CHIÊM NGẮM THỤ TẠO GẶP ĐẤNG TẠO HÓA – Lm. Anmai, CSsR

4

CHIÊM NGẮM THỤ TẠO
GẶP ĐẤNG TẠO HÓA

Vị trí con người trong kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa
Trách nhiệm gìn giữ sự hài hòa nguyên thủy
Đổi mới quyết tâm khôi phục tương quan giữa mọi loài thụ tạo

Suy tư thần học tạo thành – linh đạo – mục vụ
dưới ánh sáng Sách Sáng Thế, Thánh vịnh, Laudato Si’ và Laudate Deum

Lm. Anmai, CSsR

MỤC LỤC
Lời mở đầu. Từ ngạc nhiên đến trách nhiệm
Phần I. Chiêm ngắm thụ tạo
Chương 1. Chiêm ngắm không phải nhìn cho biết
Chương 2. Thụ tạo là lời nói trước khi là tài nguyên
Chương 3. Sách Sáng Thế: “Thiên Chúa thấy mọi sự đều tốt đẹp”
Chương 4. Thánh vịnh: trời đất kể vinh quang Thiên Chúa
Chương 5. Thánh Phanxicô Assisi và bài ca muôn loài
Chương 6. Chiêm ngắm bị mất trong thế giới tốc độ
Chương 7. Trường chiêm ngắm: thân xác, mùa vụ, thinh lặng
Phần II. Gặp gỡ Đấng Tạo Hóa
Chương 8. Thụ tạo không thay thế Đấng Tạo Hóa
Chương 9. Qua cái đẹp tới Đấng là Nguồn cái đẹp
Chương 10. Nhập thể: Đấng Tạo Hóa bước vào thụ tạo
Chương 11. Thánh Thần Đấng ban sự sống
Chương 12. Nguy cơ thần thánh hóa thiên nhiên và nguy cơ khai thác
Phần III. Vị trí đặc biệt của con người trong kế hoạch kỳ diệu
Chương 13. Hình ảnh Thiên Chúa: phẩm giá, không phải giấy phép thống trị
Chương 14. “Hãy làm chủ” nghĩa là quản lý, không phải cướp
Chương 15. Canh tác và gìn giữ khu vườn
Chương 16. Con người vừa ở trong vừa trước mặt thụ tạo
Chương 17. Kế hoạch kỳ diệu: hiệp thông chứ không phải kim tự tháp
Phần IV. Sự hài hòa nguyên thủy và sự gãy đổ
Chương 18. Hài hòa nguyên thủy là gì
Chương 19. Tội làm rạn bốn mối tương quan
Chương 20. Thiếu sót và thất bại của chúng ta hôm nay
Chương 21. Tiếng kêu của đất, của người nghèo, của các thế hệ sau
Chương 22. Paradigme kỹ trị: nhìn mà không chiêm ngắm
Phần V. Trách nhiệm cá nhân và tập thể
Chương 23. Lương tâm sinh thái là lương tâm đức tin
Chương 24. Trách nhiệm cá nhân: những chọn lựa nhỏ không nhỏ
Chương 25. Trách nhiệm tập thể: giáo xứ, giáo phận, dân tộc, nhân loại
Chương 26. Công ích, liên đới, bổ trợ trên ngôi nhà chung
Chương 27. Người nghèo và công lý khí hậu
Phần VI. Đổi mới quyết tâm khôi phục các mối tương quan
Chương 28. Hoán cải sinh thái là hoán cải trái tim
Chương 29. Khôi phục với Thiên Chúa
Chương 30. Khôi phục với chính mình
Chương 31. Khôi phục với anh chị em
Chương 32. Khôi phục với mọi loài thụ tạo
Chương 33. Thánh ý Đấng Tạo Hóa: thước đo không phải lợi nhuận
Phần VII. Linh đạo và mục vụ
Chương 34. Cầu nguyện giữa trời đất
Chương 35. Thánh Thể: vũ trụ được dâng lên
Chương 36. Ngày Sabát và Chúa Nhật: giới hạn thánh
Chương 37. Giáo dục chiêm ngắm cho trẻ em và người trẻ
Chương 38. Giáo hội Việt Nam: sông, ruộng, rừng, biển, đô thị
Chương 39. Những việc cụ thể không thay thế hoán cải, nhưng không được thiếu
Chương 40. Hy vọng: trời mới đất mới đã bắt đầu
Kết luận. Ở lại trong sự ngạc nhiên có trách nhiệm
Phụ lục A. Văn kiện và bản văn nền
Phụ lục B. Câu hỏi xét mình sinh thái
Phụ lục C. Mẫu Lectio Sáng Thế 1–2 và Thánh vịnh 104

LỜI MỞ ĐẦU
Từ ngạc nhiên đến trách nhiệm
Từ việc chiêm ngắm thụ tạo và gặp gỡ Đấng Tạo Hóa, chúng ta nhận thức được vị trí đặc biệt của mình trong kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa, cũng như trách nhiệm cá nhân và tập thể của chúng ta trong việc gìn giữ sự hài hòa nguyên thủy. Như thế, khi ý thức về những thiếu sót và thất bại của mình, chúng ta có thể đổi mới quyết tâm khôi phục các mối tương quan giữa mọi loài thụ tạo theo thánh ý của Đấng Tạo Hóa.
Đoạn văn ấy không phải khẩu hiệu môi trường mặc áo đạo. Đó là một hành trình thiêng liêng có thứ tự. Trước hết chiêm ngắm. Chiêm ngắm mở ra gặp gỡ Đấng Tạo Hóa. Gặp gỡ cho ta biết mình đứng chỗ nào trong kế hoạch của Người. Biết chỗ đứng thì thấy trách nhiệm — không chỉ của tôi, nhưng của chúng ta. Nhìn trách nhiệm thì thấy thiếu sót và thất bại. Thấy thất bại không phải để tuyệt vọng, nhưng để đổi mới quyết tâm. Quyết tâm không phải làm dự án cho có, nhưng khôi phục các mối tương quan giữa mọi loài theo thánh ý Chúa, không theo ý muốn thống trị của ta.
Thứ tự ấy chống lại hai lệch lạc. Lệch lạc thứ nhất: làm môi trường mà không cầu nguyện, biến thụ tạo thành hồ sơ, chỉ tiêu, chiến dịch. Lệch lạc thứ hai: cầu nguyện mà không đụng đất, biến tạo thành thành tranh đẹp trong nhà thờ, trong khi sông chết, rừng mất, người nghèo hít khói. Chiêm ngắm Kitô giáo không dừng ở thơ. Gặp Đấng Tạo Hóa không cho phép ta vô can.
Cuốn sách viết dày vì từng khâu của hành trình đều dễ bị rút ngắn. Người ta muốn nhảy ngay tới “việc phải làm” mà không chịu đứng trước một cái cây như trước một lời nói của Chúa. Người ta muốn nói “phẩm giá con người” mà biến phẩm giá thành giấy phép khai thác. Người ta muốn nói “hối lỗi sinh thái” rồi sống như cũ. Tôi muốn đi chậm: Sáng Thế, Thánh vịnh, Phanxicô Assisi, Laudato Si’, Laudate Deum, thần học hình ảnh Thiên Chúa, bốn mối tương quan bị gãy, trách nhiệm cá nhân và tập thể, hoán cải, Thánh Thể, Chúa Nhật, bối cảnh Việt Nam — sông Mekong, ruộng, rừng Tây Nguyên, biển, không khí đô thị.
Con viết như linh mục Dòng Chúa Cứu Thế. Người bị bỏ rơi hôm nay gồm cả những ai đứng cuối chuỗi thiệt hại: nông dân mất mùa vì thời tiết loạn, dân làng mất rừng, dân lao động sống trong khí nóng và khí bẩn, các thế hệ chưa sinh đã bị ký hộ nợ khí hậu. Gìn giữ hài hòa nguyên thủy không phải sở thích của người có thời đi nghỉ núi. Đó là việc bác ái và công lý.
Lm. Anmai, CSsR

PHẦN I
CHIÊM NGẮM THỤ TẠO
CHƯƠNG 1. CHIÊM NGẮM KHÔNG PHẢI NHÌN CHO BIẾT
Có một khác biệt rất lớn giữa nhìn một sự vật và chiêm ngắm một sự vật, dù bên ngoài cả hai hành vi ấy đều bắt đầu bằng đôi mắt. Người ta có thể nhìn một cánh đồng để biết hôm nay lúa tốt hay xấu, nhìn một dòng sông để đo lưu lượng nước, nhìn một khu rừng để tính trữ lượng gỗ, nhìn bầu trời để dự báo thời tiết, nhìn một con bò để ước lượng giá bán, nhìn một thân cây để xem có thể xẻ được bao nhiêu mét khối gỗ, nhìn một ngọn núi để tính khả năng khai thác khoáng sản, nhìn một bờ biển để tính khả năng xây khu du lịch. Những cách nhìn ấy tự chúng không xấu. Khoa học cần nhìn chính xác. Kinh tế cần tính toán. Người nông dân cần biết mùa màng. Nhà khí tượng cần đo nhiệt độ. Nhà sinh học cần phân loại các loài. Nhà quản lý cần có dữ liệu để bảo vệ tài nguyên. Không có tri thức khoa học, con người rất dễ biến tình yêu thiên nhiên thành một thứ tình cảm mơ hồ. Nếu không có những con số về nhiệt độ, lượng mưa, diện tích rừng, chất lượng không khí, đa dạng sinh học, nước ngầm, đất canh tác và các hệ sinh thái, chúng ta có thể nói rất nhiều về việc yêu quý công trình tạo dựng mà không biết công trình ấy đang bị thương ở đâu và bị thương đến mức nào. Vì thế, linh đạo Kitô giáo không đối nghịch với khoa học. Đức tin không sợ kính hiển vi, kính thiên văn hay dữ liệu. Một Kitô hữu không trở nên đạo đức hơn vì không biết khoa học. Trái lại, hiểu biết chân thật về thế giới có thể làm cho lòng biết ơn của con người trở nên cụ thể hơn. Nhưng vấn đề bắt đầu khi con người tưởng rằng biết một vật là đã hiểu hết vật ấy, đo được một vật là đã nắm được ý nghĩa của vật ấy, định giá được một vật là đã biết giá trị của vật ấy. Một cây cổ thụ có thể được đo chiều cao, tuổi cây, đường kính thân, lượng carbon hấp thụ, giá trị gỗ và vai trò sinh thái. Tất cả các con số ấy đều đúng và cần thiết. Nhưng cây ấy vẫn còn một điều gì vượt khỏi những con số ấy. Nó đã đứng đó trước khi ta đến. Nó hút nước từ lòng đất mà ta không nhìn thấy, đưa nước lên những chiếc lá trên cao, đón ánh sáng, thải khí, che bóng, giữ đất, làm tổ cho chim, nuôi côn trùng, làm mát không khí, chống xói mòn và âm thầm tham dự vào một mạng lưới sống khổng lồ mà phần lớn đời mình ta đi qua không hề nhận ra. Khi một người dừng lại dưới bóng cây, ngước nhìn những cành cây chuyển động trong gió và bất chợt cảm thấy mình không phải là trung tâm của vũ trụ, lúc đó cái nhìn đã bắt đầu chuyển thành chiêm ngắm. Chiêm ngắm không phủ nhận cái biết. Chiêm ngắm đi sâu hơn cái biết. Nó không xóa dữ liệu; nó trả dữ liệu về trong một chân trời rộng hơn. Nó không ngăn nhà khoa học đo cánh rừng; nó đặt vào lòng nhà khoa học một câu hỏi khác: cánh rừng này là gì ngoài những gì tôi có thể đo? Nó không cấm người nông dân tính năng suất ruộng; nó giúp người nông dân nhận ra hạt lúa mình cầm trong tay không chỉ là sản phẩm của lao động nhưng còn là quà tặng của đất, mưa, mặt trời, thời gian và một trật tự sống mà con người không tạo ra từ hư vô. Chiêm ngắm bắt đầu khi con người thôi cư xử như chủ tuyệt đối của mọi thứ mình nhìn thấy.
Nhìn để biết thường đặt sự vật trước mặt tôi như một đối tượng. Chiêm ngắm đặt cả tôi vào trong tương quan với sự vật ấy. Khi nhìn một con chim, tôi có thể hỏi tên khoa học của nó, giống loài, trọng lượng, đường bay, tập tính sinh sản. Khi chiêm ngắm con chim ấy, tôi bắt đầu nhận ra rằng nó đang sống một đời sống không xoay quanh tôi. Nó tìm thức ăn, làm tổ, gọi bạn, tránh nguy hiểm, bay qua bầu trời trong một trật tự mà Thiên Chúa đã muốn có trước khi tôi xuất hiện. Con chim không tồn tại chỉ để tôi thưởng thức tiếng hót của nó. Con sông không tồn tại chỉ để thành nguồn nước của tôi. Khu rừng không tồn tại chỉ để thành nguyên liệu. Đại dương không tồn tại chỉ để chở hàng hóa. Động vật không tồn tại chỉ để trở thành thực phẩm. Đất không tồn tại chỉ để tăng giá. Bầu trời không phải một khoảng không vô chủ để con người muốn thải bao nhiêu khí cũng được. Một trong những căn bệnh sâu nhất của nền văn minh tiêu thụ không nằm ở việc con người sử dụng thụ tạo, bởi con người cần sử dụng nhiều sự vật để sống, nhưng ở chỗ con người chỉ còn khả năng nhìn mọi sự theo công dụng. Cái gì có ích cho tôi thì đáng chú ý. Cái gì không sinh lợi thì không đáng kể. Cái gì làm tăng hiệu suất thì được bảo vệ. Cái gì làm chậm hiệu suất thì bị loại. Và rất nhanh chóng, lối nhìn ấy từ thế giới vật chất lan sang con người. Một cây được định giá bằng lượng gỗ; một người lao động được định giá bằng năng suất; một người già được định giá bằng mức độ tự chăm sóc; một đứa trẻ được định giá bằng thành tích; một người khuyết tật bị nhìn bằng chi phí chăm sóc; một người nghèo bị xem như gánh nặng xã hội. Khi mọi sự chỉ còn giá trị theo công dụng, cuối cùng chính con người cũng trở thành món đồ. Bởi vậy, linh đạo chiêm ngắm công trình tạo dựng không phải thú vui dành cho những người yêu hoa cỏ. Nó liên quan trực tiếp đến cách ta nhìn con người. Ai học được cách nhìn một bông hoa mà không lập tức hỏi nó có ích gì, người ấy cũng đang tập nhìn một người yếu đuối mà không hỏi người đó đem lại lợi ích gì cho mình. Ai biết tôn trọng một con vật vì nó là một sinh vật trong công trình tạo dựng, người ấy đang học thoát khỏi não trạng sở hữu. Ai biết đứng trước biển và cảm nhận giới hạn của mình, người ấy đang được chữa khỏi ảo tưởng mình toàn năng. Vì thế, chiêm ngắm là một trường học của sự khiêm nhường. Nó dạy ta rằng thế giới không khởi sự khi ta sinh ra và cũng không kết thúc khi ta chết. Trái đất đã quay trước khi ta có mặt. Mưa đã rơi trước khi tên ta xuất hiện trong sổ hộ tịch. Chim đã hót, sông đã chảy, hạt giống đã nảy mầm, mặt trời đã mọc và lặn qua vô số thế hệ không cần sự cho phép của ta. Chỉ một kinh nghiệm đơn giản ấy cũng đủ làm sụp một phần cái tôi tưởng mình là trung tâm.
Trong Kinh Thánh, con người học về Thiên Chúa không chỉ từ những lời được viết nhưng còn từ công trình Người làm. Ngay trang đầu của Sách Sáng Thế, thế giới xuất hiện không như một kho vật liệu vô danh nhưng như kết quả của Lời Thiên Chúa. “Thiên Chúa phán” và sự vật hiện hữu. Ánh sáng, nước, đất, cây cỏ, các tinh tú, cá biển, chim trời, thú vật và con người xuất hiện trong một nhịp điệu được đánh dấu bằng lời xác nhận rằng Thiên Chúa thấy điều Người làm là tốt đẹp. Điều ấy có nghĩa trước khi một tạo vật trở thành hữu ích đối với con người, nó đã có một giá trị trong cái nhìn của Đấng Tạo Hóa. Đây là một xác tín thần học cực kỳ quan trọng. Giá trị nền tảng của một thụ tạo không do tôi ban cho nó. Tôi không phải người đầu tiên nhìn thấy nó. Thiên Chúa đã nhìn nó trước. Tôi không phải người đầu tiên yêu nó. Thiên Chúa đã muốn nó tồn tại trước. Tôi không phải nguồn gốc của ý nghĩa của nó. Nó đã ở trong ý định tạo dựng của Thiên Chúa. Khi người Kitô hữu chiêm ngắm một thụ tạo, người ấy học nhìn nó, trong một nghĩa nào đó, sau cái nhìn của Thiên Chúa. Tôi nhìn một bông hoa và nhớ rằng trước khi tôi thấy nó đẹp, Thiên Chúa đã thấy công trình của Người là tốt đẹp. Tôi nhìn một con chim và nhớ lời Đức Giêsu nói về chim trời được Cha trên trời nuôi dưỡng. Tôi nhìn hoa huệ ngoài đồng và nghe lại lời Người mời các môn đệ hãy nhìn xem chúng lớn lên thế nào. Thật đáng chú ý: Đức Giêsu thường xuyên dạy các môn đệ bằng cách mời họ nhìn. Hãy xem chim trời. Hãy xem hoa huệ. Hãy xem người gieo giống. Hãy xem hạt cải. Hãy xem cây vả. Hãy xem người đàn bà nhào men vào bột. Hãy xem người mục tử tìm chiên. Người đưa mắt các môn đệ trở lại những thực tại rất bình thường. Người không bắt đầu bằng những hiện tượng kỳ bí. Người dùng hạt giống, ruộng đồng, cây cỏ, mưa nắng, cá, chim và những công việc hằng ngày để mở mắt con người về Nước Thiên Chúa. Điều đó cho thấy thế giới hữu hình có một khả năng bí tích theo nghĩa rộng: nó không phải là Bí tích theo nghĩa bảy Bí tích của Hội Thánh, nhưng có khả năng trở thành dấu chỉ dẫn trí và lòng con người về Đấng Tạo Hóa. Một hạt giống chết đi rồi nảy mầm có thể giúp ta hiểu mầu nhiệm Vượt Qua. Một cây nho và cành nho có thể giúp ta hiểu sự sống trong Đức Kitô. Nước có thể nói về sự sống và thanh tẩy. Bánh có thể trở thành dấu chỉ của việc nuôi dưỡng, và trong Thánh Thể, bởi lời Đức Kitô và quyền năng Thánh Thần, bánh rượu được đưa vào trung tâm mầu nhiệm cứu độ. Ánh sáng nói về sự thật. Gió gợi Thánh Thần. Đá gợi sự bền vững. Sa mạc nói về thanh luyện. Núi nói về gặp gỡ. Biển có thể nói về hỗn mang và quyền năng Thiên Chúa. Kinh Thánh đầy thiên nhiên không phải vì tác giả Thánh Kinh thích văn chương phong cảnh, nhưng vì lịch sử cứu độ diễn ra trong một thế giới thật, bằng đất thật, nước thật, thân xác thật, cây thật, động vật thật và những mùa thật.
Đỉnh cao của việc Thiên Chúa đi vào thế giới vật chất chính là mầu nhiệm Nhập Thể. Ngôi Lời đã làm người. Kitô giáo không phải một tôn giáo khinh vật chất. Thiên Chúa không cứu con người bằng cách kéo linh hồn ra khỏi một thế giới xấu xa. Người Con vĩnh cửu của Chúa Cha đã nhận lấy một thân xác. Người được cưu mang trong lòng Đức Maria, được sinh ra, được bọc trong khăn, được đặt nằm, được bồng ẵm, được nuôi bằng thức ăn, lớn lên trong một gia đình, làm việc bằng đôi tay, đi bộ trên đường, ngồi xuống bên giếng, ngủ trên thuyền, cảm thấy đói, khát và mệt, ăn uống với người khác, chạm vào người bệnh, dùng nước, bánh, rượu, dầu, bùn, cá, cây cối, núi đồi và đồng ruộng trong đời sống và lời giảng của Người. Cuối cùng chính thân xác ấy chịu đóng đinh, chết, được mai táng và sống lại. Thân xác phục sinh của Đức Kitô là lời tuyên bố mạnh nhất chống lại mọi linh đạo coi vật chất như thứ thấp kém. Thiên Chúa không hủy thân xác để cứu con người. Người phục sinh thân xác. Và khi chúng ta tuyên xưng “tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”, chúng ta đang nói rằng công trình cứu chuộc của Thiên Chúa không dẫn tới sự khinh miệt thế giới vật chất nhưng tới sự hoàn tất của chương trình Người. Bởi vậy, người Kitô hữu không được phép nói yêu Thiên Chúa trong khi coi thường thế giới Thiên Chúa dựng nên. Dĩ nhiên, thụ tạo không phải Thiên Chúa. Cây không phải thần. Núi không phải thần. Mặt trời không phải thần. Trái đất không phải một nữ thần để ta thờ. Kitô giáo dứt khoát chống việc thần thánh hóa thiên nhiên. Nhưng chính vì thiên nhiên không phải thần nên ta có thể yêu nó đúng cách: không thờ lạy nó, nhưng tôn trọng nó như công trình của Đấng ta thờ lạy. Ở đây có một thế quân bình rất đẹp. Một bên là ngẫu tượng hóa thiên nhiên, biến tạo vật thành thần linh. Bên kia là tục hóa cực đoan, biến tạo vật thành đồ vật vô hồn để khai thác tùy ý. Đức tin Kinh Thánh đi giữa hai cực ấy: thụ tạo không phải Thiên Chúa, nhưng thụ tạo thuộc về Thiên Chúa. Con người không thờ thụ tạo, nhưng cũng không có quyền cư xử với thụ tạo như thể nó không có Chủ.
Chính ở điểm này, lời mời gọi của Laudato Si’ chạm tới một vấn đề sâu hơn chuyện môi trường. Tông huấn ấy không chỉ hỏi chúng ta sử dụng bao nhiêu túi nylon, trồng bao nhiêu cây hay tiết kiệm bao nhiêu điện, dù những việc ấy có giá trị. Điều sâu hơn là câu hỏi về cái nhìn: thế giới trước mắt ta là gì? Một kho nguyên liệu hay một quà tặng? Một tập hợp những vật thể vô danh hay một cộng đoàn tương quan? Một món hàng hay một công trình được trao phó? Nếu cái nhìn không đổi, những hành vi bảo vệ môi trường rất dễ chỉ trở thành kỹ thuật quản lý để con người tiếp tục khai thác lâu hơn. Có người muốn bảo vệ rừng đơn giản vì nếu rừng biến mất, nền kinh tế của con người sẽ bị thiệt. Có người bảo vệ đại dương vì nguồn cá cần được duy trì. Có người bảo vệ khí hậu vì các thành phố ven biển đang bị đe dọa. Những động cơ ấy hợp lý, nhưng vẫn có thể hoàn toàn quy về con người. Linh đạo tạo dựng đi thêm một bước: rừng đáng được tôn trọng không chỉ vì rừng có ích cho chúng ta; đại dương đáng được gìn giữ không chỉ vì con người cần cá; các loài sinh vật đáng được bảo vệ không chỉ vì đa dạng sinh học phục vụ kinh tế. Tất cả đang hiện hữu trong một mạng lưới mà Thiên Chúa đã muốn và trong đó chúng ta cũng chỉ là một thành phần. Cái nhìn chiêm ngắm giúp con người nhận ra tính liên kết ấy. Mưa rơi trên núi ảnh hưởng dòng sông. Dòng sông ảnh hưởng đồng bằng. Rừng giữ đất. Đất giữ nước. Côn trùng thụ phấn cho cây. Cây nuôi động vật. Đại dương điều hòa khí hậu. Những hành vi tiêu dùng ở một thành phố có thể liên hệ với người lao động, rừng, mỏ, nguồn nước và khí thải ở một lục địa khác. Không có gì hoàn toàn tách biệt. Khi Laudato Si’ nhấn mạnh rằng mọi sự có liên hệ với nhau, đó không chỉ là một nhận xét sinh thái học. Đó còn là một bài học thiêng liêng: tội lỗi thích tạo ảo tưởng rằng hành vi của tôi chỉ liên quan đến tôi; tình yêu nhận ra rằng những gì tôi làm luôn đi vào một mạng lưới tương quan.
Vì thế, chiêm ngắm là học lại sự liên hệ. Người vội vã thấy từng vật riêng lẻ. Người chiêm ngắm bắt đầu thấy các mối dây. Một bát cơm không chỉ là bát cơm. Trong đó có đất, nước, nắng, hạt giống, người gieo, người gặt, người vận chuyển, người bán, người nấu, lịch sử của một vùng quê và bao nhiêu sức lao động không được ghi trên nhãn giá. Một chiếc áo không chỉ là một chiếc áo. Có bông hoặc sợi tổng hợp, nước, thuốc nhuộm, công nhân, nhà máy, điện, vận tải, thương mại và có thể cả những điều kiện lao động mà người mua không bao giờ thấy. Một chiếc điện thoại không chỉ là một thiết bị. Trong nó có khoáng sản từ lòng đất, lao động tại nhiều quốc gia, năng lượng, dữ liệu và cuối đời nó còn trở thành rác điện tử. Chiêm ngắm không làm ta sợ hãi mọi vật mình dùng. Nó làm ta tỉnh. Nó khiến ta biết ơn hơn và tiêu dùng có trách nhiệm hơn. Người biết ơn thường ít phung phí. Người cảm thấy mọi sự đương nhiên được cung cấp cho mình sẽ dễ vứt bỏ. Vì thế, lòng biết ơn là một nhân đức sinh thái rất sâu. Một người trước khi ăn biết làm dấu Thánh Giá và thật lòng tạ ơn không chỉ đang thực hiện một tập tục đạo đức. Nếu lời tạ ơn ấy đi vào lòng, người đó dần dần nhận ra thức ăn không phải chuyện đương nhiên. Có những người đói. Có những vùng thiếu nước. Có những người nông dân mất mùa. Có những lao động làm việc cực nhọc. Có những sinh vật đã được sử dụng làm thực phẩm. Một bữa ăn được nhận như quà tặng sẽ được ăn khác với một bữa ăn được coi như món hàng tôi đã trả tiền nên muốn vứt bao nhiêu thì vứt.
Nhưng để chiêm ngắm, trước hết con người phải có khả năng dừng lại. Đây có lẽ là một trong những khó khăn lớn nhất của thời đại chúng ta. Không phải thế giới không còn đẹp. Có thể chúng ta không còn thời gian để nhìn cái đẹp. Không phải Thiên Chúa không còn nói qua công trình Người dựng nên. Có thể tâm trí chúng ta không còn khoảng trống để nghe. Con người hiện đại rất thường xuyên chuyển từ màn hình này sang màn hình khác, từ công việc này sang công việc khác, từ tin nhắn này sang tin nhắn khác, từ cuộc hẹn này sang cuộc hẹn khác. Ngay cả lúc không làm gì, bàn tay cũng tìm điện thoại. Đứng chờ thang máy: mở điện thoại. Ngồi trên xe: mở điện thoại. Đợi một người bạn: mở điện thoại. Ăn một mình: mở điện thoại. Đi ngang trời chiều rất đẹp: chụp một tấm hình rồi lập tức nhìn hình trên màn hình thay vì nhìn bầu trời. Có một nghịch lý kỳ lạ: chúng ta chụp thiên nhiên nhiều hơn các thế hệ trước nhưng chưa chắc nhìn thiên nhiên nhiều hơn. Ta có hàng nghìn tấm ảnh hoàng hôn nhưng có thể nhiều tháng không thật sự ngồi yên trước một buổi hoàng hôn. Ta quay video đứa trẻ nhưng không nhìn lâu vào khuôn mặt nó. Ta chụp món ăn trước khi ăn nhưng không nhận ra mùi vị. Ta ghi lại chuyến đi nhưng tâm trí lại bận nghĩ xem hình nào sẽ được đăng. Công nghệ không tự nó là kẻ thù của chiêm ngắm. Một bức ảnh có thể giữ ký ức rất đẹp. Một kính thiên văn có thể mở ra sự kinh ngạc. Một phim tài liệu có thể giúp ta yêu một hệ sinh thái ta chưa từng đặt chân tới. Nhưng khi công nghệ biến mọi kinh nghiệm thành nội dung phải ghi lại, chia sẻ, phản hồi và tiêu thụ, khả năng hiện diện có thể bị suy yếu. Chiêm ngắm đòi tôi ở đó. Không phải chỉ thân xác ở đó trong khi tâm trí đã chạy sang nơi khác. Chiêm ngắm cần một mức độ nghèo. Nghèo thông tin. Nghèo phản ứng. Nghèo nhu cầu chiếm hữu. Tôi nhìn một cánh đồng mà không cần lập tức chụp. Tôi nghe mưa mà không cần làm gì với tiếng mưa. Tôi đứng trước biển mà không cần biến biển thành phông nền cho chính mình. Tôi bước qua một khu vườn mà không cần gọi tên hết các loài cây. Có những lúc, không biết là một ân huệ. Sự nghèo của mắt là để cho một vật được là chính nó trước khi tôi định nghĩa nó.
Người ta có thể hỏi: tại sao việc đứng nhìn mưa, cây, chim, ruộng lại quan trọng đối với đời sống thiêng liêng? Vì một trái tim không còn biết kinh ngạc rất dễ mất khả năng thờ phượng. Thờ phượng bắt đầu từ việc nhận ra mình không phải là nguồn gốc của mọi sự. Khi đứng trước điều lớn hơn mình, đẹp hơn mình và không do mình làm ra, con người có cơ hội nhớ rằng mình là thụ tạo. Một đêm trời đầy sao có thể giảng một bài giảng mà không cần lời. Một đứa trẻ nhìn bầu trời lần đầu với đôi mắt mở lớn có thể gần với tinh thần chiêm ngắm hơn một người biết hết tên các chòm sao nhưng không còn kinh ngạc. Thánh vịnh gia nhìn trời và thốt lên về công trình tay Chúa. Đó không phải sự thiếu hiểu biết khoa học. Đó là một tầng nhận thức khác: tôi biết điều này là gì, nhưng tôi cũng nhận ra nó đang chỉ vượt ra khỏi chính nó. Sự kinh ngạc không thay thế tri thức. Sự kinh ngạc cứu tri thức khỏi kiêu ngạo. Một nhà khoa học lớn có thể càng nghiên cứu càng kinh ngạc trước cấu trúc của sự sống. Một người làm nông có thể càng hiểu đất càng kính trọng đất. Một bác sĩ càng biết thân thể con người càng nhận ra sự mong manh kỳ diệu của sự sống. Ngược lại, người ta có thể sở hữu rất nhiều kiến thức nhưng cái nhìn đã chết: biết tên mà không yêu, đo được mà không kính trọng, sử dụng được mà không biết ơn.
Chiêm ngắm còn đòi thân xác. Kitô giáo là đạo của Nhập Thể, nên chiêm ngắm không chỉ diễn ra trong đầu. Phải để chân chạm đất, da cảm gió, tai nghe âm thanh, mắt thấy ánh sáng, mũi ngửi mùi đất sau mưa, bàn tay chạm vỏ cây nếu thích hợp, miệng nếm một trái cây và nhận biết hương vị. Con người thời kỹ thuật số có nguy cơ sống phần lớn đời mình qua biểu tượng của thực tại hơn là thực tại: bản đồ thay đường đi, ảnh thay phong cảnh, tin nhắn thay giọng nói, biểu tượng cảm xúc thay khuôn mặt, dữ liệu sức khỏe thay cảm nhận thân thể, video thiên nhiên thay việc bước ra ngoài. Những công cụ đó vô cùng hữu ích. Nhưng chúng không thay thế được thân xác. Một người có thể xem hàng trăm video về rừng mà vẫn chưa từng ngửi mùi lá mục. Có thể xem hàng nghìn ảnh biển mà chưa nghe tiếng sóng thật. Có thể đọc nhiều bài về người nghèo nhưng chưa từng ngồi cạnh một người nghèo đủ lâu để biết câu chuyện của họ. Và đây là điểm mà chiêm ngắm công trình tạo dựng mở sang chiêm ngắm khuôn mặt con người. Thụ tạo không chỉ là cây, nước, đất và động vật. Con người cũng là thụ tạo. Một người già ngồi trước cửa nhà cũng thuộc về “cảnh quan” mà xã hội hiệu suất thường đi ngang. Người ấy không đẹp theo tiêu chuẩn quảng cáo, không nhanh, không sản xuất nhiều, có thể lặp lại câu chuyện cũ, có thể cần người khác giúp. Nhưng ai không thể dừng lại trước một khuôn mặt già nua thì việc yêu thiên nhiên của họ vẫn còn thiếu một chiều kích căn bản. Không có sinh thái toàn diện nếu cây được bảo vệ còn người nghèo bị bỏ. Không có linh đạo tạo dựng nếu ta xúc động trước một con vật bị thương nhưng lạnh lùng trước một người lao động bị bóc lột. Không có chiêm ngắm Kitô giáo nếu ta yêu cảnh hoàng hôn mà ghét người hàng xóm.
Đức Giêsu có một cái nhìn đặc biệt đối với con người. Người nhìn thấy những người mà đám đông thường không thấy. Người thấy người đàn bà bỏ hai đồng tiền nhỏ vào hòm tiền. Người thấy Dakêu trên cây. Người thấy người phụ nữ bị bệnh nhiều năm. Người thấy đám đông mệt mỏi như chiên không người chăn. Người nhìn người thanh niên giàu có và đem lòng yêu mến. Người nhìn Phêrô sau khi ông chối Thầy. Cái nhìn của Đức Kitô không chỉ thu nhận thông tin. Cái nhìn ấy trao lại phẩm giá. Đây là mẫu mực cao nhất của chiêm ngắm Kitô giáo: nhìn như Đức Kitô nhìn. Một người có thể biết rất nhiều về người khác mà chưa hề nhìn họ như một mầu nhiệm. Ta biết tên, tuổi, nghề, lỗi lầm, tính xấu, quá khứ, nhưng những dữ kiện đó có thể biến thành cái lồng nhốt họ. Chiêm ngắm một con người không có nghĩa là thần tượng họ hay phủ nhận lỗi của họ. Nó có nghĩa là không đồng hóa họ với điều ta biết về họ. Mỗi người còn sâu hơn hồ sơ của mình, sâu hơn quá khứ của mình, sâu hơn tội lỗi của mình, sâu hơn vai trò xã hội của mình. Người ấy là một thụ tạo được Thiên Chúa gọi vào hiện hữu, được Đức Kitô cứu chuộc và được mời gọi đến một tương lai mà tôi không nắm giữ. Nếu học được cái nhìn ấy, ta sẽ ít kết án nhanh hơn, ít sử dụng người khác hơn, ít coi người khác như công cụ của kế hoạch mình hơn.
Chiêm ngắm vì thế rất gần với lòng thương xót. Người không biết dừng thường không thấy nỗi đau. Người đi nhanh qua đường chỉ thấy “một người ăn xin”. Người dừng lại có thể thấy một khuôn mặt, một tuổi đời, một đôi mắt, một bàn tay run, một câu chuyện. Người quản lý chỉ nhìn bảng tính có thể thấy “chi phí nhân sự”. Người biết nhìn từng khuôn mặt sẽ nhớ rằng sau mỗi con số là một gia đình. Một chính sách kinh tế có thể rất đẹp trên bảng số liệu mà vẫn làm một nhóm người thật đau khổ. Một dự án phát triển có thể tạo lợi nhuận và việc làm nhưng phá hủy môi trường sống của một cộng đồng. Chiêm ngắm không cho ta những lời giải kỹ thuật tức thời, nhưng nó buộc ta không được giải bài toán bằng cách xóa khuôn mặt khỏi bài toán. Đây là một đóng góp rất lớn của linh đạo đối với các vấn đề xã hội. Khoa học hỏi điều gì đang xảy ra. Kỹ thuật hỏi chúng ta có thể làm gì. Kinh tế hỏi chi phí và lợi ích ra sao. Chính trị hỏi điều gì có thể thực hiện trong cấu trúc xã hội. Đạo đức hỏi điều gì nên làm. Chiêm ngắm đặt thêm câu hỏi: trước mặt tôi là ai, là gì, và tôi đang đứng trước họ với thái độ nào? Nếu thiếu câu hỏi cuối ấy, mọi hệ thống có thể trở nên lạnh.
Nhưng chiêm ngắm không phải là lãng mạn hóa thiên nhiên. Thiên nhiên không phải lúc nào cũng dịu dàng. Có bão, hạn hán, động đất, dịch bệnh, thú săn mồi, bệnh tật, chết chóc. Một cánh rừng đẹp cũng chứa cạnh tranh sinh tồn. Biển có thể đẹp buổi chiều và giết người trong bão đêm. Đất có thể sinh hoa trái nhưng cũng nứt nẻ. Thân thể con người kỳ diệu nhưng vẫn bệnh và chết. Chiêm ngắm Kitô giáo không phủ một lớp thơ lên thực tại. Nó nhìn thế giới sau biến cố sa ngã, một tạo thành đang “rên siết” trong chờ đợi ơn cứu độ. Vì vậy, người Kitô hữu không nói mọi điều tự nhiên xảy ra đều tốt. Bệnh không tốt chỉ vì bệnh “tự nhiên”. Thiên tai không tự động là ý muốn tích cực của Thiên Chúa. Cái chết vẫn là kẻ thù, dù Đức Kitô đã chiến thắng nó. Thế giới đẹp nhưng bị thương. Và chính cái nhìn này bảo vệ linh đạo sinh thái khỏi sự ngây thơ. Ta không thờ thiên nhiên. Ta chăm sóc một tạo thành tốt lành nhưng đang chịu hậu quả của giới hạn, đổ vỡ và tội lỗi con người. Khi một dòng sông bị ô nhiễm, ta không chỉ than rằng cảnh quan xấu đi. Ta thấy một phần công trình tạo dựng bị thương. Khi một loài biến mất vì lòng tham của con người, đó không chỉ là mất một dữ liệu sinh học. Một tiếng nói trong bản hòa âm tạo dựng đã im. Khi đất bị đầu độc vì lợi nhuận ngắn hạn, đất không chỉ mất năng suất; mối quan hệ giữa con người và đất bị biến dạng.
Đây cũng là lý do chiêm ngắm phải dẫn tới hoán cải. Nếu sau khi “chiêm ngắm thiên nhiên” tôi trở về và tiếp tục sống hoàn toàn như trước, chiêm ngắm ấy có thể chỉ là thưởng ngoạn. Một người có thể rất thích leo núi nhưng không hề có linh đạo tạo dựng. Người ấy có thể xả rác trên núi. Có thể đi hàng nghìn kilômét chỉ để săn một tấm ảnh nhằm xây dựng hình ảnh cá nhân. Có thể coi thiên nhiên như sân chơi của cái tôi. Chiêm ngắm thật sẽ làm thay đổi tương quan. Tôi dần tiêu dùng khác, ăn uống có ý thức hơn, bớt lãng phí hơn, tôn trọng đồ vật hơn, sửa chữa trước khi vứt, nhận ra lao động của người khác, quan tâm tới nước và điện, cân nhắc các lựa chọn đi lại, chăm sóc nơi mình ở và không để câu chuyện sinh thái thành trách nhiệm của “ai đó”. Không phải vì từng việc nhỏ của tôi sẽ một mình cứu hành tinh. Nhưng vì đời sống đạo đức không được quyết định chỉ bằng quy mô tác động. Tôi không nói dối dù một lời nói dối nhỏ không làm sập xã hội. Tôi không ăn cắp dù món đồ rất nhỏ. Cũng vậy, tôi không phung phí chỉ vì phần phung phí của tôi là rất ít trong tổng lượng rác toàn cầu. Lối sống là hình thức cụ thể của đức tin. Người chiêm ngắm một món quà sẽ không tùy tiện phá món quà ấy.
Chiêm ngắm cũng chữa một căn bệnh khác: nhu cầu sở hữu. Khi thấy một điều đẹp, phản ứng của con người thường là muốn có nó. Thấy một vùng đất đẹp, muốn mua. Thấy một món đồ đẹp, muốn sở hữu. Thấy một loài hoa đẹp, muốn hái. Thấy một cảnh đẹp, muốn “đánh dấu” rằng mình đã đến. Nhưng có một vẻ đẹp chỉ có thể được hưởng đúng khi ta không sở hữu. Mặt trời lặn là của tất cả và không của riêng ai. Bầu trời sao không thể nhốt vào nhà. Tiếng chim không thể cất vào két. Một cây cổ thụ giữa rừng đẹp chính bởi nó đứng trong hệ sinh thái của nó, không phải vì nó trở thành món đồ trang trí trong sân tôi. Chiêm ngắm tập cho con người vui trước điều mình không sở hữu. Đây là một tự do rất lớn. Xã hội tiêu thụ nuôi ta bằng lời hứa: muốn hạnh phúc thì phải có. Chiêm ngắm nói: có những niềm vui chỉ cần nhìn, nhận và tạ ơn. Một bầu trời sau mưa không cần mua. Một làn gió không cần sở hữu. Tiếng trẻ con cười không cần thu phí. Một bữa cơm đơn sơ với người thân có thể phong phú hơn một bữa tiệc đắt tiền nếu ta thật sự có mặt. Khi học vui với điều không sở hữu, con người bắt đầu thoát khỏi một phần nô lệ của tiêu dùng.
Thánh Phanxicô Assisi là một khuôn mặt đặc biệt của cái nhìn ấy. Khi gọi mặt trời là anh, mặt trăng là chị, ngài không rơi vào một thứ phiếm thần. Ngài không nói mặt trời là Thiên Chúa. Chính vì tất cả cùng do một Cha tạo dựng nên, ngài có thể nhìn các thụ tạo trong một tình huynh đệ rộng lớn. Cách gọi ấy làm sụp đổ thái độ chủ nhân tuyệt đối. Nếu mặt trời là “anh”, nước là “chị”, đất là “mẹ” theo ngôn ngữ thi ca của Bài Ca Thụ Tạo, tôi không thể dễ dàng nhìn mọi vật chỉ như tài nguyên. Ở đây có một điều rất tinh tế: người nghèo thành Assisi trở nên giàu vì ông thấy thế giới như quà tặng. Người có rất nhiều tài sản đôi khi sống trong một thế giới nghèo nàn vì mọi vật chỉ là đồ sở hữu. Một người bước qua rừng và chỉ tính giá gỗ nhìn thấy ít hơn một người nghèo không sở hữu một mét vuông rừng nhưng biết nghe tiếng chim. Đây không phải sự lên án kinh tế hay sở hữu hợp pháp. Nó là câu hỏi thiêng liêng: ta thấy được bao nhiêu trong điều mình đang nhìn?
Chiêm ngắm còn là một cách chống lại tốc độ. Thời đại hiệu suất đánh giá thời gian theo lượng việc hoàn thành. Một giờ có giá trị nếu sản xuất được nhiều. Một cuộc họp tốt nếu nhanh. Một chuyến đi tốt nếu đi được nhiều nơi. Một ngày tốt nếu giải quyết được nhiều việc. Không có gì sai khi làm việc hiệu quả. Phí thời gian cũng không phải nhân đức. Nhưng khi hiệu suất trở thành thước đo duy nhất của thời gian, con người bắt đầu thấy những gì không “sản xuất” là vô ích: ngồi với người già, chơi với trẻ nhỏ, đi bộ chậm, cầu nguyện, thinh lặng, đọc một trang sách nhiều lần, ngắm mưa, chăm một cái cây, nghe người đang đau nói lại câu chuyện cũ. Đời sống thiêng liêng cần giải thoát thời gian khỏi độc tài của năng suất. Trong Kinh Thánh, ngày sabát là lời tuyên bố rằng con người không phải máy sản xuất. Thế giới vẫn tồn tại khi tôi ngừng làm. Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa khi tôi nghỉ. Tôi có thể không sản xuất mà vẫn có phẩm giá. Đất cũng cần sabát. Con vật cũng được nghỉ trong truyền thống Kinh Thánh. Người làm thuê cũng được nghỉ. Như thế, ngay cấu trúc thời gian của Giao Ước đã mang một chiều kích sinh thái và xã hội. Dừng lại là hành vi đức tin. Tôi dừng vì tôi tin thế giới không nằm hoàn toàn trên vai tôi. Tôi dừng để nhớ ai là Đấng Tạo Hóa và ai là thụ tạo.
Đó cũng là lý do Chúa Nhật có khả năng trở thành trường chiêm ngắm tuyệt vời. Chúa Nhật không chỉ là nghĩa vụ “đi lễ cho xong”. Thánh Thể đưa những thực tại của đất vào việc thờ phượng: bánh từ hạt lúa, rượu từ trái nho, kết quả của đất và lao công con người. Thật sâu sắc khi Hội Thánh không dâng lên Thiên Chúa một vật từ trời rơi xuống. Hội Thánh dâng sản phẩm của tạo thành được con người lao động biến đổi. Đất, nắng, mưa, hạt giống, cây nho, bàn tay người làm nông, người xay bột, người làm bánh, người làm rượu, vận chuyển và cộng đoàn đều ẩn trong những lễ vật đơn sơ ấy. Rồi trong trung tâm phụng vụ, tạo thành được đưa vào lời tạ ơn. Eucharistia chính là tạ ơn. Người Kitô hữu tham dự Thánh Thể mà không học biết tạ ơn đối với tạo thành là chưa để phụng vụ thấm hết vào đời. Sau Thánh lễ, cùng đôi mắt vừa nhìn Bánh Thánh, người ấy trở lại nhìn bữa cơm, nhìn người nghèo, nhìn đất, nhìn nước, nhìn lao động bằng một cái nhìn đã được thanh luyện. Thánh Thể không làm chúng ta rời khỏi thế giới. Nó trả ta về thế giới với một thái độ mới.
Có lẽ cần nói rất rõ: chiêm ngắm không phải một kỹ thuật thư giãn Kitô giáo. Nó có thể mang lại bình an, nhưng bình an không phải mục tiêu cuối cùng. Người ta có thể ngồi nhìn cây để giảm căng thẳng mà không hề gặp Đấng Tạo Hóa. Điều ấy vẫn tốt ở bình diện tâm lý, nhưng chiêm ngắm Kitô giáo đi xa hơn. Nó nhận ra một lời gọi. Thụ tạo nói bằng sự hiện hữu của nó: tôi không tự làm ra mình. Tôi đã được nhận. Tôi cũng không phải của riêng mình. Chính bản thân người chiêm ngắm cũng là thụ tạo. Và đây là bước quyết định. Ta thường nói phải tôn trọng thiên nhiên vì thiên nhiên là tạo vật. Nhưng ta cũng cần nhìn chính mình bằng cái nhìn ấy. Thân thể tôi là thụ tạo. Trí óc tôi là thụ tạo. Thời gian tôi là thụ tạo. Khả năng của tôi là quà tặng. Tôi không tạo nên mình từ hư vô. Tôi đã nhận đời sống. Vì thế, tôi cũng không được khai thác chính mình như một cỗ máy. Người hủy hoại thân thể mình vì làm việc vô độ đang có cùng một não trạng với người khai thác đất đến kiệt quệ: cả hai đều không chấp nhận giới hạn. Người không cho mình nghỉ, không ngủ đủ, không ăn uống tử tế, không có thời gian cầu nguyện, không có ngày Chúa Nhật trong tâm hồn vì nghĩ mình phải sản xuất liên tục, đang đối xử với chính thân xác như một nguồn tài nguyên cần khai thác. Linh đạo sinh thái bắt đầu gần hơn ta tưởng: ngủ đúng giờ cũng có thể là hành vi chấp nhận mình là thụ tạo; nghỉ là chấp nhận giới hạn; bệnh buộc ta nhận ra mình không toàn năng; tuổi già dạy ta rằng giá trị không nằm trong hiệu suất.
Chiêm ngắm còn giúp ta hòa giải với sự hữu hạn. Cây có mùa. Đồng ruộng có mùa. Trái có thời chín. Con người cũng có thời. Một trong những lý do ta khổ là muốn mọi sự xảy ra ngay. Công nghệ càng nhanh, lòng càng mất kiên nhẫn. Ta muốn chữa lành ngay, thành công ngay, thay đổi người khác ngay, có kết quả mục vụ ngay, thấy hoa trái cầu nguyện ngay. Nhưng tạo thành dạy một thứ thần học của thời gian. Không ai kéo một hạt giống lên khỏi đất để giúp nó mọc nhanh hơn mà không giết nó. Không ai ra lệnh cho trái chín trước mùa. Cây có những tháng trông như chết nhưng thực ra đang giữ sự sống bên trong. Đất có lúc cần nghỉ. Con người cũng vậy. Có những giai đoạn đời sống thiêng liêng không thấy gì mọc lên. Có những lời cầu nguyện tưởng vô ích. Có những cố gắng giáo dục con cái nhiều năm chưa thấy kết quả. Có những nỗi đau cần thời gian. Chiêm ngắm chu kỳ tạo thành có thể dạy ta kiên nhẫn trước cách Thiên Chúa hành động. Đây không phải suy diễn lãng mạn. Đức Giêsu chính Người đã dùng hạt giống để nói về Nước Thiên Chúa: người gieo ngủ hay thức, hạt giống vẫn âm thầm lớn lên. Có một phần tăng trưởng không nằm trong tay ta.
Từ đó, chiêm ngắm trở thành trường học của tín thác. Mặt trời mọc mà tôi không kéo nó lên. Tim tôi đập suốt đêm khi tôi ngủ mà không cần tôi điều khiển từng nhịp. Hạt giống biến đổi trong lòng đất theo những quá trình tôi không chỉ huy. Phần lớn những điều duy trì đời sống diễn ra ngoài ý thức và quyền kiểm soát của tôi. Người hiện đại có nhiều quyền kiểm soát hơn các thế hệ trước và đó là thành tựu quý giá. Y học kiểm soát nhiều bệnh. Kỹ thuật dự báo bão. Nông nghiệp quản lý nước. Nhưng khả năng kiểm soát có thể sinh ảo tưởng rằng điều gì không kiểm soát được là thất bại. Chiêm ngắm nhắc rằng đời sống luôn chứa một phần được nhận. Có một điều gì đó phải tín thác. Đức tin không chống kiểm soát hợp lý; nó chống ảo tưởng kiểm soát tuyệt đối.
Nhưng sự tín thác Kitô giáo không được dùng làm cớ cho vô trách nhiệm. Không thể nói “Thiên Chúa sẽ lo” rồi tiếp tục phá rừng, làm ô nhiễm nước, tiêu thụ vô độ hoặc bỏ mặc người nghèo. Quan phòng không miễn trách nhiệm. Ngược lại, tin thế giới thuộc về Thiên Chúa làm trách nhiệm nặng hơn. Nếu một người nhờ tôi giữ căn nhà của họ, vì căn nhà không phải của tôi nên tôi càng phải cẩn thận. Trái đất cũng vậy. Con người được trao trách nhiệm “canh tác và giữ gìn”, không phải chiếm hữu tuyệt đối. Động từ giữ gìn quan trọng không kém động từ canh tác. Văn minh hiện đại rất giỏi canh tác theo nghĩa biến đổi, sản xuất, phát triển. Nhưng nếu chỉ phát triển mà không giữ gìn, con người cuối cùng phá điều kiện của chính sự phát triển.
Chiêm ngắm vì thế không tạo ra những con người thụ động. Trái lại, người nhìn sâu thường hành động sâu hơn. Có khác biệt giữa hành động vì sợ và hành động vì yêu. Nếu tôi chỉ bảo vệ một dòng sông vì sợ thiếu nước, trách nhiệm có thể chấm dứt khi quyền lợi của tôi được bảo đảm. Nếu tôi đã yêu dòng sông ấy như một phần của quê hương, ký ức và tạo thành, tôi sẽ bảo vệ nó theo cách khác. Nếu tôi chỉ chăm người già vì nghĩa vụ, tôi sẽ làm mức tối thiểu. Nếu tôi đã nhìn vào khuôn mặt ấy đủ lâu để thấy một đời người, trách nhiệm trở thành tương quan. Tình yêu không thay thế chính sách, nhưng chính sách không thể thay thế tình yêu.
Ở cấp độ cộng đoàn Hội Thánh, cần phục hồi giáo dục cái nhìn. Chúng ta thường dạy giáo lý bằng khái niệm rất nhiều mà ít dạy người trẻ biết nhìn. Học về Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa nhưng hiếm khi ra ngoài nhìn một buổi bình minh. Nói về lòng biết ơn nhưng bữa ăn diễn ra trong vội vã. Nói về tạo thành nhưng khuôn viên nhà thờ đầy rác sau lễ hội. Nói về người nghèo nhưng không biết tên người nghèo sống gần mình. Nói “Chúa ở khắp mọi nơi” nhưng chỉ biết gặp Chúa trong nhà thờ. Dĩ nhiên, nhà thờ và phụng vụ có vị trí không thể thay thế. Nhưng chính phụng vụ phải mở mắt tín hữu để nhận ra Thiên Chúa trong đời. Một chương trình linh đạo tạo dựng cho giáo dân có thể bắt đầu rất đơn giản: tập nhìn trời, nhìn đất, nhìn thực phẩm, nhìn nước, nhìn đồ vật, nhìn người lao động, nhìn người già, nhìn trẻ nhỏ. Không phải tổ chức thêm hàng chục hoạt động. Trước hết, trả lại khả năng hiện diện.
Gia đình là nơi đặc biệt để học chiêm ngắm. Một đứa trẻ hỏi tại sao mưa rơi, tại sao kiến đi thành hàng, tại sao lá đổi màu, tại sao có trăng, tại sao con mèo ngủ nhiều. Những câu hỏi ấy đôi khi làm người lớn mệt, nhưng chúng là dấu vết của kinh ngạc. Người lớn rất dễ giết khả năng kinh ngạc của trẻ bằng câu “có gì đâu”. Thực ra chính “có gì đâu” là một bi kịch thiêng liêng. Một hạt đậu mọc mầm có rất nhiều điều. Một con sâu biến thành bướm có rất nhiều điều. Một quả trứng nở thành con có rất nhiều điều. Một em bé từ một tế bào phát triển thành một con người có rất nhiều điều. Người lớn không cần biến mọi chuyện thành bài giáo lý. Chỉ cần cùng trẻ ngạc nhiên. “Đẹp quá.” “Lạ thật.” “Chúa dựng nên thế giới phong phú thật.” Những câu nhỏ như thế có thể hình thành một cái nhìn lâu dài.
Người già cũng là thầy của chiêm ngắm nếu ta biết nghe. Khi tuổi cao, thế giới thường nhỏ lại. Người ta không đi nhiều. Một chiếc ghế trước cửa, một chậu cây, một ly trà, tiếng chim buổi sáng, người quen đi ngang có thể thành cả một thế giới. Xã hội tốc độ coi đó là đời sống nghèo nàn. Nhưng có khi một người già nhìn một cái cây mỗi ngày sâu hơn người trẻ đi qua mười quốc gia. Chiêm ngắm không phụ thuộc vào số nơi đã đến. Nó phụ thuộc độ sâu của sự hiện diện. Người du lịch có thể thấy nhiều mà nhìn ít. Người ở một chỗ có thể nhìn một điều cả đời mà ngày càng thấy nhiều hơn.
Đau bệnh cũng thay đổi cái nhìn. Khi khỏe mạnh, ta đi qua thân thể như thể nó hiển nhiên. Khi bệnh, một hơi thở bình thường trở thành quà. Một bước chân không đau trở thành điều đáng quý. Một đêm ngủ được trở thành hạnh phúc. Có những người chỉ sau bệnh mới bắt đầu thấy những gì trước đó đã có mà không nhìn. Chiêm ngắm không đòi phải bệnh mới học, nhưng đau khổ thường bóc khỏi mắt ta lớp chai của thói quen. Rất nhiều điều quý giá bị vô hình chỉ vì chúng có mặt mỗi ngày. Người vợ bên cạnh trở nên “đương nhiên”. Cha mẹ còn sống trở nên “đương nhiên”. Nước sạch từ vòi trở nên “đương nhiên”. Một thân thể biết đi trở nên “đương nhiên”. Người bạn lâu năm trở nên “đương nhiên”. Chiêm ngắm trả lại tính quà tặng cho những điều quen thuộc.
Đây có lẽ là một định nghĩa rất đơn giản của chiêm ngắm: nhìn điều quen thuộc cho đến khi nó lại trở thành quà tặng. Một người sống nhiều năm bên vợ chồng mình có thể thôi nhìn khuôn mặt ấy. Một linh mục sống nhiều năm với Thánh Thể có thể cử hành như thói quen. Một người sống bên cánh đồng có thể không còn thấy màu xanh. Một người làm nghề chăm sóc bệnh nhân có thể chỉ còn thấy hồ sơ bệnh án. Thói quen là cần thiết để sống, nhưng nó cũng che mắt. Chiêm ngắm phá lớp vỏ quen thuộc, không bằng tìm cái lạ, nhưng bằng nhìn cái quen sâu hơn.
Và cuối cùng, chiêm ngắm đích thực phải trở thành lời tạ ơn. Không phải mọi lần nhìn cây đều phải đọc kinh thành tiếng. Không phải mỗi giọt mưa đều cần một suy niệm. Nhưng dần dần một tâm hồn chiêm ngắm hình thành một thái độ nền: “Con đã nhận.” Tôi nhận ngày hôm nay. Tôi nhận khí trời. Tôi nhận nước. Tôi nhận thức ăn. Tôi nhận thân thể. Tôi nhận người bên cạnh. Tôi nhận khả năng làm việc. Tôi nhận cả một thế giới đã có trước tôi và sẽ còn sau tôi. Và từ lời “con đã nhận” sinh ra lời thứ hai: “con phải gìn giữ.” Biết ơn mà không gìn giữ là biết ơn bằng miệng. Nếu tôi nói cảm ơn người cho tôi một vật rồi đập vỡ nó trước mặt họ, lời cảm ơn ấy vô nghĩa. Tạ ơn Đấng Tạo Hóa cũng vậy. Tạ ơn phải đi vào cách ta sử dụng điều đã nhận.
Có một câu hỏi đơn giản mà mỗi người có thể mang theo sau chương này: lần cuối cùng tôi nhìn một điều gì đó mà không muốn dùng nó, mua nó, chụp nó, đánh giá nó, đăng nó, sửa nó hay chiếm hữu nó là khi nào? Chỉ nhìn. Chỉ hiện diện. Chỉ nhận. Nếu câu trả lời đã quá xa, có lẽ đời sống thiêng liêng đang thiếu một khoảng thinh lặng của đôi mắt. Không phải Thiên Chúa đã rời khỏi thế giới. Có thể ta đã đi qua thế giới quá nhanh. Không phải tạo thành đã ngừng nói. Có thể tiếng ồn trong ta quá lớn. Không phải vẻ đẹp đã biến mất. Có thể mắt ta đã được huấn luyện quá lâu bởi quảng cáo, hiệu suất và màn hình đến mức chỉ còn nhận ra những gì gây kích thích tức thời.
Chiêm ngắm bắt đầu bằng một hành vi nhỏ: dừng lại. Đứng trước cơn mưa mà không than phiền ngay. Nhìn một hạt lúa và nhớ nó không phải sản phẩm của nhà máy. Nhìn khuôn mặt một người già lâu hơn một giây. Nghe một con chim mà không cần biết tên. Nhìn đôi tay mình và nhận ra chúng đã phục vụ mình cả đời. Nhìn bữa cơm và nghĩ tới bao nhiêu tương quan đã làm nên nó. Nhìn một đứa trẻ ngủ và kinh ngạc rằng một đời người đang lớn lên trước mặt mình. Nhìn một cây đã đứng đó nhiều năm và tự hỏi nó đã chứng kiến bao nhiêu mùa. Những điều ấy không làm ta rời thực tế. Trái lại, chúng trả thực tế về chiều sâu của nó.
Người chiêm ngắm không nhìn thế giới ít chính xác hơn nhà khoa học; người ấy được mời nhìn thêm một chiều kích mà phương pháp khoa học không có nhiệm vụ đo. Nhà khoa học có thể nói nước gồm những gì, vòng tuần hoàn nước vận hành ra sao, ô nhiễm ảnh hưởng thế nào. Người chiêm ngắm nhận lấy tri thức ấy rồi có thể cúi đầu cảm ơn một ly nước. Nhà sinh học có thể giải thích cấu trúc của hạt giống. Người chiêm ngắm nhận kiến thức ấy rồi vẫn có thể kinh ngạc khi mầm xanh đầu tiên đội đất nhô lên. Bác sĩ hiểu rất rõ cơ chế sinh học của một em bé. Nhưng nếu sau bao năm hành nghề ông vẫn có thể xúc động trước tiếng khóc đầu tiên của một trẻ sơ sinh, khoa học của ông không bị giảm; nó đã được đặt trong một nhân tính sâu hơn.
Điều cần tránh là dùng Thiên Chúa để lấp chỗ trống của tri thức. Chiêm ngắm Kitô giáo không nói: vì tôi không biết điều này vận hành thế nào nên chắc Chúa làm trực tiếp theo nghĩa loại bỏ các nguyên nhân tự nhiên. Càng hiểu các nguyên nhân tự nhiên, ta càng có thể kinh ngạc về trật tự của tạo thành. Thiên Chúa không cạnh tranh với khoa học. Nếu khoa học giải thích được mưa, điều đó không làm mưa bớt là quà. Nếu sinh học giải thích được hạt nảy mầm, điều đó không làm hạt giống bớt kỳ diệu. Nếu y học giải thích sự hình thành của thai nhi, điều đó không làm sự sống mất tính thánh thiêng. Thiên Chúa không nằm ở nơi khoa học chưa giải thích được. Người là nền tảng của chính hiện hữu, là Đấng nhờ Người mọi sự có.
Do đó, một linh đạo chiêm ngắm trưởng thành không sợ kiến thức. Nó đọc khoa học với lòng biết ơn, đọc Kinh Thánh với đức tin và đọc thế giới với đôi mắt rộng mở. Nó không biến Sách Sáng Thế thành sách giáo khoa vật lý, cũng không biến vật lý thành câu trả lời cho câu hỏi tại sao có hiện hữu. Mỗi lĩnh vực có câu hỏi của mình. Và con người trưởng thành biết để các câu hỏi gặp nhau mà không nuốt nhau.
Từ đây, chúng ta có thể hiểu tại sao cuộc khủng hoảng sinh thái cũng là cuộc khủng hoảng thiêng liêng. Trước khi cây bị chặt, nó đã bị hạ xuống thành “gỗ”. Trước khi dòng sông bị đầu độc, nó đã bị hạ xuống thành “nguồn nước phục vụ sản xuất”. Trước khi người lao động bị bóc lột, họ đã bị hạ xuống thành “nhân công”. Trước khi người già bị bỏ quên, họ đã bị hạ xuống thành “người phụ thuộc”. Bạo lực trong hành vi thường được chuẩn bị bởi bạo lực trong cái nhìn. Khi ta không còn thấy một hữu thể trong chiều sâu của nó, việc sử dụng và loại bỏ nó trở nên dễ dàng. Bởi thế, chữa lành thế giới phải bắt đầu một phần bằng chữa lành đôi mắt.
Đức Giêsu nhiều lần chữa người mù. Những phép lạ ấy là chữa lành thân xác thật, nhưng trong toàn bộ Tin Mừng, việc “thấy” còn mang ý nghĩa thiêng liêng. Có người có mắt mà không thấy. Các môn đệ nhìn các phép lạ mà chưa hiểu. Đám đông nhìn Đức Giêsu nhưng không nhận ra Người. Người Pharisêu quan sát rất kỹ nhưng đôi khi cái nhìn bị thành kiến đóng lại. Điều nguy hiểm nhất không phải thiếu thông tin mà là mắt có thông tin nhưng lòng không mở. Một người có thể đọc hàng trăm báo cáo về biến đổi khí hậu nhưng tiếp tục sống như thể mọi sự không liên quan. Có thể biết người nghèo tồn tại nhưng chưa bao giờ để nỗi đau của họ đi vào lòng. Có thể biết cha mẹ già nhưng không thật sự nhìn sự cô đơn của họ. Vì thế, chiêm ngắm bao gồm cả một sự chuyển động từ mắt xuống tim.
Và khi điều được thấy đi vào tim, nó cuối cùng phải đi tới đôi tay. Mắt thấy, lòng động, tay hành động. Đây là nhịp điệu rất Tin Mừng. Đức Giêsu thấy đám đông, chạnh lòng thương và hành động. Người Samari thấy người bị nạn, chạnh lòng thương và đến gần. Chiêm ngắm không kết thúc ở cảm xúc đẹp. Nó sinh trách nhiệm. Nếu tôi nhìn thế giới đủ sâu mà không trở nên dịu dàng hơn, tiết độ hơn, biết ơn hơn, công bằng hơn, có lẽ tôi vẫn đang đứng ngoài đối tượng mình nhìn.
Bởi vậy, chương đầu của một linh đạo về công trình tạo dựng không nên bắt đầu bằng danh sách những điều phải làm cho môi trường. Nó nên bắt đầu bằng đôi mắt. Trước khi hỏi phải làm gì, cần học nhìn lại. Trước khi cứu một khu rừng, phải thôi coi rừng chỉ là gỗ. Trước khi bảo vệ sông, phải thôi coi sông chỉ là nước sử dụng. Trước khi chống lãng phí thực phẩm, phải học lại ý nghĩa của bánh. Trước khi nói về sinh thái con người, phải học nhìn mỗi khuôn mặt như một thụ tạo không thể thay thế. Trước khi xây một đạo đức sinh thái, cần phục hồi kinh ngạc.
Và có lẽ lời cầu nguyện đầu tiên của linh đạo này rất ngắn: “Lạy Chúa, xin cho con biết nhìn.” Không chỉ nhìn cái đẹp, nhưng nhìn cái bị thương. Không chỉ nhìn rừng xanh, nhưng nhìn dòng nước ô nhiễm. Không chỉ nhìn hoa, nhưng nhìn đất khô. Không chỉ nhìn con vật dễ thương, nhưng nhìn những hệ sinh thái đang biến mất. Không chỉ nhìn người mình yêu, nhưng nhìn cả người làm mình khó chịu. Không chỉ nhìn điều lớn lao, nhưng nhìn một mẩu bánh, một giọt nước, một hơi thở. Xin cho mắt con thoát khỏi sự vội vã. Xin cho mắt con thoát khỏi cái nhìn chiếm hữu. Xin cho mắt con không định giá mọi vật bằng lợi ích. Xin cho con nhìn thế giới như một quà tặng đang được trao vào tay con trong một thời gian ngắn.
Chúng ta chỉ là những người đi qua. Những cây ta trồng hôm nay có thể che bóng cho người chưa sinh. Nước ta giữ sạch hôm nay sẽ được một thế hệ khác uống. Đất ta không đầu độc hôm nay sẽ nuôi những người ta không bao giờ biết tên. Ngược lại, rác ta để lại có thể tồn tại lâu hơn đời ta. Khí thải của thế hệ này có thể thành gánh nặng của thế hệ sau. Chiêm ngắm làm nảy sinh trách nhiệm liên thế hệ bởi nó phá ảo tưởng rằng hiện tại thuộc riêng chúng ta. Một người biết nhìn một cây lâu năm sẽ học suy nghĩ vượt khỏi lịch đời mình.
Người chiêm ngắm công trình tạo dựng vì thế đứng trước thế giới như người nhận một gia sản nhưng không được phép tiêu sạch. Gia sản ấy đến từ những người trước và phải truyền cho người sau. Nhưng sâu hơn nữa, nó không thuộc thế hệ nào. “Trái đất là của Chúa.” Con người ở trên đất như khách và người quản lý. Căn tính ấy vừa hạ chúng ta xuống vừa nâng chúng ta lên. Hạ xuống vì ta không phải chủ tuyệt đối. Nâng lên vì ta được tín nhiệm trao một trách nhiệm lớn lao.
Chiêm ngắm cuối cùng dẫn đến thờ phượng. Không phải thờ thế giới, nhưng để thế giới dẫn ta tới Đấng mà từ Người thế giới nhận hiện hữu. Và khi thờ phượng đúng Đấng Tạo Hóa, ta cũng được giải phóng khỏi việc thờ những tạo vật khác: tiền, quyền lực, tiện nghi, tiêu dùng, công nghệ, tăng trưởng vô hạn, chính cái tôi. Có một liên hệ sâu giữa khủng hoảng sinh thái và ngẫu tượng. Khi một thụ tạo được biến thành tuyệt đối, những thụ tạo khác bị hy sinh cho nó. Nếu lợi nhuận là tuyệt đối, rừng có thể bị hy sinh. Nếu tăng trưởng là tuyệt đối, người nghèo có thể bị hy sinh. Nếu tiện nghi cá nhân là tuyệt đối, môi trường có thể bị hy sinh. Nếu quyền lực là tuyệt đối, con người có thể bị hy sinh. Thờ phượng Thiên Chúa duy nhất đặt mọi thụ tạo trở lại đúng chỗ. Tiền hữu ích nhưng không phải thần. Công nghệ tốt nhưng không phải cứu tinh. Kinh tế cần thiết nhưng không phải cùng đích. Trái đất quý giá nhưng không phải thần linh. Con người có phẩm giá đặc biệt nhưng cũng không phải Thiên Chúa.
Vì thế, chiêm ngắm không phải một phụ lục mềm mại của đời Kitô hữu. Nó là một hình thức thanh luyện cái nhìn để sống đúng trật tự của tạo thành. Nó làm cho con người trở nên khiêm nhường mà không bi quan, biết ơn mà không ngây thơ, yêu thiên nhiên mà không thần thánh hóa thiên nhiên, sử dụng thế giới mà không khai thác nó như chủ tuyệt đối, phát triển khoa học mà không biến tri thức thành kiêu ngạo, hành động mà không tưởng mình là cứu tinh.
Có thể ta không cần bắt đầu bằng những việc lớn. Ngày mai, hãy thử đứng yên trước một điều rất bình thường. Một ly nước. Một thân cây. Một hạt gạo. Một khuôn mặt. Một bàn tay già. Một tiếng chim. Một buổi sáng. Đừng vội tìm một bài học. Đừng ép nó phải “nói” điều gì. Chỉ nhìn đủ lâu để sự vật không còn là phông nền cho đời ta. Và rồi có thể một lời tạ ơn sẽ tự sinh.
Đó là khởi đầu của chiêm ngắm.
Không phải thấy thêm thật nhiều.
Nhưng thấy sâu hơn điều vẫn luôn ở trước mắt.
Không phải chạy khỏi thế giới để tìm Chúa.
Nhưng để Chúa chữa đôi mắt, rồi trở lại nhìn thế giới như công trình Người yêu.
Khi ấy, cánh đồng vẫn là cánh đồng, mưa vẫn là mưa, cây vẫn là cây, người già vẫn là người già. Không vật nào biến thành điều huyền bí. Chính ta thay đổi. Ta thôi đứng trước mọi sự như chủ nhân và bắt đầu đứng như người nhận quà. Ta thôi hỏi trước hết: “Tôi dùng cái này được gì?” và bắt đầu biết hỏi: “Điều này có chỗ nào trong công trình của Thiên Chúa, và tôi phải sống với nó thế nào?” Chính khoảnh khắc ấy, đôi mắt bắt đầu trở thành đôi mắt của người môn đệ.
Và từ đôi mắt ấy, một linh đạo mới bắt đầu: linh đạo của người biết thế giới không phải Thiên Chúa, nhưng cũng không phải đồ bỏ; biết con người không phải chủ tuyệt đối, nhưng cũng không phải kẻ xa lạ; biết thụ tạo không cứu được mình, nhưng có thể dẫn mình đến lời tạ ơn; biết khoa học có thể nói rất nhiều về cách một bông hoa nở, còn chiêm ngắm giúp ta cúi đầu trước việc có một bông hoa đang nở.

CHƯƠNG 2. THỤ TẠO LÀ LỜI NÓI TRƯỚC KHI LÀ TÀI NGUYÊN
Một trong những nghèo nàn lớn nhất của con người hiện đại không hẳn là thiếu của cải, thiếu kỹ thuật hay thiếu khả năng khai thác thế giới, nhưng là đánh mất khả năng nghe thế giới nói. Con người hôm nay biết đo rất chính xác một cánh rừng rộng bao nhiêu hécta, trữ lượng gỗ là bao nhiêu mét khối, một dòng sông có thể cung cấp bao nhiêu mét khối nước mỗi năm, một con đập có thể tạo ra bao nhiêu megawatt điện, một mỏ khoáng sản có thể đem lại bao nhiêu tấn quặng, một vùng biển có thể khai thác bao nhiêu tấn cá, một khu đất có giá bao nhiêu tiền trên mỗi mét vuông. Những con số ấy cần thiết. Không có những con số ấy, con người không thể quản trị, không thể quy hoạch, không thể sử dụng khôn ngoan những gì được trao cho mình. Kitô giáo không chống khoa học, không chống kinh tế, không chống kỹ thuật, không bảo con người phải trở về một thế giới tiền công nghiệp để chứng tỏ mình đạo đức hơn. Nhưng vấn đề bắt đầu khi con số trở thành ngôn ngữ duy nhất của thế giới, khi giá trị kinh tế trở thành giá trị duy nhất mà mắt con người còn nhận ra, khi một vật chỉ còn đáng được giữ lại nếu nó có ích cho ta, và khi toàn bộ thụ tạo bị thu nhỏ thành một kho vật liệu đang chờ con người đến lấy. Đó không còn chỉ là một vấn đề môi trường. Đó là một vấn đề thiêng liêng. Bởi vì trước khi thế giới là tài nguyên, thế giới đã là thụ tạo; trước khi thụ tạo được trao vào tay con người, thụ tạo đã được gọi ra khỏi hư vô bởi tiếng nói của Thiên Chúa; trước khi có giá thị trường, nó đã có một giá trị từ việc được Thiên Chúa muốn cho hiện hữu; trước khi con người sử dụng nó, Thiên Chúa đã nhìn nó và thấy rằng nó tốt đẹp.
Sách Sáng Thế mở đầu bằng một nhịp điệu mà ta nghe đi nghe lại như một điệp khúc thần học: “Thiên Chúa phán…” Thiên Chúa phán, ánh sáng xuất hiện. Thiên Chúa phán, vòm trời được phân chia. Thiên Chúa phán, nước tụ lại, đất khô xuất hiện. Thiên Chúa phán, đất đâm chồi cây cỏ. Thiên Chúa phán, những tinh tú xuất hiện để phân ngày đêm. Thiên Chúa phán, nước đầy sinh vật, trời có chim bay. Thiên Chúa phán, đất sinh ra các giống vật. Thiên Chúa phán, con người được dựng nên theo hình ảnh Người. Câu chuyện tạo dựng vì thế không phải trước hết là một bài khảo luận vật lý về cơ chế hình thành vũ trụ. Nó là lời tuyên xưng rằng mọi sự hiện hữu bởi ý muốn và lời gọi của Thiên Chúa. Tạo thành không tự có. Tạo thành không phải thần linh. Tạo thành cũng không phải một khối vật chất vô nghĩa. Nó là cái đã được gọi tên, được muốn, được đặt trong một trật tự, được trao cho một vị trí và một tương quan. Nếu nó phát sinh từ Lời, thì chính nó mang dấu vết của Lời. Nếu nó hiện hữu bởi tiếng gọi của Đấng Tạo Hóa, thì sự hiện hữu của nó đã mang trong mình một khả năng làm chứng cho Đấng đã gọi nó. Vì thế, nói thụ tạo là “lời nói” không có nghĩa ta nhân cách hóa cây, đá, sông, núi theo một thứ lãng mạn mơ hồ. Nó có nghĩa sâu hơn: mọi thụ tạo, bằng chính hữu thể của mình, cho biết một điều mà nó không tự tạo ra được. Ánh sáng nói rằng nó không phải nguồn sáng tuyệt đối. Nước nói rằng sự sống được nhận chứ không tự sản xuất. Đất nói rằng con người từ bụi đất mà ra và sẽ trở về bụi đất. Hạt giống nói rằng sự sống có thể ẩn mình rồi trồi lên. Mùa màng nói rằng con người không thể tự làm ra sự sống chỉ bằng ý muốn. Núi nói về sự vững bền vượt quá đời người. Biển nói về một sự mênh mông khiến con người nhận ra giới hạn mình. Bầu trời đêm nói rất ít bằng âm thanh nhưng lại nói rất nhiều với một tâm hồn còn biết ngước nhìn.
Thánh Vịnh đã nói điều ấy bằng thứ ngôn ngữ mà khoa học không cần bác bỏ và đức tin cũng không được quên: “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Người làm.” Trời xanh không giảng bằng bài giảng. Không trung không có miệng. Nhưng chính sự hiện hữu, vẻ đẹp, trật tự, độ lớn, nhịp điệu và tính bất khả quy giản của chúng đã trở thành một thứ chứng từ. Điều đáng sợ của nền văn minh tiêu thụ không phải chỉ là chúng ta khai thác quá mức. Điều đáng sợ hơn là chúng ta dần dần không còn nghe được chứng từ ấy. Một khu rừng mà người xưa có thể bước vào với một chút kính sợ thì người hiện đại có thể nhìn ngay thành “trữ lượng sinh khối”. Một con sông có thể từng là nơi trẻ con tắm, người già ngồi hóng gió, dân làng lấy nước, cánh đồng nhận phù sa, chim thú tìm đường sống, thì dưới cái nhìn thuần kỹ trị nó có thể chỉ còn là “nguồn nước mặt” hoặc “tiềm năng thủy điện”. Một ngọn núi từng làm con người thấy mình nhỏ bé trước tạo thành có thể biến thành một mỏ đá chưa khai thác. Một bãi biển có thể biến thành mặt bằng du lịch. Một cánh đồng có thể biến thành quỹ đất. Một con cá chỉ còn là sản lượng. Một con bò chỉ còn là kilogram thịt. Một cây cổ thụ chỉ còn là số mét khối gỗ. Đến lúc ấy, thụ tạo chưa chắc đã biến mất ngay khỏi địa lý, nhưng đã biến mất khỏi chiều sâu của cái nhìn. Và đó là cái chết thứ nhất xảy ra trong tâm hồn con người trước khi cái chết thứ hai xảy ra nơi chính tạo vật.
Câu nói “cái cây chỉ còn mét khối gỗ thì cái cây đã chết hai lần” vì thế không phải một kiểu nói thi vị cho đẹp. Nó mô tả một cuộc khủng hoảng của cái nhìn. Cái cây chết lần thứ nhất khi bị đốn xuống. Nhưng trước đó rất lâu nó có thể đã chết trong mắt người nhìn, vì người ấy không còn thấy đó là một hữu thể sống, không còn thấy bóng mát, tổ chim, rễ giữ đất, lá lọc bụi, mùa hoa, vòng tuổi, sự kiên nhẫn của thời gian, sự phụ thuộc của bao sinh vật khác vào thân cây ấy. Cây chết trong tâm hồn ta khi mọi ý nghĩa của nó bị rút xuống chỉ còn lợi ích mà nó đem cho ta. Và khi cây đã chết như thế trong tâm hồn, việc đốn nó xuống trở nên rất dễ. Một nền văn hóa khai thác bắt đầu không phải từ máy cưa. Nó bắt đầu từ cái nhìn. Máy cưa chỉ làm ngoài rừng điều mà lòng tham đã làm trước ở trong mắt. Khi ta không còn thấy một thực tại có giá trị nơi chính nó trước mặt Thiên Chúa, ta sẽ rất nhanh hỏi: “Nó dùng được việc gì cho tôi?” Và sau câu hỏi ấy sẽ là: “Tôi lấy được bao nhiêu từ nó?” Rồi sau nữa: “Tại sao tôi phải để nó tồn tại nếu nó không sinh lợi?”
Nhưng Kitô giáo cũng phải cẩn thận để không đi sang cực đoan ngược lại. Tài nguyên không phải là một chữ xấu. Sử dụng tạo thành không phải tự động là tội. Sách Sáng Thế không trình bày con người như một khách tham quan bị cấm chạm vào thế giới. Con người được đặt vào vườn để “canh tác và gìn giữ”. Hai động từ ấy phải đi cùng nhau. Canh tác nghĩa là có sự sử dụng, biến đổi, tổ chức, lao động, phát triển. Gìn giữ nghĩa là việc sử dụng ấy không được trở thành hủy diệt, không được xóa mất phẩm chất quà tặng của tạo thành, không được biến quyền sử dụng thành quyền tuyệt đối. Người nông dân cày đất không xúc phạm đất chỉ vì cày. Người tiều phu đốn cây trong một nền lâm nghiệp có trách nhiệm không nhất thiết xúc phạm tạo thành. Người kỹ sư xây đập, người thợ mỏ khai khoáng, người ngư dân đánh cá, người kiến trúc sư dùng đá, gỗ, thép, người nông dân nuôi gia súc, tất cả đều có thể tham dự một cách chính đáng vào việc sử dụng những khả năng mà Thiên Chúa đặt trong tạo thành. Vấn đề không nằm ở chỗ dùng hay không dùng. Vấn đề nằm ở tương quan. Tôi sử dụng như người quản lý hay chiếm đoạt như chủ tuyệt đối? Tôi lấy phần cần thiết trong một trật tự của công ích và sự tiếp nối hay lấy tối đa vì tôi có thể? Tôi có nhìn thấy người đến sau mình hay chỉ nhìn lợi ích của đời mình? Tôi có nhìn thấy người nghèo chịu hậu quả của việc khai thác hay chỉ nhìn thấy cổ tức? Tôi có nhận ra rằng một hệ sinh thái có những giới hạn mà thị trường không thể bãi bỏ hay tôi tưởng kỹ thuật luôn tìm được cách sửa mọi hậu quả?
Từ “tài nguyên” chỉ nguy hiểm khi nó trở thành tên duy nhất. Cũng như gọi một người là “nhân lực” không hoàn toàn sai trong ngôn ngữ quản trị, nhưng nếu “nhân lực” trở thành toàn bộ định nghĩa về con người ấy, thì đã có một sự xúc phạm. Một công nhân có năng lực lao động, nhưng người ấy không chỉ là sức lao động. Một bệnh nhân cần được điều trị, nhưng người ấy không chỉ là một ca bệnh. Một học sinh có kết quả học tập, nhưng em ấy không chỉ là điểm số. Một người già có chi phí y tế, nhưng người ấy không chỉ là gánh nặng ngân sách. Tương tự, rừng có gỗ nhưng rừng không chỉ là gỗ. Sông có nước nhưng sông không chỉ là nước. Đất có khả năng sinh lợi nhưng đất không chỉ là tài sản. Biển có cá nhưng biển không chỉ là kho hải sản. Cái nhìn Kitô giáo luôn chống lại sự giản lược. Vì bất cứ khi nào ta giản lược một hữu thể chỉ còn một chức năng hữu ích cho ta, ta đã bắt đầu đi ngược lại logic tạo dựng. Thiên Chúa không dựng nên thế giới như một kho phụ tùng. Người dựng nên một cộng đoàn của những hữu thể có liên hệ với nhau, trong đó con người được ban một vị trí đặc biệt nhưng không phải vị trí của kẻ được phép phá hủy tất cả phần còn lại.
Ngay trong Sáng Thế, điều rất đáng chú ý là Thiên Chúa nhìn tạo thành và thấy nó tốt đẹp trước khi con người kịp sử dụng nó. Ánh sáng tốt đẹp trước khi con người có đèn. Biển tốt đẹp trước khi con người có tàu đánh cá. Cây cỏ tốt đẹp trước khi con người hái quả. Chim trời và cá biển tốt đẹp trước khi con người biến chúng thành thức ăn. Nói cách khác, giá trị của thụ tạo đi trước công dụng của nó đối với con người. Đây là một nguyên tắc thần học có sức sửa cả nền văn minh. Chúng ta thường hỏi một thứ “để làm gì?” rồi mới quyết định nó đáng tồn tại hay không. Thiên Chúa dường như hỏi một câu khác: “Nó có được Ta muốn cho hiện hữu không?” Nếu câu trả lời là có, thì sự hiện hữu của nó đã có một phẩm chất mà lợi ích kinh tế không tạo ra được và cũng không có quyền tự tiện xóa bỏ. Điều ấy không đặt con người và các loài ngang hàng về phẩm giá. Kitô giáo vẫn nhìn con người như hữu thể được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa với một phẩm giá độc đáo. Nhưng chính phẩm giá ấy làm trách nhiệm con người lớn hơn chứ không nhỏ hơn. Là hình ảnh Thiên Chúa không phải giấy phép để ta hành xử như bạo chúa. Nếu Thiên Chúa sáng tạo bằng tình yêu, chăm sóc điều Người dựng nên và thấy nó tốt đẹp, thì con người mang hình ảnh Người phải học cai quản theo cách của Người: cai quản có chăm sóc, sử dụng có giới hạn, phát triển có trách nhiệm, làm chủ mà không chiếm hữu tuyệt đối.
Có một kiểu thống trị rất xa với ý nghĩa Kinh Thánh nhưng lại thường được biện minh bằng Kinh Thánh: con người được “thống trị” mặt đất nên có thể làm gì tùy ý. Cách hiểu này quên rằng quyền thống trị của con người là quyền được trao, không phải quyền tự sinh. Người quản lý không phải chủ nhà. Người nhận ủy thác không phải người sở hữu tuyệt đối. Nếu một ông chủ giao trang trại cho người quản gia chăm sóc, người quản gia không thể nói: “Vì tôi được giao quản lý nên tôi có quyền đốt hết.” Quyền được trao luôn mang hình dáng của ý muốn người trao. Con người cai quản tạo thành dưới quyền Thiên Chúa, không thay thế Thiên Chúa. Chính vì thế, đất không bao giờ hoàn toàn là “của tôi” theo nghĩa tôi muốn làm gì cũng được. Có thể giấy tờ pháp lý nói tôi sở hữu mảnh đất. Luật dân sự cần điều đó. Nhưng thần học nhắc rằng trước khi thuộc tên tôi trong sổ, mảnh đất ấy thuộc về trật tự tạo dựng của Thiên Chúa. Sau tôi còn có người khác. Bên cạnh tôi còn có người khác. Dưới đất còn có nước. Trên đất còn có sinh vật. Việc tôi làm trên phần “của tôi” có thể gây hậu quả cho phần không phải của tôi. Đó là lý do tại sao sở hữu tư nhân trong tư tưởng xã hội Kitô giáo chưa bao giờ là quyền tuyệt đối không bị ràng buộc bởi công ích.
Khi thụ tạo được nhìn như lời, con người cũng bắt đầu học lại một nghệ thuật đã mất: nghệ thuật lắng nghe. Ta thường nghĩ con người là kẻ nói, thế giới là thứ im lặng. Nhưng trong đức tin, con người cũng là kẻ phải nghe. Nghe những giới hạn của đất. Nghe nhịp của mùa. Nghe dấu hiệu kiệt quệ của nguồn nước. Nghe sự biến mất của một giống loài. Nghe sự đổi màu của một dòng sông. Nghe bầu khí quyển nóng dần. Nghe tiếng than của người nghèo phải sống cạnh nơi ô nhiễm. Nghe tiếng của nông dân khi đất bạc màu. Nghe của ngư dân khi biển cạn cá. Nghe của trẻ nhỏ khi không còn chỗ chơi ngoài trời. Nghe của người già khi vùng quê họ biết suốt đời biến thành một khu bê tông trong vài năm. Những tiếng ấy không phải tất cả đều là mạc khải theo nghĩa thần học, nhưng chúng có thể trở thành nơi lương tâm được đánh thức. Một người có đời sống thiêng liêng mà không còn khả năng nghe những tiếng này có nguy cơ xây một tương quan với Thiên Chúa rất tách khỏi công trình của chính Thiên Chúa.
Đáng buồn là ta có thể đọc kinh rất nhiều nhưng nhìn thụ tạo rất ít. Có người thuộc lòng kinh nguyện nhưng vứt rác xuống sông không thấy cấn lương tâm. Có người sốt sắng hành hương nhưng mua bán đất đai bằng cách tàn phá nơi sống của người nghèo. Có người kính Thánh Thể nhưng đối xử với đất đai như một vật vô chủ chỉ để khai thác. Có người yêu những bài hát ca ngợi Thiên Chúa Tạo Hóa nhưng dùng cách tiêu thụ khiến người khác ở một nơi rất xa phải sống trong ô nhiễm. Mâu thuẫn ấy cho thấy đức tin chưa đi xuống tận cái nhìn. Nếu tin rằng “trời đất đầy vinh quang Chúa”, ta không thể hoàn toàn vô cảm trước việc trời đất bị coi như rác. Nếu tin rằng vũ trụ được dựng nên trong Đức Kitô và hướng về Người, ta không thể sống như thể thế giới chỉ là hậu trường tạm thời cho lịch sử cứu độ của con người. Nếu tin vào sự nhập thể, ta không thể coi vật chất là thứ tầm thường không đáng quan tâm. Ngôi Lời đã trở nên xác phàm. Đức Kitô đã ăn bánh, uống rượu, đi trên đất, chạm nước, ngồi trên thuyền, dùng hoa huệ, chim trời, hạt giống, ruộng nương, cây nho, cành nho, lúa mì để nói về Nước Thiên Chúa. Tin Mừng đầy thụ tạo. Chúa Giêsu không rao giảng một đức tin bay lơ lửng bên ngoài thế giới vật chất.
Chính các dụ ngôn của Chúa Giêsu cho thấy một cái nhìn biết nghe tạo thành. Người nhìn chim trời và thấy một bài học về tín thác. Nhìn hoa huệ và thấy một bài học về sự chăm sóc của Chúa Cha. Nhìn người gieo giống và thấy mầu nhiệm của Lời. Nhìn hạt cải và thấy Nước Thiên Chúa. Nhìn cây nho và thấy mối tương quan giữa Người với môn đệ. Nhìn lúa chín và thấy cánh đồng truyền giáo. Nhìn bột được dậy men và thấy sức biến đổi âm thầm. Nhìn cây vả và nói về hoa trái của đời người. Nhìn mặt trời mọc và mưa xuống trên người lành kẻ dữ để nói về lòng nhân hậu của Chúa Cha. Đó không phải là trang trí văn chương. Đó là một lối nhìn. Đức Giêsu đọc thế giới như một cuốn sách trong đó tạo thành có khả năng dẫn lòng người đến những thực tại sâu hơn. Người không thần thánh hóa thiên nhiên. Người cũng không làm thiên nhiên câm đi. Người để thiên nhiên nói.
Trong truyền thống Kitô giáo, ý tưởng về “cuốn sách tạo thành” xuất hiện nhiều lần. Thiên Chúa nói qua Sách Thánh theo một cách độc đáo, nhưng dấu vết của Người cũng có thể được nhận biết nơi công trình tạo dựng. Hai cuốn sách ấy không ngang nhau và không thể thay thế nhau, nhưng chúng không thù địch. Khi khoa học khám phá thêm về vũ trụ, đức tin không cần sợ rằng Thiên Chúa bị thu nhỏ. Trái lại, càng thấy một tế bào phức tạp thế nào, một hệ sinh thái liên kết ra sao, một vì sao xa thế nào, một hạt đất chứa bao nhiêu sự sống, con người càng có cơ hội thoát khỏi cái nhìn thô sơ rằng tạo thành chỉ là một khối vật chất đứng chờ mình. Khoa học, khi trung thực với khoa học, không làm thế giới mất mầu nhiệm. Nó làm mầu nhiệm sâu hơn. Vấn đề không phải khoa học hóa thế giới. Vấn đề là thương mại hóa toàn bộ cái nhìn, đến mức kiến thức chỉ còn được hỏi xem có thể sinh lợi gì.
Cũng vậy, nền kinh tế không tự nó là kẻ thù của linh đạo tạo dựng. Kinh tế theo nghĩa căn bản chính là nghệ thuật quản trị ngôi nhà. Nhưng khi “oikonomia”, quản trị ngôi nhà chung, biến thành nghệ thuật rút tối đa lợi ích trong thời gian ngắn, nó phản bội cả tên gọi của mình. Một nền kinh tế thật phải hỏi: ngôi nhà này còn ở được không? Người yếu nhất trong nhà có sống nổi không? Trẻ chưa sinh ra sau này còn nhận được gì không? Đất có hồi phục được không? Nước có còn sạch không? Người lao động có bị nghiền thành một khoản chi phí không? Cộng đồng địa phương có bị đánh bật khỏi nơi ở không? Lợi nhuận có phản ánh giá thật hay đang đẩy chi phí cho người nghèo và thế hệ sau trả? Đó không phải là những câu hỏi ngoại đạo chen vào kinh tế. Đó chính là những câu hỏi kinh tế nếu ta nhớ rằng kinh tế phục vụ đời sống chứ đời sống không sinh ra để phục vụ kinh tế.
Khi thụ tạo chỉ còn là tài nguyên, cả con người cuối cùng cũng trở thành tài nguyên. Đây là điều cần thấy thật rõ. Không thể biến thiên nhiên thành vật dụng vô hạn mà lâu dài vẫn giữ được con người như một hữu thể thánh thiêng. Cùng một cái nhìn giản lược sẽ lan sang mọi nơi. Đất là tài nguyên đất. Nước là tài nguyên nước. Rừng là tài nguyên rừng. Và rồi con người thành “nguồn nhân lực”. Thời gian của họ thành “giờ công”. Sự chú ý của họ thành dữ liệu để bán. Thói quen của họ thành tài sản cho thuật toán. Thân thể họ thành thị trường. Tuổi già của họ thành chi phí. Trẻ em thành phân khúc khách hàng. Người nghèo thành số liệu. Tất cả được đo bằng khả năng sinh lợi. Một nền văn minh làm câm thụ tạo cuối cùng cũng làm câm con người. Người không sinh lợi sẽ bị xem như vô dụng. Người bệnh, người già, người khuyết tật, thai nhi, người nghèo, người không đủ năng suất sẽ phải chứng minh tại sao mình đáng được chăm sóc. Đây là hậu quả nhân học của cùng một căn bệnh: chỉ công nhận giá trị nơi cái có ích.
Trái lại, đức tin tạo dựng nói rằng giá trị đi trước hiệu suất. Một em bé vừa sinh chưa “đóng góp” gì cho kinh tế nhưng có giá trị vô hạn. Một người già nằm liệt giường không tạo lợi nhuận nhưng vẫn có phẩm giá. Một khu rừng nguyên sinh có thể không đem lợi nhuận trước mắt nhưng vẫn có giá trị. Một giống loài mà ta chưa biết “công dụng” gì vẫn không vì thế trở thành vô nghĩa. Một thửa đất bỏ hoang một mùa để phục hồi không phải lãng phí nếu nhờ đó nó có thể tiếp tục sinh hoa trái nhiều năm. Đức tin dạy ta nhìn vượt khỏi ích lợi tức thời. Cái nhìn ấy không chống thực tế. Nó chính là cách duy nhất để thực tế không bị phá hủy bởi cái ngắn hạn.
Kinh Thánh còn có một luật rất đẹp mà người hiện đại thường thấy khó hiểu: đất cũng phải được nghỉ. Ngày Sabát không chỉ dành cho người. Trong các quy định của Israel, đất có năm nghỉ, người lao động nghỉ, gia súc cũng được nghỉ. Dưới ngôn ngữ luật lệ cổ xưa ấy có một trực giác thiêng liêng rất lớn: tạo thành không phải cỗ máy phải chạy liên tục. Giới hạn thuộc về trật tự tốt lành của Thiên Chúa. Một thứ kinh tế không biết nghỉ cuối cùng sẽ ăn chính nền tảng của nó. Đất bị ép sinh liên tục sẽ kiệt. Biển bị đánh bắt liên tục sẽ cạn. Người bị làm việc liên tục sẽ gãy. Thành phố bị xây liên tục sẽ mất khoảng thở. Màn hình sáng liên tục sẽ làm mắt và tâm trí mệt. Sabát là lời chống lại ảo tưởng rằng sự sống chỉ có giá trị khi sản xuất. Trong Sabát, con người học rằng thế giới vẫn tồn tại khi mình ngừng làm. Mặt trời vẫn mọc. Đất vẫn thở. Chúa vẫn là Chúa. Tôi không phải Đấng giữ toàn bộ vũ trụ vận hành. Chính kinh nghiệm ấy chữa một trong những nguồn sâu của việc khai thác: nỗi sợ thiếu và ảo tưởng kiểm soát.
Thụ tạo là lời còn bởi vì nó dạy ta sự phụ thuộc. Con người hiện đại rất thích tự trị, nhưng chỉ cần nhìn cơ thể mình là đủ biết sự tự trị ấy có giới hạn. Ta không tự làm ra oxy. Không tự tạo được nước. Không tự sản xuất ánh sáng mặt trời. Không thể ra lệnh cho hạt giống mọc nếu mọi điều kiện sống bị phá hủy. Kỹ thuật có thể giúp xử lý nước, vận chuyển thức ăn, điều hòa nhiệt độ, nhân giống cây trồng, nhưng kỹ thuật luôn hoạt động trên một nền tảng sự sống mà nó không tạo ra từ hư vô. Một thành phố hiện đại có thể khiến người ta quên điều này vì nước đi ra từ vòi, điện đến từ ổ cắm, thức ăn nằm trong siêu thị. Người sống giữa bê tông dễ tưởng rằng thế giới tự nhiên là thứ ở đâu đó xa xôi. Nhưng chỉ cần hệ thống phân phối trục trặc vài ngày, sự phụ thuộc lộ ra. Nước không đến từ vòi. Vòi chỉ là đoạn cuối. Thức ăn không đến từ siêu thị. Siêu thị chỉ là đoạn cuối. Điện không đến từ công tắc. Công tắc chỉ là đoạn cuối. Mỗi tiện nghi che phía sau một chuỗi rất dài của đất, nước, năng lượng, lao động, sinh thái và cộng đồng.
Nhận ra điều đó không phải để làm con người sợ hãi, nhưng để làm con người khiêm nhường. Khiêm nhường sinh thái không phải một khẩu hiệu mới. Nó là một hình thức của nhân đức khiêm nhường cổ xưa: biết mình là thụ tạo. Adam được lấy từ adamah, con người từ đất. Tên gọi Kinh Thánh ấy như một nhắc nhở rằng con người cao quý nhưng không tự hữu. Ta có khả năng suy nghĩ về các vì sao, nhưng thân thể vẫn cần nước. Ta có thể xây vệ tinh, nhưng vẫn phải ăn những gì từ đất. Ta có thể tạo trí tuệ nhân tạo, nhưng không thể sống thiếu hơi thở. Ta có thể thao túng nhiều quá trình tự nhiên, nhưng không thoát khỏi điều kiện căn bản rằng mình là một sinh vật trong một thế giới được nhận. Ai quên mình là thụ tạo sẽ rất dễ đối xử với thụ tạo khác như đồ vật vô chủ.
Một linh đạo nghe được tiếng thụ tạo vì thế phải khởi sự từ lòng biết ơn. Biết ơn là thái độ hoàn toàn ngược với chiếm đoạt. Người biết ơn nhận ra mình đang nhận. Người chiếm đoạt nghĩ mình có quyền. Hai người có thể cùng uống một ly nước nhưng sống hai thế giới khác nhau. Một người uống mà không bao giờ nghĩ nước từ đâu đến. Người kia có thể dừng một giây để nhận ra nước là điều mình không tự tạo, một ân huệ rất bình thường nhưng tuyệt đối cần. Một người ăn mà chỉ đánh giá ngon hay dở. Người kia có thể thấy phía sau bát cơm là đất, mưa, nắng, người gieo, người gặt, người vận chuyển, người nấu. Lời tạ ơn trước bữa ăn, nếu không thành nghi thức máy móc, chính là một cuộc giáo dục cái nhìn. Ta không cầu nguyện để “làm phép” cho đồ ăn theo nghĩa biến thứ vô đạo thành thứ có đạo. Ta cầu nguyện để nhớ rằng mình là người nhận. Khi người nhận nhớ mình là người nhận, lòng tham mất bớt quyền lực.
Thánh Thể đi xa hơn nữa. Trong Thánh lễ, những thực tại rất bình thường của thụ tạo và lao động con người — bánh và rượu — được đưa vào hành vi tạ ơn và trở thành nơi Đức Kitô hiến mình. Bánh bắt đầu từ lúa mì. Rượu bắt đầu từ nho. Có đất, nước, nắng, mùa, bàn tay con người. Phụng vụ không coi vật chất là trở ngại phải vượt qua để đến với Thiên Chúa. Chính vật chất được mang vào trong lời tạ ơn. Điều đó cho linh đạo tạo dựng một nền tảng rất mạnh: ta không cứu linh hồn bằng cách khinh thân xác; không đến với Chúa bằng cách coi thế giới là vô nghĩa; không cử hành bí tích rồi bước ra ngoài nhà thờ để đối xử với vật chất như một món hàng vô chủ. Cùng một thế giới vật chất mà ta sử dụng trong đời thường cũng là thế giới có thể trở thành dấu chỉ bí tích. Nước rửa tội, dầu xức, bánh, rượu, bàn tay đặt lên, thân thể con người, tất cả cho thấy Kitô giáo không phải một tôn giáo thoát khỏi vật chất mà là một tôn giáo nhìn vật chất trong ánh sáng cứu độ.
Bởi vậy, một người Công giáo không thể nói rằng môi trường chỉ là chuyện của những nhà hoạt động xã hội, còn đời thiêng chỉ là cầu nguyện và bí tích. Chính bí tích dạy ta một cái nhìn về vật chất. Chính kinh Tin Kính bắt đầu bằng Thiên Chúa là Đấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình. Nếu câu ấy chỉ là một mệnh đề ta đọc cho đủ mà không có hậu quả trên cách sống, nó chưa thực sự đi vào lương tâm. Tin Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa nghĩa là tôi không là chủ tuyệt đối. Tin tạo thành là tốt đẹp nghĩa là tôi không có quyền tùy tiện hủy nó. Tin con người là hình ảnh Thiên Chúa nghĩa là trách nhiệm của tôi lớn hơn sức mạnh của tôi. Tin Đức Kitô nhập thể nghĩa là vật chất có thể mang sự hiện diện. Tin phục sinh thân xác nghĩa là cứu độ không phải vứt bỏ tạo thành. Tin trời mới đất mới nghĩa là lịch sử cứu độ có một chân trời vũ trụ, không chỉ một cõi linh thiêng phi vật chất.
Tuy nhiên, đừng biến tất cả điều này thành một thứ cảm xúc đẹp mà không đụng đến túi tiền và thói quen. Nếu thụ tạo là lời, ta phải để lời ấy sửa cách mình tiêu thụ. Một linh đạo tạo dựng chân thật luôn đi đến những lựa chọn cụ thể, dù không ai sống hoàn hảo. Ta mua bao nhiêu thứ chỉ vì chán cái cũ? Ta thay điện thoại khi máy cũ còn dùng được vì nhu cầu hay vì bị kéo bởi tâm lý mới hơn là tốt hơn? Ta dùng đồ rồi bỏ như thế nào? Ta có bao giờ nghĩ đến nơi rác của mình đi về đâu? Ta ăn uống với mức độ nào? Ta lãng phí thực phẩm ra sao? Ta dùng điện, nước, nhiên liệu như thể chúng vô hạn không? Ta có thói quen mua những thứ giá rất rẻ mà không hề nghĩ giá rẻ ấy có thể được trả bằng lao động rẻ, môi trường bị hủy hoặc tài nguyên bị khai thác ở nơi ta không nhìn thấy? Không phải mọi cá nhân đều đủ dữ liệu để phân định mọi sản phẩm. Không ai sống tinh sạch tuyệt đối khỏi những chuỗi kinh tế phức tạp. Nhưng linh đạo không đòi ta toàn tri. Nó đòi ta thôi vô tư.
Sự hoán cải sinh thái bắt đầu khi lương tâm không còn tách đời đạo khỏi cách sử dụng vật chất. Cùng một người đi xưng tội vì nóng giận cũng có thể học xét mình về tiêu thụ. Cùng một gia đình đọc kinh tối có thể học tạ ơn trước thức ăn, không lãng phí, dạy con giữ gìn nơi sống. Cùng một doanh nhân xin Chúa chúc lành cho công việc phải học hỏi xem lợi nhuận của mình có đang được xây trên ô nhiễm, gian dối hoặc bóc lột không. Cùng một giáo xứ tổ chức lễ lớn có thể tự hỏi lượng rác, đồ dùng một lần, lãng phí thức ăn, cách sử dụng điện nước. Những điều ấy không thay thế thờ phượng. Chúng chứng minh thờ phượng đã có chân.
Một trong những thử thách lớn nhất ở đây là ta thường chỉ yêu “thiên nhiên đẹp”. Ta thích núi đẹp, biển xanh, rừng thơ mộng, hoa đẹp, chim hót. Nhưng linh đạo tạo dựng không chỉ là thẩm mỹ. Một đầm lầy có thể không đẹp theo mắt du lịch nhưng rất quan trọng cho hệ sinh thái. Một con côn trùng ta thấy khó chịu vẫn có chỗ trong mạng lưới sự sống. Một khu rừng không thuận tiện cho người tham quan vẫn có giá trị. Một dòng sông đục phù sa không “đẹp” theo ảnh quảng cáo vẫn có chức năng sống còn. Nếu ta chỉ bảo vệ thứ mình thấy đẹp, ta vẫn đặt mình làm trung tâm. Tạo thành không tồn tại để làm phong cảnh cho cảm xúc của con người. Nó có một trật tự vượt quá sở thích của ta.
Cũng cần tránh biến linh đạo tạo dựng thành thờ thiên nhiên. Kitô giáo không nói cây là thần, sông là thần, đất là thần. Chính vì Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa nên tạo thành được giải phóng khỏi việc phải là thần. Ta không thờ mặt trời. Ta cảm tạ Đấng dựng nên mặt trời. Ta không quỳ trước đất như một thần linh. Ta biết ơn vì đất là quà tặng của Thiên Chúa. Điều này rất quan trọng, bởi một nền linh đạo lành mạnh vừa chống sự khai thác vô độ vừa chống việc thần thánh hóa tự nhiên. Nếu thiên nhiên trở thành thần, con người có thể bị xem như một thứ sai lầm của hành tinh. Kitô giáo không đi đến đó. Con người có vị trí đặc biệt, một phẩm giá đặc biệt và một ơn gọi đặc biệt. Nhưng chính vị trí đặc biệt ấy phải được hiểu như sứ mạng phục vụ sự sống, chứ không như quyền làm kẻ phá hủy.
Một hình ảnh có thể giúp ta hiểu: con người giống như người trưởng trong một gia đình lớn hơn là chủ một nhà máy. Người trưởng có quyền thật. Có trách nhiệm quyết định thật. Nhưng quyền của họ tồn tại để chăm sóc sự sống của cả nhà, nhất là kẻ yếu. Nếu người trưởng lấy hết thức ăn cho mình vì mình mạnh nhất, đó không phải lãnh đạo. Nếu người trưởng phá mái nhà lấy gỗ bán để tiêu hôm nay, đó không phải quản trị. Nếu người trưởng để lại nợ và đổ nát cho con cháu, đó là thất bại. Tương tự, thế hệ hiện tại có quyền sử dụng của cải trái đất nhưng không có quyền tiêu hết tương lai. Người chưa sinh không có phiếu bầu, không có cổ phần, không có tiếng nói trong thị trường hôm nay, nhưng họ có quyền được nhận một thế giới có thể sống được. Đức ái Kitô giáo phải đủ dài để yêu cả người ta chưa gặp.
Vấn đề môi trường vì thế luôn là vấn đề liên thế hệ và vấn đề người nghèo. Người giàu có thể mua nước sạch, máy lọc không khí, thực phẩm tốt hơn, chuyển đến nơi khác, xây nhà cao hơn, mua bảo hiểm, dùng điều hòa, thay đổi sinh kế. Người nghèo thường không có những khoảng đệm ấy. Khi đất bạc màu, họ mất kế sinh nhai. Khi biển xâm thực, nhà họ đi trước. Khi lũ lớn, khu ở của họ chịu trước. Khi không khí độc, họ ít khả năng tránh. Khi giá thực phẩm tăng, họ giảm bữa trước. Vì vậy, không thể nói yêu thụ tạo mà quên công lý. Một phong trào bảo vệ môi trường khiến người nghèo trả toàn bộ chi phí cũng có thể bất công. Nhưng một mô hình phát triển làm giàu cho số ít bằng cách để người nghèo gánh ô nhiễm lại càng bất công. Linh đạo tạo dựng luôn phải đi bằng cả hai chân: chăm sóc ngôi nhà chung và chăm sóc người dễ bị tổn thương.
Ở đây người giáo dân có một sứ mạng đặc biệt vì họ hiện diện ngay trong những nơi các quyết định về tài nguyên được đưa ra: doanh nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, năng lượng, luật pháp, tài chính, khoa học, giáo dục, quy hoạch, truyền thông, tiêu dùng. Không thể giao toàn bộ trách nhiệm này cho linh mục giảng vài bài về môi trường. Một kỹ sư Công giáo có thể sống linh đạo tạo dựng khi không giả số liệu tác động môi trường. Một chủ doanh nghiệp sống linh đạo tạo dựng khi không đẩy chất thải ra cộng đồng nghèo chỉ vì rẻ hơn. Một nông dân sống linh đạo tạo dựng khi chăm đất để đất còn sống chứ không chỉ ép sản lượng một vụ. Một kiến trúc sư sống linh đạo tạo dựng khi nghĩ đến ánh sáng, nước, nhiệt, không gian xanh và phẩm giá người ở. Một nhà làm chính sách sống linh đạo tạo dựng khi không coi lợi ích ngắn hạn của nhóm mạnh là tiêu chuẩn duy nhất. Một người nội trợ sống linh đạo tạo dựng qua cách mua, dùng và bỏ. Một người trẻ sống linh đạo tạo dựng qua cách chống văn hóa mua cho vui rồi bỏ cho nhanh. Không phải ai cũng làm điều lớn. Nhưng ai cũng sống trong một dòng vật chất nối mình với thế giới.
Muốn sống như vậy, trước hết phải lấy lại ngôn ngữ. Ngôn ngữ rất quan trọng vì cách ta gọi một điều định hình cách ta đối xử với nó. Nếu nơi nào cũng gọi đất là “quỹ đất”, rừng là “tài nguyên rừng”, biển là “nguồn lợi thủy sản”, con người dễ quên những tên khác. Ta không cần cấm các thuật ngữ chuyên môn. Ta chỉ cần không để chúng độc quyền. Một khu rừng vừa là tài nguyên, vừa là nơi sống, vừa là hệ sinh thái, vừa là lịch sử địa phương, vừa là nơi lưu giữ nước, vừa là vẻ đẹp, vừa là dấu chỉ của Đấng Tạo Hóa. Một con sông vừa là nguồn nước, vừa là con đường sinh thái, vừa là ký ức của cộng đồng, vừa là nơi sống của sinh vật, vừa là quà tặng. Một cánh đồng vừa là tài sản sản xuất, vừa là công sức tổ tiên, vừa là nơi liên kết người với mùa màng, vừa là đất mà hạt giống chết đi để sinh nhiều bông hạt. Càng có nhiều tên đúng, ta càng khó bạo hành một thực tại.
Đó cũng là lý do giáo dục trẻ em về tạo thành không nên chỉ có kiến thức môi trường. Trẻ cần biết tên cây, tên chim, mùa nào có hoa gì, mưa đến từ đâu, rác đi về đâu, thức ăn từ đâu, nước sạch không tự nhiên nằm trong vòi. Một đứa trẻ chỉ biết thế giới qua màn hình có thể biết rất nhiều hình ảnh thiên nhiên nhưng lại rất ít tương quan với một vật sống thật. Chạm đất, trồng một cây, chăm một con vật, nhìn hạt nảy mầm, đi dưới mưa, thấy mùa thay đổi — đó không phải chuyện phụ. Nó huấn luyện lòng kính trọng. Người chưa từng chăm một cái gì sống thường khó hiểu sự mong manh của sự sống. Khi trẻ làm gãy một cành cây mình vừa trồng nhiều tháng, em sẽ hiểu khác với khi chỉ được dạy bằng khẩu hiệu “hãy bảo vệ cây xanh”.
Giáo xứ và gia đình có thể trở thành những trường học của cái nhìn ấy bằng những việc rất nhỏ. Không cần biến phụng vụ thành hội thảo môi trường. Chỉ cần giúp người ta nối lời cầu nguyện với đời sống. Khi đọc Thánh Vịnh nói về trời đất, hãy để lời ấy có nghĩa. Khi cử hành mùa màng hay cầu cho thời tiết, đừng coi đó là tàn dư cổ truyền. Khi tạ ơn bữa ăn, hãy thực sự tạ ơn. Khi dạy trẻ về Sáng Thế, đừng chỉ tập trung vào cuộc tranh luận khoa học và bỏ mất điều quan trọng hơn: thế giới là quà tặng, có trật tự, có giới hạn, con người được giao trách nhiệm. Khi tổ chức sinh hoạt, hãy để trẻ có tiếp xúc với đất, cây, nước, người lao động. Khi nói về đức bác ái, hãy nói cả đến cách môi trường bị hủy làm người nghèo đau. Khi giảng về tham lam, đừng chỉ nói tham tiền trong tài khoản; hãy nói cả lòng tham lấy quá phần mình từ tài nguyên chung.
Một chiều sâu khác của thụ tạo như lời là khả năng dạy con người về cái chết và sự sống. Lá rụng, mùa thay, hạt chết dưới đất, cây trổ hoa rồi tàn, ngày đến rồi qua. Nền văn hóa hiện đại thường che cái chết, nhưng tạo thành đặt cái chết trước mắt ta trong một nhịp điệu không tuyệt vọng. Cái chết trong tự nhiên không giống toàn bộ mầu nhiệm chết của con người, nhưng nó tạo một ngôn ngữ để Đức Kitô dùng nói về chính mình: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.” Chúa lấy một biến cố rất nhỏ của nông nghiệp để nói về mầu nhiệm Vượt Qua. Hạt lúa trở thành lời. Người nông dân nhìn hạt chôn xuống đất có thể nghe mầu nhiệm phục sinh theo một cách người chỉ sống giữa kính và bê tông khó cảm được. Điều đó không làm đời nông thôn thiêng hơn đời thành thị. Nó chỉ cho thấy ta cần tìm lại những điểm chạm với tạo thành để đức tin không bị mất thân xác.
Trong thế giới đô thị, thụ tạo vẫn nói, nhưng tiếng nói dễ bị che. Một chậu cây trên ban công, ánh sáng buổi sáng trên bức tường, cơn mưa trên mái, sự thay đổi của nhiệt độ, chim làm tổ trên dây điện, một công viên nhỏ giữa thành phố — tất cả vẫn nhắc rằng bê tông không phải toàn bộ thực tại. Nhưng linh đạo tạo dựng đô thị còn phải nhìn sâu hơn: thành phố cũng được tạo từ vật liệu lấy ở đâu đó. Mỗi tòa nhà chứa cát, đá, kim loại, năng lượng và lao động. Mỗi chiếc xe cần khoáng sản. Mỗi điện thoại cần những nguyên tố được khai thác từ lòng đất. Thế giới số tưởng phi vật chất nhưng thật ra có một thân xác vật chất khổng lồ: máy chủ, dây cáp, trung tâm dữ liệu, điện, nước làm mát, thiết bị. Khi ta bấm một nút, luôn có một thế giới vật chất phía sau. Người sống đức tin trong thời kỹ thuật số cần học thấy thân xác vật chất của công nghệ, để không tưởng “đám mây” là một nơi vô trọng lượng và không hậu quả.
Điều này không dẫn đến sợ kỹ thuật. Kỹ thuật là một biểu hiện kỳ diệu của trí tuệ con người, chính trí tuệ ấy cũng là quà tặng của Thiên Chúa. Vấn đề là kỹ thuật phải ở dưới sự khôn ngoan. Ta ngày càng có nhiều khả năng làm những điều mà trước đây không thể. Nhưng câu “có thể làm không?” không bao giờ đủ. Còn phải hỏi “có nên làm không?”, “làm cho ai?”, “ai hưởng?”, “ai trả giá?”, “đến mức nào?”, “hậu quả dài hạn là gì?” Nếu không có các câu hỏi ấy, khả năng sẽ trở thành quyền lực mù. Nhiều cuộc khủng hoảng không phát sinh vì con người không đủ thông minh, mà vì trí thông minh không được hướng dẫn bởi giới hạn đạo đức.
Khi nhìn thụ tạo như lời, giới hạn không còn chỉ là trở ngại. Giới hạn cũng nói. Dòng sông có sức chịu tải. Đất có mức phục hồi. Rừng cần thời gian. Cá cần mùa sinh sản. Cơ thể cần ngủ. Tâm trí cần thinh lặng. Gia đình cần thời gian không bị công việc nuốt. Giới hạn là cấu trúc của tạo thành. Tội nguyên tổ, theo một cách nào đó, luôn có yếu tố không chịu giới hạn: “cứ ăn đi, rồi sẽ nên như Thiên Chúa.” Con người muốn nhận tất cả mà không còn ở vị trí thụ tạo. Cám dỗ ấy vẫn hiện diện trong nền văn minh kỹ trị: cái gì có thể lấy thì lấy, cái gì có thể tăng thì tăng, cái gì có thể tối ưu thì tối ưu, không cần hỏi đủ là khi nào. Linh đạo Kitô giáo phải khôi phục một từ rất quan trọng: đủ. Không phải nghèo đói cưỡng bức. Không phải ngăn phát triển chính đáng. Nhưng là biết đủ để người khác còn phần, để thế hệ sau còn phần, để chính tâm hồn mình không bị nhu cầu giả dắt đi vô tận.
Thánh Phanxicô Assisi đã gọi mặt trời là anh, mặt trăng là chị, nước là chị, lửa là anh, đất là mẹ và chị. Ngôn ngữ ấy không phải một lý thuyết sinh thái hiện đại được chiếu ngược vào thời Trung cổ. Nó phát sinh từ một kinh nghiệm thiêng liêng: mọi thụ tạo cùng đứng trước một Cha. Gọi “anh mặt trời” không có nghĩa mặt trời có phẩm giá như con người. Nó diễn tả một tương quan gia đình trong tạo thành. Nếu tất cả đều nhận hiện hữu từ cùng một Đấng, thì con người không thể nhìn mọi thứ khác chỉ như vật liệu vô danh. Danh xưng huynh đệ chữa lòng thống trị. Khi gọi một điều là “anh”, “chị”, ta tự đặt giới hạn cho quyền bạo hành. Chính trực giác ấy được Đức Phanxicô đưa lại vào trung tâm đời sống Hội Thánh khi nói về “ngôi nhà chung”. Ngôi nhà chung không chỉ là khẩu hiệu môi trường. Nó là một hình ảnh thần học. Trong một ngôi nhà, ta không thể làm ô nhiễm một phòng rồi nói phòng đó không liên quan đến mình. Khói từ bếp đi sang phòng khác. Nước bẩn ở trên chảy xuống dưới. Tiếng ồn của một người ảnh hưởng người khác. Trái đất cũng vậy. Không có cái gọi là “vứt đi” tuyệt đối. Ta chỉ chuyển thứ mình không muốn nhìn sang chỗ của một người khác.
Vì vậy, linh đạo tạo dựng cần chữa một căn bệnh rất hiện đại: xa hậu quả. Ta dùng nhưng không thấy nguồn. Ta bỏ nhưng không thấy nơi đến. Ta tiêu thụ nhưng không thấy người làm. Ta đầu tư nhưng không thấy vùng đất bị ảnh hưởng. Khoảng cách làm lương tâm ngủ. Hành vi càng xa hậu quả, ta càng dễ tưởng mình vô can. Một người không bao giờ đổ hóa chất xuống sông bằng tay có thể vẫn hưởng lợi từ một chuỗi sản xuất làm điều đó ở xa. Một người không ép công nhân có thể vẫn mua những món hàng quá rẻ nhờ một hệ thống tiền công bất công. Không phải mọi trách nhiệm đều ngang nhau. Người tiêu dùng không mang cùng trách nhiệm với người ra quyết định trực tiếp. Nhưng linh đạo trưởng thành dạy ta nhìn mạng lưới chứ không chỉ nhìn ý định cá nhân. “Tôi đâu có làm gì” chưa đủ. Ta phải hỏi: tôi đang tham gia vào điều gì?
Ở mức cá nhân, câu hỏi ấy phải đi cùng lòng thương xót để khỏi trở thành một thứ ám ảnh tinh sạch. Không ai trong xã hội phức tạp hôm nay có thể kiểm soát tất cả chuỗi cung ứng của mọi thứ mình dùng. Nếu biến linh đạo sinh thái thành cuộc truy lùng tội lỗi từng món đồ, ta sẽ sinh kiêu căng hoặc tuyệt vọng. Mục tiêu là tỉnh thức, không phải hoàn hảo bất khả. Ta học dần, thay đổi những gì có thể, ủng hộ những cấu trúc tốt hơn, chấp nhận rằng đôi khi không có lựa chọn lý tưởng, và tiếp tục phân định. Đời thiêng Kitô giáo luôn sống bằng ân sủng chứ không bằng thành tích đạo đức.
Ở mức xã hội, không thể chỉ kêu gọi cá nhân sống xanh rồi để nguyên những cấu trúc khiến họ gần như không thể chọn khác. Nếu thành phố không có giao thông công cộng hiệu quả, không thể chỉ trách từng người đi xe riêng. Nếu sản phẩm bền đắt vượt khả năng người nghèo, không thể biến tiêu dùng đạo đức thành đặc quyền người có tiền. Nếu doanh nghiệp được thưởng cho việc gây ô nhiễm rẻ hơn xử lý sạch, cần sửa luật và cơ chế. Nếu chính sách phát triển chỉ đo GDP mà không đo sức khỏe cộng đồng, chất lượng nước, sự mất rừng, bất bình đẳng, thì chính tiêu chuẩn đã méo. Linh đạo không đứng ngoài cấu trúc. Người giáo dân tham gia chính trị, kinh tế, học thuật cần đưa cái nhìn tạo thành vào chính những hệ thống đo lường và quyết định.
Tuy vậy, gốc vẫn là cái nhìn. Luật tốt có thể hạn chế cái xấu, nhưng không đủ làm con người yêu. Muốn gìn giữ lâu dài, con người phải có khả năng kính trọng. Kính trọng nảy sinh khi ta nhận ra một thực tại không hoàn toàn thuộc quyền mình. Một người chỉ tuân luật không xả rác vì sợ phạt sẽ xả khi không ai thấy. Người thấy dòng sông như một quà tặng sẽ ngần ngại hơn dù không có camera. Đó là lý do chiêm ngắm và đạo đức liên hệ chặt chẽ. Chương trước nói chiêm ngắm không phải nhìn cho biết. Chương này đi thêm một bước: khi nhìn thật, ta nghe được thụ tạo nói, và khi nghe được, ta khó đối xử với nó như vật vô tri vô chủ.
Một cái cây trước cửa nhà có thể dạy người ta nhiều điều nếu ở với nó đủ lâu. Nó không vội. Nó không chạy sang nơi khác mỗi khi thời tiết xấu. Nó nhận nắng, mưa, gió trong chính chỗ mình được trồng. Nó có mùa trổ lá và mùa trơ cành. Nó cho bóng mát mà không lập hóa đơn. Nó sống nhờ một mạng lưới dưới đất mà mắt thường không thấy. Rễ nó sâu hơn những gì ta nhìn trên mặt. Một đời người có thể học trung tín, ẩn khuất, kiên nhẫn, giới hạn từ đó. Dĩ nhiên cây không “dạy” theo nghĩa có ý thức. Nhưng con người có khả năng để thực tại đánh thức mình. Đó chính là cái nhìn bí tích rộng của truyền thống Kitô giáo: không phải mọi vật đều là bí tích theo nghĩa bảy bí tích, nhưng thế giới vật chất có khả năng trở thành dấu chỉ dẫn người đến Đấng vô hình.
Nước cũng nói. Nước mềm nhưng có thể mài đá. Nước luôn tìm chỗ thấp. Nước rửa. Nước làm sống. Nước cũng có thể phá hủy khi vượt giới hạn. Không lạ khi Kinh Thánh dùng nước từ đầu đến cuối: nước nguyên thủy, nước lụt, Biển Đỏ, nước từ tảng đá, sông Giođan, nước Đức Giêsu xin người phụ nữ Samari, nước và máu từ cạnh sườn, nước Rửa tội, dòng sông sự sống trong Khải Huyền. Một người Công giáo mở vòi nước mỗi ngày rất nhiều lần mà không bao giờ nghĩ đến chiều sâu biểu tượng ấy thì không có tội gì đặc biệt, nhưng đời sống có thể trở nên nghèo. Linh đạo làm cho những vật bình thường lại có chiều sâu, không bằng cách tưởng tượng phép lạ ở mọi nơi, nhưng bằng cách nhớ.
Ánh sáng cũng nói. Ta cần ánh sáng để thấy, nhưng thường không thấy chính ánh sáng. Kinh Thánh lấy ánh sáng làm ngôn ngữ đầu tiên của tạo dựng và một trong những ngôn ngữ lớn nhất để nói về Thiên Chúa. Đức Kitô là ánh sáng thế gian. Người môn đệ được gọi là ánh sáng cho đời. Thành thánh không cần mặt trời vì vinh quang Thiên Chúa chiếu sáng. Một tia nắng đi qua cửa sổ không phải là Đức Kitô theo nghĩa đồng nhất, nhưng có thể nhắc người cầu nguyện rằng mọi khả năng thấy đều là quà. Trong một thế giới đầy ánh sáng nhân tạo, ta dễ quên bóng tối thật và ánh sáng thật. Ta có thể sống giữa màn hình sáng đến nửa đêm nhưng tâm hồn tối. Tạo thành nhắc rằng ánh sáng cũng có nhịp, ngày và đêm. Không phải lúc nào cũng phải sáng. Bóng tối của đêm cũng có vai trò cho nghỉ ngơi. Ngay ở đây, thụ tạo lại nói về giới hạn.
Đất nói bằng một thứ ngôn ngữ khiêm hạ nhất. Ta bước lên đất, làm bẩn giày vì đất, quét đất khỏi nhà. Nhưng từ đất mọc thức ăn. Con người được dựng từ bụi đất. Khi chết, thân xác trở về đất. Linh mục rắc tro nói: “Hãy nhớ mình là bụi đất.” Không phải để hạ nhục con người, nhưng để trả con người về sự thật. Ta là bụi đất được Thiên Chúa thổi hơi sống. Cả hai phải đi cùng nhau. Quên bụi đất sinh kiêu ngạo. Quên hơi thở Thiên Chúa sinh tuyệt vọng. Đất giữ hai chân ta trong sự thật: cao quý nhưng không tự hữu, được yêu nhưng hữu hạn.
Các loài vật cũng nói. Chúng cho thấy sự sống không chỉ có một hình thức. Một thế giới chỉ còn những loài hữu ích cho con người sẽ rất nghèo. Kinh Thánh đầy loài vật: chim, cá, chiên, dê, lừa, sư tử, đại bàng, rắn, kiến. Đức Giêsu sinh ra nơi có máng cỏ. Người được gọi là Chiên Thiên Chúa. Thần Khí xuất hiện như chim bồ câu. Con vật không phải con người, nhưng cách ta đối xử với chúng cũng cho thấy tâm hồn ta. Tàn nhẫn với vật sống dễ huấn luyện tâm hồn thành tàn nhẫn. Ngược lại, chăm sóc một con vật có thể dạy trách nhiệm và dịu dàng. Ta vẫn có thể sử dụng động vật cho thực phẩm và các mục đích chính đáng theo truyền thống đạo đức Kitô giáo, nhưng việc sử dụng ấy không bao giờ là giấy phép cho sự hành hạ vô nghĩa.
Một linh đạo trưởng thành cũng biết đau trước sự mất mát của tạo thành mà không rơi vào tuyệt vọng. Có những khu rừng sẽ không trở lại trong đời ta. Có những loài đã tuyệt chủng. Có những dòng sông khó phục hồi. Có những vùng đất bị tổn thương nặng. Người tin không được dùng niềm hy vọng như thuốc gây tê: “Sau này Chúa làm trời mới đất mới, nên thôi.” Hy vọng Kitô giáo không miễn trừ trách nhiệm. Vì tin Thiên Chúa sẽ hoàn tất tạo thành, ta càng tôn trọng công trình Người, không phải càng coi thường. Cũng như tin thân xác sẽ sống lại không cho phép ta phá sức khỏe. Tin sự sống đời sau không cho phép ta bất công đời này. Tin trời mới đất mới không cho phép ta làm đất cũ thành địa ngục cho người nghèo.
Ngược lại, ta cũng không tuyệt vọng như thể toàn bộ cứu độ tùy vào nỗ lực của con người. Con người phải hành động, nhưng không cứu được thế giới bằng sức mình. Thụ tạo rên siết, và chính chúng ta cũng rên siết. Kitô giáo nhìn thẳng sự đổ vỡ của tội nhưng không coi đổ vỡ là lời cuối. Đức Kitô phục sinh mang một thân xác đã chịu thương tích. Điều ấy rất đẹp cho thần học tạo dựng: cứu độ không xóa lịch sử vật chất mà biến đổi nó. Các dấu đinh vẫn còn nhưng thân xác không còn bị sự chết thống trị. Tương tự, hy vọng Kitô giáo hướng đến sự đổi mới chứ không phải vứt bỏ tạo thành như rác của một công trình cũ.
Tất cả điều đó dẫn tới một lối sống thiêng liêng rất đơn sơ: tập gọi sự vật bằng nhiều hơn giá tiền. Khi thấy một cánh đồng, đừng chỉ hỏi giá đất. Khi thấy một khu rừng, đừng chỉ hỏi khai thác được gì. Khi thấy một dòng sông, đừng chỉ hỏi có thể xây gì trên đó. Khi thấy một con người, càng đừng chỉ hỏi họ giúp được gì cho mình. Hãy tập thêm một câu hỏi: điều này đang nói gì với tôi về Đấng đã dựng nên nó? Không phải lúc nào ta cũng có câu trả lời. Chính việc đặt câu hỏi đã là một cuộc chữa mắt.
Có thể một ngày, người tín hữu đứng trước một cái cây và không có trải nghiệm thiêng liêng đặc biệt nào. Không cần ép. Chiêm ngắm không phải sản xuất cảm xúc. Chỉ cần đứng đủ lâu để cái cây thôi là nền phía sau cho những suy nghĩ của mình. Nhìn vỏ cây, bóng lá, cành khô, những vết cắt, côn trùng, rễ nổi. Nhận ra nó đã ở đây qua bao mùa. Nhận ra mình không làm nó lớn lên. Nhận ra một ngày nó sẽ chết, như mình. Nhận ra hôm nay nó vẫn cho bóng. Rồi thưa một lời rất ngắn: “Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa vì điều này hiện hữu.” Một lời như thế có thể chữa nhiều năm sống trong não trạng sở hữu.
Khi con người học tạ ơn vì sự hiện hữu của một điều trước khi hỏi công dụng của nó, trái tim bắt đầu trở lại trật tự. Vợ tôi không chỉ có ích cho tôi. Chồng tôi không chỉ là người kiếm tiền. Con tôi không chỉ là thành tích. Nhân viên không chỉ là năng suất. Người già không chỉ là gánh nặng. Người nghèo không chỉ là đối tượng bác ái. Cây không chỉ là gỗ. Nước không chỉ là mét khối. Điện không chỉ là kilowatt giờ. Đất không chỉ là mét vuông. Mỗi điều có một vị trí trong mạng lưới quà tặng lớn hơn tôi. Cái nhìn sinh thái lành mạnh vì thế cuối cùng cũng chữa các tương quan nhân bản. Nó dạy ta thôi dùng mọi thứ và mọi người.
Đây có lẽ là một trong những cuộc hoán cải khó nhất của thời đại: từ người tiêu thụ trở lại làm thụ tạo. Người tiêu thụ hỏi: tôi lấy được gì? Thụ tạo hỏi: tôi đã nhận gì? Người tiêu thụ hỏi: còn gì mới hơn? Thụ tạo hỏi: điều đang có đã đủ chưa? Người tiêu thụ hỏi: thứ này đem lại trải nghiệm gì cho tôi? Thụ tạo hỏi: tôi phải đáp lại thế nào cho xứng với quà đã nhận? Người tiêu thụ nhìn thế giới như cửa hàng. Thụ tạo nhìn thế giới như nhà. Người tiêu thụ luôn đứng trước vật như chủ. Thụ tạo biết quỳ trước Đấng Tạo Hóa.
Khi ấy, từ “tài nguyên” được đặt lại vào đúng chỗ. Nó không bị cấm. Nó được cứu khỏi độc quyền. Ta có thể nói tài nguyên nước mà vẫn biết nước là quà. Có thể nói nguồn năng lượng mà vẫn biết ánh sáng và gió không chỉ tồn tại cho lợi nhuận. Có thể nói khai thác rừng trong giới hạn hợp lý mà vẫn biết rừng không chỉ là gỗ. Có thể làm kinh tế mà không biến thế giới thành hàng hóa tuyệt đối. Có thể phát triển mà không đồng nhất phát triển với tiêu thụ nhiều hơn mãi mãi. Có thể sử dụng mà vẫn kính trọng. Có thể sở hữu mà vẫn biết mình là người quản lý. Có thể xây dựng mà vẫn để lại chỗ cho sự sống khác mình.
Và có lẽ dấu chỉ rõ nhất của một tâm hồn đã học lại điều này là nó bắt đầu biết đau khi một thụ tạo bị đối xử chỉ như đồ vật, nhưng không đau theo kiểu lãng mạn yếu mềm. Đó là nỗi đau đi cùng trách nhiệm. Thấy một dòng sông bẩn thì không chỉ than “ngày xưa đẹp quá”, nhưng hỏi mình và cộng đồng có thể làm gì. Thấy rừng bị phá thì không chỉ chia sẻ một tấm ảnh buồn, nhưng xem những lựa chọn kinh tế nào đang góp phần vào đó. Thấy người nghèo bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm thì không tách môi trường khỏi công lý. Thấy mình cũng dự phần vào một hệ thống khó tránh thì không tự kết án, nhưng tìm cách sống tỉnh thức hơn.
Thụ tạo vẫn nói. Vấn đề không phải Chúa đã ngừng nói qua công trình của Người. Vấn đề là tiếng máy, tiếng quảng cáo, tiếng mua bán, tiếng màn hình, tiếng vội của chính chúng ta đã lấn át quá nhiều. Một khu rừng không cần nói to. Một hạt giống không cần tranh luận. Một giọt nước không viết bài thần học. Chúng chỉ hiện hữu theo bản tính được trao. Và chính sự hiện hữu ấy có thể trở thành một lời cho ai còn biết nghe: ngươi không tự tạo nên mình; ngươi không phải chủ tuyệt đối; ngươi đang sống nhờ những gì mình không làm ra; cái đẹp không phải lúc nào cũng có giá; sự sống cần thời gian; giới hạn không phải kẻ thù; nhận trước rồi mới dùng; tạ ơn trước rồi mới khai thác; gìn giữ trước khi quá muộn.
Cái cây vì thế không chỉ hỏi ta có cần gỗ không. Nó hỏi mắt ta còn biết nhìn không. Dòng sông không chỉ hỏi ta cần bao nhiêu mét khối nước. Nó hỏi lòng ta còn biết nhận mình là người uống nhờ không. Đất không chỉ hỏi giá mỗi mét vuông. Nó hỏi con người còn nhớ mình từ bụi đất mà ra không. Ánh sáng không chỉ hỏi bao nhiêu megawatt. Nó hỏi ta còn biết ngước lên không. Và toàn thể tạo thành, trước mọi bảng giá và quy hoạch, dường như vẫn âm thầm lặp lại lời đầu tiên mà chính sự hiện hữu của nó đã nhận được: Thiên Chúa phán, và nó có. Chính vì đã được gọi mà nó hiện hữu. Chính vì hiện hữu bởi Lời nên trước khi là tài nguyên trong tay con người, nó đã là một lời hướng con người về Thiên Chúa.
Nếu ta học lại điều ấy, ta sẽ không ngừng dùng thế giới, nhưng sẽ dùng khác. Không ngừng phát triển, nhưng sẽ hỏi phát triển để làm gì. Không ngừng xây dựng, nhưng sẽ biết có những thứ cần để yên. Không ngừng khai thác, nhưng sẽ biết có giới hạn. Không ngừng sở hữu, nhưng sẽ nhớ tất cả cuối cùng đều là của nhận. Và có lẽ khi ấy, một cái cây sẽ không phải chết hai lần. Nếu buộc phải đốn nó vì một nhu cầu chính đáng, ít nhất nó đã không chết trước trong tâm hồn ta. Ta đã nhìn nó như một thụ tạo trước khi nhìn như gỗ, như một quà tặng trước khi nhìn như vật liệu, như một lời trước khi nhìn như tài nguyên. Chính thứ tự ấy là điều cần được cứu. Bởi khi thứ tự được cứu, cả việc sử dụng cũng có cơ hội được cứu. Và khi con người biết nghe thụ tạo nói, họ cũng bắt đầu nghe rõ hơn lời của Đấng đã phán từ thuở ban đầu: mọi sự không phải của ngươi trước hết; mọi sự là quà, và ngươi được trao để canh tác, gìn giữ, tạ ơn và trao lại.

CHƯƠNG 3. SÁCH SÁNG THẾ: “THIÊN CHÚA THẤY MỌI SỰ ĐỀU TỐT ĐẸP”
Có những câu Kinh Thánh ta đã nghe quá nhiều đến mức tưởng mình đã hiểu. “Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp” là một trong những câu như thế. Từ những trang đầu tiên của Sách Sáng Thế, điệp khúc ấy cứ trở lại sau từng nhịp tạo thành: ánh sáng xuất hiện, Thiên Chúa thấy ánh sáng là tốt đẹp; đất và biển được phân định, cây cỏ mọc lên, các tinh tú được đặt vào trời cao, cá dưới nước, chim trên không, thú vật trên đất, rồi cuối cùng là con người, và Thiên Chúa nhìn lại toàn thể công trình của Người: “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp.” Ta dễ đọc qua câu ấy như một nét văn chương đẹp, một điệp khúc có tác dụng làm cho bài thơ tạo dựng cân đối và trang trọng. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì ta đã bỏ mất một tuyên bố thần học có sức quyết định cho toàn bộ cách người tín hữu nhìn thế giới. “Tốt đẹp” ở đây không phải lời khen xã giao của Đấng Tạo Hóa dành cho sản phẩm Người vừa hoàn thành. Đó là phán quyết của chính Thiên Chúa về giá trị của thụ tạo. Trước khi con người định giá cây rừng bằng bao nhiêu mét khối gỗ, trước khi người ta tính một con sông có bao nhiêu MW thủy điện, một ngọn núi chứa bao nhiêu tấn quặng, một khu đất đáng bao nhiêu tiền, một con vật đem lại bao nhiêu lợi nhuận, thì Thiên Chúa đã nhìn tất cả những thực tại ấy và gọi chúng là tốt đẹp. Trước mọi bảng giá của thị trường đã có một phán quyết của Thiên Chúa. Trước mọi phép tính kinh tế đã có một lời chúc lành. Trước khi thụ tạo có giá sử dụng đối với con người, thụ tạo đã có giá trị trong ánh mắt của Đấng Tạo Hóa.
Điều này nghe đơn giản nhưng hệ quả của nó rất lớn. Nếu thụ tạo tốt đẹp bởi vì Thiên Chúa đã muốn nó hiện hữu, thì giá trị của thụ tạo không hoàn toàn lệ thuộc vào việc nó có hữu dụng cho con người hay không. Một cánh rừng không chỉ có giá trị vì nó cung cấp gỗ. Một dòng sông không chỉ có giá trị vì nó cung cấp nước tưới, thủy điện hay giao thông. Một loài chim không chỉ có giá trị nếu nó đẹp để ngắm, ngon để ăn hay hữu ích cho nông nghiệp. Một vùng đất ngập nước không phải vô dụng chỉ vì người ta chưa xây được trên đó một khu đô thị. Một ngọn núi không phải lãng phí chỉ vì chưa được khai thác khoáng sản. Một bãi biển không phải chỉ là mặt bằng du lịch đang chờ vốn đầu tư. Tất cả những thực tại ấy đã có một phẩm giá tạo thành trước khi bước vào bất kỳ kế hoạch kinh tế nào của chúng ta. Chúng tồn tại bởi một ý muốn yêu thương của Thiên Chúa. Và chính vì thế, thái độ đầu tiên của con người trước thụ tạo không thể là chiếm hữu, nhưng phải là đón nhận. Không phải trước hết là “tôi có thể lấy gì từ đây?”, mà là “điều gì đang được trao cho tôi ở đây?”. Không phải “nó đem lại bao nhiêu?”, mà là “nó nói gì về Đấng đã dựng nên nó?”. Cái nhìn tạo thành của Kinh Thánh luôn đi trước cái nhìn khai thác. Khi đảo ngược thứ tự ấy, con người bắt đầu nguy hiểm.
Sách Sáng Thế không ngây thơ về thế giới. Nó không nói rằng mọi thứ đều hoàn hảo theo nghĩa không còn có thể phát triển, không cần sự chăm sóc, không có giới hạn, không có nguy cơ hay xung đột. Khi Thiên Chúa nói thụ tạo tốt đẹp, Người không nói thế giới đã hoàn tất theo nghĩa bất động. Tốt đẹp không đồng nghĩa với đóng kín. Thiên Chúa trao vườn cho con người “canh tác và gìn giữ”. Nghĩa là thụ tạo có thể và cần được cộng tác, được vun trồng, được phát triển, được làm cho sinh hoa trái. Con người không phải kẻ đứng ngoài thiên nhiên như khách tham quan bảo tàng. Con người được mời tham gia vào công trình tạo dựng. Ta cày ruộng, đào giếng, xây nhà, làm đường, chữa bệnh, thuần hóa cây trồng, phát triển khoa học, sáng chế kỹ thuật, tổ chức thành phố. Tất cả những điều ấy tự nó không phản lại Sáng Thế. Trái lại, chúng có thể là cách con người thực hiện ơn gọi làm hình ảnh Thiên Chúa: dùng trí tuệ và tự do để chăm sóc, tổ chức, hoàn thiện những khả năng đang nằm trong tạo thành. Vấn đề không nằm ở việc con người tác động lên thiên nhiên. Vấn đề nằm ở cách tác động. Có một khác biệt rất lớn giữa canh tác và tàn phá, giữa khai thác có trách nhiệm và chiếm đoạt, giữa sử dụng và tiêu diệt, giữa làm cho đất sinh hoa trái và vắt đất đến chết.
Bởi thế, câu “Thiên Chúa thấy mọi sự đều tốt đẹp” đặt một giới hạn căn bản cho quyền lực của con người. Nếu tạo thành là tốt đẹp trước mặt Thiên Chúa, tôi không có quyền đối xử với nó như thể nó hoàn toàn thuộc quyền định đoạt của tôi. Quyền sử dụng không bao giờ đồng nghĩa với quyền tuyệt đối. Tôi có thể sở hữu một mảnh đất về mặt pháp lý, nhưng trước mặt Thiên Chúa, tôi không phải chủ tối hậu của đất. Tôi có thể mua một cánh rừng, nhưng tôi không mua được quyền xóa bỏ ý nghĩa tạo thành của cánh rừng ấy. Tôi có thể nắm cổ phần một công ty khai thác khoáng sản, nhưng tôi không vì thế trở thành Thiên Chúa của lòng đất. Tôi có thể có quyền pháp lý trên một nguồn nước, nhưng nước vẫn là quà tặng tạo thành cần cho sự sống của nhiều người và nhiều loài. Kinh Thánh đặt mọi sở hữu của con người dưới một sự thật sâu hơn: “Đất là của Đức Chúa.” Con người sở hữu theo nghĩa tương đối, quản lý theo nghĩa ủy thác, sử dụng trong giới hạn của công ích, và phải trả lời trước Đấng đã dựng nên mọi sự.
Đây là điểm mà đời sống thiêng liêng và sinh thái gặp nhau. Nhiều người nghĩ sinh thái là chuyện của khoa học môi trường, của chính sách khí hậu, của những người hoạt động xã hội. Nhưng đối với người Kitô hữu, sinh thái trước hết bắt đầu ở thần học về tạo thành. Nếu tôi tin Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, thì thế giới không còn là một kho nguyên liệu vô chủ. Nếu tôi tin Thiên Chúa nhìn tạo thành và gọi nó là tốt đẹp, thì tôi không thể vừa đọc Kinh Tin Kính “Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất” vừa sống như thể trời đất không có Cha. Có thể một người thuộc lòng rất nhiều kinh, nhưng nếu họ coi thiên nhiên chỉ là vật liệu để sử dụng, coi nước như đồ vô tận, coi đất như thứ có thể đầu độc miễn mình có lời, coi con vật như máy sản xuất, coi những thế hệ mai sau như những người không có quyền lên tiếng, thì đức tin vào Đấng Tạo Hóa của họ vẫn chưa đi hết xuống đời sống. Đạo đức tạo thành không phải phần phụ của đời thiêng. Nó là một trong những hậu quả rất cụ thể của việc tuyên xưng Thiên Chúa là Cha và là Đấng dựng nên trời đất.
Cũng từ đây, ta hiểu tại sao những khuynh hướng khinh miệt vật chất luôn là một cám dỗ nguy hiểm đối với Kitô giáo. Trong lịch sử đã từng có những trào lưu nhìn vật chất như nguyên lý xấu, thân xác như nhà tù của linh hồn, thế giới hữu hình như sản phẩm thấp kém cần phải trốn khỏi. Manichê là một ví dụ nổi bật của não trạng nhị nguyên như thế. Kitô giáo đã phải chống lại rất mạnh mẽ thứ quan niệm này vì nó đi ngược lại nền tảng của mạc khải Kinh Thánh. Thiên Chúa không dựng nên một thế giới xấu. Vật chất không phải lỗi lầm của Thiên Chúa. Thân xác không phải tai nạn đáng tiếc xảy ra cho linh hồn. Đất không phải vùng thấp kém mà người đạo đức phải khinh để hướng lên trời. Nếu vật chất tự nó xấu, thì mầu nhiệm Nhập Thể trở thành không thể hiểu nổi. Nhưng Ngôi Lời đã làm người. Người nhận lấy thân xác. Người được cưu mang trong cung lòng một người nữ, được sinh ra, bú sữa, lớn lên, ăn uống, lao động, chạm vào người bệnh, khóc, đổ mồ hôi, chịu đóng đinh trong thân xác và sống lại với thân xác được biến đổi. Thiên Chúa cứu con người không bằng cách giải thoát con người khỏi vật chất, nhưng bằng cách đi vào chính thân phận vật chất ấy. Vì thế, khinh thân xác là đi ngược lại Nhập Thể; khinh đất là quên Sáng Thế; khinh vật chất là làm nghèo mầu nhiệm cứu độ.
Tất nhiên, truyền thống Kitô giáo có những lời rất mạnh về việc từ bỏ thế gian, khổ chế thân xác, chống lại dục vọng. Nhưng phải phân biệt. “Thế gian” trong nhiều văn bản thiêng liêng không có nghĩa là tạo thành vật chất, mà là hệ thống dục vọng, kiêu ngạo, bạo lực và tội lỗi chống lại Thiên Chúa. “Hãm mình” không có nghĩa ghét thân xác, mà là đưa thân xác vào tự do của tình yêu. “Từ bỏ” không có nghĩa tuyên bố mọi vật chất là xấu, mà là không để bất cứ thụ tạo nào chiếm chỗ của Thiên Chúa. Chính vì thụ tạo tốt đẹp nên nó có thể trở thành con đường dẫn tới Thiên Chúa; và cũng chính vì thụ tạo tốt đẹp nên nó có thể trở thành ngẫu tượng nếu con người chiếm hữu nó sai cách. Rượu tốt đẹp, nhưng nghiện rượu phá hủy. Tiền bạc có thể phục vụ điều thiện, nhưng lòng tham biến tiền thành thần. Thân xác tốt đẹp, nhưng dục vọng có thể làm méo tình yêu. Đất đai tốt đẹp, nhưng lòng tham đất có thể biến anh em thành kẻ thù. Do đó, Kitô giáo không dạy ghét thụ tạo. Kitô giáo dạy yêu thụ tạo đúng trật tự.
Ở đây ta có thể nói tới một cuộc hoán cải của cái nhìn. Một trong những hậu quả sâu nhất của tội là cái nhìn trở nên tham lam. Trước một cây cổ thụ, người ta không còn thấy tuổi đời, bóng mát, chim làm tổ, rễ giữ đất, vẻ đẹp, lịch sử của một nơi, mà chỉ thấy giá gỗ. Trước một mảnh ruộng, không còn thấy đất nuôi người, mồ hôi của nhiều thế hệ, những mùa gieo gặt, mà chỉ thấy giá chuyển đổi mục đích sử dụng. Trước một dòng sông, không còn thấy nơi trẻ em từng tắm, nơi người dân sống, hệ sinh thái vận hành, mà chỉ thấy khả năng khai thác cát. Trước một con vật, không còn thấy sinh vật sống theo cách Thiên Chúa đã gọi nó vào hiện hữu, mà chỉ thấy kilôgam thịt. Cái nhìn ấy không sai vì kinh tế là xấu. Sai ở chỗ kinh tế trở thành ngôn ngữ duy nhất. Một khi mọi thứ chỉ còn được nói bằng giá tiền, thế giới mất tiếng nói thần học của nó. Khi ấy, con người không còn sống giữa thụ tạo; họ sống giữa hàng hóa.
Sách Sáng Thế chữa căn bệnh ấy bằng một câu rất ngắn: “Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp.” Thiên Chúa nhìn trước khi con người nhìn. Cái nhìn của Người trở thành chuẩn để sửa cái nhìn của ta. Chúng ta cần học nhìn một lần nữa. Nhìn đất không chỉ là tài sản. Nhìn nước không chỉ là hàng hóa. Nhìn cây không chỉ là gỗ. Nhìn biển không chỉ là ngư trường. Nhìn núi không chỉ là mỏ. Nhìn con vật không chỉ là thực phẩm. Thậm chí nhìn chính thân xác mình không chỉ là công cụ sản xuất, công cụ hấp dẫn, công cụ trình diễn hay thứ phải tối ưu hóa. Thân xác tôi cũng là tạo thành. Khi tôi hành hạ thân xác bằng lao động không nghỉ, nghiện ngập, thiếu ngủ, ăn uống vô độ, ám ảnh ngoại hình, tôi cũng có thể đang từ chối giới hạn tạo thành của chính mình. Linh đạo sinh thái vì thế không dừng ở cây xanh và rác thải. Nó liên quan tới cách ta sống với chính thân xác mình.
Điểm đặc biệt của ngày thứ sáu là con người được tạo dựng “theo hình ảnh Thiên Chúa”. Đây là một trong những câu lớn nhất của toàn bộ Kinh Thánh về phẩm giá con người. Trong thế giới cổ đại, hình ảnh của vua được đặt ở những nơi xa để biểu thị quyền hiện diện của vua tại đó. Khi Sáng Thế nói mọi con người, nam và nữ, được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, bản văn đang đưa ra một tuyên bố rất mạnh: không chỉ vua, không chỉ tư tế, không chỉ người quyền thế, mà mọi người đều mang phẩm giá đặc biệt trước Thiên Chúa. Con người được trao một trách nhiệm riêng trong tạo thành bởi vì họ là hình ảnh của Đấng Tạo Hóa. Nhưng ở đây cũng có một nghịch lý: chính câu Kinh Thánh ban cho con người phẩm giá cao nhất lại đã nhiều lần bị hiểu sai để biện minh cho sự thống trị vô giới hạn trên thiên nhiên. “Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời và mọi giống vật” đôi khi bị đọc như tờ giấy phép cho phép con người làm bất cứ điều gì mình muốn với phần còn lại của tạo thành.
Nhưng nếu con người là hình ảnh Thiên Chúa, câu hỏi quyết định phải là: Thiên Chúa làm chủ bằng cách nào? Thiên Chúa của Sáng Thế không phải bạo chúa phá hủy những gì Người cai trị. Người làm phát sinh sự sống. Người phân định hỗn mang để tạo không gian cho muôn loài. Người ban sự sống, chúc phúc, nhìn và vui vì thụ tạo. Quyền của Thiên Chúa là quyền làm cho hiện hữu. Vì thế, quyền làm chủ được giao cho con người chỉ có thể là quyền đại diện cho một Đấng Tạo Hóa yêu sự sống. Nếu cách thống trị của con người làm cho đất chết, nước độc, loài tuyệt chủng, người nghèo bị đẩy đi, những thế hệ sau không còn chỗ sống, thì đó không còn là thực thi hình ảnh Thiên Chúa. Đó là phản hình ảnh Thiên Chúa. Con người có quyền trên tạo thành, nhưng quyền ấy phải mang hình thức của phục vụ. Càng có khả năng tác động lớn, con người càng mang trách nhiệm lớn.
Khoa học và kỹ thuật hiện đại làm vấn đề này trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Một người nông dân thời cổ có thể làm hại một mảnh ruộng. Một nền văn minh kỹ thuật có thể thay đổi cả khí hậu. Một người thợ săn có thể giết vài con thú. Một hệ thống công nghiệp có thể đẩy cả loài đến tuyệt chủng. Một làng có thể làm ô nhiễm một dòng suối nhỏ. Một nền kinh tế toàn cầu có thể tạo ra biển nhựa. Khi quyền lực tăng, trách nhiệm đạo đức cũng phải tăng tương ứng. Nhưng bi kịch của văn minh hiện đại là kỹ thuật thường phát triển nhanh hơn lương tâm. Chúng ta có thể làm rất nhiều điều trước khi kịp hỏi liệu có nên làm không. Ta có thể đào sâu hơn, khai thác xa hơn, sản xuất nhanh hơn, vận chuyển nhiều hơn, tiêu thụ lớn hơn. Và chính khả năng ấy tạo ra một ảo tưởng nguy hiểm: cái gì có thể làm thì được phép làm. Kinh Thánh phá vỡ ảo tưởng ấy. Không. Khả năng kỹ thuật không tự động là chuẩn đạo đức. Quyền lực không tự sản sinh quyền chính đáng.
Ngày thứ sáu trong Sáng Thế vì vậy không cho con người một chiếc ngai để ngồi lên đầu tạo thành, nhưng trao cho họ một trách nhiệm. Con người đứng trong tạo thành, không đứng ngoài tạo thành. Cơ thể ta từ đất mà ra. Ta thở nhờ không khí, sống nhờ nước, ăn những gì đất sinh, mang trong máu những nguyên tố của vũ trụ. Về sinh học, ta phụ thuộc vào một mạng lưới sự sống rộng lớn. Về thần học, ta là thụ tạo trước khi là quản lý thụ tạo. Đây là điểm rất quan trọng. Ta có thể dễ dàng nói về trách nhiệm chăm sóc trái đất bằng giọng của người đứng trên cao ban ơn cho thiên nhiên. Nhưng thực ra trái đất không cần ta theo nghĩa ta nghĩ. Ta cần trái đất. Rừng có thể sống không có thành phố của ta; thành phố của ta không thể sống nếu không có những hệ sinh thái cung cấp khí, nước, lương thực và điều hòa khí hậu. Con người không cứu thiên nhiên như một ông chủ tốt bụng cứu người làm. Con người học sống đúng trong ngôi nhà mà chính mình cũng lệ thuộc.
Sự thật ấy dẫn ta tới ngày thứ bảy, có lẽ là phần sâu sắc nhất của trình thuật tạo thành nếu đọc từ góc nhìn linh đạo sinh thái. Thiên Chúa nghỉ. Một câu thật lạ. Thiên Chúa có mệt không? Dĩ nhiên trình thuật không nói Thiên Chúa kiệt sức vì sáu ngày làm việc. Nghỉ ở đây mang ý nghĩa thần học. Công trình tạo dựng có nhịp. Có làm và có dừng. Có sinh sản và có giới hạn. Có hoạt động và có chiêm ngắm. Ngày thứ bảy được thánh hóa không phải vì con người làm thêm một việc đạo đức, mà vì con người ngừng làm. Đây là một điều rất khó hiểu đối với văn hóa hiệu suất. Ta thường nghĩ cái gì có giá trị thì phải tạo ra sản phẩm. Ngồi yên là lãng phí. Nghỉ là yếu. Không làm gì là vô ích. Một nền kinh tế bị ám bởi tăng trưởng sẽ nhìn thời gian nghỉ như thời gian mất doanh thu. Một con người bị ám bởi thành tựu sẽ thấy nghỉ ngơi có lỗi. Nhưng Sáng Thế nói một điều khác: có một sự thánh thiện trong việc dừng lại.
Ngày Sabát là lời tuyên bố rằng thế giới không cần con người điều khiển liên tục mới tồn tại. Khi ta nghỉ, mặt trời vẫn mọc. Cây vẫn quang hợp. Trái đất vẫn quay. Tim vẫn đập mà ta không ra lệnh. Ngủ là một hành vi tín thác rất sâu: trong nhiều giờ, ta buông quyền kiểm soát và thế giới vẫn tiếp tục. Mỗi đêm, thân xác buộc ta phải thú nhận rằng ta không phải Thiên Chúa. Người không chịu nghỉ có thể đang mang một thứ kiêu ngạo rất tinh vi: mọi thứ phải có tôi mới chạy. Sabát chữa căn bệnh ấy. Nó nói: dừng lại đi, để nhớ rằng có một Đấng khác đang giữ thế giới.
Linh đạo sinh thái vì thế bắt đầu không chỉ bằng việc làm thêm nhiều hoạt động bảo vệ môi trường, mà còn bằng học nghệ thuật không làm. Không mua. Không chạy. Không sản xuất. Không tiêu thụ. Không chạm vào mọi thứ. Không biến mọi khoảng đất thành dự án. Không biến mọi giờ trong ngày thành công việc. Không biến mọi giây chú ý thành nội dung. “Dừng” là một động từ thiêng liêng. Rất nhiều cuộc khủng hoảng sinh thái sinh ra từ việc con người không biết đủ. Đã đủ lợi nhuận nhưng vẫn muốn thêm. Đã đủ nhà nhưng vẫn mua. Đã đủ đồ nhưng vẫn tiêu thụ. Đã khai thác đủ nhưng vẫn đào. Đã đánh bắt đủ nhưng vẫn kéo lưới. Đã làm việc đủ nhưng vẫn mở máy. Không có khả năng dừng thì không có sinh thái bền vững, bởi vì trái đất hữu hạn trong khi lòng tham có thể vô hạn.
Ngày thứ bảy cũng bảo vệ người nghèo. Trong luật Sabát của Israel, không chỉ chủ nhà nghỉ. Con cái, người tôi tớ, khách ngoại kiều, thậm chí súc vật cũng được nghỉ. Đây là điều rất đẹp: nghỉ không phải đặc quyền của người có tiền. Một xã hội chỉ cho người giàu quyền nghỉ trong khi người nghèo phải làm liên tục để sống là một xã hội phản Sabát. Nếu tôi nghỉ cuối tuần nhờ người khác phải phục vụ tôi không ngừng, cần suy nghĩ lại ý nghĩa của nghỉ. Nếu những sản phẩm giá rẻ tôi mua được tạo ra bởi người lao động làm việc kiệt sức, thì sự tiện nghi của tôi có thể được xây trên việc người khác không được Sabát. Linh đạo sinh thái và công bằng xã hội không thể tách nhau. Đất bị bóc lột và người nghèo bị bóc lột thường bởi cùng một logic: lấy tối đa với chi phí tối thiểu. Một nền kinh tế không biết dừng với đất thường cũng không biết dừng với thân thể người lao động.
Bởi thế, giới hạn không phải kẻ thù của tự do. Đây là một trong những bài học khó nhất của Sáng Thế. Tạo thành xuất hiện qua những phân định: ánh sáng và bóng tối, nước trên và nước dưới, biển và đất, ngày và đêm. Thiên Chúa tạo trật tự bằng cách đặt ranh giới. Ranh giới trong Kinh Thánh không tự động là xấu. Có những giới hạn bảo vệ sự sống. Bờ giữ sông thành sông. Da giữ cơ thể thành một thân thể. Nhịp ngủ và thức giữ sức khỏe. Mùa gieo và mùa gặt tạo nhịp cho đất. Giới hạn của thân xác giữ con người ở trong sự thật của mình. Tội lỗi nhiều khi là không chấp nhận giới hạn. Ngay trong câu chuyện vườn Êđen, cám dỗ xuất hiện quanh một giới hạn: có một cây con người không được ăn. Vấn đề không phải trái cây có độc. Vấn đề là con người có chấp nhận mình là thụ tạo hay muốn chiếm chỗ Đấng Tạo Hóa.
Trong nền văn minh hiện đại, cám dỗ ấy xuất hiện bằng những hình thức tinh vi hơn. Con người muốn vượt mọi giới hạn sinh học, kinh tế, kỹ thuật, địa lý. Muốn đi nhanh hơn, sống lâu hơn, sản xuất nhiều hơn, kiểm soát nhiều hơn. Nhiều ước muốn trong đó có thể tốt. Y khoa cứu sống người là tốt. Kỹ thuật giảm lao động nặng nhọc là tốt. Giao thông nối con người là tốt. Nhưng câu hỏi thần học vẫn phải được giữ: giới hạn nào cần vượt qua vì tình yêu, và giới hạn nào cần tôn trọng vì sự sống? Không phải mọi giới hạn đều bất công. Có những giới hạn là cấu trúc của tạo thành. Một biển cá có giới hạn khả năng tái sinh. Một tầng đất có giới hạn khả năng hấp thụ hóa chất. Khí quyển có giới hạn. Thân xác có giới hạn. Tâm trí có giới hạn. Thời gian có giới hạn. Khi nền kinh tế vận hành như thể tất cả đều vô hạn, nó xung đột với chính cấu trúc của tạo thành.
Một linh đạo của giới hạn vì vậy không phải linh đạo bi quan. Nó không nói “đừng phát triển”. Nó hỏi: phát triển để làm gì, cho ai, với giá nào, và đến đâu là đủ? Đây là những câu hỏi đạo đức mà nền kinh tế thuần túy không thể tự trả lời. GDP có thể tăng trong khi một cánh rừng biến mất. Lợi nhuận có thể tăng trong khi nguồn nước bị độc. Sản lượng có thể tăng trong khi đất mất khả năng sinh sản. Thu nhập có thể tăng trong khi đời sống gia đình kiệt quệ. Tốc độ có thể tăng trong khi sự bình an giảm. Nếu chỉ đo bằng số lượng, ta có thể gọi rất nhiều thứ là tiến bộ trong khi sự sống đang nghèo đi. Sáng Thế đưa vào một tiêu chuẩn khác: tốt đẹp. Cái gì làm cho tạo thành tiếp tục tốt đẹp? Cái gì làm cho con người sống đúng phẩm giá hình ảnh Thiên Chúa? Cái gì cho phép các loài khác tiếp tục tồn tại? Cái gì giữ cho thế hệ sau còn nhận được một thế giới có thể ở được? Những câu hỏi ấy phải đi cùng mọi kế hoạch phát triển.
Người Kitô hữu cũng cần xét lại cách dùng chữ “chinh phục thiên nhiên”. Ngôn ngữ ấy đã từng rất phổ biến. Người ta nói chinh phục đỉnh núi, chinh phục sa mạc, chinh phục biển cả, chế ngự thiên nhiên. Đằng sau những câu ấy có một tinh thần đáng quý: lòng can đảm, trí tuệ, khả năng vượt khó. Nhưng nếu nó trở thành khung tư duy chính, thiên nhiên sẽ bị biến thành đối thủ. Khi ấy, quan hệ giữa con người và trái đất trở thành chiến tranh: hoặc ta thắng nó hoặc nó thắng ta. Kinh Thánh đề nghị một hình ảnh khác: khu vườn. Khu vườn không phải hoang mạc để mặc, cũng không phải chiến trường để chinh phục. Khu vườn cần được chăm sóc. Người làm vườn có tác động, có cắt tỉa, tưới nước, gieo hạt, nhưng cũng phải biết lắng nghe đất, mùa, nước, cây. Không thể ép cây lớn bằng cách kéo ngọn. Không thể bắt đất sinh mãi mà không để đất nghỉ. Nghệ thuật canh tác là nghệ thuật cộng tác với những nhịp đã có trong tạo thành.
Điều này cũng đúng với giáo dục con người. Một đứa trẻ không phải sản phẩm để cha mẹ tối ưu hóa. Một người lao động không phải nguồn lực để doanh nghiệp khai thác tối đa. Một cộng đoàn không phải máy tạo thành tích. Một giáo xứ không phải cơ sở phải luôn tăng số lượng hoạt động. Khi logic khai thác đi vào quan hệ con người, ta bắt đầu đối xử với nhau như tài nguyên. Cha mẹ khai thác con cái để thành tựu giấc mơ của mình. Chủ khai thác nhân viên để tăng lợi nhuận. Giáo xứ khai thác người nhiệt thành đến kiệt sức. Người làm mục vụ khai thác chính mình rồi gọi kiệt quệ là hy sinh. Ngày thứ bảy nói với tất cả những trường hợp ấy: con người không được tạo ra chỉ để sản xuất.
Thật đáng chú ý khi Kinh Thánh đặt nghỉ vào ngay cấu trúc tạo thành, trước cả Mười Điều Răn, trước luật Môsê, trước lịch sử Israel. Nghỉ không chỉ là luật tôn giáo của một dân tộc. Nghỉ thuộc về nhịp của tạo thành. Một người không bao giờ nghỉ đang sống ngược với cấu trúc mình được dựng nên. Một cánh đồng không bao giờ nghỉ sẽ bạc màu. Một cộng đồng không có lễ hội sẽ khô cạn. Một gia đình không có thời gian ngồi cùng nhau sẽ thành nơi ngủ chung hơn là mái nhà. Một linh mục không bao giờ nghỉ có thể tưởng mình quảng đại nhưng rồi dễ trở nên cáu gắt, kiệt sức, mất khả năng lắng nghe. Một người cha làm việc không ngừng vì “lo cho gia đình” có thể cuối cùng cung cấp cho gia đình mọi thứ trừ chính mình. Một người trẻ sống liên tục trong mạng, thông báo, công việc, học tập và giải trí có thể không bao giờ thật sự dừng để gặp chính mình và gặp Chúa. Sabát là một lời giải phóng khỏi nền văn hóa phải luôn sẵn sàng, luôn trực tuyến, luôn phản hồi, luôn hiệu suất.
Ở cấp độ sâu hơn, nghỉ còn là khả năng vui hưởng điều tốt đẹp mà không lập tức biến nó thành công cụ. Sau khi tạo dựng, Thiên Chúa nhìn. Người không lập tức tạo thêm một vũ trụ khác để tăng sản lượng. Người dừng và thấy tốt đẹp. Đây là nền tảng của chiêm niệm. Chiêm niệm là khả năng để một thực tại được là chính nó trước mặt mình mà không cần sử dụng nó. Ngắm hoàng hôn không để bán hoàng hôn. Ngồi bên biển không nhất thiết để tạo nội dung. Nhìn một em bé ngủ không để đánh giá năng suất. Nghe chim hót không để đo lợi ích kinh tế. Có một lối nhìn không chiếm hữu. Và có lẽ đó là một trong những năng lực con người hôm nay cần học lại nhất.
Khi mọi trải nghiệm đều trở thành ảnh để đăng, mọi cảnh đẹp thành “địa điểm check-in”, mọi chuyến đi thành nội dung, thậm chí sự yên lặng cũng thành sản phẩm, ta có nguy cơ không còn thật sự hiện diện trước thụ tạo. Ta đến biển nhưng mắt ở trong điện thoại. Ta lên núi nhưng tâm trí ở trong lượng tương tác. Ta ăn một bữa ngon nhưng trước khi nếm đã phải chụp. Công nghệ không xấu; vấn đề là ta có còn khả năng nhận một sự vật như quà tặng mà không lập tức biến nó thành vật liệu cho cái tôi không. “Thiên Chúa thấy mọi sự đều tốt đẹp” mời ta học một ánh nhìn không cần sở hữu. Thiên Chúa nhìn và chúc lành. Con người cũng được mời nhìn và biết ơn.
Từ đó, lời tạ ơn trở thành hành vi sinh thái căn bản. Người biết tạ ơn sẽ khó phung phí. Khi một ly nước chỉ là thứ mở vòi là có, ta dễ để nó chảy. Khi ta nhận ra nước như quà tặng đã đi qua mây, mưa, sông, đất, hệ thống xử lý và lao động của nhiều người, bàn tay tự nhiên sẽ cẩn trọng hơn. Khi thức ăn chỉ là món trên bàn, ta dễ bỏ thừa. Khi nhận ra trong hạt cơm có đất, mưa, nắng, giống, người cày, người gặt, người vận chuyển, người nấu, ta sẽ ăn khác đi. Đạo đức sinh thái không chỉ đến từ cảnh báo về khủng hoảng; nó có thể đến từ lòng biết ơn. Người tham thường nhìn mọi thứ như thiếu. Người biết ơn nhìn thấy đủ. Và người biết đủ dễ dừng hơn.
“Tốt đẹp” cũng không có nghĩa thế giới hiện nay không đau. Sau Sáng Thế 1 và 2 là Sáng Thế 3. Tội đi vào lịch sử. Quan hệ giữa người với Thiên Chúa, người với người, người với chính mình và người với đất bị rạn nứt. Đất sinh gai góc. Lao động có mồ hôi. Con người đổ lỗi cho nhau. Cain giết Abel, và máu của người anh em kêu từ đất. Đây là hình ảnh đáng sợ: bạo lực giữa người với người làm tổn thương cả đất. Từ những chương đầu Kinh Thánh, công lý xã hội và sinh thái đã gắn với nhau. Đất mang dấu vết của tội con người. Khi người nghèo bị giết, đất nghe tiếng máu. Khi bạo lực lan rộng, đất bị nguyền rủa. Khi tham lam phá rừng, ô nhiễm nước, biến đổi khí hậu, đất lại mang vết thương của lựa chọn đạo đức con người.
Nhưng tội không hủy phán quyết ban đầu của Thiên Chúa. Tạo thành bị thương chứ không trở thành xấu tự bản chất. Đây là nền tảng của hy vọng Kitô giáo. Nếu thế giới tự bản chất xấu, giải pháp sẽ là bỏ nó. Nhưng nếu thế giới tốt đẹp và đang bị thương, giải pháp là chữa lành. Toàn bộ lịch sử cứu độ có thể được đọc như công trình Thiên Chúa không bỏ tạo thành của Người. Người không nói: “Thế giới hỏng rồi, ta sẽ vứt đi.” Người bước vào lịch sử, chọn Abraham, giải phóng Israel, sai các ngôn sứ, và cuối cùng sai Con Một. Đức Kitô đến không phải để giải thoát một số linh hồn khỏi một hành tinh đáng bỏ, nhưng để khởi sự một tạo thành mới. Thánh Phaolô sẽ nói toàn thể thụ tạo đang rên siết và chờ đợi ngày được giải thoát. Sách Khải Huyền kết bằng trời mới đất mới, không phải bằng linh hồn trôi trong một thế giới phi vật chất.
Vì thế, hy vọng cánh chung không phải cái cớ để thờ ơ môi trường. Có người có thể nói: thế giới này rồi cũng qua, cần gì lo. Nhưng đó là hiểu sai cánh chung Kitô giáo. Chính vì Thiên Chúa có ý định cứu và hoàn tất tạo thành, chúng ta càng phải sống hôm nay như người cộng tác với ý định ấy. Khi ta chữa lành một mảnh đất, bảo vệ một nguồn nước, cứu một loài, trồng cây, giảm lãng phí, bảo vệ người nghèo trước tác động môi trường, ta không xây thiên đàng bằng sức mình. Nhưng ta làm chứng rằng thế giới này thuộc về Thiên Chúa và đang được hướng tới sự viên mãn nơi Người. Hy vọng Kitô giáo không giảm trách nhiệm; nó làm trách nhiệm sâu hơn.
Một câu hỏi mục vụ rất cụ thể được đặt ra: tại sao nhiều người Công giáo có thể rất đạo đức mà gần như không có lương tâm sinh thái? Có thể vì trong nhiều thế hệ, giáo lý đã nhấn mạnh mạnh mẽ đến cứu rỗi linh hồn nhưng ít nói tới thần học tạo thành. Người ta học về tội, ân sủng, bí tích, thiên đàng, hỏa ngục, nhưng ít được dạy rằng cách tiêu dùng, cách xử lý rác, cách dùng nước, cách xây dựng, cách làm nông nghiệp, cách kinh doanh cũng nằm dưới phán xét của Tin Mừng. Nhiều người nghe “bảo vệ môi trường” và nghĩ đó là chủ đề thế tục được đưa vào nhà thờ. Nhưng thực ra Sáng Thế đã nói về tương quan của con người với đất từ trang đầu. Vấn đề không phải Hội Thánh chạy theo một trào lưu hiện đại, mà là Hội Thánh đọc lại một phần Kinh Thánh đã bị bỏ quên.
Cũng cần tránh cực đoan ngược lại: biến sinh thái thành một tôn giáo mới, trong đó thiên nhiên thay chỗ Thiên Chúa và con người bị xem như kẻ thù của trái đất. Kitô giáo không thần thánh hóa thiên nhiên. Cây không phải Thiên Chúa. Đất không phải nữ thần. Vũ trụ là thụ tạo. Chính vì thế ta có thể yêu thiên nhiên mà không thờ nó. Ta bảo vệ nó vì nó là công trình của Thiên Chúa, không phải vì nó là Thiên Chúa. Con người có một phẩm giá riêng không thể giản lược thành một loài vật ngang hàng hoàn toàn về mọi mặt với các loài khác. Tuy nhiên, phẩm giá riêng ấy không cho phép con người trở thành kẻ phá hủy. Ngược lại, càng mang hình ảnh Thiên Chúa, con người càng phải trở thành người bảo vệ sự sống. Thần học Kitô giáo giữ được cả hai điều: con người đặc biệt và thiên nhiên có giá trị; con người có quyền và có giới hạn; con người quản trị nhưng không sở hữu tuyệt đối.
Trong thực hành, điều này đòi một cuộc xét mình rất cụ thể. Ta có thể hỏi: tôi nhìn thụ tạo thế nào? Tôi có khả năng vui trước một cảnh đẹp mà không cần sở hữu không? Tôi có coi thức ăn như quà hay như đồ có thể vứt? Tôi dùng nước, điện, nhiên liệu ra sao? Tôi mua vì cần hay vì quảng cáo khiến tôi không chịu nổi cảm giác thiếu? Tôi có sửa đồ hay chỉ thay mới? Tôi có quan tâm sản phẩm mình dùng được sản xuất bằng điều kiện lao động nào không? Tôi có ý thức rác của mình đi đâu không? Tôi có sống như thể trái đất có vô số phiên bản dự phòng không? Những câu hỏi này có vẻ nhỏ, nhưng đời thiêng luôn đi vào cái nhỏ. Không ai yêu tạo thành bằng khẩu hiệu lớn mà lại phung phí mỗi ngày.
Đối với các cộng đoàn Kitô hữu, câu “Thiên Chúa thấy mọi sự đều tốt đẹp” cũng nên thay đổi cách tổ chức đời sống. Một giáo xứ nói về Laudato Si’ nhưng dùng vô số đồ dùng một lần trong mọi sinh hoạt cần xét lại. Một cộng đoàn trồng cây để chụp hình nhưng sau đó không chăm cây cũng cần xét lại. Một nhà dòng sở hữu đất rộng nhưng quản lý đất theo logic lợi nhuận thuần túy cần xét lại. Một cơ sở Công giáo xây dựng mà không quan tâm nước, năng lượng, cây xanh, người dân xung quanh thì thần học tạo thành chưa xuống tới bản vẽ. Sinh thái Kitô giáo không phải một ngày lễ trong năm. Nó phải đi vào ngân sách, kiến trúc, bếp ăn, cách mua sắm, xử lý rác, sử dụng phương tiện, quản trị đất đai.
Đặc biệt đối với người giáo dân, linh đạo tạo thành có một cánh đồng rất rộng. Chính họ là những người trực tiếp làm nông nghiệp, công nghiệp, quy hoạch, kiến trúc, kinh tế, khoa học, vận tải, năng lượng, công nghệ. Những quyết định sinh thái lớn của xã hội không diễn ra chủ yếu trong phòng thánh mà trong phòng họp, nhà máy, phòng thiết kế, hội đồng quản trị, cơ quan nhà nước, phòng thí nghiệm. Một kỹ sư Công giáo thiết kế hệ thống tiết kiệm năng lượng đang sống ơn gọi tạo thành. Một chủ doanh nghiệp chấp nhận lợi nhuận thấp hơn để không xả thải đang sống một lựa chọn thiêng liêng. Một nông dân giảm hóa chất để giữ đất cho con cháu đang thực hiện việc “canh tác và gìn giữ”. Một kiến trúc sư bảo vệ cây cũ thay vì chặt hết cho dễ thi công có thể đang làm một hành vi đức tin mà không cần ghi câu Kinh Thánh nào lên công trình. Một viên chức từ chối dự án phá hủy môi trường vì lợi ích nhóm đang sống phẩm giá hình ảnh Thiên Chúa.
Đó là lý do linh đạo sinh thái không thể chỉ là cảm xúc yêu thiên nhiên. Nó cần công lý. Có những người có thể rất thích núi rừng nhưng vẫn làm giàu từ một hệ thống phá rừng. Có người yêu thú cưng nhưng thờ ơ với người nghèo sống cạnh bãi rác. Có người chăm cây trong nhà rất kỹ nhưng tiêu dùng theo một lối sống tạo ra lượng chất thải khổng lồ. Linh đạo Kitô giáo luôn buộc tình cảm phải đi vào cấu trúc. Ta không chỉ hỏi mình có yêu thiên nhiên không; ta hỏi cách sống của mình đang tác động đến ai.
Người nghèo thường là những người chịu hậu quả đầu tiên và nặng nhất của khủng hoảng môi trường dù họ đóng góp ít nhất vào nguyên nhân. Họ sống ở vùng dễ ngập, gần khu ô nhiễm, phụ thuộc trực tiếp vào đất, nước, rừng, biển. Khi khí hậu bất thường, người có tiền có thể mua bảo hiểm, chuyển nhà, dùng điều hòa, đổi nghề. Người nghèo ít lựa chọn hơn. Bởi thế, bảo vệ môi trường trong quan điểm Kitô giáo không thể tách khỏi bảo vệ người nghèo. Tiếng kêu của đất và tiếng kêu của người nghèo thường là cùng một tiếng kêu. Khi một con sông bị đầu độc, không chỉ cá chết; những người sống nhờ con sông mất sinh kế. Khi rừng bị phá, không chỉ cây mất; cộng đồng địa phương mất nước, văn hóa, đất sống. Khi khí hậu nóng lên, không chỉ nhiệt độ tăng; người lao động ngoài trời chịu đựng, người bệnh dễ chết hơn, nông dân mất mùa.
Sáng Thế vì thế là một cuốn sách rất hiện đại dù được viết từ thế giới cổ đại. Nó đặt lại cho ta câu hỏi mà thế kỷ XXI đang phải đối diện: con người là ai trong tương quan với trái đất? Là chủ sở hữu tuyệt đối hay người quản lý? Là kẻ chinh phục hay người làm vườn? Là trung tâm duy nhất hay một thụ tạo được trao trách nhiệm đặc biệt? Là người tiêu dùng hay người gìn giữ? Câu trả lời của Sáng Thế vừa nâng con người lên vừa hạ con người xuống đúng chỗ. Con người là hình ảnh Thiên Chúa: không thể bị hạ xuống thành một vật. Nhưng con người cũng từ đất mà ra: không được tưởng mình đứng ngoài đất. Con người được trao quyền: không được thụ động. Nhưng quyền ấy là quyền ủy thác: không được độc đoán. Con người được mời canh tác: không được bỏ hoang. Nhưng cũng được mời gìn giữ: không được tàn phá.
Và rồi ngày thứ bảy đứng như một lời cuối đầy khôn ngoan. Sau mọi quyền lực, mọi lao động, mọi sáng tạo, mọi phát triển, vẫn cần một ngày con người không chứng minh giá trị bằng việc làm. Ngày ấy nhắc rằng tồn tại đã là quà. Trái đất không chỉ là nơi lao động mà còn là nơi cử hành. Cây không chỉ cho gỗ mà còn cho bóng. Nho không chỉ cho sản phẩm mà còn cho lễ hội. Thức ăn không chỉ cung cấp calo mà còn tạo bàn ăn. Nước không chỉ phục vụ sản xuất mà còn làm ta vui. Một thế giới chỉ biết sản xuất sẽ quên tại sao phải sản xuất. Một nền văn minh không biết cử hành sẽ tiêu thụ để lấp khoảng trống mà nó không hiểu.
Thánh lễ Chúa Nhật có thể được đọc như sự hoàn tất thiêng liêng của nhịp Sabát ấy. Cộng đoàn dừng công việc để tụ họp. Bánh và rượu, hoa màu của đất và lao công của con người, được đưa lên bàn thờ. Chính ở đây, tạo thành và lao động gặp nhau. Ta không dâng lên Chúa những vật phi vật chất. Ta dâng bánh, rượu, nước, dầu, những yếu tố rất bình thường của đất và công sức. Trong phụng vụ, vật chất được đưa vào lời tạ ơn. Đây là một bài học sinh thái lớn: mục đích cuối cùng của tạo thành không phải tiêu thụ mà là hiến dâng. Bánh không chỉ để ăn no; nó có thể trở thành dấu chỉ của sự hiện diện Đức Kitô. Rượu không chỉ là sản phẩm nông nghiệp; nó đi vào Giao Ước. Nước không chỉ để uống; nó đi vào Bí tích Rửa Tội. Dầu không chỉ để dùng; nó được thánh hiến. Kitô giáo là một tôn giáo rất vật chất theo nghĩa đẹp nhất: Thiên Chúa dùng vật chất để chạm đến con người.
Một người tham dự Thánh Thể thường xuyên mà vẫn khinh vật chất, phá đất, phung phí bánh, coi nước như vô giá trị thì có một mâu thuẫn cần được chữa lành. Chính những gì ta đem lên bàn thờ đến từ trái đất. Không có đất, không có lúa; không có nho; không có nước; không có dầu. Khi Hội Thánh nói “Chúc tụng Chúa là Chúa tể càn khôn, vì Chúa đã rộng ban cho chúng con bánh này là hoa màu ruộng đất và công lao của con người”, đó là một thần học tạo thành thu gọn trong một câu. Ruộng đất và lao công không đối nghịch. Thiên nhiên và văn hóa không đối nghịch. Thiên Chúa ban, con người cộng tác, rồi con người dâng lại. Đó là vòng tròn đúng của tạo thành. Bi kịch bắt đầu khi con người cắt Thiên Chúa ra khỏi vòng tròn ấy và giữ tất cả cho mình.
Vì vậy, linh đạo sinh thái bắt đầu rất sớm, ngay ở Sáng Thế, và có thể tóm trong ba động từ: nhận, chăm, dừng. Nhận: thế giới là quà trước khi là tài sản. Chăm: con người được trao trách nhiệm làm cho sự sống sinh hoa trái. Dừng: quyền lực con người có giới hạn và cần biết đủ. Ba động từ ấy có thể chữa nhiều căn bệnh của thời đại. Người không biết nhận sẽ nghĩ mọi thứ là quyền của mình. Người không biết chăm sẽ sống vô trách nhiệm. Người không biết dừng sẽ phá cả mình lẫn thế giới.
“Thiên Chúa thấy mọi sự đều tốt đẹp.” Người Kitô hữu cần tập nghe câu ấy như thể lần đầu. Tốt đẹp là mảnh đất dưới chân. Tốt đẹp là cơ thể này dù già đi. Tốt đẹp là nước sạch. Tốt đẹp là cây mọc chậm. Tốt đẹp là chim trời không mang lại lợi nhuận gì cho tôi. Tốt đẹp là một cánh đồng chưa trở thành dự án. Tốt đẹp là một ngày nghỉ không tạo ra doanh thu. Tốt đẹp là khả năng sống mà không chiếm hữu tất cả. Và khi nhìn thế giới bằng ánh mắt ấy, ta bắt đầu hiểu rằng cứu ngôi nhà chung không chỉ là sửa một cuộc khủng hoảng môi trường. Nó là học trở lại vị trí của mình trong tạo thành.
Tội đầu tiên của con người có lẽ luôn mang một nét giống nhau: muốn vượt khỏi vị trí thụ tạo. Muốn lấy hơn phần mình. Muốn biết mà không cần tín thác. Muốn sở hữu mà không cần nhận. Muốn dùng mà không cần biết ơn. Muốn làm chủ mà không cần phục vụ. Ngược lại, sự thánh thiện thường bắt đầu ở chỗ rất đơn giản: nhận mình là thụ tạo. Tôi không tạo ra mình. Tôi không tạo ra mặt trời. Tôi không phát minh nước. Tôi không làm đất có khả năng sinh ra hạt. Tôi bước vào một thế giới đã có trước mình và sẽ còn lại sau khi tôi đi. Chỉ cần ý thức điều ấy đủ lâu, sự kiêu ngạo bắt đầu mềm xuống.
Một người sống như thụ tạo sẽ cầu nguyện khác. Họ không chỉ xin Thiên Chúa ban thêm, mà còn cảm tạ vì đang có. Họ làm việc khác, vì biết công việc của mình là cộng tác chứ không phải toàn năng. Họ nghỉ khác, vì biết giá trị của mình không nằm hoàn toàn ở thành tích. Họ tiêu dùng khác, vì biết tài nguyên không vô hạn. Họ nhìn người khác khác, vì mỗi người đều mang hình ảnh Thiên Chúa. Họ nhìn con vật khác, vì mỗi loài cũng là sản phẩm của một lời sáng tạo. Họ nhìn cái chết khác, vì thân xác trở về đất nhưng niềm hy vọng hướng tới tạo thành mới.
Có lẽ ta cần trả câu đầu của Sáng Thế về lại những nơi rất bình thường của đời sống. Trước khi mua, hãy nhớ: tốt đẹp không đồng nghĩa với sở hữu. Trước khi vứt, hãy nhớ: vật này đến từ tài nguyên của đất. Trước khi chặt một cây, hãy hỏi có cần không. Trước khi xây thêm, hãy hỏi đất có chịu nổi không. Trước khi làm thêm một giờ nữa, hãy hỏi cơ thể có cần Sabát không. Trước khi bắt người khác làm cho mình, hãy hỏi họ có được nghỉ không. Trước khi gọi một vùng đất là “chưa phát triển”, hãy hỏi nó đang nuôi sự sống nào mà bản đồ kinh tế không ghi.
Ngày thứ bảy là một lời phản kháng rất âm thầm nhưng rất mạnh đối với nền văn minh không biết đủ. Sáu ngày con người làm. Ngày thứ bảy họ dừng. Trong cái dừng ấy, họ thú nhận: tôi không phải Thiên Chúa; tôi không phải máy; đất không phải máy; người lao động không phải máy; xã hội không phải máy. Có những thứ chỉ có thể sống nếu được nghỉ. Một trái tim không có khoảng lặng sẽ chai. Một cánh đồng không có mùa nghỉ sẽ cằn. Một đời sống không có ngày Chúa Nhật sẽ dần bị công việc nuốt. Một nền kinh tế không có giới hạn sẽ ăn chính nền tảng sinh thái nuôi nó.
Cho nên, nếu phải tìm một thực hành đầu tiên của linh đạo sinh thái từ Sáng Thế, có thể chưa cần bắt đầu bằng một chiến dịch lớn. Hãy bắt đầu bằng việc học dừng. Dừng để nhìn. Dừng để cảm tạ. Dừng để nhận ra đủ. Dừng để cho đất thở. Dừng để người bên cạnh được nghỉ. Dừng để mình nghe lại lời đã vang lên từ thuở tạo thành: “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp.” Khi một người nghe được câu ấy bằng cả đời mình, họ sẽ không còn dễ dàng tàn phá. Bởi người biết một điều là tốt đẹp sẽ muốn gìn giữ nó.
Thế giới này không phải Thiên Chúa, nhưng thuộc về Thiên Chúa. Nó không phải thiên đàng, nhưng mang dấu tay của Đấng Tạo Hóa. Nó bị thương, nhưng chưa bị bỏ. Nó hữu hạn, nhưng chính giới hạn ấy làm cho trách nhiệm trở nên cấp bách. Và con người, đứng giữa tạo thành với phẩm giá hình ảnh Thiên Chúa, được trao một ơn gọi vừa cao quý vừa khiêm tốn: làm cho cách mình hiện diện trên đất phản chiếu cách Thiên Chúa nhìn đất. Thiên Chúa nhìn và thấy tốt đẹp. Ước gì con người cũng biết nhìn. Thiên Chúa tạo ra sự sống. Ước gì quyền lực của con người cũng phục vụ sự sống. Thiên Chúa nghỉ ngày thứ bảy. Ước gì con người biết giới hạn của mình. Vì có lẽ trong một thời đại mà ai cũng muốn làm nhiều hơn, sản xuất nhiều hơn, mua nhiều hơn, đi nhanh hơn, lời ngôn sứ cần thiết nhất đôi khi chỉ là: đủ rồi, hãy dừng lại, hãy nhìn xem, mọi sự vẫn đang là quà.


