TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO –ngày 14 THÁNG 9 NĂM 2026 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp
https://youtu.be/7tXxHN2Z2q0
Lễ suy tôn thánh Giá THÁNH GIÁ ĐƯỢC GIƯƠNG CAO Lm. Anmai, CSsR
Lễ suy tôn Thánh Giá THẬP GIÁ – NƠI TÌNH YÊU … Lm. Anmai, CSsR
Dẫn vào Thánh Lễ
Anh chị em thân mến!
Sách Xuất Hành mô tả cuộc hành trình tiến về Đất hứa của đoàn dân Chúa trong thời Cựu ước. Thiên Chúa đã truyền cho Môsê đúc rắn đồng treo lên làm dấu; để những ai bị rắn cắn mà nhìn lên rắn đồng thì được khỏi chết.
Đức Kitô cũng bị treo lên cây Thập Giá. Người là Đấng Cứu Độ chúng ta. Chính Người đã dùng Thánh Giá làm dấu chỉ đem lại nguồn ơn cứu độ để cứu chúng ta khỏi chết đời đời.
Trong Thánh lễ giờ đây, Chúa Giêsu Kitô lại một lần nữa hiến tế cách mầu nhiệm trên bàn thờ Thập Giá qua cuộc khổ nạn của Người. Chúng ta xin vì công nghiệp Chúa chịu chết treo trên Thánh Giá tẩy xóa mọi tội lỗi, hầu dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời.
Ca nhập lễ
Chúng ta phải được vinh quang nơi thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, chính nơi Người chúng ta được cứu độ, được sống và được sống lại và nhờ Người chúng ta đã được cứu chuộc và giải thoát.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa đã muốn cho Con Một Chúa chịu khổ hình thập giá để cứu chuộc loài người. Xin cho chúng con mai sau được hưởng nhờ quả phúc cây thập giá, mà ngày nay chúng con vẫn một lòng yêu mến suy tôn. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc I: Ds 21, 4-9
“Kẻ nào bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng, thì được sống”.
Trích sách Dân số.
Trong những ngày ấy, dân chúng đi đường và mệt nhọc, nên nản chí, họ kêu trách Chúa và Môsê rằng: “Tại sao các người dẫn chúng tôi ra khỏi Ai-cập, cho chúng tôi chết trong hoang địa. Không bánh ăn, không nước uống, chúng tôi đã ngán thức ăn nhàm chán này”. Bởi đó Chúa cho rắn lửa bò ra cắn chết nhiều người. Họ chạy đến cùng Môsê và thưa rằng: “Chúng tôi đã phạm tội, vì chúng tôi nói những lời phản nghịch Chúa và phản nghịch ông. Xin ông cầu nguyện để Chúa cho chúng tôi khỏi rắn cắn”.
Môsê cầu nguyện cho dân. Và Chúa phán cùng Môsê rằng: “Ngươi hãy đúc một con rắn đồng và treo nó lên làm dấu; kẻ nào bị rắn cắn mà nhìn lên rắn đồng, thì được sống”. Môsê đúc một con rắn đồng, treo nó lên làm dấu, và kẻ nào bị rắn cắn mà nhìn lên rắn đồng, thì được chữa lành.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 77, 1-2. 34-35. 36-37. 38
Ðáp: Chúng ta đừng quên lãng những kỳ công của Chúa
Xướng: Hỡi dân tôi, hãy nghe lời huấn dụ, hãy lắng tai nhận lấy những lời miệng tôi. Tôi sẽ xuất khẩu nói ra lời ngạn ngữ, sẽ trình bày những điều bí nhiệm của thời xưa.
Xướng: Khi Người sát phạt họ, bấy giờ họ kiếm tìm Người, và họ trở lại kiếm tìm Thiên Chúa. Họ nhớ lại rằng Thiên Chúa là Ðá Tảng của họ, và Thiên Chúa Tối Cao là Ðấng cứu chuộc họ.
Xướng: Nhưng rồi miệng họ đã phỉnh phờ, và lưỡi họ ăn nói sai ngoa với Người. Ðối với Người, lòng họ không ngay thẳng; họ cũng không trung thành giữ lời minh ước của Người.
Xướng: Phần Người từ bi, tha lỗi và không huỷ diệt họ; nhiều khi Người đã tự kiềm chế căm hờn, và không để cho thịnh nộ hoàn toàn tuôn đổ.
Bài Ðọc II: Pl 2, 6-11
“Người đã tự hạ mình; vì thế Thiên Chúa đã tôn vinh Người”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philípphê.
Anh em thân mến, Chúa Giêsu Kitô, tuy là [thân phận] Thiên Chúa, đã không nghĩ phải giành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; trái lại, Người huỷ bỏ chính mình mà nhận lấy thân phận tôi đòi, đã trở nên giống như loài người, với cách thức bề ngoài như một người phàm. Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu, để khi nghe tên Giêsu, mọi loài trên trời dưới đất và trong địa ngục phải quỳ gối xuống, và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng Ðức Giêsu Kitô là Chúa, để Thiên Chúa Cha được vinh quang.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia:
Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy Chúa; chúng con chúc tụng Chúa, vì Chúa đã dùng cây Thập giá mà cứu chuộc thế gian. – Alleluia.
Phúc Âm: Ga 3, 13-17
“Con Người phải bị treo lên”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng Nicôđêmô rằng: “Không ai lên trời được, ngoài người đã từ trời xuống, tức là Con Người vốn ở trên trời. Cũng như Môsê treo con rắn nơi hoang địa thế nào, thì Con Người cũng phải bị treo lên như vậy, để những ai tin vào Người, thì không bị tiêu diệt muôn đời.
“Quả thật, Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người, để tất cả những ai tin vào Con của Người, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời, vì Thiên Chúa không sai Con của Người giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tín hữu
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Nhờ Mầu nhiệm Thập Giá, Chúa Giê-su đã mang lại ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại. Tin tưởng vào lòng Chúa xót thương, chúng ta cùng dâng lên Chúa những lời nguyện xin:
1. “Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các mục tử trong Hội Thánh, được ơn can đảm, sống tình yêu khiêm hạ, hầu trở nên dấu chỉ tình yêu cứu độ của Chúa giữa thế gian.
2. “Hễ ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng, thì được sống”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các tổ chức và cá nhân đang hoạt động trong lĩnh vực y tế, biết đem hết lương tâm và trách nhiệm của mình, để phục vụ sự sống con người.
3. “Ai tin vào Người thì được sống muôn đời”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các nữ tu Hội Dòng Mến Thánh Giá, luôn biết bước theo Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh, bằng đời sống tận hiến hy sinh và phục vụ mọi người.
4. “Người vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho cộng đoàn chúng ta, luôn biết nhìn lên Thánh giá Chúa và tin tưởng vào tình yêu của Người, để vượt qua những sóng gió trong đời sống hằng ngày.
Chủ tế: Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, Chúa đã chịu chết trên cây Thánh giá mà cứu chuộc chúng con. Xin cho chúng con biết nhận ra thánh ý Chúa trong cả những biến khổ đau của kiếp người, để kiên tâm trung thành bước theo Chúa đến cùng. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa nhân từ, chúng con đang cử hành lễ tế hy sinh chính Ðức Kitô đã hiến dâng trên bàn thờ thập giá, để xóa bỏ tội lỗi trần gian. Cúi xin Chúa vui lòng chấp nhận và thanh tẩy chúng con khỏi vết nhơ tội lỗi. Chúng con cầu xin…
Lời tiền tụng
Lạy Cha chí thánh là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Cha mọi nơi, mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và sinh ơn cứu độ cho chúng con. Cha dùng cây thập giá để ban ơn cứu độ cho loài người. Thật vậy, xưa vì cây trái cấm loài người chúng con phải tử vong, nay nhờ cây thập giá lại được sống muôn đời, và ma quỷ xưa chiến thắng nhờ cây trái cấm nay thảm bại vì cây thập giá của Ðức Kitô, Chúa chúng con. Vì thế, toàn thể triều thần thiên quốc cùng ca ngợi, tôn thờ, kính sợ và hân hoan chúc tụng Cha uy linh. Xin cho chúng con được đồng thanh với các Ngài thành khẩn tung hô rằng:
Thánh! Thánh! Thánh!…
Cũng có thể đọc Lời tiền tụng thương khó I,
Ca hiệp lễ
Chúa phán: Khi nào Ta được đưa lên cao khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã cho chúng con hưởng nhờ ơn cứu chuộc nhờ cây thập giá ban quả phúc trường sinh, và Chúa đã nuôi dưỡng chúng con nơi bàn tiệc Thánh Thể. Xin hướng dẫn chúng con ở đời này, hầu mai sau chúng con được phục sinh cùng Chúa và được hưởng vinh quang bất diệt. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
LỜI NGUYỆN SÁNG – XIN THÁNH GIÁ CHÚA BIẾN ĐỔI ĐỜI CON
Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, trong bình minh của ngày mới, con lặng lẽ hướng lòng về Thánh Giá Chúa, nơi tình yêu đã chiến thắng hận thù, lòng thương xót đã vượt thắng tội lỗi và sự sống đã mở đường đi xuyên qua cái chết. Con cảm tạ Chúa vì đã không bỏ mặc con trong những yếu đuối, lầm lỗi và thương tích, nhưng đã tự nguyện mang lấy tất cả trên thân thể Chúa. Nhìn lên đôi tay bị đóng đinh, con hiểu rằng Chúa đã yêu con không chỉ bằng lời nói nhưng bằng sự trao hiến đến cùng; nhìn lên cạnh sườn bị đâm thâu, con nhận ra trái tim Chúa vẫn rộng mở để đón nhận con, dù con bất toàn, chậm chạp và nhiều lần lỗi nghĩa cùng Chúa.
Lạy Chúa, xin dùng quyền năng Thánh Giá biến đổi đời con trong ngày hôm nay. Xin biến lòng kiêu căng của con thành sự khiêm nhường, tính ích kỷ thành lòng quảng đại, sự nóng giận thành thái độ hiền hòa, những cay đắng thành lòng bao dung và nỗi sợ hãi thành niềm tín thác. Xin giúp con đừng đặt thêm thập giá lên vai người khác bằng lời nói thiếu yêu thương, thái độ lạnh lùng, sự xét đoán hoặc những đòi hỏi vô lý. Trái lại, xin cho con biết trở thành một Simon thành Kyrênê, sẵn lòng nâng đỡ người mệt mỏi; trở thành một Đức Maria trung thành hiện diện bên người đau khổ; và trở thành người môn đệ biết đứng lại dưới chân Thánh Giá khi những người khác đã bỏ đi.
Lạy Chúa Giêsu, con xin dâng lên Chúa những công việc, bổn phận, niềm vui, nỗi buồn, bệnh tật và mọi điều bất ngờ sẽ đến trong ngày này. Nếu gặp thành công, xin giữ con khỏi kiêu ngạo; nếu gặp thất bại, xin đừng để con thất vọng; nếu bị hiểu lầm, xin cho con biết hiền lành; nếu bị xúc phạm, xin dạy con tha thứ; nếu phải mang một thập giá nặng nề, xin nhắc con rằng Chúa đang cùng bước và không để con cô độc. Xin giúp con nhận ra giá trị của những hy sinh âm thầm, để con biết biến từng việc nhỏ bé thành một của lễ tình yêu hiệp cùng hy tế cứu độ của Chúa.
Lạy Chúa, xin khắc dấu Thánh Giá vào tâm trí, trái tim và toàn bộ đời sống con. Xin cho mọi suy nghĩ, lời nói và hành động của con hôm nay đều làm chứng rằng con thuộc về Chúa. Xin cho con không chỉ mang Thánh Giá bên ngoài, nhưng thực sự sống tinh thần tự hiến của Đấng đã yêu thương và hiến mạng vì con. Và giữa mọi biến động của cuộc đời, xin cho con luôn can đảm nhìn lên Chúa mà thưa rằng: Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa; xin biến đổi con, sử dụng con và dẫn con qua Thánh Giá đến ánh sáng Phục Sinh. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
THẬP GIÁ – QUYỀN NĂNG BIẾN ĐỔI ĐỜI NGƯỜI
“Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ.” (Ga 3,14-17)
Có lẽ không có hình ảnh nào vừa quen thuộc lại vừa chứa đựng một mầu nhiệm sâu thẳm như hình ảnh cây thập giá. Chúng ta nhìn thấy thập giá trên nóc nhà thờ, trên bàn thờ, trong phòng khách, nơi đầu giường, trên những phần mộ, trong bệnh viện, trong trường học Công giáo, trên cổ của người tín hữu và trên tay của người hấp hối. Chúng ta làm dấu thánh giá khi bắt đầu một ngày mới, trước bữa ăn, trước một chuyến đi, khi bước vào nhà thờ, lúc đứng trước một biến cố quan trọng, khi gặp nguy hiểm, trong lúc đau yếu và trước khi khép mắt ngủ. Thập giá ở gần chúng ta đến độ đôi khi nó trở thành một hình ảnh quá quen, quen đến mức chúng ta có thể nhìn mà không còn thấy, có thể mang mà không còn cảm nhận, có thể làm dấu mà lòng trí vẫn ở rất xa mầu nhiệm được diễn tả. Vì thế, lễ Suy Tôn Thánh Giá không chỉ mời gọi chúng ta ngước nhìn một biểu tượng của Kitô giáo, nhưng còn đưa chúng ta trở về với trung tâm của đức tin: nơi cây gỗ từng là dụng cụ hành hình nhục nhã, Con Thiên Chúa đã hiến mình vì yêu thương; nơi con người tưởng rằng mình đã loại trừ Thiên Chúa, Thiên Chúa lại mở ra con đường cứu độ cho con người; nơi sự dữ tưởng như đã chiến thắng, tình yêu lại đạt tới sự viên mãn; nơi cái chết lên tiếng sau cùng, sự sống đời đời lại bắt đầu trào tuôn. Thập giá vì thế không chỉ là dấu vết của một cuộc tử nạn xảy ra trong quá khứ, nhưng là quyền năng vẫn tiếp tục biến đổi cuộc đời của tất cả những ai biết nhìn lên Đấng chịu đóng đinh với lòng tin, lòng yêu mến và niềm hy vọng.
