và cảm động. Nhưng cuộc phủ phục thật sự kéo dài suốt đời. Có những ngày người linh mục phải phủ phục trong ý chí của mình, để nói với Chúa: “Con không muốn, nhưng nếu Chúa muốn, con xin vâng.” Có những mùa đời chẳng còn tiếng đàn, chẳng còn hoa, chẳng còn lời chúc mừng, chỉ còn một tiếng “xin vâng” khô khốc được lặp lại giữa đời thường. Chính những tiếng “xin vâng” chẳng ai nghe ấy mới làm nên chiều sâu của chức linh mục.
Linh mục là người của Thánh Giá còn vì linh mục được đặt giữa sự thánh thiện của Thiên Chúa và sự yếu đuối của chính mình. Đây có lẽ là thập giá đau nhất. Người linh mục rao giảng một Tin Mừng cao hơn chính đời sống mình. Người nói về cầu nguyện trong khi đôi khi chính mình chia trí. Người giảng về lòng bác ái nhưng bản thân vẫn có lúc nóng nảy. Người mời gọi người ta tha thứ trong khi trong lòng mình vẫn có vết thương chưa lành. Người trao bí tích Hòa Giải nhưng chính mình cũng cần đi xưng tội. Người nâng Mình Thánh Chúa bằng đôi tay đã được xức dầu, nhưng đôi tay ấy vẫn thuộc về một con người có thể mệt mỏi, yếu đuối và phạm tội. Nếu thiếu khiêm nhường, sự mâu thuẫn ấy sẽ phá hủy linh mục. Hoặc người ấy sẽ giả vờ hoàn hảo để bảo vệ hình ảnh, hoặc sẽ tuyệt vọng vì thấy mình không xứng đáng. Nhưng Thánh Giá mở ra một con đường khác: biết mình yếu mà vẫn để Chúa sử dụng; biết mình là bình sành mà kho tàng vẫn là của Thiên Chúa; biết chức linh mục không phải phần thưởng cho người hoàn thiện mà là ân sủng đặt vào một con người cần được cứu độ từng ngày. Linh mục không đứng trên cộng đoàn như một người không cần lòng thương xót. Linh mục đứng giữa cộng đoàn như một người đã được thương xót và được sai đi loan báo lòng thương xót.
Phêrô là một minh họa đẹp biết bao. Ông đã từng mạnh miệng: “Dầu mọi người có vấp ngã đi nữa, con cũng không.” Vậy mà chỉ vài giờ sau, trước một người tớ gái, ông thề rằng mình không biết Đức Giêsu là ai. Ba lần chối Thầy. Nếu Giáo Hội chỉ được xây trên những người chưa từng thất bại, có lẽ Phêrô đã bị loại ngay đêm Thứ Năm Tuần Thánh. Nhưng sau Phục Sinh, bên bờ hồ Tibêria, Chúa không hỏi ông: “Tại sao anh hèn thế?” Người cũng không hỏi: “Anh có hứa từ nay không phạm sai lầm nữa không?” Chúa hỏi ba lần: “Simon, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy không?” Và sau mỗi lần Phêrô thưa rằng mình yêu Chúa, Đức Giêsu trao cho ông một sứ mạng: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy” (x. Ga 21,15-17). Thật lạ! Người từng chối Thầy lại được trao đàn chiên. Người từng vấp ngã lại được đặt làm mục tử. Tại sao? Vì từ sau thất bại ấy, Phêrô không còn có thể chăn chiên bằng sự tự tin của một người nghĩ mình mạnh hơn người khác. Ông phải chăn chiên bằng trái tim của một người biết mình đã được tha thứ. Một linh mục chưa từng nếm trải lòng thương xót rất dễ nghiêm khắc với người yếu đuối. Một linh mục biết mình cũng được Chúa kéo lên từ những lần sa ngã sẽ biết cúi xuống với người khác. Không dung túng tội lỗi, nhưng không nghiền nát tội nhân. Không gọi bóng tối là ánh sáng, nhưng cũng không dập tắt cây lau bị giập.
Linh mục của Thánh Giá không phải là linh mục lúc nào cũng buồn. Thánh Giá Kitô giáo không phải biểu tượng của bi quan. Nếu chỉ có Thứ Sáu Tuần Thánh mà không có sáng Phục Sinh, Kitô giáo đã không tồn tại. Người linh mục của Thánh Giá phải là người có niềm vui rất sâu, nhưng đó không phải thứ vui hời hợt tùy thuộc hôm nay giáo dân có khen mình hay không, công việc có thuận lợi hay không, sức khỏe có tốt hay không. Đó là niềm vui của người biết rằng đời mình thuộc về Chúa. Có những linh mục già, đi chậm, mắt mờ, sức yếu, chẳng còn làm được những công trình lớn, chẳng còn giảng hùng hồn, nhưng chỉ cần ngồi cạnh các ngài đã thấy bình an. Vì sau mấy chục năm mang Thánh Giá, Thánh Giá đã bào mòn trong các ngài nhiều góc cạnh của cái tôi. Có những người trẻ tài năng nhưng ở gần làm người ta căng thẳng; có những người già chẳng còn mấy tài năng nhưng ở gần lại thấy nhẹ lòng. Đó có lẽ là một trong những phép lạ đẹp nhất của Thánh Giá: nếu để Chúa làm việc, đau khổ không nhất thiết làm con người cay độc; nó có thể làm con người hiền hơn.
Linh mục là người của Thánh Giá còn vì sứ mạng của linh mục thường là đứng ở những nơi người khác muốn tránh. Khi một em bé chào đời, người ta vui, linh mục đến chúc lành. Khi đôi bạn trẻ cưới nhau, mọi người mặc đẹp, chụp hình, cười nói, linh mục đứng đó chứng kiến giao ước. Nhưng khi một người hấp hối, linh mục cũng phải đến. Khi một gia đình nhận tin ung thư, linh mục được gọi đến. Khi một người vừa qua đời, căn nhà đầy tiếng khóc, linh mục có mặt. Khi một người mang tội nặng nhiều năm, xấu hổ bước vào tòa giải tội, linh mục ngồi đó. Khi một cuộc hôn nhân bên bờ tan vỡ, linh mục nghe hai phía trong hàng giờ. Khi một người trẻ mất phương hướng, khi một người mẹ khóc vì con hư, khi một người cha tuyệt vọng vì thất nghiệp, khi một cụ già cảm thấy mình trở thành gánh nặng, người linh mục được mời bước vào những vùng đau đớn ấy. Không phải để giải quyết tất cả, bởi linh mục không phải là Đấng Cứu Thế. Nhưng để mang một chút sự hiện diện của Đấng Cứu Thế vào đó. Có những lúc chẳng còn lời gì để nói. Chính lúc ấy, người linh mục hiểu rằng mục vụ không luôn luôn là trả lời. Có khi mục vụ chỉ là ngồi xuống bên cạnh người đang khóc. Đức Maria dưới chân Thập Giá chẳng nói gì. Gioan cũng chẳng nói gì. Nhưng họ ở đó. Có những nỗi đau không cần một bài thần học; nó cần một người không bỏ đi.
Vì thế, một nguy hiểm lớn của đời linh mục là tìm cách chạy khỏi Thánh Giá bằng công việc. Người ta có thể rất bận mà vẫn đang chạy trốn Chúa. Có linh mục làm hết dự án này đến dự án kia, xây hết công trình này đến công trình kia, tổ chức hết chương trình này đến chương trình khác, điện thoại không ngừng, lịch kín mít, nhưng bên trong không còn một khoảng thinh lặng nào để Chúa hỏi: “Con có yêu Thầy không?” Hoạt động mục vụ rất cần, nhưng hoạt động không thể thay cho tương quan với Chúa. Chúa gọi Nhóm Mười Hai trước hết “để các ông ở với Người”, rồi mới sai họ đi rao giảng. Nếu chỉ “đi” mà không còn “ở với”, linh mục sớm muộn sẽ kiệt sức hoặc biến việc của Chúa thành việc của mình. Dưới chân Thánh Giá, linh mục phải học bỏ xuống những ảo tưởng cứu thế của mình. Giáo xứ này không phải của tôi. Hội đoàn này không phải của tôi. Công trình này không phải của tôi. Thành công này cũng không phải của tôi. Ngay cả những người tôi đã rửa tội, đã dạy giáo lý, đã giúp đỡ, họ vẫn là chiên của Chúa, không phải tài sản tinh thần của tôi. Một mục tử lành mạnh phải có khả năng yêu người ta thật sâu mà không sở hữu người ta.
Thánh Giá cũng thanh luyện cơn cám dỗ quyền lực. Chức linh mục mang theo một thẩm quyền thật, nhưng thẩm quyền trong Tin Mừng luôn mang hình Thánh Giá. Trong bữa Tiệc Ly, khi các môn đệ còn tranh luận ai là người lớn nhất, Chúa Giêsu đứng dậy, cởi áo ngoài, lấy khăn thắt lưng, cúi xuống rửa chân cho họ. Một Thiên Chúa quỳ dưới chân con người. Đó là khuôn mẫu quyền bính của linh mục. Quyền để phục vụ chứ không phải để được phục vụ; quyền để nâng người khác lên chứ không phải làm người khác sợ mình; quyền để bảo vệ người yếu chứ không bảo vệ cái tôi; quyền để nói sự thật nhưng nói với tình yêu. Khi linh mục dùng chức thánh để buộc mọi người phải chiều ý mình, dùng bục giảng để gây áp lực, dùng vị trí mục tử để tìm đặc quyền, lúc ấy Thánh Giá bị che khuất. Đức Kitô trên Thánh Giá không có gì để khoe. Áo cũng bị lột. Danh dự bị lấy mất. Quyền lực theo mắt người đời chẳng còn. Người chỉ còn tình yêu. Và chính khi chẳng còn gì ngoài tình yêu, Người cứu thế giới.
Có khi Thánh Giá của linh mục đến từ chính Hội Thánh mà mình yêu. Điều này rất đau và rất khó nói. Những bất đồng, những quyết định không như mong muốn, những lần bị thuyên chuyển khỏi nơi mình gắn bó, những hiểu lầm giữa anh em, những va chạm trong cộng đoàn, những lúc cảm thấy mình không được lắng nghe. Người linh mục có thể chịu đau bởi chính những người cùng bàn thờ với mình. Nhưng Chúa Giêsu cũng đã đau vì một trong Nhóm Mười Hai bán Người, một người khác chối Người và gần như tất cả bỏ chạy. Thánh Giá không bao giờ lý tưởng hóa cộng đoàn. Hội Thánh thánh thiện vì Đức Kitô thánh thiện, nhưng Hội Thánh vẫn mang trong mình những con người yếu đuối. Yêu Hội Thánh không có nghĩa là nhắm mắt trước khuyết điểm. Nhưng yêu Hội Thánh nghĩa là không bỏ Hội Thánh chỉ vì Hội Thánh làm mình đau. Một người con trưởng thành có thể thấy rõ những vết nhăn trên gương mặt mẹ mà vẫn yêu mẹ. Một linh mục trưởng thành cũng vậy: biết Hội Thánh có những giới hạn nơi con người mà vẫn giữ lòng trung thành với Hiền Thê của Đức Kitô.
Và chắc chắn không thể nói linh mục là người của Thánh Giá mà không nói đến sự khiết tịnh độc thân. Độc thân linh mục không phải là không biết yêu, càng không phải là trái tim bị khóa lại. Ngược lại, linh mục được mời gọi yêu rất nhiều. Nhưng chính vì yêu nhiều, đời độc thân cũng mang một dạng nghèo đặc biệt. Linh mục chia sẻ niềm vui của biết bao gia đình nhưng không có gia đình riêng theo nghĩa hôn nhân. Linh mục rửa tội cho bao trẻ nhỏ nhưng không có đứa trẻ nào gọi mình là cha theo huyết thống. Linh mục chứng kiến bao người có một bàn tay nắm lấy lúc bệnh đau, nhưng chính mình có thể bước vào tuổi già trong một căn phòng rất yên lặng. Nếu không đặt đời độc thân dưới chân Thánh Giá, người ta dễ biến nó thành gánh nặng khô cứng. Nhưng nếu sống trong tình yêu Đức Kitô, sự từ bỏ ấy trở thành khoảng trống để trái tim rộng hơn. Điều quan trọng không phải chỉ là “không lập gia đình”, mà là để sự từ bỏ ấy sinh ra khả năng làm cha theo một cách khác: người cha biết lắng nghe, người cha bảo vệ, người cha không chiếm hữu, người cha sinh con trong đức tin.
Linh mục còn phải mang Thánh Giá của thời đại. Xã hội hôm nay đòi người linh mục rất nhiều và đôi khi đòi những điều trái ngược nhau. Người ta muốn linh mục gần gũi nhưng đừng quá gần; hiện đại nhưng đừng mất truyền thống; nói mạnh nhưng đừng làm ai khó chịu; nghèo nhưng cơ sở phải đẹp; bận rộn phục vụ nhưng lúc nào gọi cũng phải có mặt; giảng ngắn nhưng phải sâu; sống bình thường nhưng phải hoàn hảo. Một sơ suất nhỏ của linh mục có thể được phóng đại trên mạng. Một câu nói bị cắt khỏi bối cảnh có thể trở thành đề tài cho hàng trăm bình luận. Không nên dùng điều đó để biện minh cho sai lỗi của giáo sĩ. Linh mục phải sống minh bạch, có trách nhiệm, biết sửa sai. Nhưng người linh mục cũng phải học chấp nhận rằng mình không thể làm hài lòng tất cả. Chúa Giêsu là Đấng hoàn hảo mà vẫn bị chống đối. Một linh mục cố làm vừa lòng mọi người cuối cùng sẽ không còn tự do để làm điều đúng. Câu hỏi không thể là: “Người ta sẽ nói gì về tôi?” Câu hỏi phải là: “Chúa muốn tôi làm gì?” Đôi khi trung thành với Tin Mừng sẽ khiến linh mục được yêu. Đôi khi cũng chính sự trung thành ấy làm linh mục bị hiểu lầm. Thánh Giá nằm ở đó.
Nhưng xin đừng nghĩ rằng Thánh Giá của linh mục chỉ đến từ bên ngoài. Thập giá nặng nhất nhiều khi là cái tôi của chính mình. Người khác làm mình đau một lần, nhưng lòng tự ái có thể nhắc lại nỗi đau ấy một trăm lần. Một lời phê bình có thể chỉ dài vài giây, nhưng trong đầu mình nó vang nhiều ngày. Một người được bổ nhiệm nơi mình mong muốn thì vui; người khác được tín nhiệm hơn mình thì chạnh lòng; thấy anh em thành công thì nói chúc mừng nhưng sâu bên trong vẫn có chút so sánh. Chức thánh không tự động xóa bỏ tính ganh tị, tự ái, tham vọng. Người linh mục vẫn phải chiến đấu với con người cũ từng ngày. Vì vậy “từ bỏ mình” trong lời Chúa không phải một ý niệm đạo đức xa xôi. Có khi từ bỏ mình là để người khác được đúng trong chuyện nhỏ. Có khi là xin lỗi trước. Có khi là không cần thanh minh một chuyện chẳng đáng. Có khi là vui vì anh em được yêu mến hơn mình. Có khi là chấp nhận một nhiệm sở không như ý. Có khi là bước xuống khỏi một công việc mình đã xây dựng để người khác tiếp tục. Thánh Giá không phải lúc nào cũng bằng gỗ. Nhiều Thánh Giá có hình dáng của hai chữ: buông mình.
Chúa Giêsu nói với Phêrô sau Phục Sinh một câu rất lạ: “Khi còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy và đi đâu tùy ý; nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn.” Tin Mừng chú thích rằng Người nói vậy để ám chỉ Phêrô sẽ phải chết cách nào mà tôn vinh Thiên Chúa. Rồi Chúa nói: “Hãy theo Thầy” (Ga 21,18-19). Có lẽ đây là một trong những lời diễn tả sâu nhất về sự trưởng thành của đời linh mục. Thuở ban đầu, một linh mục trẻ thường có nhiều dự tính: mình muốn làm thế này, xây thế kia, đổi mới việc nọ. Nhiệt huyết ấy quý lắm. Nhưng qua năm tháng, Chúa dần dạy một bài khác: không còn chỉ là mình dẫn đời mình đi, mà là để Chúa dẫn mình đến nơi mình không chọn. Nơi ấy có thể là một nhiệm sở khó. Một căn bệnh. Một sự thất bại. Một tuổi già ít người nhớ tới. Một giai đoạn chẳng còn được giao việc quan trọng. Và câu “Hãy theo Thầy” vẫn vang lên. Theo Chúa lúc được truyền chức thì dễ xúc động. Theo Chúa năm thứ ba có thể vẫn còn nhiều lửa. Nhưng theo Chúa sau ba mươi, bốn mươi, năm mươi năm, khi bao ảo tưởng đã rơi xuống, khi thân thể không còn mạnh, khi bạn bè có người đã nằm xuống, khi mình không còn là trung tâm của bất cứ chương trình nào – đó là thứ trung thành rất đẹp.
Người linh mục của Thánh Giá cũng phải biết khóc với người khóc, nhưng không để nỗi đau của thế gian làm mình tuyệt vọng. Mỗi ngày linh mục tiếp xúc với vô số đổ vỡ. Nếu thật sự lắng nghe, linh mục sẽ mang trong lòng nhiều câu chuyện không thể kể lại vì bí mật mục vụ: những phản bội trong hôn nhân, những người con nghiện ngập, những người mẹ mất con, những người nghèo bị đối xử bất công, những thanh niên tuyệt vọng, những người phạm tội nặng đang cố bắt đầu lại. Người linh mục phải học đặt tất cả vào vết thương cạnh sườn Chúa. Nếu giữ hết trong mình, sớm muộn sẽ quá tải. Mục tử không phải chiếc thùng chứa đau khổ; mục tử phải là con đường chuyển những đau khổ ấy về cho Chúa. Có một câu rất đơn giản mà người linh mục cần nói nhiều lần trong đời: “Lạy Chúa, con không cứu được người này. Con trao họ cho Chúa.” Đó không phải vô trách nhiệm. Đó là khiêm nhường. Chỉ có một Đấng Cứu Thế, và linh mục không phải Đấng ấy.
Thánh Giá còn dạy linh mục nghệ thuật thất bại. Có những chương trình linh mục hết lòng thực hiện nhưng không thành. Có người mình đồng hành nhiều năm rồi vẫn quay về lối cũ. Có một gia đình mình cố hòa giải nhưng cuối cùng vẫn tan vỡ. Có một người trẻ từng rất sốt sắng rồi bỏ nhà thờ. Có lúc mình giảng bằng cả tâm huyết nhưng chẳng biết có ai nghe không. Nếu lấy thành quả làm thước đo duy nhất, đời mục tử sẽ nhiều thất vọng. Đức Giêsu đã rao giảng cho đám đông nhưng cuối đời dưới chân Thánh Giá chỉ còn vài người. Nếu chụp một bức ảnh trên Canvê lúc ba giờ chiều Thứ Sáu, người ta có thể kết luận sứ vụ của Đức Giêsu hoàn toàn thất bại. Nhưng Thiên Chúa đang làm công trình lớn nhất trong chính khoảnh khắc ấy. Người linh mục phải tin rằng có những hạt giống mình gieo mà mình không được nhìn thấy ngày thu hoạch. Có những lời giảng hôm nay tưởng rơi vào khoảng không nhưng hai mươi năm sau có thể trở lại trong trí nhớ một người lúc họ đứng trước quyết định quan trọng. Mục tử gieo. Thiên Chúa làm cho mọc.
Một linh mục thật sự thuộc về Thánh Giá sẽ ngày càng bớt hỏi: “Tôi được gì?” và hỏi nhiều hơn: “Anh chị em có được sống không?” Chúa Giêsu nói: “Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.” Hy sinh mạng sống không nhất thiết phải tử đạo bằng máu. Có một thứ tử đạo từng giọt: mỗi ngày cho đi một chút thời gian, một chút sức lực, một chút quyền riêng tư, một chút dự tính của mình. Tử đạo khi đang định nghỉ thì có người cần. Tử đạo khi đã mệt vẫn nghe thêm một câu chuyện. Tử đạo khi bị hiểu sai mà vẫn giữ lòng hiền. Tử đạo khi phục vụ một cộng đoàn lâu năm mà không đòi họ phải nhớ ơn. Tử đạo khi rời nơi mình yêu thương mà không biến sự ra đi thành một bi kịch để mọi người phải thương hại mình. Những cái chết nhỏ ấy không xuất hiện trên báo chí. Nhưng chính chúng làm cho đời linh mục có mùi của Đức Kitô.
Dẫu vậy, nói về Thánh Giá tuyệt đối không có nghĩa là cổ võ linh mục tự hủy mình, bỏ bê sức khỏe hay chấp nhận mọi lạm dụng. Chúa Giêsu vác Thánh Giá vì tình yêu, không phải vì Người coi đau khổ tự nó là tốt. Có những linh mục tưởng rằng càng kiệt sức càng thánh thiện, càng không nghỉ ngơi càng nhiệt thành. Không phải vậy. Người mục tử cũng cần nghỉ, cần bạn bè lành mạnh, cần chăm sóc sức khỏe thể lý và tâm lý, cần những khoảng thinh lặng, cần đời sống cộng đoàn. Chấp nhận Thánh Giá khác với tự tạo thánh giá. Khi một linh mục biết chăm sóc bản thân cách quân bình để có thể phục vụ bền bỉ hơn, đó không phải ích kỷ. Ngay Chúa Giêsu cũng từng nói với các môn đệ: “Anh em hãy lánh riêng ra một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” Thánh Giá phải là hậu quả của tình yêu trung thành, chứ không phải của sự thiếu khôn ngoan.
Và nếu có ngày nào người linh mục thấy Thánh Giá quá nặng thì sao? Xin hãy nhớ Đức Giêsu đã ngã trên đường Canvê. Truyền thống Đàng Thánh Giá giúp chúng ta suy niệm những lần Người ngã xuống. Điều đó nói với linh mục rằng mệt không phải là phản bội ơn gọi. Khóc không phải là mất đức tin. Có lúc cần người khác giúp mình không phải là yếu hèn. Chính Chúa Giêsu đã để Simon thành Kyrênê vác đỡ Thánh Giá. Người linh mục vốn quen đỡ người khác cũng phải học để người khác đỡ mình. Một trong những cám dỗ nguy hiểm là nghĩ mình phải luôn mạnh. Không. Mục tử cũng là chiên. Linh mục cũng cần một linh mục khác nghe mình. Cũng cần bí tích Hòa Giải. Cũng cần linh hướng. Cũng cần anh em. Cũng cần có những người mình có thể nói thật rằng: “Hôm nay tôi mệt.” Simon thành Kyrênê trong đời linh mục có thể là một người anh em, một người bạn, một cộng đoàn, một giáo dân trưởng thành, một bác sĩ, một người đồng hành thiêng liêng. Đón nhận sự giúp đỡ cũng là một hình thức khiêm nhường dưới chân Thánh Giá.
Đẹp biết bao nếu mỗi linh mục thỉnh thoảng đứng thật lâu trước Thánh Giá trong phòng mình, không để giảng, không chuẩn bị bài, không xin gì cho ai, chỉ đứng đó với tư cách một người môn đệ. Nhìn đôi tay bị đóng đinh và hỏi: đôi tay tôi đang dùng cho ai? Nhìn đôi chân bị đóng và hỏi: những bước chân tôi đang đi về đâu? Nhìn cạnh sườn bị mở ra và hỏi: trái tim tôi còn mở hay đã đóng lại vì những tổn thương? Nhìn chiếc mão gai và hỏi: tôi còn quá bận tâm đến danh dự của mình không? Nhìn thân thể trần trụi và hỏi: nếu mất những gì người ta đang kính trọng nơi tôi – chức vụ, trách nhiệm, uy tín – tôi còn biết mình là ai trước mặt Chúa không? Và nhìn vào đôi mắt của Đấng chịu đóng đinh để nghe lại câu hỏi đầu tiên của ơn gọi: “Con có yêu Thầy không?”
Cuối cùng, đời linh mục không được cứu bởi thành tích nhưng bởi tình yêu. Đến ngày nhắm mắt, có lẽ Chúa không hỏi người linh mục đã xây bao nhiêu nhà thờ, tổ chức bao nhiêu chương trình, có bao nhiêu người theo dõi, giảng bao nhiêu bài hay, được bao nhiêu người biết đến. Có lẽ câu hỏi vẫn đơn giản như bên hồ Tibêria: “Con có yêu Thầy không?” Và câu trả lời thật nhất không nằm ở môi miệng mà nằm trong những vết chai của một đời phục vụ, những vết thương đã được tha thứ, những người nghèo từng được nâng dậy, những tội nhân từng được đón về, những bệnh nhân từng được xức dầu, những người chết từng được tiễn đưa, những Thánh lễ được dâng lên trong cả sốt sắng lẫn khô khan, những giờ cầu nguyện chẳng ai biết, những giọt nước mắt rơi xuống trong thinh lặng, những lần ngã rồi đứng dậy.
Ngày chịu chức, đôi tay linh mục được xức dầu thánh hiến. Nhưng cả cuộc đời sau đó, Chúa còn tiếp tục “xức dầu” người linh mục bằng những điều chẳng dễ chịu chút nào: bằng trách nhiệm, bằng thất bại, bằng những con người khó tính, bằng tuổi tác, bằng bệnh tật, bằng những lần phải từ bỏ ý riêng. Nếu đón nhận trong đức tin, tất cả những điều ấy từ từ làm cho người linh mục trở nên giống Đấng mình cử hành mỗi ngày trên bàn thờ. Đến cuối cùng, điều đẹp nhất không phải người ta nói: “Cha ấy tài giỏi”, “cha ấy nổi tiếng”, “cha ấy làm được nhiều việc”. Điều đẹp nhất có lẽ chỉ là: “Ở nơi con người ấy, chúng tôi đã gặp được một chút khuôn mặt của Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh.”
Linh mục là người của Thánh Giá không phải vì linh mục yêu đau khổ, nhưng vì linh mục yêu Đức Kitô, mà Đức Kitô đã chọn yêu nhân loại đến cùng trên Thánh Giá. Linh mục không đi tìm đau khổ, nhưng khi đau khổ đến trên con đường trung thành, linh mục không bỏ chạy. Linh mục không khoe Thánh Giá mình mang, vì Thánh Giá càng thật thường càng âm thầm. Linh mục cũng không dùng Thánh Giá để buộc người khác thương hại mình. Người chỉ lặng lẽ mang nó sau Chúa, ngày này qua ngày khác, đôi khi mạnh mẽ, đôi khi run rẩy, đôi khi bước đi, đôi khi ngã xuống, nhưng rồi lại đứng lên và tiếp tục.
Và có lẽ lời cầu nguyện đẹp nhất của người linh mục cuối một ngày không cần dài: “Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, xin đừng cất khỏi đời con mọi Thánh Giá. Xin chỉ đừng để con mang Thánh Giá mà không có Chúa. Xin đừng để những đau khổ làm con cay đắng, nhưng làm con hiền hơn; đừng để những thất bại làm con nản lòng, nhưng làm con khiêm nhường hơn; đừng để những hiểu lầm làm con khép kín, nhưng làm con biết cảm thông hơn; đừng để tuổi đời làm con nguội lạnh, nhưng làm tình yêu trong con sâu hơn. Khi con được khen, xin giữ con dưới chân Thánh Giá. Khi con bị chê, xin cũng giữ con dưới chân Thánh Giá. Khi đông người tìm đến, xin đừng để con quên Chúa. Khi chẳng còn ai tìm đến, xin cho con biết Chúa vẫn ở đó. Và đến ngày con không còn đủ sức nâng chén thánh nữa, xin cho đời con trở thành chính chén lễ cuối cùng dâng lên Chúa.”
Bởi rồi một ngày, chiếc áo lễ sẽ được cất đi. Bàn tay từng ban phép lành sẽ nằm yên. Giọng nói từng đọc Tin Mừng sẽ im tiếng. Người ta sẽ đặt trên quan tài linh mục một cây Thánh Giá. Cây Thánh Giá ấy không chỉ là dấu hiệu của niềm tin vào sự sống lại. Nó còn như lời tóm kết cả một cuộc đời: người này đã được gọi để đi theo Đấng chịu đóng đinh. Người này đã từng có những yếu đuối, những giới hạn, những lần chưa sống trọn điều mình rao giảng. Nhưng người này đã cố gắng đứng dưới bóng Thánh Giá, đã nhiều lần bắt đầu lại, đã dùng đôi tay mình để trao Mình Thánh, dùng đôi môi mình để nói lời tha thứ, dùng những năm tháng đời mình để phục vụ dân Chúa. Và giờ đây, người ấy trao lại tất cả cho Đấng từng nói trên Thánh Giá: “Mọi sự đã hoàn tất.”
Ước gì mỗi linh mục, từ ngày đầu bước lên bàn thờ cho đến ngày cuối cùng rời khỏi thế gian, không bao giờ quên điều căn bản này: chức linh mục không đưa người ta ra khỏi Thánh Giá; chức linh mục đưa người ta đến gần Thánh Giá hơn. Càng gần Đức Kitô, càng gần những vết thương của Người. Nhưng cũng chính ở đó, càng gần nguồn sống. Bởi Thánh Giá không phải chữ cuối cùng. Sau Thánh Giá là Phục Sinh. Sau hạt lúa mục nát là mùa lúa mới. Sau một đời tự hiến là vòng tay của Đấng đã gọi mình từ thuở ban đầu. Và khi ấy, mọi gian nan của một đời linh mục sẽ trở nên thật nhỏ trước một lời mà người mục tử chỉ mong được nghe từ chính Chúa: “Hỡi người tôi tớ tốt lành và trung tín, hãy vào hưởng niềm vui của Chủ ngươi.”
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ LÀ “BÍ MẬT” CỦA TÌNH YÊU THIÊN CHÚA
Có những điều trong cuộc đời càng nói nhiều người ta càng thấy khó hiểu, nhưng cũng có những điều chỉ cần đứng thật lâu trước nó, im lặng thật sâu trước nó, để cho nó chạm vào lòng mình, thì tự nhiên người ta hiểu. Thánh Giá là một thực tại như thế. Người ta có thể viết hàng ngàn trang sách về Thánh Giá, có thể giảng hàng vạn bài về Thánh Giá, có thể dựng bao nhiêu thánh đường với Thánh Giá ở vị trí trang trọng nhất, có thể đeo Thánh Giá trên ngực suốt cả đời, nhưng vẫn có thể chưa hiểu được Thánh Giá. Bởi vì Thánh Giá không phải trước hết là một điều để hiểu bằng đầu óc, mà là một mầu nhiệm để bước vào bằng trái tim. Thánh Giá không phải một bài toán thần học cần tìm ra đáp số, nhưng là nơi Thiên Chúa mở trái tim của Người ra cho nhân loại nhìn thấy. Nếu phải tìm một nơi nào đó để biết Thiên Chúa yêu con người đến mức nào, đừng tìm nơi những lâu đài tráng lệ, đừng tìm nơi những phép lạ gây kinh ngạc, cũng đừng chỉ tìm nơi những phút đời êm đềm; hãy đi lên đồi Canvê, hãy đứng dưới chân một cây gỗ thô ráp, hãy nhìn một Con Người bị đóng đinh, đầu đội mão gai, đôi tay bị xuyên thủng, cạnh sườn bị đâm thâu, thân thể đầy thương tích, và rồi hãy nghe Người nói rất khẽ: “Ta yêu con.” Đó là bí mật của Thánh Giá. Đó cũng là bí mật của tình yêu Thiên Chúa.
Con người vốn thích một tình yêu dễ chịu. Ta thích yêu khi được yêu lại, thích cho đi khi được biết ơn, thích hy sinh khi người khác nhận ra sự hy sinh của mình, thích tha thứ khi người kia biết lỗi, thích phục vụ khi có người trân trọng, thích trung thành khi mọi sự thuận buồm xuôi gió. Thế nhưng tình yêu của Thiên Chúa lại đi theo một con đường khác. Người yêu ngay cả khi không được yêu lại. Người vẫn tìm kiếm khi con người chạy trốn. Người vẫn tha thứ khi con người phản bội. Người vẫn ban sự sống khi con người trao cho Người cái chết. Người vẫn gọi “bạn” kẻ đến bắt Người. Người vẫn nhìn Phêrô sau ba lần chối Thầy không bằng ánh mắt nguyền rủa nhưng bằng một cái nhìn khiến ông bật khóc. Người vẫn cầu xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ vừa đóng đinh mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Nếu tình yêu chỉ là cảm xúc thì Thánh Giá là một điều vô lý. Nếu tình yêu chỉ là trao đổi công bằng thì Thánh Giá là một sự thất bại. Nếu tình yêu chỉ dành cho người xứng đáng thì chẳng ai trong chúng ta có thể đứng dưới chân Thánh Giá mà hy vọng. Nhưng chính vì tình yêu Thiên Chúa không giống tình yêu của chúng ta nên Thánh Giá mới trở thành Tin Mừng. Chúa không yêu ta vì ta tốt. Chúa yêu ta để ta có thể trở nên tốt. Chúa không yêu ta vì ta thánh thiện. Chúa yêu ta ngay giữa khi ta còn yếu đuối, tội lỗi, phản nghịch, để tình yêu ấy có thể làm cho ta nên thánh. Thánh Phaolô đã nói một điều thật táo bạo: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” (Rm 5,8). Câu ấy phải được đọc rất chậm. Không phải khi chúng ta đã sửa mình. Không phải sau khi chúng ta đã đền bù. Không phải lúc chúng ta đã xứng đáng. Nhưng “ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi”. Chính ở đó bí mật được hé mở: Thiên Chúa yêu trước.
Tin Mừng theo thánh Gioan đưa ta đến gần nhất với bí mật ấy bằng câu Kinh Thánh quen thuộc đến mức đôi khi vì quá quen mà ta không còn run động khi nghe nữa: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Hãy để ý: Tin Mừng không nói Thiên Chúa yêu những người công chính đến nỗi ban Con Một; không nói Thiên Chúa yêu một nhóm nhỏ những người đạo đức; Tin Mừng nói Thiên Chúa yêu “thế gian”. Mà “thế gian” ấy là thế gian đầy ánh sáng nhưng cũng đầy bóng tối, có thánh thiện mà cũng có tội lỗi, có lòng trung thành nhưng cũng có phản bội, có những bàn tay cầu nguyện mà cũng có những bàn tay đóng đinh. Chính thế gian ấy được Thiên Chúa yêu. Và Người yêu không phải bằng một lời nói suông. Người “đã ban Con Một”. Tình yêu đích thực luôn có một cái giá. Thiên Chúa đã trả giá cho tình yêu của Người bằng chính Người Con yêu dấu. Vì thế, mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, ta không chỉ nhìn một người chết; ta nhìn thấy một tình yêu đã đi tới tận cùng. Chúa Giêsu nói trong bữa Tiệc Ly: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Nhưng chính Người còn đi xa hơn câu nói ấy, bởi Người không chỉ chết cho bạn hữu. Người chết cả cho những kẻ chống lại Người, những kẻ không hiểu Người, những kẻ bỏ rơi Người, những người chưa từng biết đến Người. Tình yêu ấy vượt quá mọi khuôn thước của con người.
Có lẽ vì thế mà người đời vẫn thường hiểu sai Thánh Giá. Có người nghĩ đạo Công giáo quá nặng nề vì đâu đâu cũng thấy Thánh Giá. Có người tự hỏi tại sao lại đặt một hình ảnh đau thương ngay chính giữa nhà thờ. Tại sao không chỉ treo hình Chúa Phục Sinh rạng rỡ? Tại sao cứ phải nhìn một thân thể bê bết máu, một khuôn mặt đau đớn, một cái chết nhục nhã? Câu trả lời là: bởi vì nếu bỏ Thánh Giá ra khỏi Kitô giáo, ta sẽ không còn biết tình yêu Thiên Chúa có hình dạng như thế nào. Thánh Giá không ca tụng đau khổ. Kitô giáo không phải một tôn giáo mê đau khổ. Thiên Chúa không vui khi thấy con người đau. Chúa Giêsu đã chữa người bệnh, cho kẻ đói ăn, làm người chết sống lại, an ủi người khóc lóc. Nhưng khi đau khổ không thể tránh khỏi vì lòng trung thành với tình yêu và sự thật, Người không bỏ chạy. Người bước vào đau khổ, mang lấy nó, biến nó thành nơi tình yêu chiến thắng. Chính điều đó làm cho Thánh Giá trở nên thánh. Không phải cái đau tự nó cứu độ, nhưng tình yêu ở trong cái đau ấy cứu độ. Không phải những chiếc đinh cứu chúng ta, nhưng là Đấng đã để người ta đóng đinh mình vì yêu. Không phải cây gỗ có sức cứu độ, nhưng là tình yêu của Con Thiên Chúa được trao hiến trên cây gỗ ấy.
Ngày nay con người tìm mọi cách tránh đau khổ. Điều đó tự nhiên và chính đáng. Ta chữa bệnh, giảm đau, cải thiện đời sống, tìm công bằng, chống bạo lực, đó đều là điều tốt. Nhưng có một ảo tưởng nguy hiểm khi ta tin rằng một đời sống tốt đẹp phải là một đời sống không có thập giá. Không có cuộc đời nào như thế. Người giàu có thập giá của người giàu. Người nghèo có thập giá của người nghèo. Người kết hôn có thập giá của hôn nhân. Người độc thân có thập giá của cô đơn. Linh mục có thập giá của đời linh mục. Tu sĩ có thập giá của đời thánh hiến. Cha mẹ có thập giá của con cái. Con cái có thập giá của cha mẹ. Người khỏe mạnh rồi cũng gặp giới hạn. Người thành công cũng có những đêm mất ngủ. Có những thập giá người khác nhìn thấy, và cũng có những thập giá người ta giấu rất kỹ sau một nụ cười. Có những người bước vào nhà thờ rất bình thường nhưng trái tim đang tan nát. Có người sáng nay vẫn cười nói mà tối về đóng cửa phòng khóc một mình. Có người mang trong lòng một nỗi đau không kể được với ai: một cuộc hôn nhân nguội lạnh, một người con xa Chúa, một món nợ không biết bao giờ trả nổi, một bệnh tật kéo dài, một sự phản bội chưa thể nguôi, một tuổi già bị lãng quên, một tương lai mịt mờ, một lời vu oan, một thất bại mà người ngoài chẳng biết. Chính tại đó Thánh Giá của Đức Kitô không còn là một biểu tượng treo trên tường nữa. Nó trở thành lời Chúa nói với từng người: “Ta biết. Ta đã ở đó. Ta đang ở với con.”
Đây có lẽ là một trong những nét dịu dàng nhất của mầu nhiệm Thánh Giá: Chúa không đứng trên trời mà giảng cho con người về đau khổ. Người xuống tận đáy đau khổ. Khi ta bị phản bội, ta có thể nhớ rằng Người từng bị Giuđa bán bằng một cái hôn. Khi ta bị bạn bè bỏ rơi, Người hiểu, vì các môn đệ đã chạy trốn. Khi ta bị hiểu lầm, Người hiểu, vì người ta gọi Người là kẻ phạm thượng. Khi ta bị xét xử bất công, Người hiểu, vì phiên tòa của Người là một trò nhạo báng công lý. Khi ta mất danh dự, Người hiểu, vì Người bị lột áo giữa đám đông. Khi thân xác ta đau đớn, Người hiểu, vì thân thể Người đã bị đánh đòn, đội mão gai và đóng đinh. Khi ta kêu lên mà tưởng như Thiên Chúa im lặng, Người hiểu, vì chính Người từng thốt: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Khi ta đối diện cái chết, Người cũng đã đi qua cửa ấy. Không có vực sâu nào của con người mà Đức Kitô chưa bước xuống. Vì thế, người Kitô hữu không tin vào một Thiên Chúa xa lạ với nước mắt. Ta tin vào một Thiên Chúa từng khóc. Không tin vào một Thiên Chúa đứng ngoài vết thương. Ta tin vào một Thiên Chúa mang thương tích ngay cả sau khi sống lại. Đấng Phục Sinh vẫn cho Tôma xem những dấu đinh. Thật kỳ lạ: Chúa đã sống lại, nhưng Người không xóa những vết thương. Những vết thương được biến đổi thành dấu chỉ của tình yêu.
Có người hỏi: Nếu Thiên Chúa yêu con người, tại sao Người để đau khổ xảy ra? Đây là một câu hỏi lớn, và chẳng có câu trả lời nào đủ sức làm một bà mẹ vừa mất con thôi khóc, hay khiến một bệnh nhân đang đau đớn lập tức thấy nhẹ nhàng. Trước những nỗi đau lớn, đôi khi lời khôn ngoan nhất là im lặng. Nhưng Thánh Giá ít nhất cho chúng ta biết điều này: bất cứ câu trả lời cuối cùng nào về đau khổ, Thiên Chúa đã không trả lời nó từ xa. Người trả lời bằng cách bước vào đau khổ của chúng ta. Người không giải thích đau khổ trước hết; Người mang lấy đau khổ. Người không nói với ta: “Hãy chịu đi.” Người nói: “Ta chịu với con.” Người không đứng cuối con đường và ra lệnh: “Đi tới đây.” Người đi trước, để lại dấu chân có máu trên đường và nói: “Hãy theo Thầy.” Đó là khác biệt vô cùng lớn. Khi một đứa trẻ đau mà mẹ ngồi bên, cơn đau chưa hết nhưng nó không còn đau một mình. Khi một người tuyệt vọng mà biết có ai thật sự hiểu mình, hoàn cảnh chưa thay đổi nhưng lòng họ đã có thể đứng dậy. Thánh Giá nói rằng nhân loại không đau khổ một mình nữa. Từ chiều Thứ Sáu năm ấy, mọi tiếng khóc của con người đều có một tiếng khóc của Thiên Chúa ở bên cạnh.
Nhưng bí mật sâu xa hơn nữa của Thánh Giá không chỉ là Thiên Chúa chịu đau với con người. Bí mật ấy là Thiên Chúa biến đau khổ thành tình yêu, biến thất bại thành ơn cứu độ, biến cái chết thành cửa ngõ dẫn đến sự sống. Đồi Canvê nhìn từ mắt người đời là một thất bại hoàn toàn. Chúa Giêsu không còn đám đông theo Người. Những người từng tung hô Người biến mất. Các môn đệ tản mác. Người bị xử như một tội nhân giữa hai tên gian phi. Không phép lạ nào xảy ra để kéo Người xuống. Không thiên thần nào đến giải cứu. Chẳng có một dấu hiệu nào của chiến thắng. Nhưng chính ở giây phút thế gian nghĩ rằng Chúa đã thua, tình yêu lại đang chiến thắng sâu nhất. Vì tội lỗi nói: “Hãy ghét kẻ giết mình”; Chúa nói: “Xin tha cho họ.” Bạo lực nói: “Hãy trả đũa”; Chúa im lặng và hiến mình. Sự dữ nói: “Tôi sẽ làm cho ông trở nên giống tôi”; Chúa trả lời bằng lòng thương xót. Đó là chiến thắng của Thánh Giá: cái ác có thể làm Chúa đau nhưng không thể làm Người ngừng yêu. Con người có thể đóng đinh Thiên Chúa nhưng không thể đóng đinh được tình yêu của Thiên Chúa. Cái chết có thể lấy đi hơi thở của Đức Giêsu trong ba ngày nhưng không thể chôn được sự sống đời đời.
Bởi vậy, câu “Người đã yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1) có lẽ là chiếc chìa khóa mở cánh cửa mầu nhiệm Thánh Giá. “Đến cùng” không chỉ có nghĩa là đến phút cuối đời. “Đến cùng” là đến tận giới hạn cuối cùng của tình yêu, đến chỗ không còn gì để giữ lại. Người đã cho lời giảng, cho phép lạ, cho thời gian, cho sức lực, cho tình bạn, cho Mình và Máu trong Bí tích Thánh Thể, rồi cuối cùng cho cả mạng sống. Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu không còn gì để trao nữa. Áo đã bị lấy. Danh dự bị tước. Tự do không còn. Tay bị đóng đinh nên không thể làm phép lạ. Chân bị đóng đinh nên không thể đi đâu. Và trong tình trạng hoàn toàn nghèo ấy, Người vẫn tiếp tục cho: Người cho kẻ trộm lành thiên đàng, cho Mẹ Maria người con mới là Gioan, cho Gioan một người Mẹ, cho những kẻ hành hình lời tha thứ, cho Chúa Cha chính thần khí của Người, cho nhân loại giọt máu và nước cuối cùng từ cạnh sườn. Một Thiên Chúa bị lấy hết mọi sự nhưng vẫn còn một điều không ai lấy được: khả năng yêu. Và Người yêu đến hơi thở cuối cùng.
Đứng trước một tình yêu như thế, câu hỏi quan trọng nhất không còn là “Tại sao Chúa phải chết như vậy?” mà là “Tôi sẽ làm gì với một tình yêu như vậy?” Có những người sống cả đời Công giáo mà chưa một lần để Thánh Giá làm mình sửng sốt. Ta làm dấu Thánh Giá quá nhanh. Ta nhìn tượng Chúa chịu nạn quá quen. Ta đeo Thánh Giá như món trang sức. Ta nghe đọc bài Thương Khó mỗi năm. Quen đến độ điều lẽ ra phải khiến ta khóc lại chẳng làm tim ta rung động. Có lẽ cần có những lúc ta ngồi một mình trước Thánh Giá, không xin gì cả, không đọc nhiều kinh, chỉ nhìn. Nhìn đôi bàn tay ấy và tự hỏi: “Ai đã giữ những bàn tay ấy trên Thập Giá?” Không phải chiếc đinh. Nếu Người muốn, Người có thể bước xuống. Tình yêu đã giữ Người lại. Nhìn cạnh sườn ấy và hỏi: “Tại sao trái tim ấy lại bị đâm mở?” Có lẽ để từ nay không một tội nhân nào có thể nói rằng cửa lòng thương xót đã đóng. Trái tim Chúa đã bị mở ra và mãi mãi mở. Nhìn khuôn mặt ấy và hỏi: “Người đang nghĩ đến ai?” Tin Mừng không cho ta biết hết. Nhưng đức tin dám nói rằng Người nghĩ đến từng người chúng ta. Trong hy lễ vượt thời gian của Người, mỗi người đều được yêu bằng một tình yêu riêng. Tôi không chỉ là một phần vô danh của “nhân loại”. Tôi là người được yêu.
Vì thế, Thánh Giá chữa một căn bệnh rất sâu của thời đại chúng ta: căn bệnh cảm thấy mình vô giá trị. Bao nhiêu người ngày nay đánh giá giá trị của mình bằng thành công, sắc đẹp, tiền bạc, bằng số người biết đến mình, số người thích mình, bằng lời khen của thiên hạ. Khi những thứ ấy mất đi, họ tưởng mình không còn gì. Nhưng người Kitô hữu có một thước đo khác. Muốn biết mình đáng giá bao nhiêu, hãy nhìn Thánh Giá. Giá của một con người là cái giá Thiên Chúa sẵn sàng trả để cứu người ấy. Thánh Phêrô viết: “Anh em đã được cứu chuộc không phải nhờ những của chóng hư nát như bạc hay vàng, nhưng nhờ máu châu báu của Đức Kitô” (1 Pr 1,18-19). Nếu Con Thiên Chúa đã trao máu mình vì ta thì không ai trên đời có quyền bảo ta là vô nghĩa, kể cả chính ta. Một thai nhi chưa chào đời có giá trị. Một người tàn tật có giá trị. Một cụ già mất trí nhớ có giá trị. Một người thất bại có giá trị. Một người từng phạm những lỗi rất nặng nhưng biết quay về vẫn có giá trị. Giá trị ấy không do xã hội ban và xã hội cũng không có quyền lấy đi. Thánh Giá đặt một phẩm giá vô giá trên từng phận người.
Nhưng cũng chính Thánh Giá đập tan sự kiêu ngạo của ta. Nếu tôi đã đáng yêu đến nỗi Chúa chết vì tôi, thì tôi cũng đã hư mất đến nỗi cần đến một cái chết như vậy để được cứu. Thánh Giá vừa nói phẩm giá của ta lớn lao, vừa nói tội lỗi của ta nghiêm trọng. Vì thế, người thật sự hiểu Thánh Giá sẽ không tuyệt vọng nhưng cũng không coi nhẹ tội. Họ không nói: “Tôi tệ quá, Chúa không thể tha.” Thánh Giá trả lời: “Máu Người đã đổ vì con.” Nhưng họ cũng không nói: “Tội chẳng sao.” Thánh Giá trả lời: “Nếu tội chẳng sao, tại sao Con Thiên Chúa phải đi tới tận đây?” Lòng thương xót không làm tội trở nên nhỏ. Lòng thương xót cho thấy tình yêu Thiên Chúa lớn hơn tội. Người Kitô hữu đứng dưới Thánh Giá vì thế vừa khóc vì tội mình vừa vui vì được tha. Một giọt nước mắt của sám hối và một nụ cười của hy vọng có thể cùng hiện diện trong một tâm hồn.
Hãy nhớ người trộm lành. Cả đời ông có thể đã làm biết bao điều sai trái. Giờ đây chẳng còn thời gian để sửa lại cuộc đời, chẳng còn cơ hội để trả những món nợ quá khứ, chẳng còn cách nào làm việc thiện lâu dài. Hai tay cũng bị đóng đinh. Ông chỉ còn một việc có thể làm: quay đầu nhìn Đức Giêsu và thưa: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Chúa trả lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Một người mất cả đời nhưng tìm được Thiên Chúa ở phút cuối. Đó không phải là sự rẻ rúng ân sủng. Đó là vẻ đẹp gây choáng ngợp của lòng thương xót. Người trộm chẳng còn gì để trình diện ngoài một trái tim biết mình cần được cứu. Và thế là đủ để trái tim bị đâm thâu của Đức Kitô mở cửa thiên đàng cho ông. Ai hiểu câu chuyện ấy sẽ không bao giờ dám nói về bất cứ tội nhân nào rằng: “Người ấy hết hy vọng rồi.” Khi còn một hơi thở, còn một khe nhỏ để ân sủng bước vào. Và ngay cả khi ta không nhìn thấy gì, ta vẫn trao con người ấy cho lòng thương xót Chúa.
Thánh Giá cũng làm thay đổi cách ta yêu nhau. Bởi người ta thường nói “yêu” rất nhiều, nhưng không phải thứ tình cảm nào mang tên yêu cũng thật sự là tình yêu. Có thứ yêu chiếm hữu. Có thứ yêu đòi hỏi. Có thứ yêu chỉ tồn tại khi người kia đáp ứng kỳ vọng. Có thứ yêu hôm nay nồng nàn, ngày mai lạnh nhạt. Chúa Giêsu cho tình yêu một tiêu chuẩn khác: “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Hai chữ “như Thầy” đáng sợ lắm. Nếu Người chỉ nói “hãy thương nhau” thì còn dễ. Nhưng Người đặt Thánh Giá làm thước đo. Yêu như Thầy nghĩa là biết cúi xuống. Yêu như Thầy nghĩa là đôi khi phải chịu thiệt. Yêu như Thầy nghĩa là không biến lỗi lầm của người khác thành vũ khí nhắc đi nhắc lại suốt đời. Yêu như Thầy nghĩa là trung thành cả khi cảm xúc không còn nồng nhiệt. Yêu như Thầy nghĩa là nói sự thật nhưng không dùng sự thật để giết nhau. Yêu như Thầy nghĩa là có thể tha thứ dù vết thương cần thời gian để lành. Yêu như Thầy nghĩa là muốn điều tốt cho người kia, chứ không chỉ muốn người kia làm ta vui.
Trong gia đình, bí mật của Thánh Giá được sống bằng những việc rất nhỏ. Một người chồng nhịn một câu có thể làm vợ tổn thương. Một người vợ không khơi lại lỗi cũ mỗi khi giận. Cha mẹ thức đêm bên đứa con bệnh. Người con kiên nhẫn chăm cha mẹ già. Anh chị em chủ động làm hòa sau một thời gian dài không nhìn mặt. Có những thập giá chẳng có máu chảy, nhưng vẫn đau. Có những tử đạo không có đao kiếm, chỉ có sự trung thành ngày này qua ngày khác. Một cuộc hôn nhân bền vững hiếm khi được xây bằng những giây phút lãng mạn lớn lao; nó được giữ bằng vô số cái chết nhỏ của cái tôi. “Tôi có lý” chết một chút để “chúng ta” được sống. “Tôi muốn” chết một chút để người kia được bình an. “Tôi không tha” chết một chút để gia đình còn đường quay về. Chính ở đó Thánh Giá nở hoa.
Trong đời linh mục và tu sĩ cũng vậy. Thánh Giá không phải chỉ là vật được hôn kính trong phụng vụ hay treo trên cổ áo dòng. Thánh Giá phải đi vào cách sống. Một linh mục có thể giảng rất hùng hồn về Thánh Giá nhưng lại chạy trốn mọi điều khiến mình thiệt thòi; như thế lời giảng sẽ trống rỗng. Một tu sĩ có thể tuyên khấn nhưng nếu không học chết đi cho cái tôi thì đời thánh hiến sẽ trở thành cuộc tìm kiếm chính mình dưới một hình thức đạo đức. Thập giá đời linh mục có khi là phục vụ mà không được hiểu, hy sinh mà không ai biết, bị phê bình cả khi đã cố hết sức, giữ lòng hiền lành trước những lời khiến mình đau, ở lại với đoàn chiên khi bản thân mệt mỏi, trung thành cầu nguyện trong những mùa khô khan, chấp nhận mình không thể cứu hết mọi người. Nhưng chính lúc ấy người linh mục có thể trở nên giống Đấng mình cử hành trên bàn thờ. Mỗi Thánh lễ là một lời nhắc: “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì anh em.” Người linh mục đọc lời ấy không chỉ trên bánh thánh; cả đời linh mục cũng phải dần trở thành một tấm bánh được bẻ ra.
Thế nhưng cần nói rõ một điều: vác Thánh Giá không có nghĩa là dung túng sự dữ. Có người đã bị dạy sai rằng phải chịu bạo hành, chịu xúc phạm, chịu bất công mà không được lên tiếng vì đó là “thánh giá Chúa gửi”. Không. Thánh Giá của Đức Kitô không thánh hóa bạo lực của kẻ ác. Chính Chúa đã lên tiếng trước sự bất công. Khi bị một thuộc hạ vị thượng tế vả mặt, Người hỏi: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” (Ga 18,23). Người Kitô hữu có thể tha thứ nhưng vẫn phải bảo vệ nạn nhân, tìm công lý, đặt giới hạn, ngăn sự dữ tiếp diễn. Tha thứ không có nghĩa là gọi cái ác thành cái thiện. Vác Thánh Giá không phải tìm đau khổ; đó là trung thành với tình yêu và sự thật, kể cả khi sự trung thành ấy khiến ta phải trả giá.
Một trong những điều khó nhất của Thánh Giá là sự im lặng của Thiên Chúa. Chúng ta có thể chịu khó nếu biết bao giờ nó kết thúc. Có thể chịu bệnh nếu bác sĩ nói chắc chắn ngày mai khỏi. Có thể đi qua thử thách nếu biết sau góc đường là bình an. Nhưng nhiều thập giá không cho ta lịch trình. Ta cầu nguyện mà chưa thấy gì đổi khác. Ta xin cho người con trở về nhưng năm tháng vẫn đi. Ta cầu cho bệnh nhân nhưng bệnh nặng thêm. Ta xin một cánh cửa mở ra nhưng chỉ thấy những cánh cửa đóng lại. Chính lúc ấy, Thánh Giá của Chúa nói một điều rất khó nhưng rất quý: có lúc tình yêu phải tiếp tục tin khi không còn cảm thấy gì. Chúa Giêsu đã không xuống khỏi Thập Giá để chứng minh Người là Con Thiên Chúa. Người ở lại. Có những chiến thắng chỉ có thể xảy ra bằng việc ở lại. Ở lại trong lòng trung thành. Ở lại trong lời cầu nguyện. Ở lại với bổn phận. Ở lại với Chúa dù chẳng hiểu gì. Không phải sự ở lại nào cũng đúng, nhất là trong hoàn cảnh nguy hiểm hay bạo hành; nhưng có những lúc bỏ đi chỉ vì mệt mỏi sẽ khiến ta bỏ mất mùa Phục Sinh đang âm thầm hình thành trong lòng đất.
Bí mật cuối cùng của Thánh Giá là nó không phải chương cuối. Nếu câu chuyện kết thúc chiều Thứ Sáu, Kitô giáo sẽ chỉ là một ký ức đẹp về một người tốt đã chết. Nhưng sáng ngày thứ nhất trong tuần, ngôi mộ trống. Đấng bị đóng đinh đã sống lại. Vì thế Thánh Giá không phải dấu chấm hết mà là dấu hai chấm mở vào Phục Sinh. Đây là niềm hy vọng của những người đang mang thập giá hôm nay. Không một Thứ Sáu Tuần Thánh nào kéo dài mãi mãi. Có những Phục Sinh ta thấy ngay đời này: một gia đình làm hòa, một người nghiện được giải thoát, một tâm hồn trở về, một bệnh nhân bình an, một người từng tuyệt vọng tìm lại lý do để sống. Nhưng cũng có những Phục Sinh chỉ trọn vẹn bên kia cái chết. Đức tin không hứa rằng Chúa sẽ giải quyết mọi sự theo ý ta. Đức tin hứa một điều lớn hơn: cuối cùng tình yêu sẽ thắng. Nước mắt sẽ không có tiếng nói cuối cùng. Tội lỗi không có tiếng nói cuối cùng. Bất công không có tiếng nói cuối cùng. Mồ mả không có tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng thuộc về Thiên Chúa, và lời cuối cùng của Người là sự sống.
Bởi thế, mỗi người chúng ta nên tự hỏi: Thánh Giá nào đang hiện diện trong đời tôi hôm nay? Có lẽ tôi đang muốn vứt nó đi. Có lẽ tôi đang giận Chúa vì nó. Có lẽ tôi âm thầm hỏi: “Tại sao lại là con?” Ta không cần giả vờ mạnh mẽ. Chính Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu đã cầu xin: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Chúa không bắt ta yêu đau khổ. Ta có thể xin chén đắng đi qua. Ta có thể khóc. Ta có thể sợ. Ta có thể mệt. Nhưng lời cầu của Đức Giêsu không dừng ở đó: “Nhưng xin đừng theo ý con, một xin theo ý Cha.” Có lẽ trưởng thành trong đức tin không phải là đến một ngày ta không còn thấy thập giá nặng nữa; mà là dù nó vẫn nặng, ta không còn phải vác một mình và không để nó làm mình mất khả năng yêu.
Rồi cũng nên hỏi một câu khác còn khó hơn: Tôi có đang là thập giá của ai không? Nhiều khi ta than về thập giá của mình mà quên rằng chính tính nóng nảy, ích kỷ, vô tâm, lời nói cay nghiệt, sự kiểm soát, tính kiêu căng của mình đang đóng đinh những người sống bên cạnh. Có người đi nhà thờ rất chăm nhưng khiến cả nhà sợ khi họ về. Có người lần chuỗi mỗi ngày nhưng không chịu tha cho anh chị em. Có người hôn Thánh Giá Thứ Sáu Tuần Thánh mà suốt năm dùng lời nói đóng đinh người khác. Thánh Giá thật phải biến đổi chúng ta. Ai quỳ lâu trước Đấng bị đóng đinh mà vẫn thích đóng đinh người khác bằng phán xét, bêu xấu và cay độc thì chưa để Thánh Giá đi vào lòng. Càng đến gần Thánh Giá, ta càng phải hiền hơn. Càng hiểu mình đã được tha nhiều, ta càng bớt khắt khe. Càng hiểu Chúa kiên nhẫn với mình, ta càng biết kiên nhẫn với người khác.
Có một hình ảnh thật đẹp trong Tin Mừng Gioan. Sau khi Chúa Giêsu chết, một người lính lấy giáo đâm cạnh sườn Người, “tức thì, máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34). Người Kitô hữu từ xa xưa đã nhìn thấy nơi đó nguồn mạch các bí tích và sự khai sinh của Hội Thánh. Nhưng ta cũng có thể nhìn hình ảnh ấy thật đơn sơ: trái tim của Chúa đã bị mở. Người ta làm Người bị thương, và từ vết thương ấy lại chảy ra sự sống. Đó chính là cách tình yêu Thiên Chúa đáp lại sự dữ. Con người đâm vào, Thiên Chúa để lòng thương xót chảy ra. Con người gây một vết thương, Thiên Chúa biến vết thương thành một nguồn suối. Nếu ta để Chúa làm việc trong đời mình, những vết thương của ta cũng có thể trở thành nơi ơn lành chảy qua. Một người từng nghèo hiểu người nghèo. Một người từng bệnh biết cách ngồi cạnh bệnh nhân. Một người từng mất mát biết im lặng bên người đang khóc. Một người đã được tha thứ sâu xa sẽ biết dịu dàng với tội nhân. Ta không cần cảm ơn sự dữ đã làm ta đau. Nhưng trong bàn tay Chúa, ngay cả những vết sẹo cũng có thể được cứu chuộc.
Vì thế, đừng xấu hổ về những vết sẹo. Chúa Phục Sinh không xấu hổ về dấu đinh của Người. Có những vết sẹo nhắc ta mình từng đau, nhưng cũng nhắc rằng mình đã không chết trong nỗi đau ấy. Có những vết sẹo trở thành chứng từ rằng ân sủng mạnh hơn những gì đã cố hủy diệt ta. Một ngày kia, có thể chính nơi ta từng bị thương sẽ trở thành nơi ta biết thương người khác nhất.
Nếu hôm nay ai đó cảm thấy mình quá tội lỗi, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu cảm thấy mình không được yêu, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu bị phản bội, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu đang đứng trước một nấm mồ, hãy nhìn Thánh Giá rồi nhớ đến ngôi mộ trống. Nếu không biết tha thứ thế nào, hãy nghe lại lời: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Nếu đang hấp hối trong hy vọng mong manh, hãy nhớ người trộm lành. Nếu cảm thấy Thiên Chúa bỏ rơi, hãy nhớ chính Đức Giêsu từng đi xuyên qua bóng tối ấy. Nếu đang muốn bỏ cuộc, hãy nhìn Đấng đã yêu “đến cùng”.
Và nếu một ngày nào đó không còn biết phải cầu nguyện gì, có lẽ chỉ cần ngồi dưới chân Thánh Giá như Đức Maria. Mẹ không giảng. Mẹ không giải thích. Mẹ đứng đó. “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Chữ “đứng” ấy đẹp vô cùng. Mẹ không thể tháo đinh. Không thể ngăn lưỡi giáo. Không thể khiến quân lính đổi ý. Không thể làm Con hết đau. Nhưng Mẹ có thể ở đó. Có những tình yêu cao cả nhất không phải là giải quyết được vấn đề, nhưng là không bỏ người mình yêu một mình trong vấn đề ấy. Có lẽ thế giới hôm nay cần những con người biết “đứng gần thập giá” của nhau: ngồi cạnh người bệnh, nghe người đau khổ, nâng người thất vọng, thăm người cô độc, bảo vệ người yếu thế, hiện diện bên người đang hấp hối. Ta không luôn có câu trả lời. Nhưng ta có thể có mặt. Và đôi khi sự hiện diện ấy là hình thức tinh tuyền nhất của tình yêu.
Rồi từ dưới chân Thánh Giá, hãy trở về đời thường. Đừng để Thánh Giá chỉ nằm lại trong nhà thờ. Hãy mang bí mật ấy vào nhà mình, công việc mình, cộng đoàn mình, mạng xã hội mình, các tương quan mình. Trước khi nói một câu làm ai đau, hãy nhớ Đấng đã bị lời người đời làm đau. Trước khi kết án một người, hãy nhớ mình đã được tha. Trước khi bỏ một người vì họ không còn hữu ích, hãy nhớ Chúa đã không bỏ ta khi ta chẳng có gì để Người cần. Trước khi trả đũa, hãy nhìn Đấng đã đáp lại chiếc đinh bằng lời tha thứ. Trước khi tuyệt vọng về chính mình, hãy nhìn máu đã đổ vì mình.
Thánh Giá là “bí mật” của tình yêu Thiên Chúa bởi vì ở đó Thiên Chúa nói hết những gì Người muốn nói về tình yêu mà không cần thêm một lời nào. Một Thiên Chúa giang hai tay cho đến chết là một Thiên Chúa không còn giữ khoảng cách với con người. Hai cánh tay ấy bị đóng vào gỗ nên không thể khép lại nữa. Hình ảnh ấy thật đẹp: vòng tay Thiên Chúa mãi mãi mở. Tội nhân trở về, vòng tay ấy mở. Người mệt mỏi trở về, vòng tay ấy mở. Người đã đi xa nhiều năm trở về, vòng tay ấy vẫn mở. Kẻ nghĩ rằng mình không xứng đáng cũng được mời bước vào. Thánh Giá đứng đó như lời khẳng định không thể rút lại của Thiên Chúa: “Dù con đã đi xa đến đâu, Cha đã đi xa hơn để tìm con. Dù con rơi sâu đến đâu, Con của Cha đã xuống sâu hơn. Dù tội con lớn thế nào, lòng thương xót của Cha vẫn lớn hơn.”
Rồi một ngày khi tất cả chúng ta đi đến cuối đường, khi tiền bạc, thành công, chức vụ, tiếng khen, những điều từng khiến ta tranh giành đều ở lại phía sau, có lẽ ta mới thấy rõ rằng rốt cuộc chỉ tình yêu là còn lại. Và lúc ấy Thánh Giá, điều thế gian từng xem là điên rồ, sẽ hiện ra như sự khôn ngoan sâu nhất: đời người được cứu không bởi những gì ta giữ được, nhưng bởi những gì ta dám trao đi vì yêu. Đức Kitô đã mất tất cả trên đồi Canvê nhưng chính ở đó Người trao cho nhân loại tất cả. Người trần trụi nhưng làm giàu cho thế giới. Người chết nhưng ban sự sống. Người bị kết án nhưng tha thứ. Người bị loại bỏ nhưng mở đường đưa những kẻ bị loại bỏ về Nhà Cha.
Xin cho chúng ta đừng chỉ đeo Thánh Giá mà biết sống Thánh Giá. Đừng chỉ cúi đầu trước Thánh Giá mà biết để Thánh Giá bẻ gãy cái tôi kiêu ngạo trong mình. Đừng chỉ nói về tình yêu của Chúa mà biết yêu bằng thứ tình yêu có khả năng trả giá. Xin cho mỗi khi làm dấu Thánh Giá, ta nhớ rằng đời mình thuộc về một Thiên Chúa đã yêu ta đến chết. Mỗi khi hôn Thánh Giá, ta nhớ đến những con người đang mang thập giá mà ta được mời gọi nâng đỡ. Mỗi khi nhìn lên Chúa chịu nạn, ta nghe được lời rất riêng Người nói trong đáy lòng: “Con có biết con quý giá thế nào đối với Ta không?”
Và khi nghe được câu ấy rồi, xin ta cũng biết nhìn người bên cạnh bằng một ánh mắt khác. Bởi người ta đang khó chịu kia cũng là người Đức Kitô đã chết cho. Người nghèo kia là người Đức Kitô đã chết cho. Kẻ từng làm ta đau cũng là người Đức Kitô đã chết cho. Người chúng ta muốn loại bỏ cũng là người Đức Kitô đã chết cho. Nếu máu Chúa đã đổ cho họ, ta không có quyền coi họ là rác rưởi. Đây có lẽ là hệ quả khó nhất nhưng cũng đẹp nhất của mầu nhiệm Thánh Giá: khi hiểu mình được yêu vô điều kiện, ta được mời học cách yêu người khác không theo giá trị họ có trong mắt mình, nhưng theo giá trị họ có trong mắt Thiên Chúa.
Thánh Giá cuối cùng không phải là lời mời đi tìm đau khổ. Thánh Giá là lời mời đừng bỏ tình yêu khi tình yêu trở nên khó. Đừng bỏ sự thật khi phải trả giá. Đừng bỏ lòng trung thành khi không còn tiếng vỗ tay. Đừng bỏ lòng thương xót khi người kia không xứng đáng trong mắt ta. Đừng bỏ Thiên Chúa khi đêm tối kéo dài. Vì chính ở nơi ta tưởng tình yêu không còn có thể đi xa hơn nữa, bí mật của Thánh Giá bắt đầu được mở ra.
Trên đồi Canvê năm xưa, người ta đã dựng lên một cây Thập Giá với ý định làm dấu chấm hết cho Đức Giêsu. Thiên Chúa lại dùng chính cây ấy để viết nên câu chuyện tình yêu đẹp nhất của lịch sử. Con người biến cây gỗ thành dụng cụ giết người; Thiên Chúa biến nó thành cây sự sống. Con người muốn làm nhục; Thiên Chúa biến nó thành ngai vinh quang. Con người muốn đóng lại câu chuyện của Đức Giêsu; Thiên Chúa từ đó mở ra con đường cứu độ cho muôn thế hệ.
Bởi thế, khi cuộc đời dựng lên trước mặt ta một cây thập giá, đừng vội nghĩ rằng mọi sự đã hết. Trong bàn tay Thiên Chúa, nơi tưởng là kết thúc có thể trở thành khởi đầu. Vết thương có thể thành cửa ngõ của lòng thương xót. Nước mắt có thể tưới một mầm sống mà hôm nay ta chưa nhìn thấy. Cái chết có thể mở vào Phục Sinh.
Chỉ cần ta đừng rời tay Chúa.
Chỉ cần giữa tất cả những gì không hiểu được, ta còn tin vào điều đã được nói rõ nhất trên Canvê:
Thiên Chúa yêu con người.
Người yêu đến cùng.
Người yêu bằng tất cả.
Người yêu đến chết.
Và Người mạnh hơn cả cái chết.
Đó là “bí mật” của Thánh Giá.
Đó cũng là bí mật của toàn bộ Kitô giáo.
Và có lẽ, đó cũng là bí mật duy nhất đủ sức cứu một đời người.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ LÀ “BÍ MẬT” CỦA TÌNH YÊU THIÊN CHÚA
Có những điều trong cuộc đời càng nói nhiều người ta càng thấy khó hiểu, nhưng cũng có những điều chỉ cần đứng thật lâu trước nó, im lặng thật sâu trước nó, để cho nó chạm vào lòng mình, thì tự nhiên người ta hiểu. Thánh Giá là một thực tại như thế. Người ta có thể viết hàng ngàn trang sách về Thánh Giá, có thể giảng hàng vạn bài về Thánh Giá, có thể dựng bao nhiêu thánh đường với Thánh Giá ở vị trí trang trọng nhất, có thể đeo Thánh Giá trên ngực suốt cả đời, nhưng vẫn có thể chưa hiểu được Thánh Giá. Bởi vì Thánh Giá không phải trước hết là một điều để hiểu bằng đầu óc, mà là một mầu nhiệm để bước vào bằng trái tim. Thánh Giá không phải một bài toán thần học cần tìm ra đáp số, nhưng là nơi Thiên Chúa mở trái tim của Người ra cho nhân loại nhìn thấy. Nếu phải tìm một nơi nào đó để biết Thiên Chúa yêu con người đến mức nào, đừng tìm nơi những lâu đài tráng lệ, đừng tìm nơi những phép lạ gây kinh ngạc, cũng đừng chỉ tìm nơi những phút đời êm đềm; hãy đi lên đồi Canvê, hãy đứng dưới chân một cây gỗ thô ráp, hãy nhìn một Con Người bị đóng đinh, đầu đội mão gai, đôi tay bị xuyên thủng, cạnh sườn bị đâm thâu, thân thể đầy thương tích, và rồi hãy nghe Người nói rất khẽ: “Ta yêu con.” Đó là bí mật của Thánh Giá. Đó cũng là bí mật của tình yêu Thiên Chúa.
Con người vốn thích một tình yêu dễ chịu. Ta thích yêu khi được yêu lại, thích cho đi khi được biết ơn, thích hy sinh khi người khác nhận ra sự hy sinh của mình, thích tha thứ khi người kia biết lỗi, thích phục vụ khi có người trân trọng, thích trung thành khi mọi sự thuận buồm xuôi gió. Thế nhưng tình yêu của Thiên Chúa lại đi theo một con đường khác. Người yêu ngay cả khi không được yêu lại. Người vẫn tìm kiếm khi con người chạy trốn. Người vẫn tha thứ khi con người phản bội. Người vẫn ban sự sống khi con người trao cho Người cái chết. Người vẫn gọi “bạn” kẻ đến bắt Người. Người vẫn nhìn Phêrô sau ba lần chối Thầy không bằng ánh mắt nguyền rủa nhưng bằng một cái nhìn khiến ông bật khóc. Người vẫn cầu xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ vừa đóng đinh mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Nếu tình yêu chỉ là cảm xúc thì Thánh Giá là một điều vô lý. Nếu tình yêu chỉ là trao đổi công bằng thì Thánh Giá là một sự thất bại. Nếu tình yêu chỉ dành cho người xứng đáng thì chẳng ai trong chúng ta có thể đứng dưới chân Thánh Giá mà hy vọng. Nhưng chính vì tình yêu Thiên Chúa không giống tình yêu của chúng ta nên Thánh Giá mới trở thành Tin Mừng. Chúa không yêu ta vì ta tốt. Chúa yêu ta để ta có thể trở nên tốt. Chúa không yêu ta vì ta thánh thiện. Chúa yêu ta ngay giữa khi ta còn yếu đuối, tội lỗi, phản nghịch, để tình yêu ấy có thể làm cho ta nên thánh. Thánh Phaolô đã nói một điều thật táo bạo: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” (Rm 5,8). Câu ấy phải được đọc rất chậm. Không phải khi chúng ta đã sửa mình. Không phải sau khi chúng ta đã đền bù. Không phải lúc chúng ta đã xứng đáng. Nhưng “ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi”. Chính ở đó bí mật được hé mở: Thiên Chúa yêu trước.
Tin Mừng theo thánh Gioan đưa ta đến gần nhất với bí mật ấy bằng câu Kinh Thánh quen thuộc đến mức đôi khi vì quá quen mà ta không còn run động khi nghe nữa: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Hãy để ý: Tin Mừng không nói Thiên Chúa yêu những người công chính đến nỗi ban Con Một; không nói Thiên Chúa yêu một nhóm nhỏ những người đạo đức; Tin Mừng nói Thiên Chúa yêu “thế gian”. Mà “thế gian” ấy là thế gian đầy ánh sáng nhưng cũng đầy bóng tối, có thánh thiện mà cũng có tội lỗi, có lòng trung thành nhưng cũng có phản bội, có những bàn tay cầu nguyện mà cũng có những bàn tay đóng đinh. Chính thế gian ấy được Thiên Chúa yêu. Và Người yêu không phải bằng một lời nói suông. Người “đã ban Con Một”. Tình yêu đích thực luôn có một cái giá. Thiên Chúa đã trả giá cho tình yêu của Người bằng chính Người Con yêu dấu. Vì thế, mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, ta không chỉ nhìn một người chết; ta nhìn thấy một tình yêu đã đi tới tận cùng. Chúa Giêsu nói trong bữa Tiệc Ly: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Nhưng chính Người còn đi xa hơn câu nói ấy, bởi Người không chỉ chết cho bạn hữu. Người chết cả cho những kẻ chống lại Người, những kẻ không hiểu Người, những kẻ bỏ rơi Người, những người chưa từng biết đến Người. Tình yêu ấy vượt quá mọi khuôn thước của con người.
Có lẽ vì thế mà người đời vẫn thường hiểu sai Thánh Giá. Có người nghĩ đạo Công giáo quá nặng nề vì đâu đâu cũng thấy Thánh Giá. Có người tự hỏi tại sao lại đặt một hình ảnh đau thương ngay chính giữa nhà thờ. Tại sao không chỉ treo hình Chúa Phục Sinh rạng rỡ? Tại sao cứ phải nhìn một thân thể bê bết máu, một khuôn mặt đau đớn, một cái chết nhục nhã? Câu trả lời là: bởi vì nếu bỏ Thánh Giá ra khỏi Kitô giáo, ta sẽ không còn biết tình yêu Thiên Chúa có hình dạng như thế nào. Thánh Giá không ca tụng đau khổ. Kitô giáo không phải một tôn giáo mê đau khổ. Thiên Chúa không vui khi thấy con người đau. Chúa Giêsu đã chữa người bệnh, cho kẻ đói ăn, làm người chết sống lại, an ủi người khóc lóc. Nhưng khi đau khổ không thể tránh khỏi vì lòng trung thành với tình yêu và sự thật, Người không bỏ chạy. Người bước vào đau khổ, mang lấy nó, biến nó thành nơi tình yêu chiến thắng. Chính điều đó làm cho Thánh Giá trở nên thánh. Không phải cái đau tự nó cứu độ, nhưng tình yêu ở trong cái đau ấy cứu độ. Không phải những chiếc đinh cứu chúng ta, nhưng là Đấng đã để người ta đóng đinh mình vì yêu. Không phải cây gỗ có sức cứu độ, nhưng là tình yêu của Con Thiên Chúa được trao hiến trên cây gỗ ấy.
Ngày nay con người tìm mọi cách tránh đau khổ. Điều đó tự nhiên và chính đáng. Ta chữa bệnh, giảm đau, cải thiện đời sống, tìm công bằng, chống bạo lực, đó đều là điều tốt. Nhưng có một ảo tưởng nguy hiểm khi ta tin rằng một đời sống tốt đẹp phải là một đời sống không có thập giá. Không có cuộc đời nào như thế. Người giàu có thập giá của người giàu. Người nghèo có thập giá của người nghèo. Người kết hôn có thập giá của hôn nhân. Người độc thân có thập giá của cô đơn. Linh mục có thập giá của đời linh mục. Tu sĩ có thập giá của đời thánh hiến. Cha mẹ có thập giá của con cái. Con cái có thập giá của cha mẹ. Người khỏe mạnh rồi cũng gặp giới hạn. Người thành công cũng có những đêm mất ngủ. Có những thập giá người khác nhìn thấy, và cũng có những thập giá người ta giấu rất kỹ sau một nụ cười. Có những người bước vào nhà thờ rất bình thường nhưng trái tim đang tan nát. Có người sáng nay vẫn cười nói mà tối về đóng cửa phòng khóc một mình. Có người mang trong lòng một nỗi đau không kể được với ai: một cuộc hôn nhân nguội lạnh, một người con xa Chúa, một món nợ không biết bao giờ trả nổi, một bệnh tật kéo dài, một sự phản bội chưa thể nguôi, một tuổi già bị lãng quên, một tương lai mịt mờ, một lời vu oan, một thất bại mà người ngoài chẳng biết. Chính tại đó Thánh Giá của Đức Kitô không còn là một biểu tượng treo trên tường nữa. Nó trở thành lời Chúa nói với từng người: “Ta biết. Ta đã ở đó. Ta đang ở với con.”
Đây có lẽ là một trong những nét dịu dàng nhất của mầu nhiệm Thánh Giá: Chúa không đứng trên trời mà giảng cho con người về đau khổ. Người xuống tận đáy đau khổ. Khi ta bị phản bội, ta có thể nhớ rằng Người từng bị Giuđa bán bằng một cái hôn. Khi ta bị bạn bè bỏ rơi, Người hiểu, vì các môn đệ đã chạy trốn. Khi ta bị hiểu lầm, Người hiểu, vì người ta gọi Người là kẻ phạm thượng. Khi ta bị xét xử bất công, Người hiểu, vì phiên tòa của Người là một trò nhạo báng công lý. Khi ta mất danh dự, Người hiểu, vì Người bị lột áo giữa đám đông. Khi thân xác ta đau đớn, Người hiểu, vì thân thể Người đã bị đánh đòn, đội mão gai và đóng đinh. Khi ta kêu lên mà tưởng như Thiên Chúa im lặng, Người hiểu, vì chính Người từng thốt: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Khi ta đối diện cái chết, Người cũng đã đi qua cửa ấy. Không có vực sâu nào của con người mà Đức Kitô chưa bước xuống. Vì thế, người Kitô hữu không tin vào một Thiên Chúa xa lạ với nước mắt. Ta tin vào một Thiên Chúa từng khóc. Không tin vào một Thiên Chúa đứng ngoài vết thương. Ta tin vào một Thiên Chúa mang thương tích ngay cả sau khi sống lại. Đấng Phục Sinh vẫn cho Tôma xem những dấu đinh. Thật kỳ lạ: Chúa đã sống lại, nhưng Người không xóa những vết thương. Những vết thương được biến đổi thành dấu chỉ của tình yêu.
Có người hỏi: Nếu Thiên Chúa yêu con người, tại sao Người để đau khổ xảy ra? Đây là một câu hỏi lớn, và chẳng có câu trả lời nào đủ sức làm một bà mẹ vừa mất con thôi khóc, hay khiến một bệnh nhân đang đau đớn lập tức thấy nhẹ nhàng. Trước những nỗi đau lớn, đôi khi lời khôn ngoan nhất là im lặng. Nhưng Thánh Giá ít nhất cho chúng ta biết điều này: bất cứ câu trả lời cuối cùng nào về đau khổ, Thiên Chúa đã không trả lời nó từ xa. Người trả lời bằng cách bước vào đau khổ của chúng ta. Người không giải thích đau khổ trước hết; Người mang lấy đau khổ. Người không nói với ta: “Hãy chịu đi.” Người nói: “Ta chịu với con.” Người không đứng cuối con đường và ra lệnh: “Đi tới đây.” Người đi trước, để lại dấu chân có máu trên đường và nói: “Hãy theo Thầy.” Đó là khác biệt vô cùng lớn. Khi một đứa trẻ đau mà mẹ ngồi bên, cơn đau chưa hết nhưng nó không còn đau một mình. Khi một người tuyệt vọng mà biết có ai thật sự hiểu mình, hoàn cảnh chưa thay đổi nhưng lòng họ đã có thể đứng dậy. Thánh Giá nói rằng nhân loại không đau khổ một mình nữa. Từ chiều Thứ Sáu năm ấy, mọi tiếng khóc của con người đều có một tiếng khóc của Thiên Chúa ở bên cạnh.
Nhưng bí mật sâu xa hơn nữa của Thánh Giá không chỉ là Thiên Chúa chịu đau với con người. Bí mật ấy là Thiên Chúa biến đau khổ thành tình yêu, biến thất bại thành ơn cứu độ, biến cái chết thành cửa ngõ dẫn đến sự sống. Đồi Canvê nhìn từ mắt người đời là một thất bại hoàn toàn. Chúa Giêsu không còn đám đông theo Người. Những người từng tung hô Người biến mất. Các môn đệ tản mác. Người bị xử như một tội nhân giữa hai tên gian phi. Không phép lạ nào xảy ra để kéo Người xuống. Không thiên thần nào đến giải cứu. Chẳng có một dấu hiệu nào của chiến thắng. Nhưng chính ở giây phút thế gian nghĩ rằng Chúa đã thua, tình yêu lại đang chiến thắng sâu nhất. Vì tội lỗi nói: “Hãy ghét kẻ giết mình”; Chúa nói: “Xin tha cho họ.” Bạo lực nói: “Hãy trả đũa”; Chúa im lặng và hiến mình. Sự dữ nói: “Tôi sẽ làm cho ông trở nên giống tôi”; Chúa trả lời bằng lòng thương xót. Đó là chiến thắng của Thánh Giá: cái ác có thể làm Chúa đau nhưng không thể làm Người ngừng yêu. Con người có thể đóng đinh Thiên Chúa nhưng không thể đóng đinh được tình yêu của Thiên Chúa. Cái chết có thể lấy đi hơi thở của Đức Giêsu trong ba ngày nhưng không thể chôn được sự sống đời đời.
Bởi vậy, câu “Người đã yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1) có lẽ là chiếc chìa khóa mở cánh cửa mầu nhiệm Thánh Giá. “Đến cùng” không chỉ có nghĩa là đến phút cuối đời. “Đến cùng” là đến tận giới hạn cuối cùng của tình yêu, đến chỗ không còn gì để giữ lại. Người đã cho lời giảng, cho phép lạ, cho thời gian, cho sức lực, cho tình bạn, cho Mình và Máu trong Bí tích Thánh Thể, rồi cuối cùng cho cả mạng sống. Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu không còn gì để trao nữa. Áo đã bị lấy. Danh dự bị tước. Tự do không còn. Tay bị đóng đinh nên không thể làm phép lạ. Chân bị đóng đinh nên không thể đi đâu. Và trong tình trạng hoàn toàn nghèo ấy, Người vẫn tiếp tục cho: Người cho kẻ trộm lành thiên đàng, cho Mẹ Maria người con mới là Gioan, cho Gioan một người Mẹ, cho những kẻ hành hình lời tha thứ, cho Chúa Cha chính thần khí của Người, cho nhân loại giọt máu và nước cuối cùng từ cạnh sườn. Một Thiên Chúa bị lấy hết mọi sự nhưng vẫn còn một điều không ai lấy được: khả năng yêu. Và Người yêu đến hơi thở cuối cùng.
Đứng trước một tình yêu như thế, câu hỏi quan trọng nhất không còn là “Tại sao Chúa phải chết như vậy?” mà là “Tôi sẽ làm gì với một tình yêu như vậy?” Có những người sống cả đời Công giáo mà chưa một lần để Thánh Giá làm mình sửng sốt. Ta làm dấu Thánh Giá quá nhanh. Ta nhìn tượng Chúa chịu nạn quá quen. Ta đeo Thánh Giá như món trang sức. Ta nghe đọc bài Thương Khó mỗi năm. Quen đến độ điều lẽ ra phải khiến ta khóc lại chẳng làm tim ta rung động. Có lẽ cần có những lúc ta ngồi một mình trước Thánh Giá, không xin gì cả, không đọc nhiều kinh, chỉ nhìn. Nhìn đôi bàn tay ấy và tự hỏi: “Ai đã giữ những bàn tay ấy trên Thập Giá?” Không phải chiếc đinh. Nếu Người muốn, Người có thể bước xuống. Tình yêu đã giữ Người lại. Nhìn cạnh sườn ấy và hỏi: “Tại sao trái tim ấy lại bị đâm mở?” Có lẽ để từ nay không một tội nhân nào có thể nói rằng cửa lòng thương xót đã đóng. Trái tim Chúa đã bị mở ra và mãi mãi mở. Nhìn khuôn mặt ấy và hỏi: “Người đang nghĩ đến ai?” Tin Mừng không cho ta biết hết. Nhưng đức tin dám nói rằng Người nghĩ đến từng người chúng ta. Trong hy lễ vượt thời gian của Người, mỗi người đều được yêu bằng một tình yêu riêng. Tôi không chỉ là một phần vô danh của “nhân loại”. Tôi là người được yêu.
Vì thế, Thánh Giá chữa một căn bệnh rất sâu của thời đại chúng ta: căn bệnh cảm thấy mình vô giá trị. Bao nhiêu người ngày nay đánh giá giá trị của mình bằng thành công, sắc đẹp, tiền bạc, bằng số người biết đến mình, số người thích mình, bằng lời khen của thiên hạ. Khi những thứ ấy mất đi, họ tưởng mình không còn gì. Nhưng người Kitô hữu có một thước đo khác. Muốn biết mình đáng giá bao nhiêu, hãy nhìn Thánh Giá. Giá của một con người là cái giá Thiên Chúa sẵn sàng trả để cứu người ấy. Thánh Phêrô viết: “Anh em đã được cứu chuộc không phải nhờ những của chóng hư nát như bạc hay vàng, nhưng nhờ máu châu báu của Đức Kitô” (1 Pr 1,18-19). Nếu Con Thiên Chúa đã trao máu mình vì ta thì không ai trên đời có quyền bảo ta là vô nghĩa, kể cả chính ta. Một thai nhi chưa chào đời có giá trị. Một người tàn tật có giá trị. Một cụ già mất trí nhớ có giá trị. Một người thất bại có giá trị. Một người từng phạm những lỗi rất nặng nhưng biết quay về vẫn có giá trị. Giá trị ấy không do xã hội ban và xã hội cũng không có quyền lấy đi. Thánh Giá đặt một phẩm giá vô giá trên từng phận người.
Nhưng cũng chính Thánh Giá đập tan sự kiêu ngạo của ta. Nếu tôi đã đáng yêu đến nỗi Chúa chết vì tôi, thì tôi cũng đã hư mất đến nỗi cần đến một cái chết như vậy để được cứu. Thánh Giá vừa nói phẩm giá của ta lớn lao, vừa nói tội lỗi của ta nghiêm trọng. Vì thế, người thật sự hiểu Thánh Giá sẽ không tuyệt vọng nhưng cũng không coi nhẹ tội. Họ không nói: “Tôi tệ quá, Chúa không thể tha.” Thánh Giá trả lời: “Máu Người đã đổ vì con.” Nhưng họ cũng không nói: “Tội chẳng sao.” Thánh Giá trả lời: “Nếu tội chẳng sao, tại sao Con Thiên Chúa phải đi tới tận đây?” Lòng thương xót không làm tội trở nên nhỏ. Lòng thương xót cho thấy tình yêu Thiên Chúa lớn hơn tội. Người Kitô hữu đứng dưới Thánh Giá vì thế vừa khóc vì tội mình vừa vui vì được tha. Một giọt nước mắt của sám hối và một nụ cười của hy vọng có thể cùng hiện diện trong một tâm hồn.
Hãy nhớ người trộm lành. Cả đời ông có thể đã làm biết bao điều sai trái. Giờ đây chẳng còn thời gian để sửa lại cuộc đời, chẳng còn cơ hội để trả những món nợ quá khứ, chẳng còn cách nào làm việc thiện lâu dài. Hai tay cũng bị đóng đinh. Ông chỉ còn một việc có thể làm: quay đầu nhìn Đức Giêsu và thưa: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Chúa trả lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Một người mất cả đời nhưng tìm được Thiên Chúa ở phút cuối. Đó không phải là sự rẻ rúng ân sủng. Đó là vẻ đẹp gây choáng ngợp của lòng thương xót. Người trộm chẳng còn gì để trình diện ngoài một trái tim biết mình cần được cứu. Và thế là đủ để trái tim bị đâm thâu của Đức Kitô mở cửa thiên đàng cho ông. Ai hiểu câu chuyện ấy sẽ không bao giờ dám nói về bất cứ tội nhân nào rằng: “Người ấy hết hy vọng rồi.” Khi còn một hơi thở, còn một khe nhỏ để ân sủng bước vào. Và ngay cả khi ta không nhìn thấy gì, ta vẫn trao con người ấy cho lòng thương xót Chúa.
Thánh Giá cũng làm thay đổi cách ta yêu nhau. Bởi người ta thường nói “yêu” rất nhiều, nhưng không phải thứ tình cảm nào mang tên yêu cũng thật sự là tình yêu. Có thứ yêu chiếm hữu. Có thứ yêu đòi hỏi. Có thứ yêu chỉ tồn tại khi người kia đáp ứng kỳ vọng. Có thứ yêu hôm nay nồng nàn, ngày mai lạnh nhạt. Chúa Giêsu cho tình yêu một tiêu chuẩn khác: “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Hai chữ “như Thầy” đáng sợ lắm. Nếu Người chỉ nói “hãy thương nhau” thì còn dễ. Nhưng Người đặt Thánh Giá làm thước đo. Yêu như Thầy nghĩa là biết cúi xuống. Yêu như Thầy nghĩa là đôi khi phải chịu thiệt. Yêu như Thầy nghĩa là không biến lỗi lầm của người khác thành vũ khí nhắc đi nhắc lại suốt đời. Yêu như Thầy nghĩa là trung thành cả khi cảm xúc không còn nồng nhiệt. Yêu như Thầy nghĩa là nói sự thật nhưng không dùng sự thật để giết nhau. Yêu như Thầy nghĩa là có thể tha thứ dù vết thương cần thời gian để lành. Yêu như Thầy nghĩa là muốn điều tốt cho người kia, chứ không chỉ muốn người kia làm ta vui.
Trong gia đình, bí mật của Thánh Giá được sống bằng những việc rất nhỏ. Một người chồng nhịn một câu có thể làm vợ tổn thương. Một người vợ không khơi lại lỗi cũ mỗi khi giận. Cha mẹ thức đêm bên đứa con bệnh. Người con kiên nhẫn chăm cha mẹ già. Anh chị em chủ động làm hòa sau một thời gian dài không nhìn mặt. Có những thập giá chẳng có máu chảy, nhưng vẫn đau. Có những tử đạo không có đao kiếm, chỉ có sự trung thành ngày này qua ngày khác. Một cuộc hôn nhân bền vững hiếm khi được xây bằng những giây phút lãng mạn lớn lao; nó được giữ bằng vô số cái chết nhỏ của cái tôi. “Tôi có lý” chết một chút để “chúng ta” được sống. “Tôi muốn” chết một chút để người kia được bình an. “Tôi không tha” chết một chút để gia đình còn đường quay về. Chính ở đó Thánh Giá nở hoa.
Trong đời linh mục và tu sĩ cũng vậy. Thánh Giá không phải chỉ là vật được hôn kính trong phụng vụ hay treo trên cổ áo dòng. Thánh Giá phải đi vào cách sống. Một linh mục có thể giảng rất hùng hồn về Thánh Giá nhưng lại chạy trốn mọi điều khiến mình thiệt thòi; như thế lời giảng sẽ trống rỗng. Một tu sĩ có thể tuyên khấn nhưng nếu không học chết đi cho cái tôi thì đời thánh hiến sẽ trở thành cuộc tìm kiếm chính mình dưới một hình thức đạo đức. Thập giá đời linh mục có khi là phục vụ mà không được hiểu, hy sinh mà không ai biết, bị phê bình cả khi đã cố hết sức, giữ lòng hiền lành trước những lời khiến mình đau, ở lại với đoàn chiên khi bản thân mệt mỏi, trung thành cầu nguyện trong những mùa khô khan, chấp nhận mình không thể cứu hết mọi người. Nhưng chính lúc ấy người linh mục có thể trở nên giống Đấng mình cử hành trên bàn thờ. Mỗi Thánh lễ là một lời nhắc: “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì anh em.” Người linh mục đọc lời ấy không chỉ trên bánh thánh; cả đời linh mục cũng phải dần trở thành một tấm bánh được bẻ ra.
Thế nhưng cần nói rõ một điều: vác Thánh Giá không có nghĩa là dung túng sự dữ. Có người đã bị dạy sai rằng phải chịu bạo hành, chịu xúc phạm, chịu bất công mà không được lên tiếng vì đó là “thánh giá Chúa gửi”. Không. Thánh Giá của Đức Kitô không thánh hóa bạo lực của kẻ ác. Chính Chúa đã lên tiếng trước sự bất công. Khi bị một thuộc hạ vị thượng tế vả mặt, Người hỏi: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” (Ga 18,23). Người Kitô hữu có thể tha thứ nhưng vẫn phải bảo vệ nạn nhân, tìm công lý, đặt giới hạn, ngăn sự dữ tiếp diễn. Tha thứ không có nghĩa là gọi cái ác thành cái thiện. Vác Thánh Giá không phải tìm đau khổ; đó là trung thành với tình yêu và sự thật, kể cả khi sự trung thành ấy khiến ta phải trả giá.
Một trong những điều khó nhất của Thánh Giá là sự im lặng của Thiên Chúa. Chúng ta có thể chịu khó nếu biết bao giờ nó kết thúc. Có thể chịu bệnh nếu bác sĩ nói chắc chắn ngày mai khỏi. Có thể đi qua thử thách nếu biết sau góc đường là bình an. Nhưng nhiều thập giá không cho ta lịch trình. Ta cầu nguyện mà chưa thấy gì đổi khác. Ta xin cho người con trở về nhưng năm tháng vẫn đi. Ta cầu cho bệnh nhân nhưng bệnh nặng thêm. Ta xin một cánh cửa mở ra nhưng chỉ thấy những cánh cửa đóng lại. Chính lúc ấy, Thánh Giá của Chúa nói một điều rất khó nhưng rất quý: có lúc tình yêu phải tiếp tục tin khi không còn cảm thấy gì. Chúa Giêsu đã không xuống khỏi Thập Giá để chứng minh Người là Con Thiên Chúa. Người ở lại. Có những chiến thắng chỉ có thể xảy ra bằng việc ở lại. Ở lại trong lòng trung thành. Ở lại trong lời cầu nguyện. Ở lại với bổn phận. Ở lại với Chúa dù chẳng hiểu gì. Không phải sự ở lại nào cũng đúng, nhất là trong hoàn cảnh nguy hiểm hay bạo hành; nhưng có những lúc bỏ đi chỉ vì mệt mỏi sẽ khiến ta bỏ mất mùa Phục Sinh đang âm thầm hình thành trong lòng đất.
Bí mật cuối cùng của Thánh Giá là nó không phải chương cuối. Nếu câu chuyện kết thúc chiều Thứ Sáu, Kitô giáo sẽ chỉ là một ký ức đẹp về một người tốt đã chết. Nhưng sáng ngày thứ nhất trong tuần, ngôi mộ trống. Đấng bị đóng đinh đã sống lại. Vì thế Thánh Giá không phải dấu chấm hết mà là dấu hai chấm mở vào Phục Sinh. Đây là niềm hy vọng của những người đang mang thập giá hôm nay. Không một Thứ Sáu Tuần Thánh nào kéo dài mãi mãi. Có những Phục Sinh ta thấy ngay đời này: một gia đình làm hòa, một người nghiện được giải thoát, một tâm hồn trở về, một bệnh nhân bình an, một người từng tuyệt vọng tìm lại lý do để sống. Nhưng cũng có những Phục Sinh chỉ trọn vẹn bên kia cái chết. Đức tin không hứa rằng Chúa sẽ giải quyết mọi sự theo ý ta. Đức tin hứa một điều lớn hơn: cuối cùng tình yêu sẽ thắng. Nước mắt sẽ không có tiếng nói cuối cùng. Tội lỗi không có tiếng nói cuối cùng. Bất công không có tiếng nói cuối cùng. Mồ mả không có tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng thuộc về Thiên Chúa, và lời cuối cùng của Người là sự sống.
Bởi thế, mỗi người chúng ta nên tự hỏi: Thánh Giá nào đang hiện diện trong đời tôi hôm nay? Có lẽ tôi đang muốn vứt nó đi. Có lẽ tôi đang giận Chúa vì nó. Có lẽ tôi âm thầm hỏi: “Tại sao lại là con?” Ta không cần giả vờ mạnh mẽ. Chính Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu đã cầu xin: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Chúa không bắt ta yêu đau khổ. Ta có thể xin chén đắng đi qua. Ta có thể khóc. Ta có thể sợ. Ta có thể mệt. Nhưng lời cầu của Đức Giêsu không dừng ở đó: “Nhưng xin đừng theo ý con, một xin theo ý Cha.” Có lẽ trưởng thành trong đức tin không phải là đến một ngày ta không còn thấy thập giá nặng nữa; mà là dù nó vẫn nặng, ta không còn phải vác một mình và không để nó làm mình mất khả năng yêu.
Rồi cũng nên hỏi một câu khác còn khó hơn: Tôi có đang là thập giá của ai không? Nhiều khi ta than về thập giá của mình mà quên rằng chính tính nóng nảy, ích kỷ, vô tâm, lời nói cay nghiệt, sự kiểm soát, tính kiêu căng của mình đang đóng đinh những người sống bên cạnh. Có người đi nhà thờ rất chăm nhưng khiến cả nhà sợ khi họ về. Có người lần chuỗi mỗi ngày nhưng không chịu tha cho anh chị em. Có người hôn Thánh Giá Thứ Sáu Tuần Thánh mà suốt năm dùng lời nói đóng đinh người khác. Thánh Giá thật phải biến đổi chúng ta. Ai quỳ lâu trước Đấng bị đóng đinh mà vẫn thích đóng đinh người khác bằng phán xét, bêu xấu và cay độc thì chưa để Thánh Giá đi vào lòng. Càng đến gần Thánh Giá, ta càng phải hiền hơn. Càng hiểu mình đã được tha nhiều, ta càng bớt khắt khe. Càng hiểu Chúa kiên nhẫn với mình, ta càng biết kiên nhẫn với người khác.
Có một hình ảnh thật đẹp trong Tin Mừng Gioan. Sau khi Chúa Giêsu chết, một người lính lấy giáo đâm cạnh sườn Người, “tức thì, máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34). Người Kitô hữu từ xa xưa đã nhìn thấy nơi đó nguồn mạch các bí tích và sự khai sinh của Hội Thánh. Nhưng ta cũng có thể nhìn hình ảnh ấy thật đơn sơ: trái tim của Chúa đã bị mở. Người ta làm Người bị thương, và từ vết thương ấy lại chảy ra sự sống. Đó chính là cách tình yêu Thiên Chúa đáp lại sự dữ. Con người đâm vào, Thiên Chúa để lòng thương xót chảy ra. Con người gây một vết thương, Thiên Chúa biến vết thương thành một nguồn suối. Nếu ta để Chúa làm việc trong đời mình, những vết thương của ta cũng có thể trở thành nơi ơn lành chảy qua. Một người từng nghèo hiểu người nghèo. Một người từng bệnh biết cách ngồi cạnh bệnh nhân. Một người từng mất mát biết im lặng bên người đang khóc. Một người đã được tha thứ sâu xa sẽ biết dịu dàng với tội nhân. Ta không cần cảm ơn sự dữ đã làm ta đau. Nhưng trong bàn tay Chúa, ngay cả những vết sẹo cũng có thể được cứu chuộc.
Vì thế, đừng xấu hổ về những vết sẹo. Chúa Phục Sinh không xấu hổ về dấu đinh của Người. Có những vết sẹo nhắc ta mình từng đau, nhưng cũng nhắc rằng mình đã không chết trong nỗi đau ấy. Có những vết sẹo trở thành chứng từ rằng ân sủng mạnh hơn những gì đã cố hủy diệt ta. Một ngày kia, có thể chính nơi ta từng bị thương sẽ trở thành nơi ta biết thương người khác nhất.
Nếu hôm nay ai đó cảm thấy mình quá tội lỗi, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu cảm thấy mình không được yêu, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu bị phản bội, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu đang đứng trước một nấm mồ, hãy nhìn Thánh Giá rồi nhớ đến ngôi mộ trống. Nếu không biết tha thứ thế nào, hãy nghe lại lời: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Nếu đang hấp hối trong hy vọng mong manh, hãy nhớ người trộm lành. Nếu cảm thấy Thiên Chúa bỏ rơi, hãy nhớ chính Đức Giêsu từng đi xuyên qua bóng tối ấy. Nếu đang muốn bỏ cuộc, hãy nhìn Đấng đã yêu “đến cùng”.
Và nếu một ngày nào đó không còn biết phải cầu nguyện gì, có lẽ chỉ cần ngồi dưới chân Thánh Giá như Đức Maria. Mẹ không giảng. Mẹ không giải thích. Mẹ đứng đó. “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Chữ “đứng” ấy đẹp vô cùng. Mẹ không thể tháo đinh. Không thể ngăn lưỡi giáo. Không thể khiến quân lính đổi ý. Không thể làm Con hết đau. Nhưng Mẹ có thể ở đó. Có những tình yêu cao cả nhất không phải là giải quyết được vấn đề, nhưng là không bỏ người mình yêu một mình trong vấn đề ấy. Có lẽ thế giới hôm nay cần những con người biết “đứng gần thập giá” của nhau: ngồi cạnh người bệnh, nghe người đau khổ, nâng người thất vọng, thăm người cô độc, bảo vệ người yếu thế, hiện diện bên người đang hấp hối. Ta không luôn có câu trả lời. Nhưng ta có thể có mặt. Và đôi khi sự hiện diện ấy là hình thức tinh tuyền nhất của tình yêu.
Rồi từ dưới chân Thánh Giá, hãy trở về đời thường. Đừng để Thánh Giá chỉ nằm lại trong nhà thờ. Hãy mang bí mật ấy vào nhà mình, công việc mình, cộng đoàn mình, mạng xã hội mình, các tương quan mình. Trước khi nói một câu làm ai đau, hãy nhớ Đấng đã bị lời người đời làm đau. Trước khi kết án một người, hãy nhớ mình đã được tha. Trước khi bỏ một người vì họ không còn hữu ích, hãy nhớ Chúa đã không bỏ ta khi ta chẳng có gì để Người cần. Trước khi trả đũa, hãy nhìn Đấng đã đáp lại chiếc đinh bằng lời tha thứ. Trước khi tuyệt vọng về chính mình, hãy nhìn máu đã đổ vì mình.
Thánh Giá là “bí mật” của tình yêu Thiên Chúa bởi vì ở đó Thiên Chúa nói hết những gì Người muốn nói về tình yêu mà không cần thêm một lời nào. Một Thiên Chúa giang hai tay cho đến chết là một Thiên Chúa không còn giữ khoảng cách với con người. Hai cánh tay ấy bị đóng vào gỗ nên không thể khép lại nữa. Hình ảnh ấy thật đẹp: vòng tay Thiên Chúa mãi mãi mở. Tội nhân trở về, vòng tay ấy mở. Người mệt mỏi trở về, vòng tay ấy mở. Người đã đi xa nhiều năm trở về, vòng tay ấy vẫn mở. Kẻ nghĩ rằng mình không xứng đáng cũng được mời bước vào. Thánh Giá đứng đó như lời khẳng định không thể rút lại của Thiên Chúa: “Dù con đã đi xa đến đâu, Cha đã đi xa hơn để tìm con. Dù con rơi sâu đến đâu, Con của Cha đã xuống sâu hơn. Dù tội con lớn thế nào, lòng thương xót của Cha vẫn lớn hơn.”
Rồi một ngày khi tất cả chúng ta đi đến cuối đường, khi tiền bạc, thành công, chức vụ, tiếng khen, những điều từng khiến ta tranh giành đều ở lại phía sau, có lẽ ta mới thấy rõ rằng rốt cuộc chỉ tình yêu là còn lại. Và lúc ấy Thánh Giá, điều thế gian từng xem là điên rồ, sẽ hiện ra như sự khôn ngoan sâu nhất: đời người được cứu không bởi những gì ta giữ được, nhưng bởi những gì ta dám trao đi vì yêu. Đức Kitô đã mất tất cả trên đồi Canvê nhưng chính ở đó Người trao cho nhân loại tất cả. Người trần trụi nhưng làm giàu cho thế giới. Người chết nhưng ban sự sống. Người bị kết án nhưng tha thứ. Người bị loại bỏ nhưng mở đường đưa những kẻ bị loại bỏ về Nhà Cha.
Xin cho chúng ta đừng chỉ đeo Thánh Giá mà biết sống Thánh Giá. Đừng chỉ cúi đầu trước Thánh Giá mà biết để Thánh Giá bẻ gãy cái tôi kiêu ngạo trong mình. Đừng chỉ nói về tình yêu của Chúa mà biết yêu bằng thứ tình yêu có khả năng trả giá. Xin cho mỗi khi làm dấu Thánh Giá, ta nhớ rằng đời mình thuộc về một Thiên Chúa đã yêu ta đến chết. Mỗi khi hôn Thánh Giá, ta nhớ đến những con người đang mang thập giá mà ta được mời gọi nâng đỡ. Mỗi khi nhìn lên Chúa chịu nạn, ta nghe được lời rất riêng Người nói trong đáy lòng: “Con có biết con quý giá thế nào đối với Ta không?”
Và khi nghe được câu ấy rồi, xin ta cũng biết nhìn người bên cạnh bằng một ánh mắt khác. Bởi người ta đang khó chịu kia cũng là người Đức Kitô đã chết cho. Người nghèo kia là người Đức Kitô đã chết cho. Kẻ từng làm ta đau cũng là người Đức Kitô đã chết cho. Người chúng ta muốn loại bỏ cũng là người Đức Kitô đã chết cho. Nếu máu Chúa đã đổ cho họ, ta không có quyền coi họ là rác rưởi. Đây có lẽ là hệ quả khó nhất nhưng cũng đẹp nhất của mầu nhiệm Thánh Giá: khi hiểu mình được yêu vô điều kiện, ta được mời học cách yêu người khác không theo giá trị họ có trong mắt mình, nhưng theo giá trị họ có trong mắt Thiên Chúa.
Thánh Giá cuối cùng không phải là lời mời đi tìm đau khổ. Thánh Giá là lời mời đừng bỏ tình yêu khi tình yêu trở nên khó. Đừng bỏ sự thật khi phải trả giá. Đừng bỏ lòng trung thành khi không còn tiếng vỗ tay. Đừng bỏ lòng thương xót khi người kia không xứng đáng trong mắt ta. Đừng bỏ Thiên Chúa khi đêm tối kéo dài. Vì chính ở nơi ta tưởng tình yêu không còn có thể đi xa hơn nữa, bí mật của Thánh Giá bắt đầu được mở ra.
Trên đồi Canvê năm xưa, người ta đã dựng lên một cây Thập Giá với ý định làm dấu chấm hết cho Đức Giêsu. Thiên Chúa lại dùng chính cây ấy để viết nên câu chuyện tình yêu đẹp nhất của lịch sử. Con người biến cây gỗ thành dụng cụ giết người; Thiên Chúa biến nó thành cây sự sống. Con người muốn làm nhục; Thiên Chúa biến nó thành ngai vinh quang. Con người muốn đóng lại câu chuyện của Đức Giêsu; Thiên Chúa từ đó mở ra con đường cứu độ cho muôn thế hệ.
Bởi thế, khi cuộc đời dựng lên trước mặt ta một cây thập giá, đừng vội nghĩ rằng mọi sự đã hết. Trong bàn tay Thiên Chúa, nơi tưởng là kết thúc có thể trở thành khởi đầu. Vết thương có thể thành cửa ngõ của lòng thương xót. Nước mắt có thể tưới một mầm sống mà hôm nay ta chưa nhìn thấy. Cái chết có thể mở vào Phục Sinh.
Chỉ cần ta đừng rời tay Chúa.
Chỉ cần giữa tất cả những gì không hiểu được, ta còn tin vào điều đã được nói rõ nhất trên Canvê:
Thiên Chúa yêu con người.
Người yêu đến cùng.
Người yêu bằng tất cả.
Người yêu đến chết.
Và Người mạnh hơn cả cái chết.
Đó là “bí mật” của Thánh Giá.
Đó cũng là bí mật của toàn bộ Kitô giáo.
Và có lẽ, đó cũng là bí mật duy nhất đủ sức cứu một đời người.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VÀ MẦU NHIỆM SỰ DỮ
Có lẽ một trong những câu hỏi làm con người đau đầu nhất, làm người có đức tin nhiều khi cũng phải câm lặng, đó là câu hỏi về sự dữ: Nếu Thiên Chúa là Đấng tốt lành, quyền năng và yêu thương, tại sao sự dữ vẫn tồn tại? Nếu Thiên Chúa có thể làm mọi sự, tại sao Người không ngăn những đứa trẻ chết vì bom đạn, không chặn bàn tay của kẻ sát nhân, không chữa căn bệnh quái ác cho một người mẹ còn đàn con thơ, không giữ một gia đình khỏi tan vỡ, không cứu một người vô tội khỏi bị hàm oan, không làm cho người lương thiện khỏi bị chèn ép, không khiến những kẻ gian ác phải trả giá ngay lập tức? Câu hỏi ấy không phải là câu hỏi của những người vô thần mà thôi. Đó còn là câu hỏi của những người tin Chúa. Có khi nó bật lên ngay giữa một lời kinh. Có khi nó xuất hiện trước một chiếc quan tài. Có khi nó nằm im trong lòng một người đã cầu xin suốt nhiều năm mà vẫn không thấy gì thay đổi. Có khi một người quỳ trước Thánh Giá, nhìn Đức Giêsu bị đóng đinh, rồi chỉ còn đủ sức thưa một câu: “Chúa ơi, tại sao?” Và điều lạ lùng của Kitô giáo là Chúa không nổi giận trước câu hỏi ấy. Người không trách ta thiếu đức tin vì đã hỏi. Bởi chính Đức Giêsu trên Thánh Giá cũng đã thốt lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46). Chính nơi ấy, trên đồi Canvê, mầu nhiệm sự dữ và mầu nhiệm Thiên Chúa gặp nhau. Không phải trong một bài lý luận, nhưng trong một thân thể bị đóng đinh. Không phải bằng một câu trả lời khô khan, nhưng bằng máu. Không phải bằng việc Thiên Chúa đứng xa đau khổ để giải thích đau khổ, nhưng bằng việc chính Thiên Chúa bước vào đau khổ và mang lấy đau khổ của nhân loại trên đôi vai mình.
Sự dữ luôn là một mầu nhiệm. Nói “mầu nhiệm” không có nghĩa là chúng ta không được suy nghĩ, không được đặt câu hỏi, càng không có nghĩa là dùng hai chữ “mầu nhiệm” để bịt miệng một người đang khóc. Mầu nhiệm là một thực tại lớn hơn khả năng hiểu biết của ta. Ta có thể đi vào, có thể khám phá, có thể nhận ra nhiều điều, nhưng không bao giờ có thể nắm hết. Cũng như đứng trước biển, ta có thể lội xuống, có thể bơi, có thể cảm nhận vị mặn của nước, nhưng không thể ôm cả đại dương vào lòng bàn tay. Sự dữ cũng vậy. Ta biết có sự dữ phát sinh từ tự do con người: chiến tranh, phản bội, tham lam, bạo lực, lừa dối, bất công, phá thai, buôn người, áp bức, giết chóc, vu khống, tham nhũng, vô cảm. Ta cũng biết có những đau khổ không trực tiếp do một lựa chọn luân lý nào gây ra: động đất, bão lũ, bệnh tật, tai nạn, tuổi già, sự chết. Ta có thể giải thích phần nào bằng khoa học, tâm lý học, xã hội học, lịch sử. Nhưng cuối cùng vẫn còn một câu hỏi sâu hơn: tại sao một thế giới do Thiên Chúa tốt lành tạo dựng lại có thể trở thành một nơi chứa nhiều nước mắt đến như vậy? Kinh Thánh không trả lời câu hỏi này như một giáo trình triết học. Kinh Thánh kể cho ta một câu chuyện. Thuở ban đầu, Thiên Chúa dựng nên mọi sự và thấy “rất tốt đẹp”. Sự dữ không thuộc về ý định nguyên thủy của Người. Sự dữ không phải là một “thứ” Thiên Chúa tạo ra. Sự dữ xuất hiện khi thụ tạo quay lưng lại với Thiên Chúa là nguồn của sự sống, chân lý và tình yêu. Khi con người muốn tự mình quyết định điều thiện điều ác, khi tự do không còn là khả năng yêu mà trở thành khả năng chiếm đoạt, khi cái tôi muốn thế chỗ Thiên Chúa, thì sự đổ vỡ bắt đầu. Sự đổ vỡ ấy đi từ lòng người ra gia đình, từ gia đình ra xã hội, từ xã hội đến cả tương quan của con người với tạo thành. Tội lỗi không bao giờ chỉ là chuyện riêng của một cá nhân. Một người nói dối có thể phá hủy lòng tin của cả một gia đình. Một người tham lam có thể đẩy hàng nghìn người vào cảnh khốn cùng. Một nhà lãnh đạo say quyền lực có thể khiến cả dân tộc đổ máu. Một người cha nghiện ngập có thể để lại những vết thương kéo dài sang thế hệ con cái. Sự dữ lan truyền như những vòng sóng từ một viên đá ném xuống mặt hồ. Và đôi khi người chịu hậu quả nặng nhất lại không phải người đã gây nên sự dữ.
Nhưng nếu chỉ nói như thế thì vẫn chưa đủ, vì một người mẹ mất con không cần nghe một bài giảng rằng đau khổ là hậu quả của một thế giới sa ngã. Một người bị ung thư không thể được an ủi chỉ bằng cách giải thích nguồn gốc triết học của sự dữ. Một người bị phản bội không hết đau vì ta nói rằng Thiên Chúa ban tự do cho con người. Trong giờ phút đau đớn nhất, con người không chỉ hỏi: “Tại sao có sự dữ?” mà sâu xa hơn còn hỏi: “Thiên Chúa ở đâu khi tôi đau?” Và câu trả lời của Kitô giáo chính là Thánh Giá. Thiên Chúa ở đó. Người ở trên Thánh Giá. Người ở trong thân phận của Đấng bị phản bội, bị bỏ rơi, bị kết án oan, bị nhục mạ, bị đánh đòn, bị đóng đinh. Người không đứng ngoài lịch sử đau khổ của con người. Người bước vào chính giữa lịch sử ấy. Thiên Chúa đã không chọn con đường đứng trên trời mà giải thích cho con người dưới đất lý do của nước mắt. Người xuống đất để khóc với con người. Tin Mừng kể một chi tiết rất ngắn nhưng có sức lay động vô cùng: trước mộ Ladarô, “Đức Giêsu liền khóc” (Ga 11,35). Người biết mình sẽ cho Ladarô sống lại. Người biết cái chết không có tiếng nói cuối cùng. Thế mà Người vẫn khóc. Vì tình yêu không thể đứng trước nỗi đau của người mình yêu mà không rung động. Những giọt nước mắt ấy nói cho ta biết Thiên Chúa không vô cảm trước nước mắt của nhân loại. Và trên Canvê, Người không chỉ khóc nữa. Người đổ máu.
Nếu cần một đoạn Tin Mừng để soi sáng toàn bộ mầu nhiệm này, có lẽ không gì mạnh hơn cảnh Đức Giêsu trong vườn Ghếtsêmani: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39). Đức Giêsu không yêu đau khổ. Người không chạy đi tìm đau khổ. Người không nói: “Con thích uống chén đắng.” Người xin cho chén ấy cất đi. Điều đó rất quan trọng, bởi Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Kitô giáo tôn thờ một Thiên Chúa yêu con người đến mức chấp nhận đi qua đau khổ để cứu con người. Thánh Giá không đẹp vì trên đó có đinh, có máu, có đau đớn. Thánh Giá đẹp vì trên đó có một tình yêu không chịu bỏ cuộc. Nếu bỏ tình yêu ra khỏi Thánh Giá, Thánh Giá chỉ còn là dụng cụ hành hình. Chính tình yêu đã biến cây gỗ ô nhục thành cây sự sống. Chính tình yêu đã biến nơi con người tưởng là Thiên Chúa thất bại thành nơi Thiên Chúa chiến thắng. Chính tình yêu đã biến cái chết thành cửa ngõ Phục Sinh.
Có một hiểu lầm rất tai hại trong đời sống đạo: hễ gặp đau khổ thì nói ngay “Chúa gửi thánh giá”. Một đứa trẻ bị bạo hành, ta bảo đó là thánh giá Chúa gửi sao? Một người vợ bị chồng đánh đập, ta nói phải “vác thánh giá” và tiếp tục chịu đựng sao? Một cộng đồng bị áp bức, ta bảo hãy cam chịu vì đó là ý Chúa sao? Không. Có những thập giá không phải do Thiên Chúa gửi đến, mà do tội lỗi của con người đóng lên vai người khác. Thiên Chúa không muốn bạo lực. Thiên Chúa không muốn lạm dụng. Thiên Chúa không muốn chiến tranh. Thiên Chúa không muốn bất công. Thiên Chúa không muốn một người dùng quyền lực của mình để nghiền nát người yếu hơn. Thánh Giá của Đức Kitô không bao giờ là cái cớ để hợp thức hóa sự dữ. Trái lại, nhìn lên Thánh Giá, ta phải nhận ra khuôn mặt của mọi nạn nhân bị đóng đinh trong lịch sử và nghe tiếng Chúa gọi mình xuống khỏi sự thờ ơ. Người Kitô hữu không thể vừa hôn kính Thánh Giá trong nhà thờ vừa bước qua một người bị áp bức ngoài đường. Không thể quỳ dưới chân Đức Giêsu bị đóng đinh mà lại đứng về phía kẻ đóng đinh người khác. Không thể đọc “Lạy Chúa, xin thương xót chúng con” mà lại lạnh lùng trước tiếng kêu của người nghèo, người bệnh, người cô độc, người bị loại trừ.
Thánh Giá cũng cho ta hiểu một điều hết sức quan trọng: Thiên Chúa có thể tiêu diệt sự dữ bằng quyền năng, nhưng Người đã chọn chiến thắng sự dữ bằng tình yêu. Đó là điều con người rất khó hiểu. Ta muốn kẻ ác bị nghiền nát. Ta muốn kẻ làm ta đau phải đau lại. Ta muốn công lý đến ngay lập tức. Ta muốn Thiên Chúa chứng minh quyền năng bằng sấm sét. Nhưng trên Thánh Giá, Đức Giêsu lại cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đây không phải sự yếu đuối. Tha thứ trong lúc tay chân đang bị đóng đinh là một sức mạnh kinh khủng. Kẻ giết Đức Giêsu có thể đóng đinh đôi tay Người, nhưng không thể đóng đinh tình yêu của Người. Họ có thể làm thân thể Người chảy máu, nhưng không thể biến Người thành một kẻ thù ghét. Họ có thể giết Người, nhưng không thể khiến Người ngừng yêu. Và đó chính là chiến thắng của Thánh Giá. Sự dữ muốn sinh ra thêm sự dữ. Bạo lực muốn sinh bạo lực. Hận thù muốn sinh hận thù. Trả thù muốn kéo dài vòng tròn chết chóc đến vô tận. Nhưng trên Thánh Giá, Đức Giêsu cắt đứt vòng tròn ấy. Sự dữ đi vào Người, nhưng từ Người đi ra không phải sự dữ lớn hơn mà là sự tha thứ. Hận thù đổ xuống Người, nhưng từ trái tim Người chảy ra tình yêu. Con người đóng đinh Thiên Chúa, còn Thiên Chúa mở thiên đàng cho con người.
Hãy nhìn người trộm lành. Đó là một trong những cảnh Tin Mừng đẹp nhất để hiểu mầu nhiệm sự dữ. Ba cây thập giá cùng đứng trên đồi. Ba con người cùng đau. Một người dùng đau khổ để nguyền rủa. Một người dùng đau khổ để hoán cải. Và ở giữa là Đức Giêsu dùng đau khổ để cứu độ. Người trộm lành thưa: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Đức Giêsu đáp: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Cùng một cây thập giá, nhưng có thể dẫn đến tuyệt vọng hoặc dẫn đến thiên đàng. Điều đó không có nghĩa là đau khổ tự nó cứu ta. Không phải cứ khổ là nên thánh. Có người đau khổ rồi trở nên cay đắng. Có người đau khổ rồi khép lòng. Có người đau khổ rồi hận cả cuộc đời. Nhưng khi đau khổ được đặt vào tay Đức Kitô, khi giữa đêm tối ta còn có thể nói “xin nhớ đến con”, thì chính nơi tưởng như chỉ có chết chóc lại có thể nảy sinh sự sống. Đó là phép lạ của Thánh Giá.
Nhiều người hỏi: Nếu Thiên Chúa quyền năng, tại sao Người không tạo ra một thế giới trong đó không ai có thể làm điều ác? Có lẽ một thế giới như thế sẽ không còn là thế giới của những con người tự do, mà chỉ là một sân khấu của những con rối. Thiên Chúa muốn tình yêu, mà tình yêu nếu không tự do thì không còn là tình yêu. Một người máy được lập trình để nói “con yêu cha” không làm trái tim người cha rung động như một đứa con tự do chạy đến ôm cha. Thiên Chúa muốn được con người yêu cách tự do. Nhưng tự do luôn mang theo khả năng nói “không”. Có khả năng yêu thì cũng có khả năng từ chối yêu. Có khả năng trao ban thì cũng có khả năng chiếm đoạt. Có khả năng tha thứ thì cũng có khả năng trả thù. Thiên Chúa chấp nhận “rủi ro” của tự do vì Người coi con người là con chứ không phải nô lệ. Nhưng điều đáng kinh ngạc là khi con người dùng chính tự do ấy để đóng đinh Con Thiên Chúa, Thiên Chúa vẫn không rút lại món quà tự do. Người cứu con người từ bên trong tự do, bằng cách cho ta thấy tự do đích thực là gì: không phải muốn làm gì thì làm, mà là có khả năng yêu đến cùng.
Thế còn những đau khổ không do tự do con người trực tiếp gây nên thì sao? Một em bé sinh ra đã bệnh. Một thanh niên chết vì tai nạn. Một người đang khỏe mạnh bỗng nhận kết quả ung thư. Một trận động đất chôn vùi cả thành phố. Ta không nên vội tìm một nguyên nhân luân lý cho từng đau khổ. Đức Giêsu từng bác bỏ chính lối suy nghĩ đó. Khi các môn đệ thấy một người mù từ thuở mới sinh và hỏi: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?”, Đức Giêsu trả lời: “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội” (Ga 9,2-3). Có những đau khổ không thể giản lược thành phép toán “ai phạm tội thì người ấy bị phạt”. Nếu cứ nhìn đau khổ như hình phạt, ta sẽ biến Thiên Chúa thành một quan tòa lạnh lùng và làm đau thêm những người vốn đã đau. Tin Mừng không dạy như thế. Đức Giêsu đi qua đời không phải để giải thích bệnh tật cho người bệnh nhưng để chạm vào họ. Người chạm vào người phong cùi. Người mở mắt người mù. Người dựng người bại liệt đứng dậy. Người trả đứa con lại cho bà góa Nain. Người gọi Ladarô ra khỏi mồ. Người cho năm ngàn người đói ăn no. Nghĩa là đứng trước sự dữ, phản ứng của Thiên Chúa không phải là lạnh lùng giảng giải, mà là cứu chữa.
Chúng ta cũng phải như thế. Có những lúc một người đau không cần nghe ta nói gì cả. Họ cần một người ngồi bên. Có những căn phòng bệnh mà một bài thần học hay đến mấy cũng trở nên dư thừa. Có những đám tang mà câu nói “Chúa thương nên Chúa gọi về” có thể vô tình biến thành một nhát dao. Đừng quá vội nói thay cho Thiên Chúa. Có khi tốt hơn hết chỉ cần ở đó, nắm một bàn tay, khóc với người đang khóc. Đức Maria dưới chân Thánh Giá đã làm như thế. Mẹ không giảng một bài nào. Mẹ không giải thích cho Gioan tại sao Con Mẹ phải chết. Mẹ đứng đó. “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Chỉ hai chữ “đứng gần” thôi đã chứa cả một linh đạo. Khi không thể lấy thập giá khỏi vai người mình yêu, ta có thể đứng gần họ. Khi không có câu trả lời, ta có thể trao sự hiện diện. Khi không chữa được căn bệnh, ta có thể không để người bệnh cô đơn. Khi không thay đổi được quá khứ, ta có thể giúp một người không phải bước vào tương lai một mình. Đôi khi đó chính là cách Thiên Chúa chiến thắng sự dữ qua đôi tay chúng ta.
Có một điều mà Thánh Giá nói với chúng ta rất mạnh: sự dữ không bao giờ có tiếng nói cuối cùng. Nếu câu chuyện Đức Giêsu dừng lại chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, Kitô giáo sẽ chỉ là tôn giáo của một thất bại đẹp. Nhưng Thánh Giá không bao giờ tách khỏi Phục Sinh. Người bị đóng đinh đã sống lại. Ngôi mộ trống chính là lời phản bác của Thiên Chúa đối với tất cả những gì tưởng như đã kết thúc. Con người nói: chết. Thiên Chúa nói: sống. Con người đóng cửa mồ. Thiên Chúa mở cửa. Con người đặt một tảng đá lớn trước mộ. Thiên Chúa lăn nó sang một bên. Con người niêm phong. Thiên Chúa phá ấn. Chính ở đây niềm hy vọng Kitô giáo trở nên hoàn toàn khác với thứ lạc quan dễ dãi. Người Kitô hữu không nói rằng “mọi chuyện rồi sẽ ổn” vì ta tưởng tượng như thế. Người Kitô hữu nói rằng sự chết không phải tiếng nói cuối cùng bởi một người đã thật sự chết và đã thật sự sống lại. Chúng ta không hy vọng vì đời luôn đẹp. Đời có những lúc rất không đẹp. Ta hy vọng vì Thiên Chúa trung tín.
Đứng trước sự dữ, ta thường hỏi: “Tại sao Chúa không làm gì?” Nhưng có khi Chúa lại hỏi chúng ta: “Còn con, con đang làm gì?” Có những sự dữ mà ta cầu Chúa xóa đi trong khi Người đang muốn dùng chính ta để xóa nó. Ta cầu xin cho người đói có cơm, nhưng trong nhà ta có thức ăn dư thừa. Ta cầu xin cho người cô đơn được an ủi, nhưng ta không gọi cho người đang cần một tiếng nói. Ta cầu xin cho thế giới bớt hận thù, nhưng trên mạng xã hội ta lại sẵn sàng buông những lời làm nhục người khác. Ta cầu xin cho gia đình hòa thuận, nhưng cái tôi của ta không chịu nói một tiếng xin lỗi. Ta cầu xin cho người nghèo được giúp đỡ, nhưng ta tiếc một chút tiền nhỏ. Ta cầu xin cho Giáo Hội thánh thiện, nhưng lại không chịu sửa một thói quen xấu của mình. Có những lời cầu nguyện Thiên Chúa trả lời bằng cách đặt một con người cần giúp đỡ ngay trước cửa nhà ta. Có những phép lạ Người muốn thực hiện qua bàn tay ta. Thánh Têrêsa Calcutta từng nói một tư tưởng rất đẹp: chúng ta không phải ai cũng làm được những việc lớn, nhưng có thể làm những việc nhỏ với tình yêu lớn. Và có lẽ đó là một trong những cách rất cụ thể để chống lại sự dữ: mỗi ngày đừng để sự dữ đi xuyên qua mình mà tiếp tục lan ra.
Một người làm ta đau, nếu ta mang vết đau ấy về rồi làm đau người khác, sự dữ đã thắng thêm một vòng. Một đứa trẻ bị cha mẹ đối xử khắc nghiệt, lớn lên rồi lại đối xử khắc nghiệt với con mình, sự dữ đã truyền qua một thế hệ. Một người bị phản bội rồi quyết định từ nay không tin ai nữa, sự dữ đã chiếm thêm một vùng đất trong tâm hồn. Nhưng nếu một người từng bị tổn thương lại quyết định sẽ không làm người khác tổn thương như mình từng bị; nếu một người từng lớn lên trong gia đình thiếu tình thương lại quyết tâm cho con cái mình một mái nhà đầy yêu thương; nếu một người từng bị xúc phạm nhưng không dùng vết thương ấy làm lý do xúc phạm người khác; nếu một người từng bị loại trừ nhưng lại mở cửa đón người bị loại trừ, thì ở đó Thánh Giá đang chiến thắng. Vết thương không biến mất, nhưng vết thương không còn sinh thêm vết thương. Đó chính là công trình của ơn cứu độ.
Ta thường tưởng chiến thắng sự dữ có nghĩa là xóa hết đau khổ khỏi cuộc đời. Nhưng đôi khi chiến thắng sự dữ là không để nó biến ta thành người xấu. Bệnh tật có thể lấy sức khỏe nhưng đừng để nó lấy mất lòng tin. Sự phản bội có thể làm tan một tương quan nhưng đừng để nó lấy mất khả năng yêu. Cái chết có thể lấy một người khỏi vòng tay ta nhưng đừng để nó lấy mất hy vọng. Một lời vu khống có thể lấy danh dự trong mắt người đời nhưng đừng để nó lấy mất sự ngay thẳng trong lương tâm. Nghèo khó có thể lấy nhiều tiện nghi nhưng đừng để nó lấy phẩm giá. Thất bại có thể lấy một cơ hội nhưng đừng để nó lấy lòng can đảm. Đây không phải là những câu nói đẹp để che đậy đau khổ. Nó chính là điều Đức Giêsu đã sống. Người bị lấy mất áo. Bị lấy mất tự do. Bị lấy mất danh dự. Bị lấy mất bạn bè. Bị lấy mất cả mạng sống. Nhưng không ai lấy được khỏi Người tình yêu dành cho Chúa Cha và nhân loại.
Có lẽ điều đáng sợ nhất của sự dữ không phải là nó làm ta đau, mà là nó dụ ta trở nên giống nó. Người làm ta tổn thương, và ta bắt đầu thèm muốn trả thù. Người nói xấu ta, ta bắt đầu tìm khuyết điểm của họ để nói lại. Người lừa ta, ta tự nhủ từ nay mình cũng phải khôn lỏi. Người sống bất chính lại thành công, ta bắt đầu nghĩ sống tử tế chỉ là ngu. Đó là lúc sự dữ đang tìm đường từ bên ngoài đi vào bên trong. Thánh Giá chặn con đường ấy. Đức Giêsu không để sự tàn ác của kẻ khác quyết định Người sẽ trở thành ai. Người vẫn là Con yêu dấu. Người vẫn là Đấng yêu thương. Người vẫn tha thứ. Người vẫn trao Mẹ cho Gioan. Người vẫn mở thiên đàng cho người trộm lành. Người vẫn phó linh hồn trong tay Cha. Người chết mà không phản bội chính mình. Thật ra, một trong những chiến thắng lớn nhất đời người là đi qua đau khổ mà không để đau khổ cướp mất sự thiện trong lòng mình.
Có người sẽ hỏi: “Nhưng nếu cứ tha thứ như thế thì công lý ở đâu?” Thánh Giá không phủ nhận công lý. Ngược lại, Thánh Giá cho thấy tội lỗi nghiêm trọng đến mức nào. Nếu tội lỗi chẳng đáng kể, Thánh Giá đã không cần thiết. Tha thứ không có nghĩa là nói sự dữ không quan trọng. Tha thứ không có nghĩa là người gây tội không phải chịu trách nhiệm. Tha thứ không đồng nghĩa với việc một người bị bạo hành phải trở lại sống ngay với kẻ bạo hành như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Tha thứ không loại bỏ nhu cầu của sự thật, công lý, bảo vệ người yếu thế và sửa chữa hậu quả. Tha thứ là không để hận thù trở thành ông chủ của trái tim mình. Công lý Kitô giáo không phải báo thù; đó là đưa mọi sự trở lại trật tự của sự thật và tình yêu. Đôi khi vì yêu, ta phải nói không. Vì yêu, ta phải tố giác sự dữ. Vì yêu, ta phải bảo vệ một đứa trẻ. Vì yêu, ta phải ngăn một người tiếp tục gây hại. Chính Đức Giêsu hiền lành cũng đã lật bàn những kẻ biến Đền Thờ thành nơi buôn bán. Tình yêu không phải yếu mềm. Tình yêu đích thực có xương sống.
Mầu nhiệm sự dữ cũng dạy ta khiêm tốn trước những điều mình không hiểu. Gióp trong Cựu Ước mất của cải, mất con cái, mất sức khỏe. Những người bạn đến và liên tục cố giải thích rằng chắc Gióp đã phạm tội gì đó nên mới bị như vậy. Họ có cả một hệ thống lý luận rất gọn gàng. Nhưng cuối cùng chính Thiên Chúa cho thấy họ đã nói về Người không đúng. Vấn đề của họ là muốn nhét Thiên Chúa vào một công thức: người tốt thì phải được thưởng ngay ở đời này, người xấu thì phải bị phạt ngay. Nhưng cuộc đời không đơn giản như vậy. Có người tử tế vẫn gặp khổ đau. Có kẻ bất lương vẫn sống sung túc. Có những lời cầu xin được nhậm, có những lời cầu xin ta phải chờ đến tận cuối đời mà vẫn chưa thấy câu trả lời. Đức tin trưởng thành không phải là có câu trả lời cho mọi chuyện. Đức tin trưởng thành là khi không có câu trả lời mà vẫn không buông tay Thiên Chúa.
Chính Đức Maria là mẫu gương ấy. Khi sứ thần truyền tin, Mẹ thưa xin vâng. Nhưng tiếng xin vâng ấy không đưa Mẹ vào một cuộc đời dễ dàng. Mẹ sinh Con trong cảnh nghèo. Mẹ ôm Con trốn sang Ai Cập. Mẹ nghe lời tiên tri của Simêon: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.” Mẹ tìm Con ba ngày trong lo lắng. Mẹ nhìn thấy Con bị chống đối. Và cuối cùng Mẹ đứng dưới chân Thập Giá. Không có một phép lạ nào kéo Đức Giêsu xuống khỏi thập giá trước mắt Mẹ. Không có thiên thần nào hiện ra giải thích mọi chuyện. Chỉ có một người Mẹ và một người Con đang chết. Nhưng Mẹ đứng đó. Đức tin đôi khi là như thế: đứng lại dưới chân Thánh Giá khi ta không hiểu gì cả. Không chạy trốn. Không nguyền rủa. Không giải thích. Chỉ đứng đó cùng Chúa.
Có những người đã rời bỏ Thiên Chúa vì sự dữ. Ta không nên vội phán xét họ. Có thể họ đã đau quá. Có thể hình ảnh Thiên Chúa mà họ từng được dạy quá nghèo nàn: một Thiên Chúa thưởng người tốt, phạt người xấu, ai cầu thì được, ai ngoan thì đời êm. Khi đời không diễn ra như thế, hình ảnh ấy sụp đổ. Nhưng đôi khi chính sự sụp đổ đó lại mở đường cho một đức tin trưởng thành hơn. Thiên Chúa của Thánh Giá không hứa rằng người tin Người sẽ không gặp đau khổ. Đức Giêsu nói rất rõ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). Người không bán cho chúng ta một thứ tôn giáo bảo hiểm chống bất hạnh. Người hứa một điều sâu hơn: trong mọi đau khổ, ta không bao giờ phải đi một mình. “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Khác biệt không phải là người có đức tin không có đêm tối. Khác biệt là trong đêm tối ấy họ biết có một Đấng đã đi qua đêm tối trước mình.
Đôi khi ta mong Chúa giải thích, nhưng Chúa lại trao cho ta sự hiện diện. Một đứa trẻ sợ sấm không cần cha mình giảng về hiện tượng phóng điện trong khí quyển. Nó chỉ cần cha ôm nó vào lòng. Có những đêm cuộc đời ta cũng như vậy. Ta không hiểu vì sao Chúa cho chuyện này xảy ra. Ta không hiểu vì sao lời cầu nguyện dường như không được nhận. Ta không hiểu vì sao một người tốt phải ra đi quá sớm. Ta không hiểu vì sao một cuộc đời có thể bất công đến thế. Và có thể khi còn ở đời này, ta sẽ không bao giờ hiểu hết. Nhưng ta có thể nhìn lên Thánh Giá và biết ít nhất một điều: Thiên Chúa không xa lạ với nỗi đau của mình. Những lỗ đinh của Đức Kitô Phục Sinh vẫn còn. Sau khi sống lại, Người không xóa các vết thương. Người cho Tôma chạm vào chúng. Thật kỳ lạ. Thân thể đã vinh hiển mà vẫn mang dấu đinh. Dường như Thiên Chúa muốn nói rằng trong Nước Trời, những gì ta đã đau vì tình yêu sẽ không bị xóa khỏi lịch sử như thể chưa từng có, nhưng sẽ được biến đổi thành dấu chỉ của chiến thắng.
Thánh Giá vì vậy không cho chúng ta một lời giải thích đầy đủ về sự dữ, nhưng cho ta một câu trả lời lớn hơn lời giải thích: Thiên Chúa chịu đau cùng ta, mang đau khổ của ta, biến đau khổ thành nơi gặp gỡ Người, và cuối cùng sẽ chiến thắng nó. Sách Khải Huyền diễn tả niềm hy vọng ấy bằng những lời đẹp vô cùng: “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,4). Hãy để ý: Kinh Thánh không nói rằng trên thiên đàng ta sẽ được giải thích tất cả nước mắt. Kinh Thánh nói Thiên Chúa sẽ lau nước mắt. Đẹp biết bao! Cuối lịch sử không phải là một bài diễn thuyết của Thiên Chúa về lý do của đau khổ, nhưng là một cử chỉ dịu dàng: Người lau nước mắt của con cái Người.
Có những vết thương ở đời này không chữa lành hoàn toàn. Có những người ta mất đi và không thể gặp lại cho đến ngày sau hết. Có những câu chuyện không bao giờ có một cái kết đẹp theo tiêu chuẩn thế gian. Có những bất công mà người gây ra chết trước khi bị xét xử. Có những lời xin lỗi không bao giờ được nói. Có những lời cầu xin tưởng như rơi vào im lặng. Nếu chỉ có đời này, quả thật có rất nhiều điều hoàn toàn vô nghĩa. Nhưng đức tin vào Phục Sinh nói rằng lịch sử chưa kết thúc. Phiên tòa cuối cùng chưa mở. Nước mắt cuối cùng chưa rơi. Lời cuối cùng chưa được nói. Thiên Chúa vẫn còn phần kết của câu chuyện. Và vì thế người Kitô hữu có thể đấu tranh chống sự dữ mà không tuyệt vọng, có thể chịu mất mát mà không đánh mất hy vọng, có thể khóc mà vẫn tin.
Trong những ngày đời thật nặng, đừng cố gắng trở thành người hùng. Hãy trở thành một người con. Đức Giêsu trong Ghếtsêmani cũng đã nói: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được.” Người không che giấu sự yếu đuối của cảm xúc. Người xin các môn đệ thức với mình. Người quỳ xuống cầu nguyện. Nếu một ngày ta thấy thập giá quá nặng, đừng xấu hổ vì mình mệt. Nếu cần khóc, hãy khóc. Nếu cần tìm người nâng đỡ, hãy tìm. Nếu cần bác sĩ, chuyên gia, bạn bè, cộng đoàn, hãy đón nhận. Chúa không đòi ta vác thập giá một mình. Trên đường lên Canvê, chính Đức Giêsu cũng để Simon Kyrênê vác đỡ thập giá. Đôi khi lòng khiêm nhường lớn nhất là chấp nhận để một Simon bước vào đời mình. Và đôi khi ơn gọi của ta lại là trở thành Simon cho một người khác.
Điều nguy hiểm là biến Thánh Giá thành lời ca tụng đau khổ. Không. Đức Giêsu chữa bệnh, cho đói ăn, an ủi người khóc, cứu người bị loại trừ. Nếu ta có thể làm nhẹ thập giá của ai, hãy làm. Nếu có thể chữa một căn bệnh, hãy chữa. Nếu có thể ngăn một bất công, hãy ngăn. Nếu có thể cứu một cuộc hôn nhân bằng đối thoại chân thành, hãy làm. Nếu có thể bảo vệ một người yếu thế, đừng bảo họ cứ “chịu khó vác thập giá”. Simon Kyrênê là hình ảnh đẹp của Kitô hữu: không đứng bên đường giảng cho Đức Giêsu cách vác thập giá, nhưng ghé vai vào cây gỗ và đi cùng Người một đoạn. Thế giới này có lẽ không thiếu người giải thích đau khổ. Thế giới thiếu những người chịu ghé vai.
Và ta cũng đừng quên một sự dữ âm thầm nhưng nguy hiểm: sự vô cảm. Không phải ai cũng đóng đinh Chúa. Có những người chỉ đứng nhìn. Có những người đi ngang. Có những người nghĩ chuyện đó không liên quan đến mình. Trong dụ ngôn người Samari nhân hậu, người tư tế và thầy Lêvi không đánh người bị nạn. Họ chỉ đi qua. Nhưng Đức Giêsu đặt người Samari làm mẫu vì ông “chạnh lòng thương”, đến gần, băng bó vết thương, đặt nạn nhân lên lưng lừa, đưa về quán trọ và trả tiền chăm sóc. Sự dữ lớn mạnh không chỉ vì người xấu làm điều xấu, mà nhiều khi còn vì người tốt không làm gì. Thánh Giá đặt chúng ta trước một lựa chọn: ta đứng ở đâu? Trong đám đông chế nhạo? Trong nhóm lính chia áo? Trong hàng người hiếu kỳ? Hay đứng gần cùng Đức Maria và Gioan? Hay như Simon Kyrênê, ghé vai vào thập giá? Hay như Giuse Arimathê, khi mọi sự tưởng đã kết thúc vẫn can đảm xin xác Chúa để mai táng?
Mầu nhiệm sự dữ không phải chỉ là vấn đề để tranh luận trong lớp thần học. Nó là câu hỏi mỗi người phải trả lời bằng đời mình. Có thể ta không bao giờ giải thích được tại sao có quá nhiều bóng tối, nhưng ta có thể quyết định mình sẽ không trở thành thêm một bóng tối. Có thể ta không xóa hết nước mắt trên thế giới, nhưng ta có thể lau nước mắt của một người. Có thể ta không chấm dứt mọi cuộc chiến, nhưng ta có thể chấm dứt một cuộc chiến trong gia đình bằng tiếng xin lỗi. Có thể ta không tiêu diệt được nghèo đói toàn cầu, nhưng ta có thể chia sẻ bữa ăn. Có thể ta không chữa được mọi bệnh nhân, nhưng ta có thể ngồi cạnh một người bệnh. Có thể ta không sửa được mọi bất công, nhưng ta có thể từ chối tham gia vào bất công. Có thể ta không ngăn được sự chết, nhưng ta có thể làm cho một người trước khi chết biết rằng họ được yêu.
Chính nơi ấy, Thánh Giá không còn là vật treo trên tường mà trở thành con đường sống. Thánh Giá không còn là một biểu tượng trang trí trên ngực nhưng trở thành cách ta đối diện sự dữ: không trả thù, không tuyệt vọng, không chạy trốn, không vô cảm, không đầu hàng bóng tối. Thánh Giá dạy ta vừa khóc vừa yêu, vừa đau vừa tha thứ, vừa chiến đấu cho công lý vừa không nuôi hận thù, vừa nhìn thẳng vào cái chết vừa tin rằng sự sống mạnh hơn.
Và cuối cùng, có lẽ ta cần trở về với câu hỏi ban đầu: “Nếu Thiên Chúa tốt lành, tại sao có sự dữ?” Kitô giáo không dám nói rằng mình có một công thức đủ để làm thỏa mãn mọi trí óc và xoa dịu mọi trái tim. Nhưng Kitô giáo dám chỉ vào một cây Thánh Giá và nói: Đây là điều Thiên Chúa đã làm trước sự dữ. Người không bỏ chúng ta. Người xuống với chúng ta. Người để sự dữ dồn toàn bộ sức mạnh của nó lên thân mình, và rồi bằng tình yêu, Người bẻ gãy quyền lực của nó từ bên trong. Thứ Sáu Tuần Thánh dường như là ngày sự dữ thắng. Người công chính bị giết. Kẻ quyền thế tưởng mình thành công. Các môn đệ chạy trốn. Ngôi mộ đóng lại. Nhưng chỉ ba ngày sau, tất cả đã khác. Và từ đó trở đi, mỗi cây thập giá của người Kitô hữu đều mang trong mình một lời hứa âm thầm của buổi sáng Phục Sinh.
Vì thế, khi đời ta có những câu hỏi không lời đáp, hãy nhìn lên Thánh Giá. Không phải để có ngay một lời giải thích, mà để nhớ rằng ta không cô độc. Khi đau khổ làm ta tưởng Thiên Chúa đã bỏ mình, hãy nhớ chính Đức Giêsu cũng đã đi qua cảm giác bị bỏ rơi ấy. Khi sự dữ làm ta hoài nghi sức mạnh của tình yêu, hãy nhìn Đấng bị đóng đinh mà vẫn tha thứ. Khi cái chết khiến ta tưởng mọi sự đã hết, hãy nhớ ngôi mộ trống. Khi lòng ta nổi lên câu “Tại sao?”, cứ hỏi. Thiên Chúa đủ lớn để đón cả những câu hỏi của ta. Nhưng sau mọi câu hỏi, xin cho ta còn đủ sức nói như Đức Giêsu: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).
Và có lẽ lời cầu nguyện đẹp nhất của chúng ta trước mầu nhiệm sự dữ không phải là: “Lạy Chúa, xin cho con hiểu hết”, bởi có những điều ta không thể hiểu hết ở đời này. Nhưng hãy thưa: “Lạy Chúa, khi con không hiểu, xin cho con vẫn tin. Khi con đau, xin cho con đừng trở nên cay đắng. Khi con bị tổn thương, xin đừng để con làm tổn thương người khác. Khi con gặp sự dữ, xin cho con đủ can đảm chống lại nó mà không trở thành giống nó. Khi con gặp người đang vác thập giá, xin đừng để con chỉ đứng nhìn. Xin cho con biết ghé vai. Khi bóng tối phủ xuống, xin cho con nhớ rằng Thánh Giá không phải là chương cuối. Khi con đứng trước một ngôi mộ, xin cho con nghe trong sâu thẳm lời của Chúa: ‘Ta là sự sống lại và là sự sống.’ Và khi chính giờ chết của con đến, xin cho con được nhìn thấy bên kia Thánh Giá là bình minh của Phục Sinh.”
Thánh Giá không giải thích hết mầu nhiệm sự dữ. Thánh Giá làm một điều lớn hơn: Thánh Giá bảo đảm rằng Thiên Chúa đã đi vào giữa sự dữ, đã mang lấy nó, đã chịu những vết thương của nó, và đã mở một con đường xuyên qua nó dẫn đến sự sống. Bởi thế, đối với người Kitô hữu, đau khổ vẫn là đau khổ, nước mắt vẫn là nước mắt, cái chết vẫn khiến lòng ta tan nát; nhưng không một điều nào trong số ấy còn tuyệt đối nữa. Chỉ tình yêu là tuyệt đối. Chỉ Thiên Chúa là tuyệt đối. Và trên đồi Canvê, giữa một thế giới tưởng như đã để sự dữ chiến thắng, tình yêu ấy vẫn dang hai cánh tay ra, không để kết án, nhưng để ôm lấy cả nhân loại.
Nhìn lên Thánh Giá, ta hiểu rằng Thiên Chúa không luôn cứu chúng ta khỏi thập giá, nhưng Người luôn muốn cứu chúng ta trong thập giá và cuối cùng cứu chúng ta qua thập giá. Có những cơn bão Chúa làm cho yên. Có những cơn bão Người lại bước vào thuyền với ta. Có những chiếc chén Người cất khỏi môi ta. Có những chiếc chén Người cùng uống với ta. Có những con đường Người đổi hướng. Có những con đường Người chỉ nói: “Đừng sợ, Thầy ở đây.” Và có lẽ đến ngày ta gặp Người mặt đối mặt, những câu “tại sao” từng làm ta mất ngủ sẽ rơi xuống như những chiếc lá khô trước ánh sáng của một tình yêu mà hôm nay ta mới chỉ thấy lờ mờ.
Cho đến ngày ấy, xin cứ ôm lấy Thánh Giá, không phải ôm lấy sự dữ, nhưng ôm lấy Đấng đã chiến thắng sự dữ. Xin cứ bước đi. Có thể chậm. Có thể vừa đi vừa khóc. Có thể có lúc phải nhờ người khác đỡ mình. Nhưng cứ bước. Bởi con đường Canvê không kết thúc trên Canvê. Sau ngọn đồi ấy còn có một khu vườn. Trong khu vườn có một ngôi mộ. Và ngôi mộ ấy trống.
Đó là niềm hy vọng của chúng ta.
Đó là lời cuối cùng của Thiên Chúa trước mầu nhiệm sự dữ.
Không phải sự chết.
Không phải nước mắt.
Không phải bóng tối.
Mà là sự sống.
Lm. Anmai, CSsR.

THÁNH GIÁ CÓ PHẢI LÀ “Ý CHÚA” MUỐN CHÚNG TA ĐAU KHỔ KHÔNG?
Có những câu nói đạo đức chúng ta đã nghe quá quen đến độ không còn thấy chúng nguy hiểm nữa. Một người vừa mất con, ta bảo: “Ý Chúa đó, ráng chịu.” Một người đang chống chọi với căn bệnh quái ác, ta nói: “Chúa gửi thánh giá cho anh chị.” Một gia đình tan nát vì người chồng nghiện ngập, bạo hành, phản bội, người ta lại khuyên người vợ: “Thánh giá Chúa trao thì phải vác.” Một người bị đối xử bất công, bị chèn ép, bị vu oan, có người lại vội vàng bảo: “Chúa muốn vậy để thử thách.” Những câu nói ấy nhiều khi xuất phát từ thiện ý, nhưng nếu không cẩn thận, chúng ta có thể làm cho khuôn mặt của Thiên Chúa trở nên méo mó. Từ một Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, ta vô tình biến Người thành một vị thần thích nhìn con người đau đớn; từ Tin Mừng của Đức Giêsu, ta có thể biến Kitô giáo thành một thứ đạo dạy người ta cúi đầu chịu đựng tất cả mọi bất công; từ Thánh Giá là biểu tượng cao cả nhất của tình yêu, ta lại biến Thánh Giá thành lời giải thích dễ dãi cho mọi đau khổ trên đời. Và rồi người đang đau lại phải chịu thêm một nỗi đau khác: họ tưởng rằng chính Thiên Chúa là Đấng đã muốn cho tai họa ấy xảy đến với họ.
Cho nên câu hỏi “Thánh Giá có phải là ý Chúa muốn chúng ta đau khổ không?” không phải là một câu hỏi nhỏ. Đó là câu hỏi chạm đến chính khuôn mặt của Thiên Chúa. Trả lời sai câu hỏi này, ta có thể làm cho người ta xa Chúa. Trả lời đúng, ta có thể giúp một tâm hồn đang tan nát nhận ra rằng ngay giữa nước mắt của họ vẫn có một Đấng đang đứng rất gần. Và điều đầu tiên cần nói thật rõ là: Thiên Chúa không yêu đau khổ. Thiên Chúa yêu con người. Thiên Chúa không vui thích khi chúng ta khóc. Thiên Chúa không sáng tạo bệnh tật, chiến tranh, bạo lực, phản bội và cái chết để rồi đứng nhìn chúng ta vật vã trong đó. Kinh Thánh không mặc khải một Thiên Chúa tàn nhẫn như thế. Trái lại, toàn bộ Tin Mừng cho thấy Đức Giêsu đi đến đâu thì Người chữa lành đến đó, tha thứ đến đó, giải thoát đến đó, phục hồi phẩm giá đến đó. Người gặp người mù, Người cho họ thấy. Người gặp người phong cùi, Người chữa sạch. Người gặp người què, Người cho họ đứng lên. Người gặp người tội lỗi, Người tha thứ. Người gặp người mẹ mất con, Người chạnh lòng thương. Người đứng trước mộ Lazarô, Người khóc. Người gặp đám đông đói, Người cho họ ăn. Nếu đau khổ tự nó là điều Thiên Chúa muốn, thì Đức Giêsu đã không dành gần như cả đời công khai để chống lại những gì làm con người khổ đau.
Có một câu Tin Mừng ngắn mà chúng ta cần giữ thật lâu trong lòng. Khi Đức Giêsu đến làng Bêtania và thấy Maria khóc vì Lazarô đã chết, thánh Gioan kể: “Đức Giêsu liền khóc” (Ga 11,35). Chỉ ba chữ thôi: Đức Giêsu liền khóc. Nhưng ba chữ ấy phá vỡ rất nhiều hình ảnh sai lạc về Thiên Chúa. Trước nấm mồ của một người bạn, Chúa không đứng đó giảng giải một lý thuyết về đau khổ. Chúa không bảo Maria: “Đừng khóc, đây là ý Thiên Chúa.” Chúa không nói với Matta: “Gia đình con phải mang thánh giá này.” Người khóc với họ. Thiên Chúa khóc với con người. Đấng dựng nên trời đất lại để nước mắt chảy trên khuôn mặt mình trước nỗi đau của một gia đình bé nhỏ. Đó mới là Thiên Chúa của Tin Mừng. Một Thiên Chúa không đứng bên ngoài đau khổ để giải thích đau khổ, nhưng bước vào trong đau khổ để ở với con người.
Thế thì tại sao Đức Giêsu lại nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24)? Phải chăng chính câu nói ấy chứng minh rằng Thiên Chúa muốn chúng ta đau khổ? Không. Muốn hiểu lời này, ta phải nhìn vào chính cuộc đời Đức Giêsu. Chúa không đi tìm thập giá. Chúa không yêu cây gỗ thập giá. Chúa không tự hành hạ mình. Chúa yêu Chúa Cha và yêu con người đến cùng; chính lòng trung thành với tình yêu ấy đã dẫn Người đến thập giá. Đây là khác biệt rất lớn. Thập giá không phải là mục tiêu của tình yêu; thập giá là cái giá đôi khi tình yêu phải trả khi tình yêu đi đến cùng.
Một người mẹ thức trắng đêm bên đứa con bệnh không yêu sự mất ngủ, nhưng yêu đứa con. Một người cha lao động vất vả không yêu mồ hôi và kiệt sức, nhưng yêu gia đình. Một bác sĩ bước vào vùng dịch không yêu nguy hiểm, nhưng yêu sự sống của bệnh nhân. Một linh mục trung thành với đoàn chiên không yêu những hiểu lầm, cô đơn hay hy sinh, nhưng vì yêu Chúa và yêu con người nên chấp nhận cả những điều ấy nếu sứ vụ đòi hỏi. Một người vợ chăm sóc người chồng bệnh tật không yêu bệnh tật của chồng; chị yêu chồng mình. Đau khổ ở đây không phải điều được tìm kiếm. Nó là hậu quả có thể xuất hiện khi một người dám yêu thật.
Đức Giêsu cũng vậy. Nếu Người muốn tránh mọi đau khổ bằng mọi giá, Người có thể im lặng trước sự giả hình, có thể thỏa hiệp với quyền lực, có thể tránh Giêrusalem, có thể không đụng đến những vết thương của người bị loại trừ, có thể không tha thứ cho người tội lỗi, có thể không đứng về phía những con người bị khinh miệt. Nhưng lúc đó Người sẽ phản bội sứ mạng Chúa Cha trao và phản bội chính tình yêu. Thập giá xuất hiện vì thế giới tội lỗi chống lại tình yêu đến cùng của Người. Thập giá cho thấy không phải Thiên Chúa thích đau khổ, nhưng cho thấy Thiên Chúa yêu con người đến mức sẵn sàng chịu đau khổ thay vì ngừng yêu.
Điều này được biểu lộ rất rõ trong vườn Ghếtsêmani. Đêm trước khi chịu chết, Đức Giêsu không vui vẻ nói: “Lạy Cha, xin cho Con đau khổ càng nhiều càng tốt.” Người cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39). Câu này rất quan trọng. Đức Giêsu không ham đau khổ. Bản tính nhân loại của Người run sợ trước đau đớn, nhục nhã và cái chết. Người xin nếu có thể thì chén ấy được cất đi. Nhưng có một điều Người không từ bỏ: tình yêu và lòng trung thành. “Xin theo ý Cha” không có nghĩa là “Cha muốn Con bị tra tấn.” Ý Cha trước hết là chương trình cứu độ, là tình yêu, là lòng trung tín, là không bỏ rơi nhân loại. Trong một thế giới bị tội lỗi làm tổn thương, sự trung tín ấy đi qua thập giá.
Vì thế, nói rằng “thập giá là ý Chúa” phải hết sức cẩn trọng. Không phải bất cứ điều xấu nào xảy ra cũng được phép kết luận rằng: “Chúa muốn thế.” Một đứa trẻ bị lạm dụng không phải vì Chúa muốn nó bị lạm dụng. Một người vợ bị đánh đập không phải vì Chúa ban cho chị một “thánh giá” và đòi chị im lặng chịu đựng. Một người bị tai nạn vì kẻ khác lái xe say rượu không thể nói rằng Thiên Chúa đã muốn tai nạn xảy ra. Một cuộc chiến giết chết trẻ thơ không phải là chương trình Thiên Chúa. Tham nhũng, bạo lực, bóc lột, buôn người, nghiện ngập, ngoại tình, phá thai, giết người, lạm dụng quyền lực không thể được khoác lên hai chữ “ý Chúa”. Gọi sự dữ là ý Chúa đôi khi vô tình miễn trách nhiệm cho thủ phạm và đặt gánh nặng lên nạn nhân. Đó không phải Tin Mừng.
Có những đau khổ đến từ giới hạn của thân phận con người: bệnh tật, già yếu, thiên tai, cái chết. Có những đau khổ đến từ lựa chọn sai lầm của chính chúng ta. Có những đau khổ do tội lỗi và sự độc ác của người khác. Có những đau khổ đến từ những cơ chế bất công trong xã hội. Có những đau khổ là hậu quả của một thế giới chưa hoàn tất và vẫn đang “rên siết” như thánh Phaolô nói. Không thể gom tất cả lại rồi đơn giản tuyên bố: “Chúa gửi.” Thiên Chúa có thể cho phép một điều xảy ra trong mầu nhiệm tự do và trật tự của thế giới, nhưng “cho phép” không đồng nghĩa với “muốn sự dữ ấy.” Và hơn nữa, điều làm nên niềm tin Kitô giáo không phải là chúng ta có lời giải thích cho mọi đau khổ, nhưng là chúng ta tin rằng không một đau khổ nào nằm ngoài khả năng cứu độ của Thiên Chúa.
Đây là điều kỳ diệu của Thánh Giá. Kitô giáo không dạy rằng đau khổ tự nó tốt. Kitô giáo dạy rằng Thiên Chúa có thể bước vào điều xấu và làm phát sinh điều tốt mà sự dữ không bao giờ có thể tự tạo ra. Thứ Sáu Tuần Thánh là minh chứng lớn nhất. Con Thiên Chúa vô tội bị phản bội, bị kết án bất công, bị chế nhạo, đánh đập, đóng đinh. Xét về phía con người, đó là một chuỗi tội lỗi: phản bội của Giuđa, hèn nhát của Philatô, ghen ghét của giới lãnh đạo, bạo lực của lính tráng, thất tín của các môn đệ. Không một hành vi tội lỗi nào trong đó trở thành tốt chỉ vì cuối cùng Thiên Chúa đem ơn cứu độ ra từ đó. Giuđa vẫn chịu trách nhiệm về sự phản bội; Philatô vẫn chịu trách nhiệm về phán quyết bất công; những kẻ hành hình vẫn làm điều sai. Nhưng Thiên Chúa đã lấy chính nơi tưởng như chiến thắng của sự dữ để biến thành nơi tình yêu chiến thắng. Thập giá vốn là dụng cụ giết người lại trở thành dấu chỉ cứu độ. Cái chết tưởng như kết thúc tất cả lại mở ra Phục Sinh.
Đó là cách Thiên Chúa đối diện với đau khổ của chúng ta. Không phải lúc nào Người cũng cất nó đi ngay. Đây chính là điều làm chúng ta khó hiểu nhất. Chúng ta cầu xin người thân khỏi bệnh mà họ vẫn chết. Chúng ta cầu xin gia đình bình an mà sóng gió vẫn đến. Chúng ta xin được minh oan mà có khi phải sống nhiều năm với tiếng xấu. Chúng ta xin thoát khỏi một thử thách mà thử thách cứ kéo dài. Những lúc ấy rất dễ nảy sinh câu hỏi: “Nếu Chúa thương con, tại sao Chúa không làm gì?” Không có câu trả lời nào đủ để làm nước mắt khô ngay. Không một bài thần học nào có thể lấp đầy chiếc ghế trống của người vừa mất. Nhưng Thánh Giá cho chúng ta biết một điều: sự im lặng của Thiên Chúa không có nghĩa là sự vắng mặt của Thiên Chúa.
Trên đồi Canvê, chính Đức Giêsu đã kêu lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46). Con Thiên Chúa đã đi vào tận nơi sâu nhất của cảm giác bị bỏ rơi. Cho nên khi một người tín hữu có ngày không còn cảm thấy Chúa đâu nữa, người ấy không đứng ngoài đức tin. Chính Đức Giêsu đã từng đi qua bóng tối ấy. Có những lúc cầu nguyện mà chẳng nghe gì. Có những lúc nhìn tượng chịu nạn mà chỉ muốn hỏi: “Chúa ở đâu?” Có những lúc thánh lễ vẫn dâng, kinh vẫn đọc, chuông nhà thờ vẫn reo nhưng lòng người chỉ còn là một khoảng trống. Đừng sợ những câu hỏi đó. Đức tin không phải là giả vờ rằng mình không đau. Đức tin là ngay trong đau đớn vẫn cố giữ một sợi dây cuối cùng với Thiên Chúa.
Điều đáng sợ trong đời sống đạo là chúng ta có thể thần thánh hóa sự cam chịu. Có người tưởng càng đau khổ càng thánh. Không phải thế. Đau khổ tự nó không làm ai nên thánh. Đau khổ có thể làm một người sâu sắc hơn, nhưng cũng có thể làm họ cay đắng hơn. Đau khổ có thể mở trái tim, nhưng cũng có thể làm trái tim khép lại. Điều thánh hóa không phải là mức độ ta đau bao nhiêu, mà là ta yêu thế nào giữa điều mình đang chịu. Hai người cùng mang một căn bệnh; một người dần trở nên giận dữ với tất cả, người kia vẫn cố giữ lòng hiền hậu. Hai người cùng nghèo; một người vì nghèo mà tìm cách lừa đảo, người kia vẫn sống ngay thẳng. Hai người cùng bị xúc phạm; một người nuôi hận suốt đời, người kia dần học tha thứ. Cùng một đau khổ, nhưng cách đón nhận khác nhau có thể dẫn con người đến những con đường rất khác.
“Vác thập giá” vì thế không có nghĩa là thụ động chịu tất cả. Có những thập giá phải vác; nhưng cũng có những cây thập giá phải tháo người khác xuống khỏi đó. Đức Giêsu nói hãy vác thập giá mình, nhưng Người cũng dành cả đời để chữa lành thập giá của người khác. Nếu thấy người đói mà bảo họ “vác thập giá đói nghèo”, ta phản bội Tin Mừng. Nếu thấy người bệnh mà không chăm sóc vì bảo “Chúa gửi bệnh để thánh hóa”, ta phản bội Tin Mừng. Nếu thấy một người bị bạo hành mà chỉ bảo họ “cầu nguyện và chịu đựng”, ta có thể đang tiếp tay cho điều ác. Người Kitô hữu không chỉ được gọi để mang thập giá của mình mà còn được gọi làm Simon Kyrênê cho người khác.
Simon Kyrênê là một hình ảnh rất đẹp. Trên đường lên Golgotha, Đức Giêsu kiệt sức. Lính bắt Simon vác đỡ thập giá cho Người. Chúng ta thường nghĩ về chuyện mình phải vác thập giá theo Chúa, nhưng đôi khi Tin Mừng đặt cho ta câu hỏi ngược lại: Hôm nay tôi đang vác đỡ thập giá cho ai? Trong gia đình có ai đang kiệt sức mà ta chưa nhận ra? Có người già nào đang cô đơn? Có đứa con nào mang một nỗi buồn mà cha mẹ chỉ biết trách? Có người chồng nào bên ngoài mạnh mẽ nhưng bên trong đang cạn sức? Có người vợ nào đã gồng quá lâu? Có linh mục nào đang âm thầm mệt mỏi? Có người nghèo nào chỉ cần một bàn tay? Có bệnh nhân nào chỉ cần một người ngồi bên cạnh? Nếu cứ nói về Thánh Giá mà không biết làm nhẹ thập giá cho người khác, lòng đạo của chúng ta vẫn còn thiếu một điều rất căn bản.
Một điều nữa cũng cần nói: đừng bao giờ dùng hai chữ “ý Chúa” quá nhanh trước nỗi đau của người khác. Khi mình đau, mình có thể nói: “Con xin đón nhận điều này trong tay Chúa.” Nhưng khi người khác đau, việc đầu tiên không phải là giảng cho họ về ý Chúa. Việc đầu tiên là ngồi xuống bên họ. Có lúc không cần nói gì cả. Đưa một ly nước. Nắm một bàn tay. Khóc với người đang khóc. Đưa họ đi bệnh viện. Giúp một khoản tiền. Ở lại một buổi tối. Gọi một cuộc điện thoại. Xin lỗi nếu mình có lỗi. Bảo vệ họ nếu họ bị bạo hành. Những việc đó có thể diễn tả Thiên Chúa rõ hơn hàng trăm bài giảng về đau khổ.
Có một sự khác biệt tinh tế giữa “Chúa muốn tôi đau” và “Chúa có thể gặp tôi trong nỗi đau này”. Câu thứ nhất có thể làm ta sợ Thiên Chúa. Câu thứ hai mở ra hy vọng. Tôi không cần phải tin rằng Chúa gây ra căn bệnh của tôi để tin rằng Chúa đang ở với tôi trong bệnh viện. Tôi không cần tin rằng Chúa lấy người thân của tôi đi để tin rằng người ấy đang trong tay Chúa và Chúa đang ôm lấy tôi trong tang tóc. Tôi không cần tin rằng Chúa muốn người khác phản bội tôi để tin rằng Chúa có thể chữa lành trái tim tôi sau phản bội. Tôi không cần gọi bất công là ý Chúa để tin rằng Thiên Chúa có thể giúp tôi không trở thành một con người đầy hận thù sau những gì mình chịu.
Đây có lẽ là một trong những điều đẹp nhất của đức tin Kitô giáo: Chúa không hứa rằng ai theo Người sẽ không còn thập giá. Chúa hứa rằng không một thập giá nào chúng ta phải mang một mình. Người không luôn thay đổi hoàn cảnh ngay lập tức, nhưng Người có thể thay đổi trái tim chúng ta giữa hoàn cảnh ấy. Người không luôn rút chiếc đinh ra, nhưng Người ở cùng ta trên cây thập giá. Người không luôn ngăn bóng tối đến, nhưng Người có thể làm cho ánh sáng sinh ra ngay trong bóng tối.
Thánh Phaolô từng xin Chúa ba lần cất khỏi ông một “cái dằm” khiến ông đau khổ. Chúng ta không biết chính xác đó là gì. Nhưng câu trả lời ông nhận được là: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cr 12,9). Chúa không bảo Phaolô rằng đau khổ là tốt. Chúa cho ông biết rằng ngay trong yếu đuối, ông vẫn không bị bỏ rơi. Điều làm người Kitô hữu khác biệt không phải ở chỗ chúng ta đau ít hơn người khác. Có khi chúng ta đau y như họ, thậm chí đau rất nhiều. Khác biệt nằm ở chỗ giữa nỗi đau ấy, chúng ta tin có một bàn tay vẫn đang nắm lấy mình.
Có người hỏi: “Nếu Thiên Chúa toàn năng, sao Người không ngăn tất cả sự dữ?” Đây là câu hỏi lớn hơn khả năng của bất cứ con người nào. Nhưng chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã tạo con người tự do, và tự do luôn có khả năng được dùng để yêu hoặc để làm tổn thương. Nếu Thiên Chúa ngăn chặn mọi hậu quả ngay khi một người sắp làm điều xấu, thế giới tự do của con người sẽ không còn thực sự là một thế giới tự do. Nhưng điều kỳ diệu là Thiên Chúa không bỏ thế giới sau khi con người lạm dụng tự do. Người bước vào chính lịch sử đầy thương tích ấy. Bethlehem cho thấy Người bước vào sự nghèo nàn của ta. Nazareth cho thấy Người bước vào lao nhọc thường ngày của ta. Canvê cho thấy Người bước vào đau khổ của ta. Ngôi mộ trống cho thấy đau khổ và sự chết sẽ không có tiếng nói cuối cùng.
Thánh Giá mà không có Phục Sinh sẽ chỉ là thất bại. Kitô giáo không kết thúc ở chiều Thứ Sáu Tuần Thánh. Sau bóng tối của Golgotha là buổi sáng Phục Sinh. Đó là lý do người Kitô hữu có thể nhìn vào Thánh Giá mà vẫn hy vọng. Chúng ta không tôn thờ đau khổ. Chúng ta tôn thờ Đấng đã chiến thắng đau khổ bằng tình yêu. Chúng ta không quỳ trước cây gỗ vì cây gỗ đã gây đau đớn cho Đức Giêsu, nhưng vì trên cây gỗ ấy tình yêu đã không chịu đầu hàng hận thù. Người ta đóng đinh tay Người, nhưng không đóng đinh được tình yêu. Người ta bịt miệng Người bằng cái chết, nhưng không ngăn được lời tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người ta đặt Người vào mộ, nhưng không giam được sự sống.
Vì vậy, khi ta đứng trước một thập giá trong đời mình, câu hỏi có lẽ không nên chỉ là: “Tại sao Chúa gửi cho con điều này?” Có khi câu hỏi ấy không bao giờ tìm được câu trả lời trọn vẹn ở đời này. Ta có thể hỏi một câu khác: “Lạy Chúa, giữa điều này, Chúa đang ở đâu? Chúa muốn con sống thế nào? Con cần làm gì để sự dữ không biến con thành một con người xấu hơn? Con có thể yêu thế nào trong hoàn cảnh này?” Đây không phải là đầu hàng. Đây là biến đau khổ thành nơi gặp gỡ Thiên Chúa.
Có những thập giá cần can đảm chấp nhận vì không thể thay đổi: tuổi già, một giới hạn thân xác, sự mất mát đã xảy ra, một quá khứ không thể làm lại. Nhưng có những đau khổ Chúa muốn ta đứng lên chống lại: bệnh cần chữa, bất công cần sửa, bạo lực cần ngăn, nghèo đói cần giảm, một mối quan hệ độc hại cần đặt giới hạn, một tội lỗi cần từ bỏ, một sự nghiện ngập cần điều trị. Phân định điều gì cần đón nhận và điều gì cần thay đổi là cả một hành trình trưởng thành thiêng liêng. Không phải cứ chịu đựng là thánh thiện. Có lúc thánh thiện chính là nói “không”. Có lúc vác thập giá là dám rời khỏi một tình trạng hủy diệt để bảo vệ sự sống mà Chúa trao. Có lúc vác thập giá là đi chữa bệnh. Có lúc là đi trị liệu. Có lúc là thú nhận mình cần người giúp đỡ. Có lúc là đứng lên nói sự thật dù phải trả giá.
Điều quan trọng là đừng bao giờ biến Thiên Chúa thành thủ phạm của đau khổ. Nhìn lên Thánh Giá, ta thấy chính Thiên Chúa ở phía người chịu đau, chứ không phải phía kẻ gây đau. Đức Giêsu là người bị đóng đinh, không phải kẻ đóng đinh. Người ở phía nạn nhân của bất công. Người bị kết án oan. Người bị phản bội. Người bị sỉ nhục. Người bị hành hình. Và chính từ vị trí ấy Người cứu độ nhân loại. Vì vậy mỗi lần chúng ta đến gần một người đang đau khổ, chúng ta đang đến rất gần Đấng chịu đóng đinh.
Nhớ lại dụ ngôn ngày phán xét: “Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom… mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (x. Mt 25,36.40). Chúa không bảo: “Ta đau yếu, các ngươi đã giải thích cho Ta biết tại sao Ta đau.” Người nói: “Các ngươi đã thăm nom.” Kitô giáo rất cụ thể. Trước nỗi đau, tình yêu phải trở thành hành động.
Có những người mang thập giá nhiều năm đến nỗi họ mệt đến mức không còn cầu nguyện nổi. Xin đừng trách họ. Có những người đau đến mức chỉ có thể khóc. Hãy để nước mắt ấy trở thành lời cầu nguyện. Có những lúc không nói được “Lạy Chúa, con yêu Chúa”; chỉ nói được “Lạy Chúa, cứu con.” Thế là đủ. Phêrô khi chìm xuống nước cũng chỉ kêu: “Lạy Ngài, xin cứu con!” (Mt 14,30). Đức Giêsu không đứng trên mặt nước giảng cho ông một bài về đức tin. Tin Mừng nói: “Lập tức Đức Giêsu đưa tay nắm lấy ông.” Đó là hình ảnh tuyệt đẹp dành cho những ai đang chìm trong đau khổ. Có lúc ta không cần hiểu hết. Chỉ cần còn đủ sức giơ tay ra. Và ngay cả khi ta không đủ sức giơ tay, ta vẫn có thể tin rằng bàn tay Chúa đang tìm tay mình.
Người Kitô hữu vì thế có quyền cầu xin cho thập giá được cất đi. Không có gì thiếu đức tin trong chuyện ấy. Đức Giêsu đã cầu xin ở Ghếtsêmani. Người bệnh có quyền xin được chữa lành. Người thất nghiệp có quyền xin việc làm. Người bị oan có quyền cầu mong được minh oan. Gia đình đang khủng hoảng có quyền xin bình an. Ta không cần phải giả bộ thích đau khổ để chứng minh rằng mình đạo đức. Điều trưởng thành là cầu xin hết lòng, làm tất cả những gì có thể làm, rồi khi có những điều vượt quá khả năng mình, đặt chúng vào tay Chúa.
“Xin vâng” không phải là nụ cười gượng gạo trước đau khổ. “Xin vâng” là nói: “Lạy Chúa, con không hiểu chuyện này. Con không thích nó. Con đã cầu xin nó đừng xảy ra. Nhưng nó đang ở đây. Xin đừng để con đánh mất Chúa. Xin đừng để con trở nên cay độc. Xin đừng để đau khổ cướp mất khả năng yêu của con. Xin ở lại với con.”
Có lẽ đó là một trong những lời cầu nguyện thật nhất trước Thánh Giá.
Có những lúc chúng ta hỏi: “Chúa ơi, sao lại là con?” Nhưng nhìn lâu vào Đức Giêsu chịu đóng đinh, có thể một ngày ta sẽ nghe trong lòng một câu hỏi khác: “Con có để Thầy cùng chịu với con không?” Chúa không luôn trả lời câu hỏi “tại sao”, nhưng Người trao chính mình làm câu trả lời cho câu hỏi “ai ở với tôi”. Và đôi khi, trong những đêm tối nhất, điều chúng ta cần nhất không phải là một lời giải thích mà là một sự hiện diện.
Một đứa trẻ ngã đau thường không cần mẹ giải thích định luật nào khiến nó ngã. Nó cần được ôm. Loài người trước đau khổ cũng vậy. Chúng ta muốn hiểu, và đó là khao khát chính đáng. Nhưng cuối cùng, có những mầu nhiệm không được giải bằng lý luận mà chỉ có thể được đi xuyên qua bằng tình yêu. Thiên Chúa không gửi xuống một cuốn sách giải thích mọi đau khổ. Người gửi Con của Người. Và Con ấy mang những vết thương.
Sau khi sống lại, Đức Giêsu vẫn mang dấu đinh. Người nói với Tôma: “Đặt ngón tay vào đây và hãy nhìn xem tay Thầy” (Ga 20,27). Thật lạ. Chúa phục sinh, nhưng dấu thương vẫn còn. Điều ấy nói với chúng ta rất nhiều. Ơn cứu độ không nhất thiết xóa sạch quá khứ như thể chưa từng có gì xảy ra. Có những vết thương sẽ thành sẹo. Có những ký ức còn đó. Có người sau nhiều năm vẫn nhớ ngày mất con. Có người vẫn nhớ một lần bị phản bội. Có người vẫn nhớ những tháng năm bệnh tật. Nhưng dưới ánh sáng Phục Sinh, vết thương không còn chỉ nói về đau đớn. Nó còn có thể nói: “Tôi đã đi qua đó. Chúa đã giữ tôi lại. Tôi vẫn còn sống. Tôi vẫn còn có thể yêu.”
Đó là phép lạ lớn nhất mà Thánh Giá có thể thực hiện trong một đời người: không nhất thiết làm cho ta quên những gì đã xảy ra, nhưng làm cho điều đã xảy ra không còn quyền quyết định con người ta sẽ trở thành ai.
Cho nên, nếu hôm nay ai đang mang một thập giá rất nặng, xin đừng nghĩ rằng Chúa đang vui vì bạn đau. Đừng nghĩ Người đang ngồi trên trời cân xem bạn chịu đựng được bao nhiêu. Thiên Chúa mà Đức Giêsu mặc khải không phải như thế. Người đang ở gần. Có thể rất âm thầm. Có thể bạn chưa cảm thấy. Có thể bạn vẫn còn giận Người. Cứ nói thật với Người. Nếu muốn khóc, cứ khóc. Nếu muốn hỏi, cứ hỏi. Nếu muốn im lặng, cứ im lặng bên Thánh Giá. Người chịu đóng đinh hiểu ngôn ngữ của những người không còn lời để nói.
Và nếu hôm nay đời mình tương đối bình an, hãy nhìn quanh. Có thể đâu đó rất gần đang có một người vác thập giá mà ta được mời gọi làm Simon Kyrênê cho họ. Đừng chỉ nói “cố lên”. Hãy xem ta có thể làm gì. Đừng chỉ nhắn “cầu nguyện cho bạn”. Hãy cầu nguyện thật, và nếu có thể, bước đến. Đừng hỏi “sao người ta yếu đuối thế”. Có những thập giá nếu đặt lên vai mình, chưa chắc ta đã đi nổi vài bước.
Cuối cùng, Thánh Giá không trả lời rằng Thiên Chúa muốn con người đau khổ. Thánh Giá trả lời một điều lớn lao hơn: khi con người đau khổ, Thiên Chúa không bỏ họ một mình. Người bước xuống. Người mang thân phận chúng ta. Người nhận lấy nước mắt, cô đơn, phản bội, nhục nhã và cái chết. Người đi đến tận đáy của kiếp người để từ đó mở một con đường đi lên.
Thánh Giá không phải bằng chứng rằng Thiên Chúa yêu đau khổ.
Thánh Giá là bằng chứng rằng Thiên Chúa yêu con người đến mức sẵn sàng đi vào đau khổ của con người.
Và vì có Phục Sinh, Thánh Giá còn nói thêm một điều nữa: đau khổ rất thật, nước mắt rất thật, những vết thương rất thật, cái chết rất thật; nhưng không một thứ nào trong đó là tiếng nói cuối cùng.
Tiếng nói cuối cùng thuộc về tình yêu.
Tiếng nói cuối cùng thuộc về sự sống.
Tiếng nói cuối cùng thuộc về Thiên Chúa.
Cho nên trước bất cứ thập giá nào của đời mình, có lẽ ta không cần cố nói rằng: “Con hiểu rồi.” Có những điều ta sẽ chẳng bao giờ hiểu hết. Chỉ cần một ngày nào đó ta có thể nói rất khẽ: “Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, con không biết tại sao con phải đi qua con đường này. Nhưng nếu Chúa ở đây, xin đi với con. Khi con mệt, xin đỡ con. Khi con ngã, xin nâng con. Khi con giận Chúa, xin vẫn ở lại. Khi con mất hết hy vọng, xin giữ hộ con chút hy vọng cuối cùng. Và nếu con không còn đủ sức để nắm lấy tay Chúa, thì xin Chúa nắm lấy tay con.”
Có lẽ đó chính là đức tin dưới chân Thánh Giá.
Không phải hiểu hết.
Không phải hết đau.
Không phải không khóc.
Nhưng là giữa tất cả những điều ấy, vẫn còn một bàn tay để bám vào.
Và bàn tay ấy mang dấu đinh.
Lm. Anmai, CSsR

TỪ “THÁNH GIÁ” ĐẾN “PHỤC SINH” – HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN CỦA TỪNG NGƯỜI
Có lẽ trong đời sống đức tin, chúng ta đã nghe quá nhiều về Thánh Giá và cũng đã nói quá nhiều về Phục Sinh. Nhà thờ nào cũng có Thánh Giá. Người Công giáo nào cũng làm dấu Thánh Giá. Mỗi mùa Chay chúng ta lại đi Đàng Thánh Giá. Mỗi Tuần Thánh chúng ta lại nghe cuộc thương khó của Chúa Giêsu. Rồi đêm Vọng Phục Sinh, ánh sáng cây nến Phục Sinh lại bừng lên giữa bóng tối và tiếng Alleluia lại vang trong nhà thờ. Tất cả đã quá quen. Quen đến nỗi đôi khi điều đáng sợ nhất xảy ra: chúng ta biết câu chuyện Chúa Giêsu đi từ Thánh Giá đến Phục Sinh, nhưng chưa chắc chính đời mình đã đi hết con đường ấy. Ta tin Chúa sống lại, nhưng có những miền trong lòng ta vẫn nằm nguyên trong mồ. Ta hôn kính Thánh Giá, nhưng khi một thập giá thật sự chạm đến đời mình, ta lại hỏi: “Tại sao là con?” Ta đọc Kinh Tin Kính và tuyên xưng rằng ngày thứ ba Người sống lại, nhưng chỉ cần một thất bại, một phản bội, một căn bệnh, một mất mát, một lời xúc phạm, một biến cố không như ý là có khi cả thế giới trong ta sụp xuống. Bởi thế, từ Thánh Giá đến Phục Sinh không chỉ là hành trình của Đức Giêsu hai ngàn năm trước. Đó phải là hành trình của từng Kitô hữu hôm nay. Đó là hành trình dài nhất đời người, khó nhất đời người, nhưng cũng đẹp nhất đời người: đi từ đau khổ đến hy vọng, từ mất mát đến trao hiến, từ thất bại đến trưởng thành, từ tội lỗi đến lòng thương xót, từ sự chết đến sự sống.
Tin Mừng cho chúng ta một hình ảnh rất đẹp về hành trình ấy nơi hai môn đệ trên đường Emmau. Sau cái chết của Đức Giêsu, hai ông bỏ Giêrusalem mà đi. Họ đã từng hy vọng. Họ đã từng tin. Họ đã từng nghĩ rằng Đức Giêsu sẽ giải phóng Israel. Nhưng Thánh Giá đã xảy ra và cùng với cái chết của Thầy, dường như mọi giấc mơ của họ cũng chết theo. Họ nói với người khách lạ đang đi bên cạnh mình: “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Israel” (Lc 24,21). Câu nói ấy đau lắm. “Trước đây vẫn hy vọng.” Có nghĩa là bây giờ thì không còn hy vọng nữa. Có những ngày chúng ta cũng giống hệt họ. Trước đây tôi tin. Trước đây tôi nhiệt thành. Trước đây tôi cầu nguyện. Trước đây tôi nghĩ gia đình mình sẽ hạnh phúc. Trước đây tôi nghĩ con cái mình sẽ nên người. Trước đây tôi nghĩ cuộc hôn nhân này sẽ đi đến cuối đời. Trước đây tôi nghĩ đời linh mục của mình sẽ đầy niềm vui. Trước đây tôi nghĩ mình sẽ khỏe. Trước đây tôi nghĩ người ấy sẽ không bao giờ bỏ tôi. Trước đây tôi nghĩ Chúa sẽ nhận lời. Và rồi một biến cố xảy đến. Mọi thứ đảo lộn. Người ta bắt đầu bước về Emmau. Không nhất thiết đôi chân rời nhà thờ, nhưng tâm hồn đã rời Giêrusalem. Vẫn dự lễ mà lòng xa Chúa. Vẫn đọc kinh mà bên trong trống rỗng. Vẫn cười với mọi người mà đêm xuống lại thấy lòng mình tối như chiều Thứ Sáu Tuần Thánh.
Điều kỳ diệu là Chúa Phục Sinh không đứng ở Giêrusalem trách hai môn đệ: “Tại sao các anh bỏ đi?” Người bước theo họ. Người đi vào chính con đường thất vọng của họ. Người hỏi họ đang nói chuyện gì. Người nghe họ kể cả một câu chuyện đầy ngổn ngang, hiểu lầm và thất vọng. Đó là một nét rất đẹp của Thiên Chúa. Khi chúng ta đi sai đường, Chúa nhiều khi không lập tức kéo chúng ta trở lại. Người đi cùng chúng ta một đoạn. Khi chúng ta buồn, Người không bảo: “Đừng buồn nữa.” Khi chúng ta khóc, Người không trách: “Con thiếu đức tin.” Người để chúng ta kể. Người nghe. Rồi Người âm thầm giải thích Kinh Thánh và làm cho lòng họ bừng cháy. Đến lúc Người bẻ bánh thì mắt họ mở ra. Và điều đáng chú ý là sau khi nhận ra Chúa, hai môn đệ lập tức đứng dậy, quay trở lại Giêrusalem. Con đường trước đó là con đường chạy trốn, giờ trở thành con đường trở về. Cũng con đường ấy. Cũng khoảng cách ấy. Nhưng con người đã khác. Đó chính là Phục Sinh.
Phục Sinh không nhất thiết có nghĩa là hoàn cảnh bên ngoài lập tức thay đổi. Đây là điều chúng ta phải hiểu thật sâu. Sau khi Chúa Giêsu sống lại, đế quốc Rôma vẫn còn đó. Người nghèo vẫn còn đó. Bệnh tật vẫn còn đó. Các môn đệ vẫn phải đối diện với bách hại và cuối cùng nhiều người vẫn chịu tử đạo. Nhưng một điều căn bản đã thay đổi: từ nay cái chết không còn là tiếng nói cuối cùng. Tảng đá của mồ không còn là dấu chấm hết. Từ nay, nơi nào con người tưởng rằng Thiên Chúa đã thất bại thì chính nơi ấy Người có thể mở ra một khởi đầu mới. Đây là linh đạo Phục Sinh. Người Kitô hữu không phải là người không đau. Người Kitô hữu là người tin rằng nỗi đau không có quyền nói lời cuối cùng. Người Kitô hữu không phải là người không khóc. Chính Đức Giêsu cũng khóc trước mồ Lazarô. Người Kitô hữu là người có thể vừa khóc vừa tin. Không phải là người không sợ, nhưng là người biết nắm tay Chúa ngay giữa sợ hãi. Không phải là người chẳng bao giờ ngã, nhưng là người tin rằng không có cú ngã nào lớn hơn bàn tay có thể nâng mình dậy của Thiên Chúa.
Thánh Giá, vì vậy, không phải là lời ca tụng đau khổ. Kitô giáo chưa bao giờ dạy rằng đau khổ tự nó là tốt. Đau khổ vẫn là đau khổ. Bệnh tật vẫn là bệnh tật. Bạo lực vẫn là điều phải chống lại. Bất công vẫn là điều phải sửa chữa. Phản bội vẫn làm tim người ta vỡ. Mất người thân vẫn khiến căn nhà trở nên trống trải. Đức Giêsu trong vườn Giêtsimani đã không nói: “Con thích đau khổ này.” Người cầu xin: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Chén ấy đắng thật. Thập giá ấy nặng thật. Nhưng Người nói thêm: “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Chính ở đó đau khổ được biến đổi. Không phải vì nó thôi đau, nhưng vì tình yêu đi vào trong nó. Thập giá không cứu chúng ta chỉ bởi vì trên đó có đau khổ. Thập giá cứu chúng ta bởi vì trên đó có một Tình Yêu đã yêu cho đến cùng.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa đau khổ và Thánh Giá. Không phải mọi đau khổ đều tự động là Thánh Giá. Có những đau khổ do tội lỗi của chính mình gây ra. Có những đau khổ do người khác gây cho mình. Có những đau khổ do bệnh tật, tuổi già, thiên tai, giới hạn phận người. Có những đau khổ phải tìm mọi cách chính đáng để thoát ra. Nhưng bất cứ đau khổ nào, nếu được đặt vào tay Chúa và sống bằng tình yêu, đều có thể trở thành một nơi gặp gỡ Thiên Chúa. Khi một người mẹ thức trắng bên giường đứa con bệnh mà không bỏ con, nơi ấy có bóng Thánh Giá. Khi một người chồng chăm sóc người vợ bệnh nhiều năm mà vẫn dịu dàng, nơi ấy có bóng Thánh Giá. Khi một người bị hiểu lầm nhưng không trả đũa bằng ác ý, nơi ấy có bóng Thánh Giá. Khi một người nghèo vẫn chia sẻ miếng cơm với người nghèo hơn mình, nơi ấy có bóng Thánh Giá. Khi một người mang trong lòng một tổn thương sâu nhưng quyết định không truyền tổn thương ấy sang thế hệ sau, nơi ấy Thánh Giá đang trổ mầm Phục Sinh.
Chúng ta thường muốn Phục Sinh mà không muốn Thứ Sáu Tuần Thánh. Muốn bình an nhưng không muốn tha thứ. Muốn gia đình hạnh phúc nhưng không muốn bỏ cái tôi. Muốn đời sống thiêng liêng sâu sắc nhưng không muốn dành thời giờ cầu nguyện. Muốn trở nên người tốt nhưng không muốn sửa những thói quen xấu. Muốn con cái trưởng thành nhưng không muốn kiên nhẫn đồng hành. Muốn một cộng đoàn hiệp nhất nhưng ai cũng nhất quyết bảo vệ quan điểm của mình. Muốn được Chúa dùng nhưng không muốn bị cắt tỉa. Muốn sống lại nhưng không muốn cái “tôi cũ” chết đi. Nhưng Tin Mừng không có con đường tắt. Đức Giêsu đã nói rất rõ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Người không nói hãy tìm thập giá. Đời đã có đủ thập giá rồi. Người nói hãy vác “thập giá mình”. Cái khó chính là hai chữ ấy: “của mình”. Người ta dễ chịu đựng một thập giá do mình chọn hơn một thập giá mình không chọn. Ta có thể hy sinh cho một việc lớn nhưng lại khó chịu nổi một người bên cạnh có tính khí trái với mình. Ta có thể làm những việc đạo đức lớn lao nhưng lại không chịu nổi một lời góp ý. Ta có thể nói nhiều về bác ái nhưng không tha thứ cho một người đã làm tổn thương mình mười năm trước. Thánh Giá thật thường không nằm ở những chuyện phi thường. Nó nằm trong những điều rất thường ngày mà cái tôi của ta không muốn đón nhận.
Phêrô đã từng không chấp nhận Thánh Giá. Khi Đức Giêsu báo trước Người sẽ phải chịu đau khổ, bị giết và ngày thứ ba sống lại, Phêrô kéo Người riêng ra và can ngăn. Ông yêu Thầy, nhưng ông yêu một Đấng Mêsia không có thập giá. Ông muốn vinh quang mà không muốn con đường dẫn đến vinh quang. Đức Giêsu đã trách ông rất nặng: “Satan, lui lại đằng sau Thầy!” Bởi vì cám dỗ lớn nhất không phải lúc nào cũng là bỏ Chúa. Đôi khi là muốn theo Chúa nhưng theo một Đức Kitô do mình tưởng tượng: một Đức Kitô chỉ ban thành công, chỉ chữa bệnh, chỉ giải quyết khó khăn, chỉ làm cho công việc thuận lợi. Khi mọi việc trôi chảy, ta nói: “Chúa thương con.” Khi gặp thử thách, ta hỏi: “Chúa bỏ con rồi sao?” Nếu đức tin chỉ đứng vững khi cuộc đời thuận lợi, đó chưa phải là đức tin đã trưởng thành. Đức tin trưởng thành bắt đầu khi ta vẫn có thể nói “con tin” trong một đêm không thấy gì.
Đêm tối của Thánh Giá là lúc đức tin bị thanh luyện. Trên đồi Canvê, Đức Giêsu đã thốt lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Đó không phải là tiếng nói của một người vô cảm với đau khổ. Đó là tiếng kêu từ vực sâu. Có lúc người tin cũng có quyền kêu lên như thế. Không cần giả vờ mạnh. Không cần làm ra vẻ thánh thiện. Không cần ép mình phải cười trong lúc tim đang nát. Kinh Thánh đầy những tiếng kêu như thế. Thánh Vịnh hỏi: “Lạy Chúa, Ngài quên con mãi đến bao giờ?” Ông Gióp chất vấn Thiên Chúa. Giêrêmia khóc. Êlia mệt đến mức xin chết. Và chính Đức Giêsu đã đổ mồ hôi máu. Đức tin không cấm nước mắt. Đức tin dạy ta khóc trước mặt Thiên Chúa thay vì bỏ Thiên Chúa.
Có những người đã rời xa Chúa chỉ vì họ từng cầu xin tha thiết mà điều họ xin đã không xảy ra. Một người mẹ cầu cho con khỏi bệnh nhưng đứa con vẫn mất. Một gia đình cầu cho hôn nhân được cứu nhưng cuối cùng vẫn tan vỡ. Một người trẻ cầu cho một dự định thành công nhưng mọi cửa đều đóng lại. Một người bệnh cầu nhiều năm mà căn bệnh vẫn còn. Trong những giờ phút ấy, những lời giải thích dễ dãi có thể làm người đau khổ đau thêm. Đừng vội nói với họ: “Chúa thử thách.” Đừng vội nói: “Chúa có chương trình.” Những câu ấy có thể đúng trong một nghĩa nào đó, nhưng nếu nói không đúng lúc, nó trở thành một hòn đá nữa đặt lên vai người đang quỵ xuống. Đứng trước một người đau khổ, đôi khi điều Kitô hữu cần làm trước tiên không phải giải thích Thiên Chúa mà là hiện diện như Thiên Chúa: ngồi bên họ, im lặng, nghe họ khóc, cầm lấy tay họ. Đức Maria dưới chân Thập Giá đã không giảng một bài thần học. Mẹ đứng đó. “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người.” Chỉ một câu ngắn mà sâu vô cùng. Mẹ không chạy trốn đau khổ của Con. Mẹ không thể tháo đinh. Mẹ không thể cứu Con khỏi cái chết. Nhưng Mẹ có thể ở đó. Có những lúc tình yêu không thể sửa được tình hình, nhưng tình yêu có thể không bỏ đi.
Và chính ở dưới chân Thánh Giá, Đức Maria bắt đầu cuộc vượt qua riêng của Mẹ. Người Con mà thiên thần từng nói sẽ nhận ngai vàng Đavít giờ treo bất động giữa trời. Những lời hứa dường như trái ngược hoàn toàn với những gì mắt Mẹ đang thấy. Nhưng Mẹ vẫn đứng. Đức tin đôi lúc đơn giản chỉ là đứng lại với Chúa khi chẳng còn hiểu gì. Không chạy. Không kết luận quá sớm. Không nói rằng tất cả đã hết chỉ vì hôm nay là Thứ Sáu. Bởi giữa Thứ Sáu và Chúa Nhật còn một ngày Thứ Bảy rất lặng lẽ. Ngày mà chẳng có phép lạ nào được nhìn thấy. Chúa nằm trong mồ. Tảng đá đã lăn vào. Các môn đệ trốn kín. Trời im. Đó là ngày của đức tin tinh tuyền nhất.
Đời mỗi người cũng có những ngày Thứ Bảy Tuần Thánh như vậy. Không còn đau dữ dội như lúc biến cố vừa xảy ra, nhưng cũng chưa thấy ánh sáng. Chỉ còn chờ đợi. Một người thất nghiệp gửi hồ sơ khắp nơi mà không có hồi âm. Một đôi vợ chồng chờ đợi đứa con suốt nhiều năm. Một gia đình chờ người thân hồi tỉnh trong phòng cấp cứu. Một người cha chờ đứa con bỏ nhà quay về. Một người cầu nguyện nhiều năm cho một người thân trở lại với Chúa. Không biết bao giờ. Không có bảo đảm theo thời gian của mình. Đó là “Thứ Bảy” của đời người. Và có lẽ chính những khoảng chờ ấy làm đức tin trưởng thành. Bởi ở đó ta học tin Thiên Chúa không phải vì ta nhìn thấy Người đang làm gì, nhưng vì ta biết Người là ai.
Phục Sinh đến rất âm thầm. Tin Mừng không kể một đám đông chứng kiến giây phút Đức Giêsu bước ra khỏi mồ. Không có tiếng trống, không có đoàn người tung hô. Buổi sáng Phục Sinh bắt đầu khi trời còn tối, với một người phụ nữ đang khóc bên mộ. Maria Mađalêna đến đó không phải để gặp Đấng Phục Sinh. Bà đến tìm một xác chết. Bà chỉ muốn chăm sóc thi hài người mình yêu. Nhưng chính trong nước mắt ấy, bà nghe một tiếng gọi: “Maria!” Chỉ một tiếng gọi tên thôi. Bà nhận ra Người. Đây là một trong những trang đẹp nhất Tin Mừng. Phục Sinh đôi khi bắt đầu như thế: Chúa gọi tên ta giữa nước mắt. Hoàn cảnh chưa chắc thay đổi ngay, nhưng ta biết mình không cô độc. Nấm mồ vẫn còn trước mặt, nhưng Chúa đang đứng sau lưng. Và nhiều lúc vấn đề của ta là cứ nhìn vào ngôi mộ đến mức không quay lại để thấy Đấng Phục Sinh.
Có những “ngôi mộ” trong lòng chúng ta cần được Chúa gọi ra. Ngôi mộ của một ký ức đau buồn mà ta chôn giữ quá lâu. Ngôi mộ của một cuộc tình đã mất. Ngôi mộ của mặc cảm vì một tội lỗi trong quá khứ. Ngôi mộ của giận dữ. Ngôi mộ của đố kỵ. Ngôi mộ của một thất bại khiến ta không còn dám bắt đầu. Ngôi mộ của những câu người khác từng nói với ta: “Mày chẳng làm được gì đâu”, “Không ai thương mày đâu”, “Đời mày thế là hết rồi.” Có người đã sống vài chục năm nhưng trong tâm hồn vẫn mắc kẹt ở một ngày của năm nào đó. Thân xác đi tiếp nhưng tâm hồn đứng lại. Phục Sinh là khi Đức Kitô đi vào những ngôi mộ ấy và nói như Người đã nói với Lazarô: “Hãy ra khỏi mồ!” Hãy ra khỏi nơi con đã tự nhốt mình. Hãy ra khỏi sự cay đắng. Hãy ra khỏi mặc cảm. Hãy ra khỏi quá khứ. Hãy để người ta tháo những băng vải đang quấn con. Con không được sinh ra để sống mãi trong mồ.
Nhưng ra khỏi mồ không có nghĩa là xóa hết dấu vết của cuộc thương khó. Điều đáng chú ý là Đức Giêsu Phục Sinh vẫn mang các vết thương. Người cho Tôma xem bàn tay và cạnh sườn. Tại sao thân xác vinh hiển lại vẫn mang sẹo? Có lẽ bởi vì Phục Sinh không phủ nhận Thánh Giá; Phục Sinh biến đổi Thánh Giá. Các vết thương vẫn còn nhưng không còn chảy máu. Chúng trở thành dấu chứng của tình yêu chiến thắng. Đây là một hình ảnh tuyệt đẹp cho hành trình chữa lành của con người. Chữa lành không có nghĩa là quên sạch chuyện đã xảy ra. Tha thứ không có nghĩa là coi như chưa từng bị tổn thương. Phục Sinh không làm quá khứ biến mất. Nhưng quá khứ không còn quyền điều khiển hiện tại của ta nữa. Một người từng bị tổn thương sâu sắc có thể sau nhiều năm vẫn nhớ. Nhưng khi nhớ mà lòng không còn muốn trả thù, vết thương ấy đã bắt đầu trở thành vết sẹo Phục Sinh.
Một trong những dấu hiệu rõ nhất của Phục Sinh là khả năng bắt đầu lại. Phêrô là một minh chứng. Ông đã chối Thầy ba lần. Không phải một lỗi nhỏ. Người từng tuyên bố “Dù tất cả có bỏ Thầy, con cũng không” lại thề rằng mình không biết Người. Sau đó ông khóc cay đắng. Nếu câu chuyện dừng ở sân dinh thượng tế, cuộc đời Phêrô chỉ còn là câu chuyện của một kẻ phản bội. Nhưng câu chuyện không dừng ở đó. Sau Phục Sinh, bên bờ hồ Tibêria, Đức Giêsu hỏi ông ba lần: “Con có yêu mến Thầy không?” Người không hỏi: “Tại sao con phản bội?” Không hỏi: “Con nhớ con đã hứa gì không?” Không làm nhục ông trước các môn đệ. Người đưa Phêrô về đúng nơi ông đã ngã, nhưng không để kết án mà để chữa lành. Ba lần chối được chữa bằng ba lần tuyên xưng tình yêu. Sau mỗi lần ấy là một sứ mạng: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.” Thiên Chúa thật lạ lùng. Người không chỉ tha thứ quá khứ của Phêrô mà còn trao tương lai Hội Thánh cho một con người từng thất bại.
Đó là Tin Mừng cho tất cả những ai đang thất vọng về chính mình. Có khi thập giá nặng nhất không phải điều người khác làm cho ta mà là điều ta đã làm. Có những lỗi lầm ta không sửa lại được. Có lời đã nói rồi không thu về được. Có người đã mất, mình không còn cơ hội xin lỗi. Có quyết định sai đã để lại hậu quả lâu dài. Có người mang tội lỗi trong lòng hai mươi năm dù đã xưng tội nhiều lần. Chúa đã tha nhưng họ không tha cho chính mình. Khi ấy, họ vẫn còn ở Thứ Sáu Tuần Thánh trong khi Chúa đã sang Chúa Nhật Phục Sinh. Đừng tự đóng đinh mình thêm vào cây thập giá mà Đức Kitô đã chịu thay ta. Ăn năn là cần thiết. Sửa sai là cần thiết. Đền bù khi có thể là cần thiết. Nhưng sau tất cả, phải để cho lòng thương xót của Thiên Chúa có tiếng nói cuối cùng. Nếu Thiên Chúa đã mở cửa mồ, đừng tự mình lăn tảng đá trở lại.
Phục Sinh cũng được nhận ra qua một điều khác: người đã được sống lại bắt đầu sống cho người khác. Maria Mađalêna sau khi gặp Chúa không giữ niềm vui ấy cho riêng mình. Bà chạy đi báo với các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa.” Hai môn đệ Emmau cũng quay lại Giêrusalem ngay trong đêm. Phêrô sau khi được tha thứ trở thành người chăm sóc đoàn chiên. Bởi kinh nghiệm Phục Sinh đích thực luôn đẩy người ta ra khỏi căn phòng của mình. Một người thật sự đã được Chúa chữa lành sẽ dễ cảm thông hơn với người đang đau. Một người từng được tha thứ sẽ bớt khắc nghiệt khi thấy người khác lầm lỗi. Một người từng đi qua bóng tối sẽ biết ngồi cạnh người đang tuyệt vọng. Những vết thương của ta, nếu được Chúa chạm đến, có thể trở thành cửa sổ để ánh sáng đi qua.
Có những người sau một cơn bệnh nặng trở nên dịu dàng hơn. Có những người sau khi mất một người thân bắt đầu hiểu giá trị của từng cuộc gặp. Có người sau một lần phá sản không còn coi tiền bạc là tất cả. Có người sau một cuộc khủng hoảng hôn nhân mới hiểu rằng yêu không phải là cảm xúc mà là chọn nhau mỗi ngày. Có người sau một thời gian khô khan mới học cầu nguyện không phải để tìm cảm giác nhưng để tìm Chúa. Có người sau một lần bị phản bội mới hiểu nỗi đau của những người từng tìm đến mình. Không phải đau khổ tự nó làm người ta tốt lên. Đau khổ cũng có thể làm người ta cay độc. Thánh Giá chỉ sinh Phục Sinh khi con người để Thiên Chúa đi vào đó.
Vì thế, câu hỏi quan trọng không chỉ là: “Tại sao điều này xảy đến với tôi?” Có những “tại sao” chúng ta có thể không bao giờ nhận được câu trả lời trọn vẹn trong đời này. Một câu hỏi khác có thể hữu ích hơn: “Lạy Chúa, Chúa muốn cùng con đi qua điều này thế nào?” Không phải “Chúa muốn con đau sao?” nhưng là “Giữa đau khổ này, Chúa đang ở đâu?” Không phải “Bao giờ Chúa lấy thập giá này đi?” nhưng cũng có lúc phải hỏi: “Nếu thập giá chưa được lấy đi, xin Chúa dạy con mang nó thế nào để lòng con không trở thành cay đắng.”
Đức Giêsu không hứa với chúng ta một cuộc đời không có Thứ Sáu Tuần Thánh. Người hứa rằng Thứ Sáu không phải là ngày cuối cùng. Người không nói chúng ta sẽ không phải xuống thung lũng. Người nói Người sẽ ở cùng chúng ta mọi ngày. Người không ngăn các môn đệ gặp bão, nhưng bước trên mặt biển đến với họ. Người không ngăn Lazarô chết, nhưng đứng trước mồ và gọi ông ra. Người không ngăn Phêrô ngã, nhưng sau khi ông ngã, Người dựng ông lên. Người không ngăn hai môn đệ thất vọng rời Giêrusalem, nhưng đi cùng họ cho đến khi lòng họ bừng cháy. Thiên Chúa của chúng ta không luôn luôn cứu ta “khỏi” đau khổ theo cách ta mong; nhiều lần Người cứu ta “trong” đau khổ và đưa ta “qua” đau khổ.
Có một câu rất đáng suy nghĩ: Thiên Chúa không phí một giọt nước mắt nào của con người. Điều ấy không có nghĩa Người là tác giả của mọi đau khổ. Nhưng có nghĩa không gì trao vào tay Người bị mất đi. Một cuộc đời vỡ vụn trao vào tay Chúa vẫn có thể trở thành một cuộc đời hữu ích. Một trái tim tan vỡ trao vào tay Chúa có thể trở thành một trái tim biết yêu sâu hơn. Một quá khứ đầy tội lỗi trao vào tay Chúa có thể trở thành lời chứng về lòng thương xót. Thánh Phaolô từng là người bách hại Hội Thánh. Chúa không xóa lịch sử ấy. Người biến chính kẻ từng bách hại thành Tông đồ dân ngoại. Điều đáng kinh ngạc của ân sủng là Chúa có thể viết thẳng trên những dòng đời cong.
Có lẽ nhiều người trong chúng ta vẫn đang đứng ở một chặng nào đó giữa Thánh Giá và Phục Sinh. Có người đang ở Giêtsimani: lo âu và chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra. Có người đang ở dinh Philatô: bị xét đoán, hiểu lầm. Có người đang trên đường Canvê: mệt mỏi đến mức chỉ muốn buông. Có người vừa ngã lần thứ ba. Có người đang đứng dưới chân Thánh Giá nhìn điều mình yêu quý chết đi. Có người đang ở chiều Thứ Sáu, ôm một nỗi mất mát không thể diễn tả. Có người đang trong Thứ Bảy im lặng, chưa thấy dấu hiệu nào của bình minh. Và có người đã bắt đầu nghe tiếng Chúa gọi tên mình bên ngôi mộ trống. Điều quan trọng là dù đang ở đâu, đừng bỏ câu chuyện trước khi Chúa viết xong.
Đừng kết luận về cuộc đời mình vào chiều Thứ Sáu Tuần Thánh.
Nếu Maria Mađalêna kết luận vào chiều Thứ Sáu, bà sẽ nói: Thầy chết rồi.
Nếu Phêrô kết luận sau ba lần chối Chúa, ông sẽ nói: đời tôi xong rồi.
Nếu hai môn đệ Emmau kết luận trên đường bỏ Giêrusalem, họ sẽ nói: chúng tôi đã hy vọng nhưng tất cả đã hết.
Nếu các Tông đồ kết luận khi cửa phòng đóng kín, họ sẽ nói: Hội Thánh chưa kịp bắt đầu đã kết thúc.
Nhưng Thiên Chúa chưa nói lời cuối.
Bao nhiêu lần chúng ta cũng đã kết luận quá sớm. “Con tôi hết cứu.” “Hôn nhân tôi hết rồi.” “Tôi không thể thay đổi.” “Tôi già rồi.” “Tôi tội lỗi quá.” “Chúa bỏ tôi.” “Không ai cần tôi.” “Đời tôi chẳng còn ý nghĩa.” Hãy cẩn thận với những câu có chữ “hết”. Khi Chúa còn ở đó, nhiều điều chúng ta gọi là dấu chấm hết có thể chỉ là dấu chấm xuống hàng.
Đức tin Phục Sinh không phải là thứ lạc quan ngây thơ nói rằng mọi chuyện sẽ diễn ra đúng ý ta. Kitô giáo không hứa rằng mọi bệnh nhân sẽ khỏi, mọi cuộc hôn nhân sẽ được cứu, mọi dự án sẽ thành công, mọi người thân sẽ sống lâu, mọi người tốt sẽ được đối xử công bằng ở đời này. Đức tin Phục Sinh sâu hơn như thế rất nhiều. Nó nói rằng dù chuyện gì xảy ra, không quyền lực nào có thể tách chúng ta khỏi tình yêu Đức Kitô. Nó nói rằng ngay cả cái chết cũng không tiêu diệt được sự sống mà Thiên Chúa ban. Nó nói rằng những gì được làm trong tình yêu không bao giờ hoàn toàn vô ích. Nó nói rằng một ngày kia Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt trên mọi khuôn mặt. Và trong khi chờ ngày ấy, chúng ta được mời gọi sống như những người đã biết kết thúc của câu chuyện: sự sống chiến thắng.
Nhưng muốn sống Phục Sinh, có những thứ phải để chết. Cái tôi phải chết bớt. Lòng tự ái phải chết bớt. Nhu cầu luôn đúng phải chết bớt. Những tham vọng ích kỷ phải chết. Cơn nghiện lời khen phải chết. Thói quen so sánh phải chết. Sự cay cú phải chết. Cái nhìn định kiến về người khác phải chết. Có những người cầu xin Chúa làm mới cuộc đời nhưng nhất quyết ôm chặt con người cũ. Ta không thể bước ra khỏi mồ mà vẫn muốn giữ nguyên khăn liệm. Không thể xin một bình minh mới nhưng cứ kéo rèm che ánh sáng.
Trong đời sống gia đình cũng vậy. Phục Sinh nhiều khi bắt đầu bằng việc một người chịu nói “tôi xin lỗi” trước. Ba chữ ngắn nhưng đối với cái tôi có thể nặng như cả cây thập giá. Phục Sinh xảy ra khi người vợ thôi nhắc lại một lỗi cũ của chồng mỗi lần cãi nhau. Khi người chồng chịu đặt điện thoại xuống để nghe vợ nói. Khi cha mẹ chịu thừa nhận rằng đôi khi mình cũng sai với con. Khi người con trở về nhà sau nhiều năm xa cách. Khi anh em đang bất hòa chịu bước qua một cánh cửa để gặp nhau. Không có tiếng Alleluia, không có nến Phục Sinh, nhưng một tảng đá đã được lăn ra khỏi một ngôi mộ.
Trong đời linh mục, đời tu, Phục Sinh cũng phải xảy ra. Có những người bắt đầu ơn gọi với bao nhiệt thành nhưng năm tháng làm cho trái tim mệt mỏi. Những va chạm cộng đoàn, hiểu lầm, cô đơn, công việc mục vụ, những lần gieo mà không thấy gặt, những giới hạn bản thân có thể làm người môn đệ mất lửa. Khi đó, trở lại Galilê là điều cần thiết. Sau Phục Sinh, Đức Giêsu hẹn các môn đệ về Galilê, nơi mọi sự đã bắt đầu. Có lúc người môn đệ cũng phải trở về Galilê của mình: trở lại ngày đầu nghe tiếng gọi, trở lại câu Lời Chúa từng làm mình rung động, trở lại ngọn lửa ban đầu, không phải để sống bằng kỷ niệm mà để nhận ra Đấng đã gọi mình ngày ấy vẫn là Đấng đang gọi hôm nay.
Có một điều rất an ủi: Chúa Phục Sinh không hiện ra với những con người hoàn hảo. Người hiện ra với một nhóm người đang sợ hãi. Người hiện ra với người từng chối Người. Người hiện ra với Tôma đang nghi ngờ. Người hiện ra với Maria đang khóc. Người đi với hai môn đệ thất vọng. Nói cách khác, Phục Sinh đi tìm con người ngay trong tình trạng họ đang có, chứ không đợi họ trở thành tốt đẹp rồi mới đến. Bởi vậy nếu hôm nay ta yếu, ta vẫn có thể gặp Chúa. Nếu hôm nay ta nghi ngờ, ta vẫn có thể gặp Người. Nếu hôm nay ta đang khóc, Người có thể gọi tên ta. Nếu hôm nay ta đang chạy trốn về Emmau, Người có thể bước bên cạnh.
Tôma từng nói: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” Một tuần sau, Đức Giêsu đến. Người không loại Tôma khỏi cộng đoàn vì ông nghi ngờ. Người nói: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy.” Chúa không sợ những câu hỏi thật. Đức tin trưởng thành không phải là không bao giờ có nghi ngờ. Đức tin trưởng thành là mang cả nghi ngờ của mình đến trước mặt Đức Kitô. Tôma đi từ “tôi không tin” đến lời tuyên xưng sâu nhất: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Đó cũng là một cuộc phục sinh.
Chúng ta hãy nhìn kỹ bàn tay Đức Giêsu Phục Sinh. Bàn tay ấy còn dấu đinh. Vinh quang không xóa vết thương. Và có lẽ đó cũng là điều Chúa sẽ làm với đời chúng ta. Người không cần xóa sạch mọi dấu vết quá khứ mới làm cho ta nên mới. Chính những nơi từng bị đâm thủng có thể trở thành những nơi người khác nhận ra Chúa. Một người mẹ mất con có thể trở thành người an ủi những bà mẹ khác. Một người từng nghiện ngập sau khi được giải thoát có thể nâng người đang vật lộn. Một người từng trải qua đổ vỡ có thể đồng hành với những gia đình đang khủng hoảng. Một linh mục từng trải qua đêm tối có thể nghe người khác mà không phán xét. Những vết sẹo không cần phải bị che đi. Trong ánh sáng Phục Sinh, chúng có thể kể câu chuyện rằng: “Tôi đã từng ở đó, nhưng ân sủng đã không bỏ tôi.”
Và cuối cùng, Phục Sinh Kitô giáo luôn hướng về một Phục Sinh lớn hơn. Cuộc đời này dù đẹp đến đâu vẫn có những cuộc chia ly chúng ta không thể tránh. Người chúng ta yêu sẽ có ngày rời ta. Chính ta cũng sẽ đi qua cánh cửa cái chết. Nếu đức tin chỉ giúp ta sống dễ chịu hơn ở đời này thì chưa đủ. Trung tâm của Kitô giáo là lời tuyên bố táo bạo nhất mà nhân loại từng nghe: Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, và vì Người sống, chúng ta cũng sẽ sống. Cái chết không còn là bức tường cuối cùng; nó trở thành một cánh cửa. Ngôi mộ Kitô hữu vì thế là một nơi đau buồn nhưng không tuyệt vọng. Chúng ta khóc khi tiễn người thân, nhưng trong nước mắt có một lời hẹn: “Hẹn gặp lại trong Chúa.”
Thánh Phaolô đã viết: “Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền.” Nói cách khác, nếu không có Phục Sinh, Thánh Giá chỉ là một cuộc hành hình thất bại. Nếu không có Phục Sinh, những hy sinh âm thầm của bao con người thật khó hiểu. Nếu không có Phục Sinh, nghĩa trang là nơi kết thúc tất cả. Nhưng Đức Kitô đã sống lại. Và từ giây phút ấy, lịch sử nhân loại đã đổi chiều. Sự chết vẫn tồn tại nhưng nó đã mất quyền tuyệt đối. Bóng tối vẫn có nhưng không còn vĩnh viễn. Thứ Sáu vẫn đến nhưng Chúa Nhật cũng sẽ đến.
Có lẽ hôm nay Chúa không yêu cầu chúng ta hiểu hết con đường của mình. Người chỉ xin ta đi tiếp một bước. Khi không cầu nguyện nổi lâu, hãy thưa một câu: “Lạy Chúa, xin ở cùng con.” Khi không tha thứ nổi hoàn toàn, hãy xin: “Lạy Chúa, ít nhất xin cho con muốn tha thứ.” Khi quá mệt để đứng, hãy để Simon Kyrênê giúp mình vác thập giá. Đừng nghĩ rằng mình phải tự làm mọi thứ. Trên đường Canvê, chính Đức Giêsu cũng để một người khác vác đỡ Thánh Giá. Có lúc sự khiêm nhường lớn nhất không phải là giúp người khác mà là chấp nhận để người khác giúp mình.
Và xin nhớ: Thánh Giá không phải căn nhà để ta ở mãi. Thánh Giá là một cánh cửa. Chúng ta đi qua nó. Kitô hữu không dừng ở Thứ Sáu Tuần Thánh. Nếu chỉ nói về hy sinh, đau khổ, từ bỏ mà không dẫn người ta đến hy vọng, tự do và sự sống, chúng ta chưa loan báo trọn vẹn Tin Mừng. Đức Kitô không nằm mãi trên Thập Giá. Người đã được tháo xuống. Người được đặt trong mồ. Và Người đã sống lại.
Bởi vậy, mỗi buổi sáng thức dậy đã là một lời mời Phục Sinh. Hôm qua có thể ta đã thất bại, nhưng hôm nay có thể bắt đầu lại. Hôm qua ta đã nóng giận, hôm nay có thể xin lỗi. Hôm qua ta bỏ cầu nguyện, hôm nay có thể trở lại. Hôm qua ta thất vọng, hôm nay có thể thử thêm một lần. Mỗi lần con người chọn sự thật thay cho giả dối, sự sống thay cho hủy diệt, tha thứ thay cho thù hận, khiêm nhường thay cho tự ái, phục vụ thay cho ích kỷ, một chút Phục Sinh đang xảy ra trong thế giới.
Đừng chờ đến khi mọi thập giá biến mất mới sống. Nếu chờ như thế, ta sẽ không bao giờ sống. Hãy sống ngay trên con đường đang đi. Hãy tìm Chúa ngay trong căn nhà đang có. Hãy yêu những người đang ở bên cạnh. Hãy làm điều tốt khi còn có thể. Hãy nói lời yêu thương trước khi quá muộn. Hãy hòa giải khi còn một cánh cửa có thể gõ. Hãy cầu nguyện dù lòng chưa cảm thấy gì. Hãy đi tiếp dù chưa nhìn thấy bình minh.
Có thể hôm nay bạn đang mang một Thánh Giá mà không ai biết. Bạn cười nhưng lòng đau. Bạn phục vụ nhưng mệt. Bạn cầu nguyện nhưng Chúa dường như im lặng. Bạn đang cố giữ một gia đình. Bạn đang lo cho một người bệnh. Bạn đang chiến đấu với một thói quen xấu. Bạn đang chịu một nỗi oan. Bạn đang nhớ một người không còn nữa. Bạn đang sợ ngày mai. Xin đừng nghĩ rằng câu chuyện của mình đã kết thúc. Hãy nhìn lên Thánh Giá. Người ở trên đó biết đau là gì. Rồi hãy nhìn ngôi mộ trống. Người đã đi qua đau khổ và mở cho chúng ta một con đường.
Ngày Phục Sinh, thiên thần nói với những người phụ nữ: “Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi.” Có lẽ lời ấy cũng cần được nói vào những ngôi mộ trong lòng mỗi người chúng ta: Đừng tìm sự sống mãi trong quá khứ đã chết. Đừng tìm giá trị mình trong lời phán xét của người khác. Đừng tìm bình an trong những thứ không thể ban bình an. Hãy tìm Đấng Sống.
Từ Thánh Giá đến Phục Sinh là hành trình Đức Giêsu đã đi. Nhưng đó cũng là bản đồ của đời Kitô hữu. Có Giêtsimani. Có phản bội. Có nước mắt. Có những lần ngã. Có Simon. Có Veronica. Có Đức Maria. Có Canvê. Có sự im lặng của mồ đá. Nhưng cũng có bình minh. Có tảng đá lăn ra. Có tiếng gọi “Maria”. Có bữa ăn bên bờ hồ. Có những trái tim bừng cháy trên đường Emmau. Có lời “Bình an cho anh em”. Có một Phêrô được trao lại sứ mạng. Có một Tôma quỳ xuống thưa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con.”
Và rồi có chúng ta.
Mỗi người đang viết một câu chuyện vượt qua của riêng mình.
Xin đừng sợ Thánh Giá đến mức bỏ cuộc.
Xin đừng yêu Thánh Giá đến mức quên rằng đích đến là Phục Sinh.
Xin đừng kết luận về Thiên Chúa chỉ từ những ngày tối nhất của đời mình.
Xin đừng đóng dấu chấm hết vào nơi Chúa mới chỉ đặt một dấu phẩy.
Và nhất là, đừng bao giờ quên rằng ngôi mộ trống chính là câu trả lời cuối cùng của Thiên Chúa cho mọi ngôi mộ của con người.
Thánh Giá nói rằng Thiên Chúa đã đi xuống tận đáy đau khổ của chúng ta.
Phục Sinh nói rằng Người không để chúng ta ở lại dưới đáy ấy.
Thánh Giá nói rằng Thiên Chúa yêu con người đến chết.
Phục Sinh nói rằng tình yêu ấy mạnh hơn cái chết.
Thánh Giá nói rằng có những lúc ta phải buông điều mình không thể giữ.
Phục Sinh nói rằng trong tay Thiên Chúa, không điều gì được trao bằng tình yêu sẽ mất.
Thánh Giá dạy ta chết đi cho con người cũ.
Phục Sinh dạy ta can đảm sống một đời mới.
Và như thế, đời Kitô hữu không phải là một hành trình tránh né đau khổ, nhưng là hành trình bước qua đau khổ cùng Đức Kitô; không phải để thần thánh hóa nước mắt, nhưng để không giọt nước mắt nào trở thành vô nghĩa; không phải để quen với bóng tối, nhưng để học chờ bình minh; không phải để đứng mãi dưới chân Thập Giá, nhưng để từ đó bước đến ngôi mộ trống và rồi trở về giữa cuộc đời mà nói với anh chị em mình bằng chính cuộc sống: “Tôi đã thấy Chúa.”
Và nếu hôm nay ta chưa thể nói được câu ấy, thì chỉ cần đừng bỏ đi.
Cứ ở lại.
Cứ bước.
Cứ tin.
Bởi sau Thánh Giá là Phục Sinh.
Sau đêm dài là bình minh.
Sau nấm mồ là sự sống.
Sau cùng, không phải đau khổ, không phải tội lỗi, không phải thất bại, không phải sự chết, mà Tình Yêu của Thiên Chúa mới là lời cuối cùng trên cuộc đời mỗi chúng ta.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ TRONG THẦN HỌC ĐÔNG PHƯƠNG VÀ TÂY PHƯƠNG
Có những mầu nhiệm của Kitô giáo càng suy nghĩ càng thấy mình phải im lặng. Không phải vì chẳng còn gì để nói, nhưng vì càng nói càng nhận ra lời của con người quá nhỏ trước điều Thiên Chúa đã thực hiện. Thánh Giá là một mầu nhiệm như thế. Hai ngàn năm qua, Giáo Hội đã suy niệm về Thánh Giá, các thánh đã quỳ dưới Thánh Giá, các nhà thần học đã viết hàng ngàn pho sách về Thánh Giá, các vị tử đạo đã chết vì Đấng chịu đóng đinh trên Thánh Giá, người nghèo đã khóc dưới Thánh Giá, người hấp hối đã ôm Thánh Giá trong giờ cuối cùng, người mẹ mất con đã nhìn lên Thánh Giá để tìm một người Mẹ khác hiểu được nỗi đau của mình, người tội lỗi đã quỳ trước Thánh Giá để tin rằng mình vẫn còn có thể được tha thứ. Thế mà cho đến hôm nay, không ai có thể nói rằng mình đã hiểu hết Thánh Giá. Thánh Giá không phải là một bài toán để giải cho xong. Thánh Giá là một vực sâu của tình yêu để con người bước vào, và càng bước sâu càng khám phá rằng phía sau những chiếc đinh, máu, nước mắt, cô đơn và cái chết ấy là trái tim của Thiên Chúa đang mở ra cho nhân loại. Trong dòng lịch sử Kitô giáo, thần học Đông phương và thần học Tây phương đã nhìn Thánh Giá bằng những góc độ có phần khác nhau. Có lúc người ta trình bày những khác biệt ấy quá mạnh đến nỗi tưởng như Đông và Tây đang nói về hai Thánh Giá khác nhau. Thực ra không phải vậy. Chỉ có một Đức Kitô, một đồi Golgotha, một hy tế, một cuộc Vượt Qua, một tình yêu cứu độ. Đông phương thường chiêm ngắm Thánh Giá trong ánh sáng của Phục Sinh, thần hóa, chiến thắng sự chết và sự biến đổi toàn thể con người; Tây phương thường đào sâu Thánh Giá trong tương quan với tội lỗi, công chính, hy tế, đền tội, giao hòa và tình yêu tự hiến. Hai lối nhấn mạnh ấy không nhất thiết loại trừ nhau. Trái lại, nếu biết lắng nghe nhau, chúng giúp Hội Thánh nhìn thấy Thánh Giá phong phú hơn, cân bằng hơn và đẹp hơn. Một bên nhắc chúng ta rằng Thánh Giá không bao giờ tách khỏi Phục Sinh; một bên nhắc chúng ta rằng Phục Sinh không bao giờ làm cho cái giá của Thánh Giá trở thành nhẹ nhàng. Một bên nói về Đấng chiến thắng tử thần; một bên nói về Đấng mang lấy tội trần gian. Một bên say mê trước sự sống thần linh tràn vào bản tính nhân loại; một bên quỳ xuống trước tình yêu của Con Thiên Chúa đã “yêu tôi và hiến mạng vì tôi”. Nhưng cuối cùng, cả Đông lẫn Tây đều phải dừng lại trước cùng một Đấng bị đóng đinh và thốt lên như viên đại đội trưởng dưới chân Thập Giá: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa.”
Muốn hiểu thần học Đông phương về Thánh Giá, trước hết phải nhớ rằng linh đạo Đông phương rất ít khi tách riêng cái chết của Đức Kitô khỏi toàn bộ mầu nhiệm Nhập Thể và Phục Sinh. Đối với truyền thống các Giáo phụ Hy Lạp, Con Thiên Chúa xuống thế làm người không chỉ để giải quyết một món nợ pháp lý giữa con người với Thiên Chúa, nhưng để chữa lành chính bản tính nhân loại đã bị thương tổn bởi tội lỗi, đưa con người trở lại hiệp thông với Thiên Chúa và cho con người được tham dự vào sự sống thần linh. Câu nổi tiếng gắn liền với truyền thống thánh Athanasiô diễn tả điều này rất mạnh: Ngôi Lời làm người để con người được dự phần vào sự sống của Thiên Chúa. Đây không có nghĩa con người trở thành Thiên Chúa theo bản tính, nhưng được thần hóa nhờ ân sủng, được dự phần vào sự sống của Thiên Chúa. Vì thế, Thánh Giá được nhìn trong cả một chuyển động kỳ diệu: Thiên Chúa đi xuống tận cùng phận người để đưa con người lên tới sự sống của Thiên Chúa. Ngôi Lời nhận lấy xác phàm có thể chết, bước vào thế giới bị sự chết thống trị, nhận lấy tất cả hậu quả của thân phận sa ngã ngoại trừ tội lỗi, rồi ngay trong chính nơi sự chết tưởng như chiến thắng, Người bẻ gãy quyền lực của nó từ bên trong. Bởi vậy, trong nhiều bản văn phụng vụ Đông phương, Thánh Giá vừa đáng sợ vừa rực sáng, vừa là nơi đau khổ vừa là ngai vương, vừa là dụng cụ hành hình vừa là “cây sự sống”. Nghịch lý ấy rất đẹp. Đế quốc Rôma dựng thập giá lên để làm nhục một tử tội; Thiên Chúa biến nó thành ngai của Vua. Người ta đóng đinh bàn tay Đức Giêsu vào gỗ; chính những bàn tay bị đóng đinh ấy lại mở cửa thiên đàng. Người ta đặt mão gai trên đầu Người để chế nhạo; mão gai ấy trở thành vương miện của Đấng Cứu Thế. Người ta đâm cạnh sườn Người; từ cạnh sườn bị đâm thâu lại tuôn ra máu và nước, dấu chỉ của một sự sống mới dành cho Hội Thánh. Người ta tưởng đã đóng kín đời Người trong một ngôi mộ; chính từ mộ ấy sự sống bất diệt bừng lên. Cho nên người Kitô hữu Đông phương có thể vừa khóc trước Thánh Giá vừa ca hát chiến thắng trước Thánh Giá. Họ không phủ nhận đau khổ của Đức Kitô. Trái lại, phụng vụ Tuần Thánh Đông phương nhiều lúc diễn tả cuộc thương khó với một sức xúc động khôn tả. Nhưng nước mắt ấy đã mang trong nó ánh sáng của buổi sáng Phục Sinh.
Một nét nổi bật khác trong thần học Đông phương là hình ảnh Christus Victor – Đức Kitô chiến thắng. Trên Thánh Giá diễn ra một cuộc chiến mà mắt người không nhìn thấy hết. Bề ngoài, Đức Giêsu bị đánh bại. Người bị bắt, bị kết án, bị đánh đòn, bị chế nhạo, bị lột áo, bị đóng đinh, bị bỏ rơi và cuối cùng chết. Nếu chỉ nhìn bằng mắt thế gian, Golgotha là một thất bại. Nhưng dưới ánh sáng đức tin, chính khi Đức Kitô đi vào sự chết, Người đang đối đầu với kẻ thù cổ xưa của nhân loại. Sự chết nuốt Người vào, nhưng không thể giữ Người lại, bởi nơi Người không có tội, và quyền lực của sự chết không thể thắng nguồn sự sống. Hình ảnh truyền thống Đông phương về Đức Kitô xuống ngục tổ tông rất mạnh. Người không hiện ra như một cá nhân lặng lẽ bước khỏi mộ, nhưng như Đấng chiến thắng phá tung cửa âm phủ, đạp nát then đồng, nắm tay Adam và Eva kéo họ ra khỏi bóng tối. Cả nhân loại như được tượng trưng nơi đôi tay của tổ phụ và tổ mẫu ấy. Thánh Giá vì vậy không chỉ là chuyện giữa Đức Giêsu với Thiên Chúa Cha; đó còn là cuộc giải phóng vũ trụ. Tội lỗi, sự chết và ma quỷ tưởng đã có tiếng nói cuối cùng, nhưng Đức Kitô cho thấy tiếng nói cuối cùng thuộc về Thiên Chúa. Người chiến thắng không bằng bạo lực mạnh hơn bạo lực, nhưng bằng tình yêu mạnh hơn sự chết. Người không tiêu diệt những kẻ đóng đinh mình; Người cầu xin tha cho họ. Người không bước xuống khỏi Thánh Giá để chứng tỏ quyền năng; Người ở lại trên đó để chứng tỏ tình yêu. Đó mới là chiến thắng của Thiên Chúa. Một chiến thắng không biến kẻ thù thành xác chết dưới chân mình, nhưng biến kẻ thù thành người có thể được tha thứ. Một chiến thắng không xây ngai bằng máu của người khác, nhưng dựng ngai bằng chính máu của mình.
Đây là điều rất cần cho đời sống đức tin hôm nay. Có những người nhìn Thánh Giá và chỉ thấy đau khổ. Họ nghĩ Kitô giáo là một tôn giáo ca tụng đau đớn, dạy con người cam chịu và coi đau khổ tự nó là thánh thiện. Đó không phải là Tin Mừng. Thiên Chúa không vui khi thấy con người đau. Đức Giêsu không đi tìm đau khổ vì đau khổ. Người chữa người bệnh, làm cho người mù được thấy, người què được đi, người phong được sạch, người đói được ăn, người chết được sống. Người khóc trước mộ Lazarô. Người chạnh lòng trước đám đông bơ vơ. Người không thần thánh hóa đau khổ. Người đi vào đau khổ vì đó là nơi con người đang bị giam giữ. Thánh Giá không nói rằng đau khổ tốt; Thánh Giá nói rằng ngay cả đau khổ cũng không thể ngăn Thiên Chúa yêu con người. Thánh Giá không nói sự chết đẹp; Thánh Giá nói rằng Thiên Chúa đã bước vào sự chết để phá hủy sự chết. Đây là âm hưởng rất Đông phương: Đức Kitô xuống tận đáy vực thẳm của thân phận người để không còn vực thẳm nào mà con người rơi xuống lại vắng mặt Người. Kể từ Golgotha, người bệnh đau đớn có thể nói: Chúa đã ở đây. Người bị phản bội có thể nói: Chúa đã ở đây. Người bị bỏ rơi có thể nói: Chúa đã ở đây. Người đang hấp hối có thể nói: Chúa đã ở đây. Người bước vào bóng tối của mồ sâu cũng có thể nói: Chúa đã đi qua nơi này trước tôi. Đó là một nguồn an ủi vô cùng lớn lao.
Thần học Tây phương, đặc biệt từ thánh Augustinô qua thời Trung cổ và các truyền thống thần học Latinh, lại thường đào sâu một khía cạnh khác: tội lỗi đã làm tổn thương tương quan giữa con người với Thiên Chúa như thế nào, và cái chết của Đức Kitô đem lại sự giao hòa ra sao. Tây phương nhấn mạnh rất mạnh sự nghiêm trọng của tội. Tội không chỉ là một vết thương tâm lý, không chỉ là một bước lạc đường, nhưng là sự từ chối tình yêu của Đấng Tạo Hóa, là sự nổi loạn của thụ tạo trước nguồn sự sống, là một thứ nô lệ đưa con người tới cái chết. Nếu Đông phương thích nói về bệnh tật cần được chữa lành, Tây phương thường nói về tội lỗi cần được tha thứ; nếu Đông phương nói con người bị sự chết giam giữ, Tây phương nhấn mạnh con người mang một món nợ mà tự mình không thể trả; nếu Đông phương nhấn mạnh sự biến đổi bản tính con người, Tây phương thường nhấn mạnh sự phục hồi tương quan giao ước giữa Thiên Chúa và con người. Những ngôn ngữ này có thể khác nhau, nhưng đều cố diễn đạt một thực tại: con người không thể tự cứu mình. Chúng ta có thể phát triển khoa học, có thể kéo dài tuổi thọ, có thể bay tới những hành tinh xa, có thể chế tạo trí tuệ nhân tạo, có thể làm được những điều khiến thế hệ trước kinh ngạc, nhưng con người vẫn không thể tự mình giải quyết tận gốc vấn đề tội lỗi và sự chết. Chúng ta có thể chữa một số bệnh, nhưng không chữa được cơn bệnh sâu nhất của lòng người: ích kỷ. Chúng ta có thể xây hệ thống luật pháp, nhưng không buộc trái tim phải yêu thương. Chúng ta có thể trừng phạt tội phạm, nhưng không tự mình làm cho tội nhân nên thánh. Chúng ta có thể dạy nhau nhiều kỹ năng sống, nhưng không thể bằng sức riêng ban cho nhau sự sống đời đời. Vì thế, Thánh Giá xuất hiện như hành động cứu độ của chính Thiên Chúa.
Trong lịch sử thần học Tây phương, thánh Anselmô thành Canterbury thường được nhắc đến khi nói về ý tưởng “đền bù”. Có thời người ta trình bày tư tưởng này một cách quá đơn giản, đến mức tạo ra một hình ảnh nguy hiểm: Thiên Chúa Cha nổi giận vì tội loài người, đòi phải có máu mới nguôi giận, rồi trút hình phạt ấy trên Con của mình. Nếu hiểu như thế thì không chỉ nghèo nàn mà còn bóp méo Tin Mừng. Không phải một Thiên Chúa tàn nhẫn trừng phạt một người Con vô tội. Chính Thiên Chúa trong tình yêu Ba Ngôi chủ động đi vào lịch sử cứu độ. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” Chữ đầu tiên của Thánh Giá không phải là “giận dữ”, nhưng là “yêu”. Chữ cuối cùng của Thánh Giá cũng không phải là “trừng phạt”, nhưng là “trao ban”. Chúa Cha yêu. Chúa Con tự nguyện hiến mình. Chúa Thánh Thần là tình yêu trong đó hy lễ ấy được dâng hiến. Thánh Giá không phải cuộc xung đột giữa một Cha giận dữ và một Người Con nhân hậu; Thánh Giá là hành động duy nhất của tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi hướng về nhân loại. Đức Giêsu nói rất rõ: “Không ai lấy mạng sống của tôi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình.” Chính chữ “tự ý” ấy làm cho Thánh Giá trở thành tình yêu. Nếu bị cưỡng bức, đó chỉ là một vụ hành quyết. Vì được tự hiến, Thánh Giá trở thành hy tế tình yêu.
Truyền thống Tây phương còn đào sâu mạnh mẽ ngôn ngữ hy tế. Đức Kitô vừa là tư tế vừa là lễ vật. Người không dâng một vật gì ở bên ngoài mình; Người dâng chính mình. Từ đây chúng ta mới hiểu tại sao Thánh Thể không thể tách khỏi Thánh Giá. Trong phòng Tiệc Ly, Đức Giêsu cầm lấy bánh và nói: “Này là Mình Thầy, bị nộp vì anh em.” Người cầm chén và nói đó là Máu Người đổ ra cho muôn người được tha tội. Ngày hôm sau, điều được diễn tả bí tích trong phòng Tiệc Ly được thực hiện đẫm máu trên Golgotha. Và mỗi Thánh Lễ không phải đóng đinh Đức Kitô một lần nữa, nhưng làm cho Hội Thánh được hiện diện cách bí tích trong hy lễ duy nhất đã hoàn tất một lần cho tất cả. Người tín hữu Tây phương vì thế có một trực giác rất sâu khi quỳ trước Thánh Giá và nhận ra: “Người chết vì tôi.” Không phải chết vì một nhân loại trừu tượng nào đó; chết vì tôi. Tội tôi đã được mang lấy. Nỗi ô nhục của tôi đã được mang lấy. Sự xa cách của tôi với Thiên Chúa đã được Đức Kitô đi vào. Người đứng ở vị trí của người tội lỗi dù Người không phạm tội, để người tội lỗi có thể đứng trong vị trí của người con. Thánh Phaolô diễn tả điều đó với một sức mạnh đáng kinh ngạc: “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người.” Đây không phải là thứ kế toán lạnh lùng về công trạng và hình phạt. Đây là cuộc trao đổi của tình yêu: Người nhận lấy cái của chúng ta để trao cho chúng ta cái của Người; Người nhận lấy sự chết của chúng ta để trao sự sống của Người; nhận lấy sự nghèo nàn của chúng ta để trao kho tàng ân sủng; bước vào sự xa cách của chúng ta để đưa chúng ta về nhà Cha.
Nếu chỉ giữ ngôn ngữ Đông phương mà quên Tây phương, chúng ta có thể nói rất đẹp về chiến thắng, thần hóa và Phục Sinh nhưng vô tình làm nhẹ đi tính nghiêm trọng của tội lỗi và cái giá của ơn cứu chuộc. Nếu chỉ giữ ngôn ngữ Tây phương mà quên Đông phương, chúng ta có thể nói rất nhiều về tội, nợ, hình phạt, hy tế và đền bù đến mức người tín hữu chỉ còn sợ hãi trước Thánh Giá mà quên mất rằng Thánh Giá là khởi đầu của một cuộc sáng tạo mới. Hội Thánh cần cả hai. Thánh Giá vừa tha tội vừa chữa lành. Thánh Giá vừa giao hòa vừa thần hóa. Thánh Giá vừa là hy tế vừa là chiến thắng. Thánh Giá vừa nói cho chúng ta biết tội lỗi khủng khiếp thế nào, vừa nói tình yêu Thiên Chúa lớn hơn tội lỗi đến mức nào. Thánh Giá vừa phơi bày bóng tối của lòng người, vừa mặc khải ánh sáng của lòng Thiên Chúa. Nhìn lên Thánh Giá, ta thấy con người có thể độc ác đến đâu: chúng ta có thể đóng đinh chính Con Thiên Chúa. Nhưng cũng trên Thánh Giá ấy, ta thấy Thiên Chúa có thể yêu đến đâu: Người có thể tha thứ cho cả kẻ đang đóng đinh mình.
Đoạn Tin Mừng theo thánh Gioan kể lại một chi tiết tưởng nhỏ nhưng chứa cả một nền thần học về Thánh Giá: “Khi đến gần Đức Giêsu và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người. Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra” (x. Ga 19,33-34). Hãy dừng lại thật lâu trước cảnh ấy. Đức Giêsu đã chết. Con người tưởng rằng mọi chuyện đã chấm hết. Một người lính còn lấy ngọn giáo đâm vào cạnh sườn Người như dấu xác nhận cuối cùng rằng người tử tù này không còn sự sống. Thế nhưng Tin Mừng Gioan không kể chi tiết ấy như một thông tin y khoa. Từ cạnh sườn bị mở ra, máu và nước chảy xuống. Các Giáo phụ nhìn thấy nơi đó một mầu nhiệm. Như Eva được hình thành từ cạnh sườn Adam đang ngủ, Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô đang ngủ giấc tử thần. Máu gợi đến Thánh Thể. Nước gợi đến Phép Rửa và nguồn sự sống của Thánh Thần. Chính nơi mà con người tạo thêm một vết thương, Thiên Chúa mở ra một nguồn ân sủng. Đây chính là Thánh Giá theo cả Đông lẫn Tây. Tây phương có thể nhìn thấy Máu của hy tế giao hòa, Máu đổ ra cho muôn người được tha tội. Đông phương có thể nhìn thấy nguồn nước ban sự sống, sự sống mới tuôn trào từ Đấng đã chiến thắng tử thần. Và cả hai cùng quỳ xuống trước cạnh sườn mở rộng của Đức Kitô để hiểu rằng ơn cứu độ không phải một lý thuyết; ơn cứu độ chảy ra từ một trái tim bị đâm thâu vì yêu.
Cũng Tin Mừng Gioan cho chúng ta một câu khác mà có lẽ đủ sức nối liền mọi nền thần học về Thánh Giá: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,32). Gioan dùng một từ rất lạ: “giương cao”. Về mặt lịch sử, Đức Giêsu bị giương cao trên cây gỗ để bị hành hình. Nhưng về mặt thần học, chính lúc bị giương cao ấy Người được tôn vinh. Thánh Giá là sự hạ nhục và đồng thời là giờ vinh quang. Đây là điều Đông phương rất yêu thích: vinh quang ẩn trong đau khổ, Phục Sinh đã thấp thoáng trong Thập Giá. Nhưng câu ấy cũng chứa điều Tây phương nhấn mạnh: Người bị giương cao “để kéo mọi người” về với Thiên Chúa; Người đứng giữa trời và đất như Đấng Trung Gian giao hòa. Hai cánh tay Người dang ra như ôm lấy Đông và Tây, người Do Thái và dân ngoại, thánh nhân và tội nhân, người đang tin và người còn hoài nghi. Có lẽ đó là hình ảnh đẹp nhất để nghĩ về chính hai truyền thống Đông và Tây: cả hai đều đứng dưới hai cánh tay của cùng một Đức Kitô.
Thánh Giá còn cho chúng ta hiểu một điều sâu hơn: Thiên Chúa cứu con người không từ bên ngoài nỗi đau của con người nhưng từ bên trong. Người không đứng trên trời ném xuống một sắc lệnh tha thứ. Người nhập thể. Người có một thân xác có thể đói, có thể mệt, có thể chảy máu, có thể đau. Người biết thế nào là bị bạn bè bỏ trốn. Người biết cái hôn của Giuđa. Người biết sự chối bỏ của Phêrô. Người biết một phiên tòa bất công. Người biết tiếng la ó của đám đông. Người biết những chiếc đinh xuyên qua thân thể. Người biết cơn khát. Người biết cái cảm giác kinh hoàng của một người bị treo giữa trời đất và dường như chẳng còn ai bên cạnh. “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Người đi vào tận cùng đêm tối ấy không phải vì Chúa Cha ngừng yêu Người, nhưng để không còn tiếng kêu nào của nhân loại mà Người chưa mang vào trong lời cầu nguyện của mình. Từ nay, khi một con người kêu: “Chúa ơi, sao Chúa bỏ con?”, chính Đức Kitô đã cầu nguyện câu đó trước họ. Ngay trong cảm giác bị bỏ rơi, người tín hữu vẫn có thể gặp một Đấng đã từng đi qua kinh nghiệm ấy.
Đông phương sẽ nói: Đức Kitô đã nhận lấy cái chết để tiêu diệt cái chết. Tây phương sẽ nói: Đức Kitô đã mang lấy tội chúng ta để giao hòa chúng ta với Thiên Chúa. Và người đau khổ bình thường chẳng cần biết hết những hệ thống thần học ấy vẫn có thể hiểu một điều đơn sơ: Người không ở một mình. Có một Thiên Chúa mang vết thương. Kitô giáo là tôn giáo duy nhất dám đặt ở trung tâm đức tin của mình hình ảnh một Thiên Chúa mang thương tích. Sau Phục Sinh, những dấu đinh không biến mất. Đức Giêsu phục sinh vẫn nói với Tôma: “Hãy đặt ngón tay vào đây và hãy nhìn xem tay Thầy; đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy.” Thật kỳ lạ. Thân xác phục sinh đã được vinh hiển, nhưng các vết thương vẫn còn. Tại sao? Có lẽ vì tình yêu đích thực không xóa lịch sử nhưng biến đổi lịch sử. Phục Sinh không giả vờ rằng Thứ Sáu Tuần Thánh chưa từng xảy ra. Thiên Chúa không chữa lành chúng ta bằng cách xóa sạch quá khứ như chưa từng có vết thương; Người có thể biến vết thương thành nơi ánh sáng đi qua. Đức Kitô không còn đau vì những dấu đinh ấy, nhưng chính chúng trở thành dấu căn tính: “Đây là Thầy.” Ngày cuối đời chúng ta cũng vậy. Có thể chúng ta sẽ mang về trước mặt Chúa vô số vết thương của đời mình: những lần bị hiểu lầm, những thất bại, những cuộc chia ly, những điều không thể sửa lại, những người đã mất, những giấc mơ không thành. Ơn cứu độ không hứa rằng mọi ký ức ấy sẽ bị xóa. Ơn cứu độ hứa rằng chẳng ký ức nào còn quyền làm chúng ta chết nữa. Trong Đức Kitô phục sinh, vết thương có thể ở lại mà nọc độc của nó đã bị lấy đi.
Một điểm nữa Đông phương giúp Tây phương nhớ lại, và Tây phương cũng giúp Đông phương đào sâu, là mối tương quan giữa Nhập Thể và Thánh Giá. Không thể hiểu Golgotha nếu quên Bêlem. Đôi bàn tay bị đóng đinh từng là đôi tay bé nhỏ của Hài Nhi nằm trong máng cỏ. Trán đội mão gai từng được Đức Maria hôn. Thân thể bị lột trần trên đồi Sọ là thân thể Ngôi Lời đã nhận lấy trong lòng một người nữ. Con Thiên Chúa không “mượn” thân xác trong ba mươi ba năm rồi vứt bỏ; Người thực sự làm người. Chính vì thế, ơn cứu độ chạm đến thân xác chúng ta. Kitô giáo không khinh thân xác. Thân xác có thể trở thành đền thờ Thánh Thần. Thân xác có thể được thánh hóa. Thân xác sẽ được phục sinh. Và bởi Ngôi Lời đã nhận lấy trọn vẹn nhân tính, Người chữa lành trọn vẹn con người. Một nguyên tắc quen thuộc của các Giáo phụ nói rằng điều gì không được Đức Kitô nhận lấy thì không được chữa lành. Người nhận lấy thân xác chúng ta, trí khôn chúng ta, ý chí nhân loại của chúng ta, những cảm xúc con người của chúng ta, nỗi đau chúng ta, cái chết chúng ta. Và trong sự kết hợp với thần tính của Người, nhân tính ấy được dẫn vào vinh quang.
Tây phương lại nhắc Đông phương và mỗi chúng ta rằng không thể nói về “thần hóa” mà bỏ qua hoán cải. Không có đường tắt từ con người tội lỗi lên vinh quang. Con đường đi qua Thánh Giá. Đức Kitô nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Câu ấy không phải lời cổ vũ cho việc tự hành hạ mình. “Vác thập giá” trước hết là chấp nhận để cái tôi ích kỷ chết đi. Có những thập giá chẳng phải bệnh tật hay tai họa; đôi khi thập giá đơn giản là phải xin lỗi khi mình sai. Thập giá là im tiếng thay vì nói một câu làm người khác đau. Thập giá là trung thành với người phối ngẫu khi tình cảm không còn nồng nàn như ngày đầu. Thập giá là người mẹ thức đêm chăm đứa con bệnh. Thập giá là người cha làm việc âm thầm mà chẳng ai cảm ơn. Thập giá là một linh mục vẫn ngồi tòa giải tội khi thân xác mệt mỏi, vẫn đến với người bệnh khi trời mưa, vẫn giảng Lời Chúa khi trong lòng mình cũng đang có những nỗi buồn chẳng thể kể. Thập giá là người tu sĩ sống lời khấn trong những ngày không còn cảm thấy sốt sắng. Thập giá là tha thứ cho một người đã làm mình đau mà không đợi họ phải quỳ xuống trước mặt. Thập giá là dám sống thật giữa một thế giới quen tô vẽ. Thập giá là dám mất một chút lợi ích để giữ lương tâm. Những cái chết nhỏ ấy, nếu được hiệp với Đức Kitô, trở thành con đường phục sinh.
Nhưng ở đây cần hết sức cẩn thận. Không phải thập giá nào con người đặt lên vai nhau cũng là “thập giá Chúa gửi”. Một người chồng đánh vợ không thể bảo vợ: “Đây là thập giá Chúa gửi, em phải chịu.” Một cộng đoàn đối xử bất công với một thành viên không thể dùng lời khấn vâng phục để biến bất công thành thánh ý Chúa. Một xã hội áp bức người nghèo không thể viện Tin Mừng để bảo họ cứ chịu đựng. Đức Giêsu vác Thánh Giá không có nghĩa Kitô hữu phải cộng tác với sự ác. Trái lại, chính Thánh Giá phơi bày sự ác. Golgotha là bản cáo trạng đối với mọi cơ chế kết án người vô tội. Thập Giá cho thấy quyền lực chính trị có thể hèn nhát như Philatô, quyền lực tôn giáo có thể chai đá, đám đông có thể bị thao túng, bạn bè có thể phản bội, luật pháp có thể bị lợi dụng. Đứng dưới Thánh Giá mà vẫn bênh vực áp bức là chưa hiểu Thánh Giá. Đức Kitô không bảo chúng ta dựng thêm thập giá cho nhau. Người bảo chúng ta cùng nhau mang gánh nặng của nhau xuống.
Thần học Đông phương đặc biệt đẹp khi gọi Thánh Giá là “cây sự sống”. Trong sách Sáng Thế có cây sự sống ở giữa vườn. Sau khi con người phạm tội, đường đến cây ấy bị đóng lại. Nhưng các Giáo phụ nhìn Thập Giá như cây sự sống mới. Trên cây cũ, con người bất tuân và cái chết đi vào thế giới. Trên cây mới, Đức Kitô vâng phục cho đến chết và sự sống mở ra. Adam cũ đưa tay lấy trái cấm; Adam mới dang hai tay trên Thập Giá để trao chính mình làm hoa trái ban sự sống. Một cây từng là công cụ tử hình trở thành cây sinh trái trường sinh. Thi sĩ, phụng vụ và các Giáo phụ Đông phương yêu hình ảnh ấy vì nó biến đổi toàn bộ cách nhìn về Golgotha. Thánh Giá không chỉ là dấu chấm hết của một đời người, nhưng là cây đang bén rễ vào đất chết và trổ cành lên trời. Gốc nó cắm vào mồ, ngọn nó chạm thiên đàng. Trên cây ấy treo một quả kỳ lạ: chính Đức Kitô, bánh trường sinh cho thế gian.
Tây phương lại rất sâu sắc khi đặt Thánh Giá vào trung tâm của đời sống nội tâm. Nhiều vị thánh Tây phương đã không xem Thánh Giá như một công thức thần học mà như một tình yêu cá vị. Thánh Phanxicô Assisi nhìn Đấng chịu đóng đinh đến độ chính thân thể ngài mang các dấu thương. Thánh Gioan Thánh Giá đi qua “đêm tối” để đến kết hợp với Thiên Chúa. Thánh Têrêsa Avila hiểu rằng tình yêu chân thật luôn có giá. Thánh Anphongsô đã viết và giảng không mệt mỏi về Tình yêu của Đấng Cứu Chuộc, bởi một Thiên Chúa chịu chết vì yêu con người thì không thể được đáp trả bằng một đời sống hờ hững. Có một câu hỏi mà linh đạo Thánh Giá Tây phương thường đặt rất trực tiếp: “Người đã làm tất cả vì tôi; tôi đã làm gì cho Người?” Câu hỏi ấy có thể làm người ta đau, nhưng là một cái đau cần thiết. Kitô giáo không phải một tôn giáo để người ta chỉ xin ơn. Nhìn Thánh Giá đủ lâu, ta sẽ xấu hổ nếu cả đời chỉ biết hỏi: “Chúa cho con gì?” Thánh Giá khiến ta bắt đầu hỏi: “Con có thể trao cho Chúa điều gì?”
Và có lẽ điều đẹp nhất khi đặt Đông phương bên Tây phương là ta nhận ra ơn cứu độ vừa là “được tha” vừa là “được biến đổi”. Có người nghĩ chỉ cần Chúa tha là đủ, còn mình vẫn sống y như cũ. Không. Tha thứ mở cửa cho biến đổi. Người phụ nữ ngoại tình trong Tin Mừng được Đức Giêsu nói: “Tôi không lên án chị đâu”, nhưng ngay sau đó Người nói: “Từ nay đừng phạm tội nữa.” Lòng thương xót không giữ chúng ta nằm mãi trong bùn; lòng thương xót cúi xuống để kéo chúng ta đứng lên. Tây phương nói: bạn được công chính hóa. Đông phương nói: bạn được tham dự sự sống thần linh. Hai điều ấy gặp nhau trong một hành trình. Người tội lỗi được tha để trở thành người con. Người con được chữa lành để ngày càng giống Đức Kitô. Đức Kitô không chết chỉ để hồ sơ của chúng ta trên trời được đóng dấu “đã xóa tội”; Người chết và sống lại để chúng ta trở thành một thụ tạo mới.
Điều này chạm đến một căn bệnh của Kitô hữu hôm nay: chúng ta dễ bằng lòng với một thứ Kitô giáo tối thiểu. Đi lễ vừa đủ, giữ luật vừa đủ, tránh tội trọng vừa đủ, cầu nguyện vừa đủ, sống đàng hoàng vừa đủ rồi nghĩ thế là xong. Nhưng Kitô giáo của các Giáo phụ Đông phương không bằng lòng với chữ “đủ”. Ơn gọi của người Kitô hữu là được biến đổi để nên giống Đức Kitô. Tây phương cũng không bằng lòng với chữ “đủ”: tình yêu của Đấng chịu đóng đinh đòi một sự đáp trả toàn diện. Thánh Giá đặt câu hỏi rất nghiêm túc: Bao nhiêu phần trong tôi đã thực sự thuộc về Chúa? Tôi đã cho Chúa giờ đọc kinh nhưng còn tiền bạc thì sao? Tôi đã cho Chúa ngày Chúa Nhật nhưng cách tôi đối xử với người trong nhà thì sao? Tôi treo Thánh Giá trong phòng khách nhưng cái lưỡi tôi có đóng đinh người khác không? Tôi đeo Thánh Giá trên cổ nhưng lòng tôi có biết tha thứ không? Tôi hôn chân Chúa ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng tôi có biết cúi xuống trước người nghèo không? Tôi đọc “Lạy Cha, xin tha cho chúng con” mỗi ngày nhưng vẫn giữ một danh sách những người mình quyết không tha. Như thế, Thánh Giá đã ở trên tường mà chưa đi vào trái tim.
Thánh Giá còn đặt chúng ta trước mầu nhiệm sự dữ. Đông phương nói: sự dữ là ký sinh, không có bản thể độc lập; cuối cùng nó sẽ bị sự sống của Thiên Chúa tiêu diệt. Tây phương nói: sự dữ là tội, là phản nghịch, là điều phải được phán xét và tha thứ qua hy tế Đức Kitô. Cả hai giúp chúng ta tránh hai thái cực. Một bên là bi quan, tưởng sự dữ mạnh ngang Thiên Chúa. Không. Thập Giá đã tuyên án sự dữ. Bên kia là ngây thơ, coi sự dữ chẳng có gì nghiêm trọng. Không. Nếu tội chẳng đáng kể, Golgotha trở thành khó hiểu. Cái giá của Thánh Giá cho ta biết tội nghiêm trọng đến mức nào, còn Phục Sinh cho ta biết ân sủng mạnh hơn tội đến mức nào.
Trên Thánh Giá còn có một trường học về quyền năng. Con người định nghĩa quyền năng là khả năng bắt người khác phục vụ mình. Đức Kitô định nghĩa quyền năng là khả năng hiến mình cho người khác. Con người nghĩ mạnh là làm cho người khác sợ. Đức Giêsu mạnh đến mức có thể để người ta đóng đinh mà vẫn không đánh mất tình yêu. Người bị chế nhạo: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi.” Chính ở đây có một nghịch lý. Nếu Đức Giêsu xuống khỏi Thập Giá, có lẽ những kẻ chế nhạo sẽ kinh hãi và tin vào quyền năng của Người. Nhưng Người không xuống. Tại sao? Vì Người không đến để chứng minh rằng mình đủ mạnh để tránh đau khổ; Người đến để chứng minh rằng tình yêu đủ mạnh để đi xuyên qua đau khổ. Quyền năng thật không phải là xuống khỏi Thánh Giá, nhưng là ở lại trong tình yêu cho đến cùng. “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng.” Ba chữ “đến cùng” ấy có lẽ là chú giải đẹp nhất về Golgotha.
Đông phương thích nói đến ánh sáng Tabor, Tây phương thường dừng lâu hơn ở bóng tối Golgotha. Nhưng ánh sáng Tabor và bóng tối Golgotha thuộc cùng một Đức Kitô. Trên núi Tabor, áo Người sáng chói, các môn đệ muốn dựng lều ở lại. Trên Golgotha, áo Người bị chia nhau, các môn đệ bỏ trốn. Trên Tabor có tiếng Cha: “Đây là Con yêu dấu của Ta.” Trên Golgotha dường như chỉ có im lặng. Nhưng Đức Giêsu trên Tabor và Đức Giêsu trên Thập Giá vẫn là một Người Con yêu dấu. Đây là bài học vô cùng quan trọng cho đời sống thiêng liêng. Có những ngày chúng ta cảm thấy Chúa gần. Cầu nguyện dễ dàng. Thánh Lễ sốt sắng. Mọi sự sáng rõ. Đó là Tabor. Nhưng có những ngày cầu nguyện khô khan, tâm hồn tối tăm, bệnh tật, hiểu lầm, thất bại kéo đến. Đó là Golgotha. Ta dễ nghĩ khi cảm thấy bình an thì Chúa yêu mình, còn khi gặp đau khổ thì Chúa đã bỏ mình. Không. Người Con được yêu trên Tabor vẫn là Người Con được yêu trên Golgotha. Tình yêu của Chúa Cha không biến mất khi mây đen kéo tới. Nhiều khi đức tin trưởng thành chính lúc ta không còn cảm thấy gì mà vẫn nói: “Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha.”
Thánh Giá vì thế không chỉ để hiểu, nhưng để sống. Thần học đẹp nhất về Thánh Giá cuối cùng vẫn là đời sống của người biết yêu đến mức chịu mất một phần mình vì người khác. Một người mẹ thức bên giường con bệnh có thể hiểu Thánh Giá hơn một người đọc trăm cuốn sách mà chưa từng hy sinh. Một người biết tha thứ có thể hiểu máu Đức Kitô hơn người thuộc mọi định nghĩa về cứu chuộc nhưng nuôi hận thù trong lòng. Một linh mục âm thầm trung thành có thể hiểu hy tế hơn người nói rất hay về chức tư tế mà lại sống cho bản thân. Một người bệnh dâng từng cơn đau trong sự kết hợp với Chúa có thể hiểu mầu nhiệm Vượt Qua bằng ngôn ngữ không sách nào dạy được. Thần học nếu không dẫn đến tình yêu thì cuối cùng chỉ là chữ. Thánh Giá không được dựng lên để chúng ta tranh luận xem Đông đúng hơn hay Tây đúng hơn. Thánh Giá được dựng lên để tất cả chúng ta quỳ xuống.
Có một điều vô cùng cảm động: dưới chân Thánh Giá, mọi danh hiệu thần học đều trở nên nhỏ. Không còn Đông hay Tây. Không còn Hy Lạp hay Latinh. Không còn Công giáo hay Chính thống trong nghĩa chia cắt đau thương của lịch sử. Chỉ còn những con người cần được cứu đứng trước Đấng đã chết cho họ. Đức Maria đứng đó. Người môn đệ Chúa yêu đứng đó. Những phụ nữ đứng đó. Một viên đại đội trưởng ngoại giáo đứng đó. Một kẻ trộm bên cạnh Người cũng được hứa thiên đàng. Thánh Giá gom những người rất khác nhau lại quanh một tình yêu. Có lẽ con đường hiệp nhất Kitô giáo sâu nhất cũng phải đi qua nơi ấy. Chúng ta có thể tranh luận lâu dài về từ ngữ, lịch sử, cơ cấu, quyền bính, thần học; những điều ấy quan trọng và không thể coi thường. Nhưng nếu Đông và Tây cùng quỳ đủ lâu trước cùng một Đấng chịu đóng đinh, có lẽ chúng ta sẽ bớt muốn chứng minh ai hơn ai và bắt đầu đau vì thân thể Đức Kitô còn bị chia cắt.
Thánh Giá cũng là lời phán xét đối với một thế giới mê thành công. Chúng ta sống trong thời đại người ta thường khoe điều đẹp, giấu điều xấu, khoe thành tựu, giấu thất bại, khoe nụ cười, giấu nước mắt. Mạng xã hội dễ tạo một thế giới toàn những khuôn mặt đã chỉnh sửa, những cuộc đời được lựa chọn góc đẹp nhất. Nhưng Kitô giáo lại đặt giữa nhà thờ một người bị đóng đinh. Không che vết thương. Không xóa máu. Không chỉnh sửa khuôn mặt đau khổ. Tại sao? Vì Thiên Chúa muốn nói rằng giá trị con người không tùy thuộc vào việc họ trông có thành công hay không. Có những lúc Đức Giêsu trên Thập Giá chẳng có vẻ gì thành công: không đám đông theo Người, không phép lạ, không uy thế, không tự do, thậm chí không còn áo mặc. Nhưng chưa bao giờ tình yêu của Người lại trọn vẹn như lúc ấy. Đừng đánh giá đời mình chỉ bằng những gì người đời gọi là thành công. Có những thất bại trước mắt thế gian lại là chiến thắng trước mặt Chúa. Có những người sống âm thầm, chết âm thầm, chẳng ai viết báo về họ, nhưng cả cuộc đời họ là một Thánh Lễ.
Và nếu phải nói một câu thật ngắn để diễn tả sự khác nhau rồi sự gặp gỡ giữa Đông và Tây, có thể nói thế này: Đông phương nhìn Thánh Giá và nghe tiếng cánh cửa âm phủ vỡ tung; Tây phương nhìn Thánh Giá và nghe lời “Mọi sự đã hoàn tất”. Đông phương nhìn thấy Vua chiến thắng sự chết; Tây phương nhìn thấy Chiên Thiên Chúa xóa tội trần gian. Đông phương nhìn thấy cây sự sống; Tây phương nhìn thấy bàn thờ của hy tế. Đông phương chiêm ngắm con người được dẫn vào sự sống thần linh; Tây phương chiêm ngắm tội nhân được giao hòa với Thiên Chúa. Nhưng tất cả cùng nhìn một Đấng. Chiên bị sát tế cũng chính là Vua chiến thắng. Bàn thờ hy tế cũng chính là cây sự sống. Máu xóa tội cũng chính là máu giao ước ban sự sống. Đấng mang tội trần gian cũng chính là Đấng nghiền nát quyền lực tử thần. Golgotha và ngôi mộ trống không cạnh tranh nhau; chúng là hai nhịp của một mầu nhiệm Vượt Qua duy nhất.
Người Kitô hữu vì thế đừng bao giờ dừng ở chiều Thứ Sáu Tuần Thánh mà quên sáng Chúa Nhật Phục Sinh; nhưng cũng đừng vội chạy tới Phục Sinh để khỏi phải đi qua Thập Giá. Có thứ lạc quan Kitô giáo rất rẻ tiền, chỉ thích nói Chúa sẽ làm mọi chuyện tốt đẹp mà không dám đứng bên người đang khóc. Cũng có thứ đạo đức quá u tối, như thể làm người Công giáo là phải mang bộ mặt đau khổ suốt đời. Cả hai đều không phải Tin Mừng. Tin Mừng nói: Thứ Sáu là thật, nhưng Chúa Nhật cũng thật. Vết thương là thật, nhưng chữa lành cũng thật. Cái chết là thật, nhưng sự sống đời đời còn thật hơn. Tội lỗi là thật, nhưng lòng thương xót lớn hơn. Nước mắt là thật, nhưng sẽ có ngày “Thiên Chúa lau sạch nước mắt họ”. Thánh Giá không phủ nhận đau khổ; Thánh Giá không cho đau khổ quyền có tiếng nói cuối cùng.
Đến cuối cùng, mọi thần học về Thánh Giá phải dẫn chúng ta về một câu hỏi rất riêng: Tôi đang đứng ở đâu trước Thánh Giá? Tôi đứng với đám đông chế nhạo? Với Philatô rửa tay để khỏi liên lụy? Với các môn đệ bỏ chạy vì sợ? Với người lính lạnh lùng làm nhiệm vụ? Với người trộm biết mình chẳng còn gì ngoài một lời cầu xin: “Lạy Ngài, khi vào Nước Ngài, xin nhớ đến tôi”? Hay tôi có can đảm đứng với Đức Maria và người môn đệ Chúa yêu, ở lại bên Đức Giêsu ngay cả khi chẳng còn phép lạ nào xảy ra? Đức tin trưởng thành không phải là tin Chúa chỉ khi Người làm điều mình muốn. Đức tin trưởng thành là vẫn ở lại khi Người im lặng. Đức Maria không hiểu hết những gì xảy ra dưới chân Thánh Giá. Nhưng Mẹ ở lại. Có lẽ đó là đức tin tinh tuyền nhất: ở lại với Chúa khi không còn hiểu Chúa.
Rồi sẽ có ngày mỗi người chúng ta phải bước qua thập giá cuối cùng là cái chết. Khi ấy những tranh luận thần học sẽ lùi xa. Chúng ta chẳng cần nói được “Christus Victor”, “đền bù”, “công chính hóa” hay “thần hóa”. Chúng ta chỉ cần đủ sức nhìn lên Đấng đã đi qua con đường ấy trước mình và nói: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.” Khi ấy thần học Đông phương sẽ thì thầm: Đừng sợ, Người đã xuống tận cõi chết và phá cửa nó rồi. Thần học Tây phương sẽ thì thầm: Đừng sợ, Người đã mang tội con và giao hòa con với Cha rồi. Và Thánh Giá sẽ nói điều cuối cùng: Con được yêu. Không phải vì con hoàn hảo. Không phải vì con xứng đáng. Nhưng vì Thiên Chúa là tình yêu. Hai cánh tay của Đấng chịu đóng đinh vẫn mở ra. Một cánh như ôm lấy Đông phương, một cánh như ôm lấy Tây phương; nhưng rộng hơn thế, Người ôm lấy cả nhân loại, ôm những người thánh thiện lẫn những kẻ tội lỗi, người đang đứng vững lẫn kẻ vừa ngã xuống, người hiểu thần học lẫn người chỉ biết khóc. Và từ trên Thánh Giá, Đấng ấy vẫn nói với thế giới bằng một ngôn ngữ mà mọi truyền thống Kitô giáo cuối cùng đều phải học: tình yêu tự hiến, tình yêu tha thứ, tình yêu đi đến cùng.
Có lẽ chẳng cần tìm một hình ảnh nào đẹp hơn để kết thúc. Chiều hôm ấy trên Golgotha, trời tối lại. Một người chết trên cây gỗ. Những kẻ qua đường trở về nhà. Các môn đệ tưởng mọi sự đã hết. Nhưng trong chính cái chết ấy, sự chết đã bắt đầu chết. Trong chính thất bại ấy, chiến thắng đã bắt đầu. Trong chính vết thương ấy, nguồn chữa lành đã mở ra. Trong chính bóng tối ấy, bình minh Phục Sinh đã âm thầm tiến đến. Đó là Thánh Giá của Đông phương. Đó cũng là Thánh Giá của Tây phương. Đó là Thánh Giá của Hội Thánh. Và hơn hết, đó là Thánh Giá của mỗi chúng ta: nơi Thiên Chúa không giải thích hết đau khổ, nhưng bước vào đau khổ với ta; nơi Người không hứa chúng ta sẽ không chết, nhưng hứa rằng chết không còn là hết; nơi Người không nói chúng ta vô tội, nhưng nói tội đã có thể được tha; nơi Người không bảo chúng ta mạnh lên bằng sức riêng, nhưng dang tay bảo: “Hãy ở lại trong Thầy.” Thánh Giá vì thế không phải là biểu tượng của một Thiên Chúa yêu đau khổ. Thánh Giá là mặc khải của một Thiên Chúa yêu con người đến mức sẵn sàng bước vào tận cùng đau khổ của họ để đưa họ ra. Không phải Thiên Chúa yêu cái chết; Người yêu chúng ta đến mức đi vào cái chết. Không phải Thiên Chúa muốn máu; Người trao chính Máu mình. Không phải Thiên Chúa muốn con người bị đóng đinh; chính Người để mình bị đóng đinh để không ai còn bị bỏ một mình trên thập giá cuộc đời. Và từ cây gỗ từng là biểu tượng của ô nhục ấy, một lời hy vọng đã vang qua hai ngàn năm, vang từ Đông sang Tây, từ nhà thờ Chính thống đến thánh đường Công giáo, từ các tu viện cổ kính đến những mái nhà nghèo, từ giường bệnh đến nghĩa trang: sự chết không còn là tiếng nói cuối cùng, tội lỗi không còn là tiếng nói cuối cùng, đau khổ không còn là tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng thuộc về Tình Yêu.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VÀ LÒNG SÙNG KÍNH THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU
Có những biểu tượng Kitô giáo người ta có thể nhìn thấy nhiều lần mà vẫn chưa chắc đã hiểu hết chiều sâu của nó. Thánh Giá là một biểu tượng như thế. Thánh Tâm Chúa Giêsu cũng là một biểu tượng như thế. Một bên là cây gỗ của đau thương, một bên là trái tim của tình yêu. Một bên là những chiếc đinh, những vết thương, máu và nước mắt; một bên là trái tim cháy lửa, vòng gai quấn quanh, thập giá dựng trên đỉnh và vết thương mở ra. Nhưng nếu nhìn thật sâu, người Kitô hữu sẽ nhận ra rằng Thánh Giá và Thánh Tâm không phải là hai lòng đạo đức đứng cạnh nhau, càng không phải là hai cách sùng kính có thể tách rời nhau. Thánh Giá chính là nơi Thánh Tâm được mở ra cho nhân loại, còn Thánh Tâm chính là bí mật sâu nhất giải thích tại sao Đức Giêsu đã chấp nhận Thánh Giá. Nếu chỉ nhìn Thánh Giá mà không nhìn thấy Trái Tim, người ta rất dễ biến Kitô giáo thành một tôn giáo của đau khổ. Nếu chỉ nói đến Thánh Tâm mà không đặt Trái Tim ấy dưới bóng Thánh Giá, người ta lại có nguy cơ biến tình yêu của Thiên Chúa thành một thứ tình cảm ngọt ngào, dễ chịu và ít đòi hỏi. Tin Mừng không cho phép chúng ta tách hai thực tại ấy. Trái Tim bị đâm thâu là Trái Tim của Đấng chịu đóng đinh, và Đấng chịu đóng đinh chính là Con Thiên Chúa đã “yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Hai chữ “đến cùng” ấy có lẽ là chiếc chìa khóa đẹp nhất để bước vào mầu nhiệm Thánh Tâm và Thánh Giá: yêu cho đến tận cùng khả năng của tình yêu, yêu không rút lại, yêu không bỏ cuộc, yêu ngay khi bị từ chối, yêu ngay khi bị phản bội, yêu cả lúc con người chẳng còn gì đáng yêu, và yêu cho tới khi trái tim bị mở tung trên cây thập giá.
Người ta thường hỏi: tại sao Đức Giêsu phải chết trên Thánh Giá? Có phải Thiên Chúa thích đau khổ chăng? Có phải Chúa Cha cần máu của Con mình để nguôi giận chăng? Nếu nghĩ như thế, chúng ta đã hiểu sai khuôn mặt của Thiên Chúa và cũng hiểu sai Thánh Giá. Thiên Chúa không mê đau khổ. Thiên Chúa không dựng nên con người để nhìn con người khóc. Thiên Chúa không vui khi thấy thân xác bị nghiền nát, phẩm giá bị chà đạp, những mái nhà tan vỡ, người bệnh quằn quại hay những bà mẹ khóc con. Điều Thiên Chúa muốn là tình yêu, là sự sống, là con người được cứu độ và được trở về với Người. Thánh Giá xảy đến bởi một thế giới đã bị tội lỗi làm tổn thương; nhưng trên chính nơi con người dùng để giết người, Thiên Chúa đã làm xuất hiện một sự sống mới. Thập giá vốn là dụng cụ tử hình của đế quốc Rôma, nhưng khi Đức Giêsu dang tay trên đó, thập giá trở thành ngai của lòng thương xót. Cây gỗ vốn nói lên sự thất bại lại trở thành dấu chỉ chiến thắng. Nơi đáng lẽ chỉ còn tiếng nguyền rủa lại vang lên lời tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Và đây chính là chỗ Thánh Tâm Chúa Giêsu tỏ hiện rõ nhất. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu không chỉ chịu đau bằng thân xác; Người yêu bằng cả trái tim. Những chiếc đinh giữ bàn tay Người lại, nhưng không giữ được tình yêu của Người. Người ta có thể đóng chân Người vào gỗ, nhưng không thể đóng cửa trái tim Người. Người ta có thể cướp áo Người, danh dự Người, tự do Người, hơi thở Người, nhưng không thể lấy khỏi Người khả năng yêu thương. Cho đến giây phút cuối cùng, Người vẫn yêu. Vì vậy, điều cứu chúng ta không phải đơn thuần là số lượng đau khổ Đức Giêsu chịu, nhưng là tình yêu vô hạn mà Người đặt vào trong đau khổ ấy. Thánh Giá cứu độ bởi đó là Thánh Giá của một Trái Tim yêu đến cùng.
Hình ảnh Thánh Tâm Chúa Giêsu mà người Công giáo quen thuộc mang trong nó cả một thần học về Thánh Giá. Trái Tim ấy cháy lửa vì tình yêu. Trái Tim ấy bị vòng gai siết quanh vì tội lỗi và sự vô ơn của con người. Trái Tim ấy mang một cây thập giá vì tình yêu chân thật không đứng ngoài đau khổ của người mình yêu. Trái Tim ấy bị thương vì tình yêu luôn có khả năng bị tổn thương. Một người không yêu sẽ ít đau vì người khác; người yêu nhiều thường đau nhiều. Không phải vì tình yêu tìm kiếm đau khổ, nhưng bởi tình yêu không chạy trốn khi người mình yêu đang ở trong đau khổ. Một bà mẹ thức trắng bên giường đứa con bệnh không phải vì bà thích mất ngủ; bà thức vì bà yêu. Một người chồng ở lại chăm sóc người vợ đau yếu nhiều năm không phải vì anh say mê khổ cực; anh ở lại vì lời yêu ngày cưới đã trở thành máu thịt. Một linh mục vẫn kiên nhẫn đồng hành với một người hết lần này đến lần khác sa ngã không phải vì ngài thích phiền phức, nhưng bởi người mục tử không dễ dàng bỏ con chiên đang thương tích. Cũng vậy, Đức Giêsu không yêu Thánh Giá vì Thánh Giá, nhưng Người ôm lấy Thánh Giá vì trên Thánh Giá ấy có chúng ta. Nếu cứu con người đòi Người phải đi vào tận đáy thân phận con người, Người đi. Nếu tìm con chiên lạc đòi Người phải xuống những vực sâu nhất, Người xuống. Nếu để đưa đứa con hoang đàng trở về mà Người phải bước qua phản bội, nhục nhã, cô đơn và cái chết, Người vẫn bước. Đó là Thánh Tâm.
Tin Mừng theo thánh Gioan đã lưu lại một hình ảnh không thể nào quên: “Một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34). Đức Giêsu lúc ấy đã chết. Người không còn lời nào để nói nữa. Đôi mắt đã khép. Đôi tay bất động. Nhưng dường như tình yêu vẫn muốn có lời cuối cùng. Vì thế cạnh sườn được mở ra. Có một vẻ đẹp vừa đau đớn vừa dịu dàng trong cảnh ấy: con người mở trái tim Đức Kitô bằng một mũi giáo, còn Đức Kitô đáp lại bằng máu và nước. Con người gây thêm một vết thương, Chúa lại biến chính vết thương ấy thành nguồn ân sủng. Người ta đâm Người, Người cho đi. Người ta làm Người tổn thương, Người tuôn trào sự sống. Đó không phải chỉ là một chi tiết của cuộc thương khó; đó gần như là bản tóm tắt toàn bộ đời Đức Giêsu. Người luôn đáp lại cái ác bằng điều thiện, đáp lại sự khép kín bằng mở ra, đáp lại sự phản bội bằng trung tín, đáp lại tội lỗi bằng lòng thương xót. Giáo Hội từ rất sớm đã nhìn máu và nước chảy từ cạnh sườn Đức Kitô như dấu chỉ của đời sống bí tích, của Bí tích Thánh Tẩy và Thánh Thể, của một Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn Đấng Cứu Thế. Nhưng với lòng sùng kính Thánh Tâm, chúng ta còn có thể ở lại thật lâu trước vết thương ấy để hiểu một điều rất đơn sơ: Thiên Chúa đã để cho trái tim mình bị mở ra để con người biết rằng nơi Thiên Chúa không có cánh cửa nào đóng trước kẻ tội lỗi muốn quay về.
Chúng ta cần dừng lại ở đây bởi con người hôm nay rất sợ bị tổn thương. Ai cũng dựng quanh mình những bức tường. Bị phản bội một lần, ta tự nhủ sẽ không tin ai nữa. Bị lợi dụng một lần, ta thề sẽ chẳng tử tế với ai nữa. Bị nói xấu, ta đóng cửa lòng. Bị hiểu lầm, ta lạnh lùng. Bị tổn thương trong gia đình, ta có thể sống dưới cùng một mái nhà nhưng trái tim đã cách nhau hàng ngàn cây số. Có những người không còn khóc nữa không phải vì đã bình an, nhưng bởi trái tim đã hóa đá. Họ không muốn đau nên cũng không muốn yêu. Trong một thế giới như vậy, Thánh Tâm bị đâm thâu là lời mời gọi rất mạnh. Đức Giêsu không dạy chúng ta ngây thơ để người khác muốn làm gì cũng được. Người cũng không bảo chúng ta ở lại trong những hoàn cảnh bạo lực, lạm dụng hay bất công mà không tìm sự trợ giúp cần thiết. Nhưng Người dạy rằng đừng để vết thương biến mình thành người gây thương tích cho kẻ khác. Đừng để những gì người khác đã làm với ta quyết định ta sẽ trở thành người thế nào. Đừng để một lần bị phản bội biến cả đời ta thành người không còn khả năng trung tín. Đừng để vài lời cay độc khiến miệng ta từ nay chỉ biết nói cay độc. Trái Tim Đức Giêsu mang vết thương, nhưng từ vết thương ấy lại chảy ra nước và máu. Câu hỏi của đời sống thiêng liêng không phải chỉ là: “Tôi đã bị thương thế nào?”, mà còn là: “Từ vết thương của tôi đang chảy ra điều gì?” Chảy ra hận thù hay lòng thương xót? Chảy ra cay đắng hay cảm thông? Chảy ra những lời làm chết người hay những lời chữa lành? Chảy ra sự trả đũa hay một khả năng tha thứ lớn hơn?
Lòng sùng kính Thánh Tâm vì thế không thể bị thu gọn vào việc treo một bức ảnh đẹp trong nhà, đọc vài kinh vào thứ Sáu đầu tháng, đeo một ảnh Thánh Tâm hay tham dự một vài việc đạo đức. Tất cả những việc ấy đều quý nếu đưa chúng ta đến một cuộc hoán cải của trái tim. Nhưng sẽ rất đáng buồn nếu một gia đình treo ảnh Thánh Tâm thật lớn mà dưới bức ảnh ấy vợ chồng không nói chuyện với nhau, anh em tranh chấp nhau, cha mẹ làm con cái tổn thương bằng những lời nặng nề, con cái bỏ quên cha mẹ già. Sẽ là một nghịch lý nếu một người siêng viếng Thánh Tâm mà trái tim mình lại đầy đố kỵ, thích kết án, nhớ lỗi người khác, khó tha thứ và vui khi người mình không ưa gặp chuyện chẳng lành. Chúa Giêsu đâu cần thêm những bức ảnh của Trái Tim Người nếu trái tim chúng ta vẫn không chịu giống Trái Tim ấy. Người muốn mỗi gia đình Công giáo trở thành một “nhà nguyện Thánh Tâm” sống động: nơi người ta biết xin lỗi nhau, nhường nhau, tha thứ cho nhau, chịu đựng nhau, cầu nguyện cho nhau và nhất là không dễ bỏ nhau. Thánh Tâm trong nhà không chỉ phải ở trên bàn thờ; Thánh Tâm phải đi vào bàn ăn, phòng khách, điện thoại, cách người ta sử dụng tiền bạc, cách cha mẹ nói với con, cách con cái cư xử với cha mẹ, cách vợ chồng nhìn nhau khi đã không còn trẻ đẹp như ngày cưới. Nếu lòng sùng kính không chạm đến những nơi ấy, nó vẫn còn đứng ở ngoài cửa đời sống.
Có một câu trong Tin Mừng rất hợp để hiểu linh đạo Thánh Tâm: “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29). Chúa không nói: hãy học nơi Ta cách làm phép lạ; cũng không nói: hãy học nơi Ta cách giảng hùng hồn; Người nói: hãy học nơi Ta về trái tim. Kitô giáo cuối cùng là chuyện của trái tim. Không phải thứ tình cảm nhất thời, nhưng là trung tâm sâu nhất nơi con người quyết định mình sẽ sống cho ai, yêu điều gì và trở thành người thế nào. Chúa muốn đào tạo trái tim chúng ta. Một người có thể rất thông minh mà trái tim nhỏ hẹp. Có thể rất đạo đức bên ngoài mà trái tim cứng. Có thể biết nhiều thần học mà không biết thương người đau khổ. Có thể nói rất hay về lòng thương xót nhưng lại không tha nổi cho một người làm mình tổn thương. Có thể quỳ rất lâu trước Thánh Thể nhưng khi đứng dậy lại nói một câu giết chết danh dự người khác. Vì thế, sùng kính Thánh Tâm trước hết là xin Chúa đổi trái tim mình: “Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng chúng con nên giống Trái Tim Chúa.” Lời kinh ấy nếu đọc thật lòng sẽ rất nguy hiểm cho cái tôi, bởi muốn giống Trái Tim Chúa thì phải chấp nhận để Chúa lấy đi nhiều điều chúng ta vẫn ôm giữ: tự ái, kiêu căng, thói thích hơn thua, nhu cầu phải thắng mọi cuộc tranh luận, thói quen ghi sổ lỗi lầm của người khác, sự lạnh lùng trước nỗi đau của tha nhân.
Ở trung tâm Thánh Tâm có Thánh Giá. Điều đó nhắc chúng ta rằng tình yêu Kitô giáo không phải thứ tình yêu chỉ tồn tại khi mọi sự thuận lợi. Nhiều người yêu rất dễ khi được yêu lại, tử tế khi được đối xử tử tế, trung thành khi không phải hy sinh điều gì, phục vụ khi được ghi nhận, tha thứ khi người kia lập tức xin lỗi. Nhưng tình yêu của Đức Kitô bắt đầu bộc lộ vẻ đẹp lớn nhất chính lúc tất cả lý do để tiếp tục yêu dường như đã biến mất. Giuđa bán Người. Phêrô chối Người. Các môn đệ bỏ chạy. Dân chúng từng tung hô lại gào lên đòi đóng đinh. Những kẻ lãnh đạo chế nhạo. Quân lính xúc phạm. Và giữa cảnh ấy, Trái Tim Chúa vẫn không đổi. Đây là điều làm người ta phải sững sờ trước Thánh Giá: không phải chỉ vì Đức Giêsu đau quá nhiều, nhưng vì trong đau khổ ấy Người vẫn không ngừng yêu. Thử nghĩ xem, chỉ một lời vô ơn đôi khi đã đủ làm ta thay đổi thái độ với một người. Một tin nhắn không trả lời đã khiến ta bực bội. Một sự hiểu lầm đủ làm tình bạn nhiều năm rạn vỡ. Một lần bị quên ơn khiến ta thề từ nay không giúp nữa. Trong khi đó, dưới Thánh Giá, cả một thế giới dường như vô ơn trước tình yêu Thiên Chúa, nhưng Trái Tim Đức Kitô vẫn mở ra.
Tin Mừng minh họa đẹp nhất cho mối liên hệ giữa Thánh Giá và Thánh Tâm có lẽ chính là cuộc thương khó trên đồi Canvê. Hãy thử đứng đó bằng trí tưởng tượng của đức tin. Trời chiều dần tối. Trên một ngọn đồi ngoài thành, ba cây thập giá dựng lên. Ở giữa là Đức Giêsu. Người không còn hình dạng của một vị Thầy từng làm dân chúng kinh ngạc. Gương mặt bầm dập. Đầu đội vòng gai. Lưng đầy thương tích. Hai tay bị đóng vào gỗ. Hơi thở ngày một khó khăn. Bên dưới, có kẻ chế giễu: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá.” Nhưng Người không xuống. Không phải vì Người không thể, mà bởi Người yêu. Nếu xuống, Người có thể chứng minh sức mạnh; ở lại, Người chứng minh tình yêu. Gần đó, người trộm lành chỉ còn vài giờ để sống, chẳng còn công trạng gì để trình diện Thiên Chúa. Anh chỉ có một lời cầu xin nghèo nàn: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và từ Trái Tim đang hấp hối, anh nhận được một lời hứa vượt quá mọi tưởng tượng: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Một người cả đời có thể đã đi rất xa, vậy mà ở phút cuối chỉ cần quay đầu nhìn về Trái Tim bị đóng đinh, thiên đàng đã mở. Rồi Đức Giêsu nhìn thấy Mẹ và người môn đệ Người thương mến. Ngay giữa cơn hấp hối của mình, Người vẫn nghĩ đến nỗi cô đơn của Mẹ và tương lai của người môn đệ: “Thưa Bà, đây là con của Bà… Đây là Mẹ của anh” (Ga 19,26-27). Người đang chết mà vẫn chăm lo cho người khác. Đó là Thánh Tâm. Sau cùng, Người trao thần khí và chết. Người lính lấy giáo đâm cạnh sườn, máu cùng nước chảy ra. Như thể khi con người đã lấy hết mọi thứ của Đức Giêsu, Người còn nói: vẫn còn Trái Tim này, hãy nhận lấy nữa đi. Đó là tình yêu “đến cùng”.
Có một chi tiết nữa rất đáng suy nghĩ: Thánh Tâm Chúa Giêsu không phải là một trái tim nguyên vẹn theo nghĩa không có vết sẹo. Nó là một trái tim bị thương. Thiên Chúa phục sinh không xóa các dấu đinh. Khi hiện ra với Tôma, Đức Giêsu nói: “Đặt ngón tay vào đây và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy” (Ga 20,27). Đấng Phục Sinh vẫn mang các vết thương. Điều này thật an ủi cho những ai từng nghĩ rằng phải hết đau mới có thể sống, phải quên sạch quá khứ mới có thể bình an, phải không còn vết sẹo mới gọi là được chữa lành. Không. Có những vết thương không biến mất nhưng được biến đổi. Vết thương của Đức Kitô từ dấu hiệu của bạo lực trở thành dấu hiệu của tình yêu. Vết đinh từng chứng minh Người bị con người giết nay chứng minh rằng Người đã yêu con người đến mức nào. Chúng ta cũng vậy. Có những điều trong cuộc đời không thể xóa. Một người thân đã mất không trở lại. Tuổi thơ từng bị tổn thương không thể viết lại. Một cuộc hôn nhân tan vỡ để lại những khoảng trống. Một lần phản bội có thể để lại vết sẹo rất sâu. Một căn bệnh có thể thay đổi cả cuộc đời. Đức tin không hứa rằng tất cả ký ức sẽ biến mất. Đức tin hứa một điều lớn hơn: Chúa có thể đi vào những vết thương ấy và làm cho chúng không còn là nơi phát ra độc tố mà trở thành nơi lòng thương xót được sinh ra. Người từng đau có thể trở thành người hiểu nỗi đau kẻ khác nhất. Người từng được tha thứ có thể học cách tha thứ. Người từng được kéo lên khỏi vực sâu có thể biết cách cúi xuống với người đang tuyệt vọng. Đó là phép lạ của Thánh Tâm bị thương.
Vì thế, đền tạ Thánh Tâm không nên bị hiểu cách hẹp hòi như thể chúng ta phải làm điều gì đó để “bù” cho một Thiên Chúa đang bị tổn thương theo kiểu cảm xúc của con người. Đền tạ trước hết là đáp lại tình yêu bằng tình yêu. Khi nhận ra mình đã được yêu quá nhiều mà lại yêu quá ít, người tín hữu muốn quay về. Đền tạ là nhìn lên Đấng bị đâm thâu rồi nói: “Lạy Chúa, con không muốn sống thêm một ngày nào như thể tình yêu của Chúa chẳng đáng gì.” Đền tạ là sửa lại nơi chính đời mình những gì đối nghịch với Trái Tim Chúa. Nếu tôi đã làm người khác đau bằng lời nói, đền tạ là tập nói lời chữa lành. Nếu tôi ích kỷ, đền tạ là biết chia sẻ. Nếu tôi vô ơn, đền tạ là học biết cảm ơn. Nếu tôi mang hận thù, đền tạ là bước vào hành trình tha thứ. Nếu tôi lạnh nhạt với Thánh Thể, đền tạ là trở về với bàn tiệc nơi Trái Tim Chúa vẫn tự hiến cho tôi. Nếu tôi đã bỏ quên người nghèo, người bệnh, người cô đơn, đền tạ là nhận ra chính Chúa đang chờ mình nơi họ. Không thể đền tạ Trái Tim Chúa trong nhà thờ rồi ra khỏi nhà thờ tiếp tục đâm vào trái tim anh em bằng lời độc địa, sự khinh miệt, vu khống hay vô cảm.
Thứ Sáu đầu tháng vì thế có một chiều sâu tuyệt đẹp. Đó không chỉ là một ngày giữ đạo theo thói quen. Đó là ngày người tín hữu được mời gọi trở lại nguồn mạch tình yêu. Trong Thánh Thể, Đức Giêsu vẫn tiếp tục sống logic của Thánh Giá và Thánh Tâm: tự trao ban. “Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” Người không giữ lại chính mình. Thánh Thể chính là tình yêu của Thánh Tâm mang hình thức của tấm bánh bị bẻ ra. Mỗi lần rước lễ, chúng ta không chỉ “nhận Chúa” theo nghĩa đạo đức; chúng ta bước vào trường học của một Trái Tim bị bẻ ra cho người khác. Bởi vậy sau Thánh Lễ, nếu người tín hữu không trở thành một chút bánh được bẻ ra cho gia đình, cộng đoàn và người nghèo, họ chưa đi đến cùng ý nghĩa của Thánh Thể. Có người hỏi tại sao mình rước lễ nhiều mà chẳng thay đổi bao nhiêu. Có lẽ vì ta muốn Chúa đi vào trong ta nhưng không cho phép Trái Tim Chúa thay đổi logic sống của ta. Ta rước một Đấng tự hiến nhưng ta vẫn sống chỉ để giữ cho mình. Ta rước một Đấng tha thứ nhưng ta vẫn nuôi hận. Ta rước một Đấng hạ mình nhưng ta vẫn tìm được tôn trọng, ưu tiên, hơn người. Ta rước Trái Tim bị đâm thâu nhưng lại cố sống sao cho trái tim mình chẳng bao giờ phải hy sinh vì ai. Như vậy, Bí tích đã vào miệng nhưng chưa chắc đã xuống được đến trái tim.
Đối với linh mục, mầu nhiệm Thánh Giá và Thánh Tâm lại càng gần gũi. Linh mục không chỉ được mời gọi nói về Trái Tim Chúa mà phải để cho đời mình trở thành phần nối dài của Trái Tim ấy. Có những lúc đời linh mục rất vui: một Thánh Lễ sốt sắng, một người trở về sau nhiều năm xa Chúa, một gia đình được hòa giải, một bạn trẻ tìm lại đức tin. Nhưng cũng có những Thánh Giá rất âm thầm mà chẳng mấy ai biết: những hiểu lầm không thể giải thích, những thất bại mục vụ, những người mình hết lòng giúp đỡ rồi quay lưng, những đêm trở về phòng chỉ còn một mình, những giới hạn của tuổi tác và bệnh tật, những lần muốn làm điều tốt mà kết quả không như mong đợi. Nếu linh mục chỉ sống bằng thành công, những Thánh Giá ấy sẽ nghiền nát mình. Nhưng nếu linh mục sống trong Thánh Tâm, ngài sẽ hiểu rằng hiệu quả lớn nhất của đời mục tử không luôn được đo bằng số người, công trình hay tiếng khen, mà bằng việc trái tim mình có ngày càng giống Trái Tim Mục Tử nhân lành hay không. Có thể một linh mục không xây được công trình lớn nào, nhưng đã ngồi hàng giờ nghe một người đau khổ. Có thể chẳng để lại tác phẩm nổi tiếng, nhưng đã chết mòn từng ngày để chăm sóc đoàn chiên. Có thể không ai nhớ những hy sinh âm thầm của ngài, nhưng Trái Tim Chúa nhớ. Mục tử theo Thánh Tâm là người không chỉ đứng trước đoàn chiên mà còn mang đoàn chiên trong trái tim.
Đối với đời sống gia đình cũng vậy. Người ta thường đặt tượng hay ảnh Thánh Tâm trong nhà và cử hành nghi thức tôn vương Thánh Tâm. Đó là một truyền thống đẹp. Nhưng tôn vương Chúa có nghĩa gì? Không phải chỉ đưa một bức ảnh lên vị trí cao nhất, mà là trao cho cách yêu của Chúa quyền cao nhất trong gia đình. Khi bất đồng xảy ra, ai sẽ làm vua: cái tôi hay Thánh Tâm? Khi tiền bạc căng thẳng, ai quyết định: lòng tham hay Tin Mừng? Khi vợ chồng giận nhau, ai ngồi trên ngai: tự ái hay tình yêu? Khi một đứa con sai lỗi, ai lên tiếng: cơn nóng giận hay lòng nhân hậu? Khi cha mẹ già yếu, ai điều khiển lựa chọn của con cái: sự tiện lợi của mình hay lòng hiếu thảo? Tôn vương Thánh Tâm chính là để những câu hỏi ấy được trả lời bằng Tin Mừng. Và ở đó, gia đình sẽ hiểu tại sao trên Thánh Tâm có một cây Thánh Giá: vì chẳng có gia đình nào yêu nhau thật mà không phải hy sinh. Vợ chồng phải chết đi nhiều lần cho cái tôi. Cha mẹ phải cho đi hàng ngàn giờ không ai trả công. Con cái phải học từ bỏ sự ích kỷ để chăm sóc cha mẹ. Anh chị em phải biết nhịn nhau. Nhưng tất cả những hy sinh ấy chỉ mang ý nghĩa Kitô giáo nếu xuất phát từ tình yêu chứ không phải sự cưỡng bách hay cam chịu cay đắng. Thánh Giá không phải để người mạnh áp lên vai người yếu. Thánh Giá là điều mỗi người tự nguyện mang vì yêu người kia.
Một trong những điều nguy hiểm nhất của đời sống đạo là quen với Thánh Giá. Nhà nào cũng có Thánh Giá nên đôi khi chẳng còn nhìn. Nhà thờ nào cũng có tượng Chúa chịu nạn nên ta bước qua mà lòng không động. Có người đeo Thánh Giá trên cổ suốt đời nhưng rất ít khi tự hỏi cây Thánh Giá ấy đang nói gì với mình. Tương tự, người ta có thể thuộc kinh Thánh Tâm nhưng trái tim chưa từng thật sự xúc động trước việc Thiên Chúa yêu mình đến thế. Có lẽ thỉnh thoảng chúng ta cần ngồi yên trước Thánh Giá, không đọc gì cả. Chỉ nhìn. Nhìn đôi tay bị đóng mà nhớ bao lần đôi tay ấy đã chạm vào người phong cùi, đặt trên trẻ nhỏ, bẻ bánh cho người đói, nâng người ngã dậy. Nhìn đôi chân bị đóng mà nhớ những con đường Người đã đi tìm con người. Nhìn miệng Người khát khô mà nhớ những lời Người đã nói để chữa lành. Nhìn cạnh sườn mở ra và hỏi: “Tại sao Chúa lại yêu con đến thế?” Có những câu hỏi không cần trả lời bằng thần học dài dòng. Chỉ cần ở yên trước Thánh Giá đủ lâu, có khi nước mắt sẽ trả lời.
Thế giới hôm nay rất cần lòng sùng kính Thánh Tâm, có lẽ còn cần hơn nhiều thời đại khác, nhưng không phải theo nghĩa chỉ tăng thêm những thực hành đạo đức. Chúng ta sống giữa một nền văn hóa trong đó người ta có thể hủy hoại danh dự một người chỉ bằng vài cú chạm trên màn hình. Lời nói trở nên dữ dằn. Những cuộc tranh luận dễ biến thành đấu trường. Người khác biệt lập tức bị gắn nhãn. Người sai lầm không được sửa mà bị “xử”. Tin xấu lan nhanh hơn lòng thương xót. Trong hoàn cảnh ấy, một Kitô hữu sống theo Thánh Tâm phải khác. Không phải yếu đuối trước sự dữ, nhưng mạnh mẽ mà không độc ác. Nói sự thật mà không làm nhục người khác. Bảo vệ điều đúng mà không biến đối phương thành kẻ thù. Phản đối tội lỗi mà vẫn thương người tội lỗi. Đây chính là cách Đức Giêsu hành xử trên Thánh Giá. Người không gọi cái ác là tốt. Người không phủ nhận tội. Nhưng Người cũng không cho phép tội lỗi của kẻ khác biến trái tim Người thành trái tim của hận thù.
Có lẽ mỗi tối trước khi ngủ, người Kitô hữu có thể làm một cuộc xét mình rất ngắn trước Thánh Tâm: hôm nay trái tim tôi giống Trái Tim Chúa ở điểm nào, và khác Trái Tim Chúa ở đâu? Hôm nay có ai đến gần tôi mà ra về với trái tim nặng hơn không? Có lời nào của tôi làm người khác đau không? Có ai cần tôi mà tôi giả vờ không thấy không? Tôi có giữ trong lòng một sự căm giận mà Chúa đang mời gọi trao lại cho Người không? Tôi đã để cho điều gì thống trị trái tim: tiền bạc, danh dự, nỗi sợ, dục vọng, tự ái hay tình yêu? Và rồi không cần tuyệt vọng về chính mình. Hãy nhìn vào vết thương bên sườn Chúa. Người mở Trái Tim không phải cho người hoàn hảo nhưng cho kẻ cần lòng thương xót. Phêrô đã chối Chúa vẫn được trao đàn chiên. Tôma cứng lòng vẫn được mời chạm vào vết thương. Người trộm lành cả đời sai lạc vẫn được hứa thiên đàng. Thánh Tâm không phải phần thưởng cho người tốt; Thánh Tâm là nơi trú ẩn cho những người biết mình cần được cứu.
Sau cùng, Thánh Giá và Thánh Tâm đưa chúng ta đến một khám phá rất đẹp: ở trung tâm Kitô giáo không phải là một bộ luật nhưng là một Trái Tim; và ở trung tâm Trái Tim ấy là một tình yêu đã chịu đóng đinh. Chúng ta được cứu không bởi Thiên Chúa đứng xa để ban mệnh lệnh, nhưng bởi Thiên Chúa đã bước vào lịch sử, mặc lấy thân phận con người, biết đói, biết khát, biết mệt, biết khóc, biết cô đơn, biết bị phản bội, biết đau và biết chết. Không còn nỗi đau chân chính nào của con người mà Đức Kitô hoàn toàn xa lạ. Khi ta khóc, ta không khóc trước một Thiên Chúa chưa từng biết nước mắt. Khi ta bị phản bội, ta không cầu nguyện với một Đấng chưa từng có Giuđa. Khi ta cô đơn, ta không gọi một Thiên Chúa chưa từng thốt lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Khi ta đối diện cái chết, ta không nắm tay một Đấng đứng ngoài mộ phần. Người đã đi trước. Và bởi Người đã đi qua tất cả bằng một Trái Tim vẫn yêu, chẳng có vực sâu nào từ nay hoàn toàn thiếu bóng Người.
Thế nên, mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, đừng chỉ thấy đau khổ; hãy nhìn thấy một Trái Tim. Mỗi lần nhìn ảnh Thánh Tâm, đừng chỉ thấy một ngọn lửa dịu dàng; hãy nhìn thấy cây Thánh Giá. Hai hình ảnh ấy phải luôn ở trong nhau. Không có Thánh Tâm, ta sẽ không hiểu được Thánh Giá. Không có Thánh Giá, ta sẽ không hiểu tình yêu của Thánh Tâm sâu đến mức nào. Tình yêu thật không chỉ nói: “Ta yêu con”, nhưng nói: “Ta ở lại với con.” Không chỉ ở lại khi con ngoan, nhưng cả khi con lạc đường. Không chỉ ở lại ngày nắng đẹp, nhưng cả đêm tối. Không chỉ ở lại tại Bêlem, Cana hay núi Tabor, nhưng ở lại tận Gethsemane, dinh Philatô và Canvê. Và khi người ta tưởng rằng cái chết cuối cùng cũng bắt tình yêu phải im tiếng, cạnh sườn Người lại mở ra, máu cùng nước lại chảy. Tình yêu vẫn nói.
Ước gì mỗi gia đình có ảnh Thánh Tâm cũng có một trái tim biết tha thứ. Mỗi người mang Thánh Giá cũng mang được một chút đau của người khác. Mỗi người rước lễ cũng trở nên tấm bánh cho tha nhân. Mỗi người đọc kinh đền tạ cũng biết sửa lại một điều chưa giống Chúa trong đời mình. Ước gì chúng ta đừng chỉ xin Thánh Tâm an ủi những vết thương của mình, mà còn xin Người biến chúng ta thành người biết băng bó vết thương người khác. Đừng chỉ xin Chúa cho mình được yêu; hãy xin Chúa dạy mình biết yêu. Đừng chỉ xin được hiểu; hãy học hiểu người. Đừng chỉ xin khỏi Thánh Giá; hãy xin đủ tình yêu để những Thánh Giá không thể tránh khỏi trở thành nơi mình trưởng thành trong đức ái.
Và khi một ngày nào đó chúng ta mệt mỏi vì đã yêu mà không được đáp lại, hãy nhìn lên Thánh Giá. Khi tha thứ thấy quá khó, hãy nhìn lên Trái Tim bị đâm thâu. Khi muốn bỏ cuộc với một người, hãy nhớ Đức Giêsu đã không bỏ cuộc với mình. Khi thấy đời mình đầy những vết sẹo, hãy nhớ Đấng Phục Sinh cũng mang dấu đinh. Khi cảm thấy mình không còn xứng đáng trở về, hãy nhớ trái tim Chúa vẫn mở. Mũi giáo đã mở trái tim ấy một lần trên Canvê, và từ đó, cánh cửa ấy chưa bao giờ đóng lại.
Có thể đó chính là Tin Mừng đẹp nhất của lòng sùng kính Thánh Tâm: ta có một nơi để trở về. Không phải trở về với một ý tưởng, nhưng với một Trái Tim. Một Trái Tim biết tên ta. Một Trái Tim biết tất cả những điều tốt đẹp lẫn những góc tối nhất trong ta. Một Trái Tim thấy cả những lần ta trung tín và những lần ta phản bội. Một Trái Tim mang vòng gai vì tội lỗi chúng ta nhưng vẫn cháy lửa yêu thương chúng ta. Một Trái Tim có Thánh Giá ở trên nhưng không để Thánh Giá dập tắt ngọn lửa. Một Trái Tim đã chết mà vẫn trao sự sống. Một Trái Tim đã bị đâm thâu nhưng vẫn mở ra. Và có lẽ tất cả đời Kitô hữu cuối cùng chỉ là cuộc hành trình đi từ trái tim nhỏ bé, ích kỷ, dễ tổn thương và dễ khép kín của mình đến gần hơn mỗi ngày với Trái Tim ấy.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết đứng dưới chân Thánh Giá thật lâu để hiểu Trái Tim Chúa. Xin đừng để chúng con quen với tình yêu đến mức coi tình yêu của Chúa là điều đương nhiên. Xin cho mỗi lần nhìn vết thương cạnh sườn Chúa, chúng con nhớ rằng mình đã được yêu bằng một giá quá lớn. Xin cho trái tim chúng con, dù mang bao nhiêu thương tích của cuộc đời, đừng trở nên cay đắng. Xin biến những vết thương của chúng con thành cửa ngõ của lòng cảm thông. Xin cho chúng con biết yêu khi dễ yêu và vẫn yêu khi phải trả giá; biết tha thứ khi lòng muốn trả đũa; biết ở lại khi bản năng muốn bỏ đi; biết cúi xuống khi cái tôi muốn đứng cao; biết im lặng khi một lời nói có thể làm người khác đau; biết lên tiếng khi sự im lặng khiến người yếu thế bị bỏ rơi. Xin làm cho gia đình chúng con thành mái nhà của Thánh Tâm, cộng đoàn chúng con thành nơi người bị thương được đón nhận, Giáo Hội chúng con mang khuôn mặt của Đấng bị đâm thâu mà vẫn yêu thương.
Và xin cho chúng con hiểu rằng vinh quang lớn nhất của đời Kitô hữu không phải là chưa bao giờ mang Thánh Giá, nhưng là giữa những Thánh Giá vẫn giữ được một trái tim biết yêu. Bởi cuối cùng, điều còn lại không phải là chúng ta đã tránh được bao nhiêu đau khổ, nhưng là qua tất cả vui buồn của đời mình, trái tim chúng ta đã trở nên giống Trái Tim Chúa được bao nhiêu.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ TRONG LINH ĐẠO DÒNG CHÚA CỨU THẾ – ĐẤNG CỨU CHUỘC BỊ ĐÓNG ĐINH
Có những biểu tượng người ta có thể nhìn lâu rồi quen mắt, có những lời người ta có thể nghe mãi rồi thành quen tai, và cũng có những mầu nhiệm người Kitô hữu có thể nhắc đến suốt đời mà vẫn chưa bao giờ thực sự đi vào tận đáy. Thánh Giá là một mầu nhiệm như thế. Người Công giáo làm dấu Thánh Giá từ thuở bé, thấy Thánh Giá trên nóc nhà thờ, trên bàn thờ, trong phòng ngủ, trên cổ người tín hữu, trên phần mộ người đã khuất; linh mục giơ tay làm dấu Thánh Giá trên đoàn dân, cha mẹ ghi dấu Thánh Giá trên trán con cái, người hấp hối ôm Thánh Giá trong giờ cuối cùng. Thánh Giá có mặt gần như ở mọi khúc quanh của đời Kitô hữu. Thế nhưng giữa việc mang một cây Thánh Giá trên ngực và để Thánh Giá đi vào trong tim vẫn còn một khoảng cách rất dài. Đối với linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế, Thánh Giá không chỉ là một biểu tượng để tôn kính, càng không phải là một món trang sức đạo đức, nhưng là nơi người tu sĩ Chúa Cứu Thế nhận ra rõ nhất dung mạo của Đấng mà mình đã chọn bước theo: Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc nhân loại, Đấng đã yêu cho đến cùng, Đấng đã chịu đóng đinh vì những con người nghèo khổ, tội lỗi, bị bỏ rơi và không còn ai đứng về phía họ. Có thể nói rằng nếu lấy Thánh Giá ra khỏi linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế, người ta sẽ không còn hiểu được linh hồn của ơn gọi ấy nữa. Bởi chính dưới chân Thánh Giá, người tu sĩ Chúa Cứu Thế mới hiểu thế nào là “ơn cứu chuộc chứa chan nơi Người”; chính khi nhìn vào cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Kitô, người thừa sai mới hiểu mình được sai đến với ai; và chính khi nghe lời kêu khát của Đấng bị đóng đinh, người tu sĩ mới nhận ra tiếng kêu khát của biết bao con người đang khát tình thương, khát sự thật, khát được tha thứ, khát một bàn tay nâng họ dậy và khát một lời nói cho họ biết rằng cuộc đời của họ chưa phải là ngõ cụt. Dòng Chúa Cứu Thế được sinh ra không phải để đứng xa Thánh Giá mà giải thích Thánh Giá; Dòng được gọi để đứng bên Thánh Giá, để học nơi Thánh Giá, để rao giảng Đấng chịu đóng đinh, và nếu cần, để đời mình cũng mang lấy những dấu tích âm thầm của một tình yêu biết hiến mình. Thánh Anphongsô không để lại cho con cái mình một linh đạo dễ dãi, cũng không dạy họ tìm những con đường êm ái để làm tông đồ. Ngài say mê Đức Giêsu Kitô, đặc biệt trong hai mầu nhiệm rất thân thương: máng cỏ và Thánh Giá, Hài Nhi nghèo khó tại Bêlem và Đấng Cứu Chuộc hấp hối trên Canvê. Một Thiên Chúa trở nên bé nhỏ vì yêu, và một Thiên Chúa chịu chết vì yêu. Đó là hai đầu của cùng một con đường tự hạ. Từ máng cỏ đến Thánh Giá là một tình yêu duy nhất. Người nằm trong máng cỏ vì không có chỗ trong quán trọ cũng chính là Người sau này bị treo bên ngoài thành Giêrusalem như một kẻ bị loại trừ. Người được Đức Maria quấn khăn đặt nằm trong máng cỏ cũng chính là Người sẽ được tháo khỏi Thánh Giá và được quấn khăn liệm trong mồ. Bêlem đã âm thầm báo trước Canvê; và Canvê làm sáng tỏ tất cả ý nghĩa của Bêlem: Thiên Chúa đã đến gần con người đến mức sẵn sàng để con người đóng đinh Người.
Nếu muốn hiểu Thánh Giá trong linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế, trước hết phải hiểu rằng đây là Thánh Giá của Đấng Cứu Chuộc, không phải một thứ đau khổ được tôn thờ vì chính đau khổ. Kitô giáo không yêu đau khổ vì đau khổ. Thiên Chúa không vui khi thấy con người bị nghiền nát. Đức Giêsu cũng không đi tìm đau đớn như thể đau đớn tự nó là một nhân đức. Trong vườn Cây Dầu, Người đã run sợ. Người đã cầu xin: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Nhưng ngay sau đó là lời quyết định làm nên tất cả vẻ đẹp của Thánh Giá: “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Chén đắng không trở nên thánh vì nó đắng; chén đắng trở nên thánh vì nó được uống trong tình yêu và vâng phục. Thập giá không cứu thế giới vì gỗ của nó cứng, vì đinh của nó nhọn hay vì những vết thương của Đức Giêsu đau đớn, nhưng vì trên Thập Giá có một tình yêu hoàn toàn tự hiến. Điều cứu con người không phải là số lượng máu đã đổ ra theo nghĩa vật chất, nhưng là tình yêu vô hạn của Đấng đã chấp nhận đổ máu vì chúng ta. Vì thế, người tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế không phải là người đi tìm khổ đau, lại càng không được tạo ra đau khổ cho chính mình hay cho người khác rồi gọi đó là Thánh Giá. Người tu sĩ Chúa Cứu Thế là người học cách biến những hy sinh không thể tránh khỏi của sứ vụ thành của lễ yêu thương; học cách ở lại khi bản năng muốn bỏ đi; học cách tha thứ khi tự ái muốn trả đũa; học cách phục vụ khi cơ thể đã mệt; học cách nói sự thật khi nói sự thật phải trả giá; học cách đứng bên người nghèo khi đứng bên họ chẳng mang lại danh tiếng nào; học cách bước vào những vùng ngoại biên mà người khác ngại đến; học cách kiên trì với những tâm hồn cứng cỏi mà người đời đã vội kết luận là “hết cách”; học cách yêu cộng đoàn ngay cả khi cộng đoàn có những góc cạnh làm mình đau; học cách giữ lời khấn khi tuổi trẻ qua đi, cảm xúc nguội lại, tiếng vỗ tay không còn và đời tu bước vào những mùa khô hạn. Đó là Thánh Giá rất thật. Đó cũng là nơi Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh tiếp tục dạy người môn đệ thế nào là tình yêu. Người tu sĩ có thể giảng rất nhiều bài về Thánh Giá, có thể tổ chức những giờ tôn kính Thánh Giá rất sốt sắng, có thể đeo Thánh Giá thật đẹp trên tu phục, nhưng nếu không chấp nhận chết đi cho cái tôi của mình, tất cả vẫn còn ở bên ngoài. Có một điều đau đớn hơn những cây đinh bằng sắt: cây đinh đóng vào lòng kiêu ngạo của ta. Có một cuộc đóng đinh khó chịu hơn những vết thương thân xác: để cho ý riêng của mình bị đóng lại khi tiếng Chúa và nhu cầu của anh em đòi mình bước sang một con đường khác. Có một Canvê âm thầm xảy ra trong mỗi đời tu: ngày người ta nhận ra mình không được gọi để làm điều mình thích, nhưng để làm điều Tin Mừng cần; không được gọi để được người khác biết đến, nhưng để người khác biết Đức Kitô; không được gọi để xây dựng một tên tuổi cho mình, nhưng để làm cho ơn cứu chuộc của Chúa trở nên gần gũi với những người bé nhỏ nhất. Khi ấy Thánh Giá không còn treo trên tường nữa. Thánh Giá bắt đầu đi vào đời.
Tin Mừng theo thánh Gioan cho chúng ta một khung cảnh có lẽ diễn tả sâu xa nhất căn tính của người môn đệ đứng trước Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh: “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Clôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,25-27). Chỉ vài câu ngắn, nhưng có cả một linh đạo truyền giáo ở đó. Người môn đệ không bỏ chạy. Người môn đệ đứng gần Thánh Giá. Đứng gần, nghĩa là không quan sát nỗi đau từ một khoảng cách an toàn. Đứng gần nghĩa là chấp nhận để nỗi đau của người khác chạm vào đời mình. Đứng gần nghĩa là khi mọi người đã bỏ cuộc, mình vẫn còn ở đó. Đức Maria đứng đó. Người môn đệ Chúa yêu đứng đó. Và chính giữa hoàn cảnh tưởng như không còn gì để cho nữa, Đức Giêsu vẫn tiếp tục trao ban. Tay Người bị đóng đinh nhưng Người vẫn cho. Chân Người không thể bước đi nhưng tình yêu Người vẫn đi tới. Áo Người đã bị chia, máu Người đang chảy, hơi thở chỉ còn từng nhịp ngắn, thế mà Người vẫn trao Mẹ cho môn đệ và trao môn đệ cho Mẹ. Tình yêu của Đấng Cứu Chuộc là như vậy: cho đến khi chẳng còn gì để cho, Người vẫn tìm thấy một điều để trao ban. Người tu sĩ Chúa Cứu Thế nhìn lên Thánh Giá và phải tự hỏi: đời tôi còn có thể cho thêm điều gì? Tôi đã cho giờ giấc nhưng có dám cho sự kiên nhẫn không? Tôi đã cho những bài giảng nhưng có dám cho sự hiện diện không? Tôi đã làm nhiều công việc mục vụ nhưng có thật sự cho người nghèo một chỗ trong trái tim không? Tôi có thể nói hàng giờ về lòng thương xót, nhưng có đủ lòng thương xót với người làm tôi tổn thương không? Tôi có thể giảng về tình huynh đệ, nhưng có thực sự sống tình huynh đệ với người anh em mà tính tình khác tôi không? Tôi có thể rao giảng rằng Thiên Chúa không bỏ rơi ai, nhưng trong thực tế mục vụ tôi có vô tình bỏ rơi những người chậm hiểu, nghèo học, vướng nghiện ngập, hôn nhân đổ vỡ, tù tội, xa Giáo Hội, hay những người chẳng có khả năng đóng góp gì cho cộng đoàn không? Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh không cho phép người môn đệ yêu nhân loại bằng một ý tưởng. Người bắt ta yêu những con người cụ thể. Và những con người cụ thể thường không dễ thương như những con người trong bài giảng. Họ có quá khứ, có vết thương, có sự phức tạp, có những lần tái phạm, có những câu chuyện dài và rối, có khi còn làm người mục tử thất vọng. Nhưng đó chính là những người mà Đức Kitô đã đổ máu cho họ. Trong linh đạo Chúa Cứu Thế, người bị bỏ rơi không phải là một “đối tượng mục vụ”. Người ấy là một người anh em mà Đức Kitô đã chết vì họ. Chỉ cần đổi cách nhìn ấy thôi, toàn bộ cách làm mục vụ sẽ thay đổi. Ta sẽ thôi hỏi: “Người này có đáng để tôi tốn thời gian không?” và bắt đầu hỏi: “Nếu Đức Kitô đã không tiếc máu mình vì người này, tôi có quyền tiếc một chút thời gian sao?”
Thánh Anphongsô đã sống trong một thời đại mà khoảng cách giữa những người được chăm sóc mục vụ và những người bị bỏ rơi hiện ra rất rõ. Ngài nhìn thấy những người nghèo miền quê, những người chăn dê, những người ít được học giáo lý, những con người ở xa những trung tâm tôn giáo, xa những cơ hội được nghe Lời Chúa, và trái tim mục tử của ngài không thể bình thản. Chính từ sự đau đáu ấy mà Dòng Chúa Cứu Thế được sinh ra. Một hội dòng không được khai sinh trước hết từ một kế hoạch tổ chức, nhưng từ một vết thương trong trái tim của một con người đã để cho nỗi đau của người nghèo làm mình mất ngủ. Đó cũng chính là logic của Thánh Giá. Đức Kitô cứu thế giới không từ xa. Người đi vào thân phận con người. Người không đứng trên trời ban xuống một lời an ủi rồi thôi. Người nhập thể. Người đói, khát, mệt, khóc, bị hiểu lầm, bị phản bội, bị bắt, bị đánh, bị khạc nhổ, bị lột áo và bị giết. Thiên Chúa đã đi vào tận đáy của sự mong manh con người để không còn một ai có thể nói: “Thiên Chúa không hiểu tôi.” Người nghèo có thể nhìn Đức Giêsu trần trụi trên Thánh Giá và biết rằng Người hiểu thế nào là không có gì. Người bị oan có thể nhìn Người và biết rằng Người hiểu thế nào là bị kết án bất công. Người bị phản bội có thể nhìn Người và nhớ đến nụ hôn của Giuđa. Người bị bạn bè bỏ rơi có thể nhìn Người và nhớ các môn đệ đã chạy trốn. Người bị nhục mạ có thể nhìn Người đội mão gai. Người hấp hối có thể nhìn Người và nghe lời cuối cùng: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Người tội lỗi có thể nhìn Người và nghe lời Người nói với tên trộm bên cạnh: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Không có ngõ cụt nào của con người mà Đấng Cứu Chuộc không từng bước vào. Vì thế người tu sĩ Chúa Cứu Thế được sai đến những nơi mà hy vọng đang cạn. Nếu ở đâu người ta nghĩ chẳng còn gì để làm, ở đó người thừa sai phải nhớ rằng chính nơi tưởng như thất bại nhất – đồi Canvê – lại là nơi ơn cứu độ được hoàn tất. Nếu gặp một người đã sa ngã mười lần, người tu sĩ Chúa Cứu Thế phải đủ kiên nhẫn để tin rằng lần thứ mười một vẫn còn có thể bắt đầu. Nếu gặp một gia đình tan nát, phải dám gieo lại một chút hy vọng. Nếu gặp một người đã xa Bí tích Hòa Giải mấy chục năm, đừng đóng cửa trước khi người ấy kịp trở về. Nếu gặp người mang mặc cảm quá khứ, hãy chỉ cho họ thấy những bàn tay bị đóng đinh vẫn đang mở ra. Thánh Giá là bằng chứng rằng lòng thương xót của Thiên Chúa luôn lớn hơn tội lỗi con người. Khi người ta nghĩ đời mình đã hết, Thánh Giá nói: chưa hết. Khi người ta nghĩ mình không còn đáng được yêu, Thánh Giá nói: Con Thiên Chúa đã chết vì bạn. Khi người ta nghĩ tội mình quá lớn, cạnh sườn bị đâm thâu nói rằng lòng thương xót còn lớn hơn. Khi người ta nghĩ mình bị Thiên Chúa bỏ rơi, Đức Giêsu bị treo giữa trời và đất cho thấy Thiên Chúa đã đi vào chính cảm giác bị bỏ rơi đó để đưa con người ra khỏi nó. “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Không phải lời của một Thiên Chúa xa cách, mà là lời của một Thiên Chúa đã xuống tận vực sâu nơi con người đau đớn nhất. Chính vì thế mà người thừa sai Chúa Cứu Thế không được phép tuyệt vọng về bất cứ ai.
Nhưng Thánh Giá cũng đặt người tu sĩ trước một cuộc thanh luyện khắc nghiệt: ta rao giảng Đấng Cứu Chuộc hay rao giảng chính mình? Đây có lẽ là một trong những cám dỗ tinh vi nhất của sứ vụ. Người ta có thể bắt đầu vì Chúa nhưng rồi dần dần yêu công việc của Chúa hơn chính Chúa, yêu thành công mục vụ hơn trung thành, yêu tiếng khen hơn chân lý, yêu đám đông hơn những con người bé nhỏ, yêu cảm giác mình cần thiết hơn sự tự do của Tin Mừng. Khi ấy Thánh Giá là liều thuốc rất mạnh. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu không có thành công theo tiêu chuẩn thế gian. Đám đông từng tung hô Người nay biến mất. Các phép lạ không còn. Không có những tiếng vỗ tay. Không có ngai vàng. Không có một cuộc biểu dương sức mạnh. Chỉ có một thân thể rách nát giữa hai tên tử tội. Nếu lấy thành công làm bằng chứng duy nhất của sứ vụ, thì chiều Thứ Sáu ấy Đức Giêsu có vẻ là người thất bại nhất. Thế nhưng chính lúc ấy Người nói: “Thế là đã hoàn tất.” Hoàn tất không có nghĩa là mọi người đã hiểu Người. Hoàn tất không có nghĩa là mọi kẻ thù đã chịu thua. Hoàn tất không có nghĩa là Người đã trở thành người nổi tiếng nhất Giêrusalem. Hoàn tất nghĩa là Người đã yêu đến cùng và trung thành đến cuối. Đây là thước đo mà Thánh Giá trao cho người tu sĩ Chúa Cứu Thế: đừng hỏi trước tiên “Tôi có thành công không?”, hãy hỏi “Tôi có trung thành không?” Đừng hỏi “Có bao nhiêu người biết tôi?”, hãy hỏi “Có bao nhiêu người nhờ tôi mà biết Chúa hơn?” Đừng hỏi “Bài giảng của tôi có được chia sẻ nhiều không?”, hãy hỏi “Lời tôi nói có làm một người tội lỗi đủ can đảm trở về không?” Đừng hỏi “Công việc này có làm tôi nổi bật không?”, hãy hỏi “Công việc này có đưa Tin Mừng đến người bị bỏ rơi không?” Có những sứ vụ rất đông người nhưng không chắc đã đứng dưới chân Thánh Giá; cũng có những sứ vụ chỉ có một linh mục già thăm một bệnh nhân, một tu sĩ ngồi hàng giờ giải tội, một thừa sai lội đường xa đến một giáo điểm nhỏ, một người anh em âm thầm chăm sóc người già trong cộng đoàn, chẳng ai chụp ảnh, chẳng ai đăng tin, nhưng rất có thể đó lại là những trang đẹp nhất của linh đạo Chúa Cứu Thế. Vì trên Canvê, những điều lớn lao nhất của Thiên Chúa đã xảy ra trong dáng vẻ của một thất bại.
Người Dòng Chúa Cứu Thế đặc biệt được mời gọi chiêm ngắm Thánh Giá trong tương quan với ơn cứu chuộc chứa chan. “Copiosa apud eum redemptio” – nơi Người chan chứa ơn cứu chuộc. Hai chữ “chứa chan” thật đẹp. Không phải vừa đủ. Không phải cứu một cách dè sẻn. Không phải tha thứ một cách miễn cưỡng. Không phải ban ân sủng theo kiểu đong đếm từng giọt. Ơn cứu chuộc nơi Đức Kitô là dư tràn. Tình thương của Người không nhỏ hơn tội lỗi của chúng ta. Máu Người không chỉ dành cho những người đạo đức. Cạnh sườn Người mở ra không chỉ cho những người chưa từng vấp ngã. Thánh Giá nói rằng Thiên Chúa yêu con người đến mức chấp nhận để tình yêu của mình bị thương. Có lẽ đây là một trong những điều sâu nhất mà một người thừa sai phải học: tình yêu thật luôn có khả năng bị thương. Ai muốn yêu mà nhất định không bao giờ để mình đau thì cuối cùng sẽ chỉ yêu chính mình. Người cha có thể đau vì con. Người mẹ có thể mất ngủ vì con. Người mục tử có thể đau vì đoàn chiên. Người tu sĩ có thể đau vì cộng đoàn. Người thừa sai có thể đau vì người mình phục vụ. Nhưng vấn đề không phải là tìm đau khổ; vấn đề là khi yêu thật, ta không thể tránh hoàn toàn việc bị thương. Đức Kitô đã không cứu chúng ta bằng một trái tim bọc thép. Người cứu bằng một trái tim bị đâm thâu. Và người tu sĩ Chúa Cứu Thế không thể là người rao giảng lòng thương xót với một trái tim không ai chạm được. Có những linh mục vì sợ bị tổn thương nên dần dần dựng lên một khoảng cách an toàn với giáo dân. Có những tu sĩ sau một vài lần bị hiểu lầm thì thôi không muốn mở lòng nữa. Có người từng nhiệt thành, nhưng sau những kinh nghiệm cay đắng, bắt đầu làm mục vụ chỉ bằng bổn phận. Vẫn làm, vẫn nói, vẫn cử hành, nhưng trái tim đã lui vào một nơi rất xa. Đó là lúc cần trở lại dưới chân Thánh Giá. Nhìn vào Đức Giêsu. Người đã biết Giuđa sẽ phản bội mà vẫn rửa chân cho ông. Người biết Phêrô sẽ chối mình mà vẫn trao cho ông một chỗ trong nhóm Mười Hai. Người biết dân chúng có thể thay tiếng “Hosanna” bằng “Đóng đinh nó vào Thập Giá”, nhưng Người vẫn vào Giêrusalem. Người biết yêu sẽ làm Người bị thương, nhưng Người vẫn yêu. Không phải vì Người ngây thơ, nhưng vì Người tự do. Người tu sĩ Chúa Cứu Thế cũng cần một tình yêu như vậy: không ngây thơ trước sự dữ nhưng không để sự dữ làm mình mất khả năng yêu; không phủ nhận những vết thương nhưng cũng không lấy vết thương làm lý do để khép lòng; biết có người sẽ vô ơn nhưng vẫn phục vụ; biết có người sẽ hiểu lầm nhưng vẫn nói sự thật trong bác ái; biết có những hạt giống mình gieo sẽ không bao giờ được thấy mùa gặt nhưng vẫn gieo.
Thánh Giá còn là trường học của sự nghèo khó. Đấng Cứu Chuộc chết trong cảnh gần như chẳng còn gì. Áo Người bị quân lính chia nhau. Uy tín bị nghiền nát. Tự do thể lý bị tước đoạt. Bạn bè hầu hết bỏ đi. Ngay cả thân thể Người cũng bị trao nộp. Đức Kitô nghèo đến tận cùng để trở thành gia nghiệp cho những kẻ nghèo. Người tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế khấn khó nghèo không phải chỉ để có một đời sống tiết kiệm, mà để đời mình nói được ngôn ngữ của Đấng Cứu Chuộc nghèo khó. Có một thứ nghèo sâu hơn tiền bạc: nghèo khỏi nhu cầu phải được nhìn nhận, nghèo khỏi sự chiếm hữu chức vụ, nghèo khỏi lòng ham quyền lực, nghèo khỏi thói quen xem một công việc là “của tôi”, một giáo xứ là “của tôi”, một cộng đoàn là “của tôi”, một sáng kiến là “của tôi”. Người môn đệ của Đấng bị đóng đinh phải tập để bàn tay mình mở ra. Hôm nay Chúa giao, ngày mai Chúa lấy lại. Hôm nay mình khỏe, mai mình bệnh. Hôm nay mình có trách nhiệm, mai người khác thay. Hôm nay người ta cần mình, một ngày kia người ta không cần nữa. Nếu đời tu được xây trên cảm giác mình quan trọng, đến một ngày sẽ khủng hoảng. Nhưng nếu đời tu được xây dưới chân Thánh Giá, ta học được rằng giá trị của mình không nằm ở chức vụ, năng suất hay tiếng khen; giá trị của ta nằm ở việc ta thuộc về Đức Kitô. Một tu sĩ già không còn làm được nhiều vẫn quý giá. Một linh mục bệnh tật nằm trong phòng vẫn thuộc trọn về sứ vụ. Một người anh em âm thầm chẳng có chức vị nào vẫn có thể làm cho cộng đoàn thánh thiện bằng lời cầu nguyện và sự hiền lành. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu không “làm” được gì theo nghĩa hoạt động: tay bị đóng, chân bị đóng. Nhưng chính lúc Người không thể đi đâu, Người lại cứu cả thế giới. Bài học ấy thật cần thiết trong một thời đại đo con người bằng hiệu suất. Có khi người tu sĩ cũng bị cuốn vào não trạng ấy và tưởng mình chỉ đáng giá khi còn làm được việc. Thánh Giá nói điều ngược lại: trước khi là người làm việc cho Chúa, ta là người thuộc về Chúa. Có ngày sứ vụ của ta là giảng. Có ngày sứ vụ là ngồi tòa giải tội. Có ngày sứ vụ là đi đến vùng xa. Và có ngày sứ vụ chỉ còn là nằm trên giường bệnh, hiệp với Đấng chịu đóng đinh và dâng từng cơn đau cho Hội Thánh. Không có mùa nào của đời thánh hiến vô ích nếu mùa ấy được sống với Đức Kitô.
Thánh Giá cũng là trường học của vâng phục. Đức Kitô “đã vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây Thập Tự.” Vâng phục Kitô giáo không phải sự xóa bỏ nhân phẩm, cũng không phải vâng theo một con người cách mù quáng. Vâng phục là cùng Đức Kitô đi vào ý muốn cứu độ của Chúa Cha. Nhưng ai đã sống đời cộng đoàn đều biết vâng phục không phải một khái niệm thơ mộng. Có khi vâng phục là rời nơi mình đang rất hạnh phúc. Có khi là nhận một công việc không hợp sở thích. Có khi là bỏ một kế hoạch đã dày công chuẩn bị. Có khi là chấp nhận rằng người khác nhìn vấn đề khác mình. Có khi là lên đường ở tuổi không còn trẻ. Có khi là ở lại nơi mình muốn rời đi. Chính trong những hoàn cảnh ấy cái tôi bị lộ ra. Người ta dễ nói: “Xin theo ý Chúa”, nhưng thường âm thầm thêm một câu: “miễn là ý Chúa giống ý con.” Thánh Giá phá vỡ sự mặc cả ấy. Đức Giêsu không nói: “Con vâng lời nếu con đường không đau.” Người đi đến cùng. Tuy nhiên, sự vâng phục của Người không thụ động hay vô trách nhiệm. Người tự do trao mạng sống: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình.” Đó là vâng phục của tình yêu tự do. Người tu sĩ chỉ thật sự trưởng thành khi lời “xin vâng” không còn là thái độ miễn cưỡng của một người bị ép buộc, nhưng trở thành của lễ của một người biết mình thuộc về một sứ mạng lớn hơn chính mình. Có những lần chuyển nhiệm sở làm ta buồn; có những quyết định của cộng đoàn làm ta khó hiểu; có những giới hạn của Hội Dòng khiến ta thấy bị bó buộc. Nhưng nếu tất cả được phân định trong đức tin, chính ở đó có một cây Thánh Giá nhỏ được dựng lên. Và mỗi lần ta ôm lấy nó vì tình yêu, ta giống Đấng Cứu Chuộc hơn một chút.
Thánh Giá còn thanh luyện đời sống huynh đệ. Không phải tình cờ Đức Kitô chịu đóng đinh với hai tay mở rộng. Người chết trong tư thế ôm lấy thế giới. Người tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế không thể yêu người nghèo ở ngoài đường mà lại không học yêu người anh em đang sống chung một mái nhà với mình. Có khi sứ vụ xa dễ hơn đời sống gần. Ta có thể rất dịu dàng với giáo dân nhưng thiếu kiên nhẫn với anh em. Có thể nói những lời đầy lòng thương xót trên tòa giảng nhưng trở về cộng đoàn lại khó tha thứ một chuyện cũ. Có thể đi tìm “người bị bỏ rơi nhất” ở nơi xa mà vô tình có một người anh em cô đơn ngay trong nhà mình. Thánh Giá đặt ra một câu hỏi khó chịu: hai cánh tay của Đức Kitô mở ra, còn lòng tôi đang đóng với ai? Người anh em ấy có thể khác thế hệ, khác tính tình, khác cách mục vụ, khác quan điểm. Có thể chính họ từng làm mình đau. Nhưng nếu Thánh Giá không đủ sức đi vào những tương quan ấy, lòng sùng kính Thánh Giá của chúng ta dễ trở thành hình thức. Đức Giêsu trên Thánh Giá đã không chờ kẻ đóng đinh xin lỗi rồi mới tha. Người nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Đây không phải sự dễ dãi với sự dữ. Đây là tự do nội tâm tuyệt đối: kẻ khác có thể đóng đinh thân xác Người, nhưng không thể biến trái tim Người thành trái tim hận thù. Đó là chiến thắng đầu tiên của Thánh Giá. Trước khi chiến thắng sự chết vào sáng Phục Sinh, Đức Giêsu đã chiến thắng hận thù ngay chiều Thứ Sáu. Người từ chối trở thành giống kẻ làm Người đau. Người tu sĩ Chúa Cứu Thế cũng được mời gọi đến sự tự do đó. Người khác có thể làm mình thất vọng, nhưng đừng để họ lấy đi lòng nhân hậu của mình. Có người có thể nói xấu mình, nhưng đừng để lời nói xấu ấy biến mình thành người cay độc. Có anh em từng xúc phạm, hãy bảo vệ sự thật và công bằng nếu cần, nhưng đừng để trái tim bị giam trong quá khứ. Tha thứ không làm quá khứ thành đúng; tha thứ ngăn quá khứ tiếp tục đầu độc hiện tại. Một cộng đoàn Chúa Cứu Thế chỉ thật sự rao giảng ơn cứu chuộc chứa chan khi bên trong cộng đoàn cũng có ơn tha thứ chứa chan.
Đặc sủng truyền giáo của Dòng Chúa Cứu Thế vì thế mang hình Thánh Giá. Người thừa sai không chỉ đem một giáo lý đến cho người nghèo; người ấy đem đến một Đấng đã bị đóng đinh vì họ. Đây là điều làm nên sự khác biệt. Nếu chỉ nói với một người đau khổ rằng “hãy cố gắng”, lời ấy đôi khi rất nhẹ. Nhưng nếu đưa họ đến trước Đấng bị đóng đinh và nói: “Người đang ở đây với anh,” mọi chuyện khác đi. Khi một người mẹ mất con, không có lý luận nào đủ làm nguôi đau. Khi người chồng bị ung thư giai đoạn cuối, không bài triết học nào giải đáp hết. Khi một gia đình mất hết vì tai họa, những câu khuyên bảo sáo rỗng dễ trở thành vết dao. Người thừa sai Chúa Cứu Thế lúc ấy không phải đến để giải thích mọi sự. Có lúc sứ vụ cao đẹp nhất là đứng gần Thánh Giá như Đức Maria: không giải thích, không chạy trốn, chỉ ở đó. Mục vụ của sự hiện diện rất gần với linh đạo Canvê. Đức Maria không tháo được đinh. Người môn đệ Chúa yêu không ngăn được cái chết. Các bà đạo đức không đảo ngược được bản án. Nhưng họ đứng đó. Và sự đứng đó của họ nói với Đức Giêsu: “Con không để Thầy chết một mình.” Có biết bao người hôm nay không cần chúng ta giải quyết tất cả vấn đề của họ; họ chỉ cần biết mình không phải chịu đau một mình. Một linh mục ngồi cạnh giường bệnh. Một tu sĩ ghé thăm người tù. Một người thừa sai đi vào căn nhà nghèo. Một cha giải tội kiên nhẫn nghe một người đã mang mặc cảm nhiều năm. Một cộng đoàn mở cửa đón người bị xã hội coi thường. Những điều ấy là cách Thánh Giá tiếp tục mọc lên giữa thế giới, không còn bằng gỗ, nhưng bằng sự hiện diện của tình yêu.
Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh cũng là lời chất vấn đối với một kiểu rao giảng chỉ thích nói về vinh quang mà không muốn đi qua Thánh Giá. Con người thời nào cũng thích một Kitô giáo dễ chịu. Ta thích một Thiên Chúa ban ơn hơn một Thiên Chúa mời hoán cải; thích Chúa chữa lành hơn Chúa nói “hãy vác thập giá mình”; thích Phục Sinh hơn chiều Thứ Sáu Tuần Thánh; thích được an ủi hơn bị chất vấn. Nhưng không có linh đạo Chúa Cứu Thế đích thực nếu Đức Kitô bị đóng đinh trở thành một chi tiết phụ. Thánh Phaolô đã nói rất mạnh: “Chúng tôi rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh.” Không phải một Đức Kitô được điều chỉnh theo thị hiếu của thời đại. Không phải một Đức Kitô chỉ nói những gì người nghe muốn nghe. Chính Đấng bị đóng đinh vừa an ủi tội nhân vừa đòi tội nhân bỏ tội; vừa tha thứ cho người phụ nữ ngoại tình vừa nói “hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa”; vừa đón nhận người thu thuế Giakêu vừa làm ông thay đổi đời sống; vừa yêu người thanh niên giàu có vừa đòi anh bán những gì anh có. Rao giảng ơn cứu chuộc chứa chan không phải biến Tin Mừng thành một lời dễ dãi. Lòng thương xót thật không bao giờ nói rằng tội lỗi không quan trọng. Chính Thánh Giá cho thấy tội lỗi nghiêm trọng đến mức nào và tình yêu của Thiên Chúa còn lớn hơn đến mức nào. Nếu tội không nghiêm trọng, Thánh Giá trở nên thừa. Nếu Thiên Chúa không thương con người, Thánh Giá đã không xảy ra. Ở Canvê, ta thấy cùng lúc sự khủng khiếp của tội và sự vô biên của ân sủng. Người thừa sai Chúa Cứu Thế phải giữ được cả hai. Nói sự thật mà không có lòng thương xót sẽ làm người tội lỗi tuyệt vọng. Nói lòng thương xót mà không có sự thật sẽ để người tội lỗi ở nguyên trong xiềng xích. Thánh Giá giữ hai điều ấy lại với nhau.
Một chi tiết khác trong cuộc Khổ Nạn luôn làm người môn đệ phải suy nghĩ: Đức Giêsu đã chịu đóng đinh ngoài thành. Người bị đưa ra bên ngoài, ra nơi của những kẻ bị loại. Có một biểu tượng rất mạnh ở đó. Nếu Hội Thánh là thân thể Đức Kitô, thì người thừa sai phải tìm Đức Kitô cả ở những vùng “ngoài thành”: nơi những người không còn xuất hiện trong các sinh hoạt quen thuộc của giáo xứ; nơi những người ly dị, những gia đình rối ren, người di dân, công nhân xa quê, người nghiện, tù nhân, người vô gia cư, những thanh niên không còn muốn bước vào nhà thờ, những người vì một vết thương nào đó mà đã xa Giáo Hội nhiều năm. Có khi người ta hỏi: “Họ đâu rồi?” Nhưng câu hỏi của Tin Mừng có thể là: “Chúng ta có đi tìm họ không?” Người chăn chiên trong dụ ngôn không ngồi bên chín mươi chín con mà phàn nàn về con chiên đi lạc. Ông lên đường. Thánh Anphongsô cũng không chỉ than phiền rằng những người nghèo miền quê thiếu giáo lý; ngài đi đến với họ. Đây là dấu hiệu của một đặc sủng còn sống: nó làm đôi chân người thừa sai không yên trước một con người bị bỏ rơi. Nếu một cộng đoàn Dòng Chúa Cứu Thế chỉ chăm sóc những người tự tìm đến mà không còn thao thức về những người chẳng bao giờ bước vào cửa nhà thờ, cộng đoàn ấy phải trở lại nhìn Đấng chịu đóng đinh ngoài thành. Người đang ở ngoài ấy.
Và rồi có một câu rất ngắn trong Tin Mừng Gioan: “Ta khát.” Đức Giêsu khát nước, dĩ nhiên. Thân thể Người mất máu, cổ họng khô cháy. Nhưng Hội Thánh từ lâu cũng nghe trong tiếng “Ta khát” ấy một chiều sâu khác: Đấng Cứu Chuộc khát con người. Khát tình yêu của họ. Khát linh hồn họ. Khát đưa họ về với Chúa Cha. Người thừa sai Chúa Cứu Thế phải để tiếng “Ta khát” ấy ám ảnh đời mình. Khi thấy một người trẻ bỏ đạo, có còn đau không? Khi thấy người nghèo không được nghe Tin Mừng, có còn băn khoăn không? Khi tòa giải tội vắng người, ta chỉ thấy nhẹ việc hay còn tự hỏi vì sao người ta không tìm đến lòng thương xót? Khi một thế hệ mới không hiểu ngôn ngữ của Giáo Hội, ta trách họ hay học cách nói Tin Mừng bằng ngôn ngữ họ có thể nghe? Khi người ta chỉ biết Đức Kitô qua những hình ảnh méo mó, ta có thao thức làm cho họ gặp được khuôn mặt thật của Người không? Nhiệt thành thừa sai không phải sự hiếu động. Nhiệt thành thừa sai là để tiếng “Ta khát” của Đức Kitô trở thành cơn khát của chính mình. Thánh Anphongsô không thể bình an trước những linh hồn bị bỏ rơi bởi vì ngài đã nghe tiếng khát ấy. Một tu sĩ Chúa Cứu Thế có thể già, có thể yếu, có thể không còn đi được nhiều, nhưng nếu trong lòng vẫn còn đau khi thấy người ta xa Chúa, đặc sủng vẫn đang cháy. Ngược lại, một người có thể hoạt động rất nhiều nhưng nếu chẳng còn thao thức về phần rỗi con người, công việc dễ trở thành nghề nghiệp tôn giáo.
Thánh Giá cũng dạy người thừa sai Chúa Cứu Thế biết nói về hy vọng mà không rẻ tiền hóa hy vọng. Hy vọng Kitô giáo không phải là nói với người đang khóc rằng “đừng buồn nữa”. Hy vọng không phủ nhận nước mắt. Đức Giêsu đã khóc trước mồ Ladarô dù Người biết mình sắp cho Ladarô sống lại. Điều đó thật đẹp. Biết Phục Sinh không làm Người coi thường nước mắt. Người Kitô hữu tin vào sự sống đời sau nhưng vẫn đau trước cái chết. Tin Chúa có thể biến đổi mọi sự nhưng vẫn được phép cảm thấy mệt. Tin Thiên Chúa yêu mình nhưng vẫn có những đêm không hiểu nổi đường Ngài dẫn. Chính Đức Giêsu trên Thánh Giá đã đi qua bóng tối ấy. Vì thế hy vọng Kitô giáo không phải lạc quan tâm lý; hy vọng là bám vào Chúa giữa lúc chưa thấy ánh sáng. Thứ Sáu Tuần Thánh không biết sáng Chúa Nhật bằng kinh nghiệm cảm xúc. Tảng đá vẫn đóng trước mồ. Các môn đệ vẫn tản mác. Nhưng Thiên Chúa đang làm điều không ai nhìn thấy. Có những thời kỳ trong đời tu cũng giống ngày Thứ Bảy Tuần Thánh: chẳng còn gì của ngày hôm qua mà ngày mai chưa xuất hiện. Những công trình cũ suy tàn, cách làm mục vụ cũ không còn hiệu quả, ơn gọi giảm, cộng đoàn già đi, xã hội thay đổi, người trẻ xa dần ngôn ngữ tôn giáo. Chính lúc ấy, linh đạo Thánh Giá bảo chúng ta đừng tuyệt vọng. Đấng bị đóng đinh là Đấng Phục Sinh. Không phải mọi sự sống đều nhìn thấy ngay. Hạt lúa phải nằm trong đất một thời gian. Có những cái chết cần thiết để những hình thức mới được sinh ra. Có những điều Hội Dòng phải buông để trung thành hơn với đặc sủng ban đầu. Có những cách truyền giáo từng hiệu quả nhưng nay cần đổi mới. Trung thành với Đấng Cứu Chuộc không phải là bảo tồn mọi phương tiện của quá khứ; là giữ nguyên ngọn lửa và tìm chiếc đèn phù hợp cho hôm nay. Thánh Giá chết đi, Phục Sinh đổi mới – đó là nhịp điệu không ngừng của Hội Thánh và của mọi hội dòng còn muốn sống.
Đối với từng tu sĩ Chúa Cứu Thế, rồi sẽ đến một lúc Thánh Giá không còn là chủ đề mình giảng mà trở thành kinh nghiệm mình sống. Có thể là một căn bệnh. Có thể là tuổi già. Có thể là sự hiểu lầm. Có thể là một thất bại trong sứ vụ. Có thể là cái chết của người thân. Có thể là một cuộc khủng hoảng ơn gọi giữa đường. Có thể là cảm giác rằng đời mình chẳng để lại gì đáng kể. Những giờ ấy mới biết người ta đã xây đời mình trên điều gì. Nếu đời tu xây trên sự thành công, thất bại sẽ nghiền nát ta. Nếu xây trên sức khỏe, bệnh tật sẽ lấy mất nền tảng. Nếu xây trên sự kính trọng của người đời, một lời vu khống có thể làm ta sụp đổ. Nhưng nếu xây trên Đức Kitô chịu đóng đinh và Phục Sinh, ta có thể bị lay chuyển mà không bị phá hủy. Thánh Phaolô nói: “Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào Thập Giá. Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” Đây có lẽ là đỉnh cao của linh đạo Thánh Giá: không phải tôi cố gắng bắt chước một Đức Giêsu ở bên ngoài, mà để Đức Kitô dần sống trong tôi. Để Người yêu bằng trái tim tôi. Để Người tha thứ qua tôi. Để Người đi tìm người bị bỏ rơi qua đôi chân tôi. Để Người chạm vào người đau khổ qua bàn tay tôi. Để Người nói lời hy vọng qua miệng tôi. Để Người tiếp tục hiến mình qua đời tôi. Và như vậy, người tu sĩ không chỉ rao giảng Đấng Cứu Chuộc; chính đời người ấy trở thành một lời rao giảng về ơn cứu chuộc.
Có lẽ vào cuối đời, điều quan trọng nhất đối với một người con của Thánh Anphongsô không phải là đã xây bao nhiêu công trình, giảng bao nhiêu bài, tổ chức bao nhiêu cuộc đại phúc, giữ bao nhiêu chức vụ hay được bao nhiêu người biết đến. Có thể những điều ấy đều tốt và cần. Nhưng khi đứng trước Đấng Cứu Chuộc, câu hỏi sau cùng có lẽ đơn giản hơn nhiều: con có yêu không? Con có yêu những người Ta gửi đến không? Con có tìm người bị bỏ rơi không? Con có tha thứ không? Con có ở lại với Ta khi Thánh Giá xuất hiện không? Con có để đời mình bị bẻ ra như tấm bánh cho người khác không? Con có tin lòng thương xót của Ta lớn hơn sự yếu đuối của con không? Và có lẽ lúc ấy, người tu sĩ sẽ hiểu rằng cả đời mình chẳng phải là một chuỗi thành công, mà là một lịch sử được cứu chuộc. Chính người đi rao giảng ơn cứu chuộc cũng là người mỗi ngày cần được cứu chuộc. Chính linh mục ngồi tòa giải tội cũng cần được tha thứ. Chính người nói về hy vọng cũng có những đêm cần người khác nâng đỡ. Chính người đem Tin Mừng cho người nghèo cũng là một người nghèo trước mặt Thiên Chúa. Hiểu được điều này, người thừa sai sẽ bớt kiêu căng, bớt xét đoán và trở nên dịu dàng hơn. Ta không đứng trên người tội lỗi để kéo họ lên; ta đứng bên họ dưới chân một Thánh Giá, nơi cả hai cùng được cứu bởi một dòng máu.
Hãy trở lại một lần nữa với đồi Canvê. Buổi chiều ấy trời tối. Đức Giêsu ở giữa hai tên tử tội. Một người chế nhạo. Người kia chỉ nói một câu rất nghèo: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Một đời đầy lỗi lầm, cuối cùng chỉ còn đủ thời gian để thốt một lời. Và Đấng Cứu Chuộc trả lời: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Đó là Dòng Chúa Cứu Thế trong một hình ảnh. Một Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh, và bên cạnh Người là một kẻ mà xã hội không còn hy vọng. Người đời đã kết án anh. Luật pháp không còn dành cho anh một ngày mai. Anh không còn thời gian để đền bù cuộc đời. Nhưng bên cạnh anh còn Đức Giêsu. Và chừng nào còn Đức Giêsu, chừng ấy vẫn còn một cánh cửa. Người tu sĩ Chúa Cứu Thế được sai đi để nói với những con người mà đời đã kết luận rằng “hết rồi”: chưa hết đâu, vì Đấng Cứu Chuộc vẫn ở đây. Được sai đến với người tội lỗi để nói: vẫn còn đường về. Được sai đến với người thất vọng để nói: vẫn còn một ngày mai. Được sai đến với người bị bỏ rơi để nói: anh không bị Thiên Chúa bỏ rơi. Được sai đến với người hấp hối để nói: cái chết không phải tiếng nói cuối cùng. Được sai đến với chính mình mỗi khi yếu đuối để nghe Chúa nói: ơn Ta đủ cho con.
Và như thế, Thánh Giá trong linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế không phải là một chương trong sách linh đạo. Thánh Giá là nơi toàn bộ linh đạo ấy gặp nhau. Ở đó có tình yêu của Chúa Cha. Ở đó có sự tự hiến của Chúa Con. Ở đó có hơi thở của Thánh Thần. Ở đó có Đức Maria. Ở đó có người môn đệ. Ở đó có tội nhân. Ở đó có người nghèo. Ở đó có sự tha thứ. Ở đó có máu và nước. Ở đó có đau đớn nhưng không có tuyệt vọng. Ở đó có cái chết nhưng sự sống đang âm thầm chiến thắng. Và từ nơi ấy phát sinh sứ vụ. Người tu sĩ Chúa Cứu Thế không được ở mãi trên đồi Canvê theo nghĩa khép mình trong đau khổ; người ấy phải từ Canvê đi ra với Tin Mừng Phục Sinh. Nhưng cũng không được chạy đến Phục Sinh mà quên những vết đinh. Đức Kitô Phục Sinh vẫn mang những dấu đinh. Chúng không còn chảy máu nhưng không biến mất. Chính những vết thương ấy trở thành căn cước của tình yêu. Khi hiện ra với Tôma, Đức Giêsu không giấu chúng. Người nói: “Đặt ngón tay anh vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy.” Như thể Người nói với Hội Thánh mọi thời: muốn biết đúng là Ta hay không, hãy nhìn những vết thương. Một Hội Thánh không có vết thương vì người nghèo có còn giống Đức Kitô không? Một người thừa sai chưa từng để mình bị hao mòn vì đoàn chiên có hiểu được trái tim mục tử không? Một đời tu luôn tìm cách an toàn, tiện nghi và tránh mọi hy sinh có còn mang dấu Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh không?
Ước gì mỗi người con của Thánh Anphongsô, mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, đừng chỉ thấy một vật thánh quen thuộc, nhưng nghe lại lời gọi đầu tiên của đời mình. Đây là Đấng đã yêu tôi. Đây là Đấng đã gọi tôi. Đây là Đấng tôi đã khấn để bước theo. Đây là Đấng đã không giữ lại điều gì cho mình. Đây là Đấng đang sai tôi đến với những người bé nhỏ. Và ước gì mỗi sáng khi làm dấu Thánh Giá, ta đủ ý thức rằng mình đang đặt cả ngày sống dưới dấu của một tình yêu tự hiến. Trên trán: xin cho tư tưởng con thuộc về Đấng chịu đóng đinh. Trên ngực: xin cho trái tim con mang lấy trái tim của Người. Trên hai vai: xin cho mọi công việc của đôi tay con trở thành phục vụ. Và mỗi tối, khi một ngày khép lại, có lẽ ta chỉ cần hỏi một điều: hôm nay, qua tôi, có một người nào cảm nhận được rằng nơi Đức Kitô vẫn còn chứa chan ơn cứu chuộc hay không?
Nếu có một người tội lỗi nhờ ta mà dám trở về, Thánh Giá đã sinh hoa trái. Nếu có một người nghèo nhờ ta mà biết mình có phẩm giá, Thánh Giá đã sinh hoa trái. Nếu có một người hấp hối nhờ ta mà ra đi trong bình an, Thánh Giá đã sinh hoa trái. Nếu có một người từng bị Giáo Hội làm tổn thương nhờ ta mà dám tin lại vào lòng thương xót của Thiên Chúa, Thánh Giá đã sinh hoa trái. Nếu có một người anh em trong cộng đoàn nhờ sự nhẫn nại của ta mà cảm thấy mình được yêu, Thánh Giá đã sinh hoa trái. Nếu chính bản thân ta, sau bao năm đời tu, trở nên bớt cứng cỏi, bớt tự mãn, dịu dàng hơn với người yếu đuối và tín thác hơn vào lòng thương xót Chúa, thì Thánh Giá đã sinh hoa trái trong đời mình.
Sau cùng, linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế có lẽ có thể được tóm lại bằng một hình ảnh rất đơn sơ: một người môn đệ đứng dưới chân Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh, nhìn lên và nghe Người nói: “Ta khát.” Người môn đệ ấy hiểu rằng cơn khát của Chúa chưa chấm dứt. Chúa còn khát những linh hồn chưa biết Người. Chúa còn khát những người tội lỗi chưa dám trở về. Chúa còn khát những người nghèo đang bị quên lãng. Chúa còn khát những gia đình tan vỡ. Chúa còn khát những người trẻ mất phương hướng. Chúa còn khát những người già cô đơn. Chúa còn khát người đang nằm trong bệnh viện, người sau song sắt nhà tù, người đang lặng lẽ khóc trong một căn phòng không ai biết. Và người môn đệ thưa: “Lạy Chúa, con đây.” Không phải vì con mạnh. Không phải vì con tốt hơn ai. Không phải vì con không có thương tích. Nhưng vì chính con đã được cứu chuộc. Con biết thế nào là được tha thứ, nên con muốn nói về tha thứ. Con biết thế nào là được Chúa kiên nhẫn, nên con muốn kiên nhẫn với người khác. Con biết thế nào là nhiều lần yếu đuối mà vẫn được Chúa giữ lại, nên con không muốn tuyệt vọng về một ai. Con đã uống nơi nguồn ơn cứu chuộc chứa chan, nên con muốn đem dòng nước ấy đến những vùng đất khô cằn nhất.
Đó là Thánh Giá của người Dòng Chúa Cứu Thế. Không phải Thánh Giá của bi quan, nhưng Thánh Giá của một tình yêu không chịu bỏ cuộc. Không phải Thánh Giá để làm con người cúi đầu trong thất vọng, nhưng Thánh Giá nâng khuôn mặt người tội lỗi lên để họ nhìn thấy lòng thương xót. Không phải Thánh Giá của một Thiên Chúa thích đau khổ, nhưng của một Thiên Chúa chấp nhận đau khổ để không bỏ con người một mình. Không phải Thánh Giá của thất bại, nhưng là ngai của Đấng Cứu Chuộc. Không phải dấu chấm hết, nhưng là cánh cửa mở sang Phục Sinh.
Và nếu một ngày nào đó người tu sĩ Chúa Cứu Thế không còn đủ sức để đi nữa, không còn đủ tiếng để giảng nữa, không còn đủ tay để làm việc nữa, ước gì vẫn còn đủ sức nhìn lên Thánh Giá và nói câu cuối cùng của đời mình: “Lạy Đấng Cứu Chuộc rất yêu dấu của con, đời con có nhiều điều chưa trọn, nhiều lần con đã yếu đuối, nhiều lần con đã làm Chúa buồn, nhưng con tin nơi Chúa có ơn cứu chuộc chứa chan. Xin nhận lấy đời con như một của lễ nghèo. Xin cho những gì con đã làm vì tình yêu được ở lại. Xin tha thứ những gì con đã làm vì ích kỷ. Xin chữa lành những người con từng làm tổn thương. Xin tiếp tục công trình mà con không kịp hoàn tất. Và xin cho đến hơi thở cuối cùng, con vẫn là người của Tin Mừng, người của những kẻ bị bỏ rơi, người của lòng thương xót, người của Thánh Giá, người của Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh và đã sống lại.”
Bởi cuối cùng, đó chính là niềm hy vọng của người con Thánh Anphongsô: chúng ta không rao giảng một ý tưởng cứu độ, nhưng rao giảng một Con Người; không rao giảng một ký ức của hai ngàn năm trước, nhưng rao giảng Đấng đang sống; không rao giảng một Thánh Giá trống rỗng, nhưng rao giảng tình yêu đã đi qua Thánh Giá và chiến thắng sự chết. Và mỗi khi thế giới này còn một người tưởng mình không thể được tha thứ, mỗi khi còn một người nghèo bị bỏ quên, mỗi khi còn một người đau khổ nghĩ Thiên Chúa không hiểu mình, mỗi khi còn một người ở bên bờ tuyệt vọng, thì sứ mạng của người Dòng Chúa Cứu Thế vẫn chưa xong. Ta lại phải lên đường. Ta lại phải nói về Người. Ta lại phải sống như Người. Ta lại phải chỉ vào Thánh Giá và nói bằng cả đời mình rằng:
Ở đây có một Đấng đã yêu bạn đến cùng.
Ở đây có một trái tim đã bị đâm thâu nhưng vẫn mở ra.
Ở đây có đôi tay bị đóng đinh nhưng vẫn ôm lấy thế giới.
Ở đây có lời tha thứ mạnh hơn mọi tội lỗi.
Ở đây có một tình yêu mạnh hơn sự chết.
Ở đây, nơi Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh và Phục Sinh, vẫn mãi mãi chứa chan ơn cứu chuộc.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ – NƠI THIÊN CHÚA TỰ MẶC KHẢI CHÍNH MÌNH MỘT CÁCH TẬN CÙNG
Có những điều về Thiên Chúa mà con người có thể nhận ra khi nhìn lên trời cao, khi đứng trước biển rộng, khi lặng người trước một buổi hoàng hôn, khi nghe tiếng khóc chào đời của một đứa trẻ, khi chiêm ngắm trật tự kỳ diệu của vũ trụ hay khi cảm nhận một tình yêu chân thành giữa người với người. Trời đất kể lại vinh quang Thiên Chúa. Vẻ đẹp của tạo thành có thể đưa lòng người đến câu hỏi về Đấng đã làm nên tất cả. Nhưng nếu muốn biết Thiên Chúa thực sự là ai, nếu muốn biết trái tim của Thiên Chúa sâu đến đâu, nếu muốn biết Thiên Chúa yêu con người đến mức nào, nếu muốn biết Thiên Chúa sẽ làm gì khi đứng trước tội lỗi, phản bội, đau khổ và sự chết của con người, thì cuối cùng chúng ta phải đi đến một nơi không đẹp theo tiêu chuẩn của thế gian, một nơi không hùng vĩ như núi cao, không rực rỡ như bình minh, không trang nghiêm như đền thờ, không huy hoàng như cung điện. Nơi ấy là một ngọn đồi trơ trụi ngoài thành Giêrusalem. Nơi ấy có ba cây thập giá. Nơi ấy có máu, có nước mắt, có tiếng chế nhạo, có tiếng khóc, có cô độc, có một người mẹ đứng chết lặng dưới chân con mình. Và ở giữa tất cả những điều tưởng như chỉ nói về thất bại ấy, Con Thiên Chúa đang bị đóng đinh. Chính ở đó, Thiên Chúa nói lời cuối cùng về chính mình. Chính ở đó, Thiên Chúa tự mặc khải không phải bằng một định nghĩa, không phải bằng một bài diễn thuyết, không phải bằng một hệ thống triết học, nhưng bằng một thân thể bị trao nộp, một trái tim bị đâm thâu, một tình yêu đi đến tận cùng. Muốn biết Thiên Chúa là ai, hãy nhìn lên Thánh Giá.
Người ta thường thích tìm Thiên Chúa ở nơi phép lạ xảy ra hơn là ở nơi một người vô tội chịu chết. Người ta thích một Thiên Chúa làm cho biển rẽ đôi hơn là một Thiên Chúa để cho đôi tay mình bị đóng đinh. Người ta thích một Thiên Chúa khiến kẻ thù quỵ xuống hơn là một Thiên Chúa quỳ xuống rửa chân cho môn đệ. Người ta thích một Thiên Chúa giải quyết ngay mọi đau khổ hơn là một Thiên Chúa bước vào đau khổ và ở lại trong đó với con người. Bởi thế Thánh Giá luôn là một nghịch lý. Thánh Phaolô đã hiểu rất rõ điều ấy khi nói rằng Đức Kitô chịu đóng đinh là điều người Do Thái cho là ô nhục và dân ngoại cho là điên rồ. Người Do Thái mong một dấu lạ quyền năng; người Hy Lạp tìm một sự khôn ngoan hợp lý; còn các Tông đồ lại đi rao giảng một người bị đóng đinh. Một vị vua không ngai vàng, hay đúng hơn ngai của Người là cây gỗ. Một Đấng Cứu Thế không cầm gươm, nhưng hai tay bị đóng vào thập giá. Một Thiên Chúa không tiêu diệt kẻ thù của mình, nhưng cầu nguyện cho chính những kẻ đang giết mình. Tất cả những gì con người quen nghĩ về quyền lực dường như bị đảo ngược trên đồi Canvê. Và chính sự đảo ngược ấy lại mở ra khuôn mặt thật của Thiên Chúa. Quyền năng của Thiên Chúa không phải là quyền năng nghiền nát, nhưng là quyền năng yêu đến mức không gì có thể làm Người thôi yêu. Vinh quang của Thiên Chúa không phải là làm người khác phục vụ mình, nhưng là trao ban chính mình. Sự chiến thắng của Thiên Chúa không phải là tránh khỏi cái chết, nhưng là đi xuyên qua cái chết bằng tình yêu để biến chính cái chết thành cửa ngõ của sự sống.
Có lẽ đoạn Tin Mừng làm sáng lên điều này một cách đau đớn và đẹp đẽ nhất là trình thuật Thương Khó theo thánh Gioan. Sau khi chịu đủ những lời nhạo báng, những đòn roi, những cuộc xét xử bất công, Đức Giêsu được đưa đến Golgotha. Người ta đóng đinh Người vào thập giá. Dưới chân thập giá có Đức Maria, người môn đệ Chúa yêu và mấy người phụ nữ. Đức Giêsu nhìn thấy Mẹ và người môn đệ đứng bên cạnh thì nói: “Thưa Bà, đây là con của Bà”, rồi nói với môn đệ: “Đây là Mẹ của anh.” Sau đó, biết rằng mọi sự đã hoàn tất, Đức Giêsu nói: “Ta khát.” Và cuối cùng Người nói: “Thế là đã hoàn tất”, rồi gục đầu xuống và trao Thần Khí. Một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người, tức thì máu cùng nước chảy ra (x. Ga 19,25-34). Nếu chỉ nhìn bằng đôi mắt trần gian, chẳng có gì trong cảnh tượng ấy đáng gọi là vinh quang. Một người hấp hối. Một thân xác tan nát. Một nhóm môn đệ đã bỏ trốn. Một người mẹ mất con. Một sự nghiệp tưởng như chấm dứt. Một giấc mơ về Nước Thiên Chúa tưởng như bị chôn vùi. Nhưng thánh Gioan lại nhìn thấy sâu hơn. Đối với ngài, chính giờ Đức Giêsu bị treo lên lại là “Giờ” Người được tôn vinh. Bởi trong cái chết ấy, tình yêu của Thiên Chúa không còn giữ lại bất cứ điều gì. Con Một đã được trao ban. Máu đã đổ ra. Trái tim đã mở. Thần Khí đã được trao. “Thế là đã hoàn tất” không phải tiếng thở dài của một người thất bại; đó là lời xác nhận rằng tình yêu đã đi đến tận cùng con đường của nó.
Thánh Giá nói với chúng ta rằng Thiên Chúa là Tình Yêu. Chúng ta đã nghe câu ấy quá nhiều đến mức có thể không còn cảm thấy sức nặng của nó. “Thiên Chúa là tình yêu” không phải một câu thơ đẹp để treo trên tường. Đó là một chân lý có giá bằng máu. Bởi tình yêu thật bao giờ cũng có giá. Yêu mà không phải trả giá thường chỉ là một thứ cảm xúc dễ chịu. Tình yêu thật bắt đầu được nhận ra khi người ta vẫn yêu lúc không còn gì để được nhận lại, vẫn ở lại khi người khác bỏ đi, vẫn tha thứ khi mình có đủ lý do để trả thù, vẫn trao ban khi bản thân đang bị tổn thương. Chính vì thế Thánh Giá là nơi câu “Thiên Chúa là Tình Yêu” được giải thích bằng chính cuộc đời Thiên Chúa. Chúa không nói: “Ta yêu con” từ một khoảng cách an toàn. Người bước xuống. Người nhập thể. Người mang lấy thân phận mong manh. Người biết đói, biết khát, biết mệt, biết khóc. Người biết thế nào là bị hiểu lầm, bị chống đối, bị phản bội, bị bỏ rơi. Và cuối cùng Người để cho tình yêu của mình bị đóng đinh. Nói cách khác, Thiên Chúa không chỉ yêu con người khi con người đáng yêu. Thiên Chúa yêu con người ngay trong lúc con người đang đóng đinh Người.
Có một chi tiết khiến người ta phải lặng đi thật lâu: Đức Giêsu không chết giữa những người yêu mến Người, nhưng giữa những kẻ kết án Người. Người không chết khi nhân loại đang quỳ gối cảm ơn, nhưng khi nhân loại đang gào lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!” Đó là giờ đen tối nhất của con người, nhưng lại trở thành giờ sáng nhất của tình yêu Thiên Chúa. Thánh Giá vì thế phơi bày đồng thời hai sự thật: tội lỗi con người khủng khiếp đến mức có thể đóng đinh Đấng vô tội, nhưng tình yêu Thiên Chúa còn lớn hơn tội lỗi ấy. Con người có thể giơ búa đóng đinh bàn tay Thiên Chúa, nhưng không thể đóng đinh được tình yêu của Người. Con người có thể dựng thập giá để giết, Thiên Chúa lại dùng chính thập giá ấy để cứu. Con người có thể lấy cái chết làm lời cuối cùng, Thiên Chúa biến nó thành con đường dẫn tới sự sống. Đó chính là điều kỳ diệu của cứu độ: Thiên Chúa không cứu thế giới bằng cách đứng ngoài thế giới, nhưng bằng cách bước vào tận đáy vực thẳm của thế giới và từ bên trong nâng nó lên.
Ở Thánh Giá, chúng ta còn nhận ra một Thiên Chúa không xa lạ với đau khổ của con người. Biết bao nhiêu lần giữa đau đớn người ta hỏi: “Chúa ở đâu?” Khi một người mẹ mất đứa con duy nhất, Chúa ở đâu? Khi một người trẻ nhận kết quả bệnh tật nghiệt ngã, Chúa ở đâu? Khi một gia đình tan vỡ, Chúa ở đâu? Khi người vô tội bị vu oan, khi người nghèo bị bóc lột, khi chiến tranh làm trẻ thơ chết dưới đống đổ nát, khi một người già nằm cô đơn trong căn phòng bệnh, khi một linh mục kiệt sức mà không biết tâm sự với ai, khi một người cả đời sống tử tế bỗng phải đối diện với những mất mát không thể hiểu được, Chúa ở đâu? Kitô giáo không có một công thức dễ dãi để giải thích hết mọi đau khổ. Thánh Giá cũng không trả lời tất cả những chữ “tại sao” theo kiểu toán học. Nhưng Thánh Giá cho chúng ta một điều có lẽ còn lớn hơn một lời giải thích: Thiên Chúa ở đó. Người ở giữa đau khổ. Người ở trên thập giá. Thiên Chúa không đứng bên ngoài nhìn con người đau. Người đã đi vào nỗi đau của con người từ bên trong. Không có giọt nước mắt nào của con người mà Đức Kitô hoàn toàn xa lạ. Không có sự cô độc nào sâu đến mức Người chưa từng chạm tới. Không có bóng tối nào đen đến mức ánh sáng của Đấng chịu đóng đinh không thể bước vào.
Tiếng kêu “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” là một trong những câu kinh khủng và an ủi nhất của Tin Mừng. Kinh khủng, bởi Con Thiên Chúa đã đi vào tận kinh nghiệm bị bỏ rơi. An ủi, bởi từ giây phút ấy không một người nào có thể nói rằng Thiên Chúa không biết cảm giác bị bỏ rơi là gì. Khi lời cầu nguyện dường như đụng phải trần nhà rồi rơi xuống, Người biết. Khi ta muốn khóc mà không còn nước mắt, Người biết. Khi mọi người nói “hãy tin” nhưng trong lòng ta chỉ còn một khoảng tối, Người biết. Khi chẳng còn cảm giác gì về sự hiện diện của Thiên Chúa, Người vẫn ở đó, bởi chính Đức Kitô đã bước vào nơi tưởng như Thiên Chúa vắng mặt nhất. Thánh Giá vì thế không phải là bằng chứng Thiên Chúa bỏ rơi thế giới; ngược lại, nó là bằng chứng rằng Thiên Chúa đã không bỏ rơi thế giới ngay cả khi thế giới bỏ rơi Người.
Và ở đây ta phải rất cẩn thận để không hiểu sai Thánh Giá. Thiên Chúa không yêu đau khổ. Thiên Chúa không vui khi thấy con người bị hành hạ. Cha trên trời không phải một vị thần khát máu cần thấy Con mình đau đớn mới nguôi giận. Thánh Giá không phải là sự tôn vinh đau khổ vì đau khổ. Điều cứu độ chúng ta không phải là số lượng vết thương trên thân thể Đức Giêsu, nhưng là tình yêu mà Người đã sống trong những vết thương ấy. Không phải đau khổ tự nó cứu độ, mà tình yêu giữa đau khổ mới có sức cứu độ. Đức Giêsu không đi tìm thập giá như người ta đi tìm một hình thức tự hành xác. Người đi tìm con người, và vì con đường trung thành với con người dẫn đến thập giá, Người không quay lưng. Người đi đến cùng. Đây là khác biệt rất lớn. Kitô hữu không được phép lấy Thánh Giá để khuyên một người bị bạo hành cứ tiếp tục chịu bạo hành; không thể nhân danh “vác thánh giá” để buộc người yếu thế cam chịu bất công; càng không thể biến Thiên Chúa thành tác giả của mọi bi kịch. Đức Giêsu đã chữa bệnh, cho người đói ăn, bảo vệ người bị loại trừ, khóc trước mộ Ladarô. Người chống lại mọi sức mạnh làm hủy hoại con người. Nhưng khi sự trung thành với tình yêu đưa Người đến chỗ phải trả giá, Người không cứu mình bằng cách ngừng yêu.
Thánh Giá cũng mặc khải một Thiên Chúa khiêm hạ đến mức đáng kinh ngạc. Chúng ta thường tưởng tượng Thiên Chúa theo cách con người tưởng tượng quyền lực: cao hơn, mạnh hơn, không ai chạm tới, không ai làm tổn thương được. Nhưng Đức Giêsu lại cho thấy quyền năng Thiên Chúa theo một cách hoàn toàn khác. Trong bữa Tiệc Ly, Người cởi áo ngoài, lấy khăn thắt lưng và quỳ xuống rửa chân cho môn đệ. Chỉ vài giờ sau, những bàn chân của chính Người sẽ bị đóng đinh. Cả cuộc đời Đức Giêsu là một chuyển động đi xuống: từ trời xuống đất, từ địa vị Thiên Chúa xuống thân phận tôi tớ, từ máng cỏ tới Nazareth, từ Nazareth tới những con đường bụi bặm Galilê, từ đó tới phòng Tiệc Ly, tới Vườn Dầu, tới pháp đình, tới Golgotha, tới mồ đá. Thiên Chúa cứ đi xuống mãi. Không phải vì Người thấp hèn, nhưng bởi tình yêu luôn cúi xuống trước người mình yêu. Người mẹ cúi xuống chiếc nôi. Người cha cúi xuống đứa con ngã. Người mục tử cúi xuống con chiên bị thương. Thiên Chúa cúi xuống nhân loại. Và Thánh Giá là điểm thấp nhất của sự cúi xuống ấy.
Vì thế, muốn tìm Thiên Chúa, đôi khi chúng ta phải thôi chỉ ngước lên cao mà biết cúi xuống thấp. Người có thể đang ở nơi một người bệnh cần được lau mặt; nơi một người già cần người ngồi nghe; nơi một người nghèo cần một bữa cơm; nơi một đứa trẻ cần được bảo vệ; nơi một người tội lỗi cần được đón nhận; nơi một người thất bại cần được cho cơ hội bắt đầu lại. Đức Giêsu từng nói: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta.” Thiên Chúa đã chọn mặc khải mình trong một Đấng bị đóng đinh thì từ đó về sau, chúng ta không thể chỉ tìm Người trong những gì rực rỡ. Người vẫn ẩn mình trong những gương mặt không ai muốn nhìn.
Thánh Giá còn mặc khải cách Thiên Chúa đối xử với kẻ tội lỗi. Đây có lẽ là điều khiến lòng ta vừa xấu hổ vừa được an ủi. Đức Giêsu bị đóng đinh không nói: “Lạy Cha, xin trừng phạt chúng.” Người nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Những người ấy chưa xin lỗi. Họ chưa ăn năn. Có lẽ nhiều người còn đang cười nhạo Người. Vậy mà từ trên Thánh Giá đã có một lời cầu xin tha thứ. Thiên Chúa không chờ con người trở nên hoàn hảo rồi mới bắt đầu yêu. Chính tình yêu đi trước của Thiên Chúa mở đường cho lòng sám hối của con người. Thánh Phaolô nói một câu thật đẹp: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi.” Không phải khi ta đã sửa mình. Không phải khi ta đã sạch sẽ. Không phải khi ta đã đáng được thương. Ngay khi còn là tội nhân.
Đó là lý do chẳng ai cần sợ đến gần Thánh Giá. Người có quá khứ đổ vỡ hãy đến. Người đã phạm những sai lầm mà chính mình không thể tha thứ cho mình hãy đến. Người đã sống nhiều năm xa Chúa hãy đến. Người đã phản bội một lời hứa hãy đến. Người cảm thấy đời mình chẳng còn gì đáng để Thiên Chúa yêu hãy đến. Dưới chân Thánh Giá không có bảng ghi: “Chỉ dành cho người hoàn hảo.” Người trộm lành ở bên Đức Giêsu chẳng còn gì để dâng. Anh ta không còn thời gian sửa lại cuộc đời. Không còn cơ hội trả lại những gì đã lấy. Không còn năm tháng để thực hành việc đạo đức. Anh chỉ còn một lời rất nhỏ: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Đức Giêsu trả lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Đó là Thiên Chúa của Thánh Giá. Người có thể mở cửa thiên đàng cho một người mà thế gian đã đóng mọi cánh cửa.
Có những người cả đời mang mặc cảm vì nghĩ rằng Chúa đã chán mình. Họ xét mình và chỉ thấy lỗi lầm. Họ nhìn lại tuổi trẻ và chỉ thấy những quyết định sai. Họ nghĩ mình đã làm hỏng quá nhiều thứ. Họ đến nhà thờ nhưng đứng xa, như người thu thuế trong dụ ngôn, chẳng dám ngước mắt. Với những tâm hồn ấy, Thánh Giá nói một điều rất đơn giản: “Con đáng giá đến mức Ta đã trao ban chính mình cho con.” Giá trị của một con người không được đo bằng những thành công họ đã đạt được, những bằng cấp họ có, số tiền trong tài khoản, số người tán thưởng họ, cũng không chỉ bằng những sai lầm họ đã phạm. Giá trị sâu nhất của một người được nhìn thấy dưới chân Thánh Giá: người ấy là kẻ được Thiên Chúa yêu đến mức Con Một đã trao mạng sống vì họ.
Nhưng nếu Thánh Giá chỉ làm ta được an ủi mà không làm ta thay đổi thì chúng ta chưa thực sự hiểu Thánh Giá. Tình yêu chịu đóng đinh là một lời mời gọi rất dữ dội. Đức Giêsu nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” Theo Đức Kitô không phải chỉ đeo một cây thánh giá đẹp trên cổ. Không phải chỉ đặt Thánh Giá trên bàn thờ. Không phải chỉ hôn kính Thánh Giá vào Thứ Sáu Tuần Thánh. Tất cả những cử chỉ ấy rất quý, nhưng phải dẫn đến một đời sống mang hình dáng của Thánh Giá. Mà hình dáng của Thánh Giá là gì? Một chiều dọc vươn lên Thiên Chúa và một chiều ngang mở ra với anh em. Một đời sống cầu nguyện mà không yêu thương người khác là một cây thập giá thiếu thanh ngang. Một đời sống hoạt động xã hội mà không còn nguồn mạch nơi Thiên Chúa là một cây thập giá thiếu thanh dọc. Kitô hữu sống Thánh Giá khi yêu Chúa và yêu người trong cùng một chuyển động của trái tim.
Vác thập giá không nhất thiết là làm những điều phi thường. Nhiều khi thập giá nằm trong những bổn phận rất bình thường nhưng phải sống bằng một tình yêu phi thường. Một người mẹ thức nhiều đêm chăm con bệnh. Một người chồng âm thầm trung thành giữa những năm tháng hôn nhân khô cạn. Một người vợ nhẫn nại cùng chồng vượt qua khủng hoảng tài chính. Một người con chăm cha mẹ già. Một linh mục vẫn trung thành với giờ cầu nguyện và việc phục vụ dù không ai khen. Một tu sĩ âm thầm giữ lời khấn giữa đời sống cộng đoàn không phải lúc nào cũng dễ chịu. Một giáo viên kiên nhẫn với đứa học sinh khó dạy. Một bác sĩ ở lại thêm bên bệnh nhân dù ca trực đã quá dài. Một người bị xúc phạm nhưng quyết định không trả đũa. Một người có cơ hội gian dối để kiếm lợi nhưng nói “không”. Một người có quyền nhưng không dùng quyền để nghiền nát người yếu. Những điều ấy không lên báo, nhưng có thể là những mảnh Thánh Giá đang được sống giữa đời.
Thánh Giá đặc biệt thách thức chúng ta ở sự tha thứ. Chúng ta rất dễ yêu một Đức Giêsu tha thứ cho mình; khó hơn nhiều khi Đức Giêsu bảo mình tha thứ cho người khác. Chúng ta muốn đứng dưới Thánh Giá để lãnh lòng thương xót nhưng lại không muốn để lòng thương xót đi qua mình tới người đã làm mình đau. Tha thứ không có nghĩa là gọi điều xấu thành điều tốt. Tha thứ không có nghĩa là quên ngay mọi tổn thương. Cũng không có nghĩa là tiếp tục để người khác làm hại mình. Tha thứ là từ chối để cái ác của người khác quyết định mình sẽ trở thành loại người nào. Họ làm ta tổn thương, nhưng ta không để tổn thương biến mình thành người chỉ biết trả thù. Họ gieo cay đắng, nhưng ta không để cay đắng trở thành máu trong tim mình. Đó là một cuộc đóng đinh thực sự của cái tôi. Và không có nơi nào dạy sự tha thứ sâu hơn Golgotha.
Hãy thử tưởng tượng Đức Giêsu trên Thánh Giá nhìn xuống. Phía dưới có những người chia nhau áo của Người. Có kẻ lắc đầu chế nhạo. Có những lãnh đạo tôn giáo tự mãn vì đã loại bỏ được một người họ coi là nguy hiểm. Có lính tráng thi hành lệnh. Có dân chúng đứng xem. Và giữa tất cả, Người cầu nguyện cho họ. Đó không phải yếu đuối. Muốn trả thù rất dễ. Muốn phá hủy kẻ làm ta đau chỉ cần để bản năng lên tiếng. Tha thứ mới cần sức mạnh. Thánh Giá cho ta thấy sức mạnh cao nhất của Thiên Chúa chính là sức mạnh không để sự dữ biến Người thành sự dữ.
Thánh Giá cũng lột trần những ảo tưởng của chúng ta về thành công. Chúng ta đang sống trong một thế giới đo giá trị bằng con số: bao nhiêu người theo dõi, bao nhiêu lượt thích, bao nhiêu tiền, bao nhiêu thành tích, bao nhiêu người biết tên mình. Ngay trong đời sống đạo, cám dỗ ấy cũng không xa. Người ta có thể vô tình đánh giá một giáo xứ qua số người tham dự, một sứ vụ qua sự nổi tiếng, một linh mục qua lượng người nghe, một hoạt động tông đồ qua những con số đẹp. Nhưng dưới chân Thánh Giá, mọi thước đo ấy trở nên tương đối. Vào chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, sứ vụ của Đức Giêsu xét theo tiêu chuẩn trần gian là một thất bại khủng khiếp. Ba năm giảng dạy, cuối cùng một môn đệ bán Người, một môn đệ chối Người, những người còn lại bỏ chạy. Dân chúng từng tung hô nay đòi đóng đinh. Chẳng có đám đông trung thành dưới chân Thánh Giá. Chỉ vài người đứng lại. Nếu lúc ấy ai làm một bản báo cáo mục vụ chắc mọi chỉ số đều rất xấu. Nhưng chính lúc đó công trình cứu độ đang đạt đến đỉnh cao.
Điều này an ủi những ai trung thành mà không nhìn thấy kết quả. Có những cha mẹ cầu nguyện hàng chục năm cho một đứa con xa Chúa mà chưa thấy nó trở về. Có linh mục gieo lời Chúa nhiều năm trong một cộng đoàn khô cứng mà chẳng biết hạt giống nào đã mọc. Có người làm việc thiện âm thầm nhưng không ai biết. Có người sống tử tế mà vẫn chịu thiệt. Thánh Giá dạy rằng sự trung thành có giá trị ngay cả khi kết quả chưa xuất hiện trước mắt. Tình yêu không bao giờ vô ích. Hạt lúa phải chết đi trong lòng đất trước khi nảy mầm. Thứ Sáu Tuần Thánh phải đi trước Chúa Nhật Phục Sinh. Và giữa hai ngày ấy có một Thứ Bảy im lặng, khi chẳng ai thấy Thiên Chúa đang làm gì.
Thánh Giá cũng mặc khải sự tự do của Thiên Chúa. Đức Giêsu nói: “Không ai lấy mạng sống của tôi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình.” Bên ngoài, Người dường như hoàn toàn bị động: bị bắt, bị trói, bị xét xử, bị đánh, bị dẫn đi, bị đóng đinh. Nhưng ở chiều sâu, Người đang tự hiến. Người biến điều bị ép buộc thành một hành vi yêu thương tự do. Đây là một trong những bí mật lớn của đời sống Kitô hữu. Có nhiều hoàn cảnh chúng ta không chọn được. Ta không chọn cha mẹ mình. Không chọn thời đại mình sinh ra. Không chọn tất cả bệnh tật. Không chọn mọi mất mát. Không chọn thái độ của người khác. Nhưng trong nhiều điều không thể chọn, ta vẫn còn một tự do cuối cùng: chọn cách mình sống điều ấy. Ta có thể để đau khổ làm mình cay độc, hoặc để nó mở lòng mình ra. Ta có thể biến vết thương thành lý do làm đau người khác, hoặc để nó trở thành nơi mình biết cảm thông hơn. Đức Giêsu không chọn sự ác của những kẻ đóng đinh Người, nhưng Người chọn yêu ngay ở nơi sự ác ấy tưởng như thắng thế.
Và chính tại điểm này, Thánh Giá trở thành hy vọng cho tất cả những gì tưởng như không thể cứu vãn. Nếu Thiên Chúa có thể lấy công cụ hành hình của Đế quốc Rôma và biến nó thành dấu chỉ cứu độ, thì có lẽ Người cũng có thể lấy những mảnh vỡ của đời ta mà làm nên điều gì đó mới mẻ. Có những lỗi lầm không thể xóa khỏi quá khứ. Có những lời nói đã làm người khác đau mà ta không thể thu lại. Có những năm tháng đã trôi qua không thể lấy lại. Có những mất mát chẳng bao giờ được bù đắp theo cách cũ. Kitô giáo không hứa rằng Thiên Chúa sẽ quay ngược thời gian và làm như chưa từng có gì xảy ra. Người làm điều lớn hơn: Người có thể cứu chuộc chính những gì đã xảy ra. Những vết thương của Đức Giêsu sau Phục Sinh không biến mất. Người hiện ra với các môn đệ và vẫn mang dấu đinh. Phục Sinh không xóa Thánh Giá; Phục Sinh biến các vết thương thành dấu chỉ chiến thắng. Có lẽ đời ta cũng vậy. Những vết sẹo có thể vẫn còn, nhưng một ngày chúng không còn chỉ kể câu chuyện về điều đã làm ta đau; chúng có thể kể câu chuyện về ân sủng đã giữ ta sống.
Thánh Giá mặc khải rằng tình yêu thật không chiếm hữu. Đức Giêsu mở hai tay trên thập giá. Hai bàn tay ấy không nắm gì nữa. Không giữ danh dự. Không giữ an toàn. Không giữ quyền lợi. Không giữ mạng sống. Chỉ trao. Cử chỉ của Thánh Giá là cử chỉ của một Thiên Chúa mở tay. Từ máng cỏ tới Golgotha, Đức Giêsu không ngừng được trao ban: “Một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta.” Rồi chính Người nói: “Này là Mình Thầy, bị nộp vì anh em.” Đời sống của Người có thể được tóm lại bằng hai chữ: trao ban.
Cho nên, nếu hỏi điều gì trái ngược nhất với Thánh Giá, có lẽ đó là một đời sống chỉ biết giữ lấy mình. Giữ tiền, giữ danh, giữ quyền, giữ thời giờ, giữ năng lực, giữ tình cảm, giữ cả ơn Chúa cho riêng mình. Một đời sống càng khép lại càng xa Thánh Giá. Còn một đời sống càng trở thành quà tặng thì càng mang dung mạo Đấng chịu đóng đinh. Có những người sống rất âm thầm nhưng ai ở gần họ cũng cảm thấy được nâng đỡ. Họ có thời giờ cho người khác. Có một lời an ủi. Một cuộc điện thoại. Một bữa cơm. Một sự hiện diện. Họ không làm những điều lớn lao theo mắt thế gian, nhưng cuộc đời họ có dáng của tấm bánh được bẻ ra.
Đối với linh mục, Thánh Giá lại càng không thể chỉ là một vật đặt trên cung thánh. Thánh Giá phải đi vào căn tính của đời linh mục. Linh mục đứng mỗi ngày trước bàn thờ và đọc: “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con.” Những lời ấy là lời của Đức Kitô, nhưng cũng phải từ từ trở thành lời của chính đời linh mục. Nếu Thánh Lễ chỉ kết thúc khi linh mục rời bàn thờ, thì Thánh Lễ chưa đi vào đời. Bàn thờ phải kéo dài tới tòa giải tội, giường bệnh, căn nhà nghèo, cuộc điện thoại lúc khuya, một cuộc gặp khó, một công việc không ai muốn nhận, những giờ chuẩn bị bài giảng trong thinh lặng, những lúc bị hiểu lầm mà không thể tự bênh vực tất cả. Có một thứ chức linh mục rất đẹp trên lễ phục; nhưng có một chức linh mục khác chỉ được nhìn thấy trong những vết mỏi mệt của một đời đã để cho người khác sử dụng thời gian của mình.
Tuy nhiên, người linh mục cũng phải nhớ rằng mình không phải Đấng Cứu Thế. Vác Thánh Giá không có nghĩa là nghĩ mình phải cứu hết mọi người, giải quyết hết mọi vấn đề và làm hài lòng tất cả. Chính Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế. Linh mục chỉ là người môn đệ đứng dưới Thánh Giá. Có khi thập giá lớn nhất của người mục tử là chấp nhận giới hạn của mình, chấp nhận rằng mình không thể làm mọi sự, không thể chữa mọi vết thương, không thể giữ mọi người ở lại, không thể ngăn mọi hiểu lầm. Và chính trong sự bất lực ấy, người linh mục được mời gọi đặt cộng đoàn, công việc và chính mình vào bàn tay Đấng chịu đóng đinh. Không phải công trình của ta cứu thế giới. Tình yêu của Đức Kitô cứu thế giới.
Đối với gia đình, Thánh Giá cũng là trường học của tình yêu đến cùng. Ngày cưới người ta nhìn nhau với rất nhiều hy vọng. Nhưng hôn nhân thật sự không chỉ được xây bằng những ngày dễ chịu. Sẽ có những ngày người ta không còn nhận ra người mình từng yêu. Có lúc cơm áo, con cái, tiền bạc, sức khỏe, khác biệt tính tình làm tình yêu mỏi mệt. Khi ấy, Thánh Giá không bảo hai người ở lại trong bạo lực hoặc chấp nhận điều bất công, nhưng nhắc rằng tình yêu trưởng thành không chỉ hỏi: “Tôi đang cảm thấy gì?” mà còn hỏi: “Điều gì là thiện hảo cho người tôi đã hứa yêu?” Có những cuộc hôn nhân được cứu không phải bằng một khoảnh khắc lãng mạn, nhưng bằng hàng trăm quyết định nhỏ mỗi ngày: bớt một câu cay nghiệt, chủ động xin lỗi, chịu ngồi xuống nghe nhau, giữ sự trung tín trong cám dỗ, cùng nhau cầu nguyện khi chẳng biết phải nói gì.
Đối với người đang đau bệnh, Thánh Giá không phải một câu trả lời lạnh lùng kiểu “hãy chịu đi”. Dưới chân một giường bệnh, đôi khi nói ít lại tốt hơn. Một người đau không cần những bài lý luận về giá trị đau khổ ngay lập tức. Họ cần biết mình không một mình. Đức Maria dưới chân Thánh Giá không diễn thuyết. Bà đứng đó. Có những lúc tình yêu chỉ đơn giản là đứng lại. Không chữa được thì ở lại. Không giải thích được thì nắm tay. Không biết nói gì thì cùng khóc. Có lẽ đó chính là điều Thiên Chúa làm trong rất nhiều đau khổ của ta: Người không lập tức giải thích, nhưng Người ở lại.
Có một điều vô cùng đẹp trong Tin Mừng Gioan: cạnh sườn Đức Giêsu bị đâm thâu, máu và nước chảy ra. Trái tim đã mở. Từ đó truyền thống Hội Thánh nhìn thấy nguồn mạch các bí tích, nguồn của đời sống mới, hình ảnh Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô như Evà được hình thành từ cạnh sườn Ađam. Nhưng trước hết, đó là một trái tim không còn đóng kín. Thiên Chúa đã để trái tim mình bị mở ra. Không còn gì Người giữ lại cho mình. Nếu ai hỏi: “Thiên Chúa nghĩ gì về tôi?” hãy nhìn cạnh sườn bị đâm thâu. Nếu ai hỏi: “Tôi có thể tin vào lòng thương xót của Người đến mức nào?” hãy nhìn trái tim ấy. Nếu ai hỏi: “Có giới hạn nào cho tình yêu Thiên Chúa không?” hãy nhìn Thánh Giá.
Đây cũng là lý do Thánh Giá không thể tách khỏi Thánh Thể. Thánh Thể là Thánh Giá được trao cho chúng ta dưới hình thức bữa ăn. “Này là Mình Thầy, bị nộp vì anh em. Này là chén Máu Thầy, sẽ đổ ra.” Mỗi Thánh Lễ đưa chúng ta trở về với mầu nhiệm tự hiến. Ta không đến nhà thờ chỉ để “nhận lễ” rồi trở về sống như cũ. Ta ăn lấy một Đấng đã bị bẻ ra để học cách để đời mình cũng được bẻ ra vì người khác. Ta uống chén tình yêu tự hiến để học cách đổ đời mình ra. Một cộng đoàn cử hành Thánh Thể thật sự phải dần trở nên một cộng đoàn biết cho đi, biết chia sẻ, biết đón người yếu, biết tha thứ, biết chịu thiệt vì nhau. Nếu chúng ta quỳ rất lâu trước Thánh Thể mà vẫn lạnh lùng với người nghèo ngoài cửa nhà thờ, thì sự thờ lạy ấy vẫn còn điều phải lớn lên.
Thánh Giá còn đặt một câu hỏi rất đau vào đời Kitô hữu: chúng ta đứng ở đâu trong cảnh Golgotha? Bởi trong trình thuật Thương Khó có đủ mọi kiểu người. Có Giuđa bán Chúa vì tiền. Có Phêrô yêu Chúa nhưng sợ hãi. Có Philatô biết người này vô tội nhưng vẫn rửa tay vì muốn giữ vị trí. Có đám đông dễ dàng đổi tiếng “Hoan hô” thành “Đóng đinh nó đi”. Có những lính tráng chỉ làm theo lệnh. Có Simon Kyrênê bị bắt vác đỡ thập giá rồi vô tình bước vào lịch sử cứu độ. Có những phụ nữ khóc thương. Có Gioan ở lại. Có Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá. Mỗi nhân vật ấy đều có thể là một phần của chúng ta. Đôi khi ta là Phêrô. Đôi khi là Philatô. Có ngày là Simon. Có ngày chỉ đứng từ xa. Câu hỏi không chỉ là ai đã đóng đinh Đức Giêsu hai ngàn năm trước, nhưng hôm nay tôi đang làm gì với những người đang bị đóng đinh quanh mình?
Có những Thánh Giá không bằng gỗ. Có người bị đóng đinh vào nghèo đói. Có người bị đóng đinh bởi cô đơn. Có người bị đóng đinh bởi lời vu khống. Có người bị đóng đinh bởi một quá khứ mà xã hội không cho họ cơ hội làm lại. Có trẻ thơ bị đóng đinh bởi sự ích kỷ của người lớn. Có người già bị đóng đinh bởi sự lãng quên của con cái. Có người khuyết tật bị đóng đinh bởi những ánh mắt coi thường. Có người di dân bị đóng đinh bởi cảnh không quê hương. Có những người mang vết thương tinh thần mà chẳng ai thấy. Tôn kính Thánh Giá của Đức Kitô mà đi ngang qua những người chịu đóng đinh hôm nay là một nghịch lý. Không thể hôn chân tượng Chúa chịu nạn trong nhà thờ rồi bước ra ngoài dùng lời nói đóng đinh người khác.
Và ở thời đại mạng xã hội, có lẽ cây đinh nhiều nhất không còn bằng sắt mà bằng chữ. Một câu bình luận có thể đóng đinh một người. Một tin chưa kiểm chứng có thể phá danh dự cả đời. Một đoạn video bị cắt khỏi bối cảnh có thể khiến cả đám đông ném đá. Người ta có thể ngồi trước màn hình và tham dự một cuộc đóng đinh tập thể mà lòng vẫn nghĩ mình đang bảo vệ sự thật. Nhưng Thánh Giá hỏi chúng ta: sự thật ấy có tình yêu không? Công lý ấy có lòng thương xót không? Đức Giêsu là Sự Thật, nhưng khi Sự Thật bị đóng đinh, Người không biến Sự Thật thành vũ khí để nghiền nát người khác. Người nói sự thật và chết vì yêu.
Thánh Giá cũng chữa căn bệnh thích xét đoán. Dưới chân Thánh Giá, chẳng ai có quyền kiêu ngạo. Người đạo đức không thể tự hào vì chính tội lỗi của cả nhân loại đã đặt Đức Kitô ở đó. Người tội lỗi cũng không cần tuyệt vọng vì chính Đức Kitô đang ở đó cho họ. Thánh Giá làm người tốt khiêm nhường và làm người ngã quỵ hy vọng. Đó là một sự cân bằng kỳ diệu. Không ai có thể nói: “Tôi tốt đến mức không cần ơn cứu độ.” Cũng chẳng ai phải nói: “Tôi xấu đến mức không thể được cứu.”
Một ngày nào đó, tất cả chúng ta đều sẽ đứng trước Thánh Giá theo một cách rất riêng. Có thể đó là lúc một người thân ra đi. Có thể khi thân thể mình bắt đầu yếu đi. Có thể khi một giấc mơ tan vỡ. Có thể khi chính mình phải đi qua cửa sự chết. Và lúc ấy, nhiều điều từng làm ta lo lắng sẽ trở nên rất nhỏ. Những tranh cãi từng nghĩ quan trọng, những hơn thua, những thành tích, những lời người ta nói về mình… tất cả sẽ nhạt đi. Còn lại câu hỏi: tôi đã yêu thế nào? Có lẽ cuộc phán xét cuối cùng không xa câu hỏi ấy. Tôi đã dùng đời mình để giữ lấy hay trao đi? Tôi đã làm gì với những người bé nhỏ? Tôi có biết tha thứ không? Tôi có để cho ân sủng biến đổi những vết thương của mình không?
Thánh Gioan nói một câu tóm cả Tin Mừng: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” Không phải Thiên Chúa yêu một thế gian lý tưởng, nhưng “thế gian” này: hỗn độn, tội lỗi, bất toàn, nhiều bạo lực, nhiều phản bội. Người yêu thế gian này. Và Người không chỉ “gửi” Con như gửi một thông điệp; Người “ban” Con. Cái gì đã ban thật thì không lấy lại. Giáng Sinh đã là khởi đầu của sự trao ban ấy, Thánh Giá là sự trao ban đi tới tận cùng.
Bởi thế, khi nhìn Thánh Giá, đừng chỉ nhìn những chiếc đinh. Hãy nhìn tình yêu. Đừng chỉ nhìn máu. Hãy nhìn một trái tim không giữ lại gì. Đừng chỉ nhìn cái chết. Hãy nhìn một sự sống đang được trao. Đừng chỉ nhìn sự yếu đuối. Hãy nhìn quyền năng của tình yêu không chịu đầu hàng hận thù. Đừng chỉ nhìn thất bại. Hãy chờ buổi sáng Phục Sinh.
Thánh Giá không phải dấu chấm hết của Kitô giáo. Không có Phục Sinh, Thánh Giá chỉ là một vụ hành hình nữa trong lịch sử. Nhưng cũng không có Thánh Giá thì Phục Sinh trở thành một chiến thắng rẻ tiền không đi qua đau khổ của con người. Hai mầu nhiệm thuộc về nhau. Đức Kitô phục sinh là Đức Kitô đã chịu đóng đinh. Khi hiện ra với Tôma, Người không nói: “Hãy quên những vết thương ấy đi.” Người nói: “Đặt ngón tay vào đây.” Những dấu đinh trở thành căn cước của Đấng Phục Sinh. Điều này thật quan trọng cho đời chúng ta. Thiên Chúa không nhất thiết cứu chúng ta bằng cách xóa sạch mọi dấu tích đau thương; nhiều khi Người làm cho chúng trở thành nơi ánh sáng đi qua.
Có một hình ảnh rất đẹp: ánh sáng dễ đi qua một vết nứt hơn một bức tường hoàn toàn kín. Đời người ai cũng có những vết nứt. Có người cố giấu cả đời vì sợ người khác biết mình yếu. Nhưng đôi khi chính nơi ta từng đau lại là nơi ta có thể yêu người khác sâu nhất. Người từng trải qua tang chế biết cách ngồi bên người đang mất mát. Người từng thất bại biết cách nói chuyện với người vừa gục ngã. Người từng được tha thứ thường hiểu giá trị của lòng thương xót. Nếu đặt các vết thương trong tay Thiên Chúa, chúng có thể trở thành cửa sổ chứ không còn là nhà tù.
Và cuối cùng, Thánh Giá mặc khải cho ta một Thiên Chúa đáng tin. Không phải đáng tin vì Người hứa rằng người tin Người sẽ không bao giờ đau. Người chưa từng hứa như thế. Nhưng đáng tin vì trước khi bảo ta vác thập giá, chính Người đã vác trước. Trước khi bảo ta tha thứ, Người đã tha thứ. Trước khi bảo ta yêu kẻ thù, Người đã yêu. Trước khi bảo ta trao mạng sống, Người đã trao. Kitô giáo không bắt đầu bằng một bộ luật từ trên trời rơi xuống; nó bắt đầu bằng một Đấng nói: “Hãy theo Ta”, rồi chính Người đi trước.
Có những đêm ta sẽ không hiểu Thiên Chúa. Có những lời cầu nguyện không được trả lời theo cách ta muốn. Có những nấm mồ chúng ta không muốn đứng trước. Nhưng người Kitô hữu có quyền nhìn lên Thánh Giá và nói: “Con chưa hiểu Chúa, nhưng con biết Chúa yêu con.” Đây không phải một cảm xúc mơ hồ. Có một bằng chứng bằng gỗ, bằng đinh, bằng máu, bằng cạnh sườn bị đâm thâu. Khi mọi cảm giác về Thiên Chúa biến mất, Thánh Giá vẫn đứng đó. Khi lòng ta nói Chúa xa, Thánh Giá nói Chúa đã đến gần đến mức nào. Khi tội lỗi nói ta không đáng được yêu, Thánh Giá nói tình yêu không bắt đầu từ sự xứng đáng của ta. Khi đau khổ nói đời ta vô nghĩa, Thánh Giá nói Thiên Chúa có thể làm nảy sinh cứu độ từ chính nơi tưởng như hoàn toàn thất bại.
Có lẽ vì thế mà trong nhà của người Công giáo, giữa nhà thờ, trên bàn thờ, trong phòng người bệnh, trên cổ một đứa trẻ, bên quan tài một người vừa qua đời, cây Thánh Giá vẫn hiện diện. Không phải chúng ta yêu cái chết. Chúng ta tin rằng tình yêu mạnh hơn cái chết. Không phải chúng ta mê đau khổ. Chúng ta tin rằng không đau khổ nào nằm ngoài tầm tay cứu chuộc của Thiên Chúa. Không phải chúng ta tôn thờ một dụng cụ hành hình. Chúng ta tôn thờ Đấng đã biến dụng cụ hành hình thành ngai của tình yêu.
Và nếu một ngày nào đó có ai hỏi tôi: “Thiên Chúa của anh là ai?”, có lẽ tôi sẽ không bắt đầu bằng một định nghĩa thần học. Tôi sẽ chỉ vào Thánh Giá. Đây là Thiên Chúa của tôi: Đấng có đôi tay mở ra ngay cả khi đôi tay ấy bị đóng đinh. Đấng vẫn tha thứ khi bị xúc phạm. Đấng vẫn trao Mẹ mình cho môn đệ trong lúc hấp hối. Đấng vẫn khát – khát tình yêu của con người – giữa lúc con người từ chối Người. Đấng không xuống khỏi Thánh Giá để cứu mình bởi Người đang ở lại trên Thánh Giá để cứu chúng ta. Đấng không chiến thắng bằng cách giết kẻ thù, nhưng bằng cách để tình yêu giết chết thù hận. Đấng bước vào mồ để không một nấm mồ nào từ nay còn hoàn toàn vô vọng.
Vậy nên, đừng vội xin Chúa cất mọi Thánh Giá khỏi cuộc đời. Có những thánh giá phải được cất đi vì chúng do bất công và tội lỗi gây nên, và ta phải can đảm đấu tranh để cất chúng khỏi vai người khác. Nhưng cũng có những thập giá không thể tránh trên hành trình làm người: tuổi già, giới hạn, mất mát, trách nhiệm, hy sinh vì người mình yêu, những cái chết cần thiết của cái tôi. Khi gặp những thập giá ấy, hãy xin một điều sâu hơn: “Lạy Chúa, xin đừng để con vác một mình. Xin làm cho thập giá này trở thành nơi con gặp Chúa.”
Bởi điều làm Thánh Giá trở thành “Thánh” không phải là cây gỗ. Là Đức Giêsu ở trên đó. Điều làm những thập giá của đời ta có thể trở thành nơi cứu độ cũng không phải đau khổ tự nó, nhưng là sự hiện diện của Đức Kitô trong đó. Một thập giá không có Chúa chỉ là sức nặng. Một thập giá có Chúa có thể trở thành con đường. Một vết thương không có tình yêu dễ thành cay đắng. Một vết thương được tình yêu chạm tới có thể thành lòng thương xót.
Hãy đứng dưới Thánh Giá lâu hơn một chút. Đừng vội nói. Có những mầu nhiệm chỉ hiểu được khi người ta đủ thinh lặng. Nhìn đôi tay ấy. Đôi tay từng chạm vào mắt người mù, nay bị đóng đinh. Nhìn đôi chân ấy. Đôi chân từng đi tìm người tội lỗi, nay không còn bước được nữa. Nhìn khuôn mặt ấy. Khuôn mặt từng cúi xuống những người bị loại trừ, nay đầy máu và nước bọt. Nhìn cạnh sườn ấy. Trái tim từng chạnh thương đám đông, nay bị đâm mở. Và rồi hãy nghe, giữa tất cả sự im lặng của Canvê, một lời không được nói bằng môi nhưng bằng cả thân thể: “Ta yêu con đến thế.”
Có lẽ chúng ta đã nghe quá nhiều bài giảng về Thiên Chúa mà quên nhìn Người. Có lẽ chúng ta tranh luận quá nhiều về Thiên Chúa mà quên đứng trước Người. Hôm nay hãy để Thánh Giá tự nói. Nó nói rằng Thiên Chúa không xa. Nó nói rằng tội lỗi nghiêm trọng nhưng lòng thương xót lớn hơn. Nó nói rằng sự chết là thật nhưng không phải lời cuối. Nó nói rằng yêu sẽ làm ta bị thương nhưng chỉ tình yêu mới làm đời sống đáng sống. Nó nói rằng quyền năng cuối cùng không thuộc về bạo lực. Nó nói rằng không có vực sâu nào Thiên Chúa không dám xuống. Nó nói rằng không ai bị bỏ quên.
Và khi tất cả những lời ấy đã thấm vào lòng, ta sẽ hiểu tại sao các thánh có thể yêu Thánh Giá mà không phải là những người yêu đau khổ. Họ yêu Đấng ở trên Thánh Giá. Họ khám phá ra rằng phía sau những chiếc đinh là một trái tim. Phía sau chiều tối Thứ Sáu là rạng đông Chúa Nhật. Phía sau tiếng “Thế là đã hoàn tất” là sự khởi đầu của một tạo thành mới.
Thánh Giá là nơi Thiên Chúa không còn điều gì để giấu về chính mình. Trên núi Sinai, Thiên Chúa ẩn trong mây và sấm chớp. Tại Bêlem, Người ẩn trong một trẻ thơ. Trên các nẻo đường Galilê, Người ẩn trong một người thợ mộc Nazareth. Nhưng trên Golgotha, tấm màn dường như được kéo ra tận cùng: Thiên Chúa là Đấng yêu đến cùng. Không có một Thiên Chúa nào khác ẩn sau Đức Giêsu chịu đóng đinh, như thể phía sau khuôn mặt hiền lành ấy còn có một khuôn mặt tàn nhẫn mà ta chưa biết. Đức Giêsu chính là khuôn mặt của Chúa Cha. Ai thấy Người là thấy Chúa Cha. Và khi ta thấy Người tha thứ trên Thánh Giá, ta biết trái tim Chúa Cha cũng là trái tim tha thứ. Khi thấy Người đi tìm người tội lỗi, ta biết Chúa Cha đi tìm. Khi thấy Người khóc trước nấm mồ, ta biết Thiên Chúa không vô cảm trước nước mắt con người. Khi thấy Người chết vì yêu, ta biết tình yêu là sự thật sâu nhất về Thiên Chúa.
Đến cuối cùng, điều Kitô giáo trao cho thế giới không chỉ là một luân lý, một nền văn hóa hay một hệ thống tư tưởng. Kitô giáo trao một biến cố: Thiên Chúa đã yêu thế gian đến mức bước vào lịch sử, mang lấy thân phận con người, để cho con người chạm vào mình, làm mình bị thương, và vẫn tiếp tục yêu. Đó là Tin Mừng. Và trung tâm của Tin Mừng là một cây Thánh Giá trống vào sáng Phục Sinh.
Nếu hôm nay lòng ta đang bình an, hãy nhìn Thánh Giá để học biết tạ ơn. Nếu đang đau, hãy nhìn Thánh Giá để biết mình không cô độc. Nếu đang mang tội, hãy nhìn Thánh Giá để dám trở về. Nếu đang giận ai, hãy nhìn Thánh Giá để học tha thứ. Nếu đang thành công, hãy nhìn Thánh Giá để khỏi kiêu ngạo. Nếu đang thất bại, hãy nhìn Thánh Giá để đừng tuyệt vọng. Nếu đang sợ chết, hãy nhìn Thánh Giá rồi nhìn ngôi mộ trống. Nếu đang không biết Thiên Chúa là ai, hãy nhìn thật lâu vào Đức Giêsu chịu đóng đinh.
Rồi có thể, trong thinh lặng, ta chỉ còn nói được một lời rất nhỏ: “Lạy Chúa, nếu Chúa đã yêu con đến thế, con còn sợ gì nữa? Nếu Chúa đã không giữ lại chính Con Một, còn điều gì con không thể trao cho Chúa? Nếu Chúa đã đi vào tận cùng đêm tối của con người, còn bóng tối nào của đời con mà Chúa không thể bước vào? Nếu đôi tay Chúa đã mở ra trên Thánh Giá, xin đừng để con sống với đôi tay khép kín. Nếu trái tim Chúa đã bị đâm thâu vì con, xin cho trái tim con cũng biết bị thương vì nỗi đau của anh em. Nếu Chúa đã tha thứ cho những người đóng đinh Chúa, xin dạy con tha thứ. Nếu Chúa đã trao chính mình, xin dạy con biết trao đời mình.”
Bởi sau tất cả, trở thành Kitô hữu không gì khác hơn là để tình yêu của Đấng chịu đóng đinh từ từ mang lấy hình hài trong đời ta. Để khi người khác gặp ta, họ gặp được một chút kiên nhẫn của Người, một chút dịu dàng của Người, một chút lòng thương xót của Người, một chút khả năng tha thứ của Người, một chút can đảm đứng bên người đau khổ của Người. Và nếu được như thế, cây Thánh Giá sẽ không chỉ treo trên tường nhà chúng ta. Nó sẽ được viết vào đời chúng ta.
Thánh Giá – nơi con người đã làm điều tệ hại nhất với Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa lại làm điều đẹp nhất cho con người. Thánh Giá – nơi tội lỗi nói tiếng nói dữ dội nhất, nhưng lòng thương xót nói tiếng cuối cùng. Thánh Giá – nơi sự chết tưởng như chiến thắng, nhưng tình yêu âm thầm chuẩn bị cho Phục Sinh. Thánh Giá – nơi Thiên Chúa đã tự mặc khải chính mình một cách tận cùng.
Và lời mặc khải cuối cùng ấy chỉ là một lời:
Thiên Chúa là Tình Yêu.
Lm. Anmai, CSsR