CHƯƠNG 4. THÁNH VỊNH: TRỜI ĐẤT KỂ VINH QUANG THIÊN CHÚA
Có một cách đọc Thánh vịnh rất nghèo, dù vẫn có thể là cách đọc đạo đức: coi những câu nói về trời, đất, núi đồi, sông biển, chim trời, thú vật, mưa gió, mặt trời, mặt trăng chỉ như những hình ảnh đẹp để trang trí cho lời cầu nguyện của con người. Theo cách đọc ấy, thiên nhiên giống một phông nền. Con người đứng ở giữa, nói với Thiên Chúa, còn cây cối, trăng sao, biển cả chỉ đứng quanh đó để làm cảnh cho cuộc đối thoại thêm thơ. Nhưng Thánh vịnh không cho phép ta giản lược như thế. Thánh vịnh 19, 104, 148 và rất nhiều Thánh vịnh khác không phải những bài thơ thiên nhiên được đưa vào Kinh Thánh vì có mỹ cảm cao. Chúng là phụng vụ. Chúng là lời cầu nguyện của Dân Giao Ước, và trong lời cầu nguyện ấy, toàn thể thụ tạo được nhìn như đang đứng trước mặt Thiên Chúa. Trời không chỉ là trời đẹp. Trời “tường thuật vinh quang Thiên Chúa”. Ngày không chỉ nối ngày theo nhịp vật lý. “Ngày qua mách bảo cho ngày tới.” Đêm không chỉ là khoảng tối giữa hai buổi sáng. “Đêm này kể lại với đêm kia.” Không có tiếng nói theo nghĩa thanh âm mà khắp địa cầu vẫn nghe được lời chứng ấy. Đó là một trực giác thần học hết sức sâu: thụ tạo có một thứ ngôn ngữ không cần âm tiết. Nó hiện hữu, và chính sự hiện hữu của nó đã là một lời. Nó được giữ trong trật tự, và chính trật tự ấy là một lời. Nó đẹp, mong manh, phong phú, dữ dội, sinh sôi, tàn úa, đổi mùa, và tất cả những điều ấy làm thành một bản văn không viết bằng chữ nhưng mở ra trước mắt người có khả năng chiêm ngắm. Người cầu nguyện Thánh vịnh vì thế không phải người đem Thiên Chúa vào thiên nhiên. Thiên Chúa đã ở đó trước khi người ấy đến. Người cầu nguyện chỉ được chữa lành đôi mắt để nhận ra điều vẫn đang được công bố từ thuở tạo thành: trời đất không tự giải thích hết chính mình; chúng hướng vượt khỏi mình về Đấng đã gọi chúng từ hư vô vào hiện hữu.
Thánh vịnh 19 mở đầu bằng một câu gần như có thể được coi là khẩu hiệu của linh đạo tạo thành: “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Người làm.” Điều đáng chú ý là tác giả không nói: khi tôi nhìn trời, tôi nghĩ đến Chúa. Câu ấy đúng, nhưng vẫn lấy cái tôi làm điểm xuất phát. Thánh vịnh nói mạnh hơn: chính trời đang kể. Chính không trung đang loan báo. Con người không tạo ra chứng từ ấy. Con người chỉ nghe hoặc không nghe. Đây là một cuộc đảo ngược rất cần cho thời đại mà con người quen nghĩ mọi sự chỉ có giá trị khi được ta diễn giải, đo lường, khai thác, chụp ảnh, đăng tải hoặc biến thành dữ liệu. Thánh vịnh nói rằng trước khi được con người gọi tên, tạo thành đã có một ý nghĩa. Trước khi ta quy giá tiền cho cánh rừng, cánh rừng đã thuộc về một câu chuyện lớn hơn. Trước khi ta biến dòng sông thành tuyến vận tải, thủy điện hay nguồn nước công nghiệp, dòng sông đã là một phần của thế giới được Thiên Chúa muốn cho hiện hữu. Trước khi ta dùng đất để sinh lợi, đất đã là đất của Chúa. Trước khi cái đẹp của bình minh trở thành nội dung cho một tấm ảnh, bình minh đã là một lời ca. Người chiêm ngắm vì thế không phải người phát minh ý nghĩa cho thụ tạo. Họ học tiếp nhận ý nghĩa đã có trước mình.
Thánh vịnh 104 còn đi xa hơn khi cho ta một trong những bức tranh tạo thành rộng lớn nhất của Kinh Thánh. Thiên Chúa mặc ánh sáng như áo choàng, căng trời như trướng, đặt nền trái đất, cho nước trào xuống núi rồi tụ về nơi đã định, làm suối chảy giữa khe, cho thú đồng uống, chim trời làm tổ, cây cối được tưới, cỏ mọc cho gia súc và rau cây phục vụ con người. Trăng được đặt để định mùa, mặt trời biết lúc lặn, bóng tối đến và thú rừng đi kiếm ăn. Sư tử con gầm lên đòi mồi và “xin Thiên Chúa ban thức ăn”. Biển rộng mênh mông chứa đầy sinh vật lớn nhỏ. Tất cả trông đợi nơi Chúa để được ban thức ăn đúng thời. Người mở tay thì chúng no đầy thiện hảo; Người ẩn mặt thì chúng kinh hoàng; Người lấy sinh khí lại thì chúng trở về bụi đất; Người gửi thần khí tới thì chúng được dựng nên và mặt đất được đổi mới. Ở đây không có một thiên nhiên khép kín tự chạy như bộ máy vô danh. Cũng không có một thiên nhiên thần thánh hóa đến mức mọi vật đều là thần. Có một tạo thành thật sự là tạo thành: khác với Thiên Chúa nhưng hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa trong chính hữu thể của mình. Đó là một thế giới đầy những tương quan. Nước liên hệ với núi. Núi liên hệ với suối. Suối liên hệ với thú. Cây liên hệ với chim. Đất liên hệ với hạt. Hạt liên hệ với người. Đêm liên hệ với những sinh vật hoạt động trong đêm. Ngày liên hệ với lao động con người. Biển là nhà của những loài mà con người thậm chí không kiểm soát nổi. Và trên tất cả, không phải con người là trung tâm giữ cho hệ thống tồn tại. Thiên Chúa mới là Đấng ban hơi thở. Đây là một bài học khó chịu đối với tính kiêu ngạo hiện đại: thế giới không tồn tại nhờ ta. Ta đến rất muộn trong lịch sử tạo thành. Ta có một phẩm giá đặc biệt, một trách nhiệm đặc biệt, nhưng ta không phải nguồn hữu thể của bất cứ điều gì. Ta không làm mặt trời mọc. Ta không làm hạt giống biết nảy mầm theo nghĩa sâu nhất. Ta không chế tạo sự sống từ hư vô. Ta học quy luật, can thiệp, lai tạo, chăm sóc, chữa trị, nhưng trước tất cả những thao tác ấy là mầu nhiệm có một cái gì đó đang sống thay vì không có gì. Người đọc Thánh vịnh 104 đủ lâu sẽ bớt kiêu. Và chính sự bớt kiêu ấy là một nền tảng quan trọng của linh đạo sinh thái.
Thánh vịnh 148 mở rộng cuộc phụng vụ đến mức gần như không còn gì đứng ngoài ca đoàn: các thiên thần, đạo binh thiên quốc, mặt trời, mặt trăng, tinh tú sáng ngời, tầng trời cao thẳm, nước phía trên trời, quái vật biển, vực sâu, lửa, mưa đá, tuyết, sương mù, gió bão thi hành lời Chúa, núi non, đồi cao, cây ăn trái, bá hương, thú rừng, gia súc, loài bò sát, chim có cánh, vua chúa trần gian, muôn dân, thủ lãnh, quan quyền, thanh niên thiếu nữ, cụ già với trẻ nhỏ. Tất cả được gọi: hãy ca tụng danh Đức Chúa. Đây không còn là việc một người ngồi trong phong cảnh đẹp rồi thấy lòng thanh thản. Đây là phụng vụ vũ trụ. Nếu đọc chậm, ta sẽ nhận ra danh sách ấy cố ý phá vỡ những bậc thang do con người dựng lên. Vua không đứng gần Thiên Chúa hơn cây. Người quyền lực không được mời ca ngợi trước rồi mới tới thú vật. Già trẻ, nam nữ, người có chức, người không tên, thụ tạo hữu tình và vô tình đều được quy tụ trong một hành vi căn bản: ca tụng Đấng đã dựng nên mình. Trong phụng vụ ấy, con người có tiếng nói, có trí hiểu và tự do để biến lời ca thành lời có ý thức; nhưng chính vì thế con người càng không được tự phong mình làm chủ của ca đoàn. Người chiêm ngắm học đứng vào dàn hợp xướng ấy, không đứng trên dàn hợp xướng như một nhạc trưởng tự phong. Câu này cần được suy nghĩ thật lâu. Một trong những cám dỗ sâu nhất của văn minh kỹ thuật là con người quên mình là thụ tạo và bắt đầu ứng xử như thể mình đứng ngoài tạo thành. Ta nói “con người và thiên nhiên” như nói về hai thực tại độc lập. Nhưng thân xác ta lấy từ đất. Phổi ta sống nhờ không khí. Máu ta mang nước. Thức ăn ta đến từ những chuỗi sinh thái mà ta không tự tạo. Một biến đổi nhỏ trong nhiệt độ, nguồn nước, đất trồng, vi sinh vật cũng đủ nhắc rằng ta không đứng ngoài hệ thống. Kinh Thánh đã biết điều ấy bằng ngôn ngữ phụng vụ từ lâu: hãy đứng vào hàng mà ca tụng, chứ đừng bước ra ngoài mà tưởng mình là chủ.
Điều này không hạ thấp phẩm giá con người. Ngược lại, nó trả phẩm giá ấy về đúng chỗ. Con người là hình ảnh Thiên Chúa, là thụ tạo có khả năng biết, yêu, tự do, chịu trách nhiệm và dâng lời ca của tạo thành lên Đấng Tạo Hóa. Trong truyền thống Kitô giáo, con người có một chức năng gần như tư tế đối với tạo thành: đón nhận thế giới như hồng ân, tạ ơn, chăm sóc và đưa nó vào lời ngợi khen. Nhưng tư tế không phải sở hữu. Một linh mục không sở hữu Thánh Thể mình cử hành. Người phục vụ mầu nhiệm. Cũng thế, phẩm giá đặc biệt của con người không trao quyền phá hủy điều mình được giao chăm sóc. Quyền thống trị trong Sáng Thế không thể được giải thích chống lại chính Thiên Chúa của Sáng Thế, Đấng nhìn tạo thành và phán là tốt đẹp. Nếu cai quản làm cho điều tốt đẹp trở thành hoang tàn, đó không còn là cai quản theo hình ảnh Thiên Chúa. Người cầu Thánh vịnh học một hình thức quyền lực khác: quyền lực biết quỳ, biết cảm tạ, biết ngạc nhiên, biết giới hạn mình để điều khác được sống.
Thánh vịnh cũng chữa một ngộ nhận khác: chỉ những cảnh quan ngoạn mục mới đáng gọi là tạo thành. Chúng ta dễ bị các hình ảnh đẹp huấn luyện để nghĩ chiêm ngắm phải cần biển xanh, rừng nguyên sinh, núi cao, sa mạc, đồng cỏ hoặc một căn nhà nhìn ra hồ. Người ở thành phố đông đúc nhìn quanh chỉ thấy dây điện, mái tôn, tường bê tông, khói xe, bảng quảng cáo và nghĩ mình không có điều kiện cho linh đạo tạo thành. Nhưng chiêm ngắm không phải đặc quyền của người có “view”. Nếu phải có một phong cảnh đắt tiền mới gặp được Chúa trong tạo thành, thì người nghèo đã bị loại khỏi một con đường thiêng liêng chỉ vì họ không đủ tiền đi nghỉ. Kinh Thánh không cho phép điều đó. Một luống rau trên sân thượng cũng là tạo thành. Một cây mọc chen giữa hai bức tường cũng là tạo thành. Một con chim đậu trên sợi dây điện giữa thành phố cũng là tạo thành. Một cơn mưa rơi xuống mặt đường nóng là tạo thành. Một vũng nước phản chiếu bầu trời giữa khu lao động cũng là tạo thành. Một đứa trẻ ngủ trên vai mẹ cũng là tạo thành. Bàn tay nhăn của người già cũng là tạo thành. Thân thể mệt của người công nhân vừa tan ca cũng là tạo thành. Và cả người ăn xin ngồi trước cửa nhà thờ, người mà ta thường bước qua để nhìn lên tượng thánh, cũng là một thụ tạo mang hình ảnh Thiên Chúa. Có khi ta mê một hoàng hôn nhưng không thấy một con người. Đó chưa phải chiêm ngắm Kitô giáo. Chiêm ngắm Kitô giáo không cho phép ta yêu vẻ đẹp vô ngã đến mức tránh khuôn mặt người đang đau.
Một cơn mưa giữa đô thị có thể trở thành trường chiêm ngắm nếu ta biết dừng. Mưa rơi trên mái tôn rất khác mưa rơi trên lá cây, nhưng vẫn là nước. Nước ấy đi qua một chu trình cổ hơn tất cả thành phố. Nó bốc lên, kết thành mây, rơi xuống, thấm đất, vào sông, vào cây, vào thân xác con người. Một ly nước trên bàn tưởng rất bình thường nhưng chứa trong mình cả một lịch sử vũ trụ và địa chất mà người uống hiếm khi nghĩ tới. Ta mở vòi, nước chảy, nên dễ tưởng nước là một tiện ích đương nhiên. Chỉ khi mất nước vài giờ, ta mới nhớ nền văn minh mỏng đến thế nào. Thánh vịnh giúp phục hồi lòng biết ơn đối với cái bình thường. Người cầu nguyện không cần phải biến mỗi lần uống nước thành một bài giảng. Chỉ cần đôi khi biết rằng nước không bắt đầu từ cái vòi. Bánh không bắt đầu từ siêu thị. Trái cây không bắt đầu từ kệ hàng. Điện không bắt đầu từ ổ cắm. Mỗi tiện ích che phía sau một chuỗi dài đất, nước, lao động, kỹ thuật, con người và sinh thái. Biết điều ấy có thể làm tâm hồn bớt vô ơn và bàn tay bớt phung phí.
Thánh vịnh 104 đặc biệt dạy một thái độ nhìn mà xã hội tiêu dùng làm ta đánh mất: nhìn các sinh vật không chỉ qua công dụng cho con người. Trong bài ca ấy có những loài sống đời của chúng trước mặt Chúa, không cần chứng minh ích lợi kinh tế cho ta. Chim làm tổ. Dã thú uống nước. Sư tử săn mồi. Sinh vật biển bơi trong đại dương. Chúng có một chỗ trong ý định tạo thành không phải chỉ vì chúng phục vụ con người. Đây là điểm thần học rất quan trọng. Một loài không cần hữu ích cho kinh tế nhân loại mới có quyền tồn tại. Một cánh rừng không cần tạo ra lợi nhuận mới đáng được giữ. Một vùng đất ngập nước không cần trở thành khu du lịch mới có giá trị. Một con vật không cần đẹp theo tiêu chuẩn của ta mới đáng được bảo vệ. Giá trị của thụ tạo trước hết đến từ việc nó được Thiên Chúa muốn cho hiện hữu. Từ đó mới nảy sinh một đạo đức rất khác với đạo đức chỉ tính lợi ích ngắn hạn. Nếu mọi sự chỉ có giá trị theo lợi ích con người, thì cái gì chưa có giá trị sử dụng hôm nay có thể bị tiêu hủy hôm nay. Nhưng nếu mỗi thụ tạo có một vị trí trong bài ca tạo thành, phá hủy nó là làm nghèo bài ca mà không phải lúc nào ta cũng biết mình vừa xóa mất một bè nhạc nào.
Thánh vịnh còn dạy ta nhìn cả sức mạnh đáng sợ của thiên nhiên. Thánh vịnh 148 gọi cả lửa, mưa đá, tuyết, sương mù, gió bão vào lời ca. Kinh Thánh không lãng mạn hóa thiên nhiên như một khu vườn luôn hiền lành. Biển có thể nuốt thuyền. Bão có thể phá nhà. Hạn hán có thể giết mùa màng. Động đất có thể vùi thành phố. Một linh đạo tạo thành ngây thơ, chỉ nói hoa, chim, bình minh, sẽ vỡ vụn khi đứng trước thiên tai. Thánh vịnh mạnh hơn thế. Nó biết tạo thành vừa đẹp vừa vượt khỏi khả năng kiểm soát của con người. Và chính kinh nghiệm ấy lại dạy sự khiêm nhường. Khoa học giúp ta hiểu quy luật, dự báo, xây công trình chống chịu và giảm rủi ro. Đó là bổn phận luân lý. Nhưng không có tiến bộ nào biến con người thành kẻ toàn năng. Mỗi trận bão lớn, mỗi trận động đất, mỗi mùa hạn hán nghiêm trọng đều nhắc rằng ta sống trong một thế giới có những lực lớn hơn mình. Điều ấy không phải để gieo sợ hãi tôn giáo, nhưng để chữa ảo tưởng làm chủ tuyệt đối.
Có một sự liên hệ sâu giữa Thánh vịnh và phụng vụ Hội Thánh. Trong Thánh lễ, ta đem lên bàn thờ bánh và rượu: “hoa màu ruộng đất và công lao của con người”, “sản phẩm từ cây nho và công lao của con người”. Hai yếu tố không tách nhau. Đất cho. Con người làm. Thiên Chúa ban sự sống. Con người canh tác, nghiền, nhào, lên men, vận chuyển, chuẩn bị. Rồi tất cả được dâng. Đây gần như là một bản tóm tắt linh đạo tạo thành. Không phải thụ động nhìn thiên nhiên. Không phải bóc lột thiên nhiên. Là hợp tác. Là nhận rồi làm việc, làm việc rồi dâng, dâng rồi nhận lại trong một hình thức biến đổi. Người sống Thánh Thể mà không học lòng biết ơn đối với đất, nước, lao động và những người làm nên của ăn thì đời Thánh Thể bị tách khỏi thân xác của thế giới. Một miếng bánh trên bàn thờ nối với đồng lúa. Chén rượu nối với vườn nho. Nến nối với vật liệu. Áo lễ nối với lao động của người làm vải. Nhà thờ nối với đá, gỗ, kim loại, cát, nước và sức người. Phụng vụ không rơi từ trời xuống như một thực tại không vật chất. Kitô giáo là tôn giáo của Nhập Thể: nước được dùng trong Rửa tội, dầu trong Xức dầu, bánh và rượu trong Thánh Thể, thân xác trong Hôn phối, bàn tay trong Truyền chức. Thiên Chúa không cứu ta khỏi vật chất bằng cách làm vật chất biến mất. Người dùng vật chất như dấu chỉ hữu hình của ân sủng. Bởi vậy, khinh thụ tạo và sống bí tích là một mâu thuẫn.
Người đọc Thánh vịnh còn phải học lại một nghệ thuật khó: để sự vật được là chính nó trước khi biến nó thành nội dung. Thời điện thoại thông minh tạo một phản xạ rất lạ: vừa gặp cảnh đẹp đã rút máy ra. Chưa nhìn đã chụp. Chưa thinh lặng đã đăng. Chưa kịp nhận cảnh ấy đi vào lòng đã nghĩ góc nào đẹp, câu chú thích nào hay, ai sẽ xem, bao nhiêu người phản ứng. Không phải chụp ảnh là sai. Ảnh có thể lưu ký ức, chia sẻ vẻ đẹp, đánh thức lòng biết ơn. Nhưng khi máy ảnh chen giữa mắt và thế giới quá nhanh, người ta có thể sở hữu hàng nghìn ảnh mà gần như không thật sự nhìn gì cả. Chiêm ngắm đòi một khoảng không sở hữu. Đứng trước một cơn mưa mà không cần kể cho ai. Ngắm một đám mây mà không cần lưu lại. Nhìn một đứa trẻ chơi mà không cần dựng nội dung. Ngồi với một người già mà không biến khuôn mặt họ thành chất liệu cho câu chuyện cảm động trên mạng. Có những vẻ đẹp cần được giữ trong ký ức chứ không trong bộ nhớ máy. Có những gặp gỡ cần được bảo vệ khỏi việc bị biến thành công cụ xây hình ảnh bản thân. Người cầu Thánh vịnh học nhìn với đôi mắt của người thụ hưởng hồng ân, không phải đôi mắt của người thu gom nội dung.
Một điều khác cũng cần nói: chiêm ngắm không phải trốn khỏi lịch sử đau khổ. Có người tìm thiên nhiên vì mệt con người. Họ nói yêu thú vật hơn yêu người, thích rừng vì rừng không phản bội, thích biển vì biển không nói xấu. Ta hiểu tâm lý ấy, nhất là sau những tổn thương. Nhưng linh đạo Kinh Thánh không cho ta lấy tạo thành làm nơi chạy khỏi bổn phận yêu người. Thánh vịnh 148 đặt cây và thú cùng vua chúa, người trẻ, người già trong một bài ca. Không được chọn một bè rồi khinh bè khác. Người ăn xin ở góc phố cũng thuộc tạo thành. Người đồng nghiệp khó chịu cũng là thụ tạo. Người bệnh có thân xác biến dạng cũng mang vinh quang của Đấng Tạo Hóa theo một cách đau đớn mà có khi ta phải học rất lâu mới thấy. Một em bé khuyết tật không kém “đẹp” trước mặt Thiên Chúa hơn một cánh đồng hoa. Một người già lú lẫn không kém đáng chiêm ngắm hơn hoàng hôn. Nếu linh đạo sinh thái chỉ bảo vệ cây mà lạnh với người nghèo, nó chưa phải sinh thái toàn diện. Nếu người ta thương chó mèo nhưng bóc lột nhân viên, đó không phải sự hòa giải với tạo thành. Nếu ta phản đối phá rừng nhưng tiêu thụ lao động con người như đồ rẻ, còn thiếu một phần rất lớn của Tin Mừng. Tạo thành không kết thúc ở biên giới của các loài không phải người. Con người, đặc biệt người yếu, cũng là tạo thành được trao cho trách nhiệm của nhau.
Cũng chính vì vậy, chiêm ngắm một luống rau sân thượng có thể dẫn đến lương tâm xã hội. Ta nhìn một cây cà chua lớn lên và nhận ra nó cần đất, nước, ánh sáng, thời gian. Không thể hét vào nó để nó lớn nhanh hơn. Không thể họp đánh giá hiệu suất rồi yêu cầu nó ra trái trước mùa. Ta có thể chăm, bón, tưới, cắt tỉa, nhưng có một nhịp sinh trưởng phải được tôn trọng. Từ một cái cây, người ta có thể học lại điều mà xã hội hiệu suất quên: không phải mọi sự sống đều chịu được tăng tốc. Trẻ em cần thời gian. Một hôn nhân cần thời gian. Một người đang đau cần thời gian. Hoán cải cần thời gian. Cộng đoàn cần thời gian. Đất cần thời gian để hồi phục. Rừng cần hàng chục năm để trưởng thành. Nếu một nền kinh tế chỉ biết đòi tăng trưởng ngay, nó có thể đối xử với đất như người chủ tàn nhẫn đối xử với nhân công. Nếu một giáo xứ chỉ đòi kết quả tức thì, nó cũng có thể quên quy luật hạt giống của Tin Mừng. Tạo thành là một trường sư phạm về kiên nhẫn.
Mùa, ngày đêm và nhịp nghỉ trong Thánh vịnh cũng làm chứng rằng giới hạn là một phần của trật tự tốt đẹp. Mặt trời mọc rồi lặn. Con người đi làm rồi trở về. Có thời gieo và thời gặt. Cơ thể thức rồi cần ngủ. Đất trồng liên tục sẽ bạc màu. Một con sông bị lấy nước quá mức sẽ chết. Một người làm việc không nghỉ sẽ sụp. Tất cả những điều ấy có chung một chân lý: thụ tạo không phải Thiên Chúa. Chỉ Thiên Chúa không cạn. Ta cạn. Đất cạn. Nước cạn. Năng lượng hữu hạn cạn. Sự chú ý cạn. Thân xác cạn. Vì thế, nghỉ ngơi không chỉ là vấn đề sức khỏe. Nó có chiều kích thần học. Khi dừng, ta thú nhận rằng thế giới vẫn tiếp tục mà không cần ta điều khiển từng phút. Ngủ là một hành vi tín thác rất căn bản. Tắt máy cũng có thể là một hành vi khiêm nhường. Không trả lời mọi tin nhắn ngay lập tức đôi khi là công nhận mình có giới hạn. Một xã hội không biết dừng rồi sẽ bắt cả đất lẫn con người trả giá.
Người cầu Thánh vịnh giữa đô thị còn có thể học một kỷ luật rất đơn sơ: tập nhận ra những dấu vết của tạo thành đã bị thành phố che khuất. Mặt trời vẫn mọc sau những tòa nhà. Trăng vẫn thay tuần dù ta ít nhìn. Mưa vẫn đến. Gió vẫn đổi. Cây vẫn ra lá mới. Chim vẫn tìm chỗ làm tổ trên những kiến trúc do người dựng. Con người vẫn sinh ra, lớn lên, yêu nhau, già đi và chết. Những quy luật ấy không bị bê tông xóa. Thành phố đôi khi tạo ảo tưởng rằng con người đã chế tạo một thế giới thứ hai hoàn toàn nhân tạo. Nhưng chỉ cần mất điện một ngày, mất nước một ngày, nhiệt độ tăng mạnh vài độ, thành phố sẽ nhớ nền tảng tự nhiên của mình. Điện thoại thông minh cần khoáng sản. Tòa nhà cần cát, đá, kim loại. Điều hòa cần năng lượng. Thức ăn đi vào thành phố từ đất ngoài thành phố. Rác đi ra khỏi thành phố và phải đến một nơi nào đó. Không có đời sống đô thị nào thật sự “thoát thiên nhiên”. Chỉ có thiên nhiên bị đẩy ra khỏi tầm mắt. Linh đạo chiêm ngắm kéo những điều bị đẩy khỏi tầm mắt trở lại lương tâm.
Một người uống cà phê mỗi sáng có thể tập hỏi: hạt này đến từ đâu? Ai trồng? Đất nào? Nước nào? Ai hái? Ai rang? Ai vận chuyển? Một chiếc áo rẻ có thể đặt câu hỏi tương tự: sợi từ đâu? Ai may? Lương bao nhiêu? Một điện thoại có thể kéo ta đến những mỏ khoáng sản và nhà máy rất xa. Không cần biến đời sống thành một cuộc điều tra ám ảnh. Nhưng lòng biết ơn chân thật thường sinh ra trách nhiệm. Khi ta thấy chuỗi liên hệ, ta bớt coi mọi vật như xuất hiện phép lạ trên kệ hàng để phục vụ mình. Chiêm ngắm Kitô giáo vì thế không chỉ tạo cảm xúc đẹp. Nó có thể thay đổi cách mua, dùng, bỏ, ăn, đi lại và đầu tư. Nếu sau một giờ ngắm tạo thành ta vẫn phung phí như trước, có thể ta mới ngắm cảnh chứ chưa chiêm ngắm.
Thánh vịnh cũng giúp chữa căn bệnh chán cái bình thường. Chúng ta thường chỉ chú ý khi có cái gì ngoạn mục: nhật thực, biển mây, mùa hoa, cực quang, núi tuyết. Nhưng một chiếc lá bình thường cũng chứa một cấu trúc sống mà không kỹ sư nào chế tạo được từ hư vô. Một hạt gạo quen đến mức ta không nhìn nữa, nhưng bên trong nó là đất, nước, ánh sáng, giống, mùa vụ và công sức vô số người. Một hơi thở quá thường đến mức ta chỉ nhớ khi khó thở. Một nhịp tim quá đều đến mức ta không nghe, nhưng chính nó đang giữ ta ở lại giữa đời. Chiêm ngắm là nghệ thuật trả lại sự kinh ngạc cho những gì quá quen. Và điều này có liên hệ rất sâu với đời sống đức tin. Ta có thể quen cả Thánh lễ. Quen bánh. Quen rượu. Quen lời “Mình Thánh Chúa Kitô”. Quen đến mức mầu nhiệm đi ngang mà lòng không động. Người không còn biết ngạc nhiên trước một hạt giống có thể cũng khó ngạc nhiên trước ân sủng. Không phải vì hai điều ngang nhau, nhưng vì trái tim đã mất năng lực đón nhận.
Trong Thánh vịnh, lời ca ngợi thường đi cùng với sự nhỏ bé của con người. Nhìn trời, người cầu nguyện không chỉ nói trời đẹp; họ hỏi: con người là chi mà Chúa cần nhớ đến? Đây không phải mặc cảm tự ti. Đây là tỷ lệ đúng. Một đêm nhìn trời sao có thể chữa rất nhiều bệnh tự quan trọng. Những cuộc cãi vã ta tưởng là trung tâm vũ trụ bỗng nhỏ đi. Chức vụ ta bám bỗng nhỏ. Số người theo dõi bỗng nhỏ. Lời khen chê bỗng nhỏ. Nhưng lạ thay, ngay khi con người thấy mình nhỏ, Kinh Thánh lại nhắc rằng Thiên Chúa nhớ đến họ. Phẩm giá Kitô giáo không đến từ việc ta làm mình lớn lên cho bằng vũ trụ. Nó đến từ việc Đấng làm nên vũ trụ cúi xuống nhớ ta. Khi nền tảng phẩm giá đổi như vậy, ta bớt phải giành chỗ. Có thể đứng nhỏ trong dàn hợp xướng mà không thấy bị xúc phạm.
Điều ấy cũng giúp chữa kiểu linh đạo biến tạo thành thành tấm gương cho cái tôi. Có người ngắm cảnh chỉ để nói về tâm trạng mình: biển buồn vì tôi buồn, trời vui vì tôi vui, mưa giống nước mắt tôi. Thơ ca có quyền như thế. Nhưng thần học tạo thành phải đi xa hơn. Biển không tồn tại để phản ánh cảm xúc của tôi. Nó có một đời sống, một lịch sử, một trật tự vượt tôi. Cây không chỉ là biểu tượng cho hành trình chữa lành của tôi. Nó là cây. Một con chim không cần trở thành bài học động lực để có giá trị. Người chiêm ngắm trưởng thành học tôn trọng tha tính của thụ tạo. Nhìn nó, để nó là nó, rồi mới nghe xem nó mở lòng mình về Đấng Tạo Hóa thế nào. Đây là một sự nghèo khó của mắt: không chiếm, không ép nghĩa, không dùng ngay.
Thánh vịnh cũng không cho phép đồng nhất Thiên Chúa với thiên nhiên. Đây là ranh giới rất quan trọng. Kitô giáo yêu tạo thành nhưng không thờ tạo thành. Mặt trời không phải thần. Trăng không phải thần. Núi không phải thần. Sông không phải thần. Chính việc giải thần thoại hóa ấy làm cho tạo thành được tự do là tạo thành. Ta có thể kính trọng sâu sắc mà không thần thánh hóa. Thiên Chúa ở gần mọi thụ tạo vì Người dựng nên và giữ chúng hiện hữu, nhưng Người không bị đồng nhất với tổng thể vũ trụ. Nhờ vậy, linh đạo sinh thái Kitô giáo vừa tránh thái độ khai thác lạnh lùng vừa tránh một thứ duy nhiên mới. Ta không cúi lạy cây; ta cúi lạy Đấng dựng nên cây và vì thế học chăm cây. Ta không phong thánh cho đất; ta nhận đất là hồng ân và không xúc phạm hồng ân. Chính khoảng cách giữa Tạo Hóa và thụ tạo bảo vệ cả hai: Thiên Chúa không bị thu nhỏ thành năng lượng vũ trụ, còn tạo thành không bị gánh một tính thần linh mà nó không có.
Có thể nói, người cầu Thánh vịnh được huấn luyện trong ba động tác: nghe, nhập đoàn và đáp lại. Nghe: nhận ra tạo thành đang kể vinh quang Chúa trước khi ta nói. Nhập đoàn: thôi đứng ngoài như chủ nhân tuyệt đối, chấp nhận mình cũng là thụ tạo giữa các thụ tạo. Đáp lại: dùng tự do, trí hiểu và trách nhiệm để biến lời ca không lời của trời đất thành lời tạ ơn có ý thức, rồi để lời tạ ơn trở thành cách sống. Ba động tác ấy làm nên một linh đạo rất thực tế. Người nghe sẽ bớt ồn. Người nhập đoàn sẽ bớt kiêu. Người đáp lại sẽ bớt vô trách nhiệm.
Vì thế, có thể bắt đầu rất nhỏ. Mỗi ngày nhìn trời một lần mà không cầm điện thoại. Khi uống nước, đôi lúc thầm tạ ơn. Khi ăn, nhớ món ăn đã đi qua bao bàn tay. Đi ngang một cây quen, nhìn thật sự một lần thay vì coi nó như đồ trang trí đường phố. Nghe tiếng mưa mà không mở ngay một video khác để át nó. Chơi với một đứa trẻ và nhìn em như một mầu nhiệm sống chứ không như dự án phải thành công. Đứng trước một người ăn xin và ít nhất đừng để họ biến thành vật vô hình. Ngắm một người già chậm chạp mà nhớ thân xác mình cũng đang đi về sự yếu đuối. Khi vứt một món đồ, tự hỏi nó sẽ đi đâu. Khi mua, tự hỏi có thật sự cần. Khi đi vào nhà thờ, nhớ rằng đá, gỗ, ánh sáng, thân xác, hơi thở của mình cũng đang bước vào phụng vụ. Những điều ấy nhỏ, nhưng linh đạo thường lớn lên bằng những việc nhỏ được lặp lại.
Một cộng đoàn Kitô hữu cũng có thể cầu Thánh vịnh theo cách trả lại chiều kích tạo thành cho phụng vụ. Không phải biến Thánh lễ thành buổi giáo dục môi trường. Nhưng có thể giảng Kinh Thánh mà không bỏ qua thế giới vật chất luôn có mặt trong đó. Có thể dạy trẻ nhìn một hạt giống. Có thể làm khuôn viên nhà thờ bớt bê tông nếu điều kiện cho phép. Có thể giảm phung phí trong các lễ hội. Có thể nghĩ đến rác sau một bữa tiệc giáo xứ. Có thể chăm cây không chỉ để “đẹp cảnh quan” mà như một hình thức trách nhiệm. Có thể để những ngày cầu nguyện cho tạo thành không chỉ kết thúc bằng một khẩu hiệu. Một giáo xứ cầu “trời đất hãy chúc tụng Chúa” nhưng sau đó sử dụng mọi thứ như thể không có giới hạn sẽ tạo một khoảng cách giữa phụng vụ và đời sống. Khoảng cách ấy cần được chữa.
Và ở bình diện cá nhân, người chiêm ngắm dần phát hiện một điều sâu hơn: mình cũng là phần của bài ca đang cần được cứu chuộc. Không phải chỉ đất bị tổn thương. Mắt ta bị tổn thương vì nghiện tốc độ. Ham muốn ta bị tổn thương vì tiêu dùng. Cách ta nhìn bị tổn thương vì mọi thứ dễ biến thành hàng hóa. Thân xác ta bị bóc lột bởi chính ta khi không cho nó nghỉ. Tương quan ta bị nghèo đi khi thiết bị chiếm hết sự chú ý. Chữa lành ngôi nhà chung vì thế cũng cần chữa lành con người bên trong. Không thể xây sinh thái bên ngoài bằng một tâm hồn không giới hạn bên trong. Một ham muốn không bao giờ biết đủ sẽ luôn tìm vật liệu để nuốt. Nếu không nuốt đồ, nó nuốt trải nghiệm. Nếu không nuốt trải nghiệm, nó nuốt danh tiếng. Nếu không nuốt danh tiếng, nó nuốt quyền lực. Linh đạo chiêm ngắm dạy chữ “đủ”. Đủ để dừng. Đủ để chia. Đủ để một vật khác không phải phục vụ mình. Đủ để người khác có phần. Đủ để thế hệ sau còn có.
Cuối cùng, Thánh vịnh dẫn người cầu nguyện đến một điều còn lớn hơn bảo vệ môi trường: ngợi khen. Kitô giáo không bảo vệ tạo thành chỉ vì sợ thảm họa, dù nỗi sợ có lý do. Không chỉ vì con cháu cần tài nguyên, dù trách nhiệm liên thế hệ là thật. Nền tảng sâu nhất là vì tạo thành thuộc về Thiên Chúa và đang mang dấu vết vinh quang Người. Một cánh rừng có giá trị không chỉ vì nó hấp thụ carbon. Một dòng sông có giá trị không chỉ vì nó cung cấp nước. Một loài chim có giá trị không chỉ vì vai trò sinh thái. Những điều ấy đều đúng và khoa học phải nói thật rõ. Nhưng đức tin còn thêm một câu: chúng thuộc về bài ca. Khi một phần tạo thành bị hủy diệt vô trách nhiệm, không chỉ một nguồn tài nguyên mất; một âm sắc của bài ca bị làm câm. Khi một loài biến mất, có điều gì đó độc đáo không còn xuất hiện trong lịch sử trái đất. Khi một con sông chết, một lời ca cổ xưa bị nghẹn. Ngôn ngữ ấy không thay khoa học, nhưng cho khoa học một chiều sâu luân lý và phụng vụ.
“Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa.” Trời vẫn kể dù con người không nghe. Biển vẫn kể. Mưa vẫn kể. Cây vẫn kể. Một hạt cỏ mọc giữa khe bê tông vẫn kể. Một đứa trẻ mới sinh vẫn kể. Một người nghèo vẫn kể về phẩm giá mà thế giới dễ quên. Một thân xác già nua vẫn kể rằng sự sống là quà tặng chứ không phải thành tích. Người cầu Thánh vịnh không được gọi để làm nhạc trưởng của tất cả những tiếng ấy. Họ được mời tìm đúng chỗ mình trong dàn hợp xướng: một thụ tạo biết mình được dựng nên, được yêu, được giao trách nhiệm, có khả năng nghe và có khả năng đáp. Khi ấy, chiêm ngắm không còn là thú vui của người rảnh, cũng không phải đặc quyền của người ở gần biển, núi hay rừng. Nó trở thành một cách sống trước mặt Thiên Chúa: đi chậm đủ để nghe trời đất kể, khiêm nhường đủ để không giành lấy sân khấu, biết ơn đủ để không phung phí, và yêu đủ để muốn bài ca ấy còn tiếp tục vang lên sau khi đời mình đã im tiếng.


CHƯƠNG 5. THÁNH PHANXICÔ ASSISI VÀ BÀI CA MUÔN LOÀI
Nếu Sách Sáng Thế dạy người tín hữu nhìn thụ tạo như điều Thiên Chúa đã thấy là tốt đẹp, nếu các Thánh vịnh dạy ta đứng vào giữa dàn hợp xướng của trời đất để cùng ca ngợi Đấng Tạo Hóa, thì nơi thánh Phanxicô Assisi, cái nhìn ấy trở thành một lối sống, một ngôn ngữ, một tình huynh đệ và cuối cùng là một bài ca. Có lẽ ít nhân vật nào trong lịch sử Kitô giáo được người thời nay nhắc đến nhiều khi nói về thiên nhiên, môi trường và ngôi nhà chung như vị thánh nghèo thành Assisi. Nhưng chính vì được nhắc đến nhiều, thánh Phanxicô cũng rất dễ bị giản lược. Người ta có thể biến ngài thành một biểu tượng dễ thương của những người yêu động vật, một nhân vật lãng mạn nói chuyện với chim, một vị thánh của hoa cỏ, một hình ảnh trang trí trong các chiến dịch bảo vệ môi trường. Những điều ấy không hoàn toàn sai, nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì người ta đã bỏ mất trung tâm của Phanxicô. Ngài không yêu thiên nhiên vì thiên nhiên tự nó là thần linh. Ngài không gọi mặt trời là anh vì cho rằng mặt trời có linh hồn như con người. Ngài không gọi nước là chị vì lẫn lộn các cấp độ hữu thể. Ngài không gọi đất là mẹ vì muốn thay thế Thiên Chúa bằng một thứ nữ thần trái đất. Ngôn ngữ của ngài không phải là ngây thơ sinh học. Đó là ngôn ngữ thần học. Đó là ngôn ngữ của hiệp thông. Đó là tiếng nói của một người đã hiểu rằng mình không phải chủ nhân tuyệt đối của thế giới, mà là một thụ tạo đang sống giữa những thụ tạo khác, tất cả cùng được gọi vào hiện hữu bởi một tình yêu duy nhất, tất cả cùng tùy thuộc vào một Đấng Tạo Hóa duy nhất, tất cả cùng mang trên mình một dấu vết của Đấng đã phán và làm cho chúng hiện hữu. Vì thế, khi Phanxicô gọi mặt trời là “anh Mặt Trời”, gọi mặt trăng và các vì sao là chị, gọi gió, nước, lửa và đất bằng những danh xưng của gia đình, ngài không làm thơ để trang trí thế giới; ngài trả thế giới về đúng quan hệ của nó. Nếu có một Cha, thì không thụ tạo nào có thể được nhìn hoàn toàn như đồ vật. Nếu Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa của mọi sự, thì thế giới không phải một kho vô chủ để ai mạnh thì lấy. Nếu mọi sự đến từ lòng tốt của cùng một Thiên Chúa, thì tương quan của con người với đất, nước, cây cối, thú vật và khí trời không thể chỉ là tương quan khai thác. Chính ở đây “Bài Ca Muôn Loài” của thánh Phanxicô không phải một mảnh văn chương cổ dễ thương nhưng là một cuộc hoán cải cái nhìn. Trước một mặt trời, người tiêu dùng hỏi nó có thể biến thành bao nhiêu điện năng; nhà khoa học hỏi cấu tạo và vận hành của nó; người làm thơ hỏi vẻ đẹp của ánh sáng; còn Phanxicô trước hết hỏi: ánh sáng này đang nói gì về Đấng đã dựng nên nó? Trước nước, người quản trị hỏi trữ lượng; kỹ sư hỏi lưu lượng; doanh nghiệp hỏi giá; người nghèo hỏi hôm nay có đủ để uống không; còn Phanxicô nhìn nước và thưa với Thiên Chúa rằng chị nước thật hữu ích, khiêm nhường, quý giá và tinh sạch. Chỉ vài từ ấy đã đủ để đảo ngược một nền văn minh kiêu ngạo. Nước hữu ích, nhưng không chỉ hữu ích. Nước quý giá trước khi được định giá. Nước khiêm nhường vì chảy xuống nơi thấp. Nước tinh sạch vì mang trong nó khả năng rửa, nuôi, làm dịu, phục hồi sự sống. Một người chỉ nhìn nước như hàng hóa sẽ không bao giờ nói được như thế. Một xã hội chỉ còn biết nước qua hóa đơn cũng đang đánh mất một phần khả năng cầu nguyện. Thánh Phanxicô không phủ nhận công dụng của thụ tạo. Ngài vượt qua cái nhìn chỉ có công dụng. Đó chính là điều linh đạo chiêm ngắm phải lấy lại hôm nay: mọi thụ tạo đều có giá trị sử dụng nào đó, nhưng không thụ tạo nào chỉ có giá trị sử dụng.
“Bài Ca Muôn Loài”, thường được biết dưới tên Cantico delle creature hay Cantico di frate Sole, là một trong những văn bản nổi tiếng nhất gắn với thánh Phanxicô. Chính lời mở đầu “Laudato si’, mi’ Signore” — “Lạy Chúa của con, xin chúc tụng Chúa” — đã được Đức Giáo hoàng Phanxicô lấy làm tên cho Thông điệp Laudato Si’. Việc chọn tên ấy không phải một quyết định văn chương. Nó đặt toàn bộ vấn đề sinh thái vào trong một hành vi phụng vụ: chúc tụng. Đây là điểm rất quan trọng. Một nền sinh thái Kitô giáo bắt đầu không phải bằng sợ hãi rằng trái đất sắp hết, dù nỗi lo ấy có căn cứ; cũng không bắt đầu bằng mặc cảm tội lỗi tập thể, dù phải nhận trách nhiệm; càng không bắt đầu bằng một hệ tư tưởng xem con người như kẻ thù của thiên nhiên. Nó bắt đầu bằng lời chúc tụng Đấng Tạo Hóa. Khi con người biết chúc tụng, họ mới biết mình không phải Thiên Chúa. Khi biết mình không phải Thiên Chúa, họ mới chấp nhận giới hạn. Khi chấp nhận giới hạn, họ mới thôi hành xử như mọi thứ đều sinh ra để thỏa mãn ham muốn của mình. Bài ca của Phanxicô vì thế không hề là bài hát của một người thoát ly lịch sử. Nó là một thứ kháng cự thiêng liêng chống lại bản năng chiếm hữu. Kẻ chiếm hữu nói: cái này là của tôi. Người chúc tụng nói: cái này trước hết là của Chúa. Kẻ chiếm hữu hỏi: tôi còn lấy được gì nữa? Người chúc tụng hỏi: tôi phải đón nhận và gìn giữ thế nào? Kẻ chiếm hữu đo sự vật bằng lợi nhuận. Người chúc tụng đo sự vật bằng ơn ban. Khi nói “anh Mặt Trời”, “chị Nước”, “mẹ Đất”, Phanxicô đã cắt đứt logic lạnh lùng biến thụ tạo thành những đơn vị vô danh trong bảng tính. Người ta khó có thể vừa gọi một dòng sông là chị vừa đầu độc nó mà không cảm thấy một sự mâu thuẫn sâu sắc trong lương tâm. Người ta khó có thể gọi đất là mẹ rồi chỉ coi đất như một bề mặt để đào, bê tông hóa, bán lại và vứt bỏ khi không còn sinh lợi. Người ta khó có thể gọi các loài khác là anh chị em trong đại gia đình thụ tạo rồi xem tuyệt chủng của chúng như một con số không liên quan gì đến mình. Ngôn ngữ tạo nên tương quan. Phanxicô đã dùng ngôn ngữ gia đình để chữa ngôn ngữ chiếm hữu.
Nhưng muốn hiểu Phanxicô, phải nhớ rằng ngài trước hết là một người đã gặp Đức Kitô nghèo và chịu đóng đinh. Sinh thái của Phanxicô không thể tách khỏi Tin Mừng. Ngài không đi từ thiên nhiên đến một thứ thần bí vô danh; ngài đi từ Đức Kitô đến toàn thể tạo thành. Cái nhìn của ngài về thế giới được sinh ra từ cuộc hoán cải, từ việc từ bỏ giấc mộng danh vọng, từ việc ôm người phong cùi, từ việc nghe tiếng Chúa gọi sửa lại ngôi nhà của Người, từ việc sống nghèo, từ việc bước theo Đức Giêsu không nơi gối đầu. Chính vì đã thôi muốn sở hữu đời mình mà ngài có thể nhận mọi sự như quà. Một người càng chiếm hữu càng khó gọi sự vật là anh chị em; bởi vì cái đã bị biến thành tài sản không còn đứng ngang trước mặt ta như một điều có phẩm giá riêng, nó chỉ đứng dưới tay ta như một đối tượng. Phanxicô nghèo không phải vì khinh vật chất. Ngược lại, chính vì tôn trọng vật chất như quà của Chúa nên ngài không muốn biến nó thành thần tượng. Đây là nghịch lý căn bản của linh đạo Kitô giáo: người ta thường nghĩ ai từ bỏ nhiều thì sẽ xa thế giới; nơi Phanxicô, từ bỏ lại làm ngài gần thế giới hơn. Người tham lam nhìn một cánh đồng và thấy giá đất. Người nghèo theo Tin Mừng nhìn cánh đồng và thấy lúa, chim, người gieo, mồ hôi, mùa mưa, ánh nắng, bàn tay Quan Phòng. Người tích trữ nhìn bánh và nghĩ đến dự phòng của mình. Người nghèo nhìn bánh và nghĩ đến việc chia sẻ. Người tham lam nhìn một khu rừng và thấy khối lượng gỗ. Người nghèo trong tinh thần nhìn khu rừng và thấy một cộng đoàn sự sống mà mình chỉ là khách. Nghèo khó theo Tin Mừng không làm thế giới kém giá trị. Nó trả giá trị cho thế giới bằng cách giải thoát thế giới khỏi sự nuốt chửng của lòng tham.
Điều này giải thích tại sao Phanxicô không thể bị tách khỏi người nghèo khi nói về môi trường. Ngày nay có một kiểu bảo vệ thiên nhiên rất dễ trở thành xa xỉ của người giàu: người ta nói nhiều về cảnh quan đẹp, thực phẩm sạch, không khí sạch, du lịch xanh, khu nghỉ dưỡng sinh thái, nhưng lại có thể quên người công nhân làm trong môi trường độc hại, người dân sống bên bãi rác, người nông dân mất đất, người nghèo không đủ tiền mua nước sạch, người di dân bị đẩy đi vì hạn hán hay thiên tai, trẻ em sống cạnh những nguồn ô nhiễm mà chúng không gây ra. Nếu sinh thái chỉ bảo vệ phong cảnh cho người có tiền thưởng ngoạn thì đó chưa phải sinh thái toàn diện. Phanxicô dẫn ta sang một hướng khác: người nghèo và đất bị thương đứng cùng một phía. Cả hai đều dễ bị biến thành đối tượng khai thác. Người nghèo bị coi như lao động rẻ. Đất bị coi như nguyên liệu rẻ. Người nghèo bị vắt sức cho tới khi không còn sinh lợi. Đất bị vắt tài nguyên cho tới khi cạn. Người nghèo bị di chuyển vì lợi ích của người mạnh. Sông bị đổi dòng vì lợi ích của người mạnh. Người nghèo không có tiếng nói trong quyết định lớn. Rừng cũng không có tiếng nói. Người nghèo thường phải chịu hậu quả trước hết của ô nhiễm, khí hậu bất thường, thiếu nước, mất mùa, giá lương thực tăng, thiên tai và di dời. Bởi thế, tiếng kêu của người nghèo và tiếng kêu của trái đất không phải hai tiếng kêu tình cờ đặt cạnh nhau. Chúng thường phát xuất từ cùng một căn bệnh: một mô hình sống không chấp nhận giới hạn, trong đó cái gì yếu thì bị hy sinh để cái mạnh tiếp tục lớn.
Ở đây linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế có một điểm gặp rất sâu với trực giác Phanxicô. Đặc sủng của Dòng Chúa Cứu Thế hướng người môn đệ về những người bị bỏ rơi hơn cả, đặc biệt người nghèo. Nếu “bị bỏ rơi” chỉ được hiểu theo nghĩa cá nhân và xã hội mà không nhìn đến môi trường sống của người nghèo, thì cách hiểu ấy ngày nay sẽ thiếu. Một người nghèo không sống trong chân không. Họ sống trong một căn nhà, một con hẻm, một khu lao động, một vùng đất, một làng ven biển, một miền cao nguyên, một khu công nghiệp. Nếu nguồn nước nơi họ sống bị nhiễm độc, việc loan báo Tin Mừng cho họ không thể hoàn toàn dửng dưng với nước. Nếu đất của họ bị bạc màu, sinh kế bị phá, trẻ em bệnh vì không khí, việc nói về phẩm giá con người không thể tách khỏi phẩm giá của môi trường sống làm nên đời họ. Người nghèo có thân xác, mà thân xác cần nước, khí, đất, thực phẩm và khí hậu có thể sống được. Rao giảng ơn cứu độ cho con người toàn diện mà không quan tâm đến điều kiện căn bản của sự sống có nguy cơ làm Tin Mừng bị thu nhỏ thành an ủi tinh thần. Đương nhiên Hội Thánh không phải một tổ chức môi trường, và linh mục không trở thành chuyên viên khí hậu. Nhưng người môn đệ của Đấng Cứu Chuộc không thể không nhận ra những nơi sự sống đang bị xúc phạm. Nếu người bị bỏ rơi hôm nay bị đẩy ra ngoài vì nghèo, thì trái đất cũng đang bị đối xử như một thứ thực tại bị bỏ rơi: lấy được gì thì lấy, đổ được gì thì đổ, chịu được bao nhiêu thì mặc nó chịu. Nói “kẻ bị bỏ rơi gồm cả trái đất” không có nghĩa đặt đất ngang phẩm giá con người. Con người mang hình ảnh Thiên Chúa theo một nghĩa độc nhất. Nhưng câu nói ấy nhắc rằng thái độ bỏ rơi có thể trở thành một cấu trúc tinh thần: ta bỏ rơi bất cứ điều gì không còn phục vụ trực tiếp lợi ích của ta. Người già bị bỏ vì không sản xuất. Thai nhi bị bỏ vì gây bất tiện. người nghèo bị bỏ vì không có sức mua. Vùng quê bị bỏ vì không sinh lợi nhanh. Rừng bị bỏ vì chưa được quy ra tiền. Đất bị bỏ sau khi khai thác. Sông bị bỏ sau khi ô nhiễm. Một linh đạo cứu chuộc phải nhận ra cùng một dấu vết của tội ích kỷ đang đi qua các thực tại ấy, dù không đồng nhất phẩm giá của chúng.
Thánh Phanxicô còn dạy một điều khó hơn: phải học lại niềm vui. Sinh thái Kitô giáo không thể chỉ được xây trên nỗi sợ thảm họa. Một người chỉ bảo vệ thế giới vì sợ mất thế giới sẽ mệt rất nhanh. Người ta gìn giữ tốt nhất điều mình biết yêu, và yêu sâu nhất điều mình biết nhận như quà. Bài Ca Muôn Loài không có giọng hoảng loạn. Đó là bài chúc tụng. Phanxicô nhìn mặt trời và thấy vẻ huy hoàng. Nhìn trăng sao và thấy vẻ sáng trong. Nhìn gió, khí trời và các mùa mà thấy sự chăm sóc. Nhìn nước và thấy sự khiêm nhường, hữu ích, quý giá, tinh sạch. Nhìn lửa và thấy vẻ đẹp, niềm vui, sức mạnh. Nhìn đất và thấy mẹ nuôi dưỡng, sinh hoa trái, cây cỏ và muôn sắc hoa. Một người có thể đọc những câu ấy và nghĩ rằng vị thánh đang sống giữa một thiên nhiên lý tưởng. Nhưng đời Phanxicô không phải đời nghỉ dưỡng. Ngài biết bệnh tật, lạnh, đói, xung đột, thất vọng, sự bất đồng trong chính cộng đoàn của mình. Bài ca được sinh ra không phải từ sự ngây thơ của người chưa từng đau, mà từ một trái tim đã đi qua đau khổ và vẫn có thể chúc tụng. Đó là nét Kitô giáo sâu nhất. Chúc tụng không phải phủ nhận vết thương. Chúc tụng là không để vết thương có tiếng nói cuối cùng.
Đáng chú ý hơn nữa, Bài Ca Muôn Loài không kết ở mặt trời, nước, lửa hay đất. Phanxicô còn chúc tụng Thiên Chúa vì những người biết tha thứ, vì những người chịu bệnh tật và gian truân trong bình an, và cuối cùng ngài dám gọi cả cái chết thân xác là “chị Chết”. Đây là nơi mọi diễn giải lãng mạn về Phanxicô phải dừng lại. Một người chỉ “yêu thiên nhiên” theo nghĩa cảm xúc khó có thể gọi cái chết là chị. Chỉ một người đã đặt toàn bộ tạo thành trong mầu nhiệm Đức Kitô mới có thể đi xa như vậy. Mặt trời là anh, nước là chị, đất là mẹ, nhưng cái chết cũng được gọi vào gia đình bởi vì trong Đức Kitô phục sinh, ngay cả cái chết cũng không còn hoàn toàn là kẻ xa lạ. Điều đó cho thấy Bài Ca Muôn Loài không phải một hệ tư tưởng sinh thái. Nó là một bản tuyên xưng cánh chung. Toàn thể tạo thành đi về Thiên Chúa. Con người không cứu được mình bằng việc quản lý hoàn hảo hành tinh. Thiên Chúa mới là cùng đích. Điều này vừa giải phóng người Kitô hữu khỏi sự hoảng loạn vừa làm trách nhiệm của họ nghiêm túc hơn. Ta không cứu thế giới thay Thiên Chúa; nhưng ta phải trung thành với thế giới Thiên Chúa trao. Ta không thờ trái đất; nhưng chính vì thờ Thiên Chúa mà ta không được phá trái đất. Ta không coi thiên nhiên là tuyệt đối; nhưng chính vì chỉ Thiên Chúa là tuyệt đối mà thiên nhiên không được biến thành món đồ cho những tuyệt đối giả như tiền, tăng trưởng hay quyền lực.
Laudato Si’ tiếp nhận tinh thần ấy khi nói về “ngôi nhà chung”. Cụm từ này rất đơn giản nhưng chứa một cuộc cách mạng luân lý. Nhà chung khác kho chung. Trong kho, người ta lấy hàng. Trong nhà, người ta sống quan hệ. Trong kho, câu hỏi là còn bao nhiêu. Trong nhà, câu hỏi là ai đang sống ở đây và điều tôi làm ảnh hưởng đến ai. Trong kho, nếu một góc hư hỏng mà chưa ảnh hưởng đến tài sản của tôi, tôi có thể mặc kệ. Trong nhà, mái dột ở phòng người khác sớm muộn cũng là vấn đề của cả nhà. Gọi trái đất là ngôi nhà chung nghĩa là loại bỏ ảo tưởng rằng một dân tộc, một thế hệ hay một nhóm giàu có có thể xây cho mình một vùng an toàn vĩnh viễn bên trong một hành tinh bị tổn thương. Không khí không biết biên giới. Nước không tôn trọng đường kẻ chính trị. Biến đổi khí hậu không xin thị thực. Rác thải không biến mất chỉ vì đã được chở khỏi mắt người thành phố. Thực phẩm không tự xuất hiện trên kệ siêu thị; phía sau nó là đất, nước, hạt giống, người lao động, vận chuyển, năng lượng. Một linh đạo Phanxicô giúp tín hữu nhìn thấy các quan hệ bị che khuất. Khi ăn một bát cơm, ta có thể chỉ thấy thức ăn; nhưng người chiêm ngắm có thể thấy mưa, đất, nắng, người nông dân, chiếc máy, người vận chuyển, người bán, bàn tay nấu. Khi mặc một chiếc áo, ta có thể chỉ thấy món hàng; nhưng người có lương tâm có thể hỏi ai đã may, trong điều kiện nào, với đồng lương nào, bằng sợi từ đâu, qua bao nhiêu nước, để lại bao nhiêu chất thải. Chiêm ngắm không làm ta xa vật chất. Nó làm vật chất trở nên đầy quan hệ.
Chính vì thế, lối sống Phanxicô đặt câu hỏi rất mạnh cho chủ nghĩa tiêu thụ. Tiêu thụ tự nó là điều cần thiết: con người phải ăn, mặc, ở, di chuyển, dùng công cụ. Vấn đề bắt đầu khi tiêu thụ trở thành căn tính: tôi là điều tôi có; tôi vui khi mua; tôi có giá khi sở hữu; cái mới tốt hơn chỉ vì mới; cái cũ đáng bỏ chỉ vì cũ; sửa chữa phiền hơn thay mới; dùng xong là quăng; dư thừa được xem như thành công. Khi ấy, không chỉ trái đất bị tổn thương. Chính linh hồn người tiêu dùng cũng teo lại. Người ta mất khả năng biết đủ. Mà “biết đủ” là một nhân đức thiêng liêng rất lớn. Nó không đồng nghĩa nghèo túng. Người nghèo túng thiếu điều cần thiết. Người biết đủ có điều cần và không để ham muốn vô hạn điều khiển mình. Phanxicô biết đủ đến mức cực đoan bởi chọn nghèo khó triệt để theo ơn gọi riêng. Giáo dân và mọi Kitô hữu không nhất thiết được gọi bắt chước hình thức ấy. Nhưng tất cả đều được gọi học sự tự do của ngài: có thể sử dụng mà không bị sở hữu; có thể nhận mà không tích trữ vô độ; có thể thưởng thức mà không chiếm đoạt; có thể cho đi mà không thấy mình mất căn tính. Sinh thái bắt đầu không chỉ ở nhà máy hay chính sách. Nó bắt đầu trong lòng tham. Chừng nào lòng người còn tin rằng hạnh phúc tỷ lệ thuận với lượng sở hữu thì mọi công nghệ xanh cũng sẽ phải chạy theo một ham muốn không có đáy.
Có một chi tiết cần giữ thật rõ: Kitô giáo không dạy rằng thiên nhiên nguyên sơ luôn tốt còn con người luôn xấu. Con người cũng là thụ tạo. Lao động, kỹ thuật, đô thị, khoa học, xây dựng, công nghiệp không tự chúng phản nghịch Thiên Chúa. Sáng Thế trao cho con người nhiệm vụ canh tác và gìn giữ. Đức tin không đòi quay về một quá khứ không công nghệ. Phanxicô cũng không thể được dùng để lên án mọi phát triển. Vấn đề là phát triển nào, cho ai, với giá nào, ai trả giá, và giới hạn ở đâu. Một con đường có thể giúp một vùng nghèo tiếp cận bệnh viện và giáo dục. Một nhà máy có thể tạo việc làm. Một đập nước có thể cung cấp năng lượng. Một mỏ có thể cung cấp vật liệu cần thiết cho đời sống hiện đại. Linh đạo sinh thái không miễn cho ta khỏi những bài toán phức tạp ấy bằng một câu “đừng đụng thiên nhiên”. Nhưng nó buộc ta không được giải bài toán chỉ bằng lợi nhuận. Phải tính cả con người, cộng đồng, thế hệ tương lai, hệ sinh thái, người yếu thế, hậu quả dài hạn. Người Kitô hữu không được phép dùng chữ “phát triển” như một phép tha tội cho mọi phá hủy. Cũng không được dùng chữ “môi trường” như một phép chặn mọi phát triển cần thiết cho người nghèo. Phân định Kitô giáo khó hơn khẩu hiệu vì nó phải giữ cùng lúc công ích, phẩm giá con người, giới hạn sinh thái, công bằng xã hội và trách nhiệm liên thế hệ.
Thánh Phanxicô đặc biệt hữu ích ở đây vì ngài không trao một chương trình kỹ thuật nhưng một con tim. Kỹ thuật cần thiết, luật cần thiết, chính sách cần thiết, khoa học khí hậu cần thiết, kinh tế học cần thiết. Nhưng cùng một công nghệ có thể được dùng bởi một trái tim tham lam hay một trái tim biết đủ. Cùng một chính sách có thể bị thao túng bởi nhóm lợi ích hay phục vụ công ích. Cùng một ngôn ngữ xanh có thể trở thành quảng cáo để tiếp tục bán nhiều hơn. Nếu không có hoán cải, sinh thái có thể trở thành một thị trường mới cho chính mô hình tiêu thụ cũ. Ta mua “xanh” nhưng vẫn mua quá nhiều. Ta nói “bền vững” nhưng không muốn hy sinh tiện nghi nào. Ta đòi doanh nghiệp thay đổi nhưng không đổi lựa chọn của mình. Ta muốn chính phủ giải quyết mọi thứ mà không chấp nhận trả giá nào cho công ích. Linh đạo Phanxicô đặt dao vào chỗ ấy: anh có thực sự xem mọi sự là quà không? Anh có sẵn sàng sống đơn giản hơn để người khác có thể sống không? Anh có chấp nhận giới hạn không? Anh có khả năng vui với ít hơn không? Anh có thể cảm tạ thay vì sở hữu không?
Đối với đời sống cầu nguyện, thánh Phanxicô cũng sửa một hiểu lầm quen thuộc: gặp Chúa trong thiên nhiên không có nghĩa thiên nhiên thay thế phụng vụ, Lời Chúa hay bí tích. Phanxicô là người của Hội Thánh, của Tin Mừng, của Thánh Thể, của Thập giá. Người ta không thể viện Phanxicô để nói: “Tôi không cần nhà thờ, ra rừng là đủ.” Rừng có thể giúp cầu nguyện, nhưng rừng không cử hành Thánh Thể. Biển có thể làm ta kinh ngạc, nhưng biển không ban bí tích Hòa giải. Một hoàng hôn có thể đánh thức lòng tạ ơn, nhưng hoàng hôn không thay thế Lời Chúa được công bố trong cộng đoàn. Ngược lại, một người dự lễ đều mà không còn khả năng ngạc nhiên trước thụ tạo cũng đang để bí tích tách khỏi thế giới mà bí tích muốn thánh hóa. Trong Thánh lễ, bánh và rượu — hoa màu ruộng đất và lao công con người — được đưa lên bàn thờ. Đó đã là một thần học sinh thái cô đọng. Đất, nắng, mưa, hạt giống, cây nho, lúa mì, lao động, vận chuyển, bàn tay con người: tất cả đi vào phụng vụ. Thánh Thể không đưa ta ra khỏi tạo thành. Thánh Thể gom tạo thành vào lời tạ ơn. Người rước Mình Thánh rồi trở về phá hủy vô trách nhiệm thế giới vật chất đang sống trong một mâu thuẫn bí tích mà chính họ có thể chưa nhận ra.
Từ Phanxicô, người Kitô hữu còn học một nhân đức rất hiếm: sự dịu dàng với thực tại. Con người hiện đại có khả năng rất lớn để can thiệp. Ta có máy xúc mạnh hơn, hóa chất mạnh hơn, hệ thống tài chính lớn hơn, dữ liệu nhiều hơn, khả năng biến đổi đất đai nhanh hơn bất cứ thế hệ nào trước. Quyền lực tăng nhanh hơn sự khôn ngoan. Vì thế, vấn đề luân lý không chỉ là ta có thể làm gì, mà còn là có nên làm không. Một nền văn minh trưởng thành không phải nền văn minh làm được mọi thứ, mà biết có những thứ làm được nhưng không làm. Sự dịu dàng không yếu. Nó là khả năng có sức mạnh mà không dùng hết sức mạnh. Người có thể chặt nhưng chọn giữ. Người có thể khai thác hết nhưng chọn để lại. Người có thể kiếm thêm lợi nhuận nhưng chọn trả lương công bằng. Người có thể xây sát mép sông nhưng chọn chừa hành lang cho nước. Người có thể vứt nhưng chọn sửa. Người có thể mua mới nhưng chọn dùng tiếp. Những hành vi nhỏ ấy chỉ có vẻ nhỏ nếu nhìn từng hành vi. Khi trở thành văn hóa, chúng đổi mô hình.
Đất được Phanxicô gọi là “mẹ” cũng đáng được suy niệm sâu. Trong Kinh Thánh, con người được lấy từ đất. Tên Adam gợi đến adamah, đất. Chúng ta không chỉ sống trên đất; theo nghĩa vật chất, chúng ta là đất được Thiên Chúa thổi hơi sự sống. Thân xác con người chứa những nguyên tố đến từ thế giới vật chất. Thức ăn đi từ đất vào thân xác. Nước đi từ sông, mưa, mạch ngầm vào máu. Khi chết, thân xác trở về bụi đất. Vì vậy, thái độ khinh đất cuối cùng cũng là một kiểu quên thân phận mình. Có người muốn sống như thể con người là trí óc treo trong không gian số, không cần giới hạn sinh học, không cần mùa, không cần ngủ, không cần đất, không cần cộng đồng. Nhưng thân xác sẽ luôn nhắc ta rằng ta là thụ tạo. Ta phải thở. Ta phải uống. Ta phải ăn. Ta phải ngủ. Ta bệnh. Ta già. Ta chết. Sinh thái, ở tầng sâu nhất, là sự khiêm nhường của thân xác. Người ta bảo vệ đất không chỉ vì đất ở bên ngoài mình, mà vì mình thuộc về đất theo một nghĩa tạo thành. Điều này không làm con người thấp đi. Nó làm mầu nhiệm Nhập Thể càng đáng kinh ngạc: Con Thiên Chúa đã nhận một thân xác thuộc thế giới vật chất này. Người đã ăn bánh của đất này, uống nước của đất này, đi trên bụi đường này, ngủ dưới bầu trời này, chịu đóng đinh bằng gỗ và kim loại của thế giới này, được đặt trong mộ đá của thế giới này và phục sinh trong chính thân xác đã chịu thương tích. Từ Nhập Thể trở đi, không Kitô hữu nào có thể khinh vật chất mà vẫn nghĩ mình đang bảo vệ đức tin.
Phanxicô còn đặt ta trước một câu hỏi mục vụ: tại sao nhiều người Công giáo rất đạo đức nhưng gần như không có cảm thức sinh thái? Một phần vì lâu nay đời thiêng đôi khi được trình bày quá tách khỏi vật chất. Người ta học giữ linh hồn sạch nhưng ít học giữ dòng sông sạch; được dạy đừng xúc phạm người khác nhưng ít được giúp thấy lãng phí cũng có chiều kích luân lý; được xét mình về lời nói, nóng giận, dục vọng nhưng ít khi xét mình về cách tiêu dùng, thực phẩm bị bỏ, điện nước dùng vô độ, rác mình tạo ra, đồ mình mua chỉ vì bị kích thích. Không phải vì các vấn đề truyền thống không quan trọng. Chúng vẫn quan trọng. Nhưng lương tâm cần được mở đủ rộng để bao trùm hậu quả thực của hành vi con người hôm nay. Một người có thể không trực tiếp ném rác xuống sông nhưng góp phần vào mô hình sản xuất tạo rác khổng lồ. Một người có thể không trực tiếp bóc lột công nhân nhưng luôn chọn hàng rẻ nhất bất chấp chuỗi cung ứng. Một người có thể yêu người nghèo bằng bố thí nhưng không bao giờ hỏi lối tiêu dùng của mình góp phần vào những hệ thống làm nghèo người khác hay không. Linh đạo sinh thái không nhằm tạo thêm mặc cảm tội lỗi. Nó nhằm làm lương tâm trưởng thành hơn.
Trong giáo xứ, tinh thần Phanxicô có thể bắt đầu bằng những việc rất bình thường: đừng tổ chức lễ lớn rồi để lại núi rác; đừng dùng hoa, nhựa, trang trí phung phí chỉ để chứng minh “hoành tráng”; đừng biến hành hương thành tiêu thụ; đừng dạy trẻ em yêu Thiên Chúa mà không dạy chúng kính trọng sự sống chung quanh; đừng nói về Laudato Si’ một ngày rồi cả năm không ai nhắc đến nước, điện, rác, cây xanh, người nghèo sống trong khu ô nhiễm. Nhà thờ đẹp không chỉ vì đá quý hay đèn sáng. Một cộng đoàn biết chăm một mảnh vườn, tiết kiệm nước, hạn chế rác không cần thiết, ưu tiên người nghèo, trân trọng thực phẩm, giữ khuôn viên như một nơi sống động cũng đang làm thần học bằng hành vi. Tuy nhiên, phải tránh biến sinh thái thành phong trào phụ để một nhóm chuyên trách ôm lấy. Nếu chăm sóc ngôi nhà chung thực sự là một chiều kích của đời Kitô hữu, nó phải đi vào giáo lý, bài giảng, sinh hoạt thiếu nhi, đào tạo giới trẻ, mục vụ gia đình, hoạt động Caritas, quản trị tài sản Hội Thánh và lối sống của chính người lãnh đạo cộng đoàn.
Đối với người sống trong thành phố, Phanxicô không đòi phải chạy vào rừng mới sống được linh đạo thụ tạo. Thành phố cũng là nơi tạo thành đang thở, dù hơi thở bị che bởi bê tông. Một cây nhỏ trên ban công, cơn mưa trên mái tôn, ánh sáng sáng sớm chiếu qua cửa kính, một con chim trên dây điện, một bát rau, một ly nước, một người quét đường, một người thu gom rác — tất cả đều có thể trở thành điểm khởi đầu cho chiêm ngắm. Người sống ở căn hộ nhỏ không kém khả năng chiêm ngắm hơn người có căn nhà bên biển. Vấn đề không phải view. Vấn đề là mắt. Có người đứng trước đại dương mà chỉ chụp ảnh. Có người nhìn một giọt nước trên lá và biết tạ ơn. Phanxicô không dạy ta đi tìm cảnh đẹp. Ngài dạy ta tìm lại quan hệ.
Đồng thời, phải nói rõ rằng không phải mọi thứ trong thiên nhiên đều dịu dàng. Thiên nhiên có bão, lũ, bệnh tật, thú dữ, hạn hán, động đất. Sau tội lỗi, toàn thể tạo thành rên siết. Một linh đạo trưởng thành không lãng mạn hóa thiên nhiên như thiên đường nguyên vẹn. Khi một cơn bão phá nhà người nghèo, ta không nên nói dễ dàng rằng “thiên nhiên thật đẹp”. Khi một đứa trẻ chết vì lũ, không thể dùng Bài Ca Muôn Loài để che nỗi đau. Kitô giáo nhìn tạo thành trong cả ba chiều: tốt đẹp do được dựng nên, bị thương trong một thế giới sa ngã, và đang được hướng đến sự hoàn tất trong Đức Kitô. Vì thế, chăm sóc tạo thành không phải trở về một trạng thái nguyên thủy bất khả phục hồi, mà tham dự khiêm tốn vào công trình chữa lành. Ta trồng lại nơi đã phá. Làm sạch nơi đã làm bẩn. Phục hồi nơi có thể. Giảm tổn thương nơi chưa thể phục hồi. Bảo vệ người yếu trước thiên tai. Xây dựng theo cách khôn ngoan hơn. Và khi không thể sửa hết, ta vẫn đứng trong hy vọng chứ không tuyệt vọng.
Cũng không thể bỏ qua chiều kích hòa bình trong Bài Ca Muôn Loài. Phanxicô chúc tụng Thiên Chúa vì những người biết tha thứ vì tình yêu Người. Điều ấy được đặt cùng trong một bài ca với mặt trời, nước, lửa và đất. Tại sao? Bởi sinh thái của Phanxicô không chỉ là quan hệ con người – thiên nhiên; đó là một mạng hiệp thông toàn diện. Một người căm thù anh em nhưng ôm cây chưa phải đã hòa giải với tạo thành. Một cộng đồng bảo vệ rừng nhưng áp bức người bản địa cũng chưa sống công lý sinh thái. Một quốc gia giảm ô nhiễm bằng cách chuyển ngành ô nhiễm sang nước nghèo cũng chỉ dời tội sang chỗ khác. Hòa bình với đất đòi hòa bình giữa người với người. Và nhiều cuộc chiến có chiều kích tài nguyên: đất, nước, khoáng sản, năng lượng, đường vận chuyển. Khi ham muốn không giới hạn gặp tài nguyên hữu hạn, xung đột rất dễ nổ ra. Vì thế, sống đơn giản không chỉ là chuyện đạo đức cá nhân; nó có thể là một đóng góp cho hòa bình.
Trong linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế, điều này có thể được diễn tả bằng một câu rất căn bản: ơn cứu chuộc của Đức Kitô chạm đến con người cụ thể trong thế giới cụ thể. Người bị bỏ rơi nhất không phải một khái niệm. Đó là một người có địa chỉ, khí hậu, nguồn nước, sinh kế, thân xác. Nếu ta loan báo một Đấng Cứu Chuộc dồi dào mà không nghe tiếng kêu của đời sống cụ thể ấy, việc loan báo sẽ bị thiếu thịt. Chăm sóc ngôi nhà chung không thay thế việc loan báo Tin Mừng; nó làm cho lời loan báo khỏi bị trừu tượng. Một nhà truyền giáo đi đến vùng người nghèo mà không quan tâm đất của họ bị chiếm, nước của họ bị bẩn, rừng của họ bị mất sẽ rất khó nói đầy đủ về một Thiên Chúa yêu sự sống. Ngược lại, nếu chỉ bảo vệ đất mà không nói cho con người biết phẩm giá đời đời của họ trong Đức Kitô, sứ mạng Dòng cũng bị cắt mất trung tâm. Phải giữ cả hai: người nghèo và Tin Mừng, cứu độ và công lý, linh hồn và thân xác, trời mới và đất mới.
Thánh Phanxicô cũng nhắc Hội Thánh rằng người nghèo không chỉ là đối tượng được giúp. Họ còn là những người có thể dạy ta cách sống. Nhiều cộng đồng nghèo, nhiều dân tộc bản địa, nhiều người nông dân có một thứ khôn ngoan về đất mà người thành phố đã mất: biết mùa, biết nước, biết hạt, biết giới hạn của đất, biết không phải thứ gì cũng tăng tốc được. Dĩ nhiên nghèo không tự động làm người ta thánh hay sinh thái. Người nghèo cũng có thể phá môi trường vì sinh tồn hoặc vì thiếu lựa chọn. Nhưng khi Hội Thánh chỉ mang giải pháp từ trên xuống mà không lắng nghe kinh nghiệm của người sống gần đất, Hội Thánh có thể lặp lại logic kỹ trị mà mình phê phán. Phanxicô chọn đứng thấp. Đứng thấp không chỉ là khiêm nhường luân lý; đó còn là một vị trí nhận thức. Từ dưới thấp, người ta thấy những điều từ trên cao không thấy.
Có lẽ đóng góp lớn nhất của Phanxicô cho linh đạo sinh thái hôm nay là trả lại từ “huynh đệ” cho tạo thành. Huynh đệ không xóa khác biệt. Anh Mặt Trời không phải con người. Chị Nước không phải người có quyền và nghĩa vụ đạo đức như ta. Mẹ Đất không phải một ngôi vị theo nghĩa con người. Nhưng cách gọi ấy phá vỡ sự cô độc kiêu ngạo của loài người. Chúng ta không sống một mình. Ta sống nhờ vô số thực tại không do mình tạo ra. Ta thở nhờ cây và các hệ thống sinh thái. Ta ăn nhờ đất và sinh vật. Ta sống nhờ nước. Ta nhận ánh sáng và nhiệt từ mặt trời. Ta tồn tại trong một mạng lưới phụ thuộc mà kỹ thuật hiện đại thường che khỏi mắt ta. Càng thành phố hóa, con người càng dễ tưởng nước sinh ra từ vòi, thức ăn sinh ra từ siêu thị, điện sinh ra từ ổ cắm, rác biến mất sau cửa. Phanxicô kéo tất cả các đường dây vô hình ấy trở lại trước mắt và nói: đây là gia đình tạo thành của anh; hãy sống cho phải.
Và cuối cùng, Bài Ca Muôn Loài là một bài học về cái chết của cái tôi. Người nào còn phải đứng giữa vũ trụ như trung tâm sẽ không bao giờ hát được bài ấy. Muốn gọi mặt trời là anh, ta phải thôi nghĩ mình là mặt trời. Muốn gọi đất là mẹ, ta phải nhận mình là kẻ được nuôi. Muốn gọi nước là chị, ta phải chấp nhận mình phụ thuộc. Muốn gọi cái chết là chị, ta phải từ bỏ ảo tưởng mình bất tử bằng sức mình. Phanxicô có thể chúc tụng vì ngài đã được giải thoát khỏi nhu cầu biến mọi sự thành phần kéo dài của bản ngã. Đây chính là sự hoán cải mà thời đại tiêu thụ rất cần. Không phải trước hết thêm một thùng phân loại rác, dù việc ấy tốt. Không phải trước hết mua một món đồ “xanh”, dù có thể hữu ích. Mà là thay đổi câu hỏi căn bản: thế giới này có phải sinh ra để phục vụ vô hạn cho tôi không? Đức tin trả lời: không. Thế giới được dựng nên bởi Thiên Chúa, cho vinh quang Thiên Chúa; con người được ban một vị trí đặc biệt trong tạo thành, nhưng vị trí ấy là trách nhiệm của người quản lý và người gìn giữ, không phải giấy phép của kẻ cướp.
Bởi vậy, người học nơi Phanxicô sẽ bắt đầu sống khác ngay từ những điều rất nhỏ. Khi mở vòi nước, nhớ chị Nước không phải vô tận. Khi ăn, nhớ đất và người lao động. Khi vứt một món đồ, hỏi nó sẽ đi đâu. Khi mua, hỏi có thật cần không. Khi đứng trước một cây, đừng chỉ hỏi cây làm gì cho mình. Khi gặp người nghèo bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm, đừng tách bác ái khỏi công lý. Khi tham dự Thánh lễ, hãy nhận ra bánh rượu mang cả tạo thành lên bàn thờ. Khi cầu nguyện, đừng chỉ xin cho linh hồn mình bình an mà quên ngôi nhà chung đang rên siết. Khi nhìn mặt trời mọc, có thể tập nói lại lời mà Phanxicô đã sống bằng cả cuộc đời: lạy Chúa, xin chúc tụng Chúa.
Và có lẽ đó là điều quan trọng nhất: Phanxicô không mời chúng ta yêu thiên nhiên thay vì yêu Thiên Chúa. Ngài dạy chúng ta yêu Thiên Chúa đến mức nhìn mọi sự khác đi. Khi Thiên Chúa thực sự là Cha, mặt trời không còn chỉ là khối khí cháy; nước không còn chỉ là mét khối; đất không còn chỉ là mét vuông; rừng không còn chỉ là gỗ; con người nghèo không còn chỉ là “đối tượng bác ái”. Mọi sự được đặt trở lại trong quan hệ. Tạo thành trở thành quà. Người khác trở thành anh chị em. Quyền lực trở thành trách nhiệm. Sở hữu trở thành quản lý. Tiêu dùng trở thành phân định. Khoa học trở thành phục vụ. Lao động trở thành cộng tác vào công trình sáng tạo. Nghỉ ngơi trở thành thừa nhận giới hạn. Và lời cầu nguyện trở thành tiếng nói của một thụ tạo đứng giữa muôn loài, không đứng trên tất cả như một ông chủ tự phong, mà đứng trong đại gia đình ấy để cất lên lời ca duy nhất thích hợp trước một thế giới mình không làm ra: “Laudato si’, mi’ Signore” — Lạy Chúa của con, xin chúc tụng Chúa.
Linh đạo sinh thái Kitô giáo vì thế không bắt đầu ở thùng rác và cũng không kết thúc ở thùng rác. Nó bắt đầu trong việc nhận mình là thụ tạo và kết thúc trong lời chúc tụng. Ở giữa hai điểm ấy là cả một cuộc hoán cải: từ chiếm hữu sang đón nhận, từ thống trị sang chăm sóc, từ phung phí sang biết đủ, từ vô cảm sang liên đới, từ cô độc sang huynh đệ, từ coi trái đất là kho sang nhận trái đất là ngôi nhà chung. Thánh Phanxicô đã đi con đường ấy bằng một sự triệt để hiếm có. Hội Thánh hôm nay không nhất thiết phải sao chép hình thức đời sống của ngài, nhưng không thể bỏ qua câu hỏi ngài để lại: nếu chúng ta thực sự tin mọi sự đến từ một Cha, tại sao chúng ta lại đối xử với những gì Cha ban như thể chúng không có quan hệ gì với nhau? Và nếu Đức Kitô đến để đem ơn cứu chuộc dồi dào cho những người nghèo và bị bỏ rơi, chúng ta có thể nào loan báo ơn cứu chuộc ấy mà làm ngơ trước một ngôi nhà chung đang bị tổn thương, nơi chính những người nghèo nhất thường chịu hậu quả trước tiên và nặng nề nhất?
Phanxicô không cho ta một công thức. Ngài cho ta một bài ca. Nhưng đôi khi một bài ca có sức thay đổi một nền văn minh hơn cả một bản quy định, bởi bài ca thay đổi điều con người yêu. Khi ta học yêu lại thế giới như quà của Thiên Chúa, luật sẽ bớt cần ép, hy sinh sẽ bớt cay, giới hạn sẽ bớt giống mất mát. Người ta không cảm thấy bị tước đoạt khi được mời bảo vệ điều mình yêu. Và có lẽ đó là con đường sâu nhất của mọi hoán cải sinh thái: trước khi yêu cầu con người dùng ít đi, phải giúp họ nhìn sâu hơn; trước khi yêu cầu họ giữ gìn, phải giúp họ biết ngạc nhiên; trước khi nói về trách nhiệm, phải trả lại khả năng chúc tụng. Một trái tim không còn biết chúc tụng sẽ luôn thấy thế giới chưa đủ cho mình. Một trái tim biết chúc tụng có thể nhìn một ly nước, một ổ bánh, một bóng cây, một cơn mưa và nhận ra rằng mình đang sống giữa vô số quà tặng chưa bao giờ tự mình tạo ra.
Đó là di sản của người nghèo thành Assisi cho Hội Thánh và cho thế giới: không phải một thứ tình cảm màu xanh, mà là một thần học của tình huynh đệ tạo thành; không phải một cuộc trốn chạy khỏi con người để tìm thiên nhiên tinh sạch, mà là một con đường nối người nghèo với đất bị thương; không phải thần thánh hóa trái đất, mà trả trái đất về cho Thiên Chúa; không phải hạ thấp con người, mà dạy con người sống đúng phẩm giá hình ảnh Thiên Chúa bằng cách trở thành người chăm sóc thay vì kẻ phá hủy. Khi ấy, người Kitô hữu có thể đứng giữa một thế giới đầy vết thương mà vẫn hát. Không hát vì không thấy vết thương. Hát vì biết Đấng Tạo Hóa vẫn là Cha, Đức Kitô vẫn là Đấng Cứu Chuộc, Thánh Thần vẫn làm mới mặt địa cầu, và toàn thể tạo thành, dù đang rên siết, vẫn được gọi hướng về ngày Thiên Chúa sẽ làm cho mọi sự nên mới.

CHƯƠNG 6. CHIÊM NGẮM BỊ MẤT TRONG THẾ GIỚI TỐC ĐỘ
Có một nghịch lý rất lớn của con người hôm nay: chưa bao giờ chúng ta nhìn thấy nhiều hình ảnh về thiên nhiên đến thế, nhưng có lẽ cũng chưa bao giờ chúng ta lại khó hiện diện thật sự trước thiên nhiên đến thế. Một người có thể nằm trong căn phòng kín, mở điện thoại và trong vòng vài phút nhìn thấy bình minh trên Himalaya, băng tan ở Bắc Cực, cá voi nhảy khỏi mặt biển, rừng Amazon nhìn từ trên cao, những cánh đồng oải hương của miền nam nước Pháp, sa mạc Sahara lúc hoàng hôn, những rạn san hô nhiều màu dưới đáy đại dương, thác nước ở Iceland, mây phủ trên núi Alps và cả hình ảnh trái đất được chụp từ không gian. Những hình ảnh mà tổ tiên chúng ta có khi phải đi cả một đời vẫn không được thấy thì hôm nay đi qua trước mắt trong vài cú lướt ngón tay. Về mặt thị giác, con người thời kỹ thuật số dường như đã sở hữu cả thế giới. Nhưng vấn đề nằm ngay ở chữ “sở hữu”. Ta có thể sở hữu hình ảnh mà không gặp thực tại. Ta có thể nhìn rất nhiều mà không thấy gì. Ta có thể tiêu thụ vẻ đẹp mà không để vẻ đẹp làm mình thay đổi. Một đoạn phim ba mươi giây về thác nước không đồng nghĩa với việc đứng trước thác nước. Một hình nền điện thoại có cánh rừng không đồng nghĩa với việc từng nghe rừng thở. Một video tiếng mưa để dễ ngủ không đồng nghĩa với việc đã bước ra hiên, ngửi mùi đất ướt và biết mình đang đứng trước một thế giới không do mình làm nên. Đây là một trong những vấn đề sâu xa của linh đạo sinh thái thời đại chúng ta: không phải con người hoàn toàn không còn nhìn thiên nhiên, nhưng cách nhìn đã bị biến đổi. Thiên nhiên rất dễ trở thành nội dung. Mây là nội dung. Biển là nội dung. Một con chim là nội dung. Một cánh đồng là nội dung. Một trận mưa là nội dung. Thậm chí một thảm họa môi trường cũng có thể biến thành nội dung được xem, được chia sẻ, được bình luận rồi bị đẩy xuống dưới bởi nội dung kế tiếp. Khi mọi sự đều trở thành nội dung, khả năng đứng lại trước một sự vật như trước một mầu nhiệm bị suy yếu. Chiêm ngắm không thể sinh ra trong một cái nhìn luôn hỏi: tiếp theo là gì? Chiêm ngắm chỉ có thể bắt đầu khi cái nhìn dám nói: đủ rồi, tôi ở lại đây.
Thế giới tốc độ không chỉ làm chân con người chạy nhanh hơn; nó làm mắt con người chạy nhanh hơn. Người ta thường nói đến nhịp sống gấp, nhưng có một thứ còn gấp hơn nhịp sống, đó là nhịp chú ý. Một người có thể ngồi yên trên ghế mà tâm trí chuyển cảnh hàng chục lần trong một phút. Tin nhắn đến. Tin tức hiện lên. Một đoạn phim bắt đầu. Một quảng cáo chen vào. Một lời bình gây khó chịu. Một bức ảnh đẹp. Một tiêu đề giật gân. Một thông báo ngân hàng. Một cuộc gọi nhỡ. Một đoạn nhạc. Một câu trích dẫn đạo đức. Một hình ảnh chiến tranh. Một món hàng đang giảm giá. Mắt chưa kịp ở với sự vật này thì đã được kéo sang sự vật khác. Vấn đề không đơn giản là ta dùng điện thoại quá nhiều. Vấn đề sâu hơn là tâm hồn dần học một kiểu hiện hữu bị phân mảnh. Ta quen bị ngắt quãng. Ta quen với kích thích mới. Ta quen với thay đổi liên tục. Ta quen với việc sự vật phải giành lấy sự chú ý của mình trong vài giây đầu tiên nếu không muốn bị bỏ qua. Và một khi não bộ đã được huấn luyện theo nhịp ấy, những gì âm thầm, chậm, nhỏ, không gây sốc và không liên tục đổi mới sẽ trở nên khó chịu. Một cái cây đứng đó không làm gì cả. Một hòn đá không gửi thông báo. Một cánh đồng không cập nhật phiên bản mới. Mặt trời lặn mỗi ngày với một nghi thức cổ xưa đến mức không có tính “mới” theo logic truyền thông. Một cụ già ngồi trước cửa nhà có thể ngồi suốt nửa giờ mà không có tình tiết. Một đứa trẻ ngủ không tạo ra dữ liệu hấp dẫn. Một ngọn nến cháy trên bàn thờ không cạnh tranh nổi với màn hình đổi cảnh mỗi hai giây. Nhưng chính ở những nơi “không có gì xảy ra” ấy, rất nhiều điều quan trọng nhất của đời sống thiêng liêng lại xảy ra.
Chiêm ngắm vốn cần thời gian không hiệu quả. Đây là điều xã hội hiện đại rất khó chịu. Thế giới hiệu suất hỏi mọi phút phải sinh ra một kết quả. Một giờ phải tạo ra sản phẩm. Một cuộc gặp phải có mục tiêu. Một chuyến đi phải có thành quả. Một buổi nghỉ cũng phải được “tận dụng”. Ngay cả kỳ nghỉ đôi khi trở thành một dự án phải hoàn thành: đi bao nhiêu nơi, chụp bao nhiêu ảnh, ăn bao nhiêu món, check-in bao nhiêu điểm. Người ta có thể trở về từ một chuyến du lịch thiên nhiên với hàng ngàn bức ảnh nhưng không nhớ nổi mùi của nơi mình đã đến. Ta có thể chụp một hoàng hôn trước khi thật sự nhìn nó. Có một phản xạ rất đáng suy nghĩ của thời đại: thấy đẹp thì rút điện thoại ra. Điều này tự nó không xấu. Lưu lại kỷ niệm là một nhu cầu tự nhiên. Nhưng nếu mọi cái đẹp lập tức bị biến thành đối tượng để ghi lại, ta rất dễ đánh mất khoảnh khắc cái đẹp được phép đi thẳng vào tâm hồn mà không qua trung gian. Có những lúc tốt hơn là không chụp. Có những lúc cần để mặt trời lặn mà không sở hữu một bức ảnh nào. Có những lúc phải để cánh đồng biến mất sau lưng mình và chỉ còn tồn tại trong ký ức. Chính sự không sở hữu ấy có thể thanh luyện cách nhìn. Ta nhận ra vẻ đẹp không cần thuộc về mình mới có giá trị. Nó có thể xuất hiện, ban mình ra, rồi biến mất. Và người chiêm ngắm không vội chiếm giữ.
Thế giới kỹ thuật số đặc biệt mạnh trong việc tạo kích thích, nhưng kích thích không phải là ngạc nhiên. Hai điều ấy có vẻ giống nhau nhưng về mặt thiêng liêng khác nhau rất xa. Kích thích đòi cái mới. Ngạc nhiên có thể ở lâu với cái cũ. Kích thích cần cường độ tăng dần. Ngạc nhiên có thể sâu dần mà không cần sự vật thay đổi. Một đứa trẻ có thể nhìn một con kiến rất lâu. Người lớn thường chỉ nhìn khi con kiến làm điều gì lạ. Đứa trẻ còn có khả năng ngạc nhiên trước chính việc con kiến tồn tại. Đó là một dạng trí tuệ nguyên thủy mà đời sống tốc độ dễ làm chúng ta đánh mất. Kích thích hỏi: có gì thú vị? Chiêm ngắm hỏi: tại sao có cái gì thay vì không có gì? Kích thích tìm sự kiện. Chiêm ngắm nhận ra hiện hữu là một sự kiện. Kích thích muốn cái khác thường. Chiêm ngắm thấy cái bình thường vốn đã phi thường. Một chiếc lá không cần phát sáng mới đáng nhìn. Một giọt nước không cần được quay chậm dưới kính hiển vi mới là mầu nhiệm. Một con chim sẻ trên dây điện không cần là giống quý hiếm mới đáng được chú ý. Người chiêm ngắm không đợi thế giới biểu diễn cho mình. Người ấy học cúi xuống trước cái đang có.
Ở đây, vấn đề sinh thái chạm trực tiếp đến linh đạo chú ý. Con người phá hủy những gì mình không còn thấy. Đó là một quy luật rất đáng sợ. Khi rừng chỉ là vùng màu xanh trên bản đồ kinh tế, việc đốn rừng trở nên dễ hơn. Khi con sông chỉ là nguồn nước cho sản xuất, việc làm nó ô nhiễm trở nên dễ hơn. Khi đất chỉ là diện tích bất động sản, việc phủ bê tông trở nên dễ hơn. Khi động vật chỉ là đơn vị sản lượng, việc đối xử tàn nhẫn với chúng trở nên dễ hơn. Khi người nghèo chỉ là một con số thống kê, việc bỏ mặc họ cũng trở nên dễ hơn. Sự tàn nhẫn thường bắt đầu trước hành động, ngay trong cách nhìn. Ta làm tổn thương một thực tại sau khi đã làm nó nghèo đi trong trí tưởng tượng. Trước khi một khu rừng bị chặt bằng cưa máy, nó có thể đã bị chặt trong tâm trí bằng một định nghĩa quá hẹp: “nguồn gỗ”. Trước khi một con sông chết vì hóa chất, nó có thể đã chết trong cái nhìn của con người khi không còn được gọi là sông mà chỉ còn là “nguồn cung cấp nước”. Trước khi người lao động bị bóc lột, họ đã bị biến thành “nhân lực”. Trước khi người nghèo bị bỏ quên, họ đã bị biến thành “gánh nặng”. Vì thế, hoán cải sinh thái không thể chỉ là thay đổi công nghệ hay hành vi tiêu dùng. Nó phải đi sâu hơn đến chỗ chữa lành cái nhìn.
Chiêm ngắm là một cuộc phục hồi thị giác thiêng liêng. Không phải phục hồi thị lực sinh học, nhưng phục hồi khả năng thấy sự vật trong chiều sâu của chúng. Người Kitô hữu tin rằng thế giới không phải một khối vật chất câm. Nó là thụ tạo. Chỉ một chữ ấy thôi đã thay đổi tất cả. “Vật” và “thụ tạo” có thể cùng chỉ một thực tại nhưng không cùng cách nhìn. Khi gọi một cái cây là thụ tạo, ta không phủ nhận sinh học của nó. Ta đặt sinh học ấy trong tương quan với nguồn gốc sâu hơn: nó được nhận lãnh sự hiện hữu. Nó không tự cho mình có mặt. Nó là quà. Đất là quà. Nước là quà. Không khí là quà. Thân xác là quà. Thời gian là quà. Ngay cả khả năng nhìn cũng là quà. Chiêm ngắm xảy ra khi ta không chỉ dùng mắt nhưng nhận lại đôi mắt như một ân huệ. Tôi không tự làm ra ánh sáng đang rơi trên cánh đồng. Tôi không tự tạo được màu xanh. Tôi không đặt nhịp di cư vào cánh chim. Tôi không bảo hạt giống phải nảy mầm. Tôi có thể nghiên cứu các cơ chế, can thiệp vào một số tiến trình, chăm sóc, cắt tỉa, lai tạo, điều chỉnh; nhưng trước mọi thao tác của tôi, có một thực tại đã được trao. Chính ý thức về cái “đã được trao” ấy là nền đất của lòng biết ơn.
Thế giới tốc độ làm yếu lòng biết ơn vì nó khiến ta sống trong tâm thế mọi sự phải sẵn có tức thì. Nước chảy khi mở vòi. Điện sáng khi bật công tắc. Thực phẩm đến tận cửa. Hình ảnh xuất hiện khi tìm kiếm. Âm nhạc phát ngay khi bấm. Điều hòa làm nhiệt độ đổi trong vài phút. Hệ thống hiện đại mang lại những tiện ích thực sự và nhiều tiện ích ấy là thành quả đáng quý của trí tuệ con người. Nhưng tiện ích có một nguy cơ thiêng liêng: nó che khuất các trung gian và nguồn gốc. Một ly nước đến quá dễ khiến ta quên sông, hồ, mạch ngầm, mưa, hệ thống xử lý, đường ống, người lao động. Một miếng bánh đến quá dễ khiến ta quên đất, hạt giống, nắng, người nông dân, người xay bột, người vận chuyển. Một chiếc áo đến quá dễ khiến ta quên cây bông, nước nhuộm, nhà máy, đôi tay may, điều kiện lao động. Một điện thoại đến quá hoàn chỉnh khiến ta quên khoáng sản, mỏ, năng lượng, công nhân, chuỗi cung ứng và rác điện tử. Chiêm ngắm trả lại chiều sâu cho đồ vật. Nó không cho phép một vật chỉ xuất hiện ở điểm cuối cùng của dây chuyền, nơi nó tiện dụng cho tôi. Nó lần ngược lại những tương quan đang bị che giấu. Một người biết chiêm ngắm bữa ăn sẽ ăn khác. Một người biết chiêm ngắm nước sẽ dùng nước khác. Một người biết chiêm ngắm đất sẽ xây dựng khác. Một người biết chiêm ngắm lao động của người khác sẽ mua bán khác.
Nhưng để làm được điều đó, con người phải giành lại sự chú ý. Sự chú ý hôm nay là một chiến trường. Không chỉ vì ta dễ xao nhãng, nhưng vì có cả một nền kinh tế được xây dựng trên việc giữ mắt người dùng càng lâu càng tốt. Chú ý trở thành tài nguyên có thể khai thác. Mỗi giây nhìn màn hình đều có thể được tính, đo, phân tích, dự đoán và bán. Trong nền kinh tế chú ý, điều thu hút mạnh thường thắng điều quan trọng. Tin gây giận dữ có thể thắng tin làm ta khôn ngoan. Hình ảnh gây sốc thắng cảnh bình thường. Tiêu đề cực đoan thắng giải thích có sắc thái. Tốc độ thắng suy tư. Và một tâm hồn sống quá lâu trong cơ chế ấy sẽ dần mang logic của nó vào cả đời sống ngoài màn hình. Người ta bắt đầu mong cuộc trò chuyện cũng phải nhanh, phụng vụ cũng phải “cuốn”, bài giảng phải giữ được chú ý từng phút, thiên nhiên phải đẹp như ảnh chỉnh màu, người khác phải thú vị, cầu nguyện phải có cảm giác, thinh lặng phải mang lại kết quả. Nếu không, ta chán. Nhưng Thiên Chúa không phải một nhà sản xuất nội dung cạnh tranh sự chú ý với thế giới. Người thường đến trong một cách thức khiến kẻ nghiện kích thích có thể bỏ lỡ: một tiếng gió hiu hiu, một lời Kinh Thánh đã nghe hàng trăm lần, một khuôn mặt quen, một công việc lặp lại, một buổi sáng chẳng có gì đặc biệt, một cơn mưa nhẹ, một khoảng thinh lặng mà ban đầu ta thấy trống rỗng.
Do đó, hoán cải chú ý là một phần thật sự của đời sống thiêng liêng. Nó không phải một kỹ thuật chăm sóc sức khỏe tinh thần được ghép thêm vào linh đạo sinh thái. Nó liên hệ trực tiếp đến câu hỏi: tôi trao mắt mình cho ai, trao thời gian mình cho cái gì, và điều gì đang huấn luyện lòng ham muốn của tôi? Thánh Kinh nhiều lần sử dụng ngôn ngữ của việc nhìn: hãy nhìn, hãy xem, hãy ngước mắt, hãy chiêm ngưỡng. Đức Giêsu cũng dạy bằng cách kéo mắt người ta trở về với thực tại gần nhất: “Hãy xem chim trời”, “hãy ngắm hoa huệ ngoài đồng”. Điều đáng chú ý là Người không bảo các môn đệ hãy nghiên cứu một ý niệm trừu tượng về sự quan phòng. Người chỉ cho họ chim và hoa. Có một thần học của đôi mắt ở đây. Chúa Giêsu biết rằng con người học tín thác không chỉ bằng lập luận nhưng bằng cách nhìn thế giới dưới ánh sáng của Chúa Cha. Chim trời không phải bằng chứng toán học rằng không ai sẽ đói. Hoa đồng không phải bảo đảm rằng người công chính sẽ không đau khổ. Nhưng chúng là những dấu chỉ giúp trái tim thoát khỏi ảo tưởng rằng mọi sự tồn tại nhờ lo âu của ta. Muốn đọc được dấu chỉ ấy, phải nhìn đủ lâu.
“Đủ lâu” là một kỷ luật khó của thời đại. Chúng ta quen đánh giá nhanh: một người trong vài phút, một cuốn sách sau vài trang, một bài viết từ tiêu đề, một nơi chốn qua ảnh, một biến cố qua video ngắn. Nhưng chiêm ngắm chống lại phán đoán vội. Đứng lâu trước một cái cây, ta thấy nhiều hơn cái nhìn đầu tiên: vỏ nứt, lá non, lá già, côn trùng, vết thương, cành khô, chồi mới. Ở lâu với một người nghèo, ta nhận ra người ấy không phải “người nghèo” theo nghĩa một nhãn dán; họ có tên, ký ức, lòng tự trọng, sự hài hước, nỗi xấu hổ, những chọn lựa tốt và xấu như mọi người. Ở lâu với một nơi bị ô nhiễm, ta mới hiểu ô nhiễm không chỉ là màu nước hay mùi khí, nhưng là bệnh tật, mất sinh kế, di cư, bất công, những đứa trẻ lớn lên không còn biết con sông từng thế nào. Chiêm ngắm không làm ta xa thực tại chính trị và xã hội. Trái lại, nó làm thực tại trở nên không thể bị giản lược. Người thật sự nhìn một dòng sông sẽ khó nói về nó như một con số. Người thật sự nhìn người nghèo sẽ khó dùng họ như khẩu hiệu. Người thật sự nhìn đất sẽ khó chấp nhận mọi hình thức khai thác chỉ vì hợp pháp.
Có lẽ một trong những dấu hiệu rõ nhất của việc mất khả năng chiêm ngắm là ta không còn chịu nổi sự buồn chán. Hễ vài phút không có gì kích thích, tay tự tìm điện thoại. Đứng đợi thang máy, điện thoại. Xếp hàng, điện thoại. Ngồi trên xe, điện thoại. Chờ món ăn, điện thoại. Nghỉ giữa hai công việc, điện thoại. Trước khi ngủ, điện thoại. Vừa thức dậy, điện thoại. Những khoảng trống nhỏ từng là nơi tâm trí tự sắp xếp, ký ức trồi lên, câu hỏi xuất hiện, lời nguyện nảy ra, nay bị lấp kín. Nhưng chiêm ngắm thường bắt đầu ngay phía sau cánh cửa buồn chán. Những phút đầu tiên khi ta ngồi im có thể rất khó. Ta thấy chẳng có gì. Chính vì hệ thần kinh quen kích thích cao nên đời thật ban đầu có vẻ nhạt. Nếu chịu ở lại, độ nhạy dần trở về. Ta nghe tiếng quạt, tiếng chim, tiếng người ngoài phố, tiếng gió chạm lá. Ta nhận ra ánh sáng thay đổi trên tường. Ta cảm được nhịp thở. Ta nhớ đến một người. Một câu Lời Chúa trở lại. Một nỗi buồn mà mình đã chạy trốn bắt đầu có tên. Một niềm biết ơn không rõ từ đâu xuất hiện. Thinh lặng lúc ấy không còn là thiếu nội dung. Nó là nơi nội dung sâu hơn của đời sống có thể nổi lên.
Vì thế, một thực hành sinh thái rất cụ thể có thể là học không lấp đầy mọi khoảng trống. Đi bộ mười lăm phút không tai nghe. Uống một ly nước mà không nhìn màn hình. Ngồi dưới một cái cây mà không chụp ảnh. Ăn một bữa mà không có video chạy bên cạnh. Mở cửa sổ khi trời mưa thay vì tìm “rain sounds”. Đi qua một công viên với tốc độ đủ chậm để nhận ra có những loài cây khác nhau. Nhìn mặt người đang nói thay vì vừa nghe vừa kiểm tra thông báo. Những việc ấy có vẻ nhỏ, nhưng chúng là bài tập giải phóng chú ý khỏi chế độ tiêu thụ. Ta tập trở lại với một thế giới không được thiết kế riêng để giữ mình hứng thú. Và chính vì không được thiết kế để phục vụ cảm giác của ta, thế giới ấy có khả năng dạy ta khiêm nhường.
Sự chậm không tự động là thánh. Có người chậm vì lười, trì hoãn hay thiếu trách nhiệm. Kitô giáo không lãng mạn hóa sự chậm. Có lúc phải chạy. Người Samari nhân hậu không thể bảo người bị đánh nằm đó để mình “chiêm ngắm”. Khi một khu rừng cháy, phải hành động nhanh. Khi người bệnh nguy kịch, bác sĩ không thể sống chậm. Khi có bất công, trì hoãn có thể là đồng lõa. Vì thế linh đạo chậm không phải tôn thờ tốc độ thấp. Nó là giành lại quyền quyết định nhịp sống thay vì để mọi nhịp được áp đặt từ bên ngoài. Có những việc cần nhanh và có những điều chỉ có thể nhận được khi chậm. Tình bạn cần chậm. Nuôi dạy con cần chậm. Chữa lành cần chậm. Học một nhân đức cần chậm. Hiểu một vùng đất cần chậm. Cầu nguyện cần chậm. Hoán cải cần chậm. Một xã hội trưởng thành phải phân biệt được nơi nào cần tốc độ và nơi nào tốc độ trở thành bạo lực.
Tốc độ có thể là một hình thức bạo lực khi nó không cho sự vật thời gian để trở thành chính nó. Nông nghiệp bị ép sản lượng quá nhanh sẽ làm đất kiệt. Chăn nuôi bị ép tăng trưởng quá nhanh có thể biến con vật thành cỗ máy sinh học. Lao động bị ép năng suất quá mức làm con người kiệt sức. Trẻ em bị ép trưởng thành nhanh mất tuổi thơ. Tin tức bị ép cập nhật liên tục mất chiều sâu. Người bệnh bị ép hồi phục theo lịch có thể thêm mặc cảm. Một cộng đồng bị ép phát triển bằng mọi giá sẽ hy sinh môi trường. Ngay cả đời sống thiêng liêng cũng có thể bị logic tăng tốc xâm nhập: muốn có bình an ngay, muốn chữa lành ngay, muốn cảm nghiệm Chúa ngay, muốn trở thành người đạo đức ngay. Nhưng Tin Mừng dùng rất nhiều hình ảnh nông nghiệp: hạt giống, men, cây nho, mùa gặt. Đó là những thực tại có thời gian riêng. Người gieo không kéo cây lên cho nó lớn nhanh. Người ấy gieo, tưới, chờ, chăm sóc và tin vào những tiến trình mình không kiểm soát hoàn toàn. Linh đạo tạo thành vì thế cũng là linh đạo của kiên nhẫn.
Chiêm ngắm còn giúp chữa một căn bệnh khác của thời tốc độ: ảo tưởng rằng chỉ cái lớn mới đáng chú ý. Mạng xã hội ưu tiên điều nổi bật. Truyền thông chọn biến cố. Thị trường quảng bá cái mới. Nhưng hệ sinh thái được giữ bởi vô số điều nhỏ. Một lớp đất mỏng. Một côn trùng thụ phấn. Một dòng nước ngầm. Một loài nấm. Một cánh rừng ngập mặn. Một hạt giống bản địa. Một bãi bùn mà người ta thấy xấu. Những thực tại ấy không “hoành tráng”, nhưng sự sống của cả vùng có thể tùy thuộc vào chúng. Đời sống con người cũng thế. Gia đình được giữ bởi những việc nhỏ: một bữa cơm, một lời hỏi, một lần nhường, một việc nhà được làm không ai khen. Đức tin cũng được giữ bởi những điều nhỏ: dấu thánh giá buổi sáng, một câu kinh trước ngủ, một Chúa Nhật trung thành, một lần im miệng thay vì nói xấu, một chút tiền chia sẻ, một phút đứng trước Nhà Tạm. Chiêm ngắm làm ta trở nên nhạy với cái nhỏ. Và một người nhạy với cái nhỏ sẽ sống sinh thái hơn, bởi người ấy hiểu rằng thế giới không chỉ được cấu thành bởi những dự án lớn nhưng bởi hàng tỷ tương quan mong manh.
Trong một nền văn hóa thích tốc độ, thinh lặng dễ bị hiểu như khoảng trống cần được lấp. Nhưng trong truyền thống Kitô giáo, thinh lặng không phải hư vô. Nó là điều kiện để nghe. Một khu rừng thật không im lặng tuyệt đối. Nó đầy âm thanh. Nhưng muốn nghe, con người phải giảm âm thanh của mình. Đây có thể là một hình ảnh cho đời sống thiêng liêng hôm nay. Thiên Chúa không nhất thiết im lặng; có thể ta quá ồn. Thụ tạo không nhất thiết câm; có thể ta không còn khả năng nghe. Người nghèo không nhất thiết không có tiếng nói; có thể các hệ thống của ta quá ồn để tiếng họ lọt vào. Cơ thể không nhất thiết không báo động; có thể lịch làm việc át nó. Trái đất không nhất thiết không nói; khí hậu, đất đai, nguồn nước, sự mất loài đang nói bằng nhiều dấu hiệu. Vấn đề là liệu ta có khoảng lặng đủ để nghe hay không.
Một linh đạo sinh thái trưởng thành vì thế phải bao gồm những hình thức “ăn chay chú ý”. Kitô giáo quen nói ăn chay thức ăn, nhưng con người hôm nay còn có thể cần ăn chay kích thích. Không phải vì công nghệ xấu, nhưng vì tự do cần được bảo vệ. Nếu tôi không thể để điện thoại xuống một giờ, câu hỏi không còn là điện thoại tốt hay xấu, mà là ai đang làm chủ ai. Nếu tôi không thể đi qua một cảnh đẹp mà không chụp, tôi cần hỏi liệu mình còn biết hiện diện không. Nếu tôi không thể cầu nguyện mười phút mà không kiểm tra thông báo, tôi cần thừa nhận chú ý của mình đang bị phân mảnh. Ăn chay kỹ thuật số không nhất thiết phải cực đoan. Có thể chỉ là không mang điện thoại vào bữa cơm. Không dùng màn hình trong mười lăm phút đầu sau khi thức dậy. Không cầm điện thoại khi đi bộ ngắn. Tắt thông báo không cần thiết. Dành một khoảng cố định mỗi tuần không mạng. Nhưng quan trọng hơn kỹ thuật là ý hướng: tôi đang trả lại cho mắt khả năng nhìn, cho tai khả năng nghe, cho tâm hồn khả năng ở lại.
Chiêm ngắm thiên nhiên không có nghĩa mọi người phải đi rừng hay sống ở nông thôn. Đây là một cám dỗ lãng mạn khác. Phần lớn nhân loại hôm nay sống trong các không gian đô thị hoặc bán đô thị. Nếu linh đạo sinh thái chỉ dành cho người có thể đi núi, ra biển, nghỉ dưỡng ở nơi đẹp, nó sẽ trở thành một đặc quyền của người có điều kiện. Tạo thành vẫn ở giữa thành phố. Một cây mọc bên lề đường. Bầu trời giữa hai tòa nhà. Một con chim làm tổ dưới mái. Một bụi cỏ mọc qua khe xi măng. Cơn mưa đổ xuống mái tôn. Một chậu rau trên ban công. Ánh sáng ban mai chạm bức tường. Một con mèo ngủ dưới xe. Dòng kênh ô nhiễm cũng là tạo thành đang bị thương. Rác chất ở góc phố cũng là câu hỏi sinh thái. Người nhặt ve chai đi lúc trời còn tối cũng thuộc về câu chuyện ngôi nhà chung. Chiêm ngắm đô thị không chỉ tìm cái đẹp còn sót lại. Nó còn học nhìn vết thương mà không quay mặt.
Thật vậy, chiêm ngắm Kitô giáo không phải du lịch thẩm mỹ. Nó không chỉ nhìn hoa, núi, biển và hoàng hôn. Nếu chiêm ngắm chỉ hoạt động trước cái đẹp dễ chịu, nó chưa đi hết con đường của Tin Mừng. Đức Kitô dạy người môn đệ nhìn cả những gì người khác muốn tránh: người phong cùi, người ăn xin, người góa bụa, người bị đánh nằm bên đường, đám đông đói, người tội lỗi bị khinh. Một linh đạo sinh thái đích thực cũng phải nhìn những bãi rác, sông chết, khu công nghiệp ô nhiễm, người lao động chịu độc hại, trẻ em sống cạnh nguồn nước bẩn, nông dân mất đất, cộng đồng bị buộc di dời, động vật bị đối xử như vật phẩm. Chiêm ngắm không phải trốn vào vẻ đẹp để khỏi đau trước thế giới. Nó là học nhìn đủ sâu để vẻ đẹp và vết thương cùng đi vào tim. Chính lúc ấy lòng thương xót trở thành hành động.
Điều này giúp phân biệt chiêm ngắm với tiêu dùng trải nghiệm. Người tiêu dùng trải nghiệm đi tìm nơi đẹp để cảm thấy tốt hơn. Người chiêm ngắm để mình bị thực tại chất vấn. Một người có thể đi vào rừng, chụp hình, thư giãn và trở về với lối tiêu dùng y như cũ. Khi ấy thiên nhiên đã chỉ là dịch vụ phục hồi tinh thần. Nhưng nếu đứng trong rừng và chợt nhận ra mình là sinh vật phụ thuộc vào không khí, nước, đất, cây và hàng triệu tương quan không do mình kiểm soát, một điều khác xảy ra. Ta bớt kiêu. Nếu nhìn con sông và biết dòng nước ấy đang mang rác của chính lối sống mình, chiêm ngắm trở thành xét mình. Nếu nhìn bữa ăn và nhớ có đất, nước, lao động và sự sống đã đi vào đó, lời tạ ơn bàn ăn trở nên nặng hơn. Nếu nhìn một món đồ sắp bỏ và nhận ra nó sẽ không “biến mất” khỏi trái đất chỉ vì biến mất khỏi nhà mình, hành vi vứt bỏ không còn vô tội như trước. Đây là lúc chiêm ngắm đi vào luân lý.
Có thể nói rằng cuộc khủng hoảng sinh thái một phần là cuộc khủng hoảng của khả năng hiện diện. Ta tiêu thụ những thứ được sản xuất ở những nơi mình không thấy, bởi những người mình không gặp, từ nguyên liệu mình không biết nguồn, và thải bỏ vào những nơi nằm ngoài tầm mắt. Nền kinh tế hiện đại có thể tách người hưởng lợi khỏi hậu quả. Chính khoảng cách ấy làm lương tâm dễ ngủ. Chiêm ngắm làm điều ngược lại: nó nối lại. Nó hỏi: thứ này từ đâu đến? Nó sẽ đi đâu? Ai đã làm nó? Đất nào đã cung cấp nguyên liệu? Nước nào đã được dùng? Người nào đã chịu giá? Hệ sinh thái nào đang mang hậu quả? Những câu hỏi ấy không nhằm làm con người sống trong mặc cảm thường trực, nhưng để đưa tự do ra khỏi sự ngây thơ. Không có tự do đạo đức thật khi ta từ chối nhìn hậu quả của lựa chọn mình.
Cũng cần nói đến một hình thức tốc độ khác: tốc độ của ngôn ngữ. Chúng ta nói nhanh về những gì chưa nhìn kỹ. Một trận lụt vừa xảy ra, lập tức có hàng ngàn ý kiến. Một vụ cháy rừng chưa được hiểu rõ nguyên nhân, người ta đã tranh cãi. Một chính sách môi trường vừa được công bố, các phe đã chọn vị trí. Tốc độ phản ứng khiến sự thật trở thành nạn nhân. Chiêm ngắm trong trường hợp này là một nhân đức trí thức: dám chưa nói. Dám tìm hiểu. Dám nghe người có chuyên môn. Dám nhìn nhiều phía. Dám thừa nhận mình chưa biết. Linh đạo sinh thái không chống khoa học; nó cần khoa học để không biến tình yêu tạo thành thành cảm tính. Nhưng khoa học cũng cần một nền đạo đức chú ý: dữ liệu phải được đọc cẩn thận, hệ quả phải được cân nhắc, người chịu ảnh hưởng phải được nghe. Chậm ở đây không phải trì hoãn hành động cần thiết, mà là từ chối biến vấn đề phức tạp thành khẩu hiệu tiện lợi.
Đời sống giáo xứ cũng có thể góp phần phục hồi chiêm ngắm hoặc ngược lại làm nó yếu hơn. Một cộng đoàn lúc nào cũng đầy chương trình chưa chắc là cộng đoàn có chiều sâu. Lịch sinh hoạt dày không đồng nghĩa với đời sống thiêng liêng mạnh. Có những nơi người ta chạy từ lễ sang họp, từ họp sang tập hát, từ tập hát sang sự kiện, từ sự kiện sang chương trình bác ái, nhưng không còn thời gian ngồi yên trước Chúa. Hoạt động mục vụ có thể trở thành một dạng tốc độ đạo đức: luôn làm việc tốt nhưng ít ở lại. Đức Giêsu gọi các môn đệ đến nghỉ một chút không phải vì sứ mạng hết quan trọng, nhưng vì người phục vụ cũng là thụ tạo có giới hạn. Một giáo xứ dạy linh đạo tạo thành nên biết tạo ra những không gian không quá nhiều lời: giờ chầu có thinh lặng thật, những buổi cầu nguyện ngoài trời, những ngày tĩnh tâm không nhồi chương trình, những giờ đi bộ cầu nguyện, những khoảng sau Lời Chúa không vội giải thích. Người ta không chỉ cần nghe nói về thụ tạo. Người ta cần học cách ở trước thụ tạo trong sự hiện diện của Đấng Tạo Hóa.
Gia đình cũng là trường đầu tiên của sự chú ý. Một đứa trẻ được đưa ra ngoài trời nhưng cha mẹ liên tục nhìn điện thoại sẽ học bài học rất sâu: màn hình đáng chú ý hơn thế giới. Một đứa trẻ hỏi về con sâu, chiếc lá, cơn mưa mà người lớn luôn trả lời “để lát nữa” sẽ dần thôi hỏi. Ngược lại, khi người lớn dừng lại cùng trẻ để nhìn một con chim, trồng một cây, tưới một chậu hoa, nhặt rác sau chuyến đi, cảm ơn người nông dân trước một bữa ăn, trẻ học được một thứ thần học trước khi biết từ “thần học”. Nó học rằng thế giới đáng được yêu vì thế giới không chỉ là đồ dùng. Nó học rằng sự sống nhỏ cũng đáng tôn trọng. Nó học rằng con người thuộc về một mạng lưới tương quan. Một gia đình sinh thái không bắt đầu bằng những khẩu hiệu lớn. Nó bắt đầu bằng cái nhìn.
Người tu sĩ và linh mục cũng không đứng ngoài khủng hoảng chú ý. Có thể sống trong nhà dòng mà tâm trí vẫn bị phân mảnh như ngoài phố. Có thể đọc kinh với điện thoại bên cạnh và mỗi rung động lại kéo lòng ra khỏi lời kinh. Có thể cử hành phụng vụ mà trong đầu đã chạy đến công việc kế tiếp. Có thể giảng về thinh lặng nhưng đời sống riêng không có một khoảng nào thật sự yên. Linh đạo tạo thành đòi người phục vụ Hội Thánh cũng phải được chữa lành trong cách hiện diện. Một linh mục bước vào một gia đình nghèo mà mắt vẫn nhìn điện thoại sẽ không thực sự gặp họ. Một tu sĩ đi giữa thiên nhiên mà chỉ tìm góc chụp đẹp có thể bỏ lỡ điều mình tưởng đang chiêm ngắm. Không phải cấm chụp ảnh hay dùng công nghệ. Vấn đề là thứ tự: tôi gặp trước rồi ghi lại, hay tôi chỉ gặp để ghi lại?
Có một câu hỏi rất thực tế: làm sao biết mình còn khả năng chiêm ngắm? Có thể thử bằng những điều rất nhỏ. Tôi có thể ngồi mười phút trước một cái cây mà không cần làm gì không? Tôi có thể nghe một người kể chuyện mà không nghĩ đến câu mình sắp trả lời không? Tôi có thể đi bộ mà không cần âm thanh liên tục không? Tôi có thể ăn một món chậm đủ để nhận biết hương vị không? Tôi có thể nhìn một đứa trẻ chơi mà không sốt ruột thúc nó làm điều “hữu ích” hơn không? Tôi có thể cầu nguyện mà không đòi cảm xúc ngay không? Tôi có thể để một câu Kinh Thánh ở lại trong lòng cả ngày thay vì đọc thật nhiều? Nếu câu trả lời thường xuyên là không, có lẽ không phải ta thiếu thông tin thiêng liêng. Ta thiếu một cơ quan chú ý đã được rèn luyện.
Chiêm ngắm vì thế có tính khổ chế. Nó đòi từ bỏ. Từ bỏ không phải chỉ những điều xấu, mà cả quyền được kích thích liên tục. Từ bỏ nhu cầu biến mọi phút thành công dụng. Từ bỏ ý muốn ghi lại tất cả. Từ bỏ phản xạ lập tức bình luận. Từ bỏ sự nóng ruột muốn hiểu ngay. Từ bỏ ý muốn mọi sự phải phục vụ tâm trạng mình. Khổ chế Kitô giáo xưa nay không nhằm hành hạ thân xác nhưng giải phóng ham muốn để nó hướng đúng. Trong thời đại này, một hình thức khổ chế quan trọng là khổ chế của đôi mắt. Không nhìn mọi thứ chỉ vì có thể nhìn. Không kéo tiếp chỉ vì còn nội dung. Không để mắt bị mua bằng mọi hình ảnh xuất hiện. Giữ mắt để nó còn khả năng nhận ra khuôn mặt người thật và vẻ đẹp không được chỉnh sửa.
Ở chiều sâu hơn, chiêm ngắm tạo thành đưa con người trở về với căn tính thụ tạo của chính mình. Ta cũng là một phần của thế giới chậm. Cơ thể cần ngủ. Vết thương cần thời gian lành. Não cần nghỉ. Quan hệ cần tích lũy. Đức tin cần mùa. Tuổi già không thể bị tăng tốc. Cái chết không thể bị tối ưu hóa thành một sự cố cần loại bỏ. Khi ghét giới hạn của thụ tạo, ta ghét chính mình. Nền văn hóa tốc độ thường nuôi ảo tưởng có thể vượt mọi giới hạn: làm nhiều hơn, biết nhiều hơn, kết nối nhiều hơn, sản xuất nhiều hơn, sống lâu hơn. Nhiều tiến bộ là đáng quý, nhưng nếu chúng làm ta quên rằng hữu hạn không phải là một sai sót kỹ thuật, ta sẽ trở nên tàn nhẫn với thân xác, người khác và trái đất. Đất có giới hạn. Nguồn nước có giới hạn. Khả năng hấp thụ chất thải có giới hạn. Con người có giới hạn. Chấp nhận giới hạn không phải đầu hàng. Đó là nền của sự khôn ngoan.
Ngày sabát trong Kinh Thánh chính là một cú đánh lớn vào nền văn hóa không giới hạn. Một ngày không sản xuất không có nghĩa là một ngày vô dụng. Nó tuyên bố rằng con người có giá trị vượt khỏi năng suất. Đất cũng được nghỉ. Lao động không phải thần. Kinh tế không được quyền nuốt toàn bộ thời gian. Người nô lệ, súc vật, khách lạ đều được kéo vào nhịp nghỉ. Sabát là sinh thái vì nó đặt giới hạn trên việc khai thác. Nó cũng là chiêm ngắm vì chỉ khi dừng làm, con người mới có thể nhận ra thế giới không sụp đổ khi mình ngừng điều khiển nó. Ta nghỉ để nhớ mình không phải Thiên Chúa. Một xã hội không biết nghỉ sẽ cuối cùng bắt người khác và trái đất trả giá cho sự bất lực của mình trong việc dừng lại.
Ngày nay, việc giữ Chúa Nhật cũng có thể được đọc trong chiều kích này. Nếu Chúa Nhật chỉ là một ngày mua sắm khác, một ngày tăng ca khác, một ngày lấp đầy giải trí khác, ta mất một cơ hội thiêng liêng lớn. Chúa Nhật có Thánh Thể ở trung tâm, nhưng Thánh Thể cũng dạy ta nhìn tạo thành: bánh từ đất và lao công, rượu từ nho và bàn tay, được đưa vào lời tạ ơn. Chính từ “Eucharistia” đã mang nghĩa tạ ơn. Không thể sống Thánh Thể sâu mà vẫn coi vật chất là vô nghĩa. Thiên Chúa dùng bánh, rượu, nước, dầu, thân xác, tiếng nói, bàn tay. Kitô giáo không cứu con người khỏi vật chất; Thiên Chúa cứu con người qua vật chất được ân sủng chạm đến. Một linh đạo Thánh Thể chân thật vì thế làm mắt người tín hữu tỉnh hơn trước quà tặng vật chất, không làm họ khinh nó.
Hoán cải chú ý cuối cùng là học nhìn như Đức Kitô. Tin Mừng cho thấy Đức Giêsu có một cách nhìn khác. Người nhìn bà góa bỏ hai đồng tiền trong khi người khác có thể chỉ nhìn số tiền. Người nhìn Giakêu trên cây giữa đám đông. Người nhìn người phụ nữ đau bệnh chạm áo mình trong lúc mọi người chen lấn. Người nhìn đám đông và chạnh lòng thương vì họ như chiên không người chăn. Người nhìn trẻ em khi môn đệ muốn đuổi chúng. Người nhìn người thanh niên giàu có và đem lòng yêu mến. Cái nhìn của Đức Giêsu không tiêu thụ con người. Người không nhìn ai như trường hợp, dữ liệu, đối tượng hay phương tiện. Người nhìn đến mức người bị nhìn được trả lại phẩm giá. Chiêm ngắm Kitô giáo phải học từ cái nhìn ấy. Ta không chỉ nhìn thiên nhiên đẹp hơn; ta học nhìn mọi thực tại bằng lòng thương xót, biết ơn và kính trọng.
Vì thế, trước khủng hoảng sinh thái, Hội Thánh không chỉ cần những người biết nhiều dữ liệu môi trường, dù dữ liệu rất cần. Hội Thánh cần những con người đã được chữa lành khỏi cái nhìn vội. Những người có thể ở lại với một vấn đề lâu hơn chu kỳ tin tức. Có thể lắng nghe một cộng đồng bị tổn thương lâu hơn một chiến dịch truyền thông. Có thể yêu một mảnh đất lâu hơn lợi ích nhiệm kỳ. Có thể trồng cây mà biết mình có thể không ngồi dưới bóng nó. Có thể bảo vệ một dòng sông dù không ai trao phần thưởng. Có thể sống tiết độ dù người khác không thấy. Có thể dạy con yêu tạo thành mà không biến sinh thái thành nỗi sợ thường trực. Những người ấy có khả năng làm điều dài hạn vì chú ý của họ không bị điều khiển hoàn toàn bởi cái mới.
Có lẽ cuộc hoán cải sinh thái sẽ bắt đầu không phải từ một quyết định khổng lồ nhưng từ một khoảnh khắc rất nhỏ: một người đứng lại. Đứng lại trước một cơn mưa thay vì than phiền ngay. Đứng lại trước một cây cổ thụ trước khi hỏi nó đáng bao nhiêu tiền. Đứng lại trước một bữa cơm để tạ ơn. Đứng lại trước một món đồ trước khi vứt. Đứng lại trước một người nghèo trước khi phán xét. Đứng lại trước màn hình trước khi kéo tiếp. Đứng lại trong thinh lặng trước khi nói. Cái dừng ấy tưởng như không làm gì, nhưng có thể là khởi đầu của một tự do mới. Vì thế giới tốc độ sống bằng phản xạ. Linh đạo sống bằng đáp trả. Phản xạ xảy ra trước khi ta kịp tự do. Đáp trả cần một khoảng dừng để lương tâm, lý trí và tình yêu có thể hiện diện.
Trả lại cho mắt những gì chậm, vì thế, không phải một thú vui thanh nhã. Đó là một hành vi kháng cự thiêng liêng. Trả lại cho mắt một cái cây không cần chụp. Trả lại cho tai một tiếng mưa không cần thu âm. Trả lại cho chân một con đường không cần đếm bước. Trả lại cho bữa ăn một bàn không màn hình. Trả lại cho khuôn mặt người đối diện một cuộc trò chuyện không chia đôi chú ý. Trả lại cho Chúa một giờ không bị bẻ vụn bởi thông báo. Trả lại cho đất một ngày nghỉ khỏi khai thác. Trả lại cho chính mình quyền không phải luôn phản ứng. Tất cả những điều ấy thuộc về hoán cải sinh thái, bởi ngôi nhà chung sẽ không được cứu bởi những con người không còn khả năng ở nhà trong chính thế giới thật.
Màn hình không phải kẻ thù. Công nghệ không phải ma quỷ. Thuật toán không phải nguyên nhân duy nhất của sự mất chú ý. Con người từng xao nhãng trước khi có điện thoại. Nhưng mỗi công nghệ đều huấn luyện một cách sống, và người Kitô hữu phải biết phân định việc mình đang được huấn luyện thành loại người nào. Nếu một công cụ giúp ta học, kết nối, bảo vệ môi trường, nhìn thấy những vùng đất xa, hiểu biến đổi khí hậu, tổ chức hành động liên đới, đó là điều tốt. Nhưng nếu cùng công cụ ấy làm ta mất khả năng nhìn một chiếc lá thật trước mắt, nó đang lấy lại bằng một tay điều đã cho bằng tay kia. Vấn đề không phải bỏ màn hình để trở về một quá khứ không tồn tại. Vấn đề là đặt màn hình vào đúng chỗ để nó không chiếm vị trí của thế giới.
Chiêm ngắm bị mất trong thế giới tốc độ, nhưng chưa mất hẳn. Nó vẫn nằm trong khả năng rất sâu của con người. Một đứa trẻ vẫn có thể dừng trước con bướm. Một người già vẫn có thể ngồi hàng giờ trước cửa nhìn mưa. Một nông dân vẫn biết đọc màu trời. Một người bệnh nằm bên cửa sổ có thể biết quý một vệt nắng hơn người khỏe chạy cả ngày. Một người sống giữa thành phố vẫn có thể biết tên vài cái cây trên con đường mình đi. Một người trẻ lớn lên với màn hình vẫn có thể học yêu thinh lặng. Khả năng chiêm ngắm không chết; nó bị phủ bởi quá nhiều lớp kích thích. Việc của linh đạo là gỡ từng lớp.
Và khi những lớp ấy được gỡ, ta có thể khám phá điều rất đơn sơ: thế giới vẫn ở đó. Trời vẫn sáng mỗi sáng mà không cần ta bấm xem. Mưa vẫn rơi trên mái người giàu và người nghèo. Hạt giống vẫn nứt trong đất tối. Con chim vẫn hót khi không ai quay video. Trăng vẫn đi qua bầu trời mà không cần lượt thích. Một dòng sông vẫn tìm đường xuống thấp. Một cái cây vẫn âm thầm biến ánh sáng thành sự sống. Và Thiên Chúa vẫn tiếp tục ban thế giới cho chúng ta trước khi chúng ta làm bất cứ điều gì để xứng đáng. Chiêm ngắm chính là nhận ra món quà ấy một lần nữa. Khi nhận ra, ta bắt đầu biết ơn. Khi biết ơn, ta bớt chiếm hữu. Khi bớt chiếm hữu, ta có thể chăm sóc. Và khi chăm sóc, ta không còn đứng trước tạo thành như người chủ vội vàng khai thác một kho tài nguyên, nhưng như một người con trong một ngôi nhà đã được trao để ở, để yêu, để gìn giữ và một ngày kia trao lại cho những người đến sau.

CHƯƠNG 7. TRƯỜNG CHIÊM NGẮM: THÂN XÁC, MÙA VỤ, THINH LẶNG
Có một điều rất lạ trong đời sống thiêng liêng hôm nay: con người có thể nói rất nhiều về tạo thành mà lại gần như không còn chạm vào tạo thành; có thể tham dự nhiều hội thảo về môi trường mà cả tuần không bước chân trên đất; có thể chia sẻ hàng trăm bức ảnh núi rừng nhưng nhiều tháng không đứng yên dưới một tán cây; có thể đọc những văn kiện rất hay về ngôi nhà chung nhưng sống trong một nhịp đời mà thân xác, mùa vụ và thinh lặng đều bị loại khỏi chương trình. Khi đó, sinh thái dễ trở thành một ý niệm, chiêm ngắm dễ trở thành một chữ đẹp, còn tạo thành vẫn ở xa. Truyền thống Kinh Thánh không bắt đầu từ một con người thuần trí óc. Con người được dựng nên từ bụi đất, được thổi hơi sự sống, được đặt trong một khu vườn, được mời canh tác và gìn giữ. Đức tin Kitô giáo cũng không cứu một linh hồn trừu tượng nhưng cứu con người toàn vẹn, có thân xác, giác quan, lịch sử, nhịp lao động, nhịp nghỉ, đói, khát, mệt, vui, sinh, già, bệnh và chết. Chính Ngôi Lời đã làm người, nghĩa là đã mang một thân xác thật, biết bước đi trên đường bụi, biết mệt bên bờ giếng, biết ngủ trên thuyền, biết đói trong hoang địa, biết chạm người phong cùi, bẻ bánh, uống rượu, nhìn đồng lúa, nhìn chim trời, nhìn hoa huệ và cảm nhận cái nóng của miền Galilê. Vì thế, nếu muốn học chiêm ngắm tạo thành, người Kitô hữu phải trở lại trường của thân xác. Thân xác là một trong những cánh cửa đầu tiên đưa ta ra khỏi ảo tưởng rằng mình có thể gặp thế giới chỉ bằng thông tin. Đi bộ khác xem đường trên bản đồ. Hít mùi đất sau mưa khác đọc một bài về đất ẩm. Sờ vỏ cây khác nhìn ảnh độ phân giải cao của một thân cây. Nghe tiếng ve, tiếng chim, tiếng mưa rơi trên mái tôn, tiếng nước chảy qua bờ đá khác mở một tệp âm thanh thiên nhiên để dễ ngủ. Công nghệ có thể mô phỏng tín hiệu, nhưng không thể thay thế hoàn toàn sự hiện diện của thân xác trong một thế giới cũng có thân xác. Chiêm ngắm vì thế bắt đầu từ một hành động rất khiêm tốn: trở về với những gì mắt đang thấy, tai đang nghe, da đang chạm, phổi đang hít, chân đang bước và thân xác đang chịu đựng. Một người có thể cầu nguyện rất sâu chỉ bằng cách đi chậm qua một cánh đồng và để lòng mình nhận ra: đất đang nâng bước tôi; không khí đang vào phổi tôi mà tôi không tự sản xuất được; ánh sáng đang chạm mắt tôi mà tôi không trả tiền; cây đang thở theo một cách khác với tôi; cả thế giới đang nuôi tôi trước khi tôi kịp nghĩ rằng mình tự lập. Khi ấy, thân xác trở thành một bài học thần học không viết bằng chữ. Nó dạy ta sự lệ thuộc. Ta không tự tạo ra dưỡng khí cho chính mình. Ta không tự sản xuất ánh sáng mặt trời. Ta không tự điều khiển lượng mưa. Ta không tự dựng nên nhịp sinh học của cơ thể. Ta không tự đặt mình vào hiện hữu. Chính thân xác hằng ngày tố cáo ảo tưởng tự đủ của con người hiện đại. Chúng ta có thể có tiền, có máy móc, có quyền lực, có trí tuệ nhân tạo, có hệ thống sản xuất khổng lồ, nhưng vẫn phải thở từng hơi một. Chỉ cần không khí ô nhiễm, mọi tham vọng trở thành vô nghĩa. Chỉ cần thiếu nước, cả thành phố văn minh nhất cũng trở nên mong manh. Thân xác khiến ta nhớ rằng mình là thụ tạo. Và chỉ người nhớ mình là thụ tạo mới thật sự học được cách tôn trọng các thụ tạo khác.
Đi bộ vì thế không chỉ là một hoạt động thể dục. Nó có thể là một thực hành chiêm ngắm. Khi đi bộ, tốc độ của con người trở lại gần với kích thước thật của không gian. Đi xe nhanh, ta vượt qua một vùng đất. Đi bộ, ta nhận ra từng khoảng đất. Đi xe, một cây chỉ là vật đi ngang cửa kính. Đi bộ, ta có thời gian thấy thân cây bị nứt, thấy rễ nhô lên, thấy một tổ kiến, thấy một chiếc lá bị sâu ăn, thấy người quét đường, thấy dòng nước đen dưới mương, thấy túi nhựa mắc trên hàng rào, thấy một người bán hàng ngồi dưới bóng cây. Đi bộ làm chậm mắt. Mà khi mắt chậm lại, thế giới bắt đầu hiện ra với nhiều tầng hơn. Một trong những thảm họa tinh thần của nền văn minh tốc độ không chỉ là con người đi quá nhanh, nhưng vì đi quá nhanh nên không còn nhìn thấy hậu quả của mình. Ta vứt một món đồ rồi nó biến khỏi mắt ta; ta không thấy bãi rác. Ta mở vòi nước rồi nước chảy; ta không thấy nguồn nước. Ta bấm nút mua hàng; ta không thấy người lao động ở đầu bên kia chuỗi cung ứng. Ta bật điều hòa; ta không thấy nhà máy điện. Tốc độ cắt đứt các mối liên hệ. Chiêm ngắm nối chúng lại. Một người đi bộ trong khu phố của mình với con mắt tỉnh thức sẽ bắt đầu thấy một hệ sinh thái đạo đức: cây nào đang chết, cống nào bị nghẹt, chỗ nào thiếu bóng mát, người nào nhặt ve chai, trẻ em nào chơi gần đống rác, người già nào phải ngồi bên đường đầy khói. Khi đó, môi trường không còn là “vấn đề của hành tinh” ở đâu rất xa; nó mang khuôn mặt của khu phố mình. Từ chiêm ngắm nảy sinh trách nhiệm. Không phải trách nhiệm được áp đặt từ khẩu hiệu, nhưng trách nhiệm phát xuất từ cái thấy. Người đã thật sự thấy một con kênh chết sẽ khó nói về rác như chuyện nhỏ. Người đã thật sự đứng cạnh một người nông dân mất mùa sẽ khó nói về khí hậu bằng giọng vô cảm. Người đã ngửi thấy mùi rác cháy gần khu dân cư sẽ hiểu ô nhiễm không phải một dữ kiện thống kê. Chính thân xác cho sự thật một trọng lượng mà lý thuyết đôi khi không có.
Hơi thở cũng là một người thầy. Trong nhiều truyền thống thiêng liêng, người ta biết rằng chú ý tới hơi thở có thể giúp con người trở về với hiện tại. Kitô giáo không cần biến hơi thở thành một kỹ thuật tự cứu, nhưng có thể nhận ra nơi hơi thở một dấu chỉ rất cổ của sự sống đến từ Thiên Chúa. Sách Sáng Thế kể Thiên Chúa thổi sinh khí vào con người. Chúa Kitô phục sinh cũng thổi hơi trên các môn đệ khi ban Thánh Thần. Hơi thở vì thế vừa mong manh vừa thiêng liêng. Nó nhắc ta rằng sự sống không phải một khối tài sản ta sở hữu; nó được nhận từng khoảnh khắc. Hít vào là nhận. Thở ra là trao. Không ai giữ được hơi thở mãi cho riêng mình. Muốn sống, phải nhận rồi phải buông. Cả đời sống thiêng liêng cũng thế. Người muốn sở hữu mọi sự sẽ nghẹt. Người biết nhận như quà và trao như quà thì sống. Một phút đứng dưới một gốc cây và thở chậm có thể trở thành một lời kinh: “Lạy Chúa, con đang nhận sự sống mà con không làm ra.” Không cần cầu kỳ. Không cần tạo một cảm giác thần bí. Chỉ cần trung thực. Tôi thở vì có không khí. Có không khí vì một mạng lưới vô số tiến trình của tạo thành đang vận hành mà tôi không kiểm soát. Tôi đang sống nhờ những điều tôi không sở hữu. Nhận ra điều ấy đã là một bước hoán cải. Nó bẻ gãy thứ kiêu ngạo khiến con người nghĩ mình là chủ tuyệt đối của trái đất.
Sờ đất cũng là một bài học. Trong một xã hội ngày càng sống trên bề mặt kính, rất nhiều người có thể qua nhiều ngày mà gần như chỉ chạm vào những vật đã được công nghiệp hóa: màn hình, nhựa, kim loại, bàn phím, tay lái, thẻ ngân hàng, bao bì. Đất trở thành thứ bẩn cần tránh. Nhưng Kinh Thánh không ngại đất. Con người đến từ adamah, từ đất. Đức Giêsu dùng bùn để chữa người mù. Người kể dụ ngôn người gieo giống, hạt lúa, cỏ lùng, cây nho, vườn nho, cây vả. Ngôn ngữ của Nước Trời đầy đất. Bởi vì người nghe Người hiểu đất. Họ hiểu gieo là gì, chờ là gì, hạn hán là gì, mùa gặt là gì, trái chín là gì. Ngày nay, một phần nghèo nàn của đời sống thiêng liêng đến từ việc chúng ta mất những kinh nghiệm nền ấy. Ta muốn hiểu dụ ngôn hạt giống nhưng chưa từng gieo hạt. Ta muốn hiểu “chết đi để sinh nhiều bông hạt” nhưng chưa từng quan sát một hạt bị chôn xuống. Ta nói “cây tốt sinh trái tốt” nhưng không biết một cây phải mất bao nhiêu mùa mới cho trái. Khi kinh nghiệm vật chất biến mất, ngôn ngữ Kinh Thánh dễ trở thành ẩn dụ trừu tượng. Trường chiêm ngắm vì thế có thể rất đơn sơ: một mảnh vườn giáo xứ, vài luống rau, vài cây ăn trái, một khu đất nhỏ cho trẻ em gieo hạt. Không phải để giáo xứ trở thành nông trại, nhưng để người ta được chạm vào những bài học đã có sẵn trong tạo thành. Một đứa trẻ gieo một hạt đậu rồi ngày nào cũng chạy ra xem sẽ học được điều mà điện thoại không dạy: không phải điều gì cũng xuất hiện ngay khi bấm nút. Một người lớn trồng cây sẽ học rằng sự sống không vâng theo lịch trình của mình. Người ta có thể tưới, bón, chăm, nhưng không thể ra lệnh cho cây lớn nhanh gấp ba vì tuần sau cần chụp hình. Cây có thời của cây. Đây chính là một sự sửa dạy thiêng liêng đối với con người thời tối ưu hóa.
Mùa vụ là một trường giáo lý bị chúng ta bỏ quên. Xã hội công nghiệp muốn mọi thứ quanh năm. Muốn trái cây trái mùa, muốn ánh sáng cả đêm, muốn làm việc không nghỉ, muốn sản xuất không ngừng, muốn cửa hàng mở liên tục, muốn mạng luôn sẵn, muốn con người luôn phản hồi. Nhưng tạo thành không vận hành như thế. Tạo thành có mùa. Có lúc gieo, lúc chờ, lúc lớn, lúc ra hoa, lúc kết trái, lúc gặt, lúc rụng, lúc nghỉ. Có mùa mưa và mùa khô. Có ngày và đêm. Có sinh và chết. Có xuân, hạ, thu, đông ở những vùng khí hậu khác nhau; ở những nơi khác, vẫn có chu kỳ của mưa nắng, nước lên nước xuống, gió mùa, mùa cá, mùa lúa, mùa cây trái. Mùa vụ dạy một chân lý rất khó cho nền văn minh tức thời: không phải lúc nào cũng là lúc thu hoạch. Có những giai đoạn đời sống chỉ là gieo. Có những giai đoạn chỉ là chờ. Có những giai đoạn tưởng như không có gì xảy ra nhưng rễ đang đi xuống. Có những lúc phải cắt tỉa. Có những lúc phải để đất nghỉ. Nếu người Kitô hữu học được nhịp ấy từ thiên nhiên, đời thiêng sẽ bớt nóng vội. Bao nhiêu người cầu nguyện vài tuần rồi hỏi tại sao mình chưa thay đổi. Bao nhiêu cha mẹ dạy con vài lần rồi thất vọng. Bao nhiêu người làm mục vụ tổ chức một chương trình rồi muốn thấy kết quả ngay. Bao nhiêu cộng đoàn bắt đầu một sáng kiến rồi chỉ vài tháng sau đã đo bằng số người tham dự. Tạo thành nói: đừng hấp tấp. Hạt lúa không vì người gieo sốt ruột mà nảy mầm nhanh hơn. Một cây xoài không vì cuộc họp mục vụ cần báo cáo mà ra trái trước mùa. Thiên Chúa đã đặt vào thế giới một sự chậm rãi có kỷ luật. Chiêm ngắm mùa vụ có thể chữa căn bệnh muốn kết quả ngay của đời sống mục vụ.
Gieo là một hành vi của hy vọng. Người gieo chôn xuống đất một thứ có thể ăn ngay hôm nay để tin rằng ngày mai sẽ có nhiều hơn. Gieo luôn chứa một phần từ bỏ. Nếu giữ hết hạt giống để ăn, không còn mùa sau. Linh đạo sinh thái gặp linh đạo Kitô giáo ở đây. Một thế hệ phải biết từ bỏ một phần tiêu thụ của mình để thế hệ sau còn đất, còn rừng, còn nước, còn khí hậu có thể sống được. Gieo cũng dạy rằng ta không sở hữu kết quả. Người gieo làm phần mình rồi giao phần còn lại cho những tiến trình vượt khỏi tay mình: độ ẩm, nhiệt độ, đất, côn trùng, mưa, nắng. Đây là một biểu tượng rất đẹp của sứ vụ. Mục tử gieo Lời. Cha mẹ gieo đức tin. Giáo lý viên gieo. Người làm việc xã hội gieo. Người bảo vệ môi trường gieo. Có thể không thấy kết quả trong đời mình. Nhưng người Kitô hữu vẫn gieo vì tin rằng điều tốt đáng được làm ngay cả khi mình không đứng dưới bóng cây do mình trồng. Một nền văn hóa chỉ làm điều gì khi thấy lợi ích tức thời sẽ không thể bảo vệ ngôi nhà chung, bởi phần lớn hành vi bảo vệ môi trường mang tính liên thế hệ. Trồng rừng là tin vào tương lai. Giữ đất là tin vào người chưa sinh ra. Không dùng cạn nguồn nước là chừa chỗ cho người mình sẽ không bao giờ gặp. Đó là một hình thức bác ái đối với những khuôn mặt vắng mặt.
Chờ là một nhân đức khác mà mùa vụ dạy. Con người hiện đại rất ít phải chờ theo nghĩa cũ. Thông tin đến tức thì, thức ăn có thể giao tận nơi, giải trí bật ngay, tin nhắn gửi ngay, ảnh hiện ngay. Vì thế, khả năng chịu một khoảng trống giữa mong muốn và thỏa mãn bị yếu đi. Nhưng đời thiêng không đi theo tốc độ đường truyền. Thiên Chúa nhiều khi không trả lời tức khắc. Một vết thương không lành trong một đêm. Một tương quan không phục hồi sau một câu xin lỗi. Một cộng đoàn không trưởng thành sau một khóa học. Một người không trở thành thánh sau một kỳ tĩnh tâm. Mùa vụ dạy kiên nhẫn. Không phải thứ kiên nhẫn thụ động, nhưng kiên nhẫn biết tiếp tục chăm sóc trong khi chưa thấy trái. Người nông dân không ngồi chờ một cách lười biếng. Họ làm cỏ, tưới, giữ đất, quan sát sâu bệnh. Chờ trong Kitô giáo cũng vậy. Chờ Chúa không có nghĩa bỏ mặc đời. Làm hết điều có thể, rồi không cưỡng ép điều mình không thể. Đây là một thái độ rất cần cho mọi nỗ lực sinh thái. Không thể phục hồi một dòng sông ô nhiễm trong một ngày. Không thể thay đổi thói quen tiêu dùng của một cộng đồng sau một bài giảng. Không thể cứu một cánh rừng chỉ bằng một chiến dịch truyền thông. Cần những năm tháng trung tín. Mùa vụ giúp Hội Thánh hiểu rằng hoán cải sinh thái không phải phong trào theo mùa tin tức, nhưng là một lối sống dài hạn.
Gặt cũng là giáo lý. Có lúc phải thu nhận hoa trái, vui mừng, tạ ơn. Kinh Thánh đầy hình ảnh mùa gặt. Nhưng mùa gặt là kết quả của nhiều điều xảy ra trước đó mà người gặt có thể không làm. Người này gieo, người khác gặt. Một thế hệ trồng cây, thế hệ khác ăn trái. Điều ấy phá vỡ ảo tưởng sở hữu cá nhân. Nếu hôm nay tôi có một mảnh đất màu mỡ, có thể đó là vì nhiều người trước tôi đã không làm nó kiệt quệ. Nếu tôi có nước sạch, có thể nhiều thế hệ đã giữ nguồn nước. Nếu tôi được hưởng một khu rừng, đó không phải vì tôi tạo ra khu rừng. Mùa gặt vì thế phải đi cùng tạ ơn và trách nhiệm. Tạ ơn vì nhận được. Trách nhiệm vì không được ăn hết tương lai. Mọi nền kinh tế thiếu ý thức mùa gặt sẽ biến thành bóc lột: chỉ biết lấy mà không trả, thu mà không gieo, khai thác mà không phục hồi. Đó là một nền kinh tế cư xử như thể mình là thế hệ cuối cùng. Đức tin Kitô giáo không cho phép thái độ ấy. Người Kitô hữu tin có người đến sau mình, và sâu xa hơn, tin thế giới thuộc về Thiên Chúa chứ không thuộc riêng thế hệ hiện tại.
Để đất nghỉ là một trong những bài học táo bạo nhất. Kinh Thánh có truyền thống năm sabát: đất cũng được nghỉ. Ý niệm này rất lạ với nền kinh tế luôn hỏi: tại sao để một thứ đứng yên nếu có thể tiếp tục sinh lợi? Nhưng chính câu hỏi đó cho thấy căn bệnh. Không phải mọi khả năng khai thác đều phải được khai thác. Không phải cứ có thể làm là phải làm. Không phải cứ có công nghệ lấy thêm là nên lấy thêm. Có những giới hạn phải được tôn trọng không phải vì bất lực, nhưng vì đạo đức. Để đất nghỉ là công nhận đất không phải nô lệ. Ngày sabát cũng nói điều tương tự về con người. Con người không phải máy sản xuất. Nếu một xã hội không cho đất nghỉ và cũng không cho người nghỉ, nó đang dùng cùng một thứ logic lên cả hai: giá trị bằng năng suất. Khi đó, đất bạc màu, người kiệt sức. Linh đạo sinh thái và linh đạo lao động gặp nhau ở ngày sabát. Nghỉ không phải lãng phí thời gian. Nghỉ là tuyên xưng rằng thế giới vẫn tồn tại khi tôi ngừng làm. Một người không biết nghỉ thường không chỉ mệt; sâu xa hơn, họ có thể đang sống như thể mọi sự tùy thuộc vào mình. Ngày Chúa Nhật là một lời phản bác thần học đối với thứ kiêu ngạo ấy. Tôi dừng vì Thiên Chúa là Thiên Chúa, tôi không phải. Tôi nghỉ vì tạo thành không cần tôi điều khiển liên tục. Tôi dự lễ, ăn với gia đình, thăm người thân, đi bộ, ngồi dưới cây, để thân xác lấy lại nhịp của một thụ tạo. Một nền văn hóa Chúa Nhật chỉ còn mua sắm và giải trí tiêu thụ đã mất phần nào ý nghĩa sinh thái của ngày nghỉ thánh.
Rồi đến thinh lặng. Thinh lặng không phải khoảng trống vô ích. Nó là môi trường trong đó những tiếng nhỏ có cơ hội xuất hiện. Vấn đề không phải Thiên Chúa không nói. Vấn đề là có quá nhiều tiếng khác nói to hơn. Quảng cáo hét. Thông báo reo. Video tự chạy. Tin tức cập nhật. Âm nhạc mở nền. Người ta đeo tai nghe khi đi bộ, bật radio khi lái xe, xem điện thoại khi ăn, mở video khi nằm ngủ. Có những người gần như không còn phút nào trong ngày mà tai không bị một thứ gì đó chiếm. Trong tình trạng ấy, chiêm ngắm gần như bất khả. Không phải vì tạo thành im lặng, nhưng vì tiếng của nó nhỏ. Lá cây không cạnh tranh với quảng cáo. Gió không gửi thông báo. Một con chim không tăng âm lượng để thắng video ngắn. Nước chảy không lập chiến dịch giành sự chú ý. Những gì sâu thường nói nhỏ. Lời Chúa cũng thường đến theo cách ấy. Êlia không gặp Thiên Chúa trong bão, động đất hay lửa, nhưng trong tiếng gió hiu hiu, trong âm thanh của sự tĩnh lặng. Người ta cần một nội tâm không bị lấp kín mới nghe được.
Thinh lặng trước tạo thành không phải kỹ thuật thư giãn. Nó là một hình thức tiếp nhận. Khi tôi im, tôi từ bỏ trong chốc lát quyền đặt tên, giải thích, đánh giá mọi thứ. Tôi để sự vật hiện diện trước tôi mà không lập tức biến nó thành nội dung. Đây là điều rất khó trong thời mạng xã hội. Ta thấy một cảnh đẹp và phản xạ đầu tiên là chụp. Chụp xong nghĩ cách đăng. Đăng xong nhìn phản ứng. Cảnh vật từ đối tượng chiêm ngắm trở thành nguyên liệu của bản ngã. Không phải chụp ảnh là sai. Nhiều bức ảnh giúp ta lưu giữ vẻ đẹp và chia sẻ niềm vui. Nhưng có một kỷ luật thiêng liêng đáng học: đôi khi hãy nhìn một điều đẹp mà không chụp. Để nó chỉ tồn tại giữa mình và Thiên Chúa. Một hoàng hôn không đăng vẫn là hoàng hôn. Một bông hoa không lên mạng vẫn nở. Một chuyến đi không có album vẫn có giá trị. Khi con người không cần chứng minh rằng mình đã trải nghiệm, trải nghiệm có thể trở nên thật hơn. Chiêm ngắm đòi một phần không công khai. Như cầu nguyện kín đáo, có những vẻ đẹp nên được giữ trong lòng. Đức Maria “ghi nhớ những điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng.” Mẹ không biến mọi mầu nhiệm thành thông báo. Có một đời sống nội tâm chỉ lớn được trong vùng không bị phơi sáng liên tục.
Thinh lặng cũng giúp ta nghe tiếng đau của tạo thành. Chiêm ngắm Kitô giáo không chỉ nhìn cái đẹp. Nếu chỉ tìm phong cảnh đẹp để cảm thấy bình an, ta có thể biến thiên nhiên thành một spa tinh thần. Thinh lặng đủ lâu sẽ làm ta thấy cả vết thương: đất nứt, cây bị chặt, nước đục, mùi hóa chất, rác nhựa, tiếng máy phá núi, một con vật bị nhốt trong điều kiện tàn nhẫn, người lao động nông nghiệp kiệt sức. Chiêm ngắm thật không gây mê lương tâm. Nó làm lương tâm nhạy hơn. Người ngồi bên một con sông đẹp phải có khả năng nhận ra nếu con sông đang bị đầu độc. Người yêu rừng phải đau khi rừng biến mất. Người yêu chim phải tự hỏi tại sao mùa này ít chim hơn. Nói cách khác, chiêm ngắm và ngôn sứ không đối nghịch. Các ngôn sứ Kinh Thánh có thể nói về đất khô, mùa màng mất, núi đồi, thú vật, bởi họ đọc lịch sử cứu độ ngay trong thân phận của đất. Một linh đạo sinh thái chỉ nói “yêu thiên nhiên” mà không dám nhìn cấu trúc gây tổn thương là quá mềm. Nhưng một hoạt động môi trường chỉ có giận dữ mà không còn khả năng kinh ngạc cũng sẽ cạn. Chiêm ngắm giữ lại nguồn yêu để hành động không biến thành căm ghét.
Giáo xứ hoàn toàn có thể trở thành một trường chiêm ngắm. Không cần những chương trình đắt tiền. Trước khi thành lập một “ban môi trường” với biên bản, kế hoạch, khẩu hiệu và áo đồng phục, có thể mời cộng đoàn học nhìn. Một giờ đi bộ im lặng quanh khu vực giáo xứ. Một buổi sáng cho thiếu nhi gieo cây và theo dõi nó nhiều tháng. Một giờ cầu nguyện bên con sông gần đó. Một ngày không nhựa dùng một lần đi kèm giáo lý về tiết độ. Một buổi thăm người nông dân để nghe họ nói về đất, nước, mùa màng. Một chuyến đến bãi rác không phải để chụp ảnh bác ái nhưng để hiểu những gì đời sống tiêu dùng của mình đẩy ra khỏi tầm mắt. Một giờ chầu Thánh Thể rồi sau đó mười lăm phút đi ra sân nhà thờ trong thinh lặng. Hoặc theo hoàn cảnh, bắt đầu bằng một giờ thinh lặng giữa vườn rồi trở vào nhà nguyện tạ ơn. Không được lẫn lộn: Thánh Thể có vị trí độc nhất, sự hiện diện bí tích của Đức Kitô không thể đồng hóa với sự hiện diện của Thiên Chúa trong tạo thành. Nhưng chính Thánh Thể lại dạy ta nhìn tạo thành đúng hơn, bởi bánh và rượu, hoa màu của ruộng đất và công lao con người, được đưa vào phụng vụ. Bàn thờ không chống lại trái đất. Trên bàn thờ, trái đất bước vào lời tạ ơn. Một linh đạo Thánh Thể thật phải mở mắt người tín hữu đối với đất sinh lúa, vườn sinh nho, nước, lao động, người nghèo và toàn mạng lưới tạo thành đang nuôi đời sống con người.
Có thể hình dung một “giờ chiêm ngắm tạo thành” rất đơn giản trong giáo xứ. Không diễn thuyết dài. Không loa. Không nhiều hướng dẫn. Chỉ một đoạn Lời Chúa, rồi đi chậm. Yêu cầu mọi người cất điện thoại trong ba mươi phút. Nhìn năm điều mình chưa từng để ý. Nghe năm âm thanh. Chạm vào đất hoặc thân cây. Ngửi mùi cỏ, mùi mưa, mùi nước. Để ý nơi nào có dấu sự sống, nơi nào có dấu tổn thương. Sau đó trở về, giữ vài phút thinh lặng rồi mới chia sẻ. Đừng hỏi ngay “chúng ta sẽ làm dự án gì?” Hãy hỏi trước: “Chúng ta đã thấy gì? Điều gì làm ta biết ơn? Điều gì làm ta đau? Điều gì Lời Chúa đang nói qua điều vừa thấy?” Từ đó mới đi tới hành động. Thứ tự này quan trọng. Nếu hành động đi trước chiêm ngắm, hoạt động môi trường dễ thành một nhiệm vụ thêm vào danh sách. Nếu chiêm ngắm đi trước, hành động có thể trở thành đáp trả. Một người nhặt rác vì bị phân công sẽ mệt khác với người nhặt rác vì đã thấy dòng kênh mình yêu đang chết. Tình yêu cung cấp sức bền mà khẩu hiệu không có.
Trẻ em đặc biệt cần trường này. Một đứa trẻ biết nhiều tên khủng long nhưng không biết tên ba loài cây quanh nhà đang sống trong một nghịch lý của giáo dục. Một em có thể nhận ra hàng trăm biểu tượng ứng dụng nhưng không biết phân biệt tiếng chim, không biết trồng một hạt, không biết đất khô khác đất ẩm thế nào. Không nên lãng mạn hóa tuổi thơ nông thôn hay lên án công nghệ; trẻ em hôm nay cần công nghệ và sẽ sống trong thế giới số. Nhưng chính vì thế càng cần một nền tảng cảm giác thật. Nếu mọi kinh nghiệm của trẻ đều qua màn hình, thế giới dễ trở thành hình ảnh chứ không phải cộng đồng sự sống. Giáo lý có thể đưa các em ra ngoài. Bài học về Sáng Thế có thể học dưới một tán cây. Bài học về hạt giống có thể đi kèm việc gieo hạt. Bài học về phép lạ bánh có thể nối với người trồng lúa, người làm bánh và vấn đề lãng phí thức ăn. Bài học về phép Rửa có thể giúp trẻ biết nước sạch quý thế nào. Bài học về Thánh Thể có thể lần theo con đường từ hạt lúa đến bánh, từ trái nho đến rượu. Khi đó, đức tin không nằm trong một lớp học tách khỏi thế giới, mà đọc thế giới như cuốn sách được soi bởi Lời Chúa.
Người lớn cũng cần được học lại. Nhiều người trưởng thành đã bị đào tạo quá lâu trong logic hiệu suất nên không biết làm một việc không có sản phẩm. Nếu bảo họ ngồi mười lăm phút dưới cây, họ thấy “phí thời gian”. Chính phản ứng ấy là chỗ phải chữa. Không phải mọi phút sống đều cần tạo ra kết quả đo được. Tình yêu, cầu nguyện, nghỉ, nghe nhạc, ngắm con, ngồi với người già, nhìn trời, đi bộ với bạn đời – phần lớn những điều làm cuộc sống đáng sống không sản xuất theo nghĩa kinh tế. Khi ta chỉ công nhận những gì sinh lợi, ta đã nghèo đi rất nhiều dù thu nhập tăng. Trường chiêm ngắm phục hồi khả năng vô dụng thánh thiện: có những lúc chỉ hiện diện. Thiên Chúa không yêu ta vì ta hữu dụng. Tạo thành cũng không cần chứng minh giá trị kinh tế mới đáng được tôn trọng. Một khu rừng có giá trị không chỉ vì gỗ, carbon hay du lịch. Một loài vật có giá trị không chỉ vì lợi ích nó mang cho con người. Một dòng sông có giá trị không chỉ vì thủy điện. Khi học đứng trước một thụ tạo mà không hỏi ngay “nó dùng được gì?”, ta đang luyện một cái nhìn gần với cái nhìn của Thiên Chúa hơn.
Thân xác, mùa vụ và thinh lặng cuối cùng đều dạy cùng một bài học: giới hạn. Thân xác có giới hạn. Mùa vụ có giới hạn. Đất có giới hạn. Nước có giới hạn. Thời gian có giới hạn. Sức người có giới hạn. Khả năng hấp thụ rác của hành tinh có giới hạn. Nhưng giới hạn không phải kẻ thù của tự do. Giới hạn làm tự do có hình dạng. Một bản nhạc có nhịp vì có giới hạn. Một câu thơ có hình vì có giới hạn. Một tình yêu vợ chồng thành trung tín vì chấp nhận giới hạn của một lời cam kết. Ngày sabát thánh vì đặt giới hạn cho lao động. Tiết độ là nhân đức vì nói rằng tôi không cần lấy tất cả điều mình có thể lấy. Trong một nền văn minh kỹ thuật ngày càng có khả năng vượt qua nhiều giới hạn, câu hỏi đạo đức không còn chỉ là “chúng ta có thể làm gì?” nhưng “chúng ta nên dừng ở đâu?” Tạo thành là người thầy của câu hỏi ấy. Không có sinh vật nào tăng trưởng vô hạn trong một hệ thống hữu hạn mà không trở thành ung thư. Một nền kinh tế đòi tăng vô hạn trên một hành tinh hữu hạn cũng phải đối diện câu hỏi tương tự. Linh đạo không đưa ra tất cả mô hình kinh tế, nhưng có thể chữa ham muốn vô hạn trong trái tim, bởi nhiều khủng hoảng bên ngoài bắt đầu từ một dục vọng bên trong không biết đủ.
Vì thế, trường chiêm ngắm không phải môn phụ cho những người thích thiên nhiên. Nó là một phần của việc học làm thụ tạo trước mặt Đấng Tạo Hóa. Thân xác dạy ta nhận. Mùa vụ dạy ta chờ. Đất nghỉ dạy ta dừng. Thinh lặng dạy ta nghe. Và khi những khả năng ấy trở lại, người Kitô hữu có thể bước vào hành động với một tâm hồn khác. Họ không bảo vệ đất chỉ vì sợ thảm họa, nhưng vì đã yêu. Không tiết độ chỉ vì tính toán carbon, nhưng vì biết đủ là một nhân đức. Không trồng cây chỉ để hoàn thành phong trào, nhưng như một lời tạ ơn và một cử chỉ dành cho người đến sau. Không giảm tiếng ồn chỉ vì sức khỏe tâm lý, nhưng vì biết rằng trong thinh lặng có những tiếng của Chúa chỉ trái tim chậm mới nghe được. Không nghỉ chỉ để làm việc hiệu quả hơn ngày mai, nhưng vì nghỉ tự nó tuyên xưng rằng mình là thụ tạo chứ không phải Thiên Chúa.
Có lẽ trước khi Hội Thánh nói thêm nhiều về sinh thái, Hội Thánh cần tạo những nơi người ta có thể nhìn lại. Trước khi họp ban môi trường, hãy đưa nhau ra một bờ sông. Trước khi soạn kế hoạch trồng cây, hãy đứng dưới một cây già. Trước khi giảng về tiết độ, hãy có một bữa ăn không lãng phí. Trước khi nói về nước, hãy đến một nơi người dân thiếu nước. Trước khi dạy trẻ yêu tạo thành, hãy cho chúng chạm đất. Trước khi bàn về Laudato Si’, hãy tắt điện thoại một giờ và nghe gió. Không phải để thay thần học bằng cảm xúc, nhưng để thần học trở lại với thế giới mà chính Thiên Chúa đã dựng nên. Đức tin Kitô giáo không sợ đất dính vào chân. Chính Đấng Cứu Thế đã đi trên đất bằng đôi chân thật.
Và có thể chính từ những điều nhỏ ấy một cuộc hoán cải lớn bắt đầu. Một người đi chậm hơn. Một gia đình ăn theo mùa nhiều hơn. Một giáo xứ để một mảnh đất thở thay vì đổ bê tông toàn bộ. Một nhóm trẻ trồng cây rồi quay lại chăm thay vì chụp hình ngày đầu rồi thôi. Một cộng đoàn có một giờ mỗi tháng không âm thanh khuếch đại. Một linh mục thỉnh thoảng đưa giáo dân ra khỏi phòng họp để cầu nguyện dưới trời. Một giáo lý viên dạy trẻ nhìn một chiếc lá trước khi nói về tạo thành. Những việc ấy có vẻ nhỏ trước khủng hoảng sinh thái toàn cầu. Nhưng linh đạo luôn bắt đầu ở chỗ nhỏ, bởi trái tim con người chỉ đổi thật khi cách nhìn đổi. Khi mắt đã học thấy, tay sẽ khó tiếp tục phá như cũ. Khi tai đã học nghe, người ta sẽ khó chịu được tiếng ồn của tiêu thụ vô độ. Khi thân xác nhớ mình thuộc về đất, con người sẽ bớt đối xử với đất như một vật xa lạ. Khi đã sống một mùa gieo và chờ, ta sẽ hiểu rằng không phải mọi điều tốt đều cho kết quả ngay. Và khi đã biết thinh lặng đủ lâu, ta có thể nghe một lời rất cổ vang lên từ mọi thụ tạo, nhỏ hơn quảng cáo nhưng bền hơn mọi quảng cáo: mọi sự không tự có; mọi sự là quà; và quà thì phải được nhận bằng lòng biết ơn, sử dụng với tiết độ, gìn giữ bằng tình yêu, rồi trao lại chứ không chiếm giữ.

PHẦN II
GẶP GỠ ĐẤNG TẠO HÓA
CHƯƠNG 8. THỤ TẠO KHÔNG THAY THẾ ĐẤNG TẠO HÓA
Có một cám dỗ rất tinh tế trong mọi linh đạo nói nhiều về thiên nhiên, thụ tạo, vẻ đẹp, sự thinh lặng, rừng cây, sông nước, núi non và những nhịp điệu nguyên sơ của trái đất: người ta có thể bắt đầu bằng việc tìm Thiên Chúa trong thụ tạo, nhưng rồi cuối cùng chỉ còn thụ tạo mà không còn Thiên Chúa. Người ta có thể bắt đầu bằng lòng biết ơn trước một bình minh, nhưng rồi bình minh trở thành đối tượng cuối cùng của sự kính phục. Người ta có thể bắt đầu bằng việc ngỡ ngàng trước một cánh rừng, rồi dần dần nói về “thiêng liêng của rừng”, “năng lượng của vũ trụ”, “sức mạnh của đất mẹ”, mà không còn biết mình đang nói với Ai, đang cảm tạ Ai, đang được gọi bởi Ai. Đó là một ranh giới cần được nhìn thật rõ. Kitô giáo yêu thụ tạo rất sâu, nhưng chính vì yêu thụ tạo đúng cách nên Kitô giáo không bao giờ đặt thụ tạo vào chỗ của Đấng Tạo Hóa. Thụ tạo là dấu chỉ, không phải cùng đích. Thụ tạo là lời, nhưng không phải Người nói. Thụ tạo là quà tặng, nhưng không phải Đấng ban quà. Thụ tạo có thể dẫn con người tới ngưỡng cửa của mầu nhiệm, nhưng Kitô giáo không dừng ở ngưỡng cửa. Đức tin Kitô giáo bước qua dấu chỉ để đến với Đấng mà dấu chỉ làm chứng. Vì thế, chiêm ngắm Kitô giáo không phải là nhìn cây đến mức quên Đấng dựng nên cây, không phải hòa tan mình vào đại dương cho tới khi bản thân mất đi trong một “tất cả” vô danh, không phải tìm một thứ năng lượng phổ quát để tự chữa lành, cũng không phải thần hóa sự sống như thể sự sống tự nó là thần linh. Người Kitô hữu có thể đứng trước biển rất lâu, có thể im lặng giữa một cánh đồng, có thể chạm tay vào một thân cây, có thể nghe tiếng gió luồn qua lá và để lòng mình rung động trước vẻ đẹp của thế giới, nhưng chiều sâu của kinh nghiệm ấy phải mở ra một lời thưa: “Lạy Cha”. Chính tiếng “Lạy Cha” ấy phân biệt chiêm ngắm Kitô giáo với một cảm thức tôn giáo thiên nhiên mơ hồ. Cái cây không phải cha tôi. Dòng sông không phải mẹ tôi theo nghĩa thần linh. Mặt trời không phải thần. Trăng không phải nữ thần. Đất không phải một chủ thể thần linh để tôi thờ lạy. Tất cả đều là thụ tạo. Và vì là thụ tạo nên tất cả đều đẹp theo cách của mình, đều có phẩm giá theo trật tự được Thiên Chúa trao ban, đều đáng được kính trọng, bảo vệ và sử dụng có trách nhiệm; nhưng không gì trong số đó là Thiên Chúa. Câu đầu tiên của Kinh Thánh đã dựng nên ranh giới ấy với một sự đơn sơ tuyệt đối: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất.” Trời không phải Thiên Chúa. Đất không phải Thiên Chúa. Mặt trời, mặt trăng, các vì sao không phải thần linh tranh chấp quyền lực trên số phận con người. Chúng là những thực tại được tạo dựng. Chính nhận thức tưởng như đơn giản ấy đã giải phóng đức tin Israel khỏi nhiều hình thức thần thoại của các dân chung quanh: không có thần mặt trời phải lấy lòng, không có thần biển phải dâng lễ để khỏi nổi giận, không có thần mùa màng phải mua chuộc bằng nghi thức ma thuật. Chỉ có một Thiên Chúa, Đấng dựng nên mọi sự, và mọi sự khác đều nhận hữu thể từ Người. Bởi vậy, điều làm cho thụ tạo trở nên quý không phải vì thụ tạo là thần, mà vì thụ tạo đến từ Thiên Chúa. Điều làm cho thế giới đáng yêu không phải vì thế giới tự cứu được chúng ta, mà vì thế giới được yêu bởi Đấng đã gọi nó từ hư vô vào hiện hữu. Điều làm cho đất thánh không phải vì đất có thần tính riêng, nhưng vì đất thuộc về Chúa. “Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài, làm chủ hoàn cầu với toàn thể dân cư.” Câu Thánh vịnh ấy đặt nền cho một linh đạo sinh thái rất tỉnh táo: chúng ta không làm chủ tuyệt đối, bởi chính trái đất cũng không tự làm chủ mình; tất cả thuộc về Thiên Chúa. Con người là thụ tạo giữa các thụ tạo, nhưng là thụ tạo được gọi bước vào tương quan giao ước với Đấng Tạo Hóa.
Bởi thế, cần phân biệt giữa một bên là sự thánh thiêng của thụ tạo trong nghĩa Kitô giáo và một bên là việc thần thánh hóa thụ tạo. Khi người Kitô hữu nói thế giới là thánh thiêng, điều đó không có nghĩa rằng trong từng viên đá có một phần bản thể thần linh, hay vũ trụ và Thiên Chúa là một thực tại duy nhất. Kitô giáo không đồng nhất Thiên Chúa với thế giới. Thiên Chúa hiện diện trong mọi sự bằng quyền năng sáng tạo, gìn giữ và hướng dẫn của Người, nhưng Người không bị đồng hóa với tổng số mọi sự. Người gần hơn mọi sự gần, nhưng cũng vượt trên mọi sự. Người ở trong tạo thành mà không bị nhốt trong tạo thành. Người có thể được nhận biết qua công trình của Người, nhưng không thể bị giản lược thành công trình ấy. Một bức tranh có thể làm ta hiểu điều gì đó về người họa sĩ, nhưng bức tranh không phải người họa sĩ. Một bản nhạc có thể cho ta cảm được tâm hồn người sáng tác, nhưng bản nhạc không phải chính người sáng tác. Một bức thư có thể làm người nhận xúc động vì mang giọng nói, tình cảm và ý định của người gửi, nhưng tờ giấy không phải người gửi. Thụ tạo cũng vậy: nó mang dấu của Đấng Tạo Hóa mà không phải là Đấng Tạo Hóa. Thánh Phaolô đã diễn tả rất rõ khi nói rằng những gì không thể thấy nơi Thiên Chúa, quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Người, có thể được nhận biết qua những gì Người đã làm. Nghĩa là thụ tạo có khả năng làm chứng. Nhưng chứng nhân không phải Đấng được làm chứng. Cánh đồng có thể nói với ta về sự quảng đại. Hạt giống có thể nói với ta về cái chết sinh hoa trái. Mặt trời có thể nói với ta về ánh sáng. Nước có thể nói với ta về thanh tẩy và sự sống. Chim trời có thể dạy ta tín thác. Hoa huệ có thể dạy ta thôi lo âu. Nhưng cánh đồng, hạt giống, mặt trời, nước, chim trời, hoa huệ không phải là đối tượng cuối cùng của đức tin. Chính Đức Giêsu dùng thụ tạo theo cách ấy. Người không bảo các môn đệ tôn thờ chim trời. Người nói: “Hãy xem chim trời.” Xem để học về Cha. Người không bảo họ làm lễ trước hoa huệ. Người nói: “Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào.” Ngắm để hiểu lòng quan phòng của Cha. Chuyển động của chiêm ngắm Kitô giáo luôn có hướng: từ vật được thấy tới Đấng không thấy, từ quà tặng tới Đấng ban, từ vẻ đẹp tới nguồn của mọi vẻ đẹp, từ trật tự tới Trí Khôn đặt để trật tự, từ sự sống tới Đấng ban sự sống. Nếu chuyển động ấy bị chặn lại ở vẻ đẹp tự nhiên, chiêm ngắm có thể còn là kinh nghiệm thẩm mỹ rất đẹp, có thể còn tốt cho tâm lý, có thể giúp con người bớt căng thẳng, nhưng chưa đạt tới hành vi đức tin theo nghĩa Kitô giáo. Một người vô thần cũng có thể xúc động trước hoàng hôn. Một người không tin cũng có thể kính phục rừng già. Một nhà sinh vật học có thể dành cả đời bảo vệ đa dạng sinh học mà không bao giờ cầu nguyện. Tất cả những điều ấy có giá trị thật. Nhưng người Kitô hữu được mời đi thêm một bước: không chỉ ngạc nhiên, nhưng tạ ơn; không chỉ cảm thấy nhỏ bé trước vũ trụ, nhưng nhận ra mình là thụ tạo đang đứng trước Đấng Tạo Hóa; không chỉ thấy sự sống kỳ diệu, nhưng thưa với Đấng ban sự sống; không chỉ thấy mình thuộc về một mạng lưới sinh học, nhưng khám phá mình được gọi vào giao ước tình yêu với Thiên Chúa và với anh chị em mình.
Điểm quyết định là ở đây: Thiên Chúa của Kitô giáo là “Ai”, không phải chỉ là “cái gì”. Người không phải nguyên lý trừu tượng đứng sau vũ trụ. Người không phải năng lượng. Người không phải sức sống vô danh luân chuyển trong cỏ cây, động vật và thân xác con người. Người không phải một “ý thức vũ trụ” mà người ta hòa vào bằng thiền định. Người không phải cái Toàn Thể khiến mọi khác biệt cuối cùng tan biến. Người là Thiên Chúa hằng sống, Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp; là Đấng gọi Môsê bằng tên, nghe tiếng dân bị áp bức, lập giao ước, nói, yêu, xét xử, tha thứ, hứa, dẫn dắt; và trong thời viên mãn, Người đã tự mặc khải cách dứt khoát nơi Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu không đến để nói rằng “tất cả là một” theo nghĩa mọi sự tan vào cùng một bản thể. Người đến để nói: “Cha của Thầy cũng là Cha của anh em.” Người cầu nguyện với Cha. Người vâng phục Cha. Người sai môn đệ đến với Cha. Người gọi Thiên Chúa là Abba. Người không hòa tan ngôi vị con người vào một biển thần tính vô danh. Trái lại, trong Người, ngôi vị được cứu, được gọi bằng tên, được thiết lập trong tương quan yêu thương. Vì vậy chiêm ngắm Kitô giáo luôn mang cấu trúc của gặp gỡ. Tôi không chỉ “cảm nhận linh thiêng”. Tôi gặp Đấng Thánh. Tôi không chỉ chìm vào im lặng. Tôi lắng nghe một Đấng có thể nói. Tôi không chỉ buông bản thân vào dòng chảy của sự sống. Tôi trao mình cho Một Đấng yêu tôi. Tôi không chỉ nói “vũ trụ thật kỳ diệu”. Tôi nói: “Lạy Chúa là Thiên Chúa con, Chúa thật là cao cả.” Từ cảm xúc sang lời thưa ấy là cả một bước nhảy đức tin. Khi người ta chỉ nói “thiên nhiên chữa lành tôi”, người Kitô hữu có thể hiểu phần đúng của câu ấy: thân xác chúng ta thật sự được lợi khi ra khỏi tiếng ồn, đi bộ, chạm đất, hít khí trời, nhìn màu xanh, nghe nước chảy. Nhưng đức tin không dừng ở cơ chế tâm sinh lý. Người Kitô hữu có thể nói sâu hơn: trong sự lành mạnh mà thiên nhiên trao lại cho tôi, tôi nhận quà của Đấng Quan Phòng; qua sự nghỉ ngơi này, tôi học lại rằng mình không phải Thiên Chúa; qua sự nhỏ bé trước núi non, tôi được giải thoát khỏi ảo tưởng kiểm soát; qua một cánh đồng, tôi nhớ rằng mình sống nhờ rất nhiều điều không do mình làm ra; qua một bông hoa, tôi được dẫn về lòng biết ơn. Như thế thiên nhiên không cứu tôi. Thiên Chúa cứu tôi, đôi khi dùng chính tạo thành như một khí cụ để đánh thức, an ủi, sửa dạy và đưa tôi trở về.
Điều này đặc biệt quan trọng trong một thời đại mà ngôn ngữ “tâm linh” rất phổ biến nhưng đôi khi cố ý tránh nói đến Thiên Chúa ngôi vị. Người ta dễ nói “vũ trụ gửi cho tôi một dấu hiệu”, “vũ trụ đang sắp xếp”, “năng lượng hôm nay tốt”, “hãy gửi ý định của bạn ra vũ trụ”, “đất mẹ sẽ chữa lành”, “hãy kết nối với năng lượng cây cối”. Một số cách nói có thể chỉ là hình ảnh văn chương không có ý thần học. Nhưng khi chúng trở thành một hệ thống niềm tin, Kitô hữu cần phân định. Vũ trụ không phải một ngôi vị có ý chí riêng để gửi thông điệp cho tôi. Vũ trụ không nghe lời cầu xin của tôi. Năng lượng vật lý không có tình yêu. Cây cối không ban ơn cứu độ. Đất không tha tội. Biển không biết tên tôi. Chỉ Thiên Chúa biết tên tôi theo nghĩa ngôi vị. Chỉ Người có thể gọi, phán, xét xử, tha thứ, ký kết giao ước, yêu cách tự do. Kitô hữu không khinh vũ trụ khi nói như vậy; trái lại, chúng ta trả vũ trụ về đúng phẩm giá của nó. Thụ tạo không cần được biến thành thần để trở nên đáng quý. Một người con không cần phải là cha mới đáng được yêu. Một bông hoa không cần thần tính để đáng được bảo vệ. Một con vật không cần có linh hồn bất tử giống con người để không bị hành hạ. Một dòng sông không cần được gọi là nữ thần để con người phải ngừng đầu độc nó. Đạo đức sinh thái Kitô giáo không cần vay việc thần hóa tự nhiên để có sức mạnh luân lý. Chỉ cần hiểu rằng mọi thụ tạo đến từ Thiên Chúa, thuộc về Thiên Chúa, mang dấu sự khôn ngoan của Thiên Chúa, được Thiên Chúa nhìn nhận là tốt đẹp, và con người sẽ phải trả lời trước Thiên Chúa về cách mình sử dụng chúng. Chính vì Thiên Chúa vượt trên thiên nhiên nên thiên nhiên được giải thoát khỏi việc phải gánh vai trò Thiên Chúa. Và chính vì thiên nhiên không phải Thiên Chúa nên con người có thể yêu thiên nhiên mà không sợ rơi vào thờ ngẫu tượng.
Kinh Thánh đặc biệt quyết liệt ở điểm này. Dân Israel đã nhiều lần bị cám dỗ thờ những gì hữu hình, mạnh mẽ và gần gũi hơn là tín thác vào Thiên Chúa không thể bị nắm bắt. Con bò vàng chính là một ví dụ kinh điển: con người muốn một vị thần nhìn thấy được, mang theo được, thao túng được. Vấn đề của ngẫu tượng không chỉ là chọn sai đồ vật. Vấn đề sâu hơn là con người tạo ra một thần theo nhu cầu của mình. Một Đấng Tạo Hóa thật luôn vượt khỏi tay ta. Người nói điều ta không muốn nghe. Người đòi ta hoán cải. Người phán xét bất công. Người bảo ta yêu kẻ thù. Người kêu gọi ta bỏ mình. Người không thể bị biến thành công cụ của tâm lý tự an ủi. Ngược lại, một thứ “thiên nhiên thiêng liêng” do chúng ta tự dựng có thể rất dễ chịu: nó hiếm khi nói “hãy sám hối”, hiếm khi đòi tha thứ cho kẻ làm tổn thương ta, hiếm khi truyền phải yêu người nghèo, hiếm khi chất vấn sự ích kỷ. Ta có thể đứng trước biển, thấy bình an và nghĩ rằng đó là tất cả đời thiêng. Nhưng biển không bao giờ bảo tôi đi xin lỗi người tôi vừa xúc phạm. Núi không tự nói với tôi phải trả lại số tiền gian lận. Rừng không tự truyền cho tôi “hãy yêu kẻ thù”. Chính Lời của Thiên Chúa mới làm điều ấy. Vì thế chiêm ngắm tạo thành phải được giữ trong toàn bộ đời sống mặc khải, Lời Chúa, các bí tích, lương tâm được đào tạo và hiệp thông Hội Thánh. Nếu tách thiên nhiên khỏi mặc khải, con người rất dễ chỉ tìm thấy trong thiên nhiên điều mình muốn thấy. Người đang thích sự cô độc sẽ tìm thấy một “thần của cô độc”. Người yêu sức mạnh sẽ nói thiên nhiên dạy “mạnh được yếu thua”. Người thích tự do tuyệt đối sẽ nói thiên nhiên không có luật. Người thích hòa bình sẽ chọn những cảnh dịu dàng và bỏ qua thú săn mồi, bệnh tật, động đất, lũ lụt. Thiên nhiên tự nó không cung cấp một Tin Mừng đầy đủ. Nó là sách, nhưng không phải cuốn sách duy nhất. Nó là mặc khải theo nghĩa công trình tạo dựng, nhưng không thay thế mặc khải lịch sử đạt tới viên mãn trong Đức Kitô.
Ở đây, chính Đức Giêsu Kitô là tiêu chuẩn quyết định. Kitô giáo không chỉ nói chung chung rằng có một Đấng Tạo Hóa ở phía sau thiên nhiên. Nếu chỉ dừng ở đó, chúng ta có thể đạt tới một thứ hữu thần triết học: có một nguyên nhân đầu tiên, một trí khôn tối cao, một Đấng thiết kế. Đức tin Kitô giáo đi xa hơn vô cùng. Đấng dựng nên trời đất chính là Cha của Đức Giêsu Kitô. Người Con nhờ đó muôn vật được tạo thành đã làm người. “Nhờ Người, muôn vật được tạo thành, và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành.” Đây là câu làm thay đổi toàn bộ cách Kitô hữu nhìn thế giới. Thụ tạo không chỉ liên hệ với một nguyên nhân xa xôi; nó có cấu trúc quy hướng về Đức Kitô. Thánh Phaolô nói mọi sự được tạo dựng nhờ Người và cho Người. Nghĩa là chiều sâu cuối cùng của tạo thành không phải để con người đứng ngắm chính tạo thành mãi mãi, nhưng để mọi sự quy tụ trong Đức Kitô. Cái cây thuộc về Đức Kitô. Con vật thuộc về Đức Kitô. Đất đai thuộc về Đức Kitô. Thân xác chúng ta thuộc về Đức Kitô. Lịch sử vật chất của thế giới cũng được đưa vào mầu nhiệm của Người. Người Con đã nhận lấy xác phàm từ Đức Maria, ăn lương thực từ đất, uống nước từ nguồn, đi trên đường bụi, ngủ trên thuyền, chạm người bệnh, dùng bùn để chữa mắt, cầm bánh và rượu trong tay, chết bằng một thân xác và sống lại bằng một thân xác được biến đổi. Nhập thể vì thế vừa ngăn chúng ta khinh vật chất, vừa ngăn chúng ta thờ vật chất. Vật chất không phải xấu, vì Ngôi Lời đã làm người. Nhưng vật chất cũng không phải Thiên Chúa, vì Ngôi Lời “đã làm người”: Đấng vốn là Thiên Chúa bước vào tạo thành mà không bị đồng nhất với tạo thành. Mầu nhiệm Nhập Thể là trường học tuyệt vời để giữ hai chân lý cùng lúc: Thiên Chúa gần thế giới hơn chúng ta tưởng, và Thiên Chúa vượt trên thế giới hơn chúng ta tưởng.
Vì thế, một giờ cầu nguyện giữa trời đất vẫn là cầu nguyện với Cha của Đức Giêsu Kitô. Điều này cần nói rất cụ thể, bởi người ta có thể tổ chức những buổi “chiêm ngắm thiên nhiên” thật đẹp nhưng nội dung dần trở nên không còn Kitô giáo. Một nhóm Công giáo đi vào rừng để cầu nguyện không cần biến buổi cầu nguyện thành bài học sinh học, nhưng cũng không được để nó trôi thành một thứ thiền vô danh. Người tín hữu có thể bắt đầu bằng im lặng, nghe gió, cảm hơi thở, ý thức đôi chân chạm đất. Tất cả rất tốt. Nhưng rồi họ có thể đọc một Thánh vịnh. Có thể nghe một đoạn Tin Mừng. Có thể để lời Đức Giêsu “hãy xem chim trời” vang lên giữa tiếng chim thật. Có thể tạ ơn Cha về sự sống. Có thể xin tha thứ vì những cách mình tiêu thụ vô trách nhiệm. Có thể cầu cho người nghèo bị hạn hán, lũ lụt, ô nhiễm đè nặng. Có thể kết thúc bằng Kinh Lạy Cha. Chỉ một lời “Lạy Cha chúng con ở trên trời” cũng đặt toàn bộ kinh nghiệm vào đúng trục. Trời đất không còn là một không gian tâm linh vô danh. Nó trở thành công trình của Cha. Người đứng cầu nguyện không còn là một sinh vật cố hòa tan vào tổng thể. Họ là người con đứng giữa công trình của Cha. Những người bên cạnh không chỉ là các cơ thể chia sẻ hệ sinh thái. Họ là anh chị em vì cùng một Cha. Và khi đọc “xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”, người tín hữu bắt đầu hiểu sâu hơn lương thực ấy đến từ đất, mưa, người gieo, người gặt, người vận chuyển, người nấu, và cuối cùng từ lòng quan phòng của Thiên Chúa. Một kinh Lạy Cha được đọc trên ruộng có thể thay đổi cách ta hiểu bánh. Một kinh Lạy Cha được đọc bên dòng sông có thể thay đổi cách ta hiểu nước. Một kinh Lạy Cha được đọc giữa rừng bị khai thác có thể thay đổi cách ta hiểu “ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Nhưng lời cầu nguyện vẫn đi về Cha chứ không đi về ruộng, sông hay rừng.
Đây cũng là lý do tại sao các bí tích rất quan trọng đối với linh đạo sinh thái Kitô giáo. Nếu chiêm ngắm tạo thành tách khỏi bí tích, nó dễ trở thành một linh đạo thuần cảm xúc. Trong bí tích, chính vật chất được đưa vào tương quan với Đức Kitô theo cách mạnh mẽ nhất: nước của Rửa tội, dầu của Xức dầu, bánh và rượu của Thánh Thể, thân xác con người trong Hôn phối, bàn tay đặt trên người lãnh nhận chức thánh. Hội Thánh không sợ vật chất. Nhưng Hội Thánh cũng không thờ vật chất. Nước rửa tội không phải thần nước. Dầu không phải năng lượng ma thuật. Bánh không được tôn thờ vì là lúa mì. Khi bánh trở thành Mình Đức Kitô trong Thánh Thể, đối tượng của việc thờ phượng là chính Đức Kitô hiện diện bí tích. Đây là điều rất đáng suy nghĩ: chính truyền thống Kitô giáo, đôi khi bị cáo buộc là làm con người xa thiên nhiên, lại có một nền phụng vụ sâu sắc đến mức mang sản phẩm của đất và lao công con người lên bàn thờ. “Lạy Chúa là Chúa Cả trời đất, chúc tụng Chúa đã rộng ban cho chúng con bánh này là hoa màu ruộng đất và công lao của con người.” Câu nguyện ấy giữ tất cả đúng vị trí. Ruộng đất có phẩm giá. Lao động có phẩm giá. Bánh là quà. Nhưng lời chúc tụng hướng về Chúa. Và trong Thánh Thể, bánh ấy được đưa vào một mầu nhiệm lớn hơn bánh: sự tự hiến của Đức Kitô. Một linh đạo sinh thái Công giáo nếu không đi đến Thánh Thể thì còn thiếu một trung tâm. Thánh Thể dạy chúng ta biết nhận: trước khi chiếm hữu thế giới, hãy nhận nó như quà. Thánh Thể dạy biết tạ ơn: eucharistia chính là tạ ơn. Thánh Thể dạy biết bẻ ra: quà không giữ lại cho mình. Thánh Thể dạy biết hiến mình: không có sinh thái Kitô giáo trưởng thành nếu chỉ bảo vệ sự tiện nghi của mình mà không chia sẻ với người nghèo.
Một hậu quả quan trọng khác là chúng ta phải cẩn thận với những ngôn ngữ nghe rất đẹp nhưng có thể làm mờ ranh giới giữa Thiên Chúa và thụ tạo. Chẳng hạn, nói “Thiên Chúa ở trong mọi sự” có thể hoàn toàn đúng nếu hiểu theo thần học Kitô giáo: Người hiện diện bằng quyền năng sáng tạo và gìn giữ; không thụ tạo nào tồn tại ngoài sự lệ thuộc vào Người. Nhưng nếu câu ấy bị hiểu thành “mọi sự là Thiên Chúa”, thì đã đi sang một khẳng định khác. Nói “gặp Chúa trong thiên nhiên” là đúng. Nói “thiên nhiên chính là Chúa” là không đúng. Nói “trái đất là mẹ” có thể là một ẩn dụ rất đẹp về đất nuôi dưỡng chúng ta và thậm chí có truyền thống thi ca Kitô giáo, như khi thánh Phanxicô gọi “chị Mẹ Đất”; nhưng nếu “Mẹ Đất” trở thành một nữ thần song song với Thiên Chúa, ta đã thay đổi hoàn toàn ý nghĩa. Nói “mọi thụ tạo là anh chị em” theo tinh thần thánh Phanxicô là diễn tả sự cùng thuộc về một Đấng Tạo Hóa; nhưng không có nghĩa xóa bỏ khác biệt giữa con người và các loài khác. Con người vẫn mang phẩm giá độc đáo của hình ảnh Thiên Chúa và trách nhiệm luân lý đặc biệt. Sự hiệp thông không đòi đồng nhất. Yêu muôn loài không bắt buộc phủ nhận sự khác biệt. Khi mọi khác biệt bị xóa, người ta tưởng rằng mình đang khiêm nhường, nhưng thật ra cũng có thể đánh mất chính trách nhiệm được giao. Con người không là chủ độc tài của tạo thành, nhưng cũng không chỉ là một loài vô trách nhiệm giữa vô số loài. Được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa có nghĩa con người phải đại diện cách nào đó cho sự chăm sóc của Thiên Chúa trong thế giới: canh tác và gìn giữ, sử dụng mà không phá hủy, tổ chức mà không chiếm đoạt, hưởng dùng trong biết ơn, để lại cho thế hệ sau.
Một linh đạo tạo thành thật sự Kitô giáo vì thế có cả chiều đi lên lẫn chiều trở xuống. Ta đi từ thụ tạo lên Đấng Tạo Hóa, rồi từ Đấng Tạo Hóa trở lại thụ tạo với một đôi mắt mới. Đây là điểm rất quan trọng. Đức tin không bảo: cây chỉ là biển chỉ đường, đến khi gặp Chúa thì cây không còn quan trọng. Không. Khi đã gặp Chúa, tôi trở lại nhìn cây sâu hơn. Trước kia tôi có thể yêu cây vì nó đẹp. Bây giờ tôi yêu cây vì nó là công trình của Cha. Trước kia tôi bảo vệ dòng sông vì tôi cần nước sạch. Bây giờ tôi còn biết dòng sông thuộc về một trật tự tạo thành không do tôi sở hữu tuyệt đối. Trước kia tôi thương người nông dân vì họ vất vả. Bây giờ tôi nhận họ là anh chị em trong Đức Kitô và thấy lao động của họ liên hệ tới chính bàn ăn Thánh Thể. Gặp Đấng Tạo Hóa không làm thụ tạo mất giá; gặp đúng Đấng Tạo Hóa làm ta trả lại giá trị thật cho thụ tạo. Người thờ thiên nhiên có thể rất yêu thiên nhiên nhưng đôi khi không biết làm gì với đau khổ, cái chết, thảm họa. Người Kitô hữu không né những điều đó. Thụ tạo tốt đẹp nhưng đang rên siết. Thánh Phaolô nói toàn thể tạo thành cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh. Đây là cái nhìn không ngây thơ. Thiên nhiên không phải chỉ có hoa nở, chim hót và hoàng hôn. Có ký sinh trùng, bệnh tật, thú săn mồi, động đất, bão tố, hạn hán, cái chết. Nếu thiên nhiên là Thiên Chúa, chúng ta sẽ phải gọi tất cả những điều ấy là thần linh. Nhưng vì thiên nhiên là thụ tạo, Kitô hữu có thể nhìn thẳng vào sự đổ vỡ mà không mất đức tin vào Đấng Tạo Hóa. Tạo thành đang chờ được giải thoát. Nó chưa phải trạng thái cuối cùng. Hy vọng Kitô giáo không phải quay về một thiên nhiên nguyên sơ tưởng tượng như thể cứu độ là trở lại rừng trước khi có văn minh. Hy vọng Kitô giáo là “trời mới đất mới”, là toàn thể thụ tạo được dẫn tới sự viên mãn trong Đức Kitô. Như thế, hướng đi cuối cùng của sinh thái Kitô giáo là cánh chung. Chúng ta chăm sóc trái đất không phải vì trái đất là Thiên Chúa, cũng không phải vì trái đất hiện tại sẽ tồn tại y nguyên đời đời, nhưng vì nó thuộc vào kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa và đang được dẫn tới một sự biến đổi mà chúng ta chưa hiểu hết.
Điều ấy cũng giúp chúng ta tránh một cực đoan khác: dùng sự siêu việt của Thiên Chúa để coi thường thụ tạo. Có người sợ thần hóa thiên nhiên đến mức nói về thiên nhiên như thứ hoàn toàn không quan trọng: “Miễn cứu linh hồn là được”, “đất rồi cũng qua”, “Chúa sẽ làm trời mới đất mới nên bảo vệ môi trường không cần thiết”. Đó không phải hệ luận Kitô giáo. Nếu một người nói yêu họa sĩ mà cố tình xé tranh của họ, tình yêu ấy đáng nghi. Nếu nói kính trọng Đấng Tạo Hóa nhưng coi thường công trình Người, cũng có điều gì sai. Chính vì thụ tạo không phải Thiên Chúa nên ta không thờ nó; nhưng chính vì thụ tạo thuộc về Thiên Chúa nên ta không được phá nó tùy ý. Ranh giới giữa Tạo Hóa và thụ tạo bảo vệ chúng ta khỏi hai tội ngược chiều: thờ thụ tạo và khinh thụ tạo. Thờ thụ tạo là cho nó quá nhiều. Khinh thụ tạo là cho nó quá ít. Đức tin đặt nó đúng chỗ. Thụ tạo là tốt lành, hữu hạn, được yêu, lệ thuộc, được trao cho con người sử dụng có trách nhiệm và được quy hướng về vinh quang Thiên Chúa. Chính cái “hữu hạn” cũng là một bài học. Một cánh rừng có giới hạn. Một nguồn nước có giới hạn. Đất màu có giới hạn. Khả năng hấp thụ rác của một hệ sinh thái có giới hạn. Cơ thể con người cũng có giới hạn. Khi quên rằng chỉ Thiên Chúa là vô hạn, con người bắt đầu đòi cái hữu hạn phải cung cấp vô hạn: tăng trưởng vô hạn, tiêu dùng vô hạn, năng lượng vô hạn, khai thác vô hạn, tốc độ vô hạn. Một nền văn minh không thờ Thiên Chúa rất dễ bắt vật chất đóng vai Thiên Chúa. Tiền phải tăng mãi. Sản lượng phải tăng mãi. Trải nghiệm phải nhiều mãi. Thiết bị phải mới mãi. Du lịch phải xa mãi. Thỏa mãn phải cao mãi. Nhưng thụ tạo không phải vô hạn. Chỉ Thiên Chúa là vô hạn. Nhận lại ranh giới ấy chính là một hành vi sinh thái. Nếu tâm hồn con người không tìm cái vô hạn nơi Thiên Chúa, nó thường sẽ tìm cái vô hạn nơi tiêu thụ. Và không trái đất hữu hạn nào chịu nổi một dục vọng muốn vô hạn.
Do đó, đời sống cầu nguyện có vai trò trực tiếp trong việc chữa nền văn hóa khai thác. Người thực sự thờ Thiên Chúa được tự do hơn trước đồ vật. Khi quỳ trước Thiên Chúa, con người thôi bắt thế giới quỳ trước mình. Khi biết Thiên Chúa là cùng đích, chúng ta không còn đòi một chiếc xe, một căn nhà, một chuyến du lịch, một điện thoại, một khu nghỉ dưỡng hay một phong cảnh phải ban cho ta hạnh phúc tối hậu. Ta có thể vui hưởng chúng nhưng không thờ chúng. Đây là điều lạ: chính việc đặt Thiên Chúa lên trên thụ tạo giúp ta hưởng thụ tạo lành mạnh hơn. Người tuyệt đối hóa một kỳ nghỉ sẽ rất dễ thất vọng khi trời mưa. Người đón kỳ nghỉ như quà có thể vẫn biết tạ ơn trong ngày mưa. Người biến một căn nhà thành căn tính sẽ sống chết vì nó. Người nhận nhà như quà sẽ biết mở cửa cho người khác. Người coi thân xác là thần tượng sẽ khiếp sợ từng dấu già. Người coi thân xác là thụ tạo yêu quý của Chúa sẽ chăm sóc nó mà chấp nhận hữu hạn. Người coi sự sống sinh học là giá trị tối hậu có thể tuyệt vọng trước cái chết. Người tin vào Đấng Phục Sinh yêu sự sống này hết mình mà vẫn biết nó không phải chân trời cuối cùng. Như vậy, phân biệt Đấng Tạo Hóa và thụ tạo không làm con người xa thế giới. Nó làm họ tự do để yêu thế giới mà không bóp nghẹt thế giới bằng những kỳ vọng thần linh.
Chiêm ngắm Kitô giáo vì thế phải có một chuyển động tạ ơn. Tạ ơn là ngôn ngữ của người biết quà không tự có. Khi nhìn một chén cơm mà chỉ thấy carbohydrate, ta thấy một phần thật. Khi nhìn một chén cơm mà thấy giá tiền, ta thấy thêm một phần. Khi nhìn và nhớ đất, mưa, nắng, giống, người nông dân, người vận chuyển, người bán, người nấu, ta thấy sâu hơn. Nhưng khi nhìn tất cả rồi nói “Tạ ơn Chúa”, ta đã đặt mạng lưới ấy vào chiều sâu cuối cùng. Tạ ơn là chống lại sự hiển nhiên hóa. Người tiêu thụ coi mọi thứ đương nhiên phải có. Người cầu nguyện biết rằng không gì tự nhiên đến mức không còn là quà. Hơi thở là quà. Nước sạch là quà. Một mùa không bão là quà. Hạt giống nảy mầm là quà. Khả năng lao động là quà. Người cùng ăn bàn là quà. Tất nhiên, nói “quà” không có nghĩa bỏ qua các nguyên nhân tự nhiên, kinh tế và xã hội. Mưa có chu trình khí tượng. Hạt nảy mầm có sinh học. Lương thực có chuỗi cung ứng. Đức tin không xóa các tầng nguyên nhân ấy. Nhưng nó nhìn xuyên chúng đến nguyên nhân nền tảng hơn: tại sao có một thế giới trong đó những quy luật ấy hiện hữu? Tại sao có sự tồn tại thay vì hư vô? Tại sao tôi đang hiện hữu? Câu trả lời đức tin không phải một phương trình nhưng là một lời tuyên xưng: bởi tình yêu của Thiên Chúa. Khi lời tạ ơn trở lại, thế giới thôi là kho chứa và lại trở thành quà.
Tuy nhiên, cũng phải cảnh giác với một lối nhìn quá lãng mạn: cứ ra thiên nhiên là tự động gần Chúa. Không phải vậy. Người ta có thể leo núi mà lòng đầy tự mãn. Có thể đứng giữa rừng mà vẫn khinh người khác. Có thể đi hành hương sinh thái rồi về bóc lột nhân viên. Có thể yêu chó mèo và đối xử tàn nhẫn với cha mẹ già. Có thể phản đối phá rừng nhưng phá danh dự người khác trên mạng. Có thể sống “tối giản” rất đẹp mà kiêu căng với người nghèo không có lựa chọn tối giản vì họ vốn chẳng có gì. Thiên nhiên không tự động thánh hóa. Nó có thể trở thành trường chiêm ngắm nếu người học để Thiên Chúa dạy mình qua đó. Sự thánh thiện vẫn đòi ân sủng, hoán cải, thập giá, bác ái, tha thứ, công bằng. Một buổi ngắm bình minh không thay thế bí tích Hòa giải. Một ngày trên núi không thay thế Thánh lễ Chúa Nhật. Một giờ im lặng bên sông không thay thế việc xin lỗi vợ chồng. Trồng cây không thay thế trả lương công bằng. Ăn thực phẩm hữu cơ không thay thế chăm người đau yếu. Những việc sinh thái có thể là biểu hiện đức ái, nhưng không thể được dùng làm tấm bình phong cho những chỗ khác của đời sống chưa hoán cải. Thiên Chúa không chỉ hỏi ta đã yêu cây thế nào; Người còn hỏi ta đã yêu người thế nào. Và chính Đức Kitô đã gắn mình đặc biệt với người đói, người khát, người khách lạ, người trần truồng, người đau yếu, người bị giam. Không thể có một linh đạo tạo thành thật sự Kitô giáo mà con người lại vắng mặt.
Thật ra, chính con người là nơi cho thấy rõ nhất tại sao tạo thành không thay thế Đấng Tạo Hóa. Một khu rừng có thể làm ta choáng ngợp, nhưng chỉ một khuôn mặt người có thể gọi ta bằng trách nhiệm luân lý theo một cách đặc biệt. Khi một người nghèo nhìn ta, ta không chỉ đang có một trải nghiệm thẩm mỹ. Khi một đứa trẻ khóc vì đói, ta không được phép chỉ “chiêm ngắm”. Khi một người già cô đơn ngồi bên cửa, thinh lặng đúng lúc phải biến thành bước chân tới gần. Đức Giêsu không chỉ bảo các môn đệ ngắm hoa huệ. Người còn nói: “Anh em hãy cho họ ăn.” Tạo thành đưa ta tới Thiên Chúa, và Thiên Chúa đưa ta trở lại với anh chị em. Đó là vòng tròn lành mạnh của chiêm ngắm. Nếu tôi đi vào rừng để tìm bình an nhưng trở về ít kiên nhẫn hơn với người nhà, có lẽ tôi đã tìm bản thân nhiều hơn tìm Chúa. Nếu tôi cảm động trước một con vật bị thương nhưng dửng dưng với người lao động bị bóc lột, cảm thức sinh thái của tôi chưa trưởng thành. Nếu tôi ca ngợi “mẹ đất” nhưng xem những cộng đồng nghèo bị ô nhiễm như thiệt hại phụ của phát triển, lời ca ấy rỗng. Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô luôn kéo sự chiêm ngắm thành bác ái. Người không cho ta trú trong vẻ đẹp để trốn tiếng kêu của thế giới.
Một điểm khác cần giữ là sự tự do của Thiên Chúa. Vì Người không phải là thiên nhiên, Người không bị các quy luật thiên nhiên trói buộc như một bộ phận của vũ trụ. Phép lạ trong Tin Mừng có ý nghĩa chính trong nền này. Đức Giêsu làm gió yên biển lặng không phải như một pháp sư thao túng “năng lượng”, nhưng như Đấng có quyền trên tạo thành. Người hóa bánh ra nhiều không phải để hủy giá trị lao động và nông nghiệp, nhưng như dấu chỉ về Nước Thiên Chúa và về chính Người là Bánh ban sự sống. Người chữa bệnh không phải vì thân xác là ảo ảnh cần thoát khỏi, nhưng vì thân xác có giá trị và ơn cứu độ chạm tới toàn thể con người. Người sống lại không phải là thiên nhiên tự tuần hoàn như mùa xuân sau mùa đông. Phục Sinh không chỉ là một phiên bản tôn giáo của chu kỳ mùa vụ. Đức Giêsu không đơn giản “sống tiếp” như hạt giống mọc lên. Người chiến thắng sự chết bằng quyền năng của Thiên Chúa và bước vào cách hiện hữu mới. Các hình ảnh thiên nhiên có thể giúp ta hiểu phần nào mầu nhiệm, nhưng mầu nhiệm vượt trên các hình ảnh. Nếu đồng hóa Phục Sinh với mùa xuân, ta giảm Tin Mừng thành biểu tượng. Nếu đồng hóa Thánh Thần với gió, ta quên Thánh Thần là Ngôi Vị thần linh. Nếu đồng hóa Thiên Chúa với ánh sáng vật lý, ta quên Người là nguồn của cả ánh sáng hữu hình lẫn trí tuệ. Biểu tượng rất quý, nhưng biểu tượng phải chỉ vượt khỏi chính nó.
Thánh Phanxicô Assisi là một mẫu mực tuyệt vời ở đây. Người yêu thụ tạo đến mức gọi mặt trời là anh, mặt trăng là chị, nước là chị, lửa là anh, đất là mẹ. Nhưng ai đọc Bài ca các thụ tạo cho kỹ sẽ thấy toàn bộ bài ca được hướng về “Đấng Tối Cao, Toàn Năng và Tốt Lành”. Phanxicô không dừng ở anh Mặt Trời. Người nói “chúc tụng Chúa” qua anh Mặt Trời. Người không thờ chị Nước. Người ca ngợi Chúa vì chị Nước. Ngôn ngữ huynh đệ của Phanxicô chính xác vì có một Cha. Nếu bỏ Cha, “anh mặt trời”, “chị nước”, “mẹ đất” chỉ còn thơ. Chính Đấng Tạo Hóa làm cho các tương quan ấy thành một gia đình thụ tạo. Và điều đáng chú ý là tình yêu thụ tạo của Phanxicô không tách khỏi tình yêu Đức Kitô chịu đóng đinh. Người không phải một nhà huyền bí thiên nhiên thoát ly thập giá. Những dấu thánh trên thân thể người cho thấy tâm điểm vẫn là Đức Kitô. Người yêu chim, yêu sói, yêu mặt trời, nhưng tâm hồn bị thiêu đốt bởi Đức Giêsu nghèo và chịu đóng đinh. Đây là tiêu chuẩn đẹp cho mọi linh đạo sinh thái Kitô giáo: nếu càng yêu thụ tạo mà càng xa Đức Kitô, có điều gì đang lệch. Nếu càng chiêm ngắm thiên nhiên mà càng thấy Thánh Thể không cần, càng thấy Lời Chúa thừa, càng thấy Hội Thánh cản trở, càng thấy thập giá là tiêu cực, thì đó không còn là con đường của Phanxicô, dù ngôn ngữ có thể mượn rất nhiều từ Phanxicô.
Linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế cũng có thể gặp chiều kích này ở chính trọng tâm của đặc sủng: ơn cứu chuộc chan chứa nơi Đức Kitô. “Nơi Người chan chứa ơn cứu chuộc.” Tạo thành đẹp, nhưng không cứu chuộc chính mình. Con người không chỉ cần tái kết nối với thiên nhiên; con người cần được cứu khỏi tội. Một người có thể sống gần đất mà vẫn tham lam. Một cộng đồng nông thôn có thể rất gần mùa vụ mà vẫn có bất công. Một nền văn minh sinh thái hoàn hảo theo nghĩa kỹ thuật vẫn không tự giải quyết được kiêu ngạo, đố kỵ, bạo lực, dối trá, dục vọng thống trị. Khủng hoảng sinh thái có chiều kỹ thuật và chính trị, nhưng nó cũng chạm một vết thương sâu hơn trong lòng người. Khi con người muốn chiếm hữu không giới hạn, vấn đề không chỉ là thiếu kiến thức môi trường. Đó là một dạng dục vọng. Khi một công ty biết rõ mình đang gây hại nhưng vẫn tiếp tục vì lợi nhuận, vấn đề không chỉ là thiếu dữ liệu. Đó là luân lý. Khi người tiêu dùng biết mình đang sống lãng phí nhưng không muốn giảm bất cứ tiện nghi nào, vấn đề không chỉ là thiếu công nghệ xanh. Đó là hoán cải. Vì vậy, Tin Mừng Cứu Chuộc có điều để nói mà sinh thái học tự nó không thể nói. Sinh thái học có thể cho ta biết khí quyển thay đổi thế nào. Kinh tế học có thể cho biết hệ thống khuyến khích hành vi ra sao. Chính sách có thể đặt giới hạn. Công nghệ có thể giảm tác hại. Tất cả cần thiết. Nhưng chỉ ân sủng mới chữa lòng tham ở chiều sâu thiêng liêng. Chỉ cuộc gặp Đức Kitô mới có thể làm một người tự nguyện từ bỏ cái mình có quyền dùng để người khác được sống. Chỉ tình yêu mới biến sự giới hạn từ “bị mất” thành “tự hiến”.
Vì thế, khi Hội Thánh mở một “trường chiêm ngắm” trong tạo thành, phải dạy cả đôi mắt lẫn trái tim thần học. Hãy dạy trẻ nhỏ nhìn một chiếc lá thật lâu, nhưng rồi nói với các em: chiếc lá này là quà của Chúa. Hãy đưa giới trẻ ra khỏi màn hình để nhìn sao, nhưng đừng chỉ nói về “vũ trụ bao la”; hãy đọc với họ: “Khi ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài, thì con người là chi mà Chúa cần nhớ đến?” Hãy cho một nhóm giáo dân ngồi bên sông trong im lặng, nhưng rồi mời họ cầu nguyện cho những người không có nước sạch. Hãy tổ chức một ngày tĩnh tâm trong rừng, nhưng để Thánh lễ là đỉnh cao. Hãy mời người tham dự chạm đất, ngửi cỏ, nghe chim, nhưng sau đó nghe Tin Mừng. Hãy để thân xác thức tỉnh, nhưng đừng biến thân xác thành chân trời cuối cùng. Hãy học nhịp mùa vụ, nhưng nhớ rằng lịch phụng vụ còn kể một lịch sử cứu độ. Mùa Vọng không chỉ là mùa đông nội tâm. Phục Sinh không chỉ là mùa xuân. Lễ Hiện Xuống không chỉ là biểu tượng gió và lửa. Thiên nhiên cung cấp ngôn ngữ, nhưng Đức Kitô cung cấp biến cố. Đức tin Kitô giáo là đức tin vào điều Thiên Chúa đã làm trong lịch sử: tạo dựng, gọi Abraham, giải phóng Israel, nói qua các ngôn sứ, sai Con, cho Người chịu chết và sống lại, ban Thánh Thần, quy tụ Hội Thánh và dẫn lịch sử tới viên mãn. Không chu kỳ mùa vụ nào thay thế lịch sử cứu độ ấy.
Cũng cần đào tạo giáo dân nhận ra rằng có lúc Thiên Chúa được gặp trong thiên nhiên, nhưng có lúc ta không cảm thấy Người gì cả. Một nền linh đạo phụ thuộc quá nhiều vào cảm xúc thiên nhiên sẽ khủng hoảng khi người ta sống ở nơi xấu xí, ô nhiễm, chật chội. Một người nghèo ở khu nhà trọ không có vườn. Một bệnh nhân nằm trong phòng kín. Một công nhân làm ca đêm không ngắm bình minh. Một người già không còn đủ sức leo núi. Nếu ta gắn sự hiện diện của Thiên Chúa quá chặt với những cảnh quan đẹp, ta vô tình biến chiêm ngắm thành đặc quyền của người có điều kiện. Nhưng Cha của Đức Giêsu Kitô ở cả trong căn phòng không cửa sổ. Đức Kitô hiện diện nơi giường bệnh. Thánh Thần có thể cầu nguyện trong một chiếc xe buýt đông người. Một người có thể gặp Chúa trong tiếng máy bệnh viện, trong mùi thuốc, trong bức tường cũ, trong cái nắm tay của người chăm sóc. Thiên nhiên đẹp giúp ta, nhưng không sở hữu Thiên Chúa. Thiên Chúa tự do ban mình ở nơi Người muốn. Thậm chí đôi khi một người phải học cầu nguyện khi không còn cảm giác đẹp nào. Đó là lúc đức tin được thanh luyện: tôi tìm Chúa không phải chỉ vì Chúa cho tôi bình an giữa rừng, mà vì Chúa là Chúa. Tôi thờ phượng Người không phải vì hoàng hôn làm tôi xúc động, mà vì Người đáng được thờ phượng. Tôi tin Người trong ngày mưa bão cũng như ngày nắng đẹp. Tôi tạ ơn Người khi đất trổ sinh và vẫn kêu lên với Người khi mùa màng thất bát. Sách Gióp chính là lời cảnh tỉnh chống một thứ thần học thiên nhiên quá dễ dàng. Tạo thành có mầu nhiệm mà ta không kiểm soát. Thiên Chúa không giải thích mọi chi tiết theo ý Gióp, nhưng Người tỏ mình là Đấng vượt quá trí hiểu con người. Chiêm ngắm chân thật cuối cùng dẫn tới khiêm nhường, không phải ảo tưởng đã giải mã được vũ trụ.
Có một câu hỏi thực hành rất hữu ích: sau khi chiêm ngắm thụ tạo, tôi nói với ai? Nếu câu trả lời là không nói với ai, chỉ cảm thấy dễ chịu, kinh nghiệm có thể tốt nhưng chưa chắc đã là cầu nguyện Kitô giáo. Nếu tôi có thể nói: “Lạy Cha, con tạ ơn Cha”; “Lạy Chúa Giêsu, nhờ Chúa mọi sự được dựng nên”; “Lạy Thánh Thần, xin đổi mới mặt đất này”; khi ấy chiêm ngắm có khuôn mặt Ba Ngôi. Kitô giáo không thờ một Đấng Tạo Hóa cô độc. Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần. Tạo thành đến từ tình yêu Ba Ngôi, được cứu chuộc trong Con và được Thánh Thần làm cho sống động. Một linh đạo tạo thành trưởng thành cần có chiều sâu Ba Ngôi ấy. Nhìn thế giới trong Chúa Cha: thế giới là quà được gọi vào hiện hữu. Nhìn thế giới trong Chúa Con: thế giới được tạo thành nhờ Người, được Người mang lấy trong Nhập Thể và hướng tới hòa giải. Nhìn thế giới trong Chúa Thánh Thần: tạo thành được ban sự sống và rên siết chờ viên mãn. Khi ấy, nói về sinh thái không còn là một phụ lục thời thượng. Nó nằm trong chính lời tuyên xưng đức tin: “Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình.” Mỗi Chúa Nhật Hội Thánh tuyên xưng Đấng Tạo Hóa. Nhưng Kinh Tin Kính không dừng ở “Đấng tạo thành trời đất”. Nó đi ngay vào Đức Giêsu Kitô, rồi Chúa Thánh Thần, Hội Thánh, sự sống lại của thân xác và sự sống đời sau. Đó là khung đầy đủ. Tạo dựng không đứng riêng. Nó nằm trong toàn bộ mầu nhiệm cứu độ.
Nếu hiểu điều ấy, người Kitô hữu sẽ không sợ những tiến bộ khoa học về vũ trụ. Một số người tưởng rằng càng biết nguyên nhân tự nhiên, càng ít chỗ cho Thiên Chúa. Đó là vì họ đã biến Thiên Chúa thành một nguyên nhân cạnh tranh với các nguyên nhân tự nhiên. Nhưng Đấng Tạo Hóa không phải “một nguyên nhân nữa” trong vũ trụ. Khoa học giải thích các tiến trình bên trong thế giới. Đức tin nói về việc toàn thể thế giới nhận hiện hữu từ Thiên Chúa. Khi khoa học giải thích mưa hình thành thế nào, điều đó không làm câu “Chúa ban mưa” mất ý nghĩa, miễn là ta hiểu hai câu ở hai bình diện khác nhau. Khi sinh học giải thích cây quang hợp, người tín hữu không bị mất sự ngạc nhiên; trái lại, càng hiểu cấu trúc ấy, họ càng có thể ngỡ ngàng trước trật tự của sự sống. Nhưng sự ngạc nhiên không được vội biến thành “bằng chứng khoa học về Chúa”. Thiên Chúa lớn hơn những khoảng trống khoa học. Người không phải lời giải tạm thời cho những gì chưa biết. Đấng Tạo Hóa được tuyên xưng ở nền tảng của chính sự hiện hữu, chứ không chen vào các chỗ khoa học chưa giải thích. Điều này cũng bảo vệ đức tin khỏi những cú sốc không cần thiết: khi khoa học giải thích thêm một hiện tượng, không phải Thiên Chúa bị đẩy lùi thêm một bước. Người chưa bao giờ cạnh tranh với vật lý, hóa học hay sinh học.
Và chính vì vậy, công việc của nhà khoa học có thể trở thành một hình thức khiêm nhường trước thụ tạo. Kính hiển vi cũng có thể là một cửa chiêm ngắm. Kính thiên văn cũng có thể là một cửa chiêm ngắm. Dữ liệu không giết mầu nhiệm. Biết khoảng cách của một ngôi sao không làm nó bớt kỳ diệu. Biết cấu trúc DNA không làm sự sống bớt là quà. Biết hệ sinh thái vận hành không biến người ta thành chủ nhân tuyệt đối của nó. Trái lại, càng biết, càng thấy mạng lưới lệ thuộc phức tạp, càng hiểu một hành động có thể gây hậu quả vượt xa dự tính. Khoa học đúng đắn có thể chữa con người khỏi một kiểu ngạo mạn tôn giáo dễ dãi. Nhưng khoa học cũng cần khiêm nhường: nó có thể mô tả rất nhiều về “thế nào”, nhưng không tự mình trả lời mọi câu hỏi “để làm gì”, “có ý nghĩa gì”, “tôi phải sống thế nào”, “điều gì là thiện”, “tại sao phải hy sinh lợi ích của mình cho thế hệ chưa sinh ra”. Đó là nơi triết học, đạo đức và đức tin bước vào không phải để phá khoa học, mà để đặt tri thức vào một chân trời nhân bản đầy đủ hơn.
Cuối cùng, câu “thụ tạo không thay thế Đấng Tạo Hóa” cũng là một câu giải phóng. Nó giải phóng chúng ta khỏi việc bắt thế giới phải làm điều chỉ Thiên Chúa làm được. Không cảnh đẹp nào cứu linh hồn. Không lối sống xanh nào tự làm con người nên thánh. Không sức khỏe nào thắng được cái chết. Không công nghệ nào trao ý nghĩa cuối cùng. Không hệ sinh thái nào nói được rằng tội của tôi đã được tha. Không chu kỳ tự nhiên nào hứa rằng tôi sẽ được gọi ra khỏi mồ bằng tên. Chỉ Đức Kitô có thể nói: “Ta là sự sống lại và là sự sống.” Chỉ Người có thể nói với người tội lỗi: “Tội của con đã được tha.” Chỉ Người có thể trao chính mình trong Thánh Thể. Chỉ Người có thể dẫn chúng ta đến Cha. Và chính khi nhận điều ấy, ta lại có thể yêu tạo thành thanh thản hơn. Tôi không cần cây cứu tôi; tôi chỉ cần để cây nhắc tôi rằng mình không phải trung tâm. Tôi không cần biển trả lời mọi câu hỏi; tôi có thể để biển dạy tôi kinh ngạc. Tôi không cần trời sao nói số phận; tôi có thể để trời sao làm tôi thưa: “Lạy Chúa, con người là chi mà Chúa cần nhớ đến?” Tôi không cần đất mẹ tha tội; tôi có thể quỳ trên đất mà xin Cha tha thứ. Tôi không cần vũ trụ gửi tín hiệu; tôi có Lời đã làm người. Tôi không cần hòa tan vào tất cả; tôi được gọi bằng tên và được yêu như một người con.
Đó là vẻ đẹp rất riêng của chiêm ngắm Kitô giáo: càng đi sâu vào thụ tạo, người tín hữu càng không mắc kẹt trong thụ tạo. Họ nghe trong tiếng gió một lời mời vượt khỏi tiếng gió. Họ nhìn trong ánh sáng một dấu chỉ về Ánh Sáng không tàn. Họ nhận trong nước một lời nhắc về nguồn nước trường sinh. Họ cầm bánh và nhớ Đấng là Bánh hằng sống. Họ nhìn hạt lúa chết đi và nhớ mầu nhiệm Vượt Qua. Họ thấy mùa xuân nhưng không nhầm mùa xuân với Phục Sinh. Họ thấy đất tốt nhưng biết quê hương cuối cùng không phải một hệ sinh thái lý tưởng do con người xây được. Họ yêu cuộc đời này mà không bắt cuộc đời này phải là thiên đàng. Họ làm việc cho một trái đất đáng sống hơn nhưng không tưởng rằng mình sẽ tự xây Nước Thiên Chúa bằng kỹ thuật. Họ bảo vệ tạo thành bởi vì tạo thành là quà, nhưng thờ phượng chỉ một mình Đấng ban quà. Và khi chiều xuống, sau một ngày làm việc trên đất, người tín hữu có thể đứng trước một cánh đồng, một con sông, một khoảng trời hay chỉ một chậu cây nhỏ nơi ban công, im lặng một lúc, rồi không nói với cây, không cầu xin bầu trời, không gửi ý định vào vũ trụ, nhưng ngước lòng lên và thưa rất đơn sơ: “Lạy Cha, con tạ ơn Cha vì mọi sự Cha đã dựng nên. Xin đừng để con chiếm lấy quà của Cha đến mức quên Cha, cũng đừng để con nói yêu Cha mà làm hư quà Cha trao. Xin cho con nhìn thấy trong mọi thụ tạo dấu vết tình yêu của Cha, đi qua mọi dấu chỉ để gặp Cha, rồi từ Cha trở về yêu mọi sự bằng một trái tim ngay thẳng hơn. Nhờ Đức Giêsu Kitô, Con Cha và Chúa chúng con.” Đến đó, chiêm ngắm tạo thành đạt đúng đích của nó: không giữ mắt người tín hữu lại ở cánh hoa, nhưng cũng không bắt họ khép mắt trước cánh hoa; không buộc họ bỏ thế giới để tìm Chúa, nhưng cũng không cho họ biến thế giới thành Chúa. Họ học nhìn xuyên qua thụ tạo mà không nhìn xuyên đến mức coi thụ tạo như không có giá trị. Họ giữ cả quà và Đấng ban quà, nhưng biết rõ ai là Đấng phải được thờ phượng. Và chính trật tự ấy làm cho tình yêu đối với tạo thành trở nên trong sáng, tự do, biết ơn và có khả năng sinh hoa trái lâu dài.