Trong cuộc trò chuyện với ông Nicôđêmô, Chúa Giêsu nhắc lại một biến cố đã xảy ra trong hành trình của dân Israel giữa sa mạc. Vì mất kiên nhẫn, dân chúng kêu trách Thiên Chúa và ông Môsê. Hậu quả của tội phản nghịch là những con rắn độc xuất hiện, cắn dân chúng và khiến nhiều người phải chết. Khi họ nhận ra lỗi lầm và kêu xin, Thiên Chúa truyền cho Môsê làm một con rắn bằng đồng, treo lên một cây cột; ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng thì được sống. Chính biến cố ấy trở thành hình ảnh báo trước mầu nhiệm thập giá. Chúa Giêsu nói: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy.” Ngày xưa, dân Israel nhìn lên dấu chỉ Thiên Chúa ban để được chữa lành khỏi nọc độc; trên đồi Canvê, toàn thể nhân loại được mời gọi nhìn lên Con Thiên Chúa chịu đóng đinh để được giải thoát khỏi nọc độc của tội lỗi và sự chết. Điều cứu dân Israel không phải là sức mạnh ma thuật của con rắn bằng đồng, nhưng là lòng tin và sự vâng phục đối với Thiên Chúa. Cũng vậy, điều cứu độ chúng ta không phải chỉ là một thanh gỗ hay một biểu tượng bên ngoài, nhưng là Đức Giêsu Kitô, Đấng đã tự nguyện hiến dâng chính mình trên cây thập giá. Nhìn lên thập giá bằng đức tin là nhìn nhận rằng ta không thể tự cứu mình; là thú nhận rằng trong ta có những vết thương mà tiền bạc, quyền lực, thành công hay kiến thức không thể chữa lành; là tin rằng tình yêu của Thiên Chúa mạnh hơn tội lỗi của ta, lòng thương xót của Người lớn hơn quá khứ của ta và sự sống của Người mạnh hơn cái chết đang đe dọa ta.
Sức mạnh biến đổi của thập giá trước hết nằm ở chỗ thập giá biến một dụng cụ của sự nhục nhã thành ngai tòa của tình yêu. Trong thế giới Rôma cổ đại, thập giá là bản án dành cho những người bị coi là thấp hèn nhất. Đó không chỉ là cách giết chết một con người, nhưng còn là cách tước bỏ danh dự, phơi bày sự yếu đuối và nghiền nát nhân phẩm của người ấy trước mắt đám đông. Người bị đóng đinh không còn được che chở, không còn quyền tự vệ, không còn khả năng giữ lấy bất cứ điều gì cho mình. Chính vào nơi tận cùng của sự nhục nhã ấy, Con Thiên Chúa đã bước vào. Người không đứng từ xa để giảng giải về đau khổ; Người đi vào đau khổ. Người không quan sát nước mắt của con người từ trời cao; Người đã khóc bằng đôi mắt của con người. Người không chỉ nói rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta; Người để tình yêu ấy được viết bằng máu trên thân thể mình. Đôi tay từng chúc lành cho trẻ nhỏ, chữa lành người bệnh và bẻ bánh cho đám đông nay bị đóng đinh. Đôi chân từng đi khắp nẻo đường để tìm người tội lỗi nay không còn có thể cử động. Đôi môi từng công bố Tin Mừng nay khô cháy và thốt lên: “Tôi khát.” Trái tim từng rung động trước mọi nỗi khốn cùng cuối cùng bị lưỡi đòng đâm thâu. Chúa Giêsu không giữ lại điều gì. Người cho đi tất cả: sức lực, danh dự, máu, nước, hơi thở và chính mạng sống mình. Bởi vậy, thập giá là mặc khải trọn vẹn nhất về tình yêu Thiên Chúa. Trước thập giá, chúng ta không còn có thể nói rằng Thiên Chúa chỉ yêu nhân loại một cách chung chung, xa xôi và trừu tượng. Người yêu từng người bằng một tình yêu cụ thể, trả giá và tự hiến: “Người đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi.”
Thập giá còn biến đổi cách chúng ta hiểu về quyền năng. Con người thường nghĩ rằng quyền năng là khả năng thống trị, chiến thắng, ép buộc người khác làm theo ý mình và loại bỏ những ai cản trở mình. Nhưng trên đồi Canvê, Thiên Chúa bày tỏ một quyền năng hoàn toàn khác. Chúa Giêsu không xuống khỏi thập giá để chứng minh mình là Con Thiên Chúa; Người ở lại trên thập giá để bày tỏ Thiên Chúa là tình yêu. Người có thể kêu gọi đạo binh thiên thần, nhưng Người chọn sự hiền lành. Người có thể tiêu diệt những kẻ đóng đinh mình, nhưng Người cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Người có thể đáp lại bạo lực bằng bạo lực, nhưng Người dùng chính thân thể mình để chặn đứng vòng xoáy của hận thù. Quyền năng của thập giá không nghiền nát kẻ thù mà biến kẻ thù thành anh em; không làm cho đối phương khiếp sợ mà đánh thức lương tâm; không dùng sự dữ để chống lại sự dữ mà lấy điều thiện chiến thắng điều ác. Đây là quyền năng mà thế gian rất khó hiểu, bởi thế gian muốn chiến thắng bằng cách khiến người khác thất bại, còn Chúa Giêsu chiến thắng bằng cách trao ban chính mình. Thế gian muốn cứu mình bằng việc bắt người khác phải hy sinh, còn Chúa Giêsu cứu người khác bằng việc hy sinh chính mình. Thế gian xây ngai bằng thân xác những người bị chà đạp, còn Đức Kitô biến cây thập giá thành ngai nhờ để chính thân mình bị đóng đinh trên đó. Vì thế, mỗi khi Hội Thánh suy tôn thánh giá, Hội Thánh không tôn vinh đau khổ tự nó, không ca ngợi bạo lực, không thần thánh hóa thất bại, nhưng tuyên xưng tình yêu có khả năng đi xuyên qua đau khổ, vô hiệu hóa bạo lực và biến thất bại thành khởi đầu của chiến thắng phục sinh.
“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” Đây là một trong những câu Tin Mừng đẹp nhất, nhưng cũng dễ bị nghe bằng một đôi tai đã quá quen. Chữ “ban” trong câu ấy chứa đựng toàn bộ mầu nhiệm Giáng Sinh, cuộc đời công khai, cuộc Thương Khó, cái chết và sự Phục Sinh của Đức Kitô. Chúa Cha không chỉ sai Con đến nói vài lời an ủi rồi trở về; Người trao ban Con Một cho một thế giới có thể khước từ, xúc phạm và đóng đinh Con của Người. Thiên Chúa biết rõ thế gian đầy tội lỗi, phản bội và vô ơn, nhưng Người vẫn yêu. Người không đợi thế gian trở nên đáng yêu mới yêu; chính vì thế gian đang hư mất mà Người ban Con Một. Người không đợi chúng ta hoàn thiện rồi mới đến với chúng ta; chính khi chúng ta còn là tội nhân, Đức Kitô đã chết vì chúng ta. Thập giá vì vậy phá tan một trong những lời dối trá nguy hiểm nhất mà con người thường tin: rằng ta phải trở nên hoàn hảo thì mới được Thiên Chúa yêu. Không, tình yêu Thiên Chúa đi trước sự hoán cải của ta, nhưng cũng chính tình yêu ấy mời gọi và ban sức cho ta hoán cải. Thiên Chúa yêu ta trong tình trạng hiện tại, nhưng Người yêu ta quá nhiều nên không muốn để ta mãi mắc kẹt trong tình trạng ấy. Người đến không phải để vuốt ve những xiềng xích của ta, nhưng để bẻ gãy chúng; không phải để nói rằng tội lỗi chẳng có gì nghiêm trọng, nhưng để mang lấy hậu quả của tội và mở cho ta con đường tự do.
Điều này dẫn chúng ta đến một chiều kích khác của quyền năng thập giá: thập giá biến đổi tội nhân thành người được tha thứ. Trước thập giá, con người không thể tự hào về công trạng của mình, bởi ơn cứu độ không phải là phần thưởng chúng ta đã giành được, nhưng là hồng ân Đức Kitô đã trả giá bằng chính máu Người. Cũng trước thập giá, con người không được quyền tuyệt vọng, bởi không tội lỗi nào lớn hơn lòng thương xót đã tuôn trào từ cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa. Có những người mang mặc cảm tội lỗi suốt nhiều năm. Họ đã xưng thú, đã khóc lóc, đã cầu xin, nhưng sâu trong lòng vẫn nghĩ rằng Thiên Chúa chưa thật sự tha thứ. Họ nhìn vào vết nhơ của mình nhiều hơn nhìn vào máu Đức Kitô; họ tin vào sức mạnh của tội lỗi hơn tin vào quyền năng cứu chuộc. Thập giá mời họ ngước mắt lên. Không phải để xem nhẹ tội lỗi, nhưng để nhận ra cái giá Thiên Chúa đã trả nhằm đưa họ trở về. Máu Chúa không đổ ra vô ích. Khi một người thật lòng sám hối và đón nhận ơn tha thứ, quá khứ của họ không còn là nhà tù nhưng có thể trở thành nơi làm chứng cho lòng thương xót. Phêrô đã chối Thầy nhưng được biến đổi thành người củng cố anh em. Phaolô đã bách hại Hội Thánh nhưng trở thành vị Tông đồ của muôn dân. Người trộm lành mang theo một cuộc đời lầm lạc đến tận giờ phút cuối cùng, nhưng chỉ một lời tín thác đã mở cho anh cánh cửa thiên đàng. Quyền năng thập giá không xóa lịch sử của một người như thể lịch sử ấy chưa từng xảy ra; thập giá cứu chuộc lịch sử, chữa lành ký ức và biến những vết sẹo thành chứng tích của ân sủng.
Thập giá cũng biến đổi đau khổ. Kitô giáo không dạy rằng mọi đau khổ đều tốt, càng không dạy rằng chúng ta phải thụ động trước bất công, bệnh tật, áp bức hay bạo hành. Chúa Giêsu đã chữa bệnh, bênh vực người yếu thế, giải thoát người bị quỷ ám và tố cáo sự giả hình. Người không đi tìm đau khổ vì đau khổ. Nhưng khi đau khổ không thể tránh khỏi trên con đường trung thành với tình yêu và sự thật, Người không chạy trốn. Người ôm lấy thập giá và biến nó thành của lễ. Đây chính là điều làm nên sự khác biệt. Đau khổ tự nó có thể làm con người cay đắng, khép kín, tuyệt vọng hoặc nổi loạn; nhưng đau khổ được kết hợp với thập giá Đức Kitô có thể trở thành lời cầu nguyện, của lễ, sự thanh luyện và nguồn ơn cho người khác. Một người mẹ thức trắng chăm con bệnh, nếu kết hợp những giọt nước mắt ấy với Chúa, tình yêu của bà trở thành một thứ phụng vụ âm thầm. Một người bệnh kiên nhẫn dâng những cơn đau để cầu nguyện cho gia đình, nỗi đau của họ không còn hoàn toàn vô nghĩa. Một người bị hiểu lầm nhưng vẫn giữ lòng hiền lành, không trả đũa, đang để quyền năng thập giá hoạt động trong mình. Một linh mục âm thầm chịu đựng mệt mỏi, cô đơn và cả những phán xét bất công nhưng vẫn trung thành phục vụ đoàn chiên, đang sống mầu nhiệm tự hiến của Đức Kitô. Một người nghèo vẫn biết chia sẻ, một người bị phản bội vẫn không để hận thù chiếm lấy trái tim, một người hấp hối vẫn thưa “Lạy Chúa, con tín thác nơi Ngài” — tất cả đang làm cho thập giá sinh hoa trái trong đời mình.
Tuy nhiên, chúng ta cần phân biệt rõ việc đón nhận thập giá với thái độ cam chịu mù quáng. Không phải mọi gánh nặng người khác đặt lên vai ta đều là thập giá Chúa gửi. Có những bất công cần được sửa chữa, những hành vi bạo hành cần phải chấm dứt, những bệnh tật cần được chữa trị, những mối quan hệ độc hại cần được đặt giới hạn. Vác thập giá không có nghĩa là tiếp tay cho sự dữ. Chúa Giêsu im lặng trước những lời cáo gian vào lúc cần hoàn tất hy lễ cứu độ, nhưng Người cũng từng mạnh mẽ chất vấn kẻ đã vả mình: “Nếu tôi nói sai, hãy chứng minh điều sai; còn nếu tôi nói đúng, sao anh lại đánh tôi?” Thập giá Kitô giáo không hủy bỏ phẩm giá con người. Trái lại, thập giá mặc khải giá trị vô cùng của mỗi người, bởi Con Thiên Chúa đã chết cho họ. Đón nhận thập giá là trung thành với tình yêu giữa đau khổ không thể tránh, chứ không phải tự nguyện ở lại trong một hoàn cảnh đang hủy hoại sự sống mà lẽ ra ta có thể và cần phải thay đổi. Có lúc thập giá là ở lại; có lúc thập giá là can đảm ra đi. Có lúc thập giá là im lặng; có lúc thập giá là lên tiếng cho sự thật. Có lúc thập giá là nhẫn nhịn; có lúc thập giá là đặt một giới hạn rõ ràng. Muốn phân định điều ấy, chúng ta phải ở gần Chúa, cầu nguyện và xin Chúa Thánh Thần soi sáng, kẻo ta gọi sự hèn nhát là khiêm nhường, gọi việc dung dưỡng cái ác là tha thứ, hoặc gọi ý riêng của mình là thánh ý Thiên Chúa.