THIÊN CHÚA “CHẾT” TRÊN THÁNH GIÁ – MẦU NHIỆM SỰ TỰ HỦY CỦA NGÔI LỜI
Có những lúc người Kitô hữu đứng trước Thánh Giá thật lâu mà không còn biết phải nói gì. Những lời quen thuộc bỗng trở nên quá nhỏ. Những giải thích thần học dù chính xác đến đâu cũng dường như bất lực trước một cảnh tượng quá lớn lao: Đấng mà chúng ta tuyên xưng là Con Thiên Chúa lại bị treo giữa trời và đất như một người bị nguyền rủa; Đấng đã cho kẻ mù được thấy lại nhắm mắt trong cái chết; Đấng đã gọi Ladarô ra khỏi mồ lại được người ta đặt vào một ngôi mộ; Đấng đã làm cho biển lặng lại không làm cho những tiếng nhạo cười quanh mình im đi; Đấng chỉ cần một lời là quỷ dữ phải khuất phục lại để cho người ta trói tay, đánh đòn, đội mão gai, đóng đinh và đâm thủng cạnh sườn. Cái nghịch lý của Kitô giáo nằm ở đó. Chúng ta không thờ một Thiên Chúa đứng thật xa đau khổ của con người. Chúng ta cũng không tin vào một Thiên Chúa chỉ quan sát thế giới từ bên ngoài rồi ban xuống vài lời an ủi. Đức tin Kitô giáo dẫn chúng ta đến một nơi khủng khiếp hơn nhưng đồng thời cũng đẹp hơn mọi suy tưởng của con người: Thiên Chúa đã bước vào tận cùng thân phận chúng ta. Ngôi Lời đã làm người. Và Con Thiên Chúa làm người ấy đã thực sự đi vào đau khổ, thực sự đổ máu, thực sự hấp hối và thực sự chết trên Thánh Giá. Vì thế, khi nói “Thiên Chúa chết trên Thánh Giá”, người tín hữu không nói một câu giật gân, càng không có ý bảo rằng bản tính Thiên Chúa có thể bị tiêu diệt hay Thiên Chúa ngừng hiện hữu. Chúng ta đang đứng trước mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể: chính một Ngôi Vị thần linh, Ngôi Hai Thiên Chúa, đã mang lấy bản tính nhân loại trọn vẹn; và trong nhân tính ấy, Người thực sự nếm trải cái chết. Đấng chết trên đồi Golgotha không phải là một con người xa lạ được Thiên Chúa sử dụng như công cụ; đó chính là Con Một của Chúa Cha, là Ngôi Lời đã trở nên xác phàm. Vì thế Hội Thánh dám tuyên xưng một điều làm cho lý trí con người choáng váng: Đấng bị đóng đinh chính là “Đức Chúa của vinh quang”. Và chính nơi cái chết ấy, điều sâu xa nhất về Thiên Chúa lại được mặc khải: Thiên Chúa là Tình Yêu, một Tình Yêu không giữ mình lại, một Tình Yêu tự trao ban đến tận cùng.
Muốn hiểu Thánh Giá, có lẽ chúng ta phải bắt đầu từ một câu của thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Philípphê, một đoạn có thể được xem như cánh cửa bước vào mầu nhiệm tự hủy của Đức Kitô: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (x. Pl 2,6-8). Những chữ ấy đã được đọc biết bao lần trong phụng vụ, nhưng đọc chậm lại mới thấy kinh ngạc. Con đường của Đức Kitô là một con đường đi xuống. Từ Thiên Chúa đến con người. Từ Đấng giàu sang đến phận nghèo. Từ Đấng được các thiên thần phụng thờ đến một Hài Nhi nằm trong máng cỏ. Từ vị Thầy được dân chúng tung hô đến một tử tội bị đám đông gào lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!” Từ Đấng cầm quyền trên sự sống đến một thân xác bất động trong ngôi mộ. Cả cuộc đời Đức Giêsu là một chuyển động tự hạ, và Thánh Giá là đáy sâu nhất của chuyển động ấy.
“Tự hủy” không có nghĩa là Đức Kitô ngừng là Thiên Chúa. Ngôi Lời không vứt bỏ thần tính của mình để biến thành một con người thuần túy. Người vẫn là Con Thiên Chúa, đồng bản thể với Chúa Cha. Nhưng điều kỳ diệu là Người không sử dụng địa vị Thiên Chúa để tự bảo vệ mình khỏi thân phận con người. Người không nhập thể như một vị vua cải trang trong vài giờ rồi trở về cung điện. Người thật sự mang lấy nhân tính chúng ta. Người chấp nhận luật của một thân xác: biết đói, biết khát, biết mỏi mệt, biết đau, biết khóc, biết cô đơn, biết run sợ trước cái chết. Đức Giêsu không đóng kịch làm người. Người là người thật. Và bởi vì Người là người thật nên Người có thể đau thật, có thể chảy máu thật, có thể chết thật. Nhưng bởi vì người đang chịu đau và chịu chết ấy đồng thời là Ngôi Con vĩnh cửu, nên mỗi giọt máu trên Golgotha mang một chiều sâu mà không một cái chết nào khác có được. Không phải vì máu Đức Giêsu có một thành phần vật chất khác với máu chúng ta, nhưng vì chính Ngôi Vị đang trao ban sự sống ấy là Con Thiên Chúa. Thánh Giá vì thế vừa là nơi tận cùng của sự yếu đuối nhân loại vừa là nơi quyền năng thần linh tỏ lộ theo một cách hoàn toàn khác với những gì con người tưởng tượng về quyền năng.
Con người thường nghĩ quyền năng là không để ai chạm được vào mình. Có quyền là có khả năng tự bảo vệ, khả năng thắng người khác, khả năng bắt người khác phục vụ mình. Nhưng Đức Kitô cho chúng ta thấy quyền năng của Thiên Chúa theo một hướng ngược lại: quyền năng yêu đến mức có thể tự trao mình. Người không chiến thắng bằng cách bước xuống khỏi Thánh Giá; Người chiến thắng bằng việc ở lại trên Thánh Giá. Người không chứng minh mình là Con Thiên Chúa bằng việc gọi mười hai đạo binh thiên thần đến tiêu diệt kẻ thù; Người chứng minh mình là Con bằng việc vâng phục Chúa Cha và yêu con người đến cùng. Người không dùng sức mạnh để tránh vết thương; Người biến chính vết thương thành cửa ngõ của ơn cứu độ. Vì thế, Thánh Giá phá vỡ mọi ý niệm quá đơn giản của chúng ta về Thiên Chúa. Nếu chúng ta chỉ muốn một Thiên Chúa mạnh theo kiểu của thế gian, Golgotha sẽ là một điều gây vấp phạm. Nếu chúng ta chỉ muốn một Thiên Chúa làm phép lạ để mọi chuyện trong đời ta luôn thuận lợi, Thánh Giá sẽ làm chúng ta thất vọng. Nếu chúng ta chỉ muốn một Thiên Chúa khiến người lành không bao giờ phải đau khổ, Thánh Giá sẽ là một câu hỏi không dễ trả lời. Nhưng nếu chúng ta dám nhìn lâu hơn, sâu hơn, chúng ta sẽ khám phá ra rằng trên Thánh Giá không phải quyền năng của Thiên Chúa biến mất; quyền năng ấy đang mặc lấy khuôn mặt của tình yêu tự hiến.
Một trong những cảnh Tin Mừng diễn tả mầu nhiệm này cách đau đớn nhất nằm trong trình thuật cuộc thương khó theo thánh Máccô: “Vào giờ thứ chín, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: ‘Ê-lô-i, Ê-lô-i, la-ma xa-bác-tha-ni!’ nghĩa là: ‘Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?’” (Mc 15,34). Có lẽ không một lời nào từ môi Đức Giêsu khiến chúng ta bối rối bằng lời này. Người Con yêu dấu, Đấng vẫn gọi Thiên Chúa là Cha, giờ đây lại kêu giữa bóng tối: “Sao Ngài bỏ rơi con?” Nhưng chính tiếng kêu ấy cho thấy Người đã bước sâu đến mức nào vào vực thẳm của con người. Có những đau khổ của thể xác, nhưng cũng có thứ đau khổ đáng sợ hơn: cảm giác bị bỏ rơi. Bệnh tật đã đau, nhưng bệnh tật trong cô độc còn đau hơn. Thất bại đã đau, nhưng thất bại khi không còn ai tin mình còn đau hơn. Một người có thể chịu đựng rất nhiều nếu vẫn cảm thấy có ai đó ở bên; nhưng khi người ta thấy cả trời lẫn đất như đóng cửa, khi lời cầu nguyện dường như không còn lời đáp, khi Thiên Chúa tưởng như im lặng, khi những người thân yêu rời đi, đó là một bóng tối rất sâu. Và Đức Giêsu đã đi vào đó. Người không đứng ngoài vực sâu để gọi chúng ta leo lên. Người xuống tận đáy vực sâu ấy để gặp chúng ta.
Đêm trước đó trong vườn Ghếtsêmani, chúng ta đã thấy một Đức Giêsu rất khác với hình ảnh một anh hùng bất động trước đau đớn. Người nói với các môn đệ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được.” Người sấp mình xuống đất và cầu nguyện để nếu có thể, giờ ấy xa khỏi Người. Theo Luca, mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất. Đức Giêsu không yêu đau khổ vì đau khổ. Người không tìm Thánh Giá như một kẻ mê khổ hình. Người không bảo chúng ta rằng đau đớn tự nó là điều tốt. Chính Người xin Chúa Cha: “Nếu có thể, xin cất chén này khỏi con.” Nhưng rồi Người nói tiếp: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Đây là điểm vô cùng quan trọng để hiểu mầu nhiệm tự hủy. Tự hủy không phải là tự tiêu diệt mình. Tự hủy không phải là ghét bỏ bản thân. Tự hủy của Đức Kitô là tình yêu tự do đi đến tận cùng trong sự vâng phục. Người không bị một định mệnh mù quáng lôi tới Thánh Giá. Người trao ban chính mình. “Không ai lấy mạng sống của tôi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (Ga 10,18). Thánh Giá chỉ có ý nghĩa cứu độ bởi vì đó là hành vi tình yêu tự do. Nếu không có tình yêu, đau khổ chỉ là đau khổ. Nếu không có tự do, cái chết chỉ là cái chết. Nhưng trong Đức Kitô, đau khổ trở thành hiến lễ, cái chết trở thành sự trao ban, và Thánh Giá trở thành bàn thờ của tình yêu.
Đến đây ta mới hiểu tại sao trong trình thuật của thánh Gioan, trước khi trút hơi thở, Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất!” (Ga 19,30). Thật lạ lùng. Đứng dưới chân Thánh Giá, người đời có thể nói: “Thế là hết.” Một cuộc đời đã hết. Một phong trào đã hết. Những giấc mơ của các môn đệ đã hết. Người mà họ hy vọng sẽ cứu Israel đã chết. Kẻ thù đã thắng. Người ta đã đóng chiếc đinh cuối cùng vào mọi hy vọng. Nhưng Đức Giêsu không nói “thế là hết”; Người nói “thế là đã hoàn tất”. Hai cách nhìn chỉ cách nhau vài chữ nhưng cách nhau cả một vực thẳm đức tin. Với mắt người đời, Thánh Giá là kết thúc. Với mắt Thiên Chúa, Thánh Giá là sự hoàn tất của tình yêu. Đức Giêsu đã yêu “đến cùng” và bây giờ tình yêu ấy đạt tới tận cùng của việc tự trao ban. Không còn gì giữ lại. Hai tay bị đóng đinh nghĩa là chẳng còn giữ gì cho mình. Hai chân bị đóng đinh nghĩa là không còn chạy trốn. Trái tim bị đâm thâu nghĩa là đến cả nơi sâu thẳm nhất cũng được mở ra. Một Thiên Chúa không giữ lại điều gì cho mình: đó là điều chúng ta nhìn thấy nơi Đức Kitô chịu đóng đinh.
Có lẽ chúng ta đã quen nhìn Thánh Giá đến mức không còn thấy sự kinh khủng của nó. Thánh Giá treo trong nhà thờ, trong phòng khách, trên bàn thờ, nơi đầu giường; người ta đeo Thánh Giá bằng vàng, bằng bạc, bằng gỗ trên cổ. Nhưng vào thế kỷ thứ nhất, thập giá không phải đồ trang sức. Nó là khí cụ hành hình dành cho những người bị xem là thấp hèn và nguy hiểm. Người bị đóng đinh không chỉ bị giết; họ còn bị làm nhục trước công chúng. Thập giá muốn nói với mọi người: đây là một kẻ thất bại, một kẻ bị loại trừ, một con người không còn danh dự. Thế mà Thiên Chúa lại chọn chính nơi ấy để cứu thế giới. Đây là nghịch lý sâu xa của Tin Mừng. Người ta tìm Thiên Chúa trên những ngai vàng; Người xuất hiện trên Thánh Giá. Người ta tìm Thiên Chúa trong những gì huy hoàng; Người ẩn mình trong một thân xác đầy thương tích. Người ta nghĩ Thiên Chúa phải được nhận ra bởi những kẻ quyền thế; nhưng dưới chân Thánh Giá, người nhận ra Người lại là một viên đại đội trưởng ngoại giáo: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa.” Chính lúc Đức Giêsu dường như không còn gì giống với hình dung của loài người về Thiên Chúa, căn tính của Người lại được tuyên xưng. Thật nghịch lý: vinh quang của Thiên Chúa tỏ lộ trong sự hạ mình; sức mạnh của Thiên Chúa tỏ lộ trong sự yếu đuối; chiến thắng của Thiên Chúa tỏ lộ qua một cái chết; sự sống của Thiên Chúa chạm đến chúng ta qua một thân xác bị nghiền nát.
Nhưng phải rất cẩn thận khi nói đến “Thiên Chúa chết”. Chúng ta không thể nói cách đơn giản rằng Ba Ngôi Thiên Chúa chết trên Thánh Giá. Chúa Cha không nhập thể và không chịu đóng đinh. Chúa Thánh Thần không nhập thể và không chịu đóng đinh. Chính Ngôi Con đã làm người, và Ngôi Con ấy thực sự chịu chết theo nhân tính. Đồng thời, chúng ta cũng không được chia Đức Giêsu thành hai người, một người thần linh đứng xa và một người nhân loại chịu đau thay. Chỉ có một Ngôi Vị duy nhất: Con Thiên Chúa. Người Con ấy có thần tính thật và nhân tính thật. Chính vì sự hiệp nhất này mà Hội Thánh có thể nói Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa: không phải vì Mẹ sinh ra thần tính, nhưng vì Đấng Mẹ sinh ra chính là một Ngôi Vị thần linh. Cũng theo cùng một nguyên tắc ấy, chúng ta có thể nói Con Thiên Chúa chịu đau khổ, Con Thiên Chúa bị đóng đinh, Con Thiên Chúa chết, bởi chính Ngôi Con trải qua những điều ấy trong bản tính nhân loại mà Người đã thực sự nhận lấy. Đây không phải trò chơi chữ của thần học; đây chính là nền tảng hy vọng của chúng ta. Nếu trên Thánh Giá chỉ có một con người bị Thiên Chúa bỏ mặc, thì chúng ta vẫn cô độc trước đau khổ. Nhưng nếu người đang ở trên Thánh Giá chính là Emmanuel, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, thì từ đó không còn vực sâu nào của con người mà Thiên Chúa chưa bước vào.
Ngôi Lời đã không cứu chúng ta bằng cách đứng ngoài thân phận chúng ta. Người cứu từ bên trong. Người không chỉ cứu những ngày tươi sáng của đời người, mà Người đi vào cả đêm tối. Người không chỉ thánh hóa niềm vui của một tiệc cưới Cana; Người còn bước vào nước mắt của Bêtania. Người không chỉ chạm vào người khỏe mạnh; Người chạm vào người phong cùi. Người không chỉ ngồi với người đạo đức; Người ăn với người tội lỗi. Người không chỉ đón trẻ nhỏ; Người còn đứng cạnh những kẻ bị xã hội khinh bỉ. Người không chỉ hiện diện lúc con người sống; Người đi vào chính cái chết. Ngôi Lời đã làm người nghĩa là Thiên Chúa không còn xa lạ với bất kỳ phần nào của kiếp người ngoại trừ tội lỗi. Và khi Con Thiên Chúa bước vào cái chết, cái chết cũng không còn là vùng đất Thiên Chúa vắng mặt.
Chúng ta thường hỏi: “Chúa ở đâu khi tôi đau?” Câu hỏi ấy không sai. Có những đau khổ khiến người ta không thể không hỏi. Một người mẹ nhìn con mình hấp hối có thể hỏi. Một người mất tất cả sau một biến cố có thể hỏi. Một người bị phản bội sau bao năm sống trung thành có thể hỏi. Một người cầu nguyện nhiều năm mà bệnh tật không thuyên giảm có thể hỏi. Một người sống tử tế nhưng liên tục gặp bất công có thể hỏi. “Chúa ở đâu?” Kitô giáo không luôn cho chúng ta một công thức giải thích vì sao điều này hay điều kia xảy ra. Có những đau khổ không thể giải thích trọn vẹn bằng vài câu đạo đức. Nhưng Kitô giáo cho chúng ta một câu trả lời khác, có lẽ sâu hơn: Chúa ở trên Thánh Giá. Chúa ở nơi con người đau. Không phải mọi đau khổ đều do Chúa gửi đến. Không phải mọi bi kịch đều có thể được giản lược thành câu “ý Chúa”. Có những đau khổ là hậu quả của tội lỗi con người, có những đau khổ đến từ giới hạn của thế giới thụ tạo, có những điều vẫn là bí ẩn. Nhưng nơi Đức Kitô chịu đóng đinh, Thiên Chúa nói với chúng ta: “Con không đau một mình.” Người không giải thích nỗi đau từ xa; Người mang lấy nó.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa người đứng ngoài bệnh viện nói với bệnh nhân rằng “hãy can đảm lên” và người bước vào phòng bệnh, nắm lấy tay bệnh nhân rồi ngồi đó suốt đêm. Thánh Giá chính là việc Thiên Chúa “ngồi lại suốt đêm” với nhân loại. Không một lời giải thích rẻ tiền. Không một sự an ủi hời hợt. Thiên Chúa bước vào đêm tối ấy bằng chính thân xác Người. Những chiếc đinh trả lời theo cách riêng của chúng. Mão gai trả lời. Cạnh sườn bị đâm trả lời. Tiếng kêu “Ta khát” trả lời. Và sau cùng, ngôi mộ trả lời: Thiên Chúa đã đi hết con đường của một con người phải chết.
Nhưng mầu nhiệm tự hủy còn sâu hơn đau khổ thể lý. Đức Giêsu không chỉ mất máu; Người chấp nhận mất danh dự. Người bị lột áo. Bị khạc nhổ. Bị chế giễu. Người ta quỳ trước mặt Người không phải để thờ lạy mà để nhạo báng. Họ đội cho Người một vương miện bằng gai và khoác áo choàng như một trò cười cay độc. Đấng vốn được thiên thần tung hô lại nghe những tiếng sỉ nhục. Đấng biết lòng người lại bị xét xử bởi những kẻ không hiểu Người. Đấng là Sự Thật bị kết án bởi lời chứng gian. Đấng vô tội bị đặt cạnh Baraba và đám đông chọn Baraba. Có những nỗi đau của con người không nằm trên da thịt mà nằm trong danh dự bị nghiền nát, lòng tin bị phản bội, tình thương bị khước từ. Đức Giêsu cũng đi vào những nỗi đau ấy.
Giuđa phản bội bằng một nụ hôn. Phêrô chối Thầy ba lần. Các môn đệ bỏ chạy. Dân chúng từng tung hô “Hoan hô Con vua Đavít” nay lại có người la lên “Đóng đinh nó đi”. Một cuộc khổ nạn không chỉ có đinh và roi; còn có những trái tim thay đổi, những lời hứa bị quên, những người thân biến mất khi hoạn nạn xảy đến. Nhiều khi vết thương sâu nhất trong đời chúng ta cũng không đến từ người xa lạ mà từ người mình từng tin tưởng. Đức Giêsu biết điều đó. Không phải biết như Thiên Chúa biết mọi sự từ trời cao, nhưng Người đã nếm điều ấy trong trái tim con người của Người. Vì thế, một người từng bị phản bội có thể đến trước Thánh Giá và nói: “Chúa hiểu con.” Một người từng bị bạn bè bỏ rơi có thể nói: “Chúa hiểu con.” Một người bị vu oan, bị kết án sai, bị người đời khinh rẻ có thể nói: “Chúa hiểu con.” Không phải vì Đức Giêsu đã trải qua mọi chi tiết giống đời ta, nhưng bởi Người đã bước vào chiều sâu của sự tổn thương nhân loại.
Điều kinh ngạc hơn nữa là Người không đáp lại bạo lực bằng bạo lực. Trong vườn Cây Dầu, khi một môn đệ dùng gươm chém đứt tai người đầy tớ của thượng tế, Đức Giêsu bảo cất gươm đi. Người chữa cả vết thương của kẻ đến bắt mình. Trên Thánh Giá, Người cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Đây là tự hủy ở tầng sâu của tình yêu: không để sự dữ biến mình thành kẻ dữ. Đức Giêsu bị xúc phạm nhưng không trở thành người xúc phạm. Bị thù ghét nhưng không học cách thù ghét. Bị giết nhưng không giết lại. Người mang vào chính mình toàn bộ bạo lực mà không trao bạo lực ấy sang một người khác. Nơi Người, chuỗi dây chuyền trả đũa bị chặn lại. Thế gian nói: “Nó làm tôi đau, tôi sẽ làm nó đau hơn.” Thánh Giá nói: “Dừng lại ở đây.” Tình yêu của Đức Kitô nhận lấy vết thương nhưng không sinh thêm vết thương. Đó là sự chiến thắng mà người đời khó hiểu.
Chúng ta phải thú nhận rằng có những lúc mình thích một Thiên Chúa dùng quyền lực mạnh tay hơn. Ta muốn Chúa lập tức trừng phạt kẻ xấu, bênh vực người tốt, làm cho người chống ta phải xấu hổ. Ta thích một phép lạ khiến mọi người biết mình đúng. Nhưng nhìn Đức Giêsu trên Thánh Giá, chúng ta thấy Thiên Chúa không cứu thế giới bằng cách sao chép logic của thế giới. Nếu Người đánh bại bạo lực bằng một bạo lực mạnh hơn, chỉ kẻ mạnh hơn thắng; bạo lực vẫn còn nguyên. Nếu Người đánh bại thù hận bằng một thù hận lớn hơn, thù hận vẫn là vua. Nhưng Người đã thắng bằng tình yêu. Người cho thấy có một sức mạnh mà cái ác không thể tạo ra: sức mạnh tha thứ. Có một quyền lực mà quân đội không thể sản xuất: quyền lực của một tình yêu chấp nhận chết thay vì thôi yêu.
Chính điều ấy giúp chúng ta hiểu thêm về từ “tự hủy”. Đức Giêsu không tự hủy vì Người nghĩ mình không đáng giá. Trái lại, Người biết rất rõ mình là ai: “Chúa Cha yêu mến tôi.” Chỉ người biết mình được yêu mới có thể trao chính mình một cách tự do. Tự hủy Kitô giáo hoàn toàn khác với tự khinh miệt. Khiêm nhường hoàn toàn khác với mặc cảm tự ti. Từ bỏ mình hoàn toàn khác với để người khác chà đạp phẩm giá. Chúng ta phải nói điều này thật rõ, bởi có lúc người ta đã dùng ngôn ngữ Thánh Giá để buộc một người tiếp tục chịu bạo hành, dùng chữ “hy sinh” để bảo người yếu thế cứ im lặng trước bất công, dùng lời “vâng phục” để che đậy lạm dụng quyền lực. Đó không phải là Thánh Giá của Đức Kitô. Đức Giêsu tự hiến trong tự do và trong tình yêu. Người có thể nói sự thật với những kẻ đạo đức giả. Người bảo vệ người phụ nữ bị kéo đến để ném đá. Người lật bàn của những kẻ biến Đền Thờ thành nơi buôn bán. Người không thỏa hiệp với sự dữ. Vì thế, sống mầu nhiệm tự hủy không phải là coi mình không có giá trị; đó là không biến chính mình thành trung tâm tuyệt đối. Không phải là để sự ác muốn làm gì thì làm; đó là chiến thắng sự ác mà không trở thành giống sự ác.
Thế gian dạy chúng ta phải xây cái tôi thật lớn. Đức Kitô dạy ta làm cho trái tim thật lớn. Hai điều rất khác nhau. Cái tôi càng lớn, người khác càng phải nhỏ đi để mình đứng cao. Trái tim càng lớn, càng có chỗ cho người khác. Cái tôi hỏi: “Tôi được gì?” Tình yêu hỏi: “Tôi có thể trao gì?” Cái tôi tìm vị trí đầu tiên. Đức Giêsu quỳ xuống rửa chân cho môn đệ. Cái tôi muốn được phục vụ. Con Người đến “không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người”. Cái tôi sợ mất mình. Tin Mừng lại nói một nghịch lý: “Ai liều mất mạng sống mình vì Thầy và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy.” Không phải vì Thiên Chúa thích chúng ta mất mát, nhưng vì con người chỉ thật sự tìm thấy mình khi ra khỏi nhà tù của ích kỷ.
Hãy nhìn Đức Giêsu trong bữa Tiệc Ly. Thánh Gioan viết rằng Người biết Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người biết mình từ Thiên Chúa mà đến và sắp trở về cùng Thiên Chúa. Chính lúc ý thức rõ quyền bính của mình, Người đứng dậy, cởi áo ngoài, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu và rửa chân cho môn đệ. Một Thiên Chúa quỳ xuống. Chỉ cần dừng lại ở hình ảnh đó cũng đủ cho một đời suy niệm. Người quỳ cả trước chân Phêrô, người vài giờ sau sẽ chối mình. Người quỳ trước những môn đệ sẽ bỏ chạy. Và theo mạch trình thuật, Người biết Giuđa phản bội. Tình yêu của Người không xuất phát từ ảo tưởng rằng người khác hoàn hảo; Người yêu họ trong sự yếu đuối của họ. Sau đó, trên Thánh Giá, điều Người diễn tả bằng chậu nước được hoàn tất bằng máu và nước từ cạnh sườn. Từ căn phòng Tiệc Ly đến Golgotha chỉ là một chuyển động duy nhất: Thiên Chúa cúi xuống.
Cả lịch sử cứu độ thực ra là câu chuyện của một Thiên Chúa cúi xuống. Người nghe tiếng dân Israel kêu than ở Ai Cập. Người đi tìm Adam đang trốn trong vườn: “Ngươi ở đâu?” Người sai các ngôn sứ. Rồi khi thời gian tới hồi viên mãn, Người không chỉ sai một sứ giả; Người sai chính Con mình. Ngôi Lời không cứu chúng ta bằng một thông điệp gửi từ xa. “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.” Một thai nhi trong lòng Đức Maria. Một hài nhi cần được bế. Một đứa trẻ phải chạy trốn sang Ai Cập. Một người thợ tại Nadarét. Một người lữ hành mỏi chân bên giếng Giacóp. Một vị Thầy khóc trước mộ bạn mình. Và cuối cùng một tử tội trên cây Thánh Giá. Có thể nói mầu nhiệm Nhập Thể đã chứa sẵn hướng đi của Thánh Giá: một khi Thiên Chúa đã quyết định yêu chúng ta bằng cách thực sự đi vào thân phận chúng ta, Người sẽ đi vào đó cho đến cùng.
Bêlem và Golgotha vì thế không xa nhau. Ở Bêlem, Ngôi Lời đã không có chỗ trong quán trọ; ở Golgotha, Người bị đẩy ra ngoài thành. Ở Bêlem, thân mình Người được Đức Maria quấn trong khăn; sau Golgotha, thân xác Người lại được quấn trong khăn liệm. Ở Bêlem, Người nằm trong máng cỏ; sau Thánh Giá, Người nằm trong mồ đá. Bêlem là sự nghèo khó của Thiên Chúa vừa bước vào đời; Golgotha là sự nghèo khó của Thiên Chúa đã trao đi tất cả. Hai nơi ấy cùng nói một điều: Thiên Chúa cứu chúng ta không từ trên cao bằng sự áp đặt, mà từ bên dưới bằng sự gần gũi.
Chúng ta cũng không thể tách Thánh Giá khỏi toàn bộ cách sống của Đức Giêsu. Người chết như Người đã sống. Cả cuộc đời Người đã là tấm bánh bẻ ra. Khi đám đông đói, Người nói với các môn đệ: “Anh em hãy cho họ ăn.” Khi người phong cùi đến, Người đưa tay chạm đến. Khi bà góa Nain mất con, Người chạnh lòng thương. Khi Maria Mađalêna khóc, Người gọi tên bà. Khi Giakêu bị người đời khinh, Người vào nhà ông. Khi người trộm lành trên Thánh Giá chỉ còn vài giờ sống, Người mở cho anh một cánh cửa hy vọng: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Cho đến những phút cuối cùng, Đức Giêsu vẫn là Đấng sống cho người khác. Người bị đóng đinh nhưng vẫn nghĩ đến Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Người đang hấp hối nhưng vẫn mở lòng với kẻ tội lỗi bên cạnh. Người bị giết nhưng vẫn cầu xin cho những người giết mình. Khi không còn đi được nữa, Người yêu bằng sự hiện diện. Khi không còn bàn tay tự do để chữa bệnh, Người yêu bằng đôi tay bị đóng đinh. Khi gần như không còn hơi thở, Người dùng hơi thở cuối cùng để phó mình vào tay Chúa Cha. Thánh Giá không phải một tai nạn chen ngang sứ mạng Đức Giêsu; Thánh Giá là sự biểu lộ triệt để điều Người đã sống từ đầu: một đời hoàn toàn cho Chúa Cha và cho con người.
Trong ánh sáng ấy, chúng ta mới hiểu Bí tích Thánh Thể sâu hơn. “Này là Mình Thầy, bị nộp vì anh em… Này là Máu Thầy, đổ ra vì anh em.” Trước khi thân thể bị bẻ nát trên Thánh Giá, Đức Giêsu đã tự trao mình dưới hình bánh. Người cầm lấy bánh, bẻ ra và trao đi. Cuộc đời Người nằm trong bốn động từ rất đơn giản: được cầm lấy, được chúc tụng, được bẻ ra, được trao đi. Chúng ta muốn được Chúa cầm lấy và chúc phúc, nhưng thường không muốn bị bẻ ra và trao đi. Ta muốn được chữa lành nhưng không muốn trở thành bánh cho người khác. Ta muốn được yêu nhưng ít khi muốn yêu đến khi phải trả giá. Nhưng Thánh Thể và Thánh Giá không cho phép Kitô giáo trở thành một thứ đạo đức chỉ để tìm cảm giác bình an riêng tư. Người rước lấy Đấng đã tự hiến được mời gọi trở thành người biết tự hiến.
Thánh Phaolô đã đi rất sâu vào điều này khi nói: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” Đây chính là hoa trái của mầu nhiệm tự hủy trong đời người môn đệ. Kitô hữu không bị xóa mất cá tính. Đức Kitô không biến chúng ta thành những con người giống nhau. Nhưng cái tôi không còn giữ ngai vàng. Chúa trở thành trung tâm. Và khi Chúa là trung tâm, ta mới có thể yêu đúng cách. Nhiều đau khổ trong gia đình, cộng đoàn và Giáo Hội không hẳn đến từ việc chúng ta thiếu tài năng, nhưng vì cái tôi quá lớn. Ta muốn lời mình phải được nghe. Ý mình phải được theo. Công lao mình phải được nhìn nhận. Người ta phải biết mình hy sinh. Người khác phải cảm ơn. Ta làm điều tốt nhưng bên dưới lại muốn được ca ngợi. Ta phục vụ nhưng buồn khi không được nhắc tên. Ta rao giảng Tin Mừng nhưng đôi khi lại muốn người ta nhớ đến người giảng hơn nhớ đến Đức Kitô. Thánh Giá đặt tất cả chúng ta trước một cuộc xét mình rất thật: tôi đang phục vụ Thiên Chúa hay đang dùng việc của Thiên Chúa để phục vụ cái tôi của mình?
Ngôi Lời tự hủy không phải để chúng ta ngưỡng mộ từ xa. Người nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” “Từ bỏ mình” không có nghĩa là ghét chính mình. Nó nghĩa là thôi coi bản thân như thước đo của mọi sự. Trong đời thường, tự hủy có thể rất âm thầm. Một người mẹ thức khuya bên đứa con bệnh, không ai thấy. Một người cha đi làm mệt nhưng về vẫn kiên nhẫn với gia đình. Một người vợ chọn im đi một lời cay độc để giữ khỏi làm tổn thương chồng. Một người chồng dẹp lòng tự ái để nói “anh xin lỗi”. Một người con chăm sóc cha mẹ già dù phải hy sinh nhiều dự định. Một linh mục đến với bệnh nhân dù ngày hôm ấy đã kiệt sức. Một tu sĩ âm thầm nhận phần việc chẳng ai thích. Một giáo dân chọn sống ngay thẳng dù có thể mất lợi ích. Một người bị xúc phạm nhưng quyết định không bêu xấu người kia trên mạng xã hội. Một người có quyền nhưng không dùng quyền để nghiền người yếu hơn. Những điều ấy có thể không xuất hiện trên báo chí, nhưng chúng mang dáng của Thánh Giá.
Thánh Giá thực sự bắt đầu nhiều khi ở một chữ “không”: không trả đũa, không nuôi hận, không nói lời mình biết sẽ làm người kia đau, không sử dụng người khác cho lợi ích riêng, không biến chức vụ thành ngai vàng, không để tiền bạc mua lương tâm, không để nỗi tổn thương của mình trở thành lý do làm tổn thương người khác. Và rồi Thánh Giá cũng bắt đầu bằng những chữ “có”: có với bổn phận, có với sự thật, có với người nghèo, có với sự tha thứ, có với những công việc không ai nhìn thấy, có với Thiên Chúa ngay cả khi không cảm thấy gì. “Xin vâng” của Đức Maria dưới chân Thánh Giá là sự tiếp nối của “xin vâng” tại Nadarét. Những tiếng “xin vâng” lớn lao trong đời được hình thành từ hàng ngàn tiếng “xin vâng” nhỏ mỗi ngày.
Nhưng sẽ là sai lầm nếu chúng ta biến mầu nhiệm tự hủy thành một kỹ thuật đạo đức, như thể cứ cố gắng hy sinh càng nhiều thì càng thánh thiện. Cội nguồn của tự hiến Kitô giáo không phải sức mạnh ý chí mà là kinh nghiệm mình được yêu. “Chúng ta yêu vì Thiên Chúa đã yêu chúng ta trước.” Người nào chưa tin rằng mình được yêu rất dễ biến hy sinh thành một cách mua tình yêu. Họ phục vụ để được chấp nhận. Họ cho đi để được khen. Họ chịu đựng để mong Thiên Chúa trả công. Nhưng Đức Giêsu tự hiến từ sự hiệp thông sâu xa với Chúa Cha. Người biết mình là Con yêu dấu. Tại sông Giođan, trước khi làm bất kỳ phép lạ lớn lao nào, tiếng Chúa Cha đã vang lên: “Đây là Con yêu dấu của Ta.” Căn tính đi trước sứ vụ. Được yêu đi trước hy sinh. Chúng ta cũng vậy. Nếu không biết mình là con cái được yêu, những thập giá sẽ dễ nghiền nát ta. Nhưng khi biết rằng mình thuộc về Thiên Chúa, hy sinh không còn là việc chứng minh giá trị; nó trở thành câu trả lời của tình yêu.
Một đứa trẻ được yêu không cần làm việc để kiếm quyền làm con. Nó làm điều tốt bởi nó đã thuộc về gia đình. Người Kitô hữu cũng thế. Ta không vác Thánh Giá để buộc Thiên Chúa yêu ta. Ta vác Thánh Giá bởi vì trong Đức Kitô chịu đóng đinh, ta đã thấy mình được yêu đến mức nào. “Người đã yêu tôi và hiến mạng vì tôi” – thánh Phaolô không nói chung chung rằng Đức Kitô yêu nhân loại; ông dám nói “yêu tôi”. Đức tin trở nên sống động khi mỗi người có thể đứng trước Thánh Giá và nhận ra: tình yêu này liên quan đến tôi. Những bàn tay kia bị đóng đinh vì tình yêu dành cho tôi. Trái tim kia bị đâm thâu không phải cho một đám đông vô danh nhưng cho tôi, một người có tên, có lịch sử, có những tội lỗi, những thất bại, những vùng tối mà chỉ mình Chúa biết. Và nếu Người đã yêu tôi như thế, cuộc đời tôi không còn có thể sống chỉ cho tôi.
Có lẽ một trong những căn bệnh của thời đại chúng ta là con người muốn giữ mình bằng mọi giá nhưng cuối cùng lại đánh mất mình. Ta bảo vệ thời gian của mình, quyền lợi của mình, hình ảnh của mình, sự thoải mái của mình, vị trí của mình. Ta dựng nhiều bức tường để không bị tổn thương. Nhưng rồi một ngày nhận ra mình đã trở nên rất cô độc. Tình yêu luôn có yếu tố tự hủy bởi yêu nghĩa là mở cửa cho một người khác bước vào đời mình. Người không bao giờ muốn bị làm phiền sẽ không thể yêu sâu. Người chỉ muốn được lợi sẽ không thể xây dựng gia đình. Người chỉ muốn giữ tự do cho riêng mình sẽ không hiểu giao ước. Người luôn hỏi “điều này có lợi gì cho tôi?” sẽ khó hiểu Tin Mừng. Tình yêu luôn khiến ta mất một cái gì đó: mất thời gian, mất tiện nghi, mất quyền luôn đúng, đôi khi mất cả những kế hoạch ta yêu thích. Nhưng nghịch lý là chính khi mất như vậy, con người lại trở nên phong phú.
Hạt lúa là hình ảnh Đức Giêsu dùng cho mầu nhiệm ấy: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.” Hạt lúa được giữ mãi trong lòng bàn tay có thể rất đẹp, rất nguyên vẹn, rất an toàn, nhưng nó vô sinh. Chỉ khi bị chôn vào đất, khi lớp vỏ vỡ ra, sự sống mới bung lên. Đức Giêsu chính là Hạt Lúa thần linh rơi vào lòng đất của nhân loại. Người chấp nhận bị vùi trong cái chết để mở ra mùa gặt của sự sống. Ngôi mộ trở thành thửa đất nơi sự sống mới nảy mầm. Vì thế, tự hủy trong Kitô giáo không bao giờ kết thúc ở sự hủy diệt. Nó hướng tới Phục Sinh. Thánh Giá không phải lời cuối cùng.
Điều này rất quan trọng. Nếu chỉ có Thánh Giá mà không có Phục Sinh, Kitô giáo chỉ là tôn giáo của thất bại. Nếu chỉ nói chết đi mà không nói sống lại, chúng ta dễ biến Tin Mừng thành một thứ tôn vinh đau khổ. Nhưng Đức Giêsu tự hạ “cho đến chết”, và vì thế “Thiên Chúa đã siêu tôn Người”. Bài thánh thi Philípphê không dừng ở câu “chết trên cây thập tự”; nó đi tiếp: “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.” Con đường đi xuống dẫn tới sự nâng lên. Thứ Sáu Tuần Thánh hướng về sáng Phục Sinh. Ngôi mộ không giữ nổi Đấng là Sự Sống. Tình yêu đã đi vào cái chết và làm nổ tung cái chết từ bên trong.
Bởi thế, người Kitô hữu không tìm Thánh Giá vì muốn chết; họ đón nhận Thánh Giá vì tin vào sự sống. Tử đạo Kitô giáo không phải là yêu cái chết; đó là yêu Đức Kitô hơn sự sống trần thế. Hy sinh không phải là khinh thường niềm vui; chính vì tin có một niềm vui lớn hơn mà người ta có thể từ bỏ một niềm vui nhỏ. Khi một người cha hy sinh thú vui riêng để dành thời gian cho con, ông không chống lại hạnh phúc; ông chọn một hạnh phúc sâu hơn. Khi người trẻ từ bỏ một mối quan hệ sai trái dù đau đớn, họ không ghét tình yêu; họ tin tình yêu thật đáng giá hơn. Khi một tu sĩ từ bỏ đời sống gia đình, họ không khinh gia đình; họ trao khả năng yêu của mình cho một lời gọi khác. Khi một người tha thứ, họ không nói vết thương không đáng kể; họ quyết định không cho vết thương quyền cai trị tương lai. Tự hủy của Tin Mừng luôn là sự từ bỏ để yêu lớn hơn.
Trên Thánh Giá, Đức Giêsu cũng mặc khải một điều mà con người rất khó chấp nhận: Thiên Chúa không cứu chúng ta bằng việc loại bỏ ngay mọi yếu đuối, nhưng có khi bằng việc biến yếu đuối thành nơi ân sủng hoạt động. Phaolô đã cầu xin nhiều lần để một “cái dằm” được lấy khỏi mình, nhưng ông nghe: “Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” Chúng ta thường chỉ muốn Chúa làm cho mình mạnh lên theo nghĩa không còn đau, không còn sợ, không còn thiếu thốn. Nhưng đôi lúc phép lạ lớn hơn là một con người vẫn yêu dù đang đau, vẫn trung thành dù không được an ủi, vẫn hy vọng dù chưa thấy lối ra. Thánh Giá cho thấy sự yếu đuối không nhất thiết là nơi Thiên Chúa vắng mặt. Có lúc chính đó lại là nơi Người gần nhất.
Hãy nghĩ đến Mẹ Maria dưới chân Thánh Giá. Mẹ không làm phép lạ. Không tháo được những chiếc đinh. Không khiến binh lính dừng tay. Không cứu Con khỏi cái chết. Mẹ chỉ đứng đó. Nhưng có những lúc đứng lại là hành vi yêu thương lớn nhất. Khi không thể sửa chữa tình hình, ta vẫn có thể không bỏ người đau khổ một mình. Bao nhiêu người chăm sóc bệnh nhân hiểu điều này. Có những giai đoạn y khoa không còn chữa được, nhưng tình yêu vẫn còn việc phải làm. Nắm tay. Lau mặt. Ngồi bên giường. Lắng nghe. Đọc một lời kinh. Không trốn khỏi đau khổ của người mình yêu. Maria không cứu Đức Giêsu khỏi Thánh Giá, nhưng Mẹ không để Người chịu Thánh Giá mà vắng tình mẹ. Và bên cạnh Mẹ là người môn đệ Chúa yêu. Một cộng đoàn mới được sinh ra dưới chân Thánh Giá: “Đây là con của Bà… Đây là Mẹ của anh.” Chính khi sự chết tưởng như đang chia cắt mọi sự, Đức Giêsu lại tạo nên một gia đình.
Từ cạnh sườn Người, máu và nước chảy ra. Hội Thánh từ lâu đã suy niệm hình ảnh ấy như dấu chỉ của các bí tích và của Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô. Adam xưa ngủ và Eva được hình thành từ cạnh sườn ông; Đức Kitô, Adam mới, ngủ trong cái chết và từ cạnh sườn bị mở ra, một nhân loại mới được sinh ra. Cái chết vốn là nơi đóng lại nay trở thành nơi khai mở. Vết thương trở thành cánh cửa. Có lẽ đây là một trong những biểu tượng đẹp nhất của Kitô giáo: Thiên Chúa cứu thế gian qua một Trái Tim bị đâm thủng. Người không cứu chúng ta bằng một trái tim bọc thép mà bằng một trái tim có thể bị thương.
Điều đó cũng nói một lời rất mạnh với chúng ta. Nhiều người sau khi bị tổn thương quyết định sẽ không bao giờ để ai đến gần nữa. Họ xây tường. “Tôi sẽ không tin ai nữa.” “Tôi sẽ không yêu nữa.” “Tôi sẽ không để mình yếu đuối nữa.” Ta nghĩ như vậy sẽ không bị đau. Có thể đúng một phần: không mở trái tim thì khó bị đâm. Nhưng trái tim đóng kín cũng không còn trao tình yêu được nữa. Đức Kitô phục sinh vẫn mang các vết thương. Thật kỳ lạ: sau Phục Sinh, Người có thể làm thân xác mình vinh hiển, nhưng các dấu đinh vẫn còn. Người nói với Tôma: “Đặt ngón tay vào đây và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy.” Vết thương không biến mất; nó được biến đổi. Nó không còn là bằng chứng chiến thắng của sự dữ, mà trở thành dấu chỉ chiến thắng của tình yêu.
Đó là niềm hy vọng cho những người mang những vết thương không thể xóa khỏi lịch sử đời mình. Có những chuyện ta ước chưa bao giờ xảy ra, nhưng chúng đã xảy ra. Có những mất mát không thể đảo ngược. Có người đã chết và không trở lại với ta trong đời này. Có một tuổi thơ đã qua. Có một lời đã nói không thể thu hồi hoàn toàn. Có một sự phản bội để lại dấu. Kitô giáo không hứa rằng lịch sử của ta sẽ bị xóa để như chưa từng đau. Phục Sinh không xóa các dấu đinh. Nhưng ân sủng có thể biến ý nghĩa của những dấu đinh. Vết thương có thể trở thành nơi ta biết cảm thông. Người từng được tha thứ có thể trở thành người biết tha thứ. Người từng trải qua bóng tối có thể nhận ra người khác đang ở trong bóng tối. Người từng được Chúa nâng khỏi vực sâu có thể cúi xuống với người đang ngã. Không phải vì đau khổ tự nó tốt, nhưng vì Thiên Chúa có thể làm nảy sinh sự sống ngay cả từ nơi sự dữ tưởng đã chiến thắng.
Mầu nhiệm tự hủy của Ngôi Lời còn là một lời chất vấn nghiêm khắc đối với quyền bính trong Hội Thánh. Nếu Đầu của Hội Thánh đội mão gai, những người có trách nhiệm trong Hội Thánh không thể coi chức vụ như một chiếc ngai để mình được tôn lên. Nếu Thầy quỳ xuống rửa chân, môn đệ không thể đòi người khác quỳ trước mình. Nếu Đức Kitô “trút bỏ mình”, bất cứ quyền lực nào dùng danh Chúa để làm phình to cái tôi đều đã đi ngược với Thánh Giá. Quyền bính Kitô giáo chỉ còn đúng nghĩa khi nó mang hình dáng phục vụ. Càng được trao trách nhiệm lớn càng phải biết cúi thấp. Càng được người khác kính trọng càng phải cảnh giác với cơn khát được tôn vinh. Càng đứng trên bục giảng càng phải nhớ Đấng mình rao giảng từng bị treo trên cây gỗ bên ngoài thành.
Đối với người linh mục, Thánh Giá là một tấm gương không dễ nhìn. Ngày chịu chức, linh mục nằm phủ phục xuống nền nhà thờ. Hình ảnh ấy đẹp, nhưng nó không thể chỉ tồn tại vài phút trong nghi thức. Cả đời linh mục phải học nằm xuống: để ý riêng nằm xuống trước Tin Mừng; để tham vọng nằm xuống trước sứ mạng; để cái tôi nằm xuống trước đoàn chiên; để nhu cầu được khen nằm xuống trước sự thật; để những tính toán cá nhân nằm xuống trước tiếng gọi của những người nghèo và đau khổ. Không phải để linh mục trở thành người không có cá tính, nhưng để nơi đời linh mục, dung mạo Đức Kitô nổi lên rõ hơn. Thánh Gioan Tẩy Giả đã nói một câu mà bất cứ người rao giảng nào cũng cần mang trong tim: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Đó là linh đạo tự hủy của người phục vụ Tin Mừng.
Nhưng chính giáo dân giữa đời cũng sống cùng mầu nhiệm ấy. Một Kitô hữu làm kinh doanh tự hủy khi từ bỏ món lợi bất chính dù chẳng ai biết. Người làm công quyền tự hủy khi không sử dụng quyền hạn để phục vụ phe nhóm. Một bác sĩ tự hủy khi nhìn bệnh nhân như con người chứ không như hồ sơ. Một giáo viên tự hủy khi kiên nhẫn với học sinh yếu mà không được ai khen. Một người dùng mạng xã hội tự hủy khi từ bỏ khoái cảm hạ nhục người khác chỉ để chứng minh mình đúng. Một gia đình sống mầu nhiệm Thánh Giá khi các thành viên học nói lời xin lỗi trước khi đòi người khác xin lỗi mình. Những Thánh Giá ấy không có đinh sắt nhưng vẫn rất thật, bởi cái bị đóng đinh chính là lòng ích kỷ.
Đôi khi chúng ta thích nói đến những hy sinh lớn vì chúng nghe hùng hồn, nhưng Thiên Chúa thường gặp ta trong những hy sinh nhỏ. Một cái điện thoại được đặt xuống để thật sự nghe người trước mặt. Một cuộc tranh luận được dừng lại vì tình thương quan trọng hơn thắng thua. Một lời nói xấu được giữ lại trong miệng. Một khoản tiền nhỏ được chia cho người thiếu thốn. Một chuyến thăm người già. Một lời cầu nguyện cho người làm mình đau. Một buổi sáng vẫn đi lễ dù lòng chẳng cảm thấy sốt sắng. Một lần trung thành với lời hứa dù không còn cảm xúc ban đầu. Đó là những hạt lúa chết đi. Không tiếng động. Không pháo tay. Nhưng Nước Thiên Chúa thường mọc lên từ đó.
Tuy nhiên, cũng cần nói với những ai đang quá mệt rằng Thánh Giá không có nghĩa Chúa đòi bạn lúc nào cũng phải mạnh. Ngay Đức Giêsu trên đường lên Golgotha đã chấp nhận để Simon Kyrênê vác đỡ Thánh Giá. Có những lúc tự hủy của ta không phải cố gắng tự làm hết, mà là đủ khiêm tốn để nhận sự giúp đỡ. Cái tôi cũng có thể ẩn trong câu: “Tôi không cần ai.” Chúng ta được tạo dựng để sống trong hiệp thông. Đức Giêsu nhận sự chăm sóc của những phụ nữ trong hành trình rao giảng. Người để Maria xức dầu chân. Người xin các môn đệ ở lại thức với mình tại Ghếtsêmani. Trên Thánh Giá, Người nói: “Ta khát.” Thiên Chúa làm người không xấu hổ vì cần người khác. Vậy tại sao ta lại cho rằng thánh thiện là lúc nào cũng tự mình gánh nổi mọi thứ?
Ngôi Lời tự hủy còn dạy chúng ta biết đón nhận sự bất lực. Đây có lẽ là thập giá khó nhất của tuổi già và bệnh tật. Khi còn khỏe, ta có thể cho đi bằng việc làm. Khi yếu dần, ta phải học cho người khác cơ hội phục vụ mình. Người từng chăm sóc cả gia đình nay phải để con cháu chăm. Người từng đi lại khắp nơi nay cần người dìu từng bước. Người từng quyết định mọi chuyện nay phải nhờ người khác. Cái đau không chỉ ở thân xác; cái tôi cũng đau. Nhưng ngay cả ở đây, Đức Kitô cũng đồng hành. Trên Thánh Giá, hai tay Người không còn hoạt động như trước. Chân Người không còn đi tới các làng mạc. Người gần như chỉ còn có thể hiện diện và trao chính sự bất lực của mình cho Chúa Cha. Vậy nên người bệnh không trở thành người “vô dụng”. Giá trị một con người không bằng khả năng sản xuất. Một người nằm trên giường bệnh vẫn có thể yêu, cầu nguyện, đón nhận tình thương và âm thầm kết hợp đời mình với Đức Kitô.
“Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Lời cuối cùng ấy cho thấy tự hủy không rơi vào hư vô; nó rơi vào bàn tay Chúa Cha. Đây là khác biệt tận căn giữa sự từ bỏ Kitô giáo và tuyệt vọng. Tuyệt vọng nói: “Không còn gì.” Đức tin nói: “Con trao mọi sự vào tay Cha.” Có những lúc chúng ta không hiểu điều đang xảy ra, nhưng vẫn có thể phó thác. Đức Giêsu không thấy trước mắt mình sự huy hoàng của sáng Phục Sinh theo cách các môn đệ sẽ thấy ba ngày sau; Người đi qua cái chết trong niềm tín thác trọn vẹn vào Cha. Người trao cả điều không thể giữ lại – sự sống – vào tay Cha.
Có lẽ đời sống đức tin của chúng ta trưởng thành nhất không phải khi mọi lời cầu nguyện đều được đáp theo ý mình, nhưng khi ta có thể nói giữa điều không hiểu: “Lạy Cha, con xin phó thác.” Khi còn trẻ, người ta thường muốn Chúa giải thích. Khi đã đi qua đủ những khúc quanh của cuộc đời, có khi người tín hữu chỉ xin được giữ lấy bàn tay Chúa. Trẻ nhỏ đi đường không cần hiểu toàn bộ bản đồ nếu bàn tay của cha nó còn đó. Đức tin cũng vậy. Thánh Giá không giải đáp mọi câu hỏi “tại sao”, nhưng cho chúng ta biết bàn tay nào đang giữ lịch sử.
Và chính ở đây, câu “Thiên Chúa chết trên Thánh Giá” không dẫn chúng ta đến cái chết của Thiên Chúa, mà dẫn đến sự chết của một hình ảnh sai về Thiên Chúa. Trên Golgotha, phải chết đi hình ảnh về một Thiên Chúa chỉ đứng bên người thành công. Phải chết đi hình ảnh về một Thiên Chúa chỉ hiện diện khi có phép lạ. Phải chết đi hình ảnh về một Thiên Chúa quyền lực theo kiểu các đế vương. Phải chết đi hình ảnh về một Thiên Chúa xa cách trước nước mắt nhân loại. Đức Giêsu chịu đóng đinh mặc khải một Thiên Chúa hoàn toàn khác: quyền năng nhưng quyền năng để yêu; cao cả nhưng cao cả đến mức có thể cúi xuống; thánh thiện nhưng không sợ chạm vào người tội lỗi; bất tử nhưng trong Ngôi Con nhập thể đã đi vào cái chết để gặp kẻ phải chết.
Có một nghịch lý tuyệt đẹp: chính lúc con người tưởng đã đẩy Thiên Chúa ra khỏi thế giới bằng cách giết Đức Giêsu, Thiên Chúa lại đi sâu nhất vào thế giới. Người ta đóng đinh Người ngoài thành, nhưng từ đó Người kéo mọi người đến với mình. Người ta muốn làm Người im tiếng, nhưng Thánh Giá trở thành bài giảng mạnh nhất lịch sử. Người ta tưởng đã tước hết của Người, nhưng chính khi trần trụi Người trao ban tất cả. Người ta viết trên đầu Người tấm bảng “Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái” để chế giễu, nhưng không biết rằng ngai của vị Vua này chính là Thánh Giá. Vương quyền của Người là quyền năng phục vụ. Triều thiên là gai. Áo choàng là tấm thân đầy máu. Thần dân đầu tiên bước vào vương quốc trong giờ đăng quang ấy lại là một tên trộm bên cạnh.
Cảnh người trộm lành thật cảm động. Anh không còn gì để dâng. Không có thời gian sửa lại quá khứ. Không có cơ hội làm nhiều việc đạo đức. Không thể xuống khỏi thập giá để đền bù. Anh chỉ có một lời: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Đức Giêsu đáp: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” “Xin nhớ đến tôi” – có lẽ đó cũng là lời cầu của biết bao người trước cái chết. Họ không cần một bài giảng dài. Họ chỉ cần biết mình không bị quên. Và Thiên Chúa chịu đóng đinh trả lời: “Anh sẽ ở với tôi.” Thiên Đàng, trong câu ấy, trước hết là “ở với tôi”. Ơn cứu độ là được ở với Đức Kitô. Ngay trên ngưỡng cửa cái chết, Người không giữ Nước Trời cho riêng mình. Người vẫn cho đi.
Vậy mầu nhiệm tự hủy của Ngôi Lời cuối cùng dẫn chúng ta đến đâu? Dẫn chúng ta đến niềm xác tín rằng cốt lõi của Thiên Chúa không phải là giữ lấy nhưng là trao ban. Chúa Cha trao Con. Chúa Con trao chính mình. Chúa Thánh Thần là tình yêu được tuôn đổ vào lòng chúng ta. Trong đời sống Ba Ngôi, tình yêu không khép kín nhưng hoàn toàn hướng về nhau. Khi Ngôi Con tự hủy trong lịch sử, Người không làm điều trái với thần tính mình; trái lại, Người biểu lộ trong thân phận con người điều muôn đời thuộc về sự sống Thiên Chúa: tình yêu là trao ban chính mình. Thánh Giá vì thế không phải một phút Thiên Chúa thôi là Thiên Chúa. Thánh Giá chính là lúc chúng ta thấy rõ Thiên Chúa là ai.
Và đó có lẽ là điều sâu nhất mà người tín hữu phải học suốt đời. Chúng ta rất dễ tin Thiên Chúa quyền năng; khó hơn là tin quyền năng ấy mang hình dáng tình yêu. Dễ tin Chúa ở trên trời; khó tin Người có thể ở trong người nghèo, người đau khổ, người bị loại trừ. Dễ thờ lạy Chúa trong nhà tạm; khó nhận ra Người trong người làm phiền ta. Dễ hôn kính Thánh Giá vào Thứ Sáu Tuần Thánh; khó chấp nhận chết đi một chút tự ái trong gia đình chiều hôm đó. Dễ hát “Vinh quang của ta là Thánh Giá Đức Kitô”; khó không nổi giận khi người khác không nhìn nhận công lao của mình. Chính ở những khoảng cách ấy, hành trình môn đệ bắt đầu.
Một ngày kia chúng ta cũng sẽ đi tới điểm tự hủy cuối cùng của đời mình: cái chết. Dù giàu hay nghèo, danh tiếng hay vô danh, khỏe mạnh hay bệnh tật, cuối cùng hai bàn tay đều phải buông. Những thứ ta từng cố nắm giữ sẽ ở lại. Tiền bạc ở lại. Nhà cửa ở lại. Chức vụ ở lại. Những lời khen chê ở lại. Cái thân xác mà ta chăm chút rồi cũng phải trao lại cho đất. Cái chết là sự nghèo khó tuyệt đối của con người. Ta không mang theo được gì ngoài chính con người mình trước Thiên Chúa. Nhưng người Kitô hữu không bước vào sự nghèo khó ấy một mình. Đức Kitô đã đi trước. Người đã nằm trong mồ. Chính vì Người đã đi vào đó và sống lại nên cái chết của chúng ta không còn là cánh cửa mở vào hư vô, mà có thể trở thành cuộc vượt qua.
Vì thế, đứng trước Thánh Giá, ta không chỉ nhìn một biến cố xảy ra hai ngàn năm trước. Ta nhìn thấy số phận của mình được ôm lấy trong số phận Đức Kitô. Những gì ta phải đi qua, Người đã chạm tới. Đau đớn – Người biết. Cô đơn – Người biết. Bị hiểu lầm – Người biết. Bị phản bội – Người biết. Khóc – Người đã khóc. Sợ – Người đã run sợ. Chết – Người đã chết. Nhưng ở tất cả những nơi ấy, Người đã mở một con đường. Ta có thể vẫn khóc, nhưng không khóc một mình. Ta vẫn có thể sợ, nhưng sợ trong vòng tay Đấng đã thắng sự chết. Ta có thể phải buông tất cả, nhưng buông vào tay Chúa Cha.
Có lẽ vì thế mà những người thánh thiện thường yêu Thánh Giá không phải bằng một tình cảm ủy mị, nhưng bằng lòng biết ơn. Họ biết Thánh Giá là nơi họ được yêu đến cùng. Không phải cây gỗ tự nó đáng quý. Không phải những chiếc đinh đáng tôn kính vì sự tàn bạo của chúng. Điều làm Thánh Giá trở thành Thánh Giá cứu độ là Đấng đã tự hiến trên đó. Nếu một người thân hy sinh mạng sống cứu ta khỏi chết, ta sẽ không bao giờ nhìn nơi họ ngã xuống như một nơi bình thường nữa. Golgotha cũng vậy. Nơi ấy trở thành thánh vì Tình Yêu đã đi qua.
Mỗi lần làm dấu Thánh Giá, chúng ta đang vẽ lên thân mình câu chuyện ấy: nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Ta thuộc về một Thiên Chúa tự trao ban. Tay chạm trán: xin cho suy nghĩ của con thuộc về Chúa. Chạm ngực: xin cho trái tim con thuộc về Chúa. Chạm hai vai: xin cho mọi việc con làm thuộc về Chúa. Dấu Thánh Giá không phải cử chỉ mê tín để xin may mắn. Đó là tuyên ngôn căn tính. Tôi được cứu bởi tình yêu của Đấng chịu đóng đinh; vậy tôi muốn đời mình cũng mang hình dáng tình yêu ấy.
Thế giới hôm nay rất cần những người mang hình dáng Thánh Giá. Không nhất thiết là người nói nhiều về Thánh Giá, nhưng là người biết tự hạ để người khác được nâng lên; người đủ mạnh để xin lỗi; đủ tự do để tha thứ; đủ khiêm nhường để nhận sai; đủ tin tưởng để cho đi mà không đòi đáp trả; đủ can đảm để bảo vệ người yếu; đủ yêu sự thật để không bán lương tâm; đủ thương người để nói sự thật mà không làm nhục họ. Một xã hội đầy những cái tôi muốn thắng sẽ ngày càng chia rẽ. Một Giáo Hội mà mỗi người tìm chỗ nổi bật sẽ mất dung mạo Đức Kitô. Một gia đình mà ai cũng đòi phần mình sẽ lạnh dần. Chỉ khi có người chấp nhận “mất” một chút, tình yêu mới có chỗ sống.
Nhưng ta đừng nghĩ mình phải lập tức trở thành anh hùng. Phêrô đã nói sẽ chết với Thầy nhưng vài giờ sau lại chối Thầy. Sau Phục Sinh, Đức Giêsu không loại ông. Người chỉ hỏi ba lần: “Con có yêu Thầy không?” Chúa không xây Hội Thánh trên những con người chưa bao giờ thất bại, nhưng trên những con người đã để cho tình yêu nâng mình dậy. Đường tự hủy cũng vậy. Có ngày ta sống quảng đại. Có ngày cái tôi thắng. Có lần ta tha thứ. Có lần ta nuôi giận. Có lúc ta sẵn lòng cho đi. Có khi ta ích kỷ. Điều quan trọng là mỗi lần ngã lại trở về dưới chân Thánh Giá. Ở đó, ta không gặp một Đấng đang ghi điểm những thất bại để kết án, mà gặp Đấng đã chết cho tội nhân.
Thánh Giá vì thế vừa bẻ gãy kiêu ngạo vừa chữa lành mặc cảm. Bẻ gãy kiêu ngạo vì cho thấy tội lỗi nghiêm trọng đến mức Con Thiên Chúa đã phải đi vào tận cùng để cứu ta. Chữa lành mặc cảm vì cho thấy ta quý giá đến mức Người sẵn sàng trao cả mạng sống. Trước Thánh Giá, không ai có thể nói: “Tôi tốt đến mức không cần được cứu.” Nhưng cũng không ai phải nói: “Tôi xấu đến mức không thể được cứu.” Hai bàn tay dang rộng của Đức Kitô như ôm lấy cả hai phía: kẻ tưởng mình công chính và người biết mình tội lỗi. Không ai ở ngoài tầm tay ấy nếu họ chịu trở về.
Và có lẽ đây là điều cuối cùng cần nói: sự tự hủy của Ngôi Lời không nhằm làm chúng ta sợ Thiên Chúa nhưng để chúng ta dám tin Người. Một Thiên Chúa đã đi xa đến thế để tìm ta thì còn lý do gì để ta trốn Người? Một Thiên Chúa đã mở cạnh sườn thì tại sao ta sợ mở vết thương mình cho Người? Một Thiên Chúa đã cầu xin tha thứ cho những kẻ đóng đinh mình thì tại sao người tội lỗi lại nghĩ Người không thể tha cho họ? Giuđa đã tuyệt vọng vì có lẽ ông nhìn tội mình lớn hơn lòng thương xót. Phêrô cũng phản bội, nhưng ông đã khóc và trở về. Khác biệt không phải ở việc ai phạm lỗi nhỏ hơn, mà ở chỗ ai còn tin tình yêu lớn hơn lỗi lầm mình.
Hãy thử một lần đứng thật lâu trước Thánh Giá mà không xin gì. Không xin khỏe. Không xin tiền. Không xin giải quyết một vấn đề. Chỉ nhìn. Nhìn đôi tay. Nhìn cạnh sườn. Nhìn đầu cúi xuống. Và để trong lòng vang lên câu của thánh Phaolô: “Người đã yêu tôi và hiến mạng vì tôi.” Có thể ta sẽ nhận ra lâu nay mình biết nhiều điều về Chúa nhưng chưa để Chúa yêu mình. Ta đọc Kinh Thánh, đi lễ, làm việc đạo đức, phục vụ, nhưng sâu trong lòng vẫn sống như một người phải tự cứu lấy mình. Thánh Giá bảo chúng ta ngừng lại. Ơn cứu độ trước hết không phải điều ta làm cho Thiên Chúa; đó là điều Thiên Chúa đã làm cho ta. Trước khi vác thập giá mình, hãy để mình được cứu bởi Thánh Giá của Người. Trước khi học hy sinh, hãy học nhận tình yêu. Trước khi trao mình, hãy để Đấng chịu đóng đinh ôm lấy mình.
Rồi từ đó, một ngày nào đó, ta sẽ bắt đầu hiểu mầu nhiệm tự hủy không phải là con đường mất mình nhưng là con đường trở thành chính mình. Đức Giêsu càng hạ xuống, căn tính Con yêu dấu càng tỏ lộ. Người càng trao ban, vinh quang Thiên Chúa càng sáng. Người càng mất theo mắt thế gian, Người càng hoàn tất sứ mạng. Và người môn đệ cũng vậy: có những điều ta phải buông để tìm thấy điều không bao giờ mất; có những cái tôi phải chết để con người mới được sinh ra; có những hạt lúa phải mục đi để một mùa gặt có thể bắt đầu.
Khi chiều Thứ Sáu ấy buông xuống trên Golgotha, người ta tưởng mọi chuyện đã xong. Một người lính lấy giáo đâm cạnh sườn Đức Giêsu. Giuse Arimathêa xin thi hài. Người ta hạ xác xuống, quấn khăn, đặt vào huyệt đá rồi lăn tảng đá lớn chắn cửa mồ. Trời im lặng. Các môn đệ tan tác. Những người phụ nữ khóc. Nếu câu chuyện dừng ở đó, tất cả những gì vừa viết chỉ là một bản trường ca bi thảm. Nhưng Tin Mừng không dừng lại ở tảng đá. Sáng ngày thứ nhất trong tuần, những phụ nữ đi đến mộ và nghe lời không ai dám mơ: “Người không có ở đây. Người đã trỗi dậy.”
Đây là câu trả lời cuối cùng của Chúa Cha cho sự tự hủy của Ngôi Con. Tình yêu không bị chôn vùi. Sự tự hiến không kết thúc trong hư vô. Vâng phục không kết thúc trong thất bại. Thánh Giá sinh Phục Sinh. Hạt lúa chết đi mang lại mùa gặt. Bởi thế, bất cứ sự tự hủy nào được sống trong Đức Kitô cũng có một mầm Phục Sinh, dù hôm nay ta chưa thấy. Một lần tha thứ có thể cứu một gia đình. Một lần từ bỏ lòng tự ái có thể mở lại một tương quan. Một hy sinh âm thầm có thể gieo hạt cho một thế hệ. Một lời cầu nguyện trong nước mắt có thể không làm hoàn cảnh đổi ngay nhưng có thể làm trái tim đổi. Không có tình yêu nào thật sự trao ban trong Chúa mà trở thành vô ích.
“Thiên Chúa chết trên Thánh Giá” – câu nói ấy làm ta rùng mình, nhưng phải được nói đến cùng: Ngôi Con Thiên Chúa đã thực sự mang lấy cái chết trong nhân tính Người, và chính vì vậy cái chết không còn là nơi vắng Thiên Chúa. Người đã xuống đến đáy sâu nhất để từ đó nâng chúng ta lên. Người đã trở nên nghèo để làm chúng ta giàu. Người mang lấy thân nô lệ để ta nhận lại phẩm giá làm con. Người nhận lấy vết thương để chữa vết thương chúng ta. Người bước vào bóng tối để không bóng tối nào còn hoàn toàn không có ánh sáng. Người chết để cái chết không còn tiếng nói cuối cùng.
Vậy nên, nếu hôm nay ai đó đang đứng giữa một Thứ Sáu Tuần Thánh của đời mình, xin đừng vội nghĩ câu chuyện đã kết thúc. Nếu một cánh cửa đóng lại, nếu một người thân ra đi, nếu một căn bệnh kéo dài, nếu một giấc mơ vỡ, nếu lời cầu nguyện tưởng như chỉ gặp im lặng, hãy nhìn lên Đấng chịu đóng đinh. Đừng bắt mình phải hiểu hết. Maria dưới chân Thánh Giá cũng không hiểu hết. Các môn đệ cũng không hiểu. Nhưng Thiên Chúa vẫn đang hành động trong sự im lặng mà mắt họ chưa thấy. Giữa chiều Thứ Sáu và sáng Chúa Nhật có một ngày Thứ Bảy thật dài – ngày không có phép lạ, ngày ngôi mộ vẫn đóng, ngày người ta chỉ có thể chờ. Đời chúng ta cũng có những ngày Thứ Bảy như thế. Đừng nhầm sự im lặng của Thiên Chúa với sự vắng mặt của Người.
Ngôi Lời đã tự hủy, đã đi xuống tận cùng. Và chính từ tận cùng ấy, Người kéo nhân loại lên. Đó là mầu nhiệm của Thánh Giá. Đó là mầu nhiệm của tình yêu. Đó cũng là con đường của mọi người môn đệ. Không phải tìm đau khổ, nhưng khi đau khổ đến, biến nó thành tình yêu. Không phải tìm mất mát, nhưng khi phải buông, buông vào tay Chúa Cha. Không phải tự hủy để biến mất, nhưng để Đức Kitô lớn lên trong mình. Không phải chết vì cái chết, nhưng chết cho cái tôi ích kỷ để tình yêu được sống.
Sau cùng, mọi thần học về Thánh Giá có lẽ phải trở về với một lời cầu nguyện rất đơn sơ: Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, con không hiểu hết mầu nhiệm của Chúa, và chắc suốt đời này con cũng không hiểu hết. Nhưng xin cho con biết đứng dưới chân Thánh Giá đủ lâu để nhận ra con được yêu. Khi con kiêu ngạo, xin cho con nhìn Chúa đã tự hạ. Khi con tham lam, xin cho con nhìn Chúa đã cho đi tất cả. Khi con muốn trả đũa, xin cho con nghe Chúa cầu xin tha thứ. Khi con cô đơn, xin cho con nhớ Chúa đã kêu lên giữa sự bỏ rơi. Khi con sợ chết, xin cho con nhớ Chúa đã bước qua cái chết. Khi con mỏi mệt vì thập giá đời mình, xin cho con nhận ra Chúa đang vác cùng con. Khi con không thể cầu nguyện nữa, xin cho tiếng “Lạy Cha, con xin phó thác” của Chúa trở thành lời cầu nguyện của con.
Và nếu một ngày con phải buông tất cả, xin cho con cũng biết cúi đầu như Chúa, không phải trong tuyệt vọng mà trong tín thác, bởi con biết bên kia Thánh Giá không phải hư vô nhưng là vòng tay Chúa Cha; bên kia đêm tối không phải một đêm tối khác nhưng là bình minh Phục Sinh; bên kia sự tự hủy không phải mất mát cuối cùng nhưng là sự sống viên mãn. Xin cho con hiểu rằng người thắng không phải là người giữ được mọi thứ cho mình, nhưng là người đã học yêu đến cùng. Và xin cho cả đời con, bằng những hy sinh rất nhỏ, những tha thứ rất âm thầm, những lần buông bỏ chẳng ai biết, những giọt nước mắt chỉ mình Chúa thấy, cũng dần trở thành một lời đáp trước tình yêu của Đấng đã tự hủy vì con.
Bởi cuối cùng, Thánh Giá không nói rằng Thiên Chúa yêu đau khổ. Thánh Giá nói rằng không đau khổ nào đủ lớn để ngăn Thiên Chúa yêu. Thánh Giá không nói rằng Thiên Chúa thất bại. Thánh Giá nói rằng tình yêu của Người đi xa hơn sự thất bại. Thánh Giá không nói rằng cái chết mạnh hơn Thiên Chúa. Thánh Giá nói rằng Thiên Chúa đã bước vào cái chết để sự sống bừng lên ngay trong lòng nó. Và Thánh Giá cũng không chỉ nói với chúng ta rằng Đức Kitô đã chết; Thánh Giá nói rằng Người đã yêu. Yêu cho đến cùng. Yêu khi bị từ chối. Yêu khi bị phản bội. Yêu khi đau đớn. Yêu cả khi chẳng còn gì để trao ngoài chính mạng sống mình.
Đó chính là mầu nhiệm tự hủy của Ngôi Lời.
Một Thiên Chúa không giữ mình lại.
Một Thiên Chúa cúi xuống.
Một Thiên Chúa mang lấy vết thương của loài người.
Một Thiên Chúa để trái tim mình bị mở ra.
Một Thiên Chúa trong Ngôi Con đã đi vào cái chết.
Và một Thiên Chúa, chính vì yêu đến tận cùng, đã làm cho cái chết không còn là tận cùng nữa.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VÀ MẦU NHIỆM BA NGÔI: CHÚA CHA TRAO BAN, CHÚA CON VÂNG PHỤC, CHÚA THÁNH THẦN BIẾN ĐỔI
Có những lúc người Kitô hữu nhìn lên Thánh Giá mà chỉ thấy một mình Chúa Giêsu. Điều đó không sai, nhưng chưa đủ. Trên Thánh Giá, ta thấy thân mình Chúa Con bị đóng đinh, thấy đôi tay bị đinh xuyên qua, thấy cạnh sườn bị lưỡi đòng mở ra, thấy khuôn mặt nhợt nhạt của một con người đã yêu cho đến cạn kiệt. Nhưng nếu nhìn sâu hơn bằng đôi mắt đức tin, ta sẽ nhận ra phía sau Thánh Giá ấy là cả một mầu nhiệm lớn lao hơn: mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa đang hành động trong công trình cứu độ con người. Thánh Giá không phải chuyện của riêng Chúa Giêsu. Thánh Giá là nơi tình yêu của Chúa Cha được trao ban, tình yêu của Chúa Con được vâng phục đến cùng, và tình yêu của Chúa Thánh Thần trở thành sức mạnh biến đổi sự chết thành sự sống, tội lỗi thành ân sủng, thất bại thành khởi đầu mới. Nói cách khác, muốn hiểu Thánh Giá, ta phải bước vào chính trái tim của Thiên Chúa Ba Ngôi; và muốn hiểu Thiên Chúa Ba Ngôi không chỉ như một công thức thần học khô khan, ta hãy đứng thật lâu dưới chân Thánh Giá. Ở đó, không có ba vị Thiên Chúa đứng riêng rẽ làm ba công việc khác nhau. Chỉ có một Thiên Chúa duy nhất trong sự hiệp thông tình yêu: Chúa Cha yêu bằng cách trao ban, Chúa Con yêu bằng cách tự hiến, Chúa Thánh Thần yêu bằng cách làm cho sự tự hiến ấy sinh hoa trái cứu độ trong lòng nhân loại.
Tin Mừng Gioan đã nói một câu có lẽ chúng ta thuộc lòng từ nhỏ nhưng càng sống lâu càng thấy không bao giờ hiểu hết: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Chúng ta thường đọc rất nhanh câu ấy, nhưng xin dừng lại ở chữ “ban”. Thiên Chúa đã ban Con Một. Không phải ban một món quà. Không phải ban một chút ân huệ. Không phải ban của cải, sức khỏe hay thành công. Thiên Chúa trao chính Người Con yêu dấu của mình. Và “ban” ở đây không chỉ có nghĩa là gửi Chúa Giêsu đến Bêlem trong đêm Giáng Sinh, nhưng đi đến tận đồi Canvê. Máng cỏ và Thánh Giá là hai đầu của cùng một cuộc trao ban. Chúa Cha đã ban Con trong thân phận hài nhi nghèo hèn, và việc trao ban ấy đạt tới tột đỉnh khi Người Con bị treo trần trụi trên cây gỗ. Bởi thế, nhìn Thánh Giá mà nghĩ Chúa Cha là một vị thần nghiêm khắc đòi máu của Con mình để nguôi cơn giận là một cách hiểu vừa nghèo nàn vừa dễ làm méo mó khuôn mặt Thiên Chúa. Chúa Cha không đứng ngoài Thánh Giá như một quan tòa lạnh lùng nhìn Con mình chịu đau khổ. Chúa Cha ở trong chính mầu nhiệm trao ban ấy. Nỗi đau của Con không thể xa lạ với tình yêu của Cha. Chúa Con chịu thương khó trong nhân tính, nhưng chính tình yêu Ba Ngôi đang đi đến tận cùng để cứu con người. Không phải Chúa Cha chống lại Chúa Con, mà là Chúa Cha và Chúa Con hoàn toàn nên một trong cùng một ý muốn cứu độ.
Chúa Giêsu từng nói: “Chúa Cha yêu mến Thầy, vì Thầy hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại” (Ga 10,17). Và Người còn nói: “Không ai lấy mạng sống của Thầy được, nhưng chính Thầy tự ý hy sinh mạng sống mình” (Ga 10,18). Như thế, Thánh Giá không phải một tai nạn bất ngờ mà Chúa Giêsu bất lực chịu trận; cũng không phải một màn kịch đã được sắp xếp để Con Thiên Chúa giả vờ đau khổ. Đó là một sự tự hiến hoàn toàn tự do. Chúa Con đi vào cuộc Thương Khó trong sự vâng phục, nhưng sự vâng phục ấy không phải thái độ của một người nô lệ bị ép buộc. Đó là sự vâng phục của tình yêu. Vì yêu Chúa Cha, Người muốn hoàn tất công trình của Cha. Vì yêu nhân loại, Người chấp nhận đi đến nơi mà tình yêu phải trả cái giá đắt nhất. Người không yêu đau khổ; Người yêu con người đến mức chấp nhận đau khổ để không bỏ con người một mình trong tội lỗi và sự chết.
Vườn Ghếtsêmani giúp ta hiểu điều này hơn bất cứ bài diễn giải nào. Đêm ấy, Chúa Giêsu không bước vào cái chết với dáng vẻ của một anh hùng không biết sợ. Người “bắt đầu cảm thấy buồn rầu xao xuyến”. Người thưa với các môn đệ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mt 26,38). Rồi Người sấp mặt xuống đất mà cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39). Đây là một trong những giây phút linh thánh nhất để chiêm ngắm mầu nhiệm Ba Ngôi. Chúa Con không phải một khúc gỗ vô cảm. Người sợ đau, sợ nhục, sợ cô độc, sợ cái chết như một con người thật sự. Người biết những gì đang chờ mình: roi da, mão gai, tiếng sỉ nhục, những cái tát, những chiếc đinh, cơn khát, hơi thở đứt quãng và sự cô độc tột cùng. Người xin chén ấy đi qua. Nhưng sau tất cả, Người đặt mình vào tay Chúa Cha: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Trong câu ấy, chúng ta không nghe tiếng của một kẻ bị khuất phục; ta nghe nhịp đập của tình yêu. Ý Cha không phải “Con phải đau khổ cho nhiều để Cha hài lòng.” Ý Cha là nhân loại phải được cứu. Và bởi vì con đường cứu độ đi xuyên qua lòng độc ác của con người, xuyên qua tội lỗi, phản bội và cái chết, nên Chúa Con bước vào đó. Người không vâng phục một kế hoạch tàn nhẫn; Người vâng phục tình yêu cứu độ.
Thư gửi tín hữu Philípphê đã diễn tả mầu nhiệm ấy bằng những lời đẹp đến nao lòng: Đức Kitô “đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,7-8). “Vâng lời cho đến chết.” Có lẽ chúng ta đã nghe câu đó nhiều lần nên không còn thấy sức nặng của nó nữa. Nhưng hãy thử nghĩ: bao nhiêu lần ta vâng lời Chúa khi việc ấy thuận tiện? Bao nhiêu lần ta chấp nhận ý Chúa khi nó trùng với ý mình? Và bao nhiêu lần chỉ một thất vọng nhỏ đã khiến ta kêu trách? Trong khi đó, Chúa Con đi đến tận điểm cuối của vâng phục. Khi không còn gì để giữ lại, Người vẫn trao. Khi bị hiểu lầm, Người vẫn yêu. Khi bị phản bội, Người vẫn yêu. Khi bị chối bỏ, Người vẫn yêu. Khi bị đóng đinh bởi chính những con người Người đến cứu, Người vẫn yêu. Khi chẳng còn gì ngoài hơi thở cuối cùng, Người dùng hơi thở ấy để trao chính mình cho Chúa Cha: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).
Và ở giữa mầu nhiệm trao ban của Chúa Cha cùng sự vâng phục của Chúa Con, có Chúa Thánh Thần. Người thường là Đấng chúng ta ít nhắc đến nhất khi chiêm ngắm Thánh Giá, nhưng thật ra toàn bộ cuộc đời Đức Giêsu đều diễn ra trong quyền năng của Thánh Thần. Người được cưu mang bởi Chúa Thánh Thần. Khi chịu phép rửa tại sông Giođan, Thánh Thần ngự xuống trên Người. Chính Thánh Thần đưa Người vào hoang địa. Trong Thánh Thần, Người rao giảng, chữa lành, trừ quỷ và loan báo Tin Mừng cho người nghèo. Và khi Đức Kitô tiến đến sự tự hiến hoàn toàn, Thánh Thần cũng hiện diện trong hành vi dâng hiến ấy. Thư gửi tín hữu Do Thái nói rằng Đức Kitô “nhờ Thánh Thần hằng hữu đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa” (Dt 9,14). Như vậy, Thánh Giá là một hành vi mang chiều kích Ba Ngôi trọn vẹn: Chúa Cha đón nhận sự tự hiến của Con, Chúa Con tự do hiến mình, và Chúa Thánh Thần là ngọn lửa tình yêu làm cho lễ dâng ấy trở thành lễ tế sống động.
Nếu Chúa Thánh Thần chỉ hiện diện ở Canvê như một nhân chứng, thì mầu nhiệm Thánh Giá vẫn chưa được nói hết. Người còn là Đấng biến đổi. Thánh Giá bên ngoài nhìn vào là cái chết. Chúa Thánh Thần làm cho cái chết ấy trở thành nguồn sống. Thánh Giá bên ngoài nhìn vào là thất bại. Chúa Thánh Thần biến thất bại ấy thành chiến thắng. Thánh Giá bên ngoài nhìn vào là kết thúc. Chúa Thánh Thần biến nó thành cánh cửa Phục Sinh. Không phải ngẫu nhiên mà ngay khi Chúa Giêsu sống lại, Người hiện ra với các môn đệ, thổi hơi trên họ và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,22). Đấng bị đóng đinh nay ban Thánh Thần. Những vết thương vẫn còn đó, nhưng không còn là dấu chỉ của thất bại; chúng trở thành nơi bình an được trao ban. Thân xác từng bị xuyên thủng nay trở thành thân xác Phục Sinh. Đây là công trình biến đổi kỳ diệu của Thiên Chúa: Người không xóa lịch sử đau thương như thể nó chưa từng xảy ra; Người biến chính những vết thương ấy thành nơi ân sủng tỏa sáng.
Tin Mừng Gioan kể rằng khi quân lính đến với Chúa Giêsu, thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân, “nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34). Một cạnh sườn bị đâm thủng, nhưng Hội Thánh từ đó đã nhìn thấy nguồn mạch sự sống. Máu và nước. Thứ mà bạo lực gây ra như dấu vết cuối cùng của hủy diệt, Thiên Chúa lại biến thành biểu tượng của ân sủng. Tội lỗi con người mở cạnh sườn Đức Kitô; lòng thương xót Thiên Chúa để từ cạnh sườn ấy chảy ra sự sống. Đó chính là cách Thiên Chúa chiến thắng sự dữ: không phải bằng cách trở nên dữ hơn kẻ dữ; không dùng bạo lực lớn hơn để tiêu diệt bạo lực nhỏ hơn; nhưng Người đi vào tận lòng sự dữ và biến đổi nó từ bên trong bằng tình yêu.
Bởi vậy, nói rằng Thánh Giá mặc khải mầu nhiệm Ba Ngôi không phải là đem một bài giáo lý khó hiểu áp vào cảnh Canvê. Chính Canvê cho thấy Thiên Chúa là ai. Chúa Cha không phải Đấng giữ lấy. Chúa Cha là Đấng trao ban. Chúa Con không phải Đấng bám lấy vinh quang. Chúa Con là Đấng tự hạ và hiến mình. Chúa Thánh Thần không phải một sức mạnh mơ hồ. Người là tình yêu sống động làm cho sự trao ban và tự hiến sinh hoa trái, đưa mọi sự từ chết đến sống. Ba Ngôi là một cuộc trao ban không ngừng. Chúa Cha trao mình cho Chúa Con. Chúa Con đón nhận và trao lại tất cả cho Chúa Cha. Chúa Thánh Thần là sự hiệp thông tình yêu của Cha và Con. Và rồi, điều kỳ diệu đến mức ta khó tin: Thiên Chúa mở cuộc hiệp thông ấy ra để kéo chúng ta vào trong đó. Chúng ta không chỉ được tha tội từ xa; chúng ta được mời bước vào đời sống của Ba Ngôi.
Đây là nơi Thánh Giá chạm đến cuộc sống chúng ta. Nếu Chúa Cha là Đấng trao ban, người Kitô hữu không thể sống chỉ để giữ cho mình. Nếu Chúa Con là Đấng vâng phục trong tình yêu, người môn đệ không thể lấy ý riêng làm thước đo duy nhất. Nếu Chúa Thánh Thần là Đấng biến đổi, người có đức tin không thể tuyệt vọng trước những gì đã đổ vỡ. Ba động từ của Ba Ngôi quanh Thánh Giá cũng có thể trở thành ba động từ của một đời Kitô hữu: trao ban – vâng phục – biến đổi.
Trao ban là điều rất khó trong một thế giới dạy người ta phải giữ. Giữ tiền. Giữ quyền. Giữ danh dự. Giữ lợi thế. Giữ phần hơn. Giữ thời gian cho mình. Giữ cả một lời xin lỗi vì sợ mất mặt. Giữ một chút dịu dàng vì sợ người khác coi thường. Giữ một lời yêu thương vì nghĩ “để mai nói cũng được”. Người ta giữ nhiều đến nỗi cuối cùng chính những thứ mình giữ lại trở thành nhà tù nhốt mình. Chúa Cha thì khác. Thiên Chúa yêu bằng cách ban. Vì thế, một người cha bắt đầu sống mầu nhiệm Ba Ngôi khi biết trao thời gian cho con cái chứ không chỉ trao tiền. Một người mẹ bước vào mầu nhiệm Thánh Giá khi âm thầm thức đêm bên giường con bệnh mà chẳng ai biết. Một người con sống tinh thần Thánh Giá khi biết bớt một chút công việc để ngồi lại với cha mẹ già. Một người già sống mầu nhiệm trao ban khi không giữ kinh nghiệm của mình như lý do để áp đặt con cháu, nhưng trao nó bằng sự dịu dàng. Một người linh mục sống Thánh Giá không phải khi nói thật nhiều về hy sinh, nhưng khi đời mình thật sự trở thành tấm bánh được bẻ ra cho dân Chúa.
Có những sự trao ban rất nhỏ mà cứu được cả một đời người. Một cuộc điện thoại đúng lúc. Một lời “tôi xin lỗi” nói trước khi quá muộn. Một lần bước qua tự ái để làm hòa. Một buổi chiều ngồi bên người bệnh mà không cần nói gì. Một bữa cơm dành cho người đang túng thiếu. Một lời bênh vực dành cho người đang bị oan. Một sự hiện diện trung thành khi tất cả những người khác đã bỏ đi. Chúng ta thường chờ làm điều vĩ đại rồi mới nghĩ mình đang sống Tin Mừng, trong khi tình yêu Ba Ngôi thường đi vào đời bằng những hành vi rất bình thường. Chúa Cha trao Con mình. Ta có thể chưa trao được điều lớn lao như thế, nhưng ít ra đừng giữ lại tất cả.
Động từ thứ hai là vâng phục. Đây là một chữ mà con người thời nay rất ngại. Người ta dễ đồng hóa vâng phục với yếu đuối, mất tự do, không dám có chính kiến. Nhưng vâng phục của Đức Giêsu không phải như vậy. Chưa có con người nào tự do hơn Chúa Giêsu khi Người nói: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Chỉ người thật sự tự do mới có thể đặt cái tôi xuống mà không cảm thấy mình bị tiêu diệt. Người nô lệ của cái tôi thì không thể vâng phục, bởi phải luôn thắng, luôn đúng, luôn được nghe theo. Đức Giêsu vâng phục vì Người biết Chúa Cha là ai. Người có thể trao mình vì Người tin vào tình yêu của Cha.
Đây cũng là thử thách của đức tin chúng ta. Tin Chúa khi mọi sự thuận lợi không quá khó. Cái khó là tin khi lời cầu nguyện dường như rơi vào thinh lặng; khi bệnh tật kéo dài; khi gia đình rạn nứt; khi người mình yêu ra đi; khi đã sống tử tế mà vẫn bị hiểu lầm; khi đã cố hết sức mà vẫn thất bại; khi một cánh cửa đóng lại không rõ vì sao. Những lúc ấy, nói “xin vâng” không hề dễ. Có những tiếng “xin vâng” phải nói trong nước mắt. Có những tiếng “xin vâng” không đi cùng cảm giác bình an ngay tức khắc. Có khi miệng nói “xin vâng” mà lòng vẫn đau như bị xé. Ghếtsêmani cho ta quyền được run sợ. Đức Giêsu đã run sợ. Người cho ta quyền nói với Chúa: “Con không muốn điều này. Con sợ. Con đau. Con không hiểu.” Đức tin không bắt ta giả vờ không đau. Nhưng sau khi đã nói hết nỗi lòng, người môn đệ học với Chúa Giêsu để thêm một câu cuối: “Nhưng xin ý Cha được thể hiện.”
Tuy nhiên, phải rất cẩn thận: không được lấy chữ “vâng phục” để hợp thức hóa những bất công, lạm dụng và bạo lực. Một người vợ bị hành hung không được bảo rằng “hãy vâng phục và ôm thánh giá”. Một đứa trẻ bị xâm hại không thể bị dạy im lặng như một hình thức hy sinh. Một người bị đối xử bất công không nhất thiết phải ngồi yên để chứng tỏ mình thánh thiện. Đức Giêsu vâng phục Chúa Cha, chứ không vâng phục sự dữ. Người vâng phục tình yêu, không vâng phục tội lỗi. Thánh Giá không thánh hóa kẻ đóng đinh; Thánh Giá tố cáo tội lỗi của việc đóng đinh và đồng thời cứu cả nạn nhân lẫn tội nhân bằng tình yêu. Có những lúc vâng phục Chúa chính là phải đứng lên chống lại điều sai, bảo vệ người yếu, nói sự thật và không cộng tác với sự dữ.
Rồi đến động từ thứ ba: biến đổi. Có lẽ đây là điều chúng ta cần nghe nhất khi đời mình đi qua những vùng tối. Chúa Thánh Thần là Đấng biến đổi. Người không luôn lấy thánh giá khỏi vai ta, nhưng có thể biến người đang vác thánh giá. Người không luôn thay đổi hoàn cảnh ngay lập tức, nhưng thay đổi trái tim để ta không bị hoàn cảnh nghiền nát. Người không làm cho quá khứ chưa từng xảy ra, nhưng có thể làm cho chính vết thương trong quá khứ trở thành nơi ta biết cảm thông với người khác. Người không xóa nước mắt khỏi lịch sử đời ta, nhưng có thể làm cho những giọt nước mắt ấy tưới lên một sự sống mới.
Hãy nhìn Phêrô. Một đêm kia, ông chối Thầy ba lần. Đó là vết thương không thể xóa khỏi tiểu sử Phêrô. Tin Mừng không che giấu nó. Hội Thánh không sửa lại câu chuyện cho đẹp hơn. Nhưng Chúa Thánh Thần biến đổi người môn đệ nhát sợ ấy thành một chứng nhân can đảm. Chính Phêrô từng run trước câu hỏi của một cô đầy tớ rồi sau này có thể đứng giữa đám đông mà công bố Đức Kitô. Quá khứ không biến mất; quá khứ được cứu chuộc. Hãy nhìn Phaolô. Ông từng bắt bớ Hội Thánh; rồi ân sủng biến ông thành Tông đồ dân ngoại. Hãy nhìn những môn đệ khóa cửa vì sợ người Do Thái; rồi trong ngày Ngũ Tuần, Thánh Thần biến căn phòng đóng kín thành điểm xuất phát của một cuộc truyền giáo đi đến tận cùng trái đất. Đó là cách Chúa Thánh Thần làm việc. Người mở những căn phòng đóng kín. Người thổi sự sống vào chỗ đã chết. Người làm cho một con người tưởng như hết đường trở thành một khởi đầu.
Cho nên, người Kitô hữu không được quyền tuyệt vọng về chính mình và cũng đừng quá sớm tuyệt vọng về người khác. Có người hôm nay rất xa Chúa, nhưng ai biết ngày mai ân sủng sẽ làm gì? Có một gia đình hôm nay đầy căng thẳng, nhưng đừng vội kết luận mọi thứ đã hết. Có một đứa con đang lạc đường, hãy tiếp tục cầu nguyện, yêu thương và chờ đợi. Có một người mang quá khứ nặng nề, xin đừng đóng đinh họ mãi vào quá khứ ấy. Chúng ta thích đóng khung người khác: người này ích kỷ, người kia hư hỏng, người nọ không bao giờ thay đổi. Chúa Thánh Thần không thích những cái khung ấy. Người là Thần Khí sáng tạo. Nếu buổi sáng tạo đầu tiên, Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước hỗn mang để từ đó xuất hiện một thế giới đẹp đẽ, thì hôm nay Người vẫn có thể bay trên những hỗn mang của đời người để tạo nên điều mới.
Có lẽ mầu nhiệm biến đổi đẹp nhất vẫn nằm ở chính Thánh Giá. Cây gỗ từng là dụng cụ xử tử đã thành dấu chỉ cứu độ. Thứ mà đế quốc Rôma dùng để làm nhục kẻ thua cuộc lại trở thành biểu tượng được dựng trên các thánh đường, đặt trong gia đình, mang trên ngực người tín hữu và được hôn kính trong phụng vụ. Ai làm được cuộc đảo ngược kỳ lạ ấy? Chỉ Thiên Chúa. Con người tạo ra thập giá để giết; Thiên Chúa biến nó thành Thánh Giá để cứu. Con người dùng đinh để giữ Chúa Giêsu trên gỗ; tình yêu biến những chiếc đinh thành chứng từ rằng không có gì có thể khiến Người bỏ chúng ta. Con người mở cạnh sườn Người để chắc rằng Người đã chết; Thiên Chúa làm từ cạnh sườn ấy tuôn ra máu và nước. Con người đặt Người vào mồ và lăn tảng đá lại; Chúa Thánh Thần làm cho ngôi mộ ấy trở thành nơi loan báo: “Người không còn ở đây. Người đã trỗi dậy.”
Vì thế, khi đứng trước Thánh Giá, đừng chỉ hỏi: “Tại sao Chúa đau khổ như thế?” Hãy hỏi thêm: “Thiên Chúa đang muốn cho tôi thấy điều gì về chính Người?” Câu trả lời là: Thiên Chúa là tình yêu tự hiến. Chúa Cha yêu đến mức trao Con. Chúa Con yêu đến mức hiến mạng. Chúa Thánh Thần yêu đến mức lấy điều chết mà làm thành điều sống. Không Ngôi nào sống cho mình. Không Ngôi nào giữ lại mình. Chính vì thế Ba Ngôi là mầu nhiệm của sự hiệp thông tuyệt đối.
Và đây là lúc ta phải nhìn lại đời sống Hội Thánh, cộng đoàn và gia đình. Nếu chúng ta tuyên xưng Ba Ngôi nhưng chỉ biết tranh phần, giữ quyền, bảo vệ cái tôi, thì lời tuyên xưng ấy vẫn nằm trên môi chưa xuống tới tim. Gia đình phản chiếu Ba Ngôi khi cha mẹ biết trao ban thay vì sở hữu con cái, khi vợ chồng biết nhường nhau không phải vì yếu nhưng vì yêu, khi những người trong nhà biết để tình thương lớn hơn tự ái. Cộng đoàn phản chiếu Ba Ngôi khi người có trách nhiệm không dùng quyền để thống trị nhưng để phục vụ, khi người tài không xem khả năng là lý do khinh người khác, khi người yếu được nâng đỡ thay vì bị loại trừ. Giáo xứ phản chiếu Ba Ngôi không phải chỉ vì đọc Kinh Tin Kính đúng, mà khi người giàu và người nghèo có thể ngồi cùng một bàn, người có học và người ít học tôn trọng nhau, người từng lỗi lầm vẫn tìm được một chỗ để trở về.
Đời sống linh mục cũng chỉ thật sự mang khuôn mặt Ba Ngôi khi trở thành đời sống trao ban. Một linh mục có thể cử hành Thánh Lễ mỗi ngày, giảng rất hay, tổ chức rất giỏi, nhưng nếu dần dần đời mình trở thành một hành trình bảo vệ sự tiện nghi, danh tiếng và cái tôi, thì Thánh Giá trên áo lễ có nguy cơ chỉ còn là hình thêu. Linh mục được gọi để trở thành người của sự trao ban: Chúa Cha đã trao Con, Chúa Con trao mình, linh mục cũng được mời trao đời mình. Điều này không có nghĩa là phải lao lực đến kiệt quệ hoặc coi thường sức khỏe; nhưng nghĩa là đời linh mục không thể có ý nghĩa nếu không có một dân để yêu, một đoàn chiên để mang, một người đau khổ để lắng nghe, một tội nhân để đón về, một người nghèo để nhớ đến. Linh mục đứng ở bàn thờ và đọc: “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con.” Những lời ấy trước hết là lời của Đức Kitô. Nhưng nếu linh mục đọc câu ấy suốt đời mà không để câu ấy trở thành hình dáng đời mình, thì có điều gì đó vẫn chưa trọn.
Người giáo dân cũng vậy. Thánh Giá không chỉ ở trong nhà thờ. Thánh Giá đi vào công sở khi ta chọn trung thực giữa một môi trường ai cũng bảo phải lươn lẹo mới sống được. Thánh Giá đi vào thương trường khi người ta có cơ hội kiếm lợi bất chính mà từ chối. Thánh Giá đi vào trường học khi một học sinh không tham gia bắt nạt người yếu dù có thể vì thế mà bị bạn bè xa lánh. Thánh Giá đi vào gia đình khi một người nuốt bớt câu nói cay nghiệt để khỏi làm người thân đau. Thánh Giá đi vào mạng xã hội khi ta không chia sẻ một tin chưa kiểm chứng chỉ vì nó hợp định kiến của mình. Thánh Giá đi vào tuổi già khi một người chấp nhận sự giới hạn mà không trở nên cay đắng. Thánh Giá đi vào bệnh viện khi một bệnh nhân dù đau vẫn biết cảm ơn người chăm sóc. Những điều ấy có vẻ nhỏ, nhưng Thiên Chúa thường xây Nước Trời bằng những viên đá nhỏ.
Và có một điều rất cảm động: trên Thánh Giá, Chúa Giêsu không ngừng gọi Chúa Cha là Cha. Khi mọi dấu chỉ bề ngoài đều dường như nói rằng Người bị bỏ rơi, Người vẫn hướng về Cha. Đúng là có tiếng kêu xé lòng: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34). Đó là vực sâu của đau khổ mà Con Thiên Chúa đã đi vào. Nhưng câu cuối vẫn là: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Thử thách không phá được tương quan. Bóng tối không xóa được chữ “Cha”. Đây là điều quý giá cho người đang đau khổ. Có lúc chúng ta không cảm thấy Chúa. Có lúc cầu nguyện khô khan đến mức tưởng không ai nghe. Có lúc nhìn đời chỉ thấy những cánh cửa khép lại. Đức tin khi ấy không phải cố tạo ra một cảm xúc đạo đức. Đức tin là vẫn gọi “Cha” trong bóng tối. Không hiểu nhưng vẫn gọi Cha. Đau nhưng vẫn gọi Cha. Nước mắt đầy mắt nhưng vẫn gọi Cha. Đó chính là đức tin của Thánh Giá.
Có những người sau một biến cố đau thương đã nói: “Tôi mất đức tin.” Có lẽ điều họ mất đôi khi không phải Thiên Chúa mà là một hình ảnh quá đơn giản về Thiên Chúa: cứ sống tốt thì sẽ không gặp đau khổ; cứ cầu nguyện thì mọi chuyện sẽ như ý; Chúa thương thì người thân sẽ không chết; Chúa công bằng thì người lành không bị oan. Nhưng Thánh Giá phá vỡ những công thức ấy. Người vô tội nhất lại chịu đau khổ nhất. Người Con yêu dấu lại đi qua Ghếtsêmani và Canvê. Thế mà chính ở đó tình yêu Chúa Cha không vắng mặt. Điều này không giải thích hết mọi đau khổ, nhưng cho ta một nền tảng để đứng: Thiên Chúa không cứu chúng ta bằng cách đứng ngoài đau khổ và giảng giải nó; Người bước vào trong đó. Thiên Chúa của Kitô giáo là Thiên Chúa có những vết thương.
Và vì Người đã đi qua Thánh Giá, không một vực sâu nào của đời người hoàn toàn xa lạ đối với Người. Bạn cô đơn ư? Người đã từng bị môn đệ bỏ chạy. Bạn bị phản bội ư? Người đã nhận nụ hôn của Giuđa. Bạn bị hiểu lầm ư? Người đã bị cáo gian. Bạn thấy lời cầu nguyện không được đáp lại theo ý mình ư? Người đã cầu xin chén đắng đi qua. Bạn đau thân xác ư? Người biết chiếc đinh là gì. Bạn chịu nhục nhã ư? Người đã bị lột áo trước đám đông. Bạn sợ chết ư? Người đã đi vào cái chết. Bạn cảm thấy Thiên Chúa xa vắng ư? Người đã kêu lên trong bóng tối. Không phải mọi câu hỏi đều có câu trả lời ngay, nhưng không một giọt nước mắt nào rơi ở nơi Đức Kitô chưa từng đi qua.
Chúa Thánh Thần làm một điều nữa rất lạ lùng: biến đau khổ riêng của ta thành khả năng yêu người khác. Có những người chưa từng khổ nên rất dễ nói những lời đúng mà lạnh. Nhưng một người đã từng ngồi trước phòng cấp cứu thường biết im lặng thế nào bên người đang lo. Một người từng chịu tang biết có những lúc không nên giảng đạo lý cho người vừa mất người thân. Một người từng thất bại biết cách nâng người thất bại lên mà không khinh. Một người từng được tha thứ thật sự sẽ bớt khắc nghiệt khi nhìn tội lỗi người khác. Không phải đau khổ tự nó làm ta tốt hơn; đau khổ cũng có thể làm con người cay đắng. Nhưng khi được trao cho Chúa Thánh Thần, nó có thể được biến đổi. Vết thương không biến mất, nhưng nó có thể thành cánh cửa của lòng thương xót.
Đây chính là một trong những dấu chỉ đẹp nhất cho thấy Chúa Thánh Thần đang làm việc trong đời ta: những gì từng khiến ta chỉ biết khóc cho mình dần làm ta biết khóc với người khác. Những gì từng khiến ta giận dữ dần trở thành sự dịu dàng. Những gì từng làm ta khép kín dần trở thành khả năng mở cửa. Đó là Phục Sinh đang xảy ra âm thầm. Phục Sinh không chỉ là biến cố xảy ra một lần cách đây hai ngàn năm. Mỗi lần một trái tim từ oán hận đi đến tha thứ, có một chút Phục Sinh. Mỗi lần một người thất vọng đứng dậy, có một chút Phục Sinh. Mỗi lần một gia đình tưởng đã không thể ngồi lại mà bắt đầu nói với nhau, có một chút Phục Sinh. Mỗi lần một tội nhân quay về tòa giải tội và dám tin rằng mình còn được yêu, có một chút Phục Sinh. Đó là công trình của Thánh Thần.
Thánh Giá bởi thế không phải lời ca tụng đau khổ, nhưng là lời công bố rằng tình yêu mạnh hơn đau khổ. Không phải cái chết tự nó cứu chúng ta; tình yêu của Đức Kitô trong cái chết cứu chúng ta. Không phải cứ đau nhiều là thánh; có người đau rồi trở nên độc ác hơn. Điều cứu độ là để Chúa biến nỗi đau của mình thành tình yêu. Chúa Giêsu không nói trên Thánh Giá: “Ta đau nhiều biết bao.” Người nói bằng toàn bộ sự sống: “Ta yêu các con đến cùng.” Điều làm Thánh Giá trở nên thánh không phải là gỗ, đinh, máu và cái chết, nhưng là tình yêu hoàn toàn hiện diện giữa gỗ, đinh, máu và cái chết ấy.
Một cảnh Tin Mừng khác giúp chúng ta thấy mầu nhiệm này thật rõ. Khi Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan, trời mở ra, Thánh Thần Thiên Chúa ngự xuống như chim bồ câu và tiếng Chúa Cha phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3,17). Ở Giođan, Ba Ngôi tỏ mình trong ánh sáng. Chúa Con đứng trong dòng nước, Thánh Thần ngự xuống, tiếng Chúa Cha vang lên. Nhưng trên Canvê, cũng chính Ba Ngôi ấy tỏ mình trong bóng tối của tình yêu tự hiến. Người Con yêu dấu vẫn là Người Con yêu dấu khi thân xác đầy thương tích. Chúa Cha vẫn là Cha khi không có tiếng từ trời giải cứu. Chúa Thánh Thần vẫn đang hành động ngay cả khi mọi thứ trông như kết thúc. Điều này cần được ghi thật sâu trong lòng: khi đời ta sáng sủa, Thiên Chúa ở đó; khi đời ta tối tăm, Thiên Chúa vẫn ở đó. Tình yêu của Người không được đo bằng việc hôm nay mọi sự có thuận lợi hay không.
Và rồi, đến ngày Phục Sinh, điều ẩn giấu trên Canvê được phơi mở. Sự vâng phục của Chúa Con không đi vào hư vô. Sự trao ban của Chúa Cha không kết thúc trong mồ. Quyền năng Chúa Thánh Thần không để Đấng Thánh phải hư nát. Thánh Giá và Phục Sinh không thể tách rời nhau. Nếu chỉ có Thánh Giá mà không Phục Sinh, Kitô giáo sẽ là tôn giáo của bi kịch. Nếu chỉ nói Phục Sinh mà không Thánh Giá, Kitô giáo sẽ thành một thứ lạc quan rẻ tiền. Đức tin Kitô giáo nói một điều sâu hơn: phải đi xuyên qua Thánh Giá, nhưng Thánh Giá không phải tiếng nói cuối cùng. Thứ Sáu Tuần Thánh có thật. Nhưng Chúa Nhật Phục Sinh cũng có thật. Ngôi mộ có thật. Nhưng ngôi mộ trống cũng có thật. Nước mắt có thật. Nhưng lời “Bình an cho anh em” cũng có thật.
Có lẽ hôm nay ai đó đang ở trong một ngày Thứ Sáu Tuần Thánh rất dài của đời mình. Một căn bệnh chưa biết ngày mai. Một đứa con làm cha mẹ mất ngủ. Một cuộc hôn nhân lạnh đến mức hai người sống chung mà như xa lạ. Một món nợ nặng trên vai. Một nỗi oan không biết giải thích với ai. Một người thân vừa nằm xuống. Một nỗi cô đơn không ai nhìn thấy. Một lỗi lầm quá khứ cứ trở về trong trí nhớ. Nếu đang ở đó, xin đừng ép mình phải vui giả tạo. Chúa Giêsu không giả vờ trong Ghếtsêmani. Hãy khóc nếu cần. Hãy nói với Chúa điều đang đau. Nhưng xin đừng buông tay. Hãy để Chúa Cha tiếp tục giữ bạn ngay cả khi bạn không cảm thấy. Hãy ở lại với Chúa Con chịu đóng đinh, vì Người hiểu. Và hãy mở một khe nhỏ cho Chúa Thánh Thần, bởi Người có thể bắt đầu một công trình mà hôm nay bạn chưa nhìn thấy.
Ba Ngôi Thiên Chúa không hứa với chúng ta một cuộc đời không có Thánh Giá. Người ban điều lớn hơn: chính Người hiện diện trong Thánh Giá. Chúa Cha hiện diện để nói rằng chúng ta chưa bao giờ ngừng là con. Chúa Con hiện diện để nói rằng không có nỗi đau nào chúng ta phải chịu một mình. Chúa Thánh Thần hiện diện để nói rằng không có ngôi mộ nào nhất thiết phải là chung cuộc.
Và rồi người Kitô hữu được mời trở nên dấu chỉ của Ba Ngôi giữa đời. Hãy là người biết trao ban trong một thế giới giữ lại. Hãy là người biết vâng phục điều thiện giữa một thế giới tôn thờ cái tôi. Hãy là người để Chúa Thánh Thần biến đổi mình giữa một thế giới rất dễ đóng khung người khác. Hãy tập trao một chút thời gian, một chút tiền bạc, một chút sự hiện diện, một chút tha thứ. Hãy tập nói “xin vâng” trước những điều Chúa mời gọi dù không hợp sở thích. Hãy tập tin rằng những đổ vỡ chưa phải là hết.
Nhất là hãy nhớ rằng mầu nhiệm Ba Ngôi không phải bài toán để giải, nhưng là tình yêu để bước vào. Một đứa trẻ không cần hiểu cấu trúc hóa học của nước mới uống được nước. Người Kitô hữu cũng không cần hiểu thấu mầu nhiệm Ba Ngôi mới có thể sống trong tình yêu Ba Ngôi. Mỗi khi làm dấu Thánh Giá và đọc: “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”, ta đang đặt toàn bộ đời mình vào trong mầu nhiệm ấy. Tay chạm trán: xin Chúa Cha soi trí. Tay chạm ngực: xin Chúa Con ngự trong tim. Tay đi từ vai này sang vai kia: xin Chúa Thánh Thần làm cho đời con trở thành tình yêu được mở rộng đến tha nhân. Chúng ta làm dấu Thánh Giá nhiều lần quá nên đôi khi quên mình đang tuyên xưng cả đức tin: Thiên Chúa Ba Ngôi đã cứu chúng ta bằng tình yêu Thánh Giá.
Ước gì mỗi lần nhìn lên Thánh Giá từ hôm nay, chúng ta đừng chỉ nhìn thấy một thân xác đau thương. Hãy nhìn thấy Chúa Cha đang nói: “Ta yêu con đến mức trao cho con điều quý nhất.” Hãy nghe Chúa Con nói: “Không ai lấy mạng sống của Thầy; chính Thầy tự ý trao ban.” Hãy tin Chúa Thánh Thần đang nói rất khẽ trong lòng: “Ta có thể làm mới những gì con tưởng đã chết.”
Và nếu một ngày nào đó ta chẳng còn đủ lời để cầu nguyện, chỉ cần đứng trước Thánh Giá. Đứng đó thôi. Nhìn. Im lặng. Để Chúa Cha yêu mình. Để Chúa Con ôm lấy nỗi đau của mình. Để Chúa Thánh Thần thổi vào vùng đất khô cằn trong lòng mình. Có những lúc cầu nguyện không cần nói gì nữa, bởi Thánh Giá đã nói tất cả: Chúa Cha đã trao tất cả, Chúa Con đã cho tất cả, Chúa Thánh Thần đang biến đổi tất cả.
Sau cùng, mầu nhiệm Ba Ngôi nơi Thánh Giá dạy chúng ta một chân lý có thể mang theo suốt đời: tình yêu thật bao giờ cũng có hình dáng của sự trao ban; sự trao ban thật luôn đòi một chút chết đi cho cái tôi; và cái chết đi vì tình yêu, khi được đặt trong tay Thiên Chúa, không bao giờ vô ích. Hạt lúa mì phải rơi xuống đất và chết đi mới sinh nhiều bông hạt. Đức Kitô đã đi con đường ấy trước chúng ta. Chúa Cha đã trao Người. Người Con đã vâng phục. Chúa Thánh Thần đã làm cho sự tự hiến ấy trở thành mùa gặt cứu độ cho cả nhân loại.
Xin cho chúng ta, khi làm dấu Thánh Giá mỗi sáng, đừng làm một cách máy móc. Xin biết mình đang bước vào một cuộc tình lớn. “Nhân danh Cha” – con xin học trao ban. “Và Con” – con xin học vâng phục trong tình yêu. “Và Thánh Thần” – con xin để đời con được biến đổi. Rồi khi bàn tay khép lại và miệng thưa “Amen”, xin cả đời cũng trở thành một lời Amen: Amen với tình yêu Chúa Cha, Amen với con đường Chúa Con, Amen với hoạt động âm thầm của Chúa Thánh Thần.
Để rồi một ngày, sau tất cả những Thánh Giá đã mang, những giọt nước mắt đã rơi, những lần vâng phục tưởng như mất mát, những điều đã trao đi mà không ai nhớ, những vết thương được Thánh Thần âm thầm biến đổi, chúng ta sẽ hiểu rằng không có chút tình yêu nào đã trao trong Chúa mà bị mất. Không có sự hy sinh nào vì yêu mà vô nghĩa. Không có Thứ Sáu Tuần Thánh nào kéo dài mãi mãi.
Bởi nơi nào Chúa Cha còn trao ban, nơi đó tình yêu chưa cạn. Nơi nào Chúa Con còn được đón nhận trong vâng phục, nơi đó con đường cứu độ vẫn mở. Nơi nào Chúa Thánh Thần còn hoạt động, nơi đó những ngôi mộ vẫn có thể bật tung.
Và nơi nào có Thánh Giá được ôm lấy bằng tình yêu, nơi đó, dù mắt ta chưa thấy, Phục Sinh đã bắt đầu.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ LÀ THẦN HỌC TIÊU CỰC (APOPHATIC) LỚN NHẤT CỦA KITÔ GIÁO
Có những lúc người ta nói về Thiên Chúa quá nhiều đến nỗi tưởng rằng mình đã hiểu Thiên Chúa. Người ta định nghĩa Ngài, phân tích Ngài, hệ thống hóa Ngài, chia các thuộc tính của Ngài thành từng chương, từng mục, từng phạm trù; rồi đôi khi, từ một mớ khái niệm rất chính xác về mặt thần học, người ta bắt đầu cư xử như thể Thiên Chúa đã nằm gọn trong trí óc mình. Nhưng Thiên Chúa mà con người có thể đặt vừa vặn trong một định nghĩa thì chắc chắn không còn là Thiên Chúa nữa. Thiên Chúa lớn hơn mọi điều ta nghĩ về Ngài, sâu hơn mọi lời ta nói về Ngài, thánh thiện hơn mọi hình ảnh ta dựng lên về Ngài. Bởi thế, bên cạnh con đường thần học khẳng định – nói rằng Thiên Chúa là Đấng tốt lành, quyền năng, khôn ngoan, yêu thương, công chính – truyền thống Kitô giáo còn biết đến một con đường khác âm thầm hơn, khiêm tốn hơn, và trong nhiều trường hợp lại gần mầu nhiệm hơn: con đường thần học tiêu cực, hay apophatic theology. Đây không phải là thứ thần học phủ nhận Thiên Chúa, càng không phải là thứ thần học bi quan, nhưng là thái độ thú nhận rằng Thiên Chúa vượt quá mọi ngôn từ. Ta nói Ngài tốt, nhưng Ngài không tốt theo kiểu con người tốt. Ta nói Ngài quyền năng, nhưng quyền năng của Ngài không giống quyền lực mà chúng ta quen thấy nơi thế gian. Ta nói Ngài yêu, nhưng tình yêu của Ngài vượt xa tất cả những kinh nghiệm yêu thương của con người. Cuối cùng, ngôn ngữ phải dừng lại trước mầu nhiệm. Và có lẽ không nơi nào ngôn ngữ phải dừng lại mạnh mẽ, đau đớn và thánh thiêng cho bằng trước Thánh Giá Đức Giêsu Kitô. Chính tại đó, tất cả những hình ảnh dễ dãi về Thiên Chúa bị phá vỡ. Chính tại đó, những định nghĩa quá tự tin của chúng ta về quyền năng, vinh quang, chiến thắng, công lý, tình yêu và cứu độ đều bị đặt lại. Thánh Giá là một lời mặc khải, nhưng lạ thay, đó lại là lời mặc khải bằng sự im lặng. Thánh Giá nói rất nhiều bằng cách không nói. Thánh Giá cho thấy Thiên Chúa bằng cách làm tan vỡ những gì chúng ta tưởng mình đã biết về Thiên Chúa. Theo nghĩa ấy, có thể nói Thánh Giá là “thần học tiêu cực” lớn nhất của Kitô giáo.
Nếu con người được quyền tự vẽ Thiên Chúa theo trí tưởng tượng của mình, có lẽ không ai vẽ Thiên Chúa trên một cây thập giá. Con người thích một vị thần mạnh mẽ, chiến thắng, không thể bị xúc phạm, không thể thất bại, không thể bị bắt, không thể bị đánh, không thể bị đóng đinh. Chúng ta dễ hình dung Thiên Chúa ngự trên ngai hơn bị treo giữa hai tên gian phi. Chúng ta dễ tin một Thiên Chúa làm cho kẻ thù quỳ xuống hơn một Thiên Chúa quỳ xuống rửa chân cho môn đệ. Chúng ta dễ hiểu một Thiên Chúa phán xét hơn một Thiên Chúa nói với kẻ đóng đinh mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Chúng ta dễ tưởng tượng một Thiên Chúa bất khả tổn thương hơn một Thiên Chúa để cho cạnh sườn mình bị đâm thủng. Vì vậy, Thánh Giá trước hết là sự phủ định những hình ảnh sai lầm của con người về Thiên Chúa. Nó nói với chúng ta: Thiên Chúa không giống như các ngươi tưởng. Quyền năng của Thiên Chúa không giống quyền lực của Caesar. Vinh quang của Thiên Chúa không giống vinh quang của những kẻ đứng trên đám đông. Chiến thắng của Thiên Chúa không giống chiến thắng của người nghiền nát đối thủ. Công lý của Thiên Chúa không giống sự trả đũa. Tình yêu của Thiên Chúa không giống thứ tình cảm chỉ tồn tại khi được đáp trả. Thánh Giá xóa từng nét một trên bức chân dung Thiên Chúa mà con người đã tự tay vẽ bằng tham vọng, sợ hãi, quyền lực và óc thống trị của mình.
Đứng trước Thánh Giá, ta phải thú nhận: mình đã hiểu sai về sức mạnh. Chúng ta thường nghĩ mạnh là không để ai làm mình đau. Đức Kitô lại cho thấy sức mạnh có thể là khả năng yêu ngay cả khi bị làm đau. Chúng ta nghĩ mạnh là thắng người khác. Đức Kitô cho thấy mạnh là không để sự dữ biến mình thành một phần của sự dữ. Chúng ta nghĩ mạnh là có thể trả thù nhưng không trả thù vì rộng lượng; Thánh Giá còn đi xa hơn: Đức Giêsu không những không trả thù mà còn cầu xin ơn tha thứ cho những người đang giết mình. Ta tưởng quyền năng là có thể xuống khỏi thập giá. Những kẻ chế giễu Người cũng nghĩ như thế: nếu ông là Con Thiên Chúa thì hãy xuống khỏi thập giá đi. Nhưng nếu Đức Giêsu xuống khỏi thập giá để chứng minh mình là Con Thiên Chúa, có lẽ Người đã chứng minh đúng điều mà thế gian luôn tin: rằng quyền lực tối hậu là khả năng tự cứu mình. Ngược lại, Người ở lại trên Thánh Giá. Chính khi không xuống, Người tỏ cho thấy một quyền năng khác: quyền năng không bỏ cuộc trong tình yêu. Người có thể thoát, nhưng Người không bỏ con người. Người có thể chấm dứt cuộc thương khó, nhưng Người đi đến cùng con đường yêu thương. “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (x. Ga 13,1). Hai chữ “đến cùng” ấy có lẽ là lời giải thích ngắn nhất cho toàn bộ Thánh Giá.
Thần học tiêu cực không nói rằng chúng ta chẳng biết gì về Thiên Chúa. Nó nói rằng điều chúng ta biết luôn luôn nhỏ hơn Đấng mà chúng ta biết. Chính Thánh Giá làm ta nhận ra điều ấy một cách dữ dội. Nếu trước Thánh Giá ta nói: “Thiên Chúa quyền năng”, thì ngay lập tức Thánh Giá hỏi ta: quyền năng nghĩa là gì? Nếu ta nói: “Thiên Chúa vinh quang”, Thánh Giá lại hỏi: vinh quang là gì? Nếu ta nói: “Thiên Chúa chiến thắng”, Thánh Giá hỏi: chiến thắng theo tiêu chuẩn nào? Nếu ta nói: “Thiên Chúa yêu thương”, Thánh Giá hỏi: yêu đến đâu? Và câu trả lời không còn là một khái niệm. Câu trả lời là một thân thể bị đóng đinh. Những bàn tay đã chữa lành người bệnh bị đóng vào gỗ. Những bàn chân đã đi tìm chiên lạc bị đóng lại. Đôi mắt từng nhìn người tội lỗi với lòng thương xót nay mờ đi vì máu và đau đớn. Đôi môi đã loan báo Nước Trời khô cháy vì cơn khát. Trái tim từng chạnh lòng trước đám đông bị lưỡi đòng xuyên qua. Thiên Chúa không đưa ra một bài định nghĩa dài về tình yêu; Ngài trao ban Con Một. Đức Kitô không đứng trên bục giảng ở Golgotha để giảng một bài thần học về tình yêu. Chính thân thể Người trở thành bài giảng. Những vết thương trở thành chữ viết. Máu trở thành mực. Cây thập giá trở thành trang sách. Và câu cuối cùng của trang sách ấy chỉ có thể đọc được bằng đầu gối quỳ xuống.
Đỉnh cao của thần học tiêu cực trên Thánh Giá có lẽ nằm trong tiếng kêu khiến mọi người Kitô hữu phải run sợ mỗi khi nghe lại: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34). Đây là một trong những câu đau đớn nhất của toàn bộ Tin Mừng. Đức Giêsu không diễn kịch đau khổ. Người thực sự đi vào vực thẳm của thân phận con người. Người đi đến nơi mà biết bao người trong lịch sử đã từng đứng: nơi người ta cầu nguyện mà tưởng như trời im lặng, nơi người ta kêu mà không nghe tiếng đáp, nơi người ta tin mà không còn cảm thấy gì, nơi người ta bị đau khổ nghiền nát đến độ ngay cả khuôn mặt Thiên Chúa cũng như khuất mất. Có những đêm của linh hồn mà lời cầu nguyện duy nhất còn lại chỉ là tiếng hỏi: “Chúa ở đâu?” Có những giường bệnh mà người ta không còn đủ sức đọc kinh. Có những bà mẹ mất con chỉ còn biết ngồi bất động. Có những người bị phản bội đến mức không còn biết cầu nguyện thế nào. Có những người sống tử tế cả đời rồi phải đối diện một chuỗi tai họa mà không có câu giải thích nào thỏa đáng. Nếu Kitô giáo chỉ rao giảng một Thiên Chúa đứng bên ngoài đau khổ, Kitô giáo sẽ không có gì để nói với những con người ấy ngoài những lời an ủi dễ dãi. Nhưng Thánh Giá cho thấy một điều hoàn toàn khác: ở nơi con người kêu “Thiên Chúa ở đâu?”, chính Thiên Chúa đã đi vào đó trước rồi.
Đó là nghịch lý không ngôn từ nào diễn tả nổi. Thiên Chúa bước vào kinh nghiệm tưởng như bị Thiên Chúa bỏ rơi. Ngôi Lời đời đời của Chúa Cha bước xuống sự im lặng tận cùng của kiếp người. Người không đứng ở bờ vực để giải thích vực thẳm; Người đi xuống vực thẳm. Người không gửi cho con người một cuốn sách giải thích tại sao họ đau; Người mang lấy đau khổ của họ. Người không từ trời nói: “Ta hiểu các ngươi”; Người trở thành một người trong chúng ta và khóc bằng nước mắt của chúng ta, đổ máu bằng máu của chúng ta, run sợ bằng nỗi sợ của chúng ta, chết cái chết của chúng ta. Vì vậy, Thánh Giá không giải thích tất cả vấn đề đau khổ theo kiểu một công thức toán học. Có những người thất vọng vì hỏi Kitô giáo: “Tại sao đứa trẻ ấy phải chết?” rồi mong nhận được một câu trả lời hoàn toàn sáng rõ. Thánh Giá không cho ta một lý thuyết đủ sức làm nước mắt biến mất. Thánh Giá cho ta một Đấng đang khóc với con người. Điều đó không loại bỏ câu hỏi, nhưng biến đổi nơi ta đặt câu hỏi. Ta không còn hỏi từ một thế giới nơi Thiên Chúa đứng xa sự đau đớn, nhưng từ một thế giới nơi chính Thiên Chúa đã mang dấu đinh trên tay.
Có lẽ điều sâu nhất của Thánh Giá không phải là nó giải nghĩa sự đau khổ, mà là nó cấm chúng ta nói về đau khổ một cách dễ dãi. Sau Golgotha, người Kitô hữu không được phép nhìn một người đang đau rồi lạnh lùng nói: “Đó là ý Chúa.” Cần hết sức cẩn trọng với cách nói ấy. Không phải mọi đau khổ đều do Thiên Chúa gửi đến. Không phải chiến tranh là ý Chúa. Không phải trẻ em bị hành hạ là ý Chúa. Không phải người nghèo bị bóc lột là ý Chúa. Không phải một người vợ bị đánh đập phải cam chịu vì đó là “thánh giá Chúa gửi”. Không phải bệnh tật, bất công, phản bội, bạo lực tự chúng trở thành điều thánh thiện chỉ vì ta gọi chúng là “thánh giá”. Thánh Giá Đức Kitô không phong thánh cho sự dữ. Trái lại, nó vạch trần sự dữ đến tận cùng. Tại Golgotha, ta thấy những gì tội lỗi con người có thể làm: tôn giáo có thể kết án người vô tội, quyền lực chính trị có thể hy sinh sự thật để giữ ghế, đám đông có thể bị kích động, bạn hữu có thể bỏ chạy, môn đệ có thể chối Thầy, con người có thể tra tấn con người, và một người hoàn toàn vô tội có thể bị đóng đinh giữa tiếng cười nhạo. Không có gì đẹp trong những chiếc đinh. Không có gì lãng mạn trong roi đòn. Không có gì thánh thiện trong việc hành hạ người vô tội. Điều làm Thánh Giá trở nên thánh không phải là sự tàn bạo của con người, mà là tình yêu của Đức Kitô đi xuyên qua sự tàn bạo ấy mà không biến thành hận thù.
Đó là chỗ thần học tiêu cực của Thánh Giá trở thành thần học về tình yêu. Thánh Giá phủ định hình ảnh một Thiên Chúa bạo lực để mặc khải một Thiên Chúa chịu bạo lực mà không đáp lại bằng bạo lực. Nó phủ định hình ảnh một Thiên Chúa chỉ yêu người tốt để mặc khải Đấng chết cho con người khi họ vẫn còn là tội nhân. Nó phủ định hình ảnh một Thiên Chúa yêu có điều kiện để mặc khải tình yêu không rút lui ngay cả khi bị khước từ. Nó phủ định hình ảnh một Thiên Chúa chỉ hiện diện khi mọi chuyện tốt đẹp để mặc khải Đấng hiện diện ngay giữa sự đổ vỡ. Nó phủ định một Thiên Chúa của thành công để mặc khải Thiên Chúa của sự trung tín. Bởi vậy, người ta không thể hiểu Thánh Giá chỉ bằng cách nhìn vào đau khổ. Phải nhìn vào tình yêu đang ở trong đau khổ ấy. Hai người có thể chịu cùng một đau đớn, nhưng ý nghĩa không giống nhau. Đức Giêsu không cứu thế giới vì Người đau nhiều hơn mọi người; Người cứu thế giới vì trong chính sự đau khổ ấy, Người trao ban chính mình hoàn toàn cho Chúa Cha và cho nhân loại.
Trong Tin Mừng Gioan, có một câu rất lạ: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,32). Được “giương cao” vừa có nghĩa bị treo trên thập giá vừa vang lên ý nghĩa được tôn vinh. Đây chính là ngôn ngữ nghịch lý của Tin Mừng. Chỗ nhục nhã nhất lại trở thành nơi vinh quang. Chỗ tưởng như Thiên Chúa thất bại lại trở thành nơi tình yêu Thiên Chúa chiến thắng. Chỗ Đức Giêsu bị loại bỏ khỏi thế giới lại trở thành nơi Người ôm lấy cả thế giới. Thần học thông thường của chúng ta có xu hướng chia hai điều này ra: đau khổ ở một bên, vinh quang ở một bên; thất bại ở đây, chiến thắng ở kia; Thứ Sáu Tuần Thánh là bóng tối, Chúa Nhật Phục Sinh mới là ánh sáng. Nhưng Tin Mừng Gioan nhìn sâu hơn: chính giờ Đức Giêsu bị nâng lên trên thập giá đã là giờ Người được tôn vinh, bởi vinh quang của Thiên Chúa chính là tình yêu hiến mình đến tận cùng. Phục Sinh không xóa bỏ Thánh Giá như xóa một sự cố đáng tiếc. Đấng Phục Sinh vẫn mang dấu đinh. Khi hiện ra với Tôma, Người không nói: “Mọi chuyện đã qua, hãy quên những vết thương này đi.” Người nói: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy” (x. Ga 20,27). Đấng sống lại vẫn là Đấng đã bị đóng đinh. Vết thương không còn chảy máu, nhưng không biến mất. Tình yêu đã chiến thắng, nhưng lịch sử của tình yêu vẫn được ghi trên thân thể Người.
Vì thế, ai muốn làm thần học Kitô giáo mà bỏ qua Thánh Giá sẽ sớm tạo ra một Thiên Chúa theo hình ảnh con người. Thánh Giá là tiêu chuẩn thanh luyện mọi lời chúng ta nói về Thiên Chúa. Ta nói Thiên Chúa toàn năng ư? Hãy nhìn Đức Giêsu bị đóng đinh rồi mới nói. Ta nói Thiên Chúa là Vua ư? Hãy nhìn mão gai rồi mới nói. Ta nói Thiên Chúa vinh quang ư? Hãy nhìn thân thể trần trụi của Người rồi mới nói. Ta nói Thiên Chúa chiến thắng ư? Hãy đứng bên Đức Maria dưới chân Thánh Giá rồi mới nói. Ta nói Thiên Chúa yêu con người ư? Hãy nhìn cạnh sườn bị đâm rồi mới nói. Mọi danh xưng thần học phải đi qua Golgotha. Nếu không, rất có thể chúng ta đang nói về một vị thần do mình tạo ra chứ không phải Thiên Chúa được Đức Giêsu Kitô mặc khải.
Điều này đặc biệt quan trọng khi nói về “quyền năng” của Thiên Chúa. Trong lịch sử, con người nhiều lần vô thức chiếu mô hình quyền lực chính trị của mình lên Thiên Chúa. Vua trần gian có quân đội, vậy Thiên Chúa phải có đạo binh khủng khiếp hơn. Vua trần gian bắt kẻ chống đối quỳ xuống, vậy Thiên Chúa phải nghiền nát kẻ thù nhanh hơn. Người quyền thế không để ai xúc phạm, vậy Thiên Chúa càng không thể tha thứ dễ dàng. Nhưng rồi Đức Giêsu xuất hiện và phá tung những hình dung ấy. Người nói: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9). Và Con Người mà ta thấy ấy đang làm gì? Đang rửa chân. Đang chạm đến người phong hủi. Đang ngồi ăn với người tội lỗi. Đang để một phụ nữ tội lỗi khóc dưới chân mình. Đang tìm một con chiên lạc. Đang ôm trẻ nhỏ. Đang khóc trước mộ Ladarô. Và cuối cùng đang bị treo trên thập giá. Nếu Đức Giêsu thật sự là mặc khải trọn vẹn của Chúa Cha, thì từ nay ta không thể nói về quyền năng Thiên Chúa mà không để cho hình ảnh Đức Kitô chịu đóng đinh thanh luyện khái niệm quyền năng ấy.
Quyền năng tối hậu của Thiên Chúa là quyền năng của tình yêu không bị sự dữ đánh bại. Người ta có thể đóng đinh Đức Giêsu nhưng không thể bắt Người căm thù. Có thể lột áo Người nhưng không thể lấy khỏi Người lòng thương xót. Có thể chế giễu Người nhưng không thể làm Người ngừng yêu. Có thể giết Người nhưng không thể giết được tình yêu mà Người đã trao ban. Đó là sức mạnh khiến đế quốc phải sợ, không phải vì nó sở hữu một đạo quân lớn hơn, mà vì nó không chơi theo luật của bạo lực. Kẻ bạo lực biết cách đối phó với bạo lực mạnh hơn; hắn chỉ cần thêm vũ khí. Nhưng hắn bất lực trước một tình yêu sẵn sàng chết mà không chịu trở thành thù hận. Thập giá của người Rôma vốn được tạo ra để nói với thế giới: “Caesar mạnh, ngươi yếu.” Đức Kitô biến chính cây thập giá ấy thành lời tuyên bố hoàn toàn khác: “Tình yêu mạnh hơn quyền lực giết người.”
Đến đây ta hiểu vì sao thánh Phaolô đã viết những lời gần như điên rồ đối với lý trí bình thường: “Chúng tôi rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ” (x. 1 Cr 1,23). Thánh Giá gây vấp phạm bởi vì nó phá vỡ tất cả tiêu chuẩn của tôn giáo và triết học thời ấy. Người ta mong Thiên Chúa chứng tỏ quyền lực bằng dấu lạ. Người ta tìm một hệ thống minh triết có thể giải thích thế giới. Phaolô lại đặt giữa quảng trường một con người bị đóng đinh và nói: đây là sự khôn ngoan của Thiên Chúa, đây là quyền năng của Thiên Chúa. Đúng là điên rồ nếu đo bằng tiêu chuẩn thế gian. Nhưng chính sự “điên rồ” ấy làm lộ ra cái điên rồ sâu hơn của thế gian: thế gian gọi kẻ giết người là mạnh và gọi người chịu chết vì tình yêu là yếu; thế gian gọi người chiếm được nhiều là thành công và người trao ban chính mình là thất bại; thế gian tôn người ngồi ngai và cười nhạo người mang thập giá. Thánh Giá đảo ngược bảng giá trị ấy.
Và đó cũng là lý do người Kitô hữu phải rất dè dặt mỗi khi nghĩ mình đã hiểu Thánh Giá. Không phải cứ mang thánh giá trên cổ là hiểu Thánh Giá. Không phải cứ đặt thánh giá trên bàn thờ là sống tinh thần Thánh Giá. Không phải cứ nói “vác thánh giá” nhiều lần là đã đi vào mầu nhiệm Thánh Giá. Thậm chí có lúc con người sử dụng chính biểu tượng Thánh Giá để phục vụ những điều trái với Thánh Giá: dùng Thánh Giá để khẳng định quyền lực, để loại trừ người khác, để biện minh bạo lực, để khoe căn tính tôn giáo, để phán xét những người yếu đuối. Khi đó, cây thập giá có thể hiện diện trước mắt nhưng Đấng bị đóng đinh lại vắng mặt trong lòng. Thánh Giá chỉ thật sự được hiểu khi nó bắt đầu thay đổi cách ta nhìn người khác, nhất là người yếu, người bị bỏ rơi, người làm ta khó chịu, người đã xúc phạm ta, người chẳng đem lại lợi ích gì cho ta.
Nếu Thánh Giá là thần học tiêu cực lớn nhất, thì nó cũng phủ định một thứ đạo đức thích phô trương. Trên Golgotha, Đức Giêsu không còn gì để trình diễn. Không còn đám đông tung hô. Không còn phép lạ khiến người ta thán phục. Không còn những bài giảng trên núi. Không còn cảnh năm ngàn người được ăn no. Không còn tiếng “Hosanna”. Những người từng hưởng phép lạ không biết đang ở đâu. Nhiều môn đệ đã chạy trốn. Một trong nhóm Mười Hai phản bội, một người khác chối Thầy ba lần. Cuối cùng còn vài phụ nữ trung thành, người môn đệ được yêu mến và một người Mẹ đứng im dưới chân thập giá. Tất cả những gì bên ngoài có thể làm nên một “sự nghiệp thành công” đều sụp xuống. Chỉ còn lại điều cốt lõi: Đức Giêsu và tình yêu của Người. Và kỳ lạ thay, khi mọi thành công bề ngoài biến mất, căn tính sâu nhất của Người lại sáng hơn bao giờ hết.
Đó là bài học đáng sợ cho đời sống Giáo Hội. Giáo Hội có thể có nhà thờ lớn mà không có tinh thần Thánh Giá. Có thể có những chương trình hoành tráng mà thiếu lòng thương xót. Có thể có hàng triệu lượt xem nhưng không làm ai gần Đức Kitô hơn. Có thể có quyền lực xã hội nhưng đánh mất sức mạnh Tin Mừng. Có thể bảo vệ giáo lý rất mạnh mẽ nhưng làm tổn thương những con người mà giáo lý ấy nhằm dẫn đến ơn cứu độ. Có thể nói rất đúng về Thiên Chúa mà lại sống rất sai với người nghèo. Thánh Giá đứng giữa Giáo Hội như một câu hỏi không bao giờ được phép tắt: chúng ta đang theo Đức Kitô chịu đóng đinh hay chỉ đang sử dụng tên của Người? Giáo Hội càng gần Thánh Giá càng phải khiêm tốn. Giáo Hội càng nhìn lên Đấng bị lột trần càng phải bớt ham những thứ trang sức quyền lực. Giáo Hội càng tôn kính Đấng bị đâm cạnh sườn càng phải gần những người có trái tim bị cuộc đời đâm thủng.
Thánh Giá cũng phủ định một thứ thiêng liêng trốn chạy đời sống. Có người muốn tìm Thiên Chúa trong những cảm xúc đạo đức thật dễ chịu nhưng lại không muốn gặp Ngài nơi người đang đau khổ. Họ thích giờ chầu Thánh Thể nhưng không muốn lắng nghe người cô đơn. Họ thích những lời kinh đẹp nhưng khó tha thứ cho người trong gia đình. Họ hôn tượng chịu nạn ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng vẫn có thể làm tổn thương người sống bên cạnh. Khi đó, việc đạo đức chưa đi đến tận cùng ý nghĩa của mình. Ta phải quỳ trước Thánh Giá, nhưng rồi Thánh Giá sẽ bắt ta đứng lên và đi đến những cây thập giá bằng xương bằng thịt đang hiện diện quanh mình. Một ông cụ bị con cái bỏ quên. Một em nhỏ sống trong gia đình tan vỡ. Một người bệnh không ai thăm. Một người nghèo bị khinh. Một phụ nữ bị bạo hành. Một người tù không còn ai nhớ tên. Một người đang tuyệt vọng trên mạng xã hội nhưng mọi người chỉ nhìn họ như một tài khoản. Một linh mục kiệt sức mà chẳng dám nói với ai. Một tu sĩ sống giữa cộng đoàn nhưng cô độc. Một người trẻ có hàng ngàn người theo dõi nhưng không tìm được một người để khóc trước mặt. Những cây thập giá ấy là nơi thần học phải đi đến. Nếu thần học chỉ nằm trong sách mà không nhận ra Đức Kitô nơi những người bị đóng đinh hôm nay, thần học ấy chưa học đủ dưới chân Thánh Giá.
Thần học apophatic còn dạy ta về sự im lặng. Có những lúc lời nói về Thiên Chúa trở thành bất kính vì chúng ta nói quá nhanh trước nỗi đau của người khác. Một gia đình vừa mất con, đừng vội giảng cho họ về “kế hoạch nhiệm mầu”. Một người vừa nhận tin bệnh nặng, đừng lập tức nói “Chúa thử thách người Chúa yêu”. Một người bị phản bội, đừng vội bảo họ “phải tha thứ ngay”. Những câu ấy có thể chứa một phần sự thật, nhưng sự thật nói sai lúc có thể trở thành một nhát dao. Hãy nhìn Đức Maria dưới chân Thánh Giá. Tin Mừng không kể Mẹ đã giảng một lời nào. Mẹ đứng đó. Có những lúc tình yêu cao nhất không phải là giải thích nhưng là ở lại. Có những nỗi đau không cần một bài giảng; nó cần một bàn tay. Có những câu hỏi không cần câu trả lời; nó cần một người không bỏ đi. Có những đêm người ta chẳng cần nghe “mọi chuyện rồi sẽ ổn”; họ cần một người dám ngồi cạnh họ khi mọi chuyện chưa ổn.
Đức Maria là một bậc thầy của thần học apophatic dưới chân Thánh Giá. Thiên thần từng nói Con của Mẹ “sẽ nên cao cả”, “sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao”, “triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận”. Thế mà bây giờ Con ấy đang chết như một tử tội. Simeon từng nói về một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn Mẹ; giờ đây lời ấy trở thành thịt và máu. Mẹ có thể hiểu nổi không? Có lẽ không theo nghĩa trí óc con người có thể sắp xếp tất cả thành một hệ thống sáng rõ. Nhưng Mẹ đứng. “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Chỉ một chữ “đứng” đã đủ cho cả một nền linh đạo. Mẹ không chạy khỏi mầu nhiệm mình không hiểu. Mẹ không buông đức tin vì lời hứa của Thiên Chúa lúc ấy có vẻ mâu thuẫn với điều mắt Mẹ đang thấy. Mẹ đứng giữa lời hứa và thập giá. Mẹ giữ lấy Thiên Chúa ngay khi không còn hiểu cách Thiên Chúa hành động. Đức tin trưởng thành đôi khi chính là như vậy: không phải hiểu hết rồi mới tin, nhưng có lúc là tiếp tục ở lại khi chẳng còn hiểu nổi.
Có những thời điểm trong đời ta cũng như thế. Khi còn trẻ, ta dễ nghĩ đời sống đức tin sẽ vận hành theo một logic khá thẳng: mình sống tốt thì Chúa chúc lành, mình cầu xin thì Chúa đáp, mình dâng hiến thì Chúa bảo vệ, mình trung thành thì đường đời sẽ tương đối êm. Nhưng rồi đời sống đưa ta đến những Golgotha riêng. Một điều ta cầu xin suốt nhiều năm vẫn không xảy ra. Một người mình yêu ra đi quá sớm. Một người mình tin phản bội. Một dự định đẹp thất bại. Một cộng đoàn mình phục vụ lại làm mình tổn thương. Một căn bệnh xuất hiện. Một thời kỳ khô khan kéo dài. Lúc ấy, những câu trả lời của thời mới tin không còn đủ nữa. Ta bước vào một đức tin trần trụi hơn. Không còn bám vào cảm giác. Không còn bám vào thành công. Không còn bám vào việc mọi chuyện diễn ra theo ý mình. Chỉ còn câu hỏi: dù không hiểu, tôi có còn tin rằng Chúa đáng được yêu không? Dù lời cầu xin chưa được đáp theo cách tôi mong, tôi có còn ở lại không? Dù không cảm thấy Chúa, tôi có còn chọn Chúa không?
Đó là nơi Thánh Giá làm cho đức tin trưởng thành. Đức tin trẻ thơ thường nói: “Con tin Chúa vì Chúa ban cho con điều này.” Đức tin được thanh luyện sẽ có ngày phải nói: “Ngay cả khi con không hiểu điều Chúa đang cho phép xảy ra, con vẫn trao đời con trong tay Chúa.” Đức Giêsu trên Thánh Giá đi chính con đường ấy. Sau tiếng kêu “Sao Ngài bỏ rơi con?”, Tin Mừng Luca ghi lại lời cuối cùng: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Hai lời ấy không chống nhau. Chúng cho thấy chiều sâu của đức tin. Đức Giêsu không che giấu kinh nghiệm bị bỏ rơi, nhưng ngay trong bóng tối Người vẫn gọi Thiên Chúa là “Cha” và vẫn phó mình vào tay Cha. Đức tin không phải là không bao giờ cảm thấy bị bỏ rơi; đức tin là có thể phó thác ngay cả khi cảm giác bị bỏ rơi đang xé lòng mình.
Chính ở đây Thánh Giá chữa ta khỏi một sai lầm tôn giáo rất phổ biến: đồng hóa sự hiện diện của Thiên Chúa với cảm giác dễ chịu. Ta tưởng khi cầu nguyện sốt sắng, Chúa ở gần; khi khô khan, Chúa ở xa. Khi mọi chuyện thuận lợi, Chúa chúc lành; khi tai họa xảy đến, Chúa bỏ mình. Nhưng ở Golgotha, nếu nhìn bằng cảm xúc, đó là lúc Chúa Cha dường như xa nhất. Tuy nhiên, trong chính biến cố ấy, tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con đang được biểu lộ đến tận cùng trong Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa có thể gần ta nhất vào lúc ta cảm thấy Ngài xa nhất. Sự vắng mặt mà ta cảm thấy không luôn luôn đồng nghĩa với sự vắng mặt thật của Thiên Chúa. Đôi khi Thiên Chúa đang làm một công trình sâu đến mức các giác quan thiêng liêng của ta không thể nhận ra.
Nhưng cần nói ngay rằng Thánh Giá không kết thúc trong hư vô. Thần học apophatic Kitô giáo không phải là khoảng tối vô vọng. Im lặng của Thứ Sáu Tuần Thánh dẫn đến bình minh Phục Sinh. Tuy nhiên, điều quan trọng là Phục Sinh không hủy Thánh Giá; Phục Sinh xác nhận Thánh Giá. Chúa Cha không nói rằng tình yêu của Đức Giêsu trên Golgotha là một sai lầm. Ngài làm cho tình yêu ấy sống lại. Phục Sinh là lời “Amen” của Chúa Cha đối với toàn bộ cuộc đời tự hiến của Chúa Con. Thế gian nói: người yêu như thế sẽ chết. Chúa Cha trả lời bằng Phục Sinh: tình yêu như thế mới là sự sống thật. Thế gian nói: kẻ không tự cứu mình là kẻ thất bại. Chúa Cha nói: chính Đấng trao ban chính mình được tôn vinh. Thế gian nói: thập giá là dấu chấm hết. Thiên Chúa biến nó thành cánh cửa.
Bởi vậy, khi nói Thánh Giá là thần học tiêu cực lớn nhất của Kitô giáo, ta không dừng ở chữ “không”. Thánh Giá nói không với thần tượng để nói có với Thiên Chúa thật. Nói không với quyền lực thống trị để nói có với quyền năng phục vụ. Nói không với tình yêu chiếm hữu để nói có với tình yêu hiến mình. Nói không với sự trả thù để nói có với tha thứ. Nói không với thành công bằng mọi giá để nói có với trung tín đến cùng. Nói không với một Thiên Chúa xa lạ trước đau khổ để nói có với Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta – ngay cả trong đêm tối. Mọi phủ định của apophatic cuối cùng đều nhằm thanh luyện lòng ta để ta có thể đón nhận Thiên Chúa như Ngài là, chứ không phải như ta muốn Ngài phải là.
Một đoạn Tin Mừng có thể minh họa tuyệt đẹp cho mầu nhiệm này là cảnh Đức Giêsu chịu đóng đinh trong Tin Mừng Luca. Chung quanh Người là chế giễu, bạo lực và nhục nhã. Các thủ lãnh nói: “Hắn cứu được người khác, thì cứu lấy mình đi.” Lính tráng cũng nhạo Người. Một tên gian phi cùng chịu đóng đinh còn thách thức: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!” (x. Lc 23,35-39). Toàn bộ logic của thế gian nằm trong câu ấy: nếu thật sự có quyền năng, hãy tự cứu mình. Nhưng Đức Giêsu không tự cứu mình. Người cứu người khác bằng cách không tự cứu mình. Tên gian phi còn lại, giữa một thế giới đang chế giễu, bỗng nhận ra điều mà bao người đạo đức không nhận ra. Anh nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Đức Giêsu đáp: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Thật lạ. Người đang bị treo như kẻ thất bại lại hứa Thiên Đàng. Người không có một tấc đất để đặt chân lại trao một Vương Quốc. Người không thể cử động đôi bàn tay lại mở cửa đời đời cho một người tội lỗi. Người bị thế gian kết án lại ban ơn tha thứ. Người sắp chết lại hứa sự sống. Đó là Thánh Giá. Nếu nhìn bằng mắt thế gian, đó là bất lực. Nếu nhìn bằng mắt đức tin, đó là quyền năng cứu độ đang hành động ở tầng sâu nhất.
Có lẽ đây cũng là lý do những ai đã đi qua đau khổ sâu thường nói về Thiên Chúa ít hơn nhưng lời họ có trọng lượng hơn. Người chưa từng khóc dễ nói về nước mắt. Người chưa từng mất mát dễ giải thích sự quan phòng. Người chưa từng trải qua đêm tối dễ dạy người khác phải tin. Nhưng người đã từng đứng trước một nấm mộ, từng ngồi cạnh một giường bệnh, từng trải qua đêm cầu nguyện mà không nhận được câu trả lời, nếu vẫn còn giữ được đức tin, họ thường nói nhỏ hơn. Họ không còn nhiều công thức. Họ không cố giải thích mọi chuyện. Họ chỉ có thể nói: “Tôi không hiểu hết. Nhưng ở một nơi rất sâu, tôi biết Chúa đã không bỏ tôi.” Đó là thứ thần học được viết bằng nước mắt. Và nhiều khi một giọt nước mắt của người đã trung thành giữa đau khổ có sức thuyết phục hơn cả một thư viện.
Người linh mục cũng phải học thứ thần học ấy. Không chỉ học để giảng, nhưng để biết im lặng. Có những lúc người linh mục đứng cạnh một quan tài và mọi kiến thức thần học bỗng trở nên nhỏ bé. Trước mặt mình là một người mẹ khóc con, một người vợ mất chồng, những đứa trẻ không hiểu tại sao cha không trở về. Người linh mục có thể nói về Phục Sinh, và phải nói; nhưng nếu chưa biết đứng dưới Thánh Giá, lời nói về Phục Sinh dễ trở nên quá nhanh. Cần học với Đức Maria nghệ thuật đứng lại. Học với người môn đệ được yêu nghệ thuật hiện diện. Học với Đức Giêsu nghệ thuật mang nỗi đau của người khác mà không giải thích họ ra khỏi nỗi đau ấy. Có những ngày sứ vụ linh mục không phải là nói được một câu thật hay, mà là không bỏ đi khi người khác đang tan vỡ.
Thánh Giá cũng là một cuộc phán xét đối với cái tôi tôn giáo của chúng ta. Cái tôi luôn muốn hiểu, kiểm soát, sở hữu. Ta muốn sở hữu cả Thiên Chúa bằng các khái niệm. Ta muốn biết tại sao Chúa làm điều này, tại sao Chúa không làm điều kia. Ta muốn Chúa giải trình. Nhưng Gióp cuối cùng không nhận được một bảng giải đáp tất cả câu hỏi; ông gặp Thiên Chúa. Và đôi khi đó cũng là con đường Kitô hữu: ta đi tìm một câu trả lời, cuối cùng Thiên Chúa trao cho ta chính Ngài. Thánh Giá là nơi Thiên Chúa không trao một lý thuyết nhưng trao Người Con. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một” (Ga 3,16). Chữ quan trọng là “ban”. Khi con người hỏi: “Chúa yêu con thế nào?”, câu trả lời Kitô giáo không phải trước hết là một cảm giác, một thành công hay một phép lạ. Câu trả lời là: hãy nhìn Đấng bị đóng đinh.
Và nếu cứ nhìn lâu vào Thánh Giá, có ngày ta sẽ nhận ra một điều gây xấu hổ: nhiều thứ ta từng gọi là “Thiên Chúa” thật ra chỉ là mong muốn của mình được phóng đại. Ta muốn một Thiên Chúa luôn làm theo ý ta. Ta muốn một Thiên Chúa bảo vệ nhóm của ta và trừng phạt nhóm khác. Ta muốn một Thiên Chúa bảo đảm thành công. Ta muốn một Thiên Chúa cho mình cảm giác an toàn. Ta muốn một Thiên Chúa hợp thức hóa quan điểm của mình. Thánh Giá lần lượt lấy những thần tượng ấy khỏi tay ta. Cuối cùng chỉ còn lại một Thiên Chúa không thể sử dụng cho bất cứ chương trình ích kỷ nào, bởi Ngài là tình yêu tự hiến.
Người ta có thể biến hầu như mọi thứ thành công cụ của quyền lực, kể cả tôn giáo. Nhưng rất khó sử dụng Đức Kitô bị đóng đinh để biện minh cho kiêu căng nếu thật sự nhìn Người. Làm sao đứng trước một Thiên Chúa trần trụi rồi còn khoe khoang? Làm sao đứng trước Đấng rửa chân rồi tranh chỗ nhất? Làm sao nhìn Đấng tha thứ cho kẻ giết mình rồi nuôi hận thù suốt mười năm? Làm sao hôn chân tượng chịu nạn rồi về nhà không nói chuyện với anh em chỉ vì một câu xúc phạm? Làm sao ngắm cạnh sườn bị đâm rồi dửng dưng trước người đau khổ? Nếu Thánh Giá không làm ta mềm đi, có thể ta mới chỉ nhìn cây gỗ chứ chưa nhìn thấy Đấng đang ở trên đó.
Mỗi lần làm dấu Thánh Giá, người Kitô hữu thực ra đang chạm vào mầu nhiệm apophatic này. “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.” Ta vẽ trên thân mình dấu của một hình phạt tử hình đã trở thành dấu cứu độ. Ta tuyên xưng Ba Ngôi bằng hình Thánh Giá. Điều đó thật kỳ lạ. Kitô giáo không chọn một vòng tròn hoàn hảo, một ngai vàng hay một mặt trời huy hoàng làm cử chỉ căn bản hằng ngày; Kitô hữu đặt trên chính thân thể mình dấu của Đấng bị đóng đinh. Nghĩa là mỗi ngày, trước khi đi làm, trước khi ăn, trước khi ngủ, trước khi cầu nguyện, ta nhắc mình: Thiên Chúa mà tôi tin là Thiên Chúa đã yêu đến mức này. Và đời tôi, nếu thuộc về Ngài, cũng phải học cùng một hình dáng của tình yêu.
Nhưng đừng hiểu điều ấy theo nghĩa đi tìm đau khổ. Kitô giáo không phải là tôn giáo mê đau khổ. Đức Giêsu chữa bệnh, nuôi người đói, giải phóng người bị quỷ ám, khóc với người có tang. Người không nói đau khổ tự nó là tốt. Người cũng cầu nguyện trong Vườn Dầu: “Lạy Cha, nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén này.” Điều Kitô giáo tôn kính không phải đau khổ vì đau khổ, nhưng tình yêu có khả năng vẫn yêu giữa đau khổ. Ta không cần đi tìm thập giá; đời sống có đủ rồi. Điều cần xin không phải là thêm đau khổ, nhưng là ân sủng để trong những điều không thể tránh, ta không đánh mất tình yêu.
Cuối cùng, đứng trước Thánh Giá, thần học phải trở thành cầu nguyện. Có một điểm trí óc không thể đi tiếp mà trái tim phải quỳ xuống. Ta có thể đọc hàng trăm cuốn sách về cứu chuộc, nhưng một ngày nào đó vẫn phải đứng trước tượng chịu nạn và để mình được nhìn. Không chỉ ta nhìn Đức Kitô; Người nhìn ta. Và dưới cái nhìn ấy, bao lớp mặt nạ rơi xuống. Ta không cần tỏ ra mạnh. Không cần giả vờ đạo đức. Không cần che những thất bại. Không cần giấu những vết thương. Đấng trước mặt ta đã trần trụi; ta cũng có thể trần trụi trong sự thật. Người biết tội ta mà vẫn ở lại. Người biết những lần ta phản bội mà vẫn yêu. Người biết lòng ta đổi thay bao lần mà tình yêu Người không đổi.
Có lẽ điều sâu nhất Thánh Giá nói với con người cuối cùng chỉ là: đừng bao giờ nghĩ rằng ngươi đã hiểu hết Thiên Chúa. Khi ngươi nghĩ Thiên Chúa chỉ là quyền năng, hãy nhìn Thánh Giá. Khi ngươi nghĩ Thiên Chúa chỉ đứng với người thành công, hãy nhìn Thánh Giá. Khi ngươi tưởng đau khổ chứng minh Thiên Chúa đã bỏ ngươi, hãy nhìn Thánh Giá. Khi ngươi nghĩ tội mình quá lớn để được tha, hãy nhìn Thánh Giá. Khi ngươi muốn trả thù, hãy nhìn Thánh Giá. Khi ngươi muốn bỏ một người vì họ không còn xứng đáng, hãy nhìn Thánh Giá. Khi ngươi nghĩ tình yêu có giới hạn, hãy nhìn Thánh Giá.
Và rồi hãy im lặng.
Bởi có những mầu nhiệm càng giải thích càng nhỏ đi. Có những sự thật chỉ có thể hiểu bằng việc ở lại thật lâu. Có những lời chỉ có thể nghe khi tất cả những tiếng nói khác đã tắt.
Chiều Canvê hôm ấy, giữa trời đất là một Đấng bị đóng đinh. Người ta nhìn Người và tưởng rằng Thiên Chúa đã thua. Nhưng chính khi ấy, Thiên Chúa đang cho nhân loại biết Ngài là ai theo một cách mà không một triết gia nào có thể nghĩ ra: Ngài là Tình Yêu.
Không phải tình yêu đứng xa đau khổ.
Không phải tình yêu chỉ ban điều dễ chịu.
Không phải tình yêu đòi người khác phải xứng đáng rồi mới yêu.
Mà là tình yêu đi xuống tận đáy vực sâu để không một con người nào khi rơi xuống đó còn có thể nói: “Ở đây Thiên Chúa chưa từng đến.”
Người đã đến.
Người đã ở đó.
Người đã khóc.
Người đã kêu.
Người đã đổ máu.
Người đã chết.
Và Người đã sống lại.
Bởi vậy, Kitô giáo không có một câu trả lời đơn giản cho mọi câu hỏi của thế giới. Kitô giáo có Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Có những lúc đó là câu trả lời duy nhất chúng ta có thể trao. Và cũng là câu trả lời lớn nhất.
Thánh Giá là nơi lời nói về Thiên Chúa bị thanh luyện đến tận cùng. Là nơi mọi thần tượng về Thiên Chúa sụp xuống. Là nơi lý trí nhận ra giới hạn của mình. Là nơi đức tin bước vào đêm tối. Là nơi tình yêu được mặc khải không bằng định nghĩa nhưng bằng một thân thể hiến trao. Là nơi sự im lặng của Thiên Chúa hóa thành Lời sâu nhất. Là nơi thất bại trở thành chiến thắng, yếu đuối trở thành quyền năng, cái chết mở vào sự sống.
Và vì thế, có thể nói: Thánh Giá là thần học tiêu cực lớn nhất của Kitô giáo, bởi trước Thánh Giá, ta không còn đủ sức nói Thiên Chúa là gì theo những phạm trù của mình; ta chỉ còn có thể nhìn và thú nhận rằng Thiên Chúa hoàn toàn khác với điều con người tưởng, nhưng đồng thời lại gần con người hơn bất cứ điều gì ta từng dám hy vọng.
Đến cuối cùng, người môn đệ không được mời gọi hiểu hết Thánh Giá.
Người môn đệ được mời gọi đứng dưới Thánh Giá.
Được mời gọi để Thánh Giá phá vỡ những hình ảnh sai lạc về Thiên Chúa.
Được mời gọi để Thánh Giá phá vỡ lòng kiêu căng.
Được mời gọi để Thánh Giá dạy mình yêu.
Và rồi, từ dưới chân Thánh Giá, người môn đệ sẽ hiểu một điều mà có lẽ cả đời thần học cũng chỉ nhằm dẫn tới:
Thiên Chúa không cứu thế giới bằng cách đứng ngoài đau khổ của nó.
Ngài cứu thế giới bằng cách bước vào đó.
Không bước vào để đau khổ có tiếng nói cuối cùng.
Nhưng để ngay ở nơi tối nhất của đau khổ, tình yêu vẫn có thể nói lời cuối.
Và lời cuối ấy là Phục Sinh.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VÀ KHÁT VỌNG SÂU THẲM CỦA CON NGƯỜI MUỐN ĐƯỢC YÊU VÔ ĐIỀU KIỆN
Có lẽ trong tất cả những khát vọng nằm sâu kín nhất nơi lòng người, không có khát vọng nào dai dẳng, âm thầm và mãnh liệt cho bằng khát vọng được yêu. Con người có thể nói rằng mình cần tiền, cần sức khỏe, cần một mái nhà, cần công việc, cần thành công, cần địa vị, cần được người khác nhìn nhận; nhưng nếu đi sâu xuống tận đáy của tất cả những nhu cầu ấy, nhiều khi người ta sẽ gặp một tiếng gọi rất đơn sơ: tôi muốn có một người yêu tôi vì chính tôi. Không phải yêu tôi vì tôi đẹp. Không phải vì tôi thành công. Không phải vì tôi hữu ích. Không phải vì tôi ngoan ngoãn. Không phải vì tôi đáp ứng được kỳ vọng của họ. Không phải vì tôi có gì để cho. Chỉ đơn giản là yêu tôi, ngay cả khi tôi chẳng còn gì đáng để khoe, ngay cả khi tôi thất bại, yếu đuối, già nua, bệnh tật, vụng về, tội lỗi và chẳng còn đem lại lợi ích gì cho ai. Đó là khát vọng rất người, rất thật, nhưng cũng chính là khát vọng khiến con người đau nhất, bởi chúng ta thường phải sống trong một thế giới mà tình yêu dễ dàng đi kèm với những điều kiện. Người ta yêu nhau khi còn hợp nhau. Người ta ở với nhau khi người kia còn làm mình vui. Người ta kính trọng nhau khi người kia còn có vị thế. Người ta tìm đến nhau khi còn cần nhau. Người ta gọi điện cho nhau khi còn có chuyện để nhờ. Người ta vây quanh một người lúc người ấy đang thành công, nhưng đôi khi chỉ cần thất bại một lần, nghèo đi một chút, bệnh lâu một chút, già hơn một chút, người ấy mới cay đắng nhận ra rằng có những mối tương quan vốn tưởng là tình nghĩa nhưng thật ra chỉ là trao đổi. Có những lời nói tưởng như yêu thương nhưng phía sau vẫn có một điều kiện không thành lời: “Anh phải như thế này thì tôi mới yêu anh”, “Con phải thế kia thì cha mẹ mới hài lòng”, “Em phải làm cho tôi hạnh phúc thì tôi mới ở lại”, “Anh phải thành đạt thì người ta mới nể”, “Cha phải thế này thì giáo dân mới quý”, “Con phải đạo đức như thế kia thì Thiên Chúa mới thương con”. Và vì thế, giữa một thế giới đông đúc chưa từng có, con người lại có thể cô đơn chưa từng có. Có điện thoại trong tay nhưng không biết gọi cho ai. Có hàng ngàn bạn trên mạng nhưng lúc đau khổ không tìm được một người để khóc bên cạnh. Có nhà rộng nhưng lòng chật. Có bàn ăn đầy đủ nhưng mỗi người một màn hình. Có tiền để mua rất nhiều thứ nhưng không mua nổi một tấm lòng ở lại với mình khi mình chẳng còn gì hấp dẫn. Từ sâu thẳm ấy, Thánh Giá Đức Kitô xuất hiện không như một biểu tượng buồn bã của một tôn giáo thích đau khổ, nhưng như câu trả lời dữ dội nhất, sâu thẳm nhất và cũng dịu dàng nhất của Thiên Chúa cho câu hỏi muôn đời của trái tim con người: “Có ai yêu tôi mà không đặt điều kiện không?” Có. Và Người ấy đang ở trên Thánh Giá.
Thánh Giá trước hết nói với con người rằng chúng ta không phải là những hữu thể bị quên lãng giữa vũ trụ mênh mông này. Có thể cha mẹ đã không hiểu ta. Có thể người ta từng bỏ ta. Có thể một người từng hứa yêu ta suốt đời rồi cuối cùng quay lưng. Có thể những người ta từng tận tình giúp đỡ lại quên ta khi ta sa cơ. Có thể một ngày nào đó ta phát hiện ra rằng tên mình không còn quan trọng trong những nơi mà trước kia người ta từng chào đón. Nhưng có một sự thật không thay đổi: Thiên Chúa đã yêu ta đến độ trao chính Con Một của Người. Tin Mừng Gioan đã diễn tả điều ấy bằng một câu mà người Kitô hữu nghe nhiều đến mức đôi khi không còn thấy kinh ngạc nữa: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Câu ấy không nói Thiên Chúa yêu thế gian vì thế gian tốt lành. Không nói Thiên Chúa yêu nhân loại vì nhân loại xứng đáng. Cũng không nói Thiên Chúa chỉ yêu những người ngoan đạo, những người không phạm lỗi, những người có cuộc đời sạch sẽ. Thiên Chúa yêu “thế gian” – chính cái thế gian đầy lẫn lộn giữa ánh sáng và bóng tối, thánh thiện và tội lỗi, quảng đại và ích kỷ, trung thành và phản bội. Thiên Chúa yêu con người không phải sau khi con người đã tự sửa mình cho hoàn hảo, nhưng yêu ngay trong tình trạng con người cần được cứu. Đó là điều làm nên sự khác biệt tận căn giữa tình yêu cứu độ và những thứ tình yêu thường tình của chúng ta. Chúng ta thường nói: “Anh thay đổi đi rồi tôi sẽ yêu lại.” Thiên Chúa lại nói bằng Thánh Giá: “Vì con không tự cứu được mình nên Ta đến với con.” Chúng ta thường nói: “Khi nào con xứng đáng thì hãy trở về.” Thiên Chúa nói: “Hãy trở về để Ta làm cho con nên mới.” Chúng ta chờ người khác tốt rồi mới yêu; Thiên Chúa yêu để người ta có khả năng trở nên tốt. Chúng ta thường yêu cái đáng yêu; Thiên Chúa có khả năng làm cho cái tưởng như không còn đáng yêu được hồi sinh bằng chính tình yêu của Người.
Nhìn lên Thánh Giá, ta thấy một Thiên Chúa không yêu bằng lời nói suông. Đời có quá nhiều lời “yêu” dễ dàng được thốt ra. Người ta có thể nói “tôi yêu bạn” khi mọi chuyện thuận lợi, nhưng tình yêu thật chỉ lộ diện khi cái giá phải trả xuất hiện. Khi yêu đồng nghĩa với phải hy sinh thời giờ, người ta mới biết mình có yêu thật hay không. Khi phải nhẫn nại với tính khí của người kia, mới biết tình yêu sâu đến đâu. Khi phải chăm một người bệnh dài ngày, khi phải ở cạnh một người sa sút, khi phải tha thứ cho một người đã làm mình đau, khi phải tiếp tục trung tín dù cảm xúc không còn nồng nhiệt như thuở ban đầu, lúc ấy tình yêu mới thôi là một chữ đẹp để trở thành một lựa chọn. Thiên Chúa đã không đứng từ trời cao mà nói xuống: “Ta yêu các ngươi.” Người bước vào lịch sử con người. Người làm một trẻ thơ. Người sống ba mươi năm âm thầm. Người biết đói, biết khát, biết mệt, biết bị hiểu lầm, biết bị từ chối. Rồi cuối cùng Người để cho tình yêu của mình bị thử đến tận cùng trên đồi Golgotha. Người yêu khi các môn đệ bỏ chạy. Người yêu khi Phêrô chối Người. Người yêu khi Giuđa phản bội. Người yêu khi đám đông từng tung hô Người nay la lên: “Đóng đinh nó đi!” Người yêu khi quân lính chế giễu. Người yêu khi người ta lột áo Người, đội mão gai, đóng đinh tay chân Người. Người yêu cả khi tình yêu ấy không được đáp trả. Có lẽ đây chính là điều kỳ diệu nhất của Thánh Giá: Đức Giêsu không chết giữa một cộng đoàn những người biết ơn; Người chết giữa một nhân loại đang từ chối Người. Và chính ở đó, Người cho thấy tình yêu Thiên Chúa không tùy thuộc vào thái độ của người được yêu. Nếu tình yêu của Thiên Chúa chỉ tồn tại khi ta tốt, thì đó chưa phải là tình yêu vô điều kiện. Nếu Người chỉ ở lại lúc ta trung thành, thì Người chẳng khác chúng ta bao nhiêu. Nhưng Thánh Giá nói rằng ngay lúc con người xấu nhất, Thiên Chúa vẫn yêu; ngay lúc nhân loại đang đóng đinh Đấng Cứu Độ của mình, Đấng Cứu Độ ấy vẫn không rút lại tình yêu.
Có một đoạn Tin Mừng trên đồi Canvê diễn tả điều này đến rợn người. Khi Đức Giêsu đã bị đóng đinh, giữa tiếng chế nhạo và bạo lực, Người thưa: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Thử dừng lại ở câu ấy một chút. Những cái đinh vẫn đang ở trong tay Người. Những vết thương chưa khép. Máu chưa ngừng chảy. Người ta chưa xin lỗi. Chẳng ai đứng dưới chân thập giá lên tiếng: “Lạy Chúa, chúng con sai rồi.” Chẳng có dấu hiệu hối cải tập thể nào để Đức Giêsu dựa vào đó mà tha thứ. Người tha thứ khi con người vẫn đang làm Người đau. Người cầu nguyện cho những kẻ hành hạ mình trước khi họ biết mình cần được tha thứ. Đó là một tình yêu vượt quá lý luận trao đổi của con người. Chúng ta thường nói: “Nó xin lỗi thì tôi sẽ tha.” Đức Giêsu cầu xin ơn tha thứ cho họ khi lời xin lỗi chưa có. Chúng ta nói: “Nó biết điều thì tôi mới thương.” Đức Giêsu thương những người “không biết việc họ làm”. Chúng ta nói: “Người ấy phải chứng minh rằng mình đã thay đổi.” Đức Giêsu đổ máu trước khi bất cứ ai chứng minh điều gì. Đó chính là Tin Mừng. Không phải Tin Mừng rằng tội lỗi chẳng quan trọng. Thánh Giá cho thấy tội nghiêm trọng đến độ nào. Nhưng Thánh Giá còn cho thấy một điều lớn hơn tội: lòng thương xót. Tội lỗi có thể đóng đinh Tình Yêu, nhưng không thể làm cho Tình Yêu thôi yêu.
Và cũng trong khung cảnh ấy, một tên trộm bị đóng đinh bên cạnh Đức Giêsu quay sang nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” (Lc 23,42). Có lẽ đây là một trong những lời cầu nguyện nghèo nhất trong toàn bộ Kinh Thánh: “Xin nhớ đến tôi.” Không thành tích. Không biện minh. Không kịp sửa chữa quá khứ. Không còn thời gian để đền bù. Không thể xuống khỏi thập giá để làm lại cuộc đời. Một người đã đi gần hết đời mình trong lầm lạc, đến phút cuối chỉ còn xin một điều: xin đừng quên tôi. Và Đức Giêsu trả lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43). Đó chẳng phải là toàn bộ khát vọng của con người hay sao? Sau mọi cố gắng để chứng minh mình quan trọng, sau mọi cuộc chạy đua thành công, sau mọi lần khoác lên mình những chiếc áo đẹp để mong được người khác thừa nhận, cuối cùng trong sâu thẳm mỗi người chỉ muốn nghe: “Tôi không quên bạn. Bạn vẫn có chỗ bên tôi.” Người trộm lành chẳng còn gì để đưa cho Đức Giêsu. Anh không thể làm việc bác ái. Không thể đi hành hương. Không thể xây nhà thờ. Không thể lần chuỗi. Không thể sửa lại cuộc đời. Hai bàn tay của anh đã bị đóng đinh. Thế mà anh nhận được Thiên Đàng. Không phải vì những việc anh đã làm, nhưng vì anh đã phó thác đời mình vào một Tình Yêu còn lớn hơn toàn bộ quá khứ của anh. Thiên Đàng bắt đầu từ khoảnh khắc một người biết rằng mình được Thiên Chúa nhớ đến.
Nỗi khát được yêu vô điều kiện nằm sâu trong mọi độ tuổi của đời người. Một đứa trẻ cần được yêu không chỉ khi nó đạt điểm mười. Nếu đứa trẻ chỉ được khen khi học giỏi, nó sẽ lớn lên với nỗi sợ âm thầm rằng giá trị của mình tùy thuộc vào thành tích. Nó sẽ tưởng rằng phải thành công mới xứng đáng được yêu. Một người trẻ cần biết mình được yêu ngay cả lúc hoang mang về tương lai. Nếu gia đình chỉ tự hào khi con có nghề danh giá, lương cao, nhà đẹp, người trẻ rất dễ sống một cuộc đời không phải của mình chỉ để mua lấy sự công nhận. Một người vợ cần biết chồng yêu mình không chỉ khi còn trẻ đẹp. Một người chồng cần biết mình vẫn được tôn trọng khi công việc thất bại. Một người già cần cảm nhận rằng mình được yêu không phải vì còn giúp được con cháu điều gì, nhưng vì chính sự hiện diện của mình là quý giá. Một người bệnh cần được nhìn như một con người chứ không phải một gánh nặng. Một người hấp hối cần biết rằng khi mình không còn nói được, không còn làm gì được, phẩm giá của mình vẫn nguyên vẹn. Một người tội lỗi cần biết rằng cánh cửa trở về chưa bị khóa. Một linh mục có khi cũng cần được yêu không phải vì bài giảng hay, không phải vì công việc mục vụ thành công, không phải vì được nhiều người biết đến, nhưng chỉ vì ngài cũng là một con người cần một nơi để được nghỉ ngơi, được lắng nghe, được hiểu, được thương. Một tu sĩ cũng không thể sống mãi bằng việc chứng minh mình hữu ích. Một người cha, người mẹ cả đời hy sinh cho con cái đến cuối cùng vẫn cần một câu rất đơn giản: “Ba má cứ ở với chúng con, ba má không phải là gánh nặng.” Đôi khi chỉ một câu ấy có thể cứu một tâm hồn khỏi sự cô đơn.
Nhưng bi kịch là chính vì khát được yêu quá lớn nên con người rất dễ đi tìm tình yêu ở những nơi không thể cho mình tình yêu thật. Có người bán rẻ phẩm giá để đổi lấy chút chú ý. Có người lao vào một mối quan hệ độc hại chỉ vì sợ cô đơn. Có người chấp nhận để người khác xúc phạm, kiểm soát, thao túng rồi tự an ủi: “Ít ra họ còn cần mình.” Có người biến cả đời mình thành một sân khấu, ngày nào cũng phải chứng minh với thiên hạ rằng mình hạnh phúc, thành công, được yêu mến. Có người sống lệ thuộc vào lượt thích, lời khen, sự chú ý của đám đông. Hôm nay được tung hô thì vui, ngày mai bị quên thì sụp đổ. Có người làm việc đến kiệt sức chỉ để được công nhận. Có người tích lũy tiền bạc không hẳn vì tham, nhưng vì trong đáy sâu họ nghĩ rằng nếu có tiền họ sẽ được trọng vọng hơn. Có người luôn làm vừa lòng người khác vì sợ rằng nếu nói “không”, người ta sẽ bỏ mình. Đằng sau nhiều tham vọng, nhiều ganh đua, thậm chí nhiều cơn giận, có thể chỉ là một đứa trẻ bên trong đang hỏi: “Có ai thương tôi không?” Chúng ta đôi khi trách một người sao quá thích khoe khoang, mà không biết có thể họ đã phải sống quá lâu với cảm giác mình không có giá trị. Chúng ta khó chịu vì một người cứ muốn được chú ý, nhưng biết đâu từ nhỏ họ đã chẳng bao giờ được ai thật sự lắng nghe. Có những tội lỗi không thể biện minh, nhưng nếu nhìn sâu hơn, ta sẽ thấy rất nhiều vết thương của con người bắt đầu từ một tình yêu đã thiếu, đã sai, đã bị điều kiện hóa hoặc đã bị phản bội.
Thánh Giá đi thẳng vào vết thương ấy và nói: giá trị của con không được quyết định bởi việc người khác có công nhận con hay không. Giá trị của con được quyết định bởi cái giá Thiên Chúa đã sẵn lòng trả để cứu con. Và cái giá ấy là máu của Con Người. Thánh Phêrô sau này viết rằng chúng ta đã được cứu chuộc “không phải bằng những thứ chóng hư nát như bạc hay vàng, nhưng bằng máu châu báu của Đức Kitô” (x. 1 Pr 1,18-19). Một món đồ quý vì người ta sẵn sàng trả giá cao cho nó. Còn con người? Thánh Giá là lời Thiên Chúa nói về giá trị của từng người: “Đối với Ta, con đáng giá bằng chính mạng sống của Con Ta.” Nếu thật sự tin điều ấy, nhiều xiềng xích trong lòng chúng ta sẽ rơi xuống. Ta không còn phải van xin sự công nhận của mọi người. Ta không cần thắng mọi cuộc tranh luận để chứng minh mình có giá trị. Ta không cần hơn người khác để cảm thấy mình đáng sống. Ta không cần làm cho tất cả mọi người thích mình. Đức Giêsu cũng đâu được tất cả mọi người yêu mến. Ngay cả Đấng hoàn hảo tuyệt đối vẫn bị chống đối, hiểu lầm và giết chết. Vậy tại sao ta lại đặt mục tiêu bất khả thi rằng phải được tất cả mọi người đồng ý và yêu quý? Khi biết mình đã được Thiên Chúa yêu, ta có thể chấp nhận rằng có người không hiểu mình mà lòng vẫn bình an. Có người đánh giá sai mình mà ta không cần phát điên để chứng minh. Có người rời bỏ mình mà đời ta không vì thế mất hết ý nghĩa. Có người không nhìn thấy điều tốt nơi ta, nhưng Đấng bị treo trên Thánh Giá vẫn nhìn thấy.
Thế nhưng cần hiểu thật đúng hai chữ “vô điều kiện”. Thiên Chúa yêu ta vô điều kiện không có nghĩa là Thiên Chúa đồng ý vô điều kiện với mọi điều ta làm. Một người cha thương con vô điều kiện nhưng không vì thế mà vui khi thấy con nghiện ngập. Một người mẹ yêu con vô điều kiện nhưng sẽ đau đớn khi con lao vào con đường tự hủy. Tình yêu thật không phải là nhắm mắt trước điều xấu. Nếu một thứ tình cảm luôn nói “cứ làm gì cũng được” thì nhiều lúc đó chẳng phải tình yêu mà là sự dửng dưng. Thiên Chúa yêu tội nhân, nhưng Người không yêu tội lỗi đang phá hủy tội nhân. Đức Giêsu không đến để nói với ta: “Con cứ ở nguyên trong bóng tối, Ta không quan tâm.” Người nói: “Ta không kết án con. Hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa” (x. Ga 8,11). Hai vế phải đi với nhau. Chỉ nói “đừng phạm tội nữa” mà quên “Ta không kết án con” thì Kitô giáo biến thành gánh nặng đạo đức. Nhưng chỉ nói “Ta không kết án con” mà bỏ “đừng phạm tội nữa” thì lòng thương xót bị biến thành sự dễ dãi. Tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa là: dù con đang thế nào, Ta vẫn yêu con; và chính vì yêu con, Ta không muốn để con mãi mãi như thế. Ta yêu con đủ để đón nhận con trong hiện trạng của con, và Ta yêu con đủ để dẫn con ra khỏi những gì đang giết chết con.
Thánh Giá vì thế không chỉ chữa lành nỗi khát được yêu; Thánh Giá còn thanh luyện cách chúng ta hiểu tình yêu. Có những người nói “vì yêu” nhưng thực chất là chiếm hữu. “Nếu em yêu anh thì em phải làm điều này.” “Nếu con thương cha mẹ thì con phải sống đúng ý cha mẹ.” “Nếu anh yêu tôi thì anh không được có khoảng trời riêng.” Đó là thứ tình yêu bóp nghẹt. Nhìn Đức Giêsu trên Thánh Giá, ta thấy một tình yêu trao chính mình nhưng không cưỡng ép. Người dang hai tay, nhưng không khóa tay ta vào tay Người. Người chết cho tất cả, nhưng không bắt ai phải tin. Người mời gọi, chứ không ép buộc. Tình yêu của Thiên Chúa tôn trọng tự do con người đến mức con người có thể nói “không” với Người. Và chính đây là một trong những đau khổ lớn nhất của tình yêu: yêu mà không thể cưỡng bức người kia yêu lại. Những ai từng làm cha mẹ có lẽ hiểu đôi chút. Ta có thể yêu con hết lòng, nhưng không thể sống cuộc đời thay cho con. Ta có thể khuyên, có thể cầu nguyện, có thể chờ đợi, nhưng có những lúc chỉ còn biết đứng nhìn một người mình yêu chọn con đường làm chính họ đau khổ. Thiên Chúa trên Thánh Giá cũng vậy. Người không cứu chúng ta như sửa một cỗ máy. Người cứu những con người có tự do. Người yêu đủ sâu để tôn trọng cả khả năng từ chối tình yêu của Người.
Chính vì được yêu vô điều kiện, người Kitô hữu mới có thể bắt đầu học yêu người khác mà không biến tình yêu thành một cuộc trao đổi. Đây là chỗ khó. Chúng ta rất dễ xúc động trước Thánh Giá, nhưng để sống theo Thánh Giá lại là chuyện khác. Ta thích nghe rằng Thiên Chúa yêu mình khi mình tội lỗi, nhưng ta lại khó yêu một người đang làm mình phiền. Ta vui vì Thiên Chúa tha cho mình “bảy mươi lần bảy”, nhưng với người trong gia đình, một lỗi của họ mười năm trước ta vẫn nhớ như mới xảy ra hôm qua. Ta muốn Chúa kiên nhẫn với mình, nhưng ta lại mất kiên nhẫn với người già chậm chạp, đứa trẻ vụng về, người cộng sự yếu kém. Ta muốn được chấp nhận với tất cả giới hạn của mình, nhưng lại đặt ra một bản danh sách dài những điều người khác phải đáp ứng mới đáng được ta yêu. Vì thế Thánh Giá không chỉ an ủi; Thánh Giá còn chất vấn. Nếu đã được yêu nhưng không thể yêu, có lẽ ta chưa để cho tình yêu ấy đi đủ sâu. Người đứng lâu dưới chân Thánh Giá phải dần học được cách bớt kết án. Không phải vì điều xấu trở thành điều tốt, nhưng vì họ hiểu rằng bản thân mình cũng đang sống nhờ lòng thương xót. Một người biết mình từng được tha sẽ bớt hà khắc khi phải tha. Một người biết mình từng được kiên nhẫn sẽ dễ kiên nhẫn hơn. Một người đã khóc dưới chân Thánh Giá sẽ khó có thể vui khi thấy một tội nhân bị nghiền nát bởi sự khinh miệt của đám đông.
Có một điều rất lạ: con người càng không tin rằng mình được yêu vô điều kiện, người ấy càng có xu hướng đòi hỏi tình yêu từ người khác. Khi bên trong trống rỗng, ta bắt người khác phải lấp đầy. Khi không biết mình có giá trị, ta đòi vợ, chồng, con cái, cộng đoàn liên tục xác nhận giá trị ấy. Ta dễ giận khi không được chú ý. Dễ ghen khi người khác được khen. Dễ tủi thân khi không được mời. Dễ suy diễn khi một tin nhắn chưa được trả lời. Dễ đau khi không ai nhớ ngày đặc biệt của mình. Những điều ấy rất người, không có gì phải xấu hổ; nhưng chúng cũng cho thấy trái tim ta đang cần một nền móng sâu hơn tình cảm mong manh của con người. Không một người chồng nào có thể là Thiên Chúa của vợ. Không người vợ nào có thể chữa mọi trống vắng của chồng. Không đứa con nào có trách nhiệm làm cho cha mẹ cảm thấy cuộc đời mình có ý nghĩa. Không cộng đoàn nào có thể luôn luôn cho một linh mục sự công nhận mà ngài mong muốn. Không một người bạn nào có thể hiện diện hai mươi bốn giờ mỗi ngày để xoa dịu mọi vết thương. Khi ta đòi một con người hữu hạn phải đáp ứng khát vọng vô hạn trong mình, sớm muộn ta cũng thất vọng và họ cũng kiệt sức. Chỉ một Tình Yêu vô hạn mới có thể chạm tới chiều sâu ấy. Người khác có thể đồng hành với ta, nhưng không thể thay thế Thiên Chúa. Thánh Giá đưa trái tim ta trở về đúng trật tự: hãy để mình được Thiên Chúa yêu trước, rồi từ sự đầy tràn ấy hãy yêu người khác, thay vì biến người khác thành chiếc bình bắt buộc phải lấp đầy mọi trống rỗng trong ta.
Đây cũng là lý do cầu nguyện trước Thánh Giá có sức chữa lành rất đặc biệt. Không cần nói nhiều. Có những ngày ta chẳng biết nói gì. Có những vết thương càng nói càng rối. Có những nỗi buồn không thể giải thích. Khi ấy chỉ cần ngồi trước Thánh Giá và để cho mình được nhìn. Người đời thường nhìn ta để đánh giá. Đức Kitô nhìn ta để yêu. Người đời nhìn xem ta có đẹp không, giỏi không, thành đạt không. Đức Kitô nhìn vào một linh hồn Người đã đổ máu để cứu. Có thể ta chẳng cảm thấy gì đặc biệt. Không nghe tiếng nào. Không thấy một phép lạ tức thì. Nhưng chỉ cần ở lại. Có khi việc chữa lành sâu nhất không phải là Thiên Chúa trả lời tất cả câu hỏi, mà là Ngài cho ta biết: “Ta ở đây.” Một đứa trẻ đau không phải lúc nào cũng cần mẹ giải thích vì sao nó đau; đôi khi nó chỉ cần được ôm. Trước Thánh Giá, Thiên Chúa không giải thích toàn bộ mầu nhiệm đau khổ. Người làm một điều lớn hơn: Người bước vào đau khổ với ta. Người không nói từ xa: “Con phải mạnh mẽ lên.” Người cho ta thấy bàn tay của Người cũng mang thương tích. Người không bảo: “Ta chẳng hiểu cảm giác bị bỏ rơi.” Chính Người đã kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34). Vì thế chẳng có hố sâu nào của thân phận con người mà Đức Kitô không thể bước xuống.
Có người mang một nỗi đau rất riêng: “Nếu Chúa yêu tôi, tại sao đời tôi lại như thế?” Đó không phải câu hỏi vô đạo. Ngay cả Đức Giêsu cũng đã thốt lên lời của Thánh Vịnh 22 giữa đêm tối. Đức tin không phải là giả vờ rằng mình không đau. Đức tin là dám mang nỗi đau ấy đến trước Thiên Chúa. Tình yêu vô điều kiện không có nghĩa là người được yêu sẽ không bao giờ đau khổ. Đức Maria được Thiên Chúa yêu đặc biệt, nhưng Mẹ đứng dưới chân Thập Giá. Các Tông đồ được Đức Giêsu yêu, nhưng hầu hết đã đi qua thử thách. Điều Thánh Giá bảo đảm không phải rằng chúng ta sẽ có một đời sống không có thương tích, mà là chẳng có thương tích nào có thể tách ta khỏi tình yêu Thiên Chúa nếu ta ở lại trong Người. Thánh Phaolô đã thốt lên: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô?” rồi ông kể đến gian truân, khốn khổ, bắt bớ, đói rách, hiểm nguy, gươm giáo, và cuối cùng xác tín chẳng có gì “tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu” (x. Rm 8,35-39). Đó là niềm hy vọng rất thật. Tôi có thể mất tiền mà không mất tình yêu ấy. Tôi có thể mất địa vị mà không mất tình yêu ấy. Tôi có thể bị người đời hiểu lầm nhưng không mất tình yêu ấy. Người ta có thể quên tôi, nhưng Thiên Chúa không quên. Tôi có thể già, yếu, bệnh, nằm một chỗ, chẳng còn làm gì hữu ích theo tiêu chuẩn xã hội, nhưng tình yêu của Thiên Chúa dành cho tôi không giảm đi một phần trăm nào.
Đặc biệt trước cái chết, Thánh Giá trở thành lời bảo đảm mạnh mẽ nhất cho khát vọng được yêu đến cùng. Nhiều tình yêu của con người dừng lại bên huyệt mộ. Người sống đứng khóc, rồi cuối cùng phải trở về nhà. Không ai đi theo người mình yêu xuyên qua cái chết bằng sức riêng. Nhưng Đức Kitô thì có. Người đã đi vào chính sự chết. Người đã nằm trong mồ. Vì thế một Kitô hữu hấp hối không bước vào một vùng đất mà Chúa của họ chưa từng đi qua. Người đang chờ bên kia cũng chính là Đấng đã mang những vết đinh. Cái chết, từ đó, không còn là chỗ tình yêu chấm dứt, nhưng là ngưỡng cửa mà tình yêu Thiên Chúa dẫn ta qua. Đối với một người sắp lìa đời, có lẽ không lời nào an ủi hơn câu của Đức Giêsu: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em” (Ga 14,2). Dọn chỗ. Nghĩa là bên kia cái chết có một chỗ cho ta. Ta không phải một kẻ lang thang vô danh rơi vào khoảng không. Có một nơi đã được chuẩn bị. Có một Người biết tên ta. Có một Tình Yêu chờ đợi.
Nhưng có lẽ điều xúc động nhất nơi Thánh Giá là Đức Giêsu chết với đôi tay mở rộng. Người ta đóng đinh chúng để làm Người bất lực, nhưng Hội Thánh qua bao thế hệ lại nhìn hai cánh tay ấy như vòng tay mở ra cho cả thế giới. Chẳng ai có thể nói rằng mình đứng ngoài vòng tay ấy. Người thánh thiện có thể đến. Người tội lỗi cũng có thể đến. Người trẻ có thể đến. Người già cũng có thể đến. Người mạnh khỏe, người bệnh tật, người thành công, người thất bại, người vừa cầu nguyện sốt sắng, người đã bỏ Chúa nhiều năm – tất cả đều có thể ngước nhìn. Thánh Giá không đặt một tấm bảng: “Chỉ dành cho người hoàn hảo.” Nếu thế thì dưới chân Thánh Giá sẽ chẳng có ai. Thánh Giá là nơi những con người không hoàn hảo gặp một Tình Yêu hoàn hảo.
Có khi điều khó nhất không phải là tin rằng Chúa yêu nhân loại. Chúng ta nói câu ấy rất dễ: “Chúa yêu mọi người.” Điều khó hơn là tin: “Chúa yêu tôi.” Tôi, với quá khứ ấy. Tôi, với những điều mà nếu người khác biết có lẽ họ sẽ nhìn tôi khác đi. Tôi, với tính khí khó chịu, những lần thất bại, những lời đã nói sai, những cơ hội đã bỏ lỡ, những lỗi lầm không sửa được nữa. Chúa yêu chính tôi ư? Có. Đây là bước nhảy của đức tin. Đừng trốn sau chữ “nhân loại”. Hãy đứng một mình trước Thánh Giá. Hãy nhìn Đấng bị đóng đinh và nghe thánh Phaolô nói: “Người đã yêu tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20). Không phải chỉ “yêu chúng ta”. Phaolô nói “yêu tôi”. Đức tin trở nên sống động khi Tin Mừng từ một chân lý chung trở thành lời dành cho chính mình. Đức Giêsu đã yêu tôi. Những vết đinh ấy liên quan đến tôi. Máu ấy được đổ cho tôi. Lòng thương xót ấy mở cho tôi. Và nếu cả thế giới nói tôi vô dụng nhưng Đấng Cứu Thế nói tôi đáng để Người chết cho, thì tôi sẽ tin ai?
Tất nhiên, tin mình được yêu không có nghĩa là trở nên kiêu căng. Ngược lại, chỉ người thật sự biết mình được yêu mới có thể khiêm tốn. Người luôn phải chứng minh giá trị của mình mới dễ khoe khoang, tranh giành và đố kỵ. Khi đã biết giá trị của mình nằm trong Thiên Chúa, ta không cần dìm người khác xuống để mình cao lên. Ta có thể vui vì thành công của người khác. Ta có thể nhận lỗi mà không cảm thấy thế giới sụp đổ. Ta có thể xin lỗi mà không thấy mình mất phẩm giá. Ta có thể thừa nhận: “Tôi không biết”, “Tôi sai”, “Tôi cần giúp đỡ”, vì giá trị của ta không phụ thuộc vào việc ta luôn đúng. Đây là một sự tự do lớn lao. Thánh Giá giải phóng ta khỏi nhà tù phải liên tục chứng minh bản thân.
Và rồi một ngày, nếu ở đủ lâu dưới chân Thánh Giá, ta sẽ nhận ra rằng câu hỏi lớn nhất không còn là “Có ai yêu tôi không?” mà dần trở thành: “Tôi có thể yêu ai hôm nay?” Đó là dấu chỉ ta đang được chữa lành. Một trái tim đói tình yêu chỉ biết tìm cách lấy. Một trái tim được tình yêu Thiên Chúa đổ đầy bắt đầu biết cho. Ta nhìn thấy người cô đơn bên cạnh. Ta bắt đầu gọi điện cho một người già mà lâu rồi chẳng ai hỏi thăm. Ta kiên nhẫn thêm với người trong gia đình. Ta thôi dùng im lặng như một hình phạt. Ta chịu bước qua cái tôi để nói lời xin lỗi. Ta học cách ngồi bên giường một người bệnh mà chẳng cần phải nói những câu thật hay. Ta biết lắng nghe thay vì luôn kể chuyện mình. Ta bớt nhìn người khác qua thành tích và bắt đầu nhìn họ như một con người. Ta không còn chỉ hỏi: “Người này có ích gì cho tôi?” mà hỏi: “Người này đang cần được yêu thế nào?” Đó là lúc Thánh Giá không còn chỉ treo trên tường; Thánh Giá đã bước vào đời.
Có lẽ xã hội hôm nay không thiếu những lời nói về tình yêu. Tình yêu xuất hiện khắp nơi trong bài hát, phim ảnh, quảng cáo, mạng xã hội. Nhưng điều con người đang thiếu lại chính là những nơi được yêu mà không phải biểu diễn. Một mái nhà nơi người thất bại vẫn dám trở về. Một cộng đoàn nơi người yếu đuối không bị loại bỏ. Một giáo xứ nơi người lầm lỗi có thể bước vào mà không bị hàng trăm ánh mắt kết án. Một gia đình nơi đứa con dám nói sự thật vì biết dù sai, nó vẫn là con. Một Hội Thánh nơi tội nhân được kêu gọi hoán cải nhưng không bị làm nhục. Một tình bạn có thể ngồi cạnh nhau trong im lặng. Một cuộc hôn nhân hiểu rằng yêu đến cùng không phải lúc nào cũng là cảm xúc nồng nàn, nhưng nhiều khi là mỗi sáng vẫn chọn ở lại, vẫn chọn tha thứ, vẫn chọn bắt đầu lại. Những nơi như thế chính là những mảnh nhỏ của Thánh Giá được cắm xuống giữa đời.
Điều này không dễ. Yêu vô điều kiện không phải là cảm xúc tự nhiên của con người. Ta cần được học dưới chân Đức Kitô. Có những ngày ta sẽ thất bại. Có khi ta vừa cầu nguyện xong đã nổi giận. Vừa suy niệm về tha thứ đã nhớ lại một chuyện cũ và lòng lại đau. Vừa hứa sẽ yêu hơn đã ích kỷ trở lại. Đừng tuyệt vọng. Chính lúc ấy hãy trở về Thánh Giá. Kitô giáo không phải là chuyện những người hoàn hảo cố bắt chước một mẫu gương hoàn hảo bằng sức riêng. Đó là câu chuyện những người yếu đuối liên tục trở về nguồn tình yêu để được biến đổi. Ta không yêu như Đức Kitô bằng ý chí đơn thuần. Ta phải để Người yêu ta trước. “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12). Chữ quan trọng là “như Thầy đã yêu”. Tình yêu của người môn đệ bắt nguồn từ tình yêu đã nhận. Chúng ta chỉ có thể múc nước nếu đã đến nguồn.
Vì thế, nếu hôm nay có một người đang mang cảm giác rằng chẳng ai thật sự yêu mình, xin hãy thử đứng trước Thánh Giá. Không cần mang theo những câu kinh thật đẹp. Cũng không cần cố tạo cảm xúc. Chỉ cần nhìn. Nhìn bàn tay ấy. Nhìn cạnh sườn ấy. Nhìn khuôn mặt ấy. Và tự hỏi: “Nếu tôi chẳng đáng gì, tại sao Người lại ở đó?” Có lẽ câu trả lời sẽ không đến bằng tiếng nói, nhưng chính Thánh Giá là câu trả lời. Người ở đó vì bạn không phải vô giá trị. Người ở đó vì tình yêu Thiên Chúa dành cho bạn không phải một ý tưởng trừu tượng. Người ở đó vì Thiên Chúa đã chọn bước đến tận cùng thay vì bỏ bạn ở lại một mình. Không ai trong chúng ta có thể nhìn vào Thánh Giá và nói: “Thiên Chúa chẳng quan tâm.” Ta có thể chưa hiểu vì sao Chúa để một chuyện xảy ra. Ta có thể giận Người. Có thể khóc. Có thể chất vấn. Nhưng ta không thể nói rằng Người không biết đau là gì, cũng không thể nói Người chỉ yêu bằng lời.
Và nếu hôm nay có một người nghĩ rằng mình đã đi quá xa để trở về, hãy nhớ người trộm bên phải. Chẳng bao giờ quá muộn để nói: “Xin nhớ đến con.” Nếu có người nghĩ tội của mình quá lớn, hãy nhìn lời Đức Giêsu: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Nếu có người đang bị bỏ rơi, hãy nhớ Đức Giêsu đã đi qua cảm giác bị bỏ rơi. Nếu có người đang thấy mình vô dụng vì tuổi già hay bệnh tật, hãy nhớ rằng giá trị của bạn không nằm ở năng suất. Nếu có người đang chạy mệt mỏi để được mọi người yêu mến, hãy cho phép mình dừng lại. Bạn không cần thắng tất cả trái tim. Bạn chỉ cần để trái tim mình được chạm bởi Đấng đã yêu bạn trước.
Cuối cùng, có lẽ toàn bộ đời sống Kitô hữu có thể được hiểu như hành trình từ một người luôn hỏi “Ai sẽ yêu tôi?” trở thành một người có khả năng nói “Tôi đã được yêu, nên tôi có thể yêu.” Từ đó mọi sự thay đổi. Ta làm điều thiện không phải để mua tình yêu Thiên Chúa, nhưng vì ta đã được yêu. Ta cầu nguyện không phải để thuyết phục Chúa quan tâm đến mình, nhưng vì Người đã quan tâm trước. Ta đi lễ không phải để ghi điểm, nhưng để trở về bàn tiệc của một Người đã hiến chính mình cho ta. Ta xưng tội không phải để làm cho Thiên Chúa từ ghét chuyển sang thương, nhưng vì ta tin tình yêu của Người đủ lớn để cho mình một khởi đầu mới. Ta phục vụ không phải để người ta vỗ tay, nhưng vì mình không còn quá đói lời khen. Ta tha thứ không phải vì vết thương không đau, nhưng vì chính mình đã được tha. Ta có thể chết trong bình an không phải vì đã sống một đời hoàn hảo, nhưng vì biết Đấng chờ mình bên kia đã yêu mình đến cùng.
“Người đã yêu những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). “Đến cùng” – đó có lẽ là hai chữ đẹp nhất để nói về Thánh Giá. Không yêu nửa đường. Không yêu đến lúc thất vọng. Không yêu đến khi bị phản bội rồi thôi. Không yêu đến khi phải trả giá rồi rút lui. Yêu đến cùng. Đến giọt máu cuối cùng. Đến hơi thở cuối cùng. Đến tận nơi con người tưởng chẳng còn ai muốn bước vào nữa. Thánh Giá là dấu chỉ rằng Thiên Chúa không bỏ cuộc với con người.
Và có lẽ rồi đây, sau tất cả những chuyến đi, những công việc, những thành công, những thất bại, những cuộc gặp gỡ và chia ly, điều mỗi người cần nhất vào buổi chiều của cuộc đời chẳng phải là một bản thành tích dài. Chúng ta chỉ cần biết mình đã yêu và đã được yêu. Mọi thứ khác rồi sẽ qua. Những danh xưng sẽ ở lại trên tấm bia. Tiền sẽ sang tay người khác. Nhà cửa sẽ có chủ mới. Những lời khen hôm nay rồi cũng bị quên. Nhưng tình yêu thì đi vào vĩnh cửu, bởi “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,8). Và ở giữa lịch sử nhân loại, Thánh Giá vẫn đứng đó như một dấu cộng lớn nối trời với đất, nối Thiên Chúa với con người, nối tội nhân với lòng thương xót, nối cô đơn với sự hiện diện, nối cái chết với sự sống. Mỗi lần nhìn Thánh Giá, hãy nghe bằng trái tim một lời chẳng bao giờ cũ: “Con không cần phải chứng minh rằng con đáng được Ta yêu. Chính tình yêu của Ta sẽ làm cho con nhận ra phẩm giá của mình. Con có thể chạy trốn Ta, nhưng Ta vẫn đợi. Con có thể quên Ta, nhưng Ta không quên con. Con có thể ngã, nhưng bàn tay bị đóng đinh này vẫn mở. Con có thể mang đến đây cả quá khứ rách nát của mình. Hãy đến. Ta biết con. Ta biết tất cả. Và Ta vẫn yêu con.”
Nếu người Kitô hữu thật sự tin được điều ấy, họ sẽ không còn phải sống như những kẻ ăn xin tình yêu giữa một thế giới đầy điều kiện. Họ sẽ trở thành những người mang tình yêu đi. Họ sẽ biết ở lại khi người khác muốn bỏ đi. Biết lắng nghe khi người khác chỉ muốn kết án. Biết tha thứ khi lòng mình muốn trả đũa. Biết ôm lấy những người chẳng đem lại lợi ích gì. Biết nhìn người già, người bệnh, người nghèo, người khuyết tật, người thất bại, người lầm lỗi bằng ánh mắt khác. Bởi dưới ánh sáng Thánh Giá, ta hiểu rằng không có một con người nào chỉ là “đồ bỏ”. Không ai là một con số thừa. Không ai hết hy vọng khi họ còn có thể hướng về Đấng bị đóng đinh.
Thế giới có thể tiếp tục thay đổi. Công nghệ có thể làm con người gần nhau hơn trên màn hình nhưng chưa chắc gần nhau hơn trong trái tim. Xã hội có thể càng hiện đại, càng hiệu quả, càng nhanh; nhưng khát vọng sâu thẳm ấy vẫn không thay đổi. Một đứa trẻ của một trăm năm sau vẫn cần được ôm. Một người già của một trăm năm sau vẫn sợ bị quên. Một người thất bại của một trăm năm sau vẫn cần nghe rằng đời mình còn giá trị. Bởi cấu trúc sâu nhất của con người không phải là máy móc, mà là tương quan. Chúng ta được dựng nên bởi Tình Yêu và cho Tình Yêu. Vì vậy, mọi khát vọng được yêu vô điều kiện cuối cùng đều chỉ được nghỉ yên khi tìm được nguồn của nó nơi Thiên Chúa.
Thánh Augustinô đã từng diễn tả kinh nghiệm ấy bằng lời nổi tiếng rằng trái tim con người không yên cho đến khi nghỉ yên trong Thiên Chúa. Và dưới chân Thánh Giá, ta hiểu lý do. Trái tim ta khát một tình yêu không bỏ đi, trong khi mọi tình yêu nhân loại đều mang sự mong manh. Ta khát một cái ôm mà cả cái chết cũng không tháo ra được. Ta khát một ánh mắt biết tất cả sự thật về mình mà vẫn không khinh miệt. Ta khát một nơi có thể trở về ngay cả sau lần sa ngã tệ nhất. Tất cả những điều ấy hội tụ nơi Đức Giêsu chịu đóng đinh.
Vậy nên, đừng chỉ đeo Thánh Giá. Hãy ở dưới Thánh Giá. Đừng chỉ hôn Thánh Giá vào Thứ Sáu Tuần Thánh. Hãy để Thánh Giá bước vào những ngày bình thường. Khi bị hiểu lầm, hãy nhìn Thánh Giá. Khi thất bại, hãy nhìn Thánh Giá. Khi thấy mình chẳng còn đáng yêu, hãy nhìn Thánh Giá. Khi khó tha thứ cho ai, hãy nhìn Thánh Giá. Khi muốn bỏ một người vì họ làm ta thất vọng, hãy hỏi Đức Giêsu đã yêu ta thế nào. Khi cảm thấy cô độc giữa một căn phòng đông người, hãy nhớ trên đồi Golgotha có một Đấng đã trải qua tận cùng cô độc để từ đó không ai còn phải cô độc một mình.
Một ngày kia, khi tất cả những điều ta từng bám víu rơi khỏi tay, mong rằng trong lòng ta vẫn còn một xác tín không gì lấy mất được: Tôi được yêu. Không phải vì tôi hoàn hảo. Không phải vì tôi đã làm đủ. Không phải vì tôi đáng hơn người khác. Nhưng vì Thiên Chúa là Tình Yêu, và Người đã yêu tôi trong Đức Giêsu Kitô. Thánh Giá chính là chữ ký bằng máu của Thiên Chúa dưới lời hứa ấy.
Và nếu phải tóm tất cả Tin Mừng vào một hình ảnh, có lẽ chỉ cần một ngọn đồi, một buổi chiều, và một Người bị đóng đinh với đôi tay mở rộng. Ở đó, con người đặt câu hỏi lớn nhất của mình: “Liệu có ai yêu tôi đến cùng không?” Và từ Thánh Giá, Thiên Chúa trả lời không phải bằng một bài diễn văn, nhưng bằng chính mạng sống của Người:
Có. Ta yêu con. Và Ta sẽ không rút lại tình yêu ấy.
Lm. Anmai, CSsR

THIÊN CHÚA CHỊU KHỔ – MẦU NHIỆM SỰ BẤT KHẢ THỤ KHỔ VÀ TÌNH YÊU NHẬP THỂ
Có những câu hỏi thần học càng suy nghĩ càng thấy mình đứng trước một vực sâu. Không phải vực sâu của vô nghĩa, nhưng là vực sâu của mầu nhiệm. Một trong những câu hỏi ấy là: Thiên Chúa có đau khổ không? Nếu Thiên Chúa là Đấng toàn năng, toàn thiện, vĩnh cửu, bất biến, là nguồn mạch mọi sự thiện hảo, làm sao có thể nói rằng Ngài đau khổ? Nhưng nếu Thiên Chúa không thể đau khổ, vậy khi đứng trước nước mắt của một người mẹ mất con, trước tiếng kêu của người bệnh trong đêm, trước những thân phận bị chiến tranh nghiền nát, trước một đứa trẻ bị bỏ rơi, trước một người bị phản bội đến tan nát tâm hồn, chúng ta phải hiểu thế nào về một Thiên Chúa được gọi là Tình Yêu? Một Thiên Chúa không đau được với con người liệu có còn là Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô không? Và sâu xa hơn nữa: khi Đức Giêsu bị đánh đòn, đội mão gai, đóng đinh, khát nước, cô đơn và chết trên thập giá, ai đang chịu đau khổ ở đó? Chỉ là một con người mang tên Giêsu, trong khi Thiên Chúa vẫn đứng bên ngoài cuộc thương khó ấy như một Đấng bất khả xúc phạm? Hay chính Con Thiên Chúa thật sự đã đi vào đau khổ của nhân loại, thật sự nếm cái đau của thân xác, cái đắng của phản bội, cái lạnh của cô đơn và bóng tối của sự chết? Những câu hỏi ấy không thể được trả lời bằng vài công thức đơn giản. Chúng buộc ta phải bước thật chậm, với lòng khiêm tốn, bởi chỉ cần nghiêng quá một phía, ta có thể hoặc làm nghèo đi sự siêu việt của Thiên Chúa, hoặc làm cho biến cố Nhập Thể và Thập Giá trở thành một sân khấu không có máu và nước mắt thật.
Truyền thống thần học Kitô giáo từ rất sớm đã tuyên xưng điều mà ngày nay ta gọi bằng một từ khá khó nghe: sự bất khả thụ khổ của Thiên Chúa – divine impassibility. Nói một cách dễ hiểu, Thiên Chúa không bị đau khổ theo cách một thụ tạo bị đau khổ. Ngài không bị một sức mạnh nào bên ngoài áp đảo. Ngài không bị số phận hành hạ. Ngài không bị biến đổi ngoài ý muốn. Ngài không bị cảm xúc lôi kéo như con người nhiều khi bị cơn giận, nỗi buồn, sự thất vọng hay sợ hãi chi phối. Nếu Thiên Chúa có thể bị một thế lực nào đó cưỡng bức để trở nên khốn khổ, thì thế lực ấy đã mạnh hơn Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa hôm nay tốt lành, ngày mai vì một biến cố nào đó mà trở thành cay độc; hôm nay yêu thương, ngày mai vì thất vọng mà ngừng yêu, thì Thiên Chúa cũng chỉ là một hữu thể rất lớn nằm trong dòng biến đổi của vũ trụ. Khi Hội Thánh nói Thiên Chúa bất khả thụ khổ, Hội Thánh không nói Ngài vô cảm. Hội Thánh muốn bảo vệ một chân lý căn bản: không một quyền lực nào có thể biến Thiên Chúa thành nạn nhân; tình yêu của Thiên Chúa không phải là tình yêu mong manh bị hoàn cảnh điều khiển; Ngài yêu bởi chính Ngài là Tình Yêu.
Đây là điểm rất dễ bị hiểu sai. Người ta nghe nói “Thiên Chúa không thể đau khổ” rồi tưởng tượng một Thiên Chúa lạnh như đá, ngự trên trời cao, nhìn con người quằn quại mà lòng không chút rung động. Đó không phải Thiên Chúa của Kinh Thánh. Thiên Chúa của Kinh Thánh nghe tiếng dân Ngài kêu than bên Ai Cập. Ngài thấy nỗi khổ của họ. Ngài biết những đau đớn của họ. Ngài xuống để giải thoát họ. Qua các ngôn sứ, Thiên Chúa nói bằng ngôn ngữ của một người chồng bị phản bội, một người cha đau vì con mình lìa xa, một người mẹ không thể quên đứa con mình đã cưu mang. Có những trang Kinh Thánh nếu đọc bằng trái tim, ta gần như nghe được tiếng thổn thức của Thiên Chúa trước sự bất trung của dân Ngài. “Hỡi Épraim, Ta từ bỏ ngươi sao nổi? Hỡi Israel, Ta trao nộp ngươi sao đành?… Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi.” Thiên Chúa của Kinh Thánh không phải một khái niệm triết học đứng bất động bên ngoài lịch sử. Ngài là Thiên Chúa bước vào giao ước, một Thiên Chúa để cho con người có tương quan thật với mình. Thế nhưng, chính ở đây phải phân biệt thật tinh tế: Thiên Chúa không đau khổ vì bất lực, nhưng Ngài có thể yêu đến mức tự nguyện mang lấy đau khổ của kẻ Ngài yêu.
Ta hãy nghĩ đến hai người đứng trước cùng một biến cố đau thương. Một người bị cuốn vào vì bất lực, không thể tránh. Người kia hoàn toàn có thể bỏ đi nhưng ở lại vì yêu. Cả hai đều đau, nhưng ý nghĩa của hai nỗi đau không hoàn toàn giống nhau. Thiên Chúa không đau vì bị số phận bắt phải đau. Ngài không bị đau khổ thống trị. Nhưng trong Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa đã tự do bước vào vùng đất đau khổ của chúng ta. Không ai cưỡng bức Ngôi Lời phải nhập thể. Không ai mạnh hơn Thiên Chúa để bắt Thiên Chúa mang thân phận người. Không một định mệnh nào có quyền trói Con Thiên Chúa vào thập giá. Chính Đức Giêsu nói: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình.” Đó là chìa khóa. Thập Giá không cho thấy một Thiên Chúa bị đau khổ đánh bại; Thập Giá cho thấy một Thiên Chúa tự do yêu đến mức đi vào nơi đau khổ sâu nhất để không một con người đau khổ nào còn có thể nói: nơi này Thiên Chúa chưa từng đến.
Mầu nhiệm Nhập Thể chính là điểm làm mọi suy tư về “Thiên Chúa chịu khổ” trở nên vừa khó khăn vừa tuyệt đẹp. “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.” Ngài không khoác lấy nhân tính như người diễn viên khoác một bộ áo để diễn xong rồi cởi bỏ. Đức Giêsu thật sự làm người. Ngài có một thân xác biết đói, biết khát, biết mệt. Ngài ngủ trên thuyền vì kiệt sức. Ngài khóc trước mộ Ladarô. Ngài chạnh lòng thương đám đông. Ngài buồn phiền trước sự cứng lòng của con người. Ngài rung động trước người mẹ góa mất đứa con duy nhất. Ngài cảm nhận nỗi đau của tình bạn bị phản bội. Ngài bước vào Ghếtsêmani với một tâm hồn “buồn đến chết được”. Ngài đổ mồ hôi như máu. Ngài tìm sự hiện diện của các môn đệ mà không gặp, vì họ ngủ. Ngài bị Giuđa hôn để nộp. Ngài nhìn Phêrô chối mình. Ngài nghe đám đông từng tung hô nay hét lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!” Ngài chịu roi, chịu gai, chịu đinh. Ngài khát. Ngài kêu. Ngài chết. Nếu tất cả những điều ấy không phải là đau khổ thật, thì Nhập Thể cũng không còn thật. Và nếu đau khổ ấy là thật, thì người đang chịu đau khổ không phải một “con người Giêsu” tách biệt khỏi Con Thiên Chúa. Đấng chịu đóng đinh chính là Ngôi Hai Thiên Chúa trong nhân tính Ngài đã thật sự nhận lấy.
Đây là nơi truyền thống Kitô giáo nói một điều vừa táo bạo vừa chính xác: một trong Ba Ngôi đã chịu đau khổ trong xác phàm. Không phải thần tính biến thành một thực tại hữu hạn có thể bị roi xé rách. Không phải bản tính Thiên Chúa tự nó bị những chiếc đinh xuyên thủng. Đinh xuyên qua đôi tay nhân loại của Đức Giêsu. Máu chảy từ thân xác nhân loại của Đức Giêsu. Trái tim nhân loại của Đức Giêsu chịu cô đơn. Thế nhưng người có đôi tay ấy, người mang thân xác ấy, người có trái tim ấy chính là Ngôi Lời vĩnh cửu. Vì vậy ta không được nói: “Chỉ nhân tính đau còn Con Thiên Chúa không liên can gì.” Nhân tính không phải một con người khác đứng bên cạnh Ngôi Lời. Chính Con Thiên Chúa chịu đau khổ theo nhân tính. Đây là sự tinh tế mà Kitô học đã mất nhiều thế kỷ cầu nguyện, tranh luận và trả giá mới diễn đạt được. Chỉ một chữ sai cũng có thể làm Đức Kitô bị chia đôi: một Đức Giêsu con người chịu nạn dưới đất và một Con Thiên Chúa bình thản trên trời. Hội Thánh không bao giờ chấp nhận sự chia đôi ấy. Người sinh bởi Đức Maria là Con Thiên Chúa. Người đói bên giếng Giacóp là Con Thiên Chúa. Người khóc tại Bêtania là Con Thiên Chúa. Người quỳ trong Ghếtsêmani là Con Thiên Chúa. Người bị đóng đinh dưới thời Phongxiô Philatô là Con Thiên Chúa. Người chết và được mai táng chính là Con Thiên Chúa làm người.
Tin Mừng đưa chúng ta thẳng vào mầu nhiệm ấy bằng một cảnh mà có lẽ cả đời ta suy niệm cũng không hết: Vườn Ghếtsêmani. Đức Giêsu nói với Phêrô, Giacôbê và Gioan: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức.” Rồi Ngài đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống đất mà cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy nhiên, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Ta hãy ở lại thật lâu với cảnh ấy. Con Thiên Chúa không đóng kịch sợ hãi. Ngài không giả vờ đau khổ để dạy chúng ta một bài học đạo đức. Ngài thật sự rùng mình trước chén đắng. Trong Ngài có tất cả phản ứng chân thật của một con người trước sự cô đơn, tra tấn và cái chết đang đến gần. Ngài không yêu đau khổ. Ngài không tìm đau khổ vì đau khổ. Ngài xin nếu có thể thì chén ấy được cất đi. Nhưng giữa sự run sợ của nhân tính, tình yêu vẫn nói tiếng quyết định: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Chính ở đây ta hiểu Thập Giá: không phải Thiên Chúa yêu cái chết, nhưng Thiên Chúa yêu con người đến mức không để cái chết ngăn mình tiếp tục yêu.
Và rồi trên đồi Canvê, Tin Mừng còn dẫn ta vào một bóng tối sâu hơn: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Câu kêu ấy làm nhiều người hoảng sợ. Làm sao Con Thiên Chúa có thể bị Thiên Chúa bỏ rơi? Ba Ngôi có thể bị chia cắt sao? Không. Chúa Cha không ngừng là Cha của Chúa Con. Chúa Con không ngừng ở trong sự hiệp nhất vĩnh cửu với Chúa Cha. Nhưng trong nhân tính, Đức Giêsu đi vào tận cùng kinh nghiệm của con người tội lỗi: cảm giác Thiên Chúa vắng mặt. Ngài đi vào đêm tối nơi biết bao con người đã từng thốt lên: Chúa ở đâu? Vì sao Chúa im lặng? Vì sao con cầu xin mà trời đóng kín? Ngài đi xa đến mức đứng ở nơi mà người vô vọng nhất đang đứng. Thập Giá nói với người mất hết niềm tin rằng: ngay cả tiếng “Chúa ơi, Chúa ở đâu?” của bạn cũng đã từng được phát ra từ môi Con Thiên Chúa. Như vậy, không phải mọi bóng tối đều là nơi không có Chúa. Có những bóng tối chính Chúa đã bước vào trước chúng ta.
Nếu nói Thiên Chúa “bất khả thụ khổ” mà làm cho người ta tưởng Ngài không biết xót thương, ta đã dùng một chân lý đúng theo một cách sai. Sự bất khả thụ khổ của Thiên Chúa không có nghĩa là Thiên Chúa có ít tình cảm hơn chúng ta, nhưng ngược lại, Ngài yêu cách hoàn hảo hơn chúng ta. Con người chúng ta nhiều khi “đau” không phải vì yêu quá nhiều mà vì yêu quá ít hoặc yêu lệch lạc. Ta khổ vì tự ái bị tổn thương. Ta giận vì không được coi trọng. Ta ghen vì sợ mất sở hữu. Ta buồn vì người khác không đáp ứng điều mình muốn. Cảm xúc của con người thường pha trộn tình yêu với ích kỷ, trao ban với chiếm hữu, quảng đại với mong được đáp lại. Thiên Chúa không yêu như thế. Ngài không cần chúng ta để hoàn thiện chính mình. Ngài không dựng nên con người vì cô đơn. Ba Ngôi là sự sung mãn tuyệt đối của tình yêu. Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần không thiếu một điều gì. Chính vì không thiếu, Thiên Chúa mới có thể trao ban hoàn toàn nhưng không. Tình yêu Thiên Chúa không phải tiếng kêu của một sự thiếu thốn; đó là sự tràn đầy muốn được trao ban.
Và chính điều này làm tình yêu Thiên Chúa gây sửng sốt: Ngài chẳng cần chúng ta mà lại yêu chúng ta như thể chúng ta vô cùng quý giá đối với Ngài. Ta có thể quay lưng với Ngài mà Ngài vẫn kiếm tìm. Ta có thể xúc phạm Ngài mà Ngài vẫn mở đường trở về. Ta có thể đóng đinh Con Ngài mà lời đáp lại từ Thập Giá vẫn là: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Một tình yêu như thế không bị đau khổ ép buộc, nhưng chính vì yêu tự do nên sẵn sàng nhận lấy đau khổ. Có thể nói nghịch lý thế này: Thiên Chúa không thể bị làm cho đau khổ như một nạn nhân bất lực, nhưng Thiên Chúa có thể tự nguyện mang lấy đau khổ bởi vì Ngài là tình yêu. Và trong Đức Kitô, điều ấy không còn là một giả thuyết thần học. Nó mang một khuôn mặt, một thân xác và những vết thương.
Có người sẽ hỏi: nếu Chúa Cha yêu Chúa Con, tại sao lại “trao nộp” Con mình? Phải chăng Kitô giáo trình bày một người Cha khắc nghiệt cần máu của Con để nguôi giận? Nếu hiểu như thế thì Thập Giá trở thành một bi kịch thần học khủng khiếp. Tin Mừng không cho phép ta hiểu như vậy. Chúa Cha không đứng về phía những kẻ đóng đinh Chúa Con. Chúa Cha và Chúa Con không phải hai ý chí đối nghịch, một bên muốn trừng phạt, một bên làm nạn nhân. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” Chính tình yêu là nguyên lý của việc trao ban. Và Đức Giêsu cũng nói: “Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình.” Trong Thập Giá có sự tự hiến của Chúa Con trong tình yêu đối với Chúa Cha và đối với nhân loại, và có sự trao ban của Chúa Cha trong cùng một tình yêu cứu độ. Thánh Thần, Đấng là tình yêu hiệp thông giữa Cha và Con, không vắng mặt trong hy lễ ấy. Thập Giá không phải sự đổ vỡ của Ba Ngôi nhưng là sự biểu lộ trong lịch sử của tình yêu Ba Ngôi hướng về nhân loại.
Chúng ta thường nhìn đau khổ từ bên dưới: “Tại sao Chúa cho phép chuyện này xảy ra?” Đó là câu hỏi chính đáng, có khi phải hỏi bằng nước mắt. Nhưng Thập Giá không đưa ra cho ta một bài giải toán. Nó không giải thích từng tai họa. Nó không nói rằng mọi bệnh tật đều có một lý do rõ ràng, rằng mọi cái chết đều có thể được lý giải trong vài câu đạo đức. Có những nỗi đau, nếu vội giải thích, ta chỉ làm người đau thêm đau. Trước một người mẹ vừa mất con, điều tàn nhẫn nhất đôi khi là nói quá nhiều về “ý Chúa”. Đức Giêsu trước mộ Ladarô không mở một lớp thần học về sự chết. Ngài khóc. Hai chữ “Đức Giêsu khóc” có lẽ là một trong những mạc khải sâu xa nhất về khuôn mặt Thiên Chúa. Ngài biết Ladarô sẽ sống lại, vậy mà Ngài vẫn khóc. Đức tin vào phục sinh không làm nước mắt trở thành vô nghĩa. Hy vọng Kitô giáo không bắt người đang tang chế phải mỉm cười giả tạo. Người tin vẫn có quyền khóc vì chính Con Thiên Chúa đã khóc.
Ở Bêtania, khi Maria đến nơi Đức Giêsu và nói: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết”, Đức Giêsu thấy cô khóc, thấy những người Do Thái đi với cô cũng khóc, Ngài thổn thức trong lòng. Rồi Ngài khóc. Hãy để đoạn Tin Mừng ấy sửa lại hình ảnh Thiên Chúa trong lòng chúng ta. Đức Giêsu không nói với Maria: “Đừng khóc, có gì đâu, lát nữa Ladarô sống lại.” Ngài bước vào nước mắt của cô trước khi gọi Ladarô ra khỏi mồ. Nghĩa là Thiên Chúa không chỉ cứu chúng ta khỏi đau khổ; nhiều khi trước hết Ngài cứu chúng ta bằng cách ở trong đau khổ cùng chúng ta. Điều người đau cần không phải lúc nào cũng là một lời giải thích, mà là một sự hiện diện. Và Kitô giáo dám nói rằng sự hiện diện cuối cùng ấy có tên là Emmanuel: Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.
Đến đây ta mới thấy mầu nhiệm Nhập Thể không phải một chi tiết phụ trong thần học về Thiên Chúa. Nhập Thể thay đổi hoàn toàn cách chúng ta dám nói về Thiên Chúa và đau khổ. Trước Đức Kitô, ta có thể suy luận rằng Đấng tuyệt đối thì không thể bị thế giới làm tổn thương. Sau Đức Kitô, ta vẫn phải giữ chân lý rằng Thiên Chúa không bị thế giới thống trị; nhưng ta còn phải thêm điều mà lý trí con người không thể tự mình nghĩ ra: Đấng không thể bị cưỡng bức đã tự nguyện trở nên dễ bị tổn thương. Đấng không thể chết đã mang lấy một bản tính có thể chết. Đấng không đói đã trở nên đói. Đấng không khát đã thốt lên “Tôi khát.” Đấng là nguồn sự sống đã đi vào sự chết. Đấng mà trời đất không chứa nổi đã để mình nằm trong lòng một người phụ nữ, nằm trong máng cỏ, rồi cuối cùng nằm trong một ngôi mộ.
Nhập Thể vì thế là một tình yêu chấp nhận sự mong manh. Khi yêu thật, người ta luôn trở nên dễ bị tổn thương. Một người không yêu ai có thể tránh được nhiều đau đớn. Không yêu thì không sợ mất. Không gắn bó thì không bị phản bội. Không trao lòng thì chẳng ai làm vỡ được lòng mình. Nhưng đó không phải sự sống. Tình yêu luôn mang trong nó một khả năng đau khổ. Cha mẹ yêu con nên đau vì con. Người vợ yêu chồng nên đau khi chồng bệnh. Người bạn yêu bạn nên buồn khi bạn phản bội. Mục tử yêu đàn chiên nên đau khi chiên lạc. Ai muốn sống không bao giờ bị tổn thương, cuối cùng phải sống mà không yêu. Thiên Chúa không chọn con đường ấy. Tình yêu nhập thể cho thấy Thiên Chúa chấp nhận trở nên “có thể bị chạm đến” trong nhân tính của Đức Kitô. Ngài có thể bị người ta hôn phản bội. Có thể bị nhổ vào mặt. Có thể bị chế giễu. Có thể bị đóng đinh. Không phải vì thần tính yếu đi, mà vì tình yêu đi đến cùng.
Có lẽ đây là lý do sau Phục Sinh Đức Giêsu không xóa những vết thương. Một chi tiết lạ lùng: Ngài sống lại trong vinh quang, nhưng tay Ngài còn dấu đinh và cạnh sườn Ngài còn vết giáo. Tôma được mời: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy.” Tại sao thân xác phục sinh không trở lại hoàn toàn như chưa từng bị thương? Bởi những vết thương ấy đã trở thành dấu chỉ của tình yêu. Phục Sinh không phủ nhận Thập Giá. Vinh quang không xóa lịch sử yêu thương. Những vết thương không còn chảy máu nhưng trở thành chứng tích: Thiên Chúa đã yêu chúng ta ở đây.
Chúng ta cũng cần tránh một sai lầm mục vụ rất nguy hiểm: thần thánh hóa đau khổ. Bởi Đức Kitô chịu đau khổ, có người tưởng rằng đau khổ tự nó là điều tốt, càng đau càng thánh, Chúa thích thấy chúng ta khổ. Không. Kitô giáo không thờ đau khổ. Kitô giáo thờ Đấng đã yêu trong đau khổ và chiến thắng đau khổ bằng tình yêu. Đức Giêsu chữa người bệnh, cho người mù thấy, người què đi, người phong được sạch. Ngài khóc trước sự chết và gọi người chết trở về. Ngài không nói với người bệnh: “Cứ bệnh đi vì bệnh rất đẹp.” Khi có thể làm giảm đau cho người khác, người Kitô hữu phải làm. Khi có thể chữa bệnh, phải chữa. Khi có thể chống bất công, phải chống. Khi có thể giải thoát một người khỏi bạo lực, không được bảo họ “vác thập giá” để tiếp tục chịu đựng. Thập Giá không phải lý do để hợp thức hóa sự dữ. Ngược lại, trên Thập Giá chính sự dữ bị phơi bày và bị xét xử.
Thập Giá cho thấy con người có thể tàn nhẫn đến mức nào: tôn giáo có thể kết án một người vô tội; chính quyền có thể giết người để bảo vệ trật tự; đám đông có thể bị kích động; bạn bè có thể chạy trốn; một môn đệ có thể bán Thầy; một môn đệ khác có thể chối Thầy; người ta có thể chế nhạo một người đang hấp hối. Tất cả bóng tối của nhân loại tụ lại trên Canvê. Nhưng cũng chính ở đó, tình yêu Thiên Chúa đi xa hơn bóng tối. Con người đóng đinh, Đức Giêsu tha thứ. Con người lấy áo, Đức Giêsu trao cả mạng sống. Con người nhạo báng, Ngài im lặng. Người trộm chỉ xin được nhớ đến, Ngài ban thiên đàng. Chính vì thế Thập Giá không ca ngợi đau khổ; Thập Giá ca ngợi một tình yêu mà đau khổ không thể tiêu diệt.
Nếu hỏi “Thiên Chúa có đau khổ không?”, có lẽ câu trả lời Kitô giáo đầy đủ nhất không thể chỉ là “có” hoặc “không”. Nói “không” mà không giải thích, ta dễ biến Thiên Chúa thành vô cảm. Nói “có” mà không phân biệt, ta dễ biến Thiên Chúa thành một hữu thể mong manh bị thế giới điều khiển. Phải nói: Thiên Chúa, trong thần tính của Ngài, không bị một quyền lực bên ngoài áp đặt đau khổ và không chịu những biến động như một thụ tạo; nhưng chính Con Thiên Chúa, bởi Nhập Thể, đã thật sự chịu đau khổ và chịu chết trong nhân tính của Ngài. Và phải nói thêm: sự “bất khả thụ khổ” của Thiên Chúa không chống lại tình yêu, mà bảo đảm rằng tình yêu ấy không bao giờ bị sự dữ làm cho biến chất. Chúng ta đau và đôi khi vì đau mà hết yêu. Thiên Chúa bước vào đau khổ nhưng vẫn yêu. Chúng ta bị phản bội rồi có thể trở thành cay đắng. Đức Kitô bị phản bội mà vẫn gọi Giuđa là “bạn”. Chúng ta bị làm nhục rồi muốn trả thù. Ngài bị đóng đinh mà cầu xin tha thứ. Nếu phải tìm sự khác biệt sâu nhất giữa đau khổ của chúng ta và đau khổ của Đức Kitô, có lẽ là ở đó: đau khổ đi qua trái tim Đức Kitô mà không thể biến tình yêu thành hận thù.
Đây mới là sự toàn năng lạ lùng của Thiên Chúa. Ta thường tưởng toàn năng là có khả năng tránh mọi thương tích. Nhưng Tin Mừng cho thấy quyền năng lớn hơn: có thể bị thương mà vẫn yêu, có thể bị khước từ mà vẫn trao ban, có thể bước vào cái chết và biến cái chết thành cửa ngõ sự sống. Quyền lực của thế gian nói: “Nếu anh mạnh, hãy xuống khỏi thập giá.” Tình yêu của Thiên Chúa nói: “Chính vì mạnh nên Ta có thể ở lại.” Những người đứng dưới Thập Giá thách thức Đức Giêsu: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá.” Họ nghĩ dấu chứng thần tính là không bị đau. Tin Mừng đảo ngược logic ấy. Chính việc Ngài không xuống mới bày tỏ một điều lớn hơn phép lạ: tình yêu trung tín đến cùng.
Nếu Đức Giêsu xuống khỏi thập giá để chứng minh quyền lực, có lẽ đám đông sẽ sợ. Nhưng vì Ngài ở lại, nhân loại được cứu. Ngài không đến để làm người ta khiếp đảm trước sức mạnh, mà để kéo lòng người bằng tình yêu. “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.” Thập Giá là ngai của một vị vua kỳ lạ: mão triều thiên bằng gai, vương trượng là cây sậy, ngai là hai thanh gỗ, triều phục bị lột bỏ, thần dân là một người mẹ đau khổ, một môn đệ và vài phụ nữ trung thành. Nhưng chính ngai ấy nói sự thật về Thiên Chúa rõ hơn tất cả những hình ảnh quyền lực mà con người từng tưởng tượng.
Và điều ấy thay đổi đời sống chúng ta. Nếu Thiên Chúa chỉ là Đấng không bao giờ có thể bị chạm đến, người đau khổ có thể kính sợ Ngài nhưng khó chạy vào lòng Ngài. Nhưng nếu Con Thiên Chúa từng biết đau, người bệnh có thể nói: Chúa hiểu. Người bị phản bội có thể nói: Chúa hiểu. Người bị vu oan có thể nói: Chúa hiểu. Người cảm thấy bị bỏ rơi có thể nói: Chúa hiểu. Người đứng trước cái chết có thể nói: Chúa đã ở đây trước con. Không phải “Chúa hiểu” theo kiểu người đứng bên ngoài quan sát và biết mọi dữ kiện. Chúa hiểu từ bên trong thân phận chúng ta. Thư Do Thái nói Đức Kitô không phải vị Thượng Tế không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta. Chính Người đã chịu thử thách về mọi phương diện như ta, chỉ trừ tội lỗi. Đây là một trong những nguồn an ủi sâu nhất của Kitô giáo: người đau khổ không cầu nguyện với một Thiên Chúa chỉ có kiến thức về đau khổ; người ấy cầu nguyện với Đấng mang thương tích.
Có những đêm con người không còn cầu được gì ngoài một tiếng “Chúa ơi”. Có những căn bệnh kéo dài đến mức mọi câu đạo đức đều trở nên nhạt. Có những gia đình chịu tang mà lời “hãy vui lên” nghe gần như tàn nhẫn. Có những linh mục, tu sĩ, người cha, người mẹ, người trẻ phải đi qua những mùa đời mà Thiên Chúa dường như hoàn toàn im lặng. Khi ấy, đừng bắt mình phải hiểu hết. Hãy nhìn Thập Giá. Không phải để tìm một lời giải thích, nhưng để tìm một Đấng đang ở đó. Có khi đức tin trưởng thành không còn là nói: “Con hiểu tại sao Chúa để điều này xảy ra.” Có khi đức tin chỉ còn là: “Con không hiểu, nhưng con tin rằng trong vực sâu này, Chúa không bỏ con một mình.”
Đức Maria dưới chân Thập Giá là một hình ảnh tuyệt đẹp của đức tin ấy. Mẹ không được giải thích. Thiên thần năm xưa nói Con của Mẹ sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao, sẽ trị vì và triều đại Người vô cùng vô tận. Bây giờ Đấng ấy đang chết như một tử tội. Mẹ đứng đó. Không một phép lạ nào xảy ra để miễn cho Mẹ khỏi thanh gươm xuyên thấu tâm hồn. Mẹ không bỏ đi. Có một loại đức tin tin vì thấy phép lạ. Nhưng cũng có một đức tin sâu hơn: đứng lại khi phép lạ không xảy ra. Đức Maria đứng bên Thập Giá và giữ lấy Thiên Chúa ngay khi mọi dấu chỉ hữu hình dường như nói rằng Thiên Chúa đã thất bại.
Có lẽ người Kitô hữu chúng ta cần học lại nghệ thuật đứng bên cạnh người đau khổ như Đức Maria. Không vội giải thích. Không nói những câu mà chính mình cũng không dám nói nếu đang ở trong hoàn cảnh ấy. Không biến mọi tai họa thành “Chúa gửi thánh giá”. Có những thập giá do tội lỗi con người tạo nên và nhiệm vụ Kitô hữu là tháo người khác xuống khỏi đó. Một người vợ bị bạo hành không cần nghe rằng đó là “thập giá Chúa gửi”. Một đứa trẻ bị xâm hại không mang “thập giá Chúa ban”. Người nghèo bị bóc lột không phải cứ im lặng chịu đựng để nên thánh. Thánh Giá của Đức Kitô khiến Hội Thánh phải đứng về phía những người đang bị đóng đinh, chứ không phải bảo họ quen với những chiếc đinh.
Nếu Thiên Chúa thật sự bước vào đau khổ, Hội Thánh cũng không được đứng ngoài. Một Hội Thánh giảng về Thập Giá nhưng tránh né những vết thương của nhân loại sẽ nói về Thập Giá như một lý thuyết. Thân Thể Đức Kitô hôm nay vẫn bị thương nơi những người đói, người bệnh, người di cư, người bị bỏ rơi, người già cô độc, trẻ em không được bảo vệ, những gia đình tan vỡ, những người sống với mặc cảm không ai cần mình. Đức Kitô đã nói: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta.” Như vậy câu hỏi “Thiên Chúa có chịu khổ không?” cuối cùng trở thành một câu hỏi nhắm thẳng vào chúng ta: nếu Thiên Chúa đã không sợ bước vào nỗi đau của con người, tại sao chúng ta lại sợ?
Có một thứ đạo đức chỉ muốn một Thiên Chúa làm mình dễ chịu. Cầu nguyện để được bình an, đi lễ để được ơn, làm việc lành để đời mình suôn sẻ. Khi đau khổ tới, ta ngỡ hợp đồng với Chúa bị phá vỡ. Nhưng Đức Giêsu chưa bao giờ hứa rằng theo Ngài là được miễn đau. Ngài hứa một điều sâu hơn: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày.” Kitô giáo không phải tấm vé tránh khỏi thân phận con người. Nó là bảo chứng rằng không phần nào trong thân phận ấy, kể cả đau khổ và cái chết, nằm ngoài khả năng được Thiên Chúa cứu chuộc.
Thật ra ta không thể hiểu hoàn toàn Thiên Chúa bằng những cặp khái niệm “có đau – không đau”. Thiên Chúa luôn vượt khỏi ngôn ngữ chúng ta. Khi nói Ngài bất biến, ta không có nghĩa Ngài bất động như một khối đá. Khi nói Ngài bất khả thụ khổ, ta không có nghĩa Ngài lãnh đạm. Khi nói Ngài yêu, ta cũng không được lấy nguyên xi kinh nghiệm tình cảm rất giới hạn của mình rồi phóng đại lên trời. Mọi ngôn từ về Thiên Chúa vừa đúng vừa phải được thanh luyện. Thiên Chúa giống điều ta nói, nhưng còn khác hơn ta tưởng rất nhiều. Ngài không yêu như ta yêu; Ngài là Tình Yêu. Và vì là Tình Yêu, Ngài không bị sự thay đổi của chúng ta làm thay đổi bản chất yêu thương của Ngài.
Điều đó an ủi vô cùng. Nếu Thiên Chúa yêu như con người, có lẽ Ngài đã chán chúng ta từ lâu. Con người có thể hứa hôm nay rồi mai đổi ý. Có thể thương khi người kia dễ thương, rồi bỏ khi người kia trở nên khó chịu. Có thể tha thứ một lần, hai lần, nhưng đến một lúc nói “đủ rồi”. Tình yêu Thiên Chúa không như thế. “Đức Kitô đã chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi.” Không phải khi ta tốt đẹp Ngài mới yêu. Chính khi ta chưa đáng yêu, tình yêu ấy đã đi tìm. Chính vì Thiên Chúa không bị cảm xúc thất thường điều khiển nên lòng thương xót của Ngài đáng tin. Sự bất khả thụ khổ, hiểu đúng, không làm tình yêu Thiên Chúa lạnh đi; nó làm tình yêu ấy bền vững đến mức ta có thể trao cả đời mình vào đó.
Nhưng sự bền vững ấy lại mang khuôn mặt một Đấng chịu đóng đinh. Đây là nghịch lý Kitô giáo: Đấng không thay đổi trong tình yêu lại bước vào tất cả những đổi thay đau đớn của kiếp người. Đấng vĩnh cửu đi vào thời gian. Đấng vô hình mang một khuôn mặt. Đấng không thể chết đã chết theo nhân tính. Đấng ở bên kia đau khổ đã đi qua đau khổ. Không phải để thôi là Thiên Chúa nhưng để cho ta biết Thiên Chúa là ai.
Có lẽ cuối cùng đây mới là câu trả lời quan trọng nhất: Thập Giá không chỉ cho ta biết Thiên Chúa làm gì; Thập Giá cho ta biết Thiên Chúa là ai. Thiên Chúa là Đấng yêu đến cùng. Ngài không yêu nhân loại từ một khoảng cách an toàn. Ngài không ném xuống từ trời vài ân huệ rồi quay đi. Ngài đến. Ngài ở. Ngài mang. Ngài khóc. Ngài chịu thương tích. Ngài chết. Rồi Ngài sống lại, mang theo trong vinh quang chính những thương tích ấy.
Có những người hỏi: “Nếu Thiên Chúa yêu tôi, tại sao Ngài để tôi đau?” Ta không có quyền trả lời quá dễ dàng. Nhưng từ Thập Giá có thể nghe một câu khác, nhẹ hơn mà sâu hơn: “Ta không hứa rằng con sẽ không đau. Nhưng Ta đã bước vào nỗi đau trước con. Và Ta sẽ không để nỗi đau có tiếng nói cuối cùng.” Tiếng nói cuối cùng không thuộc về chiếc đinh. Không thuộc về ngôi mộ. Không thuộc về bệnh tật. Không thuộc về phản bội. Không thuộc về cái chết. Tiếng nói cuối cùng thuộc về Phục Sinh.
Vì thế, người Kitô hữu không lạc quan vì nghĩ cuộc đời sẽ luôn ổn. Người Kitô hữu hy vọng vì biết ngay cả khi cuộc đời không ổn, Đức Kitô vẫn là Chúa. Hy vọng Kitô giáo không phủ nhận Thứ Sáu Tuần Thánh; nó đi xuyên qua Thứ Sáu Tuần Thánh để đến sáng Phục Sinh. Không có ngôi mộ nào Đức Kitô không thể bước vào. Không có vết thương nào ở ngoài tầm chạm của Đấng Phục Sinh. Không có giọt nước mắt nào vô danh trước Thiên Chúa.
Và rồi có một ngày, mầu nhiệm “Thiên Chúa chịu khổ” sẽ nhường chỗ cho một mầu nhiệm khác: Thiên Chúa lau sạch nước mắt. Sách Khải Huyền vẽ nên hình ảnh cuối cùng của lịch sử cứu độ: “Người sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất.” Đây là điểm đến của câu chuyện. Thiên Chúa không nhập thể để vĩnh viễn giữ nhân loại trong đau khổ; Ngài nhập thể để đưa nhân loại ra khỏi đau khổ. Ngài đi vào cái chết để tiêu diệt cái chết từ bên trong. Ngài mang lấy vết thương để cuối cùng chữa lành mọi vết thương.
Cho đến ngày ấy, Thập Giá vẫn đứng giữa Hội Thánh. Không phải như sự tôn vinh thất bại, nhưng như ký ức rằng Thiên Chúa đã không bỏ chạy khi con người đau. Mỗi khi ta nhìn lên Thập Giá, xin đừng chỉ thấy một Đức Giêsu đau đớn. Hãy thấy một Thiên Chúa yêu. Hãy nhìn đôi tay bị đóng đinh và nghe lời không nói thành tiếng: “Ta đã không giữ lại gì.” Hãy nhìn cạnh sườn bị đâm thâu và hiểu rằng tình yêu Thiên Chúa đã mở ra đến tận cùng. Hãy nhìn khuôn mặt bị đánh và nhận ra Đấng không trả đũa. Hãy nghe lời “Ta khát” và nhớ rằng Thiên Chúa khát chính con người. Hãy nghe “Lạy Cha, xin tha cho họ” và hiểu rằng lòng thương xót mạnh hơn tội. Hãy nghe “Mọi sự đã hoàn tất” và biết rằng tình yêu đã đi đến cùng.
Có lẽ vì thế, khi đau khổ tới, lời cầu nguyện sâu nhất không phải lúc nào cũng là: “Lạy Chúa, xin giải thích cho con.” Có lúc phải cầu: “Lạy Chúa, xin ở lại với con.” Và Đức Kitô chịu đóng đinh là câu trả lời của Thiên Chúa: “Ta ở đây.”
Ta ở đây khi con khóc.
Ta ở đây khi con không hiểu.
Ta ở đây khi những người con tin tưởng bỏ con.
Ta ở đây khi lời cầu nguyện của con dường như rơi vào im lặng.
Ta ở đây khi thân xác con yếu đi.
Ta ở đây khi một người con yêu ra đi.
Ta ở đây khi con sợ chết.
Ta ở đây ngay cả khi con không cảm thấy Ta ở đây.
Bởi chính Ta cũng đã từng kêu trong bóng tối.
Và Ta đã đi xuyên qua bóng tối ấy.
Vì thế, đừng bao giờ nghĩ rằng Thiên Chúa xa lạ với nước mắt. Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa đã có đôi mắt biết khóc. Đừng nghĩ Thiên Chúa xa lạ với vết thương. Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa đã mang những vết đinh. Đừng nghĩ Thiên Chúa xa lạ với sự cô đơn. Trong Đức Giêsu, Ngài đã từng hỏi các môn đệ: “Anh em không thể canh thức với Thầy được một giờ sao?” Đừng nghĩ Thiên Chúa xa lạ với cái chết. Trong Đức Giêsu, chính Ngài đã bước xuống mồ.
Nhưng cũng đừng quên: ngôi mộ ấy đã trống.
Đó là câu cuối cùng Kitô giáo nói về đau khổ. Không phải đau khổ là tốt. Không phải Thiên Chúa thích con người khóc. Không phải mọi tai họa đều dễ dàng được gọi là ý Chúa. Câu cuối cùng là: Tình yêu đã bước vào đau khổ, và tình yêu đã thắng. Thiên Chúa bất khả thụ khổ không phải một Thiên Chúa bất khả yêu thương; Ngài là Đấng có tình yêu tự do đến mức không sự dữ nào có thể ép Ngài ngừng yêu. Và Thiên Chúa nhập thể không phải một Thiên Chúa giả vờ đau; Ngài thật sự mang thân phận chúng ta, để nỗi đau của con người từ nay không còn là một nơi hoàn toàn xa lạ với Thiên Chúa.
Giữa hai bờ tưởng chừng nghịch nhau – Thiên Chúa bất khả thụ khổ và Thiên Chúa chịu khổ trong Đức Kitô – không phải là một mâu thuẫn cần loại bỏ, mà là một mầu nhiệm cần chiêm ngắm. Chính vì Thiên Chúa không bị đau khổ thống trị nên Ngài có thể tự do đi vào đau khổ. Chính vì tình yêu Ngài không thay đổi nên ngay giữa Thập Giá, Ngài vẫn yêu. Chính vì Ngài là Sự Sống nên cái chết không thể giữ Ngài. Chính vì Ngài là Thiên Chúa nên Ngài có thể xuống tận đáy thân phận con người mà không đánh mất mình, để nâng con người lên hiệp thông với Ngài.
Và từ đó, một câu hỏi cuối cùng còn lại cho mỗi chúng ta: Nếu Thiên Chúa đã yêu tôi đến mức chấp nhận bị thương vì tôi, tôi sẽ yêu Ngài và yêu anh em mình đến đâu? Có lẽ thần học về Thiên Chúa chịu khổ chỉ thật sự được hiểu khi nó biến thành đời sống. Khi ta biết ở lại bên một người đang đau. Khi ta biết khóc với người khóc. Khi ta không bỏ người khác chỉ vì họ không còn mang lại cho ta niềm vui. Khi ta biết tha thứ dù lòng mình bị thương. Khi ta biết chống lại sự dữ nhưng không để sự dữ biến mình thành kẻ dữ. Khi ta bị đóng đinh bởi hiểu lầm mà vẫn cố giữ trái tim khỏi cay độc. Khi đó, một chút gì của tình yêu Thập Giá đang trở thành xác thịt trong đời ta.
Lạy Đức Giêsu chịu đóng đinh, khi nhìn lên Thánh Giá Chúa, xin đừng để chúng con chỉ hỏi tại sao Chúa đau, nhưng hãy dạy chúng con hiểu Chúa đã yêu thế nào trong đau khổ ấy. Xin cho những người đang bệnh nhận ra rằng Chúa ở gần. Xin cho những người đang tang chế cảm được bàn tay Chúa trong nước mắt. Xin cho những người bị phản bội nhận ra Chúa đã bước con đường ấy. Xin cho những người đang nghi ngờ biết rằng ngay cả tiếng kêu của họ cũng có thể trở thành lời cầu nguyện. Và xin cho Hội Thánh đừng bao giờ trở thành một cộng đoàn chỉ giảng về Thập Giá từ xa, nhưng là một Hội Thánh dám đứng dưới chân những thập giá của con người hôm nay, cùng với Đức Maria, cùng với người môn đệ Chúa yêu, cho đến khi bình minh Phục Sinh xuất hiện.
Bởi sau tất cả những tranh luận về “impassibility”, về bất biến, về thần tính và nhân tính, về việc Thiên Chúa có thể hay không thể đau khổ, Kitô giáo vẫn giữ một hình ảnh đơn sơ đến lạ lùng ở chính trung tâm của mình: một Thiên Chúa giang hai tay trên Thập Giá. Hai cánh tay ấy không khép lại để bảo vệ mình. Chúng mở ra. Mở ra cho người công chính lẫn tội nhân. Cho kẻ trung thành và kẻ chạy trốn. Cho người tin và người đang nghi ngờ. Cho người thánh thiện và kẻ trộm hấp hối. Cho tôi và cho bạn.
Và có lẽ tất cả thần học cuối cùng phải quỳ xuống trước hai cánh tay ấy.
Bởi nơi đó, ta hiểu rằng Thiên Chúa không đau khổ như chúng ta đau khổ vì bất lực.
Nhưng Thiên Chúa yêu đến mức đã tự nguyện bước vào chính nỗi đau của chúng ta.
Và từ ngày ấy, chẳng còn một vực sâu nào của kiếp người mà chúng ta phải rơi xuống một mình.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ LÀ “ĐIỂM HỘI TỤ” CỦA CÔNG LÝ VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT THIÊN CHÚA
Có những lúc đứng trước Thánh Giá, ta không biết phải nói gì. Càng nhìn lâu, càng thấy mọi lời giải thích của mình trở nên nhỏ bé. Một Con Người vô tội bị đóng đinh giữa hai kẻ có tội. Hai bàn tay từng chữa lành người phong hủi nay bị đóng thủng. Đôi chân từng đi tìm người thất lạc nay không còn bước được nữa. Đôi môi từng nói lời tha thứ, từng gọi người chết sống lại, từng an ủi những kẻ khóc than, giờ đây khô lại trong cơn khát. Trái tim từng chạnh lòng trước đám đông bơ vơ như chiên không người chăn dắt cuối cùng bị lưỡi đòng mở ra. Và chính ở nơi tưởng như Thiên Chúa đã thua cuộc hoàn toàn, Kitô giáo lại nhận ra chiến thắng lớn nhất của Thiên Chúa. Chính ở nơi con người thực hiện một bản án bất công nhất lịch sử, Thiên Chúa lại mặc khải công lý của Người. Chính ở nơi bạo lực đạt đến tận cùng, lòng thương xót lại tuôn trào đến tận cùng. Thánh Giá vì thế không chỉ là một biểu tượng đạo đức, càng không phải là một vật trang trí trên bàn thờ hay trên ngực người tín hữu. Thánh Giá là nơi hai điều mà con người rất thường tách rời nhau — công lý và lòng thương xót — gặp nhau trong chính trái tim Thiên Chúa. Nếu chỉ có công lý mà không có thương xót, con người không ai đứng vững. Nếu chỉ có thương xót mà không có công lý, sự dữ sẽ bị xem nhẹ, tội lỗi sẽ trở thành chuyện chẳng đáng gì, nước mắt của nạn nhân sẽ bị quên lãng. Nhưng nơi Thánh Giá, Thiên Chúa không bỏ công lý để thương xót con người, cũng không hy sinh lòng thương xót để bảo vệ công lý. Người thực hiện cả hai bằng một cách vượt quá mọi tính toán của chúng ta: Người không tiêu diệt tội nhân, Người mang lấy hậu quả của tội lỗi; Người không gọi sự dữ là điều tốt, Người đi thẳng vào giữa sự dữ để chiến thắng nó bằng tình yêu; Người không nói rằng tội lỗi chẳng đáng kể, Người cho chúng ta thấy tội lỗi nghiêm trọng đến mức nào qua cái giá của Thánh Giá; nhưng đồng thời Người cũng cho chúng ta thấy con người quý giá đến mức nào, bởi để cứu con người, Con Một Thiên Chúa đã yêu đến cùng.
Con người chúng ta thường hiểu công lý theo kiểu cân đo. Ai làm điều tốt thì được thưởng, ai làm điều xấu thì bị phạt. Ai mắc nợ thì phải trả. Ai gây tổn thương thì phải chịu hậu quả. Cách hiểu ấy không hoàn toàn sai. Xã hội không thể tồn tại nếu chẳng còn công lý. Một người cướp bóc không thể được coi như người vô tội. Một kẻ giết người không thể chỉ nói xin lỗi là xong. Một người lừa đảo làm bao gia đình khốn đốn không thể nhân danh lòng thương xót để trốn tránh trách nhiệm. Công lý đòi sự thật phải được gọi đúng tên. Công lý đòi người bị hại phải được nhìn nhận. Công lý đòi cái ác phải bị vạch mặt. Công lý đòi con người chịu trách nhiệm về những việc mình làm. Thiên Chúa là Đấng công chính nên Người không thể nói rằng điều ác cũng chẳng sao. Nếu Thiên Chúa nhìn những cuộc chiến tranh, những cuộc sát hại, những vụ phản bội, những bất công, những thai nhi bị loại bỏ, những người yếu thế bị chà đạp, những gia đình tan nát vì ích kỷ, những con người bị hạ nhục bởi tiền bạc và quyền lực rồi bảo rằng tất cả đều không đáng kể vì Người nhân từ, thì đó không phải là lòng thương xót nữa. Một thứ “thương xót” phủ nhận sự thật chỉ là sự dễ dãi. Một Thiên Chúa dửng dưng trước sự dữ cũng không còn là Thiên Chúa của tình yêu, bởi tình yêu thật luôn đau trước việc người mình yêu bị xúc phạm và luôn muốn cứu họ khỏi cái ác.
Nhưng vấn đề của con người là thế này: chúng ta muốn công lý khi mình là nạn nhân, nhưng lại muốn lòng thương xót khi mình là người có lỗi. Khi người khác làm tổn thương mình, ta nhớ rất rõ từng lời họ nói, từng việc họ làm, từng ngày tháng họ khiến mình đau đớn. Ta đòi phải công bằng. Ta hỏi: “Tại sao họ làm như thế mà vẫn bình an?” Ta mong Thiên Chúa xử họ. Thậm chí có lúc ta âm thầm mong một ngày họ phải trả giá. Nhưng đến khi chính mình phạm lỗi, ta lại nói: “Ai mà chẳng yếu đuối. Chúa thương xót mà. Chuyện ấy có gì đâu.” Đó là bi kịch rất thật của trái tim con người. Chúng ta thường cầm cán cân công lý để cân người khác, nhưng lại cầm lòng thương xót để biện minh cho mình. Còn Thiên Chúa thì không như vậy. Trước mặt Người, sự thật và tình yêu không chống nhau. Người nhìn tội lỗi bằng tất cả sự nghiêm túc của công lý, nhưng nhìn tội nhân bằng tất cả lòng thương của một người Cha. Và để cứu tội nhân mà không biến tội lỗi thành chuyện nhỏ, Người đã chọn con đường Thánh Giá.
Thánh Phaolô viết một câu rất mạnh: “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2 Cr 5,21). Không phải Đức Giêsu trở thành kẻ có tội. Người vẫn là Đấng vô tội. Nhưng Người đi vào tận hậu quả của tội lỗi. Người đứng vào chỗ của nhân loại sa ngã. Tất cả sự phản loạn, ích kỷ, bạo lực, gian dối, kiêu căng, phản bội và vô ơn của nhân loại như dồn lại nơi đồi Canvê. Giuđa bán Thầy. Phêrô chối Thầy. Các môn đệ bỏ chạy. Các thượng tế tìm cách loại trừ Người. Philatô biết Người vô tội nhưng vẫn trao Người cho đám đông. Dân chúng từng tung hô Người nay la hét: “Đóng đinh nó đi!” Lính tráng chế nhạo Người. Một tên trộm sỉ nhục Người. Những người qua đường lắc đầu châm biếm. Nhìn quanh Thập Giá, gần như mọi khuôn mặt của tội lỗi con người đều hiện diện: tham tiền, hèn nhát, tham quyền, vô ơn, bạo lực, ích kỷ, a dua, dối trá, sợ hãi. Thập Giá trở thành tấm gương phơi bày sự thật về con người. Nhưng điều lạ lùng nhất là giữa tất cả bóng tối ấy, từ miệng Đức Giêsu lại vang lên một lời không ai có thể tưởng tượng nổi: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).
Đó là Tin Mừng giữa đỉnh cao của bi kịch. Nếu muốn tìm một đoạn Tin Mừng minh họa rõ nhất cho sự gặp gỡ giữa công lý và lòng thương xót, hãy đứng lại ở đồi Sọ trong Tin Mừng Luca. Bên cạnh Đức Giêsu có hai người gian phi. Một người nhục mạ Người: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!” Nhưng người kia trách hắn: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng chẳng sợ! Chúng ta chịu thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm; chứ ông này đâu có làm điều gì trái!” Rồi anh nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Đức Giêsu đáp: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (x. Lc 23,39-43). Chỉ vài câu, nhưng cả mầu nhiệm cứu độ mở ra. Người trộm lành không phủ nhận công lý. Anh không nói mình vô tội. Anh không đổ lỗi cho hoàn cảnh. Anh không biện minh cho quá khứ. Anh nói thẳng: “Chúng ta chịu thế này là đích đáng.” Đó là sự thật. Đó là công lý. Anh nhìn nhận trách nhiệm của mình. Nhưng anh không dừng ở tuyệt vọng. Anh quay sang Đức Giêsu và thưa: “Xin nhớ đến tôi.” Và lòng thương xót đáp lại ngay tức khắc: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Công lý không bị phủ nhận, nhưng lòng thương xót mở một cánh cửa mà công lý thuần túy không thể mở. Người trộm không xuống khỏi thập giá, nhưng cuộc đời anh được cứu. Hậu quả trần thế của đời anh vẫn còn đó, nhưng quá khứ không còn là lời cuối cùng về con người anh nữa. Đó chính là phép lạ của lòng thương xót: không xóa sự thật, nhưng làm cho sự thật trở thành khởi điểm của ơn cứu độ thay vì bản án tuyệt vọng.
Ta cần nhớ rằng lòng thương xót của Thiên Chúa không phải là sự lãng quên rẻ tiền. Tha thứ không có nghĩa là giả vờ như chưa có chuyện gì xảy ra. Trên thân thể phục sinh của Đức Giêsu vẫn còn dấu đinh. Khi Người hiện ra với Tôma, Người không che bàn tay lại, không xóa vết thương đi, nhưng bảo: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy” (Ga 20,27). Những vết thương vẫn còn, nhưng đã được biến đổi. Đây là hình ảnh vô cùng đẹp của cách Thiên Chúa cứu chúng ta. Người không xóa lịch sử. Người cứu lịch sử. Người không nói rằng vết thương chưa từng có. Người biến vết thương thành dấu chỉ của tình yêu. Đó cũng là điều có thể xảy ra trong cuộc đời chúng ta. Một vết thương được chữa lành không nhất thiết biến mất khỏi ký ức. Một người đã từng bị phản bội vẫn nhớ mình từng đau. Một người từng phạm lỗi vẫn nhớ những năm tháng lầm lạc. Một gia đình từng đổ vỡ vẫn mang những dấu tích của biến cố ấy. Nhưng trong ân sủng, điều từng chỉ là vết nhục có thể trở thành nơi của lòng cảm thông; điều từng chỉ là thất bại có thể trở thành bài học của khiêm nhường; điều từng chỉ là nước mắt có thể trở thành khả năng hiểu nước mắt người khác. Những dấu đinh vẫn còn, nhưng không còn chảy máu. Đó là Phục Sinh.
Có người hỏi: nếu Thiên Chúa thương xót, tại sao phải có Thánh Giá? Thiên Chúa không thể đơn giản nói một câu “Ta tha cho các ngươi” sao? Câu hỏi nghe hợp lý, nhưng nó đụng tới một mầu nhiệm rất sâu. Tha thứ bao giờ cũng có giá. Khi một người làm tổn thương ta và ta thật sự tha thứ, không có nghĩa là cái giá của tổn thương biến mất; có nghĩa là chính ta chấp nhận mang phần đau ấy để nó không tiếp tục truyền sang người khác. Một người xúc phạm ta. Nếu ta trả lại đúng sự xúc phạm ấy, vòng bạo lực tiếp tục. Nếu ta tha thứ, ta chặn vòng bạo lực lại nơi mình. Ta chịu đau nhưng không chuyển đau sang người kia. Theo nghĩa ấy, mọi tha thứ thật đều có một chút Thánh Giá. Người mẹ tha cho đứa con hoang đàng không có nghĩa là những đêm bà khóc biến mất. Người vợ tha cho chồng sau một lần phản bội không có nghĩa là trái tim chị không còn đau. Một người tha cho kẻ đã làm mình tổn thương không có nghĩa hậu quả không còn. Người tha thứ nhận lấy đau khổ của việc bị xúc phạm và quyết định không biến nó thành một cuộc trả thù mới. Vì thế tha thứ không phải yếu đuối. Tha thứ có thể là một trong những hành vi mạnh mẽ nhất của con người. Nó đòi một sức mạnh nội tâm lớn hơn rất nhiều so với trả đũa.
Trên Thánh Giá, Thiên Chúa làm chính điều đó ở mức tuyệt đối. Nhân loại ném vào Đức Kitô tất cả những gì tăm tối nhất của mình, nhưng Người không trả lại bằng bạo lực. Con người đóng đinh Người, Người mở tay ôm lấy con người. Con người nguyền rủa Người, Người cầu xin Chúa Cha tha thứ cho họ. Con người cướp áo Người, Người trao mạng sống mình. Con người cho Người giấm chua, Người trao Thánh Thần. Con người mở cạnh sườn Người bằng lưỡi đòng, Người để máu và nước tuôn ra. Tội lỗi cứ ném vào Thiên Chúa sự chết, còn Thiên Chúa cứ trả lại bằng sự sống. Đó là cách Thiên Chúa chiến thắng sự dữ. Người không thắng bằng việc trở nên dữ hơn sự dữ. Người thắng bằng cách yêu nhiều hơn sự dữ có thể ghét. Thập Giá vì thế không phải chiến thắng của đau khổ; Thập Giá là chiến thắng của tình yêu trong đau khổ. Kitô giáo không thờ đau khổ. Kitô giáo thờ Đấng đã đi qua đau khổ vì yêu và biến đau khổ thành con đường dẫn đến sự sống.
Nhìn từ phía công lý, Thánh Giá nói với chúng ta rằng tội lỗi nghiêm trọng. Ta không thể sống thế nào cũng được rồi cuối cùng bảo “Chúa thương”. Một người không thể cứ gian dối, ngoại tình, bóc lột, vu khống, hận thù, tham lam rồi lấy lòng thương xót Chúa làm chiếc chăn phủ lên đời mình. Đó không phải tin vào lòng thương xót; đó là lợi dụng lòng thương xót. Người trộm lành được cứu không phải vì anh coi nhẹ tội của mình, mà vì anh nhận tội. Dakêu được cứu không phải chỉ vì Chúa Giêsu đến nhà ông, mà vì cuộc gặp ấy làm ông thay đổi: “Tôi xin lấy phân nửa tài sản mà cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn” (Lc 19,8). Người phụ nữ ngoại tình được Đức Giêsu tha, nhưng Người cũng nói: “Từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8,11). Lòng thương xót đích thật luôn mở một tương lai mới. Nếu ta nói mình đã được tha nhưng vẫn cố tình sống y như cũ, có lẽ ta chưa thực sự đón nhận ơn tha thứ ấy. Ân sủng không chỉ xóa quá khứ; ân sủng biến đổi hiện tại.
Nhìn từ phía lòng thương xót, Thánh Giá lại nói một điều cũng mạnh không kém: không có tội nhân nào bị loại trừ nếu còn biết quay về. Thánh Phêrô chối Chúa ba lần, nhưng sau Phục Sinh, Đức Giêsu không loại ông ra khỏi nhóm môn đệ. Người không nhắc lại ba lần chối ấy để làm nhục Phêrô. Người chỉ hỏi ba lần: “Con có yêu mến Thầy không?” (Ga 21,15-17). Ba lần chối được chữa lành bằng ba lần tuyên xưng tình yêu. Thiên Chúa không sửa chữa con người bằng cách đập họ thêm một lần nữa. Người chữa nơi ta đã gãy. Giuđa phản bội và tuyệt vọng. Phêrô chối Thầy và khóc. Cả hai đều phạm tội nặng. Sự khác biệt cuối cùng không phải vì Phêrô tốt hơn Giuđa rất nhiều, mà vì Phêrô để cho nước mắt dẫn mình trở lại, còn Giuđa để cho tuyệt vọng nói lời cuối cùng. Một trong những cám dỗ nguy hiểm nhất của ma quỷ là trước khi ta phạm tội, nó bảo: “Không sao đâu”; sau khi ta phạm tội, nó lại bảo: “Hết rồi, Chúa không tha đâu.” Cả hai đều là dối trá. Trước tội lỗi, ta phải nghe công lý: “Đừng làm điều ấy.” Sau tội lỗi, ta phải nghe lòng thương xót: “Hãy trở về.”
Có lẽ chúng ta cần học lại điều ấy trong đời sống Hội Thánh. Có lúc người Công giáo nói nhiều về tội đến mức người tội lỗi tưởng rằng nhà thờ là nơi họ không còn được phép bước vào. Nhưng cũng có lúc ta nói về lòng thương xót theo cách nhẹ đến mức người ta tưởng rằng hoán cải chẳng còn cần thiết. Hai thái cực ấy đều làm méo khuôn mặt Thiên Chúa. Hội Thánh phải là nơi nói sự thật mà không nghiền nát con người, đồng thời ôm lấy con người mà không bóp méo sự thật. Đức Giêsu làm điều ấy tuyệt đẹp. Với người phụ nữ ngoại tình, Người không nói ngoại tình là đúng, nhưng cũng không cho đám đông ném đá chị. Với Dakêu, Người vào nhà một kẻ bị coi là tội lỗi, nhưng sự hiện diện của Người làm Dakêu thay đổi. Với người trộm lành, Người không phủ nhận trách nhiệm của anh, nhưng mở Thiên Đàng cho anh. Với Phêrô, Người không giả vờ ba lần chối chưa xảy ra, nhưng trao lại sứ mạng: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.” Đó là cung cách mục vụ của Thánh Giá: sự thật không thiếu tình yêu, và tình yêu không thiếu sự thật.
Ngày nay, xã hội dường như thường dao động giữa hai cực. Một bên là văn hóa kết án. Chỉ cần một người phạm sai lầm, lập tức cộng đồng mạng có thể biến thành tòa án. Một đoạn video vài chục giây, một câu nói thiếu suy nghĩ, một lỗi lầm trong quá khứ có thể bị đào lên rồi cả con người bị đóng khung vào lỗi lầm ấy. Người ta không còn nói: “Anh đã làm một điều xấu”, mà rất nhanh chuyển thành: “Anh là người xấu.” Công lý trở thành trả thù. Sự thật trở thành khí giới. Người phạm lỗi không còn đường trở về. Nhưng bên kia lại có một thứ văn hóa tương đối hóa mọi thứ: ai cũng có lý, chẳng có đúng sai rõ ràng, miễn là cảm thấy ổn. Tội lỗi bị thay bằng chữ “lựa chọn”. Trách nhiệm bị thay bằng “hoàn cảnh”. Hoán cải bị thay bằng “hãy chấp nhận chính mình”. Cả hai đều không phải Tin Mừng. Thánh Giá đứng giữa hai cực ấy. Nó nói với người kết án: “Ngươi cũng là tội nhân cần được tha.” Và nói với người dễ dãi: “Tội lỗi đủ nghiêm trọng để Con Thiên Chúa phải mang lấy Thập Giá.” Nó nói với nạn nhân: “Nước mắt của con được Thiên Chúa nhìn thấy.” Và nói với người phạm lỗi: “Con vẫn còn đường trở về.”
Điều này rất quan trọng đối với Bí tích Hòa Giải. Tòa giải tội có lẽ là một trong những nơi đẹp nhất mà công lý và lòng thương xót gặp nhau. Người tín hữu bước vào đó không phải để kể một câu chuyện đẹp về mình. Họ đến để nói sự thật: “Tôi đã phạm tội.” Không đổ lỗi. Không tô điểm. Không biện minh. Chính hành vi xưng thú đã là một bước đi của công lý, bởi ta trả lại cho sự thật tên gọi của nó. Nhưng rồi linh mục không ngồi đó như một quan tòa lạnh lùng chờ cơ hội làm người khác xấu hổ. Qua thừa tác vụ của Hội Thánh, người hối nhân được nghe lời mà có khi họ đã khao khát từ lâu: “Cha tha tội cho con, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.” Công lý đưa tội lỗi ra ánh sáng; lòng thương xót không để tội nhân chết trong bóng tối. Một lần xưng tội thật có thể giống như một cuộc trở về dưới chân Thánh Giá: ta nhìn thẳng sự thật về mình nhưng không chạy trốn Thiên Chúa. Ta thấy mình không tốt như đã tưởng, nhưng đồng thời nhận ra mình được yêu nhiều hơn mình dám tin.
Và đây là điều rất dễ quên: Thánh Giá không chỉ nói về cách Thiên Chúa đối xử với ta; Thánh Giá còn trở thành tiêu chuẩn cho cách ta đối xử với nhau. Người đã được thương xót phải trở thành người biết thương xót. Đức Giêsu kể dụ ngôn người đầy tớ được chủ tha một món nợ khổng lồ, nhưng khi ra ngoài lại bóp cổ người bạn chỉ mắc mình một món nợ nhỏ (Mt 18,23-35). Cái bi thảm nằm ở chỗ người ấy đã nhận lòng thương xót nhưng không để lòng thương xót biến đổi trái tim mình. Có những người Công giáo đi lễ rất đều, xưng tội nhiều lần, đọc kinh rất sốt sắng, nhưng ôm một mối hận mười năm, hai mươi năm vẫn không buông. Ta xin Chúa: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”, nhưng nhiều khi miệng đọc một điều còn lòng giữ một điều khác. Tha thứ không phải lúc nào cũng dễ. Có những tổn thương quá sâu, đôi khi cần nhiều năm, cần hỗ trợ, cần khoảng cách an toàn, cần công lý và cả sự chữa lành tâm lý. Kitô giáo không dạy một người đang bị bạo hành phải trở về tiếp tục chịu bạo hành nhân danh tha thứ. Tha thứ không có nghĩa là bỏ mọi ranh giới. Tha thứ không có nghĩa là không cần pháp luật. Tha thứ không có nghĩa là lập tức tin tưởng lại người đã phản bội. Tha thứ nghĩa là tôi từ chối để cái ác của người kia biến tôi thành một con người bị cai trị bởi hận thù. Tôi trao quyền xét xử cuối cùng cho Thiên Chúa. Tôi không để kẻ đã làm tôi đau tiếp tục sống trong tim tôi như một ông chủ.
Công lý Kitô giáo cũng có nét khác với sự trả thù. Công lý muốn sửa điều sai; trả thù muốn người làm sai phải đau. Công lý bảo vệ nạn nhân; trả thù dễ tạo thêm nạn nhân. Công lý tìm lại trật tự; trả thù tìm khoái cảm trong việc nhìn người kia bị hạ xuống. Ta rất dễ nhầm hai điều ấy. Khi nói “Tôi chỉ muốn công bằng thôi”, có lúc sâu trong lòng ta lại đang muốn thấy người kia khổ. Thánh Giá thanh luyện cả ước muốn công lý của chúng ta. Đức Giêsu không cầu xin Chúa Cha tiêu diệt những kẻ đóng đinh Người. Người cầu: “Xin tha cho họ.” Nhưng lời cầu ấy không có nghĩa việc họ làm là đúng. Chính việc Đức Giêsu phải chịu đóng đinh đã vạch trần tội ác của họ. Lòng thương xót không biến đao phủ thành người vô tội; lòng thương xót cho đao phủ cơ hội không phải mãi mãi là đao phủ.
Có lẽ đây cũng là câu trả lời cho một câu hỏi rất đời thường: Thiên Chúa sẽ làm gì với những người đã gây đau khổ quá lớn mà chưa bao giờ chịu trách nhiệm? Những nạn nhân của bạo lực, chiến tranh, lạm dụng, áp bức có thể cảm thấy rất khó khi nghe nói: “Hãy tha thứ.” Và ta không nên nói câu ấy một cách quá dễ dàng. Trước khi nói với một người bị thương rằng họ phải tha thứ, Hội Thánh cần ngồi xuống bên họ, nghe tiếng khóc của họ, bảo vệ họ và đòi công lý cho họ. Thiên Chúa không bao giờ đứng về phía sự dữ nhân danh lòng thương xót. Đức Giêsu đứng cùng người bị đóng đinh, bởi chính Người là Đấng bị đóng đinh. Mọi nạn nhân có thể nhìn lên Thánh Giá và biết: Thiên Chúa không xa lạ với sự bất công. Người biết thế nào là bị kết án oan. Người biết thế nào là bị phản bội bởi người thân. Người biết thế nào là bị đám đông làm nhục. Người biết thế nào là kêu lên trong bóng tối: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Vì thế, lời Thiên Chúa nói với người đau khổ không phải là một bài giảng từ xa. Đó là lời của Đấng mang vết thương.
Nhưng cũng chính vì Đức Giêsu là Đấng bị đóng đinh mà kẻ có tội có thể hy vọng. Nếu Thiên Chúa chỉ đứng bên cạnh người tốt để chống lại người xấu, ai trong chúng ta sẽ dám bước đến? Thánh Giá nói rằng Thiên Chúa đứng về phía nạn nhân, nhưng cũng đi tìm kẻ gây tội để cứu họ khỏi trở thành nô lệ vĩnh viễn của chính tội mình. Một Saolô từng bắt bớ các Kitô hữu có thể trở thành Phaolô Tông đồ. Một người thu thuế bị khinh miệt như Matthêu có thể trở thành môn đệ. Một người phụ nữ nhiều lần đổ vỡ có thể trở thành người loan báo Tin Mừng cho cả làng Samari. Một Phêrô từng hèn nhát có thể trở thành người dám chết vì Thầy. Kitô giáo luôn tin vào khả năng của một cuộc đời mới, không phải vì ngây thơ về con người, mà vì tin vào sức mạnh của ân sủng.
Thánh Giá cũng giúp ta hiểu rằng Thiên Chúa không cứu chúng ta từ bên ngoài đau khổ. Người cứu bằng cách bước vào đau khổ. Đây là điều rất khác với cách con người thường tưởng về quyền năng. Nếu là chúng ta, có lẽ ta muốn một Thiên Chúa quyền năng phải từ trời phóng sét xuống tiêu diệt kẻ ác, lập tức giải quyết mọi bất công. Nhưng Thiên Chúa trong Đức Giêsu lại đi một con đường làm ta sửng sốt: Người để mình bị tổn thương. Không phải vì Người yếu, nhưng vì tình yêu thật luôn chấp nhận khả năng bị tổn thương. Ai không bao giờ muốn đau sẽ không bao giờ yêu sâu. Một người mẹ sinh con chấp nhận đau vì yêu. Một người cha thức đêm bên giường con bệnh chấp nhận mệt vì yêu. Một người ở lại chăm sóc người bạn đời khi tuổi già và bệnh tật ập đến chấp nhận mất nhiều thứ vì yêu. Tình yêu luôn có giá. Và khi Thiên Chúa yêu một nhân loại phản nghịch, cái giá của tình yêu ấy hiện rõ trên Thánh Giá.
Nhưng không được hiểu Thánh Giá như thể Chúa Cha là một vị thần giận dữ đòi máu và Chúa Giêsu là nạn nhân đáng thương phải chết để làm Cha nguôi giận. Một hình ảnh như thế bóp méo mầu nhiệm Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một (Ga 3,16). Chúa Cha không đứng ngoài Thánh Giá. Trong tình yêu Ba Ngôi, chính Thiên Chúa tự hiến cho nhân loại. Đức Giêsu nói: “Không ai lấy mạng sống của tôi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (Ga 10,18). Thánh Giá không phải một màn đấu giữa công lý của Cha và lòng thương của Con. Thánh Giá là hành động cứu độ duy nhất của Thiên Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha trao ban, Chúa Con tự hiến, Chúa Thánh Thần làm cho sự hiến dâng ấy trở thành nguồn sống cho nhân loại. Công lý và lòng thương xót đều xuất phát từ một tình yêu duy nhất.
Có một hình ảnh rất đẹp trong Thánh Vịnh: “Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ, hòa bình công lý đã giao duyên” (Tv 85,11). Câu ấy có thể đặt dưới chân Thánh Giá. Nơi ấy, sự thật gặp lòng thương xót. Công lý gặp bình an. Trời gặp đất. Thiên Chúa gặp con người. Người vô tội đứng vào chỗ của kẻ có tội. Vua trời đội mão gai. Đấng ban sự sống đi vào cái chết. Đấng thánh thiện mang lấy sự xấu hổ của tội nhân. Mọi nghịch lý gặp nhau nơi một thân thể bị treo giữa trời và đất. Có lẽ vì thế Thánh Giá có hai chiều: chiều dọc như nối trời với đất, chiều ngang như ôm lấy nhân loại. Đó không chỉ là một biểu tượng đẹp về hình học; đó là một biểu tượng của mầu nhiệm cứu độ. Trong Đức Kitô chịu đóng đinh, tương quan giữa Thiên Chúa và con người được hòa giải, và con người được mời gọi hòa giải với nhau.
Đứng trước Thánh Giá, ta không còn quyền kiêu ngạo. Vì nếu Con Thiên Chúa phải chết để cứu ta, ta chẳng có gì để tự hào như thể mình tự cứu được mình. Nhưng đứng trước Thánh Giá, ta cũng không còn quyền tuyệt vọng. Vì nếu Thiên Chúa đã yêu ta đến thế, không một quá khứ nào lớn hơn lòng thương xót của Người. Thánh Giá đồng thời giết chết sự kiêu căng và giết chết sự tuyệt vọng. Nó nói với người tự cho mình thánh thiện: “Con cũng cần được cứu.” Nó nói với người thấy mình quá tội lỗi: “Con vẫn đáng được cứu.” Nó nói với người thích xét đoán: “Con không biết hết câu chuyện của người khác.” Nó nói với người đang trốn tránh trách nhiệm: “Hãy gọi tội của con bằng đúng tên.” Nó nói với người đang bị tổn thương: “Nước mắt của con có giá trị.” Nó nói với kẻ đã làm người khác đau: “Hãy trở về khi còn kịp.” Nó nói với tất cả chúng ta: “Không ai tự mình đứng được dưới chân Thiên Chúa nếu không nhờ ân sủng.”
Có những lúc trong đời, chính chúng ta phải sống mầu nhiệm Thánh Giá giữa công lý và lòng thương xót. Cha mẹ có một đứa con làm sai. Nếu chỉ thương theo kiểu bao che, cha mẹ có thể làm hư con. Nếu chỉ phạt mà không yêu, cha mẹ có thể làm con mất đường trở về. Một người lãnh đạo phát hiện nhân viên sai phạm. Nếu bỏ qua hết, tổ chức mất kỷ luật. Nếu chỉ trừng phạt mà không cho cơ hội sửa đổi, người lãnh đạo có thể biến công lý thành lạnh lùng. Trong một cộng đoàn tu trì, một giáo xứ hay một gia đình cũng thế. Có lỗi phải gọi là lỗi. Có trách nhiệm phải chịu trách nhiệm. Nhưng mọi việc sửa lỗi của Kitô hữu cuối cùng phải nhằm cứu một con người, chứ không phải để thỏa mãn cảm giác mình đúng. Đức Giêsu dạy: “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em” (Mt 18,15). Mục tiêu là “chinh phục được người anh em”, không phải chiến thắng trong một cuộc tranh luận. Đây là linh đạo rất khó. Ta có thể nói đúng nhưng làm người khác tan nát. Ta cũng có thể nhân danh yêu thương mà không dám nói điều cần nói. Thánh Giá dạy một con đường khác: sự thật được nói bằng tình yêu, và tình yêu không sợ sự thật.
Trong đời sống xã hội cũng vậy. Người Kitô hữu không được dùng lòng thương xót để thờ ơ trước bất công. Một Giáo Hội chỉ nói về tha thứ mà im lặng khi người nghèo bị bóc lột, người yếu thế bị chà đạp, trẻ em bị tổn thương, người lao động bị đối xử bất công thì chưa sống trọn Tin Mừng. Nhưng một Giáo Hội chỉ nói về công lý bằng giọng căm phẫn, biến đối phương thành kẻ thù không đáng được cứu, cũng đã rời xa Thánh Giá. Đức Kitô chịu đóng đinh đứng về phía những người bị đóng đinh của thời đại, nhưng Người đồng thời cầu nguyện cho những kẻ đóng đinh mình. Điều ấy không làm sự dấn thân vì công lý yếu đi; trái lại, nó thanh luyện cuộc đấu tranh khỏi hận thù. Kitô hữu có thể mạnh mẽ chống lại điều ác mà vẫn không ghét con người đang làm điều ác. Đây có lẽ là một trong những điều khó nhất của Tin Mừng.
Một lần nữa hãy nhìn Đức Giêsu. Người lật bàn những kẻ buôn bán trong Đền Thờ, nhưng khóc cho Giêrusalem. Người gọi sự giả hình là giả hình, nhưng ăn uống với người tội lỗi. Người bảo Phêrô: “Satan, lui lại đằng sau Thầy”, rồi vẫn trao Hội Thánh cho Phêrô. Người không dễ dãi, nhưng cũng không bao giờ mất lòng thương. Đó là công lý của Thiên Chúa. Công lý của Người không nhằm tiêu diệt người tội lỗi mà nhằm tiêu diệt tội lỗi để người tội lỗi được sống. Người bác sĩ ghét căn bệnh vì yêu bệnh nhân. Thiên Chúa ghét tội lỗi chính vì Người yêu con người. Nếu hiểu được điều ấy, ta sẽ thôi nhìn các điều răn như những hàng rào của một Thiên Chúa khó tính. Những điều Thiên Chúa cấm chính là những điều cuối cùng sẽ làm con người bị thương. Tội lỗi hứa tự do nhưng cuối cùng tạo xiềng xích. Thiên Chúa chống lại tội vì Người muốn con cái Người được sống.
Nơi Thánh Giá, ta cũng khám phá giá trị vô cùng của từng con người. Nhiều khi ta định giá mình bằng thành công, tiền bạc, vẻ ngoài, bằng việc người khác có công nhận ta hay không. Một người thất bại dễ nghĩ mình vô dụng. Một người già yếu dễ cảm thấy mình thành gánh nặng. Một người đã phạm tội nặng có thể nghĩ mình không còn xứng đáng được yêu. Nhưng Thánh Giá cho một thước đo khác. Giá trị một món đồ được nhận biết phần nào qua cái giá người ta sẵn sàng trả để có nó. Vậy con người có giá trị đến đâu? Hãy nhìn Thánh Giá. “Anh em đã được mua bằng một giá rất đắt” (1 Cr 6,20). Cái giá ấy không phải vàng bạc. Là chính mạng sống Đức Kitô. Điều này không cho phép ta tự kiêu; nó cho phép ta đứng dậy. Một người có thể bị cả thế giới coi thường mà vẫn vô cùng quý giá trước mắt Thiên Chúa. Và nếu người bên cạnh ta cũng được Đức Kitô chết cho, ta không có quyền coi họ như rác rưởi.
Có khi ta đeo Thánh Giá rất đẹp trên cổ nhưng lại đóng đinh người khác bằng lời nói. Có khi nhà ta treo Thánh Giá rất lớn nhưng trong gia đình không ai chịu tha cho ai. Có khi ta cúi đầu rất sâu trước Thánh Giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng sau đó vẫn lạnh lùng trước nỗi đau của người bên cạnh. Khi ấy, Thánh Giá mới chỉ ở trên tường chứ chưa xuống tới trái tim. Tôn kính Thánh Giá không phải chỉ là hôn lên gỗ Thánh Giá, mà là để logic của Thánh Giá đi vào cách mình sống: khi có quyền trả đũa mà chọn tha thứ; khi có thể làm nhục người phạm lỗi mà chọn sửa họ trong tình thương; khi bị hiểu lầm mà không vội hủy diệt danh dự người khác; khi chứng kiến bất công mà không im lặng; khi chính mình sai thì dám xin lỗi; khi người khác thật lòng trở về thì biết mở cửa. Đó mới là lúc ta bắt đầu mang Thánh Giá.
Rất nhiều gia đình tan vỡ không phải vì không còn tình yêu chút nào, mà vì công lý và lòng thương xót đã tách nhau. Người này chỉ nhớ mình bị tổn thương. Người kia chỉ mong được bỏ qua. Không ai thật sự đi vào sự thật bằng tình yêu. Có những câu chuyện kéo dài mười năm chỉ vì không ai đủ khiêm nhường để nói hai câu rất đơn giản: “Tôi đã sai” và “Tôi tha thứ.” Nhưng cũng phải nói thêm một câu thứ ba: “Chúng ta sẽ thay đổi.” Bởi hòa giải Kitô giáo không phải quay lại nguyên trạng để rồi lặp lại vết thương. Tha thứ mở một cơ hội mới, và cơ hội mới cần sự hoán cải. Khi Dakêu gặp Chúa, ông không chỉ nói “Cảm ơn Chúa đã không xét xử tôi”; ông thay đổi cách sống. Tha thứ không chỉ giải thoát ta khỏi quá khứ; nó đòi ta xây tương lai khác.
Và rồi có một ngày chính mỗi người chúng ta sẽ đứng trước công lý và lòng thương xót của Thiên Chúa. Ta không mang được theo chức vụ, bằng cấp, tiền bạc, tiếng tăm. Những chiếc mặt nạ rơi xuống. Sự thật về cuộc đời sẽ hiện ra. Điều ấy đáng sợ nếu ta chỉ nghĩ đến một vị quan tòa lạnh lùng. Nhưng người Kitô hữu biết Đấng phán xét mình chính là Đấng đã chết cho mình. Đôi tay Người cầm cán cân cũng chính là đôi tay mang dấu đinh. Đấng hỏi ta đã sống thế nào cũng chính là Đấng đã cầu xin tha thứ cho những kẻ đóng đinh mình. Vì thế phán xét Kitô giáo vừa nghiêm túc vừa tràn hy vọng. Không gì bị giấu mãi, nhưng cũng không có ai phải tuyệt vọng nếu đã thực lòng quay về với lòng thương xót.
Có lẽ lời cầu thích hợp nhất dưới chân Thánh Giá không phải là một lời thật dài. Chỉ cần nói: “Lạy Chúa Giêsu, xin cho con thấy tội của con mà không tuyệt vọng; xin cho con thấy lòng thương xót Chúa mà không trở nên dễ dãi với chính mình. Xin cho con biết đòi công lý mà không nuôi hận thù. Xin cho con biết tha thứ mà không phản bội sự thật. Xin cho con biết đứng bên người bị tổn thương, nhưng cũng biết mở một cánh cửa cho người thật lòng hoán cải. Xin cho con đừng dùng công lý để che giấu sự trả thù, cũng đừng dùng lòng thương xót để che giấu sự hèn nhát. Và khi con không biết phải làm gì, xin cho con nhìn lên Chúa trên Thánh Giá.”
Thánh Giá sẽ mãi mãi là lời cuối cùng chống lại hai thứ tuyệt vọng của nhân loại: tuyệt vọng vì nghĩ sự dữ sẽ chiến thắng, và tuyệt vọng vì nghĩ tội nhân không còn được cứu. Sự dữ không chiến thắng, bởi Đức Kitô đã sống lại. Tội nhân không bị bỏ rơi, bởi Đức Kitô đã chết cho họ. Công lý không bị thất bại, vì sự thật về tội lỗi đã được phơi bày đến tận cùng. Lòng thương xót cũng không thất bại, vì từ chính nơi tội lỗi đạt đến đỉnh cao, ơn cứu độ đã tuôn xuống. Cây Thập Giá từng là dụng cụ giết người đã trở thành cây sự sống. Đồi Sọ, nơi người ta tưởng chỉ có cái chết, đã trở thành cửa ngõ của Phục Sinh. Bản án của con người trở thành nơi Thiên Chúa ban ơn tha thứ. Dấu chỉ ô nhục trở thành dấu chỉ vinh quang.
Vậy nên mỗi lần làm dấu Thánh Giá, xin đừng làm vội. Khi đưa tay lên trán, hãy nhớ rằng công lý Thiên Chúa mời trí ta sống trong sự thật. Khi đưa tay xuống ngực, hãy nhớ rằng lòng thương xót Thiên Chúa muốn biến đổi trái tim ta. Khi đưa tay từ vai này sang vai kia, hãy nhớ đôi tay Đức Kitô đã giang rộng để ôm cả người công chính lẫn tội nhân, cả người làm ta vui lẫn người làm ta đau. Và hãy nhớ rằng giữa tất cả những mâu thuẫn ta không thể giải được, giữa những vết thương chẳng biết làm sao chữa, giữa nỗi khát khao công bằng và nỗi khao khát được tha thứ, có một nơi ta có thể mang tất cả đến: dưới chân Thánh Giá.
Ở đó, ta sẽ thấy Thiên Chúa không hỏi ta chọn công lý hay lòng thương xót. Người dạy ta yêu công lý bằng một trái tim thương xót và thực thi lòng thương xót trong ánh sáng của sự thật. Ở đó, ta sẽ hiểu tại sao Tin Mừng không bao giờ là một thứ đạo đức dễ dãi nhưng cũng không bao giờ là bản án tuyệt vọng. Ở đó, ta sẽ thấy một Thiên Chúa không phủ nhận tội lỗi của ta nhưng cũng không đồng hóa ta với tội lỗi ấy. Người biết tất cả những gì ta đã làm, nhưng vẫn gọi tên ta. Người nhìn thấy tận đáy bóng tối của ta, nhưng vẫn đưa tay xuống. Người là Đấng công chính, nên không gọi bóng tối là ánh sáng; Người là Đấng giàu lòng thương xót, nên không để bóng tối có lời cuối cùng.
Và có lẽ cuối cùng, mầu nhiệm Thánh Giá chỉ có thể nói bằng một câu rất đơn sơ: Thiên Chúa ghét tội lỗi đến mức Người muốn tiêu diệt nó, nhưng yêu tội nhân đến mức Người sẵn sàng chết để cứu họ. Người không tiêu diệt tội nhân cùng với tội lỗi; Người để tội lỗi đổ tất cả sức mạnh của nó trên chính mình, rồi từ cái chết bước ra sống lại. Đó là công lý được hoàn tất trong tình yêu. Đó là lòng thương xót không phản bội sự thật. Đó là lý do người Kitô hữu có thể quỳ xuống trước một người bị đóng đinh mà tuyên xưng: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con.”
Thánh Giá vẫn đứng đó giữa lịch sử nhân loại như điểm hội tụ của trời và đất, của tội lỗi và ân sủng, của phán xét và tha thứ, của công lý và lòng thương xót. Và khi nào con người còn biết ngước nhìn lên Đấng bị đâm thâu, khi ấy vẫn còn hy vọng. Hy vọng cho người bị oan. Hy vọng cho người đã phạm lỗi. Hy vọng cho những gia đình đổ vỡ. Hy vọng cho những trái tim không thể tha thứ. Hy vọng cho một thế giới đang khát công lý nhưng dễ biến công lý thành hận thù, đang nói nhiều về lòng thương xót nhưng đôi khi biến thương xót thành dễ dãi. Dưới chân Thánh Giá, tất cả chúng ta đều bình đẳng: đều là người cần được cứu, đều là người được yêu, đều được mời gọi hoán cải và đều được mời gọi bắt đầu lại.
Xin cho chúng ta đừng bao giờ quen mắt với Thánh Giá. Bởi ngày nào Thánh Giá chỉ còn là một vật quen thuộc, ngày ấy ta có nguy cơ quên rằng mình đã được yêu bằng một cái giá nào. Xin mỗi lần nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh, ta lại nghe Người nói với chính mình: “Ta không bỏ qua sự thật về con, nhưng Ta cũng không bỏ con. Hãy trở về.” Và xin cho lời ấy đủ sức làm mềm trái tim cứng cỏi nhất, nâng dậy linh hồn tuyệt vọng nhất, chữa lành những ký ức đau đớn nhất, và biến những con người từng được thương xót thành khí cụ của lòng thương xót giữa một thế giới đang rất cần một thứ công lý có trái tim.
Lm. Anmai, CSsR

TẠI SAO THIÊN CHÚA CHỌN CÁI CHẾT Ô NHỤC NHẤT CHỨ KHÔNG PHẢI CÁI CHẾT OAI HÙNG?
Có một câu hỏi mà càng đứng lâu dưới chân Thánh Giá, người ta càng thấy không dễ trả lời: tại sao Con Thiên Chúa, Đấng đến cứu độ nhân loại, lại kết thúc cuộc đời trần thế bằng một cái chết nhục nhã đến như thế? Nếu Thiên Chúa muốn cho người ta biết Đức Giêsu là Con của Người, tại sao Người không để Đức Giêsu chết trong một biến cố lẫy lừng? Tại sao không cho Người ngã xuống giữa một chiến thắng huy hoàng, giữa tiếng tung hô của muôn dân, giữa ánh sáng từ trời, giữa một phép lạ khiến cả thế giới phải quỳ xuống? Tại sao không để Người chết như một vị anh hùng cứu quốc, một bậc đại nhân, một vị vua tử trận, một nhà tiên tri được toàn dân thương tiếc? Tại sao lại là thập giá? Tại sao lại là cái chết vốn dành cho những kẻ bị xem là nguy hiểm, phản loạn, đáng khinh? Tại sao lại phải trần trụi, bị chế giễu, bị nhổ vào mặt, bị đánh đòn, bị đội vòng gai, bị đóng đinh giữa hai người phạm pháp, rồi chết ngoài thành như một kẻ bị xã hội loại bỏ? Câu trả lời không nằm ở chỗ Thiên Chúa yêu đau khổ, càng không nằm ở ý tưởng rằng Thiên Chúa cần một màn tra tấn để thỏa mãn cơn giận của Người. Câu trả lời sâu hơn nhiều: Thiên Chúa chọn đi xuống tận đáy của thân phận con người để không một con người nào, dù rơi xuống thấp đến đâu, có thể nói rằng: “Ở đây Thiên Chúa không có mặt.” Đức Giêsu không chọn cái chết ô nhục vì cái nhục tự nó có giá trị; Người chọn yêu cho đến cùng, và một khi tình yêu ấy bước vào một thế giới đầy bạo lực, ích kỷ, phản bội và bất công, nó bị đẩy lên thập giá. Vì vậy, chính xác hơn phải nói rằng: Chúa Cha không say mê cái chết nhục nhã của Chúa Con; Chúa Cha trao ban Con Một, Chúa Con tự do hiến mình, còn loài người bằng tội lỗi của mình đã dựng nên thập giá. Nhưng điều kỳ diệu của Tin Mừng là Thiên Chúa đã lấy chính dụng cụ của hận thù ấy mà biến thành nơi mặc khải tình yêu.
Con người thích cái chết oai hùng bởi vì chúng ta thích một kết thúc đẹp. Người anh hùng chết nhưng vẫn còn hào quang. Người chiến sĩ ngã xuống giữa trận địa vẫn có đồng đội bên cạnh, có lá cờ trên đầu, có tiếng kèn truy điệu phía sau. Một vị vua chết trên ngai vẫn còn vương miện. Một nhà lãnh đạo chết trong vòng tay dân chúng vẫn còn danh dự. Chúng ta có thể khóc trước những cái chết như vậy nhưng trong nước mắt vẫn có một chút kiêu hãnh. Thập giá thì không. Thập giá tước bỏ tất cả. Không ngai vàng, chỉ có hai thanh gỗ. Không vương miện vàng, chỉ có vòng gai. Không long bào, đến áo cũng bị lột ra chia nhau. Không đạo quân bảo vệ, các môn đệ phần lớn đã chạy mất. Không những không được tung hô, Người còn phải nghe: “Hắn cứu được người khác mà chẳng cứu nổi mình.” Đó chính là điểm làm chúng ta bối rối. Nếu Đức Giêsu chỉ chết như một anh hùng, chúng ta có thể ngưỡng mộ Người từ xa. Nhưng khi Người chết như một kẻ thất bại, Người bước vào chính phần đời mà con người thường giấu kín nhất: những thất bại, những nhục nhã, những lần bị bỏ rơi, những lúc không còn gì để tự hào về mình. Người không chỉ cứu những phần đẹp đẽ của cuộc đời chúng ta; Người đi vào cả những vùng tối mà chính chúng ta cũng không muốn nhìn tới.
Tin Mừng theo thánh Marcô cho chúng ta một cảnh tượng khiến người đọc phải lặng người. Khi Đức Giêsu bị đóng đinh, những kẻ qua đường lắc đầu nhạo báng Người. Các thượng tế và kinh sư cũng chế giễu: “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Ông Kitô vua Ítraen, cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, để chúng ta thấy mà tin.” Nhưng Đức Giêsu không xuống. Chính đây là nghịch lý lớn nhất của thập giá. Nếu Người xuống khỏi thập giá, đám đông có thể kinh ngạc; nhưng vì Người ở lại trên thập giá, nhân loại mới biết Thiên Chúa yêu đến mức nào. Một phép lạ đưa Người xuống khỏi thập giá sẽ chứng minh quyền năng; việc Người ở lại trên thập giá mặc khải tình yêu. Quyền năng khiến người ta kinh sợ, nhưng tình yêu khiến người ta được cứu. Và Tin Mừng ghi lại một chi tiết hết sức lạ lùng: người đầu tiên trong trình thuật Thương Khó của Marcô công khai tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa lại không phải một môn đệ, không phải một kinh sư, không phải một người đã từng chứng kiến Người làm phép lạ, mà là viên đại đội trưởng ngoại giáo đứng đối diện với Người. Khi thấy Đức Giêsu tắt thở như vậy, ông nói: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Ông nhận ra Con Thiên Chúa không lúc Đức Giêsu làm cho bánh hóa nhiều, không lúc Người đi trên mặt biển, không lúc Người cho Ladarô sống lại, nhưng khi Người chết. Tại sao? Bởi vì nơi cách Người chết, một điều chưa từng có về Thiên Chúa đã được tỏ lộ: Thiên Chúa có quyền năng đến mức Người không cần chứng minh quyền năng của mình; Người tự do đến mức có thể tự hạ; Người yêu đến mức chấp nhận bị thương tích mà không trả lại bằng thương tích.
Nếu cái chết của Đức Giêsu là một cái chết oai hùng theo tiêu chuẩn thế gian, rất có thể chúng ta sẽ biến Kitô giáo thành một thứ huyền thoại về sức mạnh. Chúng ta sẽ tưởng Thiên Chúa đứng về phía người chiến thắng, người thành công, người không bao giờ thua cuộc. Nhưng thập giá phá tan ảo tưởng ấy. Trên Golgotha, Thiên Chúa đứng về phía người bị loại trừ. Người đứng cạnh những kẻ bị kết án. Người chia sẻ số phận của những người không còn tiếng nói. Người bước vào chỗ của những người bị hiểu lầm, những người bị phản bội, những người bị bỏ rơi, những người phải chết trong cô độc. Và bởi vậy, từ ngày có đồi Calvê, không còn nỗi nhục nào của con người hoàn toàn xa lạ với Thiên Chúa. Người mẹ bị con cái ruồng bỏ có thể nhìn lên Thánh Giá và biết rằng Đức Giêsu hiểu thế nào là bị những người thân tín bỏ chạy. Người chồng hay người vợ bị phản bội có thể nhìn lên Thánh Giá và nhớ rằng Đức Giêsu đã nhận nụ hôn của Giuđa. Người bị vu oan có thể nhớ đến phiên tòa bất công của Philatô. Người đau bệnh nằm bất động có thể nhìn đôi tay bị đóng đinh của Chúa. Người nghèo bị coi thường, người tù bị khinh miệt, người già bị bỏ quên, người mang một quá khứ khiến mình xấu hổ, người thất bại đến mức chẳng còn muốn gặp ai, tất cả đều có thể đến với Đấng chịu đóng đinh mà không cần che giấu vết thương của mình. Nếu Chúa chỉ chết trong vinh quang, có lẽ Người sẽ rất đẹp để chiêm ngắm, nhưng rất xa để những người tan vỡ tìm đến.
Ở đây ta hiểu thêm một điều rất quan trọng: thập giá không phải là thất bại của quyền năng Thiên Chúa, nhưng là việc Thiên Chúa định nghĩa lại quyền năng. Con người thường nghĩ quyền năng là khả năng bắt kẻ khác phải cúi đầu. Đức Giêsu cho thấy quyền năng của Thiên Chúa là khả năng cúi xuống. Con người nghĩ mạnh là trả đũa được người làm mình đau. Đức Giêsu mạnh đến mức có thể nói giữa những nhát búa và lời nguyền rủa: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Con người cho rằng chiến thắng là tiêu diệt kẻ thù; Đức Giêsu chiến thắng bằng cách không để kẻ thù biến mình thành một kẻ hận thù giống họ. Đó mới là chiến thắng tận căn. Người ta có thể đóng đinh thân thể Đức Giêsu, nhưng không thể đóng đinh được tình yêu trong trái tim Người. Người ta có thể lấy áo Người, lấy danh dự Người, lấy tự do Người, cuối cùng lấy cả mạng sống Người, nhưng có một điều họ không lấy được: khả năng yêu. Chính vì thế, thập giá bên ngoài là thất bại, nhưng bên trong lại là chiến thắng lớn nhất. Satan muốn chứng minh rằng đau khổ đủ sức làm con người ngừng yêu. Đức Giêsu trả lời: không. Hận thù muốn chứng minh rằng bạo lực cuối cùng sẽ sinh thêm bạo lực. Đức Giêsu trả lời: không. Tội lỗi muốn kéo Thiên Chúa vào vòng xoáy báo thù của nó. Đức Giêsu trả lời bằng sự tha thứ. Đó là cách Con Chiên chiến thắng.
Thánh Phaolô đã cảm được cú sốc này khi ngài viết rằng lời rao giảng về thập giá là điều người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận và dân ngoại cho là điên rồ, nhưng đối với những ai được gọi, Đức Kitô chịu đóng đinh lại chính là sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Quả thực, nếu tự chúng ta nghĩ ra một tôn giáo, có lẽ chẳng ai chọn biểu tượng trung tâm là dụng cụ hành hình vị sáng lập. Một đế quốc sẽ chọn đại bàng. Một vương triều sẽ chọn vương miện. Một đạo quân sẽ chọn thanh gươm. Một nền văn minh sẽ chọn cột trụ hay ánh mặt trời. Kitô giáo lại đặt một người bị đóng đinh ở trung tâm. Thật lạ! Nhưng cũng chính vì thế mà Tin Mừng không phải sản phẩm của giấc mơ quyền lực nơi con người. Thập giá nói một thứ ngôn ngữ hoàn toàn ngược với bản năng thống trị: ai muốn làm lớn hãy phục vụ; ai muốn giữ mạng sống sẽ mất; hạt lúa phải chết đi mới sinh nhiều bông hạt; người mục tử tốt lành thí mạng sống vì đàn chiên; không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống cho bạn hữu. Cả cuộc đời Đức Giêsu đã đi theo một hướng ấy, cho nên Golgotha không phải một tai nạn bất ngờ ở cuối đời; Golgotha là điểm tới của một đời đã sống hoàn toàn cho người khác.
Và phải nói thật cẩn trọng rằng Thiên Chúa không chọn đau khổ vì đau khổ. Kitô giáo không thờ đau đớn. Chúng ta không được biến thập giá thành lý do để bảo một người đang bị bạo hành rằng cứ chịu đi vì đó là “thánh giá Chúa gửi”. Không. Nhiều thập giá không phải do Chúa gửi mà do tội lỗi con người tạo ra, và bổn phận Kitô hữu nhiều khi chính là tháo người khác xuống khỏi thập giá chứ không phải đứng bên dưới giảng cho họ về giá trị chịu đựng. Chúa Giêsu chữa bệnh, cho kẻ đói ăn, phục hồi phẩm giá người tội lỗi, chống lại thái độ loại trừ và khóc trước cái chết của người bạn Ladarô. Người không tôn thờ đau khổ. Nhưng khi tình yêu trung thành của Người phải đối diện với một cơ chế tội lỗi quyết tâm giết Người, Người không phản bội tình yêu để tự cứu mình. Vì thế, điều Chúa chọn không phải trước hết là “cái chết ô nhục”; điều Chúa chọn là trung thành với tình yêu cho đến cùng, dù giá phải trả là cái chết ô nhục nhất.
Đó là một khác biệt rất lớn. Nếu chúng ta nói đơn giản rằng “Thiên Chúa muốn Đức Giêsu bị tra tấn”, chúng ta sẽ trình bày một khuôn mặt Thiên Chúa đáng sợ và méo mó. Nhưng nếu đọc toàn bộ Tin Mừng, ta thấy Chúa Cha sai Con đến vì yêu thế gian: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” Và Đức Giêsu cũng nói rõ: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình.” Như vậy, thập giá nằm trong mầu nhiệm của một tình yêu tự do trao ban. Chúa Cha trao Con. Chúa Con trao chính mình. Thánh Thần làm cho lễ hiến dâng ấy sinh hoa trái cứu độ. Tội lỗi con người giết Đức Giêsu, nhưng Thiên Chúa biến cái chết đó thành sự sống cho nhân loại. Điều ác nói lời cuối cùng là “giết nó đi”; Thiên Chúa thêm một lời sau đó: “hãy sống lại.” Và như vậy, điều ác không bao giờ được quyền viết dấu chấm hết.
Tại sao Chúa không chọn cái chết oai hùng? Có lẽ bởi cái chết oai hùng vẫn còn cho con người một chỗ để tự hào, còn thập giá tước hết mọi thứ để chỉ còn tình yêu. Trên Golgotha, Đức Giêsu chẳng còn làm được gì theo nghĩa thông thường. Đôi tay từng chạm vào người phong hủi nay bị đóng chặt. Đôi chân từng đi khắp các làng mạc loan báo Tin Mừng nay không thể bước. Đôi môi từng khiến sóng gió im lặng giờ khô khát. Người không còn của cải để cho; áo đã bị chia. Không còn danh dự; đã bị chế nhạo. Không còn môn đệ đông đảo; họ đã tản mác. Cuối cùng Người chỉ còn chính mình. Và Người cho luôn chính mình. “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Khi không còn gì để trao, Người trao hơi thở cuối cùng. Đó là bản chất của tình yêu cứu chuộc: trao đến khi không còn gì giữ lại.
Có lẽ vì vậy mà Thánh Giá đã trở thành nơi con người khám phá Thiên Chúa khác với mọi hình dung trước đó. Con người thường dựng nên những vị thần không biết đau, không bị xúc phạm, ngự xa trên cao và bắt loài người phục vụ. Đức Giêsu mặc khải một Thiên Chúa rửa chân cho môn đệ. Một Thiên Chúa để cho con người từ chối mình. Một Thiên Chúa khóc. Một Thiên Chúa đói, khát, mỏi mệt. Một Thiên Chúa trên thập giá nói: “Ta khát.” Chúng ta phải giữ trọn mầu nhiệm đức tin: thần tính không bị tiêu diệt trên Golgotha, nhưng chính Ngôi Con Thiên Chúa trong nhân tính thật sự đã nếm trải đau khổ và cái chết. Bởi đó chúng ta không còn có thể nói về Thiên Chúa như nói về một kẻ đứng ngoài nỗi khổ của con người. Trong Đức Kitô chịu đóng đinh, Thiên Chúa đã bước vào đó.
Điều này thay đổi cách ta nhìn những ngày đen tối của đời mình. Có những lúc chúng ta cũng muốn Chúa cho mình một cái kết oai hùng. Chúng ta muốn sau bao năm sống tốt phải được người ta hiểu; sau những hy sinh phải được nhìn nhận; sau những trung thành phải thấy kết quả. Nhưng cuộc đời không phải lúc nào cũng như vậy. Có những người làm cha làm mẹ cả đời hy sinh mà cuối đời con cái vẫn không hiểu. Có linh mục âm thầm phục vụ mấy chục năm chẳng để lại công trình nào người đời nhắc tới. Có người hết lòng giúp người khác rồi lại bị chính người mình giúp nói xấu. Có người mang một căn bệnh kéo dài, không có một phép lạ ngoạn mục nào xảy đến. Có người cầu nguyện nhiều năm cho gia đình mà vẫn thấy rạn nứt. Có những đời sống nếu đo bằng thành tích thì dường như chẳng oai hùng chút nào. Thập giá nói với họ rằng giá trị một đời người không được đo bằng tiếng vỗ tay ở cuối đường, nhưng bằng tình yêu đã được trao trên đường đi. Một đời không được ai ca tụng vẫn có thể rất lớn trước mặt Thiên Chúa. Một hy sinh chẳng ai biết vẫn có thể mang sức nặng đời đời. Một người chết âm thầm trong phòng bệnh vẫn có thể chết trong vòng tay Chúa. Điều quan trọng không phải tôi kết thúc đẹp đến mức nào trong mắt thế gian, nhưng tôi có trung tín yêu thương đến cuối cùng hay không.
Thập giá cũng đập tan một thứ thần học thành công rất nguy hiểm. Nếu Đức Giêsu luôn luôn thắng theo cách thế gian, chúng ta có thể kết luận rằng người được Chúa yêu sẽ luôn khỏe mạnh, thuận lợi, giàu có, được tôn trọng và thành công. Nhưng chính Con yêu dấu của Chúa Cha lại kết thúc ngày Thứ Sáu Tuần Thánh trong một nấm mồ mượn của người khác. Vậy không thể lấy sự thành đạt làm thước đo tình yêu Thiên Chúa. Có khi Chúa ở rất gần một người mà cuộc đời họ vẫn đầy nước mắt. Có khi ân sủng hoạt động sâu nhất trong một đời sống mà bên ngoài chẳng có gì ngoạn mục. Đức Maria là Mẹ đầy ân sủng nhưng vẫn đứng dưới thập giá nhìn Con chết. Các thánh không phải là những người không có thập giá, nhưng là những người đã không để thập giá lấy mất lòng tin.
Ta cũng phải nhìn đến lời Đức Giêsu kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Không nên vội vàng giải thích câu ấy cho nhẹ đi. Đó là lời mở đầu Thánh Vịnh 22, một lời cầu cuối cùng dẫn tới tín thác, nhưng cũng là tiếng kêu thật từ vực sâu của đau khổ. Đức Giêsu đã bước vào kinh nghiệm tăm tối nhất mà con người có thể cảm thấy: cảm giác Thiên Chúa vắng mặt. Từ đó, một người đang cầu nguyện mà không còn cảm thấy Chúa không phải là người bị loại khỏi đức tin. Một người trong đêm tối vẫn có thể cầu bằng chính tiếng kêu của Đức Giêsu. Thập giá có chỗ cho cả những lời cầu nguyện không đẹp. Có những lúc ta chẳng nói nổi “con cảm tạ Chúa”, chỉ nói được “Chúa ơi, sao vậy?” Và ngay lời ấy, nếu thốt lên hướng về Thiên Chúa, vẫn là một lời cầu. Đức tin trưởng thành không phải lúc nào cũng hát Alleluia; đôi khi đức tin chỉ còn đủ sức thì thầm “Lạy Chúa” trong bóng tối. Đức Giêsu đã thánh hóa cả tiếng kêu ấy.
Tại sao Thiên Chúa chọn cái chết nhục nhã? Bởi Người muốn cứu cả sự xấu hổ của chúng ta. Tội lỗi không chỉ làm chúng ta đau; nó còn làm chúng ta xấu hổ. Có người mang trong lòng một câu chuyện chẳng dám kể với ai. Có người hối tiếc một lỗi lầm đã xảy ra nhiều năm. Có người thấy quá khứ mình như một vết nhơ. Có người nghĩ nếu người khác biết con người thật của mình, họ sẽ chẳng còn tôn trọng mình nữa. Thế mà Đức Giêsu trên thập giá bị lột trần trước đám đông. Người bị công khai làm nhục. Người bước vào chính vùng kinh nghiệm ấy để nói với con người rằng: “Ngay cả ở đây, Ta cũng ở với con.” Người không cứu chúng ta bằng cách đứng ngoài sự nhục nhã và bảo chúng ta tự trèo lên. Người xuống đó, mang lấy nó, rồi đưa nhân loại đi qua nó tới Phục Sinh. Không phải ngẫu nhiên Kitô giáo tuyên xưng “Người chịu đóng đinh, chịu chết và mai táng” trước khi nói “ngày thứ ba Người sống lại.” Không có lối tắt từ Bữa Tiệc Ly đến sáng Phục Sinh. Có một ngày Thứ Sáu và một ngày Thứ Bảy thinh lặng ở giữa.
Nhưng thập giá sẽ bị hiểu sai nếu chúng ta dừng lại ở cái chết. Kitô giáo không thờ một xác chết. Chúng ta thờ Đấng đã chịu đóng đinh và đã sống lại. Cái chết ô nhục không phải lời cuối. Chính sự Phục Sinh là câu trả lời của Chúa Cha cho toàn bộ bản án của thế gian. Con người nói: Người này đáng loại bỏ. Chúa Cha nói: đây là Con yêu dấu của Ta. Con người đóng một tảng đá trước mộ. Thiên Chúa mở nó ra. Con người cố biến Đức Giêsu thành một ký ức thất bại. Thiên Chúa làm Người trở thành Chúa của sự sống. Và vì vậy Thánh Giá không dạy người Kitô hữu mê thất bại; Thánh Giá dạy chúng ta tin rằng ngay cả nơi dường như thất bại nhất, Thiên Chúa vẫn có thể bắt đầu một công trình mà chúng ta chưa nhìn thấy.
Có điều gì xúc động hơn việc vào một nhà thờ nghèo, thấy trên tường chỉ có cây Thánh Giá đơn sơ, và biết rằng hàng triệu con người qua bao thế kỷ đã nhìn lên đó trong những giờ phút đau nhất của đời họ? Người mẹ mất con đã nhìn lên. Người góa bụa đã nhìn lên. Người tù đã nhìn lên. Người hấp hối đã nhìn lên. Người tội lỗi bước ra khỏi tòa giải tội đã nhìn lên. Những người đang ở giữa chiến tranh, đói kém, dịch bệnh, lưu đày đã nhìn lên. Họ không nhìn lên một vị thần xa lạ với nước mắt. Họ nhìn lên một Đấng có vết thương. Đây có lẽ là sức an ủi độc đáo của Kitô giáo: chúng ta không có một Thiên Chúa chỉ giải thích đau khổ; chúng ta có một Thiên Chúa đã đi qua đau khổ. Người không trả lời mọi câu hỏi của Gióp bằng một bài diễn văn; cuối cùng Người đến và mang lấy những vết thương.
Thập giá còn cho ta biết Thiên Chúa cứu thế giới không phải bằng cách cưỡng ép. Nếu Chúa Giêsu bước xuống từ thập giá bằng một màn biểu dương quyền lực, có thể mọi người sẽ phải quỳ, nhưng đó chưa chắc là đức tin. Người ta có thể đầu hàng trước sức mạnh mà lòng vẫn không yêu. Thiên Chúa không muốn những nô lệ khiếp sợ; Người muốn những người con tự do đáp lại tình yêu. Bởi vậy Thiên Chúa chinh phục trái tim không bằng thanh gươm mà bằng trái tim bị đâm thâu. Người không đè bẹp chúng ta để bắt chúng ta tin; Người tự hiến để mời chúng ta yêu. Thiên Chúa có thể khiến ta run sợ trong một giây bằng quyền lực, nhưng Người muốn chiếm được trái tim ta cho đời đời bằng tình yêu.
Trong Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu nói một câu thật lạ: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,32). “Được giương cao” vừa có nghĩa bị treo lên thập giá, vừa gợi đến việc được tôn vinh. Hai điều mà thế gian thấy đối nghịch lại gặp nhau nơi Đức Giêsu. Chính lúc bị hạ nhục nhất lại là lúc tình yêu được tôn vinh nhất. Chính lúc con người tưởng mình đã dìm Người xuống tận đáy, Thiên Chúa lại làm cho Thánh Giá thành ngai của Vua Tình Yêu. Philatô cho viết “Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái” như một tấm bảng cáo tội; đức tin Kitô giáo đọc nó như một lời tiên tri. Vương quyền của Người khác hẳn các vua trần thế: ngai là thập giá, triều thiên là vòng gai, áo choàng là thân mình đầy máu, sắc lệnh đầu tiên là tha thứ cho kẻ giết mình, và người đầu tiên bước vào vương quốc bên cạnh Người là một tử tội biết ăn năn: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Một vị Vua lạ lùng! Nhưng chính vì lạ lùng như thế mà cả những người tưởng đời mình đã quá trễ vẫn còn hy vọng.
Tên trộm lành là một minh họa Tin Mừng tuyệt đẹp cho ý nghĩa của cái chết không oai hùng ấy. Anh chẳng còn cơ hội lập công. Chẳng còn thời gian làm lại quá khứ. Chẳng thể xuống khỏi cây thập giá của mình để đền bù tất cả. Anh chỉ còn một ít hơi thở và một lời cầu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Đức Giêsu không hỏi hồ sơ, không bắt anh chứng minh thành tích, không nói rằng quá muộn. Người đáp: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Nếu ngai của Đức Giêsu là một ngai vàng xa cách, có lẽ tên tử tội ấy chẳng bao giờ dám tới. Nhưng bởi ngai của Vua là một cây thập giá đặt sát bên cây thập giá của anh, anh chỉ cần quay đầu là gặp được lòng thương xót. Đó là Tin Mừng. Thiên Chúa đã đặt ngai của lòng thương xót đủ thấp để một tử tội đang hấp hối cũng có thể chạm tới.
Có lẽ đây là câu trả lời đẹp nhất cho câu hỏi ban đầu. Thiên Chúa không chọn cái chết oai hùng bởi Người không đến để được chúng ta ngưỡng mộ như một anh hùng; Người đến để cứu chúng ta như Đấng Emmanuel, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Một anh hùng có thể đứng trên đỉnh núi và chúng ta nhìn lên. Đức Giêsu xuống tận vực sâu để từ đó nâng chúng ta lên. Người không đứng trên bờ hét với người đang chìm rằng hãy bơi mạnh hơn. Người nhảy xuống nước. Người không đứng bên ngoài cái chết; Người bước vào cái chết. Người không đứng ngoài sự nhục nhã; Người đi qua sự nhục nhã. Người không đứng ngoài nấm mồ; Người nằm trong nấm mồ. Và từ bên trong tất cả những thực tại đó, Người phá chúng ra.
Cho nên khi nhìn Thánh Giá, người Kitô hữu đừng chỉ thấy “Chúa đau quá”. Hãy thấy: “Chúa yêu tôi đến thế.” Đừng chỉ đếm năm dấu thánh; hãy đọc năm dấu thánh như năm cửa sổ mở vào trái tim Thiên Chúa. Đừng chỉ hỏi vì sao Người không xuống khỏi thập giá; hãy hỏi vì sao giữa khả năng cứu mình, Người vẫn chọn ở lại. Và câu trả lời chỉ có thể là: bởi có những người Người muốn cứu. Bởi có tôi ở đó. Chúng ta rất dễ nói chung chung rằng Chúa chết “vì nhân loại”, nhưng đức tin chỉ thực sự trở thành lời cầu nguyện khi tôi dám nói: “Người đã yêu tôi và hiến mạng vì tôi.” Thánh Phaolô đã nói như thế. Không phải một nhân loại trừu tượng. Tôi. Với những yếu đuối của tôi. Những lỗi lầm của tôi. Những góc tối tôi chẳng muốn ai biết. Những lần tôi phản bội lời hứa. Những lần tôi nguội lạnh. Những lần tôi sống như thể chẳng cần Chúa. Chính con người cụ thể đó được Đức Kitô yêu.
Và nếu Người đã chọn yêu ta trong sự ô nhục, người môn đệ của Người cũng được mời học một thứ tình yêu không cần oai hùng. Không phải mọi tình yêu đều có tiếng vỗ tay. Phần lớn những tình yêu làm nên thế giới được sống rất âm thầm: một bà mẹ thức đêm bên con bệnh; một người chồng vẫn tận tụy với người vợ sa sút trí nhớ; một người vợ kiên nhẫn đồng hành với chồng trong thất bại; một người trẻ chăm sóc cha mẹ già thay vì chỉ theo đuổi đời mình; một linh mục ngồi hàng giờ trong tòa giải tội nghe những câu chuyện chẳng ai biết; một nữ tu chăm bệnh nhân chẳng bao giờ được lên báo; một giáo lý viên nhiều năm dạy từng đứa trẻ mà chẳng biết hạt giống nào sẽ nảy mầm. Đó không phải những cái chết thể lý, nhưng đều có những “cái chết” của cái tôi, của tiện nghi, của nhu cầu được nhìn nhận. Những điều ấy không oai hùng trước ống kính, nhưng rất gần Golgotha.
Thế gian vẫn thích ánh đèn. Thiên Chúa thường làm việc trong bóng tối. Thế gian thích người chiến thắng. Thiên Chúa có thể làm nên lịch sử cứu độ từ một Đấng bị coi là thất bại. Thế gian hỏi có bao nhiêu người theo anh. Chúa hỏi anh có yêu họ không. Thế gian hỏi anh đã xây được gì. Chúa hỏi anh đã trao chính mình đến đâu. Thế gian đo một cuộc đời bằng thành tích. Thập giá đo cuộc đời bằng tình yêu.
Một ngày kia, mỗi chúng ta cũng sẽ phải chết. Có thể cái chết ấy chẳng oai hùng. Có thể không có một lời cuối thật đẹp như sách viết. Có thể chỉ là một căn phòng bệnh, một hơi thở yếu dần, một bàn tay run rẩy lần chuỗi. Có thể không đông người đứng cạnh. Nhưng từ khi Đức Kitô đã chết trên thập giá, cái chết của người tín hữu không còn phải là nơi vắng bóng Thiên Chúa. Chính Người đã đi qua cánh cửa ấy. Người biết đường. Và Người đã hứa: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em.” Khi ấy điều quan trọng chẳng phải mình chết có đẹp trong mắt người khác hay không. Điều quan trọng là trong hơi thở cuối, ta có thể đặt đời mình trong tay Chúa như Đức Giêsu: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Tại sao Thiên Chúa chọn cái chết ô nhục nhất chứ không phải cái chết oai hùng? Bởi Người muốn cho chúng ta biết rằng tình yêu chân thật không cần hào quang để trở nên cao cả. Bởi Người muốn bước xuống nơi thấp nhất để không ai bị bỏ lại phía dưới. Bởi Người muốn phá tan hình ảnh một Thiên Chúa của những người thành công và mặc khải Thiên Chúa là Cha của cả những người đang khóc. Bởi Người muốn cứu không chỉ sự sống của chúng ta mà cả thất bại, nhục nhã, cô đơn và cái chết của chúng ta. Bởi Người muốn cho thấy sức mạnh lớn nhất không phải khả năng tiêu diệt mà là khả năng yêu đến cùng. Và trên hết, bởi không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến mạng sống mình cho người mình yêu.
Thế nên, lần tới khi đứng trước Thánh Giá, có lẽ ta đừng hỏi: “Lạy Chúa, tại sao Chúa lại để mình ra nông nỗi này?” Hãy ở yên một chút và nghe câu trả lời phát ra không phải từ môi miệng nhưng từ những vết thương: “Vì Ta không muốn con phải ở một mình trong bất cứ vực sâu nào của đời con.” Khi con bị bỏ rơi, Ta đã ở đó. Khi con bị phản bội, Ta đã ở đó. Khi con xấu hổ vì chính mình, Ta đã ở đó. Khi con đau đến không cầu nguyện nổi, Ta đã ở đó. Khi con tưởng Chúa Cha im lặng, Ta cũng đã đi qua đêm tối ấy. Khi một ngày con phải chết, Ta đã đi qua cái chết trước con. Và vì Ta đã sống lại, vực sâu cuối cùng của con cũng không phải là vực sâu không đáy nữa.
Đó là điều làm cho Thánh Giá trở thành Tin Mừng. Không phải vì cái chết đẹp, nhưng vì tình yêu mạnh hơn cái chết. Không phải vì nhục nhã đáng quý, nhưng vì ngay sự nhục nhã cũng không thể ngăn Thiên Chúa yêu. Không phải vì đau khổ cứu độ tự nó, nhưng vì Đức Kitô yêu trong đau khổ, yêu xuyên qua đau khổ và biến nơi của sự chết thành con đường dẫn tới sự sống. Thế gian dựng Thánh Giá để nói với Đức Giêsu: “Ngươi không còn chỗ giữa chúng ta.” Thiên Chúa biến chính Thánh Giá ấy thành đôi tay rộng mở nói với nhân loại: “Không ai bị loại khỏi tình yêu của Ta.” Và từ đó, một dụng cụ xử tử trở thành dấu chỉ hy vọng; một nơi ô nhục trở thành ngai của lòng thương xót; một ngày tưởng là thất bại trở thành khởi đầu của cuộc sáng tạo mới.
Vậy thì, người Kitô hữu có thể quỳ dưới chân Thánh Giá mà không xấu hổ. Bởi ở đó ta không thờ sự thất bại; ta thờ một Tình Yêu mà thất bại không thắng nổi. Không thờ đau khổ; ta thờ Đấng đã biến đau khổ thành nơi trao ban chính mình. Không tôn vinh sự nhục nhã; ta tôn vinh Đấng đã bước vào sự nhục nhã để trả lại phẩm giá cho những người bị làm nhục. Và không ca tụng cái chết; ta tuyên xưng Đấng đã đi qua cái chết để mở đường sự sống.
Cuối cùng, có lẽ câu hỏi quan trọng hơn không còn là: “Tại sao Chúa không chọn một cái chết oai hùng?” mà là: “Tại sao tôi vẫn còn cần một Thiên Chúa oai hùng theo tiêu chuẩn của mình, trong khi Người đã chọn mặc khải mình bằng tình yêu?” Ta thích Chúa giải quyết mọi sự thật nhanh, thật mạnh, thật ngoạn mục. Nhưng Chúa lại thường cứu thế giới bằng một Hài Nhi trong máng cỏ, một người thợ ở Nadarét, một tấm bánh nhỏ trên bàn thờ và một Con Người dang tay trên hai thanh gỗ. Đường lối Thiên Chúa cứ nhỏ bé như thế. Nhưng hai ngàn năm rồi, bao đế quốc đã qua đi, bao ngai vàng đã sụp đổ, bao thanh gươm đã rỉ sét, còn cây Thánh Giá ấy vẫn đứng. Không phải vì gỗ bền hơn sắt, nhưng vì tình yêu bền hơn quyền lực.
Và có lẽ đến cuối đời, khi mọi thứ oai hùng của chúng ta đều rơi xuống – chức vụ, danh tiếng, tiền bạc, thành công, lời khen – điều còn lại cũng chỉ là điều đã còn lại trên Golgotha: tình yêu. Lúc ấy ta mới hiểu vì sao Thiên Chúa đã không chọn một cái chết oai hùng. Bởi Thiên Chúa không đến để dạy chúng ta cách chết như anh hùng. Người đến để dạy chúng ta cách sống và chết như người biết yêu. Và chính tình yêu ấy, chứ không phải hào quang, mới đưa con người vào sự sống đời đời.
Lm. Anmai, CSsR.