CHƯƠNG 9. QUA CÁI ĐẸP TỚI ĐẤNG LÀ NGUỒN CÁI ĐẸP
Có những lúc con người đến gần Thiên Chúa không phải trước hết bằng một lập luận, một định nghĩa thần học hay một bài giáo lý, nhưng bằng một khoảnh khắc rất nhỏ trong đó họ bỗng thấy thế giới đẹp đến mức lòng mình không thể tiếp tục dửng dưng. Một buổi sáng ánh nắng đi qua cửa sổ và nằm trên nền nhà. Một cánh đồng lúa chín cúi xuống dưới gió. Một khuôn mặt người già đầy nếp nhăn nhưng sáng lên khi thấy con cháu trở về. Một đứa trẻ ngủ trên tay mẹ. Một bản nhạc làm người nghe im hẳn. Một ngôi thánh đường cũ, một cây thánh giá bằng gỗ đã sẫm màu theo năm tháng, một tiếng chuông chiều rơi xuống xóm làng, một bữa cơm nghèo nhưng những người ngồi quanh bàn vẫn có thể cười với nhau. Những điều ấy không tự động làm người ta thành tín hữu. Nhưng chúng có thể mở một cánh cửa. Chúng làm cho con người bỗng cảm thấy thực tại lớn hơn phần mình đo được, sử dụng được, tính toán được. Cái đẹp làm xuất hiện một khe hở trong đời sống vốn bị bịt kín bởi công việc, lo âu, lợi ích và thói quen. Qua khe hở ấy, con người có thể bắt đầu hỏi: tại sao lại có cái đẹp? Tại sao thế giới không chỉ có công dụng mà còn có ánh sáng, màu sắc, âm thanh, đường nét, hương thơm, nhịp điệu và khả năng làm trái tim rung động? Tại sao một bông hoa không cần đẹp đến thế để hoàn thành chức năng sinh học của nó? Tại sao bầu trời chiều có thể làm một người đang vội phải đứng lại vài giây? Tại sao nước mắt cũng có thể đẹp khi nó chảy trên khuôn mặt của một người đang tha thứ? Trong truyền thống Kitô giáo, những câu hỏi ấy không bị coi là những chuyện phụ. Cái đẹp là một con đường hợp pháp để đi tới Thiên Chúa, bởi vì Thiên Chúa không chỉ là Chân Lý phải tin và Thiện Hảo phải yêu, nhưng cũng là Nguồn của mọi vẻ đẹp chân thật. Cái đẹp của thụ tạo không phải Thiên Chúa, nhưng nó có thể mang dấu vết của Người; nó không phải cứu độ, nhưng có thể đánh thức trong lòng người khát vọng về Đấng Cứu Độ; nó không phải cùng đích, nhưng có thể là con đường; nó không phải khuôn mặt trọn vẹn của Thiên Chúa, nhưng đôi khi là một ánh phản chiếu đủ để người ta bắt đầu quay mặt về phía ánh sáng.
Kinh Thánh không ngại nói bằng ngôn ngữ của cái đẹp. Sách Sáng Thế không kể một Thiên Chúa tạo dựng thế giới với thái độ lạnh lùng của một kỹ sư hoàn thành công trình kỹ thuật. Sau những ngày tạo dựng, điệp khúc trở lại: Thiên Chúa thấy điều đó là tốt đẹp. Khi toàn thể công trình hoàn tất, Người thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp. Chữ “tốt đẹp” ở đây không chỉ nói về sự vận hành đúng chức năng. Nó nói rằng thụ tạo có một giá trị được nhìn nhận bởi chính ánh mắt của Thiên Chúa. Cái nhìn đầu tiên đặt trên thế giới không phải cái nhìn của người mua, người khai thác hay người đo lường, nhưng là cái nhìn của Đấng Tạo Hóa vui trước điều Người đã làm. Con người học nhìn đúng khi học lại cái nhìn ấy. Trước khi hỏi một cánh rừng cho ta bao nhiêu gỗ, hãy biết nhìn rừng. Trước khi hỏi một dòng sông cung cấp được bao nhiêu điện, hãy biết nhìn nước chảy, biết nhận ra nó là một phần của tạo thành và là nhà của nhiều sự sống khác. Trước khi hỏi một người có ích gì cho xã hội, hãy biết nhìn khuôn mặt họ. Cái đẹp dạy ta rằng giá trị không trùng hoàn toàn với công dụng. Một đứa trẻ sơ sinh chưa “sản xuất” được gì vẫn đẹp và vô giá. Một người già nằm liệt giường không còn năng suất vẫn có phẩm giá không thể định giá. Một bông hoa dại mọc bên đường không đem lợi nhuận vẫn có chỗ trong bài ca của tạo thành. Một ngọn núi không cần phục vụ ngành du lịch mới có quyền tồn tại. Cái đẹp, khi được nhìn đúng, giải thoát ánh mắt khỏi chế độ duy lợi đang biến mọi sự thành vật liệu.
Các Thánh vịnh cũng đầy những ngôn ngữ như vậy. Trời xanh, mặt trời, mặt trăng, tinh tú, núi đồi, biển cả, cây cối, thú vật, chim trời, mưa, tuyết, gió, mùa màng đều bước vào lời cầu nguyện. Người cầu nguyện không đứng trước chúng như nhà sưu tập cảnh đẹp nhưng như một thụ tạo giữa các thụ tạo, cùng nghe tiếng gọi ca tụng Đấng dựng nên tất cả. “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa” không có nghĩa là trời có miệng nói như con người, nhưng có nghĩa chính sự hiện hữu, trật tự, vẻ huy hoàng và tính vượt quá của tạo thành có khả năng làm trí lòng người hướng lên trên. Khi đứng trước bầu trời đầy sao, con người dễ nhận ra mình nhỏ. Sự nhỏ bé ấy có thể làm người ta sợ, nhưng cũng có thể chữa một thứ ảo tưởng rất nguy hiểm: tưởng mình là trung tâm vũ trụ. Cái đẹp thật không chỉ làm ta thấy dễ chịu. Nhiều khi nó làm ta khiêm tốn. Đứng trước biển, người ta không chỉ nói “đẹp quá”, mà còn có thể cảm thấy mình không kiểm soát được mọi sự. Đứng trước một dãy núi, người ta có thể cảm thấy đời mình ngắn. Đứng trước một khu rừng cổ, người ta có thể nhận ra có những sự sống đã có trước mình và có thể tiếp tục sau mình. Cái đẹp đích thực vì thế có sức giải độc bản ngã. Nó không chỉ làm ta thích thú; nó đặt ta về đúng chỗ.
Truyền thống Kitô giáo từ rất sớm đã hiểu rằng có thể đi từ vẻ đẹp hữu hình tới Đấng vô hình, từ trật tự thụ tạo tới Đấng Tạo Hóa, từ ánh sáng được tạo dựng tới Ánh Sáng không được tạo dựng. Nhưng Hội Thánh cũng luôn biết con đường ấy cần phân định, vì cái đẹp vừa có khả năng dẫn tới Thiên Chúa vừa có thể bị tách khỏi Thiên Chúa và biến thành ngẫu tượng. Chính ở đây cần nói rõ: không phải mọi cái đẹp đều cứu, không phải mọi điều làm ta say mê đều thánh thiện, và không phải cứ cảm thấy xúc động là đã gặp Chúa. Một khuôn mặt đẹp có thể làm người ta biết ơn Thiên Chúa, nhưng cũng có thể trở thành đối tượng chiếm hữu. Một công trình nghệ thuật có thể mở lòng người ra trước mầu nhiệm, nhưng cũng có thể trở thành nơi con người thờ chính tài năng của mình. Một nhà thờ rất đẹp có thể nâng tâm hồn lên Chúa, nhưng cũng có thể trở thành nơi người ta chỉ lo chụp ảnh, khoe kiến trúc, so sánh độ hoành tráng giữa cộng đoàn này với cộng đoàn khác. Một phụng vụ đẹp có thể làm lộ ra vẻ đẹp của Đức Kitô, nhưng cũng có thể bị biến thành sân khấu thẩm mỹ nơi người ta mê âm nhạc, lễ phục, ánh sáng và nghi thức đến mức quên mất bàn thờ là nơi Hy tế của Chúa được cử hành. Cái đẹp trở thành ngẫu tượng khi nó giữ mắt người ta lại ở chính nó. Cái đẹp thực hiện đúng ơn gọi của mình khi nó mở mắt người ta đi xa hơn nó.
Đây là một tiêu chuẩn quan trọng. Cái đẹp Kitô giáo không nói: “hãy nhìn tôi”, nhưng âm thầm nói: “hãy đi qua tôi”. Một ô cửa kính màu đẹp không phải cùng đích; ánh sáng đi qua nó mới làm cho cửa kính sống. Một bản thánh ca không phải cùng đích; nó phải giúp cộng đoàn cầu nguyện. Một pho tượng không phải cùng đích; nó phải giúp con người nhớ đến mầu nhiệm mà pho tượng diễn tả. Một cảnh thiên nhiên không phải cùng đích; nó có thể trở thành dấu chỉ của Đấng đã gọi nó vào hiện hữu. Chính vì vậy, Kitô giáo khác với một thứ tôn giáo thiên nhiên. Kitô hữu không quỳ trước mặt trời vì mặt trời đẹp. Kitô hữu có thể nhìn mặt trời và ca tụng Đấng dựng nên mặt trời. Kitô hữu không thần thánh hóa đất, nước, cây rừng, nhưng cũng không xúc phạm chúng, bởi vì biết chúng là thụ tạo của Cha. Kitô hữu không đồng nhất Thiên Chúa với vẻ đẹp của vũ trụ, nhưng cũng không coi vẻ đẹp ấy là vô nghĩa. Ta đi qua vẻ đẹp để gặp Nguồn của vẻ đẹp. Ta biết ơn món quà nhưng không nhầm món quà với Người ban.
Có một cám dỗ khác ở phía ngược lại: vì sợ cái đẹp bị lạm dụng, người ta trở thành nghi ngờ cái đẹp, thậm chí coi cái đẹp là xa xỉ, là phù phiếm, là thứ chỉ dành cho người dư thời gian. Cách nghĩ ấy cũng nghèo. Nếu Thiên Chúa chỉ muốn một thế giới có công dụng, Người đã có thể tạo ra một thế giới đơn điệu hơn nhiều. Nhưng thế giới này có màu. Ánh sáng tách thành những sắc khác nhau. Chim không chỉ phát ra tín hiệu mà còn có tiếng hót. Hoa không chỉ sinh sản mà còn có hình dáng và hương thơm. Con người không chỉ truyền thông tin mà còn làm thơ, vẽ, hát, xây dựng, trang trí, kể chuyện. Từ chối cái đẹp là từ chối một phần ngôn ngữ của tạo thành. Một nền linh đạo chỉ nói về bổn phận, luật lệ, hy sinh, chiến đấu mà không còn chỗ cho vẻ đẹp, niềm vui và sự ngạc nhiên rất dễ trở thành khô cứng. Nó có thể tạo ra những Kitô hữu đúng nhưng không sáng, trung thành nhưng không vui, giữ đạo nhưng khó cho người khác cảm thấy Tin Mừng là tin vui.
Trong lịch sử Hội Thánh, vẻ đẹp đã phục vụ việc loan báo Tin Mừng theo những cách mà lời nói đơn thuần nhiều khi không làm được. Những thánh đường vươn cao đã nói về khát vọng hướng thượng của con người. Những bức ảnh thánh, tranh tường, cửa kính, điêu khắc đã kể Kinh Thánh cho những thế hệ không biết chữ. Thánh ca đưa lời cầu nguyện vào trí nhớ bằng giai điệu. Tiếng chuông tạo nhịp thánh cho làng xóm. Ánh nến nói một thứ ngôn ngữ đơn sơ về ánh sáng trong bóng tối. Hương trầm nhắc thân xác rằng cầu nguyện không chỉ là hoạt động của ý tưởng. Màu sắc phụng vụ dạy thời gian có mùa, có nhịp, có chờ đợi, có sám hối, có vui mừng. Ngay cả sự sạch sẽ, trật tự và chăm sóc một nhà nguyện nhỏ cũng có thể là một lời tuyên xưng: điều dành cho Chúa không được làm cẩu thả. Cái đẹp của phụng vụ không phải trang trí thêm vào sau khi đã có điều quan trọng. Nó có thể là cách thân xác con người được dẫn vào mầu nhiệm. Con người không phải thiên thần. Ta nghe, nhìn, ngửi, chạm, quỳ, đứng, hát, im lặng. Thiên Chúa cứu cả con người, không chỉ cứu một trí óc trừu tượng. Vì thế Hội Thánh có lý khi chăm lo vẻ đẹp của không gian phụng vụ, nghệ thuật thánh, âm nhạc và các cử chỉ. Nhưng tất cả chỉ đẹp đúng nghĩa khi phục vụ gặp gỡ với Đức Kitô.
Vấn đề hôm nay không phải con người không thích cái đẹp. Có lẽ chưa bao giờ con người bị bao vây bởi hình ảnh đẹp nhiều như bây giờ. Điện thoại mỗi ngày đưa trước mắt vô số khuôn mặt đẹp, món ăn đẹp, ngôi nhà đẹp, địa điểm du lịch đẹp, thân hình đẹp, đồ vật đẹp. Nhưng chính vì thế, điều đang thiếu không phải là hình ảnh đẹp mà là khả năng chiêm ngắm cái đẹp. Ta có thể xem hàng trăm tấm ảnh phong cảnh trong vài phút mà không thực sự nhìn một cái cây trước nhà. Ta có thể thấy hàng nghìn khuôn mặt được chỉnh sửa mà không biết nhìn khuôn mặt đang mệt của người sống cùng mình. Ta có thể lưu rất nhiều ảnh hoàng hôn mà chưa bao giờ đứng yên mười phút trước một buổi chiều thật. Văn hóa hình ảnh có nguy cơ làm cái đẹp trở thành hàng hóa kích thích. Đẹp là thứ phải mới hơn, mạnh hơn, lạ hơn để giữ sự chú ý thêm vài giây. Hôm nay đẹp, ngày mai chán. Hôm nay gây ấn tượng, ngày mai phải có cái khác ấn tượng hơn. Như vậy, cái đẹp không còn dẫn tới chiêm ngắm nhưng bị kéo vào logic tiêu thụ.
Chính ở đây linh đạo Kitô giáo cần dạy lại nghệ thuật sửng sốt. Sửng sốt khác với bị kích thích. Kích thích đòi thêm. Sửng sốt biết dừng. Kích thích làm mắt chạy. Sửng sốt làm mắt ở lại. Kích thích hỏi “còn gì nữa?”. Sửng sốt có thể thốt lên “đủ rồi”. Một đứa trẻ còn khả năng ấy. Nó có thể nhìn con kiến rất lâu, hỏi về trăng, nhặt một viên đá, ngửi một bông hoa, vui vì một vũng nước. Người lớn thường mất khả năng đó vì mọi sự đã bị đặt tên quá nhanh. Cây là cây. Mưa là mưa. Chim là chim. Bầu trời là bầu trời. Ta biết tên nhưng không còn ngạc nhiên vì sự hiện hữu. Đời sống thiêng liêng có một phần là học lại sự ngạc nhiên căn bản: tại sao có sự gì thay vì không có gì? Tại sao tôi đang sống? Tại sao người kia hiện hữu? Tại sao thế giới này được trao cho tôi như một quà tặng chứ không phải do tôi làm ra? Khi con người biết sửng sốt, họ đã bước ra khỏi chế độ sở hữu. Không ai sửng sốt thật trước điều mình tưởng là hoàn toàn thuộc quyền mình.
Người giáo dân có một trường học rất lớn của cái đẹp ngay trong đời thường. Không cần đi tới nơi nổi tiếng mới gặp cái đẹp. Một căn nhà nhỏ có thể đẹp bởi sự sạch sẽ và bình an. Một bữa cơm đơn sơ có thể đẹp bởi không ai cầm điện thoại và mọi người lắng nghe nhau. Một người chồng già pha thuốc cho vợ có thể đẹp hơn nhiều cảnh được chụp chuyên nghiệp. Một người mẹ thức đêm vì con bệnh có một vẻ đẹp mà máy ảnh khó ghi. Một người công nhân làm phần việc của mình cẩn thận dù không ai kiểm tra có vẻ đẹp của sự ngay thẳng. Một giáo viên kiên nhẫn với học sinh yếu có vẻ đẹp của lòng nhân hậu. Một người bán hàng trả lại tiền thừa có vẻ đẹp của công chính. Một người trẻ không đăng lời ác trên mạng dù đang giận có vẻ đẹp của tự chủ. Một người nghèo chia phần nhỏ của mình cho người nghèo hơn có vẻ đẹp của Tin Mừng. Cái đẹp Kitô giáo không bị nhốt trong thẩm mỹ. Nó có chiều luân lý. Có những cuộc đời đẹp không phải vì vóc dáng nhưng vì cách họ yêu. Có những khuôn mặt càng già càng đẹp vì đã đi qua đau khổ mà không trở nên cay độc. Có những đôi tay chai sần đẹp vì đã làm việc nuôi gia đình. Có những căn phòng bệnh đẹp vì có người ở lại. Có những nghĩa trang đẹp không vì kiến trúc mà vì nói lên lòng trung thành của người sống với người chết.
Điều đó giúp ta tránh một thứ thẩm mỹ hời hợt chỉ đồng nhất cái đẹp với trẻ, mới, bóng, cân đối, đắt tiền và hoàn hảo. Tin Mừng phá vỡ định nghĩa ấy. Đức Kitô đẹp nhất không chỉ ở biến hình trên núi Tabor mà còn ở tình yêu tự hiến trên thập giá. Nếu chỉ dùng tiêu chuẩn thẩm mỹ bề ngoài, thập giá là một cảnh ghê sợ, thất bại, máu, thương tích, nhục nhã. Nhưng đức tin nhìn sâu hơn và thấy trong đó vẻ đẹp của tình yêu đi đến cùng. Điều này cực kỳ quan trọng đối với một thần học về cái đẹp. Kitô giáo không thờ vẻ đẹp vô thương tích. Vẻ đẹp cứu độ mang dấu đinh. Đức Kitô phục sinh vẫn mang các vết thương. Nghĩa là cái đẹp của Thiên Chúa không phải sự bóng bẩy loại trừ đau khổ, nhưng là tình yêu có thể đi xuyên qua đau khổ và biến nó thành nơi hiến mình. Vì thế người Kitô hữu có thể nhận ra vẻ đẹp cả ở những nơi thế gian thường tránh nhìn: một người khuyết tật được yêu thương, một người bệnh được chăm sóc, một người già được tôn trọng, một người thất bại được đón nhận lại, một tội nhân ăn năn, một gia đình tha thứ sau đổ vỡ. Đây không phải mỹ hóa đau khổ. Đau khổ vẫn là đau khổ, bệnh vẫn là bệnh, bất công vẫn phải bị chống lại. Nhưng trong những hoàn cảnh ấy, tình yêu có thể xuất hiện với một vẻ đẹp rất sâu.
Thập giá cũng là phê bình mạnh nhất đối với việc biến cái đẹp thành quyền lực. Thế giới nhiều khi tôn thờ vẻ đẹp vì vẻ đẹp đem lại ưu thế. Người đẹp được chú ý hơn, được đối xử khác, dễ tạo ảnh hưởng hơn. Các ngành công nghiệp lớn sống bằng cách làm người ta sợ mình chưa đủ đẹp. Thân xác trở thành dự án phải sửa liên tục. Người trẻ bị đẩy vào so sánh. Một khuôn mặt bình thường bắt đầu bị xem như một thất bại. Một thân thể có tuổi bị coi là điều phải che. Những dấu vết của sinh nở, lao động, bệnh tật, thời gian bị coi như kẻ thù. Linh đạo Kitô giáo cần trả lại tự do ở đây. Thân xác là thụ tạo tốt đẹp, nhưng thân xác không phải thần tượng. Chăm sóc thân xác là đúng, nhưng thờ thân xác là nô lệ. Vẻ đẹp bề ngoài là một quà tặng, nhưng không phải căn tính cuối cùng. Người có sắc đẹp không vì thế có phẩm giá cao hơn; người không phù hợp chuẩn thẩm mỹ của thời đại cũng không thiếu một chút nào giá trị trước mặt Thiên Chúa. Nếu giáo xứ, cộng đoàn và gia đình không nói được điều này, người trẻ sẽ học thần học về thân xác từ quảng cáo và thuật toán.
Người giáo dân nên thánh một phần bằng cách học nhìn cái đẹp mà không chiếm hữu nó. Đây là một kỷ luật rất quan trọng. Thấy cái đẹp và lập tức muốn sở hữu là bản năng của một văn hóa tiêu thụ. Thấy một vật đẹp thì muốn mua. Thấy một nơi đẹp thì muốn check-in. Thấy một người đẹp thì muốn thu hút, chiếm giữ hoặc biến thành hình ảnh cho mình. Chiêm ngắm dạy một thái độ khác: tôi có thể vui vì cái đẹp tồn tại mà không cần nó thuộc về tôi. Tôi có thể nhìn một cánh đồng của người khác và tạ ơn. Tôi có thể nghe một giọng hát hay mà không cần so bì. Tôi có thể gặp một người có tài mà không ghen. Tôi có thể thấy một gia đình hạnh phúc và chúc lành thay vì cay đắng vì đời mình thiếu. Đây là sự nghèo khó thiêng liêng của ánh mắt. Ánh mắt nghèo không nắm. Nó nhận.
Cái đẹp cũng có thể chữa sự vội vã. Không ai thật sự thưởng thức cái đẹp khi chạy quá nhanh. Người ta có thể chụp nhưng chưa chắc đã nhìn. Có một nghịch lý rất rõ: nhiều người dành thời gian để ghi lại khoảnh khắc hơn là sống khoảnh khắc. Đi du lịch, họ nhìn cảnh qua màn hình vì đang quay video. Ăn một món ăn, họ lo chụp trước khi nếm. Gặp nhau, họ chụp ảnh chung nhưng sau đó mỗi người trở lại điện thoại. Cái đẹp bị biến thành bằng chứng rằng mình đã sống, trong khi chính lúc đó ta có thể chưa thật sự sống. Linh đạo chiêm ngắm mời người giáo dân đôi khi cất máy xuống. Không phải chống công nghệ. Nhưng có những điều chỉ đi vào tâm hồn khi không bị trung gian hóa. Hãy nhìn mặt trời lặn bằng mắt. Hãy nghe con nói mà không vừa nghe vừa xem điện thoại. Hãy ngồi trong nhà thờ mà không chụp gì. Hãy đi bộ một đoạn không tai nghe. Hãy để thế giới chạm vào giác quan trước khi biến nó thành dữ liệu.
Trong gia đình, giáo dục cái đẹp cũng là một nhiệm vụ thiêng liêng. Một đứa trẻ không chỉ cần học đúng sai; nó cần học cái gì đáng yêu. Đức tin không bền nếu chỉ được xây trên mệnh lệnh. Trẻ cần biết Thánh lễ có vẻ đẹp, Lời Chúa có vẻ đẹp, lòng tử tế có vẻ đẹp, sự thật có vẻ đẹp, một đời trung tín có vẻ đẹp. Nếu tất cả những gì Công giáo đem đến chỉ là “đừng làm cái này, phải làm cái kia”, trong khi thế giới ngoài kia đem đến âm nhạc, hình ảnh, màu sắc, câu chuyện và cảm xúc, thì đứa trẻ sẽ dễ nghĩ đạo là vùng xám còn đời là vùng màu. Gia đình Kitô giáo cần làm cho sự thánh thiện trở nên có thể nhìn thấy: một góc cầu nguyện được chăm sóc, một bữa cơm có lòng biết ơn, một cách mừng lễ không chỉ tiêu tiền nhưng có ý nghĩa, những bài hát tốt, những cuốn sách hay, cây xanh trong nhà, sự tôn trọng cái đẹp nơi thiên nhiên và nơi nghệ thuật. Không cần giàu mới làm được. Nghèo không đồng nghĩa với cẩu thả. Đơn sơ có thể rất đẹp.
Giáo xứ cũng vậy. Có những nơi nói nhiều về truyền giáo nhưng không quan tâm một chút tới vẻ đẹp của không gian, âm thanh, cách tiếp đón, bảng biểu, vệ sinh, cây xanh, phụng vụ. Người bước vào một nơi luộm thuộm, ồn ào, đầy đồ đạc vô trật tự, âm thanh chói tai, lời nói cộc cằn rất khó cảm nhận rằng ở đây người ta đang chuẩn bị để gặp Đấng Thánh. Cái đẹp không cần xa hoa. Thậm chí xa hoa có thể phản Tin Mừng nếu người nghèo đang bị bỏ quên. Nhưng vẻ đẹp của trật tự, sạch sẽ, cân đối, đơn sơ, cây xanh, ánh sáng tự nhiên, một bản nhạc được tập đàng hoàng, một bài đọc được chuẩn bị, một khoảng thinh lặng đúng lúc đều có sức mục vụ. Đó là thứ cái đẹp không cần ngân sách lớn mà cần lòng tôn trọng.
Đồng thời phải cảnh giác với nguy cơ biến đời sống Hội Thánh thành cuộc thi thẩm mỹ. Nhà thờ đẹp hơn, hoa nhiều hơn, lễ phục cầu kỳ hơn, ban hát mạnh hơn, hang đá lớn hơn, trang trí hoành tráng hơn không tự động nghĩa là cộng đoàn thánh thiện hơn. Có thể có nhà thờ rất đẹp nhưng người nghèo không dám bước vào. Có thể có phụng vụ rất trang trọng nhưng nhân viên bị đối xử tệ. Có thể có tượng đài tốn kém nhưng người bệnh trong xứ không ai thăm. Khi cái đẹp cắt khỏi bác ái, nó phản bội chính Nguồn của cái đẹp. Vẻ đẹp của Thiên Chúa luôn đi cùng chân lý và thiện hảo. Thứ đẹp mà được xây bằng bóc lột không đẹp trước mặt Chúa. Thứ nghệ thuật làm nhục phẩm giá người khác không thể viện cớ tự do thẩm mỹ. Thứ trang hoàng che đi bất công không thể gọi là vinh danh Thiên Chúa.
Điều này dẫn tới một nguyên tắc phân định rất cổ điển nhưng rất cần: cái đẹp chân thật không tách khỏi cái thật và cái thiện. Một lời nói dối có thể được trình bày rất đẹp. Một quảng cáo có thể cực kỳ tinh tế nhưng kích thích lòng tham. Một nội dung mạng có thể hoàn hảo về hình ảnh nhưng làm méo mó con người. Một hệ tư tưởng có thể dùng nghệ thuật để mê hoặc. Đức tin không ngây thơ trước sức mạnh của thẩm mỹ. Cái đẹp có khả năng đi thẳng vào cảm xúc trước khi lý trí kịp xét. Vì vậy người Kitô hữu phải học hỏi: điều này đẹp, nhưng nó dẫn tôi về đâu? Nó làm tôi tự do hơn hay lệ thuộc hơn? Nó làm tôi yêu người khác hơn hay muốn chiếm hữu hơn? Nó giúp tôi biết ơn hay làm tôi bất mãn với đời mình? Nó làm tôi khiêm tốn hay phô trương? Nó mở tôi về mầu nhiệm hay nhốt tôi trong cảm giác? Câu hỏi ấy cần cho âm nhạc, phim ảnh, thời trang, kiến trúc, mạng xã hội, quảng cáo, nghệ thuật và cả nghệ thuật tôn giáo.
Đặc biệt trong thời đại của hình ảnh tạo sinh, chỉnh sửa khuôn mặt, thực tế ảo và các kỹ thuật làm hình ngày càng hoàn hảo, khả năng phân định cái đẹp sẽ trở thành một vấn đề mục vụ lớn. Người ta có thể tạo ra những hình ảnh đẹp hơn thực tế đến mức thực tế bắt đầu bị coi là xấu. Một khuôn mặt thật có lỗ chân lông, nếp nhăn, bất cân xứng. Một căn nhà thật có đồ dùng. Một gia đình thật có mệt mỏi. Một chuyến đi thật có nắng nóng, chờ đợi, kẹt xe. Nhưng hình ảnh trên mạng loại bỏ gần hết những điều ấy. Nếu người ta sống lâu trong cái đẹp đã được tối ưu hóa, họ có thể mất khả năng yêu cái đẹp chưa hoàn hảo của đời thật. Đây là một nguy cơ thiêng liêng: không còn chịu được sự bình thường. Mà phần lớn đời người là bình thường. Hôn nhân bền không sống bằng những khoảnh khắc đẹp như ảnh cưới. Đời tu không sống bằng ngày khấn. Đời linh mục không sống bằng ngày chịu chức. Đức tin không sống chỉ bằng những buổi lễ cảm động. Nó sống trong Thứ Hai, trong mệt, trong những khuôn mặt quen, trong công việc lặp lại, trong cầu nguyện khô khan. Nếu chỉ yêu cái đẹp khi nó ngoạn mục, ta sẽ không đủ sức trung thành.
Vẻ đẹp Kitô giáo sâu nhất nhiều khi là vẻ đẹp của sự bền bỉ. Một cuộc hôn nhân năm mươi năm đẹp không vì năm mươi năm đều lãng mạn, nhưng vì hai người đã đi qua những mùa không đẹp mà không bỏ nhau. Một linh mục già đẹp không phải vì còn giảng hùng hồn, nhưng vì vẫn trung thành với giờ kinh khi ít người chú ý. Một nữ tu già đẹp không vì còn làm được nhiều việc, nhưng vì cả đời đã được trao. Một giáo dân âm thầm chăm cha mẹ già đẹp vì họ không chạy khỏi gánh nặng. Cái đẹp ấy không dễ “lên hình”, nhưng có trọng lượng trước Thiên Chúa. Nó là vẻ đẹp được thời gian thử lửa.
Thánh Phanxicô Assisi là một chứng nhân đặc biệt cho cách nhìn này. Ngài nhìn mặt trời, mặt trăng, nước, lửa, đất bằng ngôn ngữ huynh đệ. Nhưng vẻ đẹp trong Bài ca muôn loài không tách khỏi thập giá, nghèo khó, bệnh tật và cái chết. Cuối bài ca, ngay cả “chị chết” cũng được đưa vào lời ca tụng. Đây không phải lãng mạn hóa đau khổ, mà là một cái nhìn đã được Đức Kitô Phục Sinh biến đổi: toàn thể tạo thành có thể trở thành không gian ca tụng khi được trả về cho Cha. Phanxicô không yêu thiên nhiên vì thiên nhiên làm ngài quên Thiên Chúa; ngài yêu thụ tạo vì thụ tạo nhắc ngài về Thiên Chúa. Càng nhìn thụ tạo, ngài càng nghèo hơn, ít chiếm hữu hơn, gần người nghèo hơn. Đó là dấu cho thấy cái đẹp đã được đón nhận đúng.
Một người thực sự được vẻ đẹp của tạo thành dẫn tới Chúa thường sẽ khó phá hoại tạo thành một cách vô cảm. Nếu đã biết nhìn một dòng sông như một món quà, người ta khó coi nó chỉ như chỗ đổ thải. Nếu đã biết ngạc nhiên trước một khu rừng, người ta sẽ có một sức đề kháng nào đó trước việc biến toàn bộ rừng thành con số lợi nhuận. Nếu đã dạy trẻ yêu chim, cây, đất, mùa, rất có thể trẻ sẽ lớn lên với một lương tâm sinh thái sâu hơn người chỉ học luật môi trường trên giấy. Đạo đức sinh thái cần khoa học và chính sách, nhưng cũng cần thẩm mỹ. Con người bảo vệ điều mình yêu. Và thường người ta chỉ yêu điều mình đã thật sự nhìn.
Laudato Si’ nhiều lần mời gọi trở lại với khả năng ngạc nhiên trước thế giới như quà tặng. Khủng hoảng sinh thái không chỉ là khủng hoảng kỹ thuật mà còn là khủng hoảng ánh mắt. Ta đã nhìn đất quá lâu như kho chứa. Ta nhìn biển như nguồn khai thác, rừng như gỗ, động vật như sản phẩm, cảnh quan như bất động sản, thậm chí người lao động như nguồn nhân lực. Cái đẹp có thể chữa lại danh từ. Rừng lại thành rừng trước khi là sản lượng gỗ. Sông lại thành sông trước khi là MW. Người lại thành người trước khi là lao động. Khi mắt trở lại đúng, hành động có cơ hội trở lại đúng.
Người giáo dân nên thánh cũng bằng biết sửng sốt. Câu này tưởng đơn giản nhưng chứa cả một chương trình thiêng liêng. Nên thánh không chỉ là tránh tội. Nên thánh còn là học thấy vinh quang Thiên Chúa trong những điều rất gần. Có những người giữ luật khá tốt nhưng lòng đã chai trước thế giới. Không còn gì làm họ biết ơn. Cảnh đẹp thành bình thường. Người tốt thành bình thường. Gia đình còn đó thành bình thường. Sức khỏe còn đó thành bình thường. Bí tích còn đó thành bình thường. Chỉ đến khi mất mới thấy từng có một món quà. Sự sửng sốt có thể cứu ta khỏi vô ơn. Mỗi sáng vẫn có ánh sáng. Ta quen đến mức không thấy lạ. Mỗi ngày tim vẫn đập. Ta không ra lệnh cho nó. Một người còn gọi ta là cha, mẹ, chồng, vợ, bạn. Ta quen đến mức tưởng đó là quyền đương nhiên. Chiêm ngắm cái đẹp giúp con người nhận lại thực tại như quà tặng.
Có thể thực tập điều này rất cụ thể. Một ngày chọn nhìn kỹ một điều thay vì nhìn nhiều điều. Một cái cây. Một khuôn mặt. Một bữa cơm. Một đoạn Thánh vịnh. Một bài hát. Một ngọn nến trong nhà thờ. Không cần phân tích lập tức. Hãy để nó hiện diện. Hãy cám ơn. Hãy hỏi nó đang nói gì về Đấng đã tạo thành và cứu độ. Người tín hữu có thể biến một khoảnh khắc đẹp thành lời cầu rất ngắn: “Lạy Cha, con cám ơn Cha.” Không cần nói dài. Cái đẹp đôi khi đạt tới mục đích khi nó sinh ra một lời tạ ơn.
Nhưng cũng có lúc cái đẹp làm ta đau. Một cảnh đẹp có thể nhắc người cô đơn về người đã mất. Một bài nhạc có thể gọi lại quá khứ. Một nhà thờ đẹp có thể làm người xa Chúa cảm thấy một cơn nhớ không gọi tên được. Một buổi chiều có thể làm lòng buồn mà không biết vì sao. Trong kinh nghiệm con người, cái đẹp và nỗi buồn thường rất gần nhau. Có lẽ vì mọi cái đẹp trần thế đều mong manh. Hoa tàn. Hoàng hôn hết. Tuổi trẻ qua. Người ta già. Nhà cũ mất. Giọng nói im. Người yêu chết. Chính sự mong manh ấy làm cái đẹp có sức đánh thức khát vọng về điều không tàn. Người Kitô hữu không phủ nhận nỗi buồn đó. Có khi nỗi buồn trước vẻ đẹp là một hình thức nhớ quê. Trái tim được dựng cho sự sống viên mãn nên mọi vẻ đẹp hữu hạn vừa làm nó vui vừa làm nó nhận ra mình chưa tới nhà.
Thánh Augustinô diễn tả rất sâu kinh nghiệm ấy khi nói về vẻ đẹp xưa cũ mà luôn mới mẻ của Thiên Chúa. Sau bao năm chạy theo những điều đẹp bên ngoài, ngài nhận ra chính Đấng là Nguồn của mọi vẻ đẹp đã ở gần hơn ngài tưởng. Đây là một hoán cải của ánh mắt: từ việc bám vào thụ tạo sang đọc thụ tạo như dấu chỉ. Thụ tạo đẹp nhưng không thể mang trọng lượng của một trái tim vô hạn. Không người nào, phong cảnh nào, nghệ thuật nào, thành công nào có thể làm Đấng tuyệt đối cho ta mà không bị nghiền nát dưới kỳ vọng ấy. Khi ta bắt cái đẹp hữu hạn phải cứu mình, ta làm hỏng nó. Ta bắt người mình yêu phải làm mình hạnh phúc tuyệt đối, rồi thất vọng vì họ là con người. Ta bắt nghề nghiệp cho mình ý nghĩa tuyệt đối, rồi sụp khi thất bại. Ta bắt tuổi trẻ kéo dài, rồi kinh hoàng trước lão hóa. Ta bắt du lịch chữa trống rỗng, rồi phải đi tiếp nơi khác. Ta bắt nghệ thuật thay tôn giáo, rồi vẫn thấy thiếu. Thụ tạo thở được khi ta không bắt nó làm Thiên Chúa.
Vì thế, con đường của cái đẹp không kết thúc ở cảm xúc thẩm mỹ nhưng ở thờ phượng. Vẻ đẹp của trời đất, nghệ thuật, tình người và sự thánh thiện đạt tới chiều sâu khi nó làm ta nói: “Vinh danh Thiên Chúa.” Không phải vì Thiên Chúa cần ta khen, nhưng vì khi khen Người, mọi sự trở về đúng trật tự. Thụ tạo là thụ tạo. Ta là thụ tạo. Chúa là Chúa. Và chính khi không thờ thụ tạo, ta mới có thể yêu thụ tạo cách tự do nhất.
Đời sống người giáo dân có rất nhiều cơ hội để làm điều này mà không cần tạo ra một chương trình đặc biệt. Trên đường đi làm, có thể nhìn trời. Khi rửa rau, có thể cám ơn đất. Khi nhìn con ngủ, có thể cám ơn sự sống. Khi chăm cha mẹ già, có thể nhìn thấy vẻ đẹp bị giấu dưới yếu đuối. Khi nghe vợ hoặc chồng kể một chuyện đã nghe nhiều lần, có thể nhận ra vẻ đẹp của một người vẫn còn ở cạnh mình. Khi dự lễ, có thể dành một chút chú ý cho ánh sáng, âm thanh, lời, bánh, rượu, cử chỉ, thân thể cộng đoàn đang cùng đứng cùng quỳ. Khi làm nghề, có thể tạo ra cái đẹp: một sản phẩm làm tử tế, một căn phòng được xây ngay ngắn, một trang văn trung thực, một bài giảng được chuẩn bị, một lớp học có trật tự, một món ăn được nấu với chăm sóc, một khu vườn được giữ sạch. Lao động của con người không chỉ sản xuất cái hữu ích; nó cũng có thể cộng tác với Thiên Chúa làm cho thế giới đáng sống hơn.
Ngược lại, tội lỗi thường làm thế giới xấu đi theo nghĩa rất cụ thể. Dối trá làm xấu tương quan. Tham lam làm xấu thành phố và thiên nhiên. Bạo lực làm xấu khuôn mặt. Pornography làm xấu cách nhìn thân xác. Quảng cáo gian dối làm xấu ngôn ngữ. Xây dựng vô trách nhiệm làm xấu cảnh quan. Rác thải làm xấu đất và nước. Lời xúc phạm trên mạng làm xấu không gian công cộng. Một linh đạo cái đẹp vì thế không được mềm yếu. Nó đòi trách nhiệm. Nếu tôi yêu cái đẹp, tôi phải chống lại những gì làm méo mó phẩm giá thụ tạo và con người.
Sau cùng, cái đẹp lớn nhất mà Kitô hữu được mời gọi chiêm ngắm không phải một vật nhưng là một Ngôi Vị: Đức Giêsu Kitô. Nơi Người, chân lý, thiện hảo và vẻ đẹp gặp nhau. Người đẹp không theo chuẩn của quảng cáo, nhưng đẹp vì hoàn toàn thuộc về Cha và hoàn toàn hiến mình cho con người. Người đẹp khi chạm người phong hủi. Đẹp khi ngồi ăn với tội nhân. Đẹp khi khóc trước mộ Lazarô. Đẹp khi cúi xuống rửa chân môn đệ. Đẹp khi tha thứ cho kẻ đóng đinh mình. Đẹp khi phục sinh với vết thương còn đó. Một linh đạo Kitô giáo về cái đẹp cuối cùng phải dẫn tới ước muốn trở nên giống Người. Nếu sau khi ngắm nhiều cái đẹp mà ta không trở nên nhân hậu hơn, tự do hơn, biết ơn hơn, nghèo hơn trong tinh thần, gần người đau khổ hơn, thì con đường vẫn chưa đi tới nơi.
Qua cái đẹp tới Đấng là Nguồn cái đẹp là một con đường thật, nhưng phải đi cho đến cùng. Đừng dừng ở cảnh. Đừng dừng ở cảm giác. Đừng dừng ở nghệ thuật. Đừng dừng ở thân xác. Đừng dừng ở công trình. Hãy để mọi vẻ đẹp hữu hạn làm điều nó làm tốt nhất: chỉ về phía vượt quá chính nó. Một bông hoa rồi tàn, nhưng trong khoảnh khắc nở nó có thể dạy ta tạ ơn. Một khuôn mặt rồi già, nhưng tình yêu có thể làm nó đẹp sâu hơn. Một ngày rồi hết, nhưng ánh sáng chiều có thể nhắc ta về Ánh Sáng không tắt. Một bản nhạc rồi im, nhưng sự im lặng sau tiếng cuối có thể làm lòng người khát một bài ca không bao giờ kết thúc. Người giáo dân nên thánh cũng bằng những khoảnh khắc như thế: biết dừng trước điều đẹp, không chiếm hữu, không thờ lạy nó, nhưng nhận nó, cám ơn và đi xuyên qua nó tới Cha. Khi đó, cái đẹp không còn là xa xỉ của đời sống thiêng liêng. Nó trở thành một trường học của lòng biết ơn, khiêm tốn, tự do, chiêm ngắm và ca tụng. Và người biết sửng sốt trước một giọt nước, một khuôn mặt, một cánh đồng, một đời người trung tín có thể đang học một trong những bài học đầu tiên của thiên đàng: mọi vẻ đẹp chân thật đều là ánh phản chiếu, còn Nguồn của nó thì đẹp hơn mọi điều mắt từng thấy, tai từng nghe và lòng người từng có thể tưởng tượng.

CHƯƠNG 10. NHẬP THỂ: ĐẤNG TẠO HÓA BƯỚC VÀO THỤ TẠO
Có một điểm mà mọi suy tư Kitô giáo về tạo thành phải đi tới nếu không muốn dừng lại ở một thứ triết học thiên nhiên đẹp đẽ nhưng chưa chạm đến trung tâm của đức tin: đó là mầu nhiệm Nhập thể. Ta có thể bắt đầu bằng trời sao, bằng cánh đồng, bằng dòng sông, bằng vẻ đẹp của một thân cây, bằng nhịp mùa vụ, bằng tiếng chim, bằng cấu trúc kỳ diệu của một tế bào, bằng sự sống của con người, bằng tiếng khóc của một trẻ sơ sinh hay bằng cảm giác nhỏ bé của chính mình trước vũ trụ, nhưng Kitô giáo không dừng ở sự kinh ngạc trước thế giới. Kitô giáo đi xa hơn. Kitô giáo tuyên xưng rằng Đấng nhờ Người mà tất cả được tạo thành đã bước vào chính thế giới được tạo thành ấy; Đấng ở bên Thiên Chúa và là Thiên Chúa đã “trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”; Đấng không bị giới hạn bởi không gian đã chấp nhận một nơi chốn; Đấng không bị thời gian bao vây đã bước vào thời gian; Đấng ban sự sống cho mọi loài đã nhận lấy một thân xác có thể mệt, đói, khát, đau, chảy máu và chết; Đấng tạo nên lòng mẹ đã ở trong lòng một người mẹ; Đấng khiến lúa mọc đã ăn bánh; Đấng làm nho kết trái đã uống rượu; Đấng dựng nên biển đã bước xuống nước; Đấng dựng nên cây đã chết trên một thân cây. Nếu Sáng Thế cho ta biết thế giới có nguồn gốc trong Lời của Thiên Chúa, thì Nhập thể cho ta biết chính Lời ấy đã đi vào thế giới. Nếu Sáng Thế nói rằng “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp”, thì máng cỏ Bêlem nói thêm một điều gây choáng váng hơn: Thiên Chúa thấy tạo thành đáng để chính Người mang lấy. Từ đây, thái độ của người Kitô hữu đối với vật chất, thân xác, đất đai, nước, lương thực, lao động, sự sống và toàn thể ngôi nhà chung không còn có thể chỉ được quyết định bởi tiện ích. Tất cả được nhìn dưới ánh sáng của một sự kiện: Con Thiên Chúa đã làm người.
Đỉnh của thần học tạo thành không nằm ở câu trả lời thế giới được dựng nên trong bao nhiêu ngày, cũng không nằm ở việc tìm cách ghép từng câu của Sáng Thế với mô hình khoa học hiện đại, dù những cuộc đối thoại ấy có giá trị riêng. Đỉnh của thần học tạo thành là nhận ra tương quan giữa tạo dựng và Nhập thể. Chính Tân Ước đã đặt mối tương quan ấy trước mắt chúng ta một cách dứt khoát. “Nhờ Người, muôn vật được tạo thành, và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành.” Rồi cũng chính Người ấy “đã trở nên người phàm”. Hai mệnh đề này phải được đọc sát cạnh nhau. Người dựng nên vật chất đã nhận lấy vật chất. Người tạo nên thân xác đã nhận lấy thân xác. Người làm cho lịch sử hiện hữu đã bước vào lịch sử. Người làm cho mọi sinh vật sống đã sống một đời sống sinh học thật sự. Đây không phải là Thiên Chúa đội lốt con người, càng không phải một tinh thần siêu nhiên dùng thân xác như chiếc áo tạm thời. Đức tin Hội Thánh luôn quyết liệt bảo vệ chân lý rằng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật. Người sinh bởi một người nữ thật. Người lớn lên qua những giai đoạn của một thân xác thật. Người biết đói, biết mệt, biết khát. Người cần ngủ. Người ăn cá. Người đụng vào người bệnh. Người dùng nước để rửa. Người để một phụ nữ xức dầu thơm lên chân. Người khóc trước mộ một người bạn. Người đổ mồ hôi. Người mang những vết thương. Người chết. Và khi sống lại, Người không vứt bỏ thân xác như một nhà tù đã hết công dụng. Người sống lại trong thân xác được biến đổi. Các môn đệ được mời nhìn các vết thương, chạm vào Người, ăn với Người. Điều này có ý nghĩa thần học vô cùng lớn: cứu độ không phải cuộc vượt thoát khỏi tạo thành, nhưng là việc tạo thành được chữa lành, quy tụ, biến đổi và đưa vào vinh quang trong Đức Kitô.
Một trong những cám dỗ dai dẳng nhất của đời sống tôn giáo là tưởng rằng càng thiêng liêng thì càng phải xa vật chất. Cám dỗ ấy rất cổ. Nó có thể mang nhiều tên trong lịch sử, từ các khuynh hướng ngộ đạo đến những hình thức nhị nguyên coi phần tinh thần là cao, phần vật chất là thấp; linh hồn là của Chúa, thân xác là điều phải chịu đựng; thiên đàng là thật, trái đất chỉ là phòng chờ; cầu nguyện là thiêng, làm việc là tục; nhà thờ là thánh, cánh đồng là thường; Thánh Thể là đạo, bữa cơm là đời; đời sống linh hồn mới quan trọng, còn điều kiện lao động, môi trường, không khí, nước sạch, đất đai, thực phẩm chỉ là chuyện xã hội. Nhưng Nhập thể phá vỡ lối chia cắt ấy. Không phải vì vật chất tự nó trở thành Thiên Chúa, cũng không vì Kitô giáo đồng hóa thiên nhiên với thần linh, nhưng vì chính Thiên Chúa đã chọn vật chất làm nơi diễn ra lịch sử cứu độ. Kitô giáo không thờ vật chất, nhưng Kitô giáo cũng không khinh vật chất. Hai thái độ ấy khác nhau. Người thờ vật chất biến thụ tạo thành tuyệt đối. Người khinh vật chất từ chối phẩm giá mà Thiên Chúa đã ban cho thụ tạo. Đức tin Nhập thể đặt ta giữa hai cực ấy: thụ tạo không phải Thiên Chúa, nhưng thụ tạo được Thiên Chúa yêu; thụ tạo không phải cùng đích, nhưng thụ tạo có thể trở thành dấu chỉ; vật chất không cứu được con người bằng chính nó, nhưng Thiên Chúa đã dùng vật chất trong chương trình cứu độ.
Hãy nhìn vào Bêlem. Người Kitô hữu có thể quá quen với máng cỏ đến mức không còn thấy sự kinh ngạc của nó. Con Thiên Chúa không sinh ra như một ý niệm. Người không xuất hiện như một ánh sáng thuần túy rồi biến mất. Người được cưu mang trong dạ mẹ. Người nhận dưỡng chất từ cơ thể Đức Maria. Người được sinh ra qua một cuộc sinh nở. Người được quấn tã. Người cần được bế. Người cần sữa. Người cần hơi ấm. Đấng dựng nên các thiên hà lại chấp nhận nhịp sống của một hài nhi. Có lẽ không có lời biện hộ nào mạnh hơn cho phẩm giá của thân xác bằng máng cỏ. Thân xác không phải tai nạn của kiếp người mà ta phải nhanh chóng vượt qua để đi vào đời sống thiêng liêng. Thân xác là một phần của con người mà Con Thiên Chúa đã nhận lấy. Khi thân xác con người bị biến thành món hàng, bị khai thác trong lao động, bị xúc phạm bởi bạo lực, bị thương mại hóa trong công nghiệp tình dục, bị loại bỏ vì già yếu, bị coi như gánh nặng khi bệnh tật, bị đánh giá chỉ theo năng suất hoặc vẻ đẹp bên ngoài, đức tin Nhập thể không cho phép người Kitô hữu đứng ngoài. Cũng vậy, khi những điều kiện vật chất bảo đảm cho thân xác ấy sống bị hủy hoại — nước không còn uống được, không khí làm trẻ em bệnh, thực phẩm bị đầu độc, đất bị ô nhiễm, người nghèo bị đẩy vào vùng nguy hiểm — câu chuyện không còn là chuyện môi trường bên lề. Nó chạm đến một thân xác mà Thiên Chúa đã nhận lấy.
Đức Maria đứng ở ngay trung tâm của mầu nhiệm này. Truyền thống Kitô giáo gọi Mẹ là Theotokos, Mẹ Thiên Chúa, không phải để thần hóa một phụ nữ, nhưng để bảo vệ chân lý về Đức Kitô: Đấng Mẹ sinh ra thực sự là Con Thiên Chúa làm người. Chính vì thế, thân thể của một người nữ được nhận vào trung tâm lịch sử cứu độ theo một cách độc nhất vô nhị. Thiên Chúa không cứu thế giới bằng cách né tránh sinh học. Người đi qua thai nghén, sinh nở, nuôi dưỡng, chăm sóc, gia đình. Cái bụng mang thai, dòng sữa, bàn tay người mẹ, mái nhà, lao động của người cha nuôi, thức ăn, nước uống, giấc ngủ, đường đất của Nazareth, khí hậu của Galilê, những mùa gặt, những chuyến hành hương — tất cả đi vào cuộc đời của Ngôi Lời làm người. Một thứ linh đạo coi đời sống vật chất chỉ là tầng thấp mà tín hữu phải vượt qua để đạt đến “điều thiêng liêng” sẽ không hiểu Nazareth. Phần lớn cuộc đời Đức Giêsu không được Tin Mừng ghi lại bằng các phép lạ lớn hay diễn từ dài. Người sống một đời ẩn dật trong một gia đình, một làng, một nghề, một địa lý cụ thể. Thiên Chúa đã thánh hóa sự bình thường không bằng cách biến mọi ngày thành phi thường, nhưng bằng cách ở trong chính sự bình thường ấy.
Nazareth vì thế là trường học thần học tạo thành. Ở đó, gỗ không chỉ là vật liệu mà còn nằm trong đôi tay của người thợ. Đất không chỉ là khái niệm mà là bụi bám chân. Nước không chỉ là biểu tượng mà phải được lấy lên để uống, để rửa, để nấu. Bánh không chỉ là hình ảnh thần học mà là thức ăn mỗi ngày. Con người không sống bằng những ý niệm. Người sống nhờ một mạng lưới thụ tạo: đất cho lúa, mưa cho nước, cây cho gỗ, vật nuôi, mùa vụ, lao động, cộng đồng. Khi Ngôi Lời làm người bước vào mạng lưới ấy, Người không làm cho nó trở thành thần linh, nhưng Người cho thấy nó có thể được nhận vào một đời sống hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Đây là điểm rất quan trọng. Ta thường nghĩ rằng muốn thuộc về Chúa thì phải rời khỏi thế giới. Đức Giêsu lại cho thấy một cách khác: thuộc hoàn toàn về Chúa ngay trong một thân xác, một gia đình, một nghề, một ngôi làng, một lịch sử, một mảnh đất. Chúa không cứu chúng ta khỏi việc là thụ tạo. Người cứu chúng ta trong chính điều kiện thụ tạo của mình.
Cũng vì thế, nước trở thành một yếu tố rất sâu trong lịch sử cứu độ. Nước có từ đầu Kinh Thánh. Thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước. Nước của Biển Đỏ trở thành con đường giải phóng. Nước từ tảng đá làm dân sống trong sa mạc. Các ngôn sứ dùng nước để nói về thanh tẩy và sự sống. Rồi Đức Giêsu bước xuống sông Giođan. Con Thiên Chúa không cần được thanh tẩy khỏi tội, nhưng Người đi vào dòng nước mà con người đang đi vào. Sau này, Người nói với Nicôđêmô về việc sinh bởi nước và Thần Khí; Người xin nước uống nơi giếng; Người hứa nước hằng sống; Người rửa chân các môn đệ; cạnh sườn Người bị đâm thì máu và nước chảy ra. Trong đời Hội Thánh, nước bình thường trở thành chất liệu của Bí tích Rửa tội. Không phải nước tự nó có phép thuật. Chính Đức Kitô hành động qua dấu chỉ hữu hình. Nhưng việc Thiên Chúa chọn nước nói lên rằng cứu độ Kitô giáo không khinh thường tính vật chất. Người ta có thể làm thần học cao siêu về bí tích, nhưng một đứa trẻ được rửa tội vẫn cần nước thật. Nếu không có nước, không có dấu chỉ. Và nếu một cộng đồng Kitô hữu rửa tội bằng nước vào Chúa Nhật nhưng từ thứ Hai đến thứ Bảy lại thờ ơ với những con sông bị đầu độc khiến người nghèo không có nước sạch, sẽ xuất hiện một sự đứt gãy đau đớn giữa phụng vụ và đời sống.
Bánh và rượu còn cho thấy điều ấy mạnh mẽ hơn nữa. Đức Kitô không chọn một ký hiệu hoàn toàn xa lạ với đời con người để lập Bí tích Thánh Thể. Người chọn những gì mọc từ đất và được bàn tay con người làm thành. Hạt lúa phải rơi xuống đất, hút nước, nhận ánh sáng, qua mùa vụ, được gặt, xay, nhào, nướng mới thành bánh. Nho phải mọc trên cây, hút chất từ đất, nhận mưa nắng, được hái, ép, lên men mới thành rượu. Mỗi thánh lễ, trên bàn thờ có cả thiên nhiên và lao động. Lời nguyện dâng lễ đã diễn tả rất đẹp điều này khi nói đến bánh là sản phẩm từ ruộng đất và công lao của con người, rượu là sản phẩm từ cây nho và công lao của con người. Đất và người gặp nhau. Thiên nhiên và văn hóa gặp nhau. Tạo thành và lao động gặp nhau. Rồi chính những lễ phẩm ấy được Đức Kitô nhận lấy trong mầu nhiệm Thánh Thể. Hội Thánh có thể nói về sinh thái mà không nói Thánh Thể thì dễ trở thành một tổ chức môi trường có thêm ngôn ngữ tôn giáo. Nhưng Hội Thánh cũng không thể cử hành Thánh Thể mà sống như thể đất, nước, mùa vụ và lao động không liên quan đến bàn thờ. Nếu bánh là hoa màu ruộng đất, thì đất không thể hoàn toàn vô nghĩa. Nếu rượu là sản phẩm cây nho, thì cây nho không chỉ là nguyên liệu. Nếu bánh và rượu cũng là công lao con người, thì người nông dân, người làm ruộng, người vận chuyển, người lao động trong chuỗi thực phẩm không thể bị xóa khỏi lương tâm Kitô hữu.
Thánh Thể làm rõ một nguyên tắc rất sâu: Thiên Chúa không cứu ta bằng cách loại bỏ tạo thành nhưng bằng cách làm cho tạo thành trở thành nơi gặp gỡ. Điều này không có nghĩa mọi sự trong thiên nhiên đều là bí tích theo cùng một nghĩa với bảy Bí tích. Phải phân biệt rõ. Nhưng toàn bộ logic bí tích của Kitô giáo dựa trên khả năng những thực tại hữu hình có thể mang một thực tại vô hình vì Thiên Chúa hành động qua chúng. Nước được dùng trong Rửa tội. Dầu trong Xức dầu. Bánh và rượu trong Thánh Thể. Lời được nghe bằng tai. Thân xác được đặt tay. Vợ chồng trao ban chính thân xác và lời cam kết trong Hôn phối. Linh mục dùng tiếng nói, bàn tay, vật chất và cử chỉ. Thiên Chúa không cứu linh hồn trong một vùng phi vật chất. Người gặp con người như con người thực sự là: có thân xác, giác quan, ký ức, không gian, thời gian, tương quan. Chính mầu nhiệm Nhập thể là nền sâu của logic bí tích ấy. Ngôi Lời đã trở nên xác phàm nên từ nay Kitô giáo không thể cư xử như thể vật chất tự bản chất là kẻ thù của thần linh.
Có khi người ta hỏi: tại sao Hội Thánh lại nói về môi trường? Tại sao linh mục nói về nước sạch, cây rừng, đất đai, khí hậu, rác thải, tiêu dùng, năng lượng, đa dạng sinh học? Có phải Hội Thánh đang chạy theo một đề tài thời thượng không? Có phải đây là nhượng bộ trước một chương trình chính trị nào đó? Câu trả lời phải bắt đầu không từ chính trị nhưng từ Kitô học. Hội Thánh nói về tạo thành bởi Hội Thánh tin vào Thiên Chúa Tạo Hóa. Hội Thánh quan tâm đến thân xác bởi Hội Thánh tin vào Ngôi Lời làm người. Hội Thánh quan tâm đến vật chất bởi Hội Thánh cử hành các bí tích bằng vật chất. Hội Thánh quan tâm đến tương lai của trái đất bởi Hội Thánh tuyên xưng sự sống lại của thân xác và trời mới đất mới. Hội Thánh quan tâm đến người nghèo chịu hậu quả nặng nhất của khủng hoảng sinh thái bởi Hội Thánh tin Đức Kitô đồng hóa mình với người bé nhỏ. Như vậy, chăm sóc ngôi nhà chung không phải một môn ngoại khóa được ghép vào Kitô giáo ở thế kỷ XXI. Nó là một hệ quả phải được rút ra ngày càng rõ từ những gì Hội Thánh vẫn tuyên xưng: tạo dựng, Nhập thể, cứu chuộc, bí tích, phục sinh, hiệp thông.
Dĩ nhiên, từ Nhập thể không thể suy ra rằng mọi chương trình môi trường cụ thể đều tự động đúng. Người Kitô hữu vẫn phải phân định dữ kiện khoa học, chính sách, kinh tế, hậu quả xã hội, quyền lợi người nghèo và công ích. Đức tin không cung cấp công thức kỹ thuật cho quản trị rừng, điện lưới hay quy hoạch đô thị. Nhưng đức tin cung cấp một nền nhân học và luân lý không thể thiếu: thế giới không phải vật vô chủ; thân xác con người có phẩm giá; người nghèo không được hy sinh cho lợi nhuận; thế hệ tương lai có quyền được nhận một ngôi nhà có thể sống được; giới hạn là có thật; kỹ thuật không tự nó trao quyền luân lý muốn làm gì thì làm; thụ tạo có giá trị vượt quá giá thị trường; con người là người quản lý chứ không phải chủ nhân tuyệt đối. Tất cả những điều ấy được soi sáng mạnh hơn khi ta nhìn vào Đức Kitô nhập thể. Đấng làm người cho ta biết Thiên Chúa đứng ở phía sự sống chứ không ở phía sự hủy diệt; phía chữa lành chứ không ở phía khai thác vô độ; phía hiệp thông chứ không ở phía sở hữu tuyệt đối.
Khinh tạo thành vì thế có một sự gần gũi đáng sợ với khinh Nhập thể. Cần nói câu này cẩn thận. Không phải mọi hành vi bất cẩn với môi trường đều là phủ nhận tín điều Nhập thể theo nghĩa trực tiếp. Nhưng có một logic thiêng liêng cần cảnh giác: nếu ta quen coi vật chất là thứ không quan trọng, thân xác là thứ thấp kém, đất chỉ là nguyên liệu, nước chỉ là hàng hóa, cây chỉ là mét khối gỗ, động vật chỉ là đơn vị sản xuất, lao động con người chỉ là chi phí, thì dần dần ta tạo trong mình một cái nhìn khó hòa hợp với mầu nhiệm Ngôi Lời làm người. Nhập thể buộc mắt ta phải kính trọng cái cụ thể. Thiên Chúa không cứu một “nhân loại” trừu tượng. Người làm người cụ thể, trong một dân tộc, một gia đình, một miền đất, một thân xác. Tình yêu của Thiên Chúa không bay phía trên thế giới. Tình yêu ấy đi vào bụi đường.
Hãy nhớ cảnh Đức Giêsu dùng bùn chữa người mù. Người nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn, xức lên mắt người ấy và sai đi rửa. Ta không cần lãng mạn hóa từng chi tiết để biến nó thành một học thuyết sinh thái, nhưng thật khó không nhận ra phong cách của Đức Giêsu: Người không ngại vật chất. Người chạm. Người để người khác chạm. Người dùng những thứ của thế giới này. Người đặt tay trên trẻ em. Người chạm vào người phong. Người cầm bánh. Người bẻ bánh. Người ăn. Người uống. Người khóc. Người ngồi xuống bên giếng. Người ngủ trên thuyền. Người nhìn chim trời và hoa huệ ngoài đồng rồi đưa chúng vào lời giảng. Người biết mùa gieo, mùa gặt, biết cây nho, hạt cải, cây vả, cá, chiên, đất tốt, đất sỏi, nắng, mưa. Các dụ ngôn của Người đẫm mùi tạo thành. Đây không chỉ là kỹ thuật giảng dạy của một thầy khéo dùng hình ảnh. Nó cho thấy Con Thiên Chúa đọc thế giới như một cuốn sách có thể nói về Nước Trời. Hạt giống có thể nói về Lời. Men nói về Nước Thiên Chúa. Hạt lúa nói về cái chết sinh hoa trái. Cây nho nói về hiệp thông. Chim trời nói về Quan Phòng. Hoa huệ nói về lòng tín thác. Mặt trời mọc trên kẻ lành người dữ nói về lòng Cha. Một linh đạo không còn nhìn thấy gì nơi thiên nhiên ngoài số liệu và lợi ích đã nghèo hơn Tin Mừng.
Tuy nhiên, Nhập thể không chỉ nói về sự tốt lành của vật chất. Nó còn nói về một tạo thành bị thương. Đức Giêsu không bước vào một vườn địa đàng không tội lỗi. Người bước vào một thế giới có bệnh tật, bão tố, đói nghèo, khô hạn, áp bức, chết chóc. Người sống trong một miền đất chịu sự thống trị chính trị. Người gặp người đói, người bệnh, người bị loại ra bên lề. Như thế, nói về tạo thành trong ánh sáng Nhập thể không được biến thành một thứ lãng mạn thiên nhiên dành cho người có thời gian đi ngắm hoàng hôn. Chính Con Thiên Chúa làm người đã bước vào phía bị tổn thương của thế giới. Nếu hôm nay một khu công nghiệp làm ô nhiễm nguồn nước của một làng nghèo, nếu một cộng đồng ven biển mất sinh kế vì hệ sinh thái suy kiệt, nếu một gia đình lao động phải sống trong không khí độc vì không đủ tiền chuyển đi nơi khác, thì thần học Nhập thể hỏi: thân xác nào đang chịu hậu quả? Ai đang mang trong phổi mình cái giá của lợi nhuận người khác? Ai đang uống nước mà người giàu không bao giờ phải uống? Ai không có điều hòa khi nhiệt độ tăng? Ai mất mùa trước tiên? Ai không thể mua bảo hiểm khi thiên tai tới? Sinh thái Kitô giáo phải giữ khuôn mặt con người, đặc biệt khuôn mặt người nghèo, nếu không nó sẽ mất mầu nhiệm Nhập thể.
Laudato Si’ vì thế nói tới “tiếng kêu của trái đất và tiếng kêu của người nghèo” cùng nhau. Không phải vì trái đất và người nghèo là một thực tại đồng nhất, nhưng vì một nền kinh tế biết khai thác đất vô độ thường cũng biết khai thác người vô độ. Khi mọi sự đều được quy về giá trị trao đổi, cả cây rừng lẫn công nhân đều có nguy cơ bị tính như đầu vào. Khi lợi nhuận được tuyệt đối hóa, rừng bị chặt nếu giữ rừng ít lợi hơn, người bị sa thải nếu giữ người tốn hơn, sông bị làm bẩn nếu xử lý chất thải đắt hơn. Đức tin Nhập thể chống lại việc biến con người thành con số vì Con Thiên Chúa đã trở thành một con người. Và cũng chính đức tin ấy chống lại sự tàn phá vô trách nhiệm nền vật chất mà con người cần để sống. Không thể nói yêu thân xác người nghèo mà không quan tâm đến nước họ uống, đất họ sống, không khí họ thở, thực phẩm họ ăn, khí hậu tác động lên mùa màng của họ.
Một điểm khác rất quan trọng là lao động. Đức Giêsu không chỉ có thân xác; Người đã lao động bằng thân xác ấy. Truyền thống gọi Người là con bác thợ mộc và cũng nhận ra Người như một người thợ. Thiên Chúa làm người không đứng ngoài thế giới sản xuất. Người biết công việc của tay, biết công cụ, vật liệu, sự mệt mỏi, nhịp ngày, sự trao đổi trong một cộng đồng nhỏ. Điều này cho phép ta nhìn lao động con người không như một hoạt động hoàn toàn bên ngoài đời thiêng. Nhưng lao động cũng là nơi con người tác động mạnh nhất lên tạo thành. Từ canh tác đến công nghiệp, từ khai khoáng đến xây dựng, từ vận tải đến năng lượng, lao động luôn là giao diện giữa con người và thế giới vật chất. Một linh đạo lao động Kitô giáo vì vậy không chỉ hỏi tôi có làm việc siêng năng không, có gian lận không, có đối xử công bằng với đồng nghiệp không; nó còn phải hỏi công việc tôi đang làm tác động gì đến người khác và đến thụ tạo. Tôi đang sản xuất điều gì? Bằng nguyên liệu nào? Chất thải đi đâu? Ai chịu hậu quả? Sản phẩm này phục vụ nhu cầu thật hay nuôi một lối tiêu thụ phá hủy? Một doanh nhân Công giáo không hoàn tất lương tâm chỉ bằng việc đi lễ và làm từ thiện nếu doanh nghiệp của mình làm hại đất, nước hay người lao động. Nhập thể kéo đức tin xuống tận dây chuyền sản xuất.
Cũng cần nhìn tới thân thể của chính Đức Kitô trên thập giá. Thập giá cho thấy tội lỗi không chỉ là một ý niệm tinh thần. Bạo lực chạm vào da thịt. Roi xé thịt. Gai đâm đầu. Đinh xuyên tay chân. Khát cháy cổ. Thập giá là thần học được viết trên một thân xác bị thương. Khi đọc cuộc Thương khó, Hội Thánh không được phép phát triển một loại đạo đức quá “thiêng” đến mức chỉ nói linh hồn mà quên những thân xác đang bị đóng đinh hôm nay. Người bị bóc lột lao động, người bị buôn bán, trẻ em suy dinh dưỡng, người di cư chết trên đường, nạn nhân chiến tranh, người sống trong vùng ô nhiễm, người bệnh không được tiếp cận chăm sóc, tất cả đặt trước người Kitô hữu câu hỏi về thân xác. Và thân xác bị thương của trái đất cũng không hoàn toàn tách khỏi đó. Dĩ nhiên không được đồng nhất trái đất với thân thể Đức Kitô theo nghĩa bí tích hay nhân vị. Nhưng có thể nói rằng cách ta đối xử với tạo thành ảnh hưởng trực tiếp đến những thân xác mà Đức Kitô đã đến để cứu. Một dòng sông chết không biết đau theo cách một con người đau, nhưng những người lệ thuộc vào dòng sông ấy sẽ đau. Một cánh rừng mất đi không cầu cứu như một đứa trẻ, nhưng cộng đồng sống nhờ cánh rừng có thể mất nhà, mất nước, mất văn hóa và sinh kế. Đường từ sinh thái đến Kitô học đi qua thân xác con người.
Rồi đến Phục sinh. Nếu Nhập thể đã khẳng định phẩm giá của thân xác, Phục sinh đưa nó đến tột đỉnh. Đức Giêsu không sống lại như một linh hồn thoát xác. Ngôi mộ trống. Đấng Phục sinh có căn tính liên tục với Đấng chịu đóng đinh. Những vết thương còn đó nhưng đã biến đổi. Thân xác không bị vứt bỏ mà được đưa vào một trạng thái mới. Đây là nền của niềm tin Kitô giáo vào “xác loài người ngày sau sống lại”. Câu tuyên xưng này có hậu quả rất lớn đối với cách ta sống trong hiện tại. Nếu cùng đích của con người chỉ là một linh hồn bay khỏi thế giới, ta có thể dễ coi vật chất như bao bì dùng xong rồi bỏ. Nhưng nếu Thiên Chúa cứu cả con người trong tính toàn vẹn của nó, nếu lịch sử hướng về sự viên mãn chứ không phải hủy bỏ toàn bộ công trình tạo dựng, thì cách ta đối xử với thế giới hôm nay mang một trọng lượng cánh chung. Ta không xây thiên đàng bằng kỹ thuật, nhưng cũng không được phá đất rồi viện cớ rằng sau này Chúa sẽ làm trời mới đất mới. Hy vọng cánh chung không phải giấy phép phá hoại. Nó là lý do để trung tín.
Thánh Phaolô diễn tả một hình ảnh rất mạnh trong thư Rôma: toàn thể thụ tạo đang rên xiết và quằn quại như người phụ nữ sinh con, mong chờ ngày con cái Thiên Chúa được tỏ lộ. Hình ảnh ấy không nói rằng thụ tạo sẽ tự cứu mình, nhưng cho thấy cứu độ của con người và số phận của tạo thành có một liên hệ mầu nhiệm. Con người không được cứu như một đảo riêng. Tội của con người làm thương tổn những tương quan rộng hơn. Sự cứu chuộc hướng đến một hòa giải rộng hơn. Thư Côlôsê còn mạnh mẽ hơn khi nói rằng trong Đức Kitô mọi sự được tạo thành và nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa muốn hòa giải muôn vật với mình. “Muôn vật” mở chân trời của cứu độ ra lớn hơn một thứ đạo đức chỉ lo cho linh hồn cá nhân. Mầu nhiệm Đức Kitô có chiều kích vũ trụ. Người là Trưởng tử của mọi loài thụ tạo và Trưởng tử từ cõi chết. Tạo dựng và cứu chuộc gặp nhau trong Người.
Điều này giúp ta tránh hai sai lầm đối nghịch. Sai lầm thứ nhất là một chủ nghĩa môi trường không cần Thiên Chúa, trong đó thiên nhiên tự nó trở thành tuyệt đối và con người đôi khi bị xem gần như một loại ký sinh phải bị giảm thiểu. Kitô giáo không thể chấp nhận việc hạ thấp phẩm giá độc nhất của con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Sai lầm thứ hai là một chủ nghĩa nhân loại trung tâm méo mó, trong đó con người tự coi mình có quyền làm bất cứ điều gì với các loài khác chỉ vì mình có quyền lực. Nhập thể chỉnh cả hai. Khi Con Thiên Chúa làm người, phẩm giá con người được nâng lên một cách phi thường. Nhưng chính Con Thiên Chúa làm người ấy sống như một thụ tạo giữa các thụ tạo, nhận thức ăn từ đất, nước từ giếng, hơi thở từ không khí, sự chăm sóc từ người khác. Như vậy, phẩm giá con người không cho quyền độc tài trên tạo thành; nó trao trách nhiệm đại diện cho tình yêu của Đấng Tạo Hóa.
Trong Sáng Thế, con người được trao trách nhiệm “canh tác và giữ gìn” vườn. Nhập thể cho ta thấy cách Thiên Chúa thực thi quyền tối cao: không phải bằng khai thác, nhưng bằng tự hạ; không phải bằng chiếm hữu, nhưng bằng hiến mình; không phải bằng bắt tạo thành phục vụ mình bằng mọi giá, nhưng bằng trở nên tôi tớ. Vì thế, nếu con người là hình ảnh Thiên Chúa, người ấy phải cai quản theo phong cách của Đức Kitô. Quyền lực Kitô giáo là quyền lực của khăn thắt lưng và chậu nước. “Con Người đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ.” Câu này không chỉ áp dụng cho quan hệ giữa người với người. Nó thay đổi toàn bộ cách Kitô hữu hiểu quyền thống trị trên đất. Thống trị theo Đức Kitô là chăm sóc để sự sống sinh hoa trái. Quản trị theo Đức Kitô là biết giới hạn quyền của mình vì lợi ích của kẻ yếu. Làm chủ theo Đức Kitô là sẵn sàng chịu thiệt để người khác được sống. Người Kitô hữu không thể lấy một câu “hãy làm bá chủ cá biển chim trời” rồi tách khỏi thập giá để biện minh cho khai thác vô độ. Chủ quyền của con người phải được giải thích bằng chủ quyền của Đấng đã rửa chân.
Nhập thể cũng dạy về giới hạn. Thiên Chúa vô hạn tự nguyện bước vào giới hạn. Ngôi Lời trở thành hài nhi chưa thể tự nuôi mình. Đức Giêsu chấp nhận phải ngủ, phải nghỉ, phải ăn, phải đi từng quãng đường bằng đôi chân. Người không xuất hiện đồng thời ở mọi làng trong tư cách con người. Người có lịch một ngày. Có lúc đám đông tìm Người mà Người rút lui. Có lúc Người ngủ giữa bão. Có lúc Người nói với môn đệ: hãy lánh riêng ra nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút. Một nền văn minh coi mọi giới hạn là kẻ thù sẽ khó hiểu Nhập thể. Ta muốn sản xuất không giới hạn, tiêu dùng không giới hạn, tăng trưởng không giới hạn, khai thác không giới hạn, di chuyển không giới hạn, kết nối không giới hạn, rồi ngạc nhiên khi thân xác, tâm lý, xã hội và môi trường đều kiệt sức. Đời sống thụ tạo luôn có giới hạn. Chấp nhận giới hạn không phải thất bại. Chính Thiên Chúa trong Nhập thể đã cho thấy giới hạn có thể trở thành nơi của tình yêu. Người tự giới hạn không vì bất lực nhưng vì muốn ở với chúng ta.
Từ đó, một lối sống tiết độ có chiều sâu Kitô học. Tiết độ không phải ghét của cải, ghét tiện nghi hay lý tưởng hóa nghèo túng. Nó là khả năng nói “đủ”. Đủ ăn, đủ dùng, đủ mua, đủ khai thác. Người không biết đủ sẽ biến mọi sự thành nguyên liệu cho cơn đói của mình. Trong xã hội tiêu thụ, điều này đặc biệt khó vì nền kinh tế có thể được tổ chức quanh việc làm cho con người luôn thấy mình thiếu. Điện thoại vẫn tốt nhưng phiên bản mới hấp dẫn hơn. Quần áo vẫn mặc được nhưng xu hướng mới tạo cảm giác cũ. Nhà đã đủ nhưng quảng cáo dạy rằng phải lớn hơn. Chuyến đi đã đẹp nhưng mạng xã hội làm ta muốn một nơi “đáng đăng” hơn. Cuối cùng, không chỉ đồ vật bị tiêu thụ; chính sự chú ý, thời gian, quan hệ và trái đất bị tiêu thụ. Nhập thể đưa ta trở lại với một Thiên Chúa không cứu thế giới bằng phô trương. Bêlem nghèo. Nazareth nhỏ. Bữa ăn đơn sơ. Con đường bụi. Sự hiện diện quan trọng hơn sở hữu. Ở đó có một phản Tin Mừng đối với văn hóa “nhiều hơn nữa”.
Nhưng phải nói rất rõ: linh đạo sinh thái bắt nguồn từ Nhập thể không thể trở thành một gánh nặng đạo đức đặt lên người nghèo. Thật dễ cho người khá giả giảng về sống đơn giản cho người vốn đã không có gì. Dễ yêu cầu người nghèo mua sản phẩm “xanh” đắt hơn, trong khi họ chỉ đủ tiền mua thứ rẻ nhất. Dễ trách người lao động dùng xe máy cũ gây khói mà không hỏi ai có trách nhiệm xây hệ thống giao thông công cộng tốt. Dễ bảo nông dân bảo vệ rừng mà bỏ họ không sinh kế. Công bằng sinh thái đòi phân biệt trách nhiệm. Ai tiêu thụ nhiều hơn, ai kiểm soát nguồn lực lớn hơn, ai ra quyết định sản xuất, ai hưởng lợi nhiều hơn thì trách nhiệm luân lý cũng lớn hơn. Đức Kitô nhập thể luôn kéo thần học về phía con người cụ thể. Không thể thiết kế chính sách bảo vệ thiên nhiên bằng cách hy sinh người yếu nhất. Ngược lại, cũng không thể viện cớ người nghèo để bảo vệ một mô hình khai thác chủ yếu làm giàu cho người đã giàu.
Đời sống bí tích phải đào tạo mắt Kitô hữu cho việc này. Rửa tội dạy ta tôn trọng nước. Thánh Thể dạy ta tôn trọng bánh, rượu, đất và lao động. Xức dầu dạy ta nhìn dầu như quà tặng chữa lành. Hôn phối dạy ta rằng thân xác có thể trở thành ngôn ngữ giao ước. Truyền chức dùng đặt tay để cho thấy ân sủng đi qua cử chỉ cụ thể. Thánh lễ tự nó là một trường học của vật chất được đón nhận, chúc tụng, bẻ ra, trao ban. Linh mục cầm bánh. Cộng đoàn nhìn. Người ta ăn. Không có Kitô giáo thuần ý niệm. “Hãy cầm lấy mà ăn.” “Hãy cầm lấy mà uống.” Đức tin đi qua miệng, tay, tai, đầu gối, thân xác. Chúng ta đứng, ngồi, quỳ, làm dấu, trao bình an. Cả thân xác cầu nguyện. Nếu sau một đời sống phụng vụ như thế mà ta vẫn nghĩ thân xác và vật chất không liên quan đến đời thiêng, có lẽ ta chưa để phụng vụ dạy mình.
Đặc biệt, Thánh Thể là trường học chống lại thái độ sử dụng rồi bỏ. Đức Kitô cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra và trao. Văn hóa tiêu thụ thường cầm lấy, dùng, vắt kiệt rồi bỏ. Hai cử chỉ ấy đối nghịch. Cử chỉ Thánh Thể là đón nhận như quà tặng, tạ ơn, chia sẻ. Cử chỉ tiêu thụ vô độ là chiếm lấy như quyền lợi, không tạ ơn, tích trữ và thải bỏ. Một Kitô hữu sống tinh thần Thánh Thể sẽ dần học nhìn thế giới như quà tặng trước khi nhìn nó như sở hữu. Bữa cơm cũng thay đổi. Một hạt cơm không chỉ là carbohydrate. Nó là đất, nước, nắng, giống, công nông dân, vận chuyển, bếp núc, bàn tay người nấu và cuối cùng là quà Chúa cho sự sống. Khi một gia đình làm dấu trước bữa ăn, họ đang chống lại sự vô ơn của nền văn hóa tiêu thụ. Lời tạ ơn làm thế giới trở lại là quà tặng.
Chăm sóc ngôi nhà chung vì thế bắt đầu từ những điều rất nhỏ nhưng không nhỏ chút nào trong đời sống thiêng. Tắt một bóng điện không cần thiết sẽ không cứu thế giới một mình, nhưng có thể là một cử chỉ kỷ luật lòng tham. Không lãng phí thức ăn không chỉ là tiết kiệm tiền mà là học kính trọng công lao và thụ tạo. Dùng đồ lâu hơn một chút có thể trở thành bài tập về sự đủ. Hạn chế rác nhựa có thể là cách tập không biến tiện lợi cá nhân thành gánh nặng cho người khác. Trồng một cái cây có thể dạy một đứa trẻ rằng không phải mọi kết quả đều đến ngay. Giữ sạch một con kênh có thể là hành động bác ái đối với cả cộng đồng. Nhưng không nên biến các việc nhỏ thành nơi lương tâm tự mãn: tôi mang bình nước cá nhân nên tôi đã hoàn tất bổn phận sinh thái. Đức ái luôn phải mở sang câu hỏi cơ cấu: doanh nghiệp, chính sách, quy hoạch, giáo dục, quản trị tài nguyên. Người giáo dân, chính vì sống giữa đời, có trách nhiệm đặc biệt ở đây. Một kỹ sư Công giáo, một nhà quy hoạch, một bác sĩ, một giáo viên, một chủ doanh nghiệp, một cán bộ quản lý, một nông dân, một nhà nghiên cứu, một người làm truyền thông đều có những hình thức cụ thể để sống đức tin Nhập thể trong quyết định nghề nghiệp.
Chính ở đây ta hiểu tại sao chăm sóc ngôi nhà chung không phải “mốt”. Mốt đến rồi đi. Nhập thể không phải mốt. Vấn đề môi trường có thể có những ngôn ngữ thời đại, những phong trào, khẩu hiệu, xung đột chính trị khác nhau, nhưng nền tảng Kitô giáo sâu hơn tất cả. Ngày mai người ta có thể dùng một thuật ngữ khác thay cho “sinh thái toàn diện”; các chính phủ có thể thay chính sách; công nghệ có thể thay đổi nguồn năng lượng; các mô hình khí hậu có thể chính xác hơn; xã hội có thể tranh luận về biện pháp. Nhưng bao lâu Hội Thánh còn tuyên xưng “Ngôi Lời đã trở nên người phàm”, bấy lâu Hội Thánh không thể coi thế giới vật chất là vô nghĩa. Bao lâu Hội Thánh còn cử hành “Này là Mình Thầy”, bấy lâu thân xác có phẩm giá. Bao lâu Hội Thánh còn dùng bánh và rượu, bấy lâu đất và lao động không hoàn toàn xa lạ với bàn thờ. Bao lâu Hội Thánh còn tuyên xưng “tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”, bấy lâu ơn cứu độ không thể bị thu nhỏ thành cuộc đào thoát của linh hồn khỏi tạo thành.
Một đời sống cầu nguyện thấm mầu nhiệm Nhập thể cũng sẽ khác. Có người cầu nguyện như thể phải thoát khỏi thân xác: thân xác ngồi đó còn tâm trí cố bay lên. Nhưng các bậc thầy thiêng liêng Kitô giáo luôn biết cầu nguyện bằng con người toàn vẹn. Hơi thở, tư thế, nhịp bước, sự thinh lặng, ánh sáng, giờ giấc, nơi chốn đều có thể hỗ trợ cầu nguyện. Người đi bộ và đọc kinh có thể cảm nhận đất dưới chân. Người ngồi trước Thánh Thể nhận ra mình đang ở một nơi cụ thể. Người đọc Tin Mừng về biển hồ Galilê có thể nghe tiếng mưa ngoài cửa sổ và để tạo thành giúp Lời trở nên gần. Không phải để thần bí hóa mọi cảm giác, nhưng để thôi giả vờ rằng ta là linh hồn không thân xác. Chính Đức Giêsu cầu nguyện trên núi, trong vườn, nơi hoang vắng. Người nhìn trời. Người quỳ. Người phủ phục trong Vườn Dầu. Thân xác có mặt trong cầu nguyện của Con Thiên Chúa.
Nhập thể cũng là nền của sự gần gũi. Thiên Chúa không cứu từ xa. Người đến ở cùng. “Emmanuel” nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Sinh thái Kitô giáo không thể chỉ là quản trị tài nguyên từ các bảng số liệu, dù số liệu cần thiết. Nó đòi khả năng ở gần một nơi. Người biết một con sông bằng tên, nhớ nó từng trong thế nào, biết người dân sống nhờ nó, sẽ phản ứng khác khi nó bị ô nhiễm. Người từng chăm một mảnh vườn hiểu đất không phải máy. Người nuôi một con vật biết sự sống không chỉ là đơn vị sản xuất. Người sống gần dân nghèo hiểu môi trường không phải khái niệm. Nhập thể dạy thần học đi tới chỗ cụ thể. Chúa Giêsu không yêu “nhân loại nói chung” đến mức không có ai cụ thể. Người biết tên Phêrô, gọi Maria, dừng trước người mù, vào nhà Dakêu, khóc với chị em Lazarô. Một tình yêu sinh thái theo phong cách Nhập thể cũng phải có tên, có nơi, có khuôn mặt.
Đó là lý do giáo xứ có thể bắt đầu từ địa phương thay vì chỉ nói những vấn đề toàn cầu quá lớn khiến giáo dân bất lực. Con sông nào đi qua địa bàn giáo xứ? Khu dân cư nào thường ngập? Người nghèo nào đang sống cạnh bãi rác? Các gia đình dùng nước thế nào? Nhà thờ tiêu thụ điện ra sao? Lễ hội tạo bao nhiêu rác? Đất nghĩa trang được chăm sóc thế nào? Có cây xanh không? Trẻ em được dạy gì về tạo thành? Người già có ký ức nào về vùng đất trước đây? Những câu hỏi ấy làm thần học Nhập thể có địa chỉ. Không cần biến giáo xứ thành một tổ chức môi trường chuyên nghiệp. Nhưng giáo xứ cũng không thể nói yêu Chúa mà hoàn toàn không để ý đến nơi cộng đoàn đang sống. “Ngôi Lời cư ngụ giữa chúng ta” cũng có thể được nghe như một lời chất vấn: “giữa chúng ta” là đâu? Là con hẻm này, xóm này, con kênh này, thành phố này, cánh đồng này.
Các cộng đoàn tu trì cũng phải nghe câu hỏi ấy. Một tu viện, chủng viện hay nhà dòng có thể dạy rất nhiều về khó nghèo mà vẫn tiêu thụ lãng phí. Có thể nói về tạo thành mà khuôn viên không có lấy một khoảng đất được chăm. Có thể giảng về người nghèo trong khi chất thải của cơ sở mình làm phiền khu dân cư chung quanh. Linh đạo khó nghèo và sinh thái gặp nhau ở đây. Khó nghèo Tin Mừng không phải vẻ nghèo trang trí, nhưng là tự do khỏi sở hữu và tiêu dùng quá mức để có thể chia sẻ. Nếu một cộng đoàn sống đơn giản hơn, tiết kiệm hơn, sửa chữa thay vì vứt, dùng tài nguyên có trách nhiệm, chọn mua hàng công bằng, chăm đất và cây, thì đó không chỉ là quản trị tốt. Nó có thể thành lời chứng rằng của cải là phương tiện, không phải chủ.
Nhập thể còn nhắc rằng thiên nhiên không phải sân khấu trống để con người diễn lịch sử cứu độ. Chính Đức Giêsu đọc thiên nhiên như một người thuộc về nó trong tư cách con người. Người biết chim trời vì Người nhìn chim. Người biết hoa huệ vì Người nhìn hoa. Người biết hạt lúa chết trong đất vì Người sống giữa nền văn hóa nông nghiệp. Người biết cây vả đổi lá báo mùa. Ngày nay nhiều người sống trong thành phố có nguy cơ không còn biết mùa nào trái nào, không biết thức ăn đến từ đâu, không biết nước máy bắt đầu ở nguồn nào, rác đi đâu sau khi xe lấy đi. Sự đứt gãy ấy không chỉ là vấn đề kiến thức; nó có thể làm đời sống thiêng nghèo đi. Một người không còn thấy mình phụ thuộc vào tạo thành sẽ dễ tưởng mình tự đủ. Siêu thị luôn sáng khiến ta quên mùa vụ. Điều hòa khiến ta quên thời tiết. Ứng dụng giao hàng khiến ta quên người làm ra thức ăn. Nhập thể mời ta trở lại với sự thật căn bản: con người là thụ tạo lệ thuộc. Ta cần không khí mỗi giây, nước mỗi ngày, thức ăn, nhiệt độ thích hợp, người khác. Sự lệ thuộc ấy không làm nhục con người. Nó dạy khiêm nhường.
Có thể nói khiêm nhường là một nhân đức sinh thái sâu sắc. Từ “humility” trong truyền thống Tây phương thường được liên hệ với “humus”, đất, dù không nên xây toàn bộ thần học trên từ nguyên. Nhưng hình ảnh rất đẹp: con người phải nhớ mình từ bụi đất. Sáng Thế nói thế. Lễ Tro nhắc thế. Và Nhập thể làm điều kỳ diệu hơn: Con Thiên Chúa đã đi vào thân phận bụi đất ấy. Khi linh mục xức tro và nói “Hãy nhớ mình là bụi tro”, đó không phải sỉ nhục con người. Nó đặt ta vào sự thật. Ta hữu hạn. Ta chết. Ta lệ thuộc. Ta không phải Thiên Chúa. Khủng hoảng sinh thái ở tầng sâu thường là khủng hoảng của một nền văn minh không chịu nhận mình là thụ tạo. Ta hành động như thể tài nguyên vô hạn, như thể hệ sinh thái phải thích nghi với nhu cầu của ta, như thể kỹ thuật sẽ sửa được mọi hậu quả, như thể thế hệ tương lai không có tiếng nói. Khiêm nhường Kitô giáo nói: không. Ta không phải chủ tuyệt đối.
Nhưng Nhập thể không chỉ hạ con người xuống đúng chỗ. Nó còn nâng tạo thành lên bằng cách cho ta thấy khả năng của nó được đón vào quan hệ với Thiên Chúa. Một bàn ăn có thể thành nơi hiệp thông. Một ngôi nhà có thể thành Hội Thánh tại gia. Một nghề nghiệp có thể thành nơi nên thánh. Một cánh đồng có thể thành nơi tạ ơn. Một khu vườn có thể thành trường chiêm ngắm. Một bữa cơm nghèo có thể mang phẩm giá của tình yêu. Một thân xác đau có thể được xức dầu và ôm lấy. Một cái chết có thể được đặt trong hy vọng phục sinh. Kitô giáo không phủ lên thế giới một lớp sơn tôn giáo. Nó nhận ra thế giới được tạo dựng có khả năng trở thành nơi đáp trả tình yêu của Thiên Chúa.
Mầu nhiệm Nhập thể cũng dạy chúng ta về sự kiên nhẫn. Đức Giêsu đã lớn lên. Người không bỏ qua tuổi thơ. Người không từ máng cỏ nhảy thẳng đến sứ vụ công khai. Ba mươi năm ẩn dật trước ba năm rao giảng là một tỷ lệ gây khó chịu cho tâm thức hiệu suất. Hạt giống cũng cần thời gian. Đất cần nghỉ. Rừng cần nhiều thập niên. Nước ngầm cần thời gian phục hồi. Các hệ sinh thái có những nhịp mà con người không thể tăng tốc tùy ý. Nền kinh tế hiện đại thường muốn lợi nhuận theo quý, sản lượng theo năm, hoàn vốn thật nhanh. Thiên nhiên lại vận hành bằng những nhịp dài. Linh đạo Nhập thể giúp ta tôn trọng thời gian của thụ tạo vì chính Con Thiên Chúa đã chấp nhận lớn lên trong thời gian. Người ta có thể coi ba mươi năm Nazareth là “không hiệu quả” nếu đo bằng số bài giảng hay phép lạ. Nhưng Thiên Chúa không đo như thế.
Cũng cần nói đến cái chết. Ngôi Lời làm người đã chết thật. Một thân xác được đặt trong mộ. Điều ấy có nghĩa Thiên Chúa không chỉ đi vào sức sống của tạo thành mà còn đi vào tính mong manh của nó. Mọi sinh vật đều mang dấu hữu hạn. Cây mọc rồi chết. Thú vật sinh rồi chết. Con người chết. Kitô giáo không giải quyết tính hữu hạn bằng phủ nhận. Đức Kitô đi qua cái chết. Chính vì thế, người Kitô hữu có thể nhìn sự suy tàn mà không rơi vào tuyệt vọng, nhưng cũng không coi thường mất mát. Một loài biến mất vĩnh viễn không phải chuyện có thể đảo ngược dễ dàng. Một khu rừng cổ bị phá không thể trồng vài cây non là bù lại như nhau. Một nền văn hóa bản địa mất đất có thể mất cả thế giới ký ức. Tôn trọng tạo thành cũng là biết đau trước điều không thể đơn giản phục hồi. Đức tin phục sinh không khiến ta vô cảm trước Thứ Sáu Tuần Thánh.
Từ đây, sứ vụ loan báo Tin Mừng cũng có một chiều kích sinh thái mà không cần biến Tin Mừng thành thông điệp môi trường. Người ta sẽ khó tin một Hội Thánh nói Thiên Chúa yêu thế gian mà cộng đoàn ấy sống tàn phá thế gian. Sẽ khó tin lời tạ ơn Đấng Tạo Hóa khi lễ hội Công giáo để lại núi rác. Sẽ khó nghe bài giảng về người nghèo nếu cơ sở Công giáo sử dụng lao động bất công. Sẽ khó hiểu bí tích Rửa tội nếu nguồn nước cộng đồng bị ô nhiễm mà giáo xứ không quan tâm. Chứng tá phải liền mạch. Không phải mọi giáo xứ phải làm chiến dịch lớn. Nhưng có một logic phải thấy: đức tin được nhập thể trong cách sống. Ngôi Lời không chỉ nói; Ngôi Lời trở nên xác phàm. Hội Thánh cũng không thể chỉ nói. Tin Mừng phải trở thành nếp sống.
Người giáo dân có vai trò rất đặc biệt trong chương này, bởi phần lớn các quyết định tác động lên tạo thành không được đưa ra trong cung thánh. Chúng diễn ra trong nhà máy, văn phòng, phòng họp, cơ quan nhà nước, phòng thí nghiệm, nông trại, công ty xây dựng, trường học, bệnh viện, thị trường, gia đình. Linh mục có thể giảng về trách nhiệm với tạo thành nhưng một kỹ sư sẽ quyết định thiết kế; một doanh nhân quyết định quy trình; một người tiêu dùng quyết định mua; một nhà giáo dục tạo thói quen cho học sinh; một nhà quản lý quyết định quy hoạch. Đây là tính chất trần thế của ơn gọi giáo dân. Họ làm cho thần học Nhập thể đi vào bê tông, hệ thống thoát nước, hợp đồng, bao bì, chuỗi cung ứng, chính sách năng lượng, kiến trúc, phương tiện giao thông. “Đấng Tạo Hóa bước vào thụ tạo” phải được nối tiếp bằng một Hội Thánh dám bước vào những nơi thụ tạo đang được sử dụng và quyết định.
Đặc biệt với người Công giáo làm kinh tế, cần một cuộc xét mình sâu. Lợi nhuận không xấu. Doanh nghiệp cần lợi nhuận để tồn tại, trả lương, đầu tư, sáng tạo. Nhưng lợi nhuận không phải Thiên Chúa. Nếu có những chi phí thực sự nhưng được đẩy sang cộng đồng — ô nhiễm, bệnh tật, cạn nước, mất đất, chất thải — thì bảng cân đối của công ty có thể đẹp trong khi bảng cân đối của tạo thành âm. Đạo đức kinh doanh Kitô giáo phải hỏi ai trả cái giá mà giá bán không tính. Chính ở đây giáo huấn xã hội về công ích, liên đới, bổ trợ và đích phổ quát của của cải gặp thần học Nhập thể. Con Thiên Chúa đã nhận lấy thân xác của nhân loại, nên một nền kinh tế làm giàu bằng việc làm tổn thương vô số thân xác không thể được gọi là trung lập luân lý.
Đối với gia đình, Nhập thể cũng mở một con đường đơn giản. Đức Giêsu lớn lên trong một gia đình. Gia đình là nơi con người học đầu tiên cách dùng vật chất: ăn thế nào, mua thế nào, vứt thế nào, giữ thế nào, chia sẻ thế nào. Trẻ em không học sinh thái trước hết từ hội nghị mà từ bếp. Chúng thấy cha mẹ có lãng phí thức ăn không, có tắt điện không, có coi đồ vật là dùng một lần rồi bỏ không, có tôn trọng người dọn rác không, có biết quý công sức người nấu không, có dành thời gian ra ngoài thiên nhiên hay cả nhà chỉ sống qua màn hình. Một gia đình Kitô giáo không cần biến thành phòng thí nghiệm xanh. Chỉ cần tập lối sống tạ ơn, đủ dùng, không lãng phí, biết sửa, biết chia, biết chờ. Những điều ấy rất gần với tinh thần Nazareth.
Nhập thể cũng bảo vệ người Kitô hữu khỏi việc thần thánh hóa công nghệ. Công nghệ là thành quả của trí tuệ con người và có thể là quà lớn. Nó chữa bệnh, làm sạch nước, tăng năng suất, kết nối, giảm lao động nặng, giúp quản lý tài nguyên tốt hơn. Nhưng kỹ thuật không phải cứu tinh. Khi con người nghĩ mọi giới hạn thiên nhiên đều có thể bị vượt bằng công nghệ, ta đang trượt khỏi căn tính thụ tạo. Có những điều kỹ thuật có thể làm nhưng không có nghĩa phải làm. Có những giải pháp giải quyết một vấn đề nhưng tạo vấn đề khác. Cần phân định. Đức Giêsu cứu thế giới không bằng tối đa hóa sức mạnh kỹ thuật mà bằng tình yêu tự hiến. Điều này không chống khoa học. Nó đặt khoa học trong chân trời đạo đức. Khoa học nói ta có thể làm gì; lương tâm phải hỏi ta nên làm gì và vì ai.
Một thần học Nhập thể đúng cũng làm ta cẩn thận với ngôn ngữ “cứu hành tinh”. Người Kitô hữu không phải đấng cứu thế giới. Đức Kitô mới là Đấng Cứu Độ. Trái đất đã tồn tại trước ta rất lâu và có thể tiếp tục theo những dạng khác sau ta. Vấn đề luân lý là chúng ta đang làm gì với ngôi nhà được trao, với các loài sống cùng, với người nghèo và thế hệ tương lai. Khi hoạt động môi trường mang tâm lý cứu thế, người ta dễ tuyệt vọng hoặc cực đoan vì gánh một trách nhiệm quá sức con người. Đức tin cho phép hành động mạnh mà không ảo tưởng. Ta chăm sóc vì trung tín, không vì nghĩ mình nắm lịch sử trong tay. Ta gieo cây dù không thấy nó lớn trọn đời mình. Ta thay đổi lối sống dù biết mình không giải quyết hết. Ta đấu tranh cho chính sách tốt dù kết quả chậm. Đây là hy vọng Kitô giáo: hành động vì đã được yêu, không phải để tự cứu mình.
Nhìn lại toàn bộ mầu nhiệm, ta thấy một chuyển động kỳ lạ: tạo thành đi ra từ Thiên Chúa, rồi trong Nhập thể chính Thiên Chúa bước vào tạo thành, và trong Đức Kitô tạo thành được dẫn tới sự viên mãn. Đây là một vòng cung lớn của lịch sử cứu độ. Khởi đầu không phải vật chất xấu bị ném ra ngoài thần linh. Khởi đầu là một tạo thành được gọi vào hiện hữu trong tình yêu. Trung tâm không phải linh hồn thoát khỏi vật chất. Trung tâm là Ngôi Lời làm người. Kết thúc không phải tạo thành bị vứt vào hư vô. Kết thúc là trời mới đất mới, Thiên Chúa ở cùng nhân loại. Từ khởi đầu đến cùng đích, Kitô giáo là đức tin của một Thiên Chúa không ghê tởm công trình tay Người.
Vì vậy, mỗi lần người tín hữu nhìn một thân xác, một bữa ăn, một giọt nước, một cánh đồng, một con vật, một mảnh đất, một khu rừng, một thành phố, họ được mời nhìn với sự nghiêm túc hơn. Không phải mọi thụ tạo đều ngang hàng với con người. Không phải mọi thứ đều có quyền lợi giống nhau. Không phải thiên nhiên tự nó là thánh theo nghĩa Thiên Chúa là thánh. Nhưng mọi sự hiện hữu đều mang dấu của Đấng Tạo Hóa và tồn tại không do chính mình. Sự vật trước hết là được nhận. Người sống tinh thần Nhập thể học cách đưa sự nhận lãnh ấy vào thái độ. Thay vì hỏi trước tiên “tôi dùng được gì từ đây?”, người ấy có thể hỏi “đây là gì trước mặt Chúa?”, “nó phục vụ sự sống nào?”, “tôi có quyền đến đâu?”, “trách nhiệm của tôi là gì?”.
Thánh Phanxicô Assisi gọi mặt trời là anh, mặt trăng là chị, nước là chị, đất là mẹ. Ngôn ngữ ấy chỉ thật sự an toàn trong một đức tin Nhập thể rõ ràng. Nếu không, nó có thể bị hiểu như đồng nhất Thiên Chúa với thiên nhiên. Nhưng trong đức tin Kitô giáo, “anh mặt trời” không phải thần mặt trời. Mặt trời là thụ tạo. Tôi cũng là thụ tạo. Chúng tôi có cùng một Đấng Tạo Hóa. Sự huynh đệ của tạo thành dựa trên tình phụ tử của Thiên Chúa. Và điều kỳ diệu nhất là Con vĩnh cửu của Cha đã trở nên người anh em của chúng ta. Khi Người bước vào gia đình nhân loại, một cách nào đó Người đứng giữa toàn thể tạo thành như Đấng vừa là Ngôi Lời Tạo Hóa vừa là một người sống trong tạo thành. Nơi Người, khoảng cách giữa Đấng Tạo Hóa và thụ tạo không bị xóa, nhưng một tương quan chưa từng có được mở ra.
Ở đây ta cũng hiểu chiều sâu của Giáng Sinh. Các trang trí Giáng Sinh có thể làm ta nghĩ đây là lễ của ánh sáng, gia đình và cảm xúc. Nhưng Giáng Sinh trước hết là một tuyên bố siêu hình gây chấn động: Thiên Chúa đã có thân xác con người. Thịt của nhân loại đã được Ngôi Lời nhận lấy. Từ đó, ta không thể nhìn một thân xác nghèo, một trẻ em, một người già, người khuyết tật, người bệnh, người lao động như thứ thấp kém. Và cũng từ đó, ta phải quan tâm đến những điều kiện vật chất cho thân xác ấy sống. Ai nói mình bảo vệ phẩm giá con người nhưng không quan tâm người ấy có nước, không khí, đất ở, thức ăn và môi trường an toàn hay không thì phẩm giá ấy còn rất trừu tượng. Nhập thể không cho phép phẩm giá chỉ tồn tại trên giấy.
Cũng thế, lễ Hiển Linh cho thấy tạo thành có thể dẫn đường: một ngôi sao trở thành dấu chỉ. Lễ Chúa chịu phép rửa cho thấy nước được đi vào mầu nhiệm. Các phép lạ hóa bánh cho thấy lương thực và lòng thương xót gặp nhau. Tiệc cưới Cana cho thấy nước, rượu, niềm vui gia đình được chạm bởi sự hiện diện của Đức Kitô. Biến hình xảy ra trên núi. Vườn Cây Dầu thành nơi hấp hối. Đồi Golgotha thành nơi cứu chuộc. Mồ trong vườn thành nơi Phục sinh. Kinh Thánh Kitô giáo đầy địa lý và vật chất. Đức tin không xảy ra trong khoảng không.
Do đó, việc bảo vệ những nơi chốn cũng có thể mang ý nghĩa thiêng liêng. Con người cần ký ức gắn với đất. Một nghĩa trang, một nhà thờ cổ, một cánh đồng tổ tiên, một khu rừng, một dòng sông có thể mang lịch sử của cộng đồng. Phát triển là cần, nhưng phát triển không thể luôn coi nơi chốn như mặt bằng trống. Khi mọi nơi đều bị biến thành cùng một kiểu trung tâm thương mại, khu nghỉ dưỡng hay khối bê tông, con người mất cả khả năng thuộc về. Nhập thể là thần học của việc thuộc về một nơi. Đức Giêsu là người Nazareth. Người nói giọng của một vùng. Người có quê. Điều ấy không khóa Người trong cục bộ; chính từ một nơi cụ thể Người mở cứu độ cho muôn dân. Cái phổ quát Kitô giáo không phải vô địa chỉ.
Cuối cùng, Nhập thể là lời mời người Kitô hữu sống hòa giải với thân phận thụ tạo của mình. Nhiều khủng hoảng sinh thái bắt đầu từ sự bất hòa nội tâm: con người không chịu mình là hữu hạn, phải lệ thuộc, phải chết, phải chia sẻ. Ta muốn nhiều hơn vì sợ thiếu. Ta tích trữ vì sợ bất an. Ta tiêu dùng để tạo căn tính. Ta kiểm soát thiên nhiên vì sợ mong manh. Nhưng Con Thiên Chúa đã không sợ mang lấy mong manh. Người sống như một người cần người khác. Người để Đức Maria bế. Người để ông Giuse bảo vệ. Người nhận thức ăn. Người nhận chỗ ngủ. Người nhận sự tiếp đón. Người có thể nói “Ta khát”. Có một sự tự do vô cùng trong việc chấp nhận mình cần. Người càng hòa giải với sự hữu hạn của mình càng ít phải chứng minh quyền lực bằng sở hữu và tiêu thụ.
Chăm sóc ngôi nhà chung, từ ánh sáng Nhập thể, vì vậy không phải dự án bên cạnh đời sống thánh thiện. Nó là một trong những nơi đức tin trở thành thịt. Người không lãng phí vì biết tạ ơn. Người chăm cây vì biết tạo thành là quà. Người bảo vệ nguồn nước vì thân xác người khác cần nó. Người làm kinh tế có trách nhiệm vì Con Thiên Chúa đã nhận lấy thân xác người lao động. Người đấu tranh cho người nghèo trước ô nhiễm vì Đức Kitô ở nơi kẻ bé nhỏ. Người học khoa học nghiêm túc vì sự thật về tạo thành cũng là một hình thức kính trọng Đấng Tạo Hóa. Người biết dừng lại vì mình không phải Thiên Chúa. Người nghỉ vì ngày Sabát còn dạy giới hạn. Người chia sẻ vì của cải không phải tuyệt đối. Người không tuyệt vọng vì Đấng Phục sinh vẫn là Chúa của lịch sử.
Có thể tóm toàn bộ chương này trong một nghịch lý rất đẹp: Kitô giáo càng hướng về Thiên Chúa thì càng không được khinh thế giới Thiên Chúa đã dựng nên; càng tin Con Thiên Chúa là Thiên Chúa thật thì càng phải nghiêm túc về việc Người đã làm người thật; càng yêu đời sống thiêng liêng thì càng phải tôn trọng thân xác; càng mong trời mới đất mới thì càng không được phép tàn phá đất đang được trao; càng cử hành Thánh Thể thì càng phải học tạ ơn trước quà tặng của tạo thành. Máng cỏ, bàn tiệc, thập giá và ngôi mộ trống cùng nói một điều: Thiên Chúa không cứu chúng ta từ bên ngoài thân phận thụ tạo. Người bước vào đó.
Vì thế, một người giáo dân đứng trước quyết định nghề nghiệp liên quan đến đất, nước, hàng hóa, lao động hay môi trường không đứng ngoài thần học. Một người mẹ dạy con không phí thức ăn không làm việc quá nhỏ để gọi là thiêng liêng. Một nông dân chăm đất để đất còn màu cho thế hệ sau đang thực hành một đức công bằng. Một kỹ sư từ chối giải pháp rẻ nhưng gây độc cho cộng đồng đang sống đức tin vào phẩm giá thân xác. Một doanh nhân chấp nhận lợi nhuận thấp hơn để xử lý chất thải đúng cách có thể đang thực hành đức tiết độ và công bằng. Một giáo xứ trồng cây, giảm rác, giữ nguồn nước và dạy trẻ tạ ơn không phải chạy theo phong trào, nếu tất cả được đặt trong mạch sâu của đức tin. Đây là Nhập thể kéo dài trong hình thức đời sống Hội Thánh: điều ta tin phải có thịt.
Và mỗi lần quỳ trước hang đá, người Kitô hữu có thể tự hỏi một câu rất đơn sơ nhưng đòi hỏi: nếu Thiên Chúa đã không khinh thế giới đến mức Người bước vào thế giới, tại sao tôi có quyền khinh nó? Nếu Người đã nhận thân xác, tại sao tôi coi thân xác người khác như công cụ? Nếu Người dùng nước, bánh, rượu để chạm tới tôi, tại sao tôi lại sống như thể nước, đất và lương thực không có giá trị ngoài giá tiền? Nếu Người đã ở trong lòng một người mẹ, tại sao sự sống mong manh lại bị coi như gánh nặng? Nếu Người đã làm một người lao động, tại sao công nhân lại bị thu lại thành chi phí? Nếu Người đã nằm trong một ngôi mộ của đất, tại sao tôi nghĩ đức tin cho phép tôi sống như kẻ không thuộc về đất?
Mầu nhiệm Nhập thể không trả lời mọi bài toán sinh thái bằng một công thức. Nhưng nó đổi người đặt câu hỏi. Nó dạy người ấy nhìn tạo thành không bằng mắt của chủ nhân tuyệt đối mà bằng mắt của người con đã nhận quà từ Cha. Nó dạy nhìn thân xác không như trở ngại của linh hồn mà như phần được cứu. Nó dạy nhìn vật chất không như thần linh cũng không như rác, nhưng như thụ tạo có thể phục vụ tình yêu. Nó dạy nhìn trái đất không phải nhà vĩnh cửu theo nghĩa cánh chung, nhưng là ngôi nhà hiện tại được trao để canh tác và giữ gìn. Và trên hết, nó đặt trước mắt ta Đức Giêsu Kitô: Ngôi Lời nhờ Người mọi sự được tạo thành, nay mang một khuôn mặt người, đi trên đất, uống nước, ăn bánh, chạm người bệnh, chết và sống lại.
Đó là lý do chăm sóc ngôi nhà chung không thể chỉ là một chiến dịch. Chiến dịch sẽ kết thúc. Khẩu hiệu sẽ cũ. Chính sách sẽ thay. Mối quan tâm công chúng có thể chuyển sang chuyện khác. Nhưng Giáng Sinh vẫn còn. Thánh Thể vẫn còn. Tuyên xưng đức tin vẫn còn. Ngôi Lời vẫn là Đấng đã làm người. Khi Hội Thánh còn quỳ trước Con Trẻ Bêlem và thưa “Lạy Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật”, Hội Thánh phải nhớ rằng Thiên Chúa thật ấy đã nhận lấy xác phàm thật. Và chính từ xác phàm ấy, một nền luân lý của sự chăm sóc được mở ra.
Không phải vì trái đất là Thiên Chúa, nhưng vì trái đất thuộc về Thiên Chúa. Không phải vì con người chỉ là một loài giữa các loài không có phẩm giá riêng, nhưng vì chính phẩm giá đặc biệt ấy trao cho con người trách nhiệm đặc biệt. Không phải vì cứu độ đến từ thiên nhiên, nhưng vì Đấng Cứu Độ đã đi vào thiên nhiên. Không phải vì bảo vệ môi trường tự nó là toàn bộ Tin Mừng, nhưng vì Tin Mừng không thể được sống bằng cách tàn phá những điều kiện để người khác sống. Không phải vì Hội Thánh chạy theo thời đại, nhưng vì Hội Thánh trung thành với Đức Kitô.
Đấng Tạo Hóa đã bước vào thụ tạo. Câu ấy đủ làm thay đổi cả một cách sống. Từ Bêlem, đất không còn chỉ là đất. Từ Giođan, nước không còn chỉ là nước. Từ Cana, rượu không còn chỉ là rượu. Từ Bữa Tiệc Ly, bánh không còn chỉ là bánh. Từ Golgotha, thân xác đau đớn không còn là điều có thể bị làm ngơ. Từ ngôi mộ trống, vật chất không còn mang số phận cuối cùng là hủy diệt. Và từ lời “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”, người Kitô hữu hiểu rằng đường tới Thiên Chúa không buộc ta khinh thế giới, nhưng buộc ta học yêu thế giới đúng cách: không thờ nó, không chiếm nó, không phá nó, nhưng nhận nó từ tay Cha, sử dụng trong công bằng, chia sẻ trong đức ái, gìn giữ trong hy vọng và dâng lại trong lời tạ ơn.

CHƯƠNG 11. THÁNH THẦN – ĐẤNG BAN SỰ SỐNG
Trong Kinh Tin Kính, Hội Thánh tuyên xưng một câu rất ngắn nhưng đủ sức mở ra cả một thần học về sự sống, về tạo thành, về trách nhiệm của con người và về niềm hy vọng của trái đất: “Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống.” Ta đã đọc câu ấy không biết bao nhiêu lần trong Thánh lễ. Ta đọc như một phần quen thuộc của công thức đức tin. Nhưng nếu thật sự dừng lại, ta sẽ nhận ra đây không phải là một câu phụ thêm sau khi tuyên xưng Chúa Cha và Chúa Con. Đây là một lời xác tín có sức đảo lại cách ta nhìn chính mình và toàn thể thế giới. Sự sống không tự xuất hiện. Sự sống không tự sở hữu mình. Sự sống không phải một món hàng do con người sản xuất rồi muốn sử dụng thế nào cũng được. Sự sống trước hết là quà tặng. Nơi nào có sự sống, nơi đó có một mầu nhiệm đi trước quyền sở hữu của ta. Nơi nào một mầm cây phá đất mà mọc lên, nơi nào một đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời, nơi nào một con chim làm tổ, nơi nào một dòng sông còn nuôi được cá, nơi nào một cánh rừng còn thở, nơi nào một con người tưởng đã tuyệt vọng nhưng lại đứng dậy để sống tiếp, ở đó người Kitô hữu có thể học lại thái độ kính sợ trước quà tặng mà mình không tạo ra từ hư vô. Khoa học có thể mô tả những cơ chế của sự sống, và phải được tôn trọng trong công việc ấy. Sinh học có thể nói đến tế bào, DNA, tiến hóa, trao đổi chất, hệ sinh thái; y khoa có thể giải thích nhịp tim và thần kinh; sinh thái học có thể cho biết một quần thể tồn tại nhờ những tương quan nào. Đức tin không cạnh tranh với những giải thích ấy. Đức tin đặt một câu hỏi ở tầng sâu hơn: tại sao lại có sự sống thay vì không có gì? Tại sao hữu thể lại được trao ban? Và đức tin trả lời không bằng một công thức vật lý, nhưng bằng lời tuyên xưng: Thánh Thần là Đấng ban sự sống.
Ngay từ trang đầu của Kinh Thánh, trước khi con người xuất hiện, trước khi lịch sử cứu độ có tên Abraham, Môsê, Đavít, trước cả Sinai và Giêrusalem, đã có hình ảnh Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước. Đó là một hình ảnh mạnh. Trái đất còn hoang vu, bóng tối phủ vực sâu, nhưng Thần Khí hiện diện. Không phải như kẻ quan sát lạnh lùng đứng ngoài. Thần Khí là sự hiện diện của Thiên Chúa nơi công trình sáng tạo đang được gọi ra khỏi hỗn mang. Kinh Thánh không cho ta một giáo trình khoa học về khởi nguyên vũ trụ, nhưng trao cho ta một trực giác thần học căn bản: sự sống của thế giới nằm trong tương quan với Thiên Chúa. Thế giới không phải đứa trẻ vô chủ. Nó không bị ném ra rồi bị bỏ mặc. Hơi thở, nước, ánh sáng, đất, giống loài, mùa màng, khả năng sinh sản, sự phong nhiêu đều ở trong một trật tự quà tặng. Và vì đó là quà tặng, người nhận không thể cư xử như chủ tuyệt đối. Đây là chỗ mà thần học về Chúa Thánh Thần chạm trực tiếp tới linh đạo sinh thái. Nếu Thánh Thần là Đấng ban sự sống, thì người sống theo Thánh Thần phải trở thành người biết đón nhận, bảo vệ và phục vụ sự sống. Không phải vì sinh thái đang là đề tài thời thượng. Không phải vì xã hội hiện đại thích nói về khí hậu. Nhưng vì ngay trong lời tuyên xưng đức tin đã có một đòi hỏi: ta không thể vừa tuyên xưng Đấng ban sự sống vừa bình thản tham gia vào những cơ chế hủy diệt sự sống mà không xét lại mình.
Sách Sáng Thế kể rằng Thiên Chúa lấy bụi đất nặn nên con người rồi thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật. Hình ảnh ấy vừa làm con người cao quý vừa làm con người khiêm tốn. Cao quý vì sự sống của ta được mô tả như gắn với hơi thở Thiên Chúa. Khiêm tốn vì ta vẫn là bụi đất. Ta không phải thần. Ta là bụi đất được thở vào. Hai chân lý ấy phải được giữ chung. Khi quên mình là bụi đất, con người trở nên kiêu ngạo, tưởng có thể tái thiết thế giới tùy ý. Khi quên hơi thở Thiên Chúa, con người hạ thấp chính mình thành một bộ máy tiêu thụ. Kitô giáo không chọn một trong hai. Con người vừa thuộc đất vừa mở về Thiên Chúa. Chính vì thế, mối tương quan với đất không phải chuyện bên ngoài đời thiêng liêng. Đất ở trong tên gọi và cấu trúc biểu tượng của con người. Ta ăn từ đất, uống từ nước, hít khí trời, sống nhờ cây cối, vi sinh vật, mùa vụ và vô số tương quan sinh học mà phần lớn ta không bao giờ để ý. Người thành phố có thể quên điều ấy vì thực phẩm đến trong bao bì, nước đến từ vòi, điện đến từ ổ cắm, rác biến mất sau cánh cửa. Nhưng quên không có nghĩa là thoát. Ta vẫn lệ thuộc vào tạo thành từng phút. Không khí bị độc thì người giàu cũng phải thở. Nước bị nhiễm thì tiền bạc chỉ giúp trì hoãn hậu quả cho một số người. Đất bị kiệt, biển bị chết, khí hậu đảo lộn thì chuỗi sống bị ảnh hưởng. Người tin Thánh Thần là Đấng ban sự sống vì thế phải học lại một điều rất đơn giản: chúng ta sống nhờ những gì chúng ta không tự làm ra.
Một trong những vấn đề lớn của thời đại không chỉ là con người sử dụng thiên nhiên, bởi sử dụng tự nó không sai. Thiên Chúa trao cho con người trách nhiệm canh tác, tổ chức, sáng tạo, biến đổi. Vấn đề bắt đầu khi sử dụng biến thành thống trị vô giới hạn, khi hiệu quả trở thành tiêu chuẩn tối hậu, khi một loài chỉ còn đáng tồn tại nếu nó sinh lợi cho ta, khi một khu rừng chỉ còn được nhìn như gỗ đứng, một con sông chỉ còn như lưu lượng nước, một ngọn núi chỉ còn như khoáng sản, một vùng biển chỉ còn như sản lượng đánh bắt, một con người chỉ còn như sức lao động. Lúc ấy, cái nhìn đã bị bệnh trước khi hành vi trở nên tàn phá. Ta đã tước khỏi sự sống chiều kích quà tặng. Ta biến mọi sự thành vật liệu cho ham muốn. Người Kitô hữu cần đặc biệt cảnh giác với não trạng ấy vì nó đối nghịch với cách Thánh Thần hành động. Thánh Thần trao ban. Thánh Thần làm sống. Thánh Thần sinh hoa trái. Thánh Thần xây dựng hiệp thông. Não trạng chiếm hữu cực đoan thì hút cạn, bẻ gãy, cô lập, dùng xong rồi bỏ. Hai chuyển động ấy đi ngược nhau. Có thể một người đọc kinh rất nhiều mà lối sống của họ vẫn nằm dưới logic chiếm đoạt. Có thể một cộng đoàn tổ chức lễ rất lớn nhưng lại sản xuất một lượng lãng phí khổng lồ mà không hề tự hỏi. Có thể một cơ sở tôn giáo treo nhiều khẩu hiệu về sự sống nhưng trong quản trị đất đai, nước, rác, năng lượng lại chẳng hề có ý thức. Khi ấy, thần học về Thánh Thần chưa đi xuống tới tay chân.
Nói Thánh Thần là Đấng ban sự sống còn đưa ta tới một cái nhìn rộng hơn về sự sống. Dĩ nhiên, sự sống con người có phẩm giá độc đáo. Con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Kitô giáo không xóa ranh giới giữa con người và các loài khác. Nhưng phẩm giá đặc biệt không đồng nghĩa với giấy phép phá hủy. Ngược lại, càng có phẩm giá, càng có trách nhiệm. Người được trao nhiều phải trả lời nhiều. Là hình ảnh Thiên Chúa nghĩa là được gọi phản chiếu cách Thiên Chúa cai quản: bằng khôn ngoan, chăm sóc, trung tín và tình yêu, chứ không phải bằng cướp đoạt. Nếu Thiên Chúa vui nhìn thấy muôn loài sống, nếu Kinh Thánh cho thấy Người chăm chim trời, thú rừng, mưa nắng, mùa màng, nếu Người thiết lập giao ước sau lụt không chỉ với con người mà còn với mọi sinh vật, thì một lối sống coi sự tuyệt chủng hàng loạt như con số phụ của phát triển là một vết thương thần học chứ không chỉ kinh tế. Mỗi loài không có cùng phẩm giá với con người, nhưng mỗi loài có giá trị vì được Thiên Chúa muốn cho hiện hữu trong trật tự tạo thành. Ta không cần thần thánh hóa động vật để biết rằng sự tồn tại của chúng không hoàn toàn phụ thuộc vào lợi ích của ta. Một loài tồn tại hàng ngàn hay hàng triệu năm rồi biến mất vì lòng tham trong vài thập kỷ là một tiếng chuông xét mình cho nền văn minh.
Ở đây phải tránh hai thái cực. Một bên là thờ thiên nhiên, đặt thiên nhiên vào chỗ của Thiên Chúa. Kitô giáo không làm thế. Tạo thành không phải thần linh. Mặt trời không phải thần. Đất không phải nữ thần. Con vật không có cùng vị trí với con người. Bên kia là coi tạo thành như đồ vô chủ, muốn dùng sao cũng được. Kitô giáo cũng không chấp nhận. Chính vì thiên nhiên không phải Thiên Chúa nên ta không thờ nó; nhưng chính vì thiên nhiên thuộc về Thiên Chúa nên ta không được phá nó tùy tiện. Hai điều này rất quan trọng. Khi người Kitô hữu bảo vệ môi trường, họ không cần vay một thứ tôn giáo thiên nhiên. Họ có đủ nền tảng trong đức tin của mình: Chúa Cha là Đấng Tạo Hóa, Chúa Con là Đấng nhờ Người muôn vật được tạo thành và đã nhập thể trong chính thế giới vật chất này, Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống và canh tân mặt đất. Cả mầu nhiệm Ba Ngôi đưa ta tới thái độ kính trọng tạo thành. Đời sống sinh thái Kitô giáo vì thế không nằm ngoài thần học. Nó mọc ngay trong lòng thần học.
Thánh vịnh 104 có một đoạn tuyệt đẹp khi nói về các sinh vật: khi Thiên Chúa lấy sinh khí chúng đi, chúng chết và trở về bụi đất; khi Người gửi sinh khí tới, chúng được tạo thành, và Người đổi mới mặt đất. Đây là một trong những bản văn mạnh nhất để hiểu vai trò của Thần Khí. Tạo thành không phải chỉ đã được tạo xong một lần trong quá khứ rồi tự vận hành như chiếc đồng hồ. Kinh Thánh nhìn thế giới như luôn được nhận hữu thể từ Thiên Chúa. Mỗi mùa mới, mỗi thế hệ sinh ra, mỗi chu trình sinh học, mỗi sự phục hồi của đất, mỗi khả năng tái sinh đều nhắc ta rằng tạo thành là quà tặng liên tục. “Xin sai Thần Khí Chúa và họ được tạo thành, và Chúa sẽ đổi mới mặt đất.” Hội Thánh vẫn cầu câu ấy. Nhưng thật đáng suy nghĩ nếu miệng ta cầu xin Chúa đổi mới mặt đất còn tay ta làm mặt đất kiệt quệ. Cầu nguyện thật luôn đòi cộng tác. Không phải cộng tác vì Thiên Chúa bất lực. Nhưng vì Người đã muốn trao cho con người tự do và trách nhiệm. Ta cầu xin lương thực hằng ngày nhưng vẫn phải gieo trồng. Ta cầu xin hòa bình nhưng vẫn phải tập tha thứ và xây công lý. Ta cầu xin chữa lành nhưng vẫn phải chăm sóc người bệnh. Cũng vậy, ta cầu xin Thánh Thần canh tân mặt đất nhưng vẫn phải đổi cách sản xuất, tiêu dùng, quản trị, giáo dục và sử dụng tài nguyên.
Đây là điểm phải nói thật rõ: chúng ta cộng tác với Thánh Thần, chúng ta không thay thế Thánh Thần. Có một cám dỗ rất hiện đại là tin rằng kỹ thuật cuối cùng sẽ sửa được mọi hậu quả của kỹ thuật. Ta phá rồi nghĩ sẽ phát minh cách phục hồi. Ta làm nóng khí hậu rồi nghĩ sẽ có một công nghệ đủ mạnh để điều chỉnh. Ta hủy sinh cảnh rồi nghĩ có thể tái tạo bằng phòng thí nghiệm. Khoa học và kỹ thuật là ân huệ lớn. Người Kitô hữu không chống kỹ thuật. Nhưng kỹ thuật không phải Chúa Thánh Thần. Không một hệ thống nhân tạo nào có quyền khiến con người thôi kính sợ giới hạn. Năng lực làm được một việc không tự động cho ta quyền làm việc ấy. Có những lúc khôn ngoan không phải là phát minh thêm, mà là dừng lại. Có những lúc tiến bộ không phải là tăng sản lượng, mà là chấp nhận đủ. Có những lúc cứu một dòng sông không cần một đại dự án công nghệ mà cần ngưng xả độc xuống đó. Có những lúc cứu đất không cần máy thông minh hơn mà cần cho đất nghỉ. Có những lúc giảm đau cho trái đất không bắt đầu từ hội nghị lớn mà từ việc con người thôi tiêu thụ như thể mình có ba hành tinh để sống.
Thần học về Chúa Thánh Thần cũng dạy ta rằng sự sống là tương quan. Không có sinh vật nào sống một mình. Cây cần đất, nước, ánh sáng, nấm, vi sinh vật, côn trùng. Con người cần cha mẹ, cộng đồng, nông dân, người làm nước, người sản xuất, người chăm sóc, người vô danh trong những chuỗi cung ứng kéo dài khắp thế giới. Tự lập tuyệt đối là một huyền thoại. Thánh Thần trong thần học Kitô giáo là Đấng xây dựng hiệp thông. Người không làm các chi thể cô lập nhưng quy tụ thành một thân thể. Điều ấy có một tiếng vọng trong tạo thành: sự sống tồn tại bằng mạng lưới tương thuộc. Dĩ nhiên không được đồng nhất đời sống Ba Ngôi với hệ sinh thái, nhưng hệ sinh thái có thể dạy con người một bài học khiêm tốn về tương quan. Khi phá một mắt xích, hậu quả thường lan tới nơi ta không ngờ. Khi tiêu diệt côn trùng thụ phấn, cây trái chịu ảnh hưởng. Khi rừng đầu nguồn bị mất, hạ lưu chịu lũ và hạn. Khi biển đầy nhựa, chất độc quay trở lại bàn ăn. Khi đất bạc màu, người nghèo rời quê, thành phố chịu áp lực, gia đình tan tác. Khủng hoảng sinh thái rất hiếm khi chỉ là chuyện cây cỏ. Nó đi vào kinh tế, di dân, sức khỏe, hòa bình và công lý.
Bởi thế, nói đến Đấng ban sự sống không thể bỏ qua người nghèo. Người nghèo thường là những người góp ít nhất vào việc tàn phá quy mô lớn nhưng lại chịu hậu quả đầu tiên. Họ sống nơi dễ ngập hơn, nhà yếu hơn, ít khả năng mua nước sạch hơn, phụ thuộc trực tiếp vào mùa màng hơn, khó di chuyển khi khí hậu khắc nghiệt hơn. Khi thiên tai trở nên dồn dập, người có điều kiện có bảo hiểm, xe, tiền tiết kiệm, nơi trú; người nghèo mất mái nhà và có khi mất luôn kế sinh nhai. Vì thế, bảo vệ tạo thành và bảo vệ người nghèo không phải hai chương khác nhau. Một linh đạo Thánh Thần không thể nói “ban sự sống” cách trừu tượng mà không hỏi sự sống của ai đang bị bóp nghẹt bởi mô hình phát triển hiện tại. Một nhà máy tạo việc làm nhưng làm trẻ em quanh đó bệnh phổi thì phải xét lại. Một dự án làm tăng GDP nhưng đẩy cả cộng đồng khỏi nơi họ sống mà không công bằng thì không thể chỉ gọi là tiến bộ. Một chuỗi hàng hóa rẻ nhờ lao động bị bóc lột và môi trường bị đầu độc ở nơi xa vẫn đặt câu hỏi lương tâm cho người mua ở nơi gần. Thánh Thần là Đấng ban sự sống, không phải Đấng ban lợi nhuận bằng mọi giá.
Điều này cũng đòi ta mở rộng xét mình. Nhiều người Công giáo quen xét mình về nói dối, nóng giận, bỏ lễ, lỗi đức trong sạch, và đó là những điều cần xét. Nhưng rất ít người từng xét mình về cách tiêu dùng. Ta có mua quá nhiều vì cần hay vì bị kích thích? Ta có bỏ thức ăn trong khi người khác thiếu? Ta có dùng đồ một lần chỉ vì tiện? Ta có thay điện thoại dù máy cũ còn tốt chỉ vì muốn theo đời mới? Ta có xem rác là chuyện của người thu gom chứ không phải chuyện của lương tâm? Ta có dùng điện, nước như tài nguyên vô hạn? Ta có tổ chức tiệc, lễ hội, sinh hoạt tôn giáo với mức lãng phí mà nếu nhìn bằng con mắt người nghèo sẽ thấy đau? Không phải mọi hành vi ấy đều có cùng trọng lượng luân lý. Không được biến sinh thái thành một bộ luật scrupulous khiến người ta ám ảnh. Nhưng nếu đời sống luân lý không bao giờ chạm tới cách ta sử dụng tạo thành thì có một khoảng trống lớn. Tội không chỉ xảy ra trong phòng kín. Tội còn được tích lũy qua những hệ thống mà ta góp phần nuôi.
Thánh Phaolô nói rằng toàn thể tạo thành đang rên siết và quằn quại như người phụ nữ sinh con. Đó là một hình ảnh kỳ lạ và mạnh mẽ. Tạo thành bị đặt dưới sự hư nát nhưng vẫn mang hy vọng. Nó rên siết không phải như kẻ hấp hối vô nghĩa, nhưng như người đang chờ một cuộc sinh nở. Người tín hữu cũng rên siết, chờ ơn cứu chuộc thân xác. Và Thánh Thần giúp đỡ sự yếu hèn của chúng ta, cầu thay bằng những tiếng rên khôn tả. Ở đây, thần học cứu độ, thần học thân xác và thần học tạo thành gặp nhau. Thánh Thần không cứu ta bằng cách đưa ta thoát khỏi vật chất để trở thành những linh hồn bay trong một thế giới khác. Kitô giáo chờ sự sống lại của thân xác và trời mới đất mới. Hy vọng Kitô giáo vì thế không cho phép khinh thế giới hiện tại. Đúng là hình dạng thế gian này sẽ qua đi. Đúng là ta không đồng nhất Nước Thiên Chúa với một chương trình sinh thái. Nhưng chính hy vọng cánh chung làm ta trung tín hơn với hiện tại chứ không vô trách nhiệm hơn. Người biết ngôi nhà này không phải quê hương vĩnh viễn không có nghĩa là được quyền đốt nhà. Người biết thân xác sẽ phục sinh không vì thế được quyền hủy hoại thân xác. Người biết trời mới đất mới sẽ đến không vì thế được quyền đầu độc trời đất cũ.
Thánh Thần còn được diễn tả bằng những biểu tượng rất gần với tạo thành: gió, lửa, nước, dầu, chim bồ câu. Những biểu tượng ấy không phải ngẫu nhiên. Thiên Chúa sử dụng ngôn ngữ của tạo thành để cho ta hiểu phần nào mầu nhiệm vô hình. Gió không nhìn thấy nhưng biết qua tác động. Nước rửa, làm dịu, làm sống. Lửa sưởi và thanh luyện. Dầu chữa lành và thánh hiến. Chính đời sống bí tích của Hội Thánh luôn dùng vật chất: nước Rửa tội, dầu Thánh, bánh, rượu, việc đặt tay, thân xác, âm thanh của lời nói. Một Kitô giáo khinh vật chất sẽ không còn là Kitô giáo bí tích. Khi linh mục đổ nước trên đầu người được Rửa tội và kêu cầu Ba Ngôi, nước tự nhiên trở thành dấu chỉ bí tích. Khi bánh và rượu được dâng trên bàn thờ, hoa màu ruộng đất và lao công của con người đi vào phụng vụ. Khi dầu được dùng để xức, trái đất và cây cối tham dự vào ngôn ngữ của ân sủng. Như thế, thụ tạo không phải phông nền cho lịch sử cứu độ. Nó được đưa vào chính hành vi phụng vụ. Điều này phải tạo một thái độ kính trọng sâu xa hơn đối với vật chất. Ta không thờ vật chất, nhưng ta biết Thiên Chúa không ghê vật chất.
Đặc biệt, Thánh Thần và nước có một liên hệ rất mạnh trong đời sống Kitô hữu. Nơi nào thiếu nước, sự sống rút lui. Các cuộc tranh chấp tương lai rất có thể ngày càng gắn với nước sạch. Người ta có thể sống thiếu nhiều tiện nghi, nhưng không sống thiếu nước. Khi một cộng đồng làm ô nhiễm nguồn nước, đó không chỉ là lỗi quản trị. Đó là tấn công vào điều kiện căn bản của sự sống. Giáo xứ ở nơi có sông bị ô nhiễm, giếng bị nhiễm, người dân thiếu nước sạch không thể coi đó là chuyện ngoài mục vụ. Chăm sóc nguồn nước có thể là một việc bác ái cụ thể, một việc công lý, và cũng là một hành vi tôn kính Đấng ban sự sống. Tương tự, không khí cũng vậy. Không ai ký hợp đồng để được thở khi sinh ra. Khí trời là quà chung. Khi một nhóm người vì lợi ích riêng làm không khí của số đông trở nên độc, họ đang chiếm đoạt một quà tặng vốn không thuộc riêng họ. Ý niệm công ích trong học thuyết xã hội của Hội Thánh phải được áp dụng vào những điều căn bản như nước, không khí, đất sống.
Một linh đạo Thánh Thần đúng nghĩa cũng cần phục hồi sự biết ơn. Người không biết ơn sẽ dễ lãng phí vì tưởng mọi sự là đương nhiên. Ta mở vòi và nước chảy nên tưởng nước tự có. Ta mở tủ lạnh và thức ăn đầy nên quên đất, mưa, nắng, người trồng, người vận chuyển, người nấu. Ta bật điều hòa và căn phòng mát nên quên năng lượng đến từ đâu. Ta bấm nút đặt hàng và món đồ xuất hiện nên quên khoáng sản, nhà máy, lao động, bao bì, xe vận chuyển và rác cuối cùng. Chiêm ngắm bằng Thánh Thần là học thấy những tương quan ẩn sau điều quen thuộc. Trước bữa ăn, người Công giáo làm dấu và tạ ơn. Cử chỉ ấy nếu sống thật có thể trở thành cả một trường sinh thái. Tạ ơn nghĩa là thừa nhận thức ăn không tự có. Tạ ơn cũng khiến ta ngại vứt bỏ. Một miếng cơm thừa không chỉ là vài đồng tiền. Nó là đất, nước, công, thời gian, năng lượng. Lòng biết ơn làm con người nhẹ tay hơn với tạo thành.
Thánh Thần không chỉ ban sự sống sinh học. Người ban sự sống mới trong Đức Kitô. Đây là điều cần nói để linh đạo sinh thái không bị thu hẹp thành bảo tồn tự nhiên. Con người có thể sống sinh học mà linh hồn khô cằn. Có thể khỏe mạnh mà không có hy vọng. Có thể ở giữa rừng xanh mà lòng đầy thù hận. Thánh Thần ban sự sống theo nghĩa sâu nhất: đưa con người vào sự sống của Thiên Chúa, làm ta thành con trong Người Con, làm phát sinh đức tin, đức cậy và đức mến, chữa trái tim, tạo khả năng tha thứ, hiệp thông. Chính đời sống mới ấy phải sinh hoa trái trong cách ta đối xử với tạo thành. Nếu không, sinh thái Kitô giáo sẽ chỉ là đạo đức công dân. Điều đặc thù của Kitô giáo không phải là ta biết tái chế tốt hơn người khác, nhưng là ta nhìn thế giới từ trong tương quan với Thiên Chúa và sống trách nhiệm như hoa trái của Thánh Thần. Một người đầy Thánh Thần sẽ không tự động thành chuyên gia môi trường, nhưng hoa trái của Thánh Thần — yêu thương, vui mừng, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ — có những hệ quả sinh thái rất rõ. Đặc biệt là tiết độ. Một nền văn minh không biết tiết độ sẽ phá trái đất dù kỹ thuật có tiến bộ đến đâu.
Tiết độ thường bị hiểu như nhân đức buồn: bớt ăn, bớt uống, bớt vui. Thật ra, tiết độ là tự do khỏi sự tham vô tận. Người không biết đủ là nô lệ. Càng có càng thiếu. Càng mua càng muốn. Càng trải nghiệm càng sợ bỏ lỡ. Nền kinh tế tiêu dùng rất giỏi biến sự thiếu thốn tưởng tượng thành động lực. Mỗi ngày ta được nhắn rằng ta chưa đủ đẹp, chưa đủ mới, chưa đủ tiện nghi, chưa đủ trải nghiệm. Thánh Thần đem lại một tự do khác: đủ. Đủ không phải nghèo nàn. Đủ là biết đâu là nhu cầu và đâu là nghiện. Đủ là sử dụng sự vật mà không để sự vật sử dụng mình. Đủ là có khả năng giữ một món đồ lâu hơn. Đủ là vui với bữa cơm đơn giản. Đủ là có thể đi bộ khi không cần xe. Đủ là tắt một thiết bị khi không dùng. Những việc nhỏ ấy không cứu thế giới riêng lẻ, nhưng chúng huấn luyện một con người không bị ham muốn chi phối. Và chính loại con người ấy mới có khả năng xây những cơ cấu lớn công bằng hơn.
Thánh Thần cũng là Thần Khí sự thật. Bởi thế, chăm sóc tạo thành đòi ta trung thực với dữ kiện. Người Công giáo không được phủ nhận khoa học chỉ vì kết quả nghiên cứu làm mình khó chịu hoặc vì nó đụng tới lợi ích. Đồng thời, người Công giáo cũng không biến khoa học thành một thứ giáo quyền mới có câu trả lời cho mọi vấn đề đạo đức. Khoa học cho ta biết điều gì đang xảy ra, xác suất nào, nguyên nhân nào, giải pháp kỹ thuật nào. Nhưng quyết định phải hy sinh gì, phân phối chi phí ra sao, bảo vệ ai trước, đâu là mức rủi ro chấp nhận được — đó còn là những câu hỏi luân lý và chính trị. Thần Khí sự thật mời ta không bóp dữ liệu, không thao túng thông tin, không dùng nỗi sợ để tuyên truyền, không dùng hoài nghi giả để trì hoãn hành động. Sự thật là điều kiện của hoán cải. Một cá nhân không thể hoán cải nếu không gọi đúng tên tội mình. Một nền văn minh cũng vậy. Nếu một mô hình sản xuất đang hủy môi trường, phải có can đảm nói. Nếu một giải pháp được quảng bá là xanh nhưng thực chất chỉ chuyển ô nhiễm sang nơi người nghèo, cũng phải nói. Sinh thái không được biến thành mỹ phẩm cho doanh nghiệp hay cho hình ảnh cộng đoàn.
Một điều nữa thường bị bỏ quên: người bảo vệ tạo thành cũng cần được bảo vệ khỏi tuyệt vọng. Các tin tức về khí hậu, ô nhiễm, mất rừng, tuyệt chủng có thể khiến người trẻ cảm thấy tương lai đóng lại. Có người rơi vào một thứ lo âu sinh thái đến mức không muốn lập gia đình, không dám hy vọng, nhìn con người như một loài ký sinh cần biến mất. Đây không phải là hoa trái của Thánh Thần. Kitô giáo không phủ nhận mức độ nghiêm trọng của khủng hoảng. Nhưng hy vọng Kitô giáo không cho phép tuyệt vọng. Thánh Thần là Đấng canh tân mặt đất. Điều ấy không phải cái cớ để thụ động, nhưng là nguồn sức mạnh để hành động mà không tự nhận mình là đấng cứu thế. Ta làm phần mình, đấu tranh cho điều đúng, sửa thói quen, thay cơ cấu, giáo dục thế hệ sau, nhưng không mang cả thế giới trên vai như thể mọi sự tùy thuộc vào ta. Chính Thánh Thần mới là Đấng canh tân. Câu ấy giải thoát nhà hoạt động khỏi kiêu ngạo và khỏi tuyệt vọng cùng lúc. Nếu nghĩ mọi sự tùy mình, thành công sẽ làm kiêu và thất bại sẽ làm sụp. Nếu biết mình là người cộng tác, ta có thể trung tín ngay cả khi hoa trái chưa thấy.
“Cộng tác, không chiếm chỗ” là một nguyên tắc rất đẹp cho toàn bộ linh đạo sinh thái. Con người có một vai trò không thể thay thế, nhưng không phải vai trò Thiên Chúa. Ta không tạo sự sống từ hư vô. Ta chăm đất để hạt mọc nhưng không ra lệnh được cho sự sống bằng ý chí. Ta chữa bệnh nhưng không sở hữu mầu nhiệm sự sống. Ta có thể hỗ trợ sinh sản nhưng không biến con người thành sản phẩm. Ta có thể chỉnh sửa nhiều khía cạnh của tự nhiên nhưng không vì thế trở thành chủ tuyệt đối của tự nhiên. Kỹ thuật sinh học, trí tuệ nhân tạo, kỹ thuật khí hậu và những khả năng mới đang mở trước nhân loại càng làm nguyên tắc này khẩn thiết. Câu hỏi không chỉ là “có làm được không?” mà phải hỏi “ta là ai khi làm điều đó?”, “ai chịu hậu quả?”, “sự sống có đang bị biến thành vật liệu cho quyền lực không?”, “ta đang phục vụ công trình tạo dựng hay đang tìm chiếm vị trí Đấng Tạo Hóa?”. Khi ranh giới giữa phục vụ và thống trị mờ đi, cần một lương tâm được đào tạo bởi Thánh Thần.
Trong mục vụ, chương về Thánh Thần và sự sống không nên kết thúc bằng những khẩu hiệu. Giáo xứ có thể biến thần học thành thực hành. Có thể dạy trẻ em trồng cây nhưng quan trọng hơn là giúp các em hiểu vì sao người Kitô hữu trồng cây. Có thể giảm nhựa dùng một lần trong các buổi sinh hoạt. Có thể xem lại việc lãng phí thức ăn trong lễ hội. Có thể tổ chức giờ cầu nguyện cho công trình tạo dựng nhưng không dừng ở giờ cầu nguyện. Có thể chăm một mảnh vườn, làm khuôn viên nhà thờ thành nơi có bóng cây thay vì bê tông hóa tất cả, quản lý nước hợp lý, phân loại rác khi điều kiện cho phép. Có thể mời những người làm nông, môi trường, y tế, quy hoạch đến chia sẻ để cộng đoàn hiểu thực tế. Có thể đưa vấn đề sinh thái vào lớp giáo lý như một phần của điều răn yêu người chứ không như môn ngoại khóa. Người trẻ cần được trao việc thật, không chỉ nghe người lớn giảng. Một nhóm giới trẻ dọn rác một con kênh rồi cùng đọc Thánh vịnh 104 sẽ hiểu “canh tân mặt đất” bằng tay và bằng lòng sâu hơn một bài trình chiếu.
Gia đình cũng là nơi trường học của Thánh Thần ban sự sống được mở mỗi ngày. Cách cha mẹ dạy con không phung phí thức ăn, không bẻ cây cho vui, không hành hạ con vật, biết chăm một chậu cây, biết cảm ơn người làm ra thực phẩm, biết sửa đồ thay vì luôn vứt, biết chia sẻ cho người thiếu — tất cả là huấn luyện lương tâm. Đừng làm sinh thái thành nỗi sợ cho trẻ. Hãy làm thành lòng biết ơn và trách nhiệm. Một đứa trẻ được đưa ra ngoài trời, biết tên vài loại cây, biết mùa nào hoa nở, biết tiếng một vài con chim, có thể lớn lên với một cảm thức tạo thành khác đứa trẻ chỉ biết thiên nhiên qua màn hình. Không phải gia đình nào cũng có điều kiện đi xa. Một con hẻm sau mưa, một hàng cây trước nhà, một chậu rau ban công cũng đủ làm trường học nếu người lớn biết dừng và chỉ cho trẻ thấy. Linh đạo không nhất thiết cần cảnh quan hùng vĩ. Nó cần đôi mắt thức.
Đối với người làm kinh tế, thần học Thánh Thần ban sự sống đặt câu hỏi khó hơn. Một doanh nhân Công giáo không thể chỉ làm từ thiện cuối năm rồi trong doanh nghiệp vận hành theo cách tàn phá môi trường và bóc lột người lao động. Bác ái không phải tiền chuộc cho mô hình sai. Trách nhiệm phải đi vào nguồn nguyên liệu, quy trình sản xuất, an toàn, chất thải, lương, quảng cáo, độ bền sản phẩm. Đương nhiên không doanh nghiệp nào hoàn hảo và chuyển đổi luôn có chi phí. Đức tin không cho những lời giải ngây thơ. Nhưng cần có hướng đi rõ: sự sống phải được đặt cao hơn lợi nhuận khi hai điều thật sự xung đột. Nếu lợi nhuận chỉ tồn tại nhờ người khác hít khí độc thay ta hoặc nhờ thế hệ sau trả hóa đơn thay ta, đó là một lợi nhuận có vấn đề luân lý.
Đối với chính quyền và người tham gia đời sống công, “Đấng ban sự sống” không được biến thành khẩu hiệu tôn giáo ép buộc người khác. Nhưng người tín hữu có thể đưa các nguyên tắc phổ quát vào chính sách: công ích, trách nhiệm liên thế hệ, bảo vệ người yếu, quyền tiếp cận nước sạch, không khí lành, môi trường sống an toàn, minh bạch thông tin, trách nhiệm của người gây ô nhiễm. Chính trị sinh thái rất dễ bị kéo vào ý thức hệ. Một bên có thể phủ nhận vấn đề vì sợ ảnh hưởng kinh tế. Bên khác có thể dùng vấn đề để tập trung quyền lực hoặc khinh thường người dân bình thường phải lo cơm áo. Người Kitô hữu cần tránh cả hai. Chuyển đổi sinh thái chỉ bền nếu công bằng. Không thể yêu cầu người nghèo gánh phần lớn chi phí cho một quá trình mà người giàu hưởng lợi nhiều hơn. Không thể đóng một ngành đột ngột rồi bỏ mặc hàng ngàn gia đình. Công lý môi trường và công lý xã hội phải đi cùng.
Trong đời tu và đời linh mục, điều này cũng có tiếng gọi riêng. Nhà dòng, chủng viện, giáo xứ, trung tâm mục vụ có tài sản, đất, công trình, xe cộ, điện nước, bếp ăn. Linh đạo tạo thành không thể chỉ được giảng cho giáo dân. Cộng đoàn tu trì có thể tự hỏi lối sống của mình có tiết độ không. Những bữa ăn có lãng phí không. Công trình xây dựng có phá hết cây xanh chỉ vì tiện không. Mua sắm có chạy theo hình ảnh không. Xe cộ có được dùng hợp lý không. Không phải để biến cộng đoàn thành tổ chức môi trường, nhưng để lời khấn khó nghèo và đời sống chung mang một chiều kích sinh thái thật. Khó nghèo Tin Mừng mà tiêu thụ không giới hạn là mâu thuẫn. Một đời sống giản dị tự nó đã là chứng tá trong nền văn hóa luôn bảo con người phải có thêm.
Về phía người tín hữu, điều căn bản nhất có thể vẫn là cầu xin Chúa Thánh Thần thay đổi con mắt. Trước khi thay đổi công nghệ, phải đổi cách nhìn. Trước khi phân loại rác, phải phân loại lại những ham muốn trong lòng. Trước khi cứu rừng, phải hỏi vì sao ta cần mua quá nhiều thứ. Khủng hoảng sinh thái cũng là khủng hoảng ham muốn. Nếu lòng người vẫn được cấu tạo bởi tham, cạnh tranh, phô trương và không biết đủ, mọi tiến bộ kỹ thuật chỉ đẩy vấn đề sang chỗ khác. Chúa Thánh Thần là Đấng có thể tác động ở gốc này. Người làm cho ta thành con thay vì thành kẻ chiếm đoạt. Người giúp ta nhận tạo thành như gia tài của Cha, và người khác như anh chị em cùng thừa hưởng. Khi một người thật sự sống như con trong nhà Cha, họ không đốt nhà để sưởi mình một tối.
Có một mối liên hệ sâu xa giữa Ngày Lễ Ngũ Tuần và sứ mạng canh tân thế giới. Thánh Thần đến không để các môn đệ ở mãi trong phòng đóng kín. Người đẩy họ ra. Các ngôn ngữ khác nhau được nghe Tin Mừng. Sợ hãi biến thành chứng tá. Một cộng đoàn khép kín thành Hội Thánh sai đi. Cũng vậy, linh đạo tạo thành không thể chỉ là cảm xúc dễ chịu khi ngắm thiên nhiên. Thánh Thần đẩy ta ra khỏi sự vô can. Sau khi cầu nguyện trước vẻ đẹp của tạo thành, ta phải có khả năng bước vào những vết thương của tạo thành. Yêu dòng sông đẹp thì cũng phải đau khi dòng sông đen. Tạ ơn cánh đồng thì phải quan tâm đến người nông dân. Vui với rừng thì không thể bình thản khi rừng bị phá bất công. Chiêm ngắm dẫn tới trách nhiệm. Nếu chiêm ngắm chỉ cho ta cảm giác bình an riêng tư, nó chưa đi hết đường.
Tuy nhiên, trách nhiệm không có nghĩa là mất niềm vui. Một trong những hoa trái của Thánh Thần là vui mừng. Sinh thái Kitô giáo không thể chỉ có giọng thảm họa. Người ta khó bảo vệ điều mình không yêu. Và khó yêu điều mình chỉ được giới thiệu như danh sách khủng hoảng. Vì thế Hội Thánh cần giúp người tín hữu vui lại với tạo thành. Vui với mùa mưa, mùa nắng; biết tên cây; ăn trong biết ơn; đi bộ; chăm đất; nhìn trời; nghe chim; để trẻ em chơi ngoài trời; hát Thánh vịnh. Niềm vui ấy không ngây thơ trước khủng hoảng. Nó là lý do để bảo vệ. Thánh Phanxicô Assisi không yêu tạo thành vì đã đọc báo cáo khí hậu. Ngài yêu vì thấy anh mặt trời, chị nước, mẹ đất trong gia đình của một Đấng Tạo Hóa. Một người vui trong tương quan với tạo thành sẽ dễ sống đơn giản hơn người tìm lấp khoảng trống bằng tiêu thụ.
Sau hết, tuyên xưng Thánh Thần là Đấng ban sự sống cũng là tuyên xưng rằng sự chết không có tiếng nói cuối cùng. Ta đang sống trong một thời đại thấy nhiều cái chết: rừng chết, sông chết, loài biến mất, làng quê suy kiệt, con người mệt mỏi, cộng đồng đứt gãy. Có lúc người ta có cảm giác mọi cố gắng quá nhỏ. Nhưng đức tin vào Thánh Thần không cho phép ta kết luận rằng lịch sử chỉ đi về hủy diệt. Phục Sinh đã xảy ra. Thánh Thần đã được ban. Sự sống mới đã bắt đầu. Không phải mọi vết thương sẽ được chữa hoàn toàn bằng nỗ lực con người trong lịch sử. Nhưng không hành vi bảo vệ sự sống nào trong tình yêu là vô nghĩa. Một cái cây được giữ, một dòng nước được làm sạch, một cộng đồng người nghèo được bảo vệ khỏi chất độc, một đứa trẻ được dạy biết đủ, một doanh nghiệp đổi quy trình, một giáo xứ giảm lãng phí, một gia đình học biết tạ ơn — tất cả có thể trở thành những dấu nhỏ của công trình canh tân.
Mỗi lần Hội Thánh cầu: “Xin sai Thần Khí Chúa, và họ được tạo thành, và Chúa sẽ đổi mới mặt đất”, ta đừng chỉ hiểu “mặt đất” là tâm hồn cá nhân theo nghĩa bóng. Dĩ nhiên Thánh Thần phải đổi mới lòng người. Nhưng Người cũng muốn qua những con người được đổi mới mà chữa những tương quan thật, những cộng đồng thật, những cơ cấu thật, và cả mảnh đất thật nơi ta sống. Người đổi mới trái tim để trái tim thôi phá đất. Người chữa lòng tham để bàn tay biết dừng. Người làm ta thành anh chị em để ta thôi xem người nghèo và tạo thành như vật hy sinh cho tiện nghi. Người ban khôn ngoan để khoa học phục vụ sự sống. Người ban can đảm để nói không với lợi ích gây chết. Người ban tiết độ để ta biết đủ. Người ban hy vọng để ta tiếp tục làm điều tốt dù không thấy ngay kết quả.
Và vì thế, chống lại sự sống cách có hệ thống là một vấn đề nghiêm trọng đối với đức tin. Không phải ta có thể quy mọi thảm họa sinh thái trực tiếp thành một tội cá nhân đơn giản. Thế giới phức tạp, các chuỗi nguyên nhân đan vào nhau, nhiều người tham gia những hệ thống mà họ khó thoát. Nhưng sự phức tạp không được dùng để xóa trách nhiệm. Có những hành vi rõ ràng làm chết người, chết đất, chết nước vì lợi nhuận hoặc vì bất cẩn. Có những quyết định chấp nhận để cộng đồng yếu thế mang bệnh chỉ vì họ ít tiếng nói. Có những cách sản xuất biết chắc là không bền nhưng vẫn kéo dài vì lợi ích ngắn hạn. Khi sự sống bị hy sinh hàng loạt như thế, người Kitô hữu không thể nói “đây chỉ là chuyện môi trường”. Đụng tới sự sống là đụng tới quà tặng của Đấng ban sự sống.
Một nền linh đạo biết Thánh Thần sẽ không biến con người thành kẻ sợ hãi thế giới, nhưng thành người chăm sóc. Ta không được giao nhiệm vụ cứu thế giới thay Thiên Chúa. Ta được giao nhiệm vụ trung tín trong thế giới của Thiên Chúa. Khác biệt rất lớn. Kẻ tưởng mình cứu thế giới sẽ mau kiệt sức hoặc trở nên độc đoán. Người biết mình cộng tác sẽ làm việc lâu dài, khiêm tốn, kiên trì. Họ biết một cây trồng hôm nay có thể mình không ngồi dưới bóng. Họ vẫn trồng. Họ biết một chính sách tốt có thể mất nhiều năm mới thấy kết quả. Họ vẫn thúc đẩy. Họ biết một đứa trẻ được dạy yêu tạo thành hôm nay có thể hai mươi năm sau mới trở thành người lãnh đạo biết trách nhiệm. Họ vẫn dạy. Đó là logic của Thánh Thần: gieo, làm sống, kiên nhẫn, sinh hoa trái.
Có lẽ một trong những lời cầu nguyện cần thiết nhất cho thời đại này là: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin dạy chúng con kính sợ sự sống.” Không phải sợ hãi sự sống, nhưng kính sợ theo nghĩa thánh: nhận ra điều vượt khỏi quyền sở hữu. Xin dạy chúng con nhìn một mầm cây mà không chỉ nghĩ đến giá trị kinh tế. Nhìn một con sông mà nhớ có những người ở hạ lưu. Nhìn một món đồ mà nhớ tài nguyên đã được lấy từ đâu. Nhìn một bữa ăn mà nhớ đất và người. Nhìn một đứa trẻ mà nhớ thế hệ sau có quyền được nhận một thế giới có thể sống. Xin chữa nơi chúng con sự tham lam đội lốt phát triển, sự lãng phí đội lốt tiện nghi, sự thờ ơ đội lốt bất lực. Xin cho khoa học có khôn ngoan, kinh tế có lương tâm, chính trị có tầm nhìn, giáo dục có chiều sâu, và Hội Thánh có chứng tá.
Và xin cho mỗi người tín hữu khi đọc Kinh Tin Kính đừng đọc lướt câu “Đấng ban sự sống” như một cụm từ quen tai. Đó là một lời tuyên xưng có hậu quả. Tôi tin sự sống là quà. Tôi tin tôi không phải chủ tuyệt đối. Tôi tin hơi thở này được nhận. Tôi tin trái đất không phải kho vô tận. Tôi tin người nghèo không phải giá phải trả cho tiện nghi của tôi. Tôi tin các thế hệ tương lai không phải người xa lạ. Tôi tin Thánh Thần vẫn đang hoạt động trong tạo thành. Tôi tin Người có thể đổi mới lòng người. Tôi tin sự hoán cải là có thể. Tôi tin những hành vi nhỏ của lòng trung tín có ý nghĩa khi được đặt trong công trình lớn của Thiên Chúa. Và tôi tin rằng cuối cùng, sự sống chứ không phải sự chết sẽ có lời cuối, bởi Thánh Thần của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết đang hiện diện trong Hội Thánh và trong lịch sử.
Vì thế, linh đạo sinh thái Kitô giáo không bắt đầu bằng hoảng loạn, cũng không kết thúc bằng kỹ thuật. Nó bắt đầu bằng lời tuyên xưng và đi tới sự hoán cải. “Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống.” Từ câu ấy, người tín hữu học biết thở trong biết ơn, sử dụng trong tiết độ, sản xuất trong trách nhiệm, tiêu dùng trong lương tâm, đấu tranh trong hy vọng, chiêm ngắm trong kính sợ, và phục vụ mà không chiếm chỗ Thiên Chúa. Ta không tạo nên hơi thở đầu tiên của thế giới. Ta cũng không nắm hơi thở cuối cùng của nó. Nhưng giữa khởi nguyên và hoàn tất, ta được ban một thời gian ngắn để làm người quản lý. Xin cho khi trả lại hơi thở mình đã nhận, ta có thể trả lại một mảnh đất được chăm hơn thay vì bị kiệt hơn, một cộng đồng có sự sống hơn thay vì bị thương hơn, và một thế hệ sau vẫn còn có thể nhìn trời, uống nước, trồng cây, nghe chim hót, bẻ bánh, nâng chén, làm dấu Thánh Giá và thưa với tất cả lòng tin rằng: Thánh Thần là Chúa và là Đấng ban sự sống.

CHƯƠNG 12. NGUY CƠ THẦN THÁNH HÓA THIÊN NHIÊN VÀ NGUY CƠ KHAI THÁC
Có hai vực sâu nằm ở hai phía của con đường con người đi qua tạo thành. Vực thứ nhất xuất hiện khi con người nhìn vẻ đẹp, sức mạnh, sự huyền nhiệm và tính bao la của thiên nhiên rồi quên rằng thiên nhiên vẫn chỉ là thụ tạo; từ chỗ kính trọng thiên nhiên, người ta tiến đến thờ thiên nhiên; từ chỗ nhận ra sự sống có một chiều sâu vượt khỏi khả năng kiểm soát của mình, người ta gán cho chính sự sống, trái đất, mặt trời, sông núi hay vũ trụ một địa vị thần linh. Vực thứ hai xuất hiện khi con người đi theo hướng hoàn toàn ngược lại: thiên nhiên chẳng còn gì đáng kính, chẳng có tiếng nói nào phải lắng nghe, chẳng có giá trị nào ngoài giá thị trường, chẳng có ý nghĩa nào ngoài công dụng; rừng là gỗ, sông là nước sản xuất, núi là quặng, biển là ngư trường, đất là bất động sản, con vật là khối lượng thịt, và cuối cùng chính con người cũng bị tính như nguồn nhân lực, sức lao động hay một đơn vị tiêu thụ. Một bên nói thiên nhiên là thần nên con người phải thu nhỏ mình cho đến gần như biến mất. Một bên nói con người là ông chủ tuyệt đối nên mọi sự khác có quyền tồn tại bao lâu còn phục vụ lợi ích của con người. Đức tin Kitô giáo không chọn một trong hai cực ấy rồi pha loãng nó đôi chút. Đức tin Kitô giáo đặt lại toàn bộ vấn đề từ nền tảng: chỉ có Thiên Chúa là Thiên Chúa; con người là thụ tạo được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa; muôn vật cũng là thụ tạo được Thiên Chúa muốn cho hiện hữu và nhìn nhận là tốt đẹp. Chính sự phân biệt này là nền tảng để vừa bảo vệ phẩm giá độc đáo của con người, vừa bảo vệ phẩm giá thụ tạo khỏi sự tham lam của con người. Không có sự phân biệt ấy, hoặc con người bị hòa tan vào thiên nhiên, hoặc thiên nhiên bị hòa tan vào ý muốn của con người.
Điều đầu tiên phải nói thật rõ là Kitô giáo không bao giờ đồng nhất Thiên Chúa với thế giới. Thiên Chúa không phải tổng số mọi vật đang hiện hữu. Người không phải linh hồn của trái đất theo nghĩa trái đất là thân xác của Người. Người không phải năng lượng vô danh đang luân chuyển trong cây cỏ, thú vật và con người. Người không phải một nguyên lý vũ trụ mà con người chỉ cần hòa mình vào để đạt bình an. Kinh Thánh bắt đầu bằng một sự phân biệt rất quyết liệt: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất.” Thiên Chúa có trước trời đất không phải theo nghĩa trước vài phút hay vài triệu năm, nhưng theo nghĩa trời đất hoàn toàn nhận sự hiện hữu từ Người. Trời không phải Thiên Chúa. Đất không phải Thiên Chúa. Mặt trời không phải Thiên Chúa. Mặt trăng không phải Thiên Chúa. Biển không phải Thiên Chúa. Con người cũng không phải Thiên Chúa. Chính vì thế, trình thuật Sáng Thế là một cuộc giải phóng tôn giáo rất lớn. Những gì nhiều nền văn hóa cổ từng run sợ trước chúng như các thần linh thì Kinh Thánh bình thản gọi là các thụ tạo. Mặt trời sáng vì Thiên Chúa muốn có ánh sáng, chứ không phải vì mặt trời là thần. Biển dữ nhưng biển vẫn có giới hạn. Rắn có thể trở thành hình ảnh của cám dỗ nhưng không phải một quyền lực ngang hàng với Thiên Chúa. Các vì sao không quyết định số phận con người. Đất sinh hoa trái nhưng đất không phải nữ thần cần được thờ phụng. Đây không phải là hạ nhục thiên nhiên. Trái lại, đó là trả thiên nhiên về đúng phẩm giá của nó. Một thụ tạo không cần phải là thần mới đáng được kính trọng. Nó đáng được kính trọng bởi vì Thiên Chúa muốn nó hiện hữu, trao cho nó một vị trí trong trật tự tạo thành, và gọi nó là tốt đẹp.
Sai lầm thần thánh hóa thiên nhiên thường khởi đầu từ một trực giác không hoàn toàn sai: con người nhận ra rằng mình không phải trung tâm tuyệt đối của vũ trụ, rằng sự sống lớn hơn các dự án của mình, rằng trái đất đã có trước mình và có thể còn tiếp tục sau mình, rằng một cánh rừng có vẻ đẹp không phụ thuộc vào việc nó có sinh lợi cho con người hay không, rằng một con chim có giá trị ngay cả khi không ai chụp ảnh nó, rằng đại dương không trở nên ý nghĩa chỉ vì con người dùng nó làm đường hàng hải. Trực giác này rất gần với sự khiêm nhường mà đức tin đòi hỏi. Vấn đề bắt đầu khi từ sự khiêm nhường trước thụ tạo, con người bước sang sự thờ lạy thụ tạo. Khi đó, ranh giới giữa Tạo Hóa và tạo thành bị xóa đi. Người ta có thể nói về “Mẹ Trái Đất” bằng một ngôn ngữ thi ca, nhưng nếu “Mẹ Trái Đất” dần thay thế Thiên Chúa, nếu trái đất được hiểu như một chủ thể thần linh tự mình ban sự sống và có quyền tuyệt đối trên con người, nếu việc bảo vệ thiên nhiên được xây trên một thứ tôn giáo trong đó con người bị xem như bệnh ung thư của hành tinh, thì người Kitô hữu phải phân định. Khi ấy, một phản ứng đúng trước sự kiêu căng của con người có thể rơi sang một sự hạ thấp con người cũng sai không kém. Con người gây tổn thương rất lớn cho trái đất, nhưng con người không phải một tai nạn vô nghĩa trong lịch sử vũ trụ. Con người phạm tội, nhưng phẩm giá hình ảnh Thiên Chúa không vì thế biến mất. Con người có thể lạm dụng quyền lực, nhưng ơn gọi của con người không phải biến mất để rừng được sống. Ơn gọi của con người là học sống đúng với vị trí của mình: không như thần, cũng không như sâu bệnh; không như kẻ chiếm hữu, cũng không như sinh vật không có trách nhiệm; nhưng như hình ảnh của Thiên Chúa được đặt giữa tạo thành để canh tác, gìn giữ, gọi tên, nhận biết, tạ ơn và phụng sự.
Đây là một điểm rất quan trọng vì đôi lúc trước cuộc khủng hoảng sinh thái, người ta dễ nói về con người bằng một thứ ngôn ngữ chỉ còn kết án. Quả thật loài người đã chặt rừng, làm ô nhiễm sông biển, khiến nhiều giống loài biến mất, làm đất kiệt quệ, đốt quá nhiều nhiên liệu, thải quá nhiều rác và xây dựng những mô hình tiêu thụ mà hành tinh không thể chịu mãi. Không cần giảm nhẹ những sự thật ấy. Nhưng Kitô giáo không chữa tội kiêu ngạo của con người bằng cách phủ nhận phẩm giá con người. Tội lỗi không được chữa bằng một lời dối trá đối nghịch. Nếu một nền kinh tế nói “con người có quyền làm mọi sự với thiên nhiên”, thì câu trả lời Kitô giáo không phải “con người chẳng có giá trị gì hơn một cục đá”. Kinh Thánh không nói thế. Đức Kitô không làm người chỉ vì con người là một loài động vật tình cờ trong vô số loài. Con Thiên Chúa mang lấy bản tính nhân loại. Người chết và sống lại cho con người. Người gọi con người vào giao ước. Con người có một phẩm giá riêng, một trách nhiệm riêng và một định mệnh riêng. Chính vì phẩm giá ấy cao nên trách nhiệm cũng nặng. Nếu con người chỉ là một con vật như mọi con vật khác, ta khó có thể đòi con người chịu trách nhiệm luân lý về khí hậu, về tuyệt chủng, về ô nhiễm hay về cách sử dụng tài nguyên. Ta không lên án con hổ vì nó giết một con nai, không xét xử đàn châu chấu vì nó ăn hết ruộng, không gọi núi lửa là vô đạo đức vì nó thiêu hủy một cánh rừng. Chỉ với con người ta mới dùng những từ như trách nhiệm, tiết độ, công bằng, liên đới, bổn phận đối với thế hệ tương lai. Chính việc ta đòi hỏi trách nhiệm môi trường từ con người đã mặc nhiên nhìn nhận rằng con người không hoàn toàn giống mọi loài khác.
Nhưng vực sâu bên kia có lẽ quen thuộc hơn với nền văn minh kỹ thuật hiện đại: đó là ảo tưởng rằng vì con người đặc biệt nên con người là chủ nhân tuyệt đối. Ở đây, những lời Kinh Thánh về “thống trị” trái đất nhiều lần bị đọc như giấy phép khai thác. Người ta lấy một động từ ra khỏi toàn bộ thần học Sáng Thế rồi đặt vào tay một nhân loại đang mang vết thương của tội lỗi. Khi con người chưa phạm tội, quyền thống trị có thể được hiểu dưới ánh sáng của Đấng mà con người là hình ảnh. Nhưng Thiên Chúa thống trị thế nào? Người thống trị bằng cách cho sự sống, duy trì sự sống, đặt trật tự, ban giới hạn, làm cho cây sinh trái, làm cho nước có cá, trời có chim, đất có thú, và cuối cùng Người nhìn mọi sự Người đã làm rồi tuyên bố nó rất tốt đẹp. Nếu con người là hình ảnh Thiên Chúa, thì việc “thống trị” không thể có nghĩa làm ngược lại Thiên Chúa: biến nơi đầy sự sống thành nơi chết, biến đất tốt thành đất độc, biến biển có cá thành biển nhựa, biến rừng thành sa mạc rồi gọi đó là thực thi quyền làm chủ. Hình ảnh Thiên Chúa chỉ có thể cai quản theo cách phản ánh Thiên Chúa. Quyền lực được tách khỏi khuôn mẫu của Đấng Tạo Hóa sẽ biến thành bạo lực.
Điều này càng rõ hơn khi Sách Sáng Thế nói con người được đặt vào vườn để “canh tác và gìn giữ”. Hai động từ ấy phải được giữ cạnh nhau. Chỉ canh tác mà không gìn giữ thì đất sẽ kiệt. Chỉ lấy mà không trả thì kho sẽ trống. Chỉ sản xuất mà không để phục hồi thì hệ sinh thái sẽ gãy. Nhưng cũng không thể chỉ nói gìn giữ theo nghĩa đóng băng mọi sự và cấm con người đụng tới thiên nhiên. Con người cần ăn, cần nhà ở, cần quần áo, cần thuốc, cần năng lượng, cần đường sá, cần vật liệu. Cây có thể được chặt. Đất có thể được cày. Quặng có thể được khai thác. Động vật có thể phục vụ những nhu cầu chính đáng của con người trong những giới hạn luân lý thích hợp. Kitô giáo không biến việc sử dụng thụ tạo thành tội tự thân. Bánh trên bàn thờ từng là hạt lúa bị cắt. Rượu từng là nho bị hái và nghiền. Gỗ từng là cây. Nhà thờ cũng dùng đá, cát, kim loại, điện và nước. Vấn đề không phải con người có được sử dụng thiên nhiên hay không. Vấn đề là sử dụng như thế nào, sử dụng bao nhiêu, sử dụng vì điều gì, ai được hưởng lợi, ai phải trả giá, điều gì bị phá hủy không thể phục hồi, và liệu ta còn nhận ra mình là người quản lý trước mặt Thiên Chúa hay đã tự phong mình làm chủ tuyệt đối.
Từ “khai thác” vì thế phải được phân định. Không phải mọi việc lấy tài nguyên từ thiên nhiên đều là xấu. Con người đã khai thác đá để dựng nhà, lấy đất sét làm gạch, lấy kim loại làm dụng cụ, dùng nước để tưới ruộng từ thuở rất xa xưa. Nền văn minh không thể hiện hữu nếu không sử dụng vật chất của trái đất. Nhưng có một bước chuyển nguy hiểm khi “sử dụng” trở thành “khai thác” theo nghĩa vắt cho đến cạn kiệt, khi tiêu chuẩn duy nhất là lợi nhuận trước mắt, khi chi phí sinh thái được đẩy sang người nghèo hoặc thế hệ chưa sinh, khi ta lấy đi một thứ trong vài năm mà thiên nhiên cần hàng thế kỷ để tái tạo, khi một cánh rừng chỉ còn được định giá bằng số tiền bán gỗ, khi một dòng sông có thể chết miễn nhà máy còn chạy, khi một cộng đồng địa phương bị buộc rời nơi họ sống để một dự án sinh lời, khi người ta biết một hoạt động gây hậu quả nghiêm trọng nhưng vẫn tiếp tục vì người chịu hậu quả không phải những người hưởng lợi. Lúc ấy vấn đề không còn thuần túy kỹ thuật. Nó trở thành vấn đề luân lý.
Cần nhớ rằng trong đức tin Kitô giáo, quyền sở hữu không bao giờ đồng nghĩa với quyền tuyệt đối. Tôi có thể sở hữu một mảnh đất về mặt pháp lý, nhưng tôi không tạo nên đất ấy từ hư vô. Tôi có thể có giấy chứng nhận quyền sử dụng một khu rừng, nhưng tôi không làm ra sự sống của từng cây. Một doanh nghiệp có thể được cấp quyền khai thác khoáng sản, nhưng không vì thế mà những lớp địa chất hàng triệu năm trở thành sản phẩm của doanh nghiệp. Một quốc gia có thể có chủ quyền trên vùng biển, nhưng biển không bắt đầu tồn tại từ ngày biên giới được vẽ trên bản đồ. Trước mọi quyền sở hữu của con người là quyền tối thượng của Thiên Chúa, không phải một quyền cạnh tranh với quyền con người, nhưng là nền tảng đặt mọi quyền con người vào giới hạn. Đất cuối cùng là của Chúa. Con người đến rồi đi. Một gia đình giữ một thửa ruộng vài thế hệ rồi chuyển cho thế hệ khác. Một tập đoàn tồn tại vài chục hay vài trăm năm rồi biến mất. Một chính quyền quản trị trong một giai đoạn. Chỉ có Đấng Tạo Hóa là nguồn hiện hữu của tất cả. Khi ý thức này biến mất, tài sản rất dễ trở thành ngẫu tượng, và người có quyền sở hữu dễ tưởng rằng quyền pháp lý của mình bao gồm cả quyền luân lý làm bất cứ điều gì.
Đây là lý do truyền thống Kitô giáo luôn hiểu của cải trong tương quan với công ích. Một khu rừng không chỉ liên quan đến người đứng tên sở hữu nó. Nó giữ nước cho cả vùng, là nơi sống của nhiều loài, ảnh hưởng khí hậu, bảo vệ đất, nuôi nguồn nước cho những cộng đồng không bao giờ bước vào khu rừng. Một con sông không chỉ thuộc về người có nhà máy ở thượng nguồn. Nó đi qua làng của người khác. Nước thải một nơi trở thành nước uống của nơi khác. Không khí còn rõ hơn: chẳng ai dựng được hàng rào để nói khói của tôi chỉ nằm trên đất tôi. Hệ sinh thái làm cho giáo huấn về công ích trở nên hữu hình. Ta liên kết với nhau ngay cả khi không muốn. Một quyết định tiêu dùng ở thành phố có thể liên quan đến lao động ở một quốc gia xa xôi, đến rừng bị phá ở một châu lục khác, đến khí thải làm ảnh hưởng những đảo nhỏ mà người mua chẳng bao giờ đến. Sinh thái vì thế phá vỡ ảo tưởng rằng đạo đức chỉ là chuyện cá nhân. Có những tội mang hình thức cơ cấu bởi vì hàng triệu hành vi được sắp thành những hệ thống trong đó người hưởng lợi không thấy mặt người chịu thiệt.
Nguy cơ khai thác còn nguy hiểm hơn vì nó thường mặc áo của tiến bộ. Không ai treo bảng “chúng tôi đang phá trái đất”. Người ta nói phát triển, tăng trưởng, hiện đại hóa, năng suất, hiệu quả, tối ưu hóa. Những từ ấy không xấu. Một xã hội nghèo cần phát triển. Người nghèo cần nhà ở, trường học, bệnh viện, đường sá, điện, nước sạch và việc làm. Lãng mạn hóa một đời nghèo vật chất nhân danh bảo vệ thiên nhiên cũng có thể là một sự bất công, nhất là khi lời kêu gọi ấy đến từ những người đã có đầy đủ tiện nghi. Không thể bảo một gia đình chưa có điện rằng họ phải giữ thiên nhiên nguyên vẹn để người giàu ở nơi khác tiếp tục tiêu thụ rất nhiều năng lượng. Không thể yêu cầu những quốc gia đang phát triển gánh toàn bộ trách nhiệm trong khi những nền kinh tế đã công nghiệp hóa từ lâu đã sử dụng một phần rất lớn tài nguyên. Sinh thái Công giáo không thể tách khỏi công bằng. Người nghèo không phải vật cản của bảo tồn, cũng không thể bị biến thành vật hy sinh cho phát triển. Câu hỏi đúng không phải “phát triển hay môi trường?” như thể buộc phải giết một bên để cứu bên kia. Câu hỏi phải là: phát triển kiểu nào, cho ai, bằng giá nào, có bền vững không, và có tôn trọng cả con người lẫn thụ tạo hay không?
Ở đây ta gặp lại hai vực sâu. Có một thứ môi trường luận có thể trở nên vô nhân khi nó bảo vệ cây nhưng quên người, bảo vệ thú nhưng coi thai nhi, người già, người bệnh, người khuyết tật hay người nghèo như gánh nặng. Một linh đạo Công giáo không thể chấp nhận sự chia đôi kỳ lạ ấy. Không thể thương cá voi ở đại dương mà coi một con người yếu thế như món đồ có thể loại bỏ. Không thể nói về sự thánh thiêng của mọi sự sống nhưng chỉ áp dụng nó cho một số hình thức sự sống theo lựa chọn ý thức hệ. Cũng không thể làm ngược lại: bảo vệ phẩm giá con người rồi xem việc hủy diệt vô số loài khác là chuyện không đáng quan tâm. Đạo đức sự sống và đạo đức sinh thái gặp nhau ở một trực giác nền tảng: sự sống là quà tặng trước khi là sở hữu. Người mạnh không được quyền quyết định rằng kẻ yếu không đáng tồn tại chỉ vì sự hiện hữu của kẻ ấy bất tiện. Nguyên tắc ấy soi cả cách ta đối xử với những con người yếu thế lẫn cách ta hành xử trước một tạo thành không thể nói bằng ngôn ngữ pháp đình để tự bảo vệ mình.
Nhưng cũng phải cẩn thận với cách dùng từ “quyền của thiên nhiên”. Ngôn ngữ pháp lý có thể hữu ích trong một số bối cảnh để bảo vệ sông, rừng hoặc hệ sinh thái khỏi sự hủy hoại. Tuy nhiên, thần học Công giáo không cần biến cây cối, sông núi thành những nhân vị giống con người mới có thể bảo vệ chúng. Có một nguy cơ rất tinh tế: vì nền văn hóa hiện đại chỉ biết bảo vệ những gì có “quyền”, người ta phải gán tư cách gần như con người cho thiên nhiên thì mới thấy thiên nhiên đáng được gìn giữ. Đức tin có một con đường sâu hơn. Thụ tạo có giá trị vì Thiên Chúa muốn nó, không chỉ vì ta đã tìm được một cấu trúc pháp lý để đại diện cho nó. Một con chim không cần có nhân quyền mới đáng được tránh tiêu diệt vô cớ. Một khu rừng không cần trở thành pháp nhân thần bí mới buộc con người phải tiết chế lòng tham. Đạo đức không bắt đầu từ việc mọi hữu thể đều ngang bằng nhau; đạo đức bắt đầu từ việc mỗi hữu thể phải được nhìn và đối xử theo đúng vị trí của nó trong trật tự tạo thành.
Chính ở đây cần nói về một chữ dễ gây khó chịu nhưng không thể bỏ: trật tự. Kitô giáo không nhìn tạo thành như một khối đồng nhất trong đó mọi sự có cùng một cấp độ hiện hữu và cùng một phẩm giá. Đá không phải cây. Cây không phải con vật. Con vật không phải con người. Con người không phải thiên thần. Và không thụ tạo nào là Thiên Chúa. Nói như vậy không có nghĩa vật ở cấp thấp hơn là vô giá trị. Trái lại, sự khác biệt cho phép ta kính trọng từng vật đúng như nó là. Ta không yêu một con chó bằng cách giả vờ nó là một em bé. Ta không yêu một đứa trẻ bằng cách đối xử với em như một vật nuôi. Ta không kính một cây cổ thụ bằng cách thờ nó như thần. Ta cũng không kính Thiên Chúa bằng cách đồng hóa Người với năng lượng của khu rừng. Mọi sự được yêu đúng khi được đặt đúng chỗ. Sự hỗn loạn bắt đầu khi những biên giới hữu thể bị xóa.
Văn hóa hiện đại có một nghịch lý. Một mặt, chưa bao giờ con người có sức mạnh kỹ thuật lớn như hôm nay để thao túng thiên nhiên. Mặt khác, càng thao túng được nhiều, con người càng dễ rơi vào một thứ huyền bí hóa thiên nhiên như để bù cho khoảng trống thiêng liêng mà chính nền kỹ thuật tạo ra. Sau một tuần sống giữa bê tông, màn hình, điều hòa và dữ liệu, con người đi vào rừng rồi cảm thấy có cái gì “thiêng”. Cảm giác ấy không sai. Sự thinh lặng của rừng có thể đánh thức ta khỏi ảo tưởng mình là trung tâm. Một bầu trời đầy sao có thể làm ta thấy mình nhỏ bé. Biển có thể mở lòng ta trước mầu nhiệm. Nhưng cảm giác về cái thiêng chưa phải đức tin. Nó có thể trở thành con đường đi đến Thiên Chúa, nhưng cũng có thể dừng lại ở một thứ tâm linh không có khuôn mặt, không có giao ước, không có lời gọi hoán cải. Ta có thể “hòa vào vũ trụ” mà vẫn không tha thứ cho người bên cạnh. Ta có thể cảm thấy năng lượng tích cực giữa rừng nhưng vẫn bóc lột nhân viên. Ta có thể quý đá, cây và tinh thể nhưng khinh người nghèo. Một linh đạo thiên nhiên không đương nhiên là linh đạo Tin Mừng.
Kitô giáo đi một con đường khác. Người tín hữu đứng trước núi và nói: núi đẹp, nhưng núi không phải Chúa. Đứng trước biển và nói: biển lớn, nhưng Chúa lớn hơn biển. Nhìn một cánh rừng và nói: ở đây có sự sống tôi không tạo ra, vì thế tôi phải khiêm nhường; nhưng tôi không quỳ trước cây, tôi quỳ trước Đấng làm cho cây hiện hữu. Nhìn thân thể mình và nói: thân thể là tốt đẹp, là quà tặng, là phần của chính con người tôi, nhưng thân thể không phải thần tượng. Nhìn mặt trời mọc và không thờ mặt trời, nhưng cùng mặt trời ca tụng Đấng làm nên ánh sáng. Đây chính là chiều sâu của các Thánh vịnh. Chúng không bảo con người thờ tạo thành. Chúng gọi tạo thành cùng con người thờ Đấng Tạo Hóa: “Mặt trời với mặt trăng, ca tụng Chúa đi; muôn tinh tú rạng ngời, ca tụng Chúa đi.” Khi Thánh vịnh gọi núi đồi, cây cối, thú vật và các vì vua vào một dàn hợp xướng, không thành viên nào trong dàn hợp xướng trở thành đối tượng thờ phượng. Tất cả quay về một hướng.
Từ đó, người Kitô hữu có thể yêu thiên nhiên mãnh liệt mà không sợ rơi vào ngẫu tượng, miễn là tình yêu ấy mở về Thiên Chúa. Thánh Phanxicô Assisi gọi mặt trời là anh, nước là chị, đất là mẹ không phải vì ngài tin mặt trời, nước và đất là thần. Chính chữ “anh”, “chị” cho thấy chúng không phải thần: anh em có chung một Cha. Tình huynh đệ tạo thành chỉ có ý nghĩa trọn vẹn khi có Đấng Tạo Hóa là Cha. Nếu bỏ Cha đi, “anh mặt trời”, “chị nước” rất dễ thành một lối nhân cách hóa thơ mộng, hoặc tệ hơn, thành một tôn giáo thiên nhiên. Nhưng khi được giữ trong đức tin, ngôn ngữ ấy có sức chữa một căn bệnh rất hiện đại: ta đã quen coi muôn vật như đồ dùng đến mức quên rằng trước khi hữu ích cho ta, chúng đã là những hữu thể được Thiên Chúa gọi vào hiện hữu.
Ngược lại, người Kitô hữu có thể sử dụng thụ tạo mà không mặc cảm, miễn là việc sử dụng mang dáng của người quản lý chứ không phải kẻ cướp. Ta ăn rau, ăn thịt, uống nước, dùng gỗ, xây nhà, đi xe, dùng điện, sử dụng máy tính, điện thoại và vô số kim loại lấy từ lòng đất. Không ai sống mà không để lại dấu chân vật chất. Ngay đời sống tu trì giản dị nhất cũng cần thức ăn, vải vóc, mái nhà, sách vở, phương tiện. Mục tiêu của linh đạo sinh thái không phải một sự trong sạch tưởng tượng trong đó con người không bao giờ chạm tới thiên nhiên. Mục tiêu là học chạm mà không chiếm hữu; sử dụng mà không phá; nhận mà biết tạ ơn; hưởng mà biết chia sẻ; sản xuất mà tính đến hậu quả; phát triển mà biết giới hạn.
Chữ “giới hạn” ở đây rất quan trọng. Một phần khủng hoảng sinh thái đến từ việc nền văn minh hiện đại đã biến mong muốn vô hạn thành một thứ quyền. Nếu có tiền thì tôi phải được mua. Nếu có công nghệ thì tôi phải được làm. Nếu có tài nguyên thì tôi phải được lấy. Nếu thị trường có nhu cầu thì sản xuất phải đáp ứng. Nhưng có khả năng không đồng nghĩa với có quyền luân lý. Đây là một trong những chân lý đơn giản nhất và khó chấp nhận nhất. Tôi có thể lái xe thêm một vòng chỉ vì thích, nhưng không phải mọi cái có thể đều khôn ngoan. Một công ty có thể đào sâu hơn, nhưng không phải mọi tấn quặng có thể lấy đều phải lấy ngay. Một quốc gia có thể tiêu thụ nhiều hơn vì giàu hơn, nhưng khả năng trả tiền không tự động biến mức tiêu thụ ấy thành công bằng. Một nền văn hóa không biết tự giới hạn cuối cùng sẽ gặp giới hạn dưới dạng khủng hoảng: đất hết màu, nước cạn, không khí độc, khí hậu bất ổn, sức khỏe suy yếu, xã hội căng thẳng.
Sabbath trong Kinh Thánh chính là một phản biện sâu sắc đối với nền văn hóa không giới hạn. Ngày thứ bảy, người ta dừng. Đất cũng được nghỉ. Nô lệ được nghỉ. Súc vật được nghỉ. Điều này thật đáng kinh ngạc. Giới hạn không chỉ áp dụng cho người yếu. Ngay quyền làm việc của chủ cũng có giới hạn. Ngay năng lực sản xuất cũng phải dừng. Ngay đất cũng không phải máy chạy liên tục. Một người không biết nghỉ rất dễ biến mọi sự thành công cụ, kể cả chính mình. Một xã hội không biết ngày nghỉ cuối cùng sẽ coi người lao động như máy và đất như máy. Vì thế, linh đạo sinh thái không bắt đầu ở những dự án lớn trước hết. Nó bắt đầu bằng việc học lại giới hạn: đủ là bao nhiêu? Tôi cần hay tôi chỉ muốn? Một vật còn dùng được tại sao phải thay? Một bữa ăn có nhất thiết dư thừa? Một chuyến đi có cần thiết? Một căn nhà có cần lớn như vậy? Một cơ sở tôn giáo có cần chạy theo tiện nghi và hình thức đến mức tiêu thụ không khác bất kỳ tổ chức thương mại nào?
Những câu hỏi này không nhằm tạo mặc cảm. Đời Kitô hữu không phải cuộc thi xem ai dùng ít điện nhất hay ai tạo ít rác nhất để chứng minh mình thánh thiện. Chủ nghĩa đạo đức sinh thái cũng có thể thành kiêu ngạo. Người dùng túi vải có thể khinh người dùng túi nhựa. Người ăn theo một chế độ nào đó có thể xem mình cao hơn người khác. Người có điều kiện mua sản phẩm “xanh” có thể lên án người nghèo phải mua thứ rẻ nhất. Một linh đạo biến sinh thái thành bảng điểm đạo đức sẽ nhanh chóng mất Tin Mừng. Hoán cải sinh thái, như mọi hoán cải Kitô giáo, bắt đầu trước mặt Thiên Chúa, không trước bảng xếp hạng. Ta nhìn lại cách sống không để tự phong mình là người tốt, nhưng để hỏi: điều gì trong tôi đang bị lòng tham cai trị? Điều gì đang bị thói quen tiêu thụ điều khiển? Tôi có còn khả năng biết đủ không? Tôi có biết cảm ơn trước một vật đơn giản không? Tôi có biết sửa thay vì vứt? Tôi có biết chia sẻ thay vì sở hữu riêng? Tôi có biết chịu một chút bất tiện để người khác và trái đất bớt gánh không?
Ở chiều ngược lại, cũng có thể biến lời phê bình chủ nghĩa tiêu thụ thành sự khinh ghét văn minh. Công nghệ không phải kẻ thù tự thân. Điện không xấu. Xe hơi không xấu tự thân. Máy điều hòa, máy tính, thuốc men, kỹ thuật nông nghiệp, công nghệ xử lý nước đều có thể phục vụ sự sống. Nhiều tiến bộ kỹ thuật đã cứu vô số người khỏi bệnh tật, đói nghèo và lao động cực nhọc. Vấn đề là não trạng kỹ trị: niềm tin rằng điều gì kỹ thuật làm được thì kỹ thuật có quyền làm, rằng mọi vấn đề của đời sống có thể giải bằng kiểm soát tốt hơn, rằng thiên nhiên chỉ là vật liệu chờ tái thiết kế. Khi kỹ thuật không còn là dụng cụ nhưng trở thành cách duy nhất nhìn thực tại, con người cũng bị kỹ thuật hóa. Thai nhi trở thành một tập hợp dữ liệu sinh học. Người bệnh thành ca lâm sàng. Người lao động thành chỉ số năng suất. Người dùng mạng thành dữ liệu hành vi. Rừng thành trữ lượng carbon. Ngay khi muốn bảo vệ thiên nhiên, ta cũng có nguy cơ chỉ bảo vệ những gì đo được. Nhưng một khu rừng không chỉ là bao nhiêu tấn carbon nó hấp thụ. Một dòng sông không chỉ là bao nhiêu mét khối nước. Một cánh đồng không chỉ là sản lượng. Một đứa trẻ không chỉ là chỉ số phát triển. Thực tại luôn lớn hơn dữ liệu về nó.
Do đó, linh đạo Công giáo phải kháng cự cùng lúc cả mê tín thiên nhiên lẫn mê tín kỹ thuật. Mê tín thiên nhiên nói thiên nhiên tự nó cứu ta. Mê tín kỹ thuật nói kỹ thuật sẽ cứu ta khỏi mọi giới hạn của thiên nhiên. Cả hai đều đặt hy vọng cứu độ sai chỗ. Con người không được cứu chỉ bằng quay về rừng, cũng không được cứu bằng thành phố thông minh hơn. Ta cần thiên nhiên lành mạnh. Ta cần khoa học và kỹ thuật tốt. Nhưng cứu độ theo nghĩa sâu nhất là công trình của Thiên Chúa trong Đức Kitô. Một thế giới có carbon bằng không nhưng đầy hận thù vẫn chưa phải Nước Thiên Chúa. Một xã hội hoàn toàn dùng năng lượng sạch nhưng loại bỏ người yếu vẫn chưa được cứu. Ngược lại, một cộng đoàn đọc kinh sốt sắng nhưng làm độc dòng sông của dân nghèo cũng không thể tự nhận mình sống Tin Mừng. Ân sủng không thay thế trách nhiệm tạo thành, và sinh thái không thay thế ơn cứu độ.
Điều này giúp ta giữ đúng trật tự của đời thiêng. Thiên nhiên có thể đưa ta đến cầu nguyện nhưng không thay thế bí tích. Một người có thể gặp Chúa trong rừng nhưng vẫn cần Thánh Thể. Ta có thể cảm nghiệm sự bình an trên núi nhưng vẫn cần Lời Chúa phân định điều gì trong sự bình an ấy là của Thánh Thần và điều gì chỉ là phản ứng tâm lý. Ta có thể yêu thinh lặng của biển nhưng vẫn cần Hội Thánh, bởi Đức Kitô không chỉ lập một cộng đồng của những người yêu thiên nhiên. Người lập một thân thể, ban các bí tích, sai các Tông đồ, trao Tin Mừng. Có một xu hướng hôm nay nói: “Tôi không cần nhà thờ; rừng là nhà thờ của tôi.” Câu ấy có thể diễn tả một nỗi thất vọng thật đối với các cơ cấu tôn giáo hoặc một kinh nghiệm sâu trước thiên nhiên. Nhưng theo đức tin Công giáo, rừng không cử hành Thánh Thể. Núi không giải tội. Biển không công bố Tin Mừng bằng tiếng nói của truyền thống tông truyền. Thiên nhiên là sách, nhưng không phải toàn bộ Mặc Khải. Thiên nhiên nói về Đấng Tạo Hóa, nhưng để biết khuôn mặt của Cha trong Đức Giêsu Kitô, ta cần lịch sử cứu độ.
Ngược lại, nhà thờ cũng không được trở thành nơi ta trốn khỏi tạo thành. Thật nghịch lý nếu một cộng đoàn cử hành Thánh Thể bằng bánh và rượu, dùng nước trong Phép Rửa, dầu trong các bí tích, lửa trong Đêm Vọng Phục Sinh, tro ngày Thứ Tư Lễ Tro, cành lá trong phụng vụ, nhưng lại sống như thể vật chất không có ý nghĩa thiêng liêng. Phụng vụ Công giáo đầy tạo thành. Nước, lửa, dầu, bánh, rượu, hương, ánh sáng, thân thể, giọng hát đều đi vào việc thờ phượng. Điều đó không thần thánh hóa vật chất. Nó cho thấy vật chất có khả năng được đưa vào tương quan với ân sủng. Kitô giáo không thoát khỏi vật chất để gặp Thiên Chúa; Thiên Chúa đã đi vào lịch sử vật chất trong mầu nhiệm Nhập Thể. Vì thế, lạm dụng vật chất cũng có một chiều kích thiêng liêng. Khi làm ô nhiễm nước, ta đang làm ô nhiễm một trong những dấu chỉ căn bản mà Thiên Chúa dùng để nói về thanh tẩy và sự sống. Khi phung phí bánh, ta đang khinh một thực tại mà Đức Kitô đã chọn để trở thành dấu chỉ bí tích của chính thân mình Người. Điều đó không có nghĩa nước hay bánh là thánh theo cùng nghĩa Thánh Thể là thánh; nhưng nó giúp ta hiểu rằng vật chất không phải một cõi vô nghĩa nằm ngoài đời thiêng.
Hai vực sâu còn gặp nhau ở một điểm nữa: cả hai đều có thể quên người nghèo. Chủ nghĩa khai thác quên người nghèo vì người nghèo thường sống gần nơi ô nhiễm, làm những công việc nguy hiểm, không có khả năng di chuyển khi môi trường suy thoái, không đủ tiền mua nước sạch, thực phẩm sạch hay nhà ở an toàn. Nhưng một thứ bảo tồn cực đoan cũng có thể quên người nghèo khi các chính sách được xây dựng từ bàn làm việc của người giàu mà không hỏi cộng đồng địa phương sống ra sao. Người nghèo có thể bị đuổi khỏi đất tổ tiên nhân danh lập khu bảo tồn, trong khi du khách giàu vẫn được vào. Người nông dân có thể bị áp các tiêu chuẩn mà họ không có vốn để đáp ứng. Người lao động có thể mất việc qua một cuộc chuyển đổi kinh tế nếu xã hội không chuẩn bị công bằng. Bởi vậy, “chuyển đổi sinh thái” phải là chuyển đổi công bằng. Nếu một nền kinh tế phải rời bỏ những ngành gây ô nhiễm, những người lao động trong các ngành ấy không thể bị bỏ lại như chi phí phụ. Người Kitô hữu bảo vệ tạo thành không bao giờ được tách tạo thành khỏi khuôn mặt con người cụ thể.
Đối với người Công giáo, tiêu chuẩn cuối cùng không phải “thiên nhiên nguyên sơ” nhưng là sự hiệp thông đúng trật tự giữa Thiên Chúa, con người và muôn vật. Trước tội lỗi, vườn Êđen không phải nơi không có con người. Chính con người được đặt trong vườn. Vấn đề không phải sự hiện diện của con người nhưng cách con người hiện diện. Sau tội, các tương quan gãy: con người trốn Thiên Chúa, người nam đổ lỗi cho người nữ, đất sinh gai góc, lao động trở thành nặng nhọc. Khủng hoảng sinh thái vì thế có thể được đọc như một biểu hiện nữa của các tương quan bị tổn thương. Khi con người không còn nhận mình là thụ tạo, nó muốn làm thần. Khi muốn làm thần, nó không chịu giới hạn. Khi không chịu giới hạn, nó khai thác người và đất. Vì vậy, cuộc khủng hoảng môi trường không chỉ cần giải pháp kỹ thuật. Nó cần hoán cải về căn tính: “Tôi là ai?” Tôi không phải chủ nhân tuyệt đối. Tôi cũng không phải một tai nạn đáng xấu hổ của thiên nhiên. Tôi là thụ tạo được yêu, được ban lý trí, tự do và trách nhiệm, được gọi sống như hình ảnh của Đấng Tạo Hóa.
Một người thực sự nhận mình là thụ tạo sẽ có một cung cách khác trước thế giới. Người ấy không nhìn bữa ăn như chuyện hiển nhiên. Hạt gạo đi qua đất, nước, nắng, người gieo, người gặt, người vận chuyển, người nấu trước khi tới bàn. Biết mình là thụ tạo làm nảy sinh lòng biết ơn. Lòng biết ơn là thuốc chữa khai thác vì người biết ơn khó vứt bỏ điều mình vừa cảm tạ. Trước một bữa ăn, lời kinh làm dấu rất ngắn có thể là hành vi sinh thái sâu hơn nhiều khẩu hiệu: nó phá ảo tưởng rằng thức ăn “tự nhiên có trong siêu thị”. Nó trả bữa ăn về mạng lưới ban tặng. Một ly nước cũng thế. Thành phố hiện đại làm nước xuất hiện khi mở vòi đến mức ta quên sông, hồ, mạch ngầm, trạm xử lý, người lao động. Khi mọi thứ chỉ xuất hiện bằng nút bấm, con người dễ quên thực tại phía sau tiện nghi. Linh đạo làm cho những dây nối vô hình ấy trở lại hữu hình trong lương tâm.
Người biết mình là thụ tạo cũng biết đau trước sự hủy hoại mà không rơi vào tuyệt vọng. Đây là một khác biệt quan trọng giữa linh đạo Kitô giáo và một số dạng bi quan sinh thái. Những tin tức về khí hậu, cháy rừng, ô nhiễm, tuyệt chủng có thể tạo ra một thứ lo âu đến mức người trẻ sợ sinh con, sợ tương lai, coi lịch sử chỉ còn là đường đi xuống. Đức tin không cho phép sự vô trách nhiệm kiểu “Chúa sẽ lo hết, ta không cần làm gì”, nhưng cũng không để ta rơi vào tuyệt vọng kiểu “mọi sự đã hết”. Thụ tạo thuộc về Thiên Chúa. Thánh Thần vẫn là Đấng ban sự sống. Đức Kitô Phục Sinh là khởi đầu của tạo thành mới. Điều này không phải giấy phép trì hoãn hành động; nó là nền tảng để hành động mà không thờ kết quả. Ta trồng cây dù biết mình có thể không ngồi dưới bóng nó. Ta phục hồi một con suối dù không cứu được toàn bộ hành tinh. Ta dạy trẻ biết tiết độ dù văn hóa tiêu thụ vẫn mạnh. Ta làm điều đúng không vì bảo đảm mình sẽ kiểm soát được tương lai, nhưng vì trung tín là phần việc của ta.
Trong mục vụ, cần tránh hai kiểu giảng dễ làm người nghe mất phương hướng. Kiểu thứ nhất chỉ nói “hãy bảo vệ môi trường” bằng ngôn ngữ đạo đức chung chung đến mức chẳng còn gì đặc trưng Kitô giáo. Nếu bài giảng sinh thái có thể được đọc y nguyên trong bất kỳ tổ chức phi tôn giáo nào mà không cần đổi một chữ, có lẽ nền thần học còn quá mỏng. Hội Thánh không cần cạnh tranh để trở thành một tổ chức môi trường. Hội Thánh mang vào cuộc khủng hoảng sinh thái một cái nhìn về tạo thành, tội lỗi, ơn cứu độ, giới hạn, công ích, người nghèo, Nhập Thể, Thánh Thể, cánh chung. Kiểu thứ hai là phản ứng ngược: vì sợ “chủ nghĩa xanh”, người ta không nói gì về môi trường, hoặc chế giễu mọi quan tâm sinh thái như chuyện thời thượng. Điều ấy cũng sai. Nếu một ngôi làng mất nguồn nước vì ô nhiễm, đó là vấn đề mục vụ. Nếu nông dân mất đất sống, đó là vấn đề mục vụ. Nếu trẻ em hít không khí độc, đó là vấn đề sự sống. Nếu người nghèo chịu hậu quả nặng nhất của biến đổi môi trường, đó là vấn đề công bằng. Hội Thánh không bước ra khỏi sứ mạng khi nói những điều ấy; Hội Thánh đang áp dụng đức tin vào một phần rất thật của đời người.
Giáo xứ cũng phải học trung điểm này. Không cần biến giáo xứ thành một câu lạc bộ sinh thái, nhưng cũng không thể giảng về tạo thành rồi phung phí điện, nước, thức ăn sau lễ hội, dùng đồ một lần vô tội vạ và xả rác quanh khuôn viên. Không cần tổ chức những chiến dịch hào nhoáng để được gọi là “giáo xứ xanh”; đôi lúc bắt đầu bằng những việc bình thường hơn: không để thức ăn dư bị đổ bỏ; giữ khuôn viên sạch; trồng cây phù hợp; quản lý nước; dạy thiếu nhi không bẻ cây, hành hạ thú vật; giúp người trẻ hiểu sự liên hệ giữa tiêu thụ và người nghèo; cân nhắc trước những công trình xây dựng phô trương; giữ một khoảng đất có cây, có chim, có sự sống thay vì phủ bê tông tất cả vì dễ quét. Những điều nhỏ ấy tạo nên một kiểu giáo dục bằng không gian. Một giáo xứ mà mọi mét vuông đều bị đổ bê tông có thể vô tình dạy rằng tạo thành chỉ có giá trị khi được con người kiểm soát.
Gia đình cũng là trường chống cả hai cực đoan. Cha mẹ có thể dạy con yêu cây mà không mê tín cây, thương thú vật mà không đặt thú vật trên con người, ăn uống biết ơn mà không biến thực phẩm thành thần tượng, dùng đồ vật mà không bị đồ vật cai trị. Đứa trẻ học sinh thái trước hết không phải từ những dữ liệu khí hậu nhưng từ cách người lớn đối xử với đồ vật. Một món đồ hỏng có sửa không? Thức ăn thừa có được trân trọng không? Con vật nuôi có bị bỏ khi hết dễ thương không? Điện bật trong phòng trống có ai quan tâm không? Người giúp việc có được đối xử với cùng phẩm giá như người trong nhà không? Một gia đình mua rất nhiều sản phẩm “xanh” nhưng đối xử tệ với người lao động chưa chắc đã có linh đạo sinh thái. Một gia đình đơn sơ, biết tiết kiệm, biết dùng lại, biết chia, biết cảm ơn, biết chăm một khoảng cây nhỏ và kính trọng người nghèo có thể đang sống rất gần tinh thần chăm sóc ngôi nhà chung mà không bao giờ dùng thuật ngữ lớn.
Các cộng đoàn tu trì càng cần xét mình ở điểm này. Khấn khó nghèo không tự động làm một cộng đoàn có lối sống sinh thái. Có thể cá nhân tu sĩ không sở hữu gì nhưng cộng đoàn lại sở hữu và tiêu thụ rất nhiều. Có thể miệng nói khó nghèo nhưng máy lạnh chạy trong phòng trống, thức ăn bỏ đi, công trình xây mới không cần thiết, đồ dùng thay vì sửa. Khó nghèo Tin Mừng không đồng nhất với chủ nghĩa sinh thái, nhưng giữa chúng có một mối liên hệ sâu: cả hai đòi con người thoát khỏi ảo tưởng rằng nhiều hơn luôn tốt hơn. Một cộng đoàn biết đủ trở thành dấu chỉ phản văn hóa trong một xã hội được quảng cáo dạy phải luôn thiếu một thứ gì đó. Ngược lại, cũng đừng biến đời tu thành một thử nghiệm khắc khổ môi trường áp đặt khiến người già, người bệnh hay anh em có nhu cầu chính đáng phải chịu thiệt. Tiết độ Kitô giáo có lý trí và bác ái.
Đối với doanh nhân và người làm kinh tế Công giáo, chương này không được phép chỉ còn là suy niệm đẹp. Quyết định đầu tư, nguồn nguyên liệu, cách xử lý chất thải, điều kiện lao động, chuỗi cung ứng, thiết kế sản phẩm, độ bền sản phẩm, quảng cáo kích thích tiêu dùng đều là nơi lương tâm phải bước vào. Không thể tách đời đạo khỏi bảng cân đối. Một chủ doanh nghiệp có thể tài trợ xây nhà thờ nhưng vẫn phải trả lời trước Thiên Chúa về dòng nước phía sau nhà máy. Làm từ thiện không mua được quyền phá môi trường. Cúng một khoản lớn không rửa sạch một mô hình kinh doanh gây tổn hại nghiêm trọng mà người chủ biết rõ. Ngược lại, doanh nghiệp cũng không bị xem tự thân là kẻ xấu. Kinh doanh tạo việc làm, sản xuất hàng hóa cần thiết, thúc đẩy sáng kiến. Vấn đề là lợi nhuận được đặt ở đâu trong thứ tự các giá trị. Lợi nhuận cần thiết để doanh nghiệp sống, nhưng nếu trở thành tiêu chuẩn tối hậu thì sớm muộn con người và thiên nhiên sẽ bị cắt giảm thành chi phí.
Người làm khoa học và kỹ thuật Công giáo cũng có một ơn gọi đặc biệt. Họ không được phép dùng thần học để thay thế khoa học. Muốn biết một dòng sông ô nhiễm ra sao phải đo. Muốn biết một loài suy giảm thế nào phải nghiên cứu. Muốn đánh giá tác động môi trường phải có dữ liệu. Kinh Thánh không thay thế phòng thí nghiệm. Nhưng khoa học cũng không tự mình trả lời mọi câu hỏi luân lý. Nó có thể cho biết một công nghệ làm được gì, xác suất rủi ro bao nhiêu, nhưng không tự động cho biết ta có nên làm hay không, ai có quyền quyết định, mức rủi ro nào có thể áp lên người khác, lợi ích nên phân phối ra sao. Khoa học cần đạo đức không phải để bị kiểm soát bởi sợ hãi, nhưng để sức mạnh của tri thức phục vụ sự sống. Thần học tôn trọng quyền tự trị chính đáng của khoa học, đồng thời nhắc khoa học rằng người nghiên cứu và người áp dụng công nghệ vẫn là chủ thể luân lý.
Có một câu hỏi sâu hơn nằm dưới tất cả: tại sao con người khai thác quá mức? Không chỉ vì thiếu luật. Không chỉ vì công nghệ xấu. Lòng tham có trước nhiều máy móc hiện đại. Một con người bên trong trống rỗng sẽ cố lấp bằng sở hữu. Một xã hội đánh giá con người bằng mức tiêu dùng sẽ phải sản xuất những con người luôn bất mãn. Quảng cáo hiện đại không chỉ bán đồ; nhiều khi nó bán một định nghĩa về hạnh phúc: bạn sẽ là ai đó khi có món này; bạn sẽ được yêu khi trông như thế này; bạn sẽ thành công khi sở hữu thứ kia. Khi lòng ham muốn bị sản xuất liên tục, trái đất khó mà đủ. Không có công nghệ xanh nào có thể cứu một nền văn minh nếu định nghĩa hạnh phúc của nó vẫn là tiêu thụ vô hạn. Ta có thể làm xe tiết kiệm nhiên liệu hơn rồi lái nhiều gấp đôi. Có thể làm thiết bị ít tốn năng lượng hơn rồi sở hữu nhiều thiết bị hơn. Hiệu quả kỹ thuật không thay thế tiết độ.
Tiết độ vì thế không phải nhân đức buồn. Nó là tự do. Người không biết đủ không tự do; họ bị điều chưa có kéo đi. Người biết đủ có thể vui với điều đang có. Đó là nơi linh đạo sinh thái gặp các nhân đức cổ điển của Kitô giáo. Khó nghèo trong tinh thần, tiết độ, lòng biết ơn, công bằng, bác ái, khiêm nhường đều có hậu quả sinh thái. Một người khiêm nhường không cần chứng minh mình bằng tiêu dùng. Một người biết ơn ít phung phí. Một người công bằng nghĩ đến chi phí mình đẩy cho người khác. Một người bác ái nhìn thấy người nghèo ở cuối chuỗi cung ứng. Một người tiết độ biết nói “đủ”. Vì thế, sinh thái Công giáo không phải một ngăn mới gắn thêm vào linh đạo. Nó là hệ quả của nhiều nhân đức vốn đã nằm trong Tin Mừng.
Ta cũng phải học nhìn cái chết trong thiên nhiên mà không rơi vào một thứ lãng mạn sai. Thiên nhiên không phải khu vườn hiền hòa không có đau đớn. Con vật ăn con vật. Bệnh tật tồn tại. Bão, động đất, núi lửa có thể giết người. Một số diễn ngôn thần thánh hóa thiên nhiên vẽ thiên nhiên như hoàn toàn hài hòa và cho rằng chỉ con người mới đem bạo lực vào. Thực tại phức tạp hơn. Kitô giáo không gọi mọi thứ xảy ra trong tự nhiên là chuẩn mực đạo đức chỉ vì nó “tự nhiên”. Ta không học luân lý hôn nhân từ hành vi của động vật. Không học công bằng từ luật kẻ mạnh trong rừng. “Tự nhiên” không đồng nghĩa với “tốt về luân lý” trong mọi nghĩa. Tạo thành là tốt, nhưng tạo thành như ta kinh nghiệm cũng mang dấu vết của một lịch sử chưa hoàn tất, đang rên siết chờ ngày được giải thoát. Chính ở đây, niềm hy vọng Kitô giáo vượt khỏi cả chủ nghĩa lãng mạn thiên nhiên lẫn chủ nghĩa kỹ trị. Ta không mơ quay về một thiên nhiên nguyên thủy tưởng tượng; ta hướng tới tạo thành mới trong Đức Kitô.
Cánh chung Kitô giáo cũng bảo vệ ta khỏi cả hai cực đoan. Nếu trái đất hiện tại là tuyệt đối, ta có thể biến bảo tồn thành tôn giáo cứu độ. Nếu trái đất chẳng có tương lai nào trong chương trình của Thiên Chúa, ta có thể nói “rồi mọi sự cũng qua” để biện minh sự phá hoại. Cả hai đều nghèo. Đức tin vào trời mới đất mới nói rằng chương trình cứu độ có chiều kích vũ trụ, nhưng sự hoàn tất ấy là quà của Thiên Chúa, không phải sản phẩm của kỹ thuật con người. Ta không xây Nước Trời bằng chính sách môi trường, nhưng cách ta chăm sóc thế giới này có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Ta không cứu trái đất theo nghĩa cánh chung, nhưng ta có thể trung tín hoặc bất trung với phần tạo thành được trao cho mình. Hy vọng tương lai không làm hiện tại vô giá trị; nó giải thoát hiện tại khỏi việc phải trở thành tuyệt đối.
Chúa Giêsu cho ta khuôn mẫu đẹp nhất của trung điểm này. Người sống gần tạo thành mà không thần thánh hóa nó. Người nói về chim trời, hoa huệ, hạt cải, cây nho, lúa mì, cá, biển, gió, mưa, mặt trời. Thiên nhiên đầy trong dụ ngôn của Người. Người nhìn tạo thành đủ lâu để thấy trong đó ngôn ngữ của Nước Trời. Nhưng Người không bảo các môn đệ thờ hạt giống. Hạt giống trở thành dụ ngôn dẫn tới mầu nhiệm. Người dùng bánh, cá và nước, nhưng không biến chúng thành thần. Người đi trên biển, truyền cho gió yên, cho thấy thiên nhiên không phải quyền lực thần linh đứng ngang với Thiên Chúa. Người cũng không đối xử với thiên nhiên như vật vô nghĩa. Người tạ ơn trước bánh. Người dùng vật chất trong dấu lạ. Người chọn bánh và rượu trong Thánh Thể. Nơi Đức Giêsu, ta thấy một tương quan tự do với tạo thành: gần nhưng không hòa tan, sử dụng nhưng không chiếm hữu, nhận nhưng biết tạ ơn, vượt trên nhưng không khinh.
Thập giá càng làm rõ điều ấy. Cây trở thành thập giá. Kim loại trở thành đinh. Một ngọn đồi, thân xác, máu, nước đều bước vào mầu nhiệm cứu chuộc. Tội con người có thể dùng vật chất để giết, nhưng Thiên Chúa có thể đưa chính vật chất ấy vào công trình cứu độ. Phục Sinh không phải linh hồn Đức Giêsu thoát khỏi thân xác. Chính thân xác được biến đổi. Niềm tin này khiến Kitô giáo không thể khinh vật chất. Một tôn giáo mong thoát khỏi vật chất có thể không quan tâm lắm đến trái đất. Nhưng Kitô giáo tin Ngôi Lời đã làm người, thân xác được gọi sống lại, bánh và rượu có chỗ trong trung tâm phụng vụ. Vật chất có một phẩm giá thần học sâu hơn mọi thứ chủ nghĩa duy vật có thể hiểu, bởi vật chất có khả năng trở thành nơi Thiên Chúa gặp con người.
Vì thế, trung điểm Công giáo không phải một thỏa hiệp nhạt giữa hai cực. Không phải 50% khai thác cộng 50% thờ thiên nhiên. Đó là một cái nhìn thứ ba, được xây trên mầu nhiệm tạo thành. Thiên Chúa là Thiên Chúa. Con người là hình ảnh Thiên Chúa. Thụ tạo là tốt đẹp. Con người có quyền sử dụng nhưng không có quyền tuyệt đối. Thụ tạo đáng kính nhưng không đáng thờ. Con người đặc biệt nhưng không tự hữu. Thiên nhiên có giá trị nội tại trong chương trình của Thiên Chúa nhưng không ngang hàng với nhân vị. Khoa học có quyền tự trị nhưng không phải thần. Kỹ thuật là quà nhưng không phải cứu tinh. Phát triển cần thiết nhưng không đồng nghĩa tăng trưởng vô hạn. Bảo tồn cần thiết nhưng không được chống lại phẩm giá con người. Đây là một kiến trúc tư tưởng chặt chẽ; bỏ một viên đá là cấu trúc nghiêng.
Trong đời sống hằng ngày, giữ trung điểm ấy có khi đơn giản hơn ta tưởng. Khi đi qua một cánh đồng, đừng chỉ nghĩ giá đất, nhưng cũng đừng quỳ lạy đất. Hãy nhìn, cảm tạ và hỏi mình có trách nhiệm gì. Khi ăn một con cá, đừng mặc cảm vì dùng thụ tạo làm thực phẩm, nhưng đừng chấp nhận một hệ thống đánh bắt hủy diệt cả biển chỉ vì cá đang rẻ. Khi dùng điện, không cần coi mỗi lần bật đèn là phạm tội, nhưng cũng đừng sống như nguồn năng lượng không có hậu quả. Khi mua một món đồ, không cần biến mỗi quyết định mua thành cuộc điều tra đạo đức bất tận, nhưng nên giữ một lương tâm biết hỏi món này có thật cần không. Khi nhìn một con vật, đừng xem nó như đồ chơi; cũng đừng đặt nó ở vị trí của một con người. Khi gặp một cây cổ thụ, có thể xúc động sâu xa; nhưng cảm xúc ấy hãy trở thành lời ca tụng Đấng Tạo Hóa.
Một trong những dấu hiệu cho thấy ta đang đứng đúng chỗ là khả năng tạ ơn. Người thần thánh hóa thiên nhiên dừng ở món quà. Người khai thác chỉ lấy món quà. Người Kitô hữu nhận món quà và đi qua món quà tới Đấng ban. Đó là động tác căn bản của phụng vụ: “Chúng con tạ ơn Chúa.” Tạ ơn không phá vẻ đẹp của thụ tạo; nó làm vẻ đẹp ấy sâu hơn. Một trái cây trở nên đáng quý hơn khi tôi nhận ra nó là quà. Một cơn mưa trở nên đáng quý hơn khi tôi biết mình không điều khiển được sự sống. Một thân thể trở nên đáng quý hơn khi tôi biết mình đã lãnh nhận chứ không tự chế tạo mình. Tạ ơn cũng phá lòng tham vì người nhận quà biết mình không phải chủ nguồn.
Dấu hiệu thứ hai là khả năng tiết chế. Nếu ta nói yêu tạo thành nhưng không bao giờ chịu bớt một điều gì, tình yêu ấy có thể chỉ là cảm xúc. Bảo vệ thiên nhiên mà mọi thói quen của tôi đều bất khả xâm phạm thì người khác phải gánh toàn bộ thay đổi. Linh đạo luôn đụng đến thân xác. Ăn, uống, đi lại, mua sắm, dùng điện, xây dựng đều có thể trở thành trường tiết độ. Không cần cực đoan. Một lựa chọn nhỏ được lặp lại bởi tình yêu có giá trị hơn một tuần nhiệt thành rồi bỏ. Tiết chế bền vững là nhân đức, không phải chiến dịch.
Dấu hiệu thứ ba là khả năng đứng về phía người yếu. Một chính sách sinh thái tốt nhưng đẩy người nghèo vào tuyệt vọng cần được sửa. Một dự án kinh tế tốt nhưng hủy môi trường sống của người yếu cũng cần được sửa. Công bằng không cho phép chọn một nhóm yếu để cứu nhóm khác mà không tìm phương án tốt hơn. Đây là chỗ rất cần đối thoại giữa khoa học, kinh tế, chính trị, cộng đồng địa phương và đạo đức. Không có khẩu hiệu nào đủ.
Dấu hiệu thứ tư là khả năng chiêm ngắm. Người chỉ biết khai thác không thể đứng yên trước thứ không đem lợi ích. Người thần thánh hóa thiên nhiên lại có thể dừng ở cảm xúc trước vẻ đẹp. Người Kitô hữu chiêm ngắm đi thêm một bước: từ thụ tạo đến Tạo Hóa rồi trở lại thụ tạo với một cái nhìn đã được thanh tẩy. Sau khi tạ ơn Chúa vì một cánh rừng, người ấy có lý do mạnh hơn để không phá nó vô cớ. Sau khi đọc Thánh vịnh với biển, người ấy khó coi biển chỉ là chỗ đổ rác. Chiêm ngắm chính là trường của trách nhiệm vì cái ta đã thực sự nhìn sẽ khó bị đối xử như vật vô danh.
Cuối cùng, hai vực sâu này thực chất phát xuất từ cùng một cám dỗ: đặt thụ tạo vào chỗ của Thiên Chúa. Khi thần thánh hóa thiên nhiên, ta đặt thiên nhiên vào chỗ Thiên Chúa. Khi khai thác tuyệt đối, ta đặt con người vào chỗ Thiên Chúa. Một bên nói trái đất là thần. Một bên nói tôi là thần. Đức tin phá cả hai ngẫu tượng bằng lời tuyên xưng đơn giản: “Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình.” Chỉ một câu ấy, nếu thật sự được tin, đã đủ xây một nền linh đạo sinh thái. Thiên Chúa là Cha: thế giới không vô chủ. Người là Đấng tạo thành: thế giới không tự có. Người tạo thành trời đất: vật chất không xấu. Người tạo thành muôn vật: giá trị không chỉ nằm ở những gì con người thấy hữu dụng. Chỉ có một Thiên Chúa: không thụ tạo nào được thần thánh hóa, kể cả con người.
Vậy người Kitô hữu đứng ở đâu giữa hai vực? Không đứng giữa theo kiểu sợ lựa chọn, nhưng đứng trên nền đá của Mặc Khải. Ta yêu trái đất vì nó không phải Chúa nhưng là của Chúa. Ta bảo vệ con người vì con người không phải thần nhưng là hình ảnh Thiên Chúa. Ta sử dụng thụ tạo vì chúng được trao cho con người, nhưng sử dụng với sự kính trọng vì chúng chưa bao giờ ngừng thuộc về Đấng Tạo Hóa. Ta phát triển khoa học vì lý trí là ân ban, nhưng không biến lý trí thành toàn năng. Ta làm kinh tế vì con người cần của cải vật chất, nhưng không để của cải trở thành ông chủ. Ta bảo tồn thiên nhiên vì nó tốt đẹp, nhưng không hy sinh con người trên bàn thờ của một thứ thần thiên nhiên mới. Ta nhận vị trí cao quý của con người nhưng hiểu rằng chính địa vị cao ấy làm trách nhiệm nặng hơn chứ không trao giấy phép phá hoại.
Có lẽ câu hỏi xét mình đơn giản nhất cho chương này là: khi nhìn một thụ tạo, tôi đang thấy một vị thần, một món hàng, hay một quà tặng? Nếu thấy một vị thần, tôi đã dừng quá sớm. Nếu chỉ thấy món hàng, tôi đã nhìn quá thấp. Nếu thấy một quà tặng, tôi lập tức nhận ra ba điều: có một Đấng ban; món quà có giá trị; và người nhận có trách nhiệm. Đó là trật tự của linh đạo Công giáo. Thế giới là quà tặng. Con người là người nhận và người quản lý. Thiên Chúa là Đấng ban. Khi ba vị trí ấy không bị tráo đổi, tình yêu đối với tạo thành trở nên trong sáng. Ta không còn cần thờ thiên nhiên để kính trọng thiên nhiên. Ta cũng không còn cần hạ thấp thiên nhiên để khẳng định phẩm giá con người. Ta có thể cúi xuống chăm một cây mà không quỳ lạy nó; có thể dùng một khúc gỗ mà không coi cả cánh rừng như kho; có thể xây một thành phố mà vẫn chừa chỗ cho nước, cây, chim và người nghèo; có thể làm chủ kỹ thuật mà không để kỹ thuật làm chủ lòng mình.
Và có lẽ đó là điều thế giới hôm nay cần nhất: không phải thêm một ý thức hệ đứng ở cực bên kia để đánh nhau với ý thức hệ đang có, nhưng một sự hoán cải cái nhìn. Trước khi cây bị chặt bằng cưa, nó có thể đã bị chặt trong mắt người khi người ấy không còn thấy gì ngoài mét khối gỗ. Trước khi sông bị đầu độc bằng hóa chất, nó có thể đã chết trong trí tưởng tượng của xã hội khi chỉ còn là đường thoát nước. Trước khi con vật bị hành hạ, nó đã bị giảm thành vật thể. Nhưng cũng vậy, trước khi thiên nhiên bị biến thành thần tượng, Thiên Chúa đã bị đẩy ra khỏi chân trời và khoảng trống thiêng liêng cần một thứ khác lấp vào. Chữa lành phải bắt đầu ở cái nhìn: nhìn Chúa như Chúa, nhìn con người như con người, nhìn đất như đất, cây như cây, thú như thú, và nhìn tất cả trong mối liên hệ với Đấng đã gọi chúng từ hư vô vào hiện hữu.
Khi ấy, một cánh rừng không còn là thần điện cũng không còn là nhà kho. Nó là cánh rừng của Thiên Chúa, nơi sự sống diễn ra theo những luật con người không đặt ra, nơi ta có thể học khiêm nhường, có thể lấy những gì chính đáng với trách nhiệm, có thể bảo vệ điều mong manh, có thể nghe một bài ca không lời về Đấng Tạo Hóa. Một dòng sông không là nữ thần, cũng không là ống nước miễn phí. Nó là dòng sông, một phần của công trình tạo thành, nuôi người, nuôi đất, mang lịch sử và đòi ta sử dụng công bằng. Một con vật không là người, cũng không là máy sinh thịt. Nó là sinh vật được Thiên Chúa dựng nên, có cách hiện hữu riêng và phải được con người đối xử không tàn nhẫn. Và con người không phải bệnh ung thư của hành tinh, cũng không phải vua độc tài của vũ trụ. Con người là hình ảnh bị thương của Thiên Chúa, được cứu chuộc trong Đức Kitô và được gọi học lại cách cai quản bằng phục vụ.
Chính Đức Kitô là Đấng giữ mọi sự khỏi rơi vào hai vực ấy. Trong Người, con người được nâng lên mà không thành thần theo bản tính. Trong Người, vật chất được đón nhận mà không bị thờ. Trong Người, tạo thành được hướng tới sự viên mãn mà không mất Đấng Tạo Hóa. Người là Ngôi Lời nhờ đó muôn vật được tạo thành và cũng là Ngôi Lời đã trở nên xác phàm. Vì thế, người môn đệ Đức Kitô không thể khinh đất, nhưng cũng không thể thờ đất; không thể khinh thân xác, nhưng cũng không thể thờ thân xác; không thể khinh lý trí, nhưng cũng không thể thờ lý trí; không thể khinh công nghệ, nhưng cũng không thể đặt hy vọng cứu độ nơi công nghệ. Mọi sự tốt đẹp khi ở đúng chỗ. Tội lỗi rất thường là việc một điều tốt bị kéo ra khỏi đúng chỗ của nó rồi biến thành tuyệt đối.
Linh đạo chăm sóc tạo thành vì thế là linh đạo của trật tự tình yêu. Yêu Thiên Chúa trên hết. Yêu con người như hình ảnh Thiên Chúa. Yêu thụ tạo như công trình của Thiên Chúa. Khi yêu đúng trật tự, ta không yêu ít hơn mà yêu sâu hơn. Người yêu Thiên Chúa không bị buộc phải yêu cây ít đi; người ấy có thêm lý do để yêu cây đúng cách. Người bảo vệ phẩm giá con người không cần coi thú vật là vô nghĩa; người ấy hiểu rõ hơn trách nhiệm của kẻ mạnh đối với những sinh vật được trao cho mình. Người sử dụng vật chất không cần xấu hổ vì mình có thân xác và nhu cầu; chỉ cần học nhận trong biết ơn và giới hạn.
Hai vực vẫn còn đó. Vực bên trái thì thầm: “Thiên nhiên là thần; con người là vấn đề.” Vực bên phải thì thầm: “Con người là thần; thiên nhiên chỉ là vật.” Tin Mừng trả lời cả hai: “Không. Thiên Chúa là Thiên Chúa. Con người là hình ảnh Người. Muôn vật là công trình Người.” Ba câu ấy đủ để ta đứng vững. Và khi đứng vững, ta có thể bước vào thế giới không như người khách lạ, không như kẻ xâm lược, cũng không như người thờ lạy thế giới, nhưng như một người con trong nhà Cha: biết căn nhà không thuộc về mình, biết mình thực sự được sống trong đó, biết những người khác cũng có chỗ, biết phải chăm sóc những gì đã nhận, và biết một ngày mình sẽ phải trả lời với Chủ nhà về cách mình đã sống trong ngôi nhà ấy.