Quyền năng thập giá còn biến đổi mối tương quan giữa người với người. Ai thật sự đứng lâu dưới chân thập giá sẽ khó có thể tiếp tục nuôi lòng kiêu ngạo. Bởi nhìn lên Đấng vô tội chịu chết cho mình, ta nhận ra mình cũng là kẻ cần được tha thứ. Khi ấy, ta không còn dễ dàng kết án người khác như thể chỉ mình ta trong sạch. Thập giá không bảo rằng những vết thương người khác gây ra cho ta là nhỏ bé; chính thân thể đầy thương tích của Chúa cho thấy sự dữ là điều nghiêm trọng. Nhưng thập giá cũng cho thấy hận thù không thể chữa lành hận thù. Nếu ta giữ mãi người đã làm tổn thương mình trong nhà tù của sự kết án, rất có thể chính ta lại trở thành tù nhân của quá khứ. Tha thứ không có nghĩa là nói điều sai là đúng, không phải quên mọi chuyện, không nhất thiết là lập tức khôi phục sự tin tưởng, cũng không có nghĩa là từ bỏ công lý. Tha thứ trước hết là trao quyền xét xử sau cùng cho Thiên Chúa, từ chối để sự xúc phạm tiếp tục điều khiển trái tim mình và cầu xin cho cả ta lẫn người đã làm hại ta được giải thoát khỏi quyền lực của sự dữ. Đó là một hành trình, đôi khi rất dài và đầy nước mắt. Có những vết thương không thể được chữa lành trong một đêm. Nhưng mỗi lần ta nhìn lên thập giá và thưa: “Lạy Chúa, con chưa thể quên, con vẫn còn đau, nhưng con không muốn sống bằng hận thù; xin Chúa tha thứ trong con điều mà con chưa đủ sức tự mình tha thứ”, thì quyền năng biến đổi của thập giá đã bắt đầu hoạt động.
Thập giá cũng biến đổi cái nhìn của chúng ta về giá trị và thành công. Thế gian đánh giá một đời người dựa trên những gì người ấy chiếm hữu, đạt được và được người khác công nhận. Tin Mừng đánh giá một đời người dựa trên mức độ người ấy đã yêu thương và tự hiến. Theo cái nhìn của thế gian, chiều thứ Sáu trên đồi Canvê là một thất bại toàn diện: các môn đệ bỏ trốn, đám đông chế giễu, các nhà lãnh đạo chiến thắng, Đấng từng làm phép lạ nay bất động trên cây gỗ. Nhưng trong kế hoạch của Thiên Chúa, chính giờ phút ấy là giờ Con Người được tôn vinh; chính lúc Chúa Giêsu mất tất cả, Người hoàn tất việc trao ban tất cả; chính khi Người bị hạ xuống thấp nhất, tình yêu được nâng lên cao nhất. Điều ấy an ủi biết bao người đang sống những cuộc đời âm thầm mà thế gian không biết đến. Một người cha lao động chân chính để nuôi gia đình, một người mẹ hy sinh cả tuổi xuân cho con cái, một tu sĩ cầu nguyện trong thinh lặng, một giáo lý viên bền bỉ gieo Lời Chúa, một người trẻ từ chối gian dối dù phải chịu thiệt thòi, một người già đau yếu vẫn dâng lời cầu cho con cháu — những cuộc đời ấy có thể không được trao giải thưởng, không xuất hiện trên báo chí và không nhận được tiếng vỗ tay, nhưng rất quý giá trước mặt Thiên Chúa. Thập giá dạy rằng không có hy sinh nào vì yêu thương bị lãng quên, không giọt nước mắt nào dâng cho Chúa bị phí phạm và không việc thiện âm thầm nào nằm ngoài ký ức đời đời của Người.
Nhưng thập giá chỉ biến đổi chúng ta khi ta để thập giá đi vào tận những chọn lựa cụ thể. Treo thánh giá trong nhà là điều tốt, nhưng chưa đủ nếu trong nhà vẫn đầy những lời làm tổn thương nhau. Mang thánh giá trên cổ là một dấu chỉ đáng quý, nhưng chưa đủ nếu ta không mang tinh thần của Đấng chịu đóng đinh trong cách cư xử. Làm dấu thánh giá nhiều lần trong ngày thật cần thiết, nhưng dấu ấy phải dần ghi khắc vào suy nghĩ, lời nói và hành động của ta. Khi đưa tay lên trán, ta xin Chúa thanh luyện những ý nghĩ kiêu căng, ích kỷ và xét đoán. Khi đưa tay xuống ngực, ta xin Chúa chữa lành một trái tim nguội lạnh, đầy tổn thương hoặc chất chứa hận thù. Khi chạm vào hai vai, ta xin Chúa ban sức gánh lấy trách nhiệm, phục vụ anh em và đón nhận những bổn phận hằng ngày. Làm dấu thánh giá nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần còn nhắc rằng ta không thuộc về cô độc, nhưng được đưa vào sự hiệp thông của Thiên Chúa Ba Ngôi. Mỗi dấu thánh giá được làm với lòng tin là một lời tuyên xưng: đời tôi đã được cứu chuộc, thân xác tôi thuộc về Chúa, trí khôn tôi thuộc về Chúa, trái tim tôi thuộc về Chúa, công việc hôm nay thuộc về Chúa, đau khổ này thuộc về Chúa và cả cái chết của tôi cũng thuộc về Chúa.
“Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ.” Lời này mở ra cho chúng ta khuôn mặt đích thật của Thiên Chúa. Nhiều người sợ đến với Chúa vì nghĩ rằng Chúa đang chờ để kết án họ. Họ hình dung Thiên Chúa như một vị thẩm phán lạnh lùng, chỉ ghi lại từng lỗi lầm để đến ngày nào đó trừng phạt. Nhưng Chúa Giêsu nói rõ rằng sứ mạng của Người là cứu độ. Điều ấy không có nghĩa là Thiên Chúa thờ ơ trước tội lỗi, bởi chính thập giá cho thấy tội gây ra hậu quả khủng khiếp đến mức nào. Nhưng phán quyết của Thiên Chúa trên đồi Canvê không phải là lời kết án dành cho tội nhân biết sám hối; đó là lời kết án dành cho chính tội lỗi và là lời giải thoát dành cho tội nhân. Chúa Giêsu đứng vào chỗ của kẻ có tội để người có tội được mời gọi bước vào địa vị của người con. Người nhận lấy điều chúng ta đáng phải chịu để trao cho chúng ta điều chỉ mình Người xứng đáng lãnh nhận. Người đội vòng gai để chúng ta được đội triều thiên sự sống. Người bị lột áo để chúng ta được mặc áo ân sủng. Người thốt lên lời khát để chúng ta được uống nguồn nước trường sinh. Người bước vào bóng tối của sự chết để dẫn chúng ta ra ánh sáng phục sinh.
Vì thế, suy tôn thánh giá không thể tách khỏi niềm vui Phục Sinh. Nếu câu chuyện kết thúc tại ngôi mộ, thập giá chỉ còn là kỷ niệm đau buồn về cái chết của một người công chính. Nhưng Đức Kitô đã sống lại. Ánh sáng Phục Sinh chiếu ngược lên đồi Canvê và cho chúng ta thấy thập giá thật sự là gì: không phải dấu chấm hết, nhưng là cánh cửa; không phải thất bại, nhưng là chiến thắng; không phải sự vắng mặt của Thiên Chúa, nhưng là nơi tình yêu Thiên Chúa tự mặc khải đến cùng. Kitô hữu không tìm đau khổ, nhưng cũng không tuyệt vọng khi đau khổ đến. Chúng ta biết rằng thứ Sáu Tuần Thánh không kéo dài mãi mãi; sau tảng đá lạnh lẽo của ngôi mộ là bình minh của ngày thứ nhất trong tuần. Trong đời ta cũng vậy, có những thập giá chưa được cất đi, những lời cầu nguyện dường như chưa được đáp lại, những vết thương chưa lành và những đêm tối chưa thấy bình minh. Đức tin không bảo đảm rằng ta hiểu ngay mọi điều, nhưng bảo đảm rằng ta không bao giờ đau khổ một mình. Đấng Phục Sinh vẫn mang các dấu đinh. Người không xóa những thương tích như thể chúng chưa từng hiện hữu; Người biến chúng thành dấu chỉ chiến thắng. Điều ấy cho phép ta hy vọng rằng một ngày kia, nhờ ân sủng, chính những nơi tan vỡ nhất trong đời ta cũng có thể trở thành nơi ánh sáng chiếu qua.
Có lẽ hôm nay mỗi người cần đặt mình thật lâu trước thập giá và tự hỏi: Tôi đang nhìn thấy gì? Tôi chỉ nhìn thấy cây gỗ, thân xác bị thương và một thất bại, hay tôi nhận ra tình yêu đang gọi đích danh mình? Tôi đang mang thập giá nào? Tôi mang nó trong cô độc và oán trách, hay đang tập kết hợp nó với hy lễ của Chúa? Có điều gì trong tôi cần được thập giá biến đổi: một tội lỗi âm thầm, một thói quen xấu, một nỗi sợ, một vết thương, một mối hận, một sự kiêu căng, một khao khát được người khác công nhận, một thái độ không chịu tha thứ, hay một cảm giác thất vọng về chính mình? Tôi có đang cố gắng xuống khỏi thập giá bằng những thỏa hiệp với điều sai trái, hay sẵn sàng ở lại trung thành với Chúa? Tôi có đang đặt thập giá lên vai người khác bằng những đòi hỏi, lời phê phán, thái độ độc đoán và sự vô cảm của mình không? Tôi có biết trở thành Simon thành Kyrênê, giúp người bên cạnh mang gánh nặng, hay chỉ đứng nhìn và bình phẩm? Tôi có biết đứng dưới chân thập giá như Đức Maria, hiện diện với những người đau khổ ngay cả khi không thể thay đổi hoàn cảnh của họ, hay tôi thường bỏ đi vì sợ bị liên lụy?
Đức Maria đứng dưới chân thập giá là hình ảnh tuyệt vời của người môn đệ. Mẹ không làm phép lạ để tháo đinh, không đưa ra những lời giải thích dễ dãi, không kêu gào đòi Thiên Chúa phải hành động theo ý mình. Mẹ đứng đó. Sự hiện diện trung thành của Mẹ chính là một tiếng “xin vâng” nữa, đau đớn hơn tiếng xin vâng tại Nazareth, nhưng cũng trọn vẹn hơn. Ngày Truyền Tin, Mẹ đón Ngôi Lời vào cung lòng; trên đồi Canvê, Mẹ trao lại Người Con cho Chúa Cha và đón nhận nhân loại làm con. Mẹ dạy chúng ta rằng đôi khi tình yêu không thể cất đi nỗi đau của người khác, nhưng tình yêu có thể từ chối bỏ rơi họ. Có những lúc chúng ta không biết phải nói gì trước một người đang hấp hối, một gia đình vừa mất người thân, một người đang chịu khủng hoảng hay một tâm hồn tan vỡ. Khi ấy, đừng vội tìm những lời giải thích thần học lạnh lùng. Hãy học nơi Đức Maria: ở lại, lắng nghe, cầu nguyện, khóc với người đang khóc và để sự hiện diện của mình nói rằng họ không đơn độc. Đó cũng là một cách làm cho quyền năng của thập giá biến đổi thế giới.
Suy tôn thánh giá còn là lời mời gọi Hội Thánh trở về với căn tính phục vụ. Một Hội Thánh chỉ tìm quyền lực, danh tiếng và sự an toàn sẽ trở nên xa lạ với Đấng sáng lập mình. Vinh quang của Hội Thánh không hệ tại những thành tựu bên ngoài, nhưng ở việc phản chiếu tình yêu tự hiến của Đức Kitô. Người mục tử không được trao quyền để thống trị đoàn chiên, nhưng để hiến mạng sống cho đoàn chiên. Người tín hữu không được gọi để mang danh Công giáo như một huy hiệu tự hào, nhưng để trở thành tấm bánh được bẻ ra cho người khác. Giáo xứ không chỉ là nơi tổ chức những nghi lễ long trọng, nhưng phải là ngôi nhà nơi người nghèo được đón nhận, người tội lỗi tìm thấy con đường trở về, người đau khổ được an ủi, người trẻ được lắng nghe, người già được chăm sóc và những người khác biệt có thể nhận ra mình vẫn là anh chị em. Nếu thập giá được đặt ở trung tâm nhà thờ nhưng tinh thần tự hiến lại vắng bóng trong cộng đoàn, thì thập giá ấy mới chỉ hiện diện bằng gỗ đá, chưa thật sự được khắc vào đời sống.
Mỗi Thánh lễ chính là lúc hy tế thập giá được hiện tại hóa cách bí tích giữa chúng ta. Trên bàn thờ, Đức Kitô không chịu chết lần nữa, nhưng hy lễ duy nhất của Người được làm cho hiện diện để chúng ta có thể bước vào và kết hợp đời mình với hy lễ ấy. Khi linh mục nâng Mình Thánh Chúa lên, lời Chúa Giêsu “Con Người phải được giương cao” lại vang vọng. Chúng ta nhìn lên không phải như khán giả đứng ngoài, nhưng như những người được mời dự phần. Của lễ chúng ta đem đến không chỉ là bánh và rượu, nhưng còn là công việc, gia đình, bệnh tật, thất bại, những cố gắng âm thầm, những người ta yêu thương và cả những người khiến ta đau khổ. Tất cả được đặt vào hy lễ của Đức Kitô để được thanh luyện và biến đổi. Rồi khi đón nhận Mình và Máu Chúa, chúng ta đón nhận chính tình yêu tự hiến, để sau Thánh lễ, ta cũng biết trở thành của lễ sống động giữa đời. Nếu rước lễ mà vẫn từ chối chia sẻ, nếu chiêm ngắm thân thể bị bẻ ra của Chúa mà vẫn sống ích kỷ, nếu uống chén máu giao ước mà vẫn nuôi hận thù, thì ta chưa để bí tích thập giá chạm tới những vùng sâu nhất trong lòng mình.