THÁNH GIÁ MẶC KHẢI CON NGƯỜI THẬT SỰ LÀ GÌ: HỮU THỂ ĐƯỢC YÊU ĐẾN MỨC CHẾT
Có những câu hỏi tưởng chừng rất đơn giản, nhưng càng sống lâu, càng đi qua nhiều thăng trầm, càng đứng trước những mất mát không thể lấy lại, người ta càng nhận ra mình chưa bao giờ trả lời cho hết: Con người là gì? Tôi là ai? Giá trị của một con người nằm ở đâu? Một người đáng giá bao nhiêu? Có phải người ta đáng giá vì họ khỏe mạnh, đẹp đẽ, thành công, thông minh, giàu có, nổi tiếng, được nhiều người biết đến, được nhiều người kính trọng, hay vì họ có thể đem lại một lợi ích nào đó cho xã hội? Nếu một ngày tất cả những điều ấy mất đi thì sao? Nếu một người già yếu nằm bất động trên giường, không còn làm ra tiền, không còn giúp được ai, thậm chí phải để người khác chăm sóc từng miếng ăn, từng lần trở mình, họ còn giá trị không? Nếu một đứa trẻ chưa kịp chào đời, chưa có thành tích, chưa có bằng cấp, chưa đóng góp gì cho xã hội, em có đáng được yêu và bảo vệ không? Nếu một người phạm một lỗi lầm lớn, bị mọi người khinh bỉ, bị quá khứ đè nặng, người ấy còn đáng được nhìn bằng ánh mắt nhân hậu không? Nếu một người nghèo đến mức chẳng ai cần họ, bệnh đến mức chẳng ai muốn đến gần, cô độc đến mức cái chết của họ có lẽ cũng chẳng làm xáo trộn đời sống của bao người, họ còn đáng giá không? Trước những câu hỏi như thế, thế gian thường trả lời bằng một thứ thước đo rất lạnh: anh có giá trị khi anh còn hữu ích, còn sản xuất, còn hấp dẫn, còn có khả năng đem lại điều gì đó; còn khi anh trở thành gánh nặng, khi chẳng còn ai cần đến anh, thì giá trị của anh dường như giảm xuống. Nhưng Kitô giáo đưa chúng ta đến trước một thước đo hoàn toàn khác. Thước đo ấy không phải tiền bạc, không phải quyền lực, không phải khả năng, cũng không phải những lời tán thưởng của người đời. Thước đo ấy là một cây Thánh Giá dựng lên trên đồi Canvê. Nhìn lên Thánh Giá, chúng ta không chỉ được biết Thiên Chúa là ai; chúng ta còn được biết con người là ai. Và câu trả lời gây choáng váng nhất của Tin Mừng là thế này: con người là một hữu thể được Thiên Chúa yêu đến mức Người chấp nhận chết vì họ.
Chúng ta quen với Thánh Giá đến mức đôi khi không còn giật mình trước Thánh Giá nữa. Thánh Giá ở trên cung thánh, trên bàn thờ, trên tường nhà, trên chuỗi Mân Côi, trên ngực người Kitô hữu, ở đầu giường bệnh, trên bia mộ. Chúng ta làm dấu Thánh Giá mỗi ngày. Chính vì quá quen nên có khi ta quên rằng Thánh Giá là một lời tuyên bố kinh hoàng về giá trị của con người. Nếu muốn biết một món đồ đáng giá bao nhiêu, người ta nhìn vào cái giá mà người khác sẵn sàng trả cho nó. Dĩ nhiên, con người không phải món hàng để mua bán, nhưng hình ảnh ấy có thể giúp ta hiểu phần nào mầu nhiệm cứu độ. Nếu hỏi: “Một linh hồn đáng giá bao nhiêu trước mặt Thiên Chúa?”, câu trả lời của Kitô giáo không phải là một con số. Câu trả lời là: hãy nhìn lên Thánh Giá. Giá của bạn là Máu Đức Kitô. Giá của bạn là những chiếc đinh xuyên qua tay chân Người. Giá của bạn là vòng gai trên đầu Người. Giá của bạn là thân mình bị đánh nát. Giá của bạn là sự cô độc kinh khủng của Đấng kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Giá của bạn là trái tim bị lưỡi đòng đâm thâu. Giá của bạn là cái chết của Con Thiên Chúa. Không phải vì chúng ta xứng đáng để Thiên Chúa phải chết, nhưng vì tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta lớn đến mức Người tự nguyện bước vào cái chết để kéo chúng ta ra khỏi cái chết. Thánh Phêrô đã nói một câu vô cùng sâu sắc: “Anh em đã được cứu chuộc khỏi lối sống phù phiếm do cha ông truyền lại, không phải bằng những của chóng hư nát như bạc hay vàng, nhưng bằng Máu châu báu của Đức Kitô” (x. 1 Pr 1,18-19). Một người Kitô hữu nếu hiểu được câu này thật sự thì sẽ không bao giờ có thể xem thường chính mình, và cũng không bao giờ có quyền xem thường bất cứ con người nào khác.
Có một nỗi bi kịch âm thầm của thời đại chúng ta: con người biết giá của rất nhiều thứ nhưng lại quên giá trị của chính mình. Người ta biết giá một căn nhà, một chiếc xe, một chiếc điện thoại, một thương hiệu, một cổ phiếu, nhưng lại không biết linh hồn mình đáng giá đến đâu. Người ta có thể dành nhiều năm để làm cho hình ảnh của mình đẹp hơn trong mắt thiên hạ nhưng không biết mình đẹp thế nào trong ánh mắt Thiên Chúa. Người ta chạy khắp nơi để xin một chút công nhận của người khác mà không nghe được tiếng Thiên Chúa nói: “Con là của Cha.” Người ta đau khổ vì một người bỏ mình, một người không yêu mình, một người phản bội mình, rồi kết luận rằng đời mình chẳng đáng gì nữa. Có những người trẻ chỉ vì một mối tình tan vỡ mà nghĩ cuộc đời không còn ý nghĩa. Có người chỉ vì thất bại trong công việc mà tưởng mình là kẻ thất bại. Có người vì nghèo mà thấy xấu hổ. Có người vì bệnh tật mà thấy mình trở thành gánh nặng. Có người vì tuổi già mà nghĩ mình đã hết thời. Có người vì một tội lỗi trong quá khứ mà tin rằng mình không còn xứng đáng được yêu. Nhưng Thánh Giá đứng đó như một sự phản đối quyết liệt đối với mọi bản án ấy. Thánh Giá nói: “Không. Con người không phải là những gì họ sở hữu. Con người cũng không phải tổng số những thành công hay thất bại của họ. Con người không phải là lời người khác nói về họ. Con người trước hết là người được Thiên Chúa yêu.”
Có lẽ đây là căn tính sâu nhất của con người mà Kitô giáo đem đến cho thế giới: tôi là người được yêu. Không phải “tôi sẽ được yêu nếu tôi tốt”; không phải “tôi sẽ được yêu nếu tôi ngoan”; không phải “tôi sẽ được yêu nếu tôi thành công”; càng không phải “tôi được yêu vì tôi không có tội”. Thánh Phaolô diễn tả một điều gần như không thể tưởng tượng nổi: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” (Rm 5,8). Hãy để câu đó vang thật chậm trong lòng: “Ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi.” Thiên Chúa không chờ chúng ta sạch rồi mới yêu. Người yêu để chúng ta có thể được thanh tẩy. Người không chờ chúng ta trở nên thánh thiện rồi mới bước tới. Chính tình yêu của Người mở ra cho chúng ta con đường nên thánh. Người không đứng xa chỉ tay bảo: “Hãy sửa xong đời con rồi hãy đến với Ta.” Người bước vào ngay chỗ bùn lầy của đời ta, mang lấy thân phận ta, chịu lấy thương tích của ta, gánh lấy tội lỗi của ta, rồi từ đó kéo ta lên. Vì vậy Thánh Giá không bao giờ là bằng chứng cho thấy Thiên Chúa ghét con người; Thánh Giá là bằng chứng tuyệt đối rằng Thiên Chúa không chịu bỏ con người.
Tin Mừng theo thánh Gioan đã diễn tả mầu nhiệm này bằng một câu mà có lẽ chúng ta đã nghe quá nhiều nên đôi khi không còn thấy sự dữ dội của nó nữa: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). “Đến nỗi đã ban Con Một.” Tình yêu Thiên Chúa không phải một cảm xúc xa xôi trên trời. Tình yêu ấy trở thành quà tặng. Và món quà cuối cùng Thiên Chúa ban không phải một thứ gì Người sở hữu, nhưng là chính Con của Người. Nơi Đức Kitô, Thiên Chúa không chỉ cho chúng ta một điều gì đó; Thiên Chúa trao chính mình. Thánh Giá chính là nơi lời “ban” ấy đi tới tận cùng. Chúa Cha trao Con. Chúa Con trao mạng sống. Và con người nhận lại phẩm giá mà tội lỗi đã làm họ quên mất. Từ đó chúng ta mới hiểu lời Đức Giêsu: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Nhưng điều lạ lùng là Người không chỉ nói câu đó như một giáo huấn. Người đã sống câu đó. Chiều Thứ Sáu trên Canvê, lời ấy trở thành thịt, thành máu, thành vết thương, thành hơi thở cuối cùng.
Có một đoạn Tin Mừng đặc biệt có thể giúp chúng ta nhìn thấy cách Đức Giêsu nhìn con người. Đó là cảnh người trộm lành trên Thánh Giá (Lc 23,39-43). Hãy thử tưởng tượng người đàn ông ấy. Không còn gì để khoe. Không còn tương lai trần thế. Không còn cơ hội để sửa chữa danh tiếng. Có lẽ cuộc đời anh là một chuỗi những chọn lựa sai lầm. Anh bị xã hội kết án. Anh đang chịu hình phạt mà chính anh thừa nhận là xứng đáng: “Chúng ta chịu thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm.” Một con người như thế, dưới mắt người đời, coi như đã hết. Hồ sơ đã đóng. Bản án đã tuyên. Không còn gì đáng chờ đợi. Thế nhưng chính vào giờ phút ấy, khi mọi cánh cửa của trần gian đã đóng lại, anh quay sang Đức Giêsu và nói một câu đơn sơ: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Đức Giêsu trả lời: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Thật lạ lùng! Người đầu tiên được Đức Giêsu long trọng hứa Thiên Đàng ngay trên Thánh Giá lại không phải một vị đạo sĩ, một luật sĩ, một người có quá khứ không tì vết, nhưng là một tử tội. Tại sao? Vì đối với Đức Giêsu, con người luôn luôn lớn hơn tội lỗi của họ. Một con người có thể đã làm điều rất xấu nhưng không bao giờ đồng nghĩa rằng chính con người ấy chỉ là điều xấu. Tội phải bị gọi đúng là tội, sai phải được gọi đúng là sai, công lý vẫn phải được tôn trọng; nhưng sau tất cả những điều ấy, nơi thẳm sâu nhất của một người vẫn còn một phẩm giá mà không bản án nào có thể xóa bỏ: họ là thụ tạo được Thiên Chúa yêu và được mời gọi trở về.
Cảnh ấy lại diễn ra ngay giữa ba cây thập giá. Chúng ta thường nghĩ cây Thánh Giá ở giữa chỉ cho thấy Đức Giêsu là ai. Đúng, nhưng đồng thời nó cũng cho thấy hai người bên cạnh là ai. Một người khước từ; một người mở lòng. Đức Kitô không ép buộc ai, nhưng Người chết ở giữa cả hai. Người chết cho cả người đón nhận lẫn người từ chối. Tình yêu của Người đi trước sự đáp trả của con người. Và ở đây ta hiểu điều này: phẩm giá con người không bắt đầu từ việc họ yêu Thiên Chúa; phẩm giá ấy bắt đầu từ việc Thiên Chúa đã yêu họ. Đức tin Kitô giáo không khởi đi từ câu: “Tôi yêu Chúa rất nhiều.” Nó khởi đi từ sự kinh ngạc: “Chúa đã yêu tôi trước.” Thánh Gioan nói thật rõ: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta” (1 Ga 4,10). Đời sống Kitô hữu, vì thế, không phải nỗ lực tuyệt vọng của một con người để làm cho Thiên Chúa yêu mình. Đó là hành trình mở mắt để khám phá rằng mình vốn đã được yêu, rồi từ tình yêu được nhận ấy mà học yêu lại Thiên Chúa và yêu anh em.
Nếu Thánh Giá nói rằng mỗi người được yêu đến mức Đức Kitô chết cho họ, điều đó sẽ thay đổi hoàn toàn cách chúng ta nhìn chính mình. Nhiều người mang trong lòng một người phán xét không bao giờ ngủ. Họ trách mình về quá khứ, chê mình về hiện tại, lo sợ về tương lai. Có người sống cả đời với một câu âm thầm: “Tôi không đủ tốt.” Không đủ đẹp. Không đủ thông minh. Không đủ đạo đức. Không đủ thành công. Không đủ xứng đáng. Và rồi họ đi tìm một thứ chứng minh rằng mình đáng sống: bằng cấp, tiền bạc, địa vị, tiếng khen, số người theo dõi, sự ngưỡng mộ, thậm chí cả việc đạo đức cũng có thể trở thành một cách chứng minh mình hơn người. Nhưng Thánh Giá giải thoát ta khỏi cơn khát phải chứng minh ấy. Ta không cần chết đi để chứng minh mình xứng đáng được yêu, vì đã có Một Đấng chết để chứng minh rằng ta được yêu. Đây là một khác biệt vô cùng lớn. Người hiểu điều ấy không trở thành kiêu ngạo; trái lại, họ trở nên khiêm tốn. Vì họ biết giá trị của mình không do mình tạo ra. Nó là quà tặng. Tôi quý giá không phải vì tôi vượt trội người khác, nhưng vì Thiên Chúa yêu tôi. Và người bên cạnh tôi cũng quý giá vì chính Thiên Chúa ấy yêu họ. Không còn nền tảng nào sâu hơn cho phẩm giá bình đẳng của mọi con người.
Thánh Giá cũng giải phóng con người khỏi một thứ nô lệ tinh vi: nô lệ ánh mắt người khác. Chúng ta thường sống dưới những ánh mắt. Ánh mắt cha mẹ, gia đình, cộng đoàn, đồng nghiệp, bạn bè, dư luận. Có những lời khen làm ta bay lên; một câu chê đủ làm ta mất ngủ. Một cái “thích” trên mạng khiến ta vui; vài lời công kích làm ta suy sụp. Ta dễ trao quyền định giá đời mình cho người khác. Nhưng nếu một ngày đứng thật lâu trước Thánh Giá, ta sẽ nghe một câu hỏi: “Tại sao con để một vài lời của người đời quyết định giá trị của con, trong khi Ta đã trả lời bằng chính mạng sống Ta?” Người khác có thể không hiểu bạn. Người khác có thể đối xử bất công với bạn. Người khác có thể rời bỏ bạn. Điều ấy đau, và Kitô giáo không phủ nhận nỗi đau ấy. Nhưng sự từ chối của họ không thể hủy bỏ sự chọn lựa của Thiên Chúa. Họ có thể không nhìn thấy giá trị của bạn; điều ấy không có nghĩa là giá trị ấy không tồn tại. Một viên kim cương bị rơi xuống bùn không vì thế mà trở thành cục đất. Một linh hồn bị người đời lãng quên vẫn là linh hồn được Đức Kitô đổ máu cứu chuộc.
Nhưng đừng hiểu sai rằng “được yêu vô điều kiện” có nghĩa là Thiên Chúa để mặc con người sống thế nào cũng được. Chính vì yêu, Người muốn cứu. Chính vì con người quý giá nên tội lỗi là điều nghiêm trọng. Nếu một bức tranh vô giá bị phủ đầy bùn, người ta càng muốn phục hồi nó. Thiên Chúa không nói: “Tội của con chẳng sao đâu.” Nếu tội chẳng sao, Thánh Giá đã không cần thiết. Thánh Giá vừa cho thấy con người quý giá khôn lường, vừa cho thấy tội lỗi có sức tàn phá kinh khủng. Nhưng điều quyết định cuối cùng không phải tội của con người mà là tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Nơi Thánh Giá, Thiên Chúa không làm nhẹ tội; Người gánh lấy hậu quả của tội để giải thoát tội nhân. Bởi thế, ai thực sự nhìn Thánh Giá sẽ không thể vừa nói “Chúa yêu tôi” vừa bình thản ở lì trong tội. Tình yêu ấy làm người ta đau vì đã làm đau Đấng yêu mình. Hối cải Kitô giáo không chủ yếu phát xuất từ sợ bị trừng phạt; hối cải sâu nhất phát xuất từ giây phút ta chợt hiểu: “Tôi đã làm tổn thương Tình Yêu.”
Thánh Phêrô là một minh họa khác rất đẹp. Ông đã từng mạnh miệng: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy.” Nhưng chỉ vài giờ sau, ông chối Đức Giêsu ba lần. Khi gà gáy, Đức Giêsu quay lại nhìn Phêrô. Tin Mừng chỉ nói ngắn gọn rằng Phêrô ra ngoài khóc lóc thảm thiết. Ta không biết ánh mắt ấy cụ thể ra sao, nhưng chắc chắn đó không phải ánh mắt nghiền nát một con người, vì nếu Đức Giêsu nhìn Phêrô chỉ để kết án, thì sau Phục Sinh Người đã không tìm lại ông bên bờ hồ Tibêria và ba lần hỏi: “Con có yêu mến Thầy không?” Đúng nơi Phêrô đã ba lần phủ nhận, Đức Giêsu cho ông ba lần tuyên xưng tình yêu. Rồi Người trao lại sứ mạng: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.” Thiên Chúa thật lạ. Chúng ta thường nghĩ một người đã thất bại nặng thì không còn đáng tin. Thiên Chúa lại lấy một người đã từng chối Thầy để làm người củng cố đức tin cho anh em. Không phải vì phản bội là chuyện nhỏ, nhưng vì lòng thương xót lớn hơn sự phản bội. Đức Giêsu nhìn thấy trong Phêrô điều Phêrô chưa nhìn thấy trong chính mình. Người nhìn người môn đệ không chỉ bằng quá khứ của ông, nhưng bằng tương lai mà ân sủng có thể tạo nên nơi ông.
Thánh Giá vì thế mặc khải một nhân học thật sâu xa: con người là hữu thể mang thương tích nhưng không bị đồng nhất với thương tích; là tội nhân nhưng được gọi nên thánh; là hữu hạn nhưng được mời gọi đi vào sự sống vĩnh cửu; là bụi đất nhưng được Thiên Chúa cúi xuống yêu; là kẻ có thể từ chối Thiên Chúa nhưng lại được Thiên Chúa tìm kiếm đến cùng. Con người không phải một vị thần nhỏ tự cứu mình. Thánh Giá dập tắt ảo tưởng đó. Nhưng con người cũng không phải một hạt bụi vô nghĩa trong vũ trụ. Thánh Giá cũng dập tắt tuyệt vọng đó. Chúng ta nhỏ bé nhưng được yêu bởi Đấng vô cùng. Chúng ta tội lỗi nhưng được cứu chuộc bằng một tình yêu vô giá. Chúng ta sẽ chết nhưng cái chết không còn là tiếng nói cuối cùng vì Đấng đã chết cho ta đã sống lại.
Có một điều rất đáng suy nghĩ: Đức Giêsu đã cứu nhân loại không phải trong một thân thể bất khả xâm phạm, nhưng trong một thân thể có thể bị đánh, bị rách, bị chảy máu, bị đóng đinh, bị giết chết. Điều đó cũng nói gì đó rất lớn về con người. Thân xác con người có phẩm giá. Một Kitô giáo chân chính không khinh thân xác. Thiên Chúa đã mang lấy thân xác. Người đã biết đói, khát, mệt, đau. Người đã để tay con người chạm vào mình. Người đã để một người phụ nữ lấy nước mắt rửa chân. Người đã đặt tay trên người bệnh phong. Người đã đón trẻ nhỏ. Người đã để đầu mình được xức dầu. Và cuối cùng, thân xác ấy bị trao nộp “vì anh em”. Vì thế mọi thân xác con người đều đáng kính: thân xác khỏe mạnh và thân xác bệnh tật, thân xác trẻ trung và thân xác già nua, thân xác đẹp theo tiêu chuẩn xã hội và thân xác bị dị tật, thân xác của người giàu và thân xác của người nghèo. Nơi mỗi thân xác có một con người mà Đức Kitô đã chết cho họ. Đây là lý do Kitô giáo phải đứng về phía sự sống từ lúc khởi đầu cho đến lúc kết thúc tự nhiên của nó. Không phải vì Giáo Hội say mê những luật lệ cứng nhắc, mà vì khi đã thấy cái giá Thiên Chúa đặt trên mỗi sự sống, ta không còn có thể coi bất kỳ mạng người nào như đồ vật để tùy tiện loại bỏ.
Thánh Giá cũng thay đổi cách chúng ta nhìn người nghèo. Đức Giêsu không nói rằng ngày phán xét Người sẽ hỏi chúng ta đã sở hữu bao nhiêu, nhưng Người đồng hóa mình với những người nhỏ bé: “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm.” Điều khủng khiếp và tuyệt đẹp nằm ở chữ “Ta”. Không phải “họ đói”, nhưng “Ta đói”. Không phải “họ bệnh”, nhưng “Ta đau yếu”. Đức Kitô đã đặt khuôn mặt Người vào khuôn mặt của người bé mọn. Vì vậy, nếu Thánh Giá mặc khải rằng tôi được yêu, nó đồng thời đòi tôi nhận ra người khác cũng được yêu. Không ai có thể ôm Thánh Giá của Chúa rồi quay lưng với thánh giá của anh em. Không ai có thể hôn chân Đức Kitô chịu đóng đinh vào Thứ Sáu Tuần Thánh mà thứ Bảy lại khinh miệt một người nghèo. Nếu chúng ta thực sự tin mỗi con người được cứu bằng Máu Đức Kitô, cách ta nói với người làm công, người bán hàng, người bệnh, người già, người phạm nhân, người nhập cư, người sống bên lề xã hội phải khác.
Cả cách chúng ta nhìn kẻ thù cũng phải khác. Đây là phần khó nhất. Dễ nói rằng mình là người được Chúa yêu. Khó hơn rất nhiều khi chấp nhận rằng người mình không ưa cũng được Chúa yêu. Người đã làm tôi tổn thương cũng là người Đức Kitô đã chết cho. Kẻ xúc phạm tôi, kẻ phản bội tôi, kẻ bôi nhọ tôi, kẻ tôi cho là không đáng tha thứ, vẫn là một con người có linh hồn. Điều này không bắt ta gọi cái ác là tốt, không bắt nạn nhân tiếp tục ở trong một hoàn cảnh bị bạo hành, không loại bỏ công lý, nhưng ngăn chúng ta biến kẻ có tội thành một vật đáng ghét không còn nhân phẩm. Ngay trên Thánh Giá, Đức Giêsu nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Người không phủ nhận rằng họ đang đóng đinh Người. Nhưng Người từ chối để lòng mình trở thành nơi sinh ra thù hận. Thánh Giá cho thấy phẩm giá con người mạnh đến nỗi ngay cả tội của một người cũng không cho phép ta thôi nhìn họ như một con người.
Có khi chúng ta cần đem chân lý này về ngay trong gia đình. Chúng ta nói những điều rất cao siêu về phẩm giá con người nhưng lại làm tổn thương người sống bên cạnh mình. Có người cha nghĩ con mình chỉ đáng tự hào khi học giỏi. Có người mẹ vô tình so sánh các con đến mức một đứa trẻ lớn lên tin rằng mình luôn thua kém. Có người chồng chỉ nhìn thấy lỗi của vợ. Có người vợ chỉ còn nhớ thất bại của chồng. Có những gia đình dùng lời nói làm roi. “Mày chẳng làm được gì.” “Anh vô dụng.” “Cô chẳng ra gì.” “Giá như ngày đó tôi đừng lấy anh.” Có những câu chỉ nói vài giây nhưng đóng đinh một người suốt nhiều năm. Nếu mỗi lần sắp nói một câu làm nhục người thân, chúng ta nhớ người ấy là người mà Đức Kitô đã chết cho, có lẽ lời nói của ta sẽ khác. Nếu cha mẹ nhìn đứa con khó dạy và nhớ: “Chúa Giêsu đã đổ máu cho con tôi”, sự kiên nhẫn có thể trở lại. Nếu vợ chồng nhìn nhau qua Thánh Giá, họ sẽ hiểu rằng người bên cạnh không phải tài sản để mình sở hữu nhưng là một mầu nhiệm Thiên Chúa trao cho mình gìn giữ.
Cũng cần đem chân lý ấy vào chính đời sống đạo. Có khi chúng ta sống đạo mà vẫn chia con người thành hạng. Người này đạo đức, người kia bê bối. Người này đáng kính, người kia đáng tránh. Người này thuộc nhóm của mình, người kia không. Có khi chúng ta biết rất rõ giới luật nhưng lại quên khuôn mặt con người. Đức Giêsu thì khác. Người có thể nghiêm khắc với tội nhưng vô cùng dịu dàng với tội nhân biết mở lòng. Người nói với người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.” Hai vế ấy phải đi chung. “Tôi không lên án chị” và “đừng phạm tội nữa”. Lòng thương xót không phải đồng lõa với tội. Nhưng chân lý cũng không phải cái búa để đập nát con người. Đức Giêsu cứu con người bằng chân lý đầy tình yêu và bằng tình yêu không rời chân lý.
Thánh Giá còn nói một lời rất mạnh với những ai đang mang mặc cảm vì đã từng phạm tội. Có những tội đã được xưng nhưng lòng vẫn chưa chịu tin rằng mình được tha. Thiên Chúa đã tha mà ta còn tiếp tục tự kết án mình. Ta cúi đầu trước tòa giải tội, nghe lời xá giải, nhưng trở về vẫn sống như một người bị kết án chung thân. Điều ấy có vẻ khiêm tốn nhưng đôi khi lại là một hình thức không tin vào sức mạnh của Máu Đức Kitô. Nếu ta thật sự thống hối, xưng thú chân thành và lãnh nhận ơn tha thứ, hãy cho phép Thiên Chúa yêu ta. Có những người dễ tin rằng Chúa tha cho người khác, nhưng không tin Chúa có thể tha cho mình. Ta nghĩ tội của ta quá lớn. Nhưng có gì lớn hơn Thánh Giá? Có vết nhơ nào mà Máu Đấng Cứu Thế không thể rửa nếu con người thật lòng trở về? Giuđa và Phêrô đều phản bội theo cách khác nhau. Một người tuyệt vọng. Một người khóc và trở về. Bi kịch của Giuđa không chỉ là ông đã phạm tội mà còn là ông không đi hết con đường để gặp lòng thương xót. Đừng bao giờ biến tội lỗi của mình thành một vị thần lớn hơn Thiên Chúa. Đừng bao giờ nghĩ vực sâu của ta sâu hơn lòng thương xót của Người.
Thánh Giá nói với người bệnh: bạn vẫn quý giá. Khi sức khỏe mất, nhiều người có cảm giác cả căn tính mình cũng mất theo. Trước kia họ làm được rất nhiều việc, giờ phải nhờ người khác. Trước kia họ chăm người khác, giờ người khác chăm họ. Có người xin lỗi mỗi lần cần giúp: “Tôi làm phiền mọi người quá.” Có người già nói: “Tôi sống thêm chỉ làm khổ con cháu.” Những câu ấy đau lắm. Bởi vì phía sau chúng là một câu hỏi: “Khi tôi không còn hữu dụng, tôi còn đáng được yêu không?” Thánh Giá trả lời: có. Đức Kitô không chết chỉ cho phần khỏe mạnh của bạn. Người chết cho toàn bộ con người bạn. Bạn không trở nên ít người hơn khi bệnh. Một em bé không kém giá trị vì chưa thể làm gì. Một cụ già cũng không kém giá trị vì không còn làm gì. Giá trị của con người không được tính bằng năng suất. Có một nền văn minh sẽ trở nên vô cùng nguy hiểm khi nó bắt đầu tin rằng những ai không còn “có ích” thì cũng không còn đáng sống. Kitô giáo phải nói một tiếng “không” rất mạnh với quan niệm ấy, và tiếng “không” ấy phát xuất từ Canvê.
Thánh Giá cũng nói với người đang hấp hối: sự sống của bạn vẫn mang ý nghĩa đến hơi thở cuối cùng. Đức Giêsu cứu thế gian trong những giờ phút mà Người, theo tiêu chuẩn thế gian, dường như chẳng “làm” được gì. Tay bị đóng đinh, Người không thể chữa bệnh. Chân bị đóng đinh, Người không thể đi rao giảng. Người không đi đâu, không xây gì, không tổ chức gì. Người chỉ “ở đó” trong tình yêu tự hiến. Và chính lúc ấy công trình cứu độ đạt đến đỉnh cao. Thật kỳ lạ! Điều này giúp ta hiểu rằng giá trị đời người không chỉ nằm ở những gì ta làm, mà còn ở tình yêu với đó ta hiện hữu, chịu đựng, cầu nguyện, hiến dâng. Một người bệnh nằm trên giường có thể sống một sứ mạng mà mắt người đời không thấy. Một người già lần chuỗi trong căn phòng nhỏ có thể nâng đỡ Hội Thánh bằng một cách chỉ Thiên Chúa biết.
Thánh Giá nói với người thành công một lời khác: đừng tưởng thành công làm bạn quý giá hơn người khác. Nếu phẩm giá đến từ Thánh Giá, thì người ngồi trên ghế giám đốc và người quét hành lang đều đứng ngang nhau dưới chân Thánh Giá. Cả hai đều là tội nhân cần ơn cứu độ. Cả hai đều được yêu bằng cùng một Máu. Người giàu không được Đức Kitô đổ máu đậm hơn người nghèo. Người thông minh không được cứu với giá cao hơn người chậm hiểu. Người nổi tiếng không có linh hồn lớn hơn người chẳng ai biết tên. Khi bước vào nghĩa trang, chức danh ở lại bên ngoài. Và khi đứng trước Thiên Chúa, chỉ còn một sự thật: ta đã nhận tình yêu thế nào và đã trao tình yêu ấy đi thế nào.
Chính vì vậy, Thánh Giá cũng là nơi đánh sập niềm kiêu hãnh tôn giáo. Ta có thể tự hào rằng mình đạo đức, giữ luật, đọc kinh, đi lễ, làm việc tông đồ, nhưng nếu những điều ấy khiến ta coi thường người khác thì ta chưa hiểu Thánh Giá. Người đứng dưới chân Thánh Giá không thể khoe rằng mình tự cứu được mình. Không ai leo lên Canvê để nói: “Lạy Chúa, con khá tốt, nên Chúa nợ con ơn cứu độ.” Trước Thánh Giá, mọi bàn tay đều trắng. Chúng ta đều là người nhận. Người thánh thiện nhất cũng được cứu nhờ ân sủng. Người tội lỗi nhất nếu sám hối cũng được cứu nhờ ân sủng. Đây không phải sự san bằng đạo đức, nhưng là nền tảng của lòng khiêm nhường: tất cả những gì tốt đẹp nơi tôi cuối cùng đều là quà.
Nhìn Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá, ta lại hiểu thêm một chiều kích khác của giá trị con người. Mẹ không cứu Đức Giêsu khỏi Thánh Giá. Mẹ không thể tháo đinh, không thể ngăn quân lính, không thể làm phép lạ cho Con xuống khỏi đó. Mẹ chỉ đứng. “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu có thân mẫu Người.” Có những lúc yêu một người không phải là giải quyết được vấn đề của họ mà chỉ là không bỏ họ một mình. Có những bệnh không chữa được. Có những mất mát không bù được. Có những câu hỏi không trả lời được. Khi ấy, sự hiện diện có thể trở thành một hình thức tình yêu tinh tuyền. Đức Maria ở đó. Mẹ không chạy trốn nỗi bất lực của mình. Mẹ cho Con sự hiện diện của một người mẹ đến phút cuối. Và trong chính giờ ấy, Đức Giêsu nói: “Thưa Bà, đây là con của Bà”, rồi nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Dưới Thánh Giá, một gia đình mới được sinh ra. Khi nhân loại tưởng mình đang giết Thiên Chúa, Thiên Chúa lại đang trao cho nhân loại một người Mẹ.
Nhưng còn một điều sâu hơn nữa. Khi nói con người là “hữu thể được yêu đến mức chết”, ta không có ý rằng Thiên Chúa yêu chúng ta đến chết rồi thôi. Đức Kitô đã chết nhưng đã sống lại. Vì thế định nghĩa đầy đủ hơn phải là: con người là hữu thể được yêu qua cái chết để được đưa vào sự sống. Thánh Giá không phải chương cuối. Nếu không có Phục Sinh, Thánh Giá chỉ là bi kịch. Nhưng vì Đức Kitô đã sống lại, Thánh Giá trở thành cửa ngõ. Tình yêu ấy không chỉ ôm lấy con người trong nước mắt mà còn muốn dẫn con người vượt qua nước mắt. Thiên Chúa không chỉ ở bên ta trong mồ; Người mở mồ. Người không chỉ an ủi ta trong sự chết; Người chiến thắng sự chết. Vì thế người Kitô hữu có thể khóc nhưng không tuyệt vọng. Có thể đau nhưng không bị đau khổ định nghĩa hoàn toàn. Có thể chết nhưng chết trong hy vọng.
Đây là lý do tại sao người Kitô hữu khi đứng trước quan tài của một người thân không chỉ nói: “Một cuộc đời đã chấm dứt.” Ta nói: “Một người mà Đức Kitô đã chết và sống lại cho họ đang bước vào cuộc gặp gỡ quyết định với Đấng đã yêu họ từ đời đời.” Cái chết vẫn đau. Đức Giêsu cũng khóc trước mộ Lazarô. Đức tin không biến trái tim thành đá. Nhưng nước mắt Kitô giáo có một tia sáng bên trong. Vì nếu đời người chỉ đáng giá trong vài chục năm rồi tan biến, thì mọi tình yêu cuối cùng đều bị cái chết chế nhạo. Còn nếu Con Thiên Chúa đã chết và sống lại vì ta, thì sự sống mỗi người mang một trọng lượng đời đời. Không ai là “một người bình thường” trong nghĩa tầm thường. Mỗi người bạn gặp hôm nay là một hữu thể có vận mệnh vĩnh cửu.
C.S. Lewis từng nhắc một ý rất đáng suy nghĩ rằng ta chưa từng gặp một người “chỉ là phàm nhân” theo nghĩa tầm thường, bởi mỗi con người đều đang hướng về một định mệnh đời đời. Nhưng Kitô hữu còn có thể nói mạnh hơn: tôi chưa từng gặp một người nào mà Đức Kitô không coi là đáng để Người giang tay trên Thánh Giá. Hãy nghĩ đến điều ấy khi ta sắp chế giễu ai. Hãy nghĩ đến điều ấy trước khi phát tán một lời vu khống. Hãy nghĩ đến điều ấy khi ta nhìn người ăn xin. Hãy nghĩ đến điều ấy khi trong nhà có một người già lẩm cẩm nói đi nói lại một câu. Hãy nghĩ đến điều ấy khi ta nghe một người đã phạm tội và đang cố làm lại cuộc đời. Hãy nghĩ đến điều ấy khi ta nhìn chính mình trong gương vào một ngày mệt mỏi và chỉ thấy những khuyết điểm. “Người này là người Đức Kitô đã chết cho.” Nếu câu ấy trở thành một thói quen trong lòng, cả thế giới của ta sẽ thay đổi.
Có lẽ một trong những sự chữa lành sâu nhất mà Thánh Giá đem lại là chữa lành nỗi sợ mình không đáng được yêu. Ai trong chúng ta cũng có một vùng tối mà mình không muốn người khác thấy. Có điều ta đã làm. Có điều ta nghĩ. Có vết thương ta xấu hổ. Có thất bại ta giấu. Vì vậy, có khi ta nghĩ: “Nếu họ biết con người thật của tôi, họ sẽ không còn yêu tôi.” Và rồi ta sống đeo mặt nạ. Nhưng Tin Mừng nói một điều khác: Thiên Chúa biết hết, và Người vẫn đi về phía ta. Người không yêu một phiên bản được chỉnh sửa của ta. Người yêu con người thật của ta để biến đổi con người thật ấy. Đây là sự khác nhau giữa tình yêu cứu độ và sự nuông chiều. Nuông chiều nói: “Con không cần thay đổi.” Tình yêu cứu độ nói: “Ta biết con là ai, Ta yêu con, và Ta yêu con quá nhiều nên không để con mãi như thế.”
Thánh Augustinô từng diễn tả trái tim con người bất an cho đến khi được nghỉ yên trong Thiên Chúa. Có lẽ một phần sự bất an ấy đến từ việc chúng ta cứ xin tạo vật trả lời câu hỏi chỉ Đấng Tạo Hóa mới trả lời được: “Tôi có đáng được yêu không?” Ta hỏi người yêu. Ta hỏi người phối ngẫu. Ta hỏi con cái. Ta hỏi đám đông. Ta hỏi mạng xã hội. Ta hỏi thành công. Nhưng không thụ tạo nào có thể cho ta một câu trả lời đủ lớn, bởi ngay cả người yêu ta nhất cũng hữu hạn. Chỉ có một câu trả lời không thể bị rút lại: Thánh Giá. Khi Đức Giêsu dang tay, ta có thể đọc trong tư thế ấy một lời: “Đến thế này.” Chúa yêu con bao nhiêu? Đến thế này. Chúa đi tìm con xa đến đâu? Đến tận vực sâu này. Chúa tha thứ được bao nhiêu? Đến tận giọt máu cuối cùng. Chúa muốn con sống đến mức nào? Đến mức Người chấp nhận chết.
Vậy điều gì xảy ra nếu ta thực sự tin điều ấy? Trước hết, ta sẽ bớt ghét chính mình. Có một thứ “khiêm nhường” giả tạo luôn nói: “Tôi chẳng là gì, tôi vô dụng, tôi tệ hại.” Nhưng nếu Thiên Chúa coi bạn đáng để yêu thì bạn lấy quyền gì để tuyên bố rằng bạn hoàn toàn vô giá trị? Khiêm nhường không phải tự khinh. Khiêm nhường là nhìn mình bằng sự thật: tôi là thụ tạo, không phải Thiên Chúa; tôi có giới hạn; tôi có tội; tôi cần được cứu; nhưng tôi được yêu vô cùng. Người khiêm nhường có thể nhận lỗi mà không tự hủy mình, vì họ biết căn tính của mình sâu hơn lỗi lầm.
Thứ đến, ta sẽ bớt đố kỵ. Nếu tôi biết mình được yêu, tôi không cần giật lấy ánh sáng của người khác để mình sáng hơn. Thành công của người khác không làm tình yêu Thiên Chúa dành cho tôi giảm xuống. Thiên Chúa không có một bình tình yêu hữu hạn mà ai lấy nhiều thì tôi còn ít. Tình yêu của Người không chia phần theo kiểu đó. Người có thể vui vì người anh em tôi mà vẫn yêu tôi trọn vẹn. Khi căn tính đã bén rễ trong tình yêu Thiên Chúa, ta có thể thật lòng vui với điều tốt đẹp của người khác.
Ta cũng sẽ bớt sợ thất bại. Không phải trở thành bất cần, nhưng hiểu rằng thất bại là một biến cố, không phải căn tính. Tôi có thể thất bại trong một việc mà không trở thành “một kẻ thất bại”. Phêrô đã thất bại, nhưng Đức Giêsu không để thất bại là tên cuối cùng của ông. Tên cuối cùng của ông là người được phục hồi và được sai đi. Thập Giá và Phục Sinh dạy rằng Thiên Chúa là bậc thầy của việc viết chương mới sau những chương tưởng như đã kết thúc.
Ta cũng sẽ biết yêu người khác theo một cách tự do hơn. Người không biết mình được yêu thường yêu người khác bằng sự đòi hỏi: “Anh phải làm cho tôi cảm thấy mình có giá trị.” “Con phải thành công để cha mẹ hãnh diện.” “Bạn phải luôn đứng về phía tôi.” Nhưng khi đã có nền tảng trong tình yêu Thiên Chúa, ta không còn bắt người khác gánh trách nhiệm làm “đấng cứu thế” cho mình. Chỉ Đức Kitô là Đấng Cứu Thế. Chồng không phải Đấng Cứu Thế của vợ. Vợ không phải Đấng Cứu Thế của chồng. Con cái không sinh ra để chữa mọi vết thương của cha mẹ. Bạn bè không thể lấp đầy vực sâu của linh hồn ta. Khi đặt họ đúng vị trí, ta mới có thể yêu họ mà không bóp nghẹt họ bằng những đòi hỏi vô tận.
Và cuối cùng, người nhận ra mình được yêu sẽ được mời trở thành người yêu. Thánh Giá không cho phép ta chỉ đứng dưới chân Chúa để nhận rồi giữ riêng. Thánh Gioan viết: “Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế, chúng ta cũng phải yêu thương nhau” (1 Ga 4,11). Hai chữ “như thế” chính là Thánh Giá. Không phải yêu khi thuận tiện. Không phải yêu người dễ thương. Không phải yêu lúc được đáp lại. Yêu “như thế”: biết cúi xuống, biết chịu thiệt, biết tha thứ, biết trung tín, biết phục vụ, biết ở lại. Dĩ nhiên ta không cứu được ai bằng cái chết cứu độ như Đức Kitô, nhưng mỗi ngày đều có những “cái chết nhỏ” của tình yêu: chết cho tính ích kỷ, chết cho cái tôi, chết cho nhu cầu luôn luôn thắng, chết cho thói muốn trả đũa, chết cho sự lạnh lùng.
Người mẹ thức đêm bên đứa con bệnh đang sống một chút logic của Thánh Giá. Người chồng trung thành chăm sóc vợ trong những năm dài bệnh tật đang sống một chút logic của Thánh Giá. Người con kiên nhẫn tắm rửa cho cha mẹ già đang sống một chút logic của Thánh Giá. Một linh mục bước vào nhà người nghèo khi chẳng ai biết, ngồi nghe một tâm hồn tan vỡ trong tòa giải tội, đến bệnh viện lúc đêm khuya, ở bên một người hấp hối không còn người thân, đang sống một chút logic của Thánh Giá. Một người tha thứ khi hoàn toàn có lý do để trả thù đang sống một chút logic của Thánh Giá. Một người từ chối kiếm lợi trên đau khổ của người khác đang sống một chút logic của Thánh Giá. Bởi tình yêu thật luôn có giá. Tình yêu không có hy sinh rất dễ chỉ là cảm xúc.
Nhưng ta phải nói rất rõ: Thánh Giá không dạy người ta yêu đau khổ vì đau khổ. Đức Giêsu không đi tìm đau khổ như một người mê đau. Người đi tìm con người, và vì yêu con người nên Người chấp nhận cái giá của tình yêu. Đây là khác biệt quan trọng. Kitô giáo không bảo người bị bạo hành cứ tiếp tục chịu bạo hành vì đó là “thánh giá Chúa gửi”. Không. Cái ác phải được ngăn chặn. Công lý phải được bảo vệ. Đức Giêsu chữa bệnh, giải thoát người bị áp bức, chống lại sự giả hình. Nhưng có những đau khổ không thể tránh nếu ta muốn yêu thật. Người mẹ sinh con chịu đau không vì mê đau nhưng vì yêu sự sống. Người nói sự thật có thể bị ghét không vì thích bị ghét nhưng vì trung thành với sự thật. Đức Giêsu chịu Thánh Giá không vì Thiên Chúa thích máu, mà vì tình yêu của Người đã đi đến tận nơi sự dữ đang giam giữ con người.
Có lẽ vì thế, Thánh Giá là nơi con người đồng thời nhỏ bé nhất và lớn lao nhất. Nhỏ bé nhất, vì ta thấy tội lỗi chúng ta nghiêm trọng đến mức nào. Lớn lao nhất, vì ta thấy Thiên Chúa yêu chúng ta đến mức nào. Nếu chỉ nhìn tội, ta tuyệt vọng. Nếu chỉ nói tình yêu mà quên tội, ta trở nên hời hợt. Thánh Giá giữ cả hai. Nó nói: “Con tệ hơn con tưởng, bởi tội có thể đóng đinh Con Thiên Chúa.” Nhưng ngay lập tức nó lại nói: “Con được yêu hơn con từng dám mơ, bởi Con Thiên Chúa để mình bị đóng đinh để cứu con.” Hai sự thật ấy gặp nhau trên cùng một cây gỗ.
Và chính tại đó, mọi câu hỏi về phẩm giá con người tìm thấy ánh sáng cuối cùng. Tại sao phải bảo vệ một thai nhi? Vì đó là một con người được Thiên Chúa yêu. Tại sao phải chăm sóc người già? Vì đó là một con người được Thiên Chúa yêu. Tại sao phải tôn trọng người khuyết tật? Vì đó là một con người được Thiên Chúa yêu. Tại sao phải tìm cách cải hóa chứ không chỉ nghiền nát người phạm tội? Vì đó là một con người được Thiên Chúa yêu. Tại sao phải quan tâm người nghèo? Vì đó là một con người được Thiên Chúa yêu. Tại sao không được xúc phạm chính mình? Vì tôi cũng là một con người được Thiên Chúa yêu. Một nền luân lý Kitô giáo mà tách khỏi tình yêu này sẽ trở thành luật lệ lạnh lùng. Nhưng một tình yêu không dẫn đến việc bảo vệ phẩm giá cụ thể của con người cũng chỉ là cảm xúc rỗng.
Có một ngày, tất cả những gì người đời dùng để phân loại chúng ta sẽ biến mất. Người đẹp rồi sẽ già. Người khỏe rồi có thể bệnh. Người giàu không mang được tài khoản qua cửa mộ. Người nổi tiếng rồi cũng sẽ có thế hệ không còn nhớ tên. Chức vụ rồi trao cho người khác. Những tràng vỗ tay im. Những căn nhà đổi chủ. Những bức ảnh phai màu. Nhưng có một điều không qua đi: “Ta đã gọi con bằng chính tên con: con là của Ta” (x. Is 43,1). Và trong Tân Ước, lời ấy được đóng ấn bằng Máu Đức Kitô.
Thế nên, nếu một ngày bạn cảm thấy mình chẳng còn gì, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu một ngày mọi người hiểu lầm bạn, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu một ngày bạn thất bại, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu một ngày tội lỗi quá khứ trở lại tố cáo bạn, hãy sám hối rồi nhìn Thánh Giá. Nếu một ngày tuổi già làm bạn thấy mình thừa thãi, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu một ngày bệnh tật làm bạn không nhận ra chính mình, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu một ngày bạn đứng trước mộ người mình yêu và không biết nói gì, hãy nhìn Thánh Giá rồi nhìn ngôi mộ trống. Đừng hỏi Thánh Giá: “Tại sao đời tôi không hoàn hảo?” Hãy hỏi: “Lạy Chúa, con là gì mà Chúa yêu con đến thế?” Có lẽ câu trả lời sẽ không đến bằng lời. Chỉ có Đấng chịu đóng đinh nhìn xuống, hai tay mở rộng, trái tim đã bị đâm thâu, như muốn nói: “Con là người của Ta.”
Có lẽ cuối cùng căn tính Kitô hữu không nằm trong một định nghĩa triết học dài dòng nhưng trong một câu hết sức đơn sơ: tôi là người được Đức Kitô yêu và hiến mạng vì tôi. Thánh Phaolô đã sống bằng xác tín ấy: “Con Thiên Chúa đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20). Không phải chỉ “yêu nhân loại” như một khối trừu tượng. “Yêu tôi.” “Hiến mạng vì tôi.” Mỗi Kitô hữu cần có một ngày lời này từ đầu đi xuống tim. Khi ấy, Thánh Giá không còn chỉ là biểu tượng của đạo. Nó trở thành câu chuyện của đời tôi. Những chiếc đinh ấy có liên hệ đến tôi. Giọt máu ấy có liên hệ đến tôi. Tiếng “Ta khát” ấy có liên hệ đến tôi. Câu “Thế là đã hoàn tất” ấy có liên hệ đến tôi.
Rồi từ chữ “tôi”, phải bước sang chữ “họ”. Người hàng xóm khó chịu kia: Người đã yêu họ và hiến mạng vì họ. Người tôi đang giận: Người đã yêu họ và hiến mạng vì họ. Người thất bại: Người đã yêu họ và hiến mạng vì họ. Người nghèo: Người đã yêu họ và hiến mạng vì họ. Người chẳng ai nhớ: Người đã yêu họ và hiến mạng vì họ. Ngày chúng ta có thể nhìn thế giới bằng đôi mắt ấy, Kitô giáo không còn là một hệ thống tư tưởng mà trở thành một cách nhìn con người.
Và có lẽ đó là điều thế giới hôm nay cần nhất. Một thế giới đầy phương tiện kết nối nhưng nhiều người cô độc; đầy công nghệ nhưng nhiều người cảm thấy vô nghĩa; đầy những lời về quyền con người nhưng vẫn có những mạng sống bị cân đo bằng lợi ích; đầy hình ảnh đẹp nhưng nhiều tâm hồn ghét chính thân thể mình; đầy lời khen công khai nhưng nhiều người âm thầm khóc ban đêm vì nghĩ mình không đáng được yêu. Giữa thế giới ấy, Hội Thánh không có món quà nào quý hơn việc chỉ vào Đức Kitô chịu đóng đinh và nói với từng người: “Bạn hãy nhìn xem bạn đáng giá thế nào trong mắt Thiên Chúa.”
Không phải vì bạn hoàn hảo.
Không phải vì bạn chưa bao giờ ngã.
Không phải vì bạn có gì để đem đổi lấy tình yêu ấy.
Chỉ vì bạn là con người mà Thiên Chúa đã muốn dựng nên, đã gọi bằng tên, đã tìm kiếm khi lạc mất, và đã yêu đến cùng.
Thánh Giá, vì thế, không hạ thấp con người. Thánh Giá nâng con người lên một phẩm giá không triết thuyết nào có thể tự mình ban tặng. Trước Thánh Giá, ta không còn có thể nói con người chỉ là một sinh vật thông minh hơn những sinh vật khác. Không. Con người là kẻ được Thiên Chúa nhập thể để tìm. Con người là kẻ được Thiên Chúa khóc cùng. Con người là kẻ được Thiên Chúa cho ăn chính Mình. Con người là kẻ được Thiên Chúa quỳ xuống rửa chân. Con người là kẻ được Thiên Chúa chịu đóng đinh để cứu. Và con người là kẻ được mời gọi sống đời đời trong sự hiệp thông với Người.
Một buổi chiều nào đó, hãy ngồi một mình trước Thánh Giá. Đừng xin gì vội. Đừng đọc nhiều kinh vội. Chỉ nhìn. Nhìn đôi tay đã từng chạm người phong cùi, nay bị đóng đinh. Nhìn đôi chân đã đi tìm chiên lạc, nay không thể bước. Nhìn đôi mắt đã khóc trước mộ Lazarô, nay dần khép lại trong cái chết. Nhìn cái miệng đã nói lời tha thứ, vẫn tha thứ trên Thánh Giá. Nhìn trái tim đã yêu con người, nay bị lưỡi đòng mở ra. Rồi hỏi thật nhỏ: “Lạy Chúa, con là ai?” Và có lẽ chính trong sự thinh lặng ấy ta sẽ nhận được câu trả lời sâu hơn mọi cuốn sách: “Con là người Ta yêu.”
Nếu chưa đủ, hãy hỏi tiếp: “Chúa yêu con đến đâu?”
Hãy nhìn hai cánh tay bị đóng đinh.
“Đến đây.”
“Đến bao giờ?”
Hãy nhìn cạnh sườn bị đâm thâu.
“Đến cùng.”
“Ngay cả khi con tội lỗi?”
Hãy nhìn người trộm lành.
“Ngay cả khi ấy.”
“Ngay cả khi mọi người bỏ con?”
Hãy nhìn Đấng bị các môn đệ chạy trốn.
“Ngay cả khi ấy.”
“Ngay cả khi con chết?”
Hãy nhìn ngôi mộ trống.
“Ngay cả cái chết cũng không tách con khỏi tình yêu của Ta.”
Đó là Tin Mừng. Đó là phẩm giá của con người. Đó là bí mật của Thánh Giá. Và đó cũng là điều ta cần nhớ mỗi sáng khi thức dậy, mỗi tối trước khi ngủ, mỗi khi thất bại, mỗi khi thành công, mỗi khi được khen, mỗi khi bị chê, mỗi khi đứng trước người mình yêu và cả người mình khó yêu: trước mắt tôi là một hữu thể mà Đức Kitô đã chết cho.
Nếu thế giới hỏi Kitô giáo: “Con người là gì?”, chúng ta đừng chỉ đưa ra một định nghĩa. Hãy đưa họ đến Canvê.
Ở đó có câu trả lời.
Một Thiên Chúa bị đóng đinh.
Một cạnh sườn mở ra.
Một trái tim không giữ lại gì.
Và từ Thánh Giá ấy vang xuống cho mọi thế hệ một chân lý không ai có quyền xóa bỏ:
Con người là hữu thể được yêu đến mức Thiên Chúa chấp nhận chết để họ được sống.
Vì thế, xin đừng bao giờ xem thường một con người.
Xin đừng bao giờ xem thường chính mình.
Và xin đừng bao giờ nhìn Thánh Giá mà quên rằng ở đó, giữa những chiếc đinh và máu, Thiên Chúa đã nói cho bạn biết bạn đáng giá đến mức nào.
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ NHƯ TẤM GƯƠNG PHẢN CHIẾU SỰ THẬT VỀ TỘI LỖI CON NGƯỜI
Có những sự thật về mình mà con người rất thích nghe, nhưng cũng có những sự thật mà con người cả đời tìm cách né tránh. Ta thích nghe rằng mình tốt, mình có lòng, mình sống tử tế, mình không làm hại ai. Ta thích được người khác công nhận, thích những lời khen, thích nhìn thấy khuôn mặt đẹp của mình trong chiếc gương đã được lau sạch, được đặt dưới ánh sáng vừa đủ để những vết nhăn trở nên mờ đi. Nhưng có một tấm gương không biết nịnh con người. Có một tấm gương không trang điểm cho chúng ta. Có một tấm gương đứng giữa lịch sử và buộc mỗi người, nếu đủ can đảm nhìn vào, phải nhận ra khuôn mặt thật của chính mình. Tấm gương ấy là Thập Giá Đức Giêsu Kitô. Thập Giá không chỉ nói cho ta biết Thiên Chúa yêu con người đến đâu. Thập Giá còn cho ta thấy tội lỗi con người khủng khiếp đến mức nào. Nếu chỉ nói về Thập Giá như biểu tượng của tình yêu mà quên rằng nơi ấy tội lỗi đã phơi bày bộ mặt ghê gớm nhất của nó, ta mới nhìn một nửa mầu nhiệm. Trên đồi Canvê, tình yêu Thiên Chúa đạt đến tận cùng, nhưng đồng thời sự dữ trong lòng người cũng bị lột trần đến tận cùng. Đấng vô tội bị kết án. Đấng chữa lành bị đánh đập. Đấng làm cho người chết sống lại bị giết chết. Đấng tha thứ cho kẻ tội lỗi bị đóng đinh giữa hai tên gian phi. Và điều đáng sợ nhất là những người làm tất cả những chuyện ấy không phải ai cũng nghĩ mình đang làm điều ác. Nhiều người tưởng mình đang bảo vệ trật tự, bảo vệ tôn giáo, bảo vệ luật lệ, bảo vệ quyền lực, thậm chí bảo vệ Thiên Chúa. Chính ở đó, Thập Giá trở thành tấm gương nghiêm khắc nhất phản chiếu sự thật về tội lỗi: tội không phải lúc nào cũng xuất hiện với bộ mặt dữ tợn; nhiều khi nó đội chiếc mặt nạ rất đạo đức, rất hợp lý, rất đúng luật, rất có vẻ chính nghĩa.
Tin Mừng kể lại một cảnh tượng khiến người ta đọc bao nhiêu lần vẫn thấy nhói lòng. Philatô biết Đức Giêsu vô tội. Ông nói với đám đông: “Ta không thấy người này có tội gì.” Vậy mà cuối cùng ông vẫn trao Đức Giêsu cho họ đóng đinh. Ông rửa tay trước mặt dân chúng như thể vài giọt nước có thể rửa sạch trách nhiệm của một quyết định hèn nhát. Những thượng tế, kinh sư là những người thuộc Kinh Thánh, giữ luật, cầu nguyện, giảng dạy cho dân về Thiên Chúa, thế mà trước Đức Giêsu họ lại gào lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!” Những người lính chẳng có thù oán gì riêng với Đức Giêsu, nhưng chỉ vì một mệnh lệnh, họ có thể đánh Người, nhổ vào mặt Người, đội vòng gai, khoác áo đỏ và biến đau khổ của một con người thành trò tiêu khiển. Đám đông từng tung hô “Hoan hô Con vua Đavít” rồi chẳng bao lâu lại bị kích động để la lên: “Đóng đinh nó đi!” Các môn đệ từng thề sống chết với Thầy, đến giờ thử thách thì bỏ chạy. Phêrô quả quyết “dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy”, vậy mà trước câu hỏi của một cô tớ gái, ông ba lần nói mình không biết Người. Giuđa đã từng sống cạnh Chúa, ăn cùng bàn, nghe từng lời Chúa giảng, nhìn từng phép lạ Chúa làm, cuối cùng lại bán Thầy chỉ bằng một cái hôn. Và giữa tất cả những con người ấy, Đức Giêsu đứng đó, im lặng, bị trói, bị đánh, bị lột áo, bị treo lên. Câu chuyện Thương Khó không chỉ là câu chuyện của những con người sống cách đây hai ngàn năm. Đó là bức chân dung nhân loại. Đó là câu chuyện của tôi. Đó cũng là câu chuyện của bạn. Mỗi nhân vật đứng quanh Thập Giá dường như mang trong mình một phần nào đó của con người chúng ta.
Ta có thể là Philatô. Biết điều gì đúng mà không dám làm vì sợ mất ghế, mất lợi, mất lòng, mất quan hệ. Biết một người bị oan nhưng im lặng. Biết một câu chuyện là sai nhưng không dám lên tiếng. Biết một người đang bị đám đông vùi dập nhưng sợ liên lụy nên quay mặt đi. Rồi ta tự biện minh: tôi đâu có làm gì. Chính cái “tôi đâu có làm gì” ấy nhiều khi lại là một phần của tội. Philatô không tự tay đóng đinh Chúa. Ông chỉ ký một quyết định. Ông chỉ nhượng bộ đám đông. Ông chỉ chọn sự an toàn của mình. Nhưng một con người vô tội đã chết vì sự an toàn ấy. Có bao nhiêu cuộc đóng đinh trong gia đình, trong cộng đoàn, trong xã hội vẫn tiếp tục vì những người biết sự thật chọn im lặng? Có những người không đánh ai nhưng để người khác bị đánh. Không vu khống ai nhưng nghe người khác vu khống rồi im lặng. Không loại trừ ai nhưng thấy một người bị cô lập mà không chìa tay. Không trực tiếp gây ra bất công nhưng lại hưởng lợi từ một cơ chế bất công và không muốn nó thay đổi. Chúng ta có thể rửa tay bằng đủ thứ lý luận, nhưng Thập Giá vẫn hỏi: khi một người vô tội bị nghiền nát trước mắt ngươi, ngươi đã đứng ở đâu?
Ta cũng có thể là những thượng tế. Đây có lẽ là hình ảnh đáng sợ nhất, bởi tội lỗi đã len vào chính nơi người ta tưởng rằng chỉ có sự thánh thiện. Những người nhân danh Thiên Chúa lại đóng đinh Con Thiên Chúa. Những người thuộc lòng Lề Luật lại không nhận ra Đấng là sự viên mãn của Lề Luật. Những người đang chờ Đấng Mêsia lại giết chính Đấng Mêsia khi Người đến không giống với hình ảnh họ mong đợi. Đây là bi kịch của lòng đạo không hoán cải. Người ta có thể nói rất nhiều về Chúa mà lòng rất xa Chúa. Có thể giữ đủ nghi thức nhưng lại thiếu lòng thương xót. Có thể bảo vệ giáo lý mà cư xử chẳng có chút tinh thần Tin Mừng. Có thể sốt sắng việc đạo nhưng đầy kiêu căng, ganh tị, chia rẽ, xét đoán. Có thể quỳ rất lâu trước Thánh Thể mà về nhà làm đau người thân bằng những lời độc địa. Có thể làm dấu Thánh Giá nhiều lần trong ngày mà lại dựng thập giá cho người khác bằng tính nóng nảy, ích kỷ, thành kiến và sự vô cảm. Thập Giá vạch trần một ảo tưởng nguy hiểm: không phải cứ ở gần những điều thánh là lòng người tự nhiên trở nên thánh. Giuđa đã sống gần Đức Giêsu ba năm mà lòng vẫn có thể đi xa. Các thượng tế phục vụ Đền Thờ nhưng vẫn có thể để quyền lợi làm mù mắt. Sự thánh thiện không nằm ở khoảng cách địa lý giữa ta với nhà thờ, mà ở khoảng cách giữa trái tim ta với trái tim Đức Kitô.
Ta cũng có thể là đám đông. Hôm nay tung hô, ngày mai kết án. Hôm nay gọi một người là anh hùng, ngày mai nghe vài lời đồn đã vội ném đá. Con người trong đám đông dễ trở nên tàn nhẫn hơn khi đứng một mình. Một lời vu khống được chia sẻ đủ nhiều lần bỗng trở thành “sự thật”. Một câu chuyện chưa kiểm chứng được chuyền tay có thể giết danh dự một người. Một chiếc điện thoại hôm nay có thể trở thành cây búa đóng đinh. Một bình luận cay độc có thể là một chiếc đinh. Một lần chia sẻ tin giả có thể là một nhát roi. Một câu nói chế giễu về nỗi đau của người khác có thể là một vòng gai. Thế giới hôm nay không còn dựng nhiều cây thập tự bằng gỗ giữa quảng trường, nhưng người ta vẫn đóng đinh nhau mỗi ngày bằng ngôn từ. Đáng sợ là ta có thể làm điều ấy trong vài giây, rồi đặt điện thoại xuống, đi cầu nguyện, và không hề thấy mình vừa làm tổn thương một con người. Thập Giá khiến ta phải tự hỏi: trong những lần tôi nói về người khác, tôi đang tháo đinh hay đóng thêm đinh? Tôi đang băng bó hay làm vết thương sâu hơn? Tôi đang tìm sự thật hay chỉ tìm một câu chuyện hợp với thành kiến của mình?
Ta có thể là những người lính. “Tôi chỉ làm theo lệnh.” Câu nói ấy đã trở thành lời biện minh quen thuộc của lịch sử. Nhưng Thập Giá cho thấy trách nhiệm cá nhân không thể hoàn toàn bị xóa bỏ bằng mệnh lệnh tập thể. Những người lính đã biến một con người đang đau đớn thành trò cười. Họ không biết Đức Giêsu là ai, nhưng họ biết Người đang đau. Chỉ cần biết điều đó đã đủ để một con người phải dừng tay. Tội lỗi nhiều khi bắt đầu từ sự mất khả năng nhìn người khác như một con người. Khi ta chỉ còn thấy “một trường hợp”, “một đối tượng”, “một phe”, “một thành phần”, “một người đáng ghét”, ta có thể dễ dàng làm họ đau. Đức Giêsu trên Thập Giá không còn dáng vẻ gì khiến người ta ngưỡng mộ: mặt sưng, thân thể đầy máu, áo quần bị lột, danh dự bị nghiền nát. Nhưng chính con người bị làm nhục ấy lại là Con Thiên Chúa. Thập Giá dạy ta rằng phẩm giá của một người không biến mất khi họ trở nên yếu đuối, nghèo túng, bệnh tật, thất bại, tù tội hay bị xã hội khinh thường. Và bất cứ khi nào ta chà đạp một người bé nhỏ, ta đang bước gần đến đồi Canvê ở phía những kẻ cầm roi.
Ta cũng là Phêrô. Có lúc yêu Chúa thật, nhưng yếu đuối cũng thật. Có những lời hứa được nói ra trong giờ phút sốt sắng, rồi tan biến khi đời sống trở nên khó khăn. Khi cầu nguyện, ta nói sẵn sàng theo Chúa. Khi quyền lợi bị đụng đến, ta lại chọn mình. Khi mọi chuyện thuận lợi, ta tuyên xưng đức tin. Khi phải trả giá cho đức tin, ta lùi lại. Phêrô không ghét Chúa. Ông chối Chúa vì sợ. Và biết bao tội lỗi của con người cũng không phát xuất từ một ý muốn chủ động chống lại Thiên Chúa, mà từ sự yếu hèn, từ sợ hãi, từ ham sống, từ muốn bảo vệ bản thân. Nhưng yếu đuối không vì thế mà không gây đau. Ba lần “tôi không biết người ấy” đã đâm vào trái tim Đức Giêsu không kém gì những chiếc đinh. Có những người yêu nhau nhưng vẫn làm nhau đau chỉ vì yếu đuối. Có người cha yêu con mà vì cơn nóng giận nói những lời đứa trẻ nhớ cả đời. Có người vợ thương chồng nhưng vì tổn thương lại dùng lời nói như vũ khí. Có người linh mục yêu cộng đoàn nhưng vì mệt mỏi có lúc thiếu kiên nhẫn với một người nghèo. Có người sống đời thánh hiến thật lòng yêu Chúa nhưng vì cái tôi chưa chết nên vẫn làm anh chị em bên cạnh phải khóc. Nhìn Phêrô khóc sau tiếng gà gáy, ta hiểu rằng điều Thiên Chúa chờ không phải một con người chưa bao giờ sa ngã, nhưng một con người biết khóc vì mình đã làm tổn thương tình yêu.
Ta cũng có một phần của Giuđa. Không phải vì ta bán Chúa ba mươi đồng bạc, nhưng mỗi lần ta đổi một giá trị thiêng liêng lấy một lợi ích nhỏ bé, một chút tiền, một chút danh, một chút quyền, một chút khoái cảm, ta đang lặp lại logic của Giuđa. Tội luôn là một cuộc trao đổi tồi tệ. Ta đổi bình an lấy một cơn giận. Đổi tình thân lấy một cái tôi. Đổi lương tâm lấy một món lợi. Đổi sự trong sạch lấy vài phút thỏa mãn. Đổi sự thật lấy một lời nói dối thuận tiện. Đổi giờ cầu nguyện lấy những giờ vô bổ. Đổi Chúa lấy một điều thấp hơn Chúa. Điều bi thương là lúc phạm tội, con người thường tưởng mình đang được thêm một cái gì; sau đó mới nhận ra mình đã mất quá nhiều. Giuđa cầm ba mươi đồng bạc trong tay nhưng mất bình an trong lòng. Thế giới vẫn đầy những ba mươi đồng bạc như vậy. Có khi đó là phong bì. Có khi là một chức vụ. Có khi là một mối quan hệ bất chính. Có khi là vài nghìn lượt thích. Có khi chỉ là cảm giác được thắng trong một cuộc cãi vã. Ta thắng, nhưng tình yêu chết. Ta đúng, nhưng người kia tan nát. Ta được lợi, nhưng lương tâm mất ngủ. Đến lúc ấy, Thập Giá đứng trước mặt và hỏi: điều ngươi nhận được có đáng với điều ngươi đã bán không?
Nhưng phải đi sâu hơn nữa. Thập Giá không chỉ vạch trần những hành vi riêng lẻ. Nó phản chiếu tận gốc cái logic của tội: con người muốn sống không cần Thiên Chúa. Ngay từ vườn Êđen, cám dỗ đã nói: các ngươi sẽ nên như những vị thần. Tội nguyên thủy không đơn giản là chuyện ăn một trái cấm. Đó là ý muốn tự quyết định thiện ác mà không cần Đấng Tạo Hóa. Từ đó, con người đặt cái tôi vào trung tâm. Nếu tôi là trung tâm, người khác phải phục vụ lợi ích của tôi. Nếu người khác cản trở tôi, họ trở thành vấn đề. Nếu Thiên Chúa cản kế hoạch của tôi, Thiên Chúa cũng trở thành vấn đề. Và đến Canvê, logic ấy đi tới tận cùng: Thiên Chúa đến giữa loài người, nhưng vì Người không phục vụ những tham vọng của con người nên con người loại Người ra khỏi thế giới. “Đóng đinh nó đi!” có thể được hiểu như tiếng nói tận cùng của một nhân loại muốn nói với Thiên Chúa: chúng tôi không cần Ngài. Hãy biến khỏi đời sống chúng tôi. Chúng tôi sẽ tự quyết định điều gì là đúng, điều gì là sai, ai đáng sống, ai đáng chết, ai đáng được yêu, ai đáng bị loại trừ.
Bởi thế, ai đứng lâu dưới chân Thập Giá mà còn nghĩ tội là chuyện nhỏ thì chưa thực sự nhìn Thập Giá. Ta thường có xu hướng giảm nhẹ tội lỗi của mình. Một chút nói dối thôi mà. Một chút tham lam thôi mà. Một lần ngoại tình trong tư tưởng thì có sao. Một lời nói làm tổn thương người khác rồi mai xin lỗi. Một lần gian lận chắc Chúa hiểu. Một lần bỏ lễ, một lần không cầu nguyện, một lần nói xấu, một lần nuôi hận. Cái nguy hiểm của tội là nó thường bắt đầu bằng chữ “chỉ”. Chỉ một chút thôi. Chỉ lần này thôi. Chỉ mình tôi biết thôi. Nhưng một con đê lớn có thể vỡ từ một vết nứt nhỏ. Một căn nhà có thể cháy từ một tia lửa nhỏ. Một tình bạn hai mươi năm có thể tan từ một lời phản bội. Một gia đình có thể rạn nứt từ những ích kỷ tưởng rất nhỏ lặp đi lặp lại mỗi ngày. Tội không chỉ là việc vi phạm một điều luật. Tội là làm tổn thương một tương quan. Mà khi tương quan bị tổn thương, luôn có một ai đó phải đau.
Hãy nhìn Thập Giá để thấy điều đó. Mỗi tội đều có một cái giá. Ta có thể không nhìn thấy ngay, nhưng có người phải trả. Sự ích kỷ của người cha có thể trở thành nước mắt của người vợ. Sự vô trách nhiệm của người mẹ có thể trở thành vết thương trong lòng con. Lòng tham của một người có quyền có thể trở thành miếng cơm thiếu hụt của người nghèo. Một quyết định gian dối của một doanh nghiệp có thể thành bệnh tật của hàng ngàn người. Sự tham nhũng của vài người có thể trở thành con đường xấu, bệnh viện thiếu thuốc, trường học xuống cấp. Một cuộc chiến được quyết định trong căn phòng sang trọng có thể biến thành những ngôi nhà đổ nát và những đứa trẻ mất cha. Tội không bao giờ hoàn toàn riêng tư. Ngay cả một tội dường như chỉ xảy ra trong căn phòng kín cũng làm trái tim người phạm tội trở nên tối hơn, và người có trái tim tối hơn sẽ mang bóng tối ấy vào các tương quan. Thập Giá cho ta thấy sự liên đới khủng khiếp của tội: những lựa chọn của con người có thể cuối cùng đặt một người vô tội lên cây gỗ.
Và ở đây có một điều rất thấm thía: Đức Giêsu không chỉ chết vì những tội mà thế gian coi là lớn. Người còn chết vì sự kiêu căng, sự ghen tị, tính giả hình, lòng vô cảm, sự hèn nhát, những thỏa hiệp, những im lặng. Những thứ ấy ít khi bị đưa ra tòa đời, nhưng lại góp phần dựng nên Canvê. Không ai có thể nói: “Tôi chưa giết người nên tôi không có gì nghiêm trọng.” Có thể ta chưa cầm dao, nhưng đã từng giết niềm vui của người khác bằng lời nói. Chưa cướp tiền, nhưng đã cướp danh dự. Chưa ngoại tình bằng thân xác, nhưng nuôi dưỡng trong lòng những ham muốn làm hỏng sự chung thủy. Chưa bỏ rơi một người giữa đường, nhưng từng đi ngang qua nỗi đau của người bên cạnh vì không muốn phiền mình. Chưa đóng đinh ai bằng sắt, nhưng có thể đã đóng đinh họ trong một định kiến: “Nó là người như thế rồi, không thay đổi đâu.” Ta nhốt người khác trong quá khứ của họ. Thiên Chúa muốn mở cho họ tương lai, còn ta cứ kéo họ trở lại lỗi lầm cũ. Đó cũng là đóng đinh.
Thập Giá còn phơi bày một tội rất sâu mà con người ít nhận: tội kiêu ngạo. Kiêu ngạo không nhất thiết là khoe khoang. Kiêu ngạo sâu nhất là không muốn nhận mình cần được cứu. Người nghèo biết mình cần. Người bệnh biết mình cần thầy thuốc. Nhưng người tưởng mình khỏe sẽ không tìm bác sĩ. Vì thế, người khó được Chúa cứu nhất không phải người nhiều tội nhất, mà có thể là người không thấy mình có tội. Những người thu thuế, gái điếm tìm đến Đức Giêsu vì họ biết đời mình tan nát. Những người Pharisêu nhiều khi đứng xa Người vì họ tin mình công chính. Đây là lý do Thập Giá gây khó chịu. Nó nói với mọi người, từ người đạo đức nhất đến kẻ tội lỗi nhất: ngươi cần được cứu. Nếu con người có thể tự cứu bằng đạo đức, tri thức, tiền bạc, luật lệ, công trạng hay cố gắng cá nhân, Con Thiên Chúa đã chẳng cần chết. Thập Giá là lời phủ định triệt để đối với ảo tưởng tự cứu độ. Nó bảo ta: vết thương của ngươi sâu hơn ngươi tưởng. Nhưng đồng thời nó cũng nói: tình yêu Thiên Chúa lớn hơn vết thương ấy.
Vì thế, nhìn Thập Giá đúng cách không dẫn ta đến tuyệt vọng. Nếu chỉ thấy tội mà không thấy tình yêu, ta sẽ thành Giuđa: nhận ra sai lầm rồi đi vào bóng tối. Nếu chỉ nói về tình yêu mà không nhìn sự nghiêm trọng của tội, ta biến lòng thương xót thành thứ tình cảm rẻ tiền. Kitô giáo giữ cả hai cùng một lúc: tội thật khủng khiếp, và lòng thương xót còn lớn hơn. Con người thật sự có khả năng đóng đinh Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa, ngay khi bị đóng đinh, vẫn nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Đây có lẽ là một trong những câu gây sửng sốt nhất toàn bộ Tin Mừng. Khi tội lỗi con người lên tới đỉnh, tình yêu Thiên Chúa cũng lên tới đỉnh. Khi bàn tay người ta đóng đinh tay Chúa, bàn tay Chúa vẫn mở ra. Khi miệng người ta nhục mạ, miệng Chúa vẫn cầu xin ơn tha thứ. Khi con người nói “hãy chết đi”, Thiên Chúa lại biến chính cái chết ấy thành nguồn sống cho con người.
Có một nghịch lý lạ lùng ở Canvê. Chính nơi tội lỗi bị lộ rõ nhất cũng là nơi ân sủng được tỏ hiện mạnh nhất. Chính cây gỗ là dụng cụ hành hình lại trở thành dấu chỉ cứu độ. Chính cái chết do lòng độc ác của con người gây ra lại được Đức Kitô đón nhận trong tự do để biến thành hiến lễ tình yêu. Thiên Chúa không gọi điều ác là điều tốt. Ngài không nói việc đóng đinh Đức Giêsu là đúng. Nhưng Ngài có khả năng đi vào ngay giữa điều ác ấy và từ đó mở ra con đường cứu độ. Đây là hy vọng cho mỗi chúng ta. Có những sai lầm ta không thể quay ngược thời gian để xóa. Có những lời đã nói không thể thu lại hoàn toàn. Có những vết thương ta đã gây và dù xin lỗi, dấu sẹo vẫn còn. Có những năm tháng đã phí phạm. Có những cơ hội đã mất. Nhưng Thập Giá nói rằng Thiên Chúa có thể bước vào cả những nơi đã tan vỡ ấy. Ngài không làm quá khứ biến mất, nhưng có thể làm cho ân sủng nảy mầm ngay trên vùng đất của thất bại.
Hãy nhớ người trộm lành bên cạnh Đức Giêsu. Cuộc đời anh có lẽ chẳng còn gì để sửa. Hai bàn tay bị đóng đinh, anh không thể xuống khỏi thập giá để trả lại những gì đã lấy, không thể làm lại cuộc đời, không có thời gian để chứng minh sự hoán cải bằng nhiều việc tốt. Anh chỉ còn một trái tim có thể quay về. Và anh nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Đức Giêsu trả lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Câu chuyện ấy là niềm hy vọng vô biên cho người tội lỗi, nhưng không phải là cái cớ để coi nhẹ tội. Chính vì anh nhận mình đáng chịu hình phạt, anh mới mở được lòng cho lòng thương xót. Anh nói với người đồng chịu đóng đinh: “Chúng ta chịu thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm; chứ ông này đâu có làm điều gì trái.” Hoán cải bắt đầu khi người ta thôi đổ lỗi. Không còn “tại người kia”, “tại hoàn cảnh”, “tại tuổi thơ”, “tại xã hội”, “tại người ta làm tôi như vậy nên tôi mới thế”. Có thể những hoàn cảnh ấy thật sự góp phần vào vết thương của ta, nhưng đến một lúc nào đó, đứng trước Thập Giá, ta cần có can đảm nói: phần này là lỗi của tôi. Tôi đã sai. Tôi đã làm đau người khác. Tôi đã phụ tình Chúa. Tôi cần được thương xót.
Con người ngày nay thường rất giỏi phân tích tội của người khác nhưng ít thời gian xét mình. Mạng xã hội biến ta thành những thẩm phán thường trực. Hôm nay xét người này, ngày mai kết án người kia. Một tin tức vừa xuất hiện, hàng ngàn người lập tức có bản án. Chúng ta biết lỗi của người nổi tiếng, lỗi của linh mục này, giám mục kia, chính trị gia nọ, người hàng xóm, người trong họ hàng. Nhưng Thập Giá không được dựng lên để ta đứng dưới đó chỉ tay về phía người khác. Thập Giá là tấm gương. Đã là gương thì phải soi chính mặt mình. Có một thói quen thiêng liêng rất nguy hiểm: nghe một bài giảng rồi nghĩ “bài này đúng với ông ấy”, đọc một lời Chúa rồi nghĩ “giá mà bà kia nghe được”. Không. Lời Chúa trước tiên gửi đến tôi. Thập Giá trước tiên hỏi tôi. Ai đã đóng đinh Chúa? Không chỉ “họ”. Là tội của tôi. Những ích kỷ của tôi. Những lần tôi từ chối yêu. Những lần tôi biết điều tốt mà không làm. Những lần tôi làm một người nhỏ bé phải buồn. Những lần tôi để cái tôi lớn hơn Tin Mừng.
Thánh Giá vì thế chữa một căn bệnh rất sâu của đời sống thiêng liêng: bệnh tự cho mình là công chính. Đứng dưới chân Thập Giá, chẳng ai có gì để khoe. Người giàu cũng như người nghèo, người thông thái cũng như người ít học, linh mục cũng như giáo dân, người sống đạo lâu năm cũng như người mới trở lại, tất cả đều là những người được cứu nhờ một Đấng đã chết thay mình. Thánh Phaolô hiểu điều này nên nói: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài Thập Giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.” Không hãnh diện về thành tích đạo đức. Không hãnh diện vì mình không giống “những người tội lỗi kia”. Nếu có gì để tự hào, chỉ có thể tự hào rằng tôi là một kẻ được thương quá sức mình đáng được.
Có một cách nhìn Thập Giá rất nguy hiểm là biến nó thành vật trang trí. Ta treo Thánh Giá trong nhà, đeo Thánh Giá trên cổ, đặt Thánh Giá trên bàn làm việc, nhưng nhiều khi không để Thánh Giá xét lại cách mình sống. Một căn nhà có Thánh Giá nhưng vợ chồng không tha thứ cho nhau, cây Thánh Giá ấy đang bị che phủ. Một cộng đoàn có Thánh Giá rất lớn trên cung thánh mà anh em chia rẽ, tranh giành, loại trừ nhau, cây Thánh Giá ấy đang bị phản bội. Một người mang Thánh Giá trước ngực nhưng dùng miệng hạ nhục người khác thì khoảng cách từ cổ xuống trái tim vẫn còn rất xa. Thập Giá không chỉ cần được treo lên; Thập Giá cần đi vào cách ta nghĩ, nói, yêu, tha thứ và chọn lựa.
Mỗi lần nhìn Thánh Giá, ta nên tự hỏi vài câu rất đơn giản nhưng có thể làm lòng mình đau: hôm nay ai đang bị đóng đinh vì tôi? Có ai đang phải chịu tính khí của tôi mỗi ngày không? Có ai mất bình an chỉ vì sống cạnh tôi không? Có ai tôi vẫn chưa chịu tha thứ? Có người nào tôi đang cố tình làm ngơ? Có một sự thật nào tôi biết nhưng không dám sống? Có điều gì tôi đang giữ chặt dù biết nó làm Chúa buồn? Có một cái tôi nào lớn đến mức người khác phải trả giá? Ta thường xin Chúa cất thập giá khỏi mình, nhưng ít khi hỏi mình có đang trở thành thập giá của người khác hay không. Có những người nói: “Gia đình là thánh giá của tôi.” Nhưng có khi chính họ lại là thánh giá của cả gia đình. Có người than cộng đoàn khó sống, nhưng chính thái độ của họ khiến cộng đoàn khó sống. Có người luôn nói mình bị tổn thương, nhưng không nhận ra bao người đã tổn thương vì họ. Thập Giá như tấm gương không cho phép ta chỉ kể nỗi đau của mình; nó mời ta nhìn cả những nỗi đau mình đã tạo ra.
Tuy nhiên, mục đích của tấm gương không phải để sỉ nhục khuôn mặt. Mục đích là giúp ta thấy nơi nào cần được rửa sạch. Thiên Chúa cho ta thấy tội không phải để nghiền nát ta trong mặc cảm, nhưng để chữa lành. Chúa không phơi bày vết thương rồi bỏ đi. Người phơi bày để đặt thuốc. Người chỉ cho ta thấy bóng tối để đưa ánh sáng vào. Có khác biệt rất lớn giữa tiếng nói của Satan và tiếng nói của Thiên Chúa khi ta phạm tội. Kẻ dữ nói: “Mày là người xấu. Mày hết hy vọng. Hãy trốn đi.” Thiên Chúa nói: “Con đã làm điều sai. Hãy trở về.” Kẻ dữ đánh đồng con người với tội lỗi của họ. Thiên Chúa phân biệt: Người ghét tội nhưng yêu người tội lỗi. Trên Thập Giá, Đức Giêsu không nói tội không quan trọng. Nếu tội chẳng đáng kể, Người đâu cần đi tới tận đó. Nhưng chính việc Người đi tới tận đó cũng nói rằng không có tội nào lớn đến mức tình yêu Người không thể chạm tới, miễn là con người chịu mở cửa.
Đó là lý do bí tích Hòa Giải luôn có một tương quan sâu xa với Thập Giá. Ta quỳ xuống xưng tội không phải trước một viên chức đang ghi lỗi, nhưng trước lòng thương xót phát xuất từ cạnh sườn bị đâm thâu. Khi thú nhận tội, ta đang thôi chạy khỏi tấm gương. Ta dám nhìn. “Con đã phạm tội.” Bốn chữ ấy rất khó, bởi cái tôi luôn muốn thêm phía sau một chữ “nhưng”: con sai, nhưng tại người ta; con nóng, nhưng họ làm con tức; con nói xấu, nhưng chuyện đó là thật; con không tha thứ, nhưng họ quá đáng. Một cuộc xưng tội trưởng thành là khi chữ “nhưng” dần biến mất. Con đã sai. Xin Chúa thương xót con. Và lạ thay, chính lúc dám nhận sự thật đau đớn nhất về mình, ta lại gặp sự dịu dàng lớn nhất của Thiên Chúa.
Hãy nhìn Phêrô. Sau khi chối Thầy, “Chúa quay lại nhìn ông”. Tin Mừng không kể cái nhìn ấy giận dữ hay trách móc. Chỉ nói Chúa nhìn. Phêrô nhớ lại lời Chúa và ra ngoài khóc thảm thiết. Có lẽ đó là một trong những cái nhìn sâu nhất trong đời ông. Chúa không cần nói: “Ta đã bảo rồi.” Chỉ một ánh mắt. Trong ánh mắt ấy, Phêrô nhìn thấy đồng thời hai điều: tội của mình và tình yêu của Thầy. Nếu chỉ thấy tội, ông có thể tuyệt vọng như Giuđa. Nếu chỉ thấy tình yêu mà không thấy tội, ông sẽ chẳng khóc. Chính sự gặp gỡ giữa sự thật và tình yêu làm nên nước mắt hoán cải. Những giọt nước mắt ấy sau này rửa sạch đôi mắt để Phêrô có thể trở thành mục tử. Một người chưa từng đau vì tội mình rất dễ khắt khe với tội người khác. Một người đã thật sự được tha thứ thường trở nên dịu dàng hơn.
Có lẽ Giáo Hội và mỗi người Kitô hữu hôm nay cần trở lại đứng dưới chân Thập Giá lâu hơn. Không phải để chìm trong một thứ đạo đức buồn bã, mà để học sự thật. Trong một thời đại ai cũng muốn xây dựng hình ảnh, Thập Giá phá vỡ hình ảnh giả. Trong một thời đại người ta dễ đổ lỗi, Thập Giá dạy chịu trách nhiệm. Trong một thời đại cái tôi được đặt ở trung tâm, Thập Giá cho thấy Thiên Chúa cứu thế giới bằng tự hiến chứ không bằng tự tôn. Trong một thời đại người ta sợ thua thiệt, Đức Giêsu cho thấy có những thất bại bề ngoài lại là chiến thắng của tình yêu. Và trong một thời đại người ta dễ kết án, Đấng vô tội từ trên Thập Giá lại xin tha cho những người giết mình.
Ta cần tập nhìn Thập Giá không phải như một đồ vật quen mắt, nhưng như lần đầu tiên. Nhìn những bàn tay bị đóng đinh và hỏi: bàn tay tôi đang làm gì? Đang nắm giữ hay trao ban? Đang đánh hay nâng? Đang viết lời xây dựng hay lời phá hủy? Nhìn đôi chân bị đóng đinh và hỏi: chân tôi đang đi đâu? Đi đến với người cô đơn hay chỉ chạy theo lợi ích của mình? Nhìn miệng Chúa khát và hỏi: lời tôi nói có làm người khác sống hay chết? Nhìn cạnh sườn bị đâm thâu và hỏi: trái tim tôi còn biết đau trước nỗi đau của người khác không? Nhìn đầu đội mão gai và hỏi: trong đầu tôi đang nuôi những suy nghĩ nào về người bên cạnh? Nhìn Chúa bị lột áo và hỏi: tôi có từng lột danh dự một ai bằng cách kể những điều không cần kể? Nhìn Chúa bị bỏ rơi và hỏi: tôi đã bỏ mặc ai?
Nếu có can đảm hỏi như thế, Thập Giá sẽ thôi là một biểu tượng ở ngoài đời ta. Nó trở thành nơi hoán cải.
Nhưng sau tất cả, điều sâu nhất mà tấm gương Thập Giá phản chiếu không phải chỉ là bộ mặt đen tối của tội lỗi. Nếu vậy, người Kitô hữu sẽ sống cúi đầu trong mặc cảm. Điều cuối cùng hiện lên trên tấm gương ấy vẫn là một khuôn mặt đang yêu. Tội của ta được phơi bày trong ánh sáng tình yêu. Và chính điều đó làm ta có thể chịu nổi sự thật về mình. Ta có thể nhìn nhận mình tội lỗi vì biết mình vẫn được yêu. Ta có thể thú nhận những phần xấu nhất vì biết Chúa không bỏ đi khi thấy chúng. Thật ra Người đã biết tất cả trước khi ta thú nhận. Người biết Phêrô sẽ chối mà vẫn gọi ông. Biết Giuđa phản bội mà vẫn rửa chân cho ông. Biết các môn đệ bỏ chạy mà sau Phục Sinh vẫn đến với họ và nói: “Bình an cho anh em.” Thiên Chúa không yêu một phiên bản tưởng tượng của ta. Người yêu chính ta, với tất cả ánh sáng và bóng tối, rồi mời gọi ta đừng ở mãi trong bóng tối.
Đó là điều kỳ diệu của Thập Giá: nó không cho phép ta khinh mình, nhưng cũng không cho phép ta dối mình. Nó không cho ta tuyệt vọng, nhưng cũng không cho ta dễ dãi. Nó nói: tội của con nghiêm trọng đến mức Con Thiên Chúa phải chết; nhưng con quý giá đến mức Con Thiên Chúa sẵn lòng chết vì con. Hai sự thật ấy phải được giữ cùng nhau. Nếu chỉ giữ câu đầu, đức tin biến thành sợ hãi. Nếu chỉ giữ câu sau, đức tin biến thành thứ an ủi rẻ tiền. Giữ cả hai, ta có lòng thống hối và niềm hy vọng.
Một ngày kia, tất cả những chiếc gương ta từng soi sẽ mất. Khuôn mặt trẻ sẽ già. Những gì khiến ta tự hào hôm nay sẽ qua. Thành công, danh tiếng, tiền bạc, chức vụ đều không đi với ta xuống mồ. Chỉ còn câu hỏi: tôi đã để tình yêu Đức Kitô biến đổi mình đến đâu? Thập Giá lúc ấy không còn là vật trang trí treo đầu giường, mà là tiêu chuẩn của đời ta. Tôi đã yêu như Người chưa? Tôi đã tha như Người chưa? Tôi đã dám chết cho cái tôi để người khác được sống chưa?
Có lẽ mỗi tối trước khi ngủ, thay vì xét mình như kiểm kê một bảng lỗi lạnh lùng, ta nên đứng trước Thánh Giá vài phút. Không cần nói nhiều. Chỉ nhìn. Để Chúa nhìn ta như Người đã nhìn Phêrô. Trong ánh mắt ấy, hãy nhớ một người mình đã làm đau và xin Chúa tha. Nhớ một điều tốt mình đã bỏ qua và xin ngày mai làm lại. Nhớ một thói quen tội lỗi mình vẫn dung dưỡng và xin sức mạnh cắt bỏ. Nhớ một người mình chưa tha và đặt họ dưới chân Thập Giá. Rồi nghe Đức Giêsu nói từ nơi sâu thẳm của Tin Mừng: “Cha ơi, xin tha cho họ.” Trong chữ “họ” ấy có cả ta.
Và sáng hôm sau, hãy đứng dậy sống khác một chút. Bởi hoán cải thật không chỉ là cảm động dưới chân Thập Giá. Hoán cải là tháo những chiếc đinh ta từng đóng vào đời người khác. Nếu từng nói xấu, hãy học giữ miệng. Nếu từng làm ai tổn thương, hãy xin lỗi. Nếu nợ ai điều gì, hãy trả. Nếu có thể hòa giải, hãy chủ động. Nếu đang sống một tương quan sai, hãy can đảm dừng lại. Nếu tiền bạc bất chính đang ở trong tay, hãy trả về nơi nó thuộc về. Nếu lòng đang ôm hận, hãy bắt đầu cầu nguyện cho người làm mình đau. Nếu ta từng vô cảm, hãy tập nhìn. Nếu từng chỉ biết nhận, hãy tập cho. Nếu từng làm thập giá cho người khác, hãy bắt đầu trở thành một Simon thành Kyrênê vác đỡ thập giá của họ.
Ngày xưa, Simon thành Kyrênê bị bắt vác Thập Giá cho Đức Giêsu. Ông có thể đã chẳng muốn. Có lẽ ông chỉ tình cờ đi ngang. Nhưng tên ông đã được Tin Mừng ghi lại mãi mãi vì một khoảnh khắc ông đưa vai dưới cây gỗ của một người đang kiệt sức. Cuộc đời chúng ta cũng vậy. Sau khi nhìn tấm gương Thập Giá và nhận ra tội lỗi của mình, điều đẹp nhất không phải là đứng đó khóc mãi, nhưng là bắt đầu đưa vai. Có một người già cần được thăm. Có một người bệnh cần được nghe. Có một đứa trẻ cần được ôm. Có một người nghèo cần miếng ăn. Có một người bị hiểu lầm cần một tiếng nói bênh vực. Có một người đang gục dưới thập giá cần ai đó đi cạnh. Mỗi lần làm như thế, ta đang bước từ phía những kẻ đóng đinh sang phía người vác đỡ.
Thập Giá vẫn đứng giữa thế giới. Không chỉ trên nóc nhà thờ, không chỉ trên bàn thờ, mà trong vô số thân phận đang bị nghiền nát. Một người mẹ một mình nuôi con. Một bệnh nhân nằm giữa đêm dài. Một người già chờ con về mà cửa vẫn im. Một người trẻ mang trong lòng những vết thương chẳng biết nói với ai. Một gia đình tan vỡ. Một người bị xúc phạm danh dự. Một người nghèo bị coi thường. Một người lầm lỗi muốn làm lại nhưng chẳng ai tin. Nếu nhìn họ bằng ánh mắt Thập Giá, ta sẽ không còn hỏi trước tiên: họ đã làm gì để ra nông nỗi này? Ta sẽ hỏi: tôi có thể làm gì để họ bớt đau?
Đó có lẽ là dấu hiệu chắc nhất cho thấy ta đã thật sự soi mình trong tấm gương Thập Giá. Người nhìn Thập Giá đủ lâu sẽ bớt kết án và biết thương hơn. Bớt kiêu ngạo và biết khiêm tốn hơn. Bớt đòi người khác thay đổi và bắt đầu thay đổi chính mình. Bớt nói về tội người khác và khóc vì tội mình. Bớt hỏi “ai có lỗi?” và hỏi “tôi có thể yêu thế nào?”
Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, khi Giáo Hội nâng cao Thánh Giá và hát: “Đây là cây Thánh Giá, nơi treo Đấng Cứu Độ trần gian”, cộng đoàn đáp: “Chúng ta hãy đến thờ lạy.” Ta tiến lên hôn Thánh Giá. Nụ hôn ấy không nên chỉ là nghi thức. Đó là nụ hôn của người biết mình có phần trong những chiếc đinh, nhưng cũng biết mình được tha. Là nụ hôn của Phêrô sau khi khóc. Là lời thú nhận không thành tiếng: Lạy Chúa, chính vì tội con mà Chúa chịu đau; và chính vì yêu con mà Chúa đã không xuống khỏi Thập Giá.
Xin đừng để ta hôn Thánh Giá rồi quay về tiếp tục đóng đinh nhau.
Xin đừng để ta quỳ trước Đấng bị xúc phạm rồi đứng dậy xúc phạm người khác.
Xin đừng để ta ca ngợi lòng thương xót mà sống không thương xót.
Xin đừng để ta nói yêu Chúa chịu đóng đinh mà lạnh lùng với những người đang bị đóng đinh quanh mình.
Và xin cho mỗi lần nhìn Thập Giá, ta có đủ can đảm để thấy mình như mình thật sự là: một con người mang trong mình khả năng phạm tội, phản bội, hèn nhát, ích kỷ; nhưng đồng thời là một con người được yêu bằng một tình yêu không gì dập tắt được. Chính từ sự thật kép ấy, đời Kitô hữu bắt đầu trưởng thành. Ta không còn ngây thơ tưởng mình tốt lành tuyệt đối, cũng không tuyệt vọng nghĩ mình vô phương cứu chữa. Ta là tội nhân được cứu chuộc.
Sau cùng, có lẽ chỉ cần nhớ một điều. Trên đồi Canvê ngày ấy có rất nhiều người nhìn Đức Giêsu, nhưng không phải ai cũng thật sự “thấy”. Có người nhìn và chế nhạo. Có người nhìn để chắc rằng Người đã chết. Có người nhìn trong đau đớn. Nhưng viên đại đội trưởng, sau khi chứng kiến cách Đức Giêsu chết, đã thốt lên: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa.” Một người ngoại giáo đã nhìn đủ lâu để nhận ra một sự thật.
Xin cho chúng ta cũng nhìn đủ lâu.
Nhìn cho đến khi sự tự mãn trong ta vỡ xuống.
Nhìn cho đến khi những lời biện minh im tiếng.
Nhìn cho đến khi ta không còn thấy tội chỉ ở người khác.
Nhìn cho đến khi nước mắt có thể rơi vì những lần mình đã phụ tình.
Nhìn cho đến khi hiểu rằng tội không phải trò chơi, vì nó làm tình yêu bị đóng đinh.
Nhưng cũng hãy nhìn cho đến khi thấy đôi tay bị đóng đinh kia vẫn mở.
Nhìn cho đến khi nghe giữa tiếng nhục mạ một lời tha thứ.
Nhìn cho đến khi nhận ra Thiên Chúa không đứng xa tội nhân, nhưng đã đi xuống tận đáy vực để tìm họ.
Nhìn cho đến khi hiểu rằng không có đêm tối nào trong đời ta sâu hơn tình yêu từ Thập Giá.
Và rồi hãy bước đi.
Bước khỏi Canvê với một trái tim khiêm tốn hơn.
Với đôi mắt biết thương hơn.
Với cái miệng bớt kết án hơn.
Với đôi tay biết nâng đỡ hơn.
Với một đời sống biết xin lỗi, biết tha thứ, biết làm lại.
Bởi tấm gương Thập Giá không được dựng lên để ta chỉ nhìn rồi bỏ đi. Nó được dựng lên để sau khi nhìn thấy sự thật về tội lỗi mình, ta để tình yêu của Đấng bị đóng đinh biến đổi mình thành một con người mới.
Và có lẽ ngày nào ta còn dám đứng dưới Thập Giá, ngày đó ta còn hy vọng. Bởi người biết mình có thể sa ngã sẽ biết bám vào Chúa. Người biết mình đã được tha nhiều sẽ học yêu nhiều. Người biết cái giá của tội sẽ thôi chơi đùa với tội. Và người biết mình được yêu đến mức một Thiên Chúa chịu đóng đinh vì mình sẽ không thể sống mãi một cuộc đời hời hợt.
Thập Giá nói sự thật rất đau về con người.
Nhưng Thập Giá cũng nói sự thật đẹp nhất về Thiên Chúa.
Tội lỗi của con người có thể đóng đinh Tình Yêu.
Nhưng tội lỗi không thể giết chết Tình Yêu.
Bởi từ chính thân thể bị đâm thâu ấy, máu và nước đã chảy ra.
Và từ chính nơi tưởng như thất bại tận cùng ấy, một thế giới mới đã bắt đầu.
Lm. Anmai, CSsR

CON NGƯỜI CHỈ TÌM THẤY CHÍNH MÌNH KHI MẤT MÌNH TRÊN THÁNH GIÁ
Có một nghịch lý rất lạ trong đời người: càng cố giữ mình, người ta càng dễ đánh mất mình; càng lo bảo vệ cái tôi, người ta càng dễ trở nên xa lạ với chính mình; càng tìm mọi cách để được nhìn nhận, được tôn trọng, được yêu thương, được thành công, được hơn người, người ta lại càng có nguy cơ sống một đời rất đầy mà lòng vẫn trống, rất đông người chung quanh mà vẫn cô độc, rất nhiều tiếng vỗ tay mà đêm về vẫn không biết mình thực sự là ai. Con người hôm nay có thể biết rất nhiều chuyện trên thế giới nhưng lại không biết lòng mình; có thể tìm đường đi đến những nơi xa xôi nhưng lại không tìm được đường trở về với chính mình; có thể dựng nên một hình ảnh rất đẹp về mình trước mặt người khác nhưng lại âm thầm sợ hãi khi phải đối diện với khuôn mặt thật của mình. Có người dành cả đời để xây dựng một “cái tôi” thật lớn, rồi đến một ngày mới đau đớn nhận ra rằng cái tôi ấy đã trở thành một căn phòng kín nhốt mình lại. Có người tưởng rằng hạnh phúc là được giữ thật nhiều, nhưng cuối cùng chính những điều mình cố giữ lại trở thành những sợi dây trói buộc. Có người sợ mất danh dự, mất tiền bạc, mất địa vị, mất quyền lực, mất một mối quan hệ, mất một chỗ đứng, mất tiếng nói, mất ảnh hưởng, mất hình ảnh đẹp trong mắt người khác; và bởi quá sợ mất, người ấy dần dần đánh mất điều lớn nhất: đánh mất chính con người mà Thiên Chúa đã muốn mình trở thành. Bởi thế, lời của Chúa Giêsu về Thánh Giá không chỉ là một lời dạy dành cho những người muốn sống đạo đức hơn; đó là một lời mặc khải về chính mầu nhiệm con người. Ai muốn biết mình là ai, hãy nhìn lên Thánh Giá. Ai muốn tìm lại mình sau những đổ vỡ, hãy đến dưới chân Thánh Giá. Ai đang sống mà không hiểu tại sao lòng mình vẫn bất an, hãy đứng thật lâu trước Đấng bị đóng đinh. Bởi trên Thánh Giá, Chúa Giêsu nói với chúng ta một sự thật mà thế gian rất khó chấp nhận: con người chỉ thật sự tìm thấy chính mình khi dám mất mình vì tình yêu.
Tin Mừng theo thánh Mátthêu kể rằng sau khi Chúa Giêsu loan báo Người phải lên Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ, bị giết chết rồi ngày thứ ba sẽ sống lại, Phêrô đã kéo Người ra và can ngăn. Trong suy nghĩ của Phêrô, Đấng Mêsia không thể đi vào thất bại, không thể chịu nhục, càng không thể chết trên thập giá. Nhưng chính lúc ấy, Chúa Giêsu nói với các môn đệ một lời làm đảo lộn mọi tính toán của con người: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (x. Mt 16,24-25). Chúa không nói: ai ghét mình thì sẽ tìm thấy mình. Chúa cũng không bảo con người phải hủy diệt bản thân, chối bỏ phẩm giá hay coi thường sự sống. Kitô giáo chưa bao giờ rao giảng một thứ chủ nghĩa đau khổ, càng không xem việc làm cho mình khốn khổ là nhân đức. Chúa nói một điều sâu hơn nhiều: cái “mình” cần phải mất chính là cái tôi đóng kín, cái tôi tự tôn mình làm trung tâm, cái tôi chỉ biết hỏi “tôi được gì?”, “tôi có lợi gì?”, “người ta nghĩ gì về tôi?”, “tại sao tôi phải nhường?”, “tại sao tôi phải tha?”, “tại sao tôi phải chịu thiệt?”. Và khi cái tôi ấy chết đi, một con người mới bắt đầu xuất hiện: con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, con người biết yêu, biết trao ban, biết hiến mình, biết sống cho người khác, biết để Thiên Chúa trở thành trung tâm của đời mình. Đó mới là con người thật của chúng ta.
Thánh Giá vì thế không tiêu diệt con người. Thánh Giá giải thoát con người khỏi một con người giả mà chúng ta đã khổ công xây dựng. Có những lớp vỏ chúng ta mang quá lâu đến nỗi tưởng đó là chính mình. Một người quen được khen sẽ tưởng giá trị của mình nằm trong lời khen. Một người quen nắm quyền sẽ tưởng mình là quyền lực mình đang có. Một người thành đạt sẽ tưởng mình là những thành tích đã đạt được. Một người được nhiều người yêu mến sẽ tưởng giá trị của mình tùy thuộc vào số người cần mình. Một người có tiền sẽ tưởng tiền bạc bảo đảm căn tính của mình. Một người làm việc trong Giáo Hội cũng có thể tưởng mình là chức vụ, là trách nhiệm, là ảnh hưởng, là những công trình mục vụ mình đã thực hiện. Một linh mục có thể dần dần đồng hóa mình với bài giảng hay, với cộng đoàn đông, với những người quý mến mình, với những công trình mang tên mình. Một tu sĩ có thể đồng hóa mình với nhiệm vụ được trao. Một người giáo dân có thể đồng hóa mình với địa vị xã hội, với gia đình, với tài sản, với con cái thành đạt. Nhưng đến một ngày, tất cả những thứ ấy có thể bị lấy đi. Và khi những điều bên ngoài mất đi, câu hỏi đáng sợ nhất xuất hiện: nếu không còn những thứ ấy, tôi là ai? Chính lúc ấy, Thánh Giá trở thành một câu trả lời. Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu không còn gì để dựa vào theo cách nhìn của thế gian. Áo bị lột. Danh dự bị chà đạp. Đám đông đã bỏ đi. Các môn đệ phần lớn chạy trốn. Những phép lạ không còn. Những tiếng tung hô “Hoan hô Con vua Đavít” đã tắt. Người không bước xuống khỏi Thánh Giá để chứng minh quyền năng. Người không còn gì ngoài tình yêu. Và kỳ lạ thay, chính khi Chúa Giêsu bị tước bỏ mọi thứ, Người lại mặc khải trọn vẹn nhất Người là ai: Người là Con yêu dấu của Chúa Cha, là Đấng yêu nhân loại đến cùng, là Đấng hiến mạng sống để cứu chuộc muôn người. Khi mọi lớp vỏ bên ngoài bị bóc đi, điều còn lại là tình yêu. Và tình yêu ấy chính là chân lý sâu nhất về Đức Kitô.
Con người cũng thế. Có khi phải đi qua một vài mất mát, chúng ta mới hiểu đâu là điều không thể mất. Có khi phải bị hiểu lầm, chúng ta mới học được rằng mình không thể xây dựng đời mình trên cái nhìn của thiên hạ. Có khi phải thất bại, chúng ta mới nhận ra thành công chưa bao giờ là căn tính cuối cùng của mình. Có khi phải đi qua một căn bệnh, một cuộc chia ly, một biến cố đau lòng, chúng ta mới biết bao nhiêu điều mình từng cho là quan trọng hóa ra rất nhỏ. Có khi phải đứng bên một quan tài, chúng ta mới hiểu rằng đời người cuối cùng chẳng mang theo được gì. Có khi phải bị người mình hết lòng yêu thương quay lưng, chúng ta mới bắt đầu học yêu bằng một tình yêu thanh luyện hơn, không chiếm hữu, không đòi người kia phải trở thành phần thưởng cho sự hy sinh của mình. Có khi phải bước qua một thời kỳ chẳng ai biết đến, chẳng ai hỏi han, chẳng ai khen ngợi, chúng ta mới phát hiện xem mình phục vụ Chúa thật hay chỉ phục vụ cảm giác mình có ích. Thánh Giá có khả năng làm điều rất đau nhưng rất cần: nó bóc từng lớp giả tạo khỏi con người chúng ta. Không phải Thiên Chúa thích làm chúng ta đau. Không. Nhưng trong những đau khổ mà cuộc đời đem đến, nếu ta biết đi với Chúa, chính những đau khổ ấy có thể trở thành nơi sự thật được phơi bày. Ta sẽ thấy mình yếu hơn mình tưởng. Ta sẽ thấy lòng tự ái lớn hơn mình vẫn nghĩ. Ta sẽ thấy mình vẫn còn cần tiếng khen, vẫn sợ bị coi thường, vẫn muốn thắng, vẫn khó tha, vẫn muốn kiểm soát người khác, vẫn muốn ý mình được thực hiện. Và thật lạ, khi nhận ra tất cả những điều ấy, ta không mất mình; ta mới bắt đầu tìm thấy mình.
“Mất mình” trên Thánh Giá trước hết là mất ảo tưởng mình là trung tâm của thế giới. Bao nhiêu đau khổ trong gia đình bắt đầu từ chuyện ai cũng muốn mình đúng. Vợ muốn chồng hiểu mình nhưng ít khi chịu bước vào nỗi lòng của chồng. Chồng muốn vợ tôn trọng mình nhưng có lúc lại quên trân trọng những hy sinh âm thầm của vợ. Cha mẹ muốn con cái vâng lời nhưng đôi khi lại quên lắng nghe những nỗi sợ và những câu hỏi của chúng. Con cái đòi cha mẹ phải thông cảm nhưng lại ít khi nghĩ đến những năm tháng cha mẹ đã hao mòn vì mình. Anh chị em giận nhau nhiều năm chỉ vì không ai chịu bước xuống trước. Trong cộng đoàn cũng vậy. Một câu nói có thể làm người ta giận nhau. Một quyết định không đúng ý có thể làm người ta bỏ việc chung. Một lần không được nhắc tên có thể khiến lòng buồn cả tuần. Một chút quyền lợi bị đụng đến có thể làm người ta quên hết tình nghĩa. Không phải vì những chuyện ấy lớn, nhưng bởi cái tôi của chúng ta lớn. Người đời thường hỏi: “Tại sao tôi phải xuống nước trước?” Thánh Giá trả lời bằng một Đấng vô tội đã xuống đến tận đáy vì những người có tội. Người đời hỏi: “Tại sao tôi phải tha khi người kia chưa xin lỗi?” Thánh Giá trả lời bằng lời cầu nguyện của Chúa Giêsu giữa lúc những chiếc đinh vẫn còn ghim vào tay Người: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người đời hỏi: “Tại sao tôi phải hy sinh?” Thánh Giá trả lời không bằng một lý thuyết nhưng bằng một thân thể đã được trao ban hoàn toàn. Thánh Giá không tranh luận. Thánh Giá chỉ đứng đó. Nhưng chính sự thinh lặng của Thánh Giá đã chất vấn tất cả những lời bào chữa cho sự ích kỷ của chúng ta.
Mất mình còn là từ bỏ nhu cầu phải luôn được hiểu. Đây có lẽ là một trong những thập giá âm thầm nhất. Ai cũng muốn được người khác hiểu. Điều đó rất tự nhiên. Nhưng có những lúc trong đời, dù ta có giải thích bao nhiêu, người khác vẫn không hiểu. Có khi một việc ta làm với thiện ý lại bị giải thích thành tính toán. Có khi một sự im lặng vì muốn gìn giữ bình an lại bị cho là lạnh lùng. Có khi một quyết định khó khăn vì trách nhiệm lại bị xem là độc đoán. Có khi ta đã cố hết sức mà người khác vẫn chỉ nhìn vào phần mình thiếu sót. Nếu cả đời ta phải sống nhờ sự công nhận của người khác, ta sẽ trở thành nô lệ cho dư luận. Chúa Giêsu trên Thánh Giá bị hiểu sai đến tận cùng. Người cứu độ người khác nhưng bị chế nhạo: “Hắn cứu được người khác mà chẳng cứu nổi mình.” Người là Con Thiên Chúa nhưng bị kết án là kẻ phạm thượng. Người là Đấng vô tội nhưng bị đóng đinh giữa hai người có tội. Người yêu nhân loại nhưng lại bị nhân loại loại trừ. Thế mà Chúa không xuống khỏi Thánh Giá để sửa lại hình ảnh của mình. Người không cần chiến thắng cuộc tranh luận để chứng minh mình đúng. Người phó thác sự thật của mình trong tay Chúa Cha. Đó là một tự do khủng khiếp mà chúng ta phải học rất lâu: tôi không cần tất cả mọi người hiểu tôi để tôi có thể bình an; chỉ cần tôi sống ngay thẳng trước mặt Chúa.
Mất mình còn là từ bỏ quyền trả đũa. Chúng ta thường nghĩ trả lại cho người khác điều họ đã làm với mình là công bằng. Họ coi thường tôi, tôi sẽ coi thường họ. Họ nói xấu tôi, tôi sẽ nói lại cho mọi người biết họ là ai. Họ làm tôi đau, tôi sẽ làm họ đau. Họ không đến với tôi, tôi cũng chẳng cần đến với họ. Và thế là một vết thương sinh thêm một vết thương; một sự lạnh lùng tạo thêm một sự lạnh lùng; một gia đình có thể mang theo những cuộc chiến không tên suốt nhiều thế hệ. Thánh Giá cắt đứt vòng xoáy đó. Đức Giêsu đã nhận bạo lực nhưng không trả bằng bạo lực. Người nhận căm ghét nhưng trả bằng tình yêu. Người nhận nhục mạ nhưng không nguyền rủa. Người bị kết án nhưng lại mở cửa thiên đàng cho người trộm biết ăn năn bên cạnh: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43). Đó là lúc một con người mất mình để sự sống xuất hiện. Bởi mỗi khi tôi nhất quyết giữ quyền trả thù, tôi đang giữ cái tôi; mỗi khi tôi từ bỏ quyền ấy vì Đức Kitô, một phần con người cũ chết đi và con người mới được sinh ra.
Thánh Gioan kể một hình ảnh còn rõ hơn nữa. Khi những người Hy Lạp đến xin gặp Chúa Giêsu, Người nói: “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (x. Ga 12,24-25). Hạt lúa là một Tin Mừng rất đẹp về con người. Hạt lúa có thể tự bảo vệ mình. Nó có thể giữ nguyên lớp vỏ, giữ nguyên hình dạng, giữ nguyên tất cả những gì nó đang có. Nhưng nếu cứ giữ như thế, nó sẽ “trơ trọi một mình”. Muốn sinh hoa trái, hạt lúa phải chấp nhận được gieo xuống đất. Trong bóng tối. Trong âm thầm. Trong một quá trình mà bên ngoài nhìn vào tưởng như nó đang chết. Lớp vỏ phải nứt ra. Hình dạng cũ phải biến mất. Hạt lúa không còn là hạt lúa nữa. Nhưng chính lúc mất hình dạng cũ, sự sống bên trong bắt đầu bật lên. Một mầm xanh xuất hiện. Rồi cây lúa. Rồi bông lúa. Rồi hàng chục, hàng trăm hạt mới. Hạt lúa mất mình nhưng không biến mất. Nó được hoàn thành. Đó chính là quy luật của Thánh Giá.
Có những con người sống cả đời như một hạt lúa nhất quyết không chịu nứt vỏ. Họ sợ trao mình vì sợ bị tổn thương. Sợ yêu vì sợ bị phản bội. Sợ phục vụ vì sợ bị lợi dụng. Sợ tha thứ vì sợ mình thua. Sợ mở lòng vì sợ bị đánh giá. Sợ cho đi vì sợ mình thiếu. Sợ dấn thân vì sợ mất bình an. Và thế là họ giữ được nhiều thứ, chỉ có điều cuộc đời không sinh hoa trái. Có một kiểu sống rất an toàn mà lại rất nghèo. Không phạm lỗi lớn, nhưng cũng chẳng yêu lớn. Không làm ai đau nhiều, nhưng cũng chẳng cứu được nỗi đau của ai. Không mất gì, nhưng cuối cùng chẳng trao được gì. Một đời như vậy có thể yên ổn, nhưng liệu có phải là một đời sống trọn vẹn không? Chúa Giêsu không đến để dạy chúng ta giữ mình an toàn. Người đến để dạy chúng ta trao mình. “Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” Cả cuộc đời Chúa được tóm lại trong chữ trao. Chúa Cha trao Con Một. Chúa Con trao chính mình. Thánh Thần được trao ban. Kitô giáo là tôn giáo của một Thiên Chúa không giữ mình lại.
Khi nhìn Thánh Giá, ta nhận ra rằng tình yêu thật bao giờ cũng có hình dáng của một sự mất mát. Một người mẹ sinh con mất những đêm ngon giấc, mất nhiều tự do, mất thời gian, mất sức khỏe, đôi khi mất cả những ước mơ riêng; nhưng chính trong những mất mát ấy, người phụ nữ khám phá một chiều sâu mới của chính mình: làm mẹ. Một người cha lao động bao năm, nhiều lúc nuốt mệt nhọc vào lòng để gia đình được yên; ông mất sức lực, mất tuổi trẻ, nhưng qua đó ông trở thành chỗ dựa cho những người mình yêu. Người vợ tha thứ cho chồng không phải vì vết thương không đau, nhưng vì biết có những điều lớn hơn lòng tự ái. Người chồng biết hạ cái tôi để nói lời xin lỗi không trở nên nhỏ bé; chính lúc ấy anh lớn lên. Một người con chăm sóc cha mẹ già phải mất thời gian, tiền bạc, công việc, những cuộc vui; nhưng nếu làm bằng tình yêu, trong những tháng năm ấy người con tìm thấy một phần đẹp nhất của chính mình. Một linh mục dành đời mình cho đoàn chiên sẽ mất rất nhiều điều mà những người khác có thể có: một mái ấm riêng, những buổi tối thuộc về mình, nhiều chọn lựa riêng tư, đôi khi cả sức khỏe và tuổi trẻ. Nếu sống những mất mát ấy trong cay đắng, linh mục sẽ kiệt sức; nhưng nếu đặt chúng vào Thánh Giá Đức Kitô, những mất mát ấy trở thành một lễ dâng. Và chính trong lễ dâng đó, người linh mục hiểu mình là ai: một người được bẻ ra vì đoàn chiên.
Đáng sợ nhất không phải là mất. Đáng sợ nhất là mất mà không biết mình mất vì điều gì. Nếu đau khổ chỉ là đau khổ, nó có thể nghiền nát con người. Nếu hy sinh chỉ để được khen, đến ngày không ai khen ta sẽ cay đắng. Nếu phục vụ để được biết ơn, đến khi người khác vô ơn ta sẽ thất vọng. Nếu yêu chỉ để được yêu lại, khi bị từ chối ta sẽ sụp đổ. Thánh Giá không bảo chúng ta cứ mất đi một cách vô nghĩa. Thánh Giá trao cho sự mất mát một hướng đi: mất vì yêu, mất trong Chúa, mất để điều thiện được sinh ra. Đức Giêsu không phải nạn nhân bất lực của số phận. Người nói: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (x. Ga 10,18). Cái làm Thánh Giá trở thành Thánh Giá cứu độ không chỉ là những cây đinh, không chỉ là đau đớn, không chỉ là máu đổ; mà là tình yêu tự do của Đức Kitô trong tất cả những điều ấy. Hai người có thể chịu cùng một mất mát, nhưng người biết đặt nó vào tình yêu có thể bước ra với một tâm hồn trưởng thành hơn; người chỉ chìm trong oán hận có thể để nỗi đau biến mình thành một người khác. Không phải mọi đau khổ tự động thánh hóa. Đau khổ chỉ trở thành con đường của Thánh Giá khi ta kết hợp nó với Chúa Giêsu và để tình yêu có tiếng nói cuối cùng.
Có một thứ “mất mình” rất dễ bị hiểu sai. Có người tưởng theo Chúa là phải để người khác chà đạp phẩm giá, phải cam chịu bất công, phải tiếp tục ở trong một tương quan bạo hành, phải im lặng trước sự dữ. Không phải vậy. Chúa Giêsu hiền lành nhưng không hèn yếu. Người tha thứ nhưng cũng nói sự thật. Người chịu đóng đinh vì trung thành với tình yêu và sứ mạng Chúa Cha, chứ không phải vì Người coi sự dữ là điều tốt. “Từ bỏ mình” không phải là đánh mất nhân phẩm Thiên Chúa ban; trái lại, chính là từ bỏ cái tôi ích kỷ để phẩm giá sâu nhất của chúng ta được tỏ lộ. Có lúc vác Thánh Giá nghĩa là âm thầm chịu đựng. Nhưng có lúc vác Thánh Giá lại có nghĩa là can đảm nói “không” với điều sai, chấp nhận mất quyền lợi để bảo vệ sự thật, chấp nhận bị cô lập vì không đồng lõa, chấp nhận bị hiểu lầm vì không thỏa hiệp với điều trái lương tâm. Đức Giêsu mất mạng sống vì Người không phản bội sự thật về Thiên Chúa. Các vị tử đạo mất mạng vì không chối đức tin. Những người đấu tranh cho công lý nhiều khi mất vị trí vì không chịu im lặng. Những người giữ lương tâm ngay thẳng có khi mất cơ hội thăng tiến vì không tham gia gian dối. Đó cũng là những Thánh Giá. Mất ở đây không phải là thất bại. Có những thất bại trước mắt người đời lại là chiến thắng trước mặt Thiên Chúa.
Thế gian dạy: phải thắng người khác thì mới chứng minh được mình. Thánh Giá dạy: thắng được chính mình mới là chiến thắng lớn nhất. Thế gian bảo: phải làm cho người khác biết mình quan trọng. Thánh Giá bảo: hãy yêu đến mức không cần được ghi công. Thế gian bảo: phải nắm thật chắc. Thánh Giá bảo: hãy mở bàn tay. Thế gian bảo: phải leo lên. Thánh Giá cho thấy Thiên Chúa đi xuống. Thế gian thích ngai vàng. Đức Kitô chọn cây gỗ. Thế gian thích vương miện vàng. Đức Kitô đội vòng gai. Thế gian thích người khác quỳ xuống trước mình. Đức Kitô quỳ xuống rửa chân cho môn đệ. Thế gian hỏi: “Ai lớn nhất?” Đức Kitô đặt một em nhỏ giữa các môn đệ. Thế gian nói: “Cứu mình trước đã.” Đức Kitô cứu mọi người bằng cách không cứu mình khỏi Thánh Giá. Đây là sự đảo ngược triệt để của Tin Mừng. Và chừng nào người Kitô hữu còn sợ sự đảo ngược này, chừng ấy ta vẫn chỉ đứng ngoài Tin Mừng mà chưa thực sự bước vào.
Có khi chúng ta đeo Thánh Giá trên cổ nhưng rất sợ Thánh Giá chạm vào cái tôi của mình. Ta kính Thánh Giá trong nhà thờ nhưng lại không chịu nổi một người trái ý mình. Ta cúi mình hôn chân Chúa chịu đóng đinh trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng về nhà không chịu nói một lời làm hòa. Ta đọc: “Xin Cha tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” nhưng vẫn giữ một người trong nhà tù của ký ức suốt nhiều năm. Ta hát về tình yêu hiến tế nhưng đụng một chút quyền lợi là khó chịu. Ta nói mình thuộc về Chúa nhưng nhiều quyết định vẫn chỉ xoay quanh cái tôi. Chính vì thế Thánh Giá không bao giờ là một đồ trang sức vô hại. Thánh Giá là một câu hỏi. Mỗi lần nhìn lên Chúa chịu đóng đinh, ta phải tự hỏi: còn điều gì trong tôi chưa chịu chết? Có thể là lòng kiêu ngạo. Có thể là thói hơn thua. Có thể là nhu cầu kiểm soát. Có thể là một mối oán giận. Có thể là thói quen xét đoán. Có thể là một tham vọng đã chiếm lấy trái tim. Có thể là sự lệ thuộc vào tiếng khen. Có thể là một hình ảnh ta quá cố gìn giữ. Có thể là nỗi sợ mất mặt. Có thể là sự ích kỷ rất tinh tế được khoác áo đạo đức.
Điều đau nhất khi bước vào con đường Thánh Giá không phải lúc nào cũng là mất tiền, mất sức hay mất danh. Nhiều khi điều đau nhất là phải mất ý riêng. Chúng ta có thể cho Chúa nhiều thứ nhưng vẫn giữ lại quyền quyết định đời mình. Ta cầu nguyện nhưng thực ra chỉ muốn Chúa ký vào kế hoạch ta đã soạn sẵn. Ta nói “xin ý Cha thể hiện”, nhưng trong lòng lại thêm một câu không nói ra: “miễn là ý Cha giống ý con”. Vườn Ghếtsêmani cho chúng ta thấy một trong những khoảnh khắc đẹp nhất của sự mất mình. Chúa Giêsu không phải một con người không biết sợ đau. Người buồn đến chết được. Người cầu xin: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Nhưng rồi Người thưa: “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, một xin theo ý Cha” (x. Mt 26,39). Đó là nơi cái tôi nhân loại được đặt hoàn toàn vào bàn tay Thiên Chúa. Không phải cái tôi bị nghiền nát, nhưng được hiệp nhất với tình yêu của Chúa Cha. Chính từ lời “xin vâng” trong vườn Ghếtsêmani mà con đường đến Phục Sinh được mở ra.
Chúng ta thường muốn tìm mình bằng cách hỏi: “Tôi thích gì? Tôi muốn gì? Điều gì làm tôi hạnh phúc?” Những câu hỏi ấy không sai, nhưng chưa đủ. Người Kitô hữu còn phải hỏi: “Chúa muốn tôi trở thành ai? Tôi được dựng nên để trao cho ai? Đời tôi được gọi để sinh hoa trái ở đâu?” Một cây đàn không tìm thấy ý nghĩa khi giữ dây đàn khỏi rung; nó tìm thấy ý nghĩa khi để bàn tay người nghệ sĩ làm cho nó phát ra âm thanh. Một ngọn nến không tìm thấy mình bằng cách giữ nguyên thân sáp; nó chỉ hoàn thành ý nghĩa khi chấp nhận cháy đi để tỏa sáng. Hạt lúa không tìm thấy mình khi nằm yên trong kho; nó tìm thấy mình khi xuống đất. Một đời người cũng vậy. Nếu tôi chỉ hỏi làm sao để giữ mình nguyên vẹn, cuối cùng tôi có thể giữ được một đời nguyên vẹn nhưng vô sinh. Nhưng nếu tôi hỏi đời tôi có thể được trao cho ai, ngay cả những vết thương cũng có thể trở thành cửa ngõ của ân sủng.
Có những người đến cuối đời không để lại tài sản lớn, không có tên trên báo chí, chẳng mấy người biết đến, nhưng đời họ thơm một mùi rất lạ: mùi của tình yêu đã được tiêu hao. Một bà mẹ quê cả đời cặm cụi nuôi con, chẳng ai trao bằng khen; nhưng những đứa con nên người là những bông lúa mọc lên từ đời bà. Một ông cụ âm thầm chăm người vợ bệnh suốt nhiều năm; chẳng ai quay phim, chẳng ai tán thưởng, nhưng mỗi lần ông đút cho bà một thìa cháo có thể đẹp trước mặt Thiên Chúa hơn biết bao việc lớn lao. Một nữ tu già sống hàng chục năm trong một cộng đoàn nhỏ, làm bếp, giặt giũ, thăm bệnh nhân, chẳng có bài giảng nào mang tên mình; nhưng biết bao người đã được chạm đến bởi nụ cười và sự hiện diện của sơ. Một linh mục già, trí nhớ đã yếu, bước đi chậm chạp, không còn làm được những công việc ngày trước, có thể cảm thấy mình vô dụng; nhưng nếu ngài biết biến chính tuổi già, bệnh tật và sự bất lực thành lời cầu nguyện cho đoàn chiên, thì ngay trên chiếc giường bệnh, ngài vẫn đang sống tận cùng căn tính linh mục: hiến mình với Đức Kitô. Giá trị của một đời người không nằm ở việc ta đã giữ lại bao nhiêu, nhưng ở việc đã trao đi bao nhiêu trong tình yêu.
Thánh Giá cũng dạy ta rằng con người chỉ tìm thấy mình trong tương quan. Tội lỗi làm con người co lại. Adam phạm tội rồi trốn. Cain giết em rồi hỏi: “Tôi là người giữ em tôi hay sao?” Tội làm con người khép kín vào cái tôi. Cứu độ đi theo chiều ngược lại. Đức Kitô dang hai cánh tay trên Thánh Giá. Đó là tư thế của một Con Người hoàn toàn mở ra: hướng lên Chúa Cha và hướng về nhân loại. Không phải ngẫu nhiên Thánh Giá có một chiều dọc và một chiều ngang. Chiều dọc nhắc rằng con người không thể tìm thấy mình nếu cắt đứt khỏi Thiên Chúa. Chiều ngang nhắc rằng không ai tìm được mình bằng cách sống chỉ cho mình. Một Kitô hữu càng gần Chúa thật, càng phải rộng lòng với anh em. Nếu cầu nguyện nhiều mà trở nên cứng cỏi hơn, có gì đó sai. Nếu giữ đạo sốt sắng mà càng ngày càng xét đoán, có gì đó lệch. Nếu gần bàn thờ mà xa người nghèo, phải xem lại. Nếu hôn Thánh Giá mà không thể ôm lấy một người đang đau khổ, lòng đạo của ta vẫn còn dừng ở hình thức. Chúa Giêsu không chết trên Thánh Giá để tạo ra những người đạo đức khép kín. Người chết để “quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác về một mối”. Thánh Giá mở lòng người ra.
Và chính trên Thánh Giá, Chúa Giêsu còn trao cho chúng ta một bài học khác về việc tìm thấy mình: Người trao Mẹ Người cho môn đệ và môn đệ cho Mẹ. “Thưa Bà, đây là con của Bà… Đây là Mẹ của anh” (x. Ga 19,26-27). Giữa lúc đang đau đớn nhất, Chúa vẫn nghĩ đến người khác. Đây là dấu chỉ của một tâm hồn hoàn toàn tự do khỏi cái tôi. Bình thường, khi ta đau, thế giới thu nhỏ lại quanh nỗi đau của mình. Ta dễ nghĩ chẳng ai khổ bằng ta. Ta muốn người khác phải hiểu mình, chăm sóc mình, chú ý đến mình. Nhưng Chúa Giêsu, ngay giữa cơn hấp hối, vẫn thấy Mẹ, thấy người môn đệ, thấy người trộm bên cạnh, thấy những kẻ đang đóng đinh mình. Nỗi đau không làm trái tim Người co lại. Nó làm tình yêu Người mở rộng đến tận cùng. Đây là một tiêu chuẩn rất thật để biết chúng ta đang vác Thánh Giá với Chúa hay chỉ đang chịu đau một cách cay đắng: thập giá của tôi có làm trái tim tôi rộng hơn không? Nếu sau đau khổ tôi hiểu người khác hơn, dịu dàng hơn, bớt xét đoán hơn, dễ cảm thông hơn, có thể Thánh Giá đang sinh hoa trái. Nếu sau đau khổ tôi chỉ trở nên cay nghiệt, khép kín và muốn người khác phải đau như mình từng đau, có lẽ vết thương vẫn chưa được đưa vào trong vết thương của Đức Kitô.
Chúa Giêsu Phục Sinh vẫn mang những vết thương. Đây là chi tiết thật đẹp. Phục Sinh không xóa Thánh Giá như thể Thứ Sáu Tuần Thánh chưa từng xảy ra. Những dấu đinh vẫn còn. Nhưng chúng không còn chảy máu; chúng tỏa sáng. Điều ấy nói với chúng ta rằng Thiên Chúa không nhất thiết trả lại cuộc đời ta đúng như trước khi đau khổ xảy đến. Có những điều mất rồi sẽ không trở lại. Một người thân qua đời sẽ không trở lại cuộc sống này. Một tuổi thơ bị tổn thương không thể làm lại. Một cơ hội đã qua có thể không trở lại. Một vết phản bội có thể để dấu suốt đời. Nhưng trong Đức Kitô, điều đã bị thương không nhất thiết phải trở thành điều bị hủy diệt. Chính vết thương có thể trở thành nơi ánh sáng đi qua. Một người từng đau có thể trở nên người biết chữa lành. Một người từng bị bỏ rơi có thể trở thành người không bỏ rơi ai. Một người từng lầm lạc có thể trở thành người có lòng thương xót đối với người yếu đuối. Phêrô sau khi chối Chúa không trở lại thành Phêrô trước đó. Ông trở thành một Phêrô khác: khiêm nhường hơn, biết mình yếu, biết rằng chức vụ mục tử không dựa trên sức riêng nhưng trên tình yêu được tha thứ. “Thầy biết con yêu mến Thầy.” Chính con người đã từng mất mình trong thất bại lại được tìm thấy trong lòng thương xót.
Có lẽ một trong những thập giá khó nhất của đời sống thiêng liêng là ngày Chúa lấy khỏi ta hình ảnh tốt đẹp ta vốn có về chính mình. Khi còn trẻ, chúng ta có thể nghĩ mình quảng đại. Rồi một biến cố xảy ra cho thấy ta ích kỷ hơn ta tưởng. Ta nghĩ mình hiền lành; rồi gặp một người rất khó chịu mới biết lòng mình nóng nảy đến đâu. Ta nghĩ mình khiêm tốn; cho đến khi người khác được khen thay vì mình. Ta nghĩ mình tha thứ; cho đến khi bị tổn thương thật sự. Ta nghĩ mình tín thác; cho đến khi Chúa không đáp lời theo cách ta muốn. Những khám phá ấy đau như bị lột áo. Nhưng chính đó lại là một ân huệ. Vì người chưa mất ảo tưởng về mình chưa thể gặp được chính mình thật sự. Phêrô phải đi qua tiếng gà gáy. Phaolô phải ngã xuống đường Đamát. Tôma phải đối diện với những vết đinh. Mỗi người đều có một khoảnh khắc Thánh Giá làm vỡ hình ảnh cũ về mình để một con người mới xuất hiện.
Bởi thế, đừng quá sợ những ngày đời mình bị thu nhỏ. Có những giai đoạn ta chẳng làm được gì lớn. Có lúc bệnh tật giới hạn mọi hoạt động. Có lúc tuổi tác lấy đi nhiều khả năng. Có lúc công việc thất bại. Có lúc một sứ vụ kết thúc. Có lúc con cái trưởng thành và không còn cần ta như trước. Có lúc người từng tìm đến mình không còn tìm nữa. Những lúc ấy, ta dễ có cảm giác mình đang mất mình. Nhưng có thể Chúa đang dẫn ta từ câu hỏi “tôi làm được gì?” đến câu hỏi sâu hơn: “tôi là ai trước mặt Chúa?” Giá trị của ta không chấm dứt khi khả năng làm việc giảm đi. Người nằm liệt giường vẫn có giá trị vô hạn. Người già không còn nhớ rõ vẫn là một con người được Thiên Chúa yêu. Một trẻ nhỏ chưa làm được gì vẫn có phẩm giá tuyệt đối. Điều này cho thấy căn tính của chúng ta không nằm trước hết trong cái ta làm, mà trong điều ta là: một người con được yêu. Đức Giêsu trước khi làm phép lạ nào, trước khi giảng bài nào, đã nghe tiếng Chúa Cha bên sông Giođan: “Đây là Con yêu dấu của Ta.” Căn tính đến trước công việc. Và trên Thánh Giá, khi không còn “làm” gì theo nghĩa thông thường, Chúa Giêsu lại hoàn thành công trình lớn nhất: trao chính mình.
Thế nên, nếu có một lời cầu nguyện chúng ta nên thưa trước Thánh Giá, có lẽ không phải trước hết là: “Lạy Chúa, xin cất thập giá này khỏi con”, dù lời cầu ấy hoàn toàn chính đáng. Ta còn có thể cầu: “Lạy Chúa, xin đừng để con đi qua thập giá này mà vẫn y nguyên như cũ. Xin làm cho điều phải chết trong con được chết. Xin làm cho điều chân thật được sống. Xin lấy khỏi con sự kiêu ngạo, nhưng đừng lấy lòng can đảm. Xin lấy khỏi con tính ích kỷ, nhưng đừng lấy phẩm giá. Xin lấy khỏi con nhu cầu được tán thưởng, nhưng đừng lấy niềm vui phục vụ. Xin lấy khỏi con ảo tưởng kiểm soát mọi sự, nhưng ban cho con trách nhiệm và tín thác. Xin lấy khỏi con lòng oán hận, nhưng đừng để con thỏa hiệp với sự dữ. Xin làm cho con mất cái tôi để tìm thấy người con mà Cha đã muốn con trở thành.”
Rốt cuộc, bí mật của Thánh Giá không phải là chết. Bí mật của Thánh Giá là yêu đến mức dám chết đi cho cái tôi để người khác được sống. Nếu chỉ nhìn Thánh Giá như một cái chết, chúng ta sẽ sợ. Nhưng nếu nhìn Thánh Giá từ ánh sáng Phục Sinh, ta nhận ra đó là một cuộc sinh nở. Một thế giới mới được sinh ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Kitô. Hội Thánh được sinh ra. Các bí tích được gợi mở bằng máu và nước. Một nhân loại mới bắt đầu. Thánh Giá giống như hạt lúa đi xuống đất trước khi mùa gặt đến. Vì thế không có sự mất mình nào vì Đức Kitô mà cuối cùng lại trở thành vô ích. Một lời tha thứ tưởng như thua thiệt có thể cứu một gia đình. Một hy sinh âm thầm có thể thay đổi cuộc đời một người mà ta không biết. Một lần nhẫn nhịn có thể ngăn một vết thương truyền sang thế hệ sau. Một quyết định sống trung thực dù chịu thiệt có thể giữ cho lương tâm một người được tự do. Một lời xin lỗi có thể mở lại cánh cửa đã đóng nhiều năm. Một tiếng “xin vâng” với Chúa có thể sinh hoa trái hàng chục năm sau khi người thưa tiếng ấy đã nằm xuống.
Rồi sẽ đến ngày mỗi người chúng ta phải trải qua lần mất mình cuối cùng: cái chết. Khi ấy, tất cả những gì ta từng cố nắm sẽ phải buông. Hai bàn tay từng nắm bao nhiêu thứ sẽ mở ra. Chức vụ ở lại. Danh tiếng ở lại. Nhà cửa ở lại. Tiền bạc ở lại. Những cuộc tranh hơn thua cũng ở lại. Ta ra đi tay trắng như ngày đã đến. Nếu cả đời không học mất mình, cái chết sẽ là sự tước đoạt khủng khiếp. Nhưng nếu mỗi ngày đã học trao mình trong Đức Kitô, cái chết sẽ trở thành hành vi trao ban cuối cùng: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Người Kitô hữu tập chết mỗi ngày không phải để chán đời nhưng để có thể sống tự do. Mỗi lần tha thứ là chết một chút cho lòng tự ái. Mỗi lần cho đi là chết một chút cho tính chiếm hữu. Mỗi lần vâng phục điều thiện là chết một chút cho ý riêng. Mỗi lần phục vụ âm thầm là chết một chút cho nhu cầu được nhìn nhận. Mỗi lần nhận lỗi là chết một chút cho kiêu ngạo. Nhưng cũng trong mỗi cái chết nhỏ ấy, sự sống mới xuất hiện. Và rồi khi cái chết lớn đến, ta sẽ nhận ra mình đã tập bước qua cánh cửa ấy từ lâu.
Con người hôm nay mất rất nhiều công sức để “tìm chính mình”. Người ta đi du lịch để tìm mình, đổi nghề để tìm mình, thay môi trường để tìm mình, đọc sách để tìm mình, tìm trải nghiệm mới để tìm mình. Những điều ấy có thể hữu ích. Nhưng Tin Mừng chỉ cho ta một con đường sâu hơn: muốn tìm mình, hãy trao mình. Muốn có sự sống, hãy hiến sự sống. Muốn được tự do, hãy buông cái tôi. Muốn trở thành chính mình, hãy để Đức Kitô dẫn mình qua Thánh Giá. Bởi con người được dựng nên theo hình ảnh một Thiên Chúa là Tình Yêu. Mà tình yêu thì không tồn tại bằng cách giữ lấy chính mình. Tình yêu chỉ là tình yêu khi được trao đi.
Có lẽ vì thế, hình ảnh đẹp nhất về một con người hoàn toàn là chính mình lại chính là Đức Giêsu trên Thánh Giá. Nghe thật nghịch lý. Một thân thể tan nát. Một khuôn mặt bê bết máu. Hai tay không còn tự do. Chân bị đóng đinh. Không còn quyền lực thế gian. Không còn gì để khoe. Vậy mà chưa bao giờ Đức Giêsu là chính mình cách trọn vẹn như lúc ấy: Con hoàn toàn thuộc về Cha và Người Anh hoàn toàn thuộc về nhân loại. Người đã mất tất cả, nên chẳng còn gì ngăn cản tình yêu. Hai bàn tay bị đóng đinh không thể nắm giữ bất cứ điều gì, và chính vì thế chúng trở thành đôi tay mở ra cho cả thế giới. Người không còn giữ mạng sống cho mình, và chính từ đó sự sống đời đời trào ra cho muôn người.
Có những buổi chiều ta nên ngồi thật lâu trước một cây Thánh Giá. Không cần nói nhiều. Chỉ nhìn. Nhìn đôi tay mở rộng ấy rồi nhìn lại những gì lòng mình đang nắm. Nhìn vầng trán đội gai ấy rồi nhìn lại những danh dự mình đang cố bảo vệ. Nhìn thân thể trần trụi ấy rồi nhìn lại bao lớp vỏ ta dùng để che giấu sự yếu đuối. Nhìn trái tim bị đâm thâu ấy rồi nhìn lại trái tim mình đã khép với những ai. Nhìn Chúa bị bỏ rơi rồi nghĩ đến những người cô độc quanh ta. Nhìn Chúa tha thứ rồi nghĩ đến cái tên ta vẫn chưa thể tha. Nhìn Chúa phó mình cho Cha rồi nghĩ đến điều ta vẫn chưa dám trao cho Chúa. Và biết đâu, trong thinh lặng ấy, ta sẽ nghe được một tiếng rất nhẹ: “Con đừng sợ mất. Hãy để Thầy lấy khỏi con những gì không phải là con, để con trở thành chính con trong tình yêu của Thầy.”
Đến cuối cùng, ta sẽ hiểu: điều Chúa muốn lấy khỏi ta không phải là con người ta, mà là mọi thứ đang làm biến dạng con người ta. Chúa không muốn ta biến mất. Chúa muốn ta được hoàn thành. Chúa không muốn chúng ta không còn cá tính, không còn tự do, không còn ước mơ. Người muốn thanh luyện tất cả để tự do không còn là ích kỷ, ước mơ không còn là tham vọng, cá tính không còn trở thành cái tôi, tình yêu không còn là chiếm hữu. Cây nho được cắt tỉa không phải để chết nhưng để sinh nhiều trái hơn. Hạt lúa chết đi không phải để biến mất nhưng để nhân lên. Đức Kitô bước vào mồ không phải để ở lại trong mồ, nhưng để mở mồ cho cả nhân loại. Và người môn đệ mất mình trong Đức Kitô không mất đi con người của mình; trái lại, lần đầu tiên người ấy được trở thành con người mà từ thuở đời đời Thiên Chúa đã mơ ước.
Vậy nên nếu hôm nay ai đó đang thấy mình phải mất một điều gì, hãy đừng vội tuyệt vọng. Nếu mất ấy đến từ sự dữ, hãy chống lại sự dữ. Nếu mất ấy có thể tránh bằng sự khôn ngoan, hãy khôn ngoan. Nhưng nếu có những điều không thể tránh, hãy mang chúng đến dưới chân Thánh Giá. Nếu phải mất một ảo tưởng, hãy để nó mất. Nếu phải mất lòng kiêu hãnh để giữ một gia đình, hãy để nó mất. Nếu phải mất phần hơn để giữ tình huynh đệ, hãy để nó mất. Nếu phải mất tiếng khen để giữ sự thật, hãy để nó mất. Nếu phải mất một tham vọng để giữ lương tâm, hãy để nó mất. Nếu phải mất ý riêng để đón nhận ý Chúa, hãy để nó mất. Có những cái mất làm ta nghèo đi, nhưng cũng có những cái mất làm ta tự do. Có những cái mất là dấu chấm hết, nhưng có những cái mất lại là cánh cửa. Và tất cả những gì được đặt vào bàn tay của Đấng chịu đóng đinh đều có thể được Người biến đổi.
Ngày ấy, khi đứng trước Chúa, có lẽ Người sẽ không hỏi chúng ta đã giữ được bao nhiêu. Người sẽ hỏi chúng ta đã yêu bao nhiêu. Không hỏi đã thắng bao nhiêu người, nhưng đã thắng được cái tôi của mình đến đâu. Không hỏi đã được bao nhiêu người biết đến, nhưng đã làm bao nhiêu điều tốt mà chẳng cần ai biết. Không hỏi đã được phục vụ thế nào, nhưng đã cúi xuống phục vụ ai. Không hỏi đã tránh được bao nhiêu thập giá, nhưng trong những thập giá không thể tránh, ta đã yêu như thế nào. Và khi ấy, những gì ta từng tưởng đã mất vì Chúa sẽ hiện ra trước mắt ta, không còn là mất mát nữa, mà là kho tàng.
Bởi vì lời cuối cùng của Thánh Giá không phải là “mất”. Lời cuối cùng của Thánh Giá là “được”. Mất cái tôi để được tự do. Mất oán hận để được bình an. Mất quyền trả đũa để được lòng thương xót. Mất nhu cầu được hơn người để được tình huynh đệ. Mất sự kiểm soát để được tín thác. Mất một đời sống khép kín để được một trái tim rộng mở. Mất mạng sống trong Đức Kitô để tìm thấy sự sống đời đời.
Và đó chính là nghịch lý đẹp nhất của Tin Mừng: con người không tìm thấy mình khi soi mình mãi trong chiếc gương của cái tôi; con người tìm thấy mình khi nhìn vào khuôn mặt Đức Kitô chịu đóng đinh. Con người không trở thành chính mình khi giữ lấy tất cả; con người trở thành chính mình khi biết trao đi. Con người không hoàn tất đời mình bằng cách bảo vệ mình khỏi mọi mất mát; con người hoàn tất đời mình khi dám trở thành hạt lúa rơi xuống đất, chết đi trong tình yêu và trổ sinh hoa trái.
Dưới chân Thánh Giá, cuối cùng chúng ta hiểu được mình là ai: không phải những gì chúng ta sở hữu, không phải những điều người khác nói về ta, không phải thành công hay thất bại, không phải những lớp áo mà đời đã khoác lên người ta. Ta là một người con được yêu đến mức Con Thiên Chúa đã chết cho ta. Và khi biết mình được yêu như thế, ta không còn phải hoảng hốt giữ lấy mình nữa. Ta có thể trao mình. Ta có thể buông. Ta có thể tha. Ta có thể yêu. Ta có thể chết cho cái tôi mỗi ngày. Bởi ta biết rằng phía bên kia của mọi mất mát vì Đức Kitô luôn có một buổi sáng Phục Sinh.
Lm. Anmai, CSsR
NỖI CÔ ĐƠN TẬN CÙNG CỦA CHÚA GIÊSU TRÊN THẬP GIÁ VÀ NỖI CÔ ĐƠN CỦA CON NGƯỜI HIỆN ĐẠI
Có những nỗi đau người ta có thể kể. Có những vết thương người ta có thể chỉ cho người khác thấy. Có những giọt nước mắt vừa rơi xuống đã có một bàn tay lau đi. Nhưng cũng có những nỗi đau không thể gọi thành tên, những vết thương nằm quá sâu trong lòng đến nỗi chính người mang nó cũng chẳng biết phải bắt đầu kể từ đâu. Đó là nỗi cô đơn. Cô đơn không nhất thiết là không có người bên cạnh. Có khi một người sống giữa một gia đình đông đúc vẫn cô đơn. Có khi một người ngày ngày tiếp xúc với hàng trăm con người vẫn cô đơn. Có khi một người được hàng ngàn người biết đến, được ca tụng, được vỗ tay, được theo dõi trên mạng xã hội, vậy mà đêm về vẫn nằm nhìn trần nhà và nghe lòng mình trống rỗng. Cái đáng sợ nhất của cô đơn không phải là căn phòng không có ai, nhưng là cảm giác chẳng còn ai hiểu mình; không phải là thiếu tiếng người nói, nhưng là không tìm được một người để có thể trao trọn tâm hồn; không phải là đứng một mình giữa sa mạc, mà là đứng giữa một đám đông mà cảm thấy mình không thuộc về đâu cả. Và nếu muốn hiểu đến tận cùng nỗi cô đơn của con người, người Kitô hữu phải một lần ngước mắt thật lâu lên Thánh Giá. Bởi trên đồi Canvê, vào một buổi chiều tưởng như Thiên Chúa cũng im lặng, có một Con Người đã đi vào tận đáy của cô đơn nhân loại để từ đó không một ai trên đời này còn có quyền nói rằng: “Không ai hiểu nỗi cô đơn của tôi.” Con Người ấy là Đức Giêsu Kitô.
Tin Mừng theo thánh Máccô ghi lại một câu làm người đọc Kinh Thánh qua bao thế hệ vẫn phải rùng mình: “Vào giờ thứ chín, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: ‘Ê-lô-i, Ê-lô-i, la-ma xa-bác-tha-ni!’ nghĩa là: ‘Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?’” (Mc 15,34). Có lẽ không câu nào trong toàn bộ trình thuật Thương Khó làm chúng ta bối rối bằng câu ấy. Chúa Giêsu, Con Một của Chúa Cha, Đấng từng nói: “Chúa Cha và Tôi là một”, Đấng đã sống từng giây phút trong tương quan mật thiết với Cha, giờ đây lại thốt lên: “Sao Ngài bỏ rơi con?” Chúng ta phải hiểu thế nào? Phải chăng Chúa Cha thật sự từ bỏ Chúa Con? Không. Mầu nhiệm Ba Ngôi không bị đổ vỡ trên Thánh Giá. Tình yêu đời đời giữa Cha và Con không bị cắt đứt. Nhưng trong nhân tính thật sự của mình, Đức Giêsu đã đi vào kinh nghiệm sâu thẳm nhất của thân phận tội nhân: kinh nghiệm về sự xa cách, kinh nghiệm của một con người đứng trước vực thẳm của sự chết và cảm thấy như ánh sáng đã tắt, như trời đã khép lại, như tiếng cầu nguyện của mình rơi vào khoảng không. Người không phạm tội, nhưng Người đã mang lấy hậu quả của tội. Người không bao giờ xa Chúa Cha, nhưng Người đã chạm đến kinh nghiệm tối tăm nhất của một nhân loại xa Thiên Chúa. Người đã để cho tất cả nỗi cô độc của Ađam, tất cả tiếng khóc của những người bị bỏ rơi, tất cả nỗi tuyệt vọng của những trái tim không còn biết bấu víu vào đâu, tất cả những đêm dài của con người từ khởi nguyên cho đến tận thế hội tụ trong trái tim Người. Tiếng kêu “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” không phải là tiếng kêu của một kẻ mất đức tin, nhưng là lời cầu nguyện phát ra từ đáy vực của đức tin. Bởi ngay trong tiếng kêu tưởng như tuyệt vọng ấy, Đức Giêsu vẫn gọi: “Thiên Chúa của con.” Người không còn cảm thấy sự hiện diện, nhưng Người vẫn hướng về Cha. Người không còn cảm nếm sự ủi an, nhưng Người vẫn cầu nguyện. Người không còn thấy ánh sáng, nhưng Người vẫn trao mình vào Đấng Người không nhìn thấy. Đó có lẽ là hình thức tinh ròng nhất của đức tin: vẫn nói “Thiên Chúa của con” ngay khi lòng mình chẳng còn cảm được Thiên Chúa ở đâu.
Nỗi cô đơn trên Thánh Giá không bắt đầu vào lúc Chúa Giêsu thốt lên câu ấy. Nó đã được chuẩn bị bằng cả một chuỗi những mất mát đau đớn. Hãy trở lại vườn Ghếtsêmani. Chúa biết giờ của Người đã đến. Người đem Phêrô, Giacôbê và Gioan đi theo, rồi nói với các ông: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy” (x. Mt 26,38). Một câu nói rất người. Đấng đã từng an ủi bao nhiêu người, giờ đây xin người khác ở lại với mình. Đấng từng thức cả đêm cầu nguyện, giờ đây mong các môn đệ thức với mình một giờ. Đấng từng nói “Đừng sợ”, giờ đây chính Người “bắt đầu cảm thấy buồn rầu xao xuyến”. Nhưng khi Người trở lại, các môn đệ đang ngủ. Người gọi họ dậy. Người lại cầu nguyện. Người lại trở về. Họ lại ngủ. Chúa không cần họ giải quyết Thập Giá thay Người. Chúa chỉ cần họ ở đó. Nhưng ngay cả điều nhỏ bé ấy họ cũng không làm được. Bao nhiêu người trong chúng ta đã từng mang cảm giác ấy? Khi đau nhất, ta không cần ai giải quyết cuộc đời mình. Ta chỉ cần một người ngồi cạnh. Ta chỉ cần một người chịu nghe. Ta chỉ cần một ánh mắt nói rằng: “Tôi còn ở đây.” Vậy mà chẳng có ai. Chúa Giêsu đã biết cảm giác ấy trước chúng ta.
Rồi Giuđa đến. Một người đã cùng ăn với Chúa, cùng đi đường với Chúa, từng nghe Người giảng, từng thấy Người chữa bệnh, từng được Người tin tưởng trao sứ mạng, nay lại dùng một nụ hôn để chỉ điểm bắt Người. Có những vết thương do kẻ thù gây nên khiến ta đau; nhưng thường vết thương sâu nhất lại đến từ người mình từng tin. Kẻ lạ quay lưng, ta có thể chịu được. Người thân quay lưng, cả một phần đời dường như sụp xuống. Giuđa không chỉ bán Thầy ba mươi đồng bạc. Giuđa làm tổn thương trái tim của một người đã yêu ông. Và Đức Giêsu đã nếm trải cái cô đơn của sự phản bội ấy. Sau đó Phêrô, người từng mạnh miệng: “Dù có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy”, lại ba lần thề rằng mình không biết Người. Một người xa lạ hỏi: “Ông cũng thuộc nhóm ấy phải không?” Phêrô đáp: “Tôi không biết người ấy.” Có lẽ giữa tất cả những đòn roi đêm ấy, câu “Tôi không biết người ấy” đã đánh vào tim Chúa đau không kém. Tin Mừng kể rằng Chúa quay lại nhìn Phêrô. Không một lời trách. Chỉ một ánh mắt. Và Phêrô ra ngoài khóc lóc thảm thiết. Ánh mắt ấy chứa biết bao nhiêu điều: “Phêrô, Thầy biết sự yếu đuối của con. Phêrô, con chối Thầy nhưng Thầy không chối con. Phêrô, con nói không biết Thầy, nhưng Thầy vẫn biết con.” Chính giữa nỗi cô đơn của mình, Chúa vẫn còn yêu người làm mình cô đơn.
Rồi đến đám đông. Cũng đám đông ấy có lẽ không lâu trước từng chen nhau để nghe Chúa nói, từng trầm trồ khi thấy Người chữa lành, từng tung hô Người khi tiến vào Giêrusalem: “Hoan hô Con vua Đavít!” Bây giờ họ la lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!” Đám đông thay đổi thật nhanh. Hôm qua nâng người ta lên, hôm nay có thể ném người ta xuống. Hôm qua những lời tán dương làm ta tưởng mình được yêu, hôm nay sự im lặng của chính những người ấy làm ta nhận ra đôi khi người ta chỉ yêu điều họ nhận được từ mình. Chúa Giêsu đã chữa bệnh cho họ, cho họ ăn, giảng dạy họ, tha thứ họ, khóc với họ, cúi xuống với họ. Nhưng đến giờ Người không còn làm phép lạ để đáp ứng nhu cầu của họ, họ chọn Baraba. Còn Người, họ loại bỏ. “Đem nó đi! Đóng đinh nó vào thập giá!” Có một nỗi cô đơn rất đau: nỗi cô đơn của người đã trao đi cả đời mình rồi cuối cùng bị coi là không còn giá trị. Những người cha già sau một đời nuôi con, đến lúc yếu bệnh cảm thấy mình trở thành gánh nặng. Những người mẹ đã hiến cả tuổi xuân cho gia đình, về già nhìn quanh căn nhà mà chẳng còn ai đủ thời gian ngồi nghe mẹ kể một câu chuyện. Những người từng làm việc miệt mài cho một tập thể, đến ngày hết chức, hết quyền, bỗng điện thoại im hẳn. Những người đã từng được săn đón, đến khi không còn hữu dụng thì bị lãng quên. Chúa Giêsu hiểu tất cả những điều ấy. Người đã từng được tung hô rồi bị vứt bỏ chỉ trong vài ngày.
Rồi Người bị đưa lên đồi Golgotha. Quân lính lột áo Người. Đám đông nhìn. Các thủ lãnh chế nhạo: “Hắn cứu được người khác mà chẳng cứu nổi mình.” Người qua đường lắc đầu. Hai tên gian phi ban đầu cũng nhục mạ Người. Môn đệ bỏ chạy gần hết. Phêrô biến mất. Giuđa đã đi đến kết thúc bi thảm của mình. Những gương mặt quen thuộc từng vây quanh Người suốt ba năm giờ chẳng còn bao nhiêu. Dưới chân Thập Giá chỉ còn một nhóm nhỏ, trong đó có Đức Maria và người môn đệ Chúa yêu. Và Chúa chết giữa hai tên tội phạm, ngoài thành, như một kẻ bị xã hội loại trừ. Chúng ta thường treo Thánh Giá bằng vàng, đặt trên bàn thờ có hoa và nến, khiến đôi khi quên rằng Thập Giá nguyên thủy là một nơi kinh hoàng. Nó không phải đồ trang sức. Nó là dụng cụ hành hình. Và Chúa Giêsu chết ở đó trong tình trạng gần như bị toàn thế giới từ chối. Cái chết ấy nói với mỗi người đang bị bỏ rơi rằng: Thiên Chúa không đứng ngoài nỗi cô đơn của bạn để đưa ra lời khuyên; Người đã bước vào trong đó.
Con người hiện đại rất sợ cô đơn, nhưng nghịch lý thay, có lẽ chưa bao giờ con người có nhiều phương tiện kết nối như hôm nay mà lại cô đơn đến thế. Điện thoại nằm trong tay chúng ta từ sáng đến đêm. Chỉ cần vài giây, ta có thể nói chuyện với một người bên kia địa cầu. Ta có hàng trăm, hàng ngàn “bạn bè” trên mạng. Mỗi ngày ta nhận vô số tin nhắn, hình ảnh, video, thông báo. Nhưng kết nối không đồng nghĩa với hiệp thông. Ta biết người khác đang ăn gì, đi đâu, mặc gì, mua gì, nhưng có khi chẳng biết người đang ngủ cùng mái nhà với ta đang buồn chuyện gì. Ta có thể gửi một biểu tượng trái tim trong một giây nhưng lại không đủ kiên nhẫn ngồi một giờ bên một trái tim đang tan vỡ. Ta có thể bình luận “cố lên” dưới bài viết của một người nhưng không bao giờ gọi điện hỏi họ: “Bạn thực sự ổn không?” Công nghệ giúp con người chạm nhau nhanh hơn, nhưng không tự động giúp con người chạm tới nhau sâu hơn. Thậm chí có lúc càng kết nối, ta càng thấy cô đơn, bởi ta phải liên tục trình bày một phiên bản đẹp đẽ của mình cho người khác xem. Người ta chụp bữa ăn trước khi ăn, chụp chuyến đi trước khi thưởng thức, chụp nụ cười dù lòng không vui, chụp khoảnh khắc hạnh phúc trong khi hôn nhân đang rạn nứt. Bên ngoài là những tấm hình rực rỡ. Bên trong là một căn phòng tối mà chẳng ai được bước vào.
Nỗi cô đơn của thời đại chúng ta còn bắt nguồn từ một căn bệnh sâu hơn: người ta ngày càng sợ trao chính mình. Ta muốn được yêu nhưng lại sợ bị tổn thương. Ta muốn có bạn nhưng không muốn bị ràng buộc. Ta muốn gia đình nhưng ngại hy sinh. Ta muốn được người khác hiểu nhưng ít khi đủ kiên nhẫn để hiểu họ. Ta dựng lên những bức tường để bảo vệ mình khỏi đau đớn, rồi một ngày nhận ra chính những bức tường ấy cũng ngăn không cho tình yêu đi vào. Ta xây một pháo đài để không ai làm tổn thương mình, rồi phát hiện mình đã biến pháo đài ấy thành nhà tù. Có người mang vết thương từ tuổi thơ. Có người từng bị phản bội. Có người đã yêu hết lòng rồi bị bỏ. Có người đã tin ai đó và bị lợi dụng. Từ đó họ học cách không tin nữa. Họ nói: “Tôi không cần ai.” Nhưng sâu trong lòng, đó thường là tiếng nói của một người từng rất cần ai đó mà người ấy đã không ở lại.
Cũng có một nỗi cô đơn rất riêng của người sống đời tận hiến, của linh mục, tu sĩ, của người đứng trước cộng đoàn mỗi ngày nhưng đôi lúc không biết phải chia sẻ nỗi lòng với ai. Người ta nhìn linh mục như người luôn phải mạnh. Người ta tìm đến linh mục khi buồn, khi gia đình đổ vỡ, khi bệnh tật, khi chết chóc, khi cần lời khuyên. Linh mục nghe biết bao câu chuyện. Nhưng đôi khi khi cánh cửa phòng khép lại, chính người vừa an ủi bao người lại phải đối diện với sự im lặng của mình. Có những điều không thể nói. Có những áp lực không dễ chia sẻ. Có những hiểu lầm phải âm thầm chịu. Có những hy sinh chẳng ai biết. Có những lúc bị người mình phục vụ hiểu sai, phê phán, thậm chí quay lưng. Khi ấy, nhìn lên Đức Kitô bị đóng đinh không còn là một việc đạo đức bên ngoài. Đó là gặp một Người hiểu. Người hiểu thế nào là cho đi mà bị từ chối. Người hiểu thế nào là yêu mà không được đáp lại. Người hiểu thế nào là nói sự thật rồi bị ghét. Người hiểu thế nào là làm điều tốt rồi vẫn bị nghi ngờ. Người hiểu thế nào là đứng một mình trước những phán xét bất công. Và điều kỳ diệu là chính từ nơi cô đơn nhất ấy, Đức Kitô vẫn tiếp tục yêu.
Đây là điểm làm Thánh Giá khác với mọi bi kịch khác. Chúa Giêsu không để nỗi cô đơn làm Người khép lại. Con người khi bị tổn thương thường có khuynh hướng thu mình. Bị phản bội, ta muốn trả thù. Bị hiểu lầm, ta muốn đoạn tuyệt. Bị bỏ rơi, ta muốn không cần ai nữa. Nhưng trên Thập Giá, khi con người dành cho Chúa điều tệ nhất, Chúa lại trao cho con người điều tốt nhất. Khi người ta đóng đinh tay Người, Người vẫn mở tay. Khi người ta chế nhạo, Người không nguyền rủa. Khi người ta cướp áo Người, Người không đòi lại. Khi người ta giết Người, Người cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Khi mọi sự dường như bị lấy khỏi Người, Người vẫn còn một điều không ai lấy nổi: khả năng yêu. Và Người yêu cho đến cùng.
Có một chi tiết rất đẹp trong Tin Mừng Gioan. Đứng gần Thập Giá có Mẹ Người và người môn đệ Người thương mến. Đức Giêsu nhìn thấy Mẹ và người môn đệ thì nói: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là Mẹ của anh” (Ga 19,26-27). Hãy tưởng tượng: trong giờ phút đau đớn nhất, Chúa vẫn nhìn thấy sự cô đơn của người khác. Người sắp chết nhưng lo rằng Mẹ mình sẽ cô đơn. Người trao Mẹ cho môn đệ và môn đệ cho Mẹ. Chính trên Thập Giá, Chúa tạo nên một gia đình mới. Đây là câu trả lời của Thiên Chúa cho nỗi cô đơn: không phải một bài diễn thuyết về cô đơn, mà là trao con người cho nhau. “Đây là Mẹ của con. Đây là con của Mẹ.” Hội Thánh được sinh ra dưới chân Thập Giá như một cộng đoàn của những người được trao cho nhau để không ai phải bước một mình.
Có lẽ đây là điều các cộng đoàn Kitô hữu hôm nay cần xét mình thật nhiều. Nhà thờ có đông người nhưng có ai vẫn cô đơn không? Giáo xứ có nhiều hội đoàn nhưng có ai đang đau mà chẳng ai hay không? Chúng ta tổ chức rất nhiều chương trình nhưng có đủ thời giờ ngồi cạnh một người đang tuyệt vọng không? Chúng ta nói rất nhiều về tình yêu nhưng có biết tên người hàng xóm già sống một mình không? Có biết một gia đình nào đang rạn vỡ không? Có nhận ra một người trẻ thường xuyên cười đùa nhưng bên trong đang suy sụp không? Có biết một người vừa mất vợ, mất chồng, mất con, tối về căn nhà im lặng đến mức nào không? Một Hội Thánh thực sự mang khuôn mặt Đức Kitô không thể chỉ là nơi người ta đến dự lễ rồi ra về như những người xa lạ. Hội Thánh phải là nơi một người có thể bước vào và biết rằng: “Ở đây có người nhớ đến tôi. Ở đây nếu tôi ngã xuống, sẽ có một bàn tay nâng tôi. Ở đây tôi không phải diễn. Ở đây tôi được phép yếu đuối. Ở đây tôi có thể khóc.”
Chúa Giêsu trên Thập Giá còn dạy chúng ta một điều khác: cảm thấy bị Thiên Chúa bỏ rơi không đồng nghĩa với việc Thiên Chúa đã bỏ ta. Đây là điều rất quan trọng trong đời sống đức tin. Có những giai đoạn người ta cầu nguyện mà không cảm thấy gì. Thánh lễ trở nên khô khan. Kinh Mân Côi như những lời lặp lại. Nhà tạm im lặng. Cầu xin mãi mà bệnh vẫn không khỏi. Cầu cho hôn nhân mà gia đình vẫn tan vỡ. Cầu cho con cái mà chúng vẫn đi xa. Cầu cho công việc mà thất bại vẫn đến. Người ta bắt đầu hỏi: “Chúa ở đâu?” Có khi câu hỏi ấy còn đau hơn chính tai họa đang xảy ra. Ta không chỉ đau vì mất một người thân, mà còn đau vì tưởng rằng Thiên Chúa đã không nghe lời cầu nguyện của mình. Ta không chỉ đau vì bệnh tật, mà còn đau vì cảm giác Chúa im lặng. Ta không chỉ khổ vì bị bỏ rơi, mà còn sợ rằng chính Chúa cũng đã bỏ mình. Nhưng Đức Giêsu trên Thánh Giá bước vào chính kinh nghiệm ấy. Người không lấy nó ra khỏi Tin Mừng. Người thánh hóa cả tiếng kêu “Tại sao?” Từ nay, người tín hữu có quyền đem chữ “tại sao” vào lời cầu nguyện. “Tại sao Chúa để điều này xảy ra? Tại sao con cầu mà Chúa im lặng? Tại sao người tốt lại đau khổ? Tại sao con phải mất người ấy? Tại sao đời con lại như thế này?” Hỏi không phải là mất đức tin. Đôi khi hỏi chính là một hình thức của đức tin, vì ta vẫn hỏi Chúa chứ chưa quay lưng khỏi Chúa.
Đức Giêsu đã cầu Thánh Vịnh 22: “Lạy Thiên Chúa con thờ, sao Ngài bỏ rơi con?” Nhưng Thánh Vịnh ấy không kết thúc trong tuyệt vọng. Nó đi từ tiếng kêu của người bị bỏ rơi đến niềm tín thác và lời ca tụng Thiên Chúa. Bởi thế tiếng kêu của Chúa trên Thập Giá cũng chứa một tia sáng mà chỉ người kiên trì mới nhận ra. Canvê không phải dấu chấm hết. Sau chiều thứ Sáu là sáng Chúa Nhật. Sau ngôi mộ là Phục Sinh. Sau sự im lặng của Cha là chiến thắng của tình yêu. Đức Giêsu đi đến tận đáy của cô đơn không để ở lại đó, nhưng để mở một con đường xuyên qua nó. Kitô giáo không hứa rằng người tin Chúa sẽ không bao giờ cô đơn. Kitô giáo công bố một điều sâu hơn: ngay khi ta cô đơn nhất, ta cũng không còn cô độc tuyệt đối, vì Đức Kitô đã ở đó trước ta.
Có người sẽ nói: “Nhưng tôi vẫn không cảm thấy Chúa.” Đúng. Có những lúc ta không cảm thấy. Nhưng tình yêu không chỉ tồn tại khi được cảm thấy. Mặt trời vẫn ở đó khi mây che phủ. Người mẹ vẫn yêu đứa con đang ngủ dù đứa trẻ không ý thức được. Trái đất vẫn quay dù ta chẳng cảm nhận được chuyển động của nó. Và Thiên Chúa vẫn ở gần con người ngay cả trong những giờ tâm hồn không nhận ra Người. Đức tin trưởng thành không phải là luôn cảm thấy Chúa bên mình; đức tin trưởng thành là dám tin Người vẫn ở đó khi mọi cảm giác đều nói ngược lại.
Nếu hôm nay có ai đang đọc những dòng này trong một căn phòng rất im, sau một mất mát không ai hiểu; nếu ai đó vừa trải qua một cuộc chia tay; nếu một người mẹ đang đêm chờ đứa con đã lâu không trở về; nếu một người cha mang gánh nặng mà không dám nói với vợ con; nếu một người già ngày nào cũng nhìn ra cửa mong có tiếng bước chân; nếu một người trẻ thấy mình chẳng thuộc về nơi nào; nếu một linh mục đang mỏi mệt trong sứ vụ; nếu một tu sĩ đang đi qua đêm tối của ơn gọi; nếu ai đó đang quỳ trước Nhà Tạm và chỉ có thể nói: “Lạy Chúa, con mệt quá”, thì xin hãy nhìn Thập Giá. Đừng vội tìm một câu trả lời. Có những lúc câu trả lời không phải một lời giải thích mà là một sự hiện diện. Đức Kitô không từ trên cao nói với ta: “Cố lên.” Người xuống tận vực sâu, ngồi bên ta và nói: “Ta biết.”
“Ta biết một nụ hôn phản bội đau thế nào. Ta biết một lời chối bỏ đau thế nào. Ta biết bạn bè bỏ chạy đau thế nào. Ta biết bị kết án sai đau thế nào. Ta biết bị đám đông quay lưng đau thế nào. Ta biết cầu nguyện trong bóng tối là thế nào. Ta biết kêu lên mà trời vẫn im lặng là thế nào. Ta biết cái chết của người mình yêu làm trái tim rách ra thế nào. Ta biết thân xác đau đớn là thế nào. Ta biết nước mắt là gì. Ta biết cô đơn.”
Chúa biết. Chỉ hai chữ ấy thôi cũng đủ để người tín hữu sống thêm một ngày.
Nhưng Thập Giá không chỉ mời người cô đơn đến nhận ủi an; Thập Giá còn sai mỗi chúng ta trở thành câu trả lời cho nỗi cô đơn của người khác. Có những người cầu xin Chúa gửi một thiên thần đến với họ, và rất có thể Chúa muốn gửi chúng ta. Một cú điện thoại có thể cứu một đêm tuyệt vọng. Một bữa cơm chung có thể cứu một người già khỏi cảm giác bị lãng quên. Một giờ ngồi nghe không phán xét có thể cứu một cuộc đời. Một câu “Tôi ở đây” đôi khi quý hơn cả trăm lời khuyên. Ta thường nghĩ phải làm điều gì lớn lao mới là bác ái. Nhưng dưới chân Thập Giá, Chúa cho thấy tình yêu trước hết là ở lại. Đức Maria không thể tháo đinh cho Con. Mẹ không thể ngăn cuộc hành hình. Mẹ không thể làm cho Con hết đau. Mẹ chỉ có thể đứng đó. Tin Mừng nói: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Mẹ đứng. Đôi khi yêu một người chỉ là không bỏ đi. Không giải quyết được, nhưng ở lại. Không có lời thích hợp, nhưng ở lại. Không hiểu hết, nhưng ở lại. Không thể lấy nỗi đau của họ, nhưng không để họ đau một mình.
Đó là điều xã hội hôm nay rất thiếu: những người biết ở lại. Chúng ta sống quá nhanh. Tin nhắn phải trả lời nhanh. Video phải ngắn. Tin tức phải mới. Mọi thứ phải hiệu quả. Và chúng ta cũng đối xử với đau khổ theo kiểu vội vàng ấy. Ta muốn người đang buồn phải chóng vui lại. Người mất người thân vài tuần sau đã nghe: “Thôi, cố quên đi.” Người trầm lặng bị bảo: “Nghĩ tích cực lên.” Người đang đau được khuyên: “Đừng nghĩ nhiều.” Nhưng trái tim con người không phải chiếc máy có thể khởi động lại bằng một câu khẩu hiệu. Có những mất mát phải mất nhiều năm mới học được cách sống chung. Có những vết thương không biến mất, chỉ dần trở thành sẹo. Chúa Giêsu không thúc ép những người đau khổ. Người từng khóc bên mồ Ladarô dù biết ít phút nữa mình sẽ cho ông sống lại. Người biết phép lạ sắp xảy ra nhưng vẫn khóc. Vì nước mắt của con người đáng được tôn trọng.
Một trong những nghịch lý đau lòng của thời đại là con người chạy trốn cô đơn bằng tiếng ồn. Căn nhà phải có tivi. Xe phải có nhạc. Tai phải có tai nghe. Tay phải cầm điện thoại. Vừa mở mắt đã nhìn màn hình. Trước khi ngủ vẫn nhìn màn hình. Ta sợ sự im lặng vì trong im lặng ta gặp chính mình. Có những câu hỏi bị tiếng ồn che khuất: Tôi đang sống để làm gì? Tôi thực sự yêu ai? Có ai thực sự biết tôi không? Tôi có hạnh phúc không? Nếu ngày mai chết, điều gì còn lại? Mối tương quan của tôi với Chúa đang ở đâu? Những câu ấy làm ta sợ. Vì thế ta lướt tiếp. Xem thêm một video. Đọc thêm một tin. Bận thêm một việc. Nhưng càng chạy, khoảng trống vẫn ở đó.
Đức Giêsu không cứu chúng ta khỏi cô đơn bằng cách lấp đầy đời ta bằng tiếng ồn. Người dẫn ta vào một sự thinh lặng có sự hiện diện. Có sự cô độc làm người ta chết dần, nhưng cũng có sự cô tịch làm người ta trưởng thành. Chính Chúa nhiều lần “đi ra nơi hoang vắng mà cầu nguyện”. Người không sợ ở một mình vì ở một mình với Cha không phải là cô đơn. Đây là điều ta cần học: cô đơn được chữa lành không chỉ bằng việc có thêm người chung quanh, mà còn bằng việc có một trung tâm bên trong. Nếu đời sống nội tâm trống rỗng, cả ngàn người vây quanh cũng không đủ. Nếu lòng ta bén rễ trong Thiên Chúa, có những lúc phải đi một mình mà ta vẫn không lạc.
Thế nhưng, không nên thiêng liêng hóa nỗi cô đơn đến mức quên trách nhiệm con người. Nói với một người đau khổ rằng “có Chúa là đủ” đôi khi có thể trở thành cách phủi tay của chúng ta. Chính Thiên Chúa đã nói ngay từ những trang đầu Kinh Thánh: “Con người ở một mình thì không tốt” (St 2,18). Con người được dựng nên cho tương quan. Chúng ta cần Thiên Chúa và cần nhau. Chúa Giêsu có Chúa Cha nhưng vẫn chọn mười hai môn đệ. Người có thể cầu nguyện một mình nhưng vẫn ăn với bạn hữu. Người vào nhà Mácta, Maria và Ladarô. Người dự tiệc cưới Cana. Người khóc với người khóc. Người để Gioan tựa đầu vào ngực mình trong Bữa Tiệc Ly. Con Thiên Chúa nhập thể không sống như một cá nhân biệt lập. Người dạy chúng ta rằng nhu cầu được yêu, được hiểu, được thuộc về không phải yếu đuối. Đó là một phần của thân phận con người.
Và cuối cùng, điều kỳ diệu nhất của Thập Giá là nơi Đức Giêsu có vẻ bị bỏ rơi nhất lại chính là nơi Thiên Chúa ôm lấy toàn thể nhân loại chặt nhất. Khi hai cánh tay Chúa bị kéo ra và đóng đinh, chúng trở thành vòng tay mở mãi không khép lại. Người không còn bước đến với ai được nữa, nên cả thế giới phải bước đến với Người. Người không còn cúi xuống chữa lành từng người được nữa, nhưng từ cạnh sườn bị đâm thủng, máu và nước chảy ra như nguồn mạch sự sống cho tất cả. Người không còn giảng một bài nào nữa, nhưng Thập Giá trở thành bài giảng lớn nhất. Người không còn làm phép lạ nào trước mắt dân chúng, nhưng chính cái chết của Người trở thành phép lạ làm thay đổi lịch sử. Người bị loại ra ngoài thành, nhưng trở nên trung tâm của ơn cứu độ. Người bị mọi người coi là thất bại, nhưng chính lúc ấy tình yêu chiến thắng.
Bởi vậy, hỡi người đang cô đơn, đừng xấu hổ vì nước mắt của mình. Đức Giêsu đã khóc. Đừng xấu hổ vì có ngày bạn yếu. Đức Giêsu từng nói: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được.” Đừng xấu hổ khi phải nói: “Tôi cần một người ở bên.” Đức Giêsu đã xin các môn đệ: “Hãy ở lại đây và canh thức với Thầy.” Đừng hoảng sợ nếu có lúc lời cầu nguyện chỉ còn một tiếng kêu. Chính Chúa cũng đã kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Và trên hết, đừng bao giờ nghĩ rằng bóng tối bạn đang đi qua là bằng chứng Thiên Chúa đã bỏ bạn. Chiều Thứ Sáu Tuần Thánh từng tối đến mức các môn đệ tưởng tất cả đã kết thúc. Nhưng Thiên Chúa đang âm thầm chuẩn bị buổi sáng Phục Sinh.
Có những đêm rất dài. Nhưng không có đêm nào dài hơn lòng trung tín của Thiên Chúa.
Có những vực sâu rất tối. Nhưng không có vực sâu nào sâu đến mức Thập Giá không chạm tới.
Có những người bỏ ta. Có những lời hứa bị quên. Có những bàn tay từng nắm rồi buông. Có những cánh cửa từng mở rồi đóng lại. Có những tiếng điện thoại ta chờ mãi không reo. Có những người ta thương đã đi vào cõi vĩnh hằng và không trở về nữa. Có những đoạn đời ta phải đi mà chẳng ai có thể bước thay. Nhưng từ chiều Canvê ấy, không người tín hữu nào còn thực sự bước đoạn đường ấy một mình.
Bởi có Một Người đã đi trước.
Người biết con đường.
Người mang dấu đinh.
Và Người đang chờ ta ngay trong chính nơi ta tưởng chẳng còn ai.
Có lẽ một ngày nào đó, khi cuộc đời đã lấy khỏi ta đủ nhiều, khi những tiếng vỗ tay đã im, khi sức khỏe không còn, khi bạn bè thưa dần, khi những gì từng khiến ta tự hào cũng không còn quan trọng, ta sẽ hiểu rằng cuối cùng điều cứu con người không phải là việc mình được bao nhiêu người biết đến, mà là mình có biết Đấng đã yêu mình đến cùng hay không. Và lúc ấy, Thánh Giá không còn là một vật treo trên tường. Thánh Giá trở thành nơi ta tựa đầu. Ta nhìn Người và Người nhìn ta. Không cần nói nhiều nữa.
“Lạy Chúa, Chúa biết con.”
“Ừ. Ta biết.”
“Chúa biết con cô đơn?”
“Ta biết.”
“Chúa có ở đây không?”
“Ta ở đây.”
Và có lẽ như thế là đủ.
Đủ để ta không tuyệt vọng.
Đủ để ta đứng dậy.
Đủ để ta bước thêm một ngày.
Đủ để rồi chính ta cũng tìm đến một người khác đang cô đơn, ngồi xuống bên họ và nói bằng sự hiện diện của mình điều Đức Kitô đã nói với ta từ Thập Giá:
“Bạn không phải đi một mình.”
Bởi sau tất cả, Tin Mừng của Thập Giá chính là Tin Mừng này: Thiên Chúa không cất khỏi thế giới mọi nỗi cô đơn bằng một phép màu tức khắc; Thiên Chúa làm một điều còn kỳ diệu hơn: Người bước vào nỗi cô đơn của chúng ta, mang nó trên thân mình, đi xuyên qua nó, và biến nơi tưởng là tận cùng của sự bỏ rơi thành cánh cửa của hiệp thông. Từ đó, mỗi vết thương có thể trở thành nơi ta gặp Người. Mỗi giọt nước mắt có thể trở thành lời cầu nguyện. Mỗi đêm tối có thể trở thành cuộc canh thức chờ bình minh. Và mỗi người cô đơn chúng ta gặp có thể trở thành một Đức Kitô đang âm thầm nói: “Ta khát” – khát một ánh mắt, một bàn tay, một chút thời gian, một sự có mặt chân thành.
Ước gì từ nay, mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, chúng ta đừng chỉ thấy một Chúa Giêsu đã chết hai ngàn năm trước. Hãy thấy ở đó những người đang bị bỏ rơi hôm nay. Hãy thấy người già trong căn nhà vắng. Hãy thấy bệnh nhân nằm giữa đêm bệnh viện. Hãy thấy người trẻ đang lạc giữa một thế giới quá nhiều tiếng nói mà chẳng nghe được tiếng gọi tên mình. Hãy thấy người chồng, người vợ đang sống cạnh nhau mà trái tim xa nhau cả ngàn cây số. Hãy thấy đứa con đang mong cha mẹ đặt điện thoại xuống để nghe mình nói. Hãy thấy người linh mục trở về căn phòng sau một ngày phục vụ. Hãy thấy người tù, người di dân, người thất nghiệp, người bị hiểu lầm, người vừa mất một người thân, người đang khóc âm thầm nơi không ai nhìn thấy. Và hãy nghe Đức Kitô nói: “Điều gì các con làm cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các con đã làm cho chính Ta.”
Nếu hiểu như thế, Thánh Giá sẽ không làm chúng ta bi lụy. Trái lại, Thánh Giá sẽ làm trái tim chúng ta mềm lại. Người đã từng cô đơn trên Thánh Giá sẽ dạy ta đừng để ai cô đơn bên cạnh mình. Người từng bị bỏ rơi sẽ dạy ta biết ở lại. Người từng bị phản bội sẽ dạy ta trung tín. Người từng bị chối bỏ sẽ dạy ta đừng chối bỏ người yếu đuối. Người từng kêu lên trong bóng tối sẽ dạy ta biết nghe tiếng kêu của những người không còn sức kêu thành lời.
Và rồi một ngày, khi chính ta bước vào giờ cuối đời, khi những người thân dù yêu ta đến đâu cũng phải dừng lại bên bờ của sự chết và ta phải đi phần đường cuối cùng tưởng như một mình, ta sẽ nhận ra có một Đấng đã bước qua cửa ấy trước ta. Bàn tay Người vẫn mang dấu đinh. Người sẽ không đứng xa. Người sẽ nói như đã nói với người trộm lành trong buổi chiều cô độc năm xưa: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43).
Đó mới là câu cuối cùng của người Kitô hữu trước nỗi cô đơn.
Không phải: “Tôi bị bỏ lại.”
Nhưng là:
“Tôi sẽ được ở với Người.”
Và ở với Người, thì không còn cô đơn nữa.
Lm. Anmai, CSsR.
“ĐÊM TỐI CỦA LINH HỒN” THEO THÁNH GIOAN THÁNH GIÁ – THÁNH GIÁ NỘI TÂM
Có những cây thánh giá người ta nhìn thấy được. Đó là một căn bệnh kéo dài, một cuộc chia ly, một cái chết bất ngờ, một cuộc hôn nhân tan vỡ, một người con hư hỏng, một thất bại cay đắng, một tuổi già cô quạnh, một nỗi oan không thể thanh minh, một sự phản bội đến từ chính người mình từng tin tưởng. Những thánh giá ấy có hình, có tên, có thể kể ra, có thể khóc về nó, có khi còn có người chung quanh hiểu và chia sẻ. Nhưng lại có một thứ thánh giá khác không ai nhìn thấy, không dễ gọi tên, cũng chẳng biết phải kể với ai. Nó nằm sâu trong lòng người. Bên ngoài người ta vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn làm việc, vẫn cười, vẫn nói, vẫn phục vụ, thậm chí vẫn nâng đỡ người khác; nhưng ở một miền rất sâu bên trong, tất cả dường như tối lại. Cầu nguyện không còn ngọt ngào. Nhà thờ vẫn đó mà lòng thấy xa. Thánh Thể vẫn đó mà tim tưởng như nguội lạnh. Kinh nguyện vẫn đọc nhưng từng chữ rơi xuống như những hạt sỏi khô. Người ta đi tìm Thiên Chúa mà không cảm thấy Thiên Chúa. Người ta gọi mà tưởng như Người im lặng. Người ta đã từng sống những tháng ngày đầy sốt sắng, từng cảm thấy Chúa gần đến mức tưởng mình có thể chạm được Người, thế rồi một ngày kia chẳng hiểu vì sao tất cả ánh sáng rút đi. Linh hồn bước vào một vùng đất không có bản đồ. Đó là nơi Thánh Gioan Thánh Giá gọi bằng một cái tên vừa đáng sợ vừa kỳ diệu: đêm tối.
Nói đến “đêm tối của linh hồn”, người ta rất dễ hiểu lầm. Có người nghĩ đó đơn giản là buồn bã, chán nản, khủng hoảng tâm lý hay mất niềm tin. Không hẳn như thế. Đau buồn tâm lý là một thực tại khác và có lúc cần được chăm sóc bằng những phương thế thích hợp của con người. “Đêm tối” trong linh đạo của Thánh Gioan Thánh Giá trước hết là một tiến trình thanh luyện mà Thiên Chúa có thể dùng để giải thoát linh hồn khỏi những bám víu rất tinh tế, kể cả sự bám víu vào những cảm giác đạo đức tốt đẹp, để đưa con người từ chỗ yêu những ơn Chúa đến chỗ yêu chính Chúa; từ chỗ tìm sự an ủi của Thiên Chúa đến chỗ tìm Thiên Chúa; từ chỗ tin vì thấy lòng mình được nâng lên đến chỗ vẫn tin khi chẳng còn thấy gì nâng đỡ mình nữa. Đêm tối vì con mắt tự nhiên không còn nhìn được đường. Nhưng chính trong đêm ấy, một thứ ánh sáng khác bắt đầu hoạt động: ánh sáng của đức tin tinh tuyền. Đối với Thánh Gioan Thánh Giá, đức tin càng tinh tuyền thì càng giống bóng tối đối với trí khôn con người, bởi điều Thiên Chúa là thì vượt quá mọi hình ảnh, ý niệm và cảm giác mà ta có thể hình dung về Người. Ta tưởng Thiên Chúa rời xa, nhưng đôi khi điều đang xảy ra lại là Thiên Chúa đang đưa ta đến gần Người hơn một cách mà giác quan và trí tưởng tượng không thể nhận biết.
Bởi vậy, đêm tối không nhất thiết là dấu hiệu Thiên Chúa vắng mặt. Có những lúc chính cảm giác Thiên Chúa vắng mặt lại trở thành nơi Thiên Chúa hiện diện sâu nhất. Điều này nghe như nghịch lý, nhưng Thánh Giá cũng là một nghịch lý như thế. Chiều thứ Sáu trên đồi Golgotha, nếu chỉ nhìn bằng mắt loài người, ai dám nói rằng đó là giờ Thiên Chúa chiến thắng? Một người đàn ông bị đóng đinh, thân thể tan nát, môn đệ bỏ chạy, dân chúng chế nhạo, những kẻ chống đối tưởng mình đã thắng. Không có gì giống chiến thắng cả. Không có gì giống vinh quang cả. Không có gì giống sự hiện diện đầy quyền năng của Thiên Chúa cả. Thế nhưng chính ở nơi tưởng như Thiên Chúa thất bại nhất, tình yêu Thiên Chúa lại được mặc khải đến tận cùng. Cũng vậy trong linh hồn: có những giờ phút ta tưởng đời sống thiêng liêng của mình đang chết, nhưng có thể chính cái đang chết không phải là đức tin, mà là những hình thức non nớt của đức tin; không phải tình yêu đối với Chúa đang chết, mà là tính chiếm hữu của ta trong tình yêu; không phải Thiên Chúa bỏ ta, mà là Thiên Chúa đang tháo khỏi tay ta những thứ ta đã lầm tưởng là chính Người.
Tin Mừng cho ta một cửa ngõ rất sâu để bước vào mầu nhiệm ấy. Trên thập giá, khoảng ba giờ chiều, Chúa Giêsu kêu lớn: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46; x. Mc 15,34). Chúng ta đừng đọc câu này quá nhanh. Hãy đứng lại dưới chân thập giá một lúc. Người nói câu ấy là Con yêu dấu của Chúa Cha. Người đã từng nói: “Cha và Tôi là một.” Người vẫn sống hoàn toàn trong sự hiệp thông với Cha. Thế mà trong nhân tính thật của mình, Người đã đi vào tận đáy kinh nghiệm con người về sự bị bỏ rơi. Người không đứng ngoài bóng tối của chúng ta để giảng cho chúng ta về ánh sáng. Người bước vào bóng tối. Người không giải thích đau khổ từ một ngai cao. Người mang đau khổ trong thân xác. Người không nói với người cô độc rằng: “Con đừng cô độc nữa.” Người đã nếm cô độc. Người không nói với người không còn cảm thấy Chúa rằng: “Con phải cố cảm thấy Chúa.” Chính Người đã thốt lên từ nơi sâu nhất của một tâm hồn bị phủ bởi bóng đêm: “Sao Ngài bỏ rơi con?” Nhưng điều đáng chú ý là trong tiếng kêu tưởng như tuyệt vọng ấy vẫn còn hai chữ: “Thiên Chúa của con.” Người không cảm thấy ánh sáng, nhưng Người vẫn gọi Cha. Người không được giải thoát khỏi thập giá, nhưng Người vẫn trao mình. Người không nhận được một lời giải thích, nhưng Người vẫn đi đến tận cùng của vâng phục. Và sau cùng Người nói: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Có lẽ đó là hình ảnh đẹp nhất của đêm tối đức tin: không còn gì để bám mà vẫn phó thác; không còn gì để thấy mà vẫn tin; không còn cảm giác được nâng đỡ mà vẫn nói: “Con ở trong tay Cha.”
Thánh Gioan Thánh Giá hiểu rất rõ con đường ấy bởi chính ngài không học về đêm tối từ sách vở trước tiên; ngài đã đi qua nó bằng đời mình. Bị chính anh em trong dòng bắt giữ, bị giam trong một căn phòng chật hẹp ở Toledo, chịu những tháng dài thiếu thốn, nhục nhã, cô độc và đau đớn, Thánh Gioan đã biết thế nào là khi những nâng đỡ bên ngoài gần như bị lấy hết. Nhưng kỳ lạ thay, chính trong nơi tù ngục ấy lại phát sinh những vần thơ thuộc hàng đẹp nhất của linh đạo Kitô giáo. Đêm bên ngoài trở thành nơi mở ra ánh sáng bên trong. Xiềng xích bên ngoài không nhốt nổi linh hồn đang tìm Người Yêu. Căn phòng nhỏ không ngăn được lòng ngài bước vào khoảng trời vô tận của Thiên Chúa. Đó là một bí mật của đời sống thánh thiện mà thế gian rất khó hiểu: có khi nơi ta tưởng mình bị tước đoạt nhiều nhất lại là nơi ta được ban tặng điều sâu nhất; có khi Thiên Chúa đóng một cánh cửa không phải để nhốt ta, mà để linh hồn thôi chạy lang thang và bắt đầu đi vào nội tâm; có khi Chúa lấy khỏi ta những ngọn đèn nhỏ vì Người muốn dạy ta đi dưới ánh sáng của chính Người.
Chúng ta thường yêu ánh sáng nhưng không hiểu đêm. Chúng ta thích những ngày cầu nguyện có cảm xúc. Một giờ chầu mà lòng xúc động, một bài thánh ca làm rơi nước mắt, một bài giảng chạm lòng, một cuộc tĩnh tâm đầy bình an, một thời gian mọi việc thuận lợi – những điều ấy quý giá và có thể là ân sủng Chúa ban. Nhưng chúng ta rất dễ vô tình đồng hóa cảm giác về Chúa với chính Chúa. Khi cầu nguyện thấy sốt sắng, ta nói: “Hôm nay Chúa gần con.” Khi khô khan, ta lại nghĩ: “Chắc Chúa xa con.” Nhưng khoảng cách giữa Thiên Chúa với chúng ta không được đo bằng nhiệt độ cảm xúc của chúng ta. Người mẹ vẫn yêu con khi đứa trẻ đang ngủ và không cảm thấy vòng tay mẹ. Mặt trời vẫn tồn tại khi mây đen che kín bầu trời. Và Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa khi lòng ta không cảm nhận được Người. Nếu đức tin chỉ sống được lúc có cảm giác, thì điều ta yêu có khi không phải là Thiên Chúa mà là cảm giác dễ chịu do đời sống đạo mang lại.
Chính ở đây Thánh Giá nội tâm bắt đầu. Một ngày kia, Thiên Chúa dường như không còn “ngọt” nữa. Những phương thức cầu nguyện từng nâng đỡ mình bỗng trở nên nghèo nàn. Ta ngồi trước Nhà Tạm mà tâm trí chẳng có ý tưởng đẹp nào. Ta đọc một đoạn Tin Mừng mà thấy khô khốc. Ta lần chuỗi nhưng tâm hồn như đứng bên ngoài từng kinh Kính Mừng. Ta xét mình rồi chỉ thấy sự nghèo nàn. Ta cố tạo lại những cảm xúc của những năm tháng trước nhưng càng cố càng mệt. Và một cám dỗ rất lớn xuất hiện: bỏ cuộc. “Có lẽ tôi không còn tin.” “Có lẽ Chúa không muốn tôi nữa.” “Có lẽ đời cầu nguyện của tôi đã hỏng.” Chưa chắc. Có khi Chúa đang mời linh hồn bỏ lối sống thiêng liêng đặt trọng tâm vào điều mình cảm nhận để bước sang một đời sống đặt trọng tâm vào điều mình chọn lựa trong đức tin. Trước kia ta cầu nguyện vì cầu nguyện làm ta bình an. Bây giờ ta cầu nguyện chỉ vì Chúa đáng được yêu. Trước kia ta làm việc lành và cảm thấy vui vì mình tốt. Bây giờ ta làm mà chẳng thấy gì, thậm chí chẳng ai biết. Trước kia ta phục vụ với niềm hứng khởi. Bây giờ phục vụ trở thành một hành vi trung thành âm thầm. Và chính lúc ấy, tình yêu có thể đang trở nên tinh tuyền hơn.
Một đứa trẻ ôm mẹ khi mẹ cho quà là điều rất tự nhiên. Nhưng đến ngày chẳng có món quà nào, đứa trẻ vẫn ôm mẹ chỉ vì đó là mẹ của nó, tình yêu ấy đã trưởng thành hơn. Đời sống với Thiên Chúa cũng vậy. Có những lúc Chúa cho ta nhiều “kẹo thiêng liêng”: sự bình an, cảm động, niềm vui, ơn soi sáng, cảm giác gần gũi. Những ân sủng ấy không xấu; chúng rất cần thiết ở nhiều giai đoạn. Nhưng nếu ta cứ dừng ở đó, linh hồn sẽ yêu bàn tay ban quà mà chưa chắc đã yêu khuôn mặt của Đấng ban quà. Đến một lúc nào đó, Chúa có thể giấu quà đi. Không phải vì Người nghèo đi, cũng không phải vì Người hết yêu ta. Người muốn xem trái tim ta tìm gì. “Con tìm Ta hay tìm sự dễ chịu Ta ban? Con thờ lạy Ta hay thờ lạy cảm giác bình an trong lòng con? Nếu chẳng còn thấy gì, con còn ở lại với Ta không?”
Câu hỏi ấy làm đau. Nhưng đó là câu hỏi của tình yêu trưởng thành.
Thánh Giá ngoại tại lấy khỏi ta những thứ bên ngoài; Thánh Giá nội tâm đi sâu hơn: nó lấy khỏi ta chính cái tôi thiêng liêng. Có một cái tôi rất thô mà ai cũng dễ nhận ra: ham tiền, ham danh, ham quyền lực, ham hưởng thụ, nóng giận, ích kỷ. Nhưng còn một cái tôi tinh tế hơn, có thể ẩn ngay trong đời sống đạo. Ta thích mình là người đạo đức. Ta muốn người khác nhìn mình như người cầu nguyện. Ta vui khi bài giảng của mình được khen, khi việc phục vụ của mình được ghi nhận, khi cộng đoàn cần đến mình, khi lời khuyên của mình được người khác nghe. Ta có thể nói rất nhiều về Chúa mà trong sâu thẳm lại đang tìm mình. Ta có thể làm công việc của Chúa nhưng lặng lẽ xây tượng đài cho cái tôi. Ta có thể hy sinh thật nhiều nhưng lại khó chịu khi không ai biết mình hy sinh. Ta có thể phục vụ người nghèo nhưng đau lòng hơn vì mình bị quên hơn là vì người nghèo đang đau. Những bám víu ấy tinh tế đến mức có khi chỉ ánh sáng của Thiên Chúa mới phơi bày nổi.
Đêm tối là nơi những lớp vỏ ấy bị bóc ra.
Ta từng nghĩ mình khiêm nhường cho đến ngày bị coi thường. Ta từng nghĩ mình hiền cho đến khi bị xúc phạm. Ta từng nghĩ mình phó thác cho đến ngày mọi kế hoạch sụp đổ. Ta từng nghĩ mình yêu Chúa vô vị lợi cho đến khi Chúa không còn ban điều mình xin. Ta từng nghĩ mình trung tín cho đến lúc việc trung tín không còn đem lại một chút an ủi nào. Ta từng nghĩ mình tha thứ cho đến khi gặp lại người đã làm mình đau. Ta từng nghĩ mình không cần lời khen cho đến khi người khác được ca ngợi còn mình bị lãng quên. Đêm tối có một cách rất đau để cho ta nhìn thấy sự thật về mình. Nhưng Thiên Chúa phơi bày không phải để làm nhục. Một bác sĩ mở vết thương không phải vì ghét bệnh nhân. Ánh sáng chiếu vào căn phòng bẩn không tạo ra bụi bẩn; nó chỉ cho ta thấy thứ vốn đã ở đó. Thiên Chúa đưa linh hồn vào sự thật để giải thoát nó.
Vì thế, đừng quá vội xin Chúa cất mọi bóng tối. Có những bóng tối cần được chữa lành, nhưng cũng có những đêm ta cần đi qua. Chúng ta thường cầu: “Lạy Chúa, xin cho con thấy đường.” Có khi Chúa đáp: “Con không cần thấy hết con đường. Con chỉ cần nắm tay Ta.” Chúng ta nói: “Lạy Chúa, xin giải thích tại sao chuyện này xảy ra.” Có khi Người không giải thích. Người chỉ nói: “Hãy theo Ta.” Chúng ta muốn một tấm bản đồ. Người trao cho ta một bàn tay. Chúng ta muốn biết tương lai. Người cho ta đủ bánh cho hôm nay. Chúng ta muốn được bảo đảm rằng ngày mai mọi chuyện sẽ ổn. Người chỉ bảo đảm một điều: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày.”
Con người ngày nay rất sợ bóng tối. Chúng ta sống trong một nền văn minh thích kiểm soát: kiểm soát sức khỏe, kế hoạch, tài chính, công việc, hình ảnh, dư luận, tương lai. Điện thoại cho ta cảm tưởng bất cứ câu hỏi nào cũng có thể tìm câu trả lời trong vài giây. Bản đồ cho ta biết con đường trước mặt. Ứng dụng cho ta biết trời sẽ mưa lúc nào. Máy móc đo nhịp tim, giấc ngủ, bước chân. Dữ liệu làm ta tưởng đời sống có thể được dự báo. Nhưng rồi một biến cố xảy ra không có trong bất kỳ ứng dụng nào: một cú điện thoại lúc nửa đêm, một kết quả xét nghiệm, một lời chia tay, một tai nạn, một người thân ra đi, một cánh cửa đóng lại, một ơn gọi chao đảo. Và ta phát hiện có những vùng của đời người không có GPS. Ta phải bước bằng đức tin.
Có lẽ đó chính là một trong những lý do Thiên Chúa cho phép những đêm tối xuất hiện: để con người thôi nhầm lẫn sự kiểm soát với bình an. Bình an Kitô giáo không phải là biết trước mọi chuyện sẽ xảy ra thế nào. Bình an là biết mình thuộc về Ai ngay cả khi không biết điều gì sẽ xảy ra. Đức tin không phải sở hữu câu trả lời cho mọi câu hỏi. Đức tin là trao đời mình cho Đấng mình tin, ngay cả khi Người chưa trả lời câu hỏi. Abraham rời quê mà “không biết mình đi đâu”. Đức Maria thưa “xin vâng” mà chưa biết lời xin vâng ấy sẽ đưa Mẹ qua những con đường nào. Giuse đem Hài Nhi trốn sang Ai Cập trong đêm mà không biết ngày nào được trở về. Các Tông đồ bỏ lưới theo Chúa mà chẳng có bản kế hoạch ba năm. Đức tin luôn mang một phần bóng tối, bởi nếu mọi sự đều được nhìn thấy thì đâu còn gọi là tin.
“Phúc thay những người không thấy mà tin.” Lời Chúa Giêsu nói với Tôma không phải là lời ca tụng sự mù quáng; đó là lời mặc khải về bản chất của tương quan với Thiên Chúa. Có một điểm mà bằng chứng dừng lại và tình yêu phải bước tiếp. Người vợ không thể mỗi sáng bắt chồng chứng minh lại toàn bộ tình yêu từ đầu. Người bạn không thể mỗi ngày yêu cầu người kia cung cấp bằng chứng rằng tình bạn còn tồn tại. Tương quan sống bằng một sự tín thác được xây dựng qua thời gian. Đời sống với Chúa cũng vậy. Có những ngày Người cho ta cảm thấy lòng mình cháy lên. Có những ngày Người để ta chỉ còn nhớ: “Tôi đã biết Đấng tôi tin.” Và ký ức về lòng trung thành của Chúa trong quá khứ trở thành chiếc neo cho linh hồn giữa đêm.
Thánh Gioan Thánh Giá còn cho thấy đêm tối không chỉ thanh luyện giác quan mà còn thanh luyện cả tinh thần. Đó là phần đau hơn nhiều. Ở mức sâu này, con người không những mất những cảm giác dễ chịu mà còn có thể thấy mình nghèo nàn tận căn, thấy những ý niệm về Chúa không còn đủ, thấy chính mình bất lực trước sự thánh thiện vô biên của Người. Khi ánh sáng mạnh đi vào mắt yếu, ta tưởng là tối. Một người từ căn phòng tối bước ra nắng gắt sẽ nhắm mắt vì chói. Theo một nghĩa tương tự, ánh sáng Thiên Chúa quá lớn so với khả năng tự nhiên của linh hồn nên có thể được kinh nghiệm như bóng tối. Không phải vì ánh sáng thiếu, mà vì ánh sáng quá đầy.
Đây là một điều rất sâu. Ta thường tưởng càng đến gần Chúa càng thấy mình tốt hơn. Các thánh lại thường càng đến gần Chúa càng thấy sự bé nhỏ của mình. Không phải vì họ tệ hơn, mà vì ánh sáng nhiều hơn. Một chiếc áo có vẻ trắng trong căn phòng tối; đem ra dưới nắng mới thấy những vết nhỏ. Linh hồn cũng vậy. Người mới bắt đầu có thể rất hài lòng với những tiến bộ của mình. Người đi sâu lại càng ít tự hài lòng. Họ biết mọi sự là ân sủng. Họ thôi kể công. Họ thôi ngạc nhiên trước sự yếu đuối của mình. Họ ít phán xét hơn vì đã thấy vực thẳm trong chính lòng mình. Họ dịu dàng hơn với người tội lỗi bởi họ biết nếu không có ân sủng, mình cũng chẳng hơn ai. Đó là hoa trái quý giá của đêm tối: nó bẻ gãy sự kiêu ngạo thiêng liêng.
Có những người rất đạo đức nhưng rất cứng. Họ cầu nguyện nhiều nhưng khó cảm thông. Họ biết giáo lý nhưng dễ kết án. Họ yêu sự hoàn thiện đến mức không chịu nổi người yếu đuối. Có thể họ chưa đi đủ sâu vào kinh nghiệm về sự nghèo nàn của chính mình. Người đã thực sự bị Thiên Chúa đưa vào đêm tối thường bớt ồn ào. Họ không còn dễ nói: “Nếu có đức tin thì phải thế này.” Họ biết có những đêm một kinh Lạy Cha cũng khó. Họ không còn dễ bảo người đau khổ: “Cứ cầu nguyện đi rồi ổn.” Họ biết có lúc cầu nguyện mà chẳng thấy ổn chút nào. Họ không còn nhanh chóng giải thích tại sao Chúa cho phép người khác đau khổ. Họ đã học đứng bên cạnh một mầu nhiệm mà không cần giảng giải. Họ biết đôi khi sự hiện diện im lặng có giá trị hơn một trăm câu trả lời.
Thánh Giá dạy ta điều ấy. Đức Maria dưới chân thập giá đâu có một lời giải thích. Mẹ đã nhận lời truyền tin rằng Con Mẹ sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao, sẽ ngự trên ngai Đavít. Giờ đây ngai ấy là cây gỗ. Vương miện ấy là vòng gai. Triều đình ấy là hai tử tội. Áo Người bị lính chia nhau. Thân xác Người đầy máu. Nếu có ai có quyền hỏi “tại sao”, đó là Mẹ. Nhưng Tin Mừng không ghi một câu Mẹ chất vấn Thiên Chúa. Mẹ đứng đó. “Đứng gần thập giá Đức Giêsu có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Chỉ một chữ “đứng” thôi đã chứa cả một nền thần học về đức tin. Mẹ không hiểu hết, nhưng Mẹ đứng. Mẹ không thay đổi được biến cố, nhưng Mẹ ở lại. Mẹ không kéo Con xuống khỏi thập giá, nhưng Mẹ đi cùng Con đến cùng. Có những lúc thánh thiện chẳng phải làm điều gì lớn lao; chỉ là không bỏ đi.
Trong đêm tối cũng vậy. Đôi khi điều Chúa đòi ta không phải là cảm thấy sốt sắng, mà chỉ là ở lại. Đừng bỏ Thánh Lễ vì thấy khô. Đừng bỏ cầu nguyện vì chẳng còn cảm xúc. Đừng bỏ việc thiện vì không còn được công nhận. Đừng bỏ ơn gọi chỉ vì một giai đoạn mịt mờ. Đừng rời khỏi chân thập giá chỉ vì Chúa chưa phục sinh theo giờ ta muốn. Thứ Bảy Tuần Thánh dài lắm đối với những người đang đau. Chúng ta biết sau này có sáng Phục Sinh vì đã đọc hết Tin Mừng. Nhưng Đức Maria và các môn đệ đã phải sống một ngày thứ Bảy thật sự, khi ngôi mộ còn đóng kín và họ chưa thấy thiên thần. Có những ngày trong đời ta cũng là Thứ Bảy Tuần Thánh: lời hứa đã nhận, nhưng kết quả chưa thấy; Chúa đã nói, nhưng dường như im; hạt đã gieo, nhưng mặt đất chẳng có dấu hiệu nảy mầm. Cần một đức tin rất sâu để không đào hạt giống lên mỗi sáng xem nó đã mọc chưa.
Con người thường phá hỏng nhiều công trình của ân sủng vì không chịu nổi thời gian chờ đợi. Chúng ta muốn phục sinh ngay trong chiều thứ Sáu. Muốn cầu một tuần là gia đình đổi. Muốn đi tĩnh tâm một lần là vết thương lành. Muốn xin Chúa một tháng là người con trở về. Muốn làm việc thiện vài năm là phải thấy hoa trái. Nhưng Thiên Chúa làm việc theo một nhịp khác. Một hạt lúa phải nằm đủ lâu trong lòng đất. Thai nhi cần đủ tháng trong dạ mẹ. Rượu ngon cần thời gian. Một đời thánh thiện càng cần thời gian hơn. Và đêm tối chính là một thứ thời gian thai nghén, nơi điều cũ chết đi nhưng điều mới chưa lộ diện.
Hãy hình dung một con sâu trong kén. Nếu nó có ý thức, có lẽ nó nghĩ đời mình đã bị nhốt lại. Không còn bầu trời, không còn cành cây, không còn những gì quen thuộc. Nhưng chính trong khoảng tối ấy, một cuộc biến đổi âm thầm diễn ra. Điều cũ đang tan ra để một hình thái mới xuất hiện. Đời sống thiêng liêng cũng có những chiếc kén như vậy. Thiên Chúa cho phép ta mất đi những điểm tựa quen thuộc không phải để hủy diệt ta nhưng để biến đổi ta. Điều khó nhất là trong lúc biến đổi, linh hồn không thấy điều gì đang xảy ra. Nó chỉ thấy mình mất. Chúa thấy mình đang được sinh lại.
Đây là lý do tại sao Thánh Giá nội tâm có sức thanh luyện ghê gớm. Nó đưa ta đến chỗ “không còn gì”. Thánh Gioan Thánh Giá dùng ngôn ngữ rất quyết liệt về sự từ bỏ: muốn đạt tới tất cả, phải sẵn sàng không chiếm hữu gì; muốn biết tất cả theo Thiên Chúa, phải chấp nhận không dựa vào kiến thức của riêng mình; muốn hưởng nếm Thiên Chúa, phải từ bỏ sự lệ thuộc vào mọi khoái cảm thiêng liêng. Cái “không” ấy không phải chủ nghĩa hư vô. Nó là khoảng trống dành cho Đấng là Tất Cả. Một chiếc bình đầy cát không thể chứa nước. Thiên Chúa không thể đổ đầy một trái tim đang đầy chính mình. Đêm tối đổ bớt chúng ta ra.
Mất quyền kiểm soát. Mất hình ảnh đẹp về chính mình. Mất nhu cầu luôn đúng. Mất sự lệ thuộc vào lời khen. Mất những bảo đảm giả tạo. Mất ý tưởng rằng Chúa phải hành động theo cách ta nghĩ. Mất luôn cả hình ảnh về một Thiên Chúa chỉ tồn tại để làm đời ta thuận lợi. Rồi một ngày, giữa tất cả những mất mát ấy, ta bắt đầu khám phá một Thiên Chúa lớn hơn rất nhiều so với Thiên Chúa do trí tưởng tượng của ta tạo ra.
Đó chính là lúc Thánh Giá từ một vật treo trên tường trở thành một thực tại bên trong.
Đeo thánh giá thì dễ hơn để thánh giá đóng đinh cái tôi. Hôn thánh giá trong phụng vụ thì dễ hơn để Chúa đóng đinh sự tự ái của ta. Quỳ trước tượng Chúa chịu nạn thì dễ hơn chấp nhận bị hiểu lầm mà không trả đũa. Suy niệm năm dấu thánh thì dễ hơn chấp nhận một vết thương không ai xin lỗi. Hát “vinh dự của tôi là Thập Giá” thì dễ hơn khi Thập Giá đến dưới hình thức một người mình không chịu nổi, một bổn phận kéo dài, một tuổi già mất dần khả năng, một cộng đoàn không như mình mong muốn, một lời cầu nguyện không được đáp theo ý mình.
Vì thế, không nên biến “đêm tối” thành một thứ thi vị dễ chịu. Có những đêm rất dài. Có người cầu nguyện nhiều năm trong khô khan. Có người trung thành với một ơn gọi trong những giai đoạn chẳng cảm thấy gì ngoài bổn phận. Có người chăm sóc người thân bệnh tật đến mức cạn kiệt. Có người sống đời dâng hiến mà đi qua những năm tháng cảm giác như chẳng còn gì mới. Có người mất người thân rồi phải học lại cách cầu nguyện với một Thiên Chúa mà mình vừa muốn tin vừa muốn trách. Đừng nói với họ quá nhanh rằng “đó là đêm tối, cứ vui lên”. Không. Trước mầu nhiệm của người đang đau, phải tháo dép như Môsê trước bụi gai. Có những mảnh đất chỉ nên bước vào bằng sự kính trọng và thinh lặng.
Hơn nữa, không phải mọi bóng tối đều là “đêm tối thần bí”. Cần phân định. Có bóng tối do tội lỗi cần sám hối. Có khô khan do lười biếng cần kỷ luật. Có mệt mỏi do kiệt sức cần nghỉ ngơi. Có đau khổ tâm lý cần được trợ giúp chuyên môn. Có rối loạn trong đời sống vì ta sống thiếu quân bình. Không nên gắn một nhãn thiêng liêng lên mọi đau khổ rồi bỏ qua những phương thế chữa lành cần thiết. Thánh Gioan Thánh Giá là một bậc thầy tinh tế chứ không phải người lãng mạn hóa đau khổ. Đêm tối đích thực không làm người ta say mê bóng tối; nó làm người ta khát Thiên Chúa hơn. Nó không đẩy người ta vào ích kỷ khép kín; nếu được sống đúng, nó làm trái tim rộng ra. Nó không khiến người ta khinh thường thân xác hay đời sống; nó giải thoát ta khỏi sự chiếm hữu để yêu đời sống trong tự do hơn.
Dấu chỉ rất đẹp để nhận ra công trình của Chúa là: sau một đêm dài, con người trở nên nhỏ hơn trong cái tôi nhưng lớn hơn trong tình yêu. Ít muốn được chú ý hơn, nhưng biết chú ý người khác hơn. Ít nói về mình hơn, nhưng biết lắng nghe hơn. Ít phán xét hơn. Ít đòi Chúa giải thích hơn. Dễ biết ơn hơn. Dễ khóc với người khóc hơn. Dễ tha thứ hơn. Không còn quá hốt hoảng khi kế hoạch thay đổi. Không còn nghĩ một thất bại là tận thế. Không còn nghĩ một lời chê có thể quyết định giá trị đời mình. Đó là tự do. Và tự do ấy được mua bằng những đêm không hề rẻ.
Có lẽ một trong những thánh giá nội tâm lớn nhất chính là khi Thiên Chúa không còn giống điều ta mong Thiên Chúa phải là. Ta cầu xin một phép lạ mà phép lạ không xảy ra. Ta xin chữa lành nhưng bệnh vẫn tiến triển. Ta xin một người thay đổi nhưng họ càng xa. Ta xin cánh cửa mở nhưng nó đóng. Lúc ấy cuộc chiến lớn nhất không còn ở hoàn cảnh bên ngoài; nó diễn ra trong hình ảnh về Thiên Chúa của ta. “Nếu Chúa yêu con, tại sao?” Đây là câu hỏi muôn đời. Và đêm tối đức tin không nhất thiết cho ta một câu giải thích. Nó đưa ta đến một câu hỏi khác sâu hơn: Nếu ta không hiểu được Thiên Chúa, ta còn tin Người không?
Gióp đã đi qua nơi ấy. Ông mất tài sản, con cái, sức khỏe, danh dự. Những người bạn đến và cố giải thích Thiên Chúa. Họ xây những hệ thống lý luận rất chặt: chắc Gióp đã làm gì sai; đau khổ phải có nguyên nhân; Thiên Chúa công bằng nên người đau khổ hẳn đáng chịu. Nhưng cuối sách, Thiên Chúa không trao cho Gióp một công thức giải thích đau khổ. Người trao cho Gióp chính sự hiện diện của Người. Và Gióp đi từ chỗ “trước kia con chỉ được biết về Ngài do người ta nói lại” đến kinh nghiệm sâu hơn. Có những câu hỏi Thiên Chúa không trả lời bằng một câu. Người trả lời bằng chính Người.
Thập giá cũng vậy. Kitô giáo không có một lời giải thích triết học đủ để làm mọi đau khổ trở nên dễ hiểu. Kitô giáo có một Đấng bị đóng đinh. Khi ta hỏi: “Thiên Chúa ở đâu khi con đau?” Thánh Giá trả lời: “Ở đây.” Không ở ngoài. Không đứng nhìn. Không xa cách. Ở trong vết thương. Thiên Chúa không cứu chúng ta bằng cách tránh mọi đau khổ của con người, nhưng bằng cách bước vào chính nơi đau khổ và mở bên trong nó một con đường dẫn đến sự sống.
Bởi vậy, người đang ở trong đêm tối cần nhìn Chúa chịu đóng đinh nhiều hơn là cố phân tích chính mình. Càng nhìn mình, đôi khi càng tối. Hãy nhìn Người. Hai tay Người bị đóng đinh, nghĩa là Người không còn làm gì theo cách người đời nghĩ. Hai chân Người bị đóng đinh, nghĩa là Người không còn đi đâu. Miệng Người khát. Thân xác Người cạn kiệt. Nhưng chính khi không còn “làm” được gì, Người đang hoàn tất công trình cứu độ lớn nhất. Điều ấy có thể là niềm an ủi sâu sắc cho những người một ngày kia không còn làm được những điều họ từng làm. Người bệnh nằm giường có thể nghĩ mình vô ích. Người già không còn phục vụ như trước có thể nghĩ đời mình mất giá trị. Một linh mục đau yếu không còn giảng lễ nhiều như xưa có thể thấy mình trở thành gánh nặng. Nhưng Thánh Giá nói: giá trị của đời người không nằm trước hết ở số việc ta làm được. Chúa Giêsu cứu thế giới trong những giờ cuối khi bàn tay Người không thể cầm lấy một ổ bánh, chân Người không thể đi thêm một bước, miệng Người chỉ còn đủ sức nói vài câu. Tình yêu có thể trở nên sinh hoa trái nhất chính lúc con người bất lực nhất.
Đó là một phần rất sâu của Thánh Giá nội tâm: học để cho mình được cứu thay vì luôn muốn là người cứu người khác. Người mạnh quen cho đi rất khó nhận. Người lãnh đạo quen nâng đỡ rất khó để người khác nâng mình. Người đạo đức quen khuyên bảo rất khó thú nhận mình cũng hoang mang. Đêm tối làm ta nghèo đi để ta biết mình cần ân sủng. Và có lẽ câu cầu nguyện trưởng thành nhất không phải “Lạy Chúa, con sẽ làm cho Chúa điều này điều kia,” mà là lời người thu thuế đứng cuối Đền Thờ: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con.” Không thành tích. Không khoe khoang. Hai bàn tay trống.
Thiên Chúa thích những bàn tay trống.
Bởi bàn tay đầy chính mình thì khó nhận quà.
Có một khoảnh khắc trong hành trình thiêng liêng, người ta hiểu rằng ngay cả sự thánh thiện cũng không thể chiếm hữu. Ta không thể đứng trước Chúa và nói: “Con đã cầu nguyện từng này giờ; con đã hy sinh từng ấy năm; con đã giữ luật; vậy Chúa nợ con bình an.” Không. Tất cả đều là ân sủng. Từ hơi thở cho đến đức tin. Từ một lời cầu nguyện cho đến một giọt nước mắt thống hối. Từ ơn gọi đến khả năng trung thành với ơn gọi. Người đi qua đêm tối bắt đầu sống bằng lòng biết ơn thay vì quyền đòi hỏi.
Và đó là tự do của các thánh.
Các ngài không cần Thiên Chúa phải chứng minh Người yêu họ mỗi ngày bằng những thuận lợi. Thánh Phaolô xin cất cái dằm ba lần nhưng Chúa không cất. Câu trả lời là: “Ơn của Thầy đã đủ cho con.” Không phải: “Ta sẽ giải quyết mọi thứ.” Nhưng: “Ơn Ta đủ.” Có khác biệt rất lớn giữa hai điều ấy. Chúng ta muốn một Thiên Chúa làm mọi gánh nặng biến mất. Thiên Chúa nhiều lúc muốn biến đổi đôi vai chúng ta. Ta xin con đường bằng phẳng; Người ban sức để bước. Ta xin biển lặng; Người dạy ta tin khi thuyền chao đảo. Ta xin khỏi phải xuống thuyền trong đêm; Người bước trên mặt nước đến với ta.
Tin Mừng kể rằng các môn đệ chèo thuyền giữa đêm, gió ngược, sóng lớn. Gần sáng Chúa Giêsu mới đến. Người có thể đến từ canh đầu. Người có thể không để gió nổi. Người có thể cho họ một chuyến đi bình yên. Nhưng Người đã để họ chèo nhiều giờ trong bóng tối. Và rồi Người xuất hiện chính giữa nơi làm họ kinh hãi. Các ông tưởng là ma. Đó cũng là một hình ảnh kỳ lạ của đời sống thiêng liêng: đôi khi ân sủng đến dưới hình thức ta không nhận ra. Điều ta tưởng sẽ hủy mình có thể trở thành nơi Chúa bước đến. Và tiếng Người vang lên: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” (Mt 14,27). Người không nói: “Không có sóng.” Sóng vẫn có. Người nói: “Có Thầy.”
Thánh Gioan Thánh Giá gọi con đường này là đêm, nhưng ngài cũng viết về nó như một đêm “hạnh phúc”. Không phải hạnh phúc vì đau khổ tự nó tốt, mà hạnh phúc vì đêm đã đưa linh hồn đến cuộc gặp gỡ tinh tuyền hơn với Người Yêu. Như hai người yêu nhau gặp nhau trong đêm, khi những ồn ào ban ngày đã lắng xuống, linh hồn ra khỏi căn nhà của những quyến luyến để đi tìm Đấng mình yêu. Đêm che khuất mọi vật, nhưng cũng giúp mắt thôi bị phân tán. Có những điều ban ngày làm ta bận tâm; khi đêm xuống, chỉ còn điều chính yếu.
Và có lẽ đời người rồi cũng sẽ đi đến một đêm cuối cùng như thế.
Giờ chết.
Khi mọi thứ từng định nghĩa ta lần lượt rời khỏi tay. Tiền bạc ở lại. Danh tiếng ở lại. Nhà cửa ở lại. Chức vụ ở lại. Bằng cấp ở lại. Điện thoại im. Người thân đứng bên nhưng không ai bước thay được đoạn đường cuối. Cơ thể mà ta chăm sóc cả đời bắt đầu buông. Đó là sự nghèo khó tận cùng của con người. Và nếu đã học đi trong những đêm nhỏ của đời sống, có lẽ ta sẽ biết phải làm gì trong đêm lớn cuối cùng: phó thác.
“Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Không phải phó thác theo nghĩa buông xuôi. Phó thác Kitô giáo là tiếp tục làm điều phải làm, nhưng không còn bắt Thiên Chúa phải cho kết quả theo ý mình. Gieo hạt rồi để Chúa làm cho mọc. Yêu người rồi để họ tự do. Làm bổn phận rồi để kết quả trong tay Chúa. Cầu nguyện rồi để Chúa trả lời theo sự khôn ngoan của Người. Đó là một cuộc đóng đinh rất đau đối với cái tôi vốn thích điều khiển mọi chuyện.
Nếu nhìn lại những năm tháng đã qua, có lẽ nhiều người sẽ nhận ra chính những giai đoạn mình từng muốn xóa khỏi đời lại là những giai đoạn làm mình trở nên sâu nhất. Một mất mát dạy ta thương người. Một thất bại làm ta bớt kiêu. Một năm cô độc giúp ta hiểu những người bị bỏ quên. Một bệnh tật khiến ta biết giá trị của từng ngày. Một lời cầu xin không được đáp dạy ta cầu nguyện khác đi. Một lần bị phản bội làm ta hiểu lòng thương xót khó đến mức nào. Không phải đau khổ tự nó sinh ra sự thánh thiện; đau khổ cũng có thể làm con người cay đắng. Nhưng khi đau khổ được đưa vào tương quan với Đức Kitô chịu đóng đinh, nó có thể trở thành nơi ân sủng làm một việc mà thời thuận lợi không làm được.
Thánh Giá không giải thích mọi vết thương.
Thánh Giá biến vết thương thành cửa.
Cạnh sườn Chúa bị đâm đã trở thành nơi máu và nước chảy ra.
Vết thương không biến mất; nó trở thành nguồn.
Đây có lẽ là phép lạ sâu nhất mà Thiên Chúa muốn thực hiện nơi những người đã đi qua đêm tối: không chỉ chữa họ, nhưng biến chính nơi họ từng đau thành nơi người khác được an ủi. Người từng bị bỏ rơi có thể trở thành người biết ở lại. Người từng khóc một mình có thể nhận ra giọt nước mắt người khác trước mọi người. Người từng trải qua khô khan thiêng liêng sẽ không vội xét đoán người đang mất lửa. Người từng thất bại có thể nói với người thất bại mà không đứng trên cao. Vết sẹo trở thành ngôn ngữ.
Chúa Phục Sinh hiện ra với các môn đệ mà vẫn mang dấu đinh.
Điều ấy đẹp biết bao.
Phục Sinh không xóa Thứ Sáu Tuần Thánh như thể nó chưa từng xảy ra. Đức Kitô sống lại vẫn cho Tôma xem tay và cạnh sườn. Những vết thương đã được biến đổi thành dấu chứng của tình yêu. Thiên Chúa cũng có thể làm điều ấy với đêm tối của chúng ta. Một ngày nào đó, nhìn lại, ta không còn nói: “Ước gì chuyện ấy chưa từng xảy ra,” nhưng có thể nói trong nước mắt: “Con vẫn không gọi đau khổ là điều tốt, nhưng con thấy Chúa đã không bỏ phí nó.”
Chúa Giêsu đã không cứu thế giới bằng một màn trình diễn rực rỡ trên Golgotha. Người cứu trong bóng tối, trong nhục nhã, trong thinh lặng, giữa những kẻ không hiểu. Người yêu khi chẳng được yêu lại. Người tha thứ khi người ta còn đang đóng đinh Người. Người phó thác khi trời dường như im tiếng. Người ở lại cho đến cùng.
“Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.”
Thập giá “hằng ngày” nhiều khi không phải những thảm họa lớn. Nó là những cái chết rất nhỏ của cái tôi: im lặng khi muốn trả đũa; nhường khi có quyền giữ; xin lỗi khi lòng tự ái đau; làm lại sau thất bại; trung tín với kinh nguyện khi không cảm thấy gì; vui vì thành công của người khác; chấp nhận mình không còn trẻ, không còn mạnh, không còn được cần như xưa; để người khác làm theo cách khác với mình; ngưng đòi mọi người phải hiểu mình; sống tử tế khi chẳng ai biết; tiếp tục yêu một người không dễ thương. Những điều ấy nhỏ nhưng chính chúng tạo thành cây thánh giá nội tâm.
Và cây thánh giá ấy đóng đinh không phải con người thật của ta, mà đóng đinh những gì ngăn ta trở thành con người thật.
Cái chết trên Thánh Giá không phải lời cuối.
Đêm tối cũng không phải lời cuối.
Thánh Gioan Thánh Giá không dẫn linh hồn vào đêm để bỏ nó ở đó. Đêm là con đường đi đến bình minh. Thanh luyện là để hiệp nhất. Từ bỏ là để sở hữu theo một cách mới. Trống rỗng là để được lấp đầy. Khi những tình yêu nhỏ bé không còn chiếm ngai, Thiên Chúa có thể ngự vào. Và khi ấy linh hồn không nhất thiết trở nên đầy cảm xúc hơn; nó trở nên bình an sâu hơn. Một bình an ít phụ thuộc vào hoàn cảnh. Một tình yêu ít đòi hỏi. Một niềm vui không cần ồn ào. Một sự tự do không ai dễ lấy mất.
Ngày trước, một lời khen làm ta bay và một lời chê làm ta rơi. Bây giờ ta bình hơn.
Ngày trước, thành công làm ta nghĩ Chúa yêu mình, thất bại làm ta nghi ngờ. Bây giờ cả hai đều không quyết định tương quan với Chúa.
Ngày trước, cầu nguyện tốt nghĩa là cảm thấy nhiều. Bây giờ cầu nguyện tốt đơn giản là có mặt trước Chúa.
Ngày trước, ta xin Chúa cho mình thứ này thứ kia. Bây giờ ta bắt đầu xin: “Chúa muốn gì nơi con?”
Ngày trước, ta nói nhiều với Chúa. Bây giờ ta có thể ngồi yên.
Ngày trước, ta muốn hiểu Thiên Chúa. Bây giờ ta để Thiên Chúa hiểu và ôm lấy mình.
Đó là hoa trái của đêm.
Có một vẻ đẹp rất riêng nơi những người đã đi qua nhiều đêm mà không cay đắng. Khuôn mặt họ có thể nhăn, nhưng ánh mắt hiền. Họ không nói những câu đạo đức quá dễ dàng. Họ chẳng còn cần chứng minh điều gì. Ở bên họ ta thấy bình an. Họ đã khóc đủ để không cười trên nỗi đau người khác. Họ đã thất bại đủ để không khinh người thất bại. Họ đã được tha đủ để biết tha. Họ đã từng không thấy Chúa mà vẫn ở lại, nên bây giờ họ có thể ngồi cạnh một người khác trong bóng tối mà không hoảng sợ.
Giáo Hội rất cần những con người như thế.
Gia đình rất cần.
Cộng đoàn rất cần.
Thế giới hôm nay thừa người giải thích nhưng thiếu người ở lại. Thừa lời khuyên nhưng thiếu sự hiện diện. Thừa ánh sáng màn hình nhưng thiếu những ngọn đèn được thắp bằng đời sống. Người đã đi qua đêm tối có thể trở thành một ngọn đèn như vậy, không phải vì họ có mọi câu trả lời, nhưng vì họ biết bóng tối không phải là tất cả.
Cho nên, nếu một ngày nào đó ta bước vào một mùa khô khan, đừng vội hoảng. Hãy phân định, hãy tìm người hướng dẫn khôn ngoan nếu cần, hãy chăm sóc cả đời sống nhân bản của mình, nhưng đừng vội kết luận rằng Chúa đã bỏ ta. Có thể Người đang gần theo một cách mới. Đừng cố săn tìm cảm xúc. Hãy trung thành với những điều đơn sơ: Thánh Lễ, Lời Chúa, cầu nguyện, bổn phận, bác ái, đời sống bí tích. Đừng đào cây lên chỉ vì chưa thấy rễ. Hãy để Thiên Chúa làm việc trong phần đất tối.
Và nếu chẳng cầu nguyện nổi gì dài, chỉ cần nói:
“Lạy Chúa Giêsu, con không thấy Chúa, nhưng con tin Chúa đang ở đây.”
Nếu câu ấy cũng khó, hãy nói:
“Lạy Chúa, con muốn tin.”
Nếu ngay cả muốn tin cũng thấy yếu, hãy nói như người cha trong Tin Mừng:
“Lạy Chúa, con tin, nhưng xin giúp lòng tin yếu kém của con.”
Thiên Chúa không khinh một lời cầu nguyện nghèo.
Người thích những lời cầu nguyện thật hơn những lời cầu nguyện đẹp.
Và trong những đêm sâu nhất, có khi một tiếng “Giêsu” thốt lên từ trái tim đã là đủ.
Sau cùng, điều Thánh Gioan Thánh Giá muốn dẫn chúng ta đến không phải là tình yêu bóng tối, nhưng là tình yêu Thiên Chúa vượt qua mọi bóng tối. Người Kitô hữu không thờ Thánh Giá như người ta tôn thờ đau khổ. Ta tôn kính Thánh Giá vì trên đó có Đấng đã yêu ta đến cùng. Ta không tìm đêm; ta tìm Chúa. Nếu con đường đến Chúa có lúc đi qua đêm, ta đi vì Người ở cuối con đường, và thật ra Người cũng đang đi trong đêm cùng ta.
Có lẽ đến một ngày rất xa, khi mọi đêm của cuộc đời đã qua, khi ta đứng trước ánh sáng không bao giờ tắt, ta sẽ hiểu những điều hôm nay không hiểu. Ta sẽ thấy những sợi chỉ đen cũng cần thiết trong tấm thảm mà đời này ta chỉ được nhìn từ mặt trái. Ta sẽ biết tại sao có những cánh cửa đóng, những lời cầu xin chờ quá lâu, những đoạn đường quanh co, những mùa im lặng. Nhưng có lẽ khi ấy ta cũng không còn cần hỏi “tại sao” nữa, bởi gặp được chính Thiên Chúa đã là câu trả lời.
Còn bây giờ, khi vẫn đang ở bên này của mầu nhiệm, ta chỉ xin một điều: ơn trung thành trong đêm.
Không xin nhìn hết con đường, chỉ xin đủ ánh sáng cho bước kế tiếp.
Không xin hết đau, chỉ xin đừng để đau làm lòng mình hóa đá.
Không xin mọi câu hỏi đều được trả lời, chỉ xin đừng vì câu hỏi chưa được trả lời mà bỏ Đấng mình đã tin.
Không xin cây thánh giá biến mất, chỉ xin được ở gần Chúa trên cây thánh giá của mình.
Không xin xuống khỏi Golgotha trước giờ, chỉ xin sau tất cả vẫn còn đủ sức nói:
“Lạy Cha, con xin phó thác đời con trong tay Cha.”
Bởi cuối cùng, đêm tối của linh hồn không phải là câu chuyện một linh hồn đi tìm một Thiên Chúa đã biến mất.
Đó là câu chuyện Thiên Chúa âm thầm thanh luyện đôi mắt của một linh hồn để nó có thể nhìn thấy Người bằng một ánh sáng sâu hơn cảm giác, sâu hơn lý trí, sâu hơn mọi bảo đảm của trần gian.
Đó là Thánh Giá nội tâm.
Là nơi cái tôi chết dần để tình yêu được sinh ra.
Là nơi ta thôi giữ Thiên Chúa cho mình để cho phép Thiên Chúa giữ lấy mình.
Là nơi mọi ngọn đèn nhỏ lần lượt tắt để ta học rằng mặt trời vẫn đang mọc phía bên kia chân trời.
Và có thể giữa một đêm rất tối của đời mình, khi chẳng còn cảm thấy gì, chẳng hiểu gì và chẳng biết ngày mai ra sao, ta sẽ nghe thật sâu trong lòng lời của Đấng đã đi qua đêm trước chúng ta:
“Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ.”
Chỉ cần chính Thầy.
Thế là đủ.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ NHƯ CON ĐƯỜNG THANH LUYỆN SÂU NHẤT CỦA TÌNH YÊU
Có những tình yêu chỉ đẹp khi trời còn nắng. Có những lời thề chỉ còn mạnh mẽ khi người ta chưa phải trả giá. Có những cái nắm tay rất chặt trong ngày vui nhưng lại âm thầm buông ra khi đời bắt đầu nặng. Và cũng có những tiếng “con yêu Chúa” nghe thật sốt sắng trong nhà thờ, nhưng chỉ cần một cơn bệnh kéo dài, một lời cầu xin mãi chưa được đáp, một biến cố trái ý xảy đến, một người mình tin tưởng làm mình thất vọng, một chương trình đời mình bỗng dưng đổ vỡ, thì tiếng “con yêu Chúa” ấy bắt đầu run rẩy. Chính ở đó người ta mới hiểu rằng tình yêu không chỉ cần được nuôi dưỡng, mà còn cần được thanh luyện. Và nếu hỏi đâu là lò luyện sâu nhất, đau nhất nhưng cũng thật nhất của tình yêu Kitô giáo, có lẽ không có câu trả lời nào khác ngoài hai tiếng: Thánh Giá. Thánh Giá không làm phát sinh tình yêu theo nghĩa Thiên Chúa muốn chúng ta đau khổ để rồi mới cho chúng ta biết yêu; nhưng Thánh Giá bóc khỏi tình yêu tất cả những gì giả tạo, ích kỷ, chiếm hữu, vụ lợi, tự ái và tìm mình, để cuối cùng chỉ còn lại điều đáng gọi là tình yêu. Bởi thế, đứng trước Thánh Giá, chúng ta không chỉ nhìn thấy Chúa Giêsu chịu chết cho mình; chúng ta còn được mời nhìn lại cách mình đang yêu. Tôi yêu Chúa hay tôi yêu những gì Chúa ban? Tôi yêu một người hay yêu cảm giác người ấy đem lại cho tôi? Tôi phục vụ vì thương người hay vì muốn được người khác nhìn nhận? Tôi tha thứ vì thực sự muốn người kia được bình an hay chỉ vì muốn giữ hình ảnh mình là người đạo đức? Tôi trung thành vì đã trao đời mình cho Chúa hay vì hoàn cảnh hiện tại vẫn còn tương đối dễ chịu? Bao nhiêu câu hỏi như thế chỉ trở nên rõ ràng khi tình yêu đi ngang qua Thánh Giá.
Điều đáng sợ của tình yêu không phải là không biết nói lời yêu; điều đáng sợ hơn là ta rất dễ yêu chính mình dưới danh nghĩa yêu người khác. Ta có thể săn sóc một người, nhưng sâu xa lại mong người ấy thuộc về mình. Ta có thể hy sinh cho gia đình, nhưng rồi dùng chính những hy sinh ấy để đòi con cái, vợ chồng phải sống theo ý mình. Ta có thể phục vụ Giáo Hội rất nhiệt thành nhưng đau khổ khi người khác được trao việc còn ta bị bỏ qua. Ta có thể làm nhiều điều tốt nhưng buồn khi không ai biết đến. Ta có thể nói rằng mình yêu Chúa nhưng lại âm thầm đặt điều kiện với Chúa: Chúa phải giữ con khỏe mạnh, Chúa phải cho gia đình con yên ổn, Chúa phải bảo vệ danh dự của con, Chúa phải cho công việc của con thành công, Chúa phải cho lời cầu nguyện của con được như ý. Khi tất cả những điều ấy còn nguyên, ta tưởng mình yêu nhiều lắm. Nhưng đến khi Chúa không làm như ta muốn, khi người mình yêu không đáp lại như ta mong, khi những gì ta đã cho đi không được biết ơn, khi lòng tốt của ta bị hiểu lầm, khi công sức ta bỏ ra bị quên lãng, thì những gì nằm sâu dưới lớp áo tình yêu bắt đầu lộ ra. Ta giận. Ta cay. Ta trách. Ta muốn bỏ. Ta muốn người kia biết rằng họ đã làm ta đau. Ta muốn Chúa biết rằng Chúa đã đối xử với ta không công bằng. Và chính giây phút ấy, Thánh Giá xuất hiện như một câu hỏi rất thẳng: Con yêu vì người ấy đáng yêu, vì người ấy yêu lại con, hay con yêu bởi vì con đã chọn yêu? Con theo Chúa vì đời con được thuận lợi, hay bởi vì chính Chúa là Đấng con yêu?
Thánh Giá thanh luyện tình yêu trước hết bằng cách thanh luyện động cơ của tình yêu. Khi không còn tiếng vỗ tay, ta mới biết mình phục vụ vì ai. Khi không còn lời cảm ơn, ta mới biết mình cho đi vì gì. Khi người ta hiểu lầm, ta mới biết lòng tốt của mình có cần người khác công nhận hay không. Khi lời cầu nguyện chưa được đáp, ta mới biết ta tìm Chúa hay chỉ tìm quà tặng của Chúa. Rất nhiều lần trong đời sống thiêng liêng, ta tưởng mình đi tìm Thiên Chúa, nhưng thật ra ta đang tìm một Thiên Chúa phục vụ cho những dự tính của mình. Ta muốn Chúa chữa bệnh. Ta muốn Chúa giải quyết chuyện gia đình. Ta muốn Chúa gìn giữ người thân. Ta muốn Chúa cho công việc xuôi thuận. Ta muốn Chúa cất khỏi ta một nỗi khổ. Những lời cầu ấy tự chúng không sai. Chúa Giêsu cũng dạy chúng ta xin. Người cũng chữa lành bệnh nhân, hóa bánh ra nhiều, cho kẻ chết sống lại. Nhưng đời sống đức tin không thể dừng ở đó. Bởi nếu Chúa chỉ đáng yêu khi Chúa đáp lời ta, thì điều ta yêu cuối cùng không phải là Chúa mà là sự thỏa mãn của chính mình. Có một bước trưởng thành khủng khiếp của đức tin, đó là từ lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin làm điều con muốn” đi đến lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin cho con biết muốn điều Chúa muốn.” Và đó chính là con đường Ghếtsêmani.
Tin Mừng kể một cảnh khiến bất cứ ai hiểu tình yêu đều phải lặng người. Đêm trước cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu vào vườn Ghếtsêmani. Người biết rõ điều gì đang chờ mình. Không phải một biểu tượng thi vị, không phải một cây thập giá đẹp treo giữa cung thánh, nhưng là phản bội, bắt bớ, xét xử bất công, nhục mạ, khạc nhổ, roi đòn, mão gai, đinh sắt, khát nước, cô đơn và cái chết. Chúa Giêsu không giả vờ mạnh mẽ. Người nói với các môn đệ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mt 26,38). Rồi Người sấp mặt xuống đất cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39). Chỉ một câu ấy thôi đã chứa cả bí mật của tình yêu được thanh luyện. Chúa Giêsu không yêu đau khổ. Người không tìm kiếm đau khổ vì đau khổ. Người xin chén đắng được cất đi. Nhưng có một điều Người yêu hơn sự an toàn của bản thân: thánh ý Chúa Cha và ơn cứu độ của con người. Vì thế, giữa hai con đường, một bên là giữ lấy mình và một bên là trao mình, Người chọn trao mình. Đó là lúc tình yêu hiện nguyên hình. Không còn phép lạ để đám đông tung hô. Không còn núi Tabor với khuôn mặt sáng chói. Không còn tiếng dân chúng muốn tôn Người làm vua. Không còn hàng ngàn người chạy theo nghe giảng. Chỉ còn một người Con quỳ trong bóng tối, mồ hôi như những giọt máu, và một lời vâng phục. Tình yêu tinh tuyền không nằm ở cảm xúc ngọt ngào. Tình yêu tinh tuyền nằm trong tiếng “xin vâng” khi mọi cảm giác trong ta đều muốn nói “không”.
Cả cuộc đời Chúa Giêsu là một tình yêu tiến dần đến sự tinh ròng ấy, để trên Thánh Giá, tình yêu được bày tỏ đến tận cùng. Thánh Gioan mở trình thuật cuộc Thương Khó bằng một câu hết sức đẹp: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). “Đến cùng” không chỉ có nghĩa là yêu đến cuối đời. “Đến cùng” còn là yêu đến tận giới hạn cuối cùng mà tình yêu có thể đi: không giữ lại gì. Người cho lời giảng, rồi cho thời giờ; cho sức lực, rồi cho những giọt nước mắt; cho tấm bánh, rồi cuối cùng cho chính Thịt Máu mình; cho đôi tay để chữa lành, rồi cho đôi tay ấy bị đóng đinh; cho đôi chân đi tìm con chiên lạc, rồi cho đôi chân ấy bị ghim vào gỗ; cho trái tim thương xót, rồi cho trái tim ấy bị lưỡi đòng đâm thâu. Không còn gì để cho nữa. Tình yêu đến lúc không còn quà để trao thì trao chính mình. Đó là Thánh Giá.
Nhưng điều sâu xa nhất không phải chỉ là Chúa Giêsu chịu khổ. Nhiều người trên đời cũng chịu những khổ hình khủng khiếp. Điều làm cho Thánh Giá trở thành mầu nhiệm cứu độ chính là cách Người chịu. Bị đóng đinh nhưng Người không nguyền rủa. Bị chế nhạo nhưng Người không trả thù. Bị bỏ rơi nhưng Người không đóng cửa trái tim. Bị đối xử bất công nhưng Người không biến đau khổ thành hận thù. Ngược lại, ngay giữa cơn đau, Người thưa: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đây mới là chỗ thanh luyện sâu nhất của tình yêu. Yêu một người khi họ tốt với mình chưa phải là điều khó nhất. Yêu một người khi người ấy làm mình tổn thương mới bắt đầu chạm đến Thánh Giá. Cầu nguyện cho người chúc lành mình chưa phải là điều lạ; cầu nguyện cho người làm mình mất ngủ mới là Tin Mừng. Nói tử tế với người trân trọng mình không khó; giữ cho trái tim không độc ác đối với người đã làm mình đau mới là một cuộc tử đạo âm thầm. Không phải ai chịu đau khổ cũng tự động nên thánh. Đau khổ có thể làm người ta sâu sắc hơn, nhưng cũng có thể làm người ta cay độc hơn. Thánh Giá chỉ thanh luyện tình yêu khi ta để cho Chúa biến vết thương thành lòng thương xót, thay vì biến vết thương thành lý do để làm tổn thương người khác.
Có người mang một vết thương suốt ba mươi năm. Mỗi lần kể lại, họ vẫn kể như chuyện vừa xảy ra hôm qua. Có người bị phản bội trong hôn nhân và từ đó nhìn mọi người bằng đôi mắt nghi ngờ. Có người bị xúc phạm trong cộng đoàn và từ đó không bao giờ còn tin ai. Có linh mục từng bị giáo dân hiểu lầm nên rồi khép lòng với giáo dân. Có giáo dân từng gặp một linh mục làm họ tổn thương nên rồi giận cả Giáo Hội. Có người bị anh chị em tranh chấp tài sản rồi thề sẽ không bao giờ bước chân vào nhà nhau nữa. Có người cha già nằm xuống nhưng những đứa con vẫn đứng hai phía vì một mảnh đất. Có người giữ lời kinh mỗi ngày nhưng giữ luôn một mối hận suốt hàng chục năm. Ta có thể mang thánh giá trên cổ mà chưa từng để Thánh Giá đi vào tim. Ta có thể quỳ trước tượng Chúa chịu nạn mỗi tối mà vẫn nuôi một phiên tòa trong lòng, trong đó ta vừa là công tố viên vừa là thẩm phán, còn người làm ta đau bị kết án hết lần này đến lần khác. Bởi vậy, Thánh Giá không chỉ là vật ta kính; Thánh Giá phải trở thành nơi tình yêu của ta bị xét xử và thanh luyện.
Thánh Giá còn thanh luyện tình yêu khỏi nhu cầu chiếm hữu. Tình yêu của con người rất dễ biến thành việc muốn giữ lấy. Ta yêu một người và rồi muốn người ấy thuộc về mình, nghĩ như mình, đáp ứng mình, ở gần mình, cần mình. Người mẹ yêu con nhưng đôi khi không chịu nổi khi con trưởng thành và có quyết định riêng. Cha mẹ có thể nhân danh tình thương để buộc con sống giấc mơ mà mình chưa thực hiện được. Vợ chồng có thể nhân danh tình yêu để kiểm soát nhau. Một người phục vụ có thể nhân danh trách nhiệm để không cho ai khác được làm. Một mục tử có thể nghĩ cộng đoàn là của mình. Một người tận tụy với công việc có thể vô tình muốn người ta không thể sống thiếu mình. Nhưng trên Thánh Giá, Chúa Giêsu yêu mà không chiếm hữu. Người trao Đức Maria cho Gioan và trao Gioan cho Đức Maria: “Thưa Bà, đây là con của Bà… Đây là mẹ của anh” (Ga 19,26-27). Ngay vào lúc có thể muốn giữ người thân yêu nhất bên mình, Người lại trao. Một tình yêu trưởng thành là tình yêu có thể cho người kia tự do. Yêu là muốn người mình yêu thuộc về Thiên Chúa hơn là thuộc về mình. Yêu là có thể để con cái lớn lên. Yêu là có thể nhìn một người mình từng hướng dẫn vượt xa mình mà lòng không ganh tị. Yêu là có thể trao một công việc mình từng gắn bó cho người khác mà không cay cú. Yêu là không biến người khác thành phương tiện lấp đầy sự cô đơn của mình. Đôi khi việc khó nhất không phải là cho; việc khó nhất là buông. Và có những lúc Thánh Giá chính là việc mở bàn tay đang nắm rất chặt.
Thánh Giá cũng thanh luyện tình yêu khỏi ảo tưởng về sức mạnh của bản thân. Khi yêu ai, ta thường muốn cứu họ. Thấy người thân khổ, ta muốn sửa hết mọi vấn đề cho họ. Thấy con sai, cha mẹ muốn kéo con trở lại ngay. Thấy người mình thương bệnh, ta muốn đổi bệnh lấy cho họ. Thấy một người sống sai, ta muốn bằng vài lời khuyên khiến họ thay đổi. Nhưng rồi đời dạy ta rằng có những điều ta không thể làm. Không ai có thể tin thay cho người khác. Không ai có thể sám hối thay cho người khác. Không ai có thể ép một người trưởng thành thay đổi trái tim. Có lúc tất cả những gì ta làm được chỉ là đứng bên cạnh. Đó là hình ảnh Đức Maria dưới chân Thánh Giá. Mẹ không tháo được những chiếc đinh. Mẹ không ngăn được tên lính. Mẹ không thể làm cuộc xử án lại từ đầu. Mẹ không thể cứu Con bằng sức của mình. Mẹ chỉ có thể đứng đó. Tin Mừng nói: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Ba chữ “đứng gần thập giá” chứa một nền thần học về tình yêu. Có những lúc yêu không còn nghĩa là giải quyết; yêu chỉ còn nghĩa là không bỏ đi. Người bệnh nan y đôi khi không cần ta nói thêm rằng họ phải mạnh mẽ; họ cần một bàn tay nắm lấy. Người đang tang chế đôi khi không cần một bài giảng dài về ý Chúa; họ cần một người ngồi bên cạnh mà không vội lấp đầy sự im lặng. Người con đang khủng hoảng không luôn cần cha mẹ sửa ngay; nhiều khi em cần biết rằng dù em vấp ngã, cửa nhà vẫn mở. Người linh mục gặp khủng hoảng không chỉ cần lời khuyên; đôi khi cần một người anh em đủ trung thành để ngồi bên. Đức Maria dạy ta một thứ tình yêu rất sâu: tình yêu của sự hiện diện bất lực nhưng trung thành. Không cứu được người mình yêu khỏi Thánh Giá, nhưng không để họ chịu Thánh Giá một mình.
Có một cuộc thanh luyện khác còn khó hơn: Thánh Giá thanh luyện tình yêu khỏi nhu cầu được hiểu. Ta thường chịu đựng khá tốt nếu người khác hiểu nỗi khổ của ta. Điều làm đau hơn nhiều là vừa khổ vừa bị hiểu sai. Làm điều tốt nhưng bị cho là có dụng ý. Im lặng vì muốn giữ bình an nhưng bị cho là hèn nhát. Nói sự thật vì trách nhiệm nhưng bị cho là khó tính. Yêu thương một người nhưng cách yêu của mình không được người ấy nhận ra. Hy sinh nhiều năm mà đến cuối cùng nghe một câu: “Ông/bà đã làm gì cho tôi đâu?” Những lúc ấy tâm hồn bị xé rất sâu. Chúa Giêsu đã đi qua kinh nghiệm đó. Người chữa bệnh ngày sabát thì bị cho là phạm luật. Người gần gũi người tội lỗi thì bị gọi là bạn bè quân thu thuế và phường tội lỗi. Người trừ quỷ thì bị bảo là dựa thế quỷ vương. Người nói sự thật thì bị kết án phạm thượng. Người là Con Thiên Chúa thì bị đóng đinh giữa hai tên gian phi. Và trên đồi Canvê, gần như tất cả những gì Người đã làm đều bị diễn giải theo chiều ngược lại: “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình” (Mt 27,42). Thật ra chính vì cứu thiên hạ mà Người không xuống khỏi thập giá. Đám đông nhìn thấy bất lực; Thiên Chúa nhìn thấy vâng phục. Đám đông nhìn thấy thất bại; Thiên Chúa nhìn thấy hiến tế. Đám đông cười nhạo; lịch sử cứu độ đang bước vào giờ quyết định. Có những thời điểm trong đời, ta phải chấp nhận rằng sự thật về mình không nằm trong tay dư luận. Nếu tình yêu của ta chỉ đứng vững khi được người khác hiểu, nó vẫn còn mong manh. Khi Thánh Giá thanh luyện đến tận cùng, ta học trao sự thật về mình cho Thiên Chúa và tiếp tục sống ngay lành dù không được minh oan ngay lập tức.
Thánh Giá cũng thanh luyện tình yêu khỏi việc tính toán hơn thiệt. Con người rất giỏi ghi sổ. Tôi đã giúp anh bao nhiêu lần. Tôi đã nhường chị bao nhiêu chuyện. Tôi đã hy sinh cho gia đình bao nhiêu năm. Tôi đã làm cho giáo xứ từng ấy công việc. Tôi đã cầu nguyện cho người đó lâu như thế. Tôi đã bỏ tiền, bỏ giờ, bỏ công… Và đâu đó trong tim ta có một cuốn sổ vô hình, ghi rất kỹ điều mình đã cho. Đến lúc người khác không đáp lại tương xứng, cuốn sổ ấy mở ra. “Tôi đã làm cho anh như vậy mà anh đối xử với tôi thế sao?” Câu này rất người, rất dễ hiểu, nhưng cũng cho thấy tình yêu vẫn còn chờ thanh luyện. Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu không hỏi nhân loại: “Ta đã làm cho các ngươi bao nhiêu điều, tại sao các ngươi trả cho Ta thế này?” Người vẫn trao chính mình. Điều này không có nghĩa Kitô hữu phải để người khác lợi dụng, cũng không có nghĩa chúng ta không cần ranh giới lành mạnh hay công lý. Tha thứ không đồng nghĩa cho phép bạo hành tiếp diễn. Yêu thương không phải là trở thành con mồi của người xấu. Nhưng Tin Mừng mời ta đi sâu hơn tinh thần trao đổi: làm điều thiện không chỉ vì mong nhận lại điều thiện. Chúa Giêsu nói: “Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có gì là ân với nghĩa?” (Lc 6,32). Tình yêu Kitô giáo bắt đầu trở nên giống tình yêu Thiên Chúa ở nơi nó vượt khỏi nguyên tắc đổi chác.
Và có lẽ cuộc thanh luyện đau nhất chính là khi Thánh Giá chạm đến hình ảnh ta có về Thiên Chúa. Không ít người tin Chúa rất dễ dàng khi cuộc đời đi theo một trật tự có thể hiểu được: sống tốt thì Chúa thưởng, cầu nguyện thì Chúa ban, làm lành thì được bình an, giữ đạo thì gia đình được gìn giữ. Nhưng rồi có một người sống rất tốt mà lại mắc bệnh hiểm nghèo. Một người mẹ cầu nguyện ngày đêm mà đứa con vẫn ra đi. Một gia đình đạo đức vẫn gặp tai nạn. Một linh mục tận tụy vẫn bị hiểu lầm. Một người cầu xin nhiều năm nhưng trời dường như im lặng. Và lúc ấy niềm tin bước vào đêm tối: “Chúa ở đâu?” “Tại sao Chúa để chuyện này xảy ra?” “Con đã làm gì sai?” “Nếu Chúa thương con, sao Chúa im lặng?” Những câu hỏi ấy không phải lúc nào cũng là dấu hiệu mất đức tin. Đôi khi đó chính là lúc đức tin đang bị lột khỏi những hình ảnh quá đơn giản về Thiên Chúa để bước vào một tương quan sâu hơn. Trên Thánh Giá, chính Chúa Giêsu đã kêu lên bằng lời Thánh Vịnh: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34). Kitô giáo không đưa chúng ta đến một Thiên Chúa đứng ngoài đau khổ và phát cho con người những câu trả lời lạnh lùng. Kitô giáo đưa chúng ta đến một Thiên Chúa đã đi vào tận nơi con người cảm thấy bị bỏ rơi. Vì thế, khi không hiểu được Chúa, ta vẫn có thể bám lấy Chúa. Khi không cảm được Chúa, ta vẫn có thể tin Chúa. Khi không nhìn thấy con đường, ta vẫn có thể đặt chân mình vào dấu chân Đấng đã đi qua bóng tối trước ta.
Có một thứ đức tin cần cảm giác để sống; và cũng có một thứ đức tin đã được thanh luyện đến độ vẫn yêu khi không còn cảm giác. Lúc mới bước vào đời sống thiêng liêng, ta thường được nâng đỡ bởi nhiều an ủi. Cầu nguyện thấy sốt sắng. Đi lễ thấy bình an. Đọc Lời Chúa thấy đánh động. Làm việc tông đồ thấy hăng say. Nhưng có những giai đoạn tất cả trở nên khô khan. Cầu nguyện như nói vào khoảng trống. Thánh lễ không còn cảm xúc. Những lời từng làm mình rơi lệ bỗng trở nên quen thuộc. Công việc phục vụ trở nên nặng. Người ta có thể nghĩ Chúa đã đi xa. Nhưng đôi khi Chúa không đi xa; Người đang đưa linh hồn từ chỗ yêu cảm giác về Chúa đến chỗ yêu chính Chúa. Một người vợ không chỉ yêu chồng vào ngày kỷ niệm cưới, khi hoa đẹp, nhạc hay và những lời tình cảm dễ nói; tình yêu được kiểm chứng nhiều hơn vào những tháng năm cùng chăm người bệnh, cùng gánh nợ, cùng thức trắng vì con, cùng đi qua những giai đoạn chẳng còn gì lãng mạn. Tương tự như vậy, tình yêu Thiên Chúa lớn lên khi ta vẫn trung thành trong những ngày không cảm thấy gì. Cầu nguyện không phải vì hôm nay cầu nguyện đem lại cảm xúc dễ chịu, nhưng bởi vì Chúa đáng để ta ở lại. Thánh lễ không phải vì bài hát hôm ấy làm ta xúc động, nhưng vì Thánh Thể là chính Đức Kitô. Đức tin trưởng thành là đức tin có thể nói: “Lạy Chúa, dù hôm nay con không cảm thấy Chúa, con vẫn ở đây.”
Thánh Giá còn làm một việc rất đau: nó thanh luyện cái tôi. Có lẽ không gì khó chết bằng cái tôi. Ta có thể bỏ tiền dễ hơn bỏ tự ái. Có người sẵn sàng làm việc mười tiếng nhưng không sẵn sàng nghe một câu góp ý. Có người quảng đại với người nghèo nhưng không thể nói “tôi xin lỗi” với người trong nhà. Có người cầu nguyện rất nhiều nhưng không chịu thua trong một cuộc tranh luận. Có người phục vụ Giáo Hội cả đời nhưng đau khổ dữ dội khi không còn vị trí. Cái tôi rất tinh vi. Nó có thể khoác áo đạo đức. Nó có thể dùng chính lòng nhiệt thành làm ngai cho mình. Bởi thế Chúa Giêsu nói một câu không thể làm nhẹ đi được: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). Chúa không chỉ nói bỏ một vài thứ. Người nói “từ bỏ chính mình”. Đây không phải là khinh ghét bản thân, phủ nhận phẩm giá hay xóa bỏ cá tính. Từ bỏ mình là thôi coi bản thân là trung tâm tuyệt đối. Là chấp nhận rằng không phải lúc nào ý tôi cũng đúng, nhu cầu tôi cũng phải được ưu tiên, danh dự tôi cũng phải được bảo vệ, kế hoạch tôi cũng phải thành công. Là để cho Thiên Chúa giữ vị trí của Thiên Chúa trong đời mình. Và đôi khi chiếc thập giá khó nhất không nằm ngoài vai ta; nó nằm ngay trong chính con người ta: cái tôi không muốn chết.
Có những người mất rất nhiều năm mới khám phá ra rằng điều làm mình đau nhất không hẳn là những gì người khác làm, mà là vì cái tôi của mình không chịu nổi những điều đó. Một câu phê bình làm ta mất ngủ ba đêm không hẳn vì câu ấy quá độc, mà vì ta quá cần hình ảnh mình phải tốt trong mắt mọi người. Một người khác được khen khiến ta khó chịu không phải vì họ làm điều gì sai, mà vì cái tôi trong ta sợ bị lu mờ. Một nhiệm vụ bị lấy khỏi tay làm ta suy sụp không hẳn vì công việc ấy không ai làm được, mà vì ta đã đồng hóa căn tính mình với vai trò ấy. Thánh Giá đến, lặng lẽ hỏi: “Nếu không còn chức vụ này, con còn biết mình là ai không? Nếu không ai khen, con còn làm điều tốt không? Nếu người khác hơn con, con có vui được không? Nếu người khác nhận thành quả của điều con âm thầm gieo, con có bình an không?” Những câu hỏi ấy đau vì chúng đi thẳng vào nơi ta che giấu nhất. Nhưng khi cái tôi giảm xuống, tình yêu mới có chỗ lớn lên.
Thánh Giá thanh luyện tình yêu bằng cách dạy ta kiên nhẫn với sự chưa hoàn tất. Ta thường muốn mọi thứ nhanh. Muốn một người thay đổi ngay. Muốn vết thương lành ngay. Muốn lời cầu xin được đáp ngay. Muốn bản thân nên thánh ngay. Nhưng Thiên Chúa làm việc bằng thời gian. Hạt lúa phải nằm trong đất. Người mẹ mang thai phải chờ. Mùa màng phải qua nắng mưa. Một tâm hồn cũng vậy. Có những tính xấu ta phải chiến đấu nhiều năm. Có những nỗi đau không thể khỏi trong một ngày. Có những mối quan hệ cần rất lâu mới hồi phục. Có những người con đi xa mà cha mẹ chỉ có thể cầu nguyện và chờ cửa mở. Thánh Giá là trường dạy đợi chờ. Chúa Giêsu không xuống khỏi thập giá dù đám đông thách thức: “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì xuống khỏi thập giá đi!” (x. Mt 27,40). Xuống khỏi thập giá ngay lập tức có lẽ sẽ thuyết phục được đám đông về quyền năng. Nhưng ở lại trên Thánh Giá cho đến cùng mới mặc khải được tình yêu. Có những lúc trong đời, phép lạ lớn nhất không phải là thoát ra ngay, mà là có đủ tình yêu để ở lại với điều phải ở lại cho tới khi Thiên Chúa hoàn tất công việc của Người.
Trong hôn nhân, Thánh Giá thanh luyện tình yêu khỏi ảo tưởng rằng yêu nhau nghĩa là luôn cảm thấy hạnh phúc bên nhau. Những ngày đầu, người ta yêu cả những khuyết điểm nhỏ của nhau vì chúng còn dễ thương. Về sau, cùng một thói quen ấy có thể trở thành điều gây bực bội. Thời gian làm con người đổi khác. Sức khỏe thay đổi. Thân xác già đi. Áp lực tiền bạc xuất hiện. Con cái đem theo niềm vui lẫn mệt mỏi. Có những giai đoạn vợ chồng gần nhau mà tưởng như rất xa. Chính lúc đó lời hứa ngày cưới bắt đầu được đem ra khỏi quyển nghi thức và viết bằng đời sống. “Khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu…” không phải là một câu văn đẹp để chụp hình; đó là một lời thề có hình Thánh Giá. Yêu người bạn đời khi họ dễ thương là điều tự nhiên; chăm sóc họ khi bệnh tật, kiên nhẫn khi tính tình họ thay đổi, học tha thứ sau những va chạm, biết xin lỗi khi mình sai, từ bỏ một phần cái tôi để gìn giữ hiệp thông – đó là nơi tình yêu vợ chồng được luyện thành vàng.
Trong đời sống gia đình, Thánh Giá thanh luyện tình yêu của cha mẹ đối với con cái. Có lúc phải yêu bằng cách ôm, nhưng cũng có lúc phải yêu bằng cách buông. Có lúc phải nói, nhưng cũng có lúc phải im lặng để con tự học. Có lúc phải giúp, nhưng có khi yêu nghĩa là không giải quyết thay mọi hậu quả do con gây ra. Cha mẹ rất dễ nghĩ rằng vì đã sinh con, nuôi con, hy sinh cho con nên con phải sống như mình muốn. Nhưng con cái là quà Thiên Chúa trao, không phải tài sản Thiên Chúa giao. Chúng có tự do, có hành trình, có những sai lầm và những bài học của riêng chúng. Có cha mẹ đau không phải vì con xấu, mà vì con không trở thành hình ảnh cha mẹ đã vẽ. Thánh Giá thanh luyện tình phụ tử mẫu tử để cha mẹ dần có thể cầu nguyện: “Lạy Chúa, con xin trao đứa con này lại cho Chúa. Xin đừng để con yêu nó theo kiểu chiếm hữu. Xin cho con yêu nó đủ để đồng hành, đủ để sửa dạy khi cần, đủ để tha thứ, và cũng đủ để tôn trọng con đường Chúa đang làm nơi nó.”
Trong đời linh mục và đời thánh hiến, Thánh Giá lại thanh luyện tình yêu theo những cách riêng. Buổi đầu ơn gọi có thể đầy lý tưởng. Muốn dâng hiến, muốn phục vụ, muốn đi truyền giáo, muốn làm điều lớn lao cho Chúa. Nhưng rồi năm tháng đưa người tận hiến vào thực tế: cộng đoàn không hoàn hảo, bề trên không phải lúc nào cũng hiểu mình, anh chị em có những giới hạn, người mình phục vụ có thể vô ơn, sức khỏe giảm, khả năng không còn như trước, có lúc phải nhận một công việc mình không thích, ở một nơi mình không chọn, rời một nơi mình yêu, bắt đầu lại khi tuổi đã lớn. Chính ở những nơi rất bình thường ấy, lời khấn và lời hứa được thanh luyện. Có thể một người đã từ bỏ gia đình, tài sản, sự nghiệp, nhưng vẫn còn phải từ bỏ cái khó hơn: ý riêng. Có thể đã sống độc thân nhưng vẫn còn phải học để trái tim thực sự thuộc về Chúa, chứ không bí mật tìm những bù đắp khác. Có thể giảng về khiêm nhường rất hay nhưng vẫn đau khi tên mình không được nhắc đến. Có thể giảng về Thánh Giá mỗi Tuần Thánh nhưng lại rất khó đón lấy một Thánh Giá cụ thể Chúa gửi qua bổn phận mỗi ngày. Ơn gọi chỉ trở thành tình yêu trưởng thành khi nó sống sót qua sự vỡ mộng. Không phải vỡ mộng về Chúa, nhưng vỡ những ảo tưởng ta từng gắn lên Chúa và lên chính mình.
Thánh Giá còn thanh luyện cách ta yêu người nghèo và người đau khổ. Rất dễ thương người nghèo từ xa. Rất dễ nói về lòng bác ái trong một bài giảng. Khó hơn là ngồi nghe một người lặp lại cùng một câu chuyện nhiều lần. Khó hơn là phục vụ một người không biết cảm ơn. Khó hơn là giúp một người có mùi khó chịu, tính khí khó chịu, quá khứ phức tạp. Có những việc bác ái khiến ta cảm thấy mình tốt; cũng có những việc bác ái không cho ta cảm giác gì ngoài mệt mỏi. Chính nơi ấy tình yêu được thanh luyện. Chúa Giêsu không chỉ yêu “nhân loại” như một khái niệm. Người chạm vào người phong cùi. Người để người phụ nữ tội lỗi khóc dưới chân. Người dừng lại với Bartimê giữa đám đông. Người vào nhà Dakêu. Người để mình bị làm phiền. Tình yêu thật luôn có một cái giá rất cụ thể: thời giờ, sự kiên nhẫn, sự phiền toái, việc thay đổi kế hoạch, việc phải bước vào đau khổ của người khác. Một tình yêu không bao giờ làm ta bất tiện có lẽ chưa đi xa lắm.
Nhưng cần phải nói rất rõ: gọi Thánh Giá là con đường thanh luyện tình yêu không có nghĩa tôn thờ đau khổ. Thiên Chúa không vui thích khi con người bị đánh đập, bị lạm dụng, bị chà đạp, bị bất công. Chúa Giêsu chữa người bệnh, bênh vực người bị loại trừ, chống lại sự giả hình, giải thoát người bị quỷ ám. Người không bảo các nạn nhân cứ ở mãi trong bạo lực để “vác thánh giá”. Có những “thập giá” con người đặt lên vai nhau là điều phải được tháo xuống. Có những bất công phải được chống lại. Có những tương quan độc hại cần phải có ranh giới. Có những nạn nhân cần được bảo vệ. Kitô giáo không thần thánh hóa đau khổ; Kitô giáo công bố rằng ngay cả đau khổ, khi không thể tránh khỏi, cũng không có quyền nói lời cuối cùng. Điều Chúa làm trên Thánh Giá không phải là bảo đau khổ tự nó tốt đẹp, nhưng biến chính nơi của sự dữ thành nơi tình yêu chiến thắng sự dữ. Thập giá của đế quốc Rôma là dụng cụ giết người; Đức Kitô biến nó thành cây sự sống. Đó chính là quyền năng của tình yêu.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa chịu khổ và dâng khổ. Chịu khổ có thể chỉ là một sự kiện xảy đến với ta. Dâng khổ là một hành vi tự do của tình yêu: “Lạy Chúa, điều này con không chọn, con cũng không hiểu, nhưng vì con không thể làm cho nó biến mất lúc này, xin đừng để nó trở thành vô ích. Xin kết hợp nó với Thánh Giá của Chúa. Xin dùng chính nơi đau này để làm trái tim con dịu lại, chứ đừng cứng đi; để con biết cảm thông, chứ đừng cay đắng; để con gần người đau khổ hơn, chứ đừng khép mình lại.” Khi một người đã từng bệnh nặng biết dịu dàng hơn với người bệnh, đau khổ đã sinh hoa trái. Khi một người từng bị hiểu lầm trở nên cẩn thận hơn để không hiểu lầm người khác, Thánh Giá đã thanh luyện họ. Khi một người từng mất mát biết ngồi yên bên người đang tang chế mà không nói những câu dễ dãi, vết thương của họ đã trở thành lòng thương xót. Khi một người từng thất bại thôi chế giễu thất bại của người khác, đau khổ đã làm họ nên người hơn. Đó là lúc vết sẹo không còn chỉ kể câu chuyện về điều đã làm ta đau, mà còn kể câu chuyện về điều Thiên Chúa đã làm trong ta.
Câu chuyện Thánh Phêrô là một minh họa rất đẹp về sự thanh luyện tình yêu. Trước cuộc Thương Khó, Phêrô yêu Chúa thật, nhưng tình yêu ấy vẫn pha nhiều tự tin vào bản thân. Ông nói: “Dầu tất cả có vấp ngã đi nữa, thì con cũng nhất định là không” (Mc 14,29). Rồi ông còn quả quyết sẵn sàng chết với Thầy. Nhưng chỉ vài giờ sau, trước một người tớ gái, Phêrô chối Chúa. Một đêm đủ làm sụp đổ hình ảnh mà Phêrô đã dựng về chính mình. Ông từng nghĩ mình là người mạnh nhất; Thánh Giá cho ông thấy mình yếu. Ông từng nghĩ mình yêu Chúa hơn những người khác; Thánh Giá buộc ông phải im lặng trước thất bại của chính mình. Sau Phục Sinh, bên bờ hồ Tibêria, Chúa Giêsu không hỏi Phêrô: “Con có còn nghĩ mình mạnh hơn những người khác không?” Người hỏi: “Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy không?” (Ga 21,15). Ba lần hỏi, ba lần chạm vào vết thương ba lần chối. Và lần này Phêrô không còn khoe mình. Ông chỉ nói: “Thưa Thầy, Thầy biết mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21,17). Đó là một tình yêu đã đi qua Thánh Giá. Trước kia: “Con sẽ không bao giờ bỏ Thầy.” Bây giờ: “Thầy biết con.” Trước kia Phêrô dựa vào sức mình. Bây giờ ông dựa vào sự hiểu biết và lòng thương xót của Chúa. Chính con người ấy sau này mới đủ mềm để làm mục tử. Chúa không cần một Phêrô chưa bao giờ ngã; Chúa cần một Phêrô đã ngã, đã khóc và biết mình được tha thứ, để khi chăm sóc đàn chiên, ông không đè nặng trên những con chiên yếu đuối.
Đôi khi những thất bại của ta cũng là một phần của cuộc thanh luyện ấy. Không phải Thiên Chúa muốn ta phạm tội, nhưng Người có thể dùng cả kinh nghiệm về sự yếu đuối để phá vỡ tính kiêu ngạo. Có những người chỉ sau một lần ngã mới thôi phán xét người đang ngã. Có những linh hồn trước kia rất cứng với người khác vì nghĩ rằng mình mạnh; sau khi chính mình trải qua một cuộc khủng hoảng, họ bắt đầu nói bằng giọng của lòng thương xót. Có những người từng nghĩ mọi chuyện chỉ cần cố gắng là được, đến khi gặp một vết thương mà ý chí không giải quyết nổi, họ mới hiểu sự mong manh của con người. Thánh Giá không làm ta mất sự thật về tội lỗi, nhưng ngăn ta dùng sự thật như một hòn đá để ném nhau. Người từng được tha nhiều mới hiểu giá trị của lòng thương xót. Người đã khóc vì mình yếu sẽ cẩn thận hơn khi đứng trước sự yếu đuối của anh em.
Thánh Giá còn thanh luyện tình yêu bằng cách đưa chúng ta từ yêu bằng cảm xúc đến yêu bằng quyết định. Cảm xúc là món quà đẹp. Một trái tim không biết xúc động là một trái tim nghèo. Nhưng cảm xúc thay đổi. Hôm nay gần, ngày mai xa. Hôm nay hăng hái, ngày mai mệt mỏi. Hôm nay thấy người kia đáng yêu, ngày mai chỉ thấy khuyết điểm. Nếu tình yêu được đặt hoàn toàn trên cảm xúc, tình yêu sẽ chao đảo theo thời tiết trong lòng. Chúa Giêsu trên Thánh Giá không yêu nhân loại vì lúc đó nhân loại làm Người cảm thấy dễ chịu. Nhân loại đang đóng đinh Người. Người yêu bởi vì Người là Tình Yêu và bởi vì Người đã chọn trao mình. Bởi thế, tình yêu sâu nhất đôi khi không có cảm giác yêu. Một người mẹ thức đêm thứ ba với đứa con bệnh có thể không còn chút cảm xúc ngọt ngào nào, chỉ còn kiệt sức, nhưng việc bà tiếp tục thức là tình yêu. Một người chồng chăm người vợ mất trí nhớ có thể mỗi ngày phải nghe lại một câu hàng chục lần; sự kiên nhẫn ấy là tình yêu. Một linh mục vẫn ngồi tòa giải tội khi người mệt rã rời; một tu sĩ chăm cụ già mà không ai biết; một người con tắm rửa cho cha mẹ già; một người vợ tha thứ và cùng chồng xây lại mái ấm sau một vết thương nặng; một người âm thầm cầu nguyện cho kẻ làm mình đau – những tình yêu ấy không ồn ào nhưng có mùi của Thánh Giá.
Và chính vì có mùi Thánh Giá nên chúng có sức cứu độ. Không phải cứu độ theo nghĩa ta thay thế Đức Kitô, nhưng vì mọi tình yêu thật đều được nối vào tình yêu duy nhất của Người. Thánh Phaolô nói một câu rất lạ: “Tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Cl 1,24). Không phải Thánh Giá Đức Kitô thiếu giá trị, nhưng Đức Kitô cho phép chúng ta tham dự vào tình yêu cứu độ của Người. Một nỗi đau được đón nhận trong tình yêu không còn là một khoảng trống vô nghĩa. Một giọt nước mắt đặt vào tay Chúa có thể trở thành lời cầu. Một đêm mất ngủ bên giường bệnh có thể trở thành hiến lễ. Một sự nhịn nhục vì muốn giữ bình an trong gia đình có thể trở thành của lễ. Một sự trung thành khi không ai nhìn thấy có thể trở thành lời ngợi khen. Không phải mọi đau khổ đều có ý nghĩa tự động; tình yêu trao cho nó ý nghĩa.
Thánh Giá cũng thanh luyện tình yêu bằng cách dạy ta tha thứ, và tha thứ có lẽ là một trong những cuộc đóng đinh cái tôi đau nhất. Ta thường thích một sự công bằng tức thời: người làm tôi đau phải biết họ sai; họ phải xin lỗi; họ phải trả giá; ít nhất họ phải hiểu họ đã gây ra điều gì. Nhưng cuộc đời có những lời xin lỗi không bao giờ đến. Có những người làm ta đau mà đến cuối đời vẫn tin rằng họ đúng. Nếu sự bình an của ta phụ thuộc hoàn toàn vào việc người kia phải nhận lỗi, ta đã trao chìa khóa tâm hồn mình vào tay họ. Tha thứ không phải là nói điều sai trở thành đúng. Không phải quên mất chuyện đã xảy ra. Không phải nhất thiết lập lại một tương quan như trước. Tha thứ là từ chối để cái ác người kia đã làm tiếp tục sinh thêm cái ác trong lòng mình. Là không để vết thương biến ta thành một phiên bản của người đã làm ta đau. Là trao quyền xét xử cuối cùng cho Thiên Chúa. Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu tha thứ khi những chiếc đinh vẫn còn trong tay. Đây là điều kinh khủng của Tin Mừng: Người không đợi người ta xin lỗi mới bắt đầu yêu. Tình yêu của Người đi trước sự hoán cải của chúng ta.
Có những tha thứ cần nhiều năm. Có những ngày ta tưởng mình đã tha rồi, nhưng chỉ một lời nhắc lại làm vết thương bật máu. Đừng vì thế mà tuyệt vọng. Tha thứ đôi khi không phải một cảm xúc xảy ra một lần, nhưng là một quyết định phải lặp lại nhiều lần: “Lạy Chúa, hôm nay con lại trao người ấy cho Chúa.” Có ngày làm được nhẹ nhàng, có ngày vừa nói vừa khóc. Điều quan trọng không phải là lập tức không còn đau, mà là ta không nuôi đau khổ như một căn tính. Tôi đã bị phản bội, nhưng tôi không chỉ là người bị phản bội. Tôi đã bị bỏ rơi, nhưng cuộc đời tôi không chỉ được định nghĩa bằng sự bỏ rơi đó. Tôi đã bị hiểu lầm, nhưng tôi không phải sống phần đời còn lại để chứng minh cho mọi người rằng mình đúng. Thánh Giá nói rằng vết thương có thể vẫn còn dấu đinh nhưng không còn quyền thống trị. Chúa Phục Sinh hiện ra với các môn đệ vẫn mang các dấu thương. Phục Sinh không xóa lịch sử Thánh Giá; Phục Sinh biến những dấu thương thành chứng tích của chiến thắng.
Đó cũng là lý do tại sao ta không được tách Thánh Giá khỏi Phục Sinh. Nếu chỉ có Thánh Giá mà không có Phục Sinh, Kitô giáo trở thành một tôn giáo của chịu đựng. Nếu chỉ nói Phục Sinh mà tránh Thánh Giá, Kitô giáo trở thành một niềm lạc quan rẻ tiền. Mầu nhiệm Vượt Qua giữ cả hai: tình yêu đi qua cái chết để đến sự sống. Hạt lúa phải mục đi nhưng mục đi để sinh nhiều bông hạt. Chúa Giêsu nói: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Đây là hình ảnh tuyệt đẹp về sự thanh luyện của tình yêu. Có những thứ trong ta phải chết để tình yêu được sống: nhu cầu luôn thắng phải chết, nhu cầu luôn được khen phải chết, tính chiếm hữu phải chết, sự tự ái phải chết, ảo tưởng mình kiểm soát được mọi thứ phải chết, ý muốn bắt Thiên Chúa làm theo mình phải chết. Mỗi cái chết ấy đau thật. Nhưng sau mỗi cái chết ấy, trái tim rộng thêm một chút.
Một ngày nào đó, nếu đi đủ lâu với Chúa, ta sẽ nhận ra một điều rất lạ: những biến cố từng khiến ta tưởng đời mình bị phá hủy đôi khi lại trở thành nơi Thiên Chúa xây dựng chiều sâu nhất trong ta. Không phải ta gọi sự dữ là điều tốt. Không phải ta cảm ơn người đã gây ra bất công vì họ làm đúng. Nhưng ta có thể cảm tạ Thiên Chúa vì sự dữ đã không thắng được công trình Người làm trong ta. Có một người từng bị bỏ rơi nhưng nhờ đó học cách ở lại với người cô đơn. Có người từng mất tất cả nên thôi đo giá trị con người bằng tiền bạc. Có người trải qua bệnh tật nên bắt đầu biết quý từng ngày. Có người bị thất bại nên trở nên khiêm nhường. Có người từng bị xét đoán nên từ đó cẩn trọng không xét đoán ai. Khi ấy Thánh Giá đã làm công việc lạ lùng của nó: điều từng muốn làm ta nhỏ lại lại trở thành con đường làm trái tim ta lớn lên.
Vậy phải sống thế nào để Thánh Giá thật sự thanh luyện tình yêu thay vì làm ta cay đắng? Có lẽ trước hết là đừng chạy trốn sự thật về chính mình. Mỗi khi đau vì ai đó, bên cạnh câu hỏi “họ đã làm gì với tôi?”, hãy thêm một câu khác: “Nỗi đau này đang cho tôi thấy điều gì trong lòng tôi?” Có thể ta nhận ra mình quá cần được công nhận. Có thể ta đang chiếm hữu. Có thể ta đang muốn kiểm soát. Có thể ta quá tự hào. Có thể điều người kia nói sai chín phần nhưng một phần đúng lại chính là điều ta cần nghe. Thánh Giá trở nên thanh luyện khi ta để ánh sáng của nó chiếu vào mình, chứ không chỉ dùng nó để chứng minh rằng người khác phải thay đổi.
Kế đến, hãy học cầu nguyện ở ngay nơi bị thương. Đừng chỉ mang phần đẹp của đời mình đến với Chúa. Hãy mang cả cơn giận, nỗi thất vọng, sự ghen tị, cảm giác bị bỏ rơi, những câu hỏi không có câu trả lời. Chúa không cần một phiên bản được trang điểm của tâm hồn ta. Ghếtsêmani cho phép ta nói: “Con buồn.” Thánh Giá cho phép ta hỏi: “Sao Ngài bỏ con?” Nhưng sau tất cả, hãy cố thêm một câu: “Xin đừng theo ý con, mà theo ý Chúa.” Đôi khi ta chưa thể nói câu ấy cách trọn vẹn. Hãy cứ nói trong nước mắt. Chính lời ấy sẽ từ từ làm tim ta nên tự do.
Rồi hãy tập những cái chết nhỏ mỗi ngày. Không phải lúc nào Thánh Giá cũng là bệnh ung thư, tai nạn, tang tóc hay những biến cố kinh hoàng. Phần lớn Thánh Giá thanh luyện chúng ta bằng những điều rất bình thường: nghe một người nói hết câu dù ta muốn cắt ngang; nhận lỗi khi mình sai; không nhắc lại lỗi cũ của người khác trong một cuộc cãi nhau mới; làm một việc tốt mà không kể cho ai; chấp nhận người khác được khen; nhường một ý kiến không phải vì mình sai nhưng vì điều ấy không đáng để phá bình an; tắt điện thoại để thật sự lắng nghe người đang ngồi trước mặt; kiên nhẫn với cha mẹ già; làm một việc nhà không phải phần mình; cầu nguyện cho người khiến mình khó chịu; không trả lời một bình luận ác ý bằng một bình luận ác ý hơn. Những cái chết nhỏ ấy âm thầm tạo nên một trái tim có khả năng cho cái chết lớn hơn. Người không tập từ bỏ mình trong những điều bé nhỏ rất khó đứng vững khi Thánh Giá lớn xuất hiện.
Hãy nhìn lên Chúa chịu đóng đinh thường xuyên. Không phải nhìn để thương hại Người, nhưng để học cách yêu. Khi một lời xúc phạm làm ta muốn trả đũa, hãy nhìn đôi môi đã nói: “Xin tha cho họ.” Khi ta muốn buông một người vì họ làm ta mệt, hãy nhìn hai cánh tay vẫn dang ra. Khi ta nghĩ mình đã cho quá nhiều, hãy nhìn cạnh sườn bị mở ra. Khi ta cảm thấy chẳng ai hiểu mình, hãy nhìn Đấng bị kết án oan. Khi ta cô đơn, hãy nhìn Đấng đã kêu “Lạy Thiên Chúa, sao Ngài bỏ con?” Khi ta muốn xuống khỏi thập giá bằng cách bỏ bổn phận chỉ vì quá khó, hãy nhìn Đấng đã ở lại đến câu cuối cùng: “Thế là đã hoàn tất” (Ga 19,30). Có những bài thần học ta học bằng trí óc. Thánh Giá phải học bằng đầu gối.
Và rồi, hãy nhớ rằng đích đến của thanh luyện không phải là trở thành một người lạnh lùng, không còn đau. Trái lại, càng được thanh luyện, ta càng có khả năng đau với người khác. Trái tim Chúa Giêsu không trở thành đá vì chịu nhiều đau khổ; nó bị đâm thủng và mở ra. Đây là tiêu chuẩn để biết Thánh Giá đang sinh hoa trái trong ta hay chưa: ta có trở nên dịu hơn không? Có bớt xét đoán không? Có biết cảm thông hơn không? Có dễ tha thứ hơn không? Có ít cần mình là trung tâm hơn không? Có biết nhận lỗi hơn không? Có biết để người khác tự do hơn không? Có bình an hơn trước những điều không kiểm soát được không? Nếu sau nhiều đau khổ, ta chỉ trở nên cứng cỏi, nghi ngờ và cay độc, có lẽ ta đã mang thập giá nhưng chưa để nó trở thành Thánh Giá.
Cuối cùng, mầu nhiệm lớn nhất vẫn là điều này: ta không tự thanh luyện tình yêu mình bằng sức riêng. Không ai có thể chỉ bằng ý chí mà yêu như Chúa Giêsu. Ta phải để tình yêu của Người yêu trong ta. Mỗi Thánh lễ, chúng ta đứng trước chính mầu nhiệm ấy. Tấm bánh được bẻ ra. Chén rượu được trao đi. “Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” Đó là định nghĩa ngắn nhất về tình yêu Kitô giáo: thân mình trở thành quà tặng. Ta rước Thánh Thể không chỉ để được Chúa an ủi; ta rước Đấng bị bẻ ra để học trở thành tấm bánh được bẻ ra cho anh em. Một Kitô hữu rước lễ nhiều năm mà không dần biết trao mình thì vẫn chưa để Thánh Thể hoàn tất công việc của Người. Bàn thờ và Thánh Giá là một mầu nhiệm. Điều diễn ra trên bàn thờ phải đi vào bàn ăn gia đình, vào phòng bệnh, vào nơi làm việc, vào cộng đoàn, vào những cuộc xung đột, vào điện thoại và mạng xã hội của ta. Ta không thể vừa rước Đấng nói “Này là Mình Thầy trao cho anh em”, rồi trở về nhà và nhất quyết không nhường ai điều gì.
Một ngày kia, mọi điều chúng ta đang cố giữ sẽ phải buông. Chức vụ sẽ qua. Danh tiếng sẽ mờ. Tiền bạc sẽ ở lại. Thân xác từng được chăm sóc kỹ rồi cũng yếu đi. Những cuộc tranh luận ta từng quyết phải thắng sẽ trở thành chuyện không ai nhớ. Những lời khen từng khiến ta sung sướng rồi cũng biến mất. Cuối cùng, trước mặt Thiên Chúa, có lẽ chỉ còn một câu hỏi lớn: Con đã yêu như thế nào? Không phải con đã được bao nhiêu người biết đến, nhưng con đã yêu bao nhiêu người trong âm thầm. Không phải con thắng bao nhiêu cuộc tranh luận, nhưng con đã giữ được bao nhiêu người khỏi bị tổn thương bởi lời mình. Không phải con đã mang bao nhiêu thánh giá bên ngoài, nhưng những thánh giá ấy đã làm trái tim con giống Đức Kitô đến đâu.
Và vì thế, có lẽ lời cầu nguyện đẹp nhất trước Thánh Giá không phải là: “Lạy Chúa, xin đừng để đời con có thập giá”, bởi điều ấy không ai có thể tránh hoàn toàn. Cũng không phải: “Xin cho con đau khổ thật nhiều”, bởi đau khổ không phải điều phải tìm kiếm. Nhưng là: “Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, bất cứ điều gì cuộc đời đưa đến, xin đừng để con đánh mất tình yêu. Khi bị tổn thương, xin đừng để con trở nên độc ác. Khi bị hiểu lầm, xin đừng để con sống chỉ để minh oan. Khi bị bỏ rơi, xin đừng để con khép cửa trái tim. Khi phải buông, xin cho con biết buông trong tín thác. Khi không hiểu Chúa, xin cho con vẫn bám lấy Chúa. Khi không còn cảm giác sốt sắng, xin cho con vẫn trung thành. Khi người khác không đáp lại tình yêu của con, xin dạy con yêu mà không tính toán. Khi cái tôi của con bị đóng đinh, xin đừng để con nhảy xuống khỏi thập giá trước khi tình yêu hoàn tất công việc của nó. Xin thanh luyện trong con tất cả những gì mang tên tình yêu nhưng thật ra chỉ là tìm mình. Xin đốt đi lòng ích kỷ, tính chiếm hữu, sự tự ái, nhu cầu được công nhận, khát vọng kiểm soát, những đòi hỏi và điều kiện con đặt lên người khác. Xin cho sau mỗi Thánh Giá, con không nhỏ lại nhưng lớn hơn; không cứng hơn nhưng dịu hơn; không xa người khác hơn nhưng gần họ hơn; không ít yêu hơn nhưng yêu trong sạch hơn. Và khi cuộc đời con đi đến Thánh Giá cuối cùng là cái chết, xin cho con có thể trao lại tất cả như Chúa đã trao và nói trong bình an: Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Bởi cuối cùng, Thánh Giá không phải là nơi tình yêu bị giết chết. Thánh Giá là nơi mọi thứ không phải tình yêu bị giết chết, để tình yêu thật được sống. Cái tôi chết, tình yêu sống. Sự chiếm hữu chết, tự do sống. Hận thù chết, tha thứ sống. Tính toán chết, quảng đại sống. Kiêu ngạo chết, khiêm nhường sống. Nhu cầu kiểm soát chết, tín thác sống. Sợ hãi chết, trao ban sống. Và chính vì thế, Thánh Giá vẫn đứng giữa lịch sử như lời tuyên bố lớn nhất rằng tình yêu mạnh hơn sự chết. Người ta có thể đóng đinh đôi tay của tình yêu, nhưng không thể ngăn đôi tay ấy dang ra. Người ta có thể làm trái tim tình yêu bị đâm thủng, nhưng chính từ trái tim bị mở ấy máu và nước lại tuôn trào. Người ta có thể đặt tình yêu vào mồ, lăn đá bịt cửa và niêm phong, nhưng đến ngày thứ ba, tảng đá phải lăn ra.
Cho nên, người môn đệ Đức Kitô không xin một cuộc đời không có Thánh Giá. Người môn đệ xin một trái tim biết biến thập giá thành nơi gặp Chúa. Và khi đã đi đủ sâu vào mầu nhiệm ấy, ta sẽ hiểu rằng câu nói của Chúa Giêsu: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (Mt 16,25) không phải là một nghịch lý để làm khó con người, mà là bí mật sâu xa nhất của tình yêu: chỉ khi thôi giữ mình cho mình, ta mới thật sự trở thành chính mình. Chỉ khi tình yêu chịu để Thánh Giá thanh luyện, tình yêu mới thôi là cảm xúc nhất thời để trở thành hiến lễ. Chỉ khi đôi tay biết mở ra, ta mới có thể đón nhận. Chỉ khi hạt lúa chịu vùi vào đất, mùa gặt mới bắt đầu.
Và có lẽ đến cuối đời, khi nhìn lại tất cả những con đường đã qua, ta sẽ kinh ngạc nhận ra rằng những nơi từng làm ta khóc nhiều nhất đôi khi lại là những nơi Thiên Chúa dạy ta yêu sâu nhất. Những người từng khiến ta đau có thể đã vô tình chỉ cho ta thấy mình còn phải thanh luyện điều gì. Những lần kế hoạch sụp đổ có thể đã dạy ta tín thác. Những lúc bị bỏ quên có thể đã giải phóng ta khỏi cơn nghiện được nhìn nhận. Những lần phải buông có thể đã dạy ta rằng tình yêu không phải sở hữu. Những đêm cầu nguyện trong thinh lặng có thể đã đưa ta từ chỗ tìm quà của Chúa đến tìm chính Chúa. Và những vết thương, khi được đặt trong vết thương của Đức Kitô, có thể trở thành những khe cửa để lòng thương xót đi vào đời ta.
Thánh Giá, vì thế, không phải dấu chấm hết của tình yêu. Thánh Giá là cuộc thanh luyện cuối cùng để tình yêu trở về với bản chất nguyên tuyền của nó: trao ban chính mình và không giữ lại. Và ai dám ở lại dưới chân Thánh Giá đủ lâu, ai dám để Chúa Giêsu chịu đóng đinh nhìn vào tận đáy lòng mình, người ấy sẽ dần hiểu điều mà thế gian không bao giờ hiểu hết: có những lúc mất chính là được, buông chính là giữ, chết đi chính là sinh ra, và yêu đến đau không phải là thất bại của tình yêu, nếu trong cơn đau ấy ta vẫn còn biết yêu.
Lm. Anmai, CSsR

BỊ ĐÓNG ĐINH VỚI ĐỨC KITÔ – KHI ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG ĐI QUA CÁI CHẾT CỦA CHÍNH MÌNH
Có những câu Kinh Thánh chúng ta đọc rất nhiều lần, nghe rất quen tai, đến độ tưởng rằng mình đã hiểu, nhưng rồi có một ngày, khi cuộc đời đưa ta đến một nơi không còn đường lui, khi một điều rất quý trong ta bị lấy mất, khi một dự tính tan vỡ, một tương quan rạn nứt, một lời cầu nguyện kéo dài mà trời vẫn im lặng, một nỗi oan ức không thể thanh minh, một cơn đau không thể trao cho người khác chịu thay, một thất bại khiến ta không còn nhận ra chính mình, lúc ấy câu Kinh Thánh cũ bỗng mở ra như một vực sâu. Thánh Phaolô đã viết một câu như thế: “Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thập giá. Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,19-20). Đó không phải một câu nói đẹp để trang trí đời sống đạo. Đó là lời của một con người đã để cho Tin Mừng đi xuyên qua tận xương tủy đời mình. Bị đóng đinh với Đức Kitô không phải là đứng từ xa ngắm Chúa chịu đóng đinh, cũng không chỉ là xúc động khi nhìn một cây thánh giá. Bị đóng đinh với Đức Kitô là để cho điều đã xảy ra nơi Đức Giêsu trở thành một quy luật âm thầm trong chính đời mình: cái tôi cũ phải chết đi để một con người mới được sinh ra; ý riêng phải biết nhường chỗ cho ý Chúa; lòng tự ái phải chịu đóng đinh để tình yêu có thể sống; nhu cầu được nhìn nhận phải chết đi để ta có thể âm thầm làm điều tốt; khát vọng kiểm soát mọi chuyện phải bị buông xuống để ta học tín thác; những tham vọng khoác áo đạo đức phải được thanh luyện để đời sống thiêng liêng không còn xoay quanh chính mình nhưng thực sự quy hướng về Đức Kitô.
Tin Mừng đưa chúng ta đến tận trung tâm của mầu nhiệm ấy trong lời Đức Giêsu: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Lc 9,23-24). Chúa không nói: ai muốn theo Thầy thì hãy tìm một cây thập giá thật nặng. Chúa cũng không bảo chúng ta đi tìm đau khổ, yêu thích đau khổ hay biến Kitô giáo thành một tôn giáo của buồn bã. Ngài nói một điều khó hơn nhiều: “từ bỏ chính mình”. Thập giá bên ngoài nhiều khi còn dễ mang hơn thập giá nằm ngay trong lòng. Có người chịu bệnh rất giỏi nhưng không chịu nổi một lời chê. Có người có thể hy sinh tiền bạc nhưng không hy sinh được cái tôi. Có người làm rất nhiều việc cho Chúa nhưng không chịu nổi khi công việc của mình không được ai nhắc đến. Có người sẵn sàng đi xa làm việc bác ái nhưng lại không chịu nhịn một người trong chính gia đình. Có người cầu nguyện hàng giờ nhưng chỉ mong Thiên Chúa thực hiện điều mình đã quyết định sẵn. Chính ở đây, ý nghĩa của việc “bị đóng đinh với Đức Kitô” bắt đầu chạm vào vùng sâu nhất của đời sống thiêng liêng. Cây đinh đau nhất nhiều khi không xuyên qua tay chân mà xuyên qua lòng tự ái. Thập giá nặng nhất nhiều khi không phải là nghèo túng hay bệnh tật nhưng là chấp nhận rằng mình không phải trung tâm của thế giới, người khác không nhất thiết phải hiểu mình, cuộc đời không nhất thiết phải diễn ra theo kế hoạch của mình, và ngay cả khi ta đã sống tốt, đã cầu nguyện, đã tận tâm, ta vẫn có thể gặp thất bại, bị hiểu lầm, bị quên lãng.
Con người tự nhiên muốn sống. Nhưng cái “tôi” trong con người còn muốn nhiều hơn thế: nó muốn được xác nhận, được thắng, được đúng, được khen, được kiểm soát, được nhìn thấy, được bảo vệ. Cái tôi ấy rất tinh vi. Nó có thể bước cả vào nhà thờ. Nó có thể quỳ trước Nhà Tạm. Nó có thể đọc kinh, làm việc tông đồ, giảng dạy, phục vụ người nghèo và vẫn âm thầm tìm chính mình. Ta có thể nói về Chúa nhưng trong sâu thẳm lại mong người khác ngưỡng mộ mình. Ta có thể làm việc cho Giáo Hội nhưng đau đớn dữ dội khi người khác được trao một vai trò mà ta cho rằng phải thuộc về mình. Ta có thể quảng đại cho đi nhưng rồi chờ một lời cảm ơn. Ta có thể nói mình vâng phục nhưng chỉ vâng phục khi quyết định của bề trên trùng với ý mình. Ta có thể nói mình phó thác nhưng vẫn cố điều khiển Thiên Chúa bằng những lời cầu nguyện đầy mặc cả: “Lạy Chúa, con đã làm cho Chúa từng ấy chuyện, tại sao Chúa không làm điều này cho con?” Chính cái tôi tôn giáo ấy đôi khi khó chết hơn cái tôi thế tục, bởi nó biết khoác áo thánh thiện. Và vì thế, có những giai đoạn Thiên Chúa cho phép chúng ta đi qua một thứ đêm tối, nơi những chỗ dựa quen thuộc lần lượt bị lấy đi. Không phải Chúa tàn nhẫn. Chính vì yêu mà Ngài không để ta mãi sống trong ảo tưởng về mình.
Thập giá trước hết là nơi Đức Giêsu hoàn toàn mất quyền làm chủ theo nghĩa nhân loại. Hai bàn tay từng chạm vào người phong cùi, bẻ bánh cho đám đông, đặt trên mắt người mù, ôm lấy trẻ nhỏ, nay bị đóng cứng. Đôi chân từng đi khắp miền Galilê và Giuđê để tìm người nghèo, nay không còn bước được nữa. Đấng từng nói và biển lặng, từng gọi và người chết bước ra khỏi mồ, nay bị treo giữa trời và đất như một kẻ bất lực. Người ta thách thức: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi!” Nhưng Người không xuống. Chính ở đó là điều khó hiểu nhất của quyền năng Thiên Chúa: quyền năng của Người không biểu lộ bằng việc thoát khỏi thập giá nhưng bằng việc yêu cho đến tận cùng ngay trên thập giá. Người có thể cứu mình, nhưng Người chọn ở lại để cứu chúng ta. Người có thể đáp trả bạo lực bằng quyền năng, nhưng Người đáp bằng tha thứ. Người có thể nguyền rủa những kẻ đóng đinh mình, nhưng Người cầu xin: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Người có thể giữ mạng sống, nhưng Người trao nó đi. Đó là mẫu mực của mọi kinh nghiệm “bị đóng đinh với Đức Kitô”: không phải đau khổ tự nó làm ta nên thánh, mà chính tình yêu được sống trong đau khổ mới biến thập giá thành nơi cứu độ.
Điều này rất quan trọng, bởi nhiều người hiểu sai linh đạo thập giá. Họ tưởng rằng càng đau càng thánh, càng bị hành hạ càng đẹp lòng Chúa, càng cam chịu mọi bất công càng đạo đức. Không. Đức Giêsu chữa bệnh, giải thoát con người, chống lại những gánh nặng tôn giáo phi nhân, đứng về phía người bị loại trừ. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ; Kitô giáo tôn thờ Đấng đã yêu ngay giữa đau khổ và chiến thắng đau khổ bằng tình yêu. Có những thập giá phải ôm lấy, nhưng cũng có những thập giá phải tháo xuống khỏi vai người khác. Có những đau khổ phải kiên nhẫn chịu đựng vì không thể thay đổi, nhưng có những bất công chúng ta có bổn phận phải chống lại. Không thể lấy câu “vác thập giá” để bảo một người tiếp tục sống trong bạo hành. Không thể dùng ý Chúa để biện minh cho sự vô trách nhiệm của con người. Không thể biến sự cam chịu thành nhân đức khi điều cần làm là bảo vệ phẩm giá của một con người. Bị đóng đinh với Đức Kitô không phải để sự dữ thắng; đó là không để sự dữ biến mình thành một kẻ dữ khác. Đây là sự khác biệt rất lớn.
Thánh Phaolô nói: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi.” Điều ấy không có nghĩa Kitô giáo xóa bỏ nhân cách con người. Chúa không muốn biến chúng ta thành những con người vô cảm, không sở thích, không cá tính, không tự do. Ngược lại, khi cái tôi ích kỷ chết đi, con người thật của ta mới bắt đầu sống. Có lẽ nghịch lý lớn nhất của đời sống thiêng liêng nằm ở đây: chúng ta càng bám lấy mình thì càng mất mình; càng trao mình cho Chúa thì càng tìm thấy mình. Hạt lúa nếu cứ giữ nguyên hình dạng của nó thì chỉ là một hạt lúa cô độc. Đức Giêsu nói: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Hạt lúa không biến mất trong vô nghĩa. Nó mất hình dạng cũ để giải phóng sự sống đang ẩn bên trong. Cũng thế, khi lòng kiêu căng chết đi, sự khiêm nhường được sinh ra. Khi nhu cầu chiếm hữu chết đi, tự do được sinh ra. Khi oán hận chết đi, bình an được sinh ra. Khi ích kỷ chết đi, tình yêu được sinh ra. Khi ý riêng chịu nhường bước, sự vâng phục trưởng thành được sinh ra. Khi ta không còn phải chứng minh mình trước mọi người, một sự thanh thản kỳ lạ bắt đầu xuất hiện.
Có một cây thập giá rất âm thầm mà gần như ai sống đời thiêng liêng nghiêm túc rồi cũng gặp: thập giá của việc không còn cảm thấy Chúa như trước. Ban đầu người ta cầu nguyện dễ dàng. Một bài thánh ca làm mình xúc động. Một giờ chầu khiến lòng đầy bình an. Một đoạn Tin Mừng đọc lên như nói riêng với mình. Người ta háo hức đi lễ, đọc kinh, làm việc tông đồ. Rồi có ngày tất cả trở nên khô khan. Ta quỳ trước Nhà Tạm và không cảm thấy gì. Lời kinh rơi xuống như những hòn đá khô. Kinh Thánh mở ra mà chữ nghĩa dường như đóng kín. Chúa không còn “an ủi” như trước. Nhiều người hoảng sợ: phải chăng tôi mất đức tin? Chưa chắc. Có thể đó lại là lúc đức tin bắt đầu trưởng thành. Khi một đứa trẻ yêu mẹ, nó yêu cả những viên kẹo mẹ cho. Nhưng rồi tình yêu phải lớn đến mức yêu mẹ ngay cả khi mẹ không cho kẹo. Trong đời sống thiêng liêng cũng thế. Có một lúc Thiên Chúa rút những an ủi cảm giác để ta học yêu chính Ngài, chứ không yêu cảm giác về Ngài. Đây là một kiểu đóng đinh rất tinh tế: đóng đinh nhu cầu phải cảm thấy mình sốt sắng.
Chúa Giêsu đã đi qua một đêm tối vô cùng sâu hơn mọi đêm tối của ta. Trên thập giá, Người kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34). Không thể đọc câu ấy hời hợt. Con Thiên Chúa đã đi vào tận kinh nghiệm của con người bị bỏ rơi. Người không đóng kịch. Nỗi đau là thật. Sự cô đơn là thật. Bóng tối là thật. Nhưng ngay trong tiếng kêu ấy, Người vẫn gọi: “Thiên Chúa của con.” Đức tin đôi khi chỉ còn lại một sợi chỉ mỏng như thế. Không cảm thấy Chúa, nhưng vẫn gọi Ngài là “Chúa của con”. Không hiểu gì, nhưng vẫn không bỏ Ngài. Không thấy bình minh, nhưng vẫn không quay lưng lại với đêm tối. Có những người tưởng rằng đức tin mạnh là không bao giờ hoang mang. Không. Đức tin mạnh nhiều khi chính là hoang mang mà vẫn ở lại. Chúa Giêsu không cứu chúng ta khỏi mọi cảm giác bị bỏ rơi; Người đi vào cảm giác ấy cùng chúng ta để từ đó không còn nỗi cô đơn nào hoàn toàn không có Chúa.
Một cây đinh khác là bị hiểu lầm. Ai từng thật lòng sống và phục vụ lâu năm đều biết nỗi đau này. Có những chuyện ta có thể giải thích. Nhưng cũng có những chuyện càng giải thích càng rối. Có khi một câu nói bị kể lại khác đi. Một thiện ý bị đọc thành động cơ xấu. Một sự im lặng bị cho là kiêu căng. Một quyết định vì trách nhiệm bị hiểu là ích kỷ. Bản năng đầu tiên của con người là thanh minh. Ta muốn tất cả mọi người hiểu đúng về mình. Ta muốn sự thật được trả lại ngay tức khắc. Nhưng có những lúc Thiên Chúa không cho ta cơ hội ấy. Đức Giêsu đã đứng trước Philatô, trước Hêrôđê, trước những kẻ cáo gian. Có lúc Người trả lời, có lúc Người im lặng. Sự im lặng của Người không phải hèn nhát. Đó là tự do. Người không để giá trị của mình tùy thuộc vào phán xét của đám đông. Khi một người có thể sống mà không phải liên tục biện hộ cho bản thân, một phần cái tôi đã được đóng đinh.
Đau hơn nữa là bị tổn thương bởi chính người mình đã yêu. Giuđa không phải người ngoài. Ông đã đi với Chúa, ăn với Chúa, nghe Chúa giảng, được Chúa tin tưởng. Phêrô không phải người xa lạ. Ông đã nói: “Dù có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy.” Thế nhưng trong đêm ấy, một người bán Chúa bằng cái hôn, một người chối Chúa ba lần. Thập giá của phản bội luôn đau vì nó đến từ nơi ta từng đặt niềm tin. Người lạ nói xấu ta, ta buồn một. Người thân làm điều ấy, ta đau mười. Người mình từng giúp quay lại làm tổn thương mình, nỗi đau dễ biến thành cay đắng. Chính ở đây việc “bị đóng đinh với Đức Kitô” trở nên rất thật. Ta có để cho vết thương biến thành oán thù không? Ta có dùng nỗi đau như một giấy phép để làm người khác đau không? Ta có sống cả phần đời còn lại trong câu chuyện mình đã bị đối xử bất công không? Hay dần dần, rất chậm, ta để Đức Kitô chịu đóng đinh bước vào vết thương ấy và dạy mình một thứ tự do khác: nhớ nhưng không hận, đau nhưng không trả thù, thận trọng nhưng không đóng cửa trái tim, tha thứ nhưng không gọi điều xấu là tốt?
Tha thứ là một kiểu đóng đinh. Bởi khi tha thứ, có một phần trong ta phải chết: phần muốn người kia phải trả giá, phần thích nuôi lại câu chuyện cũ, phần tìm một cảm giác thỏa mãn khi tưởng tượng người làm mình đau sẽ một ngày đau hơn mình. Tha thứ không phải là quên ngay. Cũng không nhất thiết là phục hồi tức khắc mọi tương quan. Tha thứ trước hết là từ chối trao quyền điều khiển phần đời còn lại của mình cho vết thương cũ. Ta nói với Chúa: “Con không thể tự mình giải quyết chuyện này. Nhưng con không muốn hận nữa. Xin Chúa làm nơi con điều con chưa làm được.” Có những sự tha thứ phải cầu nguyện nhiều năm. Nhưng mỗi lần ta không nói thêm một lời độc địa, mỗi lần ta ngăn mình kể lại chuyện cũ chỉ để hạ thấp người kia, mỗi lần ta cầu xin Chúa thương họ dù trái tim chưa hết đau, một chiếc đinh của cái tôi đang được tháo ra và một phần Đức Kitô đang lớn lên trong ta.
Cũng có thập giá của tuổi già. Thuở trẻ, con người tự định nghĩa mình bằng khả năng: tôi làm được gì, tôi xây dựng được gì, tôi giúp được ai, tôi có ảnh hưởng thế nào. Rồi tuổi tác âm thầm lấy đi từng chút. Sức lực giảm. Trí nhớ chậm. Người khác làm thay những việc mình từng làm rất giỏi. Tên tuổi dần ít được nhắc. Những thế hệ mới xuất hiện. Có người sống tuổi già trong bình an; có người sống trong cay đắng vì không chịu nổi cảm giác mình không còn quan trọng. Đây là một cuộc đóng đinh thật sự của bản ngã. Đức Giêsu đã nói với Phêrô: “Lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy và đi đâu tùy ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn” (Ga 21,18). Thật lạ lùng: trưởng thành thiêng liêng cuối cùng có thể chính là học để người khác dẫn mình đến nơi mình không muốn. Cả đời ta làm cho Chúa; cuối đời Chúa có thể mời ta chỉ còn “để Chúa làm”. Cả đời ta trao ban; cuối đời phải học nhận. Cả đời chăm sóc người khác; rồi có ngày phải để người khác chăm sóc mình. Đó cũng là thập giá.
Người tận hiến có những cây đinh riêng. Linh mục có những cây đinh riêng. Không hẳn là những hy sinh lớn lao người đời nhìn thấy, nhưng thường là những cái chết rất nhỏ lặp đi lặp lại. Là khi phải phục vụ một cộng đoàn không hợp tính mình. Là khi một kế hoạch mục vụ đã dốc bao công sức bỗng bị dừng. Là khi bị so sánh với người đi trước hay người đi sau. Là khi bị đòi hỏi phải có mặt cho mọi người trong lúc chính mình đang kiệt sức. Là khi nghe những lời khen hôm nay và biết rằng ngày mai chính những con người ấy có thể quay sang trách móc. Là khi phải giảng về hy vọng trong lúc lòng mình cũng đang tối. Là khi ngồi tòa giải tội hàng giờ, nâng đỡ những tâm hồn tan vỡ, rồi trở về phòng với những nỗi buồn không biết kể cùng ai. Là khi phải chấp nhận rằng có những người mình yêu thương, chăm sóc nhiều năm, cuối cùng vẫn rời đi mà không một lời cảm ơn. Nếu không gắn với Đức Kitô chịu đóng đinh, những điều ấy có thể làm lòng người khô cứng. Nhưng nếu được đặt dưới chân thập giá, chúng trở thành nơi người mục tử được thanh luyện khỏi một cám dỗ rất lớn: phục vụ để được cần đến. Đến một ngày, người mục tử phải học câu của Gioan Tẩy Giả: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại” (Ga 3,30). Nhỏ lại là đau. Nhưng nếu Đức Kitô lớn lên, cái nhỏ lại ấy không phải mất mát.
Còn một thập giá rất sâu: chấp nhận sự bất lực của mình trước nỗi đau của người mình yêu. Người mẹ đứng bên giường bệnh của con. Người chồng nhìn vợ dần yếu đi. Người con nhìn cha mẹ già mà không thể giữ thời gian đứng lại. Người mục tử đứng trước một gia đình tan vỡ mà mọi lời khuyên dường như đến quá muộn. Có những lúc ta sẵn sàng chịu đau thay, nhưng không được. Ta chỉ có thể đứng đó. Đức Maria dưới chân thập giá đã đứng như thế. Tin Mừng Gioan viết ngắn gọn: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Chữ “đứng” ấy đẹp đến nhói lòng. Mẹ không làm phép lạ. Mẹ không tháo được đinh. Mẹ không cất được thập giá khỏi vai Con. Mẹ chỉ đứng. Nhưng đôi khi đứng bên một người đang đau đã là một tình yêu rất lớn. Đời sống thiêng liêng trưởng thành không làm ta toàn năng. Nó dạy ta biết ở lại khi ta không sửa được điều gì. Có người bỏ đi khi không còn giúp được. Người yêu thật thì vẫn ở lại.
Bị đóng đinh với Đức Kitô còn là chết đi đối với nhu cầu sở hữu người mình yêu. Ta thường gọi một điều là tình yêu, nhưng sâu bên trong lại pha rất nhiều chiếm hữu. Ta muốn người ấy phải nghĩ như ta, chọn như ta, ở bên ta, biết ơn ta, cần ta. Khi họ tự do, ta lo. Khi họ không còn cần mình như trước, ta đau. Khi họ chọn con đường khác, ta cảm thấy bị phản bội. Nhưng Đức Kitô trên thập giá yêu bằng đôi tay bị đóng mở ra. Người không nắm ai cả. Người hiến mình. Tình yêu Kitô giáo cuối cùng phải đi đến chỗ có thể nói: “Tôi yêu bạn đủ để không biến bạn thành sở hữu của tôi.” Cha mẹ phải một ngày để con đi. Người hướng dẫn phải để người mình đồng hành trưởng thành và không còn lệ thuộc. Người mục tử phải vui khi đàn chiên gắn bó với Đức Kitô hơn gắn bó với mình. Tình yêu trưởng thành luôn có bóng dáng của thập giá bởi nó chấp nhận mất quyền sở hữu.
Có những lúc Chúa đóng đinh cả hình ảnh chúng ta đã xây dựng về chính mình. Ta từng nghĩ mình rất nhẫn nhịn cho đến khi gặp một người khiến mình nổi nóng. Ta nghĩ mình khiêm nhường cho đến khi người khác được khen còn mình bị bỏ quên. Ta nghĩ mình phó thác cho đến khi một biến cố xảy ra ngoài kế hoạch. Ta tưởng mình đã tha thứ cho đến ngày tình cờ gặp lại người từng làm mình tổn thương và trái tim run lên. Những khoảnh khắc đó rất quý. Chúng làm đau nhưng nói sự thật. Thiên Chúa không phơi bày sự yếu đuối của ta để hạ nhục ta, nhưng để cứu ta khỏi ảo tưởng thánh thiện về chính mình. Phêrô phải trải qua tiếng gà gáy mới hiểu ông không mạnh như ông tưởng. Và chính người đã khóc cay đắng ấy sau này mới có thể trở thành mục tử không phải vì hoàn hảo, nhưng vì biết mình đã được thương xót.
Không ai bị đóng đinh với Đức Kitô mà không gặp thập giá của việc buông bỏ hình ảnh lý tưởng về mình. Ta muốn mình tốt, ổn định, mạnh mẽ, nhất quán. Nhưng Chúa nhiều khi cứu ta bằng cách cho ta nhận ra mình mong manh. Có những thất bại đạo đức khiến người ta tuyệt vọng, nhưng đôi khi chính từ chỗ ấy một đời sống thiêng liêng thật mới bắt đầu. Trước kia ta tin vào sự mạnh mẽ của mình; bây giờ ta học tin vào lòng thương xót. Trước kia ta nghĩ: “Con sẽ không bao giờ như thế.” Sau khi ngã, ta chỉ còn biết nói: “Lạy Chúa, xin thương xót con.” Lời cầu thứ hai nghèo hơn nhưng thật hơn. Một người chưa từng biết mình yếu có thể rất dễ khắt khe với người yếu. Người đã khóc vì chính tội mình thường nhìn tội nhân bằng đôi mắt khác.
Thập giá cũng đóng đinh nhu cầu phải hiểu mọi sự. Con người hiện đại rất khó chịu trước huyền nhiệm. Ta muốn biết tại sao. Tại sao người tốt lại đau? Tại sao lời cầu nguyện không được nhận lời? Tại sao người ấy chết sớm? Tại sao một gia đình đạo đức lại gặp tai họa? Tại sao Chúa im lặng? Có những câu hỏi được giải đáp. Nhưng có những câu hỏi ta sẽ mang đến tận cửa thiên đàng. Đức tin không phải là có câu trả lời cho tất cả. Đức tin là biết mình đang ở trong tay Ai ngay cả khi không hiểu điều gì đang xảy ra. Trên thập giá, Đức Giêsu không cho chúng ta một bài triết học về sự dữ. Người cho chúng ta chính Người. Kitô giáo không trả lời mọi giọt nước mắt bằng một lý thuyết; Kitô giáo đặt bên mỗi giọt nước mắt khuôn mặt của một Thiên Chúa đã khóc.
Ở đây ta hiểu tại sao thập giá vừa đáng sợ vừa đẹp. Nó đáng sợ vì không cho cái tôi chỗ trốn. Trên thập giá, ta không thể mang theo danh vọng, chức vụ, tiền bạc, hình ảnh, quyền lực. Một người bị đóng đinh chỉ còn chính con người mình. Nhưng thập giá đẹp vì khi mọi thứ bị lấy đi, tình yêu vẫn còn. Đức Giêsu trên đồi Canvê không còn gì để cho theo tiêu chuẩn thế gian. Áo đã bị chia. Danh dự bị tước. Thân thể không còn tự do. Các môn đệ phần lớn đã chạy. Nhưng Người còn một điều không ai lấy được: khả năng yêu. Và Người yêu đến hơi thở cuối cùng.
Đó là một trong những bài học lớn nhất cho đời sống thiêng liêng: có thể đến một ngày ta không còn làm được điều từng làm, không còn được người ta nhớ như trước, không còn có sức khỏe, tiền bạc, tiếng nói hay ảnh hưởng; nhưng nếu còn yêu được, đời ta chưa bao giờ vô ích. Người nằm bất động trên giường bệnh mà hiến cơn đau cho Chúa, cầu nguyện cho con cháu, vẫn đang sống mầu nhiệm cứu độ. Người già không thể đến nhà thờ như trước nhưng lần chuỗi trong căn phòng nhỏ vẫn đang đứng dưới chân thập giá với Đức Maria. Người thất bại trong một công việc nhưng không để thất bại làm mình cay độc đang làm chứng về Phục Sinh. Giá trị đời người không chỉ nằm ở những gì ta thực hiện, mà còn ở cách ta yêu khi không còn thực hiện được nhiều nữa.
Nhưng đừng quên: “bị đóng đinh với Đức Kitô” luôn có chữ “với”. Đây là điều cứu chúng ta khỏi một linh đạo khổ hạnh bệnh hoạn. Ta không bị đóng đinh một mình. Ta không được mời gọi nghiến răng chịu đựng bằng ý chí. Kitô hữu không mang thập giá để chứng minh mình mạnh. Ta mang thập giá “với Đức Kitô”. Có những đêm ta chỉ đủ sức thưa: “Lạy Chúa, con không hiểu. Nhưng xin ở đây với con.” Có những ngày lời cầu duy nhất chỉ là một tiếng thở dài. Có lúc không đọc nổi một kinh dài. Chỉ nhìn thánh giá. Chỉ gọi “Giêsu”. Thế là đủ. Bởi sức mạnh không nằm trong việc ta nắm Chúa chặt thế nào, nhưng trong việc Chúa đang nắm lấy ta.
Có một sự thật rất an ủi: chính Đấng nói “hãy vác thập giá” đã vác trước. Chúa không đứng ở cuối đường rồi ra lệnh cho ta leo lên. Người đi trước, ngã trước, đổ máu trước, khóc trước. Không có ngõ tối nào của đời người mà Đức Kitô chưa bước vào. Bị bạn hữu bỏ rơi? Người biết. Bị vu oan? Người biết. Thể xác đau đớn? Người biết. Cảm giác Thiên Chúa im lặng? Người biết. Bị nhục mạ trước đám đông? Người biết. Mất tất cả? Người biết. Chính vì thế, ta không chỉ thờ một Thiên Chúa quyền năng; ta thờ một Thiên Chúa mang thương tích. Sau Phục Sinh, những vết thương của Đức Giêsu không biến mất. Người hiện ra với Tôma và nói: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy” (Ga 20,27). Đấng Phục Sinh vẫn mang dấu đinh. Kỳ lạ biết bao. Thiên Chúa không xóa lịch sử đau thương như chưa từng có. Người biến vết thương thành dấu chỉ của tình yêu chiến thắng.
Đó cũng là điều Chúa muốn làm với những vết thương của chúng ta. Có những vết thương không bao giờ hoàn toàn biến mất. Nhưng chúng có thể đổi nghĩa. Một người từng bị bỏ rơi có thể trở thành người đặc biệt nhạy cảm với những ai cô độc. Người từng thất bại có thể trở thành người biết nâng đỡ người thất bại. Người từng đi qua bệnh tật có thể ngồi cạnh bệnh nhân với một sự hiện diện mà sách vở không dạy được. Người từng phạm tội và được tha thứ có thể trở thành khí cụ của lòng thương xót. Vết thương được trao cho Đức Kitô có thể trở thành cửa sổ để ánh sáng đi qua. Chính Leonard Cohen từng có một câu rất đẹp rằng nơi nào có vết nứt, nơi đó ánh sáng có thể lọt vào. Đối với người Kitô hữu, ánh sáng ấy có một tên: Đức Kitô Phục Sinh.
Vì thế, thập giá không phải chương cuối. Nếu chỉ có thứ Sáu Tuần Thánh mà không có sáng Phục Sinh, Kitô giáo sẽ là một bi kịch. Nhưng mầu nhiệm Vượt Qua nói rằng mọi cái chết được sống trong Đức Kitô đều mang một hạt giống phục sinh. Điều này không có nghĩa mọi vấn đề sẽ được giải quyết theo cách ta muốn. Người chết không nhất thiết trở lại như Ladarô. Bệnh tật không luôn được chữa lành. Một tương quan tan vỡ không phải lúc nào cũng phục hồi. Nhưng không một giọt nước mắt nào được trao cho Chúa là vô ích. Không một sự từ bỏ vì yêu nào mất đi. Không một hành vi tha thứ nào biến mất. Không một hy sinh âm thầm nào bị Thiên Chúa quên.
Có một lúc trong đời sống thiêng liêng, câu hỏi không còn là: “Lạy Chúa, tại sao Chúa để con chịu chuyện này?” mà dần dần trở thành: “Lạy Chúa, con phải yêu thế nào trong chuyện này?” Câu hỏi thứ nhất rất con người và Chúa không trách ta. Đức Giêsu cũng đã hỏi “tại sao”. Nhưng câu hỏi thứ hai đưa ta sâu hơn vào mầu nhiệm thập giá. Ta có thể không chọn được điều xảy đến, nhưng ta có thể chọn cách mình sống điều ấy. Một bệnh tật có thể làm người ta dịu dàng hơn hoặc cay đắng hơn. Một thất bại có thể làm người ta khiêm nhường hơn hoặc ghen tị hơn. Một sự phản bội có thể làm trái tim mở rộng trong lòng thương xót hoặc đóng kín trong nghi ngờ. Thập giá tự nó không tự động làm nên thánh. Cách ta bước qua thập giá với Đức Kitô mới làm nên con người mới.
Và có lẽ một dấu hiệu rất thật cho thấy ta đang “bị đóng đinh với Đức Kitô” chính là ta dần bớt phản ứng theo bản năng của cái tôi. Trước kia ai chê là phải đáp. Bây giờ biết im lặng khi cần. Trước kia bị xúc phạm là nhớ rất lâu. Bây giờ đau nhưng đem đến cho Chúa. Trước kia phải được công nhận. Bây giờ làm điều tốt mà không ai biết cũng bình an. Trước kia mọi kế hoạch thay đổi đều khiến mình nổi giận. Bây giờ biết hỏi: “Có lẽ Chúa đang mở một con đường khác chăng?” Trước kia cầu nguyện để Chúa đổi hoàn cảnh. Bây giờ đôi khi biết cầu: “Nếu hoàn cảnh chưa đổi, xin đổi lòng con.” Đó là những cuộc phục sinh nhỏ.
Người thực sự mang dấu thập giá thường không ồn ào. Họ mềm hơn, chứ không cứng hơn. Họ ít xét đoán hơn, vì biết chính mình đã nhiều lần cần được thương xót. Họ ít tranh hơn thua, vì đã hiểu rất nhiều trận thắng chẳng đáng gì. Họ biết lắng nghe người đau khổ mà không vội giảng giải. Họ không dùng câu “ý Chúa” quá dễ dàng trước nước mắt người khác. Họ biết có những lúc chỉ nên ngồi xuống và khóc với người đang khóc. Thập giá thật không làm người ta kiêu hãnh vì mình đã chịu nhiều. Nó làm người ta hiền.
Có một nghịch lý tuyệt đẹp: càng gần Đức Kitô chịu đóng đinh, ta càng yêu đời hơn. Không phải yêu một đời sống không có đau khổ, mà yêu từng điều nhỏ bé vì biết tất cả mong manh. Một người từng đứng bên bờ mất mát mới biết quý một bữa cơm gia đình. Người từng bệnh mới biết quý một sáng thức dậy còn khỏe. Người từng mất một người thân mới biết một cuộc điện thoại bình thường là ân huệ. Thập giá, nếu được sống đúng, không làm ta khinh thường trần thế. Nó dạy ta nhận ra mọi thứ là quà tặng.
Sau cùng, “tôi sống nhưng không còn là tôi” không phải lời của một con người biến mất. Đó là lời của một con người cuối cùng đã tìm thấy trung tâm thật của đời mình. Bao lâu cái tôi còn ngự trên ngai, ta phải liên tục bảo vệ ngai ấy. Ai nói khác ý ta là đe dọa. Ai thành công hơn ta là đối thủ. Ai không cần ta là xúc phạm. Ai quên ta là làm tổn thương. Nhưng khi Đức Kitô ngự vào trung tâm, một sự tự do kỳ lạ xuất hiện. Ta có thể vui khi người khác thành công. Có thể nhận lỗi. Có thể xin lỗi. Có thể không được nhắc tên. Có thể trao công việc mình xây dựng cho người khác tiếp tục. Có thể già đi. Có thể nhỏ lại. Thậm chí có thể chết trong bình an. Bởi điều quan trọng cuối cùng không phải “tôi đã lớn đến đâu”, mà là “Đức Kitô đã lớn lên trong tôi đến đâu”.
Mỗi ngày, cây thập giá ấy được dựng lên trong những điều rất bình thường. Một lời đáng lẽ muốn nói nhưng ta giữ lại vì biết nó sẽ làm đau. Một bực tức được dâng lên thay vì trút xuống. Một lần xin lỗi dù lòng tự ái rất đau. Một việc tốt làm âm thầm. Một lần chấp nhận ý người khác khi chuyện không liên quan đến nguyên tắc. Một giờ cầu nguyện khô khan nhưng vẫn trung thành. Một lần bước vào phòng bệnh dù sợ nhìn thấy đau đớn. Một quyết định không trả đũa. Một buổi tối mệt mỏi nhưng vẫn lắng nghe người thân kể chuyện. Những cây đinh ấy nhỏ đến mức không ai nhìn thấy. Nhưng chính từ đó Đức Kitô được thành hình trong ta.
Và rồi sẽ đến cây thập giá cuối cùng: cái chết. Ngày ấy, mọi người đều phải dang tay. Không còn nắm giữ gì. Tiền bạc ở lại. Chức vụ ở lại. Ngôi nhà ở lại. Những lời khen chê ở lại. Thân xác cũng phải trao lại cho đất. Cả đời sống thiêng liêng thực ra là một cuộc tập buông để đến phút cuối ta có thể buông tất cả vào tay Cha như Đức Giêsu: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Người đã tập chết mỗi ngày đối với ích kỷ sẽ dễ chết trong bình an hơn người cả đời chỉ tập nắm giữ. Người đã tập trao mình sẽ nhận ra cái chết cuối cùng không phải rơi vào khoảng không nhưng rơi vào vòng tay.
Có lẽ vì vậy, khi đứng trước thập giá, điều chúng ta nên xin không phải trước hết là: “Lạy Chúa, xin đừng để con có thập giá.” Chúng ta có quyền xin Chúa cứu mình khỏi đau khổ, như chính Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu đã cầu: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Nhưng Người nói tiếp: “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39). Đó là điểm sâu nhất của đời sống thiêng liêng. Không phải không còn ước muốn. Không phải không còn sợ. Không phải không còn khóc. Nhưng giữa tất cả những điều ấy, có một lời phó thác lớn hơn: “Xin theo ý Cha.”
Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, con sợ những cây đinh của đời mình. Con sợ mất mát, sợ bị hiểu lầm, sợ thất bại, sợ bệnh tật, sợ bị quên, sợ những ngày lời cầu nguyện trở nên khô cằn, và sâu hơn hết, con sợ phải chết đi đối với cái tôi mà con đã mất cả đời để xây dựng. Nhưng xin đừng để con chạy khỏi thập giá đến mức chạy khỏi chính Chúa. Xin cho con hiểu rằng Chúa không yêu đau khổ của con; Chúa yêu con, và vì yêu con, Chúa bước vào chính đau khổ ấy. Khi con không thể tháo cây đinh khỏi tay mình, xin cho con nhận ra bàn tay Chúa cũng mang dấu đinh. Khi con không thể đi xuống khỏi thập giá đời mình, xin cho con biết Chúa đang ở bên cạnh. Khi con không còn hiểu, xin cho con tín thác. Khi con không còn sức, xin cho con tựa vào Chúa. Khi con bị xúc phạm, xin đóng đinh nơi con nhu cầu trả đũa. Khi con bị quên lãng, xin đóng đinh nơi con cơn khát được nhìn nhận. Khi con thành công, xin đóng đinh tính kiêu căng. Khi con thất bại, xin đóng đinh sự tuyệt vọng. Khi con yêu, xin đóng đinh lòng chiếm hữu. Khi con phục vụ, xin đóng đinh tham vọng được biết ơn. Khi con cầu nguyện, xin đóng đinh ý muốn điều khiển Chúa. Và khi ngày cuối cùng đến, xin cho con đủ bình an để thưa cùng Chúa: “Con xin phó thác.”
Bởi sau cùng, “bị đóng đinh với Đức Kitô” không phải là câu chuyện về một con người bị tiêu diệt. Đó là câu chuyện về một con người được giải phóng khỏi chính những gì đã giam cầm mình. Cái tôi chết để tình yêu sống. Kiêu căng chết để khiêm nhường sống. Oán hận chết để lòng thương xót sống. Nỗi ám ảnh kiểm soát chết để phó thác sống. Sự chiếm hữu chết để tự do sống. Và khi những cái chết nhỏ ấy diễn ra từng ngày, ta bắt đầu hiểu câu nói tưởng như nghịch lý của Phaolô: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.”
Đó chính là đời sống thiêng liêng ở mức sâu nhất: không phải làm thật nhiều điều cho Đức Kitô, nhưng để Đức Kitô sống đời của Người trong ta; không chỉ yêu Chúa khi đời bình an, mà để tình yêu của Chúa yêu qua ta ngay khi đời đang đau; không chỉ nhìn thập giá treo trên tường, mà để hình dáng của thập giá từ từ khắc vào cách ta nghĩ, cách ta chọn, cách ta yêu, cách ta chịu đựng, cách ta tha thứ và cách ta chết.
Một ngày nào đó, khi nhìn lại hành trình của mình, có lẽ ta sẽ nhận ra chính những nơi ta từng xin Chúa cất đi lại là những nơi Chúa đã gặp ta sâu nhất. Chính những vết thương ta từng muốn xóa lại trở thành nơi ta hiểu lòng thương xót. Chính những lần mất điều mình bám víu lại mở tay ta ra để đón điều lớn hơn. Chính những đêm tưởng như Chúa xa nhất lại thanh luyện đức tin khỏi mọi ảo tưởng. Và chính cây thập giá ta từng sợ nhất có thể trở thành chiếc cầu đưa ta đến một tự do mà trước đó ta chưa từng biết.
Bởi người Kitô hữu không được hứa một đời không có Thứ Sáu Tuần Thánh. Người Kitô hữu được hứa rằng Thứ Sáu Tuần Thánh không bao giờ là ngày cuối cùng.
Sau thập giá là ngôi mộ.
Sau ngôi mộ là một buổi sáng.
Và trong buổi sáng ấy, Đấng từng bị đóng đinh sẽ gọi tên chúng ta.
Khi đó, ta sẽ hiểu trọn vẹn rằng chẳng có điều gì ta đã chết đi vì yêu mà thực sự mất đi cả.
Lm. Anmai, CSsR

TÌNH YÊU THANH LUYỆN QUA LỬA THÁNH GIÁ – TỪ YÊU MÌNH ĐẾN YÊU THIÊN CHÚA THUẦN KHIẾT
Có lẽ một trong những ảo tưởng lớn nhất của đời sống thiêng liêng là chúng ta tưởng rằng mình yêu Chúa rất nhiều, trong khi có khi điều chúng ta yêu nhất vẫn là chính mình. Ta yêu Chúa, nhưng ta muốn Chúa làm theo ý ta. Ta cầu nguyện, nhưng ta mong lời cầu nguyện phải được đáp lại theo điều ta đã hình dung. Ta phục vụ Chúa, nhưng ta vẫn mong được nhìn nhận. Ta hy sinh, nhưng trong tận đáy lòng vẫn mong người khác biết mình đã hy sinh. Ta cho đi, nhưng vẫn âm thầm chờ một lời cảm ơn. Ta tha thứ, nhưng vẫn mong người kia hiểu mình đã quảng đại thế nào. Ta bước theo Chúa, nhưng lại muốn con đường Chúa dẫn phải tương đối dễ đi, ít đau, ít mất mát, ít bị hiểu lầm và nếu được thì càng có nhiều an ủi càng tốt. Có một thứ tình yêu như thế: tình yêu có Chúa, nhưng trung tâm của nó vẫn là “tôi”. Chúa được yêu bởi vì Chúa làm cho tôi bình an; Chúa được tìm vì Chúa giúp tôi thành công; Chúa được cầu khẩn vì Chúa chữa bệnh, mở đường, giải quyết khó khăn; Chúa được tôn thờ vì nhờ Chúa đời tôi đỡ chông chênh. Những điều ấy tự chúng không xấu. Một đứa trẻ chạy vào lòng mẹ vì đói, vì sợ, vì đau cũng không có gì đáng trách. Trong đời sống đức tin, con người cũng thường bắt đầu bằng một tình yêu còn pha lẫn nhu cầu, sợ hãi, tìm kiếm an toàn và lợi ích của mình. Thiên Chúa biết điều đó. Người không khinh thường một tình yêu còn vụng về. Nhưng Người yêu ta quá nhiều để để ta mãi mãi ở lại trong một tình yêu trẻ con như vậy. Vì thế Người thanh luyện tình yêu. Và lò lửa thanh luyện sâu nhất chính là Thánh Giá.
Thánh Giá không xuất hiện trong đời người Kitô hữu như một tai nạn ngoài dự tính của Thiên Chúa. Thánh Giá cũng không phải là dấu hiệu cho thấy Chúa ngừng yêu ta. Trái lại, nhiều khi chính ở nơi Thánh Giá mà Thiên Chúa đưa tình yêu của con người ra khỏi những pha trộn kín đáo nhất của ích kỷ để làm cho tình yêu trở nên tự do. Chúng ta thường nghĩ thanh luyện là loại bỏ những tội lỗi lớn, những đam mê xấu, những thói quen không lành mạnh. Đúng, nhưng chưa đủ. Có một cuộc thanh luyện sâu hơn nhiều: Thiên Chúa thanh luyện ngay cả những điều tốt mà chúng ta đang bám víu. Người thanh luyện cách ta cầu nguyện, cách ta phục vụ, cách ta yêu, cách ta hy vọng, cách ta hình dung về Người. Người làm cho ta dần dần không còn yêu Người chỉ vì những gì Người ban, mà yêu Người vì chính Người. Đó là cuộc vượt qua dài nhất trong đời sống thiêng liêng: từ “Lạy Chúa, con yêu Chúa vì Chúa làm cho con hạnh phúc” đến “Lạy Chúa, cho dù hôm nay con chẳng cảm thấy hạnh phúc nào, con vẫn yêu Chúa”; từ “Lạy Chúa, con tin Chúa vì Chúa đã cứu con khỏi khó khăn” đến “Lạy Chúa, ngay cả khi con chưa thấy lối ra, con vẫn tin Chúa”; từ “Lạy Chúa, con theo Chúa vì con thấy con đường đẹp” đến “Lạy Chúa, cho dù con đường trước mặt chỉ còn một cây thập giá, con vẫn đi theo Chúa”. Đó mới là tình yêu đang trưởng thành.
Tin Mừng đã ghi lại một trong những giờ phút đẹp nhất, nhưng cũng đau đớn nhất của tình yêu được thanh luyện nơi chính Đức Giêsu: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (x. Mt 26,39). Câu nói ấy trong vườn Ghếtsêmani không phải là một công thức đạo đức nhẹ nhàng. Đó là lời bật ra từ một con người đang “buồn đến chết được”. Đức Giêsu biết điều gì đang chờ Người: phản bội, bắt bớ, nhục mạ, đánh đập, kết án, đóng đinh và cái chết. Người không giả vờ rằng đau khổ là dễ chịu. Người không biến Thánh Giá thành một thứ lãng mạn thiêng liêng. Người run rẩy trước chén đắng. Người xin Cha cất chén ấy nếu có thể. Nhưng rồi ở tận cùng của lời cầu nguyện, Người trao tự do của mình vào tay Cha: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Chính tại đây, ta nhìn thấy tình yêu thuần khiết. Không phải tình yêu vì được an ủi. Không phải tình yêu vì mọi chuyện thuận lợi. Không phải tình yêu vì lời cầu xin được đáp theo ý mình. Nhưng là tình yêu vẫn thưa “xin vâng” khi chén đắng không được cất đi. Từ Ghếtsêmani đến Golgotha là con đường của tình yêu không giữ lại gì cho mình.
Đời sống của mỗi người cũng có những Ghếtsêmani như thế. Có những lời cầu nguyện ta đã cầu nhiều năm mà dường như trời vẫn im lặng. Có những căn bệnh tưởng rằng cầu nguyện rồi sẽ khỏi, nhưng bệnh vẫn còn đó. Có những đổ vỡ ta nghĩ Chúa sẽ hàn gắn, nhưng rồi người ấy vẫn bước đi. Có những bất công ta tin rằng Chúa sẽ minh oan sớm, nhưng nhiều năm trôi qua tiếng xấu vẫn còn. Có những người đã dâng cả đời mình cho Chúa nhưng đến cuối đường lại gặp cô đơn. Có người tận tụy vì gia đình nhưng nhận về sự vô ơn. Có người sống ngay lành nhưng liên tiếp gặp thất bại, trong khi người gian dối dường như vẫn thịnh đạt. Có những linh mục miệt mài phục vụ nhưng bị hiểu lầm. Có những người mẹ cầu cho đứa con trở về mà nhiều năm vẫn chờ trong nước mắt. Có những người chồng, người vợ đã cố hết sức gìn giữ gia đình nhưng rồi vẫn phải đứng trước một đổ vỡ không thể cứu vãn như mong muốn. Và chính trong những giờ phút ấy, câu hỏi âm thầm nổi lên: “Lạy Chúa, con đã yêu Chúa, tại sao Chúa để điều này xảy ra?” Câu hỏi ấy rất người. Chúa không giận vì ta hỏi. Nhưng có khi, đằng sau câu hỏi ấy, Người nhẹ nhàng đưa ta xuống sâu hơn một tầng khác của đức tin: “Con yêu Ta, hay con yêu những gì con nghĩ Ta phải làm cho con?”
Câu hỏi ấy đau. Có khi đau hơn chính cây thập giá ta đang mang. Bởi vì nó chạm vào nơi sâu kín mà chính ta cũng không muốn nhìn. Tôi có thể bỏ tiền làm việc bác ái, nhưng tôi có chịu được khi việc ấy không ai biết? Tôi có thể làm một việc tốt, nhưng tôi có chịu được khi người khác được khen vì chính công việc tôi đã góp phần làm? Tôi có thể phục vụ Giáo Hội, nhưng tôi có tiếp tục phục vụ khi không được trao vị trí mình mong muốn? Tôi có thể cầu nguyện sốt sắng, nhưng tôi có tiếp tục cầu nguyện trong nhiều tháng không cảm thấy gì? Tôi có thể nói “xin vâng”, nhưng tôi có còn thưa “xin vâng” khi ý Chúa trái với điều tôi từng mơ cả đời? Chính ở những điểm ấy, lửa Thánh Giá bắt đầu cháy. Nó không nhất thiết cháy ở ngoài đời; nhiều khi nó cháy ngay trong lòng. Nó đốt những nhu cầu được công nhận, nhu cầu kiểm soát, nhu cầu thành công, nhu cầu thấy kết quả, nhu cầu hiểu mọi chuyện, nhu cầu phải được yêu lại theo cách mình muốn. Và lạ lùng thay, càng để ngọn lửa ấy thanh luyện, con người càng tự do.
Ta thường sợ Thánh Giá vì tưởng Thánh Giá lấy mất đời mình. Nhưng thật ra, điều Thánh Giá lấy đi trước hết là những xiềng xích đang buộc đời ta vào cái tôi. Ta đau khi bị quên lãng vì ta vẫn cần ánh mắt người đời để xác nhận giá trị mình. Ta đau quá mức khi bị chê vì ta còn sống bằng lời khen. Ta tuyệt vọng khi dự định thất bại vì ta đã đồng hóa ý nghĩa đời mình với thành công. Ta giận Chúa khi lời cầu nguyện chưa được đáp vì ta vẫn muốn kiểm soát tương lai. Ta không chịu nổi sự vô ơn vì ta tưởng tình yêu của mình phải được đền đáp. Chính vì vậy, Thánh Giá đến không nhằm giết chết tình yêu mà giết chết những điều làm tình yêu không còn tinh tuyền. Thánh Giá không biến trái tim thành đá; Thánh Giá giải phóng trái tim khỏi nhu cầu chiếm hữu. Người đã đi qua lửa Thánh Giá không yêu ít hơn; họ yêu nhiều hơn nhưng đòi hỏi ít hơn. Họ cho mà không nhất thiết cần nhận lại. Họ phục vụ mà không luôn hỏi ai biết. Họ âm thầm làm điều tốt mà không cần sân khấu. Họ chấp nhận bị quên nếu Thiên Chúa nhớ. Họ chịu mất phần mình nếu người khác nhờ đó được bình an. Họ biết khóc nhưng không để nước mắt biến thành cay độc. Họ biết đau nhưng không lấy đau khổ làm lý do để làm đau người khác. Đó là những người đã bắt đầu hiểu tình yêu của Đấng chịu đóng đinh.
Chúa Giêsu trên Thánh Giá không còn gì để người đời có thể gọi là thành công. Đám đông đã bỏ Người. Các môn đệ phần lớn chạy trốn. Giuđa phản bội. Phêrô chối Người. Những người từng nghe Người giảng, từng ăn bánh Người làm phép lạ, từng chứng kiến Người chữa bệnh, giờ đây có thể đã im lặng giữa đám đông. Áo Người bị lột. Danh dự bị nghiền nát. Thân thể bị treo giữa trời và đất. Cuối cùng ngay cả cảm giác được Cha gần gũi cũng chìm trong bóng tối, để Người phải kêu lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46). Nếu tình yêu của Đức Giêsu đặt nền trên cảm giác được an ủi, Thánh Giá đã là điểm chấm hết. Nếu tình yêu của Người tùy thuộc vào lòng biết ơn của con người, Người đã xuống khỏi Thánh Giá từ lâu. Nếu Người chỉ yêu kẻ yêu Người, thì trên Golgotha không còn mấy ai đáng được yêu. Thế mà chính ở đó, Người nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Một tình yêu đã bị phản bội mà vẫn cầu xin cho kẻ phản bội; một tình yêu bị đóng đinh mà không đóng đinh lại kẻ khác; một tình yêu bị tước đoạt mọi thứ nhưng vẫn còn khả năng cho đi — đó là tình yêu thuần khiết.
Con người thường nói rất nhiều về tình yêu, nhưng chúng ta hiếm khi nhận ra rằng yêu thật bao giờ cũng có một cuộc vượt qua từ chiếm hữu đến hiến dâng. Ban đầu ta yêu một người vì người ấy làm ta vui. Rồi nếu tình yêu trưởng thành, ta bắt đầu vui vì người ấy được hạnh phúc, kể cả khi đôi lúc hạnh phúc ấy đòi ta phải hy sinh. Ban đầu một người mẹ chăm con vì bản năng và vì niềm vui có con. Nhưng rồi có những đêm không ngủ, những tháng năm vất vả, những lần con vô tâm, những lúc con lớn lên và không còn cần mẹ như trước. Chính khi ấy tình mẫu tử được thanh luyện: mẹ không còn yêu đứa con chỉ vì nó thuộc về mình, nhưng muốn điều tốt cho nó ngay cả khi phải để nó đi. Trong đời sống với Chúa cũng vậy. Ban đầu ta ôm Chúa vì cần Chúa. Một ngày nào đó, Chúa dạy ta dang tay ra. Ta không còn giữ Chúa như một bảo đảm để cuộc đời được đúng ý, nhưng để Chúa dẫn mình đến nơi Người muốn. Đó là lúc lời cầu nguyện không còn chỉ là: “Xin Chúa cho con điều này”, mà dần trở thành: “Xin Chúa làm nơi con điều Chúa muốn.” Và sâu hơn nữa: “Lạy Chúa, con thuộc về Chúa.”
Thánh Phêrô đã từng yêu Chúa bằng một tình yêu rất chân thành nhưng còn pha nhiều tự tin vào mình. Ông nói: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng sẽ không chối Thầy” (Mt 26,35). Không ai có quyền nói Phêrô giả dối. Khi nói câu ấy, rất có thể ông thật lòng. Nhưng ông chưa biết mình. Tình yêu của ông còn dựa quá nhiều trên sức riêng. Và rồi sân dinh thượng tế trở thành lò lửa thanh luyện tình yêu của Phêrô. Chỉ trước câu hỏi của một nữ tỳ, ông đã chối Thầy. Không chỉ một lần mà ba lần. Gà gáy. Chúa quay lại nhìn ông. Phêrô đi ra ngoài khóc lóc thảm thiết. Có những giọt nước mắt không chỉ khóc vì tội mình; đó còn là nước mắt của một con người vừa chứng kiến hình ảnh đẹp đẽ về chính mình vỡ vụn. Phêrô tưởng mình trung thành hơn người khác. Phêrô tưởng mình mạnh. Phêrô tưởng mình có thể chết cho Chúa. Chỉ trong một đêm, tất cả sụp xuống. Nhưng đó không phải là kết thúc. Chính trên đống tro của một Phêrô tự tin, Chúa Phục Sinh dựng nên một Phêrô khiêm nhường. Bên bờ hồ Tibêria, Chúa không hỏi: “Con còn dám tự hào nữa không?” Người chỉ hỏi ba lần: “Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy không?” (x. Ga 21,15-17). Và lần này Phêrô không còn tuyên bố mình hơn ai. Ông chỉ nói: “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy.” Một câu trả lời khác hẳn. Trước kia: “Con sẽ không bao giờ bỏ Thầy.” Bây giờ: “Thầy biết con.” Tình yêu đã đi qua lửa. Nó bớt ồn ào, bớt tự tin vào mình, nhưng sâu hơn, thật hơn và khiêm tốn hơn.
Đó cũng là điều lửa Thánh Giá làm trong mỗi chúng ta. Có những giai đoạn Chúa cho ta thấy mình yếu hơn ta tưởng. Một lỗi lầm có thể làm ta xấu hổ. Một thất bại có thể phá vỡ hình ảnh hoàn hảo ta cố xây. Một lần bị từ chối khiến ta nhận ra mình nghiện lời khen. Một biến cố mất kiểm soát cho thấy ta chưa thực sự phó thác. Một cuộc xung đột cho thấy trong ta còn bao nhiêu kiêu căng. Một người làm ta tổn thương lại vô tình phơi bày những góc tối trong lòng mà hàng chục năm đạo đức vẫn chưa chạm tới. Nếu biết đón nhận trong đức tin, những biến cố ấy có thể trở thành ân sủng. Không phải vì điều xấu tự nó là ân sủng, nhưng vì Thiên Chúa có thể dùng ngay cả vết thương để cho ta nhìn thấy sự thật về mình. Và chỉ khi nhìn thấy sự thật, tình yêu mới bắt đầu được thanh luyện.
Yêu mình không phải là tội. Kitô giáo không dạy con người khinh ghét bản thân. Chúa Giêsu nói: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.” Một người không biết trân trọng phẩm giá của mình cũng rất khó yêu người khác cách lành mạnh. Điều cần chết trên Thánh Giá không phải là tình yêu đúng đắn dành cho chính mình, mà là thứ ái kỷ khiến “tôi” trở thành trung tâm của mọi sự. Yêu mình đúng nghĩa là nhận mình như quà tặng của Thiên Chúa. Ích kỷ là biến mình thành thần tượng. Một bên dẫn đến lòng biết ơn, bên kia dẫn đến chiếm hữu. Một bên biết rằng mình có giá trị vì được Thiên Chúa yêu; bên kia phải liên tục tìm người khác xác nhận giá trị. Một bên tự do cho đi; bên kia sợ mất. Lửa Thánh Giá không phá hủy con người; nó phá hủy thần tượng “cái tôi” để con người thật được sinh ra.
Nhiều người chỉ thực sự hiểu lời Chúa Giêsu sau rất nhiều năm: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (Mt 16,25). Đây không phải lời kêu gọi sống khổ hạnh bệnh hoạn hay tìm kiếm đau khổ. Đây là quy luật sâu xa của tình yêu. Một hạt lúa nếu cứ giữ nguyên trong vỏ sẽ còn nguyên, nhưng cũng chỉ là một hạt lúa. Chỉ khi nó chấp nhận bị vùi xuống đất, lớp vỏ mục đi, sự sống bên trong mới bung ra thành cây. Con người cũng vậy. Cái tôi muốn tự bảo vệ bằng mọi giá, cuối cùng sẽ trở thành nhà tù. Càng cố giữ, ta càng nghèo. Càng sợ mất, ta càng bị những điều mình sợ mất làm chủ. Khi dám trao mình cho Chúa, ta không biến mất; trái lại, ta tìm thấy mình ở một chiều sâu mà trước đó chưa từng biết.
Có những người đã sống đạo mấy chục năm nhưng vẫn giận Chúa chỉ vì Chúa không cho điều họ xin. Điều đó cho thấy thời gian ở trong Giáo Hội không tự động đồng nghĩa với sự trưởng thành của tình yêu. Có thể một người đọc kinh rất nhiều nhưng mọi lời kinh vẫn quy về mình. Xin sức khỏe cho tôi. Xin thành công cho tôi. Xin con cái tôi được thế này. Xin gia đình tôi được thế kia. Xin công việc tôi thuận lợi. Xin kẻ làm tôi đau phải thay đổi. Xin Chúa làm sáng danh tôi bằng việc minh oan cho tôi. Không phải những lời cầu xin ấy đều sai. Chúa bảo chúng ta cứ xin. Nhưng nếu cả đời cầu nguyện mà chưa bao giờ học được câu “xin ý Cha thể hiện”, đời cầu nguyện ấy vẫn còn một khoảng đường dài phải đi. Cầu nguyện trưởng thành không phải là thôi xin; mà là trong mọi điều mình xin, có một khoảng trống dành cho tự do của Thiên Chúa: “Lạy Chúa, đây là điều con muốn, nhưng Chúa biết điều gì thực sự cứu độ con. Xin ý Chúa được nên trọn.” Người cầu nguyện như thế không thụ động. Họ vẫn làm hết sức mình, vẫn chữa bệnh, vẫn tìm việc, vẫn bảo vệ công lý, vẫn cố cứu một mối tương quan, vẫn đấu tranh cho điều thiện. Nhưng họ không biến Thiên Chúa thành người phải ký tên dưới kế hoạch của mình.
Tình yêu thuần khiết không có nghĩa là không còn cảm xúc. Đức Giêsu khóc trước mộ Ladarô. Người đau buồn ở Ghếtsêmani. Người khao khát tình bạn của các môn đệ. Người đau trước sự phản bội. Người chẳng phải một pho tượng lạnh lùng. Vì vậy, trưởng thành thiêng liêng không phải là trở thành người vô cảm, nói câu “ý Chúa” trước mọi mất mát mà không cho mình quyền khóc. Có những câu “ý Chúa” nói quá sớm lại trở thành cách trốn tránh nỗi đau hơn là đức tin. Một người mất người thân cần được khóc. Người bị phản bội cần thời gian để lành. Người thất bại cần được đau. Chúa Giêsu không cấm những điều ấy. Thánh Giá không tiêu diệt cảm xúc; Thánh Giá thanh luyện cách ta sống cảm xúc. Ta có thể buồn mà không tuyệt vọng, giận mà không thù hận, đau mà không trả đũa, thất vọng mà không bỏ Chúa, khóc mà vẫn tin. Đó là sức mạnh của tình yêu đã đi qua lửa.
Một trong những dấu hiệu dễ nhận thấy của tình yêu còn quy về mình là ta rất dễ thất vọng khi không được đáp lại. Ta tử tế với ai đó một thời gian, nhưng khi họ không tử tế lại, ta ngừng. Ta tha thứ một lần, nhưng họ vẫn không biết điều, ta nói: “Tôi sẽ không bao giờ tha nữa.” Ta phục vụ cộng đoàn, nhưng chẳng ai cảm ơn, ta bỏ. Ta làm điều thiện, nhưng bị hiểu sai, ta nản. Tất nhiên con người có giới hạn và đôi khi phải thiết lập ranh giới lành mạnh; yêu không đồng nghĩa với cho phép người khác lạm dụng mình. Nhưng ở một tầng sâu hơn, Chúa vẫn hỏi: điều thiện tôi làm là vì nó là điều thiện, hay vì người khác phải đáp lại theo cách tôi mong? Đức Giêsu chữa mười người phong cùi, chỉ một người trở lại cảm ơn. Người có ngừng chữa bệnh vì chín người kia vô ơn không? Không. Người gieo tình yêu vì bản tính Người là yêu, chứ không vì người đời xứng đáng.
Thánh Giá đưa tình yêu đến một tự do kỳ lạ: tôi có thể yêu mà không cần sở hữu người tôi yêu. Tôi có thể làm điều tốt mà không cần giữ công lao. Tôi có thể phục vụ mà không cần giữ địa vị. Tôi có thể mất một điều quý giá mà không mất Thiên Chúa. Tôi có thể bị hiểu lầm mà không cần dành cả đời chứng minh mình đúng. Tôi có thể để người khác đi mà vẫn chúc phúc cho họ. Tôi có thể chấp nhận một cánh cửa đóng lại mà không kết luận rằng đời mình đã hết. Tôi có thể bước vào đêm tối mà vẫn tin mặt trời tồn tại. Đó là thứ tự do thế gian rất khó hiểu, bởi thế gian thường nói tự do là có thể làm điều mình muốn. Tin Mừng lại nói một thứ tự do sâu hơn: tự do là khi điều mình muốn không còn làm chủ được mình; khi ngay cả điều mình quý nhất cũng không thể tách mình khỏi Thiên Chúa.
Abraham đã phải học thứ tình yêu ấy trên núi Moria khi được mời gọi trao Isaac cho Thiên Chúa. Isaac không chỉ là một đứa con; Isaac là lời hứa, là tương lai, là tất cả những gì Abraham chờ đợi suốt bao năm. Điều làm thử thách ấy khủng khiếp chính là Abraham không bị yêu cầu bỏ một điều xấu, nhưng trao lại một điều rất tốt, rất thánh thiêng, chính Thiên Chúa đã ban. Có những cuộc thanh luyện cũng xảy ra như thế. Không phải Chúa chỉ lấy khỏi ta những điều xấu. Đôi lúc, Người cho phép một điều tốt rời tay ta để ta khám phá xem mình yêu món quà hơn hay yêu Đấng ban quà hơn. Một chức vụ có thể kết thúc. Một người ta yêu có thể ra đi. Một công trình ta dành cả đời xây dựng có thể được trao cho người khác. Sức khỏe có thể suy yếu. Khả năng từng làm ta tự hào có thể không còn. Danh tiếng có thể phai. Nếu căn tính của ta đặt trên những điều ấy, ta sẽ sụp đổ cùng chúng. Nhưng nếu căn tính của ta đặt nơi Thiên Chúa, ta đau nhưng không bị tiêu diệt. Có thể chính lúc hai bàn tay trống rỗng nhất, ta mới đủ tự do để ôm lấy Người.
Đó là lý do những tâm hồn đi sâu trong đời sống thiêng liêng thường trải qua một giai đoạn rất lạ: những an ủi từng nâng đỡ họ dần biến mất. Trước đây cầu nguyện ngọt ngào, nay khô khan. Trước đây đọc Lời Chúa thấy xúc động, nay dường như chẳng cảm thấy gì. Trước đây phục vụ đầy hăng say, nay phải bước đi bằng một ý chí trần trụi. Người ta dễ nghĩ mình thụt lùi, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Có khi Thiên Chúa đang chuyển họ từ thứ đức tin sống bằng cảm giác sang đức tin sống bằng chính Người. Một đứa trẻ cần kẹo để đi theo mẹ; người trưởng thành đi bên mẹ không phải vì kẹo. Đời sống thiêng liêng cũng có lúc Chúa cất bớt “kẹo thiêng liêng”. Không phải vì Người xa hơn, mà có thể vì Người muốn ta yêu Người sâu hơn. Khi không cảm thấy Chúa mà vẫn cầu nguyện, tình yêu đang được thanh luyện. Khi không thấy kết quả mà vẫn trung thành, tình yêu đang được thanh luyện. Khi bị hiểu sai mà vẫn chọn điều thiện, tình yêu đang được thanh luyện. Khi cầu nguyện chỉ còn một câu “Lạy Chúa, con vẫn ở đây”, có khi đó là một trong những lời cầu đẹp nhất đời người.
Trên đồi Canvê, Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá. Tin Mừng Gioan chỉ viết một chữ rất đơn sơ nhưng nặng vô cùng: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Đức Maria “đứng”. Mẹ không hiểu theo nghĩa con người tại sao lời sứ thần năm xưa “Người sẽ nên cao cả” giờ đây lại kết thúc trên cây gỗ của tử tội. Mẹ từng nghe rằng Con mình sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao, rằng Người sẽ trị vì, triều đại Người sẽ vô cùng vô tận. Vậy mà trước mắt Mẹ, Người bị đóng đinh, không ngai vàng ngoài cây thập giá, không vương miện ngoài vòng gai, không triều thần ngoài vài tên lính chia áo. Nếu Mẹ yêu Thiên Chúa chỉ vì những điều Mẹ hiểu, hôm ấy Mẹ đã không thể đứng. Nhưng Mẹ đã sống một tình yêu lớn hơn hiểu biết. Mẹ không được giải thích mọi sự trước khi phải tin. Mẹ tin trong lúc không hiểu. Đó là một dạng thanh luyện dữ dội của tình yêu: từ tin vì thấy chương trình của Chúa hợp lý, đến tin ngay cả khi chương trình ấy trở nên hoàn toàn tối tăm trước mắt.
Có lẽ đây là Thánh Giá đau nhất đối với con người thời nay: chấp nhận rằng mình không hiểu hết. Ta thích một Thiên Chúa có thể giải thích được. Ta muốn biết tại sao người tốt đau khổ, tại sao trẻ nhỏ bệnh tật, tại sao người công chính bị vu khống, tại sao một gia đình tan vỡ, tại sao một lời cầu xin chân thành không được đáp. Những câu hỏi ấy không có câu trả lời dễ dàng và ai trả lời quá dễ có khi chưa chạm tới chiều sâu của đau khổ. Kitô giáo không đưa cho chúng ta một công thức giải thích tất cả sự dữ. Kitô giáo đưa cho ta một Đấng chịu đóng đinh. Chúa không đứng trên trời giải thích đau khổ cho loài người từ xa. Người bước vào đau khổ. Người mang thân xác có thể bị đánh. Người có trái tim có thể bị phản bội. Người có bạn bè có thể bỏ rơi. Người có một người Mẹ phải nhìn Con chết. Vì thế, khi ta không hiểu được đời mình, ta vẫn có thể nhìn Thánh Giá và nói: “Con không hiểu Chúa, nhưng con biết Chúa đã không đứng ngoài nỗi đau của con.”
Tình yêu thuần khiết không phải là tình yêu đã giải quyết được mọi câu hỏi. Nhiều khi đó là tình yêu vẫn ở lại khi câu hỏi chưa có đáp án. Người thật sự yêu Chúa không nhất thiết hiểu tại sao Chúa dẫn mình qua con đường ấy; họ chỉ dần biết rằng nếu Đấng dẫn đường là Đấng đã chết cho mình, họ có thể trao tay mình cho Người. Một em bé ngồi trong xe ban đêm không hiểu con đường, nhưng nó ngủ yên vì cha nó cầm lái. Đức tin trưởng thành có một chút như vậy. Không phải ngây thơ. Không phải phủ nhận nguy hiểm. Nhưng là một sự phó thác có căn cứ: Đấng đang cầm cuộc đời tôi là Đấng đã yêu tôi “đến cùng”.
Nhưng cần nói thật rõ: yêu Thánh Giá không phải là đi tìm đau khổ. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ; Kitô giáo tôn thờ Đấng đã biến đau khổ thành nơi tình yêu chiến thắng. Nếu có thể chữa một bệnh, hãy chữa. Nếu có thể cứu một gia đình, hãy cứu. Nếu đang bị bạo hành, không phải đạo đức khi cứ ở đó và gọi bạo hành là “thánh giá Chúa gửi”. Nếu có thể chống lại bất công, hãy chống lại. Chúa Giêsu chữa người bệnh, cho kẻ đói ăn, giải thoát người bị áp bức. Người không dạy ta tạo thêm thập giá cho người khác. Thánh Giá Kitô giáo là những hy sinh không thể tránh khỏi khi ta trung thành với tình yêu, chân lý và ý Chúa; không phải những đau khổ vô nghĩa do con người cố tình áp đặt rồi bắt người khác chịu đựng. Có những thập giá cần được vác, nhưng cũng có những thập giá cần được tháo xuống khỏi vai người khác. Có khi yêu Thánh Giá chính là trở thành Simon thành Kyrênê để vác đỡ cho anh chị em mình.
Thanh luyện sâu nhất của tình yêu xảy ra khi ta thôi hỏi: “Tôi nhận được gì?” và bắt đầu hỏi: “Tôi có thể trao gì?” Nhưng ngay cả câu hỏi ấy cũng còn một bước cuối cùng. Bởi ta có thể rất quảng đại mà vẫn âm thầm xây một hình ảnh về “tôi là người quảng đại”. Ta có thể hy sinh nhiều đến mức tự hào về sự hy sinh của mình. Cái tôi rất tinh tế; nó có thể mặc áo đạo đức, áo khiêm nhường, thậm chí áo hy sinh. Vì vậy, lửa Thánh Giá đôi lúc còn thanh luyện ngay cả niềm vui thấy mình thánh thiện. Chúa cho ta đối diện với yếu đuối để ta không thể tự cứu mình bằng “thành tích thiêng liêng”. Sau cùng, người Kitô hữu không đứng trước Chúa và nói: “Con đã làm được bao nhiêu điều cho Chúa.” Người ấy chỉ có thể nói: “Mọi sự là ân sủng.” Một vị thánh thực sự không thấy mình trở nên vĩ đại; họ càng gần Chúa càng thấy mình được thương xót.
Có một sự nghèo khó cuối cùng của người môn đệ: không còn sở hữu ngay cả sự thánh thiện của mình. Tôi không thể nói “đây là nhân đức của tôi” như một tài sản riêng. Nếu hôm nay tôi trung thành, đó là ân sủng. Nếu tôi đứng vững, đó là ân sủng. Nếu tôi có thể tha thứ, đó là vì tôi đã được tha. Nếu tôi có thể yêu, đó là vì “Thiên Chúa đã yêu chúng ta trước”. Khi hiểu điều đó, ta bớt xét đoán. Bởi người đã từng được lửa Thánh Giá cho thấy sự mong manh của chính mình sẽ không dễ dàng ném đá người yếu đuối. Người ấy nhìn kẻ sa ngã mà nghĩ: “Nếu không có ơn Chúa, tôi cũng có thể như vậy.” Tình yêu được thanh luyện làm con người hiền hơn. Không mềm yếu trước sự dữ, nhưng hiền với con người. Không thỏa hiệp với tội lỗi, nhưng đầy lòng thương xót với tội nhân. Bởi họ biết mình cũng sống nhờ lòng thương xót.
Ta có thể nhận ra mình đang đi từ yêu mình đến yêu Chúa thuần khiết qua những thay đổi rất âm thầm. Trước kia ta cầu nguyện để xin Chúa đổi người khác; dần dần ta bắt đầu xin Chúa đổi chính mình. Trước kia bị xúc phạm là phải tìm cách giải thích cho bằng được; dần dần ta học biết có những lúc im lặng tốt hơn. Trước kia làm việc tốt mà không được ghi nhận thì khó chịu; dần dần ta thấy chỉ cần Chúa biết là đủ. Trước kia thất bại khiến ta tưởng đời mình vô dụng; dần dần ta hiểu giá trị đời mình không nằm trong thành quả. Trước kia ta chỉ cảm thấy Chúa yêu khi đời thuận lợi; dần dần ta nhận ra Người có thể ở gần nhất trong những đêm tối nhất. Trước kia ta hỏi: “Lạy Chúa, tại sao lại là con?”; dần dần có lúc ta có thể thưa: “Lạy Chúa, xin ở với con trong điều này.” Đó là những cuộc Phục Sinh rất nhỏ xảy ra bên trong tâm hồn.
Không phải ngày một ngày hai mà một tình yêu trở nên tinh tuyền. Cũng đừng ai nghĩ rằng một ngày mình đã hoàn toàn hết ích kỷ. Cho đến cuối đời, con người vẫn cần được thanh luyện. Có những tầng sâu của cái tôi mà chỉ một biến cố đặc biệt mới làm lộ ra. Khi trẻ, ta có thể bỏ tiền dễ nhưng không bỏ ý riêng. Khi lớn tuổi, ta có thể bỏ ý riêng trong công việc nhưng lại không chịu nổi việc mất sức khỏe. Có người không ham tiền nhưng ham danh. Có người không ham danh nhưng rất cần người khác lệ thuộc mình. Có người có thể cho đi vật chất nhưng không thể tha thứ. Có người tha thứ được nhưng không chịu bị hiểu lầm. Có người chịu bị hiểu lầm nhưng không chịu mất một người mình yêu. Thiên Chúa biết từng tầng của trái tim. Người không thanh luyện tất cả cùng lúc vì ta không chịu nổi. Người kiên nhẫn dẫn từng bước. Như người thợ luyện vàng biết nhiệt độ nào đủ để loại tạp chất mà không phá hủy kim loại quý, Thiên Chúa cũng biết sức ta.
Vì thế, trong đau khổ không nên quá vội hỏi: “Chúa muốn dạy tôi bài học gì?” Có những nỗi đau cần được sống trước khi có thể được hiểu. Nhưng sau một thời gian, ta có thể khiêm tốn hỏi: “Điều gì trong con đang được thanh luyện qua biến cố này? Con đang bám vào điều gì? Con sợ mất điều gì đến mức nếu mất nó con nghĩ mình không sống nổi? Con cần ai công nhận đến mức lời chê của họ có thể phá hủy bình an của con? Con đang muốn Chúa hay muốn những quà tặng của Chúa? Con đang yêu người ấy hay đang muốn sở hữu người ấy? Con phục vụ vì yêu hay vì muốn thấy mình cần thiết?” Những câu hỏi như thế có thể đau, nhưng đó là cánh cửa dẫn vào tự do.
Đến một lúc nào đó, người môn đệ bắt đầu hiểu một nghịch lý: nhiều điều mình từng nghĩ là mất mát lại trở thành nơi mình gặp Thiên Chúa sâu nhất. Một cánh cửa đóng lại khiến họ khám phá một sứ mạng khác. Một thất bại phá vỡ kiêu căng và sinh ra lòng cảm thông. Một căn bệnh buộc họ chậm lại và nhận ra bao năm mình đã chạy quá nhanh. Một sự cô đơn dạy họ rằng Thiên Chúa không phải là một ý tưởng. Một sự phản bội làm họ hiểu sâu hơn trái tim Đấng từng bị Giuđa hôn. Một lần bị chối bỏ khiến họ gần với Chúa hơn trong đêm sân dinh thượng tế. Một mất mát lớn khiến câu “Chúa là phần gia nghiệp của con” không còn là một câu Thánh Vịnh đẹp, mà trở thành điều duy nhất họ có thể bám vào. Không ai nên lãng mạn hóa những mất mát ấy. Nhưng ân sủng có thể làm một điều kỳ diệu: không để bất cứ giọt nước mắt nào phải hoàn toàn vô nghĩa.
Càng được thanh luyện, tình yêu càng đơn giản. Ban đầu đời sống đạo có thể đầy những câu hỏi: tôi sẽ được gì, tôi tiến bộ đến đâu, tôi đang ở bậc nào, người khác nghĩ gì về tôi, Chúa có hài lòng với tôi không, tại sao tôi không có những cảm nghiệm như người kia? Dần dần tất cả thu lại thành một điều: hôm nay tôi có yêu không? Người bên cạnh tôi có bớt khổ vì tôi không? Trong điều đang xảy ra, tôi có trung thành với Chúa không? Có khi đời sống thánh thiện không nằm ở những cảm nghiệm phi thường mà nằm trong một người âm thầm chăm sóc cha mẹ già nhiều năm, một người vợ kiên nhẫn với chồng, một người chồng trung thành trong gian khó, một linh mục vẫn ngồi tòa giải tội khi mệt mỏi, một tu sĩ làm công việc âm thầm không ai thấy, một người bệnh dâng một ngày đau đớn trong bình an, một người bị xúc phạm quyết định không trả đũa, một người có quyền nhưng chọn không làm nhục kẻ yếu. Những điều ấy chẳng ồn ào, nhưng rất gần Thánh Giá.
Khi tình yêu trở nên thuần khiết, con người cũng bớt thương lượng với Thiên Chúa. Không còn kiểu: “Con làm việc này cho Chúa, Chúa phải làm điều kia cho con.” Ta không mặc cả với Đấng mình yêu. Một người mẹ không ngồi tính từng đêm mất ngủ rồi gửi hóa đơn cho con. Một tình yêu trưởng thành làm điều tốt vì yêu đã trở thành lý do đủ. Chúa Giêsu không hỏi trên Thánh Giá: “Nhân loại có xứng đáng để Ta chết không?” Nếu câu hỏi là xứng đáng, chẳng ai xứng đáng. Người chết vì yêu. Thánh Phaolô nói: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” (Rm 5,8). Chữ “ngay khi” ấy là vực sâu của Tin Mừng. Người không chờ ta xứng đáng mới yêu. Người yêu để ta có thể trở nên mới.
Và một khi đã nếm được tình yêu như thế, người Kitô hữu được mời gọi yêu cùng một cách. Không phải yêu vì người kia hoàn hảo. Không phải tha thứ vì người kia đã biết lỗi đủ mức mình yêu cầu. Không phải phục vụ vì cộng đoàn luôn đáng yêu. Không phải trung thành vì người khác luôn trung thành. Tất nhiên tình yêu cần sự khôn ngoan và công lý; nhưng nền tảng của tình yêu Kitô giáo là chính tình yêu ta đã nhận từ Thập Giá. “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Chữ “như” ấy là cả một đời học không xong. Chúa đã yêu ta khi ta đáng ghét. Chúa đã tìm ta khi ta chạy trốn. Chúa đã tha khi ta phản bội. Chúa đã mở tay khi tay Người bị đóng đinh. Nếu người Kitô hữu chỉ yêu người dễ thương, ta chưa cần đến Thánh Giá. Bất cứ người đời nào cũng có thể làm vậy. Thánh Giá bắt đầu khi ta được mời gọi yêu ngay tại nơi bản năng muốn khép lòng lại.
Có lẽ một ngày kia, sau rất nhiều thăng trầm, lời cầu nguyện của ta sẽ trở nên rất ngắn. Không còn quá nhiều điều để giải thích. Chỉ còn: “Lạy Chúa, Chúa biết con yêu Chúa.” Và nếu Chúa hỏi: “Nếu Ta không cho con điều con mong, con còn yêu Ta không?” ta có thể run rẩy thưa: “Con vẫn yêu.” “Nếu người ta hiểu lầm con?” – “Con vẫn muốn thuộc về Chúa.” “Nếu công việc con xây dựng không mang tên con?” – “Xin Chúa được biết đến là đủ.” “Nếu sức khỏe con yếu dần?” – “Xin đừng để lòng con xa Chúa.” “Nếu một ngày mọi người con yêu đều phải rời con?” – “Xin Chúa ở lại.” “Nếu Ta dẫn con qua thung lũng tối?” – “Dù qua lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.” Đó không phải là tiếng nói của một người không còn sợ. Đó là tiếng nói của người đã tìm thấy một tình yêu lớn hơn nỗi sợ.
Cuối cùng, lửa Thánh Giá không thiêu hủy tình yêu; nó chỉ thiêu đi những gì không phải là tình yêu. Nó đốt sự chiếm hữu để còn lại hiến dâng. Nó đốt kiêu căng để còn lại khiêm nhường. Nó đốt nhu cầu được nhìn nhận để còn lại sự âm thầm. Nó đốt những mặc cả với Chúa để còn lại phó thác. Nó đốt ảo tưởng rằng ta có thể tự cứu mình để còn lại lòng biết ơn. Nó đốt nhu cầu kiểm soát để còn lại tự do. Nó đốt cái tôi muốn đứng ở trung tâm để Thiên Chúa có thể trở thành trung tâm thật sự. Quá trình ấy đau, bởi tạp chất đã gắn vào ta quá lâu đến mức khi nó bị lấy đi, ta tưởng chính mình đang chết. Nhưng thực ra một con người khác đang được sinh ra: con người biết yêu.
Thánh Giá vì thế không phải nơi tình yêu chết; Thánh Giá là nơi tình yêu được thử bằng lửa để người ta biết nó là vàng hay chỉ là lớp mạ. Khi mọi an ủi đã mất mà ta vẫn ở lại với Chúa, tình yêu là vàng. Khi chẳng ai biết việc tốt ta làm mà ta vẫn vui vì đã làm, tình yêu là vàng. Khi người ta không trả lại điều tốt mà ta vẫn không hối tiếc vì từng yêu, tình yêu là vàng. Khi lời cầu xin chưa được đáp mà ta vẫn quỳ xuống, tình yêu là vàng. Khi bị tổn thương mà ta chọn không biến mình thành kẻ gây tổn thương, tình yêu là vàng. Khi cái chết đến gần mà ta vẫn có thể nói “Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha”, tình yêu đã gần tới sự tinh tuyền mà Thánh Giá muốn dẫn ta đến.
Và có lẽ điều đẹp nhất là sau cùng ta khám phá: chính ngay trong lúc tưởng mình đang cho Thiên Chúa tất cả, ta mới nhận ra Thiên Chúa đã cho ta tất cả từ trước. Ta tưởng mình đang vác thập giá vì Chúa, nhưng thật ra Chúa đã vác ta từ lâu. Ta tưởng mình đang yêu Chúa, nhưng tình yêu của ta chỉ là câu trả lời rất nhỏ trước đại dương tình yêu đã tuôn ra từ cạnh sườn bị đâm thâu. Ta tưởng mình đang hy sinh, nhưng mọi hy sinh của ta đều nằm trong một hy sinh lớn hơn trên Golgotha. Và rồi người tín hữu không còn nhìn Thánh Giá như một món nợ Chúa bắt mình phải trả. Họ nhìn Thánh Giá như lời tuyên bố cuối cùng và không thể rút lại của Thiên Chúa: “Con đáng giá đối với Ta đến mức này.”
Bởi thế, khi cuộc đời đưa ta tới những nơi tay mình không còn nắm được gì, đừng vội tưởng Thiên Chúa đã bỏ mình. Có thể Người đang dạy đôi tay ấy một cách nắm giữ khác: thay vì nắm lấy những điều chóng qua, hãy nắm lấy bàn tay Người. Khi những lời khen im tiếng, có thể Chúa đang dạy ta sống chỉ dưới ánh mắt Người. Khi một dự định tan vỡ, có thể Người đang cho ta biết đời mình lớn hơn dự định ấy. Khi một người rời đi, có thể Chúa đang đi với ta qua khoảng trống không ai khác lấp đầy được. Khi lời cầu nguyện trở nên khô khan, có thể Chúa đang hỏi liệu ta có yêu Người hơn những cảm xúc Người từng ban. Khi Thánh Giá nặng, hãy nhớ Đấng gọi ta vác nó không đứng ở cuối đường để quan sát. Người đã đi trước. Dấu chân Người đã nằm trên con đường ấy. Máu Người đã chạm vào cây thập giá trước tay ta. Và nơi mà ta tưởng chỉ có cái chết, Người đã mở một lối đi sang Phục Sinh.
Xin cho mỗi chúng ta đừng chỉ xin Chúa cất mọi thập giá, nhưng còn biết xin Người đừng để một thập giá nào đi qua đời mình mà không làm trái tim mình yêu hơn. Xin đừng để đau khổ làm ta cay đắng; xin để nó làm ta hiền hơn. Xin đừng để thất bại làm ta tự khinh; xin để nó làm ta khiêm nhường. Xin đừng để sự vô ơn làm ta đóng cửa; xin để nó dạy ta yêu vô vị lợi. Xin đừng để sự im lặng của Chúa làm ta bỏ cầu nguyện; xin để nó thanh luyện đức tin. Xin đừng để những mất mát biến ta thành người chỉ nhìn lại; xin để chúng giải phóng đôi tay ta cho những điều còn lại. Và nhất là xin đừng để ta dùng chính Chúa để phục vụ cái tôi của mình; xin cho cái tôi ấy mỗi ngày biết lui xuống để Chúa lớn lên.
Rồi một ngày, khi mọi thanh luyện đã hoàn tất, khi tất cả những gì ta từng sở hữu đều phải để lại, khi ngay cả thân xác này cũng được trao về cho đất, có lẽ ta mới hiểu trọn vẹn bí mật mà Thánh Giá đã dạy suốt đời: sau cùng chỉ tình yêu còn lại. Không phải chức vụ. Không phải tiền bạc. Không phải danh tiếng. Không phải những lần được khen. Không phải thành tích. Không phải những cuộc tranh luận ta đã thắng. Không phải số người biết tên ta. Chỉ còn câu hỏi: ta đã yêu thế nào? Và hạnh phúc biết bao nếu sau một đời được lửa Thánh Giá thanh luyện, trái tim ta có thể bước vào cõi đời đời với đôi bàn tay trống nhưng một tình yêu đầy, để thưa với Thiên Chúa không còn vì sợ hãi, không vì phần thưởng, không vì mong được gì nữa, mà chỉ vì Người là Người: “Lạy Chúa, con yêu Chúa.”
Đó chính là điểm đến của Thánh Giá. Không phải đau khổ. Không phải mất mát. Không phải hủy diệt. Điểm đến là một tình yêu đã tự do đến mức không còn cần một lý do nào khác ngoài chính người mình yêu. Và khi con người có thể yêu Thiên Chúa như thế, cũng chính là lúc con người tìm lại được mình sâu xa nhất. Bởi ta được dựng nên cho tình yêu. Ta chỉ thực sự sống khi biết trao mình. Ta chỉ thực sự tự do khi không còn bị cái tôi cầm tù. Ta chỉ thực sự giàu khi Thiên Chúa trở thành kho tàng. Ta chỉ thực sự chiến thắng khi tình yêu trong ta mạnh hơn mọi điều có thể làm ta đau.
Thánh Giá là lửa. Nhưng lửa ấy không đến để biến trái tim thành tro. Lửa ấy đến để biến trái tim thành vàng. Và vàng tinh luyện của đời Kitô hữu không gì khác hơn là một tình yêu không còn nói: “Lạy Chúa, con yêu Chúa vì…”, nhưng chỉ còn có thể thưa: “Lạy Chúa, con yêu Chúa.”
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VÀ “THẦN HỌC CỦA SỰ MẤT MÁT”
Có những điều trong đời, khi còn ở trong tay, ta tưởng đó chỉ là chuyện bình thường. Một mái nhà còn tiếng người thân đi lại, ta không thấy đó là ân huệ. Một người còn ngồi bên cạnh ta, ta không thấy sự hiện diện ấy quý đến chừng nào. Một đôi chân còn đi được, một đôi mắt còn nhìn thấy, một trí nhớ còn minh mẫn, một công việc còn ổn định, một danh dự còn nguyên vẹn, một cộng đoàn còn êm ấm, một tình bạn còn nồng hậu, một người mình thương còn trả lời điện thoại… tất cả cứ bình thường đến mức ta tưởng chúng đương nhiên phải có. Chỉ khi một ngày chúng không còn nữa, ta mới hiểu có những thứ mình đã từng sở hữu mà không biết mình đang giàu. Có lẽ vì vậy mà cuộc đời có một thứ ngôn ngữ rất lạ: ngôn ngữ của mất mát. Nó không dùng nhiều chữ, nhưng mỗi chữ đều viết sâu vào lòng người. Nó không giảng bằng những bài diễn văn, nhưng nhiều khi một chiếc giường trống cũng đủ giảng cho ta cả một bài thần học về sự mong manh. Một chiếc áo còn treo sau cánh cửa mà người mặc nó đã không trở về có thể nói về phận người nhiều hơn hàng trăm trang sách. Một cuộc điện thoại không bao giờ còn được gọi lại, một căn phòng từ nay vĩnh viễn im tiếng, một tấm hình trên bàn thờ, một tờ giấy chẩn đoán, một quyết định nghỉ việc, một lời chia tay, một sự phản bội, một thất bại, một nấm mộ vừa lấp đất… tất cả đặt chúng ta trước câu hỏi mà sớm hay muộn không ai có thể né tránh: Khi những gì ta yêu quý lần lượt rời khỏi tay mình, còn lại gì? Khi ta không còn kiểm soát được đời mình, Thiên Chúa ở đâu? Khi cầu xin mãi mà điều đã mất không trở lại, đức tin còn nghĩa gì? Và chính ở nơi tưởng như chẳng còn gì để nói ấy, Thánh Giá Đức Kitô bắt đầu cất tiếng.
Nói đến một “thần học của sự mất mát” không có nghĩa là Kitô giáo tôn thờ đau khổ hay nhìn sự mất mát như một điều tốt tự nó. Thiên Chúa không vui khi con người mất cha, mất mẹ, mất con, mất sức khỏe, mất quê hương, mất tương lai, mất danh dự hay mất hy vọng. Nước mắt chưa bao giờ trở thành đẹp chỉ vì nó là nước mắt. Một căn bệnh không trở thành lành chỉ vì ta gọi nó là “thánh giá”. Bạo lực vẫn là bạo lực; phản bội vẫn là phản bội; bất công vẫn phải được gọi đúng tên là bất công. Kitô giáo không có quyền phủ một lớp sơn đạo đức lên vết thương của con người rồi bảo: “Cứ chịu đi, đó là ý Chúa.” Không. Đức Giêsu đã khóc trước mồ Lazarô. Người động lòng trước đám đông đói khát. Người chữa người bệnh, cho người mù thấy, người điếc nghe, người què bước đi. Người đã không bao giờ đứng trước đau khổ của con người bằng thái độ lạnh lùng. Nhưng điều độc đáo của Tin Mừng nằm ở chỗ này: Thiên Chúa không hứa rằng người tin Người sẽ không bao giờ mất gì; Thiên Chúa hứa rằng không một mất mát nào, nếu được đặt vào tay Người, lại nhất thiết phải trở thành vô nghĩa. Thánh Giá không giải thích mọi đau khổ bằng một công thức. Thánh Giá làm điều lớn hơn: Thánh Giá cho thấy Thiên Chúa đã đi vào tận đáy của mất mát và biến chính nơi tận cùng ấy thành khởi điểm của ơn cứu độ.
Hãy nhìn thật lâu lên Đức Giêsu chịu đóng đinh. Không cần vội nói đến Phục Sinh. Chỉ cần đứng đó một lúc, ta sẽ nhận ra trên Thập Giá, Người gần như mất tất cả những gì một con người có thể mất. Người mất tự do khi bị bắt trong vườn Cây Dầu. Người mất sự an toàn khi những kẻ mang gươm giáo đến trong đêm. Người mất những người bạn thân nhất khi các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn. Người mất lòng tin của một người bạn khi Giuđa bán Người bằng một nụ hôn. Người mất sự bênh vực của Phêrô khi người môn đệ từng thề sống chết với Thầy lại ba lần nói: “Tôi không biết người ấy.” Người mất danh dự khi bị vu cáo trước hội đồng. Người mất phẩm giá xã hội khi bị lột áo, đánh đòn, đội mão gai, nhổ vào mặt. Người mất quyền được xét xử công bằng khi Philatô, dù biết Người vô tội, vẫn trao Người cho đám đông. Người mất sức lực trên con đường lên đồi Sọ. Người mất quần áo khi lính tráng chia nhau những gì còn lại. Người mất máu, mất hơi thở, mất sự sống. Và ở giây phút kinh hoàng nhất, Người còn đi vào kinh nghiệm mà con người cảm thấy như thể mất cả sự hiện diện của Thiên Chúa: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Thánh Giá, vì thế, chính là nơi Con Thiên Chúa đi vào toàn bộ bản đồ của sự mất mát nhân loại. Từ hôm ấy, bất cứ ai bước vào một căn phòng bệnh viện và nghe câu nói “không còn cách chữa”, bất cứ người mẹ nào đứng bên quan tài của con, bất cứ người nào bị người mình yêu thương bỏ lại, bất cứ linh mục nào trải qua những năm tháng cô độc, bất cứ người già nào nhìn sức lực mình rời khỏi thân xác từng ngày, bất cứ người trẻ nào thấy giấc mơ của mình đổ xuống, đều có thể nhìn lên Thập Giá và biết rằng: ở đáy sâu nơi tôi đang đứng, đã có dấu chân của Đức Kitô.
Tin Mừng theo thánh Gioan kể lại một cảnh thật đau: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Clôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,25-27). Có lẽ chúng ta đã nghe đoạn Tin Mừng này quá nhiều đến nỗi không còn cảm thấy sức nặng kinh khủng của nó. Đức Maria đang mất Con. Người môn đệ đang mất Thầy. Đức Giêsu đang mất sự sống. Không ai trong ba người ấy được trả lại ngay điều mình muốn giữ. Đức Maria không được nghe Chúa Giêsu nói: “Mẹ đừng khóc, Con sẽ xuống khỏi thập giá.” Gioan cũng không được nghe: “Thầy sẽ ở với con theo cách cũ.” Không. Điều đáng kinh ngạc là ngay giữa lúc mất mát đang xảy ra, một tương quan mới được sinh ra: “Đây là con của Bà… Đây là mẹ của anh.” Mất mát không có tiếng nói cuối cùng. Ngay khi cái chết đang tước đi, tình yêu lại mở ra một cách hiện diện mới. Thánh Giá không trả lại cho Đức Maria người Con theo hình thức cũ, nhưng mở lòng Mẹ để đón nhận một đoàn con mới. Thánh Giá không giữ Thầy ở lại với Gioan theo cách Gioan từng quen, nhưng trao cho ông một người mẹ và một sứ mạng. Đó là một trong những bí mật sâu nhất của thần học mất mát: Thiên Chúa có những cách trao ban mà chỉ có thể bắt đầu sau khi một hình thức sở hữu cũ đã kết thúc.
Con người chúng ta rất sợ mất, bởi vì từ nhỏ đến lớn ta được dạy cách có mà ít khi được dạy cách buông. Ta học cách kiếm tiền, xây nhà, gây dựng sự nghiệp, tích lũy kiến thức, bảo vệ sức khỏe, tạo quan hệ, giữ uy tín, mở rộng ảnh hưởng. Những điều ấy tự chúng không xấu. Vấn đề là dần dần ta có thể đồng hóa căn tính mình với những gì mình đang có. Có tiền, ta thấy mình có giá trị. Có chức vụ, ta thấy mình quan trọng. Được người khác cần đến, ta thấy mình hữu ích. Được khen, ta thấy mình tốt. Được yêu, ta thấy mình đáng yêu. Được khỏe mạnh, ta thấy mình an toàn. Được thành công, ta thấy Thiên Chúa đang chúc phúc. Và rồi đời sống, bằng một cách không xin phép, lần lượt lấy khỏi tay ta những điểm tựa ấy. Lúc ấy, điều đau không chỉ là mất một tài sản hay một tương quan. Điều đau sâu hơn là ta cảm thấy mất chính mình. Người vừa nghỉ hưu có thể bỗng tự hỏi: “Bây giờ còn ai cần tôi?” Người mẹ từng dành hết đời nuôi con khi con trưởng thành và rời nhà có thể thấy mình trống trải. Người từng nổi tiếng khi không còn được nhắc đến có thể cảm thấy mình biến mất. Người linh mục khi tuổi cao, không còn giảng hay, không còn đi nhiều, không còn được giao những công việc quan trọng có thể âm thầm đối diện câu hỏi: “Nếu tôi không còn làm được gì, đời linh mục của tôi còn ý nghĩa không?” Và đó chính là nơi Thánh Giá hỏi ta một câu sắc bén: Con là ai khi những gì con từng dựa vào không còn nữa?
Thánh Giá trả lời rằng giá trị của con người không nằm trước hết ở những gì người ấy sở hữu, thành công, thực hiện hay được người khác công nhận. Giá trị của ta nằm trong việc ta thuộc về Thiên Chúa. Đức Giêsu trên Thập Giá không còn làm phép lạ, không còn giảng cho đám đông, không còn chữa bệnh, không còn đi từ làng này sang làng khác, không còn có những người vây quanh tung hô. Xét theo tiêu chuẩn hiệu quả của thế gian, ba giờ trên Thập Giá dường như là ba giờ bất lực nhất của Người. Hai bàn tay từng đặt trên người bệnh bị đóng đinh. Đôi chân từng đi tìm chiên lạc bị giữ chặt. Miệng từng giảng dạy chỉ còn thốt lên vài lời ngắn ngủi. Thế nhưng chính trong sự bất lực ấy, công trình cứu chuộc đạt tới đỉnh cao. Đó là một nghịch lý mà xã hội hôm nay rất khó chấp nhận. Chúng ta được dạy rằng giá trị của một người được đo bằng năng suất. Làm được nhiều thì có ích. Không còn làm được thì thành gánh nặng. Chính não trạng ấy khiến người già sợ mình vô dụng, người bệnh thấy mình phiền người khác, người thất nghiệp xấu hổ, người yếu đuối cảm thấy mình không đáng tồn tại. Thánh Giá phá vỡ thước đo tàn nhẫn ấy. Đức Giêsu cứu thế giới vào lúc Người dường như không thể làm gì nữa ngoài việc yêu cho đến cùng.
Thần học của sự mất mát vì thế dạy chúng ta một điều rất khó: đôi khi Thiên Chúa không cứu ta bằng cách trả lại điều đã mất, nhưng bằng cách dẫn ta đến một căn tính sâu hơn điều đã mất. Người góa phụ có thể không được trả lại người chồng. Người cha có thể không được thấy đứa con đã chết bước vào nhà lần nữa. Người bệnh có thể không được khỏi bệnh. Người bị hiểu lầm có thể không bao giờ được minh oan trọn vẹn trên đời này. Người bị phụ bạc có thể không lấy lại được mối tình cũ. Ta không được phép nói dễ dàng với họ rằng “Chúa sẽ cho lại cái khác tốt hơn”, bởi có những người và những điều không thể thay thế. Đức tin Kitô giáo không rẻ tiền đến mức xem một con người như món đồ bị mất rồi mua món khác. Nhưng đức tin nói rằng trong chính khoảng trống không thể lấp ấy, Thiên Chúa có thể làm nảy sinh một chiều sâu mới. Có những người chỉ sau khi mất một người thân mới học được cách yêu những người còn sống bằng một tình yêu không trì hoãn. Có người sau một lần bệnh nặng mới biết một bữa cơm bình thường quý thế nào. Có người sau khi mất danh dự mới nhận ra mình đã sống quá lâu bằng ánh mắt người đời. Có người sau khi thất bại mới bắt đầu cầu nguyện thật. Có người sau khi mất tiền mới khám phá ai là bạn thật. Có người sau khi mất sức khỏe mới hiểu thân xác không phải một cỗ máy để mình khai thác nhưng là quà tặng cần biết ơn. Có người sau khi bước qua một nấm mộ mới thôi sống như thể đời mình sẽ không bao giờ kết thúc.
Nhưng cũng phải nói rằng không phải mất mát nào cũng làm con người trưởng thành. Đau khổ tự nó không thánh hóa ai. Có người đau rồi trở nên dịu dàng hơn; có người đau rồi trở nên cay đắng. Có người mất mát rồi biết cảm thông; có người mất mát rồi đóng kín trái tim. Cùng một ngọn lửa có thể làm vàng tinh luyện nhưng cũng có thể thiêu cháy cỏ khô. Điều quyết định không chỉ là ta đã mất gì, nhưng là ta để sự mất mát ấy đưa mình đi đâu. Giuđa mất niềm tin vào con đường của Đức Giêsu và đi vào tuyệt vọng. Phêrô mất ảo tưởng về sức mạnh bản thân sau ba lần chối Thầy, nhưng đã để nước mắt dẫn mình về với lòng thương xót. Hai con người đều trải qua đổ vỡ, nhưng một người khép lại trong bóng tối, một người để cho thất bại trở thành cửa dẫn đến khiêm nhường. Bởi vậy, câu hỏi thiêng liêng quan trọng không phải chỉ là: “Tại sao Chúa để tôi mất điều này?”, nhưng còn là: “Lạy Chúa, giữa điều con đang mất, Chúa muốn cứu con khỏi điều gì và dẫn con đến điều gì?”
Có những mất mát bên ngoài, nhưng cũng có những mất mát bên trong. Và đôi khi loại thứ hai đau hơn nhiều. Ta có thể mất một ảo tưởng về chính mình. Ta từng nghĩ mình đạo đức, cho đến ngày nhận ra trong mình có ganh tị. Ta từng nghĩ mình bao dung, cho đến lúc có người xúc phạm mình thật. Ta từng nghĩ mình mạnh mẽ, cho đến ngày ngã quỵ. Ta từng nghĩ đức tin mình vững vàng, cho đến một biến cố khiến mình không còn cảm thấy Thiên Chúa. Ta từng nghĩ mình yêu Chúa vô điều kiện, cho đến khi Chúa không ban điều mình xin. Những lúc ấy, điều bị mất không phải tiền bạc, sức khỏe hay người thân, mà là hình ảnh ta dựng lên về chính mình và thậm chí về Thiên Chúa. Đây là một mất mát thiêng liêng rất quan trọng. Có khi Chúa phải để cho “vị Thiên Chúa do ta tưởng tượng” chết đi để ta gặp được Thiên Chúa thật. Vị Thiên Chúa do ta tưởng tượng luôn bảo vệ ta khỏi thất bại, luôn chữa bệnh khi ta xin, luôn thưởng người tốt ngay lập tức, luôn làm mọi chuyện theo logic của ta. Nhưng Thiên Chúa của Thánh Giá thì khác. Người không cứu Con Một khỏi cây Thập Giá; Người cứu nhân loại xuyên qua Thập Giá. Người không ngăn đêm tối Thứ Sáu Tuần Thánh; Người làm cho chính đêm tối ấy trở thành con đường dẫn đến bình minh Phục Sinh.
Đây là lý do tại sao mất mát có thể trở thành một cuộc thanh luyện đức tin. Khi mọi sự thuận lợi, rất khó biết ta yêu Thiên Chúa vì Người hay vì những gì Người ban. Nếu tôi cầu nguyện và được bình an, tôi cầu nguyện vì Chúa hay vì cảm giác bình an? Nếu tôi phục vụ và được khen, tôi phục vụ vì Chúa hay vì cảm giác được nhìn nhận? Nếu tôi giữ đạo và gia đình thuận lợi, tôi tin vì Chúa hay vì nghĩ Chúa sẽ bảo đảm đời tôi? Chỉ khi những phần thưởng ấy biến mất, trái tim mới bị hỏi đến tận cùng. “Nếu Chúa không trả lại điều con xin, con còn ở lại với Chúa không?” Đây không phải câu hỏi dễ. Chính Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu đã cầu: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Người không giả vờ không sợ. Người không coi đau khổ là trò nhẹ nhàng. Nhưng lời cầu nguyện của Người không kết thúc ở việc đòi cho bằng được điều mình muốn: “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Đó là khoảnh khắc tình yêu được thanh luyện khỏi nhu cầu kiểm soát. Và đôi khi đó cũng là con đường của mỗi chúng ta.
Càng lớn tuổi, ta càng nhận ra đời sống Kitô hữu không chỉ là học cách nhận lãnh mà còn là học cách trả lại. Khi sinh ra, hai bàn tay ta nắm chặt. Khi chết, hai bàn tay sẽ mở ra. Cả hành trình ở giữa có lẽ là hành trình Thiên Chúa từ từ dạy ta mở tay. Trẻ nhỏ học nhận. Người trưởng thành phải học trao. Và người khôn ngoan học trả lại. Trả tuổi trẻ cho thời gian. Trả con cái cho cuộc đời và cho Thiên Chúa. Trả chức vụ khi đến lúc. Trả sức khỏe khi thân xác yếu đi. Trả những người ta yêu khi Chúa gọi họ về. Cuối cùng trả chính hơi thở mình cho Đấng đã ban nó. Điều khiến chúng ta đau là ta thường nhận mọi thứ như quyền sở hữu thay vì quà tặng. Ta nói “nhà tôi”, “tiền tôi”, “con tôi”, “sức khỏe tôi”, “đời tôi”. Nhưng nếu nhìn bằng đức tin, tất cả đều là những món quà được trao cho ta giữ một thời gian. Không món nào có giấy bảo đảm vĩnh viễn. Kể cả sự sống. Thánh Gióp, sau khi mất gần như mọi sự, đã thốt lên một lời vừa đau đớn vừa vĩ đại: “Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng danh Đức Chúa.” Không phải vì ông không đau. Ông đau đến mức xé áo, cạo đầu, ngồi trên tro. Đức tin không làm ông thành đá. Nhưng dưới tất cả đổ nát ấy, ông vẫn nhận ra một điều: tôi không phải chủ tuyệt đối của cuộc đời.
Thánh Giá còn dạy ta nghệ thuật mất chính mình. Đức Giêsu nói: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được mạng sống ấy.” Câu nói này nghịch lý nhưng chạm đúng căn bệnh sâu nhất của con người: ta mất cả đời để cố giữ lấy mình. Ta giữ hình ảnh. Giữ danh dự. Giữ phần đúng. Giữ quyền lợi. Giữ tiếng nói cuối cùng. Giữ nhu cầu phải được người khác hiểu. Giữ cái tôi bằng hàng nghìn cách tinh vi. Bao nhiêu gia đình đổ vỡ không phải vì chuyện lớn mà vì không ai chịu mất một chút cái tôi. Bao nhiêu cộng đoàn căng thẳng vì ai cũng muốn giữ ý mình. Bao nhiêu tình bạn tan vỡ chỉ vì không ai chịu nói “tôi xin lỗi” trước. Bao nhiêu người mang một vết giận mười năm vì sợ tha thứ đồng nghĩa với thua. Thế nhưng nhìn lên Thánh Giá, ta thấy một Thiên Chúa không giữ. Người không giữ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa như một đặc quyền để bám lấy. Người tự hủy, mang thân phận tôi đòi. Người không giữ mạng sống. Người không giữ áo mình. Người không giữ ngay cả quyền trả thù. Giữa lúc bị đóng đinh, Người cầu: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Ở đó, sự mất mát đạt tới hình thức đẹp nhất: mất cái tôi để tình yêu được sống.
Đó là lý do có những thứ ta cần phải mất chứ không chỉ phải chịu mất. Ta cần mất ảo tưởng rằng mình luôn đúng. Cần mất nhu cầu phải thắng mọi cuộc tranh luận. Cần mất thói quen kiểm soát người khác. Cần mất lòng kiêu ngạo không chịu nhờ ai giúp. Cần mất chiếc mặt nạ làm ta mệt mỏi vì phải tỏ ra mạnh. Cần mất những hình ảnh sai lạc về Thiên Chúa. Cần mất thứ đạo đức chỉ để người khác nhìn. Cần mất những tương quan độc hại mà ta cứ bám vào vì sợ cô đơn. Cần mất những tham vọng khiến ta bán rẻ lương tâm. Có những lần Thiên Chúa cứu ta bằng cách ban thêm; cũng có những lần Người cứu ta bằng cách lấy khỏi đời ta một thứ đang chiếm chỗ của Người. Một chiếc ly đã đầy thì không thể nhận thêm. Một bàn tay nắm chặt thì không thể đón quà. Một trái tim chất đầy thần tượng thì không còn chỗ cho Thiên Chúa. Thánh Giá là nơi Đức Kitô mở hai bàn tay hoàn toàn. Và người môn đệ cũng phải học mở bàn tay như vậy.
Tuy nhiên, trong thực tế mục vụ, cần hết sức thận trọng khi nói về sự mất mát của người khác. Khi một người mẹ vừa mất con, điều cô cần trước hết không phải một bài thần học giải thích vì sao Chúa cho phép chuyện ấy xảy ra. Khi một người vừa nhận kết quả ung thư, họ không cần nghe một câu nói lạnh lùng: “Chúa gửi thánh giá cho chị đấy.” Khi một gia đình vừa trải qua tai nạn, đừng vội giảng cho họ rằng “mọi sự đều có lý do”. Có những chân lý đúng nhưng nếu nói sai thời điểm sẽ trở thành tàn nhẫn. Đức Maria dưới chân Thập Giá không được Gioan giảng một bài dài. Ông chỉ đứng đó. Đôi khi thần học cao nhất trước sự mất mát là sự hiện diện. Một bàn tay nắm lấy bàn tay. Một người ngồi im. Một bữa cơm được đem đến. Một lời cầu nguyện không khoa trương. Một cuộc điện thoại vài tháng sau tang lễ, khi những người khác đã quên mà nỗi đau vẫn còn. Thiên Chúa của Kitô giáo là Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng. Người không cứu thế gian bằng cách gửi từ trời xuống một cuốn sách giải đáp đau khổ; Người xuống ở với chúng ta, mang lấy xác phàm, chịu đòn, chịu đinh, chịu chết và được chôn trong mồ.
Có một điều rất thấm thía: Đức Giêsu sau khi sống lại vẫn mang các vết thương. Tin Mừng Gioan kể rằng khi hiện ra với các môn đệ, Người “cho các ông xem tay và cạnh sườn”. Với Tôma, Người nói: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy.” Đấng Phục Sinh không xóa hết dấu tích Thập Giá khỏi thân thể Người. Đây là một hình ảnh tuyệt đẹp cho những ai đã từng mất mát. Ơn chữa lành không luôn có nghĩa là ta trở về trạng thái như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Có những biến cố sau đó ta không bao giờ trở lại thành người của ngày hôm trước. Một người mất con không thể “trở lại bình thường” theo nghĩa cũ. Một người trải qua phản bội sẽ mang một vết sẹo. Một người vượt qua bệnh hiểm nghèo nhìn cuộc sống khác đi. Phục sinh không xóa ký ức Thứ Sáu Tuần Thánh. Phục sinh biến vết thương thành nơi ánh sáng đi qua. Vết thương còn đó, nhưng nó không còn chảy máu. Ký ức còn đó, nhưng nó không còn cai trị đời ta. Ta vẫn có thể khóc khi nhớ, nhưng nước mắt không còn đồng nghĩa với tuyệt vọng. Ta không quên người đã mất, nhưng ta bắt đầu có thể nhắc tên họ với lòng biết ơn thay vì chỉ với tiếng nấc. Đó là chữa lành theo kiểu Phục Sinh.
Có lẽ ai trong chúng ta rồi cũng phải bước qua một ngày mà mình không hề muốn đến. Ngày tiễn cha mẹ. Ngày người bạn đời ra đi trước. Ngày thân xác báo hiệu rằng thời trẻ đã qua. Ngày công việc mình từng gắn bó phải trao cho người khác. Ngày một đứa con không còn cần cha mẹ theo cách cũ. Ngày ta nhận ra một cánh cửa đã đóng và sẽ không mở nữa. Đừng quá ngạc nhiên. Cuộc đời vốn là một cuộc hành hương chứ không phải nơi cư trú vĩnh viễn. Chúng ta đau vì cứ muốn dựng lều trên núi Tabor, trong khi Chúa bảo phải xuống núi. Phêrô từng nói: “Lạy Ngài, chúng con ở đây thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều.” Ông muốn giữ khoảnh khắc đẹp. Nhưng tiếng Chúa Cha vang lên, rồi các môn đệ phải xuống núi. Mọi khoảnh khắc đẹp trên đời đều có tính tạm thời. Một bữa cơm gia đình rồi sẽ tan. Một buổi chiều đầy tiếng cười rồi sẽ kết thúc. Một chuyến đi rồi phải về. Một đời người rồi cũng khép. Điều ấy không làm cho cái đẹp vô nghĩa; trái lại, chính vì nó không kéo dài mãi mà ta càng phải biết quý nó. Thần học của mất mát cũng là thần học của lòng biết ơn. Ai biết mọi sự có thể mất sẽ biết nâng niu những gì đang có.
Hôm nay còn cha mẹ, hãy gọi điện. Hôm nay còn có thể ôm con, hãy ôm. Hôm nay còn có người bạn đời đang ngồi bên cạnh, đừng chờ đến khi ghế trống mới nhớ một lời dịu dàng. Hôm nay còn sức khỏe, đừng phung phí nó. Hôm nay còn có thể làm hòa, đừng để tự ái trì hoãn. Hôm nay còn có thể cầu nguyện, đừng nói “mai”. Mất mát dạy ta rằng chữ “sau này” đôi khi là một lời hứa mà cuộc đời không ký. Có người muốn xin lỗi nhưng không kịp. Có người định về thăm cha mẹ “tuần tới”, rồi tuần tới không còn nữa. Có người giữ trong lòng một câu “con thương mẹ” cho đến khi chỉ còn nói trước di ảnh. Chính vì cuộc đời hữu hạn mà tình yêu phải khẩn trương. Thánh Giá là lời nhắc rằng yêu không phải việc để dành.
Với những người đang đau vì một mất mát chưa thể gọi tên, Thánh Giá còn nói một điều khác: đừng xấu hổ vì mình chưa ổn. Đức Giêsu đã khóc. Người đã “buồn đến chết được”. Người đã xin các môn đệ: “Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy.” Con Thiên Chúa đã không diễn vai một người mạnh mẽ không cần ai. Vì thế, người tin Chúa không phải là người không khóc. Đức tin không được đo bằng số giọt nước mắt ta nén được. Có những tang chế phải mất nhiều năm. Có những căn phòng ta đi ngang qua sau mười năm vẫn nhói lòng. Có những ngày kỷ niệm làm vết thương sống lại. Không sao. Tình yêu càng thật, mất mát càng đau. Điều quan trọng không phải ép mình quên, nhưng học nhớ trong Thiên Chúa. Đừng để người đã khuất trở thành sợi dây kéo ta xuống mồ; hãy để tình yêu dành cho họ trở thành động lực giúp ta sống phần đời còn lại cách đẹp hơn. Nếu mẹ đã qua đời, hãy sống lòng tử tế mẹ từng dạy. Nếu cha đã mất, hãy giữ điều ngay thẳng cha từng truyền. Nếu người mình thương đã về với Chúa, hãy tiếp tục điều tốt đẹp người ấy từng gieo. Như vậy, cái chết lấy được thân xác nhưng không lấy được hoa trái của tình yêu.
Thần học của mất mát cuối cùng chạm đến cái chết của chính ta. Mọi mất mát trong đời thực ra là những bài học nhỏ chuẩn bị cho lần buông cuối cùng. Chúng ta tập buông tiền bạc để một ngày buông tất cả. Tập buông chức vụ để một ngày buông tên tuổi. Tập buông người thân vào tay Chúa để một ngày trao chính mình. Cái chết đáng sợ một phần vì nó là sự mất mát tuyệt đối theo cảm giác con người: ta rời nhà, rời người thân, rời thân xác quen thuộc, rời mọi kế hoạch còn dang dở. Nhưng đối với người Kitô hữu, cái chết không phải rơi vào hư vô mà là rơi vào tay Cha. Đức Giêsu trên Thập Giá đã nói lời cuối: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Người không nói: “Con hiểu hết.” Người nói: “Con phó thác.” Có lẽ cuối hành trình đức tin, điều quan trọng nhất không phải là hiểu được tất cả những gì đã xảy ra trong đời, mà là có thể trao tất cả những gì mình không hiểu vào tay Đấng mình tin.
Và đây có lẽ là chiều sâu nhất của Thánh Giá: Thiên Chúa không chỉ dạy ta mất; chính Người đã “trao ban”. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” Trong tình yêu Ba Ngôi, Thánh Giá là sự trao hiến tuyệt đối. Chúa Cha trao Con. Chúa Con trao chính mình. Và từ cạnh sườn bị đâm thâu, Chúa Thánh Thần được ban cho Hội Thánh. Kitô giáo không nhìn thế giới bằng logic chiếm hữu nhưng bằng logic trao ban. Ta tưởng mình nghèo khi cho đi, nhưng Tin Mừng nói ta trở nên giàu khi biết trao. Hạt lúa giữ nguyên mình thì chỉ trơ trọi một mình; hạt lúa chấp nhận rơi xuống và chết đi thì sinh nhiều bông hạt. Đức Giêsu đã nói: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.” Cả mầu nhiệm Thánh Giá nằm trong hình ảnh nhỏ bé ấy. Hạt lúa mất hình dạng cũ để trở thành cánh đồng. Đức Kitô mất sự sống để sự sống được tuôn tràn. Người môn đệ mất cái tôi để tình yêu lớn lên.
Có những ngày ta sẽ không đủ sức nói: “Con cảm tạ Chúa vì mất mát này.” Đừng ép lòng mình nói điều chưa thật. Có khi lời cầu nguyện thành thật nhất chỉ là: “Lạy Chúa, con đau quá.” Có khi chỉ là: “Con không hiểu.” Có khi chỉ là ngồi trước Thánh Giá và khóc. Và như thế cũng là cầu nguyện. Thánh Giá không đòi ta phải giải thích đau khổ; Thánh Giá mời ta đừng đau khổ một mình. Ta có thể đặt tên người đã mất dưới chân Chúa. Đặt căn bệnh dưới chân Chúa. Đặt cuộc hôn nhân tan vỡ, đứa con xa nhà, ơn gọi đang khủng hoảng, tuổi già cô độc, một quá khứ không sửa được, một cơ hội không trở lại… dưới chân Chúa. Có những điều tay ta không giữ nổi nhưng tay Chúa giữ được. Có những câu chuyện ta không thể viết lại nhưng Chúa vẫn có thể viết tiếp.
Đừng quên rằng Thứ Sáu Tuần Thánh, đối với những người đứng dưới Thập Giá, là một kết thúc. Họ không thấy trước sáng Chúa Nhật. Đức Maria ôm xác Con vào lòng không có trong tay một bản lịch Phục Sinh để biết chính xác ba ngày nữa sẽ thế nào. Các môn đệ đóng kín cửa vì sợ. Hai môn đệ Emmau nói trong thất vọng: “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Israel.” “Trước đây vẫn hy vọng” – một câu nghe thật buồn. Hy vọng dường như đã trở thành quá khứ. Và thế mà Đức Giêsu Phục Sinh đang đi ngay bên cạnh họ, chỉ là mắt họ chưa nhận ra. Có lẽ nhiều khi đời ta cũng vậy. Ta tưởng một chương đã kết thúc trong thất bại, trong khi Thiên Chúa đang âm thầm viết chương kế tiếp. Ta tưởng Chúa vắng mặt, trong khi Người đang bước bên cạnh dưới một hình thức mình chưa nhận ra. Ta tưởng mất mát là dấu chấm hết, nhưng trong bàn tay Thiên Chúa nó có thể chỉ là dấu chấm xuống hàng.
Không phải mọi thứ đã mất đều trở lại. Lazarô được sống lại rồi cũng phải chết lần nữa. Những phép lạ trên đời này chỉ là dấu chỉ. Hy vọng cuối cùng của Kitô giáo không nằm ở việc ta giữ được mọi thứ mình yêu trên trần gian, nhưng ở lời hứa rằng trong Đức Kitô, tình yêu mạnh hơn cái chết. “Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người.” Đó mới là lời cuối cùng. Người Kitô hữu có thể đứng trước mộ và khóc, nhưng không khóc như người không có hy vọng. Ta đau vì chia lìa, nhưng tin rằng chia lìa không phải vĩnh viễn. Ta trao người thân vào lòng đất nhưng đồng thời trao họ vào lòng thương xót Thiên Chúa. Ta nhìn thân xác già đi nhưng tin vào sự sống lại của thân xác. Ta thấy mọi thành tựu đời mình rồi sẽ bị thời gian phủ bụi, nhưng tin rằng “đức mến không bao giờ mất được”. Sau cùng, có lẽ chỉ tình yêu đi qua được cánh cửa sự chết.
Thánh Giá vì thế không phải bài ca của những gì đã mất. Thánh Giá là mặc khải về những gì không bao giờ có thể mất. Ta có thể mất sức khỏe, nhưng không gì buộc ta phải mất phẩm giá. Ta có thể mất tiền, nhưng không nhất thiết phải mất lòng quảng đại. Ta có thể mất vị trí, nhưng không ai lấy được khả năng yêu. Ta có thể bị hiểu lầm, nhưng không ai cướp được sự thật giữa ta với Thiên Chúa. Ta có thể mất một người mình thương vào cái chết, nhưng cái chết không xóa được tình yêu đã sống. Ta có thể già, yếu, không còn hữu dụng theo tiêu chuẩn xã hội, nhưng không bao giờ hết là người con được Thiên Chúa yêu. Và ngay cả khi phải mất mạng sống này, thánh Phaolô vẫn dám xác tín rằng không gì “có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta.”
Nếu phải tóm lại thần học của sự mất mát bằng một hình ảnh, có lẽ đó là đôi bàn tay Đức Giêsu bị đóng đinh trên Thánh Giá: bàn tay hoàn toàn mở. Không nắm giữ gì nữa. Không còn khả năng chiếm hữu. Chỉ còn trao. Và chính khi đôi tay ấy không giữ gì, chúng lại ôm được cả nhân loại. Chúng ta dành cả đời để học nghịch lý ấy. Càng nắm chặt, ta càng sợ mất. Càng biết trao, ta càng tự do. Người đã trao mình cho Chúa thì có thể đau khi mất, nhưng không bị mất mát hủy diệt. Người ấy biết rằng đời mình không nằm trong tay số phận mù quáng mà trong tay một Người Cha. Và người ấy có thể thì thầm qua nước mắt: “Lạy Chúa, con không hiểu tại sao. Con không muốn điều này. Con vẫn đau. Nhưng con trao cho Chúa điều con không còn giữ được.”
Một ngày nào đó, khi nhìn lại đời mình từ phía bên kia của vĩnh cửu, có lẽ ta sẽ ngạc nhiên nhận ra rằng có những lúc mình tưởng Thiên Chúa đang lấy đi, thực ra Người đang giải thoát; có những cánh cửa đóng lại để ta khỏi bước vào nơi không thuộc về mình; có những giấc mơ chết đi để một ơn gọi sâu hơn được sinh ra; có những lần ta mất chỗ dựa để học dựa vào Chúa; có những lần ta mất hình ảnh đẹp về mình để trở thành thật hơn; có những lần ta mất sự kiểm soát để học tín thác; có những lần ta mất một hình thức hiện diện để khám phá một sự hiệp thông sâu hơn. Không phải vì mọi mất mát đều tốt, mà vì Thiên Chúa đủ quyền năng để không cho sự dữ và cái chết có tiếng nói cuối cùng.
Vậy nếu hôm nay lòng ta đang có một khoảng trống, đừng vội lấp nó bằng tiếng ồn. Hãy ngồi lại một chút dưới chân Thánh Giá. Có thể ta sẽ không nhận được câu trả lời mình muốn. Nhưng ta sẽ gặp một Đấng có những vết thương. Người hiểu. Người đã mất. Người đã khóc. Người đã bị bỏ rơi. Người đã chết. Và Người đã sống lại. Thế là đủ để ta còn hy vọng. Không phải thứ hy vọng ngây thơ rằng ngày mai mọi chuyện sẽ trở lại như cũ, nhưng một hy vọng sâu hơn: dù ngày mai không giống hôm qua, Chúa vẫn ở đó; dù điều đã mất không trở lại, tình yêu vẫn có thể tiếp tục; dù vết thương không biến mất, nó có thể trở thành vết sẹo của ân sủng; dù đêm có dài, đêm không sở hữu mặt trời.
Cuối cùng, có lẽ trưởng thành trong đức tin không phải là lúc ta có được mọi điều mình từng cầu xin, nhưng là lúc giữa những điều không còn trong tay, ta vẫn có thể nói: “Lạy Chúa, chỉ cần Chúa còn ở lại.” Và rồi ta khám phá ra điều kỳ diệu nhất: chính khi tưởng mình chẳng còn gì, ta lại có Đấng là Tất Cả. Thánh Giá đứng giữa lịch sử như một lời bảo đảm rằng không có mất mát nào của con người nằm ngoài vòng tay Thiên Chúa. Từ gỗ khô mọc lên sự sống. Từ cạnh sườn bị đâm mở ra nguồn nước. Từ ngôi mộ bật lên bình minh. Từ cái chết sinh ra sự sống đời đời. Từ tiếng kêu “Sao Ngài bỏ con?” đi đến lời “Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha.” Và đó cũng là con đường của mỗi chúng ta: từ nắm giữ đến trao phó, từ hoảng sợ đến tín thác, từ mất mát đến tự do, từ Thập Giá đến Phục Sinh.
Khi ta hiểu điều ấy, ta sẽ không còn hỏi Thiên Chúa chỉ một câu: “Tại sao Chúa lấy khỏi con?” Ta sẽ dần học một lời cầu nguyện khác: “Lạy Chúa, điều này đã rời khỏi tay con. Xin đừng để trái tim con rời khỏi tay Chúa.” Có lẽ đó là lời cầu nguyện đẹp nhất của thần học mất mát. Bởi cuối cùng, điều đáng sợ nhất không phải là ta mất mọi sự, nhưng là giữa mọi mất mát, ta mất Thiên Chúa. Và điều hạnh phúc nhất cũng không phải là ta giữ được mọi sự, nhưng là khi mọi sự lần lượt qua đi, ta nhận ra có Một Đấng vẫn còn đó, vẫn yêu, vẫn giữ lấy ta, vẫn gọi tên ta từ bên kia mọi bóng tối: “Đừng sợ.”
Dưới chân Thánh Giá, ta hiểu rằng cuộc đời không được cứu bằng cách giữ lại tất cả, nhưng bằng cách yêu cho đến cùng. Và người đã học yêu cho đến cùng thì dù có phải đi qua rất nhiều mất mát, cuối cùng vẫn không mất gì thật sự, bởi tất cả những gì đã được yêu trong Thiên Chúa đều được cất giữ trong Người, chờ ngày được trả lại trong một hình thức mà “mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới”.
Lm. Anmai, CSsR