PHẦN III
VỊ TRÍ ĐẶC BIỆT CỦA CON NGƯỜI TRONG KẾ HOẠCH KỲ DIỆU
CHƯƠNG 13. HÌNH ẢNH THIÊN CHÚA: PHẨM GIÁ, KHÔNG PHẢI GIẤY PHÉP THỐNG TRỊ
Có lẽ ít câu Kinh Thánh nào vừa nâng con người lên cao đến thế, vừa đặt trên vai con người một trách nhiệm nặng đến thế, như lời trong sách Sáng Thế: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa” (St 1,27). Câu ấy đã trở thành một trong những nền tảng căn bản nhất của nhân học Kitô giáo. Con người không chỉ là một sinh vật phát triển cao hơn những sinh vật khác, không chỉ là một mắt xích phức tạp trong tiến trình vật chất, không chỉ là một đơn vị lao động, một người tiêu dùng, một lá phiếu, một con số thống kê, một hồ sơ bệnh án, một mã số thuế, một người có khả năng tạo ra lợi nhuận hay một cá thể có giá trị tùy theo mức đóng góp cho xã hội. Con người mang một phẩm giá đến từ trước mọi thành tích, sâu hơn mọi khả năng và không bị xóa bởi bất cứ tình trạng yếu đuối nào, bởi vì con người được Thiên Chúa muốn, được Thiên Chúa gọi vào hiện hữu và được dựng nên theo hình ảnh của Người. Chính từ đây Hội Thánh hiểu rằng phẩm giá con người là bất khả xâm phạm. Nó không được cấp bởi Nhà nước nên Nhà nước không có quyền thu hồi. Nó không được tạo ra bởi nền kinh tế nên thị trường không có quyền định giá. Nó không phát sinh từ sức khỏe nên bệnh tật không xóa được. Nó không đến từ trí thông minh nên người khuyết tật trí tuệ không có ít phẩm giá hơn. Nó không tùy vào tuổi tác nên thai nhi chưa sinh và người già nằm bất động đều thuộc về cùng một gia đình nhân loại với phẩm giá trọn vẹn. Nó không tùy vào khả năng tự chủ nên một người đang mê man không mất tư cách người. Nó không tùy vào thành công nên người thất nghiệp, người phá sản, người lang thang, người nghiện ngập đang chiến đấu để làm lại cuộc đời, người bị xã hội xem như gánh nặng, người không còn “hữu ích” theo những thước đo lạnh lùng của hiệu suất, vẫn là hình ảnh Thiên Chúa. Nói cách khác, trước khi con người làm được điều gì cho thế giới, con người đã là một điều quý giá trong mắt Thiên Chúa. Trước khi bàn tay một em bé biết cầm nắm, trước khi bộ óc một người trưởng thành biết sản xuất, trước khi một người già còn có thể đóng góp bất cứ điều gì, họ đã được Thiên Chúa nhìn thấy, yêu thương và muốn họ hiện hữu. Đây là lý do đức tin Kitô giáo không bao giờ có thể chấp nhận một xã hội phân loại con người thành những người đáng sống và những người không đáng sống, những người hữu dụng và những người dư thừa, những người sinh lợi và những người tốn kém, những người mạnh xứng đáng được ưu tiên và những người yếu có thể bị hy sinh. Khi Hội Thánh bảo vệ thai nhi, người khuyết tật, người nghèo, người di dân, bệnh nhân, người già, người hấp hối, người bị bỏ quên, Hội Thánh không làm một việc ngoại vi bên cạnh Tin Mừng. Hội Thánh đang bảo vệ một sự thật nằm ngay trong trang đầu của Kinh Thánh: mỗi con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Nhưng chính ở đây xuất hiện một nghịch lý quan trọng mà linh đạo sinh thái Kitô giáo phải đối diện. Trong nhiều thế kỷ, câu chuyện con người là hình ảnh Thiên Chúa đôi khi bị đọc theo một hướng quá thiên về đặc quyền: vì con người đặc biệt nên con người có thể làm chủ thiên nhiên theo nghĩa muốn làm gì thì làm; vì con người đứng ở vị trí cao trong trật tự hữu hình nên mọi thụ tạo khác chỉ tồn tại để phục vụ con người; vì Thiên Chúa nói “hãy làm bá chủ cá biển, chim trời và mọi giống vật” nên con người được trao một thứ giấy phép thần học để khai thác đến cạn kiệt. Nhưng đó là một cách đọc méo mó. Hình ảnh Thiên Chúa không phải tấm giấy phép để con người hành xử như một bạo chúa trong tạo thành. Trái lại, nếu con người thật sự là hình ảnh Thiên Chúa, thì cách con người “cai quản” phải phản ánh cách chính Thiên Chúa cai quản. Và Thiên Chúa của Kinh Thánh không cai quản bằng cách hút cạn sự sống khỏi những gì thuộc quyền Người. Người cai quản bằng cách ban sự sống, nâng đỡ sự sống, giữ gìn sự sống, làm cho sự sống sinh hoa trái. Thiên Chúa không càng lớn khi thụ tạo càng nhỏ đi. Vinh quang của Người không được xây trên đống đổ nát của những gì Người đã dựng nên. Thiên Chúa không cần phá hủy thụ tạo để chứng minh quyền lực. Ngược lại, quyền năng của Người biểu lộ trong việc làm cho những gì không có được hiện hữu, làm cho những gì yếu được nâng lên, làm cho đất sinh cây, biển đầy cá, trời đầy chim, con người được sống và toàn thể tạo thành được đặt trong một mạng lưới tương thuộc. Nếu con người là hình ảnh của Thiên Chúa ấy, thì quyền làm chủ của con người cũng phải mang hình dạng của sự chăm sóc. Quyền lực phải trở thành trách nhiệm. Đặc quyền phải trở thành phục vụ. Khả năng can thiệp phải đi kèm khả năng tự giới hạn. Sự vượt trội về trí tuệ phải trở thành bổn phận bảo vệ những gì không thể tự bảo vệ mình trước sức mạnh của con người.
Đây là điểm cần trở lại với văn bản Sáng Thế thật cẩn thận. Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh Người rồi trao cho con người một vị trí độc đáo trong tạo thành. Kitô giáo không phủ nhận vị trí ấy. Một linh đạo sinh thái Công giáo nghiêm túc không thể giải quyết khủng hoảng môi trường bằng cách xóa bỏ sự khác biệt giữa con người và các loài khác, như thể con người chỉ là một động vật không hơn không kém. Con người thật sự có một phẩm chất đặc biệt: có lý trí, tự do, lương tâm, khả năng yêu bằng quyết định, khả năng nhận biết Đấng Tạo Hóa, khả năng bước vào giao ước, khả năng chịu trách nhiệm luân lý. Một con sông không thể phạm tội vì bị ô nhiễm; con người có thể phạm tội khi cố ý gây ô nhiễm. Một con hổ không thể bị kết án vì săn mồi; một doanh nghiệp có thể bị phán xét về luân lý nếu vì lợi nhuận mà biết rõ mình đang đầu độc nguồn nước của cả một cộng đồng. Chính khả năng chịu trách nhiệm làm cho con người đặc biệt. Nhưng điều đáng chú ý là phẩm giá cao hơn không dẫn tới quyền vô trách nhiệm lớn hơn; trái lại, phẩm giá càng cao thì trách nhiệm càng lớn. Một đứa trẻ không phải chịu trách nhiệm như người cha trong gia đình. Một nhân viên không có trách nhiệm bằng người đang quyết định chính sách cho cả công ty. Một công dân bình thường không có cùng mức trách nhiệm với người đang nắm quyền ảnh hưởng đến hàng triệu người. Cũng vậy, nếu loài người có quyền lực chưa từng có trên đất, nước, khí hậu, rừng, biển, gene, năng lượng và toàn bộ hệ sinh thái, thì chính quyền lực ấy làm cho trách nhiệm luân lý của loài người trở nên nghiêm trọng hơn bao giờ hết. Chúng ta không thể vừa tuyên bố mình là loài có trí tuệ cao nhất rồi lại hành xử như thể mình không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của trí tuệ ấy. Không thể tự hào rằng mình đã chinh phục khoa học, công nghệ và sản xuất, nhưng khi đối diện đất bạc màu, rừng mất, biển đầy nhựa, khí hậu biến động, nguồn nước ô nhiễm và các loài biến mất thì lại nói đó chỉ là cái giá không tránh được của tiến bộ. Nếu con người là hình ảnh Thiên Chúa, con người không được phép biến trí tuệ thành công cụ tinh vi hơn để tham lam. Trí tuệ phải trở thành khả năng hiểu giới hạn. Tự do phải trở thành khả năng nói không với lòng tham. Khoa học phải trở thành phương tiện phục vụ sự sống. Kỹ thuật phải nằm dưới phán xét của lương tâm. Kinh tế phải phục vụ con người và ngôi nhà chung chứ không được biến con người cùng ngôi nhà chung thành nhiên liệu cho một cỗ máy tăng trưởng vô hạn. Hình ảnh Thiên Chúa không nằm ở chỗ con người có thể đào sâu hơn, khai thác nhanh hơn, sản xuất nhiều hơn, tiêu thụ mạnh hơn và thống trị xa hơn. Hình ảnh Thiên Chúa tỏ lộ khi con người dùng tất cả sức mạnh ấy để làm cho sự sống được bảo vệ, phẩm giá được tôn trọng, những thế hệ chưa sinh ra còn có đất để sống, những người nghèo không phải gánh hậu quả nặng nhất của lối sống xa hoa do người khác tạo ra, và các thụ tạo khác còn không gian để hoàn thành điều Thiên Chúa đã muốn nơi chúng.
Ta cần phân biệt rất rõ “thống trị” theo logic của tội lỗi và “cai quản” theo hình ảnh Thiên Chúa. Logic thống trị của tội lỗi nói: cái gì yếu hơn thì thuộc về ta; cái gì thuộc về ta thì ta muốn dùng thế nào cũng được; cái gì sinh lợi thì giữ, cái gì không sinh lợi thì bỏ; cái gì cản trở lợi ích của ta thì loại bỏ. Logic ấy có thể xuất hiện trong mọi tương quan. Người chồng thống trị vợ khi xem vợ như tài sản. Cha mẹ thống trị con cái khi xem con như dự án phải thực hiện giấc mơ của mình. Chủ doanh nghiệp thống trị công nhân khi chỉ xem họ là chi phí. Chính quyền thống trị dân khi xem con người như công cụ cho quyền lực. Con người thống trị thiên nhiên khi chỉ nhìn đất như khoáng sản, rừng như gỗ, sông như nước tưới, biển như cá, động vật như thịt, khí quyển như nơi chứa khí thải. Mẫu số chung luôn giống nhau: một hữu thể không còn được nhìn trong giá trị riêng của nó, nhưng chỉ được đo bằng ích lợi nó mang đến cho người mạnh hơn. Đó chính là điều đức tin về Thiên Chúa Tạo Hóa chống lại. Bởi Thiên Chúa không tạo ra thế giới vì Người thiếu thứ gì đó phải lấy từ thế giới. Người không cần năng lượng của mặt trời, không cần oxy của rừng, không cần lương thực của đất. Tạo dựng là hành vi dư tràn của tình yêu. Thiên Chúa muốn thụ tạo hiện hữu bởi vì Người muốn cho chúng được hiện hữu. Do đó, con người càng trở nên giống Thiên Chúa khi cách hiện diện của mình làm cho người khác và thụ tạo khác được sống, chứ không phải khi mình lớn lên bằng cách làm mọi thứ chung quanh nghèo đi. Đây là một tiêu chuẩn thiêng liêng rất mạnh. Ta có thể hỏi: sau khi tôi đi qua một nơi, sự sống ở đó đầy hơn hay cạn hơn? Sau khi một doanh nghiệp hoạt động hai mươi năm, vùng đất ấy sống hơn hay chết hơn? Sau khi một chính sách phát triển hoàn thành, người nghèo được nâng lên hay bị đẩy ra ngoài lề? Sau khi một người lãnh đạo rời nhiệm sở, cộng đoàn trưởng thành hơn hay kiệt quệ hơn? Sau nhiều năm làm cha mẹ, con cái tự do và trưởng thành hơn hay bị lệ thuộc và tổn thương hơn? Sau nhiều năm làm mục tử, giáo dân trưởng thành trong trách nhiệm hay vẫn bị giữ ở vị trí trẻ con? Cùng một câu hỏi ấy có thể đặt cho quan hệ giữa loài người và trái đất: sau vài thế kỷ văn minh công nghiệp, chúng ta đã làm cho khu vườn được trao phó nở hoa hơn hay biến nhiều phần của nó thành bãi khai thác? Câu trả lời không hoàn toàn tối. Con người đã làm được vô số điều đẹp: cải tạo đất, chữa bệnh, bảo tồn rừng, cứu các loài khỏi tuyệt chủng, làm sạch sông, phát triển năng lượng sạch hơn, nâng cao đời sống, mở rộng hiểu biết về các hệ sinh thái, xây dựng những mô hình canh tác biết tôn trọng đất. Tài năng sáng tạo của con người cũng là một nét của hình ảnh Thiên Chúa. Vấn đề không phải con người can thiệp vào thiên nhiên hay không. Vấn đề là con người can thiệp theo logic nào. Canh tác không giống tàn phá. Khai thác có giới hạn không giống hút kiệt. Khoa học phục vụ chữa lành không giống khoa học phục vụ lòng tham. Phát triển không đồng nghĩa với mở rộng vô hạn. Một cánh đồng được chăm sóc có thể phản ánh lao động đồng sáng tạo của con người; một vùng đất bị đầu độc vì lợi nhuận ngắn hạn phản ánh sự phản bội ơn gọi ấy.
Phẩm giá con người và trách nhiệm sinh thái vì thế không phải hai giáo huấn nằm cạnh nhau một cách tình cờ. Chúng phát xuất từ cùng một cội. Nếu tôi thật sự tin con người là hình ảnh Thiên Chúa, tôi phải bảo vệ con người khỏi bị biến thành đồ vật. Nhưng nếu tôi thật sự hiểu hình ảnh Thiên Chúa là gì, tôi cũng phải hiểu rằng con người mang hình ảnh ấy không được biến phần còn lại của tạo thành thành đồ vật tuyệt đối. Một thái độ sai lầm thường xuất hiện là nghĩ rằng muốn bảo vệ phẩm giá con người thì phải hạ thấp thiên nhiên, hoặc muốn bảo vệ thiên nhiên thì phải hạ thấp con người. Kitô giáo từ chối cả hai. Con người không phải một loài xâm lấn cần biến mất để trái đất được cứu. Nhưng trái đất cũng không phải một mỏ vật liệu được tạo ra để thỏa mãn mọi ham muốn của con người. Con người là người quản lý trong nhà của Cha. Hình ảnh này rất quan trọng. Người quản lý có quyền thật. Anh ta được giao chìa khóa, có thể sắp xếp, phân phối, tổ chức, đầu tư, sử dụng tài sản. Nhưng anh ta không phải chủ tuyệt đối. Một ngày anh ta phải trả lời với chủ nhà. Trong Tin Mừng, Đức Giêsu nhiều lần dùng hình ảnh người quản lý để nói về trách nhiệm. Quản lý không có nghĩa đứng bất động không làm gì. Quản lý cũng không có nghĩa muốn làm gì thì làm. Quản lý có nghĩa hành động trong ý muốn của chủ và vì lợi ích của toàn thể gia đình. Đó là cách rất thích hợp để hiểu vị trí con người trong tạo thành. Thiên Chúa trao thế giới thật sự vào tay con người. Người không bảo con người ngồi nhìn. Người bảo canh tác. Có lao động, có khoa học, có phát triển, có xây dựng, có đô thị, có văn hóa, có kinh tế. Nhưng tất cả nằm trong giao ước. Đất vẫn là của Chúa. Sự sống vẫn là quà của Chúa. Người nghèo vẫn là con của Chúa. Thế hệ tương lai vẫn thuộc về Chúa trước khi thuộc về chúng ta. Những loài vật mà ta không bao giờ nhìn thấy cũng tồn tại trước mặt Chúa. Một cánh rừng không có khách du lịch vẫn có giá trị. Một loài côn trùng không mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp vẫn thuộc về công trình tạo dựng. Một dòng sông không thể lên tiếng tại cuộc họp cổ đông vẫn có một vị trí trong trật tự sự sống. Nhìn như vậy không phải nhân cách hóa thiên nhiên theo kiểu lãng mạn; đó là thừa nhận rằng giá trị không đồng nhất với giá thị trường. Chính con người cũng cần sự phân biệt ấy để bảo vệ phẩm giá mình. Một khi xã hội đã quen nghĩ rằng chỉ cái gì có giá kinh tế mới có giá trị, sớm hay muộn chính con người sẽ bị đưa vào cùng một bảng tính. Người khỏe sẽ có giá hơn người bệnh; người trẻ hơn người già; người học cao hơn người ít học; người sản xuất nhiều hơn người thất nghiệp; người có tiền hơn người nghèo. Khi thiên nhiên bị biến hoàn toàn thành hàng hóa, con người cũng không tránh khỏi số phận bị hàng hóa hóa. Vì vậy, bảo vệ sự thánh thiêng của phẩm giá người và bảo vệ giá trị nội tại của tạo thành không loại trừ nhau; chúng giúp nhau chống lại cùng một nền văn hóa sử dụng rồi loại bỏ.
Đặc biệt, hình ảnh Thiên Chúa đặt ra một lời chất vấn dữ dội đối với cái gọi là “hữu ích”. Thế giới hiện đại có xu hướng hỏi mọi sự: anh làm được gì, cô tạo ra bao nhiêu, vật này dùng vào việc gì, vùng đất này khai thác được gì, khu rừng này đem lại bao nhiêu doanh thu, người già này còn tự chăm sóc được không, thai nhi này có khỏe mạnh không, đứa trẻ khuyết tật này sau này có sống độc lập được không. Không phải mọi câu hỏi về ích lợi đều xấu. Khôn ngoan đòi con người biết sử dụng nguồn lực. Nhưng khi “hữu ích” trở thành thước đo tối cao của giá trị, nền văn minh bắt đầu trở nên nguy hiểm. Đức tin Kitô giáo nói rằng có những điều quý giá trước khi hữu ích. Một người mẹ yêu đứa con sơ sinh không vì đứa bé hữu ích cho gia đình. Một người con ngồi bên giường cha già không vì cha còn đóng góp kinh tế. Một cộng đoàn chăm một người khuyết tật nặng không phải vì người ấy sẽ trả lại lợi ích tương xứng. Tình yêu làm điều ngược với logic thị trường thuần túy: nó nhìn nhận giá trị trước khi tính lợi ích. Chính Thiên Chúa yêu ta như thế. Không ai có thể nói mình “hữu ích” cho Thiên Chúa theo nghĩa Thiên Chúa cần ta để tồn tại. Người yêu ta vì Người là tình yêu. Do đó, mang hình ảnh Thiên Chúa có nghĩa là học nhìn người khác bằng ánh mắt không bắt họ phải chứng minh quyền tồn tại của mình. Và từ trường học ấy, ta học nhìn cả thụ tạo với một ánh mắt bớt chiếm hữu hơn. Không phải một con chim chỉ có giá trị khi làm đẹp công viên cho ta. Không phải một cây cổ thụ chỉ có giá trị khi tạo bóng mát cho con người. Không phải biển chỉ đáng bảo vệ vì du lịch. Chúng có những vai trò sinh thái lớn lao mà khoa học ngày càng khám phá, nhưng trước mọi công dụng đã được biết, chúng đã thuộc về một tạo thành mà Thiên Chúa gọi là tốt đẹp. Thái độ ấy làm thay đổi sâu xa linh đạo. Ta không còn đứng giữa thế giới như khách hàng hỏi “cái này có gì cho tôi?”, nhưng như người con trong nhà Cha hỏi “Cha muốn tôi ở với điều này thế nào?”. Câu hỏi thứ hai mở ra trách nhiệm. Một người bước vào rừng không chỉ hỏi có thể lấy gì khỏi rừng nhưng còn hỏi sự hiện diện của mình để lại gì. Một người mua một món hàng không chỉ hỏi giá bao nhiêu mà có thể hỏi nó được sản xuất bằng điều kiện lao động nào, bằng lượng chất thải nào, từ nguồn nguyên liệu nào. Một người xây nhà không chỉ hỏi làm sao tận dụng tối đa diện tích mà còn hỏi nước sẽ chảy đâu, cây xanh còn gì, nhiệt lượng được xử lý ra sao, cộng đồng xung quanh chịu ảnh hưởng thế nào. Một giáo xứ tổ chức lễ hội không chỉ hỏi bao nhiêu người tham dự, mà có thể hỏi lượng rác sau lễ, đồ nhựa dùng một lần, thức ăn dư thừa, điện nước tiêu thụ. Những câu hỏi nhỏ ấy chính là nơi hình ảnh Thiên Chúa đi vào đời sống cụ thể.
Cũng cần nói rằng hình ảnh Thiên Chúa không phải một đặc tính tĩnh như con dấu đóng trên con người rồi thôi. Nó là một ơn gọi cần được sống. Theo nghĩa hữu thể học, con người không mất phẩm giá hình ảnh Thiên Chúa vì tội lỗi; ngay cả tội nhân vẫn phải được tôn trọng. Nhưng theo nghĩa luân lý và thiêng liêng, con người có thể làm méo hình ảnh ấy trong cách mình sống. Một bạo chúa vẫn là con người có phẩm giá, nhưng cách ông sử dụng quyền lực không phản ánh Thiên Chúa. Một kẻ bóc lột vẫn mang phẩm giá bất khả xâm phạm, nhưng hành vi bóc lột làm lu mờ ơn gọi phản ánh Đấng công chính. Một nền văn minh có thể rất thông minh, rất giàu, rất mạnh về công nghệ, nhưng nếu sức mạnh ấy được dùng để tiêu thụ thế giới mà không có giới hạn, nền văn minh ấy đang thể hiện quyền lực mà không thể hiện Thiên Chúa. Đây là điều đáng sợ: ta có thể càng quyền năng về kỹ thuật nhưng càng ít giống Đấng mà mình được tạo dựng theo hình ảnh. Bởi Thiên Chúa quyền năng nhưng không tham lam. Thiên Chúa sở hữu mọi sự nhưng không chiếm đoạt. Thiên Chúa là Chúa nhưng không chà đạp. Trong Đức Giêsu Kitô, mầu nhiệm này đạt tới chỗ nghịch lý nhất. Con Thiên Chúa, Đấng là “hình ảnh Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15), đã không biểu lộ quyền làm Chúa bằng cách nắm giữ đặc quyền, nhưng bằng tự hạ, phục vụ và hiến mạng sống. Nếu muốn biết “hình ảnh Thiên Chúa” trông như thế nào khi sống hoàn hảo trong thân phận con người, Kitô hữu nhìn vào Đức Kitô. Người rửa chân. Người chạm người phong cùi. Người ăn với người bị loại trừ. Người nuôi đám đông. Người chữa bệnh. Người khóc trước mộ người bạn. Người từ chối biến quyền năng thành màn trình diễn phục vụ bản thân. Người chết trên thập giá. Như thế, Kitô học sửa mọi cách hiểu sai về “thống trị”. Đức Kitô là Vua, nhưng ngai của Người là thập giá. Người là Chúa, nhưng Người nói: “Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ.” Nếu con người làm hình ảnh Thiên Chúa theo khuôn mặt Đức Kitô, thì quyền làm chủ tạo thành phải mang dấu thập giá: quyền lực biết hạ mình để sự sống khác được sống. Ta có thể gọi đó là “quyền lực nuôi dưỡng” thay cho “quyền lực hút kiệt”. Người cha tốt không lớn lên nhờ con mình bé lại. Người mục tử tốt không mạnh hơn khi đoàn chiên yếu hơn. Người lãnh đạo tốt không giàu lên bằng cách cộng đồng nghèo đi. Người quản lý tạo thành tốt không đo thành công bằng lượng tài nguyên đã rút ra nhanh nhất, mà bằng khả năng bảo đảm rằng đất vẫn sinh, nước vẫn sạch, cộng đồng vẫn sống và thế hệ sau vẫn còn lựa chọn.
Từ đây, thần học về hình ảnh Thiên Chúa đưa chúng ta vào trung tâm của công bằng sinh thái. Khủng hoảng môi trường không bao giờ chỉ là câu chuyện về cây và thú. Nó luôn đụng đến con người, và thường đụng đến người nghèo trước. Người có tiền có thể mua nước sạch khi giếng ô nhiễm; người nghèo uống thứ nước còn lại. Người giàu có máy lạnh khi nhiệt độ tăng; người lao động ngoài trời chịu nắng nóng. Người có phương tiện có thể chuyển nhà khỏi vùng ngập; người nghèo ở lại nơi đất rẻ nhất và nguy hiểm nhất. Những quốc gia hoặc cộng đồng tiêu thụ ít nhất đôi khi lại phải chịu hậu quả nặng nhất của những biến đổi do mô hình phát triển của những nơi tiêu thụ nhiều hơn tạo ra. Vì thế, bảo vệ môi trường không đối lập với bảo vệ con người. Một nền sinh thái không có công lý xã hội là chưa đủ. Ngược lại, một chương trình chống nghèo mà phá hủy nền tảng sinh thái người nghèo phụ thuộc vào cũng tự mâu thuẫn. Nếu tạo một ít việc làm hôm nay bằng cách đầu độc nước uống của cộng đồng trong ba mươi năm tới, đó không phải phát triển. Nếu tăng GDP bằng cách làm đất mất khả năng sản xuất, đó là mượn của tương lai rồi gọi món nợ là lợi nhuận. Nếu một dự án làm giàu cho nhóm nhỏ nhưng đẩy cả làng mất nguồn sống, ta không thể chỉ dùng từ “tiến bộ” để che câu hỏi luân lý. Hình ảnh Thiên Chúa nơi mỗi con người buộc ta hỏi ai đang gánh cái giá. Một quyết định kinh tế không chỉ có con số lợi nhuận và tăng trưởng; nó có khuôn mặt. Có khuôn mặt người công nhân hít bụi mỗi ngày. Có khuôn mặt em bé uống nước từ nguồn gần nhà máy. Có khuôn mặt người nông dân nhìn đất bạc đi. Có khuôn mặt người đánh cá thấy biển ngày càng trống. Có khuôn mặt một thế hệ chưa sinh ra, không có ghế trong cuộc họp hôm nay nhưng sẽ sống trong thế giới do quyết định hôm nay để lại. Đức tin vào hình ảnh Thiên Chúa làm cho những khuôn mặt vô hình ấy trở nên hiện diện trước lương tâm.
Điều này đòi một cuộc hoán cải trong cách nói về quyền sở hữu. Kitô giáo thừa nhận quyền tư hữu, nhưng chưa bao giờ dạy quyền tư hữu là tuyệt đối. Tạo thành trước hết là quà Thiên Chúa ban cho toàn thể gia đình nhân loại. Tôi có thể sở hữu một thửa đất theo luật, nhưng tôi không sở hữu đất theo nghĩa có quyền biến nó thành chất độc cho hàng xóm. Một công ty có thể có quyền khai thác một nguồn tài nguyên theo giấy phép, nhưng giấy phép pháp lý không tự động biến mọi phương thức khai thác thành luân lý. Pháp luật xác định một mức sàn cần thiết; lương tâm Kitô hữu còn hỏi sâu hơn: điều tôi có quyền làm có phải là điều tôi nên làm không? Đây là nơi phẩm giá và trách nhiệm gặp nhau. Con người được Thiên Chúa cho quyền sử dụng tạo thành để sống, phát triển, xây dựng gia đình và xã hội. Nhưng không ai có quyền dùng thế giới theo cách tước khỏi người khác điều kiện căn bản để sống. Quyền của người mạnh dừng lại trước phẩm giá của người yếu. Quyền của thế hệ hiện tại dừng lại trước quyền sống của thế hệ tương lai. Quyền lợi kinh tế dừng lại trước những giới hạn không thể thương lượng của sự sống. Cần nói điều này trong cả đời sống cá nhân. Tôi có tiền mua không có nghĩa tôi cần mua. Tôi có thể thay điện thoại mỗi năm không có nghĩa tôi nên làm. Tôi có thể ăn thừa rồi bỏ không có nghĩa sự lãng phí trở nên vô tội vì thức ăn thuộc về tôi. Tôi có thể mở máy lạnh thật thấp, dùng xe cho mọi quãng ngắn, mua hàng vì quảng cáo kích thích, không phân loại rác, dùng nhựa một lần vô hạn, nhưng người Kitô hữu không dừng lương tâm ở câu “tôi có quyền”. Câu hỏi của người môn đệ là: cách sử dụng quyền của tôi có phản ánh Thiên Chúa mà tôi mang hình ảnh không? Tự do Kitô hữu không trưởng thành khi có nhiều lựa chọn nhất, nhưng khi biết chọn điều tốt ngay cả lúc có thể làm điều khác.
Hình ảnh Thiên Chúa cũng giúp ta hiểu giới hạn không phải là xúc phạm đến con người. Một trong những ngộ nhận lớn của thời hiện đại là đồng nhất tự do với không giới hạn: càng vượt mọi giới hạn càng tự do; càng có thể can thiệp vào mọi sự càng tiến bộ; càng tiêu thụ nhiều càng thành công. Nhưng con người là thụ tạo. Chính câu “hình ảnh Thiên Chúa” chứa một phân biệt: con người là hình ảnh, không phải Thiên Chúa. Đây là khoảng cách cứu độ. Ta giống Thiên Chúa nhưng ta không phải Thiên Chúa. Ta có quyền lực nhưng không toàn năng. Ta có trí tuệ nhưng không toàn tri. Ta có khả năng sáng tạo nhưng không tạo ra từ hư vô. Ta có thể biến đổi đất nhưng không làm ra một hành tinh thay thế từ con số không. Ta phụ thuộc vào nước, khí, đất, khí hậu, vi sinh vật, cây cối, những chu trình sinh học mà ta không thiết kế. Nhận giới hạn không hạ thấp phẩm giá; nó đặt phẩm giá trong sự thật. Một con người trưởng thành không phải người tưởng mình không cần ai, nhưng là người biết mình thuộc về một mạng lưới nhận và cho. Một nền văn minh trưởng thành cũng vậy. Nó không chứng minh sức mạnh bằng khả năng vượt mọi ngưỡng, nhưng bằng khả năng tự đặt giới hạn để bảo vệ sự sống. Ngày Sabát trong Sáng Thế đã nói điều này từ đầu: ngay cả lao động tốt cũng phải dừng. Đất cần nghỉ. Người cần nghỉ. Máy móc không thể trở thành nhịp chuẩn cho con người. Nền kinh tế không thể đòi mọi thứ tăng trưởng mãi trên một thế giới hữu hạn. Việc biết đủ có thể là một hành vi phản ánh Thiên Chúa nhiều hơn việc có thêm. Sự tiết độ, vốn đôi khi bị xem như nhân đức cổ xưa không hấp dẫn, trở thành nhân đức sinh thái đặc biệt của thời đại. Tiết độ không phải ghét của cải. Tiết độ là tự do trước của cải. Nó cho phép ta sử dụng mà không bị sử dụng, sở hữu mà không bị sở hữu, hưởng thụ mà không nuốt chửng. Một người có thể sống tiện nghi mà vẫn tiết độ; một người nghèo cũng có thể bị lòng tham chi phối. Vấn đề không chỉ ở số lượng vật chất nhưng ở tương quan của lòng người với vật chất. Tuy vậy, khi lối sống tiêu thụ của các nhóm giàu tạo hậu quả trên quy mô lớn, sự tiết độ không còn chỉ là lựa chọn tu đức riêng tư. Nó có chiều kích công bằng.
Trong mục vụ, chân lý con người là hình ảnh Thiên Chúa cần được đưa ra khỏi sách giáo lý để trở thành lối nhìn. Giáo xứ có thể nói rất hay về phẩm giá người rồi vẫn đối xử với người nghèo bằng ánh mắt khó chịu. Một cộng đoàn có thể bảo vệ sự sống thai nhi nhưng lại coi thường người mẹ đang mang thai trong hoàn cảnh khó khăn. Có thể nói về người già như kho tàng nhưng để họ cô độc. Có thể tổ chức hoạt động bác ái nhưng đối xử tệ với nhân viên. Có thể giảng về bảo vệ tạo thành rồi sau một lễ lớn để lại cả núi rác nhựa. Khi đó tín lý chưa thành linh đạo. Hình ảnh Thiên Chúa không chỉ là điều phải tin về “con người nói chung”; nó là cách nhìn từng người đang đứng trước ta. Người thu gom rác là hình ảnh Thiên Chúa. Người giúp việc là hình ảnh Thiên Chúa. Người bệnh khó tính là hình ảnh Thiên Chúa. Đứa trẻ ồn ào là hình ảnh Thiên Chúa. Người không cùng quan điểm là hình ảnh Thiên Chúa. Người đã phạm tội nặng vẫn mang phẩm giá mà công lý phải tôn trọng. Người nghiện cần trách nhiệm nhưng không được phi nhân hóa. Người tâm thần không phải gánh nặng vô danh. Thai nhi không phải “vật liệu sinh học”. Người hấp hối không phải “ca bệnh không còn hiệu quả điều trị”. Và khi ánh mắt ấy được tập luyện, nó lan sang cách nhìn toàn thể ngôi nhà chung. Ta bắt đầu bớt nói “rác của tôi” như thể sau khi rời tay mình nó biến mất; bớt nói “đất của tôi” như thể nước ô nhiễm không chảy sang nơi khác; bớt nói “tiền của tôi” như thể mọi quyết định tiêu dùng chỉ là chuyện cá nhân. Hình ảnh Thiên Chúa dạy rằng tự do luôn nằm trong tương quan.
Một chiều kích nữa rất đáng lưu ý là liên hệ giữa hình ảnh Thiên Chúa và lao động. Sách Sáng Thế trình bày con người được đặt vào vườn để “canh tác và gìn giữ”. Hai động từ phải đi cùng nhau. Chỉ canh tác mà không gìn giữ sẽ biến lao động thành khai thác. Chỉ gìn giữ mà không canh tác sẽ phủ nhận ơn gọi phát triển những khả năng của tạo thành. Con người được mời làm việc. Lao động là điều tốt. Nông dân cày đất, kỹ sư xây cầu, bác sĩ chữa bệnh, nhà khoa học nghiên cứu, công nhân sản xuất, kiến trúc sư thiết kế, người nội trợ nấu ăn, người quản lý tổ chức nguồn lực: tất cả đều có thể tham dự vào công trình sáng tạo. Nhưng lao động phản ánh Thiên Chúa khi nó phục vụ sự sống và hiệp thông. Khi lao động bị tách khỏi đạo đức, nó trở thành sức mạnh mù. Một kỹ thuật càng hiệu quả càng có thể gây hại lớn nếu mục tiêu sai. Một hệ thống sản xuất càng mạnh càng có thể bóc lột nhanh hơn nếu lợi nhuận là chuẩn duy nhất. Vì thế, câu hỏi Kitô giáo không chỉ là “ta làm được không?” nhưng là “ta nên làm không, làm thế nào và vì ai?”. Những câu hỏi ấy không chống khoa học. Ngược lại, chúng bảo vệ khoa học khỏi bị biến thành nô lệ của quyền lực và lợi nhuận. Nhà khoa học cũng mang hình ảnh Thiên Chúa; nhà doanh nghiệp cũng vậy; nhà chính trị cũng vậy. Chính vì thế họ có khả năng và trách nhiệm đặt câu hỏi luân lý. Không ai được núp sau hệ thống để nói “thị trường buộc tôi”, “công nghệ sẽ tự phát triển”, “ai cũng làm vậy”, “khách hàng đòi thế”. Hình ảnh Thiên Chúa có nghĩa con người là chủ thể luân lý, không phải bánh răng vô trách nhiệm. Có lúc phải nói không. Có lúc phải chấp nhận lợi nhuận ít hơn. Có lúc phải trì hoãn một dự án. Có lúc phải thay công nghệ. Có lúc phải bồi thường. Có lúc phải phục hồi vùng đất. Có lúc phải nghe cộng đồng địa phương. Có lúc người có quyền phải tự giới hạn quyền mình. Chính trong những lựa chọn có giá phải trả ấy mà thần học trở thành đạo đức sống.
Hình ảnh Thiên Chúa còn mở ra một chiều kích cộng đoàn. Sáng Thế nói: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình… Người sáng tạo họ có nam có nữ.” Hình ảnh Thiên Chúa không chỉ được hiểu trong một cá nhân cô lập. Con người là hữu thể tương quan. Thiên Chúa không cô độc; đức tin Kitô giáo tuyên xưng Thiên Chúa là hiệp thông Ba Ngôi. Vì vậy, càng đóng kín trong chủ nghĩa cá nhân, con người càng khó sống trọn ơn gọi hình ảnh. Khủng hoảng sinh thái cũng là khủng hoảng của tương quan: con người tách mình khỏi thiên nhiên, người giàu tách khỏi người nghèo, thế hệ hiện tại tách khỏi thế hệ tương lai, người tiêu dùng tách khỏi người sản xuất, thành phố tách khỏi vùng cung cấp lương thực, người mua tách khỏi nơi rác cuối cùng được đổ. Mọi thứ được làm cho xa mắt để lương tâm dễ ngủ. Ta không thấy người may chiếc áo nên dễ mua quá nhiều. Ta không thấy nơi khai thác khoáng sản cho thiết bị nên dễ thay mới. Ta không thấy bãi rác nên dễ vứt. Ta không thấy người sống cuối dòng sông nên dễ xả. Linh đạo hình ảnh Thiên Chúa phải nối lại những quan hệ bị che khuất ấy. Nó dạy ta rằng không có hành vi hoàn toàn riêng tư trong một thế giới liên kết. Việc ăn, mặc, di chuyển, mua sắm, đầu tư, xây dựng, bỏ rác đều đi vào một chuỗi tương quan. Không ai có thể kiểm soát toàn bộ chuỗi, và không nên biến đời sống thành ám ảnh tội lỗi vì mọi thứ. Nhưng một lương tâm trưởng thành sẽ không cố tình nhắm mắt. Nó tìm biết đủ để sống có trách nhiệm. Nó chấp nhận rằng lựa chọn của mình có trọng lượng. Nó không đợi sự hoàn hảo mới bắt đầu thay đổi.
Đối với người Kitô hữu, mọi điều này đạt chiều sâu mới trong bí tích Thánh Thể. Chính những thành quả của đất và lao công con người — bánh và rượu — được đem lên bàn thờ và trở thành nơi Đức Kitô trao chính mình. Điều ấy cho thấy vật chất không bị loại khỏi cứu độ. Đất sinh lúa, nho lớn lên nhờ nắng mưa, bàn tay người gieo, gặt, nghiền, nhào, nướng, ép, ủ; cả một lịch sử của tạo thành và lao động đi vào phụng vụ. Người tham dự Thánh Thể rồi trở về phá hủy tạo thành một cách vô trách nhiệm là sống một sự mâu thuẫn. Ta nhận bánh như quà rồi đối xử với đất như vật vô chủ. Ta nhận chén cứu độ rồi làm ô nhiễm nước. Ta gọi mọi người là anh chị em trong Đức Kitô rồi chấp nhận một cơ cấu khiến người nghèo trả giá cho sự tiêu dùng của người giàu. Thánh Thể phải dạy lại cách ta nhận. Con người tội lỗi có xu hướng chộp lấy; Thánh Thể dạy nhận quà. Chộp lấy nói: của tôi. Nhận quà nói: cảm tạ. Chính từ “Eucharistia” mang nghĩa tạ ơn. Một nền linh đạo sinh thái Kitô giáo sâu xa vì thế mang tính Thánh Thể: nhìn sự sống như quà, dùng quà trong lòng biết ơn, chia quà với người khác, và không phá quà như thể không có Người Ban.
Cuối cùng, nói con người là hình ảnh Thiên Chúa có nghĩa con người được gọi trở thành một sự hiện diện của sự chăm sóc trong tạo thành. Ta không thể làm Thiên Chúa. Ta không cứu thế giới bằng sức riêng. Ta cũng không phải gánh cả hành tinh trên vai trong một cảm giác tội lỗi bất tận. Nhưng nơi ta được đặt vào, ta có thể phản ánh một chút cách Thiên Chúa ở với thế giới. Một người cha tắt chiếc đèn không cần thiết và dạy con đừng lãng phí không chỉ tiết kiệm tiền; ông đang dạy thái độ với quà tặng. Một người nông dân giữ đất không bạc màu đang chăm sóc một di sản. Một doanh nhân chấp nhận chi phí xử lý chất thải thay vì đổ lén đang đặt lương tâm trên lợi nhuận. Một giáo xứ giảm đồ dùng một lần, trồng cây, tiết kiệm nước, bảo đảm hoạt động bác ái không tạo thêm lãng phí đang biến giáo lý thành thực hành. Một người trẻ từ chối văn hóa mua để khoe đang giành lại tự do. Một gia đình chăm người già yếu đang tuyên xưng bằng thân xác rằng giá trị của người không hết khi năng suất hết. Một cộng đoàn đón một trẻ khuyết tật đang nói rằng hình ảnh Thiên Chúa không cần chứng chỉ hoàn hảo. Một bác sĩ ở bên người bệnh khi không còn khả năng chữa khỏi vẫn đang tôn trọng phẩm giá không phụ thuộc vào hiệu quả điều trị. Tất cả những điều ấy tưởng nhỏ, nhưng chúng thuộc cùng một thần học: Thiên Chúa ban sự sống, nâng đỡ sự sống, không bỏ cái yếu chỉ vì nó yếu.
Câu hỏi căn bản vì thế không phải: con người có quyền trên tạo thành hay không? Có. Nhưng quyền ấy là quyền của hình ảnh, không phải quyền của Thiên Chúa tuyệt đối. Nó là quyền được ủy thác. Nó mang theo phán xét. Ta sẽ phải trả lời về cách mình sử dụng điều được trao. Và tiêu chuẩn không phải ta đã lấy được bao nhiêu, nhưng ta đã phản ánh Đấng nào. Nếu cách hiện diện của ta làm mọi sự quanh ta kiệt quệ để ta lớn lên, ta đang giống các đế quốc hơn giống Thiên Chúa. Nếu sức mạnh của ta trở thành nơi người yếu được bảo vệ, đất được gìn giữ, sự sống có không gian để nở, thì hình ảnh bắt đầu sáng. Đức Kitô cho thấy khuôn mặt hoàn hảo của hình ảnh ấy: quyền năng trở thành phục vụ, sự cao cả trở thành tự hiến, quyền làm Chúa trở thành rửa chân. Do đó, người Kitô hữu không cần từ bỏ phẩm giá đặc biệt của con người để trở nên sinh thái. Ngược lại, cần sống phẩm giá ấy cho đúng. Con người đặc biệt không phải vì được phép phá nhiều hơn, nhưng vì có khả năng yêu nhiều hơn và chịu trách nhiệm nhiều hơn. Con người đứng giữa tạo thành không như một ông chủ tùy tiện nhưng như người con cả được Cha trao việc chăm sóc nhà. Con người có thể đặt tên cho muôn loài, nhưng không vì thế mà sở hữu bản thể của chúng. Con người có thể dùng đất, nhưng đất vẫn là quà. Con người có thể dựng thành phố, nhưng thành phố vẫn thở nhờ cây, nước, đất và khí trời. Con người có thể sáng tạo công nghệ, nhưng không thể hủy luật của sự sống mà không trả giá. Con người có thể rất mạnh, nhưng sức mạnh chỉ thực sự mang hình ảnh Thiên Chúa khi nó biết cúi xuống.
Bởi vậy, linh đạo sinh thái Công giáo không bắt đầu bằng sự căm ghét loài người. Nó bắt đầu bằng việc nhớ lại con người thật sự là ai. Chúng ta không phải ký sinh trùng của trái đất. Chúng ta cũng không phải thần linh của trái đất. Chúng ta là thụ tạo mang hình ảnh Đấng Tạo Hóa. Chính vị trí ở giữa ấy vừa là vinh dự vừa là thập giá. Chúng ta thuộc về đất vì được nắn từ bụi đất, nhưng được thổi hơi sống và gọi vào tương quan với Thiên Chúa. Chúng ta có thể nhìn một cái cây và hiểu nó, có thể nghiên cứu gene của nó, có thể dùng gỗ của nó, có thể trồng lại, có thể phá hủy cả khu rừng. Không thụ tạo nào khác trên đất có mức tự do ấy. Chính vì vậy, không thụ tạo nào khác mang mức trách nhiệm ấy. Hình ảnh Thiên Chúa không cho phép ta đứng trên đống đổ nát rồi tuyên bố chiến thắng. Hình ảnh Thiên Chúa mời ta đứng giữa một tạo thành đang sống và có thể nói trước mặt Cha: những gì Cha trao, chúng con đã dùng; những gì cần nuôi sống con người, chúng con đã nhận; những gì yếu, chúng con đã cố bảo vệ; những gì bị thương, chúng con đã chữa; những gì thuộc về thế hệ mai sau, chúng con đã không tiêu hết. Đó mới là sự cai quản xứng đáng với con người. Đó mới là quyền lực mang khuôn mặt Thiên Chúa. Và đó cũng là một trong những cách cụ thể nhất để lời “con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa” không còn là một câu giáo lý đẹp, nhưng trở thành một cách ở với người khác, với đất, với nước, với muôn loài và với toàn thể ngôi nhà chung mà Cha đã trao vào tay chúng ta.

CHƯƠNG 14. “HÃY LÀM CHỦ” NGHĨA LÀ QUẢN LÝ, KHÔNG PHẢI CƯỚP
Có lẽ ít câu Kinh Thánh nào trong trình thuật tạo dựng vừa được trích dẫn nhiều, vừa có nguy cơ bị hiểu sai nhiều như lời Thiên Chúa nói với con người trong chương đầu sách Sáng Thế: hãy sinh sôi nảy nở, làm đầy mặt đất, làm chủ mặt đất và thống trị các sinh vật. Chỉ cần tách những động từ ấy ra khỏi toàn bộ mạch văn của Kinh Thánh, con người rất dễ biến chúng thành một thứ giấy phép thiêng liêng cho lòng tham của mình: Thiên Chúa đã trao trái đất cho chúng ta, vậy chúng ta muốn làm gì thì làm; rừng là của con người nên chặt bao nhiêu cũng được; biển là của con người nên đánh bắt đến cạn cũng không sao; khoáng sản nằm trong lòng đất thì phải đào lên cho hết; động vật tồn tại để phục vụ con người nên chỉ cần chúng đem lại lợi nhuận; những dân tộc yếu hơn, những cộng đồng nghèo hơn, những thế hệ chưa sinh ra chưa có tiếng nói hôm nay thì có thể phải chịu phần thiệt để thế hệ đang sống được hưởng tiện nghi. Nếu đọc như thế, Sáng Thế trở thành một văn bản biện hộ cho kẻ mạnh. Nhưng đó không phải là ý nghĩa của mặc khải. Đó là lúc lòng tham của con người lấy một câu Kinh Thánh làm mặt nạ cho chính mình.
Muốn hiểu “hãy làm chủ”, trước hết phải nhớ ai mới là Chủ. Câu trả lời của toàn bộ Kinh Thánh rất rõ: Thiên Chúa mới là Chủ của tạo thành. “Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài, làm chủ hoàn cầu với toàn thể dân cư.” Con người không dựng nên đất. Con người không gọi ánh sáng từ hư vô. Con người không đặt nền móng cho núi, không làm cho biển xuất hiện, không sáng chế ra sức sống trong một hạt giống, không tạo ra cấu trúc kỳ diệu của một tế bào, không viết được từ đầu bản nhạc di truyền của sự sống. Khi con người xuất hiện vào ngày thứ sáu, vũ trụ đã có trước. Ánh sáng có trước. Nước có trước. Đất có trước. Cây cối có trước. Mặt trời, mặt trăng, tinh tú có trước. Cá biển và chim trời có trước. Muông thú có trước. Con người bước vào một ngôi nhà mình không xây. Điều đầu tiên một người khách khôn ngoan phải học khi bước vào một ngôi nhà không phải của mình là kính trọng nhà và kính trọng ý muốn của chủ nhà. Chính ở điểm này ta phải sửa tận gốc một lối nghĩ đã ăn sâu vào nền văn minh hiện đại: chúng ta không phải chủ sở hữu tuyệt đối của trái đất; chúng ta là người được trao trách nhiệm trong một ngôi nhà thuộc về Đấng khác.
Bởi vậy, chữ “làm chủ” trong Kinh Thánh không thể được hiểu theo nghĩa con người có quyền tùy tiện. Quyền của con người trên tạo thành là quyền được ủy thác, nghĩa là nó luôn nằm bên trong một tương quan trách nhiệm. Một người quản gia được chủ nhà giao chìa khóa không vì thế trở thành chủ sở hữu căn nhà. Người ấy có quyền mở cửa, phân phối lương thực, tổ chức công việc, sử dụng tài sản, nhưng phải sử dụng đúng mục đích của người chủ. Ngày chủ trở về, người quản gia phải trả lời. Hình ảnh quản gia ấy xuất hiện nhiều lần trong Tin Mừng và cung cấp một chìa khóa rất đẹp để hiểu quyền “làm chủ” trong Sáng Thế. Quyền càng lớn, trách nhiệm càng lớn. Tài sản được trao càng nhiều, việc trả lẽ càng nghiêm túc. Con người được trao một vị trí đặc biệt trong tạo thành không phải để được miễn trách nhiệm, nhưng chính vì thế mà phải chịu trách nhiệm lớn hơn mọi loài khác. Con hổ không chịu trách nhiệm luân lý về cánh rừng. Con cá voi không chịu trách nhiệm luân lý về đại dương. Nhưng con người biết lựa chọn, biết tính toán hậu quả, biết yêu, biết từ bỏ, biết tham lam, biết công bằng, biết mình có thể hủy diệt và cũng biết mình có thể gìn giữ. Chính khả năng ấy làm cho “quyền thống trị” của con người trở thành một ơn gọi đạo đức.
Nếu chỉ đọc Sáng Thế chương 1 rồi dừng lại, người ta dễ phóng đại những động từ mạnh như “thống trị” và “làm chủ”. Nhưng Kinh Thánh không kết thúc ở cuối chương 1. Sang chương 2, ơn gọi của con người được diễn tả bằng hai động từ khác: canh tác và gìn giữ khu vườn. Hai động từ này phải được đặt bên cạnh “làm chủ” nếu muốn có một thần học tạo thành cân bằng. Con người không được đặt trong vườn chỉ để hưởng. Con người được đặt trong vườn để làm việc. Nhưng cũng không phải chỉ để làm việc theo nghĩa khai thác. Con người còn phải gìn giữ. Canh tác mà không gìn giữ sẽ thành bóc lột. Gìn giữ mà hoàn toàn không canh tác sẽ biến tạo thành thành một viện bảo tàng bất động. Kinh Thánh giữ cả hai: con người được phép can thiệp, sáng tạo, phát triển, gieo trồng, xây dựng, sử dụng khả năng của trí tuệ; đồng thời con người phải bảo vệ khả năng sinh sôi của đất, sự quân bình của hệ sinh thái, vẻ đẹp và thiện ích nội tại của các loài, cũng như quyền của những người khác được chia sẻ các thiện ích của trái đất. Vì thế linh đạo sinh thái Kitô giáo không chống phát triển, nhưng hỏi phát triển để làm gì, cho ai, với giá nào, ai hưởng lợi và ai phải trả giá.
“Làm chủ” theo Kinh Thánh không phải là đứng trên một xác chết. Một vị vua cai trị một đất nước mà dân chúng đói khát, đất đai hoang hóa, sông ngòi nhiễm độc, trẻ em bệnh tật và những người yếu thế bị nghiền nát thì không thể được gọi là một vị vua tốt chỉ vì ngân khố của ông đầy. Nếu con người được mời phản ánh quyền cai trị của Thiên Chúa, con người phải hỏi Thiên Chúa cai trị thế nào. Thiên Chúa của Kinh Thánh không cai trị bằng hút hết sự sống từ đối tượng mình cai trị. Người ban sự sống. Người cho mặt trời mọc. Người cho mưa xuống. Người nuôi chim trời. Người mặc đẹp cho hoa huệ ngoài đồng. Người giải thoát nô lệ. Người bênh vực cô nhi quả phụ. Người nghe tiếng kêu của kẻ bị áp bức. Quyền năng của Thiên Chúa không phải thứ quyền năng càng lớn thì chung quanh càng chết; quyền năng Thiên Chúa làm cho sự sống nảy nở. Vì thế, nếu con người là hình ảnh Thiên Chúa, quyền cai quản của con người cũng phải mang dấu ấy. Ta chỉ thực sự “làm chủ” theo kiểu của Thiên Chúa khi sự hiện diện của ta làm cho sự sống được nâng đỡ, chứ không phải khi mọi sự quanh ta bị biến thành nhiên liệu cho cái tôi.
Đây là một sự đảo ngược rất lớn đối với não trạng hiện đại. Nền kinh tế thường đo quyền lực bằng khả năng chiếm hữu: sở hữu nhiều đất hơn, khai thác nhiều hơn, sản xuất nhiều hơn, tiêu thụ nhiều hơn, vận chuyển nhiều hơn, kiểm soát nhiều hơn. Nhưng trong nhãn quan Kinh Thánh, sở hữu không phải thước đo cuối cùng của tư cách làm chủ; trách nhiệm mới là thước đo. Một người có một hecta đất mà biết chăm đất, không đầu độc nguồn nước, không bóc lột người làm, để lại đất màu mỡ cho con cháu, có thể đang sống ơn gọi quản lý của Sáng Thế tốt hơn một tập đoàn sở hữu hàng ngàn hecta nhưng để lại sau mình đất chết và cộng đồng tan vỡ. Một gia đình dùng ít tài nguyên nhưng biết tạ ơn, biết tiết độ, biết chia sẻ, biết sửa đồ thay vì vứt bỏ vô tội vạ, có thể đang sống quyền “làm chủ” của con người sâu hơn một người tiêu thụ vô hạn chỉ vì mình có tiền mua. Trong Kitô giáo, khả năng mua được một thứ không tự động tạo ra quyền luân lý để sử dụng thứ ấy theo bất cứ cách nào.
Cũng cần nhìn thẳng vào lịch sử: có những lúc người Kitô hữu đã đọc sai hoặc sống sai lệnh truyền này. Không nên bảo vệ đức tin bằng cách chối rằng người có đức tin từng lạm dụng Kinh Thánh. Khi Kitô hữu dùng khái niệm “thống trị” để biện minh cho việc hủy hoại thiên nhiên, bóc lột dân bản địa, chiếm đất của người yếu, coi các giống loài khác chỉ là vật vô nghĩa, thì người ấy không làm cho Sáng Thế đáng tin hơn; người ấy chỉ chứng minh rằng Kinh Thánh có thể bị lòng tham bóp méo. Nhưng sai lầm của người đọc không phải là ý nghĩa thật của bản văn. Một con dao có thể được dùng để cứu người trong phòng mổ hoặc giết người ngoài phố; việc nó từng được dùng sai không quyết định mục đích chân chính của nó. Cũng vậy, từ “dominium”, quyền thống trị hay quyền quản trị, cần được thanh luyện khỏi những lớp nghĩa đế quốc mà lịch sử từng chất lên nó. Dominium của người tín hữu không thể là quyền lực Caesar khoác áo Sáng Thế. Nó phải được nhìn dưới ánh sáng của Đức Kitô.
Và nơi Đức Kitô, cách hiểu về quyền làm chủ đạt đến một bước ngoặt quyết định. Người là Chúa, nhưng Người rửa chân. Người có quyền, nhưng quyền của Người được biểu lộ trong phục vụ. Người là Đấng nhờ Người mà muôn vật được tạo thành, nhưng khi đi vào tạo thành, Người không đến như một kẻ cướp bóc. Người sinh trong cảnh nghèo. Người dùng nước của giếng, bánh của người khác, thuyền của người khác, căn phòng của người khác, mộ của người khác. Người sống giữa thụ tạo với một sự nghèo lạ lùng. Người nói về chim trời, hoa huệ, hạt giống, cây nho, cây vả, lúa mì, cỏ lùng, cánh đồng, biển hồ, cá, chiên, đất đá. Thiên nhiên trong dụ ngôn của Đức Giêsu không chỉ là phông nền. Nó trở thành ngôn ngữ của Nước Trời. Một Đức Kitô như thế không thể được viện dẫn để biện minh cho lối sống phá hủy ngôi nhà Người đã bước vào.
Thập giá còn đi xa hơn. Trên thập giá, Đức Kitô cho thấy cách Thiên Chúa thực thi quyền tối thượng: không phải bắt kẻ yếu chết để kẻ mạnh sống, nhưng Đấng mạnh tự hiến để người yếu được sống. Đây là logic ngược hẳn với logic của nhiều nền kinh tế khai thác. Logic của khai thác nói: những người không có quyền lực phải trả giá để những người có quyền lực được sống tiện nghi. Logic thập giá nói: người có nhiều hơn mang trách nhiệm lớn hơn; người mạnh cúi xuống; người có khả năng từ bỏ thì từ bỏ vì sự sống của người khác. Dĩ nhiên không thể đơn giản biến thập giá thành một chính sách môi trường, nhưng không thể xây một linh đạo sinh thái Kitô giáo mà quên hình dạng của thập giá. Một nền “quản trị tạo thành” mang tên Kitô giáo mà luôn để người nghèo chết thay cho lối sống của người giàu thì chưa mang hình thập giá.
Vì thế, cuộc khủng hoảng sinh thái và cuộc khủng hoảng xã hội không thể tách khỏi nhau. Rất thường xuyên, người nghèo là những người trả giá đầu tiên cho việc người khác “làm chủ” sai cách. Khi một dòng sông bị nhiễm độc, người giàu có thể mua nước đóng chai hoặc chuyển chỗ ở; người nghèo phải tiếp tục uống nước ấy. Khi không khí thành độc, người có tiền mua máy lọc, đi nghỉ ở nơi khác, khám bệnh tại bệnh viện tốt; người nghèo sống cạnh nhà máy, cạnh bãi rác, cạnh đường xe tải. Khi khí hậu biến đổi làm mùa màng thất thường, gia đình có vốn còn có bảo hiểm hoặc dự trữ; người nông dân nghèo có thể mất cả vụ, nợ tiền giống, phải bỏ quê. Khi một vùng duyên hải mất khả năng sinh sống, người giàu có hộ chiếu, tiền và mạng lưới để chuyển đi; người nghèo trở thành người di cư bất đắc dĩ. Vì thế, nói về sinh thái mà không nói về người nghèo là chưa đọc đủ tiếng kêu của trái đất. Và nói về người nghèo mà không hỏi tại sao môi trường sống của họ bị hủy hoại cũng là chưa nhìn hết cơ chế của bất công.
“Kế hoạch kỳ diệu” của Thiên Chúa không thể là một kim tự tháp mà trên đỉnh là một nhóm người tiêu thụ vô hạn, bên dưới là các tầng người nghèo làm thuê, rồi dưới nữa là đất, nước, rừng, động vật và đại dương bị nghiền thành nguyên liệu. Không có gì trong trình thuật tạo dựng cho phép ta hình dung ý định Thiên Chúa theo cách đó. Sáng Thế không kể rằng Thiên Chúa tạo ra một thứ vô nghĩa để con người đứng lên trên. Mỗi ngày tạo dựng đều nhận một lời nhìn nhận: tốt đẹp. Trước khi con người đặt tên, tính giá hoặc sử dụng một sự vật, Thiên Chúa đã nhìn nó và thấy tốt đẹp. Đây là điều vô cùng quan trọng. Giá trị của thụ tạo không bắt đầu khi nó hữu ích cho con người. Một loài chim không chỉ có giá trị vì nó ăn sâu hại mùa màng. Một cánh rừng không chỉ có giá trị vì cung cấp gỗ hoặc hấp thụ carbon. Một dòng sông không chỉ có giá trị vì làm thủy điện. Một ngọn núi không chỉ có giá trị vì chứa khoáng sản. Chúng có một giá trị nhận được từ Đấng Tạo Hóa trước khi bước vào bảng tính kinh tế của chúng ta.
Điều đó không có nghĩa Kitô giáo cho rằng con người và mọi loài hoàn toàn ngang nhau. Con người có vị trí độc đáo vì được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, có tự do luân lý và được gọi vào giao ước với Thiên Chúa. Một cây cổ thụ và một trẻ em không có cùng phẩm giá luân lý. Khi buộc phải chọn giữa cứu một con người và bảo tồn một vật thể thiên nhiên, trật tự phẩm giá phải được tôn trọng. Nhưng chính vì con người có phẩm giá đặc biệt mà trách nhiệm của con người đối với các loài khác càng lớn, chứ không nhỏ đi. Một người cha không chứng minh mình cao hơn đứa trẻ bằng cách đánh nó; ông chứng minh tư cách làm cha bằng cách chăm sóc nó. Tương tự, sự cao trọng của con người trong tạo thành không được chứng minh bằng khả năng tiêu diệt. Con người có thể chặt cả khu rừng bằng máy móc; điều ấy cho thấy sức mạnh kỹ thuật, chưa cho thấy sự trưởng thành đạo đức. Một đứa trẻ cũng có thể giẫm chết một con kiến. Quyền năng phá hủy không bao giờ tự nó chứng minh quyền được phá hủy.
Có một cám dỗ rất tinh vi: lấy khả năng kỹ thuật làm tiêu chuẩn cho phép luân lý. Ta có thể làm, nên ta được làm. Ta có công nghệ khoan sâu hơn, nên phải khoan. Ta có công nghệ khai thác hiệu quả hơn, nên phải khai thác. Ta có thể sản xuất hàng tỷ món đồ dùng một lần, nên cứ sản xuất. Ta có thể nuôi động vật trong những hệ thống công nghiệp tối đa hóa sản lượng, nên cứ làm. Nhưng luân lý luôn đặt một câu hỏi khác: điều có thể làm có nên làm không? Đức khôn ngoan Kitô giáo nằm chính trong khoảng cách giữa “có thể” và “nên”. Không phải mọi giới hạn đều là kẻ thù của tiến bộ. Có những giới hạn là hàng rào bảo vệ sự sống. Ngày sabát trong Sáng Thế chính là một giới hạn như thế: ngay cả lao động tốt cũng phải biết dừng. Đất không phải máy. Thân thể không phải máy. Người lao động không phải máy. Gia súc cũng được nghỉ trong luật sabát. Một nền văn minh không biết nghỉ cuối cùng cũng không biết giữ. Nó sẽ dùng hết mọi thứ, kể cả chính con người.
Bởi đó, “canh tác và gìn giữ” không phải một khẩu hiệu mềm dành cho những người thích thiên nhiên. Nó là một nguyên tắc của thần học lao động. Canh tác là đưa tiềm năng của tạo thành tới chỗ sinh hoa trái. Người nông dân canh tác, người kỹ sư canh tác theo nghĩa rộng, nhà khoa học canh tác, kiến trúc sư canh tác, người làm công nghệ cũng canh tác. Văn hóa chính là dấu vết của con người trên tạo thành. Thành phố, con đường, cây cầu, bệnh viện, máy móc, âm nhạc, vườn cây đều có thể là hoa trái của mệnh lệnh ấy. Kitô giáo không mơ về một thế giới trong đó con người biến mất để thiên nhiên được “nguyên sơ”. Con người thuộc về tạo thành và được giao một vai trò tích cực trong đó. Nhưng “gìn giữ” đặt một giới hạn cho canh tác: phát triển phải giữ được những điều kiện cho sự sống tiếp tục. Một thế hệ không được phép biến cái được trao cho nhiều thế hệ thành tro bụi chỉ vì mình đến trước.
Từ đây nảy ra một nguyên tắc rất quan trọng: quyền đối với tài sản không phải quyền tuyệt đối. Truyền thống xã hội Công giáo từ lâu đã nói về mục đích phổ quát của của cải trần gian. Tư hữu có giá trị và cần được bảo vệ, nhưng tư hữu phục vụ con người và công ích, không biến chủ sở hữu thành một vị thần nhỏ trong lãnh địa riêng. Tôi có thể có giấy chứng nhận quyền sử dụng một mảnh đất, nhưng điều đó không trao cho tôi quyền đầu độc mạch nước chạy sang đất của người khác. Một doanh nghiệp có thể sở hữu một nhà máy, nhưng không vì thế có quyền đẩy toàn bộ chi phí môi trường sang cộng đồng chung quanh. Một quốc gia có tài nguyên trong biên giới mình, nhưng việc sử dụng tài nguyên ấy vẫn phải tính đến công ích nhân loại và các thế hệ tương lai. Luật dân sự xác định ai là chủ sở hữu pháp lý; đức tin còn hỏi người đó đang quản lý tài sản của Đấng Tạo Hóa ra sao.
Điều này đòi người Kitô hữu phải học lại ý nghĩa của chữ “của tôi”. Nhà của tôi, tiền của tôi, xe của tôi, đất của tôi, công ty của tôi, thời gian của tôi. Ngôn ngữ ấy hợp pháp trong đời sống xã hội. Nhưng đối với người đã chịu phép Rửa, không có cái “của tôi” nào hoàn toàn tách khỏi Thiên Chúa và tha nhân. Chính thân xác tôi cũng là một ân ban. Khả năng tôi có là ân ban. Cơ hội kinh doanh tôi gặp được tồn tại trong một xã hội do vô số người cùng xây dựng. Con đường vận chuyển hàng hóa của tôi được xây bằng nguồn lực chung. Người lao động tạo ra giá trị với tôi. Đất và nước tôi sử dụng đã có trước tôi. Vậy sự sở hữu là thực, nhưng không tuyệt đối. Người tín hữu sở hữu trong tư thế của người đã nhận. Và ai biết mình đã nhận thì phải biết tạ ơn, sử dụng đúng và chia sẻ.
Một thứ thần học sai về “làm chủ” thường đi đôi với một thứ nhân học sai về thành công. Nếu thành công được đo bằng mức tiêu thụ, thì càng giàu càng phải tiêu thụ nhiều để chứng minh mình thành công. Nhà phải lớn hơn, xe phải nhiều hơn, quần áo phải đổi nhanh hơn, thiết bị còn dùng được cũng phải thay vì có mẫu mới, thực phẩm phải dư thừa để chứng minh khả năng chi trả, những chuyến đi phải dày đặc để chứng minh vị thế. Khi ấy tạo thành trở thành sân khấu cho cái tôi trình diễn. Người Kitô hữu cần có can đảm đặt câu hỏi khó chịu: tại sao có tiền lại phải tiêu cho hết khả năng? Tại sao tiết độ bị coi là dấu hiệu của thiếu thốn? Tại sao sửa một món đồ lại bị xem là lạc hậu hơn mua mới? Tại sao lòng biết đủ, vốn từng là một nhân đức, lại trở thành điều đáng xấu hổ trong một nền văn hóa quảng cáo?
Quản lý tạo thành không chỉ diễn ra ở hội nghị khí hậu hoặc những dự án lớn. Nó bắt đầu ở cách ta cầm một món đồ. Ta dùng nó bao lâu? Ta có quý lao động đã tạo ra nó không? Ta có biết nó từ đâu đến không? Ta có nghĩ đến người đã may chiếc áo, khai khoáng sản cho chiếc điện thoại, trồng cà phê cho ly ta đang uống, vận chuyển thức ăn tới bàn ta không? Một nền kinh tế toàn cầu làm cho chuỗi cung ứng dài đến mức người tiêu dùng không còn nhìn thấy khuôn mặt ở đầu kia. Ta chỉ thấy giá. Nhưng linh đạo quản gia đòi nhìn sâu hơn giá. Một món đồ rẻ có thể chứa một chi phí mà bảng giá không ghi: lương thấp, lao động bóc lột, nước bị ô nhiễm, rừng bị phá, khí thải được chuyển sang nơi nghèo. Người Kitô hữu không thể kiểm soát mọi chuỗi cung ứng, nhưng có thể tập thói quen đặt câu hỏi. Câu hỏi đã là một khởi đầu của lương tâm.
Đặc biệt, những người có quyền kinh tế càng cần hiểu “làm chủ” là quản lý. Một chủ doanh nghiệp Kitô hữu không chỉ trả lời trước pháp luật và cổ đông. Người ấy còn đứng trước Thiên Chúa với những gì doanh nghiệp của mình gây ra cho con người và tạo thành. Lợi nhuận là cần thiết để doanh nghiệp sống; lợi nhuận không phải tội. Nhưng lợi nhuận không phải tiêu chuẩn tối hậu của mọi quyết định. Nếu một mô hình kinh doanh chỉ sinh lời nhờ chuyển chi phí sang sức khỏe của cộng đồng, bóc kiệt nhân viên hoặc tàn phá tài nguyên mà không phục hồi, thì lợi nhuận ấy đang che một hóa đơn mà người khác phải trả. Quản lý Kitô giáo đòi đưa những chi phí bị giấu ấy trở lại trong việc phân định. Câu hỏi không chỉ là: “Có lời không?” mà còn là: “Có công bằng không? Có bền vững không? Có làm người nghèo yếu hơn không? Có để lại sự sống cho thế hệ tới không?”
Người nông dân cũng đứng trước những phân định cụ thể. Canh tác để nuôi người là một ơn gọi cao quý. Nhưng khi đất bị ép sinh sản như một cỗ máy, khi thuốc và hóa chất được dùng bất chấp hậu quả, khi nguồn nước bị vắt đến cạn, thì canh tác tách khỏi gìn giữ. Ngược lại, những người sống ở thành phố cũng không thể đổ toàn bộ trách nhiệm môi trường lên nông dân hoặc công nghiệp. Chính nhu cầu tiêu thụ của thành phố tạo áp lực lên đất ở xa. Ta muốn thực phẩm thật rẻ, thật nhiều, có quanh năm, hình thức thật đẹp nhưng không muốn hỏi hệ thống phải làm gì để đáp ứng mong muốn đó. Mọi hệ thống sản xuất cuối cùng đều có một người tiêu thụ ở phía cuối. Hoán cải sinh thái vì thế không chỉ là yêu cầu nhà sản xuất thay đổi. Người tiêu dùng cũng phải hoán cải ham muốn của mình.
Nhưng phải rất cẩn thận để linh đạo sinh thái không trở thành một thứ đạo đức dành cho người có tiền. Không thể đứng từ căn hộ đầy đủ rồi trách một người nghèo vì họ dùng sản phẩm rẻ, hoặc trách một gia đình lao động vì họ không có khả năng chọn lựa những sản phẩm thân thiện môi trường đắt hơn. Công lý luôn phải đi trước việc lên án cá nhân. Có những lựa chọn xấu phát sinh từ hệ thống mà cá nhân nghèo gần như không có lựa chọn khác. Vì thế trách nhiệm phân tầng theo khả năng. Người có nhiều tiền, nhiều quyền lực, nhiều tri thức và nhiều khả năng chọn lựa có trách nhiệm lớn hơn. Một người nghèo đốt loại nhiên liệu rẻ để nấu bữa tối cho con không thể bị đặt ngang với một ngành công nghiệp biết rõ tác hại nhưng vẫn tiếp tục chỉ để tăng biên lợi nhuận. Lương tâm Kitô giáo biết phân biệt.
Nguyên tắc quản gia cũng áp dụng cho quyền lực chính trị. Chính phủ không sở hữu đất nước như tài sản gia đình. Tài nguyên quốc gia không phải chiến lợi phẩm của người đang cầm quyền. Những người lãnh đạo là những người quản lý trong một giai đoạn của lịch sử. Họ phải nghĩ đến những người chưa bỏ phiếu vì chưa sinh ra. Đây là một thách đố lớn cho chính trị, bởi chu kỳ chính trị thường ngắn trong khi hậu quả môi trường rất dài. Một công trình đem lại thành tích trong vài năm có thể để lại gánh nặng nhiều thập niên. Một khu rừng mất vài tháng để phá nhưng cần hàng chục năm hoặc hàng thế kỷ để phục hồi. Một loài tuyệt chủng thì không có nhiệm kỳ sau để sửa. Chính vì thế đạo đức quản gia đòi khả năng nhìn vượt khỏi lợi ích trước mắt.
Có lẽ đây là điểm nền văn minh kỹ trị gặp một thử thách thiêng liêng sâu nhất: chúng ta giỏi tính toán lợi ích gần, nhưng yếu trong lòng trung thành với tương lai xa. Tin vào Thiên Chúa Đấng Tạo Hóa buộc con người mở tầm nhìn. Thế giới không bắt đầu khi tôi sinh và không kết thúc khi tôi chết. Tôi nhận một thế giới từ người đi trước và phải trao nó cho người đi sau. Đó là một thứ truyền thống vật chất của nhân loại. Chúng ta thường nói phải truyền lại đức tin, văn hóa, ngôn ngữ, gia sản. Cũng phải truyền lại đất có thể trồng, nước có thể uống, không khí có thể thở, biển còn cá, rừng còn sống. Nếu thế hệ trước trao cho ta một nhà thờ đẹp nhưng một vùng đất chết, di sản ấy bị thương tích. Nếu ta để lại cho con cháu tài khoản ngân hàng lớn nhưng khí hậu bất ổn và nguồn nước hư hại, chưa chắc ta đã là những người quản gia tốt.
Trong đời sống cá nhân, tư cách quản gia bắt đầu bằng lòng biết ơn. Người không biết cảm tạ rất dễ trở thành kẻ chiếm hữu. Khi một ly nước chỉ là thứ đương nhiên phải có, ta không thấy phép lạ của nó. Khi một bữa cơm chỉ là hàng hóa đã trả tiền, ta quên đất, mưa, nắng, bàn tay người trồng, người vận chuyển, người nấu. Cầu nguyện trước bữa ăn vì thế không phải nghi thức nhỏ không liên quan đến sinh thái. Đó là việc tái giáo dục cái nhìn. Ta thú nhận rằng thức ăn là ân ban trước khi là sản phẩm. Ta không tự làm ra nó từ hư vô. Tạ ơn đúng nghĩa sẽ dẫn đến thái độ không phung phí. Thật mâu thuẫn nếu đọc kinh cảm ơn Chúa vì lương thực rồi đổ một phần lớn lương thực vào thùng rác chỉ vì đã lấy quá nhiều.
Cũng vậy, việc giữ gìn đồ vật có thể trở thành một nhân đức nhỏ của quản gia. Một nền văn hóa dùng rồi bỏ dạy con người rằng mọi thứ đều có thể thay. Nhưng thói quen ấy có thể lan sang cả tương quan: đồ hỏng thì bỏ, người bất tiện cũng bỏ. Dĩ nhiên không nên thần thánh hóa vật cũ hay chống mọi đổi mới. Nhưng biết sửa, biết chăm, biết dùng lâu, biết trao lại cho người khác là một hình thức kháng cự tinh thần tiêu thụ. Nó nói rằng thế giới không phải kho vô tận và thùng rác cũng không phải vực vô đáy. Rác không biến mất khi xe rác đi khỏi cửa nhà. Nó chỉ biến mất khỏi tầm mắt của ta và xuất hiện trong đời một người khác, một vùng đất khác, một con sông khác.
Quản gia cũng đòi nhìn động vật với một cái nhìn đã được thanh luyện. Kitô giáo không đồng nhất con người với động vật, nhưng cũng không cho phép tàn ác. Một sinh vật có khả năng đau đớn không thể bị đối xử như một khối vật liệu vô cảm chỉ vì nó không phải con người. Con người có thể sử dụng động vật cho những nhu cầu chính đáng, nhưng phải tránh hành hạ, lãng phí và những hình thức đối xử biến sự sống thành món hàng hoàn toàn vô nghĩa. Một đứa trẻ được dạy biết nhẹ tay với con vật cũng đang được giáo dục về lòng thương xót. Không phải vì con vật có cùng phẩm giá với con người, nhưng vì trái tim quen với sự tàn nhẫn ở một nơi có thể trở nên chai lì ở nơi khác.
Quản gia còn có nghĩa là biết có những điều không nên chạm đến chỉ vì mình có khả năng chạm. Trong Kinh Thánh, khu vườn có giới hạn. Điều này nhắc rằng tạo thành không phải nơi mọi ham muốn của con người đều có quyền được thỏa mãn. Văn hóa hiện đại đôi khi gọi mọi giới hạn là áp bức. Nhưng một dòng sông cần bờ. Một bản nhạc cần nhịp. Một đời người cần giới hạn. Tự do không lớn lên bằng cách phá tất cả bờ cõi; tự do trưởng thành khi biết điều gì đáng từ bỏ để điều lớn hơn được sống. Trong sinh thái cũng vậy. Tiết độ không phải thua cuộc. Tiết độ là cách tự do khỏi sự cưỡng bức của ham muốn.
Từ “đủ” cần được phục hồi trong đời sống Kitô hữu. Bao nhiêu là đủ? Không có một con số giống nhau cho mọi người. Nhưng câu hỏi phải được đặt. Không đặt câu hỏi ấy, ham muốn tự động trở thành vô hạn. Mà trong một hành tinh hữu hạn, ham muốn vô hạn của một nhóm người tất yếu làm người khác thiếu. Có những người thiếu vì tài nguyên thực sự hiếm, nhưng cũng có những người thiếu vì người khác lấy quá nhiều. Truyền thống Kitô giáo gọi lòng tham là một tội không phải vì của cải tự nó xấu, nhưng vì lòng tham biến một phương tiện thành cứu cánh. Người tham không còn sử dụng của cải; của cải sử dụng người ấy. Người đó không còn làm chủ vật chất; vật chất làm chủ người đó. Vì vậy thật nghịch lý: người muốn “làm chủ” mọi thứ có thể chính là người bị ham muốn thống trị nhất.
Đức khó nghèo Kitô giáo soi sáng điều này. Đức khó nghèo không nhất thiết buộc mọi giáo dân từ bỏ tài sản như một tu sĩ khấn dòng, nhưng mọi Kitô hữu đều được gọi sống tinh thần nghèo khó: biết mình không tự đủ, biết của cải là phương tiện, biết chia sẻ, biết từ bỏ, biết không định nghĩa giá trị bản thân bằng thứ mình sở hữu. Chính tinh thần ấy giải phóng người Kitô hữu để trở thành một quản gia tốt. Người sợ mất mọi thứ sẽ bám chặt. Người biết mình thuộc về Thiên Chúa có thể mở tay.
Ở đây, Bí tích Thánh Thể cung cấp một trường học đặc biệt về cách con người sử dụng tạo thành. Bánh và rượu là hoa màu của ruộng đất nhưng cũng là sản phẩm lao công của con người. Tạo thành và lao động gặp nhau trên bàn thờ. Chúng không bị khinh thường, nhưng cũng không bị giữ lại cho con người chiếm hữu. Chúng được dâng. Việc dâng lễ dạy một logic khác với tiêu thụ: nhận, tạ ơn, dâng, bẻ ra, chia sẻ. Nếu đời sống kinh tế của người Công giáo chỉ biết nhận và giữ mà không biết tạ ơn, dâng và chia, thì đời sống ấy chưa học được logic Thánh Thể dù người ấy tham dự Thánh lễ mỗi ngày. Thánh Thể không cung cấp một công thức kỹ thuật cho chính sách môi trường, nhưng đào tạo một kiểu con người không nhìn tạo thành như chiến lợi phẩm.
Lời “Này là Mình Thầy, bị nộp vì anh em” cũng đối lập sâu sắc với logic tích trữ. Đức Kitô trao chính mình. Người tín hữu được nuôi bằng một sự sống tự hiến rồi được sai về thế giới. Do đó câu hỏi sau Thánh lễ không chỉ là “tôi đã nhận được gì?” nhưng “đời tôi sẽ được bẻ ra thế nào cho sự sống của người khác?” Nếu người giàu sẵn sàng giảm một phần tiện nghi để cộng đồng bớt gánh nặng; nếu doanh nghiệp chấp nhận lợi nhuận ít hơn để người lao động được sống tử tế và môi trường được phục hồi; nếu một gia đình biết mua ít đi để có tiền chia sẻ; nếu một giáo xứ giảm lãng phí và dùng nguồn lực cho người nghèo, đó là những cử chỉ có âm vang Thánh Thể.
Giáo xứ vì thế có thể trở thành một trường học quản gia rất cụ thể. Không chỉ tổ chức một ngày trồng cây để chụp ảnh. Giáo xứ có thể nhìn lại cách dùng điện, nước, nhựa, thực phẩm, việc xử lý rác, cách tổ chức lễ hội, cách mua sắm. Những bữa tiệc giáo xứ có dư thừa lớn trong khi gần đó có người thiếu ăn là một nghịch lý cần xét mình. Những chương trình đạo đức tạo ra hàng núi đồ dùng một lần cũng cần được suy nghĩ. Các công trình nhà thờ có thể đặt câu hỏi về bóng mát, nước mưa, năng lượng, vật liệu, không gian xanh. Không phải biến nhà xứ thành một cơ quan môi trường, nhưng làm cho lời giảng có thân xác. Nếu giảng Laudato Si’ mà mỗi sinh hoạt vẫn vận hành trong văn hóa lãng phí, bài giảng sẽ nhẹ hơn thùng rác phía sau hội trường.
Trong gia đình, cha mẹ có thể truyền linh đạo quản gia bằng những điều nhỏ hơn nhiều. Dạy con tắt điện không dùng. Dạy lấy thức ăn vừa đủ. Dạy không vứt đồ chỉ vì chán. Dạy biết quý một cái cây. Dạy không hành hạ con vật. Dạy dọn rác mình tạo ra. Dạy nói lời cảm ơn người trồng rau, người quét đường, người thu gom rác. Những việc ấy chưa phải toàn bộ giáo dục đức tin, nhưng chúng tạo ra một nhân cách biết mình không phải trung tâm duy nhất của thế giới. Và đó là một điều kiện để đứa trẻ học thờ phượng Thiên Chúa thật. Một người luôn được dạy mọi thứ tồn tại để phục vụ mình sẽ khó hiểu thế nào là thờ phượng, bởi thờ phượng bắt đầu bằng việc thừa nhận có một Đấng không xoay quanh cái tôi của ta.
Các cộng đoàn tu trì cũng phải xét mình về điều này. Khấn khó nghèo mà sống trong một hệ thống lãng phí là một mâu thuẫn. Không cần nghèo giả tạo hay từ chối những điều kiện cần thiết cho sứ vụ, nhưng những người tuyên khấn khó nghèo có một trách nhiệm làm chứng rằng đời người có thể phong phú mà không phải sở hữu vô hạn. Một cộng đoàn biết chia sẻ xe, dùng đồ bền, tránh phung phí thực phẩm, chăm đất, mở không gian cho người nghèo, không chạy theo mọi tiện nghi chỉ vì có nhà tài trợ, có thể âm thầm nói một lời ngôn sứ. Trong một thế giới tin rằng hạnh phúc tỷ lệ với tiêu thụ, đời tu có thể chứng minh một phép tính khác.
Các linh mục cũng cần cẩn thận khi giảng Sáng Thế. Nếu chỉ nhấn “Thiên Chúa trao mọi sự cho con người sử dụng” mà không nói “canh tác và gìn giữ”, người giảng có thể vô tình củng cố lối hiểu lệch. Ngược lại, cũng đừng giảng môi trường bằng một giọng khiến giáo dân cảm thấy đức tin bị thay bằng một chương trình chính trị đang thịnh hành. Nền của linh đạo sinh thái Kitô giáo không phải là nỗi sợ trước một khẩu hiệu thời đại; nền của nó là tín điều Tạo dựng, Nhập thể, Quan phòng, tội lỗi, cứu chuộc và cánh chung. Ta chăm sóc trái đất không phải vì trái đất là thần. Ta chăm sóc trái đất vì trái đất là của Thiên Chúa. Ta không bảo vệ thiên nhiên thay cho con người. Ta bảo vệ tạo thành như ngôi nhà Thiên Chúa trao cho gia đình nhân loại, đặc biệt nhớ những người nghèo nhất trong gia đình ấy.
Ở chiều sâu hơn, vấn đề sinh thái đặt ra một câu hỏi về tội nguyên tổ: con người có chịu là thụ tạo không? Tội của Adam không đơn giản là ăn một trái cây; nó chứa cám dỗ muốn tự quyết thiện ác, muốn vượt giới hạn của thụ tạo. Khủng hoảng sinh thái hiện đại có thể được nhìn như một phiên bản tập thể của cùng cám dỗ: chúng ta cư xử như thể không có giới hạn nào phải nhận, không có trật tự nào phải kính trọng, không có Chủ nào phải trả lời. Ta muốn một nền kinh tế tăng trưởng vô hạn trên một hành tinh hữu hạn. Ta muốn sự tiện nghi vô hạn nhưng không chấp nhận chi phí. Ta muốn thiên nhiên phục vụ nhưng không được mệt. Ta muốn đất sinh mà không được nghỉ. Ta muốn biển cung cấp nhưng không được cạn. Ta muốn khí quyển hấp thụ nhưng không được đổi. Đó không chỉ là một sai lầm kỹ thuật. Trong chiều sâu, nó là một cuộc nổi loạn chống thân phận thụ tạo.
Hoán cải sinh thái vì vậy là một phần của hoán cải tôn giáo. Nó bắt đầu khi con người lại nói: tôi không phải Thiên Chúa. Câu ấy nghe có vẻ hiển nhiên, nhưng đời sống ta thường phủ nhận nó. Tôi không phải Thiên Chúa nên không có quyền tiêu thụ vô hạn. Tôi không phải Thiên Chúa nên không thể thấy hết hậu quả mọi quyết định và cần khiêm nhường trước sự phức tạp của hệ sinh thái. Tôi không phải Thiên Chúa nên thế giới không có nhiệm vụ chiều theo mọi ham muốn của tôi. Tôi không phải Thiên Chúa nên phải nhận giới hạn tuổi tác, thân xác, thời gian, vật chất. Tôi không phải Thiên Chúa nên phải trả lại những gì mình chỉ được mượn.
Nhưng hoán cải không dừng ở việc nhận giới hạn. Người Kitô hữu còn nói một câu tích cực hơn: tôi là quản gia của Thiên Chúa. Điều ấy cho đời sống một phẩm giá lớn. Ta không phải kẻ xa lạ vô nghĩa trên một hành tinh lạnh lẽo. Ta được mời cộng tác với Đấng Tạo Hóa. Trồng một cái cây có thể là một việc cộng tác. Nuôi một đứa trẻ biết yêu tạo thành là cộng tác. Làm một công nghệ sạch hơn là cộng tác. Chữa một dòng kênh là cộng tác. Quản trị một doanh nghiệp công bằng hơn là cộng tác. Làm chính sách để bảo vệ người nghèo trước thiên tai là cộng tác. Nghiên cứu khoa học để hiểu rõ hơn hệ sinh thái là cộng tác. Nghề nghiệp và tri thức của con người không phải đối thủ của tạo thành; chúng có thể trở thành phương cách con người chăm sóc tạo thành cách thông minh hơn.
Vì thế không nên rơi vào bi quan. Khủng hoảng sinh thái rất nghiêm trọng, nhưng Kitô giáo không dạy tuyệt vọng. Sự tuyệt vọng cũng có thể là một hình thức kiêu ngạo: ta tưởng mọi sự tùy thuộc hoàn toàn vào mình, đến lúc thấy mình không cứu nổi thế giới thì buông xuôi. Đức tin nói khác: thế giới thuộc về Thiên Chúa; ta không phải Đấng Cứu Thế, nhưng ta có phần việc của mình. Người quản gia trung tín không cần cứu cả điền trang trong một ngày. Người ấy chỉ cần làm đúng phần được giao hôm nay. Một gia đình thay đổi một thói quen. Một giáo xứ đổi một cách tổ chức. Một doanh nghiệp đổi một quy trình. Một nông dân chăm lại đất. Một người trẻ chọn nghề với lương tâm. Một nhà khoa học trung thành với sự thật. Một nhà lập pháp bảo vệ công ích. Những việc ấy không nhỏ khi được đặt trong sự trung tín.
Cuối cùng, hình ảnh đáng sợ nhất của một nền văn minh sai nghĩa “làm chủ” là một con người đứng một mình trên đỉnh đống đổ nát và tuyên bố mình đã chiến thắng. Nếu để trở thành “chúa tể” mà phải làm đất chết, biển chết, muông thú biến mất, người nghèo bị đẩy đi, trẻ em thừa kế một thế giới hư hỏng, thì chiến thắng ấy là thất bại. Nó giống một người đốt cả nhà để chứng minh mình có quyền sở hữu nhà. Kinh Thánh không trao cho con người loại quyền điên rồ ấy. Quyền của con người là quyền của người được yêu và được tín nhiệm. Thiên Chúa trao khu vườn vào tay ta như một người Cha giao một gia sản cho con cái, không phải để chúng thi nhau vét hết trước khi người khác tới, nhưng để chúng làm cho gia sản sinh hoa trái.
Ngày phán xét của người quản gia vì thế là một hình ảnh rất thích hợp cho linh đạo sinh thái. Có một ngày ta phải trả sổ. Ta đã làm gì với đất được trao? Với nước được trao? Với tiền được trao? Với quyền lực được trao? Với khoa học được trao? Với công nghệ được trao? Với những người lao động được đặt trong phạm vi trách nhiệm của ta? Với những sinh vật yếu hơn không có tiếng nói? Với những người nghèo phải sống cùng hậu quả của các lựa chọn chúng ta? Với thế giới mà con cháu sẽ nhận lại? Đức tin Kitô giáo không cho phép trả lời: “Đó là của tôi nên tôi muốn làm gì thì làm.” Người quản gia không có câu ấy.
Có lẽ cần đọc lại lời “hãy làm chủ” với một giọng hoàn toàn khác. Không phải giọng một hoàng đế vừa nhận lãnh lãnh thổ để khai thác, nhưng giọng của một người vừa được trao một đứa trẻ để chăm. Quyền ấy rất thật, rất lớn, nhưng chính vì thế mà bàn tay phải trở nên dịu hơn. Thiên Chúa đã đặt một tạo thành mong manh vào tay một sinh vật có trí tuệ. Đó là một vinh dự và cũng là một thử thách. Ta có thể dùng bàn tay để cắt, đập, hút, lấy. Ta cũng có thể dùng chính bàn tay để trồng, chữa, nâng, bảo vệ và chia sẻ. Bàn tay nào phản ánh hình ảnh Thiên Chúa hơn?
Sống lời “hãy làm chủ” cách Kitô giáo, vì thế, không phải từ bỏ vai trò đặc biệt của con người, nhưng khám phá chiều sâu của vai trò ấy. Con người không phải một ký sinh trùng cần biến mất khỏi thiên nhiên. Cũng không phải ông chủ tuyệt đối có quyền biến mọi thụ tạo thành hàng hóa. Con người là tư tế của tạo thành theo nghĩa đón nhận và dâng lời tạ ơn; là người làm vườn theo nghĩa canh tác và gìn giữ; là quản gia theo nghĩa sử dụng và phải trả lẽ; là anh chị em với các thụ tạo theo nghĩa cùng nhận sự hiện hữu từ một Cha; và là người bảo vệ người nghèo vì trái đất không được trao riêng cho kẻ mạnh.
Khi hiểu như vậy, “dominium” không còn là giấy phép cướp bóc. Nó trở thành một lời gọi nên thánh. Một người biết sử dụng quyền mà không chiếm đoạt, biết phát triển mà không tàn phá, biết hưởng dùng mà không phung phí, biết sở hữu mà không bị sở hữu, biết làm ra của cải mà không biến người khác thành phương tiện, biết yêu con người mà không khinh phần còn lại của tạo thành, người ấy đang sống một điều rất gần với ý nghĩa nguyên thủy của việc làm hình ảnh Thiên Chúa giữa thế giới.
Và khi chiều xuống trên khu vườn của lịch sử, câu hỏi sau cùng sẽ không phải là chúng ta đã lấy được bao nhiêu từ trái đất. Câu hỏi sẽ là: sau khi trái đất đi qua tay chúng ta, sự sống có còn nhiều hơn không? Người nghèo có được nâng lên không? Đất có còn khả năng sinh hoa trái không? Nước có còn chảy trong lành không? Những người đến sau có còn một ngôi nhà để ở không? Ta đã cư xử như kẻ cướp bước vào kho hàng, hay như người quản gia biết rằng Chủ nhà sẽ trở lại?
“Hãy làm chủ” không có nghĩa: hãy lấy hết.
“Hãy làm chủ” nghĩa là: hãy chịu trách nhiệm.
“Hãy làm chủ” không có nghĩa: mọi sự là của ngươi.
“Hãy làm chủ” nghĩa là: mọi sự đã được trao vào tay ngươi một thời gian.
“Hãy làm chủ” không có nghĩa: ngươi đứng trên sự sống.
“Hãy làm chủ” nghĩa là: ngươi được trao trách nhiệm nâng đỡ sự sống.
Và chính ở nơi ấy, quyền của con người mới thực sự trở nên hình ảnh của quyền Thiên Chúa.

CHƯƠNG 15. CANH TÁC VÀ GÌN GIỮ KHU VƯỜN
Có những câu Kinh Thánh ngắn đến mức người ta tưởng chỉ cần đọc qua là hiểu, nhưng càng sống lâu, càng nhìn thế giới lâu, càng chứng kiến những gì con người có thể làm với đất đai, sông ngòi, rừng núi, biển cả và ngay cả với chính nhau, ta càng thấy những câu ngắn ấy giống như những hạt giống chứa cả một cánh rừng thần học. “Đức Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Êđen, để canh tác và gìn giữ khu vườn.” Hai động từ thôi: canh tác và gìn giữ. Nhưng nếu đọc thật kỹ, đây gần như là một bản hiến chương đầu tiên về tương quan giữa con người và tạo thành. Con người không được đặt vào khu vườn chỉ để ngắm. Con người cũng không được đặt vào khu vườn để chiếm. Con người được đặt vào đó để làm việc và để bảo vệ, để phát triển và để giữ gìn, để nhận hoa trái và để bảo đảm rằng khu vườn vẫn còn là khu vườn cho người đến sau. Hai động từ ấy phải đi với nhau. Mất một động từ, cả tương quan bị méo. Chỉ canh tác mà không gìn giữ thì lao động trở thành khai thác, kỹ thuật trở thành quyền lực không giới hạn, sản xuất trở thành bóc lột, tăng trưởng trở thành nuốt chửng. Chỉ gìn giữ mà không canh tác thì lại rơi vào một kiểu lãng mạn hóa thiên nhiên, như thể con người là một loài ngoại lai phải đứng ngoài tạo thành, không được đụng vào đất, không được dùng trí tuệ, không được biến đổi vật chất, không được làm nông nghiệp, xây dựng, nghiên cứu, chữa bệnh, phát triển khoa học kỹ thuật. Kinh Thánh không dạy hai thái cực ấy. Con người vừa thuộc về tạo thành vừa có một trách nhiệm đặc biệt trong tạo thành. Con người được phép can thiệp, nhưng không được phép hủy hoại. Con người được phép sử dụng, nhưng không được phép sử dụng đến cạn kiệt. Con người được phép làm cho đất sinh hoa trái, nhưng không được biến đất thành xác chết. Con người được phép xây dựng, nhưng không được xây dựng tương lai của mình bằng cách phá tương lai của người khác.
“Canh tác” là một động từ đẹp. Nó mang mùi của đất, của mồ hôi, của lao động chân tay, của trí tuệ con người, của những mùa gieo trồng, của những phát minh, của những con đường được mở, những cây cầu được dựng, những bệnh viện được xây, những giống lúa được cải tiến, những phương pháp tưới tiêu được học hỏi, những công nghệ được phát minh để giảm đau khổ và nâng đỡ đời sống. Đức tin Kitô giáo không xem lao động là một điều ô uế. Trái lại, ngay từ đầu, trước khi tội lỗi xuất hiện, con người đã được trao một công việc. Điều ấy rất quan trọng. Lao động không phải chỉ là hậu quả của lời nguyền sau sa ngã. Sự nhọc nhằn của lao động có thể liên hệ đến tội, nhưng chính việc lao động thì có trước tội. Con người được dựng nên như một hữu thể có khả năng cộng tác với công trình tạo dựng. Thiên Chúa tạo nên một thế giới tốt đẹp nhưng không đóng kín như một sản phẩm đã hoàn tất đến mức con người không còn gì để làm. Người trao cho con người một thế giới có khả năng phát triển, có tiềm năng, có sự phong phú cần được khai mở. Người đặt trí tuệ vào con người, đặt bàn tay vào con người, đặt khả năng tổ chức, sáng tạo, dự đoán, học hỏi, truyền nghề, thử nghiệm, cải tiến. Vì thế, khoa học không phải kẻ thù của đức tin. Kỹ thuật không phải tự nó là một cuộc nổi loạn chống Thiên Chúa. Nông nghiệp không phải xúc phạm sự hoang dã nguyên thủy. Xây một hệ thống thủy lợi, phát triển giống cây chịu hạn, tìm cách giảm hóa chất độc hại, nghiên cứu năng lượng sạch hơn, thiết kế những đô thị dễ sống hơn, tất cả đều có thể thuộc về ơn gọi “canh tác” mà con người nhận từ Đấng Tạo Hóa. Vấn đề không nằm ở việc con người làm gì với thiên nhiên theo nghĩa tuyệt đối, nhưng nằm ở cách con người làm, mục đích con người làm, mức độ con người làm và cái giá mà những người yếu nhất cùng những thế hệ tương lai phải trả.
Canh tác đòi con người không được lười biếng trước những khả năng Thiên Chúa đặt trong tạo thành. Một cánh đồng bỏ hoang vì chủ nhân vô trách nhiệm không tự động thánh thiện hơn một cánh đồng được canh tác tốt. Một khu rừng được quản lý khôn ngoan không nhất thiết kém giá trị hơn một vùng bị bỏ mặc đến mức cháy lan, sâu bệnh hoặc bị săn trộm tàn phá. Một dòng sông được nghiên cứu kỹ để vừa cung cấp nước, vừa bảo đảm dòng chảy sinh thái, vừa giảm lũ, vừa bảo vệ sinh kế không phải là phản bội thiên nhiên. Đức tin không bảo con người quay lưng lại với trí tuệ mà Thiên Chúa ban cho mình. Đức tin cũng không dạy một thứ “bảo vệ” đến mức con người nghèo phải tiếp tục sống trong bệnh tật, thiếu điện, thiếu nước sạch và không có cơ hội phát triển chỉ để giữ nguyên một hình ảnh thiên nhiên đẹp cho người giàu đến chụp hình. Bảo vệ tạo thành mà không bảo vệ con người nghèo là một sự bảo vệ bị cắt đôi. Ngược lại, phát triển con người bằng cách phá nát môi trường sống của chính người nghèo cũng là một thứ phát triển tự mâu thuẫn. Hai động từ canh tác và gìn giữ buộc ta phải suy nghĩ đồng thời về cả hai chiều: làm sao để thế giới sinh ích cho con người và làm sao để chính hoạt động của con người không làm cho thế giới mất khả năng sinh ích.
Người nông dân Việt Nam hiểu điều này bằng kinh nghiệm trước khi nghe bất kỳ bài diễn thuyết nào về môi trường. Người nông dân biết muốn có lúa thì phải cày, phải bừa, phải gieo, phải cấy, phải chăm, phải chống sâu bệnh, phải tính con nước. Đó là canh tác. Nhưng người nông dân cũng biết nếu chỉ lấy mà không giữ thì vài mùa sau chẳng còn gì để lấy. Phải giữ đất khỏi bạc màu, phải giữ nước, phải giữ bờ, phải giữ đê, phải giữ giống, phải giữ mùa, phải biết khi nào tháo nước, khi nào chặn nước, khi nào cho đất nghỉ, khi nào đổi cây trồng. Một gia đình làm ruộng tốt thường không chỉ nghĩ đến vụ này. Họ nghĩ đến mảnh ruộng sẽ ra sao vài năm nữa. Cha giữ giống cho con. Ông giữ bờ cho cháu. Cả làng giữ đê không phải chỉ để bảo vệ nhà mình mà để bảo vệ cả vùng. Đó là một thứ thần học rất cụ thể của trách nhiệm liên thế hệ. Nó không dùng chữ lớn, nhưng chứa trực giác rất sâu: đất không thuộc về ta theo nghĩa tuyệt đối; ta nhận đất từ người trước và có bổn phận trao lại cho người sau trong tình trạng không tệ hơn. Một người nông dân biết để lại hạt giống tốt cho mùa tới hiểu một điều mà nền kinh tế chỉ nhìn lợi nhuận tức thời thường quên: không phải cái gì thu được hôm nay cũng là lợi nếu ngày mai không còn khả năng sinh sản.
“Gìn giữ” là động từ thứ hai, và nếu “canh tác” nhấn mạnh sức sáng tạo của con người thì “gìn giữ” nhắc con người về giới hạn. Đây là điều thời đại hiện đại rất khó nghe. Chúng ta quen với ngôn ngữ của khả năng: làm được gì, khai thác được bao nhiêu, đào sâu bao nhiêu, hút lên bao nhiêu, sản xuất bao nhiêu, tăng trưởng bao nhiêu phần trăm, đạt công suất bao nhiêu, xây được nhanh đến đâu. Kỹ thuật càng mạnh, con người càng dễ đồng hóa cái “có thể làm” với cái “được phép làm”. Nhưng hai điều ấy không giống nhau. Có những điều con người có khả năng làm về kỹ thuật nhưng không nên làm về luân lý. Có thể đánh bắt đến gần cạn kiệt không có nghĩa là được quyền làm như thế. Có thể phá cả quả đồi trong vài tuần không có nghĩa việc ấy khôn ngoan. Có thể hút nước ngầm vượt tốc độ tái tạo không có nghĩa nguồn nước ấy thuộc quyền ta tuyệt đối. Có thể sản xuất hàng hóa rẻ bằng cách đẩy chất thải xuống sông nơi người nghèo sinh sống không có nghĩa nền sản xuất ấy thành công. Có thể đẩy chi phí môi trường sang thế hệ chưa sinh ra không có nghĩa chi phí ấy biến mất. Gìn giữ là lời nhắc rằng mọi quyền sử dụng đều có giới hạn vì mọi thụ tạo đều có nguồn gốc trước ta, giá trị không hoàn toàn do ta đặt ra và một tương lai vượt quá đời ta.
Giới hạn không phải kẻ thù của tự do. Đây là một bài học lớn của thần học tạo thành. Chính Thiên Chúa tạo nên một thế giới có nhịp: ngày và đêm, mùa mưa và mùa khô, gieo và gặt, làm việc và nghỉ. Con người hiện đại thường ghét giới hạn vì giới hạn bị cảm nhận như sự cản trở. Nhưng không có giới hạn thì không có hình dạng. Một con sông cần bờ. Một bài nhạc cần nhịp. Một thân thể cần nghỉ. Một cánh đồng cần thời gian hồi phục. Một nguồn cá cần mùa sinh sản. Một đứa trẻ cần được lớn chứ không thể bị ép trưởng thành trong vài tháng. Một xã hội cần biết có những điều không thể hy sinh cho tăng trưởng. Gìn giữ vì thế không phải thụ động. Gìn giữ là một hành động tích cực của trí khôn, đòi khả năng nói “đủ”. Mà chữ “đủ” có lẽ là một trong những chữ khó nhất của nền văn minh tiêu thụ. Thị trường sống bằng việc làm cho ta cảm thấy chưa đủ. Quảng cáo sống bằng việc làm cho ta nghĩ cái đang có chưa đủ. Chính trị đôi khi sống bằng việc hứa rằng tăng trưởng sẽ giải quyết mọi vấn đề. Nhưng trái đất có giới hạn vật chất. Thân thể có giới hạn. Nước ngọt có giới hạn. Đất màu có giới hạn. Khả năng hấp thụ chất thải của hệ sinh thái có giới hạn. Tự do con người trưởng thành khi biết sống trong giới hạn với lòng biết ơn, chứ không phải khi coi mọi giới hạn là kẻ thù phải phá.
Một linh đạo chỉ nói “gìn giữ” mà không nói “canh tác” có thể biến thành một thứ giả thiêng. Người ta có thể lý tưởng hóa thiên nhiên đến mức quên rằng thiên nhiên cũng có những khắc nghiệt, bệnh tật, lũ lụt, hạn hán, sâu bệnh, dịch hại và những điều con người được gọi để giảm nhẹ bằng khoa học. Không phải mọi sự “nguyên sơ” đều tự động tốt cho con người. Nước thiên nhiên có thể chứa mầm bệnh. Rừng tự nhiên có thể cháy. Một vùng đầm lầy có thể cần quản lý để bảo vệ sức khỏe cư dân. Một số giống cây cần được chọn lọc. Một số hệ thống thủy lợi cần được xây. Người Kitô hữu không thờ thiên nhiên. Thiên nhiên là thụ tạo. Nó tốt vì đến từ Thiên Chúa, nhưng nó không phải Thiên Chúa. Vì thế ta có thể nghiên cứu, can thiệp và phát triển nó trong trách nhiệm. Trái lại, một linh đạo chỉ nói “canh tác” mà không nói “gìn giữ” sẽ rơi vào một thứ chủ nghĩa quyền lực, nơi trí tuệ trở thành công cụ chiếm đoạt. Khi ấy khoa học không còn tìm hiểu sự thật để phục vụ sự sống mà bị kéo vào guồng tối đa hóa lợi nhuận. Kỹ thuật không còn là dụng cụ mà trở thành một hệ tư tưởng: cái gì làm được thì cứ làm, cái gì khai thác được thì cứ khai thác, cái gì bán được thì cứ bán. Kinh Thánh đặt hai động từ cạnh nhau như hai tay của một thân thể. Một tay làm, một tay giữ. Một tay mở ra tương lai, một tay bảo vệ nền tảng. Một tay sáng tạo, một tay tiết chế.
Điều đáng suy nghĩ là trong Sáng Thế, khu vườn có trước con người. Con người không tạo ra khu vườn từ hư vô. Con người được đưa vào một thực tại đã được trao. Điều ấy phá vỡ ảo tưởng rằng ta là nguồn gốc của mọi giá trị. Đất đã có trước khi ta có giấy chứng nhận sở hữu. Sông đã chảy trước khi ta đặt tên cho nó. Rừng đã sống trước khi ta lập bản đồ. Loài chim không đợi con người cho phép mới hiện hữu. Một chủ sở hữu pháp lý có quyền thật, nhưng quyền ấy không biến người ấy thành đấng tạo hóa. Đây là lý do thần học Công giáo luôn có thể nói đến mục đích phổ quát của của cải: tài sản tư hữu có giá trị, quyền sở hữu cần được bảo vệ, nhưng quyền ấy không tuyệt đối đến mức người sở hữu có quyền dùng tài sản theo bất cứ cách nào bất kể hậu quả cho tha nhân và công ích. Một mảnh đất có tên người này trên giấy vẫn nằm trong mạng lưới nước, không khí, sinh thái, cộng đồng và tương lai mà không một cá nhân nào tạo ra. Tôi có thể sở hữu mảnh vườn, nhưng tôi không sở hữu cơn mưa. Tôi có thể sở hữu nhà máy, nhưng tôi không sở hữu bầu khí quyển để dùng nó như bãi chứa vô hạn. Tôi có thể được cấp quyền khai thác một tài nguyên, nhưng điều đó không có nghĩa tôi có quyền làm cho nguồn ấy biến mất đối với người sau. Gìn giữ là cách quyền sở hữu được thanh luyện khỏi ảo tưởng tuyệt đối.
Khi ta nhìn kỹ, hai động từ này còn áp dụng vượt xa nông nghiệp. Một doanh nghiệp cũng phải canh tác và gìn giữ. Canh tác là tạo việc làm, sản xuất hàng hóa, đổi mới, tạo giá trị. Gìn giữ là bảo vệ người lao động, giữ sự thật trong quảng cáo, giữ môi trường, giữ lòng tin, giữ khả năng tồn tại dài hạn thay vì đốt hết nguồn lực để báo cáo một quý đẹp. Một thành phố phải canh tác và gìn giữ. Canh tác là xây đường, nhà, trường, bệnh viện, hạ tầng. Gìn giữ là bảo vệ không gian xanh, hệ thống thoát nước, ký ức văn hóa, không khí có thể thở, những khu cư trú của người thu nhập thấp để thành phố không trở thành hàng hóa chỉ dành cho ai trả giá cao. Một quốc gia phải canh tác và gìn giữ. Canh tác là phát triển kinh tế, giáo dục, khoa học, công nghệ. Gìn giữ là không bán rẻ tài nguyên, không để phát triển hôm nay trở thành gánh nặng sinh thái và xã hội cho thế hệ mai. Một gia đình cũng có hai động từ ấy. Cha mẹ “canh tác” đời con bằng giáo dục, kỷ luật, tạo cơ hội; nhưng cũng phải “gìn giữ” tuổi thơ của con, không biến con thành dự án thành tích. Một linh mục canh tác cộng đoàn bằng giảng dạy, tổ chức, xây dựng; nhưng cũng phải gìn giữ đức tin của dân, gìn giữ người yếu, gìn giữ sự đơn sơ của Tin Mừng để chương trình không nuốt mất con người. Một người dùng mạng xã hội canh tác không gian số bằng sáng tạo nội dung, học hỏi, làm việc; nhưng cũng phải gìn giữ sự thật, danh dự người khác, thời gian của mình, mắt của mình và phẩm giá của người xuất hiện trên màn hình.
Gìn giữ luôn mang chiều kích truyền lại. Người chỉ nghĩ trong khoảng đời mình sẽ dễ sống kiểu tận thu. “Tôi chết rồi thì kệ” là một thái độ hoàn toàn trái với tinh thần Kinh Thánh. Đức tin đặt ta trong một giao ước giữa các thế hệ. Ta nhận rất nhiều thứ từ những người không bao giờ gặp: ngôn ngữ, đất nước, con đường, trường học, giống cây, các khu rừng được giữ, kiến thức khoa học, truyền thống đức tin, nhà thờ, kinh nguyện, âm nhạc, văn hóa. Ta sống trong tài sản được thừa kế. Công bằng vì thế không chỉ là công bằng giữa những người đang sống mà còn là công bằng với người chưa sinh. Những em bé của năm mươi năm nữa không có lá phiếu hôm nay, nhưng quyết định của ta hôm nay sẽ tác động lên nước họ uống, khí họ thở, đất họ trồng, khí hậu họ sống. Người Kitô hữu không được phép lấy sự vắng mặt của họ làm lý do để coi họ như không tồn tại. Trách nhiệm luân lý có thể hướng tới những người chưa có mặt trước mắt. Gìn giữ là yêu người chưa gặp.
Người nông dân giữ giống cho mùa sau là một biểu tượng mạnh. Hạt giống có thể ăn được. Trong lúc đói, người ta có thể ăn cả phần giống. Nhưng nếu ăn hết giống thì cơn đói ngày mai sẽ lớn hơn. Cả nền văn minh hiện đại đôi khi sống như một gia đình đói đang ăn dần túi giống của mình: lấy nước ngầm nhanh hơn nước tái tạo, đánh bắt nhanh hơn cá sinh sản, phá rừng nhanh hơn rừng phục hồi, thải khí nhanh hơn hệ thống tự nhiên hấp thụ, tiêu thụ đất màu nhanh hơn quá trình hình thành đất. Các con số kinh tế có thể vẫn tăng trong một thời gian vì ta đang biến vốn tự nhiên thành doanh thu. Nhưng bán mái nhà để chi tiêu không phải là thu nhập bền vững. Ăn hạt giống không phải là mùa gặt. Thần học của “gìn giữ” giúp ta phân biệt giữa sự giàu lên thật và việc tiêu dần của thừa kế rồi gọi đó là phát triển.
Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa mọi khai thác đều xấu. Ta cần gỗ, kim loại, khoáng sản, năng lượng, đất xây dựng, nước cho sản xuất. Một nền đạo đức sinh thái trưởng thành không dùng những khẩu hiệu dễ. Câu hỏi không phải “có khai thác hay không”, nhưng khai thác cái gì, ở đâu, bao nhiêu, bằng phương pháp nào, lợi ích thuộc về ai, thiệt hại đổ lên ai, có khả năng phục hồi hay không, người dân địa phương có tiếng nói hay không, chi phí thật đã được tính vào chưa, và có phương án ít gây hại hơn không. Chính ở đây, khoa học, kinh tế, đạo đức, luật pháp và chính trị cần đối thoại. Giáo hội không phải phòng thí nghiệm để quyết định chi tiết mọi công nghệ, nhưng Giáo hội có trách nhiệm nhắc những nguyên tắc không được bán: phẩm giá con người, công ích, ưu tiên người nghèo, liên đới giữa thế hệ, giới hạn của quyền sở hữu, trách nhiệm với tạo thành. Một dự án có thể hợp pháp mà vẫn bất công. Một dự án có thể tạo GDP mà vẫn phá cộng đồng. Một công nghệ có thể hiệu quả mà vẫn cần được đặt dưới phán đoán luân lý. Hiệu quả không phải tiêu chuẩn tối hậu của thiện.
Canh tác và gìn giữ còn cho ta một cách hiểu đúng về khoa học. Khoa học giúp con người đọc khu vườn. Nó cho ta biết đất cần gì, dòng sông vận hành ra sao, hệ sinh thái liên kết thế nào, khí hậu phản ứng ra sao trước lượng khí thải, thuốc nào chữa bệnh, giống nào thích nghi. Người có đức tin không cần sợ những dữ liệu vì sự thật không chống lại Thiên Chúa. Ngược lại, phớt lờ kiến thức khoa học khi quyết định về môi trường có thể là một hình thức vô trách nhiệm. Gìn giữ không chỉ bằng thiện chí. Một người yêu cây nhưng tưới sai có thể giết cây. Một cộng đồng muốn bảo vệ sông nhưng không hiểu thủy văn có thể đưa ra quyết định sai. Lòng đạo đức cần trí tuệ. Đức ái cần năng lực. Ý hướng tốt không thay thế chuyên môn. Vì thế, người Kitô hữu làm khoa học môi trường, nông nghiệp, kỹ thuật, quy hoạch, kinh tế, luật tài nguyên có một ơn gọi rất đẹp: giúp cộng đồng thực hiện chính xác hơn hai động từ nguyên thủy ấy. Họ không làm một việc “thế tục” đứng ngoài đức tin. Nếu làm với lương tâm ngay thẳng, họ đang giúp nhân loại canh tác mà không hủy hoại, phát triển mà không phản bội khu vườn.
Ta cũng cần cẩn thận trước một cám dỗ khác: biến việc gìn giữ tạo thành thành đạo đức cá nhân thuần túy. Tắt một bóng đèn, bớt một túi nhựa, trồng một cây đều tốt. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, ta có thể biến vấn đề cơ cấu thành việc xét mình nhỏ lẻ của người tiêu dùng. Có những vấn đề không thể giải quyết chỉ bằng lựa chọn cá nhân. Hệ thống giao thông, năng lượng, quy hoạch, xử lý rác, nông nghiệp, công nghiệp cần chính sách và cơ chế. Một người có thể muốn sống xanh nhưng thành phố không có giao thông công cộng đủ tốt. Một nông dân có thể muốn giảm hóa chất nhưng thị trường ép giá, thiếu hỗ trợ kỹ thuật và tín dụng. Một doanh nghiệp có thể muốn chuyển công nghệ nhưng cạnh tranh khiến chi phí đầu tư trở thành rủi ro. Vì vậy, gìn giữ tạo thành là trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm xã hội. Nó cần lương tâm, nhưng cũng cần luật tốt. Nó cần tiết chế cá nhân, nhưng cũng cần cấu trúc kinh tế không thưởng cho hành vi phá hoại. Nó cần người tiêu dùng có trách nhiệm và nhà sản xuất có trách nhiệm. Nó cần chính trị biết nhìn xa hơn một nhiệm kỳ. Nói đến tội sinh thái không có nghĩa thay thế tội cá nhân bằng tội cơ cấu, nhưng nhìn nhận rằng tội cá nhân có thể đóng thành cấu trúc và cấu trúc có thể khiến tội trở thành bình thường.
Ở Việt Nam, hai động từ này có thể được nghe rất gần với kinh nghiệm đất nước. Từ đồng bằng sông Cửu Long đến miền Trung, từ Tây Nguyên đến đồng bằng Bắc Bộ, mối quan hệ giữa con người với nước, rừng, đất và biển chưa bao giờ là một chuyện trừu tượng. Một bờ đê bị yếu không chỉ là vấn đề kỹ thuật. Một nguồn nước nhiễm mặn không chỉ là con số. Một cánh rừng mất đi không chỉ là diện tích trên bản đồ. Nó đi vào bữa cơm, việc làm, sự di cư, nợ nần, học hành của trẻ, sức khỏe của người già. Người nghèo thường là người chịu trước những hậu quả môi trường mà họ đóng góp ít nhất. Khi nước ngập, nhà thấp ngập trước. Khi nắng nóng kéo dài, người lao động ngoài trời chịu trước. Khi nguồn cá giảm, ngư dân nhỏ chịu trước. Khi đất tăng giá do phát triển, người không có khả năng mua lại nơi ở chịu trước. Vì thế, canh tác và gìn giữ không phải hai chữ dành cho người yêu thiên nhiên theo sở thích. Đó là ngôn ngữ của công lý.
Người nông dân Việt Nam truyền thống có nhiều thực hành chứa đựng trí khôn sinh thái dù họ không gọi tên như thế. Giữ bờ là giữ nước cho mình nhưng cũng không để nước phá ruộng bên. Giữ đê là trách nhiệm cộng đồng. Giữ giống là ký ức sinh học và văn hóa. Biết nhìn trời, nhìn gió, nhìn con nước là một thứ chú ý đến nhịp tạo thành. Tất nhiên không nên lãng mạn hóa quá khứ; nông nghiệp truyền thống cũng có giới hạn, có nghèo đói, có năng suất thấp, có rủi ro. Nhưng có một trực giác cần được giữ lại trong thời kỹ thuật: người làm đất tốt không coi đất là vật chết. Họ biết đất có “sức”. Đất kiệt thì phải bồi. Nước bẩn thì mùa sau chịu. Giống mất thì rất khó lấy lại. Cộng đồng vỡ thì công trình chung không ai giữ. Khoa học hiện đại có thể làm trực giác ấy chính xác hơn, chứ không cần xóa nó đi.
Trong linh đạo Kitô giáo, “gìn giữ” còn là một thái độ nội tâm. Người không biết giữ mình rất khó giữ tạo thành. Nếu lòng không có giới hạn, việc tiêu thụ cũng không có giới hạn. Nếu ta quen thỏa mãn mọi ham muốn tức thì, ta sẽ khó chấp nhận việc dùng ít hơn để người khác có phần. Khủng hoảng sinh thái không chỉ là khủng hoảng kỹ thuật. Nó là khủng hoảng ham muốn. Một nền kinh tế có thể sản xuất ngày càng hiệu quả nhưng nếu ham muốn tăng nhanh hơn mọi hiệu quả thì áp lực lên tạo thành vẫn tăng. Vì thế cần đức tiết độ. Đây là một từ cổ nhưng rất hiện đại. Tiết độ không phải ghét vật chất. Tiết độ là khả năng hưởng dùng một điều tốt mà không để điều tốt ấy nuốt mình. Ăn là tốt, nhưng tham ăn không tốt. Nghỉ ngơi là tốt, nhưng hưởng thụ vô độ không tốt. Sở hữu là hợp pháp, nhưng tích lũy đến mức trái tim đóng lại thì tài sản trở thành chủ. Tiện nghi là tốt, nhưng nếu mọi tiện nghi đều được coi là quyền không thể thương lượng bất kể chi phí xã hội và sinh thái thì tiện nghi trở thành ngẫu tượng. Gìn giữ tạo thành cần con người biết tự gìn giữ khỏi lòng tham.
Chính ở đây Bí tích Thánh Thể có một ánh sáng rất sâu. Trong Thánh Thể, những hoa trái của đất và lao công con người được dâng lên. Bánh là hoa màu của đất và công lao của con người. Rượu cũng vậy. Tạo thành và lao động gặp nhau, rồi được đưa vào lời tạ ơn. Kitô giáo không nhìn vật chất như thứ thấp hèn phải trốn. Nhưng vật chất phải được nhận với lòng biết ơn, không phải chiếm với lòng tham. “Tạ ơn” là đối nghịch với “chiếm hữu tuyệt đối”. Người biết tạ ơn biết mình đã nhận. Người biết mình đã nhận sẽ khó nói “mọi thứ là của tôi”. Thánh Thể dạy ta dùng tạo thành theo cách của quà tặng: nhận, dâng, chia sẻ. Một cộng đoàn rước lễ rồi vẫn sống bằng lối tiêu thụ không giới hạn, vẫn chấp nhận những mô hình làm người nghèo chịu hậu quả, vẫn đối xử với đất như bãi rác, cần tự hỏi mình đã hiểu điều mình cử hành chưa. Bàn thờ không tách khỏi cánh đồng. Bánh trên bàn thờ đến từ đất. Rượu trên bàn thờ đến từ nho. Nước trong phụng vụ đến từ mạch nước của trái đất. Dầu thánh đến từ cây. Nến từ vật chất. Cả phụng vụ liên tục nhắc rằng ơn cứu độ đi vào vật chất chứ không hủy vật chất.
Canh tác và gìn giữ cũng giúp sửa lại quan niệm sai về “tiến bộ”. Tiến bộ thật không thể chỉ được đo bằng lượng vật chất tiêu thụ. Một xã hội có nhiều xe hơn nhưng không khí khó thở hơn chưa chắc đã tiến bộ theo nghĩa toàn diện. Một vùng có nhiều nhà máy hơn nhưng nước không uống được thì phải hỏi phát triển đã tính đúng chưa. Một gia đình có thu nhập cao hơn nhưng không còn thời gian gặp nhau cũng cần hỏi mình đang được gì và mất gì. Một nền văn minh tạo ra nhiều tiện nghi nhưng con người ngày càng cô độc, thiên nhiên ngày càng suy kiệt, người nghèo bị đẩy ra bên lề thì không thể chỉ lấy tốc độ tăng trưởng làm câu trả lời. Đức tin không chống tăng trưởng nhưng buộc tăng trưởng phải trả lời câu hỏi về mục đích: tăng để làm gì, cho ai, đến mức nào, và bằng giá nào. Canh tác hướng đến sinh hoa trái; gìn giữ bảo đảm rằng hoa trái hôm nay không giết cây ngày mai.
Có một nguyên tắc rất đơn giản: người quản gia tốt không tối đa hóa thu hoạch một mùa nếu điều ấy giết đất. Chủ nghĩa khai thác thường thông minh trong ngắn hạn và ngu ngốc trong dài hạn. Nó có thể đem lại lợi nhuận nhanh nhưng để lại chi phí cho xã hội. Nước ô nhiễm rồi ngân sách phải xử lý. Đất mất màu rồi phải dùng thêm hóa chất. Rừng mất rồi lũ và sạt lở tăng. Cộng đồng mất sinh kế rồi đô thị phải gánh di cư không chuẩn bị. Sức khỏe suy giảm rồi hệ thống y tế trả giá. Nhưng vì lợi nhuận và chi phí nằm ở những túi khác nhau, thị trường có thể ghi nhận một bên là thành công còn bên kia như một vấn đề không liên quan. Gìn giữ yêu cầu ta nối lại những gì bảng kế toán chia rời. Giá thật của một sản phẩm không chỉ là giá ở quầy. Nó gồm cả điều kiện lao động, tài nguyên, chất thải, sức khỏe và tương lai. Không phải lúc nào ta cũng tính được hết, nhưng lương tâm Kitô hữu phải học nhìn những chi phí bị giấu.
Một nền linh đạo canh tác và gìn giữ vì thế không nuôi mặc cảm tội lỗi vô ích. Nó mời gọi trưởng thành trong trách nhiệm. Người tín hữu không cần ghét mình vì đang dùng điện, đi xe, ăn uống, mặc quần áo. Không ai sống mà không sử dụng tạo thành. Vấn đề là sử dụng với lòng biết ơn và công bằng, giảm lãng phí, lựa chọn khi có thể, tham gia thay đổi cơ cấu khi có trách nhiệm, không biện minh cho sự vô độ bằng câu “ai cũng làm thế”. Một linh đạo tốt không đòi người nghèo gánh cùng một mức trách nhiệm như người có quyền lực và tiêu thụ lớn. Trách nhiệm tăng theo khả năng. Người có nhiều tài sản, doanh nghiệp, quyền quyết định, ảnh hưởng chính sách có nghĩa vụ nặng hơn người chỉ cố sống qua ngày. Đây cũng là công bằng. Không thể đạo đức hóa người nghèo về việc dùng một chiếc túi nhựa trong khi bỏ qua những hệ thống sản xuất tạo lượng chất thải khổng lồ. Nhưng cũng không vì vấn đề lớn mà coi việc nhỏ vô nghĩa. Hai cấp độ cần gặp nhau.
Các giáo xứ có thể học rất cụ thể hai động từ này. Canh tác: làm vườn, trồng cây, sử dụng đất giáo xứ có trách nhiệm, giáo dục trẻ em về tạo thành, hỗ trợ sinh kế bền vững, mời người có chuyên môn nói chuyện. Gìn giữ: giảm lãng phí trong lễ hội, suy nghĩ về nước và điện, tránh dùng vật liệu một lần khi không cần thiết, chăm cây đã trồng thay vì chỉ tổ chức ngày trồng cây rồi bỏ, giữ khuôn viên như một nơi giáo dục về vẻ đẹp và trách nhiệm. Một giáo xứ trồng hàng trăm cây để chụp hình rồi để cây chết không phải là gìn giữ. Gìn giữ đòi kiên trì sau sự kiện. Đây cũng là bài học cho nhiều hoạt động mục vụ: khởi động thì dễ, chăm lâu dài mới là trung tín. Khu vườn không sống nhờ lễ phát động. Nó sống nhờ người tưới ngày thường.
Gia đình cũng có thể sống thần học này qua những việc rất nhỏ. Dạy con không lãng phí thức ăn không phải chỉ để tiết kiệm tiền mà để con hiểu rằng hạt cơm có một lịch sử: đất, nước, nắng, người gieo, người gặt, người vận chuyển, người nấu. Khi biết lịch sử của sự vật, ta bớt vứt bỏ. Một trong những vấn đề của đời sống đô thị là ta thấy sản phẩm mà không thấy nguồn. Miếng thịt không còn liên hệ đến con vật. Rau không còn liên hệ đến đất. Nước chỉ đến từ vòi. Điện chỉ đến từ ổ cắm. Rác biến mất khi xe rác đi qua. Chuỗi vô hình ấy khiến lương tâm dễ ngủ. Chiêm ngắm tạo thành giúp nối lại các mối liên hệ. Gìn giữ bắt đầu bằng khả năng thấy phía sau những gì ta tiêu thụ.
Đối với người làm nghề kỹ thuật, hai động từ này là một tiêu chuẩn phân định ơn gọi. Kỹ sư có thể hỏi: công nghệ này giúp con người canh tác tốt hơn hay làm việc phá hủy dễ hơn? Nhà kinh tế có thể hỏi: mô hình này có tính đến chi phí lâu dài hay chỉ tối ưu lợi nhuận ngắn hạn? Nhà quy hoạch có thể hỏi: thành phố này dành chỗ cho người nghèo và thiên nhiên hay chỉ cho bất động sản có giá? Người làm nông nghiệp có thể hỏi: năng suất tăng nhưng đất có còn sống? Người làm truyền thông có thể hỏi: mình đang giúp xã hội hiểu vấn đề hay biến nỗi lo thành sản phẩm gây hoảng sợ? Nhà giáo dục có thể hỏi: trẻ được học bao nhiêu về liên hệ giữa đức tin, khoa học và trách nhiệm đối với tạo thành? Linh mục có thể hỏi: trong bài giảng của mình, tạo thành có bao giờ xuất hiện như một phần của Tin Mừng không, hay chỉ có linh hồn như thể con người không có thân xác, không sống trên đất, không uống nước và không ăn bánh?
Câu chuyện canh tác và gìn giữ cuối cùng dẫn về Đức Kitô. Người là Đấng qua đó muôn vật được tạo thành, và Người bước vào chính tạo thành. Người sống bằng bánh của đất, uống nước giếng, đi trên đường bụi, ngủ trên thuyền, nhìn hoa huệ, chim trời, hạt giống, cây nho, cây vả. Tin Mừng của Người đầy hình ảnh đất đai không phải ngẫu nhiên. Đức Giêsu không sống trong một thế giới trừu tượng. Người bước đi trong tạo thành và dùng tạo thành để nói về Nước Thiên Chúa. Hạt lúa phải chết. Men làm dậy bột. Người gieo giống ra đi gieo. Cây được nhận biết qua quả. Cành phải ở lại trong cây nho. Người chăn đi tìm chiên. Những hình ảnh ấy chỉ có sức vì thế giới vật chất có khả năng mang ý nghĩa. Khi ta phá thế giới đến mức trẻ em không còn biết một hạt giống lớn thế nào, không còn thấy đom đóm, không còn nghe tiếng ếch sau mưa, không còn chạm đất ngoài bê tông, ta không chỉ mất đa dạng sinh học. Ta nghèo đi cả một kho ngôn ngữ thiêng liêng.
Canh tác và gìn giữ cũng là mô hình của chính đời sống thiêng liêng. Ta phải canh tác linh hồn: đọc Lời Chúa, cầu nguyện, học hỏi, tập nhân đức, phục vụ. Nhưng ta cũng phải gìn giữ: giữ lòng khỏi chai, giữ giờ nghỉ, giữ các mối tương quan, giữ thinh lặng, giữ điều thiết yếu khỏi bị chương trình nuốt. Người chỉ “canh tác” đời thiêng bằng hoạt động liên tục có thể kiệt sức. Người chỉ “gìn giữ” bằng cách không bao giờ dấn thân có thể thành trì trệ. Chính linh hồn cũng là một khu vườn cần vừa làm vừa giữ. Một cha xứ có thể xây nhiều nhưng nếu không giữ đời cầu nguyện thì khu vườn bên ngoài lớn mà khu vườn bên trong khô. Một gia đình có thể kiếm nhiều tiền nhưng nếu không giữ bữa cơm, giữ sự hiện diện, giữ lời cầu nguyện thì đang canh tác tài sản và bỏ hoang tương quan. Một người có thể làm nhiều việc tốt nhưng không biết giữ thân thể, giấc ngủ, sức khỏe, cuối cùng chính khả năng phục vụ bị hủy. Thiên Chúa không gọi ta sinh hoa trái bằng cách tự phá chính mảnh đất Người trao.
Có lẽ đây là điều hai động từ cổ xưa ấy muốn nói với thời đại chúng ta: hãy làm, nhưng đừng nuốt; hãy phát triển, nhưng đừng phá nền; hãy sử dụng, nhưng nhớ mình đang nhận; hãy hưởng hoa trái, nhưng giữ hạt giống; hãy xây cho hôm nay, nhưng để chỗ cho ngày mai. Đừng biến gìn giữ thành cái cớ để sợ mọi thay đổi, nhưng cũng đừng biến canh tác thành giấy phép cho mọi tham vọng. Người Kitô hữu không đứng trước tạo thành như khách du lịch chỉ ngắm cảnh, cũng không như ông chủ tuyệt đối cầm giấy tờ sở hữu. Ta đứng như người làm vườn. Người làm vườn biết mình có quyền cắt, tỉa, đào, gieo, tưới, chuyển cây, nhưng tất cả những hành vi ấy chỉ có ý nghĩa nếu khu vườn sống hơn. Quyền của người làm vườn được đo bằng sự sống mà họ phục vụ.
Và cuối cùng, khu vườn không phải của ta. Đó là điểm đem lại cả sự khiêm nhường lẫn hy vọng. Ta chỉ làm trong khu vườn một thời gian. Trước ta đã có người làm. Sau ta sẽ có người tiếp tục. Thiên Chúa mới là Chủ. Điều ấy giải thoát ta khỏi hai ảo tưởng: ảo tưởng rằng ta có thể làm gì cũng được và ảo tưởng rằng mọi sự tùy thuộc hoàn toàn vào ta. Vì Chúa là Chủ, ta không được phá. Vì Chúa là Chủ, ta cũng không cần tuyệt vọng. Ta được gọi trung tín trong phần đất được giao. Một người giữ một mảnh vườn nhỏ vẫn có ý nghĩa. Một nông dân bảo vệ nguồn nước có ý nghĩa. Một nhà khoa học làm nghiên cứu tử tế có ý nghĩa. Một doanh nhân chịu giảm lợi nhuận để không đổ độc ra sông có ý nghĩa. Một gia đình dạy con biết quý hạt cơm có ý nghĩa. Một giáo xứ biến khuôn viên của mình thành nơi sự sống được chăm có ý nghĩa. Không ai cứu thế giới một mình. Nhưng mỗi người có thể từ chối biến phần mình được giao thành hoang địa.
“Canh tác và gìn giữ” vì thế không phải khẩu hiệu sinh thái gắn thêm vào đức tin. Nó nằm ngay trong câu chuyện đầu tiên về con người. Trước thành phố, trước đế quốc, trước thị trường, trước công nghệ, trước mọi lý thuyết kinh tế, con người đã được đặt trong một khu vườn và được trao một nhiệm vụ kép. Hãy làm cho đất sinh hoa trái. Và hãy giữ để nó còn có thể sinh hoa trái. Hãy dùng trí tuệ. Và hãy nhớ giới hạn. Hãy tạo ra cái mới. Và hãy bảo vệ cái đã được trao. Hãy nhận hôm nay. Và hãy nghĩ đến người đến ngày mai. Khi hai động từ ấy còn đi chung, lao động trở thành cộng tác với Đấng Tạo Hóa, kỹ thuật trở thành phục vụ, phát triển có thể trở thành công ích, và con người thực sự sống như hình ảnh Thiên Chúa. Khi chúng bị tách ra, hoặc ta bóc lột khu vườn cho đến chết, hoặc ta bỏ khu vườn vì một thứ giả thiêng không dám làm gì. Cả hai đều phản bội ơn gọi.
Có lẽ người nông dân đứng giữa ruộng, tay cầm một nắm đất, nhìn trời rồi nhìn con nước, hiểu điều này trực giác hơn nhiều người nói về nó trong hội trường. Người ấy biết phải làm. Không làm thì không có lúa. Nhưng người ấy cũng biết phải giữ. Không giữ thì năm sau không còn ruộng tốt. Cái khôn ngoan ấy rất gần với Sáng Thế. Cấy nhưng giữ nước. Gặt nhưng giữ giống. Đắp bờ nhưng không chặn dòng của người khác. Dùng đất nhưng trả lại cho đất. Sống hôm nay mà không ăn hết ngày mai. Đó là thần học của đôi tay lấm bùn. Và có lẽ thế giới đang cần học lại thứ thần học ấy: một thần học trong đó con người không bị hạ thấp, nhưng cũng không được thần thánh hóa; khoa học không bị nghi ngờ, nhưng cũng không được phong làm chúa; thiên nhiên không bị thờ, nhưng cũng không bị biến thành kho; phát triển không bị từ chối, nhưng phải học quỳ xuống trước giới hạn của sự sống.
Canh tác và gìn giữ. Hai động từ. Hai nhịp thở. Hai mặt của cùng một ơn gọi. Thiếu một, khu vườn sẽ chết. Giữ cả hai, con người có thể bước trong tạo thành với bàn tay lao động, trí óc sáng tạo và một trái tim biết mình chỉ là người quản gia trong khu vườn của Thiên Chúa.

CHƯƠNG 16. CON NGƯỜI VỪA Ở TRONG VỪA TRƯỚC MẶT THỤ TẠO
Có một cách nói rất ngắn nhưng đủ để sửa lại nhiều lầm lẫn của con người hiện đại khi suy nghĩ về tương quan giữa mình với thế giới: con người vừa ở trong thụ tạo, vừa đứng trước mặt thụ tạo. Hai chiều kích ấy không đối nghịch nhau, cũng không thể tách rời nhau. Nếu chỉ nhớ rằng mình ở trong thụ tạo, con người có thể tự hạ mình xuống thành một mắt xích hoàn toàn không khác gì mọi mắt xích khác, rồi dần dần đánh mất ý thức về trách nhiệm luân lý, về tự do, về tiếng gọi phải trả lời trước Đấng Tạo Hóa. Nếu chỉ nhớ rằng mình đứng trước mặt thụ tạo, con người lại rất dễ tưởng mình là kẻ ở bên ngoài thiên nhiên, một ông chủ ngoại lai có quyền quan sát, đo đạc, khai thác, cải tạo và sử dụng mọi thứ theo ý muốn, như thể thân xác mình không được làm từ đất, phổi mình không cần khí trời, máu mình không cần nước, bữa ăn mình không cần ruộng đồng và cái chết cuối cùng không trả mình lại cho bụi đất. Đức tin Kitô giáo không cho phép chúng ta chọn một trong hai. Nó buộc chúng ta giữ cả hai cùng một lúc: chúng ta thuộc về tạo thành, nhưng trong tạo thành chúng ta được gọi vào một tương quan đặc biệt; chúng ta là thụ tạo, nhưng là thụ tạo có thể nghe lời, đáp lời, chịu trách nhiệm và trở thành người quản gia trước mặt Thiên Chúa.
“Ở trong” là sự thật đầu tiên mà lòng kiêu ngạo rất hay quên. Con người có thể xây thành phố, phóng vệ tinh, tạo ra những cỗ máy tính toán nhanh hơn mình, can thiệp vào gien, tạo ra những hệ thống kinh tế phủ khắp địa cầu, nhưng cuối cùng vẫn phải hít thở từng hơi khí mà mình không tự sản xuất, vẫn phải uống nước, vẫn cần ngủ, vẫn chịu nóng lạnh, bệnh tật, tuổi già và cái chết. Không một nền văn minh nào hủy bỏ được tính thụ tạo ấy. Chúng ta có thể trì hoãn một số giới hạn, có thể chữa nhiều bệnh hơn tổ tiên, có thể điều hòa nhiệt độ căn phòng, lọc nước, vận chuyển thực phẩm từ nửa vòng trái đất, nhưng chúng ta không thoát khỏi cấu trúc nền tảng của mình: ta sống nhờ những gì mình không tạo ra từ hư không. Mỗi hơi thở là một lời nhắc. Mỗi cơn khát là một lời nhắc. Mỗi bữa ăn là một lời nhắc. Mỗi vết thương là một lời nhắc. Mỗi đám tang là một lời nhắc. Chúng ta không phải nguồn của chính mình. Ta nhận lấy mình.
Sách Sáng Thế diễn tả điều ấy bằng một hình ảnh vừa khiêm nhường vừa cao cả: con người được nắn từ bụi đất. Trước khi là nhà tư tưởng, kỹ sư, linh mục, bác sĩ, nông dân, chính khách hay doanh nhân, con người là kẻ mang đất trong mình. Trong thân xác ta có khoáng chất của đất, nước của sông biển, năng lượng đến từ những chuỗi sống dài hơn đời ta rất nhiều. Ta ăn lúa rồi lúa thành máu. Ta uống nước rồi nước trở thành một phần thân thể. Ta hít khí trời rồi khí trời đi vào từng tế bào. Không có một biên giới tuyệt đối giữa “tôi” và thế giới vật chất quanh tôi. Thân thể là bằng chứng sống động rằng ta ở trong thụ tạo chứ không đứng ngoài nó. Vì thế, xúc phạm đất cuối cùng là xúc phạm nền vật chất của chính mình; làm ô nhiễm nước cuối cùng là đầu độc chính máu mình; làm bẩn không khí cuối cùng là đưa sự bẩn ấy vào phổi của những con người cụ thể. Sinh thái học, dưới ánh sáng này, không phải một sở thích phụ của những người yêu thiên nhiên. Nó chạm đến sự thật về điều con người là.
Nhưng “ở trong” không có nghĩa con người chỉ là một khối vật chất phức tạp hơn. Chính tại đây cần nói tới chiều kích thứ hai: con người đứng trước mặt thụ tạo. “Đứng trước mặt” không có nghĩa đứng ngoài, càng không có nghĩa đứng trên như kẻ độc tài. Nó có nghĩa con người có thể nhận ra cái khác là cái khác, có thể gọi tên, có thể đặt câu hỏi, có thể ngạc nhiên, có thể chăm sóc, có thể phá hủy, có thể hối hận vì đã phá hủy, có thể sửa chữa, có thể tự hỏi mình nên làm gì. Một con sông chảy theo độ dốc. Một cây hướng về ánh sáng. Một con thú hành động theo cấu trúc sống của nó. Con người cũng chịu rất nhiều quy luật tự nhiên, nhưng con người đồng thời có khả năng đứng trước hành động của mình và phán xét nó: điều này tốt hay xấu? Điều này công bằng hay bất công? Tôi có quyền làm điều này không? Nếu làm, ai sẽ phải trả giá? Thế hệ sau sẽ nhận được gì từ quyết định của tôi hôm nay? Khả năng tự hỏi như thế là một dấu chỉ của vị trí đặc biệt.
Con người có lời. Đây là một điều tưởng như bình thường nhưng thực ra rất lớn. Chúng ta có thể nói về thế giới, gọi tên thế giới, truyền lại kinh nghiệm về thế giới, kể lại ký ức của một khu rừng đã mất, viết luật bảo vệ một dòng sông, tranh luận về giới hạn của khai thác, cầu nguyện cho mùa màng, xin lỗi vì mình đã làm tổn thương người khác và cả môi trường sống của người khác. Lời không chỉ là kỹ năng giao tiếp. Trong thần học Kinh Thánh, lời gắn với trách nhiệm. Ai có lời thì có thể hứa. Ai có thể hứa thì có thể trung tín hoặc phản bội. Ai có thể gọi tên điều thiện thì có thể chọn điều thiện hoặc cố tình từ chối nó. Vì thế, đặc quyền của con người không phải trước hết là có nhiều sức mạnh hơn, nhưng là phải chịu trách nhiệm nhiều hơn. Quyền năng càng lớn, sổ phải trả càng dày.
Con người có lương tâm. Lương tâm không khiến con người thành thần, nhưng khiến con người không thể trốn hoàn toàn vào cớ “đó là tự nhiên”, “ai cũng làm vậy”, “thị trường buộc thế”, “công nghệ đã đi tới đó”, “nếu tôi không làm thì người khác cũng làm”. Một hệ thống có thể thúc đẩy, một hoàn cảnh có thể gây áp lực, một cơ chế kinh tế có thể làm lựa chọn trở nên khó, nhưng con người vẫn được gọi phải phân định. Chính vì vậy, nói về sinh thái mà bỏ lương tâm thì chỉ còn kỹ thuật quản lý. Ta cần khoa học để biết điều gì đang xảy ra, cần kinh tế để hiểu chi phí và khả năng, cần luật pháp để thiết lập giới hạn, nhưng cần lương tâm để hỏi câu sâu hơn: điều gì ta được phép làm, ngay cả khi ta có thể làm? Một dự án có thể khả thi về kỹ thuật mà vẫn sai về luân lý. Một hoạt động có thể sinh lợi lớn mà vẫn đẩy gánh nặng lên người nghèo. Một công nghệ có thể hiệu quả mà vẫn làm con người bị hạ xuống thành dữ liệu hoặc nguyên liệu. Lương tâm làm cho con người đứng trước thế giới không như kẻ sử dụng, mà như người phải trả lời.
Và đây là nơi thần học về “hình ảnh Thiên Chúa” phải được hiểu rất cẩn thận. Hình ảnh Thiên Chúa không đẩy con người ra khỏi cộng đồng thụ tạo. Ngược lại, nó đặt con người vào giữa cộng đồng ấy với một trách nhiệm nặng hơn. Nếu Thiên Chúa là Đấng ban sự sống, nâng đỡ, gìn giữ, cho mặt trời mọc trên người lành kẻ dữ, cho mưa rơi trên đất, thì làm hình ảnh Thiên Chúa không thể đồng nghĩa với hành xử như một kẻ cướp. Hình ảnh chỉ đúng khi phản ánh phần nào cung cách của Nguyên Mẫu. Con người không làm hình ảnh Thiên Chúa bằng cách chứng minh rằng mình mạnh hơn mọi loài. Con người làm hình ảnh Thiên Chúa khi sức mạnh của mình trở thành sức mạnh phục vụ sự sống. Một người cha không chứng minh tư cách làm cha bằng việc cho thấy mình có thể đập phá căn nhà. Một người quản gia không chứng minh quyền hạn bằng việc bán hết tài sản của chủ. Một nhà lãnh đạo không chứng minh phẩm chất bằng việc vét sạch nguồn lực cho nhiệm kỳ của mình. Cũng vậy, nhân loại không chứng minh phẩm giá bằng khả năng hút kiệt trái đất.
Vì thế, vị trí đặc biệt của con người là một vị trí nghịch lý: cao nhưng không tách; có quyền nhưng không tuyệt đối; có trí tuệ nhưng vẫn lệ thuộc; có tự do nhưng vẫn phải chịu phán xét; có thể đặt tên muôn loài nhưng chính mình cũng mang một cái tên được gọi bởi Thiên Chúa. Vị trí ấy chỉ có thể sống đúng trong khiêm nhường. Khiêm nhường ở đây không phải tự khinh. Nó là biết đúng chỗ. Người kiêu là người ở sai chỗ: tự đặt mình vào ngai của Đấng Tạo Hóa. Người khiêm nhường không phủ nhận khả năng của mình; họ nhận nó như ân huệ và dùng nó đúng mục đích. Khiêm nhường sinh thái cũng vậy. Nó không đòi con người ngừng canh tác, ngừng xây dựng, ngừng sáng tạo, ngừng chữa bệnh, ngừng dùng tài nguyên. Nó đòi con người làm tất cả những điều ấy trong ý thức rằng thế giới không bắt đầu từ mình và cũng không kết thúc ở mình.
Quên rằng ta “ở trong” thụ tạo thì thành kiêu ngạo. Đây là căn bệnh đặc biệt dễ xảy ra trong nền văn minh kỹ thuật. Khi nước chảy ra từ vòi, ta quên dòng sông. Khi thịt nằm sạch trong khay siêu thị, ta quên con vật và người chăn nuôi. Khi điện bật lên bằng một công tắc, ta quên mỏ, đập, nhà máy, đường dây, người lao động và vùng đất đã chịu hệ quả để năng lượng đến được căn phòng. Khi rác được xe chở đi ban đêm, ta có ảo tưởng rằng rác biến mất. Thành phố hiện đại có thể khiến con người sống trong một mạng lưới khổng lồ của thiên nhiên mà lại cảm giác như mình độc lập với thiên nhiên. Đó là một ảo tưởng nguy hiểm. Càng phụ thuộc vào những hệ thống phức tạp, ta càng dễ quên những nền tảng sinh học sơ đẳng. Đến khi hạn hán, ô nhiễm, mất mùa, lũ lụt, dịch bệnh hay đứt chuỗi cung ứng xảy ra, sự thật mới phơi ra: con người chưa bao giờ rời khỏi đất.
Người nông dân thường hiểu điều này bằng thân xác hơn người sống giữa các lớp kính và bê tông. Họ biết mưa không phải dữ liệu. Họ biết đất có thể kiệt. Họ biết mùa không hoàn toàn nghe lệnh. Họ có thể áp dụng kỹ thuật, giống mới, tưới tiêu, máy móc, nhưng vẫn biết có một phần đời mình phải chờ. Chờ mưa. Chờ cây bén rễ. Chờ lúa trổ. Chờ trái chín. Sự chờ đợi ấy dạy một thứ thần học rất sâu: con người tác động nhưng không làm chủ hoàn toàn. Người trồng có thể gieo, tưới, làm cỏ; sự sống lớn lên vẫn mang một mầu nhiệm vượt quá mệnh lệnh của người trồng. Trong một thế giới bị ám ảnh bởi tốc độ và kiểm soát, mùa vụ còn giữ cho con người bài học về giới hạn.
Nhưng quên rằng ta “đứng trước mặt” thụ tạo thì lại dẫn đến một sai lầm khác: trốn trách nhiệm. Có một thứ khiêm nhường giả nói rằng con người chẳng là gì đặc biệt, chỉ là một loài giữa các loài, vì thế không có nghĩa vụ nào sâu hơn ngoài việc theo bản năng sinh tồn của mình. Cách nghĩ ấy nghe có vẻ chống kiêu ngạo, nhưng nếu đẩy tới cùng, nó làm sụp nền tảng của trách nhiệm. Nếu con người chỉ là một lực tự nhiên như bão hay núi lửa, tại sao phải kết án một hành vi hủy diệt? Bão phá rừng thì ta không gọi bão là tội lỗi. Nhưng con người phá rừng vì lợi nhuận, biết rõ hậu quả, vẫn làm, thì ta phán xét khác. Chính sự khác ấy cho thấy con người không chỉ “ở trong”. Con người có năng lực biết, dự liệu và chọn lựa. Vì thế, trốn sau câu “con người cũng chỉ là động vật” có thể trở thành một cách né tiếng gọi luân lý.
Cũng không thể dùng việc con người là một phần của thiên nhiên để xóa đi sự khác biệt giữa hành vi tự nhiên và hành vi luân lý. Tự nhiên có cạnh tranh, có săn mồi, có chết chóc, có những cơ chế rất khắc nghiệt. Nhưng con người không được phép lấy đó làm cớ cho bạo lực xã hội. Ta không thể nói: trong tự nhiên cá lớn nuốt cá bé, vì vậy người giàu có quyền nghiền người nghèo. Ta không thể nói: loài mạnh sống sót, vì vậy người yếu nên bị loại. Khi con người bắt đầu rút luân lý trực tiếp từ những gì xảy ra trong thiên nhiên, nền văn minh rất dễ biến thành rừng theo nghĩa xấu nhất. Con người được gọi không chỉ quan sát tự nhiên, mà còn phân định cách sống trong đó theo điều thiện.
Đây là lý do tại sao “quản gia” là hình ảnh rất quan trọng. Người quản gia thuộc về căn nhà nhưng không phải chủ tuyệt đối của căn nhà. Họ ở trong nhà, dùng tài sản của nhà, làm việc với tài sản của nhà, nhưng họ biết mình phải trả lại, phải báo cáo, phải giữ để nhà còn cho những người đến sau. Một quản gia tốt không hành xử như kẻ thuê ngắn hạn chỉ muốn vét hết lợi ích trước khi rời đi. Người ấy nghĩ tới độ bền, tới người kế tiếp, tới ý muốn của chủ. Nhân loại cũng vậy. Ta sinh vào một thế giới đã có trước mình. Không ai trong chúng ta bỏ tiền mua mặt trời. Không thế hệ nào ký hợp đồng để sở hữu đại dương. Không quốc gia nào tạo ra bầu khí quyển. Các biên giới chính trị là thật và cần thiết cho trật tự, nhưng gió không dừng ở trạm kiểm soát, nước không đọc hộ chiếu, khí hậu không theo bản đồ hành chính. Nhân loại tiếp nhận một gia sản chung sâu hơn mọi quyền sở hữu cục bộ.
Người quản gia còn biết phân biệt giữa sử dụng và tiêu hủy. Dùng không đồng nghĩa phá. Một cánh rừng có thể cung cấp gỗ mà vẫn là rừng nếu được quản lý khôn ngoan. Một dòng sông có thể phục vụ tưới tiêu và điện năng mà vẫn cần được giữ như một hệ sống. Đất có thể canh tác nhưng cần thời gian hồi phục. Biển có thể cung cấp cá nhưng không phải vô tận. Vấn đề không nằm ở mọi hành vi sử dụng, mà ở thứ logic xem giới hạn như kẻ thù. Khi nền kinh tế được tổ chức theo giả định rằng tăng mãi là bình thường, tiêu thụ mãi là quyền, khai thác nhanh hơn tái tạo là chấp nhận được, thì quản gia đã biến thành kẻ phá kho.
Cũng cần thấy rằng việc con người “đứng trước” thụ tạo không chỉ hiện ra trong khả năng khai thác hay bảo vệ, mà còn trong khả năng chiêm ngắm. Con bò không đứng trước cánh đồng để tự hỏi vẻ đẹp của hoàng hôn nói gì về Đấng Tạo Hóa. Con người có thể. Ta không chỉ ăn trái cây; ta còn thấy nó đẹp. Ta không chỉ dùng tiếng chim như thông tin sinh thái; ta còn có thể dừng lại nghe. Ta không chỉ đo một ngọn núi; ta có thể cảm thấy mình nhỏ đi trước nó. Ta không chỉ phân tích bầu trời bằng quang phổ; ta có thể đọc Thánh vịnh dưới trời sao và thấy lời “trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa” trở thành một kinh nghiệm chứ không chỉ một câu chữ. Khả năng chiêm ngắm là một phần của vị trí đặc biệt, bởi nó cho phép con người nhận thế giới không chỉ như cái để dùng mà như cái để đón nhận.
Một nền văn minh đánh mất chiêm ngắm thường cũng dễ đánh mất giới hạn. Khi mắt chỉ còn nhìn giá trị sử dụng, cái gì không sinh lợi sẽ bị coi là thừa. Một vùng đất ngập nước sẽ thành “đất bỏ trống”. Một khu rừng chưa khai thác sẽ thành “tiềm năng chưa sử dụng”. Một loài không có giá trị thương mại rõ ràng sẽ thành không đáng kể. Một người già không còn năng suất cũng có nguy cơ bị nhìn bằng cùng logic ấy. Chính đây là điểm thần học sinh thái gặp thần học về phẩm giá con người. Nếu ta chỉ biết định giá thế giới bằng khả năng sinh lợi, sớm muộn ta cũng định giá con người bằng năng suất. Cùng một cái nhìn biến cây thành mét khối gỗ có thể biến công nhân thành chi phí lao động, bệnh nhân thành ca bệnh, người già thành gánh nặng, trẻ chưa sinh thành vấn đề. Linh đạo sinh thái không thể tách khỏi linh đạo bảo vệ phẩm giá con người, vì cả hai cùng chống lại việc biến hiện hữu thành hàng hóa.
“Ở trong” thụ tạo cũng dạy con người về tình liên đới. Ta dùng chung không khí với người mình không quen. Nước từ thượng nguồn sẽ xuống hạ nguồn. Khói ở một nơi có thể tác động nơi khác. Một quyết định tiêu dùng trong thành phố có thể liên quan đến lao động của người cách xa hàng ngàn cây số. Điều này làm cho đời sống luân lý rộng hơn vòng tròn trước mắt. Người Kitô hữu không thể nói: nhà tôi sạch là đủ, nếu rác của nhà mình chỉ được đẩy sang khu nghèo hơn. Không thể nói công ty tôi lời là đủ, nếu lợi nhuận dựa trên việc để cộng đồng khác gánh ô nhiễm. Không thể nói quốc gia tôi phát triển là đủ, nếu phát triển ấy dựa vào việc chuyển mọi chi phí môi trường cho những nơi yếu thế hơn. Ở trong cùng một tạo thành nghĩa là hậu quả của hành vi nối chúng ta với nhau.
Từ đó, trách nhiệm với thế hệ tương lai cũng xuất hiện. Người chưa sinh chưa có tiếng nói trong cuộc họp hôm nay, nhưng họ có quyền nhận một thế giới còn có thể sống. Đây là một thử thách đặc biệt cho nền dân chủ, kinh tế và tâm lý hiện đại, vốn thường bị kéo về lợi ích ngắn hạn. Người đang sống có lá phiếu, có sức mua, có lợi ích tức thời; người của năm mươi năm sau không có mặt để phản đối. Vì thế, ý thức quản gia buộc lương tâm phải đại diện cho người vắng mặt. Một người cha không tiêu sạch gia sản rồi nói con mình tự lo. Một thế hệ cũng không có quyền sống theo nguyên tắc “sau tôi mặc kệ”. Gìn giữ tạo thành là một hình thức công bằng liên thế hệ.
Trong đời sống thiêng liêng, sự thật “ở trong và trước mặt” giúp chữa hai thái cực. Thái cực thứ nhất là một thứ nhân loại trung tâm kiêu ngạo, nơi mọi thứ tồn tại chỉ vì con người. Thái cực thứ hai là một thứ chống con người cực đoan, nơi con người bị coi như sai lầm của trái đất, như căn bệnh phải giảm thiểu. Kitô giáo không chấp nhận cả hai. Con người không phải cứu tinh của trái đất, nhưng cũng không phải một tai nạn vô nghĩa. Con người là thụ tạo được gọi. Chính chữ “được gọi” giữ cân bằng. Ta không tự đặt mình vào vị trí đặc biệt. Nếu tự đặt, đó là kiêu. Ta được trao vị trí ấy như một sứ mạng. Được gọi bao giờ cũng hàm ý Đấng gọi, và Đấng gọi có quyền hỏi ta đã làm gì với điều được giao.
Sự đặc biệt của con người vì thế không phải đặc quyền hưởng thụ mà là đặc quyền phục vụ. Trong Tin Mừng, ai lớn thì phải làm người phục vụ. Nguyên tắc ấy cũng có thể soi sáng tương quan với tạo thành. Nếu con người “lớn” theo nghĩa có trí tuệ, kỹ thuật và khả năng tổ chức vượt trội, thì chính vì thế con người phải phục vụ sự sống nhiều hơn. Một loài không hiểu biến đổi khí hậu không thể chịu trách nhiệm đạo đức về nó. Con người hiểu thì có. Một loài không biết một hệ sinh thái đang sụp thì không thể lập chính sách bảo vệ. Con người biết thì phải hành động. Tri thức làm tăng trách nhiệm chứ không giảm.
Điều này đặc biệt đáng suy nghĩ trong thời đại khoa học và trí tuệ nhân tạo. Chưa bao giờ nhân loại có khả năng thu thập dữ liệu về trái đất lớn như hiện nay. Ta có thể quan sát rừng từ vệ tinh, đo chất lượng không khí, dự báo bão, theo dõi đa dạng sinh học, tối ưu hóa tưới tiêu, giảm lãng phí năng lượng. Những khả năng ấy là ân huệ lớn nếu được đặt trong logic quản gia. Nhưng công nghệ không tự sinh ra đạo đức. Một hệ thống tối ưu hóa có thể giúp giảm lãng phí, nhưng cũng có thể tối ưu hóa khai thác. Một thuật toán có thể hỗ trợ nông dân, nhưng cũng có thể bị dùng để tập trung quyền lực vào vài tập đoàn. Vì thế, tiến bộ kỹ thuật không thay thế câu hỏi về mục tiêu. Ta càng có khả năng làm nhiều, càng phải hỏi kỹ hơn mình nên làm gì.
Người Kitô hữu còn có một nền tảng sâu hơn để giữ hai chiều kích này: mầu nhiệm Nhập thể. Con Thiên Chúa đã không cứu con người bằng cách đứng ngoài vật chất. Người nhận lấy thân xác. Người ăn, uống, mệt, ngủ, chạm, bị thương và chết. Điều đó xác nhận rằng thuộc về thế giới vật chất không làm giảm phẩm giá con người. Chính Ngôi Lời đã bước vào sự mỏng giòn ấy. Nhưng đồng thời, Đức Giêsu sống trong tạo thành như Con đứng trước Cha. Người nhận bánh mà tạ ơn. Người nhìn chim trời, hoa huệ, hạt giống, cây nho, ruộng lúa và đọc chúng trong tương quan với Cha. Trong Người, ở trong thụ tạo và đứng trước mặt thụ tạo đạt đến một sự hòa hợp lạ lùng: hoàn toàn nhập thể nhưng không bị vật chất đóng kín; hoàn toàn thuộc về thế giới nhưng hướng cả thế giới về Cha.
Thánh Thể cũng dạy cùng bài học. Bánh và rượu là hoa màu của ruộng đất và công lao của con người. Trong lễ vật ấy, thiên nhiên và lao động gặp nhau. Đất sinh lúa, người gieo, gặt, xay, nhào, nướng. Nho mọc từ đất, người chăm, hái, ép. Không có thụ tạo thì không có lễ vật; không có lao động con người thì hoa màu chưa thành bánh rượu. Phụng vụ nhận tất cả và dâng lên Thiên Chúa. Đó là hình ảnh đẹp của ơn gọi con người: không chiếm lấy thế giới, nhưng tiếp nhận, lao tác, biến đổi trong giới hạn đúng, rồi dâng trả với lòng tạ ơn. Khi con người sống như thế, văn hóa và kỹ thuật không nhất thiết chống thiên nhiên; chúng có thể trở thành một phần của việc làm cho tạo thành sinh hoa trái mà không bị hủy diệt.
Cái chết cuối cùng cũng là người thầy nghiêm khắc về sự thật “ở trong”. Bao nhiêu tài sản, chức vụ, công trình, tên tuổi cuối cùng đều đi qua một ngưỡng nơi thân xác trở về đất. Phụng vụ tro nói điều mà nền văn minh tiêu dùng rất không thích nghe: hãy nhớ mình là bụi tro. Nhưng Kitô giáo không nói điều ấy để làm con người tuyệt vọng. Nó nói để đặt lại trật tự. Biết mình sẽ trở về bụi đất giúp ta bớt hành xử như chủ nhân vĩnh viễn. Người biết mình chỉ đi qua sẽ đối xử với căn nhà khác người tưởng mình sở hữu tuyệt đối. Và niềm tin phục sinh còn thêm một chiều sâu khác: thân xác được cứu, không bị bỏ. Như thế, vật chất không phải thứ đáng khinh. Cứu độ không phải chạy khỏi tạo thành, nhưng là sự hoàn tất mà Thiên Chúa hứa cho toàn thể công trình của Người.
Từ đây có thể hiểu rõ hơn tại sao khủng hoảng sinh thái là khủng hoảng nhân học và thiêng liêng. Nó không chỉ hỏi ta dùng loại năng lượng nào hay quản lý rác ra sao. Nó hỏi ta nghĩ mình là ai. Nếu con người nghĩ mình là chủ tuyệt đối, họ sẽ dùng thế giới như đồ vật. Nếu nghĩ mình chỉ là một sinh vật vô trách nhiệm trong chuỗi tự nhiên, họ lại không thấy lý do phải hy sinh lợi ích tức thời cho công ích. Chỉ khi nhận mình là thụ tạo được giao trách nhiệm, ta mới có nền tảng đủ vững: ta không phải Chúa, nhưng ta phải trả lời với Chúa; ta không sở hữu tuyệt đối, nhưng ta được quyền sử dụng; ta không đứng ngoài thiên nhiên, nhưng ta có nghĩa vụ chăm sóc; ta không cứu thế giới bằng sức mình, nhưng ta không được phép khoanh tay.
Trong thực hành, linh đạo này bắt đầu từ những việc rất bình thường. Ăn mà biết ơn. Uống nước mà không coi nước là vô tận. Sử dụng điện mà nhớ có tài nguyên và lao động phía sau. Mua một món đồ mà hỏi mình có thật sự cần không. Trồng một cây mà chấp nhận phải chờ. Không xả rác vì hiểu “ném đi” không có nghĩa là biến mất. Dạy trẻ biết tên cây, tên chim, biết mùa mưa mùa nắng, thay vì chỉ biết thương hiệu. Tạo trong giáo xứ những khoảng đất có thể thở, những khu vườn nhỏ, những thói quen tiết chế không phải để trình diễn “xanh” mà để luyện lương tâm. Người sống những điều nhỏ ấy không cứu hành tinh một mình; nhưng họ tập làm quản gia.
Các cộng đoàn Kitô hữu cũng cần học nói về sinh thái theo cách không rơi vào khẩu hiệu. Không phải cứ trồng vài cây rồi chụp hình là đã có linh đạo tạo thành. Cũng không phải biến nhà thờ thành diễn đàn kỹ thuật môi trường. Cần sâu hơn: đưa người tín hữu trở lại câu hỏi mình là ai trước Thiên Chúa và trước thế giới. Giáo lý có thể dạy trẻ rằng thân xác chúng đến từ đất, sự sống là quà, nước là quà, thức ăn là quà. Bài giảng có thể nối lòng tham, tiêu thụ, lãng phí với việc xét mình. Các hội đoàn có thể tập tiết chế trong tổ chức lễ hội, tiệc tùng, đồ dùng một lần. Các gia đình có thể biến việc dùng điện nước, mua sắm, ăn uống thành bài học về trách nhiệm. Tất cả những điều ấy không thay thế chính sách lớn, nhưng tạo ra con người có lương tâm để chính sách lớn không còn là chuyện của ai khác.
Đặc biệt, người nghèo phải ở giữa suy tư này. Khi môi trường bị hủy, người có tiền thường mua được một khoảng cách nào đó khỏi hậu quả: máy lọc, điều hòa, nhà ở nơi tốt hơn, thực phẩm sạch hơn, bảo hiểm tốt hơn. Người nghèo ít khoảng cách hơn. Họ ở gần bãi rác, dòng nước ô nhiễm, vùng dễ lũ, công việc nguy hiểm. Vì vậy, quản gia Kitô giáo không thể chỉ yêu cây mà quên người. Yêu tạo thành mà lạnh với người nghèo là một mâu thuẫn. Cũng như yêu người nghèo mà không quan tâm môi trường sống của họ là một tình yêu thiếu chiều sâu. Tiếng kêu của đất và tiếng kêu của người nghèo thường phát ra từ cùng một vết thương: logic lợi nhuận không giới hạn.
Với Việt Nam, bài học “ở trong và trước mặt” rất gần. Một dân tộc gắn lâu với ruộng nước hiểu rằng đời người buộc vào sông, mưa, đất, mùa. Những con đê, những bờ ruộng, những giống lúa, những kinh nghiệm giữ nước là ký ức của một tương quan vừa sử dụng vừa nương tựa. Nhưng quá trình đô thị hóa nhanh có thể làm ký ức ấy mờ đi. Trẻ em thành phố có thể biết rất nhiều qua màn hình mà ít chạm đất. Người lớn có thể sống trong căn hộ cao tầng và chỉ gặp thiên nhiên dưới dạng công viên cuối tuần. Chính vì vậy, Hội Thánh Việt Nam có thể làm một việc rất đẹp: nối linh đạo tạo thành với ký ức văn hóa. Không lý tưởng hóa làng quê, không phủ nhận nhu cầu phát triển, nhưng giữ lại sự biết ơn đất, nước, mùa, người trồng trọt, người đánh cá, người lao động. Một nền văn minh khỏe không xấu hổ vì nguồn gốc bụi đất của mình.
Cuối cùng, điều quan trọng nhất là nhận ra rằng hai chữ “ở trong” và “trước mặt” cùng đưa con người tới thờ phượng. Vì ở trong thụ tạo, ta biết mình không phải Chúa. Vì đứng trước mặt thụ tạo với lời và lương tâm, ta biết mình được gọi để dâng lời thay cho nhiều điều không thể nói bằng tiếng người. Khi con người ngợi khen Thiên Chúa vì tạo thành, tạo thành như được nhận vào lời tạ ơn. Khi con người chăm sóc tạo thành, quyền năng được biến thành phục vụ. Khi con người từ bỏ một phần lợi ích để bảo vệ sự sống, tự do được dùng đúng. Và khi con người thú nhận mình đã làm hư điều được giao, lương tâm mở ra cho hoán cải.
Vì thế, đừng nói con người chỉ là bụi đất như thể bụi đất làm ta vô nghĩa. Đúng, ta là bụi đất, nhưng là bụi đất được Thiên Chúa thổi hơi sự sống. Đừng nói con người là hình ảnh Thiên Chúa như thể điều ấy cho ta giấy phép đứng trên xác mọi loài. Đúng, ta là hình ảnh Thiên Chúa, và chính vì thế ta phải học cách yêu sự sống như Người yêu. Đừng biến khiêm nhường thành trốn trách nhiệm, cũng đừng biến trách nhiệm thành quyền lực tuyệt đối. Con đường Kitô giáo đi giữa hai vực ấy: tôi thuộc về đất, nhưng đất không phải thần của tôi; tôi được trao trách nhiệm trên đất, nhưng tôi không phải thần của đất. Tôi là thụ tạo giữa các thụ tạo và là người quản gia trước Đấng Tạo Hóa.
Có lẽ chỉ khi nhận mình đúng như thế, con người mới đứng được đúng chỗ. Không trên ngai, không nằm vô trách nhiệm giữa đám đông sinh vật, nhưng đứng bằng đôi chân làm từ đất, ngước mắt về Đấng Tạo Hóa, hai tay nhận lấy khu vườn được trao và biết rằng một ngày mình sẽ phải trao lại. Quản gia tốt không hỏi: “Tôi còn có thể lấy được bao nhiêu?” Quản gia tốt hỏi: “Điều gì đã được giao cho tôi, tôi sẽ làm cho nó sinh hoa trái thế nào mà vẫn còn nguyên khả năng sống cho người đến sau?” Đó là câu hỏi sinh thái. Đó cũng là câu hỏi luân lý. Và sâu hơn nữa, đó là câu hỏi thiêng liêng của một thụ tạo biết mình đang sống trước mặt Thiên Chúa.