Hôm nay, Chúa không nhất thiết đòi chúng ta thực hiện một việc phi thường. Người mời ta bắt đầu bằng một cái nhìn: hãy nhìn lên Đấng đã bị đâm thâu. Hãy nhìn thật lâu cho đến khi nhận ra tội mình nhưng không tuyệt vọng; nhận ra mình được yêu nhưng không kiêu căng; nhận ra người khác cũng được cứu chuộc bằng cùng một dòng máu nên không còn dám khinh thường họ. Hãy để thập giá biến đổi cách ta nghĩ, cách ta nói, cách ta đối xử và cách ta chịu đau khổ. Khi bị xúc phạm, hãy nhìn lên Chúa đang cầu nguyện cho kẻ đóng đinh mình. Khi thấy mình cô độc, hãy nhìn lên Chúa bị các môn đệ bỏ rơi. Khi đau yếu, hãy nhìn lên thân thể Người đầy thương tích. Khi cảm thấy Thiên Chúa im lặng, hãy nghe tiếng Chúa thốt lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Khi bị cám dỗ tuyệt vọng, hãy nghe Người nói với người trộm biết sám hối: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng.” Khi thấy đời mình chẳng còn gì để trao, hãy nhìn lên Chúa đã trao đến giọt máu cuối cùng. Khi đối diện với cái chết, hãy cùng Người thưa: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, xin cho chúng con đừng chỉ đeo thánh giá trên thân thể mà quên mang tinh thần thập giá trong tâm hồn; đừng chỉ cúi đầu trước tượng Chúa mà vẫn từ chối cúi xuống phục vụ những con người bé nhỏ; đừng chỉ hôn kính thánh giá trong phụng vụ mà lại đặt những thập giá nặng nề lên vai anh chị em bằng lời nói và cách sống của mình. Xin cho chúng con biết đem đến dưới chân thập giá mọi tội lỗi, thương tích, thất vọng và sợ hãi. Xin dùng máu và nước từ cạnh sườn Chúa mà tẩy rửa, chữa lành và làm mới chúng con. Xin biến lòng kiêu ngạo thành khiêm nhường, sự ích kỷ thành quảng đại, nỗi cay đắng thành lòng thương xót, sự hèn nhát thành can đảm, thất vọng thành hy vọng và cái chết thành cửa ngõ dẫn vào sự sống. Xin cho những thập giá chúng con đang mang không trở thành lý do khiến chúng con xa Chúa, nhưng là con đường đưa chúng con đến gần Chúa hơn. Xin cho chúng con biết rằng chẳng có đêm tối nào mà Chúa chưa từng đi qua, chẳng có vực sâu nào mà tình yêu Chúa không thể chạm tới và chẳng có một cuộc đời tan vỡ nào mà quyền năng của thập giá không thể cứu chuộc. Xin khắc thập giá Chúa vào trí, vào tim và vào toàn bộ cuộc đời chúng con, để từ nay chúng con không còn sống cho chính mình, nhưng sống cho Đấng đã yêu thương và hiến mạng vì chúng con. Và đến giờ phút cuối cùng, khi mọi sự trần thế qua đi, xin cho chúng con được bình an nhìn lên thánh giá mà thưa rằng: Lạy Chúa Giêsu, con tin vào tình yêu của Chúa; con phó thác quá khứ, hiện tại, tương lai và cả sự sống đời đời của con trong đôi tay đã bị đóng đinh vì con. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
THÁNH GIÁ ĐƯỢC SUY TÔN: TỪ DẤU CHỈ Ô NHỤC ĐẾN NGỌN CỜ CỨU ĐỘ
Trong đời sống Kitô hữu, không có dấu chỉ nào quen thuộc hơn dấu Thánh Giá. Chúng ta làm dấu Thánh Giá khi bắt đầu và kết thúc một ngày; làm dấu Thánh Giá trước khi cầu nguyện, trước bữa ăn, trước một chuyến đi xa, trước một công việc quan trọng; cha mẹ ghi dấu Thánh Giá trên trán con cái; linh mục dùng dấu Thánh Giá để chúc lành; Thánh Giá được đặt trên nóc nhà thờ, giữa cung thánh, trong gia đình, trên bàn làm việc, bên giường người bệnh và trước phần mộ của người đã qua đời. Thánh Giá hiện diện từ lúc một người được lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy cho đến khi thân xác họ được đưa về nơi an nghỉ cuối cùng. Thánh Giá đi theo người tín hữu suốt cuộc đời, như một lời nhắc nhở rằng họ thuộc về Đức Kitô, được cứu chuộc bởi Đức Kitô và được mời gọi bước theo Đức Kitô. Thế nhưng, vì quá quen thuộc, đôi khi chúng ta làm dấu Thánh Giá cách máy móc, đeo Thánh Giá như một món trang sức, treo Thánh Giá như một vật trang trí mà quên mất rằng dấu chỉ ấy đã từng là một hình phạt khủng khiếp, một biểu tượng của sự nhục nhã, đau đớn và chết chóc. Lễ Suy Tôn Thánh Giá mời gọi chúng ta dừng lại thật lâu trước mầu nhiệm ấy, không phải để tôn thờ một miếng gỗ, cũng không phải để ca tụng đau khổ tự nó, nhưng để chiêm ngắm tình yêu của Thiên Chúa được biểu lộ đến tận cùng nơi Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Chúng ta suy tôn Thánh Giá bởi vì trên Thánh Giá, Con Thiên Chúa đã biến khí cụ giết người thành ngai tòa của lòng thương xót, biến nơi ô nhục thành nơi vinh quang, biến bản án của con người thành lời tuyên bố tha thứ của Thiên Chúa, biến cái chết thành con đường dẫn đến sự sống và biến dấu chấm hết của lịch sử thành khởi đầu của một tạo thành mới.
Truyền thống kể lại rằng vào đầu thế kỷ thứ tư, thánh nữ Helena, thân mẫu của hoàng đế Constantinô, đã hành hương đến Giêrusalem để tìm kiếm những địa điểm gắn liền với cuộc đời, cuộc Thương Khó và sự Phục Sinh của Chúa Giêsu. Trên khu vực được truyền thống kính nhớ là nơi Chúa chịu đóng đinh và được mai táng, người ta đã xây dựng một đền thờ ngoại giáo. Khi công trình ấy được dỡ bỏ và khu vực được khai quật, ba cây thập giá đã được tìm thấy. Theo một truyền thống đạo đức, cây Thánh Giá của Chúa Giêsu được nhận ra khi việc tiếp xúc với cây gỗ ấy đem lại sự chữa lành cho một người phụ nữ đang hấp hối. Sau đó, hoàng đế Constantinô cho xây dựng Vương cung thánh đường Mộ Thánh tại địa điểm này. Từ đó, Thánh Giá được công khai tôn kính, và lễ kính Thánh Giá dần dần lan rộng trong đời sống phụng vụ của Hội Thánh. Một chứng nhân hành hương vào cuối thế kỷ thứ tư đã thuật lại nghi thức tôn kính Thánh Giá tại Giêrusalem trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh: thánh tích gỗ Thánh Giá được lấy ra khỏi hộp bằng bạc, đặt trên bàn cùng với tấm bảng mà tổng trấn Philatô đã truyền đặt trên đầu Chúa Giêsu; từng người lần lượt tiến đến, cúi mình, chạm trán và đôi mắt vào Thánh Giá rồi hôn kính. Đó không chỉ là một cử chỉ đạo đức bên ngoài, nhưng là lời tuyên xưng bằng toàn bộ thân xác rằng người tín hữu đặt trí khôn, ánh mắt, trái tim và cả cuộc đời mình dưới bóng Thánh Giá Đức Kitô. Về sau, khi quân Ba Tư chiếm Giêrusalem và mang thánh tích Thánh Giá đi, hoàng đế Hêracliô đã thu hồi và đưa Thánh Giá trở lại Thành Thánh. Truyền thống kể rằng nhà vua muốn tự mình vác Thánh Giá trong phẩm phục hoàng đế, nhưng không thể tiến bước. Chỉ khi cởi bỏ áo bào, vương miện và những biểu tượng quyền lực, trở thành một người hành hương nghèo khó đi chân không, ông mới có thể vác Thánh Giá vào thành. Dù những chi tiết truyền kỳ ấy cần được đón nhận trong bối cảnh của truyền thống đạo đức, chúng vẫn chuyển tải một chân lý thiêng liêng rất sâu xa: không ai có thể thật sự đến gần Thánh Giá nếu vẫn khư khư giữ lấy chiếc áo của kiêu ngạo; không ai có thể vác Thánh Giá Chúa bằng đôi vai đang mang quá nhiều tham vọng, quyền lực, tự mãn và tìm kiếm vinh quang cho mình. Muốn bước theo Đấng chịu đóng đinh, con người phải biết cởi bỏ con người cũ, từ bỏ những chiếc mặt nạ, những danh hiệu, những đặc quyền và những ảo tưởng về bản thân, để trở thành một người hành hương đơn sơ, khiêm nhường và tín thác.
Điều đáng suy nghĩ là đối với người Kitô hữu hôm nay, cây Thánh Giá thường được làm bằng vàng, bạc, đá quý hoặc gỗ đẹp; được chạm trổ tinh tế, đặt ở những vị trí trang trọng và trở thành nguồn cảm hứng cho biết bao tác phẩm nghệ thuật. Nhưng đối với người sống vào thời Chúa Giêsu và những thế hệ Kitô hữu đầu tiên, thập giá hoàn toàn không mang vẻ đẹp nào. Nó là khí cụ hành hình dành cho nô lệ, quân phản loạn và những người bị xem là nguy hiểm đối với đế quốc Rôma. Thập giá thường được dựng bên ngoài thành, ở nơi công cộng, để thi thể của những người bị xử tử trở thành lời cảnh cáo ghê rợn cho những ai dám chống lại quyền lực. Người bị đóng đinh không chỉ chịu đau đớn khủng khiếp về thể xác mà còn bị lột trần phẩm giá, bị phơi bày trước đám đông, bị chế nhạo, bị bỏ rơi và bị đẩy xuống tận cùng của sự nhục nhã. Bởi đó, khi rao giảng một Đấng Mêsia chịu đóng đinh, các Tông đồ đã công bố một điều thật khó chấp nhận đối với tâm thức thời bấy giờ. Thánh Phaolô nhìn nhận rằng lời rao giảng về Thập Giá là sự điên rồ đối với dân ngoại và là cớ vấp phạm đối với người Do Thái; nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, Đức Kitô chịu đóng đinh chính là quyền năng và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Những Kitô hữu đầu tiên đã không dễ dàng dùng hình ảnh thập giá trong nghệ thuật công khai, bởi họ sống quá gần với thực tế tàn bạo của những cuộc hành hình. Trong nhiều trường hợp, Thánh Giá được diễn tả cách kín đáo dưới hình thức chiếc neo, con thuyền hay biểu tượng Chi-Rho. Chỉ sau khi Kitô giáo được khoan dung, Thánh Giá mới dần xuất hiện công khai và trở thành dấu chỉ phổ quát của đức tin Kitô giáo. Thế nhưng, điều làm cho Thánh Giá trở nên đáng tôn kính không phải là sự thay đổi của văn hóa, không phải vì nghệ thuật đã làm cho nó đẹp hơn, nhưng vì chính Đức Giêsu đã bước lên cây gỗ ấy và đổ máu mình vì yêu thương nhân loại.
Trước Đức Giêsu, thập giá là nơi con người đóng đinh con người; từ Đức Giêsu, Thánh Giá trở thành nơi Thiên Chúa ôm lấy con người. Trước Đức Giêsu, thập giá là biểu tượng của quyền lực dùng bạo lực để trấn áp; từ Đức Giêsu, Thánh Giá trở thành biểu tượng của quyền năng tình yêu tự hiến. Trước Đức Giêsu, thập giá nói rằng kẻ mạnh có thể tiêu diệt kẻ yếu; từ Đức Giêsu, Thánh Giá nói rằng sự dịu hiền của Thiên Chúa có thể chiến thắng bạo lực của thế gian. Trước Đức Giêsu, thập giá kết thúc sự sống; từ Đức Giêsu, Thánh Giá mở đường vào sự sống đời đời. Chính Chúa Giêsu không loại bỏ đau khổ bằng một phép lạ ngoạn mục, nhưng Người đi vào đau khổ, mang lấy đau khổ và biến đổi đau khổ từ bên trong. Người không cứu thế gian bằng cách đứng xa thế gian, nhưng bằng cách đi vào những vết thương sâu nhất của nhân loại. Người không cứu người tội lỗi bằng cách lên án họ từ một ngai tòa xa xôi, nhưng bằng cách để chính mình bị liệt vào hàng tội nhân. Người không giảng về tình yêu bằng những lời hoa mỹ rồi rút lui khi phải trả giá, nhưng Người để cho tình yêu ấy bị đâm thủng đôi tay, đôi chân và cạnh sườn. Thánh Giá là nơi lời nói của Chúa Giêsu trở thành máu thịt. Trên núi, Người đã dạy: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em”; trên đồi Canvê, Người thực hiện chính lời ấy khi cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Trong cuộc đời công khai, Người đã nói: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu”; trên Thánh Giá, Người hiến mạng sống không chỉ cho bạn hữu, nhưng còn cho những người kết án, chế nhạo, đánh đập và đóng đinh Người. Thánh Giá không chỉ là nơi Đức Giêsu chịu đau khổ; đó là nơi Người yêu thương trong đau khổ, tha thứ giữa đau khổ và hoàn toàn tín thác vào Chúa Cha ngay khi mọi sự chung quanh dường như chỉ còn là bóng tối.