KHI LINH HỒN CẢM THẤY THIÊN CHÚA VẮNG MẶT – THÁNH GIÁ ĐỨC TIN
Có những lúc người ta đau vì mất tiền, mất việc, mất một người thân, mất sức khỏe, mất danh dự, mất một mối tương quan mà mình từng nghĩ sẽ còn mãi. Những mất mát ấy đã đủ làm lòng người quặn thắt. Nhưng có một thứ mất mát còn âm thầm hơn, sâu hơn, khó gọi tên hơn, và cũng làm linh hồn đau đớn hơn tất cả: đó là lúc người ta có cảm tưởng mình đã “mất Chúa”. Không phải người ta tuyên bố không còn tin Chúa. Không phải người ta cố tình bỏ Chúa. Trái lại, chính vì còn muốn Chúa, còn khao khát Chúa, còn tìm Chúa nên sự im lặng của Chúa mới trở thành một nỗi đau. Người không cần ai thì chẳng đau khi người ấy vắng mặt. Chỉ ai yêu mới biết thế nào là chờ đợi. Chỉ ai đã từng cảm được một chút ngọt ngào của Thiên Chúa mới hiểu được sự khô khan thiêng liêng có thể khủng khiếp đến mức nào. Có những ngày cầu nguyện mà chẳng thấy gì. Có những Thánh lễ mà tâm hồn lạnh như đá. Có những lần quỳ trước Nhà Tạm, môi vẫn đọc kinh, tay vẫn lần chuỗi, mắt vẫn nhìn lên Thánh Giá, nhưng bên trong như một căn phòng không ánh sáng. Chúa ở đâu? Chúa có nghe không? Tại sao Chúa im lặng? Tại sao con cầu nguyện mãi mà chẳng thấy Chúa trả lời? Tại sao ngày trước con cảm nhận Chúa gần như thế mà bây giờ Chúa lại xa đến vậy? Và rồi câu hỏi đau nhất len vào tâm hồn: Hay là Chúa đã bỏ con?
Đó là một trong những Thánh Giá nặng nhất của đời sống đức tin. Ta quen nghĩ Thánh Giá là bệnh tật, nghèo túng, bị hiểu lầm, bị phản bội, bị thất bại. Những điều ấy đúng. Nhưng có một Thánh Giá khác không ai nhìn thấy được: Thánh Giá của một linh hồn vẫn đi tìm Chúa mà không cảm thấy Chúa; vẫn cầu nguyện mà tưởng như lời cầu nguyện rơi vào khoảng không; vẫn bước đi nhưng không còn ánh sáng cảm xúc nâng đỡ; vẫn phải nói “con tin” trong khi cả con người bên trong chỉ nghe thấy sự im lặng. Đức tin trong những giờ phút ấy không còn là một bài giáo lý để học thuộc, cũng chẳng còn là một cảm xúc đạo đức dễ chịu. Đức tin trở thành một chọn lựa trần trụi. Tin không phải vì thấy. Tin không phải vì được an ủi. Tin không phải vì mọi chuyện đang xuôi chèo mát mái. Tin đơn giản chỉ vì Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa, cho dù tôi không còn cảm thấy Người.
Thật ra, phải đi rất xa trên con đường đức tin người ta mới bắt đầu hiểu rằng cảm thấy Thiên Chúa và có Thiên Chúa là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Một người mẹ có thể đang ngủ trong căn phòng bên cạnh, đứa trẻ không nhìn thấy mẹ nhưng mẹ vẫn ở đó. Mặt trời có thể bị che kín sau những đám mây đen, nhưng mặt trời không vì thế mà biến mất. Trong đời sống thiêng liêng cũng vậy. Chúng ta thường đồng hóa cảm giác về Chúa với chính Chúa. Khi cầu nguyện thấy ấm áp, ta nói Chúa gần. Khi cầu nguyện khô khan, ta nghĩ Chúa xa. Khi mọi sự thuận lợi, ta bảo Chúa thương. Khi tai họa liên tiếp xảy đến, ta bắt đầu hỏi Chúa có còn thương mình không. Vô tình, ta biến cảm xúc của mình thành chiếc nhiệt kế đo sự hiện diện của Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa không lệ thuộc cảm giác của ta. Chúa vẫn là Chúa khi ta vui, và Chúa vẫn là Chúa khi ta khóc. Người vẫn hiện diện khi lòng ta đầy bình an, và Người vẫn hiện diện trong những đêm dài không một chút an ủi. Có khi chính lúc ta tưởng Người xa nhất, Người lại gần ta nhất; chỉ có điều Người đang ở gần theo một cách mà cảm giác của ta không nhận ra.
Tin Mừng dẫn chúng ta đến một nơi mà mọi suy tư về sự vắng mặt của Thiên Chúa phải cúi đầu: đồi Golgotha. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu đã thốt lên một tiếng kêu khiến bất cứ ai từng trải qua đêm tối đức tin đều phải rùng mình: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46). Không có lời nào trong Kinh Thánh gần với nỗi cô đơn của con người hơn lời ấy. Không có vực sâu nào trong tâm hồn chúng ta mà Đức Kitô chưa bước xuống. Người biết nỗi đau của thân xác bị xé nát bởi roi đòn; Người biết nhục nhã của kẻ bị lột áo trước đám đông; Người biết sự phản bội của Giuđa, sự chối bỏ của Phêrô, sự bỏ chạy của các môn đệ; nhưng trên đỉnh cao của cuộc Thương Khó còn có một nỗi đau khủng khiếp hơn: kinh nghiệm trong nhân tính của Người về sự cô độc đến tận cùng trước sự im lặng của Chúa Cha. Đức Giêsu không thôi là Con yêu dấu của Cha. Chúa Cha không thật sự từ bỏ Con mình. Mầu nhiệm Ba Ngôi không bị tan vỡ trên Golgotha. Nhưng trong chiều sâu của cuộc Khổ Nạn, Đức Giêsu đã đi vào chính kinh nghiệm mà bao thế hệ con người sẽ trải qua: kêu lên với Thiên Chúa mà trời như đóng lại, tìm kiếm khuôn mặt Thiên Chúa mà chỉ gặp bóng tối.
Điều kỳ lạ là ngay trong tiếng kêu tưởng như tuyệt vọng ấy, đức tin của Đức Giêsu vẫn còn nguyên vẹn. Người không nói: “Thiên Chúa không còn nữa.” Người không nói: “Ta đã lầm khi tin.” Người vẫn gọi: “Thiên Chúa của con.” Hai chữ “của con” ấy quý hơn ngàn bài thần học. Giữa bóng tối, Người vẫn thuộc về Cha. Giữa cảm giác bị bỏ rơi, Người vẫn hướng về Cha. Khi không còn cảm nhận sự nâng đỡ, Người vẫn cầu nguyện. Chính ở đó ta thấy khuôn mặt tinh tuyền nhất của đức tin: bám lấy Thiên Chúa ngay khi chẳng còn gì để bám ngoài chính Thiên Chúa. Đức tin trưởng thành không phải là đức tin chưa từng có câu hỏi. Đức tin trưởng thành là đức tin có thể mang câu hỏi của mình đến trước mặt Thiên Chúa và vẫn không bỏ Người. Người không tin có thể im lặng trước trời. Còn người tin đôi khi phải hét lên với trời. Tiếng hét ấy chưa chắc là mất đức tin. Có khi nó chính là một hình thức cầu nguyện sâu nhất.
Chúng ta thường sợ những câu hỏi trong đời sống thiêng liêng. Ta nghĩ người có đức tin thì không được hỏi “tại sao”. Nhưng Kinh Thánh đầy những chữ “tại sao”. Các Thánh Vịnh hỏi. Gióp hỏi. Các ngôn sứ hỏi. Chính Đức Giêsu trên Thánh Giá cũng thốt lên: “Sao Ngài bỏ rơi con?” Thiên Chúa không sợ câu hỏi của con người. Người chỉ buồn khi con người không còn muốn nói với Người nữa. Có những người đang đau nhưng vẫn cầu nguyện: “Lạy Chúa, tại sao?” Đừng vội bảo họ yếu đức tin. Có thể lời cầu ấy đang gần Thiên Chúa hơn những câu kinh rất đẹp nhưng chỉ được đọc bằng môi. Một đứa con có thể khóc với cha mình vì nó tin rằng người đứng trước mặt vẫn là cha nó. Người ta chỉ giận một người mà mình còn muốn người ấy hiểu mình. Vì thế, đừng quá sợ những cuộc vật lộn với Thiên Chúa. Có những cuộc vật lộn không đưa ta xa Chúa nhưng lột khỏi ta một thứ đức tin còn non nớt để sinh ra một đức tin trưởng thành hơn.
Nhiều người đã từng có một giai đoạn đời sống đạo rất đẹp. Họ cầu nguyện sốt sắng. Đi lễ thấy lòng nhẹ nhàng. Đọc Lời Chúa thấy từng câu như nói với riêng mình. Có lúc họ cảm thấy Chúa rất gần. Họ nghĩ rằng từ nay mình sẽ chẳng bao giờ nguội lạnh nữa. Nhưng rồi một ngày mọi sự đổi khác. Kinh nguyện trở nên khô. Lời Chúa như đóng lại. Thánh lễ vẫn như thế nhưng lòng chẳng còn rung động. Từ đó nảy sinh một nỗi hoang mang: “Có phải tôi sa sút không? Tôi đã phạm lỗi gì khiến Chúa rời bỏ tôi chăng?” Dĩ nhiên có những khô khan do chính sự lười biếng, tội lỗi, thiếu kỷ luật hay đời sống bị phân tán gây nên; những điều ấy cần được nhìn nhận và sửa đổi. Nhưng không phải mọi khô khan đều là dấu chỉ Chúa xa ta. Đôi khi Thiên Chúa cho phép linh hồn đi vào sự khô khan để thanh luyện tình yêu. Bởi nếu ta chỉ yêu Chúa lúc Chúa làm ta vui, liệu ta yêu Chúa hay yêu cảm giác dễ chịu mà Chúa đem lại? Nếu ta chỉ cầu nguyện khi cầu nguyện có vị ngọt, liệu ta tìm Chúa hay tìm sự an ủi? Đến một lúc nào đó, Thiên Chúa phải nhẹ nhàng lấy đi những “viên kẹo thiêng liêng” để con người lớn lên. Không phải vì Người hết thương, nhưng chính vì Người yêu.
Một đứa trẻ ban đầu đi theo mẹ vì mẹ cho quà. Lớn hơn, nó ở với mẹ không phải vì quà nhưng vì mẹ là mẹ. Đức tin cũng phải trưởng thành như thế. Lúc đầu, ta dễ yêu Chúa vì thấy được nâng đỡ, được nhận lời, được bình an. Sau đó có thể Chúa dẫn ta vào một vùng đất nghèo hơn, nơi Người không còn cho ta cảm thấy nhiều. Tại đó câu hỏi được đặt ra: Nếu Chúa không cho con điều gì ngoài chính Chúa, con có còn chọn Chúa không? Nếu lời cầu nguyện của con dường như chẳng được đáp, con có tiếp tục cầu nguyện không? Nếu con sống tốt mà vẫn gặp tai họa, con có còn tin rằng Thiên Chúa là Đấng tốt lành không? Nếu người khác được chữa lành còn con thì không, người khác thành công còn con thất bại, gia đình người khác bình an còn nhà con đầy nước mắt, con có còn đủ sức thưa: “Lạy Chúa, con vẫn thuộc về Ngài” không?
Đó là nơi Thánh Giá đức tin bắt đầu.
Ngày Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá cũng là một ngày như thế. Thiên thần năm xưa đã nói với Mẹ rằng Con của Mẹ sẽ nên cao cả, sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao, và Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng Đavít. Nhưng giờ đây ngai vàng ở đâu? Trước mắt Mẹ chỉ có một cây gỗ. Vương miện ở đâu? Chỉ có vòng gai. Quyền năng ở đâu? Hai bàn tay bị đóng đinh. Vương quốc ở đâu? Một người trộm cướp hấp hối bên cạnh. Những lời của Thiên Chúa dường như bị thực tại phủ nhận hoàn toàn. Nếu Đức Maria chỉ tin bằng mắt, Mẹ đã tuyệt vọng. Nếu Mẹ chỉ tin khi hiểu, Mẹ đã bỏ đi. Nhưng Tin Mừng ghi lại một hình ảnh ngắn ngủi mà sâu hơn mọi bài giảng: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Mẹ đứng. Chỉ một chữ ấy thôi đã nói cả một đời đức tin. Mẹ không tháo được đinh cho Con. Mẹ không làm phép lạ. Mẹ không giải thích được mầu nhiệm. Mẹ chỉ đứng đó. Có những lúc đức tin chẳng thể làm gì hơn ngoài việc đứng lại dưới Thánh Giá.
Có khi đời sống thiêng liêng của chúng ta cũng chỉ còn như thế: đứng. Không còn chạy được. Không còn hiểu. Không còn cảm xúc đẹp. Không còn lời lẽ. Chỉ còn đứng trước Chúa và không bỏ đi. Ta tưởng đó là một thứ đức tin nghèo nàn. Nhưng trước mặt Thiên Chúa, có khi đó lại là đức tin quý nhất. Đi lễ khi mình muốn đi thì tương đối dễ; đi lễ khi lòng hoàn toàn lạnh mà vẫn đi mới là một hiến lễ. Cầu nguyện khi lòng sốt sắng thì dễ; ngồi trước Nhà Tạm ba mươi phút mà chẳng cảm thấy gì, vẫn ở đó chỉ vì biết Chúa đáng được yêu, đó là một lời cầu sâu. Làm việc thiện khi được biết ơn thì dễ; tiếp tục làm điều lành khi bị hiểu lầm mới là Thánh Giá. Trung thành khi mọi chuyện đẹp đẽ thì ai cũng có thể; trung thành khi chẳng còn gì nâng đỡ mới phơi bày phẩm chất của tình yêu.
Có lẽ một trong những sai lầm của chúng ta là cứ nghĩ sự hiện diện của Thiên Chúa phải đi kèm một cảm giác rõ ràng. Vì thế, khi mất cảm giác ấy ta vội kết luận Chúa vắng mặt. Nhưng tình yêu sâu nhất của đời người vốn không phải lúc nào cũng ồn ào. Một người mẹ thức cả đêm bên giường đứa con bệnh không cần phải liên tục nói “mẹ yêu con”. Sự hiện diện của mẹ đã là tình yêu. Một người chồng già lặng lẽ đút từng thìa cháo cho người vợ đã mất trí nhớ chẳng cần cảm xúc lãng mạn như thuở ban đầu. Tình yêu đã đi qua xúc cảm để trở thành trung tín. Đức tin cũng vậy. Có thời kỳ đức tin mang hình dáng của niềm vui. Nhưng rồi có lúc nó phải mang hình dáng của sự trung tín âm thầm. Không còn pháo hoa, chỉ còn một ngọn đèn nhỏ. Không còn những giây phút xúc động, chỉ còn bước chân đều đặn. Không còn cảm giác “Chúa thật gần”, nhưng vẫn có tiếng nói rất nhỏ: “Con không biết Chúa đang ở đâu, nhưng con sẽ không đi đâu khác.”
Phêrô đã từng thưa với Đức Giêsu: “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” Có lẽ câu ấy không phải chỉ để đọc trong những ngày đức tin mạnh mẽ. Nó đặc biệt dành cho những ngày người ta muốn bỏ cuộc. “Con chẳng hiểu Thầy nữa. Con chẳng cảm thấy Thầy nữa. Con chẳng biết tại sao Thầy để chuyện này xảy ra. Nhưng bỏ Thầy thì con đi đâu?” Đôi khi đức tin chẳng còn là một lời tuyên xưng hào hùng mà chỉ là việc không bỏ đi. Nhưng chính cái “không bỏ đi” ấy có thể quý vô cùng.
Có những người đã cầu cho con mình trở về nhiều năm mà con vẫn chưa về. Có người cầu cho vợ chồng hòa thuận nhưng gia đình mỗi ngày một rạn nứt. Có người cầu chữa bệnh nhưng bệnh ngày càng nặng. Có người xin một dấu chỉ mà chẳng bao giờ nhận được dấu chỉ nào mình mong đợi. Có những linh mục đã dâng đời mình phục vụ nhưng có lúc nhìn lại chỉ thấy thất bại, hiểu lầm và cô độc. Có những tu sĩ đã bỏ rất nhiều để theo Chúa, rồi tới một giai đoạn chẳng còn cảm thấy ý nghĩa của những điều mình đang sống. Có người giáo dân đã sống tử tế cả đời nhưng cuối cùng vẫn đối diện một biến cố quá đau khiến họ tự hỏi: “Chúa có công bằng không?” Ta đừng trả lời những con người ấy bằng những câu đạo đức quá dễ. “Cứ tin đi.” “Chúa có chương trình.” “Rồi mọi chuyện sẽ tốt.” Những câu ấy có thể đúng, nhưng nếu nói quá nhanh trước nỗi đau của người khác, ta vô tình biến chân lý thành một nhát dao. Khi Đức Giêsu gặp hai chị em Mácta và Maria đang khóc vì Ladarô chết, Người không đứng đó giảng ngay một bài dài về ý nghĩa đau khổ. Tin Mừng nói một câu rất ngắn: “Đức Giêsu liền khóc” (Ga 11,35). Có những lúc điều người đau khổ cần trước tiên không phải một câu giải đáp mà là một người ngồi xuống bên cạnh và khóc cùng.
Chính Thiên Chúa cũng không giải quyết mầu nhiệm đau khổ của con người bằng một bài lý luận. Người bước vào đau khổ. Đó là Thánh Giá. Kitô giáo không thờ một Thiên Chúa đứng ngoài cuộc, nhìn xuống và bảo con người phải chịu đựng. Kitô giáo nhìn lên một Thiên Chúa chịu đóng đinh. Điều đó không trả lời mọi câu hỏi của trí óc, nhưng làm thay đổi tận căn cách chúng ta đặt câu hỏi. Khi tôi hỏi: “Chúa ở đâu lúc tôi đau?” Thánh Giá trả lời: “Ta ở đây.” Không phải luôn ở nơi làm cho đau khổ biến mất ngay lập tức, nhưng ở ngay trong đau khổ. Không đứng bên ngoài nước mắt, nhưng ở trong nước mắt. Không chỉ ở trong bình minh Phục Sinh mà còn ở trong bóng tối chiều Thứ Sáu Tuần Thánh.
Người ta thường muốn đi thẳng từ Chúa Nhật Lễ Lá đến sáng Phục Sinh, nhưng Tin Mừng buộc ta phải đi ngang qua Thứ Sáu và Thứ Bảy Tuần Thánh. Đặc biệt Thứ Bảy Tuần Thánh là ngày thật lạ. Đức Giêsu đã chết. Ngôi mộ đóng kín. Các môn đệ chẳng hiểu chuyện gì. Không phép lạ. Không tiếng nói từ trời. Không có gì để làm ngoài chờ đợi. Đó chính là hình ảnh của rất nhiều giai đoạn đời người. Có những thứ Sáu đau đớn; ít ra lúc ấy ta còn khóc được. Nhưng rồi có những ngày thứ Bảy còn đáng sợ hơn: chẳng có gì xảy ra cả. Cầu nguyện, vẫn im lặng. Chờ đợi, vẫn im lặng. Hôm qua đã chết, ngày mai chưa tới. Ta mắc kẹt giữa lời hứa và sự hoàn tất. Đó là nơi đức tin được thử luyện.
Không ai trong các môn đệ vào ngày thứ Bảy Tuần Thánh có thể nhìn thấy sáng Phục Sinh đang đến gần. Nhưng việc họ không nhìn thấy không có nghĩa là Thiên Chúa không hành động. Một trong những bài học lớn nhất của đức tin là thế này: sự im lặng của Thiên Chúa không đồng nghĩa với sự bất động của Thiên Chúa. Ta không nghe không có nghĩa Người không nói. Ta không thấy không có nghĩa Người không làm việc. Hạt giống nằm dưới lòng đất rất lâu tưởng như chết, nhưng âm thầm bên trong đang có cả một tiến trình sống. Thai nhi lớn lên trong bóng tối. Những rễ cây mạnh nhất phát triển ở nơi mắt người không thấy. Những cuộc biến đổi sâu nhất của một linh hồn đôi khi cũng diễn ra trong giai đoạn người ấy tưởng chẳng có gì đang xảy ra.
Ta thích Thiên Chúa làm việc bằng những dấu chỉ lớn. Nhưng Người thường hành động trong âm thầm. Ta muốn câu trả lời; Người đôi khi cho ta sức mạnh để sống với câu hỏi. Ta xin con đường dễ hơn; Người có thể không đổi con đường mà đổi đôi chân ta. Ta xin bão ngừng; Người có thể chưa ngừng bão nhưng dạy ta không chìm giữa bão. Ta xin lấy Thánh Giá khỏi vai; đôi khi Thánh Giá vẫn còn đó, nhưng trong lúc vác, ta nhận ra có một Đấng đang cùng vác với mình.
Đây không phải là lời mời gọi yêu đau khổ. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Đức Giêsu đã chữa bệnh, cho kẻ đói ăn, nâng người bị loại trừ lên, khóc trước mộ bạn mình. Người không bảo người bệnh cứ bệnh vì bệnh là tốt. Thánh Giá không biến điều ác thành điều thiện. Điều dữ vẫn là điều dữ. Bất công vẫn phải được chống lại. Bệnh tật vẫn cần chữa trị. Một cuộc hôn nhân có bạo lực không thể được hợp thức hóa bằng câu “hãy vác Thánh Giá”. Một người đang kiệt sức tâm lý không nên bị khuyên chỉ cần cầu nguyện thêm. Đức tin không miễn trừ chúng ta khỏi trách nhiệm tìm sự trợ giúp, tìm chữa lành, bảo vệ phẩm giá và sự sống. Nhưng Thánh Giá cho ta biết rằng ngay cả khi có những đau khổ ta chưa thể loại bỏ, chúng cũng không nhất thiết có quyền lực cuối cùng trên đời ta. Thiên Chúa có thể đi vào nơi con người cho là mất mát hoàn toàn và từ đó mở ra một sự sống mới.
Khi Chúa có vẻ vắng mặt, cám dỗ lớn nhất là bỏ cầu nguyện. “Cầu làm gì, Chúa có nghe đâu.” Nhưng chính lúc ấy cầu nguyện thay đổi bản chất. Trước kia ta cầu để được an ủi; bây giờ ta cầu vì trung tín. Trước kia ta nói rất nhiều; bây giờ có thể chỉ còn ngồi im. Và đôi khi ngồi im trước mặt Chúa đã đủ là một lời cầu nguyện. Không cần ép mình phải có cảm xúc. Không cần cố sản xuất sự sốt sắng. Có thể chỉ thưa: “Lạy Chúa, hôm nay con chẳng có gì để nói. Con chỉ đến đây.” Một linh hồn đến với Chúa mà không có cảm xúc đẹp, không có ý tưởng sâu xa, không có điều gì đáng khoe, chỉ đem chính sự trống rỗng của mình đến đặt trước Chúa, đó có thể là một của lễ rất tinh tuyền.
Có khi lời cầu nguyện đẹp nhất chỉ có một câu: “Lạy Chúa, con vẫn ở đây.”
Và có lẽ từ phía Thiên Chúa cũng vang lên một lời mà ta chưa nghe được: “Ta cũng vẫn ở đây.”
Một điều rất quan trọng trong những giai đoạn đêm tối là đừng đưa ra những quyết định lớn chỉ vì đang khô khan. Khi tâm hồn ở trong sương mù, đừng vội thay đổi con đường chỉ vì ta không thấy đường. Một người leo núi gặp sương sẽ không vì không nhìn thấy đỉnh mà kết luận đỉnh núi không tồn tại. Người ấy phải bám vào những dấu chỉ đã biết trước đó. Trong đời sống đức tin cũng vậy. Khi không cảm thấy gì, hãy nhớ lại những gì mình đã biết trong ánh sáng. Hãy nhớ những lần Chúa đã đỡ nâng. Hãy nhớ Lời Người. Hãy bám vào các bí tích. Hãy giữ một nhịp cầu nguyện đơn sơ. Hãy tìm một người khôn ngoan để đồng hành. Đừng tự nhốt mình trong cô độc. Đêm tối trở nên đáng sợ hơn khi người ta chỉ nghe tiếng vọng của chính mình.
Người tin Chúa không phải lúc nào cũng mạnh. Có những ngày đức tin chỉ còn bằng sợi chỉ. Nhưng sợi chỉ ấy, nếu một đầu nằm trong tay Thiên Chúa, vẫn đủ để giữ ta. Ta cứ nghĩ điều quan trọng là mình nắm Chúa thật chắc. Nhiều lúc ta đâu còn sức nắm nữa. Tin Mừng còn cho ta một niềm an ủi lớn hơn: chính Chúa nắm ta. Đức Giêsu nói về đàn chiên của Người: “Không ai cướp được chúng khỏi tay tôi” (Ga 10,28). Có những ngày ta không còn đủ sức nói “con nắm lấy Chúa”, thì chỉ cần để Chúa nắm lấy mình.
Một đứa trẻ ngủ trên tay mẹ không hề biết mình được giữ như thế nào. Nó chẳng suy nghĩ về đôi tay mẹ, nhưng chính đôi tay ấy bảo đảm nó không rơi. Có khi linh hồn cũng thế. Ta tưởng rằng đức tin tồn tại vì ta còn cảm giác đang bám chặt Chúa. Không. Tận đáy sâu, ta tồn tại vì Chúa vẫn giữ lấy ta. Khi Phêrô bước trên mặt nước, ông bắt đầu chìm vì nhìn gió. Ông chỉ còn kêu được: “Lạy Ngài, xin cứu con!” Đức Giêsu lập tức đưa tay nắm lấy ông (Mt 14,30-31). Không phải Phêrô bơi thật giỏi về phía Chúa. Chính Chúa đưa tay ra. Một linh hồn trong đêm tối đôi khi chẳng cần đọc được một kinh dài. Chỉ cần tiếng kêu: “Lạy Chúa, cứu con.” Đó đã là đức tin.
Và đừng khinh thường đức tin nhỏ bé. Người ta hay mơ mình phải có một đức tin mạnh như các thánh. Nhưng các thánh không phải là những con người chưa từng gặp bóng tối. Rất nhiều vị đã trải qua những giai đoạn Thiên Chúa im lặng, cầu nguyện khô khan, nội tâm bị thử thách dữ dội. Sự thánh thiện không nằm ở chỗ lúc nào cũng cảm thấy Chúa. Nó nằm ở chỗ vẫn thuộc về Chúa khi chẳng còn cảm thấy gì. Một ngọn nến trong đêm có giá trị khác hẳn ngọn nến giữa ban ngày. Cũng vậy, một lời “con tin” trong lúc mọi chuyện thuận lợi rất đẹp; nhưng lời “con tin” thốt ra giữa nước mắt có một trọng lượng khác.
Có những người tưởng mình đã mất đức tin chỉ vì không còn cảm xúc đạo đức như xưa. Chưa chắc. Có khi đức tin của họ đang chuyển từ cảm xúc sang chiều sâu. Đứa trẻ yêu cha vì cha bế nó; người trưởng thành có thể yêu cha ngay khi người cha đau yếu không còn làm được gì cho mình nữa. Tình yêu trưởng thành không đo bằng điều mình nhận được nhưng bằng sự hiện diện mình trao ban. Cũng thế, linh hồn trưởng thành dần dần học nói với Chúa: “Lạy Chúa, dù hôm nay con chẳng cảm thấy gì, con vẫn chọn Chúa. Không phải vì Chúa cho con điều này điều kia, nhưng vì Chúa là Chúa.”
Đó là một lời rất khó nói.
Nhưng đó cũng có thể là một lời rất đẹp.
Ta phải phân biệt sự vắng mặt của Thiên Chúa với cảm giác Thiên Chúa vắng mặt. Về mặt cảm nghiệm, nỗi vắng mặt ấy hoàn toàn thật. Không nên coi nhẹ nó. Nhưng về mặt đức tin, Thiên Chúa vẫn giữ lời Người: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Đức Giêsu không nói: “Anh em sẽ luôn cảm thấy Thầy ở cùng.” Người nói: “Thầy ở cùng.” Lời hứa không dựa trên cảm giác của môn đệ mà dựa trên sự trung tín của Người. Khi ta ngủ, Người vẫn là Chúa. Khi ta nghi ngờ, Người vẫn trung tín. Khi ta yếu, Người vẫn mạnh. Khi ta chẳng còn biết cầu thế nào, Thánh Thần vẫn cầu thay cho ta bằng những tiếng rên siết khôn tả.
Chính vì thế, đức tin trong đêm tối không phải là giả vờ rằng mình không đau. Đức tin không yêu cầu ta mỉm cười khi muốn khóc. Nó cũng không bảo ta gọi đêm là ngày. Đức tin cho phép ta nói: “Lạy Chúa, đêm nay thật tối.” Nhưng nó thêm một câu: “Dù vậy, con vẫn đợi bình minh của Ngài.” Đức tin không phủ nhận Thứ Sáu Tuần Thánh. Nó chỉ không cho Thứ Sáu Tuần Thánh trở thành ngày cuối cùng.
Có thể hôm nay trong đời một ai đó đang là Thứ Sáu Tuần Thánh. Có người vừa nhận một kết quả xét nghiệm không mong muốn. Có người vừa tiễn một người thân ra nghĩa trang. Có người đang sống trong một gia đình lạnh lẽo. Có người mỗi tối vẫn ngủ cạnh người bạn đời nhưng hai tâm hồn đã rất xa nhau. Có người đang đau vì một đứa con. Có người đang mang một bí mật chẳng thể nói cùng ai. Có linh mục đang mệt mỏi vì những năm tháng phục vụ mà cảm tưởng không ai hiểu. Có tu sĩ vẫn mặc tu phục nhưng bên trong là sa mạc. Có người đã xin Chúa rất lâu và chỉ nhận lại sự im lặng. Nếu những dòng này đến với một tâm hồn như thế, xin đừng vội kết luận đời mình đã bị Thiên Chúa quên. Cũng đừng vì hôm nay không thấy mặt trời mà tưởng vũ trụ đã mất mặt trời.
Hãy nhìn Thánh Giá.
Thánh Giá không giải thích mọi chuyện, nhưng cho chúng ta một nơi để đặt mọi chuyện. Có những nỗi đau không thể giải thích mà chỉ có thể ôm lấy trong tình yêu. Chúa Giêsu không xuống khỏi Thánh Giá để chứng minh mình là Con Thiên Chúa theo cách đám đông yêu cầu. Người ở lại. Người biến chính nơi thất bại thành nơi cứu độ, chính biểu tượng của sự nguyền rủa thành cây ban sự sống, chính cái chết thành cửa đi vào phục sinh. Điều đó có nghĩa: đừng bao giờ đánh giá công trình của Thiên Chúa chỉ bằng hình thức của ngày hôm nay. Chiều Thứ Sáu, ai nhìn Đức Giêsu cũng thấy một người thất bại. Sáng Chúa Nhật, lịch sử đã đổi nghĩa hoàn toàn.
Có những chương đời ta chỉ hiểu được khi đã đi qua. Khi còn ở giữa chúng, ta chỉ thấy những câu chữ rời rạc. Ta giống như người đứng sát một tấm thảm khổng lồ, chỉ thấy những nút chỉ lộn xộn phía sau. Thiên Chúa thấy mặt trước. Điều ấy không có nghĩa ta phải dễ dàng nói “mọi sự xảy ra đều tốt”. Không. Có những điều vốn là điều dữ và luôn là điều dữ. Nhưng đức tin dám tin rằng điều dữ không thể khiến Thiên Chúa hết đường. Người không cần tạo ra đau khổ để thực hiện chương trình của Người; nhưng khi đau khổ xảy ra, Người có khả năng bước vào đó và không để nó có tiếng nói cuối cùng.
Thánh Giá chính là bằng chứng.
Con người giết Đức Giêsu. Thiên Chúa làm cho chính cái chết ấy trở thành nguồn cứu độ. Con người đóng cửa mồ. Thiên Chúa mở nó. Con người nói: “Hết rồi.” Thiên Chúa nói: “Bắt đầu.”
Vì thế, linh hồn đang ở trong đêm tối đừng quá vội viết chữ “hết” vào câu chuyện của mình.
Có thể Chúa đang im lặng, nhưng Người chưa nói lời cuối cùng.
Có thể ta chưa hiểu, nhưng sự thật không phụ thuộc vào khả năng hiểu của ta.
Có thể ta chẳng còn cảm thấy tình yêu, nhưng tình yêu của Thiên Chúa không tồn tại nhờ cảm xúc của ta.
Có thể ta chỉ còn đủ sức đi từng bước nhỏ. Vậy thì cứ đi một bước nhỏ. Đừng buộc mình phải nhìn thấy cả con đường. Người cầm đèn trong đêm không nhìn được mười cây số trước mặt; ánh đèn chỉ đủ soi vài bước. Nhưng đi vài bước rồi lại có vài bước khác hiện ra. Ân sủng cũng thường đến như vậy. Chúa ít khi cho ta sức của ngày mai ngay từ hôm nay. Người cho “lương thực hằng ngày”. Đủ cho hôm nay. Đủ để không bỏ cuộc hôm nay. Ngày mai sẽ có ân sủng của ngày mai.
Nếu không cầu được lâu, hãy cầu một câu.
Nếu không đọc được nhiều, hãy đọc một đoạn Tin Mừng.
Nếu không cảm nhận nổi lời nào, hãy ngồi trước Thánh Giá.
Nếu không biết nói gì, hãy nói tên “Giêsu”.
Nếu không còn sức đứng, cứ để mình được người khác nâng đỡ.
Đừng biến đức tin thành một cuộc thi xem ai mạnh hơn. Hội Thánh là thân thể để khi một chi thể yếu, những chi thể khác nâng nó lên. Có lúc ta cầu nguyện cho người khác. Có lúc phải khiêm tốn để người khác cầu nguyện thay mình. Có khi người bạn bên cạnh đang mượn đức tin của ta để sống. Ngày khác, chính ta sẽ phải mượn đức tin của họ. Đức tin của Hội Thánh lớn hơn đức tin bé nhỏ của từng cá nhân.
Và hơn tất cả, hãy nhớ rằng Chúa Giêsu đã đi vào nơi sâu nhất của cảm giác bị bỏ rơi trước khi chúng ta đến đó. Vì thế không một đêm tối nào của ta hoàn toàn xa lạ với Người. Khi ta nói: “Chẳng ai hiểu con”, vẫn có một Đấng hiểu. Người hiểu không phải từ sách vở nhưng từ những chiếc đinh. Người hiểu từ vườn Cây Dầu, nơi mồ hôi như máu nhỏ xuống đất. Người hiểu từ lời cầu xin: “Cha ơi, nếu có thể, xin cất chén này.” Người hiểu từ sự cô độc khi các môn đệ ngủ mê. Người hiểu từ nụ hôn phản bội. Người hiểu từ tiếng gà gáy sau ba lần Phêrô chối Thầy. Người hiểu từ câu: “Sao Ngài bỏ rơi con?”
Khi ta không tìm thấy Thiên Chúa, hãy để Đức Kitô chịu đóng đinh tìm thấy ta.
Có thể đó là bí mật lớn nhất của Thánh Giá đức tin.
Ta thường nghĩ đời sống thiêng liêng là cuộc hành trình con người tìm kiếm Thiên Chúa. Đúng. Nhưng sâu hơn nữa, đó là câu chuyện Thiên Chúa không ngừng tìm kiếm con người. Người tìm Ađam sau khi Ađam trốn: “Ngươi ở đâu?” Người tìm con chiên lạc. Người đứng ngoài cửa và gõ. Người đi đường dài để gặp hai môn đệ Emmaus đang bỏ cuộc. Họ tưởng câu chuyện Giêsu đã kết thúc nên quay lưng rời Giêrusalem. Nhưng chính Đức Giêsu Phục Sinh đi bên cạnh họ, và điều cảm động nhất là họ không nhận ra Người. Chúa đã ở đó trước khi họ nhận ra Chúa. Người đã đồng hành trước khi họ biết mình được đồng hành. Chẳng phải đó cũng là hình ảnh tuyệt vời cho những ngày ta cảm thấy Chúa vắng mặt sao? Có thể Người đang đi sát bên, chỉ là mắt ta “bị ngăn cản không nhận ra Người” (x. Lc 24,16).
Hai môn đệ Emmaus kể cho người khách lạ tất cả nỗi thất vọng: “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng…” Một câu buồn biết bao. “Trước đây vẫn hy vọng” nghĩa là bây giờ không còn nữa. Chính lúc họ chôn niềm hy vọng, Đấng là Hy Vọng đang đi cạnh họ. Chính lúc họ kể về một Giêsu đã chết, Đức Giêsu đang sống và lắng nghe. Đó là nét dịu dàng lạ lùng của Tin Mừng. Chúa không mắng họ: “Sao các anh không nhận ra Ta?” Người đi với họ. Người nghe. Người giải thích Kinh Thánh. Người vào nhà khi họ mời. Rồi trong lúc bẻ bánh, mắt họ mở ra.
Có thể trong đời ta cũng có những chặng Emmaus. Ta đang bỏ Giêrusalem của những giấc mơ cũ. Ta vừa đi vừa nói: “Tôi đã từng hy vọng…” Nhưng có khi chính trên con đường thất vọng ấy, Đức Kitô đang âm thầm bước cạnh ta. Một ngày nào đó, nhìn lại, ta có thể thốt lên như hai môn đệ: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Lc 24,32).
Đừng đòi phải nhận ra Chúa ngay lập tức.
Có những sự hiện diện chỉ nhận ra khi nhìn lại.
Có những ân sủng chỉ hiểu khi đã qua nhiều năm.
Có những lời cầu Chúa đáp không bằng cách trao đúng điều ta xin, nhưng bằng cách biến ta thành một con người khác.
Có những Thánh Giá không biến mất, nhưng một ngày kia ta chợt nhận ra mình đã không còn vác nó một mình.
Đó là lúc ta hiểu rằng sự vắng mặt đôi khi chỉ là một hình thức ẩn mình của sự hiện diện.
Đức tin không phải sở hữu Thiên Chúa. Đức tin là để Thiên Chúa sở hữu ta. Khi mọi cảm giác tốt đẹp bị lấy đi, còn lại điều căn bản nhất: tôi có để đời tôi ở trong tay Người không? Đức Giêsu trên Thánh Giá đã kết thúc đời mình bằng lời: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Đây là đỉnh cao của đức tin. Không phải hiểu mọi sự, nhưng phó thác trong điều không hiểu. Không phải thấy đường, nhưng tin Đấng cầm tay mình. Không phải không sợ, nhưng đặt cả nỗi sợ vào tay Cha.
Có một kiểu phó thác rất dễ: phó thác khi ta biết mọi chuyện rồi sẽ theo ý mình. Nhưng đó chưa hẳn là phó thác. Phó thác thật sự là khi ta nói: “Lạy Chúa, con không biết chuyện này sẽ kết thúc thế nào. Con không biết lời cầu xin của con có được đáp như con mong hay không. Con không biết con đường phía trước sẽ dễ hay khó. Nhưng con biết con muốn ở trong tay Ngài.” Đó là một lời cầu có mùi của Thánh Giá.
Ai đã từng đi qua đêm tối đức tin mà không bỏ Chúa sẽ trở thành người dịu dàng hơn với nỗi đau của kẻ khác. Người ấy bớt nói những câu dễ dàng. Bớt xét đoán. Bớt nghĩ rằng người buồn là người thiếu đức tin. Họ biết có những vết thương cần nhiều thời gian. Họ hiểu một người có thể vẫn yêu Chúa trong khi đang giận Chúa, vẫn tin trong khi nghi ngờ, vẫn cầu nguyện trong nước mắt. Họ biết có những tâm hồn mỗi ngày chỉ đủ sức thưa một lời rất nhỏ, và Thiên Chúa trân trọng lời ấy.
Có lẽ đây cũng là một trong những hoa trái quý nhất của Thánh Giá đức tin: nó làm ta nghèo đi để ta bớt cứng cỏi với người khác. Trước kia ta dễ khuyên. Sau khi đã đau, ta học lắng nghe. Trước kia ta thích giải thích Thiên Chúa. Sau khi đã đi trong bóng tối, ta biết quỳ xuống trước mầu nhiệm. Trước kia ta tưởng mình mạnh. Sau khi đã có lúc chỉ còn bấu được vào mép áo Chúa, ta hiểu tất cả là ân sủng.
Và cũng từ đó ta hiểu rằng thánh thiện không có nghĩa là trở thành con người không cần ai. Trái lại, người thánh càng biết mình cần Chúa. Không phải cần Chúa như một thứ trang sức cho cuộc đời vốn đã ổn, mà cần Chúa như cành nho cần thân nho, như phổi cần không khí, như đất khô cần mưa. Những giai đoạn Chúa “ẩn mặt” có thể làm lộ ra cơn khát thật sự của linh hồn. Khi còn nhiều an ủi, ta khó biết mình muốn Chúa đến mức nào. Khi mọi an ủi biến mất mà linh hồn vẫn kêu: “Con cần Ngài”, lúc ấy tình yêu đã đi xuống sâu hơn.
Thánh Gioan Thánh Giá và nhiều bậc thầy thiêng liêng đã nói về những cuộc thanh luyện sâu xa của đức tin. Nhưng ta không cần vội gắn nhãn cho mọi nỗi buồn là “đêm tối”. Điều cần thiết hơn là trung thực trước mặt Chúa. Nếu đang mệt, hãy nhận mình mệt. Nếu đang nghi ngờ, hãy nói với Người về nghi ngờ. Nếu thấy mình đã xa Chúa vì một lối sống sai, hãy trở về qua Bí tích Hòa Giải. Nếu sự khô khan kéo dài đi cùng kiệt quệ, mất ngủ, tuyệt vọng hay các dấu hiệu tâm lý đáng lo, hãy tìm sự nâng đỡ chuyên môn thích hợp; Thiên Chúa cũng có thể chăm sóc ta qua bác sĩ, nhà chuyên môn, người đồng hành và cộng đoàn. Ân sủng không loại trừ những phương tiện nhân loại lành mạnh. Nhưng trong tất cả những con đường ấy, đừng ngừng đặt câu hỏi sâu nhất: “Lạy Chúa, Ngài đang mời con sống điều gì giữa chuyện này?”
Có lúc câu trả lời chẳng đến.
Vậy thì đừng ép.
Có những câu hỏi phải mang đến tận trời.
Ta không cần giải hết mọi mầu nhiệm để sống một đời trung tín.
Đức Maria đã không hiểu hết ở Nazareth. Mẹ “ghi nhớ những điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng”. Mẹ cũng không được cho biết trước từng chi tiết của Golgotha. Nhưng Mẹ bước từng bước. Có lẽ đức tin của chúng ta cũng vậy: không phải một lần hiểu hết, nhưng một đời giữ lấy Lời Chúa trong tim, kể cả khi hoàn cảnh dường như chống lại Lời ấy.
Và cuối cùng, Thánh Giá dạy ta một điều thật lạ: Thiên Chúa có thể hiện diện ngay trong chính sự thiếu vắng mà ta đang cảm thấy. Cơn khát về Chúa đã là dấu vết của Chúa. Một người hoàn toàn không có liên hệ gì với Thiên Chúa thường chẳng đau vì không cảm thấy Người. Nhưng linh hồn đau đớn vì Chúa im lặng chính vì nó muốn Chúa. Cơn đói chứng minh rằng trong con người có một khả năng hướng về lương thực. Cơn khát Thiên Chúa cũng nói lên rằng trái tim ta được dựng nên cho Người.
Thánh Augustinô đã diễn tả kinh nghiệm căn bản ấy bằng ý tưởng rằng lòng người không yên cho đến khi nghỉ yên trong Thiên Chúa. Có những lúc chính sự bồn chồn của ta là lời nhắc rằng ta vẫn đang đi tìm quê hương. Đừng sợ cơn khát. Hãy đem nó đến trước Chúa. “Lạy Chúa, con không cảm thấy Ngài, nhưng con nhớ Ngài. Con không nghe Ngài, nhưng con vẫn gọi. Con không hiểu Ngài, nhưng con không muốn sống thiếu Ngài.”
Đó đã là cầu nguyện.
Đó đã là yêu.
Đó đã là đức tin.
Và biết đâu trong những ngày đen tối nhất, khi ta tưởng đức tin của mình gần tắt, nó lại đang trở nên tinh tuyền hơn bao giờ hết. Trước kia ta tin bằng rất nhiều điểm tựa. Bây giờ chỉ còn Chúa. Trước kia ta tin vì thấy dấu chỉ. Bây giờ chẳng thấy gì mà vẫn tin. Trước kia ta tìm bàn tay Chúa vì muốn Người đưa mình đến nơi bình an. Bây giờ ta chỉ nắm tay Người, dù không biết Người đưa đi đâu.
Đó chính là Thánh Giá đức tin.
Không phải Thánh Giá của người không còn tin, mà của người tin giữa bóng tối.
Không phải Thánh Giá của người không còn yêu, mà của người vẫn yêu khi chẳng còn cảm được tình yêu.
Không phải Thánh Giá của người bị Thiên Chúa bỏ rơi, mà của người phải học rằng Thiên Chúa lớn hơn mọi cảm giác về Thiên Chúa.
Có lẽ sẽ có ngày linh hồn bước ra khỏi đêm tối và nhìn lại. Khi ấy ta có thể nhận ra những bước chân trên cát. Có đoạn hai hàng, có đoạn chỉ một. Ta từng tưởng đoạn chỉ có một hàng chân là những ngày Chúa bỏ mình. Nhưng rồi ta hiểu: đó là những ngày Người đã bế mình.
Còn nếu hôm nay ta chưa nhìn ra thì cũng không sao.
Hãy cứ ở lại.
Ở lại với Thánh Giá.
Ở lại với Lời Chúa.
Ở lại với Thánh Thể.
Ở lại trong Hội Thánh.
Ở lại ngay cả khi chẳng còn gì ngoài một lời rất nhỏ: “Lạy Chúa, con tin, nhưng xin nâng đỡ lòng tin yếu kém của con.”
Và nếu một ngày cả câu ấy cũng khó nói, hãy nhìn Đức Giêsu chịu đóng đinh. Người đã cầu nguyện thay ta từ trên Golgotha. Những cánh tay bị đóng đinh của Người vẫn dang rộng. Trái tim bị đâm thâu vẫn mở. Người không đòi ta phải mạnh rồi mới đến. Người không bảo ta phải hết nghi ngờ rồi mới được yêu. Người chỉ mời: hãy đến.
Đến với nước mắt.
Đến với câu hỏi.
Đến với sự trống rỗng.
Đến với đức tin chỉ còn bằng một hạt cải.
Đến với hai bàn tay trắng.
Và đặt tất cả dưới chân Thánh Giá.
Bởi ở đó, giữa tiếng kêu “Sao Ngài bỏ rơi con?”, mầu nhiệm lớn nhất đang được thực hiện: Thiên Chúa đang ôm lấy mọi kẻ từng cảm thấy bị Thiên Chúa bỏ rơi. Ở đó, không một nỗi cô đơn nào còn hoàn toàn cô độc. Không một giọt nước mắt nào rơi ngoài ánh mắt của Người. Không một tiếng kêu nào biến mất trong hư vô. Và không một đêm nào, dù dài đến đâu, có thể ngăn được bình minh Phục Sinh.
Nếu hôm nay Chúa im lặng, xin đừng nghĩ Người đã quên.
Nếu hôm nay không cảm thấy Chúa, xin đừng nghĩ Người đã đi xa.
Nếu hôm nay chỉ thấy Thánh Giá, xin nhớ rằng ngôi mộ trống vẫn còn ở phía trước.
Đức tin không hứa rằng ta sẽ hiểu tất cả trên đường đi. Đức tin chỉ hứa rằng con đường ấy không vô nghĩa vì có Đức Kitô đã đi trước. Người đã đi qua đau khổ, đi qua sự im lặng, đi qua cái chết và đi ra phía bên kia. Vì vậy, điều cuối cùng của Kitô hữu không bao giờ là bóng tối. Điều cuối cùng là ánh sáng. Không phải Thứ Sáu. Là Chúa Nhật. Không phải mồ đá. Là sự sống. Không phải tiếng kêu bị bỏ rơi. Là vòng tay của Cha.
Và có lẽ, khi về đến cuối đường, ta sẽ hiểu rằng những ngày tưởng Chúa vắng mặt lại chính là những ngày Người ở gần ta theo cách sâu nhất. Người giấu bàn tay để ta học tin vào trái tim Người. Người để mọi ánh sáng phụ tắt đi để ta chỉ còn tìm Ánh Sáng thật. Người để ta đi qua sự nghèo nàn của cảm xúc để đưa ta vào sự giàu có của một tình yêu không còn mặc cả. Và khi ấy ta sẽ hiểu rằng Thánh Giá đức tin không phải là nơi Thiên Chúa đánh mất con người, nhưng là nơi con người học để mình được Thiên Chúa giữ lấy hoàn toàn.
Cho nên, lạy Chúa, nếu có ngày con không còn cảm thấy Ngài, xin đừng để con bỏ Ngài. Nếu có ngày lời cầu nguyện của con chỉ còn là tiếng thở dài, xin nhận lấy tiếng thở dài ấy. Nếu có ngày con không còn đủ sức bước đi, xin bế con. Nếu có ngày con nhìn lên trời mà chỉ gặp im lặng, xin cho con nhớ rằng trên Golgotha, Con Một Ngài cũng từng kêu lên trong bóng tối. Xin dạy con không đo tình yêu của Ngài bằng những gì con cảm thấy, không đo sự hiện diện của Ngài bằng những gì con nhìn thấy, không đo lòng trung tín của Ngài bằng những biến cố thuận nghịch của đời con. Xin cho con một đức tin đủ nghèo để chỉ cần Ngài, đủ khiêm tốn để chấp nhận không hiểu, đủ kiên trì để ở lại, và đủ yêu để nói giữa đêm tối: “Lạy Chúa, dù con không thấy Ngài, con vẫn thuộc về Ngài.”
Bởi cuối cùng, đức tin đẹp nhất có lẽ không phải là đức tin chưa bao giờ biết bóng tối, nhưng là đức tin đã đi qua đêm tối mà vẫn giữ được một ngọn đèn.
Nhỏ thôi.
Run rẩy thôi.
Nhưng không tắt.
Và chỉ cần ngọn đèn ấy còn cháy, linh hồn vẫn còn có thể đi về phía bình minh.
Lm. Anmai, CSsR

HỘI THÁNH SINH RA TỪ CẠNH SƯỜN BỊ ĐÂM THÂU CỦA CHÚA GIÊSU
Có những mầu nhiệm của đức tin càng suy niệm lâu, người ta càng thấy mình không thể nói hết. Không phải vì mầu nhiệm ấy mơ hồ, nhưng vì nó quá sâu; không phải vì Thiên Chúa giấu mình, nhưng bởi Người đã trao ban chính mình quá nhiều đến nỗi trí óc nhỏ bé của con người không thể nào ôm trọn. Một trong những mầu nhiệm ấy chính là hình ảnh cạnh sườn Chúa Giêsu bị đâm thâu trên đồi Canvê. Người ta có thể nhìn đó như một chi tiết cuối cùng của cuộc hành hình: Chúa đã chết, người lính cầm giáo đâm vào cạnh sườn để kiểm chứng cái chết. Nhưng thánh Gioan không kể lại biến cố ấy như một chi tiết tình cờ. Ngài dừng lại rất lâu ở đó, như muốn kéo người môn đệ của mọi thời đại đến đứng dưới chân thập giá, nhìn thật kỹ vết thương ấy, nhìn máu và nước chảy ra, rồi hiểu rằng nơi tưởng như chỉ còn sự chết ấy, một sự sống mới đang bắt đầu; nơi thân xác Đức Kitô đã bị nghiền nát bởi bạo lực con người ấy, một dân mới đang được khai sinh; nơi trái tim đã bị đâm thủng ấy, cánh cửa cứu độ đã được mở ra. Hội Thánh không sinh ra từ một chiến thắng chính trị, không sinh ra từ một đạo quân hùng mạnh, không sinh ra từ sự khôn ngoan của những nhà thông thái, cũng không sinh ra từ tham vọng của một nhóm người muốn xây dựng một tổ chức tôn giáo. Hội Thánh sinh ra từ một vết thương. Nói cho đúng hơn, Hội Thánh sinh ra từ tình yêu đã chấp nhận để mình bị thương vì con người. Cội nguồn của Hội Thánh không phải quyền lực nhưng là tình yêu; không phải thống trị nhưng là trao ban; không phải thanh gươm nhưng là cạnh sườn bị đâm thâu; không phải bàn tay nắm lại nhưng là hai bàn tay bị đóng đinh và mở ra mãi mãi trên thập giá. Vì thế, nếu một ngày nào đó Hội Thánh quên nguồn gốc của mình, quên vết thương từ đó mình được sinh ra, Hội Thánh sẽ có nguy cơ trở thành một cơ chế nhưng không còn là Hiền Thê của Đức Kitô, có tổ chức nhưng thiếu trái tim, có luật lệ nhưng thiếu lòng thương xót, có tiếng nói nhưng không còn tiếng nói của Đấng chịu đóng đinh.
Tin Mừng theo thánh Gioan kể lại bằng những lời vừa bình thản vừa gây chấn động: khi những người lính đến với Chúa Giêsu, họ thấy Người đã chết nên không đánh giập ống chân Người, “nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34). Chỉ một câu ngắn như vậy nhưng cả một chân trời thần học mở ra. Chúa Giêsu đã chết. Người không còn gì để giữ lại. Áo xống đã bị chia nhau. Danh dự đã bị tước đoạt. Thân xác đã bị hành hạ. Bạn hữu đã bỏ chạy. Đám đông từng tung hô Người nay im tiếng hoặc đứng nhìn. Ngay cả sự sống nhân loại của Người cũng đã được trao đi. Thế mà con người vẫn còn đâm thêm một nhát giáo vào cạnh sườn Người. Có một điều gì đó rất đau nơi cảnh tượng ấy: con người làm tổn thương Thiên Chúa đến tận sau cái chết. Nhưng điều lạ lùng hơn cả là từ vết thương mà con người gây ra, Thiên Chúa lại làm tuôn chảy nguồn ơn cứu độ cho chính con người. Con người trao cho Chúa một mũi giáo, Chúa trao lại máu và nước. Con người mở cạnh sườn Chúa bằng bạo lực, Chúa biến chính vết mở ấy thành cửa của lòng thương xót. Con người muốn xác nhận rằng Người đã chết, nhưng Thiên Chúa lại dùng chính dấu hiệu của cái chết ấy để công bố rằng sự sống mới đang được sinh ra. Đó là logic lạ lùng của thập giá: tội lỗi không có tiếng nói cuối cùng; sự dữ không thể buộc Thiên Chúa phải đáp lại bằng sự dữ; lòng thù ghét của con người đụng đến tận trái tim Thiên Chúa nhưng từ trái tim ấy không chảy ra oán hận, chỉ chảy ra tình yêu. Máu và nước. Máu của giao ước. Nước của sự sống. Máu của hy tế. Nước của thanh tẩy. Máu gợi đến Thánh Thể, nước gợi đến Phép Rửa. Các Giáo phụ từ rất sớm đã nhìn thấy nơi dòng máu và nước ấy hình ảnh các bí tích làm nên Hội Thánh. Từ cạnh sườn Đức Kitô, một nhân loại mới được tắm rửa, nuôi dưỡng và kết hợp với Người. Chính vì thế, lời của thánh Gioan không chỉ kể một điều mắt thấy tai nghe mà còn mời chúng ta bước vào một mầu nhiệm: từ thân mình của Đấng chịu đóng đinh, Thân Thể nhiệm mầu là Hội Thánh được khai sinh.
Hình ảnh ấy lại đưa chúng ta trở về những trang đầu tiên của Kinh Thánh. Trong sách Sáng Thế, khi Ađam chìm vào một giấc ngủ sâu, Thiên Chúa lấy một chiếc xương sườn của ông và dựng nên người nữ. Từ cạnh sườn Ađam, Evà xuất hiện và trở thành người bạn đời của ông. Trên đồi Canvê, một Ađam mới cũng đang chìm vào “giấc ngủ” của cái chết. Cạnh sườn Người được mở ra, và từ đó Hiền Thê mới là Hội Thánh được sinh ra. Không phải ngẫu nhiên truyền thống Kitô giáo đã đọc hai hình ảnh này song song với nhau. Ađam thứ nhất trao cạnh sườn để Evà được dựng nên; Đức Kitô, Ađam mới, trao chính cạnh sườn bị thương để Hội Thánh được khai sinh. Nhưng khoảng cách giữa hai hình ảnh ấy thật lớn lao: cạnh sườn Ađam được mở khi ông ngủ, cạnh sườn Đức Kitô được mở sau khi Người đã yêu nhân loại “đến cùng”. Hội Thánh vì thế không phải một thực tại đứng bên ngoài Đức Kitô. Hội Thánh thuộc về Đức Kitô như Hiền Thê thuộc về Tân Lang, như thân thể thuộc về đầu, như cành nho gắn với cây nho. Không thể hiểu Hội Thánh nếu tách Hội Thánh khỏi Đức Kitô chịu đóng đinh. Và cũng không thể yêu Đức Kitô thật sự mà lại khinh thường Thân Thể Người. Người ta đôi khi nói: tôi yêu Chúa Giêsu nhưng tôi không cần Hội Thánh. Nghe thì có vẻ đơn giản, nhưng xét đến tận cùng lại là một nghịch lý. Làm sao yêu Tân Lang mà ghét Hiền Thê của Người? Làm sao yêu Đầu mà khước từ Thân Thể? Làm sao yêu Đấng chịu đâm thâu mà không yêu đoàn dân đã được sinh ra từ cạnh sườn của Người? Đúng, Hội Thánh gồm những con người yếu đuối. Hội Thánh mang trên khuôn mặt mình những vết nhăn của lịch sử. Hội Thánh có những người thánh thiện phi thường nhưng cũng có những thành viên bất xứng. Có lúc chính những người trong Hội Thánh làm cho khuôn mặt Hội Thánh bị thương. Có những gương xấu khiến người ta đau đớn, những lạm dụng quyền lực khiến người ta thất vọng, những sự khô cứng khiến người bé nhỏ bị tổn thương. Không điều nào cần phải che giấu hay biện minh. Nhưng tất cả những giới hạn đó không xóa được nguồn gốc sâu xa của Hội Thánh: Hội Thánh vẫn là đoàn dân được sinh ra từ trái tim bị đâm thâu của Đức Kitô. Chính vì vậy, Hội Thánh luôn phải trở về cạnh sườn ấy để được thanh tẩy, để biết mình là ai, để nhớ rằng mình không sống nhờ sự hoàn hảo của con người mà nhờ lòng thương xót của Đấng đã chết và sống lại.
Có lẽ điều làm chúng ta xúc động nhất khi đứng trước cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa Giêsu là nhận ra rằng Hội Thánh được sinh ra trong giờ phút Chúa dường như thất bại hoàn toàn. Nếu chúng ta là những nhà hoạch định chiến lược, chúng ta sẽ chọn một thời khắc khác để khai sinh một cộng đoàn lớn lao. Có lẽ là sau một phép lạ ngoạn mục, sau khi năm ngàn người được ăn no, hay sau khi Ladarô bước ra khỏi mồ, hoặc giữa tiếng hoan hô của dân chúng trong ngày Chúa vào Giêrusalem. Nhưng Thiên Chúa lại chọn Canvê. Thiên Chúa chọn lúc Con của Người bị treo giữa trời và đất, thân thể tan nát, môi khô khát, đầu đội mão gai, hai tay không còn làm được gì, chân không còn bước đi đâu được. Chính lúc Người không còn gì theo tiêu chuẩn thế gian thì Người ban tất cả. Chính khi thế gian tưởng rằng Người đã bị tước đoạt hết, Người lại trở nên nguồn mạch ban sự sống. Hội Thánh được sinh ra không phải lúc Đức Kitô xuống khỏi thập giá để chứng minh quyền năng, nhưng khi Người ở lại trên thập giá để chứng minh tình yêu. Đây là điều Hội Thánh của mọi thời phải ghi sâu trong lòng. Sức mạnh thật sự của Hội Thánh không nằm ở số đông, của cải, ảnh hưởng xã hội, phương tiện truyền thông hay sự kính nể của người đời. Tất cả những điều ấy có thể hữu ích, nhưng không bao giờ là nguồn sống của Hội Thánh. Nguồn sống nằm nơi Đức Kitô chịu đóng đinh. Khi Hội Thánh nghèo nhưng ở gần Đức Kitô, Hội Thánh mạnh. Khi Hội Thánh nhỏ bé nhưng trung thành với Tin Mừng, Hội Thánh mạnh. Khi Hội Thánh bị khước từ nhưng vẫn yêu thương, Hội Thánh mạnh. Khi Hội Thánh chịu thương tích vì phục vụ người nghèo, bênh vực người bị bỏ rơi, cúi xuống với người tội lỗi, đồng hành với những người đau khổ, Hội Thánh đang mang lấy dung mạo của Đấng từ cạnh sườn bị đâm thâu đã sinh ra mình. Trái lại, khi Hội Thánh tìm bảo vệ mình hơn bảo vệ người bé nhỏ, thích được kính trọng hơn thích phục vụ, quan tâm đến hình ảnh của mình hơn vết thương của con người, lúc ấy dù bên ngoài có vẻ vững mạnh, Hội Thánh lại đang xa dần nguồn mạch của mình.
Cạnh sườn bị đâm thâu cũng nói một điều thật sâu về trái tim của Thiên Chúa: trái tim ấy đã mở và không bao giờ đóng lại nữa. Đời người có biết bao cánh cửa đóng. Người ta đóng cửa vì thất vọng, vì bị phản bội, vì sợ bị tổn thương thêm. Có những người từng yêu rất nhiều rồi bị lừa dối nên không dám yêu nữa. Có những người từng tin tưởng rồi bị lợi dụng nên từ đó dựng lên quanh mình một bức tường. Có những gia đình ở chung một mái nhà nhưng những cánh cửa tâm hồn đã đóng kín từ lâu. Có những vợ chồng nằm cạnh nhau nhưng khoảng cách trong lòng xa hơn nghìn dặm. Có những cha mẹ không còn hiểu con, những người con không còn muốn nói chuyện với cha mẹ. Có người bước vào nhà thờ nhưng lòng đã đóng lại với Chúa vì một biến cố đau thương. Có người cầu nguyện mãi mà không được điều mình xin nên trách Chúa, xa Chúa, rồi âm thầm kết luận rằng Chúa đã bỏ mình. Chúng ta đóng cửa vì bị thương. Nhưng Chúa Giêsu lại làm điều ngược lại: chính khi bị thương, Người mở cửa. Vết thương nơi cạnh sườn không khép lại thành một bức tường nhưng trở thành một lối đi. Điều con người dùng để xúc phạm Người, Người biến thành con đường để con người bước vào lòng Người. Đây có lẽ là một trong những mặc khải đẹp nhất của Kitô giáo: Thiên Chúa không chỉ nói rằng Người yêu chúng ta; Người để cho trái tim mình được mở ra để chúng ta thấy tình yêu ấy. “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.” Nhìn lên không phải chỉ để khóc thương, nhưng để nhận ra mình được yêu. Nhìn lên để biết rằng không có tội lỗi nào của ta lớn hơn vết thương lòng thương xót ấy. Nhìn lên để biết rằng dù ta đã đi xa đến đâu vẫn còn một cửa mở cho ta trở về. Nhìn lên để hiểu rằng Thiên Chúa không chờ con người trở nên xứng đáng rồi mới yêu; Người yêu khi con người còn là tội nhân, yêu đến mức để mình bị chính tội lỗi của họ đâm thâu.
Từ cạnh sườn ấy chảy ra máu và nước, và đời sống Kitô hữu cũng bắt đầu trong dòng chảy ấy. Chúng ta được sinh lại trong nước Phép Rửa. Chúng ta được nuôi bằng Máu Đức Kitô trong Thánh Thể. Nói cách khác, mỗi người Kitô hữu đều mang trong căn tính của mình dấu vết cạnh sườn Chúa. Tôi là Kitô hữu không phải chỉ vì tên tôi nằm trong một cuốn sổ Rửa Tội. Tôi là Kitô hữu vì đời tôi đã được kéo vào trong sự sống chảy ra từ Đức Kitô chịu đóng đinh. Tôi thuộc về một dân được sinh ra từ hy tế. Vì vậy, Kitô hữu không thể sống một đời khép kín cho mình. Nếu nguồn gốc của tôi là một trái tim bị mở ra, đời tôi cũng phải học mở ra. Nếu tôi được cứu bởi một tình yêu trao ban, tôi không thể sống chỉ để thu góp. Nếu tôi được tha thứ từ một Đấng đã cầu nguyện cho kẻ đóng đinh mình, tôi không thể giữ mãi hận thù như một kho báu. Nếu tôi được nuôi bằng tấm bánh bị bẻ ra, đời tôi cũng phải biết để mình được bẻ ra cho người khác. Đây là điều rất cụ thể. Người mẹ thức suốt đêm bên đứa con bệnh đang sống mầu nhiệm cạnh sườn bị mở. Người cha âm thầm hy sinh những niềm vui riêng để con cái được học hành đang sống mầu nhiệm cạnh sườn bị mở. Một linh mục kiên nhẫn ngồi hàng giờ trong tòa giải tội để lắng nghe những cuộc đời tan vỡ đang sống mầu nhiệm cạnh sườn bị mở. Một nữ tu chăm sóc người già bị bỏ rơi mà không ai biết đến đang sống mầu nhiệm cạnh sườn bị mở. Người vợ vẫn kiên nhẫn tìm cách hàn gắn gia đình sau những tổn thương đang sống mầu nhiệm cạnh sườn bị mở. Một người con biết trở về xin lỗi cha mẹ đang để lòng mình được mở ra. Một người bị xúc phạm nhưng từ chối trả đũa đang để dòng nước thương xót đi qua vết thương của mình. Hội Thánh đẹp nhất không nhất thiết trong những đại lễ huy hoàng, nhưng có khi nơi những hành động rất nhỏ như thế, bởi ở đâu một trái tim chấp nhận được mở ra vì yêu, ở đó mầu nhiệm Thập Giá đang tiếp tục sinh hoa trái.
Chúng ta cũng đừng quên rằng ngay dưới chân thập giá, trước khi cạnh sườn Chúa được đâm thâu, Đức Maria và người môn đệ Chúa yêu đứng đó. Chúa nhìn Mẹ và nói: “Thưa Bà, đây là con của Bà”; rồi Người nói với người môn đệ: “Đây là Mẹ của anh.” Trong chính giờ phút hiến tế, một gia đình mới được hình thành. Đức Maria trở thành Mẹ của người môn đệ; người môn đệ đón Mẹ về nhà mình. Điều này cho thấy Hội Thánh sinh ra dưới chân thập giá không phải là một đám đông vô danh, mà là một gia đình. Trong gia đình ấy có một người Mẹ và có những người con. Hội Thánh không phải nơi những người hoàn hảo tụ họp để nhìn xuống những người tội lỗi. Hội Thánh là mái nhà của những người đã được cứu bởi cùng một dòng máu. Người thánh thiện không có lý do để kiêu căng vì nếu họ thánh thiện là nhờ ân sủng. Người tội lỗi không có lý do để tuyệt vọng vì cánh cửa cạnh sườn vẫn mở. Người mạnh phải nâng người yếu. Người có nhiều phải chia sẻ với người thiếu. Người đã đi trước phải chờ người đi sau. Người đứng vững hôm nay phải nhớ rằng chính mình cũng có ngày cần một bàn tay nâng dậy. Hội Thánh chỉ thật sự mang khuôn mặt của Đấng chịu đóng đinh khi trong Hội Thánh không ai bị coi là người thừa. Một trẻ nhỏ, một người già, người bệnh tật, người nghèo, người khuyết tật, một người vừa ra khỏi tù, một người mang quá khứ rối ren, một người đang chiến đấu với tội lỗi, một người mất phương hướng, tất cả đều phải có chỗ trong trái tim Hội Thánh, bởi tất cả đều có chỗ trong cạnh sườn bị mở của Đức Kitô.
Thế nhưng chúng ta phải thành thật nhìn nhận rằng đôi khi chính chúng ta là những người trong Hội Thánh lại dễ đóng cửa hơn Chúa. Chúa mở cạnh sườn, còn ta dựng hàng rào. Chúa đón người tội lỗi, ta vội dán nhãn. Chúa cúi xuống người yếu đuối, ta dễ khó chịu vì họ làm phiền. Chúa ngồi ăn với người thu thuế, ta sợ mang tiếng khi đến gần những người bị xã hội chê bai. Chúa kiên nhẫn với Phêrô sau ba lần chối Thầy, ta đôi khi không cho người khác một cơ hội thứ hai. Chúa không ngừng hy vọng vào con người, còn ta lại dễ kết luận: “Người ấy hết thuốc chữa rồi.” Khi đó chúng ta phải trở lại với cạnh sườn bị đâm thâu. Hãy nhìn dòng máu đang chảy và tự hỏi: Chúa đã trả giá bao nhiêu cho người mà tôi đang khinh thường? Hãy nhìn giọt nước đang tuôn ra và tự hỏi: nếu Chúa muốn rửa sạch người ấy, tôi có quyền nào giữ lại hồ sơ quá khứ của họ để kết án mãi mãi? Hãy nhìn trái tim rộng mở ấy và tự hỏi: nếu Chúa còn mở cửa, tại sao tôi lại đóng? Có những cuộc canh tân Hội Thánh không bắt đầu bằng chương trình lớn lao nào cả mà bắt đầu khi một Kitô hữu chịu thay đổi cách nhìn một người anh em. Khi một cộng đoàn thôi nói xấu nhau. Khi một linh mục thôi xem giáo dân chỉ như người phải phục tùng mà nhận ra họ là những chi thể cùng một Thân Thể. Khi giáo dân thôi đòi linh mục phải hoàn hảo như thiên thần mà biết cầu nguyện và cộng tác. Khi người bảo thủ và người muốn đổi mới học cách nghe nhau trong tình yêu Hội Thánh. Khi người có trách nhiệm biết nói “tôi đã sai” và người bị tổn thương biết mở một cánh cửa cho hòa giải. Những lúc ấy, máu và nước từ cạnh sườn Chúa lại đang chảy qua Hội Thánh.
Có một chi tiết đáng suy nghĩ: cạnh sườn Chúa bị đâm sau khi Người đã thốt lên: “Thế là đã hoàn tất.” Điều gì đã hoàn tất? Không chỉ là một đời người đã đi đến cuối. Không chỉ là một bản án đã thi hành xong. “Đã hoàn tất” là chương trình tình yêu của Chúa Cha đã được Con thực hiện đến cùng. Đức Giêsu không chết như một nạn nhân bất lực của hoàn cảnh. Người tự hiến. Người đã nói trước: “Không ai lấy mạng sống của tôi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình.” Do đó, cạnh sườn bị mở không phải dấu hiệu của một tình yêu thất bại mà là dấu ấn của một tình yêu đã đi đến tận cùng. Chúng ta thường yêu đến một giới hạn nào đó. Yêu khi còn được đáp lại. Yêu khi người kia còn dễ thương. Yêu khi sự hy sinh chưa quá lớn. Yêu khi danh dự của mình chưa bị đụng đến. Nhưng Đức Giêsu yêu “đến cùng”: đến phản bội, đến cô đơn, đến roi đòn, đến mão gai, đến đinh sắt, đến mũi giáo. Người đi đến nơi xa nhất mà tội lỗi có thể đẩy con người đến, để ngay tại đó dựng lên một cánh cửa trở về. Vì vậy, không ai có thể nói: “Chỗ của tôi quá tối, Chúa không đến được.” Không. Chúa đã xuống sâu hơn bóng tối của bạn. Không ai có thể nói: “Tội của tôi quá lớn, Chúa không tha được.” Không. Vết thương của Người lớn hơn tội của bạn. Không ai có thể nói: “Tôi đã bị bỏ rơi hoàn toàn.” Không. Có một Đấng từng kêu lên giữa bóng tối: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” để không một ai bị bỏ rơi phải cô đơn một mình nữa.
Và bởi Hội Thánh sinh ra từ cạnh sườn ấy, sứ mạng của Hội Thánh là dẫn con người đến với trái tim bị mở của Chúa, chứ không phải dẫn họ đến với chính mình. Hội Thánh không tồn tại để người ta trầm trồ về Hội Thánh, nhưng để qua Hội Thánh người ta gặp Đức Kitô. Một ngôi thánh đường đẹp cuối cùng cũng phải dẫn người ta đến cầu nguyện. Một bài giảng hay cuối cùng cũng phải làm người ta gặp Chúa. Một hoạt động bác ái cuối cùng không phải để xây dựng thương hiệu Công giáo nhưng để người nghèo nhận ra họ được yêu. Một linh mục không được gọi để người ta lệ thuộc vào mình nhưng để trao họ cho Đức Kitô. Một nhà truyền giáo không đi để chinh phục người khác cho tổ chức của mình nhưng để làm chứng rằng có một trái tim đã bị đâm thâu vì họ. Nếu người ta gặp chúng ta mà chỉ thấy quyền lực, sự hơn thua, ganh đua, phe nhóm, khắt khe và xét đoán, chúng ta đã che khuất nguồn gốc của mình. Nhưng nếu một người đang đau khổ bước vào cộng đoàn và được lắng nghe; một người tội lỗi bước vào nhà thờ và không bị nhìn bằng ánh mắt khinh miệt; một người nghèo được đón tiếp như anh chị em; một người thất bại được trao lại hy vọng; một người cô đơn tìm được một bàn tay, khi ấy Hội Thánh đang cho thế giới nếm được vài giọt nước từ cạnh sườn Chúa.
Thánh Thể là nơi mầu nhiệm này trở nên gần chúng ta một cách đặc biệt. Mỗi lần linh mục nâng chén Máu Thánh lên và nói: “Đây là chén Máu Thầy, Máu Giao Ước mới và vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội”, Canvê không còn chỉ là một biến cố xa xưa. Dòng máu từ cạnh sườn Đức Kitô trở nên nguồn sống cho Hội Thánh hôm nay. Ta tiến lên rước lễ không phải như người nhận một phần thưởng vì mình đạo đức, nhưng như kẻ nghèo đến nhận sự sống. Bàn tiệc Thánh Thể là bàn tiệc của những người mắc nợ lòng thương xót. Không ai đứng trước đó mà có thể tự hào về mình. Tất cả đều sống nhờ cùng một Tấm Bánh, uống cùng một Chén, thuộc về cùng một Thân Thể. Thế nên thánh Phaolô mới đau đớn khi thấy cộng đoàn chia rẽ trong khi cùng cử hành bữa ăn của Chúa. Không thể rước lấy Thân Mình bị bẻ ra mà lại làm tan vỡ thân thể cộng đoàn. Không thể uống Máu của Đấng tha thứ mà nuôi hận thù. Không thể quỳ trước Thánh Thể rồi đứng dậy khinh miệt một con người mà Đức Kitô đã đổ máu cho họ. Có lẽ một trong những việc chuẩn bị đẹp nhất trước mỗi Thánh lễ là tự hỏi: có ai tôi đang từ chối yêu không? Có ai tôi đang giữ trong nhà tù của thành kiến không? Có vết thương nào tôi đang dùng làm lý do để không tha thứ không? Bởi Tấm Bánh trên bàn thờ sẽ đưa ta trở lại với cạnh sườn bị mở. Chúa trao mình cho ta để ta cũng trở nên một đời sống biết trao.
Hội Thánh sinh ra từ cạnh sườn bị đâm thâu cũng có nghĩa rằng vết thương không nhất thiết là dấu chấm hết. Đây là một lời an ủi rất lớn cho những ai đang sống với những vết thương trong cuộc đời. Có những vết thương do bệnh tật, có những vết thương do mất người thân, có những vết thương do phản bội, có những vết thương trong hôn nhân, trong gia đình, trong đời tu, trong ơn gọi linh mục. Có người sống nhiều năm với một ký ức mà chỉ cần chạm vào là đau. Chúng ta đừng vội nói rằng đau khổ tự nó là tốt; Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Nhưng Kitô giáo tin rằng tình yêu của Thiên Chúa có thể bước vào vết thương và làm nảy sinh sự sống ở nơi tưởng như chỉ có cái chết. Cạnh sườn Chúa là bằng chứng. Mũi giáo là sự dữ, nhưng dòng máu và nước là câu trả lời của Thiên Chúa. Điều làm ta tổn thương có thể không bao giờ trở thành điều tốt, nhưng nhờ ân sủng, chính nơi bị tổn thương có thể trở thành nơi ta hiểu người khác hơn, dịu dàng hơn, nhân hậu hơn. Một người từng trải qua cô đơn có thể trở thành người biết nhận ra người cô đơn. Một người từng được tha thứ sâu xa có thể trở thành sứ giả lòng thương xót. Một người từng khóc rất nhiều có thể học cách ngồi im bên nước mắt người khác mà không nói những lời rỗng tuếch. Một người đã được Chúa nâng khỏi vực sâu có thể biết chìa tay xuống cho người đang ở dưới. Đó không phải lãng mạn hóa đau khổ. Đó là quyền năng Phục Sinh hoạt động trong các vết thương.
Có lẽ vì vậy Đức Kitô phục sinh đã không xóa những dấu đinh trên thân thể Người. Khi hiện ra với các môn đệ, Người vẫn cho họ xem tay và cạnh sườn. Tôma được mời đặt tay vào cạnh sườn ấy. Đức Kitô sống lại nhưng vẫn mang những vết thương. Vết thương không còn chảy máu, nhưng trở thành dấu chỉ của tình yêu chiến thắng. Điều này thật đẹp cho Hội Thánh. Hội Thánh không cần giả vờ như mình chưa bao giờ bị thương. Hội Thánh cũng không cần che giấu những trang lịch sử đau buồn. Điều Hội Thánh phải làm là để Đức Kitô phục sinh biến những vết thương ấy thành nơi của sự thật, sám hối, chữa lành và ân sủng. Một Hội Thánh khiêm tốn thú nhận lỗi lầm đáng tin hơn một Hội Thánh luôn cố bảo vệ hình ảnh hoàn hảo. Một Kitô hữu dám nói “tôi cần được Chúa cứu” gần Tin Mừng hơn người luôn tỏ ra đạo đức không tì vết. Bởi chúng ta không thuộc về Đức Kitô vì chúng ta không có vết thương; chúng ta thuộc về Người vì những vết thương của chúng ta được đặt trong vết thương của Người.
Khi suy niệm đến đây, có lẽ mỗi người nên thinh lặng một chút trước Thánh Giá. Đừng vội xin gì. Đừng vội nói gì. Chỉ nhìn. “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.” Hãy nhìn bàn chân từng đi tìm con chiên lạc nay bị đóng đinh. Hãy nhìn đôi tay từng chạm vào người phong hủi, nâng kẻ què, chúc lành trẻ nhỏ, bẻ bánh cho người đói, nay bị đóng vào gỗ. Hãy nhìn khuôn mặt từng cúi xuống người phụ nữ ngoại tình nay đầy máu và nước miếng. Và hãy nhìn cạnh sườn mở ra. Đó là nơi Hội Thánh được sinh ra. Đó cũng là nơi mỗi chúng ta được sinh lại mỗi ngày. Khi ta mệt mỏi với Hội Thánh, hãy trở về đó. Khi ta thất vọng về con người trong Hội Thánh, hãy trở về đó. Khi ta thấy chính mình bất xứng, hãy trở về đó. Khi tội lỗi khiến ta muốn chạy xa Chúa, hãy trở về đó. Khi chúng ta không biết còn có thể yêu thêm không, hãy trở về đó. Cạnh sườn vẫn mở.
Hội Thánh của Đức Kitô sẽ còn đi qua nhiều thử thách. Có thể Hội Thánh mất những đặc quyền từng có. Có thể những ngôi nhà thờ ở nơi này nơi khác trở nên vắng hơn. Có thể người Kitô hữu sống trong một xã hội ngày càng xa lạ với ngôn ngữ đức tin. Có thể Hội Thánh bị phê phán, hiểu lầm, chống đối. Nhưng đó chưa phải điều đáng sợ nhất. Điều đáng sợ nhất là Hội Thánh không còn giống Đấng đã sinh ra mình. Nếu Hội Thánh còn mang trái tim bị mở của Chúa, Hội Thánh vẫn còn tương lai, bởi tương lai của Hội Thánh không dựa trên khả năng tự bảo tồn mà trên sự trung tín của Thiên Chúa. Hạt lúa mì phải rơi xuống đất và chết đi mới sinh nhiều bông hạt. Có những lúc Thiên Chúa cho Hội Thánh mất đi một vài bảo đảm trần thế để tìm lại sức mạnh của Tin Mừng. Có những lúc Người để chúng ta nghèo đi để nhớ rằng kho tàng thật là Đức Kitô. Có những lúc Người để ta cảm thấy yếu đuối để sức mạnh của Thập Giá được biểu lộ rõ hơn. Hội Thánh đầu tiên không có ngân hàng, không có tòa nhà lớn, không có phương tiện truyền thông, không có thế lực, nhưng có những con người đã gặp Đấng Phục Sinh và sẵn sàng chết cho Người. Từ một nhóm nhỏ run sợ trong căn phòng đóng kín, Tin Mừng đã đi đến tận cùng trái đất. Sức mạnh ấy vẫn còn đó, bởi cạnh sườn Chúa vẫn mở, Thánh Thần vẫn hoạt động, Máu Giao Ước vẫn được trao ban.
Và cuối cùng, câu hỏi dành cho mỗi chúng ta không chỉ là: Hội Thánh sinh ra từ đâu? Nhưng còn là: qua đời tôi, người khác có nhìn thấy nguồn gốc ấy không? Người ta có cảm nhận được một chút lòng thương xót của cạnh sườn Chúa khi gặp tôi không? Hay chỉ gặp sự lạnh lùng? Người ta có tìm được chỗ nghỉ trong trái tim tôi không? Hay chỉ thấy cánh cửa đóng? Tôi có biết để mình bị “đâm thâu” một chút vì tình yêu không: chịu mất thời gian để nghe người khác, chịu nhường một lời để giữ bình an, chịu bước xuống khỏi cái tôi để xin lỗi, chịu hy sinh một quyền lợi để người khác được sống, chịu bỏ một thành kiến để đón một người trở về? Chúng ta thường muốn phục vụ Chúa mà không muốn bị thương, muốn yêu mà không chịu mất mát, muốn theo Đức Kitô nhưng không muốn đi ngang qua Canvê. Nhưng Kitô giáo bắt đầu chính từ một trái tim bị mở. Không có tình yêu thật nào hoàn toàn miễn phí theo nghĩa không phải trả giá. Tình yêu luôn khiến ta dễ bị tổn thương vì khi yêu ta mở cửa cho người khác bước vào. Đức Kitô đã mở đến tận cùng. Và chính vì Người mở đến tận cùng nên một Hội Thánh đã được sinh ra.
Xin Chúa cho Hội Thánh hôm nay đừng bao giờ quên mình đã được sinh ra từ đâu. Không phải từ cung điện, nhưng từ Canvê. Không phải từ ngai vàng, nhưng từ thập giá. Không phải từ cạnh sườn của một người chiến thắng theo kiểu trần gian, nhưng từ cạnh sườn của Con Thiên Chúa đã tự hủy mình vì yêu. Xin cho những người có trách nhiệm trong Hội Thánh luôn mang trái tim của Đấng bị đâm thâu: biết đau nỗi đau của đoàn chiên, biết mở cửa cho người lạc bước, biết khóc với người đang khóc, biết cúi xuống hơn là đứng trên, biết phục vụ hơn là được phục vụ. Xin cho mỗi gia đình Kitô hữu trở thành một phần nhỏ của cạnh sườn mở ấy, nơi người mỏi mệt tìm được bình an, người có lỗi tìm được cơ hội làm lại, người yếu đuối không bị loại bỏ. Xin cho các cộng đoàn tu trì, các giáo xứ, các đoàn thể đừng trở thành những vòng tròn khép kín nhưng là những cánh cửa mở ra cho thế giới đang đau. Xin cho mỗi linh mục mỗi lần cử hành Thánh Thể và nâng Chén Máu Chúa lên cũng nhớ rằng đời linh mục của mình chỉ có ý nghĩa khi được đổ ra, khi trái tim mục tử biết để mình bị chạm đến bởi vết thương của con người, khi bàn tay linh mục không chỉ nâng Mình Thánh nhưng còn biết nâng những phận đời đang ngã xuống.
Và xin cho từng người chúng ta, khi một ngày cuộc đời đi đến cuối, có thể nhận ra rằng điều đáng giá nhất không phải mình đã giữ được bao nhiêu cho bản thân, nhưng mình đã trao được bao nhiêu vì yêu. Chúa Giêsu trên thập giá không giữ lại gì. Người trao áo, trao Mẹ, trao Thần Khí, trao Máu, trao Nước, trao cả trái tim. Chính khi không còn gì để giữ, Người trở thành nguồn mạch của tất cả. Hội Thánh đã sinh ra như thế. Kitô hữu cũng chỉ thật sự sinh hoa trái theo cách ấy. Cái còn lại sau cùng không phải những gì ta nắm thật chặt, nhưng những gì ta dám trao đi. Và ở cuối mọi con đường của đức tin, vẫn là hình ảnh ấy: một Thập Giá đứng giữa trời, một Đấng đã chết vì yêu, một cạnh sườn mở rộng, máu và nước tuôn chảy, một người Mẹ đứng bên, một người môn đệ nhìn lên, và một Hội Thánh đang âm thầm được sinh ra giữa chính nơi thế gian tưởng rằng mọi sự đã kết thúc.
Thật ra, dưới chân Thập Giá, mọi sự không kết thúc.
Tất cả chỉ mới bắt đầu.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VÀ KHÁT VỌNG SÂU THẲM CỦA CON NGƯỜI MUỐN ĐƯỢC YÊU VÔ ĐIỀU KIỆN
Có lẽ trong tất cả những khát vọng nằm sâu kín nhất nơi lòng người, không có khát vọng nào dai dẳng, âm thầm và mãnh liệt cho bằng khát vọng được yêu. Con người có thể nói rằng mình cần tiền, cần sức khỏe, cần một mái nhà, cần công việc, cần thành công, cần địa vị, cần được người khác nhìn nhận; nhưng nếu đi sâu xuống tận đáy của tất cả những nhu cầu ấy, nhiều khi người ta sẽ gặp một tiếng gọi rất đơn sơ: tôi muốn có một người yêu tôi vì chính tôi. Không phải yêu tôi vì tôi đẹp. Không phải vì tôi thành công. Không phải vì tôi hữu ích. Không phải vì tôi ngoan ngoãn. Không phải vì tôi đáp ứng được kỳ vọng của họ. Không phải vì tôi có gì để cho. Chỉ đơn giản là yêu tôi, ngay cả khi tôi chẳng còn gì đáng để khoe, ngay cả khi tôi thất bại, yếu đuối, già nua, bệnh tật, vụng về, tội lỗi và chẳng còn đem lại lợi ích gì cho ai. Đó là khát vọng rất người, rất thật, nhưng cũng chính là khát vọng khiến con người đau nhất, bởi chúng ta thường phải sống trong một thế giới mà tình yêu dễ dàng đi kèm với những điều kiện. Người ta yêu nhau khi còn hợp nhau. Người ta ở với nhau khi người kia còn làm mình vui. Người ta kính trọng nhau khi người kia còn có vị thế. Người ta tìm đến nhau khi còn cần nhau. Người ta gọi điện cho nhau khi còn có chuyện để nhờ. Người ta vây quanh một người lúc người ấy đang thành công, nhưng đôi khi chỉ cần thất bại một lần, nghèo đi một chút, bệnh lâu một chút, già hơn một chút, người ấy mới cay đắng nhận ra rằng có những mối tương quan vốn tưởng là tình nghĩa nhưng thật ra chỉ là trao đổi. Có những lời nói tưởng như yêu thương nhưng phía sau vẫn có một điều kiện không thành lời: “Anh phải như thế này thì tôi mới yêu anh”, “Con phải thế kia thì cha mẹ mới hài lòng”, “Em phải làm cho tôi hạnh phúc thì tôi mới ở lại”, “Anh phải thành đạt thì người ta mới nể”, “Cha phải thế này thì giáo dân mới quý”, “Con phải đạo đức như thế kia thì Thiên Chúa mới thương con”. Và vì thế, giữa một thế giới đông đúc chưa từng có, con người lại có thể cô đơn chưa từng có. Có điện thoại trong tay nhưng không biết gọi cho ai. Có hàng ngàn bạn trên mạng nhưng lúc đau khổ không tìm được một người để khóc bên cạnh. Có nhà rộng nhưng lòng chật. Có bàn ăn đầy đủ nhưng mỗi người một màn hình. Có tiền để mua rất nhiều thứ nhưng không mua nổi một tấm lòng ở lại với mình khi mình chẳng còn gì hấp dẫn. Từ sâu thẳm ấy, Thánh Giá Đức Kitô xuất hiện không như một biểu tượng buồn bã của một tôn giáo thích đau khổ, nhưng như câu trả lời dữ dội nhất, sâu thẳm nhất và cũng dịu dàng nhất của Thiên Chúa cho câu hỏi muôn đời của trái tim con người: “Có ai yêu tôi mà không đặt điều kiện không?” Có. Và Người ấy đang ở trên Thánh Giá.
Thánh Giá trước hết nói với con người rằng chúng ta không phải là những hữu thể bị quên lãng giữa vũ trụ mênh mông này. Có thể cha mẹ đã không hiểu ta. Có thể người ta từng bỏ ta. Có thể một người từng hứa yêu ta suốt đời rồi cuối cùng quay lưng. Có thể những người ta từng tận tình giúp đỡ lại quên ta khi ta sa cơ. Có thể một ngày nào đó ta phát hiện ra rằng tên mình không còn quan trọng trong những nơi mà trước kia người ta từng chào đón. Nhưng có một sự thật không thay đổi: Thiên Chúa đã yêu ta đến độ trao chính Con Một của Người. Tin Mừng Gioan đã diễn tả điều ấy bằng một câu mà người Kitô hữu nghe nhiều đến mức đôi khi không còn thấy kinh ngạc nữa: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Câu ấy không nói Thiên Chúa yêu thế gian vì thế gian tốt lành. Không nói Thiên Chúa yêu nhân loại vì nhân loại xứng đáng. Cũng không nói Thiên Chúa chỉ yêu những người ngoan đạo, những người không phạm lỗi, những người có cuộc đời sạch sẽ. Thiên Chúa yêu “thế gian” – chính cái thế gian đầy lẫn lộn giữa ánh sáng và bóng tối, thánh thiện và tội lỗi, quảng đại và ích kỷ, trung thành và phản bội. Thiên Chúa yêu con người không phải sau khi con người đã tự sửa mình cho hoàn hảo, nhưng yêu ngay trong tình trạng con người cần được cứu. Đó là điều làm nên sự khác biệt tận căn giữa tình yêu cứu độ và những thứ tình yêu thường tình của chúng ta. Chúng ta thường nói: “Anh thay đổi đi rồi tôi sẽ yêu lại.” Thiên Chúa lại nói bằng Thánh Giá: “Vì con không tự cứu được mình nên Ta đến với con.” Chúng ta thường nói: “Khi nào con xứng đáng thì hãy trở về.” Thiên Chúa nói: “Hãy trở về để Ta làm cho con nên mới.” Chúng ta chờ người khác tốt rồi mới yêu; Thiên Chúa yêu để người ta có khả năng trở nên tốt. Chúng ta thường yêu cái đáng yêu; Thiên Chúa có khả năng làm cho cái tưởng như không còn đáng yêu được hồi sinh bằng chính tình yêu của Người.
Nhìn lên Thánh Giá, ta thấy một Thiên Chúa không yêu bằng lời nói suông. Đời có quá nhiều lời “yêu” dễ dàng được thốt ra. Người ta có thể nói “tôi yêu bạn” khi mọi chuyện thuận lợi, nhưng tình yêu thật chỉ lộ diện khi cái giá phải trả xuất hiện. Khi yêu đồng nghĩa với phải hy sinh thời giờ, người ta mới biết mình có yêu thật hay không. Khi phải nhẫn nại với tính khí của người kia, mới biết tình yêu sâu đến đâu. Khi phải chăm một người bệnh dài ngày, khi phải ở cạnh một người sa sút, khi phải tha thứ cho một người đã làm mình đau, khi phải tiếp tục trung tín dù cảm xúc không còn nồng nhiệt như thuở ban đầu, lúc ấy tình yêu mới thôi là một chữ đẹp để trở thành một lựa chọn. Thiên Chúa đã không đứng từ trời cao mà nói xuống: “Ta yêu các ngươi.” Người bước vào lịch sử con người. Người làm một trẻ thơ. Người sống ba mươi năm âm thầm. Người biết đói, biết khát, biết mệt, biết bị hiểu lầm, biết bị từ chối. Rồi cuối cùng Người để cho tình yêu của mình bị thử đến tận cùng trên đồi Golgotha. Người yêu khi các môn đệ bỏ chạy. Người yêu khi Phêrô chối Người. Người yêu khi Giuđa phản bội. Người yêu khi đám đông từng tung hô Người nay la lên: “Đóng đinh nó đi!” Người yêu khi quân lính chế giễu. Người yêu khi người ta lột áo Người, đội mão gai, đóng đinh tay chân Người. Người yêu cả khi tình yêu ấy không được đáp trả. Có lẽ đây chính là điều kỳ diệu nhất của Thánh Giá: Đức Giêsu không chết giữa một cộng đoàn những người biết ơn; Người chết giữa một nhân loại đang từ chối Người. Và chính ở đó, Người cho thấy tình yêu Thiên Chúa không tùy thuộc vào thái độ của người được yêu. Nếu tình yêu của Thiên Chúa chỉ tồn tại khi ta tốt, thì đó chưa phải là tình yêu vô điều kiện. Nếu Người chỉ ở lại lúc ta trung thành, thì Người chẳng khác chúng ta bao nhiêu. Nhưng Thánh Giá nói rằng ngay lúc con người xấu nhất, Thiên Chúa vẫn yêu; ngay lúc nhân loại đang đóng đinh Đấng Cứu Độ của mình, Đấng Cứu Độ ấy vẫn không rút lại tình yêu.
Có một đoạn Tin Mừng trên đồi Canvê diễn tả điều này đến rợn người. Khi Đức Giêsu đã bị đóng đinh, giữa tiếng chế nhạo và bạo lực, Người thưa: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Thử dừng lại ở câu ấy một chút. Những cái đinh vẫn đang ở trong tay Người. Những vết thương chưa khép. Máu chưa ngừng chảy. Người ta chưa xin lỗi. Chẳng ai đứng dưới chân thập giá lên tiếng: “Lạy Chúa, chúng con sai rồi.” Chẳng có dấu hiệu hối cải tập thể nào để Đức Giêsu dựa vào đó mà tha thứ. Người tha thứ khi con người vẫn đang làm Người đau. Người cầu nguyện cho những kẻ hành hạ mình trước khi họ biết mình cần được tha thứ. Đó là một tình yêu vượt quá lý luận trao đổi của con người. Chúng ta thường nói: “Nó xin lỗi thì tôi sẽ tha.” Đức Giêsu cầu xin ơn tha thứ cho họ khi lời xin lỗi chưa có. Chúng ta nói: “Nó biết điều thì tôi mới thương.” Đức Giêsu thương những người “không biết việc họ làm”. Chúng ta nói: “Người ấy phải chứng minh rằng mình đã thay đổi.” Đức Giêsu đổ máu trước khi bất cứ ai chứng minh điều gì. Đó chính là Tin Mừng. Không phải Tin Mừng rằng tội lỗi chẳng quan trọng. Thánh Giá cho thấy tội nghiêm trọng đến độ nào. Nhưng Thánh Giá còn cho thấy một điều lớn hơn tội: lòng thương xót. Tội lỗi có thể đóng đinh Tình Yêu, nhưng không thể làm cho Tình Yêu thôi yêu.
Và cũng trong khung cảnh ấy, một tên trộm bị đóng đinh bên cạnh Đức Giêsu quay sang nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” (Lc 23,42). Có lẽ đây là một trong những lời cầu nguyện nghèo nhất trong toàn bộ Kinh Thánh: “Xin nhớ đến tôi.” Không thành tích. Không biện minh. Không kịp sửa chữa quá khứ. Không còn thời gian để đền bù. Không thể xuống khỏi thập giá để làm lại cuộc đời. Một người đã đi gần hết đời mình trong lầm lạc, đến phút cuối chỉ còn xin một điều: xin đừng quên tôi. Và Đức Giêsu trả lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43). Đó chẳng phải là toàn bộ khát vọng của con người hay sao? Sau mọi cố gắng để chứng minh mình quan trọng, sau mọi cuộc chạy đua thành công, sau mọi lần khoác lên mình những chiếc áo đẹp để mong được người khác thừa nhận, cuối cùng trong sâu thẳm mỗi người chỉ muốn nghe: “Tôi không quên bạn. Bạn vẫn có chỗ bên tôi.” Người trộm lành chẳng còn gì để đưa cho Đức Giêsu. Anh không thể làm việc bác ái. Không thể đi hành hương. Không thể xây nhà thờ. Không thể lần chuỗi. Không thể sửa lại cuộc đời. Hai bàn tay của anh đã bị đóng đinh. Thế mà anh nhận được Thiên Đàng. Không phải vì những việc anh đã làm, nhưng vì anh đã phó thác đời mình vào một Tình Yêu còn lớn hơn toàn bộ quá khứ của anh. Thiên Đàng bắt đầu từ khoảnh khắc một người biết rằng mình được Thiên Chúa nhớ đến.
Nỗi khát được yêu vô điều kiện nằm sâu trong mọi độ tuổi của đời người. Một đứa trẻ cần được yêu không chỉ khi nó đạt điểm mười. Nếu đứa trẻ chỉ được khen khi học giỏi, nó sẽ lớn lên với nỗi sợ âm thầm rằng giá trị của mình tùy thuộc vào thành tích. Nó sẽ tưởng rằng phải thành công mới xứng đáng được yêu. Một người trẻ cần biết mình được yêu ngay cả lúc hoang mang về tương lai. Nếu gia đình chỉ tự hào khi con có nghề danh giá, lương cao, nhà đẹp, người trẻ rất dễ sống một cuộc đời không phải của mình chỉ để mua lấy sự công nhận. Một người vợ cần biết chồng yêu mình không chỉ khi còn trẻ đẹp. Một người chồng cần biết mình vẫn được tôn trọng khi công việc thất bại. Một người già cần cảm nhận rằng mình được yêu không phải vì còn giúp được con cháu điều gì, nhưng vì chính sự hiện diện của mình là quý giá. Một người bệnh cần được nhìn như một con người chứ không phải một gánh nặng. Một người hấp hối cần biết rằng khi mình không còn nói được, không còn làm gì được, phẩm giá của mình vẫn nguyên vẹn. Một người tội lỗi cần biết rằng cánh cửa trở về chưa bị khóa. Một linh mục có khi cũng cần được yêu không phải vì bài giảng hay, không phải vì công việc mục vụ thành công, không phải vì được nhiều người biết đến, nhưng chỉ vì ngài cũng là một con người cần một nơi để được nghỉ ngơi, được lắng nghe, được hiểu, được thương. Một tu sĩ cũng không thể sống mãi bằng việc chứng minh mình hữu ích. Một người cha, người mẹ cả đời hy sinh cho con cái đến cuối cùng vẫn cần một câu rất đơn giản: “Ba má cứ ở với chúng con, ba má không phải là gánh nặng.” Đôi khi chỉ một câu ấy có thể cứu một tâm hồn khỏi sự cô đơn.
Nhưng bi kịch là chính vì khát được yêu quá lớn nên con người rất dễ đi tìm tình yêu ở những nơi không thể cho mình tình yêu thật. Có người bán rẻ phẩm giá để đổi lấy chút chú ý. Có người lao vào một mối quan hệ độc hại chỉ vì sợ cô đơn. Có người chấp nhận để người khác xúc phạm, kiểm soát, thao túng rồi tự an ủi: “Ít ra họ còn cần mình.” Có người biến cả đời mình thành một sân khấu, ngày nào cũng phải chứng minh với thiên hạ rằng mình hạnh phúc, thành công, được yêu mến. Có người sống lệ thuộc vào lượt thích, lời khen, sự chú ý của đám đông. Hôm nay được tung hô thì vui, ngày mai bị quên thì sụp đổ. Có người làm việc đến kiệt sức chỉ để được công nhận. Có người tích lũy tiền bạc không hẳn vì tham, nhưng vì trong đáy sâu họ nghĩ rằng nếu có tiền họ sẽ được trọng vọng hơn. Có người luôn làm vừa lòng người khác vì sợ rằng nếu nói “không”, người ta sẽ bỏ mình. Đằng sau nhiều tham vọng, nhiều ganh đua, thậm chí nhiều cơn giận, có thể chỉ là một đứa trẻ bên trong đang hỏi: “Có ai thương tôi không?” Chúng ta đôi khi trách một người sao quá thích khoe khoang, mà không biết có thể họ đã phải sống quá lâu với cảm giác mình không có giá trị. Chúng ta khó chịu vì một người cứ muốn được chú ý, nhưng biết đâu từ nhỏ họ đã chẳng bao giờ được ai thật sự lắng nghe. Có những tội lỗi không thể biện minh, nhưng nếu nhìn sâu hơn, ta sẽ thấy rất nhiều vết thương của con người bắt đầu từ một tình yêu đã thiếu, đã sai, đã bị điều kiện hóa hoặc đã bị phản bội.
Thánh Giá đi thẳng vào vết thương ấy và nói: giá trị của con không được quyết định bởi việc người khác có công nhận con hay không. Giá trị của con được quyết định bởi cái giá Thiên Chúa đã sẵn lòng trả để cứu con. Và cái giá ấy là máu của Con Người. Thánh Phêrô sau này viết rằng chúng ta đã được cứu chuộc “không phải bằng những thứ chóng hư nát như bạc hay vàng, nhưng bằng máu châu báu của Đức Kitô” (x. 1 Pr 1,18-19). Một món đồ quý vì người ta sẵn sàng trả giá cao cho nó. Còn con người? Thánh Giá là lời Thiên Chúa nói về giá trị của từng người: “Đối với Ta, con đáng giá bằng chính mạng sống của Con Ta.” Nếu thật sự tin điều ấy, nhiều xiềng xích trong lòng chúng ta sẽ rơi xuống. Ta không còn phải van xin sự công nhận của mọi người. Ta không cần thắng mọi cuộc tranh luận để chứng minh mình có giá trị. Ta không cần hơn người khác để cảm thấy mình đáng sống. Ta không cần làm cho tất cả mọi người thích mình. Đức Giêsu cũng đâu được tất cả mọi người yêu mến. Ngay cả Đấng hoàn hảo tuyệt đối vẫn bị chống đối, hiểu lầm và giết chết. Vậy tại sao ta lại đặt mục tiêu bất khả thi rằng phải được tất cả mọi người đồng ý và yêu quý? Khi biết mình đã được Thiên Chúa yêu, ta có thể chấp nhận rằng có người không hiểu mình mà lòng vẫn bình an. Có người đánh giá sai mình mà ta không cần phát điên để chứng minh. Có người rời bỏ mình mà đời ta không vì thế mất hết ý nghĩa. Có người không nhìn thấy điều tốt nơi ta, nhưng Đấng bị treo trên Thánh Giá vẫn nhìn thấy.
Thế nhưng cần hiểu thật đúng hai chữ “vô điều kiện”. Thiên Chúa yêu ta vô điều kiện không có nghĩa là Thiên Chúa đồng ý vô điều kiện với mọi điều ta làm. Một người cha thương con vô điều kiện nhưng không vì thế mà vui khi thấy con nghiện ngập. Một người mẹ yêu con vô điều kiện nhưng sẽ đau đớn khi con lao vào con đường tự hủy. Tình yêu thật không phải là nhắm mắt trước điều xấu. Nếu một thứ tình cảm luôn nói “cứ làm gì cũng được” thì nhiều lúc đó chẳng phải tình yêu mà là sự dửng dưng. Thiên Chúa yêu tội nhân, nhưng Người không yêu tội lỗi đang phá hủy tội nhân. Đức Giêsu không đến để nói với ta: “Con cứ ở nguyên trong bóng tối, Ta không quan tâm.” Người nói: “Ta không kết án con. Hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa” (x. Ga 8,11). Hai vế phải đi với nhau. Chỉ nói “đừng phạm tội nữa” mà quên “Ta không kết án con” thì Kitô giáo biến thành gánh nặng đạo đức. Nhưng chỉ nói “Ta không kết án con” mà bỏ “đừng phạm tội nữa” thì lòng thương xót bị biến thành sự dễ dãi. Tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa là: dù con đang thế nào, Ta vẫn yêu con; và chính vì yêu con, Ta không muốn để con mãi mãi như thế. Ta yêu con đủ để đón nhận con trong hiện trạng của con, và Ta yêu con đủ để dẫn con ra khỏi những gì đang giết chết con.
Thánh Giá vì thế không chỉ chữa lành nỗi khát được yêu; Thánh Giá còn thanh luyện cách chúng ta hiểu tình yêu. Có những người nói “vì yêu” nhưng thực chất là chiếm hữu. “Nếu em yêu anh thì em phải làm điều này.” “Nếu con thương cha mẹ thì con phải sống đúng ý cha mẹ.” “Nếu anh yêu tôi thì anh không được có khoảng trời riêng.” Đó là thứ tình yêu bóp nghẹt. Nhìn Đức Giêsu trên Thánh Giá, ta thấy một tình yêu trao chính mình nhưng không cưỡng ép. Người dang hai tay, nhưng không khóa tay ta vào tay Người. Người chết cho tất cả, nhưng không bắt ai phải tin. Người mời gọi, chứ không ép buộc. Tình yêu của Thiên Chúa tôn trọng tự do con người đến mức con người có thể nói “không” với Người. Và chính đây là một trong những đau khổ lớn nhất của tình yêu: yêu mà không thể cưỡng bức người kia yêu lại. Những ai từng làm cha mẹ có lẽ hiểu đôi chút. Ta có thể yêu con hết lòng, nhưng không thể sống cuộc đời thay cho con. Ta có thể khuyên, có thể cầu nguyện, có thể chờ đợi, nhưng có những lúc chỉ còn biết đứng nhìn một người mình yêu chọn con đường làm chính họ đau khổ. Thiên Chúa trên Thánh Giá cũng vậy. Người không cứu chúng ta như sửa một cỗ máy. Người cứu những con người có tự do. Người yêu đủ sâu để tôn trọng cả khả năng từ chối tình yêu của Người.
Chính vì được yêu vô điều kiện, người Kitô hữu mới có thể bắt đầu học yêu người khác mà không biến tình yêu thành một cuộc trao đổi. Đây là chỗ khó. Chúng ta rất dễ xúc động trước Thánh Giá, nhưng để sống theo Thánh Giá lại là chuyện khác. Ta thích nghe rằng Thiên Chúa yêu mình khi mình tội lỗi, nhưng ta lại khó yêu một người đang làm mình phiền. Ta vui vì Thiên Chúa tha cho mình “bảy mươi lần bảy”, nhưng với người trong gia đình, một lỗi của họ mười năm trước ta vẫn nhớ như mới xảy ra hôm qua. Ta muốn Chúa kiên nhẫn với mình, nhưng ta lại mất kiên nhẫn với người già chậm chạp, đứa trẻ vụng về, người cộng sự yếu kém. Ta muốn được chấp nhận với tất cả giới hạn của mình, nhưng lại đặt ra một bản danh sách dài những điều người khác phải đáp ứng mới đáng được ta yêu. Vì thế Thánh Giá không chỉ an ủi; Thánh Giá còn chất vấn. Nếu đã được yêu nhưng không thể yêu, có lẽ ta chưa để cho tình yêu ấy đi đủ sâu. Người đứng lâu dưới chân Thánh Giá phải dần học được cách bớt kết án. Không phải vì điều xấu trở thành điều tốt, nhưng vì họ hiểu rằng bản thân mình cũng đang sống nhờ lòng thương xót. Một người biết mình từng được tha sẽ bớt hà khắc khi phải tha. Một người biết mình từng được kiên nhẫn sẽ dễ kiên nhẫn hơn. Một người đã khóc dưới chân Thánh Giá sẽ khó có thể vui khi thấy một tội nhân bị nghiền nát bởi sự khinh miệt của đám đông.
Có một điều rất lạ: con người càng không tin rằng mình được yêu vô điều kiện, người ấy càng có xu hướng đòi hỏi tình yêu từ người khác. Khi bên trong trống rỗng, ta bắt người khác phải lấp đầy. Khi không biết mình có giá trị, ta đòi vợ, chồng, con cái, cộng đoàn liên tục xác nhận giá trị ấy. Ta dễ giận khi không được chú ý. Dễ ghen khi người khác được khen. Dễ tủi thân khi không được mời. Dễ suy diễn khi một tin nhắn chưa được trả lời. Dễ đau khi không ai nhớ ngày đặc biệt của mình. Những điều ấy rất người, không có gì phải xấu hổ; nhưng chúng cũng cho thấy trái tim ta đang cần một nền móng sâu hơn tình cảm mong manh của con người. Không một người chồng nào có thể là Thiên Chúa của vợ. Không người vợ nào có thể chữa mọi trống vắng của chồng. Không đứa con nào có trách nhiệm làm cho cha mẹ cảm thấy cuộc đời mình có ý nghĩa. Không cộng đoàn nào có thể luôn luôn cho một linh mục sự công nhận mà ngài mong muốn. Không một người bạn nào có thể hiện diện hai mươi bốn giờ mỗi ngày để xoa dịu mọi vết thương. Khi ta đòi một con người hữu hạn phải đáp ứng khát vọng vô hạn trong mình, sớm muộn ta cũng thất vọng và họ cũng kiệt sức. Chỉ một Tình Yêu vô hạn mới có thể chạm tới chiều sâu ấy. Người khác có thể đồng hành với ta, nhưng không thể thay thế Thiên Chúa. Thánh Giá đưa trái tim ta trở về đúng trật tự: hãy để mình được Thiên Chúa yêu trước, rồi từ sự đầy tràn ấy hãy yêu người khác, thay vì biến người khác thành chiếc bình bắt buộc phải lấp đầy mọi trống rỗng trong ta.
Đây cũng là lý do cầu nguyện trước Thánh Giá có sức chữa lành rất đặc biệt. Không cần nói nhiều. Có những ngày ta chẳng biết nói gì. Có những vết thương càng nói càng rối. Có những nỗi buồn không thể giải thích. Khi ấy chỉ cần ngồi trước Thánh Giá và để cho mình được nhìn. Người đời thường nhìn ta để đánh giá. Đức Kitô nhìn ta để yêu. Người đời nhìn xem ta có đẹp không, giỏi không, thành đạt không. Đức Kitô nhìn vào một linh hồn Người đã đổ máu để cứu. Có thể ta chẳng cảm thấy gì đặc biệt. Không nghe tiếng nào. Không thấy một phép lạ tức thì. Nhưng chỉ cần ở lại. Có khi việc chữa lành sâu nhất không phải là Thiên Chúa trả lời tất cả câu hỏi, mà là Ngài cho ta biết: “Ta ở đây.” Một đứa trẻ đau không phải lúc nào cũng cần mẹ giải thích vì sao nó đau; đôi khi nó chỉ cần được ôm. Trước Thánh Giá, Thiên Chúa không giải thích toàn bộ mầu nhiệm đau khổ. Người làm một điều lớn hơn: Người bước vào đau khổ với ta. Người không nói từ xa: “Con phải mạnh mẽ lên.” Người cho ta thấy bàn tay của Người cũng mang thương tích. Người không bảo: “Ta chẳng hiểu cảm giác bị bỏ rơi.” Chính Người đã kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34). Vì thế chẳng có hố sâu nào của thân phận con người mà Đức Kitô không thể bước xuống.
Có người mang một nỗi đau rất riêng: “Nếu Chúa yêu tôi, tại sao đời tôi lại như thế?” Đó không phải câu hỏi vô đạo. Ngay cả Đức Giêsu cũng đã thốt lên lời của Thánh Vịnh 22 giữa đêm tối. Đức tin không phải là giả vờ rằng mình không đau. Đức tin là dám mang nỗi đau ấy đến trước Thiên Chúa. Tình yêu vô điều kiện không có nghĩa là người được yêu sẽ không bao giờ đau khổ. Đức Maria được Thiên Chúa yêu đặc biệt, nhưng Mẹ đứng dưới chân Thập Giá. Các Tông đồ được Đức Giêsu yêu, nhưng hầu hết đã đi qua thử thách. Điều Thánh Giá bảo đảm không phải rằng chúng ta sẽ có một đời sống không có thương tích, mà là chẳng có thương tích nào có thể tách ta khỏi tình yêu Thiên Chúa nếu ta ở lại trong Người. Thánh Phaolô đã thốt lên: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô?” rồi ông kể đến gian truân, khốn khổ, bắt bớ, đói rách, hiểm nguy, gươm giáo, và cuối cùng xác tín chẳng có gì “tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu” (x. Rm 8,35-39). Đó là niềm hy vọng rất thật. Tôi có thể mất tiền mà không mất tình yêu ấy. Tôi có thể mất địa vị mà không mất tình yêu ấy. Tôi có thể bị người đời hiểu lầm nhưng không mất tình yêu ấy. Người ta có thể quên tôi, nhưng Thiên Chúa không quên. Tôi có thể già, yếu, bệnh, nằm một chỗ, chẳng còn làm gì hữu ích theo tiêu chuẩn xã hội, nhưng tình yêu của Thiên Chúa dành cho tôi không giảm đi một phần trăm nào.
Đặc biệt trước cái chết, Thánh Giá trở thành lời bảo đảm mạnh mẽ nhất cho khát vọng được yêu đến cùng. Nhiều tình yêu của con người dừng lại bên huyệt mộ. Người sống đứng khóc, rồi cuối cùng phải trở về nhà. Không ai đi theo người mình yêu xuyên qua cái chết bằng sức riêng. Nhưng Đức Kitô thì có. Người đã đi vào chính sự chết. Người đã nằm trong mồ. Vì thế một Kitô hữu hấp hối không bước vào một vùng đất mà Chúa của họ chưa từng đi qua. Người đang chờ bên kia cũng chính là Đấng đã mang những vết đinh. Cái chết, từ đó, không còn là chỗ tình yêu chấm dứt, nhưng là ngưỡng cửa mà tình yêu Thiên Chúa dẫn ta qua. Đối với một người sắp lìa đời, có lẽ không lời nào an ủi hơn câu của Đức Giêsu: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em” (Ga 14,2). Dọn chỗ. Nghĩa là bên kia cái chết có một chỗ cho ta. Ta không phải một kẻ lang thang vô danh rơi vào khoảng không. Có một nơi đã được chuẩn bị. Có một Người biết tên ta. Có một Tình Yêu chờ đợi.
Nhưng có lẽ điều xúc động nhất nơi Thánh Giá là Đức Giêsu chết với đôi tay mở rộng. Người ta đóng đinh chúng để làm Người bất lực, nhưng Hội Thánh qua bao thế hệ lại nhìn hai cánh tay ấy như vòng tay mở ra cho cả thế giới. Chẳng ai có thể nói rằng mình đứng ngoài vòng tay ấy. Người thánh thiện có thể đến. Người tội lỗi cũng có thể đến. Người trẻ có thể đến. Người già cũng có thể đến. Người mạnh khỏe, người bệnh tật, người thành công, người thất bại, người vừa cầu nguyện sốt sắng, người đã bỏ Chúa nhiều năm – tất cả đều có thể ngước nhìn. Thánh Giá không đặt một tấm bảng: “Chỉ dành cho người hoàn hảo.” Nếu thế thì dưới chân Thánh Giá sẽ chẳng có ai. Thánh Giá là nơi những con người không hoàn hảo gặp một Tình Yêu hoàn hảo.
Có khi điều khó nhất không phải là tin rằng Chúa yêu nhân loại. Chúng ta nói câu ấy rất dễ: “Chúa yêu mọi người.” Điều khó hơn là tin: “Chúa yêu tôi.” Tôi, với quá khứ ấy. Tôi, với những điều mà nếu người khác biết có lẽ họ sẽ nhìn tôi khác đi. Tôi, với tính khí khó chịu, những lần thất bại, những lời đã nói sai, những cơ hội đã bỏ lỡ, những lỗi lầm không sửa được nữa. Chúa yêu chính tôi ư? Có. Đây là bước nhảy của đức tin. Đừng trốn sau chữ “nhân loại”. Hãy đứng một mình trước Thánh Giá. Hãy nhìn Đấng bị đóng đinh và nghe thánh Phaolô nói: “Người đã yêu tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20). Không phải chỉ “yêu chúng ta”. Phaolô nói “yêu tôi”. Đức tin trở nên sống động khi Tin Mừng từ một chân lý chung trở thành lời dành cho chính mình. Đức Giêsu đã yêu tôi. Những vết đinh ấy liên quan đến tôi. Máu ấy được đổ cho tôi. Lòng thương xót ấy mở cho tôi. Và nếu cả thế giới nói tôi vô dụng nhưng Đấng Cứu Thế nói tôi đáng để Người chết cho, thì tôi sẽ tin ai?
Tất nhiên, tin mình được yêu không có nghĩa là trở nên kiêu căng. Ngược lại, chỉ người thật sự biết mình được yêu mới có thể khiêm tốn. Người luôn phải chứng minh giá trị của mình mới dễ khoe khoang, tranh giành và đố kỵ. Khi đã biết giá trị của mình nằm trong Thiên Chúa, ta không cần dìm người khác xuống để mình cao lên. Ta có thể vui vì thành công của người khác. Ta có thể nhận lỗi mà không cảm thấy thế giới sụp đổ. Ta có thể xin lỗi mà không thấy mình mất phẩm giá. Ta có thể thừa nhận: “Tôi không biết”, “Tôi sai”, “Tôi cần giúp đỡ”, vì giá trị của ta không phụ thuộc vào việc ta luôn đúng. Đây là một sự tự do lớn lao. Thánh Giá giải phóng ta khỏi nhà tù phải liên tục chứng minh bản thân.
Và rồi một ngày, nếu ở đủ lâu dưới chân Thánh Giá, ta sẽ nhận ra rằng câu hỏi lớn nhất không còn là “Có ai yêu tôi không?” mà dần trở thành: “Tôi có thể yêu ai hôm nay?” Đó là dấu chỉ ta đang được chữa lành. Một trái tim đói tình yêu chỉ biết tìm cách lấy. Một trái tim được tình yêu Thiên Chúa đổ đầy bắt đầu biết cho. Ta nhìn thấy người cô đơn bên cạnh. Ta bắt đầu gọi điện cho một người già mà lâu rồi chẳng ai hỏi thăm. Ta kiên nhẫn thêm với người trong gia đình. Ta thôi dùng im lặng như một hình phạt. Ta chịu bước qua cái tôi để nói lời xin lỗi. Ta học cách ngồi bên giường một người bệnh mà chẳng cần phải nói những câu thật hay. Ta biết lắng nghe thay vì luôn kể chuyện mình. Ta bớt nhìn người khác qua thành tích và bắt đầu nhìn họ như một con người. Ta không còn chỉ hỏi: “Người này có ích gì cho tôi?” mà hỏi: “Người này đang cần được yêu thế nào?” Đó là lúc Thánh Giá không còn chỉ treo trên tường; Thánh Giá đã bước vào đời.
Có lẽ xã hội hôm nay không thiếu những lời nói về tình yêu. Tình yêu xuất hiện khắp nơi trong bài hát, phim ảnh, quảng cáo, mạng xã hội. Nhưng điều con người đang thiếu lại chính là những nơi được yêu mà không phải biểu diễn. Một mái nhà nơi người thất bại vẫn dám trở về. Một cộng đoàn nơi người yếu đuối không bị loại bỏ. Một giáo xứ nơi người lầm lỗi có thể bước vào mà không bị hàng trăm ánh mắt kết án. Một gia đình nơi đứa con dám nói sự thật vì biết dù sai, nó vẫn là con. Một Hội Thánh nơi tội nhân được kêu gọi hoán cải nhưng không bị làm nhục. Một tình bạn có thể ngồi cạnh nhau trong im lặng. Một cuộc hôn nhân hiểu rằng yêu đến cùng không phải lúc nào cũng là cảm xúc nồng nàn, nhưng nhiều khi là mỗi sáng vẫn chọn ở lại, vẫn chọn tha thứ, vẫn chọn bắt đầu lại. Những nơi như thế chính là những mảnh nhỏ của Thánh Giá được cắm xuống giữa đời.
Điều này không dễ. Yêu vô điều kiện không phải là cảm xúc tự nhiên của con người. Ta cần được học dưới chân Đức Kitô. Có những ngày ta sẽ thất bại. Có khi ta vừa cầu nguyện xong đã nổi giận. Vừa suy niệm về tha thứ đã nhớ lại một chuyện cũ và lòng lại đau. Vừa hứa sẽ yêu hơn đã ích kỷ trở lại. Đừng tuyệt vọng. Chính lúc ấy hãy trở về Thánh Giá. Kitô giáo không phải là chuyện những người hoàn hảo cố bắt chước một mẫu gương hoàn hảo bằng sức riêng. Đó là câu chuyện những người yếu đuối liên tục trở về nguồn tình yêu để được biến đổi. Ta không yêu như Đức Kitô bằng ý chí đơn thuần. Ta phải để Người yêu ta trước. “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12). Chữ quan trọng là “như Thầy đã yêu”. Tình yêu của người môn đệ bắt nguồn từ tình yêu đã nhận. Chúng ta chỉ có thể múc nước nếu đã đến nguồn.
Vì thế, nếu hôm nay có một người đang mang cảm giác rằng chẳng ai thật sự yêu mình, xin hãy thử đứng trước Thánh Giá. Không cần mang theo những câu kinh thật đẹp. Cũng không cần cố tạo cảm xúc. Chỉ cần nhìn. Nhìn bàn tay ấy. Nhìn cạnh sườn ấy. Nhìn khuôn mặt ấy. Và tự hỏi: “Nếu tôi chẳng đáng gì, tại sao Người lại ở đó?” Có lẽ câu trả lời sẽ không đến bằng tiếng nói, nhưng chính Thánh Giá là câu trả lời. Người ở đó vì bạn không phải vô giá trị. Người ở đó vì tình yêu Thiên Chúa dành cho bạn không phải một ý tưởng trừu tượng. Người ở đó vì Thiên Chúa đã chọn bước đến tận cùng thay vì bỏ bạn ở lại một mình. Không ai trong chúng ta có thể nhìn vào Thánh Giá và nói: “Thiên Chúa chẳng quan tâm.” Ta có thể chưa hiểu vì sao Chúa để một chuyện xảy ra. Ta có thể giận Người. Có thể khóc. Có thể chất vấn. Nhưng ta không thể nói rằng Người không biết đau là gì, cũng không thể nói Người chỉ yêu bằng lời.
Và nếu hôm nay có một người nghĩ rằng mình đã đi quá xa để trở về, hãy nhớ người trộm bên phải. Chẳng bao giờ quá muộn để nói: “Xin nhớ đến con.” Nếu có người nghĩ tội của mình quá lớn, hãy nhìn lời Đức Giêsu: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Nếu có người đang bị bỏ rơi, hãy nhớ Đức Giêsu đã đi qua cảm giác bị bỏ rơi. Nếu có người đang thấy mình vô dụng vì tuổi già hay bệnh tật, hãy nhớ rằng giá trị của bạn không nằm ở năng suất. Nếu có người đang chạy mệt mỏi để được mọi người yêu mến, hãy cho phép mình dừng lại. Bạn không cần thắng tất cả trái tim. Bạn chỉ cần để trái tim mình được chạm bởi Đấng đã yêu bạn trước.
Cuối cùng, có lẽ toàn bộ đời sống Kitô hữu có thể được hiểu như hành trình từ một người luôn hỏi “Ai sẽ yêu tôi?” trở thành một người có khả năng nói “Tôi đã được yêu, nên tôi có thể yêu.” Từ đó mọi sự thay đổi. Ta làm điều thiện không phải để mua tình yêu Thiên Chúa, nhưng vì ta đã được yêu. Ta cầu nguyện không phải để thuyết phục Chúa quan tâm đến mình, nhưng vì Người đã quan tâm trước. Ta đi lễ không phải để ghi điểm, nhưng để trở về bàn tiệc của một Người đã hiến chính mình cho ta. Ta xưng tội không phải để làm cho Thiên Chúa từ ghét chuyển sang thương, nhưng vì ta tin tình yêu của Người đủ lớn để cho mình một khởi đầu mới. Ta phục vụ không phải để người ta vỗ tay, nhưng vì mình không còn quá đói lời khen. Ta tha thứ không phải vì vết thương không đau, nhưng vì chính mình đã được tha. Ta có thể chết trong bình an không phải vì đã sống một đời hoàn hảo, nhưng vì biết Đấng chờ mình bên kia đã yêu mình đến cùng.
“Người đã yêu những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). “Đến cùng” – đó có lẽ là hai chữ đẹp nhất để nói về Thánh Giá. Không yêu nửa đường. Không yêu đến lúc thất vọng. Không yêu đến khi bị phản bội rồi thôi. Không yêu đến khi phải trả giá rồi rút lui. Yêu đến cùng. Đến giọt máu cuối cùng. Đến hơi thở cuối cùng. Đến tận nơi con người tưởng chẳng còn ai muốn bước vào nữa. Thánh Giá là dấu chỉ rằng Thiên Chúa không bỏ cuộc với con người.
Và có lẽ rồi đây, sau tất cả những chuyến đi, những công việc, những thành công, những thất bại, những cuộc gặp gỡ và chia ly, điều mỗi người cần nhất vào buổi chiều của cuộc đời chẳng phải là một bản thành tích dài. Chúng ta chỉ cần biết mình đã yêu và đã được yêu. Mọi thứ khác rồi sẽ qua. Những danh xưng sẽ ở lại trên tấm bia. Tiền sẽ sang tay người khác. Nhà cửa sẽ có chủ mới. Những lời khen hôm nay rồi cũng bị quên. Nhưng tình yêu thì đi vào vĩnh cửu, bởi “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,8). Và ở giữa lịch sử nhân loại, Thánh Giá vẫn đứng đó như một dấu cộng lớn nối trời với đất, nối Thiên Chúa với con người, nối tội nhân với lòng thương xót, nối cô đơn với sự hiện diện, nối cái chết với sự sống. Mỗi lần nhìn Thánh Giá, hãy nghe bằng trái tim một lời chẳng bao giờ cũ: “Con không cần phải chứng minh rằng con đáng được Ta yêu. Chính tình yêu của Ta sẽ làm cho con nhận ra phẩm giá của mình. Con có thể chạy trốn Ta, nhưng Ta vẫn đợi. Con có thể quên Ta, nhưng Ta không quên con. Con có thể ngã, nhưng bàn tay bị đóng đinh này vẫn mở. Con có thể mang đến đây cả quá khứ rách nát của mình. Hãy đến. Ta biết con. Ta biết tất cả. Và Ta vẫn yêu con.”
Nếu người Kitô hữu thật sự tin được điều ấy, họ sẽ không còn phải sống như những kẻ ăn xin tình yêu giữa một thế giới đầy điều kiện. Họ sẽ trở thành những người mang tình yêu đi. Họ sẽ biết ở lại khi người khác muốn bỏ đi. Biết lắng nghe khi người khác chỉ muốn kết án. Biết tha thứ khi lòng mình muốn trả đũa. Biết ôm lấy những người chẳng đem lại lợi ích gì. Biết nhìn người già, người bệnh, người nghèo, người khuyết tật, người thất bại, người lầm lỗi bằng ánh mắt khác. Bởi dưới ánh sáng Thánh Giá, ta hiểu rằng không có một con người nào chỉ là “đồ bỏ”. Không ai là một con số thừa. Không ai hết hy vọng khi họ còn có thể hướng về Đấng bị đóng đinh.
Thế giới có thể tiếp tục thay đổi. Công nghệ có thể làm con người gần nhau hơn trên màn hình nhưng chưa chắc gần nhau hơn trong trái tim. Xã hội có thể càng hiện đại, càng hiệu quả, càng nhanh; nhưng khát vọng sâu thẳm ấy vẫn không thay đổi. Một đứa trẻ của một trăm năm sau vẫn cần được ôm. Một người già của một trăm năm sau vẫn sợ bị quên. Một người thất bại của một trăm năm sau vẫn cần nghe rằng đời mình còn giá trị. Bởi cấu trúc sâu nhất của con người không phải là máy móc, mà là tương quan. Chúng ta được dựng nên bởi Tình Yêu và cho Tình Yêu. Vì vậy, mọi khát vọng được yêu vô điều kiện cuối cùng đều chỉ được nghỉ yên khi tìm được nguồn của nó nơi Thiên Chúa.
Thánh Augustinô đã từng diễn tả kinh nghiệm ấy bằng lời nổi tiếng rằng trái tim con người không yên cho đến khi nghỉ yên trong Thiên Chúa. Và dưới chân Thánh Giá, ta hiểu lý do. Trái tim ta khát một tình yêu không bỏ đi, trong khi mọi tình yêu nhân loại đều mang sự mong manh. Ta khát một cái ôm mà cả cái chết cũng không tháo ra được. Ta khát một ánh mắt biết tất cả sự thật về mình mà vẫn không khinh miệt. Ta khát một nơi có thể trở về ngay cả sau lần sa ngã tệ nhất. Tất cả những điều ấy hội tụ nơi Đức Giêsu chịu đóng đinh.
Vậy nên, đừng chỉ đeo Thánh Giá. Hãy ở dưới Thánh Giá. Đừng chỉ hôn Thánh Giá vào Thứ Sáu Tuần Thánh. Hãy để Thánh Giá bước vào những ngày bình thường. Khi bị hiểu lầm, hãy nhìn Thánh Giá. Khi thất bại, hãy nhìn Thánh Giá. Khi thấy mình chẳng còn đáng yêu, hãy nhìn Thánh Giá. Khi khó tha thứ cho ai, hãy nhìn Thánh Giá. Khi muốn bỏ một người vì họ làm ta thất vọng, hãy hỏi Đức Giêsu đã yêu ta thế nào. Khi cảm thấy cô độc giữa một căn phòng đông người, hãy nhớ trên đồi Golgotha có một Đấng đã trải qua tận cùng cô độc để từ đó không ai còn phải cô độc một mình.
Một ngày kia, khi tất cả những điều ta từng bám víu rơi khỏi tay, mong rằng trong lòng ta vẫn còn một xác tín không gì lấy mất được: Tôi được yêu. Không phải vì tôi hoàn hảo. Không phải vì tôi đã làm đủ. Không phải vì tôi đáng hơn người khác. Nhưng vì Thiên Chúa là Tình Yêu, và Người đã yêu tôi trong Đức Giêsu Kitô. Thánh Giá chính là chữ ký bằng máu của Thiên Chúa dưới lời hứa ấy.
Và nếu phải tóm tất cả Tin Mừng vào một hình ảnh, có lẽ chỉ cần một ngọn đồi, một buổi chiều, và một Người bị đóng đinh với đôi tay mở rộng. Ở đó, con người đặt câu hỏi lớn nhất của mình: “Liệu có ai yêu tôi đến cùng không?” Và từ Thánh Giá, Thiên Chúa trả lời không phải bằng một bài diễn văn, nhưng bằng chính mạng sống của Người:
Có. Ta yêu con. Và Ta sẽ không rút lại tình yêu ấy.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ LÀ “HIẾN CHƯƠNG” CỦA HỘI THÁNH
Có những bản hiến chương được viết bằng mực, được đóng dấu, được lưu giữ trong những văn khố trang trọng và được người ta trích dẫn mỗi khi cần xác định căn tính, quyền hạn hay đường hướng của một tổ chức. Nhưng Hội Thánh của Đức Giêsu Kitô lại có một “bản hiến chương” rất khác. Bản hiến chương ấy không được viết trên giấy, nhưng được viết bằng Máu. Không được công bố từ một ngai vàng, nhưng từ một cây thập giá. Không được ban hành giữa tiếng tung hô của đám đông, nhưng giữa những lời nhạo báng, tiếng búa đóng đinh, tiếng khóc của một người Mẹ và sự im lặng khủng khiếp của chiều Canvê. Bản hiến chương ấy là chính Thánh Giá của Đức Kitô. Nếu muốn hiểu Hội Thánh là gì, Hội Thánh sống để làm gì, quyền lực của Hội Thánh nằm ở đâu, người môn đệ Đức Kitô phải sống thế nào, người mục tử phải lãnh đạo ra sao, cộng đoàn Kitô hữu phải đối xử với nhau thế nào và sứ mạng truyền giáo phải mang khuôn mặt nào, người ta không thể chỉ nhìn vào những cơ cấu, văn kiện, phẩm phục, nghi lễ hay những thành công bề ngoài. Phải nhìn lên Thánh Giá. Bởi vì trên Thánh Giá, Đức Kitô đã viết những dòng căn bản nhất của đời sống Hội Thánh: yêu đến cùng, phục vụ đến cùng, tha thứ đến cùng, tự hiến đến cùng, vâng phục đến cùng, nghèo khó đến cùng, khiêm hạ đến cùng, trung tín đến cùng và hy vọng ngay cả khi tất cả xem ra đã chấm hết. Hội Thánh có thể có rất nhiều luật lệ, rất nhiều truyền thống, rất nhiều cơ cấu cần thiết để gìn giữ trật tự và thực thi sứ vụ; nhưng nếu một ngày nào đó Hội Thánh không còn đọc đời mình dưới ánh sáng Thánh Giá, Hội Thánh sẽ dễ trở thành một tổ chức tôn giáo hơn là Thân Thể của Đấng chịu đóng đinh. Và nếu một Kitô hữu mang danh Đức Kitô mà từ chối con đường tự hiến của Thánh Giá, người ấy có thể còn giữ nhiều hình thức đạo đức, nhưng đã đánh mất phần sâu nhất của Tin Mừng.
Tin Mừng cho chúng ta một cảnh tượng có thể xem như bản văn nền tảng cho “hiến chương Thánh Giá” ấy. Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được” (Mt 16,24-25). Điều đáng chú ý là Chúa không nói lời ấy chỉ với một vài tâm hồn đặc biệt, vài nhà khổ tu, vài vị tử đạo hay một nhóm người muốn sống đời hoàn thiện. Người nói với các môn đệ. Nghĩa là Thánh Giá thuộc về chính căn tính của việc làm môn đệ. Không có Kitô giáo nào chỉ gồm những lời an ủi mà không có từ bỏ; không có đời môn đệ nào chỉ gồm những phút sốt sắng mà không có hy sinh; không có Hội Thánh nào trung thành với Chúa mà lại đi tìm một con đường hoàn toàn không có Thánh Giá. Điều này không có nghĩa Kitô giáo tôn thờ đau khổ hay Thiên Chúa thích nhìn con người đau đớn. Hoàn toàn không. Đức Giêsu chữa bệnh, cho người đói ăn, khóc trước mồ Ladarô, chạnh lòng thương đám đông, đứng về phía những người bị loại trừ. Người không tạo ra đau khổ. Người bước vào đau khổ để cứu con người khỏi quyền lực của nó. Vì thế Thánh Giá không phải là lời ca tụng đau khổ; Thánh Giá là lời mặc khải rằng tình yêu mạnh hơn đau khổ, lòng thương xót mạnh hơn tội lỗi, tha thứ mạnh hơn hận thù và sự sống mạnh hơn cái chết. “Vác thập giá” không phải là đi tìm đau khổ, nhưng là không chạy trốn tình yêu khi tình yêu đòi ta phải trả giá. Chính ở điểm này, Thánh Giá trở thành hiến chương của Hội Thánh.
Trước hết, Thánh Giá nói cho Hội Thánh biết Hội Thánh thuộc về ai. Hội Thánh không thuộc về một cá nhân, một nhóm người, một thời đại, một dân tộc hay một nền văn hóa nào. Hội Thánh thuộc về Đấng đã mua Hội Thánh bằng chính Máu mình. Có một điều rất dễ quên: người ta thường nói “Giáo Hội của tôi”, “giáo xứ của tôi”, “hội đoàn của tôi”, “cộng đoàn của tôi”, và những cách nói ấy tự nó không sai. Nhưng nếu chữ “của tôi” âm thầm biến thành quyền chiếm hữu, lúc ấy điều rất nguy hiểm bắt đầu. Một linh mục có thể vô tình xem giáo xứ như lãnh địa của mình. Một người phụ trách có thể xem hội đoàn như tài sản của mình. Một nhóm giáo dân có thể xem một sinh hoạt như vùng ảnh hưởng của mình. Một cộng đoàn có thể bảo vệ truyền thống của mình đến độ quên mất con người. Nhưng dưới chân Thánh Giá, mọi thứ “của tôi” phải được đặt xuống. Hội Thánh là của Chúa. Giáo xứ là của Chúa. Cộng đoàn là của Chúa. Những con người được trao cho ta không phải để ta sở hữu, nhưng để ta phục vụ. Người mục tử không chết cho đoàn chiên theo nghĩa cứu độ; Đức Kitô đã chết cho họ. Người mục tử chỉ được mời gọi yêu họ theo kiểu của Đức Kitô. Khi hiểu điều này, quyền bính trong Hội Thánh sẽ trở lại đúng khuôn mặt của mình: không phải quyền sở hữu, nhưng quyền phục vụ; không phải quyền thống trị, nhưng quyền rửa chân; không phải quyền làm người khác sợ, nhưng quyền làm cho người khác được sống.
Thánh Giá cũng xác định kiểu quyền lực mà Hội Thánh được phép sử dụng. Trên đồi Canvê, Đức Giêsu có quyền năng, nhưng Người không sử dụng quyền năng để tự cứu mình. Người có thể gọi các đạo binh thiên thần, nhưng Người để cho đôi tay mình bị đóng đinh. Người có thể khiến những kẻ nhạo báng im tiếng, nhưng Người chọn thinh lặng. Người có thể nguyền rủa những kẻ hành hình, nhưng Người cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đây là một nghịch lý khiến thế gian không bao giờ hiểu trọn. Quyền năng của Thiên Chúa được bày tỏ bằng việc Người có thể tiêu diệt kẻ thù nhưng lại chọn cứu kẻ thù; có thể trả đũa nhưng lại tha thứ; có thể bảo vệ bản thân nhưng lại hiến chính mình. Vì thế, bất cứ khi nào quyền bính trong Hội Thánh xa rời logic của Thánh Giá, quyền bính ấy sẽ trở nên méo mó. Một người lãnh đạo Hội Thánh không trở nên giống Đức Kitô vì có nhiều người vâng lời mình, nhưng vì mình biết cúi xuống phục vụ nhiều người. Một linh mục không giống Đức Kitô nhất khi đứng ở chỗ cao nhất, nhưng khi dám đi xuống chỗ thấp nhất. Một người có trách nhiệm không chứng minh sức mạnh bằng khả năng làm cho người khác im lặng, nhưng bằng khả năng lắng nghe cả người làm mình khó chịu. Quyền bính Kitô giáo luôn mang dấu đinh. Nếu quyền bính không chịu mang vết thương của phục vụ, nó rất dễ biến thành quyền lực trần gian khoác áo tôn giáo.
Thánh Giá còn là hiến chương của tình yêu trong Hội Thánh. Chúa Giêsu không nói: “Anh em hãy yêu nhau khi người kia dễ thương.” Người nói: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12). Hai chữ “như Thầy” làm cho giới răn yêu thương trở nên vô cùng sâu. Chúa yêu thế nào? Người yêu Giuđa dù biết Giuđa phản bội. Người rửa chân cho Phêrô dù biết Phêrô sẽ chối mình. Người gọi các môn đệ là bạn dù họ bỏ chạy trong giờ nguy nan. Người cầu xin Cha tha thứ cho kẻ đóng đinh mình. Người trao Mẹ mình cho người môn đệ dưới chân Thánh Giá. Người yêu cho tới khi không còn gì để giữ lại. Nếu bỏ hai chữ “như Thầy”, tình yêu Kitô giáo chỉ còn là tình cảm tự nhiên. Có qua có lại thì yêu. Hợp ý thì gần. Không hợp thì tránh. Được trọng dụng thì nhiệt tình. Bị hiểu lầm thì rút lui. Được cảm ơn thì tiếp tục. Không được biết ơn thì thôi. Nhưng tình yêu Thánh Giá không vận hành như thế. Tình yêu Thánh Giá có khả năng tiếp tục làm điều thiện ngay cả khi điều thiện ấy không được nhìn nhận. Nó không cần người kia xứng đáng rồi mới yêu. Nó không đòi người kia phải thay đổi trước rồi mới tha thứ. Nó không đặt điều kiện: “Nếu anh tốt với tôi, tôi sẽ tốt với anh.” Chính vì vậy, cộng đoàn Hội Thánh chỉ thực sự trở thành dấu chỉ của Tin Mừng khi giữa những khác biệt, tổn thương và bất đồng, người ta vẫn tìm cách giữ nhau lại trong tình yêu.
Thánh Giá còn dạy Hội Thánh về sự thật. Chúng ta thường nghĩ yêu thương thì phải mềm, còn nói sự thật thì phải cứng. Nhưng trên Thánh Giá, sự thật và tình yêu gặp nhau. Thánh Giá nói sự thật rất dữ dội về tội lỗi: tội có sức làm con người giết cả Đấng Thánh. Tội của tham vọng khiến người ta bán Chúa. Tội của sợ hãi khiến người ta chối Chúa. Tội của đám đông khiến người ta hôm trước hô “Hoan hô”, hôm sau gào “Đóng đinh nó vào thập giá”. Tội của quyền lực khiến Philatô biết Đức Giêsu vô tội mà vẫn trao Người cho quân lính. Tội của tôn giáo khi mất lòng thương xót có thể nhân danh Thiên Chúa để loại trừ chính Con Thiên Chúa. Thánh Giá phơi bày tội lỗi không bằng một bài diễn văn đạo đức, nhưng bằng thân thể tan nát của Đấng vô tội. Tuy nhiên, cũng chính nơi ấy, Thiên Chúa không kết án nhân loại nhưng mở đường cứu độ. Vì thế Hội Thánh không được phép rao giảng một thứ sự thật thiếu lòng thương xót, cũng không được nhân danh lòng thương xót để che giấu sự thật. Sự thật không có tình yêu trở thành lưỡi dao. Tình yêu không có sự thật trở thành dung túng. Thánh Giá giữ cả hai: gọi tội là tội, nhưng không đồng hóa tội nhân với tội của họ; đòi hoán cải, nhưng không đóng cửa hy vọng; nói sự thật, nhưng nói với trái tim của Đấng đã chết cho chính người cần nghe sự thật ấy.
Thánh Giá là hiến chương của sự hiệp nhất. Thánh Phaolô nói Đức Kitô “đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét” và để hòa giải con người với Thiên Chúa cũng như với nhau (x. Ep 2,14-16). Điều này rất quan trọng, bởi Hội Thánh có thể nói rất nhiều về hiệp nhất nhưng vẫn bị chia cắt bởi những thứ rất nhỏ: khác quan điểm, khác nhóm, khác cách đạo đức, khác thế hệ, khác địa phương, khác sở thích phụng vụ, khác đường hướng mục vụ. Có khi người ta cùng quỳ trước một Thánh Thể nhưng lại không muốn nhìn mặt nhau. Cùng đọc một Kinh Lạy Cha nhưng trong lòng lại từ chối gọi một người là anh em. Cùng hôn kính một Thánh Giá nhưng lại ôm giữ một mối hận nhiều năm. Đó là nghịch lý đau đớn. Chúng ta có thể bảo vệ Thánh Giá bằng lời mà lại chối bỏ Thánh Giá bằng cách sống. Bởi Thánh Giá không chỉ là vật treo trên tường nhà thờ. Thánh Giá phải đóng đinh cái tôi trong lòng ta. Có những lúc giữ sự hiệp nhất đau hơn thắng một cuộc tranh luận. Xin lỗi khó hơn chứng minh mình đúng. Im lặng trước một lời xúc phạm khó hơn đáp trả. Tha thứ cho một người từng làm mình tổn thương khó hơn đọc hàng trăm kinh. Nhưng chính những khoảnh khắc ấy mới cho thấy Thánh Giá có thực sự đi vào đời ta chưa.
Thánh Giá còn là hiến chương của việc truyền giáo. Hội Thánh không chinh phục thế giới bằng bạo lực, áp lực hay sự hơn thua. Đức Kitô không cứu thế giới bằng cách đứng từ trên cao ném xuống những mệnh lệnh. Người bước xuống. Từ trời xuống đất. Từ địa vị Thiên Chúa đến phận người. Từ máng cỏ đến Nazareth. Từ Nazareth đến những con đường Galilê. Từ những con đường ấy đến Giêrusalem. Và cuối cùng từ Giêrusalem lên Canvê. Con đường truyền giáo của Thiên Chúa là con đường đi xuống. Thánh Phaolô đã hiểu rất rõ điều này khi nói: “Chúng tôi rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh” (1 Cr 1,23). Không phải một Đức Kitô được chế tạo để làm vừa lòng thị hiếu thế gian, nhưng Đức Kitô chịu đóng đinh. Thế gian thích thành công; Hội Thánh rao giảng sự trung tín. Thế gian thích người chiến thắng; Hội Thánh rao giảng Đấng đã thắng bằng cách chịu thua trong mắt thế gian. Thế gian nói hãy bảo vệ mình trước tiên; Tin Mừng nói hãy hiến mình. Thế gian nói hãy loại bỏ kẻ thù; Đức Giêsu nói hãy yêu kẻ thù. Chính vì thế, truyền giáo không chỉ là đưa cho người khác một cuốn sách hay mời họ đến nhà thờ. Truyền giáo sâu nhất là để người khác nhìn thấy trong đời Kitô hữu một tình yêu mang hình Thánh Giá: người chồng biết hy sinh cho vợ con; người vợ âm thầm gìn giữ mái ấm; người trẻ dám sống trong sạch giữa một nền văn hóa dễ dãi; người kinh doanh không bán lương tâm vì lợi nhuận; người có chức quyền không chà đạp kẻ yếu; người bị xúc phạm không nuôi hận; người già biết dâng những ngày đau yếu; người bệnh vẫn cầu nguyện cho người khác; linh mục vẫn trung thành trong những ngày cô đơn và khô khan; tu sĩ vẫn ở lại với lời khấn khi nhiệt huyết ban đầu đã qua. Những cuộc đời ấy là những bài giảng về Thánh Giá mà người không biết chữ cũng đọc được.
Thánh Giá cũng là hiến chương của cách Hội Thánh đứng bên cạnh những người đau khổ. Dưới chân Thánh Giá không có những câu giải thích dễ dãi. Đức Maria không đứng đó để đưa ra một lý thuyết về đau khổ. Mẹ đứng đó. Người môn đệ Chúa yêu đứng đó. Có những lúc yêu thương một người không có nghĩa là tìm được lời giải thích cho nỗi đau của họ, nhưng là không bỏ họ một mình trong nỗi đau ấy. Đây là một bài học lớn cho mục vụ. Trước một người mất con, đừng vội nói: “Chúa thử thách anh chị.” Trước một bệnh nhân đau đớn, đừng dễ dàng nói: “Ráng chịu để lập công.” Trước một gia đình tan vỡ, đừng chỉ đưa ra những công thức. Có những vết thương cần sự hiện diện trước khi cần lời nói. Hội Thánh của Thánh Giá phải là Hội Thánh biết đứng dưới những thập giá của con người. Đứng cạnh bệnh nhân. Đứng cạnh người nghèo. Đứng cạnh người bị bỏ rơi. Đứng cạnh người tù tội. Đứng cạnh người thất bại. Đứng cạnh người đã phạm sai lầm và đang tìm đường trở về. Đứng cạnh người không còn ai muốn đứng cạnh. Bởi Đức Maria đã đứng dưới Thánh Giá, và bởi Đức Kitô đã đứng về phía nhân loại ngay khi nhân loại đóng đinh Người.
Có lẽ một trong những điều gây xúc động nhất của Tin Mừng Thương Khó là lúc mọi thứ xem ra đã bị lấy khỏi Đức Giêsu. Áo Người bị chia. Danh dự Người bị chà đạp. Môn đệ bỏ trốn. Thân thể Người bị đinh ghim. Ngay cả khả năng di chuyển cũng không còn. Vậy mà còn một điều không ai lấy được: khả năng yêu. Người vẫn yêu. Người nhìn xuống và nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh” (Ga 19,26-27). Chính trong giờ phút tưởng như chỉ còn mất mát, Đức Giêsu lại khai sinh một tương quan mới. Giữa sự chết, Người tạo ra gia đình. Giữa cô đơn, Người tạo ra hiệp thông. Giữa đổ vỡ, Người bắt đầu Hội Thánh. Thật sâu xa biết bao khi truyền thống Kitô giáo nhìn cạnh sườn Đức Kitô bị đâm thâu, nơi “máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34), như một hình ảnh về Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn Đấng Cứu Thế. Hội Thánh không sinh ra từ thành công của Đức Giêsu, nhưng từ tình yêu tự hiến của Người. Hội Thánh được sinh ra từ một trái tim bị đâm thâu. Vì thế, một Hội Thánh không còn trái tim bị đâm thâu vì nỗi đau của nhân loại sẽ phản bội chính nơi mình được sinh ra.
Điều này cũng có nghĩa Thánh Giá là tiêu chuẩn để Hội Thánh tự xét mình. Không phải mọi thứ mang danh Công giáo đều tự động mang tinh thần Đức Kitô. Không phải cứ đông người là thành công theo Tin Mừng. Không phải cứ được ca tụng là đúng. Không phải cứ có quyền lực là mạnh. Không phải cứ xây dựng nhiều là đã loan báo Tin Mừng sâu. Câu hỏi căn bản phải là: điều chúng ta đang làm có mang hình dáng của Đức Kitô chịu đóng đinh không? Có làm cho người nghèo được gần hơn với Chúa không? Có chữa lành hay làm tổn thương? Có xây dựng hiệp thông hay tạo phe nhóm? Có giúp con người trưởng thành trong tự do hay khiến họ lệ thuộc vào cá nhân? Có dẫn người ta đến Đức Kitô hay dẫn người ta đến sự ngưỡng mộ chính chúng ta? Một linh mục có thể giảng rất hay, nhưng nếu đời sống thiếu lòng thương xót, bài giảng ấy còn thiếu Thánh Giá. Một cộng đoàn có thể tổ chức rất giỏi, nhưng nếu người yếu thế không tìm thấy chỗ đứng, cộng đoàn ấy còn thiếu Thánh Giá. Một người có thể bảo vệ giáo lý rất mạnh mẽ, nhưng nếu cách bảo vệ làm nhục người khác, người ấy cần trở lại nhìn Đấng chịu đóng đinh. Bởi Đức Kitô nói sự thật bằng chính việc trao mạng sống mình, chứ không bằng cách tiêu diệt người đối thoại.
Thánh Giá còn đặt trước Hội Thánh một câu hỏi khó: chúng ta tìm vinh quang nào? Các môn đệ từng tranh nhau xem ai là người lớn nhất. Giacôbê và Gioan từng muốn được ngồi bên hữu và bên tả Đức Giêsu trong vinh quang. Nhưng khi Đức Giêsu thực sự bước lên ngai của Người, ngai ấy lại là Thánh Giá, và hai bên Người không phải hai tông đồ đầy tham vọng mà là hai tên gian phi. Một bài học cay đắng cho mọi thời. Con người luôn có xu hướng muốn một Kitô giáo đem lại uy tín mà không cần Canvê, một chức vụ trong Hội Thánh không có khăn thắt lưng của người rửa chân, một đời linh mục được kính trọng nhưng không phải đau với đoàn chiên, một đời tu có vẻ đẹp của nghi lễ nhưng không có cái chết mỗi ngày cho cái tôi, một đời giáo dân được tiếng đạo đức nhưng không phải tha thứ cho người nhà. Thế nhưng Đức Giêsu đã nói rất rõ: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,45). Đó là định nghĩa về quyền lực trong Hội Thánh. Đó cũng là định nghĩa về vinh quang. Vinh quang của Kitô giáo không phải là được người khác cúi đầu trước mình, nhưng là mình đủ yêu để cúi xuống trước họ.
Chúng ta cần nói thêm rằng Thánh Giá không bao giờ đứng một mình tách khỏi Phục Sinh. Nếu chỉ dừng ở chiều thứ Sáu Tuần Thánh, Kitô giáo sẽ trở thành một tôn giáo buồn. Nhưng Thánh Giá chính là con đường đi vào Phục Sinh. Đức Kitô phục sinh vẫn mang những dấu đinh. Điều đó thật kỳ diệu. Người chiến thắng sự chết nhưng không xóa những vết thương. Như thể Thiên Chúa muốn nói với chúng ta rằng những gì đã được yêu và được hiến dâng sẽ không bao giờ vô nghĩa. Vết thương có thể trở thành cửa ngõ của ân sủng. Nước mắt có thể trở thành hạt giống. Một đời âm thầm có thể mang hoa trái mà chính người sống nó không nhìn thấy. Một thất bại bên ngoài có thể chứa đựng một chiến thắng sâu hơn trong linh hồn. Điều quan trọng không phải là đời ta có tránh được mọi Thánh Giá hay không, nhưng là trong Thánh Giá ấy ta có còn ở với Đức Kitô hay không. Hội Thánh cũng vậy. Có những thời Hội Thánh được tôn trọng, có những thời bị chống đối. Có những lúc các nhà thờ đầy người, có những lúc đức tin xem ra nguội lạnh. Có những thời truyền giáo phát triển, có những thời các Kitô hữu bị bách hại. Nhưng sức sống của Hội Thánh không nằm trước hết ở những con số. Nó nằm trong Đấng chịu đóng đinh và đã sống lại. Khi Hội Thánh còn bám vào Đức Kitô, Hội Thánh có thể bị thương nhưng không bị tiêu diệt, có thể nghèo nhưng vẫn giàu ân sủng, có thể nhỏ bé nhưng vẫn sinh hoa trái.
Và chính ở đây, mỗi người chúng ta phải tự hỏi: tôi đã ký vào “hiến chương Thánh Giá” chưa? Ngày chịu Phép Rửa, chúng ta được ghi dấu Thánh Giá. Trên trán người Kitô hữu, dấu Thánh Giá đã được vạch lên trước khi chúng ta có thể hiểu nó. Từ đó, dấu ấy đi theo ta suốt đời. Ta làm dấu Thánh Giá khi cầu nguyện. Ta nhìn Thánh Giá trên bàn thờ. Ta treo Thánh Giá trong nhà. Ta đeo Thánh Giá trên cổ. Cuối đời, Thánh Giá được đặt gần quan tài. Nhưng điều đáng sợ là một người có thể mang Thánh Giá khắp nơi mà chưa bao giờ để Thánh Giá đi vào tính khí, cách nói, cách cư xử và các lựa chọn của mình. Làm dấu Thánh Giá rất dễ; để Thánh Giá đóng đinh tính ích kỷ thì khó. Hôn Thánh Giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh rất cảm động; hôn lấy những hy sinh bổn phận hằng ngày thì khó. Quỳ trước tượng Chúa chịu nạn rất đạo đức; tha thứ cho người làm mình đau lại rất khó. Nói “Lạy Chúa, con yêu Chúa” không quá khó; yêu người mà Chúa đặt cạnh mình mới là phép thử.
Có những Thánh Giá không mang hình dạng bi kịch lớn lao. Thánh Giá có khi là một người già lặp đi lặp lại một câu chuyện mà ta phải kiên nhẫn nghe. Là một đứa con khó dạy mà cha mẹ vẫn không từ bỏ. Là người bạn đời có những khuyết điểm không thể sửa ngay. Là một cộng đoàn có những người không hợp tính mình. Là một lời xin lỗi ta biết mình phải nói nhưng lòng tự ái cứ ngăn lại. Là bổn phận nhỏ bé phải làm mỗi ngày mà chẳng ai khen. Là một bệnh tật kéo dài. Là tuổi già khi thấy mình không còn hữu ích như trước. Là thời gian cầu nguyện khô khan mà vẫn trung thành. Là việc tiếp tục làm điều đúng dù không ai nhìn thấy. Nếu chúng ta đón nhận những điều ấy trong tình yêu chứ không phải trong cay đắng, chúng trở thành những dòng chữ sống động của hiến chương Thánh Giá.
Đối với người linh mục, điều này còn mang một chiều sâu đặc biệt. Linh mục cử hành hy tế Thánh Thể mỗi ngày, nhưng điều nguy hiểm nhất là có thể dâng Hy Lễ của Đức Kitô mà quên dâng chính mình. Khi nâng Mình Thánh và nói: “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con”, linh mục không chỉ lặp lại lời Đức Giêsu; những lời ấy âm thầm đòi trở thành đời sống của chính người đọc chúng. Thân mình linh mục cũng phải được trao cho đoàn chiên qua thời giờ, sự kiên nhẫn, những đêm thao thức, những cuộc điện thoại bất ngờ, những lần giải tội dài, những đám tang, những bệnh nhân, những gia đình tan vỡ, những người đến xin giúp trong lúc mình mệt mỏi. Chén lễ linh mục nâng lên cũng là lời mời để đời linh mục được đổ ra. Nếu linh mục chỉ muốn bàn thờ mà không muốn Canvê, chức linh mục sẽ dần trở thành nghề nghiệp. Nếu chỉ thích được gọi là “cha” nhưng không muốn đau nỗi đau của những người con, căn tính mục tử sẽ rỗng. Vẻ đẹp của linh mục không nằm ở chỗ không có vết thương, nhưng ở chỗ những vết thương ấy được hiến dâng cùng Đức Kitô thay vì biến thành cay đắng.
Đối với đời sống gia đình cũng vậy. Hôn nhân Kitô giáo chỉ hiểu được trọn vẹn dưới ánh sáng Thánh Giá. Ngày cưới người ta trao nhẫn, mặc áo đẹp, chụp ảnh, chúc mừng. Nhưng giao ước thực sự được viết dần qua những ngày không đẹp như ảnh cưới: khi người kia bệnh, khi kinh tế khó khăn, khi bất đồng, khi tuổi xuân qua đi, khi con cái làm cha mẹ buồn, khi phải chọn tha thứ thay vì bỏ cuộc, khi phải học lại cách nói chuyện sau những tổn thương. “Yêu cho đến cùng” không phải là một câu lãng mạn. Nó là logic của Canvê. Đức Kitô không yêu Hội Thánh chỉ khi Hội Thánh thánh thiện; Người yêu để làm Hội Thánh nên thánh. Vợ chồng cũng được mời gọi yêu nhau không phải vì người kia luôn hoàn hảo, nhưng để cùng nhau lớn lên trong ân sủng. Khi một gia đình biết quỳ dưới Thánh Giá, họ không được bảo đảm sẽ không có giông bão, nhưng họ có một nơi để trở về khi giông bão tới.
Đối với người trẻ, Thánh Giá có lẽ là một ngôn ngữ khó nghe trong thời đại hôm nay. Người ta nói với người trẻ: hãy sống cho mình, hãy tối đa hóa trải nghiệm, hãy tránh tất cả những gì khiến bạn khó chịu, hãy chọn điều làm bạn cảm thấy tốt. Tin Mừng lại nói: “Ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được.” Hai tiếng nói ấy đi ngược chiều nhau. Nhưng nhìn sâu vào đời sống, chúng ta thấy một nghịch lý: người chỉ sống cho mình cuối cùng thường cảm thấy trống rỗng; người biết trao mình lại tìm thấy ý nghĩa. Một bác sĩ hiến nhiều năm đời mình để chữa bệnh; một người mẹ thức đêm vì con; một người trẻ dấn thân phục vụ người nghèo; một tu sĩ từ bỏ gia đình riêng để thuộc về nhiều người; một linh mục dâng cả đời cho đoàn chiên. Bên ngoài, tất cả đều “mất” một điều gì đó. Nhưng chính trong sự mất ấy họ tìm được một sự sống lớn hơn. Đức Giêsu không lừa chúng ta khi nói con đường mất mình là con đường tìm thấy chính mình. Bởi con người được dựng nên để yêu, mà tình yêu thật luôn mang trong nó khả năng hy sinh.
Thánh Giá cũng chữa một căn bệnh rất nặng của Hội Thánh mọi thời: căn bệnh tự quy về mình. Khi Hội Thánh chỉ bận tâm về uy tín của mình, hình ảnh của mình, quyền lợi của mình, cơ sở của mình, ảnh hưởng của mình, Hội Thánh bắt đầu mất khả năng nhìn thấy những người nằm bên vệ đường. Thánh Giá kéo Hội Thánh ra khỏi trung tâm và đặt người khác vào trung tâm. Đức Giêsu trên Thánh Giá không còn lo cho bản thân. Người lo cho Mẹ. Người lo cho người môn đệ. Người lo cho người trộm bên cạnh: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43). Người lo cho những kẻ hành hình: “Xin Cha tha cho họ.” Đến giây phút cuối cùng, Người vẫn sống cho người khác. Vì thế, một Hội Thánh mang hình Thánh Giá luôn phải hỏi: ai đang ở bên lề mà chúng ta chưa nhìn thấy? Ai đang đứng ngoài cửa mà không dám bước vào? Ai cảm thấy mình không xứng đáng đến nhà thờ? Ai từng bị người của Hội Thánh làm tổn thương? Ai nghèo đến mức không có tiếng nói? Ai đang tuyệt vọng? Ai đang cần một người ngồi xuống bên cạnh hơn là một bài giảng? Chính ở nơi những con người ấy, “hiến chương Thánh Giá” đòi được thực thi.
Thật ra, cuộc khủng hoảng lớn nhất của Hội Thánh không bao giờ chỉ là thiếu tiền, thiếu nhân sự, thiếu ơn gọi, thiếu cơ sở hay thiếu phương tiện. Khủng hoảng sâu nhất là khi chúng ta có mọi thứ nhưng thiếu tinh thần của Đấng chịu đóng đinh. Một Hội Thánh nghèo nhưng biết yêu vẫn có sức truyền giáo. Một cộng đoàn nhỏ nhưng biết tha thứ vẫn làm chứng cho Tin Mừng. Một linh mục yếu đuối nhưng khiêm tốn và có lòng thương xót vẫn có thể đưa nhiều người đến Chúa. Ngược lại, một cộng đoàn giàu có, đông đảo, tổ chức hoàn hảo nhưng đầy chia rẽ và tranh chấp sẽ khiến người ta khó nhận ra Đức Kitô. Chúa không nói: “Cứ dấu này người ta nhận biết anh em là môn đệ Thầy: anh em có những công trình lớn.” Người nói: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35). Và tình yêu ấy đã được định nghĩa trên Canvê.
Cuối cùng, có lẽ mỗi lần nhìn lên Thánh Giá chúng ta nên đọc lại đời mình. Không chỉ nhìn Chúa, nhưng để Chúa nhìn ta. Đôi mắt Người trên Thánh Giá không phải đôi mắt kết án. Đó là đôi mắt từng nhìn Phêrô sau ba lần chối Thầy và khiến ông khóc. Đó là đôi mắt nhìn người phụ nữ ngoại tình mà không ném đá. Đó là đôi mắt nhìn Giakêu và gọi ông xuống khỏi cây. Đó là đôi mắt nhìn người trộm lành trong phút cuối đời và mở Thiên Đàng cho ông. Dưới ánh mắt ấy, ta không cần giả vờ rằng mình tốt. Ta chỉ cần để mình được yêu. Và một khi biết mình được yêu bằng một tình yêu đã đi đến tận Thánh Giá, ta không còn lý do để sống nhỏ nhen nữa. Người được tha nhiều sẽ yêu nhiều. Người hiểu giá của Máu Đức Kitô sẽ không dễ khinh thường một linh hồn khác. Người đã đứng thật lâu dưới Thánh Giá sẽ bớt muốn kết án. Người đã cảm được sự dịu dàng của Đấng chịu đóng đinh sẽ học cách dịu dàng với những người yếu đuối.
Thánh Giá là “hiến chương” của Hội Thánh bởi ở đó có tất cả những gì Hội Thánh phải trở thành. Một Hội Thánh mở rộng đôi tay như Chúa mở tay trên Thánh Giá, không khép lại để loại trừ. Một Hội Thánh có trái tim bị đâm thâu, biết đau nỗi đau của con người. Một Hội Thánh không sợ mất mình để phục vụ. Một Hội Thánh không trả thù khi bị tổn thương. Một Hội Thánh không lấy quyền lực làm vũ khí. Một Hội Thánh đứng bên những người không còn ai đứng bên. Một Hội Thánh nói sự thật nhưng nói bằng tình yêu. Một Hội Thánh nhìn tội nhân như người cần được cứu chứ không phải kẻ cần bị tiêu diệt. Một Hội Thánh biết chết đi mỗi ngày cho những ích kỷ, kiêu căng, tham vọng và phe nhóm của mình để Đức Kitô được sống. Hội Thánh ấy có thể không hào nhoáng, nhưng sẽ có sức hấp dẫn của Tin Mừng. Có thể không được thế gian tung hô, nhưng sẽ có mùi hương của Đức Kitô. Có thể mang nhiều vết thương, nhưng từ những vết thương ấy sẽ chảy ra nước và máu đem lại sự sống.
Và nếu có lúc chúng ta tự hỏi Hội Thánh phải đổi mới từ đâu, có lẽ câu trả lời không xa: trở lại dưới chân Thánh Giá. Không phải trước hết thêm thật nhiều chương trình, nhưng thêm tình yêu. Không phải trước hết tìm cách mạnh hơn, nhưng học cách tự hiến hơn. Không phải trước hết làm cho người khác thay đổi, nhưng để Thánh Giá đóng đinh con người cũ nơi chính mình. Không phải trước hết hỏi ai có lỗi, nhưng hỏi tôi có thể yêu thêm điều gì. Không phải hỏi ai phải phục vụ tôi, nhưng hỏi hôm nay tôi có thể rửa chân cho ai. Không phải hỏi người kia có đáng được tha không, nhưng nhớ rằng chính mình cũng sống nhờ lòng thương xót. Hội Thánh sẽ trẻ lại mỗi khi trở về với Thánh Giá, bởi Thánh Giá không bao giờ cũ. Tình yêu tự hiến không bao giờ lỗi thời. Tha thứ không bao giờ lỗi thời. Khiêm nhường không bao giờ lỗi thời. Lòng thương xót không bao giờ lỗi thời.
Chiều Canvê hôm ấy, người ta tưởng rằng Đức Giêsu đã mất tất cả. Nhưng chính lúc ấy Người đang trao tất cả. Người ta tưởng Thánh Giá là dấu chấm hết. Nhưng Thiên Chúa đã dùng nó như dấu mở đầu. Người ta tưởng đó là ngai của thất bại. Nhưng đó lại là ngai của một Vị Vua mà vương quyền là tình yêu. Người ta tưởng đám đông đã viết bản án cuối cùng cho Đức Giêsu. Nhưng chính Đức Giêsu lại đang viết bản hiến chương cho Hội Thánh của Người bằng những giọt Máu cuối cùng. Bản hiến chương ấy chỉ có một điều khoản lớn: hãy yêu như Thầy đã yêu. Mọi khoản khác đều phát xuất từ đó. Phục vụ vì yêu. Tha thứ vì yêu. Hy sinh vì yêu. Trung tín vì yêu. Chấp nhận mất mình vì yêu. Ra đi truyền giáo vì yêu. Ở lại với người đau khổ vì yêu. Sống hiệp nhất vì yêu. Và nếu cần, chết vì yêu.
Ước gì mỗi khi làm dấu Thánh Giá, chúng ta không làm theo thói quen, nhưng ý thức rằng mình đang ký lại giao ước của đời mình với Đấng chịu đóng đinh: “Lạy Chúa, con thuộc về Chúa. Xin cho con yêu như Chúa đã yêu. Xin cho Hội Thánh của Chúa mang khuôn mặt của Chúa, chứ không mang khuôn mặt của quyền lực thế gian. Xin cho chúng con đừng chỉ treo Thánh Giá trên tường mà biết mang Thánh Giá trong tim; đừng chỉ hôn kính Thánh Giá bằng môi nhưng biết sống Thánh Giá bằng đời; đừng chỉ rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh nhưng để chính đời chúng con trở thành một lời chứng rằng tình yêu vẫn có thể chiến thắng hận thù, lòng thương xót vẫn có thể chiến thắng tội lỗi và sự sống vẫn có thể nảy sinh từ nơi tưởng như chỉ còn cái chết.”
Khi ấy, người ta sẽ không chỉ nhìn thấy một Hội Thánh nói về Đức Kitô. Người ta sẽ gặp Đức Kitô trong Hội Thánh. Và đó mới là điều thế giới đang chờ.
Lm. Anmai, CSsR

HỘI THÁNH CHỈ THỰC SỰ LÀ MÌNH KHI ĐỨNG DƯỚI CHÂN THÁNH GIÁ
Có lẽ một trong những cám dỗ âm thầm nhưng dai dẳng nhất của Hội Thánh qua mọi thời đại là muốn bước ra khỏi bóng Thánh Giá để tìm cho mình một nơi dễ chịu hơn, sáng sủa hơn, được người đời nhìn nhận hơn và ít đau đớn hơn. Người ta có thể dựng những ngôi thánh đường thật lớn, tổ chức những đại lễ thật đông, xây dựng những cơ cấu thật hoàn chỉnh, phát triển những phương tiện truyền thông thật hiện đại, đào tạo những con người thật tài giỏi, nói những bài diễn văn thật đẹp về Tin Mừng, nhưng tất cả những điều ấy vẫn chưa đủ để làm nên Hội Thánh của Đức Kitô. Có một nơi mà Hội Thánh không được phép vắng mặt, có một nơi mà nếu rời khỏi đó Hội Thánh sẽ dần đánh mất căn tính của mình, đó là dưới chân Thánh Giá. Hội Thánh có thể nghèo mà vẫn là Hội Thánh. Hội Thánh có thể bị hiểu lầm mà vẫn là Hội Thánh. Hội Thánh có thể bị chống đối, bị bách hại, bị loại trừ mà vẫn là Hội Thánh. Nhưng Hội Thánh không thể bỏ Thánh Giá mà vẫn còn nguyên vẹn là Hội Thánh của Đức Giêsu Kitô. Bởi vì chính dưới chân Thánh Giá, Hội Thánh học được mình là ai, mình sinh ra từ đâu, mình tồn tại để làm gì và mình phải yêu thế giới này bằng thứ tình yêu nào. Hội Thánh không sinh ra từ ngai vàng, cũng không sinh ra từ một chiến thắng chính trị, một cuộc biểu dương sức mạnh hay một khoảnh khắc quần chúng tung hô. Hội Thánh sinh ra từ cạnh sườn của một Con Người bị đâm thâu, giữa tiếng chế nhạo của đám đông, giữa sự bỏ chạy của các môn đệ, giữa nước mắt của một người Mẹ và giữa sự thinh lặng tưởng như tuyệt đối của Thiên Chúa. Chính ở đó, nơi mọi sự theo cái nhìn con người dường như thất bại, mầu nhiệm Hội Thánh lại được khai sinh. Bởi thế, muốn biết Hội Thánh thật sự là gì, đừng chỉ nhìn Hội Thánh trong những ngày huy hoàng; hãy nhìn Hội Thánh khi Hội Thánh đứng dưới chân Thánh Giá.
Tin Mừng theo thánh Gioan đã để lại một khung cảnh vừa đau đớn vừa đẹp đến nao lòng: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Clôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,25-27). Chỉ mấy câu ngắn ngủi, nhưng dường như cả mầu nhiệm Hội Thánh đã được thu gọn trong đó. Dưới chân Thập Giá không có đám đông reo hò. Không có những người vừa vài ngày trước còn trải áo và cành lá trên đường mà tung hô: “Hoan hô Con vua Đavít.” Không còn những kẻ từng chen nhau đi theo Chúa vì được ăn bánh no nê. Không còn những người từng kinh ngạc vì phép lạ. Không còn phần lớn các môn đệ đã từng quả quyết rằng mình sẽ không bao giờ bỏ Thầy. Dưới chân Thánh Giá chỉ còn một nhóm rất nhỏ. Một người Mẹ đau đến tận cùng nhưng vẫn đứng đó. Một người môn đệ được yêu thương đã quay trở lại sau những hoảng loạn. Vài người phụ nữ trung tín không chạy trốn. Và trên cao là Đức Giêsu, không còn gì để cho nữa ngoài chính mạng sống mình. Hội Thánh đầu tiên không hiện ra như một tập thể mạnh mẽ. Hội Thánh đầu tiên hiện ra như một cộng đoàn nhỏ bé biết đứng lại bên một Đấng đang hấp hối vì yêu. Thật lạ lùng: chữ quan trọng nhất trong câu Tin Mừng ấy có lẽ chính là chữ “đứng”. “Đứng gần thập giá Đức Giêsu có thân mẫu Người…” Đức Maria không giải quyết được Thập Giá. Gioan không tháo được những chiếc đinh. Các bà phụ nữ không thay đổi được bản án của Philatô. Họ không làm được điều gì để chặn cái chết đang đến. Họ chỉ đứng đó. Nhưng đôi khi, tình yêu lớn nhất không phải là làm được một điều phi thường; tình yêu lớn nhất là không bỏ đi. Và có lẽ đó cũng là điều Hội Thánh phải học lại trong thời đại hôm nay: trước đau khổ của nhân loại, không phải lúc nào Hội Thánh cũng có câu trả lời; nhưng Hội Thánh phải có mặt. Không phải lúc nào Hội Thánh cũng giải quyết được mọi bi kịch; nhưng Hội Thánh không được bỏ đi. Không phải lúc nào Hội Thánh cũng chữa lành ngay được mọi vết thương; nhưng Hội Thánh phải biết đứng bên người đang mang vết thương ấy. Một Hội Thánh đứng xa Thánh Giá của con người rất dễ trở thành một Hội Thánh nói nhiều về tình yêu nhưng ít biết yêu.
Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá là hình ảnh đẹp nhất của Hội Thánh. Mẹ không hiểu hết những gì đang xảy ra, nhưng Mẹ không rời Con. Ba mươi mấy năm trước, Mẹ đã nghe ông Simêon nói một lời khó hiểu: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.” Hôm nay lưỡi gươm ấy đã thực sự đi qua lòng Mẹ. Người Con mà Mẹ đã cưu mang, đã sinh ra trong hang đá, đã bồng trên tay chạy sang Ai Cập, đã dắt về Nadarét, đã nhìn lớn lên từng ngày, giờ đây đang bị treo trần trụi giữa trời như một tên tội phạm. Còn đau nào lớn hơn nỗi đau của một người mẹ nhìn con mình chết mà không thể cứu? Nhưng Tin Mừng không nói Đức Maria gào thét, nguyền rủa, trách móc hay bỏ chạy. Tin Mừng chỉ nói: Mẹ đứng. Tư thế ấy nói rất nhiều về đức tin. Đức tin không phải lúc nào cũng là cảm giác bình an. Đức tin không phải lúc nào cũng hiểu được chương trình của Thiên Chúa. Đức tin không có nghĩa là đời sống không còn câu hỏi. Có những lúc đức tin chỉ còn là sức mạnh rất mỏng manh giúp ta đứng lại bên Chúa khi mọi điều ta từng hiểu về Chúa dường như sụp đổ. Đức Maria đã tin lời thiên thần: “Người sẽ nên cao cả… Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít.” Nhưng giờ đây ngai vàng của Người là cây thập giá, vương miện của Người là vòng gai, triều thần của Người là hai tên tử tội, lời tung hô dành cho Người là những tiếng nhạo cười. Nếu Mẹ chỉ tin vào lời hứa theo nghĩa của thành công trần thế, Mẹ đã có đủ lý do để tuyệt vọng. Nhưng Mẹ đứng đó. Hội Thánh cũng vậy. Có những giai đoạn lịch sử người ta tưởng Hội Thánh sắp biến mất. Có những nơi nhà thờ trống vắng, ơn gọi suy giảm, đức tin nguội lạnh. Có những thời điểm các gương xấu ngay trong lòng Hội Thánh làm người ta đau đớn. Có những lúc Hội Thánh bị chất vấn, phê phán, chống đối. Những lúc ấy, cám dỗ rất lớn là tìm mọi cách để “cứu” Hội Thánh bằng quyền lực, bằng hình ảnh, bằng kỹ thuật, bằng chiến lược. Những thứ ấy có thể cần, nhưng không phải cứu cánh. Hội Thánh trước hết được cứu bởi chính Đấng chịu đóng đinh. Vì thế, câu hỏi quyết định không phải chỉ là Hội Thánh còn bao nhiêu cơ sở, bao nhiêu tín hữu, bao nhiêu ảnh hưởng; câu hỏi quan trọng hơn là: Hội Thánh có còn đứng bên Thánh Giá của Chúa hay không?
Một Hội Thánh dưới chân Thánh Giá là Hội Thánh không tìm cách bảo vệ mình bằng mọi giá. Đây là một điều rất khó. Con người tự nhiên luôn muốn tự bảo vệ. Một tổ chức cũng vậy. Khi bị phê bình, bản năng đầu tiên thường là phản bác. Khi bị chỉ ra lỗi lầm, người ta dễ tìm cách giải thích. Khi uy tín bị tổn thương, người ta muốn nhanh chóng phục hồi hình ảnh. Nhưng Đức Kitô trên Thánh Giá đã không cứu mình. Người ta thách Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi!” Người không xuống. Không phải vì Người không thể xuống, nhưng vì nếu xuống để cứu mình, Người sẽ không cứu được chúng ta. Thánh Giá là nơi Đức Giêsu từ bỏ quyền tự cứu để trở thành Đấng cứu độ. Đây là nghịch lý mà Hội Thánh luôn phải ghi nhớ. Khi Hội Thánh chỉ lo giữ hình ảnh của mình, Hội Thánh có nguy cơ đánh mất sứ mạng. Khi Hội Thánh chỉ lo bảo vệ uy tín của mình, Hội Thánh có thể quên mất những con người bị tổn thương. Khi một cộng đoàn sợ mất danh dự hơn sợ một người bé nhỏ bị đau, cộng đoàn ấy đã đi xa khỏi Thập Giá. Thánh Giá không dạy Hội Thánh khinh thường danh dự, nhưng dạy Hội Thánh rằng sự thật quý hơn danh dự, con người quý hơn cơ cấu, lòng thương xót quý hơn chiến thắng, và cứu một tâm hồn quan trọng hơn giữ một khuôn mặt đẹp trước thế gian.
Đứng dưới chân Thánh Giá cũng có nghĩa là đứng về phía những người đang bị đóng đinh. Đây không phải là một lựa chọn mang tính xã hội phụ thêm vào đời sống đức tin; đây là hệ quả trực tiếp của việc thờ lạy Đấng chịu đóng đinh. Không thể quỳ trước tượng Chúa Giêsu chịu nạn trong nhà thờ rồi bước ra ngoài mà lạnh lùng đi ngang những con người đang bị cuộc đời đóng đinh. Thánh Giá của Chúa kéo dài trong thân thể những người nghèo, những người bị bỏ rơi, những bệnh nhân không ai chăm sóc, những người già bị con cháu quên lãng, những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ gia đình, những người bị xúc phạm vì nghèo, những người đang gánh một quá khứ mà xã hội không cho cơ hội làm lại, những người sống trong cô độc mà không biết gọi ai, những người bị oan ức mà tiếng nói quá yếu để người khác nghe thấy. Dĩ nhiên, không phải mọi đau khổ đều có thể đơn giản đồng hóa với cuộc thương khó của Chúa, và Hội Thánh không được lãng mạn hóa đau khổ. Nhưng một điều chắc chắn: Đức Kitô đã tự đồng hóa mình với những người bé mọn đến mức Người nói: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta.” Vì vậy, vị trí tự nhiên của Hội Thánh phải là nơi những người bé mọn có thể tìm thấy một mái nhà. Một giáo xứ mà người giàu cảm thấy được trân trọng nhưng người nghèo cảm thấy ngại bước vào cần tự hỏi mình đã giống Tin Mừng chưa. Một cộng đoàn mà người thành công được chào đón nhưng người thất bại bị nhìn bằng ánh mắt nghi ngờ cần trở lại dưới chân Thánh Giá. Một Giáo Hội nói rất nhiều về đạo lý nhưng không nghe được tiếng khóc của người đau khổ sẽ có nguy cơ biến đạo lý thành những viên đá lạnh. Chân lý của Đức Kitô luôn mang những vết đinh.
Dưới chân Thánh Giá, Hội Thánh cũng học được rằng mình không phải là cộng đoàn của những người hoàn hảo, nhưng là cộng đoàn của những người đã được thương xót. Gioan đứng dưới chân Thánh Giá, nhưng Phêrô không có mặt ở đó. Người môn đệ từng mạnh miệng: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy” giờ đang ở đâu đó, mang trong lòng nỗi nhục của ba lần chối Chúa. Thế nhưng sau Phục Sinh, Đức Giêsu không loại Phêrô khỏi Hội Thánh. Người đi tìm ông. Người hỏi ông ba lần: “Con có yêu mến Thầy không?” rồi vẫn trao đoàn chiên cho ông. Thật kỳ lạ! Người đứng đầu cộng đoàn Tông đồ không phải là người chưa bao giờ thất bại, nhưng là người đã thất bại và đã khóc. Đây là một trong những nét đẹp sâu xa của Hội Thánh. Hội Thánh không phải là viện bảo tàng của các vị thánh không tì vết. Hội Thánh là căn nhà nơi những tội nhân được gọi nên thánh. Hội Thánh không tồn tại để những người tốt nhìn xuống những người xấu, nhưng để tất cả cùng nhìn lên Đấng đã chết vì mình. Nếu quên điều đó, người Kitô hữu rất dễ biến đức tin thành sự tự mãn đạo đức. Ta bắt đầu nghĩ rằng ta tốt vì ta đi lễ, vì ta đọc kinh, vì ta giữ luật, vì ta phục vụ trong giáo xứ. Rồi từ lúc nào không biết, ta đứng trong nhà thờ nhưng tâm hồn lại giống người Pharisêu hơn người thu thuế. Thánh Giá phá vỡ mọi kiêu căng ấy. Dưới chân Thập Giá không ai có thể khoe mình. Không ai có thể nói: “Tôi xứng đáng được cứu.” Tất cả chỉ có thể nói: “Tôi được cứu vì Người đã yêu tôi.” Chính vì thế, Hội Thánh càng đứng gần Thánh Giá càng phải khiêm tốn; càng gần Chúa chịu đóng đinh càng khó khinh thường người khác.
Có một nghịch lý khác: Hội Thánh chỉ thật sự có sức mạnh khi không sợ yếu đuối. Thế gian thường hiểu sức mạnh là khả năng áp đặt ý muốn. Người mạnh là người có tiếng nói, có tiền bạc, có ảnh hưởng, có khả năng khiến người khác nghe mình. Nhưng Đức Giêsu đã mặc khải một thứ sức mạnh khác: sức mạnh của tình yêu tự hiến. Trên Thập Giá, hai bàn tay Người bị đóng đinh, Người không còn làm phép lạ; đôi chân bị đóng lại, Người không còn đi giảng; miệng khô khát, Người chỉ còn thốt được vài lời. Nhìn bên ngoài, Đức Giêsu chưa bao giờ yếu như thế. Vậy mà chính lúc ấy Người đang hoàn tất công trình lớn nhất của lịch sử cứu độ. Sức mạnh Thiên Chúa không biểu lộ bằng việc nghiền nát kẻ thù mà bằng việc để cho tình yêu mạnh hơn hận thù. Chúa không chiến thắng những kẻ đóng đinh Người bằng cách tiêu diệt họ; Người chiến thắng bằng cách cầu nguyện cho họ: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đây là thứ sức mạnh Hội Thánh phải mang vào thế giới. Hội Thánh không được phép dùng phương pháp của thế gian để bảo vệ Tin Mừng. Không thể rao giảng Đấng hiền lành bằng sự hung dữ. Không thể bảo vệ chân lý bằng cách làm nhục con người. Không thể nhân danh Đức Kitô để nuôi dưỡng hận thù. Không thể cầm Thánh Giá trong tay mà lời nói lại trở thành đinh đóng vào người khác.
Có lẽ thời đại mạng xã hội khiến điều này trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Người Kitô hữu đôi khi có thể rất nhiệt thành bảo vệ Chúa, bảo vệ Hội Thánh, bảo vệ chân lý, nhưng lại dùng những lời làm tổn thương người khác. Ta có thể đúng về giáo lý mà sai về tình yêu. Ta có thể thắng một cuộc tranh luận mà làm mất một con người. Ta có thể bảo vệ một tín điều nhưng làm người đối diện không còn nhìn thấy khuôn mặt hiền lành của Đức Kitô. Dưới chân Thánh Giá, ta phải học lại cách nói sự thật. Đức Giêsu không biến sự thật thành vũ khí để nghiền nát người khác. Người nói sự thật để cứu. Ngay cả khi sửa dạy, mục tiêu của Người vẫn là phục hồi con người. Hội Thánh không được đánh mất sự thật, nhưng Hội Thánh phải luôn nhớ rằng sự thật Kitô giáo không phải là một tập hợp những mệnh đề lạnh lùng; Sự Thật của Kitô giáo là một Con Người đã mở rộng hai tay trên Thập Giá. Vì thế, mọi chân lý được rao giảng mà không mang hình dáng của tình yêu chịu đóng đinh đều có nguy cơ bị trình bày sai khuôn mặt của Thiên Chúa.
Hội Thánh dưới chân Thánh Giá còn là Hội Thánh biết khóc. Chúng ta thường nghĩ nước mắt là dấu hiệu của yếu đuối, nhưng Kinh Thánh không nghĩ như vậy. Đức Giêsu đã khóc trước mộ Ladarô. Người đã khóc cho Giêrusalem. Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá chắc chắn không phải với trái tim bằng đá. Một Hội Thánh không biết khóc sẽ dễ trở thành một cơ chế. Đức Thánh Cha Phanxicô nhiều lần nhắc đến “ơn biết khóc”, bởi có những thực tại chỉ có thể nhìn đúng khi đôi mắt ta ướt lệ. Khi nghe tin những người chết vì chiến tranh mà ta chỉ thấy những con số, lòng ta có thể đã chai cứng. Khi thấy một gia đình tan vỡ mà chỉ phán xét ai đúng ai sai, ta chưa thật sự đứng dưới Thánh Giá. Khi biết một người trẻ tuyệt vọng mà điều đầu tiên ta nghĩ là “sao nó yếu đuối thế”, ta chưa bước vào nỗi đau của họ. Khi thấy một linh mục sa ngã mà chỉ lấy đó làm chuyện để bàn tán, hoặc ngược lại chỉ lo che giấu vì sợ tai tiếng, ta đều chưa đứng đủ gần Thập Giá. Đứng dưới Thánh Giá là nhìn tội lỗi với tất cả sự nghiêm trọng của nó nhưng đồng thời nhìn con người với lòng thương xót. Là ghét điều làm con người mất phẩm giá nhưng không bao giờ ngừng yêu chính con người ấy. Đó là cái nhìn của Chúa Giêsu đối với người trộm lành. Trong giờ cuối cùng, giữa những đau đớn của chính mình, Người vẫn nghe được một tiếng kêu rất nhỏ: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Người trả lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Hội Thánh là mình khi còn nghe được những tiếng kêu rất nhỏ ấy.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với những người được trao trách nhiệm mục tử. Linh mục không được gọi trước hết để trở thành một nhà quản trị thành công, một diễn giả nổi tiếng hay một nhân vật có ảnh hưởng. Những khả năng ấy nếu có đều đáng quý, nhưng không phải cốt lõi của chức linh mục. Linh mục được đặt giữa cộng đoàn để mang khuôn mặt của Đấng chịu đóng đinh. Một linh mục càng gần Thánh Giá càng bớt cần người ta khen mình. Càng gần Thánh Giá càng ít sử dụng quyền bính để bảo vệ cái tôi. Càng gần Thánh Giá càng thấy đoàn chiên không thuộc về mình. “Chiên của Thầy”, Chúa nói với Phêrô, chứ không phải chiên của Phêrô. Linh mục dưới chân Thánh Giá phải là người biết đứng bên giường bệnh lúc không còn gì để nói, ngồi bên một gia đình vừa mất người thân mà không vội dùng những câu đạo đức để lấp khoảng trống, nghe một người tội lỗi kể câu chuyện đời mình mà không tỏ vẻ kinh ngạc, kiên nhẫn với một người đã nhiều lần hứa rồi lại ngã, biết bảo vệ người bé nhỏ ngay cả khi việc ấy khiến mình phải chịu thiệt. Nếu một mục tử chỉ thích ở nơi người ta tung hô mà tránh những nơi có mùi của đau khổ, ông có thể rất bận rộn với việc đạo nhưng vẫn đứng xa Thánh Giá.
Hội Thánh dưới chân Thánh Giá cũng là Hội Thánh của sự hiệp thông. Hãy nghe lại lời Đức Giêsu: “Thưa Bà, đây là con của Bà… Đây là mẹ của anh.” Trong giờ phút sắp chết, Đức Giêsu vẫn đang tạo nên những mối tương quan mới. Thập Giá không chỉ hòa giải con người với Thiên Chúa; Thập Giá còn làm những người xa lạ trở thành một gia đình. Đức Maria nhận Gioan làm con. Gioan nhận Đức Maria làm mẹ. Dưới chân Thập Giá, không ai còn thuộc về mình nữa. Từ đó, Hội Thánh được sinh ra như một gia đình không dựa trên máu huyết nhưng trên máu Đức Kitô. Đây là điều chúng ta cần suy nghĩ rất nhiều, bởi không ít khi trong chính Hội Thánh, chúng ta vẫn chia phe, chia nhóm, phân biệt người này người kia. Có những giáo xứ nhỏ mà những vết thương kéo dài hàng chục năm chỉ vì một câu nói. Có những hội đoàn cùng phục vụ Chúa nhưng cạnh tranh nhau. Có những người cùng quỳ trước một bàn thờ nhưng không nhìn mặt nhau. Có khi người ta tranh nhau vì một chức vụ mà chẳng có lương, chẳng có quyền gì lớn, chỉ có một chút danh dự trong cộng đoàn. Thật buồn nếu dưới cây Thánh Giá là nơi Chúa chết để quy tụ con cái Thiên Chúa tản mác, chúng ta lại tiếp tục chia nhau thành những nhóm nhỏ để bảo vệ cái tôi của mình. Nếu thật sự đứng dưới chân Thánh Giá, sẽ rất khó để nuôi mãi một mối hận. Nhìn Đức Giêsu cầu xin tha thứ cho những người giết mình, ta còn có thể nói rằng mình không bao giờ tha cho người anh em vì một lời xúc phạm sao? Nhìn Chúa chịu đóng đinh vì tội của chính ta, ta còn có thể tự cho mình quyền kết án người khác đời đời sao?
Dĩ nhiên, tha thứ không có nghĩa là gọi điều sai là đúng. Đứng dưới Thánh Giá càng không có nghĩa là dung túng bất công. Thánh Giá chính là lời tố cáo mạnh mẽ nhất đối với tội lỗi, bởi tội lỗi nghiêm trọng đến mức Con Thiên Chúa đã phải đi vào tận hậu quả của nó. Nhưng Thánh Giá cũng cho thấy Thiên Chúa đối xử với tội nhân thế nào. Người không cứu bằng cách tiêu diệt tội nhân mà bằng cách mang lấy tội của họ. Hội Thánh phải giữ cả hai chiều kích ấy: không coi nhẹ sự dữ nhưng cũng không hủy diệt con người đã làm điều dữ. Công lý không được tách khỏi lòng thương xót; lòng thương xót cũng không được biến thành sự dễ dãi. Dưới chân Thánh Giá, công lý và thương xót gặp nhau trong một Đấng mang thương tích. Vì thế, mỗi khi Hội Thánh phải lên tiếng về một vấn đề luân lý, xã hội hay nhân phẩm, cách Hội Thánh lên tiếng cũng quan trọng như điều Hội Thánh nói. Chân lý của Thánh Giá không bao giờ là chân lý của khinh miệt.
Có một chi tiết nữa rất đáng suy nghĩ: khi Chúa chết, bức màn trong Đền Thờ bị xé ra. Mọi bức tường ngăn cách giữa Thiên Chúa và con người bắt đầu sụp xuống. Thập Giá mở một con đường. Vì thế, một Hội Thánh của Thập Giá phải là một Hội Thánh biết mở cửa. Không phải mở cửa theo nghĩa bỏ mọi nguyên tắc, nhưng mở cửa theo nghĩa ai cũng có thể bước vào và bắt đầu hành trình trở về. Người có quá khứ được bước vào. Người đang nghi ngờ đức tin được bước vào. Người chưa sống đúng mọi đòi hỏi Tin Mừng được bước vào. Người đang mang một đời sống rối ren cũng được bước vào. Bởi nếu chỉ người đã hoàn hảo mới được vào, chẳng ai trong chúng ta đủ điều kiện cả. Người ta đến bệnh viện vì đang bệnh chứ không phải đợi khỏe rồi mới đến. Người ta đến với Đức Kitô vì cần được cứu chứ không phải vì đã tự cứu được mình. Hội Thánh phải là nơi con người có thể nghe lời Chúa nói với người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình: “Tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.” Hai vế phải luôn đi với nhau: “Tôi không lên án chị” và “đừng phạm tội nữa”. Lòng thương xót mở cửa; sự thật chỉ con đường. Nếu chỉ có câu thứ hai mà không có câu thứ nhất, người tội lỗi có thể tuyệt vọng. Nếu chỉ có câu thứ nhất mà bỏ câu thứ hai, con người không được mời gọi đổi đời. Thánh Giá giữ cả hai trong cùng một tình yêu.
Hội Thánh cũng chỉ thực sự là mình khi chấp nhận rằng con đường của Tin Mừng không phải lúc nào cũng thành công theo tiêu chuẩn của thế gian. Đức Giêsu đã từng có lúc được hàng ngàn người đi theo. Nhưng đến cuối đời, bên chân Thập Giá chỉ còn vài người. Nếu lấy số lượng làm thước đo duy nhất, sứ vụ của Chúa Giêsu hôm Thứ Sáu Tuần Thánh là một thất bại. Nếu lấy sự ủng hộ của quần chúng làm tiêu chuẩn, Người đã thất bại. Nếu lấy quyền lực chính trị, Người thất bại. Nếu lấy khả năng tự bảo vệ, Người cũng thất bại. Thế nhưng chính trong thất bại bề ngoài đó, ơn cứu độ được hoàn tất. Điều ấy không có nghĩa là Hội Thánh không cần tổ chức tốt, không cần truyền giáo hiệu quả hay không cần tìm cách đưa Tin Mừng đến nhiều người. Nhưng Hội Thánh phải luôn cảnh giác trước thần tượng con số. Một ngôi nhà thờ đông người chưa chắc đồng nghĩa với một cộng đoàn sâu đức tin. Một hoạt động hàng ngàn người tham dự chưa chắc đồng nghĩa với hàng ngàn con tim được biến đổi. Một bài giảng có hàng triệu lượt xem chưa chắc đưa được một người đến gần Đức Kitô hơn. Thành công của Tin Mừng đôi khi xảy ra trong những nơi không ai chụp hình: một người quyết định tha thứ sau nhiều năm hận thù; một gia đình quỳ xuống cầu nguyện lại sau thời gian đổ vỡ; một người trẻ dám từ bỏ một lối sống sai; một người bệnh đón nhận những ngày cuối đời trong bình an; một người già cô độc cảm thấy mình vẫn còn được yêu vì có người đến thăm. Nước Thiên Chúa lớn lên rất nhiều lần như thế, âm thầm như hạt lúa rơi xuống đất.
Hạt lúa là một hình ảnh khác dẫn chúng ta về Thập Giá. Chúa Giêsu nói: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.” Hội Thánh không sinh hoa trái bằng cách khư khư giữ mình. Hội Thánh sinh hoa trái khi dám tiêu hao mình cho thế giới. Một cộng đoàn chỉ lo giữ người, giữ tiền, giữ cơ sở, giữ ảnh hưởng mà không chịu “chết” cho người nghèo, người trẻ, người xa Chúa, người bị bỏ quên thì có thể vẫn tồn tại về tổ chức nhưng đang mất sức sống Tin Mừng. Sứ mạng của Hội Thánh không phải là tồn tại cho chính mình. Hội Thánh tồn tại để loan báo Đức Kitô và trao Đức Kitô cho thế giới. Chiếc bánh chỉ hoàn thành ý nghĩa của nó khi được bẻ ra. Ngọn nến chỉ hoàn thành sứ mạng khi cháy đi. Muối chỉ có ích khi tan vào thức ăn. Hội Thánh cũng vậy. Một Hội Thánh chỉ muốn nguyên vẹn cho mình sẽ “trơ trọi một mình”. Một Hội Thánh dám để đời mình được bẻ ra vì người khác mới mang dáng dấp của Đức Kitô.
Chính vì thế, dưới chân Thánh Giá, Hội Thánh phải học sự nghèo khó. Không nhất thiết nghèo theo nghĩa không có phương tiện, bởi phương tiện tốt có thể phục vụ Tin Mừng, nhưng nghèo trong tinh thần: không cậy dựa tuyệt đối vào tiền bạc, quyền lực, danh tiếng hay mối quan hệ. Thánh Phaolô từng nói một câu làm đảo lộn mọi logic: “Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh.” Người ta muốn một tôn giáo chứng minh sức mạnh, Phaolô đưa cho họ một người bị đóng đinh. Người ta muốn triết lý cao siêu, Phaolô nói về một người chết như tên nô lệ. Vì sao? Vì ở đó có một quyền năng khác, quyền năng của tình yêu Thiên Chúa. Nếu Hội Thánh xấu hổ về sự yếu đuối của Thập Giá và chỉ muốn trình bày một Kitô giáo của thành công, thịnh vượng, phép lạ và thắng lợi, Hội Thánh sẽ phản bội phần quan trọng nhất của Tin Mừng. Kitô giáo không hứa rằng ai tin Chúa sẽ không đau khổ. Kitô giáo loan báo rằng trong đau khổ, chúng ta không còn cô độc; trong cái chết, sự sống đã được gieo vào; trong bóng tối, Thiên Chúa đã đi qua trước chúng ta.
Đây có lẽ là điều nhân loại hôm nay cần nghe hơn nhiều bài diễn văn. Con người hiện đại có rất nhiều phương tiện nhưng không hẳn bớt cô đơn. Có nhiều kết nối nhưng lại thiếu những mối tương quan sâu. Có nhiều tiện nghi nhưng vẫn đầy lo âu. Có thể chụp hàng ngàn tấm hình đẹp nhưng không biết làm gì với những vết nứt trong lòng. Thế giới ấy không cần một Hội Thánh đứng từ trên cao giảng giải về đau khổ. Thế giới cần một Hội Thánh bước xuống và ngồi bên cạnh. Hội Thánh phải giống Đức Maria và Gioan: không nhất thiết nói được nhiều, nhưng không bỏ đi. Khi một bà mẹ khóc vì đứa con nghiện ngập, Hội Thánh phải ở đó. Khi một người trẻ thất bại và nghĩ rằng đời mình vô nghĩa, Hội Thánh phải ở đó. Khi một người già thấy mình trở thành gánh nặng, Hội Thánh phải ở đó. Khi người bệnh nghe bác sĩ nói không còn cách chữa, Hội Thánh phải ở đó. Khi một gia đình nghèo không biết ngày mai lấy gì trả tiền học cho con, Hội Thánh phải ở đó. Khi một người phạm tội muốn quay về nhưng sợ ánh mắt người đời, Hội Thánh phải mở cửa. Sự hiện diện ấy chính là một hình thức loan báo Tin Mừng rất mạnh. Bởi Thiên Chúa của Kitô giáo không cứu nhân loại từ xa. Người đã đến ở giữa chúng ta.
“Emmanuel” nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta.” Trên Thập Giá, lời ấy đi đến tận cùng: Thiên Chúa ở cùng chúng ta ngay cả nơi chúng ta nghĩ rằng Thiên Chúa không thể có mặt. Người ở trong nỗi đau, trong cô đơn, trong bị bỏ rơi, trong cái chết. Hội Thánh là bí tích của sự hiện diện ấy. Vì vậy, Hội Thánh không được chọn chỉ những nơi đẹp để hiện diện. Nếu Đức Kitô đã xuống tận địa ngục của đau khổ con người, môn đệ Người không thể chỉ ở trong những căn phòng sạch sẽ. Một Hội Thánh chỉ hiện diện nơi lễ hội mà vắng mặt nơi nước mắt là một Hội Thánh chưa trọn vẹn. Một linh mục chỉ có mặt khi người ta mời dự tiệc mà khó tìm thấy khi gia đình gặp biến cố thì chưa mang đủ mùi của mục tử. Một người Kitô hữu chỉ thích chia sẻ những câu Kinh Thánh đẹp trên mạng nhưng không thể chịu ngồi nghe một người bạn đang đau khổ thì vẫn còn phải học rất nhiều từ chân Thập Giá.
Nhưng đứng dưới chân Thánh Giá không có nghĩa là dừng lại trong buồn đau. Hội Thánh đứng dưới chân Thánh Giá vì Hội Thánh biết rằng đây không phải là chương cuối. Sau Thứ Sáu Tuần Thánh là sáng Phục Sinh. Nhưng có một điều phải nhớ: không có con đường tắt từ Chúa Nhật Lễ Lá sang Chúa Nhật Phục Sinh. Muốn đến ngôi mộ trống, phải đi qua Golgotha. Kitô giáo không phải là tôn giáo của đau khổ; Kitô giáo là tôn giáo của tình yêu mạnh hơn đau khổ. Chúng ta không tôn thờ cây gỗ vì cây gỗ gây đau; chúng ta tôn kính Thánh Giá vì trên đó tình yêu đã đi đến cùng. Phục Sinh không xóa các vết đinh. Đức Giêsu sống lại vẫn cho Tôma thấy những vết thương. Điều đó thật đẹp. Thiên Chúa không xóa quá khứ như thể nó chưa từng xảy ra; Người biến những vết thương thành dấu chỉ của chiến thắng. Một Hội Thánh Phục Sinh vì thế không phải là Hội Thánh không có thương tích, mà là Hội Thánh mang những thương tích đã được ân sủng biến đổi.
Điều này cũng đúng với mỗi người chúng ta. Không ai bước qua đời mà không mang vài vết thương. Có vết thương từ gia đình. Có vết thương từ một người mình từng tin. Có vết thương từ sự phản bội, thất bại, bệnh tật, tuổi già. Có những vết thương do chính tội lỗi của mình gây ra. Ta thường muốn giấu chúng. Nhưng dưới chân Thánh Giá, ta không cần giả vờ. Chúa không yêu phiên bản đẹp nhất mà ta trình bày cho người khác; Chúa yêu con người thật của ta. Người biết những góc tối mà không ai biết. Người biết những lần ta đã ngã. Người biết cả những điều ta xấu hổ không dám nhớ lại. Và Người vẫn dang tay. Không phải vì tội lỗi không nghiêm trọng, nhưng vì lòng thương xót lớn hơn tội lỗi. Nếu Hội Thánh là nhà của Đấng chịu đóng đinh, Hội Thánh phải là nơi con người có thể đến với những vết thương của mình mà không sợ bị xua đuổi.
Có lẽ vì vậy mà Hội Thánh đẹp nhất không phải khi không có vấn đề, nhưng khi biết đối diện với vấn đề bằng tinh thần Thánh Giá. Hội Thánh thánh thiện, nhưng Hội Thánh mang trong mình những con người tội lỗi. Điều ấy đã có từ đầu. Trong nhóm Mười Hai có Giuđa. Phêrô chối Thầy. Giacôbê và Gioan từng tranh chỗ cao. Các môn đệ từng cãi nhau xem ai lớn nhất. Hội Thánh không cần giả vờ rằng trong mình không có yếu đuối. Hội Thánh chỉ cần không bao giờ ngừng để Đức Kitô thanh luyện mình. Điều đáng sợ nhất không phải là Hội Thánh có những thành viên tội lỗi; điều đáng sợ nhất là khi Hội Thánh không còn khả năng sám hối. Một Hội Thánh quỳ dưới Thánh Giá sẽ biết xin lỗi khi mình sai. Một Hội Thánh nhìn Đấng bị đâm thâu sẽ đủ can đảm nhìn những vết thương mình đã gây ra cho người khác. Xin lỗi không làm Hội Thánh yếu đi. Sám hối không làm Hội Thánh mất uy tín. Ngược lại, sự khiêm tốn có thể làm gương mặt Hội Thánh giống Đức Kitô hơn.
Thánh Giá cũng thanh luyện cách Hội Thánh hiểu quyền bính. Trên Thập Giá, Đức Giêsu là Vua. Tấm bảng trên đầu Người viết: “Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái.” Một ngai vua lạ lùng! Vua mà hai tay bị đóng đinh, không cầm quyền trượng. Vua mà không có quân đội. Vua mà thay vì bắt người khác chết cho mình, lại chết cho người khác. Đó là mẫu mực của mọi quyền bính trong Hội Thánh. Ai càng có trách nhiệm càng phải phục vụ nhiều hơn. Ai đứng đầu càng phải cúi xuống thấp hơn. Nếu quyền bính trong Hội Thánh trở thành đặc quyền để được phục vụ, nó đã xa Thập Giá. Nếu một chức vụ làm người ta cảm thấy mình cao hơn anh em, chức vụ ấy đang bị hiểu sai. Chúa Giêsu không nói: “Thầy ở giữa anh em như một người cai trị”, nhưng: “Thầy ở giữa anh em như một người phục vụ.” Trước khi chịu chết, Người còn quỳ xuống rửa chân cho môn đệ. Người đã trao cho Hội Thánh hình dạng của quyền bính Kitô giáo: cúi xuống.
Vì thế, Hội Thánh đứng dưới chân Thánh Giá là Hội Thánh càng lớn càng phải cúi thấp, càng được kính trọng càng phải khiêm tốn, càng có nhiều phương tiện càng phải nhớ đến những người không có gì. Hội Thánh không thể trở thành một cung điện của những người cảm thấy mình đạo đức hơn thiên hạ. Hội Thánh là nhà của những người biết mình cần ơn cứu độ. Điều này phải được cảm nhận ngay từ cánh cửa nhà thờ. Người nghèo bước vào phải thấy mình ở nhà. Đứa trẻ ồn ào phải thấy có chỗ cho nó. Người già chậm chạp phải được kiên nhẫn. Người đang sống một hoàn cảnh phức tạp phải có người lắng nghe. Người nhiều năm không xưng tội phải được đón như người cha đón đứa con hoang đàng. Có thể họ chưa thay đổi ngay. Có thể hành trình còn dài. Nhưng không ai chữa lành bằng cách bị khinh thường.
Một trong những câu đẹp nhất Chúa Giêsu nói từ Thập Giá là: “Ta khát.” Người khát nước, nhưng qua đó Hội Thánh từ lâu cũng nghe thấy cơn khát cứu độ các linh hồn. Hội Thánh phải mang trong mình cơn khát ấy. Không phải khát tăng số lượng tín hữu để tự hào, mà khát để từng người biết rằng họ được Thiên Chúa yêu. Cơn khát truyền giáo đích thực không coi người khác như con số phải chinh phục. Người thừa sai không đến để thắng người khác trong một cuộc tranh luận tôn giáo. Người thừa sai đến vì tin rằng trong trái tim mỗi người có một khoảng trống chỉ tình yêu Thiên Chúa mới lấp đầy. Và cách truyền giáo mạnh nhất vẫn là sống sao để người ta thấy được khuôn mặt Đức Kitô. Có khi một cử chỉ tử tế mở đường cho Tin Mừng hơn một giờ tranh luận. Một sự tha thứ có thể nói về Thập Giá rõ hơn nhiều lời thần học. Một cộng đoàn yêu thương nhau khiến người ngoài đặt câu hỏi: “Điều gì làm họ sống được như vậy?” Đức Giêsu từng nói: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau.” Không phải vì anh em xây được nhiều công trình. Không phải vì anh em thắng được nhiều cuộc tranh luận. Nhưng vì anh em yêu nhau.
Chúng ta cũng cần tự hỏi: nếu một ngày tất cả các cây Thánh Giá trong nhà thờ bị lấy đi, liệu người ta có còn nhận ra Hội Thánh qua cách chúng ta sống hay không? Đây là câu hỏi đau. Nếu không nhìn thấy tượng Chúa chịu nạn nhưng nhìn vào một cộng đoàn, người ta có nhận ra một tình yêu biết tha thứ không? Có nhận ra sự kiên nhẫn không? Có nhận ra cách đối xử đặc biệt với người yếu thế không? Có nhận ra những con người sẵn sàng chịu thiệt để người khác được sống không? Nếu không, có thể Thánh Giá mới chỉ treo trên tường mà chưa được khắc vào đời sống.
Thánh Giá không phải là đồ trang sức của Kitô giáo. Thánh Giá là hình dạng của đời Kitô hữu. Chúng ta làm dấu Thánh Giá trên mình mỗi ngày: nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Nhưng có khi bàn tay làm dấu Thánh Giá rất nhanh mà cuộc đời lại luôn tìm cách né tránh mọi hy sinh. Ta muốn theo Chúa nhưng không muốn mất gì. Muốn yêu nhưng không muốn chịu tổn thương. Muốn phục vụ nhưng muốn được ghi nhận. Muốn tha thứ nhưng người kia phải xin lỗi trước. Muốn làm việc chung nhưng mọi người phải nghe ý mình. Muốn thuộc về Hội Thánh nhưng không muốn mang lấy những giới hạn của cộng đoàn. Thánh Giá đụng đến tất cả những điều ấy. “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Thập giá lớn nhất đôi khi không phải bệnh tật hay nghèo khó. Thập giá khó nhất có thể chính là phải chết đi cho cái tôi.
Hội Thánh chỉ thực sự là mình khi những người trong Hội Thánh biết chết đi cho cái tôi. Một giáo xứ sẽ khác biết bao nếu mỗi người bớt một chút nhu cầu phải thắng. Gia đình sẽ khác biết bao nếu vợ chồng bớt hỏi “ai đúng?” và hỏi nhiều hơn “làm sao để tình yêu được cứu?” Cộng đoàn tu trì sẽ khác biết bao nếu mỗi người không cố bảo vệ vùng tiện nghi của mình. Hội đồng mục vụ sẽ khác biết bao nếu mọi người thật sự coi ý Chúa quan trọng hơn ý mình. Thánh Giá bắt đầu rất cụ thể như thế. Không phải chỉ trong những việc anh hùng. Thánh Giá nằm trong việc im đi một câu có thể làm tổn thương người khác. Trong việc xin lỗi trước dù mình thấy mình chỉ sai một phần. Trong việc tiếp tục chăm sóc một người bệnh dù đã mệt. Trong việc trung thành với bổn phận khi chẳng ai thấy. Trong việc không nói xấu một người dù mình có đủ lý do để bất bình. Những “cái chết nhỏ” ấy làm Hội Thánh sống.
Và rồi, dưới chân Thánh Giá, Hội Thánh nghe lời cuối cùng: “Thế là đã hoàn tất.” Không phải tiếng thở dài của một người thất bại, mà là lời của Đấng đã yêu đến cùng. Đời Kitô hữu rốt cuộc cũng chỉ có một tiêu chuẩn như vậy: ta đã yêu đến đâu? Khi đứng trước Chúa, có lẽ Người không hỏi chúng ta đã có bao nhiêu người biết tên mình, bao nhiêu công trình mang dấu ấn mình, bao nhiêu chức vụ mình từng giữ. Có lẽ điều còn lại chỉ là những gì được làm vì yêu. Một ly nước cho người khát. Một lần thăm người bệnh. Một lời bênh vực người bị oan. Một món quà âm thầm. Một lần tha thứ. Một giờ ngồi bên người cô đơn. Những điều ấy có thể nhỏ trước mắt thế gian nhưng rất lớn trước Thánh Giá.
Hội Thánh không cần phải trở thành một tổ chức giống mọi tổ chức khác để được thế giới công nhận. Hội Thánh cần trở thành chính mình. Và để trở thành chính mình, Hội Thánh phải trở về Golgotha. Không phải để than khóc quá khứ, nhưng để học lại tình yêu. Không phải để tôn vinh đau khổ, nhưng để biết đau khổ có thể được biến đổi bởi tình yêu. Không phải để chạy trốn thế giới, nhưng để bước vào những vết thương của thế giới bằng trái tim của Đức Kitô.
Khi Hội Thánh đứng dưới chân Thánh Giá, Hội Thánh biết rằng mình không phải là Đấng Cứu Độ. Đức Kitô mới là Đấng Cứu Độ. Đây là một sự giải thoát lớn lao. Chúng ta không phải cứu cả thế giới bằng sức mình. Chúng ta chỉ phải trung thành. Người gieo hạt có thể không thấy mùa gặt. Người linh mục có thể giảng nhiều năm mà không biết lời nào đã chạm vào một linh hồn. Cha mẹ cầu nguyện cho con có khi phải chờ rất lâu mới thấy nó quay về. Một nữ tu phục vụ âm thầm có thể chẳng bao giờ được ai nhắc đến. Nhưng dưới chân Thánh Giá, ta học rằng không có tình yêu nào bị mất đi. Hạt lúa chết xuống trong âm thầm rồi sẽ sinh hoa trái vào giờ của Thiên Chúa.
Có lẽ thế giới hôm nay không chờ Hội Thánh chứng minh rằng mình mạnh. Thế giới đang chờ Hội Thánh chứng minh rằng tình yêu là thật. Và chỉ dưới chân Thánh Giá, Hội Thánh mới có thể học được thứ tình yêu ấy: tình yêu không bỏ đi khi người kia không còn đáng yêu; tình yêu không trả đũa khi bị tổn thương; tình yêu dám nói sự thật nhưng không làm nhục; tình yêu đứng bên người đau khổ dù không giải quyết được hết vấn đề; tình yêu trao cả chính mình mà không hỏi sẽ nhận lại gì.
Đức Maria đã đứng đó. Gioan đã đứng đó. Những người phụ nữ đã đứng đó. Và suốt hai ngàn năm, Hội Thánh vẫn được mời gọi đứng ở chính nơi ấy. Không phải cứ đứng dưới Thánh Giá là mọi câu hỏi sẽ được giải đáp. Đức Maria hôm ấy cũng chưa thấy Phục Sinh. Mẹ chỉ thấy Con chết. Nhưng Mẹ đã không bỏ đi. Có những lúc Hội Thánh cũng phải sống một đức tin như thế: chưa thấy kết quả nhưng vẫn trung thành, chưa thấy bình minh nhưng vẫn giữ ngọn đèn, chưa thấy hạt nảy mầm nhưng vẫn gieo.
Và có lẽ đó là hình ảnh Hội Thánh đẹp nhất: không phải một Hội Thánh đứng trên đỉnh cao để cả thế giới ngước nhìn, nhưng một Hội Thánh đứng dưới chân Thập Giá, bên những người đang đau, mắt hướng về Đức Kitô, hai bàn tay sẵn sàng đón lấy con người mà Chúa trao: “Đây là con của Bà… Đây là mẹ của anh.” Từ dưới chân Thánh Giá, Hội Thánh nhận lấy nhân loại như người thân của mình. Không còn ai hoàn toàn xa lạ. Nỗi đau của người khác trở thành lời gọi dành cho ta. Nước mắt của người khác trở thành trách nhiệm của ta. Sự sống của người khác trở thành điều đáng để ta hy sinh.
Ngày nào Hội Thánh còn đứng ở đó, Hội Thánh vẫn còn trẻ. Ngày nào Hội Thánh còn biết cúi xuống trước người đau khổ, Hội Thánh vẫn còn sức sống. Ngày nào Hội Thánh còn dám xin lỗi, còn dám tha thứ, còn dám nghèo đi, còn dám mất đi một chút danh dự để bảo vệ một người nhỏ bé, còn dám chọn chân lý thay vì hình ảnh, chọn người nghèo thay vì quyền lực, chọn phục vụ thay vì thống trị, ngày ấy dung mạo Đức Kitô vẫn còn hiện rõ giữa Hội Thánh.
Còn nếu một ngày Hội Thánh muốn sống mà không cần Thánh Giá, muốn được yêu mến mà không chịu bị hiểu lầm, muốn có ảnh hưởng mà không cần phục vụ, muốn rao giảng mà không cần tự hiến, muốn nói về lòng thương xót mà không chịu chạm vào những vết thương, lúc ấy Hội Thánh có thể vẫn còn nhiều thứ, nhưng đang đánh mất điều quý nhất: khuôn mặt của Đấng chịu đóng đinh.
Xin cho mỗi chúng ta, từ giám mục, linh mục, tu sĩ đến từng người giáo dân, biết tìm lại chỗ đứng của mình dưới chân Thánh Giá. Xin cho những cộng đoàn Kitô hữu đừng bao giờ trở thành nơi người yếu đuối sợ bước vào. Xin cho những ngôi thánh đường của chúng ta không chỉ đẹp vì kiến trúc mà đẹp vì ở đó người tội lỗi tìm được lòng thương xót, người cô đơn tìm được một người lắng nghe, người nghèo được gọi bằng tên, người đau khổ không bị bỏ một mình. Xin cho Hội Thánh đừng bao giờ quá bận rộn với những việc lớn đến mức không nghe được tiếng khóc nhỏ của một con người.
Và mỗi khi nhìn lên Thánh Giá, xin đừng chỉ hỏi: “Chúa đã chịu đau đớn thế nào?” Hãy hỏi thêm: “Chúa đã yêu tôi đến mức nào?” Rồi từ câu hỏi ấy, hãy hỏi tiếp một câu khó hơn: “Tôi sẽ yêu người khác thế nào?” Bởi cuối cùng, Thánh Giá không chỉ để chúng ta chiêm ngắm. Thánh Giá phải trở thành một con đường.
Hội Thánh sinh ra dưới chân Thánh Giá. Hội Thánh được nuôi sống bởi Đấng chịu đóng đinh. Hội Thánh loan báo một Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Vì thế, mỗi lần Hội Thánh trở về dưới chân Thánh Giá, Hội Thánh không trở về với thất bại nhưng trở về nguồn sống của mình. Chính nơi tưởng như là tận cùng ấy lại bắt đầu một thế giới mới. Chính nơi con người giết Thiên Chúa, Thiên Chúa tha thứ cho con người. Chính nơi hận thù tưởng đã thắng, tình yêu lên tiếng cuối cùng. Chính nơi sự chết khép lại một đời người, sự sống đời đời đã mở cửa.
Và đó là lý do Hội Thánh chỉ thực sự là mình khi đứng dưới chân Thánh Giá: bởi chỉ ở đó Hội Thánh nhớ rằng mình không tồn tại để được thế gian tung hô, nhưng để yêu thế gian như Đức Kitô đã yêu; không tồn tại để bảo vệ mình, nhưng để trao mình; không tồn tại để thống trị, nhưng để phục vụ; không tồn tại để đứng trên con người, nhưng để đứng bên họ; và khi cần, đứng dưới chân những thập giá của họ cho đến ngày Thiên Chúa biến mọi nước mắt thành niềm vui.
Lm. Anmai, CSsR

QUYỀN BÍNH TRONG HỘI THÁNH DƯỚI ÁNH SÁNG THÁNH GIÁ – QUYỀN PHỤC VỤ ĐẾN CHẾT
Có lẽ trong mọi vấn đề của đời sống Hội Thánh, ít có vấn đề nào vừa cần thiết, vừa nhạy cảm, vừa dễ bị hiểu sai như vấn đề quyền bính. Hội Thánh không thể sống mà không có quyền bính. Một giáo phận cần có giám mục. Một giáo xứ cần có linh mục quản xứ. Một cộng đoàn tu trì cần có bề trên. Một hội đoàn cần có người chịu trách nhiệm. Một công việc chung cần có người quyết định. Không thể nhân danh tình huynh đệ mà biến cộng đoàn thành một tập thể không ai chịu trách nhiệm; cũng không thể nhân danh hiệp hành mà coi mọi quyết định đều chỉ là kết quả của một cuộc biểu quyết. Chúa Giêsu đã trao quyền cho các Tông đồ và Hội Thánh từ ban đầu đã nhận biết những tác vụ, trách nhiệm và thẩm quyền khác nhau. Nhưng câu hỏi quan trọng không phải là Hội Thánh có quyền bính hay không. Câu hỏi thật sự là: quyền bính ấy mang khuôn mặt nào? Nó giống ngai vàng của những người cai trị thế gian, hay giống cây Thánh Giá trên đồi Canvê? Nó khiến người khác phải cúi xuống trước người có quyền, hay khiến chính người có quyền cúi xuống rửa chân cho anh em mình? Nó tìm cách được bảo vệ, hay chấp nhận bị tổn thương để bảo vệ đoàn chiên? Nó dùng người khác để giữ lấy vị trí của mình, hay tiêu hao chính mình để người khác được sống? Chỉ khi đặt quyền bính dưới bóng Thánh Giá, Hội Thánh mới nhận ra bản chất sâu xa của quyền bính Kitô giáo: quyền bính không phải là quyền đứng trên người khác, nhưng là quyền được trao để quỳ xuống trước người khác; không phải quyền bắt người khác chết cho mình, nhưng là trách nhiệm sẵn sàng chết cho người khác.
Tin Mừng đã cho chúng ta một khung cảnh gần như là bản tóm tắt toàn bộ thần học Kitô giáo về quyền bính. Hai người con ông Dêbêđê, hoặc theo trình thuật Matthêu là bà mẹ của họ, đến xin Chúa Giêsu một đặc ân: “Xin Thầy truyền cho hai con tôi đây, một người ngồi bên hữu, một người bên tả Thầy trong Nước Thầy.” Đó là một lời xin rất người. Người ta đi theo Thầy, bỏ thuyền, bỏ lưới, chịu khó khăn, và rồi trong thâm tâm bắt đầu nghĩ đến chỗ ngồi. Mười môn đệ kia nghe chuyện thì tức tối. Nhưng có lẽ họ tức không phải vì đã hiểu tinh thần của Chúa hơn hai anh em Giacôbê và Gioan; họ tức vì hai người kia đã nhanh chân hơn họ trong việc xin những chỗ danh dự. Và chính trong bầu khí đầy mùi cạnh tranh ấy, Chúa Giêsu nói một câu phải được viết trên cánh cửa mọi phòng làm việc của người có trách nhiệm trong Hội Thánh: “Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy. Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Ai muốn làm đầu anh em, thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,25-28). Chúa không nói rằng giữa anh em không có người làm đầu. Ngài cũng không nói rằng mọi quyền bính phải bị xóa bỏ. Ngài nói một điều mạnh hơn nhiều: “Giữa anh em thì không được như vậy.” Nghĩa là Hội Thánh có quyền bính, nhưng không được sử dụng quyền bính theo logic của thế gian. Hội Thánh có người đứng đầu, nhưng cách đứng đầu phải khác. Hội Thánh có người chỉ huy, nhưng cung cách chỉ huy phải mang dáng dấp của Đấng chịu đóng đinh. Thước đo quyền bính trong thế gian có thể là số người phải nghe mình; thước đo quyền bính của Đức Kitô là số người mình sẵn lòng phục vụ. Thế gian hỏi: “Anh có bao nhiêu người dưới quyền?” Tin Mừng hỏi: “Anh đã cúi xuống với bao nhiêu người?” Thế gian hỏi: “Người ta kính nể anh đến đâu?” Thánh Giá hỏi: “Anh đã yêu họ đến mức nào?”
Điều lạ lùng là Chúa Giêsu không chỉ giảng về điều ấy. Ngài đã sống điều ấy đến cùng. Trong Bữa Tiệc Ly, khi biết “Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người”, Chúa Giêsu đã làm gì? Nếu là con người, khi biết mình nắm mọi quyền trong tay, có lẽ điều đầu tiên là ngồi lên vị trí cao hơn. Nhưng Tin Mừng Gioan kể: “Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn thắt lưng. Rồi Đức Giêsu đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ” (Ga 13,4-5). Thật đáng suy nghĩ: chính vào lúc Tin Mừng nhấn mạnh rằng mọi sự đã được trao vào tay Chúa Giêsu, thì đôi tay có mọi quyền ấy lại cầm lấy đôi chân bụi bặm của môn đệ mà rửa. Đó là cách Thiên Chúa sử dụng quyền lực. Quyền lực của Thiên Chúa không làm con người nhỏ đi. Quyền lực của Thiên Chúa cúi xuống để nâng con người lên. Quyền lực của Thiên Chúa không tạo khoảng cách. Quyền lực của Thiên Chúa vượt khoảng cách. Quyền lực của Thiên Chúa không bắt người yếu hơn phục vụ mình. Ngài phục vụ người yếu hơn. Và đặc biệt đau đớn: trong những đôi chân Chúa rửa tối hôm ấy có cả đôi chân của Giuđa, người sắp bước ra khỏi căn phòng để bán Ngài. Chúa biết. Nhưng Ngài vẫn rửa. Có lẽ không nơi nào quyền bính Kitô giáo được diễn tả rõ hơn thế. Người có quyền theo Đức Kitô không chỉ phục vụ những người biết ơn mình, hợp ý mình, trung thành với mình, khen mình; người ấy còn được gọi để phục vụ cả người làm mình đau.
Thế nhưng chiếc khăn và chậu nước trong Bữa Tiệc Ly chưa phải là lời cuối cùng. Đỉnh cao của quyền bính Đức Kitô nằm trên Thánh Giá. Trên đồi Canvê, người ta nhạo báng Ngài: “Nếu ông là Vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi!” Điều thế gian mong chờ nơi một vị vua là khả năng tự cứu mình. Nhưng Đức Kitô cho thấy quyền năng của Vua Thiên Sai chính ở chỗ không cứu mình để cứu người khác. Người có quyền trong thế gian thường sử dụng quyền lực để bảo vệ mình. Chúa Giêsu sử dụng quyền năng để trao ban mình. Người cai trị thế gian có thể hy sinh người khác để bảo vệ ngai vàng; Vua Giêsu hy sinh chính mình để cứu thần dân. Người ta đội trên đầu Ngài một vòng gai, khoác cho Ngài áo choàng đỏ, đặt trên cây Thánh Giá hàng chữ “Giêsu Nazareth, Vua dân Do Thái”. Họ tưởng đó là một trò chế nhạo. Nhưng chính trong trò chế nhạo ấy, chân lý về vương quyền của Đức Kitô được mặc khải. Ngai vàng của Ngài là Thánh Giá. Vương miện của Ngài là mão gai. Áo hoàng bào của Ngài là thân thể đầy máu. Quyền trượng của Ngài là cây sậy. Những người đứng bên ngai không phải là quan chức nhưng là hai tử tội. Và sắc lệnh lớn nhất được ban từ ngai ấy không phải là kết án, mà là: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Chưa bao giờ quyền bính của Thiên Chúa lại bất lực theo mắt người đời đến thế, và chưa bao giờ quyền bính ấy lại mạnh đến thế. Bởi vì đó là quyền năng của tình yêu có thể yêu ngay cả khi bị đóng đinh.
Bởi vậy, mỗi khi quyền bính trong Hội Thánh tách khỏi Thánh Giá, quyền bính ấy bắt đầu biến dạng. Có thể vẫn còn chức vụ, vẫn còn phẩm phục, vẫn còn danh xưng, vẫn còn cơ cấu, vẫn còn những quyết định hợp pháp, nhưng tinh thần Tin Mừng đã dần bị mất. Một người có thể giữ đúng chức vụ của mình mà lại hành xử trái với phong cách của Đức Kitô. Người ta có thể nhân danh kỷ luật để làm tổn thương, nhân danh sự thật để nghiền nát, nhân danh vâng phục để làm người khác mất tiếng nói, nhân danh bảo vệ Hội Thánh để bảo vệ danh dự cá nhân, nhân danh hiệp nhất để bịt miệng những tiếng nói khó nghe. Đáng sợ nhất không phải lúc người ta công khai từ bỏ Tin Mừng, mà là khi người ta sử dụng chính ngôn ngữ của Tin Mừng để bảo vệ những thái độ không còn thuộc về Tin Mừng nữa.
Quyền bính luôn mang trong mình một cám dỗ rất tinh vi: người đang phục vụ có thể dần dần tin rằng cộng đoàn thuộc về mình. Một linh mục có thể vô tình nghĩ giáo xứ là “giáo xứ của tôi”. Một giám mục có thể bị cám dỗ đồng hóa giáo phận với ý riêng của mình. Một bề trên có thể xem cộng đoàn như nơi để thực hiện những dự án cá nhân. Một người phụ trách hội đoàn có thể xem những người cộng tác như thuộc cấp. Ban đầu người ta nhận trách nhiệm vì muốn phục vụ. Nhưng rồi trách nhiệm đem đến uy tín; uy tín đem đến tiếng nói; tiếng nói đem đến sự kính trọng; sự kính trọng đem đến đặc quyền; và nếu không tỉnh thức, một ngày nào đó người ta bắt đầu bảo vệ đặc quyền của mình mà vẫn tưởng mình đang bảo vệ sứ vụ. Đây là một trong những bi kịch âm thầm nhất của quyền bính: người ta có thể bắt đầu bằng việc mang Thánh Giá cho Chúa, rồi cuối cùng lại dùng cây Thánh Giá để làm ngai cho mình.
Đức Kitô không trao Hội Thánh cho chúng ta làm sở hữu. Đoàn chiên là của Chúa. Những con người mà một linh mục phục vụ không thuộc về linh mục ấy. Những tu sĩ dưới trách nhiệm của một bề trên không phải là tài sản của bề trên. Người giáo dân cũng không thuộc về giáo sĩ. Họ là con cái Thiên Chúa, được mua bằng giá máu Đức Kitô. Vì thế bất cứ người nào được trao quyền trong Hội Thánh phải sống với một nỗi kính sợ thánh thiện: tôi đang chạm vào một người thuộc về Thiên Chúa. Tôi không được tùy tiện với họ. Không được sử dụng lòng tin của họ để xây dựng ảnh hưởng của mình. Không được biến sự kính trọng họ dành cho chức vụ thành một thứ quyền lực cá nhân. Không được khiến họ sợ tôi đến mức không dám nói thật. Không được khiến họ lệ thuộc vào tôi thay vì trưởng thành trong Chúa. Người mục tử thật không xây một đoàn chiên lệ thuộc vào mình; người mục tử thật dẫn đoàn chiên đến chỗ có thể nghe tiếng Đức Kitô.
Vì thế, quyền bính Kitô giáo trước hết là một trách nhiệm trước Thiên Chúa hơn là một đặc quyền trước con người. Chúa Giêsu nói với Phêrô: “Hãy chăn dắt chiên của Thầy.” Ngài không nói “chiên của anh”. Ba lần Chúa trao nhiệm vụ và ba lần Ngài gắn nhiệm vụ ấy với câu hỏi: “Anh có yêu mến Thầy không?” (x. Ga 21,15-17). Chúa không hỏi Phêrô trước hết: “Anh có tài lãnh đạo không? Anh có nói hay không? Anh có chiến lược tốt không? Anh có khả năng tổ chức không?” Những điều ấy cần, nhưng chưa phải nền móng. Câu hỏi nền móng là: “Anh có yêu mến Thầy không?” Bởi chỉ người yêu Chúa thật mới có thể yêu đoàn chiên mà không chiếm hữu đoàn chiên. Chỉ người yêu Chúa hơn chính mình mới có thể sử dụng quyền bính mà không biến quyền bính thành phương tiện tự khẳng định. Chỉ người đã để trái tim mình bị Thánh Giá thanh luyện mới có thể lãnh đạo mà không cần liên tục chứng minh mình là người lãnh đạo.
Người có quyền mà không cầu nguyện rất nguy hiểm. Bởi khi không còn đứng trước mặt Thiên Chúa, người ta rất dễ bắt người khác đứng trước mặt mình. Khi không còn quỳ trước Thánh Thể, người ta dễ muốn người khác cúi trước chức vụ. Khi không còn nghe Lời Chúa xét xử lương tâm mình, người ta dễ dùng lời mình xét xử mọi người. Một người có trách nhiệm cần những giờ im lặng trước Chúa hơn người khác, bởi mỗi quyết định của họ có thể ảnh hưởng đến nhiều cuộc đời. Một lời nói trong lúc nóng giận của người bình thường có thể làm đau một người; một lời nói trong lúc nóng giận của người mang quyền bính có thể làm người khác đau suốt nhiều năm. Một quyết định thiếu suy xét của một người bình thường có thể gây bất tiện; một quyết định thiếu suy xét của người đứng đầu có thể làm cả cộng đoàn lao đao. Chính vì thế người có quyền cần biết run sợ trước Thiên Chúa, không phải sợ hãi nô lệ, nhưng là biết mình đang mang một trách nhiệm lớn lao đối với những linh hồn được Chúa yêu bằng giá máu Con Một.
Thánh Giá cũng dạy người lãnh đạo biết lắng nghe. Chúa Giêsu là Lời, nhưng Ngài đã dành rất nhiều thời gian nghe con người. Ngài nghe người mù Bartimê kêu bên vệ đường mặc dù đám đông muốn ông im. Ngài dừng lại hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Ngài nghe bà góa. Ngài nghe người phong cùi. Ngài nghe người phụ nữ Canaan dù các môn đệ muốn đuổi bà đi. Ngài nghe Nicôđêmô giữa đêm khuya. Ngài nghe người phụ nữ Samari bên bờ giếng. Một trong những dấu hiệu quyền lực đã biến chất là khi người có quyền không còn muốn nghe nữa, hoặc chỉ muốn nghe những gì củng cố điều mình đã nghĩ. Người có quyền rất dễ sống trong một vòng tròn những tiếng nói thuận tai. Người ta khen thì được gần. Người ta góp ý thì bị xem là chống đối. Người ta im thì được coi là ngoan. Người ta đặt câu hỏi thì bị xem là thiếu vâng phục. Dần dần người đứng đầu chỉ còn nghe tiếng vọng của chính mình. Đó là lúc quyền bính trở nên cô độc và nguy hiểm.
Lắng nghe không có nghĩa là người có trách nhiệm phải làm theo mọi ý kiến. Có những lúc phải quyết định. Có những lúc phải nói “không”. Có những lúc phải sửa sai. Có những lúc phải thi hành kỷ luật. Chúa Giêsu hiền lành nhưng không nhu nhược. Ngài đã nói những lời rất mạnh với những người giả hình; Ngài đã lật bàn những kẻ buôn bán trong Đền Thờ; Ngài đã sửa Phêrô: “Satan, lui lại đàng sau Thầy!” Quyền bính phục vụ không phải là quyền bính yếu đuối. Người mục tử không phải là người làm hài lòng tất cả. Nếu chỉ muốn được mọi người yêu thích, người lãnh đạo sẽ không còn đủ tự do để làm điều đúng. Nhưng khác biệt căn bản nằm ở động cơ. Một người có thể nói lời cứng rắn để bảo vệ chân lý hoặc nói lời cứng rắn để bảo vệ cái tôi. Bên ngoài giống nhau, bên trong hoàn toàn khác. Một quyết định kỷ luật có thể phát xuất từ lòng yêu thương muốn cứu người, nhưng cũng có thể phát xuất từ sự tức giận muốn trừng phạt người làm mình khó chịu. Vì thế người thi hành quyền bính cần tự hỏi trước Thánh Giá: tôi làm điều này vì ích lợi của họ, hay vì tôi bị tổn thương? Tôi bảo vệ Tin Mừng, hay bảo vệ sĩ diện? Tôi muốn người ấy hoán cải, hay muốn người ấy phải trả giá vì đã chống lại tôi?
Chính Thánh Giá thanh luyện những động cơ kín đáo như thế. Dưới chân Thánh Giá, không ai còn có thể tự hào về chức vụ. Chúng ta đều là những tội nhân được cứu chuộc. Giám mục cũng đứng dưới Thánh Giá. Linh mục cũng đứng dưới Thánh Giá. Bề trên cũng đứng dưới Thánh Giá. Giáo dân cũng đứng dưới Thánh Giá. Không ai đứng ngang hàng với Đấng chịu đóng đinh. Không ai có thể lấy vị trí của Chúa. Và điều đặc biệt đẹp trong Hội Thánh là người có quyền vẫn cần được cứu như những người mình phục vụ. Người giảng giải Lời Chúa cũng cần được Lời Chúa sửa dạy. Người ban phép giải tội cũng phải quỳ xuống xưng tội. Người trao Mình Thánh Chúa cho người khác cũng phải mở tay nghèo khó đón nhận cùng một Tấm Bánh. Người chúc lành cho cộng đoàn cũng cần lời chúc lành của Thiên Chúa. Chính ý thức ấy giữ cho quyền bính khỏi trở thành thần tượng.
Có một điều người có quyền rất cần học nơi Đức Kitô chịu đóng đinh: chấp nhận mất mình. Quyền bính theo thế gian luôn tìm cách bảo toàn. Quyền bính theo Thánh Giá chấp nhận hao mòn. Một người cha tốt hao mòn vì con. Một người mẹ tốt thức đêm vì con. Một mục tử tốt cũng phải biết hao mòn vì đoàn chiên. Không phải hao mòn vì những cuộc tranh giành vô nghĩa, nhưng hao mòn vì yêu. Thánh Phaolô từng nói: “Phần tôi, tôi rất vui lòng tiêu phí tiền của, và tiêu phí cả sức lực lẫn con người của tôi vì linh hồn anh em” (x. 2 Cr 12,15). Đó là một câu diễn tả tuyệt đẹp về quyền bính tông đồ. Không phải cộng đoàn tồn tại để nuôi dưỡng người lãnh đạo; người lãnh đạo được trao cho cộng đoàn để tiêu hao đời mình vì cộng đoàn.
Chúng ta hãy nhìn vào người Mục Tử Nhân Lành. Chúa Giêsu nói: “Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy” (x. Ga 10,11-12). Điểm khác giữa mục tử và người làm thuê không nằm ở chiếc áo họ mặc hay chức danh họ mang. Điểm khác nằm ở lúc sói đến. Bình thường, cả hai đều có thể đi trước đàn chiên. Nhưng nguy hiểm xuất hiện thì một người chạy để cứu mình, còn người kia đứng lại để cứu chiên. Thánh Giá chính là khoảnh khắc Chúa Giêsu đứng lại. Ngài có thể trốn, nhưng Ngài không trốn. Có thể gọi đạo binh thiên thần, nhưng Ngài không gọi. Có thể xuống khỏi Thánh Giá để chứng minh quyền năng, nhưng Ngài ở lại. Quyền bính Kitô giáo được thử thách không phải trong những ngày mọi người vỗ tay, nhưng trong những ngày người lãnh đạo phải trả giá vì trung thành với đoàn chiên.
Có những người lãnh đạo được yêu mến khi mọi việc thuận lợi, nhưng khi khủng hoảng xảy ra thì đẩy trách nhiệm xuống dưới. Khi thành công thì nhận công; khi thất bại thì tìm người chịu lỗi. Đó không phải phong cách của Thánh Giá. Đức Kitô không đẩy trách nhiệm về phía các môn đệ. Ngài bước lên phía trước. Khi quân lính đến bắt Ngài trong vườn Cây Dầu, Chúa hỏi: “Các anh tìm ai?” Họ trả lời: “Giêsu Nazareth.” Ngài nói: “Chính tôi đây.” Rồi Ngài thêm: “Nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi” (x. Ga 18,4-8). Câu ấy đẹp biết bao đối với người có trách nhiệm: “Hãy để cho những người này đi.” Tôi đứng đây. Tôi chịu. Tôi bảo vệ người được trao cho tôi. Đó là quyền bính có hình Thánh Giá. Một người đứng đầu thật không sử dụng cộng sự như tấm khiên che cho mình; chính mình trở thành tấm khiên cho cộng sự.
Trong Hội Thánh, người nắm quyền càng cao càng phải cúi thấp. Không phải một sự cúi thấp trình diễn để được ca ngợi là khiêm nhường, nhưng sự cúi thấp thật sự trong đời thường. Cách người lãnh đạo cư xử với người không có gì để đem lại cho mình thường cho thấy rõ nhất con người thật của họ. Có thể lịch thiệp với người quyền thế vì còn cần họ. Có thể niềm nở với ân nhân vì họ giúp đỡ công việc. Nhưng ta đối xử thế nào với một ông cụ nghèo đi vào phòng làm việc mà nói mãi không hết chuyện? Với một chị giáo dân ít học trình bày vụng về? Với một tu sĩ trẻ làm sai? Với một nhân viên cấp thấp? Với một người từng phê bình mình? Với một người bệnh tâm lý hay một người tính khí khó chịu? Chính những cuộc gặp ấy mới cho thấy người lãnh đạo đã học được điều gì từ Thánh Giá.
Quyền bính phục vụ còn có nghĩa là tạo không gian để người khác lớn lên. Người lãnh đạo bất an thường sợ người dưới quyền giỏi hơn mình. Họ thích những người ngoan theo nghĩa không đặt câu hỏi, những người không nổi bật, những người luôn cần họ. Nhưng người lãnh đạo theo Đức Kitô vui khi người khác trưởng thành, ngay cả khi sự trưởng thành ấy làm họ không còn cần mình như trước. Gioan Tẩy Giả đã nói một câu rất đẹp: “Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi” (Ga 3,30). Đó cũng là linh đạo của quyền bính. Công việc của người mục tử không phải khiến mọi người nói: “Không có cha ấy thì chúng tôi không làm được gì,” nhưng giúp cộng đoàn trưởng thành đến mức mỗi người có thể đảm nhận phần trách nhiệm Thiên Chúa trao cho họ. Người cha tốt không giữ con mãi trong vòng tay. Người thầy tốt không giữ học trò mãi dưới bóng mình. Người mục tử tốt cũng không tạo một giáo dân lệ thuộc, nhưng đào tạo những Kitô hữu trưởng thành, biết cầu nguyện, phân định, chịu trách nhiệm, biết sống và làm chứng cho Tin Mừng.
Có khi người ta tưởng quyền bính càng được tập trung thì càng mạnh. Nhưng sức mạnh của một cộng đoàn không nằm ở việc mọi thứ đều qua tay một người. Một người không thể là tất cả. Khi người đứng đầu phải biết hết, làm hết, quyết hết, kiểm soát hết, cộng đoàn sẽ có vẻ rất trật tự nhưng bên trong dần dần nghèo nàn. Đặc sủng của Thánh Thần bị bó hẹp. Người khác không dám sáng tạo. Không ai dám chịu trách nhiệm. Người lãnh đạo mệt mỏi, còn cộng đoàn trở nên thụ động. Chúa Giêsu không làm như vậy. Ngài gọi Mười Hai, sai từng hai người, trao quyền, chấp nhận để họ tập làm, thậm chí chấp nhận để họ thất bại. Các môn đệ từng không trừ được quỷ; từng hiểu sai; từng tranh cãi; từng muốn gọi lửa từ trời xuống; từng ngủ trong lúc Chúa cầu nguyện. Nhưng Ngài kiên nhẫn đào tạo họ. Một quyền bính biết trao quyền là một quyền bính tin rằng Chúa Thánh Thần không chỉ hoạt động nơi mình.
Thánh Giá cũng đặt quyền bính vào sự thật. Một vị lãnh đạo có thể được rất nhiều người tôn kính nhưng vẫn cần có ai đó đủ tự do để nói với mình: “Điều này không đúng.” Vua Đavít cần ngôn sứ Nathan. Phêrô, vị đứng đầu nhóm Tông đồ, có lúc bị Phaolô phản đối công khai vì cách cư xử không phù hợp với Tin Mừng. Không ai trong Hội Thánh lớn đến mức không cần sửa mình. Một cộng đoàn mà người đứng đầu không thể bị góp ý là một cộng đoàn đang đứng trước nguy cơ. Khi người lãnh đạo khiến mọi người phải đoán tâm trạng mình trước khi nói thật, quyền bính đã bắt đầu tạo sợ hãi. Khi người dưới quyền chỉ dám nói những điều lãnh đạo muốn nghe, người lãnh đạo sẽ ngày càng xa thực tế. Có thể người ấy nghĩ mọi sự rất tốt bởi mọi báo cáo đều tốt, mọi người đều mỉm cười; nhưng đằng sau những cánh cửa đóng lại, người ta bắt đầu nói với nhau những điều họ không bao giờ dám nói trước mặt người đứng đầu.
Đức Kitô không cần bảo vệ mình khỏi sự thật. Người mang quyền bính dưới ánh sáng Thánh Giá cũng thế. Nếu tôi sai, việc nhận lỗi không làm quyền bính của tôi nhỏ đi. Trái lại, nó làm quyền bính trở nên đáng tin hơn. Một linh mục nói với cộng đoàn: “Cha đã quyết định sai, cha xin lỗi,” không mất phẩm giá linh mục. Một bề trên nói với một tu sĩ trẻ: “Trong chuyện này tôi đã đối xử không công bằng với anh,” không mất thẩm quyền. Một giám mục thừa nhận một sai lầm không làm chức giám mục yếu đi. Chỉ có cái tôi bị thương. Nhưng nếu cái tôi chịu chết, sự thật được sống. Và đó chính là Thánh Giá.
Thật đáng tiếc khi đôi khi chúng ta nghĩ rằng xin lỗi sẽ làm mất uy. Chính thái độ không bao giờ nhận lỗi mới phá hủy uy tín. Con người có thể chịu đựng rất nhiều thiếu sót nơi người lãnh đạo nếu họ biết người ấy thật, biết hối lỗi, biết sửa mình. Nhưng rất khó sống với một người luôn đúng. Chỉ Thiên Chúa không sai. Khi một con người hành xử như mình không thể sai, dù không nói ra, người ấy đang chiếm một chỗ không thuộc về mình.
Quyền bính dưới ánh sáng Thánh Giá cũng đặc biệt nhạy cảm với những người bé nhỏ. Chúa Giêsu đã nói: “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé nhỏ đang tin Thầy đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn.” Những lời ấy phải khiến người có trách nhiệm trong Hội Thánh run sợ. Quyền bính luôn có một khoảng bất cân xứng. Người trẻ đứng trước người lớn. Chủng sinh đứng trước nhà đào tạo. Tu sĩ trẻ đứng trước bề trên. Giáo dân đứng trước linh mục. Nhân viên đứng trước người có quyền quyết định đời sống và công việc của mình. Chính vì có sự bất cân xứng ấy, người mang quyền phải càng cẩn trọng. Một lời nói đùa của người ngang hàng có thể chỉ là lời nói đùa; cũng lời ấy từ người có quyền đôi khi làm người yếu hơn không dám phản ứng. Một yêu cầu của người ngang hàng có thể bị từ chối dễ dàng; một yêu cầu từ người có thẩm quyền có thể khiến người khác cảm thấy họ không có lựa chọn. Vì thế quyền bính càng lớn, trách nhiệm bảo vệ tự do và phẩm giá người yếu hơn càng lớn.
Không thể lấy sự vâng phục để che đậy lạm dụng. Đức vâng phục Kitô giáo không phải là việc xóa bỏ lương tâm. Lương tâm được đào tạo trong chân lý là cung thánh nơi con người nghe tiếng Thiên Chúa. Người bề trên có trách nhiệm phân định, hướng dẫn và quyết định trong phạm vi sứ vụ của mình; nhưng không ai có quyền sở hữu lương tâm người khác. Một nền tu đức làm con người mất khả năng suy nghĩ, mất khả năng phân định, chỉ biết sợ và lệ thuộc, không phải là hoa trái tốt đẹp của Thánh Thần. Đức vâng phục của Đức Kitô là tự do yêu thương: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (Ga 10,18). Bởi thế, vâng phục Kitô giáo chỉ thực sự đẹp khi gặp một quyền bính cũng biết vâng phục. Người dưới quyền vâng phục bề trên; bề trên vâng phục Tin Mừng. Linh mục vâng phục giám mục; giám mục vâng phục Đức Kitô. Tất cả cùng vâng phục sự thật. Không ai là chủ tuyệt đối.
Có một nghịch lý rất đẹp: trong Hội Thánh, người có quyền chỉ thật sự có quyền khi chính họ ở dưới quyền. Chúa Giêsu, Đấng có mọi quyền trên trời dưới đất, đã sống trong sự vâng phục Chúa Cha: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy.” Trong vườn Cây Dầu, Ngài cầu nguyện: “Xin đừng theo ý Con, một theo ý Cha.” Quyền bính của Đức Kitô nảy sinh từ sự vâng phục. Vì thế một người càng được trao quyền trong Hội Thánh càng phải là người biết đặt mình dưới Lời Chúa. Không thể đòi người khác vâng phục nếu chính mình không biết vâng phục. Không thể đòi người khác sống luật nếu mình tự cho mình ngoại lệ. Không thể kêu gọi người khác hy sinh trong khi bản thân giữ mọi tiện nghi. Không thể yêu cầu cộng đoàn minh bạch nếu tài chính của mình không minh bạch. Không thể đòi người khác khiêm nhường nếu mình không chịu được một lời góp ý. Quyền bính không thể chỉ giảng bằng miệng; nó giảng mạnh nhất bằng cách sống.
Một trong những hình thức lạm dụng quyền bính khó nhận ra nhất là thao túng tâm linh. Đó là khi người ta sử dụng Thiên Chúa để khiến người khác làm theo ý mình: “Ý Chúa là thế này,” “Chúa muốn con phải làm thế kia,” trong khi thực ra điều đang được nói có thể chỉ là ý kiến hay mong muốn của người hướng dẫn. Cần hết sức cẩn trọng khi đặt lời của mình vào miệng Thiên Chúa. Người mục tử phải giúp người khác phân định ý Chúa, chứ không thay thế Thiên Chúa trong lương tâm họ. Một linh hướng tốt không làm người được hướng dẫn lệ thuộc vào mình, nhưng giúp họ ngày càng nhạy bén với tiếng Chúa. Một bề trên tốt không sử dụng nỗi sợ mất ơn gọi, sợ phạm tội, sợ làm Chúa buồn để điều khiển người khác. Thiên Chúa giải phóng; ma quỷ trói buộc. Quyền bính nhân danh Thiên Chúa mà làm con người mất tự do nội tâm cần được xét lại dưới ánh sáng Thánh Giá.
Thánh Giá cho chúng ta một tiêu chuẩn rất rõ: hoa trái của quyền bính phải là sự sống. Đức Kitô nói: “Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.” Nếu một cộng đoàn sống dưới quyền lãnh đạo mà người ta ngày càng trưởng thành, tự do trong điều thiện, dám chịu trách nhiệm, biết yêu thương, biết nói thật, biết cộng tác, biết tha thứ, có lẽ quyền bính ấy đang sinh hoa trái tốt. Nếu một cộng đoàn càng ngày càng sợ hãi, nghi kỵ, phe nhóm, im lặng, kiệt sức, giả vờ, luôn đoán ý cấp trên, không dám sáng tạo và chỉ làm để khỏi bị trách, thì dù bên ngoài có vẻ rất kỷ luật, cần can đảm hỏi xem điều gì đang xảy ra.
Nhưng cũng phải công bằng với những người đang mang trách nhiệm. Nói về lạm dụng quyền bính thì dễ; mang quyền bính mới biết gánh nặng của nó. Có những linh mục đêm không ngủ vì những xung đột trong giáo xứ. Có những giám mục phải đưa ra những quyết định mà quyết bên nào cũng có người không hài lòng. Có những bề trên gánh những vấn đề mà cộng đoàn không bao giờ biết hết. Có những người phụ trách bị phê bình bởi chính những người không biết một phần mười thông tin họ đang phải xử lý. Có những quyết định nhìn từ bên ngoài có vẻ lạnh lùng nhưng phía sau là rất nhiều đau đớn, cầu nguyện và đắn đo. Vì vậy, nói quyền bính phải phục vụ không có nghĩa là cộng đoàn được quyền biến người lãnh đạo thành người phục vụ theo nghĩa thế tục, đòi hỏi mọi điều, chỉ trích mọi lúc, rồi không chia sẻ trách nhiệm. Mục tử cần yêu đoàn chiên, nhưng đoàn chiên cũng phải biết yêu mục tử. Thánh Giá không phải chỉ dành cho người đứng đầu. Cả cộng đoàn cùng đứng dưới Thánh Giá.
Có khi người lãnh đạo phải chịu một thứ cô đơn rất khó nói. Có những chuyện không thể kể. Có những quyết định không thể giải thích hết. Có những nỗi đau phải mang một mình để giữ bình an cho người khác. Có những người mình đã cố gắng giúp nhưng cuối cùng họ vẫn quay lại trách mình. Có những hy sinh không ai biết. Có những đêm chỉ còn Chúa hiểu. Chính những lúc ấy, người lãnh đạo cần nhìn Đấng bị đóng đinh. Chúa Giêsu biết thế nào là bị hiểu lầm. Ngài biết cảm giác bị người mình yêu bỏ chạy. Ngài biết sự phản bội của Giuđa, lời chối của Phêrô, giấc ngủ của ba môn đệ trong giờ hấp hối. Ngài biết đứng giữa đám đông từng tung hô mình và nghe chính họ la lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!” Người mục tử mang những vết thương ấy không phải dấu hiệu mình đã thất bại. Có những vết thương là giá của tình yêu.
Tuy nhiên, Thánh Giá không được dùng để hợp thức hóa việc để người khác lạm dụng mình. Câu “hãy vác thập giá” đôi khi đã bị nói quá dễ dàng với người đang bị tổn thương. Thánh Giá của Đức Kitô là hậu quả của tình yêu và sự trung thành với chân lý; Thánh Giá không phải lời mời duy trì những cơ cấu bất công. Chúa Giêsu chịu đánh, nhưng khi người lính vả Ngài trước thượng tế, Ngài hỏi: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” (Ga 18,23). Ngài chịu đau khổ nhưng không gọi điều sai là đúng. Do đó quyền bính dưới ánh sáng Thánh Giá cũng có trách nhiệm sửa chữa những cơ cấu gây tổn thương, bảo vệ người yếu, thiết lập sự minh bạch và công bằng. Không thể nói với một nạn nhân rằng hãy hy sinh để bảo vệ danh tiếng của tổ chức. Danh dự của Hội Thánh không được bảo vệ bằng việc che giấu sự thật. Hội Thánh được thanh tẩy bởi sự thật.
Cây Thánh Giá không phải là nơi Thiên Chúa che giấu vết thương; trên Thánh Giá, mọi vết thương đều mở ra. Tay bị đóng đinh. Chân bị đóng đinh. Cạnh sườn bị đâm thâu. Chính từ cạnh sườn mở ấy, máu và nước chảy ra, và truyền thống Hội Thánh đã nhận ra hình ảnh Hội Thánh được sinh ra. Một Hội Thánh thật không cần giả vờ rằng mình không có vết thương. Một quyền bính trưởng thành không sợ minh bạch. Có những điều càng giấu càng mục. Có những vết thương chỉ bắt đầu được chữa khi được đem ra ánh sáng. Đức Kitô Phục Sinh không xóa các dấu đinh. Ngài cho Tôma chạm vào đó. Hội Thánh cũng chỉ đáng tin khi dám cho người ta thấy rằng mình biết nhận lỗi, biết sửa sai, biết học từ những thất bại.
Quyền bính phục vụ còn phải đặc biệt thể hiện trong cách sử dụng tiền bạc. Tin Mừng cảnh báo rất nhiều về mammon bởi tiền bạc và quyền lực thường đi với nhau. Nơi nào quyền bính kiểm soát tài chính mà không minh bạch, nơi ấy cám dỗ rất lớn. Tiền của Hội Thánh không phải tiền riêng của người quản lý. Đó là của cải được trao để phục vụ sứ vụ, người nghèo, việc loan báo Tin Mừng và đời sống cộng đoàn. Người có trách nhiệm càng phải thanh thoát. Không cần sống giả nghèo; nhưng phải có một trái tim nghèo. Có thể quản lý tài sản lớn mà không coi nó là của mình. Có thể sống giữa những phương tiện cần thiết mà không để phương tiện trở thành danh dự. Và đôi khi câu hỏi đơn giản nhất lại rất thẳng: nếu Đức Kitô bước vào nơi chúng ta đang sống, Ngài có nhận ra phong cách của mình không?
Hãy nhớ lời Chúa: “Con Người không có chỗ tựa đầu.” Đấng là Chúa vũ trụ sinh trong máng cỏ, sống tại Nazareth, đi bộ trên những con đường bụi, chết trần trụi trên Thánh Giá và được chôn trong ngôi mộ mượn của người khác. Một Hội Thánh quá bận tâm bảo vệ đặc quyền sẽ trở nên khó nói về Đấng đã từ bỏ mọi đặc quyền. Một người mục tử quá yêu tiện nghi sẽ khó nói thuyết phục về Thánh Giá. Không phải vì nghèo tự nó là thánh thiện, nhưng bởi sự tự do trước của cải giúp người mục tử có thể thuộc trọn về đoàn chiên.
Quyền bính dưới ánh sáng Thánh Giá cũng biến đổi cách chúng ta nhìn thành công. Thế gian đo lãnh đạo bằng con số: bao nhiêu người theo, bao nhiêu công trình xây, bao nhiêu chương trình, bao nhiêu tiếng vang. Những điều ấy có giá trị, nhưng chưa đủ. Chúa Giêsu kết thúc sứ vụ trần thế thế nào? Mười hai môn đệ thì một người phản bội, một người chối, những người còn lại bỏ chạy. Đám đông bỏ đi. Ngài chết ngoài thành như một tội nhân. Nếu đo bằng tiêu chuẩn quản trị thuần túy, Canvê trông giống thất bại. Nhưng chính nơi ấy Chúa cứu thế gian. Có những mục tử không để lại công trình đồ sộ nhưng để lại những con người đã được yêu. Có những linh mục sống âm thầm trong một giáo xứ nghèo, không ai biết tên, nhưng đã ngồi hàng ngàn giờ nơi tòa giải tội, xức dầu cho người hấp hối, thăm bệnh nhân, dạy trẻ, hòa giải gia đình, khóc với người đau khổ. Trong mắt thế gian chẳng có gì vĩ đại. Trong mắt Đấng chịu đóng đinh, đó có thể là một đời sống rực rỡ.
Ngày phán xét, Chúa không hỏi chúng ta có bao nhiêu danh hiệu. Ngài hỏi về người đói, người khát, người trần truồng, người đau yếu, người tù đày. “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta.” Quyền bính trong Hội Thánh, vì thế, không được đánh giá trước hết bằng độ lớn của bàn làm việc mà bằng khoảng cách từ bàn làm việc đến người nghèo. Người đứng đầu có còn nghe được tiếng khóc của người thấp cổ bé miệng không? Có còn biết tên những người phục vụ âm thầm không? Có còn bước ra khỏi văn phòng để chạm đến những con người thật không? Hay xung quanh người ấy đã hình thành quá nhiều tầng trung gian đến mức chỉ còn nghe báo cáo?
Chúa Giêsu chạm vào người phong cùi. Ngài để người phụ nữ tội lỗi khóc dưới chân. Ngài cho trẻ nhỏ lại gần dù các môn đệ ngăn cản. Ngài vào nhà Dakêu dù người ta xầm xì. Quyền bính của Ngài luôn rút ngắn khoảng cách. Bởi thế người có trách nhiệm trong Hội Thánh phải thường xuyên tự hỏi: chức vụ của tôi làm tôi gần người khác hơn hay xa họ hơn? Ngày mới chịu chức, tôi có dễ đến với người nghèo hơn bây giờ không? Ngày mới nhận trách nhiệm, tôi có dễ nghe một người đơn sơ hơn bây giờ không? Khi chưa có chức vụ, tôi có nhiều bạn nói thật với tôi; bây giờ quanh tôi còn ai dám nói thật không? Những câu hỏi ấy có thể đau, nhưng rất cần.
Trong đời sống linh mục, nguy cơ lớn không phải lúc nào cũng là những tội lớn. Đôi khi nguy cơ bắt đầu bằng một sự thay đổi rất nhỏ trong cách nhìn người khác. Từ “anh chị em” thành “người của mình”. Từ “cộng tác viên” thành “thuộc cấp”. Từ “phục vụ” thành “điều hành”. Từ “được sai đến” thành “tôi làm chủ”. Không có ngày nào người ta chính thức quyết định trở thành độc đoán. Nó thường đến từng chút. Vì vậy mỗi ngày cần trở lại với khăn thắt lưng, chậu nước và cây Thánh Giá.
Có lẽ mỗi người mang quyền bính trong Hội Thánh nên thường xuyên đứng một mình trước tượng Chúa chịu nạn và nhìn thật lâu. Không cần nói gì nhiều. Chỉ nhìn đôi tay bị đóng đinh và hỏi: Đôi tay tôi đang dùng quyền để làm gì? Nhìn đôi chân bị đóng đinh và hỏi: Tôi có còn đi đến những nơi không ai muốn đi? Nhìn cạnh sườn bị đâm và hỏi: Trái tim tôi còn có thể bị người khác làm đau không, hay đã chai cứng để tự bảo vệ? Nhìn đầu đội mão gai và hỏi: Tôi tìm vinh quang của ai? Nhìn thân thể trần trụi và hỏi: Nếu mất hết danh dự, địa vị, chức vụ, tôi còn biết mình là ai trước mặt Thiên Chúa không?
Một người chỉ có thể sử dụng quyền bính đúng khi không đồng hóa căn tính mình với chức vụ. Hôm nay tôi là bề trên, ngày mai tôi có thể trở lại làm một thành viên bình thường. Hôm nay tôi là cha xứ, mai tôi có thể được chuyển đi. Hôm nay người ta đứng lên khi tôi bước vào; một ngày kia tôi sẽ nằm trong quan tài và chính những người ấy đọc kinh bên cạnh. Chức vụ qua đi. Danh tiếng qua đi. Những tấm bằng khen rồi sẽ cũ. Các chức danh rồi sẽ được trao cho người khác. Điều còn lại trước mặt Chúa là tình yêu. Nhớ đến cái chết không làm người lãnh đạo bi quan; nó giải phóng họ khỏi sự bám víu. Ai biết một ngày mình sẽ trả lại tất cả sẽ dùng những gì đang có nhẹ nhàng hơn.
Có một câu chuyện Tin Mừng thật đẹp ở cuối đời Chúa Giêsu. Khi đang treo trên Thánh Giá, Ngài nhìn thấy Mẹ và người môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh. Trong giờ đau đớn nhất, Chúa vẫn nghĩ đến người khác: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi Ngài nói với môn đệ: “Đây là Mẹ của anh” (Ga 19,26-27). Ngay khi không còn gì để trao – áo đã bị chia, thân thể đã bị đóng đinh, máu đang cạn – Ngài vẫn còn trao một người cho một người. Quyền bính của Chúa đến phút cuối vẫn là chăm sóc. Người mục tử theo Chúa cũng thế. Không hỏi trước hết “Ai chăm sóc tôi?”, nhưng “Ai đang cần tôi chăm sóc?” Và đôi khi chính lúc mình đang đau, mình vẫn được mời gọi nhận ra nỗi đau của người bên cạnh.
Quyền bính ấy không thể sống nếu không có tình yêu. Mà tình yêu trong Tin Mừng không phải cảm xúc dễ chịu. Tình yêu là việc sẵn sàng trả giá vì điều thiện của người khác. Có khi yêu là dịu dàng. Có khi yêu là sửa lỗi. Có khi yêu là im lặng. Có khi yêu là phải nói. Có khi yêu là giữ một người ở lại. Có khi yêu là để một người ra đi. Có khi yêu là tha thứ. Có khi yêu là thiết lập ranh giới để chặn điều xấu. Không có một công thức đơn giản. Bởi thế quyền bính Kitô giáo luôn là một nghệ thuật phân định dưới chân Thánh Giá.
Cũng cần nói đến những người sống dưới quyền bính. Chúng ta thường dễ thấy khuyết điểm của người lãnh đạo nhưng ít thấy gánh nặng họ mang. Một cộng đoàn trưởng thành không thần tượng người lãnh đạo, nhưng cũng không biến lãnh đạo thành mục tiêu để chỉ trích. Người có trách nhiệm cần được cầu nguyện cho. Thánh Phaolô đã nhiều lần xin các cộng đoàn cầu nguyện cho ngài. Người lãnh đạo cũng yếu đuối. Họ có thể mệt, có thể sai, có thể cô đơn, có thể bị cám dỗ. Một lời góp ý chân thành quý hơn lời tâng bốc; nhưng một lời cầu nguyện còn quý hơn lời bàn tán. Nếu thấy người có trách nhiệm sai, hãy tìm cách nói trong sự thật và đức ái, đừng biến câu chuyện thành món ăn cho những cuộc trò chuyện bên lề. Hội Thánh không được xây bằng phe nhóm.
Hiệp hành đích thực không tiêu diệt quyền bính; hiệp hành thanh luyện quyền bính. Hiệp hành không có nghĩa tất cả đều có cùng chức năng, nhưng mọi người cùng lắng nghe Thánh Thần. Vị mục tử không đi một mình phía trước đoàn chiên đến mức không còn nghe tiếng chiên; cũng không đứng yên phía sau mặc đoàn chiên tự đi. Có lúc phải đi trước chỉ đường, có lúc đi giữa để chia sẻ nhịp bước, có lúc đi sau để tìm người tụt lại. Một hình ảnh đẹp về quyền bính là như thế: không phải đứng trên, nhưng ở giữa; không phải cai quản từ xa, nhưng mang mùi của đoàn chiên, như cách nói quen thuộc của Đức Giáo hoàng Phanxicô.
Và ở trung tâm của một Hội Thánh hiệp hành luôn phải là Đức Kitô chịu đóng đinh. Nếu không, hiệp hành có thể biến thành đấu trường của ý kiến. Người nhiều tiếng nói hơn thắng. Nhóm có ảnh hưởng hơn thắng. Nhưng dưới Thánh Giá, mọi người đều phải im để nghe. Giám mục phải nghe. Linh mục phải nghe. Tu sĩ phải nghe. Giáo dân phải nghe. Và câu hỏi cuối cùng không phải “ý kiến nào được nhiều phiếu hơn?” nhưng là “Thánh Thần đang nói gì với Hội Thánh?” Người có trách nhiệm vẫn phải quyết định, nhưng quyết định sau khi cầu nguyện, lắng nghe, phân định và tự hỏi điều gì phục vụ Tin Mừng chứ không phải điều gì bảo vệ vị thế của mình.
Có lẽ hình ảnh đẹp nhất của quyền bính Kitô giáo vẫn là Chúa Giêsu quỳ bên chân Phêrô trong Bữa Tiệc Ly. Phêrô hoảng hốt: “Thầy mà lại rửa chân cho con sao?” Ông không chịu nổi một Thiên Chúa như thế. Có lẽ chúng ta cũng không dễ chịu nổi. Chúng ta thích một Thiên Chúa mạnh theo kiểu chúng ta hiểu sức mạnh. Nhưng Đức Kitô trả lời bằng hành động: Thiên Chúa quỳ xuống. Và sau khi rửa chân, Ngài nói: “Anh em gọi Thầy là ‘Thầy’, là ‘Chúa’, điều đó phải lắm, vì quả thật Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (x. Ga 13,13-14). Chú ý: Chúa không từ bỏ việc là Thầy và là Chúa khi Ngài quỳ xuống. Chính lúc quỳ xuống, Ngài mặc khải cách hoàn hảo nhất Ngài là Chúa như thế nào. Vậy nên người lãnh đạo không mất quyền bính khi phục vụ. Ngược lại, chính phục vụ làm quyền bính của họ mang khuôn mặt Đức Kitô.
Và vài giờ sau, đôi tay từng rửa chân ấy bị đóng đinh. Người đã quỳ dưới chân môn đệ giờ bị treo giữa trời và đất. Chiếc khăn phục vụ dẫn đến Thánh Giá. Không thể tách hai hình ảnh. Nếu quyền bính chỉ dừng ở những cử chỉ phục vụ dễ thương mà không sẵn sàng trả giá, đó mới chỉ là hình thức. Chúa Giêsu không chỉ rửa chân; Ngài trao mạng sống. Vì vậy, quyền bính Kitô giáo đạt đến sự trưởng thành khi người có trách nhiệm có thể nói bằng đời mình: “Tôi sẵn lòng mất phần mình để anh em được sống.”
Thế gian bảo người đứng đầu phải làm cho người khác sợ mình. Đức Kitô nói: “Đừng sợ.” Thế gian bảo phải giữ khoảng cách để giữ uy. Đức Kitô để Gioan tựa đầu vào ngực mình. Thế gian bảo phải che giấu yếu đuối. Đức Kitô cho người ta thấy các vết thương. Thế gian bảo phải thắng đối thủ. Đức Kitô cầu nguyện cho kẻ đóng đinh mình. Thế gian bảo khi có quyền hãy bảo vệ mình. Đức Kitô dùng quyền để hiến mình. Hai con đường ấy không thể hòa lẫn. Hội Thánh chỉ còn là Hội Thánh của Đức Kitô khi dám chọn con đường của Đức Kitô.
Bởi vậy, trước mọi chức vụ trong Hội Thánh phải có một cây Thánh Giá. Không phải như một vật trang trí, nhưng như một bản hiến pháp. Người có trách nhiệm nhìn vào đó mỗi ngày để nhớ: Đây là cách Chúa của tôi làm Vua. Nếu cách tôi lãnh đạo không thể đứng được dưới cây Thánh Giá này, tôi phải thay đổi. Nếu một quyết định khiến tôi lớn lên nhưng làm những người bé nhỏ bị nghiền nát, tôi phải suy nghĩ lại. Nếu quyền bính khiến tôi được phục vụ nhiều hơn mà phục vụ ít đi, tôi đang đi sai hướng. Nếu chức vụ làm tôi xa người nghèo hơn ngày chưa có chức vụ, tôi cần trở về. Nếu tôi không còn chịu được góp ý, hãy nhìn Người bị nhạo báng. Nếu tôi quá bận giữ danh dự, hãy nhìn Người bị lột áo. Nếu tôi muốn trả đũa người làm mình đau, hãy nghe: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Nếu tôi mệt đến mức muốn bỏ đoàn chiên, hãy nhìn Mục Tử vẫn ở lại trên Thánh Giá.
Một ngày kia, tất cả chúng ta sẽ đứng trước Đấng chịu đóng đinh và Phục Sinh. Khi ấy những chiếc ghế đã không còn. Danh thiếp không còn. Chức vụ không còn. Người ta không còn gọi chúng ta là “Đức Cha”, “Cha Bề trên”, “Cha xứ”, “ông trưởng”, “bà trưởng”. Chỉ còn một con người đứng trước Thiên Chúa. Và có lẽ câu hỏi được đặt ra sẽ rất đơn sơ: Những người Ta trao cho con, con đã yêu họ thế nào? Không phải: họ có vâng lời con không? Không phải: con xây được bao nhiêu công trình? Không phải: có bao nhiêu người khen con? Nhưng: con đã yêu họ thế nào? Khi họ yếu, con có nâng họ lên không? Khi họ sai, con có sửa họ mà vẫn giữ phẩm giá cho họ không? Khi họ nghèo, con có nhớ họ không? Khi họ làm con đau, con có cầu nguyện cho họ không? Khi quyền lợi của họ đụng đến quyền lợi của con, con chọn ai?
Và có lẽ đó cũng là lúc ta hiểu lời Chúa: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy.” Điều đúng cho mọi Kitô hữu càng đúng cho người mang quyền bính. Quyền bính chỉ được cứu khi người ta dám mất nó như một thứ sở hữu. Ai bám lấy quyền sẽ bị quyền nuốt chửng. Ai trao quyền mình cho tình yêu sẽ được tự do.
Hội Thánh không cần những người lãnh đạo không bao giờ yếu đuối. Hội Thánh cần những người lãnh đạo biết yếu đuối của mình và biết nương tựa vào Chúa. Hội Thánh không cần những người luôn luôn đúng. Hội Thánh cần những người yêu sự thật đến mức dám nhận mình sai. Hội Thánh không cần những người khiến mọi người sợ. Hội Thánh cần những người khiến người yếu dám đến gần. Hội Thánh không cần những ngai vàng. Hội Thánh cần những chiếc khăn thắt lưng, những chậu nước, những đôi tay biết rửa chân và những trái tim sẵn sàng bị đâm thâu.
Và cuối cùng, Hội Thánh cần những con người hiểu rằng quyền bính lớn nhất không phải là khả năng buộc người khác làm điều mình muốn, mà là khả năng tự hiến mình vì người khác. Đây là quyền bính của Thánh Giá. Một quyền bính xem ra yếu mà mạnh hơn mọi bạo lực. Một quyền bính không cưỡng ép nhưng chinh phục trái tim. Một quyền bính không giữ mạng sống mà trao mạng sống. Chính quyền bính ấy đã biến một nhóm môn đệ sợ hãi thành những Tông đồ sẵn sàng chết vì Tin Mừng. Chính quyền bính ấy đã làm cho đế quốc qua đi nhưng Hội Thánh vẫn còn. Chính quyền bính ấy vẫn có sức chạm vào những trái tim chai cứng nhất, bởi người ta có thể chống lại sức mạnh, nhưng rất khó chống lại một tình yêu sẵn sàng chết cho mình.
Xin cho những ai được trao một phần quyền bính trong Hội Thánh, từ Đức Giáo hoàng, các giám mục, linh mục, bề trên, cho đến những người đảm nhận một trách nhiệm nhỏ bé trong giáo xứ, cộng đoàn và gia đình, luôn nhớ rằng phía trên chiếc ghế của mình có một Thánh Giá. Phía trên tên tuổi của mình có Danh Đức Giêsu. Phía trên quyền của mình có quyền của Đấng đã nói: “Thầy ở giữa anh em như một người phục vụ.” Và phía cuối con đường của mọi quyền bính Kitô giáo không phải là ngai vàng, nhưng là Canvê.
Nếu phải chọn một hình ảnh để nói với người lãnh đạo trong Hội Thánh về sứ mạng của họ, có lẽ chỉ cần chỉ về cây Thánh Giá và nói: Hãy nhìn Ngài. Hãy lãnh đạo như Ngài. Hãy yêu như Ngài. Hãy phục vụ như Ngài. Và nếu cần, hãy chết đi cho chính mình như Ngài.
Bởi vì trong Hội Thánh của Đức Kitô, người lớn nhất không phải là người được nhiều người phục vụ nhất, nhưng là người đã phục vụ nhiều nhất. Người mạnh nhất không phải là người khiến người khác sợ, nhưng là người đủ mạnh để cúi xuống. Người có quyền nhất không phải là người giữ được quyền cho đến cùng, nhưng là người có thể trao chính mình cho đến cùng.
Và đó chính là mầu nhiệm của Thánh Giá: quyền năng lớn nhất của Thiên Chúa xuất hiện trong một Con Người dang hai tay, không để nắm giữ bất cứ điều gì, nhưng để trao ban tất cả.

Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VÀ TÍNH HIỆP HÀNH: CÙNG VÁC THẬP GIÁ VỚI NHAU
Có lẽ một trong những hình ảnh đẹp nhất để nói về Hội Thánh không phải là hình ảnh của một đoàn người mặc những bộ áo thật đẹp cùng tiến bước trong một cuộc rước long trọng, cũng không phải là hình ảnh của một cộng đoàn đông đảo đang hát thật hay trong một ngôi thánh đường nguy nga, nhưng là hình ảnh của một đoàn người đang đi trên một con đường đầy bụi, người mạnh đi chậm lại để đỡ người yếu, người còn sức đưa vai cho người đã mỏi, người đang khóc được một bàn tay âm thầm nắm lấy, người vừa ngã được người bên cạnh cúi xuống nâng lên, và ở giữa đoàn người ấy là Đức Giêsu đang mang Thánh Giá. Tính hiệp hành của Hội Thánh, nếu tách khỏi Thánh Giá, rất dễ trở thành một khẩu hiệu đẹp, một chương trình tổ chức, một phương pháp hội họp hay một thứ ngôn ngữ thời thượng; nhưng tính hiệp hành dưới ánh sáng Tin Mừng lại là một điều sâu hơn rất nhiều: đó là cùng đi với Chúa, cùng đi với nhau, và vì cùng đi nên không để ai phải một mình vác cây thập giá của đời họ. Nói đến hiệp hành mà chỉ nói đến lắng nghe, đối thoại, tham gia, phân định, đồng trách nhiệm mà không nói đến hy sinh, nhẫn nại, từ bỏ mình, chịu đựng nhau, tha thứ cho nhau, mang lấy gánh nặng của nhau thì vẫn còn thiếu một phần cốt lõi. Bởi con đường của Hội Thánh không phải là một đại lộ trải thảm đỏ nhưng là con đường từ Galilê lên Giêrusalem, từ Giêrusalem đến Núi Sọ, từ Núi Sọ đến ngôi mộ trống. Và ở giữa con đường ấy có một cây Thánh Giá.
Tin Mừng kể rằng khi Đức Giêsu bị điệu đi để chịu đóng đinh, “họ bắt một người từ miền quê lên, tên là Simon người Kyrênê, vác thập giá đỡ Đức Giêsu” (x. Lc 23,26). Chỉ một câu Tin Mừng rất ngắn nhưng có thể soi sáng cả một linh đạo hiệp hành. Simon không phải là một trong Nhóm Mười Hai. Ông không có mặt trong Bữa Tiệc Ly. Ông không hứa với Chúa rằng dù mọi người có bỏ Thầy thì con cũng không bỏ. Ông chỉ là một người qua đường. Có thể sáng hôm ấy ông chẳng hề nghĩ rằng tên mình sẽ được ghi vào Tin Mừng. Ông từ đồng ruộng trở về, có công việc của mình, có chương trình của mình, có gia đình đang chờ mình. Thế rồi bất ngờ người ta đặt lên vai ông cây thập giá của một người khác. Có lẽ ban đầu ông chẳng tự nguyện. Tin Mừng nói rất rõ: họ “bắt” ông. Một cây thập giá không thuộc về ông bỗng đặt lên vai ông. Một nỗi đau không phải của ông bỗng trở thành phần đường ông phải đi. Một người xa lạ bỗng trở thành người ông phải đồng hành. Và chính ở đó Simon Kyrênê trở thành một trong những hình ảnh đẹp nhất của Hội Thánh: người Kitô hữu là người chấp nhận để cây thập giá của người khác chạm vào vai mình.
Chúng ta thường muốn một Hội Thánh hiệp hành, nhưng nhiều khi lại chỉ muốn đi với những người dễ đi cùng. Ta thích người hiểu mình, hợp ý mình, đồng quan điểm với mình, cùng tuổi với mình, cùng văn hóa với mình, cùng lối đạo đức với mình. Ta dễ gọi đó là hiệp thông. Nhưng Tin Mừng đặt trước mắt ta một sự hiệp thông khó hơn: Đức Giêsu và Simon Kyrênê có lẽ chưa từng quen biết, vậy mà họ cùng vác một cây thập giá trên một đoạn đường. Chính Thánh Giá làm cho hai người xa lạ trở thành những người cùng đường. Có lẽ Hội Thánh hôm nay cũng cần học lại điều ấy. Chúng ta không nhất thiết phải giống nhau mới có thể bước cùng nhau. Chúng ta không cần đồng ý mọi chuyện mới có thể yêu thương nhau. Chúng ta không cần có cùng tính khí, cùng cách suy nghĩ, cùng sở thích, cùng mức độ hiểu biết hay cùng vị trí trong cộng đoàn mới có thể nâng đỡ nhau. Điều làm chúng ta nên một trước tiên không phải là chúng ta giống nhau, nhưng là tất cả đều đang theo cùng một Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh.
Thực ra, mỗi người bước vào nhà thờ đều đang mang theo một cây thập giá mà người khác không nhìn thấy. Người ngồi ngay ngắn bên cạnh ta trong Thánh Lễ có thể vừa trải qua một đêm mất ngủ vì người thân đang bệnh. Người vẫn tươi cười chào ta ngoài sân nhà thờ có thể đang mang một cuộc hôn nhân gần như tan vỡ. Một người mẹ vẫn đọc kinh rất sốt sắng có thể đang âm thầm khóc vì đứa con bỏ nhà, bỏ đạo, nghiện ngập hay đang sống một đời khiến bà đau đớn. Một người cha ít nói có thể đang mang một món nợ khổng lồ mà chẳng biết nói cùng ai. Một bạn trẻ ăn mặc đẹp, cười nói vui vẻ có khi đang kiệt sức vì áp lực học hành, công việc, tương lai và một cảm giác thất bại mà không dám thú nhận. Một linh mục đứng trên cung thánh có thể vừa cử hành Thánh Lễ vừa phải chống chọi với sự cô đơn, mệt mỏi và những vết thương mục vụ chẳng thể kể hết cho cộng đoàn. Một tu sĩ có thể vẫn giữ nụ cười nhưng trong lòng đang đi qua một đêm tối của ơn gọi. Một người già mỗi ngày vẫn ngồi một chỗ quen thuộc cuối nhà thờ có thể đang sống những tháng năm dài của cô quạnh. Nếu chúng ta chỉ nhìn nhau bằng mắt, ta sẽ thấy quần áo, tuổi tác, địa vị, cách nói chuyện, những thiếu sót bên ngoài. Nhưng nếu nhìn nhau dưới chân Thánh Giá, ta sẽ tự hỏi: “Người này đang mang cây thập giá nào?” Và câu hỏi ấy có thể làm thay đổi hoàn toàn cách chúng ta đối xử với nhau.
Hiệp hành bắt đầu từ một cái nhìn như thế. Không phải cái nhìn điều tra xem người kia sai ở đâu, nhưng là cái nhìn tìm xem người kia đau ở đâu. Không phải cái nhìn phân loại người này đạo đức, người kia khô khan; người này tốt, người kia xấu; người này thuộc phe mình, người kia thuộc phe khác; nhưng là cái nhìn nhận ra rằng mỗi con người đều là một người đang trên đường, đang chiến đấu, đang có những vết thương, đang cần được cứu độ. Có những người cư xử khó chịu không hẳn vì họ xấu mà vì họ đang đau. Có những người nói năng cay nghiệt vì trong lòng họ có một vết thương chưa lành. Có những người khép kín vì đã từng bị phản bội. Có những người luôn muốn kiểm soát vì sâu bên trong họ rất sợ bị bỏ rơi. Có những người bám lấy quyền lực vì họ bất an. Có những người hay xét đoán người khác vì họ chưa bao giờ học được cách nhìn chính mình với lòng thương xót. Nếu chỉ nhìn hành vi, ta dễ kết án. Nếu nhìn cây thập giá đằng sau hành vi, có khi ta bắt đầu biết thương.
Nhưng cùng vác thập giá với nhau không có nghĩa là dung túng cho điều sai hay im lặng trước bất công. Đức ái Kitô giáo không phải là sự mềm yếu. Hiệp hành không phải là để ai muốn làm gì thì làm. Cùng đi không có nghĩa là không còn sự thật. Trái lại, chính Thánh Giá cho thấy sự thật và tình yêu phải đi chung. Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu không gọi tội là điều nhỏ bé, nhưng Người cũng không dùng tội của con người làm lý do để bỏ rơi con người. Người phơi bày sức tàn phá ghê gớm của tội lỗi, nhưng lại lấy chính thân mình để che chở tội nhân. Đó cũng phải là cung cách của Hội Thánh: dám nói sự thật nhưng không dùng sự thật như viên đá ném người khác; dám sửa lỗi nhưng sửa lỗi bằng trái tim đau cùng nỗi đau của người mình sửa; dám bảo vệ điều đúng nhưng không biến chân lý thành khí giới để làm nhục anh em. Một cộng đoàn có thể rất đúng giáo lý nhưng vẫn rất xa tinh thần Tin Mừng nếu người ta dùng sự đúng đắn để nghiền nát nhau.
Tính hiệp hành vì thế đòi một cuộc hoán cải rất sâu. Không chỉ hoán cải cơ cấu mà trước hết là hoán cải trái tim. Ta có thể lập thêm nhiều ban ngành, tổ chức thêm nhiều cuộc họp, mở thêm nhiều diễn đàn để lắng nghe, nhưng nếu lòng người vẫn đầy thành kiến, tranh giành, tự ái, bè phái, thì cuối cùng ta chỉ mang những căn bệnh cũ vào những cơ cấu mới. Hiệp hành trước hết là học lại cách đi bên cạnh người khác. Đi bên cạnh rất khác với đi phía trước để bắt người khác theo mình. Đi bên cạnh cũng khác với đứng phía sau để chỉ trích. Đi bên cạnh là điều chỉnh bước chân của mình theo nhịp của người yếu hơn. Người khỏe có thể đi nhanh, nhưng tình yêu bảo họ đi chậm. Người hiểu nhiều có thể nói rất nhiều, nhưng tình yêu bảo họ biết im lặng để người ít hiểu hơn có cơ hội lên tiếng. Người có quyền có thể quyết định rất nhanh, nhưng tình yêu bảo họ dừng lại để nghe những người sẽ phải mang hậu quả của quyết định ấy. Người có kinh nghiệm có thể nghĩ mình biết hết, nhưng tình yêu nhắc rằng Chúa Thánh Thần cũng có thể nói qua một người rất trẻ, một người nghèo, một người ít học, một người tưởng như chẳng có gì đáng kể.
Đức Giêsu đã sống tính hiệp hành trước khi Hội Thánh dùng từ “hiệp hành”. Người đi bộ với các môn đệ. Người ngồi ăn với người thu thuế. Người để người phụ nữ Samari đặt câu hỏi. Người nghe tiếng kêu của người mù bên vệ đường dù đám đông muốn anh ta im tiếng. Người để một người phụ nữ tội lỗi khóc dưới chân mình. Người hỏi người bại liệt: “Anh có muốn khỏi bệnh không?” Người hỏi hai môn đệ Gioan: “Các anh tìm gì?” Người hỏi các môn đệ trên đường Emmau: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” Một Thiên Chúa biết mọi sự lại đặt câu hỏi. Một Thiên Chúa đọc được lòng người lại chịu khó nghe người ta kể. Một Thiên Chúa có thể ra lệnh lại chọn đồng hành. Chỉ riêng điều ấy đã đủ khiến Hội Thánh phải xét mình rất nhiều.
Câu chuyện hai môn đệ Emmau cũng là một bản Tin Mừng tuyệt đẹp về hiệp hành. Họ đang rời Giêrusalem trong thất vọng. Họ đã từng hy vọng nơi Đức Giêsu nhưng cái chết thập giá làm mọi hy vọng tan vỡ. Và Đức Giêsu phục sinh không đứng từ Giêrusalem gọi với theo: “Hai anh sai rồi, quay lại ngay!” Người bước đến và “cùng đi với họ” (Lc 24,15). Đó là cách Thiên Chúa cứu con người: Người đến gần và cùng đi. Người nghe họ nói hết nỗi thất vọng. Người để họ kể cả những điều Người đã biết. Rồi từ trong chính cuộc hành trình ấy, Người mở Kinh Thánh, soi sáng lòng họ, ngồi vào bàn với họ và bẻ bánh. Cuối cùng họ tự quay về Giêrusalem. Đây là điều rất đáng suy nghĩ. Chúa không lôi họ về. Người đồng hành đến mức chính trái tim họ bừng cháy và đôi chân họ tự quay trở lại. Có lẽ trong mục vụ, trong gia đình, trong cộng đoàn, chúng ta nhiều lần thất bại bởi muốn kéo người ta về quá nhanh mà chưa chịu đi cùng họ đủ lâu. Ta muốn người trẻ trở lại nhà thờ nhưng chưa thực sự nghe họ kể vì sao họ ra đi. Ta muốn một người nguội lạnh giữ đạo nhưng chưa hỏi xem họ đã từng bị tổn thương thế nào. Ta muốn người khác thay đổi nhưng lại không muốn bước vào hành trình đau đớn của sự thay đổi ấy. Đức Giêsu thì khác. Người đi cùng.
Nhưng đỉnh cao của việc “cùng đi” chính là Thánh Giá. Thiên Chúa không cứu nhân loại từ xa. Người không đứng trên trời ban xuống một giải pháp. Người nhập thể, bước vào kiếp người, chịu đói, chịu khát, chịu hiểu lầm, chịu phản bội, chịu cô đơn, chịu đau và chịu chết. Nghĩa là Thiên Chúa đi vào tận cùng cây thập giá của con người. Không có nỗi đau nào của nhân loại mà Người không muốn chạm đến. Bởi thế, một Hội Thánh mang khuôn mặt Đức Kitô cũng phải là Hội Thánh dám bước vào nỗi đau của con người, chứ không chỉ đứng ngoài giảng giải về nỗi đau ấy.
Một người đang khóc thường không cần trước tiên một bài thần học về đau khổ. Họ cần một người ngồi bên. Một người vừa mất con không cần ai nói quá nhanh: “Chúa có ý của Chúa.” Có thể điều ấy đúng về đức tin, nhưng nói sai lúc vẫn có thể làm đau. Có khi điều Kitô hữu nên làm nhất là khóc với người đang khóc. Đức Maria dưới chân Thánh Giá đã không giảng giải gì. Mẹ đứng đó. “Đứng gần thập giá Đức Giêsu có thân mẫu Người…” (Ga 19,25). Chỉ một chữ “đứng” thôi mà chứa cả một nền linh đạo. Khi không thể tháo đinh cho Con, Mẹ đứng đó. Khi không thể làm cho Con hết đau, Mẹ đứng đó. Khi không thể thay đổi tình hình, Mẹ vẫn đứng đó. Hiệp hành nhiều khi đơn giản như vậy: không bỏ đi.
Chúng ta thường thích giúp người khác khi còn có thể giải quyết vấn đề cho họ. Nhưng khi gặp những cây thập giá không thể giải quyết, ta lúng túng. Người mắc bệnh nan y, người mất một người thân, gia đình có đứa con khuyết tật, người bị bỏ rơi, người mang một vết thương không thể xóa khỏi quá khứ… ta chẳng biết nói gì nên đôi khi tránh mặt họ. Nhưng Tin Mừng không bảo ta phải giải quyết mọi cây thập giá; Tin Mừng bảo ta đừng để người khác vác một mình. Có những cây thập giá không thể lấy khỏi vai, nhưng có thể làm cho nhẹ hơn khi hai người cùng mang. Simon Kyrênê không làm Đức Giêsu khỏi bị đóng đinh. Ông chỉ giúp Người đi một đoạn đường. Nhưng đôi khi một đoạn đường ấy đã là tất cả điều tình yêu có thể làm.
Trong gia đình cũng vậy. Hiệp hành bắt đầu từ căn nhà chứ không phải từ hội trường. Một người chồng thực sự sống tinh thần hiệp hành khi biết nhìn thấy cây thập giá của vợ, chứ không chỉ thấy những điều vợ chưa làm được. Một người vợ sống hiệp hành khi biết nhận ra những áp lực người chồng đang cưu mang phía sau vẻ ít nói hay mệt mỏi của anh. Cha mẹ sống hiệp hành với con khi không chỉ hỏi điểm số mà hỏi: “Dạo này con có vui không?” Con cái sống hiệp hành với cha mẹ khi nhận ra cha mẹ già đi từng ngày, đôi chân chậm hơn, trí nhớ kém hơn, những điều họ từng tự làm giờ phải nhờ con. Bao nhiêu gia đình tan vỡ không phải vì thiếu tiền mà vì mỗi người chỉ nhìn thấy cây thập giá của mình. Chồng nói: “Tôi khổ lắm.” Vợ nói: “Tôi mới là người khổ.” Cha mẹ nói: “Nuôi con cực khổ biết bao.” Con cái nói: “Cha mẹ chẳng bao giờ hiểu con.” Ai cũng đúng một phần, nhưng chẳng ai bước sang phía bên kia để thử đặt vai vào cây thập giá của người còn lại. Tình yêu bắt đầu hồi sinh khi ta thôi hỏi “Ai khổ hơn?” và bắt đầu hỏi “Tôi có thể đỡ phần nào cho người này?”
Trong đời sống cộng đoàn cũng thế. Không có cộng đoàn nào không có thập giá. Ở đâu có con người, ở đó có khác biệt. Ở đâu có khác biệt, ở đó có va chạm. Hội Thánh không trở nên thánh thiện bằng cách tập hợp những con người hoàn hảo nhưng bằng cách những con người bất toàn học yêu nhau trong Đức Kitô. Điều khó nhất không phải yêu một nhân loại trừu tượng. Điều khó nhất là yêu người cụ thể đang sống bên cạnh mình: người nói dai, người nóng tính, người bảo thủ, người quá cấp tiến, người hay quên, người làm việc chậm, người thích phê bình, người từng làm ta tổn thương. Ta có thể yêu người nghèo ở một nơi rất xa nhưng lại không chịu nổi người ngồi chung bàn với mình. Có thể quyên góp cho nạn nhân chiến tranh nhưng ba năm không nói chuyện với một người trong gia đình. Có thể giảng về hiệp nhất nhưng trong cộng đoàn lại chia thành những nhóm không nhìn mặt nhau. Thánh Giá lột mặt nạ tất cả những mâu thuẫn ấy.
Muốn cùng vác thập giá với nhau, trước hết phải bỏ bớt cái tôi xuống. Hai người đều ôm chặt cái tôi thì chẳng còn vai nào để mang thập giá cho nhau. Vì vậy Đức Giêsu nói rất rõ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Từ bỏ mình không phải là ghét mình hay xóa bỏ nhân phẩm của mình. Từ bỏ mình là từ bỏ ảo tưởng rằng mình luôn đúng, rằng ý mình luôn phải được nghe, rằng nhu cầu của mình luôn quan trọng nhất, rằng người khác phải thay đổi trước. Có những cây thập giá trong gia đình và cộng đoàn nặng lên gấp mười chỉ vì không ai chịu nói câu “Tôi xin lỗi”. Có những mối quan hệ đáng lẽ đã được cứu từ lâu nhưng bị chôn vùi chỉ bởi hai bên đều chờ bên kia xuống nước. Có khi chẳng cần một phép lạ lớn. Chỉ cần một người chịu bước trước một bước.
Thánh Giá của Chúa còn dạy chúng ta rằng hiệp hành không có nghĩa là mọi người cùng nói nhưng không ai chịu chết cho ai. Đức Giêsu không cứu chúng ta bằng một cuộc thảo luận nhưng bằng việc hiến mạng sống. Hội Thánh nếu chỉ trở thành một nơi tổ chức các cuộc đối thoại mà thiếu những người sẵn lòng hy sinh thì sẽ mất sức sống. Sau những cuộc họp về người nghèo phải có người thật sự đến với người nghèo. Sau những bài nói về giới trẻ phải có người chịu ngồi hàng giờ nghe một người trẻ đang rối bời. Sau những diễn từ về người già phải có người cầm tay cụ già không còn ai thăm. Sau những văn kiện về gia đình phải có những mục tử dám bước vào những gia đình đổ vỡ với lòng kiên nhẫn. Sau những lời kêu gọi hiệp thông phải có người dám chịu thiệt để giữ sự hiệp nhất. Hiệp hành đích thực luôn có giá. Và cái giá ấy mang hình cây Thánh Giá.
Đặc biệt, chúng ta phải học cách bước với những người ở chậm hơn. Một đoàn hành hương không được đánh giá bằng tốc độ của người đi đầu mà bằng khả năng không bỏ người yếu nhất phía sau. Hội Thánh cũng vậy. Nếu một cộng đoàn tiến rất nhanh nhưng để người nghèo, người già, người bệnh, người khuyết tật, người ít học, người có hoàn cảnh phức tạp, những người đang nghi ngờ đức tin, những người từng bị tổn thương, những người cảm thấy mình không còn chỗ trong Hội Thánh tụt lại phía sau, thì phải tự hỏi mình đang đi về đâu. Đức Giêsu là Mục Tử bỏ chín mươi chín con lại để đi tìm một con lạc. Theo logic hiệu quả, điều ấy chẳng hợp lý. Theo logic tình yêu, đó là Tin Mừng. Với Chúa, một người không phải là một phần trăm của một trăm người. Một người là một thế giới.
Có lẽ điều làm Hội Thánh đáng tin nhất trong thế giới hôm nay không phải là Hội Thánh chứng minh mình mạnh thế nào nhưng là cho thấy mình biết ở bên người yếu thế nào. Thế giới đã quá quen với những nơi người thành công được tôn vinh, người thất bại bị bỏ lại. Mạng xã hội khiến người ta khoe những phần đẹp nhất và giấu những phần tan vỡ nhất. Ai cũng muốn xuất hiện như người hạnh phúc, thành công, khỏe mạnh, được yêu mến. Vì thế ngày càng có nhiều người đau khổ trong cô độc. Trong bối cảnh ấy, một Hội Thánh của Thánh Giá phải trở thành nơi con người có thể đến mà không cần giả vờ. Nơi một người có thể nói “Tôi yếu” mà không bị coi thường; “Tôi đã sai” mà không bị đóng đinh lần nữa; “Tôi đang nghi ngờ” mà không bị xua đuổi; “Tôi rất mệt” mà có người nói: “Để tôi đi với bạn một đoạn.”
Cùng vác thập giá với nhau còn có nghĩa là học cách chia sẻ gánh nặng trách nhiệm trong Hội Thánh. Không thể để mọi việc trên vai một vài người rồi những người khác đứng ngoài phê bình. Một giáo xứ không phải của riêng cha xứ. Một cộng đoàn không phải của riêng ban hành giáo. Một gia đình không phải trách nhiệm của riêng người mẹ. Một sứ vụ không thể chỉ dựa vào một vài người nhiệt thành đến kiệt sức. Thánh Phaolô dùng hình ảnh thân thể để nói về Hội Thánh: nhiều chi thể nhưng một thân thể. Mắt không thể nói với tay: “Tôi không cần anh.” Đầu cũng không thể nói với chân: “Tôi không cần anh.” Chính những bộ phận xem ra yếu nhất lại cần thiết. Đó chính là hiệp hành: mỗi người mang phần của mình, đồng thời sẵn sàng gánh phần của người đang yếu.
Nhưng cũng cần nói thêm: cùng vác thập giá không phải là giành lấy thập giá của người khác đến mức họ không còn trưởng thành. Có một kiểu giúp đỡ tưởng là yêu nhưng thực ra làm người khác lệ thuộc. Đức Giêsu cho Simon vác đỡ Thánh Giá nhưng Người vẫn tiếp tục bước. Người không nằm xuống để Simon làm tất cả. Hiệp hành là nâng đỡ nhau để cùng bước, chứ không sống thay cuộc đời của nhau. Cha mẹ không thể vác thập giá trưởng thành thay con. Linh mục không thể sống đức tin thay giáo dân. Người hướng dẫn không thể phân định thay người được hướng dẫn. Chúng ta có thể soi sáng, nâng đỡ, khích lệ, nhưng cuối cùng mỗi người vẫn phải đứng trước Chúa và đáp lại ơn gọi của mình. Yêu không phải là kiểm soát. Đồng hành không phải là chiếm lấy quyền quyết định của người khác.
Và rồi có một điều rất đẹp nơi Thánh Giá: trên đường lên Núi Sọ, không chỉ Simon Kyrênê đồng hành với Đức Giêsu; chính Đức Giêsu cũng đang mang thập giá của Simon, của những người lính, của đám đông, của các phụ nữ thành Giêrusalem, của Phêrô đang khóc vì chối Thầy, của Giuđa đã tuyệt vọng, của cả nhân loại. Simon tưởng ông đang giúp Chúa, nhưng thực ra Chúa đang cứu ông. Điều ấy cũng xảy ra trong đời sống chúng ta. Có những lúc ta nghĩ mình đang đi giúp một người nghèo, nhưng rồi chính người nghèo dạy ta biết thế nào là biết ơn. Ta tưởng mình đi thăm một bệnh nhân để an ủi họ nhưng rồi chính họ cho ta thấy một đức tin khiến ta xấu hổ về những than phiền của mình. Ta nghĩ mình hy sinh cho con cái, nhưng chính con cái dạy ta ra khỏi ích kỷ. Ta nghĩ mình đang phục vụ cộng đoàn, nhưng chính cộng đoàn thanh luyện ta khỏi tự ái, nóng nảy và ham được công nhận. Khi thật sự bước bên nhau, không còn ai chỉ là người cho và ai chỉ là người nhận. Tất cả đều được biến đổi.
Đó là một trong những vẻ đẹp sâu xa của tính hiệp hành dưới chân Thánh Giá. Ta không đi cùng nhau vì một người hoàn hảo dẫn những người bất toàn. Ta đi cùng nhau vì tất cả đều là tội nhân được thương xót. Người mục tử cũng cần được nâng đỡ. Người cha cũng có những lúc yếu. Người mẹ cũng có khi cạn sức. Người thường xuyên an ủi người khác cũng có ngày cần một người ngồi bên. Người mạnh hôm nay có thể yếu ngày mai. Người đang được ta đỡ hôm nay có thể một ngày sẽ đỡ ta. Chỉ khi nhận ra điều ấy, cộng đoàn mới thôi chia thành “người ban ơn” và “người nhận ơn”, “người quan trọng” và “người không quan trọng”. Dưới chân Thánh Giá, tất cả đều cần lòng thương xót.
Hãy thử hình dung một giáo xứ mà mọi người thực sự sống tinh thần này. Sau Thánh Lễ, thay vì chỉ chào những người quen, người ta tìm đến người mới đến. Một người thấy cụ già đi chậm thì bước chậm cùng cụ. Một gia đình biết nhà bên cạnh vừa có tang thì không chỉ gửi vòng hoa nhưng vài tuần sau vẫn còn ghé thăm, khi đám đông đã hết và sự cô đơn bắt đầu. Một người trẻ thấy bạn mình nhiều ngày im lặng thì nhắn một câu: “Dạo này bạn ổn không?” Một người biết người khác thất bại thì không đem chuyện ấy làm đề tài nói nơi bàn ăn. Một thành viên cộng đoàn bị hiểu lầm thì có người đủ can đảm nói một lời công bằng cho họ. Một người lỡ phạm sai lầm nhưng biết hối cải thì được trao cơ hội đứng lên. Một gia đình khó khăn không phải tự mình gõ cửa từng nơi xin giúp đỡ vì cộng đoàn đã nhìn thấy họ trước. Nếu những điều ấy xảy ra, người ta sẽ hiểu “Hội Thánh hiệp hành” là gì mà chẳng cần học một định nghĩa nào.
Và có lẽ chính đó cũng là cách thế giới nhận ra Đức Kitô. Chúa Giêsu nói: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35). Người không nói người ta sẽ nhận biết chúng ta nhờ nhà thờ lớn, lễ nghi đẹp, truyền thông mạnh, tổ chức giỏi hay những cuộc tranh luận ta thắng. Dấu chỉ là tình yêu. Nhưng tình yêu được nhận biết rõ nhất khi nó biết mang lấy một phần đau khổ của người khác. Người ta có thể nghi ngờ những lời chúng ta giảng về Thiên Chúa, nhưng sẽ khó phủ nhận Tin Mừng khi gặp một cộng đoàn không bỏ rơi người đau khổ.
Thánh Giá chính là nơi Thiên Chúa tuyên bố: “Con người không phải chịu đau một mình nữa.” Từ khi Đức Kitô bị đóng đinh, không còn cây thập giá nào của con người hoàn toàn vắng bóng Thiên Chúa. Người đã đi vào đó trước chúng ta. Và Hội Thánh là thân thể Đức Kitô thì cũng phải nói với thế giới bằng chính đời sống mình: “Bạn không cần vác một mình.” Có thể chúng tôi không giải quyết được tất cả. Có thể chúng tôi không có câu trả lời cho mọi nỗi đau. Có thể chúng tôi cũng yếu đuối và bất toàn. Nhưng chúng tôi sẽ cố không để bạn đi một mình.
Trong những năm tháng cuối đời, điều người ta nhớ về một người có lẽ không phải là họ đã nói bao nhiêu câu hay, nhưng là đã có mặt bên cạnh ai trong những giờ phút khó khăn. Có những người chẳng bao giờ làm được việc gì vang dội, nhưng cả đời họ là một Simon Kyrênê âm thầm: nuôi một người con bệnh tật nhiều chục năm, chăm người phối ngẫu nằm liệt giường, nhẫn nại với một người thân khó tính, đều đặn thăm một người già cô độc, âm thầm trả học phí cho một đứa trẻ nghèo, ngồi nghe một người tuyệt vọng kể đi kể lại cùng một nỗi đau. Chẳng ai trao huân chương cho họ. Không ai viết tên họ trên báo. Nhưng trên trời có lẽ tên những Simon Kyrênê ấy được Thiên Chúa nhớ rất rõ.
Có một nghịch lý lạ lùng của Kitô giáo: khi giúp người khác vác thập giá, chính thập giá của mình cũng nhẹ đi. Người chỉ nhìn vào đau khổ của mình sẽ thấy nó ngày càng lớn. Nhưng người biết bước ra khỏi mình để chạm đến nỗi đau của người khác thường khám phá mình vẫn còn rất nhiều điều để trao. Có những người đã được chữa lành khỏi nỗi buồn của chính mình bằng việc cúi xuống một nỗi buồn khác. Không phải nỗi đau của họ biến mất, nhưng nó được đặt vào một dòng chảy lớn hơn của tình yêu. Thánh Giá từ chỗ chỉ là gánh nặng trở thành nơi gặp gỡ.
Tính hiệp hành, cuối cùng, không phải chỉ là “đi cùng nhau” theo nghĩa địa lý. Giuđa cũng đã đi với Đức Giêsu ba năm nhưng lòng ông ngày càng xa Thầy. Đám đông cũng cùng đi lên Núi Sọ nhưng có người đi để chế giễu. Hiệp hành Kitô giáo là cùng đi trong một tâm tình của Đức Kitô. Đó là tâm tình của Đấng “vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ” (x. Pl 2,6-7). Không có sự tự hạ ấy thì hiệp hành sẽ mau chóng biến thành cuộc tranh giành tiếng nói và ảnh hưởng. Ai cũng muốn được nghe nhưng ít người muốn nghe. Ai cũng muốn được tôn trọng nhưng ít người sẵn lòng nhường. Ai cũng muốn ý kiến mình được ghi nhận nhưng ít người sẵn sàng để ý mình được thanh luyện. Thánh Giá dạy ta rằng con đường của Chúa không phải là khẳng định mình bằng cách đẩy người khác xuống, nhưng là tự hạ để nâng người khác lên.
Có lẽ Hội Thánh sẽ hiệp hành hơn không phải khi chúng ta nói từ “hiệp hành” nhiều hơn, nhưng khi trong mỗi giáo xứ có ít người cô độc hơn; trong mỗi gia đình có ít người phải khóc một mình hơn; trong mỗi cộng đoàn có ít người bị loại trừ hơn; trong mỗi cuộc họp có nhiều người thật sự được nghe hơn; trong mỗi xung đột có nhiều người dám bước trước để hòa giải hơn; trước mỗi lỗi lầm có nhiều lòng thương xót hơn; và trước mỗi cây thập giá có thêm ít nhất một Simon Kyrênê.
Rồi sẽ đến lúc chính ta trở thành người cần một Simon. Không ai khỏe mãi. Không ai đứng vững mãi. Có ngày ta sẽ bệnh. Có ngày ta thất bại. Có ngày người ta hiểu lầm ta. Có ngày ta mất một người thân. Có ngày đôi chân đức tin của ta cũng chao đảo. Khi ấy, ta sẽ hiểu giá trị của một người không bỏ mình lại phía sau. Và có lẽ ta sẽ nhận ra rằng bao nhiêu năm mình đã cố xây dựng một Hội Thánh hiệp hành bằng những việc rất nhỏ: một lần chịu khó nghe, một lần tha thứ, một lần đến thăm, một cuộc điện thoại hỏi thăm đúng lúc, một bữa cơm sẻ chia, một lần im lặng không kể lỗi người khác, một lời bênh vực người yếu, một bàn tay chìa ra khi người khác ngã.
Dưới chân Thánh Giá, Đức Maria đứng đó. Người môn đệ Chúa yêu đứng đó. Những phụ nữ trung thành đứng đó. Xa hơn là những người đang nhìn. Và trên Thánh Giá, Đức Giêsu còn làm một việc cuối cùng để xây dựng cộng đoàn: “Thưa Bà, đây là con của Bà… Đây là mẹ của anh” (Ga 19,26-27). Giữa giờ phút đau đớn nhất, Chúa vẫn nối con người lại với nhau. Người không để Mẹ một mình. Người không để môn đệ một mình. Có thể nói Hội Thánh được khai sinh trong chính cử chỉ trao người này cho người kia ấy. Từ đó, làm môn đệ Chúa là nhận người khác vào đời mình như một trách nhiệm của tình yêu. Đây là mẹ anh. Đây là con bà. Đây là anh em của con. Đừng để họ một mình.
Vì thế, nếu phải diễn tả tính hiệp hành chỉ bằng một hình ảnh, có lẽ không cần hình ảnh một hội trường đông người, nhưng hãy nhìn con đường Núi Sọ: Đức Giêsu bước phía trước, Simon đặt vai dưới cây Thánh Giá, những người phụ nữ theo sau khóc thương Người. Đó là Hội Thánh. Có Chúa ở giữa. Có thập giá. Có những người bước cùng. Có nước mắt. Có những lần ngã. Có bàn tay nâng dậy. Và tất cả đang hướng đến Phục Sinh.
Chúng ta đừng mơ một Hội Thánh không có Thánh Giá. Hội Thánh như thế không tồn tại. Điều chúng ta có thể cầu xin là một Hội Thánh trong đó không ai phải vác Thánh Giá một mình. Đừng mơ một gia đình không có khổ đau. Hãy xin cho gia đình mình biết cùng đau với nhau. Đừng mơ một cộng đoàn không có khác biệt. Hãy xin ơn biết dùng khác biệt để học yêu sâu hơn. Đừng xin Chúa chỉ cất thập giá khỏi đời ta. Có khi hãy xin thêm một lời cầu nguyện khác: “Lạy Chúa, xin cho con nhận ra hôm nay ai đang cần đôi vai của con.”
Biết đâu ngay bên cạnh ta đang có một người gần kiệt sức. Có thể họ chẳng bao giờ nói. Có thể họ vẫn cười. Có thể mọi người đều nghĩ họ mạnh. Nhưng Chúa biết họ đang cần một Simon. Và biết đâu Chúa đang đặt ta trên chính con đường của họ.
Ngày xưa Simon Kyrênê chỉ định đi ngang qua. Nhưng cuộc gặp gỡ bất ngờ với cây Thánh Giá đã khiến tên ông đi vào Tin Mừng. Cuộc đời Kitô hữu cũng có khi được quyết định bởi những “lần đi ngang qua” như thế: đi ngang một nỗi đau mà ta dừng lại; đi ngang một người cô độc mà ta ngồi xuống; đi ngang một gia đình khó khăn mà ta mở tay; đi ngang một người đã ngã mà ta không xét đoán nhưng nâng lên. Những lúc ấy, ta không chỉ giúp một con người. Ta đang chạm vào cây Thánh Giá của Đức Kitô.
Và đến ngày cuối cùng, khi hành trình của mỗi chúng ta kết thúc, có lẽ Chúa sẽ không hỏi ta đã nói về hiệp hành hay đến mức nào. Người sẽ hỏi bằng những câu rất đơn giản: Ta đói, con có cho ăn không? Ta khát, con có cho uống không? Ta là khách lạ, con có tiếp rước không? Ta đau yếu, con có thăm không? Ta tù đày, con có đến với Ta không? Bởi cuối cùng, tất cả thần học về hiệp hành đều quy về một sự thật rất bình dị: cây thập giá của anh em cũng liên quan đến tôi.
Xin cho mỗi cộng đoàn Kitô hữu trở thành một đoàn người không bỏ ai lại phía sau. Xin cho người khỏe biết cúi vai, người yếu dám để mình được giúp, người đang đau tìm thấy một bàn tay, người từng ngã tìm thấy một cơ hội, người từng lầm lỗi tìm thấy con đường trở về. Xin cho mục tử biết mang lấy mùi của đoàn chiên và đoàn chiên biết cầu nguyện, nâng đỡ những mục tử của mình. Xin cho người già và người trẻ không nhìn nhau như hai thế giới, nhưng biết trao cho nhau ký ức và hy vọng. Xin cho người giàu và người nghèo biết cùng ngồi một bàn. Xin cho người bất đồng ý kiến vẫn có thể gọi nhau là anh chị em. Xin cho những vết thương trong Hội Thánh không bị che giấu nhưng được chữa lành trong sự thật và lòng thương xót. Xin cho chúng ta đừng dùng Thánh Giá để đặt lên vai người khác những gánh nặng không cần thiết, nhưng biết đặt chính vai mình dưới cây thập giá của anh em.
Bởi vì Hội Thánh chỉ thật sự hiệp hành khi bước theo Đấng đang vác Thánh Giá. Và chúng ta chỉ thật sự bước cùng Chúa khi biết bước cùng người đang đau khổ. Con đường ấy có thể chậm. Có thể mệt. Có thể nhiều nước mắt. Nhưng đó là con đường của Tin Mừng. Và ở cuối con đường Thánh Giá không phải là thất bại. Ở cuối con đường là buổi sáng Phục Sinh.
Vậy nên, khi thấy một người đang mang nặng, đừng vội hỏi họ đã làm gì để phải mang cây thập giá ấy. Hãy hỏi: “Tôi có thể đỡ bạn một đoạn không?” Khi một người vấp ngã, đừng vội hỏi tại sao họ yếu thế. Hãy đưa tay. Khi một người đi chậm, đừng bỏ họ phía sau. Hãy giảm bước chân. Khi một người khóc, đừng vội giảng. Hãy ngồi cạnh. Khi một người lạc đường, đừng đứng xa gọi. Hãy đi tìm. Khi một người muốn trở về, đừng bắt họ phải đứng ngoài cửa quá lâu. Hãy mở cửa.
Vì chúng ta đều là những người đang trên đường. Hôm nay tôi có thể là Simon của anh. Ngày mai anh có thể là Simon của tôi. Nhưng trên mọi chặng đường, Đấng thực sự mang tất cả chúng ta vẫn là Đức Kitô.
Người đã vác Thánh Giá của cả nhân loại.
Và Người vẫn đang dạy Hội Thánh một bài học không bao giờ cũ:
Đừng để bất cứ ai phải vác thập giá một mình.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VÀ SỰ THÁNH THIỆN CỦA HỘI THÁNH: VỪA THÁNH VỪA CẦN ĐƯỢC THANH LUYỆN
Có một điều xem ra nghịch lý nhưng lại nằm ngay trong lòng mầu nhiệm Hội Thánh: chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính rằng Hội Thánh là “thánh thiện”, nhưng khi nhìn vào lịch sử Hội Thánh, nhìn vào những yếu đuối của những con người đang sống trong Hội Thánh, và nhiều khi chỉ cần nhìn thật kỹ vào chính đời sống của mỗi người chúng ta, ta lại thấy biết bao điều chưa thánh thiện. Có những trang lịch sử rực sáng vì máu các vị tử đạo, vì nước mắt của các thánh, vì những con người đã bỏ tất cả để phục vụ người nghèo, chăm sóc bệnh nhân, giáo dục trẻ em, bảo vệ những người bị bỏ rơi; nhưng bên cạnh đó cũng có những trang khiến người tín hữu phải cúi đầu vì tội lỗi, vì tham vọng, vì chia rẽ, vì những cách hành xử không phản chiếu khuôn mặt hiền lành của Đức Kitô. Có những linh mục đã sống âm thầm như ngọn nến cháy đến giọt sáp cuối cùng cho đoàn chiên, nhưng cũng có những mục tử làm cho đoàn chiên đau đớn. Có những tu sĩ sống đời tận hiến đẹp đến mức chỉ cần nhìn họ thôi người ta đã muốn tin rằng Thiên Chúa có thật, nhưng cũng có những người mang áo dòng mà lòng còn đầy tranh chấp, tự ái và tìm mình. Có những giáo dân sống giữa đời nhưng thánh thiện đến lạ lùng, ngày ngày làm việc, nuôi con, chăm sóc cha mẹ già, chịu đựng bệnh tật, tha thứ cho người làm mình đau mà chẳng ai biết, nhưng cũng có những người đi lễ đều đặn mà về nhà vẫn làm tổn thương người thân, vẫn nói xấu, vẫn hơn thua, vẫn không thể tha thứ. Vậy Hội Thánh thánh thiện ở đâu? Hội Thánh có thực sự thánh thiện không? Và nếu Hội Thánh thánh thiện, tại sao Hội Thánh vẫn phải luôn luôn sám hối, canh tân và thanh luyện? Câu trả lời chỉ có thể được hiểu trọn vẹn khi chúng ta đứng dưới chân Thánh Giá Đức Kitô. Chính Thánh Giá giúp chúng ta hiểu rằng sự thánh thiện của Hội Thánh không phải là sự hoàn hảo tự thân của những con người thuộc về Hội Thánh, nhưng trước hết là sự thánh thiện được trao ban bởi Đức Kitô, Đấng đã yêu Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; đồng thời chính Thánh Giá cũng nhắc rằng Hội Thánh, trong những con người cụ thể của mình, phải không ngừng chết đi cho tội lỗi, cho kiêu ngạo, cho tinh thần thế gian, để ngày càng trở nên giống Đấng chịu đóng đinh hơn.
Tin Mừng kể một cảnh tượng đau lòng nhưng cũng hết sức quan trọng để hiểu mầu nhiệm này. Trong đêm Đức Giêsu bị bắt, Phêrô, người vừa mới mạnh miệng nói với Thầy: “Dầu tất cả có vấp ngã đi nữa, thì con cũng nhất định là không”, lại ba lần chối Thầy. Một người tớ gái chỉ hỏi ông có phải là người đi với Đức Giêsu không, ông đã sợ hãi phủ nhận. Lần thứ hai, lần thứ ba, ông càng chối quyết liệt hơn, đến mức thề rằng mình không biết Người. Và ngay khi tiếng gà gáy vang lên, Đức Giêsu quay lại nhìn Phêrô. Tin Mừng Luca viết một câu rất ngắn: “Chúa quay lại nhìn ông Phêrô.” Phêrô nhớ lại lời Chúa, “ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết” (x. Lc 22,54-62). Hãy dừng lại thật lâu nơi cái nhìn ấy. Phêrô là ai? Ông là một trong Nhóm Mười Hai. Ông là người đã tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Ông là người được Đức Giêsu nói: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy.” Vậy mà chính “tảng đá” ấy lại có lúc mềm nhũn vì sợ hãi. Chính người được trao chìa khóa lại có lúc không đủ can đảm để nhận rằng mình biết Thầy. Nhưng điều kỳ diệu là Đức Giêsu không loại bỏ Phêrô. Người không nói: “Anh đã thất bại, từ nay anh không còn xứng đáng.” Sau Phục Sinh, bên bờ hồ Tibêria, Đức Giêsu lại hỏi ông ba lần: “Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy không?” Và ba lần Người trao lại sứ mạng: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy” (x. Ga 21,15-17). Hội Thánh đã có mặt cách nào đó trong chính câu chuyện của Phêrô: được gọi, được chọn, được trao sứ mạng, nhưng yếu đuối; vấp ngã, nhưng được tha thứ; mang vết thương của sự bất trung, nhưng lại được lòng thương xót biến đổi và sai đi. Phêrô không trở thành nền đá của Hội Thánh vì ông chưa từng ngã. Ông trở thành người mục tử vì ông đã biết thế nào là được Chúa nhìn bằng ánh mắt thương xót trong chính lúc mình thất bại nhất.
Đó cũng là mầu nhiệm của Hội Thánh. Hội Thánh thánh thiện không phải bởi tất cả các Kitô hữu đều thánh thiện. Hội Thánh thánh thiện bởi Đấng sáng lập Hội Thánh là Đấng Thánh; bởi Đức Kitô là Đầu của Hội Thánh; bởi Chúa Thánh Thần cư ngụ và hoạt động trong Hội Thánh; bởi Lời Chúa được trao cho Hội Thánh; bởi các bí tích là những nguồn mạch thánh hóa; bởi nơi Hội Thánh luôn có những con người để cho ân sủng Thiên Chúa biến đổi đến tận căn. Nếu nhìn sự thánh thiện của Hội Thánh như một bảng thành tích đạo đức của các thành viên, người ta sẽ rất nhanh thất vọng. Nhưng nếu nhìn Hội Thánh từ cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Kitô trên Thánh Giá, ta sẽ thấy Hội Thánh trước tiên là một cộng đoàn được sinh ra từ ân sủng, sống nhờ ân sủng và luôn phải trở lại với ân sủng. Hội Thánh không tự làm cho mình thánh. Hội Thánh được Đức Kitô thánh hóa. Thánh Phaolô dùng một hình ảnh rất đẹp khi nói Đức Kitô “yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy, Người thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để trước mặt Người có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền” (x. Ep 5,25-27). Hãy để ý: Đức Kitô yêu Hội Thánh không phải vì Hội Thánh đã hoàn hảo rồi. Chính vì yêu mà Người thanh tẩy Hội Thánh. Chính vì yêu mà Người thánh hóa. Và giá của tình yêu ấy là chính mạng sống của Người.
Bởi thế, nói Hội Thánh thánh thiện không có nghĩa là phủ nhận những tội lỗi trong Hội Thánh. Trái lại, chính vì Hội Thánh thuộc về Đức Kitô thánh thiện nên mọi tội lỗi của con cái Hội Thánh càng phải được nhìn nhận nghiêm túc hơn. Một vết bẩn trên chiếc áo trắng dễ thấy hơn trên chiếc áo tối màu. Khi một người không mang danh Kitô hữu sống ích kỷ, người ta có thể buồn; nhưng khi một người mang danh môn đệ Đức Giêsu lại sống trái ngược với Tin Mừng, sự tổn thương lớn hơn, bởi người ấy đang làm cho khuôn mặt Đức Kitô bị méo mó trước mắt người khác. Khi một mục tử sử dụng quyền bính để áp đặt thay vì phục vụ, người ta không chỉ đau vì một con người cư xử sai, mà còn có nguy cơ hiểu sai chính khuôn mặt của Người Mục Tử Nhân Lành. Khi một cộng đoàn đạo đức mà chia bè, nói xấu, tranh quyền, giành vị trí, người ngoài sẽ tự hỏi: Tin Mừng mà những người này tuyên xưng đã biến đổi họ ở đâu? Chính vì thế, Hội Thánh không được phép dùng sự thánh thiện của mình như một chiếc áo để che giấu những vết thương. Một Hội Thánh chân thành phải đủ khiêm nhường để nói rằng: điều thánh thiện trong chúng tôi là quà tặng của Thiên Chúa; còn những gì phản lại Tin Mừng nơi chúng tôi là điều chúng tôi phải sám hối.
Có lẽ một trong những cám dỗ nguy hiểm nhất của người tín hữu là nghĩ rằng thuộc về Hội Thánh đồng nghĩa với việc mình đã tốt hơn người khác. Ta đi lễ, ta đọc kinh, ta tham gia hội đoàn, ta biết giáo lý, ta giữ nhiều việc đạo đức, rồi dần dần ta có thể sinh ra một thứ tự mãn thiêng liêng rất khó nhận ra. Ta nhìn người khác và thấy họ thiếu đạo đức. Ta nhìn người không đi lễ và thấy họ xa Chúa. Ta nhìn người có quá khứ đổ vỡ và cảm thấy mình sạch hơn. Nhưng nếu đời sống đức tin làm ta kiêu hơn thay vì khiêm hơn, có lẽ ta đang đi xa Thánh Giá. Không ai đứng dưới chân Thánh Giá mà còn đủ lý do để kiêu ngạo. Dưới Thánh Giá, ta thấy Con Thiên Chúa chết vì tội lỗi nhân loại, và ta phải nhận ra trong tội lỗi nhân loại ấy có phần của mình. Cái đinh đóng vào tay Chúa không chỉ là tội của “người khác”. Vết thương bên sườn Chúa không chỉ do những kẻ xấu xa ngoài kia gây nên. Mỗi lần tôi ích kỷ, mỗi lần tôi làm tổn thương một người, mỗi lần tôi cố chấp không tha thứ, mỗi lần tôi biết điều đúng mà không làm, mỗi lần tôi dùng người khác để phục vụ cái tôi của mình, tôi đang góp thêm bóng tối vào thế giới mà Đức Kitô đã phải mang lên Thập Giá. Người Kitô hữu trưởng thành không đứng trước Thánh Giá để kết án thế gian. Người ấy đứng trước Thánh Giá và nói như người thu thuế trong Tin Mừng: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.”
Và chính ở đây ta hiểu tại sao Hội Thánh vừa thánh thiện vừa luôn cần được thanh luyện. Sự thánh thiện mà Hội Thánh nhận được từ Đức Kitô là một quà tặng, nhưng quà tặng ấy phải được từng thế hệ, từng cộng đoàn, từng tín hữu đón nhận và để cho nó biến đổi đời sống mình. Nếu một nguồn nước trong chảy qua những đường ống bẩn, nước có thể bị vẩn đục trên đường đến với người uống. Ân sủng của Thiên Chúa thì tinh tuyền, Tin Mừng thì thánh thiện, các bí tích thì thánh thiện, nhưng những con người được trao nhiệm vụ mang ân sủng ấy đến cho người khác vẫn là những bình sành dễ vỡ. Vì thế Hội Thánh luôn phải trở lại với nguồn. Và nguồn ấy là Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Mỗi khi Hội Thánh xa Thánh Giá, Hội Thánh dễ trở thành một tổ chức thuần túy nhân loại. Khi đó người ta bắt đầu đo thành công bằng số đông, bằng tiền bạc, bằng ảnh hưởng, bằng cơ sở vật chất, bằng vị trí xã hội. Nhưng Đức Giêsu chưa bao giờ nói: “Khi nào các con có nhiều người theo, người ta sẽ biết các con là môn đệ Thầy.” Người nói: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.” Người cũng không đặt ngai vàng giữa các môn đệ để dạy họ về quyền lực; Người lấy khăn thắt lưng, cúi xuống rửa chân. Người không chiến thắng bằng cách tiêu diệt những kẻ đóng đinh mình; Người chiến thắng bằng cách cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ.”
Thánh Giá là tiêu chuẩn xét lại sự thánh thiện của Hội Thánh. Một cộng đoàn có thể rất đông nhưng chưa chắc đã thánh thiện. Một giáo xứ có thể xây dựng rất nhiều nhưng chưa chắc đã sống Tin Mừng sâu. Một hội đoàn có thể tổ chức rất giỏi nhưng nếu đầy ganh tị, cạnh tranh, bè phái thì vẫn cần được thanh luyện. Một người có thể nói chuyện đạo rất hay nhưng nếu ở nhà khiến vợ, chồng, con cái sợ hãi thì lời đạo đức ấy cần đi qua Thánh Giá. Một linh mục có thể giảng hùng hồn nhưng nếu không biết lắng nghe nỗi đau của người nghèo, nếu dễ nóng giận với những người yếu thế, nếu tìm lời khen hơn tìm ý Chúa, thì đời linh mục ấy vẫn cần được thanh luyện. Một tu sĩ có thể giữ giờ kinh rất đúng nhưng nếu không thể chịu đựng người chị em cùng cộng đoàn thì giờ kinh ấy phải dẫn xuống sâu hơn vào mầu nhiệm Thánh Giá. Bởi sự thánh thiện Kitô giáo không nằm trước hết ở những điều gây ấn tượng. Sự thánh thiện thường rất âm thầm: bớt đi một lời làm tổn thương; kiên nhẫn thêm một chút với người khó tính; xin lỗi khi mình sai; giữ lòng trong sạch khi không ai nhìn thấy; không trả đũa khi bị xúc phạm; chia sẻ khi mình cũng chẳng dư dả; cầu nguyện cho người đã làm mình đau; ở lại bên một người đang đau khổ dù chẳng biết nói gì. Đó là những chiếc đinh nhỏ của đời thường đóng cái tôi chúng ta vào Thánh Giá để Đức Kitô lớn lên trong mình.
Hội Thánh cần được thanh luyện trước hết khỏi căn bệnh tìm chính mình. Hội Thánh tồn tại không phải cho Hội Thánh. Hội Thánh tồn tại cho Thiên Chúa và cho con người. Khi Hội Thánh lo bảo vệ hình ảnh của mình hơn bảo vệ người yếu thế, Hội Thánh cần thanh luyện. Khi một cộng đoàn sợ mất danh dự đến mức không dám nhìn nhận sai lầm, cộng đoàn ấy cần thanh luyện. Khi chúng ta tìm cách giải thích lỗi lầm thay vì thật lòng xin lỗi, chúng ta cần thanh luyện. Có những lúc lời mạnh mẽ nhất mà một người Kitô hữu có thể nói không phải là một bài biện hộ dài dòng nhưng đơn giản: “Tôi đã sai. Xin Chúa và anh chị em tha thứ.” Không phải mọi sự thật đều làm Hội Thánh yếu đi. Nhiều khi chính sự thành thật về yếu đuối lại làm chứng cho Tin Mừng mạnh hơn mọi lời tự ca ngợi. Người ta không cần một Hội Thánh giả vờ không có vết thương. Người ta cần gặp một Hội Thánh biết mang các vết thương của mình đến cho Đức Kitô chữa lành.
Chúa Giêsu phục sinh không xóa những dấu đinh trên thân thể Người. Khi hiện ra với Tôma, Người nói: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy” (Ga 20,27). Điều ấy thật lạ. Thân xác phục sinh vinh hiển nhưng những vết thương vẫn còn. Những vết thương không còn chảy máu, nhưng trở thành dấu chỉ của tình yêu. Có lẽ Hội Thánh cũng vậy. Sự thánh thiện của Hội Thánh không phải là một khuôn mặt chưa từng bị thương. Hội Thánh đi qua lịch sử với những vết thương. Điều quan trọng là những vết thương ấy được đặt vào ánh sáng phục sinh hay bị che giấu trong bóng tối. Vết thương được thú nhận có thể trở thành nơi ân sủng đi vào. Vết thương bị che giấu thường tiếp tục làm mưng mủ. Tội lỗi được sám hối có thể trở thành khởi đầu của sự khiêm nhường. Tội lỗi được biện minh sẽ trở thành thói quen.
Nhìn lại lịch sử Hội Thánh, ta nhận ra mỗi cuộc canh tân đích thực đều bắt đầu từ những con người trở về với căn tính Tin Mừng. Khi đời sống Hội Thánh có nguy cơ trở nên quá giàu sang, Thiên Chúa cho xuất hiện những con người chọn nghèo khó. Khi thần học có nguy cơ trở thành những tranh luận xa đời sống, Thiên Chúa cho xuất hiện những nhà thần bí nhắc rằng Thiên Chúa phải được yêu bằng cả cuộc đời. Khi hàng giáo sĩ có lúc rơi vào trì trệ, Thiên Chúa đánh thức những vị mục tử thánh thiện. Khi xã hội bỏ quên người nghèo, những người con của Hội Thánh lại bước vào khu ổ chuột, bệnh viện, nhà tù, trại phong, những vùng truyền giáo xa xôi. Các thánh không phải là những người trang trí cho Hội Thánh. Các ngài là những cuộc thanh luyện sống động mà Chúa Thánh Thần thực hiện trong Hội Thánh. Thánh Phanxicô Assisi không viết một bản kế hoạch cải tổ Giáo Hội; ngài chỉ sống Tin Mừng đến tận chữ. Nhưng chính đời sống nghèo khó ấy trở thành một lời nhắc mạnh mẽ cho cả Hội Thánh. Thánh Têrêsa Avila canh tân đời sống tu trì trước hết bằng việc trở về với cầu nguyện, với nghèo khó, với sự thật nội tâm. Thánh Anphongsô Maria de Liguori nhìn thấy những người nghèo bị bỏ rơi về mục vụ và đã chọn đến với họ. Những cuộc đổi mới thật sự không bắt đầu từ việc chỉ tay vào người khác nhưng từ câu hỏi: “Lạy Chúa, Chúa muốn con thay đổi điều gì?”
Nói về sự thanh luyện của Hội Thánh mà chỉ nói về “những người ở trên” là một cách dễ dàng trốn tránh trách nhiệm. Hội Thánh không phải là một nhóm người nào đó ở Vatican, ở tòa giám mục hay trong nhà xứ. Hội Thánh là tất cả những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội. Khi chúng ta nói “Hội Thánh phải đổi mới”, trước hết phải hỏi: “Tôi phải đổi mới điều gì?” Khi nói “Hội Thánh cần khiêm nhường hơn”, tôi phải hỏi: “Tôi có khiêm nhường không?” Khi nói “các linh mục phải gần người nghèo hơn”, tôi cũng phải hỏi: “Tôi có nhìn thấy người nghèo đang ở ngay bên cạnh mình không?” Khi nói “Hội Thánh phải biết xin lỗi”, tôi phải hỏi: “Lần cuối cùng tôi xin lỗi vợ mình, chồng mình, cha mẹ mình, con cái mình, anh chị em mình là khi nào?” Sẽ chẳng có một Hội Thánh thánh thiện nếu từng Kitô hữu không muốn nên thánh. Hội Thánh không đổi mới bằng khẩu hiệu. Hội Thánh đổi mới khi một người bắt đầu cầu nguyện thật hơn; khi một gia đình quyết định tha thứ; khi một linh mục dành nhiều thời gian hơn cho tòa giải tội; khi một tu sĩ thôi nói xấu chị em; khi một giáo dân trả lại khoản tiền không thuộc về mình; khi một người trẻ can đảm sống trong sạch giữa môi trường coi thường sự trong sạch; khi một người bị xúc phạm quyết định không trả đũa. Những điều ấy không lên báo, nhưng đó chính là Hội Thánh đang được thanh luyện.
Thánh Giá còn thanh luyện Hội Thánh khỏi ảo tưởng rằng sức mạnh của Hội Thánh nằm ở quyền lực. Đức Giêsu bị đóng đinh là hình ảnh hoàn toàn trái ngược với logic quyền lực của thế gian. Người không có quân đội. Không có tiền bạc. Không có ngai vàng. Không ai bảo vệ. Y phục cuối cùng cũng bị chia nhau. Người bị chế nhạo, bị hiểu lầm, bị bỏ rơi. Nhưng chính trong giây phút dường như bất lực nhất ấy, tình yêu của Thiên Chúa lại được biểu lộ mạnh mẽ nhất. Hội Thánh chỉ mạnh khi mang sức mạnh kiểu Đức Kitô. Khi Hội Thánh muốn thắng bằng quyền lực, Hội Thánh sẽ thua Tin Mừng. Khi Hội Thánh chấp nhận phục vụ trong khiêm nhường, Hội Thánh lại trở nên đáng tin. Đức Giêsu không bảo Phêrô phải thống trị đàn chiên. Người nói: “Hãy chăn dắt chiên của Thầy.” Chiên là của Chúa, không phải của người mục tử. Mọi quyền bính trong Hội Thánh chỉ thánh thiện khi cúi xuống phục vụ.
Có một thứ thanh luyện rất khó, đó là thanh luyện khỏi nhu cầu luôn luôn phải đúng. Trong cộng đoàn, trong gia đình, trong hội đoàn, đôi khi chúng ta gây đau khổ cho nhau không phải vì vấn đề lớn, nhưng vì ai cũng muốn chứng minh mình đúng. Chúng ta có thể hy sinh nhiều điều nhưng rất khó hy sinh cái tôi. Chúng ta có thể cho tiền nhưng không chịu nhường lời. Có thể làm việc bác ái nhưng không chịu nhận lỗi. Có thể quỳ hàng giờ trước Thánh Thể nhưng về nhà không chịu làm hòa. Thánh Giá nói với chúng ta rằng nên thánh không phải là chiến thắng mọi cuộc tranh luận. Đức Giêsu trên Thập Giá không thắng những kẻ kết án Người bằng lý luận. Người thắng bằng tình yêu. Có những lúc sự thánh thiện là dám im lặng thay vì nói một câu sắc bén. Có những lúc sự thánh thiện là nhận phần thiệt về mình để giữ bình an. Không phải vì sự thật không quan trọng, nhưng vì sự thật Kitô giáo không bao giờ được tách khỏi tình yêu.
Hội Thánh cần thanh luyện khỏi óc xét đoán. Một trong những bi kịch đáng buồn nhất là người ta có thể dùng chính đạo đức để làm đau người khác. Ta nhìn một người ly dị, một gia đình đổ vỡ, một người trẻ lạc hướng, một người đang nghiện ngập, một người có quá khứ phức tạp, rồi dễ dàng đặt họ vào một chiếc hộp. Nhưng Đức Giêsu không làm thế. Người gặp người phụ nữ Samaria bên giếng dù đời chị đầy những đổ vỡ. Người ngồi ăn với những người thu thuế. Người để một người phụ nữ tội lỗi khóc dưới chân mình. Người bảo vệ người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình trước đám đông đang cầm đá. Người nhìn Dakêu trên cây sung và nói: “Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông.” Đức Giêsu không gọi tội là tốt, nhưng Người cũng không bao giờ đồng hóa một con người với tội của họ. Hội Thánh càng thánh thiện càng phải có trái tim như vậy: rõ ràng về sự thật nhưng vô cùng dịu dàng với người yếu đuối.
Điều đó không có nghĩa là Hội Thánh phải trở nên dễ dãi. Thanh luyện không phải là bỏ bớt Tin Mừng cho người ta dễ sống. Thanh luyện là loại bỏ khỏi cách sống Tin Mừng những gì không phải là Tin Mừng. Có khi điều cần bỏ không phải là giáo huấn mà là thái độ kiêu căng khi trình bày giáo huấn. Có khi chân lý hoàn toàn đúng nhưng cách nói khiến người nghe cảm thấy bị nghiền nát. Đức Giêsu có thể nói rất mạnh với tội lỗi nhưng người tội lỗi vẫn muốn đến gần Người. Đây là điều đáng để chúng ta suy nghĩ. Tại sao nhiều người tội lỗi đến gần Đức Giêsu, còn hôm nay đôi khi những người có đời sống rối ren lại sợ bước vào nhà thờ? Có phải vì ánh mắt của chúng ta chưa giống ánh mắt Chúa? Hội Thánh thánh thiện phải là nơi người tội lỗi cảm thấy được gọi trở về chứ không phải bị đẩy ra xa; nơi người thương tích được chữa lành chứ không phải bị thương thêm.
Sự thanh luyện cũng phải đi qua đời sống phụng vụ và bí tích. Ta có thể tham dự Thánh Lễ hàng ngày mà vẫn chưa để Thánh Lễ biến đổi mình. Mỗi Thánh Lễ là hiện tại hóa hy tế Thập Giá. Trên bàn thờ, Đức Kitô vẫn trao ban chính mình: “Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” Nếu ta rước một Đấng đã tự hiến mà ta vẫn sống chỉ để giữ mình, có điều gì đó chưa gặp nhau. Nếu ta đón nhận Mình Thánh Đức Kitô nhưng lại khước từ người anh em mà Đức Kitô cũng đã chết cho họ, sự hiệp lễ của ta còn dang dở. Thánh Augustinô từng nhắc cộng đoàn rằng khi nhận Mình Thánh Chúa, họ nhận chính điều họ được mời gọi trở thành: Thân Thể Đức Kitô. Ta không chỉ “rước lễ”; ta được mời gọi trở thành điều ta lãnh nhận. Tấm bánh phải được bẻ ra. Đời Kitô hữu cũng vậy. Người không bao giờ chịu “bị bẻ ra” cho người khác thì vẫn chưa hiểu hết Bí tích Thánh Thể.
Bí tích Hòa Giải cũng là trường học lớn của một Hội Thánh biết thanh luyện mình. Ở đó chẳng ai có thể khoe công trạng. Ta quỳ xuống và nói: “Thưa cha, con là kẻ có tội.” Chỉ một câu ấy thôi đã đặt mọi người vào đúng vị trí. Linh mục cũng phải xưng tội. Giám mục cũng cần xưng tội. Giáo hoàng cũng xưng tội. Không ai trong Hội Thánh đứng ngoài lòng thương xót. Điều ấy đẹp biết bao. Hội Thánh không phải cộng đoàn của những người không cần tha thứ. Hội Thánh là cộng đoàn của những người sống nhờ sự tha thứ. Và có lẽ khi hiểu điều đó thật sâu, ta sẽ bớt khắt khe hơn với lỗi lầm của người khác. Người biết mình đã được tha nhiều sẽ biết thương nhiều.
Thánh Giá cũng thanh luyện Hội Thánh bằng những đau khổ Hội Thánh phải trải qua. Không phải mọi đau khổ đều do Chúa gửi đến, và không được lãng mạn hóa đau khổ. Nhưng khi đau khổ xảy đến, nếu được sống trong đức tin, nó có thể bóc đi nhiều ảo tưởng. Một cộng đoàn trải qua khủng hoảng có thể học được sự khiêm nhường. Một linh mục trải qua thất bại có thể khám phá rằng sứ vụ không phải là thành tích của mình. Một người từng được nhiều người yêu mến rồi bị hiểu lầm có thể học cách tìm bình an nơi Chúa thay vì nơi dư luận. Có những điều ta chỉ học được khi bị lấy khỏi tay. Có những cái tôi chỉ chịu chết khi gặp Thánh Giá. Và đôi khi chính lúc tưởng mình mất tất cả, ta mới khám phá điều duy nhất không ai lấy khỏi ta được: tình yêu của Đức Kitô.
Nhưng cần nói thật rõ rằng sự thanh luyện Kitô giáo không phải là tự hành hạ mình, cũng không phải cúi đầu chấp nhận bất công. Thánh Giá của Đức Kitô không hợp thức hóa bạo lực, lạm dụng hay áp bức. Đức Giêsu mang Thánh Giá vì yêu, chứ Người không dạy người khác tạo thánh giá cho nhau. Có những “thánh giá” phải được tháo xuống khỏi vai người khác: bạo lực gia đình phải được chấm dứt; bất công phải được sửa chữa; những hành vi lạm dụng phải được ngăn chặn; những người yếu thế phải được bảo vệ. Nói với một người đang bị bạo hành rằng “hãy vác thánh giá” để bắt họ tiếp tục chịu đựng là hiểu sai Thánh Giá. Hội Thánh được thanh luyện không chỉ khi biết chịu đau khổ, mà còn khi can đảm đứng về phía những người đang bị đóng đinh bởi bất công của thế gian.
Đi sâu hơn nữa, Thánh Giá thanh luyện hình ảnh Hội Thánh có về chính mình. Hội Thánh không phải là trung tâm; Đức Kitô mới là trung tâm. Hội Thánh là mặt trăng, không phải mặt trời. Ánh sáng Hội Thánh có được là ánh sáng phản chiếu từ Đức Kitô. Khi quên điều ấy, Hội Thánh có thể bắt đầu nói về mình quá nhiều. Nhưng sứ mạng của Hội Thánh là chỉ cho người ta thấy Chúa. Thánh Gioan Tẩy Giả đã nói một câu mà mọi người làm việc trong Hội Thánh phải ghi trong lòng: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Đó chính là quy luật của sự thánh thiện. Một linh mục càng thánh thiện thì người ta càng gặp được Chúa qua ngài chứ không phải càng say mê con người ngài. Một người giảng càng tốt thì người nghe càng muốn trở lại với Tin Mừng chứ không chỉ muốn nghe thêm người giảng. Một cộng đoàn càng sống đúng thì càng làm người khác nhận ra Thiên Chúa chứ không phải chỉ thấy mình giỏi.
Thánh Giá còn dạy Hội Thánh rằng sự thánh thiện không thể tách khỏi lòng thương xót. Đức Giêsu chết giữa hai tên gian phi. Một người nhạo báng, người kia thưa: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Đức Giêsu đáp: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Hãy nghĩ mà xem: lời cuối cùng Đức Giêsu dành cho một người tội lỗi biết sám hối không phải là bản liệt kê tội trạng, nhưng là lời hứa Thiên Đàng. Đó là khuôn mặt mà Hội Thánh phải mang. Không phải dung túng sự dữ, nhưng luôn tin rằng ân sủng có thể mở một con đường ngay cả trong phút cuối cùng. Không ai là một hồ sơ đóng kín trước mặt Thiên Chúa. Không ai chỉ là quá khứ của họ. Không ai xa đến mức Chúa không thể gọi về.
Và Hội Thánh chỉ có thể mang lòng thương xót ấy nếu luôn nhớ rằng chính mình cũng sống bằng lòng thương xót. Một Hội Thánh quên mình là người được tha thứ sẽ trở thành một Hội Thánh dễ kết án. Một Kitô hữu quên mình từng được cứu sẽ trở thành người thích phân loại ai xứng đáng ai không. Nhưng trên đồi Canvê, không ai đứng ở vị trí có thể khoe mình. Maria đứng dưới chân Thánh Giá bằng lòng tin đau đớn. Gioan đứng đó vì tình yêu. Những người phụ nữ đứng từ xa. Viên đại đội trưởng cuối cùng nhận ra: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa.” Và người trộm lành bước vào Thiên Đàng chỉ với một lời xin. Tất cả đều sống bằng ân sủng.
Có lẽ đây là điều đẹp nhất khi suy niệm về Hội Thánh: bất chấp những yếu đuối của con người, Đức Kitô vẫn không bỏ Hội Thánh. Người biết Phêrô sẽ chối mình nhưng vẫn gọi ông. Người biết các Tông đồ sẽ bỏ chạy nhưng vẫn trao Mình và Máu cho họ trong Bữa Tiệc Ly. Người biết những yếu đuối của Hội Thánh qua mọi thế hệ nhưng vẫn nói: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Tình yêu của Đức Kitô đối với Hội Thánh không phải tình yêu ngây thơ. Người biết rõ những vết nhăn của Hiền Thê mình. Nhưng Người yêu để thanh tẩy, yêu để chữa lành, yêu để làm mới.
Vậy thái độ đúng của một người Kitô hữu khi nhìn thấy những thiếu sót của Hội Thánh là gì? Không phải bịt mắt giả vờ không thấy. Cũng không phải đứng ngoài ném đá. Phải vừa yêu vừa đau. Chỉ người thật sự yêu Hội Thánh mới đau khi Hội Thánh không giống Đức Kitô. Nhưng nỗi đau ấy phải trở thành cầu nguyện, sám hối và hành động canh tân, chứ không thành cay đắng. Có những người nói về lỗi lầm của Hội Thánh bằng một thứ khoái cảm kỳ lạ, như thể mỗi vết thương của Hội Thánh là một chiến thắng của họ. Đó không phải tinh thần của người con. Người con thật nhìn thấy vết thương của mẹ mình thì đau và tìm cách chữa. Nhưng yêu Hội Thánh cũng không có nghĩa bảo vệ mọi sự bằng mọi giá. Đôi khi chính tình yêu đòi ta phải nói sự thật. Có những im lặng không phải bác ái mà là hèn nhát. Có những che đậy không bảo vệ Hội Thánh mà chỉ làm vết thương sâu hơn. Sự thật và tình yêu phải đi với nhau.
Chúng ta cũng cần học phân biệt giữa sự thánh thiện của Hội Thánh và sự thánh thiện của từng thành viên. Nếu không phân biệt, người ta dễ rơi vào hai cực đoan. Một bên lý tưởng hóa Hội Thánh đến mức không chấp nhận bất kỳ lời phê bình nào. Bên kia thấy tội lỗi của một số người rồi kết luận rằng tất cả đều giả dối. Cả hai đều không đúng. Khi Giuđa phản bội Đức Giêsu, điều ấy không làm cho Tin Mừng sai. Khi Phêrô chối Thầy, Đức Giêsu không vì thế ngừng là Con Thiên Chúa. Khi các Tông đồ tranh nhau xem ai lớn nhất, lời mời gọi phục vụ của Đức Giêsu vẫn nguyên vẹn. Tội lỗi của môn đệ cho thấy môn đệ cần được cứu, chứ không chứng minh rằng Đấng Cứu Thế không thánh thiện.
Hội Thánh giống như một bệnh viện hơn là phòng trưng bày những người hoàn hảo. Trong bệnh viện có những người đang hồi phục nhanh, có những người còn đau nặng, có người thậm chí không chịu uống thuốc. Nhưng tất cả đều cần vị lương y. Đức Kitô đã nói: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần.” Nếu ta bước vào Hội Thánh mong chỉ gặp những người hoàn hảo, ta sẽ thất vọng. Nhưng nếu ta bước vào Hội Thánh để cùng những người tội lỗi khác gặp Đức Kitô là vị Lương Y, ta sẽ hiểu tại sao Hội Thánh tồn tại. Thánh thiện không có nghĩa là chưa từng bệnh. Thánh thiện là để Chúa chữa lành và ngày càng trở nên giống Người.
Thanh luyện vì thế là tiến trình suốt đời. Không ai có thể nói: tôi đã xong. Càng đến gần ánh sáng, ta càng thấy những hạt bụi nhỏ. Người càng trưởng thành trong đời sống thiêng liêng thường càng thấy mình cần lòng thương xót. Các thánh không tự nhận mình là thánh. Nhiều vị càng gần Chúa càng đau vì những thiếu sót rất nhỏ mà chúng ta có thể chẳng để ý. Không phải vì họ bệnh hoạn trong mặc cảm, nhưng vì họ đã nếm được sự tinh tuyền của tình yêu Thiên Chúa. Khi đã biết thế nào là ánh sáng, một bóng tối nhỏ cũng trở nên rõ ràng.
Hội Thánh cũng vậy. Việc Hội Thánh không ngừng xét lại, xin lỗi, sửa chữa và canh tân không chứng minh rằng Hội Thánh không thánh thiện; trái lại, đó có thể là dấu hiệu Chúa Thánh Thần vẫn đang hoạt động trong lòng Hội Thánh. Một cơ thể sống biết phản ứng với vết thương. Điều đáng sợ không phải là có vết thương, nhưng là mất cảm giác trước vết thương. Một lương tâm còn đau khi phạm tội là lương tâm còn sống. Một cộng đoàn còn biết xấu hổ khi phản lại Tin Mừng vẫn còn cơ hội hoán cải. Điều nguy hiểm nhất là khi người ta quen với điều sai đến mức không còn thấy cần đổi nữa.
Đứng trước Thánh Giá, mỗi người chúng ta phải để Chúa hỏi một câu rất riêng: trong tôi, điều gì đang cần chết đi để Hội Thánh trở nên thánh thiện hơn? Có thể là tính nóng nảy. Có thể là lòng kiêu ngạo. Có thể là thói nói xấu. Có thể là việc nghiện phán xét. Có thể là lòng tham. Có thể là một mối hận nhiều năm chưa chịu buông. Có thể là nhu cầu được người ta nhìn nhận. Có thể là cách sử dụng quyền bính khiến người khác nghẹt thở. Có thể là việc tôi dùng đạo đức như chiếc mặt nạ che một đời sống hai mặt. Có thể là sự nguội lạnh đã khiến tôi cầu nguyện chỉ bằng môi. Không ai có thể thanh luyện cả Hội Thánh một mình, nhưng ai cũng có thể để Chúa thanh luyện một phần Hội Thánh là chính mình.
Nếu hôm nay mỗi người Công giáo bớt đi một chút cái tôi, Hội Thánh đã khác. Nếu mỗi gia đình Công giáo thực sự sống tha thứ, Hội Thánh đã khác. Nếu mỗi linh mục yêu đoàn chiên hơn danh tiếng của mình, Hội Thánh đã khác. Nếu mỗi tu sĩ đặt lợi ích cộng đoàn trên sở thích cá nhân, Hội Thánh đã khác. Nếu mỗi giáo dân đem sự trung thực của Tin Mừng vào nơi làm việc, Hội Thánh đã khác. Không cần chờ những cuộc cải tổ vĩ đại. Sự thánh thiện thường bắt đầu trong những căn phòng rất nhỏ, nơi một người quỳ xuống và nói: “Lạy Chúa, xin đổi con.”
Và lời cầu nguyện ấy luôn đưa ta về Thánh Giá. Không có thanh luyện Kitô giáo nào mà không có Thánh Giá, bởi muốn nên giống Đức Kitô phải có điều gì đó trong ta chịu chết. Con người cũ phải chết. Sự kiêu căng phải chết. Sự ích kỷ phải chết. Ham muốn kiểm soát phải chết. Lòng hận thù phải chết. Nhưng Kitô giáo không dừng ở cái chết. Sau Thánh Giá là Phục Sinh. Mỗi điều chết đi trong tình yêu sẽ mở chỗ cho một điều mới được sinh ra. Kiêu ngạo chết đi, khiêm nhường sinh ra. Hận thù chết đi, bình an sinh ra. Ích kỷ chết đi, lòng quảng đại sinh ra. Sự tự vệ không ngừng chết đi, tự do nội tâm sinh ra. Vì vậy Thánh Giá không nghiền nát Hội Thánh. Thánh Giá thanh luyện để Hội Thánh sống.
Có lẽ chúng ta phải yêu Hội Thánh như Đức Kitô yêu: không phải yêu một hình ảnh lý tưởng tưởng tượng, nhưng yêu Hội Thánh thật, với những người thật, những bất toàn thật, những vết thương thật. Đức Kitô không yêu một Hội Thánh chỉ tồn tại trong sách thần học. Người yêu những Phêrô yếu đuối, những Tôma nghi ngờ, những Gioan nóng tính, những người đàn bà khóc lóc, những môn đệ chậm hiểu. Người kiên nhẫn nhào nặn họ thành các thánh. Và hôm nay Người vẫn đang làm thế với chúng ta.
Có lúc ta thất vọng vì Hội Thánh. Hãy nhìn Thánh Giá. Có lúc ta thất vọng vì một người trong Hội Thánh. Hãy nhìn Thánh Giá. Có lúc ta thất vọng với chính mình vì đã cố gắng bao năm mà vẫn yếu đuối. Cũng hãy nhìn Thánh Giá. Trên đó, Đức Kitô không nói rằng chúng ta đã hoàn hảo. Người nói rằng chúng ta đáng để Người chết cho. Đó là nền tảng của mọi hy vọng. Sự thánh thiện của Hội Thánh không dựa trên khả năng con người tự cứu mình, nhưng trên lòng trung tín của Đấng đã yêu Hội Thánh đến cùng.
Ngày nào Hội Thánh còn quỳ dưới Thánh Giá, ngày ấy Hội Thánh còn có hy vọng. Ngày nào Hội Thánh còn đủ khiêm tốn để đấm ngực: “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng,” ngày ấy Hội Thánh còn trẻ. Ngày nào người mục tử còn biết mình cũng là một tội nhân được cứu, ngày ấy quyền bính vẫn có thể mang khuôn mặt Đức Kitô. Ngày nào người giáo dân còn biết rằng việc nên thánh không phải chuyện dành cho các tu viện nhưng bắt đầu ngay trong gian bếp, nơi công sở, ngoài đường phố và trong gia đình, ngày ấy Tin Mừng còn sức sống. Ngày nào chúng ta còn để Thánh Giá xét lại mình thay vì dùng Thánh Giá để xét người khác, ngày ấy Hội Thánh còn được thanh luyện.
Và có lẽ điều Hội Thánh cần nhất trong mọi thời đại không phải trước hết là những chiến lược mới, những khẩu hiệu mới hay những phương tiện mới, dù tất cả đều có thể hữu ích. Điều Hội Thánh cần nhất vẫn là những con người thánh thiện. Một bà mẹ thánh thiện có thể thay đổi cả một gia đình. Một người cha thánh thiện có thể làm con cái hiểu khuôn mặt của Thiên Chúa Cha. Một linh mục thánh thiện có thể đánh thức cả một giáo xứ. Một tu sĩ thánh thiện có thể làm cả cộng đoàn bừng sáng. Một người trẻ thánh thiện giữa bạn bè có thể trở thành một câu hỏi sống động về Thiên Chúa. Sự thánh thiện có sức truyền nhiễm theo cách âm thầm. Không cần quảng cáo. Người ta nhận ra một con người đã ở gần Chúa bằng sự bình an, hiền lành, lòng thương xót và tự do của họ.
Thánh Giá cuối cùng nói với Hội Thánh điều này: đừng sợ để mình được thanh luyện. Vàng không mất giá trị khi đi qua lửa; lửa chỉ lấy đi những gì không phải vàng. Hội Thánh không mất đi căn tính khi sám hối. Hội Thánh trở nên đúng với căn tính của mình hơn. Một linh mục không mất uy tín khi chân thành xin lỗi; nhiều khi chính lúc ấy ngài mới thật sự có uy tín Tin Mừng. Một người cha không mất quyền khi nói với con: “Ba sai rồi.” Chính lúc ấy người con có thể kính trọng cha hơn. Một cộng đoàn không yếu đi khi nhìn nhận những điều cần sửa đổi. Ngược lại, sự thật giải phóng.
Xin cho mỗi chúng ta đừng chỉ yêu một Hội Thánh vinh quang, nhưng biết yêu Hội Thánh cả trong những ngày Hội Thánh mang thương tích. Đừng chỉ tự hào về các thánh trong quá khứ, nhưng hãy dám nhận lời mời gọi nên thánh hôm nay. Đừng chỉ nói rằng Hội Thánh cần thanh luyện, nhưng hãy bắt đầu từ trái tim mình. Và mỗi khi thấy tội lỗi, đừng tuyệt vọng; hãy đưa nó đến dưới chân Thánh Giá. Mỗi khi thấy một vết thương, đừng vội ném đá; hãy hỏi mình có thể làm gì để chữa lành. Mỗi khi cảm thấy Hội Thánh không đẹp như điều mình mong muốn, hãy nhớ rằng Đức Kitô vẫn đang làm đẹp Hiền Thê của Người bằng chính tình yêu hiến mạng.
Rồi một ngày, khi mọi cuộc thanh luyện đã hoàn tất, Hội Thánh sẽ xuất hiện như Hiền Thê được trang điểm để đón Tân Lang. Khi ấy sẽ không còn vết nhăn, không còn chia rẽ, không còn tội lỗi, không còn những giọt nước mắt vì lỗi lầm của nhau. Nhưng hôm nay chúng ta vẫn đang trên đường. Và trên hành trình ấy, Hội Thánh vừa mang trong mình sự thánh thiện của Đức Kitô, vừa mang những yếu đuối của các con cái mình; vừa là nơi ân sủng tuôn trào, vừa là nơi những con người tội lỗi học cách trở thành thánh; vừa được yêu đến cùng, vừa không ngừng được thanh luyện bởi tình yêu ấy.
Hãy nhìn lên Thánh Giá. Đó là tấm gương Hội Thánh phải soi mình mỗi ngày. Một Đức Kitô không quyền lực mà đầy quyền năng; không giữ lấy gì mà lại có tất cả; bị thương mà chữa lành; bị kết án mà tha thứ; bị giết mà ban sự sống. Khi Hội Thánh giống Người, Hội Thánh thánh thiện. Khi Hội Thánh không giống Người, Hội Thánh phải trở về. Và con đường trở về chẳng ở đâu xa: trở về với Thánh Giá, trở về với Tin Mừng, trở về với người nghèo, trở về với lòng thương xót, trở về với sự khiêm nhường, trở về với Đức Kitô.
Xin Chúa cho chúng ta đủ yêu Hội Thánh để không che giấu những gì cần thanh luyện; đủ khiêm nhường để nhận rằng sự thanh luyện ấy phải bắt đầu từ chính mình; đủ tin để không thất vọng trước những yếu đuối của con người; và đủ kiên trì để mỗi ngày đóng đinh thêm một chút cái tôi mình vào Thánh Giá. Vì cuối cùng, Hội Thánh không trở nên thánh thiện nhờ chúng ta nói nhiều về sự thánh thiện. Hội Thánh trở nên thánh thiện khi từng người trong chúng ta để Đức Kitô sống trong mình, để tình yêu của Người thay thế lòng ích kỷ của ta, để sự hiền lành của Người thắng sự nóng giận của ta, để lòng thương xót của Người thắng sự xét đoán của ta, để sự tự hiến của Người thắng tính chiếm hữu của ta.
Và nếu một ngày nào đó người ta nhìn vào chúng ta, những con người rất bình thường, đầy những giới hạn, mà vẫn có thể nhận ra một chút gì đó của khuôn mặt Đức Giêsu chịu đóng đinh và phục sinh, thì khi ấy, giữa một thế giới nhiều thương tích, Hội Thánh lại trở thành điều Hội Thánh được gọi để trở thành: một dấu chỉ sống động rằng tội lỗi không có tiếng nói cuối cùng, rằng những gì bị thương có thể được chữa lành, rằng những gì dơ bẩn có thể được thanh tẩy, rằng những con người tội lỗi có thể trở thành các thánh, và rằng tình yêu của Thiên Chúa vẫn đang kiên nhẫn làm mới mọi sự.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ LÀ TRỤC CỦA LỊCH SỬ CỨU ĐỘ VÀ LỊCH SỬ VŨ TRỤ
Có những lúc đứng thật lâu trước một cây Thánh Giá, tôi chợt nghĩ rằng: lịch sử nhân loại đã đi qua biết bao nhiêu biến cố, biết bao nhiêu cuộc chiến, biết bao nhiêu triều đại hưng rồi phế, biết bao nhiêu đế quốc tưởng mình sẽ tồn tại muôn đời rồi cũng chỉ còn lại vài viên đá nằm im trong viện bảo tàng; biết bao nhiêu con người từng làm cả thế giới run sợ rồi cuối cùng cũng phải nằm xuống dưới một nấm mồ. Vậy mà giữa dòng lịch sử cuồn cuộn ấy, có một buổi chiều rất nhỏ, trên một ngọn đồi rất nhỏ bên ngoài thành Giêrusalem, một người bị đóng đinh giữa hai tên gian phi, lại trở thành điểm mà từ đó cả lịch sử nhân loại phải được đọc lại. Không có đoàn quân chiến thắng. Không có ngai vàng. Không có vương miện bằng vàng. Không có tiếng tung hô của đám đông. Chỉ có một thân thể rách nát, một khuôn mặt đầy máu, một vòng gai trên đầu, hai bàn tay bị đóng vào gỗ, và một tiếng kêu cuối cùng giữa trời đất: “Thế là đã hoàn tất!” (Ga 19,30). Câu nói ấy không chỉ kết thúc cuộc đời trần thế của Đức Giêsu. Câu nói ấy như tiếng chuông vang qua toàn thể lịch sử cứu độ. Cái được “hoàn tất” trên đồi Golgotha không phải chỉ là một kiếp người, mà là chương trình yêu thương của Thiên Chúa đã được chuẩn bị từ thuở tạo thiên lập địa. Vì thế, Thánh Giá không phải một biến cố nằm bên lề lịch sử. Thánh Giá là tâm điểm của lịch sử. Không phải chỉ là một kỷ niệm đau thương của Kitô giáo. Thánh Giá là chiếc trục vô hình trên đó toàn bộ lịch sử cứu độ xoay quanh. Và nếu chúng ta dám nhìn xa hơn nữa bằng đôi mắt đức tin, Thánh Giá còn là trục của chính lịch sử vũ trụ, bởi mọi sự đã được tạo dựng nhờ Đức Kitô và cho Đức Kitô, và cũng chính nhờ máu Thập Giá của Người mà Thiên Chúa “làm cho muôn vật được hòa giải với mình, đem lại bình an nhờ máu Người đổ ra trên Thập Giá, bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1,20).
Muốn hiểu Thánh Giá, phải trở về rất xa, xa hơn đồi Golgotha, xa hơn Bêlem, xa hơn Abraham, xa hơn Nôê, trở về tận buổi bình minh của tạo thành. “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất.” Và sách Sáng Thế lập đi lập lại như một điệp khúc: “Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp.” Ánh sáng tốt đẹp. Biển cả tốt đẹp. Cây cỏ tốt đẹp. Mặt trời, mặt trăng và tinh tú tốt đẹp. Muôn sinh vật tốt đẹp. Và khi con người xuất hiện, Thánh Kinh còn nhấn mạnh: “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp.” Như thế, khởi đầu của lịch sử không phải là tội lỗi, không phải đau khổ, không phải cái chết, mà là sự tốt lành. Khởi đầu là tình yêu. Khởi đầu là ân ban. Khởi đầu là một Thiên Chúa muốn chia sẻ sự sống của Người cho thụ tạo. Con người được dựng nên không phải để chết, nhưng để sống; không phải để sợ Thiên Chúa, nhưng để bước đi với Người trong khu vườn; không phải để chống lại nhau, nhưng để nhìn nhau mà nói: “Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi.” Nhưng chính trong thế giới tốt đẹp ấy, tội lỗi đã bước vào. Con người muốn sống mà không cần Đấng là nguồn sự sống. Con người muốn quyết định thiện ác mà không cần Thiên Chúa. Con người muốn trở thành “như những vị thần”, nhưng lại bằng con đường loại Thiên Chúa ra khỏi đời mình. Và từ đó, một vết nứt khủng khiếp xuất hiện: con người xa Thiên Chúa, con người xa chính mình, con người xa người khác, con người xa thiên nhiên. Adam đổ lỗi cho Evà. Evà đổ lỗi cho con rắn. Cain giết Abel. Đất sinh gai góc. Mồ hôi, nước mắt và cuối cùng cái chết bước vào kinh nghiệm nhân loại. Cả công trình tạo dựng dường như mang một vết thương.
Nhưng điều lạ lùng của Kinh Thánh là Thiên Chúa không bỏ đi. Khi con người trốn, Thiên Chúa đi tìm: “Ngươi ở đâu?” Đó có lẽ là một trong những câu hỏi đau đớn nhất và cũng dịu dàng nhất của toàn bộ lịch sử cứu độ. Thiên Chúa không hỏi vì không biết Adam đang ở chỗ nào. Người hỏi vì Adam đã đánh mất chỗ của mình trong tương quan với Thiên Chúa. “Ngươi ở đâu?” Con đang ở đâu trong tình yêu của Ta? Con đã đi đâu khỏi khuôn mặt của Ta? Con đã làm gì với sự sống mà Ta trao cho con? Và ngay tại khoảnh khắc tội lỗi dường như vừa chiến thắng, lời hứa cứu độ đã lóe lên. Truyền thống Kitô giáo đọc lời Thiên Chúa nói với con rắn về dòng giống người phụ nữ sẽ đạp đầu nó như “Tin Mừng nguyên thủy”, ánh sáng đầu tiên báo trước một cuộc chiến mà cuối cùng sự dữ sẽ không có tiếng nói sau hết. Ngay bên cạnh cây biết lành biết dữ đã dẫn con người vào bất tuân, bóng dáng của một cây khác như đã thấp thoáng từ xa: cây Thánh Giá. Nếu tội lỗi đi vào lịch sử qua sự bất tuân của con người, thì ơn cứu độ sẽ đến qua sự vâng phục của Con Người. Nếu từ một cây trong vườn địa đàng, con người đưa tay ra để chiếm lấy điều không thuộc về mình, thì trên một cây ngoài thành Giêrusalem, Đức Kitô sẽ dang hai tay để trao đi tất cả những gì Người có. Nếu Adam muốn nắm lấy địa vị Thiên Chúa, thì Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa, lại “hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ… Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây Thập Tự” (Pl 2,6-8). Cả lịch sử cứu độ nằm giữa hai cử chỉ ấy: bàn tay muốn chiếm đoạt và đôi tay chịu đóng đinh vì trao ban.
Từ đó có thể nói toàn bộ Cựu Ước là một hành trình dài tiến về Thánh Giá, dù những người sống trong lịch sử ấy chưa thể nhìn thấy đầy đủ điều Thiên Chúa đang chuẩn bị. Abraham nghe tiếng gọi: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi.” Ông ra đi mà không biết mình sẽ đi đâu. Câu chuyện Abraham đã mang trong mình cấu trúc của Thánh Giá: từ bỏ, tín thác và trao phó. Đỉnh điểm là khi Abraham đưa Isaac lên núi Moria. Isaac hỏi: “Có lửa, có củi đây, còn chiên để làm lễ toàn thiêu đâu?” Abraham trả lời: “Con ơi, chính Thiên Chúa sẽ liệu chiên làm lễ toàn thiêu.” Lời ấy vượt xa điều Abraham có thể hiểu lúc ấy. Một ngày kia, Thiên Chúa thật sự sẽ liệu Con Chiên. Nhưng Con Chiên ấy không phải Isaac. Không phải bất cứ người con nào của loài người. Chính Người Con Một của Thiên Chúa sẽ mang lấy gỗ trên vai, bước lên một ngọn đồi và để mình được hiến tế. Abraham đã được giữ tay lại. Trên Golgotha, không có thiên thần nào giữ tay những người đóng đinh Đức Giêsu. Isaac được tháo khỏi bàn thờ. Đức Giêsu ở lại trên Thánh Giá đến cùng. Và điều ấy không phải vì Chúa Cha tàn nhẫn hơn Abraham, nhưng bởi nơi Đức Giêsu, chính Thiên Chúa đi vào sự hiến dâng. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một” không có nghĩa một Thiên Chúa lạnh lùng đứng xa nhìn Con mình đau đớn, nhưng là mầu nhiệm tình yêu của chính Thiên Chúa được trao ban đến tận cùng nơi Người Con.
Rồi đến biến cố Xuất Hành. Israel bị nô lệ tại Ai Cập. Tiếng kêu của dân thấu đến Thiên Chúa. Người nói với Môsê: “Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta… Ta đã nghe tiếng chúng kêu than… Ta biết các nỗi đau khổ của chúng.” Đó luôn là cách Thiên Chúa bước vào lịch sử: Người thấy, Người nghe, Người biết, rồi Người xuống giải thoát. Đêm Vượt Qua, máu con chiên bôi trên khung cửa trở thành dấu cứu sống những gia đình Israel. Họ ra khỏi nhà nô lệ, vượt qua Biển Đỏ, tiến về tự do. Nhưng cuộc Xuất Hành ấy cũng chỉ là hình bóng của một cuộc Xuất Hành lớn hơn. Trên núi Tabor, khi Đức Giêsu hiển dung, Luca kể rằng Môsê và Êlia nói với Người về “cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem”. Cuộc Xuất Hành cuối cùng không còn là thoát khỏi Pharaô, nhưng là thoát khỏi quyền lực tội lỗi và sự chết. Con Chiên Vượt Qua cuối cùng không còn là một con vật, nhưng là chính Đức Kitô. Máu cứu người không còn được bôi trên khung cửa, nhưng chảy từ thân thể Người trên cây Thập Giá. Biển Đỏ của cuộc Xuất Hành mới là chính cái chết mà Đức Kitô bước vào để mở cho nhân loại một con đường dẫn tới sự sống.
Trong sa mạc lại có một hình ảnh kỳ lạ khác. Dân Israel nổi loạn, rắn độc cắn họ, và Thiên Chúa truyền cho Môsê làm một con rắn bằng đồng treo lên cây; ai bị rắn cắn mà nhìn lên thì được sống. Hàng thế kỷ sau, Đức Giêsu nhắc chính câu chuyện ấy với Nicôđêmô: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Ga 3,14-15). Ngôn ngữ thật lạ: Thánh Giá là sự hạ nhục, vậy mà Đức Giêsu gọi đó là được “giương cao”. Con Người được tôn vinh ở đâu? Không phải trước hết trên ngai vàng, mà trên Thập Giá. Vinh quang của Thiên Chúa được biểu lộ ở đâu? Không phải nơi quyền lực nghiền nát kẻ thù, nhưng nơi tình yêu chấp nhận bị nghiền nát mà vẫn yêu. Chính ngay sau đó là câu Tin Mừng mà hầu như người Kitô hữu nào cũng thuộc: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Câu ấy chỉ thật sự sâu khi được đọc dưới bóng Thánh Giá. Thiên Chúa không yêu thế gian bằng một tình cảm mơ hồ. Người yêu bằng việc trao Con. Người yêu đến mức để tình yêu đi vào nơi đau nhất của con người. Người không cứu chúng ta bằng cách đứng ngoài vực thẳm rồi ném xuống một sợi dây. Người đi xuống tận đáy vực thẳm ấy.
Các ngôn sứ tiếp tục mở đường cho mầu nhiệm này. Isaia nói về Người Tôi Trung đau khổ: “Người bị khinh khi và bị người ta ruồng bỏ, phải đau khổ triền miên… Người đã mang lấy các bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta… Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; Người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành.” Khi những lời ấy vang lên trong phụng vụ ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, người Kitô hữu hiểu rằng lịch sử cứu độ không phải một chuỗi biến cố rời rạc. Một sợi chỉ đỏ chạy xuyên suốt tất cả, và sợi chỉ đỏ ấy dẫn về Calvê. Con chiên của Abel, Isaac trên núi Moria, con chiên Vượt Qua, con rắn đồng, lễ vật trong Đền Thờ, Người Tôi Trung đau khổ, tất cả như những dòng suối nhỏ chảy về một đại dương: Đức Kitô chịu đóng đinh.
Nhưng phải đến Tin Mừng, trung tâm ấy mới xuất hiện bằng xương bằng thịt. Và điều làm ta kinh ngạc là Đức Giêsu không đi đến Thập Giá vì một tai nạn bất ngờ của lịch sử. Người biết con đường đang mở trước mặt mình. Người ba lần báo cho các môn đệ về cuộc thương khó. Phêrô nghe chuyện ấy liền kéo Người ra mà trách: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” Phản ứng của Phêrô cũng là phản ứng của chúng ta. Chúng ta muốn một Đức Kitô không có Thánh Giá. Muốn cứu độ mà không phải đi qua tự hiến. Muốn Tin Mừng dẫn tới thành công, bình an, an toàn, sức khỏe và thuận lợi. Nhưng Đức Giêsu quay lại nói một câu rất mạnh: “Xatan, lui lại đàng sau Thầy!” Bởi một Đấng Mêsia không Thánh Giá sẽ không còn là Đấng Mêsia của Thiên Chúa nữa. Người sẽ chỉ là một vị anh hùng theo tưởng tượng của con người. Ngay sau đó Đức Giêsu nói với tất cả mọi người: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Như thế, Thánh Giá không chỉ nằm ở cuối cuộc đời Đức Giêsu. Nó nằm ngay trong cấu trúc của đời môn đệ.
Có một đoạn Tin Mừng đặc biệt giúp chúng ta nhìn thấy Thánh Giá như tâm điểm của tất cả. Tin Mừng Gioan kể: “Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: ‘Tôi khát!’… Sau khi nếm giấm, Đức Giêsu nói: ‘Thế là đã hoàn tất!’ Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí” (Ga 19,28-30). Xin dừng lại ở ba tiếng ấy: “đã hoàn tất”. Cái gì đã hoàn tất? Một cuộc hành hình đã hoàn tất sao? Không. Một thất bại đã hoàn tất sao? Không. Sứ mạng mà Chúa Cha trao cho Người đã hoàn tất. Tình yêu đã đi đến tận cùng. “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng.” Đến cùng không chỉ là đến phút cuối. “Đến cùng” còn là đến tận giới hạn mà tình yêu có thể đi. Và vì tình yêu Thiên Chúa không có giới hạn, nên “đến cùng” chính là tự hiến hoàn toàn. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu không còn gì để giữ lại: áo đã bị chia, danh dự đã bị tước, bạn bè đã bỏ đi, thân thể đã bị thương tích, máu đã đổ ra, hơi thở cũng được trao. Người đã cho tất cả. Và khi không còn gì để cho nữa, Người trao chính Thần Khí. Đó là lý do Thánh Giá trở thành tâm điểm lịch sử cứu độ: ở đó, tình yêu Thiên Chúa đã bước vào tận đáy của thân phận con người và biến cái đáy ấy thành cửa ngõ của ơn cứu độ.
Chúng ta thường nhìn Thánh Giá trước hết như nơi Đức Giêsu chịu đau khổ. Điều ấy đúng nhưng chưa đủ. Nhiều người đã chịu đau khổ khủng khiếp hơn về thời gian. Nhiều người bị tra tấn nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm. Giá trị cứu độ của Thánh Giá không nằm ở số lượng đau đớn thể lý, như thể càng đau thì càng cứu được nhiều. Trung tâm của Thánh Giá là tình yêu và sự vâng phục. Chính trong đau khổ ấy, Đức Giêsu yêu. Khi bị đóng đinh, Người cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Khi bị chế giễu, Người không nguyền rủa. Khi người trộm bên cạnh kêu xin, Người trả lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Khi thấy Mẹ và môn đệ yêu dấu, Người vẫn nghĩ đến họ: “Thưa Bà, đây là con của Bà… Đây là Mẹ của anh.” Và trong khoảnh khắc tận cùng, Người thưa: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Thập Giá vì thế là nơi tội lỗi của con người đụng phải tình yêu của Thiên Chúa, và kỳ lạ thay, tình yêu không chịu biến thành hận thù. Con người đưa vào Thánh Giá bạo lực, Thiên Chúa đáp bằng tha thứ. Con người đưa vào đó nhục mạ, Thiên Chúa đáp bằng im lặng yêu thương. Con người đưa vào đó cái chết, Thiên Chúa làm nảy sinh sự sống. Con người muốn dùng Thập Giá để chấm hết câu chuyện của Đức Giêsu; Thiên Chúa biến chính dấu chấm hết ấy thành dấu mở đầu cho một tạo thành mới.
Đó là điều vô cùng quan trọng: Thánh Giá không đứng một mình. Thánh Giá hướng về Phục Sinh. Kitô giáo không thờ một người chết. Kitô giáo tuyên xưng Đấng chịu đóng đinh đã sống lại. Nhưng cũng không được vì Phục Sinh mà vội vàng đi qua Thánh Giá. Không có sáng Chúa Nhật Phục Sinh nếu không có chiều Thứ Sáu Tuần Thánh. Không có ngôi mộ trống nếu không có thân xác từng được đặt vào mộ. Không có lời “Người đã sống lại” nếu không có sự thật “Người đã chịu đóng đinh”. Có một kiểu đạo đức muốn nói đến chiến thắng mà không nói đến hy sinh, muốn nói đến Phục Sinh mà né tránh Calvê, muốn nói đến vinh quang mà không muốn từ bỏ. Đó không phải Tin Mừng trọn vẹn. Đức Kitô Phục Sinh vẫn mang những vết thương. Người hiện ra với Tôma và nói: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy.” Vết thương không bị xóa khỏi thân thể Phục Sinh. Chúng được biến đổi. Điều ấy có một ý nghĩa hết sức sâu xa cho mọi người đang mang thương tích: Thiên Chúa không nhất thiết làm cho đời ta như chưa từng bị tổn thương. Người có thể làm điều còn lớn hơn: biến chính vết thương thành nơi tỏa ánh sáng.
Bởi vậy Thánh Giá không chỉ giải thích lịch sử cứu độ, mà còn giải thích lịch sử đời mỗi người. Nhìn lại đời mình, có ai không có những ngày chẳng hiểu điều gì đang xảy ra? Có những lời cầu nguyện không được đáp theo cách ta mong. Có những người ta yêu rồi phải mất. Có những dự định tưởng chắc chắn rồi tan vỡ. Có những cánh cửa đóng lại. Có những căn bệnh đến bất ngờ. Có những phản bội đau đến mức nhiều năm sau vẫn nhói. Có những người cả đời làm điều tốt mà gặp hết thử thách này đến thử thách khác. Nếu không có Thánh Giá, những điều ấy dễ trở thành bằng chứng rằng cuộc đời vô nghĩa hoặc Thiên Chúa đã bỏ quên ta. Nhưng nếu nhìn qua Thánh Giá, ta chưa có câu trả lời cho mọi bí ẩn, nhưng có một bảo đảm: Thiên Chúa không đứng ngoài đau khổ của con người. Người đã ở trong đó. Không có nơi nào đau đến mức Đức Kitô chưa đi qua. Không có nước mắt nào hoàn toàn xa lạ với Người. Không có cô độc nào sâu hơn tiếng kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Không có cái chết nào nằm ngoài kinh nghiệm của Đấng đã bước vào mồ.
Nói Thánh Giá là trục của lịch sử vũ trụ còn đưa ta đi xa hơn nữa. Khoa học ngày nay cho chúng ta biết vũ trụ rộng đến mức trí tưởng tượng gần như bất lực. Những thiên hà cách chúng ta hàng triệu, hàng tỷ năm ánh sáng; những ngôi sao được sinh ra rồi chết đi; những khoảng không gian mênh mông mà trái đất chỉ như một hạt bụi. Trước vũ trụ ấy, con người có thể cảm thấy mình bé nhỏ đến mức vô nghĩa. Trái đất là gì giữa hàng trăm tỷ ngôi sao? Một đời người tám mươi năm là gì trước những con số hàng tỷ năm? Và Golgotha là gì giữa vũ trụ khổng lồ ấy? Theo kích thước vật lý, chẳng là gì cả. Một ngọn đồi nhỏ trên một hành tinh nhỏ, quanh một ngôi sao bình thường trong một thiên hà giữa vô số thiên hà. Nhưng đức tin Kitô giáo đưa ra một tuyên bố táo bạo đến kinh ngạc: Đấng bị đóng đinh trên ngọn đồi nhỏ ấy chính là Ngôi Lời, “nhờ Người mà muôn vật được tạo thành, và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành”. Thân thể chịu đóng đinh ấy thuộc về chính Đấng mà nhờ Người các tinh tú hiện hữu. Bàn tay bị đinh đâm xuyên ấy là bàn tay của Đấng dựng nên bàn tay con người. Đôi mắt nhắm lại trong cái chết ấy là đôi mắt của Đấng nhìn thấy toàn thể tạo thành. Trái tim bị lưỡi đòng đâm thâu ấy là trái tim nhân loại của Con Thiên Chúa, Đấng trong Người “muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình”.
Nếu điều ấy là thật, thì Golgotha không còn là một địa điểm nhỏ trong vũ trụ nữa. Nó trở thành điểm gặp gỡ giữa Đấng Tạo Hóa và tạo thành. Vật chất của vũ trụ được mang vào mầu nhiệm cứu độ ngay trên thân thể Đức Kitô. Người mang một thân xác thật, được hình thành từ bụi đất của hành tinh này, được nuôi bằng bánh, nước, cá, rượu, những hoa trái của đất. Khi thân xác ấy chịu đóng đinh và sống lại, vật chất không bị loại bỏ, nhưng được đưa vào một vận mệnh mới. Phục Sinh không phải linh hồn Đức Giêsu thoát khỏi thân xác để trở về thế giới tinh thần. Người sống lại với một thân xác được biến đổi. Vì thế niềm hy vọng Kitô giáo không chỉ là “linh hồn lên trời”. Chúng ta tuyên xưng “xác loài người ngày sau sống lại” và trông đợi “trời mới đất mới”. Ơn cứu độ có chiều kích vũ trụ.
Thánh Phaolô nói một câu rất đẹp nhưng cũng đầy huyền nhiệm: “Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người… Cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở” (Rm 8,19.22). Hãy nghe cho kỹ: không chỉ con người rên siết. Cả tạo thành rên siết. Có một vết thương vũ trụ. Những đổ vỡ của tội lỗi con người tác động lên cả thế giới chung quanh: đất đai bị khai thác vô độ, sông biển bị ô nhiễm, rừng bị hủy diệt, sinh vật bị tiêu diệt vì lòng tham, tài nguyên bị biến thành nguyên nhân chiến tranh. Nhưng Phaolô không nói tạo thành đang hấp hối vô vọng. Ông dùng hình ảnh người phụ nữ “đau đớn lúc sinh con”. Cơn đau có thể dữ dội, nhưng nó hướng tới sự sống. Toàn thể tạo thành đang chờ ngày được giải thoát khỏi cảnh hư nát. Và trung tâm của cuộc giải thoát ấy là Đức Kitô, Đấng qua cái chết và sự sống lại đã khởi đầu công trình tạo dựng mới.
Thư Côlôsê đẩy cái nhìn ấy đến chiều sâu lớn lao: Đức Kitô “là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Người muôn vật được tạo thành… Tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người… Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người… Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên Thập Giá, Thiên Chúa đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (x. Cl 1,15-20). Có lẽ không có bản văn nào trình bày rõ hơn chiều kích vũ trụ của Thánh Giá. Máu đổ trên một mảnh đất nhỏ ở Palestine lại được nói là đem hòa giải cho “muôn vật”. Thập Giá nối trời với đất. Thanh dọc của Thánh Giá như hướng từ đất lên trời; thanh ngang dang rộng như muốn ôm lấy toàn thể nhân loại và tạo thành. Đây không phải một cách chơi biểu tượng đơn giản. Nó chạm đến chính mầu nhiệm: nơi Thánh Giá, tương quan bị tội lỗi làm vỡ được Đức Kitô tái lập. Con người với Thiên Chúa. Người với người. Con người với chính mình. Con người với tạo thành. Đất với trời.
Chính vì vậy, người Kitô hữu không thể yêu Thánh Giá mà khinh thường thế giới Thiên Chúa đã dựng nên. Không thể quỳ trước Thánh Giá rồi bước ra ngoài mà hủy hoại tạo thành. Không thể nói yêu Đấng Tạo Hóa mà sống như thể đất đai, sông biển, cây rừng và mọi sinh vật chẳng có giá trị gì ngoài lợi ích kinh tế cho mình. Nếu “muôn vật” được tạo thành nhờ Đức Kitô, cho Đức Kitô và được hòa giải nhờ Đức Kitô, thì thế giới mang một phẩm giá chúng ta phải kính trọng. Thánh Giá không dẫn người Kitô hữu trốn khỏi thế giới, mà trở về thế giới với một cách sống mới: không chiếm đoạt nhưng đón nhận; không khai thác vô giới hạn nhưng chăm sóc; không tiêu thụ như chủ nhân tuyệt đối nhưng sử dụng như người quản lý.
Nhìn Thánh Giá như trục lịch sử cũng làm thay đổi cách ta hiểu quyền lực. Lịch sử thế giới thường được viết quanh các hoàng đế, vua chúa, tổng thống, tướng lĩnh, những người chiến thắng chiến tranh. Các niên đại được đánh dấu bằng việc một vương quốc được thành lập, một thành phố thất thủ, một chế độ lên ngôi. Nhưng Thiên Chúa viết lịch sử theo một cách khác. Tâm điểm lịch sử cứu độ không phải cung điện Caesar tại Rôma, nhưng một cây gỗ bên ngoài thành Giêrusalem. Trong mắt Rôma, Đức Giêsu chỉ là một tử tội Do Thái vô danh giữa vô số người từng bị đóng đinh. Philatô có lẽ tưởng mình là người nắm quyền khi nói: “Ông không biết rằng tôi có quyền tha và cũng có quyền đóng đinh ông sao?” Đức Giêsu trả lời: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài.” Lịch sử đã chứng minh một nghịch lý. Tên tuổi biết bao quan chức quyền lực thời đó đã chìm vào quên lãng, nhưng người bị đóng đinh mà họ tưởng đã loại khỏi lịch sử lại chia lịch sử nhân loại thành trước và sau Người. Thập Giá đảo lộn thước đo quyền lực. Người mạnh nhất không phải người có thể giết, mà là người có thể yêu ngay cả khi bị giết. Người chiến thắng không phải người khiến kẻ thù quỳ xuống, mà là người quỳ xuống rửa chân cho kẻ khác. Vương quyền thật không phải nắm chặt, mà là trao ban.
Điều này đáng để Hội Thánh suy nghĩ mỗi ngày. Nếu Thánh Giá là trục của lịch sử cứu độ, thì Thánh Giá cũng phải là trục của Hội Thánh. Một Hội Thánh rời xa Thánh Giá có thể rất đông, rất giàu, rất tổ chức, rất nổi tiếng, rất có ảnh hưởng, nhưng sẽ dần xa Đức Kitô. Bởi Đức Kitô không cứu thế giới bằng chiến lược quyền lực. Người cứu bằng chính thân mình được trao ban. Hội Thánh chỉ thực sự có sức mạnh khi mang hình dáng của Đấng chịu đóng đinh: nghèo với người nghèo, đau với người đau, ở bên người bị bỏ rơi, tha thứ cho người xúc phạm, nói sự thật mà không hận thù, phục vụ mà không tìm tiếng khen. Khi Hội Thánh tranh giành danh dự, Thánh Giá xét xử Hội Thánh. Khi người có chức quyền trong Hội Thánh dùng quyền để bảo vệ mình hơn bảo vệ đoàn chiên, Thánh Giá xét xử họ. Khi linh mục tìm tiện nghi hơn người nghèo, Thánh Giá hỏi linh mục: “Con đang theo ai?” Khi người tín hữu biến đạo thành danh tính để tự hào nhưng không chịu yêu kẻ thù, Thánh Giá đứng đó như một lời chất vấn không thể né tránh.
Thánh Giá cũng là trục để phân định đời sống thiêng liêng. Ngày nay người ta dễ chạy theo những gì gây cảm giác mạnh: phép lạ, hiện tượng lạ, lời tiên tri, những cảm xúc sốt sắng, những kinh nghiệm thiêng liêng khác thường. Nhưng dấu chắc chắn nhất của sự kết hợp với Đức Kitô không phải ta thấy bao nhiêu điều kỳ lạ, mà là ta có trở nên giống Đức Kitô chịu đóng đinh hay không. Ta có hiền lành hơn không? Có bớt ích kỷ không? Có biết xin lỗi không? Có dám tha thứ không? Có ở lại với người đau khổ không? Có chịu thiệt một chút để người khác được sống không? Có dám nói thật dù mình có thể mất lợi ích không? Có cầu nguyện cho người làm mình đau không? Không có Thánh Giá, đời sống đạo dễ trở thành một hình thức chăm sóc cảm xúc tôn giáo. Có Thánh Giá, đức tin trở thành cuộc biến đổi tận căn con người.
Đặc biệt, Thánh Giá giúp chúng ta hiểu rằng cứu độ không phải trước hết là chuyện “tôi làm gì để lên thiên đàng”, nhưng là chuyện Thiên Chúa đã làm gì để cứu tôi và đang biến đổi tôi thế nào để tôi có thể sống trong tình yêu của Người. Tại Golgotha, người trộm lành không còn cơ hội sửa chữa cuộc đời mình. Anh không thể xuống khỏi thập giá để đi làm việc bác ái, trả lại những gì từng lấy, làm việc đền tội hay lập công trạng. Anh chỉ có thể quay đầu nhìn sang người bị đóng đinh bên cạnh và nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Đức Giêsu trả lời: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Đó là một trong những hình ảnh tinh ròng nhất của ân sủng. Hai bàn tay người trộm đều bị đóng đinh, không thể làm gì để tự cứu. Anh chỉ có thể tin. Và chính ở đó ơn cứu độ được ban.
Nhưng ân sủng không làm chúng ta thụ động. Người được cứu bởi Thánh Giá sẽ được mời gọi sống theo hình dáng Thánh Giá. Thánh Phaolô nói: “Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào Thập Giá. Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” Đây không phải lời của một người ghét sự sống. Trái lại, đó là lời của một người đã tìm thấy sự sống thật. “Cái tôi” bị đóng đinh là cái tôi ích kỷ, cái tôi muốn làm trung tâm, cái tôi phải luôn đúng, cái tôi đòi người khác phục vụ mình, cái tôi không chịu tha thứ, cái tôi sống bằng ánh mắt người đời. Mỗi lần ta chết đi cho cái tôi ấy, Thánh Giá đi vào đời ta như sức mạnh giải thoát.
Trong hôn nhân, Thánh Giá có khi rất đơn sơ: là người chồng mệt nhưng vẫn dịu dàng với vợ; là người vợ chịu dừng một lời cay nghiệt đang muốn bật ra; là hai người học xin lỗi trước khi đi ngủ; là cha mẹ hy sinh nhiều năm mà con cái không biết hết; là người vợ chăm chồng bệnh, người chồng ở bên người vợ sa sút; là lòng chung thủy trong những mùa tình cảm trở nên khô khan. Trong đời linh mục, Thánh Giá có khi là tiếp một người đến gõ cửa vào lúc mình đang mệt; ngồi giải tội hàng giờ mà chẳng ai biết; đi thăm một bệnh nhân không thể đáp lại gì; chấp nhận bị hiểu lầm mà không lập tức tự bào chữa; tiếp tục rao giảng khi thấy ít kết quả; ở lại với một cộng đoàn khó khăn thay vì chỉ tìm nơi dễ chịu. Trong đời tu, Thánh Giá là những va chạm nhỏ mỗi ngày trong cộng đoàn, là học chết đi cho ý riêng, là trung thành với lời khấn cả khi cảm xúc không còn nâng đỡ. Trong đời người giáo dân, Thánh Giá có thể là làm việc trung thực giữa một môi trường đầy gian dối, từ chối món lợi bất chính, chăm sóc cha mẹ già, kiên trì nuôi một người con khuyết tật, tha thứ cho người thân từng làm mình đau.
Những Thánh Giá ấy nhìn từ bên ngoài thường rất bình thường. Nhưng chính những điều bình thường ấy, khi được kết hợp với Đức Kitô, trở thành nơi lịch sử cứu độ tiếp tục đi qua đời chúng ta. Điều này không có nghĩa mọi đau khổ đều là ý Chúa hay ta phải đi tìm đau khổ. Đức Giêsu chữa bệnh, cho người đói ăn, giải thoát người bị áp bức. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Chúng ta tôn thờ Tình Yêu đã đi vào đau khổ để chiến thắng nó. Có những thập giá phải vác. Nhưng cũng có những “thập giá” phải tháo xuống khỏi vai người khác: nghèo đói bất công, bạo lực gia đình, bóc lột, kỳ thị, cô đơn, áp bức. Đừng nói với một người đang bị bạo hành: “Đó là thánh giá Chúa gửi, cứ chịu đi.” Không. Có khi bổn phận Kitô hữu chính là giúp họ bước xuống khỏi cây thập giá mà kẻ khác đã đóng họ lên. Đức Giêsu không dựng thêm thập giá. Người để mình bị đóng vào thập giá nhằm chấm dứt logic của bạo lực và mở ra logic của tình yêu.
Có một chi tiết trong Tin Mừng Gioan mà càng suy niệm càng thấy sâu. Sau khi Đức Giêsu chết, một người lính lấy giáo đâm cạnh sườn Người, “tức thì máu cùng nước chảy ra”. Truyền thống Hội Thánh nhìn thấy trong máu và nước dấu chỉ của các bí tích, đặc biệt Thánh Thể và Thánh Tẩy, và nhìn thấy Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô như Evà được hình thành từ cạnh sườn Adam. Nếu vậy, ngay trung tâm của lịch sử cứu độ không chỉ có cái chết, nhưng có sự khai sinh. Cạnh sườn bị mở trở thành nguồn sống. Vết thương trở thành cửa. Chính nơi tưởng như mọi sự đã chấm dứt lại có nước và máu chảy ra. Thiên Chúa luôn làm điều ấy: từ nơi con người tưởng chỉ còn cái chết, Người mở ra sự sống.
Chính vì vậy, Thánh Giá còn cho phép ta hy vọng về lịch sử, ngay cả khi lịch sử có những giai đoạn rất tối. Thế kỷ XX đã chứng kiến hai cuộc thế chiến, Holocaust, các trại cải tạo, những cuộc diệt chủng, bom nguyên tử, những chế độ giết hàng triệu người. Thế kỷ XXI vẫn đầy chiến tranh, khủng bố, buôn người, bóc lột, môi trường bị tàn phá, những người di dân chết trên biển, những trẻ em lớn lên giữa tiếng bom. Có những lúc nhìn thế giới, người ta tự hỏi lịch sử có thực sự đi về đâu hay chỉ quay vòng giữa bạo lực và tham vọng. Người Kitô hữu không lạc quan ngây thơ. Thánh Giá không cho phép ta ngây thơ về sự dữ, bởi chính Con Thiên Chúa đã bị con người giết. Nhưng Thánh Giá cũng không cho phép ta tuyệt vọng, bởi người bị giết ấy đã sống lại. Đó là nền tảng của hy vọng Kitô giáo: sự dữ có thật, nhưng không phải tuyệt đối; cái chết có thật, nhưng không có tiếng nói cuối cùng; đêm tối có thật, nhưng bình minh đã bắt đầu.
Và rồi Kinh Thánh kết thúc không phải bằng Thánh Giá cô độc trên một ngọn đồi, nhưng bằng thành thánh Giêrusalem mới từ trời xuống, nơi “sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa”. Con Chiên từng bị sát tế trở thành ngọn đèn của thành. Hãy để ý: sách Khải Huyền gọi Đức Kitô phục sinh là “Con Chiên như đã bị sát tế”. Ngay trong vinh quang cánh chung, căn tính của Người vẫn gắn với sự tự hiến. Thánh Giá không bị lịch sử vượt qua như một giai đoạn đáng quên. Tình yêu biểu lộ trên Thánh Giá là chân lý vĩnh cửu về chính Thiên Chúa. Đời đời chúng ta sẽ không gặp một Thiên Chúa khác với Đấng đã tự hiến trên Golgotha. Thánh Giá nói cho ta Thiên Chúa là ai: Thiên Chúa là Đấng yêu đến cùng.
Có lẽ vì thế mà cây Thánh Giá nhỏ bé lại hiện diện khắp thế giới: trên tháp nhà thờ giữa những thành phố lớn, trên bàn thờ của những ngôi làng nghèo, trên cổ một người mẹ, trên tay một bệnh nhân, trước mộ một người đã chết, trong phòng của một người tu sĩ, trên bàn học của một em nhỏ, trong túi áo của một người lính, bên giường của một người sắp qua đời. Có cây Thánh Giá bằng vàng trong những vương cung thánh đường, có cây Thánh Giá chỉ là hai mảnh gỗ ghép lại trong một căn nhà nghèo. Giá trị không nằm ở chất liệu. Cây gỗ ấy nhắc chúng ta rằng lịch sử có một tâm điểm. Đời ta có một tâm điểm. Thế giới có một tâm điểm. Tâm điểm ấy không phải tiền bạc, quyền lực, thành công, tuổi trẻ, sức khỏe hay tiếng tăm. Tâm điểm là tình yêu tự hiến của Đức Kitô.
Nếu một ngày tất cả những gì ta đang có bị lấy mất, vẫn còn Thánh Giá. Nếu một ngày người đời không còn nhớ tên ta, vẫn còn Thánh Giá. Nếu một ngày những công việc ta đã làm dường như chẳng còn dấu vết, vẫn còn Thánh Giá. Nếu một ngày thân xác yếu đi và ta không còn làm được điều mình từng làm, vẫn còn Thánh Giá. Và khi giây phút cuối cùng đến, khi bàn tay phải buông tất cả, Thánh Giá sẽ vẫn ở đó như lời bảo đảm rằng Đấng ta sắp gặp chính là Đấng đã chết cho ta. Người đã đi qua cánh cửa ấy trước ta. Người biết con đường.
Đứng dưới Thánh Giá, ta cũng học nhìn lại thời gian. Chúng ta hay chia cuộc đời thành thành công và thất bại, được và mất, vui và buồn. Thiên Chúa có thể dùng một cách chia khác: yêu và không yêu. Một ngày xem như thành công trước mặt thế gian có thể là một ngày thất bại trước mặt Thiên Chúa nếu trong ngày ấy ta làm tổn thương bao người để đạt mục đích. Một ngày xem như chẳng làm được gì có thể rất quý trước mắt Người nếu ta đã kiên nhẫn ngồi bên một người bệnh, lắng nghe một người đau khổ, giữ im lặng thay vì trả đũa. Thánh Giá sửa lại thước đo đời ta.
Ngày xưa trên Calvê, người ta đi ngang qua và lắc đầu. Họ nói: “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì hãy xuống khỏi thập giá đi!” Đó là cám dỗ cuối cùng. Chứng minh mình là Con Thiên Chúa bằng cách xuống khỏi Thánh Giá. Nhưng Đức Giêsu chứng minh Người là Con bằng cách ở lại. Người có thể xuống không? Tin Mừng muốn chúng ta hiểu rằng vấn đề không phải Người không thể, mà Người không muốn bỏ cuộc giữa đường. Tình yêu giữ Người lại, không phải những cây đinh. Nếu chỉ có đinh, sức mạnh Thiên Chúa có thể phá tung. Nhưng Người ở lại vì “không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu”. Và có lẽ đây là đoạn Tin Mừng minh họa đẹp nhất cho toàn bộ mầu nhiệm Thánh Giá: chính những kẻ chế nhạo tưởng rằng xuống khỏi Thập Giá mới chứng minh thần tính, trong khi ở lại trên Thập Giá mới mặc khải trọn vẹn Thiên Chúa là Tình Yêu.
Thế giới vẫn nói với người Kitô hữu cùng một câu: “Hãy xuống khỏi thập giá đi.” Hãy bỏ sự trung thực nếu nó làm anh thiệt. Hãy bỏ lòng chung thủy nếu nó khiến anh khó sống. Hãy trả đũa đi, sao phải tha thứ? Hãy lo cho mình trước, sao phải hy sinh? Hãy dùng quyền lực để nghiền nát đối thủ, sao phải hiền lành? Hãy sống như mọi người, sao phải giữ Tin Mừng? Nhưng mỗi lần người môn đệ ở lại với tình yêu, một mảnh nhỏ của Calvê lại hiện diện trong lịch sử. Không ồn ào. Không ai đưa tin. Nhưng Nước Thiên Chúa lớn lên từ những điều như thế.
Một ngày kia lịch sử thế giới sẽ kết thúc. Những ngôi sao mà chúng ta thấy hôm nay cũng không tồn tại mãi theo hình thức hiện tại. Các nền văn minh sẽ qua đi. Những công trình ta tưởng vĩ đại sẽ trở thành bụi. Nhưng Kitô giáo tin rằng lịch sử không đi vào hư vô. Nó đi về Đức Kitô. Người là Alpha và Omega, là Khởi Nguyên và Tận Cùng. Đấng đứng ở cuối lịch sử chính là Đấng đã đứng giữa lịch sử trên Thánh Giá. Vì thế tương lai cuối cùng của vũ trụ không nằm trong tay sự hỗn loạn nhưng trong tay Đấng chịu đóng đinh và phục sinh.
Có một vẻ đẹp rất lạ trong hình ảnh ấy. Hai cánh tay Đức Giêsu giang rộng trên Thánh Giá như ôm lấy toàn thể lịch sử. Một cánh tay như chạm vào thuở tạo thiên lập địa, cánh kia như chạm đến ngày tận thế. Trong trái tim bị đâm thâu của Người, quá khứ, hiện tại và tương lai gặp nhau. Tội Adam ở đó. Lời hứa cho Abraham ở đó. Cuộc Xuất Hành ở đó. Những tiếng kêu của các ngôn sứ ở đó. Nước mắt của bao thế hệ ở đó. Tội lỗi của tôi và của bạn cũng ở đó. Những cuộc chiến chưa xảy ra ở thời Golgotha, những đứa trẻ chưa sinh ra, những người đến tận cuối lịch sử cũng được ôm trong lời Người nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.”
Vì thế, khi làm dấu Thánh Giá, xin đừng làm vội. Đó không phải một cử chỉ mở đầu theo thói quen. Mỗi lần đưa tay từ trán xuống ngực rồi từ vai này sang vai kia, ta đang ghi lên chính thân thể mình dấu của tâm điểm lịch sử. “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.” Cả Ba Ngôi được tuyên xưng trong hình Thánh Giá. Từ trên xuống dưới: Thiên Chúa đi xuống với con người. Từ bên này sang bên kia: tình yêu mở ra ôm lấy tha nhân. Người Kitô hữu mang trên thân mình bản đồ của ơn cứu độ.
Và nếu Thánh Giá thực sự là trục của lịch sử cứu độ và lịch sử vũ trụ, câu hỏi cuối cùng không còn là: “Tại sao Thánh Giá quan trọng?” mà là: “Tôi đang đặt đời mình xoay quanh điều gì?” Có thể tôi vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn mang Thánh Giá, nhưng tâm đời tôi lại xoay quanh tiền bạc. Có thể tôi giảng về Đức Kitô, nhưng tâm tôi xoay quanh danh tiếng. Có thể tôi phục vụ Hội Thánh, nhưng tâm tôi lại xoay quanh cái tôi. Một bánh xe chỉ vận hành đúng khi tâm của nó nằm đúng trên trục. Một đời Kitô hữu cũng vậy. Nếu tâm lệch khỏi Thánh Giá, càng chạy nhanh càng dễ đổ vỡ.
Xin cho chúng ta biết trở về tâm điểm. Trở về với Đức Giêsu chịu đóng đinh. Nhìn Người lâu hơn một chút. Không cần nói gì nhiều. Nhìn đôi tay ấy và nhớ bao lần tay mình đã nắm chặt. Nhìn đôi chân ấy và nhớ bao lần mình đã chạy khỏi trách nhiệm. Nhìn miệng Người và nhớ những lời mình từng làm đau người khác. Nhìn trái tim bị mở ra và nhìn trái tim mình đã nhiều lần đóng lại. Rồi nghe Người nói: “Ta khát.” Người khát tình yêu của ta. Khát lòng trở lại của ta. Khát một thế giới nơi con người biết nhìn nhau như anh chị em.
Cuối cùng, tất cả Kitô giáo có thể thu lại trong điều rất nhỏ này: Thiên Chúa đã yêu. Người yêu đến mức đi vào lịch sử. Người yêu đến mức mang lấy xác phàm. Người yêu đến mức bước xuống tận đau khổ. Người yêu đến mức lên Thánh Giá. Người yêu đến mức đi vào sự chết. Và tình yêu ấy mạnh hơn cái chết. Bởi vậy, giữa một vũ trụ mênh mông, giữa một lịch sử đầy máu và nước mắt, người Kitô hữu vẫn dám hy vọng. Không phải vì chúng ta ngây thơ. Không phải vì nghĩ mọi chuyện rồi sẽ tự nhiên tốt đẹp. Chúng ta hy vọng bởi ở tâm của lịch sử có một cây Thánh Giá, và trên cây Thánh Giá ấy có một Người đã yêu thế gian đến cùng. Người ấy đã chết. Người ấy đã sống lại. Và Người ấy vẫn là Chúa của lịch sử.
Thánh Giá vì thế không phải dấu chấm hết. Thánh Giá là bản lề mở lịch sử sang sự sống. Không phải thất bại, nhưng là chiến thắng trong hình thức mà thế gian không hiểu. Không phải nơi Thiên Chúa vắng mặt, nhưng là nơi Người hiện diện sâu nhất trong đau khổ nhân loại. Không phải tai nạn của lịch sử, mà là nơi tình yêu đời đời của Thiên Chúa đi vào thời gian. Không phải chỉ cứu một số linh hồn khỏi thế gian, nhưng khởi đầu cuộc hòa giải toàn thể tạo thành. Từ cạnh sườn bị đâm thâu, một dòng sông sự sống bắt đầu chảy; dòng sông ấy đi qua các bí tích, đi qua Hội Thánh, đi qua những con người âm thầm yêu thương, và sẽ chảy cho tới ngày “Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài”.
Và rồi khi mọi sách lịch sử của nhân loại khép lại, khi những đế quốc đã biến thành bụi, khi mọi ngai vàng trần thế không còn, khi mọi huy chương, danh hiệu và của cải chẳng còn nghĩa gì, vẫn còn Con Chiên đã chịu sát tế và đang sống. Khi ấy chúng ta sẽ hiểu điều mà hôm nay mới chỉ tin trong mờ tối: không một giọt nước mắt nào được dâng trong tình yêu là vô ích, không một hy sinh âm thầm nào bị quên lãng, không một vết thương nào trao cho Đức Kitô mà không thể được biến đổi, bởi ngay giữa lòng lịch sử đã cắm xuống một cây Thánh Giá, và từ cây ấy sự sống đời đời đã nở hoa.
Thánh Giá đứng giữa trời và đất. Đứng giữa Thiên Chúa và con người. Đứng giữa tội lỗi và tha thứ. Đứng giữa đau khổ và hy vọng. Đứng giữa cái chết và sự sống. Đứng giữa tạo thành cũ và tạo thành mới. Thánh Giá đứng ở đó như chiếc trục bất động giữa dòng lịch sử luôn biến động, để bất cứ ai đang lạc đường cũng có thể nhìn lên và tìm lại phương hướng. Và từ trên Thánh Giá ấy, Đức Kitô vẫn dang tay.
Từ muôn thuở cho đến muôn đời, tất cả đều bắt đầu trong Người, tồn tại trong Người, được cứu chuộc nhờ Người và sẽ được quy tụ trong Người.
Còn chúng ta, giữa quãng đời rất ngắn ngủi của mình, chỉ xin một điều: biết đặt đời mình đúng vào chiếc trục ấy, để khi vui cũng không quên Người, khi đau cũng không rời Người, khi thành công không kiêu căng, khi thất bại không tuyệt vọng, khi sống biết yêu như Người đã yêu và khi chết có thể bình an thưa như Người: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Bởi vì sau tất cả, chỉ có tình yêu còn lại.
Và trên Thánh Giá, Tình Yêu đã mang một khuôn mặt.
Lm. Anmai, CSsR