CHƯƠNG 17. KẾ HOẠCH KỲ DIỆU: HIỆP THÔNG CHỨ KHÔNG PHẢI KIM TỰ THÁP
Có một cách tưởng tượng về công trình tạo dựng nghe có vẻ rất đạo đức, thậm chí có thể được trình bày bằng những từ ngữ rất quen thuộc của thần học, nhưng nếu không cẩn thận lại dẫn chúng ta đi xa khỏi chính mầu nhiệm mà Kinh Thánh muốn mặc khải. Đó là tưởng tượng toàn thể tạo thành như một kim tự tháp khổng lồ: ở dưới cùng là đất đá và vật chất vô tri, cao hơn một chút là cây cỏ, rồi động vật, rồi con người, rồi các thiên thần, và cuối cùng ở trên đỉnh là Thiên Chúa. Trong cách tưởng tượng ấy, sự cao trọng dường như đồng nghĩa với quyền sử dụng những gì nằm phía dưới. Kẻ ở trên có quyền đối với kẻ ở dưới; kẻ mạnh hơn có quyền hưởng lợi từ kẻ yếu hơn; kẻ có ý thức có thể coi những gì không có ý thức chỉ như phương tiện; và cuối cùng con người, vì là hình ảnh Thiên Chúa, dễ tự đặt mình vào vị trí ông chủ của cả thế giới hữu hình. Một sơ đồ như thế có thể giúp diễn tả những cấp độ khác nhau của hữu thể trong một số suy tư triết học, nhưng nó trở thành nguy hiểm ngay khi người ta biến trật tự hữu thể thành giấy phép đạo đức cho việc thống trị. Kinh Thánh không kể câu chuyện tạo thành để cung cấp cho con người một cái thang mà leo lên trên mọi loài rồi từ đó tuyên bố rằng mọi sự bên dưới tồn tại chỉ để phục vụ mình. Kinh Thánh kể một câu chuyện khác sâu hơn nhiều: mọi sự đến từ Thiên Chúa, mọi sự tồn tại nhờ Thiên Chúa, mọi sự được Thiên Chúa yêu trong chính sự hiện hữu của nó, và trong Đức Kitô, Thiên Chúa có một kế hoạch kỳ diệu là đưa tất cả vào một sự hiệp nhất mà không hủy bỏ khác biệt. Đó là điều thánh Phaolô diễn tả trong thư Êphêsô khi nói về kế hoạch nhiệm mầu của Thiên Chúa được thực hiện khi thời gian tới hồi viên mãn: “quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô” (x. Ep 1,10). Câu này phải được đặt ở trung tâm mọi linh đạo Kitô giáo về tạo thành. Điểm đến của thế giới không phải là một cuộc tranh giành để xem loài nào đứng cao nhất. Điểm đến của thế giới là Đức Kitô. Và trong Đức Kitô, kế hoạch ấy không mang hình dáng của một kim tự tháp nơi kẻ đứng trên sống bằng cách hút sức sống của những gì ở dưới, nhưng mang hình dáng của một thân thể, một sự hiệp thông, một gia đình được quy tụ, một công trình hòa giải trong đó mọi sự tìm lại vị trí của mình trước mặt Thiên Chúa và trong tương quan với nhau.
Nói “quy tụ muôn loài trong Đức Kitô” không có nghĩa rằng mọi khác biệt đều bị xóa bỏ trong một khối đồng nhất. Kitô giáo không mơ về một thế giới trong đó cây không còn là cây, con vật không còn là con vật, con người không còn là con người, và mọi sự hòa tan trong một thứ năng lượng thần linh vô danh. Đó không phải là hiệp thông Kitô giáo. Hiệp thông không phải hòa tan. Hiệp thông là những hữu thể khác nhau được đặt vào những tương quan đúng đắn. Người cha vẫn là cha, người con vẫn là con, nhưng họ có thể hiệp thông. Các chi thể của một thân thể không trở thành cùng một cơ quan; mắt vẫn là mắt, tay vẫn là tay, nhưng chính vì khác nhau mà chúng có thể phục vụ nhau trong một thân thể. Một khu rừng cũng vậy: cây lớn không phải cây nhỏ, chim không phải sâu, đất không phải nước, nấm không phải rễ cây; nhưng chính trong sự khác biệt ấy mà một mạng lưới sự sống được hình thành. Tạo thành không đẹp vì mọi loài giống nhau. Tạo thành đẹp vì những khác biệt có thể sống trong tương quan. Đức tin Kitô giáo làm cho ta nhận ra rằng điều này không chỉ là một sự kiện sinh học nhưng còn mở ra một chân trời thần học: Thiên Chúa không cứu bằng cách xóa bỏ tạo thành, nhưng bằng cách chữa lành những tương quan bị tội lỗi làm tổn thương và đưa tạo thành về sự viên mãn trong Đức Kitô.
Tội lỗi, nhìn từ góc độ này, không chỉ là việc một cá nhân vi phạm một điều luật riêng lẻ. Tội lỗi là sức mạnh làm đổ vỡ tương quan. Con người tách khỏi Thiên Chúa thì cũng bắt đầu tách khỏi chính mình, khỏi người khác và khỏi đất. Trình thuật Sáng Thế cho thấy điều đó với một sự cô đọng đáng kinh ngạc. Khi con người muốn tự quyết định thiện ác mà không còn nhận mình là thụ tạo, sự xấu hổ xuất hiện giữa người với chính thân thể mình; sự đổ lỗi xuất hiện giữa người nam và người nữ; bạo lực xuất hiện giữa Cain và Abel; đất trở nên khó nhọc; tương quan với tạo thành trở thành căng thẳng. Điều bị phá vỡ không phải chỉ là một quy định. Một mạng lưới hiệp thông bị rạn nứt. Chính vì thế công trình cứu độ của Thiên Chúa cũng không thể được thu nhỏ thành chuyện đưa từng linh hồn riêng lẻ ra khỏi một thế giới sắp bị bỏ đi. Thiên Chúa cứu con người bằng cách tái lập giao ước, tái lập hiệp thông, chữa lại những đổ vỡ. Đức Kitô đến không phải để dạy chúng ta khinh thế giới, nhưng để hòa giải. Thánh Phaolô trong thư Côlôxê dùng một ngôn ngữ còn mạnh hơn: nhờ Đức Kitô, Thiên Chúa muốn “làm cho muôn vật được hòa giải với mình, nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (x. Cl 1,20). “Muôn vật” là một từ mà thần học của chúng ta đôi khi đọc quá nhanh. Chúng ta quen nghĩ Đức Kitô cứu tôi, cứu linh hồn tôi, cứu gia đình tôi, cứu Giáo Hội. Điều ấy đúng nhưng chưa đủ. Tân Ước mở chân trời rộng hơn: Đức Kitô là trung tâm của toàn thể tạo thành; mọi sự được tạo dựng nhờ Người và cho Người; Người có trước mọi sự và mọi sự tồn tại trong Người. Vì thế, mầu nhiệm cứu độ có chiều kích vũ trụ. Không phải vì đá, cây, thú vật được cứu theo cùng một cách như con người, nhưng vì kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa không bỏ lại tạo thành ở bên ngoài. Đức Kitô không đến để lấy con người ra khỏi tạo thành. Người đến như một con người thật, trong một thân thể thật, sinh bởi một người nữ thật, sống trên một vùng đất thật, ăn bánh, uống nước, đi trên đường, ngủ trên thuyền, chạm vào người bệnh, chết trên gỗ và sống lại trong thân xác. Đấng quy tụ muôn loài đã bước vào chính mạng lưới của tạo thành để chữa lành nó từ bên trong.
Ở đây chúng ta bắt đầu hiểu tại sao kế hoạch của Thiên Chúa không thể được hình dung như một kim tự tháp. Kim tự tháp là hình ảnh của khoảng cách quyền lực: càng lên cao càng ít người, càng xuống thấp càng nhiều kẻ phải gánh. Nhưng Đức Kitô, Đấng đứng đầu muôn loài, lại mặc khải cách làm đầu bằng việc tự hạ. Người không đứng trên đỉnh để hút sự sống từ dưới lên. Người ở trung tâm để trao sự sống ra. Người nói rằng Con Người đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người. Trong Bữa Tiệc Ly, Người là Thầy và là Chúa nhưng lại quỳ xuống rửa chân cho môn đệ. Trên thập giá, Đấng mà mọi sự được tạo thành nhờ Người lại để cho tạo thành nâng thân xác mình: gỗ đỡ lấy thân thể Người, đất nhận máu Người, bóng tối phủ lấy giờ Người chết, đá trở thành cửa mồ, và khu vườn trở thành nơi công bố sự sống lại. Nếu muốn biết quyền làm chủ của Thiên Chúa trông giống điều gì, Kitô hữu không được nhìn trước hết vào ngai vàng của các đế quốc; phải nhìn vào Đức Kitô chịu đóng đinh. Quyền lực Thiên Chúa là quyền lực ban sự sống. Làm đầu theo Đức Kitô là quy tụ, phục vụ, chữa lành, nâng dậy, chứ không phải rút cạn. Bởi thế, nếu con người được trao một vị trí đặc biệt trong tạo thành thì vị trí ấy phải được hiểu theo hình dạng của Đức Kitô. Càng được trao nhiều khả năng, càng mang nhiều trách nhiệm. Càng có quyền lực kỹ thuật, càng phải biết tự giới hạn. Càng có khả năng thay đổi môi trường, càng phải xét xem sự thay đổi ấy phục vụ sự sống hay làm nghèo sự sống. Một nền văn minh có thể đào núi, chặn sông, biến rừng thành đất trống, sản xuất hàng triệu tấn vật phẩm, truyền dữ liệu vòng quanh hành tinh trong vài giây, nhưng khả năng làm được không bao giờ tự động đồng nghĩa với quyền được làm. Câu hỏi Kitô giáo không chỉ là: chúng ta có thể làm gì? Câu hỏi phải đi xa hơn: việc ấy phục vụ sự hiệp thông hay phục vụ sự đổ vỡ? Nó làm cho tương quan giữa người với người, người với đất, thế hệ hôm nay với thế hệ mai sau tốt hơn hay tệ hơn? Nó làm giàu một nhóm bằng cách đẩy chi phí sang người nghèo, sang trẻ em chưa sinh ra, sang dòng sông, sang khu rừng, sang những cộng đồng không có tiếng nói hay không?
Chính ở đây sinh thái toàn diện mà Laudato Si’ nhấn mạnh cho thấy chiều sâu của nó. Nếu vấn đề sinh thái chỉ là chuyện rác, ta chỉ cần thêm xe thu gom rác. Nếu chỉ là chuyện khí thải, ta chỉ cần máy móc sạch hơn. Nếu chỉ là chuyện điện năng, ta chỉ cần đổi nguồn năng lượng. Tất cả những việc ấy cần thiết, và Kitô hữu không được lấy linh đạo làm cớ để coi nhẹ kỹ thuật, khoa học hay chính sách. Nhưng khủng hoảng sinh thái sâu hơn một bài toán kỹ thuật, bởi vì ở gốc của nó là một cuộc khủng hoảng tương quan. Một xã hội không biết giới hạn ham muốn sẽ tìm được cách tiêu thụ mọi nguồn năng lượng dù nguồn ấy là gì. Một nền kinh tế coi lợi nhuận ngắn hạn là tiêu chuẩn tối hậu có thể dùng công nghệ “xanh” nhưng vẫn nghiền nát người lao động. Một người phân loại rác rất kỹ nhưng sống trong sự thờ ơ hoàn toàn với người nghèo vẫn chưa đi vào sinh thái toàn diện. Một thành phố có thể trồng nhiều cây hơn nhưng nếu đẩy người nghèo ra ngoại vi, cắt đứt cộng đồng địa phương và biến mọi không gian thành hàng hóa thì vết thương vẫn còn. Laudato Si’ liên tục nhắc rằng mọi sự có liên hệ với nhau. Câu ấy không phải khẩu hiệu trang trí. Nó là một nguyên tắc thần học và nhân học. Khủng hoảng môi trường không thể tách khỏi khủng hoảng xã hội; tiếng kêu của trái đất không thể tách khỏi tiếng kêu của người nghèo; văn hóa vứt bỏ đồ vật không xa văn hóa vứt bỏ con người; một tâm hồn tập quen sử dụng mọi thứ rồi bỏ đi rất dễ áp dụng cùng một logic vào các mối quan hệ.
Hãy nhìn cách chúng ta đối xử với một chiếc điện thoại. Mua, dùng, đổi, bỏ. Với quần áo: mua, mặc vài lần, chán, bỏ. Với thức ăn: lấy dư, ăn không hết, bỏ. Với đồ nội thất: cũ một chút, bỏ. Với đất: khai thác hết lợi nhuận, bỏ. Với lao động: tuyển khi cần, bỏ khi không còn lợi. Với người già: khi họ không sản xuất được nữa, coi là gánh. Với thai nhi: nếu làm xáo trộn kế hoạch, coi là vấn đề. Với người khuyết tật: nếu không “hiệu quả”, coi là chi phí. Với tình bạn: nếu không còn đem lại cảm xúc tốt, bỏ. Với hôn nhân: nếu không còn thỏa mãn, bỏ. Những thực tại ấy không đồng nhất và không được đánh đồng một cách đơn giản, nhưng có một logic có thể len vào tất cả: logic sử dụng rồi loại bỏ. Đó chính là điều sinh thái toàn diện muốn đụng tới tận gốc. Không thể chữa trái đất chỉ bằng cách thay một vài thiết bị nếu lòng người vẫn coi mọi sự ngoài bản thân mình như nguyên liệu cho ham muốn. Nếu không chữa cách nhìn, kỹ thuật mới chỉ có thể giúp ta khai thác tinh vi hơn. Một con người có tâm hồn chiếm hữu cầm công nghệ mạnh hơn sẽ không tự nhiên trở thành người gìn giữ tốt hơn; có khi chỉ trở thành kẻ chiếm hữu hiệu quả hơn.
Bởi thế, hoán cải sinh thái trước hết là hoán cải tương quan. Tôi phải học lại rằng tôi không hiện hữu một mình. Tôi nhận thân thể này từ cha mẹ; thức ăn tôi ăn đến từ đất, nước, ánh sáng, công sức của bao người; chiếc áo tôi mặc có bàn tay người thợ; căn nhà tôi ở có vật liệu lấy từ lòng đất; điện tôi dùng có một lịch sử năng lượng; rác tôi thải đi không biến mất chỉ vì chiếc xe rác đã rời khỏi ngõ. Mỗi hành động của tôi bước vào một mạng lưới mà mắt thường không nhìn thấy hết. Tội lỗi của thời hiện đại có một dạng rất đặc biệt: chúng ta hưởng lợi từ những chuỗi rất dài nên không còn nhìn thấy khuôn mặt chịu hậu quả. Người tiêu dùng không nhìn thấy công nhân. Người thành phố không nhìn thấy nơi rác đi tới. Người bật điều hòa không nhìn thấy nguồn điện. Người mua món rẻ không nhìn thấy ai đã bị trả lương rẻ. Người đòi rau đẹp không nhìn thấy lượng hóa chất có thể được dùng. Người đổi điện thoại không nhìn thấy quặng đã được đào ở đâu. Khoảng cách ấy làm lương tâm dễ ngủ. Chính vì thế một linh đạo hiệp thông phải tập cho con người nối lại những điều bị nền kinh tế và kỹ thuật làm cho vô hình. Không phải để sống trong mặc cảm tội lỗi thường trực, nhưng để sống có trách nhiệm. Tôi không thể chịu trách nhiệm bằng nhau về mọi mắt xích của toàn thế giới; nhưng tôi có thể từ chối giả vờ rằng lựa chọn của tôi không có hậu quả.
Kế hoạch của Thiên Chúa là hiệp thông còn có nghĩa rằng không thể cứu một phần bằng cách hy sinh phần còn lại. Chúng ta đã quá quen với những mô hình phát triển trong đó một nhóm tiến lên bằng cách đẩy nhóm khác xuống. Thành phố đẹp hơn bằng cách chuyển rác sang vùng nghèo. Điện rẻ hơn bằng cách để một cộng đồng khác chịu ô nhiễm. Thực phẩm rẻ hơn bằng cách ép nông dân xuống dưới giá sống được. Đồ dùng rẻ hơn bằng lao động không được bảo vệ ở một nơi rất xa. Khu nghỉ dưỡng sạch đẹp bằng cách lấy nguồn nước của làng lân cận. Công ty tăng lợi nhuận bằng cách cắt những chi phí liên quan đến an toàn của người lao động hay phục hồi môi trường. Quốc gia giàu giữ mức tiêu thụ cao bằng những nguồn lực lấy từ các vùng nghèo. Thậm chí ngay trong gia đình, một người có thể xây thành công nghề nghiệp bằng cách bắt một người khác gánh toàn bộ công việc chăm sóc không tên tuổi. Kim tự tháp luôn cần ai đó ở dưới gánh trọng lượng cho kẻ ở trên. Hiệp thông thì khác. Hiệp thông không phủ nhận rằng trách nhiệm, quyền hạn và vai trò có thể khác nhau; nhưng nó từ chối xây sự thịnh vượng của người này bằng sự hủy hoại người kia. Trong nhãn quan Kitô giáo, phát triển đích thực phải hỏi: điều này làm cho toàn thể mạng lưới sống được hơn hay chỉ làm một đỉnh kim tự tháp cao thêm?
Đó cũng là lý do người nghèo đứng ở một vị trí đặc biệt trong mọi suy tư về sinh thái. Người giàu có thể mua khoảng cách khỏi nhiều hậu quả môi trường. Nước bẩn thì mua nước sạch. Không khí xấu thì chuyển sang khu khác. Nóng quá thì bật điều hòa. Thực phẩm nhiễm độc thì mua loại đắt hơn. Lũ lụt thì mua nhà nơi cao hơn. Hạn hán thì có dự trữ. Giá tăng thì còn khả năng chịu đựng. Người nghèo thì không có những lớp đệm ấy. Họ thường ở nơi dễ ngập hơn, gần khu công nghiệp hơn, làm những nghề phụ thuộc trực tiếp vào thời tiết hơn, có nhà ở kém hơn, chăm sóc y tế ít hơn và ít tiếng nói chính trị hơn. Vì thế khủng hoảng sinh thái không trung lập. Nó đánh vào người yếu trước. Một thần học tạo thành không nhìn thấy điều đó là một thần học bị cắt khỏi thân xác người nghèo. Đức Kitô quy tụ muôn loài không phải từ một khoảng cách an toàn. Người bước vào lịch sử của những người bé nhỏ. Người sinh trong hoàn cảnh nghèo, sống giữa những người lao động, chạm những thân thể bị loại trừ, ăn với người bị khinh, và đồng hóa mình với người đói, người khát, người trần truồng, người đau yếu. Vì thế bảo vệ ngôi nhà chung mà không nghe người nghèo là bảo vệ một bức tranh phong cảnh, không phải bảo vệ tạo thành theo Tin Mừng.
Trong chiều sâu ấy, chúng ta cũng phải sửa một hiểu lầm khác: hiệp thông không có nghĩa rằng con người phải biến mất để thiên nhiên được cứu. Có những giọng nói phản ứng trước lịch sử khai thác bằng cách đi sang cực ngược lại: coi con người như một thứ bệnh của hành tinh, như loài xâm lấn đáng tiếc, và hình dung một trái đất lý tưởng là trái đất càng ít người càng tốt. Đó không phải cái nhìn Kitô giáo. Con người có một phẩm giá riêng, một ơn gọi riêng và một trách nhiệm riêng. Hình ảnh Thiên Chúa không bị xóa đi vì chúng ta đã lạm dụng nó. Câu trả lời cho thống trị sai không phải là xóa vị trí đặc biệt của con người nhưng là hoán cải ý nghĩa của vị trí ấy. Người cha xấu không làm cho chức năng làm cha trở thành vô nghĩa; điều cần là trở thành người cha tốt. Người quản lý tham lam không chứng minh rằng không cần quản lý; điều cần là người quản lý trung tín. Con người có khả năng nhận biết, yêu mến, đặt câu hỏi luân lý, hy sinh cho tương lai, lập luật, tạo công nghệ, phục hồi những hệ sinh thái đã hỏng, bảo vệ những loài đang bị đe dọa, lựa chọn hạn chế chính mình. Chính khả năng ấy khiến trách nhiệm của con người đặc biệt lớn. Một con hổ không có bổn phận luân lý bảo tồn rừng. Một dòng sông không lập chính sách sử dụng nước. Một cánh rừng không ký hiệp ước khí hậu. Con người có thể. Vì thế, phẩm giá đặc biệt không phải là đặc quyền tiêu thụ; nó là khả năng đáp lời. Trách nhiệm là mặt bên kia của phẩm giá.
Nếu hiểu đúng điều này, ta sẽ thấy vị trí con người trong tạo thành không giống ông chủ ngồi trên tầng cao nhất của một công ty xa lạ với những gì diễn ra bên dưới. Vị trí ấy giống người quản gia sống giữa nhà, biết chủ nhà là ai, biết tài sản không thuộc về mình tuyệt đối, biết người khác cũng có phần, biết những người đến sau có quyền nhận lại ngôi nhà còn có thể ở được. Một quản gia tốt không hỏi: “Tôi lấy được tối đa bao nhiêu trước khi đi?” Người ấy hỏi: “Khi Chủ trở lại, tôi sẽ trao lại điều gì?” Câu hỏi cánh chung ấy rất quan trọng. Đức tin vào ngày Chúa đến không làm người Kitô hữu thờ ơ với trái đất. Ngược lại, nó làm ta ý thức rằng mọi hành vi của mình đều ở dưới một phán xét. “Chủ sẽ trở về” nghĩa là tôi không phải chủ tuyệt đối. Tôi sẽ phải trả lời về cách tôi dùng quyền lực, tiền bạc, đất đai, tài nguyên, lao động của người khác, những gì đã được trao vào tay mình. Cánh chung Kitô giáo không phải giấy phép phá thế giới với lý do “rồi Chúa sẽ làm trời mới đất mới”. Một người biết mình sẽ trao lại căn nhà cho chủ không vì thế mà đập cửa, đốt bàn và phá mái. Hy vọng trời mới đất mới càng làm người ấy trung tín với phần tạo thành hôm nay, bởi vì tương lai thuộc về Thiên Chúa chứ không thuộc về sự hủy diệt.
“Kế hoạch kỳ diệu” của Thiên Chúa cũng buộc chúng ta suy nghĩ lại chữ phát triển. Chúng ta thường gọi một xã hội phát triển khi nó sản xuất nhiều hơn, tiêu thụ nhiều hơn, xây nhanh hơn, đi nhanh hơn, kết nối nhanh hơn và tăng trưởng tổng sản phẩm nhanh hơn. Những chỉ số ấy có giá trị nhất định, nhưng chúng không đủ để nói con người có sống tốt hơn hay không. Một thành phố có thể giàu lên mà người dân cô độc hơn. Một gia đình có thể có nhiều thiết bị hơn nhưng ít nói chuyện hơn. Một nền nông nghiệp có thể tăng sản lượng nhưng làm đất chết dần. Một công ty có thể tăng lợi nhuận nhưng nhân viên kiệt sức. Một quốc gia có thể tăng GDP nhưng sông ngòi nhiễm độc, người trẻ trầm uất, người già bị bỏ lại và vùng quê mất khả năng sống. Một giáo xứ cũng có thể xây lớn hơn, tổ chức nhiều hơn, huy động tiền nhiều hơn mà các mối tương quan giữa người với người lại nghèo hơn. Sự tăng trưởng của kích thước không tự động là sự trưởng thành của hiệp thông. Đây là một tiêu chuẩn phân định rất mạnh của linh đạo tạo thành: điều chúng ta gọi là tiến bộ có giúp các hữu thể sống trong những tương quan lành mạnh hơn không?
Một cái cây lớn lên không phải bằng cách hút hết sự sống của khu rừng rồi đứng một mình. Nếu một cây thực sự hút cạn nước, che hết ánh sáng, hủy hết đất và giết mọi sự xung quanh, cuối cùng chính nó cũng không còn hệ sinh thái để tồn tại. Điều này đúng ở mức sinh học và cũng là một dụ ngôn xã hội. Một doanh nghiệp không thể lâu dài khỏe mạnh nếu cộng đồng chung quanh tan rã. Một thành phố không thể thực sự thịnh vượng nếu vùng cung cấp lương thực cho nó kiệt quệ. Một quốc gia không thể an toàn mãi trong một thế giới bất ổn bởi bất bình đẳng và môi trường. Một người không thể hạnh phúc khi mọi tương quan chung quanh bị biến thành công cụ cho thành công cá nhân. Chúng ta thuộc về nhau nhiều hơn điều nền văn hóa cá nhân chủ nghĩa muốn thừa nhận. Và chúng ta thuộc về đất nhiều hơn điều những tòa nhà điều hòa khiến ta nhớ. Chỉ cần mất điện, mất nước vài ngày, gián đoạn thực phẩm hoặc một trận lũ đủ lớn, ảo tưởng tự trị lập tức sụp xuống. Thân thể nhắc chúng ta rằng con người vẫn là thụ tạo. Ta không tải thức ăn từ mạng xuống được. Không ứng dụng nào thay oxy. Không tài khoản nào uống thay nước. Không dữ liệu nào làm cho đất tự màu mỡ. Càng hiện đại, ta càng cần học lại sự lệ thuộc căn bản ấy, không phải với tâm lý sợ hãi nhưng với lòng biết ơn.
Lòng biết ơn là một trong những thuốc chữa sâu nhất cho cái nhìn kim tự tháp. Người coi mọi sự là quyền đương nhiên thì dễ khai thác. Người nhận mọi sự như quà tặng thì học kính trọng. Tôi không tạo ra mặt trời sáng nay. Tôi không chế tạo phổi của mình. Tôi không ký hợp đồng để tim phải đập suốt đêm. Tôi không ra lệnh cho hạt giống mang trong nó khả năng nảy mầm. Tôi không trả tiền cho cơn mưa đầu mùa. Tôi có thể tham dự, canh tác, nghiên cứu, cải thiện, phối hợp, nhưng nền tảng của sự sống luôn đến trước tôi. Trước mọi lao động của con người đã có một sự ban tặng. Trước mọi nền kinh tế đã có đất. Trước mọi thị trường đã có sự sống. Trước mọi sản xuất đã có vật chất không do chúng ta dựng nên. Trước mọi quyền sở hữu của con người là quyền tuyệt đối của Đấng Tạo Hóa. Lòng biết ơn phá cái ảo tưởng rằng tôi là nguồn gốc của điều tôi đang sở hữu. Và khi biết mình nhận, tôi dễ học trao.
Thánh Thể đưa logic ấy tới chiều sâu đặc biệt. Tại bàn thờ, Hội Thánh không mang đến những thứ từ một thế giới xa lạ với tạo thành. Hội Thánh mang bánh và rượu, “hoa màu ruộng đất và lao công của con người”. Thiên nhiên và văn hóa, đất và lao động, quà tặng và trách nhiệm gặp nhau. Hạt lúa phải có đất, nước, nắng, nhưng cũng cần người gieo, người gặt, người xay, người nướng. Trái nho cần đất và mùa, nhưng cũng cần bàn tay con người. Phụng vụ không xóa lao động khỏi tạo thành cũng không xóa tạo thành khỏi lao động. Cả hai được dâng lên. Và rồi chính những thực tại ấy trở thành dấu chỉ bí tích của sự tự hiến của Đức Kitô. Không có hình ảnh nào mạnh hơn để sửa quan niệm thống trị: nơi trung tâm đời sống Hội Thánh không phải là tích trữ nhưng là trao ban; không phải chiếm lấy nhưng là “này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em”. Thánh Thể là trường học của hiệp thông. Người rước lễ mà vẫn muốn sống bằng cách rút cạn mọi người và mọi thứ chung quanh mình đang sống một nghịch lý. Ta nhận Đấng đã trở thành lương thực cho người khác rồi lại từ chối trở thành người biết cho đi. Ta uống chén của giao ước rồi lại sống bằng đổ vỡ. Ta gọi nhau là anh chị em trong nhà thờ rồi ra khỏi cửa lại chấp nhận một hệ thống trong đó người yếu bị dùng như đồ vật. Thánh Thể không cho phép đời sống thiêng liêng và đời sống sinh thái tách nhau.
Điều này đặc biệt đúng với người Công giáo Việt Nam, nơi ký ức về đất vẫn còn rất gần. Không cần đi xa vào những lý thuyết sinh thái phức tạp để hiểu rằng con người sống bằng tương quan với đất. Những thế hệ cha ông đã đọc mùa bằng gió, nước, mây, con nước, giống lúa. Một bờ ruộng không chỉ là ranh đất mà còn là dấu của cộng đồng. Một con đê không do một nhà giữ được. Một dòng kênh bẩn không dừng ở hàng rào một gia đình. Nước từ ruộng trên xuống ruộng dưới. Khói từ nơi này bay sang nơi khác. Rác từ con hẻm cuối cùng cũng tới sông. Người nông dân hiểu một điều mà đời sống đô thị dễ quên: không ai sống hoàn toàn riêng. Làm sai với đất hôm nay, mùa sau trả lời. Giữ nước sai một chỗ, cả vùng chịu. Dùng thuốc quá mức một ruộng, không chỉ một người gánh hậu quả. Chặt rừng ở thượng nguồn, người ở hạ lưu có thể trả giá. Hiệp thông không phải một từ trừu tượng. Nó nằm trong dòng nước chảy qua nhiều làng.
Nhưng xã hội hiện đại làm tương quan ấy vừa rộng hơn vừa khó nhìn thấy hơn. Một lựa chọn mua hàng ở Thành phố Hồ Chí Minh có thể liên hệ với nhà máy ở tỉnh khác, nguyên liệu từ quốc gia khác và rác điện tử đi tới một nơi khác nữa. Một chiếc áo nhỏ mang theo một lịch sử toàn cầu. Một ly cà phê có đất, nước, người trồng, người hái, người rang, vận chuyển và thương mại. Một bữa cá có đại dương, ngư dân, nhiên liệu, chuỗi lạnh, chợ và người bán. Trong nền kinh tế toàn cầu, hiệp thông trở thành một sự kiện mà ta có thể không ý thức nhưng không thể thoát khỏi. Chính vì thế lương tâm Kitô hữu cũng phải được mở rộng. Không phải mọi tín hữu đều phải trở thành chuyên gia chuỗi cung ứng, nhưng không ai được biến sự thiếu hiểu biết tự nguyện thành phương pháp sống. “Tôi trả tiền rồi, còn chuyện sau đó không liên quan tới tôi” không phải một thái độ có thể hòa hợp trọn vẹn với đức ái. Tiền không cắt đứt trách nhiệm luân lý. Một giao dịch hợp pháp chưa chắc đã công bằng. Một sản phẩm rẻ chưa chắc không có ai khác đang trả phần giá còn thiếu bằng sức khỏe, lương thấp hoặc môi trường bị hủy.
Điều này cũng áp dụng cho công nghệ. Công nghệ là hoa trái đáng kinh ngạc của trí tuệ con người và có thể phục vụ hiệp thông: nước sạch, năng lượng tốt hơn, y học, dự báo thiên tai, nông nghiệp chính xác, phục hồi hệ sinh thái, giao thông hiệu quả, thông tin giúp cộng đồng phối hợp. Kitô giáo không có lý do gì để chống kỹ thuật như thể quay về đời sống trước hiện đại mới là thánh thiện. Nhưng công nghệ phải ở dưới một câu hỏi luân lý: nó đang phục vụ mối tương quan nào? Một ứng dụng kết nối hàng triệu người có thể đồng thời làm họ cô độc hơn. Một hệ thống tối ưu hóa năng suất có thể làm người lao động thành con số. Một thuật toán có thể giảm lãng phí nhưng cũng có thể tăng tiêu thụ bằng cách kích thích ham muốn liên tục. Một công nghệ năng lượng mới có thể giảm phát thải nhưng việc khai khoáng cho nó vẫn có thể gây bất công nếu không được quản lý đúng. Không có công nghệ nào tự cứu chúng ta khỏi câu hỏi về con người. Một chiếc máy không có khả năng sám hối. Một hệ thống không biết yêu. Một thuật toán không thể quyết định thay lương tâm rằng bao nhiêu là đủ. Những câu hỏi ấy thuộc về con người.
Và có lẽ chữ “đủ” là một trong những chữ bị quên nhiều nhất trong nền văn minh kim tự tháp. Kim tự tháp không bao giờ nói đủ, bởi vì địa vị của đỉnh được đo bằng khoảng cách với đáy. Phải có thêm để hơn người khác. Phải sở hữu thêm để thấy mình an toàn. Phải tiêu thụ thêm để chứng minh thành công. Nhưng hiệp thông có thể nói đủ, bởi vì mục tiêu của hiệp thông không phải là chiến thắng người bên cạnh. Người biết đủ có thể để phần cho người khác. Người biết đủ có thể để đất nghỉ. Người biết đủ có thể từ chối một món không cần. Người biết đủ có thể không biến từng mét vuông thành lợi nhuận. Người biết đủ có thể tắt một thiết bị. Người biết đủ có thể sửa thay vì bỏ. Người biết đủ có thể dành thời gian cho con thay vì thêm một hợp đồng. Người biết đủ có thể để Chúa là Chúa. Sự tiết độ Kitô giáo vì thế không phải một thứ đạo đức buồn bã ghét niềm vui. Nó là tự do khỏi ách “thêm nữa”. Và con người chỉ có thể chăm sóc ngôi nhà chung khi thoát dần khỏi sự cưỡng bách phải có nhiều hơn mãi.
Ở cấp độ giáo xứ, “kế hoạch hiệp thông” cũng phải trở thành một cách tổ chức đời sống. Một giáo xứ không sống sinh thái toàn diện chỉ vì đặt vài thùng rác phân loại hay trồng một vườn cây, dù những việc ấy rất đáng làm. Giáo xứ cần nhìn toàn bộ mạng lưới tương quan của mình. Người già có được kết nối với người trẻ không? Người nghèo có chỗ thật sự hay chỉ xuất hiện như đối tượng nhận quà? Người lao động phục vụ giáo xứ có được đối xử công bằng không? Những bữa tiệc có lãng phí thức ăn không? Cơ sở vật chất có được sử dụng với tinh thần trách nhiệm không? Trẻ em có được dẫn ra ngoài để biết đất, cây, nước, hay chỉ được học tạo thành bằng hình trên màn hình? Các bài giảng có giúp tín hữu thấy mối liên hệ giữa Thánh Thể Chúa Nhật và cách họ làm ăn thứ Hai không? Ban môi trường nếu có, có chỉ dọn rác sau lễ hội hay giúp cộng đoàn suy nghĩ lại lối sống? Người làm doanh nghiệp có được mời suy tư về lương, điều kiện lao động và chất thải không? Người nông dân có được lắng nghe kinh nghiệm thực tế của họ không? Người trẻ học khoa học môi trường, nông nghiệp, quy hoạch, công nghệ có được xem ơn gọi nghề nghiệp của mình như một phần sứ mạng Kitô hữu không? Sinh thái toàn diện bắt đầu khi giáo xứ thôi coi môi trường như một “chuyên đề thêm vào” và nhận ra nó đụng tới cách chúng ta ăn, xây, mua, dùng, di chuyển, lao động, cầu nguyện và sống với nhau.
Trong gia đình cũng vậy. Một ngôi nhà nhỏ có thể trở thành trường hiệp thông với tạo thành. Không cần bắt đầu bằng những kế hoạch lớn. Bắt đầu bằng bữa cơm không bỏ phí. Bằng việc con cái biết thức ăn từ đâu tới. Bằng một chậu cây mà trẻ phải chăm đủ lâu để biết sự sống không lớn theo tốc độ vuốt màn hình. Bằng việc sửa một món đồ trước khi mua mới. Bằng việc người lớn không dùng mua sắm để bù lấp mọi buồn chán. Bằng việc dạy trẻ rằng nước máy chảy không có nghĩa nước vô tận. Bằng việc tắt đèn không phải vì hóa đơn mà chỉ vì không cần dùng. Bằng việc một gia đình biết chia sẻ thứ còn tốt thay vì vứt. Bằng một chuyến đi trong đó người ta nhìn cảnh vật thay vì chỉ chụp ảnh. Bằng lời tạ ơn trước bữa ăn không đọc như thói quen nhưng thực sự nhận ra bao nhiêu thụ tạo và bao nhiêu bàn tay đang có mặt trong bữa cơm ấy. Những điều nhỏ như vậy huấn luyện một trí tưởng tượng khác: thế giới không phải kho hàng; thế giới là quà tặng và là mạng lưới tương quan.
Ở cấp độ xã hội và chính trị, hiệp thông đòi những điều còn khó hơn. Có những vấn đề mà lựa chọn cá nhân không đủ giải quyết. Một người có thể giảm rác nhưng không tự mình xây hệ thống xử lý nước thải. Một gia đình có thể tiết kiệm điện nhưng không quyết định cơ cấu năng lượng quốc gia. Một nông dân có thể chăm đất tốt nhưng không tự kiểm soát được ô nhiễm từ cả lưu vực. Một cộng đồng có thể trồng cây nhưng không thể một mình ngăn phá rừng quy mô lớn. Vì thế chăm sóc ngôi nhà chung đòi thể chế, luật pháp, quản trị, khoa học, doanh nghiệp và sự tham gia của công dân. Học thuyết xã hội Công giáo không cho phép ta biến mọi vấn đề thành chuyện đạo đức cá nhân. Có tội cá nhân và có những cơ cấu tội lỗi; có nhân đức cá nhân và cũng cần những cơ cấu giúp điều tốt trở nên khả thi. Nếu một hệ thống thưởng cho người gây ô nhiễm và bắt cộng đồng trả chi phí, chỉ kêu gọi cá nhân có lương tâm là chưa đủ. Nếu người lao động không có quyền lựa chọn an toàn mà buộc phải chấp nhận môi trường độc hại vì cần sống, không thể chỉ bảo họ “hãy có trách nhiệm”. Công ích đòi luật tốt, thực thi thật, thông tin minh bạch và khả năng những người chịu hậu quả được lên tiếng.
Nhưng Kitô hữu cũng phải cảnh giác trước một cám dỗ ngược lại: nghĩ rằng chỉ cần hệ thống tốt thì con người tự nhiên sẽ tốt. Không. Cơ cấu quan trọng nhưng lòng người vẫn quan trọng. Luật có thể giới hạn hành vi nhưng không tạo ra lòng biết ơn. Chính sách có thể định giá phát thải nhưng không tự sinh ra sự tiết độ. Công nghệ có thể giảm hao phí nhưng không làm con người yêu người nghèo. Một thế giới sinh thái hơn mà con người vẫn ích kỷ sẽ chỉ chuyển dạng ích kỷ. Bởi thế, sinh thái toàn diện cần cả hoán cải cá nhân lẫn thay đổi cơ cấu. Tách hai điều ấy ra là thất bại. Chỉ nói hoán cải cá nhân có thể trở thành cách để những cơ cấu bất công trốn trách nhiệm. Chỉ nói thay đổi cơ cấu có thể trở thành cách để cá nhân không phải sám hối. Tin Mừng gọi cả con người lẫn cộng đồng, cả trái tim lẫn xã hội.
Kế hoạch hiệp thông còn buộc chúng ta phải nghĩ đến những người chưa hiện diện: các thế hệ tương lai. Đây là một thử thách đặc biệt của lương tâm, bởi vì người chưa sinh không bỏ phiếu, không kiện chúng ta, không biểu tình trước cửa, không viết bình luận trên mạng. Họ không có quyền lực hiện tại. Chính vì thế họ rất dễ bị chúng ta vay mượn tài nguyên và để lại hóa đơn. Một thế hệ có thể tiêu dùng nguồn lực tích lũy qua hàng triệu năm và để hậu quả cho những người chưa có tiếng nói. Nhưng theo đức tin, họ không phải người xa lạ. Họ thuộc về gia đình nhân loại mà Thiên Chúa yêu. Trái đất không được ban riêng cho thế hệ đang sống. Chúng ta nhận từ người trước và chuyển cho người sau. Người quản gia không chỉ chịu trách nhiệm với Chủ nhưng còn với những người sẽ vào nhà sau mình. Câu hỏi luân lý vì thế rất đơn giản nhưng khó chịu: chúng ta đang để lại điều gì? Một đất nước giàu hơn nhưng nước bẩn hơn? Nhiều đường hơn nhưng ít cây hơn? Nhiều thiết bị hơn nhưng nhiều rác độc hơn? Nhiều dữ liệu hơn nhưng ít cộng đồng hơn? Hay chúng ta có thể trao lại một thế giới trong đó con cháu vẫn còn khả năng lựa chọn?
Nghĩ tới thế hệ tương lai cũng chữa căn bệnh ngắn hạn của nền kinh tế và chính trị hiện đại. Nhiều quyết định được đo bằng quý tới, năm tới, nhiệm kỳ tới. Tạo thành thì sống theo nhịp dài hơn. Một khu rừng cần hàng chục năm. Đất màu mất nhanh nhưng hồi phục chậm. Nguồn nước ngầm không tái tạo theo lịch báo cáo tài chính. Một loài đã tuyệt chủng không trở lại vì năm sau ngân sách tốt hơn. Linh đạo Kitô giáo vốn là trường học của thời gian dài: gieo mà chờ, cầu nguyện mà chờ, nuôi con mà chờ, trung tín mà chờ, hy vọng sự sống lại mà chờ. Chính khả năng sống với thời gian dài ấy rất cần cho sinh thái. Người chỉ biết hiện tại sẽ ăn cả hạt giống. Người biết có ngày mai sẽ để dành điều có thể gieo.
Chúng ta cũng phải học lại một chân lý thần học rất đơn sơ: mọi thụ tạo có giá trị trước khi có ích cho ta. Một loài chim không cần hát cho tôi nghe mới đáng tồn tại. Một khu rừng không cần trở thành khu du lịch mới có giá trị. Một dòng sông không chỉ có nghĩa khi sản xuất điện hay cung cấp nước. Một ngọn núi không cần chứa khoáng sản mới quan trọng. Nếu Thiên Chúa gọi chúng vào hiện hữu và thấy chúng tốt đẹp, chúng đã có một giá trị dưới ánh mắt của Người. Điều ấy không loại bỏ việc sử dụng tạo thành. Con người phải ăn, xây nhà, làm đường, lấy vật liệu, sản xuất năng lượng. Kitô giáo không chủ trương một thiên nhiên bất khả động chạm. Nhưng giữa sử dụng và giản lược thành công dụng có một khoảng cách lớn. Tôi có thể ăn trái cây mà vẫn kính trọng cây. Tôi có thể lấy gỗ mà vẫn quản lý rừng. Tôi có thể dùng nước mà không biến sông thành cống. Tôi có thể chăn nuôi mà không biến con vật thành đơn vị sản xuất đau đớn vô hạn. Tôi có thể khai thác tài nguyên trong giới hạn mà không xem lòng đất như kho vô tận. “Có quyền sử dụng” chưa bao giờ đồng nghĩa với “không cần giới hạn”.
Trong linh đạo Kitô giáo, giới hạn không phải thất bại. Ngày thứ bảy của tạo thành đã nói điều đó. Thiên Chúa nghỉ. Không phải vì Người kiệt sức nhưng vì tạo thành không phải một chuỗi sản xuất vô tận. Có một giới hạn thánh, một nhịp dừng, một khả năng nói: đủ rồi, hãy nhìn điều đã có. Sabbath chống lại kim tự tháp vì kim tự tháp muốn người ở dưới làm mãi để người ở trên có thêm. Ngày nghỉ nói rằng người lao động không phải máy, súc vật cũng phải nghỉ, đất cũng cần nghỉ, thời gian không hoàn toàn thuộc về thị trường. Một nền văn minh không biết nghỉ sẽ không biết gìn giữ. Nó chỉ biết tăng tốc cho tới khi cả con người lẫn đất đều kiệt sức. Cũng như một linh mục không thể liên tục hoạt động mục vụ mà không cầu nguyện, một xã hội không thể liên tục sản xuất mà không để tạo thành phục hồi. Nghỉ là một hành vi thần học: thừa nhận rằng thế giới vẫn tồn tại khi tôi dừng lại. Tôi không phải Thiên Chúa.
Điều ấy chạm sâu vào căn bệnh của quyền lực. Tại sao con người muốn kiểm soát quá nhiều? Vì ở đáy có nỗi sợ: nếu tôi không giữ, tôi sẽ thiếu; nếu tôi không tăng, tôi sẽ tụt; nếu tôi không mạnh, người khác sẽ mạnh hơn. Kim tự tháp sinh ra từ nỗi sợ khan hiếm. Tin vào Quan Phòng không làm người Kitô hữu ngây thơ về kinh tế, nhưng cho phép ta chống lại nỗi sợ ấy. “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày” là lời của người không đòi kho vô tận. Israel học manna trong sa mạc bằng một bài học đau: lấy vừa đủ cho ngày. Người tích trữ vì không tin thì manna hư. Tất nhiên đời sống hiện đại cần tiết kiệm, dự phòng và quản trị khôn ngoan; Kinh Thánh không cấm điều ấy. Nhưng có một khác biệt giữa khôn ngoan và tích trữ từ sợ hãi. Một nền kinh tế xây trên nỗi sợ sẽ luôn đòi nhiều hơn. Một linh đạo tin tưởng có thể tạo khoảng trống cho chia sẻ.
Khi nhìn vào Đức Kitô, chúng ta còn thấy một quy luật khác của hiệp thông: sự sống được bảo tồn bằng cách trao đi. Hạt lúa mì phải rơi xuống đất và chết đi mới sinh nhiều bông hạt. Đây không phải khẩu hiệu lãng mạn hóa đau khổ, nhưng là logic tự hiến ở trung tâm Tin Mừng. Sự sống không viên mãn bằng chiếm hữu tuyệt đối. Một gia đình sống được vì có người cho thời gian. Một cộng đoàn sống được vì có người chịu nhường. Một giáo xứ sống được vì có người phục vụ mà không đòi danh. Một xã hội sống được vì có những người chấp nhận lợi ích riêng phải được giới hạn vì công ích. Một hệ sinh thái sống được vì không thành phần nào chiếm tất cả. Đức Kitô mặc khải rằng tự hiến không phải mất sự sống nhưng là con đường tới sự sống viên mãn. Nếu đem nguyên tắc ấy vào kinh tế và sinh thái, câu hỏi sẽ thay đổi. Không chỉ: tôi được gì? Nhưng: điều tôi có có thể làm cho sự sống nào khác sinh sôi? Tài năng tôi, doanh nghiệp tôi, mảnh đất tôi, kiến thức tôi, chức vụ tôi, tiền của tôi có thể trở thành nơi sự sống được nâng đỡ thế nào?
Đó là vai trò đặc biệt của người có nhiều quyền lực. Trong kế hoạch hiệp thông, quyền lực không biến mất; nó được hoán cải thành phục vụ. Người có vốn có khả năng quyết định mà người lao động không có. Người làm chính sách có khả năng ảnh hưởng mà dân thường không có. Nhà khoa học có tri thức mà người khác không có. Linh mục có uy tín tôn giáo mà giáo dân bình thường có thể không có. Người sở hữu đất có quyền mà người thuê không có. Người lớn có quyền trên trẻ nhỏ. Người sống hôm nay có quyền trên nguồn lực mà thế hệ tương lai chưa thể bảo vệ. Mỗi sự bất cân xứng ấy tạo ra trách nhiệm. Đức Kitô không nói với người có nhiều: hãy tận dụng vị trí trước khi mất. Người nói: ai muốn làm đầu phải làm người phục vụ. Vì thế một giám đốc Kitô hữu không thể chỉ hỏi điều gì hợp pháp; phải hỏi điều gì xứng đáng với phẩm giá người lao động. Một người có đất không thể chỉ hỏi bán được bao nhiêu; phải hỏi cách dùng đất ảnh hưởng cộng đồng thế nào. Một giáo xứ có nguồn lực không chỉ hỏi xây được gì; phải hỏi việc ấy phục vụ ai. Một quốc gia mạnh không chỉ hỏi lợi ích quốc gia; phải hỏi trách nhiệm với cộng đồng nhân loại. Càng ở vị trí cao, càng phải trở thành nơi dòng sự sống chảy qua, không phải nơi nó bị chặn lại.
Nếu thế, hình ảnh thích hợp cho “kế hoạch kỳ diệu” không phải là kim tự tháp mà có lẽ gần với một bàn tiệc. Trong Tin Mừng, Nước Thiên Chúa nhiều lần được ví với tiệc cưới, với bàn ăn, với nơi người từ đông tây được quy tụ. Bàn tiệc khác kim tự tháp. Ở kim tự tháp, vị trí được định bởi trên và dưới. Ở bàn tiệc, câu hỏi là ai còn bị bỏ bên ngoài. Đức Giêsu liên tục mở bàn ăn cho những người người khác không muốn ngồi chung. Người ăn với người thu thuế, người tội lỗi. Người nhân bánh cho đám đông. Người để người phụ nữ bị khinh đến gần. Và ở Bữa Tiệc Ly, Người trao chính mình làm của ăn. Một sinh thái Kitô giáo cũng có thể được hiểu bằng hình ảnh bàn tiệc: trái đất là nơi Thiên Chúa dọn đủ ân huệ cho sự sống, nhưng lòng tham có thể khiến vài người lấy quá nhiều và nhiều người thiếu. Bài toán không chỉ là sản xuất thêm mãi, nhưng còn là công bằng, tiết độ và chia sẻ. Một bàn tiệc mà một người chất đầy trước mặt trong khi người khác không có gì không phải hiệp thông, dù tổng lượng thức ăn có rất lớn.
Bàn tiệc Thánh Thể còn đưa chúng ta đến viễn tượng cánh chung: Thiên Chúa đang hướng tạo thành tới một cuộc quy tụ. Mọi cố gắng gìn giữ hôm nay không cứu thế giới bằng sức riêng của ta. Điều này rất quan trọng, bởi người quan tâm sinh thái dễ rơi vào tuyệt vọng. Những con số có thể đáng sợ. Những thay đổi quá lớn. Những lợi ích kinh tế quá mạnh. Một cá nhân dễ thấy việc mình làm chẳng nghĩa gì. Đức tin giải thoát ta khỏi hai cực đoan: vô trách nhiệm và tự cứu thế giới. Ta không được vô trách nhiệm vì Thiên Chúa trao tạo thành cho ta chăm sóc. Nhưng ta cũng không phải Đấng Cứu Thế. Đức Kitô mới là Đấng quy tụ muôn loài. Ta cộng tác với một công trình lớn hơn mình. Một cái cây trồng hôm nay có thể nhỏ; một túi rác bớt đi có thể rất nhỏ; một quyết định doanh nghiệp công bằng hơn có thể không thay cả thế giới; một bài giáo lý cho trẻ biết yêu tạo thành có thể không đo được hiệu quả. Nhưng trong logic Nước Trời, hạt cải cũng nhỏ. Trung tín không được đo trước hết bằng kích thước tức thời của kết quả. Ta làm điều đúng vì nó thuộc về kế hoạch của Thiên Chúa.
Hy vọng Kitô giáo vì thế không phải lạc quan rằng con người chắc chắn sẽ giải quyết được mọi vấn đề. Lịch sử không cho ta quyền ngây thơ như vậy. Con người có thể rất sáng tạo và cũng rất phá hoại. Hy vọng Kitô giáo nằm ở nơi khác: Đức Kitô đã sống lại, và trong Người tạo thành đã bắt đầu bước vào sự mới mẻ mà cái chết không thể thắng. Thân xác phục sinh của Đức Kitô là lời hứa rằng vật chất không bị Thiên Chúa bỏ. Những vết thương được mang vào vinh quang. Trời mới và đất mới không phải kết quả cuối cùng của kỹ thuật nhân loại nhưng là hồng ân của Thiên Chúa; tuy nhiên hồng ân ấy không làm vô nghĩa lòng trung tín hôm nay. Giống như thân xác chúng ta sẽ sống lại không có nghĩa ta được quyền hành hạ thân xác hiện tại, niềm tin vào tạo thành mới không cho quyền phá tạo thành cũ. Ngược lại, vì Thiên Chúa yêu tạo thành đến mức muốn đổi mới nó, ta càng phải học yêu điều Người yêu.
Và có lẽ đây là điểm sâu nhất: sinh thái Kitô giáo cuối cùng là học yêu theo cách Thiên Chúa yêu. Thiên Chúa yêu mà không nuốt chửng. Người tạo nên những hữu thể khác với Người và cho chúng thật sự hiện hữu. Người trao không gian. Người duy trì. Người kiên nhẫn. Người không biến tạo thành thành phần kéo dài của chính mình. Tình yêu đích thực luôn làm điều ấy: cho người khác được hiện hữu. Cha mẹ yêu con không phải để con mãi là bản sao của mình. Người chồng yêu vợ không phải để sở hữu. Người lãnh đạo yêu cộng đồng không phải để mọi người phục vụ danh tiếng mình. Con người yêu tạo thành cũng không phải để biến mọi thứ thành vật trang trí cho đời mình. Tình yêu nhìn một hữu thể và nói: thật tốt vì bạn hiện hữu trước mặt Thiên Chúa. Từ cái nhìn ấy mới phát sinh sự gìn giữ.
Khi một người đứng trước một cánh rừng và chỉ nghĩ giá gỗ, người ấy đã thu nhỏ rừng. Khi đứng trước dòng sông và chỉ nghĩ kilowatt, người ấy đã thu nhỏ sông. Khi đứng trước một công nhân và chỉ nghĩ năng suất, người ấy đã thu nhỏ con người. Khi đứng trước một đứa trẻ và chỉ nghĩ thành tích, người ấy đã thu nhỏ đứa trẻ. Khi đứng trước chính mình và chỉ nghĩ giá trị thị trường, địa vị hay số người theo dõi, người ấy cũng thu nhỏ chính mình. Logic kim tự tháp luôn giản lược: mọi sự phải chứng minh giá trị bằng việc phục vụ một mục tiêu ở trên. Logic hiệp thông thì trả cho mỗi hữu thể chiều sâu của nó. Con người không chỉ là lao động. Đất không chỉ là bất động sản. Nước không chỉ là hàng hóa. Cây không chỉ là gỗ. Con vật không chỉ là thịt. Thời gian không chỉ là tiền. Cộng đoàn không chỉ là mạng lưới lợi ích. Và Thiên Chúa không chỉ là bảo chứng cho thành công của chúng ta.
Từ đó, “kế hoạch kỳ diệu” trở thành một tiêu chuẩn xét mình. Tôi đang sống như người của hiệp thông hay người của kim tự tháp? Trong gia đình, tôi muốn mọi người lớn lên hay chỉ muốn họ phục vụ sự yên ổn của tôi? Trong cộng đoàn, tôi vui khi người khác có ơn hay thấy họ đe dọa vị trí mình? Trong công việc, tôi nhìn đồng nghiệp như người cộng tác hay như bậc thang? Trong kinh tế, tôi coi lợi nhuận là một thành phần cần thiết hay là thần linh tối hậu? Trong sử dụng tạo thành, tôi nhận quà hay chiếm của? Trong đời sống thiêng liêng, tôi có tưởng mình càng gần Chúa thì càng có quyền khinh những người “ở dưới” không? Đó là một dấu hiệu rất nguy hiểm. Người càng gần Đức Kitô thật càng cúi xuống. Nếu đời đạo khiến ta muốn đứng cao hơn người khác, có lẽ ta đang leo một kim tự tháp tôn giáo, không đi theo Đấng đã xuống rửa chân.
Ngay trong Hội Thánh, mô hình hiệp thông cũng phải được bảo vệ. Phẩm trật là một thực tại thuộc cấu trúc Hội Thánh, nhưng phẩm trật không đồng nghĩa với kim tự tháp quyền lợi. Chức thánh được trao để phục vụ hiệp thông. Linh mục không đứng trên giáo dân như một hữu thể cao cấp hơn; ngài được đặt giữa cộng đoàn để phục vụ bằng Lời, bí tích và mục vụ. Giám mục không là ông chủ sở hữu giáo phận; ngài là người quản lý đoàn chiên được Đức Kitô trao phó. Người giáo dân không phải nguyên liệu nhân lực cho hoạt động giáo xứ; họ là những người đã được Rửa tội, có ơn gọi và sứ mạng riêng trong gia đình, nghề nghiệp, văn hóa và xã hội. Nếu một cộng đoàn Kitô hữu vận hành bằng cạnh tranh địa vị, phe nhóm, đặc quyền và sử dụng người khác, thì chính cấu trúc ấy đang phản chứng với Tin Mừng hiệp thông mà nó công bố. Chúng ta không thể giảng về chăm sóc ngôi nhà chung nếu ngôi nhà Hội Thánh của mình vẫn được vận hành bằng một logic sử dụng con người.
Hiệp thông cũng không có nghĩa né tránh xung đột. Một hệ sinh thái sống không phải vì không có cạnh tranh; một gia đình lành mạnh không phải vì không bao giờ bất đồng; một xã hội công bằng không phải vì mọi lợi ích tự nhiên trùng nhau. Hiệp thông đòi khả năng đi qua xung đột mà không tiêu diệt người khác. Đây là một bài học sinh thái rất thực tế. Có lúc cần đường và cần giữ rừng. Cần việc làm và cần bảo vệ nước. Cần năng lượng và cần giảm tác hại. Cần nhà ở và cần đất nông nghiệp. Những xung đột ấy không được giải bằng khẩu hiệu. Cần khoa học, đối thoại, luật pháp, phân định và đôi khi chấp nhận rằng không phương án nào hoàn hảo. Linh đạo hiệp thông không cung cấp đáp án kỹ thuật sẵn, nhưng cung cấp thái độ: không bên nào được coi những bên còn lại như đồ vật có thể hy sinh mà không cần lắng nghe. Người nghèo phải có tiếng nói. Các cộng đồng địa phương phải có tiếng nói. Dữ liệu khoa học phải có tiếng nói. Thế hệ tương lai, dù không nói được, phải được đại diện bằng lương tâm của người hôm nay. Và lợi ích kinh tế phải được đặt trong toàn bộ bức tranh chứ không được ngồi ở ngai.
Điều ấy đòi một nhân đức rất thiếu trong đời sống công: khả năng tự giới hạn quyền lực. Một người có thể thắng một vụ tranh chấp nhưng chọn thương lượng. Một doanh nghiệp có thể khai thác tới mức luật cho phép nhưng chọn tiêu chuẩn cao hơn. Một người sở hữu đất có thể xây hết diện tích nhưng để lại cây. Một người có tiền có thể tiêu thụ nhiều nhưng sống vừa phải. Một quốc gia có thể tận dụng vị thế mạnh nhưng chấp nhận trách nhiệm rộng hơn. Tự giới hạn không phải yếu. Trong Kitô giáo, đó là dấu của quyền lực trưởng thành. Thiên Chúa toàn năng nhưng không đối xử với tạo thành như bạo chúa. Đức Kitô có quyền nhưng không dùng quyền để tự cứu mình khỏi thập giá. Người mạnh nhất là người có thể không dùng hết sức mạnh vì tình yêu.
Khi sống như thế, con người trở thành người phục vụ hiệp thông mà Thiên Chúa mong muốn. Đây chính là ý nghĩa đẹp nhất của vị trí đặc biệt của loài người. Ta có thể đặt tên, nghiên cứu, tổ chức, lập kế hoạch, nhớ quá khứ và hình dung tương lai. Ta có thể nghe tiếng kêu mà những loài khác không thể chuyển thành ngôn ngữ chính trị. Một cánh rừng không thể đến quốc hội để tự bảo vệ. Một con sông không thể thuê luật sư. Một loài sắp tuyệt chủng không thể viết kiến nghị. Những người chưa sinh không thể phản đối. Vì thế một phần của phẩm giá con người là khả năng trở thành tiếng nói cho những gì không có tiếng nói trong các cơ chế của quyền lực. Đây không phải hạ thấp con người; đó là làm cho hình ảnh Thiên Chúa sáng hơn. Thiên Chúa nghe tiếng kêu của người không có quyền. Người làm hình ảnh Chúa cũng phải học nghe.
Và khi đã nghe, chúng ta sẽ nhận ra rằng chăm sóc tạo thành không phải một phong trào phụ bên cạnh đời sống đức tin. Nó nằm trong câu chuyện lớn của Thiên Chúa: tạo dựng, giao ước, Nhập thể, Thập giá, Phục sinh và sự quy tụ muôn loài. Mọi hành vi gìn giữ nhỏ của Kitô hữu có thể được đặt vào câu chuyện ấy. Khi tiết kiệm một nguồn lực, ta tập tự giới hạn. Khi bảo vệ người lao động, ta phục vụ phẩm giá hình ảnh Thiên Chúa. Khi phục hồi đất, ta cộng tác với sự sống. Khi bảo vệ một dòng sông, ta gìn giữ quà tặng không thuộc riêng mình. Khi chống một dự án bất công, ta đứng về phía công ích. Khi dạy con biết biết ơn một bữa ăn, ta chống văn hóa tiêu thụ. Khi chia sẻ của cải, ta làm nứt logic khan hiếm. Khi cầu nguyện trước tạo thành, ta trả nó về Đấng Tạo Hóa. Khi cử hành Thánh Thể, ta học rằng hoa màu ruộng đất và lao công con người đạt tới đỉnh điểm không trong tiêu thụ mà trong tự hiến.
Cuối cùng, kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa không phải là đưa con người lên một đỉnh cao cô độc. Cô độc không bao giờ là hình ảnh của cứu độ. Sự sống Ba Ngôi là hiệp thông; Hội Thánh là hiệp thông; Thánh Thể làm nên hiệp thông; Nước Trời được hình dung như bàn tiệc; công trình cuối cùng của Đức Kitô là quy tụ. Tội làm phân tán, ân sủng quy tụ. Tội khiến Ađam trốn, Cain tách khỏi em, Babel tan thành những nhóm không hiểu nhau; Đức Kitô lại tập hợp những người tản mác, phá bức tường ngăn cách, làm nên một thân thể. Vì thế lịch sử cứu độ có một chuyển động sâu xa từ phân mảnh về hiệp thông. Sinh thái toàn diện nằm trong chuyển động ấy. Nó không phải thêm cây xanh vào một nền văn minh vẫn thờ cá nhân. Nó là học lại rằng sự sống chỉ viên mãn trong tương quan đúng.
Con người không nhỏ đi khi thôi làm bạo chúa của tạo thành. Trái lại, con người trở nên lớn đúng cách. Một vị vua lớn không phải vì có nhiều nô lệ nhưng vì làm cho dân được sống. Một người cha lớn không phải vì cả nhà sợ ông nhưng vì cả nhà có thể lớn lên trong tình yêu. Một linh mục lớn không phải vì nhiều người phục vụ mình nhưng vì nhiều người gặp được Chúa qua sự phục vụ của ngài. Một nền văn minh lớn không phải vì nó tiêu thụ được bao nhiêu nhưng vì nó biết nâng đỡ bao nhiêu sự sống. Phẩm giá con người đạt tới chiều cao thật không ở khả năng đứng trên mọi thụ tạo, nhưng ở khả năng cúi xuống mà không mất phẩm giá, phục vụ mà không mất căn tính, giới hạn mình mà không mất tự do, trao đi mà không mất sự sống. Đó là hình dáng của Đức Kitô.
Bởi thế khi nói “kế hoạch kỳ diệu”, đừng vẽ một kim tự tháp với con người đứng gần đỉnh, tay chỉ xuống đất và nói: tất cả dành cho tôi. Hãy hình dung một bàn tiệc đang được mở rộng, một thân thể với nhiều chi thể, một khu vườn được giao để canh tác và gìn giữ, một đoàn người và muôn loài đang được dẫn về sự hòa giải trong Đức Kitô. Hãy thấy con người ở giữa đó, không bị hạ thấp thành một loài vô nghĩa, cũng không được tôn lên thành ông thần nhỏ, nhưng đứng đúng chỗ của mình: thụ tạo mang hình ảnh Thiên Chúa, quản gia biết mình sẽ phải trả lời, người anh em của những thụ tạo cùng nhận sự sống từ một Đấng Tạo Hóa, và người phục vụ cho sự hiệp thông mà Thiên Chúa muốn.
Nếu thế, câu hỏi sinh thái căn bản của Kitô hữu không chỉ là: tôi đã bỏ rác đúng chỗ chưa? Câu ấy cần nhưng quá nhỏ. Câu hỏi lớn hơn là: đời tôi đang quy tụ hay làm tan vỡ? Cách tôi dùng tiền đang nối lại hay cắt đứt? Nghề nghiệp tôi nâng sự sống hay rút sự sống? Cách tôi tiêu thụ có để chỗ cho người khác không? Cách tôi dùng quyền lực có làm người khác lớn lên không? Cách tôi đối xử với đất có để lại tương lai không? Cách giáo xứ chúng tôi hoạt động có tạo hiệp thông không? Và sâu nhất: người ta có nhận ra hình dáng Đức Kitô trong cách chúng ta ở giữa tạo thành không?
Bởi vì sau cùng, điều Thiên Chúa đang thực hiện không phải là một dự án trang trí hành tinh. Người đang quy tụ muôn loài trong Đức Kitô. Chúng ta không phải kiến trúc sư của kế hoạch ấy; Thiên Chúa là Đấng khởi sự và hoàn tất. Nhưng chúng ta được mời bước vào. Mỗi lần chữa một tương quan, chia sẻ một của cải, bảo vệ một người yếu, gìn giữ một mảnh đất, từ chối một lợi nhuận bất công, tiết chế một ham muốn, phục hồi một cộng đồng, nâng một người bị bỏ rơi, ta đang để đời mình thuận theo chuyển động quy tụ của Đức Kitô. Mỗi lần bóc lột, loại bỏ, lãng phí, làm người khác thành công cụ, biến đất thành con mồi và tương lai thành hóa đơn cho người khác, ta đi ngược chuyển động ấy.
Đó là sự nghiêm trọng và cũng là vẻ đẹp của ơn gọi con người trong tạo thành. Không phải đứng trên thế giới. Không phải tan biến vào thế giới. Nhưng đứng trong thế giới trước mặt Thiên Chúa, với đôi tay có khả năng chăm sóc, một trí tuệ có khả năng hiểu, một lương tâm có khả năng giới hạn mình, một trái tim có khả năng yêu và một niềm hy vọng hướng về ngày mọi sự được hoàn tất trong Đức Kitô. Khi ấy “kế hoạch kỳ diệu” không còn là một ý niệm thần học xa xôi. Nó bắt đầu trong cách ta ăn một bữa cơm, giữ một dòng nước, trả một đồng lương, trồng một cái cây, xây một căn nhà, điều hành một doanh nghiệp, tổ chức một giáo xứ, lựa chọn một chính sách và cúi xuống trước một người yếu hơn mình. Tất cả có thể trở thành nơi chúng ta chọn kim tự tháp hay hiệp thông.
Kitô hữu biết mình phải chọn điều nào. Bởi Đấng ở đầu muôn loài đã không đứng trên đỉnh để được phục vụ. Người đã bước xuống giữa chúng ta, mang lấy bụi đất của thân xác, rửa chân cho môn đệ, mở rộng bàn ăn cho kẻ bị loại trừ, hiến chính mình trên thập giá, sống lại trong thân xác và đang kéo mọi sự về với mình. Đó là kế hoạch kỳ diệu. Đó là hình dạng của quyền làm chủ Kitô giáo. Đó là nền của sinh thái toàn diện. Và đó cũng là ơn gọi của con người giữa ngôi nhà chung: không thu lợi từ sự đổ vỡ, nhưng cộng tác với Đức Kitô để những gì bị phân tán được quy tụ, những gì bị thương được chữa lành, những gì bị loại bỏ được đưa trở lại bàn, và toàn thể tạo thành, trong muôn vàn khác biệt của nó, có thể trở thành một bài ca hiệp thông dâng về Đấng mà từ Người, nhờ Người và cho Người mọi sự được hiện hữu.

PHẦN IV
SỰ HÀI HÒA NGUYÊN THỦY VÀ SỰ GÃY ĐỔ
CHƯƠNG 18. HÀI HÒA NGUYÊN THỦY LÀ GÌ
Khi nghe nói đến “hài hòa nguyên thủy”, người ta rất dễ dựng trong trí một bức tranh đẹp nhưng sai: một khu vườn xanh không có gai góc, con người không phải làm việc, thú vật ngoan ngoãn, khí hậu dễ chịu, mọi thứ tự động sinh hoa trái, và Ađam với Evà chỉ việc đi dạo trong cảnh thanh bình. Cách hình dung ấy có thể hữu ích cho trí tưởng tượng trẻ thơ, nhưng nếu biến nó thành thần học thì sẽ làm nghèo ý nghĩa sâu xa của trình thuật Sáng Thế. Hài hòa nguyên thủy không có nghĩa là một thế giới không có lao động, không có nhiệm vụ, không có trách nhiệm, không có giới hạn, cũng không có nghĩa là một thiên nhiên được đặt trong tình trạng bất động để con người chỉ việc hưởng thụ. Ngay trước khi tội lỗi xuất hiện, con người đã được đặt vào khu vườn “để canh tác và gìn giữ”. Nghĩa là lao động không phải hình phạt. Trách nhiệm không phải hậu quả của sa ngã. Việc con người phải chăm sóc đất, nhận biết các sinh vật, đặt tên cho chúng, tổ chức đời sống và sử dụng trí tuệ đã có mặt trong ý định tốt lành ban đầu của Thiên Chúa. Điều tội lỗi làm không phải là phát minh ra lao động; nó làm lao động trở nên nặng nhọc, quan hệ trở nên cạnh tranh, đất trở nên nơi chống lại con người, quyền lực trở nên thống trị, thân xác trở nên đối tượng xấu hổ, và sự hiện diện của Thiên Chúa trở nên điều con người muốn trốn tránh. Vì thế, muốn hiểu hài hòa nguyên thủy, ta phải nhìn sâu hơn hình ảnh một khu vườn yên tĩnh. Hài hòa nguyên thủy là sự đúng đắn của các tương quan: đúng với Thiên Chúa, đúng với chính mình, đúng với người khác, đúng với đất và với toàn thể thụ tạo. Eden là cách Kinh Thánh kể bằng hình ảnh về một trật tự trong đó mỗi sự vật ở đúng vị trí của nó, mỗi tương quan mang đúng hướng của nó, và con người sống bằng việc đón nhận trước khi chiếm hữu. Hài hòa trước hết là một ân huệ, không phải một thành tích.
Điều đầu tiên phải nói về Eden là con người không tự dựng khu vườn cho mình. “Đức Chúa là Thiên Chúa trồng một vườn ở Êđen” rồi đặt con người vào đó. Chi tiết này rất quan trọng. Con người bước vào một thế giới đã được ban. Cây cối đã mọc trước khi con người lập kế hoạch nông nghiệp. Nước đã chảy trước khi con người đào kênh. Đất đã có trước khi con người đo ranh giới. Sự sống đã có trước khi con người đặt tên. Chính con người cũng có trước tiên như một quà tặng cho chính mình: con người không tự tạo thân xác mình, không tự thổi hơi sống vào mình, không tự quyết định mình sẽ được sinh ra. Nền tảng của hài hòa nguyên thủy vì thế là tính thụ nhận. Con người nhận sự sống, nhận đất, nhận người khác, nhận lời Thiên Chúa, nhận một giới hạn và nhận một sứ mạng. Một nền văn minh mất khả năng nhận sẽ rất khó hiểu Eden. Nền văn minh hiện đại thường dạy ta sản xuất, chinh phục, thiết kế, kiểm soát, mua, bán, sở hữu, cải tiến. Những việc ấy tự chúng không xấu. Nhưng nếu chúng làm con người quên rằng trước mọi hành động của mình là một quà tặng đã có, thì sự lệch lạc bắt đầu. Ta tưởng mọi thứ chỉ có ý nghĩa khi ta làm ra nó. Ta tưởng thứ gì ta không tạo ra thì ta vẫn có quyền tuyệt đối trên nó. Ta tưởng sự sống là nguyên liệu. Ta tưởng đất là tài sản thuần túy. Ta tưởng thân xác là vật liệu có thể tái thiết tùy ý. Ta tưởng người khác chỉ có giá trị theo công dụng đối với kế hoạch của ta. Eden nói điều ngược lại: trước khi con người là người sản xuất, con người là kẻ đón nhận. Trước khi con người làm việc trên thế giới, thế giới đã được trao cho con người. Trước khi con người nói về Thiên Chúa, Thiên Chúa đã nói với con người. Trước khi con người yêu, con người đã được yêu.
Mối hài hòa thứ nhất, vì thế, là hài hòa với Thiên Chúa. Đây là trục của tất cả những hài hòa còn lại. Nếu trục này gãy, các vòng còn lại sớm muộn cũng lệch. Trình thuật Sáng Thế diễn tả một cách rất đẹp rằng Thiên Chúa đi trong vườn lúc gió hiu hiu thổi. Không cần biến câu ấy thành một mô tả vật lý về cách Thiên Chúa bước chân giữa cây cối. Đây là ngôn ngữ biểu tượng của sự gần gũi. Con người sống trước mặt Thiên Chúa mà không sợ ánh mắt của Người. Thiên Chúa không phải kẻ xâm nhập vào đời con người. Sự hiện diện của Người không làm con người co lại. Con người không cần giấu mình. Không cần dựng bụi cây để trốn. Không cần lấy lá che thân vì sợ bị nhìn thấy. Hài hòa với Thiên Chúa nghĩa là con người biết mình là thụ tạo mà không cảm thấy bị hạ thấp. Biết mình phụ thuộc mà không thấy bị làm nhục. Biết mình có giới hạn mà không thấy phải nổi loạn. Biết Thiên Chúa là Chúa mà vẫn cảm nghiệm Người là nguồn sự sống. Đây là điều tội lỗi sẽ đảo ngược. Con rắn gieo một nghi ngờ căn bản: có thể Thiên Chúa đang giữ lại điều gì đó; có thể giới hạn Người đặt ra là để ngăn con người lớn lên; có thể muốn thật sự tự do thì phải thoát khỏi lời Người. Từ đó, con người bắt đầu nhìn Thiên Chúa như đối thủ. Đây là gốc của mọi bất hòa. Một khi Thiên Chúa bị nhìn như đối thủ, giới hạn trở thành xúc phạm, vâng phục trở thành nhục nhã, thụ tạo trở thành nguyên liệu để con người tự làm mình thành thần. Hài hòa nguyên thủy, trái lại, là trạng thái trong đó Thiên Chúa càng là Thiên Chúa thì con người càng được là con người. Chủ quyền của Thiên Chúa không đè bẹp phẩm giá con người; chính chủ quyền ấy tạo ra phẩm giá đó. Con người không cần giết Cha để trưởng thành. Con người trưởng thành bằng cách nhận mình là con.
Mối hài hòa thứ hai là hài hòa với chính mình. Sách Sáng Thế kể rằng người nam và người nữ trần truồng mà không xấu hổ. Câu ấy thường bị đọc quá hẹp theo nghĩa tính dục, trong khi nó chứa một trực giác nhân học rất rộng. Không xấu hổ ở đây không phải là không có sự kín đáo, cũng không phải là lời mời trở lại một trạng thái tự nhiên chủ nghĩa. Nó diễn tả một sự trong suốt nội tâm: con người không phải chiến tranh với chính mình. Thân xác không bị coi như kẻ thù của linh hồn. Ham muốn chưa trở thành sức mạnh kéo người khác thành đồ vật. Trí tuệ, ý chí, cảm xúc, thân xác và tương quan chưa bị phân mảnh theo kiểu một phần của con người chống lại phần kia. Con người có thể đứng trước chính mình mà không cần tự ghét. Có thể đứng trước người khác mà không cần trình diễn. Có thể đứng trước Thiên Chúa mà không cần tạo một bản ngã giả. Đây là một điểm rất quan trọng cho linh đạo sinh thái và thần học tạo thành: nếu con người ghét thân xác mình, sớm muộn người ấy cũng sẽ khó kính trọng thân xác của thế giới. Nếu người ta coi vật chất là thấp kém, đất sẽ bị coi là thứ thấp. Nếu người ta nghĩ đời thiêng chỉ bắt đầu khi trốn khỏi những gì hữu hình, người ta dễ xây một thứ linh đạo xa lạ với Sáng Thế và Nhập Thể. Trong hài hòa nguyên thủy, con người không phải thiên thần rơi nhầm xuống đất. Con người là bụi đất được Thiên Chúa thổi hơi sống. Đất và hơi thở không chống nhau. Vật chất và tinh thần không phải hai quân đội. Chính thân xác là nơi con người nhận thế giới, gặp người khác, lao động, yêu, sinh sản, nghỉ ngơi, thờ phượng và cuối cùng được hứa cho sống lại. Vì thế, hòa giải sinh thái sâu xa cũng cần một sự hòa giải với thân xác. Người không biết nhận thân xác như quà tặng sẽ có nguy cơ đối xử với thiên nhiên như một thứ vật liệu cũng phải bị bắt phục tùng vô hạn cho ý muốn.
Mối hài hòa thứ ba là hài hòa giữa người với người. “Con người ở một mình thì không tốt.” Đây là một trong những câu gây ấn tượng mạnh nhất của những chương đầu Sáng Thế, bởi giữa một chuỗi dài “Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp”, bỗng xuất hiện một điều “không tốt”: cô độc. Con người không hoàn tất chính mình bằng việc tự đủ. Thiên Chúa không dựng con người như những đơn vị khép kín rồi sau đó cho phép họ hợp tác nếu tiện. Tương quan thuộc về cấu trúc của con người. Người khác không phải phụ kiện thêm vào đời tôi. Người khác không phải thị trường cho tài năng của tôi, không phải khán giả cho bản ngã của tôi, không phải công cụ cho nhu cầu tình cảm, tính dục, kinh tế hay chính trị của tôi. Người khác là một hữu thể được trao cho tôi trong mối tương quan và đồng thời luôn vượt khỏi quyền sở hữu của tôi. Adam thốt lên trước người nữ như trước một sự nhận biết: “Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi.” Đó không phải tiếng nói của chiếm hữu, mà là tiếng nói của kinh ngạc vì gặp một người vừa gần gũi sâu xa vừa không phải là mình. Hài hòa nguyên thủy không xóa khác biệt. Người nam không trở thành người nữ, người nữ không bị hòa tan vào người nam. Sự hiệp nhất không cần tiêu diệt tha tính. Chính khác biệt trở thành khả năng hiệp thông. Đây cũng là một nguyên tắc quan trọng cho mọi suy tư về sinh thái toàn diện: hiệp thông không phải đồng nhất. Một hệ sinh thái khỏe không có một loài duy nhất. Một cộng đoàn khỏe không có một kiểu người duy nhất. Một gia đình khỏe không phải nơi mọi người nghĩ giống nhau. Một Hội Thánh khỏe không phải nơi mọi đặc sủng bị ép thành một. Hài hòa không phải làm thế giới phẳng. Hài hòa là để những khác biệt ở đúng tương quan.
Mối hài hòa thứ tư là hài hòa với đất và các sinh vật khác. Con người được lấy từ bụi đất. Trong tiếng Hípri, mối liên hệ giữa adam và adamah nhắc rất mạnh rằng người và đất không xa lạ. Con người không rơi từ một hành tinh khác xuống để quản trị trái đất. Con người thuộc về trái đất theo thân xác. Ta ăn từ đất. Uống nước từ đất. Hít bầu khí quyển của hành tinh này. Máu trong người mang những nguyên tố có trong đất. Khi chết, thân xác trở về đất. Không ai giàu đến mức không cần không khí. Không ai quyền lực đến mức không cần nước. Không nền kỹ thuật nào có thể làm loài người sống vĩnh viễn mà không cần một hệ sinh thái khả cư. Sự phụ thuộc ấy không phải nỗi nhục. Nó là một phần của hài hòa nguyên thủy. Con người vừa có vị trí đặc biệt, vừa thuộc về cộng đồng thụ tạo. Sáng Thế không giải quyết điều này bằng cách hạ con người xuống thành một con vật không hơn gì con vật khác, cũng không nâng con người thành một vị thần có quyền tuyệt đối. Con người đặt tên các sinh vật, nghĩa là có trí tuệ, có khả năng nhận biết và một trách nhiệm đặc biệt. Nhưng con người cũng được tạo ra trong cùng thế giới ấy, sống nhờ cùng đất ấy, đứng dưới cùng lời phán của Đấng Tạo Hóa ấy. Hài hòa là khi đặc quyền đi với trách nhiệm, quyền năng đi với phục vụ, sử dụng đi với gìn giữ, canh tác đi với giới hạn.
Chi tiết “đặt tên” cũng cần được đọc cẩn thận. Trong Kinh Thánh, đặt tên có liên hệ với nhận biết và một hình thức trách nhiệm. Adam nhìn các sinh vật, nhận ra sự khác biệt của chúng, gọi chúng bằng tên. Đây không phải hành động xóa chúng vào trong cái tôi. Muốn đặt tên đúng, trước hết phải nhìn. Muốn gọi đúng, phải nhận ra cái đang ở trước mặt mình. Có một thứ thống trị chỉ biết gọi mọi vật bằng một tên: tài nguyên. Cây là tài nguyên. Sông là tài nguyên. Cá là tài nguyên. Núi là tài nguyên. Đất là tài nguyên. Con người lao động cũng thành “nguồn nhân lực”. Ngay cả thời gian cũng thành tài nguyên. Khi tất cả chỉ còn một ngôn ngữ công dụng, thế giới mất tên riêng. Trình thuật Adam đặt tên gợi một tư thế khác: nhìn đủ lâu để phân biệt. Con này không phải con kia. Cây này không phải chỉ là mét khối gỗ. Dòng sông này không phải chỉ là số megawatt có thể khai thác. Một vùng rừng không phải chỉ là số hecta có thể chuyển đổi mục đích. Một cộng đồng bản địa không phải chỉ là trở ngại trong một dự án. Một đứa trẻ không phải chỉ là nguồn nhân lực tương lai. Một người già không phải chỉ là chi phí y tế. Hài hòa bắt đầu khi ta trả tên lại cho sự vật và con người, bởi tên chống lại sự vô danh hóa của khai thác.
Nhưng Eden không chỉ có đặt tên; Eden có canh tác và gìn giữ. Điều này phá tan một lối hiểu lãng mạn cho rằng hài hòa với thiên nhiên đồng nghĩa với không động vào thiên nhiên. Con người được gọi làm việc. Đất cần được canh tác. Khả năng trí tuệ và kỹ thuật của con người không phải hậu quả của tội. Nông nghiệp, khoa học, y học, xây dựng, thủy lợi, chọn giống, quản lý nước, nghiên cứu sinh học, cải tạo đất, tất cả có thể thuộc về sự cộng tác của con người với công trình tạo dựng, miễn là “canh tác” không tách khỏi “gìn giữ”. Hài hòa không phải sự bất động. Một khu vườn là thiên nhiên được chăm sóc. Hình ảnh “vườn” đã bao hàm một tương tác giữa con người và đất. Không phải hoang mạc tuyệt đối, cũng không phải nhà máy tuyệt đối. Vườn là nơi đất sinh hoa trái và con người lao động, nhưng người làm vườn biết rằng mình không chế tạo sự sống. Người ấy gieo nhưng không ra lệnh cho hạt nảy mầm bằng quyền lực tuyệt đối. Người ấy tưới nhưng không sáng tạo ra nước. Người ấy tỉa cành nhưng không phát minh ra nguyên lý sự sống. Người ấy thu hoạch nhưng cũng phải để mùa tới có giống. Chính hình ảnh người làm vườn là một trong những hình ảnh đẹp nhất để hiểu vị trí con người: hoạt động thật, trách nhiệm thật, quyền năng thật, nhưng không phải quyền năng của Đấng Tạo Hóa.
Vì vậy, hài hòa nguyên thủy không loại bỏ giới hạn. Ngược lại, giới hạn là thành phần của hài hòa. Trong vườn có rất nhiều cây con người được ăn và có một cây được đặt trong giới hạn. Ta không cần sa vào những suy đoán vật lý về loại trái cây. Ý nghĩa thần học rất rõ: thụ tạo không phải Thiên Chúa. Con người được ban rất nhiều nhưng không được ban quyền biến mình thành nguồn của thiện ác. Có một ranh giới nhắc con người rằng thế giới là quà tặng, không phải sở hữu tuyệt đối. Nếu không có giới hạn, con người sẽ không bao giờ học được rằng mình là thụ tạo. Một tình yêu không có khả năng nói “không” không phải tình yêu trưởng thành. Một nền kinh tế không biết giới hạn sẽ ăn hết nền tảng của chính nó. Một nền kỹ thuật tin rằng bất cứ điều gì có thể làm thì đều nên làm sẽ sớm biến khả năng thành định mệnh. Một xã hội không chấp nhận giới hạn sinh thái sẽ gọi việc cạn kiệt là phát triển cho tới ngày không còn gì để phát triển. Eden đặt giới hạn ngay trong thiên đường để nói rằng giới hạn không phải do tội mà có. Tội làm giới hạn trở nên đau đớn vì con người không còn tin Đấng đặt giới hạn. Nhưng giới hạn tự nó là tốt. Ngày sabát cũng nói cùng một điều: dừng lại là tốt. Không sử dụng tất cả là tốt. Không biến mọi thời gian thành sản xuất là tốt. Không khai thác tối đa mọi khả năng là tốt. Một phần của linh đạo sinh thái Kitô giáo chính là học lại sự thánh thiện của chữ “đủ”.
Nói hài hòa nguyên thủy là “đúng mối tương quan” cũng giúp ta tránh hai cực đoan. Một bên là duy tự nhiên lãng mạn, tưởng rằng thiên nhiên tự nó là thần thánh và mọi tác động của con người đều phá vỡ một sự tinh khiết nguyên sơ. Bên kia là chủ nghĩa khai thác, tưởng rằng vì con người mang hình ảnh Thiên Chúa nên mọi thứ còn lại chỉ là vật liệu. Sáng Thế không đứng ở hai phía ấy. Khu vườn có con người. Con người lao động. Con người đặt tên. Con người được trao quyền. Nhưng khu vườn thuộc về Thiên Chúa. Con người được đặt vào đó. Con người phải giữ. Các sinh vật có giá trị trước khi con người dùng chúng, bởi chính Thiên Chúa đã nhìn chúng và nói chúng tốt đẹp. Hài hòa vì thế không phải là loại con người khỏi thiên nhiên, cũng không phải đặt con người lên thiên nhiên như một bạo chúa. Con người ở trong thụ tạo và đồng thời có trách nhiệm trước thụ tạo. Vị trí đặc biệt của con người không phải chiếc ngai để ngồi hưởng; đó là chỗ phải đứng để phục vụ.
Hài hòa nguyên thủy cũng có một chiều kích rất sâu về lòng tin. Trước tội, con người sống trong thế giới như một quà tặng đủ. Cám dỗ bắt đầu khi con rắn gieo cảm giác thiếu: Thiên Chúa không cho đủ. Có một thứ Người giữ lại. Muốn hoàn thành mình, con người phải lấy. Đây chính là logic nằm dưới rất nhiều cuộc khủng hoảng của con người hiện đại: nỗi sợ không đủ. Không đủ tiền. Không đủ đất. Không đủ quyền. Không đủ năng lượng. Không đủ thị trường. Không đủ ảnh hưởng. Không đủ trải nghiệm. Không đủ người theo dõi. Không đủ đồ dùng. Không đủ tốc độ. Và khi nỗi sợ thiếu ấy trở thành nguyên tắc tổ chức đời sống, người ta tích lũy vượt nhu cầu, khai thác vượt khả năng tái tạo, tiêu thụ vượt mức cần thiết và cạnh tranh vượt giới hạn công bằng. Một nền kinh tế có thể rất giàu mà vẫn vận hành bằng tâm lý nghèo: luôn luôn sợ thiếu. Eden nói về một sự phong phú đến từ đón nhận. Có rất nhiều cây để ăn. Con người không bị đặt trong sa mạc thiếu thốn. Chính giữa phong phú ấy có một giới hạn. Nghĩa là tự do không phải có tất cả. Tự do là có thể nhận rất nhiều mà không cần sở hữu tất cả.
Hài hòa với Thiên Chúa, với mình, với người khác và với đất không phải bốn ngăn độc lập. Chúng liên kết chặt đến mức khi một mối gãy, những mối khác bắt đầu rung chuyển. Sáng Thế kể điều ấy rất tinh tế sau tội. Trước hết, con người bất tín với Thiên Chúa. Sau đó, con người thấy mình trần truồng và xấu hổ: quan hệ với chính mình gãy. Rồi người nam đổ lỗi cho người nữ: quan hệ với người khác gãy. Sau đó, đất trở nên gai góc và lao động trở nên nặng nhọc: quan hệ với đất gãy. Bốn vết nứt xuất hiện như bốn hướng của cùng một trận động đất. Đây là một chìa khóa rất mạnh để đọc khủng hoảng sinh thái hôm nay. Khủng hoảng môi trường không chỉ là khủng hoảng kỹ thuật. Không thể chỉ đổi loại máy mà giữ nguyên lòng tham rồi mong thế giới được chữa lành. Không thể chỉ chuyển sang năng lượng sạch nhưng tiếp tục một văn hóa tiêu thụ vô giới hạn rồi gọi đó là hoán cải. Không thể bảo vệ rừng mà khinh người nghèo sống quanh rừng. Không thể nói yêu động vật mà ghét con người. Không thể bênh sự sống của một loài mà coi sự sống con người không đáng gì. Không thể nói yêu Đấng Tạo Hóa mà hành xử như tạo thành không liên hệ đến Người. Sinh thái toàn diện chính là nhìn các mối quan hệ như một mạng. Không có vết thương nào hoàn toàn riêng.
Bởi vậy, khi Hội Thánh nói đến việc phục hồi sự hài hòa, Hội Thánh không rao giảng một chương trình “trở về thời đồ đá” hay tái tạo Eden bằng kỹ thuật. Kitô giáo không phải dự án quay ngược lịch sử. Không ai được gọi bỏ đô thị để trở về một khu vườn giả tưởng. Không phải cứ làm nông là hài hòa, làm công nghiệp là bất hòa. Một nông trại có thể bóc lột đất đến chết. Một nhà máy có thể được tổ chức với trách nhiệm cao. Một thành phố có thể có những mạng lưới liên đới rất đẹp. Một làng quê có thể đầy bất công. Điều cần phục hồi không phải một hình thức kinh tế duy nhất, nhưng trật tự của các tương quan. Khoa học phải trở lại phục vụ sự thật và sự sống. Kinh tế phải trở lại phục vụ con người và công ích. Chính trị phải trở lại chăm sóc ngôi nhà chung thay vì chia chiến lợi phẩm. Lao động phải trở lại là sự tham dự có phẩm giá thay vì biến con người thành phụ tùng. Tiêu dùng phải trở lại trong giới hạn của nhu cầu và lòng biết ơn. Sở hữu phải nhớ đến mục đích phổ quát của của cải. Kỹ thuật phải biết rằng “có thể” chưa có nghĩa là “được phép” và càng chưa chắc là “nên làm”. Tất cả những điều ấy là cách hiện đại để nói về một câu rất cổ: canh tác và gìn giữ.
Cần nhấn mạnh thêm rằng hài hòa là ơn, không phải thành tích. Con người không tạo ra Eden. Điều này ngăn một thứ cứu thế luận sinh thái nguy hiểm, trong đó con người tưởng mình có thể bằng kỹ thuật, chính sách hoặc đạo đức mà tự mình xây lại thiên đường. Chúng ta phải hành động, và phải hành động quyết liệt khi cần. Kitô hữu không được dùng chữ “ơn Chúa” để trốn trách nhiệm. Nhưng người Kitô hữu cũng không tin rằng lịch sử cứu độ nằm hoàn toàn trong tay khả năng quản lý của con người. Nếu ta nghĩ chính ta sẽ cứu thế giới, hoạt động sinh thái rất dễ biến thành một thứ tôn giáo mới, với tội nguyên tổ mới, cứu độ mới, ngày tận thế mới và những người “thanh sạch” mới. Khi đó, người ta có thể bảo vệ thiên nhiên mà mất lòng thương xót đối với con người. Có thể nhân danh hành tinh để coi một số người là gánh nặng. Có thể dùng nỗi sợ để kiểm soát. Có thể biến các lựa chọn sinh thái thành thước đo đạo đức tuyệt đối. Đức tin Kitô giáo giữ ta khỏi cả thờ ơ lẫn cuồng tín: thế giới là của Chúa, nên ta phải chăm; thế giới là của Chúa, nên ta không phải Đấng Cứu Thế.
Hài hòa là ơn cũng có nghĩa rằng khả năng sống đúng các tương quan luôn bắt đầu bằng việc để mình được yêu. Một người không biết mình được nhận sẽ rất khó cho. Một người không biết thế giới là quà tặng sẽ rất khó gìn giữ. Người ấy sẽ hoặc chiếm đoạt, hoặc hoảng sợ mất. Lòng biết ơn là nền đạo đức sinh thái sâu hơn nhiều chiến dịch. Người biết tạ ơn trước bữa ăn đang tuyên xưng rằng thức ăn không bắt đầu từ siêu thị. Có đất, nước, nắng, người nông dân, người vận chuyển, bao thế hệ giữ giống, bao cấu trúc xã hội và cuối cùng là Thiên Chúa ban sự sống. Người làm dấu trước bữa ăn mà sau đó vứt bỏ thức ăn vô tội vạ đang sống mâu thuẫn với lời tạ ơn của mình. Người dâng bánh và rượu trong Thánh lễ mà xem thường người lao động làm ra bánh và rượu cũng sống mâu thuẫn. Thánh Thể là trường cao nhất của sự đón nhận: “Chúc tụng Chúa là Chúa Tể càn khôn, vì Chúa đã rộng ban cho chúng con bánh này là hoa màu ruộng đất và công lao của con người.” Đất và lao động gặp nhau. Quà tặng và công việc gặp nhau. Thiên nhiên và văn hóa gặp nhau. Nhận và làm gặp nhau. Đó chính là cấu trúc của Eden được nâng lên trong phụng vụ.
Nếu nhìn như thế, “đi với Chúa lúc gió chiều” cũng trở thành một hình ảnh rất mạnh cho linh đạo sinh thái. Con người không chỉ làm việc trong vườn; con người còn biết dừng lại để hiện diện với Thiên Chúa. Nếu Eden chỉ có lao động, nó sẽ thành công trường. Nếu Eden chỉ có nghỉ ngơi, nó sẽ thành khu nghỉ dưỡng. Eden là nơi làm việc dưới ánh mắt Chúa và dừng việc để gặp Chúa. Nền văn minh hiện đại có nguy cơ làm mất cả hai: lao động trở thành chạy không ngừng, nghỉ ngơi trở thành tiêu thụ kích thích. Người ta không thực sự làm việc với ý nghĩa, cũng không thực sự nghỉ. Ta chuyển từ màn hình công việc sang màn hình giải trí, từ áp lực sản xuất sang áp lực hưởng thụ. Sabát biến mất. Gió chiều biến mất. Những khoảng thời gian không sinh lợi bị coi là lãng phí. Nhưng nếu không có những khoảng ấy, ta quên mình là ai. Người không bao giờ dừng sẽ sớm tưởng mình là máy. Xã hội không bao giờ dừng sẽ sớm coi đất là máy. Hài hòa cần nhịp. Ngày và đêm. Làm và nghỉ. Gieo và gặt. Nói và thinh lặng. Sở hữu và buông. Sinh và chết. Một thế giới khỏe không chạy trên một tốc độ duy nhất.
Trong đời sống mục vụ, khái niệm hài hòa nguyên thủy cũng giúp ta sửa một kiểu giảng đạo quá hẹp về tội. Nếu tội chỉ được hiểu như những hành vi riêng lẻ vi phạm một danh sách luật, ta sẽ không thấy chiều kích tương quan của nó. Tội luôn làm lệch tương quan. Một lời nói dối làm lệch quan hệ với sự thật, với người nghe, với chính mình và với Thiên Chúa. Tham nhũng làm lệch tương quan với của cải, quyền lực, cộng đồng và người nghèo. Ngoại tình làm lệch tương quan với thân xác, lời hứa, người phối ngẫu, gia đình và Thiên Chúa. Phá môi trường cũng không chỉ là một lỗi kỹ thuật; nó có thể biểu lộ một quan hệ lệch với đất, với thế hệ tương lai, với người nghèo và với Đấng Tạo Hóa. Ngược lại, hoán cải cũng là phục hồi tương quan. Hòa giải với Chúa phải dẫn tới hòa giải với người khác. Hòa giải với người khác phải thay đổi cách ta sử dụng của cải. Xưng tội về lòng tham mà không đổi cách làm ăn là chưa chạm rễ. Cầu nguyện cho tạo thành mà tiếp tục những thói quen tiêu dùng hoàn toàn vô trách nhiệm là cầu nguyện chưa thành xác.
Điều rất đẹp là toàn bộ lịch sử cứu độ có thể được đọc như việc Thiên Chúa kiên nhẫn tái lập những mối tương quan đã gãy. Giao ước với Nôê bao gồm cả các sinh vật. Luật Môsê đặt giới hạn cho đất, cho nợ, cho lao động, cho thu hoạch. Các ngôn sứ nối bất công xã hội với sự hoang tàn của đất. Các Thánh vịnh đưa con người trở vào đại hợp xướng thụ tạo. Đức Giêsu nói về chim trời, hoa huệ, hạt giống, cây nho, lúa, nước, bánh, cá, gió và biển không như những đồ trang trí ngôn ngữ nhưng như một thế giới trong đó Người sống trọn vẹn tư cách Con trước mặt Cha. Người đi vào sa mạc nhưng không ghét thế giới. Người dự tiệc nhưng không thờ tiêu thụ. Người làm việc bằng tay. Người đi trên đất. Người ngủ trên thuyền. Người ăn cá. Người dùng nước để rửa chân. Người dùng bánh và rượu để lập Bí tích Thánh Thể. Sau Phục Sinh, Người vẫn cho các môn đệ thấy vết thương và ăn trước mặt họ. Cứu độ Kitô giáo không phải thoát khỏi thụ tạo, nhưng thụ tạo được đưa vào một trật tự mới trong Đức Kitô.
Vì thế, hài hòa nguyên thủy không chỉ là một ký ức về “ngày xưa”. Nó còn là một lời hứa. Kinh Thánh bắt đầu bằng khu vườn và kết thúc bằng một thành thánh có dòng sông sự sống và cây sự sống. Điểm đến không phải đơn giản quay lại điểm đầu. Lịch sử không chạy thành vòng tròn. Thiên Chúa dẫn tạo thành tới viên mãn. Thành Giêrusalem mới vừa là thành vừa có sông và cây: thiên nhiên và văn hóa không còn là kẻ thù. Vinh quang các dân tộc được mang vào đó. Điều tốt lành con người đã làm không bị xóa sạch. Cứu độ không triệt tiêu lịch sử nhưng thanh luyện và hoàn tất. Điều này rất quan trọng đối với niềm hy vọng sinh thái Kitô giáo. Ta không chỉ nhìn lùi về Eden với tiếc nuối. Ta nhìn tới trời mới đất mới. Chính vì có niềm hy vọng ấy, ta có thể làm việc cho đất hiện tại mà không tuyệt vọng. Ta biết việc mình làm có ý nghĩa nhưng không phải gánh cả vũ trụ trên vai. Ta trồng cây dù biết mình sẽ chết. Ta giữ một dòng sông dù không sở hữu tương lai. Ta truyền lại giống, đất, ký ức, đức tin cho những người chưa sinh. Đó là hành động của người tin rằng lịch sử thuộc về Thiên Chúa.
Ở Việt Nam, nói về hài hòa nguyên thủy không cần chỉ dùng những hình ảnh xa lạ. Người nông dân đã biết rất sâu rằng đất không phải vật chết. Một thửa ruộng bị ép liên tục sẽ kiệt. Nguồn nước bị bẩn thì cả làng chịu. Rừng đầu nguồn mất thì đồng bằng trả giá. Đê không được giữ thì người ở xa chỗ vỡ đê cũng có thể mất nhà. Một giống lúa mất đi không chỉ là mất một sản phẩm, mà có thể là mất một phần ký ức của cộng đồng. Những kinh nghiệm ấy giúp ta hiểu rằng hài hòa không phải khái niệm trang trí. Nó là cách sự sống tồn tại. Người miền Tây hiểu nước lên nước xuống. Người miền Trung hiểu mưa bão, cát, núi, biển. Người miền núi hiểu rừng và nguồn nước gắn thế nào. Người thành thị hôm nay cũng phải học lại rằng ly cà phê mình uống, con cá mình ăn, điện mình bật, rác mình bỏ đều nối với một vùng đất và những con người có thật. Không ai sống ngoài hệ thống tương quan. Huyền thoại lớn nhất của chủ nghĩa cá nhân là tưởng rằng lựa chọn riêng của tôi chỉ ảnh hưởng đến tôi.
Các giáo xứ có thể giúp tín hữu phục hồi cảm thức hài hòa bằng những việc rất đơn giản nhưng sâu: dạy trẻ em biết tên cây cối quanh nhà thờ; tổ chức những giờ cầu nguyện trong đó có lời tạ ơn vì nước, đất và người lao động; đưa giáo lý tạo thành vào việc chuẩn bị các bí tích; nói về cách tiêu dùng trong học thuyết xã hội của Hội Thánh; nối việc bác ái với môi trường sống của người nghèo; tập cho cộng đoàn giảm phung phí trong lễ hội; giữ khuôn viên nhà thờ như một nơi có cây, bóng mát và sự sống thay vì bê tông hóa mọi mét vuông vì tiện; giúp người trẻ hiểu rằng nghiên cứu khoa học môi trường, nông nghiệp, kiến trúc, quy hoạch, năng lượng sạch, quản lý chất thải cũng có thể là ơn gọi Kitô hữu. Nhưng trước tất cả hoạt động ấy phải có một nền linh đạo: biết mình nhận. Không có lòng biết ơn, chương trình môi trường sẽ thành thêm một ban ngành. Không có chiêm ngắm, việc bảo vệ thiên nhiên sẽ nhanh chóng biến thành khẩu hiệu. Không có tương quan với Thiên Chúa, “hài hòa” dễ bị biến thành một ý niệm mơ hồ về năng lượng vũ trụ. Kitô hữu phải nói rõ: hài hòa không phải hòa tan vào thiên nhiên. Hài hòa là mỗi thụ tạo ở đúng vị trí trước Đấng Tạo Hóa và trong quan hệ với các thụ tạo khác.
Bởi đó, trở về với ý nghĩa của hài hòa nguyên thủy là trở về với bốn câu hỏi căn bản: Tôi đang sống thế nào trước mặt Thiên Chúa? Tôi đang ở thế nào với chính thân xác, giới hạn và sự thật của mình? Tôi đang đối xử với người khác như anh chị em hay như công cụ? Tôi đang dùng đất và các thụ tạo như quà tặng được trao để giữ hay như chiến lợi phẩm? Không cần chờ một hội nghị môi trường để trả lời. Những câu hỏi ấy đi vào bếp, vào hóa đơn điện, vào cách mua đồ, vào công việc, vào cách trả lương, vào cách xây nhà, vào cách đi lại, vào bữa ăn, vào thùng rác, vào điện thoại, vào cách ta nhìn người nghèo. Hài hòa không phải một cảm giác dễ chịu khi đứng trước núi. Hài hòa là một trật tự đạo đức và thiêng liêng được sống trong từng lựa chọn.
Và cuối cùng, điều an ủi nhất là hài hòa không bắt đầu từ nỗ lực căng thẳng của con người muốn làm mình hoàn hảo. Nó bắt đầu từ một Thiên Chúa trồng vườn, thổi hơi sống, trao nhiệm vụ, ban người đồng hành và đi tìm con người lúc gió chiều. Ngay cả sau khi con người phạm tội, câu hỏi đầu tiên của Thiên Chúa không phải là một bản án lạnh lùng nhưng là: “Ngươi ở đâu?” Đó là câu hỏi của Đấng vẫn đi tìm tương quan. Toàn bộ lịch sử cứu độ nằm trong tiếng gọi ấy. Adam trốn, Thiên Chúa gọi. Israel chạy, Thiên Chúa gọi. Nhân loại phá giao ước, Thiên Chúa lập lại giao ước. Sau cùng, chính Ngôi Lời bước vào khu vườn của lịch sử, mang lấy bụi đất của thân xác chúng ta, đi qua một khu vườn khác là Ghếtsêmani, chịu mai táng trong một ngôi mộ đặt trong vườn, rồi sống lại để khởi đầu tạo thành mới. Vì thế, người Kitô hữu nói về hài hòa nguyên thủy không phải như người mơ về một quá khứ đã mất vĩnh viễn, nhưng như người nhận ra trong Đức Kitô hướng đi của mọi tương quan: về lại với Cha, hòa giải trong chính mình, trở thành anh chị em với nhau và học lại cách ở trên đất như người quản gia chứ không như kẻ cướp.
Hài hòa nguyên thủy, nói thật gọn sau tất cả, là thế này: Thiên Chúa là Thiên Chúa, con người là con người, người khác là người anh chị em chứ không phải đồ vật, đất là thụ tạo chứ không phải kho vô tận. Mỗi hữu thể được trả về đúng tên, đúng chỗ, đúng tương quan. Con người nhận trước khi lấy, tạ ơn trước khi dùng, canh tác mà vẫn gìn giữ, có quyền mà nhớ mình sẽ phải trả lời, lao động mà biết nghỉ, hưởng dùng mà biết đủ, đặt tên mà không chiếm hữu, bước trên đất mà nhớ mình từ đất, nhìn lên trời mà không quên trái đất, và giữa tất cả những việc ấy vẫn nghe tiếng Thiên Chúa đi trong khu vườn lúc gió chiều. Đó là hài hòa: không phải không có việc phải làm, nhưng việc làm không còn là cướp đoạt; không phải không có giới hạn, nhưng giới hạn được nhận như khung của tự do; không phải mọi khác biệt biến mất, nhưng khác biệt trở thành hiệp thông; không phải con người nhỏ đi để thiên nhiên lớn lên, cũng không phải thiên nhiên bị hạ xuống để con người lớn lên, nhưng cả con người và muôn loài cùng ở dưới ánh nhìn của Đấng đã thấy mọi sự Người làm ra “rất tốt đẹp”. Hài hòa ấy là ân huệ trước khi là nhiệm vụ, là trật tự trước khi là kỹ thuật, là hiệp thông trước khi là quản lý, là lòng biết ơn trước khi là chương trình. Và có lẽ đây chính là điều thời đại chúng ta cần học lại nhất: thế giới không bắt đầu từ bàn tay chúng ta, nên thế giới cũng không được phép kết thúc trong bàn tay tham lam của chúng ta. Chúng ta đã nhận một khu vườn. Ta được phép canh tác nó. Ta được gọi gìn giữ nó. Nhưng ta không phải chủ tuyệt đối của khu vườn. Chủ vẫn là Đấng đi trong đó lúc gió chiều, Đấng gọi con người bằng tên, Đấng hỏi “ngươi ở đâu?”, và Đấng vẫn kiên nhẫn dẫn toàn thể tạo thành về sự hiệp thông mà Người đã muốn từ thuở ban đầu.

CHƯƠNG 19. TỘI LÀM RẠN BỐN MỐI TƯƠNG QUAN
Muốn hiểu khủng hoảng sinh thái bằng cái nhìn Kitô giáo, ta không thể bắt đầu chỉ từ khí hậu, rác thải, ô nhiễm, phá rừng, tuyệt chủng hay cạn kiệt tài nguyên. Những điều ấy nghiêm trọng, nhưng chúng là phần nổi của một đổ vỡ sâu hơn. Đức tin Kitô giáo nhìn con người không như một cá thể biệt lập đứng giữa một thế giới gồm những đồ vật rời rạc, nhưng như một hữu thể được tạo dựng để sống trong tương quan. Ngay từ những trang đầu của Sách Sáng Thế, con người đã xuất hiện trong một mạng lưới hiệp thông: tương quan với Thiên Chúa là Đấng gọi mình vào hiện hữu; tương quan với chính mình là thụ tạo biết mình được nhận lãnh và có giới hạn; tương quan với người khác là người nam nhận ra người nữ như “xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi”; và tương quan với đất, với cây cỏ, với muôn loài, với khu vườn được trao cho mình canh tác và gìn giữ. Bốn tương quan ấy không phải bốn ngăn kéo độc lập. Chúng giống bốn chiều của cùng một đời sống. Một chiều bị méo thì những chiều kia sớm muộn cũng chịu thương tích. Vì thế, khi Laudato Si’ đọc lại trình thuật Sáng Thế và nói đến sự đổ vỡ của các mối tương quan căn bản, đó không phải một đoạn giáo huấn môi trường chen vào thần học về tội. Đó là thần học về tội trong chính chiều sâu của nó. Tội là từ chối sống như một thụ tạo trong hiệp thông. Tội là muốn tự mình xác định mình, tự mình sở hữu mình, tự mình quyết định thiện ác, tự mình dùng người khác và dùng thế giới theo ý muốn. Và một khi con người đặt mình vào trung tâm tuyệt đối, mọi tương quan bắt đầu rạn. Con người trốn Thiên Chúa. Con người xấu hổ với chính mình. Con người đổ lỗi cho người bên cạnh. Đất sinh gai góc. Anh em giết anh em. Thành phố của bạo lực mọc lên. Toàn bộ trình thuật Sáng Thế sau sa ngã có thể được đọc như lịch sử của những vết nứt ngày càng lan rộng từ một vết nứt ban đầu trong lòng con người.
Mối tương quan thứ nhất bị tội làm rạn là tương quan với Thiên Chúa. Đây là vết nứt sâu nhất, không phải vì Thiên Chúa bị suy giảm bởi tội ta, nhưng vì khi xa nguồn, mọi dòng nước phía dưới bắt đầu cạn. Cám dỗ của con rắn trong vườn không đơn giản là xúi con người ăn một trái cây bị cấm. Nó gieo một nghi ngờ về Thiên Chúa: có thật Người tốt không? Có thật điều Người truyền là để bảo vệ sự sống của anh chị không? Hay Thiên Chúa đang giữ lại điều gì đó cho riêng Người? “Các ngươi sẽ nên như những vị thần.” Tội bắt đầu ở đây: con người không còn muốn nhận đời mình như quà tặng, nhưng muốn chiếm lấy đời mình như sở hữu tuyệt đối. Không còn muốn là hình ảnh Thiên Chúa; muốn thành Thiên Chúa. Không còn muốn sống từ ân huệ; muốn tự làm nguồn cho mình. Không còn muốn đón nhận giới hạn; muốn tự định nghĩa giới hạn. Bởi vậy, căn nguyên của khủng hoảng sinh thái không thể chỉ được tìm trong động cơ diesel, nhà máy nhiệt điện, túi nylon hay một phương thức sản xuất nào đó, dù những thứ ấy có thể góp phần rất thật vào khủng hoảng. Căn nguyên sâu hơn nằm trong một trái tim không chịu làm thụ tạo. Khi con người không còn nhận thế giới từ tay Thiên Chúa, thế giới rất dễ trở thành đồ vô chủ. Khi trời đất không còn được nhìn như quà tặng, chúng sẽ bị nhìn như chiến lợi phẩm. Khi không còn Đấng Tạo Hóa, người mạnh nhất sẽ tự phong mình làm chủ. Khi không còn lời “Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp”, giá trị của thụ tạo sẽ dễ bị đo bằng câu hỏi: nó bán được bao nhiêu, khai thác được bao nhiêu, sinh lợi được bao nhiêu, phục vụ tôi được bao nhiêu. Một cánh rừng lúc ấy không còn trước hết là cánh rừng. Nó là diện tích đất. Con sông không còn trước hết là một dòng nước có sự sống. Nó là mét khối nước, thủy năng, tuyến vận chuyển hoặc nơi nhận chất thải. Một vùng biển không còn trước hết là một cộng đồng sinh thái mênh mông và kỳ diệu. Nó trở thành ngư trường. Một ngọn núi trở thành trữ lượng khoáng sản. Một con vật trở thành kilogram thịt. Đất trở thành tài sản. Và rồi cả con người cũng bắt đầu được định giá bằng cùng một thứ ngôn ngữ: năng suất, chi phí, lao động, lợi nhuận, sức mua, khả năng đóng góp. Đó không phải tình cờ. Khi tương quan với Đấng Tạo Hóa bị cắt đứt, rất khó giữ được ý thức rằng mọi hữu thể đều có một ý nghĩa vượt quá công dụng của nó đối với tôi.
Thế nhưng đừng hiểu tương quan với Thiên Chúa theo kiểu đạo đức hẹp: người phạm tội sinh thái chỉ là người không đọc kinh trước khi chặt cây. Vấn đề sâu hơn nhiều. Tương quan với Thiên Chúa là nhận biết rằng tôi không phải khởi điểm cuối cùng của thực tại. Có một Đấng trước tôi. Có một ý muốn thiện hảo mà tôi phải lắng nghe. Có một phán xét trên những lựa chọn của tôi. Có những sự vật tôi có thể sử dụng nhưng không được tùy tiện hủy diệt. Có những con người tôi không được biến thành phương tiện. Có những giới hạn tôi phải tôn trọng dù vượt qua chúng mang lại lợi nhuận. Tin vào Thiên Chúa Tạo Hóa có nghĩa là thừa nhận rằng thế giới không thuộc về tôi theo nghĩa tuyệt đối. Tôi đến sau. Tôi nhận lãnh. Tôi sẽ đi. Đất vẫn còn. Những thế hệ sau vẫn đến. Thiên Chúa vẫn là Chủ. Ý thức ấy là một sức mạnh đạo đức rất lớn. Người quản gia có thể được giao chìa khóa cả căn nhà nhưng vẫn biết căn nhà không phải của mình. Người ấy có quyền sử dụng, sắp xếp, khai triển, làm cho sinh hoa lợi, nhưng không có quyền đốt nhà chỉ vì hôm nay mình muốn sưởi ấm. Thảm kịch của tội là người quản gia quên mình là quản gia. Hắn cầm chìa khóa rồi tưởng mình là chủ. Và từ giây phút ấy, mọi sự trong nhà đều có nguy cơ bị bán.
Mối tương quan thứ hai bị tội làm rạn là tương quan với chính mình. Điều này thường bị quên trong các diễn từ môi trường. Người ta nói nhiều về thiên nhiên bị tổn thương nhưng ít hỏi con người nào đang gây tổn thương ấy và bên trong con người đó đang xảy ra điều gì. Sách Sáng Thế rất tinh tế. Sau khi phạm tội, người nam và người nữ nhận ra mình trần truồng và xấu hổ. Trước đó họ cũng trần truồng nhưng không xấu hổ. Thân xác không thay đổi trong vài phút. Cái nhìn thay đổi. Con người không còn ở yên trong chính mình. Một sự chia đôi bắt đầu. Tôi không còn hòa giải với điều tôi là. Tôi sợ bị nhìn. Tôi giấu mình. Tôi lấy lá che thân. Khi Thiên Chúa hỏi, tôi né. Khi bị chất vấn, tôi đổ lỗi. Đó là điều tội làm: nó khiến con người không thể ở yên trong sự thật về chính mình. Và một con người không ở yên với chính mình sẽ rất dễ tìm cách lấp khoảng trống bằng sở hữu, tiêu thụ, quyền lực, tiếng ồn, tốc độ và hưởng thụ. Vì thế khủng hoảng sinh thái không tách khỏi khủng hoảng nội tâm. Một nền văn minh tiêu thụ vô độ không chỉ được tạo nên bởi những kỹ thuật quảng cáo thông minh. Nó được tạo nên bởi những trái tim liên tục được dạy rằng mình đang thiếu một cái gì đó và phải mua thêm để đầy. Chiếc điện thoại vẫn tốt nhưng mẫu mới đã xuất hiện. Quần áo vẫn mặc được nhưng mùa mới đã tới. Nhà đủ ở nhưng phải lớn hơn. Xe đủ đi nhưng phải sang hơn. Một kỳ nghỉ chưa xong đã phải nghĩ tới kỳ nghỉ sau. Một món ăn chưa nếm kỹ đã chụp ảnh để tìm ánh mắt người khác. Không ngừng tiêu thụ đôi khi là hình thức bên ngoài của một sự bất an bên trong. Con người tưởng mình đang sở hữu đồ vật, nhưng rất có thể chính nhu cầu sở hữu đang sở hữu con người.
Tham vô độ vì thế không chỉ là một thói xấu kinh tế. Nó là một bệnh của linh hồn. Nó nói: thêm nữa thì tôi sẽ yên. Nhưng thêm rồi vẫn không yên. Nó nói: giữ nhiều hơn thì tôi sẽ an toàn. Nhưng giữ nhiều hơn lại càng sợ mất. Nó nói: thắng người khác thì tôi sẽ có giá trị. Nhưng thắng rồi lại cần một cuộc thắng khác. Nó nói: tiêu dùng sẽ làm tôi hạnh phúc. Nhưng tiêu dùng không thể chữa một căn tính bị rạn. Đó là lý do người ta có thể sống giữa rất nhiều tiện nghi mà vẫn khốn khổ, có thể sở hữu rất nhiều mà vẫn thấy thiếu, có thể kết nối với hàng nghìn tài khoản mà vẫn cô đơn, có thể có quyền lực trên thiên nhiên mà không có quyền lực trên chính những ham muốn của mình. Tội làm con người mất tự do ngay khi hứa cho con người tự do. “Tôi muốn gì tôi làm” nghe như tự do, nhưng nếu tôi không thể không làm điều tôi muốn thì đó không còn là tự do nữa. Người không thể dừng mua, không thể dừng ăn, không thể dừng xem, không thể dừng kiếm tiền, không thể dừng mở rộng, không thể chấp nhận “đủ” đang không làm chủ đời mình. Một xã hội không học nói “đủ” cuối cùng sẽ bắt trái đất phải trả giá cho một khoảng trống mà trái đất không thể lấp.
Ở đây ta hiểu tại sao đời sống khổ chế Kitô giáo, nếu được hiểu đúng, có liên hệ mật thiết với việc chăm sóc tạo thành. Khổ chế không phải ghét thân xác, ghét niềm vui hay coi vật chất là xấu. Đó là sự luyện tập để con người có thể nói với một điều tốt: tôi không cần chiếm lấy tất cả. Tôi có thể ăn mà không phải ăn hết. Tôi có thể dùng mà không phải lạm dụng. Tôi có thể sở hữu mà không để sở hữu định nghĩa tôi. Tôi có thể thưởng thức mà không biến hưởng thụ thành thần. Tôi có thể nhìn món đồ mới và nói: cái cũ vẫn đủ. Tôi có thể đứng trước một cơ hội kiếm lời và nói: lợi nhuận này gây hại quá nhiều, tôi không nhận. Tôi có thể đứng trước một mảnh đất và nói: không phải chỗ nào có thể xây cũng cần xây. Tôi có thể đứng trước một dòng sông và nói: không phải mọi mét khối nước đều phải biến thành tiền. Người biết từ bỏ một phần khả năng sử dụng của mình vì lợi ích của người khác, của thế hệ sau và của tạo thành đang thực thi một tự do lớn hơn người cứ tưởng sử dụng tối đa là tự do. Ngày sabát trong Kinh Thánh mang một trực giác rất sâu: cả con người, súc vật và đất đều cần được nghỉ. Có lúc phải dừng. Có lúc không sản xuất. Có lúc không thu hoạch. Có lúc để một điều hiện hữu mà không bắt nó sinh lợi cho mình. Đó là thứ khôn ngoan mà một nền văn minh luôn tăng tốc rất khó hiểu.
Mối tương quan thứ ba bị tội làm rạn là tương quan với người khác. Ngay sau sa ngã, câu trả lời của Ađam đã cho thấy vết nứt ấy: “Người đàn bà Ngài cho ở với con, chính nàng đã cho con trái cây, và con đã ăn.” Tội luôn tìm một người khác để đẩy trách nhiệm sang. Người đàn bà đổ cho con rắn. Sau đó Cain giết Abel. Khi Thiên Chúa hỏi em ngươi đâu, Cain trả lời: “Con là người giữ em con hay sao?” Câu ấy có thể được xem như một trong những định nghĩa đau đớn nhất về xã hội bị tội làm rạn: tôi không có trách nhiệm về người khác. Tôi lo phần tôi. Ai khổ thì họ chịu. Ai nghèo thì lỗi họ. Ai mất đất thì họ tự xoay xở. Ai hít khói thì họ chọn sống ở đó. Ai ở hạ lưu thì chịu nước bẩn. Ai sinh sau thì tự giải quyết những gì chúng ta để lại. “Con là người giữ em con hay sao?” Nhưng Tin Mừng trả lời: phải, theo một nghĩa rất sâu, anh là người giữ em anh. Không phải sở hữu em anh, nhưng chịu trách nhiệm về sự sống của em anh. Đức ái và công lý bắt đầu khi ta nhận ra rằng đời tôi không thể xây trên sự hủy hoại đời người khác.
Chính ở điểm này, vấn đề sinh thái lộ ra như vấn đề xã hội. Một con sông bị ô nhiễm không đau theo nghĩa con người đau, nhưng những người sống nhờ con sông ấy sẽ đau. Người đánh cá mất kế sinh nhai. Người nông dân tưới ruộng bằng nước bẩn. Trẻ nhỏ uống nước nhiễm độc. Người nghèo không có tiền mua nước sạch. Người có điều kiện có thể chuyển nhà, lắp máy lọc, mua thực phẩm nơi khác; người nghèo ở lại với hậu quả. Một khu rừng biến mất không chỉ làm mất cây. Nó có thể làm biến đổi nguồn nước, khí hậu địa phương, sinh kế, văn hóa, ký ức và cả nơi cư trú của những cộng đồng đã sống ở đó qua nhiều thế hệ. Một nhà máy gây ô nhiễm không chỉ đặt vấn đề kỹ thuật về tiêu chuẩn khí thải. Nó đặt câu hỏi công lý: ai nhận lợi nhuận và ai nhận bệnh tật? Một dự án lớn không chỉ có bảng cân đối đầu tư và tăng trưởng. Nó có người phải di dời, có mồ mả tổ tiên, có ruộng vườn, có sinh kế, có cộng đồng, có những giá trị không thể đơn giản quy đổi thành tiền. Một loại hàng hóa rẻ bất thường có thể rẻ vì ở đâu đó có người lao động đang bị trả lương quá thấp, có một vùng đất đang bị khai thác quá mức, có nước thải chưa được xử lý, có chi phí thật đã bị đẩy sang người khác. “Rẻ” đối với người mua có thể rất đắt đối với một người mà ta không nhìn thấy.
Bởi vậy, không thể có sinh thái Kitô giáo mà không có người nghèo. Nếu bảo vệ một khu thiên nhiên bằng cách xua những người nghèo ra khỏi nơi họ đã sống mà không cho họ một con đường sống xứng đáng, ta chưa hiểu sinh thái toàn diện. Nếu xây thành phố “xanh” nhưng đẩy người lao động ra xa đến mức họ mất hàng giờ di chuyển mỗi ngày, ta phải hỏi cái xanh ấy phục vụ ai. Nếu đòi người nghèo chịu toàn bộ chi phí chuyển đổi môi trường trong khi những người hưởng lợi nhiều nhất từ mô hình tiêu thụ cũ vẫn giữ nguyên lối sống, đó không phải công lý. Nếu một doanh nghiệp khoe vài hàng cây phía trước nhưng phía sau đối xử tệ với công nhân, đó không phải sinh thái toàn diện. Nếu một giáo xứ phân loại rác rất đẹp nhưng lạnh lùng với người nghèo đến xin giúp, ta đã biến sinh thái thành kỹ thuật. Và ngược lại, nếu nói yêu người nghèo mà mặc kệ đất, nước và không khí nơi họ sống bị hủy hoại, tình yêu ấy cũng thiếu một phần rất thật. Người nghèo và trái đất thường cùng chịu một logic: ai yếu thì bị dùng. Một nền kinh tế coi đất như thứ có thể hy sinh rất dễ coi người lao động yếu thế như thứ có thể hy sinh. Một nền văn hóa vứt đồ dùng khi hết tiện lợi cũng dễ hình thành thói quen “vứt” con người khi họ không còn hữu ích. Người già, thai nhi, người khuyết tật, người bệnh, người di dân, người thất nghiệp, người nghèo và những vùng đất cạn kiệt gặp nhau ở một điểm: tất cả đều dễ trở thành nạn nhân khi giá trị được đo duy nhất bằng hiệu quả.
Mối tương quan thứ tư bị tội làm rạn là tương quan với tạo thành. Sách Sáng Thế diễn tả điều này bằng hình ảnh đất sinh gai góc và con người phải đổ mồ hôi để kiếm ăn. Không nên đọc câu ấy như thể trước tội nguyên tổ thiên nhiên hoàn toàn không có quy luật, không có lao động, không có khó khăn sinh học, rồi sau tội mới xuất hiện mọi vật cản. Trình thuật muốn nói một điều thần học: sự hòa hợp giữa con người và đất bị thương tổn. Con người vốn được lấy từ đất, adam từ adamah, nay phải vật lộn với chính đất mà mình thuộc về. Khi con người chống Đấng Tạo Hóa, nó không thể tiếp tục sống hoàn toàn hài hòa với tạo thành. Điều kỳ lạ là con người càng muốn làm chủ tuyệt đối đất, càng phát hiện mình phụ thuộc vào đất. Chúng ta có thể xây thành phố cao hàng trăm tầng nhưng vẫn phải uống nước. Có thể đưa vệ tinh lên quỹ đạo nhưng vẫn phải thở không khí. Có thể làm trí tuệ nhân tạo nhưng chưa làm ra được một hạt lúa có thể sống độc lập khỏi toàn bộ mạng lưới ánh sáng, nước, đất, vi sinh vật và khí hậu. Có thể giao dịch hàng nghìn tỷ trong vài giây nhưng vẫn không ăn được tiền. Con người rất mạnh và rất mong manh cùng một lúc. Tội làm ta nhớ phần mạnh mà quên phần mong manh. Vì thế ta hành xử như thể mình đứng bên ngoài sinh quyển trong khi từng tế bào thân xác đang phụ thuộc vào nó.
Đây là nghịch lý: khi con người đối xử với tạo thành như kẻ thù phải khuất phục, cuối cùng chính con người chịu hậu quả vì con người ở trong tạo thành. Đầu độc đất nghĩa là chất độc sẽ đi vào thực phẩm. Đầu độc nước nghĩa là chất độc sẽ trở lại trong thân thể. Làm suy kiệt đa dạng sinh học nghĩa là làm nghèo chính mạng lưới sự sống mà kinh tế và sức khỏe con người dựa vào. Khí quyển không có biên giới quốc gia. Dòng sông không dừng lại ở ranh giới hành chính. Đại dương không biết hộ chiếu. Những gì con người ném đi không biến mất chỉ vì xe rác đã chở khỏi cửa nhà. Khái niệm “vứt đi” nhiều khi là một ảo tưởng đạo đức: ta chỉ chuyển thứ mình không muốn nhìn sang một nơi người khác phải nhìn. Rác của thành phố đi về đâu? Nước thải chảy về đâu? Khí thải bay về đâu? Đồ điện tử cũ bị tháo ở đâu? Nhựa trôi đến đâu? Những câu hỏi ấy làm lộ sự nối kết mà lối sống đô thị tiện nghi thường che đi. Con người hiện đại có thể sống rất xa hậu quả của hành vi mình. Ta bật công tắc nhưng không thấy mỏ than. Mở vòi nhưng không thấy hồ chứa. Mua thịt nhưng không thấy chuỗi chăn nuôi. Mua điện thoại nhưng không thấy mỏ khoáng sản. Đặt một món hàng giao nhanh nhưng không thấy hàng nghìn kilomet vận chuyển. Sự xa cách ấy không tự nó là tội, nhưng nó tạo ra một cám dỗ: hưởng lợi mà không biết cái giá ai đang trả.
Bốn mối tương quan vì thế luôn kéo nhau. Một người tham vô độ không chỉ gây hại cho một cánh rừng hay một con sông. Lòng tham ấy trước hết nói điều gì đó về tương quan của người ấy với Thiên Chúa: người ấy không còn tin rằng sự sống được nhận như quà và có thể đủ trong giới hạn, nên phải nắm, phải chiếm, phải giữ. Nó nói điều gì đó về tương quan với chính mình: bên trong có một cơn đói không biết no, một nỗi bất an phải được trấn an bằng sở hữu. Nó làm hại tương quan với người khác: có người sẽ gánh hậu quả của việc tích lũy ấy. Và cuối cùng nó làm hại tạo thành: đất, nước, rừng, sinh vật bị ép quá giới hạn. Một hành vi tưởng như chỉ “kinh tế” hóa ra là thần học, tâm lý, xã hội và sinh thái cùng lúc. Cũng vậy, một hành vi tiêu dùng tưởng như rất riêng tư có thể nối với cả một chuỗi người và đất ở xa. Không phải để biến mỗi lần mua một món đồ thành một cơn áy náy bệnh lý. Kitô giáo không xây luân lý bằng hoảng loạn. Nhưng đức tin dạy ta trưởng thành khỏi ảo tưởng rằng lựa chọn cá nhân không có hậu quả cộng đồng.
Có một cách nói rất nguy hiểm: “Tôi trả tiền rồi, tôi có quyền dùng thế nào là việc của tôi.” Tiền có thể chuyển quyền sở hữu pháp lý, nhưng tiền không xóa trách nhiệm luân lý. Tôi mua thực phẩm, nhưng không vì thế có quyền cố ý mua quá nhiều rồi vứt bỏ như thể lương thực không liên hệ gì đến những người đang thiếu ăn. Tôi mua đất, nhưng quyền sở hữu không làm tôi thành Đấng Tạo Hóa của mảnh đất. Tôi có nhà, nhưng cách sử dụng năng lượng của tôi vẫn có chiều kích xã hội. Tôi sở hữu doanh nghiệp, nhưng người lao động không trở thành tài sản của tôi. Tôi có vốn, nhưng vốn không cho phép tôi đặt lợi nhuận trên mọi sự. Truyền thống xã hội Công giáo luôn hiểu quyền tư hữu trong tương quan với công ích. Điều ấy cũng đúng với thế giới tự nhiên. Ta được trao quyền sử dụng, nhưng quyền sử dụng luôn nằm bên trong một trật tự luân lý rộng hơn. Tội muốn cắt quyền ra khỏi trách nhiệm. Nó rất thích câu “của tôi”. Của tôi nên tôi làm gì cũng được. Nhưng đức tin luôn thêm vào: của anh theo nghĩa nào? Anh đã tạo nó từ hư vô sao? Anh có thể sống mà không nhờ người khác sao? Anh sẽ mang nó qua cái chết sao? Anh có quyền để lại cho con cháu một vùng đất chết chỉ vì giấy tờ hôm nay ghi tên anh sao?
Tội sinh thái vì thế không nên được giản lược thành một danh sách mới những điều cấm. Nếu chỉ thêm vào sổ xét mình vài câu kiểu “tôi có xả rác không, tôi có tiết kiệm điện không”, ta mới chạm rất nhẹ vào vấn đề. Những việc ấy tốt và cần, nhưng hoán cải sinh thái sâu hơn. Nó hỏi: tôi đang hiểu mình là ai trước Thiên Chúa? Tôi có nhận đời như quà không? Tôi có tin rằng giới hạn có thể là điều tốt không? Tôi có khả năng nói đủ chưa? Tôi có nhận ra người khác trong các lựa chọn của mình không? Tôi có cảm thấy mình thuộc về đất hay chỉ đứng trên đất? Tôi có nhìn một sinh vật như tạo vật của Thiên Chúa hay chỉ như công dụng? Tôi có biết biết ơn trước bữa ăn? Tôi có ý thức bao nhiêu người, bao nhiêu giọt nước, bao nhiêu đất đai, bao nhiêu thời gian và bao nhiêu sự sống đi vào một món đồ mình sử dụng? Tôi có biến tiện nghi thành quyền tuyệt đối không? Tôi có cho rằng khó chịu của tôi quan trọng hơn hậu quả người khác phải chịu? Hoán cải sinh thái trước hết là hoán cải cái nhìn, sau đó mới đến thay đổi hành vi. Không đổi cái nhìn, các hành vi tốt dễ trở thành phong trào ngắn. Đổi cái nhìn, nhiều hành vi sẽ tự nhiên theo sau.
Ở đây ta cũng cần tránh một sai lầm ngược lại: biến mọi thiên tai, mọi bệnh tật, mọi biến động tự nhiên thành hình phạt trực tiếp cho một tội cụ thể. Kitô giáo không dạy cách đơn giản như thế. Đức Giêsu đã bác bỏ lối suy luận thấy người gặp tai họa rồi kết luận họ tội hơn người khác. Thế giới tự nhiên có những quy luật, những biến động, sự hữu hạn và cả những điều ta chưa hiểu. Nhưng điều ấy không xóa trách nhiệm con người khi những lựa chọn của con người thực sự làm tăng tổn thương. Không được lấy “thiên nhiên vốn thế” để trốn trách nhiệm. Cũng không được lấy “tội của nhân loại” để kết án cụ thể những nạn nhân đang chịu đau khổ. Thần học Kitô giáo đủ sâu để vừa nhìn thấy tội mang tính cấu trúc vừa không biến đau khổ thành bản án đạo đức cho người chịu khổ. Một em bé sống ở vùng ô nhiễm không phải đau bệnh vì em phạm “tội môi trường”. Em có thể đang gánh hậu quả của lựa chọn do những người em chưa bao giờ gặp đưa ra. Chính điều ấy làm vấn đề trở thành vấn đề công lý.
Tội còn có một dạng khác rất khó nhận vì không ai một mình gây ra toàn bộ hậu quả: tội được kết tinh trong cơ cấu. Một người có thể nói: tôi chỉ làm phần việc của tôi. Người thiết kế nói tôi chỉ thiết kế. Người bán nói tôi chỉ bán. Người đầu tư nói tôi chỉ đầu tư. Người quản lý nói tôi chỉ làm theo chỉ tiêu. Người tiêu dùng nói tôi chỉ mua thứ thị trường có. Người làm luật nói tôi chỉ thực hiện điều có thể. Cuối cùng một hệ thống gây tổn hại rất lớn mà gần như không ai cảm thấy mình chịu trách nhiệm. Đây là chỗ giáo huấn xã hội của Hội Thánh rất quan trọng. Tội bao giờ cũng gắn với tự do và trách nhiệm cá nhân, nhưng hậu quả của nhiều tội cá nhân có thể tích tụ thành những cấu trúc khuyến khích thêm tội. Một hệ thống thưởng cho việc khai thác càng nhanh, tiêu thụ càng nhiều, thay thế càng sớm, vứt bỏ càng dễ sẽ huấn luyện lòng người theo chính logic ấy. Và rồi người ta bắt đầu áp logic vứt bỏ vào con người. Người lao động lớn tuổi không còn năng suất: thay. Đứa trẻ chưa sinh làm rối kế hoạch: bỏ. Người già tốn kém: đẩy ra bên lề. Người nghèo không có sức mua: không đáng được nhìn. Người di dân gây bất tiện: dựng hàng rào trong lòng trước khi dựng hàng rào ngoài biên giới. Văn hóa vứt bỏ không bắt đầu ở thùng rác. Nó bắt đầu trong một cái nhìn chỉ công nhận giá trị khi điều gì đó còn hữu dụng cho tôi.
Nhưng nếu bốn mối tương quan cùng bị tội làm rạn, thì việc chữa lành cũng không thể chỉ đi theo một hướng. Không thể chữa tương quan với tạo thành mà bỏ Thiên Chúa nếu ta đang nói trong nhãn quan Kitô giáo. Không thể nói cầu nguyện với Chúa nhưng khinh người nghèo. Không thể yêu người nghèo nhưng sống một đời tham lam phá hủy môi trường sống của họ. Không thể bảo vệ môi trường bên ngoài mà để nội tâm bị cai trị bởi thèm muốn vô hạn. Bốn mối tương quan phải được chữa cùng nhau. Cầu nguyện chữa lại vị trí của ta trước Thiên Chúa: tôi là con, không phải thần. Khổ chế và xét mình chữa tương quan với bản thân: tôi không phải nô lệ cho mọi ham muốn. Bác ái và công lý chữa tương quan với người khác: người kia là anh chị em, không phải vật cản hay công cụ. Canh tác và gìn giữ chữa tương quan với tạo thành: đất là quà được trao để làm sinh hoa trái và truyền lại, không phải kho chiến lợi phẩm. Thánh lễ, nếu sống đúng, nối cả bốn chiều ấy. Ta hướng về Thiên Chúa. Ta đem chính mình. Ta hiệp thông với anh chị em. Ta dâng bánh và rượu là hoa màu của ruộng đất và công lao của con người. Vật chất đi vào phụng vụ. Đất không bị bỏ ngoài cửa nhà thờ. Hạt lúa, trái nho, nước, dầu, lửa, thân xác, tiếng nói — tất cả đều có chỗ trong đời bí tích. Đức tin Công giáo không cứu linh hồn bằng cách bỏ mặc vật chất. Đức Kitô cứu con người trong thân xác và hướng toàn thể tạo thành tới sự viên mãn.
Bí tích Hòa giải cũng cần được tìm lại trong chiều kích này. Có khi người Công giáo xét mình rất kỹ về việc bỏ kinh, nóng giận, nói dối, nhưng hoàn toàn không nghĩ đến những bất công gắn với tiền bạc, lao động, tiêu thụ, tài nguyên và môi trường. Điều đó làm lương tâm bị phân mảnh. Tội không trở thành tội chỉ khi xảy ra trong nhà thờ. Một chủ doanh nghiệp cố tình xả chất độc để giảm chi phí không chỉ vi phạm quy định môi trường; nếu biết rõ hậu quả nghiêm trọng và vẫn làm vì lợi nhuận, đây là vấn đề lương tâm trước Thiên Chúa. Một người có quyền lực biết một cộng đồng nghèo sẽ chịu hậu quả nhưng vẫn làm ngơ không thể coi đó chỉ là “quyết định quản lý”. Một người tiêu dùng không thể chịu trách nhiệm ngang với một tập đoàn lớn, vì mức độ quyền lực và khả năng lựa chọn khác nhau, nhưng mỗi người vẫn được mời gọi hỏi phần trách nhiệm tương xứng của mình. Luân lý Công giáo không san bằng trách nhiệm. Người có nhiều quyền hơn thường có trách nhiệm nặng hơn. Người hoạch định chính sách, người sở hữu vốn lớn, người điều khiển công nghệ, người đứng đầu doanh nghiệp có khả năng gây ảnh hưởng vượt xa một gia đình nghèo chỉ đang tìm cách sống qua ngày. Nói “mọi người đều phải thay đổi” là đúng nhưng chưa đủ. Người có nhiều khả năng thay đổi cấu trúc phải chịu trách nhiệm tương ứng với quyền lực họ đang nắm.
Trong đời sống giáo xứ, chương này có thể trở nên rất cụ thể. Ta có thể hỏi: giáo xứ sử dụng tiền thế nào? Xây dựng thế nào? Dùng điện, nước, thực phẩm thế nào? Tổ chức lễ hội thế nào? Sau một đại lễ, bao nhiêu đồ ăn bị bỏ, bao nhiêu vật dụng dùng một lần, bao nhiêu rác được tạo ra? Nhưng cũng phải hỏi: những người dọn rác được đối xử ra sao? Người làm bếp được trả công thế nào? Người nghèo có được ngồi cùng bàn không? Một giáo xứ không trở thành “xanh” chỉ bằng vài thùng phân loại rác. Giáo xứ xanh khi hiểu ngôi nhà chung bằng ngôn ngữ của hiệp thông. Trong cùng một hành vi, ta kính Chúa, tôn trọng người, giáo dục chính mình và gìn giữ tạo thành. Ví dụ một bữa ăn giáo xứ chuẩn bị vừa đủ, hạn chế lãng phí, ưu tiên sản phẩm địa phương khi có thể, đối xử công bằng với người phục vụ và dành chỗ cho người nghèo không chỉ là tổ chức tốt. Đó là một bài giáo lý sống về bốn tương quan. Một khuôn viên nhà thờ có cây, có bóng mát, có nước được sử dụng tiết độ, có không gian để trẻ em học yêu thiên nhiên có thể dạy nhiều điều hơn một khẩu hiệu. Nhưng nếu sau đó cộng đoàn chia bè, khinh người nghèo và nói xấu nhau, cây xanh không cứu được linh đạo. Bốn tương quan luôn đi cùng nhau.
Trong gia đình cũng vậy. Trẻ em học tương quan với tạo thành trước khi biết chữ “sinh thái”. Chúng nhìn cách cha mẹ ăn, mua, vứt, sửa, giữ, chia sẻ. Một đứa trẻ thấy người lớn bỏ một bát cơm đầy mà không áy náy sẽ học một thần học âm thầm: đồ vật có thể bị coi thường vì nhà mình có tiền. Một đứa trẻ thấy cha mẹ tắt một chiếc đèn không cần thiết không chỉ học tiết kiệm điện. Nếu được giải thích đúng, nó học rằng ta không cần dùng tất cả chỉ vì có thể dùng. Khi thấy gia đình giữ lại đồ còn tốt, sửa đồ hỏng, chia quần áo còn dùng được, không xấu hổ vì dùng đồ cũ, trẻ học rằng giá trị con người không nằm trong việc luôn sở hữu cái mới. Khi thấy cha mẹ cảm ơn người giao hàng, người thu rác, người quét đường, trẻ học rằng những tiện nghi của mình có khuôn mặt con người phía sau. Khi gia đình cầu nguyện trước bữa ăn, lời “tạ ơn Chúa” có thể trở lại đúng sức nặng của nó: bữa ăn này không tự xuất hiện. Có đất, có mưa, có nắng, có người gieo, người gặt, người vận chuyển, người bán, người nấu. Một lời tạ ơn thật sẽ rất khó đi chung với lãng phí vô tâm.
Người Việt Nam có nhiều ký ức văn hóa có thể giúp hiểu điều này. Những thế hệ từng biết quý từng hạt gạo vì đã trải qua thiếu thốn thường hiểu trực giác rằng thức ăn không phải thứ để khinh. Người nông dân biết nhìn trời, nhìn đất, nhìn con nước, biết mùa nào gieo, mùa nào nghỉ. Những cộng đồng sống dọc sông biết dòng nước không phải một đường màu xanh trên bản đồ nhưng là mạch sống. Làng quê từng có giếng chung, bờ tre, con mương, ao, ruộng, nghĩa trang, đình, nhà thờ — những không gian làm con người biết mình thuộc về một nơi. Quá trình đô thị hóa đem lại nhiều điều tốt và cần thiết, nhưng cũng có thể làm ta mất cảm giác thuộc về đất. Người thành phố bấm nút và mọi thứ đến. Nước đến qua ống. Điện đến qua dây. Thức ăn đến qua ứng dụng. Rác biến mất bằng xe chuyên dụng. Tiện nghi càng lớn, nguy cơ quên nguồn càng cao. Vì thế linh đạo tạo thành trong đô thị phải tập cho con người nối lại những đường dây vô hình: nước này từ đâu, thực phẩm này từ đâu, rác này đi đâu, người phục vụ mình sống thế nào, năng lượng này được tạo ra bằng gì. Không phải để sống trong mặc cảm, nhưng để sống trong sự thật.
Tội thích sự vô hình. Khi nạn nhân không xuất hiện trước mắt, ta dễ sống như không có nạn nhân. Khi hậu quả ở xa, ta dễ nghĩ không có hậu quả. Tin Mừng thì làm điều ngược lại: trả khuôn mặt cho người bị quên. Người Samari nhân hậu không giải quyết toàn bộ hệ thống đường sá giữa Giêrusalem và Giêrikhô, nhưng ông dừng vì một thân thể bị thương nằm trước mắt. Đức Giêsu đặt một em nhỏ giữa các môn đệ. Người nhìn người mù mà đám đông muốn làm im. Người gọi Dakêu từ trên cây xuống. Người nghe Bartimê. Người để người phụ nữ bị băng huyết chạm vào mình. Đức Kitô liên tục trả khuôn mặt cho những người mà hệ thống xã hội biến thành vô hình. Hoán cải sinh thái Kitô giáo cũng phải làm vậy: trả khuôn mặt cho hậu quả. Phía sau một sản phẩm là người lao động. Phía sau một nguồn năng lượng là một vùng đất. Phía sau một túi rác là một nơi tiếp nhận. Phía sau một dòng nước bẩn là những gia đình ở hạ lưu. Phía sau một quyết định hôm nay là những đứa trẻ chưa sinh ra nhưng một ngày sẽ sống trên trái đất ta để lại.
Tội còn làm rạn tương quan với thời gian. Đây có thể xem như chiều kích nằm bên trong cả bốn tương quan. Người phạm tội thường muốn hiện tại nuốt tương lai. Tôi muốn lợi ích bây giờ, hậu quả để sau. Tôi muốn thu hoạch bây giờ, đất kiệt sau tính. Tôi muốn tăng trưởng quý này, thế hệ sau xử lý. Tôi muốn tiện nghi hôm nay, con cháu chịu chi phí. Truyền thống Kinh Thánh chống lại sự ngắn hạn ấy bằng giao ước. Thiên Chúa là Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp. Đức tin sống bằng ký ức và lời hứa. Đất được nhận từ cha ông và trao cho con cháu. Năm sabát và năm toàn xá nhắc rằng con người không được tích lũy vô hạn qua thời gian. Kitô giáo sống hướng về một tương lai Thiên Chúa hứa, nên không thể cư xử như thế hệ hiện tại là thế hệ cuối cùng. Con cháu không có lá phiếu trong quyết định của chúng ta hôm nay, nhưng chúng có quyền luân lý trên những gì chúng ta để lại. Ta không thể hỏi chúng có đồng ý nhận một nguồn nước cạn, một vùng đất nhiễm độc hay một khí hậu bất ổn không. Chính vì chúng không thể lên tiếng, lương tâm ta phải nói thay.
Một trong những dấu hiệu tội sâu nhất là mất khả năng biết ơn. Người biết ơn nhận mọi sự như quà. Người tham lam nhìn quà rồi hỏi: còn gì nữa? Người biết ơn ăn và nói đủ. Người tham lam ăn và hỏi phần kế. Người biết ơn nhìn cây và thấy kỳ diệu. Người tham lam nhìn cây và lập tức tính giá gỗ. Không phải tính giá là xấu. Nền kinh tế cần giá. Nhưng khi giá trở thành ngôn ngữ duy nhất, ta mất khả năng nhìn. Có những điều vô giá không phải vì chẳng đáng gì, nhưng vì quá đáng giá để quy thành tiền. Một dòng sông có giá trị kinh tế, nhưng nó không chỉ có giá trị kinh tế. Một khu rừng có giá trị carbon, giá trị du lịch, giá trị gỗ, nhưng còn có một giá trị hiện hữu trước mắt Thiên Chúa mà mọi bảng tính đều không chứa hết. Một em bé có thể chưa đóng góp đồng thuế nào nhưng có phẩm giá tuyệt đối. Một người già có thể không còn năng suất nhưng không vì thế bớt là người. Cùng một nguyên tắc giúp ta chống phá thai, bỏ rơi người già, bóc lột người lao động và phá hủy thiên nhiên: giá trị không đồng nhất với công dụng.
Tuy nhiên cần giữ đúng trật tự thần học. Con người có phẩm giá độc đáo vì được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. Một cây không có cùng phẩm giá với một em bé. Một con thú không có cùng địa vị luân lý với một con người. Sinh thái Công giáo không xóa sự khác biệt ấy. Nhưng chính vì con người là hình ảnh Thiên Chúa nên con người có trách nhiệm đặc biệt đối với những gì yếu hơn mình. Quyền lực càng lớn, trách nhiệm càng nặng. Nếu một con hổ phá rừng, ta không kết án luân lý con hổ. Nếu con người phá rừng vì lòng tham, ta có thể nói về tội vì con người biết, chọn và chịu trách nhiệm. Phẩm giá cao hơn không phải giấy phép gây hại nhiều hơn. Nó là lời triệu tập phải yêu thương nhiều hơn. Một người cha có quyền trong gia đình không phải để ăn hết phần của con, nhưng để chịu trách nhiệm nhiều hơn cho con. Con người đứng ở một vị trí độc đáo trong tạo thành theo nghĩa ấy: người quản gia có thể nghe lời Chủ và có thể trả lời về khu vườn.
Vì thế, câu hỏi Thiên Chúa đặt cho Cain vẫn vang lên trong khủng hoảng sinh thái: “Em ngươi đâu?” Và ta có thể nghe thêm một âm vang khác: khu vườn Ta trao cho ngươi đâu? Dòng sông đâu? Mảnh đất đâu? Người nghèo sống ở đó đâu? Những đứa trẻ sẽ sinh ra sau ngươi đâu? Ta không thể trả lời như Cain: “Con không biết. Con có phải người giữ em con đâu?” Chính từ “gìn giữ” trong Sáng Thế trở lại. Có, chúng ta được gọi để giữ. Không giữ như cai ngục. Không giữ như người đóng băng thế giới. Giữ như người bảo vệ sự sống để sự sống tiếp tục nở. Canh tác mà không gìn giữ là bóc lột. Gìn giữ mà không canh tác có thể thành lãng mạn hóa. Thiên Chúa trao khu vườn cho lao động sáng tạo của con người nhưng đặt lao động ấy trong giao ước với sự sống.
Và cũng như tội có sức lan từ một mối tương quan sang các mối khác, ân sủng cũng lan. Một người tập biết ơn Thiên Chúa có thể bắt đầu tiêu dùng khác. Một người học đủ với chính mình có thể bớt gây áp lực lên người khác và trái đất. Một doanh nhân nhìn người lao động như anh chị em có thể bắt đầu đặt lại câu hỏi về cách sản xuất. Một gia đình yêu đất có thể dạy con cái một lối sống tiết độ. Một giáo xứ cầu nguyện thật có thể nhận ra việc chăm sóc khu phố, con kênh, người nghèo là phần của sứ mạng. Một chính trị gia thực sự ý thức mình sẽ trả lẽ trước Thiên Chúa có thể dám từ chối một lợi ích ngắn hạn gây hậu quả lâu dài. Không phải mọi vấn đề sẽ được giải bằng đạo đức cá nhân. Cần luật, khoa học, kỹ thuật, chính sách, hợp tác quốc tế, kinh tế mới. Nhưng tất cả những công cụ ấy đều nằm trong tay con người. Nếu lòng người không đổi, kỹ thuật mới có thể phục vụ lòng tham cũ. Nếu lòng người đổi mà cơ cấu không đổi, thiện chí cá nhân dễ bị nghiền nát. Hoán cải phải đi cả hai đường: trái tim và cấu trúc.
Đây là lý do bí tích Rửa tội có một ý nghĩa sinh thái sâu hơn ta tưởng. Trong Rửa tội, con người không chỉ được tha tội như xóa một món nợ pháp lý. Con người được đưa vào một đời sống mới, được tái lập tương quan với Thiên Chúa trong Đức Kitô, được trở thành chi thể của một thân thể, nhận một căn tính mới. Nước — một thành phần căn bản của tạo thành — trở thành dấu chỉ bí tích của sự tái sinh. Người được rửa không còn thuộc về mình theo nghĩa tuyệt đối: “anh em thuộc về Đức Kitô.” Khi cái tôi không còn là chủ tuyệt đối, một lối sống khác trở nên có thể. Thánh Thể lại đào sâu điều đó: ta nhận chính Đức Kitô dưới hình bánh và rượu, hoa màu của đất và lao công của con người. Ta nói Amen với Thân Mình Đức Kitô rồi được sai trở lại vào thế giới. Nếu sau đó ta đối xử với thân thể người nghèo và thân thể bị thương của tạo thành như những thứ không liên quan đến đức tin, tiếng Amen ấy chưa đi hết đường của nó.
Thập giá cũng chiếu ánh sáng mạnh vào bốn tương quan. Trên thập giá, Đức Kitô sống trọn tương quan với Cha trong vâng phục và phó thác; Người mang trong thân xác chính đau khổ của nhân loại; Người tha thứ kẻ đóng đinh mình và trao Mẹ cho môn đệ; thân xác Người được đặt trong lòng đất. Cứu độ Kitô giáo không phải linh hồn trốn khỏi thế giới vật chất. Đấng Phục Sinh mang thân xác. Những vết thương vẫn hiện diện nhưng được biến đổi. Điều đó cho ta một hình ảnh về chữa lành: Thiên Chúa không cứu bằng cách giả vờ các vết nứt chưa từng xảy ra. Người đi vào vết nứt và mở từ đó một tương quan mới. Vì vậy, nói về khủng hoảng sinh thái trong đức tin không phải để gieo tuyệt vọng. Người Kitô hữu không tin rằng lịch sử cuối cùng nằm trong tay lòng tham, thị trường, kỹ thuật hay thảm họa. Nhưng hy vọng Kitô giáo cũng không phải cái cớ để thờ ơ. Tin trời mới đất mới không cho phép ta phá đất cũ. Trái lại, chính vì biết tạo thành có một vận mệnh trong Thiên Chúa, ta càng phải tôn trọng nó. Người chờ Chủ trở về không đốt nhà rồi nói Chủ sẽ xây nhà mới.
Hoán cải, vì thế, có thể được diễn tả như việc nối lại bốn mối tương quan. Trở về với Thiên Chúa: học lại việc thờ phượng. Khi con người không thờ Thiên Chúa, nó sẽ thờ một cái gì khác: tiền, quyền, tăng trưởng, thân xác, quốc gia, công nghệ, chính mình. Thờ phượng đúng giải phóng ta khỏi các thần giả. Trở về với chính mình: học thinh lặng, tiết độ, xét mình, chấp nhận giới hạn, sống hòa giải với thân xác và lịch sử mình. Trở về với người khác: học công bằng, tha thứ, liên đới, nhìn khuôn mặt người bị ẩn sau hệ thống. Trở về với tạo thành: học canh tác và gìn giữ, biết ngạc nhiên, biết đủ, biết để một điều tồn tại mà không cần chiếm hữu. Bốn cuộc trở về ấy thực ra là một cuộc trở về duy nhất: trở về đúng vị trí của thụ tạo trong tình yêu Thiên Chúa.
Có lẽ câu hỏi sâu nhất không phải: chúng ta sẽ cứu hành tinh thế nào? Trái đất đã tồn tại rất lâu trước chúng ta và có thể tiếp tục dưới những hình thức khác sau chúng ta. Câu hỏi thần học hơn là: chúng ta sẽ trở thành loại người nào trên trái đất này? Người con hay kẻ chiếm đoạt? Người quản gia hay chủ nhân tự phong? Anh em hay đối thủ? Người biết đủ hay kẻ không bao giờ no? Người gìn giữ hay người đi qua đâu để lại cạn kiệt ở đó? Khủng hoảng sinh thái cuối cùng phơi ra một khủng hoảng về con người. Ta có rất nhiều khả năng nhưng không phải lúc nào cũng có đủ khôn ngoan để biết cái gì nên làm. Ta có thể làm nhiều điều chưa từng có, nhưng câu hỏi luân lý vẫn cũ: có nên làm không? Có lợi cho ai? Ai trả giá? Bao lâu? Sau chúng ta thì sao? Và trước mặt Thiên Chúa, ta sẽ trả lời thế nào?
Tham vô độ không chỉ hại một dòng sông. Nó làm người sống nhờ dòng sông mất kế sinh nhai. Nó làm người có quyền lực quen với việc coi kẻ yếu là chi phí có thể chấp nhận. Nó làm lòng người ngày càng bất an vì bao nhiêu cũng chưa đủ. Và sâu hơn hết, nó làm mắt người mù trước Đấng đã ban dòng sông như quà. Bởi vậy bốn mối tương quan không bao giờ thực sự tách nhau. Nước bẩn ngoài kia có thể bắt đầu từ một lòng tham trong này. Một người nghèo mất đất có thể là hậu quả của một quyết định được gọi bằng những từ rất sạch trong một phòng họp xa xôi. Một linh hồn không biết nghỉ có thể góp phần tạo nên một nền kinh tế không cho đất nghỉ. Một xã hội không biết thờ phượng rất dễ biến tăng trưởng thành thần. Một con người không biết mình là thụ tạo sẽ rất khó để tạo thành được là tạo thành.
Và đó chính là chiều sâu của tội: tội không chỉ làm tôi “xấu đi” trong một hồ sơ đạo đức riêng tư. Tội làm thế giới quanh tôi bớt hiệp thông. Mỗi lần tôi gian dối, một chút lòng tin biến mất khỏi cộng đồng. Mỗi lần tôi tham lam, một phần của cải bị giữ khỏi người cần nó. Mỗi lần tôi coi một người như công cụ, phẩm giá của tương quan bị tổn thương. Mỗi lần tôi sử dụng tạo thành vô trách nhiệm, tôi chuyền một hậu quả sang người khác hoặc sang tương lai. Ngược lại, mỗi việc lành cũng nối lại thế giới. Một lời thật chữa lòng tin. Một hành vi chia sẻ chữa bất bình đẳng. Một lần tha thứ chữa tương quan. Một lựa chọn tiết độ chữa cả lòng mình lẫn áp lực trên tạo thành. Một giờ cầu nguyện chữa vị trí của ta trước Thiên Chúa. Một cây được trồng không cứu toàn bộ hành tinh, nhưng có thể là dấu chỉ một trái tim đã hiểu mình không chỉ đến để lấy. Một doanh nghiệp quyết định không kiếm món lợi bất chính không giải quyết hết cơ cấu kinh tế, nhưng làm chứng rằng lợi nhuận không phải thần. Một gia đình dạy con biết cảm ơn một bát cơm đang nối lại một đường dây từ bàn ăn tới ruộng đất, tới người nông dân và tới Đấng ban sự sống.
Tội phân tán. Ân sủng quy tụ. Tội làm ta trốn Chúa, trốn mình, đổ lỗi cho người khác và khai thác đất. Ân sủng đưa ta trở lại trước mặt Chúa, hòa giải với chính mình, gọi người kia là anh chị em và nhận tạo thành như quà. Toàn bộ công trình cứu độ có thể được nhìn dưới ánh sáng ấy: Thiên Chúa trong Đức Kitô đang chữa những gì tội đã xé. Người không cứu một linh hồn cô độc khỏi một thế giới vô nghĩa. Người tái lập hiệp thông. Vì thế, hoán cải sinh thái không phải phần phụ dành cho những Kitô hữu yêu cây. Nó thuộc về chính logic của hoán cải Kitô giáo. Nếu tội làm gãy bốn mối tương quan, ân sủng phải đi vào cả bốn. Nếu tôi nói đã trở về với Thiên Chúa nhưng vẫn dùng người khác như đồ vật, cuộc trở về còn thiếu. Nếu tôi yêu người nghèo nhưng không quan tâm đến nguồn nước họ uống, tình yêu còn thiếu. Nếu tôi bảo vệ rừng nhưng căm ghét con người, sinh thái của tôi đã mất trung tâm nhân vị. Nếu tôi sống tiết độ chỉ để tự hào mình đạo đức hơn người khác, cái tôi lại lẻn vào từ cửa sau. Chữa lành thật luôn mang dáng khiêm nhường: tôi là thụ tạo được yêu, giữa những thụ tạo được yêu, được trao trách nhiệm để yêu.
Khu vườn Eden bị mất không thể được dựng lại bằng kỹ thuật. Không có dự án môi trường nào tự nó tái lập sự vô tội nguyên thủy. Nhưng trong Đức Kitô, một tạo thành mới đã bắt đầu. Người Kitô hữu sống giữa thế giới bị thương với niềm hy vọng ấy. Ta không ngây thơ nghĩ rằng chỉ cần phân loại rác là hết tội. Ta cũng không tuyệt vọng nghĩ rằng mọi nỗ lực đều vô nghĩa. Ta làm phần được trao vì đó là cách sống đúng căn tính. Ta cầu nguyện vì Thiên Chúa là nguồn. Ta tập tiết độ vì lòng người cần được tự do. Ta thực thi công lý vì người khác là anh chị em. Ta gìn giữ đất vì đất thuộc về Chúa trước khi thuộc về ta. Và mỗi lần bốn tương quan ấy được nối lại dù chỉ một chút, “kế hoạch kỳ diệu” của Thiên Chúa lại hiện ra: không phải một kim tự tháp trong đó người mạnh đứng trên người yếu và con người đứng trên xác muôn loài, nhưng một hiệp thông nơi mỗi hữu thể được đặt đúng chỗ, nơi con người nhận phẩm giá đặc biệt của mình như một trách nhiệm phục vụ, nơi đất sinh hoa trái mà không bị hút kiệt, nơi người nghèo không bị trả giá cho sự giàu có của người khác, nơi lòng người có thể nghỉ vì biết mình được yêu trước khi mình sở hữu bất cứ điều gì.
Tội làm rạn bốn mối tương quan. Đó là tin buồn nhưng cũng giúp ta gọi đúng căn bệnh. Và một khi gọi đúng căn bệnh, ta hiểu cứu độ rộng đến đâu. Đức Kitô không chỉ đến sửa một góc đời ta gọi là “đời đạo”. Người đến làm mọi sự nên mới. Người đưa ta về với Cha, trả ta lại cho chính mình, hòa giải ta với anh chị em và mở một cách mới để sống giữa tạo thành. Vì thế người Kitô hữu đứng trước một dòng sông không chỉ hỏi nước có sạch không. Người ấy có thể học hỏi sâu hơn: dòng sông này nói gì về Đấng đã dựng nên nó? Ai đang sống nhờ nó? Lối sống của tôi liên quan đến nó thế nào? Tôi được gọi làm gì để nó còn chảy cho người đến sau? Khi bốn câu hỏi ấy gặp nhau, thần học tạo thành thôi là một bài học và trở thành linh đạo. Và có lẽ chính ở đó, con người bắt đầu lại hành trình trở về khu vườn — không phải bằng cách quay ngược lịch sử, nhưng bằng cách để Đức Kitô chữa trong mình những vết nứt mà tội đã mở ra.

CHƯƠNG 20. THIẾU SÓT VÀ THẤT BẠI CỦA CHÚNG TA HÔM NAY
Có một cách nói về khủng hoảng sinh thái khiến người nghe lập tức muốn tránh né: chỉ tay vào người khác. Người ta nói về những tập đoàn lớn, những quốc gia giàu, những nhà máy gây ô nhiễm, những chính quyền yếu kém, những người phá rừng, những công ty khai khoáng, những kẻ buôn bán động vật hoang dã, những dự án lấn biển, những thành phố ngập rác. Tất cả những điều ấy đều có thật và phải được gọi đúng tên. Nhưng nếu việc nói về tội của thế giới chỉ giúp chúng ta tránh nhìn vào phần mình, thì lời tố cáo rất dễ trở thành một hình thức tự miễn trừ. Khủng hoảng của ngôi nhà chung không chỉ xảy ra “ở đâu đó”. Nó đi qua căn bếp của chúng ta, túi rác của chúng ta, hóa đơn điện của chúng ta, chiếc xe chúng ta sử dụng, món đồ chúng ta mua rồi bỏ, cách chúng ta ăn, cách chúng ta đầu tư, cách chúng ta bỏ phiếu hay im lặng, cách chúng ta tổ chức một lễ hội, một đám cưới, một cuộc họp, một chuyến hành hương, một sinh hoạt giáo xứ, một cơ sở dòng tu. Nó đi qua những lựa chọn rất nhỏ trước khi hiện ra thành những biểu đồ rất lớn. Vì thế, ý thức về thiếu sót không phải là một hình thức tự hành hạ đạo đức. Kitô giáo không dạy con người ghét chính mình vì đã sống trong một thế giới bất toàn. Xét mình cũng không phải đứng trước gương để tự kết án mình là kẻ xấu hơn người khác. Xét mình là đứng dưới ánh sáng sự thật. Mà sự thật, nếu thật sự là sự thật của Thiên Chúa, vừa làm lộ vết thương vừa mở con đường chữa lành. Người không nhận mình có vết thương sẽ không tìm thuốc. Cộng đoàn không nhận mình có thiếu sót sẽ chỉ viết thêm nghị quyết. Quốc gia không nhận mô hình phát triển của mình có cái giá phải trả sẽ tiếp tục gọi những tổn thất là “tác dụng phụ”. Hội Thánh không nhận những khoảng cách giữa lời rao giảng và cách sống của mình sẽ dễ nói rất hay về ngôi nhà chung trong khi chính những ngôi nhà cụ thể của mình vẫn sống theo logic lãng phí của xã hội tiêu thụ. Vì thế, chương này không nhằm tạo ra một bản cáo trạng để chúng ta tuyệt vọng. Nó là một cuộc xét mình. Và mọi cuộc xét mình Kitô giáo đúng nghĩa đều bắt đầu bằng một xác tín: sự thật có thể đau, nhưng sự thật được đặt trong lòng thương xót thì có sức giải phóng.
Thiếu sót đầu tiên của chúng ta hôm nay là tiêu thụ quá sức chịu đựng của đất. Câu ấy nghe có vẻ thuộc ngôn ngữ khoa học môi trường, nhưng xét đến cùng nó cũng là một vấn đề luân lý. Chúng ta đã quen sống như thể trái đất là một kho hàng vô hạn, nước là vô hạn, cát là vô hạn, rừng là vô hạn, cá là vô hạn, đất canh tác là vô hạn, khả năng hấp thụ rác của biển là vô hạn, khả năng chịu đựng khí thải của bầu trời là vô hạn. Nhưng tạo thành không phải là vô hạn. Chỉ Thiên Chúa là vô hạn. Khi con người đòi một thụ tạo hữu hạn phải đáp ứng những ham muốn ngày càng vô hạn của mình, sự mất trật tự đã bắt đầu từ trong lòng trước khi hiện ra ngoài cảnh quan. Cái nguy hiểm không nằm chỉ ở việc chúng ta có nhiều đồ hơn cha ông mình. Tiến bộ kỹ thuật và sự gia tăng tiện nghi tự chúng không phải là tội. Một chiếc tủ lạnh, máy giặt, xe máy, điều hòa, điện thoại, máy tính có thể làm đời sống con người tốt hơn, bảo vệ sức khỏe, tiết kiệm thời gian, giúp học tập, làm việc và giao tiếp. Vấn đề xảy ra khi tiện nghi chuyển thành tiêu chuẩn duy nhất của hạnh phúc, khi cái đang dùng tốt bị thay chỉ vì có mẫu mới, khi việc mua trở thành cách chữa buồn, khi sở hữu trở thành cách chứng minh mình có giá trị, khi thị trường không còn đáp ứng nhu cầu mà phải liên tục tạo ra nhu cầu mới để nền kinh tế không ngừng quay. Khi ấy, chúng ta không còn chỉ dùng đồ vật. Đồ vật bắt đầu dùng chúng ta. Chúng sử dụng sự chú ý của ta, tiền bạc của ta, thời gian của ta, lao động của người khác và tài nguyên của đất để nuôi một sự thiếu thốn được sản xuất có chủ ý: lúc nào cũng cảm thấy chưa đủ.
Một trong những bi kịch tinh vi nhất của xã hội tiêu thụ là nó khiến người đang có rất nhiều vẫn sống với tâm thức khan hiếm. Tủ đầy quần áo nhưng cảm thấy không có gì để mặc. Điện thoại đang hoạt động tốt nhưng thấy mình “tụt hậu” vì đời máy mới đã ra. Bàn ăn phong phú nhưng món ăn bị bỏ đi vì không vừa ý. Nhà có đủ đồ dùng nhưng vẫn thấy phải mua thêm để “bằng người ta”. Trẻ em có nhiều đồ chơi hơn mức chúng có thể nhớ nhưng vẫn mau chán vì mỗi món đồ được trao quá dễ dàng. Người lớn chạy theo khuyến mãi những thứ không thật sự cần rồi tự an ủi rằng mình đã “tiết kiệm”. Tiêu thụ như thế không còn là một hành vi kinh tế trung tính. Nó trở thành một trường đào tạo ham muốn. Mỗi lần chúng ta mua một thứ không cần chỉ vì bị kích thích, chúng ta đang học một bài học về chính mình: ham muốn phải được thỏa ngay. Mỗi lần chúng ta vứt bỏ một thứ còn dùng được vì thấy nó cũ, chúng ta đang học một bài học khác: cái không mới thì không còn đáng giá. Và những bài học ấy không dừng ở đồ vật. Tâm thức dùng rồi bỏ có thể chảy sang tương quan. Người già không còn “hữu ích” thì bị để bên lề. Người lao động không còn phù hợp thì bị thay như linh kiện. Một người bạn không còn làm ta vui thì bị loại khỏi vòng giao tiếp. Một cuộc hôn nhân khó khăn bị nhìn với cùng logic mà người ta nhìn một món đồ trục trặc: thay cái khác dễ hơn sửa chữa. Nền văn hóa vứt bỏ không bắt đầu ở bãi rác. Nó bắt đầu trong cái nhìn.
Chúng ta cũng phải thú nhận một thiếu sót sâu hơn: ta đã quá dễ dàng chấp nhận cách đo phát triển bằng những gì làm giàu cho người đã giàu. Một thành phố được gọi là phát triển khi có thêm cao ốc, trung tâm thương mại, đường cao tốc, khu nghỉ dưỡng, dự án lớn. Nhưng rất ít khi câu hỏi đầu tiên là: người nghèo sống ra sao sau dự án ấy? Người bán hàng rong còn chỗ đứng không? Nông dân mất đất sẽ làm gì sau khoản đền bù? Người đánh cá còn xuống biển được không? Nước sạch của khu dân cư có bị ảnh hưởng không? Trẻ em trong vùng có phải thở không khí xấu hơn không? Người già có thể đi bộ trong thành phố ấy không? Người khuyết tật có dùng được không gian công cộng không? Công nhân xây nên những tòa nhà ấy sống trong điều kiện nào? Ai hưởng phần lớn lợi ích, ai gánh phần lớn chi phí? Một con số tăng trưởng có thể sáng đẹp trên báo cáo và rất tối trong căn nhà của một gia đình bị di dời. Một dự án có thể tạo ra hàng nghìn tỷ giá trị tài sản và đồng thời làm mất một hệ sinh thái không thể phục hồi. Một vùng có thể “hiện đại hóa” rất nhanh nhưng đánh mất nguồn nước, đất nông nghiệp, ký ức cộng đồng, nghĩa trang tổ tiên và sinh kế truyền thống. Nếu chỉ tính những gì thị trường định giá mà không tính những gì thị trường phá hủy, chúng ta sẽ có một thứ sổ sách giả. Lợi nhuận được ghi ở một cột, còn rừng mất, nước bẩn, bệnh tật, đứt gãy cộng đồng và tương lai của trẻ nhỏ bị đẩy sang cột của người khác, thế hệ khác hoặc nơi khác.
Đây là lúc cần nói một điều rất khó: không phải mọi thứ làm cho GDP tăng đều làm con người giàu lên theo nghĩa nhân bản. Một cơn bệnh tạo ra nhiều chi phí y tế cũng làm kinh tế “chuyển động”. Một thiên tai kéo theo xây dựng lại cũng tạo ra nhiều giao dịch. Một thành phố bị ô nhiễm nặng có thể tạo thêm thị trường cho máy lọc không khí, nước đóng chai, thuốc men và dịch vụ y tế. Nếu chỉ nhìn dòng tiền, tất cả những thứ ấy đều có thể xuất hiện như hoạt động kinh tế tích cực. Nhưng nếu nhìn bằng lương tâm, ta phải hỏi: tại sao con người lại phải trả tiền để mua lại những điều mà trước đây tạo thành trao gần như miễn phí — không khí tương đối sạch, nước có thể sử dụng, đất đai lành mạnh, bóng cây, sự yên tĩnh? Khi một xã hội phá một thiện ích chung rồi biến sự thiếu hụt ấy thành cơ hội kinh doanh, chưa chắc xã hội ấy đã phát triển. Có khi nó chỉ trở nên giỏi hơn trong việc kiếm tiền từ những vết thương do chính mình tạo ra.
Chúng ta còn thiếu sót khi im lặng trước những chính sách làm hại người bé nhỏ. Sự im lặng này không phải lúc nào cũng đến từ ác ý. Nhiều khi nó đến từ sự mệt mỏi. Người ta lo gia đình mình đã đủ khó, nên không muốn quan tâm chuyện xa. Có người sợ liên lụy. Có người nghĩ rằng những vấn đề chung là trách nhiệm của ai đó có chức vụ. Có người tự nhủ một tiếng nói của mình chẳng thay đổi được gì. Có người chỉ lên tiếng khi lợi ích trực tiếp của mình bị đụng đến. Nhưng luân lý Kitô giáo không chỉ hỏi ta đã trực tiếp làm điều xấu nào. Nó cũng hỏi: ta đã có thể làm điều tốt nào mà lại không làm? Tội thiếu sót là một phần rất thật của đời sống luân lý. Nếu một quyết định đẩy người yếu thế vào nguy cơ mà những người có khả năng góp tiếng nói đều im, thì im lặng không phải lúc nào cũng vô tội. Nếu một dòng sông bị đầu độc mà những người biết rõ vẫn coi đó là “chuyện kinh tế”, hậu quả đạo đức không chỉ thuộc về người xả chất độc. Nếu người lao động bị bóc lột mà người tiêu dùng chỉ muốn giá rẻ nhất có thể, không bao giờ hỏi giá rẻ ấy được tạo bằng điều kiện lao động nào, thì chuỗi trách nhiệm đã dài hơn chúng ta tưởng. Nếu một cộng đồng nghèo bị đẩy khỏi nơi ở vì họ không có sức thương lượng, còn phần đông xã hội chỉ quan tâm giá bất động sản sẽ tăng hay giảm, thì chúng ta phải hỏi cái gì đã xảy ra với khả năng cảm nhận nỗi đau của người khác.
Có một thứ vô cảm rất hiện đại: vô cảm được tổ chức bởi khoảng cách. Người ta dễ tiêu dùng một món hàng khi không nhìn thấy khuôn mặt người làm ra nó. Dễ dùng điện khi không biết vùng nào phải chịu hậu quả của việc tạo ra năng lượng ấy. Dễ thay điện thoại khi không thấy những khu mỏ nơi khoáng sản được khai thác. Dễ ăn một món rẻ khi không biết người nông dân được trả bao nhiêu. Dễ mua quần áo rất rẻ khi không bao giờ bước vào xưởng may. Dễ vứt rác khi xe rác đến lấy nó đi trong đêm và từ đó rác biến khỏi tầm mắt ta. Chúng ta tưởng “biến khỏi mắt” nghĩa là “biến mất”. Nhưng trong tạo thành không có cái gọi là biến mất hoàn toàn. Rác đi đâu đó. Nước bẩn chảy về đâu đó. Khí thải bay vào khí quyển chung. Đồ nhựa vỡ thành những phần nhỏ hơn. Kim loại, pin, thiết bị điện tử bị tháo dỡ ở một nơi nào đó, thường bởi những người ít quyền lực hơn người đã sử dụng chúng. Nền kinh tế hiện đại rất giỏi làm cho hậu quả trở nên vô hình đối với người hưởng lợi. Và khi hậu quả vô hình, lương tâm dễ ngủ.
Một hình ảnh rất đúng với chúng ta hôm nay là: ta xả rác bằng tay này và đăng ảnh thiên nhiên bằng tay kia. Chưa bao giờ con người có nhiều hình ảnh thiên nhiên đẹp như hôm nay. Màn hình của chúng ta đầy hoàng hôn, ruộng bậc thang, biển xanh, núi tuyết, rừng sâu, hoa nở, chim bay. Người ta đi du lịch để “săn mây”, “check-in”, tìm góc đẹp, chụp những nơi hoang sơ. Nhưng yêu hình ảnh thiên nhiên không tự động có nghĩa là yêu thiên nhiên. Có khi chúng ta yêu cảnh quan như một phông nền cho bản thân. Ta muốn nơi đó sạch để ảnh đẹp, nhưng lại để rác sau chuyến picnic. Ta muốn rừng yên tĩnh để nghỉ cuối tuần, nhưng muốn đường phải mở đến tận nơi, điều hòa phải đủ lạnh, đồ ăn phải phong phú, dịch vụ phải tiện nghi như trong thành phố. Ta thích những bãi biển “chưa bị khai phá”, rồi chính nhu cầu đến đó ngày càng đông góp phần biến nó thành một nơi bị khai phá. Ta dùng những câu rất đẹp về “chữa lành giữa thiên nhiên”, nhưng không hỏi dấu chân sinh thái của kiểu nghỉ dưỡng chữa lành ấy là gì. Không phải vì đi du lịch là sai. Không phải vì chụp ảnh là sai. Điều cần xét là: trong mọi cuộc gặp gỡ với tạo thành, ta đang đến như một người anh em, một người khách biết kính trọng, hay như một người tiêu dùng muốn cảnh vật phục vụ trải nghiệm của mình?
Cũng phải thành thật rằng nhiều hành vi môi trường của chúng ta có nguy cơ dừng lại ở biểu tượng. Chúng ta thích những việc dễ thấy: trồng một cây trong ngày phát động, chụp một bức ảnh dọn rác, đổi hình đại diện, dùng một khẩu hiệu, tổ chức một hội thảo, ký một cam kết. Những việc ấy có thể tốt. Chúng có thể khởi động nhận thức. Nhưng một cây trồng trong lễ phát động mà không ai tưới sáu tháng sau là một biểu tượng không có đời sống. Một chiến dịch dọn rác không thay đổi cách tạo ra rác chỉ là lau sàn trong khi vòi nước vẫn mở. Một hội nghị về sinh thái tổ chức với hàng trăm chai nước nhựa dùng một lần, thức ăn dư thừa bị bỏ, máy lạnh chạy quá mức và tài liệu in hàng loạt rồi bỏ lại là một nghịch lý mà chúng ta không nên coi là chuyện nhỏ. Điều khó của hoán cải sinh thái không nằm ở những ngày đặc biệt. Nó nằm ở ngày thường. Không phải ngày môi trường, mà là ngày thứ Ba bình thường khi ta đứng trước lựa chọn mua thêm hay không, sửa hay thay, lấy vừa đủ thức ăn hay lấy dư, tắt một thiết bị không cần thiết hay để nó chạy, mang theo bình nước hay mua thêm chai nhựa, chọn sự tiện lợi tuyệt đối hay chấp nhận một chút bất tiện để giảm lãng phí.
Một thất bại khác nằm ở chỗ chúng ta thường tách vấn đề sinh thái khỏi vấn đề người nghèo. Khi nói môi trường, người có điều kiện dễ nghĩ đến cây xanh, du lịch sinh thái, thực phẩm hữu cơ, sản phẩm thân thiện môi trường. Nhưng đối với người nghèo, sinh thái nhiều khi không phải một sở thích. Nó là chuyện sống còn. Người có tiền khi nước máy không an toàn có thể mua nước đóng chai, lắp hệ thống lọc. Người nghèo uống thứ nước họ có. Người có tiền khi không khí xấu có thể chuyển chỗ ở, mua máy lọc, đi khám. Người nghèo sống bên đường lớn, khu công nghiệp, bãi rác hoặc vùng thường xuyên ngập không có nhiều lựa chọn. Người có tiền khi giá thực phẩm tăng có thể điều chỉnh thực đơn. Người nghèo phải giảm bữa hoặc giảm chất lượng bữa ăn. Người có bảo hiểm và tiền tiết kiệm có thể phục hồi sau thiên tai. Người chỉ có một căn nhà tạm, vài công cụ kiếm sống và ít khoản dự phòng có thể mất mọi thứ chỉ sau một trận lũ. Vì vậy, mọi chính sách sinh thái mà không đặt câu hỏi về người nghèo đều có nguy cơ trở thành sinh thái của người có khả năng chi trả.
Ngay cả những giải pháp đúng cũng có thể được triển khai bất công. Nếu xã hội chuyển sang công nghệ sạch nhưng toàn bộ chi phí bị đẩy xuống người thu nhập thấp, chúng ta chưa đạt đến công lý. Nếu một vùng được bảo tồn bằng cách đuổi những cộng đồng đã sống có trách nhiệm ở đó nhiều thế hệ mà không cho họ sinh kế thay thế, điều đó cần được xem xét. Nếu một thành phố đẹp hơn nhờ di dời người nghèo ra khỏi nơi người giàu muốn sống, ta không thể gọi vẻ đẹp ấy là toàn diện. Nếu các tiêu chuẩn môi trường chỉ đủ khả năng thực hiện bởi doanh nghiệp lớn còn những hộ nhỏ bị loại khỏi thị trường mà không được hỗ trợ chuyển đổi, giải pháp có thể tạo thêm bất bình đẳng. Sinh thái toàn diện buộc chúng ta luôn hỏi hai câu cùng lúc: điều này có tốt cho đất không, và điều này có công bằng với người yếu thế không? Hai câu ấy không được phép tách nhau.
Gia đình cũng phải xét mình. Gia đình là nơi đầu tiên một đứa trẻ học thế giới này là quà tặng hay hàng hóa. Một đứa trẻ thấy cha mẹ quý thức ăn sẽ học một bài. Thấy cha mẹ vứt thức ăn vô tư sẽ học một bài khác. Thấy người lớn sửa món đồ cũ, chăm cây, tắt điện, không lãng phí nước, dùng đồ lâu dài, biết cảm ơn người làm ra thực phẩm, nó hấp thụ một linh đạo mà chưa cần nghe chữ “sinh thái”. Ngược lại, nếu mỗi dịp sinh nhật, lễ tết, thành công nhỏ đều được diễn đạt bằng mua thêm đồ; nếu yêu thương luôn gắn với quà vật chất; nếu trẻ được tập quen rằng mong muốn nào cũng phải được đáp ứng; nếu đồ hỏng một chút là bỏ; nếu mọi dịch vụ đều được yêu cầu tức thời và tiện lợi tuyệt đối, thì gia đình đang đào tạo một người tiêu dùng trước khi đào tạo một người môn đệ. Điều ấy không có nghĩa gia đình Kitô hữu phải sống trong thiếu thốn giả tạo. Nghèo khó Tin Mừng không phải ghét tiện nghi. Nó là tự do trước tiện nghi. Có thể có mà không bị cái có sở hữu mình. Có thể hưởng mà biết giới hạn. Có thể mua mà biết hỏi: thật sự cần không? Có thể ăn ngon mà không lãng phí. Có thể cho con điều tốt mà không biến con thành người không chịu nổi sự thiếu thốn nào.
Các gia đình cũng cần xét mình về quy mô của những cuộc mừng. Trong văn hóa Việt Nam, hiếu khách và lễ nghĩa là những giá trị đẹp. Một đám cưới, đám giỗ, lễ bổn mạng, tân gia, mừng thọ, tiệc gia đình có thể là không gian của tình nghĩa. Nhưng khi danh dự bị đồng hóa với dư thừa, giá trị tốt bị biến dạng. Bàn tiệc phải đầy đến mức không thể ăn hết mới gọi là “sang”. Quà phải nhiều mới gọi là “trọng”. Trang trí phải lớn mới gọi là “xứng”. Hoa, nhựa, bao bì, thức ăn, điện, nước được sử dụng vượt xa nhu cầu thật chỉ vì sợ người khác đánh giá. Một xã hội tiêu thụ rất khéo dùng nỗi sợ mất mặt để bán hàng. Kitô hữu cần can đảm đặt câu hỏi: có cách mừng nào vẫn trang trọng mà bớt lãng phí không? Có cách hiếu khách nào đặt con người ở trung tâm hơn đồ vật không? Có thể làm một bữa ăn vừa đủ mà không mang mặc cảm là keo kiệt không? Có thể trao cho con cái một nền văn hóa trong đó “đẹp” không đồng nghĩa với “nhiều” không?
Đời sống cộng đoàn và giáo xứ cũng cần một cuộc xét mình không né tránh. Chúng ta thường nghĩ môi trường là chuyện để giảng cho xã hội. Nhưng nhà thờ cũng nằm trong xã hội, sử dụng điện, nước, đất, vật liệu, thực phẩm, phương tiện, giấy, nhựa, tiền bạc như mọi cộng đồng khác. Một giáo xứ có thể giảng Laudato Si’ rất hay nhưng mỗi dịp lễ lớn lại tạo ra núi ly nhựa, chai nước, hộp xốp, băng-rôn, vật liệu trang trí dùng một lần. Một nhà thờ có thể tổ chức giờ cầu nguyện cho tạo thành mà điều hòa chạy trong những phòng không có người. Một cơ sở Công giáo có thể nói nhiều về người nghèo nhưng lượng thức ăn bị bỏ sau các cuộc liên hoan lại đủ cho nhiều gia đình. Một cộng đoàn dòng tu có thể sống lời khấn khó nghèo theo luật rất nghiêm trong chi tiêu cá nhân nhưng cơ sở chung lại sử dụng tài nguyên không hề có ý thức vì “đó là của cộng đoàn”. Một trường Công giáo có thể dạy học sinh bảo vệ môi trường nhưng căng-tin vẫn ngập đồ nhựa dùng một lần. Một trung tâm hành hương có thể kêu gọi khách hành hương giữ sạch nhưng chính mô hình dịch vụ của trung tâm lại tạo lượng rác khổng lồ. Chúng ta phải đủ khiêm tốn để nhận rằng Hội Thánh không đứng ngoài cuộc khủng hoảng này với đôi tay sạch tuyệt đối.
Nói như thế không phải bôi xấu Hội Thánh. Trái lại, chỉ một Hội Thánh đủ yêu sự thật mới có thể làm chứng cách đáng tin. Hội Thánh vốn có một kho tàng rất mạnh để sống sinh thái: phụng vụ theo mùa, chay tịnh, nghèo khó Tin Mừng, lòng biết ơn, ngày Chúa Nhật, tinh thần dùng của cải như người quản lý, truyền thống đan tu chăm đất, đời sống cộng đoàn chia sẻ tài nguyên, giáo huấn xã hội về công ích, chọn lựa ưu tiên cho người nghèo. Nhưng sở hữu một kho tàng không có nghĩa là tự động sống được kho tàng ấy. Có khi chúng ta nói nhanh hơn mình sống. Có khi văn kiện đi trước đời sống nhiều năm. Có khi người Công giáo thuộc những câu rất đẹp về tạo thành nhưng không bao giờ kết nối chúng với hóa đơn điện, túi rác hay cách tổ chức một bữa tiệc. Có khi các cơ sở Hội Thánh đòi người tín hữu hy sinh nhưng chính mình không làm gương về sự tiết độ. Có khi chúng ta quan tâm đến vẻ sạch bên trong khuôn viên nhà thờ mà không hỏi rác được chuyển ra ngoài ấy sẽ đi đâu. Sạch chỗ mình bằng cách đẩy bẩn sang nơi khác không phải là chăm sóc tạo thành. Đó chỉ là chuyển vị trí của vấn đề.
Các dòng tu càng có lý do để xét mình sâu. Bởi đời tu tự bản chất là một dấu chỉ cánh chung, một lời tuyên bố bằng đời sống rằng con người không sống nhờ sở hữu ngày càng nhiều. Lời khấn khó nghèo, nếu được sống đúng, là một thách thức trực tiếp đối với nền văn hóa tích lũy và tiêu thụ. Nhưng lời khấn ấy có thể bị vô hiệu hóa nếu cá nhân không sở hữu gì nhưng tập thể sở hữu quá mức mà không xét đến nhu cầu thật. Người tu sĩ có thể không có tài khoản riêng, nhưng nếu cộng đoàn hình thành một văn hóa trong đó mọi tiện nghi đều được mặc nhiên coi là cần thiết, mọi thiết bị đều phải mới, mọi công trình đều phải lớn, mọi chuyến đi đều phải tiện, thì dấu chỉ khó nghèo bị nhạt. Khó nghèo không đồng nghĩa với cơ sở xuống cấp hay sống thiếu vệ sinh. Một bệnh viện, trường học, nhà đào tạo cần trang thiết bị phù hợp để phục vụ tốt. Nhưng câu hỏi luôn phải còn đó: chúng ta xây vì sứ vụ hay vì danh tiếng? Chúng ta thay vì cần hay vì thích mới? Chúng ta có biết tổng chi phí sinh thái của lựa chọn mình không? Những gì không còn dùng được có được chuyển cho nơi cần không? Một khu đất của cộng đoàn được nhìn chủ yếu như tài sản tăng giá hay như phần tạo thành được trao để quản lý? Cây cối trong khuôn viên được giữ vì chúng tạo bóng mát, giữ đất, nuôi sinh vật, làm đẹp nơi cầu nguyện hay bị xem là cản trở một thiết kế thuận tiện hơn?
Nhà thờ cũng có thể lãng phí như bất cứ ai. Câu này nghe khó chịu vì chúng ta thường mặc nhiên cho rằng cái gì làm “cho Chúa” thì không thể là lãng phí. Nhưng chính vì làm cho Chúa nên càng phải xứng đáng với Chúa bằng sự khôn ngoan. Phụng vụ xứng đáng cần vẻ đẹp. Nhà thờ cần sự trang nghiêm. Bàn thờ cần được chăm sóc. Ngày lễ cần được mừng. Nhưng vẻ đẹp Kitô giáo không đồng nghĩa với phô trương. Một phụng vụ đẹp không được đo bằng số lượng hoa bị cắt rồi bỏ sau vài ngày, số đèn trang trí, số vật dụng sử dụng một lần hay mức độ đắt tiền của mọi thứ. Truyền thống Công giáo hiểu rất rõ vẻ đẹp của sự đơn sơ. Một cây nến thật được thắp với đức tin có thể đẹp hơn cả một sân khấu ánh sáng. Một bó hoa vừa phải có thể trang nghiêm hơn một biển hoa che mất bàn thờ. Một nhà thờ có thông gió tốt, tận dụng ánh sáng tự nhiên và sử dụng năng lượng hợp lý không kém thánh thiêng hơn một không gian phải bật máy lạnh và đèn tối đa trong mọi giờ. Chăm sóc tạo thành không làm phụng vụ nghèo đi. Nó có thể giúp phụng vụ thoát khỏi sự nhầm lẫn giữa vinh quang Thiên Chúa và thẩm mỹ tiêu dùng.
Chúng ta còn phải xét mình về ngôn ngữ. Rất nhiều lần các cộng đồng nói “bảo vệ môi trường” như một chủ đề bên cạnh hàng chục chủ đề mục vụ khác. Mỗi năm có một ngày, một tuần, một bài giảng, rồi thôi. Nhưng nếu sinh thái toàn diện liên quan đến tương quan với Thiên Chúa, bản thân, người khác và tạo thành, thì nó không thể bị nhốt trong một ban môi trường. Nó chạm đến giáo lý hôn nhân, vì cách gia đình tiêu dùng là vấn đề sinh thái. Nó chạm đến mục vụ người nghèo, vì người nghèo chịu tác động mạnh nhất của suy thoái môi trường. Nó chạm đến kinh tế, vì cách doanh nghiệp vận hành định hình đất, nước và đời sống lao động. Nó chạm đến phụng vụ, vì phụng vụ dạy ta nhận thế giới như quà tặng. Nó chạm đến giáo dục, vì trẻ em phải học cách sống trong một thế giới có giới hạn. Nó chạm đến linh đạo, vì tham lam không được chữa bằng kỹ thuật. Nó chạm đến chính trị, vì nhiều vấn đề sinh thái không thể giải quyết chỉ bằng lựa chọn cá nhân. Một người có thể hết sức tiết kiệm nước trong nhà, nhưng nếu cả một lưu vực bị quản lý sai, nỗ lực cá nhân không đủ. Một gia đình có thể phân loại rác, nhưng nếu hệ thống thu gom lại trộn tất cả vào nhau, người dân sẽ nản. Một cá nhân có thể muốn dùng giao thông công cộng, nhưng nếu thành phố không cung cấp một hệ thống khả dụng, lựa chọn đạo đức trở nên khó khăn hơn. Vì vậy, hoán cải cá nhân và cải cách cơ cấu phải đi với nhau.
Đây là một điểm dễ bị hiểu sai. Khi nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân, ta có thể vô tình đẩy gánh nặng lên người tiêu dùng và bỏ qua trách nhiệm của những tác nhân lớn. Nhưng khi chỉ nói đến hệ thống, ta lại dễ tự miễn cho mình. Cả hai đều sai. Một công ty gây ô nhiễm quy mô lớn có trách nhiệm lớn hơn nhiều so với một gia đình dùng vài túi nhựa. Một chính sách năng lượng có thể tác động vượt xa hàng triệu hành vi nhỏ. Một quy hoạch sai có thể khóa cả thành phố vào kiểu sống phụ thuộc xe cá nhân trong nhiều thập niên. Vì thế, luân lý phải biết phân biệt mức độ trách nhiệm. Nhưng khác biệt về mức độ không xóa trách nhiệm ở mọi cấp. Người tín hữu không được an ủi mình rằng hành động cá nhân quá nhỏ nên vô nghĩa. Cũng không được bị ru ngủ bởi ý tưởng rằng nếu mình mang theo một chiếc bình nước thì coi như đã hoàn thành bổn phận với trái đất. Lương tâm Kitô hữu vừa hỏi “tôi sống thế nào?” vừa hỏi “hệ thống mà tôi tham dự đang vận hành thế nào?”
Doanh nghiệp cần một cuộc xét mình đặc biệt nghiêm túc. Trong kinh tế thị trường, doanh nghiệp tạo việc làm, sản phẩm, dịch vụ, sáng kiến và có thể đóng góp lớn cho thiện ích chung. Không có lý do thần học nào để coi lợi nhuận tự nó là xấu. Một doanh nghiệp phải có lợi nhuận để tồn tại, đầu tư, trả lương, đóng thuế và phát triển. Nhưng lợi nhuận là một tiêu chí; nó không phải vị thần. Khi lợi nhuận trở thành tiêu chí tuyệt đối, mọi thứ khác sẽ bị định giá theo khả năng đóng góp vào lợi nhuận, kể cả con người và tạo thành. Người lao động biến thành “chi phí nhân sự”. Nước biến thành “đầu vào”. Rừng thành “trữ lượng”. Đất thành “quỹ”. Khí thải thành “ngoại ứng”. Cộng đồng địa phương thành “đối tượng cần quản trị”. Những thuật ngữ kỹ thuật có thể cần trong quản trị, nhưng nếu chúng che khuất thực tại sống động phía sau, lương tâm sẽ suy yếu. Một người lao động không chỉ là chi phí. Đó là một người cha, người mẹ, người con, một con người mang hình ảnh Thiên Chúa. Một dòng sông không chỉ là khối lượng nước có thể khai thác. Nó là hệ sinh thái, là sinh kế, ký ức, văn hóa và tương lai của cộng đồng. Đất không chỉ là mét vuông. Đất nuôi sự sống.
Các doanh nhân Công giáo cần hỏi nhiều hơn câu “việc này có hợp pháp không?” Luật pháp là mức tối thiểu cần thiết nhưng không phải toàn bộ đời sống luân lý. Một hành vi có thể chưa bị luật cấm mà vẫn không công bằng. Một doanh nghiệp có thể đáp ứng đúng chuẩn môi trường hiện hành nhưng biết rõ chuẩn ấy quá thấp. Có thể trả đúng mức lương tối thiểu nhưng biết người lao động không thể sống phẩm giá với mức ấy. Có thể tận dụng kẽ hở pháp lý để chuyển chi phí môi trường sang cộng đồng. Có thể quảng cáo một sản phẩm theo cách hợp luật nhưng kích thích tiêu dùng vô độ. Người môn đệ Đức Kitô trong kinh doanh không chỉ hỏi: tôi được phép làm gì? Họ còn hỏi: việc này phục vụ điều gì? Ai hưởng lợi? Ai trả giá? Hậu quả dài hạn là gì? Nếu mọi công ty làm như tôi, xã hội sẽ thành gì? Và nếu người nghèo nhất trong chuỗi cung ứng có mặt trong phòng họp này, họ sẽ nói gì?
Người tiêu dùng cũng cần xét mình về thứ quyền lực mà mình thường không nhận ra. Mỗi đồng tiền là một lá phiếu rất nhỏ cho một cách sản xuất nào đó. Không phải lúc nào ta cũng biết nguồn gốc mọi sản phẩm, và không ai có thể sống với một sự kiểm tra ám ảnh về từng món hàng. Nhưng không biết tất cả không có nghĩa là không cần biết gì. Khi có lựa chọn hợp lý giữa một sản phẩm bền hơn và một sản phẩm dùng rồi bỏ, giữa hàng được làm trong điều kiện công bằng hơn và hàng quá rẻ đến mức đáng nghi, giữa thực phẩm địa phương và sản phẩm phải đi một hành trình rất dài mà không có lý do cần thiết, những lựa chọn ấy có ý nghĩa. Đặc biệt, người có thu nhập cao hơn có trách nhiệm lớn hơn vì có nhiều khả năng lựa chọn hơn. Không nên biến sinh thái thành gánh nặng luân lý đặt lên người nghèo, bảo họ phải mua sản phẩm đắt hơn trong khi họ đang cố sống qua ngày. Người có nhiều khả năng hơn phải đi trước trong việc tự giới hạn.
Chúng ta cũng thất bại vì thường nghĩ vấn đề nằm ở rác sau khi tiêu dùng hơn là ở lượng đồ được sản xuất và mua từ đầu. Phân loại rác là cần. Tái chế là cần. Nhưng tái chế không thể là phép xá tội cho tiêu thụ vô hạn. Một xã hội không thể sản xuất và vứt bỏ ngày càng nhiều rồi hy vọng công nghệ tái chế sẽ cứu tất cả. Trước “tái chế” phải có “giảm”. Trước “giảm” còn có câu hỏi sâu hơn: tại sao chúng ta muốn quá nhiều? Một đời sống sinh thái Kitô giáo không dừng ở kỹ thuật quản lý rác. Nó đi tới thần học của ham muốn. Lòng người đang tìm gì khi mua? Sự an toàn? Danh dự? Cảm giác mình được nhìn nhận? Một cách chạy trốn cô đơn? Một phần thưởng sau mệt mỏi? Không ít tiêu thụ quá mức là triệu chứng của những đói khát không vật chất. Nếu không chữa cái đói sâu hơn, chúng ta chỉ đổi loại sản phẩm. Người ta có thể từ bỏ một thứ để tiêu thụ một thứ khác “xanh” hơn nhưng vẫn giữ cùng một tâm thức: hạnh phúc nằm ở việc mua.
Do đó, sự tiết độ phải trở lại như một nhân đức hiện đại. Tiết độ không phải một từ cổ dành cho tu viện. Nó là một năng lực sống còn trong xã hội kích thích. Tiết độ là khả năng nói “đủ”. Nền kinh tế quảng cáo liên tục nói “thêm”. Tin Mừng dạy “đủ”. Quảng cáo nói bạn thiếu một món nữa để trở nên đáng ao ước. Tin Mừng nói phẩm giá của bạn đã đến từ việc được Thiên Chúa yêu. Thị trường nói sản phẩm mới sẽ làm bạn mới. Bí tích Rửa tội nói đời sống mới đến từ Đức Kitô. Nền văn hóa so sánh nói bạn phải có bằng người khác. Đức nghèo khó nói bạn có thể vui với phần của mình và chia cho người khác. Vì thế, tiết độ không phải chỉ là giảm lượng vật chất. Nó là một cuộc giải phóng căn tính khỏi hàng hóa.
Một điểm thất bại nghiêm trọng khác là cách chúng ta nhìn thời gian. Con người hiện đại muốn mọi thứ nhanh: giao hàng nhanh, xây nhanh, khai thác nhanh, lợi nhuận nhanh, tăng trưởng nhanh, đi nhanh, ăn nhanh. Nhưng tạo thành có nhịp riêng của nó. Rừng không mọc theo quý tài chính. Đất không phục hồi theo báo cáo năm. Một tầng nước ngầm có thể cần thời gian rất dài để tái tạo. Một hệ sinh thái đã bị phá không thể được “bù” đơn giản bằng cách trồng vài hàng cây ở nơi khác. Khi nền kinh tế đòi thiên nhiên vận hành theo tốc độ của dòng vốn, xung đột là tất yếu. Chính con người cũng chịu hậu quả ấy. Chúng ta kiệt sức trong cùng một nền văn hóa đang làm đất kiệt sức. Người lao động bị ép tăng năng suất như đất bị ép tăng sản lượng. Con người dùng chất kích thích để làm thêm như đất dùng hóa chất để cho thêm vụ. Cơ thể bị xem như máy sản xuất cũng như ruộng bị xem như nền sản xuất. Kiệt quệ của con người và kiệt quệ của đất có cùng một ngôn ngữ: không được nghỉ.
Ở đây, ngày Sabát trở thành một lời phê bình rất mạnh. Thiên Chúa đặt giới hạn vào nhịp sống của dân Người. Không phải vì lao động xấu, nhưng vì lao động không phải thần. Đất cũng có kỳ nghỉ trong luật Israel. Con người, gia súc, người làm thuê đều được nghỉ. Một nền văn minh không biết dừng sẽ tự ăn chính mình. Chúng ta hôm nay có thể không áp dụng từng điều luật cổ theo nghĩa trực tiếp, nhưng thần học của giới hạn vẫn nguyên giá trị. Một cửa hàng có cần mở mọi giờ không? Một nhân viên có cần luôn trực tuyến không? Một chiếc máy có cần chạy tối đa nếu nhu cầu không thực sự có? Một cánh đồng có cần ép ba, bốn vụ nếu đất đang kiệt? Một người có cần làm thêm chỉ để nâng mức tiêu thụ rồi lại làm thêm nữa để trả cho mức tiêu thụ ấy? Nhiều khi chúng ta tưởng mình đang sở hữu nhiều hơn nhưng thực ra đang bán thời gian sống để nuôi những thứ mình sở hữu.
Một cuộc xét mình tập thể cũng phải chạm tới chính trị. Người Công giáo thường dè dặt khi nói từ này, và sự dè dặt có lý do vì chính trị dễ bị đảng phái hóa, cực đoan hóa hoặc lạm dụng. Nhưng chăm sóc công ích là một phần của đời sống chính trị theo nghĩa rộng. Không thể giải quyết khủng hoảng môi trường chỉ bằng đạo đức cá nhân nếu luật lệ cho phép những tác nhân lớn gây thiệt hại mà không phải chịu trách nhiệm. Không thể bảo vệ nguồn nước chỉ bằng lời kêu gọi dân đừng xả rác nếu quản lý nước thải công nghiệp không nghiêm. Không thể yêu cầu người dân dùng giao thông công cộng nếu hệ thống giao thông công cộng không đủ an toàn, thuận tiện và tiếp cận được. Không thể nói người nghèo hãy sống “xanh” khi đô thị đẩy họ ra xa nơi làm việc, khiến họ phải di chuyển nhiều giờ mỗi ngày. Chính sách định hình lựa chọn. Cơ sở hạ tầng định hình thói quen. Luật pháp định hình động cơ kinh tế. Bởi thế, người tín hữu có trách nhiệm công dân phải quan tâm đến các quyết định ảnh hưởng đến đất, nước, người nghèo và thế hệ sau, với tinh thần xây dựng, dựa trên sự thật, tránh cả cuồng tín lẫn thờ ơ.
Quốc gia cũng phải biết xét mình. Lòng yêu nước không có nghĩa là phủ nhận những sai lầm của đất nước. Trái lại, yêu thật bao giờ cũng muốn điều mình yêu trở nên tốt hơn. Mỗi quốc gia có những món nợ sinh thái của riêng mình: vùng đất đã bị khai thác quá mức, dòng sông đã bị làm tổn thương, thành phố phát triển thiếu quy hoạch, cộng đồng chịu bất công môi trường, những quyết định ưu tiên lợi ích ngắn hạn hơn thế hệ tương lai. Một đất nước không trưởng thành nếu mọi phê bình đều bị hiểu là chống đối. Nhưng phê bình cũng không được trở thành khinh miệt quê hương. Tinh thần Kitô giáo không phải tố cáo để đứng ngoài. Nó là nhận trách nhiệm để cùng sửa. Người Công giáo yêu đất nước bằng cách muốn đất nước phát triển mà người nghèo không bị bỏ lại, muốn các thế hệ sau còn có nước, đất, rừng, biển và không khí để sống, muốn khoa học được tôn trọng, muốn chính sách nhìn xa hơn một nhiệm kỳ hay một chu kỳ lợi nhuận.
Một thiếu sót nữa là chúng ta hay dùng tương lai như nơi gửi hóa đơn. Con người hôm nay hưởng lợi, thế hệ sau trả giá. Chúng ta vay của tương lai mà không hỏi người cho vay. Một đứa trẻ chưa sinh không có lá phiếu, không có cổ phần, không có quyền ngồi trong phòng họp. Nhưng các quyết định hôm nay có thể định hình đời nó trong nhiều thập niên. Khí hậu, nguồn nước, nợ công, quy hoạch đô thị, chất lượng đất, đa dạng sinh học, rác thải bền lâu — tất cả đều vượt quá vòng đời của một người ra quyết định. Công bằng Kitô giáo vì thế không chỉ là công bằng giữa người đang sống. Nó phải có chiều kích liên thế hệ. Chúng ta không được quyền tiêu sạch vốn tự nhiên rồi trao cho con cháu một hóa đơn và gọi đó là di sản. Tổ tiên trao cho chúng ta không chỉ nhà cửa hay tài sản. Họ trao một phần thế giới còn có thể sống được. Ta có trách nhiệm trao tiếp.
Có lẽ một trong những câu hỏi khó nhất cho mỗi người là: tôi đang sống dựa trên bao nhiêu lao động và tài nguyên mà tôi không nhìn thấy? Một bữa ăn chứa đất, nước, ánh nắng, hạt giống, công sức nông dân, vận chuyển, bảo quản, nấu nướng. Một chiếc áo chứa sợi, nước, thuốc nhuộm, năng lượng, bàn tay công nhân, vận tải. Một điện thoại chứa khoáng sản từ nhiều nơi, lao động của hàng nghìn người, mạng lưới điện và dữ liệu khổng lồ. Khi ý thức về những mạng lưới này, lòng biết ơn có thể trở nên cụ thể hơn. Và từ biết ơn sinh ra sự tôn trọng. Người biết một bát cơm chứa bao nhiêu mồ hôi sẽ khó bỏ cơm thừa. Người biết một món đồ được tạo ra qua bao nhiêu bàn tay sẽ không dễ coi nó là vô giá trị chỉ vì trầy một vết. Người biết nước sạch là một phép lạ của tự nhiên và hạ tầng xã hội sẽ không để vòi chảy vô ích với cùng sự vô tư.
Nhưng xét mình không được biến thành một cuộc thi đạo đức. Người dùng ít nhựa không được khinh người chưa làm được. Người ăn theo một chế độ sinh thái hơn không được tự phong mình là đạo đức hơn. Người đi xe đạp không được kết án một người phải lái xe vì điều kiện công việc. Người có điều kiện mua sản phẩm hữu cơ không được coi người nghèo mua món rẻ là vô trách nhiệm. Tinh thần Phúc Âm rất dễ bị đánh mất nếu sinh thái trở thành một căn tính tự hào. Hoán cải thật luôn làm người ta khiêm nhường hơn vì càng nhìn kỹ, ta càng thấy mình phụ thuộc vào vô số hệ thống không thể hoàn toàn thanh sạch. Không ai sống hôm nay mà không để lại dấu chân. Câu hỏi không phải làm sao trở nên “tinh khiết sinh thái” tuyệt đối. Câu hỏi là làm sao sống có trách nhiệm hơn, giảm điều có thể giảm, thay đổi điều có thể thay đổi, cùng nhau sửa những cơ cấu không thể sửa chỉ bằng hành vi cá nhân, và luôn giữ lòng thương xót với những người ở hoàn cảnh khác mình.
Hội Thánh cần dạy kiểu xét mình này. Có lẽ trong những buổi tĩnh tâm, ngoài những câu quen thuộc về cầu nguyện, nóng giận, nói xấu, dục vọng, người tín hữu cũng cần được hỏi: tôi sử dụng của cải thế nào? Tôi có lãng phí thức ăn không? Tôi có mua vì khoe không? Cách làm ăn của tôi có đẩy chi phí sang người khác không? Tôi có biết nhân viên của mình sống được bằng mức lương mình trả không? Tôi có thờ ơ khi môi trường sống của cộng đồng bị tổn hại không? Tôi có sử dụng quyền lực kinh tế của mình chỉ cho lợi ích gia đình mình không? Tôi có dạy con biết giới hạn không? Tôi có biến các dịp lễ thành cuộc phô trương? Tôi có tham gia một nền văn hóa vứt bỏ bằng cách đối xử với người già, người bệnh, người lao động yếu thế như những người “không còn giá trị” không? Đưa những câu này vào xét mình không phải chính trị hóa bí tích Hòa giải. Đó là phục hồi chiều kích xã hội của tội.
Tội không chỉ là một hành vi riêng tư giữa tôi với Thiên Chúa. Mọi tội đều làm tổn thương hiệp thông ở một mức nào đó. Và trong một thế giới liên kết, những lựa chọn rất riêng có hậu quả rất công. Tham lam cá nhân khi được nhân lên thành văn hóa sẽ thành hệ thống kinh tế tham lam. Thờ ơ cá nhân khi được nhân lên sẽ thành chính sách không người phản đối. Thói quen vứt bỏ cá nhân khi được nhân lên sẽ thành những bãi rác khổng lồ. Nhưng điều ngược lại cũng đúng. Tiết độ cá nhân có thể tạo văn hóa mới. Một gia đình thay đổi có thể ảnh hưởng gia đình khác. Một giáo xứ làm thật có thể trở thành mẫu cho giáo xứ khác. Một doanh nghiệp chấp nhận lợi nhuận thấp hơn một phần để bảo vệ người lao động và môi trường có thể chứng minh rằng một cách khác là có thể. Một người trẻ từ chối tiêu thụ để khẳng định bản thân có thể tạo ra một kiểu hấp dẫn mới. Không nên lãng mạn hóa hành động nhỏ, nhưng cũng đừng khinh nó. Hạt cải vẫn là một hình ảnh của Tin Mừng.
Xét mình tập thể của giáo xứ có thể bắt đầu rất cụ thể. Không nhất thiết phải lập tức có một kế hoạch lớn. Hãy nhìn hóa đơn điện, nước. Hãy nhìn lượng rác sau một Chúa Nhật. Hãy nhìn cách tổ chức tiệc. Hãy nhìn số vật dụng dùng một lần. Hãy nhìn khuôn viên có cây xanh hay toàn bê tông. Hãy nhìn thực phẩm thừa sau lễ hội. Hãy nhìn cách giáo dục thiếu nhi. Hãy hỏi những người quét dọn họ thấy gì mỗi tuần. Họ có thể biết nhiều hơn ban môi trường về thói quen lãng phí của cộng đoàn. Hãy hỏi người nấu bếp món gì thường bị bỏ. Hãy hỏi người trông coi điện nước chỗ nào dùng quá mức. Hãy hỏi người nghèo trong giáo xứ họ đang chịu khó khăn môi trường nào: ngập, nóng, nước bẩn, nhà chật, tiền điện cao, nơi làm việc độc hại? Từ đó, sinh thái không còn là ý tưởng nhập khẩu. Nó trở thành mục vụ của những khuôn mặt cụ thể.
Cộng đoàn dòng tu cũng có thể xét mình theo cách ấy: chúng ta mua thực phẩm thế nào? Bao nhiêu bị bỏ? Các phòng không sử dụng có bật điện, máy lạnh không? Xe cộ được dùng vì sứ vụ hay vì tiện? Những thiết bị cũ được sửa, chuyển giao hay bỏ? Những công trình xây dựng có cân nhắc thông gió, ánh sáng, nước mưa, cây xanh, hiệu quả năng lượng không? Những vùng đất cộng đoàn sở hữu được chăm sóc như thế nào? Các thành viên có được huấn luyện về sinh thái như một phần linh đạo khó nghèo hay chỉ xem đó là chuyện của người phụ trách cơ sở? Một cộng đoàn có thể làm nhiều việc bác ái nhưng nếu cách sống chung tiêu tốn tài nguyên vô độ, lời khấn khó nghèo sẽ thiếu một chiều kích thời đại.
Các giáo phận và tổ chức Công giáo lớn hơn cần đi xa hơn ở cấp cơ cấu: kiểm toán năng lượng và nước ở những cơ sở lớn; tiêu chuẩn xây dựng mới; chính sách mua sắm; quản lý đất đai; đầu tư tài chính có trách nhiệm; giảm vật dụng dùng một lần; giáo dục sinh thái trong chủng viện và nhà đào tạo; kết nối Caritas với vấn đề môi trường; hỗ trợ các cộng đồng dễ bị tổn thương bởi thiên tai và biến đổi khí hậu; tham gia tiếng nói công ích khi có những quyết định đe dọa người nghèo và tạo thành. Một văn kiện đẹp không đủ. Cần ngân sách, người chịu trách nhiệm, thời hạn và việc kiểm tra lại. Nếu không, sinh thái trở thành một mục rất hay trong kế hoạch mục vụ nhưng không có ai chịu trách nhiệm thực hiện.
Đặc biệt, chủng viện cần đào tạo các linh mục tương lai hiểu rằng Laudato Si’ không phải một chuyên đề phụ cho những người thích môi trường. Một linh mục sẽ quản lý cơ sở, hướng dẫn lương tâm, giảng dạy, có ảnh hưởng đến cộng đồng và nhiều khi tham gia quyết định về đất, xây dựng, tài chính. Nếu không có một nền thần học tạo thành đủ sâu và kiến thức thực tế căn bản, ngài có thể vô tình tái tạo chính mô hình lãng phí mà Hội Thánh đang muốn chữa. Chủng sinh cần học không chỉ các khái niệm, nhưng cách đọc hóa đơn tài nguyên, hiểu quản trị cơ sở, phân biệt nhu cầu với phô trương, biết lắng nghe chuyên gia, tôn trọng khoa học và hiểu mối liên hệ giữa người nghèo với môi trường. Linh mục không phải kỹ sư môi trường, nhưng không được dùng sự thiếu chuyên môn như lý do để không học điều cần cho sứ vụ.
Cũng cần xét mình về sự chậm chạp của chúng ta. Nhiều khi Hội Thánh nói rất đúng nhưng rất chậm. Một vấn đề đã tác động đến dân chúng nhiều năm mới được đưa vào mục vụ. Hoặc văn kiện trung ương đã nói rõ nhưng xuống đến cộng đoàn địa phương thì gần như không có gì thay đổi. Điều này không chỉ xảy ra với sinh thái. Đó là một căn bệnh mục vụ rộng hơn: chúng ta có khả năng sản xuất văn bản nhanh hơn khả năng thay đổi thói quen. Một thư mục vụ được đọc trong một ngày; văn hóa cộng đoàn có thể mất nhiều năm để thay. Vì thế, đừng nhầm việc đã công bố với việc đã thực hiện. Đừng nhầm một buổi học với một tiến trình đào tạo. Đừng nhầm một chiến dịch với một cuộc hoán cải. Hoán cải cần lặp lại, cần thực hành, cần thất bại rồi làm lại, cần kiểm tra, cần người làm gương.
Và ở đây phải nói đến thất bại. Chúng ta sẽ thất bại. Một gia đình quyết giảm nhựa rồi vẫn có những ngày phải mua đồ đóng gói. Một giáo xứ thử phân loại rác nhưng hệ thống vận chuyển chưa hỗ trợ. Một cộng đoàn muốn tiết kiệm điện nhưng cơ sở cũ khó cải tạo. Một doanh nghiệp muốn chuyển đổi quy trình nhưng chi phí quá cao trong ngắn hạn. Một người trẻ muốn mua ít lại nhưng vẫn có lúc bị cuốn theo quảng cáo. Hoán cải không có nghĩa là lập tức hoàn hảo. Nếu đòi hoàn hảo, ta sẽ tạo ra hai loại người: người bỏ cuộc vì thấy bất khả thi, và người giả vờ để giữ hình ảnh đạo đức. Tin Mừng thực tế hơn. Hãy bắt đầu, ngã thì đứng, thấy cách cũ không hiệu quả thì sửa, biết thêm thì làm tốt hơn. Sự trung tín dài hạn quan trọng hơn một tuần hăng hái.
Nhưng chấp nhận thất bại không có nghĩa là dùng thất bại làm cớ. Có một kiểu nói “ai cũng vậy” làm tê liệt lương tâm. Vì ai cũng dùng nên tôi dùng. Vì cơ sở nào cũng lãng phí nên nhà mình lãng phí. Vì quốc gia khác gây ô nhiễm nhiều hơn nên mình chưa cần thay đổi. Vì doanh nghiệp khác còn tệ hơn nên mình đã tốt. Đó là đạo đức của so sánh. Kitô giáo không hỏi tôi có tốt hơn người bên cạnh không. Nó hỏi tôi có trung tín với điều tôi đã thấy là đúng không. Khi ánh sáng đã đến, trách nhiệm tăng. Một cộng đồng đã học về sinh thái toàn diện mà tiếp tục sống như trước không thể tự an ủi rằng người khác còn tệ hơn.
Xét mình cũng phải bao gồm những điều chúng ta gọi là “nhu cầu”. Có bao nhiêu nhu cầu thật và bao nhiêu nhu cầu được xã hội dạy? Điều hòa ở một bệnh viện trong khí hậu nóng có thể là nhu cầu. Điều hòa một phòng trống thì không. Xe riêng có thể là nhu cầu cho một người làm việc ở nơi không có phương tiện công cộng. Đổi xe vì mẫu mới thì khác. Một thiết bị kỹ thuật số có thể cần cho công việc. Nâng cấp liên tục vì cảm giác thua kém là chuyện khác. Phân định không thể làm bằng một bộ luật đơn giản áp cho tất cả. Nó cần lương tâm trưởng thành. Nhưng lương tâm trưởng thành phải đủ can đảm đặt câu hỏi mà quảng cáo không muốn ta hỏi: nếu không mua, tôi có mất gì thật không?
Một dấu hiệu của hoán cải là khả năng vui với điều đủ. Đây là điều nền văn hóa tiêu thụ rất sợ, bởi người biết đủ là người khó bị điều khiển. Người biết đủ không dễ bị bán nỗi bất an. Người ấy có thể nhìn một món đồ mới đẹp mà không cần sở hữu. Có thể ngưỡng mộ căn nhà người khác mà không ghét nhà mình. Có thể ăn một bữa đơn giản mà không thấy cuộc đời nghèo đi. Có thể mặc đồ cũ mà không mất phẩm giá. Có thể dùng một chiếc điện thoại nhiều năm và không thấy mình thấp hơn. Đây không chỉ là tiết kiệm. Đó là tự do thiêng liêng.
Hoán cải sinh thái cũng đòi chúng ta học lại lòng biết ơn. Người biết ơn ít phá hơn người coi mọi thứ là đương nhiên. Khi nước là ơn, ta dùng khác. Khi thức ăn là ơn, ta ăn khác. Khi đất là ơn, ta xây khác. Khi cây là ơn, ta chặt khác. Khi thân thể là ơn, ta làm việc và nghỉ khác. Khi thời gian là ơn, ta không bán hết cho năng suất. Khi người lao động là anh chị em, ta trả lương khác. Khi người nghèo mang hình ảnh Đức Kitô, ta thiết kế chính sách khác. Vì thế, phụng vụ có một sức mạnh sinh thái sâu xa. Trong Thánh Thể, bánh và rượu — hoa màu của ruộng đất và lao công của con người — được dâng như quà nhận lại từ Thiên Chúa. Người thật sự học Thánh Thể sẽ khó nhìn vật chất như đồ vô chủ để chiếm. “Của Chúa” không có nghĩa là không cần quản lý. Chính vì của Chúa nên càng phải sử dụng trong tâm tình tạ ơn.
Có thể chúng ta cần một hình thức xét mình rất đơn giản vào cuối ngày: hôm nay tôi đã nhận gì từ tạo thành? Tôi đã dùng gì? Tôi đã bỏ gì? Ai đã phục vụ đời tôi mà tôi không nhìn thấy? Tôi đã làm điều gì gây tổn hại có thể tránh được? Tôi đã làm điều gì tốt cho một người, một nơi, một sinh vật, một phần ngôi nhà chung? Câu hỏi không nhằm tạo lo âu. Nó luyện mắt. Và khi mắt được luyện, thế giới dần hiện ra không còn như một chuỗi đồ vật phục vụ tôi, nhưng như một mạng lưới ân ban mà tôi đang sống bên trong.
Gia đình có thể xét mình hàng tháng. Giáo xứ có thể xét mình mỗi năm. Dòng tu có thể đưa câu hỏi sinh thái vào kinh lý, họp cộng đoàn và kế hoạch tài chính. Trường học có thể nhìn lượng rác, nước, điện cùng với học sinh. Doanh nghiệp có thể công khai mục tiêu giảm tác động thay vì chỉ dùng từ “xanh” cho quảng cáo. Quốc gia có thể đánh giá phát triển bằng nhiều tiêu chí hơn tốc độ tăng trưởng. Không một cấp nào được miễn. Bởi tội làm gãy bốn mối tương quan thì hoán cải cũng phải đi qua bốn mối ấy: trở về với Chúa, hòa giải với chính mình, sống công bằng với người khác và chăm sóc tạo thành.
Điều quan trọng là xét mình phải dẫn tới quyết định. Không xét mình thì quyết tâm dễ thành khẩu hiệu. Nhưng xét mình mà không quyết định cũng chỉ là một dạng tự quan sát. Trong truyền thống thiêng liêng, nhận ra tội phải dẫn đến thống hối, và thống hối phải mang hoa trái. Nếu gia đình nhận mình lãng phí thức ăn, hãy quyết định một việc. Nếu giáo xứ nhận lượng nhựa quá lớn, hãy chọn một thay đổi khả thi. Nếu dòng tu nhận điện năng sử dụng bất hợp lý, hãy có người phụ trách và đo lại sau sáu tháng. Nếu doanh nghiệp nhận một khâu gây ô nhiễm, hãy đặt lộ trình chứ đừng chỉ viết cam kết. Nếu cộng đồng thấy người nghèo đang gánh hậu quả của một vấn đề môi trường, hãy đưa tiếng nói của họ vào bàn quyết định. Hoán cải có thân xác. Nó phải đi vào lịch, ngân sách, quy trình, hợp đồng và thói quen.
Chúng ta cũng nên học cách ăn năn tập thể. Phụng vụ Công giáo không xa lạ với việc cả cộng đoàn thú nhận: “Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em…” Tội có chiều kích cá nhân nhưng lời thú nhận được nói trong cộng đoàn. Có lẽ các cộng đồng Kitô hữu cần đủ khiêm tốn để thỉnh thoảng nói: chúng ta đã chậm. Chúng ta đã lãng phí. Chúng ta đã không lắng nghe người nghèo. Chúng ta đã coi tạo thành là chuyện phụ. Chúng ta đã xây những cơ sở không đủ cân nhắc hậu quả. Chúng ta đã tổ chức những dịp rất thánh thiện theo cách không tiết độ. Chúng ta đã dạy về khó nghèo nhưng sống chưa đủ đơn sơ. Chúng ta đã nói về công ích nhưng không quan tâm những quyết định ảnh hưởng đến đất và nước. Một lời thú nhận như thế không làm Hội Thánh yếu. Nó làm Hội Thánh đáng tin hơn. Hội Thánh không rao giảng rằng mình hoàn hảo. Hội Thánh rao giảng một Đấng Cứu Độ cho những người cần được cứu.
Điều đáng sợ nhất không phải là chúng ta đã thất bại. Điều đáng sợ là không còn khả năng nhận mình thất bại. Một cá nhân mất khả năng xét mình sẽ trở thành người luôn có lý. Một cộng đoàn mất khả năng xét mình sẽ biến truyền thống thành lá chắn. Một tổ chức mất khả năng xét mình sẽ gọi mọi phản biện là đe dọa. Một quốc gia mất khả năng xét mình sẽ lặp lại sai lầm dưới tên gọi thành tựu. Và một Hội Thánh địa phương mất khả năng xét mình sẽ rất dễ có nhiều hoạt động nhưng ít hoán cải.
Nhưng cũng không được để việc nhận ra khủng hoảng biến chúng ta thành người cay đắng. Kitô giáo không sống bằng bi quan. Chúng ta biết tội là có thật, nhưng ân sủng cũng có thật. Tội làm gãy tương quan, nhưng Đức Kitô đến để giao hòa. Thánh Thần không chỉ cho ta thấy mặt đất bị thương; Người là Đấng canh tân mặt đất. Vì vậy, khi nói về thiếu sót và thất bại, ta không đứng bên một ngôi mộ. Ta đứng trước một công việc phục sinh. Một mảnh đất có thể được phục hồi. Một dòng sông có thể được làm sạch. Một cộng đồng có thể học thói quen mới. Một doanh nghiệp có thể đổi mô hình. Một người tiêu thụ vô độ có thể học sự đủ. Một giáo xứ lãng phí có thể trở thành giáo xứ biết quản lý. Một dòng tu có thể khám phá lại sức mạnh sinh thái của lời khấn khó nghèo. Một thế hệ trẻ có thể từ chối định nghĩa thành công bằng lượng đồ sở hữu.
Sự thay đổi đó không lãng mạn. Nó có giá. Tiết độ nghĩa là bỏ một số tiện lợi. Công bằng nghĩa là người có nhiều phải nhường nhiều hơn. Chính sách đúng có thể đụng lợi ích. Một doanh nghiệp chuyển đổi có thể phải chịu chi phí. Một giáo xứ thay thói quen sẽ gặp phản ứng: “xưa nay vẫn làm thế”. Một gia đình giảm phô trương có thể bị họ hàng chê. Một người từ chối tiêu thụ để giữ lương tâm có thể bị coi là kỳ. Hoán cải luôn có giá vì tội đã trở thành thói quen, mà thói quen đã trở thành văn hóa. Không thể chữa một nền văn hóa mà không chịu một chút bất tiện.
Có lẽ từ mà chúng ta cần nhất là “trách nhiệm”. Không phải tội lỗi theo nghĩa mặc cảm, nhưng trách nhiệm theo nghĩa có khả năng đáp lại. Thiên Chúa trao thế giới vào tay một thụ tạo có khả năng đáp lại lời Người. Ta không phải chủ tuyệt đối, nhưng cũng không phải khán giả. Ta là quản gia. Quản gia không thể nói: “Tôi không tạo ra vấn đề nên tôi không liên quan.” Người quản gia phải hỏi: trong phần được giao cho tôi, tôi có thể làm gì? Một người mẹ không quyết định chính sách năng lượng quốc gia, nhưng có thể dạy con biết đủ. Một linh mục không điều hành tập đoàn, nhưng có thể giúp cộng đoàn nối đức tin với lối sống. Một doanh nhân không sửa được cả nền kinh tế, nhưng có thể làm doanh nghiệp mình công bằng hơn. Một nhà giáo không cứu được mọi khu rừng, nhưng có thể đào tạo một thế hệ biết ngạc nhiên trước sự sống. Một công chức không thay được toàn bộ hệ thống, nhưng có thể không ký một điều mình biết là bất công. Một người trẻ không cứu được khí hậu bằng một chiếc bình nước, nhưng có thể bắt đầu một kiểu sống mà nhiều người khác sẽ thấy là khả thi.
Và chính ở đây, xét mình tập thể trở nên một hành vi hy vọng. Chúng ta xét mình vì tin rằng mình có thể đổi. Nếu không tin vào khả năng hoán cải, xét mình chỉ là thống kê thất bại. Người Kitô hữu xét mình dưới ánh sáng Phục Sinh. Điều chết có thể sống. Điều gãy có thể được nối. Điều đã quen có thể được học lại. Một cộng đoàn có thể đổi văn hóa. Một dân tộc có thể đổi hướng phát triển. Một nền kinh tế có thể được điều chỉnh để phục vụ sự sống hơn. Chậm, khó, không hoàn hảo, nhưng có thể.
Vì thế, câu hỏi cuối chương này không phải: “Ai là người có lỗi nhất?” Câu hỏi ấy đôi khi cần cho công lý, nhưng chưa đủ cho hoán cải. Câu hỏi sâu hơn là: “Phần nào đang được trao cho tôi?” Tôi đang ở đâu trong bốn mối tương quan đã gãy? Tôi đang sử dụng tạo thành như thế nào? Tôi đang góp phần vào một hệ thống nào? Tôi đang im ở đâu? Tôi đang phô trương ở đâu? Tôi đang lãng phí ở đâu? Tôi đang biện minh điều gì bằng câu “ai cũng vậy”? Gia đình tôi có điều gì cần sửa? Giáo xứ tôi có điều gì cần sửa? Cộng đoàn tôi có điều gì cần sửa? Công việc của tôi có điều gì cần sửa? Và đâu là một điều cụ thể chúng ta sẽ bắt đầu ngay?
Không cần viết một bản tuyên ngôn dài nếu sau đó không thay đổi gì. Có khi một quyết định nhỏ nhưng làm thật còn có giá trị hơn một chiến lược rất đẹp. Một giáo xứ bỏ dần ly nhựa. Một nhà dòng kiểm tra lượng thức ăn bỏ. Một gia đình quyết không mua mới khi đồ cũ còn dùng tốt. Một trường học cho trẻ chăm một mảnh vườn. Một doanh nghiệp bắt đầu đo tác động thật thay vì chỉ làm truyền thông xanh. Một linh mục đưa một câu hỏi sinh thái vào xét mình Mùa Chay. Một cộng đoàn dành một phần ngân sách để cải thiện hiệu quả năng lượng. Một người trẻ tập để một ngày không mua gì chỉ để nhận ra mình vẫn sống được. Những việc ấy không cứu thế giới một mình. Nhưng chúng nói rằng chúng ta đã thôi đứng ngoài.
Thiếu sót của chúng ta hôm nay là thật. Chúng ta tiêu thụ quá sức đất chịu. Chúng ta đã quá lâu đo phát triển bằng những con số không đủ nhìn thấy người bé nhỏ. Chúng ta im trước nhiều điều đáng lẽ phải nói. Chúng ta xả rác bằng tay này và ca ngợi thiên nhiên bằng tay kia. Chúng ta dễ yêu cảnh đẹp hơn yêu giới hạn. Chúng ta có lúc biến ngay cả việc đạo đức thành tiêu thụ. Hội Thánh cũng không được miễn: chúng ta đã có lúc nói chậm, làm chậm hơn nữa; có lúc sống chưa bằng điều mình giảng; có lúc sử dụng của cải mà chưa đủ ý thức mình chỉ là quản gia. Nhận những điều ấy không phải là chống Hội Thánh, chống con người hay ghét sự tiến bộ. Đó là yêu đủ để không nói dối.
Xét mình cá nhân cần can đảm. Xét mình tập thể cần can đảm hơn, vì không ai thích một tấm gương được đặt trước cả cộng đồng. Nhưng không có tấm gương ấy, mọi “quyết tâm” rất dễ thành văn bản, mọi “cam kết” dễ thành khẩu hiệu, mọi “mùa tạo dựng” dễ kết thúc khi băng-rôn được tháo xuống. Hoán cải bắt đầu khi ta đủ khiêm tốn nói: ở đây chúng ta đã sai; ở đây chúng ta đã thiếu; ở đây người khác đang trả giá cho cách sống của chúng ta; ở đây Tin Mừng đòi một bước khác. Và rồi, không ở lại trong mặc cảm, ta bước.
Bởi Thiên Chúa không cho chúng ta thấy sự thật để nghiền nát chúng ta. Người cho thấy sự thật để cứu. Ánh sáng của Người không chỉ chiếu lên những bãi rác, những dòng sông bị thương, những cánh rừng mất, những thành phố nóng lên, những bất công môi trường. Ánh sáng ấy cũng chiếu vào những gian bếp, phòng họp, nhà thờ, cộng đoàn, doanh nghiệp và lòng mỗi người. Nơi nào ánh sáng được đón nhận, nơi đó có thể bắt đầu một cách sống khác. Không hoàn hảo ngay. Không hoành tráng. Nhưng thật.
Và có lẽ đó là điều Thiên Chúa đang chờ nơi chúng ta: không phải một thế hệ tự tuyên bố mình vô tội, nhưng một thế hệ biết nhận lỗi, biết học lại giới hạn, biết sửa điều mình có thể sửa, biết đòi công lý nơi những cơ cấu lớn hơn, biết chia sẻ gánh nặng với người nghèo, biết để đời sống Hội Thánh trở thành dấu chỉ chứ không chỉ lời nói, và biết trao lại ngôi nhà chung cho người đến sau trong tình trạng tốt hơn một chút so với khi chúng ta nhận nó. Chỉ “một chút” nghe có vẻ nhỏ. Nhưng trung tín của Nước Trời thường bắt đầu như thế: một hạt cải, một nhúm men, một chén nước, một quyết định kín đáo nhưng thật. Từ đó, một trật tự bị gãy bắt đầu được nối lại.