Vì thế, suy tôn Thánh Giá không có nghĩa là suy tôn sự đau đớn, càng không phải là cổ võ một lối sống tìm kiếm đau khổ hay cam chịu bất công một cách thụ động. Thiên Chúa không vui khi thấy con người bị hành hạ. Thiên Chúa không tạo ra bệnh tật, chiến tranh, bạo lực gia đình, nghèo đói, áp bức và sự dữ để thỏa mãn một ý muốn nghiệt ngã nào đó. Thánh Giá cho thấy điều ngược lại: Thiên Chúa đứng về phía người bị tổn thương, mang lấy tiếng khóc của người đau khổ và chống lại sự dữ bằng sức mạnh của tình yêu. Khi nhìn lên Đấng chịu đóng đinh, chúng ta không được phép biện minh cho bạo lực, bảo người bị áp bức phải im lặng hay dùng hai chữ “Thánh Giá” để bắt một người tiếp tục sống trong hoàn cảnh xúc phạm phẩm giá. Có những cây thập giá cần được đón nhận bằng lòng trung tín, nhưng cũng có những thập giá giả do tội lỗi, ích kỷ và bất công của con người đặt lên vai người khác mà người Kitô hữu phải góp phần tháo gỡ. Chúa Giêsu vác Thập Giá không phải vì Người yêu thích đau khổ, nhưng vì Người yêu thương con người đến mức không bỏ cuộc, ngay cả khi tình yêu phải đi qua đau đớn. Điều làm cho Thánh Giá mang giá trị cứu độ không phải là số lượng đau đớn Chúa phải chịu, nhưng là tình yêu tuyệt đối Người đặt vào trong đau đớn ấy. Nếu chỉ có đau khổ mà không có tình yêu, thập giá vẫn chỉ là một khí cụ tàn nhẫn; nhưng vì trên đó có Con Thiên Chúa tự hiến trong vâng phục và yêu thương, Thánh Giá trở thành bàn thờ của hy lễ mới, thành cây sự sống và thành chiếc cầu nối đất với trời.
Nhìn lên Thánh Giá, chúng ta thấy chiều dọc của tình yêu hướng lên Chúa Cha và chiều ngang của tình yêu mở ra với toàn thể nhân loại. Đức Giêsu giang rộng hai cánh tay như muốn ôm lấy tất cả những người từng bị loại trừ: người tội lỗi, người thất bại, người cô đơn, người bị phản bội, người đang đau bệnh, người không còn hy vọng, người không được ai hiểu và cả người tưởng rằng mình không còn xứng đáng với tình yêu của Thiên Chúa. Không ai nằm ngoài vòng tay ấy. Đôi tay Chúa bị đóng đinh để không bao giờ khép lại. Trái tim Chúa bị lưỡi đòng mở ra để từ đó máu và nước tuôn trào như nguồn mạch của Bí tích và đời sống Hội Thánh. Đầu Chúa đội mão gai để chữa lành lòng kiêu ngạo của con người. Đôi chân Chúa bị đóng chặt để tìm đến những kẻ đang chạy trốn Thiên Chúa. Thân thể Chúa bị lột trần để che phủ sự trần trụi và xấu hổ của Ađam. Chúa bị treo giữa trời và đất để hòa giải trời với đất. Người bị đặt giữa hai người tử tội để không một người tội lỗi nào có thể nói rằng Thiên Chúa không hiểu thân phận của mình. Người chịu khát để bày tỏ cơn khát cứu độ nhân loại. Người thốt lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” để bước vào tận đáy kinh nghiệm cô đơn của con người. Sau cùng, Người tuyên bố: “Mọi sự đã hoàn tất,” bởi công trình tình yêu đã đi đến tận cùng; món nợ của tội lỗi đã được trả bằng lòng thương xót; bức tường ngăn cách đã bị phá đổ và con đường trở về với Chúa Cha đã được mở ra.
Thánh Giá cũng lật đổ cách con người suy nghĩ về sức mạnh và chiến thắng. Thế gian thường cho rằng mạnh là có thể bắt người khác phục vụ mình, còn Chúa Giêsu cho thấy mạnh là có thể hiến mình phục vụ người khác. Thế gian cho rằng chiến thắng là loại bỏ đối thủ, còn Chúa Giêsu chiến thắng bằng cách tha thứ cho kẻ thù. Thế gian cho rằng vinh quang là được tung hô, còn vinh quang của Con Thiên Chúa được biểu lộ khi Người hạ mình đến tận cùng. Thế gian muốn giữ lấy sự sống bằng mọi giá, còn Đức Giêsu nói: ai mất mạng sống mình vì Người thì sẽ tìm lại được. Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu không có quân đội, không có vũ khí, không có tiền bạc, không có quyền lực chính trị, không có đám đông bảo vệ. Người dường như đã mất tất cả: các môn đệ bỏ trốn, dân chúng chế nhạo, giới lãnh đạo kết án, quân lính chia nhau áo Người và ngay cả cảm giác được Chúa Cha nâng đỡ cũng bị che khuất trong bóng tối. Nhưng chính khi không còn gì để giữ lại, Người trao ban tất cả. Chính trong sự trống rỗng ấy, tình yêu trở nên trọn vẹn. Chính khi thế gian tưởng rằng Người hoàn toàn thất bại, Người đang chiến thắng tội lỗi. Chính khi sự chết tưởng rằng đã nuốt chửng Người, Người bước vào lòng sự chết để phá tan quyền lực của nó. Chiến thắng của Thánh Giá không ồn ào như một đoàn quân khải hoàn; đó là chiến thắng âm thầm của hạt lúa mì chấp nhận mục nát để sinh nhiều bông hạt. Không ai có thể hiểu trọn mầu nhiệm Phục Sinh nếu bỏ qua Thánh Giá, và cũng không ai có thể hiểu đúng Thánh Giá nếu tách nó khỏi ánh sáng Phục Sinh. Thánh Giá không phải là tiếng nói cuối cùng của sự chết; đó là cánh cửa đưa tới buổi sáng ngày thứ nhất trong tuần.
Suy tôn Thánh Giá còn là nhìn nhận sự thật về tội lỗi. Chúng ta dễ dàng xúc động trước hình ảnh Chúa chịu đóng đinh, nhưng lại không muốn nhìn nhận rằng chính tội lỗi của nhân loại và của mỗi người đã dẫn Người đến đó. Trên đồi Canvê có sự phản bội của Giuđa, sự chối bỏ của Phêrô, sự hèn nhát của Philatô, lòng ghen ghét của giới lãnh đạo, sự tàn nhẫn của quân lính, tính thất thường của đám đông và sự thờ ơ của những người đứng nhìn. Những điều ấy không chỉ thuộc về quá khứ. Giuđa vẫn hiện diện mỗi khi chúng ta bán rẻ lương tâm để đổi lấy lợi ích; Phêrô vẫn hiện diện khi chúng ta vì sợ hãi mà chối bỏ niềm tin; Philatô vẫn hiện diện khi chúng ta biết điều đúng nhưng rửa tay để bảo vệ địa vị; đám đông vẫn hiện diện khi chúng ta chạy theo dư luận, hôm nay tung hô nhưng ngày mai sẵn sàng kết án; quân lính vẫn hiện diện khi chúng ta biến nỗi đau của người khác thành trò tiêu khiển; những kẻ đứng nhìn vẫn hiện diện khi chúng ta thấy bất công mà không dám lên tiếng. Mỗi lần nói một lời làm tổn thương người khác, mỗi lần cố tình hạ thấp phẩm giá một người, mỗi lần nuôi dưỡng hận thù, mỗi lần khép cửa trước người nghèo, mỗi lần làm ngơ trước tiếng khóc của người yếu thế, chúng ta lại góp thêm một chiếc gai vào mão gai của Chúa. Nhưng điều kỳ diệu là Thánh Giá không chỉ vạch trần tội lỗi; Thánh Giá còn mở đường cho người tội lỗi trở về. Đức Giêsu không chết để chúng ta mãi mãi chìm trong mặc cảm, nhưng để chúng ta được giải thoát khỏi tội và bắt đầu lại. Máu Người không kêu gào báo oán như máu Aben; máu Người nói lời tha thứ, giao hòa và bình an.
Có lẽ trong cuộc đời mỗi người đều có một cây thập giá nào đó: một căn bệnh kéo dài, một vết thương gia đình, một cuộc hôn nhân nhiều thử thách, một người con khiến cha mẹ đau lòng, một sự hiểu lầm không được giải thích, một thất bại nghề nghiệp, một gánh nặng kinh tế, một lời vu khống, một mất mát, một tuổi già cô quạnh, một trách nhiệm không thể trốn tránh hoặc một cuộc chiến âm thầm chẳng ai biết đến. Có những người bên ngoài vẫn cười, vẫn làm việc và vẫn nói chuyện bình thường, nhưng bên trong đang mang một Thánh Giá rất nặng. Có những người đã cầu nguyện nhiều năm mà hoàn cảnh chưa thay đổi; có những người đã cố gắng sống tốt nhưng vẫn gặp thử thách; có những người tự hỏi tại sao Thiên Chúa im lặng. Lễ Suy Tôn Thánh Giá không đưa ra một lời giải thích dễ dãi cho mọi đau khổ. Hội Thánh không đứng bên ngoài mà nói với người đang đau rằng: “Hãy cố chịu đi.” Hội Thánh chỉ dám chỉ cho họ thấy Đấng chịu đóng đinh và nói: “Thiên Chúa đang ở đó với bạn.” Người không luôn cất cây thập giá khỏi vai chúng ta ngay lập tức, nhưng Người bước vào dưới cây thập giá ấy và cùng mang với chúng ta. Người không hứa rằng môn đệ sẽ không phải khóc, nhưng Người hứa rằng không giọt nước mắt nào bị lãng quên. Người không nói con đường sẽ không có đêm tối, nhưng chính Người đã đi qua đêm tối và mở một lối ra. Khi đau khổ được kết hợp với tình yêu của Đức Kitô, nó không còn là một vực thẳm hoàn toàn vô nghĩa. Một giọt nước mắt dâng lên trong đức tin, một hy sinh âm thầm vì gia đình, một lần nhẫn nại với người khó tính, một lời cầu nguyện trong cơn bệnh, một sự tha thứ dù lòng còn đau, tất cả đều có thể được đặt vào hy lễ của Chúa và trở thành hạt giống của ân sủng.
Tuy nhiên, vác Thánh Giá không đồng nghĩa với thái độ bi quan, buồn bã hoặc làm cho đời sống của người khác trở nên nặng nề. Có người tưởng mình đang vác Thánh Giá, nhưng thật ra lại đang bắt người khác vác tính khí, sự nóng giận, tính gia trưởng, lòng ích kỷ và sự cố chấp của mình. Có người nói nhiều về hy sinh nhưng luôn đòi người bên cạnh phải hy sinh. Có người tôn kính Thánh Giá trong nhà thờ nhưng lại đóng đinh người thân bằng lời cay nghiệt. Có người hôn chân Chúa trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng không muốn chạm đến bàn chân lấm bụi của người nghèo. Có người đeo Thánh Giá rất đẹp trên ngực nhưng trong lòng chất đầy ghen ghét. Nếu việc tôn kính Thánh Giá không dẫn chúng ta đến yêu thương, tha thứ, khiêm nhường và phục vụ, thì việc tôn kính ấy vẫn chưa đi vào đời sống. Hôn kính Thánh Giá Chúa phải giúp chúng ta thôi đóng đinh nhau. Quỳ trước Thánh Giá phải giúp chúng ta cúi xuống nâng người đang ngã. Nhìn đôi tay bị đóng đinh phải khiến bàn tay chúng ta biết mở ra để chia sẻ. Nhìn cạnh sườn bị đâm thâu phải làm trái tim chai đá của chúng ta biết rung động. Nhìn Chúa bị lột trần phải thôi thúc chúng ta bảo vệ phẩm giá của những người đang bị xúc phạm. Nhìn Chúa tha thứ cho kẻ hành hình phải dạy chúng ta tháo những chiếc đinh của oán hờn khỏi ký ức mình.
Tha thứ chính là một trong những hình thức vác Thánh Giá khó khăn nhất. Tha thứ không có nghĩa là gọi điều xấu là điều tốt, phủ nhận vết thương hay để người khác tiếp tục làm hại mình. Tha thứ cũng không phải là quên ngay mọi chuyện như chưa từng xảy ra. Tha thứ là từ chối để sự dữ của người khác quyết định con người mình. Tha thứ là không trao cho hận thù quyền chiếm giữ trái tim. Tha thứ là đặt sự phán xét cuối cùng trong tay Thiên Chúa và xin Người chữa lành điều bản thân không thể chữa lành. Có những sự tha thứ phải được lặp lại nhiều lần; không phải vì lời tha thứ ban đầu giả dối, nhưng vì vết thương có nhiều tầng sâu. Mỗi lần ký ức quay lại và làm lòng ta đau, ta lại đặt nó dưới chân Thánh Giá. Mỗi lần cơn giận bùng lên, ta lại nghe lời Chúa: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Ta không thể tha thứ chỉ bằng sức riêng. Ta tha thứ vì trước hết chính mình đã được tha thứ. Ta buông món nợ của người khác vì Chúa đã xóa món nợ lớn hơn của ta. Khi nhìn lên Thánh Giá, ta hiểu rằng không người nào chỉ là lỗi lầm họ đã gây ra; ngay cả trong người tội lỗi vẫn còn một phẩm giá mà Đức Kitô đã đổ máu để cứu chuộc.