MỌI SỰ ĐƯỢC QUY TỤ TRONG ĐỨC KITÔ NHỜ MÁU THÁNH GIÁ
Có những lúc đứng trước Thánh Giá, ta tưởng mình chỉ đang nhìn một biến cố xảy ra cách đây gần hai ngàn năm trên một ngọn đồi nhỏ ngoài thành Giêrusalem: một người bị kết án, hai tay bị đóng đinh, thân thể rách nát, đầu đội mão gai, máu chảy xuống khuôn mặt, chung quanh là những tiếng chế nhạo, phía dưới có một người mẹ đứng lặng, vài người thân tín và một đám đông tò mò. Nếu chỉ nhìn như thế, Thánh Giá là một bi kịch. Nếu chỉ đọc bằng con mắt lịch sử, Thánh Giá là một vụ hành quyết của đế quốc Rôma. Nếu chỉ nhìn bằng tâm lý, Thánh Giá là sự thất bại đau đớn của một con người đã yêu thương quá nhiều và cuối cùng bị chính những người mình yêu từ chối. Nhưng đối với đức tin Kitô giáo, Thánh Giá không phải là một biến cố nhỏ nằm bên lề lịch sử. Thánh Giá đứng giữa lịch sử. Thánh Giá là nơi lịch sử nhân loại gặp lịch sử của Thiên Chúa, nơi trời và đất chạm vào nhau, nơi tội lỗi của con người đụng phải lòng thương xót của Thiên Chúa, nơi cái chết tưởng mình đã chiến thắng nhưng lại bị chính tình yêu đi xuyên qua và bẻ gãy quyền lực. Chính vì vậy, thánh Phaolô có thể nói một câu vừa lớn lao vừa táo bạo đến mức cả cuộc đời Kitô hữu suy niệm cũng không hết: Thiên Chúa đã định liệu “quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô” (x. Ep 1,10). Và trong thư gửi tín hữu Côlôxê, ngài còn đi xa hơn nữa: Thiên Chúa muốn nhờ Đức Kitô mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình, “nhờ máu Người đổ ra trên Thập Giá” mà đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời (x. Cl 1,20). Như thế, máu từ những vết đinh trên tay Chúa Giêsu không chỉ chảy xuống đất đồi Canvê. Theo ánh sáng đức tin, dòng máu ấy chảy xuyên qua lịch sử, chảy vào những chia rẽ của nhân loại, chảy qua từng thế hệ, từng gia đình, từng tâm hồn, chảy vào những gì đã đổ vỡ trong ta, để đưa tất cả trở về với Đấng là nguồn cội. Thánh Giá vì thế không chỉ cứu một số linh hồn riêng lẻ; Thánh Giá nằm trong chương trình vĩ đại của Thiên Chúa muốn đưa toàn thể công trình tạo dựng về lại sự hiệp nhất trong Đức Kitô.
“Quy tụ” là một từ thật đẹp. Con người chúng ta sống giữa một thế giới không ngừng bị phân tán. Tội lỗi trước hết là sự phân tán. Adam phạm tội, và lập tức con người trốn Thiên Chúa. Adam đổ lỗi cho Eva. Eva đổ lỗi cho con rắn. Anh em quay lưng với nhau khi Cain giết Abel. Nhân loại tự tôn mình tại Babel và rồi không còn hiểu được tiếng nói của nhau. Từ đó, sự phân tán đi vào từng ngõ ngách của đời người. Con người chia lìa Thiên Chúa, chia lìa với người khác, chia lìa với thiên nhiên và cuối cùng chia lìa ngay trong chính mình. Miệng nói một điều, lòng muốn một điều khác. Biết điều tốt mà lại làm điều xấu. Muốn tha thứ nhưng cứ giữ giận. Muốn bình an nhưng lại chạy theo những thứ làm lòng mình xao động. Muốn được yêu nhưng lại sợ trao ban. Muốn sống thật nhưng lại đeo mặt nạ. Muốn trở về với Chúa nhưng vẫn níu những gì kéo mình xa Chúa. Có khi nhìn bên ngoài chúng ta thấy một con người nguyên vẹn, nhưng bên trong là cả một thế giới vỡ vụn. Có những gia đình vẫn ở chung một mái nhà nhưng tâm hồn đã xa nhau nhiều năm. Có những vợ chồng vẫn ngồi cùng một bàn ăn mà không còn gì để nói. Có những anh chị em ruột thịt từ một biến cố tranh chấp mà mười năm, hai mươi năm không nhìn mặt nhau. Có những cộng đoàn đọc chung một Kinh Tin Kính nhưng trong lòng chia bè chia nhóm. Có những người làm việc cho Chúa nhưng không thể chịu nổi người cùng làm việc cho Chúa với mình. Có những người rất thuộc giáo lý nhưng lại mang trong lòng một sự cay nghiệt không chịu buông. Tội luôn luôn phân tán. Ma quỷ, đúng như ý nghĩa tên gọi của nó, là kẻ chia rẽ. Còn chương trình của Thiên Chúa là quy tụ. Và trung tâm của công trình quy tụ ấy là Đức Kitô chịu đóng đinh.
Tại sao lại phải quy tụ “trong Đức Kitô”? Vì mọi sự đã được tạo dựng nhờ Người và cho Người. Đức Kitô không phải là một giải pháp được Thiên Chúa nghĩ ra sau khi nhân loại phạm tội. Ngay từ đầu, Ngôi Lời đã ở nơi Thiên Chúa, và nhờ Ngôi Lời mà muôn vật được tạo thành. Thánh Gioan nói: “Nhờ Người, muôn vật được tạo thành, và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1,3). Thánh Phaolô cũng nói: “Trong Người, muôn vật được tạo thành, trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình… tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người. Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người” (x. Cl 1,16-17). Như thế, Đức Kitô vừa là khởi nguyên, vừa là trung tâm, vừa là cùng đích của tạo thành. Muôn vật phát xuất từ Thiên Chúa qua Đức Kitô và muôn vật được đưa trở về Thiên Chúa trong Đức Kitô. Nếu ví lịch sử như một dòng sông lớn, Đức Kitô không chỉ đứng ở cuối sông đợi chúng ta đến. Người có mặt ngay từ nguồn, đồng hành trong từng khúc quanh và cuối cùng đưa dòng sông ấy về đại dương của Thiên Chúa. Điều kỳ diệu là hành trình trở về ấy lại đi ngang qua Thánh Giá. Chính tại nơi thế gian tưởng là thất bại hoàn toàn, Thiên Chúa thực hiện cuộc quy tụ lớn lao nhất. Chính tại nơi người ta xé áo Chúa, Thiên Chúa bắt đầu nối lại những gì nhân loại đã xé nát. Chính tại nơi thân thể Chúa bị kéo căng giữa trời và đất, trời đất được giao hòa. Chính nơi hai cánh tay bị đóng đinh và mở rộng, nhân loại tản mác được mời gọi trở về trong một vòng tay không còn khép lại nữa.
Ta hãy nhìn kỹ hình dáng của Thánh Giá. Có một chiều dọc và một chiều ngang. Chiều dọc như nối trời với đất: Thiên Chúa cúi xuống với con người, con người được nâng lên về phía Thiên Chúa. Chiều ngang như hai cánh tay mở ra về hai phía, ôm lấy đông tây, người gần người xa, người thánh thiện người tội lỗi, người Do Thái và dân ngoại, người được tôn trọng và người bị khinh miệt, người đang sống và người đã chết. Đức Giêsu chết với hai cánh tay mở rộng. Người không chết với đôi tay nắm lại. Đó là một biểu tượng không thể đẹp hơn cho mầu nhiệm cứu độ. Khi sinh ra tại Bêlem, Chúa Giêsu đã đến với nhân loại bằng đôi tay nhỏ bé của một trẻ thơ. Khi sống giữa dân chúng, đôi tay ấy chạm vào người phong cùi, nâng người bệnh, bẻ bánh cho người đói, đặt lên trẻ nhỏ, kéo Phêrô khỏi nước, rửa chân các môn đệ. Và cuối đời, đôi tay ấy được mở rộng lần cuối cùng, mở đến mức người ta phải dùng đinh giữ lại. Từ đó, chẳng ai có quyền nói rằng mình đứng ngoài vòng tay của Thiên Chúa. Ta có thể từ chối vòng tay ấy, nhưng không thể nói rằng vòng tay ấy không mở ra cho mình.
Thánh Phaolô nói rằng Thiên Chúa muốn “quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô”. Điều đó có nghĩa lịch sử không phải là một chuỗi những biến cố vô nghĩa. Đời người cũng không phải một cuộc lang thang giữa sinh ra và chết đi. Dù chúng ta nhìn thấy bao nhiêu hỗn loạn, chiến tranh, tội ác, phản bội, bệnh tật, nước mắt và những cuộc chia ly, đức tin vẫn dám tuyên xưng rằng lịch sử có một hướng đi. Hướng ấy là Đức Kitô. Đích đến ấy là Đức Kitô. Thiên Chúa đang âm thầm đưa mọi sự về với Đức Kitô. Không phải bằng cách xóa bỏ tự do con người, cũng không bằng một quyền lực áp đặt, nhưng bằng tình yêu tự hiến của Thánh Giá. Thiên Chúa không quy tụ nhân loại như một vị vua trần gian gom thần dân dưới quyền bằng quân đội. Đức Kitô quy tụ bằng những vết thương. Người không chiến thắng bằng gươm mà bằng việc để cho gươm đâm vào cạnh sườn mình. Người không đặt vương miện vàng trên đầu mà nhận mão gai. Người không ngồi trên ngai cẩm thạch mà bị treo trên gỗ. Người không bắt kẻ thù quỳ dưới chân mình mà quỳ xuống rửa chân các môn đệ. Người không tiêu diệt những kẻ đóng đinh mình mà cầu xin: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đây chính là kiểu quyền năng của Thiên Chúa. Quyền năng làm cho kẻ thù thành anh em. Quyền năng biến án tử thành nguồn sống. Quyền năng biến dụng cụ hành hình thành dấu chỉ cứu độ. Quyền năng biến một ngọn đồi ô nhục thành trung tâm hy vọng của thế giới.
Tin Mừng theo thánh Gioan cho chúng ta một hình ảnh thật cảm động minh họa cho điều này. Chúa Giêsu đã nói: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,32). Thánh Gioan chú thích rằng Người nói thế để ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào. Thật lạ lùng! “Được giương cao” trước mắt thế gian là bị đóng đinh, nhưng trong cái nhìn của Thiên Chúa lại là lúc Đức Kitô bắt đầu “kéo mọi người” về với mình. Không phải Ngài kéo bằng sức mạnh cưỡng bức. Ngài kéo bằng tình yêu. Một tình yêu đi đến tận cùng có một sức hút mà mọi quyền lực khác không có. Con người có thể cưỡng lại sức mạnh, nhưng trước tình yêu tự hiến, lương tâm con người bị chạm đến. Chính vì thế mà ngay dưới chân Thánh Giá, sự quy tụ đã bắt đầu. Một người trộm bị đóng đinh bên cạnh Chúa quay sang thưa: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và Chúa trả lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Một viên đại đội trưởng Rôma, người thuộc dân ngoại, sau khi chứng kiến cái chết của Chúa đã thốt lên: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Đức Maria và người môn đệ Chúa yêu đứng dưới chân Thánh Giá, và từ đó một gia đình mới được khai sinh: “Thưa Bà, đây là con của Bà… Đây là mẹ của anh” (Ga 19,26-27). Người tội lỗi được đưa vào Thiên Đàng, dân ngoại bắt đầu tuyên xưng đức tin, một cộng đoàn mới được sinh ra. Tất cả xảy ra ngay bên Thánh Giá. Đức Kitô đang làm điều Người đã nói: kéo mọi người về với Người.
Nhưng thánh Phaolô còn nói rõ hơn: công trình hòa giải ấy được thực hiện “nhờ máu Người đổ ra trên Thập Giá” (Cl 1,20). Máu trong Kinh Thánh là sự sống. Khi nói Đức Kitô đổ máu, Kinh Thánh không đơn giản nói đến một lượng máu sinh học chảy khỏi thân thể. “Đổ máu” nghĩa là trao mạng sống. Chúa Giêsu không trao cho chúng ta một phần đời mình. Người trao trọn. Người yêu “đến cùng” (Ga 13,1). Tại Bữa Tiệc Ly, Người cầm chén rượu và nói: “Đây là Máu Thầy, Máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người” (x. Mc 14,24). Rồi chỉ ít giờ sau, lời ấy trở thành hiện thực trên Canvê. Máu từ trán đội mão gai, từ lưng bị đánh đòn, từ tay chân bị đinh xuyên, từ cạnh sườn bị lưỡi đòng đâm thâu trở thành lời không cần chữ viết của Thiên Chúa: “Ta yêu con đến thế này.” Con người đã dùng máu để gây chiến với nhau; Đức Kitô đổ máu để chấm dứt chiến tranh giữa con người và Thiên Chúa. Con người đổ máu người khác để bảo vệ chính mình; Đức Kitô đổ máu mình để cứu người khác. Con người thường muốn người khác chết để mình sống; Đức Kitô chấp nhận chết để người khác được sống. Đó là cuộc đảo ngược của Tin Mừng.
Và đây là điều ta phải suy nghĩ thật sâu: chúng ta được hòa giải không phải nhờ một lý thuyết, không phải nhờ một triết học, không phải nhờ một bài diễn thuyết, nhưng nhờ một thân thể bị thương tích và một dòng máu đã đổ ra. Kitô giáo vì thế không phải là tôn giáo của những ý tưởng đẹp mà trước hết là tôn giáo của một tình yêu nhập thể. Thiên Chúa không đứng từ trời cao nói với con người rằng: “Ta yêu các ngươi.” Người xuống làm người. Và khi lời nói vẫn chưa đủ để trái tim chai đá của con người hiểu được, Người để tình yêu ấy mang hình dạng của những vết thương. Có những điều chỉ máu mới nói được. Có những chiều sâu của tình yêu chỉ có hy sinh mới diễn tả nổi. Người mẹ có thể nói yêu con ngàn lần, nhưng có khi cả đời thức trắng, chịu bao nhọc nhằn vì con mới làm đứa con hiểu tình mẹ. Người cha ít nói nhưng âm thầm chịu cực để con được học hành, đến một ngày người con lớn lên mới hiểu những giọt mồ hôi ấy là ngôn ngữ của tình yêu. Và trên Thánh Giá, Thiên Chúa nói với nhân loại bằng ngôn ngữ sau cùng của tình yêu: Người trao chính mình.
Máu Thánh Giá quy tụ mọi sự bởi vì nơi Thánh Giá, hận thù bị tình yêu hấp thụ. Đức Kitô nhận vào mình tất cả những gì nhân loại có thể làm khi con người để tội lỗi thống trị: phản bội của Giuđa, hèn nhát của Philatô, tham vọng tôn giáo của giới lãnh đạo, bạo lực của binh lính, vô ơn của đám đông, sự bỏ chạy của môn đệ, lời nguyền rủa của những kẻ đứng xem. Tất cả bóng tối của con người dồn vào một con người vô tội. Nhưng từ miệng Người không phát ra một lời nguyền rủa. Người không trả lại hận thù bằng hận thù. Nếu trên Thánh Giá Đức Giêsu nguyền rủa kẻ đóng đinh mình, vòng tròn bạo lực sẽ tiếp tục. Nhưng Người nói: “Xin Cha tha cho họ.” Ngay tại đó, một con đường mới mở ra trong lịch sử. Bạo lực đổ vào Người và dừng lại ở Người. Hận thù đổ vào Người và từ Người chảy ra lời tha thứ. Tội lỗi đổ vào Người và từ cạnh sườn Người chảy ra máu và nước. Đây là điều mà chỉ tình yêu có thể làm: nhận vết thương mà không truyền vết thương ấy cho người khác.
Có lẽ đó cũng là điều thế giới hôm nay cần nhất. Chúng ta đang sống giữa một nền văn hóa dễ phân cực. Một lời nói cũng có thể chia phe. Một khác biệt nhỏ cũng có thể biến thành cuộc chiến. Mạng xã hội làm người ta gần nhau về khoảng cách nhưng nhiều khi xa nhau trong lòng. Chỉ cần một quan điểm khác, một lỗi lầm bị phát hiện, một câu nói vụng về, người ta có thể cùng nhau “đóng đinh” một người bằng hàng ngàn lời bình luận. Trong gia đình cũng vậy. Một lỗi cũ được đào lên hết năm này qua năm khác. Một câu nói đau lòng được giữ như món nợ. Người này làm người kia đau, người kia trả lại bằng một sự lạnh lùng khác. Cứ thế, vết thương sinh vết thương. Ai cũng muốn mình là người được hiểu trước. Ai cũng muốn người kia xin lỗi trước. Ai cũng muốn mình thắng. Nhưng Thánh Giá đứng giữa chúng ta và nói: nếu ai cũng đòi thắng, tất cả sẽ thua. Đức Kitô đã chấp nhận “thua” theo tiêu chuẩn thế gian để tình yêu thắng. Người chấp nhận bị hạ xuống để nâng con người lên. Người chấp nhận bị loại trừ để những người bị loại trừ được đưa về. Người chấp nhận đứng ngoài thành để những kẻ đứng ngoài được dẫn vào Nhà Cha.
Vì thế, nói “mọi sự được quy tụ trong Đức Kitô” không phải chỉ là một chân lý lớn dành cho các nhà thần học. Đó phải là một chương trình sống. Người Kitô hữu là người để cho Đức Kitô quy tụ đời mình trước tiên. Ta không thể nói về việc quy tụ thế giới trong Đức Kitô trong khi bản thân ta sống chia đôi. Có khi một phần đời ta thuộc Chúa, phần kia ta giữ lại cho mình. Chủ nhật thuộc Chúa, thứ hai đến thứ bảy thuộc những tính toán của ta. Trong nhà thờ ta rất sốt sắng, về nhà ta lại cay nghiệt. Trước tượng Chúa ta xin tha thứ, ra khỏi nhà thờ ta nhất định không tha cho người khác. Miệng đọc “xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”, nhưng lòng thì ghi sổ từng món nợ. Như thế, đời sống chưa được quy tụ. Đức Kitô muốn bước vào mọi miền của ta: ký ức, tình cảm, tiền bạc, các mối quan hệ, vết thương, tham vọng, cả những thất bại mà ta không muốn ai biết. Chúa không muốn chỉ ngự trong một căn phòng đạo đức của đời ta. Người muốn trở thành trung tâm.
Một đời sống được quy tụ trong Đức Kitô là đời sống mà mọi sự dần dần có một hướng. Tôi làm việc vì Đức Kitô. Tôi yêu gia đình trong Đức Kitô. Tôi sử dụng tiền bạc dưới ánh sáng Đức Kitô. Tôi chịu đau khổ với Đức Kitô. Tôi thành công mà không quên Đức Kitô. Tôi thất bại mà vẫn bám lấy Đức Kitô. Tôi già đi trong Đức Kitô. Và rồi một ngày tôi chết trong Đức Kitô. Khi ấy đời tôi không còn là những mảnh rời rạc: nhà thờ một mảnh, công việc một mảnh, gia đình một mảnh, tiền bạc một mảnh, những ước mơ riêng một mảnh. Tất cả có một trung tâm. Trung tâm ấy không phải cái tôi mà là Đức Kitô.
Thánh Giá đặc biệt quy tụ cả những đau khổ mà ta không hiểu. Đây có lẽ là điều làm ta xúc động nhất. Trong một đời người có biết bao biến cố ta không thể xếp vào đâu. Một người mẹ mất con. Một gia đình có người bất ngờ mắc bệnh hiểm nghèo. Một cuộc hôn nhân từng đầy hy vọng rồi tan vỡ. Một linh mục từng hăng say rồi trải qua những năm tháng cô đơn. Một người sống tử tế nhưng liên tiếp gặp bất công. Một người cầu nguyện nhiều năm mà điều mình xin vẫn không xảy ra. Những biến cố ấy giống như những mảnh kính vỡ. Ta nhìn từng mảnh và không thấy ý nghĩa. Có lúc ta hỏi: “Lạy Chúa, chuyện này có ích gì? Tại sao Chúa để xảy ra?” Thánh Giá không cho chúng ta một câu trả lời dễ dãi. Chúa Giêsu cũng đã đi vào vùng tối ấy. Trong Tin Mừng, Người đã kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46). Đức Kitô không giải thích đau khổ từ xa; Người đi vào đó. Và từ ngày ấy, không một đau khổ nào của con người còn hoàn toàn nằm ngoài Thiên Chúa. Nếu chúng ta đặt đau khổ mình vào tay Đức Kitô, cả những điều chưa hiểu cũng có thể được quy tụ trong Người. Không nhất thiết hôm nay ta hiểu. Có những điều chỉ khi về đến Nhà Cha ta mới thấy toàn bộ bức tranh. Nhưng đức tin cho phép ta nói: mảnh vỡ này cũng không nằm ngoài bàn tay Chúa.
Điều ấy không có nghĩa Kitô hữu đi tìm đau khổ hay cho rằng mọi đau khổ đều là ý Chúa. Thánh Giá không thần thánh hóa sự dữ. Đức Giêsu chữa bệnh, cho kẻ đói ăn, giải thoát người bị quỷ ám, khóc trước mộ Ladarô. Người chống lại những gì hủy hoại con người. Nhưng mầu nhiệm Thánh Giá cho chúng ta niềm hy vọng rằng ngay cả khi sự dữ xảy ra, Thiên Chúa vẫn có thể lấy chính nơi tưởng như hoàn toàn thất bại ấy để mở ra một con đường cứu độ. Con người đóng đinh Con Thiên Chúa; Thiên Chúa biến cây gỗ giết người thành cây sự sống. Con người đặt tảng đá bịt mồ; Thiên Chúa mở ngôi mộ ấy thành cửa Phục Sinh. Đó là “nghệ thuật” của ân sủng: không gọi điều xấu là tốt, nhưng có thể làm nảy sinh điều tốt ngay trong nơi cái xấu tưởng đã chiến thắng.
Vì thế không thể tách câu “quy tụ muôn loài trong Đức Kitô” khỏi “máu Người đổ ra trên Thập Giá”. Sự hiệp nhất Kitô giáo không phải thứ hiệp nhất rẻ tiền. Không phải giả vờ như chẳng có gì xảy ra. Không phải nói vài câu tốt đẹp để che một vết thương chưa được chữa lành. Sự hòa giải thật luôn có giá. Trong gia đình, muốn hòa giải có khi phải nuốt xuống lòng tự ái. Trong cộng đoàn, muốn hiệp nhất có khi phải chịu thiệt. Trong hôn nhân, muốn bắt đầu lại đôi khi phải có người dám nói: “Anh sai rồi”, “Em xin lỗi”, dù câu ấy khó đến mức tưởng không thể nói. Trong Hội Thánh, muốn hiệp thông phải có những con người chịu chết cho cái tôi, cho phe nhóm, cho quyền lợi riêng. Hiệp nhất không đến bởi tất cả mọi người đều giống nhau; hiệp nhất đến khi những khác biệt được đặt dưới chân Thánh Giá. Ở đó, không ai có thể tự hào. Người thông minh cũng được cứu nhờ máu Đức Kitô. Người ít học cũng được cứu nhờ máu Đức Kitô. Người giàu không mua được cứu độ. Người nghèo không bị loại khỏi cứu độ. Linh mục đứng dưới Thánh Giá cũng là một tội nhân được cứu. Giáo dân đứng dưới Thánh Giá cũng là người con được yêu. Trước Thánh Giá, mọi bảng xếp hạng do con người dựng lên đều trở nên nhỏ bé.
Và Thánh Thể chính là nơi mầu nhiệm quy tụ ấy tiếp tục trở thành hiện tại giữa Hội Thánh. Mỗi Thánh lễ, cộng đoàn quy tụ từ nhiều hoàn cảnh khác nhau. Có người vui, người buồn; người đang bình an, người đang khủng hoảng; người đạo đức lâu năm, người vừa mới trở lại; người có nhiều thành công, người đang mang một thất bại chẳng muốn kể cùng ai. Nhưng tất cả ngồi quanh một bàn, nghe cùng một Lời, ăn cùng một Bánh, uống cùng một Chén. Chén ấy là “Máu Giao Ước”. Một cộng đoàn Thánh Thể là dấu chỉ nhỏ của chương trình lớn trong Ep 1,10: mọi sự được quy tụ trong Đức Kitô. Khi linh mục nâng Mình Thánh Chúa lên và nói: “Mình Thánh Chúa Kitô”, chúng ta thưa “Amen”. Nhưng Amen ấy không chỉ là “con tin đây là Chúa”. Amen còn là “con đồng ý để đời con thuộc về Thân Thể này; con đồng ý không sống như một phần tử cô lập; con đồng ý thuộc về Đức Kitô và thuộc về anh chị em Người”. Thật mâu thuẫn nếu cùng ăn một tấm bánh mà lại nuôi hận thù với nhau. Thật đau nếu cùng uống một chén của giao ước mới mà vẫn quyết tâm giữ những hàng rào cũ.
Thánh Phaolô gọi Hội Thánh là Thân Thể Đức Kitô. Đây chính là hoa trái của Thánh Giá. Người chết “để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối” (Ga 11,52). Một Hội Thánh trung thành với Thánh Giá phải là nơi người bị phân tán tìm được đường về, người cô độc tìm được một gia đình, người tội lỗi tìm thấy lòng thương xót, người bị thương tìm được nơi chữa lành. Nếu Hội Thánh trở thành nơi con người bị chia thành phe, bị loại vì quá khứ, bị đánh giá chỉ bằng một lỗi lầm, thì Hội Thánh chưa phản chiếu đủ khuôn mặt của Đấng chịu đóng đinh. Cánh tay Chúa trên Thánh Giá mở rộng hơn những biên giới chúng ta thường dựng nên.
Ở điểm này, người Kitô hữu cần tự hỏi một câu rất cụ thể: tôi đang quy tụ hay đang phân tán? Khi tôi nói một câu về người khác, câu ấy đưa người ta gần nhau hơn hay xa nhau hơn? Khi tôi đăng một điều trên mạng, tôi đang góp phần chữa lành hay làm sâu thêm sự chia rẽ? Trong gia đình, tôi là người nối lại hay là người luôn nhắc chuyện cũ để tách mọi người ra? Trong cộng đoàn, tôi có khả năng ngồi với người không cùng ý mình không? Khi ai đó phạm lỗi, phản ứng đầu tiên của tôi là kéo họ trở lại hay đẩy họ xa hơn? Có những người nói rất nhiều về Chúa nhưng đi đến đâu cũng tạo phe. Có những người lần chuỗi mỗi ngày nhưng mang câu chuyện người khác đi từ nhà này sang nhà kia. Có những người nhân danh bảo vệ sự thật để gây thương tích cho cả một cộng đoàn. Sự thật rất quan trọng, nhưng sự thật của Đức Kitô luôn đi qua Thánh Giá. Một sự thật không có tình yêu có thể trở thành đá ném. Đức Kitô là Sự Thật, nhưng Sự Thật ấy đã để tay mình bị đóng đinh thay vì dùng tay ném đá.
Ta nhớ đến câu chuyện người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình trong Tin Mừng Gioan. Người ta kéo chị đến trước mặt Đức Giêsu. Mỗi người mang trong tay một hòn đá. Họ muốn dùng chị để thử Chúa. Nhưng Đức Giêsu cúi xuống viết trên đất rồi nói: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8,7). Từng người bỏ đi. Sau cùng chỉ còn Đức Giêsu và người phụ nữ. Đấng duy nhất có quyền kết án lại nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8,11). Đây là cách Đức Kitô quy tụ: không gọi tội là tốt, nhưng cũng không đồng hóa con người với tội của họ. Người mở đường trở về. Thánh Giá cũng thế. Thánh Giá phơi bày sự nghiêm trọng của tội đến mức Con Thiên Chúa phải chết, nhưng đồng thời phơi bày tình yêu lớn đến mức ngay người tội lỗi cũng không bị bỏ rơi.
Có một nghịch lý rất đẹp: Đức Kitô quy tụ tất cả bằng cách chính Người chấp nhận bị loại trừ. Thư Do Thái nói Người chịu khổ “ngoài cửa thành” (x. Dt 13,12). Người bị đưa ra ngoài. Không còn chỗ trong thành cho Người. Bêlem ngày Người sinh ra đã “không có chỗ trong nhà trọ”. Giêrusalem ngày Người chết cũng không có chỗ cho Người trong thành. Từ máng cỏ đến Thánh Giá, Con Thiên Chúa sống thân phận của người bị đặt bên lề. Bởi vậy, bất cứ ai từng cảm thấy mình bị loại cũng có thể tìm thấy một người anh trong Đức Kitô. Người bị gia đình bỏ rơi, người mang quá khứ đổ vỡ, người bị xã hội khinh thường, người già bị quên lãng, người bệnh không còn khả năng làm việc, người tội lỗi sợ bước vào nhà thờ: hãy nhìn Đấng chịu đóng đinh ngoài thành. Người đã đứng vào chỗ của những người không còn chỗ để đứng.
Và rồi từ cạnh sườn Người, máu và nước chảy ra (Ga 19,34). Các Giáo phụ nhìn thấy ở đó hình ảnh Hội Thánh được sinh ra, như Eva được hình thành từ cạnh sườn Adam. Từ cạnh sườn Adam mới đang ngủ trong giấc ngủ của cái chết, một nhân loại mới được khai sinh. Nước gợi đến Phép Rửa, máu gợi đến Thánh Thể. Một dân mới được quy tụ không bởi huyết thống, không bởi quốc gia, không bởi ngôn ngữ, nhưng bởi máu của Con Chiên. Sách Khải Huyền mô tả một đoàn người đông đảo “không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ” đứng trước ngai và trước Con Chiên (Kh 7,9). Đó chính là hình ảnh hoàn tất của điều thánh Phaolô nói trong Ep 1,10. Lịch sử bắt đầu với một nhân loại bị phân tán và kết thúc với một nhân loại được quy tụ trước Con Chiên.
Nếu đó là cùng đích lịch sử, thì đời Kitô hữu là tập sống từ hôm nay điều mai sau sẽ được hoàn tất. Chúng ta không chờ đến Thiên Đàng mới bắt đầu yêu nhau. Không chờ đến ngày cuối cùng mới học tha thứ. Không chờ đến lúc đứng trước Con Chiên mới bỏ những hàng rào ta dựng giữa người với người. Mỗi lần ta hòa giải một mối quan hệ, một mảnh của công trình quy tụ đang được thực hiện. Mỗi lần ta bỏ một lời nói có thể gây chia rẽ, Thánh Giá lại chiến thắng một chút trong thế giới này. Mỗi lần ta đến với người đang bị bỏ rơi, ta tham dự vào cánh tay mở rộng của Đức Kitô. Mỗi lần ta nhường một phần quyền lợi để giữ tình hiệp thông, ta mang trong mình hình dáng Thánh Giá. Mỗi lần ta tha thứ dù lòng còn đau, máu hòa giải của Đức Kitô lại có thêm một con đường để chảy vào lịch sử.
Nhưng phải nói cho rõ: tha thứ không phải là không đau. Đức Giêsu tha thứ trên Thánh Giá trong khi các vết đinh vẫn còn đó. Tình yêu Kitô giáo không phủ nhận vết thương. Chúa Phục Sinh hiện ra vẫn mang dấu đinh. Điều kỳ diệu là vết thương không còn chảy máu; nó trở thành dấu chỉ tình yêu chiến thắng. Cuộc đời chúng ta cũng có những vết thương không bao giờ biến mất hoàn toàn khỏi ký ức. Có thể ta sẽ còn nhớ. Nhưng ân sủng có thể biến một ký ức từng làm ta cay đắng thành một nơi lòng thương xót được sinh ra. Người từng bị tổn thương có thể trở thành người biết cảm thông với người bị tổn thương. Người từng được tha thứ có thể học tha thứ. Người từng lạc đường có thể dẫn người khác về. Đó là cách Đức Kitô quy tụ cả những vết thương của ta vào công trình cứu độ.
Điều đẹp nhất của mầu nhiệm Thánh Giá có lẽ là không gì phải bị phí đi nếu được đặt trong Đức Kitô. Một giọt nước mắt có thể trở thành lời cầu nguyện. Một thất bại có thể trở thành bài học khiêm nhường. Một căn bệnh có thể mở lòng ta với nỗi đau của người khác. Một tuổi già có thể trở thành mùa của sự phó thác. Một quá khứ tội lỗi, khi được lòng thương xót chạm tới, có thể biến thành chứng từ. Phêrô đã chối Chúa ba lần, nhưng rồi chính người môn đệ từng ngã ấy lại được trao nhiệm vụ củng cố anh em. Phaolô từng bách hại Hội Thánh nhưng trở thành Tông đồ dân ngoại. Người trộm trên Thánh Giá đã tiêu phí gần hết đời mình nhưng chỉ một lời quay về cũng đủ để nghe lời hứa Thiên Đàng. Thiên Chúa không lãng phí những mảnh đời vỡ. Người quy tụ chúng.
Có khi chúng ta tự nhìn đời mình và nghĩ: “Muộn quá rồi.” Có người năm mươi tuổi thấy mình đã làm hỏng quá nhiều. Có người bảy mươi tuổi mang một mối hận từ ba mươi năm trước. Có người đã xa Chúa hàng chục năm và nghĩ không thể trở về. Có người đã phạm một lỗi lớn và tin rằng kể từ đó đời mình chỉ còn là phần thừa. Nhưng nếu “mọi sự được quy tụ trong Đức Kitô”, thì chữ “mọi sự” cũng bao gồm quá khứ của ta. Đức Kitô không chỉ là Chúa của tương lai. Người là Chúa của quá khứ. Ta không thể quay ngược thời gian để làm khác đi, nhưng ta có thể trao quá khứ ấy cho Người. Trong bàn tay bị đóng đinh của Đức Kitô, ngay cả điều ta không thể sửa lại cũng có thể được cứu chuộc. Maria Mađalêna không thể xóa quá khứ, nhưng tình yêu Chúa đã cho chị một tương lai. Phêrô không thể lấy lại lời “Tôi không biết người ấy”, nhưng bên bờ hồ Tibêria, Chúa hỏi ông ba lần: “Con có yêu mến Thầy không?” và biến ba lần chối thành ba lần tuyên xưng tình yêu.
Có lẽ đây cũng là Tin Mừng dành cho một thế giới đang mệt vì phân mảnh. Con người hiện đại sở hữu nhiều phương tiện kết nối hơn bao giờ hết, nhưng lại cảm thấy cô đơn hơn. Chúng ta có hàng nghìn “bạn” trên mạng nhưng đôi khi không có một người để khóc cùng. Chúng ta nhận hàng trăm thông báo mỗi ngày nhưng không biết tâm hồn mình đang nói gì. Con người bị kéo theo quá nhiều hướng: công việc, thành tích, tiền bạc, dư luận, hình ảnh cá nhân, kỳ vọng gia đình, áp lực xã hội. Tâm hồn trở thành căn phòng có quá nhiều tiếng nói. Đức Kitô đến không phải để thêm một tiếng nói nữa vào đám ồn ào ấy, nhưng để trở thành trung tâm quy tụ tất cả. “Hãy đến với tôi, tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28). Nghỉ ngơi trong Đức Kitô không nhất thiết là hết việc, hết khó khăn. Đó là khi đời ta thôi bị xé về nhiều phía vì đã tìm được một trung tâm.
Và trung tâm ấy có hình Thánh Giá. Điều này rất quan trọng, vì chúng ta thường muốn một Đức Kitô vinh quang nhưng không muốn Đức Kitô chịu đóng đinh. Muốn được quy tụ trong Người nhưng không muốn chết cho cái tôi. Muốn cộng đoàn hiệp nhất nhưng người khác phải thay đổi trước. Muốn gia đình bình an nhưng ta không chịu xuống nước. Muốn theo Chúa nhưng không muốn mất gì. Thế nhưng Chúa Giêsu nói rất rõ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mc 8,34). Con đường quy tụ luôn đi qua một sự từ bỏ. Muốn vợ chồng gần nhau lại, có khi phải từ bỏ tự ái. Muốn anh em hòa thuận, có khi phải từ bỏ việc chứng minh mình đúng. Muốn cộng đoàn hiệp nhất, có khi phải từ bỏ tham vọng được công nhận. Muốn tâm hồn bình an, có khi phải từ bỏ những điều mình bám víu. Hạt lúa phải rơi xuống đất và chết đi mới sinh nhiều bông hạt. Đó không phải luật của đau khổ; đó là luật của tình yêu.
Nhìn vào Thánh Giá, ta thấy Đức Kitô không giữ lại gì. Áo đã bị lấy. Danh dự đã bị lấy. Tự do thể lý đã bị lấy. Các môn đệ bỏ đi. Sự sống cũng được trao. Người hoàn toàn trống rỗng. Nhưng chính từ sự trống rỗng ấy, sự viên mãn trào ra. “Khi tôi được giương cao lên, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.” Khi không còn gì để giữ cho mình, Đức Kitô trở thành nơi tất cả mọi người có thể gặp nhau.
Đó cũng là bí mật của những con người thực sự có khả năng quy tụ. Họ thường không phải người nói hay nhất, không phải người quyền lực nhất, nhưng là người đã chết bớt cho cái tôi. Một người mẹ có thể quy tụ cả gia đình bởi bà chịu hy sinh mà không kể công. Một người cha có thể giữ những người con bên nhau bởi ông sống công bằng và bao dung. Một linh mục có thể quy tụ giáo xứ khi cha không làm mọi thứ xoay quanh mình mà đưa mọi người về với Chúa. Một bề trên có thể xây dựng cộng đoàn khi quyền bính mang hình dạng của chiếc khăn rửa chân. Một giáo dân có thể làm nhiều người gần Chúa chỉ bằng cách biết lắng nghe mà không xét đoán. Trái lại, cái tôi càng lớn, cộng đoàn càng dễ phân tán. Đức Kitô càng lớn, con người càng có thể gặp nhau.
Vì thế, một câu hỏi phải theo ta đến tận cuối bài suy niệm này: tôi đang quy tụ đời mình quanh điều gì? Có thể tôi nói “Đức Kitô”, nhưng hãy nhìn vào điều làm tôi vui nhất, điều làm tôi sợ mất nhất, điều tôi nghĩ đến nhiều nhất, điều vì nó tôi sẵn sàng hy sinh nhiều nhất. Đó thường là trung tâm thực của đời tôi. Nếu trung tâm là tiền, tất cả xoay quanh tiền. Nếu trung tâm là danh dự, mọi lời khen chê đều làm ta chao đảo. Nếu trung tâm là cái tôi, mọi người hoặc phục vụ cái tôi hoặc trở thành mối đe dọa. Nhưng nếu trung tâm là Đức Kitô, ngay cả tiền bạc, danh dự, công việc, thành công, thất bại đều được đặt vào đúng chỗ.
Đức Kitô không lấy mất đời ta khi trở thành trung tâm; Người trả lại đời ta cho ta theo một trật tự mới. Như các mảnh kim loại hỗn loạn bỗng được sắp xếp khi một nam châm đặt vào giữa, đời người cũng tìm lại hướng khi Đức Kitô thực sự ở trung tâm. Ta vẫn làm việc, nhưng công việc không còn là thần tượng. Ta vẫn yêu gia đình, nhưng không biến người thân thành sở hữu. Ta vẫn có ước mơ, nhưng không bán lương tâm để đạt ước mơ. Ta vẫn đau khi mất mát, nhưng không tuyệt vọng như thể mất mát ấy là tiếng nói cuối cùng. Bởi vì tiếng nói cuối cùng thuộc về Đức Kitô Phục Sinh.
Và ở đây, ta không thể dừng ở chiều thứ Sáu Tuần Thánh. Máu Thánh Giá dẫn đến Phục Sinh. Đức Kitô quy tụ mọi sự không phải để cùng nhau chết trong một nấm mồ, nhưng để đưa mọi sự vào sự sống mới. Thánh Giá là con đường, Phục Sinh là lời xác nhận rằng tình yêu tự hiến không vô ích. Nếu Chúa Giêsu chỉ chết mà không sống lại, Thánh Giá chỉ là biểu tượng cao quý của một người tốt. Nhưng vì Người đã sống lại, Thánh Giá trở thành ngai của Đấng chiến thắng. Đấng bị loại bỏ trở thành viên đá góc. Đấng bị đóng đinh trở thành Chúa của lịch sử. Và như thánh Phaolô nói, đến ngày cuối cùng “mọi đầu gối trên trời, dưới đất và trong nơi âm phủ phải bái quỳ” và mọi miệng phải tuyên xưng “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (x. Pl 2,10-11).
“Mọi sự được quy tụ trong Đức Kitô” vì thế không phải một ước mơ mơ hồ. Đó là lời hứa cánh chung. Một ngày kia, những gì chúng ta chỉ thấy từng mảnh sẽ hiện ra toàn thể. Những giọt nước mắt không vô nghĩa sẽ được lau. Những hy sinh âm thầm không ai biết sẽ được tỏ lộ. Những lời tha thứ hôm nay tưởng như thất bại sẽ được thấy là những viên đá xây nên Nước Trời. Những người bé nhỏ chẳng được ai nhớ sẽ được gọi tên. Lịch sử không kết thúc trong tiếng bom, trong bệnh viện, trong nghĩa trang hay trong sự nguội lạnh của vũ trụ. Lịch sử kết thúc trong Đức Kitô.
Cho nên, người Kitô hữu có lý do để hy vọng ngay cả khi thế giới chưa đẹp. Ta không lạc quan ngây thơ. Ta biết sức mạnh của tội. Ta biết chiến tranh thật khủng khiếp, lòng người thật phức tạp, phản bội thật đau, sự chết thật lạnh lùng. Nhưng ta đã nhìn thấy Thánh Giá. Và một khi đã nhìn Thánh Giá bằng đức tin, ta biết Thiên Chúa có thể làm gì với những gì con người phá hỏng. Con người làm ra Thứ Sáu Tuần Thánh; Thiên Chúa mở ra Chúa Nhật Phục Sinh. Con người đóng cửa mộ; Thiên Chúa lăn tảng đá ra. Con người chạy tản mác; Đấng Phục Sinh đi tìm họ từng người: Maria Mađalêna trong vườn, hai môn đệ trên đường Emmaus, Tôma trong nghi ngờ, Phêrô bên bờ hồ. Và rồi Người quy tụ họ trong căn phòng Tiệc Ly để ban Thánh Thần. Hội Thánh bắt đầu từ một nhóm môn đệ từng bỏ chạy nhưng được Đấng chịu đóng đinh và Phục Sinh gom lại.
Đó là Tin Mừng cho mỗi chúng ta. Nếu đời con đang tản mác, hãy để Đức Kitô quy tụ. Nếu gia đình con đang chia rẽ, hãy đặt Thánh Giá ở giữa, không chỉ treo trên tường mà đặt tinh thần Thánh Giá vào trong lời nói, cách cư xử, sự nhường nhịn và tha thứ. Nếu lòng con có những phần không thể hòa giải với nhau, hãy đưa chúng đến với Chúa. Nếu quá khứ con làm con xấu hổ, hãy đặt nó dưới dòng máu Thánh Giá. Nếu tương lai làm con sợ, hãy nhớ rằng Đấng đang ở cuối con đường cũng là Đấng đã đi trước con qua cái chết. Nếu con đang ôm một mối hận, hãy nhìn hai cánh tay mở rộng. Nếu con cảm thấy mình bị loại trừ, hãy đứng dưới chân Đấng đã bị loại ra ngoài thành. Nếu con tưởng đời mình vô nghĩa, hãy nhớ rằng trong Đức Kitô, ngay cả một chén nước lã trao vì yêu cũng không mất phần thưởng.
Có một ngày mọi sự sẽ được hoàn tất. Nhưng hôm nay, việc quy tụ ấy đang bắt đầu trong những điều rất nhỏ. Khi một gia đình quỳ xuống cầu nguyện chung sau nhiều ngày căng thẳng. Khi một người con gọi điện cho cha mẹ sau nhiều tháng giận dỗi. Khi một linh mục tìm đến một người mà mình đã có khoảng cách để bắt tay lại. Khi một người vợ chọn nói lời dịu dàng thay cho một lời làm tổn thương. Khi một người chấp nhận xóa một bài đăng chỉ vì biết nó có thể làm người khác bị xúc phạm. Khi một cộng đoàn ngừng nói xấu để cùng nhau cầu nguyện. Khi một tội nhân bước vào tòa giải tội sau nhiều năm xa Chúa. Những khoảnh khắc ấy có vẻ rất nhỏ, nhưng đều nằm trong dòng chảy của Ep 1,10 và Cl 1,20: Thiên Chúa đang quy tụ mọi sự trong Đức Kitô, nhờ máu Thánh Giá.
Cuối cùng, có lẽ chúng ta chỉ cần trở lại đứng dưới chân Thánh Giá như Đức Maria. Không cần nói quá nhiều. Hãy nhìn. Trên đầu là tấm bảng: “Giêsu Nazareth, Vua dân Do Thái.” Dưới chân là một thế giới chưa hiểu mình vừa làm gì. Hai bên là hai tội nhân. Xa xa là thành Giêrusalem với bao người tiếp tục cuộc sống thường ngày. Và ở giữa tất cả là Con Thiên Chúa, hai tay mở rộng. Người đang chết, nhưng thực ra Người đang quy tụ. Máu Người đang chảy, nhưng thực ra một giao ước mới đang được sinh ra. Cạnh sườn Người bị mở, nhưng thực ra cửa Nhà Cha đang mở. Người nói “Thế là đã hoàn tất” (Ga 19,30), không phải tiếng thở dài của một kẻ thua cuộc, nhưng là lời của Đấng đã đi đến tận cùng sứ mạng tình yêu Cha trao.
“Thế là đã hoàn tất.” Công trình đã được quyết định nơi Thánh Giá, dù lịch sử còn phải đi đến ngày hoàn tất. Từ giây phút ấy, không thế lực nào có thể đảo ngược mục đích cuối cùng của Thiên Chúa. Tội lỗi có thể gây thương tích, nhưng không có tiếng nói cuối cùng. Cái chết có thể chia lìa, nhưng không có tiếng nói cuối cùng. Hận thù có thể làm con người tản mác, nhưng không có tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng thuộc về Đấng đã chết và sống lại. Tiếng nói cuối cùng là sự hòa giải. Tiếng nói cuối cùng là hiệp thông. Tiếng nói cuối cùng là sự sống. Tiếng nói cuối cùng là tình yêu.
Và có lẽ khi đứng trước Thánh Giá, chúng ta nên cầu nguyện thật đơn sơ: Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, xin quy tụ lại những gì đang tản mác trong con. Xin quy tụ trí con khi con bị hàng trăm lo âu kéo đi. Xin quy tụ lòng con khi con vừa muốn yêu vừa muốn giữ hận. Xin quy tụ quá khứ, hiện tại và tương lai của con trong tình yêu Chúa. Xin đưa những vết thương của con vào những vết thương của Chúa. Xin cho máu Chúa chạm đến những nơi trong con vẫn chưa được chữa lành. Xin quy tụ gia đình con khi những khác biệt làm chúng con xa nhau. Xin quy tụ Hội Thánh khi cái tôi, quyền lực và phe nhóm đe dọa sự hiệp thông. Xin quy tụ nhân loại đang bị xé nát bởi chiến tranh, hận thù, bất công và ích kỷ. Xin dạy chúng con hiểu rằng không thể đứng dưới Thánh Giá mà vẫn cầm đá trong tay; không thể lãnh nhận Máu Chúa mà vẫn muốn làm chảy máu anh em mình bằng lời nói; không thể tuyên xưng Chúa là Đầu mà lại từ chối những chi thể khác trong cùng một Thân Thể.
Xin cho chúng con biết tin rằng đời mình, dù còn bao điều chưa hiểu, vẫn nằm trong một chương trình lớn hơn chúng con. Xin cho chúng con đừng tuyệt vọng khi thấy thế giới phân tán, bởi Chúa vẫn đang âm thầm quy tụ. Xin cho chúng con trở thành những người cộng tác với Chúa trong công trình ấy: đi đến nơi có chia rẽ để gieo hòa bình, đi đến nơi có vết thương để trao lòng thương xót, đi đến nơi có người bị loại để mở một chỗ bên cạnh mình, đi đến nơi có hận thù để không truyền tiếp hận thù.
Bởi lạy Chúa, cuối cùng mọi sự sẽ về với Chúa. Mọi con đường chân thật đều tìm thấy ý nghĩa trong Chúa. Mọi giọt nước mắt được trao cho Chúa đều được giữ lại. Mọi tình yêu tinh tuyền đều bắt nguồn từ Chúa và sẽ trở về với Chúa. Muôn loài được tạo dựng nhờ Chúa và cho Chúa. Và khi tội lỗi đã làm những gì Chúa tạo dựng bị phân tán, chính Chúa đã bước lên Thánh Giá, dang tay ra và lấy máu mình mà nối lại.
Đó là mầu nhiệm chúng con thờ lạy.
Đó là niềm hy vọng chúng con mang theo.
Đó là lý do giữa một thế giới còn đầy chia rẽ, người Kitô hữu vẫn dám tin vào hiệp nhất; giữa hận thù vẫn dám tha thứ; giữa sự chết vẫn dám nói về sự sống; giữa bóng tối vẫn dám thắp một ngọn đèn.
Bởi chúng con biết rằng ở trung tâm của lịch sử không phải là một ngai vàng của quyền lực trần thế, nhưng là một cây Thánh Giá.
Và trên cây Thánh Giá ấy có một Đấng đang mở rộng hai tay.
Hai tay Người đã từng bị đóng đinh.
Hai tay ấy hôm nay vẫn mở.
Mở để đón người công chính.
Mở để đón người tội lỗi.
Mở để đón người mạnh mẽ.
Mở để đón người yếu đuối.
Mở để đón kẻ đã đi xa.
Mở để đón người tưởng rằng mình không còn đường về.
Mở cho Hội Thánh.
Mở cho nhân loại.
Mở cho cả công trình tạo dựng đang rên xiết chờ ngày được giải thoát.
Và cho đến ngày “mọi sự được quy tụ trong Đức Kitô”, hai cánh tay ấy sẽ không khép lại.
Bởi đó là đôi tay của Đấng đã yêu những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian và đã yêu họ đến cùng.
Đó là đôi tay của Đấng đã dùng chính máu mình để làm hòa trời với đất.
Đó là đôi tay của Đấng đang dẫn cả lịch sử trở về Nhà Cha.
Và nếu một ngày chúng ta được đứng trong đoàn người đông đảo không ai đếm nổi, trước ngai Thiên Chúa và trước Con Chiên, khi mọi ngôn ngữ, mọi dân tộc, mọi thế hệ cùng cất tiếng ca tụng, có lẽ lúc ấy chúng ta mới hiểu trọn vẹn điều thánh Phaolô đã thấy trong đức tin từ hai ngàn năm trước: chương trình cuối cùng của Thiên Chúa không phải là phân tán nhưng là quy tụ, không phải hận thù nhưng là hòa giải, không phải chết chóc nhưng là sự sống, không phải bóng tối nhưng là ánh sáng; và tất cả được thực hiện không bằng bạo lực của con người, nhưng bằng máu của Con Thiên Chúa đổ xuống từ cây Thánh Giá.
“Thiên Chúa đã muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình, nhờ máu Người đổ ra trên Thập Giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời.” (x. Cl 1,20)
Thánh Giá vì thế không phải là nơi mọi sự chấm hết.
Thánh Giá là nơi mọi sự bắt đầu được đưa về.
Về với Đức Kitô.
Về với nhau.
Và cuối cùng, về với Cha.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VÀ SỰ TÁI TẠO TRỜI MỚI ĐẤT MỚI
Có những lúc đứng trước một cây Thánh Giá, ta chỉ nhìn thấy đau khổ. Một thân mình bị kéo căng. Hai bàn tay bị đóng đinh. Đôi chân không còn có thể bước. Một khuôn mặt bê bết máu. Một con người bị treo giữa trời và đất, bị người đời khước từ, bị các môn đệ bỏ chạy, bị những kẻ đi ngang qua chế nhạo, và cuối cùng cúi đầu chết trong một buổi chiều mà bóng tối phủ xuống mặt đất. Nếu chỉ nhìn bằng đôi mắt của lịch sử, Thánh Giá là kết thúc. Nếu chỉ nhìn bằng đôi mắt của quyền lực, Thánh Giá là thất bại. Nếu chỉ nhìn bằng đôi mắt của thế gian, Thánh Giá là nơi một con người đã bị loại bỏ khỏi cuộc đời. Nhưng đức tin Kitô giáo lại nhìn vào chính nơi tưởng như kết thúc ấy và nhận ra một khởi đầu. Chính nơi con người tưởng rằng mọi sự đã tan vỡ, Thiên Chúa lại bắt đầu làm cho mọi sự nên mới. Chính nơi cái chết tưởng như đã chiến thắng, sự sống đã được gieo xuống. Chính nơi tội lỗi phơi bày khuôn mặt khủng khiếp nhất của nó, lòng thương xót lại mở ra chiều sâu không đáy. Chính nơi con người đóng đinh Con Thiên Chúa vào gỗ, Thiên Chúa lại dùng cây gỗ ấy để bắt đầu cuộc tái tạo toàn thể công trình sáng tạo. Bởi vậy, Thánh Giá không chỉ là câu chuyện cứu một vài linh hồn khỏi tội. Thánh Giá mang một chiều kích lớn hơn rất nhiều: đó là biến cố mà từ đó cả trời và đất bắt đầu được đổi mới, con người được tái tạo, lịch sử được đổi hướng, vũ trụ được dẫn về cùng đích của mình, và lời Thiên Chúa trong sách Khải Huyền bắt đầu vang lên như một lời hứa đã được đặt nền móng từ đồi Canvê: “Này đây Ta đổi mới mọi sự” (Kh 21,5).
Muốn hiểu được sự lớn lao ấy, ta phải trở lại với trang đầu của Kinh Thánh. Khi Thiên Chúa dựng nên trời đất, Người nhìn mọi sự Người đã làm và thấy “rất tốt đẹp”. Trời và đất không phải là một tai nạn của vật chất. Con người không phải là một hạt bụi vô nghĩa trôi nổi giữa không gian mênh mông. Vạn vật xuất phát từ tình yêu của Thiên Chúa, tồn tại nhờ tình yêu của Người và được mời gọi trở về trong tình yêu ấy. Con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, được đặt vào giữa công trình sáng tạo không phải như một kẻ bóc lột nhưng như người quản lý, người gìn giữ, người cùng với muôn loài cất tiếng ca tụng Đấng Tạo Hóa. Nhưng rồi tội lỗi bước vào. Tội không chỉ làm đổ vỡ mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa. Tội còn làm con người xa lạ với chính mình, chia rẽ với tha nhân và gây thương tích cho cả thế giới được trao vào tay mình. Sau khi con người quay lưng lại với Thiên Chúa, ta đọc thấy những câu Kinh Thánh đầy đau xót: Ađam đổ lỗi cho Evà, Evà đổ lỗi cho con rắn, Cain giết Abel, bạo lực lan tràn, đất đai sinh gai góc, con người phải đổ mồ hôi mới có bánh ăn. Một sự rạn vỡ sâu xa chạy xuyên qua toàn thể tạo thành. Từ đó, lịch sử nhân loại trở thành một lịch sử vừa xây dựng vừa phá hủy, vừa yêu thương vừa thù ghét, vừa chữa lành vừa gây thương tích. Con người xây thành phố nhưng cũng xây nhà tù. Con người phát minh thuốc chữa bệnh nhưng cũng chế tạo vũ khí giết nhau. Con người nói đến hòa bình nhưng chiến tranh chưa bao giờ ngừng. Con người muốn giữ lấy sự sống nhưng cuối cùng tất cả đều phải bước qua cái chết. Có một vết thương rất sâu trong lòng thế giới mà không một nền văn minh nào tự mình chữa nổi.
Thánh Phaolô đã cảm nhận điều đó khi viết rằng “muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở” (Rm 8,22). Hình ảnh ấy thật lạ lùng. Thế giới đang đau, nhưng không phải chỉ là cái đau của hấp hối. Đó còn là cái đau của một cuộc sinh nở. Nghĩa là lịch sử không chỉ đang đi về phía cái chết; sâu dưới tất cả những tiếng rên xiết của chiến tranh, bệnh tật, thiên tai, bất công, nước mắt và nghĩa trang, Thiên Chúa đang âm thầm làm nảy sinh một thế giới mới. Và tâm điểm của cơn đau sinh nở ấy chính là Thánh Giá Chúa Giêsu. Đồi Canvê chính là nơi những tiếng rên siết của cả nhân loại, thậm chí của toàn thể tạo thành, được thu vào thân xác của một con người: Đức Giêsu thành Nadarét. Trong Người, Thiên Chúa không đứng ngoài thế giới đau khổ để nhìn xuống. Thiên Chúa đi vào trong thế giới ấy. Người mang lấy thân phận của tạo vật. Người đói, Người khát, Người mệt, Người khóc. Người có bạn bè và cũng biết thế nào là bị phản bội. Người biết hơi ấm của bàn tay con người và cũng biết cái lạnh của những chiếc đinh. Người biết tiếng reo hò “Hoan hô Con vua Đavít” và vài ngày sau cũng nghe chính đám đông ấy gào lên “Đóng đinh nó đi!”. Và trên Thánh Giá, Người mang vào thân thể mình tất cả những đổ vỡ của nhân loại để từ bên trong những đổ vỡ ấy mở ra một cuộc sáng tạo mới.
Tin Mừng Gioan cho chúng ta một hình ảnh hết sức sâu sắc về điều này. Sau khi Chúa Giêsu chết trên Thánh Giá, một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người, “tức thì máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34). Đó không chỉ là một chi tiết y khoa về một người đã chết. Truyền thống Hội Thánh từ rất sớm đã nhìn thấy nơi dòng máu và nước ấy dấu chỉ của một thế giới mới được sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô. Nếu Evà xưa được hình thành từ cạnh sườn Ađam đang ngủ, thì Hội Thánh, nhân loại mới, lại được sinh ra từ cạnh sườn Ađam mới đang ngủ giấc chết trên Thánh Giá. Nước gợi về Bí tích Thánh Tẩy, nơi con người được sinh lại; máu gợi về Bí tích Thánh Thể, nơi con người được nuôi sống bằng chính sự sống của Đức Kitô. Từ một cạnh sườn bị mở ra vì bạo lực, Thiên Chúa làm phát sinh nguồn sống. Từ một vết thương, Thiên Chúa mở một cánh cửa. Từ một thân xác bị giết, Thiên Chúa làm nảy sinh một cộng đoàn của những người được sống. Đó là cách Thiên Chúa tái tạo thế giới: Người không xóa vết thương như thể nó chưa từng có, nhưng biến chính vết thương thành nơi ân sủng tuôn chảy.
Ta hãy dừng lại lâu hơn ở một đoạn Tin Mừng khác, bởi đó có thể xem như bức tranh cô đọng nhất về mầu nhiệm Thánh Giá và công trình tái tạo của Thiên Chúa. Tin Mừng Luca kể rằng khi Chúa Giêsu bị treo trên Thánh Giá, bên cạnh Người có hai tên gian phi. Một người chế nhạo: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình và cứu chúng tôi với!” Nhưng người kia trách hắn rồi quay sang Chúa Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Chúa đáp: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,39-43). Hãy nhìn cảnh ấy thật kỹ. Chung quanh là cái chết. Một người đang hấp hối nói với một người cũng đang hấp hối. Không còn phép lạ cho người mù sáng mắt. Không còn bánh hóa nhiều. Không còn đám đông chen nhau nghe giảng. Không còn những bước chân đi trên mặt biển. Không còn một dấu hiệu nào của quyền lực. Vậy mà ngay giữa nơi chết chóc ấy, Chúa Giêsu nói đến “Thiên Đàng”. Thiên Đàng từng bị đóng lại vì tội lỗi Ađam nay được mở ra từ Thánh Giá của Ađam mới. Một người mà xã hội đã kết án, đã loại bỏ, đã đóng đinh, lại trở thành người đầu tiên nghe lời hứa bước vào vương quốc. Điều đó cho thấy trời mới đất mới không bắt đầu bằng sức mạnh của những người hoàn hảo. Nó bắt đầu bằng lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho những con người tan vỡ biết quay về. Chỉ một lời: “Xin nhớ đến tôi.” Và một cuộc đời tưởng như không còn gì cứu vãn được đã được đặt vào trong sự sống đời đời.
Đó là logic của Thánh Giá. Thiên Chúa không tái tạo thế giới từ những gì thế gian cho là mạnh mẽ nhất, nhưng thường từ chính nơi thế gian cho là đã mất hết hy vọng. Một cuộc hôn nhân đang rạn nứt nhưng hai người còn biết quỳ xuống xin lỗi nhau: trời mới đất mới đang ló dạng ở đó. Một người cha nhiều năm nóng nảy bỗng một ngày biết ôm con và nói: “Cha xin lỗi”: trời mới đất mới đang bắt đầu ở đó. Một người bị xúc phạm nhưng quyết định không trả thù: một mảnh đất mới đang được sinh ra. Một người già đau bệnh nằm trên giường vẫn thì thầm cầu nguyện cho con cháu: một mảnh trời mới đang mở ra. Một linh mục đã mệt mỏi nhưng vẫn bước vào tòa giải tội để ngồi nghe những tâm hồn đau khổ: công trình sáng tạo mới đang tiếp tục. Một nữ tu âm thầm chăm sóc người bệnh mà chẳng ai biết đến tên: Thánh Giá đang nở hoa. Một người trẻ giữa một xã hội coi tiền bạc là thước đo tất cả vẫn chọn sống ngay thẳng dù phải chịu thiệt: trời mới đất mới đã chạm vào hiện tại. Bởi trời mới đất mới không phải chỉ là chuyện sau ngày tận thế. Nó đã bắt đầu từ khi Đức Kitô chết và sống lại, và mỗi lần con người để cho sức mạnh của Thánh Giá biến đổi mình, một phần thế giới cũ lại qua đi và một phần thế giới mới lại xuất hiện.
Đây là điều rất quan trọng. Kitô giáo không dạy chúng ta khinh chê thế giới này để chỉ mong thoát khỏi nó. Niềm hy vọng Kitô giáo không phải là giấc mơ một ngày nào đó linh hồn chúng ta sẽ bay khỏi trái đất để mặc kệ công trình sáng tạo này tan biến. Kinh Thánh nói đến “trời mới đất mới”. Nghĩa là Thiên Chúa không vứt bỏ điều Người đã dựng nên. Người cứu chuộc nó, thanh luyện nó, hoàn tất nó. Đức Kitô phục sinh không phải là một bóng ma. Người mang thân xác. Người cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn. Những vết đinh vẫn còn đó nhưng đã được biến đổi. Đây là một trong những điều đẹp nhất của đức tin chúng ta: trong thân xác phục sinh của Chúa Giêsu, các vết thương không biến mất; chúng trở thành những vết thương sáng ngời. Điều từng là dấu hiệu của bạo lực nay trở thành dấu hiệu của tình yêu. Điều từng nói rằng “Người đã bị giết” nay nói rằng “Người đã yêu đến cùng”. Và có lẽ đó cũng là cách Thiên Chúa sẽ cứu chuộc lịch sử đời ta. Người không làm cho ta quên mọi vết đau. Người biến đổi chúng. Những năm tháng ta từng khóc có thể trở thành nơi ta biết cảm thông với nước mắt người khác. Một lần đổ vỡ có thể làm ta dịu dàng hơn với những ai đang tan vỡ. Một lần phạm tội được tha thứ có thể làm ta bớt cứng lòng trước người yếu đuối. Một lần bước qua bóng tối có thể khiến ta biết cầm đèn cho những người đang đi trong đêm. Trong tay Thiên Chúa, ngay cả những mảnh vỡ cũng có thể được đưa vào công trình sáng tạo mới.
Chúng ta thường muốn Thiên Chúa tái tạo đời mình bằng cách loại bỏ ngay tất cả thập giá. Nhưng con đường của Chúa Giêsu lại khác. Chúa Cha đã không cứu Chúa Con bằng cách đưa Người xuống khỏi Thánh Giá. Người cứu Đức Kitô xuyên qua Thánh Giá, bằng sự Phục Sinh. Đây là một khác biệt rất lớn. Người đời đứng dưới chân thập giá đã thách thức: “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì xuống khỏi thập giá đi.” Đó là logic của thế gian: quyền năng nghĩa là tránh được đau khổ. Nhưng Đức Giêsu không xuống. Người ở lại. Không phải vì Người yêu đau khổ, nhưng vì Người yêu con người. Người ở lại cho đến khi tình yêu đi đến tận cùng. Và chính khi Người không dùng quyền năng để cứu mình, Người lại cứu được nhân loại. Chính khi Người dường như mất tất cả, Người lại nhận tất cả về cho Chúa Cha. Chính khi Người bị tước đoạt áo xống, danh dự, bạn bè, tự do và cuối cùng cả hơi thở, Người lại trở thành Đấng ban cho thế giới sự sống không bao giờ mất.
Bởi vậy, Thánh Giá là sự phán xét đối với cả một nền văn hóa luôn nghĩ rằng cái mới chỉ xuất hiện khi cái cũ bị đập bỏ bằng sức mạnh. Thiên Chúa không đổi mới thế giới bằng một cuộc cách mạng của hận thù. Người không tiêu diệt kẻ dữ để xây dựng xã hội của người tốt. Nếu như thế, chẳng ai trong chúng ta còn tồn tại, bởi thiện và ác đều đi qua chính trái tim mỗi người. Thiên Chúa đổi mới thế giới bằng cách mang lấy sự dữ mà không trở thành ác, chịu bạo lực mà không đáp lại bằng bạo lực, bị ghét mà vẫn yêu, bị nguyền rủa mà vẫn chúc lành, bị đóng đinh mà vẫn cầu xin: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Đây là hạt giống của thế giới mới. Thế giới cũ vận hành bằng nguyên tắc “mắt đền mắt, răng đền răng”; thế giới mới bắt đầu bằng lời “xin tha cho họ”. Thế giới cũ nói: “Ai làm tôi đau, tôi sẽ làm họ đau hơn”; thế giới mới nói: “Anh em hãy yêu kẻ thù.” Thế giới cũ dành chỗ nhất cho kẻ mạnh; thế giới mới nghe Đức Kitô nói: “Ai muốn làm lớn phải làm người phục vụ.” Thế giới cũ tích lũy để sống; thế giới mới nghe Chúa bảo: “Ai mất mạng sống mình vì Thầy sẽ tìm thấy.” Thế giới cũ đóng cửa trước người tội lỗi; thế giới mới mở Thiên Đàng cho một tên trộm biết sám hối. Thế giới cũ loại người bệnh, người nghèo, người yếu; thế giới mới thấy nơi họ khuôn mặt của chính Đức Kitô. Như thế, trời mới đất mới không chỉ là một cảnh quan tương lai. Đó là một trật tự mới của tình yêu được gieo vào lịch sử bởi Thánh Giá.
Có khi chúng ta đọc sách Khải Huyền và chỉ chú ý đến những hình ảnh đáng sợ: chiến tranh, tai họa, những con thú, những cuộc giao tranh cuối cùng. Nhưng đích đến của sách Khải Huyền lại vô cùng dịu dàng: “Tôi thấy trời mới đất mới… Tôi nghe từ phía ngai có tiếng hô to: Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại… Người sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (x. Kh 21,1-4). Hãy để câu này đi thật sâu vào lòng: “Người sẽ lau sạch nước mắt họ.” Thiên Chúa của trời mới đất mới là Thiên Chúa cúi xuống lau nước mắt. Người không đứng xa để ban hành một sắc lệnh rằng từ nay mọi người phải hạnh phúc. Người đến gần từng khuôn mặt. Người biết từng giọt nước mắt. Có những giọt nước mắt chẳng ai thấy. Có những nỗi đau ta không kể được với ai. Có những mất mát đã xảy ra nhiều năm nhưng mỗi khi nhớ lại tim ta vẫn nhói lên. Có những ngôi mộ ta đã rời đi mà lòng vẫn còn đứng lại. Có những người ta muốn nói một lời xin lỗi nhưng họ đã không còn. Có những câu hỏi ta đem vào cầu nguyện nhiều năm mà trời vẫn im lặng. Kinh Thánh không nói Thiên Chúa coi những điều ấy là nhỏ bé. Người giữ từng giọt nước mắt trong bàn tay Người và hứa một ngày chính Người sẽ lau chúng đi.
Nhưng làm sao ta biết lời hứa ấy không chỉ là một sự an ủi đẹp đẽ? Bởi vì Đấng hứa lau nước mắt cũng đã từng khóc. Đức Giêsu đã khóc trước mộ Lazarô. Người đã khóc khi nhìn Giêrusalem. Người đã đau đớn đến đổ mồ hôi máu trong vườn Cây Dầu. Người đã kêu lớn trên Thánh Giá. Thiên Chúa không hứa từ bên ngoài đau khổ; Người hứa từ bên trong đau khổ. Đấng nói “sẽ không còn sự chết” là Đấng đã từng nằm trong mồ. Đấng nói “Ta đổi mới mọi sự” là Đấng đã mang các vết đinh. Chính vì vậy niềm hy vọng của chúng ta không phải lạc quan rẻ tiền. Người Kitô hữu có thể nhìn thẳng vào cái chết mà vẫn hy vọng, không phải vì chúng ta tưởng cái chết không đau, nhưng vì một Người đã đi qua nó và mở một con đường ở phía bên kia.
Thánh Giá cũng tái tạo cách chúng ta nhìn về thiên nhiên và công trình sáng tạo. Nếu toàn thể tạo thành được Thiên Chúa yêu thương và được đưa vào chương trình cứu chuộc, thì người Kitô hữu không thể vừa hôn kính Thánh Giá vừa tàn phá trái đất cách vô trách nhiệm. Cây gỗ Canvê nhắc chúng ta rằng Con Thiên Chúa đã dùng chính chất liệu của tạo thành để thực hiện ơn cứu độ: gỗ của cây, sắt của đinh, đất của đồi, nước, máu, thân xác con người. Người đã mặc lấy vật chất chứ không khinh thường vật chất. Người dùng bánh và rượu làm Bí tích Thánh Thể. Người dùng nước làm Bí tích Thánh Tẩy. Người dùng dầu trong các bí tích. Toàn bộ đời sống bí tích nói với ta rằng tạo thành có thể trở thành nơi Thiên Chúa chạm đến con người. Bởi vậy, chăm sóc đất đai, nguồn nước, cây xanh, những sinh vật bé nhỏ, môi trường sống của người nghèo không phải một thứ phụ thêm vào đức tin. Đó là một hệ quả của niềm tin rằng Thiên Chúa đang dẫn cả tạo thành tới sự viên mãn.
Nhưng trước khi nói đến việc cứu trái đất, có lẽ ta phải để Thánh Giá cứu lại chính cách ta sống trên trái đất. Một trong những căn nguyên khiến thế giới bị tổn thương là lòng tham vô đáy của con người. Ta muốn có nhiều hơn, tiêu thụ nhiều hơn, sở hữu nhiều hơn, được phục vụ nhiều hơn. Ta sống như thể mình là chủ tuyệt đối của mọi thứ. Thánh Giá lại cho thấy một Con Người hoàn toàn ngược lại: bàn tay mở ra chứ không nắm lại. Hai bàn tay Chúa Giêsu bị đóng vào gỗ, mở rộng như một cử chỉ không còn giữ lại gì cho mình. Cả đời Người đã như vậy. Người trao thời gian cho đám đông. Trao sự cảm thông cho người đau khổ. Trao lời tha thứ cho người tội lỗi. Trao thân mình làm lương thực. Và cuối cùng trao cả hơi thở. “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Người không chiếm hữu ngay cả chính mình. Chính con người ấy là khởi đầu của nhân loại mới.
Thế nên, sự tái tạo trời mới đất mới phải bắt đầu ngay trong lòng mỗi người. Ta thường chờ thế giới thay đổi. Ta chờ Giáo Hội thay đổi. Ta chờ cộng đoàn thay đổi. Ta chờ vợ chồng, con cái, anh em, cha mẹ, hàng xóm thay đổi. Nhưng Thiên Chúa đặt Thánh Giá trước mặt ta và hỏi: “Con có cho phép Ta tạo con lại không?” Bởi thế giới mới sẽ không được xây bằng những con người cũ mang nguyên vẹn sự ích kỷ cũ. Trời mới đất mới bắt đầu từ một trái tim mới. Ngôn sứ Êdêkien từng loan báo: “Ta sẽ ban cho các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng một quả tim bằng thịt.” Thánh Giá chính là nơi lời hứa ấy đạt đến chiều sâu của nó. Nhìn lên Đấng bị đâm thâu, lòng đá của ta có thể mềm lại. Người từng thù ghét bắt đầu thấy xấu hổ về lòng hận thù. Người kiêu căng nhận ra mình chẳng có gì để tự hào trước một Thiên Chúa khiêm hạ như thế. Người tham lam nhìn một Đức Kitô trần trụi và hiểu rằng cuối cùng con người chẳng mang theo được gì. Người không chịu tha thứ nghe lời “Lạy Cha, xin tha cho họ” và nhận ra rằng giữ mãi một mối hận chẳng khác nào tự giam mình trong thế giới cũ.
Có một chi tiết trong Tin Mừng mà tôi rất thích. Khi Chúa Giêsu tắt thở, viên đại đội trưởng Rôma đứng đối diện Người đã thốt lên: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Điều gì khiến ông tin? Ông không thấy Chúa Phục Sinh. Ông không thấy mồ trống. Ông chỉ thấy Chúa chết. Nhưng ông thấy cách Chúa chết. Có lẽ chính cách chết ấy đã mở mắt ông. Đây là một người ngoại giáo, một sĩ quan của đế quốc đang chiếm đóng Israel, một người đại diện cho hệ thống quyền lực đã đóng đinh Chúa, vậy mà ngay dưới chân Thánh Giá, ông trở thành người tuyên xưng đức tin. Một thế giới mới đã bắt đầu ngay tại đó: ranh giới giữa Do Thái và dân ngoại bị mở tung; một con người từ phía “kẻ thù” bước vào lời tuyên xưng. Thánh Giá có sức tạo ra những điều như vậy. Nó biến kẻ xa lạ thành người nhà. Nó phá những bức tường con người xây lên. Thánh Phaolô nói Đức Kitô đã “phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét” nhờ Thánh Giá (x. Ep 2,14-16). Nếu thế, bất cứ nơi nào người ta nhân danh chủng tộc, giai cấp, văn hóa, giàu nghèo, quá khứ hay thành kiến để dựng tường ngăn cách nhau, nơi đó thế giới cũ vẫn còn. Và bất cứ nơi nào một con người bước qua bức tường ấy để đến với người khác trong tình yêu của Đức Kitô, trời mới đất mới lại được hé mở.
Hội Thánh được sinh ra để trở thành dấu chỉ của thế giới ấy. Đáng tiếc thay, nhiều lần chính chúng ta lại sống quá giống thế giới cũ. Ta tranh giành ảnh hưởng. Ta bảo vệ danh dự của mình. Ta loại trừ người mình không thích. Ta dễ chia phe. Ta có thể thuộc cùng một giáo xứ nhưng không nhìn mặt nhau, cùng đọc một Kinh Tin Kính nhưng trong lòng ôm sự cay đắng, cùng rước một Mình Thánh nhưng ngoài nhà thờ lại nói xấu nhau. Ta treo Thánh Giá trên tường nhưng đôi khi chưa để Thánh Giá bước vào các mối quan hệ của mình. Một Hội Thánh như thế chưa diễn tả được trời mới đất mới. Hội Thánh chỉ thực sự trở thành dấu chỉ của sáng tạo mới khi người giàu ngồi cạnh người nghèo như anh em, khi người có địa vị biết cúi xuống phục vụ, khi người tội lỗi tìm thấy một cánh cửa để trở về, khi những người từng làm tổn thương nhau có thể bắt đầu hành trình hòa giải, khi người yếu không bị bỏ lại, khi sự thật được nói bằng tình yêu, khi quyền bính mang hình dáng chiếc khăn của người rửa chân và cây Thánh Giá của người hiến mạng.
Thánh Giá cũng thay đổi cách ta nhìn về những thất bại trong đời. Có lẽ nhiều người trong chúng ta từng có những lúc tưởng đời mình đã xong. Một kế hoạch đổ vỡ. Một công việc mất đi. Một người thân qua đời. Một căn bệnh bất ngờ. Một người mình tin tưởng lại phản bội. Một ơn gọi rơi vào khủng hoảng. Một đứa con đi con đường mình không mong muốn. Một tuổi già đến với quá nhiều cô đơn. Ta nhìn những mảnh vỡ ấy rồi hỏi: “Còn gì nữa đâu?” Nhưng đồi Canvê trả lời: đừng vội gọi một ngày Thứ Sáu là chương cuối cùng khi Thiên Chúa vẫn còn Chúa Nhật Phục Sinh. Các môn đệ chiều Thứ Sáu chắc chắn đã nghĩ mọi chuyện kết thúc. Họ đâu biết rằng ngay trong lúc họ tuyệt vọng nhất, Thiên Chúa đang thực hiện hành động quyết định nhất của lịch sử cứu độ. Có những lúc ta cũng vậy. Ta chỉ nhìn thấy mặt trước của tấm thảm, đầy những sợi chỉ rối tung; Thiên Chúa nhìn thấy toàn bộ bức tranh. Đức tin không có nghĩa là ta hiểu mọi chuyện đang xảy ra. Đức tin có khi chỉ là khả năng đứng dưới chân Thánh Giá mà nói: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con vẫn tin rằng Chúa chưa làm xong đời con.”
Và quả thật, Thiên Chúa chưa làm xong. Người chưa làm xong với ta, và Người chưa làm xong với thế giới. Những bản tin hằng ngày có thể khiến ta nghĩ lịch sử đang ngày càng tối hơn: chiến tranh nối tiếp chiến tranh, bạo lực, tham nhũng, bóc lột, gia đình tan vỡ, người trẻ hoang mang, môi trường bị tàn phá, công nghệ phát triển nhanh hơn lương tâm, con người liên lạc với nhau nhiều hơn nhưng lại cô đơn hơn. Nếu chỉ đọc lịch sử bằng những bản tin, ta rất dễ tuyệt vọng. Nhưng người Kitô hữu đọc lịch sử dưới ánh sáng Thánh Giá và Phục Sinh. Ta không ngây thơ nghĩ rằng mọi sự tự nhiên sẽ tốt lên. Ta biết sức mạnh của tội lỗi là khủng khiếp đến mức nào, bởi chính tội lỗi đã đóng đinh Con Thiên Chúa. Nhưng ta cũng biết tình yêu mạnh hơn, bởi ngôi mộ đã trống. Do đó, Kitô hữu là người có quyền hy vọng ngay khi chưa có bằng chứng bên ngoài để hy vọng, vì bằng chứng lớn nhất đã được ban rồi: Đức Kitô đã sống lại.
Hy vọng ấy không làm ta thụ động. Trái lại, nếu thực sự tin trời mới đất mới đang đến, ta phải bắt đầu sống theo luật của trời mới đất mới ngay hôm nay. Người ta thường chuẩn bị hành lý cho nơi mình sắp đi. Nếu ta tin mình đang đi về Vương Quốc của tình yêu, ta phải tập sống tình yêu từ bây giờ. Nếu ta tin nơi đó không còn thù ghét, ta phải học tha thứ. Nếu tin nơi đó không ai còn bị bỏ rơi, ta phải tìm đến những người đang bị bỏ rơi hôm nay. Nếu tin nơi đó mọi dân mọi nước đứng trước ngai Chiên Con, ta phải chống lại mọi thứ kỳ thị. Nếu tin nơi đó Thiên Chúa lau sạch nước mắt, ta phải trở thành bàn tay lau nước mắt cho người khác. Nếu tin nơi đó sự thật và công lý ngự trị, ta không thể kiếm lợi bằng gian dối. Nếu tin nơi đó Chiên Con chịu sát tế là trung tâm, ta không thể lấy cái tôi của mình làm trung tâm cuộc đời. Cách sống hôm nay cho thấy ta thực sự đang mong chờ thế giới nào.
Có lẽ ở đây ta hiểu sâu hơn tại sao sách Khải Huyền đặt “Con Chiên như đã bị sát tế” ở trung tâm ngai trời. Thật kỳ lạ: trên thiên quốc, Chúa Kitô vẫn được trình bày như Con Chiên mang dấu vết hiến tế. Nghĩa là Thánh Giá không bị bỏ lại như một giai đoạn đáng quên sau khi Phục Sinh. Thánh Giá đi vào vĩnh cửu như mặc khải đời đời về căn tính của Thiên Chúa: Thiên Chúa là Tình Yêu tự hiến. Trời mới đất mới không phải nơi sức mạnh cuối cùng thắng tình yêu; đó là nơi cuối cùng mọi sự nhận ra tình yêu mới chính là sức mạnh. Đấng chiến thắng là Con Chiên. Ngai của Người mang ký ức của Thánh Giá. Vương quyền của Người mang dấu đinh. Và triều đại của Người không được thiết lập bằng việc làm người khác chết cho mình, nhưng bằng việc chính Người chết cho người khác.
Đó cũng là lời xét hỏi cho đời sống Kitô hữu của chúng ta. Ta có thể đeo Thánh Giá trên cổ mà vẫn sống hoàn toàn theo logic của thế giới cũ. Ta có thể làm dấu Thánh Giá nhiều lần trong ngày nhưng vẫn muốn mọi người phục vụ mình. Ta có thể hôn Thánh Giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng không chịu hy sinh một chút tự ái để làm hòa với một người thân. Ta có thể hát “vinh quang của ta là Thánh Giá Đức Kitô” nhưng lại thấy nhục khi phải xin lỗi. Ta có thể suy niệm cuộc Thương Khó rất cảm động rồi bước ra ngoài tiếp tục dùng lời nói đóng đinh người khác. Nếu thế, Thánh Giá vẫn ở bên ngoài đời ta. Và khi Thánh Giá chỉ là một vật trang trí tôn giáo, nó không tái tạo được gì cả. Chỉ khi Thánh Giá đi vào cách ta yêu, cách ta nói, cách ta sử dụng tiền, cách ta đối xử với người yếu, cách ta đón nhận thất bại, cách ta tha thứ, cách ta phục vụ, nó mới trở thành sức mạnh của sáng tạo mới.
Trời mới đất mới trước hết phải bắt đầu trong căn nhà của ta. Có lẽ ta không thể chấm dứt chiến tranh thế giới, nhưng ta có thể chấm dứt một cuộc chiến lạnh trong gia đình. Ta không thể xóa hết bất công xã hội, nhưng ta có thể sống công bằng với người giúp việc, với nhân viên, với người nghèo. Ta không thể lau nước mắt của cả nhân loại, nhưng ta có thể lau nước mắt của người đang ngồi bên cạnh. Ta không thể làm mọi người hạnh phúc, nhưng ta có thể không trở thành nguyên nhân làm người khác đau thêm. Ta không thể biến đổi ngay cả thế giới, nhưng ta có thể để Đức Kitô biến đổi một trái tim: trái tim của chính ta. Và một trái tim được biến đổi không bao giờ là chuyện nhỏ. Bởi mọi cuộc chiến đều bắt đầu trong lòng người, nhưng mọi cuộc hòa giải cũng bắt đầu ở đó.
Có một điều rất an ủi: Thiên Chúa không yêu cầu chúng ta tự mình xây dựng trời mới đất mới. Công trình ấy là của Người. Ta chỉ được mời gọi cộng tác. Điều này giải thoát ta khỏi hai cám dỗ. Cám dỗ thứ nhất là tuyệt vọng: “Tôi làm được gì trước một thế giới lớn như vậy?” Câu trả lời là: chẳng ai yêu cầu ta cứu cả thế giới; Đức Kitô đã cứu thế giới. Ta chỉ cần trung tín với phần việc Người trao. Cám dỗ thứ hai là kiêu ngạo: “Chúng ta sẽ xây một thế giới hoàn hảo bằng sức mình.” Lịch sử cho thấy mỗi khi con người nghĩ mình có thể tự tạo thiên đàng mà không cần Thiên Chúa, họ thường biến trái đất thành địa ngục. Trời mới đất mới là quà tặng trước khi là thành quả. Ta làm việc cho công lý, hòa bình, phẩm giá con người và công ích, nhưng luôn biết sự hoàn tất cuối cùng đến từ Thiên Chúa.
Do đó, người sống dưới chân Thánh Giá có một sự bình an rất đặc biệt. Không phải bình an vì chẳng có chuyện gì xấu xảy ra, mà bình an vì biết chuyện xấu không có tiếng nói cuối cùng. Tội lỗi không có tiếng nói cuối cùng. Bệnh tật không có tiếng nói cuối cùng. Sự phản bội không có tiếng nói cuối cùng. Chiến tranh không có tiếng nói cuối cùng. Nghĩa trang không có tiếng nói cuối cùng. Ngay cả những thất bại của Hội Thánh cũng không có tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng thuộc về Đấng ngồi trên ngai và nói: “Này đây Ta đổi mới mọi sự.”
Một ngày kia, có lẽ mỗi người chúng ta sẽ phải bước qua một Thứ Sáu Tuần Thánh cuối cùng của riêng mình. Ta sẽ nằm xuống. Những người thân đứng quanh. Những thứ từng quan trọng sẽ không còn quan trọng. Tài khoản ngân hàng ở lại. Nhà cửa ở lại. Những lời khen chê ở lại. Chức vụ ở lại. Những cuộc tranh cãi mà ta từng nghĩ sống chết cũng phải thắng sẽ trở nên rất nhỏ. Và ta sẽ bước đến trước mầu nhiệm mà suốt đời mình đã tuyên xưng. Khi ấy, điều nâng ta lên sẽ không phải là một lý thuyết về sự sống đời sau, mà là một khuôn mặt: khuôn mặt Đấng đã đi qua cái chết trước ta. Người sẽ có thể nói với ta như đã nói với người trộm lành: “Hôm nay, con sẽ ở với Ta.” Đó là niềm hy vọng của người Kitô hữu. Không phải “tôi sẽ không chết”, nhưng “khi tôi chết, Người sẽ ở đó”. Không phải “đời tôi không bao giờ tan vỡ”, nhưng “không mảnh vỡ nào nằm ngoài khả năng cứu chuộc của Người”. Không phải “thế giới sẽ không bao giờ tối”, nhưng “ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối không diệt được ánh sáng”.
Và rồi, khi lịch sử đi đến hồi kết thúc, Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh sẽ hoàn tất điều Người đã bắt đầu trên Canvê. Mọi giọt nước mắt âm thầm sẽ được nhớ đến. Mọi việc bác ái chẳng ai hay biết sẽ được đưa ra ánh sáng. Mọi hy sinh tưởng như vô ích sẽ tìm thấy ý nghĩa. Mọi công lý chưa được thực hiện sẽ được hoàn tất. Mọi nạn nhân bị lịch sử quên tên sẽ được gọi tên. Những người đã chết trong cô độc sẽ nhận ra mình chưa bao giờ cô độc. Những tiếng khóc của trẻ thơ, tiếng thở dài của người bệnh, tiếng cầu nguyện của người bị bách hại, tiếng rên của tạo thành bị thương tích – tất cả sẽ được đưa vào bài ca mới trước ngai Thiên Chúa. Sẽ không phải là một thế giới hoàn toàn xa lạ với thế giới này, nhưng chính công trình của Thiên Chúa được thanh luyện, chữa lành và đưa đến viên mãn trong Đức Kitô.
Lúc ấy ta mới hiểu hết những điều hôm nay mình chưa hiểu. Ta sẽ hiểu tại sao có những lời cầu xin dường như không được đáp theo cách mình muốn. Ta sẽ hiểu những con đường vòng. Ta sẽ hiểu những cánh cửa đóng lại. Ta sẽ hiểu những mùa khô khan. Ta sẽ hiểu tại sao Thiên Chúa không cất khỏi đời ta một vài cây thập giá. Và rất có thể khi nhìn lại, ta sẽ kinh ngạc nhận ra rằng chính những nơi ta từng tưởng Thiên Chúa vắng mặt lại là những nơi Người ở gần ta nhất. Chính những ngày ta nghĩ đời mình không còn gì lại là những ngày Người đang âm thầm tạo dựng điều mới.
Vì vậy, đứng trước Thánh Giá, người Kitô hữu không chỉ cúi đầu thương cảm Chúa Giêsu. Ta đứng đó để học nhìn tương lai. Cây Thánh Giá cắm xuống đất nhưng vươn lên trời. Thanh dọc như nối đất với trời; thanh ngang như ôm lấy toàn thể nhân loại. Ở điểm giao nhau là thân thể Đức Kitô. Có lẽ không hình ảnh nào nói rõ hơn điều đang xảy ra: trong Đức Kitô chịu đóng đinh, trời và đất được nối lại, Thiên Chúa và con người được hòa giải, con người với con người được mời gọi trở về làm anh em, và tạo thành được dẫn về Đấng Tạo Hóa.
Thánh Giá vì thế không phải tượng đài của cái chết. Nó là cánh cửa của sự sống. Không phải dấu chấm hết, nhưng là nơi Thiên Chúa viết chữ đầu tiên của một trang sử mới. Không phải sự phá hủy, nhưng là khởi điểm của tái tạo. Không phải lời tuyên bố rằng đau khổ có giá trị tự nó, nhưng là mặc khải rằng tình yêu có thể đi vào đau khổ và biến đổi nó. Không phải lời ca tụng thất bại, nhưng là lời tuyên bố rằng điều thế gian gọi là thất bại có thể trở thành chiến thắng khi nó được sống trong tình yêu.
Vậy nên, nếu hôm nay cuộc đời ta có một nơi nào đang giống Canvê, đừng vội tuyệt vọng. Nếu có một mối tương quan đang nằm trong mồ, hãy cầu nguyện. Nếu có một thất bại đang làm ta thấy tương lai khép lại, hãy nhìn Thánh Giá. Nếu có một tội lỗi khiến ta nghĩ mình không còn xứng đáng quay về, hãy nhớ người trộm lành. Nếu có một vết thương quá lâu chưa lành, hãy nhìn cạnh sườn bị đâm thâu. Nếu có một người ta không thể tha thứ, hãy nghe lại lời Chúa: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Nếu ta đang mỏi mệt vì cố gắng làm điều tốt mà không thấy kết quả, hãy nhớ hạt lúa phải rơi xuống đất và chết đi mới sinh nhiều bông hạt. Nếu thế giới làm ta chán nản, hãy nhớ rằng vị Vua của lịch sử vẫn là Con Chiên đã bị sát tế và đã sống lại.
Ta hãy xin một ơn rất đơn sơ: xin Chúa đừng chỉ thay đổi hoàn cảnh của ta, nhưng hãy tạo lại trái tim ta. Xin Người biến lòng cay đắng thành lòng thương xót, nỗi sợ thành niềm tin, sự ích kỷ thành khả năng trao ban, vết thương thành sự cảm thông, thất bại thành khiêm nhường, cô đơn thành lời cầu nguyện, và từng cây thập giá trong đời thành một nơi sự sống có thể nảy sinh. Bởi nếu mỗi người cho phép Đức Kitô làm điều ấy, trời mới đất mới sẽ không còn là câu chuyện xa xôi. Nó sẽ bắt đầu trong bữa cơm gia đình hôm nay, trong lời xin lỗi chiều nay, trong sự tha thứ tối nay, trong một quyết định sống ngay thẳng ngày mai, trong một bàn tay chìa ra với người đau khổ, trong một lời cầu nguyện âm thầm chẳng ai biết.
Rồi một ngày, tất cả những mầm nhỏ ấy sẽ được Thiên Chúa gom lại. Những hạt giống từng được gieo trong nước mắt sẽ trổ thành mùa gặt. Những cây thánh giá mà ta đã mang trong tình yêu sẽ nở hoa. Những nghĩa trang sẽ trả lại người chết. Những tiếng khóc sẽ ngừng. Những đêm dài sẽ kết thúc. Và toàn thể tạo thành sẽ bước vào sự tự do vinh quang của con cái Thiên Chúa. Khi ấy sẽ không còn cần hỏi tại sao Thánh Giá lại đứng ở trung tâm đức tin Kitô giáo nữa. Bởi ta sẽ thấy rõ: chính từ cây gỗ tưởng như mang cái chết ấy, Thiên Chúa đã làm nảy sinh một thế giới không còn chết; chính từ một buổi chiều tưởng như thất bại ấy, Người đã mở ra bình minh không bao giờ tắt; chính từ trái tim bị đâm thâu ấy, một dòng sông sự sống đã chảy vào lịch sử; chính từ tiếng kêu “Thế là đã hoàn tất”, công trình tái tạo mọi sự bắt đầu đi đến sự viên mãn.
Và khi ngày ấy đến, ta sẽ hiểu: Thánh Giá chưa bao giờ là dấu hiệu Thiên Chúa bỏ rơi thế giới. Thánh Giá là bằng chứng Thiên Chúa yêu thế giới đến mức không chịu bỏ nó. Người đã đi xuống tận đáy của thân phận tạo vật để nâng tạo vật lên. Người đã bước vào cái chết để phá tung cái chết từ bên trong. Người đã mang những vết thương của thế giới vào thân thể mình để rồi làm cho chính thân thể bị thương ấy trở thành thân thể phục sinh. Vì thế, trước một thế giới còn đầy tiếng khóc, người Kitô hữu vẫn dám hy vọng. Trước một đời người còn nhiều vết thương, ta vẫn dám tin. Trước những ngôi mộ, ta vẫn dám đọc lời Phục Sinh. Trước Thánh Giá, ta vẫn dám nói về trời mới đất mới.
Bởi Đấng bị đóng đinh đã sống lại.
Bởi tình yêu đã mạnh hơn sự chết.
Bởi lời cuối cùng của lịch sử không phải là “mọi sự đã mất”, nhưng là lời của Thiên Chúa:
“NÀY ĐÂY, TA ĐỔI MỚI MỌI SỰ.”
Lm. Anmai, CSsR

THẬP GIÁ NHƯ “CÂY SỰ SỐNG” Ở GIỮA GIÊRUSALEM MỚI
Có những hình ảnh của Kinh Thánh càng suy niệm càng thấy sâu, càng nhìn càng thấy mình đứng trước một vực thẳm của tình yêu mà trí óc con người không sao đo cho hết. Một trong những hình ảnh ấy là cây sự sống. Cây sự sống xuất hiện ngay từ những trang đầu của Kinh Thánh, giữa vườn Êđen, nơi Thiên Chúa dựng nên con người trong tình trạng nguyên tuyền, và rồi lại xuất hiện ở những trang cuối cùng của Sách Thánh, giữa thành thánh Giêrusalem mới, nơi nước mắt đã được lau sạch, sự chết không còn nữa, tang tóc, kêu than và đau khổ cũng không còn nữa. Từ cây sự sống trong vườn Êđen đến cây sự sống trong Giêrusalem mới là cả một lịch sử dài của tội lỗi và ân sủng, của phản bội và tha thứ, của lưu đày và hồi hương, của cái chết và sự sống. Và ở chính giữa lịch sử ấy có một cây khác: cây Thập Giá. Nhìn bằng mắt người đời, đó chỉ là cây hành hình, cây của ô nhục, thất bại và tử hình. Nhưng nhìn bằng ánh sáng Phục Sinh, Hội Thánh nhận ra chính cây gỗ bị nguyền rủa ấy đã trở thành cây sự sống mới; trái của cây ấy không còn là trái làm con người chết, nhưng là chính thân mình Đức Kitô được hiến ban để ai ăn thì được sống đời đời; nhựa sống của cây ấy không phải là nhựa cây nhưng là Máu của Con Thiên Chúa chảy xuống để rửa sạch tội trần gian; bóng của cây ấy không che giấu con người khỏi ánh mắt Thiên Chúa như Ađam đã từng trốn dưới những tán cây trong vườn, nhưng mở ra một nơi trú ẩn cho mọi tội nhân biết quay về. Lịch sử nhân loại bắt đầu bằng một con người đứng trước cây và đưa tay lấy điều Thiên Chúa cấm; lịch sử cứu độ đạt tới đỉnh cao khi một Con Người khác bị treo trên cây và mở đôi tay để trao lại cho nhân loại điều họ đã đánh mất: sự sống, tình nghĩa với Thiên Chúa và đường trở về nhà Cha. Bởi vậy, nói Thập Giá là cây sự sống không phải là một lối nói thi vị cho đẹp lòng đạo đức. Đó là một chân lý chạm tới tận cốt lõi của mầu nhiệm cứu độ. Cây mà người đời dùng để giết Đức Giêsu lại trở thành cây từ đó sự sống đời đời trào ra; nơi người ta tưởng đã đặt dấu chấm hết cho câu chuyện của Đức Kitô lại chính là nơi Thiên Chúa bắt đầu một cuộc sáng tạo mới; nơi nhân loại đóng đinh Đấng ban sự sống lại trở thành nơi Đấng ban sự sống ôm lấy chính nhân loại đang giết mình và mở cho nó con đường bước vào Giêrusalem mới.
Sách Sáng Thế kể rằng giữa vườn Êđen có cây sự sống. Sau khi con người phạm tội, họ bị đuổi khỏi vườn và đường đến cây sự sống bị canh giữ. Đây là một trong những bi kịch lớn nhất của tội lỗi: không chỉ là con người phạm một lệnh cấm, nhưng là con người tự cắt mình khỏi nguồn sống. Tội luôn hứa cho con người nhiều hơn nhưng cuối cùng lại lấy khỏi con người điều quý nhất. Con rắn nói rằng ăn trái ấy thì mắt sẽ mở ra, sẽ nên như thần; nhưng khi ăn rồi, điều đầu tiên Ađam và Evà nhận ra không phải là vinh quang mà là sự trần truồng. Họ tưởng mình sẽ lớn lên, cuối cùng lại phải trốn. Họ tưởng mình sẽ tự do, cuối cùng lại sợ hãi. Họ tưởng mình chiếm được sự sống, cuối cùng sự chết bước vào thế gian. Đó vẫn là lịch sử của mỗi người chúng ta. Bao lần ta nghĩ rằng chỉ cần có thêm một chút tiền, thêm một chút quyền, thêm một chút tiếng tăm, thêm một chút khoái lạc, thêm một lần thắng người khác, thêm một lần giữ được cái tôi của mình, là đời sẽ đầy hơn; nhưng có những lúc càng có nhiều ta càng trống, càng thắng nhiều ta càng cô độc, càng giữ mình ta càng mất mình. Tội lỗi luôn làm một việc rất khéo: nó khiến ta tìm sự sống ở những nơi không có sự sống. Người nghiện rượu tìm bình an trong chén rượu, người nghiện quyền lực tìm giá trị trong chiếc ghế, người ham tiền tìm bảo đảm trong tài khoản, người khát được nhìn nhận tìm căn tính của mình trong lời khen, người bị tổn thương tìm công lý bằng trả thù. Cuối cùng, những thứ tưởng là cây sự sống lại trở thành những cây khô. Và con người, giữa một thế giới có quá nhiều phương tiện để sống, vẫn có thể cảm thấy không biết mình sống để làm gì. Chính trong tình trạng ấy, Thiên Chúa dựng lên giữa lịch sử một cây mới. Không phải cây hấp dẫn mắt nhìn, không phải cây khiến người ta muốn chiếm lấy, nhưng là cây khiến người ta muốn quay mặt đi: Thập Giá. Lạ lùng thay, cây con người ham muốn trong Êđen dẫn đến cái chết, còn cây con người ghê sợ trên Canvê lại dẫn đến sự sống. Ở Êđen, con người đưa tay lấy; trên Canvê, Đức Kitô mở tay cho. Ở Êđen, con người muốn nên bằng Thiên Chúa; trên Canvê, Thiên Chúa hạ mình xuống đến tận cùng thân phận con người. Ở Êđen, con người trốn Thiên Chúa; trên Canvê, Thiên Chúa đi tìm con người đến tận vực sâu của đau khổ, tội lỗi và sự chết. Ở Êđen, một cây trở thành dấu chỉ của bất phục tùng; trên Canvê, một cây trở thành dấu chỉ của sự vâng phục đến chết. Thánh Phaolô đã tóm tắt tất cả trong một câu hết sức mạnh mẽ: Đức Kitô “đã vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” Chính sự vâng phục ấy chữa lành bất phục tùng của Ađam. Chính đôi tay bị đóng đinh ấy chữa lành đôi tay đã hái trái cấm. Chính cạnh sườn bị đâm thâu ấy mở ra một nhân loại mới. Và như Evà xưa được tạo dựng từ cạnh sườn Ađam đang ngủ, Hội Thánh, Hiền Thê của Đức Kitô, được các Giáo phụ chiêm ngắm như được sinh ra từ cạnh sườn Đấng Cứu Thế đang ngủ giấc chết trên Thập Giá, khi máu và nước tuôn trào.
Có lẽ đoạn Tin Mừng diễn tả đẹp nhất ý nghĩa Thập Giá như cây sự sống lại là một câu chuyện tưởng như chẳng liên quan gì đến cây cối: câu chuyện người trộm lành trên đồi Canvê. Tin Mừng Luca kể: “Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người… Nhưng tên kia mắng nó: ‘Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng chẳng biết sợ! Chúng ta chịu thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm; chứ ông này đâu có làm điều gì trái!’ Rồi anh ta thưa: ‘Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!’ Và Người nói với anh ta: ‘Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng’” (x. Lc 23,39-43). Hãy dừng thật lâu trước cảnh tượng ấy. Thiên Đàng đã bị đóng lại sau tội nguyên tổ. Con người đã mất lối vào cây sự sống. Bao thế hệ đã đi qua dưới bóng sự chết. Vậy mà trên đồi Canvê, giữa ba cây thập giá, giữa máu, mồ hôi, tiếng nguyền rủa và hơi thở hấp hối, từ miệng Đức Giêsu lại vang lên một lời mà có lẽ từ ngày cửa Êđen đóng lại nhân loại chưa bao giờ nghe với sự gần gũi đến thế: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Thật kỳ diệu! Cửa Thiên Đàng không được mở ở một cung điện, nhưng trên pháp trường. Người đầu tiên trong Tin Mừng được Đức Giêsu trực tiếp bảo đảm sẽ vào Thiên Đàng lại không phải là một người có lý lịch đạo đức sạch sẽ, nhưng là một tử tội. Anh không còn thời gian để sửa chữa quá khứ. Anh không còn cơ hội xuống khỏi thập giá để làm lại cuộc đời. Anh không thể đền trả những thiệt hại đã gây ra. Anh chỉ còn một điều: nhìn sang Đức Giêsu và đặt chút hy vọng cuối cùng của đời mình vào Người. Và như thế là đủ để anh được nghe lời hứa sự sống. Điều ấy không hề làm nhẹ tội lỗi, bởi chính anh thú nhận mình chịu án là đích đáng. Nhưng nó cho thấy lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn quá khứ của con người. Cây Thập Giá đứng giữa Canvê ngày ấy đã trở thành cây sự sống đầu tiên cho một kẻ đang chết. Người trộm lành chẳng ăn trái nào; anh chỉ nếm một lời từ miệng Đấng chịu đóng đinh, và lời ấy đưa anh từ thập giá vào Thiên Đàng. Có lẽ đây là Tin Mừng đẹp nhất cho tất cả những ai nghĩ mình đã quá muộn. Với Đức Kitô chịu đóng đinh, ngay cả giờ cuối cùng cũng chưa phải là quá muộn. Chỉ cần còn có thể quay mắt về phía Người, vẫn còn một con đường vào sự sống.
Và rồi ở cuối Kinh Thánh, sách Khải Huyền đưa chúng ta đến một cảnh tượng tuyệt đẹp. Thánh Gioan thấy thành thánh, Giêrusalem mới, từ trời xuống, rực rỡ như tân nương trang điểm để đón Tân Lang. Trong thành ấy không còn đền thờ theo nghĩa cũ nữa, “vì Đức Chúa, Thiên Chúa toàn năng, và Con Chiên là Đền Thờ của thành.” Thành cũng không cần mặt trời hay mặt trăng chiếu sáng, bởi vinh quang Thiên Chúa soi chiếu nó và Con Chiên là ngọn đèn. Rồi thiên thần chỉ cho Gioan “một con sông có nước trường sinh, sáng chói như pha lê, chảy ra từ ngai của Thiên Chúa và Con Chiên. Ở giữa quảng trường của thành, hai bên bờ sông, có cây sự sống sinh trái mười hai lần, mỗi tháng một lần; lá cây dùng làm thuốc chữa lành các dân ngoại” (x. Kh 22,1-2). Cả Kinh Thánh như khép thành một vòng tròn tuyệt đẹp. Cây sự sống đã mất ở Sáng Thế lại xuất hiện trong Khải Huyền. Nhưng giữa hai cây ấy là cây Thập Giá. Không có Canvê, không có con đường trở lại Êđen. Không có Máu Con Chiên, không có áo trắng của những người được cứu độ. Không có cạnh sườn bị đâm thâu, không có dòng nước sự sống. Không có cái chết của Đức Kitô, không có thành thánh nơi sự chết bị tiêu diệt. Chính vì thế, Giêrusalem mới không bao giờ làm cho Thập Giá trở thành chuyện quá khứ. Trong Giêrusalem mới, trung tâm vẫn là Con Chiên đã bị sát tế. Đức Kitô phục sinh không xóa những vết thương của cuộc khổ nạn như người ta xóa một kỷ niệm đáng quên. Khi hiện ra với các môn đệ, Người cho họ xem tay và cạnh sườn. Khi gặp Tôma, Người nói: “Đặt ngón tay vào đây và hãy nhìn xem tay Thầy; đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy.” Đấng Phục Sinh vẫn mang dấu đinh. Điều ấy có nghĩa là trong vĩnh cửu, tình yêu cứu chuộc không bị quên đi. Thập Giá không còn là dụng cụ hành hình, nhưng vết thương của nó được biến đổi thành vinh quang. Những dấu đinh không còn nói: “Người đã bị đánh bại”, nhưng nói: “Người đã yêu đến cùng.” Vết cạnh sườn không còn nói về ngọn giáo của người lính Rôma, nhưng nói về trái tim đã mở ra và không bao giờ khép lại với nhân loại. Bởi vậy, nói Thập Giá như cây sự sống ở giữa Giêrusalem mới là nói rằng ở giữa trời mới đất mới vẫn là ký ức vĩnh cửu của một tình yêu đã chịu đóng đinh. Thiên Đàng không phải là nơi chúng ta quên Thập Giá. Thiên Đàng là nơi cuối cùng chúng ta hiểu Thập Giá.
Điều này quan trọng vô cùng cho đời sống đức tin, bởi nhiều khi chúng ta sống như thể mục tiêu của Kitô giáo là thoát khỏi mọi thập giá càng nhanh càng tốt. Ta xin Chúa cất bệnh, cất nghèo, cất cô đơn, cất người làm ta khổ, cất hoàn cảnh khó khăn. Những lời cầu ấy hoàn toàn chính đáng. Chính Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu cũng đã cầu xin: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Thiên Chúa không vui khi thấy con cái mình đau. Người không dựng nên bệnh tật, chiến tranh, phản bội và nước mắt như những trò thử nghiệm để xem con người chịu đựng được đến đâu. Nhưng mầu nhiệm Thập Giá nói với chúng ta một điều sâu hơn: có những đau khổ Thiên Chúa không cất đi ngay, nhưng Người bước vào đó và biến đổi nó từ bên trong. Người không luôn luôn cứu ta khỏi thập giá; nhiều khi Người cứu ta trên thập giá. Người không luôn thay đổi hoàn cảnh trước; Người thay đổi trái tim ta trong hoàn cảnh. Người không luôn làm chén đắng biến mất; Người uống chén ấy với ta. Và khi Đức Kitô ở trong thập giá của đời ta, thập giá ấy có thể trở thành cây sự sống. Không phải vì đau khổ tự nó là tốt, nhưng vì tình yêu có thể sinh ra từ đau khổ. Một căn bệnh có thể dạy một người biết quý từng ngày sống. Một thất bại có thể đập vỡ kiêu ngạo để người ta trở nên khiêm nhường. Một lần bị phản bội có thể mở mắt ta để hiểu nỗi đau của người khác. Một thời gian cô đơn có thể làm ta tìm được Thiên Chúa ở tầng sâu mà những ngày náo nhiệt chưa từng chạm tới. Một tang chế có thể làm ta hiểu rằng đời này không phải quê hương cuối cùng. Một lần mất hết có thể dạy ta nhận ra điều gì thật sự không thể mất. Những điều ấy không làm đau khổ trở thành điều đáng tìm kiếm; nó chỉ cho thấy Thiên Chúa có quyền năng đến mức ngay cả điều sự dữ dùng để hủy diệt, Người cũng có thể biến thành con đường cứu độ.
Cây Thập Giá là cây sự sống bởi trên đó Đức Giêsu đã không giữ lại gì cho mình. Một cái cây sống là cái cây cho. Nó hút lấy những gì nằm sâu trong đất, nhận ánh sáng từ trời, rồi âm thầm biến tất cả thành hoa, thành trái, thành bóng mát cho người khác. Đức Kitô trên Thập Giá cũng vậy: Người đã biến mọi đau đớn thành sự trao ban. Bị lột áo, Người ban chính mình. Bị đóng đinh tay, Người vẫn mở tay. Bị chân đóng lại, Người vẫn đi tới tận cùng hành trình yêu thương. Bị chế nhạo, Người không nguyền rủa. Bị giết, Người xin Cha tha thứ cho kẻ giết mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Bên cạnh Mẹ đang đau đớn, Người vẫn nghĩ đến Mẹ và trao Mẹ cho người môn đệ. Gặp người trộm sám hối, Người mở Thiên Đàng. Khát đến cháy cổ, Người vẫn hoàn thành Thánh Kinh. Và khi chẳng còn gì để trao nữa, Người “gục đầu xuống và trao Thần Khí.” Thập Giá là cây sự sống vì tất cả trên cây ấy đều được biến thành quà tặng. Người ta lấy khỏi Đức Giêsu mọi sự, nhưng không ai lấy được khả năng yêu của Người. Đây có lẽ là tự do lớn nhất của con người: không phải tự do làm mọi điều mình muốn, nhưng là ngay cả khi người khác có thể lấy khỏi ta danh dự, tài sản, sức khỏe, tự do và cuối cùng cả mạng sống, họ vẫn không thể buộc ta phải ngừng yêu nếu ta không đồng ý. Đức Giêsu trên Thập Giá nghèo đến tận cùng mà tự do đến tận cùng. Người không còn gì, nhưng chính lúc ấy Người ban tất cả. Và vì thế Thập Giá trở thành cây trĩu quả nhất trong lịch sử nhân loại.
Ta hãy nhớ lời Đức Giêsu trước cuộc thương khó: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.” Chính Người là hạt lúa ấy. Người được gieo vào lòng đất của nhân loại, bị nghiền nát bởi bạo lực con người, đi xuống tận mồ sâu, nhưng từ cái chết ấy mọc lên một mùa gặt mà không quyền lực nào ngăn nổi. Từ một Đức Giêsu bị đóng đinh ngoài thành Giêrusalem đã sinh ra một Hội Thánh trải khắp địa cầu. Từ mười hai con người yếu đuối đã nảy sinh biết bao thế hệ môn đệ. Từ Máu của một Người tử tội đã có biết bao vị tử đạo can đảm bước lên pháp trường mà vẫn hát. Từ lời tha thứ trên Thập Giá đã nảy sinh biết bao cuộc hòa giải tưởng không thể có. Từ cạnh sườn mở ra ấy đã có biết bao tội nhân tìm lại hy vọng. Cây Thập Giá vẫn sinh trái cho đến hôm nay. Mỗi lần một người tha thứ thay vì trả thù, cây ấy sinh trái. Mỗi lần một người mẹ thức đêm bên đứa con bệnh mà không than trách, cây ấy sinh trái. Mỗi lần một người chồng hay người vợ chấp nhận chết đi cái tôi để cứu một gia đình khỏi tan vỡ, cây ấy sinh trái. Mỗi lần một linh mục âm thầm ở lại với đoàn chiên trong những ngày không ai biết đến, cây ấy sinh trái. Mỗi lần một tu sĩ vẫn trung thành với lời khấn trong những mùa khô khan, cây ấy sinh trái. Mỗi lần một người bị hiểu lầm không trả lời bằng ác ý, cây ấy sinh trái. Mỗi lần một người có thể làm điều gian dối để có lợi nhưng chọn thiệt thòi để giữ lương tâm ngay thẳng, cây ấy sinh trái. Mỗi lần một người trẻ nói “không” với thứ làm mình mất phẩm giá dù bạn bè cười nhạo, cây ấy sinh trái. Mỗi lần một bệnh nhân biến giường bệnh thành bàn thờ hiến dâng, cây ấy sinh trái. Và mỗi lần một tội nhân bước vào tòa giải tội với trái tim tan nát rồi bước ra với bình an, ta lại thấy cây sự sống đang trổ lộc giữa một thế giới nhiều bóng chết.
Sách Khải Huyền còn nói lá cây sự sống được dùng “để chữa lành các dân.” Một hình ảnh đẹp đến lạ lùng. Trái cây nuôi sống, lá cây chữa lành. Nghĩa là nơi Thiên Chúa muốn dẫn lịch sử tới không chỉ là một thế giới nơi từng cá nhân được cứu riêng rẽ, nhưng là một nhân loại được chữa lành. Các dân tộc từng đánh nhau được chữa lành. Những ký ức thù hận được chữa lành. Những vết thương lịch sử được chữa lành. Những chia rẽ gia đình được chữa lành. Những tổn thương trong lòng người được chữa lành. Và thuốc chữa ấy đi ra từ cây sự sống, nghĩa là từ mầu nhiệm tình yêu tự hiến của Con Chiên. Thế giới không được chữa lành bằng một thứ quyền lực mạnh hơn bạo lực, nhưng bằng một tình yêu mạnh hơn bạo lực. Ta thường nghĩ muốn thắng sự dữ thì phải mạnh hơn nó theo chính cách của nó. Nếu người ta hét, ta hét lớn hơn. Nếu người ta đánh, ta đánh mạnh hơn. Nếu người ta làm nhục, ta làm nhục lại. Nếu người ta dùng quyền lực, ta giành quyền lực lớn hơn. Và lịch sử cứ thế sinh ra những vòng tròn không cùng của trả đũa. Thập Giá phá vỡ vòng tròn ấy. Đức Giêsu nhận vào mình tất cả bạo lực nhưng không truyền nó tiếp. Người bị xúc phạm nhưng không xúc phạm lại. Người bị kết án bất công nhưng không dùng quyền lực để nghiền nát kẻ kết án. Người bị giết nhưng không giết. Tại Thập Giá, dòng sông bạo lực của lịch sử chảy vào một Trái Tim và không chảy ra dưới hình thức trả thù nữa, mà chảy ra thành máu và nước, thành tha thứ và sự sống. Đây là lý do Thập Giá chữa lành các dân. Chỉ khi một ai đó dám dừng vòng luân chuyển của hận thù nơi chính mình, hòa bình mới bắt đầu.
Nhưng Thập Giá chỉ trở thành cây sự sống cho ta khi ta dám đến gần. Ta có thể treo Thánh Giá trong nhà mà vẫn sống xa tinh thần Thập Giá. Ta có thể đeo cây Thánh Giá trên cổ mà cái tôi vẫn ngự trên ngai. Ta có thể hôn Thánh Giá Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng cả năm không chịu tha thứ cho một người. Ta có thể giảng về Thập Giá rất hay mà lại sợ mọi hy sinh làm mất tiện nghi của mình. Ta có thể làm dấu Thánh Giá hàng chục lần mỗi ngày mà chưa bao giờ để dấu ấy đi xuống trong những chọn lựa cụ thể của đời sống. Làm dấu Thánh Giá thực ra là một lời tuyên xưng rất đáng sợ nếu ta hiểu điều mình làm. Khi đưa tay lên trán, xuống ngực và hai vai, ta như để Thập Giá phủ lên toàn thân mình. Ta nói rằng trí óc này thuộc về Đấng chịu đóng đinh, trái tim này thuộc về Đấng chịu đóng đinh, đôi vai này sẽ mang lấy ách của Đấng chịu đóng đinh. Nhưng rồi ngay sau đó ta có sẵn sàng suy nghĩ như Người không? Có yêu như Người không? Có mang gánh cho người khác như Người không? Nếu không, dấu Thánh Giá chỉ dừng lại ngoài da. Đức Kitô không muốn Thập Giá chỉ được treo trên tường; Người muốn nó được khắc vào cách chúng ta sống. Khi ta chọn chân thật thay vì gian dối, đó là dấu Thánh Giá. Khi ta chọn phục vụ thay vì thống trị, đó là dấu Thánh Giá. Khi ta chọn im lặng thay vì nói một câu làm tổn thương người khác, đó là dấu Thánh Giá. Khi ta xin lỗi dù cái tôi đau, đó là dấu Thánh Giá. Khi ta tha thứ dù vết thương chưa hết nhức, đó là dấu Thánh Giá. Khi ta vẫn trung thành trong một ngày cầu nguyện khô khan, đó là dấu Thánh Giá. Khi ta tiếp tục yêu một người không còn khả năng trả lại cho ta điều gì, đó là dấu Thánh Giá.
Giêrusalem mới không phải chỉ là một thành phố của tương lai xa xôi sau ngày tận thế. Mỗi khi Đức Kitô thực sự làm vua trong một tâm hồn, một chút Giêrusalem mới đã bắt đầu. Mỗi gia đình trong đó người ta biết tha thứ cho nhau là một góc của Giêrusalem mới. Mỗi cộng đoàn nơi người mạnh biết cúi xuống nâng người yếu là một khoảng của Giêrusalem mới. Mỗi giáo xứ nơi người nghèo không bị bỏ quên là một dấu chỉ của Giêrusalem mới. Mỗi căn phòng bệnh nơi người ta cầu nguyện giữa nước mắt là một ô cửa nhìn vào Giêrusalem mới. Mỗi tòa giải tội nơi một người được đứng dậy khỏi quá khứ là một cánh cửa của Giêrusalem mới. Mỗi bàn thờ nơi Thánh Thể được cử hành chính là nơi cây sự sống đã sinh trái giữa chúng ta. Bởi trái của cây Thập Giá chính là Thánh Thể. Đức Giêsu từng nói: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.” Trên Canvê, lời ấy trở thành sự thật bằng máu. Thân mình Người bị bẻ ra, máu Người đổ xuống. Trong mỗi Thánh lễ, chúng ta không tái đóng đinh Đức Kitô, nhưng được đưa vào mầu nhiệm duy nhất của Thập Giá và Phục Sinh ấy. Chúng ta bước tới bàn thờ như những người lưu đày trở lại cây sự sống. Ta đưa tay ra hoặc mở miệng đón lấy chính trái của cây đã mọc trên Canvê: Mình Thánh Đức Kitô. Có lẽ nếu ta hiểu điều này sâu hơn, ta sẽ chẳng bao giờ có thể rước lễ cách hững hờ. Mỗi lần rước lễ là mỗi lần Đấng bị đóng đinh nói với ta: “Sự sống của Thầy đây, Thầy cho con.” Không phải một ý tưởng, không phải một biểu tượng trống rỗng, nhưng chính Đức Kitô trao mình làm lương thực. Cây sự sống không còn ở nơi xa. Nó đưa trái đến tận môi chúng ta.
Và vì đã ăn trái của cây sự sống, người Kitô hữu được mời gọi trở nên những “cây sự sống nhỏ” giữa đời. Một người đã rước Đức Kitô mà vẫn chỉ sống cho mình thì chưa hiểu điều mình đã lãnh nhận. Thánh Thể đến từ Thập Giá nên tất yếu dẫn ta trở lại Thập Giá. Ta ăn Đấng đã trở nên tấm bánh bẻ ra để chính mình cũng học trở thành tấm bánh cho người khác. Đời Kitô hữu không trưởng thành khi ta chỉ hỏi: “Tôi nhận được gì từ Chúa?”, nhưng khi bắt đầu hỏi: “Chúa muốn dùng đời tôi để nuôi ai?” Có người sống bên cạnh ta đang đói một lời cảm thông. Có người đói sự hiện diện. Có người đói một lần được nghe: “Tôi tha thứ cho anh.” Có người đói một ánh mắt không phán xét. Có cha mẹ già không thiếu tiền nhưng thiếu một cuộc điện thoại. Có con cái không thiếu đồ chơi nhưng thiếu cha mẹ ngồi xuống nghe chúng nói. Có người bệnh không thiếu thuốc nhưng thiếu một bàn tay nắm lấy. Có người thất bại không thiếu lời khuyên nhưng thiếu một người ngồi bên mà không xét đoán. Có những người nghèo nhất không phải vì không có tiền mà vì chưa từng cảm thấy mình thật sự được ai đó yêu. Nếu Thập Giá là cây sự sống thì người mang Thập Giá không thể gieo sự chết bằng lời nói, thái độ và cách cư xử. Một người đạo đức mà đi tới đâu cũng làm người khác nghẹt thở thì cần xét lại mình đã đứng dưới cây nào. Một người cầu nguyện nhiều nhưng không có lòng thương xót thì cần hỏi xem mình đã gặp Đức Kitô chịu đóng đinh chưa. Một người bảo vệ chân lý nhưng dùng chân lý để đánh người khác đến tan nát thì đã quên rằng Chân Lý trên Thập Giá bị đóng đinh để cứu, chứ không đóng đinh người khác để thắng.
Một ngày nào đó, mỗi chúng ta sẽ phải rời khỏi tất cả. Nhà cửa sẽ ở lại. Tiền bạc sẽ ở lại. Chức vụ sẽ ở lại. Những điều từng khiến ta mất ngủ rồi cũng sẽ ở lại. Người khác sẽ tiếp tục sống, đường phố vẫn đông, mặt trời vẫn mọc, thế giới vẫn quay dù thiếu ta. Và ta sẽ đứng trước Đức Kitô. Khi ấy có lẽ câu hỏi quan trọng không phải là ta đã nổi tiếng bao nhiêu, sở hữu bao nhiêu, có bao nhiêu người biết tên mình, nhưng là đời ta đã sinh được trái gì. Cây được nhận ra nhờ trái. Nếu ta đã ở dưới bóng cây Thập Giá suốt đời, trái của ta phải ít nhiều mang hương vị của cây ấy: lòng thương xót, sự nhẫn nại, hiền lành, trung tín, quảng đại, hy sinh, tha thứ. Chẳng ai trong chúng ta làm được điều ấy hoàn hảo. Có những ngày cây đời ta chẳng sinh được gì ngoài gai góc. Có lúc ta làm đau người khác. Có lúc ta ích kỷ, yếu đuối, nóng giận. Nhưng Tin Mừng không nói cây sự sống chỉ dành cho người hoàn hảo. Chính người trộm lành là bằng chứng. Điều cần thiết là quay về với Đức Kitô. Bao lâu còn biết trở về, cây khô vẫn có thể nảy mầm. Bao lâu còn để Máu Đức Kitô chạm tới, vết thương vẫn có thể lành. Bao lâu còn biết nói: “Lạy Chúa Giêsu, xin nhớ đến con”, vẫn còn hy vọng nghe câu trả lời: “Hôm nay con sẽ ở với Ta.”
Và có lẽ, vào ngày bước vào Giêrusalem mới, chúng ta sẽ hiểu những điều hôm nay còn chưa hiểu. Ta sẽ hiểu tại sao có những lời cầu nguyện tưởng như Chúa không nhậm. Ta sẽ hiểu tại sao có một số cánh cửa Chúa không mở. Ta sẽ hiểu vì sao có những người Chúa cho bước vào đời ta rồi lại ra đi. Ta sẽ hiểu tại sao có những thập giá đã theo mình suốt nhiều năm. Không phải mọi đau khổ đều do Chúa gửi đến, và tuyệt đối không phải mọi sự dữ đều là ý muốn của Người; nhưng trong bàn tay quan phòng nhiệm mầu, không giọt nước mắt nào được trao cho Chúa lại bị phí đi. Có những giọt nước mắt trên đời này tưởng rơi xuống đất và biến mất, nhưng trong Giêrusalem mới ta sẽ thấy chúng đã tưới những cội cây nào. Có những hy sinh không ai biết, có những lần nhịn nhục chẳng ai khen, có những lời cầu nguyện thốt lên lúc nửa đêm, có những ngày một người chỉ đủ sức nói: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con vẫn tin.” Tất cả không mất. Trong Nước Thiên Chúa, những hạt giống bị chôn sâu nhất có thể lại là những hạt nảy mầm đẹp nhất.
Hãy nhìn cây Thập Giá. Nó có một chiều thẳng đứng và một chiều ngang. Chiều thẳng đứng nối đất với trời: Đức Kitô đưa con người trở về với Chúa Cha. Chiều ngang mở ra ôm lấy nhân loại: Đức Kitô quy tụ những người phân tán. Đó cũng là hình dáng của Giêrusalem mới: một thành nơi Thiên Chúa ở với loài người và loài người sống với nhau trong hiệp thông. Vì thế, ai muốn bước vào Giêrusalem mới phải tập sống hình Thập Giá từ hôm nay: yêu Chúa và yêu người. Không thể chỉ giữ chiều dọc mà chặt mất chiều ngang. Không thể nói yêu Thiên Chúa mà ghét anh em. Cũng không thể chỉ giữ chiều ngang mà chặt mất chiều dọc, biến Kitô giáo thành một thứ nhân bản không Thiên Chúa. Thập Giá giữ cả hai chiều trong một thân cây duy nhất. Đức tin thật nối ta với trời và đồng thời mở ta với người bên cạnh. Cầu nguyện thật khiến ta yêu người hơn. Thánh lễ thật đưa ta ra khỏi nhà thờ với một trái tim rộng hơn. Đời sống thiêng liêng thật không làm ta trốn khỏi thế giới mà làm ta bước vào những vết thương của thế giới bằng lòng thương xót của Đức Kitô.
Thật ra, Giêrusalem mới đã bắt đầu ngay buổi chiều Thứ Sáu năm ấy, dù chẳng ai nhận ra. Trời tối. Đất rung. Một xác người treo bất động trên cây. Các môn đệ bỏ chạy. Đức Maria đứng dưới chân Thập Giá với trái tim bị đâm thâu. Những người chống Đức Giêsu tưởng mọi chuyện đã kết thúc. Philatô có lẽ đã trở về dinh. Quân lính chia nhau áo Người. Một viên đá lớn sắp được lăn trước cửa mộ. Nếu nhìn bằng mắt người, đó là thất bại tuyệt đối. Nhưng ngay chính lúc ấy, sự sống mới đã bắt đầu. Bức màn Đền Thờ xé đôi. Viên đại đội trưởng ngoại giáo thốt lên lời tuyên xưng. Người trộm lành nhận lời hứa Thiên Đàng. Cạnh sườn Đức Kitô mở ra, máu cùng nước chảy xuống. Hạt lúa đã rơi vào lòng đất. Không ai nghe thấy tiếng một thế giới mới đang nảy mầm dưới mặt đất, nhưng nó đã bắt đầu. Đó cũng là cách Thiên Chúa thường làm việc trong đời ta. Nhiều khi đúng lúc ta tưởng tất cả đã kết thúc, Người lại đang bắt đầu điều sâu nhất. Có những Thứ Sáu Tuần Thánh trong đời mà ta chưa nhìn thấy sáng Chúa Nhật. Có những nấm mồ ta tưởng chỉ chứa cái chết, nhưng Thiên Chúa đang chuẩn bị một bình minh. Đức tin không phải là giả vờ đau khổ không đau. Đức tin là dù đang đứng dưới Thập Giá, vẫn tin rằng Thập Giá này thuộc về Đấng sẽ phục sinh.
Vì vậy, đừng sợ nếu hôm nay đời ta có một cây thập giá. Điều cần sợ hơn là ta mang thập giá mà không có Đức Kitô. Một cây thập giá không có Đức Kitô chỉ là đau khổ; nhưng cây thập giá có Đức Kitô có thể trở thành cây sự sống. Đừng chỉ hỏi: “Tại sao con phải chịu điều này?” Hãy thêm một câu nữa: “Lạy Chúa, Chúa muốn làm nảy sinh điều gì từ nơi này?” Đừng chỉ xin: “Xin cất thập giá khỏi con”; hãy có lúc can đảm xin: “Nếu thập giá này chưa thể cất đi, xin đừng để con phí nó.” Xin cho đau khổ làm ta mềm hơn chứ đừng cay nghiệt hơn. Xin cho thất bại làm ta khiêm nhường hơn chứ đừng ghen tị hơn. Xin cho bệnh tật làm ta biết thương người bệnh hơn. Xin cho cô đơn làm ta nhận ra những người cô đơn. Xin cho những gì ta từng mất giúp ta trở thành nơi nương tựa cho người đang mất mát. Xin cho các vết thương, khi được Đức Kitô chữa lành, trở thành những cánh cửa để lòng thương xót đi qua.
Cuối cùng, tất cả Kitô giáo có thể được nhìn trong hai khu vườn và một cây ở giữa. Trong vườn Êđen, con người nói với Thiên Chúa: “Ý tôi, không phải ý Ngài.” Trong vườn Ghếtsêmani, Đức Giêsu nói: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Từ cây trái cấm đến cây Thập Giá là con đường từ bất phục tùng đến vâng phục. Từ khu vườn có Ađam trốn tránh đến khu vườn có ngôi mộ trống là con đường từ sự chết đến sự sống. Và cuối con đường ấy là Giêrusalem mới, nơi cây sự sống lại đứng giữa thành, nơi dòng sông trường sinh chảy ra, nơi con người được nhìn thấy dung nhan Thiên Chúa, nơi đêm không còn nữa. Nếu hỏi cây nào đã mở lại con đường ấy, Hội Thánh chỉ có thể chỉ lên Canvê và nói: Đây là cây sự sống của chúng ta. Cây ấy từng nhuộm máu Đấng Cứu Chuộc. Cây ấy từng nghe lời Người cầu cho kẻ giết mình. Cây ấy từng mang thân xác của Con Thiên Chúa. Cây ấy từng bị thế gian coi là dấu chấm hết, nhưng Thiên Chúa đã biến thành dấu cộng nối trời với đất, nối người với người, nối tội nhân với Đấng Thánh, nối sự chết với sự sống, nối thời gian với vĩnh cửu.
Cho nên, mỗi khi nhìn lên Thập Giá, đừng chỉ thấy một Người đang chết. Hãy thấy Sự Sống đang tự hiến. Đừng chỉ thấy những chiếc đinh. Hãy thấy đôi tay không bao giờ khép lại với con người. Đừng chỉ thấy mão gai. Hãy thấy một vị Vua lấy tình yêu làm vương quyền. Đừng chỉ thấy vết thương. Hãy thấy những cửa ngõ của lòng thương xót. Đừng chỉ thấy máu. Hãy thấy dòng sông sự sống đang chảy về Giêrusalem mới. Đừng chỉ thấy chiều Thứ Sáu. Hãy nhìn cả bình minh Phục Sinh đang ẩn bên kia đồi. Và đừng chỉ nhìn cây Thập Giá của Chúa. Hãy mang cây thập giá đời mình đến ghép vào cây ấy. Một cành khô ghép vào cây sống sẽ nhận được nhựa sống. Một đời người dù đã nhiều thất bại, nếu được ghép vào Đức Kitô, vẫn có thể sinh trái cho đời đời.
Rồi một ngày, khi mọi Thứ Sáu Tuần Thánh của đời ta đã đi qua, khi tiếng khóc cuối cùng đã im, khi thân xác này trở về bụi đất và được Đức Kitô gọi dậy trong ngày sau hết, ta sẽ bước vào thành thánh mà sách Khải Huyền đã thấy từ xa. Ở đó không còn bệnh viện, nghĩa trang, nhà tù, chiến trường. Không còn những cuộc chia tay. Không còn người mẹ nào phải khóc bên quan tài con. Không còn người vợ nào thức trắng vì người chồng phản bội. Không còn đứa trẻ nào bị bỏ rơi. Không còn người già nào chết trong cô độc. Không còn ai phải hỏi: “Lạy Chúa, tại sao?” Bởi câu trả lời không còn được trao bằng chữ nghĩa nhưng bằng chính dung nhan Thiên Chúa. Và ở giữa thành, cây sự sống vẫn xanh. Có lẽ lúc ấy ta sẽ nhận ra hình bóng của cây Canvê. Ta sẽ hiểu rằng tất cả những gì Thiên Chúa đã làm để đưa ta về đây đều đã đi qua tình yêu của Con Chiên chịu sát tế. Ta sẽ cúi mình trước Đức Kitô, nhìn những dấu đinh vẫn rực sáng trên đôi tay phục sinh của Người, và cuối cùng hiểu rằng: chúng ta được sống đời đời bởi vì đã có Một Người yêu chúng ta đến chết.
Thập Giá vì thế không phải một chương buồn cần vượt qua để đi tới chương vui Phục Sinh. Thập Giá và Phục Sinh là một mầu nhiệm duy nhất của tình yêu chiến thắng. Cây Thập Giá không bị chặt bỏ khi Giêrusalem mới xuất hiện; nó được tỏ lộ trong ý nghĩa viên mãn của nó như cây sự sống. Và người môn đệ của Đức Kitô, giữa những mong manh của cuộc đời này, có thể ngẩng đầu lên mà bước. Ta biết mình sẽ đau, nhưng đau khổ không có tiếng nói cuối cùng. Ta biết mình sẽ mất, nhưng mất mát không có tiếng nói cuối cùng. Ta biết mình sẽ chết, nhưng sự chết không có tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng thuộc về Con Chiên. Tiếng nói cuối cùng thuộc về sự sống. Tiếng nói cuối cùng thuộc về tình yêu.
Và nếu hôm nay ai đó đang đứng dưới một cây thập giá quá nặng, xin hãy nhìn lên Đấng đang ở đó trước mình. Người không nói rằng mọi chuyện sẽ dễ. Người không hứa rằng ngày mai tất cả đau đớn sẽ biến mất. Người chỉ mở đôi tay mang dấu đinh và nói bằng cả cuộc đời Người rằng: “Con không ở đây một mình.” Hãy ở lại với Người. Hãy để nước mắt rơi dưới chân Thập Giá. Hãy nói với Người cả những câu hỏi chưa có lời đáp. Hãy trao cho Người cả sự giận dữ, sợ hãi, thất vọng và yếu đuối. Và rồi, dù chỉ còn đủ sức để thưa một câu như người trộm lành: “Lạy Giêsu, xin nhớ đến con,” thì cứ thưa. Bởi từ cây Thập Giá ấy vẫn vang xuống lời hứa không bao giờ cũ: có Thiên Đàng, có sự sống, có một quê hương, có một Giêrusalem mới đang chờ ta. Và giữa thành ấy vẫn có cây sự sống, cây đã từng mọc trên đồi Canvê, cây đã uống lấy máu Con Chiên, cây đã nở ra trái trường sinh cho cả nhân loại.
Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, xin đừng để chúng con chỉ kính Thập Giá bằng đôi môi mà từ chối nó bằng cách sống. Xin cho chúng con biết ghép những đau khổ của đời mình vào Thập Giá Chúa để điều tưởng chỉ là mất mát có thể sinh hoa trái của tình yêu. Xin cho những vết thương của chúng con, khi được đặt vào vết thương Chúa, không trở thành nguồn cay đắng nhưng trở thành cửa ngõ của lòng thương xót. Xin dạy chúng con sống sao để khi người khác đến gần đời chúng con, họ gặp được một chút bóng mát của cây sự sống, một chút trái ngọt của lòng nhân hậu, một chút lá thuốc của sự cảm thông, một chút nước trong của niềm hy vọng. Và khi giờ cuối cùng đến, xin cho chúng con được nghe lời Chúa đã nói với người trộm lành năm xưa: “Hôm nay, con sẽ ở với Ta trên Thiên Đàng.” Amen.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VÀ SỰ CHIẾN THẮNG CUỐI CÙNG TRÊN SỰ CHẾT TRONG SÁCH KHẢI HUYỀN
Có những lúc đứng trước một nấm mồ vừa lấp đất, người ta mới thấy tất cả những điều mình từng cho là lớn lao hóa ra nhỏ bé biết bao. Một đời người có thể đã đi qua biết bao nhiêu thành công, có nhà cửa, danh dự, tiền bạc, bằng cấp, chức quyền, những cuộc gặp gỡ, những chuyến đi, những lời khen, những dự tính tưởng như không bao giờ hết; vậy mà đến một ngày, chỉ còn một tấm ảnh đặt trước quan tài, một làn khói hương, vài vòng hoa, một hàng người lặng lẽ cúi đầu và một khoảng trống rất khó gọi tên trong lòng những người ở lại. Sự chết có cách làm cho con người im tiếng. Nó không tranh luận với ai. Nó không cần chứng minh quyền lực của nó. Chỉ cần một căn phòng bệnh bỗng im lặng, một bàn tay đang ấm bỗng lạnh đi, một tiếng gọi không còn được đáp lại, là người ta hiểu mình mong manh đến thế nào. Có lẽ vì vậy mà từ thuở con người biết suy nghĩ về chính mình, câu hỏi đau đáu nhất vẫn là: rồi cuối cùng sẽ ra sao? Nếu tất cả đều kết thúc ở nấm mồ, thì yêu để làm gì, hy sinh để làm gì, sống tử tế để làm gì, chịu đựng để làm gì, trung thành để làm gì? Nếu cái chết là tiếng nói cuối cùng, thì lịch sử nhân loại chẳng khác gì một dòng người được sinh ra chỉ để từ từ bước về phía hư vô. Nhưng Kitô giáo đã xuất hiện giữa lòng thế giới không phải bằng một triết lý làm cho người ta quên cái chết, cũng không bằng một thứ thuốc mê tinh thần giúp người ta dễ chịu hơn trước định mệnh. Kitô giáo đặt ngay giữa lòng mình một cây Thánh Giá, nghĩa là đặt ngay giữa đức tin một con người đã thật sự chết. Đức Giêsu Kitô không tránh cái chết. Người đi vào cái chết. Người không giả vờ đau. Người đã đau thật. Người không giả vờ cô đơn. Người đã nếm sự cô đơn tận cùng. Người không giả vờ chết. Người đã tắt thở và được đặt trong mồ. Nhưng điều làm đảo lộn toàn bộ lịch sử không phải chỉ là Đức Giêsu đã chết, mà là Đấng đã chết ấy đã sống lại. Từ đó, Thánh Giá không còn là dấu chấm hết. Thánh Giá trở thành cánh cửa. Nấm mồ không còn là nơi đóng lại câu chuyện con người, mà trở thành nơi Thiên Chúa mở ra một câu chuyện mới. Và nếu muốn nhìn thấy câu chuyện ấy đi đến tận cùng, không nơi nào mạnh mẽ bằng những trang cuối của Kinh Thánh, đặc biệt là sách Khải Huyền.
Khải Huyền là cuốn sách nhiều người ngại đọc vì thấy trong đó quá nhiều hình ảnh lạ lùng: con thú, con rồng, những chiếc kèn, những chén thịnh nộ, những trận chiến, những con số biểu tượng, trời đất rung chuyển, những thiên thần, những tai họa. Có người đọc Khải Huyền như đọc một cuốn sách tiên đoán thảm họa để tìm xem ngày tận thế bao giờ xảy đến. Có người lại sợ hãi, tưởng rằng đó là cuốn sách chỉ nói về hình phạt. Nhưng nếu đọc bằng đôi mắt đức tin, người ta sẽ nhận ra Khải Huyền trước hết không phải là cuốn sách của nỗi sợ; đó là cuốn sách của niềm hy vọng. Nó được viết cho những cộng đoàn Kitô hữu đang đau khổ, đang bị bách hại, đang phải chứng kiến quyền lực sự dữ dường như quá mạnh. Có những người đã chết vì đức tin. Có những người bị loại khỏi xã hội. Có những người nhìn đế quốc Rôma hùng mạnh và tự hỏi: Thiên Chúa ở đâu? Đức Kitô đã chiến thắng thật chưa? Nếu Người đã phục sinh, tại sao người công chính vẫn bị giết? Nếu Tin Mừng là sự thật, tại sao bạo quyền vẫn thống trị? Đó không chỉ là câu hỏi của các Kitô hữu thế kỷ thứ nhất. Đó cũng chính là câu hỏi của chúng ta khi nhìn những cuộc chiến tranh, những đứa trẻ vô tội đau khổ, những người lành mắc bệnh, những gia đình tan vỡ, những người sống ngay thẳng lại gặp gian truân, những người gian ác đôi khi vẫn phất lên. Khải Huyền không trả lời những câu hỏi ấy bằng cách bảo rằng đau khổ không đáng kể. Trái lại, Khải Huyền nhìn thẳng vào đau khổ. Nhưng giữa tất cả những bóng tối ấy, Gioan nhìn thấy một điều còn lớn hơn: giữa ngai Thiên Chúa có một Con Chiên “như đã bị giết”. Điều lạ lùng nằm ở đó. Trung tâm của chiến thắng không phải là một con sư tử đang gầm thét, không phải một vị hoàng đế khoác áo giáp, không phải một đạo quân khổng lồ, mà là một Con Chiên mang dấu tích của việc bị sát tế. Đó chính là Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Trong ngôn ngữ của Khải Huyền, Thánh Giá vẫn còn đó trong vinh quang. Những vết thương không bị xóa đi như một tai nạn đáng quên; chúng trở thành dấu chỉ muôn đời của một tình yêu đã đi qua cái chết và chiến thắng cái chết.
Ở đây có một điều rất sâu. Thiên Chúa chiến thắng không giống cách thế gian chiến thắng. Thế gian thường nghĩ chiến thắng là làm đối phương biến mất, là mạnh hơn, áp đảo hơn, gây sợ hãi nhiều hơn. Nhưng Con Chiên chiến thắng bằng cách chịu sát tế. Đức Kitô đánh bại hận thù bằng tình yêu, đánh bại bạo lực bằng sự tự hiến, đánh bại tội lỗi bằng vâng phục, đánh bại sự chết bằng chính việc đi vào sự chết. Bởi vậy, khi nhìn Thánh Giá, người Kitô hữu không nhìn một Thiên Chúa thất bại. Nếu chỉ nhìn chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, quả thật tất cả có vẻ thất bại: các môn đệ chạy trốn, Phêrô chối Thầy, Giuđa phản bội, đám đông chế nhạo, lính tráng chia áo, các thượng tế tưởng mình đã thắng, Philatô rửa tay, và Đức Giêsu chết trần trụi ngoài thành. Nhưng Thiên Chúa viết câu chuyện dài hơn con người. Con người đặt dấu chấm ở Golgotha, Thiên Chúa viết tiếp buổi sáng Phục Sinh. Con người lăn tảng đá bịt cửa mồ, Thiên Chúa mở mồ ra. Con người niêm phong ngôi mộ, Thiên Chúa khiến sự sống bước ra khỏi nơi chết chóc. Và sách Khải Huyền kéo đường dây của biến cố ấy đến tận ngày viên mãn: chiến thắng khởi đầu trong buổi sáng Phục Sinh sẽ được hoàn tất khi mọi quyền lực chống lại sự sống bị tiêu diệt, và “tử thần sẽ không còn nữa”.
Tin Mừng Gioan đã ghi lại một khoảnh khắc thật đẹp để giúp chúng ta hiểu điều đó. Khi Mácta đau đớn vì Ladarô đã chết, chị nói với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết.” Đó là tiếng than của biết bao con người. Nếu Chúa ở đây, sao điều này lại xảy ra? Nếu Chúa yêu con, sao người con thương lại ra đi? Nếu Chúa quyền năng, sao Chúa không ngăn đau khổ? Đức Giêsu không đưa cho Mácta một bài giải thích triết học dài dòng. Người nói một câu làm rung chuyển mọi nấm mồ của lịch sử: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11,25-26). Sau đó, điều rất đáng chú ý là Đức Giêsu đã khóc trước mộ Ladarô. Người biết Người sắp cho Ladarô sống lại, vậy mà Người vẫn khóc. Thiên Chúa của chúng ta không đứng xa nước mắt con người. Người bước vào nước mắt. Người không nói: “Đừng buồn, có gì đâu.” Không. Đức Giêsu khóc. Nhưng nước mắt của Người không phải nước mắt tuyệt vọng. Đó là nước mắt của Đấng sắp bước đến cửa mồ và gọi: “Ladarô, hãy ra khỏi mồ!” Cảnh Tin Mừng ấy là một hình ảnh thu nhỏ của toàn bộ lịch sử cứu độ: Thiên Chúa đứng bên nhân loại đang khóc trước mồ, rồi chính Người bước vào mồ để từ bên trong phá tung quyền lực của sự chết.
Khải Huyền đưa chúng ta tới đỉnh cao của lời hứa ấy. Gioan nhìn thấy “trời mới đất mới”. Biển không còn nữa, theo ngôn ngữ biểu tượng nghĩa là thế giới hỗn mang và quyền lực đe dọa đã qua đi. Thành thánh Giêrusalem mới từ trời xuống, được trang điểm như tân nương dành cho tân lang. Và rồi một tiếng lớn từ ngai phán: “Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại. Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (x. Kh 21,3-4). Có lẽ giữa tất cả những lời hứa của Kinh Thánh, ít lời nào dịu dàng như câu “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ”. Không chỉ nói nước mắt sẽ tự khô. Chính Thiên Chúa lau. Hãy hình dung bàn tay của Thiên Chúa đi qua từng khuôn mặt nhân loại, lau những giọt nước mắt mà không ai khác có thể lau nổi: nước mắt của người mẹ mất con, nước mắt của người chồng mất vợ, nước mắt của đứa trẻ lớn lên thiếu cha mẹ, nước mắt của người bệnh đã chịu đau quá lâu, nước mắt của người bị phản bội, nước mắt của những người đã sống cả đời trong cô độc, nước mắt của những người chết không ai biết đến, nước mắt của những vị tử đạo, nước mắt của bao thế hệ nạn nhân chiến tranh. Không giọt nào bị Thiên Chúa quên. Không nỗi đau nào biến mất khỏi ký ức của Người. Và ngày sau hết, Thiên Chúa không chỉ giải thích những giọt nước mắt ấy. Người lau chúng đi.
Đó là lý do niềm hy vọng Kitô giáo khác với sự lạc quan dễ dãi. Lạc quan nói: chắc rồi mọi sự sẽ tốt đẹp. Hy vọng Kitô giáo nói: ngay cả khi mọi sự chưa tốt đẹp, ngay cả khi tôi đang đi qua thung lũng tối, tôi biết kết thúc nằm trong tay Đấng đã chịu đóng đinh và phục sinh. Chúng ta không biết hết con đường, nhưng biết Người đang đứng ở cuối con đường. Chúng ta không hiểu mọi đau khổ, nhưng biết đau khổ không có tiếng nói cuối cùng. Chúng ta không tránh được cái chết thể lý, nhưng tin cái chết không còn quyền sở hữu chúng ta. Người Kitô hữu cũng chết như mọi người. Tim họ cũng ngừng đập. Thân xác họ cũng trở về bụi đất. Người thân của họ cũng khóc. Đức tin không biến tang lễ thành một ngày hội giả tạo. Nhưng tận đáy nỗi buồn có một sợi chỉ vàng của hy vọng: người này thuộc về Đức Kitô, mà Đức Kitô đã đi qua sự chết. Vì thế Thánh Phaolô mới dám nói rằng chúng ta không buồn “như những người không có niềm hy vọng”. Không phải không buồn, nhưng không tuyệt vọng.
Khải Huyền còn cho ta thấy điều đáng kinh ngạc hơn nữa: cái chết cũng sẽ chết. “Kẻ thù cuối cùng bị tiêu diệt là sự chết”, Thánh Phaolô nói như thế; Khải Huyền diễn tả bằng hình ảnh tử thần và âm phủ bị quăng vào hồ lửa (x. Kh 20,14). Tử thần, kẻ từ thuở Ađam đã nuốt hết thế hệ này đến thế hệ khác, cuối cùng cũng bị kết án. Nó đã từng bước vào mọi cung điện và túp lều, bắt cả vua chúa lẫn người nghèo, không nể tuổi tác, địa vị, trí tuệ hay tiền bạc. Nhưng sẽ có một ngày tử thần không còn người nào để bắt nữa. Sự chết không thuộc về công trình sáng tạo nguyên thủy như một ông chủ có quyền tuyệt đối trên con người. Thiên Chúa là Thiên Chúa của sự sống. Bởi vậy, lịch sử không kết thúc trong một nghĩa trang khổng lồ. Lịch sử kết thúc trong thành thánh của Thiên Chúa, nơi cây sự sống trổ sinh hoa trái, nơi dòng nước sự sống chảy ra, nơi các tôi tớ Thiên Chúa nhìn thấy dung nhan Người. Chương cuối của Kinh Thánh không phải chương về một ngôi mộ. Đó là chương về một khu vườn, một dòng sông, một thành thánh, ánh sáng và sự sống. Thật đẹp khi nghĩ rằng Kinh Thánh bắt đầu bằng vườn Êđen với cây sự sống và kết thúc bằng Giêrusalem mới, nơi cây sự sống lại xuất hiện. Những gì tội lỗi đã làm tan vỡ, Đức Kitô phục hồi. Những gì Ađam đánh mất, Ađam mới đem lại. Và con đường đi từ vườn địa đàng đã mất tới thành thánh vĩnh cửu đi ngang qua một cây khác: cây Thánh Giá.
Vì thế Thánh Giá có thể được gọi là cây sự sống mới. Nhìn bên ngoài, nó là cây tử hình. Người Rôma dựng nó lên để làm nhục và tiêu diệt con người. Nhưng khi Đức Kitô bị treo trên đó, cây chết trở thành cây ban sự sống. Từ cạnh sườn Người chảy ra máu và nước. Từ cái chết Người phát sinh Hội Thánh. Từ sự tự hiến Người, một nhân loại mới được khai sinh. Thánh Giá đứng giữa lịch sử như nghịch lý vĩ đại nhất: nơi con người tưởng mình đã giết được Thiên Chúa lại trở thành nơi Thiên Chúa cứu con người; nơi sự chết tưởng mình nuốt được Sự Sống lại chính là nơi sự chết bắt đầu bị đánh bại. Ma quỷ tưởng ngày Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày nó chiến thắng. Nhưng chính lúc Đức Giêsu buông lời “Thế là đã hoàn tất”, bản án của sự dữ đã được ký. Phục Sinh là bình minh của chiến thắng, còn Khải Huyền cho thấy buổi trưa viên mãn của chiến thắng ấy.
Thế nhưng câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: nếu Đức Kitô đã thắng, tại sao hôm nay cái chết vẫn còn? Tại sao nghĩa trang vẫn đầy thêm? Tại sao bệnh viện vẫn có những tiếng khóc? Đây chính là căng thẳng của đời sống Kitô hữu: đã chiến thắng nhưng chưa hoàn tất. Satan đã bị đánh bại căn bản nhưng vẫn còn hoạt động trong thời gian được cho phép. Sự chết đã bị tước mất quyền lực tối hậu nhưng vẫn còn là kinh nghiệm mà chúng ta phải đi qua. Đức Kitô đã phục sinh, nhưng chúng ta đang đợi ngày thân xác mình cũng được phục sinh. Ta sống giữa buổi sáng Phục Sinh và ngày trời mới đất mới. Ta đã thấy ánh sáng, nhưng vẫn còn bước qua những miền tối. Chính trong khoảng thời gian này, đức tin được thử luyện. Nếu mọi sự hoàn tất ngay lập tức, chúng ta không cần hy vọng nữa. Hy vọng là tin vào điều Thiên Chúa hứa dù mắt mình chưa thấy trọn vẹn.
Điều đó giúp chúng ta hiểu tại sao Thánh Giá vẫn cần trong đời người Kitô hữu. Chúa Giêsu không nói: “Ai muốn theo Thầy, Thầy sẽ lấy mọi thập giá khỏi đời người ấy.” Người nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” Nhưng vác thập giá không có nghĩa là yêu đau khổ, càng không phải đi tìm khổ đau. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Chúng ta thờ Đấng chịu đóng đinh vì yêu. Điểm quan trọng không phải cái đau mà là tình yêu trong cái đau. Hai người có thể chịu cùng một gian truân nhưng sống hoàn toàn khác nhau: một người để đau khổ biến mình thành cay độc, người kia để đau khổ mở lòng mình ra cho Thiên Chúa và tha nhân. Thập giá chỉ trở nên Thánh Giá khi được kết hợp với Thánh Giá của Đức Kitô. Đau khổ tự nó không cứu độ. Đức Kitô cứu độ. Nhưng khi nỗi đau của ta được đặt trong tay Người, ngay cả những gì tưởng là vô nghĩa cũng có thể được Người dùng để sinh hoa trái.
Khải Huyền nói nhiều về những người “đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên”. Đó lại là một nghịch lý: giặt trong máu mà thành trắng. Ngôn ngữ ấy không phải hóa học, mà là ngôn ngữ cứu độ. Máu Con Chiên là tình yêu tự hiến của Đức Kitô. Những người thuộc về Người không nhất thiết là những người chưa từng đau khổ. Ngược lại, họ là những người “đã trải qua cơn thử thách lớn lao”. Họ đi vào vinh quang không phải bằng cách né tránh mọi gian truân, nhưng bằng sự trung thành giữa gian truân. Một vị tử đạo không chiến thắng vì người ấy không chết. Vị tử đạo chiến thắng ngay trong cái chết vì kẻ giết được thân xác không giết được tình yêu, không giết được đức tin, không cắt đứt được người ấy khỏi Đức Kitô. Đây là một sự đảo ngược mà thế gian khó hiểu: kẻ hành hình tưởng mình thắng vì người Kitô hữu nằm xuống; Khải Huyền nói chính người đã nằm xuống ấy mới là kẻ chiến thắng.
Trong cuộc sống hằng ngày, ta ít khi đối diện với tử đạo đổ máu, nhưng có những cuộc “tử đạo” âm thầm. Một người mẹ chăm đứa con bệnh nhiều năm, đêm này sang đêm khác, mệt mỏi nhưng không bỏ cuộc. Một người chồng giữ lòng chung thủy giữa những thử thách chẳng ai biết. Một linh mục vẫn đi thăm người bệnh, ngồi tòa giải tội, dâng lễ và phục vụ trong những ngày tâm hồn khô khan, bị hiểu lầm, cô độc. Một tu sĩ kiên trì với lời khấn khi sự hăng hái thuở ban đầu đã qua. Một người trẻ từ chối gian dối dù phải chịu thiệt. Một người bị xúc phạm nhưng chọn không trả thù. Một người già nằm bất động, không làm được gì như trước, nhưng mỗi sáng vẫn thì thầm: “Lạy Chúa, con dâng ngày hôm nay cho Chúa.” Đó là những mảnh Thánh Giá rất nhỏ, nhưng nếu kết hợp với Đức Kitô, chúng đang tham dự vào chiến thắng của Con Chiên. Khải Huyền dạy ta nhìn lịch sử không theo tiếng vỗ tay của thế gian mà theo cái nhìn của Thiên Chúa. Có những người dưới đất chẳng ai biết tên, nhưng trên trời tên họ đã được viết trong sách sự sống. Có những hy sinh dưới đất không ai cảm ơn, nhưng trước ngai Con Chiên, không một chén nước vì yêu nào bị quên lãng.
Có lẽ nỗi sợ lớn nhất của con người trước cái chết không chỉ là sợ đau, mà là sợ bị xóa khỏi đời. Sợ rằng một ngày chẳng còn ai nhớ mình. Những tấm ảnh rồi phai, thế hệ sau không còn biết mặt, căn nhà mình từng sống sẽ sang tay, đồ vật mình trân quý sẽ thuộc về người khác. Một trăm năm nữa, phần lớn chúng ta sẽ chỉ còn là một cái tên nếu còn có ai nhắc. Nhưng Khải Huyền nói về “sách sự sống”. Hình ảnh ấy nói một điều rất dịu dàng: Thiên Chúa nhớ. Nếu tên tôi được viết trong trái tim Thiên Chúa, tôi không biến mất. Con người có thể quên tôi; Thiên Chúa không quên. Ngay cả thân xác tan thành bụi, Đấng đã gọi vũ trụ từ hư vô có quyền gọi tôi sống lại. Niềm tin vào sự sống lại của thân xác là một trong những niềm tin táo bạo nhất của Kitô giáo. Ta không chỉ tin linh hồn sống mãi theo một cách mơ hồ. Ta tin rằng toàn thể con người được cứu. Thân xác này, đã từng ôm người mình thương, từng làm việc, từng quỳ cầu nguyện, từng đau đớn, từng mang sẹo, sẽ được biến đổi trong quyền năng phục sinh của Đức Kitô. “Này Ta đổi mới mọi sự” — Đấng ngự trên ngai tuyên bố như thế trong Khải Huyền. Không phải Ta vứt bỏ mọi sự để làm một thế giới khác chẳng liên quan. Ta đổi mới mọi sự.
Điều này làm cho cách chúng ta nhìn thân xác, cuộc đời và thế giới cũng thay đổi. Nếu Thiên Chúa sẽ phục sinh thân xác, thân xác không phải đồ bỏ. Nếu Thiên Chúa sẽ làm trời mới đất mới, thế giới này không phải thứ ta được quyền phá hoại rồi mặc kệ. Nếu những hành vi yêu thương của ta được mang vào vĩnh cửu, thì hôm nay không có việc thiện nào vô nghĩa. Kitô hữu chờ ngày tận thế không phải bằng việc khoanh tay nhìn trời, nhưng bằng cách sống ngay hôm nay như công dân của Giêrusalem mới. Nghĩa là ở nơi còn nước mắt, ta tập lau nước mắt. Ở nơi còn bạo lực, ta tạo hòa bình. Ở nơi còn gian dối, ta sống sự thật. Ở nơi còn cô đơn, ta ở bên người cô đơn. Ở nơi còn chết chóc, ta bảo vệ sự sống. Mỗi việc ấy là một dấu chỉ rất nhỏ báo trước thế giới mà Thiên Chúa sẽ hoàn tất.
Sách Khải Huyền cũng cho thấy chiến thắng cuối cùng không thuộc về con người tự mình tạo ra. Thế giới hiện đại nhiều lần đã mơ xây thiên đường bằng khoa học, chính trị, kinh tế, kỹ thuật. Những tiến bộ ấy có giá trị lớn. Y khoa cứu vô số người. Công nghệ giúp con người làm những điều các thế hệ trước không thể tưởng tượng. Nhưng không phát minh nào giải quyết được tận căn cái chết. Ta có thể kéo dài tuổi thọ, nhưng không thể tự mình ban sự sống đời đời. Ta có thể giảm đau, nhưng không thể xóa hết nước mắt nhân loại. Ta có thể xây những thành phố tráng lệ, nhưng không thể tự xây Giêrusalem thiên quốc. Điều này không làm con người bi quan; nó làm con người khiêm nhường. Ơn cứu độ là quà tặng. Vinh quang cuối cùng là việc Thiên Chúa làm. Chúng ta cộng tác, nhưng Con Chiên mới là Đấng cứu.
Bởi vậy giữa trung tâm Khải Huyền vang lên những bài ca: “Con Chiên đã bị giết nay xứng đáng lãnh nhận quyền năng, phú quý, khôn ngoan, dũng lực, danh dự, vinh quang và lời chúc tụng.” Thiên đàng của Khải Huyền không thể quên Thánh Giá. Con Chiên được ca tụng chính vì đã bị sát tế. Điều này có nghĩa là khi lịch sử kết thúc, chúng ta sẽ khám phá rằng trung tâm của vũ trụ không phải quyền lực mà là tình yêu. Cuối cùng không phải kẻ mạnh nhất thắng mà là Tình Yêu thắng. Không phải bạo lực có tiếng cuối cùng mà lòng thương xót có tiếng cuối cùng. Không phải mồ mả có tiếng cuối cùng mà Đức Kitô có tiếng cuối cùng. Và lời cuối cùng của Người không phải “chết”, mà là “sống”.
Tôi vẫn nghĩ rằng một trong những hình ảnh gây xúc động nhất trong đời sống Hội Thánh là Thánh Giá được đặt bên cạnh quan tài người Kitô hữu. Có khi giữa những vòng hoa đẹp, giữa ánh nến và những lời phân ưu, cây Thánh Giá nhỏ bé ấy lại nói nhiều nhất. Nó nói với người nằm trong quan tài: con đường của anh, của chị không dừng ở đây. Nó nói với gia đình: người thân của anh chị đã đi vào nơi Đức Kitô từng đi trước. Nó nói với cộng đoàn: hãy cầu nguyện nhưng đừng tuyệt vọng. Nó nói với cái chết: ngươi không còn là ông chủ. Bởi trên chính dụng cụ tử hình này, Chúa của sự sống đã chiến thắng.
Chúng ta thường xin Chúa cho mình “chết lành”. Chết lành không nhất thiết là chết không đau, không bệnh, không bất ngờ, dù ai cũng mong được ra đi bình an. Cái chết lành sâu xa hơn: là chết trong Đức Kitô. Là có thể trao đời mình vào tay Cha như Đức Giêsu: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Có lẽ trong giây phút cuối đời, nhiều thứ từng khiến ta bận tâm sẽ chẳng còn quan trọng. Tài khoản ngân hàng còn bao nhiêu không còn quan trọng. Ai khen mình, ai chê mình không còn quan trọng. Mình đã thắng bao nhiêu cuộc tranh luận không còn quan trọng. Một câu hỏi sẽ trở nên rất lớn: tôi đã yêu chưa? Tôi đã để cho Chúa yêu tôi chưa? Tôi có thuộc về Con Chiên không? Nếu câu trả lời là có, ta có lý do để đi qua cánh cửa cuối cùng trong bình an, bởi bên kia không phải một khoảng không lạnh lẽo nhưng là Đấng đã nói: “Đừng sợ. Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống. Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chìa khóa của Tử thần và Âm phủ” (x. Kh 1,17-18).
“Ta giữ chìa khóa.” Chỉ mấy chữ thôi đủ để nâng đỡ một đời người. Chìa khóa không nằm trong tay tử thần. Chìa khóa nằm trong tay Đức Kitô. Nấm mồ không tự quyết định ai ở trong đó mãi mãi. Đức Kitô giữ chìa khóa. Đời ta không rơi vào một vực tối vô chủ. Đức Kitô giữ chìa khóa. Người thân ta ra đi không biến mất vào một nơi Thiên Chúa không với tới được. Đức Kitô giữ chìa khóa. Khi bác sĩ bất lực, khi gia đình không còn làm được gì, khi bàn tay cuối cùng phải buông bàn tay người mình thương, vẫn còn một bàn tay khác không buông: bàn tay mang dấu đinh của Đức Kitô.
Có lẽ chúng ta cần trở lại nhiều lần với chân lý ấy trong một thời đại vừa rất mạnh vừa rất sợ chết. Người ta cố giấu tuổi già, giấu bệnh tật, giấu nghĩa trang, tránh nói về cái chết, như thể không nói thì nó sẽ không đến. Nhưng người Kitô hữu có thể nhìn sự chết mà không cần giả vờ mạnh mẽ. Ta có thể sợ. Chúa Giêsu trong Vườn Cây Dầu cũng đã xao xuyến. Ta có thể khóc. Chúa Giêsu cũng khóc. Đức tin không đòi chúng ta biến thành đá. Đức tin chỉ mời gọi chúng ta nắm lấy bàn tay Đức Kitô ngay trong run rẩy. Can đảm Kitô giáo không phải là không biết sợ, mà là biết mình thuộc về ai trong khi sợ.
Và vì biết sự chết không phải tiếng nói cuối cùng, chúng ta càng phải sống cuộc đời hiện tại cho thật sâu. Có người nghĩ tin vào đời sau khiến người ta xem nhẹ đời này. Đúng ra phải ngược lại. Chính vì đời này được mang vào vĩnh cửu, từng phút càng quý. Chính vì người trước mặt tôi có một phẩm giá đời đời, tôi không được xúc phạm họ. Chính vì tình yêu không chết, tôi phải yêu ngay hôm nay. Chính vì ngày mai không chắc thuộc về tôi, tôi cần tha thứ khi còn có thể, nói lời xin lỗi khi còn kịp, nói lời yêu thương khi người kia còn nghe được, trở về với Chúa khi trái tim còn đập. Có biết bao người đứng trước quan tài mới hối tiếc những câu chưa nói, những cái ôm đã trì hoãn, những cuộc hòa giải cứ hẹn ngày mai. Khải Huyền hướng ta về ngày sau hết không phải để ta chạy khỏi hiện tại, nhưng để ta sống hiện tại tỉnh thức hơn.
“Phúc thay những người chết mà được chết trong Chúa,” sách Khải Huyền nói, “họ sẽ được nghỉ ngơi khỏi những gian lao của mình, vì các việc họ làm vẫn theo họ.” Các việc họ làm vẫn theo họ! Ta không mang theo tiền bạc, nhà cửa hay chức danh, nhưng tình yêu đi theo ta. Một đời chăm sóc người khác đi theo ta. Một lời tha thứ đi theo ta. Những thánh lễ âm thầm, những giờ cầu nguyện, những hy sinh chẳng ai nhìn thấy, những lần ta lựa chọn điều đúng khi làm điều sai dễ hơn, tất cả đi theo ta. Không phải vì ta mua được thiên đàng bằng công trạng, nhưng vì ân sủng Đức Kitô làm cho cuộc đời ta sinh hoa trái vĩnh cửu.
Nhìn như thế, Thánh Giá không còn là một vật trang trí treo trên tường nhà hay trước ngực. Nó là lời tiên tri về số phận cuối cùng của mọi sự. Mỗi lần làm dấu Thánh Giá, ta tuyên xưng rằng tình yêu mạnh hơn cái chết. Mỗi lần hôn kính Thánh Giá, ta hôn dấu chỉ của chiến thắng. Mỗi lần ngước nhìn Đức Giêsu bị đóng đinh giữa một ngày quá đau, ta có quyền nói: đây không phải phần cuối câu chuyện của tôi. Có thể hôm nay tôi đang ở Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng lịch của Thiên Chúa còn Chúa Nhật Phục Sinh. Có thể hôm nay tảng đá đang đóng kín trước cửa mồ một ước mơ, một mối quan hệ, một người thân, một giai đoạn đời, nhưng Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa có thể làm sự sống nảy sinh từ nơi tôi chỉ thấy chết chóc. Không phải mọi điều mất đi trong đời này sẽ trở lại đúng hình dạng tôi mong, nhưng không một giọt tình yêu nào dâng cho Thiên Chúa bị mất.
Ngày cuối cùng sẽ đến. Không ai biết ngày nào. Những đế quốc tưởng bất diệt rồi cũng qua. Những thành phố vĩ đại cũng có ngày thay đổi. Những nền văn minh từng nghĩ mình là trung tâm vũ trụ đã trở thành trang sách lịch sử. Cả trái đất mà chúng ta đang sống cũng không phải quê hương vĩnh viễn trong hình thức hiện tại. Nhưng người Kitô hữu không chờ kết thúc bằng nỗi kinh hoàng. Ta chờ một Đấng. “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến.” Câu cuối của Kinh Thánh gần như là một tiếng gọi của cô dâu chờ chàng rể. Tận thế, trong cái nhìn Kitô giáo, không đơn thuần là thế giới bị phá hủy; đó là cuộc gặp gỡ cuối cùng giữa Đức Kitô và tạo thành mà Người đã cứu chuộc. Đó là lúc mọi mặt nạ rơi xuống, mọi bất công được đưa ra ánh sáng, mọi nước mắt được lau, mọi kẻ chết được gọi dậy, mọi điều kín ẩn được phơi bày trước tình yêu và công lý của Thiên Chúa.
Lúc ấy, Thánh Giá sẽ được hiểu trọn vẹn. Những câu hỏi ta chưa giải nổi hôm nay sẽ được nhìn trong ánh sáng. Có những lần ta từng hỏi: “Tại sao Chúa để chuyện này xảy ra?” Có thể đời này ta không nhận được một câu trả lời đủ làm trí óc thỏa mãn. Nhưng trong ngày ấy, khi nhìn thấy Đấng mang thương tích đang ngự trên ngai, ta sẽ biết rằng Người chưa bao giờ đứng ngoài nỗi đau của ta. Chính những vết thương của Người là câu trả lời sâu nhất. Thiên Chúa không cứu ta bằng lời giải thích từ xa. Người cứu ta bằng việc đi xuống tận cùng vực thẳm nơi ta ngã xuống và mang ta lên.
Và đó là điều thấm thía nhất: Đức Kitô không chỉ chiến thắng sự chết nói chung. Người chiến thắng cái chết của tôi. Đức tin Kitô giáo luôn rất cá vị ở chỗ ấy. Tôi sẽ chết. Không ai chết thay tôi được. Dù quanh giường có đông người thương, có một bước tôi phải đi một mình. Nhưng rồi ta nhận ra ta không đi một mình, vì Đức Giêsu đã đi con đường ấy. Không có bóng tối nào của cái chết mà dấu chân Người chưa đi qua. Không có cánh cửa nào ta phải mở mà Người chưa bước qua trước. Ngài không đứng bên này bảo ta: “Đi đi.” Người đứng bên kia nói: “Hãy đến.”
Bởi vậy, khi chuông nhà thờ ngân lên báo một người vừa lìa đời, trong tiếng chuông có nỗi buồn nhưng cũng có Phục Sinh. Khi linh mục rảy nước thánh trên quan tài, đó là nhắc lại bí tích Rửa Tội: người này đã chết và sống lại với Đức Kitô. Khi hương được xông quanh thân xác, Hội Thánh kính trọng thân xác từng là đền thờ Chúa Thánh Thần và đang chờ ngày sống lại. Khi cộng đoàn hát Alleluia trong tang lễ dù nghẹn ngào, đó không phải là vô cảm mà là một hành vi đức tin hết sức can đảm: ngay trước xác chết, Hội Thánh dám hát về sự sống.
Có thể đó là một trong những chứng từ đẹp nhất Kitô giáo trao cho thế giới: giữa nghĩa trang, vẫn nói Alleluia; giữa nước mắt, vẫn nói “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”; giữa những ngôi mộ, vẫn dựng Thánh Giá. Không phải vì chúng ta ngây thơ, mà vì một ngôi mộ đã thật sự trống. Tất cả Kitô giáo đứng hoặc ngã trên biến cố ấy. Nếu Đức Kitô không sống lại, mọi điều ta nói chỉ là sự an ủi đẹp. Nhưng nếu Người thực sự đã phục sinh, thì cả vũ trụ đã đổi chiều. Sự chết vẫn còn dữ dằn, nhưng đã bị thương chí tử. Nó vẫn cắn, nhưng không còn nuốt được những ai thuộc về Đức Kitô mãi mãi.
Rồi đến ngày Con Chiên hoàn tất mọi sự, sẽ không còn tiếng còi xe cứu thương lúc nửa đêm. Không còn phòng hồi sức nơi gia đình đứng sau lớp kính chờ một tin dữ. Không còn những đứa trẻ hỏi mẹ tại sao cha không về. Không còn chiến trường. Không còn quan tài nhỏ khiến người lớn không biết phải nói gì. Không còn ung thư. Không còn Alzheimer lấy mất ký ức người ta từng chút một. Không còn những tiếng nấc trong nhà tang lễ. Không còn nghĩa trang phải đào thêm huyệt mới. “Sẽ không còn sự chết.” Chúng ta đọc câu ấy quá quen đến mức có thể không thấy nó kinh khủng đến mức nào đối với quyền lực tử thần và dịu dàng đến mức nào với những người đang đau.
Ngày ấy, biết bao cuộc đoàn tụ mà ta không thể hình dung sẽ diễn ra trong Thiên Chúa. Nhưng điều lớn hơn cả việc gặp lại nhau là được nhìn thấy chính Người. Khải Huyền nói: “Họ sẽ được nhìn thấy tôn nhan Người.” Tận cùng của cứu độ không chỉ là ta lấy lại những gì từng mất. Tận cùng cứu độ là Thiên Chúa. Chính Người là quê hương của lòng người. Bao nhiêu khao khát dưới thế, sâu xa hơn ta tưởng, đều là một cơn khát Thiên Chúa. Ta tìm tình yêu vì được dựng nên cho Tình Yêu. Ta sợ chết vì được dựng nên cho sự sống. Ta đau trước chia lìa vì được dựng nên cho hiệp thông. Ngày ấy, cơn đói cổ xưa của lòng người được no đầy.
Và khi nhìn lại con đường mình đã đi, có lẽ ta sẽ kinh ngạc vì thấy những nơi từng tưởng Thiên Chúa vắng mặt lại là nơi Người ở gần nhất. Những Thánh Giá đã làm ta khóc có thể trở thành những cánh cửa. Những thất bại đã khiến ta khiêm nhường. Những mất mát dạy ta yêu điều vĩnh cửu. Những đêm tối buộc ta bỏ những chỗ dựa giả tạo để bám vào Chúa. Không phải vì sự dữ trở thành tốt, nhưng vì Thiên Chúa đủ quyền năng để không cho sự dữ có tiếng nói cuối cùng. Người không cần gọi bóng tối là ánh sáng; Người thắp ánh sáng ngay trong bóng tối.
Thế nên, người Kitô hữu có thể sống giữa một thế giới còn nhiều cái chết mà không để cho tinh thần sự chết thống trị mình. Mỗi khi ta chọn yêu thay vì ghét, ta đứng về phía Con Chiên. Mỗi khi ta tha thứ thay vì báo thù, ta đứng về phía Con Chiên. Mỗi khi ta bảo vệ một sự sống yếu đuối, ta đứng về phía Con Chiên. Mỗi khi ta ở bên một người hấp hối để họ không chết trong cô độc, ta đứng về phía Con Chiên. Mỗi khi ta dám mất một chút bản thân vì người khác, quyền lực Phục Sinh đang âm thầm hoạt động trong ta. Cuộc chiến trong Khải Huyền không chỉ diễn ra ở một tương lai xa xôi. Nó đang đi xuyên qua trái tim mỗi người hôm nay: tôi thuộc về văn hóa sự sống hay văn hóa sự chết, thuộc về Con Chiên hay những con thú của quyền lực, ích kỷ và bạo lực?
Và có lẽ điều Hội Thánh cần nói với thế giới hôm nay không phải trước tiên là “hãy sợ ngày tận thế”, mà là: hãy hy vọng, bởi sự chết không phải tận cùng. Hãy sống cho đáng sống bởi đời này có giá trị đời đời. Hãy yêu nhau khi còn có thể. Hãy trở về với Chúa khi cánh cửa lòng còn mở. Hãy đặt những người đã chết vào lòng thương xót của Người. Hãy đừng để nấm mồ làm ta nghĩ rằng Thiên Chúa thất bại. Hãy nhìn cây Thánh Giá, rồi nhìn ngôi mộ trống.
Ngày Đức Giêsu chết, người ta nghĩ một người đã bị loại khỏi lịch sử. Hôm nay, lịch sử tính thời gian quanh Người. Ngày Đức Giêsu được chôn, người ta đặt một tảng đá trên mồ như muốn khép lại mọi chuyện. Sáng ngày thứ nhất trong tuần, chính tảng đá ấy trở thành nhân chứng câm lặng rằng không gì có thể nhốt Sự Sống. Và ngày viên mãn, điều xảy ra nơi ngôi mộ Đức Kitô sẽ lan tỏa tới toàn thể công trình sáng tạo: sự sống sẽ thắng.
Bởi vậy, xin cho mỗi lần ngước nhìn Thánh Giá, ta đừng chỉ thấy những chiếc đinh. Hãy nhìn xa hơn những chiếc đinh để thấy bình minh Phục Sinh. Đừng chỉ thấy mão gai; hãy thấy vương miện của Con Chiên. Đừng chỉ thấy Máu chảy; hãy thấy dòng nước sự sống. Đừng chỉ thấy một người đang hấp hối; hãy thấy Chúa của lịch sử đang tước quyền tử thần. Đừng chỉ nghe tiếng “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?”; hãy nghe tiếp lời “Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha.” Đừng chỉ nhìn chiều Thứ Sáu; hãy nhớ sáng Chúa Nhật. Và đừng bao giờ đọc chương đau khổ hiện tại của cuộc đời như thể đó là chương cuối cùng, bởi chương cuối đã được Khải Huyền cho ta thấy: không phải con rồng, không phải con thú, không phải Babylon, không phải đau khổ, không phải sự chết đứng ở trung tâm. Con Chiên đứng đó.
Con Chiên đã bị sát tế mà đang sống.
Đức Kitô chịu đóng đinh mà đang hiển trị.
Những vết thương vẫn còn mà sự chết đã bị đánh bại.
Và cuối cùng, trên tất cả những nghĩa trang của nhân loại, trên mọi tiếng khóc, trên mọi cuộc chia lìa, trên mọi căn phòng nơi con người từng thì thầm lời vĩnh biệt, sẽ vang lên lời của Đấng ngự trên ngai: “Này đây Ta đổi mới mọi sự.”
Đó là tương lai của người tin.
Đó là bí mật của Thánh Giá.
Đó là chiến thắng của Con Chiên.
Và đó là niềm hy vọng không bao giờ làm chúng ta phải thất vọng: sự chết sẽ chết, còn Tình Yêu thì sống mãi.
Lm. Anmai, CSsR

VŨ TRỤ ĐƯỢC CỨU ĐỘ QUA THÁNH GIÁ – THẦN HỌC TẠO DỰNG VÀ CỨU CHUỘC
Có những lúc đứng trước một buổi hoàng hôn, nhìn mặt trời đỏ dần rồi chìm xuống cuối chân trời, ta bỗng thấy lòng mình nhỏ lại. Một cánh chim đi về phía xa. Một cơn gió lướt trên ngọn cây. Một đám mây không biết từ đâu đến rồi cũng chẳng biết sẽ trôi về đâu. Đêm xuống, nếu đủ thinh lặng để ngước nhìn bầu trời đầy sao, con người bỗng nhận ra mình chỉ như một hạt bụi rất nhỏ trong một vũ trụ mênh mông đến mức trí óc không thể hình dung hết. Trái đất này đã là lớn đối với ta, nhưng trái đất lại chỉ là một hành tinh nhỏ bé. Mặt trời khổng lồ đối với trái đất, nhưng mặt trời cũng chỉ là một ngôi sao giữa vô số những ngôi sao. Thiên hà của chúng ta mênh mông, nhưng rồi thiên hà ấy cũng chỉ là một trong những thiên hà của vũ trụ. Và ngay giữa cái bao la đến choáng ngợp đó, đức tin Kitô giáo lại đặt trước mắt chúng ta một hình ảnh rất nhỏ bé, rất nghèo nàn, rất đau đớn: một con người bị đóng đinh trên một cây gỗ ở một ngọn đồi ngoài thành Giêrusalem. Không tiếng sấm long trời. Không đạo binh thiên quốc hiện ra để áp đảo nhân loại. Không một ngai vàng dát vàng. Không một dấu hiệu nào mà người đời vẫn quen gọi là vĩ đại. Chỉ có một người bị treo giữa trời và đất, hai tay giang rộng, thân thể đầy thương tích, đầu đội vòng gai, máu từ tay chân và cạnh sườn chảy xuống. Vậy mà đức tin của Hội Thánh lại dám tuyên xưng rằng chính từ cây Thánh Giá ấy mà vận mệnh của con người được thay đổi, lịch sử được đổi hướng và toàn thể tạo thành được dẫn đến sự viên mãn của mình trong Đức Kitô. Chuyện xem ra nghịch lý đến khó tin: một cây gỗ trên đồi Canvê lại trở thành điểm gặp gỡ của trời và đất; một cái chết diễn ra trong một góc nhỏ của đế quốc Rôma lại mang ý nghĩa cho cả vũ trụ; đôi bàn tay bị đóng đinh của một người Do Thái nghèo ở Galilê lại là đôi tay ôm lấy tất cả những gì Thiên Chúa đã dựng nên. Nhưng đó chính là mầu nhiệm Kitô giáo. Muốn hiểu tạo dựng, cuối cùng phải nhìn về Đức Kitô. Muốn hiểu cứu chuộc, phải nhìn lên Thánh Giá. Và muốn hiểu vận mệnh cuối cùng của vũ trụ, cũng phải đi qua cây Thánh Giá ấy.
Ngay những trang đầu tiên của Kinh Thánh, chúng ta đã nghe lời khẳng định đẹp đẽ: mọi sự Thiên Chúa dựng nên đều tốt đẹp. Ánh sáng là tốt đẹp. Biển cả là tốt đẹp. Đất đai, cây cối, chim trời, cá biển, súc vật là tốt đẹp. Con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa lại càng được Thiên Chúa nhìn bằng ánh mắt yêu thương. Điều này rất quan trọng. Kitô giáo không bao giờ xem vật chất là xấu xa. Thân xác không phải nhà tù của linh hồn. Trái đất không phải một nơi đáng khinh mà con người chỉ mong thoát khỏi càng nhanh càng tốt. Thế giới không phải một tai nạn. Vũ trụ không phải một sai lầm. Tất cả xuất phát từ tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa. Nếu một bông hoa có thể nở, bởi vì trước đó nó đã nằm trong ý muốn yêu thương của Đấng Tạo Hóa. Nếu một ngôi sao có thể cháy sáng hàng tỷ năm giữa khoảng không vô tận, bởi vì nó được giữ trong quyền năng của Thiên Chúa. Nếu một con chim có thể cất tiếng hót trong buổi sáng, một giọt sương có thể đọng trên lá, một đứa trẻ có thể mở mắt chào đời, một người mẹ có thể ôm con vào lòng, tất cả đều nói lên một điều căn bản: sự hiện hữu là một quà tặng. Được hiện hữu đã là được yêu. Không có gì tồn tại ngoài tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa.
Thế nhưng thế giới tốt đẹp ấy đã mang một vết thương. Con người phạm tội không chỉ làm tổn thương mối tương quan giữa mình với Thiên Chúa. Tội lỗi còn phá vỡ tương quan giữa con người với chính mình, giữa người với người, và giữa con người với thế giới tạo thành. Ađam trốn Thiên Chúa. Ađam đổ lỗi cho Eva. Eva đổ lỗi cho con rắn. Đất đai mọc gai góc. Lao động trở thành nặng nhọc. Sinh nở đi kèm đau đớn. Cuối cùng con người trở về với bụi đất. Một sự đổ vỡ lan ra toàn bộ cấu trúc của đời sống. Kể từ đó, trái đất vẫn đẹp nhưng vẻ đẹp ấy có nước mắt. Hoa vẫn nở nhưng rồi hoa tàn. Trẻ thơ vẫn sinh ra nhưng con người vẫn phải chết. Tình yêu vẫn có thật nhưng lòng người vẫn có thể phản bội. Biển vẫn xanh nhưng biển cũng có thể nuốt lấy con người. Thiên nhiên nuôi sống ta nhưng thiên nhiên cũng có động đất, bão tố, hạn hán, bệnh tật. Trong chính lòng tạo thành xuất hiện một tiếng rên xiết. Thánh Phaolô đã diễn tả rất mạnh: “Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người… Cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở” (x. Rm 8,19-22). Đó là một trong những hình ảnh đẹp nhất của thần học tạo dựng. Vũ trụ đang rên xiết, nhưng không phải như một người hấp hối hoàn toàn tuyệt vọng; vũ trụ rên xiết như một người mẹ chuyển dạ. Có đau đớn, nhưng phía sau đau đớn là một cuộc sinh thành. Có đổ vỡ, nhưng phía trước đổ vỡ là lời hứa phục hồi. Có thập giá, nhưng thập giá không phải lời cuối.
Và chính ở đây ta hiểu vì sao công trình cứu độ của Đức Kitô không thể bị thu nhỏ thành chuyện “cứu linh hồn vài người để đưa lên thiên đàng”. Dĩ nhiên Đức Kitô cứu từng con người. Người gọi từng người bằng tên. Người tha tội. Người chữa lành tâm hồn. Người mở cửa sự sống đời đời. Nhưng kế hoạch của Thiên Chúa lớn hơn rất nhiều. Thiên Chúa không dựng nên một vũ trụ rồi cuối cùng vứt bỏ nó như người ta vứt một món đồ đã hỏng. Thiên Chúa không dựng nên thân xác con người rồi sau đó chỉ cứu linh hồn. Người không dựng nên đất trời rồi cuối cùng phá bỏ hết để chỉ giữ lại một thế giới thuần túy thiêng liêng. Kinh Thánh nói đến “trời mới đất mới”. Kinh Thánh nói đến thân xác sống lại. Kinh Thánh nói đến toàn thể tạo thành được giải phóng khỏi cảnh hư nát. Cứu chuộc vì vậy không hủy bỏ tạo dựng nhưng hoàn tất tạo dựng. Ân sủng không triệt tiêu tự nhiên nhưng chữa lành và đưa tự nhiên đến sự viên mãn. Đức Kitô không đến để nói rằng công trình của Chúa Cha thất bại; Người đến để dẫn công trình sáng tạo của Chúa Cha đến cùng đích đã được dự định từ đời đời.
Thánh Gioan mở đầu Tin Mừng bằng một câu nghe như âm vang của sách Sáng Thế: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời.” Và rồi ngài nói một câu khủng khiếp về chiều sâu thần học: “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1,3). Như vậy Đấng bị đóng đinh trên đồi Canvê không phải một người xa lạ bước vào vũ trụ để sửa chữa một công trình không liên hệ đến mình. Người chính là Ngôi Lời mà nhờ Người mọi sự đã được tạo thành. Bàn tay bị đóng đinh ấy là bàn tay đã dựng nên vạn vật. Đôi mắt nhắm lại trong cái chết ấy là đôi mắt đã nhìn thấy toàn thể tạo thành từ thuở ban đầu. Trái tim bị lưỡi đòng đâm thâu ấy là trái tim của Ngôi Lời mà nhờ Người mọi sự được hiện hữu. Đây là điều làm cho Thánh Giá có chiều kích vũ trụ. Đấng chết trên Thánh Giá chính là Đấng mà trong Người mọi sự đã được tạo dựng. Vì thế khi Người bước vào sự chết, Người đi vào tận đáy của vết thương đang nằm trong lòng tạo thành để chữa lành nó từ bên trong.
Nếu chỉ nhìn Thánh Giá như một dụng cụ hành hình, ta sẽ thấy thất bại. Nếu chỉ nhìn bằng con mắt chính trị, đó là cái chết của một người bị nhà cầm quyền loại bỏ. Nếu nhìn bằng tâm lý, đó là bi kịch của một người bị bạn bè bỏ rơi. Nếu nhìn bằng y khoa, đó là một thân thể bị tra tấn đến kiệt sức. Nhưng trong ánh sáng đức tin, Canvê là nơi toàn bộ lịch sử tạo dựng được đưa đến một khúc ngoặt. Chính Đức Giêsu đã nói trong Tin Mừng Gioan: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,32). Gioan giải thích Người nói thế để ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào. Nhưng chữ “kéo” ở đây thật đẹp. Đức Giêsu không bị nâng lên khỏi thế giới để bỏ thế giới lại phía sau; Người được giương cao để kéo thế giới về với Thiên Chúa. Hai cánh tay Người giang ra không chỉ ôm lấy một dân tộc, một thế hệ, một nhóm người đạo đức. Trên Thánh Giá, cánh tay Đức Kitô rộng hơn mọi biên giới. Người ôm người công chính và kẻ tội lỗi. Người ôm người đang sống và những người đã chết. Người ôm lịch sử đã qua và tương lai chưa đến. Và trong chiều sâu của mầu nhiệm cứu độ, Người ôm lấy chính tạo thành đang rên xiết vì hư nát.
Một đoạn Tin Mừng khác cũng giúp chúng ta cảm nhận chiều kích này. Hôm ấy Đức Giêsu cùng các môn đệ xuống thuyền. Một trận cuồng phong nổi lên. Sóng ập vào thuyền đến nỗi thuyền đầy nước. Các môn đệ hoảng hốt, còn Người đang ngủ. Họ đánh thức Người: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?” Đức Giêsu thức dậy, ngăm đe gió và truyền cho biển: “Im đi! Câm đi!” Gió liền tắt và biển lặng như tờ (x. Mc 4,35-41). Đây không chỉ là một phép lạ để chứng minh quyền năng. Các môn đệ kinh ngạc hỏi nhau: “Người này là ai mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?” Câu hỏi ấy dẫn chúng ta về căn tính của Đức Kitô. Đấng đang đứng trong chiếc thuyền nhỏ trên biển hồ Galilê chính là Ngôi Lời sáng tạo. Thiên nhiên nhận ra tiếng của Đấng đã gọi nó vào hiện hữu. Nhưng có một điều còn sâu hơn. Một ngày kia, Đức Giêsu sẽ không chỉ đứng bên ngoài cơn bão để ra lệnh cho nó im. Người sẽ bước thẳng vào cơn bão lớn nhất của tạo thành: tội lỗi, đau khổ và sự chết. Và lần này Người không làm cho cơn bão biến mất bằng một lời quyền năng. Người để cơn bão đổ xuống trên chính mình. Gió của hận thù. Sóng của phản bội. Bóng tối của tội lỗi. Im lặng của mồ sâu. Người đi vào tất cả. Và chính bằng việc đi xuyên qua sự chết rồi sống lại, Người phá tan quyền lực cuối cùng đang giam cầm tạo thành.
Ta thường hỏi: tại sao Thiên Chúa không cứu thế giới bằng một cách dễ dàng hơn? Tại sao phải có Thánh Giá? Vì Thiên Chúa không đứng từ bên ngoài để sửa chữa thế giới như một người thợ sửa một chiếc máy. Thiên Chúa nhập thể. Người trở thành một phần của thế giới vật chất này. Người mang một thân xác. Người cần không khí để thở, nước để uống, bánh để ăn. Người đi trên đất. Người cảm nhận nắng nóng và giá lạnh. Người có thể đói, khát, mệt, đau. Ngôi Lời trở nên xác phàm nghĩa là Đấng Tạo Hóa bước vào chính công trình tạo dựng của mình. Một trái tim con người trở thành trái tim của Con Thiên Chúa. Máu con người trở thành máu của Ngôi Lời nhập thể. Thân xác được hình thành từ vật chất của trái đất trở thành thân thể của Đức Kitô. Và rồi thân thể ấy bị đóng đinh. Điều này có nghĩa rằng vật chất được đưa vào chính trung tâm của mầu nhiệm cứu độ. Gỗ trở thành Thánh Giá. Nước trở thành dấu chỉ của phép Rửa. Bánh và rượu trở thành Bí tích Mình và Máu Đức Kitô. Dầu được dùng để xức. Bàn tay được đặt trên đầu. Thân xác được phục sinh. Kitô giáo chưa bao giờ là đạo khinh chê vật chất. Trái lại, kể từ khi Ngôi Lời nhập thể, vật chất có thể trở thành nơi Thiên Chúa chạm đến con người.
Trên Canvê điều ấy đạt tới đỉnh cao. Người ta dựng cây Thánh Giá lên giữa trời và đất. Một chiều của Thánh Giá cắm xuống đất, một chiều vươn lên trời; hai cánh ngang mở ra hai phía. Hình ảnh đó từ lâu đã khiến Kitô hữu chiêm ngắm như biểu tượng của sự hòa giải toàn thể thực tại. Trời và đất gặp nhau. Thiên Chúa và nhân loại được giao hòa. Người với người được mời gọi hòa giải. Những gì bị tội lỗi phân tán được quy tụ trong Đức Kitô. Thánh Phaolô nói rằng Thiên Chúa đã muốn “nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình, nhờ máu Người đổ ra trên Thập Giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1,20). Ta đừng đọc câu này quá nhanh. “Muôn vật.” “Dưới đất.” “Trên trời.” “Máu Thập Giá.” Ở đây Thánh Giá vượt khỏi phạm vi số phận cá nhân. Máu Đức Kitô được Phaolô đặt vào trung tâm của một cuộc hòa giải mang chiều kích vũ trụ.
Nhưng nói “vũ trụ được cứu độ” không có nghĩa là ta nhân cách hóa các hành tinh hay tưởng tượng các ngôi sao cần lãnh bí tích. Ngôn ngữ thần học muốn nói rằng toàn bộ tạo thành, vốn được dựng nên trong Đức Kitô và hướng về Đức Kitô, sẽ được giải thoát khỏi sự hư nát và được đưa vào sự viên mãn phù hợp với ý định của Thiên Chúa. Mầu nhiệm cứu độ có trung tâm là con người nhưng không kết thúc ở con người. Con người là một phần của tạo thành. Thân xác con người được lấy từ bụi đất. Mỗi hơi thở của ta lệ thuộc vào cây cối, khí quyển, nước và vô số yếu tố khác của thế giới. Ta không phải một linh hồn rơi từ trời xuống và tạm trú trong thiên nhiên. Ta thuộc về trái đất. Vì thế khi con người sa ngã, mối tương quan của con người với tạo thành cũng bị méo mó. Và khi con người được cứu chuộc, mối tương quan ấy cũng phải được chữa lành.
Đây cũng là lý do một Kitô hữu không thể vừa quỳ trước Thánh Giá vừa thản nhiên hủy hoại công trình tạo dựng. Nếu Thánh Giá là nơi Đức Kitô hòa giải “muôn vật”, thì yêu mến Thánh Giá phải dẫn ta đến một thái độ mới đối với trái đất. Không phải thờ lạy thiên nhiên. Không biến sinh thái thành một thứ tôn giáo. Nhưng biết kính trọng công trình của Đấng Tạo Hóa. Một dòng sông không chỉ là nguồn lợi để khai thác. Một khu rừng không chỉ là số mét khối gỗ. Một ngọn núi không chỉ là mỏ khoáng sản. Một con vật không chỉ có giá trị khi nó đem lợi ích kinh tế cho con người. Tạo thành có giá trị trước hết bởi vì nó được Thiên Chúa muốn cho hiện hữu. Con người được trao quyền làm chủ trái đất, nhưng quyền ấy phải mang hình ảnh của quyền làm chủ nơi Đức Kitô: quyền phục vụ, chăm sóc, bảo vệ, chứ không phải quyền tàn phá.
Chính ở đây Thánh Giá phê phán sâu sắc lối sống tiêu thụ của con người hiện đại. Thế giới hôm nay có khả năng sản xuất nhiều hơn bao giờ hết nhưng cũng vứt bỏ nhiều hơn bao giờ hết. Ta biến cây thành hàng hóa, đất thành hàng hóa, nước thành hàng hóa, đôi khi biến luôn con người thành hàng hóa. Ta mua những thứ không cần, vứt những thứ vẫn còn dùng được, chạy theo tiện nghi rồi để lại cho thế hệ sau núi rác của tiện nghi hôm nay. Ta muốn hưởng thụ nhưng không muốn trả giá. Ta muốn sản xuất nhưng không muốn nghĩ đến hậu quả. Trong khi đó Thánh Giá cho thấy một logic hoàn toàn khác: logic của trao ban. Đức Kitô không chiếm hữu; Người tự hiến. Không tích lũy; Người trao chính mình. Không biến người khác thành phương tiện; Người biến chính mình thành tấm bánh cho người khác. Nếu tạo thành được cứu qua tình yêu tự hiến của Đức Kitô, thì con người cũng chỉ có thể sống đúng với tạo thành khi học lại sự tiết độ, biết đủ, biết chia sẻ và biết từ bỏ.
Có lẽ một trong những bi kịch lớn nhất của tội lỗi là nó làm con người tưởng mình là chủ tuyệt đối. “Đất của tôi.” “Tiền của tôi.” “Tài sản của tôi.” “Tôi muốn làm gì thì làm.” Nhưng đức tin nói khác: mọi sự là quà tặng. Ta đến thế giới này tay trắng và sẽ ra đi cũng tay trắng. Một mảnh đất có thể mang tên ta trên giấy tờ vài chục năm, nhưng nó đã có trước ta hàng triệu năm và sẽ còn ở đó sau khi tên ta bị quên lãng. Một căn nhà hôm nay gọi là nhà ta, ngày kia sẽ thuộc người khác. Một thân xác ta gọi là thân xác mình rồi cũng trở về bụi đất. Khi hiểu tạo dựng là ân ban, ta sẽ bớt kiêu căng về quyền sở hữu và học trách nhiệm của người quản lý. Thánh Giá đưa điều ấy đến tận cùng: Đức Kitô, Đấng mà muôn vật thuộc về, lại không giữ gì cho mình. Ngay cả áo ngoài cũng bị người ta chia nhau. Người chết trần trụi. Đấng sở hữu mọi sự trở thành người chẳng còn gì. Chính trong sự nghèo khó tuyệt đối ấy, Người trao ban cho nhân loại gia tài lớn nhất: sự sống của Thiên Chúa.
Thánh Giá cũng giúp ta nhìn lại vấn đề đau khổ của thế giới. Ta thường hỏi tại sao thiên nhiên có động đất, bệnh tật, tai nạn, cái chết. Không có một câu trả lời lý thuyết nào có thể làm nước mắt của một người mẹ mất con lập tức khô đi. Kitô giáo không đưa ra một công thức để giải thích mọi đau khổ. Thiên Chúa cũng không đứng trước Gióp để đưa cho ông một bảng lý luận giải thích từng đau đớn ông trải qua. Nhưng Thiên Chúa làm một điều lớn hơn: Người bước vào đau khổ. Thánh Giá không cho ta một Thiên Chúa đứng trên trời lạnh lùng quan sát những sinh vật của mình vật lộn bên dưới. Ta có một Thiên Chúa mang thương tích. Khi một em bé đau bệnh, khi một người già thở hơi cuối cùng, khi một gia đình mất nhà vì bão lũ, khi một vùng đất bị chiến tranh cày nát, ta không thể nói rằng Thiên Chúa chẳng biết đau khổ là gì. Trên Canvê, Con Thiên Chúa đã kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Người đã nếm cái chết. Và vì Đấng Tạo Hóa đã bước vào sự chết nên từ đó không một vực sâu nào của tạo thành còn hoàn toàn vắng bóng Thiên Chúa.
Điều tuyệt vời hơn nữa là Đức Kitô không chỉ chết; Người đã sống lại trong thân xác. Nếu sau Thánh Giá Đức Giêsu chỉ xuất hiện như một linh hồn, Kitô giáo sẽ nói một câu chuyện khác. Nhưng các Tin Mừng nhấn mạnh: ngôi mộ trống. Người cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn. Người ăn với họ. Tôma được mời chạm vào dấu đinh. Đấng sống lại vẫn mang thân xác, nhưng đó là thân xác đã được biến đổi. Những vết thương không biến mất; chúng được đưa vào vinh quang. Đây chính là lời hứa dành cho toàn thể tạo thành: Thiên Chúa không cứu bằng cách xóa bỏ lịch sử nhưng bằng cách biến đổi nó. Những vết thương của thế giới sẽ không có tiếng nói cuối cùng. Sự hư nát không có tiếng nói cuối cùng. Cái chết không có tiếng nói cuối cùng.
Thánh Giá và Phục Sinh vì vậy không thể tách nhau. Chỉ có Thánh Giá mà không Phục Sinh, Kitô giáo trở thành tôn giáo của đau khổ. Chỉ nói Phục Sinh mà không Thánh Giá, Kitô giáo trở thành một thứ lạc quan rẻ tiền. Nhưng Thánh Giá đi vào Phục Sinh cho thấy con đường của Thiên Chúa: không né tránh đau khổ nhưng biến đổi đau khổ; không phủ nhận cái chết nhưng đánh bại cái chết từ bên trong; không vứt bỏ tạo thành vì nó bị thương nhưng chữa lành nó bằng tình yêu.
Ta có thể tưởng tượng ngày thứ Sáu trên đồi Canvê. Đức Giêsu hấp hối. Tin Mừng kể rằng bóng tối bao phủ mặt đất. Đất rung chuyển. Đá vỡ ra. Những hình ảnh ấy mang một âm vang vũ trụ. Cái chết của Đức Kitô không chỉ là chuyện giữa Người và một vài người đứng dưới chân Thánh Giá. Tạo thành dường như cũng rung động trước cái chết của Đấng Tạo Hóa nhập thể. Rồi đến sáng ngày thứ nhất trong tuần, nơi một khu vườn, Maria Mácđala gặp Đức Kitô phục sinh mà ban đầu lại tưởng Người là người làm vườn. Chi tiết ấy thật đẹp nếu đặt bên cạnh sách Sáng Thế. Lịch sử nhân loại bắt đầu trong một khu vườn với Ađam. Sau tội lỗi, khu vườn bị mất. Và cuộc tạo dựng mới lại bắt đầu trong một khu vườn, nơi Đức Kitô phục sinh xuất hiện. Người là Ađam mới. Người làm vườn của tạo thành mới. Nơi Ađam cũ mang sự chết vào lịch sử bằng bất tuân, Đức Kitô mang sự sống vào lịch sử bằng vâng phục cho đến chết trên Thánh Giá.
Như thế ta có thể nói rằng Thánh Giá là bản lề giữa tạo dựng cũ và tạo dựng mới. Trên đó, thế giới cũ với logic của bạo lực, chiếm hữu, trả thù, sợ hãi và chết chóc dốc toàn bộ sức mạnh lên Đức Giêsu. Người bị phản bội bằng tiền. Bị kết án bởi quyền lực. Bị chế giễu bởi đám đông. Bị tra tấn bởi binh lính. Bị bỏ rơi bởi bạn bè. Tất cả căn bệnh của thế giới cũ tụ lại nơi Canvê. Nhưng từ phía Đức Giêsu không có bạo lực đáp lại bạo lực. Người không nguyền rủa. Người tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người không giữ lấy sự sống nhưng trao sự sống. Người không trả thù kẻ đóng đinh mình mà mở thiên đàng cho tên trộm bên cạnh. Thế giới cũ đổ hận thù lên Người; Người trả lại bằng tình yêu. Chính tại đó một nguyên lý mới được gieo vào lòng lịch sử.
Vì thế có thể gọi Thánh Giá là hạt giống của trời mới đất mới. Nhìn bên ngoài chỉ là một cây gỗ chết. Nhưng chính Đức Giêsu đã dùng hình ảnh hạt lúa: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Người đang nói về cái chết của chính mình. Một hạt lúa nhỏ bé được chôn xuống đất biến mất khỏi mắt người ta. Nhưng chính trong bóng tối, một quá trình bí nhiệm khởi sự. Vỏ hạt nứt ra. Mầm sống xuất hiện. Cây mới mọc lên. Canvê chính là mảnh đất nơi Hạt Lúa thần linh được gieo xuống. Thứ Sáu Tuần Thánh nhìn như ngày mọi hy vọng bị chôn vùi. Nhưng dưới lớp đất của sự chết, tạo dựng mới đang bắt đầu.
Điều ấy cũng thay đổi cách người Kitô hữu nhìn cái chết của mình. Thân xác chúng ta không bị vứt bỏ như một chiếc áo cũ vô nghĩa. Hội Thánh kính trọng thi hài người qua đời bởi vì thân xác ấy đã được tạo dựng, được rửa tội, được xức dầu, đã từng lãnh nhận Mình Máu Đức Kitô, từng quỳ cầu nguyện, từng ôm người thân, từng lao động, khóc cười và yêu thương. Thân xác được đặt xuống đất như hạt giống chờ ngày phục sinh. Người Kitô hữu nói “tôi tin xác loài người ngày sau sống lại” bởi vì Đức Kitô phục sinh không chỉ cứu một “phần thiêng liêng” của con người. Người cứu con người toàn vẹn.
Nếu điều đó đúng với thân xác, nó cũng mở một chân trời cho toàn thể tạo thành. Sách Khải Huyền không kết thúc bằng cảnh các linh hồn bỏ trái đất bay đi xa mãi. Nó kết thúc bằng cảnh “trời mới đất mới” và Thành Thánh từ trời xuống. Giêrusalem mới đi xuống, Thiên Chúa ở cùng loài người. Câu chuyện Kinh Thánh bắt đầu bằng việc Thiên Chúa dựng trời đất và kết thúc bằng trời đất được đổi mới. Cả cuốn Kinh Thánh như một vòng cung khổng lồ nối tạo dựng ban đầu với tạo dựng mới, và ở chính giữa vòng cung ấy là Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh.
Như vậy công trình tạo dựng và cứu chuộc không phải hai câu chuyện tách biệt. Đấng sáng tạo cũng là Đấng cứu chuộc. Tình yêu nói “hãy có” trong buổi đầu tạo dựng cũng là tình yêu nói “mọi sự đã hoàn tất” trên Thánh Giá. Có một sự liên tục sâu xa: Thiên Chúa không từ bỏ điều Người đã dựng nên. Khi con người phá hỏng, Thiên Chúa không bỏ đi. Khi tạo thành mang thương tích, Thiên Chúa bước vào thương tích ấy. Khi cái chết tưởng như giành chiến thắng, chính Con Thiên Chúa bước vào mồ. Người xuống tận nơi sâu nhất để không còn nơi nào nằm ngoài tầm tay cứu độ.
Ta thử đứng dưới chân Thánh Giá mà nhìn lên. Một thân thể đang chết. Máu chảy xuống đất. Trong sách Sáng Thế, đất từng nhận máu Abel và máu ấy kêu lên từ lòng đất đòi công lý. Trên Canvê, đất lại nhận máu, nhưng lần này là Máu của Con Thiên Chúa, và Máu ấy “nói lên điều tốt hơn máu Abel”. Máu Abel kêu đòi công lý; Máu Đức Kitô kêu xin tha thứ. Máu Abel tố cáo kẻ giết người; Máu Đức Kitô mở đường cho kẻ giết người được trở về. Mảnh đất từng bị nguyền vì tội lỗi con người nay thấm Máu Đấng Cứu Chuộc. Đó là một hình ảnh vô cùng mạnh mẽ về sự hòa giải giữa con người và đất.
Rồi cạnh sườn Đức Giêsu bị đâm. Máu và nước chảy ra. Truyền thống Hội Thánh nhìn thấy nơi đó nguồn mạch các bí tích, đặc biệt phép Rửa và Thánh Thể, và cũng thấy Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô như Eva được lấy từ cạnh sườn Ađam. Một tạo dựng mới khởi đi từ cạnh sườn Ađam mới đang ngủ giấc chết. Ngay nơi tưởng là tận cùng lại trở thành khởi đầu.
Có một điều rất thấm thía: Đấng tạo dựng vũ trụ đã muốn cứu vũ trụ bằng một thân xác chịu thương tích. Điều này nói với những ai đang thấy đời mình tan vỡ rằng Thiên Chúa không cần một cuộc đời hoàn hảo mới có thể làm nên điều đẹp đẽ. Người làm cho nguồn nước cứu độ chảy ra từ cạnh sườn bị đâm. Người làm cho ơn tha thứ phát xuất từ cây hành hình. Người làm cho sự sống đời đời mọc lên từ ngôi mộ. Nếu Thiên Chúa có thể biến Thánh Giá thành cây sự sống, Người cũng có thể bước vào những thập giá của đời ta và làm cho từ đó nảy sinh một điều ta chưa nhìn thấy hôm nay.
Tuy nhiên, ta phải cẩn thận. Thánh Giá không có nghĩa là cứ đau khổ thì tự động tốt. Bệnh tật không tự nó tốt. Chiến tranh không tốt. Nghèo đói không tốt. Bạo lực không tốt. Hủy hoại thiên nhiên không tốt. Thiên Chúa không vui thích khi thấy con người đau đớn. Điều cứu độ không phải là đau khổ tự thân nhưng là tình yêu của Đức Kitô đi vào đau khổ và chiến thắng nó. Ta không tôn thờ cái đau; ta tôn thờ Đấng chịu đóng đinh vì yêu. Kitô hữu không được lấy Thánh Giá để bảo người bị áp bức cứ im lặng chịu đựng. Trái lại, đứng dưới Thánh Giá phải làm ta nhạy cảm hơn với mọi người đang bị đóng đinh trong lịch sử: người đói, người bị bỏ rơi, trẻ em bị bóc lột, người yếu thế bị chà đạp, người di dân, người già cô đơn, người đau bệnh không ai chăm sóc, nạn nhân chiến tranh, và cả một trái đất đang bị khai thác vô độ.
Bởi nếu Đức Kitô mang vết thương của tạo thành trong thân thể mình, ta không thể yêu Đức Kitô mà thờ ơ với những vết thương của thế giới. Một người quỳ lâu trước Nhà Tạm nhưng bước ra ngoài lại xem thường người nghèo thì việc đạo đức ấy chưa chạm tới Thánh Giá. Một người hôn kính Thánh Giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng sẵn sàng gian dối, phá hoại môi trường, bóc lột người lao động, tiêu dùng vô trách nhiệm thì cái hôn ấy chưa đi vào đời sống. Thánh Giá đòi sự hoán cải của cả cách ta sống.
Cứu độ vũ trụ qua Thánh Giá vì thế không phải một ý tưởng thần học xa xôi dành cho những lớp học kinh viện. Nó đụng đến chiếc túi nilon ta vứt, thức ăn ta bỏ thừa, nguồn nước ta làm ô nhiễm, cách ta đối xử với động vật, cách ta tiêu tiền, cách ta sản xuất, cách ta nhìn một người nghèo, và cách ta sử dụng những tài nguyên không chỉ thuộc về thế hệ này. Đức tin vào Đấng Tạo Hóa dẫn đến trách nhiệm với tạo thành. Đức tin vào Đấng Cứu Chuộc chịu đóng đinh dẫn đến lối sống tự hiến.
Thử nhìn một gia đình nghèo biết chia đôi chén cơm cho người đói: tạo thành đang được chữa lành ở đó. Một người trồng lại cây trên vùng đất trọc: tạo thành đang được chăm sóc ở đó. Một doanh nghiệp chấp nhận bớt lợi nhuận để không xả chất độc ra sông: logic Thánh Giá đang thắng logic tham lam ở đó. Một người quyết định không lãng phí thức ăn vì nhớ đến những người đang đói: một chút hòa giải đang xảy ra. Một cộng đoàn dọn sạch dòng kênh, bảo vệ nguồn nước, tiết kiệm điện, chăm sóc người nghèo: đó không chỉ là hoạt động xã hội; trong ánh sáng đức tin, đó là những dấu chỉ nhỏ bé của tạo dựng mới.
Nhưng ta cũng phải nhớ rằng con người không tự mình cứu được thế giới. Có lúc những lời kêu gọi bảo vệ môi trường khiến người ta rơi vào một thứ lo âu tuyệt vọng, như thể tương lai toàn bộ hành tinh nằm trên đôi vai mong manh của từng cá nhân. Kitô giáo đưa đến trách nhiệm nhưng không đưa đến tuyệt vọng. Chúng ta chăm sóc tạo thành không phải vì tin rằng mình là đấng cứu thế. Đức Kitô mới là Đấng Cứu Thế. Chúng ta cộng tác vào công trình của Người. Hy vọng Kitô giáo không miễn cho ta hành động nhưng cho ta lý do để hành động mà không tuyệt vọng. Ta biết công trình Thiên Chúa sẽ không kết thúc trong thất bại.
Khi một người trồng cây, có thể người ấy chẳng bao giờ được ngồi dưới bóng cây ấy. Khi cha mẹ hy sinh giáo dục con cái, có thể nhiều kết quả chỉ xuất hiện sau khi họ đã qua đời. Khi một linh mục âm thầm gieo Lời Chúa, có thể chính ngài không thấy được hoa trái. Đó là logic hạt lúa của Thánh Giá. Không phải mọi điều tốt đều cho kết quả ngay trước mắt. Thánh Giá dạy ta tin vào những hạt giống được gieo trong thinh lặng.
Có lẽ vũ trụ này lớn quá khiến ta thấy mình chẳng đáng kể. Nhưng Thánh Giá lại nói điều ngược lại. Đấng tạo dựng hàng tỷ thiên hà lại biết tên bạn. Đấng gọi các ngôi sao xuất hiện lại biết từng giọt nước mắt của bạn. Đấng giữ vũ trụ trong hiện hữu lại để cho bàn tay mình bị đóng đinh vì bạn. Đây là nghịch lý đẹp nhất của Kitô giáo: vũ trụ càng lớn, tình yêu Thiên Chúa dành cho từng người càng khiến ta kinh ngạc. Ta không phải trung tâm vật lý của vũ trụ, nhưng ta được yêu bởi Đấng là nguồn gốc của vũ trụ. Giá trị của ta không đến từ việc ta lớn thế nào giữa các thiên hà, nhưng từ việc Đấng dựng nên thiên hà đã trao chính Con Một vì ta.
Bởi vậy dưới chân Thánh Giá, ta có thể nghe được cả tiếng rên của thế giới và lời hứa cứu độ. Ở đó có tiếng khóc của những người mẹ mất con. Có tiếng bom của chiến tranh. Có tiếng cây đổ trong những khu rừng bị tàn phá. Có tiếng sóng của những vùng biển đầy rác. Có tiếng thở yếu ớt của người bệnh. Có tiếng cô đơn của người già. Có tiếng khóc không ai nghe của trẻ nhỏ. Tất cả những tiếng ấy dường như được thu lại trong tiếng kêu của Đức Kitô trên Thánh Giá. Người không đứng ngoài nỗi đau của tạo thành. Người mang nó vào thân thể mình.
Nhưng từ chính Thánh Giá ấy cũng vang lên một câu khác: “Thế là đã hoàn tất.” Không phải “mọi sự chấm hết”, nhưng “mọi sự được hoàn tất”. Một kế hoạch tình yêu đã đi đến tận cùng. Con Thiên Chúa đã yêu “đến cùng”. Chính từ cái “đến cùng” ấy mà một khởi đầu mới xuất hiện.
Trong Thánh lễ, mầu nhiệm này trở nên gần gũi cách lạ lùng. Bánh đến từ đất và lao công con người. Rượu đến từ cây nho và lao công con người. Những yếu tố của tạo thành được đặt trên bàn thờ, được dâng lên, rồi trở thành dấu chỉ bí tích của chính Đức Kitô tự hiến. Thánh Thể như báo trước vận mệnh của tạo thành: những gì thuộc trái đất được đưa vào tương quan với Đức Kitô và trở thành phương thế trao ban sự sống thần linh. Khi linh mục nâng Mình Thánh lên, tạo thành như được nâng lên cùng Đức Kitô. Hạt lúa của ruộng đồng, trái nho của vườn đất, công sức của con người, tất cả bước vào hy lễ tạ ơn.
Thật đẹp khi nhận ra chữ “Thánh Thể” có nghĩa là tạ ơn. Tội lỗi bắt đầu phần nào từ việc con người không còn nhìn tạo thành như quà tặng mà muốn chiếm lấy nó. Ơn cứu độ đưa con người trở lại với thái độ tạ ơn: nhận tất cả từ Thiên Chúa và dâng tất cả lại cho Người. Một người biết tạ ơn sẽ bớt tham. Một người biết mọi thứ là quà tặng sẽ bớt phá hoại. Một người biết mình chỉ là người quản lý sẽ không cư xử như chủ tuyệt đối.
Ngày kia, khi lịch sử đi đến cùng đích, chúng ta không biết chính xác trời mới đất mới sẽ diễn ra theo những cơ chế nào. Đức tin không cho ta một bản đồ vật lý của thế giới cánh chung. Nhưng ta biết điều cốt yếu: “sự chết sẽ không còn; tang tóc, kêu than và đau khổ sẽ không còn nữa, vì những điều cũ đã biến mất.” Đấng ngự trên ngai nói: “Này đây Ta đổi mới mọi sự.” Hãy để ý: Người nói “đổi mới mọi sự”, chứ không nói “Ta vứt bỏ mọi sự rồi làm chuyện khác không liên quan”. Có sự liên tục trong biến đổi. Giống Đức Kitô phục sinh vẫn chính là Đức Giêsu chịu đóng đinh, nhưng nay sống trong vinh quang. Các vết đinh vẫn đó nhưng không còn là dấu hiệu thất bại; chúng trở thành dấu hiệu chiến thắng của tình yêu.
Điều ấy cho ta một cách rất đẹp để nhìn cuộc đời mình. Có những vết thương ta tưởng phải xóa hết mới có thể hạnh phúc. Nhưng có khi Thiên Chúa không xóa lịch sử; Người cứu lịch sử. Tôma nhận ra Chúa qua dấu đinh. Có thể một ngày kia ta cũng hiểu những đoạn đời hôm nay chưa hiểu được. Những giọt nước mắt không bị quên. Những hy sinh âm thầm không mất đi. Những điều làm vì yêu không rơi vào hư vô. Nếu một ly nước lã cho người bé nhỏ cũng không mất phần thưởng, thì chẳng có hành vi yêu thương nào thật sự biến mất khỏi ký ức của Thiên Chúa.
Và nếu một ngày nào đó ta đứng trước Thánh Giá trong nhà nguyện thật lâu, có lẽ ta đừng chỉ nhìn Thánh Giá như câu chuyện riêng giữa “Chúa Giêsu và tôi”. Đúng, Người yêu tôi. Nhưng hãy mở rộng cái nhìn. Sau thân thể bị đóng đinh ấy là cả một vũ trụ đang chờ được giải thoát. Sau đôi tay dang rộng ấy là toàn thể lịch sử nhân loại. Dưới chân Thánh Giá là đất. Trên đầu Thánh Giá là trời. Hai bên là chân trời. Người đứng ở trung tâm, không phải để thống trị nhưng để hiến mình.
Ở đó, thần học tạo dựng gặp thần học cứu chuộc.
Đấng đã nói “hãy có ánh sáng” nay đi vào bóng tối.
Đấng đã gọi sự sống từ hư vô nay đi vào sự chết.
Đấng dựng nên cây cối nay chết trên một cây gỗ.
Đấng tạo ra sắt trong lòng đất nay để những chiếc đinh bằng sắt xuyên qua tay chân.
Đấng làm cho nước chảy từ đá nay để nước chảy từ cạnh sườn mình.
Đấng cho trái nho mọc lên nay trao máu mình thành chén giao ước.
Đấng làm hạt lúa nảy mầm nay trở thành Hạt Lúa chết đi để sinh nhiều bông hạt.
Đấng dựng nên trái tim con người nay để trái tim mình bị đâm thâu.
Không có chi tiết nào của tạo thành đứng ngoài câu chuyện cứu độ. Thánh Giá lấy chính những gì thuộc thế giới này và biến chúng thành ngôn ngữ của tình yêu Thiên Chúa.
Có người hỏi: nếu cuối cùng Chúa sẽ làm trời mới đất mới, cần gì bảo vệ thế giới hiện tại? Câu hỏi ấy giống như nói: nếu thân xác ngày sau sẽ sống lại thì hôm nay chăm sóc sức khỏe làm gì? Chính vì ta tin thân xác có phẩm giá nên ta chăm sóc nó. Chính vì ta tin tạo thành có một vận mệnh trong Thiên Chúa nên ta càng phải kính trọng nó. Niềm hy vọng cánh chung không làm ta thờ ơ với thế giới; trái lại, nó làm trách nhiệm của ta sâu hơn. Ta không cứu trái đất bằng sức mình, nhưng ta được trao nhiệm vụ không xúc phạm đến món quà Thiên Chúa yêu.
Và cũng đừng quên người nghèo luôn là nạn nhân đầu tiên khi tạo thành bị hủy hoại. Người giàu có thể mua nước sạch khi nguồn nước ô nhiễm. Người nghèo thì không. Người giàu có thể chuyển nhà khi môi trường sống trở nên độc hại. Người nghèo thì không. Người giàu có điều hòa khi nhiệt độ tăng. Người lao động ngoài trời phải chịu nắng. Bảo vệ tạo thành vì thế cũng là vấn đề công lý. Không thể nói yêu môi trường mà quên người nghèo, cũng không thể nói yêu người nghèo mà thờ ơ với môi trường sống của họ. Thánh Giá nối lại những gì con người thích chia tách.
Nhưng còn một thứ môi trường khác đang bị ô nhiễm dữ dội: môi trường tâm hồn. Một thế giới đầy tiếng ồn, bạo lực ngôn từ, tin giả, thù hận, khiêu khích, cạnh tranh và tiêu thụ liên tục cũng đang làm con người khó thở. Chăm sóc tạo thành phải bắt đầu từ việc chăm sóc trái tim. Một trái tim tham lam sẽ tạo ra một nền kinh tế tham lam. Một trái tim bạo lực sẽ xây dựng một xã hội bạo lực. Một trái tim không biết đủ sẽ khai thác trái đất không biết dừng. Vì vậy cuộc khủng hoảng sinh thái cuối cùng cũng là một cuộc khủng hoảng thiêng liêng. Thay đổi kỹ thuật là cần, nhưng chưa đủ; phải thay đổi lòng người.
Và ở đâu lòng người được thay đổi sâu nhất? Dưới chân Thánh Giá. Ta nhìn một Thiên Chúa không chiếm hữu mà trao ban. Ta nhìn một Thiên Chúa không trả thù mà tha thứ. Ta nhìn một Thiên Chúa không né đau khổ của thế giới mà mang lấy nó. Ta nhìn Đấng quyền năng nhất lại trở thành yếu đuối nhất. Mọi thước đo của ta bị đảo lộn.
Nếu thế giới sống theo logic Thánh Giá, chiến tranh sẽ mất lý do tồn tại. Nếu các gia đình sống theo logic Thánh Giá, rất nhiều cuộc chia tay sẽ được tránh. Nếu kinh tế sống theo logic Thánh Giá, lợi nhuận sẽ không còn đứng trên phẩm giá con người. Nếu chính trị sống theo logic Thánh Giá, quyền lực sẽ trở thành phục vụ. Nếu khoa học sống theo logic Thánh Giá, kiến thức sẽ phục vụ sự sống thay vì thống trị. Nếu Kitô hữu sống theo logic Thánh Giá, thế giới ít nhất sẽ nhìn thấy những dấu hiệu sớm của trời mới đất mới.
Dĩ nhiên ta còn rất xa. Chính Hội Thánh cũng phải liên tục sám hối để sống đúng với Thánh Giá mình rao giảng. Có lúc người Kitô hữu đã hành xử với tạo thành như thể nó không có giá trị. Có lúc lòng tham mặc áo tôn giáo. Có lúc quyền lực che khuất khuôn mặt Đấng chịu đóng đinh. Vì thế Thánh Giá không chỉ an ủi Hội Thánh; Thánh Giá còn xét xử Hội Thánh. Mỗi lần nhìn Đức Kitô trần trụi, nghèo khó, bị loại trừ, Hội Thánh phải tự hỏi: tôi có còn giống Chúa của mình không?
Cuối cùng, mầu nhiệm vũ trụ được cứu độ qua Thánh Giá đưa ta đến hy vọng. Không phải thứ hy vọng ngây thơ cho rằng mọi chuyện rồi tự nhiên sẽ tốt đẹp. Thánh Giá không cho phép ta ngây thơ trước sức mạnh của tội lỗi. Canvê cho thấy tội ác con người có thể đi xa đến mức đóng đinh chính Con Thiên Chúa. Nhưng đồng thời Thánh Giá cũng cho thấy tội lỗi không thể đi xa hơn tình yêu. Con người có thể giết Đức Giêsu, nhưng không thể giết tình yêu của Người. Có thể đóng đinh đôi tay, nhưng không thể làm đôi tay ấy ngừng ôm lấy nhân loại. Có thể bịt miệng Người bằng cái chết, nhưng lời tha thứ của Người vẫn vang qua các thế kỷ. Có thể đặt Người trong mồ và lăn tảng đá lại, nhưng sáng ngày thứ nhất trong tuần, tảng đá bị lăn ra.
Đó là lý do Kitô hữu dám hy vọng cho thế giới này.
Không phải vì con người tốt đến mức sẽ tự cứu được mình.
Không phải vì khoa học chắc chắn giải quyết mọi vấn đề.
Không phải vì lịch sử tự động đi về phía tiến bộ.
Ta hy vọng bởi vì Đức Kitô đã sống lại.
Ta hy vọng bởi vì Đấng chịu đóng đinh đang sống.
Ta hy vọng bởi vì vết thương của thế giới đã được mang vào thân thể Đấng Phục Sinh.
Ta hy vọng bởi vì tương lai của tạo thành nằm trong tay Đấng đã để chính tay mình bị đóng đinh vì tạo thành.
Một ngày kia, những vì sao mà hôm nay ta nhìn thấy sẽ không còn giống như hôm nay. Trái đất này cũng sẽ đi đến một vận mệnh mà chỉ Thiên Chúa biết đầy đủ. Chính thân xác chúng ta cũng sẽ trở về bụi đất. Những thành phố huy hoàng rồi sẽ qua. Tên tuổi những người từng làm cả thế giới chú ý rồi cũng sẽ chìm vào quên lãng. Nhưng một điều không qua: tình yêu Thiên Chúa được tỏ lộ nơi Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Tình yêu ấy là nguyên thủy của tạo dựng và cũng là cùng đích của tạo dựng.
Vì thế, khi ngước nhìn Thánh Giá, xin đừng chỉ thấy cái chết. Hãy nhìn thật lâu cho đến khi ta nhận ra phía sau đó là tạo dựng mới.
Hãy nhìn bàn tay bị đóng đinh và nhớ rằng bàn tay ấy đã dựng nên các vì sao.
Hãy nhìn đôi chân đầy máu và nhớ rằng chân ấy đã đi trên chính trái đất Người dựng nên để tìm con người lạc mất.
Hãy nhìn cạnh sườn bị đâm thâu và nhớ rằng từ đó dòng nước sự sống đang mở ra.
Hãy nhìn chiếc đầu đội gai và nhớ rằng những gai góc từng là dấu chỉ của đất bị nguyền vì tội lỗi giờ đây được đặt trên đầu Đấng Cứu Chuộc.
Hãy nhìn thân xác chết trên cây gỗ và nhớ đến lời Người: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà chết đi, nó mới sinh nhiều bông hạt.”
Và rồi hãy nhìn thế giới quanh mình bằng đôi mắt mới.
Một bông hoa đáng được trân trọng.
Một dòng sông đáng được bảo vệ.
Một mảnh đất đáng được chăm sóc.
Một con người nghèo khổ đáng được yêu.
Một thân xác đau bệnh đáng được nâng niu.
Một em bé đáng được trao tương lai.
Một người già đáng được giữ phẩm giá.
Một kẻ tội lỗi vẫn đáng được mở cho con đường trở về.
Bởi tất cả đều đang sống trong một thế giới mà Thiên Chúa yêu đến mức trao ban Con Một.
Thánh Giá không làm chúng ta chạy trốn trái đất. Thánh Giá dạy chúng ta yêu trái đất theo cách đúng đắn: yêu mà không chiếm hữu, sử dụng mà không tàn phá, hưởng nhận mà biết tạ ơn, làm chủ mà biết phục vụ, sống trong thế giới nhưng không biến thế giới thành thần tượng. Ta biết thế giới này không phải thiên đàng, nhưng nó là công trình của Đấng sẽ làm nên trời mới đất mới. Ta biết thân xác này sẽ chết, nhưng nó được hứa phục sinh. Ta biết tạo thành đang rên xiết, nhưng đó là tiếng rên của một cuộc sinh nở.
Có lẽ đó là điều ta cần nhớ nhất trong những ngày thế giới quá nhiều tin buồn: vũ trụ đang rên xiết, nhưng vũ trụ không rên xiết trong vô vọng.
Giữa tiếng rên ấy có một cây Thánh Giá.
Trên cây Thánh Giá ấy có một Đấng đã yêu đến cùng.
Từ cạnh sườn Người có máu và nước chảy ra.
Dưới chân Người là trái đất.
Trên đầu Người là bầu trời.
Hai tay Người mở ra như ôm lấy cả chân trời.
Và từ đôi môi sắp tắt thở vang lên lời không phải của kẻ thất bại, nhưng của Đấng đã đi tới tận cùng chương trình tình yêu: “Thế là đã hoàn tất.”
Từ giây phút ấy, không còn nơi nào của tạo thành hoàn toàn xa lạ với Thiên Chúa. Không còn đau khổ nào mà Đức Kitô chưa từng đi vào. Không còn ngôi mộ nào mà quyền năng Phục Sinh không thể chạm tới. Không còn vết thương nào của lịch sử nằm ngoài lời hứa chữa lành.
Tạo dựng bắt đầu bằng lời: “Hãy có.”
Cứu chuộc đạt tới đỉnh cao bằng lời: “Thế là đã hoàn tất.”
Và tạo dựng mới sẽ được viên mãn bằng lời: “Này đây Ta đổi mới mọi sự.”
Ở giữa ba lời ấy là cả câu chuyện tình yêu của Thiên Chúa dành cho thế giới.
Và ở chính giữa câu chuyện ấy là Thánh Giá Đức Giêsu Kitô.
Lm. Anmai, CSsR
THÁNH GIÁ ĐỐI DIỆN VỚI CHỦ NGHĨA HƯ VÔ HIỆN ĐẠI
Có lẽ chưa bao giờ con người có nhiều phương tiện để sống như hôm nay, nhưng cũng có lẽ chưa bao giờ con người lại phải vật lộn gay gắt đến thế với câu hỏi: sống để làm gì? Chúng ta có thể đi rất nhanh nhưng không biết mình đang đi đâu; có thể liên lạc với người bên kia địa cầu trong vài giây nhưng lại không biết phải nói gì với người đang ngồi bên cạnh; có thể kéo dài tuổi thọ nhưng chưa chắc đã tìm được một lý do đủ lớn để yêu những tháng năm mình đang có; có thể mua được rất nhiều thứ để làm cho căn nhà tiện nghi hơn nhưng không mua được bình an để làm cho tâm hồn bớt trống; có thể biết gần như ngay lập tức chuyện gì đang xảy ra ở khắp nơi nhưng nhiều khi lại không biết chuyện gì đang xảy ra trong chính lòng mình. Đó là một trong những nghịch lý đau đớn nhất của con người hiện đại: càng nhiều khả năng, càng dễ mất phương hướng; càng nhiều lựa chọn, càng khó biết điều gì đáng chọn; càng nhiều tiếng nói, càng khó nghe được một lời có sức giữ mình lại giữa đêm tối. Và ngay giữa cái thế giới tưởng như đã trưởng thành đến mức không còn cần những biểu tượng tôn giáo cổ xưa nữa, Thánh Giá vẫn đứng đó. Một thân người bị treo giữa trời và đất. Hai cánh tay dang ra. Một khuôn mặt bê bết máu. Một tiếng kêu vọng lên từ vực sâu: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Đối với người chỉ nhìn bằng mắt trần, Thánh Giá dường như là hình ảnh thích hợp nhất của thất bại. Nhưng đối với đức tin Kitô giáo, chính nơi tưởng như mọi ý nghĩa đã chết ấy, ý nghĩa tối hậu của đời người lại được mặc khải. Chính nơi tưởng như Thiên Chúa im lặng nhất, tình yêu của Thiên Chúa lại nói lời cuối cùng. Chính nơi sự chết tưởng như đã chiến thắng, sự chết bắt đầu bị đánh bại từ bên trong. Vì thế, nếu muốn hiểu cuộc đối đầu sâu xa giữa Kitô giáo và chủ nghĩa hư vô hiện đại, không cần phải bắt đầu từ những cuộc tranh luận triết học dài dòng. Hãy bắt đầu từ Thánh Giá.
Chủ nghĩa hư vô, nói một cách gần gũi, không nhất thiết phải xuất hiện dưới hình thức một học thuyết được người ta công khai tuyên xưng rằng chẳng có gì có ý nghĩa. Nó có thể len vào đời sống rất âm thầm. Nó xuất hiện khi người ta thức dậy mỗi sáng, làm việc, kiếm tiền, ăn uống, giải trí, đi ngủ, rồi lặp lại như thế ngày này qua ngày khác mà không còn biết tại sao mình sống. Nó xuất hiện khi một người trẻ có rất nhiều cơ hội nhưng lại không tìm thấy một điều gì đủ lớn để hiến đời mình cho nó. Nó xuất hiện khi một người thành đạt nhìn lại những gì mình đã xây dựng rồi chợt hỏi: “Rồi sao nữa?” Nó xuất hiện khi một gia đình vẫn ở chung một mái nhà nhưng các tâm hồn đã sống cách nhau rất xa. Nó xuất hiện khi người ta không còn tin vào tình yêu vì đã bị phản bội, không còn tin vào lòng tốt vì đã chứng kiến quá nhiều giả dối, không còn tin vào công lý vì thấy người gian ác vẫn thịnh đạt, không còn tin vào lời hứa vì đã nghe quá nhiều lời hứa bị bẻ gãy. Chủ nghĩa hư vô bắt đầu khi con người không còn tin rằng có một chân lý đáng để sống và một tình yêu đáng để chết. Và khi không còn một điều gì tuyệt đối, mọi thứ chỉ còn tương đối; khi không có gì là thánh thiêng, mọi thứ đều có thể được sử dụng; khi con người không còn nhìn người khác như một mầu nhiệm phải kính trọng, người khác rất dễ trở thành phương tiện cho khoái lạc, lợi ích, quyền lực hoặc tham vọng của mình. Đến lúc ấy, cái chết không chỉ nằm ở nghĩa trang. Cái chết đã len vào cách người ta sống.
Điều đáng sợ của hư vô không phải là nó luôn khiến con người buồn. Nhiều khi nó khiến con người cười rất nhiều. Người ta có thể sống trong hư vô giữa những bữa tiệc, những chuyến du lịch, những cuộc vui, những chiếc điện thoại đời mới, những tài khoản đầy người theo dõi. Có một thứ hư vô rất ồn ào. Người ta phải bật nhạc liên tục vì sợ thinh lặng. Phải lướt liên tục vì sợ gặp chính mình. Phải mua liên tục vì sợ cảm thấy thiếu. Phải xuất hiện liên tục vì sợ mình bị quên. Phải chứng minh mình hạnh phúc vì trong sâu thẳm không chắc mình đang hạnh phúc. Có những người không dám ngồi yên trong một căn phòng mười phút mà không cầm điện thoại, không phải vì điện thoại quá hấp dẫn, nhưng vì khi màn hình tắt xuống, một câu hỏi nào đó trong lòng bắt đầu hiện lên. Tôi đang sống vì điều gì? Tôi đang chạy khỏi điều gì? Nếu hôm nay tất cả những gì làm nên danh tiếng, tài sản, chức vụ, sức khỏe, nhan sắc của tôi biến mất, tôi còn là ai? Những câu hỏi ấy khiến người ta sợ hơn rất nhiều tiếng ồn bên ngoài. Và thế là con người tiếp tục chạy. Nhưng chạy nhanh không giải quyết được chuyện không biết mình đang đi đâu.
Thánh Giá đứng trước con người ấy và không cho phép họ tiếp tục trốn chạy. Thánh Giá không phải một món trang sức đẹp đẽ để đeo trên cổ rồi quên đi. Thánh Giá cũng không phải biểu tượng của một thứ tôn giáo thích đau khổ. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ; Kitô giáo tôn thờ một Thiên Chúa đã đi vào đau khổ của con người để biến đau khổ thành nơi gặp gỡ tình yêu. Đây là một khác biệt rất lớn. Chúa Giêsu không đến để nói rằng đau khổ là tốt. Người đến để nói rằng ngay cả nơi đau khổ tồi tệ nhất, con người vẫn không bị bỏ rơi; ngay cả khi mọi thứ bị lấy đi, vẫn còn một điều không ai lấy được: con người vẫn có thể yêu; ngay cả khi không thể thay đổi hoàn cảnh, người ta vẫn có thể quyết định cách mình đi qua hoàn cảnh ấy; ngay cả khi cái chết đến, cái chết vẫn không có quyền nói lời cuối cùng về một con người được Thiên Chúa yêu.
Hãy đọc lại một đoạn Tin Mừng ngắn nhưng đủ sức soi sáng toàn bộ vấn đề: “Từ giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ cả mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. Vào giờ thứ chín, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: ‘Êli, Êli, lêma xabácthani’, nghĩa là: ‘Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?’” (Mt 27,45-46). Đây là một trong những câu đáng kinh ngạc nhất của Tin Mừng. Đấng đã từng gọi Thiên Chúa là Cha với một sự thân mật không ai có được, giờ đây bước vào tận cùng kinh nghiệm của con người bị bỏ rơi. Người không đứng ngoài vực thẳm để giảng giải về vực thẳm. Người đi xuống đó. Người không giải thích đau khổ từ một chiếc ghế an toàn trên trời cao. Người mang lấy đau khổ trong thân xác mình. Người không nói với nhân loại đang đau: “Các ngươi phải cố gắng lên.” Người để chính thân mình bị xé nát bởi bạo lực của thế gian. Người không cứu con người bằng cách né tránh cái chết, nhưng bằng cách bước xuyên qua cái chết. Đó là điều khiến Thánh Giá trở thành câu trả lời rất khác trước hư vô.
Hư vô nói: cuối cùng tất cả đều chẳng còn gì. Thánh Giá nói: cuối cùng vẫn còn tình yêu. Hư vô nói: đau khổ chứng minh đời sống vô nghĩa. Thánh Giá nói: đau khổ không tự nó có ý nghĩa, nhưng tình yêu có thể bước vào đau khổ và trao cho nó một ý nghĩa mà đau khổ không thể tự tạo ra. Hư vô nói: cái chết xóa sạch mọi sự. Thánh Giá nói: cái chết đã gặp một Đấng đi vào nó mà không chịu thuộc về nó. Hư vô nói: khi bị bỏ rơi, bạn chỉ còn một mình. Thánh Giá nói: ngay tại nơi bạn tưởng không ai có thể hiểu mình nữa, có một Đấng đã từng kêu: “Sao Ngài bỏ con?” Hư vô nói: vì mọi sự rồi sẽ mất, hãy tận hưởng càng nhiều càng tốt. Thánh Giá nói: vì sự sống là quà tặng, hãy trao ban càng nhiều càng tốt. Hư vô nói: hãy giữ lấy mình. Thánh Giá nói: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (x. Mt 16,25).
Ở đây chúng ta chạm đến một nghịch lý mà thế giới hiện đại rất khó hiểu. Con người tưởng mình sẽ tìm thấy chính mình bằng cách liên tục khẳng định mình, bảo vệ mình, chăm sóc hình ảnh của mình, tích lũy cho mình và đặt mình ở trung tâm. Nhưng Chúa Giêsu lại nói con đường tìm thấy bản thân đi qua việc quên mình. Không phải tự hủy theo nghĩa bệnh hoạn, không phải coi thường phẩm giá bản thân, nhưng là thoát ra khỏi nhà tù của cái tôi. Bởi vì con người không được dựng nên để tự khép kín. Một trái tim chỉ đập cho chính nó rồi sẽ ngạt. Một đời sống chỉ quy về lợi ích bản thân rồi sẽ nhỏ lại. Có những người có cả thế giới nhưng linh hồn chỉ còn bằng kích thước của cái tôi. Ngược lại, có những người chẳng sở hữu bao nhiêu nhưng lòng họ rộng đủ để chứa những đau khổ của người khác. Thánh Giá chính là hình ảnh của một đời sống hoàn toàn không khép lại. Hai cánh tay Chúa Giêsu bị đóng đinh và mở ra. Người không còn có thể giữ lấy một thứ gì cho mình. Ngay cả áo cũng bị lấy. Danh dự bị lấy. Tự do bị lấy. Sức lực bị lấy. Cuối cùng mạng sống cũng bị lấy. Nhưng có một điều không ai lấy được: quyền yêu. Và Người sử dụng quyền cuối cùng ấy đến tận cùng: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đây chính là thất bại của hư vô. Người ta có thể lấy khỏi con người tất cả, nhưng không nhất thiết lấy được khả năng yêu của họ. Và nơi nào còn có tình yêu tự do, nơi ấy hư vô chưa thắng.
Thời đại chúng ta thường đánh giá giá trị của một người bằng những gì họ tạo ra, kiếm được, đạt được, biểu lộ được. Người có năng suất cao thì đáng giá. Người nổi tiếng thì đáng giá. Người đẹp thì đáng giá. Người thành công thì đáng giá. Người có khả năng đem lại lợi ích thì đáng giá. Nhưng nếu đó là nền tảng của phẩm giá, thì người bệnh nằm bất động trên giường còn giá trị gì? Một em bé khuyết tật nặng còn giá trị gì? Một người già mất trí nhớ còn giá trị gì? Một người thất nghiệp còn giá trị gì? Một người thất bại còn giá trị gì? Chính ở đây Thánh Giá đưa ra một cuộc cách mạng. Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu không làm được gì theo tiêu chuẩn hiệu quả. Người không đi đâu được. Hai chân bị đóng. Người không chữa bệnh cho ai. Hai tay bị đóng. Người không thu hút đám đông nữa. Người bị chế giễu. Người không có quyền lực chính trị. Người là tù nhân. Người không còn vẻ đẹp khiến người ta ngưỡng mộ. Thân thể bị tra tấn. Theo tiêu chuẩn của một nền văn hóa chỉ tôn thờ thành công, Chúa Giêsu trên Thánh Giá là một kẻ hoàn toàn vô dụng. Thế nhưng chính trong “sự vô dụng” ấy, Người đang thực hiện hành vi có ý nghĩa nhất lịch sử cứu độ: yêu nhân loại đến cùng.
Điều ấy phải thay đổi cách chúng ta nhìn con người. Một con người không quý vì họ hữu dụng. Họ quý vì họ được yêu. Đứa bé chưa làm được gì cho xã hội vẫn quý. Người già không còn đóng góp kinh tế vẫn quý. Người bệnh cần được người khác chăm sóc vẫn quý. Người phạm lỗi nhưng biết trở về vẫn quý. Người bị xã hội bỏ quên vẫn quý. Người đang ở tận đáy thất bại vẫn quý. Thánh Giá nói với từng người: giá trị của bạn không được đo bằng số người vỗ tay cho bạn, số tiền bạn sở hữu, bằng cấp bạn có, chức vụ bạn đang giữ hay sức khỏe bạn đang hưởng. Giá trị của bạn được đo bằng cái giá Thiên Chúa đã sẵn lòng trả để cứu bạn. Và cái giá ấy là chính Con Một của Người. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một” (Ga 3,16). Khi một người thực sự tin điều ấy, họ sẽ không còn phải suốt đời van xin thế giới xác nhận rằng mình đáng được tồn tại.
Một phần của hư vô hiện đại đến từ cuộc khủng hoảng về căn tính. Người ta không biết mình là ai nên phải để người khác nói cho mình biết. Một lời khen làm mình bay lên. Một câu chê kéo mình xuống. Một bài đăng được nhiều người thích thì vui. Không ai chú ý thì buồn. Người ta sống như thể giá trị của bản thân được bỏ phiếu mỗi ngày bởi đám đông. Nhưng đám đông rất thất thường. Đám đông từng tung hô Chúa Giêsu khi Người vào Giêrusalem, rồi cũng đám đông ấy chẳng bao lâu sau gào lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!” Nếu Chúa Giêsu sống bằng tiếng vỗ tay của đám đông, Người đã không thể đi đến Canvê. Người biết mình là Con của Cha trước khi người ta khen hay chê. Bởi thế Thánh Giá không chỉ cứu con người khỏi tội; Thánh Giá còn giải phóng con người khỏi nhu cầu phải được thế giới liên tục công nhận.
Chủ nghĩa hư vô thường hứa một thứ tự do rất quyến rũ: không có chân lý tuyệt đối, nên bạn có thể sống như mình muốn. Nhưng tự do không có chân lý rất dễ biến thành một nhà tù khác. Nếu không có điều gì đúng tự nó, thì điều đúng đơn giản trở thành điều tôi thích. Nếu không có điều gì tốt tự nó, thì điều tốt trở thành điều có lợi cho tôi. Và nếu điều tôi thích hôm nay khác điều tôi thích ngày mai, chính tôi cũng không biết lấy gì để thống nhất đời mình. Kết quả là con người càng có nhiều tự do lựa chọn nhưng lại càng ít tự do nội tâm. Người ta có thể chọn hàng ngàn món hàng nhưng không thể nói “không” với một cơn nghiện. Có thể chọn vô số hình thức giải trí nhưng không thể ở yên trong thinh lặng. Có thể quyết định nhiều điều cho cuộc đời nhưng không kiểm soát nổi giận dữ, tham lam, dục vọng, ghen tị, ham muốn được chú ý của mình. Đó có phải tự do không? Thánh Giá đưa ra một định nghĩa khác về tự do. Tự do không phải là có khả năng làm bất cứ điều gì mình muốn; tự do là có khả năng làm điều tốt ngay cả khi phải trả giá. Chúa Giêsu tự do nhất không phải khi Người làm phép lạ, nhưng khi Người đứng trước cuộc Khổ Nạn và nói: “Xin đừng theo ý Con, nhưng xin theo ý Cha.” Tự do cao nhất là tự do để yêu.
Có người sẽ hỏi: nếu Thiên Chúa hiện hữu và nếu đời sống có ý nghĩa, tại sao có quá nhiều đau khổ? Đây là câu hỏi mà không một người có đức tin nghiêm túc nào được phép né tránh bằng những câu trả lời quá dễ dàng. Có những đau khổ không thể giải thích gọn bằng vài dòng giáo lý. Một bà mẹ đứng trước quan tài đứa con của mình không cần một bài triết học. Một người vừa biết mình mắc bệnh nan y không cần nghe rằng “mọi sự đều có lý do”. Một người vừa bị phản bội không thể lập tức hiểu kế hoạch nhiệm mầu của Thiên Chúa. Có những giờ phút tốt nhất là im lặng và khóc với người đang khóc. Điều Kitô giáo dám nói không phải là chúng ta biết lý do của mọi đau khổ. Điều Kitô giáo dám nói là Thiên Chúa không đứng ngoài đau khổ ấy. Chúng ta không thờ một Thiên Chúa không biết nước mắt. Đức Giêsu đã khóc trước mồ Lazarô. Người đã đổ mồ hôi máu trong vườn Cây Dầu. Người đã run sợ trước cái chết. Người đã bị bạn phản bội, môn đệ bỏ trốn, kẻ thù chế giễu. Người đã trải qua thân phận của người bị kết án oan. Người biết nỗi đau của thân xác bị hành hạ và linh hồn bị cô độc.
Đó là lý do khi đứng trước một người đang ở đáy vực, Kitô hữu không cần nói: “Tôi biết tại sao Chúa để chuyện này xảy ra.” Có thể chúng ta không biết. Nhưng chúng ta có thể nói: “Tôi biết một điều: ở dưới đáy vực này đã có dấu chân của Đức Kitô.” Chúa Giêsu không cứu chúng ta khỏi mọi Thứ Sáu Tuần Thánh trong đời. Có những Thứ Sáu chúng ta vẫn phải đi qua. Nhưng từ khi Người đã đi qua, không còn Thứ Sáu nào hoàn toàn vắng Thiên Chúa. Có những căn phòng bệnh nơi lời cầu nguyện duy nhất một người còn có thể thốt lên là: “Chúa ơi, con mệt quá.” Cũng đủ. Có những đêm một người chẳng cảm nhận được gì, chẳng hiểu gì, chỉ nhìn Thánh Giá mà khóc. Cũng đủ. Đức tin không luôn luôn có nghĩa là hiểu. Đôi khi đức tin chỉ còn là không bỏ đi.
Hư vô bảo con người: nếu không cảm thấy ý nghĩa thì không có ý nghĩa. Thánh Giá dạy: có những ý nghĩa chỉ được nhận ra sau khi đã trung thành đi qua bóng tối. Các môn đệ chiều Thứ Sáu không hiểu. Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá có lẽ cũng không được trao cho một lời giải thích đầy đủ về tất cả những gì đang xảy ra. Người đứng đó. Đây là một trong những hình ảnh đẹp nhất của đức tin. Maria không làm phép lạ để kéo Con xuống. Không tranh luận với quân lính. Không thay đổi bản án. Mẹ chỉ đứng. “Đứng gần thập giá Đức Giêsu có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Có những lúc toàn bộ đời sống thiêng liêng của chúng ta chỉ là đứng đó. Không chạy. Không nguyền rủa. Không tuyệt vọng. Đứng với Chúa trong đêm tối. Và điều kỳ diệu là sáng Phục Sinh không đến vì các môn đệ đã tìm ra lời giải thích. Sáng Phục Sinh đến vì Thiên Chúa trung tín.
Hư vô là cám dỗ tin rằng vì hôm nay tôi không thấy lối ra, nên không có lối ra. Nhưng đức tin nói rằng điều tôi thấy không phải là toàn bộ thực tại. Viên đá trước mồ không phải chương cuối. Xác Chúa nằm trong mộ không phải câu cuối. Sự im lặng của ngày Thứ Bảy Tuần Thánh không phải tiếng nói cuối. Trong Kitô giáo, dấu chấm mà con người đặt xuống nhiều khi Thiên Chúa biến thành dấu phẩy. Nơi con người nói: hết rồi, Thiên Chúa có thể nói: chưa. Điều ấy không biến Kitô hữu thành những người lạc quan ngây thơ. Chúng ta không gọi đêm là ngày. Không gọi vết thương là niềm vui. Không gọi cái chết là chuyện nhỏ. Chính vì Phục Sinh, chúng ta càng được phép nhìn thẳng vào Thánh Giá. Người không tin có Phục Sinh nhiều khi phải né cái chết bằng cách không nghĩ về nó. Người tin Chúa có thể nhìn vào cái chết và khóc thật, vì biết nước mắt không phải lời cuối.
Chủ nghĩa hư vô cũng sinh ra từ trải nghiệm thất vọng về con người. Chúng ta có thể bắt đầu cuộc đời với nhiều lý tưởng rồi dần dần chai sạn. Một người trẻ bước vào nghề với ước mong phục vụ, rồi gặp lợi ích nhóm, giả dối, cạnh tranh, có thể bắt đầu nghĩ rằng ai cũng sống vì mình. Một người từng yêu hết lòng rồi bị phản bội có thể kết luận rằng chẳng nên tin ai. Một người từng làm điều tốt nhưng bị hiểu lầm có thể quyết định từ nay không quan tâm ai nữa. Thế là hư vô không còn là một lý thuyết; nó trở thành lớp giáp bảo vệ trái tim. “Tôi không hy vọng nữa thì tôi sẽ không thất vọng nữa.” “Tôi không yêu nữa thì tôi sẽ không bị đau nữa.” Nghe có vẻ an toàn. Nhưng một trái tim không thể bị tổn thương cũng là một trái tim không thể yêu. Người ta tránh được đau khổ bằng cách biến mình thành đá, nhưng đá không đau vì đá cũng không sống.
Hãy nhìn Chúa Giêsu sau khi bị phản bội. Người không để phản bội biến mình thành kẻ phản bội. Người bị ghét nhưng không học cách ghét. Người bị bạo lực nhưng không trở thành bạo lực. Người bị sỉ nhục nhưng không sỉ nhục lại. Người bị đóng đinh mà vẫn cầu xin tha thứ cho những người đóng đinh mình. Đây không phải sự yếu đuối. Đây là sức mạnh đáng kinh ngạc nhất. Thế gian gọi mạnh là có thể làm cho kẻ khác đau. Tin Mừng gọi mạnh là bị làm đau mà vẫn không để sự dữ biến mình thành sự dữ. Rất dễ đánh trả người làm mình tổn thương. Khó hơn nhiều là không để họ quyết định mình sẽ trở thành loại người nào. Người làm bạn đau có thể đã lấy đi của bạn rất nhiều, nhưng nếu vì họ mà bạn trở nên cay độc, họ còn lấy thêm cả trái tim của bạn. Thánh Giá nói: đừng trao cho sự dữ quyền ấy.
Thánh Phaolô viết một câu mà mỗi Kitô hữu cần mang suốt đời: “Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác” (Rm 12,21). Câu ấy chỉ có thể hiểu tận cùng dưới chân Thánh Giá. Chúa Giêsu không thắng sự dữ bằng một sự dữ lớn hơn. Người thắng sự dữ bằng cách đón nhận toàn bộ sức tàn phá của nó mà không trả lại bằng hận thù. Trên Canvê, bạo lực ném tất cả vào Người, còn từ Người tuôn ra sự tha thứ. Tội lỗi đổ vào Người, còn từ cạnh sườn Người chảy ra máu và nước. Con người nói “đóng đinh”, còn Người nói “xin tha”. Hư vô nói không có tình yêu nào chịu nổi sự dữ của thế giới. Thánh Giá nói có một tình yêu chịu đến cùng mà không ngừng là tình yêu.
Điều này vô cùng quan trọng đối với xã hội hôm nay, nơi con người rất dễ bị cuốn vào những vòng xoáy phán xét. Một câu nói sai có thể bị đem ra làm bằng chứng để kết án cả một con người. Một lỗi lầm quá khứ có thể bị đào lên để phủ định mọi khả năng đổi mới. Người ta có thể vui mừng khi thấy người mình ghét thất bại. Có khi chúng ta không còn tìm công lý nữa mà tìm cảm giác được nhìn kẻ khác bị hạ xuống. Thánh Giá vạch trần tất cả. Bởi vì trên Thánh Giá, Thiên Chúa không phủ nhận tội lỗi nhưng cũng không đồng nhất tội nhân với tội của họ. Người trộm lành bị đóng bên cạnh Chúa không được bảo rằng những gì anh đã làm chẳng đáng kể. Chính anh thú nhận mình chịu như thế là đích đáng. Nhưng một đời người không bị khóa chết trong quá khứ. Chỉ một lời: “Lạy ông Giêsu, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi”, và từ Thánh Giá vang xuống: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Nếu có một nơi chứng minh không ai chỉ là tổng số những sai lầm của mình, đó là Canvê.
Hư vô nói con người không thể thực sự đổi thay. Tin Mừng nói ân sủng có thể bắt đầu lại ngay cả vào giờ cuối. Hư vô nói quá khứ quyết định hoàn toàn tương lai. Thánh Giá nói lòng thương xót có thể mở một cánh cửa ngay tại nơi mọi cửa khác đã đóng. Đó không phải là thứ ân sủng rẻ tiền dung túng tội lỗi. Người trộm lành không được tháo khỏi cây thập giá của hậu quả. Nhưng giữa hậu quả ấy, anh được trao một tương lai. Kitô giáo phân biệt rất rõ giữa việc một con người phải chịu trách nhiệm và việc một con người bị tuyệt đối hóa bởi lỗi lầm của mình. Chúng ta có thể lên án một hành vi mà không được quyền tuyên bố một linh hồn là vô giá trị.
Thánh Giá cũng đối diện với một dạng hư vô kín đáo hơn: hư vô của thành công. Người ta nghĩ hư vô chỉ xảy ra với những người thất bại. Không. Có người chỉ phát hiện đời mình trống rỗng sau khi đã đạt được điều họ từng mơ. Đó mới là cú sốc lớn. Khi chưa có tiền, người ta nghĩ có tiền sẽ giải quyết mọi thứ. Khi chưa có chức, nghĩ lên chức sẽ đủ. Khi chưa nổi tiếng, nghĩ được biết đến sẽ hạnh phúc. Rồi có được, họ vui một thời gian, sau đó khoảng trống trở lại. Vì không một vật hữu hạn nào có thể làm đầy một trái tim được dựng nên cho vô hạn. Tiền tốt khi nó là phương tiện, nhưng trở thành tàn nhẫn khi bị bắt làm cứu tinh. Thành công tốt khi là hoa trái của trách nhiệm, nhưng trở nên độc hại khi con người bắt nó trả lời câu hỏi “tôi là ai?”. Tình yêu của con người rất đẹp, nhưng nếu ta đòi một người phải trở thành Thiên Chúa của đời mình, ta sẽ nghiền nát họ bằng kỳ vọng mà không thụ tạo nào gánh nổi.
Thánh Augustinô từng diễn tả kinh nghiệm ấy bằng một trực giác không bao giờ cũ: lòng người khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Thiên Chúa. Hư vô hiện đại là bằng chứng ngược của chân lý ấy. Chúng ta có quá nhiều thứ để lấp khoảng trống mà khoảng trống vẫn còn. Có lẽ vấn đề không phải chúng ta chưa có đủ. Có lẽ vấn đề là chúng ta đang cố lấp một khoảng trống hình Thiên Chúa bằng những thứ không phải Thiên Chúa.
Trên Thánh Giá, Đức Kitô trần trụi. Không của cải. Không địa vị. Không tiện nghi. Không danh tiếng theo nghĩa thế gian. Và kỳ lạ thay, chính ở đó căn tính của Người sáng rõ nhất: Con yêu dấu trao mình cho Cha và cho nhân loại. Thánh Giá dạy chúng ta rằng khi mọi thứ phụ thuộc bị lấy đi, điều còn lại mới cho biết ta thực sự là ai. Có những thời điểm bệnh tật lấy sức khỏe khỏi ta; tuổi già lấy nhan sắc; thất bại lấy danh tiếng; nghỉ hưu lấy chức vụ; cái chết lấy tất cả tài sản. Nếu căn tính của tôi nằm hết trong những thứ ấy, mỗi lần mất một thứ, tôi mất một phần chính mình. Nhưng nếu căn tính sâu nhất của tôi là một người con được Thiên Chúa yêu, có những thứ mất đi rất đau nhưng không thể lấy tôi khỏi tôi.
Đây cũng là lý do tại sao cầu nguyện quan trọng trong cuộc chiến chống hư vô. Cầu nguyện không phải là một kỹ thuật tự trấn an. Cầu nguyện là để nhớ mình thuộc về ai. Trong một ngày, thế giới cho chúng ta hàng ngàn định nghĩa: bạn là chức vụ của bạn, hình ảnh của bạn, lỗi lầm của bạn, thành tích của bạn, tuổi tác của bạn, thân thể của bạn, tài khoản của bạn, những gì người ta nói về bạn. Cầu nguyện đưa ta trở lại trước ánh mắt của Đấng nói: “Con là của Cha.” Có những lúc chỉ cần ngồi trước Thánh Giá và để ánh mắt của Đấng bị đóng đinh nhìn mình. Không cần nói nhiều. Một người có thể dành cả đời để học chân lý nằm trong ánh mắt ấy: con không cần chứng minh con đáng được yêu; con được yêu trước khi con làm được bất cứ điều gì để xứng đáng.
Nhưng Thánh Giá không chỉ an ủi. Thánh Giá còn xét xử. Nó xét xử một đời sống ích kỷ. Xét xử một Kitô giáo quá tiện nghi. Xét xử một Giáo Hội nếu Giáo Hội muốn quyền lực mà không muốn phục vụ. Xét xử một người môn đệ muốn vinh quang nhưng không muốn hy sinh. Chúa Giêsu không nói: ai muốn theo Thầy hãy tìm cách tránh mọi khó khăn. Người nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). Những lời ấy không phải lời mời đi tìm đau khổ. Đừng tự tạo thập giá rồi gọi đó là thánh ý Chúa. Đừng dung túng bạo hành rồi nói phải vác thập giá. Đừng giữ người khác trong những tình trạng bất công bằng cách dùng đạo đức để bảo họ chịu đựng. Thánh Giá của Đức Kitô không làm cho bất công trở thành thánh. Chính Người đã đối diện sự dữ và gọi nó bằng tên của nó. Vác thập giá nghĩa là chấp nhận cái giá của tình yêu, của sự thật, của lòng trung tín, của trách nhiệm.
Một người cha dậy sớm làm việc để nuôi gia đình đang biết một phần của thập giá. Một người mẹ thức đêm bên đứa con bệnh biết một phần của thập giá. Một người quyết không gian lận dù có thể mất lợi ích biết một phần của thập giá. Một người tha thứ dù trong lòng còn đau biết một phần của thập giá. Một linh mục vẫn trung thành với sứ vụ trong những ngày không còn được ai ghi nhận biết một phần của thập giá. Một tu sĩ sống lời khấn khi cảm xúc ban đầu đã qua biết một phần của thập giá. Một người bệnh vẫn cố mỉm cười để người thân bớt lo biết một phần của thập giá. Một người bị hiểu lầm nhưng không trả đũa biết một phần của thập giá. Thập giá thường không có hình hai thanh gỗ. Nó có hình một bổn phận cần làm khi chẳng ai nhìn thấy. Có hình một lời xin lỗi rất khó nói. Có hình một lần im lặng để khỏi gây thêm một vết thương. Có hình một quyết định bỏ một thói quen đang phá đời mình. Có hình một cuộc trung tín kéo dài nhiều năm.
Hư vô nói: nếu việc ấy không làm bạn vui thì đừng làm. Thánh Giá hỏi: việc ấy có đáng yêu không? Hai câu hỏi rất khác nhau. Một nền văn hóa được tổ chức hoàn toàn quanh cảm xúc sẽ rất khó hiểu trung tín. Vì cảm xúc thay đổi. Hôm nay thích, mai không thích. Hôm nay hứng thú, mai chán. Nếu chỉ làm điều gì khi cảm thấy muốn làm, người ta khó xây được bất cứ điều gì lâu bền. Hôn nhân cần nhiều hơn cảm xúc. Ơn gọi cần nhiều hơn cảm xúc. Tình bạn cần nhiều hơn cảm xúc. Đức tin cũng cần nhiều hơn cảm xúc. Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu không “cảm thấy thích” Thánh Giá. Người nói rõ: “Lạy Cha, nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén này.” Nhưng Người thêm: “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39). Tình yêu trưởng thành bắt đầu khi con người có thể làm điều tốt không chỉ lúc cảm xúc nâng đỡ mà cả lúc cảm xúc im tiếng.
Có lẽ một trong những bi kịch của hư vô là nó khiến con người nhầm lẫn giữa “tôi không cảm thấy ý nghĩa” và “không có ý nghĩa”. Một người mẹ chăm sóc đứa con khuyết tật có thể có nhiều ngày kiệt sức không cảm thấy gì cao đẹp. Nhưng tình yêu của bà không vì vậy mà vô nghĩa. Một người đang chiến đấu với một thói quen xấu có thể thất bại rồi lại bắt đầu, nhiều năm không thấy tiến bộ rõ rệt. Sự cố gắng đó vẫn có ý nghĩa. Một linh mục bước lên bàn thờ một buổi sáng với tâm hồn khô khan vẫn có thể trao cho cộng đoàn một Thánh Lễ đầy ơn. Ý nghĩa không luôn luôn phải được cảm thấy để là thật.
Điều ấy đưa chúng ta trở lại với chiều Thứ Sáu trên đồi Canvê. Nếu có ai nhìn cảnh đó mà chỉ căn cứ vào những gì mắt thấy, họ sẽ kết luận: thất bại. Một nhà giảng thuyết trẻ chết ngoài thành. Nhóm môn đệ tan tác. Kẻ thù thắng. Đám đông bỏ đi. Thi hài sắp được đặt vào mồ. Không có gì cho thấy đây là trung tâm của lịch sử. Nhưng ba ngày sau, mọi thứ được đọc lại. Chúng ta thường muốn biết ý nghĩa của biến cố khi đang ở giữa biến cố. Không phải lúc nào cũng được. Có những chương đời chỉ hiểu được khi đọc cùng chương sau. Có những giọt nước mắt hôm nay chưa giải thích được. Có những mất mát chúng ta chỉ có thể trao cho Chúa và nói: “Con chưa hiểu. Nhưng con không muốn vì chưa hiểu mà ngừng tin.”
Đức tin không phải sự chắc chắn rằng cuộc đời sẽ đi theo kịch bản tôi muốn. Đức tin là sự chắc chắn rằng dù kịch bản nào xảy ra, Thiên Chúa vẫn không ngừng là Thiên Chúa. Chúng ta thường cầu xin Chúa làm bằng chứng về tình yêu của Người bằng cách cho điều mình muốn. Thánh Giá đảo ngược vấn đề. Bằng chứng tối hậu về tình yêu của Chúa đã được trao rồi: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” (Rm 5,8). Khi hiểu điều ấy, chúng ta không còn phải giải thích từng đau khổ như bằng chứng Chúa yêu hay không yêu. Những ngày tốt không chứng minh Chúa yêu ta hơn. Những ngày xấu không chứng minh Người yêu ta ít hơn. Thánh Giá đã nói đủ.
Một thế giới hư vô rất sợ cái chết vì cái chết vạch trần mọi ảo tưởng. Bạn có thể dành cả đời để tích lũy, nhưng một ngày phải bỏ lại. Bạn có thể xây dựng hình ảnh, nhưng một ngày chẳng còn quan trọng. Bạn có thể đứng trên những đỉnh cao, nhưng một ngày người khác sẽ thay chỗ. Nếu không có gì bên kia cái chết, cái chết là kẻ cười cuối cùng. Nhưng Kitô giáo bắt đầu ở một ngôi mộ trống. Chúng ta không tin vào sự bất tử vì không chịu nổi ý nghĩ phải chết. Chúng ta tin vì các Tông đồ đã công bố rằng Đấng bị đóng đinh đang sống. Điều đáng chú ý là Tin Mừng không che giấu Thánh Giá để kể Phục Sinh. Đức Giêsu Phục Sinh vẫn mang những dấu đinh. Người nói với Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy” (Ga 20,27). Vết thương không biến mất. Vết thương được biến đổi.
Có một niềm hy vọng rất sâu ở đây cho tất cả chúng ta. Ơn cứu độ không nhất thiết có nghĩa Thiên Chúa xóa khỏi lịch sử mọi điều đau đớn như thể nó chưa từng xảy ra. Người có thể biến chính những vết thương ấy thành nơi ân sủng đi qua. Có người sau một lần đổ vỡ trở nên biết cảm thông hơn. Có người sau bệnh tật biết quý từng ngày. Có người sau khi được tha thứ biết thương người phạm lỗi. Có linh mục sau một giai đoạn khô khan lại hiểu những tâm hồn đau khổ hơn. Có cha mẹ sau những năm vất vả mới nhận ra tình yêu đã làm họ lớn lên thế nào. Điều làm ta đau không tự động làm ta nên thánh. Đau khổ cũng có thể làm ta cay độc. Nhưng nếu được trao cho Đức Kitô, nó có thể trở thành một vết thương Phục Sinh: vẫn là vết thương nhưng không còn chảy độc; nó trở thành cửa cho lòng thương xót.
Và có lẽ đó chính là điều thời đại chúng ta cần nhất: không phải những người chưa từng bị thương, nhưng những người đã bị thương mà vẫn biết yêu. Không phải những người chưa bao giờ thất vọng, nhưng những người đã đi qua thất vọng mà vẫn không trở thành hư vô. Không phải những người có mọi câu trả lời, nhưng những người biết ở bên người đau mà không bỏ chạy. Thế giới có quá nhiều diễn giả; thế giới đang thiếu chứng nhân. Người ta không cần nghe thêm rằng tình yêu tồn tại; họ cần gặp một người yêu họ khi họ không đáng yêu. Không cần nghe thêm rằng tha thứ là đẹp; họ cần được tha thứ. Không cần nghe thêm rằng Thiên Chúa gần người nghèo; họ cần thấy một Kitô hữu chịu ngồi xuống bên người nghèo. Nếu Thánh Giá chỉ treo trên tường nhà thờ mà không đi vào cách chúng ta đối xử với nhau, nó sẽ bị biến thành vật trang trí.
Chúng ta phải hỏi một câu nghiêm túc: người khác có thể gặp hình dáng của Thánh Giá nơi đời tôi không? Họ có thấy một cánh tay dang ra đón người bị bỏ rơi không? Có thấy một trái tim biết chịu tổn thương mà không trả thù không? Có thấy một con người biết cúi xuống không? Có thấy một người dám trả giá cho sự thật không? Hay họ chỉ thấy một Kitô hữu cũng chạy theo thành công, quyền lực, tiền bạc, danh tiếng như mọi người, chỉ khác là có thêm một cây thánh giá trên cổ?
Có một cách vô tình làm cho chủ nghĩa hư vô mạnh hơn: đó là khi Kitô hữu nói về Thiên Chúa nhưng sống như thể Thiên Chúa không hiện hữu. Khi người có đạo cũng gian dối vì “ai cũng thế”; cũng tham lam vì “phải lo cho mình”; cũng trả thù vì “không thể để người ta coi thường”; cũng chạy theo danh lợi vì “đời chỉ có một lần”; khi ấy chúng ta đang giảng hư vô bằng chính đời sống, dù môi miệng đọc Kinh Tin Kính mỗi Chúa nhật. Nếu thực sự tin rằng Đức Kitô đã sống lại, cách chúng ta sống phải khác. Không nhất thiết khác bằng những điều ngoạn mục. Khác ở cách sử dụng tiền. Khác ở cách nói về người vắng mặt. Khác ở cách đối xử với người không đem lại lợi ích. Khác ở cách chịu thất bại. Khác ở cách đối diện bệnh tật. Khác ở cách chúng ta chết.
Các vị tử đạo là lời phản bác mạnh nhất đối với hư vô. Tại sao một con người có thể bước tới cái chết mà vẫn hát? Vì họ đã tìm thấy một điều quý hơn sự sống sinh học. Người hư vô không thể hiểu tử đạo, bởi nếu đời sống thể lý là giá trị cao nhất, hy sinh nó là phi lý. Nhưng người Kitô hữu biết có một sự sống sâu hơn sự tồn tại của thân xác: hiệp thông với Thiên Chúa. Các vị tử đạo không ghét đời; chính vì yêu đời đúng cách, họ không biến đời thành thần tượng. Người chỉ có thể tự do trao một điều khi biết điều ấy không phải tuyệt đối.
Chúng ta không cần phải đổ máu mới sống tinh thần tử đạo. Mỗi ngày có những cuộc tử đạo bé nhỏ của cái tôi. Chết đi một lời muốn nói để làm đau người khác. Chết đi một nhu cầu phải luôn thắng. Chết đi ham muốn được công nhận. Chết đi một chút ích kỷ để dành thời gian cho người cần mình. Chết đi sự cố chấp để có thể xin lỗi. Chết đi định kiến để thực sự lắng nghe. Chính những cái chết nhỏ ấy làm đời sống lớn lên. Đây là điều mà hư vô không hiểu: có những thứ phải chết để ta được sống.
Hạt lúa là hình ảnh Chúa Giêsu dùng cho chính mầu nhiệm ấy: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Hạt lúa được an toàn nếu giữ nguyên vỏ của nó. Nhưng sự an toàn ấy là vô sinh. Nó chỉ trở thành điều mình được tạo dựng để trở thành khi chấp nhận vỡ ra. Con người cũng vậy. Một người giữ mọi sự cho mình có thể bảo vệ mình rất tốt, nhưng cuối cùng “trơ trọi một mình”. Một cuộc đời chỉ thực sự sinh hoa khi biết trao mình.
Ở đây Thánh Giá cho chúng ta một tiêu chuẩn để phân định ý nghĩa của đời người. Câu hỏi cuối cùng không phải: tôi đã có bao nhiêu? Cũng không phải: bao nhiêu người biết tôi? Cũng không phải: tôi đã sống bao lâu? Nhưng: tôi đã yêu thế nào? Điều ấy làm thay đổi tất cả. Một đời ngắn có thể rất đầy. Một đời dài có thể rất rỗng. Một người bình thường có thể để lại một di sản lớn trong vài trái tim. Một người nổi danh có thể được hàng triệu người biết mà chẳng được ai thực sự yêu. Trên trời, có thể bảng xếp hạng của Thiên Chúa rất khác bảng xếp hạng của chúng ta.
Và rồi một ngày mỗi người sẽ đến giờ Thánh Giá riêng của mình, giờ phải buông tất cả. Khi ấy, những điều ta từng xem là quan trọng sẽ tự sắp xếp lại. Không ai nằm trên giường chết xin đem thêm danh hiệu treo quanh giường. Ít ai ước mình đã dành thêm nhiều giờ để làm việc chỉ để có thêm một ít tiền. Người ta nhớ những khuôn mặt. Nhớ những lần đã yêu. Có khi nhớ những lời lẽ ra phải nói mà chưa nói. Cái chết có một khả năng đáng sợ nhưng quý giá: nó dạy chúng ta điều gì thực sự quan trọng. Người Kitô hữu không cần chờ đến phút cuối mới học bài ấy. Mỗi lần nhìn Thánh Giá, chúng ta được nhắc: đời rất ngắn; hãy yêu khi còn có thể.
Nếu hôm nay có ai đang đứng bên bờ của hư vô, cảm thấy mọi thứ vô nghĩa, tôi không muốn nói với họ những câu quá dễ dàng. Tôi chỉ muốn mời họ nhìn Đấng bị đóng đinh. Hãy nhìn thật lâu. Bạn có thể chưa tin ngay. Bạn có thể còn giận Thiên Chúa. Bạn có thể không hiểu tại sao chuyện ấy xảy đến với mình. Bạn thậm chí có thể không cầu nguyện nổi. Nhưng hãy nhìn Người. Hãy nói thật điều bạn đang có trong lòng. Chúa chịu được cả cơn giận của bạn. Thánh vịnh chứa đầy những câu hỏi dữ dội. Đức Giêsu trên Thánh Giá cũng đã kêu một lời tưởng như bên bờ tuyệt vọng. Đức tin không đòi bạn giả vờ ổn. Đức tin chỉ mời bạn đừng đóng cửa với khả năng rằng trong đêm tối này, có một Đấng đang ở với bạn mà bạn chưa nhận ra.
Có thể bạn nói: “Đời tôi đã hỏng.” Hãy nhìn người trộm lành. Có thể bạn nói: “Tôi đã phản bội Chúa quá nhiều.” Hãy nhớ Phêrô. Có thể bạn nói: “Tôi không xứng đáng.” Hãy nhớ người phụ nữ tội lỗi khóc dưới chân Chúa. Có thể bạn nói: “Tôi cô độc.” Hãy nhìn Đức Giêsu bị các môn đệ bỏ chạy. Có thể bạn nói: “Tôi sợ chết.” Hãy vào vườn Cây Dầu với Người. Có thể bạn nói: “Thiên Chúa im lặng.” Hãy đứng trên Canvê khi Chúa Con cũng kêu lên trong sự im lặng ấy. Kitô giáo không nói rằng vì bạn tin nên sẽ không còn trải qua những cảm giác ấy. Kitô giáo nói rằng không một cảm giác nào trong những cảm giác ấy là vùng đất mà Đức Kitô chưa đi qua.
Thánh Giá cuối cùng không cho chúng ta một lời giải thích, nhưng cho chúng ta một Con Người. Đây là điều rất quan trọng. Trước mầu nhiệm đau khổ, một lời giải thích có giới hạn; một sự hiện diện có thể cứu. Đứa trẻ ngã đau không cần mẹ trình bày cơ chế thần kinh của cơn đau; nó cần được ôm. Có lẽ nhân loại cũng vậy. Chúng ta hỏi Thiên Chúa tại sao có đau khổ. Và câu trả lời sâu nhất của Người là chính Người đến ở với chúng ta trong đau khổ. Ngôi Lời đã làm người. Thiên Chúa đã có da thịt để có thể bị thương, có mắt để có thể khóc, có trái tim để có thể bị đâm thâu. Từ đó chúng ta biết Thiên Chúa không cứu thế giới từ xa.
Nếu hư vô là lời tuyên bố rằng không có gì đáng để trao đời mình, thì Thánh Giá là lời tuyên bố rằng có một tình yêu đáng để sống, đáng để chết và đáng để sống lại. Nếu hư vô là sự tuyệt vọng rằng cuối cùng mọi thứ sẽ tan vào hư không, thì Thánh Giá và ngôi mộ trống công bố rằng những gì được trao trong tình yêu sẽ không mất. “Tình yêu không bao giờ mất được” (1 Cr 13,8). Có thể chẳng ai nhớ bữa cơm bạn đã nấu cho người nghèo. Chúa nhớ. Có thể chẳng ai biết những đêm bạn cầu nguyện cho con. Chúa biết. Có thể chẳng ai biết bạn đã phải chiến đấu thế nào để không trả thù. Chúa biết. Có thể công việc âm thầm của bạn không lên báo, không được vỗ tay. Trong Nước Trời, không tình yêu nào bị thất lạc.
Vì thế, câu trả lời Kitô giáo dành cho chủ nghĩa hư vô không phải là một khẩu hiệu: “Cuộc đời có ý nghĩa.” Câu trả lời là một Đấng chịu đóng đinh và phục sinh. Ý nghĩa của đời người không phải do chúng ta tự chế ra để an ủi mình trước cái chết. Ý nghĩa ấy có một khuôn mặt. Có những bàn tay mang dấu đinh. Có một cạnh sườn bị đâm thâu. Có một tiếng gọi tên Maria bên ngôi mộ. Có một lời nói với Tôma: “Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Có một bếp than bên hồ Tibêria nơi một kẻ phản bội được hỏi ba lần: “Con có yêu Thầy không?” Kitô giáo không kết thúc với một hệ tư tưởng mà với một tương quan: “Con có yêu Thầy không?”
Có lẽ đến cuối cùng đó là câu hỏi duy nhất đủ sức cứu chúng ta khỏi hư vô. Không phải: con có thành công không? Không phải: người ta có công nhận con không? Không phải: cuộc đời có diễn ra đúng ý con không? Nhưng: con có yêu không? Và sâu hơn nữa: con có để cho mình được yêu không?
Nhiều người có thể yêu người khác phần nào nhưng lại không tin mình được yêu. Họ mang trong lòng những vết thương từ rất lâu, những câu nói từng nghe từ cha mẹ, những thất bại, những tội lỗi khiến họ xấu hổ. Họ nghĩ Chúa có thể yêu người tốt, chứ không thể yêu họ. Hãy nhìn Thánh Giá. Nếu Thiên Chúa chỉ yêu người xứng đáng, Thánh Giá không cần xảy ra. Chúa Giêsu không chết cho phiên bản hoàn hảo của bạn trong tương lai. Người chết cho bạn khi bạn còn là người tội lỗi. Thánh Phaolô nói rất rõ: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi.” Không phải sau khi chúng ta sửa được hết. Không phải sau khi đủ thánh thiện. Ngay khi còn là tội nhân.
Đó là cú đánh cuối cùng vào hư vô. Hư vô thì thầm: “Bạn chẳng đáng gì.” Thánh Giá nói: “Bạn đáng giá bằng máu của Con Thiên Chúa.” Hư vô thì thầm: “Không ai thực sự cần bạn.” Thánh Giá nói: “Ta khát.” Hư vô thì thầm: “Quá muộn rồi.” Thánh Giá nói với người trộm lành: “Hôm nay.” Hư vô nói: “Tất cả đã hết.” Đức Kitô Phục Sinh nói: “Bình an cho anh em.”
Và vì thế, mỗi khi thế giới tối lại, mỗi khi lòng người nguội lạnh, mỗi khi những lý tưởng tan vỡ, mỗi khi chúng ta thấy mình đang bị kéo vào sự cay độc, hãy trở về với Thánh Giá. Không phải để trốn khỏi đời, nhưng để học lại cách sống. Không phải để say mê đau khổ, nhưng để học tình yêu có khả năng mang đau khổ. Không phải để bi quan, nhưng để có một niềm hy vọng không cần phủ nhận thực tế. Không phải để trở nên yếu đuối, nhưng để học sức mạnh của một trái tim không chịu để hận thù thống trị.
Chúa Giêsu không xuống khỏi Thánh Giá khi người ta thách thức Người. “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi!” Nếu Người xuống, có lẽ đám đông sẽ tin vào quyền lực. Nhưng vì Người ở lại, nhân loại được thấy tình yêu. Chúng ta thường muốn Chúa chứng minh mình bằng cách tháo mọi thập giá khỏi đời. Có khi điều Người làm còn sâu hơn: Người ở lại với ta trên đó. Và có những lúc chính sự hiện diện ấy là phép lạ lớn nhất.
Thế giới hiện đại có thể tiếp tục nói rằng không có chân lý cuối cùng, không có mục đích tối hậu, không có gì sau cái chết. Thánh Giá không tranh cãi bằng tiếng ồn. Nó chỉ đứng đó. Hai ngàn năm qua nó vẫn đứng. Bao đế quốc đã biến mất. Bao hệ tư tưởng đã nổi lên rồi sụp xuống. Bao người từng chế nhạo Thánh Giá đã trở thành bụi. Cây gỗ ấy vẫn đứng giữa các nhà thờ, trong bệnh viện, trên ngôi mộ, trên ngực những người tin, trong những căn phòng nơi người hấp hối đang cầm một cây thánh giá nhỏ. Tại sao? Vì con người biết sâu trong lòng rằng mình cần một tình yêu mạnh hơn cái chết.
Có thể toàn bộ Tin Mừng được tóm trong hình ảnh ấy: Thiên Chúa không cứu con người bằng cách đứng trên cao hét xuống: “Hãy trèo lên đây.” Người đi xuống tận chỗ con người đang nằm. Xuống máng cỏ. Xuống đường phố Galilê. Xuống bàn ăn của người tội lỗi. Xuống bên người phong cùi. Xuống vườn Cây Dầu. Xuống pháp đình. Xuống Thánh Giá. Xuống mồ. Xuống tận nơi thấp nhất để từ đó không ai còn có thể nói: “Chúa chưa từng ở chỗ của tôi.”
Không. Nếu bạn ở trong bóng tối, Người đã ở đó. Nếu bạn bị bỏ rơi, Người đã ở đó. Nếu bạn đau, Người đã ở đó. Nếu bạn đứng trước cái chết, Người đã ở đó. Nhưng Người không ở lại đó. Và đây là niềm hy vọng Kitô giáo: nơi Đức Kitô đi qua, không một vực thẳm nào còn là ngõ cụt.
Vậy nên, trước chủ nghĩa hư vô của thời đại, người Kitô hữu không cần hoảng sợ. Điều chúng ta phải làm không chỉ là thắng một cuộc tranh luận, nhưng sống một đời có hình Thánh Giá. Hãy sống sao để người khác nhìn vào và nhận ra rằng vẫn có những điều đáng để hy sinh. Vẫn có người trung tín. Vẫn có người tha thứ. Vẫn có người không bán lương tâm. Vẫn có người chăm sóc kẻ yếu mà không được lợi gì. Vẫn có người ở lại với người bệnh. Vẫn có người nói sự thật bằng lòng thương xót. Vẫn có người yêu mà không chiếm hữu. Vẫn có người hy vọng khi chẳng còn lý do dễ dàng để hy vọng. Chính những con người ấy là những lời phản bác sống động nhất đối với hư vô.
Một ngọn nến không cần tranh luận với bóng tối. Nó chỉ cần cháy.
Một người Kitô hữu cũng vậy.
Có thể chúng ta không thay đổi được cả thời đại. Nhưng ta có thể khiến một người bên cạnh mình tin rằng đời sống vẫn đáng sống vì họ đã được yêu. Có thể ta không giải quyết được hết đau khổ của nhân loại. Nhưng ta có thể làm cho một người đang đau không phải đau một mình. Có thể ta không có những bài diễn thuyết triết học lớn lao để phản bác chủ nghĩa hư vô. Nhưng nếu một người vì gặp ta mà có can đảm sống thêm một ngày, tha thứ thêm một lần, tin lại vào lòng tốt, bắt đầu lại sau thất bại, thì Thánh Giá đã chiến thắng một phần trong cuộc đời ấy.
Và khi chính chúng ta một ngày kia bước đến ranh giới cuối cùng, khi những thứ đã từng làm ta bận tâm trở nên nhỏ bé, có lẽ chúng ta sẽ không còn cần một lý thuyết dài về ý nghĩa. Chỉ cần nhìn thấy cây Thánh Giá và nhớ: Đấng đã đi qua cái chết này đang chờ phía bên kia. Người từng nói với người trộm lành “Hôm nay anh sẽ ở với tôi.” Người từng nói với Maria “Thầy đây.” Người từng nói với các môn đệ “Thầy ở cùng anh em mọi ngày.” Người cũng sẽ không bỏ ta trong giờ cuối.
Thánh Giá vì thế không phải biểu tượng của một Thiên Chúa thất bại. Đó là nơi mọi định nghĩa của thế gian về thành công bị đảo lộn. Không phải nơi Thiên Chúa vắng mặt, mà là nơi Người bước vào sự vắng mặt của chúng ta. Không phải lời tôn vinh đau khổ, mà là lời công bố rằng ngay cả đau khổ cũng không thể ngăn tình yêu. Không phải dấu chấm hết, nhưng là cánh cửa mở sang Phục Sinh.
Lm. Anmai, CSsR

ĐAU KHỔ VÔ NGHĨA CỦA THẾ KỶ XX–XXI VÀ CÂU TRẢ LỜI CỦA THÁNH GIÁ
Có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử nhân loại, con người lại có nhiều phương tiện để làm cho cuộc sống dễ chịu như hôm nay, nhưng cũng có lẽ chưa bao giờ câu hỏi về ý nghĩa của đau khổ lại trở nên nhức nhối đến thế. Thế kỷ XX đã khép lại với những nghĩa trang không thể đếm hết, những trại tập trung, những hố chôn tập thể, những thành phố bị san bằng, những thân người cháy thành tro trong một khoảnh khắc, những đoàn người lưu lạc không còn quê hương, những bà mẹ đứng trước phần mộ con, những đứa trẻ lớn lên giữa tiếng súng, những con người bị biến thành con số trong những guồng máy chính trị lạnh lùng. Thế kỷ XXI bước sang với lời hứa về một thế giới văn minh hơn, kết nối hơn, giàu có hơn, khoa học hơn, nhưng đau khổ vẫn không biến mất. Nó chỉ đổi khuôn mặt. Bên cạnh chiến tranh vẫn là chiến tranh; bên cạnh đói nghèo vẫn là đói nghèo; bên cạnh bệnh tật vẫn là bệnh tật; lại thêm những nỗi khổ rất hiện đại: sự cô độc giữa hàng nghìn kết nối, trầm mặc giữa một thế giới ồn ào, cảm giác bị bỏ lại phía sau trong xã hội chạy quá nhanh, sự tan vỡ của gia đình, sự mất phương hướng của người trẻ, áp lực thành công, nỗi bất an trước tương lai, cảm giác mình không còn cần thiết cho bất cứ ai. Người ta sống lâu hơn, nhưng không phải lúc nào cũng biết sống để làm gì. Người ta biết nhiều hơn, nhưng không chắc đã hiểu mình hơn. Người ta có thể nói chuyện với người ở nửa vòng trái đất trong vài giây, nhưng có khi lại không thể nói một lời thật lòng với người ngồi bên cạnh. Và từ tận đáy của tất cả những nghịch lý ấy bật lên một câu hỏi rất cũ mà cũng rất mới: Nếu Thiên Chúa hiện hữu, tại sao lại có đau khổ? Nếu Thiên Chúa là tình yêu, tại sao Ngài để cho những chuyện như thế xảy ra? Nếu đời người cuối cùng chỉ là sinh ra, vật lộn, mất mát rồi chết, thì tất cả có nghĩa gì?
Câu hỏi ấy không phải là một bài toán thần học dành cho những người rảnh rỗi. Nó là tiếng kêu bật ra từ một căn phòng bệnh viện lúc nửa đêm. Nó là ánh mắt của người mẹ nhìn đứa con hấp hối. Nó là tiếng thở dài của người chồng vừa mất vợ sau mấy chục năm chung sống. Nó là sự im lặng của một người vừa nhận được kết quả xét nghiệm mà đời mình từ đó không còn như trước. Nó là câu hỏi của một người cha thất nghiệp khi trở về căn nhà có những đứa con đang chờ tiền học. Nó nằm trong trái tim người bị phản bội, người bị bỏ rơi, người bị vu oan, người đã cố sống tử tế mà vẫn gặp tai ương. Những lúc ấy, không ai cần một công thức. Một người đang đau không cần nghe một bài diễn thuyết giải thích tại sao họ phải đau. Có những lời giải thích dù đúng về mặt lý luận vẫn có thể trở thành tàn nhẫn khi đặt trước một trái tim đang tan vỡ. Và Kitô giáo, nếu trung thành với Đức Kitô, cũng không được phép đứng bên ngoài nỗi đau của con người để giảng giải. Bởi câu trả lời sâu nhất của Kitô giáo về đau khổ không phải là một lý thuyết. Câu trả lời ấy là một Con Người. Một Con Người bị đóng đinh.
Thánh Giá đứng giữa Kitô giáo như một nghịch lý không thể loại bỏ. Người Kitô hữu không thờ đau khổ. Người Kitô hữu không tin đau khổ tự nó là tốt. Không có gì trong Tin Mừng cho phép chúng ta biến đau khổ thành một thứ thần tượng hay bảo rằng con người phải tìm kiếm đau khổ để làm đẹp lòng Thiên Chúa. Đức Giêsu chữa người bệnh, cho người đói ăn, giải thoát người bị quỷ ám, khóc trước mộ Ladarô, động lòng thương đám đông, bảo vệ người yếu thế. Ngài không đi qua nỗi đau của con người với thái độ lạnh lùng. Chính vì thế, khi nhìn lên Thánh Giá, điều đầu tiên phải nói cho thật rõ là: Thiên Chúa không đứng về phía những kẻ tạo ra thập giá cho người khác. Ngài đứng về phía những người bị đóng đinh. Thiên Chúa không phải là người tra tấn; Ngài là Đấng chịu đóng đinh. Thiên Chúa không đứng trong dinh Philatô để rửa tay; Ngài đứng trước Philatô, tay bị trói. Thiên Chúa không đứng giữa đám đông để la lên “Đóng đinh nó đi!”; Ngài là Người bị đám đông đòi đóng đinh. Thiên Chúa không cầm búa đóng đinh; Ngài giang tay để cho những chiếc đinh xuyên qua. Đó là một điều kỳ lạ đến mức con người phải mất cả đời mới hiểu được phần nào: trước câu hỏi tại sao con người đau khổ, Thiên Chúa đã không trả lời từ trời cao. Ngài bước xuống và đau khổ với con người.
Đó chính là điều làm cho Thánh Giá khác tất cả những câu trả lời triết học về sự dữ. Triết học có thể phân tích nguồn gốc của đau khổ. Tâm lý học có thể giúp con người đối diện với thương tổn. Y khoa có thể giảm bớt đau đớn của thân xác. Xã hội học có thể chỉ ra những cơ cấu gây bất công. Chính trị có thể – và phải – tìm cách xây dựng một thế giới ít chiến tranh, ít áp bức, ít đói nghèo hơn. Tất cả đều cần thiết. Đức tin Kitô giáo không thay thế những điều ấy. Nhưng vẫn có một vùng tối mà không khoa học nào bước vào thay con người được: lúc một người phải một mình đối diện với sự chết; lúc một người không thể quay ngược điều đã mất; lúc mọi câu “tại sao” đều không còn câu trả lời. Chính tại vùng tối ấy, Thánh Giá hiện ra. Không như một lời giải thích, mà như một sự hiện diện. Người đau khổ nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh và khám phá rằng trong nơi sâu nhất của nỗi đau mình, đã có một Người đi qua trước.
Tin Mừng theo thánh Máccô kể một câu mà có lẽ phải được đọc thật chậm khi nói về đau khổ của nhân loại: “Vào giờ thứ chín, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: ‘Êlôi, Êlôi, lama sabácthani!’, nghĩa là: ‘Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?’” (Mc 15,34). Đây không phải tiếng kêu của một người đứng ngoài đau khổ. Đây là tiếng kêu từ đáy của đau khổ. Đức Giêsu không đóng kịch đau đớn. Ngài không đi qua cái chết bằng một thứ bình thản vô cảm của thần linh. Ngài run sợ trong Vườn Cây Dầu. Ngài buồn đến chết được. Ngài xin các môn đệ ở lại với mình. Ngài đổ mồ hôi như máu. Ngài bị bạn phản bội, môn đệ chối bỏ, đám đông quay lưng, quyền lực kết án, lính tráng chế nhạo, người qua đường nhục mạ. Và cuối cùng, trên đỉnh đồi Golgotha, Ngài đi vào cả kinh nghiệm mà con người sợ nhất: cảm giác bị chính Thiên Chúa bỏ rơi. Không phải vì Chúa Cha thực sự ngừng yêu Chúa Con, nhưng vì trong nhân tính của mình, Đức Kitô đi đến tận cùng cái vực sâu của thân phận con người. Ngài mang lấy cả tiếng kêu của những người không còn cảm nhận được Thiên Chúa. Từ đó, không còn một bóng tối nhân sinh nào mà Đức Kitô chưa từng chạm tới.
Thế kỷ XX nhìn thấy Auschwitz. Thế kỷ XX nhìn thấy Hiroshima và Nagasaki. Thế kỷ XX chứng kiến hai cuộc thế chiến, những cuộc thanh trừng, những cuộc diệt chủng, những chế độ đã nghiền nát con người dưới danh nghĩa lý tưởng. Có những nơi mà sự dữ không còn mang khuôn mặt của một cá nhân độc ác nhưng trở thành cả một hệ thống được tổ chức rất khoa học. Người ta có thể giết hàng nghìn người bằng thủ tục hành chính. Người ta có thể đưa một đoàn người vào chỗ chết bằng những bảng biểu, con dấu và mệnh lệnh. Đó là điều làm cho đau khổ hiện đại trở nên kinh khủng: sự dữ có thể khoác áo lý trí, kỹ thuật, hiệu quả và tiến bộ. Con người không còn giết nhau chỉ trong một cơn giận. Con người có thể xây cả một guồng máy để giết nhau thật hiệu quả. Sau những thảm họa ấy, nhiều người đã hỏi: Thiên Chúa ở đâu? Và chúng ta không được trả lời quá nhanh. Có những câu hỏi phải được quỳ xuống trước khi trả lời. Có những nỗi đau mà lời nói đầu tiên của Hội Thánh phải là sự im lặng, là nước mắt, là việc ngồi bên cạnh người đau khổ. Nhưng sau sự im lặng ấy, Kitô giáo vẫn chỉ tay về Golgotha và nói một điều rất khiêm tốn: Thiên Chúa ở đó. Ở giữa những người bị hành hạ. Ở giữa những người bị tước mất nhân phẩm. Ở giữa những kẻ bị lột trần, bị đánh đập, bị chế nhạo, bị giết oan. Không phải để hợp thức hóa đau khổ của họ, nhưng để nói rằng đau khổ ấy không nằm ngoài trái tim Thiên Chúa.
Điều đó không giải thích tại sao Auschwitz xảy ra. Thánh Giá không biến sự dữ thành điều hợp lý. Và đây là điểm rất quan trọng. Có những đau khổ không có ý nghĩa tự thân. Một em bé bị sát hại không phải là một “bài học” Thiên Chúa gửi đến cho gia đình em. Một người phụ nữ bị bạo hành không được mời gọi tiếp tục chịu đựng chỉ để “vác thập giá”. Một dân tộc bị tàn sát không thể được giải thích bằng câu “Chúa có chương trình của Ngài”. Một đứa trẻ sinh ra trong chiến tranh rồi chết vì bom đạn không phải là quân cờ trong một kế hoạch huyền bí nào đó mà con người phải ngoan ngoãn chấp nhận. Có những đau khổ là hậu quả trực tiếp của tội lỗi, ích kỷ, tham vọng, bạo lực và sự vô trách nhiệm của con người. Gọi chúng là “ý Chúa” là xúc phạm Thiên Chúa. Thánh Giá không nói rằng sự dữ có lý. Thánh Giá nói rằng ngay cả khi sự dữ hoàn toàn vô lý, tình yêu Thiên Chúa vẫn có khả năng bước vào đó và không để cho sự dữ có tiếng nói cuối cùng.
Đây chính là sự khác biệt giữa “ý nghĩa của đau khổ” và “ý nghĩa trong đau khổ”. Đau khổ tự nó có thể hoàn toàn phi lý. Ung thư không cần có ý nghĩa. Một tai nạn không cần có ý nghĩa. Một cuộc phản bội không cần có ý nghĩa. Cái chết của một người trẻ không cần phải được tô màu để trở thành một câu chuyện đẹp. Kitô giáo không ép người đang khóc phải mau chóng tìm ra một “bài học tích cực”. Có những mất mát mà suốt đời người ta vẫn thấy là mất mát. Có những vết thương lành da nhưng không biến mất. Có những chiếc ghế trống trong gia đình mà dù bao nhiêu năm trôi qua, người ta vẫn nhìn thấy. Đức tin không xóa những chiếc ghế trống ấy. Nhưng Đức tin nói rằng Thiên Chúa có thể ở bên chiếc ghế trống. Và nếu đau khổ tự nó không có ý nghĩa, thì con người vẫn có thể sống một tình yêu có ý nghĩa ngay trong đau khổ ấy. Đó là điều Thánh Giá làm.
Chúa Giêsu không cứu thế gian bằng cách tránh đau khổ mà bằng cách đi xuyên qua đau khổ với tình yêu. Chính tình yêu ấy biến Thánh Giá từ dụng cụ hành hình thành dấu chỉ cứu độ. Hai tên trộm cũng bị đóng đinh. Người Rôma đã đóng đinh hàng nghìn người. Không phải bản thân cái chết trên thập giá cứu độ thế giới. Điều cứu độ thế giới là tình yêu của Đấng trên Thánh Giá: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Nếu bỏ tình yêu ra khỏi Thánh Giá, chỉ còn một vụ hành quyết. Nhưng bởi trên Thánh Giá là Con Thiên Chúa yêu nhân loại đến cùng, nên nơi tưởng chừng là chiến thắng của sự chết lại trở thành nơi sự chết bị đánh bại từ bên trong.
“Đến cùng” là một từ rất đẹp trong Tin Mừng Gioan: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Đến cùng không chỉ là đến giây phút cuối. Đến cùng còn là đến tận giới hạn cuối cùng của tình yêu. Yêu khi được hoan hô thì dễ. Yêu khi bị phản bội mới khó. Yêu khi người khác hiểu mình thì dễ. Yêu khi bị hiểu lầm mới khó. Yêu người tốt với mình thì chưa có gì lạ. Yêu cả kẻ đóng đinh mình mới là điều vượt khỏi sức người. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu không nguyền rủa. Ngài nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Ngài không khép lòng lại trong đau đớn của bản thân. Ngài còn nhìn thấy người mẹ đứng dưới chân thập giá và người môn đệ mình yêu. Ngài nói: “Thưa Bà, đây là con của Bà… Đây là mẹ của anh.” Trong lúc mình sắp chết, Ngài vẫn trao người này cho người kia. Đó là điều chỉ tình yêu có thể làm: giữa một thế giới đang phá vỡ các tương quan, tình yêu tiếp tục tạo ra tương quan.
Và đó có lẽ là câu trả lời sâu nhất cho nỗi đau của thế kỷ XXI. Thế giới hôm nay không chỉ khổ vì thiên tai, bệnh tật hay chiến tranh. Nó khổ vì các mối tương quan bị đứt gãy. Con người có thể sở hữu rất nhiều nhưng không biết mình thuộc về ai. Có những người sáng mở điện thoại thấy hàng trăm thông báo nhưng tối về không có ai để gọi lúc mình muốn khóc. Có những đứa trẻ lớn lên với đủ đồ chơi nhưng thiếu một vòng tay. Có những người già có thuốc men tốt nhưng không có người ngồi nghe họ kể lại câu chuyện đã kể cả chục lần. Có những cặp vợ chồng sống chung một nhà nhưng đã từ lâu không thật sự bước vào thế giới của nhau. Có những linh mục sống giữa cộng đoàn mà vẫn cô đơn. Có những tu sĩ sống trong nhà dòng mà vẫn thấy mình không được hiểu. Có những người trẻ được cả thế giới nhìn thấy trên mạng xã hội nhưng lại không biết có ai thật sự thấy mình không. Cái nghèo đáng sợ của thời đại chúng ta không chỉ là thiếu tiền. Đó là thiếu một nơi để thuộc về.
Và chính dưới chân Thánh Giá, Đức Giêsu thiết lập lại điều ấy: “Đây là con của Bà. Đây là mẹ của anh.” Ngay trong giờ phút nhân loại xé nát thân thể Người, Người lại xây dựng một gia đình mới. Thánh Giá không phải chỉ là chuyện giữa linh hồn tôi và Chúa. Thánh Giá sinh ra một cộng đoàn. Ai đứng dưới chân Thánh Giá thật sự sẽ không thể dửng dưng với người đang đau bên cạnh. Nếu chúng ta hôn kính Thánh Giá trong nhà thờ nhưng bước ra ngoài lại đóng đinh nhau bằng lời nói, chúng ta chưa hiểu Thánh Giá. Nếu chúng ta quỳ thật lâu trước tượng Chúa chịu nạn nhưng không thể ngồi năm phút với một người đang đau khổ, chúng ta chưa hiểu Thánh Giá. Nếu chúng ta nói nhiều về hy sinh nhưng lại bắt người khác hy sinh để bảo vệ sự tiện nghi của mình, chúng ta đã biến Thánh Giá thành một khẩu hiệu. Người đã chịu đóng đinh luôn mời chúng ta xuống khỏi vị trí của kẻ quan sát để đứng vào chỗ của người đồng hành.
Chúa Giêsu kể dụ ngôn người Samari nhân hậu không phải để giải thích tại sao người kia bị cướp đánh. Ngài cũng không cho người Samari đứng cạnh nạn nhân mà giảng một bài về ý nghĩa đau khổ. Người Samari “thấy và chạnh lòng thương”, rồi đến gần, băng bó vết thương, đổ dầu và rượu, đặt người bị nạn lên lưng lừa, đưa về quán trọ và chăm sóc. Đó là thần học rất cụ thể. Trước một đau khổ mà chúng ta không thể giải thích, chúng ta vẫn có thể yêu. Trước một bi kịch mà chúng ta không thể đảo ngược, chúng ta vẫn có thể ở lại. Trước một căn bệnh không chữa được, chúng ta vẫn có thể cầm tay. Trước một mất mát không bù đắp được, chúng ta vẫn có thể khóc cùng. Có lẽ một trong những ơn lớn nhất Chúa ban cho con người không phải là khả năng giải đáp mọi câu hỏi, mà là khả năng ở lại với nhau khi không còn câu trả lời.
Mẹ Maria đã làm điều ấy dưới chân Thánh Giá. Tin Mừng Gioan viết rất ngắn: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu có thân mẫu Người…” (Ga 19,25). Chỉ một chữ “đứng” thôi nhưng chứa cả một đời đức tin. Mẹ không cứu Con xuống khỏi Thập Giá được. Mẹ không thay đổi bản án của Philatô được. Mẹ không ngăn được chiếc đinh xuyên qua tay Con. Mẹ không có một phép lạ để làm cho mọi sự khác đi. Mẹ chỉ có thể đứng đó. Nhưng đôi khi đứng lại bên cạnh một người đau khổ đã là một tình yêu rất lớn. Chúng ta thường nghĩ yêu là phải làm được điều gì. Không. Có lúc yêu là không bỏ đi. Người mẹ đứng dưới chân Thánh Giá không nói một câu nào trong Tin Mừng. Có lẽ vì những đau khổ lớn nhất vượt quá ngôn từ. Chỉ còn sự hiện diện. Và chính sự hiện diện ấy nói tất cả: “Con đau, Mẹ ở đây.” Có lẽ đó cũng là điều Thiên Chúa nói với nhân loại từ Thánh Giá: “Con đau, Ta ở đây.”
Nhưng nếu câu chuyện chấm dứt vào chiều thứ Sáu Tuần Thánh, Kitô giáo chỉ là một triết lý cao đẹp về việc chịu đựng đau khổ. Điều làm cho Thánh Giá trở thành Tin Mừng chính là sáng Phục Sinh. Người bị đóng đinh đã sống lại. Những vết thương vẫn còn trên thân thể phục sinh của Ngài – khi hiện ra với Tôma, Ngài vẫn cho ông xem dấu đinh – nhưng các vết thương không còn là dấu hiệu của thất bại. Chúng trở thành dấu hiệu của chiến thắng. Đây là điều kỳ lạ của đức tin Kitô giáo: Thiên Chúa không cứu Đức Giêsu bằng cách làm như Thập Giá chưa từng xảy ra. Ngài cho Đức Giêsu đi qua Thập Giá và biến chính những vết thương thành vinh quang. Phục Sinh không xóa Thứ Sáu Tuần Thánh. Phục Sinh tuyên bố rằng Thứ Sáu Tuần Thánh không có tiếng nói cuối cùng.
Điều ấy quan trọng biết bao cho những người mang trong đời mình những điều không thể xóa. Có những người sau một biến cố sẽ không bao giờ trở lại như trước. Và có lẽ họ cũng không cần trở lại như trước. Đức Kitô phục sinh không trở lại trong thân thể không có vết đinh. Người mang những dấu tích ấy vào vinh quang. Điều đó có nghĩa là ơn cứu độ không nhất thiết làm quá khứ biến mất. Nó có thể làm quá khứ được biến đổi. Vết thương vẫn là vết thương, nhưng nó không còn quyết định căn tính cuối cùng của ta. Tôi không chỉ là người đã bị phản bội. Tôi không chỉ là người đã thất bại. Tôi không chỉ là người đã mất con. Tôi không chỉ là người từng bị tổn thương. Tôi không chỉ là những gì người khác đã làm cho tôi. Nếu Đức Kitô phục sinh, thì câu chuyện đời tôi cũng chưa được viết xong ở chương đau nhất.
Đây có lẽ là một trong những cám dỗ lớn nhất của con người khi đau khổ: tưởng rằng điều đang xảy ra hôm nay chính là toàn bộ cuộc đời mình. Khi đau, chúng ta khó tưởng tượng rằng sẽ có một ngày khác. Một người vừa mất người thân cảm thấy căn nhà từ nay mãi mãi sẽ trống. Một người vừa bị bỏ rơi tưởng rằng từ nay sẽ không còn ai yêu mình. Một người vừa thất bại nghĩ đời mình đã hết. Một người phạm một sai lầm lớn tưởng rằng mình chính là sai lầm ấy. Nhưng Thánh Giá và Phục Sinh nói: Đừng lấy chiều thứ Sáu để kết luận toàn bộ câu chuyện của Thiên Chúa. Có một sáng Chúa Nhật mà những người đứng dưới chân Thánh Giá chưa nhìn thấy. Không phải mọi bóng tối đều kết thúc nhanh chóng. Có những đêm kéo dài nhiều năm. Nhưng trong đức tin Kitô giáo, bóng tối không bao giờ là điều cuối cùng.
Thế kỷ XXI đang có một căn bệnh khác rất sâu: chủ nghĩa hư vô, dù nhiều người không gọi tên nó như thế. Đó là cảm giác cuối cùng chẳng có gì thật sự có ý nghĩa. Ta sinh ra ngẫu nhiên, tồn tại một thời gian ngắn trên một hành tinh nhỏ bé, rồi biến mất. Nếu đời chỉ có vậy, đau khổ trở thành điều vô lý tuyệt đối. Nếu sau cái chết chỉ là hư vô, thì một em bé chết sớm đã vĩnh viễn bị cướp mất đời mình. Một người chết oan không bao giờ được trả lại công lý. Người thiện và người ác cuối cùng cùng đi về một nơi: không có gì cả. Và nếu thế, người ta có thể hỏi: tại sao phải sống tử tế? Tại sao phải hy sinh? Tại sao phải tha thứ? Tại sao không tận hưởng càng nhiều càng tốt trước khi mọi sự biến mất?
Thánh Giá trả lời bằng một tuyên bố ngược hoàn toàn: tình yêu có giá trị vĩnh cửu. Không một hành động yêu thương chân thật nào bị mất. Không một giọt nước mắt nào rơi trong tình yêu mà Thiên Chúa không thấy. Không một hy sinh âm thầm nào là vô nghĩa. Không một người nghèo nào là vô danh trước mặt Thiên Chúa. Không một nạn nhân nào bị quên. Không một thân xác nào bị coi là rác trong chương trình phục sinh của Người. Nếu Đức Kitô sống lại, thì thân xác có giá trị. Lịch sử có giá trị. Công lý có giá trị. Những gì ta làm với nhau hôm nay có giá trị đời đời. Chính vì thế Kitô giáo không cho phép người tín hữu trốn khỏi thế gian bằng cách nói: thôi, đời này chóng qua. Trái lại, vì đời này được Thiên Chúa yêu đến mức Con của Người đã nhập thể, chịu đóng đinh và phục sinh trong thân xác, nên từng con người, từng thân phận, từng miếng cơm, từng vết thương đều đáng được chăm sóc.
Thánh Giá vì thế không làm con người thụ động trước đau khổ. Thánh Giá làm chúng ta nổi loạn chống lại đau khổ theo một cách rất đặc biệt: không bằng hận thù nhưng bằng tình yêu. Đức Giêsu chống lại sự dữ mà không trở thành sự dữ. Ngài không chiến thắng bạo lực bằng một bạo lực lớn hơn. Ngài không tiêu diệt kẻ thù; Ngài phá hủy chính thù nghịch. Thế giới thường bảo rằng muốn thắng phải mạnh hơn đối thủ. Golgotha nói rằng có một loại chiến thắng khác: thà chịu thương tích hơn là làm người khác bị thương, thà mất mình hơn là mất tình yêu, thà chết mà vẫn yêu hơn sống bằng hận thù. Đây không phải yếu đuối. Có khi cầm vũ khí dễ hơn tha thứ. Trả đũa dễ hơn giữ lòng không cay độc. Làm người khác đau để họ biết mình đau là phản ứng rất tự nhiên. Nhưng Đức Kitô bị đóng đinh mở ra một con đường khác.
Chính điều ấy đặt ra câu hỏi rất nghiêm trọng cho Hội Thánh. Chúng ta có thật sự là cộng đoàn của Đấng chịu đóng đinh không? Khi thế giới đau khổ, Hội Thánh ở đâu? Nếu Hội Thánh đứng gần người có quyền hơn người không tiếng nói, nếu Hội Thánh quan tâm bảo vệ hình ảnh của mình hơn bảo vệ nạn nhân, nếu Hội Thánh giảng về Thánh Giá nhưng né tránh những người đang bị đóng đinh hôm nay, thì Hội Thánh phản bội chính Chúa mình. Hội Thánh không được phép chỉ treo Thánh Giá trên tường. Hội Thánh phải đứng dưới Thánh Giá của nhân loại. Nơi nào có một người bị bỏ rơi, nơi đó là Golgotha. Nơi nào có người nghèo bị coi thường, nơi đó có Đức Kitô. Nơi nào có một người già không ai thăm, một bệnh nhân không ai chăm sóc, một trẻ em không được bảo vệ, một người di dân không quê hương, một người đau khổ đang tuyệt vọng, nơi đó Thánh Giá đang được dựng lên.
Trong dụ ngôn ngày phán xét, Đức Giêsu không hỏi người ta đã có bao nhiêu lời giải thích đúng về sự dữ. Người hỏi: “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến với Ta.” Và khi người ta hỏi bao giờ đã gặp Chúa trong những hoàn cảnh ấy, Ngài trả lời: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta” (x. Mt 25,35-40). Đây là câu trả lời rất cụ thể của Thánh Giá đối với đau khổ của thế giới: Thiên Chúa đồng hóa mình với người đau khổ đến mức điều ta làm cho họ là làm cho chính Ngài.
Bởi vậy, câu hỏi đúng không chỉ là: “Thiên Chúa ở đâu khi con người đau khổ?” Một lúc nào đó, chúng ta cũng phải để Thiên Chúa hỏi ngược lại: “Con ở đâu khi anh em con đau khổ?” Chúng ta thường đem Thiên Chúa ra xét xử vì Ngài không can thiệp, trong khi chính chúng ta nhiều lần đã có thể can thiệp mà không làm. Bao nhiêu trẻ em đói không phải vì trái đất thiếu thực phẩm, nhưng vì con người phân phối bất công. Bao nhiêu cuộc chiến không phải vì Thiên Chúa muốn, nhưng vì tham vọng quyền lực của con người. Bao nhiêu gia đình tan vỡ không phải vì “số phận”, nhưng vì người ta không còn chịu hy sinh cho nhau. Bao nhiêu người cô đơn không phải vì trên đời không có ai, nhưng vì mọi người quá bận. Có những đau khổ mà chúng ta cầu xin Thiên Chúa cất đi, trong khi Thiên Chúa đang chờ chính bàn tay chúng ta trở thành câu trả lời cho lời cầu nguyện ấy.
Có một câu chuyện vẫn lặp lại trong đời sống: một người hỏi Chúa, “Tại sao Ngài để bao nhiêu người đói nghèo, đau khổ, bất hạnh như vậy mà không làm gì?” Và dường như từ thinh lặng vang lên câu trả lời: “Ta đã làm. Ta dựng nên con.” Đó không phải một câu trả lời dễ chịu, vì nó đưa trách nhiệm trở lại cho chúng ta. Kitô hữu không được quyền chỉ cầu xin cho người đói rồi ăn dư thừa. Không thể chỉ cầu cho hòa bình rồi nuôi hận thù trong nhà mình. Không thể cầu cho những người cô đơn rồi không có thời gian thăm ai. Không thể quỳ trước Thánh Giá rồi tiếp tục đóng đinh người khác bằng sự lạnh lùng.
Đau khổ cũng phơi bày một ảo tưởng khác của con người hiện đại: ảo tưởng kiểm soát. Chúng ta có bảo hiểm, kế hoạch, lịch trình, dự báo, dữ liệu. Chúng ta cố gắng tính toán mọi rủi ro. Điều ấy tốt và cần thiết. Nhưng sâu trong lòng, chúng ta dần tưởng rằng nếu mình khôn ngoan đủ, giàu đủ, khỏe đủ, cẩn thận đủ thì sẽ tránh được mọi bất hạnh. Rồi một cuộc điện thoại lúc hai giờ sáng có thể làm toàn bộ thế giới sụp xuống. Một kết quả xét nghiệm. Một tai nạn. Một lời thú nhận. Một người đột nhiên ra đi. Và chúng ta khám phá điều con người mọi thời đều phải học: mình không làm chủ sự sống.
Thánh Giá đưa con người trở về với sự thật ấy, nhưng không để ta rơi vào tuyệt vọng. Đức Giêsu trên Thánh Giá hoàn toàn không kiểm soát hoàn cảnh bên ngoài. Tay chân Người bị đóng đinh. Người không còn có thể đi đâu, làm gì. Nhưng còn một tự do mà không ai lấy được: tự do yêu. Người ta có thể đóng đinh tay Người nhưng không đóng đinh được tình yêu. Có thể lấy áo Người nhưng không lấy được lòng thương xót. Có thể giết thân xác Người nhưng không bắt Người phải căm thù. Đây là một mầu nhiệm lớn: có những hoàn cảnh ta không thể thay đổi, nhưng ta vẫn có thể chọn mình trở thành ai trong hoàn cảnh ấy.
Đó là lý do trong những nơi đau khổ nhất của lịch sử, ta vẫn gặp những chứng từ về phẩm giá con người. Có những tù nhân chia mẩu bánh cuối cùng cho bạn tù. Có những người che chở người bị săn đuổi dù biết mình có thể chết. Có những bác sĩ ở lại giữa vùng dịch khi có thể bỏ đi. Có những cha mẹ chăm một người con bệnh nặng hàng chục năm không một lời than trách. Có những người vợ, người chồng chăm bạn đời mất trí nhớ đến khi người ấy không còn nhận ra mình. Có những linh mục sống giữa vùng chiến tranh vì không muốn bỏ giáo dân. Có những nữ tu ngày qua ngày lau rửa những thân thể lở loét mà thế giới không muốn nhìn. Những hành động ấy không làm đau khổ biến mất, nhưng chúng làm cho đau khổ không chiến thắng được tình yêu. Đó chính là Thánh Giá tiếp tục sống giữa thế giới.
Một trong những câu nói đẹp nhất của thánh Phaolô là: “Không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (x. Rm 8,39). Ngài không nói người tin Chúa sẽ không gặp gian truân. Trước đó ngài liệt kê đủ thứ: gian truân, khốn khổ, bắt bớ, đói ăn, trần truồng, hiểm nguy, gươm giáo. Đức tin không phải tấm bùa bảo hiểm để người Kitô hữu khỏi đau. Đức tin là xác tín rằng không đau khổ nào có quyền tách ta khỏi tình yêu Thiên Chúa. Ngay cả khi ta không còn cảm thấy Ngài, Ngài vẫn ở đó. Ngay cả khi lời cầu nguyện của ta chỉ còn là nước mắt, nước mắt ấy vẫn là lời cầu nguyện. Ngay cả khi ta không còn sức để tin, Hội Thánh có thể tin thay ta một lúc.
Có những người đau khổ đến mức không thể cầu nguyện. Đừng vội trách họ yếu đức tin. Chính Đức Giêsu trên Thánh Giá cũng chỉ còn tiếng kêu. Có khi một tiếng “Chúa ơi!” bật ra trong tuyệt vọng là cả một kinh nguyện. Có khi nằm im trước Nhà Tạm mà không nói được gì đã là cầu nguyện. Có khi người ta chỉ đủ sức cầm chuỗi Mân Côi trong tay mà không đọc nổi một kinh. Thiên Chúa không chấm điểm lời cầu nguyện dựa trên số chữ. Ngài đọc được tiếng kêu không thành lời của một trái tim tan vỡ.
Thánh Vịnh nói: “Tấm lòng tan nát khiêm cung, Ngài chẳng khinh chê.” Thiên Chúa không đòi người đang đau phải tỏ ra mạnh. Một trong những điều tàn nhẫn nhất mà người đạo đức đôi khi làm là bắt người đau khổ phải “chấp nhận”, phải “vui lên”, phải “tin Chúa hơn”. Không. Có những lúc người ta cần được phép khóc. Chúa Giêsu đã khóc trước mộ Ladarô dù Ngài biết chỉ vài phút sau sẽ cho ông sống lại. Điều ấy nói rằng nước mắt không trái với đức tin. Biết có Phục Sinh không làm cho cái chết trở thành chuyện nhỏ. Hy vọng không có nghĩa là không đau. Đức tin trưởng thành không phải là không còn nước mắt; đó là biết mình có thể khóc trong vòng tay Thiên Chúa.
Trước mộ Ladarô, Tin Mừng ghi một câu ngắn đến lạ: “Đức Giêsu liền khóc” (Ga 11,35). Người Do Thái thấy thế nói: “Kìa xem! Ông ta thương Ladarô biết mấy!” Đó là hình ảnh Thiên Chúa của Kitô giáo: một Thiên Chúa biết khóc. Không phải một Đấng Tối Cao vô cảm nhìn xuống nỗi khổ loài người. Ngài đã có đôi mắt biết rơi lệ. Ngài biết thế nào là mất một người bạn. Ngài biết thế nào là bị phản bội bằng một nụ hôn. Ngài biết nỗi cô độc của một đêm mọi người ngủ còn mình thì run sợ. Ngài biết tiếng chế nhạo của đám đông. Ngài biết đau của roi da và đinh sắt. Ngài biết cả sự im lặng của trời cao. Vì thế, khi một người nói: “Không ai hiểu tôi”, Kitô hữu có thể rất nhẹ nhàng trả lời: “Có Một Người hiểu.”
Nhưng phải nói thêm: Thánh Giá không chỉ an ủi. Thánh Giá cũng xét xử. Nó xét xử thế giới này. Khi nhìn Đấng vô tội bị đóng đinh, ta thấy sự thật về tội lỗi con người. Ta thấy đám đông có thể sai. Ta thấy luật pháp có thể bất công. Ta thấy quyền lực có thể hèn nhát. Ta thấy người đạo đức có thể nhân danh Thiên Chúa để loại trừ người khác. Ta thấy một môn đệ có thể phản bội bằng nụ hôn và một môn đệ khác có thể chối Thầy vì sợ. Ta thấy những người bình thường có thể trở thành đám đông hung dữ khi họ ngừng suy nghĩ bằng lương tâm mình. Tất cả thế kỷ XX và XXI đều có thể được đọc dưới ánh sáng cuộc Thương Khó: Cai-pha vẫn còn đó dưới những hình thức mới; Philatô vẫn còn đó trong những người biết điều đúng nhưng sợ mất ghế; Giuđa vẫn còn đó trong những vụ bán đứng người khác vì lợi ích; đám đông vẫn còn đó trong văn hóa đấu tố và lăng nhục; những người lính chia áo vẫn còn đó trong tất cả những ai kiếm lợi từ đau khổ của người khác.
Và đáng sợ hơn cả: mỗi người chúng ta đều có một chút của tất cả những nhân vật ấy. Thánh Giá không cho phép ta chia thế giới thành người tốt và người xấu rồi đặt mình vào nhóm tốt. Phêrô, người yêu Chúa thật lòng, vẫn chối Chúa ba lần. Các môn đệ bỏ chạy. Chỉ ân sủng mới giữ ta đứng được. Nhìn lên Thánh Giá, ta không chỉ hỏi “ai đã đóng đinh Chúa?” mà phải hỏi: “Trong những lựa chọn của tôi hôm nay, tôi đang đứng ở đâu?”
Thế giới hôm nay rất nhanh chóng tìm thủ phạm. Một biến cố xảy ra, trong vài phút mạng xã hội đã có một phiên tòa. Người ta thích một câu chuyện đơn giản: đây là người xấu, kia là người tốt. Nhưng Thánh Giá đưa ta vào một mầu nhiệm sâu hơn của sự dữ. Con người có thể làm điều rất xấu trong khi vẫn nghĩ mình đúng. Những người kết án Đức Giêsu nhiều người tin rằng họ đang bảo vệ tôn giáo. Đó là lời cảnh tỉnh khủng khiếp. Ta có thể dùng sự thật mà không có tình yêu và biến sự thật thành cây đinh. Ta có thể nhân danh công lý mà không có lòng thương xót và dựng thêm những thập giá. Ta có thể tin mình bảo vệ Thiên Chúa trong khi thực ra đang đóng đinh Ngài trong người anh em.
Câu trả lời của Thánh Giá vì thế bao gồm sự tha thứ. Không phải thứ tha rẻ tiền coi điều ác như không có gì. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu không nói tội lỗi không nghiêm trọng. Những chiếc đinh chứng minh nó rất nghiêm trọng. Nhưng Ngài không để sự dữ quyết định cách mình đáp lại sự dữ. “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Tha thứ trong Kitô giáo không có nghĩa là phủ nhận công lý, càng không buộc nạn nhân phải tiếp tục sống trong hoàn cảnh nguy hiểm. Có khi tha thứ phải đi cùng với việc thiết lập ranh giới, nói sự thật, tìm công lý và ngăn người gây hại tiếp tục làm hại. Nhưng ở tầng sâu nhất, tha thứ có nghĩa là tôi từ chối để cái ác của người khác biến trái tim tôi thành nơi ở của chính cái ác ấy.
Không tha thứ, nạn nhân có nguy cơ mang kẻ làm mình đau đi cùng suốt đời. Người kia đã làm tổn thương tôi một lần, nhưng nếu hận thù chiếm lấy tôi, họ tiếp tục làm tổn thương tôi hàng nghìn ngày trong tâm trí. Tha thứ không phải giải thoát người kia khỏi trách nhiệm trước tiên; nhiều lúc nó là giải thoát chính mình khỏi quyền lực của người kia. Và chỉ dưới Thánh Giá ta mới hiểu rằng tha thứ như thế không phải chuyện dễ. Nó có giá bằng máu.
Cũng dưới Thánh Giá, ta học một điều rất cần cho thế kỷ này: giá trị của một đời người không nằm ở mức độ hữu dụng. Xã hội hiện đại dễ đánh giá người ta theo năng suất: kiếm được bao nhiêu tiền, đóng góp được bao nhiêu, tạo ra được gì, ảnh hưởng tới bao nhiêu người. Nhưng Đức Giêsu trong những giờ trên Thánh Giá xét theo tiêu chuẩn ấy là hoàn toàn “vô dụng”: không đi được, không lao động được, không giảng dạy được, không chữa bệnh được. Người bị cố định trên hai thanh gỗ. Thế mà chính lúc xem ra không thể “làm” gì, Người đang hoàn tất công trình lớn nhất.
Đó là Tin Mừng cho người già, người bệnh, người khuyết tật, người nằm liệt giường, những người tưởng mình trở thành gánh nặng. Giá trị của bạn không đến từ điều bạn làm được. Giá trị của bạn đến từ việc bạn là người được Thiên Chúa yêu. Một em bé chưa làm được gì đã có giá trị vô hạn. Một cụ già không còn nhớ tên con cháu vẫn có giá trị vô hạn. Một bệnh nhân sống nhờ máy móc vẫn có giá trị vô hạn. Trên Thánh Giá, Con Thiên Chúa tuyên bố rằng một con người đáng giá đến mức Thiên Chúa chấp nhận chết cho người ấy. Đó là nền tảng sâu nhất của phẩm giá con người.
Có những lúc đau khổ làm ta tưởng mình là gánh nặng. “Giá như tôi chết đi cho mọi người đỡ khổ.” “Tôi chẳng còn làm được gì.” Nhưng hãy nhìn Đức Kitô chịu đóng đinh. Không phải khả năng hoạt động làm Người đáng yêu. Người đáng yêu vì Người là Con. Và bạn cũng vậy. Trước khi bạn làm được điều gì cho Thiên Chúa, bạn đã là con của Người. Đó là sự thật mà mọi thứ văn hóa năng suất cần phải quỳ xuống trước.
Thánh Giá cũng trả lời nỗi sợ chết. Không bằng cách bảo cái chết không đáng sợ. Đức Giêsu đã run sợ trước cái chết. Người nói: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Kitô giáo không yêu cái chết. Cái chết là kẻ thù. Nhưng đó là một kẻ thù đã bị đánh bại. Người Kitô hữu không phải người không sợ chết, mà là người tin rằng bên kia cái chết có một Đấng đang đợi mình. Chúng ta không bước vào hư vô. Chúng ta bước qua một cánh cửa mà Đức Kitô đã bước qua trước.
Có lẽ vì thế hình ảnh đẹp nhất của cái chết Kitô giáo không phải là “đi vào bóng tối” mà là “trở về nhà”. Tên trộm lành trên Thánh Giá không còn gì để dâng Chúa. Ông không thể xuống khỏi thập giá để sửa lại đời mình. Ông không có thời gian làm việc thiện. Ông chỉ có một lời: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Đức Giêsu đáp: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Hãy chú ý: Chúa không chỉ hứa một nơi. Người hứa một sự hiện diện: “ở với tôi”. Thiên Đàng trước hết là được ở với Người.
Chính câu ấy có thể được đặt bên giường người hấp hối: “Hôm nay, anh sẽ ở với tôi.” Nó không lấy nước mắt khỏi người ở lại. Nhưng nó thay đổi ý nghĩa của chia ly. Đối với Kitô hữu, nghĩa trang không phải kho chứa những người đã biến mất. Đó là nơi thân xác đang chờ Phục Sinh. Bởi vậy chúng ta có thể khóc mà không tuyệt vọng. Đau vì yêu, nhưng vẫn hy vọng vì tin.
Và có lẽ đây là điều thế giới cần nhất: không phải một câu trả lời khiến mọi đau khổ trở nên dễ hiểu, mà một niềm hy vọng đủ lớn để mang nổi những điều không thể hiểu. Đức tin không hứa rằng một ngày nào đó trên đời ta sẽ hiểu hết tại sao mọi chuyện đã xảy ra. Có lẽ nhiều điều mãi mãi vẫn là mầu nhiệm đối với ta. Nhưng ta tin một ngày sẽ nhìn thấy mặt Đấng đã mang lấy mọi vết thương của nhân loại, và trong ánh sáng của Người, tất cả những gì hôm nay chỉ là một mớ những mảnh vỡ sẽ được đặt vào một toàn thể mà ta chưa thể nhìn thấy.
Sách Khải Huyền kết thúc Kinh Thánh không bằng hình ảnh nhân loại bỏ trốn khỏi thế giới, nhưng bằng trời mới đất mới. Và có một lời hứa làm cho bao thế hệ người đau khổ có thể tiếp tục bước đi: “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,4). Hãy chú ý hình ảnh: Thiên Chúa lau nước mắt. Một Thiên Chúa cúi xuống khuôn mặt con người và tự tay lau nước mắt. Không phải nói: “Con không nên khóc.” Không phải nói: “Chuyện ấy chẳng đáng gì.” Ngài lau nước mắt vì Ngài biết tại sao ta đã khóc.
Tất cả nước mắt của thế kỷ XX, tất cả tiếng khóc của thế kỷ XXI, không rơi vào hư vô. Có một ký ức đời đời giữ lấy chúng. Những người đã chết không tên vẫn có tên trước mặt Thiên Chúa. Những xác người bị vùi trong hố tập thể không bị quên. Những em bé chưa kịp gọi mẹ không biến mất. Những nạn nhân mà lịch sử không ghi lại vẫn được ghi trong trái tim Người. Đây là niềm hy vọng Kitô giáo. Và nếu chúng ta thật sự tin điều ấy, chúng ta phải sống hôm nay khác đi.
Ta phải làm sao để bớt một giọt nước mắt cho người khác. Nếu chưa thể cứu thế giới, hãy cứu một người khỏi cô đơn. Nếu chưa thể chấm dứt chiến tranh, hãy ngừng một cuộc chiến trong gia đình mình. Nếu chưa thể giải quyết nghèo đói, hãy chia sẻ với một người đang thiếu. Nếu chưa thể chữa bệnh, hãy thăm một bệnh nhân. Nếu không trả lời được câu “tại sao Chúa để tôi đau?”, hãy nói bằng sự hiện diện của mình: “Tôi không biết tại sao, nhưng tôi sẽ không để bạn đau một mình.”
Có khi đó chính là hình thức đẹp nhất của việc rao giảng Tin Mừng trong một thế giới đau khổ. Không phải câu chữ. Là một con người không bỏ đi.
Cuối cùng, đứng trước Thánh Giá, chúng ta phải thú nhận rằng không có câu trả lời hoàn chỉnh cho mầu nhiệm đau khổ nếu chỉ dùng lý trí. Thánh Giá cũng không phải đáp án theo nghĩa một công thức giải toán. Thánh Giá là lời mời gọi bước vào một tương quan. “Hãy nhìn xem Người.” Hãy nhìn Đấng đã yêu bạn đến mức không tránh cả bóng tối cuối cùng. Hãy nhìn đôi tay bị đâm thủng ấy. Chúng không giải thích mọi sự, nhưng chúng nói một điều không thể tranh cãi: bạn không bị bỏ rơi.
Có những đêm bạn sẽ không cảm thấy điều đó. Có những lúc cầu nguyện dường như đụng trần nhà rồi rơi xuống. Có những mất mát làm bạn không còn sức tin. Hãy nhớ rằng chính Đức Giêsu cũng đã cầu nguyện trong bóng tối ấy: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Nhưng tiếng kêu ấy không phải câu cuối cùng của Người. Câu cuối cùng là: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Giữa “tại sao Ngài bỏ con?” và “con phó thác trong tay Cha” là cả hành trình đức tin của một con người đau khổ.
Có lẽ chúng ta cũng phải đi hành trình ấy. Không phải ngày một ngày hai. Có người đi nhiều năm. Từ phản kháng đến phó thác. Từ “tại sao?” đến “con vẫn ở đây”. Từ việc muốn hiểu mọi thứ đến việc chấp nhận đặt tay mình vào bàn tay bị đóng đinh của Đức Kitô.
Đức tin không bắt chúng ta thôi hỏi “tại sao”. Đức Giêsu đã hỏi. Nhưng Đức tin thêm vào câu hỏi ấy một câu khác: “Con sẽ sống thế nào giữa điều con không hiểu?” Và Thánh Giá trả lời: hãy sống bằng tình yêu. Khi không thể hiểu, hãy yêu. Khi không thể thay đổi, hãy ở lại. Khi không thể chữa lành, hãy chăm sóc. Khi bị thương, đừng làm người khác bị thương. Khi đêm quá tối, hãy giữ một ngọn đèn nhỏ. Khi không còn thấy Chúa, hãy nắm lấy Thánh Giá.
Bởi trên Thánh Giá, Thiên Chúa không giải thích đau khổ từ xa. Người bước vào đau khổ. Người mang nó trên vai. Người để nó xuyên qua tay chân mình. Người đi xuống tận đáy của sự chết. Và từ chính đáy ấy, Người mở ra một con đường.
Thế nên câu trả lời cuối cùng của Kitô giáo trước đau khổ không phải là: “Mọi đau khổ đều có lý do.” Không. Có những đau khổ phi lý đến mức chúng ta phải khóc trước chúng suốt đời. Câu trả lời của Kitô giáo là: “Không một đau khổ nào có thể ngăn Thiên Chúa yêu bạn. Không một vực sâu nào sâu hơn nơi Đức Kitô đã xuống. Không một đêm nào tối đến mức Ánh Sáng Phục Sinh không thể đi vào. Không một cái chết nào có thể giữ mãi người mà Thiên Chúa gọi là con.”
Và có lẽ đến cuối đời, chúng ta vẫn không hiểu tại sao mình đã phải đi qua một số con đường. Nhưng nếu khi ấy có thể nhìn lại và nói: “Trong tất cả những điều tôi không hiểu, tôi đã không thôi yêu; trong những lúc tôi bị thương, tôi đã cố không làm người khác bị thương; trong những khi tôi chẳng thấy Chúa đâu, tôi vẫn nắm lấy Người,” thì có lẽ Thánh Giá đã âm thầm hoàn thành trong đời ta công việc của nó.
Thế kỷ XX đã chứng kiến con người có thể tàn nhẫn đến mức nào. Thế kỷ XXI vẫn đang cho thấy con người mong manh đến mức nào. Nhưng Golgotha cho thấy Thiên Chúa yêu con người đến mức nào.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ NHƯ “NGHỊCH LÝ TỐI THƯỢNG” CHỐNG LẠI MỌI HỆ THỐNG LÝ TRÍ THUẦN TÚY
Có lẽ không có hình ảnh nào trong lịch sử nhân loại vừa quen thuộc vừa khó hiểu như Thánh Giá. Người ta có thể đeo Thánh Giá trên cổ, dựng Thánh Giá trên đỉnh nhà thờ, đặt Thánh Giá trên bàn thờ, hôn kính Thánh Giá trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, vẽ Thánh Giá trên trán, trên môi, trên ngực mỗi ngày, nhưng sống đủ lâu với Thánh Giá, người ta mới nhận ra rằng đây không chỉ là một biểu tượng đạo đức để an ủi những tâm hồn sầu khổ. Thánh Giá là một cuộc chất vấn. Thánh Giá chất vấn cách con người hiểu về Thiên Chúa, hiểu về quyền lực, hiểu về thành công, hiểu về hạnh phúc, hiểu về khôn ngoan, hiểu về công lý, hiểu về sự sống, và cuối cùng chất vấn chính cái lý trí mà con người thường lấy làm thước đo tối hậu để phán đoán mọi sự. Trong cái nhìn thông thường của lý trí, mạnh thì phải thắng yếu, sống thì hơn chết, được thì hơn mất, vinh quang thì hơn nhục nhã, quyền lực thì phải biểu lộ bằng khả năng áp đặt, còn Thiên Chúa nếu thực sự là Thiên Chúa thì phải đứng bên trên đau khổ chứ không thể bị đóng đinh giữa hai tên gian phi. Thế nhưng Kitô giáo lại dám đặt vào trung tâm đức tin một Người bị treo trên cây gỗ, tay chân bị đóng đinh, thân thể bị nghiền nát, danh dự bị tước đoạt, môn đệ chạy trốn, đám đông chế nhạo, giới lãnh đạo tưởng rằng mình đã chiến thắng, quân lính chia nhau áo của Người, và cuối cùng Người chết như một kẻ thất bại dưới mắt thế gian. Chính tại đó, Kitô giáo tuyên xưng: đây là Con Thiên Chúa. Chính tại đó, Hội Thánh quỳ xuống. Chính tại đó, người tín hữu thưa: “Lạy Chúa, con thờ lạy Chúa.” Nếu chỉ nhìn bằng lý trí thuần túy của quyền lực, thành công và hiệu quả, điều ấy gần như vô lý. Nhưng cũng chính vì thế mà Thánh Giá trở thành nghịch lý tối thượng: điều bị thế gian xem là thất bại lại là chiến thắng; điều bị xem là yếu đuối lại biểu lộ quyền năng; điều bị xem là điên rồ lại mặc khải sự khôn ngoan; nơi tưởng như Thiên Chúa vắng mặt lại là nơi tình yêu Thiên Chúa tự bộc lộ đến tận cùng.
Thánh Phaolô đã nhìn thấy nghịch lý ấy rất sớm khi ngài viết cho tín hữu Côrintô: “Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (x. 1 Cr 1,22-24). Chỉ mấy câu thôi mà cả cuộc xung đột giữa Tin Mừng và lý trí tự mãn của con người đã hiện ra. Người Do Thái muốn dấu lạ vì nếu Thiên Chúa hiện diện, họ nghĩ Người phải chứng minh quyền năng. Người Hy Lạp muốn sự khôn ngoan vì nếu một chân lý đáng tin, họ nghĩ nó phải vừa vặn với những phạm trù triết học của họ. Nhưng Phaolô không trao cho họ một hệ thống hoàn chỉnh làm thỏa mãn mọi đòi hỏi của trí óc. Ngài trao cho họ một Đấng bị đóng đinh. Không phải vì Kitô giáo chống lại lý trí. Đức tin Kitô giáo chưa bao giờ đòi con người vứt bỏ trí tuệ để trở thành ngây ngô. Nhưng Kitô giáo chống lại thứ lý trí tự phong mình làm quan tòa tối hậu của Thiên Chúa; chống lại thứ lý trí chỉ chấp nhận Thiên Chúa nếu Thiên Chúa cư xử theo cách con người cho là hợp lý; chống lại thứ lý trí tưởng rằng vì mình không hiểu được nên điều ấy không thể có thật; chống lại thứ lý trí muốn đóng khung mầu nhiệm vào một hệ thống gọn gàng để rồi yên tâm rằng mình đã sở hữu chân lý. Thánh Giá không tiêu diệt lý trí. Thánh Giá thanh luyện lý trí. Thánh Giá buộc lý trí phải khiêm nhường nhận ra rằng sự thật rộng hơn những gì trí óc có thể chứa, tình yêu sâu hơn những gì phép tính có thể đo, và Thiên Chúa không nhất thiết phải hành động theo logic của một tạo vật nhỏ bé để chứng minh rằng Người là Thiên Chúa.
Điều này được thấy thật rõ trong một đoạn Tin Mừng rất quen thuộc, nhưng có lẽ càng đọc càng thấy đau. Khi Chúa Giêsu bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết Người phải lên Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ bởi các kỳ mục, thượng tế và kinh sư, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại, Phêrô liền kéo Người ra riêng và can trách: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” Phản ứng của Phêrô hết sức tự nhiên, hết sức hợp lý, thậm chí có vẻ đầy tình thương. Người ta yêu ai thì người ta không muốn người ấy đau khổ. Người ta đã nhận Thầy là Đấng Kitô thì càng không thể hình dung Đấng Kitô lại bị bắt, bị nhục mạ và bị giết. Một Đấng Mêsia phải chiến thắng, phải phục hồi Israel, phải biểu lộ uy quyền, phải khiến kẻ thù khuất phục. Thập giá không nằm trong hệ thống tư duy của Phêrô. Vì vậy khi Chúa Giêsu nói về Thánh Giá, Phêrô phản đối. Và chính lúc ấy, Chúa Giêsu quay lại nói một câu khiến chúng ta rùng mình: “Xatan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (x. Mt 16,21-23). Phêrô không phạm một tội luân lý thô thiển nào ở đây. Ông không tham lam, không tà dâm, không giết người. Ông chỉ muốn cứu Thầy khỏi đau khổ. Vậy mà Chúa Giêsu gọi lối suy nghĩ ấy là “tư tưởng của loài người” đối nghịch với “tư tưởng của Thiên Chúa”. Đây là một cảnh báo khủng khiếp cho mọi thời đại: có những điều rất hợp lý với con người mà vẫn có thể đi ngược đường lối Thiên Chúa. Có những chọn lựa xem ra khôn ngoan nhưng thực chất là chạy trốn tình yêu. Có những thành công nhìn rất đẹp nhưng được mua bằng sự phản bội. Có những bình an thật ra chỉ là thỏa hiệp. Có những giải pháp rất hiệu quả nhưng giẫm lên phẩm giá của một con người. Có những hệ thống rất logic nhưng không còn chỗ cho lòng thương xót. Và có những lúc người ta nhân danh sự hợp lý để ngăn cản chính Thánh Giá của Đức Kitô.
Con người hiện đại đặc biệt dễ rơi vào cám dỗ xây dựng những hệ thống hoàn hảo. Chúng ta yêu bảng biểu, số liệu, chiến lược, kế hoạch, thuật toán, dự báo, mô hình, hiệu suất, năng suất, tăng trưởng, kiểm soát. Tất cả những điều ấy tự nó không xấu. Chúng cần thiết cho đời sống xã hội. Nhưng tai họa bắt đầu khi con người đem cùng một thứ logic ấy áp đặt lên toàn bộ thực tại, kể cả Thiên Chúa, tình yêu và đời sống con người. Khi ấy, một người chỉ còn đáng giá vì còn hữu dụng. Một bệnh nhân chỉ còn được nhìn qua chi phí điều trị. Một người già được cân đo bằng năng suất không còn nữa. Một em bé được cân nhắc theo mức độ “thuận tiện” cho dự tính đời sống của người lớn. Một người khuyết tật bị nhìn như gánh nặng. Một người nghèo bị đánh giá là “không hiệu quả”. Một linh mục được lượng giá chỉ bằng số công việc làm được. Một cộng đoàn bị đánh giá qua số người tham dự, số dự án, số tiền, số công trình. Một gia đình đánh giá hạnh phúc bằng mức sống. Một đời tu đánh giá thành công bằng ảnh hưởng. Một đời tông đồ đánh giá hiệu quả bằng lượt xem. Khi ấy, ngay cả đức tin cũng bị lây nhiễm bởi logic thị trường: cầu nguyện phải “có kết quả”, phục vụ phải được ghi nhận, hy sinh phải đem lại lợi ích thấy được, trung thành phải được tưởng thưởng ngay, còn nếu Thiên Chúa im lặng thì người ta bắt đầu nghi ngờ Thiên Chúa có còn đáng tin hay không. Chính trong thế giới ấy, Thánh Giá đứng lên như một lời phản kháng không thể thuần hóa. Người trên Thánh Giá không tạo ra một sản phẩm nào. Người không còn có thể đi giảng. Không chữa bệnh. Không làm phép lạ trước mặt đám đông. Không tổ chức phong trào. Không vận động quần chúng. Không xuống khỏi cây gỗ để chứng minh quyền năng. Xét bằng tiêu chuẩn hiệu quả, ba giờ trên Thánh Giá là ba giờ hoàn toàn “vô ích”. Nhưng đối với Thiên Chúa, chính ba giờ ấy lại là giờ cứu độ thế gian.
Đây là điều lý trí thuần túy rất khó chấp nhận: điều lớn lao nhất đôi khi diễn ra trong nơi không ai thấy, không ai vỗ tay, không ai hiểu, và dường như không có kết quả nào. Một người mẹ thức trắng đêm bên đứa con bệnh không tạo ra một thành tựu để đưa lên báo chí. Một người vợ chăm người chồng mất trí nhớ nhiều năm không tạo ra “hiệu suất”. Một người con kiên nhẫn chăm cha mẹ già không tăng GDP. Một linh mục ngồi hàng giờ trong tòa giải tội, nghe những câu chuyện lặp đi lặp lại, có thể chẳng bao giờ biết những ân sủng nào đã nảy sinh. Một nữ tu âm thầm chăm một cụ già hấp hối chẳng được ai quay phim. Một Kitô hữu bị xúc phạm nhưng quyết định không trả thù có thể bị người đời coi là yếu. Một người bị đối xử bất công nhưng nhất quyết không biến mình thành kẻ bất công có thể bị xem là dại. Nhưng chính ở những nơi ấy, Thánh Giá đang âm thầm hiện diện. Bởi vì logic của Thánh Giá không hỏi: “Tôi thắng được gì?” mà hỏi: “Tôi có yêu đến cùng không?” Không hỏi: “Người khác nhìn tôi thế nào?” mà hỏi: “Tôi có trung thành trước mặt Thiên Chúa không?” Không hỏi: “Tôi được gì khi làm việc này?” mà hỏi: “Điều gì là đúng, là tốt, là yêu thương?” Đó là lý do vì sao Thánh Giá không thể được thu nhỏ thành một lý thuyết. Thánh Giá là một lối sống.
Thánh Giá cũng làm đảo lộn cách chúng ta nghĩ về quyền lực. Trong mọi hệ thống quyền lực thuần túy của con người, kẻ mạnh là người khiến người khác phải phục tùng. Người quyền lực là người có thể quyết định số phận kẻ khác. Người chiến thắng là người làm đối phương im tiếng. Nhưng trên Calvariô, Đấng Toàn Năng lại không đóng đinh kẻ thù; Người để kẻ thù đóng đinh mình. Đấng có thể gọi các đạo binh thiên thần lại im lặng. Đấng có thể nghiền nát những kẻ chế nhạo lại cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Nếu chúng ta chỉ nhìn vào bề mặt, đó là sự bất lực. Nhưng Tin Mừng nói rằng đó mới là quyền năng cao nhất: quyền năng không để sự dữ biến mình thành sự dữ; quyền năng chịu tổn thương mà không trả thù; quyền năng có thể ghét nhưng vẫn chọn yêu; quyền năng có thể tiêu diệt mà lại chọn tha thứ. Người ta rất dễ trở nên tàn nhẫn khi có quyền lực. Khó hơn nhiều là có quyền mà không dùng quyền để nghiền nát. Người ta rất dễ thắng một cuộc tranh luận bằng lời sắc bén. Khó hơn nhiều là nói sự thật mà vẫn bảo vệ phẩm giá người đối diện. Người ta rất dễ trả lại một cái tát. Khó hơn nhiều là làm cho chuỗi bạo lực dừng lại nơi mình. Chính vì thế Thánh Giá không phải là thất bại của quyền năng. Thánh Giá là cuộc mặc khải về bản chất thật của quyền năng Thiên Chúa: quyền năng của tình yêu.
Tuy nhiên, cần nói thật rõ: Thánh Giá không phải là việc thần thánh hóa đau khổ. Kitô giáo không nói đau khổ tự nó là tốt. Chúa Giêsu đã chữa bệnh, cho kẻ đói ăn, khóc trước mồ Ladarô, động lòng trước người đau khổ. Người không đi tìm đau khổ vì đau khổ. Người đi tìm con người, và vì yêu con người đến cùng nên Người chấp nhận đi qua đau khổ. Khác biệt nằm ở đó. Thánh Giá không dạy chúng ta yêu đau đớn. Thánh Giá dạy chúng ta yêu đến mức không bỏ cuộc chỉ vì tình yêu trở nên đau đớn. Không phải đau khổ cứu độ chúng ta; tình yêu của Đức Kitô trong đau khổ cứu độ chúng ta. Nếu không có tình yêu, thập giá chỉ là dụng cụ tra tấn. Chính tình yêu biến thập giá thành Thánh Giá. Chính sự tự hiến làm cho nơi hành quyết trở thành bàn thờ. Chính lời “xin vâng” của Người Con làm cho sự dữ không còn tiếng nói cuối cùng. Vì thế người Kitô hữu không được dùng Thánh Giá để khuyên người bị bạo hành cứ tiếp tục chịu bạo hành, không được dùng Thánh Giá để bảo người nghèo cứ cam chịu bất công, không được dùng Thánh Giá để biện minh cho sự vô cảm của người mạnh đối với người yếu. Đó là bóp méo Tin Mừng. Chúa Giêsu vác Thánh Giá để cứu con người khỏi quyền lực của tội lỗi, chứ không phải để hợp thức hóa quyền lực của tội lỗi trên con người.
Thánh Giá còn nghịch lý ở chỗ nó cho thấy Thiên Chúa cứu thế giới không bằng cách đứng ngoài đau khổ để giải thích đau khổ, mà bước vào trong đau khổ. Đây có lẽ là câu trả lời sâu nhất Kitô giáo dành cho câu hỏi đã ám ảnh nhân loại: Nếu Thiên Chúa tốt lành, tại sao đau khổ tồn tại? Thánh Giá không đưa ra một công thức triết học giải thích mọi giọt nước mắt. Có những nỗi đau không thể được giải thích mà không trở nên tàn nhẫn. Trước một người mẹ mất con, đừng vội giảng cho bà một hệ thống về nguyên nhân và mục đích của đau khổ. Có lúc im lặng và khóc với người đang khóc là thần học chân thật hơn cả một bài diễn thuyết. Chính Thiên Chúa đã làm như thế. Người không đứng trên trời ném xuống một định nghĩa về đau khổ. Người xuống thế. Người sinh trong cảnh nghèo. Người bị hiểu lầm, bị từ chối, bị phản bội, bị bỏ rơi, bị đánh đập, bị kết án bất công, bị đóng đinh và nếm cái chết. Từ đó, người đau khổ không còn có thể nói: “Thiên Chúa không biết điều tôi đang chịu.” Người biết. Không phải bằng tri thức xa xôi của kẻ quan sát, nhưng bằng kinh nghiệm của Đấng đã đi vào đáy sâu thân phận con người.
Đỉnh cao của nghịch lý ấy là tiếng kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” (Mc 15,34). Nếu lý trí muốn một Thiên Chúa luôn xuất hiện trong ánh sáng, câu này là một scandal. Con Thiên Chúa cảm nghiệm sự bỏ rơi. Đấng vẫn gọi Thiên Chúa là Cha bước vào nơi tối tăm nhất của kinh nghiệm con người. Nhưng chính nhờ thế mà từ nay không một vực sâu nào của con người hoàn toàn vắng bóng Đức Kitô nữa. Khi một người cầu nguyện mà không cảm thấy gì, Đức Kitô đã ở đó. Khi một người bị tất cả bỏ rơi, Đức Kitô đã ở đó. Khi một người hấp hối trong cô độc, Đức Kitô đã ở đó. Khi niềm tin chỉ còn như một sợi chỉ rất mỏng giữa đêm tối, Đức Kitô đã ở đó. Thánh Giá không hứa rằng người tin sẽ không bao giờ bước vào đêm tối. Thánh Giá hứa rằng trong đêm tối ấy, họ không bước một mình.
Bởi thế, nghịch lý của Thánh Giá cũng là nghịch lý của đức tin. Đức tin không phải luôn luôn là hiểu. Có những lúc đức tin là tiếp tục đặt bàn tay mình vào tay Chúa khi không hiểu gì cả. Đức Maria dưới chân Thánh Giá là hình ảnh tuyệt vời của thứ đức tin ấy. Ngày Truyền Tin, thiên thần nói Con của Mẹ sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao, sẽ ngự trên ngai Đavít, triều đại Người sẽ vô cùng vô tận. Ba mươi mấy năm sau, Mẹ đứng dưới một cây thập giá và thấy Con ấy chết như tử tội. Nếu đem hai cảnh ấy đặt cạnh nhau bằng lý luận thông thường, gần như không thể hòa giải. Ngai vàng ở đâu? Triều đại ở đâu? Vinh quang ở đâu? Lời hứa ở đâu? Thiên Chúa trung tín ở đâu? Mẹ không có câu trả lời. Tin Mừng không kể rằng Mẹ hiểu hết. Tin Mừng chỉ cho thấy Mẹ đứng đó. “Đứng gần thập giá Đức Giêsu có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Một chữ “đứng” mà chứa cả một nền thần học về đức tin. Mẹ không chạy. Không nguyền rủa. Không buông xuôi. Không hiểu nhưng vẫn đứng. Có những ngày đời sống thiêng liêng của chúng ta cũng chỉ còn được giữ lại bởi một chữ ấy: đứng. Đứng bên Chúa khi chẳng cảm thấy Chúa. Đứng trong ơn gọi khi chẳng còn hứng thú. Đứng trong gia đình khi tình yêu phải trả giá. Đứng bên một người bệnh khi chẳng còn cách chữa. Đứng bên một người sa ngã khi mọi người đã bỏ họ. Đứng trước nhà tạm khi cầu nguyện khô khan. Đó không phải là thất bại của lý trí. Đó là lúc lý trí học một ngôn ngữ cao hơn chính nó: ngôn ngữ của trung tín.
Con người thường muốn hiểu rồi mới tin, thấy rồi mới bước, chắc chắn rồi mới trao mình. Nhưng Thánh Giá nói đôi khi phải yêu rồi mới hiểu, phải trao mình rồi mới khám phá, phải chết đi một điều gì đó rồi mới nhận ra điều gì thực sự đáng sống. Hạt lúa mì là một hình ảnh rất đẹp Chúa Giêsu dùng để diễn tả điều ấy: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Xét bằng logic bảo toàn, hạt lúa phải giữ lấy mình. Đất tối là mối đe dọa. Vỏ hạt bị phá vỡ là mất mát. Nhưng nếu hạt cứ giữ nguyên sự toàn vẹn của mình, nó sẽ không bao giờ trở thành một cánh đồng. Có những “cái chết” cũng phải diễn ra trong đời sống chúng ta: cái chết của tự ái để một cuộc hôn nhân sống lại; cái chết của nhu cầu luôn đúng để một tình bạn được chữa lành; cái chết của tham vọng để một ơn gọi được tinh tuyền; cái chết của lòng trả thù để bình an được sinh ra; cái chết của một hình ảnh lý tưởng về chính mình để con người thật có thể xuất hiện. Điều lý trí bản năng gọi là “mất”, Tin Mừng đôi khi gọi là “sinh”.
Nhưng nghịch lý sâu hơn cả nằm ở việc chính Đức Kitô “mất” để trao ban. Người mất danh dự, nhưng ban cho chúng ta phẩm giá. Người bị lột áo, để khoác cho nhân loại tấm áo ân sủng. Người chịu khát, để trở thành nguồn nước hằng sống. Người bị kết án, để tội nhân được tha. Người đội mão gai, để chúng ta nhận triều thiên sự sống. Người dang đôi tay trống không, để ôm lấy cả nhân loại. Người bước vào cái chết, để từ bên trong cái chết mở ra một con đường dẫn đến sự sống. Đây không phải là thứ logic có thể rút gọn thành công thức. Đây là logic của tình yêu tự hiến. Và tình yêu đích thực luôn có một yếu tố vượt quá tính toán. Người chỉ yêu trong giới hạn cái hợp lý sẽ không bao giờ yêu đến cùng. Bởi yêu đến cùng luôn có điều gì đó “quá mức”: cha mẹ thức đêm cho con; người vợ tha thứ; người chồng hy sinh; một người bạn có mặt khi mọi người đã đi; một vị mục tử tìm con chiên lạc trong khi chín mươi chín con kia vẫn an toàn. Tình yêu tính toán luôn hỏi: “Bao nhiêu là đủ?” Tình yêu của Thánh Giá hỏi: “Còn gì có thể trao nữa?”
Chính vì vậy, Thánh Giá là lời phê phán gay gắt đối với mọi ý thức hệ muốn xây dựng một thế giới hoàn hảo bằng cách hy sinh những con người cụ thể. Lịch sử đã nhiều lần chứng kiến những hệ thống rất logic trên giấy nhưng trở thành địa ngục trong thực tế, bởi con người bị biến thành con số, thành phương tiện, thành vật liệu cho một tương lai tưởng tượng. Thánh Giá đứng chống lại mọi thứ logic ấy bằng chính một thân xác bị đóng đinh. Thánh Giá nói rằng một con người không bao giờ được biến thành phương tiện. Người yếu không thể bị loại bỏ chỉ vì không phù hợp với kế hoạch của kẻ mạnh. Một mạng sống không mất phẩm giá chỉ vì không còn “hữu dụng”. Kẻ thất bại vẫn có giá trị. Người tội lỗi vẫn có thể được cứu. Kẻ ở bên lề vẫn có một cái tên. Người trộm lành bị đóng đinh bên cạnh Chúa là bằng chứng rất đẹp. Cả xã hội đã kết thúc hồ sơ đời ông bằng một bản án tử hình. Không còn tương lai, không còn thời gian sửa sai, không còn công trạng để tích lũy. Nhưng trong những phút cuối cùng ông nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Chúa đáp: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Lý trí của công trạng có thể phản đối: quá dễ! Một đời sai lầm rồi vài phút cuối được vào Thiên Đàng sao? Nhưng lòng thương xót không vận hành theo kiểu kế toán. Thiên Chúa không phủ nhận sự thật về tội lỗi của người ấy, nhưng Người cũng không cho phép quá khứ của anh có quyền lớn hơn ân sủng.
Nghịch lý Thánh Giá vì thế cũng là nghịch lý của lòng thương xót. Công lý của con người thường muốn trả lại cho người ta điều họ xứng đáng. Lòng thương xót của Thiên Chúa đi xa hơn: Người trao cho chúng ta điều chúng ta không thể tự làm mình xứng đáng để nhận. Nếu chỉ có công lý theo nghĩa thuần túy trao đổi, ai trong chúng ta có thể đứng vững? Thánh Giá nói một sự thật rất nghiêm trọng về tội lỗi, vì tội lỗi không phải chuyện nhẹ. Nhưng cùng lúc, Thánh Giá nói một sự thật còn lớn hơn về tình yêu: không có tội lỗi nào khiến Thiên Chúa thôi yêu con người. Chúng ta nhìn Thánh Giá và thấy hậu quả ghê gớm của tội, nhưng cũng nhìn Thánh Giá và thấy lòng thương xót còn đi xa hơn tội. Chính ở đây lý trí thuần túy lại bị vượt qua. Lý trí nói: người phản bội đáng bị bỏ. Đức Kitô rửa chân Giuđa. Lý trí nói: kẻ đóng đinh mình đáng bị nguyền rủa. Đức Kitô xin Cha tha thứ. Lý trí nói: kẻ bỏ chạy không còn đáng tin. Đức Kitô phục hồi Phêrô và giao đàn chiên cho ông. Thiên Chúa không hành động phi lý; Người hành động bằng một lý lẽ sâu hơn: lý lẽ của tình yêu cứu chuộc.
Có lẽ vì vậy mà Thánh Giá luôn gây khó chịu cho cái tôi. Cái tôi muốn được bảo vệ. Thánh Giá mời gọi tự hiến. Cái tôi muốn người khác công nhận. Thánh Giá đưa ta vào nơi có thể chẳng ai nhìn thấy. Cái tôi muốn chiến thắng. Thánh Giá dạy ta có những lúc thua một cuộc tranh luận để giữ được một người anh em còn quan trọng hơn thắng. Cái tôi muốn kiểm soát. Thánh Giá dạy buông mình vào tay Cha. Cái tôi muốn được đáp trả tương xứng. Thánh Giá dạy yêu cả khi không được đáp trả. Cái tôi muốn công bằng ngay lập tức. Thánh Giá cho thấy đôi khi người công chính vẫn phải đi qua bất công, nhưng bất công không có tiếng nói cuối cùng. Vì thế, theo Chúa không chỉ là học thêm một số giáo lý. Theo Chúa là để logic của Thánh Giá từ từ phá vỡ logic ích kỷ đã ăn sâu trong chúng ta.
Điều này không dễ. Có lẽ chúng ta thường yêu một Kitô giáo không có Thánh Giá hơn. Chúng ta thích Chúa làm phép lạ, thích Chúa hóa bánh ra nhiều, thích Chúa chữa bệnh, thích Chúa đi trên mặt nước, thích Chúa biến hình trên núi. Nhưng khi Người bước về Giêrusalem, chúng ta lại giống Phêrô: “Xin đừng để chuyện ấy xảy ra!” Chúng ta muốn Phục Sinh mà không muốn Thứ Sáu Tuần Thánh. Muốn bình an mà không muốn tha thứ. Muốn hiệp nhất mà không muốn chết đi cho tự ái. Muốn gia đình hạnh phúc mà không muốn hy sinh. Muốn đời tu đẹp mà không muốn từ bỏ mình. Muốn làm linh mục được yêu mến mà không muốn bị hiểu lầm. Muốn phục vụ nhưng không muốn bị quên. Muốn theo Đức Kitô nhưng vẫn giữ quyền quyết định Ngài phải dẫn mình đi con đường nào. Và chính ở đó Thánh Giá trở thành điều kiện của người môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24).
“Từ bỏ chính mình” không có nghĩa là ghét chính mình. Người ghét mình chưa chắc đã thánh thiện. Từ bỏ mình là từ bỏ việc xem cái tôi như trung tâm tuyệt đối. Là thôi bắt mọi sự phải xoay quanh cảm xúc, danh dự, lợi ích và kế hoạch của mình. Là chấp nhận rằng Thiên Chúa có thể dẫn mình qua một con đường khác với điều mình tưởng. Là học nói như Đức Giêsu tại Ghếtsêmani: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Đây là điểm mà mọi hệ thống lý trí thuần túy của con người đều bị thử thách, bởi lý trí muốn nắm chắc, trong khi đức tin cuối cùng là phó thác. Lý trí muốn bản đồ đầy đủ rồi mới lên đường; đức tin nhiều khi chỉ nhận đủ ánh sáng cho một bước kế tiếp. Lý trí muốn bảo đảm rằng không gì sẽ mất; tình yêu biết rằng có những mất mát phải chấp nhận để trung thành. Lý trí muốn câu trả lời; Thánh Giá đôi khi chỉ trao cho ta một Người để bám lấy.
Và có lẽ đó chính là điều con người cần hơn cả: không phải luôn luôn một câu trả lời, nhưng một Đấng ở cùng. Một lý thuyết không thể ôm người đang khóc. Một hệ thống triết học không thể nắm tay người hấp hối. Một công thức không thể tha tội. Một lập luận không thể chịu đau thay cho ta. Nhưng Đức Kitô chịu đóng đinh có thể nói: “Ta ở đây.” Có những đêm ta không hiểu tại sao Chúa không thay đổi hoàn cảnh, nhưng ta có thể nhìn Thánh Giá và biết Chúa đã bước vào hoàn cảnh của mình. Có những đau đớn không được cất đi, nhưng sự hiện diện của Chúa làm cho chúng không còn hoàn toàn vô nghĩa. Có những vết thương không biến mất, nhưng qua thời gian có thể trở thành nơi lòng trắc ẩn sinh ra. Người từng đau có thể hiểu người đau. Người từng được tha có thể học tha. Người từng được nâng dậy có thể học nâng người khác. Cây Thánh Giá từng là dấu của tử hình lại trở thành cây sinh sự sống.
Đây chính là chỗ lý trí phải quỳ xuống, không phải vì bị đánh bại, nhưng vì đã đi đến biên giới của mình. Một lý trí trưởng thành biết điều gì nó có thể biết và điều gì vượt quá nó. Người thông minh không phải là người tưởng mình giải thích được mọi sự. Người thông minh thật biết kinh ngạc trước mầu nhiệm. Trong tình yêu con người đã vậy. Ta có thể phân tích hormone, tâm lý, hành vi, ký ức, nhưng không vì thế mà hiểu hết tại sao một người mẹ sẵn sàng chết cho con. Càng không thể dùng vài phương trình để giải thích tình yêu Thiên Chúa trên Calvariô. Thánh Giá không phi lý; Thánh Giá siêu vượt cái lý của ích lợi và trao đổi. Nó không nói 2 cộng 2 bằng 5. Nó nói có những thực tại không thể được đo bằng phép cộng. Một người hy sinh mạng sống vì người mình yêu không “có lời” theo kinh tế học, nhưng trong chiều sâu nhân tính, ta biết đó có thể là hành động đẹp nhất của một đời người. Thánh Giá đưa trực giác ấy đến tận cùng: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).
Và trên Thánh Giá, Chúa Giêsu còn đi xa hơn: Người chết không chỉ cho bạn hữu, mà cho cả những kẻ chưa biết yêu Người. Đó là điểm mọi tính toán đổ vỡ. Nếu chúng ta chỉ yêu người yêu mình, tha người biết xin lỗi, phục vụ người biết ơn, cho đi nơi chắc chắn được đáp trả, thì chúng ta vẫn đang ở trong một nền kinh tế trao đổi. Thánh Giá mở ra nền kinh tế ân sủng. Thiên Chúa yêu trước. Tha trước. Đi tìm trước. Chết cho chúng ta “khi chúng ta còn là tội nhân”. Chính tình yêu nhưng không ấy mới có thể làm con người thay đổi tận gốc. Một người được yêu khi mình không xứng đáng bắt đầu hiểu thế nào là ân sủng. Một người được tha khi không thể tự cứu mình bắt đầu có khả năng tha người khác.
Thế giới hôm nay không thiếu trí thông minh. Chúng ta có những cỗ máy tính toán nhanh hơn bất kỳ thế hệ nào trước đây từng tưởng tượng. Chúng ta có dữ liệu khổng lồ, khả năng dự báo, công nghệ có thể làm những điều kỳ diệu. Nhưng trí thông minh không tự động sinh ra lòng tốt. Biết nhiều không có nghĩa là yêu nhiều. Có phương tiện mạnh hơn không bảo đảm chúng ta dùng chúng vì điều thiện. Con người có thể rất giỏi giải quyết phương trình mà vẫn bất lực trước lòng tham. Có thể bay vào không gian mà vẫn không biết tha thứ cho người sống chung một mái nhà. Có thể nối hàng tỷ người bằng mạng lưới kỹ thuật số nhưng vẫn để vô số con người chết vì cô đơn. Chính ở đây Thánh Giá trở nên cấp thiết. Nó nhắc rằng câu hỏi cuối cùng về con người không phải “Anh biết bao nhiêu?” mà “Anh đã yêu thế nào?” Không phải “Anh đã kiểm soát được bao nhiêu?” mà “Anh đã trao ban bao nhiêu?” Không phải “Anh đứng cao đến đâu?” mà “Anh đã cúi xuống với ai?”
Ngày sau hết, chúng ta sẽ không mang theo những hệ thống lý luận từng làm mình kiêu hãnh. Mọi cuốn sách sẽ đóng lại, mọi chức danh sẽ bỏ lại, mọi tài khoản sẽ không còn ý nghĩa. Điều còn lại là tình yêu. Và điều lạ lùng là Thánh Giá đã nói điều ấy từ hai ngàn năm trước bằng một ngôn ngữ không thể nhầm lẫn: một Con Người dang đôi tay ra, không còn giữ gì cho mình. Đôi tay ấy bị đóng đinh nhưng chính vì thế không bao giờ khép lại. Nó trở thành biểu tượng vĩnh viễn của một Thiên Chúa không thu tay lại trước sự bất trung của con người. Ta chạy, Người vẫn đợi. Ta phạm tội, Người vẫn gọi. Ta phản bội, Người vẫn mở đường trở về. Ta sợ, Người vẫn nói: “Đừng sợ.” Ta tưởng mọi sự đã kết thúc, Người vẫn chuẩn bị buổi sáng Phục Sinh.
Bởi nghịch lý cuối cùng của Thánh Giá là: cái chết không phải điểm cuối. Nếu câu chuyện dừng vào chiều Thứ Sáu, Kitô giáo thật sự là một bi kịch cao đẹp nhưng thất bại. Nhưng bình minh ngày thứ nhất trong tuần, ngôi mộ trống. Phục Sinh không xóa Thánh Giá; Phục Sinh xác nhận Thánh Giá. Đấng sống lại vẫn mang các dấu đinh. Điều đó vô cùng quan trọng. Thiên Chúa không giả vờ rằng đau khổ chưa từng xảy ra. Những vết thương được đưa vào vinh quang. Chính nơi từng bị đâm lại trở thành dấu để Tôma nhận ra Chúa. Như thế, ơn cứu độ không nhất thiết là xóa sạch quá khứ, nhưng là biến đổi quá khứ. Những vết thương của chúng ta, nếu được trao cho Đức Kitô, có thể không còn chỉ là nơi đau đớn mà trở thành nơi ân sủng đi qua. Điều từng làm ta vỡ có thể làm ta hiền hơn. Điều từng khiến ta khóc có thể giúp ta nhận ra nước mắt người khác. Điều từng hạ ta xuống có thể giải thoát ta khỏi kiêu ngạo. Không phải vì sự dữ trở thành tốt, nhưng vì Thiên Chúa đủ quyền năng để không cho sự dữ có tiếng nói cuối cùng.
Vậy Thánh Giá chống lại lý trí thuần túy không phải bằng việc kêu gọi chúng ta trở thành những người phi lý, mà bằng việc cứu lý trí khỏi sự kiêu ngạo của chính nó. Lý trí cần Thánh Giá để nhớ rằng chân lý không phải một vật sở hữu mà là một Đấng để gặp gỡ. Quyền lực cần Thánh Giá để nhớ rằng quyền lớn nhất là phục vụ. Công lý cần Thánh Giá để không trở thành báo thù. Tự do cần Thánh Giá để không thoái hóa thành ích kỷ. Tình yêu cần Thánh Giá để không chỉ là cảm xúc. Đức tin cần Thánh Giá để không biến thành thứ tôn giáo chỉ tìm phép lạ và thành công. Hội Thánh cần Thánh Giá để không trở thành một định chế mê quyền lực. Người linh mục cần Thánh Giá để không biến sứ vụ thành sự nghiệp. Người tu sĩ cần Thánh Giá để không biến lời khấn thành một hình thức danh giá. Gia đình cần Thánh Giá để tình yêu không chết ngay khi cảm xúc thay đổi. Mỗi người chúng ta cần Thánh Giá để cái tôi không trở thành vị thần bí mật trong tâm hồn.
Có những lúc nhìn Thánh Giá, ta chẳng cần nói gì. Cứ đứng đó. Nhìn đôi chân đã đi tìm người tội lỗi nay bị đóng chặt. Nhìn đôi tay đã chữa lành bao người nay bị đinh xuyên qua. Nhìn đôi mắt đã khóc với Mácta và Maria nay mờ đi trong đau đớn. Nhìn đôi môi từng nói những lời hằng sống nay khô vì khát. Nhìn trái tim đã yêu đến cùng bị lưỡi đòng đâm thâu. Rồi tự hỏi: nếu tất cả điều này là vì tôi, tôi còn có thể nói rằng mình không được yêu sao? Nếu Thiên Chúa đã đi xa đến thế để tìm tôi, tôi còn có thể sống như thể đời mình không đáng giá sao? Nếu Người đã tha cho những kẻ đóng đinh mình, tôi còn có thể nuôi một mối hận đến chết sao? Nếu Người đã không xuống khỏi Thánh Giá để cứu chính mình, tôi còn muốn dùng mọi cách để cứu cái tôi của mình đến mức làm tổn thương người khác sao?
Có một lời chế nhạo vang lên dưới chân Thập Giá: “Hắn cứu được thiên hạ mà chẳng cứu nổi mình.” Những kẻ nói câu ấy tưởng mình đã nêu bằng chứng cuối cùng rằng Đức Giêsu không phải Đấng Cứu Thế. Nhưng vô tình, họ lại nói ra chính mầu nhiệm cứu độ. Chính vì không cứu mình mà Người cứu được chúng ta. Nếu Người xuống khỏi Thánh Giá để chứng minh quyền năng, có thể đám đông sẽ kinh ngạc, nhưng tình yêu “đến cùng” đã không được hoàn tất. Người ở lại. Người không ở lại vì không thể xuống. Người ở lại vì không muốn bỏ chúng ta. Đây có lẽ là nghịch lý đẹp nhất: Người có quyền rời Thánh Giá, nhưng tình yêu giữ Người ở đó. Những chiếc đinh xuyên tay chân Người, nhưng không phải đinh là điều giữ Con Thiên Chúa trên cây gỗ. Điều giữ Người là tình yêu.
Và đó cũng là câu hỏi cuối cùng Thánh Giá đặt ra cho mỗi chúng ta. Không phải: “Con hiểu được bao nhiêu về mầu nhiệm này?” nhưng: “Con có để mầu nhiệm này biến đổi cách con sống không?” Ta có thể viết hàng ngàn trang thần học về Thánh Giá nhưng vẫn chạy trốn cây thập giá nhỏ trong đời mình. Ta có thể giảng rất hay về sự tha thứ mà vẫn không chịu tha một người. Có thể suy niệm về sự tự hủy của Đức Kitô mà vẫn bám chặt danh dự. Có thể hôn Thánh Giá Thứ Sáu Tuần Thánh rồi dùng lời nói đóng đinh người khác ngày hôm sau. Thánh Giá không cần thêm người ngưỡng mộ; Thánh Giá cần những môn đệ. Người môn đệ là người để logic của Đấng chịu đóng đinh thấm vào từng chọn lựa: nói ít đi để nghe người khác; nhịn một lời cay độc; nhận lỗi trước; âm thầm phục vụ; trung thành khi không ai nhìn; bảo vệ người yếu; không trả đũa; chịu thiệt để giữ điều đúng; và khi phải bước qua những điều không hiểu được, vẫn thì thầm: “Lạy Cha, con phó thác.”
Cuối cùng, trước Thánh Giá, lý trí không bị xúc phạm. Lý trí được mời đi xa hơn chính mình. Nó được mời ra khỏi căn phòng chật hẹp của tính toán để bước vào đại dương của mầu nhiệm. Ở đó, nó khám phá rằng sự thật tối hậu của vũ trụ không phải là quyền lực lạnh lùng, không phải định luật mù quáng, không phải cuộc đấu tranh để kẻ mạnh sống sót, nhưng là một Tình Yêu đã mang lấy những vết thương. Ở tâm điểm Kitô giáo không có một công thức nhưng có một khuôn mặt. Không có một sơ đồ nhưng có một thân thể bị trao ban. Không có một lý luận cuối cùng nhưng có một tiếng nói: “Thế là đã hoàn tất.” Và từ khoảnh khắc ấy, cả lịch sử được đặt dưới ánh sáng của một nghịch lý không bao giờ cũ: khi con người tưởng đã giết được Thiên Chúa, Thiên Chúa đang cứu con người; khi thế gian nghĩ tình yêu đã thất bại, tình yêu đang chiến thắng; khi bóng tối tưởng đã nuốt ánh sáng, bình minh Phục Sinh đã bắt đầu từ trong lòng đêm tối.
Vì thế, người Kitô hữu không cần sợ Thánh Giá. Điều đáng sợ không phải là có Thánh Giá, mà là một đời sống không còn tình yêu đủ lớn để có điều gì đáng hy sinh. Điều đáng sợ không phải là mất mát, mà là giữ được mọi thứ rồi đánh mất linh hồn. Điều đáng sợ không phải là bị thế gian xem là dại vì trung thành với Tin Mừng, mà là trở nên “khôn ngoan” đến mức không còn khả năng yêu. Có ngày mọi lý lẽ của ta sẽ im tiếng. Nhưng Thánh Giá vẫn đứng. Đứng giữa trời và đất. Đứng giữa tội lỗi và ân sủng. Đứng giữa tuyệt vọng và hy vọng. Đứng giữa cái chết và sự sống. Và trên đó, đôi tay Đức Kitô vẫn rộng mở như một câu trả lời Thiên Chúa dành cho tất cả những gì con người không hiểu nổi: Con không hiểu hết cũng được. Hãy nhìn vào đây và con sẽ biết Ta yêu con đến mức nào.
Đến cuối cùng, đó là sự khôn ngoan mà mọi triết học đều phải cúi đầu trước: chúng ta không được cứu vì đã hiểu hết Thiên Chúa, nhưng vì Thiên Chúa đã yêu chúng ta đến cùng. Thánh Giá là nghịch lý tối thượng bởi ở đó thất bại trở thành chiến thắng, sự yếu đuối trở thành quyền năng, sự tự hủy trở thành viên mãn, mất mát trở thành trao ban, cái chết mở cửa sự sống. Và người nào một lần thật sự hiểu bằng trái tim điều ấy sẽ không còn nhìn cuộc đời như trước nữa. Người ấy sẽ biết có những điều đáng giữ, nhưng cũng có những điều phải buông; có những cuộc chiến phải chiến đấu, nhưng cũng có những chiến thắng phải từ chối; có những lúc cần nói, nhưng cũng có những lúc phải im lặng; có những lúc cần bước lên, nhưng cũng có những lúc phải cúi xuống; có những lúc cần bảo vệ chính mình, nhưng cũng có những lúc chỉ bằng việc dám trao chính mình, ta mới tìm lại được mình.
Và khi đến giờ cuối của đời ta, có thể mọi thứ lý luận từng làm ta bận tâm sẽ tan biến. Ta sẽ không còn hỏi được bao nhiêu câu hỏi nữa. Khi ấy, điều ta cần có lẽ chỉ là nhìn lên Đấng đã dang tay trên Thánh Giá và thưa một lời rất đơn sơ: “Lạy Chúa Giêsu, con không hiểu hết cuộc đời con. Có những đoạn con đã không hiểu Chúa. Có những vết thương con từng trách Chúa. Có những mất mát con từng tưởng là vô nghĩa. Nhưng hôm nay, nhìn đôi tay bị đóng đinh vì con, con biết đủ một điều: Chúa đã yêu con. Và nếu Chúa đã yêu con đến thế, con xin trao cho Chúa tất cả những gì con chưa hiểu.”
Có lẽ lúc ấy, nghịch lý của Thánh Giá không còn là điều phải giải thích nữa. Nó trở thành nơi để tựa đầu. Và người ta hiểu, sau cả một đời dài tìm kiếm, rằng khôn ngoan tối hậu không phải là có câu trả lời cho mọi sự, nhưng là biết mình có thể phó thác cho Ai.
Lm. Anmai, CSsR