CHƯƠNG 21. TIẾNG KÊU CỦA ĐẤT, CỦA NGƯỜI NGHÈO, CỦA CÁC THẾ HỆ SAU
Có những tiếng kêu phát ra thành lời nên người ta dễ nghe, nhưng cũng có những tiếng kêu không có thanh âm, không có micro, không xuất hiện trong bản tin tối, không đủ sức chen vào những cuộc họp nơi các quyết định lớn được đưa ra, và chính vì thế chúng càng có nguy cơ bị bỏ quên. Đất không có miệng như con người để nói rằng nó đang đau. Một dòng sông không thể bước vào phòng họp để phản đối việc nó bị đầu độc. Một cánh rừng không thể ký đơn xin đừng bị đốn. Một loài vật không thể tổ chức họp báo để giải thích rằng môi trường sống của nó đã bị thu hẹp đến mức không còn đường sinh tồn. Một đứa trẻ chưa sinh không thể bỏ phiếu chống lại quyết định của thế hệ hôm nay về một dự án sẽ để lại chất thải trong hàng trăm năm. Một người nghèo ở cuối con kênh, dưới chân bãi rác, trên vùng đất thường xuyên ngập, trong căn nhà mái tôn nóng hầm hập giữa mùa khô, có thể có tiếng nói, nhưng tiếng nói ấy rất nhỏ trước những người có tiền, có quyền, có khả năng mua một căn nhà khác, đi đến một vùng khác, dựng một bức tường khác, lắp thêm máy lạnh, khoan thêm giếng, mua thêm nước, mua bảo hiểm, mua thực phẩm sạch và mua cả khoảng cách để tránh hậu quả của những lựa chọn sai lầm tập thể. Bởi thế, khi Hội Thánh nói đến “tiếng kêu của trái đất và tiếng kêu của người nghèo”, đây không phải là một khẩu hiệu môi trường được phủ thêm một lớp ngôn ngữ tôn giáo. Đây là một cách đọc thực tại bằng đôi tai của đức tin. Người có đức tin được mời gọi học nghe những tiếng mà xã hội dễ không nghe, nhìn những hậu quả mà nền kinh tế thường không tính, nhận ra những con người mà bảng thống kê có thể biến thành con số, và nhớ tới những thế hệ chưa có mặt tại bàn nhưng sẽ phải thanh toán hóa đơn do người hôm nay để lại. Ba tiếng kêu – tiếng kêu của đất, tiếng kêu của người nghèo và tiếng kêu của các thế hệ tương lai – thật ra không phải ba vấn đề đứng cạnh nhau. Chúng giao nhau, chồng lên nhau, thấm vào nhau đến mức nhiều khi chỉ có thể hiểu đúng một tiếng kêu khi đặt nó trong hai tiếng kêu kia. Đất bị thương thì người nghèo thường chảy máu trước. Người nghèo bị đẩy ra ngoài lề thì đất cũng dễ bị bán rẻ hơn, bởi những cộng đồng yếu thế thường không đủ sức bảo vệ sông, rừng, ruộng, nguồn nước và không gian sống của họ. Còn thế hệ sau sẽ nhận cả hai di sản: một thiên nhiên bị thu hẹp và một xã hội đã tập quen với việc để người yếu trả giá cho sự tiện nghi của người mạnh. Chính ở đây, sinh thái Kitô giáo đi xa hơn một thứ tình cảm yêu cây cỏ. Nó hỏi một câu luân lý rất khó: ai đang hưởng lợi, ai đang trả giá, và ai không có quyền lên tiếng trong quyết định hôm nay nhưng sẽ phải sống với hậu quả ngày mai?
Đất kêu vì bị đâm thâu. Cách nói ấy có thể làm người ta thấy mạnh, nhưng nếu nhìn vào thực tế, có lẽ nó chưa đủ mạnh. Đất bị đâm bởi những mũi khoan, bị cắt bởi những con đường không tính đến hệ sinh thái, bị bóc lớp bởi khai thác, bị lấp bởi bê tông, bị ngộ độc bởi hóa chất, bị làm nghẹt bởi nhựa, bị làm nóng bởi một mô hình sản xuất và tiêu thụ vượt quá khả năng tự hồi phục của các hệ thống tự nhiên. Biển nhận những thứ đất liền không muốn giữ. Sông nhận những thứ nhà máy không muốn xử lý đủ. Không khí nhận những thứ ống khói và động cơ thải lên vì tưởng rằng bầu trời rộng đến mức có thể chịu mãi. Đất nông nghiệp nhận lượng hóa chất vượt quá điều nó có thể hấp thụ. Các khu rừng nhận áp lực của nhu cầu gỗ, khoáng sản, đất sản xuất, đô thị hóa, du lịch và tiêu dùng. Cơ thể động vật nhận vi nhựa. Cơ thể con người cũng nhận vi nhựa. Không có “bên ngoài” tuyệt đối nào để ta ném đồ đi, vì hành tinh này không có một thùng rác đặt ngoài hành tinh. Khi ta nói “vứt đi”, thực ra ta chỉ chuyển vật đó từ chỗ ta nhìn thấy sang chỗ ta không nhìn thấy. Điều không còn trước mắt ta vẫn còn ở đâu đó trong ngôi nhà chung. Đức tin vào Thiên Chúa Tạo Hóa làm câu chuyện ấy nghiêm trọng hơn, chứ không nhẹ đi. Nếu đất chỉ là vật chất vô chủ, ta có thể tranh luận với nhau về mức khai thác nào là hiệu quả nhất. Nhưng nếu đất là thụ tạo được gọi vào hiện hữu bởi lời Thiên Chúa, nếu nó được nhìn nhận là tốt đẹp trước khi con người xuất hiện, nếu con người được đặt vào vườn để “canh tác và gìn giữ”, thì việc đất bị thương không chỉ là một vấn đề kỹ thuật. Nó trở thành một vấn đề về sự trung thành của người quản gia. Quản gia không được phép cư xử như chủ tuyệt đối. Người quản gia không thể phá căn nhà rồi nói rằng căn nhà là của ông. Người quản gia sống dưới một ánh nhìn khác: sẽ có lúc phải trả lời về cách mình đã dùng những gì được trao.
Kinh Thánh rất nhạy với tiếng kêu. Một trong những động từ nền tảng của lịch sử cứu độ là Thiên Chúa nghe. Người nghe tiếng máu Abel từ đất kêu lên. Người nghe tiếng dân Israel bị áp bức bên Ai Cập. Người nghe tiếng người nghèo. Người nghe người góa bụa, trẻ mồ côi, khách ngoại kiều. Người nghe những người không có sức mạnh để tự đòi công lý. Một Thiên Chúa biết nghe làm cho dân của Người không được phép bị điếc. Nếu Thiên Chúa tự giới thiệu như Đấng nghe tiếng kêu của người bị áp bức, thì một cộng đoàn thờ phượng Thiên Chúa mà không nghe tiếng kêu ấy sẽ rơi vào một nghịch lý đáng sợ: miệng hát về lòng thương xót của Chúa nhưng tai khép trước những người Chúa đang nghe. Điều này cũng áp dụng cho tiếng kêu của tạo thành. Thánh Phaolô dùng một hình ảnh thật mạnh khi nói toàn thể thụ tạo đang rên siết và quằn quại như người phụ nữ trong cơn sinh nở. Thụ tạo không được mô tả như một sân khấu câm để con người diễn lịch sử cứu độ trên đó rồi bỏ đi. Thụ tạo tham dự vào bi kịch và niềm hy vọng của lịch sử. Nó bị kéo vào hậu quả của tội lỗi và được đặt trong chân trời giải thoát. Bởi thế, khi cây rừng biến mất, đất bị sa mạc hóa, nguồn nước chết dần, loài vật biến mất, khí hậu trở nên bất ổn, Kitô hữu không thể xem đó chỉ là những dữ kiện cho chuyên gia môi trường. Người có đức tin phải tập nghe trong đó một thứ “rên siết” của tạo thành. Không phải vì cây biết cầu nguyện như người, không phải vì ta nhân cách hóa thiên nhiên thành thần linh, nhưng vì mọi thụ tạo đều mang trong mình một trật tự, một giới hạn và một lời mời gọi mà Thiên Chúa đã đặt vào đó. Khi con người cưỡng ép chúng vượt quá giới hạn ấy, vết thương phát ra hậu quả, và hậu quả chính là tiếng kêu.
Nhưng tiếng kêu của đất thường được nghe rõ nhất nơi thân thể người nghèo. Đây là điều làm cho vấn đề môi trường trở thành vấn đề công lý. Một cơn nóng không rơi lên mọi mái nhà theo cùng một cách. Nhiệt độ ngoài trời có thể giống nhau, nhưng người có nhà cách nhiệt, có cây xanh, có máy lạnh, có điện ổn định, có nước sạch, có phương tiện y tế và có thể nghỉ việc trong giờ nắng không chịu cùng một hậu quả như người bán hàng rong, công nhân công trường, người già trong căn phòng trọ mái tôn hay người phải làm việc ngoài trời để có tiền ăn trong ngày. Nước biển dâng một centimet là con số khoa học, nhưng đối với một gia đình sống ở vùng cửa sông, nơi mỗi đợt triều và xâm nhập mặn có thể phá mùa vụ, nó là câu chuyện cơm gạo. Rừng bị mất vài phần trăm là biểu đồ, nhưng với một cộng đồng sống nhờ rừng, nó có thể là mất nước, mất thức ăn, mất thuốc, mất sinh kế, mất luôn văn hóa. Một dòng sông ô nhiễm là thông tin môi trường, nhưng với một gia đình không có tiền mua nước đóng chai hay hệ thống lọc, đó là bệnh tật. Một cơn bão là hiện tượng khí tượng, nhưng người có tiền sửa nhà và mua bảo hiểm không ở cùng vị trí với người vừa mất mái nhà vừa mất phương tiện kiếm sống. Cùng một biến cố tự nhiên, nhưng xã hội phân phối mức độ tổn thương rất khác nhau. Vì thế, nói về thiên tai mà không nói về nghèo đói, nói về khí hậu mà không nói về bất bình đẳng, nói về ô nhiễm mà không hỏi ai đang sống gần nguồn ô nhiễm nhất, là mới nói một nửa sự thật.
Người nghèo thường đứng ở nơi nước dâng trước. Họ cũng đứng ở nơi rác đến trước, khói đến trước, bụi đến trước, hóa chất đến trước, đất sạt trước và dịch bệnh đến trước. Không hẳn vì thiên nhiên “chọn” người nghèo, nhưng vì cấu trúc xã hội thường đẩy người ít quyền lực đến những nơi nguy hiểm hơn. Đất tốt đắt tiền. Khu vực an toàn đắt tiền. Không gian xanh đắt tiền. Nước sạch có giá. Khả năng di chuyển có giá. Năng lực kiện tụng có giá. Việc được lắng nghe trong một quy hoạch đôi khi cũng có “giá” theo nghĩa người có học vấn, có quan hệ, có thời gian và có tổ chức thường có tiếng nói mạnh hơn người đang lo bữa chiều. Do đó, khủng hoảng sinh thái hiếm khi là một cơn mưa rơi đều trên mọi mái nhà. Nó khuếch đại những bất bình đẳng đã có. Người đã mong manh trở nên mong manh hơn. Người đã đứng mép xã hội bị đẩy gần mép hơn. Đây là lý do tại sao một đức ái Kitô giáo chỉ trao quà sau thiên tai mà không bao giờ hỏi tại sao một số cộng đồng cứ luôn chịu tổn thương hơn sẽ chưa đi đến tận gốc của bác ái. Đức ái phải biết cúi xuống vết thương, nhưng công lý phải hỏi vì sao vết thương cứ được sản xuất. Một bao gạo cứu người qua tuần này là việc tốt. Nhưng nếu dòng sông làm nghề của họ bị đầu độc mãi, nếu đất họ canh tác bị nhiễm mặn mãi, nếu khu họ sống mãi không có thoát nước, nếu họ mãi là người đầu tiên mất việc khi thiên tai xảy đến, thì người Kitô hữu không thể yên lòng chỉ vì mình đã làm từ thiện.
Tách môi trường khỏi người nghèo là tách điều Thiên Chúa đã nối. Đây là một trong những trực giác quan trọng nhất của sinh thái toàn diện. Không có hai cuộc khủng hoảng độc lập, một khủng hoảng môi trường và một khủng hoảng xã hội, để rồi ta chọn quan tâm cái nào hợp sở thích hơn. Có một cuộc khủng hoảng xã hội – môi trường phức hợp. Con người và môi trường không nằm ở hai phía. Người ta sống trong đất, uống nước, ăn từ ruộng, thở không khí, dựa vào hệ sinh thái và tổ chức xã hội quanh những điều ấy. Khi môi trường suy thoái, các quan hệ kinh tế và xã hội thay đổi. Khi bất công xã hội gia tăng, khả năng bảo vệ môi trường cũng suy yếu vì người nghèo buộc phải ưu tiên tồn tại ngắn hạn, còn người giàu có thể tiếp tục đẩy chi phí môi trường cho người khác. Một người mẹ phải nấu ăn hôm nay sẽ khó nghe bài giảng dài về đa dạng sinh học nếu lựa chọn duy nhất trước mắt chị là đốt một nhiên liệu gây ô nhiễm vì chị không có cách khác. Một người nông dân đang mang nợ sẽ khó để đất nghỉ nếu hệ thống tín dụng, giá nông sản và thị trường đẩy ông phải lấy tối đa sản lượng trong mùa này. Một lao động nhập cư không thể bỏ việc chỉ vì môi trường làm việc độc hại nếu phía sau anh là tiền nhà, học phí của con và thuốc của cha mẹ. Bởi vậy, đạo đức sinh thái không thể chỉ giao trách nhiệm cho từng cá nhân nghèo rồi bảo họ “sống xanh hơn”. Có những lựa chọn chỉ có thể thay đổi khi cấu trúc thay đổi. Có những hành vi mà người ta làm không phải vì họ không có ý thức nhưng vì họ không có phương án khác. Công lý sinh thái đòi cả hoán cải cá nhân lẫn thay đổi cơ chế.
Ngược lại, cũng sai nếu dùng người nghèo như một cái cớ để trì hoãn mọi bảo vệ môi trường. Người ta có thể nói: chúng ta còn nghèo, phải phát triển trước đã; khi giàu rồi mới lo môi trường. Nhưng nếu sự phát triển ấy phá nguồn nước, làm đất mất khả năng sản xuất, gây bệnh, khiến người dân phải di cư và để lại chi phí xử lý trong tương lai, thì phát triển ấy có thể làm tăng GDP mà làm nghèo đời sống. Người nghèo cần việc làm, nhưng họ cũng cần phổi. Họ cần nhà máy, nhưng họ cũng cần nước sạch. Họ cần điện, nhưng họ cũng cần đất không bị đầu độc. Họ cần đường sá, nhưng không phải bằng bất cứ giá nào. Người nghèo không nên bị buộc chọn giữa miếng cơm và sức khỏe trong khi người khác hưởng cả lợi nhuận lẫn môi trường sạch. Một xã hội công bằng phải tìm cách để phát triển kinh tế không biến người ít quyền lực thành vật hy sinh. Không thể xây sự thịnh vượng cho một nhóm bằng cách đặt bệnh tật, ô nhiễm và mất sinh kế lên vai nhóm khác. Điều ấy trái với công ích. Công ích không phải tổng số lợi ích đã cộng lại. Nếu mười người lời rất nhiều và một nghìn người chịu thiệt nhỏ, phép cộng kinh tế có thể vẫn cho kết quả dương, nhưng đạo đức không chỉ biết cộng. Đạo đức hỏi đến phẩm giá, quyền lợi căn bản, sự phân phối gánh nặng và khả năng tham dự của những người chịu ảnh hưởng.
Tiếng kêu thứ ba còn khó nghe hơn: tiếng kêu của các thế hệ sau. Họ chưa đứng trước mặt ta. Chưa có gương mặt cụ thể. Chưa có tên. Chưa có lá phiếu. Chưa viết bình luận phản đối. Chưa tổ chức biểu tình. Chưa thể kiện thế hệ hiện tại vì đã dùng hết, làm bẩn hay phá vỡ những điều họ cần để sống. Chính vì vậy, họ là nhóm yếu thế theo một nghĩa rất đặc biệt: hoàn toàn phụ thuộc vào lương tâm của những người đi trước. Một em bé sinh năm 2050 không thể quay về năm 2026 để nói với chúng ta: xin đừng làm quyết định đó. Người ấy chỉ có thể nhận hậu quả. Công lý giữa các thế hệ bắt đầu từ ý thức đơn giản nhưng rất sâu: thế giới không bắt đầu với ta và cũng không kết thúc với ta. Ta nhận rất nhiều thứ mà mình không làm ra. Ta sinh vào một ngôn ngữ đã có, một nền văn hóa đã có, một cộng đồng đã có, một hệ thống đường sá đã có, một kho tri thức đã có, một đất nước đã có, một Hội Thánh đã có, những bài thánh ca đã có, những cánh đồng do người khác khai phá, những khu rừng do người trước không chặt hết, những nguồn nước họ chưa làm cạn. Đời sống là một gia tài nhận trước khi nó là thành tích. Nếu ta đã nhận, ta cũng có bổn phận truyền. Một thế hệ chỉ biết nhận mà không biết truyền sẽ giống người thừa kế bán hết gia sản để sống tiện nghi rồi để con cháu bắt đầu từ đống nợ.
Trong truyền thống Kinh Thánh, giao ước luôn mở ra qua các thế hệ. Lời hứa của Thiên Chúa không chỉ dành cho một cá nhân đứng riêng lẻ. Abraham được gọi trong chân trời của con cháu. Israel truyền lại giao ước cho con cái. Các Thánh vịnh kể lại công trình của Chúa để thế hệ sau biết. Đức tin có trí nhớ và có tương lai. Một nền linh đạo chỉ chăm lo phần rỗi cá nhân của người đang sống mà không quan tâm điều gì mình để lại cho con cháu là một linh đạo bị co lại. Chính đức tin vào Thiên Chúa của lịch sử buộc ta nghĩ dài hơn vòng đời cá nhân. Ta không được phép nói: “Tôi chết rồi thì mặc kệ”, vì Kitô hữu không phải người sống trong một hiện tại đóng kín. Ta thuộc về một dân, một thân thể, một lịch sử cứu độ chạy xuyên qua các thế hệ. Chăm sóc tương lai vì thế không phải chuyện lãng mạn. Đó là một hình thức của đức ái. Ta yêu những người mình chưa gặp bằng cách không lấy hết phần của họ.
Có một sự bất công rất tinh vi khi thế hệ hiện tại dùng các tài nguyên không thể phục hồi, gây ra những biến đổi lâu dài hay tích lũy nợ môi trường rồi để thế hệ sau xử lý. Trong kinh tế, người ta có thể vay hôm nay và trả ngày mai. Trong sinh thái cũng có một thứ vay như thế. Ta vay chất lượng không khí của tương lai để có tiện nghi hôm nay. Ta vay khả năng hấp thụ của đại dương. Ta vay độ phì của đất. Ta vay nước ngầm. Ta vay đa dạng sinh học. Ta vay cả khí hậu ổn định. Nhưng người ký hợp đồng vay và người trả nợ có thể không cùng là một người. Đây là chỗ luân lý phải lên tiếng. Không ai có quyền ký thay người khác một món nợ vô hạn. Thế hệ hôm nay có quyền sử dụng tạo thành, nhưng không có quyền dùng nó như thể không còn thế hệ nào nữa. Sử dụng khác với tiêu sạch. Phát triển khác với vét kiệt. Nhận hoa trái khác với chặt luôn cây. Một người cha tốt không chỉ hỏi gia đình mình ăn gì tối nay, nhưng cũng hỏi con mình sẽ sống thế nào mười năm nữa. Một quốc gia có trách nhiệm cũng phải biết hỏi như thế.
Trong đời sống gia đình Việt Nam, trực giác này thật ra rất gần. Cha mẹ làm lụng để “để lại cho con”. Có người dành cả đời mua một mảnh đất, dựng một căn nhà, cho con học hành, tích lũy chút vốn. Ta hiểu rất tự nhiên rằng yêu con bao gồm chuẩn bị tương lai cho con. Nhưng kỳ lạ là xã hội hiện đại có thể hết sức lo để lại cho con một căn hộ mà không lo để lại cho con một thành phố thở được; tích tiền học cho con nhưng chấp nhận một nền giáo dục bị thương bởi lối sống tiêu thụ; mua nước sạch cho nhà mình nhưng mặc kệ nguồn nước chung; mua điều hòa cho phòng ngủ của con nhưng không hỏi khí hậu đang nóng lên vì mô hình năng lượng nào; chọn một khu đô thị xanh để con sống nhưng không hỏi những khu vực nghèo hơn đang gánh rác và nước thải của chính khu đô thị ấy. Đạo đức Kitô giáo phải mở khái niệm “để lại cho con” rộng hơn tài sản riêng. Một thế hệ có trách nhiệm phải để lại thể chế tốt, môi trường tốt, văn hóa tốt, cộng đồng tốt và một ý thức về giới hạn. Không ích gì nếu con cháu thừa kế tài khoản lớn nhưng phải sống trong một thế giới nghèo nước, nghèo cây, nghèo loài, nghèo sự tin cậy và nghèo cả hy vọng.
Ba tiếng kêu ấy gặp nhau ở một điểm: giới hạn. Đất kêu vì con người không chịu giới hạn. Người nghèo kêu vì người mạnh không chịu giới hạn quyền lợi của mình để chừa phần cho người yếu. Thế hệ sau kêu vì thế hệ hiện tại không chịu giới hạn tiêu thụ để chừa phần cho tương lai. Trong chiều sâu, khủng hoảng sinh thái là một khủng hoảng về khả năng nói “đủ”. Một nền kinh tế chỉ biết “thêm” sẽ khó hiểu giới hạn. Một nền quảng cáo sống bằng cách làm ta cảm thấy thiếu sẽ khó dạy ta biết đủ. Một mạng xã hội sống bằng việc kéo chú ý vô tận sẽ khó dạy ta biết dừng. Một nền văn hóa thành tích đòi tăng trưởng liên tục sẽ thấy mọi giới hạn như thất bại. Nhưng Kinh Thánh lại đầy giới hạn thánh: ngày Sabát, năm Sabát, Năm Toàn Xá, phần ruộng để lại cho người nghèo, lệnh không thu tích manna quá phần cần, lời cảnh báo người giàu xây thêm kho vì tưởng đời mình nằm trong kho. Từ đầu, Thiên Chúa đã dạy dân Người rằng sở hữu không tuyệt đối, lao động không tuyệt đối, thu hoạch không tuyệt đối, quyền lực không tuyệt đối. Đất cần nghỉ. Người lao động cần nghỉ. Người nô lệ cần nghỉ. Con vật cũng cần nghỉ. Người nghèo có quyền nhặt phần còn lại. Đất không thể bị siết đến giọt cuối cùng. Nguyên tắc giới hạn ấy không phải chống phát triển. Nó bảo vệ sự sống khỏi lòng tham vô hạn.
Có lẽ một trong những căn bệnh của con người hiện đại là biến khả năng kỹ thuật thành quyền luân lý. Vì làm được nên tưởng được phép làm. Vì có thể khai thác sâu hơn nên khai thác. Vì có thể đánh bắt nhiều hơn nên đánh bắt. Vì có thể xây lớn hơn nên xây. Vì có thể tiêu thụ nhanh hơn nên tiêu thụ. Vì có thể vận chuyển hàng khắp thế giới nên coi mọi mùa thành một mùa, mọi khoảng cách thành vô nghĩa. Nhưng luân lý bắt đầu ở nơi ta phân biệt được “có thể” và “nên”. Công nghệ mở rộng quyền năng; lương tâm phải mở rộng trách nhiệm tương ứng. Nếu một người cầm chiếc cuốc chỉ có thể làm hư một mảnh vườn nhỏ, thì trách nhiệm của anh giới hạn theo sức chiếc cuốc. Nhưng khi nhân loại có máy móc có thể san núi, chuyển dòng sông, khai thác đại dương, tác động khí quyển và tạo ra vật liệu tồn tại hàng thế kỷ, thì sức mạnh ấy cần một tầm luân lý tương xứng. Nếu kỹ thuật chạy nhanh hơn lương tâm, văn minh có thể rất thông minh mà rất nguy hiểm.
Người nghèo thường là người đầu tiên cho thấy sai lầm của một hệ thống. Họ giống chiếc đèn báo trên bảng điều khiển. Khi giá thực phẩm tăng vì mùa màng thất thường, người giàu thấy hóa đơn cao hơn; người nghèo bớt một bữa. Khi điện đắt hơn, người giàu giảm điều hòa; người nghèo có thể phải chọn giữa quạt và tiền học. Khi nước trở nên khan hiếm, người giàu mua bồn chứa; người nghèo xếp hàng. Khi thiên tai đến, người giàu mất tài sản; người nghèo có thể mất cả nền tảng sống. Vì vậy, cách một xã hội đối xử với người nghèo trong khủng hoảng sinh thái là thước đo luân lý của xã hội ấy. Không thể nói một chính sách là thành công chỉ vì tổng sản phẩm tăng nếu người yếu bị hy sinh trong quá trình ấy. Không thể nói một dự án là “vì phát triển” mà coi sinh kế của cộng đồng địa phương như chi tiết phụ. Không thể gọi đó là lợi ích chung nếu lợi ích tập trung ở một nơi còn cái giá bị đẩy sang nơi khác.
Đức Giêsu không để người môn đệ nhìn thế giới từ trên cao như một bảng số liệu. Người kéo ta xuống gần khuôn mặt. “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống.” Khát là một nhu cầu thân xác, nhưng cũng có thể trở thành nơi phán xét. Nước sạch do đó không phải chủ đề bên lề của linh đạo. Không khí sạch không phải chuyện ngoài Phúc Âm. Một nơi ở an toàn, thức ăn không nhiễm độc, một công việc không phá sức khỏe, một môi trường sống có thể nuôi trẻ em lớn lên – tất cả đều liên hệ đến phẩm giá mà Tin Mừng bảo vệ. Đức Kitô đồng hóa mình với những người nhỏ bé, và ngày nay những người nhỏ bé thường chính là những người chịu phần nặng nhất của suy thoái môi trường. Người môn đệ không được quyền đứng trước Chúa Giêsu Thánh Thể với lòng sốt sắng rồi đứng trước người nghèo bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm với sự dửng dưng. Không có hai Chúa Giêsu, một Đấng ở trong nhà tạm và một Đấng ngoài khu ổ chuột. Chính Người buộc lòng đạo đi ra khỏi khu vực an toàn.
Điều này không có nghĩa mọi Kitô hữu phải trở thành chuyên gia khí hậu, kỹ sư môi trường hay nhà hoạt động. Hội Thánh không thay khoa học. Linh mục không đứng trên tòa giảng để tính lượng phát thải. Kinh Thánh không phải sách giáo khoa địa chất. Nhưng đức tin phải tạo ra một lương tâm biết nghe dữ kiện thật và biết hỏi câu hỏi luân lý đúng. Nhà khoa học có thể cho biết một nguồn nước đang ô nhiễm ở mức nào; đức tin hỏi ta có thể tiếp tục để người nghèo uống nước ấy không. Kỹ sư có thể cho biết một dự án khả thi; luân lý hỏi giá của nó được phân phối ra sao. Nhà kinh tế có thể tính lợi nhuận; học thuyết xã hội của Hội Thánh hỏi lợi nhuận ấy có phục vụ công ích không. Nhà quy hoạch có thể thiết kế đô thị; linh đạo Kitô giáo hỏi trong đô thị ấy người già, trẻ em, người khuyết tật và người nghèo có chỗ không. Chính trị có thể quyết định ưu tiên ngân sách; lương tâm hỏi ai bị bỏ ở cuối danh sách. Đức tin không cạnh tranh với chuyên môn. Đức tin buộc chuyên môn phải nhớ con người và buộc con người phải nhớ mình không phải Thiên Chúa.
Giáo xứ cũng phải học nghe ba tiếng kêu ấy. Có thể một giáo xứ tổ chức rất nhiều việc đạo đức nhưng vẫn chưa bao giờ hỏi rác của mình đi đâu. Có thể xây một ngôi nhà mục vụ rất đẹp nhưng bỏ qua lượng năng lượng và tài nguyên sử dụng. Có thể tổ chức lễ lớn với vô số đồ dùng một lần rồi kết thúc bằng một đống rác khổng lồ. Có thể giảng rất hay về người nghèo nhưng mọi sinh hoạt giáo xứ lại được thiết kế theo khả năng của người có tiền. Có thể nói yêu thế hệ trẻ nhưng không tạo cho người trẻ một ngôi nhà chung đáng sống. Chuyển đổi sinh thái trong Hội Thánh không bắt đầu bằng bảng khẩu hiệu “giáo xứ xanh” treo trước cổng. Nó bắt đầu bằng xét mình: chúng ta mua gì, dùng gì, bỏ gì, xây gì, tổ chức thế nào, đối xử với người nghèo ra sao, và có tính đến thế hệ sau hay không. Một giáo xứ có thể bắt đầu rất nhỏ: giảm lãng phí thực phẩm trong các ngày lễ; hạn chế đồ dùng một lần; chăm cây; tiết kiệm nước; chọn thiết bị tiết kiệm điện; giáo dục thiếu nhi biết tôn trọng thụ tạo; tổ chức những ngày dọn khu vực sống không để chụp hình nhưng để tạo thói quen; liên kết Caritas với các vấn đề nhà ở, nước sạch và môi trường; nghe những gia đình chịu ảnh hưởng của ngập, ô nhiễm hay mất sinh kế. Những việc ấy nhỏ nếu nhìn từng việc, nhưng chúng tạo một nền văn hóa. Tội sinh thái không chỉ hình thành từ các quyết định khổng lồ. Nó được nuôi bởi hàng triệu thói quen nhỏ. Hoán cải cũng vậy.
Gia đình là một trường đặc biệt của công lý giữa các thế hệ. Trẻ em học thái độ với tạo thành ít qua bài giảng hơn qua cách cha mẹ sống. Đứa trẻ thấy cha mẹ lấy thức ăn vừa đủ sẽ học một điều. Thấy cha mẹ mua rất nhiều rồi bỏ sẽ học điều khác. Thấy cha mẹ tắt điện khi không cần sẽ học một điều. Thấy người lớn coi nước, thức ăn và đồ vật như vô hạn sẽ học điều khác. Thấy cha mẹ đối xử tử tế với người thu gom rác, với người lao động, với người bán hàng nhỏ sẽ học một điều. Thấy người lớn chỉ quan tâm thứ sạch trong nhà mình còn rác đẩy ra ngoài là xong sẽ học điều khác. Trẻ em nhận một thần học về tạo thành từ căn bếp, túi rác, bàn ăn và cách người lớn mua sắm. Nếu muốn để lại một thế giới tốt hơn cho con, trước hết phải để lại cho con một cách sống tốt hơn trong thế giới.
Người trẻ hôm nay có lý khi đặt câu hỏi với thế hệ đi trước. Họ nhìn thấy một nghịch lý: người lớn khuyên họ có trách nhiệm với tương lai nhưng nhiều hệ thống mà người lớn xây dựng lại tiêu thụ tương lai rất nhanh. Dĩ nhiên, không nên biến vấn đề thành cuộc chiến thế hệ. Không phải mọi người lớn đều là thủ phạm và mọi người trẻ đều sống sinh thái. Người trẻ cũng bị cuốn mạnh vào văn hóa mua sắm nhanh, thời trang nhanh, thiết bị thay liên tục, du lịch tiêu thụ và đời sống số dùng lượng năng lượng lớn. Nhưng tiếng chất vấn của họ đáng được nghe: chúng ta đang trao cho họ điều gì? Một người trẻ có thể học rất giỏi, nhưng tương lai của họ không chỉ phụ thuộc bằng cấp. Nó còn phụ thuộc chất lượng không khí, nước, đất, hệ thống xã hội và mức ổn định của những nền tảng tự nhiên mà không đại học nào có thể cấp lại một khi đã mất. Chăm lo người trẻ mà không chăm lo ngôi nhà họ sẽ sống là một tình yêu thiếu nửa sau.
Các dòng tu cũng cần nghe ba tiếng kêu ấy theo đặc sủng của mình. Lời khấn khó nghèo có một ý nghĩa sinh thái sâu. Nếu khó nghèo chỉ là không đứng tên tài sản cá nhân nhưng cộng đoàn lại tiêu thụ sang trọng, lãng phí và thay mới không cần thiết, thì dấu chỉ khó nghèo bị yếu đi. Khó nghèo Tin Mừng không phải ca ngợi thiếu thốn. Nó là tự do khỏi nhu cầu phải sở hữu và tiêu thụ ngày càng nhiều. Nó nói rằng con người có thể sống tốt mà không cần biến mọi ước muốn thành nhu cầu. Một tu viện, một nhà dòng, một nhà đào tạo có thể trở thành nơi chứng minh rằng giới hạn không giết niềm vui. Người tu sĩ có thể sống thanh thoát, chăm vật dụng, sửa trước khi bỏ, dùng vừa phải, chia sẻ phương tiện, tôn trọng thức ăn, đất và nước. Những hành vi tưởng nhỏ ấy lại rất hợp với lời khấn khó nghèo. Trong một nền văn hóa nói “có nhiều hơn thì sống tốt hơn”, đời tu có thể nói bằng chính cách sống: “Không. Có thể cần ít hơn mà yêu nhiều hơn.”
Linh mục cũng phải thận trọng để không biến sinh thái thành một chủ đề thời thượng thỉnh thoảng đưa vào bài giảng rồi thôi. Nếu sinh thái nằm trong đức tin tạo dựng, trong luân lý về công ích, trong ưu tiên cho người nghèo và trong trách nhiệm với thế hệ sau, thì nó phải được nối vào đời sống mục vụ bình thường. Khi giảng về tham lam, hãy nhớ tham lam không chỉ nằm trong tài khoản mà còn trong cách tiêu thụ. Khi giảng về công bằng, hãy nhớ chất lượng môi trường cũng được phân phối bất bình đẳng. Khi dạy giáo lý hôn nhân, hãy nói về trách nhiệm của gia đình trong việc giáo dục con cái biết sống có giới hạn. Khi dạy người trẻ về ơn gọi, hãy nói rằng nghề kỹ sư, kiến trúc sư, nhà quản lý, doanh nhân, nông dân, nhà khoa học, viên chức, giáo viên đều có chiều kích sinh thái. Khi xét mình về đức ái, hãy hỏi cả những người vô hình chịu hậu quả từ lựa chọn của mình. Khi xưng tội, ta thường kể rất rõ những lời nóng giận nhưng ít khi nghĩ tới sự lãng phí có hệ thống. Có lẽ lương tâm Kitô hữu cần được đào tạo để thấy tội không chỉ trong những hành vi trực tiếp gây tổn thương trước mắt, mà cả trong thói quen góp phần vào những cấu trúc gây hại.
Doanh nhân Công giáo có một trách nhiệm đặc biệt ở điểm này. Không phải cứ kinh doanh là có lỗi. Kinh doanh chân chính tạo việc làm, của cải, sáng kiến và phục vụ xã hội. Nhưng lợi nhuận không thể trở thành tiêu chuẩn duy nhất. Một doanh nghiệp có thể hợp pháp mà chưa chắc công bằng. Có những chi phí bị loại khỏi sổ sách vì chúng được đẩy sang cộng đồng: ô nhiễm, bệnh nghề nghiệp, nước thải, rác, cạn tài nguyên, suy thoái đất. Nếu lợi nhuận tư nhân hình thành bằng cách xã hội hóa tổn thất, đó là một vấn đề luân lý. Người chủ doanh nghiệp có đức tin không chỉ hỏi “có bị phạt không?” mà hỏi “điều này có đúng không?”. Không chỉ hỏi “luật cho phép bao nhiêu?” mà hỏi “người sống quanh đây sẽ chịu gì?”. Không chỉ hỏi “quý này lời bao nhiêu?” mà hỏi “mười năm nữa vùng này còn sống được không?”. Đó là chỗ đức tin bước vào kinh tế mà không biến doanh nghiệp thành nhà nguyện. Đức tin không cung cấp bảng tính, nhưng cung cấp lương tâm cho người dùng bảng tính.
Người tiêu dùng cũng không vô can. Nhiều hệ thống tồn tại vì chúng ta mua. Dĩ nhiên, trách nhiệm của một cá nhân không bằng trách nhiệm của một tập đoàn hay chính phủ. Không nên đẩy toàn bộ gánh nặng xuống người mua lẻ như thể chọn đúng loại ống hút sẽ giải quyết mọi vấn đề. Nhưng cũng sai nếu người tiêu dùng tự coi mình hoàn toàn bất lực. Mỗi lần mua là một tiếng nói rất nhỏ gửi vào thị trường. Ta đang thưởng cho cách sản xuất nào? Ta có cần món đó không? Nó sẽ dùng bao lâu? Có sửa được không? Ai đã làm nó? Vì sao một món đồ rẻ đến mức bất thường? Có phải cái giá thật đã được ai đó ở cuối chuỗi cung ứng trả bằng lương thấp, sức khỏe hay môi trường sống của họ? Không ai có thể điều tra mọi món hàng. Nhưng linh đạo có thể tạo một thái độ khác: mua chậm hơn, biết đủ hơn, dùng lâu hơn, ít bị quảng cáo điều khiển hơn. Tiết độ là một nhân đức sinh thái bị quên. Người biết tiết độ không ghét vật chất. Họ chỉ không bắt vật chất gánh nhiệm vụ làm cho mình hạnh phúc.
Ba tiếng kêu cũng đặt vấn đề về di dân. Khi đất không còn nuôi được người, người phải đi. Có những cuộc di chuyển vì chiến tranh, chính trị và kinh tế; nhưng biến đổi môi trường ngày càng trở thành một yếu tố đẩy người khỏi nơi họ sống. Một nông dân mất mùa nhiều năm, một gia đình mất đất bởi xói lở, một cộng đồng ven biển chịu xâm nhập mặn có thể di chuyển trước khi một nhà nghiên cứu gọi họ là “di dân khí hậu”. Họ chỉ biết rằng ở lại không còn sống được. Khi ấy vấn đề sinh thái đi thẳng vào thành phố, nhà trọ, lao động nhập cư, giáo dục của trẻ em, mục vụ di dân và xung đột xã hội. Không có vấn đề nào đứng riêng. Một vùng đất bị thương hôm nay có thể trở thành khu nhà trọ chật chội ở đô thị ngày mai.
Tiếng kêu của thế hệ sau còn đặt ta trước một câu hỏi thần học đẹp mà nghiêm: ta hiểu “hy vọng” thế nào? Hy vọng Kitô giáo không phải lý do để vô trách nhiệm với trái đất vì nghĩ rằng Thiên Chúa sẽ làm trời mới đất mới. Cách đọc ấy là bóp méo cánh chung. Nếu một người tin vào sự sống lại của thân xác, người ấy không vì thế mà được phép phá thân xác hiện tại. Trái lại, niềm hy vọng phục sinh làm thân xác có phẩm giá hơn. Cũng vậy, hy vọng về trời mới đất mới không cho phép ta làm hỏng tạo thành hiện tại. Thiên Chúa cứu công trình của Người; Người không dạy ta khinh công trình ấy. Cánh chung Kitô giáo không phải giấy phép bỏ bê lịch sử. Người đầy tớ được chủ hứa trở về vẫn phải chăm nhà trong lúc chờ chủ. “Chúa sẽ đến” không có nghĩa “hãy phá cho nhanh”. Nó có nghĩa “hãy trung tín với điều đã được trao”.
Một số người sợ rằng nói quá nhiều về môi trường sẽ làm Hội Thánh quên loan báo Tin Mừng. Nhưng nếu Tin Mừng là tin vui về Đức Giêsu Kitô, Đấng trong Người muôn vật được tạo thành và được quy tụ, thì tạo thành không nằm ngoài Tin Mừng. Dĩ nhiên, Hội Thánh không được thu mình thành một tổ chức môi trường. Cứu độ không đồng nghĩa với tái chế rác. Tội lỗi sâu hơn lượng carbon. Ơn cứu độ sâu hơn mọi chính sách xanh. Nhưng chính vì Tin Mừng sâu hơn nên nó chạm được tới cả cách ta đối xử với đất. Hoán cải thật không dừng ở bàn thờ. Nó đi vào túi tiền, tủ lạnh, thùng rác, phương tiện đi lại, nghề nghiệp và quyền công dân. Nếu Đức Kitô là Chúa của toàn bộ đời sống, không có vùng nào hoàn toàn đứng ngoài quyền của Người.
Cũng cần tránh biến sinh thái thành một tôn giáo mới với tội lỗi, lễ nghi và ngày tận thế riêng nhưng không có ơn tha thứ. Người Kitô hữu nói về khủng hoảng với sự nghiêm trọng nhưng không tuyệt vọng. Tạo thành bị thương, nhưng không bị bỏ. Con người gây nhiều thiệt hại, nhưng vẫn có khả năng hoán cải, sáng tạo và phục hồi. Nhiều dòng sông có thể sạch lại khi người ta dừng đầu độc. Đất có thể hồi phục nếu được chăm. Rừng có thể mọc lại. Những loài bên bờ tuyệt chủng đôi khi có thể được cứu khi cộng đồng hành động. Thành phố có thể xanh hơn. Công nghệ có thể giảm chất thải. Chính sách có thể thay đổi. Thói quen có thể đổi. Tâm hồn cũng có thể đổi. Kitô giáo không loan báo một bản án định mệnh. Kitô giáo loan báo khả năng hoán cải. Nhưng hoán cải không phải một cảm xúc xanh. Nó là thay đổi đường đi.
Người nghèo cũng không được biến thành hình ảnh trang trí trong diễn ngôn sinh thái. Không phải nói “người nghèo chịu ảnh hưởng” là đủ. Phải nghe họ. Những người sống trên đất thường hiểu đất theo cách chuyên gia từ xa không hiểu. Người nông dân biết mùa, nước, giống, sâu bệnh bằng một tri thức tích lũy trong thân thể và kinh nghiệm. Người đánh cá biết biển. Cộng đồng bản địa biết rừng. Người phụ nữ quản lý nước trong gia đình biết những biến động mà báo cáo đôi khi chưa thấy. Công lý đòi người chịu ảnh hưởng phải được tham gia vào quyết định. Không thể cứu môi trường bằng cách đẩy người nghèo ra khỏi nơi họ sống mà không nghe họ, cũng không thể nhân danh phát triển mà buộc họ chịu thiệt. Chính họ phải trở thành chủ thể chứ không chỉ là đối tượng được “giúp”.
Trong Hội Thánh, nguyên tắc ấy cũng đáng suy nghĩ. Khi nói về người nghèo, hãy để người nghèo có tiếng nói. Khi nói về người trẻ, hãy nghe người trẻ. Khi nói về các cộng đồng bị ảnh hưởng bởi môi trường, đừng chỉ mời chuyên gia trên sân khấu. Mục vụ không phải nói thay mọi người. Mục vụ còn là tạo chỗ để người yếu được nói và được nghe. Một Hội Thánh hiệp hành thật sự sẽ rất nhạy với các tiếng kêu không lọt vào trung tâm. Hiệp hành sinh thái không phải thêm một ban mới vào sơ đồ tổ chức. Nó là học đi với nhau trong cùng một ngôi nhà chung, đặc biệt với người đang đi ở chỗ nguy hiểm nhất.
Ba tiếng kêu cuối cùng quy về một tiếng kêu sâu hơn: tiếng kêu của một trật tự hiệp thông bị phá. Đất bị biến thành hàng hóa thuần túy. Người nghèo bị biến thành chi phí. Thế hệ sau bị biến thành chuyện để sau. Cả ba đều là dấu hiệu một cái “tôi” và một cái “chúng ta hiện tại” đã phình quá lớn. Tội luôn có khuynh hướng co thế giới lại quanh mình: tôi cần, tôi muốn, tôi có quyền, thế hệ tôi cần, quốc gia tôi cần, doanh nghiệp tôi cần. Ân sủng mở rộng: còn người khác thì sao? còn người nghèo thì sao? còn tạo thành thì sao? còn con cháu thì sao? Hoán cải sinh thái vì thế không chỉ thay vật dụng mà thay kích thước của trái tim. Một trái tim hẹp chỉ thấy cái gần. Một trái tim được Tin Mừng mở ra biết tính cả người ở xa, người không quen, người chưa sinh và thụ tạo không biết nói.
Thánh Thể là trường tuyệt đẹp cho sự mở rộng ấy. Trên bàn thờ, bánh và rượu là hoa màu của đất và lao công của con người. Đất và công việc gặp nhau trong lễ vật. Không có đất thì không có lúa. Không có nắng, mưa, nước, vi sinh vật, mùa màng thì không có bánh. Không có người gieo, người gặt, người vận chuyển, người xay, người làm bánh thì cũng không có bánh. Một miếng bánh mang cả tạo thành và xã hội tới bàn thờ. Khi linh mục dâng “hoa màu ruộng đất và lao công của con người”, Hội Thánh thú nhận rằng đời sống là hiệp thông giữa quà tặng Thiên Chúa và lao động con người. Sau đó bánh trở thành Mình Đức Kitô và được bẻ ra. Một cộng đoàn ăn Bánh được bẻ mà vẫn xây đời mình trên việc bẻ gãy người nghèo và bẻ gãy đất sẽ sống mâu thuẫn với điều mình cử hành. Thánh Thể không tự động biến người ta thành nhà sinh thái, nhưng nếu được sống thật, Thánh Thể dạy biết nhận, tạ ơn, chia sẻ và không chiếm giữ. Bốn động từ ấy đủ sức làm đảo ngược nhiều thói quen của nền tiêu thụ.
Nhận: vì thế giới là quà, không phải chiến lợi phẩm. Tạ ơn: vì người biết ơn ít phá thứ mình biết là quà. Chia sẻ: vì quà không được trao để một số ít tích trữ. Bẻ ra: vì sự sống Kitô hữu trưởng thành trong khả năng tự giới hạn vì người khác. Chính ở đây, chăm sóc tạo thành có cấu trúc Thánh Thể. Ta nhận và trao lại, không chiếm luôn. Ta dùng và cảm tạ, không nuốt hết. Ta sống nhờ đất và để đất tiếp tục nuôi người khác.
Xét mình trước ba tiếng kêu ấy có thể rất cụ thể. Gia đình tôi có đang lãng phí thức ăn không? Công việc của tôi tạo ảnh hưởng nào lên người khác và môi trường? Tôi có mua đồ để dùng hay để lấp một khoảng trống tâm lý? Tôi có coi người thu gom rác như người vô hình? Tôi có biết rác mình đi đâu? Tôi có quan tâm đến nước sạch chỉ khi nhà mình mất nước? Tôi có ủng hộ những quyết định công chỉ vì lợi riêng cho khu vực của mình? Tôi có nghĩ đến người nghèo khi nói về chính sách môi trường? Tôi có nghĩ đến môi trường khi làm việc bác ái? Tôi có để lại cho con cháu điều gì ngoài tiền? Tôi đang dạy trẻ em biết đủ hay dạy chúng rằng yêu thương nghĩa là mua thêm? Tôi có cầu nguyện cho tạo thành nhưng sống như thể tài nguyên vô hạn? Những câu hỏi ấy không nhằm tạo mặc cảm. Chúng nhằm trả lương tâm về thực tại.
Một xã hội chỉ nghe người có tiếng lớn sẽ dần trở nên điếc. Một Hội Thánh chỉ nghe người ở trung tâm cũng có nguy cơ như vậy. Thiên Chúa trong Kinh Thánh nhiều lần nói qua tiếng kêu ở ngoại vi. Israel được sinh ra từ tiếng kêu của nô lệ. Các ngôn sứ đứng về phía người bị chèn ép. Đức Giêsu nghe tiếng người mù bên đường khi đám đông muốn họ im. Người dừng trước người phong cùi, người phụ nữ bị loại, trẻ em bị ngăn lại. Tin Mừng có một thứ thính giác rất đặc biệt: nó nghe tiếng mà trật tự xã hội muốn giảm âm lượng. Hôm nay, thính giác ấy phải mở cả với đất, người nghèo và tương lai.
Có thể rồi sẽ đến một ngày con cháu hỏi thế hệ chúng ta: các ông bà đã biết chưa? Đây là câu hỏi khó. Nếu ta không biết, có thể còn nói vì thiếu thông tin. Nhưng nhiều điều hôm nay ta đã biết. Ta biết rác nhựa tồn tại lâu. Ta biết nguồn nước có giới hạn. Ta biết ô nhiễm gây bệnh. Ta biết nhiều hệ sinh thái đang suy giảm. Ta biết khí hậu thay đổi gây rủi ro. Ta biết người nghèo chịu tác động nặng hơn. Ta biết một số kiểu tiêu dùng không thể phổ cập cho toàn nhân loại mà không vượt sức hành tinh. Biết làm trách nhiệm lớn hơn. Lương tâm không chỉ bị xét bởi điều mình làm mà còn bởi điều mình đã biết nhưng chọn không làm gì.
Dẫu vậy, không ai được biến trách nhiệm thành tuyệt vọng. Người Kitô hữu không mang toàn thế giới trên vai mình. Chỉ Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ. Ta không cứu hành tinh bằng sức riêng. Thái độ đúng không phải hoảng loạn mà là trung tín. Làm phần mình. Làm cùng người khác. Đòi hỏi cơ chế tốt hơn. Chấp nhận giới hạn. Học lại lòng biết đủ. Bảo vệ người yếu. Giáo dục thế hệ sau. Cầu nguyện. Hành động. Và giữ hy vọng. Hy vọng không miễn ta khỏi hành động; hy vọng làm ta đủ sức hành động mà không bị nghiền nát bởi gánh nặng.
Đất đang kêu. Người nghèo đang kêu. Các thế hệ sau, theo một nghĩa nào đó, cũng đang kêu từ phía tương lai. Người Kitô hữu đứng ở đâu giữa ba tiếng kêu ấy? Không phải đứng ngoài như trọng tài. Ta ở trong chính hệ thống gây ra và chịu những hậu quả ấy. Ta vừa là người cần hoán cải vừa là người được gọi chữa lành. Có phần ta đã góp vào vấn đề. Cũng có phần ta có thể góp vào giải pháp. Tư thế Kitô hữu không phải tự cho mình trong sạch hơn thế giới, nhưng khiêm tốn nhận trách nhiệm và bước vào công cuộc phục hồi.
Nếu phải tóm lại chương này trong một câu, có lẽ chỉ cần nói: đừng tách điều Thiên Chúa đã nối. Đừng tách đất khỏi người. Đừng tách người nghèo khỏi môi trường. Đừng tách hiện tại khỏi tương lai. Đừng tách kinh tế khỏi luân lý. Đừng tách phụng vụ khỏi đời sống. Đừng tách lòng đạo khỏi cách tiêu thụ. Đừng tách yêu con cháu khỏi ngôi nhà ta để lại cho chúng. Và đừng tách tiếng kêu của bất cứ thụ tạo nào khỏi đôi tai của một người tin vào Thiên Chúa là Cha của mọi sự.
Có lẽ vào ngày phán xét, Chúa sẽ không hỏi ta đã thuộc bao nhiêu khẩu hiệu sinh thái. Người sẽ hỏi theo cách của Tin Mừng: khi Ta khát, con có cho Ta uống không; khi Ta bị đẩy ra ngoài, con có nhận ra Ta không; khi những người bé nhỏ chịu phần nặng nhất, con đứng về phía nào; khi con được trao một khu vườn, con đã canh tác và gìn giữ thế nào; khi con nhận một thế giới từ những người đi trước, con đã trao lại gì cho những người đến sau? Và có lẽ lúc ấy ta sẽ hiểu rằng tiếng kêu của đất, tiếng kêu của người nghèo và tiếng kêu của các thế hệ tương lai chưa bao giờ là ba tiếng kêu xa lạ. Đó là một tiếng gọi duy nhất hướng về lương tâm: hãy trở lại vị trí của thụ tạo, của người quản gia, của người anh em; hãy sống sao để sự hiện diện của mình trên trái đất không trở thành một vết thương, nhưng thành một phần nhỏ trong công trình chữa lành mà Thiên Chúa vẫn đang kiên nhẫn thực hiện giữa thế giới Người yêu thương.

CHƯƠNG 22. PARADIGME KỸ TRỊ: NHÌN MÀ KHÔNG CHIÊM NGẮM
Có một cách nhìn rất thông minh mà vẫn có thể rất nghèo. Có một con mắt đo được khoảng cách từ trái đất đến một hành tinh xa, tính được tốc độ tan của một khối băng, ước lượng được trữ lượng của một mỏ khoáng sản, phân tích được từng thành phần hóa học trong một giọt nước, dự báo được sản lượng một cánh đồng, lập mô hình tăng trưởng của một thành phố, tối ưu hóa được đường đi của hàng triệu kiện hàng mỗi ngày, nhưng lại không còn biết ngạc nhiên trước một hạt mầm đang nứt vỏ, không còn biết cúi xuống trước một dòng sông như trước một điều đã được trao ban, không còn nghe được tiếng của người nghèo sống bên bờ con sông ấy, và nhất là không còn nhận ra rằng thế giới này không phải do mình làm ra. Đó là một nghịch lý của thời đại chúng ta: con người chưa bao giờ nhìn xa đến thế mà cũng có nguy cơ chưa bao giờ nhìn nông đến thế; chưa bao giờ biết nhiều dữ kiện đến thế mà cũng có nguy cơ đánh mất sự khôn ngoan về ý nghĩa của những gì mình đang biết. Chính trong khung cảnh ấy, Đức Giáo hoàng Phanxicô nói nhiều đến điều thường được gọi là “paradigme kỹ trị”, hay mô thức kỹ trị: không đơn giản là việc sử dụng máy móc, khoa học hoặc công nghệ, nhưng là một cách nhìn toàn bộ thực tại dưới lăng kính của khả năng kiểm soát, khai thác, tổ chức, gia tăng hiệu suất và sinh lợi. Nếu kỹ thuật chỉ là dụng cụ, nó có thể phục vụ con người và phục vụ sự sống. Nhưng khi kỹ thuật biến thành paradigme, tức là biến thành khuôn mẫu chi phối cách con người nghĩ về mọi sự, thì điều nguy hiểm xảy ra không phải chỉ ở nhà máy hay phòng thí nghiệm, mà trước hết ở trong con mắt. Con người bắt đầu nhìn mà không còn chiêm ngắm.
Cần nói thật rõ: Kitô giáo không chống khoa học. Hội Thánh không được phép sợ kỹ thuật chỉ vì kỹ thuật mới. Khoa học là một trong những hoa trái tuyệt vời của trí tuệ con người, mà chính trí tuệ ấy là quà tặng của Đấng Tạo Hóa. Y khoa cứu người, kỹ thuật dẫn nước về nơi hạn hán, vệ tinh cảnh báo bão, công nghệ làm giảm lao động nặng nhọc, các hệ thống xử lý nước thải ngăn bệnh tật, năng lượng mới có thể giúp giảm ô nhiễm, khoa học nông nghiệp có thể cứu những vùng khỏi đói, công nghệ truyền thông có thể đưa tri thức đến người ở xa. Không có lý do thần học nào để coi những điều ấy là đối nghịch với Thiên Chúa. Ngược lại, khi trí tuệ con người được đặt trong sự thật, công bằng và bác ái, kỹ thuật có thể trở thành một cách cộng tác với công trình tạo dựng. Vấn đề bắt đầu khi ta không còn đặt câu hỏi “điều này phục vụ sự sống thế nào?” mà chỉ còn hỏi “điều này có thể làm được không?”, “nó nhanh hơn bao nhiêu?”, “nó sinh lời bao nhiêu?”, “nó giúp ta chiếm ưu thế thế nào?”. Từ giây phút ấy, cái “có thể” lấn át cái “nên”; hiệu suất lấn át lương tâm; khả năng biến đổi lấn át khả năng đón nhận; quyền lực kỹ thuật lấn át sự khôn ngoan đạo đức. Và con người rất dễ tự thuyết phục rằng vì mình có thể làm nên mình có quyền làm.
Paradigme kỹ trị không chỉ nằm trong một phòng máy đầy màn hình. Nó có thể nằm trong tâm trí của một người nông dân, một doanh nhân, một chính trị gia, một kỹ sư, một người làm mục vụ, thậm chí một linh mục, nếu tất cả thực tại chung quanh chỉ còn được nhìn như thứ cần được quản lý để đạt mục tiêu. Một cánh rừng có thể chỉ còn là số mét khối gỗ. Một dòng sông chỉ còn là công suất thủy điện. Một quả núi chỉ còn là trữ lượng đá. Một thửa đất chỉ còn là giá thị trường. Một khu phố chỉ còn là giá trị bất động sản. Một người lao động chỉ còn là năng suất. Một người già chỉ còn là chi phí chăm sóc. Một đứa trẻ chỉ còn là “nguồn nhân lực tương lai”. Một giáo dân chỉ còn là người để huy động vào công việc giáo xứ. Một người nghèo chỉ còn là “đối tượng bác ái”. Một bệnh nhân chỉ còn là hồ sơ. Một học sinh chỉ còn là điểm số. Một tín hữu chỉ còn là con số tham dự. Khi paradigme kỹ trị đi vào đời sống, không chỉ thiên nhiên bị vật hóa; con người cũng bị vật hóa. Người ta có thể nói rất nhiều về “nguồn lực”, “hiệu quả”, “tối ưu”, “quản trị”, “đầu ra”, nhưng dần dần quên hỏi một câu căn bản hơn: người này là ai trước mặt Thiên Chúa? Thụ tạo này là gì trong ý định của Thiên Chúa? Đất này đã được trao cho ai trước ta và sẽ phải được trao lại cho ai sau ta?
Điều đáng sợ nhất của paradigme kỹ trị không phải là nó luôn độc ác. Nhiều khi nó rất hợp lý, rất sạch sẽ, rất chuyên nghiệp, rất văn minh. Nó có thể có biểu đồ đẹp, số liệu đầy đủ, ngôn ngữ trung tính, quy trình chuẩn. Nhưng sự khôn ngoan không đồng nghĩa với khả năng quản trị một hệ thống. Một quyết định có thể đúng về kỹ thuật mà sai về con người. Một dự án có thể sinh lời mà làm một cộng đồng mất đất. Một nhà máy có thể đạt sản lượng tuyệt vời mà đẩy bệnh tật sang vùng dân nghèo. Một con đập có thể sản xuất điện mà xóa một sinh cảnh, đổi dòng phù sa, buộc hàng nghìn người rời nơi tổ tiên họ đã sống. Một khu du lịch có thể được quảng cáo là “xanh” nhưng chiếm bờ biển của ngư dân. Một thành phố có thể sáng rực và thông minh mà người nghèo không đủ tiền thuê một căn phòng. Một nền kinh tế có thể tăng trưởng trong khi nguồn nước xuống cấp, đất mất màu, trẻ em hít khí độc. Nếu chỉ dùng bảng cân đối tài chính, những thiệt hại ấy có thể bị ghi ở cột phụ hoặc hoàn toàn biến mất. Nhưng trong cái nhìn của Thiên Chúa, không có người nghèo nào là cột phụ, không có tiếng kêu nào của đất là dữ liệu ngoài lề.
Paradigme kỹ trị thích những gì có thể đo. Nhưng không phải mọi điều quý nhất đều có thể đo. Ta đo được lượng nước trong hồ, nhưng không đo hết được ký ức của một cộng đồng đã sống quanh hồ ấy ba trăm năm. Ta đo được sản lượng của đất, nhưng không đo được tình cảm của một người nông dân đối với mảnh ruộng cha mẹ để lại. Ta đo được diện tích rừng, nhưng không đo hết được nỗi kinh ngạc của một đứa trẻ lần đầu nghe tiếng chim trong rừng. Ta đo được lượng khí thải của một thành phố, nhưng không đo hết được sự mệt mỏi của một bà mẹ phải đưa con đi khám hen suốt nhiều năm. Ta đo được tốc độ mạng, nhưng không đo được sự cô đơn. Ta đo được thời gian lao động, nhưng không đo được phẩm giá bị tổn thương khi người ta bị đối xử như máy. Ta đo được số người đến nhà thờ, nhưng không đo được mức độ họ thực sự để Lời Chúa đổi lòng. Đo lường cần thiết. Nhưng khi chỉ cái gì đo được mới được coi là có thật, đời sống con người trở nên nghèo khủng khiếp. Đức tin Kitô giáo chống lại sự nghèo ấy bằng cách nhắc rằng điều sâu nhất của thực tại là quà tặng, tương quan, lời gọi và mầu nhiệm.
Chiêm ngắm chính là khả năng thấy nhiều hơn cái có thể sử dụng. Người chiêm ngắm nhìn một cái cây và biết rằng cái cây có thể cho gỗ, cho bóng, cho quả, giữ đất, giữ nước, nhưng không dừng ở những công dụng ấy. Người ấy biết đứng trước cây như trước một thụ tạo đang hiện hữu bởi vì Thiên Chúa muốn nó hiện hữu. Cái nhìn này không biến cây thành thần. Nó cũng không phủ nhận nhu cầu dùng gỗ, trồng trọt, xây dựng. Nó chỉ từ chối việc giản lược cây thành công dụng. Một người mẹ không chỉ có giá trị vì bà nấu ăn, chăm con, làm việc. Một người già không chỉ đáng sống vì họ còn “có ích”. Một thai nhi không chỉ có phẩm giá khi tương lai hứa hẹn năng suất. Một người khuyết tật không cần chứng minh hiệu quả để được yêu. Cũng vậy, thụ tạo không chỉ đáng được gìn giữ khi ta chứng minh được lợi ích kinh tế trực tiếp của nó. Có một giá trị đi trước công dụng vì tất cả xuất phát từ lời “hãy có” của Thiên Chúa. Chiêm ngắm trả lại cho thực tại giá trị ấy.
Paradigme kỹ trị nhìn thế giới như một kho vật liệu vô hạn đặt trước một ý chí muốn chiếm lĩnh. Chiêm ngắm nhìn thế giới trước hết như một quà tặng mình đã nhận. Hai cái nhìn tạo ra hai loại con người khác nhau. Người coi thế giới là kho sẽ hỏi: “Tôi có thể lấy thêm gì?” Người coi thế giới là quà sẽ hỏi: “Tôi phải nhận thế nào cho xứng và trao lại thế nào cho đúng?” Người thứ nhất thấy giới hạn là chướng ngại. Người thứ hai hiểu giới hạn có thể là đường biên của tình yêu. Người thứ nhất nghĩ rằng tiến bộ là loại bỏ càng nhiều giới hạn càng tốt. Người thứ hai hiểu có những giới hạn cần phá, như giới hạn của bệnh tật, đói nghèo, bất công, nhưng có những giới hạn phải kính trọng: giới hạn của thân thể, của hệ sinh thái, của đất đai, của khả năng tái tạo, của phẩm giá con người, của sự sống không thuộc quyền định đoạt tuyệt đối của ta. Sự khôn ngoan Kitô giáo không đồng hóa tự do với vô giới hạn. Trong Sách Sáng Thế, giới hạn xuất hiện ngay trong vườn. Trong ngày sabát, giới hạn trở thành thánh. Không làm mọi điều mình có thể làm là một hình thức trưởng thành.
Một trong những ảo tưởng lớn của paradigme kỹ trị là tin rằng mọi vấn đề do kỹ thuật gây ra rồi sẽ được kỹ thuật mới giải quyết. Ô nhiễm? Sẽ có máy tốt hơn. Khí hậu nóng? Sẽ có công nghệ mới. Đất suy kiệt? Sẽ có giống mới. Con người cô đơn? Sẽ có nền tảng kết nối mới. Trẻ em lệ thuộc màn hình? Sẽ có ứng dụng quản lý màn hình. Thực phẩm bị công nghiệp hóa quá mức? Sẽ có công nghệ thực phẩm tiên tiến hơn. Không phải các giải pháp ấy vô ích. Nhiều giải pháp kỹ thuật rất cần. Nhưng câu hỏi là: nếu chính cách sống không đổi, nếu lòng tham không đổi, nếu mô hình tiêu thụ không đổi, nếu con người vẫn coi mọi sự là vật liệu cho ham muốn vô hạn, thì mỗi giải pháp có thể chỉ đẩy vấn đề sang nơi khác. Ta tiết kiệm năng lượng trên một thiết bị rồi mua thêm năm thiết bị khác. Ta dùng bóng đèn ít điện hơn nhưng để sáng những không gian lớn hơn suốt đêm. Ta mua xe ít tiêu hao nhiên liệu hơn nhưng di chuyển ngày càng nhiều. Ta tái chế một phần rác nhưng tiếp tục mua những thứ mình không cần. Ta nói về “xanh” nhưng vẫn định nghĩa hạnh phúc bằng khả năng tiêu thụ. Vì thế, gìn giữ tạo thành không chỉ là đổi bóng đèn. Đổi bóng đèn có thể tốt. Nhưng nếu không đổi con mắt, bóng đèn mới chỉ chiếu sáng rõ hơn một căn phòng vẫn được tổ chức theo cùng một logic cũ.
Hoán cải sinh thái vì thế trước hết là hoán cải cái nhìn. Đây là điều sâu hơn bất cứ chiến dịch môi trường nào. Người ta có thể phân loại rác mà vẫn sống theo paradigme chiếm hữu. Có thể trồng cây để chụp ảnh mà không thay đổi lối tiêu thụ. Có thể xây nhà thờ “xanh” nhưng trong cách quản trị vẫn xem con người như dụng cụ. Có thể nói rất hay về Laudato Si’ nhưng không bao giờ ngồi yên năm phút trước một cơn mưa. Có thể tổ chức hội thảo môi trường với máy lạnh chạy hết công suất, hàng đống đồ dùng một lần và một văn hóa phô trương không hề bị chất vấn. Vấn đề không phải để chế giễu những cố gắng nhỏ. Mọi việc nhỏ đều có ý nghĩa. Nhưng việc nhỏ chỉ thực sự sinh hoa trái khi nó nằm trong một cuộc trở về sâu hơn: từ chiếm hữu sang đón nhận, từ kiểm soát sang cộng tác, từ tiêu thụ sang biết đủ, từ vội vàng sang hiện diện, từ nhìn vật đến gặp thụ tạo.
Ở đây chiêm ngắm không phải chuyện xa xỉ dành cho người rảnh. Chiêm ngắm là một hành vi kháng cự thiêng liêng trước paradigme kỹ trị. Khi một người đứng yên trước hoàng hôn mà không chụp hình, không đăng, không bán, không biến nó thành nội dung, họ đang làm một việc rất nhỏ nhưng rất quan trọng: họ cho phép một điều tồn tại mà không cần trở thành hàng hóa. Khi người cha dắt con đi trên cánh đồng và chỉ nói: “Con nghe tiếng chim không?”, ông đang dạy một điều mà trường kỹ thuật cao cấp nhất cũng khó dạy nếu thiếu nền nhân bản: thế giới có thể được đón nhận trước khi được sử dụng. Khi một tu sĩ đi bộ chậm trong sân nhà và nhìn một chiếc lá rụng mà không thấy mình lãng phí thời gian, người ấy đang chống lại sự thống trị của hiệu suất trong chính linh hồn. Khi một giáo xứ giữ lại một khoảng đất không xây kín, trồng cây không vì trang trí sự kiện mà để trẻ em có chỗ chạm vào đất, cộng đoàn ấy đang nói bằng không gian rằng không phải từng mét vuông đều phải sinh lợi. Khi một doanh nghiệp chấp nhận giảm một phần lợi nhuận để không đẩy ô nhiễm sang người nghèo, họ đang đặt giới hạn đạo đức trên quyền lực kỹ thuật. Khi một nhà khoa học nói “chúng ta chưa biết đủ để can thiệp ở mức ấy”, sự khiêm tốn ấy cũng là một hình thức chiêm ngắm.
Nhìn mà không chiêm ngắm cuối cùng dẫn đến một thứ mù. Ta nhìn thấy cấu trúc nhưng không thấy ý nghĩa. Ta thấy vật nhưng không thấy quà. Ta thấy giá nhưng không thấy giá trị. Ta thấy hiệu suất nhưng không thấy tổn thương. Ta thấy nhu cầu hôm nay nhưng không thấy thế hệ ngày mai. Ta thấy quyền của mình nhưng không thấy món nợ mình đang mang. Cái mù này nguy hiểm hơn thiếu thông tin vì nó thường đi cùng rất nhiều thông tin. Người mù theo nghĩa này có thể cầm bản đồ trong tay, biết chính xác vị trí từng dòng sông, từng mỏ khoáng sản, từng khu rừng, nhưng không biết mình phải đứng trước chúng với thái độ nào. Bi kịch của văn minh không phải chỉ là không biết. Bi kịch lớn hơn là biết rất nhiều nhưng không còn biết kính trọng.
Kinh Thánh dạy một cách nhìn khác ngay từ những trang đầu. Thiên Chúa nhìn tạo thành và thấy “tốt đẹp”. Người không nhìn để khai thác. Người nhìn để vui trong sự tốt lành của điều Người đã gọi vào hiện hữu. Khi con người được đặt vào vườn để “canh tác và gìn giữ”, con người được trao một trách nhiệm nhưng không được trao quyền sở hữu tuyệt đối. Vườn có trước Adam. Sự sống có trước Adam. Lời Thiên Chúa có trước Adam. Adam bước vào một thực tại đã nhận được lời chúc lành trước khi mình có thể làm gì với nó. Đây là nền thần học quan trọng chống paradigme kỹ trị: thực tại không bắt đầu từ dự án của con người. Con người đến sau. Con người là người nhận trước khi là người làm. Là người thụ hưởng trước khi là người tổ chức. Là thụ tạo trước khi là nhà quản lý.
Tội lỗi đảo ngược thứ tự ấy. Con người muốn mình là trung tâm nguồn nghĩa, tự quyết tốt xấu, nhìn mọi sự theo lợi ích của mình. Paradigme kỹ trị hiện đại có thể được hiểu như một hình thức tinh vi của cám dỗ cổ xưa: không chỉ biết sự vật nhưng muốn làm chủ điều kiện tồn tại của sự vật; không chỉ cộng tác với trật tự tạo thành nhưng muốn làm cho trật tự ấy hoàn toàn phục tùng ý muốn của mình. Đây không phải lời lên án mọi can thiệp vào thiên nhiên. Canh tác đã là can thiệp. Y khoa là can thiệp. Xây nhà là can thiệp. Nhưng khác biệt nằm ở thái độ nền tảng: ta can thiệp như quản gia hay như chủ tuyệt đối? Ta dùng trí tuệ để phục vụ sự sống hay dùng sự sống để mở rộng quyền lực của trí tuệ? Ta sửa chữa một điều vì nó bị thương hay biến đổi mọi điều chỉ vì ta không chịu được việc có điều nằm ngoài kiểm soát?
Đức Giêsu cho ta một kiểu nhìn hoàn toàn khác. Người nhìn chim trời, hoa huệ ngoài đồng, hạt cải, cây vả, cánh đồng lúa, cá dưới hồ, mây trời, ánh mặt trời và mưa. Người không biến những thứ ấy thành một bài giảng khoa học; Người đọc nơi chúng dấu vết của Cha. “Cha anh em trên trời nuôi chúng.” Câu nói ấy chứa cả một linh đạo tạo thành. Chim có giá trị không phải trước hết vì phục vụ con người, nhưng vì sống dưới sự chăm sóc của Cha. Hoa cỏ có vẻ đẹp không phải vì được đem bán, nhưng vì được mặc vẻ đẹp. Mưa rơi trên người công chính và kẻ bất chính nói về một sự rộng lượng đi trước thành tích. Đức Giêsu nhìn thế giới như nơi sự Quan Phòng đang hoạt động. Cái nhìn của Người không ngây thơ. Người biết đói, biết bão, biết bệnh, biết sự mong manh. Nhưng giữa một thế giới mong manh, Người vẫn thấy quà tặng. Cái nhìn Kitô giáo không phủ nhận vết thương của tạo thành; nó nhìn vết thương mà không quên Đấng Tạo Hóa.
Nhập thể càng triệt để phá paradigme coi vật chất chỉ là công cụ. Con Thiên Chúa đã nhận thân xác. Người đã đi bằng đôi chân trên đất, uống nước, ăn bánh, chạm người bệnh, ngủ trên thuyền, đổ mồ hôi, chảy máu, được chôn trong đất. Nếu vật chất chỉ là nguyên liệu trung tính để thao tác, mầu nhiệm Nhập thể trở thành điều khó hiểu. Nhưng trong đức tin Kitô giáo, vật chất có khả năng trở thành nơi gặp gỡ. Nước của phép Rửa, dầu của các bí tích, bánh và rượu của Thánh Thể, thân xác trong hôn nhân, đôi tay đặt trên đầu trong chức thánh: Thiên Chúa không cứu chúng ta bằng cách kéo ta khỏi vật chất, nhưng bằng cách đi vào lịch sử vật chất của ta. Đây là một lý do sâu xa để Kitô hữu không được nhìn thế giới như kho đồ. Cái được Thiên Chúa dùng để đến với ta không thể bị ta khinh như vật vô nghĩa.
Đỉnh cao của cách nhìn ấy nằm nơi Thánh Thể. Một ít bánh, một ít rượu, hoa màu của đất và lao công của con người, được đưa lên bàn thờ. Trong Thánh lễ, vật chất không bị xóa bỏ nhưng được đưa vào lời tạ ơn. Chính chữ Eucharistia có nghĩa là tạ ơn. Paradigme kỹ trị nói: sử dụng. Thánh Thể nói: tạ ơn. Paradigme kỹ trị nói: biến đổi để có lợi. Thánh Thể nói: nhận, dâng, bẻ ra, chia sẻ. Paradigme kỹ trị dễ gom tích. Thánh Thể tạo hiệp thông. Người rước Thánh Thể mà sống như chủ tuyệt đối của đất, nước, của cải và người khác là sống một nghịch lý. Ta nhận một thế giới được thu nhỏ trong bánh và rượu như hồng ân, rồi ra khỏi nhà thờ coi mọi sự như tài sản tuyệt đối của mình. Hoán cải sinh thái Kitô giáo phải đi qua bàn thờ: người biết nói “Tạ ơn Chúa” trên bánh cũng phải học nói “tạ ơn” trước đất cho hạt lúa, trước nước nuôi cây, trước người nông dân, trước những hệ sinh thái âm thầm làm cho bánh có thể có.
Paradigme kỹ trị cũng làm thay đổi tương quan với thời gian. Kỹ thuật hứa tiết kiệm thời gian, nhưng con người hiện đại thường xuyên cảm thấy thiếu thời gian. Máy chạy nhanh hơn, mạng nhanh hơn, giao hàng nhanh hơn, liên lạc nhanh hơn, nhưng tâm hồn không vì thế mà rộng hơn. Khi tốc độ trở thành giá trị tuyệt đối, điều chậm bị xem là kém hiệu quả: một cuộc trò chuyện dài, một bữa cơm không màn hình, một người già kể chuyện cũ, một đứa trẻ hỏi nhiều câu, một giờ cầu nguyện, một mùa cây lớn, một tiến trình chữa lành, một cuộc hoán cải. Nhưng sự sống có nhịp của nó. Không thể kéo một cây lúa lên để nó lớn nhanh. Không thể bắt một đứa trẻ trưởng thành bằng cách nạp thêm dữ kiện. Không thể tự động hóa tình bạn. Không thể tối ưu hóa lòng thương xót. Không thể ép một tâm hồn hoán cải theo lịch dự án. Có những điều chỉ lớn lên khi được chờ. Chiêm ngắm dạy con người trở lại với thời gian của sự sống.
Vì thế sabát là một cuộc phê bình paradigme kỹ trị rất mạnh. Dừng lại một ngày nghĩa là công nhận thế giới vẫn tồn tại khi ta không sản xuất. Công nhận mình không phải người giữ cho vũ trụ vận hành. Công nhận đất cũng cần nghỉ, người lao động cần nghỉ, súc vật cần nghỉ, người nghèo không phải máy. Một xã hội không biết dừng sẽ cuối cùng ăn cả con người lẫn đất. Một người không biết dừng dễ tưởng giá trị của mình bằng năng suất. Một giáo xứ không biết dừng có thể đầy hoạt động và rỗng chiêm ngắm. Một tu sĩ không biết dừng có thể làm rất nhiều “việc Chúa” mà không còn ở với Chúa. Sabát nói rằng có lúc phải thôi làm không phải vì lười nhưng vì tin. Chỉ người tin rằng Thiên Chúa là Chúa mới dám ngủ.
Paradigme kỹ trị thường đi kèm với ảo tưởng rằng sự phức tạp của đời sống có thể được giải bằng quản trị tốt hơn. Nhưng tội lỗi không phải lỗi phần mềm. Lòng tham không biến mất khi hệ thống nhanh hơn. Sự ích kỷ không được chữa chỉ bằng dữ liệu. Một chính quyền có thể có hệ thống quan trắc ô nhiễm rất hiện đại mà vẫn không hành động nếu lợi ích nhóm mạnh hơn công ích. Một doanh nghiệp có thể có báo cáo bền vững rất đẹp mà vẫn đẩy chi phí môi trường cho cộng đồng. Một cá nhân có thể dùng ứng dụng theo dõi tiêu thụ điện nhưng vẫn xây căn tính trên tiêu dùng. Vấn đề đạo đức không được xóa bởi giải pháp kỹ thuật. Kỹ thuật cần con người có nhân đức. Khoa học cần lương tâm. Quyền lực cần giới hạn. Dữ liệu cần sự khôn ngoan. Công nghệ càng mạnh thì nhu cầu đạo đức càng lớn chứ không nhỏ đi.
Điều ấy đặc biệt quan trọng trong thời đại trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và dữ liệu lớn. Những công cụ mới có thể phục vụ rất nhiều điều tốt, nhưng chúng cũng làm lộ rõ cám dỗ kỹ trị: cái gì số hóa được thì được ưu tiên; cái gì dự đoán được thì được quản lý; cái gì tự động hóa được thì được xem là tiến bộ. Nhưng con người không phải tổng của dữ liệu. Một người nghèo không thể được hiểu hết qua hồ sơ trợ cấp. Một học sinh không phải mô hình dự đoán kết quả. Một bệnh nhân không phải xác suất. Một linh hồn không phải mẫu hành vi. Một cộng đoàn đức tin không phải biểu đồ tương tác. Công nghệ có thể giúp ta thấy một phần, nhưng chỉ tình yêu mới giúp ta gặp một người. Khi máy biết nhiều hơn về hành vi con người, điều Hội Thánh càng phải giữ là khuôn mặt. Đức Kitô không cứu một tập dữ liệu. Người gọi từng người bằng tên.
Ở cấp độ môi trường, paradigme kỹ trị còn biểu hiện qua việc tin rằng thiên nhiên chỉ có giá trị nếu con người gắn cho nó một chức năng. Rừng đáng giữ vì hấp thụ carbon. Đầm lầy đáng giữ vì chống lũ. Ong đáng giữ vì thụ phấn. Biển đáng giữ vì nguồn cá. Những lý do ấy đúng và hữu ích trong chính sách. Nhưng thần học phải đi sâu hơn: rừng đáng hiện hữu vì nó là thụ tạo; chim đáng sống không chỉ vì ích lợi cho người; biển không cần chứng minh lợi nhuận để có quyền không bị đầu độc. Nếu ta chỉ bảo vệ thụ tạo khi chứng minh được ích lợi, ngày nào một hệ sinh thái bị đánh giá là “không đủ giá trị kinh tế”, nó sẽ mất quyền tồn tại. Đức tin bảo vệ một tầng giá trị sâu hơn: Thiên Chúa vui trong công trình Người dựng nên. Con người không phải thước đo duy nhất của mọi thụ tạo.
Điều đó không có nghĩa mọi loài có cùng phẩm giá như con người. Kitô giáo không xóa sự độc đáo của con người. Con người mang hình ảnh Thiên Chúa theo một cách riêng, có lý trí, tự do, trách nhiệm luân lý và một ơn gọi đặc biệt trong kế hoạch cứu độ. Nhưng vị trí đặc biệt ấy không phải giấy phép phá hủy. Trái lại, càng đặc biệt càng phải chịu trách nhiệm. Người lớn trong nhà không được quyền ăn hết phần trẻ nhỏ vì mình mạnh hơn. Người được trao chìa khóa không phải để lấy hết đồ trong kho. Người quản lý càng có quyền thì càng phải trả lẽ. Phẩm giá con người, đọc đúng, không dẫn đến khai thác nhưng dẫn đến trách nhiệm quản gia.
Một biểu hiện khác của paradigme kỹ trị là tin rằng con người có thể tách mình khỏi hậu quả của những gì mình làm. Công nghệ cho phép người tiêu dùng ở một thành phố xa hàng nghìn cây số không nhìn thấy người làm ra món hàng mình mua, không thấy dòng sông nhận nước thải, không thấy khu rừng bị chặt, không thấy bãi rác nhận đồ mình bỏ. Khoảng cách làm lương tâm tê. Ta nhấn một nút và hàng hóa đến cửa; cả chuỗi đất, nước, lao động, nhiên liệu, đóng gói, vận chuyển biến mất sau giao diện sạch sẽ. Chiêm ngắm trong thời đại này phải bao gồm khả năng nhìn xuyên món đồ về những tương quan ẩn sau nó. Ai làm ra? Ở đâu? Với điều kiện nào? Đất đã chịu gì? Nước đã chịu gì? Người lao động có được trả công công bằng không? Sau khi bỏ đi, nó sẽ nằm ở đâu? Đây không phải ám ảnh đạo đức. Đây là tập lại con mắt đã bị nền tiêu dùng huấn luyện chỉ thấy sản phẩm mà không thấy câu chuyện.
Người nghèo một lần nữa đứng ở trung tâm. Paradigme kỹ trị thường hứa rằng tăng trưởng rồi sẽ giải quyết mọi vấn đề. Nhưng nếu tăng trưởng được tổ chức theo một mô hình mà lợi ích tập trung ở trên còn chi phí môi trường chảy xuống dưới, người nghèo sẽ là người trả giá. Họ sống gần bãi rác hơn, gần khu công nghiệp hơn, ở vùng dễ ngập hơn, trong nhà nóng hơn, có ít khả năng mua nước sạch hơn, ít khả năng di chuyển khi khí hậu trở nên khắc nghiệt. Họ có ít tiếng nói trong các bàn ra quyết định nhưng thường chịu nhiều hậu quả nhất. Vì thế, phê bình paradigme kỹ trị không thể tách khỏi công bằng xã hội. Không có sinh thái thật nếu người nghèo bị coi như chi phí chấp nhận được của tiến bộ.
Trong bối cảnh Việt Nam, điều này có thể nhìn thấy rất gần. Một con kênh bị lấp hoặc ô nhiễm không chỉ là câu chuyện mỹ quan; người sống ven kênh chịu trước. Một vùng đất nông nghiệp bị thay đổi công năng không chỉ là con số trên quy hoạch; có những gia đình mất một lối sống. Một khu công nghiệp mới không chỉ là GDP; phải hỏi về nước, không khí, nhà ở công nhân, trường học cho con họ. Một bờ biển được đầu tư mạnh không chỉ là giá trị du lịch; phải hỏi người đánh cá có còn đường xuống biển. Một thành phố mở rộng không chỉ là đường rộng, cầu mới, cao ốc; phải hỏi cây xanh, nước ngầm, người bán hàng nhỏ, người thuê trọ, trẻ em có chỗ chơi hay không. Đức tin không cho phép ta chỉ nhìn từ trên bản đồ. Đức tin bắt ta đi xuống mặt đất.
Giáo xứ cũng cần tự hỏi mình có bị paradigme kỹ trị chi phối không. Ta có thể đo giáo xứ bằng số người, số tiền, số hội đoàn, số công trình, số sự kiện. Các con số có ích. Nhưng nếu cha xứ bắt đầu nhìn giáo dân chủ yếu như “nhân sự”, người trẻ như “lực lượng”, người già như “nhóm chăm sóc”, người nghèo như “đối tượng chương trình”, giáo lý viên như “nguồn lực”, thì chính đời sống Hội Thánh đã bị kỹ trị hóa. Mục vụ không phải quản lý con người cho trơn tru. Mục vụ là chăm sóc những con người có tên, có lịch sử, có thương tích, có ơn gọi. Đức Giêsu không xây một hệ thống hiệu suất mục vụ. Người dừng lại khi người mù kêu. Người để người phụ nữ chạm áo làm gián đoạn hành trình. Người ngồi ăn với người bị coi thường. Người đi bộ với hai môn đệ Emmaus dù họ đang đi sai hướng. Những “gián đoạn” ấy, trong logic kỹ trị, là kém hiệu quả. Trong logic Tin Mừng, đó chính là cứu độ.
Một linh đạo chiêm ngắm vì thế phải chữa cả cách làm mục vụ. Không phải mọi khoảng trống đều cần lấp bằng chương trình. Không phải mọi người đều phải được huy động vào hoạt động. Không phải một giáo xứ mạnh là giáo xứ lịch kín. Có lúc cộng đoàn cần một buổi cầu nguyện không agenda. Một giờ im lặng không diễn giả. Một ngày không tổ chức gì ngoài Thánh lễ và sự hiện diện. Một khu vườn không cần sân khấu. Một góc cây không cần bảng khẩu hiệu. Hội Thánh phải là nơi dạy thế giới rằng con người có giá trị ngay cả khi không sản xuất.
Gia đình cũng là trường đầu tiên chống paradigme kỹ trị. Cha mẹ có thể vô tình nhìn con bằng hiệu suất: điểm bao nhiêu, trường nào, nghề gì, lương bao nhiêu. Tất cả các câu hỏi ấy có chỗ. Nhưng nếu một đứa trẻ lớn lên với cảm giác rằng chỉ khi đạt mới được nhìn, nó sẽ học paradigme kỹ trị ngay trong tình yêu. Cái nhìn chiêm ngắm của cha mẹ là cái nhìn có thể ngồi trước con và vui vì nó hiện hữu, trước khi vui vì nó thành công. Đó gần với cách Thiên Chúa nhìn tạo thành và nói “tốt đẹp”. Một gia đình biết tắt màn hình để ăn với nhau, biết chăm một chậu cây, biết dạy con không phí thức ăn, biết mang đồ còn tốt cho người cần, biết nói lời tạ ơn trước bữa ăn, đang đào tạo một con mắt khác. Những việc nhỏ ấy có sức chống lại cả một nền văn hóa.
Còn đối với cá nhân, hoán cải có thể bắt đầu rất cụ thể: tập nhìn một thứ mà không lập tức nghĩ cách sử dụng nó. Một ly nước: từ đâu đến? Một quả chuối: đất nào đã nuôi nó? Một chiếc áo: ai đã may? Một hơi thở: cây nào đã góp phần làm không khí này có thể thở? Một bữa cơm: bao nhiêu sự sống, lao công, mưa nắng đã hội tụ? Lời tạ ơn trước bữa ăn không phải nghi thức cũ. Đó là một cuộc cách mạng nhận thức. Nó nói: thức ăn này không tự nhiên “có”. Tôi nhận. Nếu tôi nhận, tôi không thể phung phí như chủ tuyệt đối.
Một việc khác là học lại sự ngạc nhiên. Người lớn thường coi ngạc nhiên là chuyện trẻ con vì tưởng biết tên sự vật là đã biết sự vật. Ta biết đó là cây phượng, nên thôi nhìn. Biết đó là mưa, nên thôi nghe. Biết đó là chim sẻ, nên thôi kinh ngạc. Nhưng tên gọi khoa học không làm cạn mầu nhiệm hiện hữu. Biết nước là H₂O không giải thích được tại sao có một thế giới trong đó nước có thể làm dịu khát. Biết cơ chế quang hợp không làm chiếc lá kém kỳ diệu. Khoa học trả lời nhiều câu “như thế nào”; chiêm ngắm giữ mở câu “tại sao lại có một điều gì đó thay vì không có gì?”. Hai cái nhìn không cần đánh nhau. Nhà khoa học vĩ đại có thể là người chiêm ngắm sâu, nếu kiến thức làm ông khiêm tốn hơn trước mầu nhiệm thay vì kiêu ngạo hơn trước quyền lực.
Thật ra, khoa học được cứu khỏi paradigme kỹ trị chính nhờ sự khiêm tốn khoa học. Khoa học chân chính biết phương pháp của mình có phạm vi. Nó không tự tuyên bố giải thích hết ý nghĩa, giá trị, luân lý, cứu độ. Khi một nhà khoa học biết nói “điều này chúng tôi chưa biết”, “dữ liệu chưa đủ”, “khả năng làm không đồng nghĩa với quyền làm”, khoa học đang rất gần sự khôn ngoan. Nguy hiểm không phải là biết nhiều. Nguy hiểm là biến một loại tri thức thành tri thức duy nhất hợp pháp.
Gìn giữ hài hòa do đó không phải trở về một quá khứ không kỹ thuật. Ta không cần lý tưởng hóa đời sống thiếu điện, thiếu thuốc, thiếu nước sạch. Cũng không cần thần thánh hóa nghèo vật chất. Điều cần là đưa kỹ thuật trở lại vị trí đúng: một phương tiện trong tay một con người có lương tâm, sống trong cộng đồng, trước mặt Thiên Chúa, chịu trách nhiệm với người nghèo và các thế hệ sau. Kỹ thuật phải phục vụ một quan niệm về đời sống tốt, chứ không được tự nó định nghĩa đời sống tốt. Nếu cái mới luôn được coi là tốt hơn chỉ vì mới, cái nhanh luôn tốt hơn chỉ vì nhanh, cái lớn luôn tốt hơn chỉ vì lớn, cái sinh lời luôn đúng hơn chỉ vì sinh lời, con người đã trao ngai cho một paradigme.
Đổi paradigme bắt đầu bằng câu hỏi căn bản: thế giới là gì đối với tôi? Nếu thế giới là vật liệu, tôi sẽ sống như người khai thác. Nếu thế giới là nhà chung, tôi sẽ sống như thành viên. Nếu thế giới là công trình của Cha, tôi sẽ sống như người con. Chính chữ “nhà chung” rất quan trọng. Trong nhà, ta dùng đồ nhưng cũng giữ đồ. Ta sửa khi hỏng. Ta không đốt bàn để nấu một bữa. Ta không xả rác vào phòng của em mình. Ta không lấy hết nước rồi bảo người đến sau tự lo. Và nhà không chỉ là kiến trúc; nhà là quan hệ. Trái đất trở thành nhà chung khi ta nhớ người khác cũng có phần trong đó.
Cuối cùng, nhìn mà không chiêm ngắm là một vấn đề đức tin vì nó làm ta sống như thể Thiên Chúa vắng mặt khỏi công trình của Người. Người có đức tin không nhìn cây rồi tưởng Chúa ngồi trong cây theo nghĩa phiếm thần. Nhưng cũng không nhìn cây như thể cây không có liên hệ gì với Đấng đã dựng nó. Đức tin mở thêm một chiều cho cái nhìn. Sau hình dáng là quà tặng. Sau quy luật là Đấng ban hữu thể. Sau sự sống là lời gọi. Sau vẻ đẹp là một tiếng vọng. Sau giới hạn là lời mời khiêm tốn. Sau tiếng kêu của đất là câu hỏi lương tâm.
Vì vậy, cuộc hoán cải sinh thái mà Hội Thánh mời gọi không thể chỉ tính bằng số cây đã trồng, kilogram rác đã tái chế, kilowatt điện đã tiết kiệm. Những con số cần thiết và đáng quý. Nhưng sâu hơn, phải hỏi: ta đã học nhìn khác chưa? Ta có còn biết đứng trước một thụ tạo mà không lập tức định giá nó? Ta có biết nhận ra người nghèo trong hậu quả của lối sống mình? Ta có biết giới hạn ham muốn? Ta có biết vui với cái đủ? Ta có biết nghỉ? Ta có biết tạ ơn? Ta có còn để một cơn mưa làm mình ngạc nhiên? Ta có thể đặt điện thoại xuống và nhìn mặt một người không? Ta có thể bước vào một khu vườn mà không cần chụp gì để chứng minh mình đã ở đó không? Ta có thể thấy một chiếc lá mà nhớ đến Cha không?
Nếu câu trả lời dần dần là có, paradigme đã bắt đầu thay đổi. Khi ấy kỹ thuật vẫn ở đó, nhưng không còn là chúa. Khoa học vẫn phát triển, nhưng không tự nhận là cứu độ. Kinh tế vẫn cần sinh lợi, nhưng lợi nhuận không còn là tiêu chuẩn tối hậu. Con người vẫn canh tác, xây dựng, phát minh, tổ chức, nhưng làm tất cả như người quản gia biết mình đang đứng trên đất thánh của một Đấng khác. Khi ấy ta nhìn không chỉ bằng mắt có khả năng phân tích, nhưng bằng con mắt đã được đức tin chữa lành. Và chỉ một con mắt như thế mới có thể gìn giữ sự hài hòa: không phải vì sợ trái đất hết tài nguyên trước khi ta dùng xong, nhưng vì ta đã nhận ra trái đất là nhà, người nghèo là anh em, thế hệ sau là người thừa kế cùng một hồng ân, còn mọi thụ tạo đều mang trong mình dấu vết của lời Đấng Tạo Hóa đã phán từ thuở ban đầu: “Hãy có.”

PHẦN V
TRÁCH NHIỆM CÁ NHÂN VÀ TẬP THỂ
CHƯƠNG 23. LƯƠNG TÂM SINH THÁI LÀ LƯƠNG TÂM ĐỨC TIN
Một trong những ngộ nhận khá sâu của người Kitô hữu hôm nay là tưởng rằng đời sống đức tin và trách nhiệm đối với môi trường thuộc về hai ngăn khác nhau của lương tâm. Người ta có thể rất nghiêm túc khi xét mình về việc bỏ lễ Chúa Nhật, nói dối, nóng giận, lỗi đức trong sạch, bất hòa trong gia đình, thiếu bác ái với người thân, nhưng lại hầu như không bao giờ tự hỏi mình đã sử dụng nước thế nào, đã tiêu thụ điện ra sao, đã đối xử với thức ăn thế nào, đã mua sắm bao nhiêu thứ không cần thiết, đã xả bỏ những gì, đã góp phần vào một nền kinh tế khai thác người nghèo và thiên nhiên đến mức nào. Trong nhiều bản xét mình quen thuộc, người ta có thể tìm thấy hàng chục câu hỏi về đời sống cá nhân nhưng rất ít câu hỏi về cách mình sống trong ngôi nhà chung. Chính sự vắng mặt ấy tạo nên một khoảng trống trong việc đào tạo lương tâm Kitô giáo. Bởi vì nếu lương tâm là nơi con người đứng trước mặt Thiên Chúa để nhận biết điều thiện phải làm và điều ác phải tránh, thì không có lý do gì những chọn lựa liên quan đến đất, nước, không khí, thực phẩm, năng lượng, động vật, rừng, biển, khí hậu, người nghèo và các thế hệ tương lai lại được miễn khỏi ánh sáng của lương tâm. Không có một lương tâm dành riêng cho nhà thờ và một lương tâm khác dành cho siêu thị; không có một lương tâm khi quỳ trước Nhà Tạm và một lương tâm khác khi mở vòi nước; không có một lương tâm khi xưng tội và một lương tâm khác khi vứt bỏ một túi thức ăn còn nguyên; không có một lương tâm khi đọc kinh gia đình và một lương tâm khác khi tiêu thụ vô độ để rồi chuyển gánh nặng rác thải, ô nhiễm và cạn kiệt tài nguyên sang vai những người nghèo hơn. Trước mặt Thiên Chúa, đời sống không bị chia thành những mảnh rời. Đứng trước mặt Người, mọi sự đều được đặt lại vào trật tự của tình yêu. Và bởi vì tình yêu Kitô giáo không chỉ là một cảm xúc đạo đức nhưng là cách ta đối xử với Thiên Chúa, với chính mình, với tha nhân và với toàn thể tạo thành, nên lương tâm sinh thái, nếu được hiểu đúng, không phải một phụ chương của linh đạo Kitô giáo. Nó là một chiều kích của chính lương tâm đức tin.
Có người nghe đến cụm từ “lương tâm sinh thái” liền nghĩ đây là ngôn ngữ của các phong trào môi trường, của chính sách khí hậu, của giới hoạt động xã hội, chứ không phải ngôn ngữ của đức tin. Sự dè dặt ấy có thể hiểu được nếu người ta từng gặp những ý thức hệ môi trường cực đoan, trong đó con người bị coi gần như một tai họa của hành tinh, hoặc thiên nhiên bị thần thánh hóa đến mức phẩm giá riêng biệt của con người bị xóa nhòa. Nhưng việc một khái niệm có thể bị sử dụng sai không có nghĩa nội dung đúng của nó phải bị bỏ. Kitô giáo không cần vay mượn một thứ tôn giáo sinh thái mới để biết rằng trái đất thuộc về Thiên Chúa, rằng con người là quản gia chứ không phải chủ sở hữu tuyệt đối, rằng đất phải được canh tác và gìn giữ, rằng người nghèo có quyền được sống trong một môi trường xứng đáng với phẩm giá của họ, rằng của cải trần gian có một định hướng phổ quát, rằng người mạnh không được phép tiêu thụ tương lai của người yếu. Tất cả những điều ấy đã nằm trong chính cấu trúc của đức tin tạo thành, của luân lý xã hội Kitô giáo và của mầu nhiệm Nhập thể. Điều mới hôm nay không phải là Hội Thánh đột nhiên phát minh ra trách nhiệm đối với thiên nhiên. Điều mới là quy mô của cuộc khủng hoảng khiến những chân lý cũ phải được nghe lại với một mức khẩn thiết mới. Một người sống cách đây vài thế kỷ có thể vứt một chiếc bình đất xuống đất mà hậu quả rất khác với việc hàng tỷ người hôm nay sử dụng rồi bỏ đi những vật liệu tồn tại hàng trăm năm. Một cộng đồng nhỏ có thể đốt một ít củi mà không làm thay đổi cấu trúc khí hậu toàn cầu; một nền văn minh công nghiệp với hàng tỷ động cơ, nhà máy, chuyến bay và hệ thống tiêu thụ thì khác. Lương tâm Kitô giáo phải đọc được những hoàn cảnh mới ấy. Điều thiện vẫn là điều thiện, điều ác vẫn là điều ác, nhưng hình thức trách nhiệm có thể trở nên phức tạp hơn khi hành động cá nhân nối vào những hệ thống lớn.
Ở đây cần nói thật rõ: lương tâm sinh thái không có nghĩa người tín hữu phải sống trong mặc cảm thường trực vì mỗi lần bật máy lạnh, đi xe, dùng điện thoại, mua một món đồ hay ăn một bữa cơm. Một lương tâm được đào tạo đúng không hành hạ con người bằng cảm giác tội lỗi vô tận. Nó giúp con người thấy sự thật, phân định điều nằm trong khả năng và trách nhiệm của mình, nhận ra những thói quen phải đổi, những giới hạn phải chấp nhận và những cơ cấu cần được cải thiện. Lương tâm Kitô giáo không phải máy báo động kêu liên tục. Nó là khả năng phán đoán thực hành dưới ánh sáng sự thật và tình yêu. Vì vậy, nói đến lương tâm sinh thái là nói đến việc học nhìn những lựa chọn tưởng nhỏ trong mạng lưới quan hệ rộng hơn của chúng. Một ly nước uống dở rồi đổ đi có thể chẳng phải một trọng tội. Nhưng một đời sống coi nước như thứ vô hạn, sử dụng bất cần trong khi hàng triệu người thiếu nước sạch, có thể bộc lộ một thái độ luân lý cần được xét lại. Một bóng đèn để quên một tối chẳng đủ để kết án ai. Nhưng thói quen tiêu thụ năng lượng không giới hạn, vì tiện nghi của mình mà không bao giờ quan tâm đến hậu quả xã hội và môi trường của nguồn năng lượng ấy, là điều lương tâm có quyền chất vấn. Một túi thức ăn bỏ đi trong một trường hợp có thể khó tránh; nhưng văn hóa mua dư, nấu dư, bỏ dư như thể thức ăn không gắn với đất, nước, công lao người nông dân và cơn đói của người khác thì không còn là chuyện trung tính. Lương tâm sinh thái không biến mọi hành vi thành tội. Nó phá vỡ sự vô cảm khiến chúng ta tưởng những hành vi ấy hoàn toàn không có chiều kích đạo đức.
Thật ra, câu hỏi nền tảng của lương tâm sinh thái không phải trước hết là: “Tôi đã xả bao nhiêu ký rác?” nhưng là: “Tôi đang nhìn tạo thành như thế nào?” Bởi mọi hành vi lâu dài đều sinh ra từ một kiểu nhìn. Nếu đất chỉ là nguyên liệu, cây chỉ là gỗ, nước chỉ là hàng hóa, con vật chỉ là đơn vị sản xuất, con người chỉ là lao động, thì một hệ thống khai thác sẽ xuất hiện gần như tất yếu. Nếu trái lại ta nhìn đất như quà tặng, cây như thụ tạo, nước như điều kiện của sự sống, người lao động như anh chị em có phẩm giá, thế hệ tương lai như những người hàng xóm chưa sinh ra nhưng đã có quyền được nhận một thế giới có thể sống được, thì cách tiêu dùng sẽ thay đổi. Cho nên đào tạo lương tâm sinh thái không thể dừng ở các khẩu hiệu như tiết kiệm điện, không xả rác hay trồng cây. Những điều ấy cần, nhưng phía dưới chúng phải có một cuộc hoán cải về cái nhìn. Người tín hữu phải học nhìn một vật trước khi hỏi nó có ích gì cho mình. Một cái cây có giá trị trước khi nó thành bàn ghế. Một con sông có giá trị trước khi nó phát điện. Một cánh rừng có giá trị trước khi nó trở thành đất xây dựng. Một loài vật có giá trị trước khi nó có lợi cho con người. Không phải vì chúng có quyền ngang bằng với con người, nhưng vì chúng hiện hữu do ý muốn tạo dựng của Thiên Chúa và nằm trong trật tự tốt lành của Người. Đức tin tạo thành đặt giới hạn cho lòng tham bằng một câu rất đơn giản: cái này không phải do anh dựng nên, vì thế anh không được đối xử với nó như thể anh có quyền tuyệt đối trên nó.
Chính ở đây lương tâm sinh thái nối trực tiếp với điều răn thứ nhất. Người ta thường nghĩ tội chống điều răn thứ nhất chỉ là thờ ngẫu tượng theo nghĩa cổ điển, mê tín, bói toán hay phủ nhận Thiên Chúa. Nhưng một nền văn hóa hành xử như thể vật chất không có Đấng Tạo Hóa, như thể mọi thứ chỉ tồn tại để bị chiếm dụng, đã chứa trong nó một thứ vô thần thực hành. Người tín hữu có thể đọc Kinh Tin Kính mỗi Chúa Nhật: “Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất,” nhưng từ thứ Hai đến thứ Bảy lại sống như thể trời đất chẳng thuộc về ai ngoài thị trường và túi tiền của mình. Sự mâu thuẫn này không thể bị bỏ qua. Tin Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa không phải chỉ đồng ý với một mệnh đề thần học về nguồn gốc vũ trụ. Đó là thú nhận rằng sự hiện hữu là quà tặng, rằng mình không phải nguồn gốc của chính mình, rằng thế giới đã có một ý nghĩa trước khi mình bước vào nó, rằng mình được phép sử dụng nhưng không được phép hủy diệt tùy ý. Một người cầu nguyện “Lạy Cha chúng con” mà không bao giờ nghĩ đến những người phải chịu hậu quả từ kiểu sống của mình có nguy cơ biến chữ “chúng con” thành một âm thanh rỗng.
Lương tâm sinh thái cũng chạm đến điều răn “chớ giết người” theo một chiều rộng mà lâu nay ta có thể ít suy nghĩ. Dĩ nhiên, không thể đồng hóa mọi tổn hại môi trường với hành vi giết người trực tiếp. Luân lý Công giáo luôn cần phân biệt đối tượng, ý hướng, hoàn cảnh và mức trách nhiệm. Nhưng cũng không thể giả vờ rằng ô nhiễm không giết người, nguồn nước độc không gây bệnh, không khí bẩn không rút ngắn tuổi thọ, phá rừng không đẩy những cộng đồng yếu thế vào nguy hiểm, biến đổi khí hậu không làm tăng những bất ổn ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế, sức khỏe và sự sống của con người. Khi những hậu quả ấy đã được biết đến cách hợp lý, việc tiếp tục hành động như thể không biết gì trở thành một câu hỏi lương tâm. Đạo đức bảo vệ sự sống không thể chỉ bảo vệ sự sống trong một vài giai đoạn rồi thờ ơ với những điều kiện căn bản giúp sự sống ấy tồn tại. Người Công giáo bảo vệ sự sống từ lúc thụ thai đến cái chết tự nhiên, và chính vì thế phải quan tâm đến không khí đứa trẻ hít, nước người mẹ uống, thực phẩm gia đình nghèo có thể mua, môi trường người lao động phải chịu, khí hậu mà thế hệ sau sẽ thừa hưởng. Sinh thái toàn diện không cạnh tranh với đạo đức sự sống. Nó mở rộng tính nhất quán của đạo đức sự sống.
Điều răn “chớ trộm cắp” cũng có chiều kích sinh thái. Ta thường hiểu trộm cắp là lấy tài sản của một cá nhân khác. Đúng. Nhưng truyền thống luân lý Kitô giáo còn biết đến công ích và định hướng phổ quát của của cải. Nếu một cá nhân hay một nhóm người dùng quyền lực kinh tế để chiếm đoạt những tài nguyên mà cả một cộng đồng phụ thuộc vào, làm ô nhiễm nguồn nước rồi chuyển chi phí xử lý sang người nghèo, hưởng lợi từ khai thác trong khi để lại đất chết cho thế hệ sau, thì câu hỏi về công bằng không biến mất chỉ vì mọi giấy tờ pháp lý đều đã ký. Có những việc hợp pháp nhưng không công bằng. Có những quyền sở hữu được sử dụng theo cách trái với công ích. Có những lợi nhuận chỉ tồn tại vì chi phí thật bị đẩy sang người không có tiếng nói: người nghèo, dân bản địa, lao động rẻ, trẻ em tương lai, hệ sinh thái. Lương tâm Kitô giáo phải học nhìn những “chi phí vô hình” ấy. Một món hàng cực rẻ đôi khi rẻ bởi vì ai đó ở cuối chuỗi đã trả phần giá còn lại bằng lương thấp, điều kiện làm việc tệ, nước bị ô nhiễm hay đất bị kiệt. Không phải người mua bình thường có thể điều tra toàn bộ chuỗi cung ứng trước từng món hàng. Đòi như vậy là bất khả thi. Nhưng một khi biết một chọn lựa có những hệ quả bất công rõ ràng, lương tâm không thể nói: “Việc ấy không liên quan đến tôi.”
Thói tiêu dùng cũng phải bước vào tòa án của lương tâm. Đây có lẽ là phần khó nhất, bởi xã hội hiện đại đào tạo con người từ nhỏ để nghĩ rằng mua sắm là chuyện hoàn toàn cá nhân: tôi có tiền, tôi thích, tôi mua. Nhưng lương tâm Kitô giáo luôn hỏi thêm: tôi có thật sự cần không? Việc này có phù hợp với bậc sống, trách nhiệm gia đình và đức tiết độ không? Tôi đang mua vì nhu cầu hay vì cần được nhìn nhận? Tôi đang sử dụng đồ vật hay đang để đồ vật sử dụng mình? Tôi có thay một món còn tốt chỉ vì mẫu mới ra không? Tôi có biến sự sung túc thành căn tính không? Tôi có đang huấn luyện con cái nghĩ rằng hạnh phúc là được sở hữu nhiều hơn không? Đức tiết độ, một nhân đức cổ điển, có ý nghĩa sinh thái rất hiện đại. Tiết độ không phải ghét vật chất. Nó là khả năng vui hưởng điều tốt mà không trở thành nô lệ cho nó. Người tiết độ ăn mà không phàm ăn, dùng mà không chiếm hữu tuyệt đối, có mà không bị cái có quyết định giá trị của mình. Một nền văn minh thiếu tiết độ sẽ không bao giờ giải quyết được khủng hoảng sinh thái chỉ bằng công nghệ, bởi công nghệ có thể làm một sản phẩm hiệu quả hơn nhưng lòng tham sẽ lập tức dùng phần tiết kiệm ấy để tiêu thụ nhiều hơn.
Điều này đặc biệt đúng với năng lượng. Chúng ta thường nghĩ chuyển từ thiết bị cũ sang thiết bị tiết kiệm điện là đủ. Điều ấy tốt, nhưng câu hỏi sâu hơn vẫn là: ta muốn mức tiện nghi đến đâu? Nếu một nền văn hóa tin rằng mọi không gian phải luôn được làm lạnh đến mức tối đa, mọi nơi phải sáng suốt đêm, mọi thiết bị phải luôn bật, mọi khoảng cách phải được vượt qua càng nhanh càng tốt, mọi nhu cầu phải được đáp ứng ngay lập tức, thì công nghệ xanh có thể chỉ làm chậm vấn đề chứ chưa chữa gốc. Đào tạo lương tâm sinh thái là đào tạo con người chịu được giới hạn. Đây chính là điều nền văn minh kỹ trị ghét nhất. Paradigme kỹ trị hứa rằng mọi giới hạn rồi sẽ được giải bằng một kỹ thuật mới. Đức tin nói khác: có những giới hạn không phải kẻ thù mà là điều kiện của sự sống. Con người cần ngủ. Đất cần nghỉ. Cơ thể cần dừng. Cộng đồng cần nhịp. Sông cần dòng. Rừng cần thời gian. Biển cần khoảng không hồi phục. Sabbath của Kinh Thánh là một bài học sinh thái trước khi từ “sinh thái” xuất hiện: đừng bắt mọi sự sản xuất mãi.
Nước là một trường học lương tâm rất cụ thể. Nước đi qua đời Kitô hữu từ ngày Rửa tội. Ta được tái sinh trong nước và Thánh Thần. Ta làm dấu với nước thánh. Kinh Thánh đầy hình ảnh nước: nước từ tảng đá, nước Giođan, nước hóa rượu ở Cana, nước từ cạnh sườn Đức Kitô. Vậy mà nước trong đời thường lại có thể bị đối xử như thứ không có giá trị vì nó chảy ra quá dễ từ vòi. Một lương tâm được đào tạo sẽ không thần thánh hóa từng giọt nước, nhưng sẽ biết ơn. Và biết ơn sinh ra tiết kiệm tự nhiên hơn mọi khẩu hiệu. Người biết nước là quà sẽ khó để vòi chảy vô nghĩa. Người biết có những làng phải đi xa lấy nước sẽ không xem nước sạch là quyền tiện nghi hiển nhiên không bao giờ cần tạ ơn. Người biết một dòng sông có thể nuôi hàng triệu người sẽ thấy việc đổ chất độc xuống đó không chỉ là vi phạm hành chính mà là một xúc phạm nghiêm trọng đến công ích và sự sống.
Thực phẩm cũng vậy. Trong truyền thống Kitô giáo, bánh là thứ quá thánh thiêng để bị coi thường. Đức Kitô chọn bánh làm dấu chỉ bí tích của chính thân mình. Điều đó không có nghĩa mọi ổ bánh đều là bí tích, nhưng nó dạy ta nhìn thức ăn bằng lòng biết ơn. Mỗi bát cơm chứa trong nó đất, nước, nắng, hạt giống, mồ hôi, nhiên liệu, vận chuyển, bàn tay người lao động và một chuỗi tương quan dài mà người ăn thường không thấy. Bỏ thức ăn vì khinh suất là làm như tất cả những điều ấy chẳng đáng gì. Trong một nền văn hóa nơi thực phẩm bị biến thành món giải trí, mua thật nhiều để bàn tiệc đẹp rồi bỏ phần lớn, người Kitô hữu cần phục hồi một đạo đức bàn ăn. Xin Chúa “cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày” mà sau đó lãng phí lương thực không chút suy nghĩ là một nghịch lý. Lời nguyện trước bữa ăn không thể chỉ là công thức. Nó phải dạy con người rằng mình nhận trước khi mình tiêu thụ.
Rác là một đề tài có vẻ thấp bé nhưng rất thần học nếu nhìn đủ sâu. Rác là dấu vết vật chất của những gì một nền văn hóa coi là có thể vứt đi. Một xã hội càng tiêu thụ nhanh càng sản sinh nhiều thứ dùng một lần, và nguy hiểm hơn, có thể bắt đầu nhìn cả con người theo logic dùng rồi bỏ. Đức Phanxicô nhiều lần nói đến “văn hóa loại bỏ” chính vì hai hiện tượng này có chung một gốc: cái gì không còn hữu ích cho tôi thì bị đẩy ra khỏi tầm mắt. Một chai nhựa bị vứt xuống kênh và một người già bị bỏ quên không phải là hai hành vi giống nhau về mức luân lý, nhưng chúng có thể xuất phát từ cùng một căn bệnh văn hóa: giá trị được đo bằng công dụng tức thời. Lương tâm sinh thái vì thế nối với lương tâm xã hội. Người học không vứt đồ vật vô trách nhiệm có thể cũng đang học một thói quen sâu hơn: không coi bất cứ điều gì tồn tại bên cạnh mình là hoàn toàn không liên quan.
Có một điều cần nhấn mạnh: người nghèo phải ở trung tâm của lương tâm sinh thái Kitô giáo. Nếu sinh thái chỉ là phong cách sống của người có điều kiện, mua sản phẩm đắt tiền hơn để thấy mình đạo đức hơn, thì nó đã lạc đường. Người nghèo thường có dấu chân tiêu dùng nhỏ hơn nhưng chịu hậu quả lớn hơn. Họ sống nơi dễ ngập hơn, làm nghề phụ thuộc trực tiếp vào đất và nước hơn, khó mua bảo hiểm hơn, khó chuyển nhà hơn, khó tiếp cận y tế hơn khi ô nhiễm gây bệnh, khó chống lại doanh nghiệp hay chính quyền khi đất sống bị lấy hoặc nguồn nước bị hỏng. Bởi vậy, một lương tâm sinh thái không có người nghèo sẽ rất nhanh biến thành mỹ học xanh của tầng lớp sung túc. Kitô giáo không chăm sóc trái đất như chăm một khu vườn đẹp để người giàu nghỉ cuối tuần. Kitô giáo chăm sóc ngôi nhà chung vì trong nhà ấy có người yếu đang bị nước dâng trước, nóng trước, bệnh trước, đói trước. Tiếng kêu của trái đất và tiếng kêu của người nghèo là hai âm của một lời kêu.
Đào tạo lương tâm giáo dân hôm nay mà bỏ qua tầng này là thiếu. Một người trẻ chuẩn bị lãnh nhận bí tích Thêm Sức cần được dạy rằng trưởng thành trong đức tin không chỉ là biết giáo lý và tham gia hội đoàn, nhưng biết chịu trách nhiệm về cách mình sống trong thế giới. Một đôi bạn chuẩn bị hôn nhân cần được mời suy nghĩ không chỉ về tài chính gia đình theo nghĩa thu nhập và chi tiêu, nhưng về kiểu sống họ sẽ truyền cho con: ngôi nhà ấy có phải một trường tiêu thụ không, hay là nơi con trẻ học biết đủ? Gia đình ấy sẽ đo thành công bằng số đồ sở hữu hay bằng phẩm chất các mối tương quan? Một doanh nhân Công giáo cần xét lương tâm không chỉ về việc có gian lận sổ sách hay không, mà còn về cách doanh nghiệp đối xử với chất thải, tài nguyên, người lao động và cộng đồng xung quanh. Một nông dân Công giáo phải được hỗ trợ để phân định những phương thức canh tác có thể đem lợi ngắn hạn nhưng làm đất kiệt lâu dài. Một kỹ sư phải đặt câu hỏi về công nghệ mình thiết kế: nó phục vụ sự sống hay chỉ tối đa hóa khai thác? Một viên chức phải biết rằng ký một giấy phép có thể là hành vi luân lý nghiêm trọng nếu hậu quả là phá hủy môi trường sống của cộng đồng. Một linh mục phải xét mình về cách giáo xứ sử dụng điện, nước, vật liệu, tổ chức lễ hội, xây dựng công trình. Một cộng đoàn dòng tu phải tự hỏi mình có đang giảng về sự nghèo khó trong khi tiêu dùng như một cơ sở thương mại cao cấp hay không. Không ai được đứng ngoài.
Ở đây, trách nhiệm khác nhau tùy vị trí. Luân lý Công giáo không san phẳng mọi người. Một người nghèo buộc phải mua sản phẩm rẻ đóng gói nhiều nhựa vì đó là thứ họ đủ tiền mua không thể bị phán xét giống một nhà quản trị quyết định sản xuất hàng triệu sản phẩm dùng một lần dù có lựa chọn khác. Một người sống trong khu vực thiếu giao thông công cộng phải đi xe cá nhân không giống người có quyền định hình hệ thống giao thông nhưng chỉ phục vụ lợi ích ngắn hạn. Một hộ gia đình không có phương án xử lý rác tốt không giống cơ quan có trách nhiệm xây dựng hạ tầng nhưng bỏ mặc. Lương tâm cần phân biệt quyền lực và khả năng. Trách nhiệm tăng cùng với khả năng tác động. Người có nhiều quyền lực kinh tế, chính trị, khoa học và truyền thông có nghĩa vụ lớn hơn, không nhỏ hơn. Một trong những bất công của nhiều diễn ngôn môi trường là đẩy toàn bộ trách nhiệm xuống người tiêu dùng nhỏ: hãy tắt đèn, dùng túi vải, phân loại rác, trong khi những quyết định quy mô công nghiệp, quy hoạch và chính sách được miễn khỏi chất vấn. Lương tâm Kitô giáo phải giữ cả hai chiều: cá nhân không được núp sau cơ cấu để khỏi đổi đời sống; cơ cấu không được núp sau cá nhân để khỏi cải cách.
Một vấn đề khác là sự vô tri tự nguyện. Có những thời kỳ con người thật sự không biết hậu quả của nhiều hành động. Nhưng khi khoa học đã đưa ra những cảnh báo có cơ sở, khi dữ liệu về ô nhiễm, suy thoái hệ sinh thái hay tác động của một loại sản xuất đã tương đối rõ, việc cố tình không muốn biết để tiếp tục hưởng lợi có thể trở thành lỗi luân lý. Đây là cơ chế quen thuộc của lương tâm: tôi tránh đọc vì sợ phải đổi; tôi không hỏi nguồn gốc vì sợ món hàng mất vẻ vô tội; tôi không muốn biết công nhân được trả bao nhiêu, rừng bị chặt ở đâu, nước thải đi đâu, bởi vì biết rồi sẽ gây bất tiện. Lương tâm Kitô giáo không đòi mỗi người trở thành chuyên gia mọi lĩnh vực, nhưng đòi sự ngay thẳng với sự thật. Có một khác biệt lớn giữa “tôi không thể biết hết” và “tôi không muốn biết điều có thể làm tôi khó chịu.”
Vì vậy, đào tạo lương tâm sinh thái phải đi cùng đào tạo trí tuệ. Chỉ cảm xúc yêu thiên nhiên không đủ. Có những quyết định môi trường phức tạp, trong đó các thiện ích xung đột: việc làm, phát triển, năng lượng, nhà ở, bảo tồn, sức khỏe cộng đồng. Người Công giáo không thể giải mọi tranh luận bằng một câu “bảo vệ môi trường là tốt.” Cần khoa học tốt, dữ liệu đáng tin, phân tích lợi ích và tổn hại, sự tham gia của cộng đồng, ưu tiên người yếu và nguyên tắc cẩn trọng. Lương tâm không thay thế chuyên môn; lương tâm hướng chuyên môn về điều thiện. Một kỹ sư có thể cho biết một đập nước tạo bao nhiêu điện. Nhà sinh thái học cho biết nó tác động hệ sinh thái ra sao. Nhà kinh tế phân tích chi phí. Người dân địa phương kể điều họ sẽ mất. Luân lý hỏi: ai được lợi, ai trả giá, có phương án khác không, thiệt hại có thể đảo ngược không, người yếu đã được nghe chưa, lợi ích ngắn hạn có đang lấy đi thiện ích dài hạn không? Đó chính là công việc của một lương tâm xã hội trưởng thành.
Người tín hữu cũng cần tránh thái cực biến mọi lựa chọn sinh thái thành tiêu chuẩn để đo đức thánh thiện của người khác. Có thể có một người dùng đồ tái chế rất tốt nhưng kiêu ngạo, khinh người nghèo và không biết yêu thương. Có người chưa hiểu nhiều về sinh thái nhưng sống đời hy sinh sâu sắc. Mục đích của lương tâm không phải tạo ra một tầng lớp tín hữu “xanh” để phán xét phần còn lại. Mục đích là giúp mọi người ngày càng sống nhất quán hơn với Tin Mừng. Lương tâm càng được đào tạo càng khiêm tốn, bởi nó thấy sự phức tạp của chính mình. Người bắt đầu thay đổi cách sống không nên coi mình là cứu tinh của hành tinh. Không ai cứu trái đất bằng chiếc bình nước cá nhân của mình. Nhưng cũng đừng vì hành động nhỏ không cứu được toàn bộ thế giới mà cho rằng nó vô nghĩa. Luân lý Kitô giáo chưa bao giờ dạy rằng chỉ việc nào giải quyết toàn bộ vấn đề mới đáng làm. Một cử chỉ đúng vẫn đúng dù nhỏ. Nó giáo dục người thực hiện, tạo văn hóa, ảnh hưởng người khác và đôi khi mở đường cho thay đổi lớn.
Lương tâm sinh thái còn là lương tâm về thời gian. Người hiện đại thường chỉ tính quyền lợi của người đang sống. Nhưng đức tin mở tầm mắt về những người chưa sinh. Thế hệ tương lai không thể bỏ phiếu hôm nay, không thể kiện chúng ta hôm nay, không thể đứng trước quốc hội hay hội đồng quản trị để phản đối. Chính vì họ không có tiếng nói nên lương tâm chúng ta phải nói thay. Có một câu hỏi rất đơn giản mà mọi dự án lớn nên nghe: nếu con cháu chúng ta đứng trong căn phòng này, họ sẽ nói gì? Ta có quyền dùng phần của họ không? Không ai phủ nhận thế hệ hôm nay cần phát triển, cần nhà ở, việc làm, năng lượng và giao thông. Nhưng phát triển chân chính không thể là sống bằng cách vay của tương lai mà không có ý định trả. Một quốc gia giàu lên bằng cách để lại nước độc, đất chết và hệ sinh thái đổ vỡ cho con cháu thì sự giàu ấy chứa một khoản nợ luân lý khổng lồ.
Điều này cũng chạm đến đức cậy. Có người đối diện khủng hoảng sinh thái bằng hoảng loạn, như thể mọi sự đã mất và con người chỉ còn chờ thảm họa. Người Kitô hữu không được sống như vậy. Đức cậy không phủ nhận dữ kiện, nhưng không cho phép tuyệt vọng trở thành một kiểu tiên tri. Ta tin lịch sử nằm trong tay Thiên Chúa, nhưng điều đó không miễn cho ta trách nhiệm. Ngược lại, vì tin tạo thành sẽ được hoàn tất trong Đức Kitô, ta càng được mời cộng tác với mọi gì phục vụ sự sống. Đức cậy khác với lạc quan rẻ tiền. Lạc quan nói: chắc rồi công nghệ sẽ giải hết. Đức cậy nói: dù đường khó, điều thiện vẫn đáng làm; dù không kiểm soát kết quả, ta vẫn trung tín. Người Kitô hữu trồng cây không phải vì chắc mình sẽ sống đủ lâu để ngồi dưới bóng nó, nhưng vì tình yêu có khả năng làm việc cho một tương lai mình không sở hữu.
Bí tích Hòa giải cũng cần mở ra chiều kích này. Không phải bằng cách biến tòa giải tội thành lớp học môi trường, nhưng bằng việc giúp tín hữu nhận ra những thói quen tiêu dùng, ích kỷ và thờ ơ có thể là chất liệu thật của hoán cải. Một người xưng “con tham lam” nhưng không bao giờ nối tham lam với cách mua sắm thì lời xưng dễ trở nên trừu tượng. Một người xưng “con ích kỷ” nhưng không thấy mình chiếm dụng quá mức tài nguyên chung thì ích kỷ vẫn không có thân xác. Một người xưng “con thiếu bác ái với người nghèo” nhưng không nghĩ đến những cơ cấu kinh tế và môi trường khiến người nghèo chịu hậu quả, thì bác ái bị thu nhỏ vào vài đồng bố thí. Bí tích Hòa giải đưa ta trở lại sự thật cụ thể. Chính trong cái cụ thể ấy, lương tâm sinh thái có chỗ.
Thánh Thể lại càng sâu hơn. Bánh và rượu là hoa màu ruộng đất và lao công con người. Trong mỗi Thánh lễ, tạo thành bước vào phụng vụ không phải như trang trí mà như vật chất của hy lễ bí tích. Đất sinh lúa. Nho mọc từ cây. Mưa, nắng, mùa, đất, công người đều âm thầm hiện diện trong bánh và rượu được dâng. Người tham dự Thánh Thể mà không bao giờ học tôn trọng đất đang sống một mâu thuẫn kỳ lạ: chính đất đem vật liệu lên bàn thờ, nhưng đất lại bị coi là thứ ngoài đạo. Phụng vụ dạy một sinh thái học sâu hơn mọi khẩu hiệu. Ta nhận, tạ ơn, dâng lên, chia sẻ. Đó là nhịp trái ngược hoàn toàn với văn hóa chiếm, dùng, vứt. Thánh Thể tạo một con người có khả năng nhận thế giới như quà thay vì như chiến lợi phẩm.
Lương tâm sinh thái vì thế cần được dạy từ gia đình. Trẻ con học rất nhanh không phải từ bài giảng mà từ cách người lớn sống. Nếu cha mẹ luôn nhắc con tắt điện nhưng chính mình mua sắm vô độ, bài học sẽ yếu. Nếu gia đình cầu nguyện trước bữa ăn nhưng thường xuyên bỏ thức ăn, đứa trẻ nhận được hai thông điệp ngược nhau. Nếu cha mẹ nói thiên nhiên là của Chúa nhưng đi đâu cũng tiện tay xả rác, thần học thực hành của đứa trẻ sẽ mạnh hơn thần học sách vở: lời nói một đằng, đời sống một nẻo. Ngược lại, những thói quen nhỏ có sức giáo dục rất lâu: dùng vừa đủ, giữ đồ cho bền, sửa trước khi thay, biết cảm ơn người làm ra thức ăn, không khinh lao động chân tay, đưa con ra gặp thiên nhiên thật thay vì chỉ xem qua màn hình, dạy con trồng một cây và chờ nó lớn, cho con thấy một dòng kênh bẩn và hỏi tại sao nó bẩn. Đó là huấn giáo.
Giáo xứ cũng cần xét mình. Một giáo xứ không thể nói về chăm sóc tạo thành rồi trong các lễ hội dùng khối lượng vật liệu dùng một lần không cần thiết, mở đèn máy lạnh vô hạn, xây mọi khoảng trống thành bê tông, chặt cây vì tiện, hoặc tổ chức hành hương để lại rác phía sau. Có những giáo xứ rất giỏi gây quỹ xây công trình nhưng hầu như không đầu tư vào không gian xanh, nước sạch hay giáo dục môi trường. Có những nhà thờ được thiết kế như thể khí hậu địa phương không tồn tại: phụ thuộc hoàn toàn vào máy lạnh dù có thể tận dụng gió, ánh sáng và cây xanh. Không phải mọi công trình có thể thay đổi ngay, nhưng lương tâm cộng đoàn phải được đánh thức. Giáo xứ là nơi đào tạo lương tâm tập thể. Nếu cộng đoàn không thực hành điều mình giảng, các văn kiện đẹp sẽ không đi xa.
Các dòng tu có một vai trò đặc biệt vì lời khấn khó nghèo là một chứng tá trực tiếp chống lại nền văn hóa chiếm hữu. Nhưng khó nghèo tu trì sẽ mất sức ngôn sứ nếu chỉ nằm trong luật cá nhân về sở hữu trong khi cộng đoàn lại tiêu dùng không giới hạn. Không có tài sản riêng chưa chắc đã sống nghèo nếu sử dụng tài sản chung như thể vô tận. Một cộng đoàn có thể cần xe, máy lạnh, thiết bị và cơ sở vật chất cho sứ vụ. Vấn đề không phải quay về một thứ nghèo nàn lãng mạn. Vấn đề là tinh thần: chúng ta có biết đủ không? Có sửa chữa không? Có dùng đến hết đời món đồ không? Có mua vì sứ vụ hay vì cạnh tranh tiện nghi? Có nhớ rằng mỗi đồng tiền cộng đoàn tiêu cũng đến từ lao động, ân nhân hay của cải chung? Khó nghèo và sinh thái gặp nhau trong một từ: giới hạn.
Việc đào tạo chủng sinh và linh mục cũng không thể bỏ qua chiều kích này. Một linh mục tương lai cần được học không chỉ giáo luật, tín lý, luân lý cá nhân và phụng vụ, nhưng cả học thuyết xã hội của Hội Thánh trong chiều kích sinh thái. Bởi sau này ngài sẽ quản lý đất đai, xây dựng công trình, tổ chức cộng đoàn, giảng dạy và hướng dẫn lương tâm. Một quyết định xây một công trình lớn có thể ảnh hưởng môi trường hàng chục năm. Một bài giảng có thể tạo thói quen cho hàng trăm gia đình. Một giáo xứ có thể trở thành mô hình văn hóa cho cả khu vực. Nếu linh mục coi sinh thái là đề tài phụ dành cho vài người thích cây cối thì một phần quan trọng của giáo huấn xã hội sẽ không đến được với giáo dân.
Tuy nhiên, cần tránh biến bục giảng thành nơi ban hành các quy định chi li như thể mục tử phải quyết định cho tín hữu nên dùng loại bóng đèn nào hay đi loại xe gì. Giáo huấn luân lý phải đào tạo nguyên tắc và lương tâm, không cai quản từng lựa chọn kỹ thuật. Những nguyên tắc ấy gồm: biết ơn tạo thành; tôn trọng giới hạn; ưu tiên người nghèo; công ích; liên đới giữa các thế hệ; tiết độ; tránh lãng phí; trách nhiệm tương xứng với quyền lực; lắng nghe khoa học đáng tin; và phân định hậu quả của hành động. Từ đó, tín hữu trong hoàn cảnh cụ thể dùng lý trí và lương tâm để chọn. Đây chính là trưởng thành Kitô giáo.
Một lương tâm sinh thái trưởng thành cũng biết đặt câu hỏi với kinh tế. Tăng trưởng không phải lúc nào cũng đồng nghĩa phát triển con người. Nếu GDP tăng vì phải chữa bệnh do ô nhiễm, dọn thảm họa, khai thác cạn kiệt rồi phục hồi, con số tăng nhưng thiện ích có thể giảm. Người Công giáo hoạt động trong kinh tế cần chống lại việc biến lợi nhuận thành tiêu chuẩn duy nhất. Lợi nhuận là cần thiết cho doanh nghiệp tồn tại, nhưng nó không phải tuyệt đối. Một doanh nghiệp có lợi nhuận cao nhờ trả lương thấp, phá môi trường và đẩy chi phí sang cộng đồng đang tạo ra một con số đẹp bằng một sự thật xấu. Lương tâm đức tin phải có khả năng nhìn qua bảng tính đến những khuôn mặt nằm sau bảng tính.
Cũng vậy với chính trị. Chính sách môi trường không phải một trò xa xỉ dành cho nước giàu. Nó là vấn đề công ích. Nhưng cách thực hiện phải công bằng, không được bắt người nghèo gánh toàn bộ chi phí chuyển đổi. Một chính sách tốt phải hỏi người lao động mất việc sẽ đi đâu, vùng phụ thuộc một ngành nghề sẽ chuyển thế nào, gia đình nghèo có đủ khả năng trả giá năng lượng mới không. Sinh thái toàn diện không hy sinh con người cho chỉ tiêu. Nhưng cũng không được dùng người nghèo như cái cớ để trì hoãn mọi thay đổi trong khi lợi ích thật vẫn chảy về người giàu. Đây là chỗ cần lương tâm chính trị tinh tế, không khẩu hiệu.
Có thể nói cuối cùng lương tâm sinh thái là một hình thức cụ thể của câu hỏi: tôi có sống như một thụ tạo không? Phần lớn khủng hoảng sinh thái bắt đầu khi con người quên mình là thụ tạo. Ta muốn không giới hạn, không phụ thuộc, không chờ đợi, không già, không yếu, không chết. Ta xây một nền văn minh như cuộc nổi loạn chống thân phận thụ tạo: luôn nhiều hơn, nhanh hơn, lớn hơn. Nhưng thân xác nhắc ta rằng ta cần ngủ. Đất nhắc ta rằng nó có mùa. Sông nhắc ta rằng nguồn có hạn. Khí hậu nhắc ta rằng mọi hành động kết nối nhau. Người nghèo nhắc ta rằng sự sung túc của một người có thể có giá nơi đời người khác. Đức tin nhắc ta rằng ta không phải Chúa. Nhận mình là thụ tạo không làm con người nhỏ đi; nó chữa con người khỏi ảo tưởng phải trở thành thần.
Vì thế một cuộc xét mình sinh thái không cần quá phức tạp nhưng nên đi đến tận gốc. Tôi có biết ơn những gì mình dùng không? Tôi có mua quá nhu cầu chỉ vì muốn có? Tôi có coi đồ vật là thứ dùng rồi bỏ? Tôi có lãng phí thức ăn, nước, điện vì bất cẩn? Tôi có cố giữ và sửa những gì còn dùng được không? Tôi có tìm hiểu khi biết một sản phẩm hay hoạt động gây tổn hại nghiêm trọng không? Tôi có coi sự tiện lợi của mình quan trọng hơn mọi hậu quả không? Tôi có nghĩ đến người nghèo và thế hệ sau khi lựa chọn không? Tôi có ủng hộ những chính sách và thực hành bảo vệ công ích không? Trong công việc, tôi có im lặng trước những quyết định gây hại chỉ để giữ lợi ích cho mình không? Trong gia đình, tôi đang dạy con biết đủ hay dạy con muốn thêm? Trong cộng đoàn, chúng tôi có sống điều mình nói về chăm sóc tạo thành không? Và sâu hơn tất cả: tôi có còn biết kinh ngạc trước món quà thế giới này không?
Bởi lương tâm sinh thái không chỉ là lương tâm ngăn cấm. Nó còn là lương tâm biết tạ ơn. Nếu chỉ nói “đừng xả, đừng dùng, đừng mua, đừng phá,” sinh thái Kitô giáo sẽ trở thành một luân lý của sự co lại. Đức tin còn nói: hãy nhìn, hãy nhận, hãy tạ ơn, hãy chăm sóc, hãy chia sẻ, hãy truyền lại. Người biết vui với một bữa ăn đơn giản có thể bớt tiêu thụ mà không thấy mình bị tước đoạt. Người biết đi bộ dưới hàng cây không cần mọi niềm vui đều phải mua. Người biết ngắm mưa có một tài sản không thị trường nào bán được. Người biết ơn một đồ vật sẽ dùng nó lâu hơn. Người biết mình được yêu không cần khẳng định bản thân bằng sở hữu liên tục. Bởi vậy, sâu bên dưới cuộc khủng hoảng sinh thái là một cuộc khủng hoảng thiêng liêng về ham muốn. Chúng ta không chỉ cần công nghệ sạch hơn. Chúng ta cần những trái tim biết thế nào là đủ.
Lương tâm đức tin sẽ hỏi không chỉ “điều này có được phép không?” mà còn “điều này có giúp tôi yêu hơn không?” Có những việc hợp pháp nhưng không cần thiết. Có những mức tiêu dùng không vi phạm luật nhưng trái với tiết độ. Có những lựa chọn chẳng ai phạt nhưng lương tâm vẫn không yên vì ta biết chúng phản ánh sự ích kỷ. Đời sống thánh thiện luôn đi xa hơn mức tối thiểu của luật. Người hỏi “tôi được phép dùng bao nhiêu mà chưa thành tội?” vẫn đang đứng ở ngưỡng cửa. Người yêu hỏi: “Tôi có thể sống nhẹ hơn để người khác có chỗ sống không?” Đó là chuyển từ luật sang bác ái.
Ở đây, gương các thánh rất quan trọng. Các ngài không biết thuật ngữ “dấu chân carbon”, nhưng biết khó nghèo, tiết độ, tạ ơn, kính trọng tạo thành, gần người nghèo và không coi vật chất là tuyệt đối. Thánh Phanxicô Assisi gọi mặt trời là anh, nước là chị không vì ngài thiếu kiến thức sinh học, nhưng vì ngài thấy mọi sự trong một gia đình có một Cha. Thánh Bênêđictô dạy chăm sóc dụng cụ đan viện như đồ thánh. Những truyền thống khổ hạnh cổ xưa dạy không lãng phí thức ăn, không tích trữ, không dùng nhiều hơn cần. Tất cả có thể được đọc lại hôm nay như kho báu cho một nền linh đạo sinh thái. Hội Thánh không phải bắt đầu từ con số không.
Và Đức Kitô vẫn là trung tâm. Nếu tách sinh thái khỏi Đức Kitô, nó có thể trở thành một đạo đức tự lực đầy lo âu. Trong Đức Kitô, ta thấy Đấng nhờ Người muôn vật được tạo thành đã bước vào chính tạo thành. Người ăn bánh, uống nước, đi bộ trên đất, ngủ trên thuyền, nhìn chim trời và hoa huệ, dùng hạt giống và mùa gặt trong dụ ngôn. Người không cứu con người bằng cách kéo họ ra khỏi vật chất, nhưng bằng việc mang lấy thân xác và phục sinh trong thân xác. Sau Phục Sinh, Người vẫn ăn với các môn đệ. Mầu nhiệm cứu độ không phải cuộc đào thoát khỏi tạo thành nhưng là sự đổi mới tạo thành trong Người. Vì thế người Kitô hữu không bảo vệ đất vì sợ mất một hành tinh đẹp. Người Kitô hữu chăm sóc tạo thành vì tạo thành thuộc về Đức Kitô.
Điều ấy mang lại một sự quân bình quan trọng. Trái đất không phải cứu chúa. Thiên nhiên không phải Thiên Chúa. Con người không phải kẻ thù. Công nghệ không phải ma quỷ. Phát triển không phải tội. Nhưng tất cả phải đặt dưới phán xét của tình yêu và công ích. Công nghệ tốt khi phục vụ sự sống. Kinh tế tốt khi phục vụ con người. Phát triển tốt khi làm cho con người sống xứng đáng hơn mà không phá nền tảng sống của người khác. Con người thực sự “làm chủ” khi biết phục vụ và gìn giữ, giống Thiên Chúa cai quản bằng cách ban sự sống chứ không hút kiệt sự sống.
Có lẽ dấu hiệu rõ nhất của một lương tâm sinh thái trưởng thành không phải số việc xanh người ấy làm mà là cách người ấy bắt đầu thấy sự liên hệ. Cái chai nước không còn đứng một mình: nó nối với nguồn nước, vật liệu, nhà máy, vận chuyển, rác. Bữa cơm nối với ruộng, nông dân, khí hậu, giá lương thực, người đói. Một chuyến đi nối với năng lượng, thời gian, nhu cầu thật. Một dự án nối với đất đai, cộng đồng, thế hệ sau. Lương tâm trưởng thành nhìn được mạng lưới ấy mà không tê liệt. Nó không thể tính hết nhưng biết mình không sống cô lập. Đó cũng chính là cái nhìn của đức ái: tôi không phải trung tâm duy nhất.
Đào tạo lương tâm sinh thái vì vậy không phải thêm một bài chuyên đề vào giáo lý rồi xem như xong. Nó cần đi vào toàn bộ cách ta nói về tạo dựng, tội lỗi, các nhân đức, các điều răn, Thánh Thể, công bằng xã hội, đời sống gia đình, lao động, kinh tế và chính trị. Khi dạy về tội tham lam, hãy nói đến tiêu thụ. Khi dạy về điều răn thứ bảy, hãy nói đến của cải chung và các thế hệ sau. Khi dạy về bác ái, hãy nói đến người nghèo chịu ô nhiễm. Khi dạy về tiết độ, hãy nói đến năng lượng, thức ăn và mua sắm. Khi dạy về Thánh Thể, hãy nói đến hoa màu ruộng đất. Khi dạy về tạo dựng, hãy nói đến trách nhiệm gìn giữ. Khi dạy về ơn gọi giáo dân, hãy nói đến nghề nghiệp, doanh nghiệp, quy hoạch, khoa học và chính sách. Khi dạy xét mình, hãy để đất, nước, rừng và người nghèo bước vào câu hỏi.
Đừng sợ rằng như thế là làm loãng Tin Mừng thành môi trường luận. Tin Mừng bị làm loãng khi ta chỉ nói môi trường mà quên Đức Kitô. Nhưng Tin Mừng cũng bị làm nghèo khi ta nói Đức Kitô như thể Người không có gì để nói với thế giới Người đã dựng nên. Đức tin thật luôn nhập thể. Nó phải chạm được vào nước ta uống, thức ăn ta ăn, tiền ta tiêu, nơi ta làm việc, căn nhà ta xây và rác ta bỏ. Một Thiên Chúa chỉ được phép ở trong nhà thờ không phải Thiên Chúa của Kinh Thánh. Thiên Chúa của Kinh Thánh là Chúa của trời đất.
Và rồi lương tâm sinh thái cuối cùng đưa chúng ta về với một đức tính rất nhỏ nhưng rất quan trọng: biết xấu hổ đúng lúc. Không phải xấu hổ bệnh lý, nhưng sự xấu hổ của người nhận ra mình đã sống bất cẩn trước một quà tặng quá lớn. Có lúc ta phải thú nhận: tôi đã dùng quá nhiều vì tôi có thể; tôi đã không nghĩ đến người khác; tôi đã coi tiện nghi là quyền tuyệt đối; tôi đã xem những gì mình không nhìn thấy như thể không tồn tại. Sự thú nhận ấy không để ta cúi đầu mãi, nhưng để bắt đầu một cách sống mới. Hoán cải luôn bắt đầu khi sự thật thôi bị bào chữa.
Sau đó là niềm vui. Niềm vui vì nhận ra ta vẫn có thể chọn. Ta không kiểm soát cả hệ thống, nhưng ta có thể đổi thói quen. Ta không thể một mình làm sạch dòng sông, nhưng có thể không ném thêm rác vào nó và có thể cùng người khác yêu cầu nó được bảo vệ. Ta không quyết định toàn bộ nền kinh tế, nhưng có thể tiêu dùng có lương tâm và sống tiết độ. Ta không giải quyết biến đổi khí hậu bằng một gia đình, nhưng có thể nuôi một thế hệ biết giới hạn. Ta không cứu tạo thành. Đức Kitô là Đấng cứu. Nhưng ta có thể thôi cộng tác với sự hủy hoại và bắt đầu cộng tác với sự chăm sóc.
Một lương tâm như thế không làm người tín hữu nặng nề hơn. Nó làm đức tin nguyên vẹn hơn. Bởi cuối cùng, đứng trước mặt Chúa, chúng ta không đem đến một đời sống đã được chia sẵn thành ngăn đạo và ngăn đời. Chúng ta đem cả con người mình: cách đã yêu, cách đã dùng tiền, cách đã làm nghề, cách đã đối xử với người yếu, cách đã nhận và sử dụng những gì Chúa trao. Rác, điện, nước, đất, rừng, bàn ăn, căn nhà, công việc, chiếc xe, chiếc điện thoại, cách mua sắm, cách xây dựng, những quyết định lớn và những thói quen nhỏ: tất cả đều nằm trong một đời sống duy nhất được gọi nên thánh.
Vì thế lương tâm sinh thái là lương tâm đức tin. Không phải vì môi trường đã trở thành một tín điều mới, nhưng vì Đấng chúng ta tin là Đấng Tạo Hóa. Không phải vì cứu hành tinh thay thế cứu linh hồn, nhưng vì con người có linh hồn đang sống bằng nước, đất, khí và thực phẩm trong một ngôi nhà chung. Không phải vì cây cối ngang hàng con người, nhưng vì con người mang hình ảnh Thiên Chúa được giao trách nhiệm đối với cây cối và toàn thể tạo thành. Không phải vì từng hành động nhỏ đều là tội, nhưng vì không hành động nào của con người hoàn toàn đứng ngoài câu hỏi về tình yêu khi nó tác động đến sự sống của người khác.
Một Hội Thánh đào tạo lương tâm mà không đào tạo chiều kích này sẽ tạo ra những người rất cẩn thận với một số luật nhưng có thể hoàn toàn vô thức trước những tổn thương lớn mà kiểu sống của họ góp phần gây ra. Một Hội Thánh đào tạo lương tâm sinh thái đúng nghĩa sẽ không sinh ra những nhà hoạt động đầy giận dữ, nhưng những môn đệ biết tạ ơn, biết đủ, biết chăm sóc, biết phân định và biết nối sự thánh thiện với đời sống cụ thể. Họ sẽ hiểu rằng nhặt một mảnh rác không phải là toàn bộ Tin Mừng, nhưng người sống Tin Mừng không thể mãi vô tư ném rác. Tắt một bóng đèn không phải việc cứu độ, nhưng người đã học tiết độ trước mặt Chúa sẽ khó vui với lãng phí. Trồng một cái cây không thay thế Thánh lễ, nhưng người vừa dự Thánh lễ sẽ hiểu tại sao một cái cây không chỉ là vật trang trí. Chia sẻ với người nghèo không thể tách khỏi việc hỏi tại sao người nghèo luôn phải sống gần bãi rác hơn, hít khí xấu hơn, chịu nước dâng trước hơn.
Đến lúc đó, chăm sóc ngôi nhà chung sẽ thôi là một chiến dịch từng mùa. Nó trở thành một cách sống trước mặt Thiên Chúa. Người tín hữu sẽ không cần ai đứng cạnh để nhắc tắt vòi nước, bởi lòng biết ơn đã nhắc. Không cần khẩu hiệu để tránh lãng phí thức ăn, bởi lời cầu “xin Cha cho chúng con lương thực hằng ngày” đã có sức nặng. Không cần một phong trào để nhớ đến thế hệ sau, bởi đức ái đã mở rộng gia đình của mình đến những người chưa sinh. Không cần một ý thức hệ để yêu trái đất, bởi Kinh Tin Kính đã bắt đầu bằng Đấng tạo thành trời đất.
Và có lẽ đây là điểm xét mình cuối cùng, đơn giản nhất nhưng cũng khó nhất: nếu Thiên Chúa hỏi tôi hôm nay “Con đã làm gì với khu vườn Ta trao?”, tôi sẽ trả lời thế nào? Tôi đã canh tác nhưng có gìn giữ không? Tôi đã sử dụng nhưng có tạ ơn không? Tôi đã phát triển nhưng có truyền lại không? Tôi đã hưởng nhưng có chia sẻ không? Tôi đã biết nhưng có thay đổi không? Tôi đã cầu nguyện cho người nghèo nhưng có sống theo cách làm gánh nặng của họ nhẹ hơn không? Tôi đã nói rằng thế giới thuộc về Chúa nhưng có hành xử như người quản gia hay như kẻ chiếm hữu?
Lương tâm đức tin không cho phép chúng ta trốn những câu hỏi ấy. Nhưng cũng chính lương tâm đức tin nói rằng hoán cải luôn còn có thể. Chúng ta có thể bắt đầu từ hôm nay, không bằng nỗi sợ rằng mình phải cứu cả thế giới, nhưng bằng lòng trung tín với phần đất Chúa đã đặt vào tay mình. Một căn nhà dùng vừa đủ. Một cộng đoàn biết tiết chế. Một doanh nghiệp đặt công ích vào quyết định. Một giáo xứ học gìn giữ. Một gia đình dạy trẻ biết ơn. Một người tín hữu biết rằng khi cúi xuống nhặt một thứ người khác đã ném đi, việc ấy rất nhỏ trong lịch sử hành tinh nhưng không nhỏ trong lịch sử của một trái tim đang học lại cách làm người trước mặt Đấng Tạo Hóa.

CHƯƠNG 24. TRÁCH NHIỆM CÁ NHÂN: NHỮNG CHỌN LỰA NHỎ KHÔNG NHỎ
Khi nói đến khủng hoảng sinh thái, người ta rất dễ đi về hai thái cực. Một thái cực biến mọi trách nhiệm thành chuyện của từng cá nhân: người này phải dùng ít túi nhựa hơn, người kia phải tắt đèn, người khác phải đi xe đạp, và dường như nếu trái đất tiếp tục nóng lên thì lỗi trước hết nằm ở việc một bà nội trợ quên mang túi vải ra chợ. Thái cực kia lại đẩy toàn bộ trách nhiệm lên những cấu trúc lớn: chính phủ, tập đoàn, ngành năng lượng, hệ thống kinh tế, các hiệp định quốc tế; còn cá nhân thì tự cho mình quá nhỏ để đáng kể. Cả hai đều không đủ. Trách nhiệm sinh thái Kitô giáo không cho phép ta lấy việc nhỏ để che việc lớn, nhưng cũng không cho phép ta lấy việc lớn để miễn cho mình khỏi việc nhỏ. Người môn đệ Đức Kitô phải học sống trong cả hai tầng trách nhiệm cùng một lúc: thay đổi đời sống của mình và góp phần thay đổi những cơ cấu khiến sự sống bị tổn thương. Ta không thể nói rằng việc một người tiết kiệm một chai nước sẽ giải quyết khủng hoảng nước toàn cầu. Điều đó không đúng. Nhưng cũng không thể nói rằng vì một chai nước quá nhỏ nên cách ta dùng nó hoàn toàn vô nghĩa. Một chọn lựa nhỏ có thể chưa thay đổi ngay hệ thống, nhưng nó đang thay đổi chính con người thực hiện chọn lựa ấy. Và một con người được đào tạo trong sự tiết độ, biết ơn, tôn trọng giới hạn, biết nghĩ đến người khác và các thế hệ sau sẽ bước vào những chọn lựa lớn với một lương tâm khác. Vì thế, việc nhỏ không cứu thế giới một mình, nhưng việc nhỏ đào tạo những con người có thể góp phần cứu thế giới. Đó là lý do tại sao trách nhiệm cá nhân không phải phần phụ của linh đạo sinh thái. Nó là trường huấn luyện hằng ngày của lương tâm.
Kitô giáo vốn hiểu rất rõ sức nặng của việc nhỏ. Đức Giêsu nói đến chén nước lã trao cho một người bé mọn, đến hai đồng tiền của bà góa, đến hạt cải, đến men trong bột, đến sự trung tín trong việc nhỏ trước khi được trao việc lớn. Logic của Tin Mừng không phải logic của những con số khổng lồ. Tin Mừng nhìn phẩm chất của một hành vi, ý hướng của trái tim và hướng đi mà hành vi ấy tạo ra trong một con người. Một cử chỉ nhỏ có thể là nơi một nhân đức được sinh ra. Một thói quen nhỏ có thể là nơi một nết xấu được củng cố. Một lần tiện tay vứt rác xuống đường có vẻ chẳng đáng kể, nhưng nếu hành vi ấy lặp lại và được biện minh bằng câu “có mình tôi đâu”, nó đang xây trong lòng người một kiểu tương quan với thế giới: thế giới là nơi tôi dùng rồi bỏ, còn người khác sẽ dọn phần còn lại. Ngược lại, một lần cúi xuống nhặt một mảnh rác mình không làm rơi cũng chưa làm thành phố sạch ngay, nhưng nó có thể biểu lộ một điều rất lớn: tôi nhìn không gian chung như điều có liên quan đến tôi; tôi không cần hỏi ai đã gây ra trước khi hỏi mình có thể làm gì; tôi không coi phần chung là phần vô chủ. Thần học về trách nhiệm cá nhân bắt đầu từ những chuyện như thế, bởi đời sống luân lý không được xây bằng những đại hội hiếm hoi mà bằng hàng nghìn cử chỉ lặp lại mỗi ngày.
Ăn là một trong những chọn lựa tưởng bình thường nhất nhưng lại mang chiều kích sinh thái rất sâu. Ta ăn để sống, và chính trong hành vi ăn, con người nhận ra mình không tự đủ. Không ai ăn mà không nhận từ đất, nước, ánh sáng, khí hậu, lao động của người khác, vận chuyển, giống cây, con vật và vô số mạng lưới sự sống. Bàn ăn vì thế là một nơi thần học. Trước khi là nơi tiêu thụ, nó là nơi tiếp nhận. Kinh trước bữa ăn không nên chỉ là một nghi thức nhanh rồi lập tức quên rằng mọi thứ trên bàn đến từ đâu. Người Kitô hữu cầu xin Chúa chúc lành cho của ăn nghĩa là nhìn nhận mình đang nhận một ân huệ. Mà đã là ân huệ thì không thể đối xử bằng hoang phí. Bỏ đi một lượng lớn thức ăn trong khi nhiều người thiếu ăn không chỉ là một vấn đề quản lý gia đình kém. Nó còn có thể trở thành câu hỏi lương tâm. Ta mua quá nhiều vì sợ thiếu, vì thích đầy tủ, vì chương trình khuyến mãi, rồi để quá hạn và vứt bỏ; ta gọi nhiều món để tỏ ra rộng rãi rồi để thừa; ta lấy đầy đĩa ở tiệc buffet chỉ vì đã trả tiền. Những hành vi ấy không phải lúc nào cũng là tội theo nghĩa trực tiếp và nặng nề, nhưng chúng có thể tạo nên một văn hóa tâm hồn không còn cảm thấy sự hữu hạn của đất và sự lao nhọc của người khác. Trách nhiệm trong chuyện ăn vì thế gồm học lấy vừa đủ, dùng hết điều đã lấy, biết bảo quản, biết chia sẻ, biết tôn trọng mùa vụ, biết đặt câu hỏi về nguồn gốc của thực phẩm khi có thể, và biết rằng cái rẻ bất thường đôi khi được trả bằng một giá khác mà người mua không nhìn thấy: đất bị kiệt, nước bị ô nhiễm, người lao động bị trả rẻ, động vật bị đối xử tàn nhẫn hoặc những cộng đồng yếu thế mất sinh kế. Không phải ai cũng có khả năng lựa chọn mọi thứ hoàn hảo. Người nghèo không thể bị giảng luân lý bởi người có nhiều tiền về chuyện phải mua sản phẩm đắt hơn. Công bằng đòi ta phân biệt khả năng. Nhưng ai có khả năng chọn thì có trách nhiệm dùng khả năng ấy.
Mặc cũng vậy. Quần áo che thân, làm đẹp, biểu lộ văn hóa và phẩm giá. Kitô giáo không dạy con người phải ăn mặc xấu để chứng minh mình đạo đức. Cái đẹp có chỗ của nó. Nhưng một nền văn hóa liên tục biến quần áo còn tốt thành thứ lỗi thời trong vài tuần đang đào tạo một kiểu ham muốn không bao giờ no. “Mới” trở thành một giá trị tự thân. Người ta mua không phải vì cần mà vì được kích thích. Tủ quần áo đầy nhưng vẫn có cảm giác không có gì để mặc. Một chiếc áo bị bỏ không phải vì rách mà vì đã xuất hiện trong ảnh vài lần. Đằng sau thói quen tưởng nhẹ ấy là cả một cơ chế: nguyên liệu, nước, thuốc nhuộm, vận tải, năng lượng, lao động giá rẻ, bao bì và cuối cùng là núi hàng bị bỏ. Trách nhiệm cá nhân không buộc mọi người phải sống một kiểu khổ hạnh giống nhau, nhưng nó mời ta lấy lại quyền tự do trước việc mua sắm. Ta có thật sự cần món này không? Ta sẽ dùng nó bao lâu? Ta mua vì nhu cầu hay vì buồn, vì muốn chứng tỏ, vì quảng cáo vừa tạo cảm giác thiếu trong ta? Có thể sửa không? Có thể dùng lại không? Có thể cho người khác không? Có thể mua một món tốt dùng lâu thay vì ba món rẻ nhanh bỏ không? Những câu hỏi nhỏ ấy thực chất là bài tập tự do. Người tiêu dùng tưởng mình tự do khi có vô số lựa chọn, nhưng có khi tự do thật bắt đầu ở khả năng nói “không cần”.
Đi lại cũng là một trường của trách nhiệm. Con người cần di chuyển để làm việc, học hành, thăm viếng, chữa bệnh, phụng vụ và nghỉ ngơi. Không thể biến linh đạo sinh thái thành một luật khắt khe khiến người đi làm xa hoặc người ở nơi thiếu giao thông công cộng mang mặc cảm tội lỗi vì phải sử dụng phương tiện cá nhân. Luân lý phải đi cùng thực tế. Nhưng trong phạm vi có thể, mỗi người vẫn có thể hỏi mình đang di chuyển thế nào. Một đoạn đường ngắn có nhất thiết phải lấy xe không? Có thể đi bộ không? Có thể gom nhiều việc trong một chuyến không? Có thể đi chung không? Có thể bớt những chuyến chỉ vì thói quen tiện tay không? Và rộng hơn nữa, ta có sẵn sàng ủng hộ những chính sách giao thông công cộng tốt hơn, an toàn hơn, sạch hơn không? Bởi trách nhiệm cá nhân không dừng ở cách mình đi. Nó còn là cách mình muốn xã hội tổ chức việc đi lại cho mọi người, đặc biệt cho người nghèo, người già, người khuyết tật và người không có phương tiện riêng. Sinh thái toàn diện luôn kéo cá nhân ra khỏi cái tôi.
Mua là một hành vi luân lý nhiều hơn ta tưởng. Mỗi lần mua, ta không chỉ trao tiền để nhận một món hàng; ta đang bỏ một lá phiếu rất nhỏ cho một kiểu sản xuất và một kiểu tiêu dùng. Một lá phiếu rất nhỏ, đúng. Không nên phóng đại. Nhưng hàng triệu lá phiếu nhỏ tạo nên thị trường. Nếu người tiêu dùng chỉ hỏi “rẻ bao nhiêu” mà không bao giờ hỏi “rẻ bằng cách nào”, hệ thống sẽ học rằng chỉ cần hạ giá, bất kể cái giá bị chuyển cho ai khác. Có thể người lao động trả bằng lương thấp, dòng sông trả bằng nước độc, rừng trả bằng diện tích bị mất, tương lai trả bằng khí hậu bất ổn. Người Kitô hữu không thể biết toàn bộ chuỗi cung ứng của mọi món hàng. Không ai có đủ thời gian và dữ liệu để nghiên cứu tất cả. Nhưng không biết hết không có nghĩa là không cần biết gì. Với những món mua thường xuyên, với những sản phẩm có nguy cơ cao, với những chọn lựa lớn, ta có thể học dần cách mua bằng lương tâm hơn. Điều quan trọng nhất là phá vỡ phản xạ: thấy thích là mua, thấy giảm giá là mua, thấy người khác có là mua. Sự tiết độ Kitô giáo không chống lại niềm vui có một món đồ tốt. Nó chống lại việc để ham muốn trở thành ông chủ.
Xả là nơi một triết lý sống lộ ra rất rõ. Văn hóa “dùng rồi bỏ” không chỉ liên quan đến vật chất. Đức Phanxicô đã nhiều lần dùng hình ảnh văn hóa loại bỏ để nói cả về con người. Ta vứt đồ quá dễ, rồi dần dần cũng có nguy cơ vứt người khi người ấy không còn hữu dụng. Một chiếc điện thoại chỉ chậm hơn một chút đã bị thay. Một cái ghế lung lay không ai nghĩ tới sửa. Một đồ dùng hư một bộ phận nhỏ được ném cả món. Chắc chắn có những vật sửa không đáng, không an toàn hoặc chi phí sửa quá cao. Không phải mọi thứ đều phải giữ bằng mọi giá. Nhưng văn hóa sửa chữa có một giá trị thiêng liêng sâu hơn chuyện tiết kiệm tiền. Sửa nghĩa là tin rằng cái đang hỏng chưa nhất thiết hết giá trị. Sửa đòi kiên nhẫn, kiến thức, thời gian và sự khiêm nhường. Có điều gì đó rất gần với Tin Mừng trong động từ ấy. Thiên Chúa không nhìn nhân loại hư hỏng rồi vứt bỏ để tạo một loài khác. Người cứu chuộc. Người chữa lành. Người phục hồi. Dĩ nhiên không nên thần học hóa một cái máy hỏng quá mức, nhưng thói quen sửa thay vì thay ngay có thể âm thầm đào tạo trong ta một thái độ biết tôn trọng giá trị còn lại của sự vật.
Trồng một cái cây cũng là một việc nhỏ và dễ bị lãng mạn hóa. Một cây không bù được một khu rừng bị phá. Một buổi trồng cây chụp ảnh không thay thế việc bảo vệ hệ sinh thái. Thậm chí trồng sai loài, sai chỗ, không chăm sóc về sau còn có thể trở thành hoạt động trình diễn. Nhưng điều đó không làm việc trồng cây vô nghĩa. Trồng đúng, chăm đúng và giữ cho cây sống là một hành vi hướng về tương lai. Người trồng cây chấp nhận làm một việc mà có thể người khác sẽ hưởng bóng mát nhiều hơn mình. Chính vì thế, nó là một trường của lòng quảng đại liên thế hệ. Một giáo xứ trồng vài cây quanh khuôn viên chưa thay đổi khí hậu, nhưng nếu trẻ em trong giáo xứ được giao chăm sóc chúng nhiều năm, được học tên cây, biết mùa ra lá, biết cách dùng nước, biết tại sao cần giữ đất, thì cây ấy đang trở thành một lớp giáo lý sống. Ta thường muốn những chương trình thật lớn vì chương trình lớn dễ gây ấn tượng. Nhưng giáo dục nhân đức lại thường xảy ra trong việc nhỏ được làm bền bỉ.
Tiết kiệm nước cũng vậy. Có nơi nguồn nước dồi dào, có nơi thiếu. Có người sống trong căn nhà có vòi nước liên tục, có người phải mua từng can. Một người tắm ngắn hơn vài phút không giải quyết được mọi vấn đề quản trị nước. Nhưng thái độ đối với nước nói lên cách ta hiểu thụ tạo. Nếu nước chỉ là thứ mở vòi là có, ta rất dễ quên rằng nó có nguồn, có vòng tuần hoàn, có chi phí làm sạch, bơm, xử lý và có giới hạn. Một đứa trẻ được dạy khóa vòi khi đánh răng không chỉ học mẹo tiết kiệm tiền nước. Nó đang học một nguyên tắc đạo đức: không phải vì mình có khả năng dùng nhiều mà mình có quyền lãng phí. Cùng một nguyên tắc ấy sẽ theo nó sau này khi nó có tiền, có quyền, có chức vụ. Giáo dục sinh thái tốt không tạo ra trẻ em ám ảnh vì từng giọt nước, nhưng tạo ra người biết quý điều mình nhận.
Điện cũng vậy. Tắt một bóng đèn không cứu khí hậu. Nhưng bật tất cả chỉ vì “tiền điện tôi trả” biểu lộ một quan niệm méo về quyền sở hữu. Tôi có thể trả tiền không có nghĩa tôi có quyền sử dụng bất kể hậu quả. Tài sản tư không xóa chiều kích chung của tạo thành. Người giàu đủ tiền để bật điều hòa cho cả căn nhà trống vẫn phải hỏi về sự tiết độ, không phải vì sợ hóa đơn mà vì lương tâm. Đây là điểm quan trọng: linh đạo sinh thái không thể chỉ dựa trên tiết kiệm kinh tế. Nếu chỉ tắt điện vì điện đắt, khi điện rẻ ta sẽ dùng vô hạn. Nhân đức sâu hơn là biết dùng đủ vì đó là cách đúng với quà tặng của Thiên Chúa.
Từ đây ta hiểu tại sao việc nhỏ đào tạo cho việc lớn. Một người từ lâu đã tập sống “đủ” sẽ có khả năng khác khi đứng trước một quyết định nghề nghiệp liên quan đến lợi nhuận và môi trường. Người đã tập không lấy phần hơn chỉ vì mình có thể sẽ nhạy hơn khi phải quyết định một dự án có đẩy chi phí sang cộng đồng nghèo hay không. Người cha thường xuyên dạy con không xả rác sẽ khó bình thản nếu chính công ty mình xả thải bất hợp pháp. Người đã học sửa chữa, tái sử dụng, tiết kiệm và chia sẻ sẽ có một trí tưởng tượng kinh tế khác người chỉ biết mô hình mua, dùng, bỏ. Nhân đức không xuất hiện đột ngột trong ngày có quyết định lớn. Nó được tập từ rất lâu trong những ngày không ai nhìn.
Vì thế, khinh việc nhỏ thường đi cùng với khinh người nhỏ. Người ta có thể thích những dự án sinh thái hàng triệu đô nhưng không chịu cúi nhặt một mẩu rác vì cho rằng việc ấy dành cho lao công. Có thể nói rất hay về hành tinh nhưng đối xử tệ với người dọn vệ sinh. Có thể dự hội nghị về phát triển bền vững rồi bỏ thừa cả bàn thức ăn. Có thể đăng bài bảo vệ đại dương nhưng ném chai nhựa xuống đường vì “sẽ có người quét”. Nghịch lý ấy cho thấy vấn đề sinh thái trước hết vẫn là vấn đề con người. Ta không thể thật sự yêu “Trái Đất” như một ý niệm mà khinh những con người cụ thể đang giữ cho khu phố sạch, thu gom rác, chăm cây, làm nông, xử lý nước thải. Người nhỏ và việc nhỏ thường bị cùng một cái nhìn khinh thường đẩy xuống dưới. Tin Mừng thì làm ngược lại: nó trả phẩm giá cho điều bé nhỏ.
Tuy nhiên, trách nhiệm cá nhân không được biến thành chủ nghĩa cá nhân sinh thái. Một trong những nguy cơ lớn của thời đại là hệ thống gây ra những tổn thất khổng lồ nhưng lại dạy người dân chỉ nhìn vào túi rác của mình. Người tiêu dùng được bảo hãy sống xanh, trong khi những cơ chế sản xuất và chính sách lớn vẫn không thay đổi. Nếu linh đạo Kitô giáo chỉ nói với tín hữu rằng hãy dùng bình nước cá nhân, mang túi vải và phân loại rác mà không bao giờ nói đến những quyết định kinh tế, chính trị và pháp lý ảnh hưởng tới hàng triệu người, linh đạo ấy bị cắt mất một nửa. Trách nhiệm cá nhân bao gồm cả trách nhiệm công dân. Người giáo dân không chỉ là người tiêu dùng. Họ là công dân, người lao động, nhà quản lý, giáo viên, kỹ sư, bác sĩ, doanh nhân, cử tri, cha mẹ, người làm truyền thông, viên chức, nhà nghiên cứu, người có tiếng nói trong cộng đồng. Ở mỗi vai trò ấy, họ có thể gặp những quyết định vượt xa chuyện tắt đèn trong nhà.
Lên tiếng là một phần của trách nhiệm cá nhân. Có những lúc im lặng là khôn ngoan, nhưng cũng có những lúc im lặng trở thành đồng lõa. Nếu một khu dân cư đang chịu ô nhiễm nghiêm trọng, nếu người nghèo bị ép sống cạnh nguồn độc hại, nếu một dự án phá hủy sinh kế của cộng đồng mà không có đối thoại công bằng, người Kitô hữu không thể tự an ủi rằng mình đã phân loại rác nên phần lương tâm đã xong. Lương tâm sinh thái phải biết mở miệng. Lên tiếng không đồng nghĩa với chửi bới, kích động hoặc biến mọi vấn đề môi trường thành cuộc chiến ý thức hệ. Người môn đệ Đức Kitô lên tiếng bằng sự thật, chứng cứ, công bằng, bác ái và kiên trì. Có khi đó là ký một kiến nghị chính đáng. Có khi là viết thư cho cơ quan có trách nhiệm. Có khi là đặt câu hỏi trong cuộc họp. Có khi là bảo vệ một đồng nghiệp dám báo cáo sai phạm. Có khi là từ chối làm đẹp số liệu môi trường cho một báo cáo. Có khi chỉ là nói trong gia đình rằng không nên đốt rác như thế. Nhưng có những lời nhỏ nếu không ai nói thì cái sai trở thành bình thường.
Bầu chọn, trong những xã hội và bối cảnh nơi người dân có quyền lựa chọn đại diện hoặc tham gia các hình thức quyết định công, cũng là một hành vi lương tâm. Người Công giáo không bỏ phiếu chỉ dựa trên một vấn đề duy nhất, càng không được giản lược đức tin thành khẩu hiệu chính trị. Nhưng những chính sách liên quan đến đất, nước, năng lượng, quy hoạch, giao thông, bảo vệ người nghèo và thế hệ sau là những vấn đề luân lý thật. Cử tri có trách nhiệm tìm hiểu trong khả năng của mình. Không ai có thể biết mọi thứ, nhưng cố ý không quan tâm cũng là một lựa chọn. Trách nhiệm cá nhân trong chính trị không có nghĩa Hội Thánh trao cho ta một danh sách phải bầu ai. Nó có nghĩa lương tâm Kitô hữu không được để ở nhà khi ta bước vào những quyết định công ích. Một người có thể rất đạo đức trong nhà thờ nhưng vẫn bỏ phiếu hoàn toàn dựa trên lợi ích riêng. Sự chia đôi ấy không phù hợp với đức tin nhập thể.
Giáo dục con cái có lẽ là một trong những trách nhiệm sinh thái cá nhân lớn nhất mà nhiều cha mẹ không nhận ra. Trẻ con học quan hệ với tạo thành trước khi học chữ “sinh thái”. Chúng nhìn cách cha mẹ ăn, mua, bỏ, dùng nước, đối xử với cây cối, động vật và người lao động. Một người cha giảng cho con không xả rác nhưng chính mình hạ kính xe ném ly ra đường đang dạy bài học mạnh hơn lời nói. Một người mẹ bắt con tiết kiệm nhưng mua sắm liên tục để giải tỏa cảm xúc cũng đang truyền một thần học tiêu dùng mà không biết. Ngược lại, gia đình có thể trở thành trường sinh thái toàn diện rất đơn giản: ăn hết phần mình lấy, biết cảm ơn người nấu, sửa một món đồ cùng nhau, trồng một chậu cây, không chế nhạo người làm vệ sinh, mang đồ còn tốt cho người cần, đi bộ một đoạn khi có thể, nói với con tại sao không cần mua món mới dù có tiền. Những điều ấy không cần một giáo trình phức tạp. Chúng là đời sống.
Từ chối đồng lõa là tầng khó hơn của trách nhiệm cá nhân. Có những lúc sống sinh thái không còn là chọn loại túi nào mà là chọn mình sẽ ký hay không ký, im hay nói, nhận lợi ích hay từ chối. Một kỹ sư biết hệ thống xử lý đang bị tắt để tiết kiệm chi phí có trách nhiệm gì? Một kế toán biết doanh nghiệp đang giấu chi phí môi trường phải làm gì? Một cán bộ được yêu cầu bỏ qua vi phạm vì quan hệ phải làm gì? Một người truyền thông được thuê để “xanh hóa” hình ảnh cho một hoạt động gây hại có nên nhận không? Những tình huống ấy phức tạp. Không thể giải bằng một câu. Có người đang nuôi gia đình, có nguy cơ mất việc, có áp lực từ cấp trên, có thể không đủ bằng chứng, có thể cần tìm tư vấn pháp lý và đạo đức trước khi hành động. Luân lý Công giáo không ngây thơ về cái giá của sự chính trực. Nhưng chính vì khó mà lương tâm phải được đào tạo từ trước. Người chưa bao giờ tập nói không với lợi ích nhỏ sẽ rất khó nói không với lợi ích lớn. Người đã quen biện minh “ai cũng làm” trong chuyện nhỏ sẽ dùng đúng câu ấy khi chuyện lớn đến.
Ở đây cần nói một điều để tránh biến linh đạo sinh thái thành sự ám ảnh đạo đức. Không ai có thể sống với dấu chân sinh thái bằng không. Chỉ cần sống là đã sử dụng tài nguyên. Ta ăn, thở, ở, đi lại, dùng thuốc, dùng điện, sinh hoạt. Mục tiêu không phải là cảm thấy có lỗi vì mình tồn tại. Kitô giáo không xem con người như một tai họa phải biến mất để trái đất được cứu. Con người thuộc về tạo thành và có một ơn gọi trong tạo thành. Vấn đề không phải là có sử dụng, nhưng là sử dụng thế nào; không phải có tác động, nhưng là tác động theo hướng gì; không phải đạt sự tinh sạch tuyệt đối, nhưng là sống trách nhiệm trong những giới hạn thật. Một gia đình nghèo dùng đồ nhựa rẻ vì chưa có lựa chọn khác không nên bị xét đoán bởi người giàu có nhiều phương án hơn. Một bệnh viện dùng vật tư dùng một lần vì an toàn y tế không giống một bữa tiệc dùng hàng trăm vật trang trí chỉ để chụp ảnh. Đạo đức cần phân định, không phải đếm máy móc.
Sự hoàn hảo sinh thái không phải tiêu chuẩn để bắt đầu. Có người không làm gì vì nghĩ mình không thể làm mọi thứ. “Tôi vẫn phải đi xe, vậy thôi khỏi nói môi trường.” “Tôi chưa phân loại rác được hoàn toàn, vậy khỏi cố.” Đây là một cái bẫy. Đời sống nhân đức không bao giờ vận hành theo kiểu hoặc hoàn hảo hoặc vô ích. Một người học cầu nguyện không đợi đến khi có thể cầu nguyện một giờ mới bắt đầu năm phút. Một người tập bố thí không cần đợi mình đủ giàu. Sinh thái cũng vậy. Ta bắt đầu từ điều có thể, rồi để lương tâm lớn lên. Điều nguy hiểm hơn sự chưa hoàn hảo là sự tự mãn.
Những chọn lựa nhỏ còn có sức tạo văn hóa. Một người mang bình nước có thể không đáng kể, nhưng một trường học nơi đa số học sinh dùng bình cá nhân sẽ tạo ra một chuẩn mới. Một gia đình sửa đồ có thể chỉ tiết kiệm vài món, nhưng một khu phố có thợ sửa, chợ đồ cũ, nơi trao đổi đồ dùng sẽ chống lại văn hóa dùng rồi bỏ. Một giáo xứ giảm đồ nhựa trong lễ hội có thể không đổi thế giới, nhưng hàng trăm giáo xứ cùng làm sẽ tác động đến nhà cung cấp và thói quen cộng đồng. Văn hóa luôn được tạo bằng sự lặp lại. Cái hôm nay bị coi là kỳ quặc có thể ngày mai thành bình thường. Vì thế, đừng khinh sức mạnh của gương sáng. Không cần phô trương. Thậm chí gương sáng càng ít đạo đức hóa người khác càng dễ lan. Một người sống giản dị vui vẻ thuyết phục hơn mười bài giảng trách móc.
Điều này đặc biệt đúng trong đời sống Giáo Hội. Nếu nhà thờ giảng Laudato Si’ nhưng sau mỗi lễ hội sân đầy rác dùng một lần, người trẻ sẽ hiểu rằng giáo huấn là chuyện trên giấy. Nếu nhà dòng nói về người nghèo nhưng đổi thiết bị liên tục chỉ vì có mẫu mới, chứng tá mất sức. Nếu giáo xứ kêu gọi giáo dân tiết kiệm nước nhưng hệ thống rò rỉ nhiều tháng không ai sửa, lời nói không có thân xác. Hoán cải sinh thái phải đi vào cách vận hành của chính cộng đoàn Kitô hữu. Nhưng cộng đoàn chỉ thay đổi khi những cá nhân cụ thể bắt đầu hỏi, đề nghị, làm và kiên trì. Đừng chờ “giáo xứ” như một thực thể trừu tượng. Giáo xứ là cha xứ, hội đồng, các ban, từng gia đình, từng người. Trách nhiệm tập thể không loại trách nhiệm cá nhân; nó được thực hiện qua cá nhân.
Người Kitô hữu cũng cần cảnh giác với việc biến các lựa chọn sinh thái thành dấu hiệu để tự cho mình đạo đức hơn người khác. Có thể mang túi vải mà lòng đầy khinh bỉ người dùng túi nhựa. Có thể ăn theo chế độ mình cho là tốt hơn rồi chế nhạo người nghèo không có lựa chọn ấy. Có thể sống tối giản nhưng biến sự tối giản thành một nhãn hiệu sang trọng. Khi đó, nhân đức đã bị cái tôi chiếm. Mục đích của trách nhiệm sinh thái không phải tạo một tầng lớp người “xanh” đạo đức hơn. Nó là đưa ta vào một quan hệ đúng hơn với Thiên Chúa, tha nhân và tạo thành. Khi trách nhiệm không đi cùng khiêm nhường, nó rất nhanh trở thành chủ nghĩa thanh sạch mới.
Cũng cần nhìn tới chiều kích vui. Nếu mọi nói năng về sinh thái chỉ là cấm, giảm, bỏ, sợ và tội lỗi, người ta sẽ sớm mệt. Tiết độ Kitô giáo không phải đời sống nhạt màu. Nó mở ra một niềm vui khác: vui vì dùng đủ mà không bị đồ vật sở hữu; vui vì một món đồ được sửa và tiếp tục phục vụ; vui vì cây mình trồng lớn lên; vui vì bữa ăn không bỏ thừa; vui vì trẻ con học biết quý nước; vui vì có thể đi bộ một đoạn và nhìn thấy con đường thay vì chỉ lướt qua; vui vì tặng một vật mình không dùng cho người cần; vui vì ngôi nhà bớt đồ nhưng nhiều khoảng thở hơn. Nền kinh tế tiêu dùng thường hứa niềm vui qua việc thêm. Linh đạo sinh thái nhiều khi khám phá niềm vui qua việc bớt. Không phải bớt vì ghét thế giới, nhưng bớt để thế giới không bị ta nuốt mất.
Đằng sau tất cả những chọn lựa nhỏ là một câu hỏi lớn: tôi nghĩ mình là ai trong thế giới này? Nếu tôi là chủ tuyệt đối, tôi dùng theo ý mình. Nếu tôi là khách tạm thời không liên quan, tôi cũng có thể dùng rồi đi. Nhưng nếu tôi là thụ tạo được Thiên Chúa yêu và trao trách nhiệm quản lý những ân huệ không thuộc tuyệt đối về mình, mọi việc thay đổi. Cái ly nước không chỉ là của tôi vì tôi đã trả tiền. Chiếc áo không chỉ là món hàng. Cái cây không chỉ là vật trang trí. Không khí không chỉ là nền vô hình. Đường phố không chỉ là nơi tôi đi qua. Tất cả thuộc về một ngôi nhà chung mà tôi vừa là người nhận vừa là người trao lại.
Và chính chữ “trao lại” làm trách nhiệm cá nhân mở về tương lai. Ta không chỉ sống với những người đang hiện diện. Ta đang cùng sống với những người chưa sinh ra theo một nghĩa đạo đức. Một em bé sinh sau ba mươi năm sẽ nhận một bầu khí quyển mà thế hệ này đã tác động. Nó sẽ nhận thành phố ta xây, nguồn nước ta giữ hoặc làm bẩn, giống cây ta bảo tồn hoặc đánh mất, nợ công ta để lại, hệ thống giao thông ta chọn, văn hóa tiêu dùng ta truyền. Người chưa sinh không thể bỏ phiếu hôm nay. Vì thế lương tâm của người đang sống phải đại diện cho họ. Trong truyền thống Kitô giáo, yêu người thân cận không bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý. Sinh thái buộc ta hiểu thêm rằng nó cũng không bị giới hạn bởi khoảng cách thời gian.
Có người sẽ hỏi: tất cả những việc này có thật sự đáng kể trước những lực lượng kinh tế khổng lồ không? Câu trả lời thành thật là: nếu chỉ từng việc riêng rẽ, nhiều việc có tác động vật chất rất nhỏ. Nhưng đời sống đạo đức không chỉ được đo bằng trọng lượng vật chất trực tiếp của một hành động. Nếu chỉ đo như thế, rất nhiều hành vi yêu thương cũng sẽ bị xem là vô nghĩa. Một người thăm một bệnh nhân không giải quyết hệ thống y tế. Một gia đình nhận nuôi một đứa trẻ không giải quyết mọi trẻ mồ côi. Một người trả lương công bằng cho vài nhân viên không xóa bất công toàn cầu. Nhưng không ai vì thế nói những hành vi ấy vô nghĩa. Điều thiện cụ thể luôn có giá trị tự thân, đồng thời có sức tạo văn hóa và con người.
Thế giới không được cứu bởi một cá nhân đạo đức hoàn hảo. Nó được chữa lành phần nào bởi vô số con người chấp nhận làm phần mình, liên kết với nhau và thay đổi những cơ cấu có thể thay đổi. Trách nhiệm cá nhân vì thế luôn phải mở ra cộng đồng. Tôi phân loại rác, nhưng tôi cũng hỏi hệ thống thu gom có phân loại thật không. Tôi tiết kiệm điện, nhưng tôi cũng quan tâm nguồn năng lượng xã hội sử dụng. Tôi mua có trách nhiệm, nhưng tôi cũng ủng hộ luật bảo vệ người lao động và môi trường. Tôi trồng cây, nhưng tôi cũng bảo vệ rừng. Tôi dạy con không xả rác, nhưng tôi cũng dạy nó rằng người nghèo không phải “rác” của nền kinh tế. Tôi sống giản dị, nhưng tôi cũng lên tiếng khi những người khác bị buộc phải sống thiếu thốn vì bất công. Chính ở điểm đó trách nhiệm cá nhân gặp sinh thái toàn diện.
Có một thứ khiêm nhường rất đẹp trong việc làm điều nhỏ mà không đòi thấy ngay kết quả lớn. Người trồng cây biết có thể mình không ngồi dưới bóng cây ấy. Người dạy trẻ một thói quen tốt không biết hai mươi năm sau nó sẽ quyết định ra sao. Người kiên trì sửa một nếp sống gia đình có thể không nhìn thấy ảnh hưởng xã hội. Nhưng đức tin vốn sống nhiều bằng hạt giống. Người Kitô hữu không được hứa rằng cứ làm những việc nhỏ là mọi khủng hoảng sẽ được giải quyết. Đó là ngây thơ. Nhưng cũng không được nói rằng vì mình không giải quyết được tất cả nên không cần làm gì. Đó là thất vọng trá hình.
Những chọn lựa nhỏ không nhỏ vì chúng là nơi tự do trở thành tính cách, tính cách trở thành văn hóa và văn hóa trở thành cấu trúc. Một đứa trẻ được nuôi trong văn hóa không lãng phí lớn lên thành kỹ sư có thể thiết kế khác. Một sinh viên học tôn trọng công ích trở thành doanh nhân có thể quyết định khác. Một người lao động tập nói thật trong chuyện nhỏ trở thành quản lý có thể từ chối gian dối trong chuyện lớn. Một công dân đã quen nghĩ đến người khác khi tiêu dùng sẽ khác khi đứng trước lá phiếu. Đây là cách nhân đức đi vào lịch sử: rất chậm, rất âm thầm, nhưng thật.
Bởi vậy, xét mình sinh thái không nên chỉ hỏi những câu to tát như “tôi đã cứu trái đất chưa?” Câu hỏi ấy vô nghĩa vì không ai một mình làm được. Nên hỏi những câu cụ thể hơn: tôi đang ăn thế nào, mua thế nào, bỏ thế nào? Tôi có thói quen dùng quá mức chỉ vì mình đủ tiền không? Tôi có coi của chung như của không ai không? Tôi có tôn trọng người lao động đứng sau những tiện nghi của mình không? Tôi có dạy con bằng đời sống hay chỉ bằng lời? Tôi có im lặng trước một điều sai mà đáng lẽ mình có thể nói không? Tôi có dùng quyền công dân của mình với lương tâm không? Tôi có đang cộng tác trực tiếp vào một việc gây hại không? Tôi có thể thay đổi một điều nhỏ nào ngay tuần này? Xét mình như thế không nhằm làm ta nặng nề. Nó đưa đức tin ra khỏi vùng trừu tượng.
Và cũng phải có lòng thương xót với chính mình. Có những người sau khi ý thức vấn đề sinh thái lại rơi vào lo âu quá mức, cảm thấy mọi hành vi đều gây hại và không biết sống sao cho đủ đúng. Kitô giáo không nuôi một lương tâm bệnh hoạn. Trách nhiệm phải đi với tín thác. Ta làm điều có thể, sửa điều sai, học thêm khi chưa biết, xin lỗi khi cần, và tiếp tục. Ta không phải Đấng Cứu Thế. Đức Kitô là Đấng Cứu Thế. Chính sự thật đó giải phóng ta khỏi hai cám dỗ đối nghịch: kiêu ngạo nghĩ mình cứu được mọi thứ và tuyệt vọng nghĩ vì không cứu được mọi thứ nên chẳng làm gì đáng kể. Ta là người cộng tác.
Có lẽ một trong những câu nguy hiểm nhất của thời đại là: “Chỉ một mình tôi thì có thay đổi được gì đâu.” Câu ấy nghe thực tế nhưng nếu mọi người cùng nói thì nó tạo nên một thế giới không ai chịu trách nhiệm. Và có lẽ một câu khác cũng nguy hiểm không kém: “Chỉ cần mỗi người thay đổi là đủ.” Không, cũng không đủ. Cần luật tốt, chính sách tốt, khoa học tốt, quản trị tốt, doanh nghiệp có trách nhiệm, hợp tác quốc tế và cải cách những cơ chế lớn. Nhưng ai sẽ làm những điều lớn ấy nếu không phải những con người đã được đào tạo bằng những lựa chọn nhỏ? Cơ cấu không có lương tâm ngoài lương tâm của những người xây và vận hành nó.
Vì thế, trách nhiệm cá nhân là nơi linh đạo sinh thái chạm vào bàn tay. Sau tất cả thần học về tạo thành, sau những lời đẹp về chiêm ngắm, sau những phân tích về paradigme kỹ trị, phải có một cái vòi được khóa lại, một món đồ được sửa, một bữa ăn bớt lãng phí, một cây được chăm, một lá đơn được ký, một lời phản đối được nói đúng lúc, một lá phiếu được cân nhắc, một đứa trẻ được dạy, một lợi ích bất chính được từ chối. Nếu không, linh đạo sinh thái vẫn còn ở trên giấy. Đức tin nhập thể luôn muốn có thân xác.
Và chính ở đây người tín hữu hiểu rằng không có gì thật sự nhỏ khi được đặt trước mặt Thiên Chúa. Một đồng tiền nhỏ của bà góa được Đức Giêsu thấy. Một chén nước nhỏ được Người nhớ. Một hạt cải nhỏ trở thành cây. Một chút men làm dậy cả khối bột. Một việc nhỏ làm vì tình yêu có thể không lên bản tin, nhưng nó đang sửa một phần thế giới trước hết bằng cách sửa người làm việc ấy. Từ một con người được sửa, một gia đình có thể đổi. Từ nhiều gia đình, một cộng đồng có thể đổi. Từ những cộng đồng, một nền văn hóa có thể đổi. Và khi văn hóa đổi đủ sâu, luật lệ, thị trường, chính trị và những cấu trúc lớn cũng buộc phải đổi theo.
Trách nhiệm cá nhân vì thế không phải lời giải duy nhất cho cuộc khủng hoảng sinh thái. Nhưng thiếu nó, mọi lời giải khác sẽ không có con người để thực hiện. Khoa học có thể nói ta phải làm gì. Luật có thể buộc ta làm một số điều. Chính sách có thể tạo điều kiện. Công nghệ có thể giúp giảm tác động. Nhưng chỉ lương tâm mới khiến con người muốn sống khác ngay cả khi không ai kiểm tra. Và lương tâm ấy được nuôi mỗi ngày bằng những chọn lựa nhỏ không nhỏ: ăn với lòng biết ơn, mặc với tiết độ, đi lại có suy nghĩ, mua bằng lương tâm, xả có trách nhiệm, trồng và chăm, tiết kiệm, sửa thay vì vội thay, lên tiếng khi phải lên tiếng, dùng quyền công dân vì công ích, giáo dục con bằng gương sống và từ chối đồng lõa khi cái giá của sự tiện lợi là sự sống của người khác. Đó không phải một chương trình để người tín hữu khoe mình sống xanh hơn. Đó là một phần của con đường nên thánh giữa một tạo thành đang rên siết và chờ những người con của Thiên Chúa sống đúng căn tính của mình.