Thánh Giá cũng chất vấn cách chúng ta hiểu đời sống Kitô hữu. Nhiều người muốn một Kitô giáo không có Thập Giá: muốn Chúa ban bình an nhưng không muốn từ bỏ ích kỷ; muốn được chữa lành nhưng không muốn hoán cải; muốn được chúc lành nhưng không muốn phục vụ; muốn vinh quang Phục Sinh nhưng không muốn đi qua chiều Thứ Sáu Tuần Thánh; muốn theo Chúa khi đường đi thuận lợi nhưng bỏ Người khi phải trả giá. Chúa Giêsu chưa bao giờ lừa dối các môn đệ bằng những lời hứa dễ dàng. Người nói rõ: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Thập giá của người môn đệ trước hết là sự trung thành với Tin Mừng trong những chọn lựa cụ thể. Đó là từ bỏ một lợi ích bất chính dù có thể kiếm được nhiều tiền; nói sự thật dù có thể chịu thiệt; bảo vệ người yếu thế dù có thể bị hiểu lầm; sống trong sạch giữa một môi trường dễ dãi; khiêm nhường nhận lỗi dù lòng tự ái bị tổn thương; trung thành với ơn gọi khi cảm xúc không còn nồng nhiệt; tiếp tục yêu thương khi không được đáp lại; cầu nguyện cả khi tâm hồn khô khan; phục vụ mà không đòi được công nhận. Thập giá ấy không nhất thiết là những việc phi thường. Nó thường được làm bằng những thanh gỗ rất bình thường: bổn phận mỗi ngày, sự kiên nhẫn, lòng bao dung, việc chăm sóc một người đau yếu, một lời xin lỗi, một quyết định từ bỏ cám dỗ, một nghĩa cử âm thầm không ai biết.
Bài học về hoàng đế Hêracliô cởi bỏ phẩm phục để trở thành người hành hương đi chân không vẫn luôn mang tính thời sự. Chúng ta không thể vác Thánh Giá Chúa khi vẫn khoác trên mình chiếc áo của kiêu ngạo. Có những chiếc áo vô hình mà con người rất khó cởi bỏ: danh dự, chức vụ, thành tích, bằng cấp, tiền bạc, sự ngưỡng mộ của người khác, cảm giác mình luôn đúng và mong muốn được đối xử đặc biệt. Những điều ấy tự thân không nhất thiết là xấu, nhưng sẽ trở thành cản trở khi chúng khiến ta không còn cúi xuống được, không còn xin lỗi được, không còn lắng nghe được và không còn bước theo một Đấng Mêsia khiêm hạ. Trước Thánh Giá, mọi người đều bình đẳng: vua chúa và người ăn xin, người đạo đức và người tội lỗi, người nổi tiếng và người vô danh đều cần đến cùng một lòng thương xót. Không ai có thể mua ơn cứu độ. Không ai có thể khoe công trạng trước cây Thánh Giá. Chúng ta chỉ có thể đứng đó như người trộm lành, với đôi tay trắng và lời cầu xin đơn sơ: “Lạy Ngài, khi vào Nước Ngài, xin nhớ đến con.” Và câu trả lời của Chúa vẫn là lời mở cửa thiên đàng: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi.”
Trong đời sống gia đình, suy tôn Thánh Giá có nghĩa là đặt tình yêu tự hiến vào trung tâm. Gia đình không trở thành mái ấm chỉ vì có chung một mái nhà, nhưng vì mỗi người biết chết đi một chút cho cái tôi của mình. Người chồng vác Thánh Giá khi trung thành, trách nhiệm, biết lắng nghe và tôn trọng người bạn đời; người vợ vác Thánh Giá khi yêu thương bằng sự kiên nhẫn và khôn ngoan, nhưng không đánh mất phẩm giá Thiên Chúa ban; cha mẹ vác Thánh Giá khi hy sinh cho con cái mà không biến hy sinh ấy thành một món nợ để ràng buộc; con cái vác Thánh Giá khi biết hiếu thảo, cảm thông và chăm sóc cha mẹ lúc tuổi già. Có những gia đình không thiếu tiền bạc nhưng thiếu sự hiện diện; không thiếu tiện nghi nhưng thiếu lời nói dịu dàng; không thiếu Thánh Giá treo trên tường nhưng lại thiếu tinh thần của Đấng chịu đóng đinh. Thánh Giá trong gia đình phải nhắc mọi người rằng tình yêu không chỉ là cảm xúc, nhưng là quyết định ở lại, lắng nghe, chịu đựng, sửa đổi và bắt đầu lại. Mỗi khi người trong gia đình bớt đi một lời làm đau nhau, Thánh Giá được suy tôn. Mỗi khi một người chủ động làm hòa, Thánh Giá được dựng lên. Mỗi khi cha mẹ dành thời gian cho con cái, con cái chăm sóc cha mẹ, anh chị em bỏ qua một lỗi lầm, mầu nhiệm Canvê đang sinh hoa trái trong mái nhà ấy.
Trong đời sống cộng đoàn và Hội Thánh, suy tôn Thánh Giá là từ bỏ não trạng tranh giành quyền lực, tìm kiếm ảnh hưởng và bảo vệ cái tôi. Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn Đấng chịu đóng đinh, nên chỉ thật sự giống Chúa khi biết mang lấy thương tích của nhân loại. Một Hội Thánh chỉ lo cho danh dự của mình mà không nghe tiếng khóc của người nghèo sẽ trở nên xa lạ với Thánh Giá. Một cộng đoàn nói nhiều về Tin Mừng nhưng chia rẽ vì những điều nhỏ nhặt sẽ làm lu mờ dung mạo Đức Kitô. Một người phục vụ chỉ vui khi được nhắc tên, chỉ nhiệt tình khi được khen ngợi và rút lui khi không được ghi nhận thì vẫn chưa học hết bài học của Thánh Giá. Trên Canvê, Chúa Giêsu không giữ lại điều gì cho mình. Người trao Mẹ cho người môn đệ, trao người môn đệ cho Mẹ, trao sự tha thứ cho kẻ thù, trao thiên đàng cho người trộm thống hối, trao Thần Khí cho Chúa Cha và trao chính sự sống cho nhân loại. Hội Thánh càng biết trao ban, càng trở nên giống Chúa. Người môn đệ càng biết quên mình, càng có sức sinh hoa trái. Hạt lúa được giữ nguyên thì vẫn chỉ là một hạt lúa; hạt lúa chấp nhận mục nát mới có thể thành mùa gặt.
Thánh Giá cũng cho chúng ta một tiêu chuẩn để phân định mọi hình thức quyền lực. Quyền lực chân chính không đóng đinh người khác để bảo vệ mình, nhưng chấp nhận trả giá để bảo vệ người khác. Người có trách nhiệm trong gia đình, xã hội hay Hội Thánh không được dùng vị trí của mình để thống trị, làm người khác sợ hãi hay buộc mọi người phục vụ lợi ích cá nhân. Chúa Giêsu là Vua, nhưng ngai của Người là Thánh Giá; triều thiên của Người là mão gai; áo choàng của Người bị đem ra chế giễu; vương trượng của Người là cây sậy; luật của vương quốc Người là yêu thương; và chiến thắng của Người là sự tự hiến. Ai nhân danh Chúa mà làm nhục người yếu thế, người ấy đã phản bội Thánh Giá. Ai nhân danh chân lý mà thiếu bác ái, người ấy chưa hiểu chân lý của Đấng chịu đóng đinh. Chân lý Kitô giáo không phải là chiếc búa để đập người khác, nhưng là ánh sáng giúp người khác tìm được đường về. Việc bảo vệ chân lý có thể đòi sự mạnh mẽ và rõ ràng, nhưng sức mạnh ấy phải luôn mang hình dạng của tình yêu cứu độ.
Ngày nay, giữa một thế giới tôn vinh thành công, tiện nghi, hình ảnh và quyền lực, Thánh Giá vẫn là một dấu chỉ nghịch lý. Thế giới bảo chúng ta phải chứng minh giá trị bằng việc sở hữu thật nhiều; Thánh Giá nói giá trị của con người nằm ở chỗ họ được Thiên Chúa yêu đến mức Con Một đã hiến mạng vì họ. Thế giới bảo phải che giấu vết thương để tỏ ra mạnh mẽ; Thánh Giá cho thấy những vết thương được tình yêu đón nhận có thể trở thành nguồn chữa lành. Thế giới bảo phải đáp trả tổn thương bằng tổn thương; Thánh Giá dạy lấy điều thiện thắng điều ác. Thế giới bảo phải bước xuống khỏi thập giá để chứng minh quyền năng; Chúa Giêsu ở lại trên Thánh Giá vì không muốn bỏ rơi nhân loại. Những kẻ chế nhạo đã nói: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá.” Nhưng nếu Chúa xuống để tự cứu mình, chúng ta sẽ không được cứu. Người có thể xuống, nhưng Người đã ở lại. Chính sự ở lại ấy là tình yêu. Trong đời sống chúng ta cũng vậy, đôi khi tình yêu được chứng minh không bằng những việc lớn lao, nhưng bằng khả năng ở lại: ở lại với người bệnh, ở lại bên người đang thất vọng, ở lại trong bổn phận, ở lại với lời cam kết, ở lại trong cầu nguyện và ở lại với Thiên Chúa cả khi chưa hiểu được đường lối của Người.
Khi làm dấu Thánh Giá, chúng ta hãy làm cách chậm rãi và ý thức hơn. Khi đưa tay lên trán và nói: “Nhân danh Cha,” chúng ta xin Chúa thanh tẩy mọi suy nghĩ, để trí khôn không bị thống trị bởi kiêu ngạo, định kiến và những toan tính xấu. Khi đưa tay xuống ngực và nói: “và Con,” chúng ta xin Đức Kitô ngự vào trái tim, chữa lành những tình cảm lệch lạc, những vết thương, nỗi sợ hãi và lòng ích kỷ. Khi đưa tay từ vai này sang vai kia và nói: “và Thánh Thần,” chúng ta xin Thánh Thần thánh hóa mọi việc tay chúng ta làm, để đôi tay ấy không gây tổn thương nhưng trở thành khí cụ của bình an. Khi thưa “Amen,” chúng ta không chỉ kết thúc một công thức, nhưng tuyên bố: con thuộc về Thiên Chúa Ba Ngôi; con chấp nhận đi vào con đường tình yêu tự hiến; con muốn để Thánh Giá Đức Kitô đóng ấn trên tư tưởng, trái tim, thân xác, công việc và toàn bộ cuộc đời con. Một dấu Thánh Giá được làm với đức tin có thể trở thành một lời tuyên xưng trọn vẹn. Nhưng một dấu Thánh Giá dù đẹp đến đâu cũng sẽ vô nghĩa nếu ngay sau đó chúng ta dùng miệng để nói xấu, dùng tay để làm điều bất chính và dùng quyền lực để đè bẹp người khác.
Lễ Suy Tôn Thánh Giá cuối cùng mời gọi mỗi người tự hỏi: Tôi đang đứng ở đâu dưới chân Thánh Giá? Tôi đứng với Đức Maria trong sự trung thành thinh lặng, với người môn đệ Chúa yêu trong lòng tín thác, với Maria Magdala trong tình yêu không bỏ cuộc, hay đứng trong đám đông chế nhạo và kết án? Tôi đang cùng Chúa tháo những chiếc đinh khỏi cuộc đời người khác, hay bằng lời nói và cách cư xử, tôi lại đóng thêm những chiếc đinh mới? Tôi đeo Thánh Giá nhưng có chấp nhận tinh thần Thánh Giá không? Tôi có yêu người không đem lại lợi ích cho mình không? Tôi có tha thứ khi phải trả giá không? Tôi có dám cởi bỏ áo choàng kiêu ngạo để trở thành người hành hương đơn sơ không? Tôi có nhận ra Chúa đang bị đóng đinh nơi người nghèo, người đau bệnh, người bị bỏ rơi, người di dân, người già cô độc, trẻ em bị tổn thương và những người không có tiếng nói không? Câu trả lời không nằm trong những lời đạo đức chúng ta nói, nhưng nằm trong cách chúng ta đối xử với nhau mỗi ngày.
Ước gì hôm nay, khi nhìn lên Thánh Giá, chúng ta không chỉ thấy một vật đạo đức đã trở nên quen thuộc, nhưng thấy cả một đại dương tình yêu đang mở ra. Nơi đó có một Thiên Chúa không bỏ rơi con người dù bị con người chối bỏ; một Thiên Chúa không rút lại tình yêu dù tình yêu bị khước từ; một Thiên Chúa dùng chính những vết thương để chữa lành vết thương của chúng ta. Nếu đang vui, hãy nhìn lên Thánh Giá để học lòng biết ơn. Nếu đang đau khổ, hãy nhìn lên Thánh Giá để biết mình không cô độc. Nếu đang phạm tội, hãy nhìn lên Thánh Giá để can đảm trở về. Nếu đang oán hận, hãy nhìn lên Thánh Giá để xin ơn tha thứ. Nếu đang kiêu ngạo, hãy nhìn lên Thánh Giá để học sự khiêm nhường. Nếu đang tuyệt vọng, hãy nhìn lên Thánh Giá và nhớ rằng nơi tưởng là thất bại cuối cùng đã trở thành khởi điểm của chiến thắng. Đêm tối Canvê không thể ngăn bình minh Phục Sinh. Tảng đá cửa mồ không thể giam hãm Đấng là Sự Sống. Những chiếc đinh không thể giữ tình yêu trong sự chết. Bởi thế, người Kitô hữu suy tôn Thánh Giá không phải bằng nước mắt của tuyệt vọng, nhưng bằng niềm hy vọng; không phải như tôn kính một kỷ niệm thất bại, nhưng như giương cao ngọn cờ chiến thắng; không phải vì yêu thích đau khổ, nhưng vì nhận ra rằng tình yêu mạnh hơn đau khổ, lòng thương xót lớn hơn tội lỗi và sự sống mạnh hơn sự chết.
Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, xin cho chúng con biết yêu mến Thánh Giá không chỉ bằng lời nói, nhưng bằng đời sống. Xin cho chúng con đừng biến Thánh Giá thành món trang sức mà quên tinh thần tự hiến; đừng hôn kính Thánh Giá Chúa rồi lại đóng đinh anh chị em; đừng xin Chúa cất mọi đau khổ mà quên xin sức mạnh để trung thành trong thử thách. Xin dạy chúng con biết cởi bỏ áo choàng kiêu ngạo, bước theo Chúa bằng đôi chân trần của lòng khiêm nhường, đón nhận những thập giá không thể tránh, can đảm tháo gỡ những thập giá bất công và không bao giờ đặt gánh nặng ích kỷ của mình lên vai người khác. Xin cho những ai đang đau bệnh tìm thấy nơi vết thương Chúa nguồn an ủi; cho những ai đang tuyệt vọng nhận ra ánh sáng Phục Sinh; cho những gia đình đang chia rẽ biết trở về với nhau; cho những người đang mang oán hờn được giải thoát; cho những ai bị xúc phạm phẩm giá gặp được những bàn tay nâng đỡ; và cho mỗi chúng con, khi giờ sau hết đến, biết phó thác linh hồn trong tay Chúa như Chúa đã phó mình trong tay Chúa Cha. Xin cho Thánh Giá được suy tôn không chỉ trên bàn thờ và nóc nhà thờ, nhưng trong từng hành động yêu thương, từng lời tha thứ, từng hy sinh âm thầm và từng cuộc đời trung tín. Bởi lẽ chỉ khi tình yêu chịu đóng đinh của Chúa trở thành cách sống của chúng con, Thánh Giá mới thật sự được giương cao giữa thế giới này. Lạy Thánh Giá Chúa Kitô, niềm hy vọng duy nhất của chúng con, xin dẫn chúng con qua đau khổ đến bình an, qua sự chết đến sự sống và qua cuộc lữ hành trần thế đến vinh quang Phục Sinh muôn đời. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
THẬP GIÁ – NƠI TÌNH YÊU ĐƯỢC GIƯƠNG CAO
Lễ Suy Tôn Thánh Giá – Ds 21,4b-9; Pl 2,6-11; Ga 3,13-17
Trong đời sống tự nhiên, người ta thường muốn giương cao những gì tượng trưng cho thành công, quyền lực, danh dự và chiến thắng; người ta dựng tượng cho những vị anh hùng, trưng bày những huân chương, lưu giữ những kỷ vật của các chiến công, kể lại những câu chuyện về những con người đã đi đến đỉnh cao của danh vọng. Thế nhưng hôm nay, Hội Thánh lại long trọng giương cao một cây thập giá, một dụng cụ hành hình từng được xem là biểu tượng của nhục nhã, thất bại, đau khổ và sự chết. Người Rôma không dùng thập giá để xử tử những công dân đáng kính, nhưng dành hình phạt ấy cho nô lệ, quân phản loạn và những người bị xã hội coi là đáng khinh. Người bị đóng đinh không chỉ phải chịu đau đớn khủng khiếp nơi thân xác, mà còn bị tước đoạt danh dự, bị phơi bày trước đám đông, bị chế nhạo và bị loại trừ khỏi thế giới của những người đang sống. Vậy mà chính cây thập giá ấy lại được Hội Thánh gọi là Thánh Giá; chính dụng cụ của sự chết ấy lại được tôn kính như cây trường sinh; chính nơi tưởng như Thiên Chúa hoàn toàn vắng mặt lại trở thành nơi tình yêu của Người được bày tỏ trọn vẹn nhất; chính giây phút tưởng như Đức Giêsu bị đánh bại lại trở thành giờ Người chiến thắng tội lỗi, ma quỷ và sự chết. Lễ Suy Tôn Thánh Giá vì thế không phải là lễ tôn vinh đau khổ vì đau khổ, cũng không phải là lời mời gọi người Kitô hữu đi tìm kiếm bất hạnh hay coi thường niềm vui của cuộc sống. Hội Thánh suy tôn Thánh Giá vì trên cây gỗ ấy, Con Thiên Chúa đã yêu nhân loại đến cùng; vì nơi ấy, lòng thương xót đã đi xuống tận đáy sâu của phận người; vì nơi ấy, tội lỗi đã gặp được ơn tha thứ, hận thù đã bị khuất phục bởi tình yêu, bạo lực đã không thể dập tắt sự hiền lành, và sự chết đã trở thành cánh cửa mở vào sự sống đời đời. Khi ngước nhìn Thánh Giá, chúng ta không chỉ nhìn thấy những chiếc đinh, những vết thương, vòng gai và máu chảy; chúng ta được mời gọi nhìn sâu hơn để nhận ra một trái tim không đóng lại trước sự phản bội của con người, một tình yêu không rút lui khi phải trả giá, một Thiên Chúa không cứu chúng ta từ xa nhưng đã bước vào chính nỗi đau của chúng ta để nâng chúng ta lên. Bởi thế, trung tâm của ngày lễ hôm nay không phải là cây gỗ tự nó, nhưng là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh trên cây gỗ ấy; không phải sự đau đớn tự nó, nhưng là tình yêu đã tự nguyện đi qua đau đớn; không phải cái chết tự nó, nhưng là Đấng đã biến cái chết thành lễ hiến dâng cứu độ. Theo truyền thống lâu đời được bài giới thiệu của EWTN về lễ Suy Tôn Thánh Giá nhắc lại, ngày lễ ngày 14 tháng Chín gắn với việc tìm thấy Thánh Giá, việc cung hiến Đền thờ Mộ Thánh tại Giêrusalem và việc Thánh Giá được long trọng giương cao cho dân chúng tôn kính. Tuy nhiên, giá trị sâu xa nhất của ngày lễ không dừng lại ở một biến cố khảo cổ hay một kỷ vật lịch sử. Hội Thánh hướng chúng ta về mầu nhiệm cứu độ đã diễn ra trên đồi Canvê, nơi Đức Kitô chịu giương cao để kéo mọi người lên với Người, như chính Người đã nói: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.”
Bài đọc thứ nhất kể lại hành trình của dân Israel trong sa mạc. Vì đường đi gian khổ, dân mất kiên nhẫn, kêu trách Thiên Chúa và ông Môsê. Họ quên những việc kỳ diệu Thiên Chúa đã làm, quên rằng mình vừa được giải thoát khỏi ách nô lệ, quên cánh tay uy quyền đã mở đường giữa lòng biển, quên bánh manna mỗi ngày, quên cột mây ban ngày và cột lửa ban đêm. Một chút gian nan trước mắt đã làm họ nghi ngờ tất cả lòng trung tín của Thiên Chúa trong quá khứ. Đó cũng là câu chuyện rất thật của mỗi người chúng ta. Khi cuộc đời bình yên, ta dễ dàng nói rằng Thiên Chúa yêu thương và quan phòng; nhưng khi bệnh tật kéo dài, khi công việc bế tắc, khi gia đình bất hòa, khi một người thân ra đi, khi lời cầu nguyện dường như không được đáp lại, ta có thể bắt đầu kêu trách: Tại sao Chúa để chuyện này xảy ra? Chúa ở đâu khi con đau khổ? Tại sao người sống ngay lành lại phải chịu quá nhiều thử thách, còn người gian ác dường như vẫn bình an? Giống dân Israel, ta dễ để nỗi mệt mỏi nhất thời che khuất lịch sử ân sủng lâu dài; dễ coi những điều đang thiếu quan trọng hơn tất cả những gì đã được nhận; dễ biến thử thách thành bằng chứng rằng Thiên Chúa đã bỏ rơi mình. Khi ấy, những “con rắn độc” của thất vọng, cay đắng, nghi ngờ và phản kháng bắt đầu cắn vào tâm hồn. Điều đáng sợ không chỉ là những khó khăn từ bên ngoài, mà là nọc độc chúng có thể gieo vào bên trong: nọc độc làm ta mất lòng tin, trở nên khép kín, nhìn mọi người bằng ánh mắt nghi ngờ, biến nỗi đau thành oán hận và để quá khứ điều khiển hiện tại. Sau khi nhận ra tội lỗi, dân chạy đến với ông Môsê và xin ông cầu nguyện. Thiên Chúa truyền cho ông đúc một con rắn bằng đồng, treo lên cây cột; ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng thì được sống. Điều chữa lành họ không phải là một thứ ma thuật phát xuất từ vật bằng đồng, nhưng là đức tin vâng phục hướng về Thiên Chúa. Người bị thương phải nhìn nhận rằng mình không thể tự cứu; phải ngước mắt khỏi vết thương của mình và đặt niềm tin vào phương thế Thiên Chúa ban. Đức Giêsu đã dùng chính hình ảnh ấy để nói về cuộc khổ nạn của Người: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.” Con rắn đồng là dấu chỉ báo trước; Đức Kitô chịu đóng đinh mới là sự hoàn tất. Dân Israel nhìn lên để được cứu khỏi nọc độc trong thân xác; nhân loại nhìn lên Đức Kitô để được giải thoát khỏi nọc độc của tội lỗi và sự chết. Con rắn đồng mang hình ảnh của điều đã gây nên cái chết nhưng không chứa nọc độc; Đức Kitô mang lấy thân phận con người tội lỗi, dù chính Người hoàn toàn vô tội. Thánh Phaolô diễn tả mầu nhiệm này thật táo bạo: Đấng chẳng hề biết tội là gì, Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để chúng ta được nên công chính trong Người. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu mang lấy hậu quả của tội mà không phạm tội; bước vào sự chết để phá tan quyền lực của sự chết; đi xuống nơi sâu nhất của nỗi cô đơn để không còn ai trong đau khổ có thể nói rằng Thiên Chúa không hiểu mình.
Tin Mừng hôm nay mở ra một chân trời làm rung động lòng người: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” Thánh Gioan không nói Thiên Chúa chỉ yêu những người tốt lành, những người ngoan đạo, những người chưa từng phản bội hay những người xứng đáng; ngài nói Thiên Chúa yêu “thế gian”, nghĩa là yêu chính nhân loại mong manh, hỗn độn, đầy tội lỗi và chống đối này. Người yêu Phêrô ngay cả khi biết ông sẽ chối Thầy; yêu Tôma ngay trong lúc ông nghi ngờ; yêu những môn đệ bỏ chạy trong đêm tối; yêu đám đông hôm trước tung hô, hôm sau đòi đóng đinh; yêu cả những người đóng đinh Người, đến nỗi giữa cơn đau tột cùng vẫn cầu xin: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Thánh Giá nói với chúng ta rằng tình yêu của Thiên Chúa không phải phần thưởng dành cho người hoàn hảo, nhưng là ân sủng tìm đến để chữa lành người tội lỗi. Người không chờ chúng ta trở nên xứng đáng rồi mới yêu; chính vì được Người yêu mà chúng ta có thể bắt đầu một cuộc đời mới. Có người mang mặc cảm về một lầm lỗi trong quá khứ, tự kết án mình suốt nhiều năm và nghĩ rằng Thiên Chúa cũng nhìn mình bằng ánh mắt kết án. Có người vẫn đến nhà thờ nhưng sâu trong lòng không tin rằng mình thực sự được tha thứ. Có người tin Chúa có thể tha cho người khác nhưng không thể tha cho mình, bởi tội mình quá lớn, quá nhục nhã hoặc đã gây ra những hậu quả không thể sửa chữa. Hôm nay, Thánh Giá trả lời tất cả những tâm hồn ấy: không có tội lỗi nào lớn hơn tình yêu của Đấng chịu đóng đinh, miễn là con người biết thống hối và mở lòng đón nhận lòng thương xót. Thánh Giá không phủ nhận sự nghiêm trọng của tội lỗi; ngược lại, Thánh Giá cho thấy tội lỗi nghiêm trọng đến mức nào khi Con Thiên Chúa phải trả một giá cao như thế để cứu chuộc chúng ta. Nhưng Thánh Giá cũng công bố rằng ân sủng còn lớn hơn tội lỗi, lòng thương xót mạnh hơn sự kết án và tình yêu mạnh hơn sự chết. Đức Giêsu không đến để lên án thế gian, nhưng để nhờ Người mà thế gian được cứu độ. Người không đứng bên ngoài hố sâu để trách cứ kẻ đã rơi xuống; Người tự mình bước xuống, mang người ấy trên vai và đưa về nhà Cha.
Bài đọc trích thư gửi tín hữu Philípphê giúp chúng ta hiểu con đường của Đức Kitô: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân.” Thập Giá bắt đầu không phải tại đồi Canvê, nhưng trong chính sự tự hạ của Con Thiên Chúa khi Người chấp nhận làm người. Người từ trời cao bước xuống máng cỏ Bêlem; từ địa vị của Chủ Tể trở thành người tôi tớ rửa chân; từ Đấng ban lề luật trở thành người bị xét xử; từ Vua vũ trụ trở thành tử tội bị treo giữa hai người trộm cướp. Cả cuộc đời Đức Giêsu là một chuyển động đi xuống vì yêu: xuống với người nghèo, xuống với người bệnh, xuống với người bị loại trừ, xuống bàn ăn của người thu thuế, xuống bên người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội, xuống bên nỗi đau của hai chị em Mácta và Maria, xuống tận chân các môn đệ để rửa chân cho họ, cuối cùng xuống tận sự chết và xuống sâu trong mồ. Nhưng chính vì Người tự hạ và vâng phục cho đến chết trên cây thập tự, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và ban tặng danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Con đường đi xuống của tình yêu trở thành con đường đi lên của vinh quang. Đây là nghịch lý căn bản của Tin Mừng: ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai mất mạng sống vì Đức Kitô thì sẽ tìm được; ai muốn làm lớn phải trở thành người phục vụ; hạt lúa phải rơi xuống đất và chết đi mới sinh nhiều bông hạt; Thánh Giá phải đi trước Phục Sinh. Chúng ta thường muốn có vinh quang mà không phải tự hạ, muốn có thành quả mà không hy sinh, muốn có sự sống mới mà không từ bỏ con người cũ, muốn theo Đức Kitô nhưng không muốn vác thập giá. Ta thích một Kitô giáo mang lại sự an ủi nhưng không đòi hoán cải; thích nghe về lòng thương xót nhưng né tránh bổn phận tha thứ; thích nhận ơn lành nhưng ngại hiến thân phục vụ; muốn đội triều thiên với Chúa nhưng không muốn cùng Người đi qua Canvê. Lễ Suy Tôn Thánh Giá nhắc rằng không có con đường tắt dẫn đến Phục Sinh. Tuy nhiên, đây không phải là lời đe dọa, mà là một lời hứa: nếu chúng ta kết hợp đau khổ với Đức Kitô, đau khổ sẽ không còn vô nghĩa; nếu vác thập giá cùng Người, chúng ta sẽ không vác một mình; nếu chết đi cho ích kỷ, kiêu ngạo và thù hận, một sự sống mới sẽ nảy sinh.