TỰ DO ĐÍCH THỰC CHỈ CÓ TRÊN THÁNH GIÁ – TỰ DO CỦA TÌNH YÊU TỰ HIẾN
Con người thời nào cũng khát tự do, nhưng có lẽ chưa bao giờ hai chữ “tự do” được nói nhiều như hôm nay. Người ta đòi tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do lựa chọn, tự do yêu, tự do sống theo ý mình, tự do thoát khỏi những khuôn phép, tự do không bị ai can thiệp, tự do làm điều mình thích. Người trẻ muốn thoát khỏi cha mẹ. Người trưởng thành muốn thoát khỏi những ràng buộc. Người có tiền muốn dùng tiền để mua thêm tự do. Người có quyền muốn quyền lực giúp mình không phải lệ thuộc ai. Người đang đau khổ mong được tự do khỏi bệnh tật, nghèo túng, cô đơn, thất bại. Người đang sống trong một mối tương quan khó khăn lại mong một ngày được “giải thoát”. Tự do dường như trở thành một trong những giấc mơ lớn nhất của nhân loại. Thế nhưng, càng nói về tự do, con người lại càng có nguy cơ trở thành nô lệ. Ta thoát được một ràng buộc bên ngoài nhưng lại bị trói bởi một đam mê bên trong. Ta không muốn ai điều khiển mình nhưng lại để một chiếc điện thoại điều khiển từng phút sống. Ta đòi quyền nói điều mình muốn nhưng rồi trở thành tù nhân của những lời mình đã nói. Ta muốn tự do tiêu tiền nhưng rồi trở thành nô lệ của món nợ. Ta muốn tự do hưởng thụ nhưng rồi chính khoái lạc đòi hỏi ngày càng nhiều hơn. Ta muốn tự do khỏi trách nhiệm nhưng sau cùng lại bị chính sự ích kỷ của mình giam cầm. Ta muốn tự do yêu theo cảm xúc nhưng khi cảm xúc đổi thay, ta mới thấy mình chưa bao giờ học được thế nào là yêu. Có một nghịch lý rất đau: con người càng cố nắm lấy tự do cho riêng mình, tự do càng tuột khỏi tay. Và Kitô giáo, giữa một thế giới đang định nghĩa tự do là “được làm điều mình muốn”, lại chỉ vào một con người bị đóng đinh, hai tay bị đóng chặt vào gỗ, đôi chân không còn khả năng bước đi, thân thể bị tước hết quyền tự quyết, rồi nói với nhân loại: đây là Con Người tự do nhất lịch sử. Đây là tự do đến tận cùng. Đây là tự do không gì có thể cướp mất. Đây là tự do của tình yêu tự hiến. Đây là tự do của Thánh Giá.
Thoạt nhìn, không gì trái ngược với tự do cho bằng Thánh Giá. Một người bị đóng đinh thì còn tự do gì nữa? Tay bị đóng đinh, không thể làm điều mình muốn. Chân bị đóng đinh, không thể đi nơi mình muốn. Áo quần bị lột bỏ, phẩm giá bị chà đạp. Người khác quyết định giờ chết của mình. Người khác đóng đinh mình. Người khác chế giễu mình. Người khác đứng dưới chân thập giá mà thách thức: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi!” Nếu hiểu tự do đơn giản là khả năng làm điều mình muốn, Chúa Giêsu trên Thánh Giá dường như đã mất hết tự do. Nhưng chính ở đây Tin Mừng mở cho ta thấy một chiều sâu khác: tự do không nằm trước hết ở chỗ tôi còn bao nhiêu lựa chọn, nhưng ở chỗ không ai có thể cưỡng bức trái tim tôi ngừng yêu. Người ta có thể đóng đinh đôi tay Đức Giêsu, nhưng không đóng đinh được tình yêu của Người. Người ta có thể làm cho đôi chân Người bất động, nhưng không ngăn được Người đi đến tận cùng con đường Chúa Cha trao phó. Người ta có thể lột áo Người, nhưng không tước được phẩm giá của Người. Người ta có thể chế nhạo Người, nhưng không buộc được Người căm thù. Người ta có thể giết thân xác Người, nhưng không biến Người thành kẻ sát nhân trong tâm hồn. Người ta có thể dùng bạo lực đối với Người, nhưng không thể ép Người đáp lại bằng bạo lực. Người ta có thể đặt Người giữa hai tên gian phi, nhưng không làm cho Người mất khả năng mở cửa thiên đàng cho một người đang hấp hối. Người ta có thể đưa giấm chua lên môi Người, nhưng không thể làm cho trái tim Người trở nên cay đắng. Và đó mới là tự do. Tự do tối hậu không phải là không ai đụng được tới đời tôi; tự do tối hậu là ngay cả khi người ta làm tổn thương tôi, tôi vẫn không để sự dữ của họ quyết định tôi sẽ trở thành người thế nào.
Trong Tin Mừng Gioan, trước cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu nói một câu làm sáng cả mầu nhiệm Thánh Giá: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (Ga 10,18). Đó là chiếc chìa khóa để hiểu tự do của Đức Kitô. Nếu chỉ nhìn bên ngoài, người ta bắt Người, trói Người, xét xử Người, đánh đòn Người, đội mão gai cho Người, bắt Người vác Thánh Giá, đóng đinh Người và giết Người. Nhưng nếu nhìn từ bên trong mầu nhiệm, Đức Giêsu không phải là một nạn nhân bất lực bị lịch sử nghiền nát. Người tự hiến. Người trao ban. Người đi vào cuộc khổ nạn với một sự tự do kinh ngạc của tình yêu. Giuđa đến với đoàn người mang gươm giáo, Đức Giêsu không trốn. Phêrô rút gươm, Đức Giêsu bảo ông xỏ gươm vào vỏ. Người đứng trước Philatô mà không hạ mình để mua lấy sự sống bằng một lời thỏa hiệp. Người bị kết án mà không nguyền rủa. Người bị đóng đinh mà vẫn cầu xin cho những người đóng đinh mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Người ta tưởng họ đang lấy mạng sống của Người, nhưng thật ra Người đang trao mạng sống ấy. Giữa “bị lấy đi” và “tự trao ban” là cả một vực thẳm. Một bên là thân phận nạn nhân; bên kia là tự do của người yêu. Cùng một đau khổ, nhưng nếu chỉ bị ép chịu thì đau khổ có thể nghiền nát; nếu trong đức tin ta có thể biến điều không tránh được thành một lễ dâng, đau khổ ấy bắt đầu mang một ý nghĩa khác. Thánh Giá của Đức Giêsu không cứu thế giới chỉ vì Người đau nhiều; biết bao người đã đau hơn về mặt thể lý trong những cách hành hình khủng khiếp khác. Thánh Giá cứu thế giới vì nơi đó từng giây phút đau khổ đã được tình yêu tự do ôm lấy và biến thành quà tặng.
Cao điểm của tự do ấy đã được báo trước trong Vườn Cây Dầu. Ta thường nghĩ Thánh Giá bắt đầu trên đồi Golgotha. Không. Thánh Giá đã bắt đầu trong câu cầu nguyện giữa đêm tối: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39). Đây không phải lời nói của một con người không có ý chí. Trái lại, Chúa Giêsu có một ý muốn rất thật. Người không yêu đau khổ vì đau khổ. Người không tìm cái chết vì cái chết. Người run sợ. Người buồn đến chết được. Mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất. Người xin nếu có thể, chén đắng ấy được cất đi. Kitô giáo không thần thánh hóa đau đớn. Kitô giáo không bảo người ta thích bị tổn thương. Kitô giáo không dạy rằng cứ đau là thánh. Nhưng ngay giữa nỗi sợ hãi ấy, Chúa Giêsu nói: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Và đây là điều thật đẹp: vâng phục không tiêu diệt tự do; vâng phục vì yêu chính là hình thức cao nhất của tự do. Người nô lệ vâng lời vì sợ. Người con vâng lời vì yêu. Người nô lệ làm điều chủ muốn vì không còn lựa chọn. Đức Giêsu làm điều Chúa Cha muốn vì Người hoàn toàn tự do trong tình yêu. Chính vì vậy, thư gửi tín hữu Philípphê đã nhìn thấy nơi cuộc tự hạ của Đức Kitô một dòng chảy duy nhất: “Người đã tự hủy mình… Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,7-8). Hai chữ “tự hủy” không có nghĩa Đức Giêsu hủy bỏ giá trị của mình. Người không khinh ghét bản thân. Người không coi mình là vô nghĩa. Người tự hủy theo nghĩa Người không giữ lấy mình cho mình. Người không bám chặt. Người không biến địa vị, quyền năng, phẩm giá thành của cải để bảo vệ cái tôi. Người hoàn toàn tự do với chính mình, nên có thể trao ban chính mình.
Đây là điểm mà con người hôm nay rất khó hiểu. Ta thường đồng hóa tự do với việc không phải từ bỏ điều gì. Tôi tự do nghĩa là tôi muốn gì cũng được. Tôi muốn nói thì nói. Tôi muốn đi thì đi. Tôi muốn giữ thì giữ. Tôi muốn bỏ thì bỏ. Tôi muốn yêu thì yêu. Tôi hết cảm xúc thì thôi. Nhưng kiểu tự do ấy nhiều khi chỉ là một tên gọi đẹp cho sự thống trị của cái tôi. Cái tôi nói: “Tôi muốn”, và ta lập tức vâng lời. Cái tôi nói: “Tôi không thích”, và ta bỏ cuộc. Cái tôi bị chạm tự ái, ta nổi giận. Cái tôi muốn được khen, ta diễn. Cái tôi muốn chiếm hữu, ta gọi đó là yêu. Cái tôi muốn thắng, ta gọi đó là bảo vệ sự thật. Cái tôi không muốn chịu thiệt, ta gọi đó là công bằng. Cuối cùng, chính cái tôi trở thành ông chủ độc tài nhất. Một người có thể không chịu lệnh của bất cứ ai mà vẫn là nô lệ cho chính mình. Có thể sống một mình, tiền bạc đầy đủ, không bị ai kiểm soát, muốn đi đâu thì đi, muốn mua gì thì mua, nhưng vẫn hoàn toàn không tự do vì không thể nói “không” với lòng tham, cơn giận, dục vọng, tự ái, ghen ghét, nhu cầu được người khác công nhận. Một đứa trẻ làm tất cả điều nó thích không phải là đứa trẻ tự do; đó chỉ là đứa trẻ chưa học làm chủ bản thân. Một người trưởng thành cũng vậy. Tự do không phải khả năng luôn luôn nói “có” với mọi ham muốn. Tự do trước hết là khả năng nói “không” với điều làm mình nhỏ lại và nói “có” với điều đáng sống, dù cái “có” ấy phải trả giá.
Vì thế Chúa Giêsu mới nói một câu mà thời đại nào cũng thấy khó nghe: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Lc 9,23-24). Nếu đọc bằng logic của bản năng, câu này thật vô lý. Cứu mình thì mất; mất mình thì cứu. Từ bỏ mình để tìm thấy mình. Chết để sống. Cho đi để nhận lại. Đó chính là nghịch lý của Thánh Giá. Nhưng ai đã thực sự yêu sẽ hiểu. Một người mẹ thức cả đêm bên đứa con bệnh, bà mất tự do hay bà đang tự do? Bà có thể ngủ. Không ai còng tay bắt bà thức. Chính tình yêu khiến bà tự nguyện thức. Một người cha lặng lẽ làm việc nhiều năm để nuôi con ăn học, ông mất tự do hay ông đang sống một tự do lớn hơn cái tự do chỉ biết hưởng thụ? Một người vợ chăm sóc người chồng bệnh lâu ngày, một người chồng chung thủy với người vợ khi tuổi già làm vẻ đẹp phai tàn, một người con chăm cha mẹ lú lẫn, một tu sĩ vẫn trung thành giữa những ngày chẳng còn chút cảm xúc sốt sắng, một linh mục vẫn đến với người nghèo khi thân xác mệt mỏi, một người âm thầm tha thứ dù có đủ lý do để trả đũa – tất cả những con người ấy, nhìn bằng cái nhìn hời hợt, dường như đã bị ràng buộc. Nhưng chính nơi họ ta thấy một thứ tự do lớn hơn: họ không còn bị cai trị bởi câu hỏi “tôi được gì?”. Họ có khả năng tự trao mình. Và chỉ người có khả năng trao mình mới thật sự sở hữu mình.
Không sở hữu mình thì không thể trao mình. Đây là điều rất quan trọng. Tự hiến Kitô giáo không phải là để người khác sử dụng mình tùy tiện. Thánh Giá không bao giờ là giấy phép cho bạo hành, áp bức, lạm dụng hay bất công. Đừng bao giờ lấy hai chữ “hy sinh” để buộc một người phải im lặng trước điều ác. Chúa Giêsu tự hiến bởi tự do; Người không tôn vinh sự dữ đã đóng đinh Người. Người tha thứ cho kẻ đóng đinh nhưng Người không gọi hành vi đóng đinh là tốt. Người yêu người tội lỗi nhưng Người không gọi tội lỗi là thánh thiện. Vì vậy, có những lúc tình yêu đòi ta ở lại, nhưng cũng có những lúc chính tình yêu đòi ta phải bước ra khỏi một tương quan hủy hoại. Có khi vác thập giá là nhẫn nại, có khi vác thập giá là can đảm nói sự thật. Có khi vác thập giá là im lặng, có khi vác thập giá là phải lên tiếng để bảo vệ người yếu thế. Có khi vác thập giá là chấp nhận chịu thiệt, có khi vác thập giá là chống lại bất công dù phải trả giá. Tự do của Thánh Giá không phải thứ tự do bạc nhược. Chính Đức Giêsu hiền lành cũng là Đức Giêsu dám lật bàn những kẻ biến Đền Thờ thành nơi buôn bán; Đức Giêsu im lặng trước Philatô cũng là Đức Giêsu gọi những kẻ giả hình là mồ mả tô vôi. Tình yêu không đồng nghĩa với yếu đuối. Tình yêu tự hiến là sức mạnh của một con người biết rõ điều gì đáng để mình sống và điều gì đáng để mình chết.
Nhìn vào Thánh Giá, ta còn nhận ra một điều khác: người tự do nhất là người không cần chứng minh mình. Dưới chân Thánh Giá, người ta thách Đức Giêsu: “Hãy xuống khỏi thập giá đi, để chúng ta thấy và tin.” Đó là một cám dỗ khủng khiếp. Cả đời Người đã bị cám dỗ theo cách ấy. Trong hoang địa: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy truyền cho hòn đá này hóa bánh.” Trên nóc Đền Thờ: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy gieo mình xuống.” Và trên Thánh Giá: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá.” Cấu trúc của cám dỗ không thay đổi: nếu anh là ai đó, hãy chứng minh đi. Biết bao đời người bị tiêu hao bởi câu ấy. Nếu tôi giỏi, tôi phải chứng minh. Nếu tôi có giá trị, mọi người phải công nhận. Nếu tôi đúng, tôi phải thắng tranh luận. Nếu tôi thành công, người khác phải biết. Nếu tôi bị xúc phạm, tôi phải đáp trả để họ biết tôi không phải người dễ bắt nạt. Nếu tôi yêu Chúa, tôi phải được người khác thấy mình đạo đức. Ta tưởng mình tự do, nhưng chỉ một lời chê cũng đủ phá hỏng cả ngày. Một cái nhìn lạnh lùng đủ khiến ta mất ngủ. Một người không công nhận ta đủ làm ta cay cú nhiều năm. Ta bị nhốt trong ánh mắt của thiên hạ. Còn Đức Giêsu? Người không xuống khỏi Thánh Giá để chứng minh mình là Con Thiên Chúa, bởi chính việc ở lại trên Thánh Giá mới mặc khải Người là Con Thiên Chúa. Người không cần thắng cuộc tranh luận cuối cùng. Người không cần cho kẻ thù thấy họ sai bằng một màn biểu diễn quyền năng. Người biết mình là ai trước mặt Chúa Cha. Một con người biết mình được yêu thì không cần sống bằng việc xin người khác xác nhận giá trị của mình. Và đó là tự do.
Có lẽ một trong những nhà tù lớn nhất của con người là nhu cầu được công nhận. Ta sống rất mệt bởi ánh mắt người khác. Mặc áo này người ta nghĩ gì? Làm việc ấy người ta nói gì? Nếu mình thất bại, họ cười không? Nếu mình không có cái người ta có, mình có bị coi thường không? Nếu mình không trả lời khi bị xúc phạm, người ta có tưởng mình yếu không? Nếu mình sống đơn sơ, họ có xem mình kém thành công không? Nếu mình thú nhận lỗi, họ có coi thường mình không? Và thế là ta liên tục diễn. Diễn mạnh mẽ khi bên trong mong manh. Diễn vui vẻ khi trái tim đang khóc. Diễn đạo đức để được kính trọng. Diễn giàu sang khi đang nợ nần. Diễn hạnh phúc trên mạng xã hội dù gia đình đang lạnh giá. Cái giá của việc sống để người khác nhìn thật quá đắt. Trên đồi Canvê, Đức Giêsu bị tước tất cả những gì có thể dùng để xây dựng một hình ảnh đẹp. Không còn đám đông tung hô Hosanna. Không còn những phép lạ gây kinh ngạc. Không còn chiếc áo nguyên vẹn. Không còn khuôn mặt đẹp đẽ. Không còn danh dự. Không còn sự ủng hộ của đa số. Môn đệ bỏ chạy. Người qua đường lắc đầu. Lãnh đạo tôn giáo chế nhạo. Quân lính cười cợt. Nhưng trong cảnh trần trụi ấy, căn tính của Người lại sáng lên rõ nhất: Con yêu dấu của Chúa Cha, Đấng yêu cho đến cùng. Khi một con người có thể mất hình ảnh mà không mất căn tính, người ấy bắt đầu tự do.
Tự do của Thánh Giá còn là tự do khỏi sự trả thù. Có lẽ ít thứ trói buộc con người khủng khiếp như một vết thương không chịu buông. Một người làm ta đau cách đây mười năm, nhưng mỗi lần nhớ lại ta vẫn nổi giận như chuyện vừa xảy ra hôm qua. Người ấy có thể đã quên, có thể đã chết, có thể đã ở một nơi rất xa, nhưng vẫn có quyền bấm một chiếc nút vô hình trong tâm hồn ta để làm ta đau bất cứ lúc nào. Như vậy ai đang làm chủ đời ta? Ta tưởng ta ghét họ nghĩa là ta đang chống lại họ, nhưng đôi khi chính sự căm ghét cho họ một quyền lực khủng khiếp trên tâm hồn ta. Tha thứ không có nghĩa là nói rằng chuyện đã xảy ra chẳng đáng gì. Không. Có những vết thương rất thật. Có những phản bội khiến trái tim tan nát. Có những bất công không thể gọi nhẹ tên. Có những ký ức suốt đời không thể xóa. Nhưng trên Thánh Giá, Chúa Giêsu cho thấy tha thứ là hành động của tự do: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người không để tội của kẻ khác quyết định tâm hồn Người. Họ đóng đinh, Người không trở thành kẻ đóng đinh. Họ nguyền rủa, Người không trở thành kẻ nguyền rủa. Họ gieo hận, Người không để hận nảy mầm trong Người. Đó là chiến thắng. Phục Sinh đã bắt đầu ngay trong lời tha thứ ấy. Bởi sự chết không chỉ là lúc trái tim sinh học ngừng đập; một con người cũng bắt đầu chết khi lòng mình chỉ còn căm hận. Và sự sống lại bắt đầu khi ta có thể yêu ở nơi đáng lẽ mình đã phải trở thành cay độc.
Tin Mừng minh họa đẹp nhất cho tự do của tình yêu tự hiến có lẽ chính là trình thuật Đức Giêsu rửa chân cho các môn đệ trong bữa Tiệc Ly. Gioan mở đầu bằng một câu gây xúc động: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Điều đặc biệt là Đức Giêsu rửa chân cho các môn đệ khi Người biết rất rõ mọi chuyện. Người biết Giuđa sẽ phản bội. Người biết Phêrô sẽ chối. Người biết phần lớn sẽ chạy trốn. Người biết chỉ ít giờ nữa Người sẽ bị bỏ lại một mình. Vậy mà Người “đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn thắt lưng. Rồi Đức Giêsu đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ.” Hãy dừng lại ở hình ảnh ấy. Một Thiên Chúa quỳ xuống trước những con người sắp làm Người thất vọng. Người không phục vụ vì họ xứng đáng. Người không yêu vì họ bảo đảm sẽ đáp lại. Người không chờ họ hoàn thiện mới cúi xuống. Người yêu vì Người tự do. Người tự do đến mức có thể rửa chân Giuđa mà không biến tình yêu thành một cuộc trao đổi. Đây là hình ảnh đi trước Thánh Giá. Trên bàn tiệc, Người trao bánh: “Này là Mình Thầy.” Người trao chén: “Này là Máu Thầy.” Dưới bàn, Người quỳ xuống rửa chân. Ngày hôm sau, trên Thánh Giá, Người trao cả thân mình. Toàn bộ cuộc đời Đức Giêsu có thể được đọc trong một động từ duy nhất: trao. Chúa Cha trao Con. Chúa Con trao mình. Người trao lời. Trao bánh. Trao sự tha thứ. Trao Mẹ Người cho môn đệ. Trao môn đệ cho Mẹ. Trao Thần Khí. Trao mạng sống. Đến giọt máu và giọt nước cuối cùng cũng trao. Không còn gì để giữ. Đó chính là tự do trọn vẹn: không bị bất cứ điều gì trong mình giữ lại khỏi tình yêu.
Ta thường nghĩ sở hữu nhiều thì tự do nhiều. Nhưng Tin Mừng lại cho ta thấy một chân lý ngược lại: điều gì ta không thể cho đi, điều ấy đang sở hữu ta. Nếu tôi không thể cho đi một chút tiền vì lòng tham làm tôi sợ, tiền đang sở hữu tôi. Nếu tôi không thể nhường một lời vì tự ái không cho phép, tự ái đang sở hữu tôi. Nếu tôi không thể dành thời gian cho người cần mình vì lịch trình của tôi là bất khả xâm phạm, lịch trình ấy đang sở hữu tôi. Nếu tôi không thể xin lỗi dù biết mình sai vì sợ mất mặt, cái mặt đang sở hữu tôi. Nếu tôi không thể tha thứ vì cần giữ quyền kết án người khác, vết thương đang sở hữu tôi. Nếu tôi không thể từ bỏ một thói quen dù biết nó phá đời mình, thói quen ấy đang sở hữu tôi. Nếu một linh mục không thể rời một chức vụ vì căn tính của mình đã dính chặt vào quyền lực, chức vụ ấy đang sở hữu ngài. Nếu một người làm việc tông đồ không chịu được khi công việc mình xây dựng được giao cho người khác, công việc ấy đã không còn hoàn toàn thuộc về Chúa. Tự do được đo không phải bằng bao nhiêu thứ tôi đang có mà bằng bao nhiêu thứ tôi có thể đặt xuống khi tình yêu đòi hỏi.
Chúa Giêsu trên Thánh Giá đã đặt xuống tất cả. Người đặt xuống uy tín. Đặt xuống sự an toàn. Đặt xuống quyền tự bảo vệ. Đặt xuống cả niềm an ủi cảm giác về sự hiện diện của Chúa Cha khi thốt lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Nhưng có một điều Người không đặt xuống: tình yêu. Hay nói chính xác hơn, Người cũng đặt tình yêu xuống – nhưng đặt nó vào tay nhân loại như một món quà. Chính vì vậy Thánh Giá không phải tượng đài của thất bại mà là ngai của tự do. Đinh sắt không thắng được Người. Roi vọt không thắng được Người. Mão gai không thắng được Người. Lời nhục mạ không thắng được Người. Bởi muốn thắng một con người, không nhất thiết phải giết được người ấy; chỉ cần làm cho người ấy ngừng yêu là đủ. Satan đã làm tất cả để khiến Đức Giêsu ngừng yêu, nhưng không thành. Đến hơi thở cuối cùng Người vẫn yêu. “Thế là đã hoàn tất.” Hoàn tất điều gì? Không phải chỉ là sự đau khổ đã kết thúc. Mà là tình yêu đã đi hết con đường của nó. Tình yêu đã không quay lại giữa đường. Tình yêu đã không nói: “Đủ rồi, loài người không xứng đáng.” Tình yêu không rút lại lời hứa. Tình yêu đã đến tận cùng.
Đời Kitô hữu vì thế không thể hiểu tự do tách khỏi tình yêu. Thánh Phaolô nói: “Anh em đã được gọi để hưởng tự do. Có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau” (Gl 5,13). Một câu thật kỳ lạ: tự do rồi lại phục vụ. Theo não trạng thế gian, tự do là không phục vụ ai. Theo Tin Mừng, tự do đạt đến viên mãn khi ta có thể tự nguyện làm người phục vụ vì yêu. Người không tự do phục vụ vì bị ép. Người tự do phục vụ vì chọn yêu. Và vì vậy, cùng một hành động có thể mang hai linh hồn hoàn toàn khác nhau. Một người chăm sóc cha mẹ nhưng trong lòng chỉ oán trách: “Tại sao lúc nào cũng là tôi?”, việc ấy có thể trở thành xiềng xích. Một người khác cũng chăm sóc cha mẹ, cũng mệt, cũng có lúc khóc, nhưng thưa với Chúa: “Con không chọn bệnh tật này, nhưng con chọn yêu cha mẹ con trong hoàn cảnh này”, ngay khoảnh khắc ấy Thánh Giá bắt đầu được biến thành tự do. Không phải hoàn cảnh thay đổi. Chính ý nghĩa thay đổi. Ta không luôn chọn được điều xảy đến với mình, nhưng trong nhiều trường hợp ta vẫn có thể chọn cách mình sẽ sống điều ấy. Đó là khoảng tự do không ai lấy được.
Có những Thánh Giá ta không chọn. Một căn bệnh bất ngờ. Một người thân qua đời. Một đứa con đi sai đường. Một cuộc hôn nhân đi qua mùa khô hạn. Một sự hiểu lầm không thể giải thích. Một lời vu khống. Một thất bại. Một tuổi già cô đơn. Một công việc không như ý. Một trách nhiệm không thể bỏ. Một nỗi đau không ai hiểu. Đức tin không bảo ta giả vờ thích những điều ấy. Đức tin cũng không nói tất cả đau khổ đều do Thiên Chúa gửi đến. Nhưng Đức tin nói rằng ngay cả nơi ta không thể thay đổi biến cố, ta vẫn có thể ngăn nó biến mình thành một con người cay đắng. Ta vẫn có thể đặt nó vào tay Chúa. Ta có thể nói: “Lạy Chúa, con không chọn cây thập giá này, nhưng vì nó đang ở trên vai con, xin đừng để con mang nó vô ích. Xin cho con mang nó với Chúa. Xin biến nơi con đang bị lấy mất thành nơi con biết trao ban.” Và đó là lúc một nạn nhân bắt đầu lấy lại tự do. Sự dữ có thể làm tôi đau, nhưng tôi không cho phép nó quyết định tôi sẽ sống hận thù. Bệnh tật có thể lấy đi sức khỏe, nhưng tôi không cho phép nó lấy luôn lòng biết ơn. Tuổi già có thể lấy đi khả năng hoạt động, nhưng không lấy được khả năng cầu nguyện. Người khác có thể hiểu lầm tôi, nhưng không lấy được sự thật tôi đang sống trước mặt Chúa. Cái chết có thể lấy thân xác, nhưng trong Đức Kitô, ngay cả cái chết cũng không lấy được sự sống.
Cũng có những Thánh Giá ta phải tự nguyện chọn, nếu muốn yêu thật. Không cuộc hôn nhân nào bền mà không có thập giá của việc chết đi cho cái tôi. Không đời sống gia đình nào hạnh phúc nếu ai cũng chỉ bảo vệ quyền lợi của mình. Không tình bạn nào sâu nếu không có những lần phải nhường, phải chờ, phải tha thứ, phải lắng nghe. Không đời tu nào trưởng thành nếu người ta chỉ ở lại khi còn cảm xúc. Không đời linh mục nào sinh hoa trái nếu chỉ tìm việc mình thích, người mình thích, nơi mình thích. Không cộng đoàn nào có hiệp nhất nếu mỗi người đều muốn ý mình thắng. Không sứ vụ nào thật sự mang Tin Mừng nếu người tông đồ không chấp nhận bị quên tên, bị hiểu lầm, thậm chí thấy người khác gặt những gì mình đã gieo. Tình yêu luôn có hình thập giá, bởi yêu là để người khác có chỗ trong đời mình, và muốn người khác có chỗ thì cái tôi phải bớt chiếm chỗ. Tình yêu không giết chết con người thật của ta; tình yêu giết chết cái tôi giả đang tưởng rằng chỉ khi mọi sự xoay quanh mình thì mình mới sống.
Có người sợ rằng nếu cứ cho đi, mình sẽ mất hết. Sợ rằng nếu cứ hy sinh, người khác sẽ lợi dụng. Sợ rằng nếu tha thứ, mình yếu. Sợ rằng nếu nhường, mình thua. Sợ rằng nếu sống cho người khác, cuối cùng chẳng còn gì cho mình. Nhưng hãy nhìn Đức Kitô. Người mất hết và Người trở thành Đấng có tất cả. Người hạ mình và được tôn vinh. Người chết và trở thành nguồn sự sống. Người bị loại bỏ và trở thành viên đá góc. Người trao đi chính mình và nhận lại một nhân loại mới. Đó không phải công thức máy móc rằng cứ cho là sẽ được đáp trả ở đời này. Có những hy sinh chẳng ai biết. Có những yêu thương chẳng ai cảm ơn. Có những người cha người mẹ chết rồi con cái mới hiểu. Có những linh mục cả đời gieo mà không thấy mùa gặt. Có những con người âm thầm làm điều tốt rồi đi khỏi thế gian mà chẳng được ghi tên ở đâu. Nhưng đối với người tin, giá trị của tình yêu không lệ thuộc vào việc người khác có đáp lại hay không. Chúa Cha thấy. Và chính việc yêu đã làm ta trở thành con người ta được dựng nên để trở thành.
Một trong những ảo tưởng lớn của con người là nghĩ mình sẽ hạnh phúc khi không còn bị ai ràng buộc. Nhưng hãy thử hình dung một đời không bị ai ràng buộc thật sự: không ai cần ta, ta cũng không cần ai; không trách nhiệm, không lời hứa, không bổn phận, không người để phải chờ, không ai để phải chăm sóc, không ai khiến ta phải thay đổi kế hoạch. Ban đầu nghe thật nhẹ. Nhưng rồi sẽ là một sự cô độc kinh khủng. Vì những điều ràng buộc ta sâu nhất cũng thường là những điều làm đời ta có ý nghĩa nhất. Một em bé mới sinh “trói” cha mẹ bằng biết bao đêm mất ngủ, nhưng chính em cũng mở trong lòng họ một thế giới tình yêu trước đó họ chưa từng biết. Lời khấn “trói” người tu sĩ, nhưng nếu sống bằng tình yêu, lời khấn lại giải thoát họ khỏi việc phải mỗi sáng hỏi: “Hôm nay tôi có còn muốn thuộc về Chúa không?” Bí tích Hôn Phối “trói” hai người bằng lời hứa chung thủy, nhưng chính lời hứa đó giải phóng tình yêu khỏi sự bấp bênh của cảm xúc. Đức tin “ràng buộc” người môn đệ vào Đức Kitô, nhưng chính sự thuộc về ấy giải phóng người ấy khỏi hàng ngàn ông chủ khác. Con người không trở nên tự do bằng cách không thuộc về ai. Con người chỉ thật sự tự do khi biết mình thuộc về ai vì tình yêu.
Chúa Giêsu là người tự do nhất vì Người hoàn toàn thuộc về Chúa Cha. “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy.” Thế giới tưởng tự do là tự mình quyết định ý nghĩa của đời mình. Đức Giêsu cho thấy tự do sâu hơn là nhận ra đời mình là quà tặng và tự do trao lại quà tặng ấy cho Đấng đã ban nó. Đây không phải mất căn tính; đây là tìm được căn tính. Một cây đàn chỉ tự do là chính nó khi nằm trong tay người biết chơi đàn. Một cánh buồm chỉ thật sự sống chức năng của nó khi đón gió. Một dòng sông chỉ là chính nó khi chảy. Và con người chỉ là chính mình khi yêu. Nếu lấy tự do ra khỏi tình yêu, tự do sẽ tự hủy. Tôi tự do nói, nhưng không yêu, lời nói trở thành vũ khí. Tôi tự do có tiền, nhưng không yêu, tiền trở thành quyền lực để thống trị. Tôi tự do về tính dục, nhưng không yêu, thân xác người khác trở thành món đồ. Tôi tự do về tri thức, nhưng không yêu, hiểu biết trở thành kiêu ngạo. Tôi tự do tôn giáo, nhưng không yêu, đạo có thể trở thành công cụ kết án. Chỉ tình yêu mới cho tự do phương hướng. Cũng như con sông cần đôi bờ để chảy về biển, tự do cần sự thật và tình yêu để không biến thành một đầm lầy của cái tôi.
Có một tự do rất đẹp mà Thánh Giá dạy ta: tự do khỏi việc phải giữ mạng sống bằng mọi giá. Đây không phải coi thường sự sống. Trái lại, chính vì sự sống là quà tặng quý giá nên nó đạt ý nghĩa cao nhất khi trở thành quà tặng. Chúa Giêsu nói: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Hạt lúa có thể giữ mình bằng cách không rơi xuống đất. Nó nguyên vẹn. An toàn. Không bị mục nát. Nhưng nó sẽ “trơ trọi một mình”. Đó là bi kịch của một đời chỉ biết tự bảo tồn. Có những người sống rất lâu nhưng chưa từng thật sự sống vì cả đời chỉ bảo vệ mình khỏi thiệt thòi. Không dám yêu sâu vì sợ đau. Không dám dấn thân vì sợ thất bại. Không dám cho đi vì sợ thiếu. Không dám nói thật vì sợ mất lòng. Không dám xin lỗi vì sợ mất mặt. Không dám chọn Chúa hoàn toàn vì sợ mất những lựa chọn khác. Họ giữ được nhiều thứ, nhưng đánh mất chính khả năng sinh hoa trái. Hạt lúa phải chấp nhận một sự “mất mình”. Nhưng chính trong mất mình, nó khám phá điều kỳ diệu: nó không được dựng nên để mãi mãi là một hạt lúa nguyên vẹn, nó được dựng nên để trở thành mùa màng.
Thánh Giá hỏi mỗi người chúng ta một câu rất thật: điều gì đang làm tôi không tự do? Có thể không phải là một kẻ thù bên ngoài. Có khi là một lời khen tôi không thể sống thiếu. Có khi là tiền. Có khi là danh dự. Có khi là điện thoại. Có khi là một mối quan hệ tôi đang chiếm hữu. Có khi là quá khứ. Có khi là một thành công cũ tôi không chịu buông. Có khi là quyền lực. Có khi là sự đạo đức mà tôi dùng để tạo hình ảnh cho mình. Có khi là nỗi sợ bị bỏ rơi. Có khi là nhu cầu luôn phải đúng. Có khi là sự cay đắng đối với một người. Có khi là một bí mật tội lỗi khiến tôi phải sống hai mặt. Có khi là câu “người ta nghĩ gì về tôi?”. Ta có thể đeo thánh giá trên cổ mà cả đời chạy trốn Thánh Giá trong lòng. Ta có thể hôn Thánh Giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh mà vẫn nhất quyết không đóng đinh một chút tự ái. Ta có thể suy niệm cuộc thương khó rất xúc động mà về nhà vẫn không nói được một lời xin lỗi. Ta có thể rơi nước mắt trước tượng Chúa chịu nạn nhưng vẫn giữ chặt món nợ tinh thần của người đã xúc phạm mình. Ta có thể giảng rất hay về tự hiến mà sâu trong lòng chỉ chọn những nơi mình được kính trọng. Thánh Giá không phải một ý tưởng để ngắm. Thánh Giá là một con đường phải đi.
Và điều kỳ lạ là càng đi con đường ấy, ta càng nhẹ. Ban đầu từ bỏ rất đau. Xin lỗi đau. Tha thứ đau. Chấp nhận mình không được công nhận đau. Buông một địa vị đau. Từ bỏ một đam mê xấu đau. Trung thành khi không còn cảm xúc đau. Yêu một người khó yêu đau. Chấp nhận già đi đau. Chấp nhận rằng mình không thể kiểm soát con cái cả đời đau. Chấp nhận rằng có những công trình rồi phải trao cho người khác đau. Chấp nhận cái chết đau. Nhưng sau lớp đau ấy là một khoảng trời tự do. Ngày tôi không còn cần thắng mọi cuộc tranh luận, tôi nhẹ. Ngày tôi không còn cần mọi người hiểu mình, tôi nhẹ. Ngày tôi có thể nói “tôi sai”, tôi nhẹ. Ngày tôi tha thứ, tôi nhẹ. Ngày tôi nhận ra tiền chỉ là phương tiện, tôi nhẹ. Ngày tôi biết mình được Chúa yêu dù thành công hay thất bại, tôi nhẹ. Ngày tôi có thể nói như Đức Maria: “Xin Vâng”, tôi nhẹ. Ngày tôi có thể nói như Đức Giêsu: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha”, ngay cả cái chết cũng không còn là bức tường tuyệt đối.
Đỉnh cao của tự do Kitô giáo nằm trong lời ấy: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Hãy tưởng tượng: Đức Giêsu đang chết, nhưng Người vẫn trao. Không phải sự chết lấy hơi thở cuối cùng; Người trao hơi thở ấy cho Cha. Một đời đã bắt đầu bằng việc được Chúa Cha sai đến, nay khép lại trong việc trở về tay Cha. Chính sự phó thác ấy làm cho cái chết mất quyền lực cuối cùng. Cái chết đáng sợ vì nó dường như lấy mọi thứ khỏi ta. Nhưng người đã tập trao từ trước thì đến lúc chết cũng chỉ làm hành động cuối cùng mà họ đã làm suốt đời: trao mình. Vì thế các thánh có thể chết bình an không phải vì các ngài không yêu cuộc đời, nhưng vì đã học rằng đời mình vốn là quà tặng. Cái chết chỉ đáng sợ tuyệt đối đối với người nghĩ mình sở hữu sự sống. Còn nếu sự sống là quà được trao, chết là đặt lại quà ấy trong tay Đấng ban nó, trong niềm hy vọng sẽ nhận lại dưới một hình thức không còn sự chết.
Nhưng ta đừng đợi đến cuối đời mới học tự hiến. Tự do của Thánh Giá được luyện bằng những cái chết rất nhỏ mỗi ngày. Chết đi một câu muốn nói để khỏi làm người khác đau. Chết đi nhu cầu trả đũa. Chết đi năm phút lười biếng để đứng dậy giúp một người. Chết đi một chút tiện nghi để chia sẻ. Chết đi một ý riêng để cộng đoàn được bình an. Chết đi sự kiêu căng để xin lỗi. Chết đi nhu cầu kiểm soát con cái để chúng được trưởng thành. Chết đi việc muốn ai cũng phải sống giống mình. Chết đi thói quen phán xét. Chết đi nỗi ám ảnh phải được biết đến. Chết đi cám dỗ biến sứ vụ thành sân khấu cho bản thân. Mỗi lần như thế, một cái gì trong ta đau, nhưng một con người mới được sinh ra. Thánh Phaolô gọi đó là “đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê”. Không phải để con người trở thành khô cứng, mà để tình yêu được tự do. Cành nho được cắt tỉa không phải để chết mà để sai trái hơn.
Có lẽ vì thế mà người ta chỉ hiểu Thánh Giá khi đã yêu. Với người đứng ngoài tình yêu, Thánh Giá là ngu xuẩn. Tại sao không chạy? Tại sao không trả đũa? Tại sao phải tha thứ? Tại sao phải chung thủy khi đã hết cảm xúc? Tại sao phải nuôi một đứa con bệnh tật cả đời? Tại sao phải chăm một người già không còn nhận ra mình? Tại sao phải phục vụ một cộng đoàn không biết ơn? Tại sao phải tiếp tục cầu nguyện khi chẳng thấy Chúa? Tại sao không sống cho mình? Không có tình yêu, chẳng câu trả lời nào đủ. Nhưng khi đã yêu, người ta không còn hỏi nhiều như thế. Một người mẹ không cần học triết để thức bên giường con. Một người đang yêu thật không tính từng giờ đã cho. Chúa Giêsu trên Thánh Giá cũng không đưa ra một lý thuyết về tình yêu. Người giang tay ra. Thánh Giá chính là tình yêu đã trở thành hình thể: chiều dọc hướng lên Chúa Cha, chiều ngang mở ra với nhân loại; và ở giao điểm là một trái tim bị đâm thâu nhưng không khép lại.
Thế giới hôm nay cần nhìn lại thứ tự do mà mình đang theo đuổi. Bởi một nền văn hóa chỉ nói “quyền của tôi” mà quên “trách nhiệm của tôi” sẽ không tạo ra những con người tự do, mà tạo ra những cái tôi cô độc. Một gia đình trong đó ai cũng giữ quyền của mình nhưng không ai chịu hy sinh sẽ tan vỡ. Một xã hội trong đó ai cũng tự do nói nhưng không ai chịu trách nhiệm cho lời nói sẽ đầy thương tích. Một cộng đoàn trong đó mỗi người đòi được tôn trọng nhưng không ai chịu phục vụ sẽ không có tình huynh đệ. Một Hội Thánh nếu chỉ lo bảo vệ cơ cấu, danh tiếng và ảnh hưởng mà quên tự hiến sẽ không còn giống Đấng chịu đóng đinh. Chính Thánh Giá là tiêu chuẩn thanh luyện mọi thứ tự do giả. Tôi tự do, nhưng tự do ấy có làm tôi yêu hơn không? Nếu “tự do” khiến tôi ích kỷ hơn, nó chưa phải tự do của Đức Kitô. Nếu “tự do” khiến người bên cạnh trở thành nạn nhân của ham muốn tôi, đó là nô lệ được khoác áo tự do. Nếu “tự do” khiến tôi không còn khả năng giữ lời hứa, tôi đang bị cảm xúc cai trị. Nếu “tự do” khiến tôi luôn phải làm theo ý mình, tôi đang bị cái tôi thống trị. Còn nếu có một điều gì giúp tôi có thể trao ban, tha thứ, trung thành, nói sự thật, chịu trách nhiệm, đứng về phía người yếu và yêu đến cùng, nơi đó có hơi thở của tự do Kitô giáo.
Trong đời linh mục và đời thánh hiến, điều này càng trở nên quyết liệt. Ngày chịu chức hay ngày khấn dòng, người ta tưởng mình đã dâng đời mình cho Chúa. Đúng, nhưng lời dâng ấy cần được thực hiện lại từng ngày. Không khó lắm để nói “con xin dâng” trong một thánh lễ trang trọng khi chuông ngân, cộng đoàn đông, người thân xúc động và lòng mình đầy lý tưởng. Khó hơn nhiều là hai mươi năm sau vẫn dâng khi sức khỏe giảm, công việc lặp lại, người ta không còn nhớ ngày chịu chức, những người mình từng phục vụ có thể quay lưng, những thành quả mình xây dựng được trao cho người khác. Chính lúc đó tự do của Thánh Giá mới được thử. Tôi thuộc về Chúa hay thuộc về công việc của Chúa? Tôi yêu sứ vụ hay yêu cảm giác mình quan trọng trong sứ vụ? Tôi phục vụ đoàn chiên hay cần đoàn chiên xác nhận giá trị của tôi? Tôi có thể vui khi người kế nhiệm làm tốt hơn mình không? Tôi có thể lui xuống để người khác lớn lên không? Gioan Tẩy Giả nói một câu chỉ người rất tự do mới nói được: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Nhỏ lại mà không cay đắng. Bị quên mà không oán. Trao việc mà không níu. Đó là thập giá. Nhưng cũng chính đó là tự do.
Với người giáo dân cũng vậy. Tự do của tình yêu tự hiến được sống trong căn bếp, bệnh viện, văn phòng, ruộng đồng, nhà máy, lớp học, phòng khách gia đình. Một người mẹ nấu bữa cơm mỗi ngày có thể đang sống mầu nhiệm Thánh Giá sâu hơn một người nói nhiều lời đạo đức. Một người cha từ chối một khoản lợi bất chính dù gia đình đang khó khăn đang đứng dưới bóng Thánh Giá. Một người trẻ từ chối gian lận dù có thể mất cơ hội đang sống tự do. Một người vợ không dùng lỗi lầm cũ của chồng làm vũ khí trong mỗi cuộc cãi nhau đang sống tự do. Một người chồng biết tắt điện thoại để thật sự lắng nghe vợ con đang giải phóng mình khỏi một loại nô lệ thời đại mới. Một người con kiên nhẫn với cha mẹ già đang làm điều mà thế giới của tốc độ khó hiểu nhưng Thiên Chúa hiểu. Tất cả những điều ấy chẳng hào nhoáng. Nhưng Thánh Giá ban đầu cũng chẳng hào nhoáng. Tình yêu cứu thế giới thường diễn ra âm thầm.
Và nếu có lúc ta thấy mình không làm nổi, đừng quên tự do Kitô giáo không chỉ là thành quả của ý chí. Ta không cứu mình bằng cách nghiến răng chịu đựng. Ta được tự do vì Đức Kitô trước hết đã tự hiến cho ta. “Đức Kitô đã giải thoát chúng ta để chúng ta được tự do” (Gl 5,1). Ta có thể trao mình vì trước hết ta được trao ban. Ta có thể yêu vì đã được yêu. Ta có thể tha thứ vì đã được tha. Ta có thể không cần chứng minh giá trị vì giá của ta đã được ghi trên Thánh Giá bằng Máu Đức Kitô. Người nào thật sự tin rằng mình được yêu đến mức Thiên Chúa chịu chết cho mình sẽ dần bớt ăn xin tình yêu từ mọi ánh mắt con người. Người ấy không còn phải sử dụng người khác để lấp khoảng trống trong mình. Không cần chiếm hữu để cảm thấy an toàn. Không cần khoe khoang để cảm thấy có giá trị. Không cần luôn luôn thắng để cảm thấy mình tồn tại. Từ kinh nghiệm được yêu vô điều kiện sinh ra khả năng yêu vô điều kiện. Thánh Giá vừa là nguồn tự do vừa là trường dạy tự do.
Thế nên mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, có lẽ ta đừng chỉ hỏi: “Chúa đã đau bao nhiêu?” Hãy hỏi thêm: “Chúa đã tự do biết bao!” Tự do khỏi hận thù. Tự do khỏi trả thù. Tự do khỏi nhu cầu chứng minh. Tự do khỏi quyền lực. Tự do khỏi việc phải giữ mạng sống. Tự do khỏi sự sợ hãi bị người đời từ chối. Tự do để yêu. Tự do để tha thứ. Tự do để vâng phục. Tự do để phục vụ. Tự do để trao ban đến giọt cuối cùng. Một Đức Giêsu bị đóng đinh bên ngoài nhưng hoàn toàn tự do bên trong. Còn ta, có khi thân thể chẳng bị đóng đinh vào đâu mà tâm hồn lại bị hàng trăm thứ đóng chặt. Một câu nói của người khác đóng ta vào tự ái. Một đồng tiền đóng ta vào lòng tham. Một ký ức đóng ta vào hận thù. Một thất bại đóng ta vào mặc cảm. Một thành công đóng ta vào kiêu ngạo. Một chiếc điện thoại đóng ta vào sự phân tán. Một mối tình đóng ta vào chiếm hữu. Một chức vụ đóng ta vào quyền lực. Một nỗi sợ đóng ta vào sự không dám sống. Và Thánh Giá của Chúa đứng đó, không phải để thêm xiềng xích cho đời ta, mà để bẻ gãy tất cả những xiềng xích ấy bằng một tình yêu lớn hơn.
Cuối cùng, tự do đích thực không phải là có thể nói: “Không ai có quyền trên tôi.” Tự do đích thực là có thể nói: “Tôi tự nguyện thuộc về tình yêu.” Không phải “tôi không cần ai”, nhưng “tôi có thể trao mình mà không đánh mất mình”. Không phải “tôi muốn gì làm nấy”, nhưng “tôi có thể chọn điều thiện ngay cả khi điều thiện làm tôi đau”. Không phải “không ai làm tôi tổn thương”, nhưng “không ai có thể biến vết thương của tôi thành hận thù nếu tôi không trao cho họ quyền ấy”. Không phải “tôi sẽ giữ đời tôi”, nhưng “đời tôi là quà tặng, và tôi muốn nó trở thành quà tặng”. Đó là tự do của Chúa Giêsu. Đó là tự do của Thánh Giá. Và đó cũng là con đường duy nhất dẫn tới Phục Sinh.
Có một ngày mỗi người chúng ta sẽ phải buông tất cả. Tay từng nắm bao nhiêu rồi cũng mở. Nhà cửa ở lại. Tiền bạc ở lại. Chức vụ ở lại. Tên tuổi rồi cũng nhạt trong ký ức người đời. Những cuộc tranh hơn thua từng làm ta mất ngủ bỗng hóa nhỏ bé. Lúc ấy, điều còn lại không phải là ta đã có bao nhiêu tự do để làm điều mình thích, nhưng là ta đã dùng tự do để yêu được bao nhiêu. Có lẽ trước mặt Chúa, câu hỏi cuối cùng sẽ rất đơn sơ: đời con đã trở thành quà tặng chưa? Những gì Cha trao cho con – thời gian, sức khỏe, trí tuệ, tiền bạc, chức vụ, khả năng, lời nói, đôi tay, trái tim – con đã giữ lại cho mình hay đã biến chúng thành tình yêu? Và khi ấy ta sẽ hiểu tại sao giữa vô số biểu tượng quyền lực của nhân loại, Kitô giáo lại đặt Thánh Giá ở trung tâm. Bởi ngai vàng nói về quyền cai trị, thanh gươm nói về quyền chiến thắng, tiền bạc nói về quyền sở hữu, nhưng chỉ Thánh Giá nói được điều sâu nhất về Thiên Chúa: quyền năng lớn nhất là khả năng trao chính mình. Chỉ người yêu mới thật sự tự do. Chỉ người có thể cho đi chính mình mới thật sự thuộc về chính mình. Chỉ khi cái tôi thôi là trung tâm, trái tim mới rộng đủ để đón Thiên Chúa và anh em. Và chỉ dưới chân Thánh Giá, con người mới khám phá ra nghịch lý đẹp nhất của Tin Mừng: đôi tay Đức Kitô bị đóng lại để đôi tay chúng ta được mở ra; Người bị trói để ta được giải thoát; Người mất tất cả để ta tìm lại chính mình; Người chết vì yêu để ta hiểu rằng tự do cao nhất không phải là giữ mạng sống bằng mọi giá, nhưng là có thể biến mạng sống thành một món quà.
Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, con đã nhiều lần tưởng mình tự do trong khi thật ra đang làm nô lệ cho chính mình. Con đã gọi sự ích kỷ là tự do, gọi tự ái là phẩm giá, gọi cố chấp là trung thành, gọi chiếm hữu là tình yêu, gọi hưởng thụ là hạnh phúc, gọi việc không muốn chịu trách nhiệm là quyền lựa chọn. Xin cho con nhìn lên Chúa và học lại hai chữ tự do. Xin đóng đinh trong con những gì làm con không thể yêu: lòng kiêu ngạo, sự sợ hãi, tính ích kỷ, nhu cầu được công nhận, những cay đắng cũ, những tham vọng không thuộc về Chúa. Xin đừng để con chạy khỏi mọi Thánh Giá đến độ cuối cùng chạy khỏi chính tình yêu. Xin cho con đủ tự do để xin lỗi khi sai, đủ tự do để tha thứ khi bị xúc phạm, đủ tự do để nói sự thật khi phải trả giá, đủ tự do để từ bỏ điều không thuộc về Chúa, đủ tự do để phục vụ mà không cần được biết ơn, đủ tự do để âm thầm nhỏ lại khi người khác cần lớn lên, đủ tự do để trao từng ngày đời con vào tay Chúa. Và khi ngày cuối cùng đến, khi chẳng còn gì trong tay để giữ nữa, xin cho con cũng có thể bình an thưa cùng Chúa như Chúa đã thưa với Chúa Cha trên Thánh Giá: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Bởi lúc ấy con sẽ chẳng mất gì cả. Con chỉ hoàn tất điều mình đã tập suốt một đời: trao ban. Và trong sự trao ban cuối cùng ấy, con sẽ đi vào tự do không bao giờ mất nữa – tự do của những người đã yêu đến cùng, tự do của con cái Thiên Chúa, tự do đã được khai sinh từ trái tim bị đâm thâu trên đồi Canvê.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VÀ CÂU HỎI VỀ SỰ DỮ: THIÊN CHÚA Ở ĐÂU KHI CON NGƯỜI ĐAU KHỔ?
Có lẽ không có câu hỏi nào cũ bằng câu hỏi về đau khổ, và cũng không có câu hỏi nào mới bằng câu hỏi ấy. Nó cũ bởi từ ngày con người biết khóc, con người đã hỏi. Nó mới bởi mỗi khi một người mẹ mất con, mỗi khi một gia đình nhận tin ung thư, mỗi khi một người trẻ đang đầy tương lai bỗng nằm bất động sau một tai nạn, mỗi khi chiến tranh đổ xuống một mái nhà, mỗi khi một em bé sinh ra đã mang một thân phận quá mong manh, mỗi khi một người tốt bị phản bội, mỗi khi người nghèo bị chèn ép, mỗi khi người vô tội phải chịu những hậu quả do kẻ khác gây nên, câu hỏi ấy lại bật dậy như chưa từng có ai hỏi trước đó: Thiên Chúa ở đâu? Nếu Thiên Chúa quyền năng, tại sao Ngài không ngăn lại? Nếu Thiên Chúa yêu thương, tại sao Ngài để chuyện này xảy ra? Nếu Thiên Chúa công bằng, tại sao người lành đau khổ còn kẻ gian ác có khi vẫn sống ung dung? Người ta có thể trả lời rất hay trong sách thần học, có thể phân biệt sự dữ thể lý với sự dữ luân lý, có thể nói đến tự do của con người, đến quy luật của tạo thành, đến hậu quả của tội lỗi, đến mầu nhiệm quan phòng; nhưng khi đứng trước chiếc quan tài nhỏ của một đứa trẻ, khi cầm tay một người sắp chết, khi nhìn một người mẹ không còn nước mắt để khóc, những lời giải thích quá tròn trịa bỗng trở nên nghèo nàn. Có những nỗi đau không cần một lý thuyết. Nó cần một sự hiện diện. Có những tiếng khóc không cần một bài diễn văn. Nó cần một người ngồi xuống bên cạnh. Và có lẽ chính tại điểm này, Kitô giáo đưa ra một câu trả lời rất khác: Thiên Chúa không đứng ngoài đau khổ để giải thích đau khổ. Thiên Chúa bước vào đau khổ. Thiên Chúa không đứng trên trời cao mà nói với nhân loại: “Các con hãy cố chịu.” Ngài đi xuống, mang lấy thân phận con người, biết đói, biết khát, biết mệt, biết bị hiểu lầm, biết bị phản bội, biết cô đơn, biết sợ hãi, biết đau đớn, biết bị đóng đinh và biết chết. Câu trả lời của Kitô giáo đối với sự dữ không phải trước hết là một công thức. Đó là một con người bị đóng đinh. Đó là Đức Giêsu Kitô. Đó là Thánh Giá.
Nếu chỉ nhìn Thánh Giá bằng con mắt bên ngoài, người ta có thể thấy đó là thất bại lớn nhất. Một người vô tội bị kết án như tội phạm. Một người đã chữa lành bao bệnh nhân lại không tự cứu mình. Một người đã cho Lazarô sống lại lại để mình chết. Một người đã từng làm cho biển yên gió lặng lại dường như bất lực trước cơn bão của sự ác. Những kẻ đi qua chế nhạo Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi!” Cái logic của con người là như thế: nếu Ngài là Thiên Chúa, Ngài phải xuống khỏi thập giá; nếu Ngài quyền năng, Ngài phải tránh đau khổ; nếu Ngài được Chúa Cha yêu thương, Chúa Cha phải giải thoát Ngài ngay lập tức. Nhưng Tin Mừng lại đặt chúng ta trước một điều khó hiểu hơn nhiều: Ngài không xuống. Không phải vì Ngài không thể xuống, nhưng vì Ngài không muốn bỏ con người lại một mình trên những thập giá của họ. Nếu Đức Kitô xuống khỏi Thánh Giá để chứng minh quyền năng, có lẽ đám đông hôm ấy sẽ kinh ngạc; nhưng nếu Ngài xuống, những người chịu đau khổ từ đó về sau sẽ còn phải hỏi: “Thế còn tôi? Khi tôi không thể xuống khỏi thập giá đời mình thì sao?” Chính vì Đức Kitô ở lại trên Thánh Giá cho đến cùng, cho nên từ đó không còn một thập giá nào của con người mà Ngài không thể bước vào. Không còn một vực sâu nào mà Ngài chưa từng đi xuống. Không còn một tiếng kêu tuyệt vọng nào mà Ngài không hiểu.
Tin Mừng Marcô ghi lại một trong những lời đau đớn nhất của Chúa Giêsu: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34). Có lẽ chưa bao giờ câu hỏi “Thiên Chúa ở đâu?” được đặt ra quyết liệt như chính trên môi Con Thiên Chúa. Điều đáng kinh ngạc là Đức Giêsu không chết với dáng vẻ của một triết gia lạnh lùng đứng trên đau khổ. Người kêu lên. Người thực sự đi vào bóng tối. Người đã từng nói với các môn đệ về Chúa Cha, đã từng cầu nguyện với Chúa Cha, đã từng nói “Cha và Tôi là một”, vậy mà giờ phút cuối cùng Người lại đi qua kinh nghiệm khủng khiếp của sự bị bỏ rơi. Không phải Chúa Cha thôi yêu Chúa Con. Không phải Ba Ngôi Thiên Chúa bị phân rẽ. Nhưng trong nhân tính, Đức Kitô đã mang lấy đến tận cùng kinh nghiệm của một nhân loại bị thương tích bởi tội lỗi và sự chết. Người mang lấy tiếng kêu của mọi thời đại: tiếng kêu của Gióp, tiếng kêu của người vô tội, tiếng kêu của người bị bỏ rơi, tiếng kêu của người cầu nguyện mãi mà dường như trời vẫn im lặng. Từ đó, khi một người đau khổ hỏi: “Thiên Chúa ơi, Ngài ở đâu?”, người ấy không đang nói một thứ ngôn ngữ xa lạ với Thiên Chúa. Chính Con Thiên Chúa đã cầu nguyện bằng một tiếng kêu gần giống như thế. Đức tin Kitô giáo không cấm chúng ta hỏi. Đức tin không bắt chúng ta giả vờ bình an khi lòng tan nát. Đức tin không bắt người mẹ vừa mất con phải lập tức nói những lời đạo đức. Đức tin cho phép con người khóc trước mặt Thiên Chúa, than thở trước mặt Ngài, thậm chí vật lộn với Ngài, miễn là vẫn còn nói với Ngài. Có những lúc cầu nguyện không còn là những câu chữ đẹp đẽ. Cầu nguyện chỉ còn là tiếng thở dài. Có những lúc kinh Tin Kính của chúng ta chỉ còn lại một câu: “Lạy Chúa, con không hiểu.” Và đôi khi đó lại là một lời cầu nguyện rất thật.
Chúng ta phải hết sức cẩn thận khi nói về đau khổ, bởi có những câu nói tưởng là đạo đức nhưng lại làm người đau khổ đau hơn. Chẳng hạn, trước một tai họa, người ta dễ nói: “Chúa muốn như vậy.” Không. Không thể đơn giản đồng hóa mọi đau khổ với ý muốn trực tiếp của Thiên Chúa. Thiên Chúa không “muốn” đứa trẻ bị bạo hành. Thiên Chúa không “muốn” chiến tranh. Thiên Chúa không “muốn” tham nhũng, bóc lột, phản bội, giết người, phá thai, buôn người, hận thù. Rất nhiều đau khổ trên thế giới không phát xuất từ Thiên Chúa mà từ việc con người sử dụng tự do sai lạc. Một kẻ say rượu lái xe đâm chết người không thể rồi nói đó là “ý Chúa”. Một chính quyền gây chiến không thể lấy hai chữ “quan phòng” để xóa trách nhiệm. Một người chồng bạo hành vợ không thể nói với vợ: “Đây là thánh giá Chúa gửi cho em.” Không. Có những thập giá phải được ôm lấy, nhưng cũng có những thập giá phải được tháo xuống khỏi vai người khác. Có những đau khổ phải kiên nhẫn chịu đựng, nhưng có những đau khổ đòi chúng ta đứng lên chống lại. Chúa Giêsu không bao giờ lãng mạn hóa đau khổ. Người chữa bệnh. Người cho kẻ đói ăn. Người khóc trước mộ Lazarô. Người bênh vực người bị khinh miệt. Người đụng vào người phong cùi. Người trả lại phẩm giá cho người phụ nữ bị kết án. Người không nói với những người đau khổ: “Cứ đau đi, đau càng nhiều càng tốt.” Người đến để cứu, để chữa lành, để giải phóng. Thánh Giá không có nghĩa rằng Kitô hữu phải yêu đau khổ. Kitô hữu yêu Đức Kitô, và khi đau khổ không thể tránh được trên con đường yêu thương, họ xin ơn để mang nó cùng với Người.
Một trong những trình thuật Tin Mừng soi sáng sâu sắc nhất câu hỏi này là câu chuyện người mù từ thuở mới sinh trong Gioan chương 9. Các môn đệ hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?” Đó là cách suy nghĩ rất quen thuộc: hễ có đau khổ là phải tìm một tội tương ứng. Chúa Giêsu lập tức phá vỡ lối giải thích ấy: “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội.” Rồi Người chữa anh. Câu chuyện ấy cực kỳ quan trọng. Nó nói cho chúng ta biết rằng không thể nhìn một người bệnh rồi kết luận họ bị phạt. Không thể nhìn một gia đình gặp biến cố rồi kín đáo nghĩ rằng “chắc họ có chuyện gì nên Chúa mới phạt”. Không thể biến Thiên Chúa thành một viên quan tòa ngồi trên trời, mỗi ngày phân phát bệnh tật và tai họa tương ứng với lỗi lầm của từng người. Thánh Giá của Đức Kitô chính là bằng chứng mạnh nhất chống lại kiểu suy nghĩ ấy, bởi nếu đau khổ luôn là hình phạt trực tiếp tương ứng với tội cá nhân, chúng ta sẽ giải thích thế nào về Đức Giêsu, Đấng vô tội tuyệt đối nhưng lại chịu đau khổ khủng khiếp nhất? Chính Người đã mang lấy đau khổ của người vô tội, để từ đó không ai còn được quyền nhìn người đau khổ với ánh mắt kết án.
Nhưng câu hỏi vẫn còn đó: nếu Thiên Chúa không muốn sự dữ, tại sao Ngài cho phép nó? Đây là nơi chúng ta phải khiêm tốn. Có những câu trả lời đúng nhưng không đủ. Chúng ta nói Thiên Chúa tạo dựng con người có tự do, vì tình yêu mà không có tự do thì không còn là tình yêu. Đúng. Nhưng tự do cũng có khả năng nói “không”, có thể yêu và cũng có thể giết. Một thế giới trong đó con người thực sự tự do là một thế giới mang khả năng của cả thánh thiện lẫn tội ác. Nếu mỗi khi một người sắp làm điều dữ, Thiên Chúa lập tức khóa bàn tay họ lại, thì con người không còn thật sự tự do. Nhưng điều này chỉ giải thích phần nào sự dữ do con người gây ra. Còn động đất, bệnh tật, thiên tai, những khiếm khuyết bẩm sinh? Chúng ta có thể nói đến một thế giới vật chất vận hành theo những định luật ổn định. Cùng một định luật hấp dẫn giúp chúng ta bước đi cũng có thể khiến người rơi từ cao xuống bị thương. Cùng những tiến trình sinh học làm cho sự sống sinh sôi cũng có thể phát sinh đột biến và bệnh tật. Một thế giới vật chất thực sự có cấu trúc, có quy luật, có lịch sử tiến hóa, không phải là một sân khấu nơi Thiên Chúa liên tục điều chỉnh từng sự kiện theo mong muốn tức thời của con người. Nhưng ngay cả sau tất cả những điều ấy, vẫn còn những câu hỏi chưa được giải thích hết. Và Kitô giáo không xấu hổ để nói rằng có một mầu nhiệm của sự dữ. Mầu nhiệm không có nghĩa là vô lý; mầu nhiệm nghĩa là thực tại lớn hơn khả năng hiểu biết hiện tại của chúng ta.
Gióp chính là người đã trải nghiệm điều đó. Ông mất tài sản, mất con cái, mất sức khỏe. Bạn bè đến với ông và cố tìm những lời giải thích. Họ bảo chắc ông đã phạm tội. Họ bảo Thiên Chúa công bằng nên nếu ông đau khổ thì hẳn phải có nguyên nhân nơi ông. Nhưng cuối cùng chính Thiên Chúa cho thấy những lời giải thích ấy quá nhỏ bé. Gióp không nhận được một công thức để giải quyết toàn bộ câu hỏi về đau khổ. Ông gặp Thiên Chúa. Đó là điều rất đáng suy nghĩ. Có những câu hỏi không được chữa lành bằng câu trả lời mà bằng một cuộc gặp gỡ. Một đứa trẻ khóc vì đau có khi không hiểu lời giải thích của cha, nhưng chỉ cần cha ôm nó vào lòng, nỗi sợ đã khác. Trong đức tin cũng vậy. Có lúc chúng ta vẫn không hiểu vì sao chuyện ấy xảy ra, nhưng giữa đêm tối, chúng ta bắt đầu biết mình không cô độc. Và đôi khi đó là điều duy nhất đủ giúp chúng ta bước thêm một ngày.
Tại Bêtania, khi Lazarô chết, Martha nói với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây, em con đã không chết.” Câu nói này đẹp biết bao vì nó vừa trách vừa tin. “Nếu Thầy ở đây…” Có lẽ biết bao người trong chúng ta từng nói như thế: “Lạy Chúa, nếu Ngài ở đây, gia đình con đã không tan vỡ. Nếu Ngài ở đây, con tôi đã không chết. Nếu Ngài nghe lời cầu nguyện của con, căn bệnh đã được chữa. Nếu Ngài thương con, tại sao Ngài để chuyện này xảy ra?” Chúa Giêsu không nổi giận với Martha. Và đến trước mộ Lazarô, Tin Mừng nói một câu ngắn đến lạ lùng: “Đức Giêsu liền khóc.” Thiên Chúa khóc. Hãy dừng lại ở hình ảnh ấy. Trước sự chết của người bạn, Đức Giêsu không đọc một bài diễn văn về sự bất tử của linh hồn. Người khóc. Dĩ nhiên sau đó Người cho Lazarô sống lại. Nhưng trước khi biểu lộ quyền năng, Người biểu lộ lòng thương cảm. Nước mắt của Đức Giêsu nói cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa không dửng dưng trước nước mắt con người. Một giọt nước mắt của người mẹ không rơi xuống đất mà không đi qua trái tim Thiên Chúa. Một tiếng khóc trong phòng bệnh lúc nửa đêm không biến mất trong khoảng không. Một người già bị con cái quên lãng, một người vợ âm thầm chịu đựng, một linh mục mệt mỏi không biết tâm sự với ai, một người trẻ đứng bên bờ tuyệt vọng, một gia đình đang oằn mình vì nợ nần — tất cả đều nằm trong ánh mắt của Đấng từng khóc trước mộ bạn mình.
Thế thì Thiên Chúa ở đâu khi con người đau khổ? Thánh Giá trả lời: Ngài ở ngay trong đó. Không phải Ngài là nguyên nhân của mọi đau khổ, nhưng không có đau khổ nào mà Ngài không thể bước vào. Ngài ở trong phòng bệnh, không chỉ như Đấng chữa lành mà đôi khi như Người Bệnh bên cạnh người bệnh. Ngài ở trong người bị kết án oan, bởi Người cũng đã bị xét xử bất công. Ngài ở trong người bị phản bội, bởi Người đã nhận nụ hôn của Giuđa. Ngài ở trong người bị bạn bè bỏ rơi, bởi trong vườn Cây Dầu, các môn đệ đã ngủ, rồi chạy trốn. Ngài ở trong người bị làm nhục, bởi Người đã bị lột áo. Ngài ở trong người bị bạo lực, bởi thân thể Người đã mang roi đòn và đinh sắt. Ngài ở trong người hấp hối, bởi Người đã thở hơi cuối cùng. Ngài ở với người mẹ mất con, bởi dưới chân Thánh Giá có một người Mẹ nhìn Con mình chết. Kitô giáo có một hình ảnh mà không tôn giáo nào có thể xem nhẹ: Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá. Mẹ không hiểu hết. Mẹ không làm phép lạ để cứu Con. Mẹ chỉ đứng đó. Nhưng chính sự đứng đó đã là một lời tuyên xưng đức tin. Có những lúc người Kitô hữu cũng chẳng làm được gì khác ngoài việc đứng bên cạnh người đau khổ. Không giải thích. Không nói nhiều. Không chạy trốn. Chỉ đứng đó. Đôi khi đó là hình thức tinh tuyền nhất của tình yêu.
Chúng ta cũng cần phân biệt thật rõ một điều: Thiên Chúa cho phép sự dữ không có nghĩa là Ngài thụ động trước sự dữ. Mầu nhiệm Thánh Giá cho thấy Thiên Chúa có khả năng làm một điều mà chỉ Ngài làm được: biến chính nơi sự dữ tưởng như chiến thắng thành nơi tình yêu chiến thắng. Con người giết Đức Giêsu, nhưng chính qua cái chết ấy, sự sống được ban. Con người đóng đinh Người, nhưng chính trên cây gỗ ấy, Người kéo mọi người lên với mình. Con người tưởng đã bịt miệng Người, nhưng từ cạnh sườn bị đâm thâu, máu và nước chảy ra như nguồn mạch cứu độ. Đó không phải là nói sự dữ trở thành tốt. Phản bội vẫn là phản bội. Giết người vẫn là giết người. Đóng đinh một người vô tội vẫn là tội ác. Nhưng quyền năng của Thiên Chúa lớn đến mức sự dữ không có tiếng nói cuối cùng. Ngài có thể lấy điều con người dùng để hủy diệt mà biến thành khởi điểm của cứu độ. Đây là niềm hy vọng không gì dập tắt được của Kitô giáo: sự dữ có thể làm chúng ta bị thương, nhưng nó không thể buộc Thiên Chúa ngừng yêu; sự chết có thể lấy mạng sống chúng ta, nhưng nó không thể lấy khỏi chúng ta lời hứa phục sinh.
Có lẽ đây cũng là ý nghĩa sâu xa của câu chuyện ông Giuse trong Cựu Ước. Các anh bán Giuse làm nô lệ. Đó là điều ác. Thiên Chúa không xúi họ làm điều ấy. Nhưng nhiều năm sau, khi Giuse trở thành người có thể cứu gia đình mình khỏi nạn đói, ông nói: “Các anh đã định làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt.” Đây là bí mật của quan phòng: không phải mọi chuyện xảy ra đều tốt, nhưng Thiên Chúa có thể làm phát sinh điều tốt ngay từ những chuyện rất xấu. Không phải mọi đau khổ đều có ý nghĩa tự nó, nhưng khi được đặt vào tay Thiên Chúa, không một đau khổ nào nhất thiết phải trở thành vô nghĩa. Một căn bệnh có thể làm người ta cay đắng, nhưng cũng có thể mở ra nơi họ một lòng cảm thông trước đây chưa từng có. Một thất bại có thể phá hủy lòng tự trọng, nhưng cũng có thể giải thoát người ta khỏi ảo tưởng rằng giá trị của mình nằm ở thành công. Một cuộc mất mát có thể làm con tim khép lại, nhưng cũng có thể khiến nó biết quý từng phút bên người mình yêu. Chúng ta không nói những điều ấy để hợp lý hóa đau khổ. Không. Đau vẫn là đau. Nhưng chúng ta tin rằng ân sủng có thể đi vào vết thương.
Thánh Giá đặc biệt đặt trước mắt chúng ta một nghịch lý: chính nơi Đức Giêsu dường như bị Thiên Chúa bỏ rơi nhất lại là nơi Thiên Chúa đang cứu thế giới. Chính lúc mọi người nghĩ mọi sự đã chấm hết, chương lớn nhất của lịch sử cứu độ đang được viết. Điều ấy vô cùng quan trọng cho đời sống chúng ta. Có những lúc Chúa đang làm việc mà ta hoàn toàn không cảm thấy. Có những ngày ta nhìn cuộc đời mình và chỉ thấy những mảnh vỡ. Không có gì hợp lý. Không có gì tiến triển. Lời cầu nguyện dường như không được đáp lại. Cánh cửa này đóng. Người kia bỏ đi. Sức khỏe suy giảm. Công việc thất bại. Ước mơ không thành. Và ta nghĩ: “Chúa đã bỏ mình.” Nhưng Thứ Sáu Tuần Thánh dạy chúng ta đừng vội kết luận lịch sử khi câu chuyện chưa kết thúc. Nếu một người đứng ở Golgotha chiều Thứ Sáu mà được hỏi: “Anh thấy gì?”, người ấy có thể trả lời: “Tôi thấy cái ác chiến thắng.” Nhưng nếu đợi đến sáng Chúa Nhật, câu trả lời sẽ khác. Điều chúng ta gọi là “cuối cùng” đôi khi chỉ là một dấu chấm phẩy trong tay Thiên Chúa.
Dĩ nhiên, chúng ta không được dùng Phục Sinh để coi nhẹ Thứ Sáu Tuần Thánh. Có những Kitô hữu vì muốn an ủi quá nhanh nên nói với người đang khóc: “Đừng buồn, người thân của anh chị đã về với Chúa.” Điều ấy đúng trong đức tin, nhưng có lúc chưa phải lúc để nói. Chúa Giêsu biết Lazarô sẽ sống lại, vậy mà Người vẫn khóc. Đức tin vào Phục Sinh không cấm nước mắt. Trái lại, vì tin vào Phục Sinh, người Kitô hữu mới có thể khóc thật sâu mà không tuyệt vọng. Chúng ta khóc vì tình yêu. Chúng ta đau vì sự chia lìa là thật. Chúng ta nhớ vì người đã mất thực sự quý giá. Kitô giáo không bảo con người thôi làm người. Nó không biến đau buồn thành lỗi thiếu đức tin. Có những vết thương phải mất nhiều năm mới lành. Có những mất mát mang theo suốt đời. Có những ngày tưởng đã ổn rồi nhưng bất chợt một bài hát, một căn phòng, một món đồ, một ngày kỷ niệm làm tất cả ùa về. Thiên Chúa không sốt ruột với những giọt nước mắt ấy. Người không nói: “Con đã cầu nguyện bao nhiêu rồi, sao còn khóc?” Người biết trái tim con người cần thời gian.
Và chúng ta cũng phải thành thật rằng không phải mọi câu hỏi “tại sao” đều được trả lời trong đời này. Có những người cầu nguyện và được chữa lành. Có người cầu nguyện cũng chân thành như vậy nhưng không được chữa theo cách họ mong muốn. Có người thoát khỏi tai nạn chỉ trong gang tấc. Có người ra đi. Nếu chúng ta đơn giản nói người thứ nhất được cứu vì cầu nguyện nhiều hơn, chúng ta sẽ xúc phạm người thứ hai. Nếu nói người khỏi bệnh vì có đức tin còn người chết vì thiếu đức tin, chúng ta biến Tin Mừng thành một thứ công thức ma thuật. Không. Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu đã cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Người cầu nguyện hoàn hảo hơn bất cứ ai. Vậy mà chén không được cất đi. Nhưng lời cầu nguyện vẫn được đáp lại ở một tầng sâu hơn: Người được ban sức mạnh để đi qua cuộc Khổ Nạn, và từ chính cái chết đã nảy sinh Phục Sinh. Đôi khi phép lạ là căn bệnh biến mất. Đôi khi phép lạ là căn bệnh còn đó nhưng một con người nhận được sức mạnh kỳ lạ để sống nó trong bình an. Đôi khi phép lạ là một người được cứu khỏi cái chết. Đôi khi phép lạ là một người đi vào cái chết mà vẫn có thể nói: “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha.”
Có người sẽ hỏi: vậy cầu nguyện để làm gì nếu không chắc điều mình xin sẽ xảy ra? Cầu nguyện không phải là điều khiển Thiên Chúa. Cầu nguyện là bước vào tương quan với Thiên Chúa. Người con cầu xin cha không phải vì cha là chiếc máy phân phát điều ước. Người con xin vì tin cha nghe mình. Và ngay khi cha không thể hoặc không cho điều con xin, đứa trẻ vẫn cần bàn tay cha. Cũng vậy, cầu nguyện trong đau khổ trước hết là để chúng ta không đau một mình. Một trong những bi kịch lớn nhất không phải là đau, mà là đau trong cô độc. Thánh Giá xóa bỏ sự cô độc tuyệt đối ấy. Từ khi Đức Kitô bị đóng đinh, không ai có thể nói: “Thiên Chúa không biết cảm giác của tôi.” Có thể chúng ta không cảm thấy Ngài, nhưng Ngài biết. Có thể chúng ta không hiểu Ngài, nhưng Ngài ở đó.
Đến đây, câu hỏi “Thiên Chúa ở đâu khi con người đau khổ?” còn phải được hỏi theo một chiều khác: Người Kitô hữu ở đâu khi con người đau khổ? Bởi rất nhiều lần, Thiên Chúa muốn trả lời tiếng kêu của một con người bằng bàn tay của một con người khác. Khi một người đói hỏi “Chúa ở đâu?”, có thể Chúa đang nhìn chúng ta và hỏi: “Con ở đâu?” Khi người cô độc cần một người đến thăm, khi người bệnh cần ai đưa đi bệnh viện, khi một đứa trẻ nghèo cần học phí, khi một người tuyệt vọng cần ai đó nghe mình nói, khi một gia đình tan vỡ cần được đồng hành, chúng ta không thể chỉ ngước lên trời hỏi Thiên Chúa tại sao Ngài không hành động. Có khi câu trả lời của Thiên Chúa là: “Ta đã đặt con ở đó.” Tin Mừng về ngày phán xét trong Matthêu 25 rất rõ: “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom…” Chúa Giêsu tự đồng hóa mình với người đau khổ. Vì thế, khi ta hỏi Thiên Chúa ở đâu trong trại tị nạn, trong bệnh viện, trong nhà tù, trong căn nhà nghèo, Tin Mừng trả lời: Người ở đó, trong chính người đang đau khổ. Và Người cũng muốn có mặt qua chúng ta.
Thế giới đã có quá nhiều người giải thích đau khổ nhưng quá ít người chịu cúi xuống. Người bị nạn không cần chúng ta giảng cho họ rằng đây là thử thách Chúa gửi. Họ cần một bàn tay. Một chén cơm. Một viên thuốc. Một cuộc điện thoại. Một người lắng nghe. Một người đứng cạnh. Chính dụ ngôn người Samari nhân hậu cho thấy điều ấy. Vị tư tế đi qua. Thầy Lêvi đi qua. Có thể họ có rất nhiều kiến thức tôn giáo. Nhưng người Samari dừng lại. Ông băng bó vết thương. Ông đổ dầu và rượu. Ông đưa nạn nhân vào quán trọ. Ông trả tiền. Chúa Giêsu không hỏi ai đã giải thích đúng nguyên nhân người kia bị đánh. Người hỏi: “Ai đã tỏ ra là người thân cận?” Trước sự dữ, có những lúc hành động yêu thương chính là thần học chính xác nhất.
Thánh Giá cũng phá vỡ một ảo tưởng rất sâu trong chúng ta: tưởng rằng Thiên Chúa phải chứng minh tình yêu bằng cách làm cho đời ta không có đau khổ. Nhưng nếu tiêu chuẩn duy nhất của tình yêu Thiên Chúa là mọi chuyện phải diễn ra thuận lợi, thì Đức Giêsu trên Thánh Giá là người ít được Chúa Cha yêu nhất. Trong khi Tin Mừng nói hoàn toàn ngược lại: Người là Con yêu dấu. Như thế, đau khổ không phải bằng chứng Thiên Chúa đã ngừng yêu ta. Có khi trong đau khổ, điều thay đổi không phải tình yêu của Thiên Chúa dành cho ta, mà là khả năng của ta cảm nhận tình yêu ấy. Một em bé nằm trên bàn mổ có thể cảm thấy cha mẹ đã “giao mình” cho bác sĩ. Nó không hiểu. Nó sợ. Nhưng cha mẹ vẫn đứng ngoài cánh cửa với trái tim tan nát. Chúng ta cũng vậy. Có những cuộc phẫu thuật của đời sống mà ta không hiểu bàn tay Thiên Chúa. Nhưng đức tin dạy ta rằng tình yêu của Ngài sâu hơn cảm giác của ta.
Điều đó không có nghĩa chúng ta phải giả vờ nói “cảm ơn Chúa” cho mọi tai họa. Thánh Phaolô không nói mọi sự đều tốt. Ngài nói Thiên Chúa làm cho mọi sự sinh ích cho những ai yêu mến Người. Hai điều rất khác nhau. Ung thư không tốt. Chiến tranh không tốt. Cái chết của một đứa trẻ không tốt. Phản bội không tốt. Nhưng ân sủng của Thiên Chúa có thể khiến ngay cả những nơi ấy không trở thành vùng đất hoàn toàn cằn cỗi. Thánh Giá là bằng chứng. Đó là biểu tượng của bạo lực và nhục nhã, nhưng Thiên Chúa đã biến nó thành biểu tượng của cứu độ và tình yêu. Chính vì thế Kitô hữu treo Thánh Giá trong nhà, trên cổ, trên nhà thờ. Không phải vì chúng ta tôn thờ đau khổ, nhưng vì chúng ta tuyên xưng rằng tình yêu có thể đi qua đau khổ mà không bị đau khổ tiêu diệt.
Và có lẽ một trong những điều đau đớn nhất trong đời sống thiêng liêng là sự im lặng của Thiên Chúa. Đau đã khó; cầu nguyện mà không nghe gì còn khó hơn. Có người nói: “Ngày trước tôi cầu nguyện thấy sốt sắng. Bây giờ chẳng cảm thấy gì.” Có người thưa: “Con xin Chúa suốt nhiều năm mà sao Chúa im lặng?” Hãy nhìn Đức Maria ngày Thứ Bảy Tuần Thánh. Con đã chết. Mộ đã đóng. Không thiên thần hiện ra để giải thích. Không tiếng từ trời phán. Không phép lạ tức thì. Mẹ phải sống một ngày với lời hứa nhưng không có dấu hiệu. Đó có lẽ là hình ảnh của rất nhiều người. Chúng ta sống giữa Thứ Sáu và Chúa Nhật. Ta biết lời hứa nhưng chưa thấy hoàn tất. Chính ở đó đức tin trở nên tinh tuyền: không phải tin vì mọi chuyện rõ, nhưng tin vì Đấng đã hứa đáng tin.
Đức tin Kitô giáo cuối cùng không trả lời câu hỏi sự dữ chỉ bằng cách quay về Golgotha. Nó còn nhìn về ngôi mộ trống và về trời mới đất mới. Nếu câu chuyện kết thúc ở Thánh Giá, đau khổ vẫn thắng. Nhưng Thánh Giá không phải chữ cuối cùng. Phục Sinh mới là lời của Thiên Chúa về Thánh Giá. Và sách Khải Huyền mở ra một viễn tượng tuyệt đẹp: “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa.” Đây không phải một lời ru để con người quên hiện tại. Đây là lời hứa khiến chúng ta có sức chống lại sự dữ ngay bây giờ. Bởi nếu cái chết không phải tiếng nói cuối cùng, chúng ta có thể dám yêu dù biết yêu có thể đau. Nếu bất công không có tiếng nói cuối cùng, chúng ta có thể dám đấu tranh cho công lý. Nếu mọi nước mắt một ngày kia sẽ được lau sạch, chúng ta có thể bắt đầu lau nước mắt cho nhau hôm nay.
Có một điều rất lạ: sau Phục Sinh, Đức Giêsu vẫn mang những vết thương. Người hiện ra với Tôma và nói: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy.” Đức Kitô phục sinh không xóa vết sẹo. Người biến nó thành dấu chỉ chiến thắng. Có lẽ đây là một hình ảnh vô cùng đẹp về điều Thiên Chúa muốn làm với những vết thương của đời ta. Ơn cứu độ không nhất thiết khiến chúng ta quên mọi đau khổ từng trải qua. Có những vết sẹo sẽ còn. Nhưng một ngày, ta có thể nhìn chúng mà không còn bị chúng cai trị. Vết thương từng làm ta oán hận có thể trở thành nơi ta biết cảm thông. Thất bại từng làm ta xấu hổ có thể trở thành trường học của khiêm nhường. Mất mát từng tưởng sẽ giết chết ta có thể biến thành nơi ta hiểu lòng người khác. Vết sẹo không biến mất, nhưng nó không còn chỉ kể câu chuyện về điều đã làm ta đau; nó còn kể câu chuyện về Đấng đã mang ta qua đau khổ ấy.
Cho nên, nếu hôm nay có ai đang đứng trước một thập giá quá nặng và hỏi: “Chúa ở đâu?”, xin đừng vội tìm một câu trả lời thật khôn ngoan. Hãy nhìn Đấng chịu đóng đinh. Hãy nghe Người nói, không phải từ một ngai vàng xa cách, nhưng từ cây Thánh Giá bên cạnh chúng ta: “Ta ở đây.” Ta ở đây trong đêm tối của con. Ta ở đây trong căn phòng bệnh. Ta ở đây trong sự mất mát. Ta ở đây khi con không còn cảm thấy Ta. Ta ở đây khi mọi người bỏ con. Ta ở đây trong tiếng khóc mà con không thể nói thành lời. Ta không hứa rằng con sẽ hiểu tất cả trong đời này, nhưng Ta hứa con không phải đi một mình. Ta đã đi con đường ấy trước con. Ta đã mang Thánh Giá. Ta đã vào mồ. Và Ta đã sống lại.
Có thể chúng ta sẽ còn hỏi “tại sao” đến hết đời. Nhưng dần dần, trong đức tin, một câu hỏi khác có thể lớn lên: “Lạy Chúa, con phải sống thế nào trong điều con không hiểu?” Và có lẽ câu trả lời là: hãy sống như Đức Giêsu trên Thánh Giá. Khi bị hận, Người vẫn yêu. Khi bị xúc phạm, Người vẫn tha thứ. Khi người ta lấy hết mọi thứ, Người vẫn còn một điều không ai lấy được: khả năng trao ban chính mình. Người nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người trao Mẹ cho môn đệ. Người hứa thiên đàng cho người trộm lành. Ngay giữa đau đớn khủng khiếp, Người vẫn yêu. Đó là chiến thắng thực sự của Thánh Giá. Sự dữ có thể đóng đinh thân xác Đức Giêsu nhưng không thể biến Người thành kẻ hận thù. Nó có thể làm Người chảy máu nhưng không thể khiến tình yêu trong Người chết. Và mỗi khi một người giữa đau khổ vẫn không để trái tim mình hóa đá, Thánh Giá lại chiến thắng. Mỗi khi một người bị phản bội mà không trả thù, Thánh Giá chiến thắng. Mỗi khi một người đau nhưng vẫn biết thương người đau hơn mình, Thánh Giá chiến thắng. Mỗi khi ai đó bước vào căn phòng của một người đang tuyệt vọng và ở lại, Thánh Giá chiến thắng.
Thiên Chúa ở đâu khi con người đau khổ? Ngài ở trên Thánh Giá. Ngài ở dưới chân Thánh Giá. Ngài ở trong người đau khổ. Ngài ở trong người cúi xuống chăm sóc người đau khổ. Ngài ở trong tiếng cầu nguyện không thành lời. Ngài ở trong những giọt nước mắt. Ngài ở trong sự im lặng mà ta tưởng là vắng mặt. Ngài ở trong những bàn tay đang băng bó vết thương. Ngài ở trong hy vọng rất nhỏ mà ta vẫn cố giữ sau một đêm quá dài. Và nhất là Ngài ở phía bên kia Thánh Giá, nơi một ngôi mộ đã mở và một tiếng nói vang lên: “Người không còn ở đây, vì Người đã sống lại.”
Vậy nên, người Kitô hữu không có tất cả câu trả lời về sự dữ. Nhưng chúng ta có một Đấng đã chịu đóng đinh. Chúng ta không biết tại sao mọi đau khổ xảy đến, nhưng chúng ta biết đau khổ sẽ không có tiếng nói cuối cùng. Chúng ta không hiểu mọi đường lối Thiên Chúa, nhưng chúng ta biết khuôn mặt của Ngài: đó là khuôn mặt Đức Giêsu trên Thánh Giá. Nếu muốn biết Thiên Chúa nghĩ gì về đau khổ con người, hãy nhìn vào đôi mắt của Đấng chịu đóng đinh. Nếu muốn biết Ngài yêu chúng ta đến đâu, hãy nhìn đôi tay bị đinh xuyên qua. Nếu muốn biết Ngài ở đâu trong tiếng khóc nhân loại, hãy nghe tiếng Người kêu trên Golgotha. Và nếu muốn biết câu chuyện sẽ kết thúc ra sao, hãy đi đến ngôi mộ trống sáng ngày Phục Sinh.
Có lẽ cuối cùng câu trả lời sâu nhất cho câu hỏi “Thiên Chúa ở đâu?” không phải là “ở đâu” mà là “ở với.” Emmanuel — Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Ngài không hứa một đời không có Thánh Giá. Ngài hứa sẽ ở cùng. Ngài không hứa mọi đêm tối đều ngắn. Ngài hứa rằng bóng tối không thắng được ánh sáng. Ngài không hứa người ta sẽ không khóc. Ngài hứa một ngày chính Ngài sẽ lau sạch mọi giọt lệ. Và bởi thế, trước Thánh Giá, chúng ta có thể khóc mà không tuyệt vọng, có thể đau mà không buông xuôi, có thể hỏi mà vẫn tin, có thể không hiểu mà vẫn phó thác. Bởi chúng ta biết rằng nơi sâu nhất của đau khổ con người, đã có dấu chân của một Thiên Chúa đi qua.
Và có lẽ khi tất cả những lý luận đã im tiếng, khi chúng ta không còn gì để nói trước một nỗi đau quá lớn, chỉ cần ngước nhìn Thánh Giá và thì thầm: “Lạy Chúa Giêsu, con không hiểu, nhưng con biết Chúa đã ở đây. Con không biết tại sao chuyện này xảy ra, nhưng xin đừng để con đau một mình. Xin ở lại với con.” Đó có thể là một lời cầu nguyện rất nghèo. Nhưng đôi khi chính những lời cầu nguyện nghèo nhất lại đưa con người đến gần trái tim Thiên Chúa nhất. Bởi ở Golgotha, Thiên Chúa đã không cứu thế giới bằng một lời giải thích. Ngài cứu thế giới bằng cách trao chính mình.
Lm. Anmai, CSsR

SỰ “ĐIÊN RỒ” CỦA THÁNH GIÁ TRONG MỘT THẾ GIỚI ĐỀ CAO HIỆU QUẢ VÀ THÀNH CÔNG
Có lẽ chưa bao giờ con người lại nói nhiều về thành công như thời đại chúng ta. Người ta dạy nhau phải thành công sớm, phải thành công nhanh, phải có thành tích, phải có vị trí, phải chứng minh được giá trị của mình bằng những con số có thể nhìn thấy, đo lường và đem ra so sánh. Một đứa trẻ vừa bước vào trường học đã bắt đầu được hỏi đứng thứ mấy trong lớp. Một người trẻ vừa tốt nghiệp đã được hỏi làm công ty nào, lương bao nhiêu, chức vụ gì. Một người bước vào tuổi trung niên được nhìn qua căn nhà, chiếc xe, số tiền trong ngân hàng, mạng lưới quan hệ và những gì họ đã tích lũy. Ngay cả trong những lãnh vực tưởng như xa khỏi cuộc cạnh tranh của đời thường, người ta vẫn có thể vô tình mang theo thứ não trạng ấy: một giáo xứ đông người được coi là thành công hơn một giáo xứ nhỏ; một bài đăng có nhiều lượt xem được xem là có giá trị hơn một lời âm thầm chạm đến một con người; một công việc đem lại kết quả tức thì thường được đánh giá cao hơn bao năm trung tín mà chẳng ai nhận biết. Chúng ta sống trong một nền văn hóa của hiệu quả. Làm gì cũng phải hỏi: được gì? Bao lâu có kết quả? Có đáng không? Có sinh lợi không? Có ai biết không? Có làm mình nổi bật không? Và chính giữa một thế giới như vậy, Thiên Chúa đặt trước mắt nhân loại một cây Thánh Giá. Thật lạ lùng. Nếu con người được quyền chọn biểu tượng cho một tôn giáo muốn chinh phục thế giới, có lẽ chẳng ai chọn một tử tù bị treo giữa trời. Người ta sẽ chọn ngai vàng, vương miện, ánh sáng, chiến thắng, quyền năng. Còn Kitô giáo lại đặt ở trung tâm đức tin một Con Người trần trụi, bị đóng đinh, hai tay không còn khả năng làm việc, đôi chân không còn khả năng bước đi, tiếng nói gần như tắt lịm, bạn hữu bỏ trốn, đám đông chế nhạo, kẻ thù tưởng đã chiến thắng. Xét theo mọi tiêu chuẩn hiệu quả của thế gian, chiều Thứ Sáu trên đồi Golgotha là một thất bại. Nhưng chính ở nơi thất bại ấy, Thiên Chúa đã cứu độ thế giới. Chính nơi mà con người tưởng chẳng còn gì có thể xảy ra nữa, Thiên Chúa đã làm điều lớn lao nhất. Chính khi Đức Giêsu không còn đi giảng, không còn chữa bệnh, không còn làm phép lạ, không còn được dân chúng tung hô, không còn giữ được ngay cả mạng sống của mình, Người lại đang hoàn tất công trình mà vì đó Người đã đến thế gian. Đó là sự “điên rồ” của Thánh Giá. Và cũng chính sự điên rồ ấy chất vấn đến tận căn nền văn hóa thành công của chúng ta.
Thánh Phaolô đã nhìn thấy nghịch lý ấy rất sớm khi ngài viết cho tín hữu Côrintô: “Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do Thái hay Hy Lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (x. 1 Cr 1,22-24). Hai ngàn năm đã trôi qua, nhưng lòng người không thay đổi bao nhiêu. Chúng ta vẫn đòi dấu lạ và vẫn đi tìm thứ khôn ngoan có thể bảo đảm thành công cho mình. Chúng ta vẫn thích một Thiên Chúa giải quyết mọi vấn đề hơn là một Thiên Chúa chịu đóng đinh cùng chúng ta. Chúng ta thích Chúa làm cho bệnh tật biến mất hơn là Chúa cầm tay chúng ta đi qua bệnh tật. Chúng ta thích Chúa làm cho người chống đối ta thất bại hơn là Chúa dạy ta tha thứ. Chúng ta thích Chúa cho công việc thành công hơn là Chúa thanh luyện trái tim ta qua những thất bại. Chúng ta thích một Đức Kitô làm phép lạ hóa bánh ra nhiều hơn một Đức Kitô nói rằng ai muốn theo Người phải vác thập giá mình mỗi ngày. Và vì thế, không phải chỉ những người ngoài Kitô giáo thấy Thánh Giá là điên rồ; đôi khi chính người mang Thánh Giá trên cổ, treo Thánh Giá trong nhà, quỳ trước Thánh Giá trong nhà thờ lại âm thầm sống theo một thứ Tin Mừng không có Thánh Giá. Ta cầu nguyện để thành công. Ta làm việc đạo đức để được bình an. Ta phục vụ để được công nhận. Ta hy sinh nhưng vẫn muốn người khác biết mình hy sinh. Ta cho đi nhưng trong lòng vẫn mong nhận lại. Ta theo Chúa nhưng vẫn bí mật giữ lại điều kiện: “Lạy Chúa, con theo Chúa miễn là cuộc đời con không quá khổ.” Khi ấy Thánh Giá vẫn ở trên bàn thờ nhưng không còn ở giữa đời sống chúng ta nữa.
Tin Mừng kể một chi tiết rất đáng suy nghĩ. Sau khi Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, Đức Giêsu bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ mục, thượng tế và kinh sư loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại. Phêrô kéo Người riêng ra và trách: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” Nhưng Đức Giêsu quay lại nói với ông: “Xatan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” Rồi Người nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được” (x. Mt 16,21-25). Phêrô yêu Thầy. Có lẽ ông thật lòng không muốn Thầy đau khổ. Nhưng đằng sau lời tốt đẹp ấy là một thứ quan niệm rất con người về Đấng Mêsia: Đấng Mêsia phải chiến thắng, không thể thất bại; phải được tôn vinh, không thể bị sỉ nhục; phải đánh bại kẻ thù, không thể để kẻ thù đóng đinh mình. Phêrô chưa hiểu rằng có những chiến thắng chỉ đạt được bằng cách chấp nhận xem ra thất bại; có những sự sống chỉ nảy sinh khi hạt lúa chịu mục nát; có những vương miện chỉ được trao sau khi người ta đã đội mão gai. Đức Giêsu không phủ nhận Phục Sinh, nhưng Người nhất quyết không cho phép Phêrô đi đường tắt đến Phục Sinh mà tránh Golgotha. Đó cũng là cám dỗ rất lớn của chúng ta: muốn có Phục Sinh nhưng không muốn Thứ Sáu Tuần Thánh; muốn vinh quang nhưng không muốn tự hủy; muốn hoa trái nhưng không muốn gieo hạt; muốn yêu nhưng không muốn bị tổn thương; muốn nên thánh nhưng không muốn bỏ mình.
Cái “điên rồ” đầu tiên của Thánh Giá là Thánh Giá tuyên bố rằng giá trị của một đời người không thể đo chỉ bằng hiệu quả. Đức Giêsu ba mươi năm sống âm thầm ở Nadarét và chỉ khoảng ba năm đi rao giảng công khai. Nếu nhìn bằng tiêu chuẩn của một nhà quản trị hiện đại, chúng ta có thể hỏi tại sao Người lại “lãng phí” ba mươi năm như vậy. Tại sao Con Thiên Chúa không bắt đầu rao giảng từ tuổi mười tám? Tại sao Người chỉ quanh quẩn trong một miền đất nhỏ bé của Đế quốc Rôma? Tại sao không viết sách? Tại sao không đến Rôma? Tại sao không thiết lập một hệ thống truyền thông thật mạnh? Tại sao khi dân chúng muốn tôn Người làm vua, Người lại lánh đi? Tại sao khi có thể gọi thiên binh đến cứu mình, Người lại để người ta bắt? Tại sao những giờ phút cuối cùng của đời công khai lại được dùng để rửa chân cho mấy người môn đệ yếu đuối, trong đó có một người sắp phản bội, một người sắp chối Thầy và phần lớn sẽ bỏ chạy? Nếu hiệu quả là tiêu chuẩn tối hậu, rất nhiều lựa chọn của Đức Giêsu xem ra hoàn toàn không hợp lý. Nhưng Tin Mừng không được xây trên logic của hiệu suất. Tin Mừng được xây trên logic của tình yêu. Mà tình yêu có những việc nhìn từ bên ngoài xem ra rất “không hiệu quả”. Một người mẹ thức cả đêm bên giường đứa con bệnh không tạo ra GDP. Một người cha âm thầm chăm sóc đứa con khuyết tật mấy chục năm không có thành tích nào để ghi vào lý lịch. Một nữ tu dành cả đời cho những bệnh nhân chẳng bao giờ biết tên mình có thể không được báo chí nhắc tới. Một linh mục ngồi hàng giờ trong tòa giải tội, nghe một người quay trở về với Chúa, có thể không tạo ra một con số đẹp trong báo cáo mục vụ. Một người vợ tiếp tục chăm sóc người chồng mất trí nhớ, dù ông không còn nhận ra bà, xét về lợi ích trước mắt có vẻ là một cuộc đầu tư chẳng được đáp trả. Nhưng chính ở những nơi ấy, Thánh Giá đang hiện diện. Tình yêu không hỏi trước tiên: “Tôi sẽ được gì?” Tình yêu hỏi: “Người tôi yêu đang cần gì nơi tôi?” Và đôi khi câu trả lời là ở lại, dù chẳng còn gì để nhận lại.
Thánh Giá cũng vạch trần một ảo tưởng rất sâu của thời đại: ảo tưởng rằng thành công đồng nghĩa với giá trị. Người ta có thể thành công mà đánh mất linh hồn. Có thể được cả thế giới biết đến mà chẳng biết mình là ai. Có thể sở hữu rất nhiều mà không có khả năng yêu thương. Có thể được hàng triệu người ngưỡng mộ nhưng tối về không đủ bình an để ngồi một mình trong căn phòng im lặng. Có thể thắng mọi cuộc tranh luận nhưng đánh mất một người anh em. Có thể xây dựng một cơ nghiệp khổng lồ nhưng gia đình tan nát. Có thể được gọi là người thành đạt nhưng trong lòng chỉ còn một khoảng trống ngày càng lớn. Chính Đức Giêsu hỏi: “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?” (Mt 16,26). Câu hỏi ấy nghe như được viết cho thời đại chúng ta. “Được cả thế giới” ngày nay có thể mang rất nhiều hình thức: tiền bạc, danh tiếng, lượt theo dõi, chức vụ, quyền lực, ảnh hưởng, bằng cấp, thành tích, tài sản. Đức Giêsu không kết án những điều ấy tự thân. Thành công không phải là tội. Có năng lực không phải là tội. Làm việc hiệu quả không phải là tội. Phát triển tài năng Chúa ban thậm chí còn là một bổn phận. Vấn đề bắt đầu khi hiệu quả trở thành thần tượng, khi thành công trở thành thước đo phẩm giá, khi chúng ta sẵn sàng hy sinh người khác để tiến lên, hy sinh lương tâm để giữ vị trí, hy sinh gia đình để kiếm thêm tiền, hy sinh sự thật để bảo vệ hình ảnh, hy sinh người yếu để bảo vệ hệ thống. Khi ấy, những phương tiện vốn tốt đã biến thành những ông chủ tàn nhẫn.
Thế giới của hiệu quả thường chỉ yêu những gì “còn dùng được”. Một chiếc máy hỏng thì thay. Một món đồ lỗi thời thì bỏ. Một nhân viên không còn hiệu suất thì có nguy cơ bị loại. Và đáng sợ hơn, não trạng ấy đôi khi len vào cả cách chúng ta nhìn con người. Người khỏe mạnh có ích; người bệnh trở thành gánh nặng. Người trẻ có tương lai; người già bị coi như đã hết thời. Người thông minh được trọng vọng; người chậm chạp bị bỏ lại. Người thành công được mời lên hàng đầu; người thất bại lặng lẽ ngồi ở góc cuối. Nhưng Thánh Giá đặt trước mắt chúng ta một Con Người dường như đã trở thành hoàn toàn “vô dụng” theo tiêu chuẩn hiệu quả. Chúa Giêsu bị đóng đinh không thể chữa thêm một bệnh nhân, không thể đi thêm một bước, không thể cầm bánh mà hóa nhiều, không thể tổ chức một cuộc giảng thuyết. Hai bàn tay từng chạm vào mắt người mù giờ bị đinh xuyên thủng. Đôi chân từng đi khắp các làng mạc giờ bất động trên gỗ. Miệng từng nói những lời có sức làm kẻ chết sống lại giờ khô khát. Và chính trong sự bất lực hoàn toàn ấy, phẩm giá của Người không giảm đi một chút nào. Người vẫn là Con yêu dấu của Chúa Cha. Thánh Giá vì thế là lời bảo vệ mạnh mẽ nhất cho phẩm giá của những người không còn “hữu ích”: thai nhi chưa thể làm gì cho xã hội, người già nằm một chỗ, bệnh nhân hôn mê, người khuyết tật, người nghèo, người sa cơ, người thất nghiệp, người thất bại. Một con người không đáng sống vì họ hữu ích. Họ đáng sống vì họ là người. Và trong ánh sáng đức tin, họ đáng được yêu vì họ mang hình ảnh Thiên Chúa.
Có một thứ bạo lực rất tinh vi đang diễn ra trong văn hóa thành công: người ta buộc con người phải liên tục chứng minh rằng mình xứng đáng tồn tại. Phải đẹp hơn. Phải giỏi hơn. Phải giàu hơn. Phải được yêu thích hơn. Phải tạo ra nhiều hơn. Phải luôn tích cực, luôn mạnh mẽ, luôn tiến về phía trước. Người ta ngại thừa nhận rằng mình mệt, bởi mệt bị xem như yếu. Người ta sợ nói rằng mình thất bại, bởi thất bại bị xem như kém cỏi. Người ta che giấu những vết thương, bởi mạng xã hội chỉ thích những bức hình đẹp. Đời sống dần trở thành một sân khấu nơi ai cũng phải trình diễn phiên bản thành công nhất của mình. Trong một thế giới ấy, Thánh Giá là một sự giải thoát. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu không trình diễn. Người không che giấu vết thương. Người không làm ra vẻ mạnh mẽ. Người nói: “Ta khát.” Người kêu lên trong nỗi cô độc. Người để thân thể mình bị thương tích trước mắt mọi người. Người cho phép mình cần đến ông Simon thành Kyrênê giúp vác thập giá trên đường. Thiên Chúa không xấu hổ khi đi vào sự mong manh của con người. Vậy tại sao chúng ta lại xấu hổ về sự mong manh của chính mình?
Thánh Giá nói rằng có những thất bại không phải là thất bại. Có những mất mát không phải là mất mát. Có những lúc cuộc đời bị cắt tỉa không phải để tiêu diệt mà để sinh hoa trái. Người ta có thể thất bại trong một dự án nhưng trưởng thành hơn trong nhân cách. Có thể mất một vị trí nhưng tìm lại lương tâm. Có thể bị người khác hiểu lầm nhưng giữ được lòng ngay thẳng. Có thể không được ai biết đến nhưng sống một đời đẹp trước mặt Thiên Chúa. Có thể không làm được những điều lớn lao mà vẫn hoàn tất sứ mạng đời mình bằng những điều rất nhỏ. Mẹ Têrêsa từng nhấn mạnh rằng điều quan trọng không chỉ là làm những việc lớn lao, nhưng là làm những việc nhỏ với tình yêu lớn. Đó chính là logic của Thánh Giá. Thiên Chúa không hỏi mỗi người chúng ta đã làm cho cả thế giới thay đổi hay chưa. Người hỏi ta đã trung tín với phần đất Người trao cho ta hay chưa. Một người mẹ nuôi con tử tế có thể đã hoàn thành một công trình vĩ đại mà chẳng có báo chí nào viết. Một giáo lý viên giúp một em nhỏ biết cầu nguyện có thể đang gieo một hạt giống sẽ sinh hoa trái ba mươi năm sau. Một linh mục kiên nhẫn đi thăm một cụ già neo đơn có thể đã làm một việc trước mắt thế gian rất nhỏ, nhưng trước mặt Thiên Chúa lại rất lớn. “Ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi… sẽ không mất phần thưởng đâu” (x. Mt 10,42). Thiên Chúa có một hệ thống đo lường hoàn toàn khác chúng ta.
Chính Đức Giêsu minh họa điều ấy thật đẹp trong câu chuyện bà góa nghèo bỏ tiền vào Đền Thờ. Người giàu bỏ những khoản tiền lớn. Một bà góa nghèo chỉ bỏ hai đồng tiền nhỏ. Nếu làm báo cáo tài chính, hai đồng ấy gần như chẳng đáng kể. Nếu lập danh sách ân nhân, có lẽ tên bà không xuất hiện. Nhưng Đức Giêsu gọi các môn đệ lại và nói rằng bà đã bỏ vào nhiều hơn tất cả những người kia, vì họ lấy của dư thừa mà dâng, còn bà, trong cảnh túng thiếu, đã dâng tất cả những gì mình có để sống (x. Mc 12,41-44). Đây là cuộc đảo lộn hệ giá trị. Con người nhìn số lượng; Chúa nhìn tình yêu. Con người nhìn kết quả; Chúa nhìn trái tim. Con người nhìn bao nhiêu; Chúa nhìn đã trao chính mình đến mức nào. Có lẽ đó là điều chúng ta phải học lại mỗi ngày. Một việc không lớn vì nó được nhiều người nhìn thấy. Một việc lớn vì trong đó có bao nhiêu tình yêu. Một đời người không lớn vì đã leo được bao cao. Một đời người lớn vì đã cúi xuống được bao thấp để nâng người khác lên.
Thế giới dạy rằng muốn thành công phải đứng trên người khác. Thánh Giá cho thấy muốn cứu người khác, Đức Kitô đã nằm xuống dưới chân họ. Thế giới bảo hãy xây dựng hình ảnh. Thánh Giá lột hết mọi hình ảnh. Thế giới bảo giữ lấy quyền lực. Đức Kitô “vốn dĩ là Thiên Chúa… nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ” (x. Pl 2,6-8). Thế giới bảo phải thắng. Đức Kitô để mình bị đánh bại. Thế giới bảo phải trả đũa để chứng minh sức mạnh. Đức Kitô cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Thế giới bảo phải giữ mạng sống. Đức Kitô trao mạng sống. Và kỳ lạ thay, chính vì trao đi mà Người nhận lại tất cả; chính vì hạ mình mà Người được siêu tôn; chính qua cái chết mà Người phá hủy sự chết. Thánh Giá là nơi logic của thế gian bị đảo ngược tận căn.
Đừng hiểu sai rằng Kitô giáo tôn thờ thất bại hoặc đề cao đau khổ vì đau khổ. Đức Giêsu không đi tìm đau khổ. Người chữa bệnh, cho người đói ăn, giải thoát kẻ bị quỷ ám, khóc trước mồ Ladarô và đổ mồ hôi máu trong Vườn Cây Dầu khi nghĩ đến cuộc Khổ Nạn. Kitô giáo không bảo người bị áp bức cứ tiếp tục chịu áp bức, người bị bạo hành cứ im lặng, người bệnh từ chối chữa trị, người thất bại không cần cố gắng. Thánh Giá không phải sự lãng mạn hóa đau khổ. Thánh Giá là tình yêu trung thành ngay giữa đau khổ không thể tránh khỏi; là không để sự dữ biến mình thành kẻ dữ; là không để vết thương làm trái tim trở nên cay độc; là khi chẳng thể thay đổi hoàn cảnh, ta vẫn có thể lựa chọn cách mình sống trong hoàn cảnh ấy. Chúa Giêsu không cứu thế giới vì đau đớn của Người lớn hơn mọi đau đớn khác, nhưng vì trong đau đớn ấy Người vẫn yêu đến cùng. Điều cứu độ không phải cái đinh. Điều cứu độ là tình yêu của Đấng chịu đóng đinh. Không phải gỗ Thánh Giá tự nó làm nên ơn cứu độ, nhưng là tình yêu hoàn toàn tự hiến trên cây gỗ ấy.
Bởi thế, có khi cùng một đau khổ nhưng đưa hai người đến hai hướng khác nhau. Một người vì bị xúc phạm mà trở nên cay đắng, một người qua đó học được lòng cảm thông. Một người vì thất bại mà bắt đầu ganh ghét thành công của người khác, một người nhờ thất bại mà trở nên khiêm tốn hơn. Một người vì bị phản bội mà quyết không tin ai nữa, một người qua nước mắt học cách yêu khôn ngoan hơn nhưng không đóng cửa trái tim. Thánh Giá không tự động thánh hóa chúng ta. Thánh Giá chỉ trở thành đường cứu độ khi được đón nhận trong tình yêu và kết hiệp với Đức Kitô. Hai người trộm cùng bị đóng đinh bên Chúa Giêsu. Cùng một hình phạt, cùng một đau đớn, cùng nhìn thấy Đức Kitô. Nhưng một người nguyền rủa, một người thưa: “Lạy ông Giêsu, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Đức Giêsu đáp: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (x. Lc 23,42-43). Điều quyết định không chỉ là cây thập giá chúng ta mang, mà còn là ta mang nó với ai và mang nó như thế nào.
Trong nền văn hóa hiệu quả, người ta rất sợ lãng phí thời gian. Nhưng Tin Mừng có những sự “lãng phí” rất đẹp. Người phụ nữ ở Bêtania đập bình dầu thơm quý giá và đổ lên đầu Đức Giêsu. Những người chung quanh lập tức tính toán: “Phí dầu thơm như thế để làm gì? Dầu đó có thể bán được hơn ba trăm quan tiền mà đem cho người nghèo.” Họ nói nghe rất hợp lý. Ba trăm quan tiền là cả một gia tài. Nhưng Đức Giêsu bảo: “Cứ để cô làm… Cô đã làm một việc nghĩa cho Thầy” (x. Mc 14,3-9). Tình yêu đôi khi mang dáng vẻ của sự lãng phí. Một bó hoa cho người sắp chết có ích gì? Một giờ ngồi bên người già lẫn trí có hiệu quả gì? Một lời cầu nguyện trong thinh lặng tạo ra sản phẩm nào? Một ngày Chúa Nhật không làm việc đem lại lợi nhuận gì? Một đời sống đan tu ẩn kín đóng góp bao nhiêu vào nền kinh tế? Những câu hỏi ấy chỉ có ý nghĩa nếu con người là một cỗ máy sản xuất. Nhưng con người không phải là cỗ máy. Con người là một hữu thể được tạo dựng để yêu và được yêu. Có những giờ phút tưởng “không làm gì” lại là những giờ phút con người sống đúng với phẩm giá của mình nhất: một đứa trẻ ngủ yên trong vòng tay mẹ, hai vợ chồng già nắm tay nhau, một người quỳ im trước Thánh Thể, một linh mục ngồi bên giường một người hấp hối, một người bạn im lặng bên người bạn đang khóc. Hiệu quả không đo được những điều ấy, nhưng Nước Trời được xây từ chính những điều ấy.
Ngay cả đời sống Giáo Hội cũng luôn đứng trước cám dỗ đo mình bằng thành công. Bao nhiêu người dự lễ? Bao nhiêu công trình? Bao nhiêu hoạt động? Bao nhiêu lượt xem? Bao nhiêu người theo dõi? Những con số có giá trị và cần thiết cho việc tổ chức, nhưng chúng rất nguy hiểm nếu trở thành tiêu chuẩn cuối cùng để đánh giá sứ vụ. Đức Giêsu đã từng có lúc đám đông kéo đến rất đông. Sau phép lạ bánh hóa nhiều, người ta muốn tôn Người làm vua. Nhưng khi Người nói về Bánh Hằng Sống và đòi hỏi một đức tin sâu hơn, nhiều môn đệ bỏ Người mà đi. Tin Mừng Gioan kể một câu lạnh người: “Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa” (Ga 6,66). Nếu chỉ nhìn bằng số lượng, hôm ấy mục vụ của Đức Giêsu thất bại. Người thậm chí quay sang Nhóm Mười Hai hỏi: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” Người không hạ tiêu chuẩn của Tin Mừng để giữ số lượng. Đức Giêsu yêu đám đông nhưng Người không lệ thuộc vào sự tung hô của đám đông. Đây là bài học khắc nghiệt cho Hội Thánh mọi thời: Tin Mừng không được biến thành một sản phẩm để chiều thị trường. Giáo Hội không được chọn điều dễ nghe chỉ để được yêu thích. Người môn đệ không được đánh đổi sự thật lấy tiếng vỗ tay. Có khi trung thành với Tin Mừng khiến chúng ta mất người, mất lợi ích, mất uy tín, thậm chí bị hiểu lầm. Nhưng nếu phải lựa chọn giữa được cả thế giới hoan nghênh và được Đức Kitô nhận là môn đệ, người Kitô hữu phải biết mình chọn ai.
Thánh Giá còn chất vấn một thứ thành công nguy hiểm hơn: thành công trong việc xây dựng cái tôi. Chúng ta có thể làm rất nhiều việc tốt nhưng cái tôi vẫn lớn. Có thể phục vụ mà vẫn muốn được nhìn nhận. Có thể giảng rất hay nhưng sâu trong lòng muốn người ta khen mình. Có thể làm bác ái nhưng thích chụp ảnh hơn gặp người nghèo. Có thể xây dựng một cộng đoàn nhưng dần coi cộng đoàn là “của tôi”. Có thể nhân danh Chúa mà âm thầm xây dựng vinh quang cho mình. Chính vì vậy, lời Đức Giêsu “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình” không bao giờ hết khó. Từ bỏ chính mình không có nghĩa là ghét mình, hạ thấp nhân phẩm hay phá hủy cá tính. Nó có nghĩa là thôi đặt cái tôi ở trung tâm. Là không còn hỏi mọi sự ảnh hưởng thế nào đến tôi, người ta nghĩ gì về tôi, tôi được gì, tôi mất gì. Là có khả năng làm điều đúng ngay cả khi không ai biết. Là vui khi người khác thành công mà không thấy mình nhỏ đi. Là có thể nhường chỗ. Là có thể xin lỗi. Là có thể nhận mình sai. Là làm một việc tốt rồi để nó chìm vào quên lãng mà không đòi bảng ghi công. Đó là những chiếc đinh đóng cái tôi vào Thánh Giá, và đau lắm. Nhưng chính ở đó, một con người tự do được sinh ra.
Có người hỏi: “Nếu cứ sống theo Thánh Giá như vậy, chẳng phải sẽ thua thiệt sao?” Đúng, đôi khi sẽ thua thiệt theo nghĩa thế gian. Người trung thực có thể mất một cơ hội mà người gian dối giành lấy. Người không chạy chức có thể không có chức. Người không nịnh hót có thể không được ưu ái. Người tha thứ có thể bị xem là yếu. Người chọn gia đình thay vì lao vào cuộc đua nghề nghiệp có thể kiếm ít tiền hơn. Người dành thời gian chăm cha mẹ già có thể tiến chậm hơn đồng nghiệp. Người sống theo lương tâm có lúc phải trả giá. Đức Giêsu chưa bao giờ hứa rằng theo Người sẽ không mất gì. Trái lại, Người nói rất rõ về thập giá. Nhưng câu hỏi quan trọng hơn là: ta sợ mất điều gì nhất? Có những thứ giữ được mà đáng sợ hơn mất đi. Giữ được tiền nhưng mất lòng ngay thẳng. Giữ được vị trí nhưng mất bình an. Giữ được hình ảnh nhưng mất gia đình. Giữ được thắng lợi nhưng mất người anh em. Giữ được cả thế gian nhưng mất chính mình. Đó mới là thất bại thật sự.
Ngược lại, có những cái mất lại mở ra một đời sống lớn hơn. Hạt lúa phải mất hình dạng hạt lúa mới thành cây. “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Đây có lẽ là một trong những hình ảnh đẹp nhất để hiểu sự điên rồ của Thánh Giá. Hạt lúa nếu biết suy nghĩ có lẽ sẽ rất sợ đất. Trong kho, nó sạch sẽ, nguyên vẹn, an toàn. Được gieo xuống đất nghĩa là bị chôn, bị phủ kín, mất ánh sáng, lớp vỏ vỡ ra, hình dạng cũ biến mất. Nếu tiêu chuẩn là bảo tồn chính mình, hạt lúa dưới đất là thất bại. Nhưng nếu tiêu chuẩn là sinh hoa trái, chính lúc nó mất mình lại là lúc đời nó đạt mục đích. Có những giai đoạn đời ta giống như bị chôn xuống đất. Một căn bệnh. Một cuộc chia tay. Một sự nghiệp đổ vỡ. Một lần bị hiểu lầm. Một tuổi già đến với bao giới hạn. Một chương đời khép lại mà ta không muốn. Ta nghĩ mọi sự chấm dứt. Nhưng trong lòng đất tối ấy, Thiên Chúa có thể đang bắt đầu một mầm sống mà ta chưa thấy.
Thánh Giá cũng dạy ta một điều vô cùng khó: không phải tất cả những gì có giá trị đều phải có kết quả ngay. Chúng ta thuộc về thế hệ của tốc độ. Nhấn một nút, màn hình sáng. Gửi một tin, vài giây sau người kia nhận. Đặt một món hàng, hôm sau có thể giao tới. Dần dần ta cũng muốn Thiên Chúa hoạt động như vậy. Cầu nguyện hôm nay, ngày mai muốn thấy kết quả. Gieo hạt hôm nay, ngày mai muốn hái quả. Nhưng Thiên Chúa của Kinh Thánh thường rất chậm theo đồng hồ chúng ta. Abraham chờ đợi. Giuse trải qua nhiều năm trong cảnh nô lệ và tù đày. Israel đi bốn mươi năm trong sa mạc. Đức Maria mang Chúa trong cung lòng chín tháng. Đức Giêsu sống ba mươi năm ẩn dật. Các Tông đồ gieo Tin Mừng rồi nhiều người chết mà chưa từng thấy thế giới Kitô giáo phát triển như sau này. Nước Thiên Chúa giống hạt cải, giống men trong bột, giống hạt giống âm thầm mọc lên. Có những công trình của Chúa cần nhiều thế hệ mới thấy hoa trái. Vì vậy, trung tín quan trọng hơn thành công trước mắt. Nhiệm vụ của người gieo không phải là ép hạt nảy mầm; nhiệm vụ của người gieo là gieo cho đúng và tưới cho trung thành. “Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên” (x. 1 Cr 3,6).
Nhiều người trong chúng ta đau khổ không hẳn vì mình sống tệ, nhưng vì mình so sánh đời mình với người khác. Người kia thành công hơn, giàu hơn, được yêu quý hơn, khỏe mạnh hơn, gia đình thuận lợi hơn. Mạng xã hội biến cuộc so sánh ấy thành một căn bệnh thường trực. Ta nhìn phần đẹp nhất của đời người khác rồi so với toàn bộ sự bấp bênh của đời mình. Và ta thấy mình thất bại. Thánh Giá kéo mắt ta khỏi đám đông và đưa ta trở lại với Đức Kitô. Sau Phục Sinh, Phêrô hỏi Chúa về Gioan: “Còn người này thì sao?” Đức Giêsu trả lời đại ý: chuyện đó can gì đến anh? “Phần anh, hãy theo Thầy” (x. Ga 21,21-22). Một câu quá cần cho thời đại chúng ta: phần con, hãy theo Thầy. Đừng sống đời người khác. Đừng ghen với hành trình người khác. Đừng đo ơn gọi mình bằng thành tựu của người bên cạnh. Có người được gọi gieo, người khác được gọi gặt. Có người làm việc trước công chúng, người khác sống âm thầm. Có người có một cuộc đời dài, người khác rất ngắn. Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu sống chỉ hai mươi bốn năm, phần lớn trong một đan viện kín, chưa hề đi truyền giáo đến những miền xa, thế mà trở thành bổn mạng các xứ truyền giáo. Thiên Chúa không cần chúng ta sống cuộc đời ngoạn mục. Người cần chúng ta sống đời mình trong tình yêu.
Và đây là điểm sâu nhất của Thánh Giá: Đức Giêsu không cứu thế giới bằng thành tựu nhưng bằng sự tự hiến. Câu cuối cùng không phải “Ta đã thành công”, nhưng “Thế là đã hoàn tất” (Ga 19,30). “Hoàn tất” khác với “thành công”. Thành công phụ thuộc rất nhiều vào những gì xảy ra bên ngoài ta. Hoàn tất sứ mạng thuộc về sự trung tín. Có người trung tín mà bề ngoài vẫn thất bại. Đức Giêsu chết khi phần lớn môn đệ bỏ chạy. Gioan Tẩy Giả chết trong tù vì một lời hứa điên rồ của Hêrôđê trong bữa tiệc. Các Tông đồ nhiều người chết tử đạo. Nếu lấy tuổi thọ, tài sản, địa vị và tiếng vỗ tay làm thước đo, lịch sử các thánh đầy những người “thất bại”. Nhưng họ đã hoàn tất cuộc đời. Đó mới là điều đáng ước ao: đến cuối đời có thể thưa với Chúa rằng con chưa làm được tất cả những gì con muốn, con đã nhiều lần yếu đuối, công việc của con có những điều dang dở, nhưng con đã cố giữ đức tin, giữ tình yêu, giữ lòng trung thành. Thánh Phaolô đã nói như thế gần cuối đời: “Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin” (2 Tm 4,7). Ngài không nói: tôi đã thắng hết mọi người. Ngài nói: tôi đã chạy hết phần đường của tôi.
Đứng dưới Thánh Giá, ta cũng nhận ra rằng Thiên Chúa không đòi ta phải thành công để được Người yêu. Đây có lẽ là Tin Mừng mà rất nhiều trái tim đang cần nghe. Ta sống trong một xã hội mà tình yêu thường có điều kiện: người ta yêu ta vì ta đẹp, giỏi, có ích, dễ thương, thành công. Vì thế, sâu thẳm trong lòng, ta sợ một ngày những điều đó biến mất thì mình sẽ chẳng còn đáng yêu. Nhưng trên Thánh Giá, Đức Kitô yêu ta khi ta chưa hoàn hảo. Thánh Phaolô nói: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” (Rm 5,8). Ta không cần chiến thắng để Chúa yêu. Ta không cần chứng minh giá trị trước mặt Người. Ta không phải bước vào nhà thờ với một bản thành tích. Người biết cả những phần tối nhất của ta mà vẫn gọi ta bằng tên. Và khi một người thực sự tin rằng mình được yêu như thế, họ bắt đầu tự do. Họ không còn phải sống chỉ để được vỗ tay. Họ có thể thất bại mà không sụp đổ hoàn toàn, bởi căn tính của họ không nằm trong thành tích. Họ có thể bị từ chối mà không nghĩ mình vô giá trị, bởi có một Đấng đã chọn họ bằng chính Máu mình.
Có lẽ ta cần đưa Thánh Giá trở về với những nơi bình thường nhất của đời sống. Thánh Giá không chỉ là biến cố của Thứ Sáu Tuần Thánh. Thánh Giá xuất hiện khi một người chồng nhịn một lời cay độc để giữ bình an gia đình. Khi một người vợ tha thứ dù lòng còn đau. Khi một người con dành thời gian chăm cha mẹ già. Khi cha mẹ kiên nhẫn với đứa con làm mình thất vọng. Khi một người chịu thiệt để không gian dối. Khi ta xin lỗi dù cái tôi phản kháng. Khi ta làm việc âm thầm mà chẳng được ghi nhận. Khi ta tiếp tục cầu nguyện trong lúc không còn cảm xúc. Khi ta giữ một lời hứa dù không còn thuận lợi. Khi ta không trả đũa người làm mình tổn thương. Khi ta tiếp tục yêu một người không còn khả năng trả lại tình yêu như trước. Đó là những Thánh Giá nhỏ, nhưng chính từ đó Nước Trời được dựng xây.
Có những ngày ta sẽ chẳng làm được điều gì lớn lao. Ta có thể bệnh. Có thể già. Có thể bị giới hạn. Có thể những dự định từng có đều không thành. Lúc ấy, đừng nghĩ đời mình vô ích. Hãy nhớ Đức Giêsu trên Thánh Giá. Giờ phút xem ra bất lực nhất lại là giờ Người yêu mạnh mẽ nhất. Có những người trên giường bệnh không thể làm việc nhưng vẫn có thể cầu nguyện. Có những cụ già không còn giúp con cháu bằng tiền bạc hay lao động nhưng sự hiện diện của họ vẫn là một kho tàng. Có những người đang mang những giới hạn mà thế giới không hiểu, nhưng chính sự kiên nhẫn của họ đang âm thầm truyền một bài giảng không lời. Trước mặt Chúa, đôi bàn tay bất động vẫn có thể dâng hiến. Đôi chân không còn đi được vẫn có thể theo Đức Kitô. Một người không nói được vẫn có thể yêu. Sự hữu ích có thể mất; phẩm giá không bao giờ mất.
Và rồi ta phải nhớ rằng Thánh Giá không phải chữ cuối cùng. Nếu Kitô giáo chỉ dừng ở Thứ Sáu Tuần Thánh, thật sự đó là một tôn giáo của thất bại. Nhưng sáng ngày thứ nhất trong tuần, ngôi mộ đã trống. Đấng bị loại bỏ đã sống lại. Hòn đá bị thợ xây loại bỏ trở thành đá tảng góc tường. Mão gai được biến thành vương miện. Cây gỗ ô nhục trở thành cây sự sống. Những vết thương không biến mất khỏi thân thể Phục Sinh; chúng được biến đổi thành dấu chỉ của tình yêu chiến thắng. Điều ấy rất quan trọng: Phục Sinh không xóa Thánh Giá như thể Thánh Giá chưa từng xảy ra. Đức Giêsu Phục Sinh vẫn cho Tôma thấy các dấu đinh. Nghĩa là Thiên Chúa có thể biến đổi vết thương mà không cần xóa lịch sử. Có những điều trong đời ta sẽ không bao giờ “như cũ” nữa. Một người thân mất đi sẽ không trở về với ta trong đời này. Một năm tháng đã mất không lấy lại được. Một vết thương có thể để lại sẹo. Nhưng Phục Sinh nói rằng sẹo không phải dấu hiệu ta bị đánh bại. Trong tay Thiên Chúa, nó có thể trở thành chứng tích rằng ta đã đi qua lửa mà vẫn còn khả năng yêu.
Vậy đâu là thành công của người Kitô hữu? Thành công ấy không đối nghịch với việc làm tốt bổn phận, phát triển tài năng, xây dựng xã hội, quản trị hiệu quả hay đạt những thành tựu chính đáng. Một người Kitô hữu phải làm việc nghiêm túc, phải có trách nhiệm, phải sinh hoa trái. Đức Giêsu lên án người đầy tớ chôn giấu nén bạc. Nhưng mọi thành công ấy phải đứng dưới Thánh Giá để được thanh luyện. Ta làm việc không phải để chứng minh mình đáng giá, nhưng vì mình đã được yêu và muốn dùng ân huệ Chúa ban để phục vụ. Ta muốn thành công, nhưng không bằng mọi giá. Ta muốn sinh hoa trái, nhưng không giẫm người khác xuống. Ta sử dụng hiệu quả như một phương tiện, không thờ hiệu quả như một vị thần. Và khi Chúa cho thành công, ta tạ ơn; khi Người để ta đi qua thất bại, ta vẫn tin. Người Kitô hữu không nói: “Con chỉ tin Chúa khi mọi chuyện thuận lợi.” Người Kitô hữu nói: “Dù con đi qua thung lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng” (x. Tv 23).
Một ngày kia, tất cả các thước đo thành công của thế gian sẽ dừng lại. Chức vụ sẽ trao cho người khác. Tài khoản ngân hàng không đi vào quan tài. Danh tiếng rồi cũng phai. Những giải thưởng phủ bụi. Những căn nhà đổi chủ. Những bài viết từng nổi tiếng có thể không ai đọc nữa. Thân xác từng khỏe mạnh sẽ yếu đi. Câu hỏi còn lại sẽ không phải: con nổi tiếng đến đâu? Con kiếm được bao nhiêu? Con thắng bao nhiêu người? Nhưng là: con đã yêu chưa? Con đã làm gì cho những người bé nhỏ nhất? Con có trung tín với nén bạc được trao không? Con có nhận ra Chúa trong người đói, người khát, người đau yếu, người tù đày không? Và khi đó, biết đâu những người đứng đầu bảng xếp hạng hôm nay lại đứng rất xa phía sau, còn những bà góa với hai đồng xu, những người mẹ âm thầm, những người cha mỏi mệt, những tu sĩ không ai biết tên, những người bệnh dâng đau khổ trong thinh lặng, những người đã yêu mà chẳng ai ghi công sẽ bước lên trước mặt Chúa với đôi tay đầy những điều mà thế gian từng cho là vô nghĩa.
Thánh Giá vì thế mãi mãi là một lời phản kháng thánh thiện trước nền văn minh tôn thờ thành công. Nó nói với người quyền lực: anh không lớn vì anh đứng cao, anh lớn khi anh biết cúi xuống. Nó nói với người giàu: anh không giàu vì anh giữ được nhiều, anh giàu khi anh có khả năng trao đi. Nó nói với người nổi tiếng: giá trị của anh không nằm trong ánh mắt đám đông. Nó nói với người thất bại: đời anh chưa kết thúc chỉ vì một cánh cửa đóng lại. Nó nói với người bệnh: anh vẫn quý giá dù chẳng thể làm gì. Nó nói với người già: anh không phải đồ thừa của xã hội. Nó nói với người tội lỗi: vẫn còn con đường trở về. Nó nói với người đau khổ: Thiên Chúa không đứng xa nhìn anh khóc; Người đã bước vào chính nơi anh đang đứng. Nó nói với mọi người chúng ta: đừng sợ mất mình vì tình yêu, bởi điều được trao cho Thiên Chúa không bao giờ mất.
Chúng ta sẽ không bao giờ hoàn toàn hiểu Thánh Giá bằng lý luận. Phải có lúc quỳ xuống trước Thánh Giá trong thinh lặng. Nhìn thật lâu vào Đấng bị đóng đinh. Nhìn đôi tay ấy và tự hỏi: tình yêu nào đã giữ Người ở đó? Không phải những chiếc đinh. Nếu Người muốn, chẳng có chiếc đinh nào giữ được Con Thiên Chúa. Tình yêu đã giữ Người lại. Nhìn cạnh sườn bị đâm thâu và hiểu rằng trái tim ấy đã không giữ lại gì. Nhìn khuôn mặt bị sỉ nhục và nhận ra đây chính là dung nhan của một Thiên Chúa không cứu mình để cứu chúng ta. Rồi nhìn lại những cuộc tranh giành nhỏ bé của mình, những lần tức giận vì không được ghi nhận, những lúc đau vì người khác hơn mình, những mệt mỏi vì chạy theo hình ảnh, những nỗi sợ thất bại, và hỏi: rốt cuộc mình đang sống cho điều gì?
Có thể đời ta sẽ chẳng bao giờ được gọi là “thành công” theo tiêu chuẩn thế gian. Không sao. Điều quan trọng hơn là nó có được gọi là một đời trung tín trước mặt Thiên Chúa hay không. Có thể những điều ta làm chẳng bao giờ thành chuyện lớn. Không sao. Một giọt nước trong đại dương vẫn là nước. Một hạt cải rất nhỏ vẫn có thể thành cây. Năm chiếc bánh và hai con cá trong tay một em nhỏ là quá ít trước năm ngàn người, nhưng khi đặt vào tay Đức Giêsu lại trở nên dư đầy. Phần của ta không phải là làm phép lạ. Phần của ta là trao năm chiếc bánh và hai con cá. Phần còn lại thuộc về Chúa. Có khi ta cứ mãi đau khổ vì mình không đủ lớn, trong khi Chúa chỉ hỏi tại sao ta chưa trao cho Người cái nhỏ bé mình đang có.
Và nếu có một hình ảnh nào có thể kết lại tất cả, đó là chiều Canvê. Một bên là thế giới đang cười nhạo: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá.” Đó chính là tiếng nói của mọi thời đại: nếu anh thật sự mạnh, hãy chứng minh; nếu anh thật sự thành công, hãy tự cứu mình; nếu anh có quyền lực, hãy sử dụng nó. Đức Giêsu không xuống. Không phải vì Người không thể, mà vì Người không muốn bỏ những người Người đang cứu. Phép lạ lớn nhất hôm ấy không phải là xuống khỏi Thánh Giá. Phép lạ lớn nhất là ở lại trên Thánh Giá. Ở lại trong tình yêu khi có thể bỏ đi. Tha thứ khi có thể kết án. Hiến mình khi có thể tự cứu. Và chính điều bị thế gian gọi là điên rồ ấy đã mở ra sự sống cho nhân loại.
Có lẽ rồi đây, giữa một thế giới ngày càng nhanh, người Kitô hữu lại càng phải học bước chậm với Thánh Giá. Giữa một thế giới yêu thành tích, ta học yêu sự trung tín. Giữa một thế giới muốn được nhìn thấy, ta học làm điều tốt trong kín đáo. Giữa một thế giới tranh nhau đứng đầu, ta học rửa chân. Giữa một thế giới loại bỏ kẻ yếu, ta học ôm lấy họ. Giữa một thế giới chỉ hỏi “có lợi gì?”, ta học hỏi “có yêu không?”. Giữa một thế giới dạy phải giữ lấy, ta học trao ban. Giữa một thế giới sợ thất bại, ta dám tin rằng hạt lúa phải chết mới sinh nhiều bông hạt. Giữa một thế giới chạy trốn đau khổ bằng mọi giá, ta không tìm đau khổ, nhưng khi nó đến, ta không để nó cướp mất tình yêu. Và giữa một thế giới nói rằng cái chết là dấu chấm hết, ta đứng trước ngôi mộ trống mà tuyên xưng: Đức Kitô đã sống lại.
Sau cùng, sự “điên rồ” của Thánh Giá không kêu gọi chúng ta trở thành những kẻ thất bại. Nó kêu gọi ta định nghĩa lại thế nào là chiến thắng. Chiến thắng không phải lúc nào cũng là hạ được đối thủ; đôi khi là thắng được chính lòng kiêu ngạo của mình. Không phải lúc nào cũng là giữ được quyền lợi; đôi khi là biết trao đi. Không phải lúc nào cũng là khiến người khác phải xin lỗi; đôi khi là mình bước bước đầu tiên để hòa giải. Không phải lúc nào cũng là được công nhận; đôi khi là vẫn trung thành dù chẳng ai biết. Không phải lúc nào cũng là thoát khỏi thập giá; đôi khi là mang thập giá mà không đánh mất lòng tin. Và chiến thắng tối hậu không phải là không chết, nhưng là đi qua cái chết để bước vào sự sống đời đời.
Nếu ngày hôm nay ta đang ở trong một giai đoạn mà mọi sự xem ra thất bại, hãy nhìn lên Thánh Giá. Nếu ta đang bị bỏ quên, hãy nhìn lên Thánh Giá. Nếu ta làm điều tốt mà không ai hiểu, hãy nhìn lên Thánh Giá. Nếu ta đã cầu nguyện rất lâu mà chưa thấy gì thay đổi, hãy nhìn lên Thánh Giá. Nếu tuổi già, bệnh tật hoặc giới hạn khiến ta cảm thấy mình vô dụng, hãy nhìn lên Thánh Giá. Nếu thành công của người khác khiến ta thấy đời mình nhỏ bé, hãy nhìn lên Thánh Giá. Và hãy nhớ: vào chiều Thứ Sáu ấy, không ai ở Giêrusalem có thể tưởng tượng rằng chỉ ba ngày sau, lịch sử nhân loại sẽ không bao giờ còn như cũ. Thiên Chúa thường bắt đầu cuộc Phục Sinh của Người ở chính nơi chúng ta tưởng mọi chuyện đã kết thúc.
Xin cho mỗi chúng ta đủ khôn ngoan để dám trở nên “điên rồ” trước mặt thế gian: dám yêu khi yêu không đem lại lợi ích, dám trung tín khi không ai vỗ tay, dám cho đi khi không chắc sẽ nhận lại, dám tha thứ khi lòng còn đau, dám ở lại với người yếu đuối, dám chọn lương tâm hơn thành tích, dám chọn sự thật hơn hình ảnh, dám chọn Đức Kitô hơn tất cả những chiếc vương miện chóng qua của đời này. Và khi ngày cuối cùng đến, xin cho chúng ta không cần mang theo một bản báo cáo thật đẹp về những thành công đã đạt được, nhưng chỉ cần có đôi bàn tay mang những vết chai của phục vụ, một trái tim mang những vết thương của tình yêu và một cuộc đời, dù nhỏ bé, đã được tiêu hao cho Thiên Chúa và cho anh chị em mình. Bởi sau tất cả, trước ngai Thiên Chúa, điều còn lại không phải là ta đã thành công đến đâu, nhưng là ta đã yêu đến mức nào. Và khi ấy chúng ta sẽ hiểu trọn vẹn điều mà hôm nay chỉ có thể tin bằng đức tin: đường của Thánh Giá không phải là đường dẫn đến thất bại; đó là con đường duy nhất đưa tình yêu đến chiến thắng cuối cùng.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ LÀ NGUỒN MẠCH CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT VÔ BIÊN – LINH ĐẠO DÒNG CHÚA CỨU THẾ
Có những điều trong đời Kitô hữu càng suy niệm càng thấy mình không thể nói cho hết. Thánh Giá là một trong những điều như thế. Người ta có thể viết hàng ngàn cuốn sách về Thánh Giá, có thể giảng hàng vạn bài giảng về Thánh Giá, có thể dựng những nhà thờ nguy nga với cây Thánh Giá thật lớn trên cung thánh, có thể đeo Thánh Giá trên cổ suốt cả một đời, nhưng vẫn chưa chắc đã chạm được vào chiều sâu của mầu nhiệm ấy. Bởi Thánh Giá không phải trước hết là một biểu tượng để chúng ta nhìn, nhưng là một mầu nhiệm để chúng ta bước vào; không phải là một ý tưởng để chúng ta hiểu cho hết, nhưng là một tình yêu để chúng ta để cho mình được yêu; không phải chỉ là câu chuyện về một người đã chết cách đây hơn hai ngàn năm, nhưng là nơi hôm nay Thiên Chúa vẫn đang mở rộng vòng tay để đón lấy con người tội lỗi, đau khổ, thất bại, bị bỏ rơi và tuyệt vọng. Nếu hỏi đâu là nơi lòng thương xót của Thiên Chúa được tỏ hiện rõ nhất, câu trả lời không nằm trong một lý thuyết thần học nào thật cao siêu, cũng không nằm trong một cảm xúc đạo đức nhất thời, nhưng nằm trên ngọn đồi Canvê, nơi một Con Người bị đóng đinh giữa trời và đất, hai tay bị kéo căng trên gỗ, chân bị đóng bằng đinh, đầu đội mão gai, thân mình bê bết máu và miệng vẫn còn đủ sức để nói lời tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Chính ở đó, lòng thương xót không còn là một lời hứa, mà trở thành máu; không còn là một ý niệm, mà trở thành một thân thể bị thương tích; không còn là một lời nói, mà trở thành một mạng sống được trao ban. Và cũng chính từ đó, linh đạo của Dòng Chúa Cứu Thế hiểu rằng việc loan báo Ơn Cứu Chuộc chan chứa không bao giờ có thể tách rời khỏi Thánh Giá của Đấng Cứu Chuộc.
Thật vậy, linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế được sinh ra từ một xác tín rất đơn sơ mà vô cùng sâu thẳm: nơi Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa không cứu con người cách dè sẻn. Người không cho chúng ta một chút ân sủng vừa đủ để sống cầm chừng. Người không tha thứ với một thái độ miễn cưỡng. Người không đứng xa nhìn nhân loại sa ngã rồi ném xuống vài mẩu thương xót. Người trao ban chính Con Một. Và Người Con ấy không đến để cứu những người đã hoàn thiện, nhưng đến “để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19,10). Cụm từ quen thuộc của gia đình Dòng Chúa Cứu Thế, “Copiosa apud Eum Redemptio” – “Ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa” – không phải là một khẩu hiệu đẹp để treo trên tường. Đó là lời tuyên xưng về một Thiên Chúa có lòng thương xót vượt quá mọi tính toán của con người. Nơi Người, ơn cứu độ không nhỏ giọt. Nơi Người, lòng tha thứ không cạn kiệt. Nơi Người, không có một vực sâu tội lỗi nào sâu hơn vực thẳm của lòng thương xót. Nơi Người, không có một cuộc đời nào tan nát đến mức không thể được thu nhặt lại. Nơi Người, không có một kẻ nào đã đi xa đến mức không còn đường trở về. Và dấu chỉ lớn nhất bảo đảm cho tất cả những điều ấy chính là Thánh Giá.
Chúng ta thường nghĩ lòng thương xót là Thiên Chúa bỏ qua tội lỗi. Không phải vậy. Nếu lòng thương xót chỉ có nghĩa là Thiên Chúa coi như tội lỗi không quan trọng, thì Thánh Giá đã không cần thiết. Thánh Giá cho thấy Thiên Chúa nhìn tội lỗi nghiêm túc đến mức nào, đồng thời cũng cho thấy Người yêu tội nhân đến mức nào. Tội lỗi không phải chuyện nhỏ, bởi nó làm tổn thương tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân, với chính mình và với toàn thể công trình tạo dựng. Tội lỗi khiến con người khép lại, ích kỷ, tham lam, hung dữ, giả dối, phản bội, chà đạp nhau. Tội lỗi tạo ra những giọt nước mắt không ai thấy, những gia đình tan vỡ, những người bị bỏ rơi, những lương tâm chai cứng, những cuộc đời chìm trong nghiện ngập, những con người sống bên nhau mà làm đau nhau. Thiên Chúa không nói với tất cả những điều ấy: “Không sao đâu.” Người bước vào giữa chúng. Người mang chúng lên thân thể của Con Một Người. Thánh Giá vì thế vừa là bản cáo trạng nghiêm khắc nhất về tội lỗi, vừa là lời tuyên bố dịu dàng nhất về tội nhân: tội của con nặng lắm, nhưng tình yêu Ta dành cho con còn nặng hơn; con đã đi rất xa, nhưng Ta đi xa hơn để tìm con; con đã làm tổn thương tình yêu Ta, nhưng Ta không ngừng yêu con.
Ngước nhìn Thánh Giá, người Kitô hữu phải học lại cách hiểu Thiên Chúa. Có khi chúng ta vô tình tưởng tượng Thiên Chúa như một vị quan tòa lạnh lùng ngồi ở rất xa, chăm chú ghi từng lỗi lầm của con người để chờ ngày tính sổ. Có những người mang hình ảnh ấy suốt hàng chục năm sống đạo. Họ sợ Chúa nhiều hơn yêu Chúa. Họ giữ đạo nhưng tâm hồn không bình an. Họ đi xưng tội nhưng vẫn không tin mình đã được tha. Họ nghĩ Thiên Chúa chịu đựng mình hơn là yêu mình. Họ nhìn quá khứ và chỉ thấy những vết nhơ, nhìn hiện tại và chỉ thấy sự bất xứng, nhìn tương lai và chỉ thấy phán xét. Thánh Giá đập tan hình ảnh méo mó ấy. Thiên Chúa mà Đức Giêsu mặc khải không phải là Thiên Chúa đứng ngoài đau khổ con người. Người bước xuống. Người mang lấy xác phàm. Người chấp nhận sinh trong nghèo khó, sống giữa những người bé nhỏ, chạm vào người phong cùi, ăn với người thu thuế, để người phụ nữ tội lỗi khóc trên chân mình, bênh vực người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội, dừng lại với người mù bên vệ đường, xúc động trước bà góa mất con, khóc trước mộ Ladarô, và cuối cùng mang tất cả sự mong manh của nhân loại lên Thánh Giá. Một Thiên Chúa như thế không thể là Thiên Chúa xa cách.
Có lẽ đoạn Tin Mừng đẹp nhất để minh họa cho lòng thương xót từ Thánh Giá chính là biến cố người trộm lành trong Luca 23. Hai người cùng bị đóng đinh bên cạnh Chúa. Một người nhục mạ Người. Người kia quay sang nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Chỉ thế thôi. Không có thời gian để đền tội. Không có cơ hội làm lại cuộc đời. Không có công trạng nào để kể. Không có quá khứ tốt đẹp để trình bày. Người ấy đến với Đức Giêsu trong giờ phút cuối cùng, đôi tay cũng bị đóng đinh, hoàn toàn bất lực, chỉ còn một lời cầu xin nghèo nàn: “Xin nhớ đến tôi.” Và câu trả lời của Đức Giêsu vượt quá điều anh dám xin: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43). Anh chỉ xin được nhớ đến. Chúa cho anh Thiên Đàng. Anh xin một chỗ trong ký ức. Chúa cho anh một chỗ trong Nước Trời. Anh chẳng còn gì để dâng ngoài một trái tim vừa kịp quay lại. Chúa trao cho anh tất cả. Đó là “Copiosa Redemptio”. Đó là Ơn Cứu Chuộc chan chứa. Đó chính là khuôn mặt của lòng thương xót mà người thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế được sai đi loan báo.
Điều đáng suy nghĩ là phép lạ cuối cùng của Chúa Giêsu trước khi chết không phải là chữa một bệnh nhân, không phải hóa bánh ra nhiều, không phải làm cho kẻ chết sống lại, mà là mở cửa Thiên Đàng cho một tên tử tội. Và người đầu tiên được nghe một lời chắc chắn về Thiên Đàng từ miệng Chúa chịu đóng đinh lại là một người mà xã hội không còn hy vọng gì nữa. Điều đó nói rất nhiều về trái tim Thiên Chúa. Chúng ta thường chỉ còn kiên nhẫn với những người có vẻ còn khả năng sửa đổi. Thiên Chúa lại bước đến cả những nơi con người đã bỏ cuộc. Chúng ta thường yêu những người dễ yêu. Thiên Chúa yêu cả những người chẳng còn gì đáng yêu dưới mắt người đời. Chúng ta tha thứ nhưng thường giữ lại một chút khoảng cách. Thiên Chúa tha thứ rồi kéo người tội lỗi vào trong sự sống của Người. Chúng ta nhìn một con người qua quá khứ của họ. Thiên Chúa nhìn họ qua tương lai mà ân sủng có thể mở ra.
Đó cũng chính là cái nhìn mà Thánh Anphongsô Maria de Liguori đã mang trong lòng khi hướng về những người nghèo khổ và bị bỏ rơi. Ngài đã không thành lập Dòng Chúa Cứu Thế để tạo nên một nhóm người đạo đức sống tách biệt khỏi những khốn khổ của thế gian. Ơn gọi thừa sai của Dòng phát sinh từ nỗi đau khi thấy những con người nghèo khổ về vật chất lẫn tinh thần không được nghe Tin Mừng, không được chăm sóc mục vụ đầy đủ, không biết rằng họ được Thiên Chúa yêu thương. Người nghèo nhất không chỉ là người thiếu tiền, mà còn là người thiếu hy vọng; không chỉ là người không có cơm ăn, mà còn là người không biết mình có một người Cha; không chỉ là người không có mái nhà, mà còn là người không biết có một nơi để trở về trong trái tim Thiên Chúa. Chính vì vậy, nhà thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế không thể chỉ là người truyền đạt những chân lý đúng. Người ấy phải trở thành dấu chỉ sống động rằng Thiên Chúa đang đi tìm những người bị bỏ rơi nhất.
Một nhà thừa sai có thể giảng rất hay về lòng thương xót, nhưng nếu ánh mắt của mình lạnh lùng với người tội lỗi, bài giảng ấy sẽ trở thành vô nghĩa. Có thể nói rất đúng về Ơn Cứu Chuộc chan chứa, nhưng nếu cộng đoàn đóng cửa trước những người nghèo, người nghiện, người vấp ngã, người ly tán, người thất bại, người bị xã hội coi thường, thì khẩu hiệu trên huy hiệu chỉ còn là chữ. Có thể nói rất nhiều về Thánh Giá, nhưng nếu không muốn chạm vào những vết thương của con người, chúng ta chưa hiểu Thánh Giá. Bởi Đấng chịu đóng đinh mà chúng ta rao giảng vẫn còn đang bị đóng đinh trong thân thể của bao người chung quanh chúng ta: nơi người mẹ âm thầm khóc vì đứa con hư hỏng; nơi người chồng thất nghiệp mất hết tự tin; nơi người trẻ tưởng đời mình vô nghĩa; nơi người già nằm một mình chẳng ai thăm hỏi; nơi một linh hồn bị mặc cảm vì quá khứ; nơi người đã nhiều lần quyết tâm bỏ tội rồi lại sa ngã; nơi những người đang đứng bên ngoài cánh cửa nhà thờ vì họ nghĩ mình không xứng đáng bước vào. Với tất cả những con người ấy, linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế phải nói không chỉ bằng miệng mà bằng cả đời sống: “Bạn chưa bị bỏ rơi. Đức Kitô đã chết cho bạn. Ơn Cứu Chuộc nơi Người vẫn chan chứa.”
Thánh Giá còn cho thấy một điều rất lạ: lòng thương xót Thiên Chúa không chờ con người trở nên tốt rồi mới yêu. Thánh Phaolô nói rất rõ: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” (Rm 5,8). Đây là một trong những câu Kinh Thánh có thể làm đảo lộn toàn bộ cách chúng ta sống với Thiên Chúa. Chúa không yêu chúng ta vì chúng ta tốt. Chính vì được Chúa yêu, chúng ta mới có khả năng trở nên tốt. Chúa không tha thứ vì chúng ta xứng đáng. Chính vì được tha thứ, chúng ta mới được trao lại phẩm giá. Chúa không đợi đứa con hoang đàng tắm rửa sạch sẽ mới ôm. Người cha chạy ra ôm khi nó còn bụi đường, còn mùi chuồng heo, còn chưa đọc hết bài diễn văn xin lỗi đã chuẩn bị. Đó là Tin Mừng. Và nếu chúng ta đảo thứ tự ấy, đạo sẽ trở thành một gánh nặng. Khi nghĩ mình phải hoàn hảo trước rồi mới được đến với Chúa, người yếu đuối sẽ không bao giờ dám trở về. Nhưng Tin Mừng nói ngược lại: hãy đến vì con yếu; hãy đến vì con tội lỗi; hãy đến vì con bất lực; hãy đến vì chính con không tự cứu nổi mình.
Đây cũng là nét vô cùng quan trọng trong linh đạo của Thánh Anphongsô. Ngài hiểu rất sâu sự yếu đuối của con người và vì thế ngài luôn chống lại những hình thức luân lý quá khắt khe có thể đẩy người tội lỗi vào tuyệt vọng. Ngài không làm nhẹ tội lỗi, nhưng không bao giờ muốn người tội lỗi mất hy vọng. Ngài biết rằng sự thánh thiện không lớn lên trong một trái tim chỉ biết sợ hãi. Con người đổi đời bền vững nhất khi họ khám phá ra mình được yêu. Một đứa trẻ biết cha mình yêu nó sẽ muốn sống sao cho đẹp lòng cha hơn một đứa trẻ chỉ sợ bị đánh. Một linh hồn biết Thiên Chúa thương mình sẽ có sức đứng dậy sau khi sa ngã. Bởi vậy, lòng thương xót không nuông chiều tội lỗi; lòng thương xót tạo sức mạnh để người tội lỗi thoát khỏi tội.
Chúng ta hãy nhìn Chúa Giêsu trên Thánh Giá. Người không xuống khỏi Thánh Giá để chứng minh mình là Con Thiên Chúa như những người đứng dưới chân Thánh Giá thách thức. Người ở lại. Chính việc ở lại ấy là mặc khải của tình yêu. Yêu là ở lại khi người khác không còn đáng yêu. Yêu là không bỏ chạy khi bị phản bội. Yêu là không trả đũa khi bị tổn thương. Yêu là tiếp tục trao ban khi điều nhận lại chỉ là vô ơn. Giuđa bán Chúa. Phêrô chối Chúa. Các môn đệ bỏ chạy. Dân chúng từng tung hô “Hoan hô Con vua Đavít” nay hô “Đóng đinh nó vào thập giá”. Những người được Người chữa lành hầu như không thấy xuất hiện ở Canvê. Vậy mà Người vẫn ở lại. Những chiếc đinh giữ thân xác Người trên gỗ, nhưng tình yêu mới là điều giữ Người trên Thánh Giá.
Và từ thân thể bị đóng đinh ấy, lòng thương xót tiếp tục chảy ra. Tin Mừng Gioan kể rằng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người, “tức thì máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34). Truyền thống Hội Thánh đã luôn nhìn thấy nơi dòng máu và nước ấy một hình ảnh mầu nhiệm của sự sống mới, của các bí tích, của Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô. Nhưng chúng ta cũng có thể nhìn thấy ở đó một điều thật cảm động: con người đã mở trái tim Chúa bằng một lưỡi giáo, và từ trái tim bị đâm thủng ấy chảy ra không phải là sự trả thù mà là ân sủng. Đó là toàn bộ câu chuyện cứu độ. Con người làm tổn thương Thiên Chúa, Thiên Chúa đáp lại bằng tình yêu. Con người mở cạnh sườn Chúa bằng bạo lực, Chúa mở cạnh sườn mình thành nguồn sự sống. Tội lỗi tạo ra vết thương, lòng thương xót biến chính vết thương ấy thành cửa ngõ của ơn cứu độ.
Có lẽ đó là điều chúng ta cần học rất nhiều trong đời sống. Ai cũng có những vết thương. Có những vết thương do người khác gây ra, có những vết thương do chính mình gây ra, có những vết thương đã cũ nhưng chỉ cần ai chạm nhẹ cũng đau. Phản ứng tự nhiên của chúng ta là đóng lại. Bị tổn thương một lần, ta bớt tin. Bị phản bội một lần, ta bớt yêu. Bị hiểu lầm nhiều lần, ta chọn im lặng. Bị lợi dụng nhiều lần, ta trở nên cứng. Nhưng Thánh Giá dạy một cách khác: để vết thương trở thành nơi tình yêu đi qua. Đó không phải là chuyện dễ. Chẳng ai tự sức mình làm được. Chỉ khi kết hợp vết thương của mình với vết thương của Đức Kitô, điều kỳ diệu ấy mới có thể xảy ra. Một người đã từng đau có thể trở thành người hiểu nỗi đau của kẻ khác. Một người đã từng được tha thứ có thể trở thành người biết tha thứ. Một người đã từng được cứu khỏi tuyệt vọng có thể trở thành người gieo hy vọng. Một tội nhân được lòng thương xót chạm đến có thể trở thành nhà thừa sai của lòng thương xót.
Có lẽ không ai rao giảng lòng thương xót thuyết phục cho bằng người biết mình đã từng cần lòng thương xót. Người chưa từng khóc vì tội mình dễ nói về tội người khác. Người chưa từng cảm thấy sự yếu đuối của mình dễ phán xét sự yếu đuối của tha nhân. Nhưng khi đã có lần quỳ xuống trước Thánh Giá và hiểu rằng chính mình cũng sống nhờ một sự tha thứ không xứng đáng, người ta sẽ dịu lại. Người ta không còn dễ ném đá. Người ta không còn thích nói câu: “Người ấy hết thuốc chữa rồi.” Bởi nếu Thiên Chúa từng không bỏ cuộc với tôi, tôi lấy quyền gì để bỏ cuộc với người khác?
Đó là lý do người thừa sai của lòng thương xót phải luôn bắt đầu bằng việc để mình được thương xót. Không ai cho được điều mình chưa nhận. Không ai đưa người khác đến nguồn nước nếu chính mình chưa uống. Nhà thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế không được sống như người sở hữu ơn cứu độ và mang đi phân phát cho người khác. Chúng ta cũng chỉ là những người đã được tìm thấy. Chúng ta cũng là những con chiên từng được vác trên vai. Chúng ta cũng là những người con hoang đàng được mặc áo mới. Chúng ta cũng là những bệnh nhân sống nhờ Vị Lương Y. Chính ý thức ấy giữ cho người thừa sai khỏi kiêu căng và giữ cho việc loan báo Tin Mừng luôn có hương vị của sự khiêm nhường.
Ngày hôm nay, thế giới có rất nhiều người cần được nghe Tin Mừng của lòng thương xót, nhưng không phải lúc nào họ cũng cần thêm những lời lên án. Con người thời đại này mang vô số vết thương kín đáo. Sau những tấm ảnh đẹp trên mạng xã hội có thể là một cuộc hôn nhân đang lạnh. Sau nụ cười ngoài đời có thể là một người đang chiến đấu với tuyệt vọng. Sau vẻ cứng cỏi của một người trẻ có thể là một trái tim chưa bao giờ cảm thấy được cha mẹ thật sự lắng nghe. Sau thái độ chống đối Giáo Hội có thể là một kinh nghiệm từng bị tổn thương bởi chính người của Giáo Hội. Sau một đời sống bê bối có khi là một lịch sử dài của thiếu tình thương. Không phải để biện minh cho điều sai, nhưng để chúng ta hiểu rằng con người thường phức tạp hơn cái nhãn chúng ta dán lên họ.
Người mục tử theo trái tim Đấng Cứu Chuộc phải biết nhìn sâu hơn hành vi để thấy con người. Chúa Giêsu nhìn Dakêu không chỉ thấy một người thu thuế tham lam mà thấy một người có thể hoán cải. Người nhìn Maria Mađalêna không chỉ thấy quá khứ mà thấy một người môn đệ sẽ đứng dưới chân Thánh Giá. Người nhìn Phêrô không chỉ thấy ba lần chối Thầy mà thấy vị mục tử của đoàn chiên. Người nhìn người phụ nữ Samari không chỉ thấy năm đời chồng mà thấy một nhà truyền giáo sẽ chạy về thành nói với mọi người về Đấng Mêsia. Người nhìn người trộm lành không chỉ thấy một tử tội mà thấy một công dân Thiên Đàng. Lòng thương xót chính là khả năng nhìn một con người bằng ánh mắt của Thiên Chúa, nghĩa là nhìn họ không chỉ bằng cái họ đang là mà bằng cái ân sủng có thể biến họ trở thành.
Nếu Dòng Chúa Cứu Thế muốn trung thành với đặc sủng của mình, Dòng không thể ngừng hỏi: hôm nay ai là những người bị bỏ rơi nhất? Không chỉ bị bỏ rơi về địa lý, nhưng bị bỏ rơi trong đời sống thiêng liêng; không chỉ những vùng không có linh mục, mà cả những trái tim ở sát nhà thờ nhưng chưa bao giờ cảm nhận mình được đón nhận; không chỉ những người chưa nghe tên Chúa Giêsu, mà cả những người đã nghe quá nhiều về luật Chúa nhưng chưa bao giờ nghe đủ về lòng Chúa. Có những người ngồi trong nhà thờ hàng chục năm mà vẫn nghĩ Thiên Chúa không thể tha thứ cho quá khứ của mình. Có những người đi lễ mỗi ngày mà vẫn mang trong lòng hình ảnh một Thiên Chúa khắc nghiệt. Có những người xưng đi xưng lại cùng một tội không phải vì họ chưa được tha, mà vì họ chưa tin mình được tha. Những con người ấy cũng là vùng truyền giáo.
Rao giảng “Ơn Cứu Chuộc chan chứa” là làm cho người ta dám hy vọng vào Thiên Chúa một lần nữa. Không phải hy vọng rẻ tiền. Không phải nói rằng cứ sống sao cũng được. Nhưng là nói rằng: dù con đang ở đâu, hãy bắt đầu từ đó; dù con đã ngã bao nhiêu lần, hãy đứng lên lần nữa; dù quá khứ của con tối đến đâu, đừng lấy quá khứ làm tiên tri cho tương lai; dù người đời đã đóng lại mọi cánh cửa, cửa trái tim Đức Kitô vẫn còn mở. Thánh Giá chính là cánh cửa không bao giờ đóng ấy.
Chúng ta hãy nhớ đến câu chuyện người cha nhân hậu trong Luca 15. Người con thứ đã phá gia tài, sống hoang đàng, rơi xuống tận đáy. Khi trở về, cậu chuẩn bị một bài diễn văn rất hợp lý: “Con không còn đáng được gọi là con cha nữa, xin coi con như một người làm công.” Đó là cách tội nhân thường nghĩ về Thiên Chúa. Sau khi phạm tội, chúng ta tự hạ phẩm giá mình. Chúng ta nghĩ mình không còn xứng làm con, may ra chỉ được làm thuê trong nhà Chúa. Nhưng người cha thậm chí không để cậu nói hết. Ông ôm lấy, hôn lấy hôn để, mặc áo đẹp nhất, đeo nhẫn, mang dép và mở tiệc. Tại sao? Bởi người cha chưa bao giờ thôi coi cậu là con. Cậu đánh mất ý thức làm con, nhưng cha không đánh mất tình phụ tử.
Thánh Giá nói cùng một điều bằng một thứ ngôn ngữ mạnh hơn tất cả: “Con vẫn là người Ta yêu.” Nếu không, Con Thiên Chúa đã không chết cho con. Có thể con không yêu chính mình. Có thể người khác đã thôi yêu con. Có thể con thấy cuộc đời mình chẳng có gì đáng tự hào. Nhưng giá trị của một con người không được quyết định bởi thành công, địa vị, tài sản hay quá khứ. Giá trị của con người được đo bằng cái giá Đức Kitô đã trả cho họ. Và cái giá ấy là chính máu Người.
Đó là lý do Thánh Giá phải chữa lành nơi chúng ta một căn bệnh rất sâu: căn bệnh tự kết án. Có những tội nhân sám hối rồi nhưng không chịu tha cho mình. Họ tin Chúa tha trên lý thuyết nhưng sống như người chưa được tha. Họ cứ trở lại quá khứ, cứ nhai lại lỗi lầm, cứ tự hành hạ mình. Khi ấy, một cách nào đó, chúng ta đang nói rằng tội của mình lớn hơn máu Đức Kitô. Khi Chúa đã nói “Ta tha cho con” mà ta cứ nói “không thể nào”, chúng ta đang tin tiếng nói kết án trong mình hơn tin Tin Mừng. Sám hối thật không phải là sống suốt đời trong mặc cảm. Sám hối thật là khóc vì đã làm đau tình yêu rồi đứng dậy để sống trong tình yêu ấy. Phêrô khóc sau khi chối Chúa, nhưng ông không treo cổ. Giuđa hối hận, nhưng ông không còn tin vào lòng thương xót. Sự khác biệt giữa hai con người không chỉ là mức độ tội lỗi; đó còn là sự khác biệt giữa tuyệt vọng và hy vọng.
Bi kịch lớn nhất của một tội nhân không phải là đã phạm tội. Bi kịch lớn nhất là nghĩ rằng sau tội ấy Thiên Chúa không còn có thể làm gì cho mình. Đó chính là chiến thắng cuối cùng mà sự dữ muốn đạt được: không chỉ khiến ta ngã, mà khiến ta nằm luôn dưới đất. Nhưng Đấng Cứu Chuộc không bao giờ mệt mỏi cúi xuống. Thánh Anphongsô đã dành cả đời để nói với các linh hồn về tình yêu của Chúa Giêsu, đặc biệt qua mầu nhiệm Nhập Thể, Thánh Thể, Cuộc Khổ Nạn và Đức Maria. Bởi ngài hiểu rằng trái tim con người chỉ thật sự trở về khi được tình yêu chạm tới.
Thánh Giá vì thế không thể chỉ được suy niệm vào Thứ Sáu Tuần Thánh. Thánh Giá phải trở thành lối sống. Một người đã đứng lâu dưới Thánh Giá sẽ dần học được cách nói dịu hơn, phán xét chậm hơn, tha thứ nhanh hơn, kiên nhẫn nhiều hơn. Nếu càng đạo đức mà càng cứng cỏi, có lẽ chúng ta đang đứng trước một Thánh Giá bằng gỗ nhưng chưa đứng trước Đấng chịu đóng đinh. Nếu càng làm việc Chúa mà càng không chịu nổi người yếu đuối, cần hỏi lại mình đã gặp ai trên Thánh Giá. Đấng ở đó đã chết cho chính những người đóng đinh mình.
Linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế phải mang dấu đinh ấy. Một cộng đoàn thừa sai thật sự không chỉ được nhận ra bằng những cuộc đại phúc đông người, những bài giảng hay, những trung tâm mục vụ lớn, nhưng bằng việc người nghèo có cảm thấy mình được đón nhận hay không; người tội lỗi có dám bước vào hay không; người thất bại có tìm được hy vọng hay không; người bị tổn thương có gặp được một nơi an toàn để khóc hay không. Nếu một người bước vào nhà chúng ta với trái tim tan nát rồi ra về với cảm giác mình còn tệ hơn, chúng ta phải xét lại cách mình đang đại diện cho Đấng Cứu Chuộc.
Lòng thương xót không có nghĩa là bỏ sự thật. Chúa Giêsu tha cho người phụ nữ ngoại tình nhưng nói: “Từ nay đừng phạm tội nữa.” Người đón Dakêu nhưng chính cuộc gặp gỡ ấy khiến Dakêu thay đổi đời sống. Lòng thương xót thật luôn đưa tới hoán cải. Nhưng thứ tự rất quan trọng: trước hết là gặp tình yêu, rồi từ tình yêu mới có sức thay đổi. Chúa không đứng xa bảo Dakêu: “Ông hãy sửa mình trước, rồi tôi sẽ đến nhà ông.” Người nói: “Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông.” Chính cuộc viếng thăm ấy làm cuộc đời ông đổi khác.
Điều này vô cùng quan trọng cho mục vụ hôm nay. Nhiều khi chúng ta muốn người khác thay đổi trước khi chúng ta yêu họ. Tin Mừng mời gọi chúng ta yêu họ để họ có sức thay đổi. Dĩ nhiên yêu không đồng nghĩa với đồng ý mọi điều họ làm. Nhưng ta có thể không đồng ý mà vẫn tôn trọng. Có thể nói sự thật mà không làm nhục. Có thể sửa lỗi mà không nghiền nát. Có thể nghiêm túc với tội lỗi mà vẫn dịu dàng với tội nhân. Đó chính là nghệ thuật của lòng thương xót, và trường học tốt nhất của nghệ thuật ấy là Thánh Giá.
Thánh Giá còn là nguồn mạch của lòng thương xót bởi từ đó chúng ta hiểu rằng không đau khổ nào của con người còn hoàn toàn xa lạ với Thiên Chúa. Người bệnh có thể nhìn Thánh Giá và nói: Chúa biết đau là gì. Người bị phản bội có thể nhìn Thánh Giá và nói: Chúa biết bị bạn hữu bỏ rơi là gì. Người cô đơn có thể nhìn Thánh Giá và nói: Chúa biết cảm giác chẳng còn ai là gì. Người bị nhục mạ có thể nhìn Thánh Giá và nói: Chúa biết mất danh dự là gì. Người đang hấp hối có thể nhìn Thánh Giá và nói: Chúa đã đi con đường này trước tôi. Người cảm thấy Thiên Chúa vắng mặt có thể nghe tiếng Đức Giêsu: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Chính vì thế, Kitô giáo không đưa ra một Thiên Chúa giải thích đau khổ từ trên cao, nhưng một Thiên Chúa bước vào đau khổ từ bên trong.
Có những lúc người mục tử không cần trả lời câu hỏi “Tại sao?”. Có những đau khổ không có lời giải thích nào đủ. Trước một người mẹ mất con, trước một gia đình vừa nhận tin ung thư, trước một người trẻ bỗng nhiên mất tất cả, những công thức đạo đức có thể trở thành tàn nhẫn. Khi ấy Thánh Giá dạy chúng ta đứng lại. Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá không nói được gì. Gioan cũng không. Nhưng họ ở đó. Đôi khi lòng thương xót lớn nhất là không bỏ đi. Một bàn tay nắm lấy bàn tay. Một người ngồi cạnh một người. Một mục tử không vội giảng giải nhưng dám khóc với đoàn chiên. Đó cũng là truyền giáo.
Và có lẽ thế giới hôm nay cần chính thứ truyền giáo ấy. Người ta đã nghe quá nhiều lời nhưng thiếu những người ở lại. Người ta biết Giáo Hội dạy gì nhưng muốn biết Giáo Hội có yêu họ không. Người ta có thể tranh luận hàng giờ về giáo lý, nhưng một hành động thương xót đôi khi mở được cánh cửa mà một nghìn lý luận không mở được. Thánh Anphongsô không chỉ là một nhà thần học luân lý lớn; ngài là người mang trong mình nỗi thao thức về phần rỗi của những người bị bỏ rơi. Chính thao thức ấy làm nên linh đạo thừa sai: không thể yên lòng khi còn một người nghĩ rằng Thiên Chúa đã quên họ.
“Ơn Cứu Chuộc nơi Người chan chứa.” Chữ “chan chứa” ấy đẹp biết bao. Nó gợi hình ảnh một chiếc bình đầy đến mức tràn ra. Tình yêu Thiên Chúa không vừa đủ. Nó dư tràn. Ân sủng không được tính toán. Nó dư tràn. Tha thứ không bị giới hạn bởi số lần con người sa ngã, miễn là họ thật lòng trở về. Khi Phêrô hỏi phải tha đến bảy lần không, Chúa trả lời “bảy mươi lần bảy”. Không phải Chúa đưa cho chúng ta một con số để đến lần thứ 491 thì thôi. Người muốn nói: hãy tha theo cách Thiên Chúa tha, nghĩa là không cầm sổ để đếm.
Nhưng để sống được như thế, chúng ta phải liên tục trở về với Thánh Giá. Không ai có thể sống lòng thương xót lâu dài chỉ bằng thiện chí. Tha một lần còn có thể bằng ý chí; tha nhiều lần cần ân sủng. Yêu người dễ thương không khó; yêu người làm mình tổn thương cần sức mạnh của Đấng chịu đóng đinh. Tiếp tục phục vụ khi được biết ơn không khó; tiếp tục phục vụ khi bị hiểu lầm cần một trái tim đã học ở Canvê. Nhà thừa sai nếu không cầu nguyện trước Thánh Giá sẽ sớm biến việc truyền giáo thành công việc. Linh mục nếu không trở về với Thánh Giá sẽ dễ tìm sự công nhận hơn tìm phần rỗi các linh hồn. Tu sĩ nếu không để Thánh Giá thanh luyện sẽ dễ giữ cơ chế hơn giữ lửa thừa sai.
Có những lúc chính chúng ta là những người cần nghe lại lời mình vẫn giảng cho người khác: Chúa thương con. Có những linh mục giảng lòng thương xót cho giáo dân nhưng lại rất tàn nhẫn với chính mình. Có những tu sĩ nâng đỡ bao người nhưng trong lòng mang những vết thương chưa dám đem đến cho Chúa. Có những nhà thừa sai luôn nói với người khác hãy tin tưởng mà chính mình đang âm thầm mỏi mệt. Khi ấy, Thánh Giá lại mời chúng ta đến, không phải với tư cách người giảng, nhưng như người nghèo. Hãy đặt xuống dưới chân Đấng chịu đóng đinh những thất bại trong sứ vụ, những lần bị hiểu lầm, những yếu đuối lặp lại, những giấc mơ chưa thành, những cô đơn chẳng biết nói cùng ai. Nhà thừa sai cũng cần được cứu chuộc mỗi ngày.
Có lẽ đó là vẻ đẹp cuối cùng của linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế: người đi loan báo Ơn Cứu Chuộc chan chứa cũng sống nhờ chính Ơn Cứu Chuộc ấy. Chúng ta không phải những người mạnh đi cứu những người yếu. Chỉ có một Đấng Cứu Chuộc. Còn chúng ta là những người đã được Người cứu và được sai đi kể cho người khác nghe điều Người đã làm cho mình. Khi giữ được điều đó, sứ vụ trở nên nhẹ hơn, khiêm nhường hơn và thật hơn.
Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu đã dang đôi tay. Người không khép lại. Đôi tay ấy không còn có thể làm phép lạ theo cách mọi người từng thấy; nhưng chính sự bất động ấy lại thực hiện phép lạ lớn nhất: nối trời với đất, nối tội nhân với Thiên Chúa, nối những kẻ xa cách trở về với nhau. Người không còn đi trên những con đường Galilê, nhưng từ Canvê, Người mở một con đường cho cả nhân loại về nhà. Người không còn đặt tay chữa từng bệnh nhân, nhưng từ những vết thương của Người, một dòng chữa lành chảy qua mọi thế hệ.
Chúng ta hãy thử tưởng tượng nếu hôm nay Chúa Giêsu chịu đóng đinh nhìn xuống thế giới này. Người sẽ thấy chiến tranh, bạo lực, tham lam, những đứa trẻ bị bỏ rơi, những người già cô đơn, những gia đình tan vỡ, những người trẻ mất phương hướng, những tín hữu nguội lạnh, những mục tử mệt mỏi, những kẻ phạm những tội khủng khiếp. Và câu hỏi là: Người có rút tay lại không? Không. Hai tay Người vẫn mở. Đó chính là niềm hy vọng của nhân loại.
Có thể một ngày nào đó chúng ta sẽ đến trước mặt Chúa với hai bàn tay trắng. Bao điều từng khiến ta tự hào lúc ấy sẽ chẳng còn nghĩa gì. Thành công, chức vụ, danh tiếng, kiến thức, công trình rồi cũng ở lại phía sau. Điều duy nhất chúng ta có thể nói có lẽ chỉ giống người trộm lành: “Lạy Chúa, xin nhớ đến con.” Và nếu suốt Tin Mừng Đức Giêsu vẫn là Đức Giêsu ấy, nếu Đấng Cứu Chuộc mà Thánh Anphongsô đã yêu vẫn là Đấng Cứu Chuộc ấy, thì chúng ta có quyền hy vọng nghe lại lời: “Hôm nay, con sẽ ở với Ta.”
Đó là lý do không người Kitô hữu nào được phép tuyệt vọng về mình, và cũng không người thừa sai nào được phép tuyệt vọng về người khác. Khi Thánh Giá còn đứng giữa trời đất, hy vọng vẫn còn. Khi cạnh sườn Đức Kitô còn mở, đường trở về vẫn còn. Khi máu Người còn được trao ban trong Thánh Thể, lòng thương xót vẫn còn chảy. Khi lời giải tội “Cha tha tội cho con” còn được công bố trong Hội Thánh, Ơn Cứu Chuộc vẫn chan chứa.
Xin cho mỗi người con của Thánh Anphongsô biết trở lại với chân Thánh Giá mỗi ngày. Không chỉ để giảng về lòng thương xót, nhưng để được lòng thương xót chạm đến; không chỉ để nói về Đấng Cứu Chuộc, nhưng để sống nhờ Đấng Cứu Chuộc; không chỉ mang trên ngực huy hiệu “Copiosa apud Eum Redemptio”, nhưng mang trong trái tim xác tín rằng không một cuộc đời nào nằm ngoài tầm với của ân sủng.
Và xin cho mỗi cộng đoàn Dòng Chúa Cứu Thế trở thành một cánh cửa mở, nơi những người mỏi mệt tìm được chỗ nghỉ, người tội lỗi tìm được đường về, người nghèo tìm được phẩm giá, người tuyệt vọng tìm được hy vọng, người cô đơn tìm được một gia đình, người bị thương tìm được một bàn tay không phán xét. Khi ấy, chúng ta không cần nói quá nhiều về đặc sủng. Người ta sẽ nhìn và biết: ở đây, Đấng Cứu Chuộc vẫn đang đi tìm những người bị bỏ rơi.
Sau cùng, đứng trước Thánh Giá, chúng ta chỉ còn có thể thinh lặng mà thưa rằng: Lạy Chúa Giêsu Cứu Thế, con không hiểu hết vì sao Chúa yêu con đến thế. Con chỉ biết những chiếc đinh kia đáng lẽ dành cho tội lỗi của con, nhưng Chúa đã nhận lấy. Con chỉ biết mão gai ấy được đội trên đầu Chúa vì những kiêu căng của con. Con chỉ biết cạnh sườn Chúa bị mở ra vì trái tim con đã nhiều lần khép lại. Con chỉ biết con đã không yêu Chúa cho đủ, nhưng Chúa chưa bao giờ yêu con ít đi. Xin đừng để con quen với Thánh Giá. Xin đừng để con nhìn Thánh Giá mà không còn xúc động. Xin đừng để con giảng về lòng thương xót mà trở nên khắc nghiệt. Xin đừng để con nói về Ơn Cứu Chuộc chan chứa mà lại đóng cửa trước một người tội lỗi đang muốn trở về. Xin làm cho trái tim con mang hình trái tim Chúa: bị thương nhưng không thôi yêu, đau đớn nhưng không thôi tha thứ, bị đâm thâu nhưng vẫn để máu và nước chảy ra cho người khác được sống.
Vì cuối cùng, Thánh Giá nói với chúng ta một điều duy nhất, nhưng điều ấy đủ cứu cả cuộc đời: Thiên Chúa yêu con người đến cùng. Không yêu một nửa. Không yêu khi con người tốt rồi thôi yêu khi họ xấu. Không yêu những người thánh thiện và bỏ những người tội lỗi. Người yêu đến cùng, yêu đến Thánh Giá, yêu đến giọt máu cuối cùng. Và chính từ tình yêu “đến cùng” ấy, một dòng sông lòng thương xót đã được mở ra, chảy từ Canvê qua Hội Thánh, qua các bí tích, qua những thế hệ thừa sai, và chảy đến tận những vùng sâu nhất của trái tim con người.
Chỉ cần chúng ta đừng xây đập chắn dòng sông ấy.
Hãy để lòng thương xót chảy.
Hãy để người tội lỗi được trở về.
Hãy để người thất vọng được hy vọng.
Hãy để người bị bỏ rơi nghe được rằng họ vẫn được nhớ đến.
Hãy để mọi người biết rằng nơi Đấng Cứu Chuộc, Ơn Cứu Chuộc vẫn mãi mãi chan chứa.
Lm. Anmai, CSsR

“ĐẤNG CỨU CHUỘC BỊ ĐÓNG ĐINH” – TRUNG TÂM LINH ĐẠO DÒNG CHÚA CỨU THẾ
Có những biểu tượng người ta có thể nhìn một lần rồi quên. Có những hình ảnh người ta treo lên tường như một kỷ niệm, một dấu chỉ thuộc về, một nét trang trí đạo đức. Nhưng với người môn đệ Chúa Giêsu, và cách riêng với người con của Thánh Anphongsô, Thánh Giá không bao giờ chỉ là một biểu tượng để nhìn. Thánh Giá là một nơi để đứng. Là một mầu nhiệm để đi vào. Là một tình yêu để sống. Là một con đường để bước theo. Là một vết thương để chạm đến. Là một tiếng gọi phải trả lời bằng chính cuộc đời mình. Nếu hỏi đâu là hình ảnh cô đọng nhất về linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế, có lẽ người ta không cần đi tìm một định nghĩa quá dài. Chỉ cần ngước nhìn Đấng đang giang hai tay trên Thánh Giá. Đấng ấy chính là Đấng Cứu Chuộc. Nhưng không phải một Đấng Cứu Chuộc ngự xa trên trời cao, không phải một Đấng Cứu Chuộc chỉ xuất hiện trong những ý niệm thần học, cũng không phải một Đấng Cứu Chuộc đứng ngoài những khổ đau của kiếp người. Người là Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh. Hai chữ “Cứu Chuộc” và hai chữ “đóng đinh” không thể tách rời nhau. Chính trong thân phận bị đóng đinh mà tình yêu cứu chuộc được tỏ lộ đến tận cùng. Chính trong sự bất lực bề ngoài của Thánh Giá mà quyền năng cứu độ của Thiên Chúa được biểu lộ mạnh mẽ nhất. Chính khi không còn gì để giữ lại cho mình, Chúa Giêsu đã trao ban tất cả. Và đó cũng là nơi người tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế phải trở về nếu muốn biết mình là ai, được gọi để làm gì, phải yêu thế nào, phải loan báo Tin Mừng ra sao và phải đứng ở đâu giữa một thế giới đầy những con người đang mang trên mình biết bao thập giá không tên.
Thánh Anphongsô không để lại cho con cái mình một linh đạo chạy trốn khỏi thế gian. Ngài cũng không xây dựng một con đường nên thánh chỉ dành cho những tâm hồn thích sống an toàn phía sau những cánh cửa tu viện. Trái lại, linh đạo của ngài bắt đầu từ một kinh nghiệm rất thật: Thiên Chúa đã yêu con người quá mức, yêu đến độ trao ban Người Con Một, và Người Con ấy đã hiến mạng sống mình cho những người tội lỗi, những người nghèo khổ, những người bị bỏ rơi, những người chẳng có gì đáng để thế gian quan tâm. “Ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa.” Câu Thánh Vịnh ấy trở thành khẩu hiệu của Dòng Chúa Cứu Thế: Copiosa apud Eum Redemptio. Nơi Người chan chứa ơn cứu chuộc. Không phải vừa đủ. Không phải nhỏ giọt. Không phải dè sẻn. Không phải dành riêng cho những người hoàn hảo. Không phải chỉ dành cho những ai đã ngoan ngoãn, đạo đức và sạch sẽ. Ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa, dư đầy, tràn bờ, vượt quá tội lỗi, vượt quá sự yếu đuối, vượt quá mọi thất bại của con người. Nhưng muốn hiểu “chan chứa” đến mức nào, phải nhìn lên Thánh Giá. Ở đó, máu đã chảy đến giọt cuối cùng. Ở đó, trái tim đã mở ra. Ở đó, hai bàn tay không còn khép lại để giữ lấy điều gì cho mình. Ở đó, Đấng Cứu Chuộc trở thành người nghèo nhất, trần trụi nhất, cô độc nhất, bị loại trừ nhất, để không một người nghèo nào, không một người cô đơn nào, không một người bị ruồng bỏ nào còn có thể nói rằng Thiên Chúa không biết thân phận của họ.
Tin Mừng theo Thánh Gioan đưa chúng ta đến tận chân Thánh Giá và để lại một hình ảnh không bao giờ cạn ý nghĩa: “Một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra” (x. Ga 19,34). Chúa đã chết rồi. Người ta tưởng tất cả đã kết thúc. Các môn đệ đã tản mác. Những giấc mơ về một Đấng Mêsia dường như tan vỡ. Đám đông đã về. Núi Sọ bắt đầu chìm vào sự im lặng của buổi chiều. Nhưng chính lúc người đời tưởng rằng chẳng còn gì nữa, thì từ cạnh sườn bị đâm thâu lại tuôn ra máu và nước. Từ một thân xác đã bị nghiền nát, sự sống lại bắt đầu chảy. Từ cái chết, nguồn sống mở ra. Từ thất bại, ơn cứu độ bừng lên. Từ trái tim bị đâm thủng, lòng thương xót tràn xuống nhân loại. Có lẽ chẳng có hình ảnh nào diễn tả linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế sâu hơn thế. Người thừa sai Chúa Cứu Thế được sinh ra từ cạnh sườn mở rộng ấy. Người ấy ra đi không phải vì mình có tài, có chiến lược, có tổ chức mạnh hay có những phương pháp mục vụ hấp dẫn. Người ấy ra đi bởi đã được máu và nước của Đấng Cứu Chuộc chạm đến. Người ấy đi tìm người nghèo bởi chính mình đã được tìm thấy khi còn nghèo. Người ấy nói về lòng thương xót bởi chính mình đã sống nhờ lòng thương xót. Người ấy rao giảng ơn cứu độ bởi chính mình biết rằng nếu không có Thánh Giá, cuộc đời mình cũng chẳng có gì để tự hào trước mặt Thiên Chúa.
Điều đáng sợ nhất đối với một Dòng mang tên Chúa Cứu Thế không phải là nghèo đi, ít người đi, thiếu phương tiện hay mất ảnh hưởng xã hội. Điều đáng sợ nhất là vẫn mang tên Chúa Cứu Thế nhưng lại xa dần Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh. Một cộng đoàn có thể rất đông mà vẫn xa Thánh Giá. Một nhà thờ có thể rất lớn mà vẫn thiếu bóng dáng Đấng chịu đóng đinh. Một bài giảng có thể rất hay mà người nghe vẫn không gặp được lòng thương xót. Một chương trình mục vụ có thể rất thành công mà người nghèo vẫn đứng ngoài cửa. Một tu sĩ có thể rất bận rộn với việc của Chúa mà lòng lại xa chính Chúa. Một nhà truyền giáo có thể nói rất nhiều về Thiên Chúa nhưng chính mình không còn biết quỳ lâu trước Đấng bị đóng đinh. Lúc ấy, những hoạt động vẫn còn nhưng linh hồn của sứ vụ đã yếu đi. Bộ máy có thể chạy, nhưng ngọn lửa đã nguội. Danh xưng vẫn còn, nhưng căn tính đang mờ dần. Bởi Dòng Chúa Cứu Thế không được sinh ra trước tiên để làm nhiều việc; Dòng được sinh ra để tiếp nối Đức Kitô Cứu Thế trong sứ mạng loan báo Tin Mừng cho người nghèo, và Đức Kitô mà người tu sĩ được gọi bước theo chính là Đức Kitô đã đi đến cùng trên con đường tự hiến.
Thánh Giá nói cho người tu sĩ Chúa Cứu Thế biết rằng cứu chuộc bao giờ cũng phải trả giá. Không có tình yêu thật mà không có hy sinh. Không có đời thừa sai thật mà chỉ toàn tiện nghi. Không có lòng thương xót thật mà không chấp nhận bị phiền hà. Không có việc phục vụ người nghèo thật mà người thừa sai vẫn giữ nguyên mọi khoảng cách an toàn. Chúa Giêsu đã không cứu con người từ xa. Người đi vào thân phận con người. Người sinh ra trong nghèo khó, lớn lên trong âm thầm, sống giữa những người bé nhỏ, chạm vào người phong cùi, ngồi ăn với kẻ tội lỗi, để cho người đàn bà tội lỗi khóc bên chân mình, dừng lại trước người mù bên đường, đến nhà ông Giakêu, trò chuyện với người phụ nữ Samari, khóc bên mộ Ladarô, quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ và cuối cùng để cho người ta đóng đinh mình. Đấng Cứu Chuộc không cứu bằng cách tránh đau khổ. Người cứu bằng cách bước vào tận đáy đau khổ để biến đổi nó từ bên trong. Người không đứng trên bờ gọi một nhân loại đang chìm hãy tự bơi vào. Người nhảy xuống dòng nước ấy, ôm lấy con người và nâng họ lên bằng chính mạng sống mình.
Vì thế, người thừa sai Chúa Cứu Thế không thể chỉ đứng trên bục cao nói với người đau khổ về ý nghĩa đau khổ. Có những lúc phải ngồi xuống bên họ. Không cần nói. Chỉ hiện diện. Không cần đưa ra câu trả lời quá nhanh. Chỉ để cho họ biết rằng họ không cô độc. Có người mẹ vừa mất con không cần nghe một bài thần học dài về sự sống đời sau ngay trong giờ phút trái tim bà đang vỡ. Bà cần một người đủ kiên nhẫn ngồi cạnh để bà khóc. Có một người trẻ nghiện ngập nhiều lần tái phạm không cần thêm một ánh mắt kết án. Anh ta cần một người vẫn gọi đúng tên mình và vẫn tin rằng đời mình còn có thể bắt đầu lại. Có một đôi vợ chồng đang đứng bên bờ tan vỡ không cần ai lập tức phân xử bên nào thắng, bên nào thua. Họ cần được giúp nhìn lại những vết thương mà chính họ đã gây ra cho nhau. Có một người già bị con cái bỏ quên không cần thật nhiều lời đạo đức. Họ cần một bàn tay nắm lấy bàn tay mình. Có một người từ lâu không dám bước vào nhà thờ vì nghĩ mình quá tội lỗi. Người ấy cần gặp một Hội Thánh không đóng cửa trước mặt mình. Đó chính là nơi linh đạo Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh trở thành thịt, thành máu, thành hơi thở, thành bước chân mục tử.
Có một câu chuyện trong Tin Mừng Luca rất đẹp để hiểu điều ấy. Hai môn đệ trên đường Emmau đang bỏ Giêrusalem mà đi. Họ thất vọng. Họ đã hy vọng vào Đức Giêsu, nhưng Người đã bị đóng đinh. Thánh Giá đối với họ lúc ấy là dấu chấm hết. “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Israel” (Lc 24,21). Câu nói nghe đau biết bao: “trước đây vẫn hy vọng”. Nghĩa là bây giờ họ không hy vọng nữa. Những gì họ tin đã sụp đổ vào chiều thứ Sáu. Nhưng Chúa Phục Sinh không quở trách họ từ xa. Người đến gần và cùng đi với họ. Người hỏi họ đang nói chuyện gì. Người để họ kể nỗi thất vọng của mình. Người lắng nghe cho đến khi họ nói hết. Rồi Người mới mở Kinh Thánh cho họ. Và tối đến, Người bẻ bánh trước mặt họ. Chỉ lúc ấy mắt họ mới mở ra. Đây chính là mẫu mực tuyệt đẹp cho người thừa sai: đến gần, cùng đi, lắng nghe, giải thích Lời Chúa, bẻ bánh, rồi để trái tim người ta nóng lên. Người truyền giáo của Đấng Cứu Chuộc không kéo người khác đi bằng sức mạnh; người ấy đồng hành cho đến khi chính họ nhận ra Chúa đang đi bên cạnh mình.
Điều làm nên nét riêng của linh đạo Chúa Cứu Thế là không bao giờ tách Thánh Giá khỏi lòng thương xót. Có người nhìn Thánh Giá và chỉ thấy đau khổ. Có người nhấn mạnh Thánh Giá đến mức đời sống Kitô hữu trở thành một tôn giáo ảm đạm, nặng nề, chỉ còn chịu đựng và hy sinh. Nhưng Thánh Giá Kitô giáo không phải là sự tôn thờ đau khổ. Chúng ta không yêu đau khổ vì đau khổ. Đức Giêsu cũng không tìm kiếm đau khổ như một giá trị tự thân. Điều chúng ta chiêm ngắm nơi Thánh Giá là một tình yêu mạnh hơn đau khổ, một tình yêu đi xuyên qua đau khổ mà không biến thành hận thù, một tình yêu chịu tổn thương mà không thôi yêu, một tình yêu bị phản bội mà vẫn tha thứ, một tình yêu bị đóng đinh mà vẫn mở tay. Nếu trên Thánh Giá Chúa Giêsu nguyền rủa kẻ giết mình, nhân loại chỉ có thêm một nạn nhân của bạo lực. Nhưng Người đã nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ” (Lc 23,34). Chính câu ấy thay đổi mọi sự. Nó cho thấy Thánh Giá không phải chiến thắng của bạo lực trên Thiên Chúa, nhưng là chiến thắng của tình yêu trên bạo lực.
Người con Thánh Anphongsô phải học câu “xin tha cho họ” rất lâu. Có lẽ lâu hơn học nhiều môn thần học. Bởi đời tu không thiếu những vết thương. Sống cộng đoàn không thiếu những va chạm. Làm mục vụ không thiếu hiểu lầm. Phục vụ Hội Thánh không thiếu những lúc bị phê bình, bị nghi ngờ, thậm chí bị đối xử bất công. Làm người thừa sai cũng có lúc gieo mà không gặt, nói mà chẳng ai nghe, yêu mà không được đáp lại. Khi ấy, Thánh Giá không còn là cây gỗ treo trong nhà nguyện. Nó đi vào đời mình. Người ta có thể hôn Thánh Giá rất sốt sắng trong phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng lại không chịu nổi một người anh em khó tính đang sống cạnh mình. Có thể giảng rất hay về tha thứ nhưng trong lòng giữ một món nợ nhiều năm. Có thể nói về Đức Kitô nghèo khó nhưng đời sống mình không chịu thiếu bất cứ tiện nghi nào. Có thể nói về người bị bỏ rơi nhưng lại chỉ thích những nơi mình được đón tiếp nồng hậu. Chính những nghịch lý ấy luôn mời gọi người tu sĩ trở về dưới chân Thánh Giá để hỏi: tôi đang theo Đức Kitô nào? Đức Kitô của Tin Mừng hay một hình ảnh Đức Kitô do tôi tạo ra cho vừa với sở thích của mình?
Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh cũng mặc khải cho Dòng Chúa Cứu Thế một tiêu chuẩn rất rõ về quyền bính. Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu không còn gì để kiểm soát. Người không có ngai vàng, không có quân đội, không có tiền bạc, không có phương tiện cưỡng chế. Quyền lực duy nhất còn lại là quyền lực của tình yêu tự hiến. Trước đó, trong bữa Tiệc Ly, Người đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Người là Thầy mà trở thành người phục vụ. Người là Chúa mà cúi xuống. Người có quyền mà dùng quyền ấy để nâng người khác lên chứ không để người khác quỳ xuống trước mình. Đây phải là bản hiến chương của mọi quyền bính trong đời thánh hiến. Một bề trên càng gần Thánh Giá càng ít cần chứng minh quyền của mình. Một người lãnh đạo càng thấm tinh thần Đấng Cứu Chuộc càng biết lắng nghe. Quyền bính theo Tin Mừng không phải khả năng bắt người khác làm theo ý mình, mà là trách nhiệm giúp người khác tìm được ý Chúa. Không phải quyền sở hữu con người, nhưng là bổn phận chăm sóc con người. Không phải đứng trên cộng đoàn, nhưng đứng giữa và nhiều khi đứng dưới để nâng cộng đoàn lên.
Cũng từ Thánh Giá, người Chúa Cứu Thế học được cách hiểu về thành công. Thế gian đo thành công bằng con số, tiếng vang, ảnh hưởng, lượt người tham dự, công trình xây dựng, danh tiếng và những kết quả có thể báo cáo được. Những điều ấy không phải lúc nào cũng xấu. Nhưng nếu trở thành tiêu chuẩn tối hậu, đời thừa sai sẽ rất dễ đánh mất Tin Mừng. Bởi nếu đo theo tiêu chuẩn hiệu quả tức thời, chiều thứ Sáu trên đồi Golgotha là một thất bại hoàn toàn. Một vị Thầy ba mươi ba tuổi chết giữa hai tên tử tội. Mười hai môn đệ thì một người phản bội, một người chối Thầy, phần lớn bỏ trốn. Đám đông từng tung hô nay quay lưng. Chẳng có chương trình nào đạt chỉ tiêu. Chẳng có dấu hiệu nào cho thấy một tôn giáo toàn cầu sắp được sinh ra. Chỉ có một người mẹ đứng khóc, một người môn đệ, vài phụ nữ và một xác người sắp được đem chôn. Nhưng chính ở đó Thiên Chúa đang cứu thế giới. Điều ấy phải làm chúng ta khiêm nhường trước những đánh giá về thành công và thất bại. Có những công việc xem ra chẳng để lại kết quả nào mà lại có giá trị lớn trước mặt Thiên Chúa. Một cha già ngồi tòa giải tội nhiều giờ cho vài hối nhân. Một thừa sai đi hàng chục cây số để thăm một gia đình nghèo. Một tu sĩ âm thầm cầu nguyện cho một người mình chẳng bao giờ gặp. Một người phục vụ cả đời mà tên tuổi chẳng ai biết. Một lời tử tế nói đúng lúc với một người đang muốn buông xuôi. Trước mắt thế gian có thể rất nhỏ. Nhưng Tin Mừng lại thường bắt đầu từ những điều nhỏ như thế.
Linh đạo Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh vì thế phải giải thoát người thừa sai khỏi cơn khát được nhìn nhận. Đây là một trong những cám dỗ tinh vi nhất của người làm việc tông đồ. Ta bắt đầu vì Chúa, rồi từ từ lại cần người khác biết mình làm cho Chúa. Ta muốn phục vụ, nhưng cũng muốn được ghi nhận. Ta muốn Tin Mừng được lan rộng, nhưng đôi khi không phân biệt được giữa vinh quang của Tin Mừng và danh tiếng của chính mình. Ta buồn khi việc của Chúa không thành, nhưng cũng có khi buồn vì tên mình không được nhắc tới. Thánh Giá chữa căn bệnh ấy rất mạnh. Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu bị lột hết. Không còn hình ảnh để giữ. Không còn danh dự xã hội để bảo vệ. Không còn gì ngoài tình yêu. Khi đứng lâu trước Đấng trần trụi trên Thánh Giá, người thừa sai dần học được một thứ tự do rất đẹp: làm điều tốt mà không cần ai thấy, yêu mà không đòi được cảm ơn, gieo mà chấp nhận người khác gặt, xây mà chấp nhận người khác ở, bắt đầu một công việc mà có khi chính mình không bao giờ thấy ngày hoàn tất.
Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh còn đặt Dòng Chúa Cứu Thế vào một vị trí rất đặc biệt trong Hội Thánh: gần những người bị bỏ rơi nhất. Đây không phải khẩu hiệu xã hội. Đây là hệ quả trực tiếp của Thánh Giá. Đức Giêsu chết ở ngoài thành, nơi dành cho những kẻ bị loại trừ. Người bị xếp vào hàng tội phạm. Người không chết giữa trung tâm quyền lực tôn giáo nhưng trên một ngọn đồi hành hình. Vì thế, bất cứ nơi nào có những con người bị đẩy ra bên lề, ở đó người Chúa Cứu Thế phải nghe được tiếng gọi của Đấng chịu đóng đinh. Người nghèo vật chất. Người nghèo kiến thức. Người nghèo cơ hội. Người nghèo vì di dân. Người nghèo vì gia đình đổ vỡ. Người bị nghiện. Người ra tù. Người mang tiếng xấu. Người sống xa bí tích. Người không biết diễn tả đức tin. Người trẻ hoang mang giữa vô số tiếng gọi. Người già bị bỏ lại. Người đau bệnh chẳng có ai chăm. Những người mà xã hội dễ nhìn bằng con số hay nhãn mác, Tin Mừng nhìn bằng tên riêng và khuôn mặt.
Thánh Anphongsô đã đau lòng trước những người dân quê nghèo khổ không được chăm sóc mục vụ đầy đủ. Chính nỗi đau ấy góp phần khai sinh Dòng. Nói cách khác, Dòng Chúa Cứu Thế được sinh ra từ một vết thương mục tử. Thánh nhân nhìn thấy những con người bị bỏ quên và không thể sống bình thản như thể không thấy gì. Đây là điều rất quan trọng. Một ơn gọi thừa sai thật bao giờ cũng khởi đi từ khả năng để cho nỗi đau của người khác làm phiền mình. Khi ta còn có thể ăn ngon ngủ yên trước nỗi đau của anh chị em mình, có lẽ Tin Mừng chưa chạm đủ sâu vào lòng ta. Chúa Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương. Người không chỉ “nhìn thấy”. Người “chạnh lòng”. Nỗi đau của họ đi vào lòng Người. Từ đó Người giảng dạy, chữa lành, cho ăn và cuối cùng hiến mạng sống mình. Một tu sĩ Chúa Cứu Thế nếu đánh mất khả năng chạnh lòng thì dù còn làm rất nhiều việc, điều cốt lõi của linh đạo đã bị tổn thương.
Nhưng để chạnh lòng mà không kiệt sức, người thừa sai phải ở lại với Đấng Cứu Chuộc. Không ai có thể cho mãi nếu không được nhận. Không ai có thể mang những vết thương của quá nhiều người nếu không đặt chúng vào trái tim Chúa. Người tông đồ không phải Đấng Cứu Thế. Đây là điều phải nhớ. Ta phục vụ Đấng Cứu Thế, ta loan báo Đấng Cứu Thế, ta để Đấng Cứu Thế sử dụng mình, nhưng ta không phải Đấng Cứu Thế của bất kỳ ai. Nếu quên điều ấy, người mục tử sẽ dễ gánh những điều vượt quá sức mình, rồi thất vọng, cay đắng hoặc kiệt quệ. Chính trước Thánh Giá, ta học cách trao lại cho Chúa những con người mình yêu mà không cứu nổi, những gia đình mình đã cố giúp nhưng vẫn đổ vỡ, những người trẻ mình đã đồng hành rồi vẫn bỏ đi, những hối nhân mình khuyên bảo nhưng vẫn tái phạm, những công việc đã tận lực mà vẫn thất bại. Ta có thể nói: “Lạy Chúa, họ là của Chúa trước khi là trách nhiệm của con. Con đã làm điều con có thể. Phần còn lại, xin Chúa tiếp tục.” Đó không phải buông xuôi. Đó là đức tin.
Thánh Giá cũng là trường học của sự kiên trì. Chúa Giêsu không cứu thế giới bằng một khoảnh khắc huy hoàng dễ dàng. Người bước từng bước: Bêlem, Nazareth, những con đường bụi bặm Galilê, những đêm cầu nguyện, những cuộc tranh luận, những lần bị hiểu lầm, Giệtsimani, dinh Philatô, con đường lên Núi Sọ. Cứu chuộc có nhịp điệu của sự trung tín. Người thừa sai cũng vậy. Không phải ngày nào cũng có cảm hứng. Không phải bài giảng nào cũng chạm lòng người. Không phải cộng đoàn nào cũng dễ sống. Không phải nhiệm sở nào cũng phù hợp sở thích. Không phải người nghèo nào cũng dễ thương. Có những ngày ơn gọi chỉ còn là chuyện đứng dậy và tiếp tục. Vẫn đọc kinh khi khô khan. Vẫn ngồi tòa khi mệt. Vẫn đi thăm bệnh dù muốn nghỉ. Vẫn tử tế với người làm mình khó chịu. Vẫn trung thành với lời khấn khi trong lòng chẳng còn cảm giác sốt sắng. Chính sự trung tín âm thầm ấy làm nên những vị thừa sai thật.
Một nét khác của linh đạo Thánh Giá là sự gần gũi đặc biệt với Bí tích Hòa Giải. Người ta không thể tách Dòng Chúa Cứu Thế khỏi sứ vụ hòa giải. Bởi Đấng Cứu Chuộc trên Thánh Giá chính là khuôn mặt của một Thiên Chúa không mệt mỏi tìm kiếm người tội lỗi. Trong những đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, trong các kỳ đại phúc, trong những cuộc tĩnh tâm, trong những giờ giải tội dài, biết bao con người đã trở về với Chúa qua tay các thừa sai. Có những câu chuyện chẳng bao giờ được ghi lại. Có người bỏ xưng tội hai mươi năm rồi một ngày bước vào. Có người mang một tội mà cả đời không dám nói. Có người vào tòa giải tội với đôi vai nặng trĩu và bước ra nhẹ hơn. Đằng sau những khoảnh khắc đó là Thánh Giá. Linh mục ngồi tòa không phải một viên chức kiểm tra hồ sơ đạo đức. Ngài ngồi đó thay mặt Đấng đã dang tay trên Thánh Giá. Một cánh tay của Chúa hướng về người công chính, một cánh tay hướng về người tội lỗi; đúng hơn, cả hai cánh tay đều mở cho tất cả. Người giải tội mang linh đạo Chúa Cứu Thế phải làm cho hối nhân cảm được sự nghiêm túc của tội nhưng đồng thời còn cảm được một điều lớn hơn: lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn tội họ.
Hãy nhìn người trộm lành bên cạnh Chúa Giêsu. Anh ta chẳng còn thời gian sửa chữa quá khứ. Không còn cơ hội đền bù những gì mình đã gây ra. Chẳng còn nhiều giờ để chứng minh sự hoán cải. Anh chỉ có thể quay đầu sang người tử tội bên cạnh và thưa: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và anh nhận được một lời vượt quá mọi điều dám mong: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Đó là Copiosa Redemptio – ơn cứu chuộc chan chứa. Anh xin được nhớ đến; Chúa cho anh Thiên Đàng. Anh xin một tương lai xa; Chúa nói “hôm nay”. Anh không có gì để dâng ngoài một lòng tin muộn màng; Chúa trao cho anh cả sự sống đời đời. Đây là trái tim của linh đạo Chúa Cứu Thế. Người thừa sai phải luôn tin rằng chưa ai quá xa để Chúa không thể kéo về, chưa cuộc đời nào quá đổ vỡ để lòng thương xót không thể chạm đến, chưa tội nhân nào có quyền tuyệt vọng về chính mình nếu vẫn còn biết quay mặt về phía Đấng chịu đóng đinh.
Điều ấy càng cần thiết trong thời đại hôm nay, khi con người rất dễ kết án nhau. Chỉ một sai lầm có thể bị ghi lại mãi trên mạng. Một câu nói có thể bị cắt khỏi bối cảnh và trở thành bản án xã hội. Một con người có thể bị đồng hóa hoàn toàn với lỗi lầm tệ nhất của họ. Văn hóa loại trừ luôn tìm một người để ném đá. Nhưng Thánh Giá nói một ngôn ngữ khác. Thánh Giá không phủ nhận tội lỗi. Chính Thánh Giá cho thấy tội lỗi nghiêm trọng đến mức nào. Nhưng đồng thời Thánh Giá tuyên bố rằng tội lỗi không có tiếng nói cuối cùng trên một đời người. Tiếng nói cuối cùng thuộc về lòng thương xót. Người Chúa Cứu Thế phải là người bảo vệ chân lý ấy bằng cả lời nói lẫn cách cư xử. Không bao che điều sai, nhưng cũng không đóng cửa tương lai của người sai. Không gọi bóng tối là ánh sáng, nhưng vẫn tin rằng ánh sáng có thể đi vào bóng tối.
Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh cũng giúp ta hiểu sâu hơn lời khấn khó nghèo. Khó nghèo không chỉ là câu chuyện sở hữu ít đồ vật. Có thể chẳng có gì đứng tên mà lòng vẫn đầy ham muốn. Khó nghèo theo Thánh Giá sâu hơn nhiều. Đó là tự do khỏi nhu cầu phải chiếm hữu, kiểm soát, khẳng định mình. Chúa trên Thánh Giá không sở hữu gì. Áo Người người khác bắt thăm. Danh dự bị lấy mất. Tự do thân xác bị lấy mất. Những người thân yêu đứng xa. Nhưng còn một điều không ai lấy được: khả năng yêu. Chính ở chỗ chẳng còn gì, Người vẫn trao ban. Đây là khó nghèo tận căn. Người tu sĩ Chúa Cứu Thế được mời gọi sống đủ nhẹ để có thể lên đường. Đủ tự do để được sai đi. Đủ nghèo để hiểu người nghèo. Đủ không lệ thuộc tiện nghi để sứ vụ không bị quyết định bởi nơi nào dễ sống hơn.
Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh cũng soi sáng đức khiết tịnh. Khiết tịnh không phải một đời sống không biết yêu, nhưng là học yêu như Đức Kitô: yêu mà không chiếm hữu. Trên Thánh Giá, Chúa yêu từng người nhưng không giữ ai cho mình. Người trao Mẹ cho môn đệ, trao môn đệ cho Mẹ, trao thần khí cho Chúa Cha, trao cả thân mình cho nhân loại. Tình yêu khiết tịnh là tình yêu có bàn tay mở. Người tu sĩ có thể yêu rất sâu, rất thật, rất cá vị, nhưng không biến bất kỳ ai thành tài sản tình cảm của mình. Không nuôi những lệ thuộc làm người khác mất tự do. Không dùng sứ vụ để lấp khoảng trống tình cảm. Không tìm trong người mình phục vụ điều chỉ Thiên Chúa có thể cho. Thánh Giá làm trái tim người thừa sai rộng ra, để có thể thuộc về nhiều người mà không sở hữu một ai.
Và đức vâng phục cũng phải được học từ Đấng chịu đóng đinh. Vâng phục của Đức Kitô không phải sự thụ động của một con người không có ý chí. Trong vườn Giệtsimani, Người đã nói rất thật: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Có ý của Con và có ý của Cha. Có sự giằng co. Có mồ hôi như máu. Có đau đớn. Vâng phục không xóa đi con người. Vâng phục biến tự do thành lễ dâng. Người tu sĩ Chúa Cứu Thế không được gọi để thôi suy nghĩ hay thôi phân định, nhưng để tìm ý Chúa trong cộng đoàn, qua luật dòng, qua bề trên, qua sứ vụ, qua tiếng kêu của người nghèo và qua những hoàn cảnh mình không chọn. Nhiều thập giá trong đời tu không đến từ việc làm điều khó, mà từ việc phải làm điều mình không chọn. Đi nơi mình không muốn. Rời nơi mình đang yêu. Bắt đầu lại ở tuổi không còn trẻ. Chấp nhận một trách nhiệm mình không thích. Trao lại một công việc đã gắn bó nhiều năm. Những lúc ấy, Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh trở thành người bạn đồng hành rất gần.
Nhưng có một điều cần nói rõ: trung tâm linh đạo Chúa Cứu Thế là Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh, nhưng không phải một Đức Kitô bị đóng đinh mãi mãi trong thất bại. Đấng bị đóng đinh đã sống lại. Thánh Giá và Phục Sinh không thể tách nhau. Người thừa sai không được trở thành người gieo một thứ Kitô giáo buồn bã. Tin Mừng là Tin Mừng vì mồ đã trống. Những vết thương vẫn còn trên thân thể Phục Sinh, nhưng chúng không còn chảy máu. Chúng trở thành dấu chỉ tình yêu chiến thắng. Khi Chúa hiện ra với Tôma, Người không xóa vết đinh. Người đưa vết đinh cho Tôma chạm vào. Điều ấy thật đẹp: Phục Sinh không xóa lịch sử đau khổ; Phục Sinh biến đổi nó. Thiên Chúa không hứa rằng những người thuộc về Người sẽ không có vết thương. Người hứa rằng vết thương không nhất thiết là kết thúc. Một ngày nào đó, chính nơi đã làm ta đau có thể trở thành nơi người khác nhận được hy vọng.
Có lẽ đó cũng là một nét đẹp rất riêng nơi sứ mạng của Dòng Chúa Cứu Thế: đem hy vọng đến những nơi con người tưởng đã hết hy vọng. Không phải thứ hy vọng rẻ tiền nói rằng “rồi mọi chuyện sẽ ổn” khi chẳng biết có ổn không. Nhưng là hy vọng của Thánh Giá: dù chuyện gì xảy ra, Thiên Chúa vẫn ở đó; dù sự dữ có đi xa đến đâu, tình yêu có thể đi xa hơn; dù con người rơi sâu đến đâu, Đấng Cứu Chuộc đã xuống sâu hơn; dù cái chết nói lời dữ dội đến đâu, nó vẫn không phải lời cuối cùng. Người thừa sai Chúa Cứu Thế phải mang trong giọng nói, trong ánh mắt, trong cung cách sống một niềm hy vọng như thế. Người ta đến với mình không nhất thiết phải nhớ hết bài giảng, nhưng họ phải cảm thấy mình còn có thể bắt đầu lại.
Đó là lý do lòng sùng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp nằm rất tự nhiên trong linh đạo Dòng. Mẹ không dẫn người ta tránh khỏi Thánh Giá. Trên linh ảnh Hằng Cứu Giúp, Hài Nhi Giêsu nhìn thấy những dụng cụ khổ hình và chạy đến bên Mẹ. Chiếc dép nhỏ như sắp tuột khỏi chân diễn tả nỗi sợ rất người của Con Thiên Chúa nhập thể. Nhưng bàn tay Mẹ giữ lấy tay Con. Mẹ không làm Thánh Giá biến mất. Mẹ giúp Con đi qua Thánh Giá trong tín thác. Sau này trên Golgotha, Mẹ đứng đó. Không nói. Không làm phép lạ. Không cứu Con khỏi cái chết. Chỉ đứng. “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Một chữ “đứng” thôi mà chứa cả một linh đạo. Có những lúc cứu giúp không phải giải quyết được vấn đề. Có những lúc cứu giúp là không bỏ đi. Mẹ Hằng Cứu Giúp là Mẹ cứ ở đó. Và người thừa sai của Mẹ cũng phải học ở đó với những người đang đau khổ.
Đôi khi chúng ta quá quen với Thánh Giá đến mức không còn bị Thánh Giá chất vấn. Thánh Giá treo ở nhà thờ, trong phòng, trên cổ, trên bàn làm việc. Nhưng Thánh Giá thật luôn gây bất an cho một đời sống quá yên ổn. Nó hỏi chúng ta những câu không dễ trả lời. Ai là người đang bị đóng đinh trong xã hội hôm nay mà tôi không muốn nhìn thấy? Ai là người nghèo đang ở gần cộng đoàn tôi mà tôi chưa bao giờ biết tên? Có ai bước vào nhà thờ của chúng ta mà cảm thấy mình không được chào đón? Có ai đã rời Hội Thánh vì từng bị chúng ta làm tổn thương? Có một người anh em trong cộng đoàn mà nhiều năm nay tôi chỉ nhìn bằng lỗi lầm của họ không? Tôi có đang dùng Tin Mừng để phục vụ người khác hay dùng người khác để xây hình ảnh của mình? Tôi đang sống khó nghèo thật hay chỉ giữ đúng quy định? Tôi đang vâng phục Chúa hay chỉ vâng phục khi điều được yêu cầu trùng với ý mình? Tôi đang rao giảng lòng thương xót hay chỉ rao giảng những tiêu chuẩn đạo đức cho người khác?
Những câu hỏi ấy đau. Nhưng Thánh Giá không đến để làm chúng ta nhục nhã. Thánh Giá đến để cứu. Khi ánh sáng từ Thánh Giá soi vào những góc tối của người môn đệ, đó vẫn là ánh sáng của lòng thương xót. Đấng đang chất vấn ta cũng là Đấng đã chết cho ta. Người không nói: “Hãy hoàn hảo rồi mới đến.” Người nói: “Hãy đến rồi Ta sẽ biến đổi con.” Chính vì thế, linh đạo Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh trước hết không phải một lý tưởng để ta cố gắng đạt tới bằng sức mình, nhưng là một ân sủng để ta đón nhận. Trước khi trở thành người loan báo ơn cứu chuộc, ta phải để mình được cứu chuộc mỗi ngày. Trước khi nói cho người khác về lòng thương xót, ta phải trở về với lòng thương xót ấy với những tội lỗi rất thật của mình. Người tu sĩ không bao giờ tốt nghiệp khỏi trường của Thánh Giá.
Càng sống lâu trong đời tu, có lẽ người ta càng nhận ra những thập giá lớn nhất không phải lúc nào cũng là những biến cố dữ dội. Nhiều khi thập giá là sự hao mòn âm thầm của năm tháng. Là cơ thể không còn khỏe như trước. Là ký ức về những người anh em đã lần lượt ra đi. Là những công việc từng làm rất tốt nay phải nhường cho lớp trẻ. Là cảm giác thế giới thay đổi quá nhanh và mình không còn theo kịp. Là những điều đã hy sinh cả đời mà dường như chẳng ai nhớ. Là việc phải học để mình trở nên nhỏ lại. Nhưng có lẽ chính giai đoạn ấy, linh đạo Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh mới đạt đến một vẻ đẹp khác. Người tu sĩ trẻ theo Chúa bằng sức mạnh của đôi chân. Người tu sĩ già đôi khi theo Chúa bằng sự yếu đuối. Một người ra đi truyền giáo. Người kia nằm trên giường bệnh mà dâng từng hơi thở cho sứ vụ. Trước mắt Thiên Chúa, ai biết ai đang làm nhiều hơn?
Thánh Giá làm đảo lộn những bảng xếp hạng của chúng ta. Một tu sĩ bệnh tật chẳng còn làm được gì có thể đang sống sâu căn tính Chúa Cứu Thế hơn một người hoạt động không ngừng nhưng quên cầu nguyện. Một người anh em già ngồi lần chuỗi trong góc nhà có thể đang nâng đỡ cả một sứ vụ mà chẳng ai biết. Một người âm thầm chịu đựng bệnh tật, không than phiền, có thể đang giảng một bài giảng đẹp hơn nhiều bài giảng trên bục. Đấng Cứu Chuộc đã cứu thế giới trong giờ phút bề ngoài Người chẳng “làm” được gì nữa: tay bị đóng đinh, chân bị đóng đinh, thân thể không thể đi đâu. Người chỉ còn có thể yêu. Nhưng hóa ra yêu là điều lớn nhất.
Và có lẽ đó là điều cuối cùng cần giữ lại khi nói đến trung tâm linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế: Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh là tình yêu đã đi đến cùng. Mọi đặc sủng, mọi cơ cấu, mọi truyền thống, mọi sứ vụ, mọi công trình chỉ có ý nghĩa khi đưa người ta đến tình yêu ấy. Dòng có thể thay đổi phương pháp truyền giáo theo thời đại. Có thể dùng báo chí, radio, truyền hình, mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo, các phương tiện truyền thông mới. Có thể mở những sứ vụ mà Thánh Anphongsô thời của ngài chưa bao giờ tưởng tượng được. Nhưng trung tâm không được thay đổi. Phương tiện có thể mới, Tin Mừng vẫn là một. Ngôn ngữ có thể mới, Đấng được loan báo vẫn là Đấng đã chết và sống lại. Những vùng “bị bỏ rơi” có thể mang hình thức khác, nhưng tiếng gọi vẫn vậy: đi đến nơi người ta cần Tin Mừng nhất.
Một Dòng Chúa Cứu Thế thật sự trung thành với căn tính của mình không nhất thiết phải là một Dòng nổi tiếng. Nhưng phải là một Dòng mà người nghèo biết đường tìm đến. Một cộng đoàn Chúa Cứu Thế không nhất thiết phải có mọi thứ hoàn hảo. Nhưng phải có chỗ cho người yếu đuối. Một linh mục Chúa Cứu Thế không nhất thiết phải là nhà giảng thuyết lừng danh. Nhưng người tội lỗi phải dám đến gần ngài. Một tu sĩ Chúa Cứu Thế không nhất thiết phải làm những chuyện lớn lao. Nhưng ở nơi người ấy sống, người ta phải cảm thấy Thiên Chúa gần hơn một chút, lòng thương xót thật hơn một chút, hy vọng có lý hơn một chút.
Ngày nào người Chúa Cứu Thế còn quỳ trước Thánh Giá và nghe được trong lòng câu hỏi: “Con có yêu những người Thầy yêu không?”, ngày ấy đặc sủng còn sống. Ngày nào những bước chân thừa sai còn đi về phía những người ít được chăm sóc nhất, ngày ấy Thánh Anphongsô còn mỉm cười. Ngày nào các tòa giải tội còn sáng đèn cho người tội lỗi trở về, ngày ấy Copiosa apud Eum Redemptio không chỉ là khẩu hiệu trên huy hiệu Dòng mà là sự thật đang diễn ra. Ngày nào cộng đoàn còn biết tha thứ cho nhau, ngày ấy Thánh Giá vẫn đứng giữa nhà. Ngày nào một người anh em biết chọn phần thiệt về mình để gìn giữ bình an, ngày ấy Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh đang tiếp tục sống trong Hội Thánh.
Và nếu một ngày nào đó chúng ta thấy mình mệt mỏi, khô khan, mất hướng, không còn biết phải làm gì cho sứ vụ, có lẽ đừng vội tìm một chương trình mới. Hãy trở về trước Thánh Giá. Ngồi xuống. Im lặng. Nhìn thật lâu. Nhìn đôi tay ấy. Nhìn cạnh sườn ấy. Nhìn mão gai ấy. Nhìn khuôn mặt ấy. Rồi nhớ rằng Người đã yêu mình như thế trước khi mình làm được bất cứ điều gì cho Người. Ta không được gọi vì ta xứng đáng. Ta được gọi vì Người thương. Ta không được sai đi vì ta hoàn hảo. Ta được sai đi vì thế giới cần biết có một tình yêu như thế. Ta không phải mang một học thuyết đi bán cho người khác. Ta mang một Tin Mừng: Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một; Người Con ấy đã bị đóng đinh, đã sống lại, và nơi Người ơn cứu chuộc vẫn đang chan chứa cho mọi người.
Vào một buổi chiều trên Núi Sọ, người ta đã dựng lên ba cây thập giá. Hai cây dành cho những kẻ có tội. Cây ở giữa dành cho Đấng vô tội. Nhưng từ cây ở giữa ấy, lịch sử nhân loại đổi hướng. Một người lính đã đâm thủng trái tim Người mà không biết mình đang mở nguồn mạch lòng thương xót. Một người trộm chỉ kịp thốt lên một lời cầu xin mà nhận được Thiên Đàng. Một viên đại đội trưởng nhìn thấy cách Người chết mà nhận ra điều đám đông không nhận ra. Một người Mẹ mất Con mà trở thành Mẹ của muôn người. Một môn đệ đứng dưới chân Thánh Giá mà được trao một gia đình mới. Và từ những con người tưởng như thất bại ấy, Hội Thánh được sinh ra.
Hơn hai ngàn năm sau, người con Thánh Anphongsô vẫn đứng ở đó.
Không phải để ngắm một bi kịch đã qua.
Nhưng để nhận một sứ mạng vẫn còn dang dở.
Ngoài kia vẫn còn những người chưa biết rằng mình được yêu. Vẫn còn người mang mặc cảm rằng tội mình quá lớn. Vẫn còn người tưởng Thiên Chúa đã bỏ họ. Vẫn còn người đau khổ trong im lặng. Vẫn còn người nghèo không ai nhớ. Vẫn còn những gia đình đang rạn vỡ. Vẫn còn những người trẻ đi tìm ý nghĩa giữa một thế giới quá nhiều tiếng nói mà quá ít câu trả lời. Vẫn còn những người đứng bên mép vực tuyệt vọng chỉ cần một người bước đến và nói: “Bạn chưa hết đường đâu.”
Vì thế Dòng Chúa Cứu Thế vẫn còn lý do để tồn tại.
Không phải vì Dòng cần tồn tại.
Nhưng vì Tin Mừng cứu chuộc vẫn cần được loan báo.
Không phải để giữ một quá khứ huy hoàng.
Nhưng để tiếp tục một tình yêu chưa bao giờ cũ.
Không phải để xây dựng danh tiếng cho mình.
Nhưng để chỉ vào Đấng chịu đóng đinh và nói với thế giới:
Hãy nhìn xem Người đã yêu bạn đến mức nào.
Và rồi, sau khi đã chỉ cho người ta nhìn thấy Người, người thừa sai có thể lùi lại. Bởi cuối cùng, Dòng Chúa Cứu Thế không tồn tại để người ta nhớ đến Dòng. Dòng tồn tại để người ta gặp được Chúa Cứu Thế. Người tu sĩ không hiến đời mình để người ta nhớ tên mình. Người ấy hiến đời để có thêm một người biết tên Giêsu, có thêm một tội nhân dám trở về, có thêm một người nghèo được tôn trọng, có thêm một người tuyệt vọng tìm được lý do để sống, có thêm một trái tim hiểu rằng mình vẫn còn được yêu.
Khi điều ấy xảy ra, cho dù chẳng ai vỗ tay, sứ mạng đã thành công.
Khi một con người tìm được đường về với Chúa, Thánh Giá lại trổ hoa.
Khi một tội nhân tin vào lòng thương xót, cạnh sườn Chúa lại tuôn nguồn nước sống.
Khi một người nghèo nhận ra phẩm giá của mình, Đấng Cứu Chuộc lại được nhận biết.
Khi một người thừa sai âm thầm cho đi chính mình mà chẳng giữ lại gì, hình bóng của Đấng chịu đóng đinh lại xuất hiện giữa thế gian.
Và đó chính là linh đạo.
Không phải một lý thuyết để học thuộc.
Không phải một khẩu hiệu để treo lên.
Nhưng là trở nên giống Đấng mình rao giảng.
Để rồi một ngày cuối đời, khi chẳng còn giảng được nữa, chẳng còn đi được nữa, chẳng còn làm được gì nữa, người con Thánh Anphongsô vẫn có thể đặt đôi tay mỏi mệt của mình vào đôi tay bị đóng đinh của Chúa và thưa:
“Lạy Đấng Cứu Chuộc của con, đời con chẳng có gì đáng kể ngoài điều này: con đã cố gắng nói cho người khác biết rằng họ được Chúa yêu. Nếu con đã làm được đôi chút, đó là nhờ ơn Chúa. Nếu con đã thiếu sót quá nhiều, xin Máu Chúa bù lại. Và giờ đây, con xin trở về với nguồn mạch mà từ đó mọi sứ vụ của con đã bắt đầu: trái tim bị đâm thâu của Chúa.”
Bởi rốt cuộc, tất cả bắt đầu ở đó.
Và tất cả cũng sẽ trở về đó.
ĐẤNG CỨU CHUỘC BỊ ĐÓNG ĐINH.
NƠI NGƯỜI CHAN CHỨA ƠN CỨU CHUỘC.
COPIOSA APUD EUM REDEMPTIO.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VÀ ĐẶC SỦNG LOAN BÁO TIN MỪNG CHO NGƯỜI NGHÈO, NGƯỜI BỊ BỎ RƠI
Có những lúc người ta tưởng rằng muốn loan báo Tin Mừng thì phải đi tìm những nơi đông người, những nơi có ảnh hưởng, những môi trường có khả năng tạo tiếng vang; phải có phương tiện mạnh, tổ chức tốt, lời nói hấp dẫn, hình ảnh đẹp, chương trình quy mô. Những điều ấy tự chúng không xấu. Tin Mừng cũng cần được rao giảng bằng tất cả những phương tiện tốt lành mà thời đại cho phép. Nhưng nếu hỏi đâu là nơi Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô vang lên thật nhất, mạnh nhất và đúng nghĩa nhất, có lẽ chúng ta phải trở lại một nơi chẳng có gì hấp dẫn theo mắt người đời: đồi Golgotha. Ở đó không có sân khấu. Không có đám đông tung hô. Không có thành công theo nghĩa thông thường. Không có quyền lực khiến người ta nể sợ. Chỉ có một con người bị lột trần, bị đóng đinh, bị chế nhạo, bị bỏ rơi, đang hấp hối giữa hai người mang án tử. Vậy mà chính nơi tưởng như thất bại ấy lại là nơi Tin Mừng được công bố tận cùng nhất. Chính Thánh Giá là bài giảng lớn nhất về tình yêu Thiên Chúa. Chính Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh là nhà truyền giáo vĩ đại nhất. Và chính từ chân Thánh Giá, Hội Thánh mới hiểu được rằng: loan báo Tin Mừng cho người nghèo, người bị bỏ rơi không phải chỉ là một hoạt động bác ái bên cạnh nhiều hoạt động khác, nhưng là đi vào tận trái tim của Đức Kitô, Đấng đã tự đặt mình vào hàng ngũ của những người bị loại trừ nhất để không một người bị loại trừ nào còn có thể nói rằng Thiên Chúa không biết đến phận mình.
Đặc sủng loan báo Tin Mừng cho người nghèo vì thế không bắt đầu từ một chương trình mục vụ, nhưng bắt đầu từ việc nhìn thật lâu lên Đấng chịu đóng đinh. Càng nhìn Thánh Giá, người môn đệ càng không thể sống bình thản trước tiếng khóc của những phận người bị bỏ quên. Càng chiêm ngắm những bàn tay bị đóng đinh của Chúa Giêsu, càng không thể khoanh tay trước người đói khát. Càng nhìn đôi chân bị đóng chặt của Người, càng không thể làm ngơ trước những người không còn đường đi trong cuộc đời. Càng nhìn cạnh sườn bị đâm thâu, càng không thể giữ trái tim mình khép kín trước người đau khổ. Càng nghe tiếng Người kêu lên trong cô độc: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?”, càng hiểu rằng Người đã đi xuống tận đáy của kinh nghiệm bị bỏ rơi để từ đó ôm lấy tất cả những ai từng có cảm giác mình chẳng còn thuộc về ai. Thánh Giá không cho phép người Kitô hữu đứng xa nỗi đau của con người. Thánh Giá kéo chúng ta xuống khỏi những chiếc ghế an toàn, phá vỡ những khoảng cách được dựng lên bởi tiền bạc, địa vị, tri thức, chức quyền, danh dự, thói quen và cả những định kiến tôn giáo, để chúng ta dám đứng bên cạnh những con người mà xã hội không muốn đứng cạnh.
Tin Mừng cho người nghèo trước hết là Tin Mừng rằng họ không bị Thiên Chúa quên. Đây có lẽ là điều quan trọng hơn tất cả. Cái nghèo đau nhất nhiều khi không phải là không có tiền. Có người nghèo tiền nhưng giàu tình yêu, giàu phẩm giá, giàu niềm hy vọng. Cái nghèo khủng khiếp là cảm giác đời mình không đáng kể, tiếng nói mình chẳng ai nghe, nước mắt mình chẳng ai thấy, sự hiện diện của mình chẳng ai cần. Có người sống giữa thành phố đông đúc mà cô độc như ở sa mạc. Có người ở giữa một gia đình nhưng nhiều năm chẳng được ai thực sự lắng nghe. Có người già nằm trong căn phòng nhỏ, cả ngày nhìn ra cửa chờ một bước chân quen mà không thấy. Có đứa trẻ lớn lên với một khoảng trống vì cha mẹ quá bận kiếm tiền mà quên rằng con mình cần được ôm. Có bệnh nhân đau lâu ngày bắt đầu tự hỏi mình có còn là gánh nặng của mọi người hay không. Có người lầm lỡ sau một lần sa ngã bị xã hội đóng dấu suốt đời. Có người ra khỏi tù nhưng chẳng tìm thấy cánh cửa nào thực sự mở. Có người nghiện ngập bị nhìn bằng ánh mắt khinh miệt nhiều hơn bằng ánh mắt thương cảm. Có những người di dân sống giữa nơi xa lạ, làm những công việc nặng nhọc nhưng chẳng ai biết tên họ. Có những người không có khả năng tự bảo vệ mình, những thai nhi chưa được sinh ra, những cụ già không còn hữu dụng theo cách tính toán của xã hội, những người khuyết tật, những người bệnh tâm thần, những người không có tiếng nói. Và còn biết bao người nghèo khác mà chúng ta không gọi tên được. Tin Mừng phải đến với họ trước hết bằng một lời rất đơn giản: “Anh chị em không bị quên. Thiên Chúa biết tên anh chị em. Thiên Chúa đã đi tìm anh chị em. Và giá trị đời anh chị em lớn đến mức Con Thiên Chúa đã chết cho anh chị em.”
Đó chính là điều Thánh Giá nói. Thánh Giá không nói rằng người mạnh đáng được yêu hơn người yếu. Thánh Giá không nói rằng người thành công đáng được trân trọng hơn người thất bại. Thánh Giá không nói rằng phẩm giá một con người tăng lên theo tài khoản ngân hàng, bằng cấp, sức khỏe, nhan sắc hay ảnh hưởng của người ấy. Trên Thánh Giá, Thiên Chúa công bố một tiêu chuẩn hoàn toàn khác: con người có giá trị bởi vì được Thiên Chúa yêu. Thế thôi. Một người đang nằm hấp hối không còn làm được gì vẫn quý giá. Một em bé vừa thành hình trong lòng mẹ chưa tạo ra bất cứ giá trị kinh tế nào vẫn quý giá. Một ông cụ trí nhớ đã phai, không còn nhận ra người thân, vẫn quý giá. Một người phạm tội nặng nề, dù phải chịu trách nhiệm về những gì mình làm, vẫn không mất phẩm giá căn bản của một con người được Thiên Chúa dựng nên và được Đức Kitô cứu chuộc. Máu của Đức Giêsu đổ ra không phân biệt người giàu hay nghèo, người tài giỏi hay ít học, người đạo đức hay tội lỗi. Máu ấy rơi xuống đất cho mọi người. Bởi thế, bất cứ nơi nào phẩm giá con người bị chà đạp, nơi đó Thánh Giá đang chất vấn Hội Thánh. Bất cứ nơi nào một con người bị đối xử như món đồ dư thừa, nơi đó Đấng chịu đóng đinh đang hỏi chúng ta: “Con có thấy Ta trong người ấy không?”
Có một đoạn Tin Mừng rất đẹp soi sáng đặc sủng này. Khi Đức Giêsu về Nadarét, Người vào hội đường và đọc lời ngôn sứ Isaia: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19). Sau đó Người nói: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (Lc 4,21). Chữ “hôm nay” ấy thật quan trọng. Đức Giêsu không nói về một viễn tượng xa xôi. Người nói rằng nơi Người, ngay hôm nay, Thiên Chúa đang đến với người nghèo. Nơi Người, người bị giam cầm được nghe về tự do. Nơi Người, người mù được mở mắt. Nơi Người, người bị áp bức được nâng dậy. Và cả cuộc đời Đức Giêsu sau đó là sự triển khai của lời công bố ấy. Người đi tìm người phong cùi mà mọi người tránh xa. Người ngồi ăn với những kẻ bị coi là tội lỗi. Người để người phụ nữ bị mang tiếng xấu chạm vào chân mình. Người dừng lại với người mù ngồi bên vệ đường dù đám đông muốn bắt anh im tiếng. Người bước vào nhà ông Dakêu, một người bị cộng đồng khinh ghét. Người chạm vào quan tài của người con trai bà góa thành Nain. Người bảo vệ người phụ nữ bị kéo ra giữa đám đông để kết án. Người trò chuyện với người phụ nữ Samari bên bờ giếng. Người không chỉ giảng về lòng thương xót; Người biến chính đời mình thành lòng thương xót đang bước đi giữa nhân loại.
Nhưng con đường ấy đưa Người đến đâu? Đưa đến Thánh Giá. Bởi vì đứng về phía người bị loại trừ luôn có giá của nó. Yêu những người chẳng ai muốn yêu luôn có giá của nó. Nói sự thật bênh vực người yếu thế luôn có giá của nó. Phá vỡ những bức tường phân chia luôn có giá của nó. Đức Giêsu không chết vì một tai nạn bất ngờ. Thánh Giá là hậu quả của một đời sống hoàn toàn trung thành với tình yêu của Chúa Cha và hoàn toàn dấn thân cho con người. Người đã chạm vào những người không được phép chạm. Người đã tha thứ cho những người mà người khác muốn kết án. Người đặt con người lên trên luật lệ khi luật lệ bị sử dụng để nghiền nát con người. Người nói thẳng với những cơ chế tôn giáo đã biến đức tin thành gánh nặng. Người lật bàn những kẻ biến Nhà Cha thành nơi buôn bán. Người công bố Nước Thiên Chúa cho những người bé nhỏ. Người làm cho những người vô danh nhận ra rằng họ có một khuôn mặt trước mặt Thiên Chúa. Người không chịu bước sang bên kia đường khi gặp người bị thương. Cuối cùng, chính Người bị đối xử như một kẻ bị loại trừ.
Hãy nhìn thật kỹ cảnh Thánh Giá. Đức Giêsu bị đóng đinh ngoài thành. Điều đó có ý nghĩa sâu xa. Người chết ngoài nơi cư trú, ngoài không gian danh dự, ngoài vòng an toàn. Người bị đẩy ra bên lề theo nghĩa đen. Và ở đó, Người nằm trong hàng ngũ những người bị xã hội loại bỏ. Hai bên Người không phải là hai nhân vật quyền thế mà là hai tử tội. Đám đông không tung hô mà chế nhạo. Các môn đệ phần lớn đã bỏ chạy. Áo Người bị chia nhau. Danh dự Người bị tước bỏ. Thân thể Người bị hành hạ. Người không còn gì để trao ngoài chính mình. Nhưng chính lúc không còn gì nữa, Người trao tất cả. Đó là nghịch lý của Thánh Giá. Người hoàn toàn nghèo để làm giàu cho chúng ta bằng tình yêu. Người bị bỏ rơi để không ai còn bị bỏ rơi trong tuyệt vọng. Người bước vào sự chết để mở cửa sự sống. Người trở nên người cuối cùng để nâng những người cuối cùng lên.
Vì thế, một linh đạo truyền giáo chân chính không thể tách khỏi Thánh Giá. Nếu truyền giáo chỉ còn là mở rộng ảnh hưởng, tăng số người, xây dựng hình ảnh, làm cho tổ chức lớn mạnh, nó có thể rất thành công mà vẫn xa Tin Mừng. Thành quả mục vụ là điều đáng quý, nhưng không phải tiêu chuẩn cuối cùng của Tin Mừng. Tiêu chuẩn cuối cùng là sự trung thành với Đức Kitô. Và Đức Kitô mà Hội Thánh loan báo là Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Thánh Phaolô đã từng nói một câu làm đảo lộn mọi tiêu chuẩn của thế gian: “Chúng tôi rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh” (1 Cr 1,23). Người Do Thái đòi dấu lạ. Người Hy Lạp tìm sự khôn ngoan. Còn Phaolô đặt trước mặt họ một Đấng bị đóng đinh. Theo mắt người đời, đó là thất bại. Theo cái nhìn đức tin, đó là quyền năng của Thiên Chúa. Nhà truyền giáo vì thế không thể chỉ mang đến cho người nghèo những lời hứa đẹp về Thiên Chúa mà bản thân lại sợ sống tinh thần nghèo khó. Không thể nói về một Đức Kitô gần người bị bỏ rơi trong khi chính mình chỉ thích gần người có ảnh hưởng. Không thể giảng một Thiên Chúa khiêm hạ nhưng lại khao khát địa vị. Không thể rao giảng Đấng không có chỗ tựa đầu mà đời sống của người môn đệ lại quá bận tâm với tiện nghi. Không thể loan báo Thánh Giá mà luôn tìm cách tránh mọi hy sinh.
Đối với linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế, điều này càng đặc biệt sâu sắc. Ơn gọi của người thừa sai Chúa Cứu Thế được sinh ra từ thao thức đem Ơn Cứu Chuộc chứa chan đến những người nghèo nhất, bị bỏ rơi nhất. Thánh Anphongsô không gặp Đức Kitô bằng cách chạy khỏi con người đau khổ, nhưng gặp Người nơi chính những phận người không được chăm sóc đầy đủ về đời sống thiêng liêng. Những người nghèo vùng quê, những người chăn dê trên các triền núi, những dân quê ít học, những người mà đời sống mục vụ thông thường chưa chạm tới, đã trở thành tiếng gọi đánh thức trái tim ngài. Và từ đó bật lên một câu hỏi mang sức nặng của một đời: ai sẽ nói cho họ biết rằng Thiên Chúa yêu họ? Ai sẽ đến với họ? Ai sẽ ở lại với họ? Ai sẽ giảng cho họ bằng thứ ngôn ngữ họ hiểu? Ai sẽ giúp họ biết rằng Ơn Cứu Chuộc không chỉ dành cho những người có điều kiện đến gần các trung tâm, nhưng là ân ban cho tất cả, đặc biệt cho những ai dường như ở xa nhất?
“Ơn Cứu Chuộc nơi Người chan chứa.” Câu Thánh Vịnh ấy trở thành một nhịp đập của đặc sủng Chúa Cứu Thế. Copiosa apud Eum redemptio. Ơn cứu chuộc nơi Người không ít ỏi, không dè sẻn, không chỉ vừa đủ, không dành riêng cho một nhóm ưu tuyển. Ơn cứu chuộc ấy dồi dào, chứa chan, dư tràn. Và điều gì dồi dào thì tự bản chất muốn tràn ra. Một dòng nước đầy phải chảy. Một trái tim đầy tình yêu phải cho đi. Một Hội Thánh thực sự cảm nghiệm Ơn Cứu Chuộc không thể đóng kín cửa. Một tu sĩ Chúa Cứu Thế thực sự bị chạm bởi Đấng Cứu Chuộc không thể chỉ giữ niềm vui ấy cho mình. Nếu đã biết mình được tha thứ thế nào, sẽ muốn người tội lỗi cũng nếm được lòng thương xót ấy. Nếu đã biết mình được tìm kiếm thế nào, sẽ muốn đi tìm người lạc mất. Nếu đã biết Chúa đã kiên nhẫn với mình thế nào, sẽ bớt khắt khe với người khác. Nếu đã biết mình được yêu khi còn bất xứng thế nào, sẽ hiểu rằng chẳng có ai bất xứng đến mức không đáng được nghe Tin Mừng.
Ở đây, Thánh Giá trở thành thước đo rất nghiêm khắc của đời sống thừa sai. Người truyền giáo cho người nghèo phải tự hỏi: tôi đến với người nghèo để làm gì? Để thấy mình tốt? Để thỏa mãn nhu cầu làm việc thiện? Để có những bức hình đẹp? Để kể những câu chuyện cảm động? Hay bởi vì tôi nhận ra nơi họ một người anh em được Đức Kitô yêu đến chết? Có một khác biệt rất lớn giữa thương hại và yêu thương. Thương hại đứng từ trên nhìn xuống. Tình yêu đứng ngang hàng. Thương hại cho một món quà rồi đi. Tình yêu hỏi tên người kia. Thương hại thích giải quyết nhanh một nhu cầu. Tình yêu muốn hiểu cả con người. Thương hại dễ tạo ra khoảng cách giữa “người cho” và “người nhận”. Tình yêu biết rằng cả hai đều là những người nghèo trước mặt Thiên Chúa. Người thừa sai chân chính không bao giờ bước vào xóm nghèo với tâm thế “tôi mang Chúa đến cho các bạn”, bởi có khi Chúa đã ở đó từ lâu trước khi mình đến. Có khi chính người nghèo sẽ dạy mình về lòng tin. Có khi bà mẹ nghèo nuôi con trong khốn khó lại hiểu sự phó thác hơn mình. Có khi một bệnh nhân chịu đau trong bình an lại giảng về Thánh Giá sâu hơn cả một bài thần học. Có khi một người chẳng biết nói lời hoa mỹ lại có một lòng bác ái khiến người có học phải cúi đầu.
Tin Mừng minh họa điều ấy thật đẹp trong trình thuật bà góa nghèo bỏ hai đồng tiền nhỏ vào thùng tiền Đền Thờ. Người giàu bỏ rất nhiều. Bà chỉ bỏ hai đồng tiền kẽm. Chẳng ai để ý. Có lẽ nếu Đức Giêsu không lên tiếng, không ai biết bà đã từng đi ngang qua đó. Nhưng Chúa thấy. Người nghèo thường là những người chẳng ai thấy, nhưng Chúa thấy. Đức Giêsu gọi các môn đệ lại và nói rằng bà đã bỏ vào nhiều hơn tất cả, vì những người khác bỏ phần dư thừa, còn bà trong cảnh túng thiếu đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống mình. Thật đáng suy nghĩ: Chúa không chỉ nhìn người nghèo như đối tượng cần được giúp. Người nhìn thấy nơi người nghèo một khả năng hiến dâng phi thường. Đây là điều mà mục vụ cho người nghèo rất dễ quên. Nếu chúng ta chỉ nhìn người nghèo như những bàn tay cần nhận, chúng ta vô tình xúc phạm phẩm giá họ. Người nghèo cũng có thể cho. Họ có đức tin để cho. Có lòng quảng đại để cho. Có kinh nghiệm sống để cho. Có sự kiên cường để cho. Có nước mắt, lời cầu nguyện và tình thương để cho. Hội Thánh không chỉ được sai đến với người nghèo; Hội Thánh cũng phải để người nghèo Tin Mừng hóa mình.
Cảnh Thánh Giá cho chúng ta một hình ảnh còn mạnh hơn nữa. Người đầu tiên nghe lời hứa trực tiếp về thiên đàng từ miệng Đức Giêsu trong những giờ phút cuối đời Người là ai? Không phải một tông đồ. Không phải một tư tế. Không phải một học giả Kinh Thánh. Là một tên trộm đang bị đóng đinh bên cạnh. Anh chẳng còn gì để dâng. Chẳng còn thời gian sửa lại cuộc đời. Chẳng có cơ hội lập công. Chẳng thể xuống khỏi thập giá mà trả lại những gì đã cướp, làm những việc bác ái hay xây dựng một quá khứ mới. Anh chỉ có một lời cầu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Đức Giêsu trả lời: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Có lẽ không có đoạn Tin Mừng nào diễn tả Ơn Cứu Chuộc chứa chan rõ hơn thế. Một con người ở phút cuối, một đời đầy đổ vỡ, chỉ còn một hơi thở và một lời tín thác, được mở cửa thiên đàng. Đó là Chúa Cứu Thế. Đó là Đấng mà chúng ta được sai đi loan báo. Một Thiên Chúa không mỏi mệt cứu con người cho đến giây phút cuối cùng.
Người thừa sai vì thế không được tuyệt vọng về bất cứ ai. Đây là một đòi hỏi rất lớn. Chúng ta dễ mất kiên nhẫn với những người thay đổi quá chậm. Chúng ta giúp một người rồi thấy họ lại vấp ngã. Khuyên một người nghiện bỏ nghiện rồi họ tái nghiện. Hòa giải một gia đình rồi vài tháng sau lại xung đột. Dạy giáo lý một người rồi họ bỏ lễ. Cố gắng nâng một người lên rồi thấy họ quay trở lại lối sống cũ. Và chúng ta mệt. Chúng ta nghĩ: “Thôi, hết cách rồi.” Nhưng người môn đệ của Đấng Cứu Chuộc phải rất cẩn thận với câu “hết cách rồi”, bởi Thánh Giá chính là lời Thiên Chúa nói rằng: khi con người tưởng hết cách, Thiên Chúa vẫn còn một con đường. Khi các môn đệ tưởng mọi chuyện đã kết thúc chiều Thứ Sáu, Thiên Chúa đang chuẩn bị buổi sáng Phục Sinh. Khi viên đá lấp cửa mồ, tình yêu vẫn không bị chôn. Vì thế, nhà truyền giáo của Thánh Giá là con người mang một thứ hy vọng bướng bỉnh: không từ bỏ con người dễ dàng.
Tuy nhiên, loan báo Tin Mừng cho người nghèo không có nghĩa là lãng mạn hóa cái nghèo. Nghèo đói vẫn là một đau khổ phải được khắc phục khi có thể. Bệnh tật cần được chữa trị. Trẻ em cần được học. Người bị bóc lột cần được bảo vệ. Người thất nghiệp cần cơ hội lao động. Người không nhà cần một mái nhà. Nạn nhân bạo lực cần được bênh vực. Người di dân cần được tôn trọng. Người già cần được chăm sóc. Người đói cần bánh ăn. Chúng ta không thể nói với một người đang đói: “Chúa yêu anh” mà không quan tâm xem anh có gì ăn tối nay không. Thánh Giacôbê đã nói rất rõ: nếu một người anh em không có áo che thân, không đủ của ăn hằng ngày, mà chúng ta chỉ bảo “hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no” nhưng chẳng cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì ích gì? Đức tin không có việc làm là đức tin chết. Nhưng ngược lại, nếu chỉ cho bánh mà không giúp con người tìm thấy ý nghĩa, hy vọng và phẩm giá, việc loan báo cũng chưa trọn vẹn. Con người không chỉ có cái bụng. Người nghèo không chỉ cần thực phẩm; họ cần được nhìn như con người. Họ cần được gọi tên. Cần có người lắng nghe. Cần có một cộng đoàn tiếp nhận. Cần biết rằng mình có một tương lai. Cần được nghe Tin Mừng rằng cuộc đời họ không phải là một tai nạn vô nghĩa giữa vũ trụ lạnh lùng nhưng là một đời sống nằm trong bàn tay Thiên Chúa.
Và chính ở điểm này, Thánh Giá nối kết hai chiều kích tưởng như xa nhau: cứu độ linh hồn và phục vụ con người toàn diện. Đấng bị đóng đinh không cứu một “linh hồn trừu tượng”. Người cứu con người bằng chính thân xác mình. Thân thể Người bị đánh. Máu Người đổ. Người khát. Người đau. Người chết. Kitô giáo vì thế không thể coi thường thân xác và những nhu cầu cụ thể của con người. Nhưng Thánh Giá cũng cho thấy đau khổ sâu nhất của con người không chỉ là thiếu cơm áo mà còn là tội lỗi, sự xa cách Thiên Chúa, sự mất ý nghĩa, sự không thể tự cứu mình. Bởi thế người thừa sai phải mang cả bánh cho người đói lẫn Lời cho tâm hồn; cả thuốc men cho người bệnh lẫn niềm hy vọng cho người tuyệt vọng; cả sự nâng đỡ xã hội lẫn lời mời gọi hoán cải; cả công lý lẫn lòng thương xót; cả sự giải phóng khỏi những cơ cấu bất công lẫn sự giải phóng khỏi ích kỷ, hận thù và tội lỗi đang trói buộc trái tim con người.
Một nguy cơ khác là chúng ta thích người nghèo ở xa hơn người nghèo ở gần. Nghèo ở xa thường dễ thương. Ta có thể gửi chút tiền, cảm thấy xúc động rồi tiếp tục cuộc sống. Người nghèo ở gần lại làm phiền. Có thể là một người thân khó tính. Một ông già nói mãi một câu. Một người bệnh cần được chăm sóc từng ngày. Một người trong cộng đoàn chậm chạp, vụng về. Một người cứ tìm đến đúng lúc mình đang bận. Một linh mục già không còn làm được việc. Một tu sĩ đang khủng hoảng. Một người anh em có tính tình không dễ chịu. Một giáo dân nghèo chẳng mang lại “lợi ích” nào cho giáo xứ nhưng lúc nào cũng cần được lắng nghe. Có những lúc “người bị bỏ rơi nhất” không ở một đất nước xa xôi mà đang ăn cùng bàn với ta. Thánh Giá hỏi chúng ta không phải yêu nhân loại nói chung, mà yêu một người cụ thể đang đứng trước mặt.
Đây cũng là một xét mình rất đau đối với Hội Thánh. Một cộng đoàn có thể nói rất nhiều về người nghèo nhưng trong cách sinh hoạt lại vô tình khiến người nghèo cảm thấy mình lạc lõng. Có thể nhà thờ rất đẹp nhưng người nghèo không dám bước vào vì cảm thấy mình không thuộc về nơi ấy. Có thể các hội đoàn hoạt động sôi nổi nhưng một bà góa đơn độc chẳng ai biết. Có thể chương trình mục vụ rất phong phú nhưng người khuyết tật không có cách tham dự. Có thể một giáo xứ xây được nhiều công trình nhưng một gia đình đang bên bờ tan vỡ chẳng có ai đồng hành. Có thể chúng ta tổ chức những lễ rất lớn mà quên rằng sau hàng ghế cuối có một người đang khóc. Điều quyết định không phải là chúng ta có nói về người nghèo hay không, nhưng người nghèo có cảm thấy Hội Thánh là nhà mình hay không.
Nếu một người nghèo bước vào cộng đoàn và cảm thấy phải ăn mặc thế nào đó mới được tôn trọng, phải nói năng thế nào đó mới được lắng nghe, phải quen người này người kia mới được tiếp cận, thì chúng ta cần nhìn lại Thánh Giá. Trên Golgotha chẳng có khu vực ưu tiên. Máu Đức Kitô không chảy thành hai dòng, một dòng cho người đáng trọng và một dòng cho kẻ bị coi thường. Khi cạnh sườn Người mở ra, nước và máu chảy xuống cho tất cả. Hội Thánh sinh ra từ cạnh sườn ấy chỉ trung thành với căn tính của mình khi cửa trái tim cũng mở rộng như cạnh sườn của Chúa.
Người nghèo còn có một dạng khác rất phổ biến trong thế giới hôm nay: nghèo ý nghĩa. Người ta có thể có nhà, xe, tài khoản, bằng cấp và đủ mọi tiện nghi nhưng bên trong là một vực trống. Có người trẻ không biết mình sống để làm gì. Có người thành đạt nhưng mỗi sáng thức dậy không biết vì sao phải tiếp tục. Có người có hàng chục nghìn người theo dõi trên mạng nhưng không có một người bạn để gọi lúc hai giờ sáng. Có người cười trong mọi tấm hình nhưng đêm về lại đối diện một nỗi cô độc không ai biết. Có những gia đình đầy đủ vật chất nhưng thiếu những bữa cơm có người thực sự nhìn vào mắt nhau. Có những người đang nghèo lòng tin, nghèo hy vọng, nghèo một lý do để tha thứ, nghèo khả năng tin rằng đời mình còn có thể bắt đầu lại. Họ cũng là người nghèo cần được Tin Mừng tìm đến.
Người bị bỏ rơi hôm nay cũng không nhất thiết phải sống ngoài đường. Có khi họ nằm trên giường bệnh. Có khi ở trong viện dưỡng lão. Có khi ở trong nhà tù. Có khi là một bà mẹ đơn thân. Có khi là một người vừa ly dị bị cả cộng đoàn nhìn bằng ánh mắt phán xét. Có khi là một người trẻ mắc sai lầm và bị mạng xã hội đưa ra xét xử tập thể. Có khi là người đang chịu một tai tiếng mà chẳng ai chịu nghe câu chuyện từ phía họ. Có khi là một linh mục sai lỗi đang cần được sửa chữa nhưng đồng thời cũng cần được cứu khỏi tuyệt vọng. Có khi là một người đã rời Giáo Hội nhiều năm vì một vết thương nào đó mà chẳng ai từng hỏi. Đặc sủng thừa sai cho người bị bỏ rơi mời chúng ta bước đến những vùng ngoại biên ấy, không phải để thỏa hiệp với điều sai, nhưng để không bao giờ đồng hóa một con người với sai lầm của họ.
Đức Giêsu là bậc thầy của cách nhìn ấy. Người nói với người phụ nữ ngoại tình: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.” Hai điều cùng có mặt: không lên án con người và không gọi tội lỗi là tốt. Đó là lòng thương xót đích thực. Ngày nay chúng ta thường rơi vào một trong hai cực. Hoặc nhân danh sự thật mà nghiền nát con người. Hoặc nhân danh tình thương mà xóa nhòa sự thật. Thánh Giá giữ cả hai. Thánh Giá cho thấy tội lỗi nghiêm trọng đến mức nào: nó đưa Con Thiên Chúa lên cây gỗ. Nhưng Thánh Giá cũng cho thấy tình yêu lớn đến mức nào: chính Con Thiên Chúa trên cây gỗ ấy lại cầu xin tha thứ cho kẻ đóng đinh mình. “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Người thừa sai của Thánh Giá phải học được thứ ngôn ngữ ấy: nói sự thật mà người nghe vẫn cảm thấy mình được yêu; sửa lỗi mà không sỉ nhục; kêu gọi hoán cải mà không đóng cửa hy vọng.
Một nhà truyền giáo chỉ biết lên án sẽ không thể loan báo Đấng chịu đóng đinh cách trọn vẹn. Một người rao giảng chỉ biết nói về luật mà không biết khóc với người đau khổ thì chưa hiểu trái tim Chúa Giêsu. Nhưng một người chỉ nói những điều dễ nghe để không ai khó chịu cũng chưa phải nhà truyền giáo. Đức Giêsu đã yêu người ta đủ nhiều để nói sự thật với họ. Nhưng Người nói sự thật sau khi đã bước vào đời họ. Người ngồi bên giếng với người phụ nữ Samari trước khi chạm đến những đổ vỡ trong đời bà. Người vào nhà Dakêu trước khi Dakêu tuyên bố thay đổi. Người để mình được xức dầu bằng nước mắt của người phụ nữ tội lỗi trước ánh mắt khó chịu của những người đạo đức. Tình yêu đi trước. Chân lý không bị giảm bớt, nhưng được trao trong một trái tim đã biết yêu.
Thánh Giá còn dạy người thừa sai một điều rất khó: chấp nhận bất lực. Có những đau khổ chúng ta không giải quyết được. Có những người nghèo chúng ta không thể đưa ra khỏi cảnh nghèo ngay lập tức. Có bệnh nhân chúng ta không chữa được. Có cái chết không thể ngăn. Có gia đình chúng ta cố gắng nhưng không thể hàn gắn. Có người nghiện chúng ta đồng hành lâu năm mà vẫn vấp ngã. Có những miền đất truyền giáo nhiều năm chẳng thấy kết quả. Lúc ấy, cám dỗ lớn nhất là nghĩ rằng mình vô dụng. Nhưng Thánh Giá nói rằng sự hiện diện yêu thương đôi khi đã là một sứ vụ. Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá chẳng tháo được một cây đinh nào. Mẹ không ngăn được lưỡi đòng. Không làm dịu được đám đông. Không cứu Con xuống khỏi Thánh Giá. Theo tiêu chuẩn hiệu quả, Mẹ chẳng làm được gì. Nhưng Mẹ đứng đó. Và có những lúc tình yêu cao nhất chính là đứng đó.
Người nghèo cần người giải quyết vấn đề, nhưng cũng cần người không bỏ đi khi vấn đề chưa giải quyết được. Người bệnh cần thuốc, nhưng khi thuốc không còn chữa được, họ vẫn cần một bàn tay. Người hấp hối không cần chúng ta giảng những bài dài; đôi khi họ chỉ cần biết có một người đang ngồi bên. Người mất con không cần câu trả lời thần học ngay tức khắc; họ cần một người có thể khóc cùng. Gia đình có người tự tử không cần những phán xét; họ cần một cộng đoàn ôm lấy họ. Thánh Giá dạy chúng ta mục vụ của sự hiện diện. Thiên Chúa không cứu thế giới từ xa. Người đến ở cùng. Emmanuel. Và trên Thánh Giá, Người ở cùng con người trong cả nơi kinh khủng nhất: đau đớn, cô độc và cái chết.
Đặc sủng loan báo Tin Mừng cho người nghèo vì thế đòi nhà truyền giáo phải có khả năng “ở lại”. Người nghèo rất quen với việc người ta đến rồi đi. Một đoàn từ thiện đến, phát quà, chụp hình rồi đi. Một chương trình đến rồi hết ngân sách. Một dự án bắt đầu rồi kết thúc. Một lời hứa được nói rồi bị quên. Điều khiến người nghèo tin vào Tin Mừng nhiều khi không phải là một bài giảng hùng hồn nhưng là thấy một người vẫn còn ở đó sau nhiều năm. Đức Giêsu nói: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Đó là kiểu hiện diện của Thiên Chúa: ở cùng. Người thừa sai phải học thứ trung tín ấy. Không phải lúc nào cũng làm được điều lớn, nhưng có thể ở lại đủ lâu để một đứa trẻ lớn lên biết rằng ít nhất đã có người tin vào nó; đủ lâu để một người nghiện hiểu rằng mỗi lần mình ngã vẫn có một cánh tay kéo lên; đủ lâu để một cộng đoàn nghèo biết rằng họ không phải là dự án mà là gia đình.
Và để ở lại như vậy, người thừa sai phải tự mình gắn với Thánh Giá. Nếu không, sẽ nhanh kiệt sức. Chúng ta không thể cứu tất cả mọi người. Không thể đáp ứng tất cả nhu cầu. Không thể chữa lành mọi vết thương. Không thể mang cả thế giới trên vai. Đó là việc của Đấng Cứu Thế, không phải của chúng ta. Nhà truyền giáo phải nhớ mình là người được sai đi, không phải Đấng Cứu Độ. Chính Đức Giêsu mới là Chúa Cứu Thế. Người thừa sai chỉ dẫn người ta đến với Người. Điều này đem lại một sự tự do rất lớn. Ta làm hết sức mình nhưng không tưởng mình là nguồn cứu độ. Ta gieo, người khác tưới, Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Ta yêu, phục vụ, rao giảng, đồng hành, rồi phó thác phần còn lại cho Chúa. Có những hạt giống chỉ nảy mầm sau khi người gieo đã qua đời.
Có lẽ một trong những sự nghèo khó nguy hiểm nhất của nhà truyền giáo là cần được công nhận. Chúng ta muốn thấy kết quả. Muốn được cảm ơn. Muốn những gì mình làm được biết đến. Muốn người được giúp phải biết ơn. Muốn cộng đoàn đáp lại. Nhưng Thánh Giá thanh luyện động cơ ấy. Đức Giêsu chết giữa những lời chế nhạo. Những người được Người chữa lành ở đâu? Những đám đông từng ăn bánh Người hóa nhiều ở đâu? Những người từng tung hô “Hosanna” ở đâu? Người vẫn yêu. Đây là tự do của tình yêu thừa sai: làm điều tốt ngay cả khi không được ghi nhận; yêu ngay cả khi người kia chưa hiểu; phục vụ ngay cả khi bị hiểu lầm; tiếp tục gieo ngay cả khi chưa thấy mùa gặt.
Chính ở đó, người truyền giáo trở nên giống Đấng Cứu Chuộc. Không phải giống bằng bộ áo mình mặc hay chức danh mình mang, nhưng bằng những vết thương của tình yêu. Có những vết thương trong đời thừa sai chẳng ai nhìn thấy: bị từ chối, bị hiểu lầm, bị phản bội, thất bại trong mục vụ, thấy người mình thương quay lưng, thấy công sức nhiều năm tan biến, thấy cộng đoàn mình phục vụ chẳng thay đổi như mong đợi. Những điều ấy nếu không đem vào Thánh Giá sẽ biến thành cay đắng. Nhưng nếu được đặt cạnh những vết đinh của Chúa, chúng có thể trở thành nơi hiệp thông với Người. Không phải vì đau khổ tự nó tốt, nhưng bởi tình yêu có khả năng biến đau khổ thành hiến lễ.
Dẫu vậy, Thánh Giá không kết thúc ở mồ. Đây là điều người nghèo cần được nghe nhất. Tin Mừng cho người nghèo không phải là bảo họ cam chịu số phận. Không phải nói: “Chúa đã chịu khổ, nên anh cứ chịu khổ đi.” Đó là xuyên tạc Thánh Giá. Đức Kitô chịu chết để đánh bại sự chết. Người chịu bất công không phải để hợp thức hóa bất công, nhưng để mở một trật tự mới. Người xuống tận đáy để nâng con người lên. Người bị đóng đinh nhưng đã phục sinh. Vì thế, bất cứ mục vụ nào nhân danh Thánh Giá để buộc người bị áp bức im tiếng, buộc nạn nhân tiếp tục chịu bạo lực, buộc người nghèo chấp nhận những cơ cấu bất công mà không tìm cách thay đổi, đều phản bội Tin Mừng. Thánh Giá phải dẫn đến Phục Sinh. Người nghèo phải được trao quyền đứng dậy. Người bị áp bức phải được khôi phục phẩm giá. Người tội lỗi phải được mở con đường hoán cải. Người tuyệt vọng phải được trả lại tương lai.
Khi Đức Giêsu chữa người bại liệt, Người không chỉ nói về đời sau. Người bảo anh: “Hãy đứng dậy, vác chõng mà về nhà.” Tin Mừng làm người ta đứng dậy. Khi Người gặp anh mù Bartimê, Người không bảo anh chấp nhận bóng tối. Người hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh nói: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” Và Người cho anh thấy. Khi gặp người phong cùi, Người chạm vào anh và đưa anh trở lại cộng đồng. Khi gặp người phụ nữ bị còng lưng mười tám năm, Người gọi bà là “con cháu Abraham” và giải thoát bà khỏi sự trói buộc. Tin Mừng không làm con người nhỏ lại. Tin Mừng phục hồi họ.
Chính vì thế, người thừa sai cho người nghèo phải luôn hỏi: việc tôi làm có giúp người khác đứng dậy không, hay khiến họ lệ thuộc hơn? Tôi đang trả lại phẩm giá hay biến họ thành đối tượng để tôi thực hiện lòng tốt? Tôi có lắng nghe họ hay chỉ quyết định thay họ? Tôi có giúp họ khám phá khả năng của chính mình hay khiến họ nghĩ họ sẽ mãi cần người khác cứu? Đức Giêsu thường hỏi người bệnh: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Một câu hỏi đáng học biết bao. Người biết người kia cần gì, nhưng Người vẫn hỏi. Vì yêu thương tôn trọng tự do. Người nghèo không phải một bài toán. Họ là chủ thể của chính cuộc đời họ.
Có lẽ điều đẹp nhất của sứ mạng này là dần dần người thừa sai nhận ra ranh giới giữa “người nghèo” và “mình” không rõ như tưởng. Bước đến với người nghèo đủ lâu, ta sẽ khám phá sự nghèo của chính mình. Ta cũng nghèo tình yêu. Nghèo kiên nhẫn. Nghèo lòng tin. Nghèo khả năng tha thứ. Nghèo sự trong sạch của động cơ. Nghèo tự do nội tâm. Nghèo trước cái chết. Nghèo trước những câu hỏi không giải đáp được. Cuối cùng, tất cả chúng ta đều là những người ăn xin trước cửa lòng thương xót Thiên Chúa. Có người ăn xin bánh. Có người ăn xin bình an. Có người ăn xin sức khỏe. Có người ăn xin một cơ hội khác. Có người ăn xin ơn tha thứ. Và chính khi người thừa sai nhận mình cũng là người nghèo, cuộc gặp gỡ mới trở thành huynh đệ thật sự.
Trước Thánh Giá, chẳng ai là ân nhân của ai. Tất cả đều nhận. Linh mục nhận. Tu sĩ nhận. Người giáo dân nhận. Người nghèo nhận. Người giàu nhận. Người thánh thiện nhận. Người tội lỗi nhận. Tất cả đều đứng dưới một dòng máu cứu độ. Và có lẽ đây là nền tảng sâu nhất của đặc sủng loan báo Tin Mừng cho những người bị bỏ rơi: chúng ta đi đến với họ không phải bởi chúng ta tốt hơn họ, nhưng vì chúng ta và họ đều đã được cùng một Đấng Cứu Chuộc yêu đến chết.
Ngày kia, Đức Giêsu nói về cuộc phán xét cuối cùng bằng những lời khiến mỗi người Kitô hữu phải giật mình: “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm.” Những người công chính ngạc nhiên hỏi: “Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa như thế đâu?” Và Đức Vua trả lời: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (x. Mt 25,35-40). Đây không phải là một hình ảnh đạo đức dễ thương. Đây là một mặc khải làm đảo lộn cái nhìn: Đức Kitô tự đồng hóa mình với người bé nhỏ. Không chỉ nói rằng hãy giúp họ “vì Chúa”. Người nói: “chính Ta ở đó.”
Nếu tin điều này thật, đời ta sẽ thay đổi. Gặp người nghèo không còn là bị làm phiền; đó là một cuộc gặp với Đức Kitô đang ẩn mình. Thăm người bệnh không còn chỉ là bổn phận; đó là vào phòng bệnh nơi Chúa đang chờ. Đến nhà tù không còn là bước vào nơi của những người “khác mình”; đó là tìm Chúa trong một thân phận bị giam cầm. Ngồi nghe một người già kể chuyện lần thứ mười không còn là lãng phí thời gian; đó có thể là ngồi dưới chân một Đức Kitô già nua đang cần được lắng nghe. Ôm một đứa trẻ bị bỏ rơi là ôm lấy Chúa. Bảo vệ một người bị kết án bất công là đứng gần Thánh Giá.
Vậy nên, thừa sai Chúa Cứu Thế không phải trước hết là người đi thật xa. Có người đi nghìn cây số mà chưa bước khỏi cái tôi. Có người chẳng đi xa nhưng mỗi ngày vượt qua một khoảng cách lớn hơn: khoảng cách từ dửng dưng đến cảm thương, từ xét đoán đến thấu hiểu, từ tiện nghi đến chia sẻ, từ quyền lực đến phục vụ, từ cái tôi đến Thánh Giá. Truyền giáo thật sự bắt đầu khi trái tim chịu để mình bị thương bởi nỗi đau của con người. Thánh Anphongsô đã để tiếng kêu của những người bị bỏ rơi làm mình mất bình an. Đó là thứ “mất bình an” thánh thiện. Có những bình an đến từ việc đóng cửa để khỏi thấy đau khổ; đó không phải bình an của Tin Mừng. Bình an của Chúa không làm ta vô cảm. Trái lại, càng ở gần Chúa, ta càng nghe rõ tiếng khóc của thế giới.
Và Hội Thánh hôm nay vẫn cần những con người có một trái tim không chịu yên khi biết còn ai đó chưa được nghe Tin Mừng. Không phải Tin Mừng như một lý thuyết, nhưng Tin Mừng như một biến cố: Thiên Chúa yêu bạn. Đức Kitô đã chết và sống lại vì bạn. Tội lỗi không phải lời cuối. Quá khứ không phải lời cuối. Sự nghèo khó không phải lời cuối. Bệnh tật không phải lời cuối. Những lần bạn bị người ta loại bỏ không phải lời cuối. Ngay cả cái chết cũng không phải lời cuối. Lời cuối thuộc về Thiên Chúa, và lời ấy là sự sống.
Có những người cần nghe Tin Mừng ấy trong một ngôi nhà thờ. Có những người sẽ không bao giờ bước vào nhà thờ, nên Hội Thánh phải bước ra. Chúa Giêsu không ngồi chờ người phong cùi đến hội đường. Người đi trên đường. Người đi qua làng mạc. Người lên núi. Người xuống thuyền. Người ngồi bên giếng. Người vào nhà người tội lỗi. Người dừng bên vệ đường. Người hiện diện ở nơi con người đang sống. Một Hội Thánh thừa sai cũng vậy. Phải có khả năng bước ra những con đường nơi người nghèo đang đi; bước vào bệnh viện, nhà tù, khu công nghiệp, xóm trọ, vùng sâu, mái ấm, gia đình tan vỡ, thế giới kỹ thuật số và mọi vùng ngoại biên của tâm hồn con người.
Đi ra không phải vì Hội Thánh ghét ngôi nhà của mình, nhưng bởi lửa trong nhà quá lớn để giữ kín. Người đã thực sự gặp Đấng Cứu Chuộc không thể không kể về Người. Hai môn đệ Emmau sau khi nhận ra Chúa trong lúc bẻ bánh đã lập tức trở về Giêrusalem, dù trời đã tối. Người phụ nữ Samari bỏ vò nước mà chạy về thành. Maria Mađalêna sau khi gặp Chúa phục sinh chạy đi nói với các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa.” Tin Mừng tự nó tạo nên bước chân.
Nhưng bước chân đẹp nhất vẫn là những bước chân mang dấu Thánh Giá. Bởi vì người nghèo rất nhạy. Họ biết ai thật lòng và ai diễn. Họ nhận ra ai đến để yêu và ai đến để sử dụng câu chuyện của họ. Một nhà truyền giáo không cần hoàn hảo, nhưng phải thật. Phải biết khóc. Biết xin lỗi. Biết nhận mình sai. Biết ngồi xuống. Biết ăn một bữa cơm đơn sơ. Biết nghe một câu chuyện dài. Biết để lịch của mình bị gián đoạn vì một con người. Đức Giêsu rất nhiều lần để hành trình của mình bị gián đoạn. Người đang đi thì Jairô đến xin. Người đi chữa con Jairô thì người phụ nữ băng huyết chạm vào áo. Người đang rời Giêrikhô thì Bartimê kêu. Đám đông thấy phiền. Đức Giêsu dừng lại. Có lẽ mục vụ thừa sai được đo không chỉ bằng những điều chúng ta lên kế hoạch làm, mà còn bằng khả năng để tình yêu làm gián đoạn kế hoạch.
Cuối cùng, tất cả trở về Golgotha. Người thừa sai đứng trước Thánh Giá và nghe một câu hỏi không thành lời: “Con có sẵn sàng yêu họ như Thầy đã yêu không?” Không ai có thể trả lời trọn vẹn. Chúng ta yếu đuối. Tình yêu chúng ta nhỏ. Sự quảng đại nhiều khi pha lẫn ích kỷ. Chúng ta mệt, sợ, ngại, muốn chọn việc dễ hơn. Nhưng điều an ủi là Chúa không bảo chúng ta tự tạo ra tình yêu. Người mời chúng ta ở lại trong tình yêu của Người. Nhà truyền giáo không phải một chiếc giếng tự có nước. Chỉ là một máng dẫn. Muốn đem nước đến cho người khát, phải nối với nguồn.
Vì vậy, trước khi chạy đi tìm người nghèo, người thừa sai phải biết quỳ xuống. Trước khi nói về Chúa, phải để Chúa nói với mình. Trước khi chạm vào vết thương người khác, phải để Chúa chạm vào vết thương của chính mình. Trước khi công bố lòng thương xót, phải nhận lòng thương xót. Trước khi bảo người ta rằng họ được yêu, phải để mình bị chinh phục bởi sự thật rằng chính mình đã được yêu đến chết.
Có lẽ khi ấy ta mới hiểu tại sao Thánh Giá và đặc sủng loan báo Tin Mừng cho người nghèo không bao giờ có thể tách nhau. Thánh Giá cho thấy Thiên Chúa đã xuống thấp đến mức nào để tìm con người. Đặc sủng thừa sai chỉ là tiếp tục chuyển động đi xuống ấy: từ trung tâm đến ngoại biên, từ nơi an toàn đến nơi bấp bênh, từ người có tiếng nói đến người không tiếng nói, từ những nơi người ta thích đến những nơi chẳng ai muốn đến. Không đi xuống để ban phát từ trên cao, nhưng đi xuống để gặp một Đức Kitô đã ở dưới ấy trước mình.
Đôi khi chúng ta hỏi: “Chúa ở đâu giữa những khu ổ chuột? Chúa ở đâu trong nhà tù? Chúa ở đâu bên giường bệnh? Chúa ở đâu trong những phận người chẳng ai nhớ?” Thánh Giá trả lời: Người ở đó. Người đã ở đó từ trước. Có khi câu hỏi đúng hơn phải là: “Còn chúng ta ở đâu?”
Nếu một ngày nào đó Hội Thánh có đủ mọi thứ nhưng không còn ở bên người nghèo, ngày đó Hội Thánh sẽ nghèo đi điều quý nhất: khuôn mặt Đức Kitô. Nếu một cộng đoàn Dòng Chúa Cứu Thế có nhiều công việc, nhiều cơ sở, nhiều hoạt động nhưng không còn đau đáu về những người bị bỏ rơi nhất, cộng đoàn ấy phải trở lại trước Thánh Giá và hỏi lại mình là ai. Đặc sủng không phải một khẩu hiệu treo trên tường. Đặc sủng là một vết thương trong trái tim khiến ta không thể sống khác. Bao lâu còn một người chưa biết mình được Thiên Chúa yêu, sứ mạng chưa xong. Bao lâu còn một người nằm bên vệ đường và mọi người bước qua, sứ mạng chưa xong. Bao lâu còn một con người bị coi là vô dụng, sứ mạng chưa xong. Bao lâu còn một tội nhân nghĩ rằng Thiên Chúa không thể tha cho mình, sứ mạng chưa xong.
Và dù thế giới có thay đổi bao nhiêu, phương tiện truyền giáo có hiện đại đến đâu, nhân loại có bước sang những thời đại công nghệ nào, Tin Mừng vẫn sẽ bắt đầu bằng một cảnh rất đơn giản: một người dừng lại trước một con người khác. Nhìn họ. Nghe họ. Gọi tên họ. Ở lại với họ. Và bằng lời nói hoặc bằng chính sự hiện diện của mình, nói rằng: “Anh không bị bỏ rơi. Chị không bị quên. Có một Đấng đã yêu anh chị đến mức mang lấy Thánh Giá.”
Đó là Tin Mừng.
Đó là sứ mạng.
Đó là trái tim của người thừa sai.
Và đó là điều Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh vẫn đang chờ nơi mỗi chúng ta.
Xin cho chúng ta đừng bao giờ quen với Thánh Giá đến mức nhìn mà không còn xúc động. Xin cho mỗi lần nhìn những vết đinh của Chúa, chúng ta nhớ đến những vết thương của nhân loại. Mỗi lần hôn kính Thánh Giá, xin cho chúng ta nhớ những thân phận không ai muốn chạm tới. Mỗi lần cử hành Thánh Thể, xin cho chúng ta nhớ ngoài kia còn những người đang đói cả bánh ăn lẫn tình thương. Mỗi lần nghe lời “Mình Thầy, hiến tế vì anh em”, xin cho chúng ta hiểu rằng đời mình cũng được mời gọi trở thành tấm bánh bẻ ra. Và mỗi lần đọc lời “Ơn Cứu Chuộc nơi Người chan chứa”, xin cho trái tim người thừa sai lại nóng lên vì một câu hỏi chẳng bao giờ được phép thôi day dứt: Ai là người nghèo nhất, bị bỏ rơi nhất mà Chúa đang muốn tôi tìm đến hôm nay?
Bởi cuối cùng, Thánh Giá không phải một đồ vật để chúng ta đeo nhưng là một con đường để chúng ta đi. Không phải chỉ là dấu được làm trên trán nhưng phải trở thành hình dáng của một đời sống. Không phải chỉ là nơi chúng ta tìm sự an ủi nhưng là nơi chúng ta nhận một sứ mạng. Từ Thánh Giá, Chúa Giêsu vẫn đang nhìn thế giới. Ánh mắt ấy vẫn dừng lại trên người nghèo, người bé nhỏ, người tội lỗi, người tuyệt vọng, người bị loại bỏ. Và Người cần những đôi mắt tiếp tục nhìn bằng ánh mắt của Người, những đôi chân tiếp tục đi về phía họ, những bàn tay tiếp tục chạm vào họ, những trái tim tiếp tục yêu họ.
Chúng ta được sai đi không phải để chứng minh rằng mình tốt, nhưng để làm chứng rằng Thiên Chúa tốt lành.
Không phải để người nghèo nhớ tên chúng ta, nhưng để họ nhớ rằng Thiên Chúa chưa bao giờ quên tên họ.
Không phải để họ mang ơn chúng ta, nhưng để họ khám phá rằng ơn cứu chuộc của Đức Kitô là ơn nhưng không.
Không phải để xây cho mình một hình ảnh đẹp, nhưng để giữa những vùng tối của cuộc đời, một lần nữa khuôn mặt của Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh được hiện ra.
Và nếu một ngày nào đó, nhờ một lời nói của ta, một bàn tay ta đưa ra, một lần ta chịu dừng lại, một sự hiện diện âm thầm, một lần tha thứ, một chén nước, một miếng bánh, một cuộc viếng thăm, một lời giải tội, một bài giảng đơn sơ, một đêm thức bên người bệnh, mà một con người đang nghĩ mình bị Thiên Chúa bỏ quên chợt tin lại rằng mình vẫn được yêu, thì ngày ấy Tin Mừng đã được loan báo.
Và Thánh Giá đã tiếp tục trổ sinh sự sống giữa cuộc đời.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VÀ ĐẶC SỦNG LOAN BÁO TIN MỪNG CHO NGƯỜI NGHÈO, NGƯỜI BỊ BỎ RƠI
Có những lúc người ta tưởng rằng muốn loan báo Tin Mừng thì phải đi tìm những nơi đông người, những nơi có ảnh hưởng, những môi trường có khả năng tạo tiếng vang; phải có phương tiện mạnh, tổ chức tốt, lời nói hấp dẫn, hình ảnh đẹp, chương trình quy mô. Những điều ấy tự chúng không xấu. Tin Mừng cũng cần được rao giảng bằng tất cả những phương tiện tốt lành mà thời đại cho phép. Nhưng nếu hỏi đâu là nơi Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô vang lên thật nhất, mạnh nhất và đúng nghĩa nhất, có lẽ chúng ta phải trở lại một nơi chẳng có gì hấp dẫn theo mắt người đời: đồi Golgotha. Ở đó không có sân khấu. Không có đám đông tung hô. Không có thành công theo nghĩa thông thường. Không có quyền lực khiến người ta nể sợ. Chỉ có một con người bị lột trần, bị đóng đinh, bị chế nhạo, bị bỏ rơi, đang hấp hối giữa hai người mang án tử. Vậy mà chính nơi tưởng như thất bại ấy lại là nơi Tin Mừng được công bố tận cùng nhất. Chính Thánh Giá là bài giảng lớn nhất về tình yêu Thiên Chúa. Chính Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh là nhà truyền giáo vĩ đại nhất. Và chính từ chân Thánh Giá, Hội Thánh mới hiểu được rằng: loan báo Tin Mừng cho người nghèo, người bị bỏ rơi không phải chỉ là một hoạt động bác ái bên cạnh nhiều hoạt động khác, nhưng là đi vào tận trái tim của Đức Kitô, Đấng đã tự đặt mình vào hàng ngũ của những người bị loại trừ nhất để không một người bị loại trừ nào còn có thể nói rằng Thiên Chúa không biết đến phận mình.
Đặc sủng loan báo Tin Mừng cho người nghèo vì thế không bắt đầu từ một chương trình mục vụ, nhưng bắt đầu từ việc nhìn thật lâu lên Đấng chịu đóng đinh. Càng nhìn Thánh Giá, người môn đệ càng không thể sống bình thản trước tiếng khóc của những phận người bị bỏ quên. Càng chiêm ngắm những bàn tay bị đóng đinh của Chúa Giêsu, càng không thể khoanh tay trước người đói khát. Càng nhìn đôi chân bị đóng chặt của Người, càng không thể làm ngơ trước những người không còn đường đi trong cuộc đời. Càng nhìn cạnh sườn bị đâm thâu, càng không thể giữ trái tim mình khép kín trước người đau khổ. Càng nghe tiếng Người kêu lên trong cô độc: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?”, càng hiểu rằng Người đã đi xuống tận đáy của kinh nghiệm bị bỏ rơi để từ đó ôm lấy tất cả những ai từng có cảm giác mình chẳng còn thuộc về ai. Thánh Giá không cho phép người Kitô hữu đứng xa nỗi đau của con người. Thánh Giá kéo chúng ta xuống khỏi những chiếc ghế an toàn, phá vỡ những khoảng cách được dựng lên bởi tiền bạc, địa vị, tri thức, chức quyền, danh dự, thói quen và cả những định kiến tôn giáo, để chúng ta dám đứng bên cạnh những con người mà xã hội không muốn đứng cạnh.
Tin Mừng cho người nghèo trước hết là Tin Mừng rằng họ không bị Thiên Chúa quên. Đây có lẽ là điều quan trọng hơn tất cả. Cái nghèo đau nhất nhiều khi không phải là không có tiền. Có người nghèo tiền nhưng giàu tình yêu, giàu phẩm giá, giàu niềm hy vọng. Cái nghèo khủng khiếp là cảm giác đời mình không đáng kể, tiếng nói mình chẳng ai nghe, nước mắt mình chẳng ai thấy, sự hiện diện của mình chẳng ai cần. Có người sống giữa thành phố đông đúc mà cô độc như ở sa mạc. Có người ở giữa một gia đình nhưng nhiều năm chẳng được ai thực sự lắng nghe. Có người già nằm trong căn phòng nhỏ, cả ngày nhìn ra cửa chờ một bước chân quen mà không thấy. Có đứa trẻ lớn lên với một khoảng trống vì cha mẹ quá bận kiếm tiền mà quên rằng con mình cần được ôm. Có bệnh nhân đau lâu ngày bắt đầu tự hỏi mình có còn là gánh nặng của mọi người hay không. Có người lầm lỡ sau một lần sa ngã bị xã hội đóng dấu suốt đời. Có người ra khỏi tù nhưng chẳng tìm thấy cánh cửa nào thực sự mở. Có người nghiện ngập bị nhìn bằng ánh mắt khinh miệt nhiều hơn bằng ánh mắt thương cảm. Có những người di dân sống giữa nơi xa lạ, làm những công việc nặng nhọc nhưng chẳng ai biết tên họ. Có những người không có khả năng tự bảo vệ mình, những thai nhi chưa được sinh ra, những cụ già không còn hữu dụng theo cách tính toán của xã hội, những người khuyết tật, những người bệnh tâm thần, những người không có tiếng nói. Và còn biết bao người nghèo khác mà chúng ta không gọi tên được. Tin Mừng phải đến với họ trước hết bằng một lời rất đơn giản: “Anh chị em không bị quên. Thiên Chúa biết tên anh chị em. Thiên Chúa đã đi tìm anh chị em. Và giá trị đời anh chị em lớn đến mức Con Thiên Chúa đã chết cho anh chị em.”
Đó chính là điều Thánh Giá nói. Thánh Giá không nói rằng người mạnh đáng được yêu hơn người yếu. Thánh Giá không nói rằng người thành công đáng được trân trọng hơn người thất bại. Thánh Giá không nói rằng phẩm giá một con người tăng lên theo tài khoản ngân hàng, bằng cấp, sức khỏe, nhan sắc hay ảnh hưởng của người ấy. Trên Thánh Giá, Thiên Chúa công bố một tiêu chuẩn hoàn toàn khác: con người có giá trị bởi vì được Thiên Chúa yêu. Thế thôi. Một người đang nằm hấp hối không còn làm được gì vẫn quý giá. Một em bé vừa thành hình trong lòng mẹ chưa tạo ra bất cứ giá trị kinh tế nào vẫn quý giá. Một ông cụ trí nhớ đã phai, không còn nhận ra người thân, vẫn quý giá. Một người phạm tội nặng nề, dù phải chịu trách nhiệm về những gì mình làm, vẫn không mất phẩm giá căn bản của một con người được Thiên Chúa dựng nên và được Đức Kitô cứu chuộc. Máu của Đức Giêsu đổ ra không phân biệt người giàu hay nghèo, người tài giỏi hay ít học, người đạo đức hay tội lỗi. Máu ấy rơi xuống đất cho mọi người. Bởi thế, bất cứ nơi nào phẩm giá con người bị chà đạp, nơi đó Thánh Giá đang chất vấn Hội Thánh. Bất cứ nơi nào một con người bị đối xử như món đồ dư thừa, nơi đó Đấng chịu đóng đinh đang hỏi chúng ta: “Con có thấy Ta trong người ấy không?”
Có một đoạn Tin Mừng rất đẹp soi sáng đặc sủng này. Khi Đức Giêsu về Nadarét, Người vào hội đường và đọc lời ngôn sứ Isaia: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19). Sau đó Người nói: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (Lc 4,21). Chữ “hôm nay” ấy thật quan trọng. Đức Giêsu không nói về một viễn tượng xa xôi. Người nói rằng nơi Người, ngay hôm nay, Thiên Chúa đang đến với người nghèo. Nơi Người, người bị giam cầm được nghe về tự do. Nơi Người, người mù được mở mắt. Nơi Người, người bị áp bức được nâng dậy. Và cả cuộc đời Đức Giêsu sau đó là sự triển khai của lời công bố ấy. Người đi tìm người phong cùi mà mọi người tránh xa. Người ngồi ăn với những kẻ bị coi là tội lỗi. Người để người phụ nữ bị mang tiếng xấu chạm vào chân mình. Người dừng lại với người mù ngồi bên vệ đường dù đám đông muốn bắt anh im tiếng. Người bước vào nhà ông Dakêu, một người bị cộng đồng khinh ghét. Người chạm vào quan tài của người con trai bà góa thành Nain. Người bảo vệ người phụ nữ bị kéo ra giữa đám đông để kết án. Người trò chuyện với người phụ nữ Samari bên bờ giếng. Người không chỉ giảng về lòng thương xót; Người biến chính đời mình thành lòng thương xót đang bước đi giữa nhân loại.
Nhưng con đường ấy đưa Người đến đâu? Đưa đến Thánh Giá. Bởi vì đứng về phía người bị loại trừ luôn có giá của nó. Yêu những người chẳng ai muốn yêu luôn có giá của nó. Nói sự thật bênh vực người yếu thế luôn có giá của nó. Phá vỡ những bức tường phân chia luôn có giá của nó. Đức Giêsu không chết vì một tai nạn bất ngờ. Thánh Giá là hậu quả của một đời sống hoàn toàn trung thành với tình yêu của Chúa Cha và hoàn toàn dấn thân cho con người. Người đã chạm vào những người không được phép chạm. Người đã tha thứ cho những người mà người khác muốn kết án. Người đặt con người lên trên luật lệ khi luật lệ bị sử dụng để nghiền nát con người. Người nói thẳng với những cơ chế tôn giáo đã biến đức tin thành gánh nặng. Người lật bàn những kẻ biến Nhà Cha thành nơi buôn bán. Người công bố Nước Thiên Chúa cho những người bé nhỏ. Người làm cho những người vô danh nhận ra rằng họ có một khuôn mặt trước mặt Thiên Chúa. Người không chịu bước sang bên kia đường khi gặp người bị thương. Cuối cùng, chính Người bị đối xử như một kẻ bị loại trừ.
Hãy nhìn thật kỹ cảnh Thánh Giá. Đức Giêsu bị đóng đinh ngoài thành. Điều đó có ý nghĩa sâu xa. Người chết ngoài nơi cư trú, ngoài không gian danh dự, ngoài vòng an toàn. Người bị đẩy ra bên lề theo nghĩa đen. Và ở đó, Người nằm trong hàng ngũ những người bị xã hội loại bỏ. Hai bên Người không phải là hai nhân vật quyền thế mà là hai tử tội. Đám đông không tung hô mà chế nhạo. Các môn đệ phần lớn đã bỏ chạy. Áo Người bị chia nhau. Danh dự Người bị tước bỏ. Thân thể Người bị hành hạ. Người không còn gì để trao ngoài chính mình. Nhưng chính lúc không còn gì nữa, Người trao tất cả. Đó là nghịch lý của Thánh Giá. Người hoàn toàn nghèo để làm giàu cho chúng ta bằng tình yêu. Người bị bỏ rơi để không ai còn bị bỏ rơi trong tuyệt vọng. Người bước vào sự chết để mở cửa sự sống. Người trở nên người cuối cùng để nâng những người cuối cùng lên.
Vì thế, một linh đạo truyền giáo chân chính không thể tách khỏi Thánh Giá. Nếu truyền giáo chỉ còn là mở rộng ảnh hưởng, tăng số người, xây dựng hình ảnh, làm cho tổ chức lớn mạnh, nó có thể rất thành công mà vẫn xa Tin Mừng. Thành quả mục vụ là điều đáng quý, nhưng không phải tiêu chuẩn cuối cùng của Tin Mừng. Tiêu chuẩn cuối cùng là sự trung thành với Đức Kitô. Và Đức Kitô mà Hội Thánh loan báo là Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Thánh Phaolô đã từng nói một câu làm đảo lộn mọi tiêu chuẩn của thế gian: “Chúng tôi rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh” (1 Cr 1,23). Người Do Thái đòi dấu lạ. Người Hy Lạp tìm sự khôn ngoan. Còn Phaolô đặt trước mặt họ một Đấng bị đóng đinh. Theo mắt người đời, đó là thất bại. Theo cái nhìn đức tin, đó là quyền năng của Thiên Chúa. Nhà truyền giáo vì thế không thể chỉ mang đến cho người nghèo những lời hứa đẹp về Thiên Chúa mà bản thân lại sợ sống tinh thần nghèo khó. Không thể nói về một Đức Kitô gần người bị bỏ rơi trong khi chính mình chỉ thích gần người có ảnh hưởng. Không thể giảng một Thiên Chúa khiêm hạ nhưng lại khao khát địa vị. Không thể rao giảng Đấng không có chỗ tựa đầu mà đời sống của người môn đệ lại quá bận tâm với tiện nghi. Không thể loan báo Thánh Giá mà luôn tìm cách tránh mọi hy sinh.
Đối với linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế, điều này càng đặc biệt sâu sắc. Ơn gọi của người thừa sai Chúa Cứu Thế được sinh ra từ thao thức đem Ơn Cứu Chuộc chứa chan đến những người nghèo nhất, bị bỏ rơi nhất. Thánh Anphongsô không gặp Đức Kitô bằng cách chạy khỏi con người đau khổ, nhưng gặp Người nơi chính những phận người không được chăm sóc đầy đủ về đời sống thiêng liêng. Những người nghèo vùng quê, những người chăn dê trên các triền núi, những dân quê ít học, những người mà đời sống mục vụ thông thường chưa chạm tới, đã trở thành tiếng gọi đánh thức trái tim ngài. Và từ đó bật lên một câu hỏi mang sức nặng của một đời: ai sẽ nói cho họ biết rằng Thiên Chúa yêu họ? Ai sẽ đến với họ? Ai sẽ ở lại với họ? Ai sẽ giảng cho họ bằng thứ ngôn ngữ họ hiểu? Ai sẽ giúp họ biết rằng Ơn Cứu Chuộc không chỉ dành cho những người có điều kiện đến gần các trung tâm, nhưng là ân ban cho tất cả, đặc biệt cho những ai dường như ở xa nhất?
“Ơn Cứu Chuộc nơi Người chan chứa.” Câu Thánh Vịnh ấy trở thành một nhịp đập của đặc sủng Chúa Cứu Thế. Copiosa apud Eum redemptio. Ơn cứu chuộc nơi Người không ít ỏi, không dè sẻn, không chỉ vừa đủ, không dành riêng cho một nhóm ưu tuyển. Ơn cứu chuộc ấy dồi dào, chứa chan, dư tràn. Và điều gì dồi dào thì tự bản chất muốn tràn ra. Một dòng nước đầy phải chảy. Một trái tim đầy tình yêu phải cho đi. Một Hội Thánh thực sự cảm nghiệm Ơn Cứu Chuộc không thể đóng kín cửa. Một tu sĩ Chúa Cứu Thế thực sự bị chạm bởi Đấng Cứu Chuộc không thể chỉ giữ niềm vui ấy cho mình. Nếu đã biết mình được tha thứ thế nào, sẽ muốn người tội lỗi cũng nếm được lòng thương xót ấy. Nếu đã biết mình được tìm kiếm thế nào, sẽ muốn đi tìm người lạc mất. Nếu đã biết Chúa đã kiên nhẫn với mình thế nào, sẽ bớt khắt khe với người khác. Nếu đã biết mình được yêu khi còn bất xứng thế nào, sẽ hiểu rằng chẳng có ai bất xứng đến mức không đáng được nghe Tin Mừng.
Ở đây, Thánh Giá trở thành thước đo rất nghiêm khắc của đời sống thừa sai. Người truyền giáo cho người nghèo phải tự hỏi: tôi đến với người nghèo để làm gì? Để thấy mình tốt? Để thỏa mãn nhu cầu làm việc thiện? Để có những bức hình đẹp? Để kể những câu chuyện cảm động? Hay bởi vì tôi nhận ra nơi họ một người anh em được Đức Kitô yêu đến chết? Có một khác biệt rất lớn giữa thương hại và yêu thương. Thương hại đứng từ trên nhìn xuống. Tình yêu đứng ngang hàng. Thương hại cho một món quà rồi đi. Tình yêu hỏi tên người kia. Thương hại thích giải quyết nhanh một nhu cầu. Tình yêu muốn hiểu cả con người. Thương hại dễ tạo ra khoảng cách giữa “người cho” và “người nhận”. Tình yêu biết rằng cả hai đều là những người nghèo trước mặt Thiên Chúa. Người thừa sai chân chính không bao giờ bước vào xóm nghèo với tâm thế “tôi mang Chúa đến cho các bạn”, bởi có khi Chúa đã ở đó từ lâu trước khi mình đến. Có khi chính người nghèo sẽ dạy mình về lòng tin. Có khi bà mẹ nghèo nuôi con trong khốn khó lại hiểu sự phó thác hơn mình. Có khi một bệnh nhân chịu đau trong bình an lại giảng về Thánh Giá sâu hơn cả một bài thần học. Có khi một người chẳng biết nói lời hoa mỹ lại có một lòng bác ái khiến người có học phải cúi đầu.
Tin Mừng minh họa điều ấy thật đẹp trong trình thuật bà góa nghèo bỏ hai đồng tiền nhỏ vào thùng tiền Đền Thờ. Người giàu bỏ rất nhiều. Bà chỉ bỏ hai đồng tiền kẽm. Chẳng ai để ý. Có lẽ nếu Đức Giêsu không lên tiếng, không ai biết bà đã từng đi ngang qua đó. Nhưng Chúa thấy. Người nghèo thường là những người chẳng ai thấy, nhưng Chúa thấy. Đức Giêsu gọi các môn đệ lại và nói rằng bà đã bỏ vào nhiều hơn tất cả, vì những người khác bỏ phần dư thừa, còn bà trong cảnh túng thiếu đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống mình. Thật đáng suy nghĩ: Chúa không chỉ nhìn người nghèo như đối tượng cần được giúp. Người nhìn thấy nơi người nghèo một khả năng hiến dâng phi thường. Đây là điều mà mục vụ cho người nghèo rất dễ quên. Nếu chúng ta chỉ nhìn người nghèo như những bàn tay cần nhận, chúng ta vô tình xúc phạm phẩm giá họ. Người nghèo cũng có thể cho. Họ có đức tin để cho. Có lòng quảng đại để cho. Có kinh nghiệm sống để cho. Có sự kiên cường để cho. Có nước mắt, lời cầu nguyện và tình thương để cho. Hội Thánh không chỉ được sai đến với người nghèo; Hội Thánh cũng phải để người nghèo Tin Mừng hóa mình.
Cảnh Thánh Giá cho chúng ta một hình ảnh còn mạnh hơn nữa. Người đầu tiên nghe lời hứa trực tiếp về thiên đàng từ miệng Đức Giêsu trong những giờ phút cuối đời Người là ai? Không phải một tông đồ. Không phải một tư tế. Không phải một học giả Kinh Thánh. Là một tên trộm đang bị đóng đinh bên cạnh. Anh chẳng còn gì để dâng. Chẳng còn thời gian sửa lại cuộc đời. Chẳng có cơ hội lập công. Chẳng thể xuống khỏi thập giá mà trả lại những gì đã cướp, làm những việc bác ái hay xây dựng một quá khứ mới. Anh chỉ có một lời cầu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Đức Giêsu trả lời: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Có lẽ không có đoạn Tin Mừng nào diễn tả Ơn Cứu Chuộc chứa chan rõ hơn thế. Một con người ở phút cuối, một đời đầy đổ vỡ, chỉ còn một hơi thở và một lời tín thác, được mở cửa thiên đàng. Đó là Chúa Cứu Thế. Đó là Đấng mà chúng ta được sai đi loan báo. Một Thiên Chúa không mỏi mệt cứu con người cho đến giây phút cuối cùng.
Người thừa sai vì thế không được tuyệt vọng về bất cứ ai. Đây là một đòi hỏi rất lớn. Chúng ta dễ mất kiên nhẫn với những người thay đổi quá chậm. Chúng ta giúp một người rồi thấy họ lại vấp ngã. Khuyên một người nghiện bỏ nghiện rồi họ tái nghiện. Hòa giải một gia đình rồi vài tháng sau lại xung đột. Dạy giáo lý một người rồi họ bỏ lễ. Cố gắng nâng một người lên rồi thấy họ quay trở lại lối sống cũ. Và chúng ta mệt. Chúng ta nghĩ: “Thôi, hết cách rồi.” Nhưng người môn đệ của Đấng Cứu Chuộc phải rất cẩn thận với câu “hết cách rồi”, bởi Thánh Giá chính là lời Thiên Chúa nói rằng: khi con người tưởng hết cách, Thiên Chúa vẫn còn một con đường. Khi các môn đệ tưởng mọi chuyện đã kết thúc chiều Thứ Sáu, Thiên Chúa đang chuẩn bị buổi sáng Phục Sinh. Khi viên đá lấp cửa mồ, tình yêu vẫn không bị chôn. Vì thế, nhà truyền giáo của Thánh Giá là con người mang một thứ hy vọng bướng bỉnh: không từ bỏ con người dễ dàng.
Tuy nhiên, loan báo Tin Mừng cho người nghèo không có nghĩa là lãng mạn hóa cái nghèo. Nghèo đói vẫn là một đau khổ phải được khắc phục khi có thể. Bệnh tật cần được chữa trị. Trẻ em cần được học. Người bị bóc lột cần được bảo vệ. Người thất nghiệp cần cơ hội lao động. Người không nhà cần một mái nhà. Nạn nhân bạo lực cần được bênh vực. Người di dân cần được tôn trọng. Người già cần được chăm sóc. Người đói cần bánh ăn. Chúng ta không thể nói với một người đang đói: “Chúa yêu anh” mà không quan tâm xem anh có gì ăn tối nay không. Thánh Giacôbê đã nói rất rõ: nếu một người anh em không có áo che thân, không đủ của ăn hằng ngày, mà chúng ta chỉ bảo “hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no” nhưng chẳng cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì ích gì? Đức tin không có việc làm là đức tin chết. Nhưng ngược lại, nếu chỉ cho bánh mà không giúp con người tìm thấy ý nghĩa, hy vọng và phẩm giá, việc loan báo cũng chưa trọn vẹn. Con người không chỉ có cái bụng. Người nghèo không chỉ cần thực phẩm; họ cần được nhìn như con người. Họ cần được gọi tên. Cần có người lắng nghe. Cần có một cộng đoàn tiếp nhận. Cần biết rằng mình có một tương lai. Cần được nghe Tin Mừng rằng cuộc đời họ không phải là một tai nạn vô nghĩa giữa vũ trụ lạnh lùng nhưng là một đời sống nằm trong bàn tay Thiên Chúa.
Và chính ở điểm này, Thánh Giá nối kết hai chiều kích tưởng như xa nhau: cứu độ linh hồn và phục vụ con người toàn diện. Đấng bị đóng đinh không cứu một “linh hồn trừu tượng”. Người cứu con người bằng chính thân xác mình. Thân thể Người bị đánh. Máu Người đổ. Người khát. Người đau. Người chết. Kitô giáo vì thế không thể coi thường thân xác và những nhu cầu cụ thể của con người. Nhưng Thánh Giá cũng cho thấy đau khổ sâu nhất của con người không chỉ là thiếu cơm áo mà còn là tội lỗi, sự xa cách Thiên Chúa, sự mất ý nghĩa, sự không thể tự cứu mình. Bởi thế người thừa sai phải mang cả bánh cho người đói lẫn Lời cho tâm hồn; cả thuốc men cho người bệnh lẫn niềm hy vọng cho người tuyệt vọng; cả sự nâng đỡ xã hội lẫn lời mời gọi hoán cải; cả công lý lẫn lòng thương xót; cả sự giải phóng khỏi những cơ cấu bất công lẫn sự giải phóng khỏi ích kỷ, hận thù và tội lỗi đang trói buộc trái tim con người.
Một nguy cơ khác là chúng ta thích người nghèo ở xa hơn người nghèo ở gần. Nghèo ở xa thường dễ thương. Ta có thể gửi chút tiền, cảm thấy xúc động rồi tiếp tục cuộc sống. Người nghèo ở gần lại làm phiền. Có thể là một người thân khó tính. Một ông già nói mãi một câu. Một người bệnh cần được chăm sóc từng ngày. Một người trong cộng đoàn chậm chạp, vụng về. Một người cứ tìm đến đúng lúc mình đang bận. Một linh mục già không còn làm được việc. Một tu sĩ đang khủng hoảng. Một người anh em có tính tình không dễ chịu. Một giáo dân nghèo chẳng mang lại “lợi ích” nào cho giáo xứ nhưng lúc nào cũng cần được lắng nghe. Có những lúc “người bị bỏ rơi nhất” không ở một đất nước xa xôi mà đang ăn cùng bàn với ta. Thánh Giá hỏi chúng ta không phải yêu nhân loại nói chung, mà yêu một người cụ thể đang đứng trước mặt.
Đây cũng là một xét mình rất đau đối với Hội Thánh. Một cộng đoàn có thể nói rất nhiều về người nghèo nhưng trong cách sinh hoạt lại vô tình khiến người nghèo cảm thấy mình lạc lõng. Có thể nhà thờ rất đẹp nhưng người nghèo không dám bước vào vì cảm thấy mình không thuộc về nơi ấy. Có thể các hội đoàn hoạt động sôi nổi nhưng một bà góa đơn độc chẳng ai biết. Có thể chương trình mục vụ rất phong phú nhưng người khuyết tật không có cách tham dự. Có thể một giáo xứ xây được nhiều công trình nhưng một gia đình đang bên bờ tan vỡ chẳng có ai đồng hành. Có thể chúng ta tổ chức những lễ rất lớn mà quên rằng sau hàng ghế cuối có một người đang khóc. Điều quyết định không phải là chúng ta có nói về người nghèo hay không, nhưng người nghèo có cảm thấy Hội Thánh là nhà mình hay không.
Nếu một người nghèo bước vào cộng đoàn và cảm thấy phải ăn mặc thế nào đó mới được tôn trọng, phải nói năng thế nào đó mới được lắng nghe, phải quen người này người kia mới được tiếp cận, thì chúng ta cần nhìn lại Thánh Giá. Trên Golgotha chẳng có khu vực ưu tiên. Máu Đức Kitô không chảy thành hai dòng, một dòng cho người đáng trọng và một dòng cho kẻ bị coi thường. Khi cạnh sườn Người mở ra, nước và máu chảy xuống cho tất cả. Hội Thánh sinh ra từ cạnh sườn ấy chỉ trung thành với căn tính của mình khi cửa trái tim cũng mở rộng như cạnh sườn của Chúa.
Người nghèo còn có một dạng khác rất phổ biến trong thế giới hôm nay: nghèo ý nghĩa. Người ta có thể có nhà, xe, tài khoản, bằng cấp và đủ mọi tiện nghi nhưng bên trong là một vực trống. Có người trẻ không biết mình sống để làm gì. Có người thành đạt nhưng mỗi sáng thức dậy không biết vì sao phải tiếp tục. Có người có hàng chục nghìn người theo dõi trên mạng nhưng không có một người bạn để gọi lúc hai giờ sáng. Có người cười trong mọi tấm hình nhưng đêm về lại đối diện một nỗi cô độc không ai biết. Có những gia đình đầy đủ vật chất nhưng thiếu những bữa cơm có người thực sự nhìn vào mắt nhau. Có những người đang nghèo lòng tin, nghèo hy vọng, nghèo một lý do để tha thứ, nghèo khả năng tin rằng đời mình còn có thể bắt đầu lại. Họ cũng là người nghèo cần được Tin Mừng tìm đến.
Người bị bỏ rơi hôm nay cũng không nhất thiết phải sống ngoài đường. Có khi họ nằm trên giường bệnh. Có khi ở trong viện dưỡng lão. Có khi ở trong nhà tù. Có khi là một bà mẹ đơn thân. Có khi là một người vừa ly dị bị cả cộng đoàn nhìn bằng ánh mắt phán xét. Có khi là một người trẻ mắc sai lầm và bị mạng xã hội đưa ra xét xử tập thể. Có khi là người đang chịu một tai tiếng mà chẳng ai chịu nghe câu chuyện từ phía họ. Có khi là một linh mục sai lỗi đang cần được sửa chữa nhưng đồng thời cũng cần được cứu khỏi tuyệt vọng. Có khi là một người đã rời Giáo Hội nhiều năm vì một vết thương nào đó mà chẳng ai từng hỏi. Đặc sủng thừa sai cho người bị bỏ rơi mời chúng ta bước đến những vùng ngoại biên ấy, không phải để thỏa hiệp với điều sai, nhưng để không bao giờ đồng hóa một con người với sai lầm của họ.
Đức Giêsu là bậc thầy của cách nhìn ấy. Người nói với người phụ nữ ngoại tình: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.” Hai điều cùng có mặt: không lên án con người và không gọi tội lỗi là tốt. Đó là lòng thương xót đích thực. Ngày nay chúng ta thường rơi vào một trong hai cực. Hoặc nhân danh sự thật mà nghiền nát con người. Hoặc nhân danh tình thương mà xóa nhòa sự thật. Thánh Giá giữ cả hai. Thánh Giá cho thấy tội lỗi nghiêm trọng đến mức nào: nó đưa Con Thiên Chúa lên cây gỗ. Nhưng Thánh Giá cũng cho thấy tình yêu lớn đến mức nào: chính Con Thiên Chúa trên cây gỗ ấy lại cầu xin tha thứ cho kẻ đóng đinh mình. “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Người thừa sai của Thánh Giá phải học được thứ ngôn ngữ ấy: nói sự thật mà người nghe vẫn cảm thấy mình được yêu; sửa lỗi mà không sỉ nhục; kêu gọi hoán cải mà không đóng cửa hy vọng.
Một nhà truyền giáo chỉ biết lên án sẽ không thể loan báo Đấng chịu đóng đinh cách trọn vẹn. Một người rao giảng chỉ biết nói về luật mà không biết khóc với người đau khổ thì chưa hiểu trái tim Chúa Giêsu. Nhưng một người chỉ nói những điều dễ nghe để không ai khó chịu cũng chưa phải nhà truyền giáo. Đức Giêsu đã yêu người ta đủ nhiều để nói sự thật với họ. Nhưng Người nói sự thật sau khi đã bước vào đời họ. Người ngồi bên giếng với người phụ nữ Samari trước khi chạm đến những đổ vỡ trong đời bà. Người vào nhà Dakêu trước khi Dakêu tuyên bố thay đổi. Người để mình được xức dầu bằng nước mắt của người phụ nữ tội lỗi trước ánh mắt khó chịu của những người đạo đức. Tình yêu đi trước. Chân lý không bị giảm bớt, nhưng được trao trong một trái tim đã biết yêu.
Thánh Giá còn dạy người thừa sai một điều rất khó: chấp nhận bất lực. Có những đau khổ chúng ta không giải quyết được. Có những người nghèo chúng ta không thể đưa ra khỏi cảnh nghèo ngay lập tức. Có bệnh nhân chúng ta không chữa được. Có cái chết không thể ngăn. Có gia đình chúng ta cố gắng nhưng không thể hàn gắn. Có người nghiện chúng ta đồng hành lâu năm mà vẫn vấp ngã. Có những miền đất truyền giáo nhiều năm chẳng thấy kết quả. Lúc ấy, cám dỗ lớn nhất là nghĩ rằng mình vô dụng. Nhưng Thánh Giá nói rằng sự hiện diện yêu thương đôi khi đã là một sứ vụ. Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá chẳng tháo được một cây đinh nào. Mẹ không ngăn được lưỡi đòng. Không làm dịu được đám đông. Không cứu Con xuống khỏi Thánh Giá. Theo tiêu chuẩn hiệu quả, Mẹ chẳng làm được gì. Nhưng Mẹ đứng đó. Và có những lúc tình yêu cao nhất chính là đứng đó.
Người nghèo cần người giải quyết vấn đề, nhưng cũng cần người không bỏ đi khi vấn đề chưa giải quyết được. Người bệnh cần thuốc, nhưng khi thuốc không còn chữa được, họ vẫn cần một bàn tay. Người hấp hối không cần chúng ta giảng những bài dài; đôi khi họ chỉ cần biết có một người đang ngồi bên. Người mất con không cần câu trả lời thần học ngay tức khắc; họ cần một người có thể khóc cùng. Gia đình có người tự tử không cần những phán xét; họ cần một cộng đoàn ôm lấy họ. Thánh Giá dạy chúng ta mục vụ của sự hiện diện. Thiên Chúa không cứu thế giới từ xa. Người đến ở cùng. Emmanuel. Và trên Thánh Giá, Người ở cùng con người trong cả nơi kinh khủng nhất: đau đớn, cô độc và cái chết.
Đặc sủng loan báo Tin Mừng cho người nghèo vì thế đòi nhà truyền giáo phải có khả năng “ở lại”. Người nghèo rất quen với việc người ta đến rồi đi. Một đoàn từ thiện đến, phát quà, chụp hình rồi đi. Một chương trình đến rồi hết ngân sách. Một dự án bắt đầu rồi kết thúc. Một lời hứa được nói rồi bị quên. Điều khiến người nghèo tin vào Tin Mừng nhiều khi không phải là một bài giảng hùng hồn nhưng là thấy một người vẫn còn ở đó sau nhiều năm. Đức Giêsu nói: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Đó là kiểu hiện diện của Thiên Chúa: ở cùng. Người thừa sai phải học thứ trung tín ấy. Không phải lúc nào cũng làm được điều lớn, nhưng có thể ở lại đủ lâu để một đứa trẻ lớn lên biết rằng ít nhất đã có người tin vào nó; đủ lâu để một người nghiện hiểu rằng mỗi lần mình ngã vẫn có một cánh tay kéo lên; đủ lâu để một cộng đoàn nghèo biết rằng họ không phải là dự án mà là gia đình.
Và để ở lại như vậy, người thừa sai phải tự mình gắn với Thánh Giá. Nếu không, sẽ nhanh kiệt sức. Chúng ta không thể cứu tất cả mọi người. Không thể đáp ứng tất cả nhu cầu. Không thể chữa lành mọi vết thương. Không thể mang cả thế giới trên vai. Đó là việc của Đấng Cứu Thế, không phải của chúng ta. Nhà truyền giáo phải nhớ mình là người được sai đi, không phải Đấng Cứu Độ. Chính Đức Giêsu mới là Chúa Cứu Thế. Người thừa sai chỉ dẫn người ta đến với Người. Điều này đem lại một sự tự do rất lớn. Ta làm hết sức mình nhưng không tưởng mình là nguồn cứu độ. Ta gieo, người khác tưới, Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Ta yêu, phục vụ, rao giảng, đồng hành, rồi phó thác phần còn lại cho Chúa. Có những hạt giống chỉ nảy mầm sau khi người gieo đã qua đời.
Có lẽ một trong những sự nghèo khó nguy hiểm nhất của nhà truyền giáo là cần được công nhận. Chúng ta muốn thấy kết quả. Muốn được cảm ơn. Muốn những gì mình làm được biết đến. Muốn người được giúp phải biết ơn. Muốn cộng đoàn đáp lại. Nhưng Thánh Giá thanh luyện động cơ ấy. Đức Giêsu chết giữa những lời chế nhạo. Những người được Người chữa lành ở đâu? Những đám đông từng ăn bánh Người hóa nhiều ở đâu? Những người từng tung hô “Hosanna” ở đâu? Người vẫn yêu. Đây là tự do của tình yêu thừa sai: làm điều tốt ngay cả khi không được ghi nhận; yêu ngay cả khi người kia chưa hiểu; phục vụ ngay cả khi bị hiểu lầm; tiếp tục gieo ngay cả khi chưa thấy mùa gặt.
Chính ở đó, người truyền giáo trở nên giống Đấng Cứu Chuộc. Không phải giống bằng bộ áo mình mặc hay chức danh mình mang, nhưng bằng những vết thương của tình yêu. Có những vết thương trong đời thừa sai chẳng ai nhìn thấy: bị từ chối, bị hiểu lầm, bị phản bội, thất bại trong mục vụ, thấy người mình thương quay lưng, thấy công sức nhiều năm tan biến, thấy cộng đoàn mình phục vụ chẳng thay đổi như mong đợi. Những điều ấy nếu không đem vào Thánh Giá sẽ biến thành cay đắng. Nhưng nếu được đặt cạnh những vết đinh của Chúa, chúng có thể trở thành nơi hiệp thông với Người. Không phải vì đau khổ tự nó tốt, nhưng bởi tình yêu có khả năng biến đau khổ thành hiến lễ.
Dẫu vậy, Thánh Giá không kết thúc ở mồ. Đây là điều người nghèo cần được nghe nhất. Tin Mừng cho người nghèo không phải là bảo họ cam chịu số phận. Không phải nói: “Chúa đã chịu khổ, nên anh cứ chịu khổ đi.” Đó là xuyên tạc Thánh Giá. Đức Kitô chịu chết để đánh bại sự chết. Người chịu bất công không phải để hợp thức hóa bất công, nhưng để mở một trật tự mới. Người xuống tận đáy để nâng con người lên. Người bị đóng đinh nhưng đã phục sinh. Vì thế, bất cứ mục vụ nào nhân danh Thánh Giá để buộc người bị áp bức im tiếng, buộc nạn nhân tiếp tục chịu bạo lực, buộc người nghèo chấp nhận những cơ cấu bất công mà không tìm cách thay đổi, đều phản bội Tin Mừng. Thánh Giá phải dẫn đến Phục Sinh. Người nghèo phải được trao quyền đứng dậy. Người bị áp bức phải được khôi phục phẩm giá. Người tội lỗi phải được mở con đường hoán cải. Người tuyệt vọng phải được trả lại tương lai.
Khi Đức Giêsu chữa người bại liệt, Người không chỉ nói về đời sau. Người bảo anh: “Hãy đứng dậy, vác chõng mà về nhà.” Tin Mừng làm người ta đứng dậy. Khi Người gặp anh mù Bartimê, Người không bảo anh chấp nhận bóng tối. Người hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh nói: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” Và Người cho anh thấy. Khi gặp người phong cùi, Người chạm vào anh và đưa anh trở lại cộng đồng. Khi gặp người phụ nữ bị còng lưng mười tám năm, Người gọi bà là “con cháu Abraham” và giải thoát bà khỏi sự trói buộc. Tin Mừng không làm con người nhỏ lại. Tin Mừng phục hồi họ.
Chính vì thế, người thừa sai cho người nghèo phải luôn hỏi: việc tôi làm có giúp người khác đứng dậy không, hay khiến họ lệ thuộc hơn? Tôi đang trả lại phẩm giá hay biến họ thành đối tượng để tôi thực hiện lòng tốt? Tôi có lắng nghe họ hay chỉ quyết định thay họ? Tôi có giúp họ khám phá khả năng của chính mình hay khiến họ nghĩ họ sẽ mãi cần người khác cứu? Đức Giêsu thường hỏi người bệnh: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Một câu hỏi đáng học biết bao. Người biết người kia cần gì, nhưng Người vẫn hỏi. Vì yêu thương tôn trọng tự do. Người nghèo không phải một bài toán. Họ là chủ thể của chính cuộc đời họ.
Có lẽ điều đẹp nhất của sứ mạng này là dần dần người thừa sai nhận ra ranh giới giữa “người nghèo” và “mình” không rõ như tưởng. Bước đến với người nghèo đủ lâu, ta sẽ khám phá sự nghèo của chính mình. Ta cũng nghèo tình yêu. Nghèo kiên nhẫn. Nghèo lòng tin. Nghèo khả năng tha thứ. Nghèo sự trong sạch của động cơ. Nghèo tự do nội tâm. Nghèo trước cái chết. Nghèo trước những câu hỏi không giải đáp được. Cuối cùng, tất cả chúng ta đều là những người ăn xin trước cửa lòng thương xót Thiên Chúa. Có người ăn xin bánh. Có người ăn xin bình an. Có người ăn xin sức khỏe. Có người ăn xin một cơ hội khác. Có người ăn xin ơn tha thứ. Và chính khi người thừa sai nhận mình cũng là người nghèo, cuộc gặp gỡ mới trở thành huynh đệ thật sự.
Trước Thánh Giá, chẳng ai là ân nhân của ai. Tất cả đều nhận. Linh mục nhận. Tu sĩ nhận. Người giáo dân nhận. Người nghèo nhận. Người giàu nhận. Người thánh thiện nhận. Người tội lỗi nhận. Tất cả đều đứng dưới một dòng máu cứu độ. Và có lẽ đây là nền tảng sâu nhất của đặc sủng loan báo Tin Mừng cho những người bị bỏ rơi: chúng ta đi đến với họ không phải bởi chúng ta tốt hơn họ, nhưng vì chúng ta và họ đều đã được cùng một Đấng Cứu Chuộc yêu đến chết.
Ngày kia, Đức Giêsu nói về cuộc phán xét cuối cùng bằng những lời khiến mỗi người Kitô hữu phải giật mình: “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm.” Những người công chính ngạc nhiên hỏi: “Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa như thế đâu?” Và Đức Vua trả lời: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (x. Mt 25,35-40). Đây không phải là một hình ảnh đạo đức dễ thương. Đây là một mặc khải làm đảo lộn cái nhìn: Đức Kitô tự đồng hóa mình với người bé nhỏ. Không chỉ nói rằng hãy giúp họ “vì Chúa”. Người nói: “chính Ta ở đó.”
Nếu tin điều này thật, đời ta sẽ thay đổi. Gặp người nghèo không còn là bị làm phiền; đó là một cuộc gặp với Đức Kitô đang ẩn mình. Thăm người bệnh không còn chỉ là bổn phận; đó là vào phòng bệnh nơi Chúa đang chờ. Đến nhà tù không còn là bước vào nơi của những người “khác mình”; đó là tìm Chúa trong một thân phận bị giam cầm. Ngồi nghe một người già kể chuyện lần thứ mười không còn là lãng phí thời gian; đó có thể là ngồi dưới chân một Đức Kitô già nua đang cần được lắng nghe. Ôm một đứa trẻ bị bỏ rơi là ôm lấy Chúa. Bảo vệ một người bị kết án bất công là đứng gần Thánh Giá.
Vậy nên, thừa sai Chúa Cứu Thế không phải trước hết là người đi thật xa. Có người đi nghìn cây số mà chưa bước khỏi cái tôi. Có người chẳng đi xa nhưng mỗi ngày vượt qua một khoảng cách lớn hơn: khoảng cách từ dửng dưng đến cảm thương, từ xét đoán đến thấu hiểu, từ tiện nghi đến chia sẻ, từ quyền lực đến phục vụ, từ cái tôi đến Thánh Giá. Truyền giáo thật sự bắt đầu khi trái tim chịu để mình bị thương bởi nỗi đau của con người. Thánh Anphongsô đã để tiếng kêu của những người bị bỏ rơi làm mình mất bình an. Đó là thứ “mất bình an” thánh thiện. Có những bình an đến từ việc đóng cửa để khỏi thấy đau khổ; đó không phải bình an của Tin Mừng. Bình an của Chúa không làm ta vô cảm. Trái lại, càng ở gần Chúa, ta càng nghe rõ tiếng khóc của thế giới.
Và Hội Thánh hôm nay vẫn cần những con người có một trái tim không chịu yên khi biết còn ai đó chưa được nghe Tin Mừng. Không phải Tin Mừng như một lý thuyết, nhưng Tin Mừng như một biến cố: Thiên Chúa yêu bạn. Đức Kitô đã chết và sống lại vì bạn. Tội lỗi không phải lời cuối. Quá khứ không phải lời cuối. Sự nghèo khó không phải lời cuối. Bệnh tật không phải lời cuối. Những lần bạn bị người ta loại bỏ không phải lời cuối. Ngay cả cái chết cũng không phải lời cuối. Lời cuối thuộc về Thiên Chúa, và lời ấy là sự sống.
Có những người cần nghe Tin Mừng ấy trong một ngôi nhà thờ. Có những người sẽ không bao giờ bước vào nhà thờ, nên Hội Thánh phải bước ra. Chúa Giêsu không ngồi chờ người phong cùi đến hội đường. Người đi trên đường. Người đi qua làng mạc. Người lên núi. Người xuống thuyền. Người ngồi bên giếng. Người vào nhà người tội lỗi. Người dừng bên vệ đường. Người hiện diện ở nơi con người đang sống. Một Hội Thánh thừa sai cũng vậy. Phải có khả năng bước ra những con đường nơi người nghèo đang đi; bước vào bệnh viện, nhà tù, khu công nghiệp, xóm trọ, vùng sâu, mái ấm, gia đình tan vỡ, thế giới kỹ thuật số và mọi vùng ngoại biên của tâm hồn con người.
Đi ra không phải vì Hội Thánh ghét ngôi nhà của mình, nhưng bởi lửa trong nhà quá lớn để giữ kín. Người đã thực sự gặp Đấng Cứu Chuộc không thể không kể về Người. Hai môn đệ Emmau sau khi nhận ra Chúa trong lúc bẻ bánh đã lập tức trở về Giêrusalem, dù trời đã tối. Người phụ nữ Samari bỏ vò nước mà chạy về thành. Maria Mađalêna sau khi gặp Chúa phục sinh chạy đi nói với các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa.” Tin Mừng tự nó tạo nên bước chân.
Nhưng bước chân đẹp nhất vẫn là những bước chân mang dấu Thánh Giá. Bởi vì người nghèo rất nhạy. Họ biết ai thật lòng và ai diễn. Họ nhận ra ai đến để yêu và ai đến để sử dụng câu chuyện của họ. Một nhà truyền giáo không cần hoàn hảo, nhưng phải thật. Phải biết khóc. Biết xin lỗi. Biết nhận mình sai. Biết ngồi xuống. Biết ăn một bữa cơm đơn sơ. Biết nghe một câu chuyện dài. Biết để lịch của mình bị gián đoạn vì một con người. Đức Giêsu rất nhiều lần để hành trình của mình bị gián đoạn. Người đang đi thì Jairô đến xin. Người đi chữa con Jairô thì người phụ nữ băng huyết chạm vào áo. Người đang rời Giêrikhô thì Bartimê kêu. Đám đông thấy phiền. Đức Giêsu dừng lại. Có lẽ mục vụ thừa sai được đo không chỉ bằng những điều chúng ta lên kế hoạch làm, mà còn bằng khả năng để tình yêu làm gián đoạn kế hoạch.
Cuối cùng, tất cả trở về Golgotha. Người thừa sai đứng trước Thánh Giá và nghe một câu hỏi không thành lời: “Con có sẵn sàng yêu họ như Thầy đã yêu không?” Không ai có thể trả lời trọn vẹn. Chúng ta yếu đuối. Tình yêu chúng ta nhỏ. Sự quảng đại nhiều khi pha lẫn ích kỷ. Chúng ta mệt, sợ, ngại, muốn chọn việc dễ hơn. Nhưng điều an ủi là Chúa không bảo chúng ta tự tạo ra tình yêu. Người mời chúng ta ở lại trong tình yêu của Người. Nhà truyền giáo không phải một chiếc giếng tự có nước. Chỉ là một máng dẫn. Muốn đem nước đến cho người khát, phải nối với nguồn.
Vì vậy, trước khi chạy đi tìm người nghèo, người thừa sai phải biết quỳ xuống. Trước khi nói về Chúa, phải để Chúa nói với mình. Trước khi chạm vào vết thương người khác, phải để Chúa chạm vào vết thương của chính mình. Trước khi công bố lòng thương xót, phải nhận lòng thương xót. Trước khi bảo người ta rằng họ được yêu, phải để mình bị chinh phục bởi sự thật rằng chính mình đã được yêu đến chết.
Có lẽ khi ấy ta mới hiểu tại sao Thánh Giá và đặc sủng loan báo Tin Mừng cho người nghèo không bao giờ có thể tách nhau. Thánh Giá cho thấy Thiên Chúa đã xuống thấp đến mức nào để tìm con người. Đặc sủng thừa sai chỉ là tiếp tục chuyển động đi xuống ấy: từ trung tâm đến ngoại biên, từ nơi an toàn đến nơi bấp bênh, từ người có tiếng nói đến người không tiếng nói, từ những nơi người ta thích đến những nơi chẳng ai muốn đến. Không đi xuống để ban phát từ trên cao, nhưng đi xuống để gặp một Đức Kitô đã ở dưới ấy trước mình.
Đôi khi chúng ta hỏi: “Chúa ở đâu giữa những khu ổ chuột? Chúa ở đâu trong nhà tù? Chúa ở đâu bên giường bệnh? Chúa ở đâu trong những phận người chẳng ai nhớ?” Thánh Giá trả lời: Người ở đó. Người đã ở đó từ trước. Có khi câu hỏi đúng hơn phải là: “Còn chúng ta ở đâu?”
Nếu một ngày nào đó Hội Thánh có đủ mọi thứ nhưng không còn ở bên người nghèo, ngày đó Hội Thánh sẽ nghèo đi điều quý nhất: khuôn mặt Đức Kitô. Nếu một cộng đoàn Dòng Chúa Cứu Thế có nhiều công việc, nhiều cơ sở, nhiều hoạt động nhưng không còn đau đáu về những người bị bỏ rơi nhất, cộng đoàn ấy phải trở lại trước Thánh Giá và hỏi lại mình là ai. Đặc sủng không phải một khẩu hiệu treo trên tường. Đặc sủng là một vết thương trong trái tim khiến ta không thể sống khác. Bao lâu còn một người chưa biết mình được Thiên Chúa yêu, sứ mạng chưa xong. Bao lâu còn một người nằm bên vệ đường và mọi người bước qua, sứ mạng chưa xong. Bao lâu còn một con người bị coi là vô dụng, sứ mạng chưa xong. Bao lâu còn một tội nhân nghĩ rằng Thiên Chúa không thể tha cho mình, sứ mạng chưa xong.
Và dù thế giới có thay đổi bao nhiêu, phương tiện truyền giáo có hiện đại đến đâu, nhân loại có bước sang những thời đại công nghệ nào, Tin Mừng vẫn sẽ bắt đầu bằng một cảnh rất đơn giản: một người dừng lại trước một con người khác. Nhìn họ. Nghe họ. Gọi tên họ. Ở lại với họ. Và bằng lời nói hoặc bằng chính sự hiện diện của mình, nói rằng: “Anh không bị bỏ rơi. Chị không bị quên. Có một Đấng đã yêu anh chị đến mức mang lấy Thánh Giá.”
Đó là Tin Mừng.
Đó là sứ mạng.
Đó là trái tim của người thừa sai.
Và đó là điều Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh vẫn đang chờ nơi mỗi chúng ta.
Xin cho chúng ta đừng bao giờ quen với Thánh Giá đến mức nhìn mà không còn xúc động. Xin cho mỗi lần nhìn những vết đinh của Chúa, chúng ta nhớ đến những vết thương của nhân loại. Mỗi lần hôn kính Thánh Giá, xin cho chúng ta nhớ những thân phận không ai muốn chạm tới. Mỗi lần cử hành Thánh Thể, xin cho chúng ta nhớ ngoài kia còn những người đang đói cả bánh ăn lẫn tình thương. Mỗi lần nghe lời “Mình Thầy, hiến tế vì anh em”, xin cho chúng ta hiểu rằng đời mình cũng được mời gọi trở thành tấm bánh bẻ ra. Và mỗi lần đọc lời “Ơn Cứu Chuộc nơi Người chan chứa”, xin cho trái tim người thừa sai lại nóng lên vì một câu hỏi chẳng bao giờ được phép thôi day dứt: Ai là người nghèo nhất, bị bỏ rơi nhất mà Chúa đang muốn tôi tìm đến hôm nay?
Bởi cuối cùng, Thánh Giá không phải một đồ vật để chúng ta đeo nhưng là một con đường để chúng ta đi. Không phải chỉ là dấu được làm trên trán nhưng phải trở thành hình dáng của một đời sống. Không phải chỉ là nơi chúng ta tìm sự an ủi nhưng là nơi chúng ta nhận một sứ mạng. Từ Thánh Giá, Chúa Giêsu vẫn đang nhìn thế giới. Ánh mắt ấy vẫn dừng lại trên người nghèo, người bé nhỏ, người tội lỗi, người tuyệt vọng, người bị loại bỏ. Và Người cần những đôi mắt tiếp tục nhìn bằng ánh mắt của Người, những đôi chân tiếp tục đi về phía họ, những bàn tay tiếp tục chạm vào họ, những trái tim tiếp tục yêu họ.
Chúng ta được sai đi không phải để chứng minh rằng mình tốt, nhưng để làm chứng rằng Thiên Chúa tốt lành.
Không phải để người nghèo nhớ tên chúng ta, nhưng để họ nhớ rằng Thiên Chúa chưa bao giờ quên tên họ.
Không phải để họ mang ơn chúng ta, nhưng để họ khám phá rằng ơn cứu chuộc của Đức Kitô là ơn nhưng không.
Không phải để xây cho mình một hình ảnh đẹp, nhưng để giữa những vùng tối của cuộc đời, một lần nữa khuôn mặt của Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh được hiện ra.
Và nếu một ngày nào đó, nhờ một lời nói của ta, một bàn tay ta đưa ra, một lần ta chịu dừng lại, một sự hiện diện âm thầm, một lần tha thứ, một chén nước, một miếng bánh, một cuộc viếng thăm, một lời giải tội, một bài giảng đơn sơ, một đêm thức bên người bệnh, mà một con người đang nghĩ mình bị Thiên Chúa bỏ quên chợt tin lại rằng mình vẫn được yêu, thì ngày ấy Tin Mừng đã được loan báo.
Và Thánh Giá đã tiếp tục trổ sinh sự sống giữa cuộc đời.
Lm. Anmai, CSsR