CHƯƠNG 25. TRÁCH NHIỆM TẬP THỂ: GIÁO XỨ, GIÁO PHẬN, DÂN TỘC, NHÂN LOẠI
Có một giới hạn rất rõ của mọi lời kêu gọi trách nhiệm cá nhân: dù một người có sống tiết kiệm đến đâu, phân loại rác kỹ đến đâu, đi xe ít đến đâu, ăn uống chừng mực đến đâu, trồng thêm bao nhiêu cây, tắt bao nhiêu bóng điện, mang theo bao nhiêu chiếc túi dùng lại, người ấy vẫn không thể một mình giải quyết được một cuộc khủng hoảng có kích thước của cả nền kinh tế, cả hệ thống giao thông, cả cơ cấu năng lượng, cả quy hoạch đô thị, cả lưu vực sông, cả bầu khí quyển. Nói như thế không phải để hạ thấp trách nhiệm cá nhân. Trái lại, chính vì tôn trọng trách nhiệm cá nhân nên phải đặt nó vào đúng vị trí. Có những điều chỉ lương tâm cá nhân mới làm được: tôi có thể bớt tham, bớt phung phí, bớt tiện tay vứt bỏ, bớt mua điều không cần, bớt coi tiện nghi là quyền tuyệt đối. Nhưng cũng có những điều nếu chỉ giao cho từng cá nhân thì gần như là một cách trốn tránh trách nhiệm của xã hội. Một người dân có thể muốn dùng phương tiện công cộng, nhưng nếu thành phố không có một hệ thống giao thông công cộng đủ an toàn, đủ sạch, đủ thuận tiện và đủ đáng tin thì lựa chọn ấy trở nên vô cùng khó. Một gia đình có thể muốn dùng năng lượng sạch, nhưng nếu cơ cấu năng lượng của quốc gia vẫn đặt họ trong một hệ thống phụ thuộc vào nguồn điện gây ô nhiễm mà họ không có khả năng lựa chọn khác, thì không thể trách họ như thể toàn bộ vấn đề nằm trên công tắc điện trong nhà. Một nông dân có thể muốn canh tác bền vững, nhưng nếu chính sách tín dụng, giá nông sản, thị trường, giống cây, phân bón, hệ thống thủy lợi và chuỗi phân phối đều ép người ấy vào một kiểu sản xuất tận dụng đất đến kiệt quệ, thì không thể chỉ giảng cho họ về tình yêu thiên nhiên rồi để nguyên cái cơ chế đang dồn họ vào chân tường. Một người nghèo sống bên con kênh ô nhiễm có thể được dạy đừng xả rác xuống nước, điều ấy đúng; nhưng nếu phía thượng nguồn là những nguồn xả công nghiệp lớn, nếu nước thải đô thị chưa được xử lý, nếu quy hoạch đã biến dòng nước thành nơi tiếp nhận chất bẩn của cả một vùng, thì việc chỉ đứng trước căn nhà nghèo để dạy đạo đức môi trường là một thứ công lý bị thu nhỏ đến mức méo mó. Trách nhiệm sinh thái vì thế không thể chỉ là trách nhiệm của “tôi”. Nó phải trở thành trách nhiệm của “chúng ta”. Và chữ “chúng ta” ở đây không mơ hồ. Nó có những hình thức rất cụ thể: gia đình, giáo xứ, giáo phận, dòng tu, doanh nghiệp, trường học, thành phố, tỉnh thành, quốc gia, các tổ chức khu vực, cộng đồng quốc tế và toàn thể nhân loại.
Đức tin Kitô giáo vốn không phải một thứ tôn giáo của những cá nhân cô lập đứng riêng trước mặt Thiên Chúa. Con người được cứu trong một dân, được gọi vào một thân thể, được đặt trong một mạng lưới tương quan, được chịu trách nhiệm không chỉ về điều mình trực tiếp làm bằng hai bàn tay nhưng còn về những cơ cấu mà mình góp phần duy trì, những chính sách mình ủng hộ hoặc im lặng chấp nhận, những mô hình phát triển mình hưởng lợi mà không bao giờ đặt câu hỏi. Kinh Thánh không chỉ biết đến tội của cá nhân. Kinh Thánh cũng biết đến những bất công đã thành cơ chế, những cách sống của cả một dân, những thói quen tập thể, những đường lối chính trị và kinh tế làm người yếu thế bị nghiền nát. Các ngôn sứ không chỉ trách một người tham lam. Các ngài có thể trách cả triều đình, cả giới giàu, cả những nhà cầm quyền, cả những cơ chế trong đó người nghèo bị bán “chỉ vì một đôi dép”. Khi lương tâm Kitô giáo trưởng thành, nó phải đủ rộng để nhận ra rằng một cộng đồng cũng có thể sống có trách nhiệm hoặc vô trách nhiệm; một giáo xứ cũng có thể làm chứng cho Tin Mừng hoặc phản chứng bằng cách sử dụng đất đai, điện nước, tiền bạc và vật liệu; một giáo phận cũng có thể đào tạo dân Chúa biết chăm sóc ngôi nhà chung hoặc chỉ nói chuyện môi trường một lần trong năm rồi thôi; một quốc gia cũng có thể lựa chọn đường phát triển biết nghĩ đến người nghèo và thế hệ mai sau hoặc chấp nhận hy sinh đất, nước, rừng, không khí và cộng đồng địa phương cho những con số tăng trưởng ngắn hạn; và nhân loại cũng có thể hành xử như một gia đình biết chia sẻ trách nhiệm hoặc như một đám người tranh giành phần mình trên cùng một con tàu đang thủng.
Cần nói rất rõ: cá nhân không gánh được khí hậu. Khí hậu là một hệ thống chung. Không khí một nhà máy thải ra không dừng lại ở hàng rào nhà máy. Carbon không mang hộ khẩu. Gió không trình hộ chiếu khi đi qua biên giới. Nước biển không hỏi quốc tịch trước khi dâng. Mưa cực đoan không phân biệt người đã góp nhiều hay ít vào phát thải. Hạn hán không chỉ đến với người có lỗi. Một đứa trẻ sinh ra hôm nay không tham dự những quyết định năng lượng cách đây năm mươi năm, nhưng em có thể phải sống cả đời trong hậu quả của chúng. Một người nông dân nghèo có thể gần như không có dấu chân tiêu thụ đáng kể so với một người sống rất giàu, nhưng lại là người mất mùa trước. Một cộng đồng ven biển có thể không thu được bao nhiêu lợi ích từ một mô hình phát triển công nghiệp hóa tiêu thụ nhiều tài nguyên, nhưng lại là cộng đồng mất đất trước vì xói lở, nhiễm mặn và những biến động khí hậu. Chính vì hậu quả không được phân chia theo mức độ gây ra, vấn đề khí hậu đặt ra một câu hỏi công lý rất sâu: ai đã hưởng lợi nhiều hơn, ai đã gây áp lực nhiều hơn lên hệ thống chung, ai có khả năng lớn hơn để thay đổi, ai phải chịu thiệt hại nặng hơn và ai có nghĩa vụ nâng đỡ ai? Nếu chỉ nói “mọi người đều có trách nhiệm như nhau”, ta có thể đang dùng một câu nghe rất công bằng để che một bất công thực tế. Trách nhiệm là chung, nhưng không phải lúc nào cũng đồng đều. Người có quyền lực lớn hơn có trách nhiệm lớn hơn. Quốc gia có nguồn lực lớn hơn có khả năng đóng góp lớn hơn. Doanh nghiệp có tác động lớn hơn phải chịu trách nhiệm tương xứng với tác động ấy. Một cộng đồng đã hưởng lợi rất lâu từ cách phát triển gây tổn hại có nghĩa vụ nhiều hơn trong việc chuyển đổi. Công lý không phải là bắt mọi người mang cùng một trọng lượng, bất kể sức khỏe, hoàn cảnh và phần trách nhiệm của họ. Công lý là nhìn sự thật của mỗi người trong cái toàn thể.
Vì thế, luật pháp là cần thiết. Người Kitô hữu không nên rơi vào một thứ lãng mạn đạo đức cho rằng chỉ cần mọi người tốt lên thì không cần luật. Nếu con người đã hoàn toàn tốt thì có lẽ nhiều luật không cần nữa. Nhưng chính vì con người vừa có khả năng yêu thương vừa có khả năng tham lam, vừa biết hy sinh vừa biết đẩy chi phí sang người khác, luật là một cách cộng đồng tự bảo vệ công ích. Một doanh nghiệp tiết kiệm chi phí bằng cách xả ô nhiễm ra sông có thể làm hàng hóa của mình rẻ hơn, nhưng cái giá thật đã bị chuyển sang người đánh cá, người uống nước, người bệnh, trẻ nhỏ, hệ sinh thái và ngân sách y tế của xã hội. Nếu không có luật, người làm đúng lại có thể chịu thiệt còn người làm sai lại được lợi. Khi ấy thị trường tự nó không tạo ra công lý. Luật môi trường, tiêu chuẩn phát thải, hệ thống giám sát, quy hoạch đất, bảo vệ lưu vực, giới hạn khai thác, trách nhiệm phục hồi, đánh giá tác động môi trường, quy định về chất thải và những hình thức chế tài không phải là sự thù ghét phát triển. Chúng là những hàng rào mà xã hội dựng lên để phát triển không ăn thịt chính nền tảng của mình. Luật tốt không chống tự do. Luật tốt bảo vệ tự do của người yếu khỏi tự do vô giới hạn của người mạnh. Khi một nhà máy không được quyền làm độc nguồn nước, đó không phải vì xã hội ghét doanh nghiệp, nhưng vì quyền kinh doanh không bao gồm quyền lấy đi quyền sống của người khác.
Nhưng luật thôi cũng chưa đủ. Luật cần được thi hành, và việc thi hành cần minh bạch. Một đất nước có thể có những văn bản rất đẹp mà dòng sông vẫn đen, rừng vẫn mất, không khí vẫn đặc, bởi khoảng cách từ giấy đến đất quá xa. Một xã hội trưởng thành không tự hài lòng vì đã ban hành quy định. Nó hỏi ai giám sát, ai chịu trách nhiệm, dữ liệu có được công khai không, cộng đồng bị ảnh hưởng có được nghe không, nhà khoa học có độc lập không, người phản ánh sai phạm có được bảo vệ không, doanh nghiệp lớn có thực sự bị áp dụng cùng một tiêu chuẩn như người nhỏ không. Công lý sinh thái có một chiều kích thể chế. Nếu thể chế yếu, người có quyền dễ chuyển hậu quả sang người không quyền. Nếu quản trị thiếu minh bạch, tài nguyên chung dễ biến thành của riêng. Nếu quy hoạch chỉ được nhìn qua con số lợi nhuận, một khu rừng có thể trở thành một “quỹ đất”, một bãi bồi thành “tiềm năng khai thác”, một làng chài thành “vùng phát triển”, trong khi ký ức, sinh kế, văn hóa và hệ sinh thái của con người ở đó không được tính như những giá trị thật.
Quy hoạch cũng là một hành vi đạo đức. Ta thường nghĩ quy hoạch là chuyện của kỹ sư, kiến trúc sư, cơ quan hành chính. Đúng, đó là chuyên môn. Nhưng đằng sau mọi bản quy hoạch đều có một nhân học: ta nghĩ con người cần loại thành phố nào? Ta nghĩ ai có quyền ở gần trung tâm, ai bị đẩy ra xa? Ta ưu tiên xe cá nhân hay con người đi bộ? Ta dành đất cho công viên, trường học và cộng đồng hay tối đa hóa thương mại? Ta để trẻ em lớn lên giữa bê tông hay còn chỗ chạm vào đất, cây và nước? Ta xây đô thị như nơi con người gặp nhau hay như mạng lưới di chuyển giữa nhà ở và nơi tiêu dùng? Một con đường mới có thể giúp kinh tế, nhưng cũng có thể chia đôi một cộng đồng, phá một sinh cảnh, tạo làn sóng đầu cơ đất và đẩy người nghèo khỏi nơi họ đã sống nhiều thế hệ. Một hồ chứa có thể tạo điện, nhưng cũng có thể làm biến đổi toàn bộ nhịp sống hạ lưu. Một khu công nghiệp có thể tạo việc làm, nhưng nếu không tính đủ nước, chất thải, nhà ở công nhân, y tế, giao thông và sức chịu tải của môi trường thì cái gọi là phát triển hôm nay có thể trở thành hóa đơn của ngày mai. Do đó, quy hoạch không phải chuyện bản đồ. Nó là cách một thế hệ quyết định hình dạng đời sống cho nhiều thế hệ.
Năng lượng cũng vậy. Không có nền văn minh hiện đại nào vận hành mà không cần năng lượng. Đức tin Kitô giáo không kêu gọi con người trở về một thế giới không điện, không máy móc, không bệnh viện hiện đại, không giao thông, không công nghiệp. Vấn đề không phải dùng hay không dùng năng lượng, mà là dùng loại nào, với hiệu suất nào, ai chịu tác hại, ai được hưởng lợi và quá trình chuyển đổi được thực hiện công bằng ra sao. Một cuộc chuyển đổi năng lượng chỉ có tính đạo đức khi không đơn giản lấy gánh nặng từ nhóm này chuyển sang nhóm khác. Nếu một vùng sống hàng chục năm nhờ một ngành năng lượng cũ, không thể chỉ đóng lại rồi bỏ người lao động tự xoay xở. Nếu vật liệu cho công nghệ mới được khai thác bằng điều kiện lao động tàn nhẫn hoặc tàn phá cộng đồng nghèo ở nơi khác, ta cũng không thể tự tuyên bố mình “xanh” chỉ vì phía người tiêu dùng cuối cùng nhìn sạch sẽ. Sinh thái toàn diện buộc ta nhìn cả chuỗi. Không có công nghệ nào là vô thân xác. Mỗi chiếc pin, mỗi tấm vật liệu, mỗi dây điện đều bắt đầu ở một nơi có đất, nước, người lao động và cộng đồng. Cái nhìn đức tin phải hỏi: sự chuyển đổi này có thực sự bảo vệ sự sống toàn diện hay chỉ làm đẹp phần cuối của hệ thống và giấu phần đầu khuất mắt chúng ta?
Giao thông là một ví dụ khác của trách nhiệm tập thể. Ta có thể kêu gọi từng người bớt dùng xe, nhưng một bà mẹ đưa hai con đi học trong một thành phố thiếu phương tiện công cộng an toàn không thể bị đặt cùng một gánh đạo đức với người có mọi lựa chọn. Trách nhiệm của nhà nước và chính quyền đô thị là tạo cho người dân những lựa chọn tốt có thể thực hiện được. Đường dành cho người đi bộ, phương tiện công cộng đáng tin, hạ tầng cho xe đạp nơi phù hợp, quy hoạch hỗn hợp để người ta không phải di chuyển quá xa cho những nhu cầu căn bản, tiêu chuẩn khí thải, hệ thống vận chuyển hàng hóa hiệu quả, những không gian công cộng giảm nhu cầu phụ thuộc vào xe cá nhân: đó là đạo đức đã đi vào bê tông, lịch chạy xe, vỉa hè và ngân sách. Một xã hội không thể chỉ nói với người dân “hãy sống xanh” trong khi toàn bộ hạ tầng buộc họ sống theo cách khác. Khi lời kêu gọi luân lý không đi kèm điều kiện xã hội tương ứng, nó dễ biến thành gánh nặng đặt lên người nhỏ.
Nông nghiệp càng cho thấy sự liên kết giữa cá nhân và cơ cấu. Người nông dân thường là người đầu tiên bị trách khi đất bạc màu, thuốc hóa học nhiều, nước ô nhiễm. Nhưng phải hỏi cả chuỗi: người tiêu dùng muốn thực phẩm thật rẻ; hệ thống bán lẻ ép giá; thương lái đặt tiêu chuẩn ngoại hình; vốn vay phải trả đúng hạn; rủi ro thời tiết do nông dân gánh; giống và vật tư phụ thuộc; đất đai bị chia nhỏ hoặc tập trung tùy nơi; chính sách đôi khi khuyến khích sản lượng trước mắt; nguồn nước bị cạnh tranh bởi công nghiệp, đô thị và thủy điện. Trong một cơ cấu như thế, chỉ bảo nông dân “hãy yêu đất” là chưa đủ. Yêu đất phải trở thành chính sách hỗ trợ chuyển đổi, nghiên cứu, tín dụng, thị trường, bảo hiểm, đào tạo, quyền tiếp cận nước, bảo vệ đất nông nghiệp cần thiết và một nền văn hóa tiêu dùng chấp nhận trả đúng giá cho thực phẩm được làm ra cách có trách nhiệm. Nếu người tiêu dùng luôn đòi rẻ nhất nhưng lại yêu cầu người sản xuất đạt mọi tiêu chuẩn tốt nhất, ai đó ở giữa sẽ phải chịu mất mát. Rất thường đó là người nông dân và chính mảnh đất.
Trong toàn bộ trách nhiệm tập thể ấy, Giáo hội lên tiếng không phải vì muốn “làm bộ môi trường”, cũng không phải vì Hội Thánh muốn biến mình thành một tổ chức chuyên môn thay thế nhà khoa học, nhà quản lý hay chính phủ. Hội Thánh lên tiếng vì công ích thuộc phạm vi của luân lý. Khi vấn đề môi trường liên quan đến phẩm giá con người, người nghèo, thế hệ sau, sự thật, công bằng trong phân phối lợi ích và thiệt hại, quyền của cộng đồng, lòng tham, trách nhiệm và giới hạn, Hội Thánh không bước ra khỏi sứ mạng của mình khi nói. Trái lại, nếu im lặng hoàn toàn, Hội Thánh mới có nguy cơ cắt Tin Mừng khỏi đời sống thật. Hội Thánh không nhất thiết phải nói công nghệ nào phải được chọn trong mọi trường hợp. Hội Thánh không có đặc sủng để thiết kế một nhà máy điện hay tính tải trọng một cây cầu. Nhưng Hội Thánh có bổn phận nói rằng người nghèo không được coi là vật hy sinh, lợi nhuận không phải tiêu chuẩn duy nhất, thế hệ sau có quyền được tính đến, sự thật khoa học không được bóp méo vì lợi ích, tạo thành không phải vật vô chủ, tham lam là một vấn đề thiêng liêng và phát triển phải phục vụ con người toàn diện chứ không biến con người thành nguyên liệu.
Có người khó chịu khi nghe Hội Thánh nói về khí hậu, rừng, nước, đất, ô nhiễm. Họ hỏi: “Sao không chỉ lo cứu linh hồn?” Nhưng câu hỏi ấy vô tình giả định rằng linh hồn sống không có thân xác, người nghèo uống không cần nước, trẻ em thở không cần không khí, gia đình sống không cần đất, dân tộc tồn tại không cần lãnh thổ sinh thái, và đức ái có thể thực hiện trong một thế giới vật chất bị xem như chuyện bên lề. Kitô giáo không tin một con người không thân xác. Con Thiên Chúa đã làm người thật. Người ăn, uống, đi đường, lên thuyền, chạm vào bệnh nhân, dùng bánh và rượu, nói về hạt giống, chim trời, hoa huệ, ruộng lúa, vườn nho. Cứu độ Kitô giáo không phải ghét vật chất. Vì thế, khi điều kiện vật chất căn bản của đời sống con người bị phá, Hội Thánh có quyền và có nghĩa vụ lên tiếng từ chính đức tin của mình.
Nhưng nếu Hội Thánh lên tiếng với xã hội, Hội Thánh cũng phải xét mình. Giáo xứ không thể kêu gọi giáo dân chăm sóc môi trường trong khi chính mình phung phí không cần thiết. Trách nhiệm tập thể phải bắt đầu từ nơi Hội Thánh trực tiếp quản lý. Một giáo xứ có đất. Một giáo xứ có công trình xây dựng. Một giáo xứ dùng điện, nước, giấy, nhựa, thực phẩm. Một giáo xứ tổ chức tiệc, lễ hội, hành hương, hội chợ, đám đông. Một giáo xứ có tiếng nói giáo dục trẻ em, người trẻ, gia đình. Một giáo xứ mua sắm, sửa chữa, xây mới, phá bỏ, trồng cây hoặc chặt cây. Một giáo xứ có thể tạo ra một văn hóa tiết độ hoặc một văn hóa phô trương. Đó không phải chuyện phụ. Đó là một phần chứng tá.
Đất đai của giáo xứ trước hết không chỉ là “tài sản”. Nó là không gian được trao để phục vụ sứ mạng. Nếu giáo xứ còn khuôn viên, có thể hỏi: có cần bê tông hóa hết không? Có thể giữ cây lớn không? Có thể để đất thấm nước không? Có thể trồng thêm cây bản địa không? Có thể tạo một góc cho trẻ em và người già tiếp xúc với thiên nhiên không? Có thể dùng một phần đất để giáo dục về tạo thành không? Những câu hỏi ấy nghe nhỏ, nhưng chúng cho thấy cách nhìn. Nếu mọi khoảng đất đều lập tức được hỏi “xây gì để sinh lợi?”, giáo xứ rất dễ lặp lại chính paradigme kỹ trị mà mình phê bình bên ngoài. Tất nhiên, có khi phải xây. Có khi nhu cầu mục vụ thật đòi hỏi hội trường, lớp học, nhà sinh hoạt. Nhưng xây thế nào, xây bao nhiêu, vật liệu gì, có cần điều hòa toàn bộ không, thông gió tự nhiên ra sao, ánh sáng ra sao, nước mưa đi đâu, cây xanh giữ lại thế nào, khả năng sử dụng lâu dài thế nào: đó đều là những câu hỏi của quản gia.
Một công trình nhà thờ hay nhà mục vụ cũng có thể trở thành bài học thần học không lời. Công trình đẹp không nhất thiết phải thật lớn. Trang trọng không đồng nghĩa với lãng phí. Thờ phượng Thiên Chúa xứng đáng không có nghĩa là tiêu dùng phô trương. Có những cộng đồng nghèo hy sinh rất nhiều để xây nơi thờ phượng; sự hy sinh ấy đáng trân trọng. Nhưng chính vì là tiền mồ hôi của dân Chúa, việc sử dụng càng cần khôn ngoan. Một công trình phải phục vụ nhiều thế hệ, không phải trở thành tượng đài cho một nhiệm kỳ hay một người. Một quyết định xây dựng thiếu cân nhắc có thể để lại nợ, chi phí bảo trì, tiêu thụ điện nước và gánh nặng cho cộng đồng nhiều năm. Trách nhiệm sinh thái ở đây gặp trách nhiệm tài chính, trách nhiệm mục vụ và đức khiêm nhường. Không phải cứ có thể xây là nên xây; không phải cứ cũ là phải phá; không phải cứ mới là tốt; sửa chữa có khi là một nhân đức.
Tiệc tùng trong giáo xứ cũng cần xét. Văn hóa Việt Nam quý bữa ăn chung, và điều đó đẹp. Bữa ăn tạo hiệp thông. Nhưng bữa ăn hiệp thông không nhất thiết phải trở thành lượng thực phẩm dư thừa, đồ nhựa dùng một lần, nước đóng chai tràn lan, thức ăn bị bỏ sau vài giờ. Một giáo xứ có thể giáo dục bằng cách rất cụ thể: tổ chức vừa đủ, tránh phô trương, tính cách dùng vật dụng tái sử dụng, có phương án cho thức ăn dư còn an toàn, giảm những thứ chỉ để trang trí rồi bỏ, phân loại chất thải nếu điều kiện cho phép. Không cần biến mỗi bữa tiệc thành một buổi hội thảo môi trường. Chỉ cần làm cách có ý thức. Chính nếp sống sẽ dạy nhiều hơn tấm băng-rôn.
Hành hương cũng vậy. Hành hương là một thực hành thiêng liêng quý giá. Nhưng hàng chục ngàn người cùng đi đến một nơi tạo ra tác động thật: giao thông, rác, nước, tiếng ồn, hàng quán, đất đai. Ban tổ chức hành hương không thể nghĩ rằng phần “đạo” là nghi thức còn phần rác sau đó là chuyện công nhân vệ sinh. Việc tổ chức dòng người, nhà vệ sinh, nước uống, phân loại và thu gom rác, hạn chế những vật dụng không cần thiết, bảo vệ cảnh quan, giáo dục khách hành hương tôn trọng nơi chốn là một phần của mục vụ. Một nơi hành hương đẹp không chỉ là nơi có lễ đông mà còn là nơi sau lễ không để lại một cánh đồng rác. Người đến gặp Đức Mẹ, kính thánh hay cầu nguyện không thể vừa hát về ân sủng vừa tiện tay làm tổn thương nơi mình đứng.
Giáo dục có lẽ là trách nhiệm lớn nhất của giáo xứ. Không phải mọi giáo xứ đều có khả năng thực hiện dự án lớn về môi trường. Nhưng hầu như giáo xứ nào cũng có khả năng đào tạo một cách nhìn. Giáo lý thiếu nhi có thể dạy trẻ em rằng tạo thành là quà tặng chứ không phải kho đồ vô tận. Giới trẻ có thể được đưa ra khỏi phòng họp để thấy con kênh, khu đất, cánh đồng, bãi rác, vườn cây gần mình. Các gia đình có thể được mời xét lại lối tiêu dùng không bằng cách làm họ mặc cảm nhưng bằng cách giúp họ thấy đức tiết độ là tự do. Hội đồng mục vụ có thể coi việc sử dụng tài sản giáo xứ là vấn đề luân lý chứ không chỉ là kỹ thuật. Các bài giảng thỉnh thoảng có thể nối Lời Chúa với đất, nước, lao động, người nghèo mà không biến tòa giảng thành diễn đàn chính sách. Giáo dục lương tâm sinh thái không cần lập thêm một “đạo môi trường”. Nó chỉ cần trả lại cho đức tin chiều kích tạo thành vốn đã có.
Giáo phận có một tầm trách nhiệm rộng hơn. Giáo phận có thể đưa chăm sóc ngôi nhà chung vào định hướng mục vụ, đào tạo chủng sinh, thường huấn linh mục, đào tạo giáo lý viên và giáo dân. Các công trình lớn của giáo phận có thể áp dụng tiêu chuẩn hợp lý về năng lượng, nước và đất đai. Các trường học, cơ sở bác ái, nhà hành hương và cộng đoàn tu trì có thể chia sẻ kinh nghiệm. Một giáo phận nằm ở vùng ven biển sẽ có những vấn đề khác một giáo phận miền núi; một giáo phận ở đô thị lớn sẽ đối diện ô nhiễm không khí, giao thông, bê tông hóa; một giáo phận nông thôn có thể đối diện nguồn nước, hóa chất nông nghiệp, đất canh tác, khai thác tài nguyên. Không cần mỗi nơi sao chép một chương trình giống nhau. Sinh thái toàn diện đòi tính địa phương. Đất thật ở đâu thì trách nhiệm thật ở đó.
Giám mục và các cơ cấu giáo phận cũng có thể tạo không gian để lắng nghe những người biết thực tế: nông dân, ngư dân, nhà khoa học, kỹ sư, bác sĩ, nhà giáo, người làm quy hoạch, doanh nghiệp có lương tâm, cộng đồng bị ảnh hưởng, người trẻ. Hội Thánh không cần tự cho mình biết mọi chuyên môn. Chính sự khiêm nhường lắng nghe là một phần của hiệp hành. Một linh mục có thể biết thần học nhưng không biết thủy văn. Một nhà khoa học có thể biết dữ liệu nhưng cần một nền luân lý để hỏi dữ liệu ấy phục vụ ai. Một người dân địa phương có thể không có bằng cấp nhưng biết con sông thay đổi thế nào qua ba mươi năm. Khi những kiến thức ấy gặp nhau trong sự thật và vì công ích, Hội Thánh có thể đóng góp một không gian đối thoại quý giá.
Trách nhiệm tập thể sau đó mở ra cấp dân tộc. Một dân tộc không chỉ là cộng đồng ký ức, lịch sử, ngôn ngữ và văn hóa. Một dân tộc còn sống trên một lãnh thổ cụ thể với sông, núi, rừng, biển, đồng bằng. Yêu quê hương mà không yêu mảnh đất thật của quê hương thì tình yêu ấy dễ chỉ còn biểu tượng. Không thể hát về non sông rồi coi sông là đường thoát chất thải. Không thể tự hào về rừng núi rồi xem rừng nguyên sinh chỉ là gỗ và đất dự án. Không thể yêu đồng bằng bằng thơ ca nhưng để người dân đồng bằng một mình đối diện xói lở, sụt lún, nhiễm mặn, mất phù sa và biến đổi dòng chảy. Lòng yêu nước cũng có một chiều kích sinh thái: giữ cho con cháu một quê hương còn có thể sống được.
Đối với Việt Nam, sông Mekong là một biểu tượng rất rõ của trách nhiệm vượt khỏi biên giới. Dòng sông không bắt đầu ở một quốc gia và không kết thúc trong một quyết định đơn lẻ. Nước đi qua nhiều lãnh thổ, sinh kế của hàng triệu người gắn với một hệ thống chung, phù sa, cá, nhịp lũ, nông nghiệp và đồng bằng nối với nhau bằng một mạch sống không tuân theo đường biên trên bản đồ. Một quyết định ở thượng nguồn có thể tạo hậu quả ở hạ lưu. Một công trình mang lợi ích cho nơi này có thể tạo chi phí cho nơi khác. Chính vì thế, lưu vực Mekong buộc các dân tộc học một đạo đức liên quốc gia: tôi không thể sử dụng phần dòng sông đi qua lãnh thổ tôi như thể phần dưới không tồn tại. Chủ quyền là thực, nhưng chủ quyền không xóa liên đới. Quyền phát triển là thực, nhưng quyền ấy phải đối thoại với quyền sống của cộng đồng hạ lưu. Đây là một trong những nơi cụ thể nhất để hiểu rằng tạo thành không chia theo biên giới chính trị đơn giản.
Với rừng cũng thế. Rừng không chỉ là diện tích cây. Rừng là hệ thống nước, đất, khí hậu địa phương, đa dạng sinh học, văn hóa cộng đồng, sinh kế, ký ức và khả năng chống chịu thiên tai. Một cánh rừng bị mất không chỉ mất số cây đã bị chặt. Nó có thể làm thay đổi dòng chảy, tăng xói mòn, làm đất dễ trượt, giảm khả năng giữ nước, đẩy loài vật ra khỏi sinh cảnh, ảnh hưởng người sống dưới chân núi. Có những giá trị mà giá gỗ không tính được. Khi quốc gia quyết định về rừng, câu hỏi không chỉ là “thu bao nhiêu?”. Câu hỏi phải là “mất gì, ai mất, bao lâu mới phục hồi và có những thứ nào không thể phục hồi?”. Phát triển khôn ngoan không phải từ chối mọi khai thác. Nó là biết đâu là giới hạn không nên vượt.
Đồng bằng sông Cửu Long cũng đặt ra một trách nhiệm quốc gia đặc biệt. Nơi ấy không chỉ là vùng sản xuất. Đó là nhà của hàng triệu con người. Nếu một vùng đất đang chịu đồng thời nhiều áp lực từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sụt lún, khai thác nước ngầm, thiếu phù sa, thay đổi dòng chảy, xói lở và những mô hình canh tác không còn phù hợp, thì câu trả lời không thể chỉ là đắp thêm chỗ này, bơm thêm chỗ kia và bắt người dân tự thích nghi. Cần một tầm nhìn dài hạn về sinh kế, nước, đô thị, nông nghiệp, di cư, hạ tầng và văn hóa. Có nơi phải bảo vệ. Có nơi phải thay đổi mô hình sản xuất. Có nơi có thể phải chấp nhận chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Có những cộng đồng cần được giúp để thích nghi trong phẩm giá chứ không phải bị đẩy khỏi quê hương bằng những lực họ không kiểm soát. Trách nhiệm với đồng bằng là trách nhiệm với người dân đồng bằng, không chỉ với sản lượng từ đồng bằng.
Một quốc gia cũng phải nghĩ đến thế hệ sau. Đây là một điều rất khó trong chính trị vì nhiệm kỳ thì ngắn còn hệ sinh thái vận hành dài. Lợi ích của một dự án có thể thấy ngay trong vài năm, còn chi phí môi trường lộ ra sau mười, hai mươi, năm mươi năm. Người ra quyết định hôm nay có thể không còn tại vị khi hậu quả đầy đủ xuất hiện. Chính vì thế, thể chế cần những cơ chế bảo vệ lợi ích dài hạn khỏi áp lực ngắn hạn. Nếu mọi quyết định đều bị điều khiển bởi câu hỏi “năm nay tăng bao nhiêu?”, thì tương lai không có người đại diện. Thế hệ chưa sinh không bỏ phiếu, không biểu tình, không kiện tụng, không có cổ phần, không thể đứng trong phòng họp. Nhưng sự im lặng của họ không phải là sự đồng ý. Đức tin giúp ta nghe tiếng nói của người chưa thể lên tiếng. Họ có quyền được nhận một đất nước không bị tiêu hết trước khi họ đến.
Trách nhiệm của dân tộc cũng gồm khả năng từ chối một kiểu phát triển coi tăng trưởng kinh tế là tiêu chuẩn gần như tuyệt đối. Kinh tế quan trọng. Người nghèo cần việc làm. Quốc gia cần hạ tầng. Gia đình cần thu nhập. Không được lãng mạn hóa nghèo đói như thể giữ thiên nhiên nghĩa là giữ con người trong thiếu thốn. Nhưng chính vì phát triển thật phải nâng con người lên, phải hỏi phát triển nào và cho ai. Nếu GDP tăng trong khi không khí gây bệnh hơn, nước phải mua đắt hơn, đất canh tác mất, chi phí chữa bệnh tăng, người nghèo bị đẩy xa, thời gian đi lại dài, trẻ em mất không gian sống, thì con số ấy không kể hết câu chuyện. Một nền kinh tế có thể lớn mà đời sống lại hẹp. Một quốc gia khôn ngoan cần những thước đo rộng hơn, nhìn cả sức khỏe, giáo dục, môi trường, bất bình đẳng, khả năng chống chịu, chất lượng cộng đồng và tương lai.
Từ dân tộc, trách nhiệm mở ra toàn nhân loại. Đây không phải một lý tưởng mơ hồ kiểu “mọi người hãy yêu nhau”. Bầu khí quyển thực sự là tài sản chung theo nghĩa không quốc gia nào có thể giữ riêng phần không khí của mình. Đại dương nối nhau. Dòng hải lưu nối nhau. Khí hậu nối nhau. Hệ thống thương mại nối nhau. Chuỗi cung ứng nối người tiêu dùng ở một thành phố với thợ mỏ, công nhân, nông dân, thủy thủ và tài xế ở những nơi họ không bao giờ gặp. Chính nền kinh tế toàn cầu đã làm trách nhiệm trở nên toàn cầu trước khi đạo đức của ta kịp theo. Ta đã học cách mua hàng từ bên kia trái đất rất nhanh; ta chưa học nhanh bằng cách chịu trách nhiệm với con người và môi trường ở đầu kia của món hàng ấy.
“Khí quyển không có hộ chiếu” là một câu đơn giản nhưng chứa cả một thần học về sự phụ thuộc lẫn nhau. Biên giới chính trị cần thiết để tổ chức trách nhiệm, pháp luật và cộng đồng. Nhưng tạo thành nhắc ta rằng không quốc gia nào là một hòn đảo tuyệt đối. Một nước có thể giàu và xây đê cao, hệ thống làm mát tốt, nông nghiệp công nghệ cao, nhưng không thể tách mình mãi khỏi một thế giới bất ổn khí hậu, di cư lớn, nguồn cung gián đoạn, thiên tai lan rộng và xung đột tài nguyên. Không ai thực sự an toàn một mình trên một hành tinh bất an. Tư duy “chúng tôi lo phần chúng tôi” cuối cùng là thiển cận ngay cả theo lợi ích quốc gia. Liên đới không chỉ là lòng tốt; nó là sự thừa nhận thực tế.
Bởi thế cần hiệp ước quốc tế. Hiệp ước không hoàn hảo. Đàm phán thường chậm. Quốc gia có lợi ích khác nhau. Có những lời hứa không được thực hiện đủ. Nhưng sự bất toàn của hợp tác không phải lý do để từ bỏ hợp tác. Khi vấn đề vượt biên giới, không có giải pháp chỉ trong biên giới. Cần cơ chế để các nước cam kết, đo lường, báo cáo, hỗ trợ nhau, chuyển giao công nghệ phù hợp, tài trợ cho thích ứng, đối diện tổn thất và thiệt hại, bảo vệ hệ thống sinh thái xuyên biên giới. Không phải vì một “chính phủ thế giới” lý tưởng nào, nhưng vì có những thứ chỉ có thể được quản trị bằng cộng tác.
Trong sự cộng tác ấy, nguyên tắc trách nhiệm chung nhưng khác biệt là một trực giác đạo đức quan trọng. Tất cả cùng ở trên một hành tinh, nhưng lịch sử sử dụng tài nguyên, mức phát thải, năng lực tài chính và nhu cầu phát triển không giống nhau. Một quốc gia nghèo đang cố đưa điện đến vùng sâu không thể bị đối xử y hệt một quốc gia đã giàu lên qua hàng thế kỷ công nghiệp hóa. Nhưng sự khác biệt trách nhiệm cũng không thể trở thành cái cớ để mọi quốc gia đang phát triển lặp lại toàn bộ mô hình cũ rồi nói “người khác đã làm trước”. Công bằng không cho phép người giàu trốn trách nhiệm lịch sử, cũng không cho phép người đang phát triển bỏ qua trách nhiệm tương lai. Cần một con đường trong đó người có nhiều hơn giúp nhiều hơn, người có công nghệ chia sẻ nhiều hơn, người có lịch sử phát thải cao chuyển đổi nhanh hơn, đồng thời mọi nước đều hướng về một mô hình bền vững hơn theo khả năng thật của mình.
Các quốc gia giàu có cũng phải xét lại một hình thức đạo đức giả rất tinh vi: làm sạch môi trường trong nước bằng cách chuyển sản xuất ô nhiễm sang nơi khác rồi nhập hàng về. Nếu một nền kinh tế đóng nhà máy bẩn trong lãnh thổ mình nhưng vẫn tiêu thụ cùng lượng hàng được sản xuất bằng ô nhiễm ở một nước nghèo, hành tinh không sạch hơn. Chỉ có bản đồ ô nhiễm thay đổi. Tương tự, nếu người tiêu dùng ở nơi giàu đòi hàng cực rẻ, cực nhanh, dùng ngắn rồi bỏ, họ không thể coi điều kiện lao động và môi trường ở nơi sản xuất là chuyện xa lạ. Toàn cầu hóa trách nhiệm phải đi cùng toàn cầu hóa thương mại. Nếu lợi nhuận được tính toàn cầu, đạo đức cũng phải được tính toàn cầu.
Các doanh nghiệp xuyên quốc gia vì thế có trách nhiệm đặc biệt. Quy mô lớn mang lại sức mạnh đổi mới, vốn, công nghệ và việc làm; không nên coi doanh nghiệp tự thân là kẻ thù. Nhưng sức mạnh càng lớn càng cần trách nhiệm. Không thể dùng sự khác biệt luật pháp giữa các quốc gia để tìm nơi tiêu chuẩn thấp nhất. Không thể đẩy rủi ro xuống nhà cung cấp nhỏ rồi giữ hình ảnh sạch ở thương hiệu lớn. Không thể quảng cáo bền vững bằng vài chiến dịch trồng cây trong khi mô hình kinh doanh căn bản khuyến khích tiêu thụ vô hạn. Trách nhiệm doanh nghiệp thật đòi nhìn vào toàn chuỗi, tính tác động thật, công khai thông tin, giảm tổn hại ở nguồn và chấp nhận rằng có những lợi nhuận không nên kiếm nếu giá thật được trả bằng sức khỏe, đất, nước và phẩm giá của người khác.
Nhân loại cũng phải học chia sẻ tri thức. Có những tiến bộ công nghệ có thể giúp giảm sử dụng năng lượng, dự báo thiên tai, quản lý nước, cải thiện nông nghiệp, theo dõi mất rừng, phát triển vật liệu mới. Nhưng nếu công nghệ chỉ thuộc về những nơi có khả năng trả giá cao, khoảng cách giữa người có khả năng thích nghi và người không có sẽ mở rộng. Công lý khí hậu và sinh thái vì thế có chiều kích tri thức. Đào tạo con người, hỗ trợ nghiên cứu địa phương, chuyển giao công nghệ phù hợp, chia sẻ dữ liệu khí tượng và tài nguyên nước, hợp tác khoa học xuyên biên giới là những hình thức của liên đới.
Tuy nhiên, trách nhiệm tập thể luôn đối diện một cám dỗ lớn: khi mọi người chịu trách nhiệm, cuối cùng không ai chịu trách nhiệm. “Đó là chuyện của nhà nước.” “Đó là chuyện của quốc tế.” “Đó là chuyện của doanh nghiệp.” “Đó là chuyện của giáo phận.” “Đó là chuyện của dân.” Nếu ai cũng chỉ tay lên cấp cao hơn hoặc ra nhóm khác, chữ “tập thể” biến thành nơi chôn trách nhiệm. Vì vậy, cần hiểu đúng: trách nhiệm tập thể không hủy trách nhiệm cá nhân; nó tổ chức và nâng trách nhiệm cá nhân vào cấp độ cộng đồng. Tôi không thể tự sửa chính sách giao thông, nhưng tôi có thể ủng hộ chính sách tốt, tham gia thảo luận, chọn đại diện có trách nhiệm, phản đối gian dối, thay đổi thói quen của mình trong phần có thể. Một linh mục không thể sửa khí hậu, nhưng có thể làm giáo xứ mình bớt phung phí, giáo dục lương tâm, nói về công ích và không dùng đức tin để biện minh cho thờ ơ. Một giám mục không điều hành ngành năng lượng, nhưng có thể giúp cộng đồng Công giáo biết phân định các vấn đề xã hội từ ánh sáng Tin Mừng. Một nhà khoa học không tự ban luật, nhưng có bổn phận nói sự thật chuyên môn. Một nhà lập pháp không tự mình thay đổi văn hóa, nhưng có thể thiết kế khung pháp lý đúng. Một doanh nhân không kiểm soát toàn nền kinh tế, nhưng có thể từ chối những lợi nhuận dựa trên chuyển tổn hại cho người khác. Một công dân không làm được mọi thứ, nhưng vẫn có một phần trong cái “chúng ta”.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với giáo dân. Trách nhiệm tập thể không có nghĩa mọi việc lại quy về hàng giáo sĩ. Trái lại, chính giáo dân là những người đang ở trong những nơi hình thành cơ cấu xã hội: chính quyền, doanh nghiệp, nông nghiệp, nghiên cứu, giáo dục, tài chính, kiến trúc, xây dựng, y tế, truyền thông, công nghệ, luật pháp. Một giáo dân làm quy hoạch đô thị có cơ hội phục vụ công ích bằng chuyên môn của mình nhiều hơn một linh mục đứng ngoài lĩnh vực đó. Một kỹ sư Công giáo có thể đưa đạo đức vào cách thiết kế mà không cần dán câu Kinh Thánh lên bản vẽ. Một doanh nhân Công giáo thể hiện đức tin không chỉ bằng việc dâng cúng nhà thờ nhưng bằng cách đối xử với lao động, chất thải, nguồn nước, chuỗi cung ứng và sự thật báo cáo. Một cán bộ hay công chức Công giáo sống trách nhiệm sinh thái không phải bằng khẩu hiệu tôn giáo nơi công sở, nhưng bằng việc không ký dễ dãi vào điều gây hại, không lấy lợi ích riêng làm méo công ích, không coi tiêu chuẩn môi trường là thủ tục có thể “xử lý”. Đây chính là nơi linh đạo giáo dân trở nên xác thịt.
Hội Thánh cần đào tạo giáo dân đủ trưởng thành để gánh phần trách nhiệm ấy. Nếu ta chỉ dạy giáo dân giữ lễ, đọc kinh và làm việc trong khuôn viên giáo xứ, rồi để những quyết định lớn của kinh tế, chính trị, luật pháp, môi trường không được soi bởi một lương tâm Kitô giáo được đào tạo, ta đã bỏ trống nơi họ thực sự được sai đến. Một người giáo dân nên thánh trong hội đồng quản trị có thể ảnh hưởng đến hàng nghìn lao động. Một người giáo dân có lương tâm trong cơ quan quy hoạch có thể bảo vệ một cộng đồng. Một giáo viên dạy trẻ biết yêu sự thật và tạo thành đang xây nền cho hàng chục năm sau. Một nhà báo không nhận tiền để im lặng trước ô nhiễm đang làm việc của một lương tâm công cộng. Những việc ấy không đứng ngoài linh đạo. Đó là linh đạo đi vào cơ cấu.
Cũng phải nói về tiếng nói cộng đồng. Có lúc trách nhiệm tập thể đòi lên tiếng. Không phải mọi lên tiếng đều khôn ngoan. Không phải mọi phong trào đều đúng. Không phải cứ phản đối là đạo đức. Nhưng im lặng cũng không tự động là trung lập. Khi một cộng đồng biết rõ nguồn nước bị hại mà không ai dám nói vì sợ mất lợi ích, sự im lặng có hậu quả. Khi dữ liệu bị che, người dân bị bỏ ngoài quyết định, người nghèo không có tiếng nói, người Kitô hữu phải học nghệ thuật của một tiếng nói có sự thật, có bác ái, có bằng chứng và có trách nhiệm. Đừng biến sinh thái thành khẩu hiệu chính trị phe phái. Nhưng cũng đừng dùng nỗi sợ “chính trị hóa” để tránh mọi câu hỏi về công ích. Có một sự khác biệt lớn giữa đảng phái hóa đức tin và sống chiều kích xã hội của đức tin. Hội Thánh không phải đảng. Nhưng Hội Thánh không vì thế mà mù trước những quyết định làm tổn thương phẩm giá con người và tạo thành.
Trách nhiệm tập thể cũng cần một nền văn hóa hy sinh. Không có chuyển đổi lớn nào chỉ mang lợi ích mà không có chi phí. Chuyển cơ cấu năng lượng có chi phí. Bảo vệ rừng nghĩa là từ bỏ một số lợi ích khai thác. Làm giao thông công cộng tốt cần ngân sách. Xử lý nước thải đúng tốn tiền. Nông nghiệp bền vững cần thời gian và hỗ trợ. Nếu một xã hội muốn mọi thứ sạch hơn nhưng không ai chịu trả chi phí thật, cuối cùng người nghèo sẽ trả bằng cách khác. Vì thế câu hỏi không phải “có chi phí hay không” mà là “chi phí được phân chia thế nào?”. Đây là chỗ đạo đức Kitô giáo nói đến hy sinh và liên đới. Người có nhiều khả năng hơn phải gánh phần lớn hơn. Người dễ tổn thương cần được bảo vệ. Chuyển đổi không được biến thành một dự án trong đó người giàu đổi công nghệ còn người nghèo mất việc.
Từ đó xuất hiện khái niệm chuyển đổi công bằng, dù không cần dùng thuật ngữ cũng hiểu được nội dung. Nếu một ngành nghề phải thu hẹp vì tác hại môi trường, người lao động không nên bị xem như thiệt hại phụ. Họ đã dành đời mình cho công việc ấy, nuôi gia đình bằng nó. Một chính sách đúng phải tính đào tạo lại, việc làm mới, an sinh trong giai đoạn chuyển tiếp, sự sống của địa phương. Nếu không, những người bị bỏ lại sẽ chống thay đổi không phải vì họ ghét trái đất nhưng vì họ sợ không nuôi được con. Đạo đức sinh thái không được khinh nỗi sợ ấy. Nó phải xây con đường trong đó bảo vệ môi trường và bảo vệ con người đi cùng nhau.
Có thể nói trách nhiệm tập thể là nghệ thuật biến lương tâm thành cơ cấu. Một xã hội trưởng thành không chỉ hy vọng có nhiều người tốt. Nó cố gắng xây những thiết chế khiến điều tốt dễ làm hơn và điều xấu khó làm hơn. Một giáo xứ trưởng thành không chỉ mong giáo dân tự ý thức; nó tổ chức sinh hoạt theo cách ý thức ấy được hỗ trợ. Một quốc gia trưởng thành không chỉ kêu gọi doanh nghiệp có tâm; nó thiết kế luật để doanh nghiệp có tâm không bị cạnh tranh bất công bởi doanh nghiệp vô trách nhiệm. Một cộng đồng quốc tế trưởng thành không chỉ kêu gọi quốc gia đoàn kết; nó tạo cơ chế tài chính, giám sát và hợp tác làm cho đoàn kết có hình thức.
Nhưng sâu hơn mọi cơ chế vẫn là một câu hỏi thiêng liêng: chúng ta có thật sự coi nhau là anh em không? Nếu người sống ở hạ lưu chỉ là con số, nếu thế hệ sau chỉ là khái niệm, nếu người nghèo chỉ là dữ liệu, nếu một dân tộc khác chỉ là đối thủ, mọi hiệp ước cuối cùng sẽ mong manh. Pháp luật có thể buộc một mức hành vi tối thiểu. Chỉ một thay đổi trong cách nhìn mới tạo được lòng trung tín dài hạn. Đức tin Kitô giáo mang vào đây một xác tín mạnh: nhân loại không chỉ tình cờ cùng sống trên một hành tinh; chúng ta cùng thuộc về một gia đình thụ tạo dưới một Cha. Điều ấy không xóa khác biệt dân tộc, văn hóa, lợi ích và biên giới. Nhưng nó đặt tất cả dưới một giới hạn lớn hơn. Tôi không có quyền xây tương lai của mình trên việc phá tương lai của người khác.
Giáo xứ vì thế phải học nghĩ mình không chỉ là một nhóm tín hữu đi lễ chung, nhưng là một cộng đồng được đặt trong một khu dân cư cụ thể. Con kênh cạnh nhà thờ cũng thuộc mối quan tâm mục vụ. Những gia đình công nhân sống trong khu ngập cũng thuộc mối quan tâm mục vụ. Trẻ em không có chỗ chơi, người già chịu nóng trong những khu phố ít cây, người bán hàng rong sống sát luồng xe ô nhiễm cũng là những khuôn mặt mà một Hội Thánh nhập thể phải thấy. Giáo xứ không thể giải quyết tất cả, cũng không được biến thành chính quyền song song. Nhưng có thể nhìn, nghe, kết nối, giáo dục, hợp tác và phục vụ.
Giáo phận phải học nghĩ dài hơn một nhiệm kỳ mục vụ. Những tài sản Hội Thánh đang giữ hôm nay sẽ được người khác nhận sau. Đất đai, trường học, nhà hưu, cơ sở bác ái, chủng viện, nhà thờ, nghĩa trang đều là những thực tại phải được quản lý như của chung được trao, không như quyền sở hữu tuyệt đối của thế hệ hiện tại. Mỗi quyết định lớn cần câu hỏi: năm mươi năm nữa, cộng đồng sẽ nghĩ gì về quyết định hôm nay? Có những quyết định hợp pháp nhưng thiển cận. Người quản gia tốt không chỉ hỏi mình được phép làm gì; họ hỏi điều gì đáng làm.
Dân tộc phải học nghĩ vượt qua cám dỗ “phát triển trước, sửa sau”. Có những thứ sửa được. Có những thứ rất khó. Một dòng sông ô nhiễm có thể phục hồi nhưng tốn hàng chục năm. Một loài tuyệt chủng không quay lại. Một tầng đất màu mất đi không tạo lại trong một nhiệm kỳ. Một cộng đồng bị giải thể vì di dời không thể tái tạo chỉ bằng tiền bồi thường. Một nền văn hóa gắn với rừng, sông, biển có thể biến mất không ồn ào nhưng không thể mua lại. Phòng ngừa vì thế thường rẻ hơn phục hồi, và khôn ngoan hơn.
Nhân loại phải học một thứ khiêm nhường mới: chúng ta mạnh đến mức có thể thay đổi quy mô hành tinh, nhưng không mạnh đến mức kiểm soát toàn bộ hậu quả. Khoa học và kỹ thuật cho chúng ta quyền năng rất lớn, nhưng quyền năng ấy càng cần một đạo đức của giới hạn. Một nền văn minh trẻ con nghĩ rằng hễ làm được thì có quyền làm. Một nền văn minh trưởng thành biết hỏi trước: nên không, cho ai, hậu quả gì, nếu sai có đảo ngược được không, ai sẽ trả giá? Khi công nghệ tiến nhanh hơn lương tâm, trách nhiệm tập thể phải chạy để bắt kịp.
Đó cũng là lý do tại sao cầu nguyện không phải chuyện bên lề của trách nhiệm tập thể. Nếu các quyết định lớn chỉ được thực hiện bằng tính toán lợi ích mà không có khả năng dừng, lắng nghe và nhận mình không phải Thiên Chúa, rất dễ đi vào kiêu ngạo. Cầu nguyện dạy giới hạn. Thánh Thể dạy của chung: một bánh, một thân thể. Kinh Lạy Cha bắt đầu bằng “Lạy Cha chúng con”, không phải “Lạy Cha của riêng con”. Chính chữ “chúng con” ấy là một trường trách nhiệm. Xin lương thực “hằng ngày” chứ không xin kho tích trữ vô hạn. Xin “tha nợ chúng con như chúng con cũng tha” là học một nền kinh tế của tương quan. Xin “ý Cha thể hiện dưới đất” nghĩa là trái đất này không ở ngoài ý muốn cứu độ và công chính của Người.
Sau cùng, trách nhiệm tập thể không phải là lời mời cá nhân biến mất trong đám đông. Nó là lời mời mỗi người trưởng thành đến mức biết mình thuộc về một thân thể lớn hơn. Không ai cứu thế giới một mình. Nhưng cũng không ai được quyền nói mình không liên quan. Không một giáo xứ nào cứu được lưu vực Mekong. Nhưng giáo xứ có thể đào tạo những người sẽ làm việc trong các cơ quan, trường đại học, doanh nghiệp, nông trại và gia đình quanh lưu vực ấy. Không một giáo phận nào tự thay đổi khí hậu. Nhưng giáo phận có thể tạo một nền văn hóa Công giáo trong đó phung phí không còn được coi là bình thường, người nghèo được đặt trong quyết định và thế hệ sau được nhớ đến. Không một quốc gia nào tự giữ bầu khí quyển. Nhưng mỗi quốc gia có thể đóng phần công bằng của mình, hợp tác thay vì trốn tránh, dùng tiếng nói quốc tế để bảo vệ người yếu và không coi chủ quyền như giấy phép làm hại người bên kia biên giới. Không một hiệp ước nào thay thế hoán cải. Nhưng không có hiệp ước, sự hoán cải cá nhân rất dễ bị nghiền bởi cơ cấu cũ.
“Chúng ta” là một từ khó hơn “tôi”. “Tôi” có thể quyết ngay. “Chúng ta” phải đối thoại, nhường, chịu trách nhiệm, xây thể chế, chấp nhận khác biệt, kiên trì qua nhiều năm và đôi khi gieo điều mình không kịp gặt. Nhưng chính vì thế, trách nhiệm tập thể là một trường của đức ái trưởng thành. Đức ái không chỉ là đưa một chai nước cho người khát. Đức ái còn là bảo vệ nguồn nước để không có cả cộng đồng phải khát. Công lý không chỉ là giúp một nông dân sau mùa thất bát. Công lý còn là xây một hệ thống trong đó người nông dân không bị ép kiệt đất để sống. Bác ái không chỉ là cứu trợ dân vùng lũ. Bác ái còn là quy hoạch, bảo vệ rừng, quản trị dòng chảy và chuẩn bị hạ tầng để mức thiệt hại giảm đi. Yêu thế hệ sau không chỉ là để tiền cho con. Yêu thế hệ sau còn là để lại đất còn thở, sông còn chảy, biển còn sống và một xã hội biết tự giới hạn.
Khí quyển không có hộ chiếu. Nước không biết biên giới hành chính. Con cá không biết mình bơi qua lãnh thổ nước nào. Gió không xin thị thực. Carbon không dừng ở trạm kiểm soát. Tạo thành bằng cách rất lặng lẽ đã dạy nhân loại một bài thần học về hiệp thông mà chúng ta học quá chậm: mọi sự có liên hệ. Nếu mọi sự có liên hệ, trách nhiệm cũng có liên hệ. Tội của tôi có thể thành thói quen của cộng đồng. Thói quen cộng đồng có thể thành cơ cấu. Cơ cấu có thể thành chính sách. Chính sách có thể làm đổi một vùng đất. Nhưng điều ngược lại cũng đúng: một lương tâm được đánh thức có thể đánh thức gia đình; một gia đình có thể thay văn hóa giáo xứ; một giáo xứ có thể đào tạo những công dân tốt; những công dân tốt có thể làm đổi thể chế; một dân tộc biết trách nhiệm có thể đóng góp vào một nhân loại biết liên đới. Không bước nào đủ một mình. Không bước nào vì thế là vô ích.
Trách nhiệm tập thể bắt đầu khi ta thôi hỏi: “Ai phải làm?” như thể mình đứng ngoài câu trả lời, và bắt đầu hỏi: “Ở vị trí của chúng ta, phần nào đang thuộc về chúng ta?” Giáo xứ hỏi phần của giáo xứ. Giáo phận hỏi phần của giáo phận. Doanh nghiệp hỏi phần của doanh nghiệp. Chính quyền hỏi phần của chính quyền. Dân tộc hỏi phần của dân tộc. Quốc tế hỏi phần của quốc tế. Và mỗi người hỏi phần của mình trong tất cả những cộng đồng ấy. Khi mọi cấp độ đều làm đúng phần của mình và đòi cấp độ khác làm đúng phần của họ, trách nhiệm không còn là khẩu hiệu.
Đây chính là một trong những chỗ đức tin trở nên rất cụ thể. Tin vào Thiên Chúa Tạo Hóa là nhận rằng thế giới không phải của riêng thế hệ này. Tin vào Đức Kitô là nhận rằng người nghèo và người bị tổn thương không được để ngoài sự cứu độ mà ta tuyên xưng. Tin vào Thánh Thần là tin rằng sự sống cần được nâng đỡ và canh tân. Tin vào Hội Thánh là tin rằng ta không nên thánh một mình. Tin vào sự sống đời sau không cho phép ta khinh đời này, nhưng giải thoát ta khỏi tham vọng phải chiếm hết trong đời này. Và tin vào ngày phán xét nghĩa là những quyết định chung của chúng ta cũng nằm dưới ánh sáng của Thiên Chúa: chúng ta đã nhận đất thế nào, đã dùng nó thế nào, đã để lại nó thế nào; chúng ta đã đối xử với người nghèo ra sao; chúng ta đã làm gì với quyền lực, tài nguyên và tri thức được trao.
Ngôi nhà chung không thể được bảo vệ bằng những người hùng cô độc. Nó cần những cộng đồng trưởng thành, những giáo xứ biết xét mình, những giáo phận biết nhìn xa, những chính quyền biết phục vụ công ích, những doanh nghiệp biết giới hạn, những dân tộc biết liên đới và một nhân loại đủ khiêm nhường để hiểu rằng không ai có hành tinh riêng. Trách nhiệm cá nhân đào tạo con người biết chọn điều đúng. Trách nhiệm tập thể biến những chọn lựa đúng ấy thành luật, cơ cấu, văn hóa và tương lai. Cả hai cần nhau. Thiếu cá nhân, tập thể trở thành bộ máy vô hồn. Thiếu tập thể, cá nhân tốt dễ kiệt sức giữa một hệ thống sai. Hoán cải sinh thái vì thế phải đi từ trái tim đến thể chế và từ thể chế trở lại trái tim, cho đến khi cách sống của chúng ta, cách tổ chức xã hội của chúng ta và cách nhìn tạo thành của chúng ta bắt đầu nói cùng một điều: trái đất là quà tặng, người nghèo là anh em, tương lai không phải tài sản để đem cầm cố, và chúng ta chỉ là những người quản gia đang cầm trong tay một phần gia sản sẽ phải trao lại.

CHƯƠNG 26. CÔNG ÍCH, LIÊN ĐỚI, BỔ TRỢ TRÊN NGÔI NHÀ CHUNG
Nếu muốn đưa vấn đề sinh thái vào trung tâm đời sống đức tin mà không biến Kitô giáo thành một thứ phong trào môi trường có thêm vài câu Kinh Thánh, chúng ta cần trở về với một kho tàng vốn đã nằm rất sâu trong truyền thống Hội Thánh: Học thuyết Xã hội Công giáo. Những nguyên tắc như công ích, liên đới và bổ trợ không phải được phát minh để giải quyết khủng hoảng khí hậu, cũng không phải những khẩu hiệu chính trị mà Hội Thánh mượn tạm của thời đại. Chúng phát xuất từ cái nhìn Kitô giáo về con người, xã hội và Thiên Chúa. Nhưng hôm nay, khi trái đất nóng lên, nguồn nước bị đe dọa, rừng bị thu hẹp, không khí ở nhiều thành phố trở thành một thứ người ta phải chịu đựng hơn là một quà tặng người ta được hít thở, khi những người nghèo thường là những người lãnh hậu quả đầu tiên của các quyết định mà họ ít có quyền tham gia nhất, thì ba nguyên tắc ấy phải được đọc lại bằng một đôi mắt sinh thái. Không phải để thay đổi nội dung của chúng, nhưng để khám phá rằng chúng vốn rộng hơn điều ta từng nghĩ. Công ích không thể chỉ nói về trường học, bệnh viện, đường sá, công ăn việc làm và trật tự xã hội mà quên mất nước sạch, đất lành, khí hậu ổn định và khả năng sống của những người chưa ra đời. Liên đới không thể chỉ dừng lại ở việc giúp người nghèo hôm nay mà không nhìn đến những người sẽ nghèo đi vì đất nhiễm mặn, vì biển lấn, vì hạn hán, vì một nền kinh tế hưởng lợi bằng cách đẩy chi phí sinh thái sang những cộng đồng yếu thế. Bổ trợ cũng không thể chỉ được nhắc trong những cuộc tranh luận về nhà nước và xã hội dân sự; nó phải trở thành một nguyên tắc thực hành rất cụ thể: việc nào gia đình, làng xóm, giáo xứ, thành phố có thể làm được thì đừng viện cớ chờ trung ương; nhưng vấn đề nào vượt quá sức địa phương, vượt khỏi biên giới một tỉnh, một quốc gia, thì không được đạo đức giả mà đẩy tất cả gánh nặng xuống vai người nông dân, người ngư dân hay từng hộ gia đình. Ngôi nhà chung buộc chúng ta phải học lại thế nào là sống chung, thế nào là chịu trách nhiệm chung, và thế nào là phân chia trách nhiệm cho đúng.
Trước hết là công ích. Trong ngôn ngữ thông thường, người ta dễ hiểu công ích như tổng số những lợi ích chung mà xã hội cung cấp cho mọi người: đường tốt, điện đủ, bệnh viện tốt, trường học tốt, an ninh tốt, nền kinh tế tăng trưởng. Những điều ấy đúng và quan trọng, nhưng vẫn chưa đủ. Công ích trong truyền thống Công giáo không phải là một cái kho chứa những tiện ích mà các cá nhân cùng sử dụng. Công ích là toàn bộ những điều kiện của đời sống xã hội cho phép con người, các gia đình và các cộng đồng đạt tới sự hoàn thiện của mình cách đầy đủ và dễ dàng hơn. Chỉ cần hiểu như thế, ta lập tức thấy sinh thái không nằm ngoài công ích. Làm sao một người có thể phát triển toàn diện nếu nước người ấy uống bị ô nhiễm? Làm sao một gia đình có thể sống ổn nếu mùa màng ngày càng bất thường? Làm sao trẻ em có thể học hành, người lớn có thể lao động, người già có thể sống khỏe nếu không khí quanh họ chứa quá nhiều bụi độc? Làm sao nói đến quyền sống mà không nói đến những điều kiện vật chất căn bản làm cho sự sống ấy có thể tiếp tục? Hít thở không phải một hoạt động phụ bên ngoài phẩm giá con người. Uống nước không phải chuyện nhỏ hơn chính trị. Đất đai không phải cái nền vô tri đặt dưới một xã hội văn minh; đó là điều kiện để xã hội ấy tồn tại. Vì thế, chăm sóc môi trường không phải một mục nhỏ nằm cuối chương trình công ích. Nó nằm ngay trong công ích.
Thậm chí phải đi xa hơn: công ích không chỉ thuộc về những người đang hiện diện. Đây là chỗ cái nhìn sinh thái buộc thần học xã hội phải mở rộng đường chân trời của mình. Người chưa sinh cũng có một thứ quyền đạo đức trên những tài nguyên mà chúng ta đang sử dụng hôm nay. Họ chưa có lá phiếu. Họ chưa có tài khoản ngân hàng. Họ chưa thể xuống đường. Họ không ngồi trong quốc hội, không dự hội nghị khí hậu, không viết bài phản biện một dự án khai thác, không thể kiện một công ty làm ô nhiễm dòng sông mà mấy chục năm nữa họ sẽ cần đến. Nhưng sự im lặng của họ không phải giấy phép để chúng ta lấy hết phần của họ. Có một kiểu bất công rất đặc biệt: tiêu xài hôm nay rồi để hóa đơn lại cho người chưa sinh. Một thế hệ hưởng lợi từ nhiên liệu rẻ, khai thác rừng mạnh, tiêu dùng nhiều, sản xuất nhiều rác, rồi trao cho thế hệ sau một khí hậu nóng hơn, một đại dương nhiều nhựa hơn, một hệ sinh thái nghèo hơn và bảo rằng: các con hãy sáng tạo để giải quyết. Đó không phải phát triển. Đó là vay nợ của tương lai mà không hỏi người sẽ trả nợ. Công ích, vì vậy, phải có chiều kích liên thế hệ. Một chính sách tốt không chỉ hỏi nó làm GDP năm nay tăng bao nhiêu; nó còn phải hỏi điều gì còn lại cho trẻ em ba mươi, năm mươi, một trăm năm nữa. Một dự án tốt không chỉ hỏi bao nhiêu người có việc làm trong năm năm tới; còn phải hỏi đất, nước, rừng và cộng đồng sẽ ra sao sau khi dự án kết thúc. Một nền văn minh trưởng thành là nền văn minh đủ đạo đức để tính đến cả người không có mặt tại bàn thương lượng.
Đối với người Kitô hữu, điều này còn sâu hơn một nguyên tắc phát triển bền vững. Chúng ta không phải chủ sở hữu tuyệt đối của thời gian. Trái đất không bắt đầu với thế hệ chúng ta và cũng không kết thúc với chúng ta. Ta nhận một thế giới đã được người khác gìn giữ ở mức nào đó, rồi ta phải truyền nó lại. Chính hành vi truyền lại ấy có nội dung luân lý. Người cha không được phép tiêu hết tài sản gia đình rồi bảo con mình tự xoay xở; cộng đồng nhân loại cũng không được phép tiêu hết vốn sinh thái rồi gọi hậu quả là “thách thức của thế hệ tương lai”. Người chưa sinh có quyền được hít một bầu khí quyển mà chúng ta không cố tình làm xấu đi đến mức không thể sửa chữa; có quyền được nhận những con sông không hoàn toàn biến thành cống; có quyền biết rừng không chỉ qua hình ảnh lưu trữ; có quyền nhìn thấy những loài mà chúng ta đã có khả năng bảo vệ nhưng vì lợi ích ngắn hạn mà để biến mất. Nói như thế không có nghĩa đóng băng lịch sử hay cấm con người sử dụng thiên nhiên. Nó chỉ có nghĩa: sử dụng không phải đồng nghĩa với sử dụng hết. Nhận quà không đồng nghĩa với phá quà. Làm chủ theo nghĩa Kinh Thánh không bao giờ đồng nghĩa với ăn hết hôm nay bất kể ngày mai.
Một khi công ích được nhìn như thế, tiêu chuẩn đánh giá phát triển cũng phải thay đổi. Một thành phố có thể giàu hơn nhưng công ích có thể nghèo đi. Thu nhập trung bình tăng mà trẻ em ít chỗ chơi, người già không có bóng cây, sông thành kênh nước đen, người nghèo phải sống cạnh bãi rác, người lao động mất ba giờ mỗi ngày trong khói xe thì không thể chỉ nhìn biểu đồ kinh tế rồi nói xã hội đã tiến bộ. Một vùng có thể thu hút nhiều đầu tư nhưng nếu nước ngầm bị cạn, đất nông nghiệp bị hủy, cộng đồng bản địa mất sinh kế và mọi lợi ích chảy về nơi khác, câu hỏi về công ích vẫn còn nguyên. Đây là điều Học thuyết Xã hội Công giáo liên tục nhắc: kinh tế phục vụ con người, con người không phục vụ kinh tế. Với cái nhìn sinh thái toàn diện, phải thêm rằng kinh tế cũng hoạt động bên trong những giới hạn của tạo thành. Không có nền kinh tế nào nằm bên ngoài sinh quyển. Không doanh nghiệp nào sản xuất mà không dùng vật chất, năng lượng, nước, đất hay hệ thống sinh thái trực tiếp hoặc gián tiếp. Bảng kế toán có thể không ghi những điều ấy, nhưng tạo thành vẫn ghi. Người ta có thể gọi việc chặt rừng là doanh thu và không gọi mất đa dạng sinh học là chi phí; thiên nhiên không vì cách đặt tên đó mà thay đổi thực tại.
Công ích còn buộc chúng ta hỏi: ai hưởng lợi và ai trả giá? Đây là câu hỏi rất Công giáo. Một dự án không trở thành phục vụ công ích chỉ vì đa số được lợi nếu một nhóm yếu thế bị hy sinh mà không được bảo vệ. Có những người hưởng điện nhưng không sống cạnh nhà máy. Có người uống nước thành phố nhưng không sống nơi nguồn nước bị khai thác quá mức. Có người hưởng thực phẩm giá rẻ nhưng không đứng trên cánh đồng nơi đất bị kiệt quệ. Có người đổi điện thoại mỗi năm nhưng không nhìn thấy những cộng đồng ở nơi khoáng sản được khai thác và những bãi rác điện tử nơi sản phẩm kết thúc cuộc đời. Chuỗi kinh tế hiện đại kéo dài tới mức người tiêu dùng rất dễ không nhìn thấy người gánh hậu quả. Công ích đòi nối lại những điều đã bị thị trường làm cho xa nhau. Một sản phẩm không thực sự rẻ nếu giá rẻ của nó được trả bằng sức khỏe người khác, bằng nước của cộng đồng khác hay bằng tương lai của thế hệ khác. Cái giá không xuất hiện trên hóa đơn vẫn là cái giá có thật.
Từ công ích ta bước sang liên đới. Liên đới thường được hiểu như lòng thương người nghèo, sự chia sẻ giữa các tầng lớp, giữa quốc gia giàu và quốc gia nghèo. Nhưng liên đới trong Học thuyết Xã hội Công giáo sâu hơn cảm xúc thương người. Nó là một nhân đức xã hội và luân lý: quyết tâm bền bỉ nhìn nhận rằng chúng ta thuộc về nhau, rằng lợi ích của tôi không thể được xây trên sự hủy hoại người khác, rằng đời tôi bị ràng buộc với số phận của cộng đồng. Sinh thái làm nguyên tắc này sáng hơn một cách rất cụ thể. Khí quyển không biết hộ chiếu. Dòng sông không dừng lại ở trạm kiểm soát biên giới. Khói từ nơi này có thể đi đến nơi khác. Biển dâng không hỏi người sống ven biển thuộc chính kiến nào. Một loài biến mất tại một hệ sinh thái có thể làm thay đổi những chuỗi sinh học rất xa nơi người ta tưởng. Tạo thành cho chúng ta một bài giáo lý về sự liên thuộc mà đôi khi lý thuyết xã hội chưa dạy nổi: không ai sống một mình.
Liên đới sinh thái trước hết vẫn là liên đới giữa người với người. Không được nhảy qua người nghèo để yêu cây cỏ. Một thứ môi trường luận bảo vệ cảnh quan nhưng xua người nghèo khỏi đất sống của họ mà không cho họ một sinh kế xứng đáng thì chưa phải sinh thái toàn diện. Một chương trình giảm phát thải khiến người thu nhập thấp gánh chi phí nặng nhất trong khi người giàu dễ dàng mua giải pháp thay thế thì đặt ra vấn đề công bằng. Một quốc gia giàu đã phát triển nhiều thập niên bằng năng lượng hóa thạch rồi quay lại dạy quốc gia nghèo rằng họ phải tự trả toàn bộ chi phí chuyển đổi cũng chưa diễn tả đầy đủ liên đới. Trách nhiệm không nhất thiết giống nhau vì khả năng và phần đóng góp vào vấn đề không giống nhau. Liên đới không có nghĩa chia đều một gánh nặng bất công; đôi khi liên đới đòi người có sức mạnh hơn gánh phần lớn hơn. Đó cũng là logic Tin Mừng: ai được trao nhiều thì bị đòi nhiều.
Nhưng liên đới sinh thái mở ra một chiều kích mà chúng ta còn ít quen: mối liên hệ với các thụ tạo khác. Ở đây phải nói rất chính xác để tránh hai thái cực. Kitô giáo không nói một con người và một con vật có cùng phẩm giá ngôi vị. Con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và có một phẩm giá độc đáo. Không thể xóa khác biệt này nhân danh sinh thái. Nhưng từ đó cũng hoàn toàn không suy ra rằng những sinh vật khác không có giá trị gì ngoài công dụng đối với con người. Con chim không chỉ có giá trị nếu nó giúp du lịch. Con cá không chỉ có giá trị theo giá thị trường mỗi ký. Cánh rừng không chỉ quý vì số tấn carbon nó hấp thụ. Một loài hoa hoang mọc ở nơi không ai chụp hình vẫn có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Một sinh vật không phải đợi con người cấp giấy chứng nhận hữu dụng mới được quyền tồn tại. Nó hiện hữu bởi ý muốn của Đấng Tạo Hóa; riêng điều đó đã cho nó một giá trị thụ tạo.
Ngôn ngữ của Thánh Phanxicô Assisi giúp chúng ta đi vào điều này bằng con đường đẹp hơn lý luận: anh mặt trời, chị mặt trăng, chị nước, mẹ đất. Không ai hiểu theo nghĩa sinh học rằng nước là chị ruột chúng ta. Đây là ngôn ngữ thần học của một gia đình tạo thành. Nếu tất cả đều phát xuất từ một Đấng Tạo Hóa, nếu tất cả đều sống nhờ một ý muốn ban sự hiện hữu, thì có một mối họ hàng thụ tạo giữa chúng ta và muôn loài. Con người độc đáo nhưng không cô độc. Ta là người anh chị có trách nhiệm, không phải bạo chúa. Càng có phẩm giá cao, trách nhiệm càng lớn. Không thể lấy chính đặc ân làm hình ảnh Thiên Chúa để biện minh cho cách hành xử trái ngược Thiên Chúa. Thiên Chúa làm cho mặt trời mọc, nuôi chim trời, mặc đẹp hoa huệ, gìn giữ sự sống; nếu con người là hình ảnh Người, con người phải phản ánh phần nào sự chăm sóc ấy.
Nói “anh chị em thụ tạo” không đồng nghĩa với việc nhân cách hóa thiên nhiên một cách ngây thơ. Một con sông không có quyền luân lý theo cùng nghĩa một con người có quyền; một cây rừng không có lương tâm; một con thú không có ơn gọi ngôi vị như con người. Nhưng sự khác biệt ấy không cho phép biến chúng thành đồ vật hoàn toàn tùy nghi. Đạo đức Kitô giáo có thể nhìn nhận rằng con người được phép sử dụng động vật, cây cối, khoáng sản và đất đai cho những nhu cầu chính đáng, nhưng quyền sử dụng bị giới hạn bởi trật tự tạo thành, bởi sự tiết độ, bởi công ích và bởi trách nhiệm không gây tàn phá vô cớ. Một người chặt một cây để xây nhà không giống một người phá cả khu rừng chỉ vì lợi nhuận ngắn hạn. Một cộng đồng đánh bắt cá để sống không giống một hệ thống công nghiệp vét sạch biển đến mức thế hệ sau không còn cá. Một người ăn thịt không mặc nhiên đồng nghĩa với khinh sự sống; nhưng cách chăn nuôi và giết mổ có thể trở thành vô nhân đạo nếu coi sinh vật chỉ là máy sản xuất thịt. Chính sự khác biệt giữa sử dụng và lạm dụng là nơi luân lý bước vào.
Liên đới với tạo thành cũng chữa một căn bệnh tâm linh: sự cô lập của con người hiện đại. Khi con người tưởng mình đứng ngoài thiên nhiên, ta dễ xem mọi thứ như sân khấu cho đời mình. Nhưng thực tế ta ăn nhờ đất, uống nhờ vòng tuần hoàn nước, thở nhờ cây cối và đại dương, sống nhờ những mạng lưới sinh học mà phần lớn ta không hiểu hết. Cơ thể ta được xây bằng những chất từng thuộc đất. Một ngày nào đó thân xác này cũng trở về đất. Nhận biết điều ấy không hạ thấp phẩm giá con người. Trái lại, nó trả con người về sự thật. Ta lớn lao vì được Thiên Chúa gọi, nhưng ta vẫn là thụ tạo. Ta được trao trách nhiệm đặc biệt, nhưng ta không thể tự sản xuất khí quyển. Ta có thể chế tạo tàu vũ trụ nhưng vẫn phải thở từng hơi. Ta có thể tạo trí tuệ nhân tạo nhưng vẫn không tự mình tạo ra một hạt giống có toàn bộ sức sống nội tại của nó từ hư vô. Một nền văn minh càng kỹ thuật càng cần đức khiêm nhường này.
Từ liên đới chúng ta đến nguyên tắc bổ trợ. Đây là một trong những nguyên tắc đẹp nhất nhưng cũng thường bị hiểu hẹp nhất của Học thuyết Xã hội Công giáo. Nói đơn giản: điều mà một cấp nhỏ hơn có thể làm tốt thì cấp lớn hơn không nên cướp lấy; cấp lớn hơn phải hỗ trợ chứ không nuốt cấp nhỏ. Gia đình có trách nhiệm riêng của gia đình. Cộng đồng địa phương có năng lực riêng. Xã hội dân sự có sáng kiến riêng. Chính quyền trung ương không được biến mọi người thành những kẻ thụ động chỉ biết chờ mệnh lệnh. Bổ trợ bảo vệ phẩm giá, tự do, trách nhiệm và sáng kiến từ bên dưới. Nhưng bổ trợ không phải là nhà nước rút lui. Đây là chỗ người ta thường cắt mất nửa nguyên tắc. “Subsidiarity” vừa có nghĩa không chiếm việc của cấp thấp, vừa có nghĩa cấp cao phải trợ giúp khi cấp thấp không đủ khả năng hoàn thành công việc cần thiết. Bỏ phần hỗ trợ thì bổ trợ biến thành bỏ mặc.
Trong sinh thái, điều này cực kỳ thực tế. Một gia đình có thể phân loại rác, tiết kiệm điện, giảm đồ dùng một lần, sửa vật dụng thay vì vứt, trồng cây, sử dụng nước cẩn thận. Đừng bảo rằng vì biến đổi khí hậu là chuyện toàn cầu nên những việc ấy vô nghĩa. Một giáo xứ có thể kiểm tra cách sử dụng điện, nước, điều hòa, vật liệu xây dựng, đồ nhựa trong các bữa tiệc, cách xử lý rác trong lễ hội, cây xanh trên đất giáo xứ. Đừng chờ một thông tư từ trung ương Giáo hội mới bắt đầu. Một phường, xã có thể giữ kênh sạch, bảo vệ hàng cây, kiểm soát những điểm đổ rác, tổ chức thu gom hợp lý. Một tỉnh có thể quy hoạch theo điều kiện đất, nước và dân cư của mình. Nguyên tắc bổ trợ nói: hãy hành động ở cấp gần sự việc nhất khi cấp ấy đủ năng lực. Người sống tại địa phương thường biết những điều mà bản đồ từ xa không biết. Người nông dân biết dòng nước đổi thế nào. Người ngư dân biết mùa cá thay đổi ra sao. Người dân trong khu phố biết cống nào tắc mỗi khi mưa. Bổ trợ đòi tôn trọng tri thức gần đất ấy.
Nhưng chính tại đây phải nói vế thứ hai thật mạnh: đừng lấy bổ trợ làm cớ để đẩy trách nhiệm từ trên xuống. Người nông dân không thể một mình giải quyết biến đổi khí hậu. Một làng ven sông không thể tự ngăn ô nhiễm đến từ hàng trăm cây số phía thượng nguồn. Một gia đình không thể tự xây hệ thống giao thông công cộng. Một giáo xứ không thể tự thay đổi chuẩn khí thải quốc gia. Một tỉnh không thể tự giải quyết một con sông xuyên biên giới. Không thể bảo người dân hãy “nâng cao ý thức” trong khi hệ thống không cho họ lựa chọn khả thi. Nếu thành phố không có phương tiện công cộng đủ tốt rồi trách người lao động đi xe cá nhân, đó là một thứ đạo đức hóa vấn đề cơ cấu. Nếu không có hệ thống thu gom và tái chế đúng nghĩa rồi trách từng gia đình vì rác, lời trách ấy chỉ đúng một nửa. Nếu người nông dân bị kẹt trong mô hình sản xuất mà thị trường, tín dụng và chính sách đã định hình rồi bảo họ tự chuyển đổi bằng tiền của họ, đó không phải bổ trợ mà là đẩy gánh.
Biến đổi khí hậu là ví dụ rõ nhất. Không một cá nhân nào, dù đạo đức đến đâu, có thể một mình thay đổi hệ thống năng lượng toàn cầu. Không một giáo xứ nào có thể tự thay đổi chuỗi cung ứng. Không một quốc gia nhỏ nào có thể tự ổn định khí hậu nếu những nước khác tiếp tục phát thải vô hạn. Có những vấn đề đòi chính sách quốc gia, hiệp ước quốc tế, tiêu chuẩn kỹ thuật, chuyển đổi năng lượng, đầu tư dài hạn và cơ chế tài chính xuyên biên giới. Bổ trợ trong những trường hợp này không nói “để từng người tự lo”, nhưng nói rằng cấp có đủ tầm quyền lực phải nhận trách nhiệm tương ứng. Nếu vấn đề là toàn cầu mà giải pháp chỉ được giao cho từng người tiêu dùng, thì ta đã phá nguyên tắc bổ trợ từ hướng ngược lại. Cũng như nhà nước không được làm thay điều gia đình làm được, cá nhân không thể bị bắt làm thay điều nhà nước hoặc cộng đồng quốc tế phải làm.
Ba nguyên tắc công ích, liên đới và bổ trợ vì thế không đứng riêng. Chúng kiểm soát lẫn nhau. Công ích mà thiếu bổ trợ có thể thành tập trung quyền lực: nhân danh lợi ích chung rồi quyết mọi chuyện từ trên xuống, không nghe người địa phương. Bổ trợ mà thiếu công ích có thể thành cục bộ: địa phương chỉ chăm lợi ích mình và đẩy ô nhiễm sang nơi khác. Liên đới mà thiếu bổ trợ có thể biến thành lòng tốt gia trưởng: người mạnh nghĩ mình biết hết và làm thay người yếu. Bổ trợ mà thiếu liên đới có thể trở thành câu nói lạnh lùng: việc của anh thì anh tự lo. Công ích mà thiếu liên đới có thể bị đa số sử dụng để hy sinh thiểu số. Liên đới mà thiếu công ích có thể biến thành những phản ứng cảm tính cho từng trường hợp mà không sửa cấu trúc gây vấn đề. Ba nguyên tắc phải đi cùng nhau.
Hãy lấy một dòng sông làm ví dụ. Công ích nói rằng nước sạch của dòng sông không thuộc riêng một doanh nghiệp, một tỉnh hay một thế hệ. Nó phục vụ sự sống của cả cộng đồng. Liên đới nói rằng người ở thượng nguồn không được hành xử như thể người hạ nguồn không tồn tại; người thành thị không được quên nông dân; ngành công nghiệp không được quên ngư dân; thế hệ hôm nay không được quên người ngày mai; và con người cũng phải nhớ những loài sống trong hệ sinh thái ấy. Bổ trợ nói rằng dân địa phương phải được tham gia gìn giữ, giám sát và quyết định những điều gần họ; nhưng khi ô nhiễm vượt địa giới hành chính, chính quyền ở cấp cao hơn phải can thiệp. Nếu dòng sông chạy qua nhiều quốc gia thì cần hợp tác quốc tế. Không nguyên tắc nào một mình giải được toàn bộ vấn đề. Cả ba tạo nên một luân lý của tương quan.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa với Việt Nam. Chúng ta sống trong một đất nước mà sự sống của rất nhiều người gắn trực tiếp với đất, nước, biển, sông và mùa vụ. Đồng bằng sông Cửu Long không phải chỉ là một vùng trên bản đồ. Đó là nơi sinh kế, văn hóa, ký ức và an ninh lương thực của hàng triệu người gắn với một hệ thống nước cực kỳ phức tạp. Nước biển dâng, xâm nhập mặn, sụt lún đất, thay đổi dòng chảy, khai thác cát, đập thủy điện phía thượng nguồn, chuyển đổi sản xuất, đô thị hóa: tất cả đan vào nhau. Không thể đứng trước những vấn đề ấy rồi chỉ bảo từng nông dân “hãy thích nghi”. Họ cần sáng kiến địa phương, đúng; nhưng họ cũng cần khoa học, quy hoạch, hạ tầng, chính sách tín dụng, thị trường, hợp tác liên tỉnh và hợp tác quốc tế. Đó chính là bổ trợ đúng nghĩa: sức dân được phát huy nhưng không bị bỏ mặc.
Cũng vậy với rác. Một người Công giáo không được nói: rác là chuyện chính quyền, tôi đóng phí rồi. Đó là thiếu trách nhiệm cá nhân. Nhưng chính quyền cũng không được nói: người dân thiếu ý thức là nguyên nhân duy nhất, khi hệ thống thu gom, phân loại và xử lý chưa cho người dân một con đường khả thi. Giáo xứ không thể chỉ giảng mọi người đừng xả rác mà sau lễ lớn lại sử dụng vô số đồ một lần rồi gom tất cả vào một túi. Doanh nghiệp không thể quảng cáo trách nhiệm xã hội nhưng thiết kế hàng hóa sao cho dùng rất ngắn rồi phải bỏ. Người tiêu dùng có trách nhiệm, doanh nghiệp có trách nhiệm, chính quyền có trách nhiệm, cộng đồng có trách nhiệm. Bổ trợ giúp chúng ta đặt đúng trách nhiệm vào đúng chỗ thay vì tìm một đối tượng để đổ lỗi.
Ngay cả trong Hội Thánh, ba nguyên tắc này cũng rất hữu ích. Công ích nhắc giáo xứ rằng tài sản giáo xứ không chỉ phục vụ sự tiện lợi của những người đang sinh hoạt hôm nay. Một khu đất, một hàng cây, một nguồn nước, một công trình xây dựng đều có chiều kích cộng đồng. Liên đới nhắc một giáo xứ khá giả đừng chỉ chăm làm khuôn viên mình đẹp trong khi không quan tâm những cộng đồng nghèo quanh đó chịu ô nhiễm, ngập lụt hay thiếu nước. Bổ trợ nhắc giáo dân rằng đừng chờ cha xứ ra lệnh mọi việc. Người giáo dân có chuyên môn về môi trường, kiến trúc, năng lượng, nông nghiệp, quy hoạch phải mang chính năng lực trần thế của mình vào đời sống cộng đoàn. Cha xứ không cần trở thành kỹ sư môi trường; ngài cần tạo không gian để những người có ơn gọi và chuyên môn làm phần của họ. Giáo phận không nhất thiết phải quyết định từng thùng rác của giáo xứ, nhưng có thể đưa ra định hướng, tiêu chuẩn xây dựng, giáo dục và cơ chế phối hợp mà từng giáo xứ riêng lẻ khó tự tạo ra.
Công ích sinh thái cũng đòi Hội Thánh xem lại ngôn ngữ mục vụ. Bao lâu nay khi xét mình, chúng ta thường hỏi: có bỏ lễ không, có nói dối không, có trộm cắp không, có làm hại người khác không. Những câu ấy phải giữ. Nhưng câu “có làm hại người khác không” hôm nay cần được hiểu sâu hơn. Tôi làm hại người khác khi xả chất độc xuống nước dù không nhìn thấy khuôn mặt nạn nhân. Tôi tham gia một cấu trúc gây hại nếu biết rõ hoạt động mình quản lý làm hại cộng đồng mà vẫn im lặng. Tôi có thể góp phần chống công ích nếu lợi dụng kẽ hở luật pháp để khai thác tài nguyên quá mức. Tôi có thể thiếu liên đới nếu chỉ quan tâm gia đình mình có máy lọc không khí mà chẳng quan tâm vì sao cả thành phố phải thở không khí bẩn. Tôi có thể hiểu sai bổ trợ nếu mọi vấn đề đều nói “nhà nước phải lo” hoặc ngược lại, mọi vấn đề đều nói “ý thức người dân thôi”. Lương tâm Công giáo trưởng thành học phân biệt cấp trách nhiệm.
Một câu hỏi rất quan trọng là: vậy người giáo dân bình thường phải làm gì trước những vấn đề lớn đến mức mình thấy bất lực? Câu trả lời của ba nguyên tắc này rất quân bình. Công ích nói: đừng thu đời sống đạo lại trong chuyện riêng tư. Những gì ảnh hưởng tới đời sống chung đều có liên quan tới đức ái. Liên đới nói: đừng sống như thể chỉ cần nhà mình an toàn. Hãy mở mắt đến người dễ tổn thương và những hậu quả nằm ngoài tầm nhìn trực tiếp của mình. Bổ trợ nói: bắt đầu ở nơi mình thật sự có quyền và khả năng, nhưng đồng thời đừng ngại đòi các cơ chế lớn thực hiện phần trách nhiệm của họ. Vì thế, người giáo dân vừa có thể tắt một bóng điện không cần thiết vừa có thể góp ý về quy hoạch; vừa giảm đồ nhựa trong nhà vừa có thể thúc đẩy giáo xứ thay đổi cách tổ chức tiệc; vừa trồng một cây vừa có thể lên tiếng khi cả một khu rừng bị tàn phá bất hợp lý; vừa tiết kiệm nước vừa quan tâm đến chính sách nguồn nước. Không phải chọn giữa việc nhỏ và việc lớn. Việc nhỏ đào tạo nhân cách; việc lớn sửa cơ cấu. Đức ái cần cả hai bàn tay.
Đây cũng là nơi ta phải cảnh giác với sự thanh thản giả tạo của chủ nghĩa cá nhân xanh. Thời đại chúng ta rất giỏi biến các vấn đề hệ thống thành quyết định mua sắm. Người ta dễ được thuyết phục rằng cứ mua sản phẩm “xanh” hơn là đã làm xong bổn phận sinh thái. Nhưng một người có thể uống bằng bình tái sử dụng mà vẫn điều hành một công ty gây ô nhiễm. Có thể đi xe điện nhưng đầu tư vào những hoạt động tàn phá cộng đồng. Có thể trồng cây trong sân nhưng im lặng trước một chính sách bất công. Sinh thái Kitô giáo không thể rút gọn thành phong cách sống của tầng lớp có khả năng tiêu dùng sản phẩm “thân thiện môi trường”. Công ích hỏi cấu trúc. Liên đới hỏi nạn nhân. Bổ trợ hỏi trách nhiệm nằm ở cấp nào. Ba câu hỏi ấy đưa chúng ta xa hơn chuyện lựa chọn sản phẩm.
Ngược lại, cũng có sự thanh thản giả tạo của chủ nghĩa cấu trúc: vì vấn đề quá lớn nên cá nhân không cần làm gì. “Các tập đoàn mới gây ô nhiễm lớn, tôi dùng một cái túi thì có nghĩa gì?” Câu ấy có phần đúng về tỷ lệ nhưng sai về đạo đức nếu được dùng để miễn trách nhiệm. Một hành động nhỏ không giải quyết toàn bộ vấn đề, nhưng nó vẫn là một hành động thuộc về nhân cách. Con người trở thành người có trách nhiệm bằng những lựa chọn cụ thể. Và những cấu trúc lớn cũng được làm từ vô số quyết định của người thật: người tiêu dùng, cử tri, quản lý, kỹ sư, công chức, nhà đầu tư, giáo viên, linh mục, cha mẹ. Đừng thần thánh hóa việc nhỏ; nhưng cũng đừng khinh nó. Học thuyết xã hội không cho phép ta chọn một cực thuận tiện: hoặc tất cả do cá nhân, hoặc tất cả do hệ thống. Cả nhân đức và cơ cấu đều cần hoán cải.
Một thách đố khác là sự hy sinh công ích dài hạn cho lợi ích ngắn hạn. Chính trị thường nghĩ theo nhiệm kỳ. Doanh nghiệp thường nghĩ theo quý hoặc năm tài chính. Gia đình nghèo đôi khi buộc phải nghĩ đến bữa ăn ngày mai. Nhưng sinh thái vận hành bằng những thời gian dài hơn. Một khu rừng mất vài ngày để chặt nhưng hàng chục năm để hồi phục. Nước ngầm có thể bị khai thác rất nhanh nhưng tái tạo cực chậm. Một loài có thể bị đẩy đến tuyệt chủng rồi không có chính sách nào đem nó trở lại. Khí hậu phản ứng với tích lũy kéo dài. Công ích vì thế đòi một loại trí nhớ và tiên liệu mà các hệ thống ra quyết định ngắn hạn thường thiếu. Đây là nơi tôn giáo có thể đóng góp đặc biệt. Đức tin dạy con người sống trước mặt Đấng vĩnh cửu, nghĩa là thoát khỏi độc tài của cái ngay trước mắt. Người Kitô hữu không được phép coi điều chưa xảy ra là điều không có thật. Hy vọng Kitô giáo không làm ta bỏ tương lai trần thế; nó làm ta nghiêm túc hơn với tương lai vì thời gian là quà và thế hệ sau là người thân cận của chúng ta.
Liên đới giữa các thế hệ cũng có một vẻ đẹp sâu sắc. Chúng ta đang hưởng những điều do người đã chết làm cho mình mà phần lớn không biết tên họ. Ta đi dưới những cây có người trồng từ trước khi ta sinh. Ta uống nước từ những hệ thống có người xây nhiều thập niên trước. Ta được sống trong những truyền thống, ngôn ngữ, thể chế, cộng đồng được gìn giữ bởi những người không bao giờ gặp ta. Tương tự, đức ái của ta hôm nay có thể hướng đến những người chưa sinh. Ta có thể trồng cây mà biết mình sẽ không ngồi dưới bóng của nó. Ta có thể bảo vệ một nguồn nước cho những người chưa có tên. Ta có thể chấp nhận một giới hạn hôm nay để một đứa trẻ năm mươi năm nữa có nhiều tự do hơn. Đó là một hình thức yêu rất tinh tuyền: yêu người không thể cảm ơn mình.
Trong ánh sáng ấy, liên đới với thụ tạo cũng không phải tình cảm xa xỉ của người nhàn rỗi. Nó giúp con người học một thứ tình yêu không chiếm hữu. Ta vui vì chim còn hót dù tiếng hót ấy không sinh lợi cho ta. Ta giữ một vùng đất vì nó có giá trị vượt khỏi số tiền có thể khai thác. Ta không cần mọi sinh vật phải chứng minh ích lợi kinh tế để được tồn tại. Cách nhìn ấy giải phóng con người khỏi một thứ nghèo nàn tinh thần rất hiện đại: chỉ biết giá mà không biết giá trị. Khi mọi thứ đều có giá, những gì không bán được dễ bị coi như vô nghĩa. Nhưng trong tạo thành có vô số điều không có giá bán mà không có chúng, con người nghèo đi khủng khiếp: một bầu trời có sao, tiếng côn trùng ban đêm, nước trong một con suối, mùi đất sau mưa, một cánh đồng có chim, sự phong phú của những loài không ai đặt tên trong đời thường. Không phải cái gì không sinh tiền cũng vô ích.
Cuối cùng, ba nguyên tắc công ích, liên đới và bổ trợ đặt chúng ta trước một câu hỏi thiêng liêng: tôi hiểu mình là ai trong ngôi nhà chung? Nếu tôi hiểu mình là chủ tuyệt đối, công ích sẽ co lại thành lợi ích của tôi, liên đới sẽ thành tùy chọn, bổ trợ sẽ thành cái cớ không ai được can thiệp. Nếu tôi hiểu mình là cá nhân bất lực, tôi sẽ giao hết trách nhiệm cho cơ cấu và sống thụ động. Nhưng nếu tôi hiểu mình là một thụ tạo được trao trách nhiệm giữa các thụ tạo, là một thành viên của gia đình nhân loại, là người quản gia phải trả lời trước Thiên Chúa, thì mọi sự đổi khác. Tôi không làm được tất cả nhưng tôi có một phần phải làm. Người khác cũng có phần của họ. Chính quyền có phần của chính quyền. Doanh nghiệp có phần của doanh nghiệp. Quốc gia giàu có phần của quốc gia giàu. Quốc gia nghèo có trách nhiệm trong khả năng của mình. Giáo hội có tiếng nói đạo đức của Giáo hội. Khoa học có chuyên môn của khoa học. Cộng đồng địa phương có tri thức của cộng đồng. Không ai được nuốt phần người khác; cũng không ai được trốn phần mình.
Ngôi nhà chung không cần một siêu anh hùng. Nó cần một cộng đồng nhân loại biết đặt trách nhiệm đúng chỗ và biết cùng chịu trách nhiệm. Công ích nói: căn nhà này phải đủ sống cho tất cả, cả những người chưa đến. Liên đới nói: không căn phòng nào thật sự an toàn nếu những căn phòng khác đang cháy; không người nào được cứu bằng cách bỏ mặc người yếu hơn, và muôn loài không chỉ là phông nền cho con người diễn lịch sử của mình. Bổ trợ nói: hãy làm điều ở trong tầm tay ngay nơi mình đứng, hãy trao quyền cho người gần thực tại nhất, nhưng khi ngọn lửa vượt khỏi căn phòng thì cả căn nhà phải cùng chữa. Việc địa phương làm được thì đừng chờ trung ương. Việc quốc gia phải làm thì đừng đẩy xuống từng gia đình. Việc toàn cầu phải làm thì đừng bảo một người nông dân tự thích nghi. Không ai được dùng quy mô của vấn đề để thoát trách nhiệm; cũng không ai được dùng trách nhiệm cá nhân để che sự thất bại của cơ cấu.
Có lẽ sự hoán cải sinh thái của Học thuyết Xã hội Công giáo bắt đầu bằng một thay đổi rất nhỏ trong đại từ: từ “của tôi” sang “của chúng ta”. Không khí này là của chúng ta. Nước này là của chúng ta theo nghĩa phải cùng gìn giữ, không theo nghĩa ai cũng có quyền lấy bao nhiêu tùy ý. Trái đất này là nhà chung chứ không phải mỏ chung để ai đến trước lấy trước. Tương lai này là của chúng ta, bao gồm cả những người chưa sinh. Nhưng đối với người Kitô hữu, còn một bước nữa: trước khi là “của chúng ta”, tạo thành là của Chúa. “Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài.” Chính vì thế, công ích không phải thỏa thuận tạm thời giữa những người mạnh; liên đới không phải lòng tốt tùy hứng; bổ trợ không phải kỹ thuật quản trị. Tất cả đều có chiều kích thần học. Chúng ta sống trong một thế giới đã được trao, không phải một thế giới tự chúng ta dựng nên từ hư vô. Chúng ta gặp nhau trong một ngôi nhà mà Chủ Nhà là Đấng khác. Và một ngày nào đó, người quản gia phải trả sổ.
Khi ấy, câu hỏi có lẽ không chỉ là: ta đã phát triển bao nhiêu, xây bao nhiêu, sản xuất bao nhiêu, tiêu dùng bao nhiêu. Có thể câu hỏi sẽ đơn giản hơn và nghiêm trọng hơn: những gì Ta trao, con đã giữ thế nào? Người nghèo mà Ta đặt bên cạnh con, con đã đối xử ra sao? Người chưa sinh mà không thể lên tiếng, con có chừa phần cho họ không? Mảnh đất Ta trao, con đã làm nó sinh hoa trái hay làm nó kiệt quệ? Những sinh vật Ta thấy là tốt đẹp trước cả khi con xuất hiện, con đã nhìn chúng bằng mắt nào? Và khi trách nhiệm vượt khỏi sức con, con có biết cùng người khác xây dựng những cơ cấu công chính hơn không? Chính nơi những câu hỏi ấy, công ích, liên đới và bổ trợ thôi là ba khái niệm trong giáo trình Học thuyết Xã hội và trở thành ba cách sống trước mặt Thiên Chúa trên ngôi nhà chung.

CHƯƠNG 27. NGƯỜI NGHÈO VÀ CÔNG LÝ KHÍ HẬU
Có một sự bất công rất lạ trong cuộc khủng hoảng sinh thái hôm nay: những người góp phần ít nhất vào việc làm tổn thương ngôi nhà chung lại thường là những người phải chịu hậu quả sớm nhất, nặng nhất và lâu dài nhất; trong khi những người hưởng lợi nhiều hơn từ một mô hình phát triển tiêu thụ nhiều tài nguyên, nhiều năng lượng, nhiều đất, nhiều nước và phát thải nhiều hơn lại thường có nhiều phương tiện hơn để tự bảo vệ mình khỏi chính những hậu quả mà mô hình ấy gây ra. Một người nghèo sống trong căn nhà tạm ven sông không có máy lạnh, không có hai chiếc xe, không bay máy bay nhiều lần trong năm, không sở hữu nhà máy, không điều khiển một chuỗi cung ứng toàn cầu, có khi cả đời tiêu thụ chưa bằng vài năm của một người thuộc tầng lớp giàu có ở một xã hội tiêu thụ cao; nhưng khi nước biển dâng, khi triều cường lên, khi mưa cực đoan kéo dài, khi nắng nóng bất thường, khi mùa màng thất bát, khi nguồn nước nhiễm mặn, khi cá tôm suy giảm, khi bệnh tật gia tăng, khi một cơn bão quét qua, chính căn nhà tạm của người ấy đổ trước, chính ruộng nhỏ của người ấy mất trước, chính đứa con của người ấy nghỉ học trước, chính bữa ăn của gia đình ấy bị cắt trước. Đây không chỉ là một câu chuyện buồn cần lòng thương hại. Đây là một câu hỏi về công lý. Khi người gây ra ít phải chịu nhiều, còn người gây ra nhiều lại có khả năng chịu ít hơn, một trật tự luân lý đã bị đảo lộn. Và khi người Kitô hữu nói về tạo thành mà không nhìn thấy sự đảo lộn ấy, linh đạo tạo thành có nguy cơ trở thành một thú thưởng ngoạn đẹp đẽ dành cho người có điều kiện hơn là một sự hoán cải theo Tin Mừng.
Công lý khí hậu bắt đầu từ một sự thật rất đơn giản: khí hậu không đối xử với mọi người như nhau, không phải vì mưa biết phân biệt giàu nghèo hay vì nắng có thành kiến giai cấp, nhưng vì xã hội loài người đã được tổ chức trong những điều kiện bất bình đẳng quá lớn. Cùng một trận nóng, người có nhà cách nhiệt tốt, máy điều hòa, bảo hiểm sức khỏe và tiền để nghỉ việc không chịu giống người công nhân phải đứng ngoài trời mười tiếng một ngày. Cùng một trận lụt, người sống trong khu vực có đê tốt, hệ thống thoát nước tốt, bảo hiểm nhà cửa và tiền tiết kiệm không chịu giống một gia đình dựng nhà bằng vật liệu rẻ ở khu trũng. Cùng một mùa hạn, doanh nghiệp lớn có thể vay vốn, đổi nguồn cung, đầu tư công nghệ tưới, mua bảo hiểm nông nghiệp; người nông dân nhỏ có thể mất cả vụ, bán đất, mắc nợ, cho con nghỉ học rồi rời quê đi làm thuê. Cùng một cơn bão, người giàu có thể di chuyển đi nơi khác; người nghèo có khi chỉ biết đóng cửa lại và cầu mong mái tôn đừng bay. Vì thế, khi nói “mọi người đều chịu tác động của biến đổi khí hậu”, câu ấy đúng nhưng chưa đủ. Đúng vì không ai hoàn toàn ở ngoài hệ thống khí hậu. Chưa đủ vì có người chịu như một sự bất tiện, có người chịu như một mất mát tài sản, và có người chịu như một cuộc đe dọa đến chính khả năng tồn tại. Khoảng cách ấy là nơi công lý phải lên tiếng.
Từ đây phải phân biệt rất rõ từ thiện và công lý. Từ thiện là điều không thể thiếu trong đời sống Kitô hữu. Khi một làng bị bão, ta gửi gạo; khi một gia đình mất nhà, ta quyên góp; khi nông dân mất mùa, ta giúp tiền; khi dân vùng lũ thiếu thuốc, ta tổ chức cứu trợ. Những việc ấy là tốt, là cần, nhiều khi là cấp bách và là biểu hiện cụ thể của lòng bác ái. Nhưng nếu chỉ dừng ở cứu trợ, ta có thể chữa hậu quả mà không bao giờ hỏi về nguyên nhân. Công lý hỏi sâu hơn: tại sao một số cộng đồng cứ phải chịu lũ nặng hơn? Tại sao người nghèo phải sống ở nơi dễ tổn thương nhất? Tại sao họ không có tiếng nói trong quy hoạch? Tại sao rừng đầu nguồn bị phá? Tại sao một dự án mang lợi nhuận cho nơi này nhưng lại khiến nơi khác mất nước? Tại sao những người hưởng phần lớn lợi ích kinh tế không phải gánh một phần tương xứng chi phí môi trường? Tại sao khi cần chuyển đổi năng lượng thì người lao động nghèo lại có nguy cơ bị bỏ rơi? Tại sao chính sách được viết bởi những người ngồi phòng lạnh nhưng cái giá lại rơi xuống vai người nông dân, người đánh cá, người bán hàng rong, người dân tộc thiểu số, người lao động di cư? Từ thiện hỏi: “Tôi có thể giúp anh hôm nay thế nào?” Công lý hỏi thêm: “Tại sao anh cứ phải ở trong tình trạng cần được giúp như vậy, và cơ cấu nào đang khiến tình trạng ấy tái diễn?” Kitô giáo cần cả hai. Bác ái mà không có công lý dễ biến người nghèo thành đối tượng nhận quà. Công lý mà không có bác ái dễ biến con người thành dữ liệu của một cuộc tranh luận ý thức hệ. Tin Mừng giữ hai điều ấy với nhau: người trước mặt tôi phải được yêu ngay hôm nay, và những cơ cấu đang nghiền nát người ấy cũng phải được biến đổi.
Công lý khí hậu vì thế không phải một khẩu hiệu chính trị được đem vào Hội Thánh từ bên ngoài. Nó xuất phát từ chính cách đức tin Công giáo hiểu về công ích, phẩm giá con người, ưu tiên dành cho người nghèo, mục đích phổ quát của của cải, liên đới giữa các dân tộc, trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai và sự lệ thuộc lẫn nhau của toàn thể gia đình nhân loại. Nếu đất đai, nước, khí hậu, biển, rừng và bầu khí quyển là những điều kiện nền tảng để sự sống con người có thể tồn tại, thì việc một nhóm người sử dụng quá mức những thiện ích chung ấy đến độ làm suy giảm khả năng sống của người khác là vấn đề luân lý. Bầu khí quyển không thể bị coi như một thùng rác miễn phí chỉ vì không ai cắm hàng rào quanh nó. Đại dương không trở thành vô chủ chỉ vì không có một cá nhân duy nhất sở hữu nó. Sông không chỉ thuộc về nơi nó chảy qua ở thượng nguồn. Rừng không chỉ thuộc người có giấy quyền sử dụng đất. Một nền văn minh Kitô giáo trưởng thành phải biết rằng có những thiện ích không thể được hiểu chỉ bằng quyền sở hữu tư nhân hay chủ quyền lãnh thổ. Chúng thuộc vào mạng lưới những điều kiện sống mà Thiên Chúa đã trao cho cả gia đình nhân loại và, rộng hơn, cho cộng đồng sự sống trên trái đất.
Người nghèo giúp Hội Thánh nhìn thấy điều này rõ hơn vì họ sống gần ranh giới của sự mong manh. Người giàu có thể trì hoãn cuộc khủng hoảng bằng tiền. Người nghèo thường phải đối diện với nó ngay bằng thân xác. Khi giá thực phẩm tăng, người giàu thay đổi ngân sách; người nghèo bớt một món. Khi giá điện tăng, người có điều kiện vẫn bật máy lạnh; người nghèo chịu nóng. Khi nguồn cá gần bờ suy giảm, người có vốn mua tàu lớn đi xa hơn; người đánh cá nhỏ mất sinh kế. Khi nước sạch trở nên khan hiếm, người có tiền mua nước đóng chai; người nghèo dùng nước kém an toàn. Khi đất nông nghiệp thoái hóa, người có tài sản đầu tư nơi khác; người nông dân mất cả vốn liếng đời mình. Chính vì thế, người nghèo không phải một nhóm phụ được thêm vào cuối chương trình môi trường để bài nói chuyện có vẻ nhân văn. Họ là nơi giúp ta kiểm chứng xem một chính sách sinh thái có thực sự công bằng hay không. Một chính sách có thể rất “xanh” trên giấy mà vẫn bất công nếu nó đẩy chi phí sang người không đủ sức trả. Một dự án có thể giảm phát thải nhưng vẫn xúc phạm phẩm giá nếu cộng đồng địa phương bị lấy đất mà không được tham gia quyết định. Một chương trình bảo tồn có thể nghe rất đẹp nhưng vẫn sai nếu người bản địa bị đẩy khỏi vùng đất họ đã gìn giữ qua nhiều thế hệ mà không được nhìn nhận quyền lợi và tri thức của họ. Sinh thái toàn diện không cho phép bảo vệ cây bằng cách nghiền nát người, cũng không cho phép bảo vệ người bằng cách tàn phá nền tảng tự nhiên mà người ấy phải sống nhờ.
Linh đạo tạo thành vì thế nhất thiết phải đưa người tín hữu đến một câu hỏi khó: tôi đang đứng ở đâu? Không phải đứng ở đâu trong tranh luận ý thức hệ, nhưng đứng ở đâu bên cạnh người chịu hậu quả. Đức Giêsu không cứu thế giới từ một ban công an toàn. Người bước vào thân phận con người, sinh trong nghèo khó, sống giữa những người không có quyền lực, chạm vào người bệnh, ngồi với người bị loại trừ, bị đóng đinh ngoài thành. Mầu nhiệm Nhập Thể có một logic rất rõ: Thiên Chúa không yêu từ khoảng cách. Người bước vào nơi con người đau. Vì thế, linh đạo tạo thành theo Đức Kitô cũng không thể chỉ là đứng trên một ngọn đồi đẹp để ca tụng bình minh, rồi trở về đời sống tiêu thụ không thay đổi. Nó phải đưa ta xuống những nơi đất đang bị tổn thương và người nghèo đang chịu cùng một vết thương ấy. Nếu một con sông bị ô nhiễm, câu hỏi không chỉ là nước có còn trong hay không mà còn là ai uống nước ấy. Nếu một khu rừng mất đi, câu hỏi không chỉ là bao nhiêu hecta cây biến mất mà còn là cộng đồng nào mất nguồn sống. Nếu nhiệt độ tăng, câu hỏi không chỉ là số độ mà còn là công nhân nào phải làm việc ngoài trời, người già nào sống trong phòng trọ chật, trẻ em nào không có điều kiện bảo vệ sức khỏe. Nếu biển xâm nhập sâu vào đồng ruộng, câu hỏi không chỉ là bản đồ mặn mà còn là gia đình nào sẽ phải rời quê.
Ở Việt Nam, những câu hỏi ấy không hề trừu tượng. Ta là một đất nước dài theo bờ biển, có những đồng bằng đông dân, những vùng núi phụ thuộc vào rừng và nguồn nước, những cộng đồng sống bằng nông nghiệp và thủy sản, những thành phố đang đô thị hóa nhanh, những người lao động di cư sống trong điều kiện nhà ở chật hẹp, những vùng có thể chịu nắng nóng, ngập lụt, hạn, xâm nhập mặn, sạt lở và thời tiết cực đoan. Nói công lý khí hậu ở Việt Nam là nói đến người nông dân có thể thấy mùa vụ quen thuộc trở nên khó đoán; người dân đồng bằng sống với nỗi lo mặn vào sâu; người nuôi trồng thủy sản đứng trước biến động nhiệt độ, nước và dịch bệnh; người dân vùng ven biển sống giữa xói lở và bão; người dân vùng núi chứng kiến rừng thay đổi, nguồn nước đổi, đất sạt; công nhân trong những khu nhà trọ nóng hầm hập phải tính từng số điện; người bán hàng ngoài đường phơi mình trong nắng; người già, trẻ nhỏ, người có sức khỏe yếu chịu những đợt nóng khắc nghiệt hơn. Đó không phải là những nhân vật phụ của một “vấn đề môi trường”. Họ là những khuôn mặt thật của câu hỏi đạo đức.
Đặc biệt, đối với một đất nước có dòng Mekong đi qua cả một lịch sử địa lý, kinh tế, văn hóa và sinh kế rộng lớn, công lý sinh thái không thể bị giới hạn trong biên giới hành chính. Nước chảy từ nước này sang nước khác. Phù sa không mang hộ chiếu. Cá không dừng trước cột mốc quốc gia. Một quyết định ở thượng nguồn có thể thành một thay đổi sinh kế ở hạ nguồn. Điều đó dạy ta rằng liên đới sinh thái không phải một tình cảm tốt đẹp mà là một sự thật vật chất: chúng ta thật sự lệ thuộc lẫn nhau. Một cộng đồng có thể nói: “Đó là tài nguyên của chúng tôi”, nhưng dòng sông nhắc rằng mọi quyền đều phải được thực thi trong tương quan với quyền sống của người khác. Chủ quyền không xóa trách nhiệm. Phát triển không xóa giới hạn. Lợi ích quốc gia không thể được hiểu theo kiểu quốc gia của tôi được quyền sống bằng cách làm suy yếu nền tảng sống của quốc gia bên cạnh. Trong một thế giới sinh thái liên kết, đạo đức cũng phải học tư duy liên kết.
Một chiều kích khác của công lý khí hậu là công lý giữa các thế hệ. Người nghèo không chỉ là người hiện đang sống ở một làng ven biển hay một khu lao động nghèo. Có những người nghèo chưa được sinh ra theo một nghĩa rất sâu: họ chưa có tiếng nói, chưa có lá phiếu, chưa có quyền sở hữu, chưa có ghế tại bàn đàm phán, nhưng sẽ nhận hậu quả của quyết định hôm nay. Chúng ta có thể sử dụng tài nguyên, đốt nhiên liệu, phá rừng, bê tông hóa, tạo chất thải, khai thác nước ngầm, để lại ô nhiễm và nói rằng kinh tế hiện tại cần như thế. Nhưng con cháu chúng ta không có cơ hội quay về hôm nay để nói: xin để lại cho chúng tôi một dòng sông còn sống, một vùng đất còn trồng được, một khí hậu còn chịu được, một khu rừng còn đủ đa dạng, một thành phố còn có thể thở. Công lý giữa các thế hệ đòi ta phải học giới hạn. Không phải cái gì ta có khả năng lấy thì ta có quyền lấy hết. Không phải cái gì thị trường định giá được thì ta có quyền bán hết. Không phải cái gì sinh lời hôm nay thì tự động là hợp luân lý. Một thế hệ không phải chủ sở hữu tuyệt đối của trái đất. Chúng ta là người nhận trước và người trao lại sau. Đất đến với chúng ta như một gia sản không phải để tiêu hết nhưng để chăm sóc và truyền lại.
Điều này làm lộ ra một căn bệnh của văn hóa hiện đại: ta rất dễ xã hội hóa thiệt hại và tư hữu hóa lợi nhuận. Một hoạt động kinh tế có thể đem lợi nhuận cho một nhóm nhỏ, nhưng chi phí ô nhiễm được cả xã hội gánh. Một nhà máy hưởng lợi từ sản xuất, còn người dân xung quanh trả giá bằng chất lượng không khí. Một dự án khai thác có doanh thu, còn cộng đồng địa phương trả giá bằng nguồn nước suy giảm. Một ngành tiêu thụ nhiều năng lượng đem lại lợi ích cho người sử dụng, còn khí quyển nhận phần phát thải. Khi thiệt hại không được tính đúng vào giá thành, người cuối cùng thanh toán thường là người không có quyền thương lượng: người nghèo, môi trường và thế hệ sau. Đó là một dạng nợ không xuất hiện trong bảng cân đối kế toán nhưng xuất hiện trong thân thể con người và trong vết thương của đất. Học thuyết xã hội của Hội Thánh buộc ta phải nhìn những “chi phí vô hình” ấy. Nếu một nền kinh tế chỉ gọi là tăng trưởng khi tiền tăng mà không trừ đi đất mất, nước bẩn, sức khỏe suy yếu, cộng đồng bị di dời, thì con số có thể đẹp trong báo cáo nhưng nghèo về chân lý.
Công lý khí hậu cũng đòi chúng ta rất thận trọng khi nói về “trách nhiệm cá nhân”. Đúng, mỗi người phải thay đổi cách sống: tiết kiệm điện, giảm lãng phí, ăn uống có trách nhiệm, đi lại hợp lý, sửa đồ thay vì vứt, hạn chế tiêu dùng không cần thiết, không xả rác, sử dụng nước cẩn trọng. Nhưng sẽ rất bất công nếu toàn bộ trách nhiệm của một cuộc khủng hoảng mang tính hệ thống lại được đặt lên vai những người có ít lựa chọn nhất. Ta không thể nói với một công nhân nghèo rằng hãy mua sản phẩm sinh thái đắt tiền trong khi lương của họ không đủ sống. Không thể nói với người nông dân rằng hãy tự thích nghi với hạn mặn mà không có hạ tầng và chính sách hỗ trợ. Không thể bắt người dân đi phương tiện công cộng nếu giao thông công cộng không đủ. Không thể yêu cầu gia đình nghèo xây nhà chống nóng nếu vật liệu và tín dụng không tiếp cận được. Không thể đòi cộng đồng địa phương bảo vệ rừng trong khi mọi động lực kinh tế lại đẩy họ vào cảnh phải khai thác để sống. Trách nhiệm cá nhân là thật, nhưng trách nhiệm phải tương xứng với quyền lực và khả năng lựa chọn. Người có nhiều quyền quyết định hơn, nhiều tài nguyên hơn, nhiều ảnh hưởng hơn phải mang trách nhiệm lớn hơn. Đây không phải là ghen ghét người giàu. Đây là nguyên tắc luân lý bình thường: người được trao nhiều thì bị đòi nhiều.
Cũng vậy, các quốc gia không thể chịu trách nhiệm như nhau một cách máy móc nếu lịch sử đóng góp vào vấn đề và khả năng kinh tế của họ rất khác nhau. Công lý không có nghĩa mỗi người phải mang cùng một kilogram trên lưng. Công lý là phân chia gánh nặng theo trách nhiệm, khả năng và nhu cầu thực tế. Một gia đình nghèo không thể đóng góp cùng mức như một tập đoàn lớn rồi được bảo rằng đó là bình đẳng. Một quốc gia đang phải vật lộn với nghèo đói, hạ tầng yếu, nhu cầu phát triển căn bản không thể bị đặt vào cùng vị trí luân lý với những nền kinh tế đã hưởng lợi dài lâu từ quá trình công nghiệp hóa phát thải cao. Nhưng điều này cũng không cho phép các nước nghèo lặp lại mọi sai lầm của các nước giàu. Công lý khí hậu không phải giấy phép để nói: người khác đã phá rồi thì tôi cũng có quyền phá. Nó là lời mời gọi một trật tự hợp tác trong đó những người đã hưởng lợi nhiều hơn từ mô hình cũ phải giúp gánh chi phí chuyển đổi nhiều hơn, trong khi những quốc gia đang phát triển được tạo điều kiện để nâng mức sống mà không buộc phải đi qua đúng con đường phá hủy cũ.
Từ đó xuất hiện một khái niệm rất quan trọng: chuyển đổi công bằng. Nếu thế giới cần giảm phụ thuộc vào những hoạt động gây tổn thương nghiêm trọng cho khí hậu, thì sự chuyển đổi ấy phải bảo vệ người lao động và cộng đồng phụ thuộc vào các ngành đang được thay đổi. Không thể cứu khí hậu bằng cách tạo ra một lớp người nghèo mới rồi gọi đó là thành công sinh thái. Nếu đóng một ngành công nghiệp, phải nghĩ đến người lao động sẽ làm gì, gia đình họ sống thế nào, kỹ năng mới được đào tạo ra sao, vùng kinh tế ấy được chuyển đổi thế nào. Nếu thay đổi quy định nông nghiệp, phải hỏi người nông dân nhỏ có đủ vốn và kiến thức để thích nghi không. Nếu áp giá hay thuế môi trường, phải bảo đảm gánh nặng không rơi tỷ lệ lớn hơn vào người thu nhập thấp. Nếu yêu cầu tiêu chuẩn mới cho nhà ở, xe cộ, năng lượng, phải tạo đường cho người nghèo tiếp cận giải pháp chứ không chỉ phạt họ vì họ không đủ tiền. Một chính sách xanh mà làm người nghèo nghèo hơn là một chính sách chưa xanh theo nghĩa của sinh thái toàn diện. Màu xanh của Kitô giáo không thể nhuộm bằng nước mắt của người yếu.
Công lý khí hậu còn liên quan đến quyền được tham gia. Người nghèo thường không chỉ thiếu tiền; họ thiếu tiếng nói. Họ có thể bị quyết định thay cho mà không được tham khảo, bị di dời mà không được thực sự thương lượng, bị gọi là “đối tượng hưởng lợi” trong khi người khác thiết kế mọi thứ. Nhưng học thuyết xã hội Công giáo nhìn con người như chủ thể, không như vật thể của chính sách. Một người nông dân nghèo có thể không có bằng đại học nhưng biết mảnh đất của mình sâu hơn một chuyên gia ghé qua ba ngày. Một cộng đồng ngư dân có thể không biết thuật ngữ hải dương học nhưng biết dòng nước, mùa cá, gió và bờ biển bằng tri thức tích lũy qua nhiều thế hệ. Một người dân tộc bản địa có thể không viết báo cáo khoa học nhưng có cả một nền văn hóa của mối tương quan với rừng. Công lý sinh thái đòi những tiếng nói ấy được nghe. Không phải mọi tri thức đều có cùng phương pháp, nhưng không vì thế mà tri thức địa phương là không có giá trị. Một mô hình phát triển chỉ nghe chuyên gia, nhà đầu tư và quan chức mà không nghe người sẽ sống với hậu quả của dự án ấy là một mô hình thiếu chiều kích nhân vị.
Đây là nơi linh đạo tạo thành gặp rất sâu linh đạo của Dòng Chúa Cứu Thế. Dòng Chúa Cứu Thế sinh ra từ một cái nhìn về những người bị bỏ rơi hơn cả. Thánh Anphongsô không bắt đầu một dự án để tìm chỗ đứng đẹp cho mình trong Hội Thánh. Ngài bị đánh động bởi những con người ở ngoài tầm chăm sóc mục vụ bình thường, những người nghèo miền quê, những người ít được tiếp cận Tin Mừng, những người không nằm trong trung tâm quyền lực, văn hóa và tôn giáo. Câu hỏi của một tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế vì thế luôn phải là: ai đang bị bỏ lại phía sau? Trong khủng hoảng sinh thái hôm nay, câu hỏi ấy phải được mở rộng. Ai bị bỏ lại khi khí hậu thay đổi? Ai bị bỏ lại khi nước dâng? Ai bị bỏ lại khi một vùng đất trở nên khó sống? Ai bị bỏ lại khi chính sách chuyển đổi năng lượng làm giá tăng? Ai bị bỏ lại khi thiên tai buộc người dân di cư? Ai bị bỏ lại khi môi trường sống bị mất nhưng họ không có tiền chuyển đi? Nếu đặc sủng Cứu Thế là loan báo ơn cứu chuộc chan chứa cho người bị bỏ rơi, thì không thể có một cách sống đặc sủng Cứu Thế hôm nay mà hoàn toàn câm lặng trước những cơ cấu sinh thái đang đẩy người nghèo vào nguy hiểm.
Dòng Chúa Cứu Thế không được nói về “ngôi nhà chung” mà quên căn nhà cụ thể của người nghèo. Câu này phải được hiểu rất thật. Ngôi nhà chung là trái đất, nhưng trái đất không được cư ngụ giống nhau bởi mọi người. Có người sống trong nhà chắc chắn, có người sống trong căn chòi ven sông. Có người có thể bảo hiểm tài sản, có người mất mái nhà là mất cả vốn sống. Có người nghe dự báo bão rồi mua vé máy bay rời đi, có người nghe cùng bản tin nhưng không có nơi nào để đi. Nói “hãy bảo vệ ngôi nhà chung” mà không hỏi căn nhà của người nghèo đang chịu gì là làm cho chữ “chung” trở nên trừu tượng. Căn nhà chung chỉ thật sự chung khi người nghèo cũng có quyền được ở trong đó an toàn, được uống nước sạch, được thở khí lành, được canh tác đất không độc, được nuôi con trong một môi trường có tương lai.
Điều này cũng đặt câu hỏi cho cách các cộng đoàn Công giáo sống. Một giáo xứ có thể treo biểu ngữ bảo vệ môi trường, tổ chức ngày trồng cây, kêu gọi giáo dân không dùng nhựa, nhưng nếu quanh giáo xứ có những gia đình nghèo sống trong những căn phòng nóng như lò, bị ngập mỗi mùa mưa, thiếu nước sạch, thì sinh thái của giáo xứ phải bắt đầu từ việc nhìn họ. Có thể một dự án trồng cây bóng mát cho khu dân cư nghèo giá trị hơn một cuộc thi ảnh thiên nhiên. Có thể cải thiện thoát nước quanh một khu xóm nghèo là một việc sinh thái đúng nghĩa. Có thể giúp gia đình yếu thế sửa mái, thông gió, giảm nóng là chăm sóc tạo thành. Có thể đồng hành với nông dân chuyển đổi phương pháp canh tác là mục vụ. Có thể tổ chức một nhóm giáo dân chuyên môn về luật, môi trường, nông nghiệp, kỹ thuật để hỗ trợ cộng đồng bị ảnh hưởng bởi dự án là thi hành bác ái trong chiều kích xã hội. Có thể đưa nội dung công lý sinh thái vào giáo lý, bài giảng, đào tạo giới trẻ, học thuyết xã hội, thay vì để môi trường trở thành một ngày chủ đề trong năm rồi thôi.
Các dòng tu càng phải xét mình. Nhà dòng có đất đai, công trình, phương tiện, bếp ăn, nguồn điện, nước, hệ thống mua sắm. Những lựa chọn ấy có ảnh hưởng. Nhưng điều quan trọng hơn cả chuyện tiết kiệm điện hay phân loại rác là phải hỏi đặc sủng của mình gặp cuộc khủng hoảng này ở đâu. Một dòng giáo dục phải đào tạo thế hệ trẻ về công lý sinh thái. Một dòng y tế phải nhìn những hậu quả sức khỏe của ô nhiễm và khí hậu lên người nghèo. Một dòng truyền giáo phải nhìn các cộng đồng dễ tổn thương. Một dòng có truyền thống phục vụ người nghèo phải nhận ra nghèo đói hôm nay ngày càng có chiều kích sinh thái. Một cộng đoàn Dòng Chúa Cứu Thế nếu ở giữa một vùng bị xói lở, hạn, ô nhiễm, mất sinh kế mà chỉ tổ chức các hoạt động đạo đức bên trong nhà thờ thì phải tự hỏi liệu mình có đang loan báo ơn cứu chuộc cho con người toàn diện hay không. Cứu độ không đồng nghĩa với một chương trình phát triển xã hội, nhưng ơn cứu độ cũng không bao giờ dạy ta dửng dưng trước những điều đang hủy phẩm giá người mà ta rao giảng Tin Mừng.
Một nguy cơ khác là biến người nghèo thành biểu tượng đạo đức để người khác nói thay họ. Ta rất dễ đưa hình ảnh em bé lội nước, người mẹ đứng bên căn nhà sập, người nông dân nhìn cánh đồng nứt nẻ vào bài thuyết trình rồi tiếp tục chương trình của mình. Người nghèo khi ấy lại trở thành một “tài nguyên truyền thông”. Công lý đòi hơn thế. Người nghèo phải được tham gia. Họ phải có tiếng nói trong chính sách, trong chương trình của Hội Thánh, trong cách cộng đoàn thiết kế hỗ trợ. Đôi khi điều người nghèo cần không phải điều người giàu tưởng họ cần. Một dự án thiện chí nhưng không nghe cộng đồng có thể lãng phí nguồn lực, tạo lệ thuộc hoặc phá vỡ những cơ chế tự giúp vốn đã có. Linh đạo nghèo khó Kitô giáo không phải đứng trên cho xuống. Nó là học ngồi cùng bàn.
Công lý khí hậu cũng liên quan đến di cư. Khi một vùng đất không còn đủ sinh kế, người ta rời đi. Nhưng rời quê không bao giờ chỉ là di chuyển địa lý. Nó có thể là mất cộng đồng, mất mồ mả tổ tiên, mất ngôn ngữ địa phương, mất nghề truyền thống, mất mạng lưới họ hàng, mất ký ức gắn với đất. Một người bị buộc phải rời khỏi vùng sinh sống vì những biến đổi môi trường không chỉ mất một căn nhà; họ có thể mất một phần căn tính. Và khi họ đến thành phố, họ thường đi vào những công việc bấp bênh, nhà trọ chật, ít bảo vệ xã hội. Sinh thái vì thế nối với mục vụ di dân. Người Công giáo không thể nhìn người lao động di cư chỉ như nguồn nhân công. Họ là con người mang theo một lịch sử của đất, có khi là lịch sử của một vùng đang trở nên khó sống.
Ta cũng cần tránh một thứ lãng mạn hóa người nghèo, như thể người nghèo tự động sống sinh thái hơn hoặc đạo đức hơn. Nghèo không phải là một nhân đức tự nó. Người nghèo cũng có thể phá rừng, xả rác, khai thác quá mức nếu bị đẩy vào hoàn cảnh không có lựa chọn tốt hơn hoặc nếu họ cũng hấp thụ văn hóa tiêu thụ. Nhưng trách nhiệm không thể được đánh giá mà không xét đến hoàn cảnh. Một người chặt cây để mua điện thoại đời mới khác về mặt luân lý với người chặt cây vì không có cách nào khác để nấu ăn hay nuôi con. Cùng một hành vi vật lý có thể mang một bối cảnh đạo đức khác. Vì thế chính sách môi trường phải tạo sinh kế thay thế, giáo dục, hạ tầng và lựa chọn thực tế. Chỉ cấm mà không tạo đường sống là dễ đẩy người nghèo thành người vi phạm. Công lý không chỉ nói “đừng làm”, mà còn hỏi “anh có khả năng sống theo cách khác không?”
Một linh đạo trưởng thành cũng phải xét đến chính những thói quen của người có đời sống đạo đức. Chúng ta có thể rất quảng đại làm từ thiện nhưng không muốn đụng đến lối sống của mình. Ta gửi tiền cứu trợ sau bão nhưng vẫn tiêu thụ vô độ. Ta thương người nghèo trên truyền hình nhưng không muốn trả giá cao hơn một chút cho sản phẩm được làm trong điều kiện công bằng. Ta cầu nguyện cho nông dân nhưng lãng phí thức ăn. Ta thương trẻ em vùng hạn nhưng dùng nước không suy nghĩ. Ta nói về người nghèo nhưng muốn mọi tiện nghi của mình phải ngày càng rẻ hơn, nhanh hơn, nhiều hơn. Khi đó, từ thiện có nguy cơ trở thành một khoản “phí lương tâm” để ta khỏi phải xét lại hệ thống sống. Đức ái Kitô giáo không cho ta mua sự bình an lương tâm bằng vài khoản quyên góp. Nó đòi hoán cải.
Hoán cải ấy không phải là tự kết án mình mỗi khi bật máy lạnh hay đi xe. Đời sống hiện đại rất phức tạp, và không ai hoàn toàn sống ngoài các hệ thống năng lượng, giao thông, sản xuất. Điều cần là sự tỉnh thức. Tôi có đang sống theo một logic “càng nhiều càng tốt” không? Tôi có coi tiện nghi của mình như quyền tuyệt đối không? Tôi có nghĩ rằng mọi thứ rẻ là tốt mà không hỏi ai trả phần giá bị che giấu không? Tôi có sẵn sàng hy sinh một phần tiện nghi khi điều đó thực sự góp phần bảo vệ công ích không? Tôi có ủng hộ những chính sách bảo vệ môi trường chỉ khi chúng không chạm túi mình? Tôi có đòi người nghèo thay đổi trước trong khi chính mình có nhiều khả năng thay đổi hơn? Những câu hỏi ấy đưa sinh thái vào lương tâm.
Công lý khí hậu cũng dạy Hội Thánh về lời ngôn sứ. Có lúc Hội Thánh phải làm việc bác ái âm thầm. Có lúc phải lên tiếng. Nếu một cộng đồng nghèo đang bị tổn thương bởi một quyết định có thể tránh được, im lặng không phải luôn là trung lập. Nhưng tiếng nói của Hội Thánh phải là tiếng nói có căn cứ, thận trọng, không biến bàn thờ thành diễn đàn đảng phái, không vội gắn nhãn, không sử dụng dữ kiện thiếu kiểm chứng. Hội Thánh không phải một tổ chức chuyên môn thay cho nhà khoa học, kỹ sư hay nhà quản trị. Nhưng Hội Thánh có thẩm quyền luân lý để hỏi về phẩm giá, công ích, người nghèo, thế hệ sau, tham nhũng, minh bạch, quyền tham gia, sự thật và trách nhiệm. Khi một vấn đề kỹ thuật có hậu quả đạo đức, người có đức tin không thể nói: “Đó không phải chuyện của đạo.” Công nghệ trả lời “làm thế nào”; kinh tế trả lời “tốn bao nhiêu”; chính trị trả lời “ai quyết định”; đạo đức phải hỏi “điều này có công bằng không, ai chịu giá, ai được lợi, phẩm giá ai bị đe dọa?”
Cũng phải nhấn mạnh rằng bảo vệ người nghèo không có nghĩa chống phát triển. Người nghèo cần phát triển thật. Họ cần điện, nước sạch, đường sá, trường học, bệnh viện, nhà ở tử tế, việc làm, giao thông, thông tin, kỹ thuật. Một thứ chủ nghĩa môi trường khiến người giàu tiếp tục hưởng tiện nghi nhưng bảo người nghèo đừng phát triển là bất công. Vấn đề là phát triển kiểu nào, vì ai và trả giá bằng gì. Một nền phát triển tốt phải nâng phẩm giá mà không phá nền tảng sống. Phát triển không thể chỉ đo bằng số lượng hàng hóa. Một ngôi làng có nhiều tiền hơn nhưng mất nước sạch chưa chắc đã phát triển. Một vùng có nhà máy mới nhưng người dân mắc bệnh nhiều hơn chưa chắc đã phát triển. Một thành phố có GDP tăng nhưng trẻ em không còn chỗ xanh, không khí khó thở, người nghèo bị đẩy ra xa trung tâm, thời gian đi làm kéo dài, cộng đồng tan vỡ, thì cần hỏi cái gì đã thực sự lớn lên.
Đây là chỗ khái niệm “sinh thái toàn diện” trở nên quyết định. Môi trường, kinh tế, xã hội, văn hóa và đời sống con người không phải năm ngăn kéo tách biệt. Chúng tác động lẫn nhau. Một khu rừng không chỉ là carbon; nó có thể là sinh kế, văn hóa, nguồn nước, ký ức và không gian thiêng của một cộng đồng. Một con sông không chỉ là mét khối nước; nó là giao thông, thực phẩm, nông nghiệp, câu chuyện, lịch sử. Một cánh đồng không chỉ là sản lượng; nó là mạng lưới gia đình, mùa vụ, phong tục, mồ mả, căn tính làng quê. Khi hoạch định chính sách chỉ bằng các con số kỹ thuật, ta có thể bỏ mất phần con người. Công lý khí hậu đòi cả khoa học chính xác và cái nhìn nhân văn sâu.
Một trong những câu hỏi khó nhất là ai phải trả tiền cho việc thích ứng. Khi cần xây đê, cải thiện thoát nước, chuyển đổi cây trồng, nâng cấp hạ tầng, chống nóng cho trường học và bệnh viện, bảo vệ bờ biển, củng cố hệ thống y tế, đào tạo nghề mới, tiền phải đến từ đâu? Không thể mặc nhiên để người nghèo tự gánh. Nguyên tắc công ích đòi ngân sách công phải ưu tiên nơi dễ tổn thương. Nguyên tắc liên đới đòi những người và những cơ cấu có khả năng lớn hơn đóng góp nhiều hơn. Nguyên tắc trách nhiệm đòi những hoạt động tạo ra chi phí môi trường phải chịu phần chi phí ấy thay vì đẩy nó cho xã hội. Và nguyên tắc bổ trợ đòi cộng đồng địa phương được trao nguồn lực và quyền chủ động, chứ không phải mọi quyết định đều từ trên đưa xuống.
Trong đời sống Hội Thánh, điều này có thể trở nên rất cụ thể. Giáo phận có thể lập các quỹ hỗ trợ cộng đồng nghèo thích ứng với thiên tai thay vì chỉ cứu trợ sau thiên tai. Giáo xứ ở vùng thường ngập có thể xây dựng phương án sơ tán cho người già, người khuyết tật, trẻ em. Các tổ chức Công giáo có thể đào tạo kỹ năng phòng chống thiên tai. Các trường Công giáo có thể giúp học sinh hiểu mối liên hệ giữa lối sống và công lý. Các tu viện, nhà dòng có đất có thể thử nghiệm mô hình canh tác có trách nhiệm và chia sẻ kinh nghiệm với dân. Các cơ sở Hội Thánh có thể ưu tiên mua từ nhà cung cấp không bóc lột lao động và môi trường. Các linh mục có thể đưa công lý sinh thái vào việc đào tạo lương tâm, không phải bằng khẩu hiệu mà bằng các tình huống cụ thể. Các nhóm bác ái có thể kết nối cứu trợ khẩn cấp với kế hoạch giúp gia đình đứng lại được sau thảm họa, tránh vòng nợ nần.
Và cần một điều rất quan trọng: đừng chỉ nói cho người nghèo, hãy học từ người nghèo. Nhiều cộng đồng nghèo có những nhân đức sinh thái mà xã hội tiêu thụ đã đánh mất: biết sửa đồ, biết dùng hết, biết chia sẻ, biết sống với mùa, biết tiết kiệm nước, biết tận dụng thức ăn, biết mượn nhau dụng cụ, biết sống gần cộng đồng. Dĩ nhiên không được lý tưởng hóa nghèo đói. Nhưng một nền văn hóa giàu có quá mức có thể học nơi những đời sống giản dị rằng không phải mọi hạnh phúc đều phải mua. Người nghèo có thể là thầy của người giàu về giới hạn, dù không ai có quyền ép họ phải nghèo để làm thầy cho chúng ta. Mục tiêu không phải bảo tồn nghèo đói. Mục tiêu là xây một xã hội trong đó mọi người có đủ để sống xứng đáng mà không ai cần tích lũy đến mức người khác và trái đất phải trả giá.
Công lý khí hậu cuối cùng là một câu hỏi thần học về người lân cận. Dụ ngôn người Samari nhân hậu hỏi: ai là người thân cận? Hôm nay người nằm bên vệ đường có thể là một gia đình vừa mất mùa vì hạn, một người già chịu đợt nóng trong căn phòng trọ, một cộng đồng ven biển bị xói lở, một nông dân mắc nợ sau thiên tai, một trẻ em phải bỏ học vì gia đình di cư, một người dân sống cạnh nguồn nước ô nhiễm. Ta có thể đi ngang vì vấn đề quá lớn. Ta có thể nói khí hậu là chuyện của chính phủ. Ta có thể nói mình không phải chuyên gia. Nhưng người Samari không giải quyết toàn bộ hệ thống đường Giêrusalem–Giêrikhô trước khi cứu người bị đánh. Ông làm phần của mình. Sau đó, nếu có thể, người môn đệ còn phải hỏi vì sao con đường ấy cứ nguy hiểm và làm gì để người khác không tiếp tục nằm đó.
Ở đây xuất hiện sự quân bình Kitô giáo giữa việc nhỏ và việc lớn. Ta không được khinh hành động cá nhân vì nó nhỏ, nhưng cũng không được biến hành động cá nhân thành cái cớ để né thay đổi cơ cấu. Một người giảm rác là tốt; một thành phố thiết kế hệ thống rác tốt còn cần hơn. Một gia đình tiết kiệm điện là tốt; chính sách năng lượng sạch và tiếp cận được với người nghèo là cần. Một giáo xứ trồng cây là tốt; bảo vệ quy hoạch không gian xanh cho người dân còn quan trọng. Một người quyên góp sau bão là tốt; xây hạ tầng có khả năng chống chịu trước bão là công lý. Đức tin trưởng thành không chọn một trong hai. Nó đào tạo con người bằng việc nhỏ để con người ấy đủ nhân cách tham gia việc lớn.
Đối với Dòng Chúa Cứu Thế, lời “copiosa apud eum redemptio” – nơi Người chan chứa ơn cứu chuộc – phải được nghe giữa tiếng kêu của người nghèo và tiếng kêu của đất. Ơn cứu chuộc không chỉ là một ý niệm trừu tượng về linh hồn thoát khỏi thế gian. Đức Kitô cứu con người trong toàn bộ hiện hữu của họ và dẫn toàn thể tạo thành đến sự viên mãn. Dĩ nhiên Hội Thánh không đồng nhất Nước Thiên Chúa với một chương trình môi trường hay chính sách khí hậu. Không một dự án trần thế nào là ơn cứu độ. Nhưng chính vì Nước Thiên Chúa lớn hơn mọi dự án, người môn đệ lại càng không thể thần thánh hóa lợi nhuận, tăng trưởng hay tiện nghi. Đấng Cứu Chuộc giải phóng ta khỏi mọi thần tượng, kể cả thần tượng tiêu thụ.
Một tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế hôm nay có thể phải học một hình thức mới của “đi ra ngoại biên”. Ngoại biên không chỉ là nơi thiếu nhà thờ. Ngoại biên có thể là một vùng ven biển đang mất đất. Ngoại biên có thể là khu công nhân nóng bức bên cạnh khu công nghiệp. Ngoại biên có thể là một làng dân tộc đang mất rừng. Ngoại biên có thể là những nông dân không có tiếng nói trước một dự án lớn. Ngoại biên có thể là lớp người trẻ bất an vì họ biết tương lai môi trường của mình kém chắc chắn hơn thế hệ trước. Đến với các ngoại biên ấy không phải để biến linh mục thành chuyên gia môi trường, nhưng để người thừa sai biết lắng nghe, kết nối người có chuyên môn, nâng đỡ cộng đồng, giúp đào tạo lương tâm và loan báo một niềm hy vọng không giả tạo.
Niềm hy vọng Kitô giáo ở đây rất cần được phân biệt với lạc quan dễ dãi. Hy vọng không phải nói: “Chúa sẽ lo, mọi thứ rồi sẽ ổn.” Nếu Noe nghe lời cảnh báo rồi chỉ cầu nguyện mà không đóng tàu, câu chuyện sẽ rất khác. Nếu Giuse biết bảy năm đói kém mà không dự trữ lương thực, niềm tin của ông sẽ thành vô trách nhiệm. Kinh Thánh không đối lập tín thác vào Chúa với hành động khôn ngoan. Hy vọng Kitô giáo cho ta sức làm điều phải làm ngay cả khi kết quả chưa chắc chắn. Ta chăm sóc ngôi nhà chung không vì tin mình sẽ xây thiên đàng dưới đất, mà vì trung tín với Đấng đã trao khu vườn cho ta gìn giữ.
Công lý khí hậu vì thế cũng là một trường của đức cậy. Người nghèo thường cần hơn cả một tương lai có thể tưởng tượng. Một cộng đồng bị thiên tai lặp đi lặp lại dễ rơi vào tâm lý không còn gì đáng đầu tư. Người trẻ ở vùng khó sống dễ chỉ nghĩ đến rời đi. Người nông dân mất nhiều vụ có thể mất cả lòng tin vào nghề. Mục vụ không được nói những câu đạo đức rẻ tiền như “cố lên, Chúa thử thách”. Mục vụ phải hiện diện, nghe, giúp tìm nguồn lực, kết nối cộng đồng và cùng họ phân định. Đức cậy phải có bàn tay.
Công lý khí hậu còn mời gọi chúng ta xem lại cách sử dụng của cải trong Hội Thánh. Một cơ sở Công giáo xây dựng rất sang nhưng không quan tâm đến tiêu thụ năng lượng có thể cần xét lại. Một lễ hội tôn giáo tạo lượng rác khổng lồ rồi ngày hôm sau nói về Laudato Si’ là một nghịch lý. Một nhà xứ dùng nước, điện, thực phẩm lãng phí trong khi giảng tiết chế sẽ làm lời giảng mất trọng lượng. Nhưng mục tiêu không phải biến Hội Thánh thành mẫu triển lãm kỹ thuật xanh. Mục tiêu là sự nhất quán: những gì ta tin về tạo thành phải bước xuống cách ta xây, ăn, mua, di chuyển, tổ chức sự kiện, sử dụng đất và quản lý tiền.
Sự nhất quán ấy cũng phải đi vào đời sống thiêng liêng. Khi xét mình cuối ngày, ta thường hỏi có nói dối không, có nóng giận không, có bỏ lễ không. Tất cả đều đúng. Nhưng một lương tâm được đào tạo trong thời đại sinh thái còn phải hỏi: hôm nay tôi đã lãng phí gì? Tôi đã mua thứ không cần chỉ vì bị kích thích không? Tôi có coi thường công sức người làm ra món đồ mình dùng không? Tôi đã xả trách nhiệm của mình cho người khác không? Tôi có im khi thấy một quyết định rõ ràng làm hại cộng đồng yếu thế không? Tôi có coi người nghèo chỉ như đối tượng từ thiện không? Tôi có sẵn sàng chịu một phần chi phí để người yếu không phải chịu hết không? Đó không phải là thêm một bộ tội mới. Đó là để đức ái và công lý soi vào những lĩnh vực mà trước đây ta không để ý.
Có lẽ một trong những câu quan trọng nhất của chương này là: người nghèo không cần chúng ta “cứu họ khỏi khí hậu”; họ cần một xã hội trong đó họ có đủ quyền, nguồn lực và cơ hội để cùng định hình tương lai. Cách nói khác nhau nhưng tinh thần khác hẳn. Cách thứ nhất giữ người nghèo ở vị trí thụ động. Cách thứ hai nhìn họ như chủ thể. Giáo hội của người nghèo không phải Giáo hội nói liên tục về người nghèo nhưng Giáo hội trong đó người nghèo được nghe, được tham gia và được tin tưởng.
Và chính ở đây công lý khí hậu trở thành một phép thử cho tính chân thật của linh đạo tạo thành. Ta có thể yêu chim trời mà không yêu người công nhân làm ngoài nắng không? Ta có thể bảo vệ rừng mà không quan tâm người dân sống nhờ rừng không? Ta có thể nói yêu biển mà không nghe ngư dân không? Ta có thể nói yêu thế hệ tương lai nhưng vẫn sống như mọi tài nguyên của hôm nay là của riêng mình không? Ta có thể đọc Laudato Si’ mà mọi lựa chọn tiêu thụ vẫn y nguyên không? Ta có thể tổ chức ngày cầu nguyện cho tạo thành nhưng không bao giờ hỏi người nghèo quanh nhà thờ đang chịu điều gì từ môi trường sống không? Nếu có, linh đạo của ta mới đi đến cảnh đẹp chứ chưa đi tới thập giá.
Thập giá là nơi Đức Kitô đứng với người chịu hậu quả của tội người khác. Người vô tội mang vết thương của một thế giới bất công. Dĩ nhiên không thể đồng nhất mọi đau khổ môi trường với thập giá theo một cách đơn giản. Nhưng người môn đệ nhìn thập giá sẽ nhận ra một quy luật đáng sợ của tội: người có quyền gây ra vết thương thường không phải người gánh toàn bộ vết thương ấy. Công lý khí hậu đặt ta trước một cấu trúc tương tự: lợi ích và thiệt hại bị phân chia bất đối xứng. Theo Đức Kitô là không chấp nhận sống bình an với một trật tự như thế.
Phục Sinh lại cho ta một chân trời khác. Thiên Chúa không bỏ tạo thành cho sự hủy diệt. Thân xác Đức Kitô phục sinh là bảo chứng rằng vật chất không bị Thiên Chúa khinh bỏ. Lịch sử có một đích đến không phải hư vô nhưng sự đổi mới. Điều ấy không cho ta quyền phá rồi bảo Chúa sẽ làm mới. Trái lại, nó trao phẩm giá cho từng hành động gìn giữ sự sống. Một cây được bảo vệ, một nguồn nước được phục hồi, một gia đình nghèo được giúp thích ứng, một chính sách bất công được sửa, một cộng đồng được trao tiếng nói – tất cả không phải là Nước Thiên Chúa trọn vẹn, nhưng có thể là những dấu nhỏ cho thấy chúng ta không đứng về phía sự chết.
Vì vậy, công lý khí hậu không phải phụ lục của linh đạo tạo thành. Nó là một trong những nơi linh đạo ấy được kiểm chứng. Nếu chiêm ngắm tạo thành làm ta dịu lòng trước hoàng hôn nhưng không nhạy lòng trước người nghèo mất nhà vì bão, ta mới học một nửa bài. Nếu ta ca tụng Thiên Chúa vì vẻ đẹp của cánh đồng nhưng không quan tâm nông dân sống được hay không, lời ca ấy thiếu phần công lý. Nếu ta gọi nước là “chị” theo thánh Phanxicô nhưng để người nghèo uống nước ô nhiễm, ta đã biến thi ca thành trang trí. Nếu ta gọi trái đất là nhà chung nhưng có người không còn một căn nhà để trú, câu nói ấy phải làm ta bất an.
Đối với người môn đệ Đức Kitô, đứng về phía người nghèo không có nghĩa chống lại người giàu. Nó có nghĩa đứng về phía sự thật của Tin Mừng để cả người giàu và người nghèo đều được giải phóng: người nghèo khỏi sự thiếu thốn và dễ tổn thương; người giàu khỏi ảo tưởng rằng tích lũy và tiêu thụ vô hạn sẽ cứu mình. Công lý cứu cả hai khỏi một trật tự sai. Người nghèo cần đủ. Người giàu cần học giới hạn. Cả hai cần một cộng đồng trong đó của cải phục vụ sự sống.
Đối với người Dòng Chúa Cứu Thế, điều ấy có một âm sắc rất riêng: đừng để một người nào trở thành quá xa để Tin Mừng không còn tới được, và đừng để một vết thương nào của người nghèo bị coi là quá “thế tục” để sứ mạng không cần quan tâm. Nếu hôm nay người nghèo bị bỏ rơi một phần vì khí hậu, ô nhiễm, mất đất, mất nước, mất sinh kế, thì đó là nơi nhà truyền giáo phải mở mắt. Không nhất thiết ai cũng trở thành nhà hoạt động môi trường. Nhưng không ai có quyền trở thành người dửng dưng.
Ngôi nhà chung chỉ xứng đáng với tên gọi ấy khi người bé nhất cũng có chỗ trong nhà. Công lý khí hậu vì thế không bắt đầu bằng một biểu đồ nhiệt độ. Nó bắt đầu bằng khuôn mặt. Khuôn mặt người mẹ nhìn ruộng mất mùa. Khuôn mặt người công nhân làm việc giữa nóng gay gắt. Khuôn mặt người già trong căn phòng không thông gió. Khuôn mặt đứa trẻ sống trong khu ngập. Khuôn mặt người dân phải rời mảnh đất cha ông. Khi ta nhìn những khuôn mặt ấy đủ lâu, khí hậu không còn là đề tài. Nó thành trách nhiệm.
Và khi trách nhiệm ấy bước vào cầu nguyện, lời cầu phải đổi. Ta không chỉ xin: “Lạy Chúa, xin bảo vệ trái đất.” Ta còn phải thưa: “Lạy Chúa, xin chỉ cho chúng con phần nào chúng con đang làm trái đất bị thương; ai đang trả giá thay chúng con; điều gì chúng con phải bỏ; điều gì chúng con phải lên tiếng; điều gì chúng con phải cùng nhau thay đổi.” Một lời cầu như thế nguy hiểm hơn, vì Chúa có thể trả lời bằng một lời mời gọi hoán cải.
Có lẽ đó chính là điểm đến của linh đạo tạo thành: không phải làm ta thấy mình đạo đức vì yêu thiên nhiên, nhưng làm ta trở nên có trách nhiệm hơn trước Thiên Chúa, trước người nghèo, trước anh chị em mình, trước thế hệ chưa sinh và trước toàn thể tạo thành. Lúc ấy, chăm sóc ngôi nhà chung không còn là một phong trào thêm vào đời Kitô hữu. Nó trở thành một cách sống điều răn yêu người thân cận trong một thế giới mà số phận của người thân cận ngày càng gắn chặt với số phận của đất, nước, khí hậu và những hệ sinh thái nâng đỡ sự sống.
Người gây nhiều thường có phương tiện để chịu ít. Người gây ít thường không có phương tiện để tránh hậu quả. Chính khoảng cách ấy là tiếng gọi của công lý. Và nơi khoảng cách ấy, Hội Thánh không được đứng ở giữa như người quan sát trung lập. Hội Thánh phải đứng theo cách của Đức Kitô: gần người chịu nhiều hơn, gần người có ít tiếng nói hơn, gần người không có phương tiện tự bảo vệ hơn. Không phải để kích động đối đầu, nhưng để đưa mọi bên trở lại trật tự của công ích. Không phải để thù ghét người giàu, nhưng để kêu gọi người có nhiều quyền lực nhận phần trách nhiệm lớn hơn. Không phải để biến Tin Mừng thành chính sách khí hậu, nhưng để ánh sáng Tin Mừng soi vào mọi chính sách có liên quan đến phẩm giá con người.
Và Dòng Chúa Cứu Thế, nếu muốn trung thành với tiếng gọi đi tới những người bị bỏ rơi hơn cả, phải học nhận ra những người bị bỏ rơi mới của thời đại sinh thái. Có những người bị bỏ rơi không vì họ ở xa nhà thờ, nhưng vì nhà của họ đang bị nước ăn dần. Có những người bị bỏ rơi không vì không ai giảng Tin Mừng cho họ, nhưng vì không ai nghe tiếng họ khi nguồn sống bị lấy đi. Có những người bị bỏ rơi không vì thiếu một hoạt động mục vụ, nhưng vì mất sinh kế, mắc nợ, phải di cư và tan vỡ gia đình. Đem Tin Mừng đến với họ không có nghĩa chỉ phát quà rồi trở về. Nó là ở lại đủ lâu để hiểu câu chuyện, đủ khiêm tốn để lắng nghe, đủ khôn ngoan để kết nối, đủ can đảm để lên tiếng khi cần và đủ đức tin để cùng họ hy vọng.
Ngôi nhà chung sẽ không được chữa lành nếu căn phòng của người nghèo cứ dột. Tạo thành sẽ không được hòa giải nếu người yếu cứ bị buộc trả giá cho sự tiện nghi của người mạnh. Sinh thái sẽ không toàn diện nếu chỉ cứu cây mà bỏ người. Và lòng yêu người nghèo sẽ không toàn diện nếu chỉ cho họ một phần cơm sau thiên tai mà không hỏi tại sao họ luôn là những người bị đẩy ra đầu tiên trước mọi cơn bão của lịch sử.
Bởi thế, công lý khí hậu là một cách rất cụ thể để nghe lại lời Đức Kitô: “Điều gì các ngươi làm cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta.” Hôm nay, điều ấy có thể là một ly nước sạch. Có thể là một mái nhà chống được bão. Có thể là một chính sách không đẩy người nghèo ra khỏi đất. Có thể là một hệ thống năng lượng không đặt toàn bộ chi phí lên người có thu nhập thấp. Có thể là một tiếng nói bảo vệ cộng đồng không được nghe. Có thể chỉ là một quyết định tiêu dùng nhỏ nhưng được thực hiện với lương tâm. Có thể là một giáo xứ thôi coi môi trường là chuyện ngoài mục vụ. Có thể là một tu sĩ bắt đầu hỏi người nghèo quanh mình đang chịu tác động sinh thái nào. Mỗi việc có kích thước khác nhau, nhưng đều có thể thuộc về một cuộc hoán cải duy nhất: trở lại với trật tự trong đó Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, con người là anh chị em, trái đất là quà tặng, người nghèo là nơi đặc biệt Đức Kitô chờ đợi ta, và của cải không còn được dùng như thể chúng ta là thế hệ cuối cùng được sống trên mặt đất.

PHẦN VI
ĐỔI MỚI QUYẾT TÂM KHÔI PHỤC CÁC MỐI TƯƠNG QUAN
CHƯƠNG 28. HOÁN CẢI SINH THÁI LÀ HOÁN CẢI TRÁI TIM
Có một cách nói về sinh thái rất dễ làm người Kitô hữu mệt mỏi: nói bằng những con số dày đặc, những cảnh báo liên tục, những mệnh lệnh phải làm ngay, những bảng thống kê về nhiệt độ, lượng khí thải, diện tích rừng mất, mực nước biển dâng, số loài tuyệt chủng, số tấn rác nhựa trôi ra đại dương, rồi kết thúc bằng một danh sách dài những việc cá nhân phải thực hiện. Những điều ấy không sai. Khoa học phải nói sự thật của khoa học. Xã hội phải có luật. Chính quyền phải có chính sách. Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm. Cá nhân phải thay đổi thói quen. Nhưng nếu linh đạo sinh thái của Kitô giáo dừng ở đó, ta chưa đi đến tận gốc. Ta có thể đổi bóng đèn mà chưa đổi con người. Ta có thể mang bình nước cá nhân nhưng vẫn nhìn mọi sự bằng con mắt chiếm hữu. Ta có thể phân loại rác mà vẫn đối xử với người khác như đồ dùng. Ta có thể trồng một trăm cây mà trong lòng vẫn chỉ hỏi chúng sinh lợi bao nhiêu. Ta có thể thuộc hết các khẩu hiệu bảo vệ môi trường mà vẫn sống trong một nền văn hóa tốc độ, hưởng thụ, ganh đua và tích lũy không đáy. Chính ở đây lời mời gọi về hoán cải sinh thái trở nên sâu xa hơn mọi chiến dịch môi trường. Hoán cải sinh thái, trước hết, không phải là thêm một lãnh vực đạo đức mới bên cạnh những lãnh vực cũ. Nó là để Tin Mừng đi vào cách ta nhìn thế giới, cách ta sử dụng của cải, cách ta hiểu sự phát triển, cách ta tương quan với người nghèo, cách ta sống thời gian, cách ta ăn uống, làm việc, nghỉ ngơi, mua sắm, cầu nguyện và hy vọng. Nói ngắn gọn: đó là hoán cải trái tim.
“Hoán cải” trong ngôn ngữ Kitô giáo không phải là sửa vài hành vi bên ngoài để trở thành một phiên bản lịch sự hơn của chính mình. Hoán cải là đổi hướng. Là quay lại. Là để cho ánh sáng của Thiên Chúa phơi bày một cách sống đã trở thành bình thường đến mức ta không còn thấy nó lệch. Một người có thể rất thành công trong một hệ thống sai mà không hề nhận ra mình đang sai. Một xã hội có thể tổ chức cực kỳ hiệu quả việc khai thác đất, nước, con người và tương lai rồi gọi đó là phát triển. Một cộng đoàn có thể xây dựng đẹp, tổ chức giỏi, sự kiện hoành tráng, nhưng tiêu thụ và lãng phí theo đúng kiểu của nền văn hóa mà mình vẫn lên tiếng phê phán. Một gia đình có thể dạy con cầu nguyện nhưng đồng thời dạy con, bằng lối sống thực tế của cha mẹ, rằng hạnh phúc nằm ở mua thêm, có thêm, đổi mới nhanh hơn, đi nhiều hơn, ăn nhiều hơn, khoe nhiều hơn. Vì thế hoán cải sinh thái bắt đầu khi người ta dám đặt một câu hỏi khó: có phải điều cần thay đổi trước tiên không phải là cái bóng đèn, mà là cái nhìn của tôi không? Bóng đèn cần đổi nếu nó lãng phí năng lượng. Nhưng bàn tay đổi bóng đèn vẫn có thể thuộc về một trái tim chưa được đổi mới. Và một trái tim chưa đổi sớm muộn sẽ tìm cách khác để tiếp tục tiêu thụ như cũ.
Gốc sâu của khủng hoảng sinh thái không chỉ nằm trong máy móc, công nghệ hay mô hình kinh tế. Nó nằm trong một cái nhìn về thực tại. Khi ta nhìn một khu rừng và điều đầu tiên hiện lên là giá gỗ, nhìn một con sông và chỉ thấy khả năng phát điện, nhìn một cánh đồng và chỉ thấy sản lượng, nhìn một vùng biển và chỉ thấy trữ lượng khai thác, nhìn một ngọn núi và chỉ thấy khoáng sản, nhìn một người lao động và chỉ thấy năng suất, nhìn một người nghèo và chỉ thấy gánh nặng ngân sách, nhìn một đứa trẻ và chỉ thấy chi phí giáo dục, nhìn người già và chỉ thấy chi phí chăm sóc, thì vấn đề đã lớn hơn môi trường rất nhiều. Đó là một căn bệnh của cái nhìn. Mọi sự chỉ còn giá trị khi hữu dụng. Mọi hữu dụng phải quy ra năng suất. Mọi năng suất phải quy ra lợi nhuận. Mọi lợi nhuận phải tăng. Mọi tăng trưởng phải nhanh. Và cái gì cản trở tốc độ ấy thì bị xem như vấn đề cần loại bỏ. Đây chính là nơi hoán cải sinh thái gặp hoán cải Kitô giáo ở tầng sâu nhất. Đức tin nói rằng thế giới không bắt đầu bằng nhu cầu của tôi. Nó bắt đầu bằng ý muốn yêu thương của Thiên Chúa. Thụ tạo có trước tôi. Nó không được tạo ra chỉ để chờ tôi đến khai thác. Tôi đến sau, được nhận vào một thế giới vốn đã được Thiên Chúa gọi là tốt đẹp. Điều đó đặt tôi vào tư thế căn bản của người nhận lãnh, chứ không phải của kẻ tự phong mình làm chủ tuyệt đối.
Hoán cải sinh thái vì thế là chuyển từ chiếm hữu sang biết ơn. Hai thái độ này có thể cùng cầm một vật nhưng sống hoàn toàn khác nhau. Người chiếm hữu nói: “Cái này là của tôi, tôi muốn làm gì thì làm.” Người biết ơn nói: “Cái này được trao cho tôi, tôi phải sử dụng sao cho xứng đáng.” Người chiếm hữu xem mọi giới hạn là xúc phạm tự do. Người biết ơn hiểu giới hạn là một phần của ơn ban. Người chiếm hữu sợ mất vì căn tính của họ gắn với cái họ có. Người biết ơn có thể chia sẻ vì họ hiểu mình vốn đã là người được cho. Một ly nước đối với người chiếm hữu chỉ là một tiện ích. Đối với người biết ơn, đó là một món quà của đất, trời, sông suối, hệ thống cung cấp nước, công sức con người và cuối cùng là của Đấng ban sự sống. Một bữa cơm đối với người chiếm hữu là sản phẩm mua bằng tiền mình kiếm. Đối với người biết ơn, đó là hạt giống, ruộng đất, mưa nắng, người gieo, người gặt, người vận chuyển, người nấu và bao mạng lưới sống đan vào nhau. Khi biết ơn trở lại, lãng phí tự nhiên trở nên khó hơn. Không phải vì bị cấm, nhưng vì người ta không dễ ném bỏ một điều mình biết là quà tặng.
Đây là lý do tại sao một nền linh đạo sinh thái không thể chỉ dùng sợ hãi làm động cơ. Sợ hãi có tác dụng nhất định. Nếu nói rằng không thay đổi thì sẽ nóng hơn, ngập hơn, thiếu nước hơn, bệnh nhiều hơn, con cháu khổ hơn, người ta có thể phản ứng. Nhưng sợ hãi không đủ để xây một nhân cách bền vững. Người sống vì sợ phạt thường chỉ làm đến mức đủ để tránh hậu quả. Khi nguy cơ xa đi, quyết tâm cũng xa theo. Khi không ai kiểm tra, thói quen cũ trở lại. Khi một lựa chọn xanh làm mất tiện nghi, người ta dễ bỏ. Kitô giáo không khinh sức cảnh tỉnh của sợ hãi, nhưng không đặt đời sống luân lý trên sợ hãi. Động cơ trưởng thành hơn là tình yêu, lòng biết ơn, ý thức trách nhiệm và niềm vui được sống đúng mối tương quan. Một người tiết kiệm nước vì sợ hóa đơn cao khác với người tiết kiệm nước vì hiểu nước là quà của Thiên Chúa và là điều người khác cũng có quyền được nhận. Một người không xả rác vì sợ phạt khác với người không xả rác vì không muốn biến không gian chung thành nơi người khác phải gánh sự cẩu thả của mình. Một người giảm tiêu dùng vì đang theo trào lưu tối giản khác với người giảm tiêu dùng vì đã học được rằng tự do không nằm ở số vật mình sở hữu.
Từ chiếm hữu sang biết ơn cũng đòi một cuộc xét mình về ngôn ngữ “của tôi”. Nhà tôi, xe tôi, tiền tôi, đất tôi, thời gian tôi, sức khỏe tôi, khả năng tôi. Không có gì sai khi dùng những từ ấy trong nghĩa pháp lý và đời thường. Nhưng đời thiêng nhắc ta rằng trước khi là “của tôi”, tất cả đều là “được trao”. Ngay cả thân thể này cũng không do tôi tự tạo. Tôi nhận sự sống. Tôi nhận thời gian. Tôi nhận khí để thở. Tôi nhận một hành tinh đã có vô số thế hệ sinh vật và con người sống trước mình. Tôi nhận đất không phải như trang giấy trắng mà như một lịch sử dài. Tôi nhận một quê hương có sông, rừng, đồng bằng, biển, giống cây, giống vật, ký ức và văn hóa. Nếu mọi sự là được nhận, câu hỏi luân lý tự nhiên xuất hiện: tôi sẽ trao lại thế nào? Một đời sống chỉ biết nhận mà không biết trao lại là một đời sống bị đứt khỏi cấu trúc của ân sủng.
Hoán cải sinh thái còn là chuyển từ tốc độ sang chiêm ngắm. Một trong những điều nền văn minh hiện đại thường coi là hiển nhiên là càng nhanh càng tốt. Đi nhanh hơn, sản xuất nhanh hơn, giao hàng nhanh hơn, trả lời nhanh hơn, ăn nhanh hơn, học nhanh hơn, kiếm tiền nhanh hơn, giải trí nhanh hơn. Tốc độ có nhiều lợi ích. Không ai cần thần thánh hóa chậm chạp hay lãng mạn hóa sự kém hiệu quả. Nhưng khi tốc độ trở thành tiêu chuẩn cuối cùng của đời sống, con người mất khả năng hiện diện. Và một người không hiện diện thì rất khó yêu. Ta chỉ bảo vệ điều ta học được cách yêu. Ta chỉ yêu điều ta dành đủ thời gian để nhìn thấy. Không ai thực sự yêu một khu rừng chỉ bằng cách lướt qua ảnh của nó trong ba giây. Không ai thực sự hiểu một cánh đồng nếu chưa từng biết sự chờ đợi của mùa vụ. Không ai thực sự cảm được sự quý giá của nước nếu chưa bao giờ dừng lại trước một con suối, một cơn mưa, một mùa hạn. Không ai hiểu đất nếu đất chỉ xuất hiện dưới chân như một mặt phẳng để xây dựng.
Chiêm ngắm trả lại chiều sâu cho cái nhìn. Chiêm ngắm không chống khoa học. Người chiêm ngắm có thể là nhà sinh học, kỹ sư, nông dân, giáo viên, linh mục, bác sĩ hay công nhân. Nhưng khi chiêm ngắm, người ta để sự vật được là chính nó trước khi biến nó thành một chức năng. Một cái cây trước tiên là một sinh thể. Sau đó nó mới có thể là gỗ, bóng mát, trái, cảnh quan hay dữ liệu sinh học. Một con sông trước tiên là một thực tại sống động trong hệ sinh thái, trong lịch sử và văn hóa của cộng đồng. Sau đó mới là nguồn nước, tuyến giao thông hay năng lượng. Một con vật trước tiên là một sinh vật có vị trí trong công trình tạo dựng. Sau đó mới đi vào những tương quan hợp pháp của đời sống con người. Khi “sau đó” nuốt mất “trước tiên”, ta bước vào kiểu nhìn kỹ trị. Hoán cải sinh thái phục hồi cái “trước tiên” ấy.
Không phải ngẫu nhiên mà truyền thống Kitô giáo coi việc ngắm nhìn, thinh lặng, ngày sabát, phụng vụ và cầu nguyện là những hành vi quan trọng. Chúng chống lại ảo tưởng rằng thế giới tồn tại nhờ ta không ngừng thao tác trên nó. Ngày nghỉ nói với con người: ngươi không phải đấng cứu thế. Thế giới vẫn tồn tại khi ngươi dừng. Cánh đồng không phải lúc nào cũng phải bị ép sinh sản tối đa. Đất cần nghỉ. Thân thể cần nghỉ. Linh hồn cần nghỉ. Quan hệ cần thời gian không sản xuất. Thiên nhiên có nhịp. Đức tin có nhịp. Con người cũng có nhịp. Một nền văn hóa mất ngày nghỉ sẽ sớm mất khả năng biết đủ. Và khi mất biết đủ, sinh thái trở thành bất khả vì mọi giới hạn đều bị xem như kẻ thù.
Hoán cải sinh thái vì thế đụng tới một từ mà xã hội tiêu thụ rất ngại: đủ. Bao nhiêu là đủ? Bao nhiêu quần áo là đủ? Bao nhiêu chuyến đi là đủ? Bao nhiêu diện tích sống là đủ? Bao nhiêu thiết bị là đủ? Bao nhiêu tiện nghi là đủ? Bao nhiêu lợi nhuận là đủ? Bao nhiêu tăng trưởng là đủ? Những câu hỏi này không có một con số áp dụng máy móc cho mọi người, mọi gia đình, mọi quốc gia. Nhưng nếu không bao giờ hỏi “đủ chưa?”, thì về nguyên tắc ta đã chấp nhận vô hạn. Mà một trái đất hữu hạn không thể gánh những ham muốn được tổ chức như thể chúng vô hạn. Vấn đề sinh thái do đó không chỉ là thiếu công nghệ sạch. Nó còn là một nền nhân học không biết nói “đủ”. Một nền kinh tế có thể hiệu quả hơn nhưng nếu hiệu quả chỉ giúp ta tiêu thụ nhiều hơn, khủng hoảng vẫn còn. Một chiếc xe tiết kiệm nhiên liệu hơn là tốt, nhưng nếu nhờ vậy ta chạy gấp đôi số kilômét thì phần tiết kiệm có thể biến mất. Một thiết bị điện tử dùng ít điện hơn là tốt, nhưng nếu cứ thay thiết bị mỗi năm thì câu chuyện khác. Hoán cải trái tim đi xa hơn tối ưu hóa. Nó hỏi: điều gì thực sự làm tôi sống?
Từ tốc độ sang chiêm ngắm cũng là từ phản ứng sang phân định. Người bị tốc độ chi phối luôn có cảm giác phải quyết định ngay. Quảng cáo biết điều đó. Nền kinh tế tiêu dùng biết điều đó. “Mua ngay.” “Số lượng có hạn.” “Ưu đãi chỉ hôm nay.” “Phiên bản mới.” “Bạn đang bỏ lỡ.” Cả một nền công nghệ tâm lý được dùng để tạo ra cảm giác thiếu. Nhưng người biết dừng có thể hỏi: tôi có thật sự cần không? Tôi đang mua vì cần hay vì buồn? Tôi thay vì đồ hỏng hay vì thấy người khác có mẫu mới? Tôi ăn vì đói hay vì căng thẳng? Tôi đi vì cần hay vì sợ ở yên? Tôi đăng vì có điều cần chia sẻ hay vì cần được nhìn thấy? Những câu hỏi tưởng như cá nhân này có hệ quả sinh thái rất lớn. Bởi phần đáng kể của tiêu thụ không phát sinh từ nhu cầu vật chất thật mà từ những nhu cầu tâm lý được thương mại hóa: nhu cầu được công nhận, được thuộc về, được hơn người, được đỡ cô đơn, được quên lo âu. Một trái tim không được chữa lành có thể biến trái đất thành thuốc an thần.
Bởi vậy nói đến hoán cải sinh thái mà không nói đến đời sống nội tâm là thiếu. Có những người mua nhiều không phải vì tham theo nghĩa thô mà vì trống rỗng. Có người thay đồ liên tục vì cảm giác mình không đủ giá trị nếu không có cái mới. Có người phải đi thật nhiều vì không chịu nổi sự yên tĩnh. Có người tích trữ vì sợ tương lai. Có người phô bày giàu có vì cần chứng minh bản thân. Có người lao động quá mức và tiêu thụ quá mức như hai đầu của cùng một vòng xoáy: làm kiệt sức để có tiền mua những thứ giúp quên rằng mình đã kiệt sức. Nếu không chạm tới những cơn đói sâu bên trong, lời kêu gọi “hãy tiêu thụ ít hơn” dễ trở thành một áp lực luân lý nữa. Tin Mừng đi sâu hơn: con người không sống chỉ nhờ những gì mình sở hữu. Giá trị của một người không tăng khi tài sản tăng. Phẩm giá không lên đời theo mẫu điện thoại. Căn tính không cần xây bằng thương hiệu. Hạnh phúc không thể mua bằng tốc độ mà hệ sinh thái phải trả giá.
Hoán cải sinh thái còn là chuyển từ “tôi” sang “chúng ta”. Đây có lẽ là một trong những thay đổi khó nhất. Nền văn hóa hiện đại đào tạo chúng ta rất giỏi về quyền cá nhân, sở thích cá nhân, trải nghiệm cá nhân và sự tiện lợi cá nhân. Những điều ấy có chỗ chính đáng. Nhưng nếu “tôi” trở thành đơn vị duy nhất để đánh giá một lựa chọn, sinh thái sẽ thất bại. “Tôi thích.” “Tôi có tiền.” “Tôi có quyền.” “Tôi mua được.” “Tôi dùng có bao nhiêu đâu.” “Một mình tôi thì ảnh hưởng gì.” Mỗi câu riêng lẻ có vẻ vô hại. Nhưng hàng tỷ cái “tôi” cộng lại tạo thành một hệ thống. Không khí không chia thành từng ô cá nhân. Khí hậu không nhận hộ chiếu. Đại dương không biết rác của ai. Một dòng sông đi qua nhiều tỉnh, nhiều quốc gia. Một món hàng có thể chứa công sức của người ở cách ta hàng ngàn kilômét. Một quyết định tiêu dùng có thể liên quan tới mỏ khoáng sản, nhà máy, vận tải, bao bì, lao động và rác thải ở nhiều nơi ta không bao giờ nhìn thấy. Hoán cải sinh thái mở rộng biên giới đạo đức của trái tim.
“Chúng ta” trước hết là những người đang sống cùng thời. Người giàu và người nghèo. Thành thị và nông thôn. Người ở thượng nguồn và hạ nguồn. Người có máy lạnh và người làm việc ngoài trời. Người có tiền mua nước đóng chai và người phụ thuộc vào nguồn nước địa phương. Người có thể di dời khi thiên tai và người chỉ có một căn nhà. Khủng hoảng sinh thái không phân phối hậu quả đồng đều. Vì vậy trái tim sinh thái không thể chỉ yêu cây mà quên người. Một chiến lược môi trường làm đẹp đô thị bằng cách đẩy người nghèo ra ngoài không phải sinh thái toàn diện. Một dự án bảo tồn mà không lắng nghe cộng đồng sống lâu đời trong vùng ấy có thể mang ý định tốt nhưng vẫn bất công. Một chính sách chuyển đổi năng lượng không tính tới người lao động mất kế sinh nhai sẽ tạo thêm đau khổ. “Chúng ta” phải đủ rộng để không biến người yếu thành giá phải trả cho những giải pháp do người mạnh thiết kế.
Nhưng “chúng ta” còn gồm những người chưa sinh ra. Đây là một cuộc mở rộng lương tâm rất quan trọng. Thế hệ tương lai không bỏ phiếu hôm nay. Họ không ngồi trong hội đồng quản trị. Họ không có cổ phần. Họ không thể kiện ta vì đã dùng hết. Họ không thể viết đơn xin giữ lại rừng. Họ không thể yêu cầu đừng để đất nhiễm độc. Họ chưa thể nói. Chính vì thế công lý đòi người đang có tiếng phải nói thay phần họ. Một xã hội chỉ tính lợi ích trong nhiệm kỳ hiện tại, quý tài chính hiện tại hay đời mình hiện tại là một xã hội thiển cận về đạo đức. Đức tin Kitô giáo vốn quen nghĩ tới truyền lại. Ta nhận đức tin từ người trước. Ta truyền đức tin cho người sau. Ta nhận nhà thờ, văn hóa, ngôn ngữ, ký ức, đất nước, gia đình từ những người đã khuất. Tại sao với thiên nhiên ta lại hành xử như thế hệ cuối cùng? Hoán cải sinh thái dạy ta sống như một mắt xích, không như chủ nhân cuối cùng.
Có một tiêu chuẩn xét mình rất đơn giản: nếu mọi người đều sống như tôi, điều gì sẽ xảy ra? Không phải mọi hành vi cá nhân đều có thể nhân lên một cách cơ học, nhưng câu hỏi này phá vỡ ảo tưởng rằng lựa chọn của mình hoàn toàn riêng tư. Nếu ai cũng thay đồ điện tử với nhịp như tôi, bao nhiêu tài nguyên cần khai thác? Nếu ai cũng dùng nhựa một lần như tôi, rác đi đâu? Nếu ai cũng ăn, đi lại, xây dựng và tiêu thụ như tầng lớp giàu nhất, trái đất có chịu nổi không? Nếu mọi giáo xứ tổ chức sự kiện theo mức lãng phí giống giáo xứ tôi, điều gì xảy ra? Nếu mọi nhà dòng xây dựng, di chuyển, dùng điện, nước và thực phẩm như cộng đoàn tôi, lời khấn nghèo khó sẽ nói gì? Những câu hỏi này không để tạo mặc cảm tội lỗi bệnh hoạn, nhưng để đưa hành vi cá nhân vào trong mối liên hệ thật của nó với cộng đồng.
Hoán cải sinh thái cũng phải giải thoát ta khỏi hai cực đoan. Một cực đoan là đạo đức hóa quá mức những hành vi nhỏ, như thể ai quên túi vải một lần là tội nhân chống tạo thành, trong khi những cấu trúc lớn gây tổn hại lại không được đụng tới. Cực đoan kia là khinh thường việc nhỏ, cho rằng mọi chuyện đều do chính sách và doanh nghiệp, cá nhân chẳng làm được gì. Cả hai đều sai. Việc nhỏ không đủ, nhưng việc nhỏ cần. Cấu trúc phải đổi, nhưng người trong cấu trúc cũng phải đổi. Không có luật tốt nào sống được lâu nếu văn hóa của dân chúng chống lại nó. Không có chính sách sinh thái bền nếu người dân chỉ tuân thủ vì cưỡng chế. Ngược lại, không có việc cá nhân nào thay thế được quy hoạch, luật pháp, chuyển đổi năng lượng, quản trị nguồn nước hay kiểm soát ô nhiễm. Hoán cải trái tim làm cho ta vừa chịu trách nhiệm cá nhân vừa thức tỉnh trách nhiệm công dân. Người đã đổi lòng không chỉ tắt điện khi ra khỏi phòng. Họ còn hỏi điện đến từ đâu. Không chỉ tiết kiệm nước trong nhà. Họ còn quan tâm nguồn nước chung có bị đầu độc không. Không chỉ không xả rác. Họ còn hỏi hệ thống xử lý rác có công bằng và bền vững không.
Một dấu hiệu của hoán cải thật là thói quen bắt đầu đổi mà không cần ai nhìn. Đây là điều rất quan trọng. Sinh thái rất dễ trở thành hình ảnh. Người ta chụp ảnh trồng cây, đăng ảnh nhặt rác, dùng một sản phẩm “xanh” như biểu tượng căn tính, tham gia một chiến dịch rồi trở lại lối sống cũ. Hành vi công khai không xấu. Nó có thể giáo dục và truyền cảm hứng. Nhưng đời thiêng luôn hỏi phần không ai thấy. Tôi có tắt chiếc đèn khi không có máy ảnh không? Tôi có bớt lấy thức ăn khi không ai khen không? Tôi có sửa một đồ vật cũ thay vì mua mới khi chẳng ai biết không? Tôi có chọn phương án bất tiện hơn một chút nhưng ít lãng phí hơn không? Tôi có giữ sạch một nơi không phải của mình không? Tôi có bỏ rác đúng chỗ dù chẳng có camera không? Chính trong những việc không ai thấy, một kiểu con người mới được hình thành.
Hoán cải sinh thái cũng phải đi vào đời sống phụng vụ và bí tích, nếu không nó sẽ bị tách khỏi trung tâm đức tin. Người Kitô hữu dâng bánh và rượu trên bàn thờ. Bánh là “hoa màu ruộng đất và lao công của con người”. Rượu là hoa trái của cây nho và công lao của con người. Phụng vụ không dùng những vật vô hình. Nước rửa tội là nước thật. Dầu thánh là vật chất thật. Lửa Phục Sinh là lửa thật. Hương, nến, thân thể, tiếng hát, không gian, thời gian: tất cả đi qua thụ tạo. Thiên Chúa không cứu con người bằng cách kéo họ ra khỏi vật chất. Ngài đi vào vật chất. Vì vậy một linh đạo khinh đất, khinh thân thể, khinh giới hạn vật chất là không hợp với bí tích. Thánh Thể đặc biệt dạy ta một logic hoàn toàn ngược với chiếm hữu: nhận lãnh để trở thành hiến tặng. Đức Kitô được nhận để ta học cách trở nên tấm bánh bẻ ra cho người khác. Một cộng đoàn cử hành Thánh Thể mà không học chia sẻ, tiết độ và biết đủ là một cộng đoàn chưa để bí tích đi hết đường vào đời.
Ngay cả Bí tích Hòa giải cũng có thể giúp hình thành lương tâm sinh thái. Không phải bằng cách biến tòa giải tội thành bảng kiểm môi trường, nhưng bằng cách giúp tín hữu nhận ra rằng ích kỷ có thể mang hình thức tiêu thụ; tham lam có thể hiện ra trong cách sử dụng tài nguyên; thiếu bác ái có thể nằm trong lãng phí những gì người khác thiếu; bất công có thể ẩn trong sự thờ ơ trước môi trường sống của cộng đồng nghèo. Nhiều người xét mình rất kỹ về lời nói nhưng chưa bao giờ hỏi mình đang dùng tiền thế nào. Xét mình về các kinh đã đọc nhưng không hỏi về sự phung phí. Xét mình về nóng giận nhưng không hỏi về ham muốn sở hữu. Lương tâm trưởng thành không chia đời sống thành những ngăn đạo đức rời nhau.
Hoán cải sinh thái cũng chạm vào đức khó nghèo Kitô giáo. Khó nghèo không phải tôn thờ thiếu thốn. Không phải giữ người nghèo trong nghèo. Không phải lãng mạn hóa cảnh thiếu ăn thiếu mặc. Tin Mừng muốn con người được sống xứng phẩm giá. Nhưng khó nghèo theo Đức Kitô là tự do trước của cải. Có thể có mà không bị cái có sở hữu mình. Có thể dùng mà không nghiện. Có thể cho. Có thể mất. Có thể sống đơn giản. Có thể không chạy theo cuộc thi địa vị. Chính ở đây đức khó nghèo có ý nghĩa sinh thái mạnh mẽ. Một người cần ít hơn để sống có thể tự do hơn, chia sẻ hơn và gây áp lực ít hơn lên thụ tạo. Đời sống tu trì, nếu sống đúng, có thể là một chứng tá rất mạnh trong xã hội tiêu thụ. Nhưng nếu các cộng đoàn tu trì lại cạnh tranh tiện nghi, phương tiện, xây dựng, thiết bị, chuyến đi và hình ảnh, thì lời khấn nghèo khó sẽ bị làm yếu ngay từ bên trong. Không thể giảng sinh thái bằng những cơ sở lãng phí mà không tự hỏi mình.
Hoán cải trái tim cũng có nghĩa là học lại niềm vui của sự đơn giản. Đây không phải niềm vui của người buộc phải thiếu. Đó là niềm vui của người khám phá rằng nhiều thứ mình tưởng là nhu cầu thật ra chỉ là thói quen. Một bữa ăn đơn giản nhưng có người thân. Một chuyến đi bộ. Một buổi chiều không mua gì. Một vật được sửa lại. Một chiếc áo mặc lâu. Một món đồ chuyền cho người khác. Một khu vườn nhỏ. Một giờ không màn hình. Một bữa tiệc vừa đủ, không thừa mứa để rồi đổ bỏ. Những điều ấy không cứu hành tinh bằng phép màu. Nhưng chúng đào tạo một cảm thức. Và cảm thức ấy rất quan trọng: đời sống tốt không đồng nghĩa với đời sống tiêu thụ cao. Nếu xã hội không tìm lại điều này, mọi tiến bộ công nghệ có thể bị nuốt bởi ham muốn tăng mãi.
Một phần của hoán cải sinh thái là học chịu đựng một chút bất tiện. Nền tiêu dùng hiện đại biến tiện lợi thành gần như một quyền tuyệt đối. Cái gì chậm hơn, phải rửa, phải mang theo, phải sửa, phải chờ, phải đi bộ, phải dùng lại đều bị xem là kém. Nhưng sống chung luôn đòi một chút bất tiện. Yêu người khác là chấp nhận không phải lúc nào tôi cũng được thuận tiện nhất. Gìn giữ môi trường cũng vậy. Có những thay đổi rất nhỏ: mang theo chai nước, dùng lại túi, ăn vừa đủ, tắt máy lạnh khi không cần, đi chung xe khi hợp lý, hạn chế đồ dùng một lần, sửa trước khi thay, chọn sản phẩm bền hơn. Từng việc không lớn. Nhưng điểm thiêng liêng nằm ở chỗ chúng dạy trái tim rằng sự tiện lợi của tôi không phải giá trị tối cao.
Hoán cải còn là học đau trước những gì đang bị tổn thương mà không rơi vào tuyệt vọng. Có một cách tự vệ tâm lý rất phổ biến: vì tin xấu quá nhiều nên ta ngừng cảm. Rừng cháy ở đâu đó. Lũ ở đâu đó. Hạn ở đâu đó. Người chết vì nóng ở đâu đó. Cá chết, sông ô nhiễm, đất sạt lở, biển đầy rác. Nếu mỗi ngày nhận hàng trăm tin như vậy, con người dễ tê liệt. Một số người chọn phủ nhận. Một số người chọn giễu cợt. Một số người chọn tuyệt vọng. Linh đạo Kitô giáo mời một con đường khác: để trái tim bị chạm nhưng không bị nghiền nát. Đau vì tạo thành bị tổn thương là một hình thức của lòng thương xót. Nhưng lòng thương xót Kitô giáo không kết thúc ở bi quan. Nó sinh hành động vì còn tin rằng điều thiện đáng làm ngay cả khi không thấy kết quả trọn vẹn.
Hy vọng ở đây rất quan trọng. Nếu người ta tin mọi thứ đã quá muộn, họ sẽ sống kiểu “thôi thì hưởng nốt”. Tuyệt vọng và hưởng thụ thường là hai mặt của một đồng xu. Ngược lại, hy vọng Kitô giáo không phải lạc quan ngây thơ rằng rồi mọi chuyện tự ổn. Hy vọng là biết thế giới thuộc về Thiên Chúa, biết con người được gọi cộng tác với ân sủng, và vì thế không việc thiện nào hoàn toàn vô nghĩa. Ta không biết một cái cây sẽ sống bao lâu, nhưng vẫn trồng. Không biết một đứa trẻ sẽ sống trong thế giới thế nào, nhưng vẫn giáo dục nó biết yêu. Không biết chính sách sẽ đổi nhanh đến đâu, nhưng vẫn lên tiếng. Không biết một giáo xứ thay đổi có ảnh hưởng bao nhiêu, nhưng vẫn bắt đầu. Hy vọng làm cho hành động thoát khỏi ám ảnh phải thấy ngay kết quả.
Hoán cải sinh thái vì thế không phải một cơn sốt phong trào. Mốt luôn thay đổi. Hôm nay người ta dùng một từ rất nhiều, mai có thể chán. Nếu động lực sinh thái chỉ dựa trên mốt, khi mốt qua thì thói quen cũ trở lại. Giáo hội không chăm sóc tạo thành vì đang có một chủ đề quốc tế hấp dẫn. Giáo hội làm vì tin Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, tin con người là thụ tạo có trách nhiệm, tin người nghèo có phẩm giá, tin công ích vượt khỏi lợi ích cá nhân, tin thế hệ sau có quyền nhận một thế giới có thể sống được, tin thân xác sẽ sống lại, tin Đức Kitô đã đi vào vật chất và tin muôn loài được quy hướng về Ngài. Nền tảng ấy sâu hơn xu hướng xã hội. Vì thế khi chủ đề môi trường không còn “hot”, người Kitô hữu vẫn phải trung tín.
Điều này cũng giúp tránh một nguy cơ khác: biến sinh thái thành căn tính đạo đức để phán xét người khác. Người có điều kiện mua sản phẩm xanh dễ coi thường người nghèo phải mua thứ rẻ nhất. Người sống ở thành phố có giao thông công cộng tốt dễ phán xét người ở nơi không có lựa chọn. Người có thời gian và tiền để ăn theo một chế độ đặc biệt dễ áp chuẩn của mình lên người khác. Hoán cải thật luôn làm người ta khiêm nhường hơn, không kiêu hơn. Nó khiến ta hỏi trước: tôi có thể thay đổi gì trong điều kiện của tôi? Và khi nói đến người khác, ta xét hoàn cảnh, khả năng, cấu trúc. Sinh thái Kitô giáo không xây một tầng lớp “người sạch” đứng phán xét “người bẩn”. Nó xây cộng đồng cùng học sống tốt hơn.
Trong giáo xứ, hoán cải sinh thái có thể bắt đầu bằng những điều rất cụ thể nhưng phải được hiểu như việc đào tạo linh đạo, không chỉ quản trị cơ sở. Cách dùng điện nước trong nhà thờ. Cách tổ chức lễ hội. Số lượng đồ dùng một lần. Cách chuẩn bị thức ăn. Việc để thừa. Cách xây dựng. Việc chăm cây. Cách quản lý đất của giáo xứ. Những bài giáo lý về tạo thành. Những buổi học Kinh Thánh có nhắc tới đất, nước, mùa màng, giới hạn, công ích. Những chuyến đi không chỉ để vui mà để học nhìn. Một giáo xứ có thể tổ chức một ngày không phải “chiến dịch xanh” ồn ào, mà là ngày học sống chậm: cầu nguyện, nghe Lời Chúa, đi bộ, quan sát môi trường địa phương, nghe người dân kể về thay đổi của dòng sông, nguồn nước, đất đai, rồi cùng xét mình. Như thế sinh thái không còn là một ban phụ trách vài hoạt động, mà đi vào đời sống cộng đoàn.
Gia đình cũng là trường đầu tiên của hoán cải sinh thái. Trẻ em học cách nhìn vật chất từ cha mẹ trước khi học bất kỳ lý thuyết nào. Một đứa trẻ thấy cha mẹ dùng đồ cẩn thận, không lãng phí thức ăn, biết sửa, biết cho đi, biết cảm ơn người làm ra đồ vật, biết giữ sạch nơi công cộng, biết quý cây cối và động vật, sẽ học một thứ luân lý không cần bài giảng dài. Ngược lại, nếu trẻ được dạy rằng cái gì cũ là bỏ, cái gì không thích là thay, đồ ăn thừa không đáng bận tâm, tài nguyên luôn có sẵn, thì sau này rất khó nói với nó về trách nhiệm sinh thái. Đặc biệt, cha mẹ cần cẩn trọng khi dùng vật chất để bù đắp thiếu hiện diện. Mua cho con không thể thay cho ở với con. Nếu tình yêu bị đồng nhất với quà tặng vật chất, cả con người lẫn môi trường đều trả giá.
Trường học Công giáo cũng phải hiểu rằng giáo dục sinh thái không thể chỉ là tiết ngoại khóa trồng cây. Học sinh cần học cách liên kết khoa học với đạo đức, kinh tế với công lý, tiêu dùng với lao động, công nghệ với giới hạn, phát triển với công ích. Nhưng quan trọng hơn, chính môi trường học phải có tính giáo dục: cách dùng điều hòa, giấy, nhựa, thức ăn, nước, khuôn viên. Không gì phản giáo dục bằng một bài học bảo vệ môi trường trong một cơ sở lãng phí rõ ràng. Người trẻ rất nhạy với mâu thuẫn giữa điều người lớn nói và điều người lớn sống.
Với đời sống linh mục và tu sĩ, hoán cải sinh thái cũng là một thách đố thiêng liêng. Ta dễ nói cho giáo dân những điều mình chưa xét trong cộng đoàn mình. Cách xây nhà. Cách đi lại. Cách tổ chức tiệc. Cách thay thiết bị. Cách dùng điện nước. Cách quản trị đất đai. Cách tiếp khách. Cách ăn uống. Không cần biến đời tu thành một thí nghiệm khắc khổ cực đoan. Nhưng nếu đời thánh hiến muốn làm dấu chỉ cánh chung, nó phải đặt câu hỏi về kiểu tiêu thụ của chính mình. Một cộng đoàn sống thanh thoát, giản dị, sạch sẽ, biết quý của chung, chia sẻ và không phô trương sẽ giảng rất mạnh mà không cần khẩu hiệu.
Ở bình diện cá nhân, một cuộc hoán cải thật có thể được thử bằng vài câu hỏi rất đơn sơ: Tôi có còn biết ngạc nhiên trước thụ tạo không? Tôi có cảm tạ trước bữa ăn hay coi thức ăn như điều đương nhiên? Tôi có mua để đáp ứng nhu cầu hay để chữa một cảm xúc? Tôi có thể dùng một vật lâu hơn không? Tôi có chịu sửa không? Tôi có biết nguồn gốc của những thứ tôi dùng không? Tôi có nghĩ tới người làm ra chúng không? Tôi có sống như thể nước, điện, thức ăn là vô hạn không? Tôi có để sự tiện lợi cá nhân trở thành tiêu chuẩn cuối cùng không? Tôi có quan tâm điều sẽ xảy ra với người sau tôi không? Tôi có biết dừng không? Tôi có dành thời gian để nhìn cây, trời, mưa, đất, một con vật, một cánh đồng bằng ánh mắt không tính toán không? Những câu hỏi ấy chính là những câu hỏi về trái tim.
Cũng cần nhấn mạnh rằng hoán cải là một quá trình, không phải một cú nhảy để trở thành hoàn hảo. Nếu biến sinh thái thành chủ nghĩa hoàn hảo, người ta sẽ mau bỏ cuộc. Không ai ngay lập tức thay được mọi thói quen. Không gia đình nào có thể giải quyết toàn bộ dấu chân sinh thái của mình trong một tuần. Không giáo xứ nào chuyển đổi mọi thứ cùng lúc. Quan trọng là hướng đi. Có những việc làm ngay. Có việc phải học. Có việc cần đầu tư. Có việc phụ thuộc hạ tầng. Có việc cần chính sách. Một trái tim đã đổi hướng sẽ kiên nhẫn tiến, thay vì hoặc làm tất cả hoặc không làm gì.
Ở đây ta thấy cấu trúc rất giống đời sống thiêng liêng nói chung. Một người trở về với Chúa không hết ngay mọi nết xấu. Nhưng hướng của đời họ đổi. Họ bắt đầu nhận ra điều trước đây không thấy. Họ đau vì điều trước đây không đau. Họ muốn sửa điều trước đây thấy bình thường. Họ ngã rồi đứng dậy. Hoán cải sinh thái cũng thế. Có thể hôm nay ta vẫn quên mang túi. Vẫn mua quá tay. Vẫn có những thói quen khó đổi. Nhưng nếu mắt đã mở, ta không còn hoàn toàn bình thản trước sự lãng phí. Chính sự khó chịu là dấu hiệu lương tâm đang sống.
Cuối cùng, hoán cải sinh thái là hoán cải về mối tương quan với Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa chỉ xuất hiện trong nhà thờ, còn thế giới vật chất nằm ngoài đời sống đức tin, ta sẽ không hiểu tại sao phải chăm sóc tạo thành như một việc thiêng liêng. Nhưng nếu ta thật sự tin “trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa”, tin mọi sự được tạo thành nhờ Ngôi Lời, tin Thánh Thần là Đấng ban sự sống, tin Đức Kitô đã làm người, thì đất không còn là ngoại vi của thần học. Nước không còn là chuyện phụ. Khí hậu không chỉ là chuyện của chuyên gia. Người nghèo bị mất đất, mất nước, mất sinh kế không phải một hồ sơ xã hội tách khỏi đời sống đạo. Tất cả trở về trong cùng một cái nhìn: Thiên Chúa yêu thế giới mà Ngài đã tạo thành, và con người được gọi yêu trong cách thức phù hợp với vị trí thụ tạo của mình.
Hoán cải trái tim đưa ta từ câu hỏi “tôi được phép dùng bao nhiêu?” đến câu hỏi “tôi được gọi yêu thế nào?”. Đây là chuyển động quyết định. Luân lý tối thiểu hỏi giới hạn không được vượt qua. Tình yêu hỏi điều tốt nào tôi có thể làm. Khi đã yêu, người ta không chỉ tránh phá. Người ta muốn gìn giữ. Không chỉ tuân luật. Muốn trao lại. Không chỉ sợ hậu quả. Muốn sống đẹp. Không chỉ tính phần mình. Nghĩ tới người khác. Không chỉ bảo vệ một hành tinh trừu tượng. Bảo vệ những khuôn mặt, những vùng đất, những dòng sông, những cộng đồng, những đứa trẻ sẽ sống sau mình.
Và có lẽ đây là dấu hiệu sâu nhất của hoán cải sinh thái: thế giới không còn được nhìn như một kho đồ đặt trước mặt cái tôi, nhưng như một ngôi nhà chung được nhận từ Cha. Khi đã là ngôi nhà, ta không đốt một căn phòng chỉ vì mình đang ở phòng khác. Không xả rác xuống tầng dưới vì mình sống tầng trên. Không dùng hết nước chỉ vì vòi phòng mình vẫn chảy. Không lấy hết phần vì mình tới trước. Không phá nền nhà rồi để con mình sửa. Ngôi nhà chung làm xuất hiện một thứ đạo đức gia đình mở rộng: ta thuộc về nhau trong một mức nào đó vì cùng nhận sự sống trong một công trình tạo dựng.
Thế nên, hoán cải sinh thái không bắt đầu ở thùng rác. Nó bắt đầu ở trái tim, rồi mới đi tới thùng rác. Không bắt đầu ở bóng đèn. Nó bắt đầu ở cái nhìn, rồi mới đi tới bóng đèn. Không bắt đầu ở một chiến dịch. Nó bắt đầu ở việc con người nhận ra mình là ai trước mặt Thiên Chúa. Khi cái nhìn đổi, hành vi sẽ đổi. Khi lòng biết ơn lớn lên, tiêu thụ sẽ bớt vô thức. Khi chiêm ngắm trở lại, tốc độ mất quyền tuyệt đối. Khi “chúng ta” lớn hơn “tôi”, công ích xuất hiện. Khi thế hệ sau bước vào lương tâm hôm nay, trách nhiệm trở nên dài hơn đời mình. Khi tình yêu thay sợ hãi, quyết tâm không còn phụ thuộc vào mốt. Khi đó những việc nhỏ không còn nhỏ, vì chúng là dấu chỉ của một con người đang được đổi mới.
Người Kitô hữu không chăm sóc ngôi nhà chung để chứng minh mình văn minh hơn ai. Không làm vì muốn mang một nhãn “xanh”. Không làm để đứng vào một phe ý thức hệ. Không làm chỉ vì sợ tận thế sinh thái. Người Kitô hữu chăm sóc tạo thành vì đã được học cách nói “Lạy Cha”. Và khi đã gọi Thiên Chúa là Cha, ta phải học nhìn những gì Ngài tạo dựng như những điều không thể bị đối xử bằng sự vô ơn. Hoán cải sinh thái, cuối cùng, là để cho tiếng “Lạy Cha” ấy đi từ môi miệng xuống tận cách ta dùng một giọt nước, một bữa cơm, một đồng tiền, một mảnh đất, một ngày sống. Đó mới là hoán cải trái tim. Và chỉ từ một trái tim như thế, những quyết tâm bền vững mới thật sự sinh ra.