Mỗi người đều có thập giá riêng, nhưng không phải mọi đau khổ đều tự động trở thành Thánh Giá. Có đau khổ do giới hạn của phận người: bệnh tật, tuổi già, sự chia ly và cái chết. Có đau khổ do người khác gây nên: phản bội, bất công, xúc phạm, bạo lực và vô ơn. Có đau khổ do chính ta tạo ra bằng những quyết định thiếu khôn ngoan, những đam mê không được kiểm soát hoặc sự cố chấp của mình. Có cả những đau khổ không cần thiết mà ta phải can đảm loại bỏ, chứ không được khoác cho chúng chiếc áo đạo đức rồi gọi là thánh giá Chúa gửi. Một người bị bạo hành không có bổn phận im lặng chịu đựng để “vác thập giá”; họ cần được bảo vệ và giúp đỡ. Một người nghiện ngập không thể viện cớ số phận, nhưng phải tìm cách chữa trị. Một cộng đoàn có bất công không được dùng lời kêu gọi hy sinh để buộc người yếu thế tiếp tục cam chịu. Đức Kitô không thánh hóa sự dữ; Người chiến thắng sự dữ. Người không dạy chúng ta tôn thờ nỗi đau; Người dạy biến điều không thể tránh khỏi thành lễ dâng của tình yêu, đồng thời can đảm chống lại những gì hủy hoại phẩm giá con người. Thập giá chỉ trở thành Thánh Giá khi được mang trong tình yêu, sự thật, tự do và niềm tín thác. Hai người có thể cùng trải qua một thử thách, nhưng một người để nó làm mình cay độc, còn người kia để nó thanh luyện mình nên nhân hậu hơn. Một người có thể dùng vết thương làm lý do gây thương tích cho người khác; một người khác lại biến vết thương thành khả năng cảm thông với những ai đang đau khổ. Điều quyết định không chỉ là ta phải chịu gì, nhưng là ta chịu điều ấy với ai và vì điều gì. Nếu chỉ nhìn vào chính mình, thập giá dễ trở thành sức nặng nghiền nát; nếu nhìn lên Đức Kitô, ta nhận ra mình đang được một Đấng đã đi trước đồng hành. Người không nhất thiết lấy khỏi ta mọi thử thách, nhưng ban sức mạnh để thử thách không lấy mất đức tin; Người không luôn thay đổi hoàn cảnh ngay tức khắc, nhưng có thể biến đổi trái tim ta ngay trong hoàn cảnh ấy; Người không hứa rằng người môn đệ sẽ không khóc, nhưng hứa rằng nước mắt sẽ không là lời cuối cùng.
Trong các gia đình, Thánh Giá được suy tôn không phải bằng những lời trang trọng nhưng trước hết bằng lòng trung thành âm thầm. Đó là khi vợ chồng biết hạ bớt cái tôi để lắng nghe nhau, không tìm phần thắng trong một cuộc cãi vã nhưng tìm lại người mình yêu; khi cha mẹ kiên nhẫn đồng hành với một người con khó dạy, không tuyệt vọng và cũng không bao che điều sai trái; khi con cái chăm sóc cha mẹ già yếu dù phải hy sinh thời giờ và tiện nghi; khi anh chị em dám bước qua tự ái để chủ động hòa giải. Trong đời sống cộng đoàn, Thánh Giá được suy tôn khi người ta phục vụ mà không đòi được nhìn nhận, biết nói sự thật trong bác ái, biết nhận lỗi thay vì đổ lỗi, biết nâng đỡ người yếu đuối thay vì phê phán họ từ xa. Trong đời sống linh mục và tu sĩ, Thánh Giá được suy tôn khi người mục tử không tìm kiếm địa vị nhưng sẵn sàng hao mòn vì đoàn chiên; không dùng cộng đoàn để củng cố hình ảnh của mình nhưng dùng cả cuộc đời để dẫn cộng đoàn đến với Đức Kitô; vẫn trung thành cầu nguyện, cử hành các bí tích, thăm viếng người đau yếu, lắng nghe những phận đời tan vỡ, ngay cả khi công việc âm thầm ấy không được ai biết đến. Trong xã hội, Thánh Giá được suy tôn khi người Kitô hữu dám sống lương thiện giữa một môi trường coi gian dối là bình thường; dám từ chối lợi ích bất chính dù phải chịu thiệt; dám bảo vệ người nghèo, người bé nhỏ, thai nhi, người già, người khuyết tật và tất cả những ai dễ dàng bị loại bỏ. Một cây thánh giá đeo trên cổ sẽ trở thành vô nghĩa nếu bàn tay vẫn làm điều gian ác; một cây thánh giá treo trong nhà không thể thay thế cho sự tha thứ giữa những người đang sống trong nhà; một cây thánh giá đặt trên bàn thờ sẽ trở thành lời kết án nếu người đứng trước bàn thờ lại khước từ nhận ra Đức Kitô nơi người nghèo khó. Suy tôn Thánh Giá không chỉ là cúi đầu trước một biểu tượng; đó là để lối sống của Đấng chịu đóng đinh thấm vào các lựa chọn hằng ngày.
Thánh Giá còn là trường học của sự tha thứ. Trên Canvê, Đức Giêsu không đợi những kẻ hành hình xin lỗi rồi mới tha; Người cầu nguyện cho họ ngay khi những chiếc đinh còn đang ghim vào thân thể. Sự tha thứ Kitô giáo không có nghĩa là gọi điều xấu thành điều tốt, xóa bỏ công lý hay cho phép người gây hại tiếp tục làm hại. Tha thứ là từ chối để sự dữ của người khác trở thành sự dữ trong chính mình; là không trao cho kẻ gây thương tích quyền quyết định phần đời còn lại của ta; là đặt quyền phán xét cuối cùng vào tay Thiên Chúa; là mong muốn sự hoán cải chứ không mong người kia bị hủy diệt. Có những vết thương không thể lành trong một ngày; có những lời tha thứ phải được lặp lại nhiều lần trong cầu nguyện trước khi trái tim thực sự tìm được bình an. Nhưng mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, ta được nhắc nhớ rằng mình cũng là người đã được tha. Người đã được tha món nợ vô cùng lớn không thể cứ mãi bóp cổ anh em vì một món nợ nhỏ. Khi không chịu tha thứ, ta tưởng mình đang giam giữ người khác trong quá khứ, nhưng thật ra chính ta bị giam trong nhà tù của oán hận. Đức Kitô chịu đóng đinh đến để bẻ gãy xiềng xích ấy. Từ cạnh sườn bị đâm thâu, máu và nước tuôn chảy như dòng sông thanh tẩy những ký ức nhiễm độc, làm mềm lại những trái tim hóa đá và tái sinh những mối tương quan tưởng đã chết.
Thánh Giá cũng là lời chất vấn đối với quan niệm của chúng ta về Thiên Chúa. Con người thường hình dung quyền năng là khả năng áp đặt, thống trị và tiêu diệt đối thủ. Nhưng quyền năng của Thiên Chúa được biểu lộ trong tình yêu dám trở nên yếu đuối; vương quyền của Đức Kitô được tỏ bày khi Người dang tay để đón nhận tất cả; ngai của Người là Thập Giá, triều thiên là vòng gai, hoàng bào là tấm thân đầy thương tích, sắc lệnh của Người là lời tha thứ, chiến thắng của Người là giữ trọn tình yêu giữa lòng hận thù. Người có thể bước xuống khỏi Thập Giá, nhưng nếu xuống để tự cứu mình, Người sẽ không cứu được chúng ta theo con đường tình yêu tự hiến. Người ở lại không vì những chiếc đinh mạnh hơn Người, nhưng vì tình yêu mạnh hơn ý muốn tự bảo toàn. Những chiếc đinh không giữ được Con Thiên Chúa; chính tình yêu giữ Người lại. Vì thế, khi quỳ trước Thánh Giá, chúng ta không quỳ trước sự bất lực nhưng trước một quyền năng hoàn toàn khác với quyền năng thế gian: quyền năng không nghiền nát nhưng nâng dậy, không trả thù nhưng tha thứ, không chiếm đoạt nhưng trao ban, không gieo sợ hãi nhưng làm phát sinh tự do.
Hôm nay, mỗi người được mời gọi mang tất cả những gì đang làm mình đau đến dưới chân Thánh Giá. Nếu đang bệnh tật, hãy nhìn lên Đấng mang thương tích và tin rằng Người ở gần. Nếu đang bị phản bội, hãy nhìn lên Đấng bị bán bằng ba mươi đồng bạc. Nếu đang cô đơn, hãy nhìn lên Đấng từng kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Nếu đang mang mặc cảm tội lỗi, hãy nhìn lên Đấng đã mở rộng đôi tay để không một người thống hối nào bị loại trừ. Nếu đang sợ chết, hãy nhìn lên Đấng đã đi qua mồ và biến nó thành lối dẫn đến sự sống. Nếu đang giận dữ, hãy đứng thật lâu trước lời cầu nguyện của Người dành cho những kẻ đóng đinh mình. Nếu đang kiêu ngạo, hãy chiêm ngắm Con Thiên Chúa cúi xuống trong thân phận người tôi tớ. Nếu đang nản chí vì cuộc đời không diễn ra như mong muốn, hãy nhớ rằng ngày thứ Sáu Tuần Thánh từng có vẻ như là sự sụp đổ hoàn toàn của mọi hy vọng, nhưng chính từ nơi ấy bình minh Phục Sinh đã được chuẩn bị. Đừng chỉ hỏi: “Lạy Chúa, bao giờ Chúa cất thập giá khỏi con?” Hãy còn biết cầu xin: “Lạy Chúa, xin đừng để con đánh mất Chúa trong khi mang thập giá; xin biến nỗi đau này thành nơi con gặp Chúa, hiểu người khác hơn, thanh luyện tâm hồn và học yêu như Chúa.” Có thể thập giá chưa nhẹ ngay, nhưng trái tim sẽ mạnh hơn; con đường chưa ngắn lại, nhưng ta biết mình đang đi với ai; đêm tối chưa chấm dứt, nhưng từ xa đã có ánh sáng Phục Sinh.
Suy tôn Thánh Giá cuối cùng là tuyên xưng rằng sự dữ không có tiếng nói cuối cùng. Hận thù đã đóng đinh Tình Yêu, nhưng Tình Yêu đã sống lại. Bạo lực đã làm Đức Kitô đổ máu, nhưng máu ấy trở thành nguồn giao hòa. Con người đã đóng cửa mồ và niêm phong tảng đá, nhưng Thiên Chúa đã mở một con đường mà không quyền lực nào có thể đóng lại. Bởi vậy, người Kitô hữu có thể đau buồn nhưng không tuyệt vọng, có thể bị đánh ngã nhưng không bị tiêu diệt, có thể khóc nhưng không khóc như người không có niềm hy vọng. Ta không tôn kính Thánh Giá vì yêu thích sự chết, nhưng vì biết rằng nơi Đức Kitô, sự chết đã bị đánh bại từ bên trong. Ta không giương cao Thánh Giá để kết án thế gian, nhưng để chỉ cho thế gian thấy mình được yêu đến mức nào. Ta không mang Thánh Giá như một lá bùa, nhưng như lời nhắc nhở rằng đời mình cũng phải trở thành một món quà. Mỗi lần làm dấu Thánh Giá, chúng ta đang tuyên xưng một chương trình sống: tư tưởng thuộc về Chúa Cha, trái tim thuộc về Chúa Con, đôi vai và đôi tay thuộc về Chúa Thánh Thần để yêu thương và phục vụ. Xin cho dấu Thánh Giá chúng ta làm mỗi ngày không còn là một cử chỉ máy móc, vội vàng và trống rỗng, nhưng trở thành lời tuyên xưng đức tin, lời phó thác và lời cam kết sống theo Đấng chịu đóng đinh. Xin cho những cây thánh giá trong nhà, trong nhà thờ và trên ngực áo không chỉ là đồ trang trí, nhưng luôn chất vấn chúng ta: hôm nay ta đã yêu ai bằng một tình yêu biết hy sinh, đã tha thứ cho ai, đã nâng đỡ ai, đã chết đi cho điều ích kỷ nào, đã đem hy vọng đến cho tâm hồn đang thất vọng nào? Và khi cuộc đời đặt lên vai ta một thập giá nặng nề, xin cho ta nhớ rằng phía bên kia Thánh Giá là Phục Sinh, phía bên kia nước mắt là niềm vui, phía bên kia sự tự hiến là sự sống, và phía bên kia cái chết là vòng tay của Chúa Cha. Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, chúng con suy tôn Thánh Giá Chúa, chúng con thờ lạy Chúa và chúc tụng Chúa, vì Chúa đã dùng Thánh Giá mà cứu chuộc trần gian. Xin kéo chúng con lên với Chúa, kéo chúng con ra khỏi ích kỷ, hận thù, kiêu ngạo và tuyệt vọng; xin cho chúng con biết ôm lấy thập giá đời mình trong niềm tín thác; và xin biến cuộc đời chúng con thành một lời loan báo rằng tình yêu vẫn mạnh hơn hận thù, lòng thương xót vẫn lớn hơn tội lỗi, ánh sáng vẫn mạnh hơn bóng tối và sự sống đời đời vẫn mạnh hơn sự chết. Amen.
Lm. Anmai, CSsR