TỪ THÁNH GIÁ ĐẾN BÍ TÍCH HÒA GIẢI – DÒNG MÁU THƯƠNG XÓT VẪN CHẢY
Có những lúc đứng thật lâu trước Thánh Giá, người ta không còn muốn nói gì nữa. Mọi lời giải thích dường như trở nên thừa thãi trước một Thiên Chúa bị treo lên giữa trời và đất, hai tay dang rộng, thân mình đầy thương tích, đầu đội vòng gai, cạnh sườn bị đâm thâu, máu và nước chảy xuống. Người ta có thể đã nghe hàng ngàn bài giảng về Thánh Giá, đã làm dấu Thánh Giá từ thuở nhỏ, đã mang cây thánh giá trên cổ suốt bao nhiêu năm, đã nhìn tượng Chúa chịu nạn trong nhà thờ đến quen mắt, nhưng chỉ đến một ngày nào đó, khi đời mình đổ vỡ vì chính tội lỗi của mình, khi một lỗi lầm không thể xóa khỏi ký ức, khi một vết thương do mình gây ra cho người khác cứ âm thầm trở lại, khi lương tâm không còn cho phép mình chạy trốn nữa, người ta mới bắt đầu hiểu Thánh Giá không phải là một món đồ đạo đức đặt trên bàn thờ, mà là nơi một Con Người đang chết vì tội của mình. Và cũng chính lúc ấy, người ta mới bắt đầu hiểu bí tích Hòa Giải không phải là một thủ tục tôn giáo dành cho những người “có tội nặng”, càng không phải là một căn phòng lạnh lẽo nơi con người bị xét xử, nhưng là nơi dòng máu từ Thánh Giá vẫn đang chảy xuống trên một cuộc đời cụ thể, trên một tội nhân cụ thể, trên một trái tim đang xấu hổ, đang sợ hãi, đang muốn trở về mà chưa biết mình có còn được đón nhận hay không. Giữa Thánh Giá chiều Thứ Sáu Tuần Thánh và một tòa giải tội âm thầm trong một góc nhà thờ tưởng như có một khoảng cách hai ngàn năm, nhưng thật ra chỉ có một dòng chảy duy nhất: dòng chảy của lòng thương xót. Máu Đức Kitô đã đổ trên đồi Canvê không phải là một biến cố đã khép lại trong quá khứ. Máu ấy vẫn tiếp tục chạm vào con người qua các bí tích, và đặc biệt trong bí tích Hòa Giải, nơi một con người dám gọi đúng tên tội lỗi của mình và nghe một lời mà không quyền lực nào trên trái đất có thể tự mình nói được: “Cha tha tội cho con, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.” Đó không chỉ là lời của một linh mục. Đó là tiếng vọng của Đấng chịu đóng đinh. Đó là lời tha thứ phát xuất từ một trái tim đã bị lưỡi đòng mở ra. Đó là máu của Con Chiên đang rửa sạch chiếc áo đời người. Đó là Thiên Chúa cúi xuống một lần nữa để nhấc một con người khỏi bùn đất mà nói: Con hãy đứng dậy, đừng nằm mãi ở đó nữa.
Thật lạ lùng, điều con người sợ nhất khi đến với bí tích Hòa Giải lại chính là điều Thiên Chúa muốn lấy đi khỏi họ: sự xấu hổ. Chúng ta sợ người khác biết mình đã làm gì. Chúng ta sợ phải nghe chính miệng mình nói ra điều mình đã cố giấu. Chúng ta sợ ánh mắt của linh mục. Chúng ta sợ bị phán xét. Chúng ta sợ phải đối diện với chính khuôn mặt thật của mình. Vì thế có người nhiều tháng, nhiều năm, thậm chí nhiều chục năm không bước vào tòa giải tội. Họ vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn giữ một số việc đạo đức, nhưng có một căn phòng khóa kín trong lòng mà họ không muốn mở. Trong căn phòng ấy có một ngoại tình chưa bao giờ thú nhận, một sự gian dối kéo dài, một món tiền bất chính, một mối hận không chịu buông, một đứa con từng bị tổn thương vì những lời của cha mẹ, một người phối ngẫu từng bị phản bội, một đời sống hai mặt, một thói nghiện ngập, một lựa chọn mà sau nhiều năm vẫn không thể tha thứ cho chính mình. Có người tưởng rằng giấu càng kỹ thì quá khứ càng mất đi. Không. Tội lỗi được giấu không biến mất; nó chỉ đổi chỗ. Từ một hành vi bên ngoài, nó đi vào bên trong và trở thành nỗi sợ. Từ một biến cố đã qua, nó trở thành cái bóng đi theo hiện tại. Từ một lỗi lầm, nó có thể trở thành một cách nhìn về chính mình: tôi là người xấu, tôi không còn đáng được yêu, đời tôi hỏng rồi. Ma quỷ rất tinh quái ở chỗ đó. Khi cám dỗ, nó bảo: chuyện nhỏ thôi, ai cũng làm, không sao đâu. Sau khi con người phạm tội, nó lại đổi giọng: tội của mày quá lớn, Thiên Chúa không tha đâu. Trước khi phạm tội, nó làm lòng thương xót trở thành dễ dãi; sau khi phạm tội, nó làm công lý trở thành tuyệt vọng. Cả hai đều là dối trá. Thánh Giá phá vỡ cả hai lời dối trá ấy. Nhìn lên Thánh Giá, ta biết tội không hề nhỏ, vì nếu tội là chuyện nhỏ thì Con Thiên Chúa đã không phải trả giá bằng máu. Nhưng nhìn lên Thánh Giá, ta cũng biết không có tội nào lớn hơn tình yêu của Thiên Chúa, vì chính nơi tội lỗi con người đạt đến sự dữ tột cùng – đóng đinh Đấng vô tội – thì tình yêu Thiên Chúa lại đạt đến sự tự hiến tột cùng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Thánh Giá không nói rằng tội chẳng có gì đáng kể. Thánh Giá nói một điều khác sâu hơn nhiều: tội của con rất khủng khiếp, nhưng tình yêu của Ta còn lớn hơn tội của con. Vết thương của con rất sâu, nhưng lòng thương xót của Ta sâu hơn. Con có thể bỏ Ta, nhưng Ta không thôi tìm con. Con có thể khước từ Ta, nhưng Ta vẫn dang tay. Con có thể quay lưng, nhưng từ Thánh Giá Ta vẫn nhìn theo con.
Tin Mừng đã để lại cho chúng ta một trong những hình ảnh đẹp nhất về lòng thương xót trong câu chuyện người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình. Người ta dẫn chị đến trước Đức Giêsu, đặt chị đứng giữa đám đông và nói: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà như thế. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” (x. Ga 8,1-11). Chúng ta thử đứng trong đám đông ấy. Một người phụ nữ bị lôi ra giữa công chúng. Tội của chị không còn là bí mật. Không còn gì để che. Không còn chỗ để chạy. Những ánh mắt nhìn chị. Những bàn tay nắm đá. Những lời kết án đã sẵn trên môi. Chị không có gì để tự bào chữa. Và rồi Đức Giêsu cúi xuống đất. Người không phủ nhận tội của chị. Người cũng không hợp thức hóa ngoại tình. Người chỉ nói: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” Một câu thôi, nhưng cả pháp trường thay đổi. Những viên đá lần lượt rơi xuống. Những người kết án lần lượt bỏ đi. Cuối cùng chỉ còn lại Đức Giêsu và người phụ nữ. Thánh Augustinô đã diễn tả khung cảnh ấy bằng một hình ảnh thật đẹp: chỉ còn lại “khốn cùng và lòng thương xót” – miseria et misericordia. Đức Giêsu hỏi: “Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?” Chị đáp: “Thưa ông, không có ai cả.” Người nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.” Đó chính là toàn bộ dung mạo của bí tích Hòa Giải. “Tôi không lên án chị” là lòng thương xót. “Từ nay đừng phạm tội nữa” là lời mời gọi hoán cải. Nếu chỉ có câu thứ hai mà không có câu thứ nhất, Kitô giáo sẽ trở thành một hệ thống luân lý lạnh lùng, chỉ biết yêu cầu con người phải tốt hơn. Nếu chỉ có câu thứ nhất mà không có câu thứ hai, lòng thương xót sẽ bị biến thành sự dễ dãi, như thể tội lỗi không gây thương tích và chẳng cần thay đổi. Nhưng Đức Giêsu nói cả hai. Người không lên án tội nhân, nhưng Người không làm hòa với tội lỗi. Người cứu con người ra khỏi tội để con người có thể bắt đầu lại. Và trong tòa giải tội cũng vậy. Ta không đến để được nghe rằng mọi điều mình đã làm đều không sao. Ta đến để được nghe rằng dù những điều ấy là sai, ta vẫn còn được yêu; dù đã ngã, ta vẫn còn có thể đứng lên; dù quá khứ không thể thay đổi, tương lai vẫn chưa bị đóng cửa.
Có người hỏi: tại sao phải xưng tội với linh mục? Tôi phạm tội với Chúa, tôi xin Chúa tha trực tiếp không được sao? Câu hỏi ấy nghe rất hợp lý nếu Kitô giáo chỉ là mối tương quan riêng tư giữa một linh hồn và Thiên Chúa. Nhưng Đức Kitô đã không cứu chúng ta bằng một tư tưởng vô hình. Người đã nhập thể. Người dùng những gì hữu hình để chuyển thông ân sủng vô hình. Người dùng nước để tái sinh trong phép Rửa, dùng bánh và rượu để ban chính Mình và Máu Người trong Thánh Thể, dùng dầu để xức cho người đau yếu, dùng lời và bàn tay con người để chúc lành. Và sau khi sống lại, một trong những việc đầu tiên Chúa Giêsu làm là hiện ra với các môn đệ, thổi hơi trên họ và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20,22-23). Điều ấy không phải do Hội Thánh về sau nghĩ ra để kiểm soát lương tâm tín hữu. Nó nằm ngay trong trái tim của Tin Mừng Phục Sinh. Đấng đã mang những dấu đinh trên tay trao cho Hội Thánh sứ mạng tha thứ. Điều đáng chú ý là khi hiện ra, Chúa Giêsu vẫn mang các vết thương. Người sống lại, nhưng vết thương không biến mất. Vì sao? Có lẽ bởi từ đó về sau, mỗi khi Hội Thánh nói lời tha tội, Hội Thánh phải nhớ rằng mình chỉ có thể tha nhờ những vết thương ấy. Linh mục không ngồi trong tòa giải tội như một quan tòa tự cho mình hơn người khác. Linh mục ngồi đó như một người đã được trao giữ một kho tàng không thuộc về mình. Người linh mục cũng là một tội nhân cần quỳ xuống xưng tội. Người ấy không có quyền khinh người đang quỳ trước mình, bởi chỉ cần ân sủng Chúa rời khỏi mình, ai biết mình sẽ ngã đến đâu. Một linh mục giải tội đúng nghĩa càng nghe nhiều những đổ vỡ của con người càng phải khiêm nhường, càng phải thương con người hơn, càng phải hiểu rằng có những trận chiến trong lòng một người mà chẳng ai bên ngoài biết được. Nếu tòa giải tội biến thành nơi làm cho người ta sợ Thiên Chúa hơn, có lẽ chúng ta đã trình bày sai khuôn mặt của Đấng chịu đóng đinh. Người linh mục có trách nhiệm nói sự thật, có khi phải nói một sự thật khó nghe, nhưng phải nói như một người đang đứng dưới Thánh Giá, nơi sự thật và lòng thương xót không loại trừ nhau.
Nhiều khi chúng ta nghĩ bí tích Hòa Giải bắt đầu khi mình quỳ xuống và đọc: “Thưa cha, xin cha làm phép lành cho con, vì con là kẻ có tội.” Thật ra, bí tích ấy bắt đầu sớm hơn nhiều. Nó bắt đầu từ lúc Thiên Chúa làm cho lương tâm ta bứt rứt. Một câu Kinh Thánh nghe trong Thánh lễ. Một đêm không ngủ. Một ánh mắt của người mình đã làm tổn thương. Một lần nhìn lại cuộc đời và tự hỏi: mình đang đi đâu vậy? Một biến cố khiến ta nhận ra mình không mạnh như mình tưởng. Một cái chết của người thân làm ta thấy cuộc đời quá ngắn để tiếp tục sống trong giả dối. Một ngày bước vào nhà thờ chẳng biết vì sao, rồi bất chợt nhìn lên Thánh Giá và thấy lòng mình mềm lại. Đừng coi thường những chuyển động nhỏ ấy. Đó có thể là tiếng Chúa gọi. Trong dụ ngôn người cha nhân hậu, người con hoang đàng tưởng rằng cuộc trở về bắt đầu khi anh quyết định: “Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha” (Lc 15,18). Nhưng ta có thể nói rằng trước khi anh nhớ cha, cha đã không quên anh. Trước khi anh bước về, cha đã chờ. Trước khi anh nói hết lời thú tội, cha đã ôm. Người con chuẩn bị một bài diễn văn rất đẹp: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy.” Nhưng người cha không để anh nói hết. Ông ôm lấy cổ anh và hôn lấy hôn để. Ông gọi gia nhân mang áo đẹp nhất, đeo nhẫn, mang dép, giết bê béo và mở tiệc. Đó là điều diễn ra trong bí tích Hòa Giải. Ta đến với một danh sách tội lỗi; Thiên Chúa đáp bằng một chiếc áo mới. Ta đến như một kẻ làm thuê; Người gọi ta lại là con. Ta nghĩ mình chỉ đáng đứng ngoài cửa; Người dọn bàn tiệc. Ta tưởng Chúa chỉ chịu đựng ta; Người vui mừng vì ta trở về. “Con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.”
Một trong những bi kịch lớn nhất của đời sống thiêng liêng không phải chỉ là con người phạm tội, mà là sau khi phạm tội họ không dám trở về. Phêrô đã chối Chúa ba lần. Giuđa đã bán Chúa. Cả hai đều phản bội. Cả hai đều nhận ra lỗi mình. Nhưng con đường sau đó khác nhau. Phêrô khóc. Giuđa tuyệt vọng. Một người để tội lỗi đẩy mình trở về với lòng thương xót, người kia để tội lỗi khóa mình trong tuyệt vọng. Không phải tội của Phêrô nhẹ. Ba lần trước mặt người khác, ông nói không biết Đức Giêsu là ai, trong khi trước đó đã thề sẵn sàng chết vì Người. Nhưng sau Phục Sinh, Đức Giêsu không dựng lại một phiên tòa bên bờ hồ Tibêria. Người nhóm một bếp than, chuẩn bị bánh và cá, rồi ba lần hỏi: “Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy không?” (x. Ga 21,15-17). Ba lần chối được chữa lành bằng ba lần yêu. Không phải Chúa xóa ký ức của Phêrô; Người biến ký ức ấy thành khiêm nhường. Từ đó Phêrô vẫn nhớ mình đã từng ngã, nhưng ký ức không còn là một cái hố chôn ông; nó trở thành nơi ông hiểu lòng thương xót. Có lẽ chính vì thế một người mục tử từng khóc vì tội mình mới có thể hiểu những giọt nước mắt của người khác. Bí tích Hòa Giải cũng không xóa trí nhớ của chúng ta như xóa một tệp dữ liệu. Có những chuyện chúng ta vẫn nhớ đến cuối đời. Nhưng Chúa có thể thay đổi ý nghĩa của ký ức ấy. Điều từng làm ta xấu hổ có thể trở thành nơi sinh ra lòng khiêm nhường. Điều từng khiến ta cay nghiệt với người khác có thể làm ta biết cảm thông. Điều từng là vết thương có thể trở thành một cánh cửa để ta bước vào lòng thương xót sâu hơn. Người được tha nhiều không nhất thiết trở thành người yếu đuối; nếu thật sự hiểu mình được tha, họ có thể trở thành người biết yêu nhiều.
Nhưng để được chữa lành, phải có lòng thành thật. Bí tích Hòa Giải không phải phép thuật. Không phải cứ đọc vài câu, kể vài lỗi quen thuộc rồi ra về là mọi thứ tự động thay đổi. Ân sủng là nhưng không, nhưng lòng con người phải mở ra. Sự ăn năn thật không chỉ là sợ hình phạt. Có những đứa trẻ xin lỗi vì sợ bị phạt; người trưởng thành xin lỗi vì nhận ra mình đã làm người khác đau. Trong tương quan với Thiên Chúa cũng vậy. Sám hối Kitô giáo đạt tới chiều sâu khi ta không chỉ nói: “Con sợ xuống hỏa ngục”, mà còn biết đau vì mình đã xúc phạm một Tình Yêu. Người ta có thể nói: “Tôi chẳng cảm thấy gì cả, tôi xưng tội mà không khóc.” Nước mắt không phải thước đo duy nhất của lòng ăn năn. Có những giọt nước mắt rất mau khô. Điều quan trọng là ý chí quay về. Là dám nói: điều này sai, con không muốn tiếp tục sống như thế nữa. Có thể ngày mai ta lại yếu đuối. Có thể cuộc chiến còn dài. Có những thói quen tội lỗi đã bén rễ hàng chục năm không biến mất sau một lần xưng tội. Nhưng mỗi lần thành thật trở về là mỗi lần ta để Chúa cắt thêm một sợi dây đang trói mình. Đừng đợi đến khi mình hoàn hảo mới đến với bí tích Hòa Giải. Nếu hoàn hảo rồi thì cần gì chữa lành nữa. Bệnh viện không dành cho người khỏe. Tòa giải tội không dành cho những người có thể trình cho Chúa một bản thành tích đạo đức; nó dành cho những ai biết mình cần được cứu. Người ta không tắm vì đã sạch; người ta tắm vì đang bẩn. Người ta không đến bác sĩ vì đã hết bệnh; người ta đến vì đang bệnh. Cũng vậy, đừng nói: “Khi nào con bỏ được tội này con mới đi xưng tội.” Hãy đi xưng tội để nhận sức mà chiến đấu với tội ấy.
Có những người xưng đi xưng lại một thứ tội đến mức chán nản: nóng giận mãi, nói hành mãi, phạm tội trong tư tưởng mãi, ích kỷ mãi, ghen ghét mãi, một cơn nghiện nào đó cứ trở đi trở lại. Họ bắt đầu nghĩ: xưng để làm gì, rồi cũng phạm lại. Nhưng hãy nhìn một đứa trẻ tập đi. Nó té bao nhiêu lần? Không người mẹ nào nói: “Con té lần thứ mười rồi, thôi đừng đứng lên nữa.” Người mẹ đưa tay. Đứa trẻ nắm lấy. Nó đứng lên. Nó đi vài bước. Nó lại té. Cứ như thế, một ngày nó đi được. Thiên Chúa kiên nhẫn hơn chúng ta tưởng. Điều Người cần không phải là lời hứa kiêu ngạo: “Con sẽ không bao giờ phạm nữa.” Điều Người muốn là một trái tim khiêm tốn: “Lạy Chúa, con yếu lắm. Nếu Chúa không giữ, con sẽ ngã. Nhưng con muốn thuộc về Chúa.” Có một khác biệt rất lớn giữa người đang chiến đấu với tội lỗi và người đã làm hòa với tội lỗi. Cả hai có thể cùng ngã nhiều lần, nhưng người thứ nhất mỗi lần ngã đều đau, đều đứng dậy, đều tìm sự trợ giúp, đều cố tránh dịp tội; người thứ hai không còn muốn chiến đấu nữa. Bí tích Hòa Giải không phải chỉ cho những chiến thắng; nó còn là lương thực của những trận chiến dài. Chúa không khinh một người phải trở lại tòa giải tội với cùng một vết thương nếu người ấy thật lòng muốn được chữa. Người bác sĩ không ghét bệnh nhân vì vết thương lâu lành.
Cũng có một dạng tội khác khó nhận hơn: tội của người tưởng mình tốt. Người con cả trong dụ ngôn người cha nhân hậu không bỏ nhà đi, không phung phí tài sản, không sống trác táng. Anh ở nhà, làm việc, giữ bổn phận. Nhưng khi người em trở về, lòng anh lộ ra. Anh không thể vui vì em mình được cứu. Anh tính toán công lao, kể lễ bao năm phục vụ, giận cha vì lòng thương xót của cha. Có khi chúng ta đi xưng tội đều đặn mà vẫn mang tâm hồn người anh cả. Chúng ta kể một vài lỗi nhỏ nhưng không bao giờ đụng tới sự kiêu ngạo khiến ta khinh người, sự ganh tị khi thấy người khác được quý trọng, nhu cầu muốn mình luôn đúng, cách ta nói về người khác sau lưng, sự lạnh lùng với người thân, thái độ bất công trong công việc, sự vô cảm trước đau khổ của người nghèo, cách dùng quyền lực làm tổn thương người yếu hơn. Ta có thể không ngoại tình nhưng trái tim đã xa người bạn đời. Ta có thể không ăn cắp nhưng sống trên tiền của mà chẳng bao giờ thấy trách nhiệm chia sẻ. Ta có thể không giết ai nhưng giết danh dự của họ bằng một câu chuyện được kể thêm. Ta có thể đọc kinh rất nhiều mà chưa bao giờ thật sự xin lỗi một người trong gia đình. Ta có thể đứng gần bàn thờ mà lòng lại ở rất xa Chúa. Bởi thế, xét mình không phải chỉ là dò qua một bảng danh sách xem đã phạm điều luật nào; xét mình là đứng dưới ánh sáng tình yêu và hỏi: trong tuần qua, tôi đã yêu thế nào? Tôi đã làm ai đau? Tôi đã bỏ qua điều tốt nào lẽ ra phải làm? Tôi đã sống như con của Thiên Chúa hay chỉ sống như một người cố giữ hình ảnh đạo đức?
Từ Thánh Giá nhìn xuống, Chúa Giêsu nhìn thấy tất cả. Người nhìn thấy đám đông chế nhạo. Người nhìn thấy những lính đóng đinh mình. Người nhìn thấy các thủ lãnh tôn giáo. Người nhìn thấy người môn đệ mình yêu. Người nhìn thấy Mẹ. Người nhìn thấy tên trộm cùng bị đóng đinh. Và giữa lúc mình không còn gì để cho, Chúa vẫn còn cho một điều: lòng thương xót. Tên trộm lành không có thời gian sửa lại cuộc đời. Anh không thể xuống khỏi thập giá để trả lại những gì đã lấy, không thể xây dựng một thành tích đạo đức mới, không thể làm việc thiện nhiều năm để bù đắp. Anh chỉ có một khoảnh khắc và một lời cầu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Chúa trả lời: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Hai chữ “hôm nay” ấy làm người ta rùng mình. Không phải sau một trăm năm thanh toán cho đủ. Không phải khi nào Thiên Chúa hết giận. “Hôm nay.” Lòng thương xót không trì hoãn khi một trái tim thật sự mở ra. Đó là Tin Mừng cho những ai nghĩ rằng mình đã quá trễ. Bao nhiêu tuổi không quan trọng. Bao nhiêu năm xa Chúa cũng không phải là cánh cửa khóa lại. Người ta có thể bỏ Chúa năm năm, hai mươi năm, năm mươi năm. Chỉ cần còn một hơi thở biết gọi: “Lạy Chúa, xin nhớ đến con”, lòng thương xót vẫn có đường đi vào.
Đặc biệt, máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Đức Kitô trong Tin Mừng Gioan mang một chiều sâu kỳ diệu. “Một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34). Một trái tim đã ngừng đập nhưng vẫn còn cho. Con người đâm vào trái tim Thiên Chúa, và từ trái tim bị đâm lại chảy ra điều cứu con người. Đó là logic lạ lùng của Thiên Chúa. Con người trao lưỡi đòng; Thiên Chúa trao máu và nước. Con người trao phản bội; Thiên Chúa trao tha thứ. Con người trao cái chết; Thiên Chúa mở nguồn sống. Hội Thánh từ rất sớm đã nhìn thấy nơi máu và nước ấy dấu chỉ của đời sống bí tích. Và mỗi lần một người bước vào bí tích Hòa Giải, người ấy đang đặt vết thương đời mình bên cạnh vết thương cạnh sườn Đức Kitô. Vết thương gặp vết thương. Nhưng một bên là vết thương gây chết, một bên là vết thương ban sự sống. Những gì ta không tự chữa được được đặt vào trong thương tích của Người. “Nhờ những vết thương của Người mà anh em đã được chữa lành” (1 Pr 2,24).
Có người không dám tha thứ cho chính mình dù đã xưng tội. Đây là một đau khổ rất thật. Họ tin Chúa tha trên lý thuyết nhưng trong lòng vẫn tự kết án mình. Một ký ức cứ trở lại, và mỗi lần trở lại họ lại tự xử án. Khi ấy cần phân biệt rất rõ khiêm nhường với việc hành hạ bản thân. Khiêm nhường nói: tôi đã làm điều sai, và tôi cần lòng thương xót. Kiêu ngạo tinh vi lại nói: tội của tôi lớn đến mức ngay cả máu Đức Kitô cũng không đủ. Nói như thế dù dưới hình thức tuyệt vọng vẫn là đặt tội mình cao hơn Thánh Giá. Nếu Chúa đã tha, ta phải học cách đón nhận sự tha thứ ấy. Điều đó không có nghĩa là phủ nhận hậu quả. Có những tội được tha nhưng hậu quả phải sửa chữa. Một lời vu khống được tha nhưng cần trả lại danh dự. Một món tiền lấy sai phải hoàn lại nếu có thể. Một sự phản bội cần con đường dài để xây lại lòng tin. Tha thứ không xóa trách nhiệm; tha thứ làm cho ta có sức gánh trách nhiệm mà không tuyệt vọng. Người được tha không nói: “Không sao, chuyện qua rồi.” Người được tha nói: “Chuyện ấy là sai, nhưng nhờ Chúa tôi không bị đồng nhất vĩnh viễn với điều sai ấy. Tôi sẽ chịu trách nhiệm, sửa lại điều có thể sửa, và bước tiếp.”
Có lẽ một trong những câu buồn nhất có thể nghe từ một Kitô hữu là: “Tội của người ấy tôi không thể tha.” Chúng ta đọc Kinh Lạy Cha mỗi ngày: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.” Ta muốn lòng thương xót chảy từ Thánh Giá đến mình nhưng lại dựng một bức tường để nó không chảy từ mình sang người khác. Bí tích Hòa Giải sẽ không đạt đến chiều sâu nếu chỉ làm ta nhẹ lòng mà không làm lòng ta mềm hơn đối với những người đã xúc phạm mình. Người đã quỳ xuống nhận ơn tha thứ nhiều lần không thể mãi cầm viên đá trong tay. Khi bước ra khỏi tòa giải tội, có lẽ câu hỏi đầu tiên không nên chỉ là “tôi đã sạch tội chưa?” nhưng còn là “có ai đang cần tôi tháo một bản án trong lòng không?” Tha thứ cho người khác không có nghĩa là nói điều ác họ làm là đúng. Không có nghĩa là để họ tiếp tục làm hại ta. Không nhất thiết có nghĩa là mọi tương quan lập tức trở lại như cũ. Tha thứ sâu xa là từ chối để điều ác của người khác biến mình thành một con người đầy độc tố. Là trao quyền phán xét cuối cùng lại cho Thiên Chúa. Là không tiếp tục nuôi ý muốn trả thù. Có những tha thứ phải kéo dài nhiều năm, phải cầu nguyện từng ngày. Nhưng ta có thể bắt đầu bằng một câu rất nhỏ: “Lạy Chúa, hôm nay con chưa thể yêu họ, nhưng con muốn muốn tha thứ. Xin Chúa làm điều con chưa làm nổi.”
Ngày nay người ta nói rất nhiều về chữa lành. Điều đó tốt. Con người mang quá nhiều vết thương. Nhưng Kitô giáo dám nói thêm một điều đôi khi khó nghe: không phải mọi đau khổ trong ta đều do người khác gây ra; có những đau khổ đến từ chính tội lỗi của mình. Nếu chữa lành mà không có sám hối, ta có thể dành cả đời giải thích tại sao mình trở thành như thế mà không bao giờ hỏi mình đang làm gì với tự do của mình hôm nay. Lòng thương xót không biến con người thành nạn nhân vĩnh viễn. Lòng thương xót trả lại tự do. Đức Giêsu không chỉ ôm người tội lỗi; Người nói: “Hãy đứng dậy.” Người không muốn ta nằm mãi bên lề đường kể đi kể lại câu chuyện mình đã ngã thế nào. Người muốn ta đi tiếp. Bí tích Hòa Giải là bí tích của những khởi đầu mới. Mỗi lần bước ra khỏi tòa giải tội, ta có quyền bắt đầu lại. Ma quỷ sẽ nhắc: mày từng thế này, từng thế kia. Ta có thể trả lời: đúng, nhưng tôi đã được chuộc bằng máu Đức Kitô. Quá khứ là sự thật, nhưng nó không phải là tiếng nói cuối cùng về tôi. Tiếng nói cuối cùng thuộc về Chúa.
Và cũng đừng biến việc xưng tội thành một thứ kế toán lạnh lùng giữa con người với Thiên Chúa. Có người ám ảnh từng chi tiết, từng con số, từng khả năng nhỏ đến mức không còn thấy khuôn mặt Chúa. Lương tâm ngay thẳng cần được đào luyện, nhưng lương tâm bệnh hoạn có thể biến đời sống đạo thành một nhà tù. Thiên Chúa không rình rập tìm lỗi kỹ thuật để bắt con người. Người là Cha. Người muốn sự thật, nhưng sự thật trong tương quan yêu thương. Hãy xưng tội rõ ràng, thành thật, không vòng vo, không đổ lỗi, nhưng rồi hãy để tội lại đó. Đừng mang nó về nhà như thể lời xá giải chưa đủ. Khi linh mục nói: “Cha tha tội cho con”, nếu việc xưng tội thành sự và đúng đắn, hãy tin vào quyền năng của Đức Kitô hơn là tin vào cảm giác của mình. Cảm giác có thể còn nặng. Ân sủng không lệ thuộc cảm giác. Mặt trời vẫn có đó dù mây chưa tan hết.
Có những tòa giải tội rất âm thầm. Không có tiếng nhạc. Không có cảm xúc mãnh liệt. Một người già bước vào. Một thanh niên bước vào. Một người mẹ bước vào. Một người đã xa nhà thờ nhiều năm bước vào. Một linh mục bước vào một tòa giải tội khác để xưng những yếu đuối của mình. Không ai chụp hình. Không ai đăng mạng. Nhưng nếu ta thấy được bằng con mắt đức tin, đó là những nơi cả trời đất đang vui. Đức Giêsu nói: “Trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn” (Lc 15,7). Một người xưng tội không chỉ đang thực hiện bổn phận cá nhân. Một mảnh của thế giới đang được hòa giải. Một mắt xích của bạo lực được cắt đứt. Một dòng độc tố có thể không truyền sang thế hệ sau. Một người cha biết nhận lỗi có thể cứu mối quan hệ với con. Một người vợ biết trở về có thể cứu một gia đình. Một người trẻ biết dừng lại có thể cứu cả tương lai. Một linh mục biết thường xuyên đặt mình dưới lòng thương xót sẽ bớt khắc nghiệt khi đối diện với yếu đuối của đoàn chiên. Mỗi sự hòa giải thật đều làm thế giới bớt tối một chút.
Đừng chờ đến Mùa Chay mới nghĩ đến bí tích Hòa Giải. Đừng chỉ đi xưng tội vì “một năm ít là một lần”. Tình yêu không sống bằng mức tối thiểu. Nếu một căn phòng được quét thường xuyên, bụi không có thời gian đóng thành lớp dày. Nếu lương tâm được soi sáng thường xuyên, người ta nhạy bén hơn với tiếng Chúa. Xưng tội đều đặn không phải dấu hiệu của người quá tội lỗi; nhiều khi đó là dấu hiệu của người không muốn để khoảng cách với Chúa lớn lên. Các thánh là những người ý thức rất sâu về tội không phải vì họ xấu hơn chúng ta mà vì ánh sáng càng mạnh thì bụi càng dễ thấy. Trong một căn phòng tối, ta tưởng mọi thứ sạch. Khi ánh mặt trời chiếu vào, ta mới thấy những hạt bụi đang bay. Người gần Chúa không phải là người thấy mình hoàn hảo hơn, mà thường là người thấy mình cần lòng thương xót hơn.
Bởi vậy, nếu lâu rồi chưa xưng tội, đừng dựng thêm một hàng rào bằng lý do. Đừng nói: tôi quên cách xưng. Linh mục sẽ giúp. Đừng nói: tội nhiều quá. Không có danh sách nào dài hơn lòng thương xót. Đừng nói: xấu hổ quá. Sự xấu hổ một vài phút có thể mở cửa cho bình an nhiều năm. Đừng nói: cha giải tội biết tôi. Có khi chính việc để một người đại diện Hội Thánh nghe sự thật của mình lại làm ta được tự do khỏi nhu cầu giữ hình ảnh. Đừng nói: tôi sẽ đi khi nào tốt hơn. Người con hoang đàng không tắm rửa sạch sẽ rồi mới về nhà; anh trở về trong mùi chuồng heo. Cha anh lo phần còn lại. Hãy đến như mình đang là. Có thể run. Có thể ngượng. Có thể phải mất nhiều lần mới nói hết được một điều đau đớn. Nhưng hãy đến.
Và khi đến, hãy nhớ mình không đi về phía một chiếc ghế của con người, mà đi về phía Thánh Giá. Phía sau lời xá giải là một thân mình đã bị đánh đòn. Phía sau dấu Thánh Giá linh mục làm trên ta là hai cánh tay từng bị đóng đinh. Phía sau lời “Cha tha tội cho con” là tiếng “Mọi sự đã hoàn tất” trên đồi Canvê. Giá của ơn tha thứ không rẻ. Ta nhận miễn phí vì Đức Kitô đã trả giá. Máu đã đổ. Cạnh sườn đã mở. Tấm màn Đền Thờ đã xé. Con đường về nhà đã được mở ra.
Có lẽ rồi sẽ đến một ngày cuối đời, khi không còn đủ sức đọc nhiều kinh, không còn đủ minh mẫn để suy nghĩ những điều thần học cao xa, điều ta cần nhất chỉ là biết mình đã được thương xót. Lúc ấy những thành công, chức vụ, tiền bạc, lời khen, những trận tranh thắng thua đều nhỏ đi. Câu hỏi còn lại là: tôi có dám trao mình cho lòng thương xót hay không? Người trộm lành không có gì để đưa cho Chúa ngoài một lời xin nhớ đến. Và thế là đủ để cánh cửa Thiên Đàng mở ra. Phêrô không thể lấy lại ba lời chối, nhưng có thể nói ba lần: “Thưa Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy.” Người phụ nữ ngoại tình không thể biến ngày hôm đó thành chưa từng xảy ra, nhưng chị có thể bước đi với một tương lai mới. Người con hoang đàng không thể lấy lại tài sản đã tiêu tan, nhưng có thể để cha khoác lên mình chiếc áo mới. Đó là Tin Mừng. Kitô giáo không hứa cho ta một quá khứ chưa từng phạm sai lầm. Kitô giáo ban cho ta một tương lai mà tội lỗi không còn là tiếng nói cuối cùng.
Từ Thánh Giá đến bí tích Hòa Giải, dòng máu thương xót vẫn chảy. Nó chảy qua hai ngàn năm lịch sử Hội Thánh. Nó chảy qua những nhà thờ lớn và những giáo điểm nhỏ bé. Nó chảy trong những tòa giải tội nơi những giọt nước mắt âm thầm rơi. Nó chảy qua bàn tay của những linh mục bất toàn được Chúa trao một sứ vụ vượt quá chính mình. Nó chảy vào những cuộc hôn nhân tưởng đã hết đường. Nó chảy vào những tâm hồn mang những bí mật nhiều năm. Nó chảy vào tuổi trẻ lạc lối. Nó chảy vào tuổi già đầy hối tiếc. Nó chảy vào những linh hồn tưởng đã bị Thiên Chúa quên. Và dòng máu ấy chưa cạn.
Chỉ có một bi kịch thật sự: người khát đứng bên dòng suối mà không chịu cúi xuống uống; người bệnh đứng trước cửa bệnh viện mà không chịu bước vào; người con đứng ngoài nhà cha chỉ vì nghĩ mình không còn xứng đáng. Không ai trong chúng ta xứng đáng. Nếu phải xứng đáng mới được thương xót thì thương xót đâu còn là thương xót. Ta được tha không phải vì ta tốt, nhưng để ta có thể trở nên tốt hơn. Ta được ôm không phải vì áo ta sạch, nhưng chính vòng tay của Cha là nơi ta được mặc lại áo mới.
Vì thế, mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, hãy nghe từ những vết thương ấy một lời rất riêng dành cho đời mình: “Hãy trở về.” Đừng chạy nữa. Đừng giấu nữa. Đừng tự kết án mình nữa. Đừng lấy quá khứ làm nhà ở. Đừng để ma quỷ dùng chính tội lỗi đã được tha để tiếp tục trói buộc đời mình. Hãy trở về. Nếu đã ngã một trăm lần, hãy trở về lần thứ một trăm lẻ một. Nếu lòng đã nguội lạnh, hãy trở về. Nếu đã nhiều năm không xưng tội, hãy trở về. Nếu đang sợ, hãy trở về cùng với nỗi sợ. Nếu chưa biết nói gì, hãy chỉ nói: “Lạy Chúa, con đây.”
Rồi một ngày, ta sẽ hiểu rằng điều kỳ diệu nhất trong đời sống Kitô hữu không phải là mình chưa từng ngã, nhưng là mỗi lần ngã đều có một bàn tay bị đóng đinh đang đưa xuống. Điều kỳ diệu không phải là tội nhân trở thành người chưa từng có quá khứ, nhưng là quá khứ ấy được cứu chuộc. Điều kỳ diệu không phải là con người tự leo lên tới Thiên Chúa, nhưng là Thiên Chúa đã đi xuống tận đáy vực của con người. Và ở đáy vực ấy có một cây Thánh Giá.
Tòa giải tội vì thế không bao giờ ở xa đồi Canvê. Mỗi lời thú nhận chân thành là một bước đến gần chân Thánh Giá. Mỗi lời xá giải là một giọt máu thương xót rơi xuống đời người. Mỗi lần đứng dậy sau khi xưng tội là một cuộc phục sinh nhỏ. Và mỗi tội nhân trở về là một bằng chứng rằng Thứ Sáu Tuần Thánh không kết thúc trong ngôi mộ.
Máu vẫn chảy.
Lòng thương xót vẫn chảy.
Cánh cửa vẫn mở.
Người Cha vẫn chờ.
Và Đức Kitô, với đôi tay mang dấu đinh, vẫn đang nói với từng người chúng ta: “Con hãy về bình an.”
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ DẠY CHÚNG TA “ĐỪNG BỦN XỈN VỚI LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA”
Có một thứ bủn xỉn nguy hiểm hơn bủn xỉn tiền bạc. Có một kiểu keo kiệt làm người ta nghèo hơn cả người không có gì trong tay. Đó là bủn xỉn lòng thương xót. Ta có thể rộng rãi với tiền bạc mà rất chật hẹp trong việc tha thứ. Ta có thể cho người khác một món quà nhưng không cho họ một cơ hội làm lại. Ta có thể bỏ tiền giúp một người nghèo nhưng lại giữ mãi một lỗi lầm của người thân trong trí nhớ. Ta có thể đọc kinh Lòng Chúa Thương Xót mỗi ngày mà vẫn âm thầm quyết định rằng có một người nào đó “không đáng được thương xót”. Và điều đáng buồn hơn nữa là nhiều khi ta không chỉ bủn xỉn lòng thương xót với người khác, ta còn bủn xỉn cả lòng thương xót của Thiên Chúa đối với chính mình. Ta phạm tội rồi nghĩ Chúa không thể tha. Ta sa ngã nhiều lần rồi nghĩ Chúa đã chán ta. Ta mang một quá khứ quá nặng rồi nghĩ lòng thương xót của Chúa chắc cũng có giới hạn. Ta nhìn vào sự yếu đuối của mình lâu đến nỗi quên nhìn lên Thánh Giá. Nhưng chỉ cần nhìn lên Thánh Giá cho thật lâu, ta sẽ hiểu một điều: Thiên Chúa chưa bao giờ bủn xỉn với lòng thương xót của Người. Nếu Thiên Chúa bủn xỉn, đã chẳng có Bêlem. Nếu Thiên Chúa bủn xỉn, đã chẳng có Nazareth. Nếu Thiên Chúa bủn xỉn, đã chẳng có những bước chân của Đức Giêsu đi tìm người tội lỗi. Nếu Thiên Chúa bủn xỉn, đã chẳng có bàn tay chạm vào người phong cùi, chẳng có ánh mắt nhìn người phụ nữ ngoại tình, chẳng có bữa cơm với người thu thuế, chẳng có lời tha thứ dành cho Phêrô sau ba lần chối Thầy. Và nếu Thiên Chúa bủn xỉn, chắc chắn đã chẳng có đồi Canvê, chẳng có đôi tay bị đóng đinh, chẳng có cạnh sườn bị đâm thâu, chẳng có giọt máu cuối cùng chảy ra vì một nhân loại vừa phản bội vừa chạy trốn Người. Thánh Giá chính là lời tuyên bố mạnh nhất rằng tình thương của Thiên Chúa không biết tính toán.
Con người chúng ta thường thương theo mức độ. Ta thương người thương ta. Ta tốt với người tốt với ta. Ta dễ tha cho lỗi nhỏ và rất khó tha cho lỗi lớn. Ta có thể nói: “Tôi tha, nhưng tôi không quên.” Ta có thể ngoài miệng bảo rằng chuyện đã qua, nhưng trong lòng vẫn lưu hồ sơ rất kỹ. Có những lỗi lầm đã xảy ra mười năm, hai mươi năm, nhưng mỗi lần cãi nhau ta lại lôi lên như thể mới xảy ra sáng nay. Có những gia đình chỉ cần một câu nói cũ được nhắc lại là bao nhiêu vết thương tưởng đã lành lại rỉ máu. Có những vợ chồng sống chung một mái nhà nhưng mỗi người giữ một cuốn sổ nợ trong lòng. Có những anh chị em ruột nhìn nhau mà nhớ trước hết điều xấu người kia đã làm. Có những cộng đoàn, giáo xứ, hội đoàn và cả những người sống đời thánh hiến đôi khi nói rất nhiều về yêu thương nhưng lại rất lâu quên một va chạm nhỏ. Cái đau của con người không phải lúc nào cũng vì thiếu cơm áo; nhiều khi đau nhất là cảm giác rằng sau khi mình sai một lần, người khác đã đóng đinh mình vào chính lỗi lầm ấy mãi mãi. Không còn cơ hội. Không còn con đường trở về. Không còn quyền được đổi thay. Thế nhưng Thánh Giá lại nói một ngôn ngữ khác. Trên Thánh Giá, Chúa không hỏi: “Con người này đã phạm bao nhiêu tội?” Người chỉ hỏi bằng chính trái tim mình: “Ta còn có thể yêu họ đến đâu?” Và câu trả lời là: đến cùng.
Tin Mừng cho ta một hình ảnh khiến người nào hiểu được lòng thương xót cũng phải lặng đi. Trên đồi Sọ, bên cạnh Đức Giêsu là hai người tử tội. Một người nhục mạ Người. Người kia nhìn nhận tội lỗi của mình và thưa: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Chỉ một lời thôi. Không còn thời gian để đền bù. Không còn cơ hội xuống khỏi thập giá để làm việc thiện. Không còn năm tháng phía trước để sửa lại những gì anh đã phá hỏng. Một đời người có thể đầy bóng tối và lúc ấy chỉ còn vài hơi thở cuối cùng. Nếu Thiên Chúa là một kế toán lạnh lùng, trường hợp của người trộm ấy coi như hết. Nhưng Chúa Giêsu đáp: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43). Hôm nay. Không phải sau một cuộc điều tra dài. Không phải sau khi Đức Giêsu kể cho anh nghe tất cả những tội anh từng phạm. Không phải sau một bài giảng luân lý. Chỉ cần một khe cửa rất nhỏ của lòng thống hối được mở ra, lòng thương xót lập tức tràn vào. Người trộm ấy xin được nhớ đến, Chúa cho anh cả Thiên Đàng. Anh xin một chỗ trong ký ức, Chúa cho anh một chỗ bên Người. Anh chỉ dám nói “xin nhớ đến tôi”, còn Chúa trả lời bằng một lời hứa vượt xa điều anh dám xin. Đó là cách Thiên Chúa thương xót. Ta thường cho ít hơn người khác xin; Chúa thường cho nhiều hơn ta dám xin. Ta thường hỏi người khác có xứng đáng không; Chúa hỏi họ có chịu mở lòng không. Ta thường nhớ tội; Chúa nhớ con người. Ta đóng khung con người trong quá khứ; Chúa mở cho họ một tương lai.
Và cũng ngay trên Thánh Giá, khi những chiếc đinh còn xuyên qua bàn tay Người, khi những người dưới chân thập giá đang chế nhạo Người, khi các thủ lãnh còn lắc đầu, khi những người lính vừa chia nhau áo của Người, Chúa lại cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Câu ấy phải làm chúng ta xấu hổ rất nhiều. Chúng ta thường chỉ tha khi người khác xin lỗi. Chúa xin Cha tha ngay cả khi họ chưa xin. Chúng ta thường chờ người làm mình đau phải hiểu họ sai đến đâu. Chúa nhìn sâu hơn lỗi lầm và thấy cả sự mù tối của con người. Chúng ta nói: “Nó biết rõ mà nó vẫn làm.” Chúa nói: “Họ không biết việc họ làm.” Không phải Chúa phủ nhận sự dữ. Không phải Người gọi cái ác là cái thiện. Không phải Người xem nhẹ tội lỗi. Chính Thánh Giá cho thấy tội lỗi nghiêm trọng đến mức nào, bởi cái giá của tội là máu của Con Thiên Chúa. Nhưng cũng chính Thánh Giá cho thấy lòng thương xót còn lớn hơn tội lỗi. Thánh Giá không bảo rằng tội chẳng đáng kể. Thánh Giá nói rằng tội ghê gớm thật, nhưng tình yêu của Thiên Chúa còn ghê gớm hơn trong sức mạnh cứu độ của nó. Tội có thể đóng đinh Thiên Chúa, nhưng ngay trên những chiếc đinh ấy, Thiên Chúa vẫn yêu. Tội có thể làm trái tim con người hóa đá, nhưng không thể làm trái tim Thiên Chúa ngừng thương xót.
Nhiều người trong chúng ta vô tình đã thu nhỏ Thiên Chúa bằng kích thước trái tim của mình. Vì ta khó tha nên ta tưởng Chúa cũng khó tha. Vì ta nhớ dai nên ta nghĩ Chúa cũng giữ hồ sơ. Vì ta mệt với chính mình nên ta nghĩ Chúa cũng mệt với ta. Vì ta đã hứa rồi lại phạm, xưng rồi lại ngã, quyết tâm rồi lại thất bại, ta bắt đầu tự nhủ: “Chắc lần này Chúa hết kiên nhẫn.” Nhưng đó không phải là tiếng của Tin Mừng. Hãy nghĩ đến Phêrô. Ông không chỉ phạm một lỗi nhỏ. Ông đã công khai chối Đức Giêsu ba lần ngay trong đêm Thầy bị bắt. “Tôi không biết người ấy.” Một câu nói rất nặng. Người đã từng thưa: “Dù tất cả có vấp ngã vì Thầy, con đây cũng chẳng bao giờ vấp ngã”, rồi chỉ ít giờ sau lại run sợ trước câu hỏi của một người đầy tớ gái. Nhưng sau Phục Sinh, bên bờ hồ, Đức Giêsu không hỏi Phêrô: “Tại sao anh làm tôi thất vọng?” Người hỏi: “Anh có yêu Thầy không?” (x. Ga 21,15-17). Chúa không bắt đầu bằng việc nhắc lại sự phản bội. Người bắt đầu bằng cách khơi lại khả năng yêu thương. Chúa không đẩy Phêrô trở lại sân dinh thượng tế để sống mãi trong mặc cảm. Người đưa Phêrô tiến về phía trước bằng một sứ mạng: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.” Đó là lòng thương xót. Lòng thương xót không chỉ tha cái đã qua. Lòng thương xót còn trao lại tương lai. Lòng thương xót không chỉ nói: “Ta không kết án con.” Lòng thương xót còn nói: “Hãy đứng lên, Ta vẫn cần con.”
Có lẽ vì vậy mà một trong những cám dỗ tinh vi nhất của đời sống thiêng liêng là thất vọng về chính mình. Người ta thường nghĩ kiêu ngạo là nghĩ mình quá tốt, nhưng đôi khi kiêu ngạo cũng ẩn trong việc không chấp nhận mình là một thụ tạo yếu đuối cần được Chúa cứu mỗi ngày. Ta muốn mình phải tốt nhanh hơn. Ta muốn sau bao nhiêu năm theo Chúa thì những yếu đuối kia phải biến mất. Ta thấy một thói xấu vẫn còn, một cơn nóng giận vẫn quay lại, một tính ích kỷ vẫn chưa chết, một vết thương vẫn chưa lành, một cơn cám dỗ cứ gõ cửa, rồi ta chán chính mình. Nhưng Chúa không ngạc nhiên về sự yếu đuối của ta như ta ngạc nhiên. Người biết ta được dựng nên từ bụi đất. Điều Người chờ không phải là ta không bao giờ ngã, nhưng mỗi lần ngã ta có còn tin vào bàn tay Người hay không. Giuđa phạm tội phản bội. Phêrô cũng phạm tội phản bội theo cách khác. Điều làm hai con đường khác nhau không chỉ nằm ở bản chất tội lỗi, mà còn nằm ở việc Phêrô để cho ánh mắt của Chúa đi vào nước mắt của mình, trong khi Giuđa chìm vào tuyệt vọng. Có một thứ đau buồn đưa ta về với Chúa, nhưng cũng có thứ đau buồn khiến ta khép lòng trước lòng thương xót. Ma quỷ không nhất thiết phải thuyết phục ta rằng không có Thiên Chúa; đôi khi nó chỉ cần thuyết phục ta rằng Thiên Chúa không còn muốn tha cho ta nữa. Và khi ta tin điều ấy, ta tự khóa cánh cửa từ bên trong.
Thánh Giá phá tan lời nói dối ấy. Hãy nhìn đôi tay bị đóng đinh. Đó là đôi tay không thể khép lại để từ chối ta. Hãy nhìn cạnh sườn bị mở ra. Đó là trái tim không còn gì để che giấu. Hãy nhìn máu và nước chảy xuống. Đó không phải là lòng thương xót được đo bằng từng giọt. Đó là lòng thương xót tuôn ra cho đến tận cùng. Người ta có thể khóa cửa nhà thờ. Người ta có thể khóa một căn phòng. Người ta có thể khóa một két sắt. Nhưng không ai khóa lại được cạnh sườn đã bị mở của Đức Kitô. Một khi lưỡi đòng đã mở trái tim ấy, từ đó dòng thương xót chảy vào lịch sử nhân loại, chảy qua Hội Thánh, chảy qua Bí tích Rửa Tội, chảy qua Thánh Thể, chảy cách đặc biệt qua Bí tích Hòa Giải, chảy đến từng tâm hồn còn biết nói: “Lạy Chúa, xin thương xót con.”
Có người sợ đi xưng tội vì xấu hổ. Có người bảo: “Con xưng mãi cùng một tội.” Có người đã lâu năm không bước vào tòa giải tội vì nghĩ rằng sau quá nhiều năm xa Chúa, không biết bắt đầu từ đâu. Có người thậm chí muốn trở về nhưng sợ bị xét đoán. Nếu ai đang mang nỗi sợ ấy, hãy nhớ người con hoang đàng trong Tin Mừng. Khi cậu còn ở đàng xa, cha đã trông thấy. Người cha chạy ra. Đây là một chi tiết rất đẹp. Không phải đứa con chạy hết quãng đường về nhà rồi quỳ xuống thật lâu trước cửa. Cha chạy. Lòng thương xót luôn chạy nhanh hơn bước chân sám hối của con người. Cậu con đã soạn sẵn một bài: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa…” Nhưng người cha gần như không để cậu hoàn tất kế hoạch xin làm người làm công. Ông truyền đem áo đẹp nhất ra mặc, đeo nhẫn vào tay, xỏ dép vào chân, giết bê béo ăn mừng (x. Lc 15,11-32). Ta muốn xin một chỗ làm thuê, Chúa phục hồi tư cách người con. Ta xin được dung thứ, Chúa tổ chức tiệc. Ta bước về với bộ áo rách, Chúa mặc lại phẩm giá cho ta. Thế nhưng câu chuyện ấy có một nhân vật khác đáng suy nghĩ: người anh cả. Anh không hoang đàng theo cách người em, nhưng anh lại bủn xỉn lòng thương xót. Anh khó chịu vì cha thương em. Anh nhớ rất kỹ tội của em: “Thằng con của cha đó đã nuốt hết của cải của cha…” Anh không gọi đó là em mình. Nhưng người cha nói: “Em con đây đã chết mà nay sống lại.” Một người trở về nhưng một người khác lại không muốn mở cửa lòng. Và có lẽ rất nhiều người đạo đức trong chúng ta phải nhìn mình nơi người anh cả ấy.
Ta có thể ở trong nhà Cha mà trái tim lại xa Cha. Ta có thể giữ mọi luật lệ nhưng không có lòng thương xót. Ta có thể không phạm những tội lớn bên ngoài nhưng lại sống bằng thái độ xét đoán, khinh người, lạnh lùng, không cho ai cơ hội làm lại. Khi ấy, điều đáng sợ không phải là ta rời nhà như người em, mà là ta ở trong nhà nhưng không giống Cha. Người Kitô hữu không chỉ được mời gọi tránh tội; người Kitô hữu được mời gọi mang trái tim của Thiên Chúa. Và trái tim ấy là trái tim thương xót. Đức Giêsu nói rất rõ: “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6,36). Không phải “hãy nhân từ khi người khác xứng đáng”. Không phải “hãy thương xót khi thuận tiện”. Nhưng “như Cha”. Nghĩa là tiêu chuẩn của lòng thương xót Kitô giáo không phải cảm xúc của tôi, không phải công trạng của người kia, nhưng chính cách Thiên Chúa đã đối xử với tôi.
Nếu thật sự ý thức mình đã được tha nhiều đến mức nào, ta sẽ bớt khắt khe với người khác. Người hay kết án thường là người quên mình từng được thương xót. Người cứ nắm cổ anh em đòi một trăm quan tiền thường là người quên món nợ mười ngàn yến vàng mình vừa được chủ tha (x. Mt 18,23-35). Đó là nghịch lý đau đớn trong dụ ngôn người đầy tớ không biết thương xót. Anh ta quỳ xuống van xin chủ, và chủ động lòng thương, tha hết món nợ khổng lồ. Vừa bước ra, anh gặp một người bạn mắc nợ mình một số tiền rất nhỏ. Người bạn cũng quỳ xuống, cũng nói gần như chính những lời anh vừa nói với chủ. Nhưng anh không thương. Anh bóp cổ người ấy. Điều khiến chủ nổi giận không phải vì anh chưa trả nợ, mà vì anh đã nhận lòng thương xót mà không để lòng thương xót ấy đi xuyên qua đời mình. “Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi vì ngươi đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn như chính ta đã thương xót ngươi sao?” Đây có lẽ là câu chúng ta phải nghe nhiều lần. “Như chính Ta đã thương xót ngươi.” Không phải thương theo sức riêng mình, nhưng thương từ ký ức mình đã được tha.
Đừng bủn xỉn với lòng thương xót Chúa có nghĩa trước hết là đừng dựng một hàng rào quanh lòng thương xót ấy rồi tự quyết định ai được vào, ai phải đứng ngoài. Có những người chúng ta rất dễ cầu xin Chúa thương xót: người bệnh, người nghèo, người gặp tai nạn. Nhưng có những người ta lại không muốn Chúa thương: người đã làm tổn thương ta, người nói xấu ta, người phản bội ta, người làm ta mất mặt, người lấy mất quyền lợi của ta. Ta vẫn có thể đọc “Lạy Chúa, xin thương xót chúng con và toàn thế giới”, nhưng trong thâm tâm lại muốn thêm một chú thích: “Trừ người ấy ra.” Thế nhưng “toàn thế giới” có cả người ấy. Máu Chúa chảy cho cả người ấy. Cạnh sườn Chúa mở ra cho cả người ấy. Đức Kitô đã chết cho ta khi ta còn là tội nhân; và cũng đã chết cho kẻ làm ta đau khi họ còn là tội nhân. Điều đó không có nghĩa ta phải gọi sai thành đúng, không có nghĩa người bị bạo hành phải quay lại nơi nguy hiểm, không có nghĩa công lý không cần được thực thi. Tha thứ không đồng nghĩa với dung túng. Lòng thương xót không đồng nghĩa với để cho cái ác tiếp tục. Đức Giêsu thương người phụ nữ ngoại tình nhưng nói: “Từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8,11). Người không kết án chị, nhưng cũng không gọi tội là điều bình thường. Lòng thương xót đích thực vừa cứu con người khỏi bị nghiền nát bởi tội, vừa kéo con người ra khỏi chính tội ấy.
Thánh Giá là nơi công lý và thương xót gặp nhau mà không tiêu diệt nhau. Thiên Chúa không nói tội lỗi chẳng quan trọng. Nếu tội không quan trọng, Thánh Giá là thừa. Nếu Thiên Chúa chỉ cần phẩy tay và nói: “Không sao”, thì Đức Kitô đâu cần chịu đóng đinh. Nhưng Thánh Giá cho thấy Thiên Chúa nghiêm túc với tội đến mức chính Người mang hậu quả của nó; đồng thời Người yêu tội nhân đến mức không để tội có tiếng nói cuối cùng. Đây chính là điều chúng ta phải học trong đời sống. Có những lúc cần nói sự thật. Có những lúc cần sửa lỗi. Có những lúc phải thiết lập ranh giới. Có những lúc phải bảo vệ người yếu thế và đòi lại công bằng. Nhưng tất cả những điều đó không cho ta quyền ngừng mong người phạm lỗi được cứu. Người Kitô hữu có thể chống lại điều ác nhưng không được mong kẻ làm ác bị hủy diệt. Ta có thể nói: “Điều anh làm là sai”, nhưng không được nói trong lòng: “Anh không còn đáng được Chúa yêu.” Chỉ Thiên Chúa biết đáy lòng con người. Chỉ Thiên Chúa có quyền phán xét cuối cùng. Còn chúng ta, những người đã sống nhờ lòng thương xót, được sai đi làm chứng cho lòng thương xót.
Có khi bủn xỉn lòng thương xót lại khoác áo công chính. Ta gọi sự cay nghiệt của mình là “bảo vệ sự thật”. Ta gọi việc bêu xấu người khác là “làm sáng tỏ vấn đề”. Ta gọi sự hả hê trước lỗi lầm của người khác là “công bằng”. Đặc biệt trong thời đại mạng xã hội, chỉ cần một người sai, cả đám đông có thể lập tức biến thành tòa án. Người ta chụp màn hình, đào lại quá khứ, bình luận, chế giễu, truyền tay nhau một lỗi lầm, và đôi khi chẳng ai tự hỏi: nếu Chúa đối xử với mình như mình đang đối xử với người này thì mình sẽ ra sao? Có những người sau một lỗi lầm không chỉ mất danh dự mà như bị tước luôn quyền làm người. Nhưng Chúa Giêsu chưa bao giờ làm như vậy. Người nhìn thấy tội, nhưng vẫn nhìn thấy con người phía sau tội. Người biết quá khứ người phụ nữ Samaria, nhưng không biến cuộc đời chị thành một bản cáo trạng. Người biết Matthêu là người thu thuế, nhưng thấy nơi ông một tông đồ. Người biết Giakêu đã sống thế nào, nhưng nói: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này” (Lc 19,9). Người đời thường đóng dấu quá khứ lên trán con người. Chúa lại nhìn thấy điều họ có thể trở thành sau khi gặp lòng thương xót.
Đừng bủn xỉn với lòng thương xót Chúa còn có nghĩa là đừng lấy sự bất toàn của Hội Thánh hay của một thừa tác viên nào đó làm lý do để xa Bí tích Hòa Giải. Trong tòa giải tội, linh mục cũng là một con người yếu đuối cần được tha thứ. Điều quyết định không phải sự thánh thiện hoàn hảo của người ngồi bên kia tấm lưới, nhưng là Đức Kitô đang hành động trong bí tích của Người. Tòa giải tội không phải phòng xử án nơi Thiên Chúa thích thú nghe danh sách tội lỗi của ta. Đó là nơi người Cha đứng chờ đứa con trở về. Đó là chân Thánh Giá nơi máu cứu độ được đặt lên vết thương của con người. Đó là căn phòng hồi sinh nơi một tâm hồn bước vào với gánh nặng và bước ra với bình an. Biết bao người đã khóc sau câu: “Cha tha tội cho con, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.” Không phải vì đó chỉ là một công thức, nhưng vì qua những lời ấy, một người sau nhiều năm chạy trốn bỗng nghe Thiên Chúa nói với mình: “Con vẫn là con của Ta.”
Đáng tiếc là đôi khi ta lại muốn người khác phải chịu khổ lâu hơn trước khi được tha. Ta nghĩ phải để họ trả giá thì mới công bằng. Ta thấy một người sau bao năm sống xa Chúa bỗng trở lại, được bình an, ta lại thấy có gì đó “dễ quá”. Đây chính là cái khó chịu của những người thợ làm từ sáng sớm khi thấy những người chỉ làm một giờ cuối ngày cũng được nhận một đồng (x. Mt 20,1-16). Ta dễ quên rằng Nước Trời không phải là bảng lương tính theo giờ. Ân sủng không phải tiền công. Ơn cứu độ không phải phần thưởng cho người có thành tích tốt; ơn cứu độ trước hết là quà tặng. Nếu mọi sự chỉ dựa trên công trạng, không ai trong chúng ta đứng vững trước mặt Chúa. Từ vị thánh lớn nhất đến người tội lỗi vừa trở về phút cuối, tất cả đều sống nhờ một nguồn duy nhất: máu của Con Chiên.
Người trộm lành vào Thiên Đàng lúc cuối đời không lấy mất phần thưởng của ai. Người con hoang đàng được cha mở tiệc không làm người anh cả nghèo đi. Người tội lỗi được Chúa tha không khiến lòng thương xót dành cho ta bị giảm xuống. Chúng ta hành xử như thể lòng thương xót là chiếc bánh có hạn: Chúa cho người kia nhiều thì phần tôi ít lại. Nhưng lòng thương xót của Thiên Chúa không phải chiếc bánh bị chia nhỏ. Nó giống một đại dương: hàng tỷ người có thể cúi xuống uống mà biển vẫn đầy. Nó giống ánh mặt trời: chiếu trên nhà người tốt không khiến nhà tôi tối đi. Cái làm ta khó chịu khi thấy Chúa thương một người mà ta không ưa không phải vì Chúa bất công, mà vì ta chưa có trái tim rộng như Chúa.
Có một câu hỏi rất đáng sợ mà mỗi người nên tự đặt trước Thánh Giá: “Có ai tôi đang không muốn Chúa tha cho họ không?” Nếu có, người ấy đang cho ta biết nơi nào trong trái tim mình còn chưa được Tin Mừng chạm tới. Có ai tôi cứ muốn nhắc lại lỗi của họ dù họ đã thay đổi? Có ai mỗi lần nghe người khác khen họ thì trong lòng tôi lập tức kể tội họ? Có ai tôi vẫn mong một ngày họ phải “biết tay”, phải đau như họ đã làm tôi đau? Có ai tôi đã âm thầm kết án đến mức không còn cầu nguyện cho họ nữa? Không cần nói ra với ai. Chỉ cần đứng dưới chân Thánh Giá và nói thật với Chúa. Vì có những vết thương quá sâu, ta không thể tự mình tha ngay được. Chúa cũng không đòi ta giả vờ rằng mình không đau. Tha thứ đôi khi là một hành trình dài. Có những sáng ta nghĩ mình đã tha, chiều đến ký ức lại nhói lên. Có những người ta phải tha mỗi ngày, thậm chí nhiều lần trong ngày. Nhưng bước đầu tiên là đừng nuôi ý muốn báo thù. Hãy nói: “Lạy Chúa, con chưa thể thương người ấy, nhưng xin Chúa thương họ. Con chưa thể quên điều đã xảy ra, nhưng xin đừng để điều ấy làm con trở nên cay độc. Con trao quyền phán xét cho Chúa.”
Đó đã là một phép lạ khởi đầu.
Có lẽ một trong những hình ảnh đẹp nhất của Kitô giáo là Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá. Mẹ nhìn Con bị giết. Mẹ nhìn những người đã làm điều ấy. Tin Mừng không ghi một lời nguyền rủa nào của Mẹ. Không có tiếng kêu đòi trả thù. Chỉ có sự hiện diện thinh lặng. Ở đó, Mẹ học đến tận cùng trái tim của Con mình. Và cũng ở đó, Mẹ nhận Gioan làm con: “Thưa Bà, đây là con của Bà” (Ga 19,26). Trong chính giờ phút mất Con, trái tim Mẹ lại được mở rộng để nhận thêm con. Đó là logic của Thánh Giá: đau khổ không nhất thiết phải làm trái tim hẹp lại. Nếu được đặt trong Thiên Chúa, đau khổ có thể làm trái tim rộng hơn. Có người sau khi bị tổn thương trở nên cứng. Nhưng cũng có người vì từng đau nên dịu dàng hơn với nỗi đau của người khác. Có người sau khi bị phản bội không còn tin ai. Nhưng cũng có người đi qua phản bội và học cách thương với sự khôn ngoan sâu hơn. Thánh Giá không lãng mạn hóa đau khổ; Thánh Giá biến đau khổ thành nơi tình yêu có thể chiến thắng hận thù.
Chúng ta cần lòng thương xót trong gia đình biết bao. Một người cha đôi khi phải bớt nhớ những lần đứa con làm mình thất vọng để nhìn thấy nỗ lực nhỏ bé hôm nay của nó. Một người mẹ phải học phân biệt giữa sửa dạy và làm con cảm thấy nó là một thất bại. Vợ chồng phải học đừng biến lỗi lầm cũ thành vũ khí trong mọi cuộc tranh luận mới. Anh chị em phải học rằng đôi khi thắng một cuộc cãi nhau nhưng mất một người thân là một thất bại khủng khiếp. Người già phải thương sự vụng về của người trẻ. Người trẻ phải thương những giới hạn của người già. Có khi lời thương xót đơn giản chỉ là: “Thôi, chuyện đó qua rồi.” Có khi là: “Mình nói lại từ đầu nhé.” Có khi là: “Tôi biết anh đã sai, nhưng tôi không muốn dùng cái sai ấy để hạ nhục anh.” Có khi chỉ là im đi một câu mình hoàn toàn có quyền nói, bởi nói ra chỉ làm người kia đau thêm mà chẳng chữa được gì.
Chúng ta cũng cần lòng thương xót trong Hội Thánh. Hội Thánh không phải viện bảo tàng của những người hoàn hảo. Hội Thánh là ngôi nhà của những người đang được cứu. Trong nhà ấy có người mạnh và người yếu, người trưởng thành và người còn non nớt, người thánh thiện và người đang vật lộn với những góc tối của đời mình. Nếu chỉ những người không sai mới được ở trong Hội Thánh, nhà thờ sẽ trống. Nếu chỉ linh mục không khuyết điểm mới được giảng, sẽ không còn ai đứng trên bục giảng. Nếu chỉ giáo dân hoàn hảo mới được cầu nguyện, chẳng ai dám bước vào cung thánh. Điều giữ chúng ta ở lại không phải vì chúng ta đều tốt, mà vì Đức Kitô tốt. Không phải vì chúng ta xứng đáng, mà vì Người đã yêu chúng ta trước.
Điều ấy đặc biệt quan trọng với những người đang mang quá khứ nặng nề. Có người đã từng phá thai. Có người từng phản bội hôn nhân. Có người từng sống nhiều năm trong nghiện ngập. Có người từng làm tổn thương cha mẹ. Có người từng bỏ Chúa. Có người từng phạm một lỗi mà đến giờ không dám kể cho ai. Có người ngoài mặt vẫn cười nhưng mỗi đêm tự kết án mình. Đối với những người ấy, Tin Mừng không nói: “Chuyện chẳng có gì.” Tin Mừng nói một điều lớn hơn: “Tội của con có thật, nhưng lòng thương xót của Thiên Chúa còn thật hơn.” Sám hối không phải giả vờ rằng quá khứ chưa từng xảy ra. Sám hối là để Thiên Chúa bước vào quá khứ ấy và biến nó thành nơi ân sủng chiến thắng. Vết sẹo vẫn còn, nhưng vết sẹo không còn là dấu hiệu của cái chết; nó có thể trở thành chứng tích rằng một vết thương đã được chữa lành.
Sau Phục Sinh, Đức Giêsu vẫn mang các dấu đinh. Người không xóa chúng. Tôma được mời đặt ngón tay vào đó (x. Ga 20,27). Chi tiết ấy thật sâu sắc. Chúa Phục Sinh không xóa lịch sử Thánh Giá khỏi thân thể Người. Những vết thương được đưa vào vinh quang. Có lẽ đời ta cũng vậy. Thiên Chúa không nhất thiết xóa khỏi ký ức mọi điều đau đớn, nhưng Người có thể biến vết thương thành vết sẹo, biến vết sẹo thành chứng từ, biến nơi từng làm ta xấu hổ thành nơi ta hiểu người khác hơn. Một người từng sa ngã có thể trở thành người rất dịu dàng với người đang sa ngã. Một người từng được tha nhiều có thể trở thành chứng nhân mạnh mẽ cho sự tha thứ. Một người từng tưởng đời mình đã hết có thể nói với người tuyệt vọng khác: “Tôi từng ở chỗ anh đang đứng. Nhưng Chúa đã không bỏ tôi.”
Đó là lý do đừng bao giờ bủn xỉn với lòng thương xót của Chúa bằng cách nói về một người: “Hết cứu.” Không ai trong chúng ta có quyền nói câu ấy. Khi một người còn thở, vẫn còn một con đường bí mật giữa trái tim họ và Thiên Chúa mà ta không thấy. Có những cuộc hoán cải xảy ra sau hàng chục năm. Có những giọt nước mắt rơi vào phút cuối đời. Có những người cả đời chống lại Thiên Chúa nhưng trên giường bệnh bỗng thì thầm một lời mà chỉ Chúa nghe được. Người trộm lành đủ để khiến ta không bao giờ được tuyệt vọng về bất cứ ai. Một đời tăm tối vẫn có thể có một phút cuối đầy ánh sáng. Thiên Chúa không mệt vì chờ. Nếu người mục tử bỏ chín mươi chín con để tìm một con chiên lạc, thì khi nào con chiên ấy còn lạc, trái tim Mục Tử còn đi tìm.
Nhưng cũng phải nói thêm: đừng lợi dụng lòng thương xót. Có người nghe rằng Chúa luôn tha rồi nghĩ: vậy cứ phạm tội, sau này xin tha. Đó không phải tin vào lòng thương xót, mà là xúc phạm lòng thương xót. Một đứa con biết cha thương mình không vì thế mà cố tình làm cha đau. Càng biết mình được yêu, ta càng muốn sống xứng với tình yêu ấy. Thánh Phaolô đã đối diện chính vấn đề đó: phải chăng ân sủng càng nhiều khi tội càng nhiều thì cứ ở trong tội? Ngài trả lời quyết liệt: “Không đời nào!” (x. Rm 6,1-2). Lòng thương xót không phải chiếc gối để ta ngủ yên trong tội. Nó là bàn tay kéo ta đứng dậy khỏi tội. Chúa tha người phụ nữ ngoại tình rồi nói: “Đừng phạm tội nữa.” Người tha Giakêu, và lòng thương xót ấy làm ông tự nguyện đền bù: “Nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.” Lòng thương xót thật luôn sinh hoa trái hoán cải.
Có một sự thật kỳ lạ: người càng hiểu lòng thương xót thì càng ghét tội, nhưng lại càng thương tội nhân. Người chưa hiểu lòng thương xót thường làm ngược lại: họ có thể nói rất gay gắt về tội và đồng thời khinh người tội lỗi. Đức Giêsu không như vậy. Người rất nghiêm với tội nhưng rất dịu với người tội lỗi. Người có thể nói: “Khốn cho các ngươi” với sự giả hình, nhưng lại để người phụ nữ tội lỗi khóc dưới chân mình. Người có thể dạy tiêu chuẩn luân lý rất cao, nhưng cũng ăn cùng bàn với thu thuế. Người không hạ thấp sự thật để thương xót, và cũng không dùng sự thật như viên đá để ném người ta chết. Ở nơi Đức Giêsu, sự thật và lòng thương xót ôm lấy nhau.
Có lẽ chúng ta cần học cách ấy nhất trong thời đại này. Người ta quá nhanh trong việc phân loại nhau. Trái, phải. Tiến bộ, bảo thủ. Đạo đức, tội lỗi. Đáng tin, không đáng tin. Phe ta, phe họ. Và một khi đã xếp người khác vào một chiếc hộp, ta không còn nghe họ nữa. Thánh Giá phá mọi chiếc hộp như vậy. Dưới chân Thánh Giá có Đức Maria, Gioan, những người lính Rôma, những người chế nhạo, một viên đại đội trưởng, những phụ nữ khóc than. Và máu Đức Kitô rơi xuống trên một mặt đất không hỏi xem ai xứng đáng. Ngay cả viên đại đội trưởng, một người đại diện cho bộ máy hành hình Người, cuối cùng cũng thốt lên: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Ai biết được một con người sẽ thay đổi vào khoảnh khắc nào? Ai biết một lời hiền lành hôm nay có thể trở thành hạt giống của cuộc trở về mười năm sau? Ai biết một lần ta từ chối trả đũa có thể khiến người kia đêm về suy nghĩ? Vì vậy đừng khóa cánh cửa mà Chúa vẫn đang để mở.
Và nếu hôm nay người cần được thương xót nhất lại chính là bản thân ta, thì cũng xin đừng bủn xỉn. Có người rất rộng lượng với người khác nhưng tàn nhẫn với chính mình. Họ tha cho người khác nhưng không tha nổi cho mình. Họ tin Chúa thương cả thế giới nhưng nghi ngờ Chúa thương họ. Có khi đây là một hình thức tự cao rất kín đáo: ta đặt tiêu chuẩn cho chính mình cao đến mức không chấp nhận rằng mình phải sống nhờ ân sủng như mọi người. Khi Chúa đã tha mà ta cứ tự kết án, ta không trở nên khiêm nhường hơn. Khiêm nhường đích thực là nhận mình đã sai và cũng nhận rằng tình yêu Chúa lớn hơn cái sai ấy. Phêrô đã khóc, nhưng rồi ông để Chúa phục hồi. Ông không dành ba mươi năm còn lại để nói: “Tôi là kẻ đã chối Thầy, tôi vô dụng.” Ông đứng lên và trở thành người củng cố anh em mình. Maria Mađalêna không sống phần đời còn lại bằng cách đứng ngoài cộng đoàn vì xấu hổ quá khứ. Chị trở thành người đầu tiên loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho các môn đệ. Ân sủng không phủ nhận quá khứ; ân sủng không cho quá khứ quyền thống trị tương lai.
Có thể ta đã mất rất nhiều năm. Chúa vẫn có thể dùng phần còn lại. Có thể ta đã làm hỏng nhiều điều. Chúa vẫn có thể bắt đầu từ những mảnh vỡ. Có thể có những hậu quả không thể đảo ngược. Chúa vẫn có thể làm điều mới trong chính hoàn cảnh đó. Thiên Chúa là bậc thầy của những khởi đầu muộn. Abraham đã già. Môsê đã tám mươi tuổi khi bắt đầu sứ mạng lớn. Người trộm lành bắt đầu đời sống thiên đàng chỉ vài phút trước khi chết. Vậy nên đừng nói với Chúa: “Muộn rồi.” Với Người, một phút thật sự mở lòng có thể quý hơn nhiều năm sống khép kín.
Thánh Giá dạy ta rằng lòng thương xót luôn đắt giá đối với người trao nhưng lại miễn phí đối với người nhận. Ta được tha miễn phí, nhưng cái giá là máu Đức Kitô. Vì thế mỗi lần bước đến tòa giải tội, ta đừng bước đến như người đi lấy một món hàng rẻ tiền. Hãy bước đến với lòng biết ơn. Có một Đấng đã trả giá cho sự bình an của ta. Có một Đấng đã mang sự xấu hổ của ta. Có một Đấng trần trụi trên Thánh Giá để ta được mặc lại áo ân sủng. Có một Đấng chịu gọi là kẻ bị Thiên Chúa nguyền rủa để ta được gọi là con yêu dấu. Có một Đấng đi vào bóng tối để ta có thể trở về ánh sáng. Khi hiểu điều ấy, ta sẽ không coi nhẹ tội, nhưng cũng không bao giờ tuyệt vọng vì tội.
Và người đã được thương xót sẽ dần biết thương xót. Đây là phép thử thật của đời sống Kitô hữu. Không phải ta đọc bao nhiêu kinh về lòng thương xót, không phải nhà ta treo bao nhiêu ảnh Lòng Chúa Thương Xót, nhưng sau những lời kinh ấy, trái tim ta có mềm hơn không? Ta có bớt thích nói về lỗi người khác không? Ta có mau tha hơn không? Ta có bớt vui khi thấy người mình không thích gặp chuyện không may không? Ta có thể cầu nguyện cho người làm mình tổn thương không? Ta có thôi dùng quá khứ của người khác để điều khiển hiện tại của họ không? Ta có thể nhìn một người sa ngã mà nghĩ trước hết “tội nghiệp họ” thay vì “đáng đời” không? Những câu hỏi ấy đau, nhưng cần thiết. Vì lòng thương xót không phải một lòng sùng kính nằm trong nhà nguyện. Nó phải đi ra bàn ăn, vào cuộc điện thoại, vào Facebook, vào cuộc họp cộng đoàn, vào đời sống vợ chồng, vào cách cha mẹ sửa con, vào cách linh mục đối xử với giáo dân, vào cách giáo dân nói về linh mục, vào cách người đạo đức nhìn người ít đạo đức hơn mình.
Đôi khi chỉ một chút lòng thương xót cũng cứu được một đời người. Một đứa trẻ bị điểm kém trở về nhà, nếu gặp câu: “Không sao, mình tìm cách làm lại”, nó học được rằng thất bại không phải kết thúc. Một người phạm lỗi trong công việc nếu được sửa nhưng không bị hạ nhục sẽ có cơ hội trưởng thành. Một người xa Chúa nhiều năm nếu bước vào nhà thờ và gặp một ánh mắt đón nhận thay vì dò xét có thể đủ can đảm quay lại ngày mai. Một người đang tuyệt vọng nếu nghe được câu: “Chúa chưa bỏ anh đâu”, có thể giữ lại sự sống trong lòng. Chúng ta không biết một lời thương xót đi xa đến đâu.
Ngược lại, một câu kết án cũng có thể đóng một cánh cửa nhiều năm. “Mày chẳng bao giờ thay đổi.” “Con người như anh thì hết thuốc chữa.” “Tôi biết loại người như chị.” “Nó mà đạo đức gì.” Những câu ấy dễ nói lắm. Nhưng hãy cẩn thận. Chúa chưa viết dấu chấm hết, ta là ai mà viết? Đức Kitô vẫn đang chịu đóng đinh cho người ấy, ta là ai mà tuyên bố họ không đáng được cứu? Có thể hành vi của họ rất sai. Hãy gọi cái sai là sai. Nhưng đừng đồng hóa toàn bộ con người với một hành vi. Một người nói dối không chỉ là “kẻ nói dối”. Một người ngoại tình không chỉ là “kẻ ngoại tình”. Một người nghiện không chỉ là “con nghiện”. Một người từng bỏ lễ không chỉ là “người khô khan”. Con người luôn lớn hơn tội của họ, vì họ mang hình ảnh Thiên Chúa và được Đức Kitô đổ máu để cứu chuộc.
Cuối cùng, đừng bủn xỉn với lòng thương xót Chúa bởi vì một ngày nào đó, chính ta sẽ cần nó hơn bất cứ điều gì. Khi đời đi đến chiều, tiền bạc không cứu được ta. Danh tiếng không cứu được ta. Những lần ta thắng người khác trong tranh luận không cứu được ta. Thành công, chức vụ, bằng cấp rồi cũng nằm ngoài cánh cửa sự chết. Khi ấy, điều duy nhất ta có thể làm là như người thu thuế trong Đền Thờ: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18,13). Và thật đẹp khi nghĩ rằng lời cầu cuối cùng của đời ta có thể không cần dài. Chỉ cần: “Lạy Chúa Giêsu, xin nhớ đến con.” Người trộm lành đã cầu như vậy. Và Thiên Đàng mở ra.
Chúng ta sống nhờ lòng thương xót. Chúng ta chết trong lòng thương xót. Chúng ta hy vọng được cứu bởi lòng thương xót. Vậy tại sao những ngày ở giữa sinh và tử, ta lại keo kiệt với lòng thương xót dành cho nhau?
Hãy nhìn lên Thánh Giá mỗi khi thấy mình muốn kết án ai. Hãy nhìn đôi tay bị đóng đinh trước khi ném viên đá bằng lời nói. Hãy nhìn vòng gai trước khi làm nhục một người đã sai. Hãy nhìn cạnh sườn mở toang trước khi khép cửa lòng. Hãy nghe lại lời: “Lạy Cha, xin tha cho họ” trước khi nói: “Tôi không bao giờ tha.” Và mỗi khi ta thấy quá khứ mình quá đen tối, hãy nhìn người trộm bên phải Thánh Giá và nghe lại lời Chúa: “Hôm nay, anh sẽ ở với tôi trên Thiên Đàng.”
Thánh Giá không bảo chúng ta rằng tội lỗi chẳng đáng kể. Thánh Giá nói rằng lòng thương xót đáng tin. Thánh Giá không dạy chúng ta dễ dãi. Thánh Giá dạy chúng ta đừng tuyệt vọng. Thánh Giá không xóa sự thật về cái ác. Thánh Giá cho thấy tình yêu mạnh hơn cái ác. Thánh Giá không nói rằng ai cũng tự động được cứu bất kể họ sống thế nào. Thánh Giá nói rằng không ai bị loại khỏi lời mời gọi trở về. Cánh cửa vẫn mở. Máu vẫn chảy. Trái tim vẫn mở. Người Cha vẫn đứng chờ. Mục Tử vẫn đi tìm. Và Chúa Giêsu vẫn nói với mỗi linh hồn biết quay về: “Ta không kết án con.”
Xin cho chúng ta đừng bao giờ đặt dấu chấm nơi Thiên Chúa còn đặt dấu phẩy. Đừng tuyên án nơi Thiên Chúa còn chờ đợi. Đừng đóng cửa nơi Đức Kitô đã mở cạnh sườn. Đừng cầm giữ món nợ nhỏ của anh em khi chính ta vừa được tha một món nợ không thể trả. Đừng dùng Thánh Giá như một món trang sức trước ngực mà quên mang trái tim của Đấng bị đóng đinh trong lòng. Và trên hết, đừng bủn xỉn với lòng thương xót Chúa: đừng bủn xỉn với người khác, và cũng đừng bủn xỉn với chính mình.
Bởi đến cuối cùng, điều cứu thế giới này không phải là những con người chưa từng phạm lỗi. Thế giới được cứu bởi một Đấng vô tội đã yêu những người có tội đến chết. Và Hội Thánh chỉ thật sự mang khuôn mặt Đức Kitô khi đứng dưới Thánh Giá, nhận lấy dòng máu thương xót ấy, rồi không giữ lại cho riêng mình nhưng để nó chảy tiếp đến những con người đang đói một cơ hội được làm lại, đang khát một lời tha thứ, đang kiệt sức vì mặc cảm, đang đứng rất xa mà không dám trở về.
Xin Chúa cho chúng ta một trái tim không tính toán khi thương, không kiêu căng khi tha, không hả hê khi người khác ngã, không thất vọng khi chính mình yếu đuối. Xin cho mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, ta nhớ rằng có một tình yêu đã không giữ lại một giọt máu nào cho mình. Và nếu Thiên Chúa đã không bủn xỉn với ta như thế, thì ta cũng đừng bủn xỉn với nhau.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC MARIA ĐỨNG DƯỚI CHÂN THÁNH GIÁ – MẪU MỰC CỦA ĐỨC TIN TRONG BÓNG TỐI
Có những lúc tin vào Chúa thật dễ. Khi cuộc đời xuôi thuận, gia đình bình an, sức khỏe còn tốt, công việc còn ổn định, lời cầu nguyện dường như được đáp lại, ta có thể nói rất nhanh rằng: “Con tin Chúa.” Nhưng cũng có những lúc lời tuyên xưng ấy phải đi qua nước mắt. Có những ngày Thiên Chúa dường như im lặng, tương lai đóng kín, điều ta tha thiết cầu xin không xảy ra, người ta thương yêu rời khỏi vòng tay mình, bệnh tật kéo dài, một cánh cửa tưởng đã mở lại bất ngờ khép lại, một biến cố ập đến làm mọi dự định tan thành mây khói. Khi ấy, đức tin không còn là một câu nói đẹp trên môi. Đức tin trở thành một cuộc chọn lựa rất đau: tôi còn tin Thiên Chúa khi tôi không hiểu Thiên Chúa nữa hay không? Tôi còn đứng lại với Người khi Người không giải thích gì cho tôi hay không? Tôi còn có thể thưa “xin vâng” khi tất cả những gì đang xảy ra dường như trái ngược với lời Người đã hứa hay không? Và nếu cần tìm một con người đã đi qua tận cùng thử thách ấy mà vẫn đứng vững, chúng ta hãy nhìn lên đồi Canvê. Ở đó, dưới chân cây Thánh Giá, có một người Mẹ đang đứng. Tin Mừng Gioan không nói Đức Maria ngất xỉu. Không nói Mẹ bỏ chạy. Không nói Mẹ kêu gào chống lại Thiên Chúa. Chỉ một câu rất ngắn mà chứa cả một đại dương đau khổ: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Chỉ một chữ “đứng” thôi cũng đủ để nói lên cả một đời đức tin. Mẹ đứng trong khi Con bị treo. Mẹ đứng trong khi trời tối. Mẹ đứng khi lời hứa dường như đã chết. Mẹ đứng khi chẳng còn gì để bám víu ngoài chính Thiên Chúa mà Mẹ không còn hiểu được đường lối của Người. Và chính ở đó, Đức Maria trở thành mẫu mực tuyệt vời của đức tin trong bóng tối.
Cuộc đời Đức Maria đã bắt đầu bằng một tiếng “xin vâng”, nhưng ít ai hiểu rằng tiếng “xin vâng” ấy không chỉ dành cho buổi Truyền Tin rực sáng. Tiếng “xin vâng” tại Nazareth phải được Mẹ nói lại suốt cả cuộc đời, và lời “xin vâng” đau nhất chính là lời không được Tin Mừng ghi thành tiếng dưới chân Thánh Giá. Ngày thiên thần Gabriel đến, Mẹ nghe một lời hứa thật đẹp: “Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1,32-33). Mẹ đã tin. Mẹ đã trao cả đời mình cho lời ấy. Nhưng rồi hơn ba mươi năm sau, Mẹ đứng trên Canvê và nhìn thấy điều gì? Đâu là ngai vàng? Một cây gỗ nhục hình. Đâu là vương miện? Một vòng gai. Đâu là triều đại vô tận? Một thân xác đầy thương tích đang hấp hối giữa hai tên tử tội. Đâu là đám đông tung hô? Chỉ còn những tiếng chế nhạo. Đâu là quyền năng của Con Đấng Tối Cao? Người không tự cứu mình khỏi những chiếc đinh. Nếu chỉ nhìn bằng mắt con người, tất cả những gì thiên thần từng nói dường như đã sụp đổ. Chính ở điểm này, đức tin của Đức Maria đạt tới độ tinh tuyền nhất: Mẹ tiếp tục tin không phải vì Mẹ thấy lời hứa đang được thực hiện, nhưng vì Mẹ tin Đấng đã hứa là Đấng trung tín, ngay cả khi cách Người thực hiện lời hứa hoàn toàn vượt khỏi hiểu biết của Mẹ.
Chúng ta thường tưởng đức tin là hiểu được ý Chúa. Không phải. Có những lúc Chúa cho hiểu, nhưng có những lúc Người chỉ mời gọi ta tin. Đức tin trưởng thành không phải là lúc mọi câu hỏi đều có câu trả lời; nhiều khi đức tin trưởng thành chính là khi câu hỏi vẫn còn đó mà ta vẫn không bỏ Chúa. Đức Maria đã sống điều ấy từ rất sớm. Khi cụ già Simêon nói với Mẹ trong Đền Thờ: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,35), Mẹ không biết lưỡi gươm ấy sẽ đến thế nào. Khi Hài Nhi vừa chào đời đã phải trốn sang Ai Cập, Mẹ không hiểu tại sao Con Thiên Chúa lại phải chạy trốn một ông vua trần thế. Khi trẻ Giêsu mười hai tuổi ở lại Đền Thờ và nói: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?”, Tin Mừng thú nhận rất thật: “Ông bà không hiểu lời Người vừa nói” (Lc 2,49-50). Mẹ không hiểu, nhưng Mẹ không vì không hiểu mà quay lưng. Mẹ “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2,51). Có lẽ đây là bí quyết lớn của đời sống đức tin: có những điều hôm nay ta chưa hiểu, đừng vội kết luận; hãy giữ chúng trong lòng trước mặt Chúa. Có những biến cố hôm nay khiến ta tưởng Chúa bỏ mình, nhưng năm năm, mười năm, hai mươi năm sau nhìn lại, ta mới thấy một bàn tay đã dẫn ta đi qua những khúc quanh mà lúc ấy ta chỉ thấy toàn bóng tối. Đức Maria không hiểu mọi sự ngay lập tức, nhưng Mẹ không để sự không hiểu trở thành sự bất tín. Mẹ biến điều mình chưa hiểu thành lời cầu nguyện.
Đỉnh cao của hành trình ấy chính là Canvê. Hãy thử đứng bên cạnh Mẹ một chút để cảm được nỗi đau mà Tin Mừng chỉ kể bằng vài dòng rất tiết chế. Người Con mà Mẹ cưu mang chín tháng trong lòng, Người Con Mẹ sinh ra nơi Bêlem trong nghèo khó, Người Con Mẹ đã ôm vào lòng khi còn thơ bé, Người Con từng nắm tay Mẹ trên những con đường làng Nazareth, giờ đây thân thể không còn nguyên vẹn. Lưng Người rách nát vì roi đòn. Đầu Người đội vòng gai. Mặt Người đầy máu và bụi. Hai tay từng chúc lành cho trẻ nhỏ, từng chạm vào người phong cùi, từng nâng người tội lỗi đứng lên, giờ bị những chiếc đinh xuyên thủng. Đôi chân từng rong ruổi khắp các làng mạc để loan báo Tin Mừng cho người nghèo giờ bị đóng chặt vào gỗ. Miệng Người từng nói những lời ban sự sống đang khô khốc vì khát. Mẹ đứng đó nhìn từng hơi thở của Con trở nên khó nhọc. Mẹ không thể làm gì để giảm đau cho Con. Không được ôm Con xuống. Không được băng bó. Không được cho Con một bát nước. Không được chết thay Con. Đau khổ lớn nhất của một người mẹ đôi khi không phải là mình đau, mà là nhìn người mình yêu đau trong khi mình bất lực. Và Đức Maria đã uống cạn chén bất lực ấy.
Nhưng điều làm Canvê tối hơn nữa không chỉ là nỗi đau của một người mẹ mất con. Đây còn là thử thách của người môn đệ đứng trước sự sụp đổ hoàn toàn của những gì mình tin. Nếu Đức Giêsu chỉ là một người con bình thường, cái chết của Người đã đủ khiến tim Mẹ tan nát. Nhưng Mẹ biết Người là Con Đấng Tối Cao. Mẹ biết Người được thụ thai bởi quyền năng Chúa Thánh Thần. Mẹ nhớ lời thiên thần. Mẹ nhớ những điều kỳ diệu tại Bêlem. Mẹ nhớ lời Simêon. Mẹ nhớ Cana. Mẹ đã thấy những dấu chỉ. Thế mà giờ đây Con Thiên Chúa chết như một kẻ bị Thiên Chúa nguyền rủa trước mắt người đời. Tất cả diễn ra mà trời không can thiệp, thiên thần không xuất hiện, phép lạ không xảy ra. Đó mới là đêm tối thật sự của đức tin: không phải chỉ là đau, mà là đau trong khi Thiên Chúa dường như im lặng.
Có lẽ trong đời chúng ta cũng có những Canvê như thế. Ta đã sống tử tế mà vẫn gặp oan ức. Ta đã cầu nguyện cho một người thân mà họ vẫn ra đi. Ta đã cố giữ một gia đình mà gia đình vẫn đổ vỡ. Ta đã tin tưởng một người mà cuối cùng bị phản bội. Ta đã xin Chúa mở một con đường nhưng trước mặt chỉ thấy bức tường. Ta đã phục vụ nhiều năm rồi một ngày nhận lại sự hiểu lầm. Ta đã cố sống ngay thẳng nhưng dường như người gian dối lại dễ thành công hơn. Có người bước vào nhà thờ với một câu hỏi không nói ra được: “Chúa ở đâu?” Có người quỳ trước Thánh Thể mà không cảm thấy gì. Có người đọc kinh nhưng từng lời kinh khô khốc. Có người vẫn đi lễ nhưng bên trong đã mỏi mệt đến độ gần như không còn sức để hy vọng. Chính những người ấy cần nhìn Đức Maria dưới chân Thánh Giá. Mẹ không trao cho chúng ta một lời giải thích về đau khổ. Mẹ trao cho chúng ta một dáng đứng.
“Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người.” Mẹ đứng. Đó là một động từ đẹp lạ lùng. Đứng nghĩa là không chạy. Đứng nghĩa là không buông. Đứng nghĩa là ở lại. Đứng nghĩa là đau nhưng không tuyệt vọng. Đứng nghĩa là nước mắt có thể chảy nhưng lòng vẫn hướng về Thiên Chúa. Đứng nghĩa là chẳng hiểu gì nữa nhưng vẫn không rút lại tiếng xin vâng. Có những chiến thắng của đời Kitô hữu không ồn ào. Có khi chiến thắng chỉ là sau một ngày rất nặng nề, ta vẫn làm dấu Thánh Giá trước khi ngủ. Có khi chiến thắng chỉ là bị tổn thương mà vẫn không trả thù. Có khi chiến thắng là một người mẹ đã cầu nguyện suốt nhiều năm cho đứa con lạc xa vẫn tiếp tục cầu nguyện thêm một ngày nữa. Có khi chiến thắng là người bệnh không còn sức đọc cả chuỗi Mân Côi nhưng vẫn thì thầm được hai tiếng “Giêsu, Maria”. Có khi chiến thắng là một linh mục đi qua những thất vọng của đời mục vụ nhưng sáng hôm sau vẫn bước lên bàn thờ. Có khi chiến thắng là một người vừa chôn người mình yêu vẫn có thể thưa rất nhỏ: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con xin phó thác.” Đó là đức tin đứng dưới chân Thánh Giá.
Đức Maria không đứng đó như một pho tượng không cảm xúc. Đức tin Kitô giáo không biến con người thành đá. Tin Chúa không có nghĩa là không khóc. Chúa Giêsu đã khóc trước mộ Ladarô. Người đã buồn đến chết được trong vườn Cây Dầu. Người đã thốt lên trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Đức Maria cũng mang trái tim của một người mẹ thật sự. Lưỡi gươm Simêon báo trước không phải là một hình ảnh trang trí; nó đâm thật vào lòng Mẹ. Nhưng sự khác biệt nằm ở chỗ: đau khổ không làm Mẹ xa Chúa, mà kéo Mẹ vào sâu hơn trong mầu nhiệm của Chúa. Có người vì đau mà bỏ cầu nguyện. Mẹ đau và trở thành lời cầu nguyện. Có người vì không hiểu mà bỏ đi. Mẹ không hiểu và đứng lại. Có người vì thất vọng mà đóng cửa lòng. Trái tim Mẹ bị đâm thâu lại mở rộng hơn để trở nên Mẹ của nhân loại.
Ngay giữa giờ phút tối tăm ấy, một đoạn Tin Mừng hết sức cảm động xảy ra: “Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,26-27). Hãy hình dung hoàn cảnh ấy. Đức Giêsu gần chết. Mỗi hơi thở là một cực hình. Nhưng Người vẫn nghĩ đến Mẹ và người môn đệ. Người biến chính giờ phút mất mát thành một cuộc trao ban. Đức Maria đang mất người Con độc nhất theo huyết nhục, nhưng chính lúc ấy Mẹ nhận một người con mới. Và nơi Gioan, Mẹ nhận tất cả chúng ta. Canvê tưởng là nơi mọi sự bị lấy đi, hóa ra lại là nơi một tình mẫu tử mới được khai sinh. Đó là một trong những nghịch lý sâu nhất của Thánh Giá: Thiên Chúa thường làm nảy sinh sự sống từ nơi chúng ta chỉ nhìn thấy mất mát.
Điều ấy không có nghĩa rằng mỗi mất mát đều có thể được giải thích ngay bằng một lợi ích khác. Đừng vội vàng nói với người đang đau rằng “Chúa lấy cái này để cho cái khác”. Những câu nói quá nhanh có thể làm người đau khổ đau thêm. Đức Maria không đứng dưới chân Thánh Giá để giảng một lý thuyết về đau khổ. Mẹ chỉ ở đó. Và nhiều khi điều người đau khổ cần nhất cũng không phải một bài giải thích thần học, mà là một người biết đứng bên cạnh họ. Đứng như Mẹ. Không phán xét. Không nói những câu đạo đức rẻ tiền. Không ép họ phải mạnh mẽ. Không bảo họ phải hết buồn ngay. Chỉ hiện diện. Chỉ cầu nguyện. Chỉ để họ biết rằng trong đêm tối ấy họ không cô độc. Có lẽ Hội Thánh đẹp nhất không phải khi Hội Thánh nói thật nhiều, mà khi Hội Thánh biết đứng dưới những thập giá của con người: bên giường người bệnh, bên gia đình tang chế, bên người thất nghiệp, bên người bị bỏ rơi, bên đứa trẻ bị tổn thương, bên người già cô độc, bên người tội lỗi không còn dám ngẩng đầu. Đức Maria dưới chân Thánh Giá dạy Hội Thánh nghệ thuật hiện diện.
Mẹ còn dạy chúng ta một điều rất khó: không chiếm hữu những gì mình yêu. Đức Maria đã nhận Đức Giêsu như một hồng ân, không phải như một tài sản. Từ khi Con bắt đầu sứ vụ công khai, Mẹ phải học trao Con cho sứ mạng của Chúa Cha. Tại Cana, sau lời “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”, Mẹ lui vào hậu trường. Mẹ không giữ Con cho riêng mình. Đến Canvê, sự từ bỏ ấy đạt đến tận cùng. Mẹ trả Người Con về cho Chúa Cha. Đây là một cuộc hiến tế của trái tim. Người ta có thể cho tiền, cho thời gian, cho công sức, nhưng cho đi điều mình yêu nhất mới thật khó. Làm cha mẹ cũng vậy. Một ngày phải biết để con bước đi con đường của nó. Không biến con thành sự kéo dài của tham vọng cha mẹ. Không giữ con bằng tình cảm. Không bắt con sống cuộc đời mà mình đã thiết kế. Tình yêu chân thật không sở hữu. Tình yêu chân thật trao ban. Đức Maria yêu Đức Giêsu hơn bất cứ người mẹ nào yêu con mình, nhưng tình yêu ấy trong sạch đến mức Mẹ có thể trao Con cho chương trình cứu độ của Chúa Cha, dù cái giá là trái tim Mẹ bị đâm thâu.
Dưới chân Thánh Giá, Mẹ cũng dạy chúng ta rằng sự im lặng không nhất thiết là sự vắng mặt của Thiên Chúa. Thứ Sáu Tuần Thánh dường như là ngày Thiên Chúa thua cuộc. Những người giết Đức Giêsu nghĩ họ đã thắng. Các môn đệ nghĩ mọi sự kết thúc. Tảng đá sẽ lấp cửa mồ. Nhưng điều không ai nhìn thấy là chính trong lúc sự dữ tưởng mình chiến thắng, công trình cứu độ đang được hoàn thành. Chính khi Con Thiên Chúa dường như bất lực nhất, Người đang phá vỡ quyền lực của tội lỗi. Chính khi Người bước vào sự chết, Người đang mở sự chết từ bên trong. Chính khi Đức Maria không thấy gì ngoài một thân xác bị đóng đinh, mầm Phục Sinh đã nằm trong chính sự tự hiến ấy. Đức tin của Mẹ vì thế là đức tin của ngày Thứ Bảy Tuần Thánh: sống giữa Thứ Sáu đau thương và Chúa Nhật Phục Sinh mà chưa thấy Chúa Nhật. Đây cũng là vị trí của rất nhiều người chúng ta. Có những lúc ta đang ở trong “ngày thứ Bảy” của cuộc đời: điều cũ đã chết nhưng điều mới chưa xuất hiện; lời hứa đã được nghe nhưng sự hoàn tất chưa thấy; ta ở giữa khoảng trống. Khoảng trống ấy rất đáng sợ. Nhưng Đức Maria dạy ta ở lại.
Có một cám dỗ rất lớn trong đời sống thiêng liêng là chỉ tin Chúa khi ta cảm thấy Chúa. Khi cầu nguyện có cảm xúc thì ta sốt sắng. Khi lòng khô khan thì ta nghĩ Chúa xa. Khi mọi sự thuận lợi ta nói Chúa thương mình. Khi tai họa xảy đến ta hỏi Chúa có còn thương không. Nhưng tình yêu của Thiên Chúa không thay đổi theo cảm giác của chúng ta. Mặt trời không biến mất chỉ vì mây che kín. Canvê là đám mây đen nhất, nhưng tình yêu Chúa Cha không hề biến mất. Nếu có một nơi chứng minh Thiên Chúa yêu thế gian đến cùng, đó chính là Thánh Giá. Vậy mà chính tại nơi tình yêu tỏ mình mạnh nhất, người ta lại dễ tưởng Thiên Chúa vắng mặt nhất. Mầu nhiệm là ở đó. Thiên Chúa không luôn cứu chúng ta bằng cách cất thập giá đi. Có lúc Người cứu chúng ta bằng cách đi vào thập giá cùng chúng ta và biến thập giá thành con đường dẫn đến sự sống.
Đức Maria hiểu điều này không phải bằng sách vở mà bằng chính thân xác và trái tim mình. Mẹ đã không được miễn trừ đau khổ vì Mẹ vô nhiễm nguyên tội. Mẹ không được miễn trừ thử thách vì Mẹ đầy ân sủng. “Đầy ân sủng” không có nghĩa là “đầy tiện nghi”. Được Thiên Chúa yêu không có nghĩa là không bao giờ phải khóc. Được Chúa chọn không có nghĩa là đời sẽ dễ hơn. Nhiều khi chính người được trao một sứ mạng lớn lại phải đi qua một con đường sâu hơn của từ bỏ. Điều này rất quan trọng cho đời sống đức tin. Nếu ta đồng hóa ơn Chúa với sự thành công bên ngoài, ta sẽ dễ vỡ vụn khi đau khổ đến. Đức Maria cho thấy một con người có thể được Thiên Chúa yêu thương cách đặc biệt mà vẫn phải đi qua một lưỡi gươm. Điều chứng minh tình yêu của Thiên Chúa không phải là ta không có thập giá, nhưng là giữa thập giá, Thiên Chúa không bao giờ bỏ chúng ta một mình.
Dĩ nhiên có người sẽ hỏi: nếu Thiên Chúa không bỏ Đức Maria, tại sao Người để Mẹ phải nhìn Con chết? Câu hỏi ấy không có một đáp án đơn giản. Mầu nhiệm đau khổ luôn vượt quá mọi công thức. Kitô giáo không dạy chúng ta rằng Thiên Chúa thích đau khổ. Thánh Giá không phải là bằng chứng Thiên Chúa yêu sự đau đớn. Thánh Giá là bằng chứng Thiên Chúa yêu con người đến mức đi vào chính hậu quả của tội lỗi và sự chết để cứu con người từ bên trong. Chúng ta không tôn thờ đau khổ; chúng ta tôn thờ Đấng đã biến đau khổ thành nơi tình yêu tự hiến đạt đến tận cùng. Đức Maria không tìm đau khổ. Mẹ đón nhận đau khổ không thể tránh khỏi trong sự kết hợp với Con. Có một khoảng cách rất lớn giữa việc cố tình tìm đau khổ và việc trung thành khi đau khổ đến. Kitô giáo không bảo người bị bạo hành phải im lặng chịu đựng. Không bảo người bệnh từ chối chữa trị. Không bảo người nghèo cứ cam chịu bất công. Thánh Giá của Chúa chống lại sự dữ chứ không thần thánh hóa sự dữ. Nhưng có những đau khổ sau khi ta đã làm mọi điều có thể vẫn không thể tránh khỏi: tuổi già, bệnh tật, cái chết, chia ly, giới hạn, những vết thương của phận người. Chính tại đó, Đức Maria dạy ta cách không để đau khổ có tiếng nói cuối cùng.
Đức tin trong bóng tối khác với sự lạc quan. Người lạc quan nói: “Rồi chắc mọi chuyện sẽ ổn thôi.” Người có đức tin có thể không biết mọi chuyện có “ổn” theo ý mình hay không, nhưng vẫn nói: “Dù chuyện gì xảy ra, tôi thuộc về Chúa.” Đó là đức tin của Đức Maria. Mẹ không đứng dưới Thánh Giá vì tin rằng vài phút nữa quân lính sẽ tháo đinh và Đức Giêsu sẽ bước xuống trong vinh quang. Không. Mẹ nhìn Con chết thật. Mẹ sẽ ôm xác Con thật. Mẹ sẽ đi sau đoàn người đưa Con đến mồ thật. Đức tin của Mẹ không phủ nhận hiện thực. Mẹ nhìn thẳng vào mất mát mà vẫn tin. Đức tin Kitô giáo vì thế không phải là tự thôi miên rằng chẳng có gì xấu xảy ra. Đức tin là nhìn thẳng vào điều xấu mà vẫn tin rằng điều xấu không phải tiếng nói cuối cùng.
Chúng ta cần học nơi Mẹ điều này, nhất là trong một thời đại rất khó chấp nhận sự bất lực. Con người hiện đại quen điều khiển. Muốn nhanh. Muốn giải quyết. Muốn câu trả lời. Điện thoại chậm vài giây cũng sốt ruột. Một vấn đề không giải quyết được khiến ta khó chịu. Nhưng có những thực tại không có nút bấm nào sửa được. Ta không thể quay ngược thời gian. Không thể làm người đã chết sống lại bằng sức mình. Không thể ép một người khác yêu mình. Không thể bảo tuổi già đừng đến. Không thể giữ tất cả mọi người ở bên mình mãi mãi. Có lúc ta phải học một sự nghèo khó sâu xa: chấp nhận rằng mình không phải Thiên Chúa. Đức Maria dưới chân Thánh Giá hoàn toàn bất lực theo nghĩa trần thế, nhưng chính trong sự bất lực ấy, sức mạnh của đức tin Mẹ tỏa sáng. Có những lúc việc thiêng liêng nhất ta có thể làm không phải là thay đổi hoàn cảnh, mà là để cho Thiên Chúa gìn giữ trái tim mình trong hoàn cảnh ấy.
Và hãy để ý: Mẹ không đứng một mình. Bên Mẹ có người môn đệ Chúa yêu. Chi tiết nhỏ ấy mang một giá trị mục vụ lớn lao. Khi đau khổ, chúng ta thường có khuynh hướng khép kín. Ta nói: “Không ai hiểu tôi.” Rồi ta tự cô lập. Nhưng Chúa Giêsu từ trên Thánh Giá trao Gioan cho Mẹ và trao Mẹ cho Gioan. Như thể Người nói rằng trên hành trình đi qua đau khổ, con người cần có nhau. Đức tin không chỉ là chuyện “tôi với Chúa”. Chúa trao chúng ta cho nhau. Có những ngày tôi yếu, đức tin của anh em nâng tôi lên. Có những ngày anh em yếu, tôi đứng bên họ. Hội Thánh chính là cộng đoàn những người biết đứng bên nhau dưới những cây thập giá. Vì vậy, một người đang đau khổ đừng ngại tìm một người đáng tin để tâm sự, một linh mục để đồng hành, một người bạn để cầu nguyện cùng. Và một người thấy ai đang đau cũng đừng chỉ nhắn: “Cố lên nhé.” Hãy đến gần nếu có thể. Một bữa cơm, một cuộc điện thoại, một giờ ngồi im lặng, một lời kinh chung đôi khi quý hơn cả trăm lời khuyên.
Đức Maria còn là mẫu mực của đức tin vì Mẹ để cho đau khổ mở rộng trái tim mình thay vì làm trái tim mình cay đắng. Đây là một trong những phép lạ lớn nhất của ân sủng. Đau khổ tự nó không làm ai nên thánh. Đau khổ có thể làm một người sâu sắc hơn, nhưng cũng có thể làm họ khép kín hơn; có thể làm họ cảm thông hơn, cũng có thể làm họ cay độc hơn. Điều quyết định là ta để cho Chúa làm gì trong đau khổ ấy. Đức Maria từ một người Mẹ của Đức Giêsu trở thành Mẹ của người môn đệ, rồi trong đức tin của Hội Thánh, trở thành Mẹ của mọi môn đệ. Trái tim bị lưỡi gươm đâm thâu lại trở thành trái tim rộng đủ cho một nhân loại. Đó là cách Thiên Chúa làm việc. Nếu ta trao vết thương cho Người, Người có thể biến chính nơi đã làm ta đau thành nơi ta biết yêu người khác sâu hơn. Người từng trải qua tang chế có thể hiểu người đang mất người thân. Người từng bị phản bội nếu được chữa lành có thể biết nâng đỡ người đang đổ vỡ. Người từng thất bại có thể bớt khắt khe với người khác. Vết thương được trao cho Chúa có thể trở thành một cánh cửa của lòng thương xót.
Nhưng để điều ấy xảy ra, ta phải đứng gần Thánh Giá, chứ không chạy khỏi nó bằng mọi thứ gây mê của thời đại. Có người gây mê nỗi buồn bằng công việc. Có người bằng tiền. Có người bằng mua sắm. Có người bằng mạng xã hội. Có người bằng rượu chè. Có người bằng những mối quan hệ liên tục để khỏi phải đối diện với sự trống rỗng bên trong. Có người trốn vào cả những hoạt động đạo đức, làm rất nhiều việc cho Chúa nhưng không bao giờ dám ngồi yên trước Chúa với vết thương thật của mình. Đức Maria không trốn. Mẹ đứng trước sự thật. Con mình đang chết. Mẹ đau. Mẹ không phủ nhận. Và bởi Mẹ đứng trước sự thật trong sự hiện diện của Chúa, đau khổ ấy được đưa vào mầu nhiệm cứu độ. Chữa lành bắt đầu khi con người thôi chạy trốn khỏi điều thật trong lòng mình và dám mang nó đến trước Chúa.
Có lẽ vì vậy mà trong kinh “Lạy Nữ Vương”, Hội Thánh gọi Mẹ là “Mẹ nhân lành, làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy”, rồi ngay sau đó lại nói đến “chốn khách đày”, đến “khóc lóc than thở”. Kitô giáo rất thực tế. Có nước mắt. Có lưu đày. Có thung lũng lệ sầu. Nhưng có Mẹ. Không phải một người Mẹ đứng ngoài đau khổ mà khuyên ta chịu đựng, nhưng một người Mẹ đã từng đi qua nơi tối nhất. Khi ta cầu xin Đức Maria ở bên một người hấp hối, ta đang cầu xin một người Mẹ đã đứng bên một Người đang hấp hối. Khi ta xin Mẹ nâng đỡ một người vừa mất con, ta đang cầu xin một người Mẹ đã ôm xác Con mình. Khi ta xin Mẹ giúp ta tin trong đêm tối, ta đang cầu xin một người đã tin khi toàn bộ bầu trời dường như im lặng. Vì thế, lòng sùng kính Đức Maria đúng nghĩa không làm ta xa Chúa Kitô; Mẹ luôn dẫn ta về sát Thánh Giá của Con.
Tin Mừng không ghi Đức Maria nói gì dưới chân Thánh Giá. Sự im lặng ấy thật đẹp. Có những giờ phút những lời hay nhất cũng trở nên thừa. Khi đau đến tận cùng, chỉ có sự hiện diện là ngôn ngữ còn lại. Mẹ hiện diện. Và có lẽ chính sự hiện diện ấy đã là một niềm an ủi lớn lao cho Chúa Giêsu trong giờ cuối. Con người có thể không cứu được người mình yêu khỏi đau khổ, nhưng sự hiện diện của tình yêu vẫn có ý nghĩa. Bao nhiêu người già chỉ cần con cái ngồi cạnh một lúc. Bao nhiêu bệnh nhân chỉ cần một bàn tay nắm lấy tay mình. Bao nhiêu người hấp hối không còn cần những diễn văn mà cần biết người thân vẫn ở đó. Bao nhiêu tâm hồn đang tuyệt vọng cần một người không bỏ họ. Đức Maria dạy chúng ta rằng “ở lại” là một hình thức rất cao của tình yêu.
Đáng buồn là chúng ta đôi khi dễ ở với nhau trong ngày vui nhưng khó ở với nhau trong ngày khổ. Khi ai đó thành công, quanh họ có nhiều người. Khi họ thất bại, số người còn lại ít dần. Khi Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, có hàng ngàn người. Khi Người vào Giêrusalem, đám đông tung hô. Nhưng dưới chân Thánh Giá chỉ còn vài người. Tình yêu thật được nhận ra ở Canvê. Ai ở lại khi không còn lợi ích gì để nhận? Ai ở lại khi người kia không còn gì hấp dẫn? Ai ở lại khi chăm sóc một người bệnh kéo dài nhiều năm? Ai ở lại với một người già cứ lặp đi lặp lại một câu chuyện? Ai ở lại với một người vợ, một người chồng khi tuổi trẻ qua đi, nhan sắc phai dần, sức khỏe yếu đi? Ai ở lại với một người bạn trong lúc họ bị cả đám đông quay lưng? Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá đặt cho chúng ta những câu hỏi rất khó về sự trung thành.
Mẹ cũng đặt một câu hỏi cho đời sống thánh hiến và linh mục. Chúng ta có thể theo Chúa rất hăng hái ở Galilê, nơi có đám đông, phép lạ, tiếng vỗ tay. Nhưng ta có theo Người tới Canvê không? Khi sứ vụ không kết quả như mong muốn, ta còn yêu sứ vụ không? Khi làm điều tốt mà không ai biết, ta còn làm không? Khi bị hiểu lầm, ta có còn hiền lành? Khi tuổi già đến, không còn vị trí, không còn được mời gọi nhiều, không còn thấy mình quan trọng, ta có bình an không? Có những lúc Chúa lấy khỏi ta cảm giác thành công để thanh luyện tình yêu của ta. Ta phục vụ Chúa hay phục vụ cảm giác mình hữu ích? Ta yêu Chúa hay yêu những gì Chúa ban? Đức Maria dưới chân Thánh Giá không còn được chứng kiến những phép lạ huy hoàng. Chỉ còn Chúa. Một Chúa bị đóng đinh. Và Mẹ vẫn ở đó. Đó là tình yêu tinh tuyền.
Đức tin trong bóng tối của Mẹ không phải đức tin thụ động. Trong Kinh Thánh, “đứng” còn là tư thế của người hiện diện, người canh thức, người sẵn sàng. Mẹ đứng dưới Thánh Giá như một người tham dự vào hy lễ của Con bằng sự hiệp thông của trái tim. Mẹ không cứu chuộc nhân loại thay Đức Kitô; chỉ Đức Kitô là Đấng Cứu Chuộc. Nhưng Mẹ kết hợp sự đau đớn và tiếng xin vâng của mình với sự tự hiến của Con. Đây cũng là con đường của mỗi Kitô hữu. Chúng ta không thể thêm gì vào giá trị vô hạn của Thánh Giá Đức Kitô, nhưng có thể để đời mình được kết hợp với Thánh Giá ấy. Một cơn bệnh được đón nhận trong tình yêu. Một hy sinh âm thầm cho gia đình. Một sự nhẫn nại trước người khó tính. Một việc bổn phận được làm với lòng trung thành. Một nỗi cô đơn được trao vào tay Chúa. Khi kết hợp với tình yêu của Đức Kitô, những điều nhỏ bé ấy không còn vô nghĩa.
Vì thế, đừng bao giờ nghĩ một đời sống âm thầm là một đời sống vô ích. Đức Maria hầu như không nói gì trong các sách Tin Mừng. Mẹ không viết một cuốn sách. Không đi giảng trước đám đông. Không để lại một công trình mang tên mình. Nhưng sự hiện diện của Mẹ đi xuyên suốt mầu nhiệm Nhập Thể, Cana, Canvê, và cộng đoàn cầu nguyện chờ đợi Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa không đo một đời người bằng tiếng vang. Người đo bằng tình yêu và sự trung tín. Có những người mẹ cả đời chỉ biết bếp núc, chăm con, chăm cháu, đọc kinh, nhưng có thể trước mặt Chúa họ lớn hơn rất nhiều người nổi tiếng. Có những người bệnh nằm một chỗ mà lời cầu nguyện âm thầm của họ đang nâng đỡ biết bao người. Có những tu sĩ già chẳng còn đảm nhận công việc nào đáng kể nhưng sự trung tín của họ là cột trụ vô hình cho cộng đoàn. Đức Maria dưới chân Thánh Giá cho thấy vẻ đẹp của một đời người không nằm ở việc ta làm được bao nhiêu điều khiến thiên hạ biết, mà ở việc ta đã yêu đến mức nào.
Và rồi Thứ Sáu ấy sẽ qua. Đức Maria chưa biết buổi sáng Phục Sinh sẽ đến bằng cách nào, nhưng nó đến. Tảng đá bị lăn ra. Ngôi mộ trống. Sự chết không giữ được Đức Kitô. Điều Mẹ tin trong bóng tối được tỏ hiện trong ánh sáng. Vì vậy, khi nhìn Mẹ đứng dưới chân Thánh Giá, ta đừng dừng câu chuyện ở Thứ Sáu. Đức tin Kitô giáo luôn hướng tới Phục Sinh. Nhưng cũng đừng chạy quá nhanh tới Phục Sinh đến nỗi coi nhẹ Thứ Sáu. Muốn hiểu niềm vui Phục Sinh, phải đi qua sự thật của Canvê. Đức Maria không nhảy qua đau khổ; Mẹ đi xuyên qua đau khổ. Đó cũng là cách Chúa chữa lành chúng ta. Không phải lúc nào Người cũng đưa ta ra khỏi đêm tối tức thì. Có khi Người cầm tay ta đi xuyên qua đêm tối cho đến sáng.
Nếu hôm nay ai đó đang ở trong một đêm tối, xin đừng vội nghĩ Chúa đã bỏ mình. Nếu lời cầu nguyện chưa được đáp, đừng vội kết luận Chúa không nghe. Nếu một cánh cửa đóng lại, đừng nghĩ toàn bộ tương lai đã đóng. Nếu một người ra đi, hãy khóc, nhưng đừng nghĩ tình yêu đã mất. Nếu đức tin khô khan, hãy tiếp tục đến với Chúa ngay cả khi không cảm thấy gì. Đức Maria dạy ta rằng có một thứ đức tin rất quý được sinh ra chỉ trong bóng tối: tin không vì thấy, yêu không vì được an ủi, trung thành không vì được thưởng ngay. Thứ đức tin ấy không hào nhoáng nhưng rất sâu. Nó giống một bộ rễ mọc trong lòng đất. Không ai nhìn thấy, nhưng chính nó giữ cây đứng vững khi bão đến.
Có lẽ lời cầu nguyện đẹp nhất trong những lúc ấy không cần dài. Chỉ cần: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con tin Chúa. Con đang đau, nhưng con không muốn rời Chúa. Con sợ, nhưng con xin đứng lại. Con không biết ngày mai ra sao, nhưng hôm nay con xin trao mình cho Chúa.” Và nếu đến cả lời ấy cũng không nói nổi, hãy nhìn Đức Maria. Mượn sự im lặng của Mẹ làm lời cầu nguyện. Đứng bên Mẹ dưới chân Thánh Giá. Có những lúc ta không cần phải nói gì với Chúa. Chỉ cần không bỏ đi.
Thật ra, phần lớn đời sống đức tin không diễn ra trên núi Tabor mà dưới chân những cây thập giá rất bình thường. Một người vợ chăm người chồng bệnh. Một người mẹ thức đêm bên đứa con. Một người cha gánh nợ để nuôi gia đình. Một người trẻ chăm sóc cha mẹ già trong khi bạn bè đang vui chơi. Một linh mục vẫn giải tội dù mệt mỏi. Một nữ tu tiếp tục phục vụ những việc chẳng ai để ý. Một người bị xúc phạm chọn im lặng thay vì trả đũa. Một người mang bệnh hiểm nghèo vẫn cố mỉm cười để người thân đỡ lo. Những con người ấy có thể không bao giờ nghĩ mình đang làm điều gì lớn lao, nhưng họ đang đứng dưới chân Thánh Giá. Và Đức Maria đứng bên họ.
Thế giới hôm nay rất thích những người chiến thắng, những câu chuyện thành công, những khuôn mặt sáng sủa, những con số tăng trưởng. Nhưng Tin Mừng đưa chúng ta tới một nơi chẳng có vẻ gì thành công: một ngọn đồi, ba cây thập giá, một người tử tù, vài người phụ nữ khóc, một môn đệ trẻ, những người lính lạnh lùng. Vậy mà chính từ nơi ấy lịch sử được cứu. Điều này phải làm chúng ta thay đổi cách nhìn về đời mình. Có những giai đoạn ta tưởng mình hoàn toàn thất bại nhưng chính lúc ấy Chúa đang làm việc sâu nhất. Có những mất mát làm ta tưởng đời đã hết, nhưng nhiều năm sau mới hiểu đó là khởi đầu một cuộc biến đổi. Có những lời cầu nguyện không được đáp theo điều ta xin nhưng lại được đáp theo cách đưa ta gần Chúa hơn. Chúng ta không nên lãng mạn hóa đau khổ, nhưng cũng không nên vội coi mọi đau khổ là vô nghĩa.
Đức Maria không biết toàn bộ kế hoạch vào ngày Truyền Tin. Mẹ chỉ biết đủ để nói “xin vâng”. Mẹ không biết toàn bộ kế hoạch khi trốn sang Ai Cập. Mẹ chỉ biết phải bảo vệ Hài Nhi. Mẹ không biết toàn bộ kế hoạch khi đứng dưới Thánh Giá. Mẹ chỉ biết mình phải ở bên Con. Có lẽ đó là cách Chúa dẫn chúng ta: hiếm khi Người trao bản đồ cả đời. Người cho đủ ánh sáng cho bước kế tiếp. Ta cứ muốn biết mười năm nữa sẽ thế nào. Chúa nói: hãy trung tín hôm nay. Ta muốn biết đau khổ này bao giờ hết. Chúa nói: hôm nay Ta ở với con. Ta muốn được bảo đảm mọi chuyện sẽ xảy ra theo ý mình. Chúa nói: hãy để Ta là sự bảo đảm của con. Đức tin không phải sở hữu tương lai; đức tin là trao tương lai cho Thiên Chúa.
Và có lẽ đây là điều sâu nhất Đức Maria dạy dưới chân Thánh Giá: Thiên Chúa đáng tin ngay cả khi đường lối của Người không thể hiểu. Nếu chỉ tin khi hiểu, đó chưa hẳn là đức tin; đó có thể chỉ là sự đồng ý của lý trí. Đức tin bắt đầu trở nên tinh ròng khi lý trí đã đi tới giới hạn mà trái tim vẫn thưa: “Con thuộc về Chúa.” Abraham đã lên núi Moria trong bóng tối của một lời hứa dường như tự mâu thuẫn. Gióp đã nói giữa mất mát. Các thánh đã đi qua những đêm dài. Nhưng nơi Đức Maria, đức tin ấy có một vẻ đẹp đặc biệt vì Mẹ đứng trước chính Thánh Giá của Con mình. Tiếng “xin vâng” ở Nazareth dễ nghe hơn tiếng “xin vâng” không lời ở Canvê. Nhưng chính Canvê chứng minh Nazareth không phải là một phút cảm xúc. Đó là giao ước của cả đời.
Ngày nay, có lẽ chúng ta cần học lại chữ “đứng”. Đứng trước Chúa khi cầu nguyện khô khan. Đứng với Hội Thánh khi Hội Thánh đi qua khủng hoảng, không phải bằng sự mù quáng nhưng bằng một tình yêu muốn thanh luyện và xây dựng. Đứng bên người thân khi họ yếu đuối. Đứng về phía sự thật khi nói thật phải trả giá. Đứng bên người nghèo khi chẳng có lợi gì. Đứng với một lời cam kết khi cảm xúc đã qua. Đứng trước những hậu quả của chính lỗi lầm mình để sám hối thay vì chạy trốn. Đứng bên Thánh Giá khi thế gian cười nhạo Thánh Giá. Một đức tin không biết đứng sẽ rất dễ bị cuốn theo gió.
Nhưng đứng không có nghĩa là cứng. Đức Maria đứng mà trái tim tan nát. Sức mạnh của Mẹ không phải là vô cảm; đó là sức mạnh của tình yêu. Người mạnh không phải người không khóc. Người mạnh là người có thể khóc mà vẫn yêu. Không phải người không sợ, mà người sợ nhưng vẫn trung thành. Không phải người không có câu hỏi, mà người mang câu hỏi vào cầu nguyện thay vì biến câu hỏi thành cái cớ để bỏ đi. Đừng xấu hổ vì nước mắt. Đừng nghĩ buồn là thiếu đức tin. Có những giọt nước mắt rất thánh. Có những tiếng nức nở chính là kinh nguyện. Đức Maria hiểu thứ ngôn ngữ ấy.
Và khi giờ cuối của đời chúng ta đến, có lẽ chúng ta cũng chẳng còn cần những lý luận dài. Những gì ta sở hữu sẽ ở lại. Những thành công sẽ lùi xa. Những tranh cãi từng làm ta mất ngủ hóa ra chẳng còn quan trọng. Cuối cùng chỉ còn câu hỏi: tôi có dám trao mình vào tay Chúa không? Khi ấy hãy xin Đức Maria đứng bên giường mình như Mẹ đã đứng bên Thánh Giá của Chúa Giêsu. Xin Mẹ dạy ta lời cuối cùng của đức tin: phó thác. Nếu đã tập đứng với Mẹ trong những thập giá nhỏ của cuộc đời, có lẽ ta sẽ biết cách đứng trong giờ thập giá cuối cùng.
Đức Maria dưới chân Thánh Giá không cho chúng ta một phương pháp để tránh đau khổ. Mẹ cho chúng ta một con đường để đi qua đau khổ mà không đánh mất Thiên Chúa, không đánh mất chính mình và không đánh mất khả năng yêu thương. Mẹ không hứa đêm tối sẽ ngắn. Mẹ cho ta biết đêm tối không vĩnh viễn. Mẹ không giải thích tại sao có Thứ Sáu Tuần Thánh. Mẹ chỉ tay về Chúa Nhật Phục Sinh bằng chính sự trung tín của mình. Mẹ không lấy Thánh Giá khỏi đời ta, nhưng Mẹ đứng bên ta dưới chân Thánh Giá.
Vậy nên, khi đời sáng, hãy cảm tạ Chúa. Khi đời tối, hãy nhớ Đức Maria. Khi hiểu, hãy tin. Khi không hiểu, càng hãy tin. Khi được an ủi, hãy yêu Chúa. Khi mọi an ủi bị lấy đi, hãy yêu Chúa vì chính Người. Khi mọi con đường dường như khép lại, hãy đứng. Khi trái tim bị lưỡi gươm đâm qua, hãy đứng. Khi lời hứa dường như chết trên cây gỗ, hãy đứng. Khi thiên hạ bỏ đi, hãy đứng. Khi chẳng còn gì để nói, hãy đứng. Không phải bằng sức riêng, nhưng đứng bên Mẹ, đứng trong ân sủng, đứng dưới bóng Thánh Giá, đứng cho tới bình minh.
Bởi vì có những đêm Thiên Chúa không cho ta ánh sáng để nhìn đường xa; Người chỉ cho ta một bàn tay để nắm. Có những lúc Người không trả lời câu hỏi “tại sao”, nhưng Người trả lời bằng sự hiện diện: “Ta ở đây.” Và có những khi Chúa để lại bên cạnh ta một người Mẹ. Một người Mẹ đã từng đứng trong bóng tối. Một người Mẹ biết thế nào là tin khi không còn thấy gì. Một người Mẹ biết thế nào là yêu khi trái tim bị đâm thâu. Một người Mẹ biết rằng sau cây Thánh Giá là ngôi mộ, nhưng sau ngôi mộ là bình minh.
Lạy Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu và Mẹ của chúng con, xin dạy chúng con biết đứng. Khi chúng con không hiểu đường lối Chúa, xin cho chúng con đừng vội bỏ đi. Khi lời cầu nguyện dường như rơi vào im lặng, xin giúp chúng con tiếp tục cầu nguyện. Khi những gì chúng con yêu quý bị lấy khỏi tay, xin dạy chúng con mở bàn tay thay vì khép trái tim. Khi đau khổ đến, xin đừng để đau khổ biến chúng con thành những con người cay đắng. Khi bóng tối bao phủ, xin cho chúng con nhớ rằng bóng tối không thể dập tắt ánh sáng của Thiên Chúa. Khi Thứ Sáu Tuần Thánh của đời mình kéo dài, xin giữ trong lòng chúng con niềm hy vọng của sáng Phục Sinh. Và khi chẳng còn đủ sức để nói một lời nào, xin cho chúng con được đứng bên Mẹ, dưới chân Thánh Giá của Con Mẹ, để học lại bài học cuối cùng và cũng là bài học lớn nhất của đức tin: không phải hiểu hết rồi mới tin, nhưng vì biết mình được Thiên Chúa yêu nên dám phó thác ngay cả khi chưa hiểu gì.
Dưới chân Thánh Giá, Đức Maria không làm một phép lạ nào. Mẹ chỉ đứng. Nhưng đôi khi, đứng lại với Chúa trong bóng tối đã là một phép lạ rất lớn rồi.
Lm. Anmai, CSsR

TRÁI TIM ĐỨC MẸ BỊ ĐÂM THÂU – THAM DỰ VÀO THÁNH GIÁ CỦA CON
Có những vết thương nằm trên thân xác, người ta có thể nhìn thấy, có thể băng bó, có thể đo được chiều dài và chiều sâu. Nhưng cũng có những vết thương không một máy móc nào chụp được, không một bàn tay nào sờ tới được, không một thứ thuốc nào trên trần gian chữa lành ngay được, bởi nó nằm tận đáy trái tim. Vết thương ấy không chảy máu ra ngoài nhưng có thể làm cả một đời người rỉ máu bên trong. Người mẹ mất con hiểu điều đó. Người cha nhìn đứa con mình yêu thương đi vào đau khổ hiểu điều đó. Người đã từng đứng bất lực trước giường bệnh của người thân hiểu điều đó. Và có lẽ không ai trên trần gian đã đi vào chiều sâu của thứ đau đớn ấy như Đức Maria, người Mẹ đã đứng dưới chân Thánh Giá nhìn Con mình hấp hối. Trên đồi Canvê, thân xác Chúa Giêsu bị đóng đinh, nhưng trái tim Đức Maria cũng bị đóng đinh. Tay Chúa bị đinh xuyên qua, nhưng tâm hồn Mẹ bị một lưỡi gươm vô hình xuyên thấu. Máu Chúa Giêsu chảy từ những vết thương trên thân thể, còn nước mắt của Mẹ chảy từ một trái tim tan nát. Vì thế, khi chiêm ngắm Thánh Giá, người Kitô hữu không thể chỉ nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh mà quên người Mẹ đang đứng phía dưới. Bởi ngay dưới Thánh Giá ấy có một Thánh Giá khác không bằng gỗ, không có đinh sắt, không có bản án của Philatô, nhưng cũng thật đến xé lòng: Thánh Giá trong trái tim của một người Mẹ.
Tin Mừng Gioan ghi lại một trong những khung cảnh cảm động nhất của toàn bộ Kinh Thánh: “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,25-27). Thánh Gioan chỉ dùng một chữ rất đơn sơ: “đứng”. Đức Maria “đứng” dưới chân Thánh Giá. Tin Mừng không nói Mẹ gào khóc, không nói Mẹ ngất xỉu, không nói Mẹ trách móc Thiên Chúa, cũng không kể Mẹ nói một lời nào. Chỉ một chữ thôi: Mẹ đứng. Nhưng có lẽ không một bài giảng nào nói hết được chiều sâu của chữ “đứng” ấy. Đó không phải là tư thế của một người không đau. Đó là tư thế của một người đau đến tận cùng nhưng vẫn còn tin. Đó không phải là sự lạnh lùng của một trái tim không cảm xúc. Đó là sức mạnh kỳ lạ của một trái tim đã trao toàn bộ đời mình cho Thiên Chúa. Đức Maria đứng bởi vì Mẹ không chạy trốn. Mẹ đứng bởi vì Mẹ không bỏ Con. Mẹ đứng bởi vì dù không hiểu hết những gì đang xảy ra, Mẹ vẫn tin rằng Thiên Chúa không thể phản bội lời Người đã hứa. Đức tin của Mẹ lúc ấy không còn là tiếng hát Magnificat trong ngôi nhà của bà Êlisabét; đức tin ấy đã bước vào đêm tối. Đức tin của Mẹ không còn được nâng đỡ bởi những phép lạ, bởi tiếng thiên thần, bởi lời chúc tụng của mục đồng hay ba nhà đạo sĩ; đức tin ấy bây giờ chỉ còn một Thánh Giá trước mặt, một người Con bị nghiền nát, một bầu trời tối sầm, và sự im lặng đáng sợ của Thiên Chúa. Vậy mà Mẹ vẫn đứng.
Muốn hiểu lưỡi gươm trên Canvê, phải trở lại ngôi Đền Thờ Giêrusalem nhiều năm trước đó. Khi Hài Nhi Giêsu mới được bốn mươi ngày tuổi, Đức Maria và thánh Giuse đem Người lên Đền Thờ dâng cho Thiên Chúa. Một cụ già tên là Simêon đã bồng Hài Nhi trên tay, chúc tụng Thiên Chúa rồi quay sang nói với Đức Maria những lời mà có lẽ suốt đời Mẹ không thể quên: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng; còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà, ngõ hầu những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người phải lộ ra” (Lc 2,34-35). Ngày ấy Mẹ nghe lời tiên báo mà chưa biết lưỡi gươm sẽ sắc đến mức nào. Ba mươi mấy năm sau, trên Canvê, Mẹ hiểu. Lưỡi gươm không phải một thanh kiếm vật chất. Lưỡi gươm chính là việc nhìn thấy Đấng Mẹ đã cưu mang bị con người chối bỏ. Lưỡi gươm là nhìn khuôn mặt mà Mẹ từng âu yếm hôn khi Người còn thơ bé nay đầy máu và nước bọt. Lưỡi gươm là nhìn đôi tay từng nắm lấy tay Mẹ ở Nadarét giờ đây bị đinh đóng xuyên qua. Lưỡi gươm là nhìn đôi chân từng bước bên Mẹ trên những con đường làng quê giờ không còn bước được nữa. Lưỡi gươm là nghe đám đông chế nhạo Con mình. Lưỡi gươm là biết Con vô tội mà không thể làm gì để cứu Con khỏi cái chết. Lưỡi gươm là bất lực. Và có lẽ trong mọi nỗi đau của con người, cảm giác bất lực là một trong những điều đau đớn nhất.
Ta thử hình dung trái tim một người mẹ khi nhìn con mình đau. Chỉ một cơn sốt của con cũng đủ khiến mẹ mất ngủ. Một vết thương nhỏ trên thân thể con cũng làm mẹ xót xa. Một tiếng khóc của con cũng khiến lòng mẹ bồn chồn. Vậy trái tim Đức Maria phải thế nào khi đứng nhìn toàn thân Con mình chỉ còn là một vết thương? Mẹ từng tắm cho Con thuở bé, giờ nhìn thân thể ấy bị lột trần. Mẹ từng quấn Con trong khăn, giờ nhìn Con bị đóng trên gỗ. Mẹ từng bế Con vào lòng, giờ ngay cả việc chạm đến Con Mẹ cũng không thể. Mẹ từng nghe tiếng Con gọi “Mẹ”, giờ nghe Người nói trong hơi thở cuối cùng. Mẹ từng nhìn Con ngủ bình an trên tay mình tại Bêlem, giờ nhìn đầu Con cúi xuống trong cái chết. Không ai phải giải thích Thánh Giá cho Đức Maria. Mẹ hiểu Thánh Giá bằng chính trái tim của mình.
Nhưng đau khổ của Đức Maria còn sâu hơn đau khổ tự nhiên của một người mẹ mất con, bởi Người Con trên Thánh Giá không chỉ là con của Mẹ mà còn là Đấng Mẹ đã tin là Con Đấng Tối Cao. Khi sứ thần Gabriel đến Nadarét, Mẹ đã nghe: “Người sẽ nên cao cả và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao… Triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận” (x. Lc 1,32-33). Vậy mà giờ đây “Con Đấng Tối Cao” lại treo giữa hai tên gian phi. Đấng được hứa sẽ ngự trên ngai Đavít lại bị đội mão gai. Đấng có vương quốc vô tận lại bị kết án như một kẻ thất bại. Thiên thần đã nói Người là Con Thiên Chúa, nhưng trên đồi Canvê, người ta lại hét lên: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá!” Bao nhiêu câu hỏi có thể đã đi qua tâm hồn Mẹ. Lời Thiên Chúa hứa đâu rồi? Vương quốc đâu rồi? Thiên thần Gabriel đâu rồi? Những lời mục đồng năm xưa đâu rồi? Ánh sao Bêlem đâu rồi? Những phép lạ tại Cana, những người được chữa lành, những đám đông từng tung hô “Hosanna” giờ ở đâu? Mọi dấu chỉ dường như biến mất. Chỉ còn Thánh Giá.
Đó chính là nơi đức tin của Đức Maria đạt đến sự trưởng thành tuyệt đối. Tin khi thấy phép lạ chưa phải là điều khó nhất. Tin khi lời cầu nguyện được nhận lời chưa phải là đỉnh cao của đức tin. Tin khi đời bình an, con cái khỏe mạnh, công việc thuận lợi, cộng đoàn yêu thương, mọi sự đúng ý mình, điều đó quý nhưng chưa đủ. Có một đức tin sâu hơn: vẫn tin khi chẳng còn thấy gì để dựa vào. Đức Maria đã tin như thế. Mẹ tin Thiên Chúa ngay khi mọi sự bên ngoài dường như phủ nhận Thiên Chúa. Mẹ tin lời hứa khi tất cả những gì mắt thấy dường như nói rằng lời hứa ấy đã thất bại. Mẹ không hiểu, nhưng Mẹ không bỏ đi. Và đôi khi đức tin lớn nhất của đời người chỉ đơn giản là điều ấy: không bỏ đi.
Ta thường nghĩ đức tin phải luôn có câu trả lời. Thật ra có những lúc đức tin chỉ là khả năng đứng lại trước một câu hỏi chưa có câu trả lời. Ta thường nghĩ người tin Chúa sẽ không bao giờ hoang mang. Không đúng. Người tin Chúa vẫn có thể hoang mang, đau đớn, khóc lóc, thậm chí cảm thấy bóng tối bao phủ. Điều khác biệt là họ không quay lưng với Chúa. Đức Maria không được giải thích trước về sáng Phục Sinh. Không ai đứng dưới Canvê thì thầm vào tai Mẹ rằng: “Mẹ đừng buồn, ba ngày nữa Con Mẹ sẽ sống lại.” Mẹ phải sống trọn từng phút của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh như nó là: một mất mát thật, một cái chết thật, một nỗi đau thật. Nhưng trong bóng tối ấy Mẹ vẫn ở lại với Thiên Chúa.
Đây là điều vô cùng quan trọng cho đời sống của chúng ta. Có những lúc Chúa không cất Thánh Giá khỏi đời ta. Người chỉ ban cho ta sức để đứng dưới Thánh Giá ấy. Có những bệnh không được chữa như ta mong. Có những người thân ra đi dù ta cầu nguyện rất nhiều. Có những gia đình tan vỡ dù người ta đã cố gắng. Có những ơn gọi bước qua sa mạc. Có những người sống ngay lành nhưng vẫn bị hiểu lầm. Có những lời cầu nguyện kéo dài mười năm, hai mươi năm mà dường như trời vẫn im lặng. Lúc ấy ta thường hỏi: “Chúa ở đâu?” Có lẽ Đức Maria không cho ta một công thức trả lời, nhưng Mẹ cho ta một tư thế: hãy đứng dưới chân Thánh Giá. Đừng bỏ chạy. Đừng tuyệt vọng. Đừng vội kết luận rằng Thiên Chúa đã quên mình. Thứ Sáu Tuần Thánh không phải chương cuối cùng của Tin Mừng.
Điều làm trái tim Đức Maria lớn lao không chỉ là Mẹ chịu đau khổ, bởi trên đời có rất nhiều người đau khổ. Điều làm Mẹ trở thành Mẹ của Đấng Cứu Chuộc là Mẹ biến đau khổ thành sự hiệp thông với Con. Có đau khổ khiến người ta khép lòng, cay đắng, oán hận. Nhưng cũng có đau khổ, khi được sống trong tình yêu và đức tin, làm trái tim người ta rộng ra. Đức Maria không biến nỗi đau của mình thành hận thù đối với những kẻ đóng đinh Con. Mẹ không đứng dưới Thánh Giá để nguyền rủa quân lính, thượng tế hay Philatô. Điều kỳ lạ là trên Canvê, trong khi Đức Giêsu cầu xin: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”, không có một câu nào cho thấy Đức Maria chống lại lời cầu ấy. Mẹ ở đó, hoàn toàn kết hợp với Con. Trái tim Con mở ra để tha thứ; trái tim Mẹ cũng phải mở ra trong cùng một chuyển động của tình yêu ấy. Đó mới là lưỡi gươm sâu nhất: không chỉ chịu đau vì kẻ khác, mà còn phải tiếp tục yêu chính những người đã làm mình đau.
Ta nói yêu kẻ thù rất dễ khi chưa bị ai làm tổn thương sâu. Ta nói tha thứ rất đẹp khi vết thương chưa chạm đến nơi nhạy cảm nhất trong lòng mình. Nhưng hãy thử tha thứ cho người làm hại con mình, người bôi nhọ gia đình mình, người phản bội niềm tin của mình, người làm tan vỡ điều ta quý nhất. Khi ấy ta mới biết Tin Mừng khó đến mức nào. Đức Maria đứng dưới Thánh Giá và Mẹ đã sống Tin Mừng trước khi Hội Thánh giảng Tin Mừng. Mẹ sống lời Con mình bằng chính vết thương của mình.
Thánh Giá của Đức Kitô và lưỡi gươm trong trái tim Đức Maria không phải là hai biến cố tách biệt. Đó là một sự hiệp thông trong tình yêu cứu độ, dù cần luôn phân biệt rõ: chỉ Đức Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất. Máu Đức Maria không đổ trên Canvê để cứu chuộc thế gian. Chỉ máu Đức Kitô mới là giá cứu chuộc. Chỉ hy lễ của Con Thiên Chúa mới giao hòa nhân loại với Chúa Cha. Nhưng Đức Maria đã được Thiên Chúa cho tham dự vào mầu nhiệm ấy một cách độc đáo: không thay thế Con, không đứng ngang hàng với Con, nhưng hoàn toàn kết hợp với Con. Mẹ đã trao cho Con xác thịt để Người bước vào thế gian; giờ Mẹ trao cả trái tim mình để đồng hành với Người đến tận cùng con đường cứu độ.
Ngày Truyền Tin, Đức Maria nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Nhiều người nghĩ lời “xin vâng” ấy chỉ xảy ra một lần ở Nadarét. Không. Lời xin vâng của Đức Maria kéo dài cả đời. Xin vâng tại Bêlem khi không có chỗ trong quán trọ. Xin vâng trên đường trốn sang Ai Cập giữa đêm khuya. Xin vâng trong ba mươi năm âm thầm ở Nadarét. Xin vâng khi Con rời mái nhà để lên đường rao giảng. Xin vâng khi người ta hiểu lầm Người. Xin vâng khi các môn đệ bỏ chạy. Và lời xin vâng ấy đạt đến tận cùng dưới chân Thánh Giá. Có lẽ trên Canvê Đức Maria không nói thành lời, nhưng sự hiện diện của Mẹ chính là một lời xin vâng khổng lồ: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con vẫn thuộc về Chúa. Con đau đến nát lòng, nhưng con vẫn tin. Con không giữ Con của con lại cho riêng mình. Xin ý Chúa được nên trọn.”
Đó cũng là điều Chúa đòi hỏi nơi mỗi người chúng ta. Lời xin vâng với Chúa không phải chỉ là một cảm xúc sốt sắng trong ngày khấn dòng, ngày chịu chức, ngày cưới, ngày lãnh nhận một sứ vụ hay một buổi tĩnh tâm. Lời xin vâng thật phải được lặp lại trong những ngày không còn cảm xúc. Người linh mục nói lời xin vâng ngày chịu chức, nhưng phải tiếp tục nói xin vâng khi cô đơn, khi bị hiểu lầm, khi công việc mục vụ không sinh kết quả như mong đợi, khi tuổi già đến, khi sức khỏe giảm sút. Người tu sĩ nói xin vâng ngày tuyên khấn, nhưng phải tiếp tục nói xin vâng trong những va chạm cộng đoàn, những khô khan cầu nguyện, những lúc thấy mình bé nhỏ và bất lực. Người vợ, người chồng nói xin vâng ngày thành hôn, nhưng lời xin vâng ấy còn phải được nói lại trong bệnh tật, khủng hoảng, thiếu thốn, khác biệt và tha thứ. Cha mẹ nói xin vâng với sự sống khi sinh con, nhưng rồi còn phải xin vâng khi đứa con ấy không trở thành điều mình mong đợi. Xin vâng dễ nhất khi hoa còn nở. Xin vâng thật được thử trong ngày gai nhọn đâm vào tim.
Trên Canvê, Đức Maria cũng phải trải qua một sự từ bỏ vô cùng sâu sắc: từ bỏ quyền sở hữu đối với chính Con mình. Mẹ đã cưu mang Người, nuôi Người, sống với Người hơn ba mươi năm. Vậy mà giờ đây, từ trên Thánh Giá, Đức Giêsu nói: “Thưa Bà, đây là con của Bà”, và trao Gioan cho Mẹ. Nỗi đau của Mẹ chưa đủ sao? Người còn trao cho Mẹ một người con khác. Nhưng trong người môn đệ ấy có cả nhân loại. Truyền thống Hội Thánh từ lâu đã nhìn thấy nơi Gioan hình ảnh của mọi môn đệ Đức Kitô. Khi nói “Đây là mẹ của anh”, Đức Giêsu không chỉ giải quyết chuyện ai sẽ chăm sóc Đức Maria sau khi Người chết. Nếu chỉ là chuyện gia đình, Tin Mừng Gioan không cần đặt nó giữa những lời cuối cùng của Đấng Cứu Thế. Đây là một hành vi mang ý nghĩa cứu độ: ngay khi sinh ra Hội Thánh từ cạnh sườn bị đâm thâu, Đức Kitô trao Mẹ Người cho Hội Thánh và trao Hội Thánh cho Mẹ.
Thật lạ lùng: chính khi mất Con, Đức Maria trở thành Mẹ của muôn người. Chính trong nỗi đau lớn nhất, trái tim Mẹ được mở rộng lớn nhất. Lưỡi gươm không phá hủy trái tim Mẹ; nó mở trái tim ấy ra. Đây là logic của Thánh Giá. Hạt lúa phải chết đi mới sinh nhiều bông hạt. Trái tim phải bị đâm thâu mới có thể trở nên nơi trú ẩn cho nhiều người. Điều ấy cũng có thể xảy ra trong đời ta. Những vết thương của ta, nếu được đặt vào tay Chúa, có thể trở thành nơi ta hiểu và yêu người khác sâu sắc hơn. Người từng mất con có thể hiểu nỗi đau của một bà mẹ mất con. Người từng thất bại có thể nâng người thất bại bằng một sự cảm thông mà sách vở không dạy được. Người từng bị phản bội nhưng đã đi qua con đường tha thứ có thể giúp người khác ra khỏi hận thù. Người từng cô đơn có thể nhận ra những người cô đơn giữa đám đông. Chúa không yêu thích đau khổ, nhưng Người có thể làm cho chính nơi bị thương của chúng ta trở thành nguồn an ủi cho người khác.
Vì thế, đừng quá xấu hổ về những vết thương của đời mình. Đừng nghĩ rằng chỉ những người chưa từng đổ vỡ mới có thể được Chúa dùng. Có khi chính chỗ ta đã khóc nhiều nhất lại trở thành nơi ta có thể yêu người khác nhiều nhất. Đức Maria trở thành Mẹ Sầu Bi không phải để chúng ta ngắm một người phụ nữ buồn bã, nhưng để ta hiểu rằng đau khổ, khi kết hợp với Thánh Giá Chúa Kitô, không nhất thiết làm con người nhỏ lại; nó có thể làm trái tim lớn lên.
Trong truyền thống Kitô giáo, người ta thường suy niệm Bảy Sự Thương Khó của Đức Mẹ: lời tiên báo của ông Simêon, trốn sang Ai Cập, lạc mất Chúa Giêsu ba ngày, gặp Con vác Thánh Giá, đứng dưới chân Thánh Giá, ôm xác Con trong lòng và táng xác Con trong mồ. Những biến cố ấy cho thấy Mẹ không chỉ chịu một cú đau duy nhất. Đời Mẹ có cả một chuỗi những lần phải buông bỏ. Có lẽ đó là điều làm cuộc đời con người mỏi mệt nhất. Nhiều khi ta có thể chịu nổi một biến cố lớn, nhưng ta kiệt sức vì những vết đau nhỏ nối tiếp nhau. Một thất vọng rồi một bệnh tật, một hiểu lầm rồi một mất mát, một khó khăn trong gia đình rồi một gánh nặng khác xuất hiện. Ta hỏi: “Bao giờ mới hết?” Đức Maria hiểu câu hỏi ấy. Từ lời tiên báo của Simêon đến ngôi mộ chiều Thứ Sáu, Mẹ đã sống một hành trình dài của việc hiến dâng.
Nhưng giữa mọi đau khổ ấy, Đức Maria không bao giờ để nỗi đau biến thành căn tính cuối cùng của mình. Mẹ Sầu Bi không phải là Mẹ tuyệt vọng. Đây là điều phải nhấn mạnh. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Thánh Giá không phải là việc lãng mạn hóa sự đau đớn. Người Kitô hữu không tìm đau khổ vì đau khổ. Đức Giêsu trong vườn Ghếtsêmani đã cầu xin: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Đau khổ tự nó không phải điều tốt. Điều cứu độ nằm ở tình yêu mà Đức Kitô sống giữa đau khổ. Đức Maria cũng vậy. Hội Thánh không ca ngợi nước mắt của Mẹ chỉ vì đó là nước mắt; Hội Thánh chiêm ngắm tình yêu, đức tin và niềm hy vọng không bị hủy diệt bên trong những giọt nước mắt ấy.
Ngày nay có một nguy cơ tinh tế là người ta có thể dùng lời đạo đức để bắt người đau khổ phải im lặng: “Đó là Thánh Giá Chúa gửi, cứ chịu đi.” Không phải mọi Thánh Giá đều do Chúa gửi. Có những thập giá do tội lỗi của con người tạo nên: bạo lực, bất công, lạm dụng, ích kỷ, phản bội, chiến tranh, nghèo đói do tham lam. Đứng dưới Thánh Giá với Đức Maria không có nghĩa là thụ động chấp nhận điều ác. Chính Thánh Giá Đức Kitô là lời tố cáo mạnh mẽ nhất đối với tội lỗi và bạo lực của con người. Nhưng ngay khi con người gây nên cái ác, Thiên Chúa vẫn có khả năng đi vào đó và biến nơi của cái chết thành nơi phát sinh sự sống. Đó là điều xảy ra trên Canvê.
Có lẽ một trong những hình ảnh xúc động nhất của nghệ thuật Kitô giáo là Pietà: Đức Maria ôm xác Đức Giêsu sau khi Người được hạ xuống khỏi Thánh Giá. Người Con ngày xưa từng nằm gọn trong vòng tay Mẹ ở Bêlem, giờ cũng nằm trong vòng tay ấy, nhưng đã chết. Bêlem và Canvê như chạm vào nhau. Ngày xưa Mẹ bọc Con trong khăn; hôm nay người ta chuẩn bị bọc Người trong khăn liệm. Ngày xưa Mẹ đặt Con trong máng cỏ; hôm nay Mẹ phải trao Người cho ngôi mộ. Ngày xưa thiên thần hát: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời”; chiều Canvê chỉ còn một sự im lặng khủng khiếp. Nhưng có một điều không thay đổi: Mẹ vẫn ôm Con.
Đó là một hình ảnh tuyệt đẹp cho đức tin. Đức tin không phải chỉ ôm lấy Chúa khi Chúa ban phép lạ. Đức tin còn là ôm lấy một Thiên Chúa dường như im lặng. Đức tin là ôm lấy lời hứa của Chúa ngay cả khi mọi sự trông như đã chết. Có những thời điểm trong đời sống thiêng liêng, ta cảm thấy mình đang ôm một “Thiên Chúa đã chết”: cầu nguyện không còn cảm xúc, Thánh Lễ không còn sốt sắng, Lời Chúa dường như khô khan, sứ vụ chẳng có hoa trái, đời sống trở nên đơn điệu. Ta dễ nghĩ rằng Chúa đã bỏ mình. Đức Maria dạy ta: cứ ôm lấy Chúa. Có thể sáng Phục Sinh gần hơn ta tưởng.
Và rồi Mẹ phải làm điều đau đớn cuối cùng: trao xác Con cho ngôi mộ. Có một thời điểm trong mọi đau khổ mà ta không còn có thể giữ điều mình yêu. Ta phải buông. Có người phải buông một người thân trong cái chết. Có người phải buông một giấc mơ. Có người phải buông tuổi trẻ. Có người phải buông sức khỏe. Có người phải buông một vị trí, một trách nhiệm, một nơi chốn mình gắn bó. Có người phải buông hình ảnh về chính mình mà mình từng gìn giữ. Đức Maria hiểu sự buông ấy. Mẹ đứng trước ngôi mộ và để tảng đá được lăn lại.
Nhưng buông trong đức tin không giống buông trong tuyệt vọng. Tuyệt vọng nói: “Mất rồi, hết rồi.” Đức tin nói: “Con trao lại cho Chúa điều con không còn giữ được.” Giữa hai câu ấy là cả một vực sâu. Khi ta đặt người thân vào lòng đất và nói “Con trao người này cho Chúa”, đó không phải là phủ nhận nước mắt. Đó là để nước mắt có một hướng đi. Khi ta nói “Con không thể giữ được nữa, con giao cho Chúa”, ta đang bước vào kinh nghiệm của Đức Maria.
Và hãy nhớ rằng câu chuyện của Đức Maria không kết thúc trước ngôi mộ. Mẹ sẽ ở giữa cộng đoàn các môn đệ. Sách Công vụ cho thấy sau khi Đức Giêsu lên trời, các Tông đồ “đồng tâm nhất trí chuyên cần cầu nguyện, cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria thân mẫu Đức Giêsu” (Cv 1,14). Người Mẹ đã đứng dưới Thánh Giá giờ đứng giữa Hội Thánh đang chờ Chúa Thánh Thần. Mẹ của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh trở thành Mẹ của ngày Hiện Xuống. Nước mắt không có tiếng nói cuối cùng. Thánh Giá không có tiếng nói cuối cùng. Ngôi mộ không có tiếng nói cuối cùng. Thiên Chúa có tiếng nói cuối cùng.
Đó là lý do người Kitô hữu có thể khóc nhưng không tuyệt vọng. Đức tin không cấm nước mắt. Chúa Giêsu đã khóc trước mộ Ladarô. Đức Maria chắc chắn đã khóc. Nước mắt không phải bằng chứng của thiếu đức tin. Có khi nước mắt là một hình thức cầu nguyện sâu nhất khi ta không còn lời nào để nói. Có những người tự trách mình: “Tôi tin Chúa mà sao tôi đau quá?” Tin Chúa không làm trái tim thành đá. Ngược lại, càng yêu nhiều càng đau nhiều khi mất. Đức Maria là người “đầy ơn phúc” mà cũng là người có trái tim bị lưỡi gươm đâm thâu. Ơn Chúa không luôn cất nỗi đau khỏi đời ta; nhiều khi ơn Chúa giúp ta đi xuyên qua nỗi đau mà không để nỗi đau phá hủy con người mình.
Đứng dưới chân Thánh Giá cùng Đức Maria, ta còn học được một điều rất cần cho đời sống hôm nay: đôi khi yêu một người không phải là giải quyết được vấn đề của họ, mà chỉ đơn giản là ở lại với họ. Đức Maria không tháo được đinh khỏi tay Chúa Giêsu. Mẹ không thuyết phục được Philatô đổi bản án. Mẹ không làm đám đông im tiếng. Mẹ không thể cất đau đớn của Con. Nhưng Mẹ có thể làm một điều: Mẹ ở đó. Và có những lúc sự hiện diện ấy quý hơn mọi lời nói.
Ta thường quá vội nói với người đau khổ. Ta muốn tìm một câu Kinh Thánh, một lời khuyên, một giải thích thần học để làm họ hết buồn. Nhưng nhiều nỗi đau không cần lời giải thích; nó cần một người ngồi cạnh. Người vừa mất con không cần nghe một bài giảng dài về ý Chúa ngay trong phút đầu. Người vừa nhận tin bệnh nặng không cần ai nhanh chóng nói “hãy vui lên”. Người bị phản bội không cần nghe “thôi quên đi”. Họ cần một người dám ở lại trong vùng tối với họ. Đức Maria đã làm điều đó với Chúa Giêsu. Mẹ không nói gì. Mẹ đứng đó.
Nếu mỗi gia đình biết “đứng dưới Thánh Giá” của nhau như Đức Maria, bao nhiêu người sẽ bớt cô đơn. Khi chồng thất bại, người vợ đừng chỉ trách; hãy đứng bên. Khi vợ mệt mỏi, người chồng đừng chỉ phán xét; hãy đứng bên. Khi con cái lầm đường, cha mẹ không dung túng điều sai nhưng cũng đừng vứt bỏ con; hãy đứng bên. Khi một linh mục mệt mỏi, cộng đoàn đừng chỉ đòi hỏi; hãy đứng bên. Khi một người anh em vấp ngã, đừng biến mạng xã hội thành pháp trường; hãy đứng bên, nói sự thật trong tình yêu và giúp họ đứng dậy. Hội Thánh đẹp nhất không phải khi Hội Thánh có câu trả lời cho mọi thứ, nhưng khi Hội Thánh dám đứng dưới những thập giá của con người như Đức Maria đứng dưới Thánh Giá Chúa.
Có lẽ điều đau nhất trong đời không phải là đau, mà là đau một mình. Chúa Giêsu trên Thánh Giá đã nếm sự cô đơn ấy đến tận cùng. Nhưng giữa lúc nhiều môn đệ chạy trốn, vẫn có Mẹ. Chỉ sự hiện diện của Đức Maria thôi đã là một lời: “Con không chết một mình. Mẹ ở đây.” Đây cũng phải là sứ mạng của mỗi Kitô hữu. Không phải lúc nào ta cũng chữa được bệnh cho người khác, nhưng ta có thể để họ không bệnh một mình. Ta không thể làm người chết sống lại, nhưng ta có thể để người đang chịu tang không khóc một mình. Ta không thể xóa mọi thất bại, nhưng có thể để người thất bại không bị bỏ rơi. Đó là lòng thương xót mang hình dáng của Đức Maria.
Khi Chúa Giêsu nói với Gioan: “Đây là mẹ của anh”, Người trao Đức Maria cho từng môn đệ. Điều ấy có nghĩa là trong những Thánh Giá của đời mình, ta có quyền gọi Mẹ. Không phải vì Mẹ thay thế Đức Kitô, nhưng vì Mẹ luôn dẫn ta tới Đức Kitô. Không ai hiểu Thánh Giá của Con bằng Mẹ. Không ai có thể dạy ta đứng dưới Thánh Giá bằng người đã đứng ở đó.
Có những lúc ta không biết cầu nguyện gì. Hãy nói rất đơn sơ: “Mẹ Maria, xin đứng với con.” Khi bước vào phòng bệnh: “Mẹ ơi, xin đứng với con.” Khi tiễn người thân lần cuối: “Mẹ ơi, xin đứng với con.” Khi bị hiểu lầm: “Mẹ ơi, xin đứng với con.” Khi thấy ơn gọi nặng nề: “Mẹ ơi, xin đứng với con.” Khi gia đình đi qua khủng hoảng: “Mẹ ơi, xin đứng với chúng con.” Khi không còn cảm thấy Chúa: “Mẹ ơi, xin dạy con đứng lại.” Một lời cầu đơn sơ như thế có thể chứa cả một nền thần học về hy vọng.
Nhưng Đức Maria không chỉ đứng với ta; Mẹ còn hỏi ta một câu rất âm thầm: “Con có dám đứng với những người đang chịu đóng đinh hôm nay không?” Bởi Thánh Giá không chỉ nằm trong nhà thờ. Thánh Giá đang ở bệnh viện, nơi những người bệnh chiến đấu từng hơi thở. Thánh Giá ở trong những gia đình có người nghiện ngập. Thánh Giá ở nơi những người già bị bỏ quên. Thánh Giá ở trong lòng một đứa trẻ thiếu tình thương. Thánh Giá ở nơi những người nghèo không biết ngày mai lấy gì nuôi con. Thánh Giá ở nơi những người mang bệnh mà không dám nói với ai. Thánh Giá ở trong một người đang cười trước mặt ta nhưng bên trong đã kiệt sức. Nếu chúng ta yêu Đức Mẹ mà không biết đứng bên những người bị đóng đinh của thời đại mình, lòng sùng kính của ta vẫn chưa đi đến chiều sâu của Tin Mừng.
Đức Maria dạy ta rằng tình yêu thật không bỏ đi khi người mình yêu trở nên “không còn ích lợi”. Lúc Chúa Giêsu làm phép lạ, đám đông theo Người. Khi Người hóa bánh ra nhiều, người ta muốn tôn Người làm vua. Khi Người chữa bệnh, hàng ngàn người tìm đến. Nhưng khi Người bị bắt, bị kết án và treo trên Thánh Giá, đám đông biến mất. Chỉ những người thật sự yêu mới còn ở lại. Thánh Giá luôn làm lộ ra phẩm chất của tình yêu. Ta yêu một người khi họ thành công thì dễ. Ta kính trọng một linh mục khi ngài nổi tiếng thì dễ. Ta yêu con cái khi chúng ngoan thì dễ. Ta yêu bạn bè khi họ giúp được ta thì dễ. Nhưng khi họ thất bại, bệnh tật, sa sút, già yếu, không còn gì để cho ta, ta có còn đứng lại không? Đức Maria đã đứng.
Mẹ cũng dạy chúng ta đừng chạy trốn Thánh Giá của chính mình. Con người hôm nay có rất nhiều phương tiện để trốn đau: lao vào công việc, giải trí không ngừng, mạng xã hội, mua sắm, tiếng ồn. Ta sợ ngồi một mình bởi trong im lặng, những vết thương lên tiếng. Nhưng Đức Maria không chạy khỏi Canvê. Có những nỗi đau chỉ được chữa khi ta dám đi xuyên qua nó với Chúa. Nỗi buồn bị chôn xuống không biến mất; nó chỉ đổi hình thức. Sự chữa lành Kitô giáo không phải quên điều đã xảy ra, nhưng cho phép Chúa đi vào ký ức ấy và biến nó thành nơi của ân sủng.
Lưỡi gươm đã đâm thâu trái tim Đức Maria, nhưng lưỡi gươm ấy không làm Mẹ mất khả năng yêu. Đây có lẽ là phép lạ lớn nhất nơi Mẹ. Nhiều khi vết thương làm ta trở nên cứng cỏi. Bị phản bội một lần, ta không dám tin ai nữa. Bị lợi dụng một lần, ta không muốn cho đi nữa. Bị xúc phạm, ta xây tường chung quanh lòng mình. Nhưng Đức Maria cho thấy một con đường khác: có thể bị thương mà không trở thành người gây thương tích; có thể đau mà không làm người khác đau; có thể mất mát mà không đánh mất lòng nhân hậu; có thể khóc mà vẫn yêu.
Đó là sự thánh thiện rất thật. Không phải là không có vết thương, nhưng là để Chúa biến vết thương thành cửa sổ cho ánh sáng đi qua. Chúa Giêsu Phục Sinh vẫn mang dấu đinh. Người không xóa chúng đi. Những vết thương được biến đổi thành dấu chỉ của tình yêu chiến thắng. Có lẽ một ngày kia, nhìn lại đời mình trong ánh sáng Thiên Chúa, ta cũng sẽ nhận ra rằng những nơi từng làm mình đau nhất, khi được trao cho Chúa, đã trở thành những nơi ta giống Đức Kitô hơn.
Hôm nay, nếu lòng ta đang mang một lưỡi gươm nào đó, hãy nhìn lên Đức Maria. Có thể đó là lưỡi gươm của bệnh tật, lưỡi gươm của mất mát, lưỡi gươm của một người con làm ta đau lòng, lưỡi gươm của gia đình rạn nứt, lưỡi gươm của một lời vu khống, lưỡi gươm của cô đơn, lưỡi gươm của tuổi già, lưỡi gươm của một ơn gọi đang đi qua đêm tối. Đừng vội hỏi: “Bao giờ lưỡi gươm này được lấy ra?” Hãy hỏi một câu khác sâu hơn: “Lạy Chúa, trong lưỡi gươm này, Chúa muốn làm trái tim con trở nên thế nào?”
Có những Thánh Giá không được cất đi ngay, nhưng người vác Thánh Giá được biến đổi. Có những vấn đề không được giải quyết theo cách ta mong, nhưng qua đó trái tim ta trở nên khiêm nhường hơn, dịu dàng hơn, cảm thông hơn. Có những mất mát không bao giờ được lấp đầy theo kiểu cũ, nhưng trong khoảng trống ấy Thiên Chúa mở ra một cách yêu mới. Đức Maria mất Con trên Canvê, nhưng chính tại đó Mẹ nhận cả nhân loại làm con.
Vậy nên, đừng sợ một trái tim bị thương nếu trái tim ấy nằm trong tay Thiên Chúa. Điều đáng sợ không phải là trái tim bị đâm thâu. Điều đáng sợ là trái tim đóng kín. Trái tim Đức Giêsu bị lưỡi đòng đâm mở ra và từ đó máu cùng nước chảy ra. Trái tim Đức Maria bị lưỡi gươm đâm thâu và từ đó một tình mẫu tử bao trùm Hội Thánh được mở ra. Hai trái tim ấy cho ta thấy bí mật của Tin Mừng: tình yêu không tự bảo vệ mình bằng cách đóng kín; tình yêu chấp nhận bị thương để có thể trao ban.
Cuối cùng, đứng trước Đức Maria dưới chân Thánh Giá, có lẽ ta không cần nói nhiều. Hãy im lặng nhìn Mẹ. Một người Mẹ, một người Con, một Thánh Giá. Mẹ không hiểu hết nhưng Mẹ ở lại. Mẹ không cứu Con khỏi cái chết nhưng Mẹ không để Con cô độc. Mẹ không nhìn thấy Phục Sinh nhưng Mẹ vẫn tin. Và có lẽ đó là tất cả những gì Thiên Chúa đang xin nơi ta trong những ngày tối nhất của đời mình: đừng bỏ đi.
Nếu hôm nay đời ta là Thứ Sáu Tuần Thánh, hãy nhớ vẫn có ngày Chúa Nhật Phục Sinh. Nếu hôm nay ta đang đứng trước một ngôi mộ đóng kín, hãy nhớ Thiên Chúa vẫn làm việc sau tảng đá. Nếu hôm nay trái tim ta bị đâm thâu, hãy nhớ rằng Đức Maria đã đi qua con đường ấy trước ta. Hãy nắm lấy tay Mẹ. Hãy đứng cạnh Mẹ. Hãy để Mẹ dẫn ta đến gần Thánh Giá hơn, không phải để chúng ta yêu đau khổ, nhưng để ta khám phá một Tình Yêu mạnh hơn đau khổ. Một Tình Yêu đã chịu đóng đinh nhưng không bị tiêu diệt. Một Tình Yêu bị chôn trong mồ nhưng đã sống lại. Một Tình Yêu có thể biến nước mắt thành hạt giống của hy vọng.
Lạy Đức Maria, Mẹ của Chúa Cứu Thế và Mẹ của chúng con, Mẹ đã đứng dưới chân Thánh Giá khi mọi ánh sáng dường như tắt. Mẹ đã nhìn Con yêu dấu chết trong đau đớn mà vẫn không thôi tin vào Thiên Chúa. Xin dạy chúng con biết đứng khi muốn chạy trốn, biết tin khi không hiểu, biết yêu khi bị tổn thương, biết tha thứ khi lòng còn đau, biết ở lại bên những người đang chịu Thánh Giá. Khi lưỡi gươm đi qua trái tim chúng con, xin đừng để chúng con trở nên cay đắng. Khi phải buông một điều rất quý, xin dạy chúng con biết trao nó vào tay Chúa. Khi đời chúng con bước vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, xin nhắc chúng con rằng câu chuyện chưa kết thúc. Và khi chúng con không còn đủ sức để cầu nguyện, xin Mẹ đứng bên, như ngày xưa Mẹ đã đứng bên Thánh Giá của Con Mẹ.
Bởi cuối cùng, người môn đệ không được hứa rằng đời mình sẽ không có Canvê. Người môn đệ chỉ được bảo đảm rằng tại Canvê ấy, mình sẽ không hoàn toàn đơn độc. Có Đức Kitô trên Thánh Giá. Có Đức Maria đứng bên dưới. Và giữa những giọt máu, những giọt nước mắt cùng sự im lặng tưởng như vô vọng ấy, Thiên Chúa đang âm thầm chuẩn bị một bình minh mà mắt con người chưa nhìn thấy.
Trái tim Đức Mẹ bị đâm thâu, nhưng không bị đánh bại. Trái tim ấy đau, nhưng vẫn yêu. Trái tim ấy mất Con, nhưng trở thành Mẹ của muôn người. Trái tim ấy đứng dưới Thánh Giá, để từ đó dẫn tất cả chúng ta đi qua Thánh Giá mà đến Phục Sinh.
Lm. Anmai, CSsR

“NÀY LÀ CON BÀ… NÀY LÀ MẸ CON” – HỘI THÁNH ĐƯỢC SINH RA TRONG GIỜ CỦA THÁNH GIÁ
Có những lời chỉ có thể được nói vào một giờ rất đặc biệt. Có những lời nếu nói trong bình an, giữa tiếng vỗ tay, giữa những ngày rực rỡ của thành công, người ta có thể nghe rồi quên; nhưng khi những lời ấy được nói giữa máu, giữa nước mắt, giữa hơi thở đứt quãng của một người sắp chết, thì mỗi chữ mang một sức nặng khác hẳn. Trên đồi Canvê, giữa lúc tất cả dường như đã kết thúc, Chúa Giêsu lại nói một lời mở ra một khởi đầu. Giữa lúc các môn đệ tan tác, một cộng đoàn mới được hình thành. Giữa lúc thân xác Người bị xé nát, một Thân Thể nhiệm mầu bắt đầu được sinh ra. Giữa lúc người ta tưởng rằng Thánh Giá chỉ là dấu chấm hết của cuộc đời Đức Giêsu Nadarét, thì chính từ Thánh Giá, Người trao ban một gia đình mới cho nhân loại: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi Người nói với người môn đệ: “Đây là Mẹ của anh.” Và Tin Mừng Gioan ghi một câu rất đơn sơ mà vô cùng sâu thẳm: “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,26-27). Có thể nói, trong giờ ấy, dưới chân Thánh Giá ấy, giữa Đức Maria và người môn đệ Chúa yêu ấy, Hội Thánh đã hiện lên như một gia đình được sinh ra từ tình yêu tự hiến của Đức Kitô.
Tin Mừng kể: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu Người, bà Maria vợ ông Clôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,25-27). Cần đọc thật chậm đoạn Tin Mừng này. Cần dừng lại ở một chữ mà người Việt Nam chúng ta rất quen nhưng đôi khi lại lướt qua: “đứng”. Đức Maria đứng gần Thánh Giá. Mẹ không chạy trốn. Mẹ không ngã quỵ trong tuyệt vọng. Mẹ cũng không thể làm gì để tháo Con xuống khỏi cây gỗ. Đôi tay từng bồng Con ở Bêlem giờ đây bất lực trước đôi tay bị đóng đinh. Đôi môi từng ru Con ngủ ở Nadarét giờ đây không thể làm dịu cơn khát của Người. Trái tim từng sung sướng nghe thiên thần nói “Đức Chúa ở cùng bà” giờ đây phải nghe tiếng búa, tiếng nhục mạ, tiếng thở dốc của chính Con mình. Mẹ chỉ còn có thể đứng đó. Nhưng chính sự “đứng đó” của Mẹ đã trở thành một trong những hành vi đức tin lớn lao nhất trong lịch sử cứu độ. Có những lúc yêu là làm rất nhiều việc cho người mình yêu. Nhưng cũng có những lúc yêu chỉ còn là ở lại. Không chạy trốn. Không bỏ đi. Không quay mặt. Không tìm một lời giải thích dễ dàng. Chỉ đứng bên người mình yêu trong giờ tối nhất của họ. Đức Maria đã yêu Chúa Giêsu như thế.
Nếu ở Cana, Mẹ đã nói với những người giúp việc: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5), thì ở Canvê, Mẹ không còn nói gì nữa. Cana có rượu mới. Canvê có máu đổ ra. Cana là một tiệc cưới đang thiếu niềm vui. Canvê là một đám tử hình tưởng như chỉ còn tuyệt vọng. Thế nhưng hai biến cố ấy lại nối với nhau bằng một từ rất quan trọng trong Tin Mừng Gioan: “giờ”. Ở Cana, Chúa Giêsu nói: “Giờ của tôi chưa đến.” Trên Canvê, giờ ấy đã đến. Đó là giờ Con Người được tôn vinh, nhưng là một vinh quang không giống những thứ vinh quang mà thế gian vẫn tìm kiếm. Không ngai vàng, không triều thiên bằng vàng, mà là vương miện gai. Không đoàn quân hộ tống, mà là hai tên gian phi cùng chịu đóng đinh. Không tiếng tung hô, mà là tiếng chế nhạo. Không quyền lực áp đặt, mà là một thân xác tự nguyện bị nộp. Chính trong “giờ” ấy, Đức Giêsu trao Mẹ của mình cho người môn đệ và trao người môn đệ cho Mẹ. Vì thế, lời “Này là con Bà… Này là Mẹ con” không phải là một chi tiết tình cảm chen vào giữa cuộc Thương Khó. Đó là một hành vi mặc khải. Một lời trối thiêng liêng. Một hành vi sáng tạo. Một cuộc khai sinh.
Người ta thường nghĩ rằng Chúa Giêsu, vì hiếu thảo với Mẹ, nên trước khi chết đã nhờ Gioan chăm sóc Mẹ thay mình. Cách hiểu ấy không sai, nhưng chưa đủ. Nếu chỉ là chuyện thu xếp đời sống gia đình, Tin Mừng Gioan không cần phải đặt nó vào trung tâm của “giờ” Thánh Giá với những từ ngữ đầy tính biểu tượng như thế. Chúa Giêsu không gọi “Mẹ ơi”, nhưng gọi “Thưa Bà”. Chính danh xưng ấy đã từng xuất hiện ở Cana và gợi lên hình ảnh người phụ nữ trong chương trình cứu độ. Người đàn bà của lời hứa từ thuở ban đầu. Người phụ nữ gắn với “dòng giống” sẽ đạp đầu con rắn. Người phụ nữ của một nhân loại mới. Và bên cạnh Mẹ không chỉ có “Gioan”, nhưng Tin Mừng cố ý gọi là “người môn đệ Chúa yêu”. Người ấy có một khuôn mặt cụ thể, nhưng đồng thời cũng mang khuôn mặt của tất cả những ai được Đức Kitô yêu và đáp lại bằng cách ở lại với Người. Nơi người môn đệ ấy, mỗi Kitô hữu có thể nhận ra chính mình. “Này là Mẹ con” không chỉ là lời dành cho Gioan của hai ngàn năm trước. Đó là lời Chúa Giêsu nói với người môn đệ của mọi thời đại: con không còn mồ côi; trong gia đình cứu độ mà máu Ta đang khai sinh, con có một người Mẹ.
Và lời “Này là con Bà” cũng thật lạ lùng. Chúa Giêsu không nói với Mẹ: “Đây là Gioan.” Người nói: “Đây là con của Bà.” Như thể từ giờ phút này, tình mẫu tử của Đức Maria được mở rộng. Trái tim Mẹ không còn chỉ ôm lấy Đức Giêsu trong tư cách người Con đã cưu mang chín tháng và sinh ra tại Bêlem. Từ giờ ấy, Mẹ phải đón nhận những người mà Đức Giêsu đã yêu đến cùng. Và đó không phải là những đứa con dễ thương, hoàn hảo, thánh thiện sẵn rồi. Đó là chúng ta. Những người yếu đuối, thất thường, những người hôm nay tin mai nghi ngờ, hôm nay hứa mai quên, hôm nay đứng dưới chân Thánh Giá mai lại chạy theo những thứ chẳng liên quan gì đến Thánh Giá. Mẹ nhận chúng ta làm con không phải trong một ngày vui nhưng trong ngày đau nhất của đời Mẹ. Có lẽ chính điều ấy mới làm chúng ta hiểu được tình mẫu tử của Đức Maria đối với Hội Thánh: đó không phải là một thứ tình cảm trang trí thêm vào đời sống đức tin. Nó được sinh ra bằng giá máu của Đức Kitô và bằng lưỡi gươm xuyên qua tâm hồn Mẹ.
Simeon đã từng nói với Đức Maria khi Mẹ bồng Hài Nhi vào Đền Thờ: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,35). Ngày ấy, có lẽ Mẹ chưa hiểu lưỡi gươm ấy sẽ bén đến đâu. Trên Canvê, lời tiên báo ấy thành sự. Không phải chỉ một lần. Từng tiếng búa là một nhát gươm. Từng lời nhạo báng là một nhát gươm. Từng giọt máu từ thân thể Con rơi xuống là một nhát gươm. Người ta đóng đinh Con nhưng trái tim Mẹ cũng bị đóng đinh. Người ta xuyên cạnh sườn Con, nhưng lòng Mẹ đã bị xuyên từ trước. Thế nhưng điều kỳ diệu của ân sủng là chính trái tim bị đâm thâu ấy lại được mở rộng để trở thành trái tim của người Mẹ dành cho muôn người. Mẹ mất người Con duy nhất theo huyết nhục để nhận lấy vô số người con trong ân sủng. Đó là cái giá của tình mẫu tử thiêng liêng. Hội Thánh không được sinh ra từ một giấc mơ đẹp. Hội Thánh được sinh ra trong đau đớn. Hội Thánh sinh ra trong “giờ” mà Con Thiên Chúa chết và trái tim một người Mẹ bị đâm thâu.
Thật ra, toàn bộ khung cảnh Canvê nói cho chúng ta biết Hội Thánh là gì trước khi nói Hội Thánh phải làm gì. Hội Thánh trước hết không phải là một cơ cấu, dù Hội Thánh cần cơ cấu. Hội Thánh không phải chỉ là một tổ chức, dù Hội Thánh phải có tổ chức. Hội Thánh không chỉ là một hệ thống luật lệ, dù luật lệ cần thiết cho đời sống chung. Hội Thánh trước hết là cộng đoàn của những người đứng dưới chân Thánh Giá, đón nhận nhau từ lời trối của Đức Kitô. Ở đó có Đức Maria. Có người môn đệ được yêu. Có những phụ nữ trung thành. Không đông. Không quyền lực. Không huy hoàng. Nhưng có tình yêu ở lại. Đó là hạt giống của Hội Thánh. Vì thế, mỗi khi Hội Thánh quên đứng dưới Thánh Giá, Hội Thánh có nguy cơ quên mình là ai. Khi Hội Thánh chỉ bận tâm đến ảnh hưởng, danh tiếng, quyền lực, con số, thành tích, vị trí, những cuộc tranh hơn thua, Hội Thánh có thể trở thành một tổ chức tôn giáo rất mạnh mà lại yếu đi trong chính căn tính của mình. Bởi căn tính sâu nhất của Hội Thánh không được xác định bởi việc đứng gần ngai của kẻ quyền thế, nhưng bởi việc đứng gần Thánh Giá của Đức Kitô.
Dưới chân Thánh Giá, không ai còn lý do để tự phụ. Đức Maria đứng đó trong thinh lặng. Gioan đứng đó sau một đêm các môn đệ đều đã hoảng loạn. Những người phụ nữ đứng đó trong nước mắt. Không ai đứng đó để tranh chức. Không ai hỏi ai là người lớn nhất. Không ai tranh luận xem ai xứng đáng hơn. Những cuộc tranh luận ấy, nếu có, đã trở nên quá nhỏ bé trước một Đấng đang chết vì tất cả. Có lẽ Hội Thánh hôm nay cũng cần trở về Canvê nhiều hơn. Bởi nhiều vấn đề tưởng như khổng lồ sẽ lập tức nhỏ lại nếu chúng ta thật sự đứng trước Thánh Giá. Nhiều tự ái sẽ tan đi. Nhiều hơn thua sẽ trở nên vô nghĩa. Nhiều cuộc kết án nhau sẽ trở nên đáng xấu hổ. Một người vừa nhìn lên Đấng đang cầu nguyện “Lạy Cha, xin tha cho họ” mà bước xuống để tiếp tục nuôi hận thù thì thật khó hiểu. Một người vừa hôn Thánh Giá mà quay sang làm tổn thương anh em thì có lẽ môi đã chạm Thánh Giá nhưng trái tim vẫn còn đứng ở nơi nào khác.
“Này là con Bà.” Chỉ bốn chữ nhưng làm thay đổi tất cả. Đức Maria được mời nhìn người môn đệ không còn chỉ như một người quen của Con mình, mà là “con”. Đây chính là logic của Hội Thánh. Người xa lạ trở thành người nhà. Người không cùng máu huyết trở thành anh chị em. Người chẳng có gì liên hệ tự nhiên với nhau lại được nối kết bởi máu Đức Kitô. Hội Thánh là điều không thể hiểu chỉ bằng xã hội học, bởi điều làm chúng ta nên một sâu xa nhất không phải là cùng sở thích, cùng tuổi tác, cùng vùng miền, cùng trình độ, cùng hoàn cảnh, thậm chí không phải vì chúng ta hợp tính nhau. Nếu Hội Thánh chỉ là cộng đoàn của những người hợp nhau thì Hội Thánh sẽ vỡ rất nhanh, bởi con người không thể hợp nhau mãi. Hội Thánh là gia đình của những người được một Đấng chịu đóng đinh trao cho nhau. Ta không tự chọn tất cả anh chị em của mình trong Hội Thánh. Có người ta thích. Có người ta không thích. Có người làm ta vui. Có người làm ta đau. Có người hiểu ta. Có người hiểu lầm ta. Thế nhưng đứng dưới Thánh Giá, Chúa vẫn nói: “Đây là con của Bà… đây là Mẹ của anh.” Nói cách khác: từ nay các con thuộc về nhau trong Ta.
Đó là điều rất khó. Yêu một Giáo Hội lý tưởng thì dễ. Yêu Hội Thánh bằng xương bằng thịt mới khó. Người ta có thể yêu một Hội Thánh được tưởng tượng là hoàn hảo, nhưng khi phải sống với một cộng đoàn có những người nóng nảy, vụng về, ích kỷ, cố chấp, khác quan điểm, người ta mới biết tình yêu của mình thật hay không. Người ta có thể yêu “nhân loại” rất dễ, bởi nhân loại không gọi điện làm phiền mình, không nói xấu mình, không tranh luận với mình, không làm mình bực. Nhưng yêu một con người cụ thể ở ngay bên cạnh mới cần Thánh Giá. Chúa Giêsu không nói với Đức Maria: “Mẹ hãy yêu nhân loại nói chung.” Người chỉ vào một con người cụ thể: “Này là con Bà.” Đức tin Kitô giáo luôn đi từ những điều rất lớn về những con người rất cụ thể. Yêu Hội Thánh có khi bắt đầu bằng việc đừng nói một lời làm nhục một người anh em. Yêu Hội Thánh có khi là nhẫn nại với một người già lẩm cẩm. Là lắng nghe một người trẻ đang hoang mang. Là không bỏ một người đã phạm lỗi. Là cầu nguyện cho một linh mục mình không ưa. Là nâng đỡ một gia đình đang tan vỡ. Là bước đến gần một người nghèo mà xã hội muốn tránh xa. Bởi tất cả những người ấy đều có thể là người mà từ trên Thánh Giá, Chúa chỉ vào và nói với ta: “Này là anh em của con.”
“Này là Mẹ con.” Lời này cũng mời Hội Thánh học lại cách làm con. Thời đại chúng ta thích tự lập. Con người trưởng thành muốn tự quyết, tự chọn, tự định nghĩa, tự xây cuộc đời. Điều ấy có những giá trị tích cực, nhưng cũng có thể âm thầm biến thành một sự cô độc khủng khiếp: tôi không cần ai, tôi tự lo được, đừng ai can thiệp vào đời tôi. Rồi đến một ngày đau khổ ập tới, người ta mới nhận ra mình không mạnh như tưởng tượng. Đức Giêsu trên Thánh Giá không để người môn đệ yêu dấu cô độc. Người cho anh một người Mẹ. Như thể Người nói: người môn đệ của Ta không sống đức tin một mình. Người ấy cần được sinh ra, nuôi dưỡng, chở che, dạy dỗ, đồng hành. Hội Thánh vì thế không phải là một tập hợp những cá nhân cô độc cùng tin một số chân lý giống nhau. Hội Thánh là một gia đình. Một gia đình có Mẹ.
Và thật đẹp khi Tin Mừng nói: “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.” Đức tin không dừng ở nghe. Gioan nghe lời Chúa rồi rước Mẹ về. Câu hỏi đặt ra cho mỗi người chúng ta là: chúng ta đã thật sự “rước Mẹ về nhà mình” chưa? Không chỉ treo một ảnh Đức Mẹ. Không chỉ đeo một tràng chuỗi. Không chỉ đọc vài kinh trong tháng Hoa. “Rước Mẹ về nhà” là rước cách sống của Mẹ vào đời mình. Là học cách nghe Lời Chúa như Mẹ. Học cách thưa “xin vâng” như Mẹ. Học cách vội vã lên đường phục vụ như Mẹ đi thăm bà Êlisabét. Học cách giữ những điều không hiểu và suy đi nghĩ lại trong lòng. Học cách biết thiếu rượu của người khác trước khi họ kịp lên tiếng. Học cách nói “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”. Và nhất là học cách đứng dưới chân Thánh Giá không bỏ chạy.
Có một thứ đạo đức rất sốt sắng khi đời bình an nhưng biến mất khi Thánh Giá xuất hiện. Có những người yêu Chúa khi cầu được ước thấy, nhưng khi bệnh tật đến thì bắt đầu nghi ngờ. Có người tin Chúa khi gia đình thuận hòa, nhưng khi hôn nhân khủng hoảng thì buông tay. Có người hăng hái phục vụ khi được nhìn nhận, nhưng một lần bị hiểu lầm là rút lui. Có người nói yêu Hội Thánh, nhưng chỉ cần gặp một gương xấu đã muốn bỏ Hội Thánh. Đức Maria dạy một điều khác: đứng lại. Không phải đứng lại vì đã hiểu. Mẹ đâu hiểu hết. Không phải đứng lại vì hết đau. Mẹ đang đau tận cùng. Không phải đứng lại vì chắc chắn ngày kia Con sẽ sống lại theo cách mà chúng ta hôm nay đã biết. Mẹ đứng bởi vì Mẹ tin. Đức tin trưởng thành không phải là biết trước mọi câu trả lời, nhưng là vẫn ở lại với Thiên Chúa khi chẳng còn câu trả lời nào làm mình thỏa mãn.
Vì thế, Hội Thánh được sinh ra dưới Thánh Giá cũng là Hội Thánh phải biết ở lại dưới thập giá của con người. Một Hội Thánh chỉ hiện diện khi người ta vui thì chưa phải là Hội Thánh của Đức Kitô chịu đóng đinh. Hội Thánh phải ở nơi người ta khóc. Ở bên giường bệnh. Ở trong căn nhà vừa có người qua đời. Ở bên người mẹ mất con. Ở với một người trẻ muốn bỏ cuộc. Ở với một gia đình đang đứng trước vực ly tán. Ở với người nghèo không biết ngày mai lấy gì mà ăn. Ở bên người bị xã hội quên tên. Ở với người tù. Ở với người già không ai thăm. Ở với một người tội lỗi mà mọi người đều tránh. Không phải lúc nào Hội Thánh cũng giải quyết được đau khổ của họ. Đức Maria cũng không tháo được Đức Giêsu khỏi Thánh Giá. Nhưng Mẹ đứng đó. Đôi khi sự hiện diện trung thành chính là Tin Mừng đầu tiên người đau khổ cần nghe.
Người ta thường hỏi: Hội Thánh phải làm gì để hấp dẫn con người thời nay? Có nhiều câu trả lời đúng: phải truyền thông tốt hơn, phải sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu hơn, phải gần giới trẻ hơn, phải đổi mới phương pháp mục vụ. Tất cả đều cần. Nhưng có lẽ trước tất cả, Hội Thánh phải giống Mẹ dưới chân Thánh Giá hơn. Thế giới không thiếu quảng cáo. Không thiếu kỹ thuật. Không thiếu những người nói hay. Điều nó thiếu là những người có thể ở lại khi người khác đau. Những người không bỏ đi khi một con người trở thành gánh nặng. Những người không định giá một cuộc đời bằng hiệu suất. Những người không xem một người thất bại là đồ bỏ đi. Một cộng đoàn Kitô hữu biết ôm lấy người bị bỏ rơi sẽ nói về Đức Kitô hùng hồn hơn nhiều bài diễn văn. Một giáo xứ trong đó người nghèo cảm thấy mình có chỗ sẽ là bài giảng sống động. Một cộng đoàn tu trì nơi một thành viên yếu đuối vẫn được yêu thương sẽ làm chứng cho Tin Mừng. Một gia đình vẫn đón nhận người con lầm lỗi trở về sẽ làm cho dụ ngôn người cha nhân hậu sống lại.
Hội Thánh được sinh ra từ giờ của Thánh Giá, vì thế Hội Thánh không thể sống theo logic loại trừ. Thánh Giá là nơi Đức Giêsu giang hai tay. Hai tay không khép lại. Hai tay mở ra đến mức không thể mở thêm. Đó phải là tư thế của Hội Thánh. Nếu Hội Thánh khép tay lại thành nắm đấm để đánh người khác, Hội Thánh phản bội hình dáng của Đấng Sáng Lập mình. Nếu Hội Thánh chỉ mở cửa cho người tốt, người đúng, người sạch, thì rất nhiều người mà Chúa đã chết cho sẽ phải đứng ngoài. Điều đó không có nghĩa Hội Thánh coi thường sự thật, dung túng tội lỗi hay biến Tin Mừng thành một thứ dễ dãi. Không. Thánh Giá cho thấy tội lỗi nghiêm trọng đến mức nào: để cứu con người khỏi tội, Con Thiên Chúa phải chết. Nhưng cũng chính Thánh Giá cho thấy tình yêu lớn hơn tội lỗi đến mức nào: Người sẵn sàng chết cho kẻ có tội. Hội Thánh trung thành với Thánh Giá phải vừa nói thật về tội, vừa không tuyệt vọng về người tội lỗi; vừa kêu gọi hoán cải, vừa mở đường trở về; vừa bảo vệ chân lý, vừa không lấy chân lý làm hòn đá ném vào đầu người khác.
Khi người lính lấy giáo đâm cạnh sườn Chúa Giêsu, “tức thì máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34). Truyền thống Hội Thánh đã nhìn thấy nơi máu và nước ấy dấu chỉ của các bí tích, đặc biệt là Thánh Tẩy và Thánh Thể, và nhìn thấy Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô đang ngủ giấc ngủ sự chết, như Evà xưa được lấy từ cạnh sườn Ađam. Hình ảnh ấy đẹp đến mức chúng ta phải dừng lại. Hội Thánh không sinh ra từ đầu Đức Kitô như sản phẩm của một ý tưởng. Không sinh ra từ bàn tay Đức Kitô như một công trình thuần túy của hoạt động. Hội Thánh sinh ra từ cạnh sườn, gần trái tim. Từ một trái tim bị đâm thủng. Nguồn gốc Hội Thánh là một vết thương mở. Nếu vậy, chúng ta hiểu vì sao một Hội Thánh không còn biết đau với nỗi đau của con người sẽ trở nên xa lạ với chính nguồn gốc của mình. Hội Thánh mang trong mình ký ức của một trái tim bị thương vì yêu.
Máu và nước chảy ra. Máu của sự sống được trao ban. Nước của sự thanh tẩy. Từ cạnh sườn bị mở, đời sống bí tích tuôn trào. Chúng ta được rửa tội trong cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô. Chúng ta được nuôi bằng Mình và Máu Người. Mỗi Thánh Lễ, vì thế, không chỉ là một nghi lễ chúng ta tham dự rồi về. Thánh Lễ đưa chúng ta trở lại “giờ” ấy. Cùng một tình yêu. Cùng một sự tự hiến. Cùng một Đức Kitô trao chính mình: “Này là Mình Thầy… Này là Máu Thầy.” Và thật sâu sắc: Đấng trên bàn thờ nói “Này là Mình Thầy” cũng chính là Đấng trên Thánh Giá đã nói “Này là Mẹ con.” Thánh Thể và Hội Thánh không thể tách rời. Ta không thể thật sự đón lấy Mình Đức Kitô mà khước từ Thân Thể Người là Hội Thánh. Ta không thể nói yêu Chúa Giêsu Thánh Thể nhưng lại khinh miệt anh chị em mình. Thánh Phaolô đã cảnh cáo cộng đoàn Côrintô chính ở điểm này: khi bữa tiệc Thánh Thể không dẫn đến sự hiệp thông và quan tâm người yếu, người ta đã ăn uống mà không phân định Thân Thể Chúa.
Có một nghịch lý đáng suy nghĩ: dưới chân Thánh Giá, Đức Giêsu đang mất tất cả. Áo đã bị chia. Danh dự bị chà đạp. Tự do bị lấy đi. Sức lực cạn dần. Ngay cả sự sống cũng sắp trao nốt. Thế mà đúng lúc chẳng còn gì để giữ, Người vẫn còn một điều để cho: Người trao Mẹ. Người trao người môn đệ cho Mẹ. Người tạo nên tương quan. Điều ấy dạy chúng ta rằng con người nghèo nhất chưa chắc là người không có tiền, mà là người không còn ai để trao mình cho và chẳng còn ai để đón nhận mình. Đức Giêsu chết trong hành vi trao ban. Ngay cả phút cuối Người vẫn kết nối những con người lại với nhau. Tội lỗi luôn chia rẽ: chia con người khỏi Thiên Chúa, khỏi chính mình, khỏi tha nhân. Cứu độ là nối lại. Thánh Giá nối trời với đất bằng chiều dọc và nối con người với nhau bằng chiều ngang. Hình dáng của Thánh Giá đã là hình dáng của hiệp thông.
Bởi vậy, Hội Thánh được sinh ra từ Thánh Giá phải là nơi nối lại những gì đã gãy. Không phải nơi khoét sâu vết thương. Không phải nơi dựng thêm những bức tường. Không phải nơi người ta đến để học cách khinh người khác nhân danh đạo đức. Hội Thánh phải là nơi người con hoang đàng biết còn có đường về. Nơi hai người giận nhau học lại cách gọi nhau là anh em. Nơi người giàu nhìn người nghèo không phải như một phiền toái nhưng như người nhà. Nơi người mạnh biết mang sự yếu đuối của người yếu. Nơi người đã đứng vững không chế nhạo người vừa ngã. Tất nhiên, đời sống thực tế của Hội Thánh vẫn còn vô vàn bất toàn. Hai ngàn năm qua đã có những thời kỳ Hội Thánh không sống xứng đáng với nguồn gốc của mình. Và mỗi chúng ta cũng góp phần vào những vết nhăn ấy. Nhưng điều quyết định không phải Hội Thánh có hoàn hảo không; điều quyết định là Hội Thánh có còn biết quay về dưới chân Thánh Giá để được thanh luyện không.
Đức Maria đứng ở đó như ký ức sống động của nguồn gốc Hội Thánh. Mẹ không đứng trên Thánh Giá thay Chúa Giêsu, nhưng đứng dưới Thánh Giá với Chúa Giêsu. Điều này rất quan trọng. Mẹ không cứu chuộc chúng ta thay Đức Kitô. Chỉ có Đức Kitô là Đấng Cứu Chuộc. Nhưng Mẹ tham dự cách độc đáo vào mầu nhiệm của Con bằng đức tin, sự vâng phục và tình yêu. Mẹ là người nữ đã nói “xin vâng” ở Nadarét, và lời “xin vâng” ấy phải đi đến tận Canvê. Nếu ngày Truyền Tin, Mẹ nói “xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”, thì trên Canvê, Mẹ phải để Thiên Chúa thực hiện điều Mẹ không thể tưởng tượng nổi. Chúng ta thường nói “xin vâng” với Chúa khi ý Chúa gần với điều mình muốn. Nhưng lời xin vâng thật sự chỉ được thử nghiệm khi ý Chúa đi qua một con đường mà ta không chọn. Đức Maria đã không rút lại lời xin vâng.
Hội Thánh cũng thế. Ngày lễ Ngũ Tuần, Hội Thánh sẽ đi ra với quyền năng Thánh Thần. Nhưng trước Ngũ Tuần có Canvê. Trước tiếng rao giảng mạnh mẽ có sự thinh lặng dưới Thánh Giá. Trước ba ngàn người xin chịu phép rửa có một nhóm rất nhỏ đứng bên một người bị hành hình. Chúng ta thích Ngũ Tuần hơn Canvê. Thích lửa, sức mạnh, kết quả, đông người, thành công. Nhưng Hội Thánh không được phép bỏ qua Canvê để chạy thẳng đến Ngũ Tuần. Một Giáo Hội muốn đầy Thánh Thần mà không muốn mang dấu Thánh Giá dễ biến quyền năng thành phô trương. Một người phục vụ muốn có hoa trái mà không muốn chết cho cái tôi sẽ sớm biến sứ vụ thành sân khấu. Hạt lúa phải chết. Con đường của Đức Kitô luôn đi qua tự hủy trước khi đi vào vinh quang.
Có lẽ đây là điều đặc biệt cần nói với những người đang phục vụ Hội Thánh. Linh mục, tu sĩ, giáo lý viên, hội đoàn, người làm mục vụ, người truyền thông Công giáo, bất cứ ai đang mang một trách nhiệm trong cộng đoàn: chúng ta đang xây Hội Thánh theo hình dáng nào? Theo hình dáng Thánh Giá hay theo hình dáng cái tôi của mình? Có khi miệng nói phục vụ Chúa nhưng trong lòng lại muốn người ta công nhận. Có khi nói bảo vệ Hội Thánh nhưng thật ra đang bảo vệ vị trí của mình. Có khi nhân danh chân lý để thắng một cuộc tranh luận hơn là cứu một con người. Có khi giữ kỷ luật rất chặt nhưng trái tim lại khép. Thánh Giá là phép thử khắc nghiệt đối với mọi kiểu quyền bính trong Hội Thánh. Trên Thánh Giá, Đấng có mọi quyền năng lại không dùng quyền năng để cứu mình. Người dùng quyền để trao ban mình. Đó là kiểu quyền bính của Đức Kitô. Ai muốn đứng đầu trong Hội Thánh mà không muốn cúi xuống rửa chân, ai muốn được gọi là mục tử nhưng tránh mùi chiên, ai muốn được kính trọng mà không muốn mang thương tích của đoàn chiên thì chưa hiểu quyền bính dưới ánh sáng Thánh Giá.
“Này là Mẹ con.” Người môn đệ nhận Mẹ. Nhưng nhận Mẹ cũng đồng nghĩa nhận lấy ký ức về Chúa Giêsu. Ai hiểu Con bằng Mẹ? Ai đã sống với Người từ hơi thở đầu tiên, từ bước chân đầu tiên? Có thể hình dung sau Phục Sinh, trong cộng đoàn tiên khởi, Mẹ đã là một sự hiện diện âm thầm nhưng quý giá thế nào. Mẹ có thể kể về Nadarét, về Bêlem, về cuộc chạy trốn sang Ai Cập, về những tháng năm ẩn dật mà các môn đệ không biết. Nhưng quan trọng hơn những câu chuyện là chính cách Mẹ tin. Hội Thánh ở cạnh Mẹ để học cách giữ Chúa Giêsu ở trung tâm. Đức Maria không bao giờ giữ người ta lại nơi mình. Câu nói quan trọng nhất của Mẹ trong Tin Mừng vẫn là: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Lòng sùng kính Đức Mẹ chân thật luôn dẫn tới việc làm theo lời Chúa Giêsu. Nếu chúng ta đọc rất nhiều kinh kính Đức Mẹ mà không vâng Lời Đức Kitô, chúng ta chưa thật sự học được tinh thần của Mẹ.
Ngày hôm nay, trong một thế giới mà gia đình đang mang nhiều vết thương, lời “Này là con Bà… Này là Mẹ con” càng trở nên cảm động. Có những đứa con có mẹ mà như không có mẹ. Có những người mẹ có con mà chẳng thể chạm được vào lòng con nữa. Có những gia đình cùng sống dưới một mái nhà nhưng mỗi người ở trong một thế giới riêng. Có những bữa cơm mà mọi người nhìn điện thoại nhiều hơn nhìn mặt nhau. Có những người già sống cô đơn giữa đầy đủ tiện nghi. Có trẻ em lớn lên với rất nhiều đồ chơi nhưng thiếu một vòng tay. Có những người thành đạt được hàng ngàn người theo dõi trên mạng nhưng không biết gọi cho ai khi khóc. Con người hiện đại kết nối với cả thế giới nhưng có thể không thuộc về ai. Chính trong thế giới ấy, từ Thánh Giá, Đức Kitô lập lại: “Này là Mẹ con… này là con của Bà.” Cứu độ không chỉ là được tha tội để một ngày lên thiên đàng. Cứu độ còn là được đưa trở về một gia đình.
Hội Thánh phải làm cho con người cảm nghiệm điều ấy. Một người bước vào nhà thờ không chỉ cần thấy kiến trúc đẹp. Họ cần cảm thấy mình được đón nhận. Một người đi xưng tội không chỉ cần nghe một phán quyết; họ cần gặp lòng thương xót dẫn họ về với Cha. Một người nghèo đến xin giúp đỡ không chỉ cần nhận một món quà; họ cần biết phẩm giá họ được nhìn nhận. Một người trẻ đặt câu hỏi khó không nên lập tức bị xem là chống đối; có khi em đang tìm một người đủ kiên nhẫn để nghe. Một người xa Hội Thánh nhiều năm trở về không cần nghe câu “sao giờ mới về”; họ cần nghe trong cách ta đón họ vang lại lời của Chúa: con vẫn là người nhà.
Đừng quên người môn đệ trong câu chuyện là “môn đệ Chúa yêu”. Căn tính của người môn đệ trước hết không phải là người đã làm gì cho Chúa, nhưng là người được Chúa yêu. Đây là điều chúng ta rất dễ quên. Ta xây căn tính trên công việc, chức vụ, thành công, danh tiếng, kiến thức, đạo đức. Rồi khi những thứ ấy lung lay, ta khủng hoảng. Gioan không được gọi ở đây là “tông đồ”, không được giới thiệu bằng thành tích, nhưng đơn giản là người Chúa yêu. Và chính người biết mình được yêu mới đủ sức nhận Mẹ và sống trong gia đình mới. Nếu tôi không tin mình được Thiên Chúa yêu, tôi sẽ rất khó yêu Hội Thánh. Tôi sẽ luôn đòi Hội Thánh công nhận tôi, cho tôi vị trí, làm tôi hài lòng. Nhưng nếu tôi đứng dưới Thánh Giá và hiểu rằng Người đã yêu tôi đến mức ấy, tôi không còn phải dùng Hội Thánh để chứng minh giá trị của mình. Tôi có thể bắt đầu phục vụ.
Thánh Giá cho chúng ta một thứ tự rất đẹp: trước hết là được yêu, rồi được trao cho nhau. Đức Giêsu yêu người môn đệ, rồi nói: “Này là Mẹ con.” Đức Giêsu yêu Mẹ, rồi nói: “Này là con Bà.” Mọi tương quan trong Hội Thánh phải phát xuất từ tình yêu Đức Kitô, nếu không sẽ mau trở nên nặng nề. Một linh mục chỉ nhìn giáo dân như “đối tượng mục vụ” sẽ mệt. Một giáo dân chỉ nhìn linh mục như “người cung cấp dịch vụ thiêng liêng” sẽ thất vọng. Một cộng đoàn chỉ liên kết bằng công việc sẽ vỡ khi công việc kết thúc. Nhưng nếu mọi người trước hết cùng đứng dưới Thánh Giá và nhận ra: chúng ta đều là những người được cứu bởi cùng một dòng máu, thì ta sẽ nhìn nhau khác đi. Không ai cao đến mức không cần được cứu. Không ai thấp đến mức ngoài tầm cứu độ. Dưới chân Thánh Giá, tất cả đều là người nghèo đón nhận ân sủng.
Và chính ở đó, Hội Thánh bắt đầu. Không phải với những người hoàn hảo, mà với những người được yêu. Không phải với những người không bao giờ ngã, mà với những người biết trở về. Phêrô đã chối Thầy. Các môn đệ đã chạy trốn. Tôma sẽ nghi ngờ. Nhưng Chúa Phục Sinh vẫn quy tụ họ. Thật lạ: Thiên Chúa không chờ tìm một nhóm người hoàn hảo rồi mới lập Hội Thánh. Nếu chờ như thế có lẽ đến nay vẫn chưa có Hội Thánh. Người lấy chính những con người mong manh ấy, thanh luyện họ, ban Thánh Thần và sai họ đi. Điều đó cho ta hy vọng về Hội Thánh nhưng cũng giúp ta đừng ngây thơ về Hội Thánh. Hội Thánh thánh thiện vì Đức Kitô là Đầu và Thánh Thần ngự trong Hội Thánh, nhưng những thành viên Hội Thánh luôn cần hoán cải. Yêu Hội Thánh không phải nhắm mắt trước lỗi lầm. Yêu là đau khi thấy Hội Thánh bị tổn thương bởi tội lỗi của chính con cái mình, và chính vì yêu nên mong Hội Thánh được thanh sạch hơn.
Đức Maria dưới chân Thánh Giá là hình ảnh tuyệt đẹp của một Hội Thánh không bỏ Đức Kitô khi Người không còn “hấp dẫn” theo tiêu chuẩn thế gian. Đám đông từng theo Người vì bánh đã biến mất. Những người reo “Hosanna” vài ngày trước đâu rồi? Người ta thích Chúa khi Người làm phép lạ. Khi Người chữa bệnh, hóa bánh, người ta chen nhau. Nhưng khi theo Người có nghĩa phải đứng bên một kẻ bị kết án, chỉ còn rất ít người. Đây là câu hỏi cho đức tin chúng ta: ta theo Chúa vì Chúa, hay vì những gì Chúa cho? Nếu Chúa không cất bệnh, ta còn tin không? Nếu lời cầu nguyện chưa được đáp, ta còn cầu nguyện không? Nếu làm điều thiện mà bị hiểu lầm, ta còn làm không? Nếu phục vụ Hội Thánh nhưng chẳng ai cảm ơn, ta còn phục vụ không? Nếu theo Chúa dẫn tới mất mát, ta còn đứng không? Đức Maria đứng. Và vì thế Mẹ là mẫu mực của Hội Thánh.
Một Hội Thánh đứng dưới chân Thánh Giá sẽ biết rằng thành công không phải thước đo cuối cùng của Tin Mừng. Canvê nhìn bên ngoài là thất bại. Chúa Giêsu chỉ có vài người đứng cạnh. Một môn đệ phản bội, một người chối, nhiều người trốn. Sứ vụ ba năm tưởng như tan thành mây khói. Nhưng chính nơi tưởng như thất bại tuyệt đối, Thiên Chúa hoàn tất công trình cứu độ. Điều này an ủi những ai đang âm thầm gieo mà chưa thấy mùa gặt. Một cha mẹ cầu nguyện nhiều năm cho người con xa Chúa. Một linh mục phục vụ một cộng đoàn nhỏ bé. Một nữ tu chăm những bệnh nhân chẳng ai biết. Một giáo lý viên kiên trì với vài em nhỏ. Một người vợ âm thầm giữ gia đình trong cầu nguyện. Một người sống tử tế giữa môi trường đầy gian dối. Đừng quá vội đo công việc của Thiên Chúa bằng những con số nhìn thấy được. Hạt giống cứu độ lớn nhất đã được gieo trên một ngọn đồi mà hôm ấy gần như chẳng ai nhận ra điều gì đang thật sự xảy ra.
“Này là Mẹ con.” Trong lời ấy còn có một sự dịu dàng vô cùng giữa bạo lực. Xung quanh Chúa Giêsu là tiếng la hét, chế giễu, quân lính, đinh sắt, máu, cái chết. Nhưng từ miệng Người lại phát xuất một lời tạo nên tình thân. Thế giới càng bạo lực, Hội Thánh càng phải nói ngôn ngữ của tình thân. Thế giới càng phân cực, Hội Thánh càng phải làm chứng rằng người khác quan điểm vẫn có thể là anh em. Thế giới càng nhanh tay kết án, Hội Thánh càng phải chậm để lắng nghe và phân định. Thế giới càng dùng con người như phương tiện, Hội Thánh càng phải bảo vệ phẩm giá từng con người. Không phải vì Hội Thánh yếu đuối trước sự thật, nhưng vì sự thật Kitô giáo mang khuôn mặt của Đấng chịu đóng đinh.
Thánh Giá không cho phép chúng ta biến kẻ thù thành quỷ dữ. Vì trên Thánh Giá, Đức Giêsu cầu cho kẻ giết mình. Không có nghĩa cái ác trở thành tốt. Không có nghĩa bất công được bỏ qua. Nhưng có nghĩa người làm điều ác vẫn là một con người mà Đức Kitô muốn cứu. Đây là một trong những điều khó nhất của Kitô giáo. Chúng ta thích chia thế giới thành người tốt và kẻ xấu rồi tin rằng Chúa đứng hoàn toàn về phía ta. Nhưng dưới chân Thánh Giá, chúng ta nhận ra chính mình cũng cần được tha. Người ta đóng đinh Chúa bằng nhiều cách, và có phần tội của ta trong đó. Khi hiểu mình sống nhờ lòng thương xót, ta sẽ bớt nghiện kết án.
Hội Thánh sinh từ Thánh Giá vì thế phải là Hội Thánh của lòng thương xót. Nhưng lòng thương xót ở đây không rẻ tiền. Nó có giá bằng máu. Chúa không nói “tội chẳng sao”. Người mang hậu quả của tội vào chính thân thể mình. Mỗi lần nhìn Thánh Giá, ta phải đồng thời thấy hai điều: tội của ta ghê gớm và tình yêu của Chúa còn lớn hơn. Nếu chỉ thấy tội, ta tuyệt vọng. Nếu chỉ nói tình yêu mà quên tội, ta biến Thánh Giá thành một biểu tượng lãng mạn. Thánh Giá giữ hai sự thật cùng lúc: con người thật sự cần được cứu và Thiên Chúa thật sự muốn cứu con người đến cùng.
Đức Maria, Mẹ của Hội Thánh, giúp chúng ta giữ hai sự thật ấy. Mẹ không che khuất Thánh Giá. Trái lại, mọi hình ảnh chân thật về Mẹ đều dẫn về Con. Mẹ đứng cạnh Thánh Giá, không đứng thay Thánh Giá. Mẹ dẫn chúng ta đến gần trái tim bị đâm thâu của Con. Mẹ dạy chúng ta đừng sợ nhìn vào vết thương của mình dưới ánh sáng của vết thương Đức Kitô. Có những người mang vết thương tuổi thơ. Có người mang vết thương hôn nhân. Có người bị phản bội. Có người bị hiểu lầm. Có người sống với mặc cảm vì lỗi lầm quá khứ. Có người không tha thứ được cho chính mình. Hãy đứng với Mẹ dưới Thánh Giá. Không phải mọi vết thương sẽ biến mất ngay. Nhưng vết thương được đặt cạnh vết thương của Đức Kitô có thể thôi là nơi chỉ sinh cay đắng và trở thành nơi ân sủng đi vào.
Nhìn Mẹ nhận Gioan làm con, chúng ta còn học được rằng đau khổ không nhất thiết phải làm trái tim co lại. Đau khổ có thể khiến một người trở nên cứng cỏi, chỉ nghĩ đến mình. Nhưng nơi Mẹ, đau khổ làm trái tim mở rộng. Trong giờ mất Con, Mẹ lại nhận thêm con. Đây là một phép lạ của ân sủng. Có những người sau khi đau thì trở nên dịu dàng hơn với nỗi đau của người khác. Một người từng mất người thân sẽ biết ngồi cạnh người đang có tang mà không cần nói nhiều. Một người từng thất bại sẽ bớt khinh người đang ngã. Một người từng được tha sẽ dễ tha. Đó là lúc Thánh Giá bắt đầu sinh hoa trái trong đời ta. Không phải khi ta không còn vết thương, mà khi vết thương của ta không còn làm ta khép lại.
“Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.” “Giờ đó” là giờ nào? Là giờ Thánh Giá. Từ “giờ đó”, người môn đệ sống khác. Có những giờ cũng chia đời chúng ta thành trước và sau. Một lần bệnh nặng. Một cái chết. Một cuộc chia tay. Một thất bại. Một lần chạm đến đáy. Ta có thể đi ra khỏi những “giờ” ấy với trái tim cay đắng, hoặc có thể đi ra với một căn nhà có thêm Mẹ. Đau khổ tự nó không làm người ta thánh. Có người đau rồi trở nên dữ hơn. Nhưng đau khổ được sống với Đức Kitô có thể trở thành nơi một đời sống mới được khai sinh. Canvê là bằng chứng.
Có lẽ có người đang đọc những dòng này trong một “giờ Thánh Giá” của riêng mình. Cầu nguyện mãi mà vẫn chưa thấy sáng. Gia đình có chuyện không biết gỡ từ đâu. Thân xác đang mỏi mòn. Một người thân đã đi xa. Một mối tương quan tan vỡ. Một lời vu oan. Một thất bại mà không biết nói với ai. Xin đừng nghĩ Chúa không còn gì để nói chỉ vì Người chưa tháo cây Thánh Giá xuống. Có những lời quý nhất Chúa nói chính từ Thánh Giá. Người có thể không lập tức lấy khổ đau khỏi đời ta, nhưng Người không để ta cô độc trong đó. “Này là Mẹ con.” “Này là con của Bà.” Trong đau khổ, Chúa trao cho ta một cộng đoàn, trao cho ta những con người để ta nương tựa và cũng để ta chăm sóc. Đôi khi ta chỉ muốn Chúa làm phép lạ cất thập giá, nhưng Chúa lại làm một phép lạ khác: biến những người xa lạ thành người thân để cùng nhau vác thập giá.
Đó là lý do một giáo xứ thật sự sống Tin Mừng không chỉ được nhận ra qua ngôi nhà thờ đẹp, phụng vụ trang nghiêm hay các chương trình phong phú, nhưng qua điều đơn giản hơn: trong cộng đoàn ấy, người đau khổ có ai đứng bên không? Người nghèo có bị làm cho xấu hổ không? Người sa ngã có đường trở lại không? Người già có bị quên không? Người trẻ có được lắng nghe không? Người cô đơn có một mái nhà không? Nếu câu trả lời là có, thì lời “Này là con Bà… Này là Mẹ con” đang tiếp tục thành hiện thực.
Và mỗi gia đình Kitô hữu cũng được mời trở thành một “Gioan” biết rước Mẹ về nhà. Không chỉ bằng một bàn thờ Đức Mẹ đẹp, nhưng bằng nếp sống có chỗ cho lời Chúa, cho sự tha thứ, cho kinh nguyện chung, cho người yếu. Nhà nào có Mẹ nhưng vẫn đầy những lời làm đau nhau thì hãy xin Mẹ dạy cách nói. Nhà nào có ảnh Thánh Gia nhưng cha mẹ con cái không nhìn mặt nhau thì hãy xin Mẹ dạy cách ở lại. Nhà nào lần chuỗi nhưng vẫn giữ hận thù thì hãy xin Mẹ dẫn về Thánh Giá. Vì Mẹ không muốn ở trong nhà ta như một món trang trí đạo đức. Mẹ muốn đưa cả căn nhà đến gần Con.
Cuối cùng, có lẽ điều thấm thía nhất của Canvê là: Đức Giêsu chết mà vẫn nghĩ đến người khác. Trong cơn đau cùng cực, Người nhìn thấy Mẹ. Người nhìn thấy môn đệ. Tình yêu thật làm cho người ta vẫn nhìn thấy người khác ngay cả khi mình đau. Còn ích kỷ làm ta chỉ thấy mình dù ta chẳng đau bao nhiêu. Ta hãy tự hỏi: những năm theo Chúa có làm trái tim ta rộng hơn không? Ta có nhìn thấy người khác hơn không? Ta có bớt nhạy cảm với tự ái của mình và nhạy cảm hơn với nước mắt của người bên cạnh không? Nếu càng đạo đức mà càng khó gần, càng cầu nguyện mà càng thích kết án, càng phục vụ mà càng đòi người khác biết ơn, thì có gì đó không đúng. Đứng gần Thánh Giá thật sự phải làm trái tim ta dần giống trái tim Đấng chịu đóng đinh: một trái tim bị mở ra.
Ngày ấy, trên đồi Sọ, người ta tưởng họ đã đóng cửa tương lai của Đức Giêsu bằng một tảng đá sẽ đặt trước mộ. Nhưng trước khi mặt trời lặn, Người đã mở một cánh cửa không bao giờ khép lại: cánh cửa của gia đình cứu độ. “Này là con Bà… Này là Mẹ con.” Từ đó, không người môn đệ nào còn phải bước một mình. Từ đó, Mẹ của Đức Giêsu trở nên Mẹ của những người thuộc về Đức Giêsu. Từ đó, Hội Thánh hiểu mình được sinh ra không từ tham vọng của con người nhưng từ tình yêu bị đóng đinh. Từ đó, mọi Kitô hữu được mời nhìn người bên cạnh không chỉ bằng những tiêu chuẩn tự nhiên nhưng bằng ánh mắt của Người đang chết vì cả hai.
Xin cho Hội Thánh hôm nay luôn nhớ nơi mình được sinh ra. Không phải trong cung điện, nhưng dưới Thánh Giá. Không phải giữa tiếng hoan hô, nhưng giữa nước mắt. Không phải từ quyền lực, nhưng từ một Đấng tự hạ. Không phải bằng bạo lực, nhưng từ hai cánh tay giang rộng. Xin cho Hội Thánh luôn có khuôn mặt của Đức Maria biết đứng bên người đau khổ, có trái tim của người môn đệ biết rước Mẹ vào nhà, có đôi tay của Đức Kitô luôn mở ra đón nhận. Xin cho mỗi cộng đoàn của chúng ta thực sự là một mái nhà nơi người ta có thể nghe, không nhất thiết bằng lời nhưng bằng cách chúng ta sống với nhau, lời trối của Chúa Giêsu: “Này là Mẹ con… này là anh em con… này là người con phải yêu.”
Và nếu một ngày nào đó ta mỏi mệt vì Hội Thánh, tổn thương vì Hội Thánh, thất vọng vì một người trong Hội Thánh, xin đừng đứng xa mà ném đá. Hãy trở về Canvê. Hãy đứng cạnh Mẹ. Hãy nhìn lên Đấng chịu đóng đinh. Hội Thánh chưa bao giờ được chữa lành bằng cách chạy xa Thánh Giá. Hội Thánh chỉ được đổi mới khi trở về dưới Thánh Giá. Ở đó ta sẽ nhớ mình không phải chủ nhân của Hội Thánh. Đức Kitô mới là Chúa. Ta không phải người đã cứu Hội Thánh. Đức Kitô đã đổ máu cho Hội Thánh. Và người anh em làm ta khó chịu kia, người ta định loại khỏi lòng mình kia, cũng là người mà Đức Kitô đã nhìn từ Thánh Giá và nói: “Này là con của Mẹ.”
Xin Mẹ Maria, Mẹ đã đứng bên Thánh Giá, dạy chúng ta biết đứng. Đứng khi đức tin bị thử thách. Đứng khi người mình yêu đau khổ. Đứng khi không thể làm gì ngoài cầu nguyện. Đứng khi Hội Thánh mang thương tích. Đứng mà không cay đắng. Đứng mà không bỏ cuộc. Đứng trong hy vọng. Và xin Mẹ dạy chúng ta biết “rước Mẹ về nhà”, để trong ngôi nhà của tâm hồn, của gia đình, của giáo xứ, của cộng đoàn chúng ta, luôn có một chỗ cho Mẹ và vì có Mẹ, luôn có một con đường dẫn đến Chúa Giêsu.
Bởi cuối cùng, Hội Thánh không được sinh ra lúc người ta mạnh nhất, nhưng lúc Đức Kitô xem ra yếu nhất. Hội Thánh không được sinh ra khi sự chết đã biến mất, nhưng ngay giữa lòng sự chết. Hội Thánh không được sinh ra sau khi mọi đau khổ đã được giải thích, nhưng khi một người Mẹ vẫn đứng trong bóng tối của đức tin. Và chính vì thế, Hội Thánh có thể đi vào mọi bóng tối của nhân loại mà không tuyệt vọng. Vì Hội Thánh biết rằng ở nơi tưởng như chỉ còn cái chết, Thiên Chúa vẫn có thể làm nảy sinh một gia đình. Ở nơi tưởng như chỉ còn mất mát, Người có thể trao một người Mẹ. Ở nơi tưởng như chỉ còn chia lìa, Người có thể nói một lời nối kết đời đời.
“Này là con Bà.”
“Này là Mẹ con.”
Hai lời ngắn ngủi. Một gia đình được khai sinh. Một Hội Thánh được trao ban. Và từ trên Thánh Giá, trái tim của Đấng Cứu Chuộc vẫn tiếp tục mở rộng cho đến tận hôm nay, để bất cứ ai tin vào Người đều có thể bước vào ngôi nhà ấy, gọi Thiên Chúa là Cha, gọi Đức Maria là Mẹ, và gọi những người đã được cứu bằng cùng một dòng Máu là anh chị em của mình.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC MARIA – NGƯỜI ĐẦU TIÊN “SUY TÔN” THÁNH GIÁ BẰNG CẢ CUỘC ĐỜI
Có những người chỉ nhìn thấy Thánh Giá khi Thánh Giá đã được dựng lên trên đồi Canvê. Có những người chỉ gặp Thánh Giá khi đau khổ bất ngờ ập xuống đời mình. Có những người mang Thánh Giá trên cổ, đặt Thánh Giá trên bàn thờ, treo Thánh Giá trong nhà, cúi đầu trước Thánh Giá trong nhà thờ, nhưng phải đi qua rất nhiều năm tháng mới hiểu rằng Thánh Giá không phải chỉ là một vật để kính, càng không phải chỉ là dấu hiệu của đau khổ, mà trước hết là mầu nhiệm của một tình yêu đi đến tận cùng. Riêng Đức Maria thì khác. Mẹ đã sống dưới bóng Thánh Giá từ rất lâu trước khi đôi mắt Mẹ nhìn thấy cây gỗ ấy dựng lên giữa trời chiều Canvê. Có thể nói, ngay từ tiếng “Xin Vâng” ở Nazareth, bóng của Thánh Giá đã âm thầm phủ xuống cuộc đời Mẹ. Và cũng chính từ giây phút đó, Đức Maria đã bắt đầu “suy tôn” Thánh Giá, không phải bằng những lời hùng hồn, không phải bằng những suy tư thần học cao siêu, không phải bằng một nghi lễ long trọng, nhưng bằng chính thân phận của một người nữ hoàn toàn đặt cuộc đời mình trong tay Thiên Chúa. Nếu suy tôn Thánh Giá là nhìn nhận rằng con đường Thiên Chúa cứu thế gian không phải là con đường quyền lực nhưng là con đường tự hiến, không phải là con đường giữ lấy nhưng là con đường trao ban, không phải là con đường tránh né đau khổ bằng mọi giá nhưng là con đường biến đau khổ thành nơi tình yêu được tỏ lộ, thì Đức Maria thực sự là người đầu tiên đã suy tôn Thánh Giá bằng cả cuộc đời mình. Trước khi Hội Thánh hát: “Vinh quang của chúng ta là Thánh Giá Đức Kitô”, Mẹ đã âm thầm sống điều ấy. Trước khi các Tông đồ hiểu rằng Đức Kitô phải chịu đau khổ rồi mới vào trong vinh quang, Mẹ đã bước từng bước trong bóng tối của đức tin. Trước khi Gioan viết về người Mẹ đứng bên Thánh Giá, thì từ Nazareth, Bêlem, Ai Cập, Đền Thờ, Cana cho đến những con đường rao giảng của Chúa Giêsu, Mẹ đã để cho thanh gươm của lời Thiên Chúa đi sâu vào trái tim mình.
Tin Mừng mở cho ta thấy điểm khởi đầu của con đường ấy trong một căn nhà rất nhỏ ở Nazareth. Thiên thần Gabriel đến với một thiếu nữ vô danh giữa một làng quê vô danh và báo cho cô một chương trình vượt quá mọi dự tính của con người: “Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu” (Lc 1,31). Maria bối rối. Maria hỏi. Nhưng sau cùng Maria thưa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Chúng ta thường đọc câu “Xin Vâng” ấy trong ánh sáng dịu dàng của lễ Truyền Tin, giữa hoa huệ, giữa bình an, giữa vẻ đẹp tinh tuyền của một cô gái được Thiên Chúa tuyển chọn. Nhưng nếu đọc câu ấy từ chân Thánh Giá nhìn ngược trở lại, ta sẽ nhận ra: tiếng “Xin Vâng” ở Nazareth đã chứa sẵn tiếng “Xin Vâng” trên Canvê. Mẹ không được cho biết tất cả những gì sẽ xảy ra. Thiên Chúa không trải trước mắt Mẹ một tấm bản đồ rõ ràng của ba mươi ba năm sắp tới. Thiên thần không nói với Mẹ rằng Con của Mẹ sẽ bị người ta khước từ, bị kết án, bị đánh đòn, bị đội mão gai, bị đóng đinh, và chết giữa hai tên trộm. Thiên thần chỉ trao cho Mẹ một lời hứa, và Mẹ trao lại cho Thiên Chúa cả đời mình. Đó chính là đức tin. Đức tin thật không phải là chỉ vâng lời khi đã biết hết mọi hậu quả. Đức tin là trao đời mình cho Thiên Chúa khi chưa biết con đường ngày mai sẽ dẫn đến đâu. Và ở nơi sâu nhất, đó cũng chính là tinh thần của Thánh Giá: “Lạy Cha, xin đừng theo ý Con, một theo ý Cha.” Tiếng “Xin Vâng” của Mẹ ở Nazareth và tiếng vâng phục của Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu thuộc về cùng một dòng chảy của tình yêu. Một bên là Mẹ trao thân phận mình để Ngôi Lời nhập thể. Một bên là Người Con trao mạng sống mình để nhân loại được cứu chuộc. Cả hai đều cho thấy rằng tình yêu đẹp nhất không phải là tình yêu nói: “Xin cho điều con muốn được thực hiện”, mà là tình yêu có thể thưa: “Xin điều Chúa muốn được thực hiện nơi con.”
Và từ tiếng “Xin Vâng” ấy, cuộc đời Mẹ không trở nên dễ dàng hơn. Đây là điều rất đáng để người Kitô hữu chúng ta suy nghĩ. Đôi khi chúng ta tưởng rằng nếu mình thật lòng theo Chúa, cuộc đời phải bớt gian nan; nếu mình cầu nguyện nhiều, những nghịch cảnh phải giảm đi; nếu mình sống tốt, Thiên Chúa phải dọn cho mình một con đường thuận lợi. Đức Maria cho ta một câu trả lời khác. Mẹ càng thuộc về Thiên Chúa, Mẹ càng được đưa sâu hơn vào mầu nhiệm vượt khỏi khả năng hiểu biết của mình. Vừa mang thai Con Thiên Chúa, Mẹ đã đứng trước nguy cơ bị hiểu lầm. Giuse không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Tin Mừng kể rất ngắn: “Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1,19). Đằng sau một câu văn ngắn là cả một vực sâu của cô độc. Maria biết mình trung tín. Maria biết điều đang xảy ra là do quyền năng Thiên Chúa. Nhưng Maria không thể bắt người khác hiểu. Có những Thánh Giá như thế: mình biết lòng mình, Chúa biết lòng mình, nhưng người khác không biết; mình không làm điều xấu, nhưng vẫn bị hiểu lầm; mình muốn giải thích nhưng không thể giải thích hết; mình chỉ còn có thể im lặng và trao danh dự của mình cho Thiên Chúa. Mẹ đã đi qua Thánh Giá của sự hiểu lầm trước khi Mẹ đi đến Thánh Giá Canvê. Và Mẹ không cay đắng. Mẹ không trách móc. Mẹ không biến nỗi đau của mình thành lời kết án người khác. Đó là cách Mẹ suy tôn Thánh Giá: không để đau khổ làm mình trở nên chua chát.
Rồi Bêlem. Đứa trẻ mà thiên thần gọi là “Con Đấng Tối Cao” lại không có một căn phòng để chào đời. “Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ” (Lc 2,7). Máng cỏ đã thấp thoáng hình bóng Thánh Giá. Hang đá và Canvê tưởng chừng rất xa nhau nhưng thực ra nằm trên cùng một con đường. Ở Bêlem, Con Thiên Chúa không có một chỗ xứng đáng để sinh ra. Trên Canvê, Người cũng không có một nơi xứng đáng để chết. Ở Bêlem, thân thể Người được Mẹ lấy khăn bọc lại. Sau Canvê, thân thể Người lại được bọc trong khăn liệm. Ở Bêlem, Người nằm trên gỗ của máng cỏ. Trên Canvê, Người nằm trên gỗ của Thánh Giá. Toàn bộ đời sống Đức Kitô được đánh dấu bởi một sự tự hạ không ngừng, và Đức Maria là người gần nhất với sự tự hạ ấy. Mẹ không yêu một Thiên Chúa của những giấc mơ huy hoàng. Mẹ yêu Thiên Chúa đang nằm trong máng cỏ. Mẹ không đòi hỏi Con mình phải được đối xử tương xứng với phẩm giá của Người. Mẹ đón nhận cách Thiên Chúa muốn đến với thế gian: nhỏ bé, nghèo hèn, lệ thuộc, dễ bị tổn thương. Ai muốn suy tôn Thánh Giá thật sự cũng phải học lại điều này. Chúng ta dễ suy tôn một Thánh Giá dát vàng trên cung thánh; khó hơn nhiều để nhận ra Thánh Giá trong một người nghèo làm phiền ta, trong một bệnh nhân lặp đi lặp lại một câu chuyện, trong một người già yếu chậm chạp, trong một người thân làm ta mệt mỏi, trong những công việc không ai nhìn thấy, trong những hy sinh không ai cảm ơn. Đức Maria không chỉ kính Con Thiên Chúa trong vinh quang; Mẹ đã kính Người trong hình hài của một hài nhi yếu ớt nằm giữa chuồng súc vật. Đó là trường học đầu tiên của Thánh Giá.
Và rồi, chỉ ít lâu sau ngày vui dâng Con trong Đền Thờ, cụ già Simêon cất lên một lời tiên tri mà chắc chắn Mẹ không bao giờ quên: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu bị người đời chống báng… Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà, ngõ hầu những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người phải lộ ra” (Lc 2,34-35). Đó là một trong những câu khắc nghiệt nhất có thể nói với một người mẹ đang ôm con thơ. Không ai muốn nghe rằng tương lai của con mình sẽ bị bao phủ bởi chống đối, đau khổ và một lưỡi gươm. Nhưng Maria không bỏ chạy. Mẹ không nói với Thiên Chúa: “Nếu đây là giá phải trả cho lời Xin Vâng, thì con xin rút lại.” Mẹ ôm Con và ôm luôn lời tiên báo. Từ hôm ấy, mỗi khi nhìn Con lớn lên, có lẽ đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn Mẹ vẫn còn tiếng của Simêon: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.” Điều đau nhất của một người mẹ không phải là mình đau, nhưng là biết người mình yêu sẽ đau mà mình không thể ngăn được. Có những vết thương chúng ta có thể chịu thay người khác; nhưng có những vết thương chúng ta chỉ có thể đứng bên cạnh mà nhìn họ đi qua. Đức Maria sẽ phải học tình yêu ấy: tình yêu không chiếm hữu, tình yêu không kiểm soát, tình yêu không giữ người mình yêu lại cho riêng mình.
Thánh Giá kế tiếp đến rất nhanh: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập” (Mt 2,13). Đang đêm phải lên đường. Không chuẩn bị. Không hành lý đầy đủ. Không biết bao giờ trở về. Gia đình Thánh trở thành những người tị nạn. Mẹ ôm Con chạy khỏi bàn tay của một bạo vương muốn giết trẻ thơ. Chúng ta đôi khi tô màu đời sống Thánh Gia bằng những gam màu quá êm đềm đến nỗi quên rằng đó là một gia đình đã biết thế nào là bất an, thiếu thốn, di cư, xa quê và sợ hãi. Maria không sống một đời đạo đức tách khỏi những bi kịch của nhân loại. Mẹ đã bước vào chính những bi kịch ấy. Mẹ biết thế nào là không có chỗ trọ. Mẹ biết thế nào là phải chạy trốn. Mẹ biết thế nào là sống trên đất khách. Mẹ biết thế nào là không biết ngày mai. Và chính trong tất cả những điều ấy, Mẹ giữ Con Thiên Chúa trong vòng tay mình. Một hình ảnh rất đẹp cho đời sống đức tin: cuộc đời có thể rung chuyển, đường đi có thể mù mịt, tương lai có thể bất định, nhưng điều quan trọng là đừng đánh mất Chúa. Người có Chúa trong lòng có thể chưa biết ngày mai mình ở đâu, nhưng vẫn biết mình thuộc về ai.
Rồi đến biến cố lạc mất Chúa Giêsu năm mười hai tuổi. Ba ngày tìm Con. Ba ngày không biết Con ở đâu. Ba ngày của một người mẹ đi qua nỗi hoảng loạn khủng khiếp nhất. Khi tìm thấy Người trong Đền Thờ, Mẹ nói một câu rất người: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” (Lc 2,48). Chúa Giêsu trả lời: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” Tin Mừng lập tức thêm một chi tiết quan trọng: “Nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói” (Lc 2,50). Maria không hiểu. Đây là câu chúng ta cần giữ thật lâu. Mẹ đầy ân sủng nhưng không có nghĩa là Mẹ được miễn khỏi bóng tối của đức tin. Có những lời của Thiên Chúa Mẹ cũng không hiểu ngay. Có những hành động của Con Mẹ cũng phải cưu mang trong thinh lặng. Và Tin Mừng nói: “Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2,51). Không hiểu nhưng không bỏ. Không hiểu nhưng vẫn tin. Không hiểu nhưng tiếp tục giữ lời trong lòng cho đến ngày ánh sáng đến. Đây là một trong những hình thức tinh tuyền nhất của việc suy tôn Thánh Giá. Bởi vì Thánh Giá cũng là nơi con người không hiểu Thiên Chúa. “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá!” Lý trí tự nhiên nói như vậy. Nếu Thiên Chúa quyền năng, tại sao Người không giải thoát Con mình? Nếu Chúa yêu tôi, tại sao điều này xảy ra? Nếu Chúa nghe lời cầu nguyện, tại sao im lặng? Có những lúc đời ta đứng trước những câu hỏi không có câu trả lời tức thì. Khi ấy Đức Maria dạy ta một điều tưởng nhỏ mà rất khó: đừng vứt bỏ điều mình chưa hiểu. Hãy giữ nó trong lòng trước mặt Thiên Chúa.
Những năm Nazareth sau đó là những năm âm thầm. Ba mươi năm. Không phép lạ công khai. Không đám đông tung hô. Không những bài giảng vang dội. Chỉ có căn nhà, công việc, bữa cơm, lời kinh, những ngày bình thường nối tiếp những ngày bình thường. Chính ở đây Đức Maria lại suy tôn Thánh Giá theo một cách khác: Thánh Giá của sự âm thầm. Người đời thích những điều lớn lao, thích được nhìn thấy, thích thành quả tức thì. Thiên Chúa thì dành phần lớn cuộc đời trần thế của Con mình cho một đời sống ẩn dật. Và Maria sống trọn vẹn thời gian ấy. Mẹ không thúc Chúa Giêsu: “Con là Đấng Messia, sao còn ở nhà? Sao không ra làm điều lớn lao?” Mẹ để thời gian của Thiên Chúa là thời gian của Thiên Chúa. Điều này không dễ. Nhiều người chịu được một đau khổ lớn trong thời gian ngắn nhưng lại không chịu nổi sự đơn điệu kéo dài. Nhiều người có thể hy sinh trong một biến cố đặc biệt nhưng lại mỏi mệt với bổn phận nhỏ bé lặp đi lặp lại mỗi ngày. Thánh Giá không phải lúc nào cũng có đinh và máu. Có những Thánh Giá mang hình dáng của một căn bếp, một chiếc giường bệnh, một văn phòng, một lớp học, một cộng đoàn, một bổn phận phải làm suốt nhiều năm mà chẳng ai biết. Đức Maria thánh hóa những ngày tầm thường bằng tình yêu phi thường. Và đó là một lời nhắc cho chúng ta: phần lớn đời sống nên thánh không diễn ra trong những biến cố ngoạn mục; nó diễn ra trong cách ta làm điều bình thường với một trái tim thuộc về Thiên Chúa.
Đến Cana, ta lại gặp Mẹ trong một tư thế thật đẹp. Tiệc cưới hết rượu. Maria nhận ra trước khi người khác nhận ra. “Họ hết rượu rồi” (Ga 2,3). Và khi Chúa Giêsu nói: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến”, Mẹ không tranh luận. Mẹ chỉ quay sang những người phục vụ và nói: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5). Câu nói ấy là tất cả linh đạo của Đức Maria. Mẹ không dẫn người ta về phía mình. Mẹ dẫn người ta đến Chúa Giêsu. Mẹ không nói: “Hãy nghe tôi.” Mẹ nói: “Hãy nghe Người.” Và đáng chú ý hơn, trong Tin Mừng Gioan, “Giờ” của Chúa Giêsu cuối cùng chính là giờ Thánh Giá và vinh quang. Cana đã hướng về Canvê. Rượu ngon của tiệc cưới hướng về máu Giao Ước mới. Người phụ nữ ở Cana sẽ lại được Chúa gọi là “Bà” dưới chân Thánh Giá. Khởi đầu các dấu lạ và hoàn tất “Giờ” của Chúa được nối với nhau qua sự hiện diện âm thầm của Mẹ. Maria không chỉ ở đó khi phép lạ biến nước thành rượu làm mọi người vui mừng; Mẹ cũng sẽ ở đó khi nước và máu từ cạnh sườn Con chảy xuống trên đồi tử nạn. Đức tin trưởng thành không phải là chỉ theo Chúa từ Cana đến những bữa tiệc, mà còn theo Người từ Cana đến Canvê.
Rồi Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng. Đám đông kéo đến. Người chữa bệnh, trừ quỷ, giảng dạy. Có người ca tụng nhưng cũng có người chống đối. Người thân có lúc không hiểu Người. Các kinh sư cho rằng Người bị quỷ ám. Những căng thẳng tăng dần. Maria nhìn Con mình đi vào con đường sẽ dẫn đến Giêrusalem. Mẹ không giữ Con lại. Đây có lẽ là một trong những cuộc từ bỏ sâu nhất của Mẹ. Con không còn thuộc về mái nhà Nazareth. Con thuộc về sứ mạng của Chúa Cha và thuộc về tất cả mọi người. Đối với một người mẹ, yêu một đứa con và đồng thời để con đi con đường Thiên Chúa dành cho con là một hình thức đóng đinh rất thật. Tình yêu tự nhiên muốn giữ. Tình yêu được thanh luyện biết trao. Mẹ trao Con cho Chúa Cha từ ngày dâng Người trong Đền Thờ, nhưng việc dâng hiến ấy phải được lặp lại trong từng giai đoạn của cuộc đời. Và cuối cùng, trên Canvê, Mẹ sẽ phải trao Người một lần nữa, lần đau đớn nhất.
Tin Mừng Gioan đưa chúng ta đến giờ ấy bằng những lời rất ít nhưng nặng hơn mọi tiếng khóc: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,25-27). Tin Mừng không nói Mẹ ngất đi. Không nói Mẹ kêu gào. Không nói Mẹ nguyền rủa những kẻ đóng đinh Con mình. Chỉ có một động từ: đứng. “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người.” Mẹ đứng. Đó là tư thế của đức tin. Thân xác Mẹ có thể tan nát bên trong, trái tim Mẹ có thể bị lưỡi gươm của Simêon đâm xuyên, mọi hy vọng theo cách hiểu của con người dường như sụp đổ, nhưng Mẹ vẫn đứng. Có lẽ không có bài giảng nào về Thánh Giá hùng hồn bằng sự hiện diện ấy.
Mẹ đã nhìn thấy gì trên Canvê? Người Con mà thiên thần nói sẽ “nên cao cả và được gọi là Con Đấng Tối Cao” giờ bị treo giữa những kẻ phạm tội. Người mà thiên thần nói “Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít” giờ ngai của Người là một cây gỗ. Triều thiên của Người là mão gai. Áo Người bị chia cho quân lính. Thần dân Người chế nhạo Người. Bản án treo trên đầu: “Giêsu Nazareth, Vua dân Do Thái.” Những lời hứa ngày Truyền Tin dường như mâu thuẫn hoàn toàn với điều Mẹ đang nhìn thấy. Đây là đêm tối của đức tin. Không chỉ là đau vì Con đau, mà còn là thử thách của niềm tin vào lời Thiên Chúa. Thiên thần nói Con sẽ trị vì. Nhưng Con đang chết. Thiên thần nói triều đại Người vô cùng vô tận. Nhưng vài giờ nữa thân xác Người sẽ được đặt trong mồ. Làm sao nối lời hứa với hiện thực? Mẹ không được trao một lời giải thích. Mẹ chỉ được mời đứng đó và tin.
Và chính nơi đây, Đức Maria trở thành người đầu tiên suy tôn Thánh Giá cách trọn vẹn nhất. Bởi suy tôn Thánh Giá không phải là vui thích trước đau khổ. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Thiên Chúa không vui khi thấy con người đau. Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu cũng đã cầu xin: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Điều Kitô giáo suy tôn không phải là những chiếc đinh, không phải là đòn roi, không phải là sự tàn bạo của con người. Chúng ta suy tôn tình yêu đã không chịu đầu hàng trước những chiếc đinh. Chúng ta suy tôn Đấng khi bị đóng đinh vẫn tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Chúng ta suy tôn Đấng trong lúc bị tước đoạt mọi sự vẫn còn trao ban thiên đàng cho người trộm thống hối. Chúng ta suy tôn Đấng khi gần chết vẫn nghĩ đến Mẹ và người môn đệ. Chúng ta suy tôn tình yêu mạnh hơn hận thù, sự tha thứ mạnh hơn tội lỗi, sự sống mạnh hơn sự chết. Và Maria đứng đó, không ngăn được Thánh Giá, nhưng Mẹ hiệp thông với tình yêu của Con. Mẹ không thêm gì vào hy tế cứu chuộc duy nhất của Đức Kitô, nhưng Mẹ để toàn thể hữu thể mình được cuốn vào lời tự hiến của Người. Con thưa với Cha: “Con phó thác hồn con trong tay Cha.” Và bằng sự thinh lặng của mình, Mẹ cũng như thưa: “Con xin phó thác Con của con trong tay Cha.”
Có một điều đặc biệt đau đớn nhưng cũng vô cùng đẹp trong đoạn Tin Mừng ấy. Khi gần chết, Chúa Giêsu nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Mẹ mất Người Con duy nhất, và ngay trong giờ mất mát, Mẹ lại được trao thêm những người con. Đây chính là logic của Thánh Giá: mất để nhận theo một cách mới; chết để sinh hoa trái; bị lấy đi nhưng đồng thời được mở rộng. Ở Nazareth, Maria là Mẹ Chúa Giêsu. Dưới chân Thánh Giá, tình mẫu tử của Mẹ được mở ra cho người môn đệ và, trong người môn đệ ấy, cho tất cả chúng ta. Thánh Giá không làm trái tim Mẹ khép lại. Nó làm trái tim ấy rộng ra. Đây là phép lạ lớn mà Thánh Giá thực hiện nơi một con người khi người ấy đón nhận Thánh Giá bằng tình yêu. Đau khổ tự nó có thể làm ta cay đắng, khép kín, nghi ngờ, chỉ còn nghĩ đến vết thương của mình. Nhưng khi đau khổ được kết hợp với tình yêu Đức Kitô, nó có thể làm trái tim ta sâu hơn, dịu hơn, biết cảm thông hơn. Một người từng khóc thật nhiều có thể học cách lau nước mắt cho người khác. Một người từng bị bỏ rơi có thể trở nên nơi nương tựa cho người cô đơn. Một người từng đi qua đêm tối có thể cầm đèn cho người đang mất phương hướng. Maria mất Con nhưng trở thành Mẹ của một đoàn con đông đảo. Đó là hoa trái của Thánh Giá.
Và ta có thể hình dung giờ hạ xác đau đến mức nào. Tin Mừng không mô tả Mẹ ôm xác Chúa Giêsu như nghệ thuật Kitô giáo sau này thường diễn tả trong hình tượng Pietà, nhưng hình ảnh ấy đã đi sâu vào trái tim Hội Thánh bởi nó nói lên điều hoàn toàn phù hợp với hành trình của Mẹ. Đôi tay từng bồng Hài Nhi tại Bêlem giờ đón một thân xác đầy thương tích. Đôi tay từng tắm rửa cho Người khi còn bé giờ chạm vào những dấu đinh. Khuôn mặt Mẹ từng cúi xuống chiếc nôi giờ cúi xuống một khuôn mặt không còn sự sống. Bêlem và Canvê gặp nhau. Khởi đầu và kết thúc gặp nhau. Nhưng nếu chỉ dừng tại đó, chúng ta sẽ biến Maria thành Mẹ của một bi kịch. Đức tin của Mẹ không dừng ở chiều thứ Sáu. Mẹ bước vào thứ Bảy Thánh.
Thứ Bảy Thánh có lẽ là ngày Đức Maria suy tôn Thánh Giá trong hình thức tinh tuyền nhất: không còn gì để thấy. Thứ Sáu còn có Chúa trên Thánh Giá. Chúa Nhật sẽ có ngôi mộ trống. Nhưng thứ Bảy chỉ có thinh lặng. Con đã chết. Mộ đã đóng. Các môn đệ tan tác. Những lời hứa dường như chìm trong bóng tối. Mẹ phải sống bằng ký ức của Lời. Hội Thánh từ lâu nhìn Đức Maria như người giữ ngọn lửa đức tin trong khoảng thinh lặng giữa Thánh Giá và Phục Sinh. Đó là một hình ảnh vô cùng quý giá cho những ai đang sống “thứ Bảy Thánh” của đời mình: khi cầu nguyện mà chưa thấy câu trả lời, khi mất một người mà chưa thể nguôi ngoai, khi một cánh cửa đóng lại mà chưa thấy cánh cửa khác mở ra, khi ta biết Chúa có thật nhưng lòng không cảm được sự hiện diện của Người. Những ngày ấy, ta hãy đến ngồi cạnh Đức Maria. Mẹ biết thế nào là tin khi chẳng còn gì để bám vào ngoài lời Thiên Chúa.
Vì vậy, khi nói Đức Maria là người đầu tiên “suy tôn” Thánh Giá, không có nghĩa Mẹ đi tìm đau khổ. Mẹ không đi tìm Thánh Giá; Mẹ đi tìm thánh ý Thiên Chúa, và có những lúc thánh ý ấy đi ngang qua Thánh Giá. Đây là phân biệt vô cùng cần thiết. Kitô hữu không được phép biến đau khổ thành một thứ lý tưởng bệnh hoạn. Không ai phải tạo Thánh Giá cho mình hay cho người khác. Không người chồng nào có quyền làm khổ vợ rồi nói đó là “Thánh Giá Chúa gửi”. Không người vợ nào có quyền gây tổn thương cho chồng rồi bảo phải “vác thập giá”. Không ai được bao che bạo lực, bất công, lạm dụng bằng ngôn ngữ đạo đức. Chúa Giêsu không tạo ra Thánh Giá; tội lỗi con người tạo ra nó. Điều Thiên Chúa làm là bước vào nơi tội lỗi đã dựng nên, và biến dụng cụ giết người thành cây cứu độ. Đức Maria cũng vậy. Mẹ không yêu đau khổ; Mẹ yêu Thiên Chúa. Và vì yêu Thiên Chúa, Mẹ không bỏ Người khi đau khổ đến.
Đây có lẽ là điều thế giới hôm nay cần học lại nơi Mẹ. Chúng ta đang sống trong một nền văn hóa rất sợ đau. Hầu như mọi thứ đều được tổ chức để giảm khó chịu, tăng tiện nghi, đáp ứng tức thời. Không có gì sai khi con người tìm cách chữa bệnh, giảm khổ, nâng cao chất lượng cuộc sống. Đó là điều tốt. Nhưng nguy hiểm bắt đầu khi chúng ta tin rằng bất cứ điều gì làm mình khó chịu đều phải bị loại bỏ; bất cứ tương quan nào đòi hy sinh đều đáng từ bỏ; bất cứ trách nhiệm nào làm mình mệt đều có thể buông xuống; bất cứ người nào không còn mang lại cho mình cảm xúc tích cực đều có thể bị gạt ra ngoài. Khi ấy, ta có thể có một cuộc đời rất tiện nghi nhưng một trái tim rất nhỏ. Bởi tình yêu thật luôn có giá. Làm cha mẹ có giá. Giữ lòng chung thủy có giá. Tha thứ có giá. Chăm sóc người già có giá. Sống trung thực có giá. Theo Chúa có giá. Đức Maria cho ta thấy một tình yêu không đo bằng cảm xúc dễ chịu nhưng bằng khả năng ở lại.
Ở lại. Hai chữ ấy tóm tắt cả đời Mẹ. Mẹ ở lại với lời Chúa khi chưa hiểu. Mẹ ở lại với Giuse trong nghèo khó. Mẹ ở lại bên Con ở Nazareth. Mẹ ở lại khi Con ra đi rao giảng. Mẹ ở lại khi đám đông tung hô. Mẹ ở lại khi đám đông bỏ đi. Mẹ ở lại khi các môn đệ chạy trốn. Và cuối cùng, Mẹ ở lại dưới chân Thánh Giá. Tình yêu sâu nhất không phải lúc nào cũng biết phải nói gì; nhiều khi nó chỉ biết ở lại. Có những người bệnh không cần chúng ta giải thích tại sao họ bệnh; họ cần một người ngồi cạnh. Có người đang tang chế không cần nghe hàng chục câu đạo đức; họ cần một bàn tay không bỏ họ. Có người đang khủng hoảng không cần bài giảng; họ cần một người không sợ bóng tối của họ. Maria không tháo được đinh khỏi tay Chúa Giêsu. Mẹ không làm quân lính dừng lại. Mẹ không ngăn được cái chết. Nhưng Mẹ cho Con một điều mà trong giờ ấy rất ít người cho Người: sự hiện diện trung tín. Đừng coi thường sự hiện diện. Đôi khi không thể cứu người ta khỏi Thánh Giá, nhưng ta có thể làm cho họ không phải chịu Thánh Giá một mình.
Cũng từ đây ta hiểu tại sao đời sống Đức Maria không thể tách khỏi mầu nhiệm Thánh Giá. Mẹ không chỉ là Đức Mẹ của tháng Hoa, của những bài thánh ca dịu dàng, của những cuộc rước đông người. Mẹ còn là Đức Mẹ của những đêm mất ngủ bên giường bệnh, của những bà mẹ khóc vì con, của những người vợ chờ chồng trở về, của những người sống đời tận hiến trải qua khô khan, của những linh mục có lúc cô đơn với sứ vụ, của những gia đình mang vết thương không ai biết, của những người đang chống chọi với thất bại, của những ai đã cầu nguyện rất lâu mà câu trả lời vẫn im lặng. Mẹ hiểu những điều ấy không phải bằng lý thuyết nhưng bằng trái tim đã bị đâm thâu.
Có lẽ nhiều lần chúng ta hỏi: “Tại sao Chúa không cất Thánh Giá này khỏi đời con?” Và ta mong Đức Mẹ cầu để khó khăn biến mất. Ta có quyền cầu như vậy. Chính Chúa Giêsu cũng cầu xin chén đắng qua khỏi. Nhưng ta cũng cần xin một ơn sâu hơn: “Lạy Mẹ, nếu Thánh Giá chưa được cất đi, xin dạy con đứng bên nó như Mẹ.” Bởi có những hoàn cảnh không thể thay đổi ngay, nhưng trái tim ta có thể được biến đổi. Có những nỗi đau không biến mất, nhưng có thể trở thành nơi tình yêu lớn lên. Có những mất mát không thể lấy lại, nhưng người chịu mất mát có thể trở thành một con người mới. Đây là mầu nhiệm Phục Sinh ẩn trong Thánh Giá.
Đức Maria cũng dạy ta rằng muốn suy tôn Thánh Giá thì phải từ bỏ một ảo tưởng rất lớn: ảo tưởng kiểm soát. Mẹ không kiểm soát đời Con. Mẹ không quyết định khi nào Con làm phép lạ. Mẹ không quyết định Người phải được dân chúng hiểu. Mẹ không thể ngăn Giuđa phản bội, Phêrô chối Thầy, Philatô kết án hay đám đông la hét. Mẹ không kiểm soát được biến cố nhưng Mẹ tự do chọn cách mình hiện diện trong biến cố. Đây là tự do mà không ai lấy khỏi ta được. Chúng ta không thể kiểm soát mọi điều người khác nói về mình, nhưng có thể chọn không trả thù. Ta không kiểm soát được mọi biến cố, nhưng có thể chọn giữ lòng trung tín. Ta không ngăn được tất cả bệnh tật, tuổi già, chia ly và cái chết, nhưng có thể chọn để những điều ấy đưa mình gần Chúa hơn thay vì xa Chúa. Đức Maria không làm chủ hoàn cảnh; Mẹ để Thiên Chúa làm chủ đời Mẹ.
Suy tôn Thánh Giá như Đức Maria còn có nghĩa là không đặt bản thân mình ở trung tâm. Hãy nhìn Mẹ trong Tin Mừng: Mẹ nói rất ít. Và mỗi lần xuất hiện, ánh nhìn luôn hướng về Thiên Chúa hoặc về người khác. Trong Magnificat: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa.” Ở Cana: “Họ hết rượu rồi.” Với gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ làm theo.” Dưới chân Thánh Giá, Mẹ thậm chí không nói một lời nào được Tin Mừng ghi lại. Người suy tôn Thánh Giá thật sự cũng dần dần ra khỏi cái tôi. Bởi Thánh Giá là cái chết của ích kỷ. Hai thanh gỗ cắt nhau như một lời nhắc: đời sống không chỉ có chiều ngang của những điều ta muốn cho mình, nhưng có chiều dọc nối ta với Thiên Chúa. Và ngay giữa nơi hai chiều ấy gặp nhau là trái tim Đức Kitô bị đâm thâu, một trái tim hoàn toàn dành cho Cha và hoàn toàn dành cho nhân loại.
Chúng ta rất dễ biến Thánh Giá thành đồ trang sức trong khi né tránh logic của Thánh Giá trong đời sống. Ta đeo Thánh Giá nhưng không chịu mất phần mình. Ta hôn Thánh Giá nhưng không muốn tha thứ. Ta quỳ trước Thánh Giá nhưng vẫn giữ hận thù. Ta hát về Thánh Giá nhưng sống chỉ để tìm tiện nghi. Ta kính Đức Mẹ Sầu Bi nhưng không chịu đứng cạnh một người đang đau. Nếu như thế, Thánh Giá vẫn ở bên ngoài đời ta. Đức Maria thì không đeo Thánh Giá trên cổ; Mẹ để Thánh Giá đi xuyên qua trái tim. Có lẽ đó là lý do Mẹ có thể dẫn chúng ta đến gần Thánh Giá hơn bất cứ ai. Mẹ không giảng giải về Thánh Giá. Mẹ sống Thánh Giá.
Nhưng điều kỳ diệu là Thánh Giá không có tiếng nói cuối cùng. Nếu cuộc đời Đức Maria chỉ dừng dưới chân Canvê, Kitô giáo sẽ chỉ còn là câu chuyện của một người mẹ mất con. Nhưng người Con ấy đã sống lại. Và lúc ấy tất cả những gì Mẹ đã giữ trong lòng bắt đầu được soi sáng. Lời thiên thần không sai. Ngai vàng của Người thực sự vô tận, chỉ có điều ngai ấy khác hẳn mọi ngai vàng trần thế. Vương quyền của Người thực sự trường tồn, nhưng được khai mở qua tự hiến. Thánh Giá tưởng là thất bại lại trở thành chiến thắng. Ngôi mộ tưởng là dấu chấm hết lại trở thành cửa ngõ sự sống. Đức Maria đã không được miễn khỏi chiều thứ Sáu để đến thẳng Chúa Nhật. Mẹ đi qua đêm tối. Và bởi vậy, Mẹ có thể dạy ta hy vọng mà không hời hợt.
Niềm hy vọng Kitô giáo không nói: “Mọi việc rồi sẽ ổn” theo một nghĩa dễ dãi. Có những việc trên đời này không “ổn” theo mong muốn của chúng ta. Có người chúng ta yêu rồi vẫn phải chết. Có cơ hội đã mất sẽ không trở lại. Có vết thương để lại dấu sẹo suốt đời. Hy vọng Kitô giáo nói một điều sâu hơn: không một đau khổ nào được trao vào tay Thiên Chúa lại vô nghĩa; không một giọt nước mắt nào yêu thương mà Thiên Chúa không biết; không một Thánh Giá nào kết hợp với Thánh Giá Đức Kitô mà không mang trong nó mầm Phục Sinh. Maria tin điều đó trước khi nhìn thấy điều đó.
Có một câu hỏi mỗi người chúng ta nên tự đặt: Thánh Giá hiện nay của tôi là gì? Đừng tìm một điều quá xa xôi. Có thể là một người tôi khó yêu. Có thể là tuổi già. Có thể là một căn bệnh. Có thể là công việc âm thầm. Có thể là một người con làm mình đau. Có thể là hôn nhân đang cần rất nhiều nhẫn nại. Có thể là đời tu đi qua mùa khô hạn. Có thể là sứ vụ mà kết quả chẳng như mong đợi. Có thể là một lời hiểu lầm chưa được giải oan. Có thể là một sự cô độc không thể nói với ai. Có thể chỉ là mỗi sáng thức dậy và tiếp tục sống trung thành trong một hoàn cảnh mình không chọn. Ta không cần yêu Thánh Giá vì nó đau. Nhưng ta có thể yêu Chúa đang ở trên Thánh Giá ấy với ta. Và đó là khác biệt.
Khi nhìn Đức Maria dưới chân Thánh Giá, xin đừng chỉ thương Mẹ. Hãy học Mẹ. Học cách đứng mà không chạy trốn. Học cách im lặng mà không tuyệt vọng. Học cách khóc mà không mất đức tin. Học cách mất mà không khép lòng. Học cách để Thiên Chúa có quyền viết những chương mình chưa hiểu. Học cách nói “Xin Vâng” không chỉ ở Nazareth khi thiên thần hiện đến, mà còn trên Canvê khi trời tối và chẳng còn thiên thần nào xuất hiện. Tiếng Xin Vâng ở Nazareth rất đẹp, nhưng tiếng Xin Vâng không lời trên Canvê mới cho thấy chiều sâu của tiếng Xin Vâng ban đầu. Nói Xin Vâng khi đầy ánh sáng là một ân sủng. Giữ lời Xin Vâng khi ánh sáng tắt đi mới là sự trưởng thành của đức tin.
Có lẽ chính đây là điều Đức Maria muốn nói với Hội Thánh hôm nay. Đừng chỉ dựng Thánh Giá thật cao trên tháp chuông; hãy để tinh thần Thánh Giá đi thật sâu vào đời sống. Một Hội Thánh suy tôn Thánh Giá phải là Hội Thánh biết cúi xuống. Một cộng đoàn suy tôn Thánh Giá phải là cộng đoàn biết chịu phần thiệt để bảo vệ người yếu thế. Một linh mục suy tôn Thánh Giá không thể chỉ giảng về hy sinh mà phải biết tiêu hao đời mình cho đoàn chiên. Một người sống đời thánh hiến suy tôn Thánh Giá không chỉ bằng chiếc Thánh Giá đeo trên ngực mà bằng lòng trung thành âm thầm trong những ngày không ai vỗ tay. Một gia đình suy tôn Thánh Giá bằng cách tha thứ cho nhau nhiều hơn là kết án nhau. Một người Kitô hữu suy tôn Thánh Giá bằng cách chọn sự thật khi nói dối có lợi hơn, chọn chung thủy khi phản bội dễ hơn, chọn phục vụ khi ích kỷ hấp dẫn hơn, chọn yêu thương ngay cả khi tình yêu có giá.
Và cũng hãy nhớ: dưới chân Thánh Giá, Đức Maria không đứng một mình. Có người môn đệ Chúa yêu. Có những người phụ nữ. Nghĩa là Thánh Giá không phải là lời mời chúng ta cô lập mình. Người Kitô hữu vác Thánh Giá trong Hội Thánh và cùng Hội Thánh. Có những lúc ta cần Simon thành Kyrênê giúp vác. Có lúc ta cần một Veronica lau mặt. Có lúc ta cần Gioan đứng cạnh. Có lúc ta cần Maria chỉ đơn giản hiện diện. Đừng thần thánh hóa sự cô độc. Ngay cả Chúa Giêsu cũng đón nhận sự hiện diện của người khác trên con đường khổ nạn. Và ngay dưới chân Thánh Giá, Người đã tạo nên một gia đình mới: “Đây là mẹ của anh… đây là con của Bà.” Thánh Giá không chỉ cứu từng cá nhân; Thánh Giá tạo nên hiệp thông.
Khi đời chúng ta gặp đau khổ, cám dỗ thường là hỏi: “Tôi đã làm gì để phải chịu điều này?” Có những lúc câu hỏi ấy có ý nghĩa, vì hậu quả của những lựa chọn sai cần được nhìn nhận. Nhưng có vô số đau khổ không thể giải thích theo logic thưởng-phạt đơn giản. Đức Maria vô nhiễm mà vẫn chịu đau. Chúa Giêsu vô tội mà vẫn bị đóng đinh. Thánh Giá phá vỡ một thứ thần học quá đơn giản cho rằng hễ tốt thì phải luôn thuận lợi, hễ khổ thì chắc đã làm điều sai. Người tốt vẫn có thể khóc. Người công chính vẫn có thể bị hiểu lầm. Người cầu nguyện vẫn có thể bệnh. Người thuộc về Chúa vẫn có thể trải qua đêm tối. Điều làm nên sự khác biệt không phải người có đức tin thì không đau, nhưng là họ không đau một mình và đau khổ không còn có quyền định nghĩa toàn bộ cuộc đời họ.
Maria không được định nghĩa bởi lưỡi gươm. Mẹ được định nghĩa bởi tình yêu. Chúa Giêsu không được định nghĩa bởi những chiếc đinh. Người được định nghĩa bởi tình yêu. Và chúng ta cũng vậy. Đừng để vết thương trở thành căn tính của mình. Bạn có thể đã bị phản bội, nhưng bạn không chỉ là “người bị phản bội”. Bạn có thể đã mất mát, nhưng bạn không chỉ là “người mất mát”. Bạn có thể đã thất bại, nhưng bạn không phải là “một thất bại”. Đức Maria mang một trái tim bị đâm thâu, nhưng trái tim ấy vẫn là trái tim của người “đầy ân sủng”. Vết thương không hủy bỏ ân sủng. Thánh Giá không hủy bỏ lời hứa. Chiều thứ Sáu không hủy bỏ Chúa Nhật.
Và cuối cùng, nếu muốn hiểu Đức Maria đã “suy tôn” Thánh Giá thế nào, có lẽ chỉ cần đặt cạnh nhau hai câu Tin Mừng. Câu thứ nhất ở Nazareth: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Câu thứ hai ở Canvê không phải là lời Mẹ nói mà là hình ảnh Tin Mừng ghi: “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người.” Giữa hai câu ấy là cả một đời người. Maria đã nói “Xin Vâng”, rồi Mẹ dành cả cuộc đời để không rút lại lời ấy. Đó là sự thánh thiện. Không phải nói một lời đẹp trong một khoảnh khắc cảm động, mà là trung thành với lời ấy qua năm tháng. Không phải chỉ dâng mình trong ngày lễ, mà là tiếp tục dâng mình trong những ngày thường. Không phải chỉ yêu Chúa khi Bêlem có tiếng thiên thần hát, mà còn yêu Chúa khi Canvê chỉ còn tiếng chế nhạo. Không phải chỉ tin khi phép lạ Cana xảy ra, mà còn tin khi chẳng có phép lạ nào đưa Con xuống khỏi Thánh Giá.
Đức Maria đã suy tôn Thánh Giá bằng cách ấy. Mẹ suy tôn Thánh Giá khi nói Xin Vâng. Mẹ suy tôn Thánh Giá khi chấp nhận bị hiểu lầm. Mẹ suy tôn Thánh Giá trong cảnh nghèo Bêlem. Mẹ suy tôn Thánh Giá trên đường trốn sang Ai Cập. Mẹ suy tôn Thánh Giá khi nghe lưỡi gươm được báo trước. Mẹ suy tôn Thánh Giá trong ba ngày tìm Con. Mẹ suy tôn Thánh Giá trong ba mươi năm sống âm thầm. Mẹ suy tôn Thánh Giá khi để Con rời Nazareth. Mẹ suy tôn Thánh Giá khi đi theo Con trong sứ vụ mà không chiếm chỗ của Con. Mẹ suy tôn Thánh Giá khi đứng dưới chân Thập Giá. Mẹ suy tôn Thánh Giá khi đón nhận Gioan làm con ngay lúc trái tim mình bị lấy mất Người Con duy nhất. Mẹ suy tôn Thánh Giá trong thinh lặng của thứ Bảy. Và Mẹ suy tôn Thánh Giá khi tin rằng tình yêu của Thiên Chúa mạnh hơn ngôi mộ.
Xin Mẹ dạy chúng ta đừng chỉ suy tôn Thánh Giá bằng môi miệng mà bằng cuộc đời. Đừng chỉ hôn Thánh Giá trong phụng vụ rồi trở về nhà sống ích kỷ. Đừng chỉ cúi đầu trước Đấng chịu đóng đinh rồi quay lưng với những người đang bị đóng đinh quanh mình. Đừng chỉ ca tụng sự hy sinh của Chúa mà luôn bắt người khác hy sinh cho mình. Đừng chỉ nói “ý Cha thể hiện” khi điều xảy ra đúng ý mình. Xin Mẹ dạy chúng ta một tiếng Xin Vâng có chiều sâu, một đức tin biết đứng vững, một tình yêu biết ở lại, một niềm hy vọng không cần nhìn thấy trước kết quả.
Và những khi Thánh Giá đời ta nặng quá, xin cho ta nhớ rằng dưới chân mọi Thánh Giá được mang trong đức tin, luôn có một người Mẹ. Mẹ không hứa sẽ làm mọi Thánh Giá biến mất. Mẹ làm điều Mẹ đã làm trên Canvê: Mẹ đứng đó. Mẹ đứng cạnh Con Mẹ và Mẹ đứng cạnh những người con được trao cho Mẹ. Có những lúc chỉ cần biết Mẹ đứng đó cũng đủ để ta can đảm thêm một ngày. Có những lúc chẳng còn lời cầu nguyện nào ngoài câu: “Mẹ Maria, xin đứng với con.” Và có lẽ Mẹ sẽ không trả lời bằng nhiều lời. Mẹ chỉ đưa mắt ta về phía Người Con bị đóng đinh, như ngày xưa ở Cana Mẹ đã từng nói: “Người bảo gì, các con cứ việc làm theo.”
Ở đó, trên Thánh Giá, Người vẫn đang nói. Người nói rằng bạn được yêu. Người nói rằng tội lỗi không phải tiếng nói cuối cùng. Người nói rằng tha thứ vẫn có thể. Người nói rằng không một đau khổ nào phải chịu trong tình yêu là vô ích. Người nói rằng chết không phải là hết. Và Đức Maria đứng bên cạnh như chứng nhân đầu tiên của một đức tin đã đi xuyên qua đêm tối để tới bình minh.
Hãy nhìn Mẹ. Hãy nhìn Thánh Giá. Rồi nhìn lại đời mình. Có lẽ ta sẽ hiểu rằng suy tôn Thánh Giá không nhất thiết bắt đầu bằng một việc phi thường. Nó bắt đầu bằng tiếng “Xin Vâng” hôm nay. Xin Vâng với bổn phận hôm nay. Xin Vâng với người cần được yêu hôm nay. Xin Vâng với một cuộc hòa giải cần thực hiện hôm nay. Xin Vâng với một hy sinh không ai biết hôm nay. Xin Vâng với việc trung thành dù mệt hôm nay. Xin Vâng với Thiên Chúa ngay cả khi ta chưa hiểu hôm nay. Cứ như thế, từng tiếng Xin Vâng nhỏ bé sẽ nối lại thành một cuộc đời. Và đến cuối cùng, có lẽ điều đẹp nhất Thiên Chúa có thể nói về chúng ta cũng sẽ giống điều Tin Mừng cho ta thấy nơi Đức Maria: người ấy đã không bỏ chạy. Người ấy đã ở lại. Người ấy đã đứng dưới chân Thánh Giá. Người ấy đã tin. Người ấy đã yêu đến cùng.
Đức Maria không chỉ đứng dưới Thánh Giá của Chúa Giêsu. Mẹ đã mang hình bóng Thánh Giá trong cả cuộc đời. Và vì thế, trước khi Hội Thánh long trọng suy tôn Thánh Giá bằng phụng vụ, Mẹ đã suy tôn Thánh Giá bằng một đời Xin Vâng. Trước khi Thánh Giá được giương cao giữa lòng Hội Thánh, nó đã được dựng lên trong trái tim của Mẹ. Không phải như cây gỗ của tuyệt vọng, nhưng như cây của tình yêu. Không phải như dấu hiệu thất bại, nhưng như con đường dẫn đến sự sống. Không phải như kết thúc của lời hứa, mà như nơi lời hứa được hoàn thành theo cách không ai ngờ tới.
Xin Đức Maria, Mẹ của Đấng chịu đóng đinh và Mẹ của chúng ta, dạy chúng ta một ngày kia cũng có thể suy tôn Thánh Giá không chỉ bằng một lời kinh, một cái cúi đầu hay một nụ hôn trên tượng Chúa chịu nạn, nhưng bằng chính cuộc đời mình: một cuộc đời biết yêu khi phải trả giá, biết tha thứ khi bị tổn thương, biết ở lại khi muốn bỏ đi, biết hy vọng khi trời tối, biết trao đi khi muốn giữ lại, biết thưa Xin Vâng khi không hiểu, và biết tin rằng đằng sau mọi chiều thứ Sáu được sống với Đức Kitô vẫn âm thầm có một buổi sáng Phục Sinh đang đến.
Lm. Anmai, CSsR

ĐAU KHỔ CỦA NGƯỜI MẸ ĐỨNG NHÌN CON CHẾT – CHIỀU KÍCH NHÂN LOẠI SÂU THẲM CỦA THÁNH GIÁ
Có những nỗi đau con người có thể kể lại sau một thời gian dài, khi vết thương đã lên da non, khi nước mắt đã cạn bớt, khi ký ức không còn cứa vào tim mình như những ngày đầu. Nhưng cũng có những nỗi đau dường như không bao giờ có thể kể cho hết, bởi càng kể càng thấy ngôn ngữ bất lực. Nỗi đau của một người mẹ đứng nhìn con mình chết thuộc về những nỗi đau như thế. Không ai sinh một đứa con ra để một ngày kia đứng nhìn nó chết. Người mẹ sinh con là để nhìn con lớn, để nghe tiếng con gọi, để thấy con bước đi, để mong một ngày con trưởng thành, có một mái nhà, một cuộc đời, một tương lai. Bởi thế, cái chết của một người con luôn có điều gì đó đi ngược lại trật tự tự nhiên của tình yêu. Người ta vẫn nghĩ con cái sẽ tiễn cha mẹ, chứ cha mẹ nào muốn phải tiễn con. Một người mẹ tóc bạc đứng bên quan tài đứa con của mình là một trong những hình ảnh đau đớn nhất mà đời người có thể chứng kiến. Người mẹ ấy có thể không nói gì. Bà chỉ nhìn. Có khi bà khóc. Có khi bà không còn nước mắt để khóc nữa. Có khi bà cứ đưa tay vuốt mái tóc đứa con như ngày nó còn bé. Có khi người ta phải kéo bà ra khỏi chiếc quan tài vì bà cứ muốn ở lại thêm một chút. Đằng sau những cử chỉ rất nhỏ ấy là một vực sâu mà chỉ trái tim người mẹ mới hiểu. Và chính trong vực sâu ấy, chúng ta có thể đến gần hơn một chút với Đức Maria dưới chân Thánh Giá. Không phải trước hết bằng những khái niệm thần học cao xa, nhưng bằng một trái tim con người. Trước khi gọi Maria là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Hội Thánh, Nữ Vương các thánh, chúng ta hãy nhìn Mẹ trong giờ ấy chỉ bằng một điều rất đơn sơ: Mẹ là một người mẹ đang đứng nhìn Con mình chết.
Tin Mừng theo thánh Gioan kể lại biến cố ấy bằng những dòng rất ngắn, gần như lạnh lùng trong sự cô đọng của nó: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người…” (Ga 19,25). Chỉ một chữ “đứng” thôi, nhưng phía sau chữ ấy là cả một đại dương đau khổ. Mẹ đứng. Không phải vì Mẹ không đau. Mẹ đứng bởi vì đau đến mức không còn chỗ nào để đi nữa. Mẹ đứng bởi Con Mẹ đang ở đó. Người ta có thể chạy khỏi một nơi làm mình đau, nhưng người mẹ không thể bỏ con mình vào giờ cuối cùng. Maria chẳng làm được gì nữa cho Đức Giêsu. Mẹ không thể tháo những chiếc đinh khỏi tay Con. Mẹ không thể lấy mão gai khỏi đầu Con. Mẹ không thể ngăn những lời nhạo báng. Mẹ không thể xin lính Rôma dừng cuộc hành hình. Mẹ không thể mang Con xuống khỏi thập giá. Mẹ cũng không thể chết thay cho Con. Có lẽ chính sự bất lực ấy mới là một trong những phần đau nhất của tình mẫu tử. Người mẹ đau không chỉ vì con đau, mà còn vì mình không làm được gì để con bớt đau. Khi con còn nhỏ bị sốt, người mẹ có thể thức trắng, có thể chườm khăn, cho uống thuốc, bế con trên tay. Khi con té ngã, mẹ có thể đỡ con dậy. Khi con đói, mẹ có thể cho con ăn. Khi con sợ, mẹ có thể ôm con vào lòng. Nhưng có những lúc của đời người, người mẹ chỉ còn có thể đứng đó. Bệnh viện đóng cửa phòng cấp cứu. Bác sĩ nói rằng không còn cách nào nữa. Chiếc máy theo dõi nhịp tim bắt đầu phát ra những âm thanh thưa dần. Và người mẹ chỉ còn biết nắm lấy bàn tay con. Maria trên đồi Canvê cũng đã bước vào sự bất lực tận cùng ấy của tình yêu.
Có lẽ trong những giờ dài dưới chân thập giá, từng mảnh đời của Đức Giêsu đã trở lại trong trí nhớ của Mẹ. Người mẹ nào mà chẳng nhớ rất dai những điều thuộc về con mình. Mẹ có thể quên một chuyện của chính mình, nhưng một câu nói của con từ ba mươi năm trước đôi khi vẫn còn nguyên. Maria có lẽ đã nhớ Bêlem, nhớ đêm lạnh năm nào, nhớ một trẻ thơ không có chỗ trong quán trọ. Mẹ đã từng bọc Con trong khăn và đặt nằm trong máng cỏ. Đôi bàn tay bị đóng đinh trên thập giá hôm nay chính là đôi bàn tay nhỏ bé ngày xưa từng nắm lấy ngón tay Mẹ. Gương mặt bê bết máu kia là gương mặt Mẹ từng cúi xuống hôn. Đôi chân bị đóng vào gỗ kia là đôi chân Mẹ từng vui mừng nhìn thấy những bước đi đầu tiên. Đôi môi khô khốc đang thều thào trên thập giá là đôi môi đã từng gọi Mẹ bằng một tiếng rất thân thương. Người Con mà thiên thần Gabriel đã nói rằng sẽ “nên cao cả”, Người Con mà cụ Simêon từng bồng trên tay trong Đền Thờ, Người Con mà các mục đồng đã đến thờ lạy, Người Con mà ba nhà đạo sĩ từ phương Đông tìm đến, giờ đây trần trụi, thương tích, bị nhạo cười giữa hai tên tử tội. Đối với Maria, thập giá không phải là một biểu tượng treo trên tường. Đó là thân thể của Con Mẹ. Những chiếc đinh không phải là một chi tiết trong nghệ thuật Kitô giáo. Chúng xuyên qua da thịt của đứa con Mẹ đã cưu mang chín tháng mười ngày. Máu trên thập giá không phải một ý niệm thần học. Đó là máu của Con Mẹ. Khi ta nhìn Thánh Giá từ chiều kích ấy, ta mới hiểu Kitô giáo không được sinh ra từ một hệ thống tư tưởng lạnh lùng. Đức tin của chúng ta đi ngang qua một thân xác bị thương, một người Con đang hấp hối, và một người Mẹ đứng khóc dưới chân Người.
Ba mươi mấy năm trước đó, cụ già Simêon đã nói với Maria một lời thật lạ: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,35). Ngày ấy có lẽ Maria chưa thể hiểu hết lưỡi gươm ấy sẽ sắc đến mức nào. Cuộc đời nhiều khi là như vậy. Thiên Chúa nói với ta một điều, nhưng chỉ sau nhiều năm ta mới hiểu. Và có những lời chỉ được hiểu bằng nước mắt. Lưỡi gươm của Simêon cuối cùng đã xuất hiện trên đồi Canvê. Người lính đâm cạnh sườn Đức Giêsu bằng ngọn giáo, nhưng trái tim Maria đã bị đâm từ trước đó rất lâu. Bị đâm khi nghe người ta nói Con mình là kẻ bị quỷ ám. Bị đâm khi thấy người ta chống đối Con. Bị đâm khi đám đông từng tung hô “Hosanna” rồi chỉ ít ngày sau gào lên “Đóng đinh nó đi!”. Bị đâm khi thấy các môn đệ chạy trốn. Bị đâm khi thấy Phêrô chối Thầy. Bị đâm khi nhìn Con vác thập giá qua những con đường Giêrusalem. Và cuối cùng, lưỡi gươm đi hết chiều sâu của nó khi Mẹ nghe những tiếng búa đóng đinh Con mình vào gỗ. Có những lưỡi gươm không làm thân thể chảy máu nhưng làm trái tim chảy máu suốt đời. Người đời có thể nhìn một người mẹ vẫn ăn, vẫn đi, vẫn nói chuyện và tưởng bà đã vượt qua nỗi đau mất con. Không đâu. Có những người mẹ mang một ngôi mộ trong trái tim mình cho đến ngày chết. Maria hiểu những người mẹ ấy.
Chính vì thế, dưới chân Thánh Giá, Đức Maria không chỉ đứng cạnh Đức Giêsu; Mẹ còn đứng gần tất cả những bà mẹ trong lịch sử nhân loại đã từng khóc vì con. Mẹ đứng bên người mẹ ngồi ngoài phòng mổ đợi bác sĩ bước ra mà lòng quặn thắt. Mẹ đứng bên người mẹ nhìn con héo dần vì ung thư. Mẹ đứng bên người mẹ nhận tin con tử nạn giữa đêm khuya. Mẹ đứng bên những bà mẹ của chiến tranh nhận lại một chiếc quan tài phủ cờ thay cho đứa con từng khỏe mạnh bước ra khỏi nhà. Mẹ đứng bên người mẹ mất con vì tai nạn giao thông chỉ trong vài giây. Mẹ đứng bên người mẹ đã cầu nguyện bao năm mà cuối cùng vẫn phải nhìn con ra đi. Mẹ đứng bên người mẹ ngồi im trong căn phòng của đứa con đã chết, nhìn chiếc áo nó từng mặc, chiếc giường nó từng ngủ, cuốn sách nó đọc dở, đôi dép nó để lại, và không đủ can đảm dọn đi bất cứ thứ gì. Mẹ đứng bên người mẹ vẫn vô thức nấu món con thích rồi chợt nhớ con không còn về ăn nữa. Mẹ đứng bên những người mẹ mỗi dịp Tết đến, sinh nhật đến, lễ Giáng Sinh đến, thấy cả nhà đông đủ mà trong lòng vẫn có một chiếc ghế trống không ai thay thế được. Và có lẽ nếu Maria có thể nói với những người mẹ ấy, Mẹ sẽ không nói nhiều. Người đã từng chịu đau thật thường không vội giảng giải nỗi đau cho người khác. Mẹ có lẽ chỉ ngồi xuống bên họ. Bởi đôi khi, trước một nỗi đau quá lớn, sự hiện diện quý hơn mọi lời giải thích.
Thánh Giá bởi thế chứa một chiều kích nhân loại sâu thẳm mà ta rất dễ đánh mất nếu chỉ nhìn nó bằng những công thức. Chúng ta tuyên xưng rằng Đức Kitô chết để cứu chuộc nhân loại. Điều ấy hoàn toàn đúng. Nhưng sự cứu chuộc ấy không xảy ra ngoài đời sống con người. Thiên Chúa không cứu chúng ta từ một nơi xa xôi bằng một sắc lệnh trên trời. Người đi vào tận những kinh nghiệm đau nhất của con người. Người biết thế nào là đói, khát, mệt, bị phản bội, bị từ chối, bị hiểu lầm, bị cô độc, bị hành hạ và chết. Và Người để cho chính Mẹ mình trải nghiệm nỗi đau của một bà mẹ mất con. Có một sự thật gây sửng sốt trong mầu nhiệm Nhập Thể: Thiên Chúa không đứng ngoài nước mắt của con người. Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa đã khóc. Và trong Maria, nhân loại đã khóc dưới chân Thiên Chúa chịu đóng đinh. Canvê vì vậy là nơi nước mắt của trời và nước mắt của đất gặp nhau.
Có người hỏi: nếu Thiên Chúa yêu Maria, tại sao Người để Mẹ chịu đau đến thế? Câu hỏi ấy cũng là câu hỏi mà biết bao con người đau khổ vẫn hỏi: Nếu Chúa thương tôi, tại sao chuyện này xảy ra? Nếu Chúa yêu gia đình tôi, tại sao đứa con của tôi chết? Nếu Chúa nghe lời cầu nguyện, tại sao tôi đã cầu nguyện ngày đêm mà người tôi yêu vẫn ra đi? Những câu hỏi ấy không có lời trả lời dễ dàng. Và sẽ rất tàn nhẫn nếu ta dùng vài câu đạo đức để bịt miệng một trái tim đang tan vỡ. Thánh Giá không cho chúng ta một công thức giải thích mọi đau khổ. Đức Giêsu trên thập giá cũng không đọc một bài giảng về lý do của đau khổ. Người đau. Người kêu. Người khát. Người cầu nguyện. Người trao phó. Và Người chết. Kitô giáo không nói rằng mọi đau khổ tự nó đều tốt. Đau khổ vẫn là đau khổ. Cái chết vẫn là kẻ thù. Nước mắt vẫn là nước mắt. Điều Tin Mừng nói là: ngay cả nơi tưởng như Thiên Chúa vắng mặt nhất, Người vẫn có thể ở đó; ngay cả điều tưởng như chỉ dẫn đến hủy diệt, tình yêu Thiên Chúa vẫn có thể biến thành con đường cứu độ. Canvê không đẹp vì máu. Canvê đẹp vì tình yêu không bỏ chạy khỏi máu.
Chúng ta thường muốn yêu người khác trong những hoàn cảnh đẹp. Ta thích yêu khi còn có thể giúp, còn có thể chữa, còn có thể thay đổi tình hình. Nhưng có một thứ tình yêu chỉ được mặc khải khi không còn gì để làm nữa ngoài việc ở lại. Maria dạy thứ tình yêu ấy. “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người.” Mẹ không giải cứu Con khỏi cái chết. Mẹ ở với Con trong cái chết. Và đôi khi đó là điều lớn nhất con người có thể trao cho nhau: không phải lấy nỗi đau khỏi cuộc đời người kia, vì ta không thể, nhưng đừng để người kia đau một mình. Có những bệnh nhân không cần chúng ta nói thêm. Họ cần một bàn tay. Có những người hấp hối không còn nghe rõ lời ta nói, nhưng vẫn cảm nhận được một người đang ngồi bên. Có những bà mẹ mất con không cần nghe câu “thôi cố lên”, “Chúa có chương trình của Chúa”, “rồi thời gian sẽ chữa lành”. Những câu ấy đôi khi đúng về một mặt nào đó nhưng có thể trở nên nhẫn tâm nếu nói sai lúc. Họ cần một người đủ can đảm ở lại với nước mắt của họ. Maria đã làm điều ấy với Đức Giêsu. Mẹ đứng.
Đứng dưới chân Thánh Giá không phải là một tư thế yếu đuối. Đó là một trong những hình thức can đảm cao nhất của tình yêu. Các môn đệ đã chạy. Đám đông chế giễu. Các lãnh đạo Do Thái đắc thắng. Quân lính lạnh lùng làm nhiệm vụ. Nhưng Maria đứng. Mẹ không có vũ khí. Không có quyền lực. Không thể thay đổi bản án. Nhưng Mẹ có tình yêu. Và tình yêu ấy đủ mạnh để đứng lại nơi phần lớn người khác bỏ đi. Có lúc can đảm không phải là chiến thắng một ai. Can đảm là không bỏ người mình yêu trong giờ họ thất bại. Can đảm là không chạy khi thập giá xuất hiện. Can đảm là giữ một bàn tay đang lạnh dần. Can đảm là nói với một người hấp hối: “Con cứ yên tâm. Mẹ ở đây.” Có thể Maria đã không nói thành lời, nhưng toàn bộ sự hiện diện của Mẹ dưới chân Thánh Giá chính là một câu ấy: Con ơi, Mẹ ở đây.
Và Đức Giêsu biết Mẹ ở đó. Trong cơn đau khủng khiếp, Người nhìn xuống và thấy Mẹ. Tin Mừng Gioan ghi lại một trong những khoảnh khắc cảm động nhất của cuộc Khổ Nạn: “Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh’” (Ga 19,26-27). Thật lạ lùng: ngay khi chính mình đang hấp hối, Đức Giêsu vẫn nghĩ đến Mẹ. Một người con trước khi chết lo cho người mẹ sẽ ở lại sau mình. Trong câu nói ấy có cả mầu nhiệm Hội Thánh, nhưng cũng có một vẻ đẹp rất người. Đức Giêsu hiểu rằng sau cái chết của Người sẽ có một khoảng trống khủng khiếp trong đời Maria. Từ nay căn nhà sẽ vắng. Giọng nói ấy không còn. Những bước chân ấy không trở lại. Người trao Gioan cho Mẹ, và trao Mẹ cho Gioan. Từ dưới chân Thánh Giá, một gia đình mới được sinh ra. Điều này nói với chúng ta một điều rất sâu: đau khổ dễ làm con người khép lại, nhưng trong Đức Kitô, chính đau khổ có thể trở thành nơi một tình liên đới mới được sinh ra. Maria mất một Người Con, nhưng được trao cả một đoàn con. Hội Thánh, theo một nghĩa thật đẹp, đã bắt đầu dưới bóng của một người Mẹ đau khổ.
Có lẽ vì thế mà từ bao thế kỷ, những người đau khổ tìm đến với Đức Mẹ rất tự nhiên. Một người mẹ mất con không cần giới thiệu dài dòng với Mẹ. Mẹ hiểu. Một người cha đứng bên giường bệnh của con không cần diễn đạt hết nỗi bất lực. Mẹ hiểu. Một người vợ nhìn chồng hấp hối, một người chồng nắm tay vợ ở giờ cuối, một gia đình đứng quanh quan tài người thân – tất cả đều có thể nhìn lên Đức Mẹ Sầu Bi và biết rằng đức tin Kitô giáo không hứa cho chúng ta một cuộc đời không nước mắt. Đức tin trao cho chúng ta một Người Mẹ đã từng khóc. Điều ấy khác rất nhiều. Một tôn giáo chỉ nói về chiến thắng mà không có nước mắt sẽ không đủ cho con người. Một Thiên Chúa chỉ ở trên ngai vàng mà không có vết thương sẽ rất xa những bệnh viện, nghĩa trang và những ngôi nhà có tang. Nhưng Thiên Chúa của Kitô giáo là Thiên Chúa chịu đóng đinh. Và bên Thánh Giá của Người có một người Mẹ.
Đau khổ của Maria càng sâu vì Mẹ không chỉ nhìn Con chết; Mẹ nhìn một Người vô tội chết. Có lẽ nỗi đau lớn nhất không chỉ là cái chết, mà là sự bất công của cái chết ấy. Mẹ biết Con mình. Mẹ biết Người không phải một tên tội phạm. Mẹ biết bàn tay đang bị đóng đinh kia đã chạm vào những người phong cùi để chữa lành họ. Mẹ biết đôi chân ấy đã đi qua bao làng mạc để tìm người nghèo. Mẹ biết môi miệng ấy đã nói lời tha thứ cho tội nhân. Mẹ biết đôi mắt ấy từng nhìn người phụ nữ ngoại tình mà không kết án, nhìn Dakêu để cho ông một cơ hội làm lại cuộc đời, nhìn người mù và mở mắt anh, nhìn bà góa Nain và trả lại người con cho bà. Người đã trả con cho một bà mẹ ở Nain, nhưng giờ đây không ai trả Người lại cho Maria. Có một nghịch lý đau đớn ở đây. Đức Giêsu từng dừng một đám tang để nói với người thanh niên: “Hỡi người thanh niên, tôi bảo anh: hãy trỗi dậy!” Người từng nói với con gái ông Giairô: “Talitha kum – Này bé, Thầy truyền cho con: trỗi dậy đi!” Người từng gọi Lazarô ra khỏi mồ. Nhưng trên Canvê, Người không xuống khỏi thập giá. Người đã cứu người khác nhưng không cứu chính mình, bởi vì chính bằng việc không cứu mình mà Người cứu tất cả chúng ta.
Maria phải đứng trước sự nghịch lý ấy. Và đức tin của Mẹ đạt tới một sự tinh tuyền khủng khiếp. Ngày Truyền Tin, thiên thần nói rằng Con của Mẹ sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao, và Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng Đavít. Nhưng ngai vàng ấy giờ là một cây thập giá. Vương miện là mão gai. Triều phục là một thân thể bị lột trần. Triều thần là hai kẻ bị đóng đinh bên cạnh. Lời tung hô là tiếng cười nhạo. Maria vẫn đứng. Đó là đức tin khi mọi điều trông thấy dường như phủ nhận mọi điều đã được hứa. Tin khi đời thuận lợi không khó bằng tin khi lời hứa của Thiên Chúa dường như đã chết ngay trước mắt mình. Maria tin trong bóng tối. Không phải một thứ tin mù quáng không cảm thấy đau, nhưng là thứ đức tin vừa đau vừa không bỏ Chúa.
Ở đây, người tín hữu hôm nay có thể học được điều gì? Có những lúc đời ta cũng rơi vào một thứ Canvê. Một lời cầu xin đã nhiều năm không được đáp theo cách ta mong. Một người thân ra đi. Một cuộc hôn nhân tan vỡ. Một đứa con rời xa gia đình. Một căn bệnh không chữa được. Một công việc sụp đổ. Một danh dự bị nghiền nát. Một ơn gọi đi vào khủng hoảng. Ta hỏi Chúa: “Lạy Chúa, những điều Chúa từng hứa đâu rồi?” Và chỉ có im lặng. Maria không trao cho ta một câu trả lời trí thức. Mẹ trao cho ta một tư thế: đứng. Khi không hiểu, đứng với Chúa. Khi không còn cảm thấy gì, đứng với Chúa. Khi lời cầu nguyện khô khan, đứng với Chúa. Khi người khác bỏ đi, đứng với Chúa. Khi chẳng thấy Phục Sinh đâu cả, vẫn đứng dưới Thánh Giá. Đức tin trưởng thành nhiều khi không phải là cảm thấy Chúa gần, mà là không bỏ Chúa khi ta cảm thấy Người xa.
Nhưng có điều cần nói rất rõ: đứng dưới Thánh Giá không có nghĩa là yêu đau khổ, tìm đau khổ hay xem đau khổ như một giá trị tự thân. Kitô giáo không tôn thờ sự đau đớn. Đức Giêsu chữa bệnh, nuôi người đói, làm cho người chết sống lại, lau nước mắt cho người đau khổ. Người không bảo chúng ta tạo thêm thập giá cho nhau. Trái lại, người Kitô hữu được mời gọi tháo những thập giá mà con người đặt lên vai nhau bởi bất công, bạo lực, nghèo đói, ích kỷ, chiến tranh và vô cảm. Nhưng có những thập giá dù ta làm mọi sự vẫn không tránh khỏi. Khi ấy, câu hỏi không còn là “làm sao để không đau?” mà là “làm sao để đau mà không mất tình yêu, đau mà không mất đức tin, đau mà không để nỗi đau biến mình thành cay đắng?” Maria là câu trả lời sống động. Mẹ đau mà không nguyền rủa. Mẹ bị đâm thâu mà không trả thù. Mẹ mất Con mà không mất Thiên Chúa.
Có một vẻ đẹp rất sâu trong hình ảnh Maria không nói lời nào dưới chân Thánh Giá. Tin Mừng không ghi lại một lời than trách của Mẹ. Sự thinh lặng ấy không phải vô cảm. Đó là sự thinh lặng của một trái tim đã vượt quá khả năng của ngôn từ. Ai từng chứng kiến một bà mẹ mất con sẽ hiểu. Có lúc bà khóc rất lớn. Nhưng cũng có lúc bà ngồi yên đến đáng sợ. Người ta hỏi gì bà cũng chỉ lắc đầu. Nỗi đau quá lớn đôi khi làm con người im lặng. Và chính trong sự im lặng ấy, Thiên Chúa có thể ở rất gần. Ta thường nghĩ cầu nguyện phải nói nhiều. Không. Có những lời cầu nguyện chỉ là ngồi trước Thánh Giá mà khóc. Có những lời cầu nguyện chỉ là nhìn Chúa và nói: “Con không hiểu.” Có những lời cầu nguyện thậm chí không nói được câu ấy. Chỉ một tiếng thở dài. Chỉ một giọt nước mắt. Chỉ một sự hiện diện. Maria dạy chúng ta rằng Thiên Chúa hiểu thứ ngôn ngữ đó.
Người ta có thể hỏi: Maria có hy vọng Phục Sinh lúc ấy không? Chúng ta không biết Mẹ cảm nhận điều gì trong từng khoảnh khắc. Tin Mừng không cho phép ta tưởng tượng quá xa. Nhưng có một điều chắc chắn: Mẹ ở lại. Và đôi khi hy vọng không biểu hiện bằng một cảm giác lạc quan. Hy vọng có thể chỉ là không bỏ đi. Một bà mẹ chăm con bệnh mười năm không phải ngày nào cũng cảm thấy mạnh mẽ. Có ngày bà kiệt sức. Có ngày bà khóc. Có ngày bà hỏi Chúa tại sao. Nhưng sáng hôm sau bà vẫn dậy nấu cháo, vẫn thay thuốc, vẫn đỡ con ngồi dậy. Đó là hy vọng. Người chồng chăm người vợ nằm liệt không phải lúc nào cũng có những lời đẹp. Có ngày ông chỉ lặng lẽ lau người cho vợ. Đó là hy vọng. Người tín hữu giữa một đêm tối thiêng liêng vẫn lần chuỗi dù không cảm thấy gì. Đó là hy vọng. Maria đứng dưới chân Thánh Giá. Đó là hy vọng trong hình hài tinh tuyền nhất.
Và rồi Đức Giêsu chết. Tin Mừng kể: “Người gục đầu xuống và trao Thần Khí” (Ga 19,30). Chúng ta có thể đọc câu ấy trong vài giây, nhưng Maria đã sống giây phút ấy. Một người mẹ nhận ra ngay khi con mình không còn thở. Có lẽ Mẹ đã nhìn lồng ngực Con ngừng chuyển động. Cái đầu gục xuống. Đôi mắt khép lại. Thân thể bất động. Và Mẹ biết: Con mình đã chết. Không ai trong chúng ta có thể đi vào trọn vẹn giây phút ấy. Chỉ có thể đứng xa mà cúi đầu. Người Con mà Mẹ đã sinh ra ở Bêlem giờ chết trên Canvê. Từ chiếc nôi đến thập giá. Từ tiếng khóc đầu tiên đến hơi thở cuối cùng. Một vòng đời khép lại trước mắt Mẹ.
Rồi còn một điều đau hơn nữa. Mẹ phải nhận xác Con. Truyền thống Kitô giáo đã gìn giữ hình ảnh Pietà – Đức Mẹ ôm xác Đức Giêsu – như một trong những hình ảnh gây xúc động nhất của lịch sử nghệ thuật và đức tin. Hãy thử nghĩ: hơn ba mươi năm trước, Maria từng ôm một Hài Nhi trong lòng. Giờ Mẹ ôm cùng Người Con ấy, nhưng thân thể đã lạnh. Ngày ấy Mẹ quấn Con trong khăn và đặt vào máng cỏ; hôm nay người ta lại quấn Con trong khăn để đặt vào mồ. Ngày ấy các mục đồng đến trong niềm vui; hôm nay vài người bạn đến trong nước mắt. Ngày ấy ngôi sao sáng trên Bêlem; hôm nay trời đất chìm trong bóng tối. Có lẽ không có vòng cung nào của tình mẫu tử đau đớn hơn thế.
Hình ảnh người mẹ ôm xác con cũng đưa chúng ta đến gần hàng triệu người mẹ trong lịch sử đã làm điều tương tự. Những bà mẹ ôm con sau một vụ bom. Những bà mẹ chạy qua chiến trường tìm xác con. Những bà mẹ trong trại tị nạn giữ một đứa trẻ đã thôi thở. Những bà mẹ nghèo ở những vùng đất không có đủ thuốc men, nhìn con chết vì một căn bệnh mà nơi khác có thể chữa được. Những bà mẹ đứng bên bờ biển đợi một thi thể được vớt lên. Những bà mẹ nhận một cuộc điện thoại lúc nửa đêm rồi cả đời chia thành hai phần: trước cuộc điện thoại ấy và sau cuộc điện thoại ấy. Đức Maria của Canvê thuộc về họ theo một cách rất đặc biệt. Mẹ không đứng bên ngoài lịch sử đau khổ của nhân loại. Mẹ đã đi vào đó.
Điều ấy cũng đặt trước lương tâm chúng ta một câu hỏi. Nếu ta kính Đức Mẹ Sầu Bi mà lại vô cảm trước nước mắt của những bà mẹ hôm nay, lòng sùng kính ấy còn ý nghĩa gì? Nếu ta quỳ trước tượng Pietà nhưng quay mặt trước một người mẹ nghèo đang không có tiền chữa bệnh cho con, ta chưa hiểu Pietà. Nếu ta hát Stabat Mater thật cảm động nhưng lại góp phần tạo nên bạo lực, chiến tranh, chia rẽ, thù hận, thì ta đang làm tăng số những người mẹ phải đứng dưới những thập giá mới. Kính Đức Mẹ Sầu Bi phải làm trái tim ta mềm hơn trước đau khổ của con người. Nhìn Mẹ đứng bên Con chết phải khiến ta quyết tâm đừng đóng thêm đinh vào cuộc đời người khác bằng lời nói độc ác, sự kết án, lòng tham, bất công và thờ ơ.
Có những chiếc đinh không làm bằng sắt. Một lời nói có thể là chiếc đinh. Một sự phản bội có thể là chiếc đinh. Một bản án bất công có thể là chiếc đinh. Một lần bỏ rơi người yếu thế có thể là chiếc đinh. Một thái độ khinh thường có thể đóng ai đó vào thập giá trong lòng họ. Và có những người mẹ phải nhìn con mình bị “đóng đinh” theo nghĩa ấy mỗi ngày: một đứa con bị nghiện, một đứa con bị xã hội khinh chê, một đứa con vào tù, một đứa con bị bệnh tâm thần, một đứa con vướng vào những sai lầm lớn. Người mẹ không chết con về thể xác nhưng trái tim bà vẫn bị đóng đinh. Có khi cả làng phán xét đứa con ấy, nhưng mẹ vẫn chờ nó về. Có khi mọi người gọi nó bằng những cái tên xấu, nhưng với bà, nó vẫn là “con của mẹ”. Tình mẫu tử có một sức chịu đựng lạ lùng. Và chính vì thế, tình mẫu tử trở thành một trong những hình ảnh gần nhất giúp ta hiểu lòng thương xót Thiên Chúa.
Có người con tưởng rằng vì mình đã sống tồi tệ nên không còn đường về. Nhưng hãy nhìn một người mẹ. Có những người mẹ đã bị con làm khổ cả đời mà vẫn chờ cửa. Không phải vì bà cho điều xấu là đúng, nhưng vì người phạm lỗi vẫn là con. Tương tự, Thánh Giá là bằng chứng rằng Thiên Chúa không gọi tội lỗi là tốt, nhưng Người không ngừng yêu tội nhân. Trên Canvê, Đức Giêsu không chết vì con người đáng được yêu; Người chết vì Thiên Chúa là tình yêu. Và Maria đứng đó như chứng nhân đầu tiên của một tình yêu đi đến cùng.
Có một điều rất đẹp khác: dưới chân Thánh Giá, Maria không biến nỗi đau của mình thành trung tâm. Tin Mừng không kể Mẹ kêu lên: “Còn tôi thì sao?” Mẹ đứng bên Con. Đau khổ thường có xu hướng làm ta khép lại trong chính mình. Và điều ấy rất dễ hiểu. Nhưng nơi những tâm hồn lớn, đau khổ có thể mở ra một chiều sâu mới của lòng trắc ẩn. Người từng mất con đôi khi trở thành người hiểu nhất một gia đình có tang. Người từng trải qua ung thư có thể ngồi cạnh một bệnh nhân ung thư mà không cần nhiều lời. Người từng bị bỏ rơi có thể nhận ra rất nhanh ánh mắt của một người cô độc. Nếu được Thiên Chúa thanh luyện, vết thương của ta có thể trở thành cánh cửa để ta đi vào vết thương của người khác. Maria từ người Mẹ đau khổ dưới chân Thánh Giá trở thành Mẹ của Hội Thánh, Mẹ của những người đau khổ. Mẹ không giữ nỗi đau cho riêng mình. Nỗi đau ấy, qua ân sủng, trở thành nơi trái tim Mẹ được mở rộng cho tất cả.
Và đây có lẽ là điều thấm thía nhất của mầu nhiệm Thánh Giá: Thiên Chúa không loại bỏ nỗi đau bằng cách đứng bên ngoài nó, nhưng biến đổi nó từ bên trong. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh vẫn là ngày Đức Giêsu chết. Maria vẫn mất Con. Các môn đệ vẫn tan tác. Không điều nào được phủ nhận. Nhưng rồi sáng ngày thứ nhất trong tuần xuất hiện. Ngôi mộ trống. Cái chết không có tiếng nói cuối cùng. Thánh Giá không phải dấu chấm hết. Điều ấy không làm nước mắt của Maria ngày Thứ Sáu trở thành giả. Phục Sinh không nói rằng “thật ra chẳng có gì đáng khóc”. Không. Có cái chết thật, có mất mát thật, có nước mắt thật. Nhưng nước mắt không phải vĩnh cửu.
Đây là niềm hy vọng đặc biệt dành cho những người đã chôn người mình yêu. Kitô giáo không bảo chúng ta quên họ. Không ai cần quên người mình yêu để tiếp tục sống. Đức tin không xoá ký ức. Đức tin làm cho ký ức có một chân trời. Người đã chết không chỉ nằm phía sau chúng ta trong quá khứ; trong Đức Kitô, họ còn ở phía trước chúng ta trong lời hứa phục sinh. Chúng ta đi về phía cuộc gặp lại. Điều ấy không làm ta hết nhớ, nhưng làm nỗi nhớ mang một hình dạng khác. Nước mắt vẫn rơi, nhưng dưới nước mắt có một lời hứa. Nghĩa trang vẫn còn đó, nhưng nghĩa trang của người Kitô hữu không phải điểm cuối của hành trình. Maria đi từ Canvê đến bình minh Phục Sinh. Và mọi người mẹ đứng bên mộ con mình cũng được mời gọi đi con đường ấy – có thể rất chậm, có thể với vô số lần ngã quỵ, nhưng không phải đi một mình.
Có khi người ta nói với người có tang: “Phải mạnh mẽ lên.” Thật ra, họ không cần phải mạnh theo kiểu không khóc. Đức Giêsu từng khóc trước mộ Lazarô. Maria chắc chắn đã đau. Khóc không phải là thiếu đức tin. Có những giọt nước mắt chính là hình thức của tình yêu khi người được yêu không còn ở trước mặt. Một bà mẹ khóc con ba mươi năm sau không có nghĩa bà không tin Chúa. Có thể đơn giản vì bà đã yêu con rất nhiều. Đức tin không bắt chúng ta trở thành đá. Đức tin cho phép ta khóc mà không tuyệt vọng. Có một khác biệt rất lớn giữa nước mắt tuyệt vọng và nước mắt hy vọng. Cả hai đều mặn. Nhưng một bên nhìn thấy bức tường cuối cùng; bên kia, dù chưa thấy, vẫn tin phía bên kia bức tường có một bình minh.
Maria dưới chân Thánh Giá cũng dạy ta cách đứng bên người đau khổ. Đừng vội tìm một lời giải thích. Đừng biến tang lễ của người khác thành lớp thần học. Đừng nói “Chúa cần thiên thần nên gọi cháu về” với một bà mẹ vừa mất con. Thiên Chúa không cần lấy con của ai để có thêm thiên thần. Đừng nói “đó là ý Chúa” một cách dễ dàng như thể ta biết mọi bí nhiệm của Thiên Chúa. Có những câu thần học đúng trong một ngữ cảnh nhưng nói sai lúc sẽ trở thành dao. Hãy học Maria: hiện diện. Đem một bữa cơm. Nắm một bàn tay. Ngồi yên. Nhớ ngày giỗ. Gọi điện vài tháng sau, khi mọi người khác đã trở về với cuộc sống của họ nhưng căn nhà của người mất vẫn trống. Nỗi đau tang chế thường cô độc nhất không phải ngày đám tang, vì ngày ấy rất đông người, mà là nhiều tuần sau đó, khi khách đã về hết và người ở lại phải học cách sống trong căn nhà đã thiếu một người. Chính khi ấy họ cần một Gioan đứng cạnh.
Có lẽ lời Đức Giêsu “Đây là mẹ của anh” cũng là lời gửi cho mỗi chúng ta trước những bà mẹ đau khổ. Đừng để họ một mình. Và “Đây là con của Bà” là lời trao những người mất mát cho trái tim Hội Thánh. Một cộng đoàn Kitô hữu thật sự không chỉ biết tổ chức những nghi lễ đẹp; cộng đoàn ấy phải biết đứng dưới những thập giá của nhau. Nhà thờ không chỉ là nơi người ta đến hát Alleluia ngày vui, mà còn là nơi người ta có thể mang một trái tim vỡ vụn đến mà không bị xét đoán. Hội Thánh chân thật nhất khi Hội Thánh đứng bên những người đang khóc, bởi chính Chúa của Hội Thánh đã chết giữa tiếng khóc của Mẹ mình.
Một ngày nào đó, mỗi người chúng ta cũng sẽ đứng dưới một thập giá. Không ai đi qua đời này mà không mất mát. Có thể không phải mất con, nhưng sẽ có một Canvê mang tên ta. Khi ngày ấy đến, xin đừng quên Maria. Không phải vì Mẹ sẽ làm cho thập giá biến mất ngay, nhưng vì Mẹ biết cách đứng cạnh một thập giá. Có những người bạn chỉ ở với ta trong tiệc cưới; Maria là người Mẹ ở với ta trong nghĩa trang. Có những người chỉ xuất hiện khi ta thành công; Maria đứng bên Đức Giêsu chính lúc Người bị xem là thất bại nhất. Có những người thương ta khi ta còn có gì để cho họ; Maria ôm một thân xác không còn có thể nói, bước, làm phép lạ hay trao cho Mẹ bất cứ điều gì. Đó là tình yêu.
Và có lẽ đây chính là lời cuối mà Canvê muốn nói với những người mẹ đang đau vì con: Mẹ không đau một mình. Có một Người Mẹ đã đi con đường này trước mẹ. Có một Thiên Chúa đã nhìn thấy từng giọt nước mắt của mẹ. Có một Đức Kitô đã đi qua cái chết. Và có một lời hứa rằng tình yêu không bị chôn vùi vĩnh viễn trong mồ. Chúng ta không biết vì sao nhiều điều đau đớn đã xảy đến. Có những câu hỏi có lẽ chỉ khi đứng trước mặt Thiên Chúa chúng ta mới hiểu. Nhưng ngay bây giờ ta có thể biết điều này: Thiên Chúa không khinh nước mắt. Người không đứng xa nỗi đau. Người đã cho Thánh Giá đi vào chính trung tâm của lịch sử cứu độ, để từ nay không một thập giá chân thành nào của con người hoàn toàn xa lạ với Người.
Mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, xin đừng chỉ nhìn thấy Đức Giêsu. Hãy nhìn xuống một chút. Ở đó có Mẹ Người. Một người Mẹ đang đứng. Một thanh gươm vô hình đang xuyên qua tim Mẹ. Mẹ chẳng thể cứu Con khỏi chết, nhưng Mẹ có thể yêu Con cho đến lúc chết. Và có lẽ đó là bài học cuối cùng của mọi tình yêu: đến một lúc nào đó, chúng ta sẽ không còn cứu được người mình yêu khỏi bệnh tật, tuổi già, đau khổ hay cái chết. Ta không phải Thiên Chúa. Ta bất lực. Nhưng ngay cả khi bất lực, ta vẫn có thể yêu. Ta vẫn có thể ở lại. Ta vẫn có thể nắm tay. Ta vẫn có thể cầu nguyện. Ta vẫn có thể nói bằng tất cả sự hiện diện của mình: “Con ơi, mẹ ở đây.” “Anh ơi, em ở đây.” “Em ơi, anh ở đây.” “Ba ơi, con ở đây.” “Mẹ ơi, con ở đây.” Và biết đâu, trong những giây phút ấy, ta đang ở gần mầu nhiệm Thánh Giá hơn bất cứ lúc nào khác trong đời.
Thánh Giá cuối cùng không giải thích tất cả đau khổ. Thánh Giá làm một điều lớn hơn: Thánh Giá cho thấy tình yêu có thể ở lại giữa đau khổ và không bị đau khổ đánh bại. Maria không xuống khỏi Canvê với câu trả lời cho mọi bí nhiệm. Mẹ xuống núi với một trái tim bị đâm thâu. Nhưng trái tim ấy vẫn còn yêu. Đó là chiến thắng đầu tiên. Rồi sáng Phục Sinh sẽ đến. Đó là chiến thắng cuối cùng.
Cho nên nếu hôm nay đâu đó có một người mẹ đang ngồi bên giường bệnh của con, xin Mẹ Maria ngồi bên bà. Nếu có người mẹ vừa khép mắt cho con mình, xin Mẹ ôm bà như Mẹ từng ôm xác Chúa Giêsu. Nếu có người mẹ đang đứng trước một nấm mồ mới, xin Mẹ đứng cạnh bà. Nếu có người mẹ sau nhiều năm vẫn lặng lẽ khóc khi nhắc tên con, xin đừng ai bảo bà phải quên. Xin chỉ để Mẹ Maria nói với bà bằng sự im lặng của Canvê rằng: “Tôi hiểu.” Và xin Chúa Kitô Phục Sinh nói vào nơi sâu nhất của trái tim bà: “Con của bà không thuộc về sự chết mãi mãi.”
Thánh Giá có một người Con đang chết và một người Mẹ đang đứng. Chính vì thế, Thánh Giá không bao giờ là một biểu tượng lạnh lẽo. Nó mang hơi thở, máu, nước mắt, ký ức, tình mẫu tử, sự bất lực, lòng trung thành và hy vọng của con người. Trong Thánh Giá, Thiên Chúa đã đi xuống tận nơi sâu nhất mà tình yêu con người có thể bị thương. Và từ chính vực sâu ấy, Người mở ra con đường dẫn đến Phục Sinh. Bởi vậy, khi đời ta chẳng còn gì để nói, hãy đứng với Maria. Khi chẳng còn gì để làm, hãy đứng với Maria. Khi câu hỏi không có câu trả lời, hãy đứng với Maria. Khi người mình yêu đang đau, hãy đứng với Maria. Khi phải tiễn một người xuống mồ, hãy đứng với Maria. Và khi chính ta một ngày bước vào giờ cuối, xin Mẹ cũng đứng bên giường ta như Mẹ từng đứng bên Thánh Giá của Con mình.
Bởi cuối cùng, điều cứu thế giới này không phải là một tình yêu biết tránh mọi đau khổ, nhưng là một tình yêu không bỏ đi khi đau khổ đến. Đó là tình yêu của Đức Kitô trên Thánh Giá. Đó là tình yêu của Maria dưới chân Thánh Giá. Và đó cũng là tình yêu mà mỗi người chúng ta được mời gọi học cho đến hơi thở cuối cùng của đời mình.
Lm. Anmai, CSsR
 “ĐẤNG CỨU CHUỘC BỊ ĐÓNG ĐINH” – TRUNG TÂM LINH ĐẠO DÒNG CHÚA CỨU THẾ
Có những biểu tượng người ta có thể nhìn một lần rồi quên. Có những hình ảnh người ta treo lên tường như một kỷ niệm, một dấu chỉ thuộc về, một nét trang trí đạo đức. Nhưng với người môn đệ Chúa Giêsu, và cách riêng với người con của Thánh Anphongsô, Thánh Giá không bao giờ chỉ là một biểu tượng để nhìn. Thánh Giá là một nơi để đứng. Là một mầu nhiệm để đi vào. Là một tình yêu để sống. Là một con đường để bước theo. Là một vết thương để chạm đến. Là một tiếng gọi phải trả lời bằng chính cuộc đời mình. Nếu hỏi đâu là hình ảnh cô đọng nhất về linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế, có lẽ người ta không cần đi tìm một định nghĩa quá dài. Chỉ cần ngước nhìn Đấng đang giang hai tay trên Thánh Giá. Đấng ấy chính là Đấng Cứu Chuộc. Nhưng không phải một Đấng Cứu Chuộc ngự xa trên trời cao, không phải một Đấng Cứu Chuộc chỉ xuất hiện trong những ý niệm thần học, cũng không phải một Đấng Cứu Chuộc đứng ngoài những khổ đau của kiếp người. Người là Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh. Hai chữ “Cứu Chuộc” và hai chữ “đóng đinh” không thể tách rời nhau. Chính trong thân phận bị đóng đinh mà tình yêu cứu chuộc được tỏ lộ đến tận cùng. Chính trong sự bất lực bề ngoài của Thánh Giá mà quyền năng cứu độ của Thiên Chúa được biểu lộ mạnh mẽ nhất. Chính khi không còn gì để giữ lại cho mình, Chúa Giêsu đã trao ban tất cả. Và đó cũng là nơi người tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế phải trở về nếu muốn biết mình là ai, được gọi để làm gì, phải yêu thế nào, phải loan báo Tin Mừng ra sao và phải đứng ở đâu giữa một thế giới đầy những con người đang mang trên mình biết bao thập giá không tên.
Thánh Anphongsô không để lại cho con cái mình một linh đạo chạy trốn khỏi thế gian. Ngài cũng không xây dựng một con đường nên thánh chỉ dành cho những tâm hồn thích sống an toàn phía sau những cánh cửa tu viện. Trái lại, linh đạo của ngài bắt đầu từ một kinh nghiệm rất thật: Thiên Chúa đã yêu con người quá mức, yêu đến độ trao ban Người Con Một, và Người Con ấy đã hiến mạng sống mình cho những người tội lỗi, những người nghèo khổ, những người bị bỏ rơi, những người chẳng có gì đáng để thế gian quan tâm. “Ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa.” Câu Thánh Vịnh ấy trở thành khẩu hiệu của Dòng Chúa Cứu Thế: Copiosa apud Eum Redemptio. Nơi Người chan chứa ơn cứu chuộc. Không phải vừa đủ. Không phải nhỏ giọt. Không phải dè sẻn. Không phải dành riêng cho những người hoàn hảo. Không phải chỉ dành cho những ai đã ngoan ngoãn, đạo đức và sạch sẽ. Ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa, dư đầy, tràn bờ, vượt quá tội lỗi, vượt quá sự yếu đuối, vượt quá mọi thất bại của con người. Nhưng muốn hiểu “chan chứa” đến mức nào, phải nhìn lên Thánh Giá. Ở đó, máu đã chảy đến giọt cuối cùng. Ở đó, trái tim đã mở ra. Ở đó, hai bàn tay không còn khép lại để giữ lấy điều gì cho mình. Ở đó, Đấng Cứu Chuộc trở thành người nghèo nhất, trần trụi nhất, cô độc nhất, bị loại trừ nhất, để không một người nghèo nào, không một người cô đơn nào, không một người bị ruồng bỏ nào còn có thể nói rằng Thiên Chúa không biết thân phận của họ.
Tin Mừng theo Thánh Gioan đưa chúng ta đến tận chân Thánh Giá và để lại một hình ảnh không bao giờ cạn ý nghĩa: “Một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra” (x. Ga 19,34). Chúa đã chết rồi. Người ta tưởng tất cả đã kết thúc. Các môn đệ đã tản mác. Những giấc mơ về một Đấng Mêsia dường như tan vỡ. Đám đông đã về. Núi Sọ bắt đầu chìm vào sự im lặng của buổi chiều. Nhưng chính lúc người đời tưởng rằng chẳng còn gì nữa, thì từ cạnh sườn bị đâm thâu lại tuôn ra máu và nước. Từ một thân xác đã bị nghiền nát, sự sống lại bắt đầu chảy. Từ cái chết, nguồn sống mở ra. Từ thất bại, ơn cứu độ bừng lên. Từ trái tim bị đâm thủng, lòng thương xót tràn xuống nhân loại. Có lẽ chẳng có hình ảnh nào diễn tả linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế sâu hơn thế. Người thừa sai Chúa Cứu Thế được sinh ra từ cạnh sườn mở rộng ấy. Người ấy ra đi không phải vì mình có tài, có chiến lược, có tổ chức mạnh hay có những phương pháp mục vụ hấp dẫn. Người ấy ra đi bởi đã được máu và nước của Đấng Cứu Chuộc chạm đến. Người ấy đi tìm người nghèo bởi chính mình đã được tìm thấy khi còn nghèo. Người ấy nói về lòng thương xót bởi chính mình đã sống nhờ lòng thương xót. Người ấy rao giảng ơn cứu độ bởi chính mình biết rằng nếu không có Thánh Giá, cuộc đời mình cũng chẳng có gì để tự hào trước mặt Thiên Chúa.
Điều đáng sợ nhất đối với một Dòng mang tên Chúa Cứu Thế không phải là nghèo đi, ít người đi, thiếu phương tiện hay mất ảnh hưởng xã hội. Điều đáng sợ nhất là vẫn mang tên Chúa Cứu Thế nhưng lại xa dần Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh. Một cộng đoàn có thể rất đông mà vẫn xa Thánh Giá. Một nhà thờ có thể rất lớn mà vẫn thiếu bóng dáng Đấng chịu đóng đinh. Một bài giảng có thể rất hay mà người nghe vẫn không gặp được lòng thương xót. Một chương trình mục vụ có thể rất thành công mà người nghèo vẫn đứng ngoài cửa. Một tu sĩ có thể rất bận rộn với việc của Chúa mà lòng lại xa chính Chúa. Một nhà truyền giáo có thể nói rất nhiều về Thiên Chúa nhưng chính mình không còn biết quỳ lâu trước Đấng bị đóng đinh. Lúc ấy, những hoạt động vẫn còn nhưng linh hồn của sứ vụ đã yếu đi. Bộ máy có thể chạy, nhưng ngọn lửa đã nguội. Danh xưng vẫn còn, nhưng căn tính đang mờ dần. Bởi Dòng Chúa Cứu Thế không được sinh ra trước tiên để làm nhiều việc; Dòng được sinh ra để tiếp nối Đức Kitô Cứu Thế trong sứ mạng loan báo Tin Mừng cho người nghèo, và Đức Kitô mà người tu sĩ được gọi bước theo chính là Đức Kitô đã đi đến cùng trên con đường tự hiến.
Thánh Giá nói cho người tu sĩ Chúa Cứu Thế biết rằng cứu chuộc bao giờ cũng phải trả giá. Không có tình yêu thật mà không có hy sinh. Không có đời thừa sai thật mà chỉ toàn tiện nghi. Không có lòng thương xót thật mà không chấp nhận bị phiền hà. Không có việc phục vụ người nghèo thật mà người thừa sai vẫn giữ nguyên mọi khoảng cách an toàn. Chúa Giêsu đã không cứu con người từ xa. Người đi vào thân phận con người. Người sinh ra trong nghèo khó, lớn lên trong âm thầm, sống giữa những người bé nhỏ, chạm vào người phong cùi, ngồi ăn với kẻ tội lỗi, để cho người đàn bà tội lỗi khóc bên chân mình, dừng lại trước người mù bên đường, đến nhà ông Giakêu, trò chuyện với người phụ nữ Samari, khóc bên mộ Ladarô, quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ và cuối cùng để cho người ta đóng đinh mình. Đấng Cứu Chuộc không cứu bằng cách tránh đau khổ. Người cứu bằng cách bước vào tận đáy đau khổ để biến đổi nó từ bên trong. Người không đứng trên bờ gọi một nhân loại đang chìm hãy tự bơi vào. Người nhảy xuống dòng nước ấy, ôm lấy con người và nâng họ lên bằng chính mạng sống mình.
Vì thế, người thừa sai Chúa Cứu Thế không thể chỉ đứng trên bục cao nói với người đau khổ về ý nghĩa đau khổ. Có những lúc phải ngồi xuống bên họ. Không cần nói. Chỉ hiện diện. Không cần đưa ra câu trả lời quá nhanh. Chỉ để cho họ biết rằng họ không cô độc. Có người mẹ vừa mất con không cần nghe một bài thần học dài về sự sống đời sau ngay trong giờ phút trái tim bà đang vỡ. Bà cần một người đủ kiên nhẫn ngồi cạnh để bà khóc. Có một người trẻ nghiện ngập nhiều lần tái phạm không cần thêm một ánh mắt kết án. Anh ta cần một người vẫn gọi đúng tên mình và vẫn tin rằng đời mình còn có thể bắt đầu lại. Có một đôi vợ chồng đang đứng bên bờ tan vỡ không cần ai lập tức phân xử bên nào thắng, bên nào thua. Họ cần được giúp nhìn lại những vết thương mà chính họ đã gây ra cho nhau. Có một người già bị con cái bỏ quên không cần thật nhiều lời đạo đức. Họ cần một bàn tay nắm lấy bàn tay mình. Có một người từ lâu không dám bước vào nhà thờ vì nghĩ mình quá tội lỗi. Người ấy cần gặp một Hội Thánh không đóng cửa trước mặt mình. Đó chính là nơi linh đạo Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh trở thành thịt, thành máu, thành hơi thở, thành bước chân mục tử.
Có một câu chuyện trong Tin Mừng Luca rất đẹp để hiểu điều ấy. Hai môn đệ trên đường Emmau đang bỏ Giêrusalem mà đi. Họ thất vọng. Họ đã hy vọng vào Đức Giêsu, nhưng Người đã bị đóng đinh. Thánh Giá đối với họ lúc ấy là dấu chấm hết. “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Israel” (Lc 24,21). Câu nói nghe đau biết bao: “trước đây vẫn hy vọng”. Nghĩa là bây giờ họ không hy vọng nữa. Những gì họ tin đã sụp đổ vào chiều thứ Sáu. Nhưng Chúa Phục Sinh không quở trách họ từ xa. Người đến gần và cùng đi với họ. Người hỏi họ đang nói chuyện gì. Người để họ kể nỗi thất vọng của mình. Người lắng nghe cho đến khi họ nói hết. Rồi Người mới mở Kinh Thánh cho họ. Và tối đến, Người bẻ bánh trước mặt họ. Chỉ lúc ấy mắt họ mới mở ra. Đây chính là mẫu mực tuyệt đẹp cho người thừa sai: đến gần, cùng đi, lắng nghe, giải thích Lời Chúa, bẻ bánh, rồi để trái tim người ta nóng lên. Người truyền giáo của Đấng Cứu Chuộc không kéo người khác đi bằng sức mạnh; người ấy đồng hành cho đến khi chính họ nhận ra Chúa đang đi bên cạnh mình.
Điều làm nên nét riêng của linh đạo Chúa Cứu Thế là không bao giờ tách Thánh Giá khỏi lòng thương xót. Có người nhìn Thánh Giá và chỉ thấy đau khổ. Có người nhấn mạnh Thánh Giá đến mức đời sống Kitô hữu trở thành một tôn giáo ảm đạm, nặng nề, chỉ còn chịu đựng và hy sinh. Nhưng Thánh Giá Kitô giáo không phải là sự tôn thờ đau khổ. Chúng ta không yêu đau khổ vì đau khổ. Đức Giêsu cũng không tìm kiếm đau khổ như một giá trị tự thân. Điều chúng ta chiêm ngắm nơi Thánh Giá là một tình yêu mạnh hơn đau khổ, một tình yêu đi xuyên qua đau khổ mà không biến thành hận thù, một tình yêu chịu tổn thương mà không thôi yêu, một tình yêu bị phản bội mà vẫn tha thứ, một tình yêu bị đóng đinh mà vẫn mở tay. Nếu trên Thánh Giá Chúa Giêsu nguyền rủa kẻ giết mình, nhân loại chỉ có thêm một nạn nhân của bạo lực. Nhưng Người đã nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ” (Lc 23,34). Chính câu ấy thay đổi mọi sự. Nó cho thấy Thánh Giá không phải chiến thắng của bạo lực trên Thiên Chúa, nhưng là chiến thắng của tình yêu trên bạo lực.
Người con Thánh Anphongsô phải học câu “xin tha cho họ” rất lâu. Có lẽ lâu hơn học nhiều môn thần học. Bởi đời tu không thiếu những vết thương. Sống cộng đoàn không thiếu những va chạm. Làm mục vụ không thiếu hiểu lầm. Phục vụ Hội Thánh không thiếu những lúc bị phê bình, bị nghi ngờ, thậm chí bị đối xử bất công. Làm người thừa sai cũng có lúc gieo mà không gặt, nói mà chẳng ai nghe, yêu mà không được đáp lại. Khi ấy, Thánh Giá không còn là cây gỗ treo trong nhà nguyện. Nó đi vào đời mình. Người ta có thể hôn Thánh Giá rất sốt sắng trong phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng lại không chịu nổi một người anh em khó tính đang sống cạnh mình. Có thể giảng rất hay về tha thứ nhưng trong lòng giữ một món nợ nhiều năm. Có thể nói về Đức Kitô nghèo khó nhưng đời sống mình không chịu thiếu bất cứ tiện nghi nào. Có thể nói về người bị bỏ rơi nhưng lại chỉ thích những nơi mình được đón tiếp nồng hậu. Chính những nghịch lý ấy luôn mời gọi người tu sĩ trở về dưới chân Thánh Giá để hỏi: tôi đang theo Đức Kitô nào? Đức Kitô của Tin Mừng hay một hình ảnh Đức Kitô do tôi tạo ra cho vừa với sở thích của mình?
Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh cũng mặc khải cho Dòng Chúa Cứu Thế một tiêu chuẩn rất rõ về quyền bính. Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu không còn gì để kiểm soát. Người không có ngai vàng, không có quân đội, không có tiền bạc, không có phương tiện cưỡng chế. Quyền lực duy nhất còn lại là quyền lực của tình yêu tự hiến. Trước đó, trong bữa Tiệc Ly, Người đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Người là Thầy mà trở thành người phục vụ. Người là Chúa mà cúi xuống. Người có quyền mà dùng quyền ấy để nâng người khác lên chứ không để người khác quỳ xuống trước mình. Đây phải là bản hiến chương của mọi quyền bính trong đời thánh hiến. Một bề trên càng gần Thánh Giá càng ít cần chứng minh quyền của mình. Một người lãnh đạo càng thấm tinh thần Đấng Cứu Chuộc càng biết lắng nghe. Quyền bính theo Tin Mừng không phải khả năng bắt người khác làm theo ý mình, mà là trách nhiệm giúp người khác tìm được ý Chúa. Không phải quyền sở hữu con người, nhưng là bổn phận chăm sóc con người. Không phải đứng trên cộng đoàn, nhưng đứng giữa và nhiều khi đứng dưới để nâng cộng đoàn lên.
Cũng từ Thánh Giá, người Chúa Cứu Thế học được cách hiểu về thành công. Thế gian đo thành công bằng con số, tiếng vang, ảnh hưởng, lượt người tham dự, công trình xây dựng, danh tiếng và những kết quả có thể báo cáo được. Những điều ấy không phải lúc nào cũng xấu. Nhưng nếu trở thành tiêu chuẩn tối hậu, đời thừa sai sẽ rất dễ đánh mất Tin Mừng. Bởi nếu đo theo tiêu chuẩn hiệu quả tức thời, chiều thứ Sáu trên đồi Golgotha là một thất bại hoàn toàn. Một vị Thầy ba mươi ba tuổi chết giữa hai tên tử tội. Mười hai môn đệ thì một người phản bội, một người chối Thầy, phần lớn bỏ trốn. Đám đông từng tung hô nay quay lưng. Chẳng có chương trình nào đạt chỉ tiêu. Chẳng có dấu hiệu nào cho thấy một tôn giáo toàn cầu sắp được sinh ra. Chỉ có một người mẹ đứng khóc, một người môn đệ, vài phụ nữ và một xác người sắp được đem chôn. Nhưng chính ở đó Thiên Chúa đang cứu thế giới. Điều ấy phải làm chúng ta khiêm nhường trước những đánh giá về thành công và thất bại. Có những công việc xem ra chẳng để lại kết quả nào mà lại có giá trị lớn trước mặt Thiên Chúa. Một cha già ngồi tòa giải tội nhiều giờ cho vài hối nhân. Một thừa sai đi hàng chục cây số để thăm một gia đình nghèo. Một tu sĩ âm thầm cầu nguyện cho một người mình chẳng bao giờ gặp. Một người phục vụ cả đời mà tên tuổi chẳng ai biết. Một lời tử tế nói đúng lúc với một người đang muốn buông xuôi. Trước mắt thế gian có thể rất nhỏ. Nhưng Tin Mừng lại thường bắt đầu từ những điều nhỏ như thế.
Linh đạo Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh vì thế phải giải thoát người thừa sai khỏi cơn khát được nhìn nhận. Đây là một trong những cám dỗ tinh vi nhất của người làm việc tông đồ. Ta bắt đầu vì Chúa, rồi từ từ lại cần người khác biết mình làm cho Chúa. Ta muốn phục vụ, nhưng cũng muốn được ghi nhận. Ta muốn Tin Mừng được lan rộng, nhưng đôi khi không phân biệt được giữa vinh quang của Tin Mừng và danh tiếng của chính mình. Ta buồn khi việc của Chúa không thành, nhưng cũng có khi buồn vì tên mình không được nhắc tới. Thánh Giá chữa căn bệnh ấy rất mạnh. Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu bị lột hết. Không còn hình ảnh để giữ. Không còn danh dự xã hội để bảo vệ. Không còn gì ngoài tình yêu. Khi đứng lâu trước Đấng trần trụi trên Thánh Giá, người thừa sai dần học được một thứ tự do rất đẹp: làm điều tốt mà không cần ai thấy, yêu mà không đòi được cảm ơn, gieo mà chấp nhận người khác gặt, xây mà chấp nhận người khác ở, bắt đầu một công việc mà có khi chính mình không bao giờ thấy ngày hoàn tất.
Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh còn đặt Dòng Chúa Cứu Thế vào một vị trí rất đặc biệt trong Hội Thánh: gần những người bị bỏ rơi nhất. Đây không phải khẩu hiệu xã hội. Đây là hệ quả trực tiếp của Thánh Giá. Đức Giêsu chết ở ngoài thành, nơi dành cho những kẻ bị loại trừ. Người bị xếp vào hàng tội phạm. Người không chết giữa trung tâm quyền lực tôn giáo nhưng trên một ngọn đồi hành hình. Vì thế, bất cứ nơi nào có những con người bị đẩy ra bên lề, ở đó người Chúa Cứu Thế phải nghe được tiếng gọi của Đấng chịu đóng đinh. Người nghèo vật chất. Người nghèo kiến thức. Người nghèo cơ hội. Người nghèo vì di dân. Người nghèo vì gia đình đổ vỡ. Người bị nghiện. Người ra tù. Người mang tiếng xấu. Người sống xa bí tích. Người không biết diễn tả đức tin. Người trẻ hoang mang giữa vô số tiếng gọi. Người già bị bỏ lại. Người đau bệnh chẳng có ai chăm. Những người mà xã hội dễ nhìn bằng con số hay nhãn mác, Tin Mừng nhìn bằng tên riêng và khuôn mặt.
Thánh Anphongsô đã đau lòng trước những người dân quê nghèo khổ không được chăm sóc mục vụ đầy đủ. Chính nỗi đau ấy góp phần khai sinh Dòng. Nói cách khác, Dòng Chúa Cứu Thế được sinh ra từ một vết thương mục tử. Thánh nhân nhìn thấy những con người bị bỏ quên và không thể sống bình thản như thể không thấy gì. Đây là điều rất quan trọng. Một ơn gọi thừa sai thật bao giờ cũng khởi đi từ khả năng để cho nỗi đau của người khác làm phiền mình. Khi ta còn có thể ăn ngon ngủ yên trước nỗi đau của anh chị em mình, có lẽ Tin Mừng chưa chạm đủ sâu vào lòng ta. Chúa Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương. Người không chỉ “nhìn thấy”. Người “chạnh lòng”. Nỗi đau của họ đi vào lòng Người. Từ đó Người giảng dạy, chữa lành, cho ăn và cuối cùng hiến mạng sống mình. Một tu sĩ Chúa Cứu Thế nếu đánh mất khả năng chạnh lòng thì dù còn làm rất nhiều việc, điều cốt lõi của linh đạo đã bị tổn thương.
Nhưng để chạnh lòng mà không kiệt sức, người thừa sai phải ở lại với Đấng Cứu Chuộc. Không ai có thể cho mãi nếu không được nhận. Không ai có thể mang những vết thương của quá nhiều người nếu không đặt chúng vào trái tim Chúa. Người tông đồ không phải Đấng Cứu Thế. Đây là điều phải nhớ. Ta phục vụ Đấng Cứu Thế, ta loan báo Đấng Cứu Thế, ta để Đấng Cứu Thế sử dụng mình, nhưng ta không phải Đấng Cứu Thế của bất kỳ ai. Nếu quên điều ấy, người mục tử sẽ dễ gánh những điều vượt quá sức mình, rồi thất vọng, cay đắng hoặc kiệt quệ. Chính trước Thánh Giá, ta học cách trao lại cho Chúa những con người mình yêu mà không cứu nổi, những gia đình mình đã cố giúp nhưng vẫn đổ vỡ, những người trẻ mình đã đồng hành rồi vẫn bỏ đi, những hối nhân mình khuyên bảo nhưng vẫn tái phạm, những công việc đã tận lực mà vẫn thất bại. Ta có thể nói: “Lạy Chúa, họ là của Chúa trước khi là trách nhiệm của con. Con đã làm điều con có thể. Phần còn lại, xin Chúa tiếp tục.” Đó không phải buông xuôi. Đó là đức tin.
Thánh Giá cũng là trường học của sự kiên trì. Chúa Giêsu không cứu thế giới bằng một khoảnh khắc huy hoàng dễ dàng. Người bước từng bước: Bêlem, Nazareth, những con đường bụi bặm Galilê, những đêm cầu nguyện, những cuộc tranh luận, những lần bị hiểu lầm, Giệtsimani, dinh Philatô, con đường lên Núi Sọ. Cứu chuộc có nhịp điệu của sự trung tín. Người thừa sai cũng vậy. Không phải ngày nào cũng có cảm hứng. Không phải bài giảng nào cũng chạm lòng người. Không phải cộng đoàn nào cũng dễ sống. Không phải nhiệm sở nào cũng phù hợp sở thích. Không phải người nghèo nào cũng dễ thương. Có những ngày ơn gọi chỉ còn là chuyện đứng dậy và tiếp tục. Vẫn đọc kinh khi khô khan. Vẫn ngồi tòa khi mệt. Vẫn đi thăm bệnh dù muốn nghỉ. Vẫn tử tế với người làm mình khó chịu. Vẫn trung thành với lời khấn khi trong lòng chẳng còn cảm giác sốt sắng. Chính sự trung tín âm thầm ấy làm nên những vị thừa sai thật.
Một nét khác của linh đạo Thánh Giá là sự gần gũi đặc biệt với Bí tích Hòa Giải. Người ta không thể tách Dòng Chúa Cứu Thế khỏi sứ vụ hòa giải. Bởi Đấng Cứu Chuộc trên Thánh Giá chính là khuôn mặt của một Thiên Chúa không mệt mỏi tìm kiếm người tội lỗi. Trong những đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, trong các kỳ đại phúc, trong những cuộc tĩnh tâm, trong những giờ giải tội dài, biết bao con người đã trở về với Chúa qua tay các thừa sai. Có những câu chuyện chẳng bao giờ được ghi lại. Có người bỏ xưng tội hai mươi năm rồi một ngày bước vào. Có người mang một tội mà cả đời không dám nói. Có người vào tòa giải tội với đôi vai nặng trĩu và bước ra nhẹ hơn. Đằng sau những khoảnh khắc đó là Thánh Giá. Linh mục ngồi tòa không phải một viên chức kiểm tra hồ sơ đạo đức. Ngài ngồi đó thay mặt Đấng đã dang tay trên Thánh Giá. Một cánh tay của Chúa hướng về người công chính, một cánh tay hướng về người tội lỗi; đúng hơn, cả hai cánh tay đều mở cho tất cả. Người giải tội mang linh đạo Chúa Cứu Thế phải làm cho hối nhân cảm được sự nghiêm túc của tội nhưng đồng thời còn cảm được một điều lớn hơn: lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn tội họ.
Hãy nhìn người trộm lành bên cạnh Chúa Giêsu. Anh ta chẳng còn thời gian sửa chữa quá khứ. Không còn cơ hội đền bù những gì mình đã gây ra. Chẳng còn nhiều giờ để chứng minh sự hoán cải. Anh chỉ có thể quay đầu sang người tử tội bên cạnh và thưa: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Và anh nhận được một lời vượt quá mọi điều dám mong: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Đó là Copiosa Redemptio – ơn cứu chuộc chan chứa. Anh xin được nhớ đến; Chúa cho anh Thiên Đàng. Anh xin một tương lai xa; Chúa nói “hôm nay”. Anh không có gì để dâng ngoài một lòng tin muộn màng; Chúa trao cho anh cả sự sống đời đời. Đây là trái tim của linh đạo Chúa Cứu Thế. Người thừa sai phải luôn tin rằng chưa ai quá xa để Chúa không thể kéo về, chưa cuộc đời nào quá đổ vỡ để lòng thương xót không thể chạm đến, chưa tội nhân nào có quyền tuyệt vọng về chính mình nếu vẫn còn biết quay mặt về phía Đấng chịu đóng đinh.
Điều ấy càng cần thiết trong thời đại hôm nay, khi con người rất dễ kết án nhau. Chỉ một sai lầm có thể bị ghi lại mãi trên mạng. Một câu nói có thể bị cắt khỏi bối cảnh và trở thành bản án xã hội. Một con người có thể bị đồng hóa hoàn toàn với lỗi lầm tệ nhất của họ. Văn hóa loại trừ luôn tìm một người để ném đá. Nhưng Thánh Giá nói một ngôn ngữ khác. Thánh Giá không phủ nhận tội lỗi. Chính Thánh Giá cho thấy tội lỗi nghiêm trọng đến mức nào. Nhưng đồng thời Thánh Giá tuyên bố rằng tội lỗi không có tiếng nói cuối cùng trên một đời người. Tiếng nói cuối cùng thuộc về lòng thương xót. Người Chúa Cứu Thế phải là người bảo vệ chân lý ấy bằng cả lời nói lẫn cách cư xử. Không bao che điều sai, nhưng cũng không đóng cửa tương lai của người sai. Không gọi bóng tối là ánh sáng, nhưng vẫn tin rằng ánh sáng có thể đi vào bóng tối.
Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh cũng giúp ta hiểu sâu hơn lời khấn khó nghèo. Khó nghèo không chỉ là câu chuyện sở hữu ít đồ vật. Có thể chẳng có gì đứng tên mà lòng vẫn đầy ham muốn. Khó nghèo theo Thánh Giá sâu hơn nhiều. Đó là tự do khỏi nhu cầu phải chiếm hữu, kiểm soát, khẳng định mình. Chúa trên Thánh Giá không sở hữu gì. Áo Người người khác bắt thăm. Danh dự bị lấy mất. Tự do thân xác bị lấy mất. Những người thân yêu đứng xa. Nhưng còn một điều không ai lấy được: khả năng yêu. Chính ở chỗ chẳng còn gì, Người vẫn trao ban. Đây là khó nghèo tận căn. Người tu sĩ Chúa Cứu Thế được mời gọi sống đủ nhẹ để có thể lên đường. Đủ tự do để được sai đi. Đủ nghèo để hiểu người nghèo. Đủ không lệ thuộc tiện nghi để sứ vụ không bị quyết định bởi nơi nào dễ sống hơn.
Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh cũng soi sáng đức khiết tịnh. Khiết tịnh không phải một đời sống không biết yêu, nhưng là học yêu như Đức Kitô: yêu mà không chiếm hữu. Trên Thánh Giá, Chúa yêu từng người nhưng không giữ ai cho mình. Người trao Mẹ cho môn đệ, trao môn đệ cho Mẹ, trao thần khí cho Chúa Cha, trao cả thân mình cho nhân loại. Tình yêu khiết tịnh là tình yêu có bàn tay mở. Người tu sĩ có thể yêu rất sâu, rất thật, rất cá vị, nhưng không biến bất kỳ ai thành tài sản tình cảm của mình. Không nuôi những lệ thuộc làm người khác mất tự do. Không dùng sứ vụ để lấp khoảng trống tình cảm. Không tìm trong người mình phục vụ điều chỉ Thiên Chúa có thể cho. Thánh Giá làm trái tim người thừa sai rộng ra, để có thể thuộc về nhiều người mà không sở hữu một ai.
Và đức vâng phục cũng phải được học từ Đấng chịu đóng đinh. Vâng phục của Đức Kitô không phải sự thụ động của một con người không có ý chí. Trong vườn Giệtsimani, Người đã nói rất thật: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Có ý của Con và có ý của Cha. Có sự giằng co. Có mồ hôi như máu. Có đau đớn. Vâng phục không xóa đi con người. Vâng phục biến tự do thành lễ dâng. Người tu sĩ Chúa Cứu Thế không được gọi để thôi suy nghĩ hay thôi phân định, nhưng để tìm ý Chúa trong cộng đoàn, qua luật dòng, qua bề trên, qua sứ vụ, qua tiếng kêu của người nghèo và qua những hoàn cảnh mình không chọn. Nhiều thập giá trong đời tu không đến từ việc làm điều khó, mà từ việc phải làm điều mình không chọn. Đi nơi mình không muốn. Rời nơi mình đang yêu. Bắt đầu lại ở tuổi không còn trẻ. Chấp nhận một trách nhiệm mình không thích. Trao lại một công việc đã gắn bó nhiều năm. Những lúc ấy, Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh trở thành người bạn đồng hành rất gần.
Nhưng có một điều cần nói rõ: trung tâm linh đạo Chúa Cứu Thế là Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh, nhưng không phải một Đức Kitô bị đóng đinh mãi mãi trong thất bại. Đấng bị đóng đinh đã sống lại. Thánh Giá và Phục Sinh không thể tách nhau. Người thừa sai không được trở thành người gieo một thứ Kitô giáo buồn bã. Tin Mừng là Tin Mừng vì mồ đã trống. Những vết thương vẫn còn trên thân thể Phục Sinh, nhưng chúng không còn chảy máu. Chúng trở thành dấu chỉ tình yêu chiến thắng. Khi Chúa hiện ra với Tôma, Người không xóa vết đinh. Người đưa vết đinh cho Tôma chạm vào. Điều ấy thật đẹp: Phục Sinh không xóa lịch sử đau khổ; Phục Sinh biến đổi nó. Thiên Chúa không hứa rằng những người thuộc về Người sẽ không có vết thương. Người hứa rằng vết thương không nhất thiết là kết thúc. Một ngày nào đó, chính nơi đã làm ta đau có thể trở thành nơi người khác nhận được hy vọng.
Có lẽ đó cũng là một nét đẹp rất riêng nơi sứ mạng của Dòng Chúa Cứu Thế: đem hy vọng đến những nơi con người tưởng đã hết hy vọng. Không phải thứ hy vọng rẻ tiền nói rằng “rồi mọi chuyện sẽ ổn” khi chẳng biết có ổn không. Nhưng là hy vọng của Thánh Giá: dù chuyện gì xảy ra, Thiên Chúa vẫn ở đó; dù sự dữ có đi xa đến đâu, tình yêu có thể đi xa hơn; dù con người rơi sâu đến đâu, Đấng Cứu Chuộc đã xuống sâu hơn; dù cái chết nói lời dữ dội đến đâu, nó vẫn không phải lời cuối cùng. Người thừa sai Chúa Cứu Thế phải mang trong giọng nói, trong ánh mắt, trong cung cách sống một niềm hy vọng như thế. Người ta đến với mình không nhất thiết phải nhớ hết bài giảng, nhưng họ phải cảm thấy mình còn có thể bắt đầu lại.
Đó là lý do lòng sùng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp nằm rất tự nhiên trong linh đạo Dòng. Mẹ không dẫn người ta tránh khỏi Thánh Giá. Trên linh ảnh Hằng Cứu Giúp, Hài Nhi Giêsu nhìn thấy những dụng cụ khổ hình và chạy đến bên Mẹ. Chiếc dép nhỏ như sắp tuột khỏi chân diễn tả nỗi sợ rất người của Con Thiên Chúa nhập thể. Nhưng bàn tay Mẹ giữ lấy tay Con. Mẹ không làm Thánh Giá biến mất. Mẹ giúp Con đi qua Thánh Giá trong tín thác. Sau này trên Golgotha, Mẹ đứng đó. Không nói. Không làm phép lạ. Không cứu Con khỏi cái chết. Chỉ đứng. “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Một chữ “đứng” thôi mà chứa cả một linh đạo. Có những lúc cứu giúp không phải giải quyết được vấn đề. Có những lúc cứu giúp là không bỏ đi. Mẹ Hằng Cứu Giúp là Mẹ cứ ở đó. Và người thừa sai của Mẹ cũng phải học ở đó với những người đang đau khổ.
Đôi khi chúng ta quá quen với Thánh Giá đến mức không còn bị Thánh Giá chất vấn. Thánh Giá treo ở nhà thờ, trong phòng, trên cổ, trên bàn làm việc. Nhưng Thánh Giá thật luôn gây bất an cho một đời sống quá yên ổn. Nó hỏi chúng ta những câu không dễ trả lời. Ai là người đang bị đóng đinh trong xã hội hôm nay mà tôi không muốn nhìn thấy? Ai là người nghèo đang ở gần cộng đoàn tôi mà tôi chưa bao giờ biết tên? Có ai bước vào nhà thờ của chúng ta mà cảm thấy mình không được chào đón? Có ai đã rời Hội Thánh vì từng bị chúng ta làm tổn thương? Có một người anh em trong cộng đoàn mà nhiều năm nay tôi chỉ nhìn bằng lỗi lầm của họ không? Tôi có đang dùng Tin Mừng để phục vụ người khác hay dùng người khác để xây hình ảnh của mình? Tôi đang sống khó nghèo thật hay chỉ giữ đúng quy định? Tôi đang vâng phục Chúa hay chỉ vâng phục khi điều được yêu cầu trùng với ý mình? Tôi đang rao giảng lòng thương xót hay chỉ rao giảng những tiêu chuẩn đạo đức cho người khác?
Những câu hỏi ấy đau. Nhưng Thánh Giá không đến để làm chúng ta nhục nhã. Thánh Giá đến để cứu. Khi ánh sáng từ Thánh Giá soi vào những góc tối của người môn đệ, đó vẫn là ánh sáng của lòng thương xót. Đấng đang chất vấn ta cũng là Đấng đã chết cho ta. Người không nói: “Hãy hoàn hảo rồi mới đến.” Người nói: “Hãy đến rồi Ta sẽ biến đổi con.” Chính vì thế, linh đạo Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh trước hết không phải một lý tưởng để ta cố gắng đạt tới bằng sức mình, nhưng là một ân sủng để ta đón nhận. Trước khi trở thành người loan báo ơn cứu chuộc, ta phải để mình được cứu chuộc mỗi ngày. Trước khi nói cho người khác về lòng thương xót, ta phải trở về với lòng thương xót ấy với những tội lỗi rất thật của mình. Người tu sĩ không bao giờ tốt nghiệp khỏi trường của Thánh Giá.
Càng sống lâu trong đời tu, có lẽ người ta càng nhận ra những thập giá lớn nhất không phải lúc nào cũng là những biến cố dữ dội. Nhiều khi thập giá là sự hao mòn âm thầm của năm tháng. Là cơ thể không còn khỏe như trước. Là ký ức về những người anh em đã lần lượt ra đi. Là những công việc từng làm rất tốt nay phải nhường cho lớp trẻ. Là cảm giác thế giới thay đổi quá nhanh và mình không còn theo kịp. Là những điều đã hy sinh cả đời mà dường như chẳng ai nhớ. Là việc phải học để mình trở nên nhỏ lại. Nhưng có lẽ chính giai đoạn ấy, linh đạo Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh mới đạt đến một vẻ đẹp khác. Người tu sĩ trẻ theo Chúa bằng sức mạnh của đôi chân. Người tu sĩ già đôi khi theo Chúa bằng sự yếu đuối. Một người ra đi truyền giáo. Người kia nằm trên giường bệnh mà dâng từng hơi thở cho sứ vụ. Trước mắt Thiên Chúa, ai biết ai đang làm nhiều hơn?
Thánh Giá làm đảo lộn những bảng xếp hạng của chúng ta. Một tu sĩ bệnh tật chẳng còn làm được gì có thể đang sống sâu căn tính Chúa Cứu Thế hơn một người hoạt động không ngừng nhưng quên cầu nguyện. Một người anh em già ngồi lần chuỗi trong góc nhà có thể đang nâng đỡ cả một sứ vụ mà chẳng ai biết. Một người âm thầm chịu đựng bệnh tật, không than phiền, có thể đang giảng một bài giảng đẹp hơn nhiều bài giảng trên bục. Đấng Cứu Chuộc đã cứu thế giới trong giờ phút bề ngoài Người chẳng “làm” được gì nữa: tay bị đóng đinh, chân bị đóng đinh, thân thể không thể đi đâu. Người chỉ còn có thể yêu. Nhưng hóa ra yêu là điều lớn nhất.
Và có lẽ đó là điều cuối cùng cần giữ lại khi nói đến trung tâm linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế: Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh là tình yêu đã đi đến cùng. Mọi đặc sủng, mọi cơ cấu, mọi truyền thống, mọi sứ vụ, mọi công trình chỉ có ý nghĩa khi đưa người ta đến tình yêu ấy. Dòng có thể thay đổi phương pháp truyền giáo theo thời đại. Có thể dùng báo chí, radio, truyền hình, mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo, các phương tiện truyền thông mới. Có thể mở những sứ vụ mà Thánh Anphongsô thời của ngài chưa bao giờ tưởng tượng được. Nhưng trung tâm không được thay đổi. Phương tiện có thể mới, Tin Mừng vẫn là một. Ngôn ngữ có thể mới, Đấng được loan báo vẫn là Đấng đã chết và sống lại. Những vùng “bị bỏ rơi” có thể mang hình thức khác, nhưng tiếng gọi vẫn vậy: đi đến nơi người ta cần Tin Mừng nhất.
Một Dòng Chúa Cứu Thế thật sự trung thành với căn tính của mình không nhất thiết phải là một Dòng nổi tiếng. Nhưng phải là một Dòng mà người nghèo biết đường tìm đến. Một cộng đoàn Chúa Cứu Thế không nhất thiết phải có mọi thứ hoàn hảo. Nhưng phải có chỗ cho người yếu đuối. Một linh mục Chúa Cứu Thế không nhất thiết phải là nhà giảng thuyết lừng danh. Nhưng người tội lỗi phải dám đến gần ngài. Một tu sĩ Chúa Cứu Thế không nhất thiết phải làm những chuyện lớn lao. Nhưng ở nơi người ấy sống, người ta phải cảm thấy Thiên Chúa gần hơn một chút, lòng thương xót thật hơn một chút, hy vọng có lý hơn một chút.
Ngày nào người Chúa Cứu Thế còn quỳ trước Thánh Giá và nghe được trong lòng câu hỏi: “Con có yêu những người Thầy yêu không?”, ngày ấy đặc sủng còn sống. Ngày nào những bước chân thừa sai còn đi về phía những người ít được chăm sóc nhất, ngày ấy Thánh Anphongsô còn mỉm cười. Ngày nào các tòa giải tội còn sáng đèn cho người tội lỗi trở về, ngày ấy Copiosa apud Eum Redemptio không chỉ là khẩu hiệu trên huy hiệu Dòng mà là sự thật đang diễn ra. Ngày nào cộng đoàn còn biết tha thứ cho nhau, ngày ấy Thánh Giá vẫn đứng giữa nhà. Ngày nào một người anh em biết chọn phần thiệt về mình để gìn giữ bình an, ngày ấy Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh đang tiếp tục sống trong Hội Thánh.
Và nếu một ngày nào đó chúng ta thấy mình mệt mỏi, khô khan, mất hướng, không còn biết phải làm gì cho sứ vụ, có lẽ đừng vội tìm một chương trình mới. Hãy trở về trước Thánh Giá. Ngồi xuống. Im lặng. Nhìn thật lâu. Nhìn đôi tay ấy. Nhìn cạnh sườn ấy. Nhìn mão gai ấy. Nhìn khuôn mặt ấy. Rồi nhớ rằng Người đã yêu mình như thế trước khi mình làm được bất cứ điều gì cho Người. Ta không được gọi vì ta xứng đáng. Ta được gọi vì Người thương. Ta không được sai đi vì ta hoàn hảo. Ta được sai đi vì thế giới cần biết có một tình yêu như thế. Ta không phải mang một học thuyết đi bán cho người khác. Ta mang một Tin Mừng: Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một; Người Con ấy đã bị đóng đinh, đã sống lại, và nơi Người ơn cứu chuộc vẫn đang chan chứa cho mọi người.
Vào một buổi chiều trên Núi Sọ, người ta đã dựng lên ba cây thập giá. Hai cây dành cho những kẻ có tội. Cây ở giữa dành cho Đấng vô tội. Nhưng từ cây ở giữa ấy, lịch sử nhân loại đổi hướng. Một người lính đã đâm thủng trái tim Người mà không biết mình đang mở nguồn mạch lòng thương xót. Một người trộm chỉ kịp thốt lên một lời cầu xin mà nhận được Thiên Đàng. Một viên đại đội trưởng nhìn thấy cách Người chết mà nhận ra điều đám đông không nhận ra. Một người Mẹ mất Con mà trở thành Mẹ của muôn người. Một môn đệ đứng dưới chân Thánh Giá mà được trao một gia đình mới. Và từ những con người tưởng như thất bại ấy, Hội Thánh được sinh ra.
Hơn hai ngàn năm sau, người con Thánh Anphongsô vẫn đứng ở đó.
Không phải để ngắm một bi kịch đã qua.
Nhưng để nhận một sứ mạng vẫn còn dang dở.
Ngoài kia vẫn còn những người chưa biết rằng mình được yêu. Vẫn còn người mang mặc cảm rằng tội mình quá lớn. Vẫn còn người tưởng Thiên Chúa đã bỏ họ. Vẫn còn người đau khổ trong im lặng. Vẫn còn người nghèo không ai nhớ. Vẫn còn những gia đình đang rạn vỡ. Vẫn còn những người trẻ đi tìm ý nghĩa giữa một thế giới quá nhiều tiếng nói mà quá ít câu trả lời. Vẫn còn những người đứng bên mép vực tuyệt vọng chỉ cần một người bước đến và nói: “Bạn chưa hết đường đâu.”
Vì thế Dòng Chúa Cứu Thế vẫn còn lý do để tồn tại.
Không phải vì Dòng cần tồn tại.
Nhưng vì Tin Mừng cứu chuộc vẫn cần được loan báo.
Không phải để giữ một quá khứ huy hoàng.
Nhưng để tiếp tục một tình yêu chưa bao giờ cũ.
Không phải để xây dựng danh tiếng cho mình.
Nhưng để chỉ vào Đấng chịu đóng đinh và nói với thế giới:
Hãy nhìn xem Người đã yêu bạn đến mức nào.
Và rồi, sau khi đã chỉ cho người ta nhìn thấy Người, người thừa sai có thể lùi lại. Bởi cuối cùng, Dòng Chúa Cứu Thế không tồn tại để người ta nhớ đến Dòng. Dòng tồn tại để người ta gặp được Chúa Cứu Thế. Người tu sĩ không hiến đời mình để người ta nhớ tên mình. Người ấy hiến đời để có thêm một người biết tên Giêsu, có thêm một tội nhân dám trở về, có thêm một người nghèo được tôn trọng, có thêm một người tuyệt vọng tìm được lý do để sống, có thêm một trái tim hiểu rằng mình vẫn còn được yêu.
Khi điều ấy xảy ra, cho dù chẳng ai vỗ tay, sứ mạng đã thành công.
Khi một con người tìm được đường về với Chúa, Thánh Giá lại trổ hoa.
Khi một tội nhân tin vào lòng thương xót, cạnh sườn Chúa lại tuôn nguồn nước sống.
Khi một người nghèo nhận ra phẩm giá của mình, Đấng Cứu Chuộc lại được nhận biết.
Khi một người thừa sai âm thầm cho đi chính mình mà chẳng giữ lại gì, hình bóng của Đấng chịu đóng đinh lại xuất hiện giữa thế gian.
Và đó chính là linh đạo.
Không phải một lý thuyết để học thuộc.
Không phải một khẩu hiệu để treo lên.
Nhưng là trở nên giống Đấng mình rao giảng.
Để rồi một ngày cuối đời, khi chẳng còn giảng được nữa, chẳng còn đi được nữa, chẳng còn làm được gì nữa, người con Thánh Anphongsô vẫn có thể đặt đôi tay mỏi mệt của mình vào đôi tay bị đóng đinh của Chúa và thưa:
“Lạy Đấng Cứu Chuộc của con, đời con chẳng có gì đáng kể ngoài điều này: con đã cố gắng nói cho người khác biết rằng họ được Chúa yêu. Nếu con đã làm được đôi chút, đó là nhờ ơn Chúa. Nếu con đã thiếu sót quá nhiều, xin Máu Chúa bù lại. Và giờ đây, con xin trở về với nguồn mạch mà từ đó mọi sứ vụ của con đã bắt đầu: trái tim bị đâm thâu của Chúa.”
Bởi rốt cuộc, tất cả bắt đầu ở đó.
Và tất cả cũng sẽ trở về đó.
ĐẤNG CỨU CHUỘC BỊ ĐÓNG ĐINH.
NƠI NGƯỜI CHAN CHỨA ƠN CỨU CHUỘC.
COPIOSA APUD EUM REDEMPTIO.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VÀ ĐẶC SỦNG LOAN BÁO TIN MỪNG CHO NGƯỜI NGHÈO, NGƯỜI BỊ BỎ RƠI
Có những lúc người ta tưởng rằng muốn loan báo Tin Mừng thì phải đi tìm những nơi đông người, những nơi có ảnh hưởng, những môi trường có khả năng tạo tiếng vang; phải có phương tiện mạnh, tổ chức tốt, lời nói hấp dẫn, hình ảnh đẹp, chương trình quy mô. Những điều ấy tự chúng không xấu. Tin Mừng cũng cần được rao giảng bằng tất cả những phương tiện tốt lành mà thời đại cho phép. Nhưng nếu hỏi đâu là nơi Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô vang lên thật nhất, mạnh nhất và đúng nghĩa nhất, có lẽ chúng ta phải trở lại một nơi chẳng có gì hấp dẫn theo mắt người đời: đồi Golgotha. Ở đó không có sân khấu. Không có đám đông tung hô. Không có thành công theo nghĩa thông thường. Không có quyền lực khiến người ta nể sợ. Chỉ có một con người bị lột trần, bị đóng đinh, bị chế nhạo, bị bỏ rơi, đang hấp hối giữa hai người mang án tử. Vậy mà chính nơi tưởng như thất bại ấy lại là nơi Tin Mừng được công bố tận cùng nhất. Chính Thánh Giá là bài giảng lớn nhất về tình yêu Thiên Chúa. Chính Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh là nhà truyền giáo vĩ đại nhất. Và chính từ chân Thánh Giá, Hội Thánh mới hiểu được rằng: loan báo Tin Mừng cho người nghèo, người bị bỏ rơi không phải chỉ là một hoạt động bác ái bên cạnh nhiều hoạt động khác, nhưng là đi vào tận trái tim của Đức Kitô, Đấng đã tự đặt mình vào hàng ngũ của những người bị loại trừ nhất để không một người bị loại trừ nào còn có thể nói rằng Thiên Chúa không biết đến phận mình.
Đặc sủng loan báo Tin Mừng cho người nghèo vì thế không bắt đầu từ một chương trình mục vụ, nhưng bắt đầu từ việc nhìn thật lâu lên Đấng chịu đóng đinh. Càng nhìn Thánh Giá, người môn đệ càng không thể sống bình thản trước tiếng khóc của những phận người bị bỏ quên. Càng chiêm ngắm những bàn tay bị đóng đinh của Chúa Giêsu, càng không thể khoanh tay trước người đói khát. Càng nhìn đôi chân bị đóng chặt của Người, càng không thể làm ngơ trước những người không còn đường đi trong cuộc đời. Càng nhìn cạnh sườn bị đâm thâu, càng không thể giữ trái tim mình khép kín trước người đau khổ. Càng nghe tiếng Người kêu lên trong cô độc: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?”, càng hiểu rằng Người đã đi xuống tận đáy của kinh nghiệm bị bỏ rơi để từ đó ôm lấy tất cả những ai từng có cảm giác mình chẳng còn thuộc về ai. Thánh Giá không cho phép người Kitô hữu đứng xa nỗi đau của con người. Thánh Giá kéo chúng ta xuống khỏi những chiếc ghế an toàn, phá vỡ những khoảng cách được dựng lên bởi tiền bạc, địa vị, tri thức, chức quyền, danh dự, thói quen và cả những định kiến tôn giáo, để chúng ta dám đứng bên cạnh những con người mà xã hội không muốn đứng cạnh.
Tin Mừng cho người nghèo trước hết là Tin Mừng rằng họ không bị Thiên Chúa quên. Đây có lẽ là điều quan trọng hơn tất cả. Cái nghèo đau nhất nhiều khi không phải là không có tiền. Có người nghèo tiền nhưng giàu tình yêu, giàu phẩm giá, giàu niềm hy vọng. Cái nghèo khủng khiếp là cảm giác đời mình không đáng kể, tiếng nói mình chẳng ai nghe, nước mắt mình chẳng ai thấy, sự hiện diện của mình chẳng ai cần. Có người sống giữa thành phố đông đúc mà cô độc như ở sa mạc. Có người ở giữa một gia đình nhưng nhiều năm chẳng được ai thực sự lắng nghe. Có người già nằm trong căn phòng nhỏ, cả ngày nhìn ra cửa chờ một bước chân quen mà không thấy. Có đứa trẻ lớn lên với một khoảng trống vì cha mẹ quá bận kiếm tiền mà quên rằng con mình cần được ôm. Có bệnh nhân đau lâu ngày bắt đầu tự hỏi mình có còn là gánh nặng của mọi người hay không. Có người lầm lỡ sau một lần sa ngã bị xã hội đóng dấu suốt đời. Có người ra khỏi tù nhưng chẳng tìm thấy cánh cửa nào thực sự mở. Có người nghiện ngập bị nhìn bằng ánh mắt khinh miệt nhiều hơn bằng ánh mắt thương cảm. Có những người di dân sống giữa nơi xa lạ, làm những công việc nặng nhọc nhưng chẳng ai biết tên họ. Có những người không có khả năng tự bảo vệ mình, những thai nhi chưa được sinh ra, những cụ già không còn hữu dụng theo cách tính toán của xã hội, những người khuyết tật, những người bệnh tâm thần, những người không có tiếng nói. Và còn biết bao người nghèo khác mà chúng ta không gọi tên được. Tin Mừng phải đến với họ trước hết bằng một lời rất đơn giản: “Anh chị em không bị quên. Thiên Chúa biết tên anh chị em. Thiên Chúa đã đi tìm anh chị em. Và giá trị đời anh chị em lớn đến mức Con Thiên Chúa đã chết cho anh chị em.”
Đó chính là điều Thánh Giá nói. Thánh Giá không nói rằng người mạnh đáng được yêu hơn người yếu. Thánh Giá không nói rằng người thành công đáng được trân trọng hơn người thất bại. Thánh Giá không nói rằng phẩm giá một con người tăng lên theo tài khoản ngân hàng, bằng cấp, sức khỏe, nhan sắc hay ảnh hưởng của người ấy. Trên Thánh Giá, Thiên Chúa công bố một tiêu chuẩn hoàn toàn khác: con người có giá trị bởi vì được Thiên Chúa yêu. Thế thôi. Một người đang nằm hấp hối không còn làm được gì vẫn quý giá. Một em bé vừa thành hình trong lòng mẹ chưa tạo ra bất cứ giá trị kinh tế nào vẫn quý giá. Một ông cụ trí nhớ đã phai, không còn nhận ra người thân, vẫn quý giá. Một người phạm tội nặng nề, dù phải chịu trách nhiệm về những gì mình làm, vẫn không mất phẩm giá căn bản của một con người được Thiên Chúa dựng nên và được Đức Kitô cứu chuộc. Máu của Đức Giêsu đổ ra không phân biệt người giàu hay nghèo, người tài giỏi hay ít học, người đạo đức hay tội lỗi. Máu ấy rơi xuống đất cho mọi người. Bởi thế, bất cứ nơi nào phẩm giá con người bị chà đạp, nơi đó Thánh Giá đang chất vấn Hội Thánh. Bất cứ nơi nào một con người bị đối xử như món đồ dư thừa, nơi đó Đấng chịu đóng đinh đang hỏi chúng ta: “Con có thấy Ta trong người ấy không?”
Có một đoạn Tin Mừng rất đẹp soi sáng đặc sủng này. Khi Đức Giêsu về Nadarét, Người vào hội đường và đọc lời ngôn sứ Isaia: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19). Sau đó Người nói: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (Lc 4,21). Chữ “hôm nay” ấy thật quan trọng. Đức Giêsu không nói về một viễn tượng xa xôi. Người nói rằng nơi Người, ngay hôm nay, Thiên Chúa đang đến với người nghèo. Nơi Người, người bị giam cầm được nghe về tự do. Nơi Người, người mù được mở mắt. Nơi Người, người bị áp bức được nâng dậy. Và cả cuộc đời Đức Giêsu sau đó là sự triển khai của lời công bố ấy. Người đi tìm người phong cùi mà mọi người tránh xa. Người ngồi ăn với những kẻ bị coi là tội lỗi. Người để người phụ nữ bị mang tiếng xấu chạm vào chân mình. Người dừng lại với người mù ngồi bên vệ đường dù đám đông muốn bắt anh im tiếng. Người bước vào nhà ông Dakêu, một người bị cộng đồng khinh ghét. Người chạm vào quan tài của người con trai bà góa thành Nain. Người bảo vệ người phụ nữ bị kéo ra giữa đám đông để kết án. Người trò chuyện với người phụ nữ Samari bên bờ giếng. Người không chỉ giảng về lòng thương xót; Người biến chính đời mình thành lòng thương xót đang bước đi giữa nhân loại.
Nhưng con đường ấy đưa Người đến đâu? Đưa đến Thánh Giá. Bởi vì đứng về phía người bị loại trừ luôn có giá của nó. Yêu những người chẳng ai muốn yêu luôn có giá của nó. Nói sự thật bênh vực người yếu thế luôn có giá của nó. Phá vỡ những bức tường phân chia luôn có giá của nó. Đức Giêsu không chết vì một tai nạn bất ngờ. Thánh Giá là hậu quả của một đời sống hoàn toàn trung thành với tình yêu của Chúa Cha và hoàn toàn dấn thân cho con người. Người đã chạm vào những người không được phép chạm. Người đã tha thứ cho những người mà người khác muốn kết án. Người đặt con người lên trên luật lệ khi luật lệ bị sử dụng để nghiền nát con người. Người nói thẳng với những cơ chế tôn giáo đã biến đức tin thành gánh nặng. Người lật bàn những kẻ biến Nhà Cha thành nơi buôn bán. Người công bố Nước Thiên Chúa cho những người bé nhỏ. Người làm cho những người vô danh nhận ra rằng họ có một khuôn mặt trước mặt Thiên Chúa. Người không chịu bước sang bên kia đường khi gặp người bị thương. Cuối cùng, chính Người bị đối xử như một kẻ bị loại trừ.
Hãy nhìn thật kỹ cảnh Thánh Giá. Đức Giêsu bị đóng đinh ngoài thành. Điều đó có ý nghĩa sâu xa. Người chết ngoài nơi cư trú, ngoài không gian danh dự, ngoài vòng an toàn. Người bị đẩy ra bên lề theo nghĩa đen. Và ở đó, Người nằm trong hàng ngũ những người bị xã hội loại bỏ. Hai bên Người không phải là hai nhân vật quyền thế mà là hai tử tội. Đám đông không tung hô mà chế nhạo. Các môn đệ phần lớn đã bỏ chạy. Áo Người bị chia nhau. Danh dự Người bị tước bỏ. Thân thể Người bị hành hạ. Người không còn gì để trao ngoài chính mình. Nhưng chính lúc không còn gì nữa, Người trao tất cả. Đó là nghịch lý của Thánh Giá. Người hoàn toàn nghèo để làm giàu cho chúng ta bằng tình yêu. Người bị bỏ rơi để không ai còn bị bỏ rơi trong tuyệt vọng. Người bước vào sự chết để mở cửa sự sống. Người trở nên người cuối cùng để nâng những người cuối cùng lên.
Vì thế, một linh đạo truyền giáo chân chính không thể tách khỏi Thánh Giá. Nếu truyền giáo chỉ còn là mở rộng ảnh hưởng, tăng số người, xây dựng hình ảnh, làm cho tổ chức lớn mạnh, nó có thể rất thành công mà vẫn xa Tin Mừng. Thành quả mục vụ là điều đáng quý, nhưng không phải tiêu chuẩn cuối cùng của Tin Mừng. Tiêu chuẩn cuối cùng là sự trung thành với Đức Kitô. Và Đức Kitô mà Hội Thánh loan báo là Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Thánh Phaolô đã từng nói một câu làm đảo lộn mọi tiêu chuẩn của thế gian: “Chúng tôi rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh” (1 Cr 1,23). Người Do Thái đòi dấu lạ. Người Hy Lạp tìm sự khôn ngoan. Còn Phaolô đặt trước mặt họ một Đấng bị đóng đinh. Theo mắt người đời, đó là thất bại. Theo cái nhìn đức tin, đó là quyền năng của Thiên Chúa. Nhà truyền giáo vì thế không thể chỉ mang đến cho người nghèo những lời hứa đẹp về Thiên Chúa mà bản thân lại sợ sống tinh thần nghèo khó. Không thể nói về một Đức Kitô gần người bị bỏ rơi trong khi chính mình chỉ thích gần người có ảnh hưởng. Không thể giảng một Thiên Chúa khiêm hạ nhưng lại khao khát địa vị. Không thể rao giảng Đấng không có chỗ tựa đầu mà đời sống của người môn đệ lại quá bận tâm với tiện nghi. Không thể loan báo Thánh Giá mà luôn tìm cách tránh mọi hy sinh.
Đối với linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế, điều này càng đặc biệt sâu sắc. Ơn gọi của người thừa sai Chúa Cứu Thế được sinh ra từ thao thức đem Ơn Cứu Chuộc chứa chan đến những người nghèo nhất, bị bỏ rơi nhất. Thánh Anphongsô không gặp Đức Kitô bằng cách chạy khỏi con người đau khổ, nhưng gặp Người nơi chính những phận người không được chăm sóc đầy đủ về đời sống thiêng liêng. Những người nghèo vùng quê, những người chăn dê trên các triền núi, những dân quê ít học, những người mà đời sống mục vụ thông thường chưa chạm tới, đã trở thành tiếng gọi đánh thức trái tim ngài. Và từ đó bật lên một câu hỏi mang sức nặng của một đời: ai sẽ nói cho họ biết rằng Thiên Chúa yêu họ? Ai sẽ đến với họ? Ai sẽ ở lại với họ? Ai sẽ giảng cho họ bằng thứ ngôn ngữ họ hiểu? Ai sẽ giúp họ biết rằng Ơn Cứu Chuộc không chỉ dành cho những người có điều kiện đến gần các trung tâm, nhưng là ân ban cho tất cả, đặc biệt cho những ai dường như ở xa nhất?
“Ơn Cứu Chuộc nơi Người chan chứa.” Câu Thánh Vịnh ấy trở thành một nhịp đập của đặc sủng Chúa Cứu Thế. Copiosa apud Eum redemptio. Ơn cứu chuộc nơi Người không ít ỏi, không dè sẻn, không chỉ vừa đủ, không dành riêng cho một nhóm ưu tuyển. Ơn cứu chuộc ấy dồi dào, chứa chan, dư tràn. Và điều gì dồi dào thì tự bản chất muốn tràn ra. Một dòng nước đầy phải chảy. Một trái tim đầy tình yêu phải cho đi. Một Hội Thánh thực sự cảm nghiệm Ơn Cứu Chuộc không thể đóng kín cửa. Một tu sĩ Chúa Cứu Thế thực sự bị chạm bởi Đấng Cứu Chuộc không thể chỉ giữ niềm vui ấy cho mình. Nếu đã biết mình được tha thứ thế nào, sẽ muốn người tội lỗi cũng nếm được lòng thương xót ấy. Nếu đã biết mình được tìm kiếm thế nào, sẽ muốn đi tìm người lạc mất. Nếu đã biết Chúa đã kiên nhẫn với mình thế nào, sẽ bớt khắt khe với người khác. Nếu đã biết mình được yêu khi còn bất xứng thế nào, sẽ hiểu rằng chẳng có ai bất xứng đến mức không đáng được nghe Tin Mừng.
Ở đây, Thánh Giá trở thành thước đo rất nghiêm khắc của đời sống thừa sai. Người truyền giáo cho người nghèo phải tự hỏi: tôi đến với người nghèo để làm gì? Để thấy mình tốt? Để thỏa mãn nhu cầu làm việc thiện? Để có những bức hình đẹp? Để kể những câu chuyện cảm động? Hay bởi vì tôi nhận ra nơi họ một người anh em được Đức Kitô yêu đến chết? Có một khác biệt rất lớn giữa thương hại và yêu thương. Thương hại đứng từ trên nhìn xuống. Tình yêu đứng ngang hàng. Thương hại cho một món quà rồi đi. Tình yêu hỏi tên người kia. Thương hại thích giải quyết nhanh một nhu cầu. Tình yêu muốn hiểu cả con người. Thương hại dễ tạo ra khoảng cách giữa “người cho” và “người nhận”. Tình yêu biết rằng cả hai đều là những người nghèo trước mặt Thiên Chúa. Người thừa sai chân chính không bao giờ bước vào xóm nghèo với tâm thế “tôi mang Chúa đến cho các bạn”, bởi có khi Chúa đã ở đó từ lâu trước khi mình đến. Có khi chính người nghèo sẽ dạy mình về lòng tin. Có khi bà mẹ nghèo nuôi con trong khốn khó lại hiểu sự phó thác hơn mình. Có khi một bệnh nhân chịu đau trong bình an lại giảng về Thánh Giá sâu hơn cả một bài thần học. Có khi một người chẳng biết nói lời hoa mỹ lại có một lòng bác ái khiến người có học phải cúi đầu.
Tin Mừng minh họa điều ấy thật đẹp trong trình thuật bà góa nghèo bỏ hai đồng tiền nhỏ vào thùng tiền Đền Thờ. Người giàu bỏ rất nhiều. Bà chỉ bỏ hai đồng tiền kẽm. Chẳng ai để ý. Có lẽ nếu Đức Giêsu không lên tiếng, không ai biết bà đã từng đi ngang qua đó. Nhưng Chúa thấy. Người nghèo thường là những người chẳng ai thấy, nhưng Chúa thấy. Đức Giêsu gọi các môn đệ lại và nói rằng bà đã bỏ vào nhiều hơn tất cả, vì những người khác bỏ phần dư thừa, còn bà trong cảnh túng thiếu đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống mình. Thật đáng suy nghĩ: Chúa không chỉ nhìn người nghèo như đối tượng cần được giúp. Người nhìn thấy nơi người nghèo một khả năng hiến dâng phi thường. Đây là điều mà mục vụ cho người nghèo rất dễ quên. Nếu chúng ta chỉ nhìn người nghèo như những bàn tay cần nhận, chúng ta vô tình xúc phạm phẩm giá họ. Người nghèo cũng có thể cho. Họ có đức tin để cho. Có lòng quảng đại để cho. Có kinh nghiệm sống để cho. Có sự kiên cường để cho. Có nước mắt, lời cầu nguyện và tình thương để cho. Hội Thánh không chỉ được sai đến với người nghèo; Hội Thánh cũng phải để người nghèo Tin Mừng hóa mình.
Cảnh Thánh Giá cho chúng ta một hình ảnh còn mạnh hơn nữa. Người đầu tiên nghe lời hứa trực tiếp về thiên đàng từ miệng Đức Giêsu trong những giờ phút cuối đời Người là ai? Không phải một tông đồ. Không phải một tư tế. Không phải một học giả Kinh Thánh. Là một tên trộm đang bị đóng đinh bên cạnh. Anh chẳng còn gì để dâng. Chẳng còn thời gian sửa lại cuộc đời. Chẳng có cơ hội lập công. Chẳng thể xuống khỏi thập giá mà trả lại những gì đã cướp, làm những việc bác ái hay xây dựng một quá khứ mới. Anh chỉ có một lời cầu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Đức Giêsu trả lời: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Có lẽ không có đoạn Tin Mừng nào diễn tả Ơn Cứu Chuộc chứa chan rõ hơn thế. Một con người ở phút cuối, một đời đầy đổ vỡ, chỉ còn một hơi thở và một lời tín thác, được mở cửa thiên đàng. Đó là Chúa Cứu Thế. Đó là Đấng mà chúng ta được sai đi loan báo. Một Thiên Chúa không mỏi mệt cứu con người cho đến giây phút cuối cùng.
Người thừa sai vì thế không được tuyệt vọng về bất cứ ai. Đây là một đòi hỏi rất lớn. Chúng ta dễ mất kiên nhẫn với những người thay đổi quá chậm. Chúng ta giúp một người rồi thấy họ lại vấp ngã. Khuyên một người nghiện bỏ nghiện rồi họ tái nghiện. Hòa giải một gia đình rồi vài tháng sau lại xung đột. Dạy giáo lý một người rồi họ bỏ lễ. Cố gắng nâng một người lên rồi thấy họ quay trở lại lối sống cũ. Và chúng ta mệt. Chúng ta nghĩ: “Thôi, hết cách rồi.” Nhưng người môn đệ của Đấng Cứu Chuộc phải rất cẩn thận với câu “hết cách rồi”, bởi Thánh Giá chính là lời Thiên Chúa nói rằng: khi con người tưởng hết cách, Thiên Chúa vẫn còn một con đường. Khi các môn đệ tưởng mọi chuyện đã kết thúc chiều Thứ Sáu, Thiên Chúa đang chuẩn bị buổi sáng Phục Sinh. Khi viên đá lấp cửa mồ, tình yêu vẫn không bị chôn. Vì thế, nhà truyền giáo của Thánh Giá là con người mang một thứ hy vọng bướng bỉnh: không từ bỏ con người dễ dàng.
Tuy nhiên, loan báo Tin Mừng cho người nghèo không có nghĩa là lãng mạn hóa cái nghèo. Nghèo đói vẫn là một đau khổ phải được khắc phục khi có thể. Bệnh tật cần được chữa trị. Trẻ em cần được học. Người bị bóc lột cần được bảo vệ. Người thất nghiệp cần cơ hội lao động. Người không nhà cần một mái nhà. Nạn nhân bạo lực cần được bênh vực. Người di dân cần được tôn trọng. Người già cần được chăm sóc. Người đói cần bánh ăn. Chúng ta không thể nói với một người đang đói: “Chúa yêu anh” mà không quan tâm xem anh có gì ăn tối nay không. Thánh Giacôbê đã nói rất rõ: nếu một người anh em không có áo che thân, không đủ của ăn hằng ngày, mà chúng ta chỉ bảo “hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no” nhưng chẳng cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì ích gì? Đức tin không có việc làm là đức tin chết. Nhưng ngược lại, nếu chỉ cho bánh mà không giúp con người tìm thấy ý nghĩa, hy vọng và phẩm giá, việc loan báo cũng chưa trọn vẹn. Con người không chỉ có cái bụng. Người nghèo không chỉ cần thực phẩm; họ cần được nhìn như con người. Họ cần được gọi tên. Cần có người lắng nghe. Cần có một cộng đoàn tiếp nhận. Cần biết rằng mình có một tương lai. Cần được nghe Tin Mừng rằng cuộc đời họ không phải là một tai nạn vô nghĩa giữa vũ trụ lạnh lùng nhưng là một đời sống nằm trong bàn tay Thiên Chúa.
Và chính ở điểm này, Thánh Giá nối kết hai chiều kích tưởng như xa nhau: cứu độ linh hồn và phục vụ con người toàn diện. Đấng bị đóng đinh không cứu một “linh hồn trừu tượng”. Người cứu con người bằng chính thân xác mình. Thân thể Người bị đánh. Máu Người đổ. Người khát. Người đau. Người chết. Kitô giáo vì thế không thể coi thường thân xác và những nhu cầu cụ thể của con người. Nhưng Thánh Giá cũng cho thấy đau khổ sâu nhất của con người không chỉ là thiếu cơm áo mà còn là tội lỗi, sự xa cách Thiên Chúa, sự mất ý nghĩa, sự không thể tự cứu mình. Bởi thế người thừa sai phải mang cả bánh cho người đói lẫn Lời cho tâm hồn; cả thuốc men cho người bệnh lẫn niềm hy vọng cho người tuyệt vọng; cả sự nâng đỡ xã hội lẫn lời mời gọi hoán cải; cả công lý lẫn lòng thương xót; cả sự giải phóng khỏi những cơ cấu bất công lẫn sự giải phóng khỏi ích kỷ, hận thù và tội lỗi đang trói buộc trái tim con người.
Một nguy cơ khác là chúng ta thích người nghèo ở xa hơn người nghèo ở gần. Nghèo ở xa thường dễ thương. Ta có thể gửi chút tiền, cảm thấy xúc động rồi tiếp tục cuộc sống. Người nghèo ở gần lại làm phiền. Có thể là một người thân khó tính. Một ông già nói mãi một câu. Một người bệnh cần được chăm sóc từng ngày. Một người trong cộng đoàn chậm chạp, vụng về. Một người cứ tìm đến đúng lúc mình đang bận. Một linh mục già không còn làm được việc. Một tu sĩ đang khủng hoảng. Một người anh em có tính tình không dễ chịu. Một giáo dân nghèo chẳng mang lại “lợi ích” nào cho giáo xứ nhưng lúc nào cũng cần được lắng nghe. Có những lúc “người bị bỏ rơi nhất” không ở một đất nước xa xôi mà đang ăn cùng bàn với ta. Thánh Giá hỏi chúng ta không phải yêu nhân loại nói chung, mà yêu một người cụ thể đang đứng trước mặt.
Đây cũng là một xét mình rất đau đối với Hội Thánh. Một cộng đoàn có thể nói rất nhiều về người nghèo nhưng trong cách sinh hoạt lại vô tình khiến người nghèo cảm thấy mình lạc lõng. Có thể nhà thờ rất đẹp nhưng người nghèo không dám bước vào vì cảm thấy mình không thuộc về nơi ấy. Có thể các hội đoàn hoạt động sôi nổi nhưng một bà góa đơn độc chẳng ai biết. Có thể chương trình mục vụ rất phong phú nhưng người khuyết tật không có cách tham dự. Có thể một giáo xứ xây được nhiều công trình nhưng một gia đình đang bên bờ tan vỡ chẳng có ai đồng hành. Có thể chúng ta tổ chức những lễ rất lớn mà quên rằng sau hàng ghế cuối có một người đang khóc. Điều quyết định không phải là chúng ta có nói về người nghèo hay không, nhưng người nghèo có cảm thấy Hội Thánh là nhà mình hay không.
Nếu một người nghèo bước vào cộng đoàn và cảm thấy phải ăn mặc thế nào đó mới được tôn trọng, phải nói năng thế nào đó mới được lắng nghe, phải quen người này người kia mới được tiếp cận, thì chúng ta cần nhìn lại Thánh Giá. Trên Golgotha chẳng có khu vực ưu tiên. Máu Đức Kitô không chảy thành hai dòng, một dòng cho người đáng trọng và một dòng cho kẻ bị coi thường. Khi cạnh sườn Người mở ra, nước và máu chảy xuống cho tất cả. Hội Thánh sinh ra từ cạnh sườn ấy chỉ trung thành với căn tính của mình khi cửa trái tim cũng mở rộng như cạnh sườn của Chúa.
Người nghèo còn có một dạng khác rất phổ biến trong thế giới hôm nay: nghèo ý nghĩa. Người ta có thể có nhà, xe, tài khoản, bằng cấp và đủ mọi tiện nghi nhưng bên trong là một vực trống. Có người trẻ không biết mình sống để làm gì. Có người thành đạt nhưng mỗi sáng thức dậy không biết vì sao phải tiếp tục. Có người có hàng chục nghìn người theo dõi trên mạng nhưng không có một người bạn để gọi lúc hai giờ sáng. Có người cười trong mọi tấm hình nhưng đêm về lại đối diện một nỗi cô độc không ai biết. Có những gia đình đầy đủ vật chất nhưng thiếu những bữa cơm có người thực sự nhìn vào mắt nhau. Có những người đang nghèo lòng tin, nghèo hy vọng, nghèo một lý do để tha thứ, nghèo khả năng tin rằng đời mình còn có thể bắt đầu lại. Họ cũng là người nghèo cần được Tin Mừng tìm đến.
Người bị bỏ rơi hôm nay cũng không nhất thiết phải sống ngoài đường. Có khi họ nằm trên giường bệnh. Có khi ở trong viện dưỡng lão. Có khi ở trong nhà tù. Có khi là một bà mẹ đơn thân. Có khi là một người vừa ly dị bị cả cộng đoàn nhìn bằng ánh mắt phán xét. Có khi là một người trẻ mắc sai lầm và bị mạng xã hội đưa ra xét xử tập thể. Có khi là người đang chịu một tai tiếng mà chẳng ai chịu nghe câu chuyện từ phía họ. Có khi là một linh mục sai lỗi đang cần được sửa chữa nhưng đồng thời cũng cần được cứu khỏi tuyệt vọng. Có khi là một người đã rời Giáo Hội nhiều năm vì một vết thương nào đó mà chẳng ai từng hỏi. Đặc sủng thừa sai cho người bị bỏ rơi mời chúng ta bước đến những vùng ngoại biên ấy, không phải để thỏa hiệp với điều sai, nhưng để không bao giờ đồng hóa một con người với sai lầm của họ.
Đức Giêsu là bậc thầy của cách nhìn ấy. Người nói với người phụ nữ ngoại tình: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.” Hai điều cùng có mặt: không lên án con người và không gọi tội lỗi là tốt. Đó là lòng thương xót đích thực. Ngày nay chúng ta thường rơi vào một trong hai cực. Hoặc nhân danh sự thật mà nghiền nát con người. Hoặc nhân danh tình thương mà xóa nhòa sự thật. Thánh Giá giữ cả hai. Thánh Giá cho thấy tội lỗi nghiêm trọng đến mức nào: nó đưa Con Thiên Chúa lên cây gỗ. Nhưng Thánh Giá cũng cho thấy tình yêu lớn đến mức nào: chính Con Thiên Chúa trên cây gỗ ấy lại cầu xin tha thứ cho kẻ đóng đinh mình. “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Người thừa sai của Thánh Giá phải học được thứ ngôn ngữ ấy: nói sự thật mà người nghe vẫn cảm thấy mình được yêu; sửa lỗi mà không sỉ nhục; kêu gọi hoán cải mà không đóng cửa hy vọng.
Một nhà truyền giáo chỉ biết lên án sẽ không thể loan báo Đấng chịu đóng đinh cách trọn vẹn. Một người rao giảng chỉ biết nói về luật mà không biết khóc với người đau khổ thì chưa hiểu trái tim Chúa Giêsu. Nhưng một người chỉ nói những điều dễ nghe để không ai khó chịu cũng chưa phải nhà truyền giáo. Đức Giêsu đã yêu người ta đủ nhiều để nói sự thật với họ. Nhưng Người nói sự thật sau khi đã bước vào đời họ. Người ngồi bên giếng với người phụ nữ Samari trước khi chạm đến những đổ vỡ trong đời bà. Người vào nhà Dakêu trước khi Dakêu tuyên bố thay đổi. Người để mình được xức dầu bằng nước mắt của người phụ nữ tội lỗi trước ánh mắt khó chịu của những người đạo đức. Tình yêu đi trước. Chân lý không bị giảm bớt, nhưng được trao trong một trái tim đã biết yêu.
Thánh Giá còn dạy người thừa sai một điều rất khó: chấp nhận bất lực. Có những đau khổ chúng ta không giải quyết được. Có những người nghèo chúng ta không thể đưa ra khỏi cảnh nghèo ngay lập tức. Có bệnh nhân chúng ta không chữa được. Có cái chết không thể ngăn. Có gia đình chúng ta cố gắng nhưng không thể hàn gắn. Có người nghiện chúng ta đồng hành lâu năm mà vẫn vấp ngã. Có những miền đất truyền giáo nhiều năm chẳng thấy kết quả. Lúc ấy, cám dỗ lớn nhất là nghĩ rằng mình vô dụng. Nhưng Thánh Giá nói rằng sự hiện diện yêu thương đôi khi đã là một sứ vụ. Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá chẳng tháo được một cây đinh nào. Mẹ không ngăn được lưỡi đòng. Không làm dịu được đám đông. Không cứu Con xuống khỏi Thánh Giá. Theo tiêu chuẩn hiệu quả, Mẹ chẳng làm được gì. Nhưng Mẹ đứng đó. Và có những lúc tình yêu cao nhất chính là đứng đó.
Người nghèo cần người giải quyết vấn đề, nhưng cũng cần người không bỏ đi khi vấn đề chưa giải quyết được. Người bệnh cần thuốc, nhưng khi thuốc không còn chữa được, họ vẫn cần một bàn tay. Người hấp hối không cần chúng ta giảng những bài dài; đôi khi họ chỉ cần biết có một người đang ngồi bên. Người mất con không cần câu trả lời thần học ngay tức khắc; họ cần một người có thể khóc cùng. Gia đình có người tự tử không cần những phán xét; họ cần một cộng đoàn ôm lấy họ. Thánh Giá dạy chúng ta mục vụ của sự hiện diện. Thiên Chúa không cứu thế giới từ xa. Người đến ở cùng. Emmanuel. Và trên Thánh Giá, Người ở cùng con người trong cả nơi kinh khủng nhất: đau đớn, cô độc và cái chết.
Đặc sủng loan báo Tin Mừng cho người nghèo vì thế đòi nhà truyền giáo phải có khả năng “ở lại”. Người nghèo rất quen với việc người ta đến rồi đi. Một đoàn từ thiện đến, phát quà, chụp hình rồi đi. Một chương trình đến rồi hết ngân sách. Một dự án bắt đầu rồi kết thúc. Một lời hứa được nói rồi bị quên. Điều khiến người nghèo tin vào Tin Mừng nhiều khi không phải là một bài giảng hùng hồn nhưng là thấy một người vẫn còn ở đó sau nhiều năm. Đức Giêsu nói: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Đó là kiểu hiện diện của Thiên Chúa: ở cùng. Người thừa sai phải học thứ trung tín ấy. Không phải lúc nào cũng làm được điều lớn, nhưng có thể ở lại đủ lâu để một đứa trẻ lớn lên biết rằng ít nhất đã có người tin vào nó; đủ lâu để một người nghiện hiểu rằng mỗi lần mình ngã vẫn có một cánh tay kéo lên; đủ lâu để một cộng đoàn nghèo biết rằng họ không phải là dự án mà là gia đình.
Và để ở lại như vậy, người thừa sai phải tự mình gắn với Thánh Giá. Nếu không, sẽ nhanh kiệt sức. Chúng ta không thể cứu tất cả mọi người. Không thể đáp ứng tất cả nhu cầu. Không thể chữa lành mọi vết thương. Không thể mang cả thế giới trên vai. Đó là việc của Đấng Cứu Thế, không phải của chúng ta. Nhà truyền giáo phải nhớ mình là người được sai đi, không phải Đấng Cứu Độ. Chính Đức Giêsu mới là Chúa Cứu Thế. Người thừa sai chỉ dẫn người ta đến với Người. Điều này đem lại một sự tự do rất lớn. Ta làm hết sức mình nhưng không tưởng mình là nguồn cứu độ. Ta gieo, người khác tưới, Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Ta yêu, phục vụ, rao giảng, đồng hành, rồi phó thác phần còn lại cho Chúa. Có những hạt giống chỉ nảy mầm sau khi người gieo đã qua đời.
Có lẽ một trong những sự nghèo khó nguy hiểm nhất của nhà truyền giáo là cần được công nhận. Chúng ta muốn thấy kết quả. Muốn được cảm ơn. Muốn những gì mình làm được biết đến. Muốn người được giúp phải biết ơn. Muốn cộng đoàn đáp lại. Nhưng Thánh Giá thanh luyện động cơ ấy. Đức Giêsu chết giữa những lời chế nhạo. Những người được Người chữa lành ở đâu? Những đám đông từng ăn bánh Người hóa nhiều ở đâu? Những người từng tung hô “Hosanna” ở đâu? Người vẫn yêu. Đây là tự do của tình yêu thừa sai: làm điều tốt ngay cả khi không được ghi nhận; yêu ngay cả khi người kia chưa hiểu; phục vụ ngay cả khi bị hiểu lầm; tiếp tục gieo ngay cả khi chưa thấy mùa gặt.
Chính ở đó, người truyền giáo trở nên giống Đấng Cứu Chuộc. Không phải giống bằng bộ áo mình mặc hay chức danh mình mang, nhưng bằng những vết thương của tình yêu. Có những vết thương trong đời thừa sai chẳng ai nhìn thấy: bị từ chối, bị hiểu lầm, bị phản bội, thất bại trong mục vụ, thấy người mình thương quay lưng, thấy công sức nhiều năm tan biến, thấy cộng đoàn mình phục vụ chẳng thay đổi như mong đợi. Những điều ấy nếu không đem vào Thánh Giá sẽ biến thành cay đắng. Nhưng nếu được đặt cạnh những vết đinh của Chúa, chúng có thể trở thành nơi hiệp thông với Người. Không phải vì đau khổ tự nó tốt, nhưng bởi tình yêu có khả năng biến đau khổ thành hiến lễ.
Dẫu vậy, Thánh Giá không kết thúc ở mồ. Đây là điều người nghèo cần được nghe nhất. Tin Mừng cho người nghèo không phải là bảo họ cam chịu số phận. Không phải nói: “Chúa đã chịu khổ, nên anh cứ chịu khổ đi.” Đó là xuyên tạc Thánh Giá. Đức Kitô chịu chết để đánh bại sự chết. Người chịu bất công không phải để hợp thức hóa bất công, nhưng để mở một trật tự mới. Người xuống tận đáy để nâng con người lên. Người bị đóng đinh nhưng đã phục sinh. Vì thế, bất cứ mục vụ nào nhân danh Thánh Giá để buộc người bị áp bức im tiếng, buộc nạn nhân tiếp tục chịu bạo lực, buộc người nghèo chấp nhận những cơ cấu bất công mà không tìm cách thay đổi, đều phản bội Tin Mừng. Thánh Giá phải dẫn đến Phục Sinh. Người nghèo phải được trao quyền đứng dậy. Người bị áp bức phải được khôi phục phẩm giá. Người tội lỗi phải được mở con đường hoán cải. Người tuyệt vọng phải được trả lại tương lai.
Khi Đức Giêsu chữa người bại liệt, Người không chỉ nói về đời sau. Người bảo anh: “Hãy đứng dậy, vác chõng mà về nhà.” Tin Mừng làm người ta đứng dậy. Khi Người gặp anh mù Bartimê, Người không bảo anh chấp nhận bóng tối. Người hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh nói: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” Và Người cho anh thấy. Khi gặp người phong cùi, Người chạm vào anh và đưa anh trở lại cộng đồng. Khi gặp người phụ nữ bị còng lưng mười tám năm, Người gọi bà là “con cháu Abraham” và giải thoát bà khỏi sự trói buộc. Tin Mừng không làm con người nhỏ lại. Tin Mừng phục hồi họ.
Chính vì thế, người thừa sai cho người nghèo phải luôn hỏi: việc tôi làm có giúp người khác đứng dậy không, hay khiến họ lệ thuộc hơn? Tôi đang trả lại phẩm giá hay biến họ thành đối tượng để tôi thực hiện lòng tốt? Tôi có lắng nghe họ hay chỉ quyết định thay họ? Tôi có giúp họ khám phá khả năng của chính mình hay khiến họ nghĩ họ sẽ mãi cần người khác cứu? Đức Giêsu thường hỏi người bệnh: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Một câu hỏi đáng học biết bao. Người biết người kia cần gì, nhưng Người vẫn hỏi. Vì yêu thương tôn trọng tự do. Người nghèo không phải một bài toán. Họ là chủ thể của chính cuộc đời họ.
Có lẽ điều đẹp nhất của sứ mạng này là dần dần người thừa sai nhận ra ranh giới giữa “người nghèo” và “mình” không rõ như tưởng. Bước đến với người nghèo đủ lâu, ta sẽ khám phá sự nghèo của chính mình. Ta cũng nghèo tình yêu. Nghèo kiên nhẫn. Nghèo lòng tin. Nghèo khả năng tha thứ. Nghèo sự trong sạch của động cơ. Nghèo tự do nội tâm. Nghèo trước cái chết. Nghèo trước những câu hỏi không giải đáp được. Cuối cùng, tất cả chúng ta đều là những người ăn xin trước cửa lòng thương xót Thiên Chúa. Có người ăn xin bánh. Có người ăn xin bình an. Có người ăn xin sức khỏe. Có người ăn xin một cơ hội khác. Có người ăn xin ơn tha thứ. Và chính khi người thừa sai nhận mình cũng là người nghèo, cuộc gặp gỡ mới trở thành huynh đệ thật sự.
Trước Thánh Giá, chẳng ai là ân nhân của ai. Tất cả đều nhận. Linh mục nhận. Tu sĩ nhận. Người giáo dân nhận. Người nghèo nhận. Người giàu nhận. Người thánh thiện nhận. Người tội lỗi nhận. Tất cả đều đứng dưới một dòng máu cứu độ. Và có lẽ đây là nền tảng sâu nhất của đặc sủng loan báo Tin Mừng cho những người bị bỏ rơi: chúng ta đi đến với họ không phải bởi chúng ta tốt hơn họ, nhưng vì chúng ta và họ đều đã được cùng một Đấng Cứu Chuộc yêu đến chết.
Ngày kia, Đức Giêsu nói về cuộc phán xét cuối cùng bằng những lời khiến mỗi người Kitô hữu phải giật mình: “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm.” Những người công chính ngạc nhiên hỏi: “Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa như thế đâu?” Và Đức Vua trả lời: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (x. Mt 25,35-40). Đây không phải là một hình ảnh đạo đức dễ thương. Đây là một mặc khải làm đảo lộn cái nhìn: Đức Kitô tự đồng hóa mình với người bé nhỏ. Không chỉ nói rằng hãy giúp họ “vì Chúa”. Người nói: “chính Ta ở đó.”
Nếu tin điều này thật, đời ta sẽ thay đổi. Gặp người nghèo không còn là bị làm phiền; đó là một cuộc gặp với Đức Kitô đang ẩn mình. Thăm người bệnh không còn chỉ là bổn phận; đó là vào phòng bệnh nơi Chúa đang chờ. Đến nhà tù không còn là bước vào nơi của những người “khác mình”; đó là tìm Chúa trong một thân phận bị giam cầm. Ngồi nghe một người già kể chuyện lần thứ mười không còn là lãng phí thời gian; đó có thể là ngồi dưới chân một Đức Kitô già nua đang cần được lắng nghe. Ôm một đứa trẻ bị bỏ rơi là ôm lấy Chúa. Bảo vệ một người bị kết án bất công là đứng gần Thánh Giá.
Vậy nên, thừa sai Chúa Cứu Thế không phải trước hết là người đi thật xa. Có người đi nghìn cây số mà chưa bước khỏi cái tôi. Có người chẳng đi xa nhưng mỗi ngày vượt qua một khoảng cách lớn hơn: khoảng cách từ dửng dưng đến cảm thương, từ xét đoán đến thấu hiểu, từ tiện nghi đến chia sẻ, từ quyền lực đến phục vụ, từ cái tôi đến Thánh Giá. Truyền giáo thật sự bắt đầu khi trái tim chịu để mình bị thương bởi nỗi đau của con người. Thánh Anphongsô đã để tiếng kêu của những người bị bỏ rơi làm mình mất bình an. Đó là thứ “mất bình an” thánh thiện. Có những bình an đến từ việc đóng cửa để khỏi thấy đau khổ; đó không phải bình an của Tin Mừng. Bình an của Chúa không làm ta vô cảm. Trái lại, càng ở gần Chúa, ta càng nghe rõ tiếng khóc của thế giới.
Và Hội Thánh hôm nay vẫn cần những con người có một trái tim không chịu yên khi biết còn ai đó chưa được nghe Tin Mừng. Không phải Tin Mừng như một lý thuyết, nhưng Tin Mừng như một biến cố: Thiên Chúa yêu bạn. Đức Kitô đã chết và sống lại vì bạn. Tội lỗi không phải lời cuối. Quá khứ không phải lời cuối. Sự nghèo khó không phải lời cuối. Bệnh tật không phải lời cuối. Những lần bạn bị người ta loại bỏ không phải lời cuối. Ngay cả cái chết cũng không phải lời cuối. Lời cuối thuộc về Thiên Chúa, và lời ấy là sự sống.
Có những người cần nghe Tin Mừng ấy trong một ngôi nhà thờ. Có những người sẽ không bao giờ bước vào nhà thờ, nên Hội Thánh phải bước ra. Chúa Giêsu không ngồi chờ người phong cùi đến hội đường. Người đi trên đường. Người đi qua làng mạc. Người lên núi. Người xuống thuyền. Người ngồi bên giếng. Người vào nhà người tội lỗi. Người dừng bên vệ đường. Người hiện diện ở nơi con người đang sống. Một Hội Thánh thừa sai cũng vậy. Phải có khả năng bước ra những con đường nơi người nghèo đang đi; bước vào bệnh viện, nhà tù, khu công nghiệp, xóm trọ, vùng sâu, mái ấm, gia đình tan vỡ, thế giới kỹ thuật số và mọi vùng ngoại biên của tâm hồn con người.
Đi ra không phải vì Hội Thánh ghét ngôi nhà của mình, nhưng bởi lửa trong nhà quá lớn để giữ kín. Người đã thực sự gặp Đấng Cứu Chuộc không thể không kể về Người. Hai môn đệ Emmau sau khi nhận ra Chúa trong lúc bẻ bánh đã lập tức trở về Giêrusalem, dù trời đã tối. Người phụ nữ Samari bỏ vò nước mà chạy về thành. Maria Mađalêna sau khi gặp Chúa phục sinh chạy đi nói với các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa.” Tin Mừng tự nó tạo nên bước chân.
Nhưng bước chân đẹp nhất vẫn là những bước chân mang dấu Thánh Giá. Bởi vì người nghèo rất nhạy. Họ biết ai thật lòng và ai diễn. Họ nhận ra ai đến để yêu và ai đến để sử dụng câu chuyện của họ. Một nhà truyền giáo không cần hoàn hảo, nhưng phải thật. Phải biết khóc. Biết xin lỗi. Biết nhận mình sai. Biết ngồi xuống. Biết ăn một bữa cơm đơn sơ. Biết nghe một câu chuyện dài. Biết để lịch của mình bị gián đoạn vì một con người. Đức Giêsu rất nhiều lần để hành trình của mình bị gián đoạn. Người đang đi thì Jairô đến xin. Người đi chữa con Jairô thì người phụ nữ băng huyết chạm vào áo. Người đang rời Giêrikhô thì Bartimê kêu. Đám đông thấy phiền. Đức Giêsu dừng lại. Có lẽ mục vụ thừa sai được đo không chỉ bằng những điều chúng ta lên kế hoạch làm, mà còn bằng khả năng để tình yêu làm gián đoạn kế hoạch.
Cuối cùng, tất cả trở về Golgotha. Người thừa sai đứng trước Thánh Giá và nghe một câu hỏi không thành lời: “Con có sẵn sàng yêu họ như Thầy đã yêu không?” Không ai có thể trả lời trọn vẹn. Chúng ta yếu đuối. Tình yêu chúng ta nhỏ. Sự quảng đại nhiều khi pha lẫn ích kỷ. Chúng ta mệt, sợ, ngại, muốn chọn việc dễ hơn. Nhưng điều an ủi là Chúa không bảo chúng ta tự tạo ra tình yêu. Người mời chúng ta ở lại trong tình yêu của Người. Nhà truyền giáo không phải một chiếc giếng tự có nước. Chỉ là một máng dẫn. Muốn đem nước đến cho người khát, phải nối với nguồn.
Vì vậy, trước khi chạy đi tìm người nghèo, người thừa sai phải biết quỳ xuống. Trước khi nói về Chúa, phải để Chúa nói với mình. Trước khi chạm vào vết thương người khác, phải để Chúa chạm vào vết thương của chính mình. Trước khi công bố lòng thương xót, phải nhận lòng thương xót. Trước khi bảo người ta rằng họ được yêu, phải để mình bị chinh phục bởi sự thật rằng chính mình đã được yêu đến chết.
Có lẽ khi ấy ta mới hiểu tại sao Thánh Giá và đặc sủng loan báo Tin Mừng cho người nghèo không bao giờ có thể tách nhau. Thánh Giá cho thấy Thiên Chúa đã xuống thấp đến mức nào để tìm con người. Đặc sủng thừa sai chỉ là tiếp tục chuyển động đi xuống ấy: từ trung tâm đến ngoại biên, từ nơi an toàn đến nơi bấp bênh, từ người có tiếng nói đến người không tiếng nói, từ những nơi người ta thích đến những nơi chẳng ai muốn đến. Không đi xuống để ban phát từ trên cao, nhưng đi xuống để gặp một Đức Kitô đã ở dưới ấy trước mình.
Đôi khi chúng ta hỏi: “Chúa ở đâu giữa những khu ổ chuột? Chúa ở đâu trong nhà tù? Chúa ở đâu bên giường bệnh? Chúa ở đâu trong những phận người chẳng ai nhớ?” Thánh Giá trả lời: Người ở đó. Người đã ở đó từ trước. Có khi câu hỏi đúng hơn phải là: “Còn chúng ta ở đâu?”
Nếu một ngày nào đó Hội Thánh có đủ mọi thứ nhưng không còn ở bên người nghèo, ngày đó Hội Thánh sẽ nghèo đi điều quý nhất: khuôn mặt Đức Kitô. Nếu một cộng đoàn Dòng Chúa Cứu Thế có nhiều công việc, nhiều cơ sở, nhiều hoạt động nhưng không còn đau đáu về những người bị bỏ rơi nhất, cộng đoàn ấy phải trở lại trước Thánh Giá và hỏi lại mình là ai. Đặc sủng không phải một khẩu hiệu treo trên tường. Đặc sủng là một vết thương trong trái tim khiến ta không thể sống khác. Bao lâu còn một người chưa biết mình được Thiên Chúa yêu, sứ mạng chưa xong. Bao lâu còn một người nằm bên vệ đường và mọi người bước qua, sứ mạng chưa xong. Bao lâu còn một con người bị coi là vô dụng, sứ mạng chưa xong. Bao lâu còn một tội nhân nghĩ rằng Thiên Chúa không thể tha cho mình, sứ mạng chưa xong.
Và dù thế giới có thay đổi bao nhiêu, phương tiện truyền giáo có hiện đại đến đâu, nhân loại có bước sang những thời đại công nghệ nào, Tin Mừng vẫn sẽ bắt đầu bằng một cảnh rất đơn giản: một người dừng lại trước một con người khác. Nhìn họ. Nghe họ. Gọi tên họ. Ở lại với họ. Và bằng lời nói hoặc bằng chính sự hiện diện của mình, nói rằng: “Anh không bị bỏ rơi. Chị không bị quên. Có một Đấng đã yêu anh chị đến mức mang lấy Thánh Giá.”
Đó là Tin Mừng.
Đó là sứ mạng.
Đó là trái tim của người thừa sai.
Và đó là điều Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh vẫn đang chờ nơi mỗi chúng ta.
Xin cho chúng ta đừng bao giờ quen với Thánh Giá đến mức nhìn mà không còn xúc động. Xin cho mỗi lần nhìn những vết đinh của Chúa, chúng ta nhớ đến những vết thương của nhân loại. Mỗi lần hôn kính Thánh Giá, xin cho chúng ta nhớ những thân phận không ai muốn chạm tới. Mỗi lần cử hành Thánh Thể, xin cho chúng ta nhớ ngoài kia còn những người đang đói cả bánh ăn lẫn tình thương. Mỗi lần nghe lời “Mình Thầy, hiến tế vì anh em”, xin cho chúng ta hiểu rằng đời mình cũng được mời gọi trở thành tấm bánh bẻ ra. Và mỗi lần đọc lời “Ơn Cứu Chuộc nơi Người chan chứa”, xin cho trái tim người thừa sai lại nóng lên vì một câu hỏi chẳng bao giờ được phép thôi day dứt: Ai là người nghèo nhất, bị bỏ rơi nhất mà Chúa đang muốn tôi tìm đến hôm nay?
Bởi cuối cùng, Thánh Giá không phải một đồ vật để chúng ta đeo nhưng là một con đường để chúng ta đi. Không phải chỉ là dấu được làm trên trán nhưng phải trở thành hình dáng của một đời sống. Không phải chỉ là nơi chúng ta tìm sự an ủi nhưng là nơi chúng ta nhận một sứ mạng. Từ Thánh Giá, Chúa Giêsu vẫn đang nhìn thế giới. Ánh mắt ấy vẫn dừng lại trên người nghèo, người bé nhỏ, người tội lỗi, người tuyệt vọng, người bị loại bỏ. Và Người cần những đôi mắt tiếp tục nhìn bằng ánh mắt của Người, những đôi chân tiếp tục đi về phía họ, những bàn tay tiếp tục chạm vào họ, những trái tim tiếp tục yêu họ.
Chúng ta được sai đi không phải để chứng minh rằng mình tốt, nhưng để làm chứng rằng Thiên Chúa tốt lành.
Không phải để người nghèo nhớ tên chúng ta, nhưng để họ nhớ rằng Thiên Chúa chưa bao giờ quên tên họ.
Không phải để họ mang ơn chúng ta, nhưng để họ khám phá rằng ơn cứu chuộc của Đức Kitô là ơn nhưng không.
Không phải để xây cho mình một hình ảnh đẹp, nhưng để giữa những vùng tối của cuộc đời, một lần nữa khuôn mặt của Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh được hiện ra.
Và nếu một ngày nào đó, nhờ một lời nói của ta, một bàn tay ta đưa ra, một lần ta chịu dừng lại, một sự hiện diện âm thầm, một lần tha thứ, một chén nước, một miếng bánh, một cuộc viếng thăm, một lời giải tội, một bài giảng đơn sơ, một đêm thức bên người bệnh, mà một con người đang nghĩ mình bị Thiên Chúa bỏ quên chợt tin lại rằng mình vẫn được yêu, thì ngày ấy Tin Mừng đã được loan báo.
Và Thánh Giá đã tiếp tục trổ sinh sự sống giữa cuộc đời.
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ VÀ ĐẶC SỦNG LOAN BÁO TIN MỪNG CHO NGƯỜI NGHÈO, NGƯỜI BỊ BỎ RƠI
Có những lúc người ta tưởng rằng muốn loan báo Tin Mừng thì phải đi tìm những nơi đông người, những nơi có ảnh hưởng, những môi trường có khả năng tạo tiếng vang; phải có phương tiện mạnh, tổ chức tốt, lời nói hấp dẫn, hình ảnh đẹp, chương trình quy mô. Những điều ấy tự chúng không xấu. Tin Mừng cũng cần được rao giảng bằng tất cả những phương tiện tốt lành mà thời đại cho phép. Nhưng nếu hỏi đâu là nơi Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô vang lên thật nhất, mạnh nhất và đúng nghĩa nhất, có lẽ chúng ta phải trở lại một nơi chẳng có gì hấp dẫn theo mắt người đời: đồi Golgotha. Ở đó không có sân khấu. Không có đám đông tung hô. Không có thành công theo nghĩa thông thường. Không có quyền lực khiến người ta nể sợ. Chỉ có một con người bị lột trần, bị đóng đinh, bị chế nhạo, bị bỏ rơi, đang hấp hối giữa hai người mang án tử. Vậy mà chính nơi tưởng như thất bại ấy lại là nơi Tin Mừng được công bố tận cùng nhất. Chính Thánh Giá là bài giảng lớn nhất về tình yêu Thiên Chúa. Chính Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh là nhà truyền giáo vĩ đại nhất. Và chính từ chân Thánh Giá, Hội Thánh mới hiểu được rằng: loan báo Tin Mừng cho người nghèo, người bị bỏ rơi không phải chỉ là một hoạt động bác ái bên cạnh nhiều hoạt động khác, nhưng là đi vào tận trái tim của Đức Kitô, Đấng đã tự đặt mình vào hàng ngũ của những người bị loại trừ nhất để không một người bị loại trừ nào còn có thể nói rằng Thiên Chúa không biết đến phận mình.
Đặc sủng loan báo Tin Mừng cho người nghèo vì thế không bắt đầu từ một chương trình mục vụ, nhưng bắt đầu từ việc nhìn thật lâu lên Đấng chịu đóng đinh. Càng nhìn Thánh Giá, người môn đệ càng không thể sống bình thản trước tiếng khóc của những phận người bị bỏ quên. Càng chiêm ngắm những bàn tay bị đóng đinh của Chúa Giêsu, càng không thể khoanh tay trước người đói khát. Càng nhìn đôi chân bị đóng chặt của Người, càng không thể làm ngơ trước những người không còn đường đi trong cuộc đời. Càng nhìn cạnh sườn bị đâm thâu, càng không thể giữ trái tim mình khép kín trước người đau khổ. Càng nghe tiếng Người kêu lên trong cô độc: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?”, càng hiểu rằng Người đã đi xuống tận đáy của kinh nghiệm bị bỏ rơi để từ đó ôm lấy tất cả những ai từng có cảm giác mình chẳng còn thuộc về ai. Thánh Giá không cho phép người Kitô hữu đứng xa nỗi đau của con người. Thánh Giá kéo chúng ta xuống khỏi những chiếc ghế an toàn, phá vỡ những khoảng cách được dựng lên bởi tiền bạc, địa vị, tri thức, chức quyền, danh dự, thói quen và cả những định kiến tôn giáo, để chúng ta dám đứng bên cạnh những con người mà xã hội không muốn đứng cạnh.
Tin Mừng cho người nghèo trước hết là Tin Mừng rằng họ không bị Thiên Chúa quên. Đây có lẽ là điều quan trọng hơn tất cả. Cái nghèo đau nhất nhiều khi không phải là không có tiền. Có người nghèo tiền nhưng giàu tình yêu, giàu phẩm giá, giàu niềm hy vọng. Cái nghèo khủng khiếp là cảm giác đời mình không đáng kể, tiếng nói mình chẳng ai nghe, nước mắt mình chẳng ai thấy, sự hiện diện của mình chẳng ai cần. Có người sống giữa thành phố đông đúc mà cô độc như ở sa mạc. Có người ở giữa một gia đình nhưng nhiều năm chẳng được ai thực sự lắng nghe. Có người già nằm trong căn phòng nhỏ, cả ngày nhìn ra cửa chờ một bước chân quen mà không thấy. Có đứa trẻ lớn lên với một khoảng trống vì cha mẹ quá bận kiếm tiền mà quên rằng con mình cần được ôm. Có bệnh nhân đau lâu ngày bắt đầu tự hỏi mình có còn là gánh nặng của mọi người hay không. Có người lầm lỡ sau một lần sa ngã bị xã hội đóng dấu suốt đời. Có người ra khỏi tù nhưng chẳng tìm thấy cánh cửa nào thực sự mở. Có người nghiện ngập bị nhìn bằng ánh mắt khinh miệt nhiều hơn bằng ánh mắt thương cảm. Có những người di dân sống giữa nơi xa lạ, làm những công việc nặng nhọc nhưng chẳng ai biết tên họ. Có những người không có khả năng tự bảo vệ mình, những thai nhi chưa được sinh ra, những cụ già không còn hữu dụng theo cách tính toán của xã hội, những người khuyết tật, những người bệnh tâm thần, những người không có tiếng nói. Và còn biết bao người nghèo khác mà chúng ta không gọi tên được. Tin Mừng phải đến với họ trước hết bằng một lời rất đơn giản: “Anh chị em không bị quên. Thiên Chúa biết tên anh chị em. Thiên Chúa đã đi tìm anh chị em. Và giá trị đời anh chị em lớn đến mức Con Thiên Chúa đã chết cho anh chị em.”
Đó chính là điều Thánh Giá nói. Thánh Giá không nói rằng người mạnh đáng được yêu hơn người yếu. Thánh Giá không nói rằng người thành công đáng được trân trọng hơn người thất bại. Thánh Giá không nói rằng phẩm giá một con người tăng lên theo tài khoản ngân hàng, bằng cấp, sức khỏe, nhan sắc hay ảnh hưởng của người ấy. Trên Thánh Giá, Thiên Chúa công bố một tiêu chuẩn hoàn toàn khác: con người có giá trị bởi vì được Thiên Chúa yêu. Thế thôi. Một người đang nằm hấp hối không còn làm được gì vẫn quý giá. Một em bé vừa thành hình trong lòng mẹ chưa tạo ra bất cứ giá trị kinh tế nào vẫn quý giá. Một ông cụ trí nhớ đã phai, không còn nhận ra người thân, vẫn quý giá. Một người phạm tội nặng nề, dù phải chịu trách nhiệm về những gì mình làm, vẫn không mất phẩm giá căn bản của một con người được Thiên Chúa dựng nên và được Đức Kitô cứu chuộc. Máu của Đức Giêsu đổ ra không phân biệt người giàu hay nghèo, người tài giỏi hay ít học, người đạo đức hay tội lỗi. Máu ấy rơi xuống đất cho mọi người. Bởi thế, bất cứ nơi nào phẩm giá con người bị chà đạp, nơi đó Thánh Giá đang chất vấn Hội Thánh. Bất cứ nơi nào một con người bị đối xử như món đồ dư thừa, nơi đó Đấng chịu đóng đinh đang hỏi chúng ta: “Con có thấy Ta trong người ấy không?”
Có một đoạn Tin Mừng rất đẹp soi sáng đặc sủng này. Khi Đức Giêsu về Nadarét, Người vào hội đường và đọc lời ngôn sứ Isaia: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19). Sau đó Người nói: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (Lc 4,21). Chữ “hôm nay” ấy thật quan trọng. Đức Giêsu không nói về một viễn tượng xa xôi. Người nói rằng nơi Người, ngay hôm nay, Thiên Chúa đang đến với người nghèo. Nơi Người, người bị giam cầm được nghe về tự do. Nơi Người, người mù được mở mắt. Nơi Người, người bị áp bức được nâng dậy. Và cả cuộc đời Đức Giêsu sau đó là sự triển khai của lời công bố ấy. Người đi tìm người phong cùi mà mọi người tránh xa. Người ngồi ăn với những kẻ bị coi là tội lỗi. Người để người phụ nữ bị mang tiếng xấu chạm vào chân mình. Người dừng lại với người mù ngồi bên vệ đường dù đám đông muốn bắt anh im tiếng. Người bước vào nhà ông Dakêu, một người bị cộng đồng khinh ghét. Người chạm vào quan tài của người con trai bà góa thành Nain. Người bảo vệ người phụ nữ bị kéo ra giữa đám đông để kết án. Người trò chuyện với người phụ nữ Samari bên bờ giếng. Người không chỉ giảng về lòng thương xót; Người biến chính đời mình thành lòng thương xót đang bước đi giữa nhân loại.
Nhưng con đường ấy đưa Người đến đâu? Đưa đến Thánh Giá. Bởi vì đứng về phía người bị loại trừ luôn có giá của nó. Yêu những người chẳng ai muốn yêu luôn có giá của nó. Nói sự thật bênh vực người yếu thế luôn có giá của nó. Phá vỡ những bức tường phân chia luôn có giá của nó. Đức Giêsu không chết vì một tai nạn bất ngờ. Thánh Giá là hậu quả của một đời sống hoàn toàn trung thành với tình yêu của Chúa Cha và hoàn toàn dấn thân cho con người. Người đã chạm vào những người không được phép chạm. Người đã tha thứ cho những người mà người khác muốn kết án. Người đặt con người lên trên luật lệ khi luật lệ bị sử dụng để nghiền nát con người. Người nói thẳng với những cơ chế tôn giáo đã biến đức tin thành gánh nặng. Người lật bàn những kẻ biến Nhà Cha thành nơi buôn bán. Người công bố Nước Thiên Chúa cho những người bé nhỏ. Người làm cho những người vô danh nhận ra rằng họ có một khuôn mặt trước mặt Thiên Chúa. Người không chịu bước sang bên kia đường khi gặp người bị thương. Cuối cùng, chính Người bị đối xử như một kẻ bị loại trừ.
Hãy nhìn thật kỹ cảnh Thánh Giá. Đức Giêsu bị đóng đinh ngoài thành. Điều đó có ý nghĩa sâu xa. Người chết ngoài nơi cư trú, ngoài không gian danh dự, ngoài vòng an toàn. Người bị đẩy ra bên lề theo nghĩa đen. Và ở đó, Người nằm trong hàng ngũ những người bị xã hội loại bỏ. Hai bên Người không phải là hai nhân vật quyền thế mà là hai tử tội. Đám đông không tung hô mà chế nhạo. Các môn đệ phần lớn đã bỏ chạy. Áo Người bị chia nhau. Danh dự Người bị tước bỏ. Thân thể Người bị hành hạ. Người không còn gì để trao ngoài chính mình. Nhưng chính lúc không còn gì nữa, Người trao tất cả. Đó là nghịch lý của Thánh Giá. Người hoàn toàn nghèo để làm giàu cho chúng ta bằng tình yêu. Người bị bỏ rơi để không ai còn bị bỏ rơi trong tuyệt vọng. Người bước vào sự chết để mở cửa sự sống. Người trở nên người cuối cùng để nâng những người cuối cùng lên.
Vì thế, một linh đạo truyền giáo chân chính không thể tách khỏi Thánh Giá. Nếu truyền giáo chỉ còn là mở rộng ảnh hưởng, tăng số người, xây dựng hình ảnh, làm cho tổ chức lớn mạnh, nó có thể rất thành công mà vẫn xa Tin Mừng. Thành quả mục vụ là điều đáng quý, nhưng không phải tiêu chuẩn cuối cùng của Tin Mừng. Tiêu chuẩn cuối cùng là sự trung thành với Đức Kitô. Và Đức Kitô mà Hội Thánh loan báo là Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Thánh Phaolô đã từng nói một câu làm đảo lộn mọi tiêu chuẩn của thế gian: “Chúng tôi rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh” (1 Cr 1,23). Người Do Thái đòi dấu lạ. Người Hy Lạp tìm sự khôn ngoan. Còn Phaolô đặt trước mặt họ một Đấng bị đóng đinh. Theo mắt người đời, đó là thất bại. Theo cái nhìn đức tin, đó là quyền năng của Thiên Chúa. Nhà truyền giáo vì thế không thể chỉ mang đến cho người nghèo những lời hứa đẹp về Thiên Chúa mà bản thân lại sợ sống tinh thần nghèo khó. Không thể nói về một Đức Kitô gần người bị bỏ rơi trong khi chính mình chỉ thích gần người có ảnh hưởng. Không thể giảng một Thiên Chúa khiêm hạ nhưng lại khao khát địa vị. Không thể rao giảng Đấng không có chỗ tựa đầu mà đời sống của người môn đệ lại quá bận tâm với tiện nghi. Không thể loan báo Thánh Giá mà luôn tìm cách tránh mọi hy sinh.
Đối với linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế, điều này càng đặc biệt sâu sắc. Ơn gọi của người thừa sai Chúa Cứu Thế được sinh ra từ thao thức đem Ơn Cứu Chuộc chứa chan đến những người nghèo nhất, bị bỏ rơi nhất. Thánh Anphongsô không gặp Đức Kitô bằng cách chạy khỏi con người đau khổ, nhưng gặp Người nơi chính những phận người không được chăm sóc đầy đủ về đời sống thiêng liêng. Những người nghèo vùng quê, những người chăn dê trên các triền núi, những dân quê ít học, những người mà đời sống mục vụ thông thường chưa chạm tới, đã trở thành tiếng gọi đánh thức trái tim ngài. Và từ đó bật lên một câu hỏi mang sức nặng của một đời: ai sẽ nói cho họ biết rằng Thiên Chúa yêu họ? Ai sẽ đến với họ? Ai sẽ ở lại với họ? Ai sẽ giảng cho họ bằng thứ ngôn ngữ họ hiểu? Ai sẽ giúp họ biết rằng Ơn Cứu Chuộc không chỉ dành cho những người có điều kiện đến gần các trung tâm, nhưng là ân ban cho tất cả, đặc biệt cho những ai dường như ở xa nhất?
“Ơn Cứu Chuộc nơi Người chan chứa.” Câu Thánh Vịnh ấy trở thành một nhịp đập của đặc sủng Chúa Cứu Thế. Copiosa apud Eum redemptio. Ơn cứu chuộc nơi Người không ít ỏi, không dè sẻn, không chỉ vừa đủ, không dành riêng cho một nhóm ưu tuyển. Ơn cứu chuộc ấy dồi dào, chứa chan, dư tràn. Và điều gì dồi dào thì tự bản chất muốn tràn ra. Một dòng nước đầy phải chảy. Một trái tim đầy tình yêu phải cho đi. Một Hội Thánh thực sự cảm nghiệm Ơn Cứu Chuộc không thể đóng kín cửa. Một tu sĩ Chúa Cứu Thế thực sự bị chạm bởi Đấng Cứu Chuộc không thể chỉ giữ niềm vui ấy cho mình. Nếu đã biết mình được tha thứ thế nào, sẽ muốn người tội lỗi cũng nếm được lòng thương xót ấy. Nếu đã biết mình được tìm kiếm thế nào, sẽ muốn đi tìm người lạc mất. Nếu đã biết Chúa đã kiên nhẫn với mình thế nào, sẽ bớt khắt khe với người khác. Nếu đã biết mình được yêu khi còn bất xứng thế nào, sẽ hiểu rằng chẳng có ai bất xứng đến mức không đáng được nghe Tin Mừng.
Ở đây, Thánh Giá trở thành thước đo rất nghiêm khắc của đời sống thừa sai. Người truyền giáo cho người nghèo phải tự hỏi: tôi đến với người nghèo để làm gì? Để thấy mình tốt? Để thỏa mãn nhu cầu làm việc thiện? Để có những bức hình đẹp? Để kể những câu chuyện cảm động? Hay bởi vì tôi nhận ra nơi họ một người anh em được Đức Kitô yêu đến chết? Có một khác biệt rất lớn giữa thương hại và yêu thương. Thương hại đứng từ trên nhìn xuống. Tình yêu đứng ngang hàng. Thương hại cho một món quà rồi đi. Tình yêu hỏi tên người kia. Thương hại thích giải quyết nhanh một nhu cầu. Tình yêu muốn hiểu cả con người. Thương hại dễ tạo ra khoảng cách giữa “người cho” và “người nhận”. Tình yêu biết rằng cả hai đều là những người nghèo trước mặt Thiên Chúa. Người thừa sai chân chính không bao giờ bước vào xóm nghèo với tâm thế “tôi mang Chúa đến cho các bạn”, bởi có khi Chúa đã ở đó từ lâu trước khi mình đến. Có khi chính người nghèo sẽ dạy mình về lòng tin. Có khi bà mẹ nghèo nuôi con trong khốn khó lại hiểu sự phó thác hơn mình. Có khi một bệnh nhân chịu đau trong bình an lại giảng về Thánh Giá sâu hơn cả một bài thần học. Có khi một người chẳng biết nói lời hoa mỹ lại có một lòng bác ái khiến người có học phải cúi đầu.
Tin Mừng minh họa điều ấy thật đẹp trong trình thuật bà góa nghèo bỏ hai đồng tiền nhỏ vào thùng tiền Đền Thờ. Người giàu bỏ rất nhiều. Bà chỉ bỏ hai đồng tiền kẽm. Chẳng ai để ý. Có lẽ nếu Đức Giêsu không lên tiếng, không ai biết bà đã từng đi ngang qua đó. Nhưng Chúa thấy. Người nghèo thường là những người chẳng ai thấy, nhưng Chúa thấy. Đức Giêsu gọi các môn đệ lại và nói rằng bà đã bỏ vào nhiều hơn tất cả, vì những người khác bỏ phần dư thừa, còn bà trong cảnh túng thiếu đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống mình. Thật đáng suy nghĩ: Chúa không chỉ nhìn người nghèo như đối tượng cần được giúp. Người nhìn thấy nơi người nghèo một khả năng hiến dâng phi thường. Đây là điều mà mục vụ cho người nghèo rất dễ quên. Nếu chúng ta chỉ nhìn người nghèo như những bàn tay cần nhận, chúng ta vô tình xúc phạm phẩm giá họ. Người nghèo cũng có thể cho. Họ có đức tin để cho. Có lòng quảng đại để cho. Có kinh nghiệm sống để cho. Có sự kiên cường để cho. Có nước mắt, lời cầu nguyện và tình thương để cho. Hội Thánh không chỉ được sai đến với người nghèo; Hội Thánh cũng phải để người nghèo Tin Mừng hóa mình.
Cảnh Thánh Giá cho chúng ta một hình ảnh còn mạnh hơn nữa. Người đầu tiên nghe lời hứa trực tiếp về thiên đàng từ miệng Đức Giêsu trong những giờ phút cuối đời Người là ai? Không phải một tông đồ. Không phải một tư tế. Không phải một học giả Kinh Thánh. Là một tên trộm đang bị đóng đinh bên cạnh. Anh chẳng còn gì để dâng. Chẳng còn thời gian sửa lại cuộc đời. Chẳng có cơ hội lập công. Chẳng thể xuống khỏi thập giá mà trả lại những gì đã cướp, làm những việc bác ái hay xây dựng một quá khứ mới. Anh chỉ có một lời cầu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Đức Giêsu trả lời: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Có lẽ không có đoạn Tin Mừng nào diễn tả Ơn Cứu Chuộc chứa chan rõ hơn thế. Một con người ở phút cuối, một đời đầy đổ vỡ, chỉ còn một hơi thở và một lời tín thác, được mở cửa thiên đàng. Đó là Chúa Cứu Thế. Đó là Đấng mà chúng ta được sai đi loan báo. Một Thiên Chúa không mỏi mệt cứu con người cho đến giây phút cuối cùng.
Người thừa sai vì thế không được tuyệt vọng về bất cứ ai. Đây là một đòi hỏi rất lớn. Chúng ta dễ mất kiên nhẫn với những người thay đổi quá chậm. Chúng ta giúp một người rồi thấy họ lại vấp ngã. Khuyên một người nghiện bỏ nghiện rồi họ tái nghiện. Hòa giải một gia đình rồi vài tháng sau lại xung đột. Dạy giáo lý một người rồi họ bỏ lễ. Cố gắng nâng một người lên rồi thấy họ quay trở lại lối sống cũ. Và chúng ta mệt. Chúng ta nghĩ: “Thôi, hết cách rồi.” Nhưng người môn đệ của Đấng Cứu Chuộc phải rất cẩn thận với câu “hết cách rồi”, bởi Thánh Giá chính là lời Thiên Chúa nói rằng: khi con người tưởng hết cách, Thiên Chúa vẫn còn một con đường. Khi các môn đệ tưởng mọi chuyện đã kết thúc chiều Thứ Sáu, Thiên Chúa đang chuẩn bị buổi sáng Phục Sinh. Khi viên đá lấp cửa mồ, tình yêu vẫn không bị chôn. Vì thế, nhà truyền giáo của Thánh Giá là con người mang một thứ hy vọng bướng bỉnh: không từ bỏ con người dễ dàng.
Tuy nhiên, loan báo Tin Mừng cho người nghèo không có nghĩa là lãng mạn hóa cái nghèo. Nghèo đói vẫn là một đau khổ phải được khắc phục khi có thể. Bệnh tật cần được chữa trị. Trẻ em cần được học. Người bị bóc lột cần được bảo vệ. Người thất nghiệp cần cơ hội lao động. Người không nhà cần một mái nhà. Nạn nhân bạo lực cần được bênh vực. Người di dân cần được tôn trọng. Người già cần được chăm sóc. Người đói cần bánh ăn. Chúng ta không thể nói với một người đang đói: “Chúa yêu anh” mà không quan tâm xem anh có gì ăn tối nay không. Thánh Giacôbê đã nói rất rõ: nếu một người anh em không có áo che thân, không đủ của ăn hằng ngày, mà chúng ta chỉ bảo “hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no” nhưng chẳng cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì ích gì? Đức tin không có việc làm là đức tin chết. Nhưng ngược lại, nếu chỉ cho bánh mà không giúp con người tìm thấy ý nghĩa, hy vọng và phẩm giá, việc loan báo cũng chưa trọn vẹn. Con người không chỉ có cái bụng. Người nghèo không chỉ cần thực phẩm; họ cần được nhìn như con người. Họ cần được gọi tên. Cần có người lắng nghe. Cần có một cộng đoàn tiếp nhận. Cần biết rằng mình có một tương lai. Cần được nghe Tin Mừng rằng cuộc đời họ không phải là một tai nạn vô nghĩa giữa vũ trụ lạnh lùng nhưng là một đời sống nằm trong bàn tay Thiên Chúa.
Và chính ở điểm này, Thánh Giá nối kết hai chiều kích tưởng như xa nhau: cứu độ linh hồn và phục vụ con người toàn diện. Đấng bị đóng đinh không cứu một “linh hồn trừu tượng”. Người cứu con người bằng chính thân xác mình. Thân thể Người bị đánh. Máu Người đổ. Người khát. Người đau. Người chết. Kitô giáo vì thế không thể coi thường thân xác và những nhu cầu cụ thể của con người. Nhưng Thánh Giá cũng cho thấy đau khổ sâu nhất của con người không chỉ là thiếu cơm áo mà còn là tội lỗi, sự xa cách Thiên Chúa, sự mất ý nghĩa, sự không thể tự cứu mình. Bởi thế người thừa sai phải mang cả bánh cho người đói lẫn Lời cho tâm hồn; cả thuốc men cho người bệnh lẫn niềm hy vọng cho người tuyệt vọng; cả sự nâng đỡ xã hội lẫn lời mời gọi hoán cải; cả công lý lẫn lòng thương xót; cả sự giải phóng khỏi những cơ cấu bất công lẫn sự giải phóng khỏi ích kỷ, hận thù và tội lỗi đang trói buộc trái tim con người.
Một nguy cơ khác là chúng ta thích người nghèo ở xa hơn người nghèo ở gần. Nghèo ở xa thường dễ thương. Ta có thể gửi chút tiền, cảm thấy xúc động rồi tiếp tục cuộc sống. Người nghèo ở gần lại làm phiền. Có thể là một người thân khó tính. Một ông già nói mãi một câu. Một người bệnh cần được chăm sóc từng ngày. Một người trong cộng đoàn chậm chạp, vụng về. Một người cứ tìm đến đúng lúc mình đang bận. Một linh mục già không còn làm được việc. Một tu sĩ đang khủng hoảng. Một người anh em có tính tình không dễ chịu. Một giáo dân nghèo chẳng mang lại “lợi ích” nào cho giáo xứ nhưng lúc nào cũng cần được lắng nghe. Có những lúc “người bị bỏ rơi nhất” không ở một đất nước xa xôi mà đang ăn cùng bàn với ta. Thánh Giá hỏi chúng ta không phải yêu nhân loại nói chung, mà yêu một người cụ thể đang đứng trước mặt.
Đây cũng là một xét mình rất đau đối với Hội Thánh. Một cộng đoàn có thể nói rất nhiều về người nghèo nhưng trong cách sinh hoạt lại vô tình khiến người nghèo cảm thấy mình lạc lõng. Có thể nhà thờ rất đẹp nhưng người nghèo không dám bước vào vì cảm thấy mình không thuộc về nơi ấy. Có thể các hội đoàn hoạt động sôi nổi nhưng một bà góa đơn độc chẳng ai biết. Có thể chương trình mục vụ rất phong phú nhưng người khuyết tật không có cách tham dự. Có thể một giáo xứ xây được nhiều công trình nhưng một gia đình đang bên bờ tan vỡ chẳng có ai đồng hành. Có thể chúng ta tổ chức những lễ rất lớn mà quên rằng sau hàng ghế cuối có một người đang khóc. Điều quyết định không phải là chúng ta có nói về người nghèo hay không, nhưng người nghèo có cảm thấy Hội Thánh là nhà mình hay không.
Nếu một người nghèo bước vào cộng đoàn và cảm thấy phải ăn mặc thế nào đó mới được tôn trọng, phải nói năng thế nào đó mới được lắng nghe, phải quen người này người kia mới được tiếp cận, thì chúng ta cần nhìn lại Thánh Giá. Trên Golgotha chẳng có khu vực ưu tiên. Máu Đức Kitô không chảy thành hai dòng, một dòng cho người đáng trọng và một dòng cho kẻ bị coi thường. Khi cạnh sườn Người mở ra, nước và máu chảy xuống cho tất cả. Hội Thánh sinh ra từ cạnh sườn ấy chỉ trung thành với căn tính của mình khi cửa trái tim cũng mở rộng như cạnh sườn của Chúa.
Người nghèo còn có một dạng khác rất phổ biến trong thế giới hôm nay: nghèo ý nghĩa. Người ta có thể có nhà, xe, tài khoản, bằng cấp và đủ mọi tiện nghi nhưng bên trong là một vực trống. Có người trẻ không biết mình sống để làm gì. Có người thành đạt nhưng mỗi sáng thức dậy không biết vì sao phải tiếp tục. Có người có hàng chục nghìn người theo dõi trên mạng nhưng không có một người bạn để gọi lúc hai giờ sáng. Có người cười trong mọi tấm hình nhưng đêm về lại đối diện một nỗi cô độc không ai biết. Có những gia đình đầy đủ vật chất nhưng thiếu những bữa cơm có người thực sự nhìn vào mắt nhau. Có những người đang nghèo lòng tin, nghèo hy vọng, nghèo một lý do để tha thứ, nghèo khả năng tin rằng đời mình còn có thể bắt đầu lại. Họ cũng là người nghèo cần được Tin Mừng tìm đến.
Người bị bỏ rơi hôm nay cũng không nhất thiết phải sống ngoài đường. Có khi họ nằm trên giường bệnh. Có khi ở trong viện dưỡng lão. Có khi ở trong nhà tù. Có khi là một bà mẹ đơn thân. Có khi là một người vừa ly dị bị cả cộng đoàn nhìn bằng ánh mắt phán xét. Có khi là một người trẻ mắc sai lầm và bị mạng xã hội đưa ra xét xử tập thể. Có khi là người đang chịu một tai tiếng mà chẳng ai chịu nghe câu chuyện từ phía họ. Có khi là một linh mục sai lỗi đang cần được sửa chữa nhưng đồng thời cũng cần được cứu khỏi tuyệt vọng. Có khi là một người đã rời Giáo Hội nhiều năm vì một vết thương nào đó mà chẳng ai từng hỏi. Đặc sủng thừa sai cho người bị bỏ rơi mời chúng ta bước đến những vùng ngoại biên ấy, không phải để thỏa hiệp với điều sai, nhưng để không bao giờ đồng hóa một con người với sai lầm của họ.
Đức Giêsu là bậc thầy của cách nhìn ấy. Người nói với người phụ nữ ngoại tình: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.” Hai điều cùng có mặt: không lên án con người và không gọi tội lỗi là tốt. Đó là lòng thương xót đích thực. Ngày nay chúng ta thường rơi vào một trong hai cực. Hoặc nhân danh sự thật mà nghiền nát con người. Hoặc nhân danh tình thương mà xóa nhòa sự thật. Thánh Giá giữ cả hai. Thánh Giá cho thấy tội lỗi nghiêm trọng đến mức nào: nó đưa Con Thiên Chúa lên cây gỗ. Nhưng Thánh Giá cũng cho thấy tình yêu lớn đến mức nào: chính Con Thiên Chúa trên cây gỗ ấy lại cầu xin tha thứ cho kẻ đóng đinh mình. “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Người thừa sai của Thánh Giá phải học được thứ ngôn ngữ ấy: nói sự thật mà người nghe vẫn cảm thấy mình được yêu; sửa lỗi mà không sỉ nhục; kêu gọi hoán cải mà không đóng cửa hy vọng.
Một nhà truyền giáo chỉ biết lên án sẽ không thể loan báo Đấng chịu đóng đinh cách trọn vẹn. Một người rao giảng chỉ biết nói về luật mà không biết khóc với người đau khổ thì chưa hiểu trái tim Chúa Giêsu. Nhưng một người chỉ nói những điều dễ nghe để không ai khó chịu cũng chưa phải nhà truyền giáo. Đức Giêsu đã yêu người ta đủ nhiều để nói sự thật với họ. Nhưng Người nói sự thật sau khi đã bước vào đời họ. Người ngồi bên giếng với người phụ nữ Samari trước khi chạm đến những đổ vỡ trong đời bà. Người vào nhà Dakêu trước khi Dakêu tuyên bố thay đổi. Người để mình được xức dầu bằng nước mắt của người phụ nữ tội lỗi trước ánh mắt khó chịu của những người đạo đức. Tình yêu đi trước. Chân lý không bị giảm bớt, nhưng được trao trong một trái tim đã biết yêu.
Thánh Giá còn dạy người thừa sai một điều rất khó: chấp nhận bất lực. Có những đau khổ chúng ta không giải quyết được. Có những người nghèo chúng ta không thể đưa ra khỏi cảnh nghèo ngay lập tức. Có bệnh nhân chúng ta không chữa được. Có cái chết không thể ngăn. Có gia đình chúng ta cố gắng nhưng không thể hàn gắn. Có người nghiện chúng ta đồng hành lâu năm mà vẫn vấp ngã. Có những miền đất truyền giáo nhiều năm chẳng thấy kết quả. Lúc ấy, cám dỗ lớn nhất là nghĩ rằng mình vô dụng. Nhưng Thánh Giá nói rằng sự hiện diện yêu thương đôi khi đã là một sứ vụ. Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá chẳng tháo được một cây đinh nào. Mẹ không ngăn được lưỡi đòng. Không làm dịu được đám đông. Không cứu Con xuống khỏi Thánh Giá. Theo tiêu chuẩn hiệu quả, Mẹ chẳng làm được gì. Nhưng Mẹ đứng đó. Và có những lúc tình yêu cao nhất chính là đứng đó.
Người nghèo cần người giải quyết vấn đề, nhưng cũng cần người không bỏ đi khi vấn đề chưa giải quyết được. Người bệnh cần thuốc, nhưng khi thuốc không còn chữa được, họ vẫn cần một bàn tay. Người hấp hối không cần chúng ta giảng những bài dài; đôi khi họ chỉ cần biết có một người đang ngồi bên. Người mất con không cần câu trả lời thần học ngay tức khắc; họ cần một người có thể khóc cùng. Gia đình có người tự tử không cần những phán xét; họ cần một cộng đoàn ôm lấy họ. Thánh Giá dạy chúng ta mục vụ của sự hiện diện. Thiên Chúa không cứu thế giới từ xa. Người đến ở cùng. Emmanuel. Và trên Thánh Giá, Người ở cùng con người trong cả nơi kinh khủng nhất: đau đớn, cô độc và cái chết.
Đặc sủng loan báo Tin Mừng cho người nghèo vì thế đòi nhà truyền giáo phải có khả năng “ở lại”. Người nghèo rất quen với việc người ta đến rồi đi. Một đoàn từ thiện đến, phát quà, chụp hình rồi đi. Một chương trình đến rồi hết ngân sách. Một dự án bắt đầu rồi kết thúc. Một lời hứa được nói rồi bị quên. Điều khiến người nghèo tin vào Tin Mừng nhiều khi không phải là một bài giảng hùng hồn nhưng là thấy một người vẫn còn ở đó sau nhiều năm. Đức Giêsu nói: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Đó là kiểu hiện diện của Thiên Chúa: ở cùng. Người thừa sai phải học thứ trung tín ấy. Không phải lúc nào cũng làm được điều lớn, nhưng có thể ở lại đủ lâu để một đứa trẻ lớn lên biết rằng ít nhất đã có người tin vào nó; đủ lâu để một người nghiện hiểu rằng mỗi lần mình ngã vẫn có một cánh tay kéo lên; đủ lâu để một cộng đoàn nghèo biết rằng họ không phải là dự án mà là gia đình.
Và để ở lại như vậy, người thừa sai phải tự mình gắn với Thánh Giá. Nếu không, sẽ nhanh kiệt sức. Chúng ta không thể cứu tất cả mọi người. Không thể đáp ứng tất cả nhu cầu. Không thể chữa lành mọi vết thương. Không thể mang cả thế giới trên vai. Đó là việc của Đấng Cứu Thế, không phải của chúng ta. Nhà truyền giáo phải nhớ mình là người được sai đi, không phải Đấng Cứu Độ. Chính Đức Giêsu mới là Chúa Cứu Thế. Người thừa sai chỉ dẫn người ta đến với Người. Điều này đem lại một sự tự do rất lớn. Ta làm hết sức mình nhưng không tưởng mình là nguồn cứu độ. Ta gieo, người khác tưới, Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Ta yêu, phục vụ, rao giảng, đồng hành, rồi phó thác phần còn lại cho Chúa. Có những hạt giống chỉ nảy mầm sau khi người gieo đã qua đời.
Có lẽ một trong những sự nghèo khó nguy hiểm nhất của nhà truyền giáo là cần được công nhận. Chúng ta muốn thấy kết quả. Muốn được cảm ơn. Muốn những gì mình làm được biết đến. Muốn người được giúp phải biết ơn. Muốn cộng đoàn đáp lại. Nhưng Thánh Giá thanh luyện động cơ ấy. Đức Giêsu chết giữa những lời chế nhạo. Những người được Người chữa lành ở đâu? Những đám đông từng ăn bánh Người hóa nhiều ở đâu? Những người từng tung hô “Hosanna” ở đâu? Người vẫn yêu. Đây là tự do của tình yêu thừa sai: làm điều tốt ngay cả khi không được ghi nhận; yêu ngay cả khi người kia chưa hiểu; phục vụ ngay cả khi bị hiểu lầm; tiếp tục gieo ngay cả khi chưa thấy mùa gặt.
Chính ở đó, người truyền giáo trở nên giống Đấng Cứu Chuộc. Không phải giống bằng bộ áo mình mặc hay chức danh mình mang, nhưng bằng những vết thương của tình yêu. Có những vết thương trong đời thừa sai chẳng ai nhìn thấy: bị từ chối, bị hiểu lầm, bị phản bội, thất bại trong mục vụ, thấy người mình thương quay lưng, thấy công sức nhiều năm tan biến, thấy cộng đoàn mình phục vụ chẳng thay đổi như mong đợi. Những điều ấy nếu không đem vào Thánh Giá sẽ biến thành cay đắng. Nhưng nếu được đặt cạnh những vết đinh của Chúa, chúng có thể trở thành nơi hiệp thông với Người. Không phải vì đau khổ tự nó tốt, nhưng bởi tình yêu có khả năng biến đau khổ thành hiến lễ.
Dẫu vậy, Thánh Giá không kết thúc ở mồ. Đây là điều người nghèo cần được nghe nhất. Tin Mừng cho người nghèo không phải là bảo họ cam chịu số phận. Không phải nói: “Chúa đã chịu khổ, nên anh cứ chịu khổ đi.” Đó là xuyên tạc Thánh Giá. Đức Kitô chịu chết để đánh bại sự chết. Người chịu bất công không phải để hợp thức hóa bất công, nhưng để mở một trật tự mới. Người xuống tận đáy để nâng con người lên. Người bị đóng đinh nhưng đã phục sinh. Vì thế, bất cứ mục vụ nào nhân danh Thánh Giá để buộc người bị áp bức im tiếng, buộc nạn nhân tiếp tục chịu bạo lực, buộc người nghèo chấp nhận những cơ cấu bất công mà không tìm cách thay đổi, đều phản bội Tin Mừng. Thánh Giá phải dẫn đến Phục Sinh. Người nghèo phải được trao quyền đứng dậy. Người bị áp bức phải được khôi phục phẩm giá. Người tội lỗi phải được mở con đường hoán cải. Người tuyệt vọng phải được trả lại tương lai.
Khi Đức Giêsu chữa người bại liệt, Người không chỉ nói về đời sau. Người bảo anh: “Hãy đứng dậy, vác chõng mà về nhà.” Tin Mừng làm người ta đứng dậy. Khi Người gặp anh mù Bartimê, Người không bảo anh chấp nhận bóng tối. Người hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh nói: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” Và Người cho anh thấy. Khi gặp người phong cùi, Người chạm vào anh và đưa anh trở lại cộng đồng. Khi gặp người phụ nữ bị còng lưng mười tám năm, Người gọi bà là “con cháu Abraham” và giải thoát bà khỏi sự trói buộc. Tin Mừng không làm con người nhỏ lại. Tin Mừng phục hồi họ.
Chính vì thế, người thừa sai cho người nghèo phải luôn hỏi: việc tôi làm có giúp người khác đứng dậy không, hay khiến họ lệ thuộc hơn? Tôi đang trả lại phẩm giá hay biến họ thành đối tượng để tôi thực hiện lòng tốt? Tôi có lắng nghe họ hay chỉ quyết định thay họ? Tôi có giúp họ khám phá khả năng của chính mình hay khiến họ nghĩ họ sẽ mãi cần người khác cứu? Đức Giêsu thường hỏi người bệnh: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Một câu hỏi đáng học biết bao. Người biết người kia cần gì, nhưng Người vẫn hỏi. Vì yêu thương tôn trọng tự do. Người nghèo không phải một bài toán. Họ là chủ thể của chính cuộc đời họ.
Có lẽ điều đẹp nhất của sứ mạng này là dần dần người thừa sai nhận ra ranh giới giữa “người nghèo” và “mình” không rõ như tưởng. Bước đến với người nghèo đủ lâu, ta sẽ khám phá sự nghèo của chính mình. Ta cũng nghèo tình yêu. Nghèo kiên nhẫn. Nghèo lòng tin. Nghèo khả năng tha thứ. Nghèo sự trong sạch của động cơ. Nghèo tự do nội tâm. Nghèo trước cái chết. Nghèo trước những câu hỏi không giải đáp được. Cuối cùng, tất cả chúng ta đều là những người ăn xin trước cửa lòng thương xót Thiên Chúa. Có người ăn xin bánh. Có người ăn xin bình an. Có người ăn xin sức khỏe. Có người ăn xin một cơ hội khác. Có người ăn xin ơn tha thứ. Và chính khi người thừa sai nhận mình cũng là người nghèo, cuộc gặp gỡ mới trở thành huynh đệ thật sự.
Trước Thánh Giá, chẳng ai là ân nhân của ai. Tất cả đều nhận. Linh mục nhận. Tu sĩ nhận. Người giáo dân nhận. Người nghèo nhận. Người giàu nhận. Người thánh thiện nhận. Người tội lỗi nhận. Tất cả đều đứng dưới một dòng máu cứu độ. Và có lẽ đây là nền tảng sâu nhất của đặc sủng loan báo Tin Mừng cho những người bị bỏ rơi: chúng ta đi đến với họ không phải bởi chúng ta tốt hơn họ, nhưng vì chúng ta và họ đều đã được cùng một Đấng Cứu Chuộc yêu đến chết.
Ngày kia, Đức Giêsu nói về cuộc phán xét cuối cùng bằng những lời khiến mỗi người Kitô hữu phải giật mình: “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm.” Những người công chính ngạc nhiên hỏi: “Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa như thế đâu?” Và Đức Vua trả lời: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (x. Mt 25,35-40). Đây không phải là một hình ảnh đạo đức dễ thương. Đây là một mặc khải làm đảo lộn cái nhìn: Đức Kitô tự đồng hóa mình với người bé nhỏ. Không chỉ nói rằng hãy giúp họ “vì Chúa”. Người nói: “chính Ta ở đó.”
Nếu tin điều này thật, đời ta sẽ thay đổi. Gặp người nghèo không còn là bị làm phiền; đó là một cuộc gặp với Đức Kitô đang ẩn mình. Thăm người bệnh không còn chỉ là bổn phận; đó là vào phòng bệnh nơi Chúa đang chờ. Đến nhà tù không còn là bước vào nơi của những người “khác mình”; đó là tìm Chúa trong một thân phận bị giam cầm. Ngồi nghe một người già kể chuyện lần thứ mười không còn là lãng phí thời gian; đó có thể là ngồi dưới chân một Đức Kitô già nua đang cần được lắng nghe. Ôm một đứa trẻ bị bỏ rơi là ôm lấy Chúa. Bảo vệ một người bị kết án bất công là đứng gần Thánh Giá.
Vậy nên, thừa sai Chúa Cứu Thế không phải trước hết là người đi thật xa. Có người đi nghìn cây số mà chưa bước khỏi cái tôi. Có người chẳng đi xa nhưng mỗi ngày vượt qua một khoảng cách lớn hơn: khoảng cách từ dửng dưng đến cảm thương, từ xét đoán đến thấu hiểu, từ tiện nghi đến chia sẻ, từ quyền lực đến phục vụ, từ cái tôi đến Thánh Giá. Truyền giáo thật sự bắt đầu khi trái tim chịu để mình bị thương bởi nỗi đau của con người. Thánh Anphongsô đã để tiếng kêu của những người bị bỏ rơi làm mình mất bình an. Đó là thứ “mất bình an” thánh thiện. Có những bình an đến từ việc đóng cửa để khỏi thấy đau khổ; đó không phải bình an của Tin Mừng. Bình an của Chúa không làm ta vô cảm. Trái lại, càng ở gần Chúa, ta càng nghe rõ tiếng khóc của thế giới.
Và Hội Thánh hôm nay vẫn cần những con người có một trái tim không chịu yên khi biết còn ai đó chưa được nghe Tin Mừng. Không phải Tin Mừng như một lý thuyết, nhưng Tin Mừng như một biến cố: Thiên Chúa yêu bạn. Đức Kitô đã chết và sống lại vì bạn. Tội lỗi không phải lời cuối. Quá khứ không phải lời cuối. Sự nghèo khó không phải lời cuối. Bệnh tật không phải lời cuối. Những lần bạn bị người ta loại bỏ không phải lời cuối. Ngay cả cái chết cũng không phải lời cuối. Lời cuối thuộc về Thiên Chúa, và lời ấy là sự sống.
Có những người cần nghe Tin Mừng ấy trong một ngôi nhà thờ. Có những người sẽ không bao giờ bước vào nhà thờ, nên Hội Thánh phải bước ra. Chúa Giêsu không ngồi chờ người phong cùi đến hội đường. Người đi trên đường. Người đi qua làng mạc. Người lên núi. Người xuống thuyền. Người ngồi bên giếng. Người vào nhà người tội lỗi. Người dừng bên vệ đường. Người hiện diện ở nơi con người đang sống. Một Hội Thánh thừa sai cũng vậy. Phải có khả năng bước ra những con đường nơi người nghèo đang đi; bước vào bệnh viện, nhà tù, khu công nghiệp, xóm trọ, vùng sâu, mái ấm, gia đình tan vỡ, thế giới kỹ thuật số và mọi vùng ngoại biên của tâm hồn con người.
Đi ra không phải vì Hội Thánh ghét ngôi nhà của mình, nhưng bởi lửa trong nhà quá lớn để giữ kín. Người đã thực sự gặp Đấng Cứu Chuộc không thể không kể về Người. Hai môn đệ Emmau sau khi nhận ra Chúa trong lúc bẻ bánh đã lập tức trở về Giêrusalem, dù trời đã tối. Người phụ nữ Samari bỏ vò nước mà chạy về thành. Maria Mađalêna sau khi gặp Chúa phục sinh chạy đi nói với các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa.” Tin Mừng tự nó tạo nên bước chân.
Nhưng bước chân đẹp nhất vẫn là những bước chân mang dấu Thánh Giá. Bởi vì người nghèo rất nhạy. Họ biết ai thật lòng và ai diễn. Họ nhận ra ai đến để yêu và ai đến để sử dụng câu chuyện của họ. Một nhà truyền giáo không cần hoàn hảo, nhưng phải thật. Phải biết khóc. Biết xin lỗi. Biết nhận mình sai. Biết ngồi xuống. Biết ăn một bữa cơm đơn sơ. Biết nghe một câu chuyện dài. Biết để lịch của mình bị gián đoạn vì một con người. Đức Giêsu rất nhiều lần để hành trình của mình bị gián đoạn. Người đang đi thì Jairô đến xin. Người đi chữa con Jairô thì người phụ nữ băng huyết chạm vào áo. Người đang rời Giêrikhô thì Bartimê kêu. Đám đông thấy phiền. Đức Giêsu dừng lại. Có lẽ mục vụ thừa sai được đo không chỉ bằng những điều chúng ta lên kế hoạch làm, mà còn bằng khả năng để tình yêu làm gián đoạn kế hoạch.
Cuối cùng, tất cả trở về Golgotha. Người thừa sai đứng trước Thánh Giá và nghe một câu hỏi không thành lời: “Con có sẵn sàng yêu họ như Thầy đã yêu không?” Không ai có thể trả lời trọn vẹn. Chúng ta yếu đuối. Tình yêu chúng ta nhỏ. Sự quảng đại nhiều khi pha lẫn ích kỷ. Chúng ta mệt, sợ, ngại, muốn chọn việc dễ hơn. Nhưng điều an ủi là Chúa không bảo chúng ta tự tạo ra tình yêu. Người mời chúng ta ở lại trong tình yêu của Người. Nhà truyền giáo không phải một chiếc giếng tự có nước. Chỉ là một máng dẫn. Muốn đem nước đến cho người khát, phải nối với nguồn.
Vì vậy, trước khi chạy đi tìm người nghèo, người thừa sai phải biết quỳ xuống. Trước khi nói về Chúa, phải để Chúa nói với mình. Trước khi chạm vào vết thương người khác, phải để Chúa chạm vào vết thương của chính mình. Trước khi công bố lòng thương xót, phải nhận lòng thương xót. Trước khi bảo người ta rằng họ được yêu, phải để mình bị chinh phục bởi sự thật rằng chính mình đã được yêu đến chết.
Có lẽ khi ấy ta mới hiểu tại sao Thánh Giá và đặc sủng loan báo Tin Mừng cho người nghèo không bao giờ có thể tách nhau. Thánh Giá cho thấy Thiên Chúa đã xuống thấp đến mức nào để tìm con người. Đặc sủng thừa sai chỉ là tiếp tục chuyển động đi xuống ấy: từ trung tâm đến ngoại biên, từ nơi an toàn đến nơi bấp bênh, từ người có tiếng nói đến người không tiếng nói, từ những nơi người ta thích đến những nơi chẳng ai muốn đến. Không đi xuống để ban phát từ trên cao, nhưng đi xuống để gặp một Đức Kitô đã ở dưới ấy trước mình.
Đôi khi chúng ta hỏi: “Chúa ở đâu giữa những khu ổ chuột? Chúa ở đâu trong nhà tù? Chúa ở đâu bên giường bệnh? Chúa ở đâu trong những phận người chẳng ai nhớ?” Thánh Giá trả lời: Người ở đó. Người đã ở đó từ trước. Có khi câu hỏi đúng hơn phải là: “Còn chúng ta ở đâu?”
Nếu một ngày nào đó Hội Thánh có đủ mọi thứ nhưng không còn ở bên người nghèo, ngày đó Hội Thánh sẽ nghèo đi điều quý nhất: khuôn mặt Đức Kitô. Nếu một cộng đoàn Dòng Chúa Cứu Thế có nhiều công việc, nhiều cơ sở, nhiều hoạt động nhưng không còn đau đáu về những người bị bỏ rơi nhất, cộng đoàn ấy phải trở lại trước Thánh Giá và hỏi lại mình là ai. Đặc sủng không phải một khẩu hiệu treo trên tường. Đặc sủng là một vết thương trong trái tim khiến ta không thể sống khác. Bao lâu còn một người chưa biết mình được Thiên Chúa yêu, sứ mạng chưa xong. Bao lâu còn một người nằm bên vệ đường và mọi người bước qua, sứ mạng chưa xong. Bao lâu còn một con người bị coi là vô dụng, sứ mạng chưa xong. Bao lâu còn một tội nhân nghĩ rằng Thiên Chúa không thể tha cho mình, sứ mạng chưa xong.
Và dù thế giới có thay đổi bao nhiêu, phương tiện truyền giáo có hiện đại đến đâu, nhân loại có bước sang những thời đại công nghệ nào, Tin Mừng vẫn sẽ bắt đầu bằng một cảnh rất đơn giản: một người dừng lại trước một con người khác. Nhìn họ. Nghe họ. Gọi tên họ. Ở lại với họ. Và bằng lời nói hoặc bằng chính sự hiện diện của mình, nói rằng: “Anh không bị bỏ rơi. Chị không bị quên. Có một Đấng đã yêu anh chị đến mức mang lấy Thánh Giá.”
Đó là Tin Mừng.
Đó là sứ mạng.
Đó là trái tim của người thừa sai.
Và đó là điều Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh vẫn đang chờ nơi mỗi chúng ta.
Xin cho chúng ta đừng bao giờ quen với Thánh Giá đến mức nhìn mà không còn xúc động. Xin cho mỗi lần nhìn những vết đinh của Chúa, chúng ta nhớ đến những vết thương của nhân loại. Mỗi lần hôn kính Thánh Giá, xin cho chúng ta nhớ những thân phận không ai muốn chạm tới. Mỗi lần cử hành Thánh Thể, xin cho chúng ta nhớ ngoài kia còn những người đang đói cả bánh ăn lẫn tình thương. Mỗi lần nghe lời “Mình Thầy, hiến tế vì anh em”, xin cho chúng ta hiểu rằng đời mình cũng được mời gọi trở thành tấm bánh bẻ ra. Và mỗi lần đọc lời “Ơn Cứu Chuộc nơi Người chan chứa”, xin cho trái tim người thừa sai lại nóng lên vì một câu hỏi chẳng bao giờ được phép thôi day dứt: Ai là người nghèo nhất, bị bỏ rơi nhất mà Chúa đang muốn tôi tìm đến hôm nay?
Bởi cuối cùng, Thánh Giá không phải một đồ vật để chúng ta đeo nhưng là một con đường để chúng ta đi. Không phải chỉ là dấu được làm trên trán nhưng phải trở thành hình dáng của một đời sống. Không phải chỉ là nơi chúng ta tìm sự an ủi nhưng là nơi chúng ta nhận một sứ mạng. Từ Thánh Giá, Chúa Giêsu vẫn đang nhìn thế giới. Ánh mắt ấy vẫn dừng lại trên người nghèo, người bé nhỏ, người tội lỗi, người tuyệt vọng, người bị loại bỏ. Và Người cần những đôi mắt tiếp tục nhìn bằng ánh mắt của Người, những đôi chân tiếp tục đi về phía họ, những bàn tay tiếp tục chạm vào họ, những trái tim tiếp tục yêu họ.
Chúng ta được sai đi không phải để chứng minh rằng mình tốt, nhưng để làm chứng rằng Thiên Chúa tốt lành.
Không phải để người nghèo nhớ tên chúng ta, nhưng để họ nhớ rằng Thiên Chúa chưa bao giờ quên tên họ.
Không phải để họ mang ơn chúng ta, nhưng để họ khám phá rằng ơn cứu chuộc của Đức Kitô là ơn nhưng không.
Không phải để xây cho mình một hình ảnh đẹp, nhưng để giữa những vùng tối của cuộc đời, một lần nữa khuôn mặt của Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh được hiện ra.
Và nếu một ngày nào đó, nhờ một lời nói của ta, một bàn tay ta đưa ra, một lần ta chịu dừng lại, một sự hiện diện âm thầm, một lần tha thứ, một chén nước, một miếng bánh, một cuộc viếng thăm, một lời giải tội, một bài giảng đơn sơ, một đêm thức bên người bệnh, mà một con người đang nghĩ mình bị Thiên Chúa bỏ quên chợt tin lại rằng mình vẫn được yêu, thì ngày ấy Tin Mừng đã được loan báo.
Và Thánh Giá đã tiếp tục trổ sinh sự sống giữa cuộc đời.
Lm. Anmai, CSsR

TỪ THÁNH GIÁ ĐẾN BÍ TÍCH HÒA GIẢI – DÒNG MÁU THƯƠNG XÓT VẪN CHẢY
Có những lúc đứng thật lâu trước Thánh Giá, người ta không còn muốn nói gì nữa. Mọi lời giải thích dường như trở nên thừa thãi trước một Thiên Chúa bị treo lên giữa trời và đất, hai tay dang rộng, thân mình đầy thương tích, đầu đội vòng gai, cạnh sườn bị đâm thâu, máu và nước chảy xuống. Người ta có thể đã nghe hàng ngàn bài giảng về Thánh Giá, đã làm dấu Thánh Giá từ thuở nhỏ, đã mang cây thánh giá trên cổ suốt bao nhiêu năm, đã nhìn tượng Chúa chịu nạn trong nhà thờ đến quen mắt, nhưng chỉ đến một ngày nào đó, khi đời mình đổ vỡ vì chính tội lỗi của mình, khi một lỗi lầm không thể xóa khỏi ký ức, khi một vết thương do mình gây ra cho người khác cứ âm thầm trở lại, khi lương tâm không còn cho phép mình chạy trốn nữa, người ta mới bắt đầu hiểu Thánh Giá không phải là một món đồ đạo đức đặt trên bàn thờ, mà là nơi một Con Người đang chết vì tội của mình. Và cũng chính lúc ấy, người ta mới bắt đầu hiểu bí tích Hòa Giải không phải là một thủ tục tôn giáo dành cho những người “có tội nặng”, càng không phải là một căn phòng lạnh lẽo nơi con người bị xét xử, nhưng là nơi dòng máu từ Thánh Giá vẫn đang chảy xuống trên một cuộc đời cụ thể, trên một tội nhân cụ thể, trên một trái tim đang xấu hổ, đang sợ hãi, đang muốn trở về mà chưa biết mình có còn được đón nhận hay không. Giữa Thánh Giá chiều Thứ Sáu Tuần Thánh và một tòa giải tội âm thầm trong một góc nhà thờ tưởng như có một khoảng cách hai ngàn năm, nhưng thật ra chỉ có một dòng chảy duy nhất: dòng chảy của lòng thương xót. Máu Đức Kitô đã đổ trên đồi Canvê không phải là một biến cố đã khép lại trong quá khứ. Máu ấy vẫn tiếp tục chạm vào con người qua các bí tích, và đặc biệt trong bí tích Hòa Giải, nơi một con người dám gọi đúng tên tội lỗi của mình và nghe một lời mà không quyền lực nào trên trái đất có thể tự mình nói được: “Cha tha tội cho con, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.” Đó không chỉ là lời của một linh mục. Đó là tiếng vọng của Đấng chịu đóng đinh. Đó là lời tha thứ phát xuất từ một trái tim đã bị lưỡi đòng mở ra. Đó là máu của Con Chiên đang rửa sạch chiếc áo đời người. Đó là Thiên Chúa cúi xuống một lần nữa để nhấc một con người khỏi bùn đất mà nói: Con hãy đứng dậy, đừng nằm mãi ở đó nữa.
Thật lạ lùng, điều con người sợ nhất khi đến với bí tích Hòa Giải lại chính là điều Thiên Chúa muốn lấy đi khỏi họ: sự xấu hổ. Chúng ta sợ người khác biết mình đã làm gì. Chúng ta sợ phải nghe chính miệng mình nói ra điều mình đã cố giấu. Chúng ta sợ ánh mắt của linh mục. Chúng ta sợ bị phán xét. Chúng ta sợ phải đối diện với chính khuôn mặt thật của mình. Vì thế có người nhiều tháng, nhiều năm, thậm chí nhiều chục năm không bước vào tòa giải tội. Họ vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn giữ một số việc đạo đức, nhưng có một căn phòng khóa kín trong lòng mà họ không muốn mở. Trong căn phòng ấy có một ngoại tình chưa bao giờ thú nhận, một sự gian dối kéo dài, một món tiền bất chính, một mối hận không chịu buông, một đứa con từng bị tổn thương vì những lời của cha mẹ, một người phối ngẫu từng bị phản bội, một đời sống hai mặt, một thói nghiện ngập, một lựa chọn mà sau nhiều năm vẫn không thể tha thứ cho chính mình. Có người tưởng rằng giấu càng kỹ thì quá khứ càng mất đi. Không. Tội lỗi được giấu không biến mất; nó chỉ đổi chỗ. Từ một hành vi bên ngoài, nó đi vào bên trong và trở thành nỗi sợ. Từ một biến cố đã qua, nó trở thành cái bóng đi theo hiện tại. Từ một lỗi lầm, nó có thể trở thành một cách nhìn về chính mình: tôi là người xấu, tôi không còn đáng được yêu, đời tôi hỏng rồi. Ma quỷ rất tinh quái ở chỗ đó. Khi cám dỗ, nó bảo: chuyện nhỏ thôi, ai cũng làm, không sao đâu. Sau khi con người phạm tội, nó lại đổi giọng: tội của mày quá lớn, Thiên Chúa không tha đâu. Trước khi phạm tội, nó làm lòng thương xót trở thành dễ dãi; sau khi phạm tội, nó làm công lý trở thành tuyệt vọng. Cả hai đều là dối trá. Thánh Giá phá vỡ cả hai lời dối trá ấy. Nhìn lên Thánh Giá, ta biết tội không hề nhỏ, vì nếu tội là chuyện nhỏ thì Con Thiên Chúa đã không phải trả giá bằng máu. Nhưng nhìn lên Thánh Giá, ta cũng biết không có tội nào lớn hơn tình yêu của Thiên Chúa, vì chính nơi tội lỗi con người đạt đến sự dữ tột cùng – đóng đinh Đấng vô tội – thì tình yêu Thiên Chúa lại đạt đến sự tự hiến tột cùng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Thánh Giá không nói rằng tội chẳng có gì đáng kể. Thánh Giá nói một điều khác sâu hơn nhiều: tội của con rất khủng khiếp, nhưng tình yêu của Ta còn lớn hơn tội của con. Vết thương của con rất sâu, nhưng lòng thương xót của Ta sâu hơn. Con có thể bỏ Ta, nhưng Ta không thôi tìm con. Con có thể khước từ Ta, nhưng Ta vẫn dang tay. Con có thể quay lưng, nhưng từ Thánh Giá Ta vẫn nhìn theo con.
Tin Mừng đã để lại cho chúng ta một trong những hình ảnh đẹp nhất về lòng thương xót trong câu chuyện người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình. Người ta dẫn chị đến trước Đức Giêsu, đặt chị đứng giữa đám đông và nói: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà như thế. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” (x. Ga 8,1-11). Chúng ta thử đứng trong đám đông ấy. Một người phụ nữ bị lôi ra giữa công chúng. Tội của chị không còn là bí mật. Không còn gì để che. Không còn chỗ để chạy. Những ánh mắt nhìn chị. Những bàn tay nắm đá. Những lời kết án đã sẵn trên môi. Chị không có gì để tự bào chữa. Và rồi Đức Giêsu cúi xuống đất. Người không phủ nhận tội của chị. Người cũng không hợp thức hóa ngoại tình. Người chỉ nói: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” Một câu thôi, nhưng cả pháp trường thay đổi. Những viên đá lần lượt rơi xuống. Những người kết án lần lượt bỏ đi. Cuối cùng chỉ còn lại Đức Giêsu và người phụ nữ. Thánh Augustinô đã diễn tả khung cảnh ấy bằng một hình ảnh thật đẹp: chỉ còn lại “khốn cùng và lòng thương xót” – miseria et misericordia. Đức Giêsu hỏi: “Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?” Chị đáp: “Thưa ông, không có ai cả.” Người nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.” Đó chính là toàn bộ dung mạo của bí tích Hòa Giải. “Tôi không lên án chị” là lòng thương xót. “Từ nay đừng phạm tội nữa” là lời mời gọi hoán cải. Nếu chỉ có câu thứ hai mà không có câu thứ nhất, Kitô giáo sẽ trở thành một hệ thống luân lý lạnh lùng, chỉ biết yêu cầu con người phải tốt hơn. Nếu chỉ có câu thứ nhất mà không có câu thứ hai, lòng thương xót sẽ bị biến thành sự dễ dãi, như thể tội lỗi không gây thương tích và chẳng cần thay đổi. Nhưng Đức Giêsu nói cả hai. Người không lên án tội nhân, nhưng Người không làm hòa với tội lỗi. Người cứu con người ra khỏi tội để con người có thể bắt đầu lại. Và trong tòa giải tội cũng vậy. Ta không đến để được nghe rằng mọi điều mình đã làm đều không sao. Ta đến để được nghe rằng dù những điều ấy là sai, ta vẫn còn được yêu; dù đã ngã, ta vẫn còn có thể đứng lên; dù quá khứ không thể thay đổi, tương lai vẫn chưa bị đóng cửa.
Có người hỏi: tại sao phải xưng tội với linh mục? Tôi phạm tội với Chúa, tôi xin Chúa tha trực tiếp không được sao? Câu hỏi ấy nghe rất hợp lý nếu Kitô giáo chỉ là mối tương quan riêng tư giữa một linh hồn và Thiên Chúa. Nhưng Đức Kitô đã không cứu chúng ta bằng một tư tưởng vô hình. Người đã nhập thể. Người dùng những gì hữu hình để chuyển thông ân sủng vô hình. Người dùng nước để tái sinh trong phép Rửa, dùng bánh và rượu để ban chính Mình và Máu Người trong Thánh Thể, dùng dầu để xức cho người đau yếu, dùng lời và bàn tay con người để chúc lành. Và sau khi sống lại, một trong những việc đầu tiên Chúa Giêsu làm là hiện ra với các môn đệ, thổi hơi trên họ và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20,22-23). Điều ấy không phải do Hội Thánh về sau nghĩ ra để kiểm soát lương tâm tín hữu. Nó nằm ngay trong trái tim của Tin Mừng Phục Sinh. Đấng đã mang những dấu đinh trên tay trao cho Hội Thánh sứ mạng tha thứ. Điều đáng chú ý là khi hiện ra, Chúa Giêsu vẫn mang các vết thương. Người sống lại, nhưng vết thương không biến mất. Vì sao? Có lẽ bởi từ đó về sau, mỗi khi Hội Thánh nói lời tha tội, Hội Thánh phải nhớ rằng mình chỉ có thể tha nhờ những vết thương ấy. Linh mục không ngồi trong tòa giải tội như một quan tòa tự cho mình hơn người khác. Linh mục ngồi đó như một người đã được trao giữ một kho tàng không thuộc về mình. Người linh mục cũng là một tội nhân cần quỳ xuống xưng tội. Người ấy không có quyền khinh người đang quỳ trước mình, bởi chỉ cần ân sủng Chúa rời khỏi mình, ai biết mình sẽ ngã đến đâu. Một linh mục giải tội đúng nghĩa càng nghe nhiều những đổ vỡ của con người càng phải khiêm nhường, càng phải thương con người hơn, càng phải hiểu rằng có những trận chiến trong lòng một người mà chẳng ai bên ngoài biết được. Nếu tòa giải tội biến thành nơi làm cho người ta sợ Thiên Chúa hơn, có lẽ chúng ta đã trình bày sai khuôn mặt của Đấng chịu đóng đinh. Người linh mục có trách nhiệm nói sự thật, có khi phải nói một sự thật khó nghe, nhưng phải nói như một người đang đứng dưới Thánh Giá, nơi sự thật và lòng thương xót không loại trừ nhau.
Nhiều khi chúng ta nghĩ bí tích Hòa Giải bắt đầu khi mình quỳ xuống và đọc: “Thưa cha, xin cha làm phép lành cho con, vì con là kẻ có tội.” Thật ra, bí tích ấy bắt đầu sớm hơn nhiều. Nó bắt đầu từ lúc Thiên Chúa làm cho lương tâm ta bứt rứt. Một câu Kinh Thánh nghe trong Thánh lễ. Một đêm không ngủ. Một ánh mắt của người mình đã làm tổn thương. Một lần nhìn lại cuộc đời và tự hỏi: mình đang đi đâu vậy? Một biến cố khiến ta nhận ra mình không mạnh như mình tưởng. Một cái chết của người thân làm ta thấy cuộc đời quá ngắn để tiếp tục sống trong giả dối. Một ngày bước vào nhà thờ chẳng biết vì sao, rồi bất chợt nhìn lên Thánh Giá và thấy lòng mình mềm lại. Đừng coi thường những chuyển động nhỏ ấy. Đó có thể là tiếng Chúa gọi. Trong dụ ngôn người cha nhân hậu, người con hoang đàng tưởng rằng cuộc trở về bắt đầu khi anh quyết định: “Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha” (Lc 15,18). Nhưng ta có thể nói rằng trước khi anh nhớ cha, cha đã không quên anh. Trước khi anh bước về, cha đã chờ. Trước khi anh nói hết lời thú tội, cha đã ôm. Người con chuẩn bị một bài diễn văn rất đẹp: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy.” Nhưng người cha không để anh nói hết. Ông ôm lấy cổ anh và hôn lấy hôn để. Ông gọi gia nhân mang áo đẹp nhất, đeo nhẫn, mang dép, giết bê béo và mở tiệc. Đó là điều diễn ra trong bí tích Hòa Giải. Ta đến với một danh sách tội lỗi; Thiên Chúa đáp bằng một chiếc áo mới. Ta đến như một kẻ làm thuê; Người gọi ta lại là con. Ta nghĩ mình chỉ đáng đứng ngoài cửa; Người dọn bàn tiệc. Ta tưởng Chúa chỉ chịu đựng ta; Người vui mừng vì ta trở về. “Con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.”
Một trong những bi kịch lớn nhất của đời sống thiêng liêng không phải chỉ là con người phạm tội, mà là sau khi phạm tội họ không dám trở về. Phêrô đã chối Chúa ba lần. Giuđa đã bán Chúa. Cả hai đều phản bội. Cả hai đều nhận ra lỗi mình. Nhưng con đường sau đó khác nhau. Phêrô khóc. Giuđa tuyệt vọng. Một người để tội lỗi đẩy mình trở về với lòng thương xót, người kia để tội lỗi khóa mình trong tuyệt vọng. Không phải tội của Phêrô nhẹ. Ba lần trước mặt người khác, ông nói không biết Đức Giêsu là ai, trong khi trước đó đã thề sẵn sàng chết vì Người. Nhưng sau Phục Sinh, Đức Giêsu không dựng lại một phiên tòa bên bờ hồ Tibêria. Người nhóm một bếp than, chuẩn bị bánh và cá, rồi ba lần hỏi: “Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy không?” (x. Ga 21,15-17). Ba lần chối được chữa lành bằng ba lần yêu. Không phải Chúa xóa ký ức của Phêrô; Người biến ký ức ấy thành khiêm nhường. Từ đó Phêrô vẫn nhớ mình đã từng ngã, nhưng ký ức không còn là một cái hố chôn ông; nó trở thành nơi ông hiểu lòng thương xót. Có lẽ chính vì thế một người mục tử từng khóc vì tội mình mới có thể hiểu những giọt nước mắt của người khác. Bí tích Hòa Giải cũng không xóa trí nhớ của chúng ta như xóa một tệp dữ liệu. Có những chuyện chúng ta vẫn nhớ đến cuối đời. Nhưng Chúa có thể thay đổi ý nghĩa của ký ức ấy. Điều từng làm ta xấu hổ có thể trở thành nơi sinh ra lòng khiêm nhường. Điều từng khiến ta cay nghiệt với người khác có thể làm ta biết cảm thông. Điều từng là vết thương có thể trở thành một cánh cửa để ta bước vào lòng thương xót sâu hơn. Người được tha nhiều không nhất thiết trở thành người yếu đuối; nếu thật sự hiểu mình được tha, họ có thể trở thành người biết yêu nhiều.
Nhưng để được chữa lành, phải có lòng thành thật. Bí tích Hòa Giải không phải phép thuật. Không phải cứ đọc vài câu, kể vài lỗi quen thuộc rồi ra về là mọi thứ tự động thay đổi. Ân sủng là nhưng không, nhưng lòng con người phải mở ra. Sự ăn năn thật không chỉ là sợ hình phạt. Có những đứa trẻ xin lỗi vì sợ bị phạt; người trưởng thành xin lỗi vì nhận ra mình đã làm người khác đau. Trong tương quan với Thiên Chúa cũng vậy. Sám hối Kitô giáo đạt tới chiều sâu khi ta không chỉ nói: “Con sợ xuống hỏa ngục”, mà còn biết đau vì mình đã xúc phạm một Tình Yêu. Người ta có thể nói: “Tôi chẳng cảm thấy gì cả, tôi xưng tội mà không khóc.” Nước mắt không phải thước đo duy nhất của lòng ăn năn. Có những giọt nước mắt rất mau khô. Điều quan trọng là ý chí quay về. Là dám nói: điều này sai, con không muốn tiếp tục sống như thế nữa. Có thể ngày mai ta lại yếu đuối. Có thể cuộc chiến còn dài. Có những thói quen tội lỗi đã bén rễ hàng chục năm không biến mất sau một lần xưng tội. Nhưng mỗi lần thành thật trở về là mỗi lần ta để Chúa cắt thêm một sợi dây đang trói mình. Đừng đợi đến khi mình hoàn hảo mới đến với bí tích Hòa Giải. Nếu hoàn hảo rồi thì cần gì chữa lành nữa. Bệnh viện không dành cho người khỏe. Tòa giải tội không dành cho những người có thể trình cho Chúa một bản thành tích đạo đức; nó dành cho những ai biết mình cần được cứu. Người ta không tắm vì đã sạch; người ta tắm vì đang bẩn. Người ta không đến bác sĩ vì đã hết bệnh; người ta đến vì đang bệnh. Cũng vậy, đừng nói: “Khi nào con bỏ được tội này con mới đi xưng tội.” Hãy đi xưng tội để nhận sức mà chiến đấu với tội ấy.
Có những người xưng đi xưng lại một thứ tội đến mức chán nản: nóng giận mãi, nói hành mãi, phạm tội trong tư tưởng mãi, ích kỷ mãi, ghen ghét mãi, một cơn nghiện nào đó cứ trở đi trở lại. Họ bắt đầu nghĩ: xưng để làm gì, rồi cũng phạm lại. Nhưng hãy nhìn một đứa trẻ tập đi. Nó té bao nhiêu lần? Không người mẹ nào nói: “Con té lần thứ mười rồi, thôi đừng đứng lên nữa.” Người mẹ đưa tay. Đứa trẻ nắm lấy. Nó đứng lên. Nó đi vài bước. Nó lại té. Cứ như thế, một ngày nó đi được. Thiên Chúa kiên nhẫn hơn chúng ta tưởng. Điều Người cần không phải là lời hứa kiêu ngạo: “Con sẽ không bao giờ phạm nữa.” Điều Người muốn là một trái tim khiêm tốn: “Lạy Chúa, con yếu lắm. Nếu Chúa không giữ, con sẽ ngã. Nhưng con muốn thuộc về Chúa.” Có một khác biệt rất lớn giữa người đang chiến đấu với tội lỗi và người đã làm hòa với tội lỗi. Cả hai có thể cùng ngã nhiều lần, nhưng người thứ nhất mỗi lần ngã đều đau, đều đứng dậy, đều tìm sự trợ giúp, đều cố tránh dịp tội; người thứ hai không còn muốn chiến đấu nữa. Bí tích Hòa Giải không phải chỉ cho những chiến thắng; nó còn là lương thực của những trận chiến dài. Chúa không khinh một người phải trở lại tòa giải tội với cùng một vết thương nếu người ấy thật lòng muốn được chữa. Người bác sĩ không ghét bệnh nhân vì vết thương lâu lành.
Cũng có một dạng tội khác khó nhận hơn: tội của người tưởng mình tốt. Người con cả trong dụ ngôn người cha nhân hậu không bỏ nhà đi, không phung phí tài sản, không sống trác táng. Anh ở nhà, làm việc, giữ bổn phận. Nhưng khi người em trở về, lòng anh lộ ra. Anh không thể vui vì em mình được cứu. Anh tính toán công lao, kể lễ bao năm phục vụ, giận cha vì lòng thương xót của cha. Có khi chúng ta đi xưng tội đều đặn mà vẫn mang tâm hồn người anh cả. Chúng ta kể một vài lỗi nhỏ nhưng không bao giờ đụng tới sự kiêu ngạo khiến ta khinh người, sự ganh tị khi thấy người khác được quý trọng, nhu cầu muốn mình luôn đúng, cách ta nói về người khác sau lưng, sự lạnh lùng với người thân, thái độ bất công trong công việc, sự vô cảm trước đau khổ của người nghèo, cách dùng quyền lực làm tổn thương người yếu hơn. Ta có thể không ngoại tình nhưng trái tim đã xa người bạn đời. Ta có thể không ăn cắp nhưng sống trên tiền của mà chẳng bao giờ thấy trách nhiệm chia sẻ. Ta có thể không giết ai nhưng giết danh dự của họ bằng một câu chuyện được kể thêm. Ta có thể đọc kinh rất nhiều mà chưa bao giờ thật sự xin lỗi một người trong gia đình. Ta có thể đứng gần bàn thờ mà lòng lại ở rất xa Chúa. Bởi thế, xét mình không phải chỉ là dò qua một bảng danh sách xem đã phạm điều luật nào; xét mình là đứng dưới ánh sáng tình yêu và hỏi: trong tuần qua, tôi đã yêu thế nào? Tôi đã làm ai đau? Tôi đã bỏ qua điều tốt nào lẽ ra phải làm? Tôi đã sống như con của Thiên Chúa hay chỉ sống như một người cố giữ hình ảnh đạo đức?
Từ Thánh Giá nhìn xuống, Chúa Giêsu nhìn thấy tất cả. Người nhìn thấy đám đông chế nhạo. Người nhìn thấy những lính đóng đinh mình. Người nhìn thấy các thủ lãnh tôn giáo. Người nhìn thấy người môn đệ mình yêu. Người nhìn thấy Mẹ. Người nhìn thấy tên trộm cùng bị đóng đinh. Và giữa lúc mình không còn gì để cho, Chúa vẫn còn cho một điều: lòng thương xót. Tên trộm lành không có thời gian sửa lại cuộc đời. Anh không thể xuống khỏi thập giá để trả lại những gì đã lấy, không thể xây dựng một thành tích đạo đức mới, không thể làm việc thiện nhiều năm để bù đắp. Anh chỉ có một khoảnh khắc và một lời cầu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Chúa trả lời: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43). Hai chữ “hôm nay” ấy làm người ta rùng mình. Không phải sau một trăm năm thanh toán cho đủ. Không phải khi nào Thiên Chúa hết giận. “Hôm nay.” Lòng thương xót không trì hoãn khi một trái tim thật sự mở ra. Đó là Tin Mừng cho những ai nghĩ rằng mình đã quá trễ. Bao nhiêu tuổi không quan trọng. Bao nhiêu năm xa Chúa cũng không phải là cánh cửa khóa lại. Người ta có thể bỏ Chúa năm năm, hai mươi năm, năm mươi năm. Chỉ cần còn một hơi thở biết gọi: “Lạy Chúa, xin nhớ đến con”, lòng thương xót vẫn có đường đi vào.
Đặc biệt, máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Đức Kitô trong Tin Mừng Gioan mang một chiều sâu kỳ diệu. “Một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34). Một trái tim đã ngừng đập nhưng vẫn còn cho. Con người đâm vào trái tim Thiên Chúa, và từ trái tim bị đâm lại chảy ra điều cứu con người. Đó là logic lạ lùng của Thiên Chúa. Con người trao lưỡi đòng; Thiên Chúa trao máu và nước. Con người trao phản bội; Thiên Chúa trao tha thứ. Con người trao cái chết; Thiên Chúa mở nguồn sống. Hội Thánh từ rất sớm đã nhìn thấy nơi máu và nước ấy dấu chỉ của đời sống bí tích. Và mỗi lần một người bước vào bí tích Hòa Giải, người ấy đang đặt vết thương đời mình bên cạnh vết thương cạnh sườn Đức Kitô. Vết thương gặp vết thương. Nhưng một bên là vết thương gây chết, một bên là vết thương ban sự sống. Những gì ta không tự chữa được được đặt vào trong thương tích của Người. “Nhờ những vết thương của Người mà anh em đã được chữa lành” (1 Pr 2,24).
Có người không dám tha thứ cho chính mình dù đã xưng tội. Đây là một đau khổ rất thật. Họ tin Chúa tha trên lý thuyết nhưng trong lòng vẫn tự kết án mình. Một ký ức cứ trở lại, và mỗi lần trở lại họ lại tự xử án. Khi ấy cần phân biệt rất rõ khiêm nhường với việc hành hạ bản thân. Khiêm nhường nói: tôi đã làm điều sai, và tôi cần lòng thương xót. Kiêu ngạo tinh vi lại nói: tội của tôi lớn đến mức ngay cả máu Đức Kitô cũng không đủ. Nói như thế dù dưới hình thức tuyệt vọng vẫn là đặt tội mình cao hơn Thánh Giá. Nếu Chúa đã tha, ta phải học cách đón nhận sự tha thứ ấy. Điều đó không có nghĩa là phủ nhận hậu quả. Có những tội được tha nhưng hậu quả phải sửa chữa. Một lời vu khống được tha nhưng cần trả lại danh dự. Một món tiền lấy sai phải hoàn lại nếu có thể. Một sự phản bội cần con đường dài để xây lại lòng tin. Tha thứ không xóa trách nhiệm; tha thứ làm cho ta có sức gánh trách nhiệm mà không tuyệt vọng. Người được tha không nói: “Không sao, chuyện qua rồi.” Người được tha nói: “Chuyện ấy là sai, nhưng nhờ Chúa tôi không bị đồng nhất vĩnh viễn với điều sai ấy. Tôi sẽ chịu trách nhiệm, sửa lại điều có thể sửa, và bước tiếp.”
Có lẽ một trong những câu buồn nhất có thể nghe từ một Kitô hữu là: “Tội của người ấy tôi không thể tha.” Chúng ta đọc Kinh Lạy Cha mỗi ngày: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.” Ta muốn lòng thương xót chảy từ Thánh Giá đến mình nhưng lại dựng một bức tường để nó không chảy từ mình sang người khác. Bí tích Hòa Giải sẽ không đạt đến chiều sâu nếu chỉ làm ta nhẹ lòng mà không làm lòng ta mềm hơn đối với những người đã xúc phạm mình. Người đã quỳ xuống nhận ơn tha thứ nhiều lần không thể mãi cầm viên đá trong tay. Khi bước ra khỏi tòa giải tội, có lẽ câu hỏi đầu tiên không nên chỉ là “tôi đã sạch tội chưa?” nhưng còn là “có ai đang cần tôi tháo một bản án trong lòng không?” Tha thứ cho người khác không có nghĩa là nói điều ác họ làm là đúng. Không có nghĩa là để họ tiếp tục làm hại ta. Không nhất thiết có nghĩa là mọi tương quan lập tức trở lại như cũ. Tha thứ sâu xa là từ chối để điều ác của người khác biến mình thành một con người đầy độc tố. Là trao quyền phán xét cuối cùng lại cho Thiên Chúa. Là không tiếp tục nuôi ý muốn trả thù. Có những tha thứ phải kéo dài nhiều năm, phải cầu nguyện từng ngày. Nhưng ta có thể bắt đầu bằng một câu rất nhỏ: “Lạy Chúa, hôm nay con chưa thể yêu họ, nhưng con muốn muốn tha thứ. Xin Chúa làm điều con chưa làm nổi.”
Ngày nay người ta nói rất nhiều về chữa lành. Điều đó tốt. Con người mang quá nhiều vết thương. Nhưng Kitô giáo dám nói thêm một điều đôi khi khó nghe: không phải mọi đau khổ trong ta đều do người khác gây ra; có những đau khổ đến từ chính tội lỗi của mình. Nếu chữa lành mà không có sám hối, ta có thể dành cả đời giải thích tại sao mình trở thành như thế mà không bao giờ hỏi mình đang làm gì với tự do của mình hôm nay. Lòng thương xót không biến con người thành nạn nhân vĩnh viễn. Lòng thương xót trả lại tự do. Đức Giêsu không chỉ ôm người tội lỗi; Người nói: “Hãy đứng dậy.” Người không muốn ta nằm mãi bên lề đường kể đi kể lại câu chuyện mình đã ngã thế nào. Người muốn ta đi tiếp. Bí tích Hòa Giải là bí tích của những khởi đầu mới. Mỗi lần bước ra khỏi tòa giải tội, ta có quyền bắt đầu lại. Ma quỷ sẽ nhắc: mày từng thế này, từng thế kia. Ta có thể trả lời: đúng, nhưng tôi đã được chuộc bằng máu Đức Kitô. Quá khứ là sự thật, nhưng nó không phải là tiếng nói cuối cùng về tôi. Tiếng nói cuối cùng thuộc về Chúa.
Và cũng đừng biến việc xưng tội thành một thứ kế toán lạnh lùng giữa con người với Thiên Chúa. Có người ám ảnh từng chi tiết, từng con số, từng khả năng nhỏ đến mức không còn thấy khuôn mặt Chúa. Lương tâm ngay thẳng cần được đào luyện, nhưng lương tâm bệnh hoạn có thể biến đời sống đạo thành một nhà tù. Thiên Chúa không rình rập tìm lỗi kỹ thuật để bắt con người. Người là Cha. Người muốn sự thật, nhưng sự thật trong tương quan yêu thương. Hãy xưng tội rõ ràng, thành thật, không vòng vo, không đổ lỗi, nhưng rồi hãy để tội lại đó. Đừng mang nó về nhà như thể lời xá giải chưa đủ. Khi linh mục nói: “Cha tha tội cho con”, nếu việc xưng tội thành sự và đúng đắn, hãy tin vào quyền năng của Đức Kitô hơn là tin vào cảm giác của mình. Cảm giác có thể còn nặng. Ân sủng không lệ thuộc cảm giác. Mặt trời vẫn có đó dù mây chưa tan hết.
Có những tòa giải tội rất âm thầm. Không có tiếng nhạc. Không có cảm xúc mãnh liệt. Một người già bước vào. Một thanh niên bước vào. Một người mẹ bước vào. Một người đã xa nhà thờ nhiều năm bước vào. Một linh mục bước vào một tòa giải tội khác để xưng những yếu đuối của mình. Không ai chụp hình. Không ai đăng mạng. Nhưng nếu ta thấy được bằng con mắt đức tin, đó là những nơi cả trời đất đang vui. Đức Giêsu nói: “Trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn” (Lc 15,7). Một người xưng tội không chỉ đang thực hiện bổn phận cá nhân. Một mảnh của thế giới đang được hòa giải. Một mắt xích của bạo lực được cắt đứt. Một dòng độc tố có thể không truyền sang thế hệ sau. Một người cha biết nhận lỗi có thể cứu mối quan hệ với con. Một người vợ biết trở về có thể cứu một gia đình. Một người trẻ biết dừng lại có thể cứu cả tương lai. Một linh mục biết thường xuyên đặt mình dưới lòng thương xót sẽ bớt khắc nghiệt khi đối diện với yếu đuối của đoàn chiên. Mỗi sự hòa giải thật đều làm thế giới bớt tối một chút.
Đừng chờ đến Mùa Chay mới nghĩ đến bí tích Hòa Giải. Đừng chỉ đi xưng tội vì “một năm ít là một lần”. Tình yêu không sống bằng mức tối thiểu. Nếu một căn phòng được quét thường xuyên, bụi không có thời gian đóng thành lớp dày. Nếu lương tâm được soi sáng thường xuyên, người ta nhạy bén hơn với tiếng Chúa. Xưng tội đều đặn không phải dấu hiệu của người quá tội lỗi; nhiều khi đó là dấu hiệu của người không muốn để khoảng cách với Chúa lớn lên. Các thánh là những người ý thức rất sâu về tội không phải vì họ xấu hơn chúng ta mà vì ánh sáng càng mạnh thì bụi càng dễ thấy. Trong một căn phòng tối, ta tưởng mọi thứ sạch. Khi ánh mặt trời chiếu vào, ta mới thấy những hạt bụi đang bay. Người gần Chúa không phải là người thấy mình hoàn hảo hơn, mà thường là người thấy mình cần lòng thương xót hơn.
Bởi vậy, nếu lâu rồi chưa xưng tội, đừng dựng thêm một hàng rào bằng lý do. Đừng nói: tôi quên cách xưng. Linh mục sẽ giúp. Đừng nói: tội nhiều quá. Không có danh sách nào dài hơn lòng thương xót. Đừng nói: xấu hổ quá. Sự xấu hổ một vài phút có thể mở cửa cho bình an nhiều năm. Đừng nói: cha giải tội biết tôi. Có khi chính việc để một người đại diện Hội Thánh nghe sự thật của mình lại làm ta được tự do khỏi nhu cầu giữ hình ảnh. Đừng nói: tôi sẽ đi khi nào tốt hơn. Người con hoang đàng không tắm rửa sạch sẽ rồi mới về nhà; anh trở về trong mùi chuồng heo. Cha anh lo phần còn lại. Hãy đến như mình đang là. Có thể run. Có thể ngượng. Có thể phải mất nhiều lần mới nói hết được một điều đau đớn. Nhưng hãy đến.
Và khi đến, hãy nhớ mình không đi về phía một chiếc ghế của con người, mà đi về phía Thánh Giá. Phía sau lời xá giải là một thân mình đã bị đánh đòn. Phía sau dấu Thánh Giá linh mục làm trên ta là hai cánh tay từng bị đóng đinh. Phía sau lời “Cha tha tội cho con” là tiếng “Mọi sự đã hoàn tất” trên đồi Canvê. Giá của ơn tha thứ không rẻ. Ta nhận miễn phí vì Đức Kitô đã trả giá. Máu đã đổ. Cạnh sườn đã mở. Tấm màn Đền Thờ đã xé. Con đường về nhà đã được mở ra.
Có lẽ rồi sẽ đến một ngày cuối đời, khi không còn đủ sức đọc nhiều kinh, không còn đủ minh mẫn để suy nghĩ những điều thần học cao xa, điều ta cần nhất chỉ là biết mình đã được thương xót. Lúc ấy những thành công, chức vụ, tiền bạc, lời khen, những trận tranh thắng thua đều nhỏ đi. Câu hỏi còn lại là: tôi có dám trao mình cho lòng thương xót hay không? Người trộm lành không có gì để đưa cho Chúa ngoài một lời xin nhớ đến. Và thế là đủ để cánh cửa Thiên Đàng mở ra. Phêrô không thể lấy lại ba lời chối, nhưng có thể nói ba lần: “Thưa Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy.” Người phụ nữ ngoại tình không thể biến ngày hôm đó thành chưa từng xảy ra, nhưng chị có thể bước đi với một tương lai mới. Người con hoang đàng không thể lấy lại tài sản đã tiêu tan, nhưng có thể để cha khoác lên mình chiếc áo mới. Đó là Tin Mừng. Kitô giáo không hứa cho ta một quá khứ chưa từng phạm sai lầm. Kitô giáo ban cho ta một tương lai mà tội lỗi không còn là tiếng nói cuối cùng.
Từ Thánh Giá đến bí tích Hòa Giải, dòng máu thương xót vẫn chảy. Nó chảy qua hai ngàn năm lịch sử Hội Thánh. Nó chảy qua những nhà thờ lớn và những giáo điểm nhỏ bé. Nó chảy trong những tòa giải tội nơi những giọt nước mắt âm thầm rơi. Nó chảy qua bàn tay của những linh mục bất toàn được Chúa trao một sứ vụ vượt quá chính mình. Nó chảy vào những cuộc hôn nhân tưởng đã hết đường. Nó chảy vào những tâm hồn mang những bí mật nhiều năm. Nó chảy vào tuổi trẻ lạc lối. Nó chảy vào tuổi già đầy hối tiếc. Nó chảy vào những linh hồn tưởng đã bị Thiên Chúa quên. Và dòng máu ấy chưa cạn.
Chỉ có một bi kịch thật sự: người khát đứng bên dòng suối mà không chịu cúi xuống uống; người bệnh đứng trước cửa bệnh viện mà không chịu bước vào; người con đứng ngoài nhà cha chỉ vì nghĩ mình không còn xứng đáng. Không ai trong chúng ta xứng đáng. Nếu phải xứng đáng mới được thương xót thì thương xót đâu còn là thương xót. Ta được tha không phải vì ta tốt, nhưng để ta có thể trở nên tốt hơn. Ta được ôm không phải vì áo ta sạch, nhưng chính vòng tay của Cha là nơi ta được mặc lại áo mới.
Vì thế, mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, hãy nghe từ những vết thương ấy một lời rất riêng dành cho đời mình: “Hãy trở về.” Đừng chạy nữa. Đừng giấu nữa. Đừng tự kết án mình nữa. Đừng lấy quá khứ làm nhà ở. Đừng để ma quỷ dùng chính tội lỗi đã được tha để tiếp tục trói buộc đời mình. Hãy trở về. Nếu đã ngã một trăm lần, hãy trở về lần thứ một trăm lẻ một. Nếu lòng đã nguội lạnh, hãy trở về. Nếu đã nhiều năm không xưng tội, hãy trở về. Nếu đang sợ, hãy trở về cùng với nỗi sợ. Nếu chưa biết nói gì, hãy chỉ nói: “Lạy Chúa, con đây.”
Rồi một ngày, ta sẽ hiểu rằng điều kỳ diệu nhất trong đời sống Kitô hữu không phải là mình chưa từng ngã, nhưng là mỗi lần ngã đều có một bàn tay bị đóng đinh đang đưa xuống. Điều kỳ diệu không phải là tội nhân trở thành người chưa từng có quá khứ, nhưng là quá khứ ấy được cứu chuộc. Điều kỳ diệu không phải là con người tự leo lên tới Thiên Chúa, nhưng là Thiên Chúa đã đi xuống tận đáy vực của con người. Và ở đáy vực ấy có một cây Thánh Giá.
Tòa giải tội vì thế không bao giờ ở xa đồi Canvê. Mỗi lời thú nhận chân thành là một bước đến gần chân Thánh Giá. Mỗi lời xá giải là một giọt máu thương xót rơi xuống đời người. Mỗi lần đứng dậy sau khi xưng tội là một cuộc phục sinh nhỏ. Và mỗi tội nhân trở về là một bằng chứng rằng Thứ Sáu Tuần Thánh không kết thúc trong ngôi mộ.
Máu vẫn chảy.
Lòng thương xót vẫn chảy.
Cánh cửa vẫn mở.
Người Cha vẫn chờ.
Và Đức Kitô, với đôi tay mang dấu đinh, vẫn đang nói với từng người chúng ta: “Con hãy về bình an.”
Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÁ DẠY CHÚNG TA “ĐỪNG BỦN XỈN VỚI LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA”
Có một thứ bủn xỉn nguy hiểm hơn bủn xỉn tiền bạc. Có một kiểu keo kiệt làm người ta nghèo hơn cả người không có gì trong tay. Đó là bủn xỉn lòng thương xót. Ta có thể rộng rãi với tiền bạc mà rất chật hẹp trong việc tha thứ. Ta có thể cho người khác một món quà nhưng không cho họ một cơ hội làm lại. Ta có thể bỏ tiền giúp một người nghèo nhưng lại giữ mãi một lỗi lầm của người thân trong trí nhớ. Ta có thể đọc kinh Lòng Chúa Thương Xót mỗi ngày mà vẫn âm thầm quyết định rằng có một người nào đó “không đáng được thương xót”. Và điều đáng buồn hơn nữa là nhiều khi ta không chỉ bủn xỉn lòng thương xót với người khác, ta còn bủn xỉn cả lòng thương xót của Thiên Chúa đối với chính mình. Ta phạm tội rồi nghĩ Chúa không thể tha. Ta sa ngã nhiều lần rồi nghĩ Chúa đã chán ta. Ta mang một quá khứ quá nặng rồi nghĩ lòng thương xót của Chúa chắc cũng có giới hạn. Ta nhìn vào sự yếu đuối của mình lâu đến nỗi quên nhìn lên Thánh Giá. Nhưng chỉ cần nhìn lên Thánh Giá cho thật lâu, ta sẽ hiểu một điều: Thiên Chúa chưa bao giờ bủn xỉn với lòng thương xót của Người. Nếu Thiên Chúa bủn xỉn, đã chẳng có Bêlem. Nếu Thiên Chúa bủn xỉn, đã chẳng có Nazareth. Nếu Thiên Chúa bủn xỉn, đã chẳng có những bước chân của Đức Giêsu đi tìm người tội lỗi. Nếu Thiên Chúa bủn xỉn, đã chẳng có bàn tay chạm vào người phong cùi, chẳng có ánh mắt nhìn người phụ nữ ngoại tình, chẳng có bữa cơm với người thu thuế, chẳng có lời tha thứ dành cho Phêrô sau ba lần chối Thầy. Và nếu Thiên Chúa bủn xỉn, chắc chắn đã chẳng có đồi Canvê, chẳng có đôi tay bị đóng đinh, chẳng có cạnh sườn bị đâm thâu, chẳng có giọt máu cuối cùng chảy ra vì một nhân loại vừa phản bội vừa chạy trốn Người. Thánh Giá chính là lời tuyên bố mạnh nhất rằng tình thương của Thiên Chúa không biết tính toán.
Con người chúng ta thường thương theo mức độ. Ta thương người thương ta. Ta tốt với người tốt với ta. Ta dễ tha cho lỗi nhỏ và rất khó tha cho lỗi lớn. Ta có thể nói: “Tôi tha, nhưng tôi không quên.” Ta có thể ngoài miệng bảo rằng chuyện đã qua, nhưng trong lòng vẫn lưu hồ sơ rất kỹ. Có những lỗi lầm đã xảy ra mười năm, hai mươi năm, nhưng mỗi lần cãi nhau ta lại lôi lên như thể mới xảy ra sáng nay. Có những gia đình chỉ cần một câu nói cũ được nhắc lại là bao nhiêu vết thương tưởng đã lành lại rỉ máu. Có những vợ chồng sống chung một mái nhà nhưng mỗi người giữ một cuốn sổ nợ trong lòng. Có những anh chị em ruột nhìn nhau mà nhớ trước hết điều xấu người kia đã làm. Có những cộng đoàn, giáo xứ, hội đoàn và cả những người sống đời thánh hiến đôi khi nói rất nhiều về yêu thương nhưng lại rất lâu quên một va chạm nhỏ. Cái đau của con người không phải lúc nào cũng vì thiếu cơm áo; nhiều khi đau nhất là cảm giác rằng sau khi mình sai một lần, người khác đã đóng đinh mình vào chính lỗi lầm ấy mãi mãi. Không còn cơ hội. Không còn con đường trở về. Không còn quyền được đổi thay. Thế nhưng Thánh Giá lại nói một ngôn ngữ khác. Trên Thánh Giá, Chúa không hỏi: “Con người này đã phạm bao nhiêu tội?” Người chỉ hỏi bằng chính trái tim mình: “Ta còn có thể yêu họ đến đâu?” Và câu trả lời là: đến cùng.
Tin Mừng cho ta một hình ảnh khiến người nào hiểu được lòng thương xót cũng phải lặng đi. Trên đồi Sọ, bên cạnh Đức Giêsu là hai người tử tội. Một người nhục mạ Người. Người kia nhìn nhận tội lỗi của mình và thưa: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Chỉ một lời thôi. Không còn thời gian để đền bù. Không còn cơ hội xuống khỏi thập giá để làm việc thiện. Không còn năm tháng phía trước để sửa lại những gì anh đã phá hỏng. Một đời người có thể đầy bóng tối và lúc ấy chỉ còn vài hơi thở cuối cùng. Nếu Thiên Chúa là một kế toán lạnh lùng, trường hợp của người trộm ấy coi như hết. Nhưng Chúa Giêsu đáp: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43). Hôm nay. Không phải sau một cuộc điều tra dài. Không phải sau khi Đức Giêsu kể cho anh nghe tất cả những tội anh từng phạm. Không phải sau một bài giảng luân lý. Chỉ cần một khe cửa rất nhỏ của lòng thống hối được mở ra, lòng thương xót lập tức tràn vào. Người trộm ấy xin được nhớ đến, Chúa cho anh cả Thiên Đàng. Anh xin một chỗ trong ký ức, Chúa cho anh một chỗ bên Người. Anh chỉ dám nói “xin nhớ đến tôi”, còn Chúa trả lời bằng một lời hứa vượt xa điều anh dám xin. Đó là cách Thiên Chúa thương xót. Ta thường cho ít hơn người khác xin; Chúa thường cho nhiều hơn ta dám xin. Ta thường hỏi người khác có xứng đáng không; Chúa hỏi họ có chịu mở lòng không. Ta thường nhớ tội; Chúa nhớ con người. Ta đóng khung con người trong quá khứ; Chúa mở cho họ một tương lai.
Và cũng ngay trên Thánh Giá, khi những chiếc đinh còn xuyên qua bàn tay Người, khi những người dưới chân thập giá đang chế nhạo Người, khi các thủ lãnh còn lắc đầu, khi những người lính vừa chia nhau áo của Người, Chúa lại cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Câu ấy phải làm chúng ta xấu hổ rất nhiều. Chúng ta thường chỉ tha khi người khác xin lỗi. Chúa xin Cha tha ngay cả khi họ chưa xin. Chúng ta thường chờ người làm mình đau phải hiểu họ sai đến đâu. Chúa nhìn sâu hơn lỗi lầm và thấy cả sự mù tối của con người. Chúng ta nói: “Nó biết rõ mà nó vẫn làm.” Chúa nói: “Họ không biết việc họ làm.” Không phải Chúa phủ nhận sự dữ. Không phải Người gọi cái ác là cái thiện. Không phải Người xem nhẹ tội lỗi. Chính Thánh Giá cho thấy tội lỗi nghiêm trọng đến mức nào, bởi cái giá của tội là máu của Con Thiên Chúa. Nhưng cũng chính Thánh Giá cho thấy lòng thương xót còn lớn hơn tội lỗi. Thánh Giá không bảo rằng tội chẳng đáng kể. Thánh Giá nói rằng tội ghê gớm thật, nhưng tình yêu của Thiên Chúa còn ghê gớm hơn trong sức mạnh cứu độ của nó. Tội có thể đóng đinh Thiên Chúa, nhưng ngay trên những chiếc đinh ấy, Thiên Chúa vẫn yêu. Tội có thể làm trái tim con người hóa đá, nhưng không thể làm trái tim Thiên Chúa ngừng thương xót.
Nhiều người trong chúng ta vô tình đã thu nhỏ Thiên Chúa bằng kích thước trái tim của mình. Vì ta khó tha nên ta tưởng Chúa cũng khó tha. Vì ta nhớ dai nên ta nghĩ Chúa cũng giữ hồ sơ. Vì ta mệt với chính mình nên ta nghĩ Chúa cũng mệt với ta. Vì ta đã hứa rồi lại phạm, xưng rồi lại ngã, quyết tâm rồi lại thất bại, ta bắt đầu tự nhủ: “Chắc lần này Chúa hết kiên nhẫn.” Nhưng đó không phải là tiếng của Tin Mừng. Hãy nghĩ đến Phêrô. Ông không chỉ phạm một lỗi nhỏ. Ông đã công khai chối Đức Giêsu ba lần ngay trong đêm Thầy bị bắt. “Tôi không biết người ấy.” Một câu nói rất nặng. Người đã từng thưa: “Dù tất cả có vấp ngã vì Thầy, con đây cũng chẳng bao giờ vấp ngã”, rồi chỉ ít giờ sau lại run sợ trước câu hỏi của một người đầy tớ gái. Nhưng sau Phục Sinh, bên bờ hồ, Đức Giêsu không hỏi Phêrô: “Tại sao anh làm tôi thất vọng?” Người hỏi: “Anh có yêu Thầy không?” (x. Ga 21,15-17). Chúa không bắt đầu bằng việc nhắc lại sự phản bội. Người bắt đầu bằng cách khơi lại khả năng yêu thương. Chúa không đẩy Phêrô trở lại sân dinh thượng tế để sống mãi trong mặc cảm. Người đưa Phêrô tiến về phía trước bằng một sứ mạng: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.” Đó là lòng thương xót. Lòng thương xót không chỉ tha cái đã qua. Lòng thương xót còn trao lại tương lai. Lòng thương xót không chỉ nói: “Ta không kết án con.” Lòng thương xót còn nói: “Hãy đứng lên, Ta vẫn cần con.”
Có lẽ vì vậy mà một trong những cám dỗ tinh vi nhất của đời sống thiêng liêng là thất vọng về chính mình. Người ta thường nghĩ kiêu ngạo là nghĩ mình quá tốt, nhưng đôi khi kiêu ngạo cũng ẩn trong việc không chấp nhận mình là một thụ tạo yếu đuối cần được Chúa cứu mỗi ngày. Ta muốn mình phải tốt nhanh hơn. Ta muốn sau bao nhiêu năm theo Chúa thì những yếu đuối kia phải biến mất. Ta thấy một thói xấu vẫn còn, một cơn nóng giận vẫn quay lại, một tính ích kỷ vẫn chưa chết, một vết thương vẫn chưa lành, một cơn cám dỗ cứ gõ cửa, rồi ta chán chính mình. Nhưng Chúa không ngạc nhiên về sự yếu đuối của ta như ta ngạc nhiên. Người biết ta được dựng nên từ bụi đất. Điều Người chờ không phải là ta không bao giờ ngã, nhưng mỗi lần ngã ta có còn tin vào bàn tay Người hay không. Giuđa phạm tội phản bội. Phêrô cũng phạm tội phản bội theo cách khác. Điều làm hai con đường khác nhau không chỉ nằm ở bản chất tội lỗi, mà còn nằm ở việc Phêrô để cho ánh mắt của Chúa đi vào nước mắt của mình, trong khi Giuđa chìm vào tuyệt vọng. Có một thứ đau buồn đưa ta về với Chúa, nhưng cũng có thứ đau buồn khiến ta khép lòng trước lòng thương xót. Ma quỷ không nhất thiết phải thuyết phục ta rằng không có Thiên Chúa; đôi khi nó chỉ cần thuyết phục ta rằng Thiên Chúa không còn muốn tha cho ta nữa. Và khi ta tin điều ấy, ta tự khóa cánh cửa từ bên trong.
Thánh Giá phá tan lời nói dối ấy. Hãy nhìn đôi tay bị đóng đinh. Đó là đôi tay không thể khép lại để từ chối ta. Hãy nhìn cạnh sườn bị mở ra. Đó là trái tim không còn gì để che giấu. Hãy nhìn máu và nước chảy xuống. Đó không phải là lòng thương xót được đo bằng từng giọt. Đó là lòng thương xót tuôn ra cho đến tận cùng. Người ta có thể khóa cửa nhà thờ. Người ta có thể khóa một căn phòng. Người ta có thể khóa một két sắt. Nhưng không ai khóa lại được cạnh sườn đã bị mở của Đức Kitô. Một khi lưỡi đòng đã mở trái tim ấy, từ đó dòng thương xót chảy vào lịch sử nhân loại, chảy qua Hội Thánh, chảy qua Bí tích Rửa Tội, chảy qua Thánh Thể, chảy cách đặc biệt qua Bí tích Hòa Giải, chảy đến từng tâm hồn còn biết nói: “Lạy Chúa, xin thương xót con.”
Có người sợ đi xưng tội vì xấu hổ. Có người bảo: “Con xưng mãi cùng một tội.” Có người đã lâu năm không bước vào tòa giải tội vì nghĩ rằng sau quá nhiều năm xa Chúa, không biết bắt đầu từ đâu. Có người thậm chí muốn trở về nhưng sợ bị xét đoán. Nếu ai đang mang nỗi sợ ấy, hãy nhớ người con hoang đàng trong Tin Mừng. Khi cậu còn ở đàng xa, cha đã trông thấy. Người cha chạy ra. Đây là một chi tiết rất đẹp. Không phải đứa con chạy hết quãng đường về nhà rồi quỳ xuống thật lâu trước cửa. Cha chạy. Lòng thương xót luôn chạy nhanh hơn bước chân sám hối của con người. Cậu con đã soạn sẵn một bài: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa…” Nhưng người cha gần như không để cậu hoàn tất kế hoạch xin làm người làm công. Ông truyền đem áo đẹp nhất ra mặc, đeo nhẫn vào tay, xỏ dép vào chân, giết bê béo ăn mừng (x. Lc 15,11-32). Ta muốn xin một chỗ làm thuê, Chúa phục hồi tư cách người con. Ta xin được dung thứ, Chúa tổ chức tiệc. Ta bước về với bộ áo rách, Chúa mặc lại phẩm giá cho ta. Thế nhưng câu chuyện ấy có một nhân vật khác đáng suy nghĩ: người anh cả. Anh không hoang đàng theo cách người em, nhưng anh lại bủn xỉn lòng thương xót. Anh khó chịu vì cha thương em. Anh nhớ rất kỹ tội của em: “Thằng con của cha đó đã nuốt hết của cải của cha…” Anh không gọi đó là em mình. Nhưng người cha nói: “Em con đây đã chết mà nay sống lại.” Một người trở về nhưng một người khác lại không muốn mở cửa lòng. Và có lẽ rất nhiều người đạo đức trong chúng ta phải nhìn mình nơi người anh cả ấy.
Ta có thể ở trong nhà Cha mà trái tim lại xa Cha. Ta có thể giữ mọi luật lệ nhưng không có lòng thương xót. Ta có thể không phạm những tội lớn bên ngoài nhưng lại sống bằng thái độ xét đoán, khinh người, lạnh lùng, không cho ai cơ hội làm lại. Khi ấy, điều đáng sợ không phải là ta rời nhà như người em, mà là ta ở trong nhà nhưng không giống Cha. Người Kitô hữu không chỉ được mời gọi tránh tội; người Kitô hữu được mời gọi mang trái tim của Thiên Chúa. Và trái tim ấy là trái tim thương xót. Đức Giêsu nói rất rõ: “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6,36). Không phải “hãy nhân từ khi người khác xứng đáng”. Không phải “hãy thương xót khi thuận tiện”. Nhưng “như Cha”. Nghĩa là tiêu chuẩn của lòng thương xót Kitô giáo không phải cảm xúc của tôi, không phải công trạng của người kia, nhưng chính cách Thiên Chúa đã đối xử với tôi.
Nếu thật sự ý thức mình đã được tha nhiều đến mức nào, ta sẽ bớt khắt khe với người khác. Người hay kết án thường là người quên mình từng được thương xót. Người cứ nắm cổ anh em đòi một trăm quan tiền thường là người quên món nợ mười ngàn yến vàng mình vừa được chủ tha (x. Mt 18,23-35). Đó là nghịch lý đau đớn trong dụ ngôn người đầy tớ không biết thương xót. Anh ta quỳ xuống van xin chủ, và chủ động lòng thương, tha hết món nợ khổng lồ. Vừa bước ra, anh gặp một người bạn mắc nợ mình một số tiền rất nhỏ. Người bạn cũng quỳ xuống, cũng nói gần như chính những lời anh vừa nói với chủ. Nhưng anh không thương. Anh bóp cổ người ấy. Điều khiến chủ nổi giận không phải vì anh chưa trả nợ, mà vì anh đã nhận lòng thương xót mà không để lòng thương xót ấy đi xuyên qua đời mình. “Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi vì ngươi đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn như chính ta đã thương xót ngươi sao?” Đây có lẽ là câu chúng ta phải nghe nhiều lần. “Như chính Ta đã thương xót ngươi.” Không phải thương theo sức riêng mình, nhưng thương từ ký ức mình đã được tha.
Đừng bủn xỉn với lòng thương xót Chúa có nghĩa trước hết là đừng dựng một hàng rào quanh lòng thương xót ấy rồi tự quyết định ai được vào, ai phải đứng ngoài. Có những người chúng ta rất dễ cầu xin Chúa thương xót: người bệnh, người nghèo, người gặp tai nạn. Nhưng có những người ta lại không muốn Chúa thương: người đã làm tổn thương ta, người nói xấu ta, người phản bội ta, người làm ta mất mặt, người lấy mất quyền lợi của ta. Ta vẫn có thể đọc “Lạy Chúa, xin thương xót chúng con và toàn thế giới”, nhưng trong thâm tâm lại muốn thêm một chú thích: “Trừ người ấy ra.” Thế nhưng “toàn thế giới” có cả người ấy. Máu Chúa chảy cho cả người ấy. Cạnh sườn Chúa mở ra cho cả người ấy. Đức Kitô đã chết cho ta khi ta còn là tội nhân; và cũng đã chết cho kẻ làm ta đau khi họ còn là tội nhân. Điều đó không có nghĩa ta phải gọi sai thành đúng, không có nghĩa người bị bạo hành phải quay lại nơi nguy hiểm, không có nghĩa công lý không cần được thực thi. Tha thứ không đồng nghĩa với dung túng. Lòng thương xót không đồng nghĩa với để cho cái ác tiếp tục. Đức Giêsu thương người phụ nữ ngoại tình nhưng nói: “Từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8,11). Người không kết án chị, nhưng cũng không gọi tội là điều bình thường. Lòng thương xót đích thực vừa cứu con người khỏi bị nghiền nát bởi tội, vừa kéo con người ra khỏi chính tội ấy.
Thánh Giá là nơi công lý và thương xót gặp nhau mà không tiêu diệt nhau. Thiên Chúa không nói tội lỗi chẳng quan trọng. Nếu tội không quan trọng, Thánh Giá là thừa. Nếu Thiên Chúa chỉ cần phẩy tay và nói: “Không sao”, thì Đức Kitô đâu cần chịu đóng đinh. Nhưng Thánh Giá cho thấy Thiên Chúa nghiêm túc với tội đến mức chính Người mang hậu quả của nó; đồng thời Người yêu tội nhân đến mức không để tội có tiếng nói cuối cùng. Đây chính là điều chúng ta phải học trong đời sống. Có những lúc cần nói sự thật. Có những lúc cần sửa lỗi. Có những lúc phải thiết lập ranh giới. Có những lúc phải bảo vệ người yếu thế và đòi lại công bằng. Nhưng tất cả những điều đó không cho ta quyền ngừng mong người phạm lỗi được cứu. Người Kitô hữu có thể chống lại điều ác nhưng không được mong kẻ làm ác bị hủy diệt. Ta có thể nói: “Điều anh làm là sai”, nhưng không được nói trong lòng: “Anh không còn đáng được Chúa yêu.” Chỉ Thiên Chúa biết đáy lòng con người. Chỉ Thiên Chúa có quyền phán xét cuối cùng. Còn chúng ta, những người đã sống nhờ lòng thương xót, được sai đi làm chứng cho lòng thương xót.
Có khi bủn xỉn lòng thương xót lại khoác áo công chính. Ta gọi sự cay nghiệt của mình là “bảo vệ sự thật”. Ta gọi việc bêu xấu người khác là “làm sáng tỏ vấn đề”. Ta gọi sự hả hê trước lỗi lầm của người khác là “công bằng”. Đặc biệt trong thời đại mạng xã hội, chỉ cần một người sai, cả đám đông có thể lập tức biến thành tòa án. Người ta chụp màn hình, đào lại quá khứ, bình luận, chế giễu, truyền tay nhau một lỗi lầm, và đôi khi chẳng ai tự hỏi: nếu Chúa đối xử với mình như mình đang đối xử với người này thì mình sẽ ra sao? Có những người sau một lỗi lầm không chỉ mất danh dự mà như bị tước luôn quyền làm người. Nhưng Chúa Giêsu chưa bao giờ làm như vậy. Người nhìn thấy tội, nhưng vẫn nhìn thấy con người phía sau tội. Người biết quá khứ người phụ nữ Samaria, nhưng không biến cuộc đời chị thành một bản cáo trạng. Người biết Matthêu là người thu thuế, nhưng thấy nơi ông một tông đồ. Người biết Giakêu đã sống thế nào, nhưng nói: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này” (Lc 19,9). Người đời thường đóng dấu quá khứ lên trán con người. Chúa lại nhìn thấy điều họ có thể trở thành sau khi gặp lòng thương xót.
Đừng bủn xỉn với lòng thương xót Chúa còn có nghĩa là đừng lấy sự bất toàn của Hội Thánh hay của một thừa tác viên nào đó làm lý do để xa Bí tích Hòa Giải. Trong tòa giải tội, linh mục cũng là một con người yếu đuối cần được tha thứ. Điều quyết định không phải sự thánh thiện hoàn hảo của người ngồi bên kia tấm lưới, nhưng là Đức Kitô đang hành động trong bí tích của Người. Tòa giải tội không phải phòng xử án nơi Thiên Chúa thích thú nghe danh sách tội lỗi của ta. Đó là nơi người Cha đứng chờ đứa con trở về. Đó là chân Thánh Giá nơi máu cứu độ được đặt lên vết thương của con người. Đó là căn phòng hồi sinh nơi một tâm hồn bước vào với gánh nặng và bước ra với bình an. Biết bao người đã khóc sau câu: “Cha tha tội cho con, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.” Không phải vì đó chỉ là một công thức, nhưng vì qua những lời ấy, một người sau nhiều năm chạy trốn bỗng nghe Thiên Chúa nói với mình: “Con vẫn là con của Ta.”
Đáng tiếc là đôi khi ta lại muốn người khác phải chịu khổ lâu hơn trước khi được tha. Ta nghĩ phải để họ trả giá thì mới công bằng. Ta thấy một người sau bao năm sống xa Chúa bỗng trở lại, được bình an, ta lại thấy có gì đó “dễ quá”. Đây chính là cái khó chịu của những người thợ làm từ sáng sớm khi thấy những người chỉ làm một giờ cuối ngày cũng được nhận một đồng (x. Mt 20,1-16). Ta dễ quên rằng Nước Trời không phải là bảng lương tính theo giờ. Ân sủng không phải tiền công. Ơn cứu độ không phải phần thưởng cho người có thành tích tốt; ơn cứu độ trước hết là quà tặng. Nếu mọi sự chỉ dựa trên công trạng, không ai trong chúng ta đứng vững trước mặt Chúa. Từ vị thánh lớn nhất đến người tội lỗi vừa trở về phút cuối, tất cả đều sống nhờ một nguồn duy nhất: máu của Con Chiên.
Người trộm lành vào Thiên Đàng lúc cuối đời không lấy mất phần thưởng của ai. Người con hoang đàng được cha mở tiệc không làm người anh cả nghèo đi. Người tội lỗi được Chúa tha không khiến lòng thương xót dành cho ta bị giảm xuống. Chúng ta hành xử như thể lòng thương xót là chiếc bánh có hạn: Chúa cho người kia nhiều thì phần tôi ít lại. Nhưng lòng thương xót của Thiên Chúa không phải chiếc bánh bị chia nhỏ. Nó giống một đại dương: hàng tỷ người có thể cúi xuống uống mà biển vẫn đầy. Nó giống ánh mặt trời: chiếu trên nhà người tốt không khiến nhà tôi tối đi. Cái làm ta khó chịu khi thấy Chúa thương một người mà ta không ưa không phải vì Chúa bất công, mà vì ta chưa có trái tim rộng như Chúa.
Có một câu hỏi rất đáng sợ mà mỗi người nên tự đặt trước Thánh Giá: “Có ai tôi đang không muốn Chúa tha cho họ không?” Nếu có, người ấy đang cho ta biết nơi nào trong trái tim mình còn chưa được Tin Mừng chạm tới. Có ai tôi cứ muốn nhắc lại lỗi của họ dù họ đã thay đổi? Có ai mỗi lần nghe người khác khen họ thì trong lòng tôi lập tức kể tội họ? Có ai tôi vẫn mong một ngày họ phải “biết tay”, phải đau như họ đã làm tôi đau? Có ai tôi đã âm thầm kết án đến mức không còn cầu nguyện cho họ nữa? Không cần nói ra với ai. Chỉ cần đứng dưới chân Thánh Giá và nói thật với Chúa. Vì có những vết thương quá sâu, ta không thể tự mình tha ngay được. Chúa cũng không đòi ta giả vờ rằng mình không đau. Tha thứ đôi khi là một hành trình dài. Có những sáng ta nghĩ mình đã tha, chiều đến ký ức lại nhói lên. Có những người ta phải tha mỗi ngày, thậm chí nhiều lần trong ngày. Nhưng bước đầu tiên là đừng nuôi ý muốn báo thù. Hãy nói: “Lạy Chúa, con chưa thể thương người ấy, nhưng xin Chúa thương họ. Con chưa thể quên điều đã xảy ra, nhưng xin đừng để điều ấy làm con trở nên cay độc. Con trao quyền phán xét cho Chúa.”
Đó đã là một phép lạ khởi đầu.
Có lẽ một trong những hình ảnh đẹp nhất của Kitô giáo là Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá. Mẹ nhìn Con bị giết. Mẹ nhìn những người đã làm điều ấy. Tin Mừng không ghi một lời nguyền rủa nào của Mẹ. Không có tiếng kêu đòi trả thù. Chỉ có sự hiện diện thinh lặng. Ở đó, Mẹ học đến tận cùng trái tim của Con mình. Và cũng ở đó, Mẹ nhận Gioan làm con: “Thưa Bà, đây là con của Bà” (Ga 19,26). Trong chính giờ phút mất Con, trái tim Mẹ lại được mở rộng để nhận thêm con. Đó là logic của Thánh Giá: đau khổ không nhất thiết phải làm trái tim hẹp lại. Nếu được đặt trong Thiên Chúa, đau khổ có thể làm trái tim rộng hơn. Có người sau khi bị tổn thương trở nên cứng. Nhưng cũng có người vì từng đau nên dịu dàng hơn với nỗi đau của người khác. Có người sau khi bị phản bội không còn tin ai. Nhưng cũng có người đi qua phản bội và học cách thương với sự khôn ngoan sâu hơn. Thánh Giá không lãng mạn hóa đau khổ; Thánh Giá biến đau khổ thành nơi tình yêu có thể chiến thắng hận thù.
Chúng ta cần lòng thương xót trong gia đình biết bao. Một người cha đôi khi phải bớt nhớ những lần đứa con làm mình thất vọng để nhìn thấy nỗ lực nhỏ bé hôm nay của nó. Một người mẹ phải học phân biệt giữa sửa dạy và làm con cảm thấy nó là một thất bại. Vợ chồng phải học đừng biến lỗi lầm cũ thành vũ khí trong mọi cuộc tranh luận mới. Anh chị em phải học rằng đôi khi thắng một cuộc cãi nhau nhưng mất một người thân là một thất bại khủng khiếp. Người già phải thương sự vụng về của người trẻ. Người trẻ phải thương những giới hạn của người già. Có khi lời thương xót đơn giản chỉ là: “Thôi, chuyện đó qua rồi.” Có khi là: “Mình nói lại từ đầu nhé.” Có khi là: “Tôi biết anh đã sai, nhưng tôi không muốn dùng cái sai ấy để hạ nhục anh.” Có khi chỉ là im đi một câu mình hoàn toàn có quyền nói, bởi nói ra chỉ làm người kia đau thêm mà chẳng chữa được gì.
Chúng ta cũng cần lòng thương xót trong Hội Thánh. Hội Thánh không phải viện bảo tàng của những người hoàn hảo. Hội Thánh là ngôi nhà của những người đang được cứu. Trong nhà ấy có người mạnh và người yếu, người trưởng thành và người còn non nớt, người thánh thiện và người đang vật lộn với những góc tối của đời mình. Nếu chỉ những người không sai mới được ở trong Hội Thánh, nhà thờ sẽ trống. Nếu chỉ linh mục không khuyết điểm mới được giảng, sẽ không còn ai đứng trên bục giảng. Nếu chỉ giáo dân hoàn hảo mới được cầu nguyện, chẳng ai dám bước vào cung thánh. Điều giữ chúng ta ở lại không phải vì chúng ta đều tốt, mà vì Đức Kitô tốt. Không phải vì chúng ta xứng đáng, mà vì Người đã yêu chúng ta trước.
Điều ấy đặc biệt quan trọng với những người đang mang quá khứ nặng nề. Có người đã từng phá thai. Có người từng phản bội hôn nhân. Có người từng sống nhiều năm trong nghiện ngập. Có người từng làm tổn thương cha mẹ. Có người từng bỏ Chúa. Có người từng phạm một lỗi mà đến giờ không dám kể cho ai. Có người ngoài mặt vẫn cười nhưng mỗi đêm tự kết án mình. Đối với những người ấy, Tin Mừng không nói: “Chuyện chẳng có gì.” Tin Mừng nói một điều lớn hơn: “Tội của con có thật, nhưng lòng thương xót của Thiên Chúa còn thật hơn.” Sám hối không phải giả vờ rằng quá khứ chưa từng xảy ra. Sám hối là để Thiên Chúa bước vào quá khứ ấy và biến nó thành nơi ân sủng chiến thắng. Vết sẹo vẫn còn, nhưng vết sẹo không còn là dấu hiệu của cái chết; nó có thể trở thành chứng tích rằng một vết thương đã được chữa lành.
Sau Phục Sinh, Đức Giêsu vẫn mang các dấu đinh. Người không xóa chúng. Tôma được mời đặt ngón tay vào đó (x. Ga 20,27). Chi tiết ấy thật sâu sắc. Chúa Phục Sinh không xóa lịch sử Thánh Giá khỏi thân thể Người. Những vết thương được đưa vào vinh quang. Có lẽ đời ta cũng vậy. Thiên Chúa không nhất thiết xóa khỏi ký ức mọi điều đau đớn, nhưng Người có thể biến vết thương thành vết sẹo, biến vết sẹo thành chứng từ, biến nơi từng làm ta xấu hổ thành nơi ta hiểu người khác hơn. Một người từng sa ngã có thể trở thành người rất dịu dàng với người đang sa ngã. Một người từng được tha nhiều có thể trở thành chứng nhân mạnh mẽ cho sự tha thứ. Một người từng tưởng đời mình đã hết có thể nói với người tuyệt vọng khác: “Tôi từng ở chỗ anh đang đứng. Nhưng Chúa đã không bỏ tôi.”
Đó là lý do đừng bao giờ bủn xỉn với lòng thương xót của Chúa bằng cách nói về một người: “Hết cứu.” Không ai trong chúng ta có quyền nói câu ấy. Khi một người còn thở, vẫn còn một con đường bí mật giữa trái tim họ và Thiên Chúa mà ta không thấy. Có những cuộc hoán cải xảy ra sau hàng chục năm. Có những giọt nước mắt rơi vào phút cuối đời. Có những người cả đời chống lại Thiên Chúa nhưng trên giường bệnh bỗng thì thầm một lời mà chỉ Chúa nghe được. Người trộm lành đủ để khiến ta không bao giờ được tuyệt vọng về bất cứ ai. Một đời tăm tối vẫn có thể có một phút cuối đầy ánh sáng. Thiên Chúa không mệt vì chờ. Nếu người mục tử bỏ chín mươi chín con để tìm một con chiên lạc, thì khi nào con chiên ấy còn lạc, trái tim Mục Tử còn đi tìm.
Nhưng cũng phải nói thêm: đừng lợi dụng lòng thương xót. Có người nghe rằng Chúa luôn tha rồi nghĩ: vậy cứ phạm tội, sau này xin tha. Đó không phải tin vào lòng thương xót, mà là xúc phạm lòng thương xót. Một đứa con biết cha thương mình không vì thế mà cố tình làm cha đau. Càng biết mình được yêu, ta càng muốn sống xứng với tình yêu ấy. Thánh Phaolô đã đối diện chính vấn đề đó: phải chăng ân sủng càng nhiều khi tội càng nhiều thì cứ ở trong tội? Ngài trả lời quyết liệt: “Không đời nào!” (x. Rm 6,1-2). Lòng thương xót không phải chiếc gối để ta ngủ yên trong tội. Nó là bàn tay kéo ta đứng dậy khỏi tội. Chúa tha người phụ nữ ngoại tình rồi nói: “Đừng phạm tội nữa.” Người tha Giakêu, và lòng thương xót ấy làm ông tự nguyện đền bù: “Nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.” Lòng thương xót thật luôn sinh hoa trái hoán cải.
Có một sự thật kỳ lạ: người càng hiểu lòng thương xót thì càng ghét tội, nhưng lại càng thương tội nhân. Người chưa hiểu lòng thương xót thường làm ngược lại: họ có thể nói rất gay gắt về tội và đồng thời khinh người tội lỗi. Đức Giêsu không như vậy. Người rất nghiêm với tội nhưng rất dịu với người tội lỗi. Người có thể nói: “Khốn cho các ngươi” với sự giả hình, nhưng lại để người phụ nữ tội lỗi khóc dưới chân mình. Người có thể dạy tiêu chuẩn luân lý rất cao, nhưng cũng ăn cùng bàn với thu thuế. Người không hạ thấp sự thật để thương xót, và cũng không dùng sự thật như viên đá để ném người ta chết. Ở nơi Đức Giêsu, sự thật và lòng thương xót ôm lấy nhau.
Có lẽ chúng ta cần học cách ấy nhất trong thời đại này. Người ta quá nhanh trong việc phân loại nhau. Trái, phải. Tiến bộ, bảo thủ. Đạo đức, tội lỗi. Đáng tin, không đáng tin. Phe ta, phe họ. Và một khi đã xếp người khác vào một chiếc hộp, ta không còn nghe họ nữa. Thánh Giá phá mọi chiếc hộp như vậy. Dưới chân Thánh Giá có Đức Maria, Gioan, những người lính Rôma, những người chế nhạo, một viên đại đội trưởng, những phụ nữ khóc than. Và máu Đức Kitô rơi xuống trên một mặt đất không hỏi xem ai xứng đáng. Ngay cả viên đại đội trưởng, một người đại diện cho bộ máy hành hình Người, cuối cùng cũng thốt lên: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Ai biết được một con người sẽ thay đổi vào khoảnh khắc nào? Ai biết một lời hiền lành hôm nay có thể trở thành hạt giống của cuộc trở về mười năm sau? Ai biết một lần ta từ chối trả đũa có thể khiến người kia đêm về suy nghĩ? Vì vậy đừng khóa cánh cửa mà Chúa vẫn đang để mở.
Và nếu hôm nay người cần được thương xót nhất lại chính là bản thân ta, thì cũng xin đừng bủn xỉn. Có người rất rộng lượng với người khác nhưng tàn nhẫn với chính mình. Họ tha cho người khác nhưng không tha nổi cho mình. Họ tin Chúa thương cả thế giới nhưng nghi ngờ Chúa thương họ. Có khi đây là một hình thức tự cao rất kín đáo: ta đặt tiêu chuẩn cho chính mình cao đến mức không chấp nhận rằng mình phải sống nhờ ân sủng như mọi người. Khi Chúa đã tha mà ta cứ tự kết án, ta không trở nên khiêm nhường hơn. Khiêm nhường đích thực là nhận mình đã sai và cũng nhận rằng tình yêu Chúa lớn hơn cái sai ấy. Phêrô đã khóc, nhưng rồi ông để Chúa phục hồi. Ông không dành ba mươi năm còn lại để nói: “Tôi là kẻ đã chối Thầy, tôi vô dụng.” Ông đứng lên và trở thành người củng cố anh em mình. Maria Mađalêna không sống phần đời còn lại bằng cách đứng ngoài cộng đoàn vì xấu hổ quá khứ. Chị trở thành người đầu tiên loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho các môn đệ. Ân sủng không phủ nhận quá khứ; ân sủng không cho quá khứ quyền thống trị tương lai.
Có thể ta đã mất rất nhiều năm. Chúa vẫn có thể dùng phần còn lại. Có thể ta đã làm hỏng nhiều điều. Chúa vẫn có thể bắt đầu từ những mảnh vỡ. Có thể có những hậu quả không thể đảo ngược. Chúa vẫn có thể làm điều mới trong chính hoàn cảnh đó. Thiên Chúa là bậc thầy của những khởi đầu muộn. Abraham đã già. Môsê đã tám mươi tuổi khi bắt đầu sứ mạng lớn. Người trộm lành bắt đầu đời sống thiên đàng chỉ vài phút trước khi chết. Vậy nên đừng nói với Chúa: “Muộn rồi.” Với Người, một phút thật sự mở lòng có thể quý hơn nhiều năm sống khép kín.
Thánh Giá dạy ta rằng lòng thương xót luôn đắt giá đối với người trao nhưng lại miễn phí đối với người nhận. Ta được tha miễn phí, nhưng cái giá là máu Đức Kitô. Vì thế mỗi lần bước đến tòa giải tội, ta đừng bước đến như người đi lấy một món hàng rẻ tiền. Hãy bước đến với lòng biết ơn. Có một Đấng đã trả giá cho sự bình an của ta. Có một Đấng đã mang sự xấu hổ của ta. Có một Đấng trần trụi trên Thánh Giá để ta được mặc lại áo ân sủng. Có một Đấng chịu gọi là kẻ bị Thiên Chúa nguyền rủa để ta được gọi là con yêu dấu. Có một Đấng đi vào bóng tối để ta có thể trở về ánh sáng. Khi hiểu điều ấy, ta sẽ không coi nhẹ tội, nhưng cũng không bao giờ tuyệt vọng vì tội.
Và người đã được thương xót sẽ dần biết thương xót. Đây là phép thử thật của đời sống Kitô hữu. Không phải ta đọc bao nhiêu kinh về lòng thương xót, không phải nhà ta treo bao nhiêu ảnh Lòng Chúa Thương Xót, nhưng sau những lời kinh ấy, trái tim ta có mềm hơn không? Ta có bớt thích nói về lỗi người khác không? Ta có mau tha hơn không? Ta có bớt vui khi thấy người mình không thích gặp chuyện không may không? Ta có thể cầu nguyện cho người làm mình tổn thương không? Ta có thôi dùng quá khứ của người khác để điều khiển hiện tại của họ không? Ta có thể nhìn một người sa ngã mà nghĩ trước hết “tội nghiệp họ” thay vì “đáng đời” không? Những câu hỏi ấy đau, nhưng cần thiết. Vì lòng thương xót không phải một lòng sùng kính nằm trong nhà nguyện. Nó phải đi ra bàn ăn, vào cuộc điện thoại, vào Facebook, vào cuộc họp cộng đoàn, vào đời sống vợ chồng, vào cách cha mẹ sửa con, vào cách linh mục đối xử với giáo dân, vào cách giáo dân nói về linh mục, vào cách người đạo đức nhìn người ít đạo đức hơn mình.
Đôi khi chỉ một chút lòng thương xót cũng cứu được một đời người. Một đứa trẻ bị điểm kém trở về nhà, nếu gặp câu: “Không sao, mình tìm cách làm lại”, nó học được rằng thất bại không phải kết thúc. Một người phạm lỗi trong công việc nếu được sửa nhưng không bị hạ nhục sẽ có cơ hội trưởng thành. Một người xa Chúa nhiều năm nếu bước vào nhà thờ và gặp một ánh mắt đón nhận thay vì dò xét có thể đủ can đảm quay lại ngày mai. Một người đang tuyệt vọng nếu nghe được câu: “Chúa chưa bỏ anh đâu”, có thể giữ lại sự sống trong lòng. Chúng ta không biết một lời thương xót đi xa đến đâu.
Ngược lại, một câu kết án cũng có thể đóng một cánh cửa nhiều năm. “Mày chẳng bao giờ thay đổi.” “Con người như anh thì hết thuốc chữa.” “Tôi biết loại người như chị.” “Nó mà đạo đức gì.” Những câu ấy dễ nói lắm. Nhưng hãy cẩn thận. Chúa chưa viết dấu chấm hết, ta là ai mà viết? Đức Kitô vẫn đang chịu đóng đinh cho người ấy, ta là ai mà tuyên bố họ không đáng được cứu? Có thể hành vi của họ rất sai. Hãy gọi cái sai là sai. Nhưng đừng đồng hóa toàn bộ con người với một hành vi. Một người nói dối không chỉ là “kẻ nói dối”. Một người ngoại tình không chỉ là “kẻ ngoại tình”. Một người nghiện không chỉ là “con nghiện”. Một người từng bỏ lễ không chỉ là “người khô khan”. Con người luôn lớn hơn tội của họ, vì họ mang hình ảnh Thiên Chúa và được Đức Kitô đổ máu để cứu chuộc.
Cuối cùng, đừng bủn xỉn với lòng thương xót Chúa bởi vì một ngày nào đó, chính ta sẽ cần nó hơn bất cứ điều gì. Khi đời đi đến chiều, tiền bạc không cứu được ta. Danh tiếng không cứu được ta. Những lần ta thắng người khác trong tranh luận không cứu được ta. Thành công, chức vụ, bằng cấp rồi cũng nằm ngoài cánh cửa sự chết. Khi ấy, điều duy nhất ta có thể làm là như người thu thuế trong Đền Thờ: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18,13). Và thật đẹp khi nghĩ rằng lời cầu cuối cùng của đời ta có thể không cần dài. Chỉ cần: “Lạy Chúa Giêsu, xin nhớ đến con.” Người trộm lành đã cầu như vậy. Và Thiên Đàng mở ra.
Chúng ta sống nhờ lòng thương xót. Chúng ta chết trong lòng thương xót. Chúng ta hy vọng được cứu bởi lòng thương xót. Vậy tại sao những ngày ở giữa sinh và tử, ta lại keo kiệt với lòng thương xót dành cho nhau?
Hãy nhìn lên Thánh Giá mỗi khi thấy mình muốn kết án ai. Hãy nhìn đôi tay bị đóng đinh trước khi ném viên đá bằng lời nói. Hãy nhìn vòng gai trước khi làm nhục một người đã sai. Hãy nhìn cạnh sườn mở toang trước khi khép cửa lòng. Hãy nghe lại lời: “Lạy Cha, xin tha cho họ” trước khi nói: “Tôi không bao giờ tha.” Và mỗi khi ta thấy quá khứ mình quá đen tối, hãy nhìn người trộm bên phải Thánh Giá và nghe lại lời Chúa: “Hôm nay, anh sẽ ở với tôi trên Thiên Đàng.”
Thánh Giá không bảo chúng ta rằng tội lỗi chẳng đáng kể. Thánh Giá nói rằng lòng thương xót đáng tin. Thánh Giá không dạy chúng ta dễ dãi. Thánh Giá dạy chúng ta đừng tuyệt vọng. Thánh Giá không xóa sự thật về cái ác. Thánh Giá cho thấy tình yêu mạnh hơn cái ác. Thánh Giá không nói rằng ai cũng tự động được cứu bất kể họ sống thế nào. Thánh Giá nói rằng không ai bị loại khỏi lời mời gọi trở về. Cánh cửa vẫn mở. Máu vẫn chảy. Trái tim vẫn mở. Người Cha vẫn đứng chờ. Mục Tử vẫn đi tìm. Và Chúa Giêsu vẫn nói với mỗi linh hồn biết quay về: “Ta không kết án con.”
Xin cho chúng ta đừng bao giờ đặt dấu chấm nơi Thiên Chúa còn đặt dấu phẩy. Đừng tuyên án nơi Thiên Chúa còn chờ đợi. Đừng đóng cửa nơi Đức Kitô đã mở cạnh sườn. Đừng cầm giữ món nợ nhỏ của anh em khi chính ta vừa được tha một món nợ không thể trả. Đừng dùng Thánh Giá như một món trang sức trước ngực mà quên mang trái tim của Đấng bị đóng đinh trong lòng. Và trên hết, đừng bủn xỉn với lòng thương xót Chúa: đừng bủn xỉn với người khác, và cũng đừng bủn xỉn với chính mình.
Bởi đến cuối cùng, điều cứu thế giới này không phải là những con người chưa từng phạm lỗi. Thế giới được cứu bởi một Đấng vô tội đã yêu những người có tội đến chết. Và Hội Thánh chỉ thật sự mang khuôn mặt Đức Kitô khi đứng dưới Thánh Giá, nhận lấy dòng máu thương xót ấy, rồi không giữ lại cho riêng mình nhưng để nó chảy tiếp đến những con người đang đói một cơ hội được làm lại, đang khát một lời tha thứ, đang kiệt sức vì mặc cảm, đang đứng rất xa mà không dám trở về.
Xin Chúa cho chúng ta một trái tim không tính toán khi thương, không kiêu căng khi tha, không hả hê khi người khác ngã, không thất vọng khi chính mình yếu đuối. Xin cho mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, ta nhớ rằng có một tình yêu đã không giữ lại một giọt máu nào cho mình. Và nếu Thiên Chúa đã không bủn xỉn với ta như thế, thì ta cũng đừng bủn xỉn với nhau.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC MARIA ĐỨNG DƯỚI CHÂN THÁNH GIÁ – MẪU MỰC CỦA ĐỨC TIN TRONG BÓNG TỐI
Có những lúc tin vào Chúa thật dễ. Khi cuộc đời xuôi thuận, gia đình bình an, sức khỏe còn tốt, công việc còn ổn định, lời cầu nguyện dường như được đáp lại, ta có thể nói rất nhanh rằng: “Con tin Chúa.” Nhưng cũng có những lúc lời tuyên xưng ấy phải đi qua nước mắt. Có những ngày Thiên Chúa dường như im lặng, tương lai đóng kín, điều ta tha thiết cầu xin không xảy ra, người ta thương yêu rời khỏi vòng tay mình, bệnh tật kéo dài, một cánh cửa tưởng đã mở lại bất ngờ khép lại, một biến cố ập đến làm mọi dự định tan thành mây khói. Khi ấy, đức tin không còn là một câu nói đẹp trên môi. Đức tin trở thành một cuộc chọn lựa rất đau: tôi còn tin Thiên Chúa khi tôi không hiểu Thiên Chúa nữa hay không? Tôi còn đứng lại với Người khi Người không giải thích gì cho tôi hay không? Tôi còn có thể thưa “xin vâng” khi tất cả những gì đang xảy ra dường như trái ngược với lời Người đã hứa hay không? Và nếu cần tìm một con người đã đi qua tận cùng thử thách ấy mà vẫn đứng vững, chúng ta hãy nhìn lên đồi Canvê. Ở đó, dưới chân cây Thánh Giá, có một người Mẹ đang đứng. Tin Mừng Gioan không nói Đức Maria ngất xỉu. Không nói Mẹ bỏ chạy. Không nói Mẹ kêu gào chống lại Thiên Chúa. Chỉ một câu rất ngắn mà chứa cả một đại dương đau khổ: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Chỉ một chữ “đứng” thôi cũng đủ để nói lên cả một đời đức tin. Mẹ đứng trong khi Con bị treo. Mẹ đứng trong khi trời tối. Mẹ đứng khi lời hứa dường như đã chết. Mẹ đứng khi chẳng còn gì để bám víu ngoài chính Thiên Chúa mà Mẹ không còn hiểu được đường lối của Người. Và chính ở đó, Đức Maria trở thành mẫu mực tuyệt vời của đức tin trong bóng tối.
Cuộc đời Đức Maria đã bắt đầu bằng một tiếng “xin vâng”, nhưng ít ai hiểu rằng tiếng “xin vâng” ấy không chỉ dành cho buổi Truyền Tin rực sáng. Tiếng “xin vâng” tại Nazareth phải được Mẹ nói lại suốt cả cuộc đời, và lời “xin vâng” đau nhất chính là lời không được Tin Mừng ghi thành tiếng dưới chân Thánh Giá. Ngày thiên thần Gabriel đến, Mẹ nghe một lời hứa thật đẹp: “Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1,32-33). Mẹ đã tin. Mẹ đã trao cả đời mình cho lời ấy. Nhưng rồi hơn ba mươi năm sau, Mẹ đứng trên Canvê và nhìn thấy điều gì? Đâu là ngai vàng? Một cây gỗ nhục hình. Đâu là vương miện? Một vòng gai. Đâu là triều đại vô tận? Một thân xác đầy thương tích đang hấp hối giữa hai tên tử tội. Đâu là đám đông tung hô? Chỉ còn những tiếng chế nhạo. Đâu là quyền năng của Con Đấng Tối Cao? Người không tự cứu mình khỏi những chiếc đinh. Nếu chỉ nhìn bằng mắt con người, tất cả những gì thiên thần từng nói dường như đã sụp đổ. Chính ở điểm này, đức tin của Đức Maria đạt tới độ tinh tuyền nhất: Mẹ tiếp tục tin không phải vì Mẹ thấy lời hứa đang được thực hiện, nhưng vì Mẹ tin Đấng đã hứa là Đấng trung tín, ngay cả khi cách Người thực hiện lời hứa hoàn toàn vượt khỏi hiểu biết của Mẹ.
Chúng ta thường tưởng đức tin là hiểu được ý Chúa. Không phải. Có những lúc Chúa cho hiểu, nhưng có những lúc Người chỉ mời gọi ta tin. Đức tin trưởng thành không phải là lúc mọi câu hỏi đều có câu trả lời; nhiều khi đức tin trưởng thành chính là khi câu hỏi vẫn còn đó mà ta vẫn không bỏ Chúa. Đức Maria đã sống điều ấy từ rất sớm. Khi cụ già Simêon nói với Mẹ trong Đền Thờ: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,35), Mẹ không biết lưỡi gươm ấy sẽ đến thế nào. Khi Hài Nhi vừa chào đời đã phải trốn sang Ai Cập, Mẹ không hiểu tại sao Con Thiên Chúa lại phải chạy trốn một ông vua trần thế. Khi trẻ Giêsu mười hai tuổi ở lại Đền Thờ và nói: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?”, Tin Mừng thú nhận rất thật: “Ông bà không hiểu lời Người vừa nói” (Lc 2,49-50). Mẹ không hiểu, nhưng Mẹ không vì không hiểu mà quay lưng. Mẹ “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2,51). Có lẽ đây là bí quyết lớn của đời sống đức tin: có những điều hôm nay ta chưa hiểu, đừng vội kết luận; hãy giữ chúng trong lòng trước mặt Chúa. Có những biến cố hôm nay khiến ta tưởng Chúa bỏ mình, nhưng năm năm, mười năm, hai mươi năm sau nhìn lại, ta mới thấy một bàn tay đã dẫn ta đi qua những khúc quanh mà lúc ấy ta chỉ thấy toàn bóng tối. Đức Maria không hiểu mọi sự ngay lập tức, nhưng Mẹ không để sự không hiểu trở thành sự bất tín. Mẹ biến điều mình chưa hiểu thành lời cầu nguyện.
Đỉnh cao của hành trình ấy chính là Canvê. Hãy thử đứng bên cạnh Mẹ một chút để cảm được nỗi đau mà Tin Mừng chỉ kể bằng vài dòng rất tiết chế. Người Con mà Mẹ cưu mang chín tháng trong lòng, Người Con Mẹ sinh ra nơi Bêlem trong nghèo khó, Người Con Mẹ đã ôm vào lòng khi còn thơ bé, Người Con từng nắm tay Mẹ trên những con đường làng Nazareth, giờ đây thân thể không còn nguyên vẹn. Lưng Người rách nát vì roi đòn. Đầu Người đội vòng gai. Mặt Người đầy máu và bụi. Hai tay từng chúc lành cho trẻ nhỏ, từng chạm vào người phong cùi, từng nâng người tội lỗi đứng lên, giờ bị những chiếc đinh xuyên thủng. Đôi chân từng rong ruổi khắp các làng mạc để loan báo Tin Mừng cho người nghèo giờ bị đóng chặt vào gỗ. Miệng Người từng nói những lời ban sự sống đang khô khốc vì khát. Mẹ đứng đó nhìn từng hơi thở của Con trở nên khó nhọc. Mẹ không thể làm gì để giảm đau cho Con. Không được ôm Con xuống. Không được băng bó. Không được cho Con một bát nước. Không được chết thay Con. Đau khổ lớn nhất của một người mẹ đôi khi không phải là mình đau, mà là nhìn người mình yêu đau trong khi mình bất lực. Và Đức Maria đã uống cạn chén bất lực ấy.
Nhưng điều làm Canvê tối hơn nữa không chỉ là nỗi đau của một người mẹ mất con. Đây còn là thử thách của người môn đệ đứng trước sự sụp đổ hoàn toàn của những gì mình tin. Nếu Đức Giêsu chỉ là một người con bình thường, cái chết của Người đã đủ khiến tim Mẹ tan nát. Nhưng Mẹ biết Người là Con Đấng Tối Cao. Mẹ biết Người được thụ thai bởi quyền năng Chúa Thánh Thần. Mẹ nhớ lời thiên thần. Mẹ nhớ những điều kỳ diệu tại Bêlem. Mẹ nhớ lời Simêon. Mẹ nhớ Cana. Mẹ đã thấy những dấu chỉ. Thế mà giờ đây Con Thiên Chúa chết như một kẻ bị Thiên Chúa nguyền rủa trước mắt người đời. Tất cả diễn ra mà trời không can thiệp, thiên thần không xuất hiện, phép lạ không xảy ra. Đó mới là đêm tối thật sự của đức tin: không phải chỉ là đau, mà là đau trong khi Thiên Chúa dường như im lặng.
Có lẽ trong đời chúng ta cũng có những Canvê như thế. Ta đã sống tử tế mà vẫn gặp oan ức. Ta đã cầu nguyện cho một người thân mà họ vẫn ra đi. Ta đã cố giữ một gia đình mà gia đình vẫn đổ vỡ. Ta đã tin tưởng một người mà cuối cùng bị phản bội. Ta đã xin Chúa mở một con đường nhưng trước mặt chỉ thấy bức tường. Ta đã phục vụ nhiều năm rồi một ngày nhận lại sự hiểu lầm. Ta đã cố sống ngay thẳng nhưng dường như người gian dối lại dễ thành công hơn. Có người bước vào nhà thờ với một câu hỏi không nói ra được: “Chúa ở đâu?” Có người quỳ trước Thánh Thể mà không cảm thấy gì. Có người đọc kinh nhưng từng lời kinh khô khốc. Có người vẫn đi lễ nhưng bên trong đã mỏi mệt đến độ gần như không còn sức để hy vọng. Chính những người ấy cần nhìn Đức Maria dưới chân Thánh Giá. Mẹ không trao cho chúng ta một lời giải thích về đau khổ. Mẹ trao cho chúng ta một dáng đứng.
“Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người.” Mẹ đứng. Đó là một động từ đẹp lạ lùng. Đứng nghĩa là không chạy. Đứng nghĩa là không buông. Đứng nghĩa là ở lại. Đứng nghĩa là đau nhưng không tuyệt vọng. Đứng nghĩa là nước mắt có thể chảy nhưng lòng vẫn hướng về Thiên Chúa. Đứng nghĩa là chẳng hiểu gì nữa nhưng vẫn không rút lại tiếng xin vâng. Có những chiến thắng của đời Kitô hữu không ồn ào. Có khi chiến thắng chỉ là sau một ngày rất nặng nề, ta vẫn làm dấu Thánh Giá trước khi ngủ. Có khi chiến thắng chỉ là bị tổn thương mà vẫn không trả thù. Có khi chiến thắng là một người mẹ đã cầu nguyện suốt nhiều năm cho đứa con lạc xa vẫn tiếp tục cầu nguyện thêm một ngày nữa. Có khi chiến thắng là người bệnh không còn sức đọc cả chuỗi Mân Côi nhưng vẫn thì thầm được hai tiếng “Giêsu, Maria”. Có khi chiến thắng là một linh mục đi qua những thất vọng của đời mục vụ nhưng sáng hôm sau vẫn bước lên bàn thờ. Có khi chiến thắng là một người vừa chôn người mình yêu vẫn có thể thưa rất nhỏ: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con xin phó thác.” Đó là đức tin đứng dưới chân Thánh Giá.
Đức Maria không đứng đó như một pho tượng không cảm xúc. Đức tin Kitô giáo không biến con người thành đá. Tin Chúa không có nghĩa là không khóc. Chúa Giêsu đã khóc trước mộ Ladarô. Người đã buồn đến chết được trong vườn Cây Dầu. Người đã thốt lên trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Đức Maria cũng mang trái tim của một người mẹ thật sự. Lưỡi gươm Simêon báo trước không phải là một hình ảnh trang trí; nó đâm thật vào lòng Mẹ. Nhưng sự khác biệt nằm ở chỗ: đau khổ không làm Mẹ xa Chúa, mà kéo Mẹ vào sâu hơn trong mầu nhiệm của Chúa. Có người vì đau mà bỏ cầu nguyện. Mẹ đau và trở thành lời cầu nguyện. Có người vì không hiểu mà bỏ đi. Mẹ không hiểu và đứng lại. Có người vì thất vọng mà đóng cửa lòng. Trái tim Mẹ bị đâm thâu lại mở rộng hơn để trở nên Mẹ của nhân loại.
Ngay giữa giờ phút tối tăm ấy, một đoạn Tin Mừng hết sức cảm động xảy ra: “Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,26-27). Hãy hình dung hoàn cảnh ấy. Đức Giêsu gần chết. Mỗi hơi thở là một cực hình. Nhưng Người vẫn nghĩ đến Mẹ và người môn đệ. Người biến chính giờ phút mất mát thành một cuộc trao ban. Đức Maria đang mất người Con độc nhất theo huyết nhục, nhưng chính lúc ấy Mẹ nhận một người con mới. Và nơi Gioan, Mẹ nhận tất cả chúng ta. Canvê tưởng là nơi mọi sự bị lấy đi, hóa ra lại là nơi một tình mẫu tử mới được khai sinh. Đó là một trong những nghịch lý sâu nhất của Thánh Giá: Thiên Chúa thường làm nảy sinh sự sống từ nơi chúng ta chỉ nhìn thấy mất mát.
Điều ấy không có nghĩa rằng mỗi mất mát đều có thể được giải thích ngay bằng một lợi ích khác. Đừng vội vàng nói với người đang đau rằng “Chúa lấy cái này để cho cái khác”. Những câu nói quá nhanh có thể làm người đau khổ đau thêm. Đức Maria không đứng dưới chân Thánh Giá để giảng một lý thuyết về đau khổ. Mẹ chỉ ở đó. Và nhiều khi điều người đau khổ cần nhất cũng không phải một bài giải thích thần học, mà là một người biết đứng bên cạnh họ. Đứng như Mẹ. Không phán xét. Không nói những câu đạo đức rẻ tiền. Không ép họ phải mạnh mẽ. Không bảo họ phải hết buồn ngay. Chỉ hiện diện. Chỉ cầu nguyện. Chỉ để họ biết rằng trong đêm tối ấy họ không cô độc. Có lẽ Hội Thánh đẹp nhất không phải khi Hội Thánh nói thật nhiều, mà khi Hội Thánh biết đứng dưới những thập giá của con người: bên giường người bệnh, bên gia đình tang chế, bên người thất nghiệp, bên người bị bỏ rơi, bên đứa trẻ bị tổn thương, bên người già cô độc, bên người tội lỗi không còn dám ngẩng đầu. Đức Maria dưới chân Thánh Giá dạy Hội Thánh nghệ thuật hiện diện.
Mẹ còn dạy chúng ta một điều rất khó: không chiếm hữu những gì mình yêu. Đức Maria đã nhận Đức Giêsu như một hồng ân, không phải như một tài sản. Từ khi Con bắt đầu sứ vụ công khai, Mẹ phải học trao Con cho sứ mạng của Chúa Cha. Tại Cana, sau lời “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”, Mẹ lui vào hậu trường. Mẹ không giữ Con cho riêng mình. Đến Canvê, sự từ bỏ ấy đạt đến tận cùng. Mẹ trả Người Con về cho Chúa Cha. Đây là một cuộc hiến tế của trái tim. Người ta có thể cho tiền, cho thời gian, cho công sức, nhưng cho đi điều mình yêu nhất mới thật khó. Làm cha mẹ cũng vậy. Một ngày phải biết để con bước đi con đường của nó. Không biến con thành sự kéo dài của tham vọng cha mẹ. Không giữ con bằng tình cảm. Không bắt con sống cuộc đời mà mình đã thiết kế. Tình yêu chân thật không sở hữu. Tình yêu chân thật trao ban. Đức Maria yêu Đức Giêsu hơn bất cứ người mẹ nào yêu con mình, nhưng tình yêu ấy trong sạch đến mức Mẹ có thể trao Con cho chương trình cứu độ của Chúa Cha, dù cái giá là trái tim Mẹ bị đâm thâu.
Dưới chân Thánh Giá, Mẹ cũng dạy chúng ta rằng sự im lặng không nhất thiết là sự vắng mặt của Thiên Chúa. Thứ Sáu Tuần Thánh dường như là ngày Thiên Chúa thua cuộc. Những người giết Đức Giêsu nghĩ họ đã thắng. Các môn đệ nghĩ mọi sự kết thúc. Tảng đá sẽ lấp cửa mồ. Nhưng điều không ai nhìn thấy là chính trong lúc sự dữ tưởng mình chiến thắng, công trình cứu độ đang được hoàn thành. Chính khi Con Thiên Chúa dường như bất lực nhất, Người đang phá vỡ quyền lực của tội lỗi. Chính khi Người bước vào sự chết, Người đang mở sự chết từ bên trong. Chính khi Đức Maria không thấy gì ngoài một thân xác bị đóng đinh, mầm Phục Sinh đã nằm trong chính sự tự hiến ấy. Đức tin của Mẹ vì thế là đức tin của ngày Thứ Bảy Tuần Thánh: sống giữa Thứ Sáu đau thương và Chúa Nhật Phục Sinh mà chưa thấy Chúa Nhật. Đây cũng là vị trí của rất nhiều người chúng ta. Có những lúc ta đang ở trong “ngày thứ Bảy” của cuộc đời: điều cũ đã chết nhưng điều mới chưa xuất hiện; lời hứa đã được nghe nhưng sự hoàn tất chưa thấy; ta ở giữa khoảng trống. Khoảng trống ấy rất đáng sợ. Nhưng Đức Maria dạy ta ở lại.
Có một cám dỗ rất lớn trong đời sống thiêng liêng là chỉ tin Chúa khi ta cảm thấy Chúa. Khi cầu nguyện có cảm xúc thì ta sốt sắng. Khi lòng khô khan thì ta nghĩ Chúa xa. Khi mọi sự thuận lợi ta nói Chúa thương mình. Khi tai họa xảy đến ta hỏi Chúa có còn thương không. Nhưng tình yêu của Thiên Chúa không thay đổi theo cảm giác của chúng ta. Mặt trời không biến mất chỉ vì mây che kín. Canvê là đám mây đen nhất, nhưng tình yêu Chúa Cha không hề biến mất. Nếu có một nơi chứng minh Thiên Chúa yêu thế gian đến cùng, đó chính là Thánh Giá. Vậy mà chính tại nơi tình yêu tỏ mình mạnh nhất, người ta lại dễ tưởng Thiên Chúa vắng mặt nhất. Mầu nhiệm là ở đó. Thiên Chúa không luôn cứu chúng ta bằng cách cất thập giá đi. Có lúc Người cứu chúng ta bằng cách đi vào thập giá cùng chúng ta và biến thập giá thành con đường dẫn đến sự sống.
Đức Maria hiểu điều này không phải bằng sách vở mà bằng chính thân xác và trái tim mình. Mẹ đã không được miễn trừ đau khổ vì Mẹ vô nhiễm nguyên tội. Mẹ không được miễn trừ thử thách vì Mẹ đầy ân sủng. “Đầy ân sủng” không có nghĩa là “đầy tiện nghi”. Được Thiên Chúa yêu không có nghĩa là không bao giờ phải khóc. Được Chúa chọn không có nghĩa là đời sẽ dễ hơn. Nhiều khi chính người được trao một sứ mạng lớn lại phải đi qua một con đường sâu hơn của từ bỏ. Điều này rất quan trọng cho đời sống đức tin. Nếu ta đồng hóa ơn Chúa với sự thành công bên ngoài, ta sẽ dễ vỡ vụn khi đau khổ đến. Đức Maria cho thấy một con người có thể được Thiên Chúa yêu thương cách đặc biệt mà vẫn phải đi qua một lưỡi gươm. Điều chứng minh tình yêu của Thiên Chúa không phải là ta không có thập giá, nhưng là giữa thập giá, Thiên Chúa không bao giờ bỏ chúng ta một mình.
Dĩ nhiên có người sẽ hỏi: nếu Thiên Chúa không bỏ Đức Maria, tại sao Người để Mẹ phải nhìn Con chết? Câu hỏi ấy không có một đáp án đơn giản. Mầu nhiệm đau khổ luôn vượt quá mọi công thức. Kitô giáo không dạy chúng ta rằng Thiên Chúa thích đau khổ. Thánh Giá không phải là bằng chứng Thiên Chúa yêu sự đau đớn. Thánh Giá là bằng chứng Thiên Chúa yêu con người đến mức đi vào chính hậu quả của tội lỗi và sự chết để cứu con người từ bên trong. Chúng ta không tôn thờ đau khổ; chúng ta tôn thờ Đấng đã biến đau khổ thành nơi tình yêu tự hiến đạt đến tận cùng. Đức Maria không tìm đau khổ. Mẹ đón nhận đau khổ không thể tránh khỏi trong sự kết hợp với Con. Có một khoảng cách rất lớn giữa việc cố tình tìm đau khổ và việc trung thành khi đau khổ đến. Kitô giáo không bảo người bị bạo hành phải im lặng chịu đựng. Không bảo người bệnh từ chối chữa trị. Không bảo người nghèo cứ cam chịu bất công. Thánh Giá của Chúa chống lại sự dữ chứ không thần thánh hóa sự dữ. Nhưng có những đau khổ sau khi ta đã làm mọi điều có thể vẫn không thể tránh khỏi: tuổi già, bệnh tật, cái chết, chia ly, giới hạn, những vết thương của phận người. Chính tại đó, Đức Maria dạy ta cách không để đau khổ có tiếng nói cuối cùng.
Đức tin trong bóng tối khác với sự lạc quan. Người lạc quan nói: “Rồi chắc mọi chuyện sẽ ổn thôi.” Người có đức tin có thể không biết mọi chuyện có “ổn” theo ý mình hay không, nhưng vẫn nói: “Dù chuyện gì xảy ra, tôi thuộc về Chúa.” Đó là đức tin của Đức Maria. Mẹ không đứng dưới Thánh Giá vì tin rằng vài phút nữa quân lính sẽ tháo đinh và Đức Giêsu sẽ bước xuống trong vinh quang. Không. Mẹ nhìn Con chết thật. Mẹ sẽ ôm xác Con thật. Mẹ sẽ đi sau đoàn người đưa Con đến mồ thật. Đức tin của Mẹ không phủ nhận hiện thực. Mẹ nhìn thẳng vào mất mát mà vẫn tin. Đức tin Kitô giáo vì thế không phải là tự thôi miên rằng chẳng có gì xấu xảy ra. Đức tin là nhìn thẳng vào điều xấu mà vẫn tin rằng điều xấu không phải tiếng nói cuối cùng.
Chúng ta cần học nơi Mẹ điều này, nhất là trong một thời đại rất khó chấp nhận sự bất lực. Con người hiện đại quen điều khiển. Muốn nhanh. Muốn giải quyết. Muốn câu trả lời. Điện thoại chậm vài giây cũng sốt ruột. Một vấn đề không giải quyết được khiến ta khó chịu. Nhưng có những thực tại không có nút bấm nào sửa được. Ta không thể quay ngược thời gian. Không thể làm người đã chết sống lại bằng sức mình. Không thể ép một người khác yêu mình. Không thể bảo tuổi già đừng đến. Không thể giữ tất cả mọi người ở bên mình mãi mãi. Có lúc ta phải học một sự nghèo khó sâu xa: chấp nhận rằng mình không phải Thiên Chúa. Đức Maria dưới chân Thánh Giá hoàn toàn bất lực theo nghĩa trần thế, nhưng chính trong sự bất lực ấy, sức mạnh của đức tin Mẹ tỏa sáng. Có những lúc việc thiêng liêng nhất ta có thể làm không phải là thay đổi hoàn cảnh, mà là để cho Thiên Chúa gìn giữ trái tim mình trong hoàn cảnh ấy.
Và hãy để ý: Mẹ không đứng một mình. Bên Mẹ có người môn đệ Chúa yêu. Chi tiết nhỏ ấy mang một giá trị mục vụ lớn lao. Khi đau khổ, chúng ta thường có khuynh hướng khép kín. Ta nói: “Không ai hiểu tôi.” Rồi ta tự cô lập. Nhưng Chúa Giêsu từ trên Thánh Giá trao Gioan cho Mẹ và trao Mẹ cho Gioan. Như thể Người nói rằng trên hành trình đi qua đau khổ, con người cần có nhau. Đức tin không chỉ là chuyện “tôi với Chúa”. Chúa trao chúng ta cho nhau. Có những ngày tôi yếu, đức tin của anh em nâng tôi lên. Có những ngày anh em yếu, tôi đứng bên họ. Hội Thánh chính là cộng đoàn những người biết đứng bên nhau dưới những cây thập giá. Vì vậy, một người đang đau khổ đừng ngại tìm một người đáng tin để tâm sự, một linh mục để đồng hành, một người bạn để cầu nguyện cùng. Và một người thấy ai đang đau cũng đừng chỉ nhắn: “Cố lên nhé.” Hãy đến gần nếu có thể. Một bữa cơm, một cuộc điện thoại, một giờ ngồi im lặng, một lời kinh chung đôi khi quý hơn cả trăm lời khuyên.
Đức Maria còn là mẫu mực của đức tin vì Mẹ để cho đau khổ mở rộng trái tim mình thay vì làm trái tim mình cay đắng. Đây là một trong những phép lạ lớn nhất của ân sủng. Đau khổ tự nó không làm ai nên thánh. Đau khổ có thể làm một người sâu sắc hơn, nhưng cũng có thể làm họ khép kín hơn; có thể làm họ cảm thông hơn, cũng có thể làm họ cay độc hơn. Điều quyết định là ta để cho Chúa làm gì trong đau khổ ấy. Đức Maria từ một người Mẹ của Đức Giêsu trở thành Mẹ của người môn đệ, rồi trong đức tin của Hội Thánh, trở thành Mẹ của mọi môn đệ. Trái tim bị lưỡi gươm đâm thâu lại trở thành trái tim rộng đủ cho một nhân loại. Đó là cách Thiên Chúa làm việc. Nếu ta trao vết thương cho Người, Người có thể biến chính nơi đã làm ta đau thành nơi ta biết yêu người khác sâu hơn. Người từng trải qua tang chế có thể hiểu người đang mất người thân. Người từng bị phản bội nếu được chữa lành có thể biết nâng đỡ người đang đổ vỡ. Người từng thất bại có thể bớt khắt khe với người khác. Vết thương được trao cho Chúa có thể trở thành một cánh cửa của lòng thương xót.
Nhưng để điều ấy xảy ra, ta phải đứng gần Thánh Giá, chứ không chạy khỏi nó bằng mọi thứ gây mê của thời đại. Có người gây mê nỗi buồn bằng công việc. Có người bằng tiền. Có người bằng mua sắm. Có người bằng mạng xã hội. Có người bằng rượu chè. Có người bằng những mối quan hệ liên tục để khỏi phải đối diện với sự trống rỗng bên trong. Có người trốn vào cả những hoạt động đạo đức, làm rất nhiều việc cho Chúa nhưng không bao giờ dám ngồi yên trước Chúa với vết thương thật của mình. Đức Maria không trốn. Mẹ đứng trước sự thật. Con mình đang chết. Mẹ đau. Mẹ không phủ nhận. Và bởi Mẹ đứng trước sự thật trong sự hiện diện của Chúa, đau khổ ấy được đưa vào mầu nhiệm cứu độ. Chữa lành bắt đầu khi con người thôi chạy trốn khỏi điều thật trong lòng mình và dám mang nó đến trước Chúa.
Có lẽ vì vậy mà trong kinh “Lạy Nữ Vương”, Hội Thánh gọi Mẹ là “Mẹ nhân lành, làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy”, rồi ngay sau đó lại nói đến “chốn khách đày”, đến “khóc lóc than thở”. Kitô giáo rất thực tế. Có nước mắt. Có lưu đày. Có thung lũng lệ sầu. Nhưng có Mẹ. Không phải một người Mẹ đứng ngoài đau khổ mà khuyên ta chịu đựng, nhưng một người Mẹ đã từng đi qua nơi tối nhất. Khi ta cầu xin Đức Maria ở bên một người hấp hối, ta đang cầu xin một người Mẹ đã đứng bên một Người đang hấp hối. Khi ta xin Mẹ nâng đỡ một người vừa mất con, ta đang cầu xin một người Mẹ đã ôm xác Con mình. Khi ta xin Mẹ giúp ta tin trong đêm tối, ta đang cầu xin một người đã tin khi toàn bộ bầu trời dường như im lặng. Vì thế, lòng sùng kính Đức Maria đúng nghĩa không làm ta xa Chúa Kitô; Mẹ luôn dẫn ta về sát Thánh Giá của Con.
Tin Mừng không ghi Đức Maria nói gì dưới chân Thánh Giá. Sự im lặng ấy thật đẹp. Có những giờ phút những lời hay nhất cũng trở nên thừa. Khi đau đến tận cùng, chỉ có sự hiện diện là ngôn ngữ còn lại. Mẹ hiện diện. Và có lẽ chính sự hiện diện ấy đã là một niềm an ủi lớn lao cho Chúa Giêsu trong giờ cuối. Con người có thể không cứu được người mình yêu khỏi đau khổ, nhưng sự hiện diện của tình yêu vẫn có ý nghĩa. Bao nhiêu người già chỉ cần con cái ngồi cạnh một lúc. Bao nhiêu bệnh nhân chỉ cần một bàn tay nắm lấy tay mình. Bao nhiêu người hấp hối không còn cần những diễn văn mà cần biết người thân vẫn ở đó. Bao nhiêu tâm hồn đang tuyệt vọng cần một người không bỏ họ. Đức Maria dạy chúng ta rằng “ở lại” là một hình thức rất cao của tình yêu.
Đáng buồn là chúng ta đôi khi dễ ở với nhau trong ngày vui nhưng khó ở với nhau trong ngày khổ. Khi ai đó thành công, quanh họ có nhiều người. Khi họ thất bại, số người còn lại ít dần. Khi Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, có hàng ngàn người. Khi Người vào Giêrusalem, đám đông tung hô. Nhưng dưới chân Thánh Giá chỉ còn vài người. Tình yêu thật được nhận ra ở Canvê. Ai ở lại khi không còn lợi ích gì để nhận? Ai ở lại khi người kia không còn gì hấp dẫn? Ai ở lại khi chăm sóc một người bệnh kéo dài nhiều năm? Ai ở lại với một người già cứ lặp đi lặp lại một câu chuyện? Ai ở lại với một người vợ, một người chồng khi tuổi trẻ qua đi, nhan sắc phai dần, sức khỏe yếu đi? Ai ở lại với một người bạn trong lúc họ bị cả đám đông quay lưng? Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá đặt cho chúng ta những câu hỏi rất khó về sự trung thành.
Mẹ cũng đặt một câu hỏi cho đời sống thánh hiến và linh mục. Chúng ta có thể theo Chúa rất hăng hái ở Galilê, nơi có đám đông, phép lạ, tiếng vỗ tay. Nhưng ta có theo Người tới Canvê không? Khi sứ vụ không kết quả như mong muốn, ta còn yêu sứ vụ không? Khi làm điều tốt mà không ai biết, ta còn làm không? Khi bị hiểu lầm, ta có còn hiền lành? Khi tuổi già đến, không còn vị trí, không còn được mời gọi nhiều, không còn thấy mình quan trọng, ta có bình an không? Có những lúc Chúa lấy khỏi ta cảm giác thành công để thanh luyện tình yêu của ta. Ta phục vụ Chúa hay phục vụ cảm giác mình hữu ích? Ta yêu Chúa hay yêu những gì Chúa ban? Đức Maria dưới chân Thánh Giá không còn được chứng kiến những phép lạ huy hoàng. Chỉ còn Chúa. Một Chúa bị đóng đinh. Và Mẹ vẫn ở đó. Đó là tình yêu tinh tuyền.
Đức tin trong bóng tối của Mẹ không phải đức tin thụ động. Trong Kinh Thánh, “đứng” còn là tư thế của người hiện diện, người canh thức, người sẵn sàng. Mẹ đứng dưới Thánh Giá như một người tham dự vào hy lễ của Con bằng sự hiệp thông của trái tim. Mẹ không cứu chuộc nhân loại thay Đức Kitô; chỉ Đức Kitô là Đấng Cứu Chuộc. Nhưng Mẹ kết hợp sự đau đớn và tiếng xin vâng của mình với sự tự hiến của Con. Đây cũng là con đường của mỗi Kitô hữu. Chúng ta không thể thêm gì vào giá trị vô hạn của Thánh Giá Đức Kitô, nhưng có thể để đời mình được kết hợp với Thánh Giá ấy. Một cơn bệnh được đón nhận trong tình yêu. Một hy sinh âm thầm cho gia đình. Một sự nhẫn nại trước người khó tính. Một việc bổn phận được làm với lòng trung thành. Một nỗi cô đơn được trao vào tay Chúa. Khi kết hợp với tình yêu của Đức Kitô, những điều nhỏ bé ấy không còn vô nghĩa.
Vì thế, đừng bao giờ nghĩ một đời sống âm thầm là một đời sống vô ích. Đức Maria hầu như không nói gì trong các sách Tin Mừng. Mẹ không viết một cuốn sách. Không đi giảng trước đám đông. Không để lại một công trình mang tên mình. Nhưng sự hiện diện của Mẹ đi xuyên suốt mầu nhiệm Nhập Thể, Cana, Canvê, và cộng đoàn cầu nguyện chờ đợi Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa không đo một đời người bằng tiếng vang. Người đo bằng tình yêu và sự trung tín. Có những người mẹ cả đời chỉ biết bếp núc, chăm con, chăm cháu, đọc kinh, nhưng có thể trước mặt Chúa họ lớn hơn rất nhiều người nổi tiếng. Có những người bệnh nằm một chỗ mà lời cầu nguyện âm thầm của họ đang nâng đỡ biết bao người. Có những tu sĩ già chẳng còn đảm nhận công việc nào đáng kể nhưng sự trung tín của họ là cột trụ vô hình cho cộng đoàn. Đức Maria dưới chân Thánh Giá cho thấy vẻ đẹp của một đời người không nằm ở việc ta làm được bao nhiêu điều khiến thiên hạ biết, mà ở việc ta đã yêu đến mức nào.
Và rồi Thứ Sáu ấy sẽ qua. Đức Maria chưa biết buổi sáng Phục Sinh sẽ đến bằng cách nào, nhưng nó đến. Tảng đá bị lăn ra. Ngôi mộ trống. Sự chết không giữ được Đức Kitô. Điều Mẹ tin trong bóng tối được tỏ hiện trong ánh sáng. Vì vậy, khi nhìn Mẹ đứng dưới chân Thánh Giá, ta đừng dừng câu chuyện ở Thứ Sáu. Đức tin Kitô giáo luôn hướng tới Phục Sinh. Nhưng cũng đừng chạy quá nhanh tới Phục Sinh đến nỗi coi nhẹ Thứ Sáu. Muốn hiểu niềm vui Phục Sinh, phải đi qua sự thật của Canvê. Đức Maria không nhảy qua đau khổ; Mẹ đi xuyên qua đau khổ. Đó cũng là cách Chúa chữa lành chúng ta. Không phải lúc nào Người cũng đưa ta ra khỏi đêm tối tức thì. Có khi Người cầm tay ta đi xuyên qua đêm tối cho đến sáng.
Nếu hôm nay ai đó đang ở trong một đêm tối, xin đừng vội nghĩ Chúa đã bỏ mình. Nếu lời cầu nguyện chưa được đáp, đừng vội kết luận Chúa không nghe. Nếu một cánh cửa đóng lại, đừng nghĩ toàn bộ tương lai đã đóng. Nếu một người ra đi, hãy khóc, nhưng đừng nghĩ tình yêu đã mất. Nếu đức tin khô khan, hãy tiếp tục đến với Chúa ngay cả khi không cảm thấy gì. Đức Maria dạy ta rằng có một thứ đức tin rất quý được sinh ra chỉ trong bóng tối: tin không vì thấy, yêu không vì được an ủi, trung thành không vì được thưởng ngay. Thứ đức tin ấy không hào nhoáng nhưng rất sâu. Nó giống một bộ rễ mọc trong lòng đất. Không ai nhìn thấy, nhưng chính nó giữ cây đứng vững khi bão đến.
Có lẽ lời cầu nguyện đẹp nhất trong những lúc ấy không cần dài. Chỉ cần: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con tin Chúa. Con đang đau, nhưng con không muốn rời Chúa. Con sợ, nhưng con xin đứng lại. Con không biết ngày mai ra sao, nhưng hôm nay con xin trao mình cho Chúa.” Và nếu đến cả lời ấy cũng không nói nổi, hãy nhìn Đức Maria. Mượn sự im lặng của Mẹ làm lời cầu nguyện. Đứng bên Mẹ dưới chân Thánh Giá. Có những lúc ta không cần phải nói gì với Chúa. Chỉ cần không bỏ đi.
Thật ra, phần lớn đời sống đức tin không diễn ra trên núi Tabor mà dưới chân những cây thập giá rất bình thường. Một người vợ chăm người chồng bệnh. Một người mẹ thức đêm bên đứa con. Một người cha gánh nợ để nuôi gia đình. Một người trẻ chăm sóc cha mẹ già trong khi bạn bè đang vui chơi. Một linh mục vẫn giải tội dù mệt mỏi. Một nữ tu tiếp tục phục vụ những việc chẳng ai để ý. Một người bị xúc phạm chọn im lặng thay vì trả đũa. Một người mang bệnh hiểm nghèo vẫn cố mỉm cười để người thân đỡ lo. Những con người ấy có thể không bao giờ nghĩ mình đang làm điều gì lớn lao, nhưng họ đang đứng dưới chân Thánh Giá. Và Đức Maria đứng bên họ.
Thế giới hôm nay rất thích những người chiến thắng, những câu chuyện thành công, những khuôn mặt sáng sủa, những con số tăng trưởng. Nhưng Tin Mừng đưa chúng ta tới một nơi chẳng có vẻ gì thành công: một ngọn đồi, ba cây thập giá, một người tử tù, vài người phụ nữ khóc, một môn đệ trẻ, những người lính lạnh lùng. Vậy mà chính từ nơi ấy lịch sử được cứu. Điều này phải làm chúng ta thay đổi cách nhìn về đời mình. Có những giai đoạn ta tưởng mình hoàn toàn thất bại nhưng chính lúc ấy Chúa đang làm việc sâu nhất. Có những mất mát làm ta tưởng đời đã hết, nhưng nhiều năm sau mới hiểu đó là khởi đầu một cuộc biến đổi. Có những lời cầu nguyện không được đáp theo điều ta xin nhưng lại được đáp theo cách đưa ta gần Chúa hơn. Chúng ta không nên lãng mạn hóa đau khổ, nhưng cũng không nên vội coi mọi đau khổ là vô nghĩa.
Đức Maria không biết toàn bộ kế hoạch vào ngày Truyền Tin. Mẹ chỉ biết đủ để nói “xin vâng”. Mẹ không biết toàn bộ kế hoạch khi trốn sang Ai Cập. Mẹ chỉ biết phải bảo vệ Hài Nhi. Mẹ không biết toàn bộ kế hoạch khi đứng dưới Thánh Giá. Mẹ chỉ biết mình phải ở bên Con. Có lẽ đó là cách Chúa dẫn chúng ta: hiếm khi Người trao bản đồ cả đời. Người cho đủ ánh sáng cho bước kế tiếp. Ta cứ muốn biết mười năm nữa sẽ thế nào. Chúa nói: hãy trung tín hôm nay. Ta muốn biết đau khổ này bao giờ hết. Chúa nói: hôm nay Ta ở với con. Ta muốn được bảo đảm mọi chuyện sẽ xảy ra theo ý mình. Chúa nói: hãy để Ta là sự bảo đảm của con. Đức tin không phải sở hữu tương lai; đức tin là trao tương lai cho Thiên Chúa.
Và có lẽ đây là điều sâu nhất Đức Maria dạy dưới chân Thánh Giá: Thiên Chúa đáng tin ngay cả khi đường lối của Người không thể hiểu. Nếu chỉ tin khi hiểu, đó chưa hẳn là đức tin; đó có thể chỉ là sự đồng ý của lý trí. Đức tin bắt đầu trở nên tinh ròng khi lý trí đã đi tới giới hạn mà trái tim vẫn thưa: “Con thuộc về Chúa.” Abraham đã lên núi Moria trong bóng tối của một lời hứa dường như tự mâu thuẫn. Gióp đã nói giữa mất mát. Các thánh đã đi qua những đêm dài. Nhưng nơi Đức Maria, đức tin ấy có một vẻ đẹp đặc biệt vì Mẹ đứng trước chính Thánh Giá của Con mình. Tiếng “xin vâng” ở Nazareth dễ nghe hơn tiếng “xin vâng” không lời ở Canvê. Nhưng chính Canvê chứng minh Nazareth không phải là một phút cảm xúc. Đó là giao ước của cả đời.
Ngày nay, có lẽ chúng ta cần học lại chữ “đứng”. Đứng trước Chúa khi cầu nguyện khô khan. Đứng với Hội Thánh khi Hội Thánh đi qua khủng hoảng, không phải bằng sự mù quáng nhưng bằng một tình yêu muốn thanh luyện và xây dựng. Đứng bên người thân khi họ yếu đuối. Đứng về phía sự thật khi nói thật phải trả giá. Đứng bên người nghèo khi chẳng có lợi gì. Đứng với một lời cam kết khi cảm xúc đã qua. Đứng trước những hậu quả của chính lỗi lầm mình để sám hối thay vì chạy trốn. Đứng bên Thánh Giá khi thế gian cười nhạo Thánh Giá. Một đức tin không biết đứng sẽ rất dễ bị cuốn theo gió.
Nhưng đứng không có nghĩa là cứng. Đức Maria đứng mà trái tim tan nát. Sức mạnh của Mẹ không phải là vô cảm; đó là sức mạnh của tình yêu. Người mạnh không phải người không khóc. Người mạnh là người có thể khóc mà vẫn yêu. Không phải người không sợ, mà người sợ nhưng vẫn trung thành. Không phải người không có câu hỏi, mà người mang câu hỏi vào cầu nguyện thay vì biến câu hỏi thành cái cớ để bỏ đi. Đừng xấu hổ vì nước mắt. Đừng nghĩ buồn là thiếu đức tin. Có những giọt nước mắt rất thánh. Có những tiếng nức nở chính là kinh nguyện. Đức Maria hiểu thứ ngôn ngữ ấy.
Và khi giờ cuối của đời chúng ta đến, có lẽ chúng ta cũng chẳng còn cần những lý luận dài. Những gì ta sở hữu sẽ ở lại. Những thành công sẽ lùi xa. Những tranh cãi từng làm ta mất ngủ hóa ra chẳng còn quan trọng. Cuối cùng chỉ còn câu hỏi: tôi có dám trao mình vào tay Chúa không? Khi ấy hãy xin Đức Maria đứng bên giường mình như Mẹ đã đứng bên Thánh Giá của Chúa Giêsu. Xin Mẹ dạy ta lời cuối cùng của đức tin: phó thác. Nếu đã tập đứng với Mẹ trong những thập giá nhỏ của cuộc đời, có lẽ ta sẽ biết cách đứng trong giờ thập giá cuối cùng.
Đức Maria dưới chân Thánh Giá không cho chúng ta một phương pháp để tránh đau khổ. Mẹ cho chúng ta một con đường để đi qua đau khổ mà không đánh mất Thiên Chúa, không đánh mất chính mình và không đánh mất khả năng yêu thương. Mẹ không hứa đêm tối sẽ ngắn. Mẹ cho ta biết đêm tối không vĩnh viễn. Mẹ không giải thích tại sao có Thứ Sáu Tuần Thánh. Mẹ chỉ tay về Chúa Nhật Phục Sinh bằng chính sự trung tín của mình. Mẹ không lấy Thánh Giá khỏi đời ta, nhưng Mẹ đứng bên ta dưới chân Thánh Giá.
Vậy nên, khi đời sáng, hãy cảm tạ Chúa. Khi đời tối, hãy nhớ Đức Maria. Khi hiểu, hãy tin. Khi không hiểu, càng hãy tin. Khi được an ủi, hãy yêu Chúa. Khi mọi an ủi bị lấy đi, hãy yêu Chúa vì chính Người. Khi mọi con đường dường như khép lại, hãy đứng. Khi trái tim bị lưỡi gươm đâm qua, hãy đứng. Khi lời hứa dường như chết trên cây gỗ, hãy đứng. Khi thiên hạ bỏ đi, hãy đứng. Khi chẳng còn gì để nói, hãy đứng. Không phải bằng sức riêng, nhưng đứng bên Mẹ, đứng trong ân sủng, đứng dưới bóng Thánh Giá, đứng cho tới bình minh.
Bởi vì có những đêm Thiên Chúa không cho ta ánh sáng để nhìn đường xa; Người chỉ cho ta một bàn tay để nắm. Có những lúc Người không trả lời câu hỏi “tại sao”, nhưng Người trả lời bằng sự hiện diện: “Ta ở đây.” Và có những khi Chúa để lại bên cạnh ta một người Mẹ. Một người Mẹ đã từng đứng trong bóng tối. Một người Mẹ biết thế nào là tin khi không còn thấy gì. Một người Mẹ biết thế nào là yêu khi trái tim bị đâm thâu. Một người Mẹ biết rằng sau cây Thánh Giá là ngôi mộ, nhưng sau ngôi mộ là bình minh.
Lạy Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu và Mẹ của chúng con, xin dạy chúng con biết đứng. Khi chúng con không hiểu đường lối Chúa, xin cho chúng con đừng vội bỏ đi. Khi lời cầu nguyện dường như rơi vào im lặng, xin giúp chúng con tiếp tục cầu nguyện. Khi những gì chúng con yêu quý bị lấy khỏi tay, xin dạy chúng con mở bàn tay thay vì khép trái tim. Khi đau khổ đến, xin đừng để đau khổ biến chúng con thành những con người cay đắng. Khi bóng tối bao phủ, xin cho chúng con nhớ rằng bóng tối không thể dập tắt ánh sáng của Thiên Chúa. Khi Thứ Sáu Tuần Thánh của đời mình kéo dài, xin giữ trong lòng chúng con niềm hy vọng của sáng Phục Sinh. Và khi chẳng còn đủ sức để nói một lời nào, xin cho chúng con được đứng bên Mẹ, dưới chân Thánh Giá của Con Mẹ, để học lại bài học cuối cùng và cũng là bài học lớn nhất của đức tin: không phải hiểu hết rồi mới tin, nhưng vì biết mình được Thiên Chúa yêu nên dám phó thác ngay cả khi chưa hiểu gì.
Dưới chân Thánh Giá, Đức Maria không làm một phép lạ nào. Mẹ chỉ đứng. Nhưng đôi khi, đứng lại với Chúa trong bóng tối đã là một phép lạ rất lớn rồi.
Lm. Anmai, CSsR

TRÁI TIM ĐỨC MẸ BỊ ĐÂM THÂU – THAM DỰ VÀO THÁNH GIÁ CỦA CON
Có những vết thương nằm trên thân xác, người ta có thể nhìn thấy, có thể băng bó, có thể đo được chiều dài và chiều sâu. Nhưng cũng có những vết thương không một máy móc nào chụp được, không một bàn tay nào sờ tới được, không một thứ thuốc nào trên trần gian chữa lành ngay được, bởi nó nằm tận đáy trái tim. Vết thương ấy không chảy máu ra ngoài nhưng có thể làm cả một đời người rỉ máu bên trong. Người mẹ mất con hiểu điều đó. Người cha nhìn đứa con mình yêu thương đi vào đau khổ hiểu điều đó. Người đã từng đứng bất lực trước giường bệnh của người thân hiểu điều đó. Và có lẽ không ai trên trần gian đã đi vào chiều sâu của thứ đau đớn ấy như Đức Maria, người Mẹ đã đứng dưới chân Thánh Giá nhìn Con mình hấp hối. Trên đồi Canvê, thân xác Chúa Giêsu bị đóng đinh, nhưng trái tim Đức Maria cũng bị đóng đinh. Tay Chúa bị đinh xuyên qua, nhưng tâm hồn Mẹ bị một lưỡi gươm vô hình xuyên thấu. Máu Chúa Giêsu chảy từ những vết thương trên thân thể, còn nước mắt của Mẹ chảy từ một trái tim tan nát. Vì thế, khi chiêm ngắm Thánh Giá, người Kitô hữu không thể chỉ nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh mà quên người Mẹ đang đứng phía dưới. Bởi ngay dưới Thánh Giá ấy có một Thánh Giá khác không bằng gỗ, không có đinh sắt, không có bản án của Philatô, nhưng cũng thật đến xé lòng: Thánh Giá trong trái tim của một người Mẹ.
Tin Mừng Gioan ghi lại một trong những khung cảnh cảm động nhất của toàn bộ Kinh Thánh: “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,25-27). Thánh Gioan chỉ dùng một chữ rất đơn sơ: “đứng”. Đức Maria “đứng” dưới chân Thánh Giá. Tin Mừng không nói Mẹ gào khóc, không nói Mẹ ngất xỉu, không nói Mẹ trách móc Thiên Chúa, cũng không kể Mẹ nói một lời nào. Chỉ một chữ thôi: Mẹ đứng. Nhưng có lẽ không một bài giảng nào nói hết được chiều sâu của chữ “đứng” ấy. Đó không phải là tư thế của một người không đau. Đó là tư thế của một người đau đến tận cùng nhưng vẫn còn tin. Đó không phải là sự lạnh lùng của một trái tim không cảm xúc. Đó là sức mạnh kỳ lạ của một trái tim đã trao toàn bộ đời mình cho Thiên Chúa. Đức Maria đứng bởi vì Mẹ không chạy trốn. Mẹ đứng bởi vì Mẹ không bỏ Con. Mẹ đứng bởi vì dù không hiểu hết những gì đang xảy ra, Mẹ vẫn tin rằng Thiên Chúa không thể phản bội lời Người đã hứa. Đức tin của Mẹ lúc ấy không còn là tiếng hát Magnificat trong ngôi nhà của bà Êlisabét; đức tin ấy đã bước vào đêm tối. Đức tin của Mẹ không còn được nâng đỡ bởi những phép lạ, bởi tiếng thiên thần, bởi lời chúc tụng của mục đồng hay ba nhà đạo sĩ; đức tin ấy bây giờ chỉ còn một Thánh Giá trước mặt, một người Con bị nghiền nát, một bầu trời tối sầm, và sự im lặng đáng sợ của Thiên Chúa. Vậy mà Mẹ vẫn đứng.
Muốn hiểu lưỡi gươm trên Canvê, phải trở lại ngôi Đền Thờ Giêrusalem nhiều năm trước đó. Khi Hài Nhi Giêsu mới được bốn mươi ngày tuổi, Đức Maria và thánh Giuse đem Người lên Đền Thờ dâng cho Thiên Chúa. Một cụ già tên là Simêon đã bồng Hài Nhi trên tay, chúc tụng Thiên Chúa rồi quay sang nói với Đức Maria những lời mà có lẽ suốt đời Mẹ không thể quên: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng; còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà, ngõ hầu những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người phải lộ ra” (Lc 2,34-35). Ngày ấy Mẹ nghe lời tiên báo mà chưa biết lưỡi gươm sẽ sắc đến mức nào. Ba mươi mấy năm sau, trên Canvê, Mẹ hiểu. Lưỡi gươm không phải một thanh kiếm vật chất. Lưỡi gươm chính là việc nhìn thấy Đấng Mẹ đã cưu mang bị con người chối bỏ. Lưỡi gươm là nhìn khuôn mặt mà Mẹ từng âu yếm hôn khi Người còn thơ bé nay đầy máu và nước bọt. Lưỡi gươm là nhìn đôi tay từng nắm lấy tay Mẹ ở Nadarét giờ đây bị đinh đóng xuyên qua. Lưỡi gươm là nhìn đôi chân từng bước bên Mẹ trên những con đường làng quê giờ không còn bước được nữa. Lưỡi gươm là nghe đám đông chế nhạo Con mình. Lưỡi gươm là biết Con vô tội mà không thể làm gì để cứu Con khỏi cái chết. Lưỡi gươm là bất lực. Và có lẽ trong mọi nỗi đau của con người, cảm giác bất lực là một trong những điều đau đớn nhất.
Ta thử hình dung trái tim một người mẹ khi nhìn con mình đau. Chỉ một cơn sốt của con cũng đủ khiến mẹ mất ngủ. Một vết thương nhỏ trên thân thể con cũng làm mẹ xót xa. Một tiếng khóc của con cũng khiến lòng mẹ bồn chồn. Vậy trái tim Đức Maria phải thế nào khi đứng nhìn toàn thân Con mình chỉ còn là một vết thương? Mẹ từng tắm cho Con thuở bé, giờ nhìn thân thể ấy bị lột trần. Mẹ từng quấn Con trong khăn, giờ nhìn Con bị đóng trên gỗ. Mẹ từng bế Con vào lòng, giờ ngay cả việc chạm đến Con Mẹ cũng không thể. Mẹ từng nghe tiếng Con gọi “Mẹ”, giờ nghe Người nói trong hơi thở cuối cùng. Mẹ từng nhìn Con ngủ bình an trên tay mình tại Bêlem, giờ nhìn đầu Con cúi xuống trong cái chết. Không ai phải giải thích Thánh Giá cho Đức Maria. Mẹ hiểu Thánh Giá bằng chính trái tim của mình.
Nhưng đau khổ của Đức Maria còn sâu hơn đau khổ tự nhiên của một người mẹ mất con, bởi Người Con trên Thánh Giá không chỉ là con của Mẹ mà còn là Đấng Mẹ đã tin là Con Đấng Tối Cao. Khi sứ thần Gabriel đến Nadarét, Mẹ đã nghe: “Người sẽ nên cao cả và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao… Triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận” (x. Lc 1,32-33). Vậy mà giờ đây “Con Đấng Tối Cao” lại treo giữa hai tên gian phi. Đấng được hứa sẽ ngự trên ngai Đavít lại bị đội mão gai. Đấng có vương quốc vô tận lại bị kết án như một kẻ thất bại. Thiên thần đã nói Người là Con Thiên Chúa, nhưng trên đồi Canvê, người ta lại hét lên: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá!” Bao nhiêu câu hỏi có thể đã đi qua tâm hồn Mẹ. Lời Thiên Chúa hứa đâu rồi? Vương quốc đâu rồi? Thiên thần Gabriel đâu rồi? Những lời mục đồng năm xưa đâu rồi? Ánh sao Bêlem đâu rồi? Những phép lạ tại Cana, những người được chữa lành, những đám đông từng tung hô “Hosanna” giờ ở đâu? Mọi dấu chỉ dường như biến mất. Chỉ còn Thánh Giá.
Đó chính là nơi đức tin của Đức Maria đạt đến sự trưởng thành tuyệt đối. Tin khi thấy phép lạ chưa phải là điều khó nhất. Tin khi lời cầu nguyện được nhận lời chưa phải là đỉnh cao của đức tin. Tin khi đời bình an, con cái khỏe mạnh, công việc thuận lợi, cộng đoàn yêu thương, mọi sự đúng ý mình, điều đó quý nhưng chưa đủ. Có một đức tin sâu hơn: vẫn tin khi chẳng còn thấy gì để dựa vào. Đức Maria đã tin như thế. Mẹ tin Thiên Chúa ngay khi mọi sự bên ngoài dường như phủ nhận Thiên Chúa. Mẹ tin lời hứa khi tất cả những gì mắt thấy dường như nói rằng lời hứa ấy đã thất bại. Mẹ không hiểu, nhưng Mẹ không bỏ đi. Và đôi khi đức tin lớn nhất của đời người chỉ đơn giản là điều ấy: không bỏ đi.
Ta thường nghĩ đức tin phải luôn có câu trả lời. Thật ra có những lúc đức tin chỉ là khả năng đứng lại trước một câu hỏi chưa có câu trả lời. Ta thường nghĩ người tin Chúa sẽ không bao giờ hoang mang. Không đúng. Người tin Chúa vẫn có thể hoang mang, đau đớn, khóc lóc, thậm chí cảm thấy bóng tối bao phủ. Điều khác biệt là họ không quay lưng với Chúa. Đức Maria không được giải thích trước về sáng Phục Sinh. Không ai đứng dưới Canvê thì thầm vào tai Mẹ rằng: “Mẹ đừng buồn, ba ngày nữa Con Mẹ sẽ sống lại.” Mẹ phải sống trọn từng phút của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh như nó là: một mất mát thật, một cái chết thật, một nỗi đau thật. Nhưng trong bóng tối ấy Mẹ vẫn ở lại với Thiên Chúa.
Đây là điều vô cùng quan trọng cho đời sống của chúng ta. Có những lúc Chúa không cất Thánh Giá khỏi đời ta. Người chỉ ban cho ta sức để đứng dưới Thánh Giá ấy. Có những bệnh không được chữa như ta mong. Có những người thân ra đi dù ta cầu nguyện rất nhiều. Có những gia đình tan vỡ dù người ta đã cố gắng. Có những ơn gọi bước qua sa mạc. Có những người sống ngay lành nhưng vẫn bị hiểu lầm. Có những lời cầu nguyện kéo dài mười năm, hai mươi năm mà dường như trời vẫn im lặng. Lúc ấy ta thường hỏi: “Chúa ở đâu?” Có lẽ Đức Maria không cho ta một công thức trả lời, nhưng Mẹ cho ta một tư thế: hãy đứng dưới chân Thánh Giá. Đừng bỏ chạy. Đừng tuyệt vọng. Đừng vội kết luận rằng Thiên Chúa đã quên mình. Thứ Sáu Tuần Thánh không phải chương cuối cùng của Tin Mừng.
Điều làm trái tim Đức Maria lớn lao không chỉ là Mẹ chịu đau khổ, bởi trên đời có rất nhiều người đau khổ. Điều làm Mẹ trở thành Mẹ của Đấng Cứu Chuộc là Mẹ biến đau khổ thành sự hiệp thông với Con. Có đau khổ khiến người ta khép lòng, cay đắng, oán hận. Nhưng cũng có đau khổ, khi được sống trong tình yêu và đức tin, làm trái tim người ta rộng ra. Đức Maria không biến nỗi đau của mình thành hận thù đối với những kẻ đóng đinh Con. Mẹ không đứng dưới Thánh Giá để nguyền rủa quân lính, thượng tế hay Philatô. Điều kỳ lạ là trên Canvê, trong khi Đức Giêsu cầu xin: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”, không có một câu nào cho thấy Đức Maria chống lại lời cầu ấy. Mẹ ở đó, hoàn toàn kết hợp với Con. Trái tim Con mở ra để tha thứ; trái tim Mẹ cũng phải mở ra trong cùng một chuyển động của tình yêu ấy. Đó mới là lưỡi gươm sâu nhất: không chỉ chịu đau vì kẻ khác, mà còn phải tiếp tục yêu chính những người đã làm mình đau.
Ta nói yêu kẻ thù rất dễ khi chưa bị ai làm tổn thương sâu. Ta nói tha thứ rất đẹp khi vết thương chưa chạm đến nơi nhạy cảm nhất trong lòng mình. Nhưng hãy thử tha thứ cho người làm hại con mình, người bôi nhọ gia đình mình, người phản bội niềm tin của mình, người làm tan vỡ điều ta quý nhất. Khi ấy ta mới biết Tin Mừng khó đến mức nào. Đức Maria đứng dưới Thánh Giá và Mẹ đã sống Tin Mừng trước khi Hội Thánh giảng Tin Mừng. Mẹ sống lời Con mình bằng chính vết thương của mình.
Thánh Giá của Đức Kitô và lưỡi gươm trong trái tim Đức Maria không phải là hai biến cố tách biệt. Đó là một sự hiệp thông trong tình yêu cứu độ, dù cần luôn phân biệt rõ: chỉ Đức Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất. Máu Đức Maria không đổ trên Canvê để cứu chuộc thế gian. Chỉ máu Đức Kitô mới là giá cứu chuộc. Chỉ hy lễ của Con Thiên Chúa mới giao hòa nhân loại với Chúa Cha. Nhưng Đức Maria đã được Thiên Chúa cho tham dự vào mầu nhiệm ấy một cách độc đáo: không thay thế Con, không đứng ngang hàng với Con, nhưng hoàn toàn kết hợp với Con. Mẹ đã trao cho Con xác thịt để Người bước vào thế gian; giờ Mẹ trao cả trái tim mình để đồng hành với Người đến tận cùng con đường cứu độ.
Ngày Truyền Tin, Đức Maria nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Nhiều người nghĩ lời “xin vâng” ấy chỉ xảy ra một lần ở Nadarét. Không. Lời xin vâng của Đức Maria kéo dài cả đời. Xin vâng tại Bêlem khi không có chỗ trong quán trọ. Xin vâng trên đường trốn sang Ai Cập giữa đêm khuya. Xin vâng trong ba mươi năm âm thầm ở Nadarét. Xin vâng khi Con rời mái nhà để lên đường rao giảng. Xin vâng khi người ta hiểu lầm Người. Xin vâng khi các môn đệ bỏ chạy. Và lời xin vâng ấy đạt đến tận cùng dưới chân Thánh Giá. Có lẽ trên Canvê Đức Maria không nói thành lời, nhưng sự hiện diện của Mẹ chính là một lời xin vâng khổng lồ: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con vẫn thuộc về Chúa. Con đau đến nát lòng, nhưng con vẫn tin. Con không giữ Con của con lại cho riêng mình. Xin ý Chúa được nên trọn.”
Đó cũng là điều Chúa đòi hỏi nơi mỗi người chúng ta. Lời xin vâng với Chúa không phải chỉ là một cảm xúc sốt sắng trong ngày khấn dòng, ngày chịu chức, ngày cưới, ngày lãnh nhận một sứ vụ hay một buổi tĩnh tâm. Lời xin vâng thật phải được lặp lại trong những ngày không còn cảm xúc. Người linh mục nói lời xin vâng ngày chịu chức, nhưng phải tiếp tục nói xin vâng khi cô đơn, khi bị hiểu lầm, khi công việc mục vụ không sinh kết quả như mong đợi, khi tuổi già đến, khi sức khỏe giảm sút. Người tu sĩ nói xin vâng ngày tuyên khấn, nhưng phải tiếp tục nói xin vâng trong những va chạm cộng đoàn, những khô khan cầu nguyện, những lúc thấy mình bé nhỏ và bất lực. Người vợ, người chồng nói xin vâng ngày thành hôn, nhưng lời xin vâng ấy còn phải được nói lại trong bệnh tật, khủng hoảng, thiếu thốn, khác biệt và tha thứ. Cha mẹ nói xin vâng với sự sống khi sinh con, nhưng rồi còn phải xin vâng khi đứa con ấy không trở thành điều mình mong đợi. Xin vâng dễ nhất khi hoa còn nở. Xin vâng thật được thử trong ngày gai nhọn đâm vào tim.
Trên Canvê, Đức Maria cũng phải trải qua một sự từ bỏ vô cùng sâu sắc: từ bỏ quyền sở hữu đối với chính Con mình. Mẹ đã cưu mang Người, nuôi Người, sống với Người hơn ba mươi năm. Vậy mà giờ đây, từ trên Thánh Giá, Đức Giêsu nói: “Thưa Bà, đây là con của Bà”, và trao Gioan cho Mẹ. Nỗi đau của Mẹ chưa đủ sao? Người còn trao cho Mẹ một người con khác. Nhưng trong người môn đệ ấy có cả nhân loại. Truyền thống Hội Thánh từ lâu đã nhìn thấy nơi Gioan hình ảnh của mọi môn đệ Đức Kitô. Khi nói “Đây là mẹ của anh”, Đức Giêsu không chỉ giải quyết chuyện ai sẽ chăm sóc Đức Maria sau khi Người chết. Nếu chỉ là chuyện gia đình, Tin Mừng Gioan không cần đặt nó giữa những lời cuối cùng của Đấng Cứu Thế. Đây là một hành vi mang ý nghĩa cứu độ: ngay khi sinh ra Hội Thánh từ cạnh sườn bị đâm thâu, Đức Kitô trao Mẹ Người cho Hội Thánh và trao Hội Thánh cho Mẹ.
Thật lạ lùng: chính khi mất Con, Đức Maria trở thành Mẹ của muôn người. Chính trong nỗi đau lớn nhất, trái tim Mẹ được mở rộng lớn nhất. Lưỡi gươm không phá hủy trái tim Mẹ; nó mở trái tim ấy ra. Đây là logic của Thánh Giá. Hạt lúa phải chết đi mới sinh nhiều bông hạt. Trái tim phải bị đâm thâu mới có thể trở nên nơi trú ẩn cho nhiều người. Điều ấy cũng có thể xảy ra trong đời ta. Những vết thương của ta, nếu được đặt vào tay Chúa, có thể trở thành nơi ta hiểu và yêu người khác sâu sắc hơn. Người từng mất con có thể hiểu nỗi đau của một bà mẹ mất con. Người từng thất bại có thể nâng người thất bại bằng một sự cảm thông mà sách vở không dạy được. Người từng bị phản bội nhưng đã đi qua con đường tha thứ có thể giúp người khác ra khỏi hận thù. Người từng cô đơn có thể nhận ra những người cô đơn giữa đám đông. Chúa không yêu thích đau khổ, nhưng Người có thể làm cho chính nơi bị thương của chúng ta trở thành nguồn an ủi cho người khác.
Vì thế, đừng quá xấu hổ về những vết thương của đời mình. Đừng nghĩ rằng chỉ những người chưa từng đổ vỡ mới có thể được Chúa dùng. Có khi chính chỗ ta đã khóc nhiều nhất lại trở thành nơi ta có thể yêu người khác nhiều nhất. Đức Maria trở thành Mẹ Sầu Bi không phải để chúng ta ngắm một người phụ nữ buồn bã, nhưng để ta hiểu rằng đau khổ, khi kết hợp với Thánh Giá Chúa Kitô, không nhất thiết làm con người nhỏ lại; nó có thể làm trái tim lớn lên.
Trong truyền thống Kitô giáo, người ta thường suy niệm Bảy Sự Thương Khó của Đức Mẹ: lời tiên báo của ông Simêon, trốn sang Ai Cập, lạc mất Chúa Giêsu ba ngày, gặp Con vác Thánh Giá, đứng dưới chân Thánh Giá, ôm xác Con trong lòng và táng xác Con trong mồ. Những biến cố ấy cho thấy Mẹ không chỉ chịu một cú đau duy nhất. Đời Mẹ có cả một chuỗi những lần phải buông bỏ. Có lẽ đó là điều làm cuộc đời con người mỏi mệt nhất. Nhiều khi ta có thể chịu nổi một biến cố lớn, nhưng ta kiệt sức vì những vết đau nhỏ nối tiếp nhau. Một thất vọng rồi một bệnh tật, một hiểu lầm rồi một mất mát, một khó khăn trong gia đình rồi một gánh nặng khác xuất hiện. Ta hỏi: “Bao giờ mới hết?” Đức Maria hiểu câu hỏi ấy. Từ lời tiên báo của Simêon đến ngôi mộ chiều Thứ Sáu, Mẹ đã sống một hành trình dài của việc hiến dâng.
Nhưng giữa mọi đau khổ ấy, Đức Maria không bao giờ để nỗi đau biến thành căn tính cuối cùng của mình. Mẹ Sầu Bi không phải là Mẹ tuyệt vọng. Đây là điều phải nhấn mạnh. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Thánh Giá không phải là việc lãng mạn hóa sự đau đớn. Người Kitô hữu không tìm đau khổ vì đau khổ. Đức Giêsu trong vườn Ghếtsêmani đã cầu xin: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Đau khổ tự nó không phải điều tốt. Điều cứu độ nằm ở tình yêu mà Đức Kitô sống giữa đau khổ. Đức Maria cũng vậy. Hội Thánh không ca ngợi nước mắt của Mẹ chỉ vì đó là nước mắt; Hội Thánh chiêm ngắm tình yêu, đức tin và niềm hy vọng không bị hủy diệt bên trong những giọt nước mắt ấy.
Ngày nay có một nguy cơ tinh tế là người ta có thể dùng lời đạo đức để bắt người đau khổ phải im lặng: “Đó là Thánh Giá Chúa gửi, cứ chịu đi.” Không phải mọi Thánh Giá đều do Chúa gửi. Có những thập giá do tội lỗi của con người tạo nên: bạo lực, bất công, lạm dụng, ích kỷ, phản bội, chiến tranh, nghèo đói do tham lam. Đứng dưới Thánh Giá với Đức Maria không có nghĩa là thụ động chấp nhận điều ác. Chính Thánh Giá Đức Kitô là lời tố cáo mạnh mẽ nhất đối với tội lỗi và bạo lực của con người. Nhưng ngay khi con người gây nên cái ác, Thiên Chúa vẫn có khả năng đi vào đó và biến nơi của cái chết thành nơi phát sinh sự sống. Đó là điều xảy ra trên Canvê.
Có lẽ một trong những hình ảnh xúc động nhất của nghệ thuật Kitô giáo là Pietà: Đức Maria ôm xác Đức Giêsu sau khi Người được hạ xuống khỏi Thánh Giá. Người Con ngày xưa từng nằm gọn trong vòng tay Mẹ ở Bêlem, giờ cũng nằm trong vòng tay ấy, nhưng đã chết. Bêlem và Canvê như chạm vào nhau. Ngày xưa Mẹ bọc Con trong khăn; hôm nay người ta chuẩn bị bọc Người trong khăn liệm. Ngày xưa Mẹ đặt Con trong máng cỏ; hôm nay Mẹ phải trao Người cho ngôi mộ. Ngày xưa thiên thần hát: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời”; chiều Canvê chỉ còn một sự im lặng khủng khiếp. Nhưng có một điều không thay đổi: Mẹ vẫn ôm Con.
Đó là một hình ảnh tuyệt đẹp cho đức tin. Đức tin không phải chỉ ôm lấy Chúa khi Chúa ban phép lạ. Đức tin còn là ôm lấy một Thiên Chúa dường như im lặng. Đức tin là ôm lấy lời hứa của Chúa ngay cả khi mọi sự trông như đã chết. Có những thời điểm trong đời sống thiêng liêng, ta cảm thấy mình đang ôm một “Thiên Chúa đã chết”: cầu nguyện không còn cảm xúc, Thánh Lễ không còn sốt sắng, Lời Chúa dường như khô khan, sứ vụ chẳng có hoa trái, đời sống trở nên đơn điệu. Ta dễ nghĩ rằng Chúa đã bỏ mình. Đức Maria dạy ta: cứ ôm lấy Chúa. Có thể sáng Phục Sinh gần hơn ta tưởng.
Và rồi Mẹ phải làm điều đau đớn cuối cùng: trao xác Con cho ngôi mộ. Có một thời điểm trong mọi đau khổ mà ta không còn có thể giữ điều mình yêu. Ta phải buông. Có người phải buông một người thân trong cái chết. Có người phải buông một giấc mơ. Có người phải buông tuổi trẻ. Có người phải buông sức khỏe. Có người phải buông một vị trí, một trách nhiệm, một nơi chốn mình gắn bó. Có người phải buông hình ảnh về chính mình mà mình từng gìn giữ. Đức Maria hiểu sự buông ấy. Mẹ đứng trước ngôi mộ và để tảng đá được lăn lại.
Nhưng buông trong đức tin không giống buông trong tuyệt vọng. Tuyệt vọng nói: “Mất rồi, hết rồi.” Đức tin nói: “Con trao lại cho Chúa điều con không còn giữ được.” Giữa hai câu ấy là cả một vực sâu. Khi ta đặt người thân vào lòng đất và nói “Con trao người này cho Chúa”, đó không phải là phủ nhận nước mắt. Đó là để nước mắt có một hướng đi. Khi ta nói “Con không thể giữ được nữa, con giao cho Chúa”, ta đang bước vào kinh nghiệm của Đức Maria.
Và hãy nhớ rằng câu chuyện của Đức Maria không kết thúc trước ngôi mộ. Mẹ sẽ ở giữa cộng đoàn các môn đệ. Sách Công vụ cho thấy sau khi Đức Giêsu lên trời, các Tông đồ “đồng tâm nhất trí chuyên cần cầu nguyện, cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria thân mẫu Đức Giêsu” (Cv 1,14). Người Mẹ đã đứng dưới Thánh Giá giờ đứng giữa Hội Thánh đang chờ Chúa Thánh Thần. Mẹ của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh trở thành Mẹ của ngày Hiện Xuống. Nước mắt không có tiếng nói cuối cùng. Thánh Giá không có tiếng nói cuối cùng. Ngôi mộ không có tiếng nói cuối cùng. Thiên Chúa có tiếng nói cuối cùng.
Đó là lý do người Kitô hữu có thể khóc nhưng không tuyệt vọng. Đức tin không cấm nước mắt. Chúa Giêsu đã khóc trước mộ Ladarô. Đức Maria chắc chắn đã khóc. Nước mắt không phải bằng chứng của thiếu đức tin. Có khi nước mắt là một hình thức cầu nguyện sâu nhất khi ta không còn lời nào để nói. Có những người tự trách mình: “Tôi tin Chúa mà sao tôi đau quá?” Tin Chúa không làm trái tim thành đá. Ngược lại, càng yêu nhiều càng đau nhiều khi mất. Đức Maria là người “đầy ơn phúc” mà cũng là người có trái tim bị lưỡi gươm đâm thâu. Ơn Chúa không luôn cất nỗi đau khỏi đời ta; nhiều khi ơn Chúa giúp ta đi xuyên qua nỗi đau mà không để nỗi đau phá hủy con người mình.
Đứng dưới chân Thánh Giá cùng Đức Maria, ta còn học được một điều rất cần cho đời sống hôm nay: đôi khi yêu một người không phải là giải quyết được vấn đề của họ, mà chỉ đơn giản là ở lại với họ. Đức Maria không tháo được đinh khỏi tay Chúa Giêsu. Mẹ không thuyết phục được Philatô đổi bản án. Mẹ không làm đám đông im tiếng. Mẹ không thể cất đau đớn của Con. Nhưng Mẹ có thể làm một điều: Mẹ ở đó. Và có những lúc sự hiện diện ấy quý hơn mọi lời nói.
Ta thường quá vội nói với người đau khổ. Ta muốn tìm một câu Kinh Thánh, một lời khuyên, một giải thích thần học để làm họ hết buồn. Nhưng nhiều nỗi đau không cần lời giải thích; nó cần một người ngồi cạnh. Người vừa mất con không cần nghe một bài giảng dài về ý Chúa ngay trong phút đầu. Người vừa nhận tin bệnh nặng không cần ai nhanh chóng nói “hãy vui lên”. Người bị phản bội không cần nghe “thôi quên đi”. Họ cần một người dám ở lại trong vùng tối với họ. Đức Maria đã làm điều đó với Chúa Giêsu. Mẹ không nói gì. Mẹ đứng đó.
Nếu mỗi gia đình biết “đứng dưới Thánh Giá” của nhau như Đức Maria, bao nhiêu người sẽ bớt cô đơn. Khi chồng thất bại, người vợ đừng chỉ trách; hãy đứng bên. Khi vợ mệt mỏi, người chồng đừng chỉ phán xét; hãy đứng bên. Khi con cái lầm đường, cha mẹ không dung túng điều sai nhưng cũng đừng vứt bỏ con; hãy đứng bên. Khi một linh mục mệt mỏi, cộng đoàn đừng chỉ đòi hỏi; hãy đứng bên. Khi một người anh em vấp ngã, đừng biến mạng xã hội thành pháp trường; hãy đứng bên, nói sự thật trong tình yêu và giúp họ đứng dậy. Hội Thánh đẹp nhất không phải khi Hội Thánh có câu trả lời cho mọi thứ, nhưng khi Hội Thánh dám đứng dưới những thập giá của con người như Đức Maria đứng dưới Thánh Giá Chúa.
Có lẽ điều đau nhất trong đời không phải là đau, mà là đau một mình. Chúa Giêsu trên Thánh Giá đã nếm sự cô đơn ấy đến tận cùng. Nhưng giữa lúc nhiều môn đệ chạy trốn, vẫn có Mẹ. Chỉ sự hiện diện của Đức Maria thôi đã là một lời: “Con không chết một mình. Mẹ ở đây.” Đây cũng phải là sứ mạng của mỗi Kitô hữu. Không phải lúc nào ta cũng chữa được bệnh cho người khác, nhưng ta có thể để họ không bệnh một mình. Ta không thể làm người chết sống lại, nhưng ta có thể để người đang chịu tang không khóc một mình. Ta không thể xóa mọi thất bại, nhưng có thể để người thất bại không bị bỏ rơi. Đó là lòng thương xót mang hình dáng của Đức Maria.
Khi Chúa Giêsu nói với Gioan: “Đây là mẹ của anh”, Người trao Đức Maria cho từng môn đệ. Điều ấy có nghĩa là trong những Thánh Giá của đời mình, ta có quyền gọi Mẹ. Không phải vì Mẹ thay thế Đức Kitô, nhưng vì Mẹ luôn dẫn ta tới Đức Kitô. Không ai hiểu Thánh Giá của Con bằng Mẹ. Không ai có thể dạy ta đứng dưới Thánh Giá bằng người đã đứng ở đó.
Có những lúc ta không biết cầu nguyện gì. Hãy nói rất đơn sơ: “Mẹ Maria, xin đứng với con.” Khi bước vào phòng bệnh: “Mẹ ơi, xin đứng với con.” Khi tiễn người thân lần cuối: “Mẹ ơi, xin đứng với con.” Khi bị hiểu lầm: “Mẹ ơi, xin đứng với con.” Khi thấy ơn gọi nặng nề: “Mẹ ơi, xin đứng với con.” Khi gia đình đi qua khủng hoảng: “Mẹ ơi, xin đứng với chúng con.” Khi không còn cảm thấy Chúa: “Mẹ ơi, xin dạy con đứng lại.” Một lời cầu đơn sơ như thế có thể chứa cả một nền thần học về hy vọng.
Nhưng Đức Maria không chỉ đứng với ta; Mẹ còn hỏi ta một câu rất âm thầm: “Con có dám đứng với những người đang chịu đóng đinh hôm nay không?” Bởi Thánh Giá không chỉ nằm trong nhà thờ. Thánh Giá đang ở bệnh viện, nơi những người bệnh chiến đấu từng hơi thở. Thánh Giá ở trong những gia đình có người nghiện ngập. Thánh Giá ở nơi những người già bị bỏ quên. Thánh Giá ở trong lòng một đứa trẻ thiếu tình thương. Thánh Giá ở nơi những người nghèo không biết ngày mai lấy gì nuôi con. Thánh Giá ở nơi những người mang bệnh mà không dám nói với ai. Thánh Giá ở trong một người đang cười trước mặt ta nhưng bên trong đã kiệt sức. Nếu chúng ta yêu Đức Mẹ mà không biết đứng bên những người bị đóng đinh của thời đại mình, lòng sùng kính của ta vẫn chưa đi đến chiều sâu của Tin Mừng.
Đức Maria dạy ta rằng tình yêu thật không bỏ đi khi người mình yêu trở nên “không còn ích lợi”. Lúc Chúa Giêsu làm phép lạ, đám đông theo Người. Khi Người hóa bánh ra nhiều, người ta muốn tôn Người làm vua. Khi Người chữa bệnh, hàng ngàn người tìm đến. Nhưng khi Người bị bắt, bị kết án và treo trên Thánh Giá, đám đông biến mất. Chỉ những người thật sự yêu mới còn ở lại. Thánh Giá luôn làm lộ ra phẩm chất của tình yêu. Ta yêu một người khi họ thành công thì dễ. Ta kính trọng một linh mục khi ngài nổi tiếng thì dễ. Ta yêu con cái khi chúng ngoan thì dễ. Ta yêu bạn bè khi họ giúp được ta thì dễ. Nhưng khi họ thất bại, bệnh tật, sa sút, già yếu, không còn gì để cho ta, ta có còn đứng lại không? Đức Maria đã đứng.
Mẹ cũng dạy chúng ta đừng chạy trốn Thánh Giá của chính mình. Con người hôm nay có rất nhiều phương tiện để trốn đau: lao vào công việc, giải trí không ngừng, mạng xã hội, mua sắm, tiếng ồn. Ta sợ ngồi một mình bởi trong im lặng, những vết thương lên tiếng. Nhưng Đức Maria không chạy khỏi Canvê. Có những nỗi đau chỉ được chữa khi ta dám đi xuyên qua nó với Chúa. Nỗi buồn bị chôn xuống không biến mất; nó chỉ đổi hình thức. Sự chữa lành Kitô giáo không phải quên điều đã xảy ra, nhưng cho phép Chúa đi vào ký ức ấy và biến nó thành nơi của ân sủng.
Lưỡi gươm đã đâm thâu trái tim Đức Maria, nhưng lưỡi gươm ấy không làm Mẹ mất khả năng yêu. Đây có lẽ là phép lạ lớn nhất nơi Mẹ. Nhiều khi vết thương làm ta trở nên cứng cỏi. Bị phản bội một lần, ta không dám tin ai nữa. Bị lợi dụng một lần, ta không muốn cho đi nữa. Bị xúc phạm, ta xây tường chung quanh lòng mình. Nhưng Đức Maria cho thấy một con đường khác: có thể bị thương mà không trở thành người gây thương tích; có thể đau mà không làm người khác đau; có thể mất mát mà không đánh mất lòng nhân hậu; có thể khóc mà vẫn yêu.
Đó là sự thánh thiện rất thật. Không phải là không có vết thương, nhưng là để Chúa biến vết thương thành cửa sổ cho ánh sáng đi qua. Chúa Giêsu Phục Sinh vẫn mang dấu đinh. Người không xóa chúng đi. Những vết thương được biến đổi thành dấu chỉ của tình yêu chiến thắng. Có lẽ một ngày kia, nhìn lại đời mình trong ánh sáng Thiên Chúa, ta cũng sẽ nhận ra rằng những nơi từng làm mình đau nhất, khi được trao cho Chúa, đã trở thành những nơi ta giống Đức Kitô hơn.
Hôm nay, nếu lòng ta đang mang một lưỡi gươm nào đó, hãy nhìn lên Đức Maria. Có thể đó là lưỡi gươm của bệnh tật, lưỡi gươm của mất mát, lưỡi gươm của một người con làm ta đau lòng, lưỡi gươm của gia đình rạn nứt, lưỡi gươm của một lời vu khống, lưỡi gươm của cô đơn, lưỡi gươm của tuổi già, lưỡi gươm của một ơn gọi đang đi qua đêm tối. Đừng vội hỏi: “Bao giờ lưỡi gươm này được lấy ra?” Hãy hỏi một câu khác sâu hơn: “Lạy Chúa, trong lưỡi gươm này, Chúa muốn làm trái tim con trở nên thế nào?”
Có những Thánh Giá không được cất đi ngay, nhưng người vác Thánh Giá được biến đổi. Có những vấn đề không được giải quyết theo cách ta mong, nhưng qua đó trái tim ta trở nên khiêm nhường hơn, dịu dàng hơn, cảm thông hơn. Có những mất mát không bao giờ được lấp đầy theo kiểu cũ, nhưng trong khoảng trống ấy Thiên Chúa mở ra một cách yêu mới. Đức Maria mất Con trên Canvê, nhưng chính tại đó Mẹ nhận cả nhân loại làm con.
Vậy nên, đừng sợ một trái tim bị thương nếu trái tim ấy nằm trong tay Thiên Chúa. Điều đáng sợ không phải là trái tim bị đâm thâu. Điều đáng sợ là trái tim đóng kín. Trái tim Đức Giêsu bị lưỡi đòng đâm mở ra và từ đó máu cùng nước chảy ra. Trái tim Đức Maria bị lưỡi gươm đâm thâu và từ đó một tình mẫu tử bao trùm Hội Thánh được mở ra. Hai trái tim ấy cho ta thấy bí mật của Tin Mừng: tình yêu không tự bảo vệ mình bằng cách đóng kín; tình yêu chấp nhận bị thương để có thể trao ban.
Cuối cùng, đứng trước Đức Maria dưới chân Thánh Giá, có lẽ ta không cần nói nhiều. Hãy im lặng nhìn Mẹ. Một người Mẹ, một người Con, một Thánh Giá. Mẹ không hiểu hết nhưng Mẹ ở lại. Mẹ không cứu Con khỏi cái chết nhưng Mẹ không để Con cô độc. Mẹ không nhìn thấy Phục Sinh nhưng Mẹ vẫn tin. Và có lẽ đó là tất cả những gì Thiên Chúa đang xin nơi ta trong những ngày tối nhất của đời mình: đừng bỏ đi.
Nếu hôm nay đời ta là Thứ Sáu Tuần Thánh, hãy nhớ vẫn có ngày Chúa Nhật Phục Sinh. Nếu hôm nay ta đang đứng trước một ngôi mộ đóng kín, hãy nhớ Thiên Chúa vẫn làm việc sau tảng đá. Nếu hôm nay trái tim ta bị đâm thâu, hãy nhớ rằng Đức Maria đã đi qua con đường ấy trước ta. Hãy nắm lấy tay Mẹ. Hãy đứng cạnh Mẹ. Hãy để Mẹ dẫn ta đến gần Thánh Giá hơn, không phải để chúng ta yêu đau khổ, nhưng để ta khám phá một Tình Yêu mạnh hơn đau khổ. Một Tình Yêu đã chịu đóng đinh nhưng không bị tiêu diệt. Một Tình Yêu bị chôn trong mồ nhưng đã sống lại. Một Tình Yêu có thể biến nước mắt thành hạt giống của hy vọng.
Lạy Đức Maria, Mẹ của Chúa Cứu Thế và Mẹ của chúng con, Mẹ đã đứng dưới chân Thánh Giá khi mọi ánh sáng dường như tắt. Mẹ đã nhìn Con yêu dấu chết trong đau đớn mà vẫn không thôi tin vào Thiên Chúa. Xin dạy chúng con biết đứng khi muốn chạy trốn, biết tin khi không hiểu, biết yêu khi bị tổn thương, biết tha thứ khi lòng còn đau, biết ở lại bên những người đang chịu Thánh Giá. Khi lưỡi gươm đi qua trái tim chúng con, xin đừng để chúng con trở nên cay đắng. Khi phải buông một điều rất quý, xin dạy chúng con biết trao nó vào tay Chúa. Khi đời chúng con bước vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, xin nhắc chúng con rằng câu chuyện chưa kết thúc. Và khi chúng con không còn đủ sức để cầu nguyện, xin Mẹ đứng bên, như ngày xưa Mẹ đã đứng bên Thánh Giá của Con Mẹ.
Bởi cuối cùng, người môn đệ không được hứa rằng đời mình sẽ không có Canvê. Người môn đệ chỉ được bảo đảm rằng tại Canvê ấy, mình sẽ không hoàn toàn đơn độc. Có Đức Kitô trên Thánh Giá. Có Đức Maria đứng bên dưới. Và giữa những giọt máu, những giọt nước mắt cùng sự im lặng tưởng như vô vọng ấy, Thiên Chúa đang âm thầm chuẩn bị một bình minh mà mắt con người chưa nhìn thấy.
Trái tim Đức Mẹ bị đâm thâu, nhưng không bị đánh bại. Trái tim ấy đau, nhưng vẫn yêu. Trái tim ấy mất Con, nhưng trở thành Mẹ của muôn người. Trái tim ấy đứng dưới Thánh Giá, để từ đó dẫn tất cả chúng ta đi qua Thánh Giá mà đến Phục Sinh.
Lm. Anmai, CSsR

“NÀY LÀ CON BÀ… NÀY LÀ MẸ CON” – HỘI THÁNH ĐƯỢC SINH RA TRONG GIỜ CỦA THÁNH GIÁ
Có những lời chỉ có thể được nói vào một giờ rất đặc biệt. Có những lời nếu nói trong bình an, giữa tiếng vỗ tay, giữa những ngày rực rỡ của thành công, người ta có thể nghe rồi quên; nhưng khi những lời ấy được nói giữa máu, giữa nước mắt, giữa hơi thở đứt quãng của một người sắp chết, thì mỗi chữ mang một sức nặng khác hẳn. Trên đồi Canvê, giữa lúc tất cả dường như đã kết thúc, Chúa Giêsu lại nói một lời mở ra một khởi đầu. Giữa lúc các môn đệ tan tác, một cộng đoàn mới được hình thành. Giữa lúc thân xác Người bị xé nát, một Thân Thể nhiệm mầu bắt đầu được sinh ra. Giữa lúc người ta tưởng rằng Thánh Giá chỉ là dấu chấm hết của cuộc đời Đức Giêsu Nadarét, thì chính từ Thánh Giá, Người trao ban một gia đình mới cho nhân loại: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi Người nói với người môn đệ: “Đây là Mẹ của anh.” Và Tin Mừng Gioan ghi một câu rất đơn sơ mà vô cùng sâu thẳm: “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,26-27). Có thể nói, trong giờ ấy, dưới chân Thánh Giá ấy, giữa Đức Maria và người môn đệ Chúa yêu ấy, Hội Thánh đã hiện lên như một gia đình được sinh ra từ tình yêu tự hiến của Đức Kitô.
Tin Mừng kể: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu Người, bà Maria vợ ông Clôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,25-27). Cần đọc thật chậm đoạn Tin Mừng này. Cần dừng lại ở một chữ mà người Việt Nam chúng ta rất quen nhưng đôi khi lại lướt qua: “đứng”. Đức Maria đứng gần Thánh Giá. Mẹ không chạy trốn. Mẹ không ngã quỵ trong tuyệt vọng. Mẹ cũng không thể làm gì để tháo Con xuống khỏi cây gỗ. Đôi tay từng bồng Con ở Bêlem giờ đây bất lực trước đôi tay bị đóng đinh. Đôi môi từng ru Con ngủ ở Nadarét giờ đây không thể làm dịu cơn khát của Người. Trái tim từng sung sướng nghe thiên thần nói “Đức Chúa ở cùng bà” giờ đây phải nghe tiếng búa, tiếng nhục mạ, tiếng thở dốc của chính Con mình. Mẹ chỉ còn có thể đứng đó. Nhưng chính sự “đứng đó” của Mẹ đã trở thành một trong những hành vi đức tin lớn lao nhất trong lịch sử cứu độ. Có những lúc yêu là làm rất nhiều việc cho người mình yêu. Nhưng cũng có những lúc yêu chỉ còn là ở lại. Không chạy trốn. Không bỏ đi. Không quay mặt. Không tìm một lời giải thích dễ dàng. Chỉ đứng bên người mình yêu trong giờ tối nhất của họ. Đức Maria đã yêu Chúa Giêsu như thế.
Nếu ở Cana, Mẹ đã nói với những người giúp việc: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5), thì ở Canvê, Mẹ không còn nói gì nữa. Cana có rượu mới. Canvê có máu đổ ra. Cana là một tiệc cưới đang thiếu niềm vui. Canvê là một đám tử hình tưởng như chỉ còn tuyệt vọng. Thế nhưng hai biến cố ấy lại nối với nhau bằng một từ rất quan trọng trong Tin Mừng Gioan: “giờ”. Ở Cana, Chúa Giêsu nói: “Giờ của tôi chưa đến.” Trên Canvê, giờ ấy đã đến. Đó là giờ Con Người được tôn vinh, nhưng là một vinh quang không giống những thứ vinh quang mà thế gian vẫn tìm kiếm. Không ngai vàng, không triều thiên bằng vàng, mà là vương miện gai. Không đoàn quân hộ tống, mà là hai tên gian phi cùng chịu đóng đinh. Không tiếng tung hô, mà là tiếng chế nhạo. Không quyền lực áp đặt, mà là một thân xác tự nguyện bị nộp. Chính trong “giờ” ấy, Đức Giêsu trao Mẹ của mình cho người môn đệ và trao người môn đệ cho Mẹ. Vì thế, lời “Này là con Bà… Này là Mẹ con” không phải là một chi tiết tình cảm chen vào giữa cuộc Thương Khó. Đó là một hành vi mặc khải. Một lời trối thiêng liêng. Một hành vi sáng tạo. Một cuộc khai sinh.
Người ta thường nghĩ rằng Chúa Giêsu, vì hiếu thảo với Mẹ, nên trước khi chết đã nhờ Gioan chăm sóc Mẹ thay mình. Cách hiểu ấy không sai, nhưng chưa đủ. Nếu chỉ là chuyện thu xếp đời sống gia đình, Tin Mừng Gioan không cần phải đặt nó vào trung tâm của “giờ” Thánh Giá với những từ ngữ đầy tính biểu tượng như thế. Chúa Giêsu không gọi “Mẹ ơi”, nhưng gọi “Thưa Bà”. Chính danh xưng ấy đã từng xuất hiện ở Cana và gợi lên hình ảnh người phụ nữ trong chương trình cứu độ. Người đàn bà của lời hứa từ thuở ban đầu. Người phụ nữ gắn với “dòng giống” sẽ đạp đầu con rắn. Người phụ nữ của một nhân loại mới. Và bên cạnh Mẹ không chỉ có “Gioan”, nhưng Tin Mừng cố ý gọi là “người môn đệ Chúa yêu”. Người ấy có một khuôn mặt cụ thể, nhưng đồng thời cũng mang khuôn mặt của tất cả những ai được Đức Kitô yêu và đáp lại bằng cách ở lại với Người. Nơi người môn đệ ấy, mỗi Kitô hữu có thể nhận ra chính mình. “Này là Mẹ con” không chỉ là lời dành cho Gioan của hai ngàn năm trước. Đó là lời Chúa Giêsu nói với người môn đệ của mọi thời đại: con không còn mồ côi; trong gia đình cứu độ mà máu Ta đang khai sinh, con có một người Mẹ.
Và lời “Này là con Bà” cũng thật lạ lùng. Chúa Giêsu không nói với Mẹ: “Đây là Gioan.” Người nói: “Đây là con của Bà.” Như thể từ giờ phút này, tình mẫu tử của Đức Maria được mở rộng. Trái tim Mẹ không còn chỉ ôm lấy Đức Giêsu trong tư cách người Con đã cưu mang chín tháng và sinh ra tại Bêlem. Từ giờ ấy, Mẹ phải đón nhận những người mà Đức Giêsu đã yêu đến cùng. Và đó không phải là những đứa con dễ thương, hoàn hảo, thánh thiện sẵn rồi. Đó là chúng ta. Những người yếu đuối, thất thường, những người hôm nay tin mai nghi ngờ, hôm nay hứa mai quên, hôm nay đứng dưới chân Thánh Giá mai lại chạy theo những thứ chẳng liên quan gì đến Thánh Giá. Mẹ nhận chúng ta làm con không phải trong một ngày vui nhưng trong ngày đau nhất của đời Mẹ. Có lẽ chính điều ấy mới làm chúng ta hiểu được tình mẫu tử của Đức Maria đối với Hội Thánh: đó không phải là một thứ tình cảm trang trí thêm vào đời sống đức tin. Nó được sinh ra bằng giá máu của Đức Kitô và bằng lưỡi gươm xuyên qua tâm hồn Mẹ.
Simeon đã từng nói với Đức Maria khi Mẹ bồng Hài Nhi vào Đền Thờ: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,35). Ngày ấy, có lẽ Mẹ chưa hiểu lưỡi gươm ấy sẽ bén đến đâu. Trên Canvê, lời tiên báo ấy thành sự. Không phải chỉ một lần. Từng tiếng búa là một nhát gươm. Từng lời nhạo báng là một nhát gươm. Từng giọt máu từ thân thể Con rơi xuống là một nhát gươm. Người ta đóng đinh Con nhưng trái tim Mẹ cũng bị đóng đinh. Người ta xuyên cạnh sườn Con, nhưng lòng Mẹ đã bị xuyên từ trước. Thế nhưng điều kỳ diệu của ân sủng là chính trái tim bị đâm thâu ấy lại được mở rộng để trở thành trái tim của người Mẹ dành cho muôn người. Mẹ mất người Con duy nhất theo huyết nhục để nhận lấy vô số người con trong ân sủng. Đó là cái giá của tình mẫu tử thiêng liêng. Hội Thánh không được sinh ra từ một giấc mơ đẹp. Hội Thánh được sinh ra trong đau đớn. Hội Thánh sinh ra trong “giờ” mà Con Thiên Chúa chết và trái tim một người Mẹ bị đâm thâu.
Thật ra, toàn bộ khung cảnh Canvê nói cho chúng ta biết Hội Thánh là gì trước khi nói Hội Thánh phải làm gì. Hội Thánh trước hết không phải là một cơ cấu, dù Hội Thánh cần cơ cấu. Hội Thánh không phải chỉ là một tổ chức, dù Hội Thánh phải có tổ chức. Hội Thánh không chỉ là một hệ thống luật lệ, dù luật lệ cần thiết cho đời sống chung. Hội Thánh trước hết là cộng đoàn của những người đứng dưới chân Thánh Giá, đón nhận nhau từ lời trối của Đức Kitô. Ở đó có Đức Maria. Có người môn đệ được yêu. Có những phụ nữ trung thành. Không đông. Không quyền lực. Không huy hoàng. Nhưng có tình yêu ở lại. Đó là hạt giống của Hội Thánh. Vì thế, mỗi khi Hội Thánh quên đứng dưới Thánh Giá, Hội Thánh có nguy cơ quên mình là ai. Khi Hội Thánh chỉ bận tâm đến ảnh hưởng, danh tiếng, quyền lực, con số, thành tích, vị trí, những cuộc tranh hơn thua, Hội Thánh có thể trở thành một tổ chức tôn giáo rất mạnh mà lại yếu đi trong chính căn tính của mình. Bởi căn tính sâu nhất của Hội Thánh không được xác định bởi việc đứng gần ngai của kẻ quyền thế, nhưng bởi việc đứng gần Thánh Giá của Đức Kitô.
Dưới chân Thánh Giá, không ai còn lý do để tự phụ. Đức Maria đứng đó trong thinh lặng. Gioan đứng đó sau một đêm các môn đệ đều đã hoảng loạn. Những người phụ nữ đứng đó trong nước mắt. Không ai đứng đó để tranh chức. Không ai hỏi ai là người lớn nhất. Không ai tranh luận xem ai xứng đáng hơn. Những cuộc tranh luận ấy, nếu có, đã trở nên quá nhỏ bé trước một Đấng đang chết vì tất cả. Có lẽ Hội Thánh hôm nay cũng cần trở về Canvê nhiều hơn. Bởi nhiều vấn đề tưởng như khổng lồ sẽ lập tức nhỏ lại nếu chúng ta thật sự đứng trước Thánh Giá. Nhiều tự ái sẽ tan đi. Nhiều hơn thua sẽ trở nên vô nghĩa. Nhiều cuộc kết án nhau sẽ trở nên đáng xấu hổ. Một người vừa nhìn lên Đấng đang cầu nguyện “Lạy Cha, xin tha cho họ” mà bước xuống để tiếp tục nuôi hận thù thì thật khó hiểu. Một người vừa hôn Thánh Giá mà quay sang làm tổn thương anh em thì có lẽ môi đã chạm Thánh Giá nhưng trái tim vẫn còn đứng ở nơi nào khác.
“Này là con Bà.” Chỉ bốn chữ nhưng làm thay đổi tất cả. Đức Maria được mời nhìn người môn đệ không còn chỉ như một người quen của Con mình, mà là “con”. Đây chính là logic của Hội Thánh. Người xa lạ trở thành người nhà. Người không cùng máu huyết trở thành anh chị em. Người chẳng có gì liên hệ tự nhiên với nhau lại được nối kết bởi máu Đức Kitô. Hội Thánh là điều không thể hiểu chỉ bằng xã hội học, bởi điều làm chúng ta nên một sâu xa nhất không phải là cùng sở thích, cùng tuổi tác, cùng vùng miền, cùng trình độ, cùng hoàn cảnh, thậm chí không phải vì chúng ta hợp tính nhau. Nếu Hội Thánh chỉ là cộng đoàn của những người hợp nhau thì Hội Thánh sẽ vỡ rất nhanh, bởi con người không thể hợp nhau mãi. Hội Thánh là gia đình của những người được một Đấng chịu đóng đinh trao cho nhau. Ta không tự chọn tất cả anh chị em của mình trong Hội Thánh. Có người ta thích. Có người ta không thích. Có người làm ta vui. Có người làm ta đau. Có người hiểu ta. Có người hiểu lầm ta. Thế nhưng đứng dưới Thánh Giá, Chúa vẫn nói: “Đây là con của Bà… đây là Mẹ của anh.” Nói cách khác: từ nay các con thuộc về nhau trong Ta.
Đó là điều rất khó. Yêu một Giáo Hội lý tưởng thì dễ. Yêu Hội Thánh bằng xương bằng thịt mới khó. Người ta có thể yêu một Hội Thánh được tưởng tượng là hoàn hảo, nhưng khi phải sống với một cộng đoàn có những người nóng nảy, vụng về, ích kỷ, cố chấp, khác quan điểm, người ta mới biết tình yêu của mình thật hay không. Người ta có thể yêu “nhân loại” rất dễ, bởi nhân loại không gọi điện làm phiền mình, không nói xấu mình, không tranh luận với mình, không làm mình bực. Nhưng yêu một con người cụ thể ở ngay bên cạnh mới cần Thánh Giá. Chúa Giêsu không nói với Đức Maria: “Mẹ hãy yêu nhân loại nói chung.” Người chỉ vào một con người cụ thể: “Này là con Bà.” Đức tin Kitô giáo luôn đi từ những điều rất lớn về những con người rất cụ thể. Yêu Hội Thánh có khi bắt đầu bằng việc đừng nói một lời làm nhục một người anh em. Yêu Hội Thánh có khi là nhẫn nại với một người già lẩm cẩm. Là lắng nghe một người trẻ đang hoang mang. Là không bỏ một người đã phạm lỗi. Là cầu nguyện cho một linh mục mình không ưa. Là nâng đỡ một gia đình đang tan vỡ. Là bước đến gần một người nghèo mà xã hội muốn tránh xa. Bởi tất cả những người ấy đều có thể là người mà từ trên Thánh Giá, Chúa chỉ vào và nói với ta: “Này là anh em của con.”
“Này là Mẹ con.” Lời này cũng mời Hội Thánh học lại cách làm con. Thời đại chúng ta thích tự lập. Con người trưởng thành muốn tự quyết, tự chọn, tự định nghĩa, tự xây cuộc đời. Điều ấy có những giá trị tích cực, nhưng cũng có thể âm thầm biến thành một sự cô độc khủng khiếp: tôi không cần ai, tôi tự lo được, đừng ai can thiệp vào đời tôi. Rồi đến một ngày đau khổ ập tới, người ta mới nhận ra mình không mạnh như tưởng tượng. Đức Giêsu trên Thánh Giá không để người môn đệ yêu dấu cô độc. Người cho anh một người Mẹ. Như thể Người nói: người môn đệ của Ta không sống đức tin một mình. Người ấy cần được sinh ra, nuôi dưỡng, chở che, dạy dỗ, đồng hành. Hội Thánh vì thế không phải là một tập hợp những cá nhân cô độc cùng tin một số chân lý giống nhau. Hội Thánh là một gia đình. Một gia đình có Mẹ.
Và thật đẹp khi Tin Mừng nói: “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.” Đức tin không dừng ở nghe. Gioan nghe lời Chúa rồi rước Mẹ về. Câu hỏi đặt ra cho mỗi người chúng ta là: chúng ta đã thật sự “rước Mẹ về nhà mình” chưa? Không chỉ treo một ảnh Đức Mẹ. Không chỉ đeo một tràng chuỗi. Không chỉ đọc vài kinh trong tháng Hoa. “Rước Mẹ về nhà” là rước cách sống của Mẹ vào đời mình. Là học cách nghe Lời Chúa như Mẹ. Học cách thưa “xin vâng” như Mẹ. Học cách vội vã lên đường phục vụ như Mẹ đi thăm bà Êlisabét. Học cách giữ những điều không hiểu và suy đi nghĩ lại trong lòng. Học cách biết thiếu rượu của người khác trước khi họ kịp lên tiếng. Học cách nói “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”. Và nhất là học cách đứng dưới chân Thánh Giá không bỏ chạy.
Có một thứ đạo đức rất sốt sắng khi đời bình an nhưng biến mất khi Thánh Giá xuất hiện. Có những người yêu Chúa khi cầu được ước thấy, nhưng khi bệnh tật đến thì bắt đầu nghi ngờ. Có người tin Chúa khi gia đình thuận hòa, nhưng khi hôn nhân khủng hoảng thì buông tay. Có người hăng hái phục vụ khi được nhìn nhận, nhưng một lần bị hiểu lầm là rút lui. Có người nói yêu Hội Thánh, nhưng chỉ cần gặp một gương xấu đã muốn bỏ Hội Thánh. Đức Maria dạy một điều khác: đứng lại. Không phải đứng lại vì đã hiểu. Mẹ đâu hiểu hết. Không phải đứng lại vì hết đau. Mẹ đang đau tận cùng. Không phải đứng lại vì chắc chắn ngày kia Con sẽ sống lại theo cách mà chúng ta hôm nay đã biết. Mẹ đứng bởi vì Mẹ tin. Đức tin trưởng thành không phải là biết trước mọi câu trả lời, nhưng là vẫn ở lại với Thiên Chúa khi chẳng còn câu trả lời nào làm mình thỏa mãn.
Vì thế, Hội Thánh được sinh ra dưới Thánh Giá cũng là Hội Thánh phải biết ở lại dưới thập giá của con người. Một Hội Thánh chỉ hiện diện khi người ta vui thì chưa phải là Hội Thánh của Đức Kitô chịu đóng đinh. Hội Thánh phải ở nơi người ta khóc. Ở bên giường bệnh. Ở trong căn nhà vừa có người qua đời. Ở bên người mẹ mất con. Ở với một người trẻ muốn bỏ cuộc. Ở với một gia đình đang đứng trước vực ly tán. Ở với người nghèo không biết ngày mai lấy gì mà ăn. Ở bên người bị xã hội quên tên. Ở với người tù. Ở với người già không ai thăm. Ở với một người tội lỗi mà mọi người đều tránh. Không phải lúc nào Hội Thánh cũng giải quyết được đau khổ của họ. Đức Maria cũng không tháo được Đức Giêsu khỏi Thánh Giá. Nhưng Mẹ đứng đó. Đôi khi sự hiện diện trung thành chính là Tin Mừng đầu tiên người đau khổ cần nghe.
Người ta thường hỏi: Hội Thánh phải làm gì để hấp dẫn con người thời nay? Có nhiều câu trả lời đúng: phải truyền thông tốt hơn, phải sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu hơn, phải gần giới trẻ hơn, phải đổi mới phương pháp mục vụ. Tất cả đều cần. Nhưng có lẽ trước tất cả, Hội Thánh phải giống Mẹ dưới chân Thánh Giá hơn. Thế giới không thiếu quảng cáo. Không thiếu kỹ thuật. Không thiếu những người nói hay. Điều nó thiếu là những người có thể ở lại khi người khác đau. Những người không bỏ đi khi một con người trở thành gánh nặng. Những người không định giá một cuộc đời bằng hiệu suất. Những người không xem một người thất bại là đồ bỏ đi. Một cộng đoàn Kitô hữu biết ôm lấy người bị bỏ rơi sẽ nói về Đức Kitô hùng hồn hơn nhiều bài diễn văn. Một giáo xứ trong đó người nghèo cảm thấy mình có chỗ sẽ là bài giảng sống động. Một cộng đoàn tu trì nơi một thành viên yếu đuối vẫn được yêu thương sẽ làm chứng cho Tin Mừng. Một gia đình vẫn đón nhận người con lầm lỗi trở về sẽ làm cho dụ ngôn người cha nhân hậu sống lại.
Hội Thánh được sinh ra từ giờ của Thánh Giá, vì thế Hội Thánh không thể sống theo logic loại trừ. Thánh Giá là nơi Đức Giêsu giang hai tay. Hai tay không khép lại. Hai tay mở ra đến mức không thể mở thêm. Đó phải là tư thế của Hội Thánh. Nếu Hội Thánh khép tay lại thành nắm đấm để đánh người khác, Hội Thánh phản bội hình dáng của Đấng Sáng Lập mình. Nếu Hội Thánh chỉ mở cửa cho người tốt, người đúng, người sạch, thì rất nhiều người mà Chúa đã chết cho sẽ phải đứng ngoài. Điều đó không có nghĩa Hội Thánh coi thường sự thật, dung túng tội lỗi hay biến Tin Mừng thành một thứ dễ dãi. Không. Thánh Giá cho thấy tội lỗi nghiêm trọng đến mức nào: để cứu con người khỏi tội, Con Thiên Chúa phải chết. Nhưng cũng chính Thánh Giá cho thấy tình yêu lớn hơn tội lỗi đến mức nào: Người sẵn sàng chết cho kẻ có tội. Hội Thánh trung thành với Thánh Giá phải vừa nói thật về tội, vừa không tuyệt vọng về người tội lỗi; vừa kêu gọi hoán cải, vừa mở đường trở về; vừa bảo vệ chân lý, vừa không lấy chân lý làm hòn đá ném vào đầu người khác.
Khi người lính lấy giáo đâm cạnh sườn Chúa Giêsu, “tức thì máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34). Truyền thống Hội Thánh đã nhìn thấy nơi máu và nước ấy dấu chỉ của các bí tích, đặc biệt là Thánh Tẩy và Thánh Thể, và nhìn thấy Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô đang ngủ giấc ngủ sự chết, như Evà xưa được lấy từ cạnh sườn Ađam. Hình ảnh ấy đẹp đến mức chúng ta phải dừng lại. Hội Thánh không sinh ra từ đầu Đức Kitô như sản phẩm của một ý tưởng. Không sinh ra từ bàn tay Đức Kitô như một công trình thuần túy của hoạt động. Hội Thánh sinh ra từ cạnh sườn, gần trái tim. Từ một trái tim bị đâm thủng. Nguồn gốc Hội Thánh là một vết thương mở. Nếu vậy, chúng ta hiểu vì sao một Hội Thánh không còn biết đau với nỗi đau của con người sẽ trở nên xa lạ với chính nguồn gốc của mình. Hội Thánh mang trong mình ký ức của một trái tim bị thương vì yêu.
Máu và nước chảy ra. Máu của sự sống được trao ban. Nước của sự thanh tẩy. Từ cạnh sườn bị mở, đời sống bí tích tuôn trào. Chúng ta được rửa tội trong cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô. Chúng ta được nuôi bằng Mình và Máu Người. Mỗi Thánh Lễ, vì thế, không chỉ là một nghi lễ chúng ta tham dự rồi về. Thánh Lễ đưa chúng ta trở lại “giờ” ấy. Cùng một tình yêu. Cùng một sự tự hiến. Cùng một Đức Kitô trao chính mình: “Này là Mình Thầy… Này là Máu Thầy.” Và thật sâu sắc: Đấng trên bàn thờ nói “Này là Mình Thầy” cũng chính là Đấng trên Thánh Giá đã nói “Này là Mẹ con.” Thánh Thể và Hội Thánh không thể tách rời. Ta không thể thật sự đón lấy Mình Đức Kitô mà khước từ Thân Thể Người là Hội Thánh. Ta không thể nói yêu Chúa Giêsu Thánh Thể nhưng lại khinh miệt anh chị em mình. Thánh Phaolô đã cảnh cáo cộng đoàn Côrintô chính ở điểm này: khi bữa tiệc Thánh Thể không dẫn đến sự hiệp thông và quan tâm người yếu, người ta đã ăn uống mà không phân định Thân Thể Chúa.
Có một nghịch lý đáng suy nghĩ: dưới chân Thánh Giá, Đức Giêsu đang mất tất cả. Áo đã bị chia. Danh dự bị chà đạp. Tự do bị lấy đi. Sức lực cạn dần. Ngay cả sự sống cũng sắp trao nốt. Thế mà đúng lúc chẳng còn gì để giữ, Người vẫn còn một điều để cho: Người trao Mẹ. Người trao người môn đệ cho Mẹ. Người tạo nên tương quan. Điều ấy dạy chúng ta rằng con người nghèo nhất chưa chắc là người không có tiền, mà là người không còn ai để trao mình cho và chẳng còn ai để đón nhận mình. Đức Giêsu chết trong hành vi trao ban. Ngay cả phút cuối Người vẫn kết nối những con người lại với nhau. Tội lỗi luôn chia rẽ: chia con người khỏi Thiên Chúa, khỏi chính mình, khỏi tha nhân. Cứu độ là nối lại. Thánh Giá nối trời với đất bằng chiều dọc và nối con người với nhau bằng chiều ngang. Hình dáng của Thánh Giá đã là hình dáng của hiệp thông.
Bởi vậy, Hội Thánh được sinh ra từ Thánh Giá phải là nơi nối lại những gì đã gãy. Không phải nơi khoét sâu vết thương. Không phải nơi dựng thêm những bức tường. Không phải nơi người ta đến để học cách khinh người khác nhân danh đạo đức. Hội Thánh phải là nơi người con hoang đàng biết còn có đường về. Nơi hai người giận nhau học lại cách gọi nhau là anh em. Nơi người giàu nhìn người nghèo không phải như một phiền toái nhưng như người nhà. Nơi người mạnh biết mang sự yếu đuối của người yếu. Nơi người đã đứng vững không chế nhạo người vừa ngã. Tất nhiên, đời sống thực tế của Hội Thánh vẫn còn vô vàn bất toàn. Hai ngàn năm qua đã có những thời kỳ Hội Thánh không sống xứng đáng với nguồn gốc của mình. Và mỗi chúng ta cũng góp phần vào những vết nhăn ấy. Nhưng điều quyết định không phải Hội Thánh có hoàn hảo không; điều quyết định là Hội Thánh có còn biết quay về dưới chân Thánh Giá để được thanh luyện không.
Đức Maria đứng ở đó như ký ức sống động của nguồn gốc Hội Thánh. Mẹ không đứng trên Thánh Giá thay Chúa Giêsu, nhưng đứng dưới Thánh Giá với Chúa Giêsu. Điều này rất quan trọng. Mẹ không cứu chuộc chúng ta thay Đức Kitô. Chỉ có Đức Kitô là Đấng Cứu Chuộc. Nhưng Mẹ tham dự cách độc đáo vào mầu nhiệm của Con bằng đức tin, sự vâng phục và tình yêu. Mẹ là người nữ đã nói “xin vâng” ở Nadarét, và lời “xin vâng” ấy phải đi đến tận Canvê. Nếu ngày Truyền Tin, Mẹ nói “xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”, thì trên Canvê, Mẹ phải để Thiên Chúa thực hiện điều Mẹ không thể tưởng tượng nổi. Chúng ta thường nói “xin vâng” với Chúa khi ý Chúa gần với điều mình muốn. Nhưng lời xin vâng thật sự chỉ được thử nghiệm khi ý Chúa đi qua một con đường mà ta không chọn. Đức Maria đã không rút lại lời xin vâng.
Hội Thánh cũng thế. Ngày lễ Ngũ Tuần, Hội Thánh sẽ đi ra với quyền năng Thánh Thần. Nhưng trước Ngũ Tuần có Canvê. Trước tiếng rao giảng mạnh mẽ có sự thinh lặng dưới Thánh Giá. Trước ba ngàn người xin chịu phép rửa có một nhóm rất nhỏ đứng bên một người bị hành hình. Chúng ta thích Ngũ Tuần hơn Canvê. Thích lửa, sức mạnh, kết quả, đông người, thành công. Nhưng Hội Thánh không được phép bỏ qua Canvê để chạy thẳng đến Ngũ Tuần. Một Giáo Hội muốn đầy Thánh Thần mà không muốn mang dấu Thánh Giá dễ biến quyền năng thành phô trương. Một người phục vụ muốn có hoa trái mà không muốn chết cho cái tôi sẽ sớm biến sứ vụ thành sân khấu. Hạt lúa phải chết. Con đường của Đức Kitô luôn đi qua tự hủy trước khi đi vào vinh quang.
Có lẽ đây là điều đặc biệt cần nói với những người đang phục vụ Hội Thánh. Linh mục, tu sĩ, giáo lý viên, hội đoàn, người làm mục vụ, người truyền thông Công giáo, bất cứ ai đang mang một trách nhiệm trong cộng đoàn: chúng ta đang xây Hội Thánh theo hình dáng nào? Theo hình dáng Thánh Giá hay theo hình dáng cái tôi của mình? Có khi miệng nói phục vụ Chúa nhưng trong lòng lại muốn người ta công nhận. Có khi nói bảo vệ Hội Thánh nhưng thật ra đang bảo vệ vị trí của mình. Có khi nhân danh chân lý để thắng một cuộc tranh luận hơn là cứu một con người. Có khi giữ kỷ luật rất chặt nhưng trái tim lại khép. Thánh Giá là phép thử khắc nghiệt đối với mọi kiểu quyền bính trong Hội Thánh. Trên Thánh Giá, Đấng có mọi quyền năng lại không dùng quyền năng để cứu mình. Người dùng quyền để trao ban mình. Đó là kiểu quyền bính của Đức Kitô. Ai muốn đứng đầu trong Hội Thánh mà không muốn cúi xuống rửa chân, ai muốn được gọi là mục tử nhưng tránh mùi chiên, ai muốn được kính trọng mà không muốn mang thương tích của đoàn chiên thì chưa hiểu quyền bính dưới ánh sáng Thánh Giá.
“Này là Mẹ con.” Người môn đệ nhận Mẹ. Nhưng nhận Mẹ cũng đồng nghĩa nhận lấy ký ức về Chúa Giêsu. Ai hiểu Con bằng Mẹ? Ai đã sống với Người từ hơi thở đầu tiên, từ bước chân đầu tiên? Có thể hình dung sau Phục Sinh, trong cộng đoàn tiên khởi, Mẹ đã là một sự hiện diện âm thầm nhưng quý giá thế nào. Mẹ có thể kể về Nadarét, về Bêlem, về cuộc chạy trốn sang Ai Cập, về những tháng năm ẩn dật mà các môn đệ không biết. Nhưng quan trọng hơn những câu chuyện là chính cách Mẹ tin. Hội Thánh ở cạnh Mẹ để học cách giữ Chúa Giêsu ở trung tâm. Đức Maria không bao giờ giữ người ta lại nơi mình. Câu nói quan trọng nhất của Mẹ trong Tin Mừng vẫn là: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Lòng sùng kính Đức Mẹ chân thật luôn dẫn tới việc làm theo lời Chúa Giêsu. Nếu chúng ta đọc rất nhiều kinh kính Đức Mẹ mà không vâng Lời Đức Kitô, chúng ta chưa thật sự học được tinh thần của Mẹ.
Ngày hôm nay, trong một thế giới mà gia đình đang mang nhiều vết thương, lời “Này là con Bà… Này là Mẹ con” càng trở nên cảm động. Có những đứa con có mẹ mà như không có mẹ. Có những người mẹ có con mà chẳng thể chạm được vào lòng con nữa. Có những gia đình cùng sống dưới một mái nhà nhưng mỗi người ở trong một thế giới riêng. Có những bữa cơm mà mọi người nhìn điện thoại nhiều hơn nhìn mặt nhau. Có những người già sống cô đơn giữa đầy đủ tiện nghi. Có trẻ em lớn lên với rất nhiều đồ chơi nhưng thiếu một vòng tay. Có những người thành đạt được hàng ngàn người theo dõi trên mạng nhưng không biết gọi cho ai khi khóc. Con người hiện đại kết nối với cả thế giới nhưng có thể không thuộc về ai. Chính trong thế giới ấy, từ Thánh Giá, Đức Kitô lập lại: “Này là Mẹ con… này là con của Bà.” Cứu độ không chỉ là được tha tội để một ngày lên thiên đàng. Cứu độ còn là được đưa trở về một gia đình.
Hội Thánh phải làm cho con người cảm nghiệm điều ấy. Một người bước vào nhà thờ không chỉ cần thấy kiến trúc đẹp. Họ cần cảm thấy mình được đón nhận. Một người đi xưng tội không chỉ cần nghe một phán quyết; họ cần gặp lòng thương xót dẫn họ về với Cha. Một người nghèo đến xin giúp đỡ không chỉ cần nhận một món quà; họ cần biết phẩm giá họ được nhìn nhận. Một người trẻ đặt câu hỏi khó không nên lập tức bị xem là chống đối; có khi em đang tìm một người đủ kiên nhẫn để nghe. Một người xa Hội Thánh nhiều năm trở về không cần nghe câu “sao giờ mới về”; họ cần nghe trong cách ta đón họ vang lại lời của Chúa: con vẫn là người nhà.
Đừng quên người môn đệ trong câu chuyện là “môn đệ Chúa yêu”. Căn tính của người môn đệ trước hết không phải là người đã làm gì cho Chúa, nhưng là người được Chúa yêu. Đây là điều chúng ta rất dễ quên. Ta xây căn tính trên công việc, chức vụ, thành công, danh tiếng, kiến thức, đạo đức. Rồi khi những thứ ấy lung lay, ta khủng hoảng. Gioan không được gọi ở đây là “tông đồ”, không được giới thiệu bằng thành tích, nhưng đơn giản là người Chúa yêu. Và chính người biết mình được yêu mới đủ sức nhận Mẹ và sống trong gia đình mới. Nếu tôi không tin mình được Thiên Chúa yêu, tôi sẽ rất khó yêu Hội Thánh. Tôi sẽ luôn đòi Hội Thánh công nhận tôi, cho tôi vị trí, làm tôi hài lòng. Nhưng nếu tôi đứng dưới Thánh Giá và hiểu rằng Người đã yêu tôi đến mức ấy, tôi không còn phải dùng Hội Thánh để chứng minh giá trị của mình. Tôi có thể bắt đầu phục vụ.
Thánh Giá cho chúng ta một thứ tự rất đẹp: trước hết là được yêu, rồi được trao cho nhau. Đức Giêsu yêu người môn đệ, rồi nói: “Này là Mẹ con.” Đức Giêsu yêu Mẹ, rồi nói: “Này là con Bà.” Mọi tương quan trong Hội Thánh phải phát xuất từ tình yêu Đức Kitô, nếu không sẽ mau trở nên nặng nề. Một linh mục chỉ nhìn giáo dân như “đối tượng mục vụ” sẽ mệt. Một giáo dân chỉ nhìn linh mục như “người cung cấp dịch vụ thiêng liêng” sẽ thất vọng. Một cộng đoàn chỉ liên kết bằng công việc sẽ vỡ khi công việc kết thúc. Nhưng nếu mọi người trước hết cùng đứng dưới Thánh Giá và nhận ra: chúng ta đều là những người được cứu bởi cùng một dòng máu, thì ta sẽ nhìn nhau khác đi. Không ai cao đến mức không cần được cứu. Không ai thấp đến mức ngoài tầm cứu độ. Dưới chân Thánh Giá, tất cả đều là người nghèo đón nhận ân sủng.
Và chính ở đó, Hội Thánh bắt đầu. Không phải với những người hoàn hảo, mà với những người được yêu. Không phải với những người không bao giờ ngã, mà với những người biết trở về. Phêrô đã chối Thầy. Các môn đệ đã chạy trốn. Tôma sẽ nghi ngờ. Nhưng Chúa Phục Sinh vẫn quy tụ họ. Thật lạ: Thiên Chúa không chờ tìm một nhóm người hoàn hảo rồi mới lập Hội Thánh. Nếu chờ như thế có lẽ đến nay vẫn chưa có Hội Thánh. Người lấy chính những con người mong manh ấy, thanh luyện họ, ban Thánh Thần và sai họ đi. Điều đó cho ta hy vọng về Hội Thánh nhưng cũng giúp ta đừng ngây thơ về Hội Thánh. Hội Thánh thánh thiện vì Đức Kitô là Đầu và Thánh Thần ngự trong Hội Thánh, nhưng những thành viên Hội Thánh luôn cần hoán cải. Yêu Hội Thánh không phải nhắm mắt trước lỗi lầm. Yêu là đau khi thấy Hội Thánh bị tổn thương bởi tội lỗi của chính con cái mình, và chính vì yêu nên mong Hội Thánh được thanh sạch hơn.
Đức Maria dưới chân Thánh Giá là hình ảnh tuyệt đẹp của một Hội Thánh không bỏ Đức Kitô khi Người không còn “hấp dẫn” theo tiêu chuẩn thế gian. Đám đông từng theo Người vì bánh đã biến mất. Những người reo “Hosanna” vài ngày trước đâu rồi? Người ta thích Chúa khi Người làm phép lạ. Khi Người chữa bệnh, hóa bánh, người ta chen nhau. Nhưng khi theo Người có nghĩa phải đứng bên một kẻ bị kết án, chỉ còn rất ít người. Đây là câu hỏi cho đức tin chúng ta: ta theo Chúa vì Chúa, hay vì những gì Chúa cho? Nếu Chúa không cất bệnh, ta còn tin không? Nếu lời cầu nguyện chưa được đáp, ta còn cầu nguyện không? Nếu làm điều thiện mà bị hiểu lầm, ta còn làm không? Nếu phục vụ Hội Thánh nhưng chẳng ai cảm ơn, ta còn phục vụ không? Nếu theo Chúa dẫn tới mất mát, ta còn đứng không? Đức Maria đứng. Và vì thế Mẹ là mẫu mực của Hội Thánh.
Một Hội Thánh đứng dưới chân Thánh Giá sẽ biết rằng thành công không phải thước đo cuối cùng của Tin Mừng. Canvê nhìn bên ngoài là thất bại. Chúa Giêsu chỉ có vài người đứng cạnh. Một môn đệ phản bội, một người chối, nhiều người trốn. Sứ vụ ba năm tưởng như tan thành mây khói. Nhưng chính nơi tưởng như thất bại tuyệt đối, Thiên Chúa hoàn tất công trình cứu độ. Điều này an ủi những ai đang âm thầm gieo mà chưa thấy mùa gặt. Một cha mẹ cầu nguyện nhiều năm cho người con xa Chúa. Một linh mục phục vụ một cộng đoàn nhỏ bé. Một nữ tu chăm những bệnh nhân chẳng ai biết. Một giáo lý viên kiên trì với vài em nhỏ. Một người vợ âm thầm giữ gia đình trong cầu nguyện. Một người sống tử tế giữa môi trường đầy gian dối. Đừng quá vội đo công việc của Thiên Chúa bằng những con số nhìn thấy được. Hạt giống cứu độ lớn nhất đã được gieo trên một ngọn đồi mà hôm ấy gần như chẳng ai nhận ra điều gì đang thật sự xảy ra.
“Này là Mẹ con.” Trong lời ấy còn có một sự dịu dàng vô cùng giữa bạo lực. Xung quanh Chúa Giêsu là tiếng la hét, chế giễu, quân lính, đinh sắt, máu, cái chết. Nhưng từ miệng Người lại phát xuất một lời tạo nên tình thân. Thế giới càng bạo lực, Hội Thánh càng phải nói ngôn ngữ của tình thân. Thế giới càng phân cực, Hội Thánh càng phải làm chứng rằng người khác quan điểm vẫn có thể là anh em. Thế giới càng nhanh tay kết án, Hội Thánh càng phải chậm để lắng nghe và phân định. Thế giới càng dùng con người như phương tiện, Hội Thánh càng phải bảo vệ phẩm giá từng con người. Không phải vì Hội Thánh yếu đuối trước sự thật, nhưng vì sự thật Kitô giáo mang khuôn mặt của Đấng chịu đóng đinh.
Thánh Giá không cho phép chúng ta biến kẻ thù thành quỷ dữ. Vì trên Thánh Giá, Đức Giêsu cầu cho kẻ giết mình. Không có nghĩa cái ác trở thành tốt. Không có nghĩa bất công được bỏ qua. Nhưng có nghĩa người làm điều ác vẫn là một con người mà Đức Kitô muốn cứu. Đây là một trong những điều khó nhất của Kitô giáo. Chúng ta thích chia thế giới thành người tốt và kẻ xấu rồi tin rằng Chúa đứng hoàn toàn về phía ta. Nhưng dưới chân Thánh Giá, chúng ta nhận ra chính mình cũng cần được tha. Người ta đóng đinh Chúa bằng nhiều cách, và có phần tội của ta trong đó. Khi hiểu mình sống nhờ lòng thương xót, ta sẽ bớt nghiện kết án.
Hội Thánh sinh từ Thánh Giá vì thế phải là Hội Thánh của lòng thương xót. Nhưng lòng thương xót ở đây không rẻ tiền. Nó có giá bằng máu. Chúa không nói “tội chẳng sao”. Người mang hậu quả của tội vào chính thân thể mình. Mỗi lần nhìn Thánh Giá, ta phải đồng thời thấy hai điều: tội của ta ghê gớm và tình yêu của Chúa còn lớn hơn. Nếu chỉ thấy tội, ta tuyệt vọng. Nếu chỉ nói tình yêu mà quên tội, ta biến Thánh Giá thành một biểu tượng lãng mạn. Thánh Giá giữ hai sự thật cùng lúc: con người thật sự cần được cứu và Thiên Chúa thật sự muốn cứu con người đến cùng.
Đức Maria, Mẹ của Hội Thánh, giúp chúng ta giữ hai sự thật ấy. Mẹ không che khuất Thánh Giá. Trái lại, mọi hình ảnh chân thật về Mẹ đều dẫn về Con. Mẹ đứng cạnh Thánh Giá, không đứng thay Thánh Giá. Mẹ dẫn chúng ta đến gần trái tim bị đâm thâu của Con. Mẹ dạy chúng ta đừng sợ nhìn vào vết thương của mình dưới ánh sáng của vết thương Đức Kitô. Có những người mang vết thương tuổi thơ. Có người mang vết thương hôn nhân. Có người bị phản bội. Có người bị hiểu lầm. Có người sống với mặc cảm vì lỗi lầm quá khứ. Có người không tha thứ được cho chính mình. Hãy đứng với Mẹ dưới Thánh Giá. Không phải mọi vết thương sẽ biến mất ngay. Nhưng vết thương được đặt cạnh vết thương của Đức Kitô có thể thôi là nơi chỉ sinh cay đắng và trở thành nơi ân sủng đi vào.
Nhìn Mẹ nhận Gioan làm con, chúng ta còn học được rằng đau khổ không nhất thiết phải làm trái tim co lại. Đau khổ có thể khiến một người trở nên cứng cỏi, chỉ nghĩ đến mình. Nhưng nơi Mẹ, đau khổ làm trái tim mở rộng. Trong giờ mất Con, Mẹ lại nhận thêm con. Đây là một phép lạ của ân sủng. Có những người sau khi đau thì trở nên dịu dàng hơn với nỗi đau của người khác. Một người từng mất người thân sẽ biết ngồi cạnh người đang có tang mà không cần nói nhiều. Một người từng thất bại sẽ bớt khinh người đang ngã. Một người từng được tha sẽ dễ tha. Đó là lúc Thánh Giá bắt đầu sinh hoa trái trong đời ta. Không phải khi ta không còn vết thương, mà khi vết thương của ta không còn làm ta khép lại.
“Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.” “Giờ đó” là giờ nào? Là giờ Thánh Giá. Từ “giờ đó”, người môn đệ sống khác. Có những giờ cũng chia đời chúng ta thành trước và sau. Một lần bệnh nặng. Một cái chết. Một cuộc chia tay. Một thất bại. Một lần chạm đến đáy. Ta có thể đi ra khỏi những “giờ” ấy với trái tim cay đắng, hoặc có thể đi ra với một căn nhà có thêm Mẹ. Đau khổ tự nó không làm người ta thánh. Có người đau rồi trở nên dữ hơn. Nhưng đau khổ được sống với Đức Kitô có thể trở thành nơi một đời sống mới được khai sinh. Canvê là bằng chứng.
Có lẽ có người đang đọc những dòng này trong một “giờ Thánh Giá” của riêng mình. Cầu nguyện mãi mà vẫn chưa thấy sáng. Gia đình có chuyện không biết gỡ từ đâu. Thân xác đang mỏi mòn. Một người thân đã đi xa. Một mối tương quan tan vỡ. Một lời vu oan. Một thất bại mà không biết nói với ai. Xin đừng nghĩ Chúa không còn gì để nói chỉ vì Người chưa tháo cây Thánh Giá xuống. Có những lời quý nhất Chúa nói chính từ Thánh Giá. Người có thể không lập tức lấy khổ đau khỏi đời ta, nhưng Người không để ta cô độc trong đó. “Này là Mẹ con.” “Này là con của Bà.” Trong đau khổ, Chúa trao cho ta một cộng đoàn, trao cho ta những con người để ta nương tựa và cũng để ta chăm sóc. Đôi khi ta chỉ muốn Chúa làm phép lạ cất thập giá, nhưng Chúa lại làm một phép lạ khác: biến những người xa lạ thành người thân để cùng nhau vác thập giá.
Đó là lý do một giáo xứ thật sự sống Tin Mừng không chỉ được nhận ra qua ngôi nhà thờ đẹp, phụng vụ trang nghiêm hay các chương trình phong phú, nhưng qua điều đơn giản hơn: trong cộng đoàn ấy, người đau khổ có ai đứng bên không? Người nghèo có bị làm cho xấu hổ không? Người sa ngã có đường trở lại không? Người già có bị quên không? Người trẻ có được lắng nghe không? Người cô đơn có một mái nhà không? Nếu câu trả lời là có, thì lời “Này là con Bà… Này là Mẹ con” đang tiếp tục thành hiện thực.
Và mỗi gia đình Kitô hữu cũng được mời trở thành một “Gioan” biết rước Mẹ về nhà. Không chỉ bằng một bàn thờ Đức Mẹ đẹp, nhưng bằng nếp sống có chỗ cho lời Chúa, cho sự tha thứ, cho kinh nguyện chung, cho người yếu. Nhà nào có Mẹ nhưng vẫn đầy những lời làm đau nhau thì hãy xin Mẹ dạy cách nói. Nhà nào có ảnh Thánh Gia nhưng cha mẹ con cái không nhìn mặt nhau thì hãy xin Mẹ dạy cách ở lại. Nhà nào lần chuỗi nhưng vẫn giữ hận thù thì hãy xin Mẹ dẫn về Thánh Giá. Vì Mẹ không muốn ở trong nhà ta như một món trang trí đạo đức. Mẹ muốn đưa cả căn nhà đến gần Con.
Cuối cùng, có lẽ điều thấm thía nhất của Canvê là: Đức Giêsu chết mà vẫn nghĩ đến người khác. Trong cơn đau cùng cực, Người nhìn thấy Mẹ. Người nhìn thấy môn đệ. Tình yêu thật làm cho người ta vẫn nhìn thấy người khác ngay cả khi mình đau. Còn ích kỷ làm ta chỉ thấy mình dù ta chẳng đau bao nhiêu. Ta hãy tự hỏi: những năm theo Chúa có làm trái tim ta rộng hơn không? Ta có nhìn thấy người khác hơn không? Ta có bớt nhạy cảm với tự ái của mình và nhạy cảm hơn với nước mắt của người bên cạnh không? Nếu càng đạo đức mà càng khó gần, càng cầu nguyện mà càng thích kết án, càng phục vụ mà càng đòi người khác biết ơn, thì có gì đó không đúng. Đứng gần Thánh Giá thật sự phải làm trái tim ta dần giống trái tim Đấng chịu đóng đinh: một trái tim bị mở ra.
Ngày ấy, trên đồi Sọ, người ta tưởng họ đã đóng cửa tương lai của Đức Giêsu bằng một tảng đá sẽ đặt trước mộ. Nhưng trước khi mặt trời lặn, Người đã mở một cánh cửa không bao giờ khép lại: cánh cửa của gia đình cứu độ. “Này là con Bà… Này là Mẹ con.” Từ đó, không người môn đệ nào còn phải bước một mình. Từ đó, Mẹ của Đức Giêsu trở nên Mẹ của những người thuộc về Đức Giêsu. Từ đó, Hội Thánh hiểu mình được sinh ra không từ tham vọng của con người nhưng từ tình yêu bị đóng đinh. Từ đó, mọi Kitô hữu được mời nhìn người bên cạnh không chỉ bằng những tiêu chuẩn tự nhiên nhưng bằng ánh mắt của Người đang chết vì cả hai.
Xin cho Hội Thánh hôm nay luôn nhớ nơi mình được sinh ra. Không phải trong cung điện, nhưng dưới Thánh Giá. Không phải giữa tiếng hoan hô, nhưng giữa nước mắt. Không phải từ quyền lực, nhưng từ một Đấng tự hạ. Không phải bằng bạo lực, nhưng từ hai cánh tay giang rộng. Xin cho Hội Thánh luôn có khuôn mặt của Đức Maria biết đứng bên người đau khổ, có trái tim của người môn đệ biết rước Mẹ vào nhà, có đôi tay của Đức Kitô luôn mở ra đón nhận. Xin cho mỗi cộng đoàn của chúng ta thực sự là một mái nhà nơi người ta có thể nghe, không nhất thiết bằng lời nhưng bằng cách chúng ta sống với nhau, lời trối của Chúa Giêsu: “Này là Mẹ con… này là anh em con… này là người con phải yêu.”
Và nếu một ngày nào đó ta mỏi mệt vì Hội Thánh, tổn thương vì Hội Thánh, thất vọng vì một người trong Hội Thánh, xin đừng đứng xa mà ném đá. Hãy trở về Canvê. Hãy đứng cạnh Mẹ. Hãy nhìn lên Đấng chịu đóng đinh. Hội Thánh chưa bao giờ được chữa lành bằng cách chạy xa Thánh Giá. Hội Thánh chỉ được đổi mới khi trở về dưới Thánh Giá. Ở đó ta sẽ nhớ mình không phải chủ nhân của Hội Thánh. Đức Kitô mới là Chúa. Ta không phải người đã cứu Hội Thánh. Đức Kitô đã đổ máu cho Hội Thánh. Và người anh em làm ta khó chịu kia, người ta định loại khỏi lòng mình kia, cũng là người mà Đức Kitô đã nhìn từ Thánh Giá và nói: “Này là con của Mẹ.”
Xin Mẹ Maria, Mẹ đã đứng bên Thánh Giá, dạy chúng ta biết đứng. Đứng khi đức tin bị thử thách. Đứng khi người mình yêu đau khổ. Đứng khi không thể làm gì ngoài cầu nguyện. Đứng khi Hội Thánh mang thương tích. Đứng mà không cay đắng. Đứng mà không bỏ cuộc. Đứng trong hy vọng. Và xin Mẹ dạy chúng ta biết “rước Mẹ về nhà”, để trong ngôi nhà của tâm hồn, của gia đình, của giáo xứ, của cộng đoàn chúng ta, luôn có một chỗ cho Mẹ và vì có Mẹ, luôn có một con đường dẫn đến Chúa Giêsu.
Bởi cuối cùng, Hội Thánh không được sinh ra lúc người ta mạnh nhất, nhưng lúc Đức Kitô xem ra yếu nhất. Hội Thánh không được sinh ra khi sự chết đã biến mất, nhưng ngay giữa lòng sự chết. Hội Thánh không được sinh ra sau khi mọi đau khổ đã được giải thích, nhưng khi một người Mẹ vẫn đứng trong bóng tối của đức tin. Và chính vì thế, Hội Thánh có thể đi vào mọi bóng tối của nhân loại mà không tuyệt vọng. Vì Hội Thánh biết rằng ở nơi tưởng như chỉ còn cái chết, Thiên Chúa vẫn có thể làm nảy sinh một gia đình. Ở nơi tưởng như chỉ còn mất mát, Người có thể trao một người Mẹ. Ở nơi tưởng như chỉ còn chia lìa, Người có thể nói một lời nối kết đời đời.
“Này là con Bà.”
“Này là Mẹ con.”
Hai lời ngắn ngủi. Một gia đình được khai sinh. Một Hội Thánh được trao ban. Và từ trên Thánh Giá, trái tim của Đấng Cứu Chuộc vẫn tiếp tục mở rộng cho đến tận hôm nay, để bất cứ ai tin vào Người đều có thể bước vào ngôi nhà ấy, gọi Thiên Chúa là Cha, gọi Đức Maria là Mẹ, và gọi những người đã được cứu bằng cùng một dòng Máu là anh chị em của mình.
Lm. Anmai, CSsR

ĐỨC MARIA – NGƯỜI ĐẦU TIÊN “SUY TÔN” THÁNH GIÁ BẰNG CẢ CUỘC ĐỜI
Có những người chỉ nhìn thấy Thánh Giá khi Thánh Giá đã được dựng lên trên đồi Canvê. Có những người chỉ gặp Thánh Giá khi đau khổ bất ngờ ập xuống đời mình. Có những người mang Thánh Giá trên cổ, đặt Thánh Giá trên bàn thờ, treo Thánh Giá trong nhà, cúi đầu trước Thánh Giá trong nhà thờ, nhưng phải đi qua rất nhiều năm tháng mới hiểu rằng Thánh Giá không phải chỉ là một vật để kính, càng không phải chỉ là dấu hiệu của đau khổ, mà trước hết là mầu nhiệm của một tình yêu đi đến tận cùng. Riêng Đức Maria thì khác. Mẹ đã sống dưới bóng Thánh Giá từ rất lâu trước khi đôi mắt Mẹ nhìn thấy cây gỗ ấy dựng lên giữa trời chiều Canvê. Có thể nói, ngay từ tiếng “Xin Vâng” ở Nazareth, bóng của Thánh Giá đã âm thầm phủ xuống cuộc đời Mẹ. Và cũng chính từ giây phút đó, Đức Maria đã bắt đầu “suy tôn” Thánh Giá, không phải bằng những lời hùng hồn, không phải bằng những suy tư thần học cao siêu, không phải bằng một nghi lễ long trọng, nhưng bằng chính thân phận của một người nữ hoàn toàn đặt cuộc đời mình trong tay Thiên Chúa. Nếu suy tôn Thánh Giá là nhìn nhận rằng con đường Thiên Chúa cứu thế gian không phải là con đường quyền lực nhưng là con đường tự hiến, không phải là con đường giữ lấy nhưng là con đường trao ban, không phải là con đường tránh né đau khổ bằng mọi giá nhưng là con đường biến đau khổ thành nơi tình yêu được tỏ lộ, thì Đức Maria thực sự là người đầu tiên đã suy tôn Thánh Giá bằng cả cuộc đời mình. Trước khi Hội Thánh hát: “Vinh quang của chúng ta là Thánh Giá Đức Kitô”, Mẹ đã âm thầm sống điều ấy. Trước khi các Tông đồ hiểu rằng Đức Kitô phải chịu đau khổ rồi mới vào trong vinh quang, Mẹ đã bước từng bước trong bóng tối của đức tin. Trước khi Gioan viết về người Mẹ đứng bên Thánh Giá, thì từ Nazareth, Bêlem, Ai Cập, Đền Thờ, Cana cho đến những con đường rao giảng của Chúa Giêsu, Mẹ đã để cho thanh gươm của lời Thiên Chúa đi sâu vào trái tim mình.
Tin Mừng mở cho ta thấy điểm khởi đầu của con đường ấy trong một căn nhà rất nhỏ ở Nazareth. Thiên thần Gabriel đến với một thiếu nữ vô danh giữa một làng quê vô danh và báo cho cô một chương trình vượt quá mọi dự tính của con người: “Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu” (Lc 1,31). Maria bối rối. Maria hỏi. Nhưng sau cùng Maria thưa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Chúng ta thường đọc câu “Xin Vâng” ấy trong ánh sáng dịu dàng của lễ Truyền Tin, giữa hoa huệ, giữa bình an, giữa vẻ đẹp tinh tuyền của một cô gái được Thiên Chúa tuyển chọn. Nhưng nếu đọc câu ấy từ chân Thánh Giá nhìn ngược trở lại, ta sẽ nhận ra: tiếng “Xin Vâng” ở Nazareth đã chứa sẵn tiếng “Xin Vâng” trên Canvê. Mẹ không được cho biết tất cả những gì sẽ xảy ra. Thiên Chúa không trải trước mắt Mẹ một tấm bản đồ rõ ràng của ba mươi ba năm sắp tới. Thiên thần không nói với Mẹ rằng Con của Mẹ sẽ bị người ta khước từ, bị kết án, bị đánh đòn, bị đội mão gai, bị đóng đinh, và chết giữa hai tên trộm. Thiên thần chỉ trao cho Mẹ một lời hứa, và Mẹ trao lại cho Thiên Chúa cả đời mình. Đó chính là đức tin. Đức tin thật không phải là chỉ vâng lời khi đã biết hết mọi hậu quả. Đức tin là trao đời mình cho Thiên Chúa khi chưa biết con đường ngày mai sẽ dẫn đến đâu. Và ở nơi sâu nhất, đó cũng chính là tinh thần của Thánh Giá: “Lạy Cha, xin đừng theo ý Con, một theo ý Cha.” Tiếng “Xin Vâng” của Mẹ ở Nazareth và tiếng vâng phục của Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu thuộc về cùng một dòng chảy của tình yêu. Một bên là Mẹ trao thân phận mình để Ngôi Lời nhập thể. Một bên là Người Con trao mạng sống mình để nhân loại được cứu chuộc. Cả hai đều cho thấy rằng tình yêu đẹp nhất không phải là tình yêu nói: “Xin cho điều con muốn được thực hiện”, mà là tình yêu có thể thưa: “Xin điều Chúa muốn được thực hiện nơi con.”
Và từ tiếng “Xin Vâng” ấy, cuộc đời Mẹ không trở nên dễ dàng hơn. Đây là điều rất đáng để người Kitô hữu chúng ta suy nghĩ. Đôi khi chúng ta tưởng rằng nếu mình thật lòng theo Chúa, cuộc đời phải bớt gian nan; nếu mình cầu nguyện nhiều, những nghịch cảnh phải giảm đi; nếu mình sống tốt, Thiên Chúa phải dọn cho mình một con đường thuận lợi. Đức Maria cho ta một câu trả lời khác. Mẹ càng thuộc về Thiên Chúa, Mẹ càng được đưa sâu hơn vào mầu nhiệm vượt khỏi khả năng hiểu biết của mình. Vừa mang thai Con Thiên Chúa, Mẹ đã đứng trước nguy cơ bị hiểu lầm. Giuse không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Tin Mừng kể rất ngắn: “Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1,19). Đằng sau một câu văn ngắn là cả một vực sâu của cô độc. Maria biết mình trung tín. Maria biết điều đang xảy ra là do quyền năng Thiên Chúa. Nhưng Maria không thể bắt người khác hiểu. Có những Thánh Giá như thế: mình biết lòng mình, Chúa biết lòng mình, nhưng người khác không biết; mình không làm điều xấu, nhưng vẫn bị hiểu lầm; mình muốn giải thích nhưng không thể giải thích hết; mình chỉ còn có thể im lặng và trao danh dự của mình cho Thiên Chúa. Mẹ đã đi qua Thánh Giá của sự hiểu lầm trước khi Mẹ đi đến Thánh Giá Canvê. Và Mẹ không cay đắng. Mẹ không trách móc. Mẹ không biến nỗi đau của mình thành lời kết án người khác. Đó là cách Mẹ suy tôn Thánh Giá: không để đau khổ làm mình trở nên chua chát.
Rồi Bêlem. Đứa trẻ mà thiên thần gọi là “Con Đấng Tối Cao” lại không có một căn phòng để chào đời. “Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ” (Lc 2,7). Máng cỏ đã thấp thoáng hình bóng Thánh Giá. Hang đá và Canvê tưởng chừng rất xa nhau nhưng thực ra nằm trên cùng một con đường. Ở Bêlem, Con Thiên Chúa không có một chỗ xứng đáng để sinh ra. Trên Canvê, Người cũng không có một nơi xứng đáng để chết. Ở Bêlem, thân thể Người được Mẹ lấy khăn bọc lại. Sau Canvê, thân thể Người lại được bọc trong khăn liệm. Ở Bêlem, Người nằm trên gỗ của máng cỏ. Trên Canvê, Người nằm trên gỗ của Thánh Giá. Toàn bộ đời sống Đức Kitô được đánh dấu bởi một sự tự hạ không ngừng, và Đức Maria là người gần nhất với sự tự hạ ấy. Mẹ không yêu một Thiên Chúa của những giấc mơ huy hoàng. Mẹ yêu Thiên Chúa đang nằm trong máng cỏ. Mẹ không đòi hỏi Con mình phải được đối xử tương xứng với phẩm giá của Người. Mẹ đón nhận cách Thiên Chúa muốn đến với thế gian: nhỏ bé, nghèo hèn, lệ thuộc, dễ bị tổn thương. Ai muốn suy tôn Thánh Giá thật sự cũng phải học lại điều này. Chúng ta dễ suy tôn một Thánh Giá dát vàng trên cung thánh; khó hơn nhiều để nhận ra Thánh Giá trong một người nghèo làm phiền ta, trong một bệnh nhân lặp đi lặp lại một câu chuyện, trong một người già yếu chậm chạp, trong một người thân làm ta mệt mỏi, trong những công việc không ai nhìn thấy, trong những hy sinh không ai cảm ơn. Đức Maria không chỉ kính Con Thiên Chúa trong vinh quang; Mẹ đã kính Người trong hình hài của một hài nhi yếu ớt nằm giữa chuồng súc vật. Đó là trường học đầu tiên của Thánh Giá.
Và rồi, chỉ ít lâu sau ngày vui dâng Con trong Đền Thờ, cụ già Simêon cất lên một lời tiên tri mà chắc chắn Mẹ không bao giờ quên: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu bị người đời chống báng… Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà, ngõ hầu những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người phải lộ ra” (Lc 2,34-35). Đó là một trong những câu khắc nghiệt nhất có thể nói với một người mẹ đang ôm con thơ. Không ai muốn nghe rằng tương lai của con mình sẽ bị bao phủ bởi chống đối, đau khổ và một lưỡi gươm. Nhưng Maria không bỏ chạy. Mẹ không nói với Thiên Chúa: “Nếu đây là giá phải trả cho lời Xin Vâng, thì con xin rút lại.” Mẹ ôm Con và ôm luôn lời tiên báo. Từ hôm ấy, mỗi khi nhìn Con lớn lên, có lẽ đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn Mẹ vẫn còn tiếng của Simêon: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.” Điều đau nhất của một người mẹ không phải là mình đau, nhưng là biết người mình yêu sẽ đau mà mình không thể ngăn được. Có những vết thương chúng ta có thể chịu thay người khác; nhưng có những vết thương chúng ta chỉ có thể đứng bên cạnh mà nhìn họ đi qua. Đức Maria sẽ phải học tình yêu ấy: tình yêu không chiếm hữu, tình yêu không kiểm soát, tình yêu không giữ người mình yêu lại cho riêng mình.
Thánh Giá kế tiếp đến rất nhanh: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập” (Mt 2,13). Đang đêm phải lên đường. Không chuẩn bị. Không hành lý đầy đủ. Không biết bao giờ trở về. Gia đình Thánh trở thành những người tị nạn. Mẹ ôm Con chạy khỏi bàn tay của một bạo vương muốn giết trẻ thơ. Chúng ta đôi khi tô màu đời sống Thánh Gia bằng những gam màu quá êm đềm đến nỗi quên rằng đó là một gia đình đã biết thế nào là bất an, thiếu thốn, di cư, xa quê và sợ hãi. Maria không sống một đời đạo đức tách khỏi những bi kịch của nhân loại. Mẹ đã bước vào chính những bi kịch ấy. Mẹ biết thế nào là không có chỗ trọ. Mẹ biết thế nào là phải chạy trốn. Mẹ biết thế nào là sống trên đất khách. Mẹ biết thế nào là không biết ngày mai. Và chính trong tất cả những điều ấy, Mẹ giữ Con Thiên Chúa trong vòng tay mình. Một hình ảnh rất đẹp cho đời sống đức tin: cuộc đời có thể rung chuyển, đường đi có thể mù mịt, tương lai có thể bất định, nhưng điều quan trọng là đừng đánh mất Chúa. Người có Chúa trong lòng có thể chưa biết ngày mai mình ở đâu, nhưng vẫn biết mình thuộc về ai.
Rồi đến biến cố lạc mất Chúa Giêsu năm mười hai tuổi. Ba ngày tìm Con. Ba ngày không biết Con ở đâu. Ba ngày của một người mẹ đi qua nỗi hoảng loạn khủng khiếp nhất. Khi tìm thấy Người trong Đền Thờ, Mẹ nói một câu rất người: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” (Lc 2,48). Chúa Giêsu trả lời: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” Tin Mừng lập tức thêm một chi tiết quan trọng: “Nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói” (Lc 2,50). Maria không hiểu. Đây là câu chúng ta cần giữ thật lâu. Mẹ đầy ân sủng nhưng không có nghĩa là Mẹ được miễn khỏi bóng tối của đức tin. Có những lời của Thiên Chúa Mẹ cũng không hiểu ngay. Có những hành động của Con Mẹ cũng phải cưu mang trong thinh lặng. Và Tin Mừng nói: “Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2,51). Không hiểu nhưng không bỏ. Không hiểu nhưng vẫn tin. Không hiểu nhưng tiếp tục giữ lời trong lòng cho đến ngày ánh sáng đến. Đây là một trong những hình thức tinh tuyền nhất của việc suy tôn Thánh Giá. Bởi vì Thánh Giá cũng là nơi con người không hiểu Thiên Chúa. “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá!” Lý trí tự nhiên nói như vậy. Nếu Thiên Chúa quyền năng, tại sao Người không giải thoát Con mình? Nếu Chúa yêu tôi, tại sao điều này xảy ra? Nếu Chúa nghe lời cầu nguyện, tại sao im lặng? Có những lúc đời ta đứng trước những câu hỏi không có câu trả lời tức thì. Khi ấy Đức Maria dạy ta một điều tưởng nhỏ mà rất khó: đừng vứt bỏ điều mình chưa hiểu. Hãy giữ nó trong lòng trước mặt Thiên Chúa.
Những năm Nazareth sau đó là những năm âm thầm. Ba mươi năm. Không phép lạ công khai. Không đám đông tung hô. Không những bài giảng vang dội. Chỉ có căn nhà, công việc, bữa cơm, lời kinh, những ngày bình thường nối tiếp những ngày bình thường. Chính ở đây Đức Maria lại suy tôn Thánh Giá theo một cách khác: Thánh Giá của sự âm thầm. Người đời thích những điều lớn lao, thích được nhìn thấy, thích thành quả tức thì. Thiên Chúa thì dành phần lớn cuộc đời trần thế của Con mình cho một đời sống ẩn dật. Và Maria sống trọn vẹn thời gian ấy. Mẹ không thúc Chúa Giêsu: “Con là Đấng Messia, sao còn ở nhà? Sao không ra làm điều lớn lao?” Mẹ để thời gian của Thiên Chúa là thời gian của Thiên Chúa. Điều này không dễ. Nhiều người chịu được một đau khổ lớn trong thời gian ngắn nhưng lại không chịu nổi sự đơn điệu kéo dài. Nhiều người có thể hy sinh trong một biến cố đặc biệt nhưng lại mỏi mệt với bổn phận nhỏ bé lặp đi lặp lại mỗi ngày. Thánh Giá không phải lúc nào cũng có đinh và máu. Có những Thánh Giá mang hình dáng của một căn bếp, một chiếc giường bệnh, một văn phòng, một lớp học, một cộng đoàn, một bổn phận phải làm suốt nhiều năm mà chẳng ai biết. Đức Maria thánh hóa những ngày tầm thường bằng tình yêu phi thường. Và đó là một lời nhắc cho chúng ta: phần lớn đời sống nên thánh không diễn ra trong những biến cố ngoạn mục; nó diễn ra trong cách ta làm điều bình thường với một trái tim thuộc về Thiên Chúa.
Đến Cana, ta lại gặp Mẹ trong một tư thế thật đẹp. Tiệc cưới hết rượu. Maria nhận ra trước khi người khác nhận ra. “Họ hết rượu rồi” (Ga 2,3). Và khi Chúa Giêsu nói: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến”, Mẹ không tranh luận. Mẹ chỉ quay sang những người phục vụ và nói: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5). Câu nói ấy là tất cả linh đạo của Đức Maria. Mẹ không dẫn người ta về phía mình. Mẹ dẫn người ta đến Chúa Giêsu. Mẹ không nói: “Hãy nghe tôi.” Mẹ nói: “Hãy nghe Người.” Và đáng chú ý hơn, trong Tin Mừng Gioan, “Giờ” của Chúa Giêsu cuối cùng chính là giờ Thánh Giá và vinh quang. Cana đã hướng về Canvê. Rượu ngon của tiệc cưới hướng về máu Giao Ước mới. Người phụ nữ ở Cana sẽ lại được Chúa gọi là “Bà” dưới chân Thánh Giá. Khởi đầu các dấu lạ và hoàn tất “Giờ” của Chúa được nối với nhau qua sự hiện diện âm thầm của Mẹ. Maria không chỉ ở đó khi phép lạ biến nước thành rượu làm mọi người vui mừng; Mẹ cũng sẽ ở đó khi nước và máu từ cạnh sườn Con chảy xuống trên đồi tử nạn. Đức tin trưởng thành không phải là chỉ theo Chúa từ Cana đến những bữa tiệc, mà còn theo Người từ Cana đến Canvê.
Rồi Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng. Đám đông kéo đến. Người chữa bệnh, trừ quỷ, giảng dạy. Có người ca tụng nhưng cũng có người chống đối. Người thân có lúc không hiểu Người. Các kinh sư cho rằng Người bị quỷ ám. Những căng thẳng tăng dần. Maria nhìn Con mình đi vào con đường sẽ dẫn đến Giêrusalem. Mẹ không giữ Con lại. Đây có lẽ là một trong những cuộc từ bỏ sâu nhất của Mẹ. Con không còn thuộc về mái nhà Nazareth. Con thuộc về sứ mạng của Chúa Cha và thuộc về tất cả mọi người. Đối với một người mẹ, yêu một đứa con và đồng thời để con đi con đường Thiên Chúa dành cho con là một hình thức đóng đinh rất thật. Tình yêu tự nhiên muốn giữ. Tình yêu được thanh luyện biết trao. Mẹ trao Con cho Chúa Cha từ ngày dâng Người trong Đền Thờ, nhưng việc dâng hiến ấy phải được lặp lại trong từng giai đoạn của cuộc đời. Và cuối cùng, trên Canvê, Mẹ sẽ phải trao Người một lần nữa, lần đau đớn nhất.
Tin Mừng Gioan đưa chúng ta đến giờ ấy bằng những lời rất ít nhưng nặng hơn mọi tiếng khóc: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,25-27). Tin Mừng không nói Mẹ ngất đi. Không nói Mẹ kêu gào. Không nói Mẹ nguyền rủa những kẻ đóng đinh Con mình. Chỉ có một động từ: đứng. “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người.” Mẹ đứng. Đó là tư thế của đức tin. Thân xác Mẹ có thể tan nát bên trong, trái tim Mẹ có thể bị lưỡi gươm của Simêon đâm xuyên, mọi hy vọng theo cách hiểu của con người dường như sụp đổ, nhưng Mẹ vẫn đứng. Có lẽ không có bài giảng nào về Thánh Giá hùng hồn bằng sự hiện diện ấy.
Mẹ đã nhìn thấy gì trên Canvê? Người Con mà thiên thần nói sẽ “nên cao cả và được gọi là Con Đấng Tối Cao” giờ bị treo giữa những kẻ phạm tội. Người mà thiên thần nói “Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít” giờ ngai của Người là một cây gỗ. Triều thiên của Người là mão gai. Áo Người bị chia cho quân lính. Thần dân Người chế nhạo Người. Bản án treo trên đầu: “Giêsu Nazareth, Vua dân Do Thái.” Những lời hứa ngày Truyền Tin dường như mâu thuẫn hoàn toàn với điều Mẹ đang nhìn thấy. Đây là đêm tối của đức tin. Không chỉ là đau vì Con đau, mà còn là thử thách của niềm tin vào lời Thiên Chúa. Thiên thần nói Con sẽ trị vì. Nhưng Con đang chết. Thiên thần nói triều đại Người vô cùng vô tận. Nhưng vài giờ nữa thân xác Người sẽ được đặt trong mồ. Làm sao nối lời hứa với hiện thực? Mẹ không được trao một lời giải thích. Mẹ chỉ được mời đứng đó và tin.
Và chính nơi đây, Đức Maria trở thành người đầu tiên suy tôn Thánh Giá cách trọn vẹn nhất. Bởi suy tôn Thánh Giá không phải là vui thích trước đau khổ. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Thiên Chúa không vui khi thấy con người đau. Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu cũng đã cầu xin: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Điều Kitô giáo suy tôn không phải là những chiếc đinh, không phải là đòn roi, không phải là sự tàn bạo của con người. Chúng ta suy tôn tình yêu đã không chịu đầu hàng trước những chiếc đinh. Chúng ta suy tôn Đấng khi bị đóng đinh vẫn tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Chúng ta suy tôn Đấng trong lúc bị tước đoạt mọi sự vẫn còn trao ban thiên đàng cho người trộm thống hối. Chúng ta suy tôn Đấng khi gần chết vẫn nghĩ đến Mẹ và người môn đệ. Chúng ta suy tôn tình yêu mạnh hơn hận thù, sự tha thứ mạnh hơn tội lỗi, sự sống mạnh hơn sự chết. Và Maria đứng đó, không ngăn được Thánh Giá, nhưng Mẹ hiệp thông với tình yêu của Con. Mẹ không thêm gì vào hy tế cứu chuộc duy nhất của Đức Kitô, nhưng Mẹ để toàn thể hữu thể mình được cuốn vào lời tự hiến của Người. Con thưa với Cha: “Con phó thác hồn con trong tay Cha.” Và bằng sự thinh lặng của mình, Mẹ cũng như thưa: “Con xin phó thác Con của con trong tay Cha.”
Có một điều đặc biệt đau đớn nhưng cũng vô cùng đẹp trong đoạn Tin Mừng ấy. Khi gần chết, Chúa Giêsu nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Mẹ mất Người Con duy nhất, và ngay trong giờ mất mát, Mẹ lại được trao thêm những người con. Đây chính là logic của Thánh Giá: mất để nhận theo một cách mới; chết để sinh hoa trái; bị lấy đi nhưng đồng thời được mở rộng. Ở Nazareth, Maria là Mẹ Chúa Giêsu. Dưới chân Thánh Giá, tình mẫu tử của Mẹ được mở ra cho người môn đệ và, trong người môn đệ ấy, cho tất cả chúng ta. Thánh Giá không làm trái tim Mẹ khép lại. Nó làm trái tim ấy rộng ra. Đây là phép lạ lớn mà Thánh Giá thực hiện nơi một con người khi người ấy đón nhận Thánh Giá bằng tình yêu. Đau khổ tự nó có thể làm ta cay đắng, khép kín, nghi ngờ, chỉ còn nghĩ đến vết thương của mình. Nhưng khi đau khổ được kết hợp với tình yêu Đức Kitô, nó có thể làm trái tim ta sâu hơn, dịu hơn, biết cảm thông hơn. Một người từng khóc thật nhiều có thể học cách lau nước mắt cho người khác. Một người từng bị bỏ rơi có thể trở nên nơi nương tựa cho người cô đơn. Một người từng đi qua đêm tối có thể cầm đèn cho người đang mất phương hướng. Maria mất Con nhưng trở thành Mẹ của một đoàn con đông đảo. Đó là hoa trái của Thánh Giá.
Và ta có thể hình dung giờ hạ xác đau đến mức nào. Tin Mừng không mô tả Mẹ ôm xác Chúa Giêsu như nghệ thuật Kitô giáo sau này thường diễn tả trong hình tượng Pietà, nhưng hình ảnh ấy đã đi sâu vào trái tim Hội Thánh bởi nó nói lên điều hoàn toàn phù hợp với hành trình của Mẹ. Đôi tay từng bồng Hài Nhi tại Bêlem giờ đón một thân xác đầy thương tích. Đôi tay từng tắm rửa cho Người khi còn bé giờ chạm vào những dấu đinh. Khuôn mặt Mẹ từng cúi xuống chiếc nôi giờ cúi xuống một khuôn mặt không còn sự sống. Bêlem và Canvê gặp nhau. Khởi đầu và kết thúc gặp nhau. Nhưng nếu chỉ dừng tại đó, chúng ta sẽ biến Maria thành Mẹ của một bi kịch. Đức tin của Mẹ không dừng ở chiều thứ Sáu. Mẹ bước vào thứ Bảy Thánh.
Thứ Bảy Thánh có lẽ là ngày Đức Maria suy tôn Thánh Giá trong hình thức tinh tuyền nhất: không còn gì để thấy. Thứ Sáu còn có Chúa trên Thánh Giá. Chúa Nhật sẽ có ngôi mộ trống. Nhưng thứ Bảy chỉ có thinh lặng. Con đã chết. Mộ đã đóng. Các môn đệ tan tác. Những lời hứa dường như chìm trong bóng tối. Mẹ phải sống bằng ký ức của Lời. Hội Thánh từ lâu nhìn Đức Maria như người giữ ngọn lửa đức tin trong khoảng thinh lặng giữa Thánh Giá và Phục Sinh. Đó là một hình ảnh vô cùng quý giá cho những ai đang sống “thứ Bảy Thánh” của đời mình: khi cầu nguyện mà chưa thấy câu trả lời, khi mất một người mà chưa thể nguôi ngoai, khi một cánh cửa đóng lại mà chưa thấy cánh cửa khác mở ra, khi ta biết Chúa có thật nhưng lòng không cảm được sự hiện diện của Người. Những ngày ấy, ta hãy đến ngồi cạnh Đức Maria. Mẹ biết thế nào là tin khi chẳng còn gì để bám vào ngoài lời Thiên Chúa.
Vì vậy, khi nói Đức Maria là người đầu tiên “suy tôn” Thánh Giá, không có nghĩa Mẹ đi tìm đau khổ. Mẹ không đi tìm Thánh Giá; Mẹ đi tìm thánh ý Thiên Chúa, và có những lúc thánh ý ấy đi ngang qua Thánh Giá. Đây là phân biệt vô cùng cần thiết. Kitô hữu không được phép biến đau khổ thành một thứ lý tưởng bệnh hoạn. Không ai phải tạo Thánh Giá cho mình hay cho người khác. Không người chồng nào có quyền làm khổ vợ rồi nói đó là “Thánh Giá Chúa gửi”. Không người vợ nào có quyền gây tổn thương cho chồng rồi bảo phải “vác thập giá”. Không ai được bao che bạo lực, bất công, lạm dụng bằng ngôn ngữ đạo đức. Chúa Giêsu không tạo ra Thánh Giá; tội lỗi con người tạo ra nó. Điều Thiên Chúa làm là bước vào nơi tội lỗi đã dựng nên, và biến dụng cụ giết người thành cây cứu độ. Đức Maria cũng vậy. Mẹ không yêu đau khổ; Mẹ yêu Thiên Chúa. Và vì yêu Thiên Chúa, Mẹ không bỏ Người khi đau khổ đến.
Đây có lẽ là điều thế giới hôm nay cần học lại nơi Mẹ. Chúng ta đang sống trong một nền văn hóa rất sợ đau. Hầu như mọi thứ đều được tổ chức để giảm khó chịu, tăng tiện nghi, đáp ứng tức thời. Không có gì sai khi con người tìm cách chữa bệnh, giảm khổ, nâng cao chất lượng cuộc sống. Đó là điều tốt. Nhưng nguy hiểm bắt đầu khi chúng ta tin rằng bất cứ điều gì làm mình khó chịu đều phải bị loại bỏ; bất cứ tương quan nào đòi hy sinh đều đáng từ bỏ; bất cứ trách nhiệm nào làm mình mệt đều có thể buông xuống; bất cứ người nào không còn mang lại cho mình cảm xúc tích cực đều có thể bị gạt ra ngoài. Khi ấy, ta có thể có một cuộc đời rất tiện nghi nhưng một trái tim rất nhỏ. Bởi tình yêu thật luôn có giá. Làm cha mẹ có giá. Giữ lòng chung thủy có giá. Tha thứ có giá. Chăm sóc người già có giá. Sống trung thực có giá. Theo Chúa có giá. Đức Maria cho ta thấy một tình yêu không đo bằng cảm xúc dễ chịu nhưng bằng khả năng ở lại.
Ở lại. Hai chữ ấy tóm tắt cả đời Mẹ. Mẹ ở lại với lời Chúa khi chưa hiểu. Mẹ ở lại với Giuse trong nghèo khó. Mẹ ở lại bên Con ở Nazareth. Mẹ ở lại khi Con ra đi rao giảng. Mẹ ở lại khi đám đông tung hô. Mẹ ở lại khi đám đông bỏ đi. Mẹ ở lại khi các môn đệ chạy trốn. Và cuối cùng, Mẹ ở lại dưới chân Thánh Giá. Tình yêu sâu nhất không phải lúc nào cũng biết phải nói gì; nhiều khi nó chỉ biết ở lại. Có những người bệnh không cần chúng ta giải thích tại sao họ bệnh; họ cần một người ngồi cạnh. Có người đang tang chế không cần nghe hàng chục câu đạo đức; họ cần một bàn tay không bỏ họ. Có người đang khủng hoảng không cần bài giảng; họ cần một người không sợ bóng tối của họ. Maria không tháo được đinh khỏi tay Chúa Giêsu. Mẹ không làm quân lính dừng lại. Mẹ không ngăn được cái chết. Nhưng Mẹ cho Con một điều mà trong giờ ấy rất ít người cho Người: sự hiện diện trung tín. Đừng coi thường sự hiện diện. Đôi khi không thể cứu người ta khỏi Thánh Giá, nhưng ta có thể làm cho họ không phải chịu Thánh Giá một mình.
Cũng từ đây ta hiểu tại sao đời sống Đức Maria không thể tách khỏi mầu nhiệm Thánh Giá. Mẹ không chỉ là Đức Mẹ của tháng Hoa, của những bài thánh ca dịu dàng, của những cuộc rước đông người. Mẹ còn là Đức Mẹ của những đêm mất ngủ bên giường bệnh, của những bà mẹ khóc vì con, của những người vợ chờ chồng trở về, của những người sống đời tận hiến trải qua khô khan, của những linh mục có lúc cô đơn với sứ vụ, của những gia đình mang vết thương không ai biết, của những người đang chống chọi với thất bại, của những ai đã cầu nguyện rất lâu mà câu trả lời vẫn im lặng. Mẹ hiểu những điều ấy không phải bằng lý thuyết nhưng bằng trái tim đã bị đâm thâu.
Có lẽ nhiều lần chúng ta hỏi: “Tại sao Chúa không cất Thánh Giá này khỏi đời con?” Và ta mong Đức Mẹ cầu để khó khăn biến mất. Ta có quyền cầu như vậy. Chính Chúa Giêsu cũng cầu xin chén đắng qua khỏi. Nhưng ta cũng cần xin một ơn sâu hơn: “Lạy Mẹ, nếu Thánh Giá chưa được cất đi, xin dạy con đứng bên nó như Mẹ.” Bởi có những hoàn cảnh không thể thay đổi ngay, nhưng trái tim ta có thể được biến đổi. Có những nỗi đau không biến mất, nhưng có thể trở thành nơi tình yêu lớn lên. Có những mất mát không thể lấy lại, nhưng người chịu mất mát có thể trở thành một con người mới. Đây là mầu nhiệm Phục Sinh ẩn trong Thánh Giá.
Đức Maria cũng dạy ta rằng muốn suy tôn Thánh Giá thì phải từ bỏ một ảo tưởng rất lớn: ảo tưởng kiểm soát. Mẹ không kiểm soát đời Con. Mẹ không quyết định khi nào Con làm phép lạ. Mẹ không quyết định Người phải được dân chúng hiểu. Mẹ không thể ngăn Giuđa phản bội, Phêrô chối Thầy, Philatô kết án hay đám đông la hét. Mẹ không kiểm soát được biến cố nhưng Mẹ tự do chọn cách mình hiện diện trong biến cố. Đây là tự do mà không ai lấy khỏi ta được. Chúng ta không thể kiểm soát mọi điều người khác nói về mình, nhưng có thể chọn không trả thù. Ta không kiểm soát được mọi biến cố, nhưng có thể chọn giữ lòng trung tín. Ta không ngăn được tất cả bệnh tật, tuổi già, chia ly và cái chết, nhưng có thể chọn để những điều ấy đưa mình gần Chúa hơn thay vì xa Chúa. Đức Maria không làm chủ hoàn cảnh; Mẹ để Thiên Chúa làm chủ đời Mẹ.
Suy tôn Thánh Giá như Đức Maria còn có nghĩa là không đặt bản thân mình ở trung tâm. Hãy nhìn Mẹ trong Tin Mừng: Mẹ nói rất ít. Và mỗi lần xuất hiện, ánh nhìn luôn hướng về Thiên Chúa hoặc về người khác. Trong Magnificat: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa.” Ở Cana: “Họ hết rượu rồi.” Với gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ làm theo.” Dưới chân Thánh Giá, Mẹ thậm chí không nói một lời nào được Tin Mừng ghi lại. Người suy tôn Thánh Giá thật sự cũng dần dần ra khỏi cái tôi. Bởi Thánh Giá là cái chết của ích kỷ. Hai thanh gỗ cắt nhau như một lời nhắc: đời sống không chỉ có chiều ngang của những điều ta muốn cho mình, nhưng có chiều dọc nối ta với Thiên Chúa. Và ngay giữa nơi hai chiều ấy gặp nhau là trái tim Đức Kitô bị đâm thâu, một trái tim hoàn toàn dành cho Cha và hoàn toàn dành cho nhân loại.
Chúng ta rất dễ biến Thánh Giá thành đồ trang sức trong khi né tránh logic của Thánh Giá trong đời sống. Ta đeo Thánh Giá nhưng không chịu mất phần mình. Ta hôn Thánh Giá nhưng không muốn tha thứ. Ta quỳ trước Thánh Giá nhưng vẫn giữ hận thù. Ta hát về Thánh Giá nhưng sống chỉ để tìm tiện nghi. Ta kính Đức Mẹ Sầu Bi nhưng không chịu đứng cạnh một người đang đau. Nếu như thế, Thánh Giá vẫn ở bên ngoài đời ta. Đức Maria thì không đeo Thánh Giá trên cổ; Mẹ để Thánh Giá đi xuyên qua trái tim. Có lẽ đó là lý do Mẹ có thể dẫn chúng ta đến gần Thánh Giá hơn bất cứ ai. Mẹ không giảng giải về Thánh Giá. Mẹ sống Thánh Giá.
Nhưng điều kỳ diệu là Thánh Giá không có tiếng nói cuối cùng. Nếu cuộc đời Đức Maria chỉ dừng dưới chân Canvê, Kitô giáo sẽ chỉ còn là câu chuyện của một người mẹ mất con. Nhưng người Con ấy đã sống lại. Và lúc ấy tất cả những gì Mẹ đã giữ trong lòng bắt đầu được soi sáng. Lời thiên thần không sai. Ngai vàng của Người thực sự vô tận, chỉ có điều ngai ấy khác hẳn mọi ngai vàng trần thế. Vương quyền của Người thực sự trường tồn, nhưng được khai mở qua tự hiến. Thánh Giá tưởng là thất bại lại trở thành chiến thắng. Ngôi mộ tưởng là dấu chấm hết lại trở thành cửa ngõ sự sống. Đức Maria đã không được miễn khỏi chiều thứ Sáu để đến thẳng Chúa Nhật. Mẹ đi qua đêm tối. Và bởi vậy, Mẹ có thể dạy ta hy vọng mà không hời hợt.
Niềm hy vọng Kitô giáo không nói: “Mọi việc rồi sẽ ổn” theo một nghĩa dễ dãi. Có những việc trên đời này không “ổn” theo mong muốn của chúng ta. Có người chúng ta yêu rồi vẫn phải chết. Có cơ hội đã mất sẽ không trở lại. Có vết thương để lại dấu sẹo suốt đời. Hy vọng Kitô giáo nói một điều sâu hơn: không một đau khổ nào được trao vào tay Thiên Chúa lại vô nghĩa; không một giọt nước mắt nào yêu thương mà Thiên Chúa không biết; không một Thánh Giá nào kết hợp với Thánh Giá Đức Kitô mà không mang trong nó mầm Phục Sinh. Maria tin điều đó trước khi nhìn thấy điều đó.
Có một câu hỏi mỗi người chúng ta nên tự đặt: Thánh Giá hiện nay của tôi là gì? Đừng tìm một điều quá xa xôi. Có thể là một người tôi khó yêu. Có thể là tuổi già. Có thể là một căn bệnh. Có thể là công việc âm thầm. Có thể là một người con làm mình đau. Có thể là hôn nhân đang cần rất nhiều nhẫn nại. Có thể là đời tu đi qua mùa khô hạn. Có thể là sứ vụ mà kết quả chẳng như mong đợi. Có thể là một lời hiểu lầm chưa được giải oan. Có thể là một sự cô độc không thể nói với ai. Có thể chỉ là mỗi sáng thức dậy và tiếp tục sống trung thành trong một hoàn cảnh mình không chọn. Ta không cần yêu Thánh Giá vì nó đau. Nhưng ta có thể yêu Chúa đang ở trên Thánh Giá ấy với ta. Và đó là khác biệt.
Khi nhìn Đức Maria dưới chân Thánh Giá, xin đừng chỉ thương Mẹ. Hãy học Mẹ. Học cách đứng mà không chạy trốn. Học cách im lặng mà không tuyệt vọng. Học cách khóc mà không mất đức tin. Học cách mất mà không khép lòng. Học cách để Thiên Chúa có quyền viết những chương mình chưa hiểu. Học cách nói “Xin Vâng” không chỉ ở Nazareth khi thiên thần hiện đến, mà còn trên Canvê khi trời tối và chẳng còn thiên thần nào xuất hiện. Tiếng Xin Vâng ở Nazareth rất đẹp, nhưng tiếng Xin Vâng không lời trên Canvê mới cho thấy chiều sâu của tiếng Xin Vâng ban đầu. Nói Xin Vâng khi đầy ánh sáng là một ân sủng. Giữ lời Xin Vâng khi ánh sáng tắt đi mới là sự trưởng thành của đức tin.
Có lẽ chính đây là điều Đức Maria muốn nói với Hội Thánh hôm nay. Đừng chỉ dựng Thánh Giá thật cao trên tháp chuông; hãy để tinh thần Thánh Giá đi thật sâu vào đời sống. Một Hội Thánh suy tôn Thánh Giá phải là Hội Thánh biết cúi xuống. Một cộng đoàn suy tôn Thánh Giá phải là cộng đoàn biết chịu phần thiệt để bảo vệ người yếu thế. Một linh mục suy tôn Thánh Giá không thể chỉ giảng về hy sinh mà phải biết tiêu hao đời mình cho đoàn chiên. Một người sống đời thánh hiến suy tôn Thánh Giá không chỉ bằng chiếc Thánh Giá đeo trên ngực mà bằng lòng trung thành âm thầm trong những ngày không ai vỗ tay. Một gia đình suy tôn Thánh Giá bằng cách tha thứ cho nhau nhiều hơn là kết án nhau. Một người Kitô hữu suy tôn Thánh Giá bằng cách chọn sự thật khi nói dối có lợi hơn, chọn chung thủy khi phản bội dễ hơn, chọn phục vụ khi ích kỷ hấp dẫn hơn, chọn yêu thương ngay cả khi tình yêu có giá.
Và cũng hãy nhớ: dưới chân Thánh Giá, Đức Maria không đứng một mình. Có người môn đệ Chúa yêu. Có những người phụ nữ. Nghĩa là Thánh Giá không phải là lời mời chúng ta cô lập mình. Người Kitô hữu vác Thánh Giá trong Hội Thánh và cùng Hội Thánh. Có những lúc ta cần Simon thành Kyrênê giúp vác. Có lúc ta cần một Veronica lau mặt. Có lúc ta cần Gioan đứng cạnh. Có lúc ta cần Maria chỉ đơn giản hiện diện. Đừng thần thánh hóa sự cô độc. Ngay cả Chúa Giêsu cũng đón nhận sự hiện diện của người khác trên con đường khổ nạn. Và ngay dưới chân Thánh Giá, Người đã tạo nên một gia đình mới: “Đây là mẹ của anh… đây là con của Bà.” Thánh Giá không chỉ cứu từng cá nhân; Thánh Giá tạo nên hiệp thông.
Khi đời chúng ta gặp đau khổ, cám dỗ thường là hỏi: “Tôi đã làm gì để phải chịu điều này?” Có những lúc câu hỏi ấy có ý nghĩa, vì hậu quả của những lựa chọn sai cần được nhìn nhận. Nhưng có vô số đau khổ không thể giải thích theo logic thưởng-phạt đơn giản. Đức Maria vô nhiễm mà vẫn chịu đau. Chúa Giêsu vô tội mà vẫn bị đóng đinh. Thánh Giá phá vỡ một thứ thần học quá đơn giản cho rằng hễ tốt thì phải luôn thuận lợi, hễ khổ thì chắc đã làm điều sai. Người tốt vẫn có thể khóc. Người công chính vẫn có thể bị hiểu lầm. Người cầu nguyện vẫn có thể bệnh. Người thuộc về Chúa vẫn có thể trải qua đêm tối. Điều làm nên sự khác biệt không phải người có đức tin thì không đau, nhưng là họ không đau một mình và đau khổ không còn có quyền định nghĩa toàn bộ cuộc đời họ.
Maria không được định nghĩa bởi lưỡi gươm. Mẹ được định nghĩa bởi tình yêu. Chúa Giêsu không được định nghĩa bởi những chiếc đinh. Người được định nghĩa bởi tình yêu. Và chúng ta cũng vậy. Đừng để vết thương trở thành căn tính của mình. Bạn có thể đã bị phản bội, nhưng bạn không chỉ là “người bị phản bội”. Bạn có thể đã mất mát, nhưng bạn không chỉ là “người mất mát”. Bạn có thể đã thất bại, nhưng bạn không phải là “một thất bại”. Đức Maria mang một trái tim bị đâm thâu, nhưng trái tim ấy vẫn là trái tim của người “đầy ân sủng”. Vết thương không hủy bỏ ân sủng. Thánh Giá không hủy bỏ lời hứa. Chiều thứ Sáu không hủy bỏ Chúa Nhật.
Và cuối cùng, nếu muốn hiểu Đức Maria đã “suy tôn” Thánh Giá thế nào, có lẽ chỉ cần đặt cạnh nhau hai câu Tin Mừng. Câu thứ nhất ở Nazareth: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Câu thứ hai ở Canvê không phải là lời Mẹ nói mà là hình ảnh Tin Mừng ghi: “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người.” Giữa hai câu ấy là cả một đời người. Maria đã nói “Xin Vâng”, rồi Mẹ dành cả cuộc đời để không rút lại lời ấy. Đó là sự thánh thiện. Không phải nói một lời đẹp trong một khoảnh khắc cảm động, mà là trung thành với lời ấy qua năm tháng. Không phải chỉ dâng mình trong ngày lễ, mà là tiếp tục dâng mình trong những ngày thường. Không phải chỉ yêu Chúa khi Bêlem có tiếng thiên thần hát, mà còn yêu Chúa khi Canvê chỉ còn tiếng chế nhạo. Không phải chỉ tin khi phép lạ Cana xảy ra, mà còn tin khi chẳng có phép lạ nào đưa Con xuống khỏi Thánh Giá.
Đức Maria đã suy tôn Thánh Giá bằng cách ấy. Mẹ suy tôn Thánh Giá khi nói Xin Vâng. Mẹ suy tôn Thánh Giá khi chấp nhận bị hiểu lầm. Mẹ suy tôn Thánh Giá trong cảnh nghèo Bêlem. Mẹ suy tôn Thánh Giá trên đường trốn sang Ai Cập. Mẹ suy tôn Thánh Giá khi nghe lưỡi gươm được báo trước. Mẹ suy tôn Thánh Giá trong ba ngày tìm Con. Mẹ suy tôn Thánh Giá trong ba mươi năm sống âm thầm. Mẹ suy tôn Thánh Giá khi để Con rời Nazareth. Mẹ suy tôn Thánh Giá khi đi theo Con trong sứ vụ mà không chiếm chỗ của Con. Mẹ suy tôn Thánh Giá khi đứng dưới chân Thập Giá. Mẹ suy tôn Thánh Giá khi đón nhận Gioan làm con ngay lúc trái tim mình bị lấy mất Người Con duy nhất. Mẹ suy tôn Thánh Giá trong thinh lặng của thứ Bảy. Và Mẹ suy tôn Thánh Giá khi tin rằng tình yêu của Thiên Chúa mạnh hơn ngôi mộ.
Xin Mẹ dạy chúng ta đừng chỉ suy tôn Thánh Giá bằng môi miệng mà bằng cuộc đời. Đừng chỉ hôn Thánh Giá trong phụng vụ rồi trở về nhà sống ích kỷ. Đừng chỉ cúi đầu trước Đấng chịu đóng đinh rồi quay lưng với những người đang bị đóng đinh quanh mình. Đừng chỉ ca tụng sự hy sinh của Chúa mà luôn bắt người khác hy sinh cho mình. Đừng chỉ nói “ý Cha thể hiện” khi điều xảy ra đúng ý mình. Xin Mẹ dạy chúng ta một tiếng Xin Vâng có chiều sâu, một đức tin biết đứng vững, một tình yêu biết ở lại, một niềm hy vọng không cần nhìn thấy trước kết quả.
Và những khi Thánh Giá đời ta nặng quá, xin cho ta nhớ rằng dưới chân mọi Thánh Giá được mang trong đức tin, luôn có một người Mẹ. Mẹ không hứa sẽ làm mọi Thánh Giá biến mất. Mẹ làm điều Mẹ đã làm trên Canvê: Mẹ đứng đó. Mẹ đứng cạnh Con Mẹ và Mẹ đứng cạnh những người con được trao cho Mẹ. Có những lúc chỉ cần biết Mẹ đứng đó cũng đủ để ta can đảm thêm một ngày. Có những lúc chẳng còn lời cầu nguyện nào ngoài câu: “Mẹ Maria, xin đứng với con.” Và có lẽ Mẹ sẽ không trả lời bằng nhiều lời. Mẹ chỉ đưa mắt ta về phía Người Con bị đóng đinh, như ngày xưa ở Cana Mẹ đã từng nói: “Người bảo gì, các con cứ việc làm theo.”
Ở đó, trên Thánh Giá, Người vẫn đang nói. Người nói rằng bạn được yêu. Người nói rằng tội lỗi không phải tiếng nói cuối cùng. Người nói rằng tha thứ vẫn có thể. Người nói rằng không một đau khổ nào phải chịu trong tình yêu là vô ích. Người nói rằng chết không phải là hết. Và Đức Maria đứng bên cạnh như chứng nhân đầu tiên của một đức tin đã đi xuyên qua đêm tối để tới bình minh.
Hãy nhìn Mẹ. Hãy nhìn Thánh Giá. Rồi nhìn lại đời mình. Có lẽ ta sẽ hiểu rằng suy tôn Thánh Giá không nhất thiết bắt đầu bằng một việc phi thường. Nó bắt đầu bằng tiếng “Xin Vâng” hôm nay. Xin Vâng với bổn phận hôm nay. Xin Vâng với người cần được yêu hôm nay. Xin Vâng với một cuộc hòa giải cần thực hiện hôm nay. Xin Vâng với một hy sinh không ai biết hôm nay. Xin Vâng với việc trung thành dù mệt hôm nay. Xin Vâng với Thiên Chúa ngay cả khi ta chưa hiểu hôm nay. Cứ như thế, từng tiếng Xin Vâng nhỏ bé sẽ nối lại thành một cuộc đời. Và đến cuối cùng, có lẽ điều đẹp nhất Thiên Chúa có thể nói về chúng ta cũng sẽ giống điều Tin Mừng cho ta thấy nơi Đức Maria: người ấy đã không bỏ chạy. Người ấy đã ở lại. Người ấy đã đứng dưới chân Thánh Giá. Người ấy đã tin. Người ấy đã yêu đến cùng.
Đức Maria không chỉ đứng dưới Thánh Giá của Chúa Giêsu. Mẹ đã mang hình bóng Thánh Giá trong cả cuộc đời. Và vì thế, trước khi Hội Thánh long trọng suy tôn Thánh Giá bằng phụng vụ, Mẹ đã suy tôn Thánh Giá bằng một đời Xin Vâng. Trước khi Thánh Giá được giương cao giữa lòng Hội Thánh, nó đã được dựng lên trong trái tim của Mẹ. Không phải như cây gỗ của tuyệt vọng, nhưng như cây của tình yêu. Không phải như dấu hiệu thất bại, nhưng như con đường dẫn đến sự sống. Không phải như kết thúc của lời hứa, mà như nơi lời hứa được hoàn thành theo cách không ai ngờ tới.
Xin Đức Maria, Mẹ của Đấng chịu đóng đinh và Mẹ của chúng ta, dạy chúng ta một ngày kia cũng có thể suy tôn Thánh Giá không chỉ bằng một lời kinh, một cái cúi đầu hay một nụ hôn trên tượng Chúa chịu nạn, nhưng bằng chính cuộc đời mình: một cuộc đời biết yêu khi phải trả giá, biết tha thứ khi bị tổn thương, biết ở lại khi muốn bỏ đi, biết hy vọng khi trời tối, biết trao đi khi muốn giữ lại, biết thưa Xin Vâng khi không hiểu, và biết tin rằng đằng sau mọi chiều thứ Sáu được sống với Đức Kitô vẫn âm thầm có một buổi sáng Phục Sinh đang đến.
Lm. Anmai, CSsR

ĐAU KHỔ CỦA NGƯỜI MẸ ĐỨNG NHÌN CON CHẾT – CHIỀU KÍCH NHÂN LOẠI SÂU THẲM CỦA THÁNH GIÁ
Có những nỗi đau con người có thể kể lại sau một thời gian dài, khi vết thương đã lên da non, khi nước mắt đã cạn bớt, khi ký ức không còn cứa vào tim mình như những ngày đầu. Nhưng cũng có những nỗi đau dường như không bao giờ có thể kể cho hết, bởi càng kể càng thấy ngôn ngữ bất lực. Nỗi đau của một người mẹ đứng nhìn con mình chết thuộc về những nỗi đau như thế. Không ai sinh một đứa con ra để một ngày kia đứng nhìn nó chết. Người mẹ sinh con là để nhìn con lớn, để nghe tiếng con gọi, để thấy con bước đi, để mong một ngày con trưởng thành, có một mái nhà, một cuộc đời, một tương lai. Bởi thế, cái chết của một người con luôn có điều gì đó đi ngược lại trật tự tự nhiên của tình yêu. Người ta vẫn nghĩ con cái sẽ tiễn cha mẹ, chứ cha mẹ nào muốn phải tiễn con. Một người mẹ tóc bạc đứng bên quan tài đứa con của mình là một trong những hình ảnh đau đớn nhất mà đời người có thể chứng kiến. Người mẹ ấy có thể không nói gì. Bà chỉ nhìn. Có khi bà khóc. Có khi bà không còn nước mắt để khóc nữa. Có khi bà cứ đưa tay vuốt mái tóc đứa con như ngày nó còn bé. Có khi người ta phải kéo bà ra khỏi chiếc quan tài vì bà cứ muốn ở lại thêm một chút. Đằng sau những cử chỉ rất nhỏ ấy là một vực sâu mà chỉ trái tim người mẹ mới hiểu. Và chính trong vực sâu ấy, chúng ta có thể đến gần hơn một chút với Đức Maria dưới chân Thánh Giá. Không phải trước hết bằng những khái niệm thần học cao xa, nhưng bằng một trái tim con người. Trước khi gọi Maria là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Hội Thánh, Nữ Vương các thánh, chúng ta hãy nhìn Mẹ trong giờ ấy chỉ bằng một điều rất đơn sơ: Mẹ là một người mẹ đang đứng nhìn Con mình chết.
Tin Mừng theo thánh Gioan kể lại biến cố ấy bằng những dòng rất ngắn, gần như lạnh lùng trong sự cô đọng của nó: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người…” (Ga 19,25). Chỉ một chữ “đứng” thôi, nhưng phía sau chữ ấy là cả một đại dương đau khổ. Mẹ đứng. Không phải vì Mẹ không đau. Mẹ đứng bởi vì đau đến mức không còn chỗ nào để đi nữa. Mẹ đứng bởi Con Mẹ đang ở đó. Người ta có thể chạy khỏi một nơi làm mình đau, nhưng người mẹ không thể bỏ con mình vào giờ cuối cùng. Maria chẳng làm được gì nữa cho Đức Giêsu. Mẹ không thể tháo những chiếc đinh khỏi tay Con. Mẹ không thể lấy mão gai khỏi đầu Con. Mẹ không thể ngăn những lời nhạo báng. Mẹ không thể xin lính Rôma dừng cuộc hành hình. Mẹ không thể mang Con xuống khỏi thập giá. Mẹ cũng không thể chết thay cho Con. Có lẽ chính sự bất lực ấy mới là một trong những phần đau nhất của tình mẫu tử. Người mẹ đau không chỉ vì con đau, mà còn vì mình không làm được gì để con bớt đau. Khi con còn nhỏ bị sốt, người mẹ có thể thức trắng, có thể chườm khăn, cho uống thuốc, bế con trên tay. Khi con té ngã, mẹ có thể đỡ con dậy. Khi con đói, mẹ có thể cho con ăn. Khi con sợ, mẹ có thể ôm con vào lòng. Nhưng có những lúc của đời người, người mẹ chỉ còn có thể đứng đó. Bệnh viện đóng cửa phòng cấp cứu. Bác sĩ nói rằng không còn cách nào nữa. Chiếc máy theo dõi nhịp tim bắt đầu phát ra những âm thanh thưa dần. Và người mẹ chỉ còn biết nắm lấy bàn tay con. Maria trên đồi Canvê cũng đã bước vào sự bất lực tận cùng ấy của tình yêu.
Có lẽ trong những giờ dài dưới chân thập giá, từng mảnh đời của Đức Giêsu đã trở lại trong trí nhớ của Mẹ. Người mẹ nào mà chẳng nhớ rất dai những điều thuộc về con mình. Mẹ có thể quên một chuyện của chính mình, nhưng một câu nói của con từ ba mươi năm trước đôi khi vẫn còn nguyên. Maria có lẽ đã nhớ Bêlem, nhớ đêm lạnh năm nào, nhớ một trẻ thơ không có chỗ trong quán trọ. Mẹ đã từng bọc Con trong khăn và đặt nằm trong máng cỏ. Đôi bàn tay bị đóng đinh trên thập giá hôm nay chính là đôi bàn tay nhỏ bé ngày xưa từng nắm lấy ngón tay Mẹ. Gương mặt bê bết máu kia là gương mặt Mẹ từng cúi xuống hôn. Đôi chân bị đóng vào gỗ kia là đôi chân Mẹ từng vui mừng nhìn thấy những bước đi đầu tiên. Đôi môi khô khốc đang thều thào trên thập giá là đôi môi đã từng gọi Mẹ bằng một tiếng rất thân thương. Người Con mà thiên thần Gabriel đã nói rằng sẽ “nên cao cả”, Người Con mà cụ Simêon từng bồng trên tay trong Đền Thờ, Người Con mà các mục đồng đã đến thờ lạy, Người Con mà ba nhà đạo sĩ từ phương Đông tìm đến, giờ đây trần trụi, thương tích, bị nhạo cười giữa hai tên tử tội. Đối với Maria, thập giá không phải là một biểu tượng treo trên tường. Đó là thân thể của Con Mẹ. Những chiếc đinh không phải là một chi tiết trong nghệ thuật Kitô giáo. Chúng xuyên qua da thịt của đứa con Mẹ đã cưu mang chín tháng mười ngày. Máu trên thập giá không phải một ý niệm thần học. Đó là máu của Con Mẹ. Khi ta nhìn Thánh Giá từ chiều kích ấy, ta mới hiểu Kitô giáo không được sinh ra từ một hệ thống tư tưởng lạnh lùng. Đức tin của chúng ta đi ngang qua một thân xác bị thương, một người Con đang hấp hối, và một người Mẹ đứng khóc dưới chân Người.
Ba mươi mấy năm trước đó, cụ già Simêon đã nói với Maria một lời thật lạ: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,35). Ngày ấy có lẽ Maria chưa thể hiểu hết lưỡi gươm ấy sẽ sắc đến mức nào. Cuộc đời nhiều khi là như vậy. Thiên Chúa nói với ta một điều, nhưng chỉ sau nhiều năm ta mới hiểu. Và có những lời chỉ được hiểu bằng nước mắt. Lưỡi gươm của Simêon cuối cùng đã xuất hiện trên đồi Canvê. Người lính đâm cạnh sườn Đức Giêsu bằng ngọn giáo, nhưng trái tim Maria đã bị đâm từ trước đó rất lâu. Bị đâm khi nghe người ta nói Con mình là kẻ bị quỷ ám. Bị đâm khi thấy người ta chống đối Con. Bị đâm khi đám đông từng tung hô “Hosanna” rồi chỉ ít ngày sau gào lên “Đóng đinh nó đi!”. Bị đâm khi thấy các môn đệ chạy trốn. Bị đâm khi thấy Phêrô chối Thầy. Bị đâm khi nhìn Con vác thập giá qua những con đường Giêrusalem. Và cuối cùng, lưỡi gươm đi hết chiều sâu của nó khi Mẹ nghe những tiếng búa đóng đinh Con mình vào gỗ. Có những lưỡi gươm không làm thân thể chảy máu nhưng làm trái tim chảy máu suốt đời. Người đời có thể nhìn một người mẹ vẫn ăn, vẫn đi, vẫn nói chuyện và tưởng bà đã vượt qua nỗi đau mất con. Không đâu. Có những người mẹ mang một ngôi mộ trong trái tim mình cho đến ngày chết. Maria hiểu những người mẹ ấy.
Chính vì thế, dưới chân Thánh Giá, Đức Maria không chỉ đứng cạnh Đức Giêsu; Mẹ còn đứng gần tất cả những bà mẹ trong lịch sử nhân loại đã từng khóc vì con. Mẹ đứng bên người mẹ ngồi ngoài phòng mổ đợi bác sĩ bước ra mà lòng quặn thắt. Mẹ đứng bên người mẹ nhìn con héo dần vì ung thư. Mẹ đứng bên người mẹ nhận tin con tử nạn giữa đêm khuya. Mẹ đứng bên những bà mẹ của chiến tranh nhận lại một chiếc quan tài phủ cờ thay cho đứa con từng khỏe mạnh bước ra khỏi nhà. Mẹ đứng bên người mẹ mất con vì tai nạn giao thông chỉ trong vài giây. Mẹ đứng bên người mẹ đã cầu nguyện bao năm mà cuối cùng vẫn phải nhìn con ra đi. Mẹ đứng bên người mẹ ngồi im trong căn phòng của đứa con đã chết, nhìn chiếc áo nó từng mặc, chiếc giường nó từng ngủ, cuốn sách nó đọc dở, đôi dép nó để lại, và không đủ can đảm dọn đi bất cứ thứ gì. Mẹ đứng bên người mẹ vẫn vô thức nấu món con thích rồi chợt nhớ con không còn về ăn nữa. Mẹ đứng bên những người mẹ mỗi dịp Tết đến, sinh nhật đến, lễ Giáng Sinh đến, thấy cả nhà đông đủ mà trong lòng vẫn có một chiếc ghế trống không ai thay thế được. Và có lẽ nếu Maria có thể nói với những người mẹ ấy, Mẹ sẽ không nói nhiều. Người đã từng chịu đau thật thường không vội giảng giải nỗi đau cho người khác. Mẹ có lẽ chỉ ngồi xuống bên họ. Bởi đôi khi, trước một nỗi đau quá lớn, sự hiện diện quý hơn mọi lời giải thích.
Thánh Giá bởi thế chứa một chiều kích nhân loại sâu thẳm mà ta rất dễ đánh mất nếu chỉ nhìn nó bằng những công thức. Chúng ta tuyên xưng rằng Đức Kitô chết để cứu chuộc nhân loại. Điều ấy hoàn toàn đúng. Nhưng sự cứu chuộc ấy không xảy ra ngoài đời sống con người. Thiên Chúa không cứu chúng ta từ một nơi xa xôi bằng một sắc lệnh trên trời. Người đi vào tận những kinh nghiệm đau nhất của con người. Người biết thế nào là đói, khát, mệt, bị phản bội, bị từ chối, bị hiểu lầm, bị cô độc, bị hành hạ và chết. Và Người để cho chính Mẹ mình trải nghiệm nỗi đau của một bà mẹ mất con. Có một sự thật gây sửng sốt trong mầu nhiệm Nhập Thể: Thiên Chúa không đứng ngoài nước mắt của con người. Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa đã khóc. Và trong Maria, nhân loại đã khóc dưới chân Thiên Chúa chịu đóng đinh. Canvê vì vậy là nơi nước mắt của trời và nước mắt của đất gặp nhau.
Có người hỏi: nếu Thiên Chúa yêu Maria, tại sao Người để Mẹ chịu đau đến thế? Câu hỏi ấy cũng là câu hỏi mà biết bao con người đau khổ vẫn hỏi: Nếu Chúa thương tôi, tại sao chuyện này xảy ra? Nếu Chúa yêu gia đình tôi, tại sao đứa con của tôi chết? Nếu Chúa nghe lời cầu nguyện, tại sao tôi đã cầu nguyện ngày đêm mà người tôi yêu vẫn ra đi? Những câu hỏi ấy không có lời trả lời dễ dàng. Và sẽ rất tàn nhẫn nếu ta dùng vài câu đạo đức để bịt miệng một trái tim đang tan vỡ. Thánh Giá không cho chúng ta một công thức giải thích mọi đau khổ. Đức Giêsu trên thập giá cũng không đọc một bài giảng về lý do của đau khổ. Người đau. Người kêu. Người khát. Người cầu nguyện. Người trao phó. Và Người chết. Kitô giáo không nói rằng mọi đau khổ tự nó đều tốt. Đau khổ vẫn là đau khổ. Cái chết vẫn là kẻ thù. Nước mắt vẫn là nước mắt. Điều Tin Mừng nói là: ngay cả nơi tưởng như Thiên Chúa vắng mặt nhất, Người vẫn có thể ở đó; ngay cả điều tưởng như chỉ dẫn đến hủy diệt, tình yêu Thiên Chúa vẫn có thể biến thành con đường cứu độ. Canvê không đẹp vì máu. Canvê đẹp vì tình yêu không bỏ chạy khỏi máu.
Chúng ta thường muốn yêu người khác trong những hoàn cảnh đẹp. Ta thích yêu khi còn có thể giúp, còn có thể chữa, còn có thể thay đổi tình hình. Nhưng có một thứ tình yêu chỉ được mặc khải khi không còn gì để làm nữa ngoài việc ở lại. Maria dạy thứ tình yêu ấy. “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người.” Mẹ không giải cứu Con khỏi cái chết. Mẹ ở với Con trong cái chết. Và đôi khi đó là điều lớn nhất con người có thể trao cho nhau: không phải lấy nỗi đau khỏi cuộc đời người kia, vì ta không thể, nhưng đừng để người kia đau một mình. Có những bệnh nhân không cần chúng ta nói thêm. Họ cần một bàn tay. Có những người hấp hối không còn nghe rõ lời ta nói, nhưng vẫn cảm nhận được một người đang ngồi bên. Có những bà mẹ mất con không cần nghe câu “thôi cố lên”, “Chúa có chương trình của Chúa”, “rồi thời gian sẽ chữa lành”. Những câu ấy đôi khi đúng về một mặt nào đó nhưng có thể trở nên nhẫn tâm nếu nói sai lúc. Họ cần một người đủ can đảm ở lại với nước mắt của họ. Maria đã làm điều ấy với Đức Giêsu. Mẹ đứng.
Đứng dưới chân Thánh Giá không phải là một tư thế yếu đuối. Đó là một trong những hình thức can đảm cao nhất của tình yêu. Các môn đệ đã chạy. Đám đông chế giễu. Các lãnh đạo Do Thái đắc thắng. Quân lính lạnh lùng làm nhiệm vụ. Nhưng Maria đứng. Mẹ không có vũ khí. Không có quyền lực. Không thể thay đổi bản án. Nhưng Mẹ có tình yêu. Và tình yêu ấy đủ mạnh để đứng lại nơi phần lớn người khác bỏ đi. Có lúc can đảm không phải là chiến thắng một ai. Can đảm là không bỏ người mình yêu trong giờ họ thất bại. Can đảm là không chạy khi thập giá xuất hiện. Can đảm là giữ một bàn tay đang lạnh dần. Can đảm là nói với một người hấp hối: “Con cứ yên tâm. Mẹ ở đây.” Có thể Maria đã không nói thành lời, nhưng toàn bộ sự hiện diện của Mẹ dưới chân Thánh Giá chính là một câu ấy: Con ơi, Mẹ ở đây.
Và Đức Giêsu biết Mẹ ở đó. Trong cơn đau khủng khiếp, Người nhìn xuống và thấy Mẹ. Tin Mừng Gioan ghi lại một trong những khoảnh khắc cảm động nhất của cuộc Khổ Nạn: “Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh’” (Ga 19,26-27). Thật lạ lùng: ngay khi chính mình đang hấp hối, Đức Giêsu vẫn nghĩ đến Mẹ. Một người con trước khi chết lo cho người mẹ sẽ ở lại sau mình. Trong câu nói ấy có cả mầu nhiệm Hội Thánh, nhưng cũng có một vẻ đẹp rất người. Đức Giêsu hiểu rằng sau cái chết của Người sẽ có một khoảng trống khủng khiếp trong đời Maria. Từ nay căn nhà sẽ vắng. Giọng nói ấy không còn. Những bước chân ấy không trở lại. Người trao Gioan cho Mẹ, và trao Mẹ cho Gioan. Từ dưới chân Thánh Giá, một gia đình mới được sinh ra. Điều này nói với chúng ta một điều rất sâu: đau khổ dễ làm con người khép lại, nhưng trong Đức Kitô, chính đau khổ có thể trở thành nơi một tình liên đới mới được sinh ra. Maria mất một Người Con, nhưng được trao cả một đoàn con. Hội Thánh, theo một nghĩa thật đẹp, đã bắt đầu dưới bóng của một người Mẹ đau khổ.
Có lẽ vì thế mà từ bao thế kỷ, những người đau khổ tìm đến với Đức Mẹ rất tự nhiên. Một người mẹ mất con không cần giới thiệu dài dòng với Mẹ. Mẹ hiểu. Một người cha đứng bên giường bệnh của con không cần diễn đạt hết nỗi bất lực. Mẹ hiểu. Một người vợ nhìn chồng hấp hối, một người chồng nắm tay vợ ở giờ cuối, một gia đình đứng quanh quan tài người thân – tất cả đều có thể nhìn lên Đức Mẹ Sầu Bi và biết rằng đức tin Kitô giáo không hứa cho chúng ta một cuộc đời không nước mắt. Đức tin trao cho chúng ta một Người Mẹ đã từng khóc. Điều ấy khác rất nhiều. Một tôn giáo chỉ nói về chiến thắng mà không có nước mắt sẽ không đủ cho con người. Một Thiên Chúa chỉ ở trên ngai vàng mà không có vết thương sẽ rất xa những bệnh viện, nghĩa trang và những ngôi nhà có tang. Nhưng Thiên Chúa của Kitô giáo là Thiên Chúa chịu đóng đinh. Và bên Thánh Giá của Người có một người Mẹ.
Đau khổ của Maria càng sâu vì Mẹ không chỉ nhìn Con chết; Mẹ nhìn một Người vô tội chết. Có lẽ nỗi đau lớn nhất không chỉ là cái chết, mà là sự bất công của cái chết ấy. Mẹ biết Con mình. Mẹ biết Người không phải một tên tội phạm. Mẹ biết bàn tay đang bị đóng đinh kia đã chạm vào những người phong cùi để chữa lành họ. Mẹ biết đôi chân ấy đã đi qua bao làng mạc để tìm người nghèo. Mẹ biết môi miệng ấy đã nói lời tha thứ cho tội nhân. Mẹ biết đôi mắt ấy từng nhìn người phụ nữ ngoại tình mà không kết án, nhìn Dakêu để cho ông một cơ hội làm lại cuộc đời, nhìn người mù và mở mắt anh, nhìn bà góa Nain và trả lại người con cho bà. Người đã trả con cho một bà mẹ ở Nain, nhưng giờ đây không ai trả Người lại cho Maria. Có một nghịch lý đau đớn ở đây. Đức Giêsu từng dừng một đám tang để nói với người thanh niên: “Hỡi người thanh niên, tôi bảo anh: hãy trỗi dậy!” Người từng nói với con gái ông Giairô: “Talitha kum – Này bé, Thầy truyền cho con: trỗi dậy đi!” Người từng gọi Lazarô ra khỏi mồ. Nhưng trên Canvê, Người không xuống khỏi thập giá. Người đã cứu người khác nhưng không cứu chính mình, bởi vì chính bằng việc không cứu mình mà Người cứu tất cả chúng ta.
Maria phải đứng trước sự nghịch lý ấy. Và đức tin của Mẹ đạt tới một sự tinh tuyền khủng khiếp. Ngày Truyền Tin, thiên thần nói rằng Con của Mẹ sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao, và Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng Đavít. Nhưng ngai vàng ấy giờ là một cây thập giá. Vương miện là mão gai. Triều phục là một thân thể bị lột trần. Triều thần là hai kẻ bị đóng đinh bên cạnh. Lời tung hô là tiếng cười nhạo. Maria vẫn đứng. Đó là đức tin khi mọi điều trông thấy dường như phủ nhận mọi điều đã được hứa. Tin khi đời thuận lợi không khó bằng tin khi lời hứa của Thiên Chúa dường như đã chết ngay trước mắt mình. Maria tin trong bóng tối. Không phải một thứ tin mù quáng không cảm thấy đau, nhưng là thứ đức tin vừa đau vừa không bỏ Chúa.
Ở đây, người tín hữu hôm nay có thể học được điều gì? Có những lúc đời ta cũng rơi vào một thứ Canvê. Một lời cầu xin đã nhiều năm không được đáp theo cách ta mong. Một người thân ra đi. Một cuộc hôn nhân tan vỡ. Một đứa con rời xa gia đình. Một căn bệnh không chữa được. Một công việc sụp đổ. Một danh dự bị nghiền nát. Một ơn gọi đi vào khủng hoảng. Ta hỏi Chúa: “Lạy Chúa, những điều Chúa từng hứa đâu rồi?” Và chỉ có im lặng. Maria không trao cho ta một câu trả lời trí thức. Mẹ trao cho ta một tư thế: đứng. Khi không hiểu, đứng với Chúa. Khi không còn cảm thấy gì, đứng với Chúa. Khi lời cầu nguyện khô khan, đứng với Chúa. Khi người khác bỏ đi, đứng với Chúa. Khi chẳng thấy Phục Sinh đâu cả, vẫn đứng dưới Thánh Giá. Đức tin trưởng thành nhiều khi không phải là cảm thấy Chúa gần, mà là không bỏ Chúa khi ta cảm thấy Người xa.
Nhưng có điều cần nói rất rõ: đứng dưới Thánh Giá không có nghĩa là yêu đau khổ, tìm đau khổ hay xem đau khổ như một giá trị tự thân. Kitô giáo không tôn thờ sự đau đớn. Đức Giêsu chữa bệnh, nuôi người đói, làm cho người chết sống lại, lau nước mắt cho người đau khổ. Người không bảo chúng ta tạo thêm thập giá cho nhau. Trái lại, người Kitô hữu được mời gọi tháo những thập giá mà con người đặt lên vai nhau bởi bất công, bạo lực, nghèo đói, ích kỷ, chiến tranh và vô cảm. Nhưng có những thập giá dù ta làm mọi sự vẫn không tránh khỏi. Khi ấy, câu hỏi không còn là “làm sao để không đau?” mà là “làm sao để đau mà không mất tình yêu, đau mà không mất đức tin, đau mà không để nỗi đau biến mình thành cay đắng?” Maria là câu trả lời sống động. Mẹ đau mà không nguyền rủa. Mẹ bị đâm thâu mà không trả thù. Mẹ mất Con mà không mất Thiên Chúa.
Có một vẻ đẹp rất sâu trong hình ảnh Maria không nói lời nào dưới chân Thánh Giá. Tin Mừng không ghi lại một lời than trách của Mẹ. Sự thinh lặng ấy không phải vô cảm. Đó là sự thinh lặng của một trái tim đã vượt quá khả năng của ngôn từ. Ai từng chứng kiến một bà mẹ mất con sẽ hiểu. Có lúc bà khóc rất lớn. Nhưng cũng có lúc bà ngồi yên đến đáng sợ. Người ta hỏi gì bà cũng chỉ lắc đầu. Nỗi đau quá lớn đôi khi làm con người im lặng. Và chính trong sự im lặng ấy, Thiên Chúa có thể ở rất gần. Ta thường nghĩ cầu nguyện phải nói nhiều. Không. Có những lời cầu nguyện chỉ là ngồi trước Thánh Giá mà khóc. Có những lời cầu nguyện chỉ là nhìn Chúa và nói: “Con không hiểu.” Có những lời cầu nguyện thậm chí không nói được câu ấy. Chỉ một tiếng thở dài. Chỉ một giọt nước mắt. Chỉ một sự hiện diện. Maria dạy chúng ta rằng Thiên Chúa hiểu thứ ngôn ngữ đó.
Người ta có thể hỏi: Maria có hy vọng Phục Sinh lúc ấy không? Chúng ta không biết Mẹ cảm nhận điều gì trong từng khoảnh khắc. Tin Mừng không cho phép ta tưởng tượng quá xa. Nhưng có một điều chắc chắn: Mẹ ở lại. Và đôi khi hy vọng không biểu hiện bằng một cảm giác lạc quan. Hy vọng có thể chỉ là không bỏ đi. Một bà mẹ chăm con bệnh mười năm không phải ngày nào cũng cảm thấy mạnh mẽ. Có ngày bà kiệt sức. Có ngày bà khóc. Có ngày bà hỏi Chúa tại sao. Nhưng sáng hôm sau bà vẫn dậy nấu cháo, vẫn thay thuốc, vẫn đỡ con ngồi dậy. Đó là hy vọng. Người chồng chăm người vợ nằm liệt không phải lúc nào cũng có những lời đẹp. Có ngày ông chỉ lặng lẽ lau người cho vợ. Đó là hy vọng. Người tín hữu giữa một đêm tối thiêng liêng vẫn lần chuỗi dù không cảm thấy gì. Đó là hy vọng. Maria đứng dưới chân Thánh Giá. Đó là hy vọng trong hình hài tinh tuyền nhất.
Và rồi Đức Giêsu chết. Tin Mừng kể: “Người gục đầu xuống và trao Thần Khí” (Ga 19,30). Chúng ta có thể đọc câu ấy trong vài giây, nhưng Maria đã sống giây phút ấy. Một người mẹ nhận ra ngay khi con mình không còn thở. Có lẽ Mẹ đã nhìn lồng ngực Con ngừng chuyển động. Cái đầu gục xuống. Đôi mắt khép lại. Thân thể bất động. Và Mẹ biết: Con mình đã chết. Không ai trong chúng ta có thể đi vào trọn vẹn giây phút ấy. Chỉ có thể đứng xa mà cúi đầu. Người Con mà Mẹ đã sinh ra ở Bêlem giờ chết trên Canvê. Từ chiếc nôi đến thập giá. Từ tiếng khóc đầu tiên đến hơi thở cuối cùng. Một vòng đời khép lại trước mắt Mẹ.
Rồi còn một điều đau hơn nữa. Mẹ phải nhận xác Con. Truyền thống Kitô giáo đã gìn giữ hình ảnh Pietà – Đức Mẹ ôm xác Đức Giêsu – như một trong những hình ảnh gây xúc động nhất của lịch sử nghệ thuật và đức tin. Hãy thử nghĩ: hơn ba mươi năm trước, Maria từng ôm một Hài Nhi trong lòng. Giờ Mẹ ôm cùng Người Con ấy, nhưng thân thể đã lạnh. Ngày ấy Mẹ quấn Con trong khăn và đặt vào máng cỏ; hôm nay người ta lại quấn Con trong khăn để đặt vào mồ. Ngày ấy các mục đồng đến trong niềm vui; hôm nay vài người bạn đến trong nước mắt. Ngày ấy ngôi sao sáng trên Bêlem; hôm nay trời đất chìm trong bóng tối. Có lẽ không có vòng cung nào của tình mẫu tử đau đớn hơn thế.
Hình ảnh người mẹ ôm xác con cũng đưa chúng ta đến gần hàng triệu người mẹ trong lịch sử đã làm điều tương tự. Những bà mẹ ôm con sau một vụ bom. Những bà mẹ chạy qua chiến trường tìm xác con. Những bà mẹ trong trại tị nạn giữ một đứa trẻ đã thôi thở. Những bà mẹ nghèo ở những vùng đất không có đủ thuốc men, nhìn con chết vì một căn bệnh mà nơi khác có thể chữa được. Những bà mẹ đứng bên bờ biển đợi một thi thể được vớt lên. Những bà mẹ nhận một cuộc điện thoại lúc nửa đêm rồi cả đời chia thành hai phần: trước cuộc điện thoại ấy và sau cuộc điện thoại ấy. Đức Maria của Canvê thuộc về họ theo một cách rất đặc biệt. Mẹ không đứng bên ngoài lịch sử đau khổ của nhân loại. Mẹ đã đi vào đó.
Điều ấy cũng đặt trước lương tâm chúng ta một câu hỏi. Nếu ta kính Đức Mẹ Sầu Bi mà lại vô cảm trước nước mắt của những bà mẹ hôm nay, lòng sùng kính ấy còn ý nghĩa gì? Nếu ta quỳ trước tượng Pietà nhưng quay mặt trước một người mẹ nghèo đang không có tiền chữa bệnh cho con, ta chưa hiểu Pietà. Nếu ta hát Stabat Mater thật cảm động nhưng lại góp phần tạo nên bạo lực, chiến tranh, chia rẽ, thù hận, thì ta đang làm tăng số những người mẹ phải đứng dưới những thập giá mới. Kính Đức Mẹ Sầu Bi phải làm trái tim ta mềm hơn trước đau khổ của con người. Nhìn Mẹ đứng bên Con chết phải khiến ta quyết tâm đừng đóng thêm đinh vào cuộc đời người khác bằng lời nói độc ác, sự kết án, lòng tham, bất công và thờ ơ.
Có những chiếc đinh không làm bằng sắt. Một lời nói có thể là chiếc đinh. Một sự phản bội có thể là chiếc đinh. Một bản án bất công có thể là chiếc đinh. Một lần bỏ rơi người yếu thế có thể là chiếc đinh. Một thái độ khinh thường có thể đóng ai đó vào thập giá trong lòng họ. Và có những người mẹ phải nhìn con mình bị “đóng đinh” theo nghĩa ấy mỗi ngày: một đứa con bị nghiện, một đứa con bị xã hội khinh chê, một đứa con vào tù, một đứa con bị bệnh tâm thần, một đứa con vướng vào những sai lầm lớn. Người mẹ không chết con về thể xác nhưng trái tim bà vẫn bị đóng đinh. Có khi cả làng phán xét đứa con ấy, nhưng mẹ vẫn chờ nó về. Có khi mọi người gọi nó bằng những cái tên xấu, nhưng với bà, nó vẫn là “con của mẹ”. Tình mẫu tử có một sức chịu đựng lạ lùng. Và chính vì thế, tình mẫu tử trở thành một trong những hình ảnh gần nhất giúp ta hiểu lòng thương xót Thiên Chúa.
Có người con tưởng rằng vì mình đã sống tồi tệ nên không còn đường về. Nhưng hãy nhìn một người mẹ. Có những người mẹ đã bị con làm khổ cả đời mà vẫn chờ cửa. Không phải vì bà cho điều xấu là đúng, nhưng vì người phạm lỗi vẫn là con. Tương tự, Thánh Giá là bằng chứng rằng Thiên Chúa không gọi tội lỗi là tốt, nhưng Người không ngừng yêu tội nhân. Trên Canvê, Đức Giêsu không chết vì con người đáng được yêu; Người chết vì Thiên Chúa là tình yêu. Và Maria đứng đó như chứng nhân đầu tiên của một tình yêu đi đến cùng.
Có một điều rất đẹp khác: dưới chân Thánh Giá, Maria không biến nỗi đau của mình thành trung tâm. Tin Mừng không kể Mẹ kêu lên: “Còn tôi thì sao?” Mẹ đứng bên Con. Đau khổ thường có xu hướng làm ta khép lại trong chính mình. Và điều ấy rất dễ hiểu. Nhưng nơi những tâm hồn lớn, đau khổ có thể mở ra một chiều sâu mới của lòng trắc ẩn. Người từng mất con đôi khi trở thành người hiểu nhất một gia đình có tang. Người từng trải qua ung thư có thể ngồi cạnh một bệnh nhân ung thư mà không cần nhiều lời. Người từng bị bỏ rơi có thể nhận ra rất nhanh ánh mắt của một người cô độc. Nếu được Thiên Chúa thanh luyện, vết thương của ta có thể trở thành cánh cửa để ta đi vào vết thương của người khác. Maria từ người Mẹ đau khổ dưới chân Thánh Giá trở thành Mẹ của Hội Thánh, Mẹ của những người đau khổ. Mẹ không giữ nỗi đau cho riêng mình. Nỗi đau ấy, qua ân sủng, trở thành nơi trái tim Mẹ được mở rộng cho tất cả.
Và đây có lẽ là điều thấm thía nhất của mầu nhiệm Thánh Giá: Thiên Chúa không loại bỏ nỗi đau bằng cách đứng bên ngoài nó, nhưng biến đổi nó từ bên trong. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh vẫn là ngày Đức Giêsu chết. Maria vẫn mất Con. Các môn đệ vẫn tan tác. Không điều nào được phủ nhận. Nhưng rồi sáng ngày thứ nhất trong tuần xuất hiện. Ngôi mộ trống. Cái chết không có tiếng nói cuối cùng. Thánh Giá không phải dấu chấm hết. Điều ấy không làm nước mắt của Maria ngày Thứ Sáu trở thành giả. Phục Sinh không nói rằng “thật ra chẳng có gì đáng khóc”. Không. Có cái chết thật, có mất mát thật, có nước mắt thật. Nhưng nước mắt không phải vĩnh cửu.
Đây là niềm hy vọng đặc biệt dành cho những người đã chôn người mình yêu. Kitô giáo không bảo chúng ta quên họ. Không ai cần quên người mình yêu để tiếp tục sống. Đức tin không xoá ký ức. Đức tin làm cho ký ức có một chân trời. Người đã chết không chỉ nằm phía sau chúng ta trong quá khứ; trong Đức Kitô, họ còn ở phía trước chúng ta trong lời hứa phục sinh. Chúng ta đi về phía cuộc gặp lại. Điều ấy không làm ta hết nhớ, nhưng làm nỗi nhớ mang một hình dạng khác. Nước mắt vẫn rơi, nhưng dưới nước mắt có một lời hứa. Nghĩa trang vẫn còn đó, nhưng nghĩa trang của người Kitô hữu không phải điểm cuối của hành trình. Maria đi từ Canvê đến bình minh Phục Sinh. Và mọi người mẹ đứng bên mộ con mình cũng được mời gọi đi con đường ấy – có thể rất chậm, có thể với vô số lần ngã quỵ, nhưng không phải đi một mình.
Có khi người ta nói với người có tang: “Phải mạnh mẽ lên.” Thật ra, họ không cần phải mạnh theo kiểu không khóc. Đức Giêsu từng khóc trước mộ Lazarô. Maria chắc chắn đã đau. Khóc không phải là thiếu đức tin. Có những giọt nước mắt chính là hình thức của tình yêu khi người được yêu không còn ở trước mặt. Một bà mẹ khóc con ba mươi năm sau không có nghĩa bà không tin Chúa. Có thể đơn giản vì bà đã yêu con rất nhiều. Đức tin không bắt chúng ta trở thành đá. Đức tin cho phép ta khóc mà không tuyệt vọng. Có một khác biệt rất lớn giữa nước mắt tuyệt vọng và nước mắt hy vọng. Cả hai đều mặn. Nhưng một bên nhìn thấy bức tường cuối cùng; bên kia, dù chưa thấy, vẫn tin phía bên kia bức tường có một bình minh.
Maria dưới chân Thánh Giá cũng dạy ta cách đứng bên người đau khổ. Đừng vội tìm một lời giải thích. Đừng biến tang lễ của người khác thành lớp thần học. Đừng nói “Chúa cần thiên thần nên gọi cháu về” với một bà mẹ vừa mất con. Thiên Chúa không cần lấy con của ai để có thêm thiên thần. Đừng nói “đó là ý Chúa” một cách dễ dàng như thể ta biết mọi bí nhiệm của Thiên Chúa. Có những câu thần học đúng trong một ngữ cảnh nhưng nói sai lúc sẽ trở thành dao. Hãy học Maria: hiện diện. Đem một bữa cơm. Nắm một bàn tay. Ngồi yên. Nhớ ngày giỗ. Gọi điện vài tháng sau, khi mọi người khác đã trở về với cuộc sống của họ nhưng căn nhà của người mất vẫn trống. Nỗi đau tang chế thường cô độc nhất không phải ngày đám tang, vì ngày ấy rất đông người, mà là nhiều tuần sau đó, khi khách đã về hết và người ở lại phải học cách sống trong căn nhà đã thiếu một người. Chính khi ấy họ cần một Gioan đứng cạnh.
Có lẽ lời Đức Giêsu “Đây là mẹ của anh” cũng là lời gửi cho mỗi chúng ta trước những bà mẹ đau khổ. Đừng để họ một mình. Và “Đây là con của Bà” là lời trao những người mất mát cho trái tim Hội Thánh. Một cộng đoàn Kitô hữu thật sự không chỉ biết tổ chức những nghi lễ đẹp; cộng đoàn ấy phải biết đứng dưới những thập giá của nhau. Nhà thờ không chỉ là nơi người ta đến hát Alleluia ngày vui, mà còn là nơi người ta có thể mang một trái tim vỡ vụn đến mà không bị xét đoán. Hội Thánh chân thật nhất khi Hội Thánh đứng bên những người đang khóc, bởi chính Chúa của Hội Thánh đã chết giữa tiếng khóc của Mẹ mình.
Một ngày nào đó, mỗi người chúng ta cũng sẽ đứng dưới một thập giá. Không ai đi qua đời này mà không mất mát. Có thể không phải mất con, nhưng sẽ có một Canvê mang tên ta. Khi ngày ấy đến, xin đừng quên Maria. Không phải vì Mẹ sẽ làm cho thập giá biến mất ngay, nhưng vì Mẹ biết cách đứng cạnh một thập giá. Có những người bạn chỉ ở với ta trong tiệc cưới; Maria là người Mẹ ở với ta trong nghĩa trang. Có những người chỉ xuất hiện khi ta thành công; Maria đứng bên Đức Giêsu chính lúc Người bị xem là thất bại nhất. Có những người thương ta khi ta còn có gì để cho họ; Maria ôm một thân xác không còn có thể nói, bước, làm phép lạ hay trao cho Mẹ bất cứ điều gì. Đó là tình yêu.
Và có lẽ đây chính là lời cuối mà Canvê muốn nói với những người mẹ đang đau vì con: Mẹ không đau một mình. Có một Người Mẹ đã đi con đường này trước mẹ. Có một Thiên Chúa đã nhìn thấy từng giọt nước mắt của mẹ. Có một Đức Kitô đã đi qua cái chết. Và có một lời hứa rằng tình yêu không bị chôn vùi vĩnh viễn trong mồ. Chúng ta không biết vì sao nhiều điều đau đớn đã xảy đến. Có những câu hỏi có lẽ chỉ khi đứng trước mặt Thiên Chúa chúng ta mới hiểu. Nhưng ngay bây giờ ta có thể biết điều này: Thiên Chúa không khinh nước mắt. Người không đứng xa nỗi đau. Người đã cho Thánh Giá đi vào chính trung tâm của lịch sử cứu độ, để từ nay không một thập giá chân thành nào của con người hoàn toàn xa lạ với Người.
Mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, xin đừng chỉ nhìn thấy Đức Giêsu. Hãy nhìn xuống một chút. Ở đó có Mẹ Người. Một người Mẹ đang đứng. Một thanh gươm vô hình đang xuyên qua tim Mẹ. Mẹ chẳng thể cứu Con khỏi chết, nhưng Mẹ có thể yêu Con cho đến lúc chết. Và có lẽ đó là bài học cuối cùng của mọi tình yêu: đến một lúc nào đó, chúng ta sẽ không còn cứu được người mình yêu khỏi bệnh tật, tuổi già, đau khổ hay cái chết. Ta không phải Thiên Chúa. Ta bất lực. Nhưng ngay cả khi bất lực, ta vẫn có thể yêu. Ta vẫn có thể ở lại. Ta vẫn có thể nắm tay. Ta vẫn có thể cầu nguyện. Ta vẫn có thể nói bằng tất cả sự hiện diện của mình: “Con ơi, mẹ ở đây.” “Anh ơi, em ở đây.” “Em ơi, anh ở đây.” “Ba ơi, con ở đây.” “Mẹ ơi, con ở đây.” Và biết đâu, trong những giây phút ấy, ta đang ở gần mầu nhiệm Thánh Giá hơn bất cứ lúc nào khác trong đời.
Thánh Giá cuối cùng không giải thích tất cả đau khổ. Thánh Giá làm một điều lớn hơn: Thánh Giá cho thấy tình yêu có thể ở lại giữa đau khổ và không bị đau khổ đánh bại. Maria không xuống khỏi Canvê với câu trả lời cho mọi bí nhiệm. Mẹ xuống núi với một trái tim bị đâm thâu. Nhưng trái tim ấy vẫn còn yêu. Đó là chiến thắng đầu tiên. Rồi sáng Phục Sinh sẽ đến. Đó là chiến thắng cuối cùng.
Cho nên nếu hôm nay đâu đó có một người mẹ đang ngồi bên giường bệnh của con, xin Mẹ Maria ngồi bên bà. Nếu có người mẹ vừa khép mắt cho con mình, xin Mẹ ôm bà như Mẹ từng ôm xác Chúa Giêsu. Nếu có người mẹ đang đứng trước một nấm mồ mới, xin Mẹ đứng cạnh bà. Nếu có người mẹ sau nhiều năm vẫn lặng lẽ khóc khi nhắc tên con, xin đừng ai bảo bà phải quên. Xin chỉ để Mẹ Maria nói với bà bằng sự im lặng của Canvê rằng: “Tôi hiểu.” Và xin Chúa Kitô Phục Sinh nói vào nơi sâu nhất của trái tim bà: “Con của bà không thuộc về sự chết mãi mãi.”
Thánh Giá có một người Con đang chết và một người Mẹ đang đứng. Chính vì thế, Thánh Giá không bao giờ là một biểu tượng lạnh lẽo. Nó mang hơi thở, máu, nước mắt, ký ức, tình mẫu tử, sự bất lực, lòng trung thành và hy vọng của con người. Trong Thánh Giá, Thiên Chúa đã đi xuống tận nơi sâu nhất mà tình yêu con người có thể bị thương. Và từ chính vực sâu ấy, Người mở ra con đường dẫn đến Phục Sinh. Bởi vậy, khi đời ta chẳng còn gì để nói, hãy đứng với Maria. Khi chẳng còn gì để làm, hãy đứng với Maria. Khi câu hỏi không có câu trả lời, hãy đứng với Maria. Khi người mình yêu đang đau, hãy đứng với Maria. Khi phải tiễn một người xuống mồ, hãy đứng với Maria. Và khi chính ta một ngày bước vào giờ cuối, xin Mẹ cũng đứng bên giường ta như Mẹ từng đứng bên Thánh Giá của Con mình.
Bởi cuối cùng, điều cứu thế giới này không phải là một tình yêu biết tránh mọi đau khổ, nhưng là một tình yêu không bỏ đi khi đau khổ đến. Đó là tình yêu của Đức Kitô trên Thánh Giá. Đó là tình yêu của Maria dưới chân Thánh Giá. Và đó cũng là tình yêu mà mỗi người chúng ta được mời gọi học cho đến hơi thở cuối cùng của đời mình.
Lm. Anmai, CSsR

Previous articleTHIÊN CHÚA YÊU THƯƠNG TÔI – MỘT SUY NIỆM CÁ NHÂN VỀ TÌNH YÊU VÔ ĐIỀU KIỆN CỦA CHÚA CHA