CHƯƠNG 29. KHÔI PHỤC VỚI THIÊN CHÚA
Khi nói đến khủng hoảng sinh thái, người ta rất dễ bắt đầu bằng những gì nhìn thấy được: rừng bị chặt, sông bị ô nhiễm, khí hậu nóng lên, đất bạc màu, biển đầy nhựa, không khí đặc bụi, giống loài biến mất, người nghèo mất kế sinh nhai, những cộng đồng ven biển phải lùi dần trước nước mặn, những đứa trẻ lớn lên giữa một thế giới có ít cây hơn, ít nước sạch hơn, ít khoảng trời yên tĩnh hơn. Tất cả những điều ấy đều thật, đều nghiêm trọng, đều cần khoa học, chính sách, luật pháp, kỹ thuật và những quyết định kinh tế can đảm. Nhưng đức tin Kitô giáo không cho phép ta chỉ dừng ở bề mặt của cuộc khủng hoảng. Nếu chỉ nhìn sinh thái như một bài toán quản lý tài nguyên, ta có thể sửa được một số chỉ số mà chưa chắc chữa được căn bệnh. Nếu chỉ xem ô nhiễm là hậu quả của công nghệ chưa đủ sạch, ta có thể thay máy mà vẫn giữ nguyên một trái tim tham lam. Nếu chỉ xem biến đổi khí hậu là vấn đề của nhiên liệu, ta có thể đổi nguồn năng lượng mà chưa đổi cách sống. Nếu chỉ xem suy thoái môi trường là sự cố trong hệ thống phát triển, ta sẽ tìm một hệ thống hiệu quả hơn nhưng có thể vẫn giữ nguyên niềm tin ngầm rằng trái đất là của chúng ta, rằng con người là chủ sở hữu tuyệt đối, rằng giá trị của mọi vật tùy thuộc vào mức sinh lợi mà chúng có thể đem lại. Chính ở đây, vấn đề sinh thái chạm đến thần học. Tội sinh thái có một chiều dọc. Trước khi là sự bất công đối với thế hệ sau, trước khi là sự xúc phạm người nghèo, trước khi là hành vi phá hủy những mạng lưới sự sống, nó còn là một hình thức bất kính đối với Đấng Tạo Hóa. Ta đã đụng vào cái không thuộc về ta như thể nó hoàn toàn thuộc về ta. Ta đã nhận một thế giới như quà tặng rồi hành xử như người tự làm ra quà tặng ấy. Ta đã bước vào vườn của Thiên Chúa rồi sống như thể không có Chủ vườn. Vì thế, việc khôi phục ngôi nhà chung không thể chỉ bắt đầu từ thùng rác phân loại, từ năng lượng sạch, từ quy hoạch đô thị hay từ một chiến dịch trồng cây. Những việc ấy cần thiết, đôi khi rất cấp bách, nhưng nếu hỏi đâu là khởi điểm sâu nhất của một cuộc phục hồi theo đức tin, câu trả lời phải là: khôi phục tương quan với Thiên Chúa.
Sách Thánh mở ra bằng một câu đặt mọi sự vào đúng vị trí: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất.” Câu ấy đơn sơ đến mức người ta có thể đọc lướt qua, nhưng toàn bộ linh đạo tạo thành nằm trong đó. Trời đất không tự là nguồn gốc của mình. Trời đất cũng không phải sản phẩm của loài người. Trái đất có trước mọi nền kinh tế, trước mọi biên giới quốc gia, trước mọi quyền sở hữu, trước mọi tập đoàn, trước mọi thế hệ đang sống. Cả nhân loại đến sau. Chúng ta là khách được mời vào một căn nhà đã có trước mình. Chúng ta là người nhận, không phải nguồn ban. Chúng ta là thụ tạo sống giữa các thụ tạo khác, dù được trao một phẩm giá và trách nhiệm đặc biệt. Khi điều căn bản ấy bị quên đi, toàn bộ trật tự bị đảo lộn. Con người bắt đầu nhìn đất như vật vô chủ, nhìn biển như kho vô tận, nhìn rừng như lượng gỗ chưa khai thác, nhìn động vật như đơn vị sản xuất, nhìn khoáng sản như món hàng nằm chờ người mạnh nhất lấy đi. Ngôn ngữ sở hữu dần thay thế ngôn ngữ tạ ơn. Người ta nói “đất của tôi”, “rừng của chúng tôi”, “nguồn nước của chúng ta”, “tài nguyên quốc gia”, và những cách nói ấy có ý nghĩa pháp lý chính đáng trong một trật tự xã hội, nhưng nếu quên chiều sâu thần học, chúng rất dễ tạo ảo tưởng rằng quyền sở hữu của con người là tuyệt đối. Thánh Kinh liên tục phá vỡ ảo tưởng ấy. “Đất là của Ta”, Thiên Chúa nói trong Lêvi. Các Thánh vịnh tuyên xưng: “Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài.” Đó không phải một mẩu thơ đạo đức. Đó là lời phán quyết trên mọi ý thức hệ biến con người thành chủ tuyệt đối của thế giới. Trái đất thuộc về Thiên Chúa trước khi thuộc về bất cứ ai. Một mảnh ruộng có thể đứng tên ta trên giấy, nhưng không vì thế mà ta có quyền làm nó chết. Một con sông có thể chảy trong biên giới của một quốc gia, nhưng không vì thế mà quốc gia ấy có quyền đầu độc dòng nước rồi chuyển hậu quả xuống những người ở hạ lưu. Một cánh rừng có thể nằm trong vùng quản lý của một địa phương, nhưng không vì thế mà quyền quản lý đồng nghĩa với quyền hủy diệt. Quyền con người luôn là quyền được ủy thác. Đó là quyền quản gia, không phải quyền của Thiên Chúa.
Bởi vậy, khôi phục với Thiên Chúa trước hết là trả lại quyền sở hữu tối hậu cho Người trong lòng mình. Đây là điều phải xảy ra trước khi mọi chương trình sinh thái Kitô giáo có thể thực sự mang tên Kitô giáo. Ta phải tin lại rằng thế giới này là của Chúa. Không phải chỉ đọc câu ấy trong một kinh nguyện, nhưng để nó thay đổi cách ta mua, dùng, xây dựng, sản xuất, tiêu thụ, đi lại, ăn uống, nghỉ ngơi và hoạch định tương lai. “Thế giới là của Chúa” có nghĩa tôi không thể sử dụng nó như một chủ nhân không cần trả lời với ai. “Thế giới là của Chúa” có nghĩa tôi không được tự quyết rằng những gì không đem lợi cho tôi thì không có giá trị. “Thế giới là của Chúa” có nghĩa một loài vật, một khu rừng, một dòng suối có giá trị trước mặt Thiên Chúa trước khi nó có giá trên thị trường. “Thế giới là của Chúa” có nghĩa những gì tôi đang dùng hôm nay còn thuộc về những người sẽ đến sau tôi, bởi chính họ cũng là những người được Thiên Chúa mời vào ngôi nhà này. “Thế giới là của Chúa” có nghĩa tôi không được sống như thể thế hệ của mình là thế hệ cuối cùng. Đức tin vào Đấng Tạo Hóa, nếu thật, sẽ làm con người bớt chiếm hữu. Nó không làm ta trở nên thụ động, nhưng làm ta hành động trong tư thế người nhận trách nhiệm. Nó không khiến ta ghét kỹ thuật, nhưng đặt kỹ thuật vào đúng chỗ. Nó không bảo ta ngừng canh tác, xây dựng, phát triển hay sáng tạo, nhưng buộc ta phải hỏi phát triển để làm gì, phát triển cho ai, phát triển đến giới hạn nào, và ai sẽ phải trả giá cho sự phát triển ấy.
Tội sinh thái vì thế có chiều kích thờ phượng. Một nền văn minh có thể tự xem mình hoàn toàn thế tục, nhưng nó vẫn luôn thờ một điều gì đó. Nếu không thờ Thiên Chúa, con người không vì thế mà ngừng thờ. Nó chỉ đổi đối tượng. Nó có thể thờ tăng trưởng, thờ tiện nghi, thờ quyền lực, thờ tốc độ, thờ tiêu dùng, thờ khả năng kiểm soát, thờ dữ liệu, thờ lợi nhuận. Những ngẫu tượng mới không nhất thiết có bàn thờ bằng đá. Chúng có thể nằm trong những chỉ số được xem là tuyệt đối. Chúng có thể hiện diện trong một hệ thống kinh tế chấp nhận hủy môi trường nếu lợi nhuận đủ lớn. Chúng có thể hiện diện trong một lối sống coi việc mua liên tục là dấu hiệu thành công. Chúng có thể hiện diện trong đời sống gia đình khi sự tiện nghi quan trọng hơn sự tiết độ. Chúng có thể hiện diện ngay trong đời sống giáo xứ nếu ta tổ chức những lễ hội rất đạo đức nhưng lãng phí vô độ, dùng một lần rồi bỏ, trang trí nhiều đến mức biến phụng vụ thành cuộc trình diễn tiêu thụ. Khi đó, vấn đề không còn đơn giản là thiếu ý thức môi trường. Đằng sau nó là một câu hỏi thờ phượng: ai thực sự là Chúa? Nếu Thiên Chúa là Chúa, ta không thể cư xử với công trình của Người như thể Người không hiện hữu. Nếu lợi nhuận là chúa, mọi thứ khác sẽ bị hy sinh khi cần. Nếu tiện nghi là chúa, ta sẽ thấy mọi giới hạn như kẻ thù. Nếu cái tôi là chúa, thế giới sẽ chỉ còn là sân khấu của nhu cầu cá nhân.
Do đó, khôi phục sinh thái bắt đầu bằng khôi phục việc thờ phượng thật. Thờ phượng không phải trốn khỏi đất để hướng lên trời. Thờ phượng đúng là đặt trời và đất trở lại trong quan hệ với Đấng dựng nên cả hai. Khi một người quỳ trước Thiên Chúa, người ấy đang học lại giới hạn của mình. Quỳ là một cử chỉ sinh thái rất sâu, nếu ta hiểu đúng. Nó nói rằng tôi không phải Thiên Chúa. Tôi không phải trung tâm tuyệt đối. Tôi không phải chủ của sự sống. Tôi không có quyền quyết định mọi sự chỉ theo ý mình. Tôi nhận sự sống, nhận hơi thở, nhận thân xác, nhận đất dưới chân, nhận nước để uống, nhận người khác để sống cùng. Một nền văn hóa không còn biết quỳ rất dễ trở thành nền văn hóa không còn biết giới hạn. Nó tưởng rằng cái gì làm được thì đương nhiên được phép làm. Nó lẫn lộn khả năng kỹ thuật với quyền luân lý. Nhưng người biết thờ phượng biết rằng có những điều con người có thể làm mà không nên làm; có những gì có thể khai thác mà không được khai thác đến cạn; có những tốc độ có thể đạt mà không nhất thiết phải chạy; có những nhu cầu có thể tạo ra mà không cần phải thỏa mãn. Thờ phượng trả con người về vị trí của thụ tạo và chính vì thế trả lại phẩm giá cho con người. Bởi con người chỉ thật sự cao khi không tự phong mình làm Thiên Chúa.
Trong mạch ấy, Thánh Thể là trường học đặc biệt của một nền sinh thái được hòa giải với Thiên Chúa. Bánh là hoa màu ruộng đất và công lao của con người. Rượu là sản phẩm cây nho và lao công. Nước được đưa vào phụng vụ. Dầu được thánh hiến. Lửa, ánh sáng, hương, thân thể, tiếng hát, hơi thở: phụng vụ Công giáo không cứu con người bằng cách kéo họ ra khỏi vật chất, nhưng đưa vật chất vào lời tạ ơn. Chính tên Eucharistia nghĩa là tạ ơn. Một cộng đoàn cử hành Thánh Thể mà không học tạ ơn về tạo thành là chưa nghe hết điều mình cử hành. Khi linh mục nâng bánh và rượu lên, Hội Thánh không chỉ đem lên bàn thờ hai vật thể riêng lẻ; trong một nghĩa biểu tượng rất sâu, Hội Thánh mang theo đất, mưa, nắng, giống cây, bàn tay người làm ruộng, công việc người vận chuyển, sự sống của những cộng đồng đã góp phần để bánh và rượu hiện diện. Tất cả được nhận, được dâng, được thánh hóa. Thánh Thể vì thế chống lại não trạng chiếm hữu. Người Kitô hữu không bắt đầu bằng “cái này là của tôi”, nhưng bằng “Chúc tụng Chúa là Chúa Tể càn khôn, vì Chúa đã rộng ban cho chúng con”. Mọi thứ bắt đầu từ “Chúa đã rộng ban”. Một linh đạo sinh thái Công giáo nếu xa Thánh Thể rất dễ trở thành một thứ đạo đức môi trường chung chung. Ngược lại, một đời sống Thánh Thể mà không sinh ra sự kính trọng đối với những gì Thiên Chúa rộng ban cũng có nguy cơ trở thành việc đạo đức bị tách khỏi đời sống.
Khôi phục với Thiên Chúa cũng là khôi phục lòng tạ ơn. Lòng tham phát triển mạnh ở nơi người ta mất khả năng biết ơn. Khi mọi thứ trở thành quyền đương nhiên, không gì còn là quà tặng. Ta mở vòi và có nước nên quên rằng nước là kỳ công. Ta bật công tắc và có điện nên quên biết bao con người, nguồn lực và hệ sinh thái nằm phía sau một hành động nhỏ ấy. Ta vào siêu thị và thấy trái cây quanh năm nên quên mùa vụ. Ta ăn một bữa cơm rất nhanh mà không còn thấy đất, lúa, nước, mồ hôi, bàn tay. Một thế giới càng tiện lợi càng có nguy cơ làm con người quên ơn. Tạ ơn không phải trang trí tinh thần cho đời sống; nó là một cách nhìn. Người biết ơn sử dụng khác với người nghĩ mọi thứ là quyền của mình. Người biết ơn ăn khác. Mua khác. Vứt bỏ khác. Người ấy khó ném đi một món ăn một cách vô tâm vì biết trong đó có lao động và quà tặng của đất. Người ấy khó lãng phí nước vì không xem nước là thứ tự nhiên phải có vô hạn. Người ấy khó chặt một cây cổ thụ chỉ vì vài phút tiện lợi nếu trong lòng còn khả năng kính trọng tuổi đời của nó. Lòng biết ơn không giải quyết hết chính sách môi trường, nhưng nó tạo ra loại người có thể xây dựng chính sách tốt. Không có loại người ấy, những luật lệ tốt rồi cũng bị lách, những cam kết đẹp rồi cũng bị phản bội khi lợi ích thay đổi.
Đi liền với tạ ơn là xin tha thứ. Đây là điều khó hơn nhiều. Nói đến môi trường, người Kitô hữu thường thích nói về trách nhiệm, ít thích nói về tội. Nhưng nếu không có tội, chẳng cần hoán cải. Nếu mọi sự chỉ là sai sót kỹ thuật, ta chỉ cần nâng cấp công nghệ. Nếu mọi vấn đề chỉ do thiếu kiến thức, ta chỉ cần giáo dục thêm. Thực tế không đơn giản như vậy. Nhân loại biết rất nhiều điều mà vẫn tiếp tục làm trái điều mình biết. Người ta biết nhựa dùng một lần gây hậu quả nhưng vẫn sử dụng tràn lan vì tiện. Biết phá rừng gây lũ mà vẫn phá vì lợi. Biết những người nghèo chịu tác động nặng hơn nhưng vẫn để họ gánh chi phí. Biết những thế hệ sau sẽ nhận hậu quả nhưng vẫn ưu tiên lợi ích hiện tại. Khoảng cách giữa điều biết và điều làm chính là nơi luân lý bước vào. Ở đó có tham lam, ích kỷ, vô cảm, hèn nhát, đồng lõa, trì hoãn, sự từ chối giới hạn. Khi gọi đúng tên những điều ấy, người Kitô hữu phải biết nói: chúng con đã phạm tội. Không phải để tự hành hạ tập thể, nhưng để bước vào sự thật trước Thiên Chúa.
Một việc xét mình sinh thái đúng nghĩa vì thế không chỉ hỏi: tôi có xả rác không? Nó phải hỏi sâu hơn: tôi có sống như thể mọi thứ được tạo ra để phục vụ sự tiện nghi của tôi không? Tôi có mua những thứ mình không cần chỉ vì muốn có cảm giác mới không? Tôi có thay vì sửa không? Tôi có coi thường người làm những công việc giữ vệ sinh, thu gom rác, chăm sóc đất đai không? Tôi có đòi giá rẻ nhưng không bao giờ hỏi vì sao món hàng rẻ và ai đang trả phần chi phí mà tôi không trả không? Tôi có dùng thực phẩm rồi bỏ đi trong khi nhiều người thiếu ăn không? Tôi có biến những dịp tôn giáo thành dịp tiêu dùng phô trương không? Tôi có im lặng trước một dự án gây hại chỉ vì người bị hại không phải gia đình tôi không? Tôi có lựa chọn sự dễ dàng cho mình và đẩy khó khăn sang thế hệ sau không? Tôi có cầu nguyện “Lạy Cha chúng con” nhưng sống như thể đất, nước, khí trời chỉ là “của tôi” không? Những câu hỏi ấy đưa sinh thái vào tòa lương tâm. Và ở đó, người tín hữu không đứng trước một bộ tiêu chuẩn vô danh. Họ đứng trước mặt Thiên Chúa.
Bí tích Hòa Giải cũng cần được khám phá lại trong chiều kích này. Dĩ nhiên, không phải mọi hành vi thiếu thân thiện môi trường đều tự động là tội trọng hay phải được liệt kê cách máy móc trong tòa giải tội. Luân lý Công giáo luôn cần phân định đối tượng, ý thức, tự do, hoàn cảnh, mức độ trách nhiệm. Nhưng sẽ là một thiếu sót nghiêm trọng nếu lương tâm Kitô hữu được đào tạo rất kỹ về một số lĩnh vực cá nhân mà lại gần như mù trước những hành vi có hậu quả xã hội và sinh thái. Một người có thể rất sợ bỏ một kinh đã hứa nhưng lại không áy náy khi tham gia vào một lối kinh doanh đầu độc nguồn nước. Một người có thể tỉ mỉ xét mình về những thiếu sót phụng vụ nhưng hoàn toàn bình thản trước việc lãng phí lớn trong chính cơ sở tôn giáo. Đó là lương tâm bị phân mảnh. Gặp Thiên Chúa trong bí tích Hòa Giải phải giúp ta nối lại các mối tương quan đã gãy: với Chúa, với bản thân, với người khác và với tạo thành. Khi ta xin tha thứ vì tham lam, sự tha thứ ấy phải chạm đến cách ta dùng vật chất. Khi xin tha vì ích kỷ, nó phải chạm đến cách ta sử dụng những tài nguyên chung. Khi xin tha vì vô cảm trước người nghèo, nó phải chạm đến những lựa chọn khiến người nghèo phải chịu môi trường xấu hơn. Ân sủng không chữa một linh hồn trừu tượng. Ân sủng chữa con người đang ăn, mua, đi, xây, làm việc, tiêu thụ, bỏ rác và sống trong một hệ sinh thái cụ thể.
Khôi phục với Thiên Chúa cũng có nghĩa khôi phục niềm tin vào sự Quan Phòng, nhưng phải hiểu đúng. Tin vào Quan Phòng không phải là nói: Chúa sẽ lo, nên chúng ta cứ tiếp tục phá rồi Chúa sửa. Đó không phải đức tin; đó là thử thách Thiên Chúa. Trong Tin Mừng, Đức Giêsu từ chối nhảy từ nóc Đền Thờ xuống để buộc Thiên Chúa phải cứu Người. Cùng một logic ấy áp dụng cho ngôi nhà chung. Không thể nói “Thiên Chúa quyền năng, Người sẽ không để nhân loại diệt vong” rồi dùng câu ấy để biện minh cho bất trách nhiệm. Quan Phòng không hủy tự do và hậu quả của tự do. Tin vào Quan Phòng đúng nghĩa là tin rằng thế giới không vô chủ và hành động của ta có thể đặt trong sự cộng tác với ý muốn sự sống của Thiên Chúa. Niềm tin ấy giải thoát ta khỏi hai cực đoan. Một cực là kiêu ngạo cứu thế: nghĩ rằng chính chúng ta phải cứu toàn bộ hành tinh bằng sức mình, đến mức rơi vào hoảng loạn và tuyệt vọng khi không kiểm soát được mọi thứ. Cực kia là thụ động đạo đức giả: giao hết cho Chúa để khỏi phải thay đổi. Đức tin Công giáo đứng giữa: thế giới là của Chúa, nên ta không được tuyệt vọng; thế giới được trao cho ta gìn giữ, nên ta không được khoanh tay.
Cầu nguyện vì thế là một hành vi sinh thái thực sự khi cầu nguyện dẫn đến đúng tương quan. Người ta đôi khi chế giễu cầu nguyện trước những khủng hoảng lớn: cầu nguyện thì rừng có mọc lại không, nhiệt độ có giảm không, nước có sạch không? Nếu cầu nguyện được hiểu như phép thay thế hành động, lời phê bình ấy có lý. Nhưng cầu nguyện Kitô giáo đích thực không thay thế hành động; nó thanh luyện nguồn gốc của hành động. Một người cầu nguyện thật sẽ học nhìn thế giới bằng cái nhìn khác. Trong cầu nguyện, ta để Thiên Chúa phá vỡ ảo tưởng rằng mọi sự xoay quanh mình. Ta học lắng nghe. Ta học biết đủ. Ta học đón nhận giới hạn. Ta học xót thương. Ta học để cho tiếng kêu của người khác đi vào lòng mà không vội biến nó thành một con số. Một chính trị gia cầu nguyện thật có thể phải nhìn một dự án khác đi. Một doanh nhân cầu nguyện thật có thể phải hỏi lợi nhuận của mình được xây trên điều gì. Một gia đình cầu nguyện thật có thể phải thay đổi thói quen tiêu dùng. Một linh mục cầu nguyện thật có thể phải hỏi giáo xứ của mình đang làm gì với đất, nước, điện, rác và những người nghèo quanh mình. Cầu nguyện không tự động tạo ra những quyết định đúng, nhưng nếu đời cầu nguyện không bao giờ chạm đến những quyết định ấy, có lẽ ta đang cầu nguyện trong một căn phòng kín mà chưa cho Thiên Chúa bước vào toàn bộ đời mình.
Đặc biệt, kinh Lạy Cha chứa một nền thần học sinh thái rất mạnh. “Lạy Cha chúng con” phá cái tôi cô lập. Không phải Cha của riêng tôi, nhưng Cha chúng con. Từ “chúng con” mở rộng lương tâm vượt khỏi nhu cầu cá nhân. “Nước Cha trị đến” đặt một trật tự khác lên trên trật tự lợi ích. “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” nhắc rằng chính đất này là nơi ý Chúa phải được thực hiện, không phải một không gian đạo đức trung tính. “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày” dạy xin đủ cho hôm nay, không phải tích trữ vô hạn cho cái tôi. Và lương thực ấy là “của chúng con”, nghĩa là nếu tôi có quá nhiều trong khi người anh em không có gì, lời cầu của tôi đang chất vấn chính tôi. “Xin tha nợ chúng con” nhắc rằng con người luôn là kẻ nhận ơn tha thứ. Một người cầu Lạy Cha mỗi ngày mà không dần học sống tiết độ, liên đới và biết mình lệ thuộc vào Thiên Chúa thì đã đọc kinh bằng môi nhưng chưa để kinh thấm vào cấu trúc đời sống.
Các Thánh vịnh còn dạy ta một việc khác: trả tạo thành về phụng vụ của nó. “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa.” Biển, núi, cây, chim, thú, mưa, gió, lửa, tuyết đều xuất hiện trong lời ca tụng. Con người không phải sinh vật duy nhất có ý nghĩa trước Thiên Chúa. Trong ngôn ngữ thi ca của Thánh vịnh, toàn thể tạo thành trở thành một ca đoàn. Khi ta phá hủy một cách vô trách nhiệm, có thể nói về mặt biểu tượng rằng ta đang làm nghèo đi ca đoàn ấy. Ta làm một tiếng ca biến mất. Ta làm một vùng đất không còn khả năng phản ánh vẻ đẹp ban đầu. Ta làm một dòng sông từ dấu chỉ của sự sống thành dòng mang độc tố. Có những việc phá hủy vì nhu cầu chính đáng của con người có thể được biện minh trong một trật tự luân lý cân bằng; Kitô giáo không chủ trương thiên nhiên bất khả động chạm. Nhưng hoàn toàn khác giữa sử dụng và khinh miệt, giữa canh tác và cướp bóc, giữa săn bắt có giới hạn và tiêu diệt, giữa khai thác có trách nhiệm và vét cạn. Người thờ phượng Đấng Tạo Hóa phải học nhận ra sự khác biệt ấy.
Khôi phục với Thiên Chúa còn đòi khôi phục ngày nghỉ, nghĩa là khôi phục khả năng dừng. Ngày sabát trong Thánh Kinh không chỉ là quy định phụng vụ. Nó ghi giới hạn vào cấu trúc đời sống. Con người không được lao động vô hạn. Đất cũng cần nghỉ. Người làm công cũng cần nghỉ. Súc vật cũng được nghỉ. Một xã hội không biết dừng sẽ biến mọi thứ thành nhiên liệu: đất thành nhiên liệu cho sản xuất, con người thành nhiên liệu cho kinh tế, thời gian thành nhiên liệu cho hiệu suất. Chủ nhật Kitô giáo, nếu được sống đúng, là một phản kháng thiêng liêng trước nền văn minh của sản xuất không ngừng. Chủ nhật nói rằng giá trị con người không bằng năng suất. Nó nói rằng thế giới vẫn tồn tại khi tôi ngừng làm việc. Nó nói rằng tôi không giữ vũ trụ bằng sức mình. Nó nói rằng có thời gian để thờ phượng, gặp nhau, ăn cùng nhau, nhìn trời, thăm người thân, nghỉ ngơi, đi chậm. Một Kitô hữu làm việc đến kiệt quệ để mua nhiều hơn rồi tiêu thụ nhiều hơn, trong khi Chủ nhật chỉ còn là thời gian mua sắm hoặc giải trí tiêu dùng, đã mất một phần trí nhớ tạo thành. Khôi phục ngày Chúa là một phần của khôi phục ngôi nhà chung, bởi nó tái giáo dục lòng người về giới hạn.
Trong truyền thống Dòng Chúa Cứu Thế, chiều kích này có thể được nghe đặc biệt rõ dưới ánh sáng ơn gọi đến với những người bị bỏ rơi hơn cả. Người nghèo không đứng ngoài vấn đề sinh thái. Họ thường sống nơi môi trường bị tổn thương nhất và ít có khả năng tự bảo vệ nhất. Nhưng nếu chỉ nhìn họ như nạn nhân xã hội, ta vẫn chưa đi đến cùng. Họ là những người được Thiên Chúa yêu. Đất họ sống cũng là của Thiên Chúa. Nước họ uống cũng là quà Chúa ban. Không khí con họ thở cũng thuộc công ích mà Đấng Tạo Hóa dành cho mọi người. Bởi vậy, làm ô nhiễm một khu vực nghèo chỉ vì người ở đó ít khả năng lên tiếng không chỉ là bất công xã hội. Nó là sự xúc phạm đến Thiên Chúa nơi người nghèo và nơi công trình của Người. Linh đạo cứu thế đích thực không thể loan báo ơn cứu độ phong phú cho người bị bỏ rơi mà lại im lặng trước những cơ chế biến nơi họ ở thành chỗ chứa rác, vùng ngập, vùng ô nhiễm hoặc nơi phải hy sinh cho lợi ích của người khác. Một sứ vụ nói nhiều về linh hồn nhưng không thấy nước bẩn người nghèo đang uống là một sứ vụ bị chia đôi. Đức Kitô cứu con người toàn diện. Và con người toàn diện sống trong một thân xác, trong một gia đình, trên một mảnh đất, dưới một bầu khí quyển.
Khôi phục với Thiên Chúa cũng đòi chữa lại hình ảnh sai về Người. Có khi người ta nghĩ một cách ngầm rằng Thiên Chúa chỉ quan tâm đến “chuyện đạo”: đi lễ, đọc kinh, giữ luật phụng vụ, còn đất đai, khí hậu, kinh tế là chuyện thế gian. Nhưng Thiên Chúa của Kinh Thánh không phải vị thần chuyên trách một khu vực tôn giáo. Người là Đấng dựng trời đất. Không có phần nào của thực tại nằm ngoài quyền của Người. Đức Giêsu nói về chim trời, hoa huệ, hạt giống, mùa gặt, cây nho, nước, bánh, cá. Người làm phép lạ với những thực tại vật chất. Người bước trên đất, ngủ trên thuyền, chịu khát bên giếng, chịu đói trong sa mạc. Và cuối cùng, Con Thiên Chúa không cứu con người bằng cách thoát khỏi thân xác nhưng bằng việc nhập thể, chết trong thân xác và sống lại trong thân xác. Kitô giáo không có lý do để khinh vật chất. Một thứ tu đức làm người ta vô cảm trước trái đất không phải tu đức cao; nó có thể là một hình thức quên mầu nhiệm Nhập Thể.
Đỉnh cao của khôi phục với Thiên Chúa là nhìn tạo thành trong Đức Kitô. Thư Côlôsê nói rằng muôn vật được tạo thành nhờ Người và cho Người; trong Người, muôn vật tồn tại. Thư Êphêsô nói đến kế hoạch quy tụ muôn loài trong Đức Kitô. Những câu ấy mở một chân trời rộng hơn rất nhiều so với một phong trào bảo vệ thiên nhiên. Tạo thành không chỉ đến từ Thiên Chúa; nó còn được hướng về sự viên mãn trong Đức Kitô. Đức Kitô không cứu một tập hợp linh hồn bị lấy ra khỏi một vũ trụ vô nghĩa. Người là Đấng trong Người mọi sự được hòa giải. Thánh Phaolô còn nói cả tạo thành đang rên siết và mong đợi sự giải thoát. Như thế, hy vọng Kitô giáo có chiều kích vũ trụ. Trời mới đất mới không phải lời hứa rằng Thiên Chúa sẽ vứt bỏ thế giới cũ nên ta có thể phá nó tùy ý. Trái lại, nó cho thấy tạo thành có một vận mệnh trong kế hoạch cứu độ. Chúng ta không bảo vệ trái đất vì tưởng trái đất là vĩnh cửu theo hình dạng hiện nay. Chúng ta chăm sóc nó vì nó là công trình Thiên Chúa, là nơi lịch sử cứu độ diễn ra, là không gian nơi thân xác chúng ta sống và là thực tại được bao gồm cách nhiệm mầu trong lời hứa đổi mới của Thiên Chúa.
Từ đó, cần nói rất rõ rằng nếu thiếu chiều dọc, chiều ngang dễ bị thu hẹp thành kỹ thuật xã hội. Kỹ thuật xã hội có thể rất tốt. Một thành phố cần chuyên gia về nước, rác, giao thông, năng lượng. Một quốc gia cần chính sách khí hậu. Một giáo phận có thể cần kiểm toán năng lượng. Một giáo xứ có thể cần giảm nhựa và quản lý đất đai tốt hơn. Không ai nên khinh những việc ấy bằng lý do “chỉ cần cầu nguyện”. Nhưng đức tin còn hỏi sâu hơn: loại người nào sẽ dùng những kỹ thuật ấy? Nếu lòng người vẫn bị lòng tham thống trị, kỹ thuật xanh có thể trở thành thị trường mới cho lòng tham. Nếu quyền lực không được thanh luyện, chính sách môi trường có thể bị lợi dụng để đẩy gánh nặng lên người nghèo. Nếu thói tiêu dùng vô độ không đổi, hiệu suất cao hơn đôi khi chỉ cho phép ta tiêu thụ nhiều hơn. Nếu con người không học lại sự đủ, mọi cải tiến sẽ bị nhu cầu mới nuốt chửng. Chỉ một hệ thống khác không đủ; cần một con người khác. Và Kitô giáo gọi sự đổi mới con người ấy là hoán cải.
Hoán cải sinh thái vì vậy phải trở về nơi mọi hoán cải Kitô giáo bắt đầu: “Hãy trở về với Ta.” Không chỉ trở về với lối sống xanh hơn. Trở về với Thiên Chúa. Trở về với việc nhận Người là Chúa. Trở về với lòng biết ơn. Trở về với nỗi buồn vì tội. Trở về với niềm vui của người được tha thứ. Trở về với sự nghèo trong tinh thần để không cần sở hữu quá nhiều. Trở về với đức tiết độ, một nhân đức rất cũ nhưng cực kỳ hiện đại. Trở về với công bằng để người khác cũng được hưởng điều tốt. Trở về với đức ái để ta không thể bình thản khi sự tiện lợi của mình xây trên đau khổ của người khác. Trở về với hy vọng để không buông xuôi trước quy mô khổng lồ của khủng hoảng. Trở về với khôn ngoan để biết điều gì đủ. Trở về với kính sợ Chúa, không phải sợ hãi nô lệ, nhưng là biết rằng ta sống trước mặt Đấng sẽ hỏi ta đã làm gì với những gì Người trao.
Có thể nói một cuộc hoán cải sinh thái trưởng thành sẽ làm thay đổi cả cách ta đọc từ “của”. Nhà của tôi, tiền của tôi, đất của tôi, xe của tôi, thời gian của tôi, sức khỏe của tôi, tài năng của tôi. Đức tin không hủy những quyền sở hữu chính đáng, nhưng đặt trước mỗi chữ “của tôi” một chữ khác: “được trao”. Nhà tôi là nhà tôi được trao để sử dụng có trách nhiệm. Tiền tôi là tiền tôi được trao để nuôi gia đình và phục vụ điều thiện. Đất tôi là đất tôi được trao để canh tác và truyền lại. Thời gian tôi là thời gian được trao. Thân xác tôi là thân xác được trao. Ngay cả chính tôi cũng không hoàn toàn thuộc về tôi: “Anh em không còn thuộc về chính mình.” Logic Kitô giáo là logic của người nhận rồi trao lại. Một khi logic ấy thấm vào tâm hồn, sinh thái không còn là một chuyên đề bên cạnh đời sống đức tin. Nó trở thành cách sống của người biết mình đang cư ngụ trong nhà của Cha.
Điều này cần được đưa vào đời sống phụng vụ và mục vụ một cách tự nhiên, tránh khẩu hiệu. Không cần biến mỗi Thánh lễ thành một hội nghị môi trường. Nhưng lời cầu nguyện tín hữu có thể thường xuyên mang vào đó người chịu hạn, lũ, ô nhiễm, mất mùa. Các ngày tạ ơn mùa màng có thể được phục hồi nơi phù hợp. Việc làm phép ruộng đồng, nguồn nước, cây cối, vật dụng lao động có thể giúp cộng đoàn cảm nhận thế giới vật chất nằm trong lời cầu nguyện. Những cuộc hành hương có thể được tổ chức theo cách ít lãng phí hơn. Các bữa ăn giáo xứ có thể dạy sự đủ và tránh bỏ phí. Nhà xứ, tu viện, chủng viện có thể trở thành nơi thực hành tiết kiệm nước, điện và giảm đồ dùng một lần không phải để khoe thành tích, nhưng như một hình thức tu đức cộng đoàn. Các giờ chầu có thể đôi khi gợi ý tín hữu tạ ơn vì những ơn rất cụ thể: một cốc nước sạch, một mùa mưa, một hạt lúa, một cây xanh, một buổi sáng còn có thể thở. Trẻ em học giáo lý có thể được dạy rằng vứt rác không đúng chỗ không chỉ là “xấu” theo phép lịch sự nhưng liên quan đến công ích, lòng biết ơn và trách nhiệm trước Chúa. Chủng sinh có thể được đào tạo để hiểu rằng mục vụ tạo thành không phải sở thích phụ của một nhóm linh mục thích cây cối. Đó là một phần của việc đọc các dấu chỉ thời đại dưới ánh sáng Tin Mừng.
Gia đình cũng là trường khôi phục với Thiên Chúa. Một đứa trẻ học cầu nguyện trước bữa ăn đang học một nền thần học tạo thành, nếu người lớn giúp nó hiểu điều mình đọc. “Lạy Chúa, xin chúc lành cho của ăn…” có nghĩa thức ăn không chỉ đến từ tiền của cha mẹ. Đằng sau nó là đất, nắng, mưa, nông dân, người lao động và sự Quan Phòng. Nếu cầu nguyện xong rồi vứt nửa bữa ăn, lời cầu nguyện bị phủ nhận bằng hành vi. Cha mẹ dạy con tắt một bóng đèn không cần thiết có thể chỉ đang tiết kiệm tiền; nhưng nếu giải thích rằng điện không tự nhiên từ hư không và tiết độ là cách tôn trọng quà tặng, hành động ấy trở thành giáo dục đức tin. Dạy con giữ một món đồ thay vì đổi liên tục có thể là bài học chống tiêu dùng. Dạy con trồng một cây và chờ nó lớn là bài học về thời gian của Thiên Chúa. Dạy con không hành hạ một con vật là bài học về lòng nhân hậu. Những điều rất nhỏ ấy xây một tưởng tượng đạo đức mới, nơi thế giới không phải đống vật dụng mà là ngôi nhà được trao.
Khôi phục với Thiên Chúa còn chữa một căn bệnh tinh thần của thời đại: sự mất kinh ngạc. Người đã mất khả năng ngạc nhiên rất dễ phá. Khi một cánh rừng chỉ là dữ liệu, phá một phần của nó là phép tính. Khi một con sông chỉ là tài nguyên, đổi dòng nó chỉ là dự án. Khi một vùng biển chỉ là năng lực khai thác, sự sống trong đó dễ trở thành ngoại ứng. Chiêm ngắm đưa ta trở lại trước mầu nhiệm. Không phải để chống khoa học; trái lại, khoa học càng cho thấy sự phức tạp của sự sống, người có đức tin càng có lý do để kinh ngạc. Một chiếc lá là cả một thế giới sinh hóa mà con người không sáng tạo từ hư vô. Một hệ sinh thái là mạng lưới quan hệ tinh vi hơn mọi thiết kế đơn giản. Một thai nhi, một hạt giống, một giọt nước, một cánh ong đều nói cho người biết chiêm ngắm rằng sự sống không tầm thường. Sự kinh ngạc này trở thành một hình thức kính sợ Chúa. Và kính sợ Chúa là khởi đầu của khôn ngoan.
Cuối cùng, khôi phục với Thiên Chúa là khôi phục hy vọng. Nhiều người trẻ hôm nay nghe nói về khí hậu trong ngôn ngữ gần như tận thế. Có những lý do nghiêm trọng để lo, và không được ru ngủ họ bằng sự lạc quan giả. Nhưng đức tin không cho phép biến trách nhiệm thành tuyệt vọng. Tuyệt vọng cũng có thể là một hình thức tự quy chiếu: ta chỉ hy vọng khi thấy mình kiểm soát được kết quả. Hy vọng Kitô giáo khác. Ta làm điều đúng vì điều ấy đúng trước mặt Chúa, kể cả khi không thấy kết quả ngay. Người trồng một cây mà mình sẽ không sống đủ lâu để ngồi dưới bóng nó đang làm một hành vi hy vọng. Người bảo vệ một nguồn nước dù không ai thưởng đang làm một hành vi hy vọng. Một giáo xứ thay đổi thói quen lãng phí dù biết việc mình làm không thể một mình thay đổi khí hậu toàn cầu đang làm một hành vi hy vọng. Ta không được miễn làm điều nhỏ vì vấn đề lớn. Và ta cũng không phải mang gánh nặng làm Thiên Chúa. Công việc của ta là trung tín. Kết quả cuối cùng thuộc về Người.
Có lẽ lời cầu nguyện sinh thái căn bản nhất không phải là xin Thiên Chúa cứu trái đất khỏi con người, nhưng xin Người cứu con người khỏi trái tim tưởng mình là chủ trái đất. Xin cho ta lại biết ngước lên để nhận ra Đấng Tạo Hóa, rồi từ đó cúi xuống đất bằng một thái độ khác. Xin cho ta biết thờ phượng để không phải thờ tiêu dùng. Biết tạ ơn để không tham vô độ. Biết xin tha để không tự biện hộ. Biết tin vào Quan Phòng để không tuyệt vọng. Biết nhận giới hạn để không biến khả năng thành giấy phép. Biết nhận thế giới là của Chúa để mỗi lựa chọn của ta mang hình dáng của một người quản gia. Khi tương quan với Thiên Chúa được khôi phục, những tương quan khác bắt đầu có khả năng được chữa lành. Ta nhìn chính mình khác, bởi không cần chứng minh giá trị bằng sở hữu. Ta nhìn người khác khác, bởi họ là anh chị em cùng nhận một Cha. Ta nhìn tạo thành khác, bởi nó không còn là sân khấu trống dành cho tham vọng của ta. Và ta nhìn tương lai khác, bởi ngày mai không phải tài sản để hôm nay lấy trước.
Ngôi nhà chung sẽ không được chữa lành hoàn toàn chỉ bằng những tâm hồn đạo đức; nó cần luật pháp, khoa học, chính trị, kinh tế và những thay đổi cơ cấu rất thật. Nhưng những cơ cấu ấy cũng được làm bởi con người. Nếu lòng người không được chữa, cơ cấu mới rồi có thể mang căn bệnh cũ. Vì thế Hội Thánh đóng góp cho cuộc khủng hoảng sinh thái không chỉ bằng việc nhắc giáo dân tiết kiệm điện hay trồng cây, nhưng bằng điều thuộc căn tính sâu nhất của mình: dẫn con người trở về với Thiên Chúa. Không phải trở về để trốn khỏi thế giới, nhưng để nhận lại thế giới từ tay Người. Không phải trở về nhà thờ rồi bỏ trái đất ngoài cửa, nhưng bước đến bàn thờ với cả trái đất trong lời tạ ơn và bước ra khỏi bàn thờ với trách nhiệm gìn giữ những gì vừa tuyên xưng là quà tặng. Khi con người lại thưa được bằng cả đời mình rằng “trời đất đầy vinh quang Chúa”, khi ấy việc bảo vệ trời đất không còn là một phong trào bên ngoài đức tin. Nó trở thành hệ quả của thờ phượng.
Khôi phục với Thiên Chúa, vì thế, là đặt lại trục của cả cuộc hoán cải sinh thái. Trục ấy chạy từ Đấng Tạo Hóa xuống thụ tạo, từ ân ban đến trách nhiệm, từ thờ phượng đến hành động, từ tạ ơn đến tiết độ, từ sám hối đến sửa đổi, từ hy vọng đến kiên trì. Bỏ trục ấy, người Kitô hữu có thể làm nhiều việc tốt nhưng khó nói điều gì riêng từ Tin Mừng. Giữ trục ấy, mọi việc nhỏ đều có thể mang chiều sâu thần học: tắt một bóng điện vì biết đủ, không lãng phí thức ăn vì tạ ơn, giữ một nguồn nước vì công ích, trồng một cây vì thế hệ sau, bảo vệ người nghèo vì Đức Kitô hiện diện nơi họ, phản đối một dự án hủy diệt vì trái đất là của Chúa, cử hành Thánh Thể và hiểu rằng bánh rượu của đất đang được đưa vào lời tạ ơn của Hội Thánh. Cuộc phục hồi bắt đầu khi con người thôi hỏi: “Tôi có thể lấy được bao nhiêu từ thế giới này?” và học hỏi lại: “Lạy Chúa, Chúa đã trao thế giới này cho chúng con; Chúa muốn chúng con sống trong đó thế nào?” Câu hỏi ấy là một câu hỏi sinh thái, nhưng trước hết là một câu hỏi đức tin. Và chỉ khi nó được đặt trước mặt Thiên Chúa, người tín hữu mới thực sự bắt đầu trở về nhà.

CHƯƠNG 30. KHÔI PHỤC VỚI CHÍNH MÌNH
Có một sự thật thường bị bỏ quên khi người ta nói đến khủng hoảng sinh thái: trước khi con người làm tổn thương đất, nước, rừng, khí hậu và các loài, rất nhiều khi con người đã bị rạn vỡ ngay trong chính mình. Một người không còn ở yên được với mình sẽ rất khó ở yên với thế giới. Một người luôn phải chạy trốn khỏi thinh lặng của nội tâm sẽ tìm tiếng động để lấp vào. Một người không chịu nổi cảm giác trống bên trong sẽ tìm đồ vật để chất bên ngoài. Một người không biết mình đang buồn gì sẽ ăn dù không đói, mua dù không cần, lướt dù không muốn xem gì, đổi điện thoại dù chiếc cũ còn dùng được, đặt thêm một món hàng chỉ để có cảm giác mình vừa nhận được một điều gì đó từ cuộc đời. Có những kiểu tiêu thụ bắt đầu không phải từ nhu cầu của thân xác nhưng từ một vết thương của tâm hồn. Vì thế, nếu chỉ lên án xã hội tiêu thụ mà không đi xuống tầng sâu của con người tiêu thụ, ta mới chữa triệu chứng mà chưa chạm căn bệnh. Người ta có thể biết rất rõ nhựa dùng một lần gây hại, biết quần áo nhanh tạo ra lượng rác khổng lồ, biết thức ăn thừa là một sự phí phạm, biết việc đổi thiết bị liên tục góp phần tạo thêm khai khoáng và rác điện tử, nhưng vẫn không dừng được. Không hẳn vì thiếu kiến thức. Nhiều khi vì họ đang dùng việc tiêu thụ để điều hòa những cảm xúc mà họ không biết gọi tên. Đằng sau một giỏ hàng có thể là cô đơn. Đằng sau một bữa ăn quá mức có thể là căng thẳng. Đằng sau nhiều giờ lướt không mục đích có thể là sự sợ hãi phải đối diện với chính mình. Đằng sau nhu cầu luôn có cái mới có thể là một bản ngã không còn biết mình có giá trị nếu không được nhìn thấy, không được cập nhật, không được hơn người khác. Bởi đó, khôi phục mối tương quan với tạo thành không thể tách khỏi việc khôi phục mối tương quan với chính mình. Đây không phải là chuyện tâm lý phụ bên cạnh linh đạo sinh thái. Đây là một phần cốt lõi của hoán cải. Con người nào không học lại cách cư ngụ trong chính thân xác, thời gian, giới hạn, cảm xúc và sự hiện diện của mình, con người ấy sẽ tiếp tục cư ngụ trong thế giới như một kẻ luôn thiếu, luôn đói, luôn phải lấy thêm một điều gì đó để tự cảm thấy mình còn sống.
Sách Sáng Thế nói con người được dựng nên từ bụi đất và được Thiên Chúa thổi sinh khí vào. Hai sự thật ấy phải được giữ cùng nhau. Ta là bụi đất: hữu hạn, dễ mỏi, cần ngủ, cần ăn, cần nghỉ, cần nhịp điệu, cần mùa. Ta được Thiên Chúa thổi sinh khí: có phẩm giá, có chiều sâu, có khả năng gặp gỡ Thiên Chúa, có tự do, có lương tâm, có khả năng yêu và trao ban. Khi con người quên mình là bụi đất, họ cư xử với thân xác như máy. Họ ép nó làm việc quá mức, thức quá khuya, ăn vội, uống để kích thích, dùng màn hình để kéo dài ngày, rồi dùng thuốc hay giải trí để dập hậu quả. Khi con người quên mình mang hơi thở của Thiên Chúa, họ lại coi mình như một cỗ máy ham muốn, cần được thỏa mãn liên tục bằng kích thích. Cả hai đều làm tan rã con người. Khôi phục với chính mình trước hết là nhận lại sự thật rằng tôi là thụ tạo. Tôi không phải Đấng Tạo Hóa. Tôi không thể làm mọi việc. Tôi không thể có mọi thứ. Tôi không thể đáp ứng mọi lời mời. Tôi không thể chạy bằng tốc độ của thị trường suốt đời mà không vỡ. Tôi không thể liên tục nối mạng mà tâm hồn vẫn nguyên vẹn. Tôi không thể sống như thể mình không cần ngủ, không cần im, không cần ở một mình, không cần một ngày chậm lại. Nhiều người nghĩ thừa nhận giới hạn là yếu. Đức tin lại dạy rằng chấp nhận giới hạn là trở về đúng vị trí của thụ tạo. Giới hạn không phải vết nhơ trong công trình sáng tạo. Giới hạn là một trong những cấu trúc của tạo thành. Ngày có tối. Mùa có chuyển. Đất có lúc nghỉ. Thân xác có lúc mỏi. Đức Giêsu cũng đã ngủ trên thuyền. Người cũng đã rút vào nơi thanh vắng. Người cũng đã nói với các môn đệ: hãy lui vào nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi đôi chút. Một nền văn minh xem nghỉ ngơi như tội lỗi sẽ sớm biến cả con người lẫn trái đất thành nhiên liệu. Đất bị khai thác không nghỉ và người bị khai thác không nghỉ thực ra là hai biểu hiện của cùng một não trạng: cái gì còn cho sản lượng thì cứ ép thêm.
Khôi phục với chính mình vì thế phải bắt đầu bằng việc học lại nghệ thuật ở yên. Ở yên không có nghĩa là trì trệ. Ở yên là không phải liên tục chạy trốn. Có người không chịu nổi năm phút không cầm điện thoại. Có người vừa ăn vừa xem, vừa nghỉ vừa nghe, vừa đi vừa nhắn, vừa cầu nguyện vừa nghĩ đến công việc. Một khoảnh khắc trống lập tức phải được lấp đầy. Điều đáng nói không chỉ là chuyện mất tập trung. Điều sâu hơn là con người dần mất khả năng chịu đựng sự hiện diện của chính mình. Khi không có kích thích, họ cảm thấy bất an. Khi không có thông báo, họ thấy trống. Khi không có ai phản hồi, họ thấy mình như biến mất. Từ đây, xã hội tiêu thụ gặp đúng một mảnh đất màu mỡ: một nội tâm không yên. Thị trường không cần làm gì quá phức tạp. Chỉ cần hứa rằng món này sẽ làm bạn vui hơn, chuyến đi kia sẽ làm bạn đáng ngưỡng mộ hơn, thiết bị nọ sẽ giúp bạn thấy mình tiến về phía trước, món ăn này sẽ bù cho một ngày tệ, một lần mua sắm sẽ giúp bạn “thưởng cho bản thân”. Dần dần, tiêu thụ không còn là sử dụng vật chất để phục vụ đời sống. Nó trở thành một nghi thức giải tỏa. Người ta buồn thì mua. Mệt thì ăn. Căng thì lướt. Cô đơn thì đặt hàng. Bị tổn thương thì nâng cấp. Thành công thì cũng mua để thưởng. Thất bại thì cũng mua để bù. Vui cũng tiêu thụ, buồn cũng tiêu thụ. Khi ấy, thị trường đã đi vào cấu trúc cảm xúc của con người. Nó trở thành một loại phụng vụ ngược: thay vì đem nỗi thiếu của mình đến trước mặt Thiên Chúa, ta đem nó đến trước màn hình; thay vì cầu xin, ta đặt hàng; thay vì chờ đợi, ta chọn giao nhanh; thay vì tạ ơn, ta tìm cái kế tiếp.
Bởi thế, tiết độ là một nhân đức sinh thái căn bản. Nhưng tiết độ phải được hiểu cho đúng. Tiết độ không phải ghét vật chất. Không phải ăn ít để tự hành hạ, mặc xấu để chứng minh thánh thiện, từ chối niềm vui như thể Chúa ghét niềm vui. Tiết độ là khả năng hưởng một điều tốt mà không bị điều tốt ấy làm chủ. Ăn ngon là điều tốt. Nhưng nếu không còn tự do trước thức ăn, điều tốt ấy trở thành xiềng. Có một chiếc điện thoại tốt để làm việc là điều hợp lý. Nhưng nếu phẩm giá của tôi tăng giảm theo đời máy, tôi đã trao một phần bản thân cho thị trường. Đi du lịch để nghỉ và gặp gỡ thế giới là điều đẹp. Nhưng nếu tôi phải luôn đi đâu đó mới chịu nổi đời sống thường ngày, có thể vấn đề không nằm ở nơi tôi chưa đến mà ở nơi tôi chưa dám trở về: chính mình. Tiết độ là tự do nội tâm trước việc có và không có. Người tiết độ có thể dùng mà không chiếm hữu tuyệt đối, hưởng mà không nuốt, nhận mà vẫn biết đủ, mua mà vẫn có thể nói không. Họ không cần chứng minh điều gì bằng mức tiêu dùng của mình. Đây là một tự do rất lớn trong thời đại mà căn tính con người thường bị kéo vào thương hiệu, phong cách sống, đồ dùng và trải nghiệm. Một người biết đủ gây ít áp lực lên trái đất không đơn giản vì họ có một danh sách quy tắc xanh, nhưng vì cái đói bên trong họ đã được đặt lại đúng chỗ. Họ không bắt thế giới vật chất gánh nhiệm vụ làm cho mình có giá trị.
Trong truyền thống Kitô giáo, tiết độ đi chung với chay tịnh. Chay tịnh không chỉ là bỏ thịt vài ngày hay bớt một bữa. Ý nghĩa sâu của chay tịnh là nói với ham muốn rằng: ngươi không phải ông chủ của ta. Tôi có thể muốn mà không phải làm ngay điều mình muốn. Tôi có thể đói mà vẫn tự do. Tôi có thể thấy một món hàng mà không phải sở hữu. Tôi có thể nhận một thông báo mà không mở ngay. Tôi có thể cảm thấy buồn mà không lập tức tìm một kích thích để dập nó xuống. Chay tịnh đào tạo khoảng cách giữa ham muốn và hành động. Chính trong khoảng cách ấy tự do được sinh ra. Một xã hội tiêu thụ muốn khoảng cách ấy biến mất. Muốn là mua. Thấy là đặt. Thích là lấy. Khó chịu là giải tỏa ngay. Công nghệ càng thuận tiện, khoảng cách càng ngắn. Chỉ một chạm là giao đồ ăn. Một chạm là mua hàng. Một chạm là video kế tiếp. Một chạm là thế giới tiếp tục kích thích. Vì thế, một hình thức khổ chế mới của người Kitô hữu hôm nay có thể rất đơn giản nhưng rất thật: chậm lại một nhịp trước khi thỏa mãn ham muốn. Không phải mọi ham muốn đều xấu. Nhưng ham muốn cần được phân định. Tôi có thực sự cần món này không? Tôi đang đói thức ăn hay đói sự an ủi? Tôi mở mạng để làm việc hay để chạy trốn một cảm giác? Tôi định mua vì cần hay vì vừa bị tổn thương? Tôi muốn thay thiết bị vì nó hỏng hay vì tôi sợ mình tụt lại? Những câu hỏi ấy không nhỏ. Chúng mở một cánh cửa đưa hành vi sinh thái vào chính căn phòng nội tâm.
Khôi phục với chính mình cũng có nghĩa là chữa những vết nghiện tiêu thụ. Từ “nghiện” ở đây không nên dùng bừa để dán nhãn mọi thói quen. Nhưng thực tế có những hành vi lặp lại mà con người mất dần khả năng làm chủ: nghiện mua sắm, nghiện ăn để giải tỏa, nghiện mạng xã hội, nghiện trò chơi, nghiện nội dung ngắn, nghiện săn khuyến mãi, nghiện cảm giác sở hữu cái mới, nghiện công việc rồi dùng tiêu thụ để bù. Cần nhìn những điều ấy không bằng khinh bỉ nhưng bằng sự thật và lòng thương xót. Người nghiện một hành vi thường không đơn giản là người tham. Có khi họ đang mang một nỗi đau chưa được gọi tên. Một đứa trẻ lớn lên trong thiếu thốn có thể trở thành người lớn luôn phải tích trữ. Một người nhiều năm không được công nhận có thể dùng hàng hiệu để xây một hình ảnh mình muốn người khác nhìn thấy. Một người kiệt sức trong hôn nhân có thể tìm niềm an ủi trong mua sắm. Một người cô đơn trong đời sống cộng đoàn có thể chìm vào màn hình. Một người bị áp lực công việc kéo dài có thể ăn quá mức về đêm. Nếu chỉ bảo “đừng làm nữa”, nhiều khi ta đang nói với triệu chứng mà bỏ mặc vết thương. Khôi phục cần đi sâu hơn. Tôi đang tìm gì trong hành vi này? Bình an? Cảm giác được yêu? Quyền kiểm soát? Sự bù đắp? Quên đi? Được nhìn thấy? Cảm giác sống động? Khi tên thật của cái đói được gọi ra, hành trình chữa lành mới bắt đầu.
Ở đây linh đạo Kitô giáo và việc chăm sóc sức khỏe tâm lý không chống nhau. Trái lại, con người là một toàn thể. Có những vết thương cần cầu nguyện. Có những vết thương cần xưng tội. Có những vết thương cần nói chuyện thật với một người khôn ngoan. Có những tình trạng cần chuyên viên tâm lý hay bác sĩ. Đừng biến mọi khó khăn thành thiếu đức tin. Cũng đừng biến mọi khó khăn thành chỉ vấn đề tâm lý. Người tín hữu trưởng thành biết nhận những trợ giúp khác nhau như những cách Thiên Chúa chăm sóc thụ tạo là mình. Nếu tôi dùng mua sắm hay ăn uống hay mạng xã hội như thuốc giảm đau cho một nỗi đau sâu, thì đôi khi lòng đạo đức chân thật nhất không phải là cố gắng thêm một mình nhưng là xin giúp đỡ. Một cộng đoàn Kitô hữu lành mạnh cũng phải là nơi người ta có thể thú nhận: tôi đang mệt, tôi đang không ổn, tôi không kiểm soát được một số hành vi, mà không bị chế giễu hay lập tức bị giảng đạo. Khi người ta được đón nhận trong sự thật, nhu cầu phải tự gây mê bằng tiêu thụ có thể bắt đầu giảm.
Một chiều kích rất quan trọng khác là nghỉ. Nghỉ không phải phần thưởng sau khi đã làm đủ. Nghỉ là một giới hạn được đặt vào trong chính trật tự tạo thành. Sabát không xuất hiện như ý tưởng của người lười. Nó nằm trong nhịp điệu thánh. Thiên Chúa “nghỉ” ngày thứ bảy không phải vì Người mệt, nhưng Kinh Thánh dùng ngôn ngữ ấy để dạy con người rằng công trình không phải là tất cả, sản xuất không phải là tuyệt đối, thời gian không chỉ là nguyên liệu kinh tế. Một ngày được thánh hiến bằng dừng lại tuyên bố rằng thế giới vẫn tồn tại khi tôi không làm việc. Điều này đánh trực tiếp vào ảo tưởng của cái tôi hiện đại: nếu tôi không trả lời ngay, mọi thứ sẽ đổ; nếu tôi không làm thêm, tôi sẽ bị bỏ lại; nếu tôi không luôn xuất hiện, tôi sẽ biến mất. Sabát nói: không. Thế giới là của Chúa. Bạn là thụ tạo. Hãy nghỉ. Hãy nhận. Hãy thờ phượng. Hãy ăn với người thân. Hãy nhìn khuôn mặt thay vì màn hình. Hãy đi bộ. Hãy ngủ. Hãy đọc. Hãy cầu nguyện mà không biến cầu nguyện thành một công việc phải hoàn tất. Hãy để thời gian đi qua mà không phải khai thác nó.
Sabát cá nhân vì thế là một hành vi sinh thái sâu sắc. Khi một người học nghỉ, họ bớt cần tiêu thụ để hồi phục. Rất nhiều tiêu thụ quá mức thực chất là hậu quả của kiệt sức. Người làm việc quá nhiều thường mua sự tiện lợi để bù: ăn nhanh hơn, đi nhanh hơn, mua đồ dùng một lần, gọi giao hàng liên tục, thay vì sửa thì thay mới, thay vì nấu thì đặt, thay vì nghỉ thì giải trí quá độ. Ta không nên đạo đức hóa những lựa chọn ấy một cách đơn giản vì hoàn cảnh mỗi người khác nhau. Một bà mẹ nuôi con nhỏ, một công nhân ca đêm, một người chăm bệnh nhân không thể bị giảng về nhịp sống chậm theo cùng một cách. Nhưng ở cấp độ xã hội và cá nhân, mối liên hệ vẫn rất thật: một nền kinh tế làm con người kiệt sức thường đồng thời thúc đẩy các kiểu tiêu thụ gây kiệt sức cho trái đất. Ta làm việc quá sức để có tiền mua những thứ giúp ta chịu được việc làm quá sức. Vòng tròn ấy có thể kéo dài nhiều năm. Sabát phá vòng tròn bằng một lời tuyên bố tưởng như vô ích: hôm nay tôi không tối ưu hóa đời mình.
Đối với người Kitô hữu, ngày Chúa nhật mang một chiều sâu đặc biệt. Chúa nhật không chỉ là nghĩa vụ dự lễ rồi quay về lịch tiêu thụ bình thường. Chúa nhật là ngày Phục Sinh, ngày của tạo thành mới, ngày thời gian được lấy ra khỏi logic sản xuất và trả về cho Thiên Chúa. Thánh lễ đặt ở trung tâm Chúa nhật không phải ngẫu nhiên. Ở đó ta nhận bánh và rượu, hoa màu ruộng đất và công lao con người, rồi nhận lại như Thân Mình và Máu Đức Kitô. Vật chất không bị khinh; vật chất được đưa vào tạ ơn. Thời gian không bị tiêu; thời gian được thánh hóa. Cộng đoàn không được đo bằng hiệu suất; cộng đoàn được quy tụ để thờ phượng. Nếu sau Thánh lễ, Chúa nhật của ta chỉ còn là mua sắm không ngừng, màn hình không ngừng, chạy lịch không ngừng, ta có nguy cơ giữ nghi thức nhưng đánh mất nhịp thần học của ngày ấy. Khôi phục Sabát không nhất thiết là dựng một bộ luật cứng. Nó là phục hồi khả năng để một ngày có chất lượng khác những ngày kia: ít mua hơn, ít chạy hơn, ít màn hình hơn, nhiều bàn ăn hơn, nhiều cầu nguyện hơn, nhiều thiên nhiên hơn nếu có thể, nhiều người thân hơn, nhiều im lặng hơn. Một Chúa nhật như thế vừa chữa con người vừa làm nhẹ trái đất.
Khôi phục với chính mình còn gồm việc học lại cách cư ngụ trong thân xác. Thân xác không phải phương tiện chở cái đầu đi làm. Thân xác là chính ta trong một chiều kích căn bản. Khi không còn nghe thân xác, con người dễ sống trong chế độ quá tải rồi tìm cứu viện bằng tiêu thụ. Cơ thể nói mệt nhưng ta uống thêm chất kích thích. Cơ thể nói căng nhưng ta tiếp tục lướt. Cơ thể nói cần đi bộ nhưng ta ngồi thêm. Cơ thể nói đói vừa đủ nhưng ta ăn đến tê cảm xúc. Cơ thể nói cần ngủ nhưng ta xem thêm một tập. Khôi phục không phải tôn thờ thân xác, mà là kính trọng thân xác như thụ tạo. Ăn có ý thức hơn, ngủ đủ hơn, đi bộ, lao động tay chân vừa phải, tiếp xúc ánh sáng tự nhiên, hít thở, dành thời gian ngoài trời nếu điều kiện cho phép: những việc này không chỉ thuộc lĩnh vực sức khỏe. Chúng trả con người về với nhịp sinh học vốn gắn với tạo thành. Một thân xác hoàn toàn tách khỏi ngày đêm, mùa vụ, vận động, ánh sáng và không khí dễ quên mình thuộc về trái đất. Sinh thái bắt đầu rất gần: trong chính da thịt ta.
Cũng cần khôi phục mối quan hệ với cảm xúc. Người Kitô hữu đôi khi đã được đào tạo không tốt khi nghĩ rằng buồn là thiếu tin, giận là xấu, mệt là yếu, sợ là không phó thác. Vì thế, cảm xúc không được nhận diện mà bị đẩy xuống. Nhưng cái bị đẩy xuống thường không biến mất; nó tìm đường đi ra qua thân xác và hành vi. Tiêu thụ có thể trở thành một trong những đường ấy. Người không cho phép mình khóc có thể ăn. Người không dám nói mình cô đơn có thể lướt. Người không nhìn nhận mình bị tổn thương có thể mua. Người không dám nghỉ có thể tìm kích thích để tiếp tục. Khôi phục với chính mình là học nói thật trước mặt Chúa: con đang buồn; con đang ghen; con đang giận; con sợ bị bỏ; con thấy mình không đủ; con mệt đến mức không muốn gặp ai. Thánh vịnh đầy những lời như thế. Kinh Thánh không xây đời thiêng trên phủ nhận cảm xúc. Nó đưa cảm xúc vào tương quan với Thiên Chúa. Khi nỗi buồn có thể thành lời cầu nguyện, nó bớt cần thành một đơn hàng. Khi sự cô đơn có thể được chia sẻ với một người thật, nó bớt cần hàng giờ cuộn màn hình. Khi cơn giận được nhận diện và phân định, nó bớt phải xả qua ăn uống hay mua sắm.
Có một thực hành rất cụ thể: học phân biệt “nhu cầu” và “ham muốn”, rồi sâu hơn nữa, phân biệt “ham muốn” và “cái đói tinh thần”. Con người có nhu cầu thật: ăn, mặc, nhà ở, an toàn, học hành, nghỉ, giao tiếp, dụng cụ làm việc. Đức tin không lãng mạn hóa nghèo đói. Người thiếu những điều căn bản cần công lý, không cần bị giảng tiết độ. Nhưng khi các nhu cầu căn bản đã được đáp ứng, thị trường có khả năng biến rất nhiều ham muốn thành “nhu cầu”. Cái cũ mới một năm đã bị gọi là lỗi thời. Quần áo vẫn tốt nhưng không còn đúng xu hướng. Một chuyến đi không còn là niềm vui mà thành dấu hiệu vị thế. Một bữa ăn không còn chỉ để thưởng thức mà phải chụp để chứng minh. Khi ấy, con người mua không chỉ vật phẩm mà mua một câu chuyện về mình. Tôi mua để cảm thấy mình hiện đại, thành công, trẻ, có gu, thuộc về một nhóm. Không phải mọi biểu tượng xã hội đều xấu. Nhưng khi căn tính phụ thuộc quá nhiều vào vật sở hữu, sự tự do suy giảm. Người Kitô hữu được mời nhận căn tính sâu nhất từ một nơi khác: tôi là người được Thiên Chúa gọi tên, được yêu trước khi tôi mua gì, đạt gì, mặc gì, lái gì, sống ở đâu. Nếu căn tính ấy thấm xuống đủ sâu, nhiều áp lực tiêu thụ tự nhiên mất quyền lực.
Đây là lý do việc tạ ơn có sức chữa lành sinh thái. Tạ ơn tập cho lòng người nhìn cái đã có trước khi nhìn cái còn thiếu. Thị trường thường sống bằng việc làm ta chú ý đến thiếu hụt: bạn chưa có, bạn chưa đủ, bạn cần nâng cấp, bạn xứng đáng hơn. Tạ ơn làm ngược lại: hôm nay tôi đã nhận gì? Một bữa cơm, một mái nhà, một thân thể còn thở, một người gọi điện, một cơn mưa, một giấc ngủ, một chiếc áo còn mặc được, một vật dụng vẫn phục vụ tốt. Tạ ơn không phủ nhận thiếu thốn thật. Nó chữa bệnh không bao giờ đủ. Một người biết tạ ơn thường có khả năng dùng đồ lâu hơn, sửa trước khi thay, chia sẻ trước khi mua thêm, ăn với lòng biết ơn thay vì nuốt vội. Đó là những hành vi sinh thái nảy ra từ phụng vụ của trái tim. “Tạ ơn” trong Hy Lạp là eucharistia. Một đời sống Thánh Thể đúng nghĩa phải dần trở thành một đời biết nhận quà mà không lập tức đòi quà khác.
Khôi phục với chính mình cũng đòi hòa giải với sự thiếu hoàn hảo. Một phần tiêu thụ hiện đại được thúc đẩy bởi dự án không ngừng chỉnh sửa bản thân: thân hình phải tốt hơn, nhà phải đẹp hơn, ảnh phải đẹp hơn, kỹ năng phải nhiều hơn, trải nghiệm phải phong phú hơn, đời sống phải “nâng cấp”. Phát triển bản thân không xấu. Nhưng khi con người biến mình thành một dự án tối ưu hóa vô tận, họ không còn biết an nghỉ trong ân sủng. Họ luôn thấy một phiên bản hiện tại chưa đủ. Chính cái nhìn ấy sau đó lan sang vật chất: cái đang có không đủ, phải có bản mới. Căn phòng chưa đủ đẹp. Thiết bị chưa đủ nhanh. Chuyến đi chưa đủ đặc biệt. Một tâm hồn không chấp nhận được tính chưa hoàn tất của chính mình sẽ khó chấp nhận đồ vật cũ, chậm, có vết, đã dùng. Văn hóa sửa chữa vì thế không chỉ là kỹ năng kinh tế. Nó có thể là một trường nhân bản. Vá một chiếc áo, sửa một cái ghế, dùng lại một chiếc bình, giữ một món đồ có dấu thời gian dạy ta rằng cái có vết không nhất thiết phải bị vứt đi. Một bài học như thế cũng có thể quay trở lại chữa cách ta nhìn chính mình và người khác.
Đặc biệt cần nói đến việc lướt. Có lẽ chưa bao giờ con người có thể tiêu thụ nhiều mà không mang gì về nhà như thời đại này. Hàng giờ nội dung đi qua mắt: hình, tin, video, quảng cáo, bình luận, khuôn mặt, scandal, kiến thức, tiếng cười, cơn giận. Đây cũng là tiêu thụ. Ta tiêu thụ sự chú ý của mình. Và sự chú ý là một tài nguyên hữu hạn. Khi nó bị phân mảnh quá lâu, con người khó cầu nguyện, khó đọc sâu, khó nghe người khác, khó chiêm ngắm, khó ở yên. Từ đó, mối tương quan với tạo thành cũng nghèo đi. Một cánh cây lay trong gió không thể cạnh tranh với video mười giây được thiết kế để giữ mắt. Một buổi chiều chậm không thể cạnh tranh với dòng nội dung vô tận nếu hệ thần kinh đã quen kích thích cao. Vì thế, tiết độ kỹ thuật số là một phần của khôi phục sinh thái. Không chỉ vì máy chủ tốn điện hay thiết bị tạo rác điện tử, dù những điều ấy có thật. Sâu hơn, vì môi trường chú ý của con người là nơi diễn ra khả năng chiêm ngắm. Nếu mắt không còn biết dừng, thế giới mất khả năng trở thành dấu chỉ. Nếu tâm trí luôn bị giật từ vật này sang vật khác, nó khó nghe được “tiếng nói” của tạo thành mà chương trước đã nói. Khôi phục với chính mình có thể bắt đầu bằng những khoảng không màn hình: lúc ăn, trước khi ngủ, khi vừa thức dậy, trong một đoạn đi bộ, trong giờ cầu nguyện, một phần ngày Chúa nhật. Những khoảng trống ấy lúc đầu có thể gây khó chịu. Chính sự khó chịu ấy cho thấy ta cần chúng.
Đối với linh mục, tu sĩ và những người hoạt động mục vụ, điểm này càng đáng xét. Có thể sống bề ngoài rất “không tiêu thụ” nhưng bên trong lại nghiện công việc, nghiện được cần đến, nghiện phản hồi, nghiện hiện diện trên mạng, nghiện cảm giác mình hữu ích. Nghiện sản xuất cũng là một hình thức không ở yên với mình. Người ta không mua nhiều nhưng không bao giờ nghỉ. Không tiêu thụ hàng hóa nhưng tiêu thụ chính sức lực mình và đôi khi tiêu thụ cả sức lực người khác. Có những người làm việc cho Hội Thánh theo nhịp mà nếu một doanh nghiệp bắt nhân viên làm như vậy, ta sẽ gọi là vô nhân đạo. Sau đó ta gọi đó là hy sinh. Hy sinh có chỗ của nó, nhưng hy sinh Kitô giáo không đồng nghĩa với tự hủy. Đức Giêsu trao mạng sống vì yêu, nhưng Người không sống bằng một thứ cưỡng bách phải luôn đáp ứng tất cả mọi người. Có lúc Người rời đám đông. Có lúc Người để người bệnh chờ đến hôm sau. Có lúc Người ngủ. Có lúc Người cầu nguyện một mình. Người mục tử không biết Sabát rất dễ trở thành người cay đắng, rồi dùng ăn uống, màn hình, mua sắm hay các lệ thuộc khác để bù cho một đời bị rút cạn. Sinh thái của tâm hồn cũng cần được nói trong nhà dòng, chủng viện, giáo xứ. Một người bị kiệt sức lâu ngày khó có khả năng sống lòng biết ơn với tạo thành.
Khôi phục với mình còn là học lại sự đơn sơ. Đơn sơ không phải là sở hữu càng ít càng thánh. Có người có rất ít nhưng lòng vẫn dính chặt. Có người phải quản lý nhiều tài sản vì trách nhiệm nhưng lòng lại tự do. Đơn sơ trước hết là giảm bớt sự phức tạp không cần thiết để năng lượng sống được dành cho điều quan trọng. Ít đồ hơn có thể giúp. Ít quyết định mua sắm hơn có thể giúp. Ít lịch hẹn vô nghĩa hơn có thể giúp. Ít tiếng ồn hơn có thể giúp. Nhưng mục tiêu không phải một thẩm mỹ tối giản để khoe. Mục tiêu là tự do. Tôi cần bao nhiêu để sống ơn gọi của mình cách tốt? Câu hỏi ấy rất khác với: tôi có thể mua thêm gì? Một người sống đơn sơ không nhất thiết trông nghèo. Họ chỉ không để đồ vật chiếm quá nhiều chỗ trong tâm hồn. Họ có khả năng cho đi. Có khả năng dùng chung. Có khả năng không nâng cấp. Có khả năng thấy một món đồ đẹp mà không cần biến nó thành tài sản.
Trong gia đình, cha mẹ có thể truyền cho con một nền sinh thái nội tâm mạnh hơn mọi bài học lý thuyết bằng cách dạy trẻ chờ. Không phải thấy gì cũng mua. Không phải buồn là cho màn hình. Không phải đạt điểm tốt là thưởng bằng vật chất mỗi lần. Không phải yêu con là đáp ứng mọi ham muốn. Một đứa trẻ chưa bao giờ được tập chịu một chút thiếu sẽ lớn lên rất khó phân biệt nhu cầu với ham muốn. Trì hoãn một món đồ, dành tiền, chăm giữ đồ đang có, sửa khi hỏng, cho lại đồ còn tốt, ăn hết phần vừa lấy, tắt thiết bị khi không dùng: những việc nhỏ ấy đào tạo cấu trúc nhân cách. Đứa trẻ học rằng thế giới không tồn tại để cung cấp ngay mọi điều nó muốn. Đây là một bài học thiêng liêng rất lớn: tôi không phải trung tâm.
Các cộng đoàn giáo xứ cũng có thể dạy điều này bằng chính cách tổ chức đời sống. Một giáo xứ nói nhiều về môi trường nhưng các lễ hội luôn phải mới hơn, lớn hơn, trang trí nhiều hơn, quà tặng nhiều hơn, dùng đồ một lần nhiều hơn thì sứ điệp tự mâu thuẫn. Không phải mọi trang trí đều lãng phí. Cái đẹp phụng vụ và niềm vui cộng đoàn là tốt. Nhưng có thể học cách đẹp mà không phung phí, vui mà không xả, hiếu khách mà không đồng nhất hiếu khách với dư thừa. Cũng vậy, các dịp mừng trong đời tu, lễ bổn mạng, khấn dòng, kỷ niệm, thụ phong có thể trở thành nơi tập một phong cách khác: trang trọng mà tiết độ, rộng lòng mà không phô trương. Khi cộng đoàn làm được điều ấy, người ta nhìn thấy sinh thái không phải là một bài giảng thêm mà là một kiểu sống.
Khôi phục với chính mình cũng có nghĩa là biết buồn đúng cách trước mất mát. Xã hội tiêu thụ thường đề nghị ta thay thế nhanh: đồ hỏng thì mua cái khác, mối quan hệ đổ thì tìm cái mới, nơi chốn mất thì chuyển, nỗi buồn đến thì giải trí. Nhưng có những mất mát cần được than khóc. Một khu vườn tuổi thơ bị san lấp, một con sông ô nhiễm, một cánh rừng biến mất, một giống loài hiếm dần, một người thân chết: không phải mọi đau buồn đều cần được “vượt qua” thật nhanh. Khả năng than khóc là dấu hiệu ta còn gắn bó. Một người không dám buồn trước mất mát dễ trở thành người thay thế mọi thứ. Ngược lại, người biết tang chế học rằng không phải mọi điều đều có thể mua lại. Điều ấy có sức chống lại logic tiêu thụ rất sâu. Có những thứ một khi mất là mất. Từ đó trách nhiệm gìn giữ sinh ra không từ sợ hãi nhưng từ tình yêu.
Cần nói thêm rằng khôi phục với mình không phải quay vào mình rồi quên tha nhân. Một linh đạo chỉ chăm “well-being” cá nhân có thể biến thành một hình thức tiêu thụ mới. Người ta mua retreat, mua trải nghiệm chữa lành, mua nến, mua không gian yên tĩnh, mua khóa thiền, mua đủ thứ để “chăm sóc bản thân”, nhưng vẫn không có chỗ cho người nghèo. Tự chăm sóc trong Kitô giáo không nhằm xây một cái tôi tiện nghi hơn. Nó nhằm làm tôi đủ tự do để yêu. Tôi nghỉ để có thể hiện diện. Tôi chữa lành để không trút vết thương lên người khác. Tôi tiết độ để có phần chia sẻ. Tôi bớt tiêu thụ để người khác và trái đất bớt chịu gánh. Tôi giữ Sabát để nhớ đời mình là quà chứ không phải dự án riêng. Khôi phục với mình đúng nghĩa sẽ mở ra ngoài, không đóng vào trong.
Có thể gọi toàn bộ hành trình ấy là hòa giải với sự hữu hạn. Con người hiện đại được mời tin rằng mọi giới hạn đều là vấn đề kỹ thuật có thể vượt qua: thời gian có thể tối ưu, thân xác có thể tăng hiệu suất, cảm xúc có thể điều chỉnh, khoảng cách có thể xóa, nhu cầu có thể giao tận cửa. Rất nhiều tiến bộ là tốt và đáng biết ơn. Nhưng nếu không có thần học về giới hạn, tiến bộ biến thành ảo tưởng bất tử. Khủng hoảng sinh thái chính là lúc trái đất nói lại một điều con người không muốn nghe: có giới hạn. Khí quyển có giới hạn. Nước ngọt có giới hạn. Rừng có giới hạn. Khả năng hấp thụ rác có giới hạn. Các hệ sinh thái có ngưỡng. Cũng như thân xác có giới hạn. Chú ý có giới hạn. Thời gian có giới hạn. Cuộc đời có giới hạn. Người chấp nhận giới hạn nơi mình sẽ có khả năng tôn trọng giới hạn nơi đất. Người luôn nổi loạn với giới hạn của thân xác thường dễ thông đồng với một nền văn minh nổi loạn với giới hạn của hành tinh.
Chính ở đây cái chết cũng đi vào linh đạo sinh thái. “Ngươi là bụi đất và sẽ trở về bụi đất.” Câu ấy không chỉ được đọc trong Thứ Tư Lễ Tro để làm ta buồn. Nó trả ta về sự thật. Ta không mang đồ theo. Không mang nhà. Không mang xe. Không mang thiết bị. Không mang số dư. Không mang danh sách những thứ đã sở hữu. Cái chết là sự phê bình triệt để nhất đối với ảo tưởng tích trữ. Nhưng Kitô giáo không dừng ở tro bụi. Ta tin vào sự sống lại. Vì thế, việc buông không phải tuyệt vọng. Ta có thể sống nhẹ hơn vì đời không được bảo đảm bằng những gì mình giữ. Ta có thể cho đi vì căn tính không nằm trong sở hữu. Ta có thể nghỉ vì lịch sử không phụ thuộc vào ta. Ta có thể chết mà không bị tiêu diệt vì sự sống nằm trong tay Thiên Chúa. Một linh đạo Phục Sinh như thế có khả năng giải phóng con người khỏi rất nhiều tiêu thụ mang tính phòng thủ.
Về mặt thực hành, mỗi người có thể bắt đầu bằng một cuộc xét mình rất đơn giản nhưng thành thật. Trong tuần qua, khi nào tôi mua không vì cần mà vì cảm xúc? Khi nào tôi ăn không vì đói? Khi nào tôi lướt chỉ vì không chịu nổi trống? Điều gì khiến tôi khó nghỉ? Tôi sợ gì nếu không làm việc một ngày? Tôi có món đồ nào vẫn tốt nhưng tôi đang muốn thay chỉ vì cái mới hấp dẫn? Tôi có thói quen tiêu thụ nào tôi đã nhiều lần muốn giảm mà không giảm được? Tôi có đang dùng màn hình để tránh một cuộc nói chuyện, một nỗi buồn, một sự cô đơn, một lời cầu nguyện? Tôi có ngủ đủ? Tôi có để thân xác mình được sống như một thụ tạo không? Tôi có một khoảng Sabát thật trong tuần không? Tôi có biết vui với những gì không cần mua không? Những câu hỏi ấy không nhằm tạo mặc cảm. Xét mình Kitô giáo không phải phòng thẩm vấn. Nó là nơi ánh sáng đi vào. Điều được nhìn thấy có thể được trao cho ân sủng.
Từ xét mình, có thể chọn những quyết tâm nhỏ. Chẳng hạn dành một ngày không mua gì ngoài nhu cầu thật; chờ hai mươi bốn giờ trước một món mua không thiết yếu; không cầm điện thoại trong bữa ăn; đi bộ một đoạn không tai nghe; giữ một buổi tối mỗi tuần không công việc; sửa một vật trước khi thay; dọn một phần đồ và cho lại thứ còn dùng tốt; ăn chậm; cầu nguyện trước khi mở ứng dụng mỗi khi thấy mình căng; đặt một giờ ngủ thực tế; dành Chúa nhật một khoảng không mua sắm; học một kỹ năng thủ công; trồng một cây nhỏ; nấu một bữa từ những gì đang có thay vì gọi thêm. Không việc nào tự cứu hành tinh. Nhưng mỗi việc có thể làm một điều quan trọng: đào tạo một con người khác. Và chính con người khác ấy mới có khả năng tham gia những thay đổi lớn hơn.
Cũng cần tránh biến những thực hành này thành một cuộc thi thanh sạch. Người sống sinh thái hơn không có quyền khinh người khác. Có người dễ giảm tiêu dùng vì có nhiều thời gian. Có người phải dùng đồ tiện lợi vì bệnh tật, vì chăm con, vì làm hai việc, vì hoàn cảnh. Có người mua đồ rẻ dùng ngắn không vì họ mê tiêu thụ mà vì họ không đủ tiền mua đồ tốt. Công lý sinh thái đòi ta nhìn cấu trúc chứ không chỉ cá nhân. Nhưng sự phức tạp ấy không xóa trách nhiệm cá nhân. Nó chỉ làm trách nhiệm trở nên khiêm tốn và có lòng thương hơn. Tôi làm điều tôi có thể trong hoàn cảnh của mình và đồng thời góp phần để xã hội làm cho những lựa chọn tốt trở nên dễ tiếp cận hơn cho người nghèo.
Đối với người có đức tin, đích đến của khôi phục với mình không phải là trở thành một phiên bản cân bằng hoàn hảo. Không ai đạt trạng thái ấy vĩnh viễn. Ta sẽ lại mua quá tay, lại lướt quá lâu, lại làm việc quá sức, lại dùng thức ăn hay giải trí để bù. Hoán cải là quay lại. Điều quan trọng là dần nhận ra nhanh hơn, quay lại sớm hơn, ít tự lừa hơn. Ân sủng không yêu cầu ta trở thành người không có ham muốn. Ân sủng làm ham muốn được sắp xếp. Thánh Augustinô hiểu rất rõ điều này khi nói lòng người khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Chúa. Câu ấy có một sức mạnh sinh thái rất lớn. Nếu lòng người không nghỉ trong Chúa, nó sẽ bắt thế giới phải làm công việc mà thế giới không thể làm: lấp đầy vô hạn bằng hữu hạn. Không số lượng hàng hóa nào làm được. Không lượng nội dung nào làm được. Không lượng thức ăn nào làm được. Không bao nhiêu chuyến đi làm được. Tạo thành là quà, không phải Thiên Chúa. Khi ta đòi tạo thành làm Thiên Chúa, ta vừa phá tạo thành vừa thất vọng.
Vì vậy, khôi phục với chính mình cuối cùng là học nghỉ trong Đấng Tạo Hóa. Từ sự nghỉ ấy, ta mới biết dùng tạo thành như quà. Khi tôi không còn cần chiếc bàn phải cho tôi giá trị, tôi có thể dùng nó và biết ơn. Khi thức ăn không phải thuốc chữa cô đơn, tôi có thể thưởng thức và dừng. Khi điện thoại không phải nơi chứng minh mình tồn tại, tôi có thể tắt. Khi công việc không phải nguồn căn tính cuối cùng, tôi có thể nghỉ. Khi tiền không phải thành trì tuyệt đối, tôi có thể cho. Khi thế giới không còn phải lấp cái vực trong tôi, thế giới được giải thoát khỏi một phần bạo lực của tôi.
Có lẽ đây là điều rất đơn sơ mà cuộc khủng hoảng sinh thái đang mời nhân loại học lại: sống đủ để còn biết mình đang sống. Ăn đủ để còn biết vị. Làm đủ để còn biết nghỉ. Nói đủ để còn nghe. Kết nối đủ để còn gặp. Sở hữu đủ để còn có thể cho. Đi đủ để còn biết ở nhà. Biết đủ để còn biết kinh ngạc. Và dừng đủ để có thể nhận ra Thiên Chúa vẫn đang ở đó.
Sabát cá nhân vì thế không phải một xa xỉ dành cho người có thời gian. Nó là một kỷ luật chống lại nền văn minh nuốt cả người lẫn đất. Khi tôi dừng lại, tôi nói rằng đời không chỉ là sản xuất. Khi tôi không mua, tôi nói rằng ham muốn không cai trị. Khi tôi ngủ, tôi thú nhận rằng thế giới vẫn được gìn giữ mà không cần tôi thức. Khi tôi cầu nguyện, tôi trả trung tâm về cho Thiên Chúa. Khi tôi đi bộ chậm và nhìn một cái cây, tôi tập lại khả năng hiện diện. Khi tôi ăn một bữa đơn giản trong biết ơn, tôi từ chối biến vật chất thành thuốc mê. Khi tôi chịu được một khoảng trống không màn hình, tôi đang lấy lại tự do của chú ý. Những việc ấy rất nhỏ trước khủng hoảng khí hậu. Nhưng chúng không nhỏ trước việc hình thành con người có khả năng sống khác.
Khôi phục với chính mình không kết thúc ở một cái tôi yên ổn. Nó chuẩn bị ta bước sang việc khôi phục với người khác và với tạo thành. Một người biết nghỉ sẽ bớt bắt người khác chạy theo mình. Một người biết đủ sẽ dễ chia sẻ. Một người đã nhìn vết thương mình sẽ bớt trút nó lên người yếu. Một người không còn dùng tiêu thụ để bù sẽ giảm dấu chân vật chất một cách tự nhiên hơn. Một người đã làm hòa với giới hạn sẽ dễ bảo vệ giới hạn của đất. Và một người có thể ở yên trước mặt Thiên Chúa sẽ dần học được cách ở trong thế giới mà không phải chiếm mọi thứ.
Thế nên, giữa những lời kêu gọi giảm phát thải, tái chế, chuyển đổi năng lượng, bảo vệ rừng và thay đổi chính sách, Hội Thánh còn phải dám nói một câu nghe rất thinh lặng: hãy học nghỉ. Hãy chữa cái đói không phải của dạ dày. Hãy nhìn xem mình đang dùng hàng hóa để bù điều gì. Hãy trả thân xác về cho nhịp của thụ tạo. Hãy trả ngày Chúa nhật về cho thờ phượng và hiệp thông. Hãy trả sự chú ý về cho khuôn mặt, Lời Chúa, đất, cây, người nghèo và những điều chậm. Hãy tập nói “đủ”. Vì có những cánh rừng được bảo vệ bắt đầu từ một ham muốn được từ chối. Có những dòng sông bớt ô nhiễm bắt đầu từ một đời sống bớt dư thừa. Có những đống rác không sinh ra bắt đầu từ một tâm hồn không còn phải mua để tự an ủi. Và có những cuộc hoán cải sinh thái rất lớn bắt đầu trong một căn phòng rất nhỏ, khi một con người tắt màn hình, ngồi yên trước mặt Chúa, nhận ra mình đang mệt, và lần đầu tiên sau rất lâu không chạy đi tìm một thứ gì để lấp vào.

CHƯƠNG 31. KHÔI PHỤC VỚI ANH CHỊ EM
Không có một nền sinh thái nào thật sự lành mạnh nếu con người vẫn tiếp tục khinh người. Ta có thể trồng thêm rất nhiều cây, phân loại rác rất kỹ, nói những bài rất hay về biến đổi khí hậu, bảo vệ nguồn nước, tiết kiệm điện, giảm nhựa, cứu rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, nhưng nếu trở về nhà ta vẫn dùng lời nói làm tổn thương người thân, nếu trong cộng đoàn ta vẫn loại trừ người yếu, nếu trong giáo xứ ta vẫn chia phe, nếu trong xã hội ta vẫn coi người nghèo như gánh nặng, nếu trong dân tộc ta vẫn nuôi hận thù, nếu giữa các nhóm người ta vẫn nhìn nhau bằng ánh mắt nghi kỵ và khinh miệt, thì ngôi nhà chung chưa được chữa lành. Bởi vì ngôi nhà chung không chỉ gồm đất, nước, cây, thú, khí hậu và đại dương. Ngôi nhà chung còn gồm những khuôn mặt người đang cùng sống trên mảnh đất ấy, đang uống cùng một nguồn nước ấy, đang thở cùng một bầu khí ấy, đang mang những vết thương mà có khi chính những cơ cấu kinh tế, chính trị, văn hóa và cả những chọn lựa hằng ngày của chúng ta đã góp phần tạo ra. Sinh thái toàn diện không cho phép ta yêu một dòng sông mà ghét người sống bên sông, yêu một khu rừng mà coi thường người dân tộc thiểu số sống nhờ rừng, yêu thú vật mà lạnh lùng với người già, người tàn tật, người di dân, thai nhi, người bệnh, người thất nghiệp, người tù tội, người không cùng quan điểm với mình. Một tình yêu thụ tạo mà không đi qua tình yêu con người rất dễ biến thành một thứ thẩm mỹ tinh tế nhưng vô cảm, hoặc một ý thức hệ dùng thiên nhiên như lý do mới để loại trừ con người. Đức tin Kitô giáo không cho phép sự phân đôi ấy. Đấng tạo nên trời đất cũng là Đấng đã dựng nên con người theo hình ảnh Người. Đức Kitô không chỉ chết cho những ý tưởng đẹp về nhân loại; Người chết cho những con người cụ thể, khó thương, yếu đuối, tội lỗi, đầy mâu thuẫn như chúng ta. Bởi vậy, khôi phục mối tương quan với anh chị em là một phần không thể thiếu của hoán cải sinh thái. Không có đường vòng.
Khi sách Sáng Thế kể câu chuyện sa ngã, điều rất đáng chú ý là ngay sau khi mối tương quan với Thiên Chúa bị rạn nứt, mối tương quan giữa con người với nhau cũng lập tức rạn nứt. Adam đổ lỗi cho người nữ: “Người đàn bà Ngài cho ở với con, chính nàng đã cho con trái cây ấy.” Câu nói ấy là một trong những khoảnh khắc đầu tiên của lịch sử đổ trách nhiệm. Người vừa được nhận như món quà trở thành người bị đem ra làm bình phong cho lỗi của mình. Từ đó đến nay, lịch sử loài người cứ lặp lại mô hình ấy bằng vô số hình thức: lỗi của gia đình là tại người kia, lỗi của cộng đoàn là tại nhóm nọ, lỗi của xã hội là tại người nghèo, người nhập cư, người khác tôn giáo, khác vùng miền, khác quan điểm, khác thế hệ. Con người bị biến thành nơi chứa lỗi để ta khỏi nhìn lại chính mình. Rồi ngay chương kế tiếp, Cain giết Abel. Tội đã đi từ trốn Chúa đến đổ lỗi, từ đổ lỗi đến ghen tị, từ ghen tị đến bạo lực. Và khi Thiên Chúa hỏi: “Em ngươi đâu?”, Cain trả lời: “Con không biết. Con là người giữ em con hay sao?” Câu hỏi ấy vẫn vang suốt lịch sử: Tôi có phải là người giữ anh chị em tôi không? Kitô giáo trả lời: Có. Ta không sở hữu anh chị em mình, nhưng ta có trách nhiệm với họ. Ta không điều khiển đời họ, nhưng ta không được thờ ơ trước điều xảy ra với họ. Ta không thể cứu tất cả mọi người, nhưng ta không được xây bình an riêng bằng sự khốn khổ của người khác. “Người giữ em mình” không có nghĩa là giám sát, kiểm soát hay áp đặt. Nó có nghĩa là nhận rằng sự sống của người khác có chỗ trong trách nhiệm lương tâm của tôi. Khi một người bị đói, tôi không thể nói đó chỉ là chuyện của họ. Khi một gia đình bị nước lũ cuốn mất nhà, tôi không thể chỉ bàn về khí hậu như số liệu. Khi một công nhân bị đối xử bất công, tôi không thể chỉ quan tâm sản phẩm mình mua có rẻ hay không. Khi một người trong gia đình sống trong cô đơn, tôi không thể nói mình đang phục vụ môi trường cho nhân loại mà không thấy con người ngay bên cạnh. Khôi phục sinh thái với anh chị em bắt đầu từ câu hỏi rất cũ ấy: “Em ngươi đâu?”
Mối tương quan giữa con người với con người không phải phần phụ thêm vào sinh thái. Nó nằm ở trung tâm. Một môi trường bị hủy hoại thường đi cùng một trật tự xã hội bị hủy hoại. Rừng bị chặt không chỉ vì cây không có tiếng nói, nhưng còn vì những người yếu sống nhờ rừng thường không có quyền lực. Sông bị ô nhiễm không chỉ vì hóa chất độc, nhưng còn vì có nơi những cộng đồng nghèo không đủ sức buộc người gây ô nhiễm chịu trách nhiệm. Thành phố ngột ngạt không chỉ vì bê tông, mà còn vì cách quy hoạch có thể dành không gian xanh, không khí sạch, đường đi an toàn cho một số nhóm hơn những nhóm khác. Người giàu có thể mua máy lọc không khí, nhà có điều hòa, thực phẩm sạch, nước đóng chai, nơi nghỉ dưỡng; người nghèo thường phải sống ngay tại vùng chịu ô nhiễm, chịu nóng, chịu ngập, chịu bụi, chịu tiếng ồn. Vì vậy, nói môi trường mà không nói công bằng là nói thiếu. Môi trường không chỉ bị tổn thương bởi bàn tay cá nhân xả rác; nó còn bị tổn thương bởi những cơ cấu cho phép lợi ích của một nhóm được mua bằng sức khỏe và tương lai của nhóm khác. Khôi phục với anh chị em vì thế đòi nhiều hơn lòng tốt. Nó đòi công lý.
Công lý là trả lại cho mỗi người điều thuộc về họ, là nhìn nhận phẩm giá không thể mua bán của mỗi người, là từ chối xây sự tiện nghi của mình trên đau khổ vô hình của người khác. Trong đời sống hằng ngày, công lý có thể bắt đầu rất nhỏ: trả lương xứng đáng, không ăn gian, không bóc lột người làm, không lợi dụng người không biết luật, không dùng quyền lực để ép người yếu im lặng, không chen phần mình vào phần của người khác. Nhưng công lý còn phải đi xa hơn những việc cá nhân. Một xã hội công bằng phải hỏi ai đang hưởng lợi và ai đang trả giá; ai được quyền quyết định và ai chỉ bị buộc phải chịu hậu quả; lợi ích phát triển được chia thế nào; đất đai, nước sạch, giáo dục, y tế, năng lượng, giao thông được tiếp cận ra sao. Không thể gọi là phát triển nếu một nhóm sống ngày càng dư thừa trong khi nhóm khác bị đẩy khỏi đất sống của mình. Không thể gọi là tiến bộ nếu lợi nhuận tăng mà phẩm giá lao động giảm. Không thể gọi là thành công nếu những người yếu nhất chỉ được nhớ tới sau cùng. Khôi phục với anh chị em là đưa người bị bỏ quên trở lại giữa bàn, không phải như đối tượng từ thiện, nhưng như chủ thể có tiếng nói. Từ thiện có thể cho một người bữa ăn. Công lý hỏi tại sao họ không có điều kiện để tự nuôi sống mình. Từ thiện có thể phát nước sau thiên tai. Công lý hỏi ai đã quy hoạch, ai khai thác, ai hưởng lợi và ai phải sống ở vùng dễ tổn thương nhất. Từ thiện là cần. Nhưng nếu từ thiện được dùng để né công lý, nó trở thành miếng băng che một vết thương vẫn tiếp tục bị khoét sâu.
Khôi phục với anh chị em còn là khôi phục hòa bình. Hòa bình không phải chỉ là không có tiếng súng. Trong gia đình có thể không ai đánh ai mà vẫn không có hòa bình. Trong giáo xứ có thể không xảy ra xung đột công khai mà vẫn đầy lạnh lùng, nói xấu, phe nhóm. Trong cộng đoàn có thể mọi sinh hoạt vẫn chạy nhưng người này tránh mặt người kia, người kia nuôi bực trong lòng, những lời lịch sự chỉ còn là vỏ. Một đất nước có thể không chiến tranh nhưng vẫn bị chia rẽ bởi hận thù, tin giả, xúc phạm, cực đoan, coi người bất đồng là kẻ thù. Hòa bình theo Tin Mừng sâu hơn sự yên ổn. Hòa bình là trật tự của những mối tương quan được đặt lại trong sự thật và tình yêu. Nó không che giấu xung đột mà học giải quyết xung đột mà không tiêu diệt người đối diện. Nó không đòi tất cả phải nghĩ giống nhau, nhưng đòi ta nhìn người khác trước hết như một con người chứ không như nhãn dán. Một xã hội có thể có rất nhiều công nghệ xanh nhưng nếu ngôn ngữ công cộng đầy nhục mạ, nếu mạng xã hội nuôi cơn giận, nếu chính trị được xây bằng việc biến đối thủ thành quỷ dữ, nếu giáo dục thất bại trong việc dạy con người tranh luận mà không hủy diệt nhau, thì hệ sinh thái tinh thần của xã hội ấy đang ô nhiễm. Rác không chỉ nằm ngoài đường. Có thứ rác nằm trong lời nói. Có thứ khí độc thoát ra từ sự khinh miệt. Có thứ ô nhiễm lan qua những câu nói ác nghiệt, những video bôi nhọ, những bình luận làm nhục, những tin chưa kiểm chứng nhưng được chia sẻ chỉ vì nó làm hại người ta không thích. Muốn khôi phục ngôi nhà chung, phải làm sạch cả bầu khí đạo đức trong đó con người đang sống.
Tha thứ là một phần thiết yếu của công cuộc này. Nhưng tha thứ cần được hiểu đúng. Tha thứ không phải gọi điều ác là điều tốt. Tha thứ không phải phủ nhận nỗi đau. Tha thứ không phải buộc nạn nhân phải quay lại một tương quan nguy hiểm. Tha thứ không phải bỏ qua công lý. Tha thứ là từ chối để điều người khác đã làm với mình tiếp tục cai trị trái tim mình mãi mãi. Tha thứ là không trao cho vết thương quyền quyết định ta sẽ trở thành người thế nào. Người đã bị phản bội có thể cần thời gian rất dài. Người bị bạo hành cần được bảo vệ. Người bị lừa cần đòi lại công bằng. Người gây lỗi phải chịu trách nhiệm. Nhưng ngay trong những tiến trình ấy, Tin Mừng mời ta không biến mình thành bản sao của người đã làm hại mình. Không đáp ác bằng ác. Không để oán thù trở thành căn tính. Đó là việc vô cùng khó. Có những vết thương không thể chữa chỉ bằng một lời “bỏ qua đi”. Có những ký ức kéo dài nhiều năm. Có những gia đình mang vết thương từ thế hệ này sang thế hệ khác. Có những dân tộc mang ký ức chiến tranh, mất mát, di cư, xung đột. Tha thứ không phải xóa lịch sử. Tha thứ là ngăn lịch sử đau thương trở thành cái máy sản xuất đau thương mới. Nếu không, nạn nhân hôm qua có thể trở thành người gây đau ngày mai. Khôi phục với anh chị em là cắt vòng truyền thừa của hận thù.
Đức Giêsu đặt việc hòa giải gần với việc thờ phượng một cách làm ta khó chịu: nếu đang dâng lễ mà nhớ có người anh em đang có điều bất bình với mình, hãy để của lễ lại và đi làm hòa trước. Điều này không có nghĩa Thánh lễ kém quan trọng. Chính vì Thánh lễ cực kỳ quan trọng nên Thánh lễ không cho phép ta tách bàn thờ khỏi đời sống. Không thể cầm Mình Thánh Chúa trong tay rồi dùng cùng bàn tay ấy để làm nhục người khác. Không thể đọc Kinh Lạy Cha, xin “tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”, rồi giữ một danh sách kẻ thù rất dài và tự hào vì mình không quên lỗi ai. Không thể trao bình an trong phụng vụ mà nuôi chiến tranh trong gia đình. Dĩ nhiên đời thực phức tạp; không phải mọi xung đột đều giải quyết được ngay. Có những người không muốn đối thoại. Có những trường hợp cần khoảng cách. Nhưng điều Tin Mừng đòi là lòng ta không được biến sự bất hòa thành nơi cư trú dễ chịu. Người Kitô hữu phải đau khi hiệp thông bị vỡ, chứ không hả hê khi chứng minh mình đúng. Có khi ta đúng trong nội dung nhưng sai trong cách xử sự. Có khi ta bảo vệ sự thật bằng phương pháp làm tổn thương chính sự thật. Có khi nhân danh công lý ta trở thành người bất công. Có khi nhân danh đạo lý ta tước mất phẩm giá của người sai. Khôi phục với anh chị em đòi sự thật và lòng thương xót cùng đi.
Người gần nhất là bài tập đầu tiên. Đây là chỗ mọi lý thuyết bị thử lửa. Nói yêu nhân loại rất dễ vì nhân loại không làm ta khó chịu mỗi sáng. Người làm ta khó chịu là chồng, vợ, cha, mẹ, con, anh chị em, đồng nghiệp, người cùng phòng, hàng xóm, người cùng hội đoàn, người cùng cộng đoàn, người hay lặp lại thói quen ta ghét. Ta có thể xúc động trước hình ảnh một cánh rừng bị cháy nhưng không chịu nổi việc một người trong nhà làm trái ý mình. Ta có thể khóc trước một con vật bị bỏ rơi nhưng không nhìn mặt người thân đã làm ta tổn thương. Ta có thể nói rất hay về sự đa dạng sinh học nhưng lại không chịu được sự khác biệt tính tình trong gia đình. Ta ca ngợi hệ sinh thái vì trong đó mỗi loài có vị trí, nhưng lại muốn mọi người quanh mình phải nghĩ giống mình, sống giống mình, phản ứng giống mình. Đây là một nghịch lý đáng xét mình. Thiên nhiên dạy ta rằng đa dạng không phải lỗi của tạo thành. Một khu rừng sống vì có vô số loài khác nhau. Một gia đình cũng vậy. Một giáo xứ cũng vậy. Một dân tộc cũng vậy. Hiệp nhất Kitô giáo không phải đồng dạng. Yêu thương không phải biến người khác thành bản sao của mình. Khôi phục với anh chị em là học sống với sự khác biệt mà không xem khác biệt tự nó là xúc phạm.
Gia đình là hệ sinh thái nhân bản đầu tiên. Một đứa trẻ học thế giới có an toàn hay không trước hết từ ánh mắt, giọng nói, cách cha mẹ đối xử với nhau và với nó. Một căn nhà có thể sạch bóng nhưng đầy sợ hãi. Một gia đình có thể kinh tế khá nhưng ai cũng cô đơn. Có những bữa cơm đủ món mà không có cuộc trò chuyện. Có những cha mẹ lo cho con học rất nhiều kỹ năng nhưng không có giờ nghe con. Có những người trẻ sống trong nhà nhưng thực ra mỗi người ở một màn hình riêng. Có những vợ chồng cùng trả tiền điện, tiền nước, tiền nhà nhưng đời sống chung chỉ còn vận hành như công ty. Sinh thái gia đình là khả năng tạo một môi trường nơi người ta được thở bằng sự tôn trọng, được lớn lên trong an toàn, được sửa sai mà không bị làm nhục, được nói thật mà không sợ bị nghiền nát. Khôi phục với anh chị em trong gia đình nhiều khi không bắt đầu bằng điều lớn. Nó bắt đầu bằng việc hạ giọng. Bớt một câu mỉa mai. Đừng đào lại lỗi cũ trong mọi cuộc tranh luận. Đặt điện thoại xuống khi người khác nói. Xin lỗi không kèm chữ “nhưng”. Cảm ơn những việc ta đã coi là nghĩa vụ của người khác quá lâu. Không nói xấu người thân với họ hàng. Không dùng tiền để kiểm soát. Không dùng tuổi tác để áp đảo. Không dùng đạo đức để đè người. Không dùng sự im lặng như vũ khí. Những điều ấy có vẻ không liên quan đến sinh thái, nhưng thật ra đó là việc khôi phục môi trường sống gần nhất của con người.
Một đứa trẻ lớn lên trong bầu khí khinh miệt rất khó học kính trọng tạo thành. Nếu nó thấy cha mẹ đối xử với người phục vụ như người thấp kém, nó sẽ học rằng giá trị của sự vật và con người tùy theo địa vị. Nếu nó thấy người lớn xả rác rồi nói “có người dọn”, nó không chỉ học thói xấu môi trường mà còn học một cấu trúc đạo đức: có những người sinh ra để dọn hậu quả do người khác gây. Nếu trong gia đình người làm việc nhà bị coi thường, nếu người nghèo bị đem ra chế giễu, nếu người ít học bị xem là không đáng nghe, thì trẻ đang được huấn luyện vào một nền văn hóa thống trị. Sau này nó có thể mang cùng thái độ ấy đối với đất, nước, lao động và cả những nhóm người yếu. Vì thế giáo dục sinh thái không thể chỉ là dạy con tắt điện. Phải dạy con kính trọng. Kính trọng người già. Kính trọng người lao động. Kính trọng thức ăn. Kính trọng đồ vật. Kính trọng đất. Kính trọng nước. Kính trọng thân thể mình và thân thể người khác. Kính trọng sự thật. Kính trọng sự khác biệt. Tất cả nằm trong cùng một trường đạo đức.
Giáo xứ cũng là nơi phải được khôi phục. Một giáo xứ nói về Laudato Si’ mà nội bộ đầy ganh đua thì lời nói mất sức. Một giáo xứ trồng cây nhưng các hội đoàn không nhìn mặt nhau là một vườn cây xanh mọc trên đất hiệp thông khô cằn. Một giáo xứ tổ chức ngày môi trường thật lớn nhưng người nghèo ngồi cuối nhà thờ không được biết tên vẫn còn thiếu điều căn bản. Giáo xứ phải trở thành phòng thí nghiệm của một cách sống khác: nơi người có học và người ít học cùng được tôn trọng; nơi người già và người trẻ không xem nhau như vấn đề; nơi phụ nữ không bị xem chỉ như lực lượng hậu cần; nơi trẻ em được bảo vệ; nơi người khuyết tật được tạo điều kiện tham dự; nơi người có lỗi không bị đóng nhãn suốt đời; nơi người nghèo không bị biến thành đạo cụ cho các chương trình bác ái; nơi ai cũng có thể phục vụ nhưng không ai được dùng việc phục vụ để xây quyền lực cá nhân. Những chuyện tưởng rất “nội bộ giáo xứ” thật ra là sinh thái nhân bản. Một hệ sinh thái hỏng khi một loài chiếm hết không gian. Một cộng đoàn cũng hỏng khi vài người chiếm hết tiếng nói. Một mảnh đất kiệt sức khi bị khai thác không nghỉ. Một người phục vụ giáo xứ cũng kiệt sức khi ai cũng xem họ là người phải làm mãi. Bảo vệ con người khỏi kiệt sức cũng là sinh thái.
Khôi phục trong giáo xứ còn đòi học nghệ thuật giải quyết xung đột. Nơi có người là có khác biệt. Không có giáo xứ nào trưởng thành bằng việc không bao giờ xung đột. Trưởng thành là biết xung đột theo Tin Mừng. Trước hết phải tách vấn đề khỏi phẩm giá con người. Ta có thể phản đối quyết định của một người mà không gọi họ là xấu. Ta có thể chỉ ra sai sót mà không phá danh dự. Ta có thể không đồng ý mà không tạo phe. Phải tập nói trực tiếp thay vì nói sau lưng. Phải phân biệt góp ý với buôn chuyện. Phải biết khi nào cần im lặng, khi nào cần nói, khi nào cần nhờ người trung gian. Phải biết rằng chiến thắng một cuộc tranh luận mà làm mất một người có thể là thất bại mục vụ. Nhưng cũng phải biết hòa bình giả không phải Tin Mừng. Có những lạm dụng cần được gọi đúng tên. Có những sai trái phải được chấn chỉnh. Có những người yếu phải được bảo vệ ngay cả khi việc ấy làm xáo trộn bề ngoài. Hòa bình không phải bảo vệ hình ảnh tổ chức bằng cách bắt nạn nhân im lặng. Khôi phục thật đi qua sự thật. Một vết thương bị phủ khăn đẹp vẫn là vết thương.
Trong đời sống dân tộc, khôi phục với anh chị em đòi ký ức được chữa lành. Dân tộc nào cũng có những trang đau. Chiến tranh, chia cắt, bạo lực, di cư, mất mát, xung đột ý thức hệ, khác biệt vùng miền, lịch sử bất công. Nếu ký ức chỉ được sử dụng để tiếp tục chia người sống hôm nay thành những phe của quá khứ, thì quá khứ chưa được cứu chuộc. Tưởng nhớ là cần. Công lý lịch sử là cần. Sự thật là cần. Nhưng ký ức Kitô giáo không phải kho chứa vũ khí cho hận thù. Ký ức phải trở thành trường học để đừng lặp lại điều ác. Người trẻ không nên bị buộc phải mang những thù hận họ không tạo ra. Một dân tộc trưởng thành không xóa lịch sử, nhưng cũng không dùng lịch sử để đóng đinh nhau mãi. Tình yêu quê hương chân chính không cần một kẻ thù để tồn tại. Yêu dân tộc mình không có nghĩa khinh dân tộc khác. Yêu văn hóa mình không có nghĩa sợ mọi khác biệt. Một nền sinh thái lành mạnh cần cả biên giới bảo vệ trách nhiệm cụ thể lẫn ý thức rằng khí quyển, đại dương và nhân phẩm không dừng ở biên giới.
Chia sẻ là một con đường lớn của khôi phục. Xã hội tiêu thụ huấn luyện ta sở hữu nhiều hơn cần thiết và đồng thời sợ thiếu. Càng có nhiều, người ta đôi khi càng thấy phải giữ. Nhưng Tin Mừng đặt câu hỏi khác: điều gì trong tay tôi có thể trở thành sự sống cho người khác? Chia sẻ không chỉ là cho đồ cũ mình không cần nữa. Chia sẻ là để nhu cầu của người khác có khả năng tác động thật đến cách mình sử dụng tài nguyên. Có thể là tiền. Có thể là thời gian. Có thể là không gian. Có thể là kiến thức. Có thể là cơ hội. Có thể là một mối quan hệ. Có người không thiếu thức ăn nhưng thiếu người nghe. Có người không thiếu lời khuyên nhưng thiếu cơ hội được làm lại. Có người cần tiền viện phí. Có người cần ai đó giữ con vài giờ để đi làm. Có người cần được giới thiệu việc làm. Có người chỉ cần không bị nhìn bằng ánh mắt khinh miệt. Chia sẻ làm vỡ logic sở hữu tuyệt đối. Nó nhắc rằng những gì ta có phần lớn được nhận: sự sống, tài năng, cơ hội, giáo dục, sức khỏe, thời gian, đất đai, cộng đồng. Khi hiểu mình là người nhận, ta bớt nắm chặt.
Bí tích Thánh Thể là trường lớn của chia sẻ và hiệp thông. Một tấm bánh được bẻ ra cho nhiều người. Một chén được trao ban. Đức Kitô không giữ mình lại. Người trở thành lương thực. Mỗi lần cử hành Thánh Thể, Hội Thánh được dạy lại rằng sự sống đạt viên mãn không phải khi tích trữ nhưng khi trao ban trong tình yêu. Điều này không lãng mạn hóa nghèo đói. Người nghèo không cần được khuyên “hãy chia sẻ” như thể họ phải tiếp tục thiếu. Chính người có nhiều hơn phải học chia sẻ để khoảng cách được thu hẹp. Thánh Phaolô đã rất nghiêm khắc với cộng đoàn Côrintô khi bữa ăn của họ phản ánh chia rẽ giàu nghèo. Một cộng đoàn cử hành Bữa Tiệc của Chúa mà người này no say, người kia đói là tự mâu thuẫn. Điều ấy vẫn đúng hôm nay. Ta không thể rước cùng một Bánh rồi bình thản trước việc anh chị em mình không có bánh ăn. Không thể gọi nhau là anh chị em trong phụng vụ mà ngoài đời chỉ đo người theo tiền, học vị, chức vụ, quê quán.
Khôi phục với anh chị em đòi một cuộc hoán cải về cách nhìn. Trước khi có hành động bất công thường có một cái nhìn bất công. Ta bắt đầu bằng việc không còn thấy người kia như một con người trọn vẹn. Ta biến họ thành “thằng ấy”, “con ấy”, “đám ấy”, “bọn ấy”. Ta gom một cá nhân vào nhãn nhóm. Ta lấy một lỗi để định nghĩa cả đời người. Ta lấy một ý kiến để xóa toàn bộ phẩm giá. Khi ngôn ngữ đã tước nhân tính, bạo lực trở nên dễ hơn. Vì vậy việc giữ gìn ngôn ngữ là việc sinh thái. Ngôn ngữ là môi trường ta trao cho nhau để sống. Có gia đình người ta lớn lên trong một khí hậu ngôn ngữ độc hại: ngu, vô dụng, không bằng ai, đồ thất bại. Những từ ấy không biến mất sau khi được nói. Chúng có thể sống nhiều năm trong trí nhớ người nghe. Có người trưởng thành vẫn mang giọng của cha mẹ trong đầu, giọng luôn bảo họ không đủ tốt. Khôi phục là ngừng truyền độc chất ấy cho thế hệ sau. Ta phải học nói thật mà không hủy người. Sửa lỗi mà không làm nhục. Đặt giới hạn mà không thù ghét. Phản đối mà vẫn tôn trọng. Một nền văn hóa không học được điều này sẽ tự đầu độc mình.
Mạng xã hội làm thách đố ấy dữ dội hơn. Trên màn hình, người khác rất dễ trở thành biểu tượng thay vì khuôn mặt. Ta không thấy mắt họ khi mình viết câu cay độc. Ta không nghe giọng con họ. Ta không biết đêm đó họ đang trải qua điều gì. Thuật toán thường ưu tiên nội dung gây giận vì giận giữ người dùng ở lại. Vậy là sự khinh miệt có thể trở thành một mô hình kinh doanh. Người Kitô hữu cần tỉnh thức đặc biệt. Không phải mọi điều đúng đều cần nói theo mọi cách. Không phải mọi lỗi của người khác đều cần ta công khai. Không phải mọi tin xấu đều cần chia sẻ. Không phải mọi tranh luận đều cần thắng. Có khi việc sinh thái nhất ta có thể làm trên mạng là không thêm một lượng độc tính nữa vào bầu khí chung. Kiểm chứng trước khi chia sẻ. Không cắt ghép lời người khác để làm họ xấu đi. Không hả hê trước thất bại của người mình không ưa. Không biến đau khổ của ai thành nội dung tiêu khiển. Không dùng ẩn danh để làm điều mình không dám làm trước mặt người đó. Bảo vệ môi trường số cũng là bảo vệ ngôi nhà chung, bởi con người ngày nay sống một phần rất lớn đời tâm lý và xã hội trong môi trường ấy.
Khôi phục với anh chị em cũng liên quan đến sự cô đơn. Có một nghịch lý của thời hiện đại: kết nối kỹ thuật tăng nhưng nhiều người cảm thấy không có ai. Sinh thái lành mạnh cần tương quan thật. Một người không thể sống chỉ bằng thông tin. Ta cần khuôn mặt, giọng nói, sự hiện diện, cái chạm, bữa ăn chung, thời gian không hiệu suất. Người già đặc biệt dễ bị bỏ lại. Trong một nền kinh tế tôn thờ năng suất, người không còn “sản xuất” dễ bị xem là gánh nặng. Nhưng phẩm giá không giảm theo năng suất. Một cụ già kể đi kể lại câu chuyện cũ vẫn là một kho ký ức. Một người bệnh nằm lâu vẫn có phẩm giá tuyệt đối. Một trẻ khuyết tật không cần chứng minh “đóng góp” để xứng đáng được yêu. Xã hội chỉ thật văn minh khi người yếu không cần xin lỗi vì mình yếu. Khôi phục với anh chị em là xây những cộng đồng nơi người ta không bị vứt bỏ khi không còn hữu dụng.
Nền văn hóa vứt bỏ áp dụng cùng một logic cho đồ vật và con người. Đồ hỏng thì bỏ. Người không đáp ứng kỳ vọng cũng bỏ. Hôn nhân khó thì bỏ. Nhân viên yếu thì bỏ. Người già thì gửi đi và quên. Người phạm lỗi thì đóng nhãn. Người khác quan điểm thì chặn khỏi thế giới đạo đức của mình. Dĩ nhiên có những thứ phải bỏ, có những quan hệ phải kết thúc, có những người phải bị ngăn không tiếp tục gây hại. Nhưng khi “bỏ” trở thành phản xạ đầu tiên, lòng người đã bị logic tiêu thụ định hình. Khôi phục đòi học sửa. Sửa đồ. Sửa tương quan. Sửa chính mình. Sửa không phải lúc nào cũng thành công. Có những đồ vật không sửa được, có những tương quan không thể trở về như trước. Nhưng thái độ sẵn sàng sửa là một đức tính sinh thái. Nó chống lại sự hấp tấp muốn thay mọi thứ bằng cái mới. Trong tương quan con người, điều này có nghĩa là chịu khó đối thoại, nghe, xin lỗi, đi trị liệu khi cần, nhờ người trung gian, cầu nguyện, chờ thời gian. Không phải vì mọi quan hệ đều phải giữ bằng mọi giá, mà vì con người không phải đồ dùng một lần.
Người nghèo phải ở trung tâm của công cuộc khôi phục với anh chị em. Không phải vì người nghèo tốt hơn về mặt đạo đức, nhưng vì họ dễ bị đè dưới hậu quả của những hệ thống họ ít có khả năng điều khiển nhất. Tình yêu ưu tiên người nghèo không phải thiên vị bất công. Nó giống cách bác sĩ ưu tiên bệnh nhân nặng, lính cứu hỏa ưu tiên người đang mắc kẹt. Một cộng đồng muốn chữa lành phải nhìn nơi đau nhất trước. Với sinh thái cũng vậy. Khi một dự án được đề xuất, câu hỏi đầu tiên không nên chỉ là lợi nhuận bao nhiêu mà là người yếu sẽ bị tác động thế nào. Khi thiên tai đến, ai không có tiền để di chuyển? Khi giá năng lượng tăng, ai phải cắt bữa? Khi nước bị nhiễm, ai không thể mua nước sạch? Khi nông nghiệp thay đổi, ai mất sinh kế? Khi rừng được bảo tồn, người dân sống nhờ rừng có được tham gia hay chỉ bị đẩy đi? Công lý sinh thái không thể lấy việc bảo vệ thiên nhiên làm lý do hy sinh người nghèo thêm lần nữa. Cũng không thể lấy người nghèo làm lý do để tiếp tục phá hủy môi trường khiến chính họ chịu hậu quả lâu dài. Cần những giải pháp vừa bảo vệ tạo thành vừa bảo vệ phẩm giá.
Khôi phục còn là liên đới giữa các thế hệ. Anh chị em của ta không chỉ là người đang sống. Còn có những người chưa sinh. Họ không bỏ phiếu. Họ không viết đơn. Họ không kiện ta. Nhưng họ sẽ sống với những gì ta để lại. Một thế hệ có thể tiêu hết vốn tự nhiên rồi để hóa đơn cho con cháu. Điều đó là bất công liên thế hệ. Trong gia đình Việt Nam, ta thường nói thương con, lo cho cháu. Nhưng tình thương ấy phải được mở rộng đến chất lượng đất, nước, không khí, nợ công, cơ cấu xã hội, văn hóa mà ta truyền lại. Không thể nói thương con mà dạy nó phải cạnh tranh bằng mọi giá. Không thể nói thương cháu mà phá những điều kiện sống cơ bản của tương lai. Liên đới liên thế hệ đòi từ bỏ một phần tiện nghi hiện tại để người chưa sinh vẫn có không gian sống. Đây là hình thức yêu người mình chưa gặp.
Trong bối cảnh Việt Nam, khôi phục với anh chị em mang nhiều khuôn mặt rất cụ thể. Đó là khôi phục tương quan giữa thành thị và nông thôn, để người thành phố không chỉ xem nông thôn như nơi cung cấp thực phẩm rẻ còn người nông dân gánh rủi ro thời tiết, giá cả, đất đai. Đó là nhìn người lao động nhập cư không phải như “dân tạm trú” nhưng là những người đang góp sức làm thành phố vận hành. Đó là chăm sóc người già khi gia đình nhỏ dần và con cái đi làm xa. Đó là bảo vệ trẻ em trong một xã hội số hóa rất nhanh. Đó là học tôn trọng khác biệt vùng miền thay vì biến giọng nói, quê quán, nghề nghiệp thành chất liệu chế giễu. Đó là quan tâm đến đồng bào sống ở vùng dễ bị ảnh hưởng bởi hạn, mặn, lũ, sạt lở. Đó là đặt câu hỏi về cách phát triển khiến người có đất trở thành người mất đất, người có nghề truyền thống trở thành lao động bấp bênh. Đó là không coi sự hy sinh của người nghèo như giá phải trả hiển nhiên cho hiện đại hóa. Một dân tộc chỉ mạnh khi những người yếu cảm thấy họ thuộc về.
Hòa giải dân tộc không thể chỉ là khẩu hiệu. Hòa giải bắt đầu từ cách ta kể lịch sử, cách ta nói về nhau, cách ta để người khác có ký ức khác mình mà vẫn là đồng bào. Có những gia đình mang những câu chuyện rất khác về cùng một giai đoạn. Nếu mỗi ký ức chỉ được phép tồn tại bằng cách phủ nhận ký ức kia, vết thương sẽ không lành. Khôi phục đòi một sức mạnh tinh thần lớn: đủ trung thành với sự thật mà không dùng sự thật làm dao. Đủ nhớ để không lặp lại nhưng đủ tự do để không bị quá khứ bắt làm tù nhân. Người Công giáo có một kho tàng đặc biệt để đóng góp: bí tích hòa giải, linh đạo tha thứ, ý thức mọi người đều là tội nhân cần ân sủng, và niềm tin rằng lịch sử có thể được cứu chuộc mà không cần bị xóa.
Cộng đoàn Dòng Chúa Cứu Thế cũng không đứng ngoài lời mời gọi này. Một linh đạo về Đấng Cứu Chuộc dồi dào không thể không trở thành linh đạo hòa giải. Nếu Đức Kitô đã đổ máu để phá bức tường ngăn cách, người môn đệ của Người không thể thấy bình thường khi các bức tường mới được xây trong cộng đoàn, giáo xứ, xã hội. Sứ mạng với người nghèo nhất và bị bỏ rơi nhất bắt đầu bằng việc không tạo thêm người bị bỏ rơi ngay trong cách ta sống với nhau. Có thể ta nói rất hùng hồn về người nghèo ngoài phố nhưng một anh em trong nhà đang bị cô lập. Có thể ta tổ chức nhiều việc bác ái nhưng nhân viên làm việc với mình lại bị đối xử thiếu công bằng. Có thể ta giảng lòng thương xót nhưng trong nội bộ giữ hồ sơ lỗi nhau nhiều năm. Đây là những mâu thuẫn cần được đặt dưới ánh sáng Tin Mừng, không để kết án, nhưng để hoán cải.
Khôi phục với anh chị em cuối cùng bắt đầu từ việc nhìn người khác như Thiên Chúa nhìn. Điều này không dễ, vì ta không có cái nhìn của Thiên Chúa. Nhưng ta có thể xin. Thiên Chúa thấy lỗi mà không giảm con người thành lỗi. Người thấy cả điều chúng ta không thấy: tuổi thơ, vết thương, nỗi sợ, cơ hội đã mất, những lần người ấy đã cố mà thất bại. Điều đó không xóa trách nhiệm. Nhưng nó làm ta chậm phán xét. Có những người rất khó sống cùng. Có những hành vi cần giới hạn rõ. Tình yêu Kitô giáo không phải ngây thơ. Đức Giêsu vừa thương xót vừa nói sự thật. Người tha thứ nhưng cũng nói “đừng phạm tội nữa”. Người yêu kẻ thù nhưng không để cái ác được gọi là thiện. Khôi phục là giữ được cả hai: phẩm giá của người và sự thật về hành vi.
Có lẽ một trong những thực hành sinh thái sâu nhất là học biết đủ với người khác. Ta thường muốn người khác phải cho ta đủ sự quan tâm, đủ lời khen, đủ trung thành, đủ hiểu biết, đủ đúng ý. Khi họ không đáp ứng, ta thất vọng và trừng phạt. Nhưng không ai có thể làm nguồn sống tuyệt đối cho người khác. Chỉ Thiên Chúa mới là nguồn vô tận. Khi đòi một người hữu hạn phải lấp mọi thiếu thốn của mình, ta sẽ khai thác họ như khai thác tài nguyên. Có những cuộc hôn nhân kiệt quệ vì một người bắt người kia gánh toàn bộ ý nghĩa đời mình. Có những tình bạn vỡ vì kỳ vọng sở hữu. Có những cộng đoàn ngột ngạt vì người lãnh đạo cần mọi người xác nhận mình. Sinh thái tương quan đòi giới hạn. Yêu mà không chiếm. Gần mà không nuốt. Quan tâm mà không kiểm soát. Đây cũng là “gìn giữ”.
Ngược lại, ta cũng cần học trao ban chính mình mà không tự hủy. Có người vì muốn yêu thương đã không biết đặt ranh giới, để người khác lạm dụng mình. Điều đó không phải đức ái. Đức Giêsu trao ban mạng sống cách tự do, không vì bị thao túng. Người có lúc rút lui, có lúc không đáp ứng đòi hỏi của đám đông, có lúc nói “không”. Khôi phục với anh chị em cần những ranh giới lành mạnh. Tha thứ không đồng nghĩa để bạo hành tiếp tục. Hiệp nhất không đồng nghĩa che giấu sai phạm. Khiêm nhường không đồng nghĩa để người khác chà đạp phẩm giá. Một hệ sinh thái lành mạnh có biên giới: da bảo vệ cơ thể, bờ giữ dòng sông, màng tế bào giữ sự sống. Tương quan cũng cần biên giới để tình yêu có thể thở.
Sau cùng, khôi phục với anh chị em là một công trình rất cụ thể, rất chậm, rất không hào nhoáng. Nó không thường tạo ra những hình ảnh đẹp để đăng. Có thể là một cuộc gọi cho người đã lâu không nói chuyện. Một lời xin lỗi. Một khoản nợ được trả. Một mối bất hòa được đưa ra ánh sáng. Một người nghèo được mời ngồi cùng bàn chứ không chỉ nhận túi quà. Một nhân viên được trả công công bằng. Một đứa trẻ được nghe hết câu. Một người già được thăm. Một bình luận ác bị xóa trước khi gửi. Một cuộc họp trong đó người yếu cũng được nói. Một quyết định phát triển được điều chỉnh vì ảnh hưởng đến cộng đồng. Một giáo xứ học làm việc chung. Một gia đình bắt đầu ăn tối không điện thoại. Một người từ bỏ quyền phải thắng để giữ được tình người. Những việc nhỏ ấy không lên báo. Nhưng chính chúng khôi phục hệ sinh thái nhân loại.
Không nói môi trường hay mà sống dữ với người trong nhà. Câu này cần được giữ như một nguyên tắc xét mình. Bởi vì người gần nhất thường là nơi sự thật về linh đạo của ta lộ ra. Ta có thể giữ hình ảnh tử tế trước công chúng nhưng người nhà biết ta thật sự thế nào khi mệt, khi bị trái ý, khi không ai vỗ tay. Sinh thái không chỉ hỏi ta đối xử với rác thế nào. Nó hỏi ta đối xử với người làm ta phiền thế nào. Không chỉ hỏi ta có tiết kiệm nước không, mà hỏi lời ta nói có làm người khác khô héo không. Không chỉ hỏi ta có trồng cây không, mà hỏi có ai gần ta đang không thể lớn lên vì bị ta che hết ánh sáng không. Không chỉ hỏi ta có bảo vệ loài yếu không, mà hỏi người yếu trong gia đình và cộng đoàn có được ta bảo vệ không. Không chỉ hỏi ta có chống ô nhiễm không, mà hỏi ta có đang làm ô nhiễm bầu khí bằng giận dữ, mỉa mai, nói xấu, thù hận không.
Khôi phục với anh chị em vì thế không phải một chương đạo đức đặt cạnh chương môi trường. Nó là phần ruột của sinh thái Kitô giáo. Thiên Chúa không cứu những cá nhân rời rạc để mỗi người lên trời một mình. Người quy tụ một dân, xây một thân thể, chuẩn bị một thành thánh. Thành Giêrusalem mới không phải khu nghỉ dưỡng riêng cho những người đạo đức. Đó là thành của hiệp thông, nơi Thiên Chúa ở cùng nhân loại, nơi nước sự sống chảy, cây sự sống sinh trái và lá cây dùng chữa lành các dân. Hình ảnh cuối cùng của Kinh Thánh nối thiên nhiên được chữa lành với các dân tộc được chữa lành. Không thể tách. Cây và thành. Sông và dân. Thiên Chúa và con người. Sự sống và hòa bình.
Bởi vậy, khi xét mình về ngôi nhà chung, ta cần hỏi: Tôi đang bất hòa với ai? Tôi đang khinh ai? Tôi đang tránh ai vì kiêu ngạo chứ không phải vì cần ranh giới? Tôi có nợ ai một lời xin lỗi không? Tôi có đang sử dụng quyền lực của mình để người khác phải chịu đựng không? Tôi có trả công công bằng không? Tôi có xem người nghèo như người anh em hay như đối tượng? Gia đình tôi có bầu khí để mỗi người được nói và được nghe không? Giáo xứ tôi có ai đang bị bỏ bên lề không? Cộng đoàn tôi có những vết thương nào bị che bằng hoạt động? Tôi có tham gia lan truyền hận thù trên mạng không? Tôi có thể làm một việc hòa giải cụ thể trong tuần này không? Những câu hỏi ấy cũng là câu hỏi sinh thái.
Và trên hết, ta cần nhớ rằng việc khôi phục này không thể hoàn tất chỉ bằng sức người. Có những vết thương sâu hơn khả năng xử lý của ta. Có những mối quan hệ ta đã cố nhiều lần. Có những lỗi không thể sửa hết hậu quả. Có những người đã qua đời trước khi ta kịp xin lỗi. Có những cộng đồng mang lịch sử quá nặng. Vì thế người Kitô hữu khôi phục trong hy vọng vào Đấng Hòa Giải. Đức Kitô là bình an của chúng ta. Người không chỉ dạy hòa bình; Người làm hòa bằng chính thân thể bị đóng đinh. Hai cánh tay mở trên thập giá là cánh tay ôm những phía đối nghịch. Máu và nước chảy từ cạnh sườn Người là suối mới cho một nhân loại đã tự đầu độc bằng bạo lực. Phục sinh nói rằng tội không có lời cuối, hận thù không có lời cuối, đổ vỡ không có lời cuối. Có thể bắt đầu lại.
Khi một người bắt đầu xin lỗi thật, ngôi nhà chung được chữa một chút. Khi một gia đình bỏ được một vòng bạo lực truyền từ đời này sang đời khác, ngôi nhà chung được chữa một chút. Khi một giáo xứ thôi chia phe và học lắng nghe, ngôi nhà chung được chữa một chút. Khi một doanh nghiệp đặt phẩm giá lao động trên một phần lợi nhuận, ngôi nhà chung được chữa một chút. Khi một dân tộc học nhớ mà không hận, ngôi nhà chung được chữa một chút. Khi người giàu chia sẻ để người nghèo đứng được bằng đôi chân mình, ngôi nhà chung được chữa một chút. Khi ta nhìn người bất đồng và vẫn gọi họ là anh chị em, ngôi nhà chung được chữa một chút.
Khôi phục với anh chị em không phải việc bên lề của sinh thái. Đó là học lại cách ở chung trên trái đất. Đất này không chỉ cần ít rác hơn. Nó cần ít khinh miệt hơn. Không khí không chỉ cần ít khí độc hơn. Nó cần ít lời độc hơn. Thành phố không chỉ cần thêm cây. Nó cần thêm công lý. Gia đình không chỉ cần nhà rộng. Nó cần lòng rộng. Giáo xứ không chỉ cần hoạt động xanh. Nó cần hiệp thông thật. Dân tộc không chỉ cần tăng trưởng. Nó cần khả năng sống với ký ức, khác biệt và tương lai trong hòa bình. Nhân loại không chỉ cần cứu hành tinh như cứu một vật thể. Nhân loại cần học lại rằng hành tinh này là nhà, và những người đang ở trong nhà không phải đối thủ giành phần, nhưng là anh chị em.
Khi ta gọi nhau là anh chị em, đó không phải phép lịch sự đạo đức. Đó là một tuyên bố thần học. Ta có cùng một Cha. Không phải tất cả cùng một tính, cùng một văn hóa, cùng một quan điểm, cùng một lịch sử, cùng một đức tin, nhưng tất cả nhận sự sống từ một nguồn. Với người đã chịu Phép Rửa, tình huynh đệ còn đi sâu hơn: cùng một Thân Thể Đức Kitô. Không ai có thể nói với chi thể khác: “Tôi không cần anh.” Ngôi nhà chung được chữa lành khi câu nói của Cain bị đảo ngược. Không còn: “Con là người giữ em con hay sao?” Nhưng là: “Vâng, đời sống của anh chị em con có phần trong trách nhiệm của con.” Không phải trách nhiệm chiếm hữu. Không phải trách nhiệm cứu thế. Là trách nhiệm của tình yêu.
Và có lẽ đó là dấu hiệu rõ nhất của hoán cải sinh thái: ta thôi nhìn thế giới như một tập hợp tài nguyên và thôi nhìn người khác như một tập hợp chức năng. Cây không chỉ là gỗ. Sông không chỉ là nước dùng. Con người không chỉ là khách hàng, nhân công, cử tri, giáo dân, cấp dưới, đối thủ, người phục vụ, người gây phiền. Mỗi người là một mầu nhiệm được Thiên Chúa gọi tên. Khi cái nhìn ấy trở lại, công lý trở nên có thể, tha thứ trở nên có thể, chia sẻ trở nên có thể, hòa bình trở nên có thể. Và ngôi nhà chung bắt đầu có lại một điều mà mọi công nghệ xanh đều không thể tự tạo ra: tình huynh đệ.

CHƯƠNG 32. KHÔI PHỤC VỚI MỌI LOÀI THỤ TẠO
Khi nói đến khôi phục tương quan với mọi loài thụ tạo, người Kitô hữu không bắt đầu từ một khẩu hiệu môi trường, cũng không bắt đầu từ nỗi sợ rằng trái đất sắp hết tài nguyên, nhưng bắt đầu từ một xác tín đức tin rất căn bản: thế giới này không phải do chúng ta làm ra, không thuộc về chúng ta theo nghĩa tuyệt đối, và mọi loài hiện hữu trước khi có ích cho con người thì đã được Thiên Chúa muốn cho hiện hữu. Điều ấy thay đổi tận gốc cách chúng ta nhìn đất, nước, cây cối, thú vật, biển cả, không khí, rừng núi, đồng ruộng và cả những hệ sinh thái mà phần lớn chúng ta không bao giờ tận mắt thấy. Một cánh rừng không chỉ có giá trị vì nó giữ nước, hấp thụ carbon, cho gỗ, cho dược liệu hay làm điểm du lịch. Một dòng sông không chỉ đáng quý vì tưới ruộng, vận chuyển hàng hóa, phát điện hay cung cấp nước sinh hoạt. Một giống chim không chỉ đáng bảo vệ vì có thể đem lại lợi ích nào đó cho kinh tế hoặc khoa học. Tất cả những thực tại ấy trước hết là thụ tạo. Chúng hiện hữu vì được gọi vào hiện hữu. Chúng đứng trong một trật tự mà nguồn gốc và cùng đích không phải là con người nhưng là Thiên Chúa. Con người có một vị trí đặc biệt trong trật tự ấy, có lý trí, tự do, lương tâm, trách nhiệm và phẩm giá độc đáo vì được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, nhưng chính vị trí đặc biệt ấy không làm chúng ta thành kẻ được quyền cư xử tùy tiện. Trái lại, nó đặt chúng ta dưới một trách nhiệm lớn hơn. Người quản gia không được phá nhà của chủ rồi biện minh rằng mình được giao chìa khóa. Người giữ vườn không được biến khu vườn thành mỏ khai thác vô hạn rồi nói rằng mình đang thi hành quyền làm chủ. Người được trao nhiều sẽ bị đòi nhiều. Khôi phục với mọi loài thụ tạo vì thế trước hết là khôi phục lại cái nhìn đúng: nhìn thụ tạo như thụ tạo, nhìn mình như thụ tạo có trách nhiệm, nhìn Thiên Chúa như Chủ thật sự của tất cả những gì đang hiện hữu.
Một trong những dấu hiệu cho thấy tương quan của con người hôm nay với tạo thành đã bị méo mó nằm ngay trong ngôn ngữ. Chúng ta đặt tên mọi sự theo công dụng của chúng đối với mình. Cây thành gỗ. Đất thành bất động sản. Sông thành nguồn nước. Núi thành khoáng sản. Biển thành ngư trường. Thú vật thành sản lượng. Thậm chí chính những gì chúng ta loại bỏ cũng được gom vào một danh từ rất tiện lợi: “rác thải”. Chữ ấy không sai về mặt kỹ thuật, nhưng nó dễ che giấu một thái độ nguy hiểm: cái gì không còn hữu ích cho tôi thì có thể bị đẩy đi đâu đó, miễn đừng ở trước mắt tôi. Ly nhựa uống xong trở thành chuyện của người khác. Bao bì mở xong trở thành chuyện của xe rác. Nước bẩn xả đi trở thành chuyện của con sông. Khí thải bay lên trở thành chuyện của bầu trời. Hóa chất ngấm xuống đất trở thành chuyện của thế hệ sau. Chúng ta sống như thể có một nơi gọi là “bên ngoài” để ném mọi hậu quả của đời sống mình vào đó. Nhưng trên một hành tinh hữu hạn, không có cái “bên ngoài” ấy. Rác không biến mất vì xe rác đã khuất cuối đường. Nước thải không biến mất vì ống cống nằm dưới đất. Khói không biến mất vì gió thổi nó khỏi khu phố của mình. Cái mà ta gọi là “bỏ đi” thực ra chỉ là chuyển nó từ chỗ ta thấy sang chỗ ta không thấy. Và nhiều khi chỗ ta không thấy ấy lại là ruộng của người nghèo, kênh của một khu dân cư yếu thế, vùng biển của một cộng đồng ngư dân, bãi chôn lấp sát nơi những đứa trẻ đang lớn lên, hay khí quyển mà con cháu chúng ta sẽ tiếp tục thở. Bởi vậy, khôi phục bắt đầu bằng việc đặt tên lại. Không phải để chơi chữ, nhưng để sửa cái nhìn. Thay vì nghĩ “rác” là thứ không còn liên quan tới mình, phải học nghĩ đó là vật chất mà mình chịu trách nhiệm sau khi sử dụng. Thay vì nghĩ nước bẩn là thứ chỉ cần đẩy khỏi nhà, phải nghĩ đó là nước đang được trả lại cho một hệ thống sự sống. Thay vì nghĩ đồ cũ là đồ hết giá trị, phải học lại khả năng sửa chữa, dùng tiếp, chia sẻ, tái sử dụng. Khi ngôn ngữ thay đổi theo hướng trách nhiệm, lương tâm cũng bắt đầu thay đổi.
Con người hiện đại rất giỏi làm cho các chuỗi hậu quả trở nên vô hình. Ta mua một món hàng nhưng không thấy khu mỏ nơi nguyên liệu được khai thác, không thấy nhà máy nơi năng lượng được tiêu thụ, không thấy công nhân đứng mười tiếng bên dây chuyền, không thấy con tàu chở hàng xuyên đại dương, không thấy bao bì sau đó đi đâu, không thấy lượng điện dùng cho kho hàng, máy lạnh, quảng cáo, dữ liệu và vận chuyển. Ta bấm một nút và sản phẩm xuất hiện trước cửa. Sự tiện lợi càng lớn, mối liên hệ càng bị che khuất. Chính vì thế linh đạo sinh thái cần phục hồi khả năng nối các điểm lại với nhau. Một món đồ không xuất hiện từ hư không. Một bữa ăn không bắt đầu ở siêu thị. Một chiếc áo không bắt đầu trên giá. Một miếng thịt không bắt đầu trong khay. Một trái xoài không bắt đầu trong thùng hàng. Đằng sau chúng là đất, nước, hạt giống, phân bón, lao động, thời tiết, giao thông, năng lượng, con người và nhiều dạng sống khác. Người có đức tin càng phải học nhìn chuỗi ấy, vì đức tin không cho phép chúng ta chỉ thấy món quà mà quên người trao, chỉ thấy sản phẩm mà quên tạo thành, chỉ thấy lợi ích cuối cùng mà quên những tổn thất ẩn phía sau. Khôi phục với mọi loài thụ tạo là tập sống trong ý thức rằng mỗi hành vi tiêu dùng đều là một quan hệ, mỗi quyết định kinh tế đều chạm đến một mạng sống, và mỗi lần lấy từ trái đất là một lần ta phải tự hỏi mình có đang lấy theo cách có thể trả lại, gìn giữ và truyền tiếp hay không.
Ở đây chúng ta phải học lại một sự khôn ngoan rất cũ mà nền văn minh tốc độ đang quên: sự chậm của nông nghiệp khôn ngoan. Hạt giống không chịu nghe lệnh của con người. Ta có thể chọn giống, tưới nước, bón phân, làm đất, điều chỉnh ánh sáng trong những điều kiện nhất định, nhưng vẫn có một nhịp điệu mà ta không thể hoàn toàn cưỡng bức mà không phải trả giá. Cây phải mọc. Rễ phải xuống. Đất phải hồi phục. Mùa phải đi qua. Nước phải ngấm. Hệ sinh vật trong đất phải hoạt động. Con vật phải có thời gian lớn lên. Quả phải chín. Đời sống có nhịp của nó. Kỹ thuật có thể trợ giúp nhịp ấy, nhưng khi kỹ thuật biến thành ý chí bắt sự sống chạy theo tốc độ của lợi nhuận, sự lệch lạc bắt đầu. Đất bị ép cho vụ này sang vụ khác mà không được phục hồi. Nước ngầm bị hút nhanh hơn khả năng tái tạo. Phân hóa học được dùng vượt quá sức đất hấp thụ. Thuốc bảo vệ thực vật tiêu diệt không chỉ loài gây hại mà cả mạng lưới sinh vật giữ cho ruộng còn sống. Giống bản địa biến mất vì chỉ một số giống thương mại có năng suất trước mắt cao hơn. Những hệ thống canh tác từng hiểu mùa nước, mùa khô, sức đất và tính đa dạng dần bị thay bằng logic càng nhanh càng tốt, càng nhiều càng tốt. Nhưng trái đất không đọc báo cáo quý. Cây không biết chỉ tiêu doanh số. Mùa không biết kế hoạch tăng trưởng. Sinh học không ký hợp đồng với thị trường. Khi con người quên điều đó, tự nhiên sẽ nhắc lại bằng đất chai, nước cạn, sâu bệnh tăng, đa dạng sinh học giảm và sức chống chịu của cả hệ thống suy yếu.
“Học lại sự chậm” không có nghĩa là lãng mạn hóa một nền nông nghiệp nghèo nàn, thủ công và thiếu khoa học. Đó sẽ là một ngộ nhận khác. Khoa học là một ân huệ lớn. Công nghệ nông nghiệp có thể giảm lao động nặng, tăng hiệu quả sử dụng nước, phát hiện bệnh sớm, giảm thất thoát, cải thiện giống, bảo vệ mùa màng, giúp thích ứng với khí hậu biến đổi và bảo đảm lương thực cho hàng tỷ người. Vấn đề không nằm ở khoa học. Vấn đề nằm ở câu hỏi: khoa học phục vụ điều gì? Nếu khoa học phục vụ sự sống, phục vụ người nông dân, phục vụ đất, phục vụ an ninh lương thực lâu dài, phục vụ người nghèo và phục vụ những giới hạn sinh thái thật sự, nó là một hình thức tham dự tuyệt đẹp vào công trình gìn giữ tạo thành. Nhưng nếu khoa học bị đặt hoàn toàn dưới logic tối đa hóa lợi nhuận trong thời gian ngắn, nó có thể trở thành công cụ làm tăng tốc một sai lầm. Một kỹ thuật rất giỏi vẫn có thể phục vụ một mục tiêu rất dở. Một hệ thống cực kỳ hiệu quả vẫn có thể hiệu quả trong việc làm cạn nước, làm nghèo đất, loại bỏ nông dân nhỏ, phá sinh cảnh hoặc làm một vài tập đoàn giàu lên trong khi cả cộng đồng mất khả năng tự chủ. Khôn ngoan không hỏi chỉ “có làm được không?” Khôn ngoan hỏi thêm “có nên làm không?”, “làm đến đâu?”, “ai được lợi?”, “ai chịu hậu quả?”, “hậu quả kéo dài bao lâu?”, “thế hệ sau nhận lại điều gì?”, “những loài không thể lên tiếng bị ảnh hưởng ra sao?” và cuối cùng “điều này có phù hợp với ơn gọi quản gia mà Thiên Chúa trao cho con người hay không?”
Một chiều kích khác của việc khôi phục là học lại sự kính trọng của hành vi “không lấy hết”. Văn hóa kinh tế hiện đại thường khen người nào biết tận dụng tối đa. Mỏ phải khai thác tối đa. Đất phải sử dụng tối đa. Mặt bằng phải xây kín tối đa. Sông phải khai thác tối đa. Năng suất phải tối đa. Thời gian lao động phải tối đa. Khả năng chú ý của người dùng cũng phải được các nền tảng khai thác tối đa. Nhưng Kinh Thánh có một trực giác khác: không phải mọi cái ta có khả năng lấy đều phải lấy. Trong luật dành cho Israel, ruộng không được gặt vét hoàn toàn; một phần được để lại cho người nghèo và ngoại kiều. Cây không phải lúc nào cũng bị nhìn như tài sản của chủ ruộng đến mức chủ có quyền tận thu. Năm sabát dạy rằng đất cũng cần được nghỉ. Những quy định ấy xuất phát từ một thế giới nông nghiệp cổ, nhưng nguyên tắc thần học bên dưới vẫn còn sức mạnh kinh khủng: sở hữu của con người không bao giờ tuyệt đối. Quyền sử dụng luôn mang một giới hạn đạo đức. Có những phần phải để lại. Có những nhịp phải tôn trọng. Có những chỗ phải chừa. Có những nguồn phải truyền lại. Có những thứ ta không lấy không phải vì ta chưa có máy đủ mạnh, nhưng vì không lấy là điều đúng.
Sự kính trọng của “không lấy hết” đặc biệt quan trọng đối với đa dạng sinh học. Một cánh rừng sống không phải là một kho cây giống nhau. Một cánh đồng sống không phải chỉ là một bề mặt sản xuất. Một vùng đất ngập nước không phải đất “chưa tận dụng”. Một bờ sông có cây bụi, côn trùng, chim, cá nhỏ và vi sinh vật không phải khoảng trống kinh tế. Có những không gian cần được tồn tại chính vì các loài khác cũng cần chỗ. Khi con người chiếm hết bờ, lấp hết ao, chiếu sáng hết đêm, bê tông hóa hết đất, rào kín hết đồng, đánh bắt đến con cuối cùng, phá những bụi cây được xem là “vô ích”, ta đang hành động như thể chỉ loài người có quyền cư trú. Nhưng tạo thành không phải một căn nhà mà trong đó con người được quyền đuổi hết các thành viên khác ra ngoài rồi gọi đó là phát triển. Sự khiêm nhường sinh thái bắt đầu ở một câu rất đơn giản: phải để chỗ cho loài khác sống. Chừa một dải cây ven sông. Giữ một vùng sinh sản. Để một phần rừng không bị đụng tới. Giảm ánh sáng ở nơi các loài cần bóng tối. Không săn trong mùa sinh sản. Không bắt cá non. Không mua bán động vật hoang dã chỉ vì tò mò, khoe sang hoặc nhu cầu giải trí. Không biến mọi bãi đất thành bê tông. Không nghĩ một khuôn viên sạch sẽ là khuôn viên không có lá rụng, cỏ dại, côn trùng và chim chóc. Đôi khi cái mà con người gọi là “gọn” lại là một hệ sinh thái đã bị làm nghèo đến mức gần như không còn sự sống nào ngoài con người.
Sự khiêm nhường ấy đặc biệt khó đối với một nền văn hóa đã quen nghĩ mình có quyền định nghĩa loài nào có ích và loài nào vô ích. Muỗi truyền bệnh thì phải kiểm soát, điều đó đúng. Sâu bệnh phá mùa màng cần được quản lý, điều đó cũng đúng. Con người có trách nhiệm bảo vệ sức khỏe và lương thực. Nhưng từ nhu cầu quản lý đến tâm thức tiêu diệt mọi thứ làm mình khó chịu là một bước rất gần. Chúng ta dễ coi côn trùng là ghê, rắn là đáng giết, chim là phiền, cỏ hoang là xấu, thú hoang là nguy hiểm, cây già là vướng. Cái gì không phục vụ trực tiếp sở thích của mình dễ bị xếp vào danh mục cần loại bỏ. Khôi phục với tạo thành đòi một sự trưởng thành trong cái nhìn: không phải mọi loài đều được tạo ra để làm ta dễ chịu. Nhiều loài có vai trò trong hệ thống mà ta chỉ hiểu rất ít. Và ngay cả khi một loài không có công dụng rõ ràng đối với con người, điều đó cũng không có nghĩa sự hiện hữu của nó vô nghĩa. Giá trị của thụ tạo không bắt đầu từ bảng tính của chúng ta.
Tất nhiên, nói đến mọi loài thụ tạo không có nghĩa xóa bỏ mọi khác biệt giữa con người và các loài khác. Kitô giáo không dạy rằng một con người và một con vật có cùng phẩm giá ngôi vị. Con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, có trách nhiệm luân lý và một ơn gọi đặc biệt. Nhưng chính vì vậy, người Kitô hữu càng không được phép tàn nhẫn với loài vật. Quyền sử dụng động vật cho những nhu cầu chính đáng của con người không đồng nghĩa với quyền hành hạ. Nuôi vật để làm thực phẩm không cho phép bất cứ phương thức nào miễn là rẻ. Nghiên cứu khoa học không cho phép vô giới hạn. Giải trí không biện minh cho đau đớn vô ích. Một xã hội càng văn minh càng phải biết giảm sự đau khổ không cần thiết của những sinh vật có khả năng cảm nhận đau đớn. Một đứa trẻ được dạy biết thương con vật, không hành hạ một sinh vật yếu hơn mình, đang học một bài học đạo đức rất sâu: sức mạnh không phải giấy phép để gây đau. Người lớn cũng cần bài học ấy. Cách ta cư xử với những sinh vật không thể kiện ta, không thể bỏ phiếu chống ta, không thể viết báo tố cáo ta cho thấy khá rõ loại quyền lực ta đang mang trong lòng.
Khôi phục với mọi loài thụ tạo cũng đòi thay đổi quan niệm về sạch. Chúng ta thích một không gian “sạch” nhưng nhiều khi cái giá của sự sạch trước mắt là bẩn ở nơi khác. Nhà sạch vì nước tẩy rửa trôi xuống cống. Thành phố sạch vì rác được chở ra ngoại ô. Khu nghỉ dưỡng đẹp vì nước thải được đẩy qua một đường ống mà du khách không thấy. Sản phẩm sáng bóng vì quá trình sản xuất để lại bùn, hóa chất và khí thải ở một vùng công nghiệp khác. Một nền văn minh trưởng thành không chỉ hỏi chỗ tôi đứng có sạch hay không, nhưng toàn bộ vòng đời của việc tôi đang làm có sạch hơn hay không. Sạch sinh thái không phải giấu chất bẩn. Sạch là giảm việc tạo chất bẩn từ đầu, xử lý nó đúng cách, thiết kế để có thể tái sử dụng, tái chế hoặc trở về chu trình tự nhiên, và không chuyển gánh nặng từ người giàu sang người nghèo, từ thành thị sang nông thôn, từ hôm nay sang ngày mai.
Vì vậy, một nền kinh tế thật sự phù hợp với việc gìn giữ tạo thành phải học lại ý tưởng vòng tròn. Tự nhiên gần như không biết chữ “rác” theo nghĩa của chúng ta. Lá rụng thành mùn. Xác sinh vật trở lại đất. Nước tuần hoàn. Dinh dưỡng được chuyển từ dạng này sang dạng khác. Trong các hệ sinh thái lành mạnh, cái chết của một phần thường trở thành điều kiện cho sự sống của phần khác. Nền kinh tế con người lại thường vận hành theo một đường thẳng: khai thác, sản xuất, tiêu thụ, vứt bỏ. Càng nhiều hàng đi qua đường thẳng ấy càng được coi là tăng trưởng. Nhưng đường thẳng trên một hành tinh hữu hạn không thể kéo dài vô tận. Bởi vậy, tái sử dụng, sửa chữa, thiết kế bền, giảm bao bì, tái chế vật liệu, thu hồi sản phẩm sau sử dụng và kinh tế tuần hoàn không chỉ là sáng kiến kỹ thuật. Chúng biểu lộ một trực giác đạo đức: vật chất của tạo thành không phải thứ ta có quyền lấy một lần rồi biến thành gánh nặng lâu dài cho người khác.
Cũng cần nói rất rõ rằng khôi phục tạo thành không có nghĩa đưa trái đất trở về một bức ảnh tưởng tượng của năm 1500, trước công nghiệp, trước đô thị, trước công nghệ hiện đại. Không có một “thời vàng son sinh thái” đơn giản như vậy. Con người thời xưa cũng phá rừng, săn tuyệt chủng, gây xói mòn, ô nhiễm nguồn nước và khai thác lẫn nhau. Nghèo đói không phải là sinh thái. Tỷ lệ tử vong trẻ em cao không phải là sinh thái. Lao động nặng nhọc đến kiệt sức không phải là sinh thái. Thiếu thuốc men, thiếu nước sạch, thiếu điện, thiếu giao thông và thiếu khả năng chống thiên tai không phải là lý tưởng Kitô giáo. Chúng ta không được biến quá khứ thành thần tượng. Ơn gọi của con người không phải quay ngược lịch sử, nhưng đi tới trong sự khôn ngoan. Vấn đề không phải trở về trước máy móc, nhưng làm cho máy móc phục vụ sự sống. Không phải từ chối thành phố, nhưng xây thành phố đáng sống. Không phải từ chối điện, nhưng chuyển tới các hệ thống năng lượng ít phá hủy hơn và sử dụng điện có trách nhiệm. Không phải từ chối công nghiệp, nhưng làm cho công nghiệp chịu trách nhiệm về chất thải, khí thải, lao động và tài nguyên mà nó sử dụng. Không phải chống tăng trưởng theo một khẩu hiệu đơn giản, nhưng phải hỏi cái gì nên tăng và cái gì cần giảm. Sức khỏe nên tăng. Giáo dục nên tăng. Nhà ở tốt nên tăng. Nước sạch nên tăng. Khả năng tiếp cận năng lượng căn bản của người nghèo nên tăng. Khả năng phục hồi của hệ sinh thái nên tăng. Tuổi thọ sản phẩm nên tăng. Hiệu quả năng lượng nên tăng. Nhưng lãng phí nên giảm. Ô nhiễm nên giảm. Tiêu dùng phô trương nên giảm. Việc sản xuất đồ dùng ngắn hạn để kích thích mua lại liên tục nên giảm. Phá rừng nên giảm. Khai thác vượt sức phục hồi của thiên nhiên phải giảm. Trưởng thành sinh thái không nằm trong một chữ “tăng” hoặc “giảm”, nhưng trong khả năng phân định cái gì làm sự sống phong phú hơn và cái gì đang ăn vào nền tảng của chính sự sống.
Chính ở đây khoa học và đức tin phải gặp nhau đúng cách. Đức tin không thay dữ liệu khoa học. Khi muốn biết khí hậu đang thay đổi thế nào, phải nghe các nhà khí hậu học. Khi muốn biết một quần thể cá đang suy giảm ra sao, phải có dữ liệu sinh học và ngư nghiệp. Khi muốn biết một chất gây hại tới sức khỏe thế nào, cần độc chất học và y khoa. Khi muốn phục hồi một khu rừng, cần sinh thái học, lâm nghiệp, thủy văn và kiến thức địa phương. Cầu nguyện không thay cho đo đạc. Thiện chí không thay cho khoa học. Nhưng khoa học cũng không tự mình trả lời mọi câu hỏi đạo đức. Dữ liệu có thể nói một đập thủy điện tạo bao nhiêu megawatt, nhưng không tự quyết định bao nhiêu cộng đồng có thể bị di dời một cách công bằng. Mô hình có thể dự báo sản lượng, nhưng không tự trả lời lợi ích nên được phân phối thế nào. Công nghệ có thể cho phép khai thác ở độ sâu lớn hơn, nhưng không tự trả lời có nên khai thác hay không. Trí tuệ nhân tạo có thể tối ưu hóa chuỗi cung ứng, nhưng không thể tự định nghĩa đâu là đủ. Đó là nơi lương tâm, đạo đức, chính trị và đức tin phải lên tiếng. Khoa học cho ta biết nhiều hơn về cái đang xảy ra; khôn ngoan giúp ta quyết định mình phải trở thành loại người nào trước điều đang xảy ra.
Một nền khoa học phục vụ sự sống vì thế phải có một tiêu chuẩn rộng hơn lợi nhuận. Nó phải hỏi về người yếu thế, về cộng đồng địa phương, về những tổn thất không thể đảo ngược, về khả năng phục hồi của thiên nhiên, về tác động nhiều thế hệ. Nó phải giữ được sự khiêm tốn rằng hệ sinh thái phức tạp hơn mô hình. Lịch sử đầy những trường hợp con người đưa một loài vào để giải quyết một vấn đề rồi tạo ra vấn đề lớn hơn; dùng một hóa chất được coi là tiện lợi rồi nhiều thập niên sau mới thấy hậu quả; thay đổi một con sông vì một lợi ích trước mắt rồi mất phù sa, mất cá, mất đất ở một nơi khác. Điều đó không phải lý do để chống khoa học, nhưng là lý do để khoa học đi cùng thận trọng. Không phải mọi bất định đều là lý do không hành động, nhưng bất định cũng không được dùng làm giấy phép cho các can thiệp không thể đảo ngược chỉ vì có lợi trước mắt. Khi nguy cơ tổn hại nghiêm trọng và kéo dài, sự thận trọng có thể là một hình thức khôn ngoan luân lý.
Khôi phục với mọi loài thụ tạo cũng không thể chỉ được tiến hành trên giấy của chính phủ hoặc báo cáo của doanh nghiệp. Nó phải đi vào gia đình, giáo xứ, nhà dòng, trường học, cơ sở y tế, nơi hành hương và mọi không gian Hội Thánh đang sử dụng. Một giáo xứ nói về Laudato Si’ nhưng tiệc nào cũng dùng núi đồ dùng một lần không cần thiết thì bài giảng bị chính thùng rác sau tiệc phản bác. Một nhà dòng giảng tiết độ nhưng xây dựng, dùng điện, nước và thực phẩm không hề có ý thức thì linh đạo vẫn chưa chạm đất. Một trường Công giáo nói về trách nhiệm tạo thành mà sân trường không còn cây, mọi mặt đất đều bê tông, học sinh chỉ gặp thiên nhiên qua màn hình thì việc giáo dục còn thiếu. Một nơi hành hương đầy chai nhựa, thức ăn dư, rác xả và tiếng ồn không thể chỉ biện minh rằng người ta đến đó để cầu nguyện. Cầu nguyện mà không dạy con người tôn trọng nơi mình đứng là một cầu nguyện chưa trọn. Mỗi cộng đoàn Kitô hữu có thể bắt đầu rất cụ thể: kiểm tra sử dụng điện và nước, giảm đồ dùng một lần, phân loại rác khi hạ tầng cho phép, hạn chế lãng phí thực phẩm, giữ cây lâu năm, tạo khoảng xanh bản địa, không dùng hóa chất quá mức, xem lại thói quen xây dựng, ưu tiên sửa chữa trước khi thay mới, tính đến môi trường khi tổ chức lễ hội, hành hương và tiệc tùng. Không việc nào trong số ấy tự mình cứu hành tinh. Nhưng chúng làm một việc rất quan trọng: chúng biến điều Hội Thánh giảng thành một thói quen có thể nhìn thấy.
Đặc biệt, phải nói đến thực phẩm. Bữa ăn là nơi con người chạm tạo thành mỗi ngày. Không có hành vi nào thường xuyên hơn ăn, và ít hành vi nào bị tách khỏi nguồn gốc sâu như ăn trong đời sống đô thị hiện đại. Một hạt cơm là đất, nước, giống, công người, ánh sáng và thời gian. Vứt cơm không chỉ vứt một vật nhỏ. Nó vứt cả một chuỗi ơn đã đi vào hạt cơm. Một miếng thịt bị bỏ đi không chỉ là tiền. Đằng sau đó là thức ăn cho vật nuôi, nước, đất, năng lượng và một sinh vật đã chết để trở thành thực phẩm. Vì thế chống lãng phí thực phẩm là một hành vi thiêng liêng hơn ta tưởng. Nó không cần khẩu hiệu lớn. Chỉ cần lấy vừa đủ, bảo quản tốt, dùng phần còn lại, chia sẻ thức ăn dư đúng cách, tổ chức tiệc có trách nhiệm. Người Kitô hữu cầu “xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày” mà sau bữa ăn đổ đi lượng thức ăn đủ cho một gia đình khác cần phải nghe lại chính lời cầu nguyện của mình.
Nước cũng vậy. Trong phụng vụ, nước mang một chiều sâu khôn tả. Nước của phép Rửa, nước được làm phép, nước gợi cuộc Xuất Hành, nước từ cạnh sườn Đức Kitô. Nhưng nước ở vòi thường bị chúng ta đối xử như thể vô tận. Một người có thể kính cẩn chạm tay vào nước thánh rồi vài phút sau để vòi nước chảy vô ích mà không thấy có liên hệ. Khôi phục là nối lại các thế giới đã bị chia đôi ấy. Nước thiêng trong nhà thờ và nước đời thường không phải cùng một bí tích, nhưng đều thuộc tạo thành của Thiên Chúa. Sự kính trọng trong phụng vụ phải đào tạo sự kính trọng ngoài đời. Không ai trở nên thánh chỉ vì khóa vòi nước, nhưng một người không bao giờ học tiết độ trong những điều nhỏ rất khó nói mình đã để ân sủng chạm đến toàn bộ đời sống.
Khôi phục cũng liên quan đến ánh sáng và bóng tối. Các thành phố hiện đại có xu hướng nghĩ càng sáng càng an toàn, càng đẹp, càng phát triển. Nhưng ánh sáng nhân tạo quá mức cũng làm biến mất đêm, rối loạn đời sống của nhiều loài, thay đổi nhịp sinh học và làm con người mất một kinh nghiệm rất cổ: ngước lên thấy bầu trời. Một đứa trẻ thành phố có thể lớn lên mà chưa bao giờ thấy dải Ngân Hà. Điều ấy không chỉ là mất một cảnh đẹp. Nó là mất một trường chiêm ngắm. Bầu trời đêm từng làm con người nhận ra mình nhỏ, hỏi về vĩnh cửu, về trật tự, về Đấng dựng nên các vì sao. Khi đêm bị xóa khỏi kinh nghiệm sống, một cánh cửa của sự ngạc nhiên cũng khép lại. Bảo vệ bóng tối ở những nơi thích hợp vì thế cũng có thể là một phần của việc gìn giữ tạo thành.
Âm thanh cũng cần được khôi phục. Ô nhiễm không chỉ là khói và rác. Tiếng ồn liên tục làm nghèo đời sống con người và ảnh hưởng nhiều loài. Văn hóa hiện đại sợ im lặng đến mức nơi nào cũng phải có âm thanh: quán ăn, xe cộ, cửa hàng, khu vui chơi, loa quảng cáo, lễ hội, thậm chí có nơi tôn giáo cũng đồng hóa sự sốt sắng với âm lượng. Nhưng tạo thành có những âm thanh nhỏ cần được nghe: gió, chim, mưa, côn trùng, tiếng nước, tiếng bước chân, tiếng lá. Một nền linh đạo biết chiêm ngắm sẽ không chỉ giảm ô nhiễm tiếng ồn vì lý do sức khỏe, nhưng còn vì muốn trả lại không gian cho những tiếng nói mà con người đã lấn át.
Khôi phục tạo thành còn đòi một sự công bằng giữa các thế hệ. Các loài khác không bỏ phiếu, và người chưa sinh cũng không bỏ phiếu. Bởi vậy, hệ thống quyết định rất dễ ưu tiên người đang sống, nhất là người có quyền lực hôm nay. Ta khai thác một tầng nước ngầm mất hàng trăm năm để tái tạo vì nó rẻ cho hiện tại. Ta để lại chất thải tồn tại hàng thế kỷ vì lợi ích được nhận ngay. Ta xóa một sinh cảnh mà phải mất nhiều đời mới phục hồi vì lợi nhuận của vài năm. Đó là một hình thức vay mà người vay không phải người trả. Người trả là con cháu. Một lương tâm Kitô hữu không thể bình thản với kiểu kế toán ấy. Chúng ta có quyền nhận một phần di sản, nhưng không có quyền tiêu hết vốn rồi truyền lại hóa đơn. Đức công bằng phải kéo dài qua thời gian. Những người chưa sinh không phải một khái niệm trừu tượng. Họ là những con người thật sẽ uống nước, trồng trọt, thở, xây nhà và nuôi con trên phần trái đất chúng ta để lại.
Tuy nhiên, công bằng giữa các thế hệ không được biến thành lý do bỏ quên người nghèo đang sống hôm nay. Có những chính sách môi trường rất đẹp trên giấy nhưng đẩy toàn bộ chi phí lên người thu nhập thấp. Có những khu bảo tồn được thiết lập mà cộng đồng bản địa bị đẩy ra khỏi nơi họ đã sống và gìn giữ nhiều đời. Có những loại năng lượng sạch đòi khoáng sản được khai thác trong điều kiện lao động tồi tệ. Có những quy định khiến một nông dân nhỏ không thể tuân thủ trong khi doanh nghiệp lớn dễ dàng hấp thụ chi phí. Sinh thái toàn diện đòi cùng lúc hai sự trung thành: với trái đất và với người nghèo. Không được cứu rừng bằng cách làm tan nát một cộng đồng nếu có những giải pháp công bằng hơn. Không được lấy người nghèo làm lý do để tiếp tục một mô hình phá hủy, nhưng cũng không được bắt người nghèo trả hóa đơn cho một cuộc chuyển đổi do những người giàu thiết kế. Khôi phục phải là khôi phục cùng nhau.
Tại Việt Nam, sự khôi phục này có những khuôn mặt rất cụ thể. Đó là sông Mekong và sinh kế của người dân đồng bằng. Đó là nước mặn, sạt lở, phù sa, khai thác cát, thay đổi dòng chảy. Đó là rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn, đất nông nghiệp, bờ biển, nguồn cá. Đó là làng nghề vừa cần sinh kế vừa cần cách xử lý nước thải tốt hơn. Đó là những thành phố phát triển nhanh nhưng mất cây, mất đất thấm nước và ngày càng nóng. Đó là người nông dân đang đứng giữa sức ép của thị trường, giá vật tư, thời tiết bất thường và nhu cầu canh tác bền vững. Đó là những gia đình muốn sống xanh nhưng không phải lúc nào cũng có hệ thống thu gom và tái chế đáng tin cậy. Vì thế không thể dạy sinh thái bằng những lời khuyên xa rời hoàn cảnh. Nói người nghèo “hãy mua sản phẩm xanh đắt hơn” là dễ. Khó hơn là xây một hệ thống để lựa chọn tốt cũng là lựa chọn có thể tiếp cận. Nói người nông dân “đừng dùng hóa chất” rất dễ. Khó hơn là cung cấp kiến thức, tín dụng, thị trường, kỹ thuật và thời gian chuyển đổi để họ không mất sinh kế. Nói người dân “hãy phân loại rác” rất dễ. Nhưng nếu xe thu gom sau đó trộn lại tất cả thì giáo dục sẽ mất uy tín. Bởi vậy, hoán cải cá nhân phải đi cùng cải cách hệ thống. Thiện chí phải gặp hạ tầng. Lương tâm phải gặp chính sách. Đức tin phải gặp tổ chức xã hội.
Người Công giáo cần tránh hai cám dỗ khi nói về khôi phục tạo thành. Cám dỗ thứ nhất là cực đoan hóa thiên nhiên đến mức coi con người như một tai họa cần giảm thiểu. Đó không phải nhãn quan Kitô giáo. Con người thuộc về kế hoạch của Thiên Chúa. Lao động, kỹ thuật, xây dựng, trồng trọt, sáng tạo và biến đổi thế giới là phần thật của ơn gọi con người. Không phải dấu chân nào của con người cũng là tội. Một cánh đồng lúa cũng là một hệ sinh thái được con người định hình. Một thành phố có thể là công trình văn hóa đẹp. Một con đê có thể cứu hàng triệu người. Một bệnh viện hiện đại đòi rất nhiều vật chất và năng lượng nhưng phục vụ sự sống. Vấn đề không phải con người có tác động hay không, nhưng tác động theo cách nào, vì mục tiêu nào, với giới hạn nào và ai gánh hậu quả. Cám dỗ thứ hai là phản ứng ngược: vì sợ chủ nghĩa cực đoan môi trường nên coi mọi cảnh báo sinh thái là ý thức hệ. Đây cũng là một sự lười biếng trí thức. Nếu đất đang suy thoái, nước đang nhiễm độc, loài đang biến mất, khí hậu đang thay đổi và người nghèo đang chịu tác động, người Kitô hữu không thể nhắm mắt chỉ vì không thích ngôn ngữ của một số phong trào. Sự thật vẫn là sự thật, cho dù người nói sự thật ấy không cùng thế giới quan với chúng ta.
Một linh đạo trưởng thành có khả năng tiếp nhận điều đúng mà không nuốt toàn bộ ý thức hệ đi kèm. Ta có thể hợp tác với người không chia sẻ đức tin trong việc bảo vệ một con sông, trồng lại rừng, giảm rác hoặc bảo tồn loài mà không cần chấp nhận mọi quan niệm của họ về con người. Công ích cho phép những liên minh rộng. Người Công giáo không cần độc quyền lòng yêu thiên nhiên. Nếu một người vô thần bảo vệ rừng tốt hơn chúng ta, chúng ta nên biết xấu hổ và học điều tốt nơi họ. Đồng thời, chúng ta đem vào cuộc đối thoại một điều quý giá: xác tín rằng tạo thành là quà tặng, con người có phẩm giá độc đáo, người nghèo không được hy sinh, tiến bộ kỹ thuật cần luân lý hướng dẫn và thế giới có một cùng đích lớn hơn chính nó.
Khôi phục tạo thành sâu nhất vẫn là khôi phục khả năng tạ ơn. Người biết tạ ơn sẽ khó phung phí. Không phải không bao giờ phung phí, vì con người yếu đuối, nhưng tạ ơn tạo ra một lực cản bên trong trước thói sử dụng vô thức. Khi trước bữa ăn ta thực sự nhớ rằng thức ăn là quà, ta sẽ khó bỏ đi hơn. Khi uống nước mà biết ơn, ta sẽ bớt coi nước là vô tận. Khi đứng trước một cây lớn và nghĩ rằng cây ấy có thể đã sống trước khi mình sinh ra, lòng sẽ bớt hấp tấp trong việc chặt chỉ vì vài chiếc lá rụng. Khi nghe tiếng chim mà biết đó không phải nhạc nền cho đời mình nhưng một sinh vật đang sống cuộc đời riêng của nó trước mặt Thiên Chúa, ta bắt đầu ra khỏi cái tôi. Tạ ơn chữa một căn bệnh rất sâu của văn minh tiêu thụ: bệnh nghĩ rằng mọi thứ phải có sẵn vì mình xứng đáng được hưởng.
Và cùng với tạ ơn là than khóc. Có những thứ đã mất không lấy lại được. Có những loài đã biến mất. Có những khu rừng không thể phục hồi trong đời ta. Có những con sông đã bị tổn thương đến mức cần nhiều thế hệ mới chữa lành. Đức tin không bắt chúng ta giả vờ lạc quan. Thánh Kinh biết than khóc. Người có đức tin có thể đau trước một cánh rừng mất, trước một con sông chết, trước một bãi biển đầy rác, trước sự tuyệt chủng của một loài. Nỗi đau ấy không phải tình cảm thừa. Nó có thể là dấu hiệu lương tâm còn sống. Chỉ có điều Kitô giáo không dừng ở than khóc. Hy vọng bắt chúng ta làm điều có thể. Có những gì đã mất, nhưng cũng có những khu rừng hồi sinh khi được bảo vệ. Có những dòng sông sạch lại. Có những loài phục hồi khi môi trường sống được trả lại. Có những thành phố giảm ô nhiễm. Có những nông dân tái tạo đất. Có những cộng đồng phục hồi rừng ngập mặn. Khôi phục là một từ đầy hy vọng bởi nó thừa nhận vết thương nhưng không coi vết thương là tiếng nói cuối cùng.
Thần học Kitô giáo đi xa hơn nữa. Ta không bảo vệ tạo thành chỉ vì muốn giữ một sân chơi đẹp cho loài người. Toàn bộ tạo thành nằm trong chân trời cứu độ của Đức Kitô. Thánh Phaolô nói tạo thành đang rên siết và mong chờ ngày được giải thoát khỏi cảnh hư nát. Đức Kitô phục sinh không phải một linh hồn thoát khỏi vật chất, nhưng là thân xác được biến đổi. Niềm hy vọng Kitô giáo không phải phá bỏ trái đất để trốn lên một thế giới phi vật chất. Trời mới đất mới là ngôn ngữ cho thấy công trình cứu độ của Thiên Chúa bao trùm toàn thể thực tại. Ta không biết hình thức cuối cùng ấy sẽ ra sao, và không được biến các hình ảnh cánh chung thành sơ đồ vật lý. Nhưng ta biết đủ để không coi vật chất là thứ dùng xong rồi bỏ. Thiên Chúa không khinh công trình tay Người.
Bởi vậy, mỗi hành vi khôi phục, dù nhỏ, đều có một chiều kích cánh chung. Trồng một cây không đem Nước Trời đến bằng kỹ thuật, nhưng nó có thể là một dấu chỉ rằng ta tin sự sống đáng được nâng đỡ. Làm sạch một con kênh không cứu thế giới, nhưng nó có thể là một hành vi chống lại logic bỏ mặc. Bảo vệ một loài không làm ta thành Đấng Cứu Thế, nhưng nó cho thấy ta từ chối đứng về phía sự hủy diệt vô ích. Sửa một đồ vật thay vì vứt có thể trở thành một bài tập của lòng trung tín. Ăn vừa đủ có thể trở thành một hình thức tiết độ. Để đất nghỉ có thể thành một lời tuyên xưng rằng năng suất không phải Chúa. Chừa chỗ cho chim, côn trùng, cây bản địa trong một khuôn viên có thể trở thành một bài học khiêm nhường. Những việc ấy không phải bí tích, nhưng chúng có thể là hoa trái của một đời sống bí tích thật.
Sau cùng, khôi phục với mọi loài thụ tạo là học lại vị trí của mình trong thế giới. Chúng ta không ở trung tâm theo nghĩa mọi sự quay quanh nhu cầu của ta. Nhưng cũng không đứng ngoài tạo thành như một kẻ lạc loài. Ta là đất biết cầu nguyện, là vật chất có khả năng tạ ơn, là một thụ tạo được trao lời nói để thay mặt phần câm lặng của tạo thành mà ngợi khen Đấng Tạo Hóa. Đó là một phẩm giá lớn và một trách nhiệm lớn. Con người càng trưởng thành trong đức tin càng không cần chứng minh sức mạnh bằng việc chiếm hết, dùng hết, đốt hết, xây hết, khai thác hết. Quyền lực lớn nhất nhiều khi nằm trong khả năng dừng tay. Trí tuệ lớn nhất nhiều khi nằm trong khả năng chừa lại. Văn minh cao nhất không phải văn minh có thể lấy được bao nhiêu từ trái đất, nhưng là văn minh biết lấy bao nhiêu là đủ để mọi sự cùng có thể sống.
Khôi phục không phải dựng lại một thế giới chưa từng tồn tại. Không phải quay về thời không có bệnh viện, điện, máy móc, thành phố, internet hay khoa học. Không phải phủ nhận tài năng sáng tạo mà Thiên Chúa đã ban cho con người. Khôi phục là đi tới. Nhưng đi tới theo một hướng khác: kỹ thuật thông minh hơn và khiêm nhường hơn; kinh tế hiệu quả hơn nhưng công bằng hơn; nông nghiệp năng suất nhưng biết giữ đất; thành phố hiện đại nhưng còn cây, nước, bóng tối và không gian sống; công nghiệp mạnh nhưng chịu trách nhiệm về vòng đời của sản phẩm; khoa học táo bạo nhưng không bán mình cho lòng tham; người tiêu dùng tự do nhưng không bị biến thành cỗ máy mua sắm; chính trị biết nghĩ xa hơn nhiệm kỳ; Giáo Hội biết đưa việc chăm sóc tạo thành vào lương tâm, phụng vụ, giáo dục và đời sống thường ngày. Đi tới không phải bằng cách đặt con người đối nghịch với thiên nhiên, nhưng bằng cách đặt con người trở lại đúng chỗ trong cộng đoàn tạo thành dưới quyền Thiên Chúa.
Ngày nào ta còn gọi trái đất là “thùng chứa” cho những gì mình không muốn thấy, ta chưa khôi phục. Ngày nào ta còn nghĩ phát triển là lấy hết những gì có thể lấy, ta chưa khôi phục. Ngày nào khoa học chỉ được hỏi làm sao tăng sản lượng mà không được hỏi sự sống nào đang phải trả giá, ta chưa khôi phục. Ngày nào một loài chỉ được phép tồn tại nếu chứng minh được giá trị kinh tế với con người, ta chưa khôi phục. Ngày nào một giáo xứ có thể nói rất hay về tạo thành mà không xem lại chính cách mình ăn, xây, xả, dùng điện, dùng nước và tổ chức lễ hội, ta chưa khôi phục. Nhưng mỗi khi một người biết dừng trước một món đồ không cần mua, một gia đình biết không bỏ thức ăn, một nông dân giữ đất cho mùa sau, một doanh nghiệp chịu chi phí để xử lý chất thải đúng thay vì đẩy nó sang cộng đồng nghèo, một chính quyền chừa đất cho sông, một giáo xứ giữ cây thay vì bê tông hóa toàn bộ khuôn viên, một đứa trẻ được dạy không giết một sinh vật chỉ vì nghịch, một nhà khoa học chọn phục vụ sự sống thay vì chỉ chạy theo tiền, một cộng đoàn dám hỏi “chúng ta có đang lấy quá phần mình không?”, ở đó việc khôi phục đã bắt đầu.
Khôi phục với mọi loài thụ tạo cuối cùng không phải là một chương phụ của đời sống Kitô hữu. Nó thuộc về việc học sống như con cái trong nhà của Cha. Trong nhà ấy, ta được ăn nhưng không được phá bếp; được dùng nước nhưng không được đầu độc giếng; được sưởi ấm nhưng không được đốt cả mái nhà; được canh tác nhưng không được giết đất; được hưởng bóng cây nhưng cũng phải nghĩ tới người sẽ ngồi dưới bóng ấy sau khi ta chết. Người môn đệ Đức Kitô bước giữa tạo thành với đôi tay lao động nhưng không phải đôi tay cướp bóc, với trí tuệ sáng tạo nhưng không phải trí tuệ ngạo mạn, với quyền sử dụng nhưng luôn nhớ mình sẽ phải trả lời, với niềm vui hưởng dùng nhưng không biến hưởng dùng thành thần tượng. Người ấy biết rằng một ngày mình cũng trở về bụi đất. Chính thân xác này, đã ăn từ đất, uống từ nước, thở từ khí trời, sẽ được đặt lại vào lòng đất. Ý thức ấy không làm con người nhỏ đi. Nó làm con người thật hơn. Ta đến từ đất, sống nhờ đất, được Thiên Chúa thổi hơi sống, rồi một ngày trả thân xác lại cho đất trong niềm hy vọng phục sinh. Vì thế, đất không phải vật ở ngoài ta. Tạo thành không phải sân khấu đặt quanh cuộc đời ta. Ta ở trong nó, nhờ nó, cùng nó và trước mặt Đấng đã làm nên tất cả.
Và có lẽ một trong những lời cầu nguyện sinh thái sâu nhất không cần nhiều chữ. Đứng trước một dòng sông, một cánh đồng, một con chim, một cây già, một cơn mưa, một hạt cơm, một ly nước, ta chỉ cần học nói lại bằng cả đời mình: “Lạy Chúa, đây là của Chúa. Con được phép nhận, nhưng xin đừng để con chiếm đoạt. Con được phép dùng, nhưng xin đừng để con hủy hoại. Con được phép canh tác, nhưng xin dạy con gìn giữ. Con được phép tiến bộ, nhưng xin đừng để sự tiến bộ làm con quên giới hạn. Xin cho khoa học của chúng con phục vụ sự sống, kỹ thuật của chúng con phục vụ công ích, kinh tế của chúng con biết đủ, chính trị của chúng con biết nghĩ tới người chưa sinh, và đôi tay của chúng con biết chừa lại một phần thế giới cho những loài khác cũng đang sống dưới ánh mắt của Ngài.” Khi lời cầu ấy trở thành chính sách, thói quen, công nghệ, kinh tế, giáo dục và lối sống, khôi phục không còn là khẩu hiệu. Nó trở thành một cách hiện hữu mới trong ngôi nhà chung.
 CHƯƠNG 33. THÁNH Ý ĐẤNG TẠO HÓA: THƯỚC ĐO KHÔNG PHẢI LỢI NHUẬN
Có một câu hỏi rất căn bản mà con người thời nào cũng phải trả lời, nhưng thời đại chúng ta càng phải trả lời cách khẩn thiết hơn: điều gì là thước đo cuối cùng cho những quyết định của chúng ta đối với thế giới này? Khi đứng trước một cánh rừng, một dòng sông, một mỏ khoáng sản, một vùng biển, một cánh đồng, một khu đất đô thị, một dự án năng lượng, một công trình giao thông, một nhà máy, một khu công nghiệp, một đàn vật nuôi, một nguồn nước ngầm, một cộng đồng dân cư nghèo, một vùng sinh thái mong manh, một thế hệ chưa sinh ra, chúng ta lấy gì làm tiêu chuẩn để quyết định rằng điều này nên làm hay không nên làm, nên làm đến đâu, nên khai thác bao nhiêu, nên dừng lúc nào, nên dành lại phần nào, nên hy sinh lợi ích nào và nên bảo vệ điều gì bằng mọi giá? Trong thế giới kinh tế hiện đại, câu trả lời rất dễ bị rút gọn thành một chữ: lợi nhuận. Một dự án được xem là tốt nếu sinh lời. Một cánh rừng được xem là có giá trị nếu quy ra được tiền. Một con sông được xem là hữu ích nếu tạo điện, tưới tiêu, vận chuyển, bán nước hoặc nâng giá đất hai bên bờ. Một mảnh đất được gọi là “đất vàng” không phải vì nó nuôi sống một hệ sinh thái, giữ nước, giảm nhiệt hay mang ký ức của một cộng đồng, nhưng vì giá thị trường của nó cao. Người ta nói về “tài sản thiên nhiên”, “dịch vụ hệ sinh thái”, “vốn tự nhiên”, những cách nói đôi khi hữu ích cho việc quản lý, nhưng cũng có nguy cơ làm ta quên rằng trước khi là vốn, trước khi là tài sản, trước khi là con số trong bảng cân đối, thụ tạo đã là công trình của Thiên Chúa. Người Kitô hữu không được phép để tiêu chuẩn cuối cùng của thế giới trở thành tiêu chuẩn cuối cùng của lương tâm mình. Lợi nhuận có chỗ của nó. Hiệu quả kinh tế có chỗ của nó. Quản trị tốt cần biết tính toán, dự trù, cân đối, tiết kiệm, đầu tư và sinh lợi. Không ai được phép nhân danh đạo đức để cổ võ sự cẩu thả, lãng phí hay quản lý yếu kém. Tin Mừng không đòi chúng ta trở thành những người không biết làm kinh tế. Nhưng Tin Mừng buộc chúng ta phải nhớ rằng kinh tế là phương tiện phục vụ con người và công ích, chứ con người và tạo thành không phải nguyên liệu để phục vụ kinh tế. Lợi nhuận là một tiêu chuẩn trong nhiều tiêu chuẩn; nó không thể là tiêu chuẩn tối hậu. Khi lợi nhuận được đặt lên ngôi tối cao, mọi thứ khác rất nhanh chóng bị biến thành hàng hóa: đất thành hàng hóa, nước thành hàng hóa, rừng thành hàng hóa, giống loài thành hàng hóa, lao động thành hàng hóa, sức khỏe thành hàng hóa, thời gian con người thành hàng hóa, thậm chí cả sự chú ý, thân thể và dữ liệu cá nhân cũng thành hàng hóa. Khi ấy câu hỏi không còn là “điều này có tốt trước mặt Thiên Chúa không?”, nhưng chỉ còn là “điều này có sinh lời không?”. Và khi một nền văn minh chỉ còn biết hỏi câu thứ hai, nó có thể rất giàu mà lại rất nghèo trong sự khôn ngoan.
Thánh ý của Đấng Tạo Hóa không phải một công thức bí mật được giấu đâu đó để con người đoán mò, cũng không phải một tiếng nói tùy hứng khiến ta muốn gán cho Thiên Chúa điều mình thích. Truyền thống đức tin dạy chúng ta phân định thánh ý Chúa bằng những dấu chỉ chắc chắn: Lời Chúa, phẩm giá bất khả xâm phạm của con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, sự tốt đẹp nguyên thủy của tạo thành, tiếng kêu của người nghèo và những người dễ bị tổn thương, sự hướng dẫn của lương tâm ngay thẳng được đào tạo, kinh nghiệm của cộng đoàn đức tin, lý trí và khoa học chân chính, cùng giáo huấn của Hội Thánh. Những yếu tố ấy không phải những mảnh rời rạc. Chúng soi sáng lẫn nhau và cùng giúp con người nhận ra rằng thánh ý Thiên Chúa luôn hướng về sự sống, sự thật, công lý, hiệp thông và ơn cứu độ. Vì thế, không thể nhân danh Thiên Chúa để phá hủy vô trách nhiệm điều Ngài đã gọi là tốt đẹp; cũng không thể nhân danh phát triển để chà đạp phẩm giá con người; không thể nhân danh kinh tế để làm cho người nghèo phải gánh chi phí của sự thịnh vượng của người giàu; không thể nhân danh kỹ thuật để biến toàn thể thế giới thành phòng thí nghiệm của lòng tham; không thể nhân danh quyền sở hữu để quên rằng quyền sở hữu luôn mang một trách nhiệm xã hội; không thể nhân danh tự do kinh doanh để bỏ qua công ích; không thể nhân danh nhu cầu hiện tại để tước đoạt khả năng sống của những thế hệ tương lai. Có những thứ hợp pháp nhưng chưa chắc đã hợp đạo đức. Có những việc sinh lời nhưng lại làm nghèo nhân loại. Có những dự án làm tăng GDP nhưng làm giảm chất lượng đất, nước, không khí, sức khỏe, niềm tin xã hội và tương lai của con cháu. Có những thành công kinh tế được xây trên những hóa đơn mà người khác phải trả: một làng quê mất nước sạch, một cánh rừng mất đa dạng sinh học, một gia đình mất sinh kế, một người lao động mất sức khỏe, một cộng đồng mất quê hương, một thế hệ sau mất quyền lựa chọn. Nếu những hóa đơn ấy không xuất hiện trên báo cáo lợi nhuận, chúng vẫn tồn tại trong trật tự luân lý. Thiên Chúa thấy chúng. Người nghèo cảm chúng. Đất mang vết của chúng. Và lương tâm, nếu chưa bị làm chai, cũng biết chúng.
Lời Chúa là thước đo đầu tiên giúp người tín hữu thoát khỏi sự chuyên chế của lợi nhuận. Ngay từ Sáng Thế, thế giới không xuất hiện như tài sản của con người nhưng như quà tặng đi trước con người. Trời đã có trước chúng ta. Đất đã có trước chúng ta. Nước, ánh sáng, cây cỏ, chim trời, cá biển, các giống loài đã được Thiên Chúa gọi vào hiện hữu trước khi con người có thể ký một giấy sở hữu nào. Con người bước vào một ngôi nhà không do mình xây từ hư vô. Ta là người đến sau trong chính nơi mình đang sống. Chỉ sự thật ấy thôi đã đủ để đánh sập ảo tưởng sở hữu tuyệt đối. Ta có thể sở hữu theo luật pháp; ta có thể quản lý, sử dụng, trao đổi, thừa kế; nhưng trước mặt Đấng Tạo Hóa, ta vẫn là người nhận. Người nhận không có quyền hành xử như người sáng tạo tuyệt đối. Người nhận phải biết ơn, và lòng biết ơn tự nó đặt giới hạn cho sự chiếm hữu. Ai thực sự biết một món quà đến từ người mình yêu sẽ không tùy tiện phá hủy món quà ấy. Nếu trái đất là quà của Cha, thì thái độ đầu tiên của Kitô hữu không phải là tính xem mình lấy được bao nhiêu, nhưng là hỏi mình được mời làm gì để món quà ấy tiếp tục sinh hoa trái cho mọi người. Sáng Thế không trao cho con người giấy phép cướp bóc. Sáng Thế trao sứ mạng canh tác và gìn giữ. Hai động từ ấy đi cùng nhau như hai lá phổi. Canh tác có yếu tố sáng tạo, lao động, kỹ thuật, biến đổi, phát triển. Gìn giữ có yếu tố giới hạn, bảo vệ, truyền lại, kính trọng. Nếu chỉ canh tác mà không gìn giữ, con người biến thành kẻ khai thác. Nếu chỉ nói gìn giữ mà phủ nhận mọi lao động và phát triển, con người lại bỏ quên ơn gọi cộng tác với Thiên Chúa. Thánh ý của Đấng Tạo Hóa nằm trong sự quân bình của hai động từ ấy. Lợi nhuận không thể phá vỡ sự quân bình này.
Đức Giêsu còn đi xa hơn khi Người dạy rằng sự sống con người không hệ tại của cải dư dật. Lời ấy đánh thẳng vào một trong những tín điều không thành văn của xã hội tiêu thụ: càng có nhiều thì càng sống nhiều. Tin Mừng nói ngược lại. Có thể có nhiều mà đời sống lại nhỏ đi. Có thể sở hữu nhiều nhưng tự do ít đi. Có thể tích lũy rất nhanh nhưng linh hồn nghèo dần. Có thể xây kho lớn hơn mà trái tim hẹp hơn. Người phú hộ trong dụ ngôn không bị kết án vì biết làm ăn, cũng không phải vì mùa màng sinh hoa lợi. Vấn đề là ông đã biến của cải thành chân trời cuối cùng. Ông nói với linh hồn mình như thể của cải có thể bảo đảm sự sống: cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống, cứ vui chơi, vì đã có dư dùng nhiều năm. Nhưng sự sống không thuộc quyền sở hữu của ông. Chính đêm ấy ông có thể bị đòi lại mạng sống. Đây không phải lời đe dọa chống người giàu, nhưng là mặc khải về giới hạn của lợi nhuận. Lợi nhuận có thể mua bảo hiểm nhưng không mua được sự bất tử. Có thể mua tiện nghi nhưng không mua được bình an. Có thể mua thời gian của người khác nhưng không mua được ý nghĩa của chính đời mình. Có thể xây tường cao nhưng không bảo đảm một xã hội bình an nếu bên ngoài có quá nhiều người bị loại trừ. Có thể tạo một ốc đảo xanh cho người giàu nhưng không tạo được một hành tinh riêng để trốn khỏi khủng hoảng khí hậu. Môi trường nhắc con người một điều mà Tin Mừng vẫn luôn nhắc: không ai tự cứu mình bằng tích lũy.
Phẩm giá của ngôi vị con người là một thước đo khác của thánh ý Đấng Tạo Hóa. Mỗi con người có giá trị không vì mức tiêu thụ, khả năng sản xuất, tuổi tác, sức khỏe, thu nhập hay vị trí xã hội. Người nghèo không ít giá trị hơn người giàu. Người khuyết tật không ít giá trị hơn người khỏe mạnh. Thai nhi không ít giá trị vì chưa thể đóng góp vào nền kinh tế. Người già không trở thành gánh nặng chỉ vì không còn năng suất như trước. Người lao động không phải một “chi phí nhân sự” thuần túy có thể cắt giảm như cắt điện hay cắt giấy. Khi logic lợi nhuận đi quá xa, con người dễ bị nhìn qua giá trị sử dụng. Ai tạo nhiều lợi nhuận được trọng; ai tạo ít lợi nhuận dễ bị đẩy ra bên lề. Nhưng mặc khải Kitô giáo không cho phép đo con người bằng hiệu suất. Hình ảnh Thiên Chúa nơi một người ăn xin và nơi một giám đốc không khác nhau về phẩm giá. Điều này có hệ quả sinh thái rất mạnh, vì phần lớn những tổn hại môi trường nghiêm trọng thường không được phân bổ công bằng. Một khu công nghiệp gây ô nhiễm hiếm khi nằm giữa khu biệt thự đắt tiền. Một bãi rác khổng lồ thường ở gần những cộng đồng ít khả năng phản đối. Một dự án lấy đất dễ nhắm vào người nghèo hơn người có quyền lực. Khi hạn hán, lũ lụt hay nước biển dâng xảy ra, người có tiền còn khả năng di chuyển, mua bảo hiểm, mua điều hòa, mua nước, gia cố nhà cửa; người nghèo không có những lớp bảo vệ ấy. Vì thế, vấn đề môi trường luôn là vấn đề về phẩm giá con người. Không thể nói “dự án này đem lại lợi nhuận lớn” mà không hỏi lợi nhuận ấy được tạo ra bằng tổn thất của ai. Không thể nói “đa số được lợi” rồi coi một thiểu số nghèo như con số có thể hy sinh. Tin Mừng không cho phép phép toán trong đó một người bé mọn bị xóa đi chỉ vì tổng số vẫn dương.
Sự tốt đẹp nguyên thủy của tạo thành cũng là một phần của thánh ý Thiên Chúa. “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp.” Phán quyết ấy có trước mọi bảng giá. Một loài chim có giá trị trước khi con người tìm ra ích lợi của nó. Một khu rừng ngập mặn có giá trị trước khi kinh tế học tính được nó chống xói lở bao nhiêu, hấp thụ carbon bao nhiêu, nuôi thủy sản bao nhiêu. Một dòng sông có giá trị trước khi bị chia thành công suất thủy điện. Một cánh đồng có giá trị trước khi bị định giá theo mét vuông bất động sản. Dĩ nhiên khoa học và kinh tế có thể giúp chúng ta lượng hóa nhiều dịch vụ sinh thái, và điều ấy có thể rất hữu ích để ngăn người ta coi thiên nhiên như thứ vô giá trị. Nhưng người Kitô hữu cần giữ một tầng sâu hơn: tạo thành có giá trị nội tại vì nó được Thiên Chúa muốn, được Thiên Chúa gọi vào hiện hữu và có chỗ trong trật tự Người dựng nên. Giá trị này không đồng nghĩa với phẩm giá ngôi vị của con người; không được xóa ranh giới giữa người và loài vật. Nhưng khác phẩm giá không có nghĩa là vô giá trị. Một con vật không phải một con người, nhưng cũng không phải một vật vô tri để hành hạ tùy ý. Một khu rừng không phải một ngôi vị, nhưng cũng không phải một kho gỗ không đáy. Đất không phải thần linh, nhưng cũng không phải xác chết để đào đến kiệt cùng. Linh đạo Công giáo đứng giữa hai cực đoan: không thần thánh hóa thiên nhiên, nhưng cũng không giải thiêng thiên nhiên đến mức nó chỉ còn là nguyên liệu.
Tiếng kêu của người nghèo là một nơi đặc biệt để nhận ra thánh ý Chúa. Thiên Chúa của Kinh Thánh là Đấng nghe tiếng kêu của dân bị áp bức. Người nghe tiếng máu Abel từ đất kêu lên. Người nghe tiếng Israel dưới ách Ai Cập. Các ngôn sứ không ngừng tố cáo những người xây giàu sang trên bất công, mua người nghèo chỉ bằng giá một đôi dép, gian lận cân đo và chèn ép người yếu. Chính Đức Giêsu đồng hóa mình cách đặc biệt với những người đói, khát, trần truồng, đau yếu, tù đày, xa lạ. Vì thế, bất cứ mô hình phát triển nào làm người nghèo phải trả giá cho sự giàu có của kẻ khác đều phải được xét lại dưới ánh sáng Tin Mừng. Một dự án có thể tạo ra hàng ngàn tỷ đồng nhưng nếu làm mất kế sinh nhai của hàng ngàn hộ dân mà không có sự bồi hoàn và tái định cư xứng đáng, thì lợi nhuận ấy không thể tự động trở thành điều thiện. Một ngành có thể tạo công ăn việc làm nhưng nếu người lao động phải làm trong điều kiện nguy hiểm, tiếp xúc chất độc, không được bảo vệ, thì con số tăng trưởng không đủ để biện minh. Một công nghệ có thể rất hiệu quả nhưng nếu nó tạo một lượng chất thải mà cộng đồng nghèo phải gánh, thì câu hỏi luân lý chưa kết thúc ở bảng lợi nhuận. Người nghèo thường là tấm giấy quỳ thử chất lượng đạo đức của một chính sách. Nếu một chính sách chỉ tốt với người đã có khả năng tự bảo vệ mình, nó chưa chắc là chính sách tốt. Nếu một mô hình phát triển làm những người mạnh mạnh hơn và những người yếu dễ tổn thương hơn, nó cần được hoán cải.
Huấn quyền Hội Thánh trong thời hiện đại đã nhiều lần nhắc điều ấy bằng ngôn ngữ rất rõ. Hội Thánh không chống kinh tế thị trường như thể mọi hoạt động sinh lợi đều xấu. Hội Thánh nhìn nhận sáng kiến tư nhân, quyền sở hữu, doanh nghiệp, thương mại, kỹ thuật và lợi nhuận có vai trò thật sự trong đời sống kinh tế. Một doanh nghiệp không có lợi nhuận lâu dài thì khó sống, khó trả lương, khó đầu tư, khó đổi mới, khó phục vụ xã hội. Nhưng truyền thống xã hội Công giáo luôn đặt hoạt động kinh tế trong một trật tự đạo đức rộng hơn. Lợi nhuận là dấu hiệu doanh nghiệp vận hành tốt ở một số phương diện, nhưng không phải bằng chứng duy nhất rằng doanh nghiệp đang phục vụ con người. Một công ty có thể rất có lãi mà vẫn phá môi trường. Có thể trả cổ tức rất cao mà bóc lột lao động. Có thể tăng giá trị cổ phiếu mà chuyển chi phí ô nhiễm cho cộng đồng. Có thể tăng năng suất mà làm người lao động kiệt quệ. Có thể tạo sản phẩm hợp pháp nhưng nuôi những lệ thuộc không lành mạnh. Khi ấy lợi nhuận nói lên một điều, nhưng chưa nói hết sự thật. Đạo đức hỏi phần còn lại của sự thật.
Đức Phanxicô trong Laudato Si’ đã mạnh mẽ phê bình một mô hình trong đó tài chính và kỹ thuật liên minh với nhau để đặt tối đa hóa lợi nhuận lên trên công ích. Vấn đề không phải kỹ thuật tự nó xấu. Công nghệ có thể cứu mạng, làm sạch nước, giảm phát thải, nâng năng suất nông nghiệp, dự báo thiên tai, chữa bệnh, kết nối con người, giảm lao động cực nhọc. Vấn đề là paradigme kỹ trị: một cách nhìn trong đó cái gì có thể làm thì được mặc nhiên coi là nên làm; cái gì có thể khai thác thì mặc nhiên được coi là có quyền khai thác; cái gì sinh lợi thì mặc nhiên được xem là tốt; cái gì cản trở hiệu suất thì bị coi là chướng ngại. Trong paradigme ấy, câu hỏi đạo đức luôn đến sau, nếu còn đến. Trước hết người ta hỏi: chúng ta có thể làm không? Sau đó: có lời không? Sau đó: có hợp pháp không? Còn câu hỏi “điều này có phục vụ sự sống, công ích và kế hoạch của Thiên Chúa không?” thường bị xếp cuối. Linh đạo tạo thành đảo lại thứ tự ấy. Không phải mọi thứ có thể làm đều nên làm. Không phải mọi thứ sinh lợi đều đáng làm. Không phải mọi tăng trưởng đều là phát triển. Không phải mọi đổi mới đều là tiến bộ. Tiến bộ thực sự phải làm con người nhân bản hơn, cộng đồng công bằng hơn và tương quan với tạo thành bền vững hơn.
Một ví dụ rất gần là khai thác tài nguyên. Một khu rừng có thể đem lại lợi nhuận lớn nếu chặt nhanh, bán gỗ nhanh, chuyển đất nhanh. Về tài chính ngắn hạn, đó có thể là phương án hấp dẫn. Nhưng rừng không chỉ là gỗ. Rừng giữ nước, giữ đất, điều hòa khí hậu, nuôi đa dạng sinh học, bảo vệ cộng đồng hạ lưu, giữ ký ức văn hóa, nuôi đời sống của những nhóm người phụ thuộc vào rừng. Những chức năng ấy không phải lúc nào cũng hiện lên đầy đủ trong giá bán gỗ. Nếu công ty thu lợi từ gỗ còn xã hội trả chi phí lũ lụt, xói mòn, hạn hán, mất sinh kế và phục hồi đất, thì bảng lợi nhuận đã nói dối bằng cách bỏ sót phần chi phí thật. Tương tự với khai khoáng. Khoáng sản nằm trong lòng đất có thể tạo nguồn thu lớn, việc làm lớn, thuế lớn. Nhưng nếu sau vài thập niên là những hố sâu, nước nhiễm độc, đất chết, bệnh tật và cộng đồng tan rã, thì cần hỏi liệu lợi nhuận trước mắt có xứng với di sản dài hạn hay không. Không phải vì thế mà mọi khai thác đều phải dừng. Con người cần vật liệu để xây nhà, làm thiết bị y tế, giao thông, điện năng, hạ tầng. Nhưng khai thác phải chịu sự phán xét của giới hạn, công bằng, phục hồi, trách nhiệm và nhu cầu thực sự. “Có thể lấy” không đồng nghĩa với “được lấy hết”.
Nông nghiệp cũng cho thấy xung đột giữa lợi nhuận ngắn hạn và thánh ý về sự sống lâu dài. Người nông dân có thể được thúc đẩy tối đa hóa sản lượng từng vụ bằng phân hóa học, thuốc trừ sâu, khai thác nước ngầm và đơn canh. Trong vài năm đầu, hiệu quả có thể rất cao. Nhưng nếu đất mất hữu cơ, vi sinh vật suy giảm, nước nhiễm độc, sâu bệnh kháng thuốc, giống bản địa mất dần, chi phí đầu vào tăng, người nông dân lệ thuộc vào các tập đoàn và sức khỏe cộng đồng bị ảnh hưởng, thì mô hình ấy đã ăn vào vốn tự nhiên để tạo lợi nhuận. Nó giống người bán mái nhà để trả tiền ăn: một thời gian tưởng như khá hơn, nhưng nền tảng sống đang bị tháo dỡ. Nông nghiệp khôn ngoan không phủ nhận khoa học. Ngược lại, nó cần khoa học tốt hơn: khoa học biết đất là hệ sinh thái sống, biết nước có giới hạn, biết đa dạng là sức mạnh, biết vòng tuần hoàn không thể mãi bị thay bằng mô hình lấy vào rồi vứt đi. Người nông dân truyền thống Việt Nam nhiều khi hiểu trực giác điều này qua việc luân canh, giữ giống, làm phân hữu cơ, để đất nghỉ, giữ bờ, giữ nước. Không phải mọi truyền thống đều hoàn hảo, nhưng trong những thực hành ấy có một sự khiêm tốn: con người làm việc với đất chứ không chỉ bắt đất làm việc cho mình.
Ngành năng lượng cũng đặt câu hỏi tương tự. Xã hội cần điện. Người nghèo cần điện. Bệnh viện cần điện. Trường học, sản xuất, giao thông, truyền thông đều cần năng lượng. Vì vậy, thái độ đạo đức không thể chỉ là “đừng xây gì nữa”. Nhưng câu hỏi phải đủ rộng: nguồn năng lượng nào, chi phí thật là gì, ai chịu hậu quả, ai hưởng lợi, có phương án ít gây hại hơn không, cộng đồng địa phương có được tham gia quyết định không, người bị di dời được đối xử thế nào, hệ sinh thái nào sẽ mất, phát thải dài hạn ra sao? Một nhà máy có thể rẻ trong giá điện nhưng đắt trong bệnh hô hấp. Một thủy điện có thể tạo điện sạch hơn carbon nhưng phá vỡ dòng sông, nghề cá và sinh kế nếu quy hoạch kém. Một dự án năng lượng tái tạo cũng không tự động vô tội nếu chiếm đất bất công hoặc biến vùng nghèo thành nơi gánh hạ tầng cho nơi giàu. Không có công nghệ nào miễn cho chúng ta khỏi đạo đức. Thánh ý Đấng Tạo Hóa không nằm trong nhãn “xanh” trên quảng cáo, nhưng trong toàn bộ mạng lưới tương quan mà một quyết định tạo ra.
Có một cám dỗ nữa là nghĩ rằng nếu có đủ tiền để bồi thường thì mọi thiệt hại đều có thể mua lại. Đây là biểu hiện sâu của não trạng thị trường hóa. Có những thứ có thể bồi thường bằng tiền: đất bị lấy cần trả giá công bằng, thu nhập mất cần được hỗ trợ, nhà cửa cần được tái lập. Nhưng có những mất mát không thể hoàn toàn quy đổi. Một nghĩa trang tổ tiên bị ngập không chỉ là vài mét vuông đất. Một làng chài bị di dời không chỉ mất mấy căn nhà, mà có thể mất cả mạng lưới nghề nghiệp, ký ức, quan hệ, lễ hội, kiến thức địa phương và cảm thức thuộc về. Một loài tuyệt chủng không thể bồi thường bằng tiền. Một dòng sông chết không chỉ mất lượng nước mà mất cả một thế giới sống. Một đứa trẻ bị bệnh vì ô nhiễm không thể được trả lại tuổi thơ bằng một khoản tiền. Vì thế, chính sách đạo đức phải đi xa hơn bồi thường. Nó cần phòng ngừa, tham vấn, giới hạn và đôi khi cần nói “không” với một dự án dù lợi nhuận rất cao. Một xã hội trưởng thành phải biết có những điều không bán.
Ngay trong đời sống cá nhân, việc đặt lợi nhuận làm tiêu chuẩn cuối cùng cũng gây méo mó. Một người có thể lựa chọn nghề chỉ vì mức lương, không bao giờ hỏi nghề ấy làm gì cho xã hội hoặc làm gì với linh hồn mình. Một gia đình có thể chọn mọi quyết định chỉ theo khả năng sinh lợi của tài sản. Một người có thể biến nhà thành khoản đầu tư hơn là nơi ở, biến thời gian nghỉ thành cơ hội kiếm thêm, biến mọi mối quan hệ thành mạng lưới lợi ích. Cuối cùng người ấy sống trong một thế giới mà không còn gì đơn thuần là quà. Người bạn trở thành contact. Thời gian trở thành money. Khu vườn trở thành diện tích chưa khai thác. Một bữa ăn trở thành nội dung để đăng. Một chuyến đi trở thành dữ liệu tiêu dùng. Ngay cả đời thiêng liêng cũng có thể bị nhiễm logic này: cầu nguyện để được lợi, làm việc lành để được đáp trả, phục vụ để được công nhận, đi lễ như một khoản đầu tư xin bình an. Khi mọi sự phải sinh lời, ân sủng trở thành điều khó hiểu, bởi ân sủng là quà nhưng không. Thiên Chúa làm mặt trời mọc trên người lành và kẻ dữ. Cây nở hoa không gửi hóa đơn. Một người mẹ chăm con không tính từng giờ để đòi lãi. Người yêu thật sự biết có những điều đáng làm dù không có lợi nhuận. Chính kinh nghiệm tình yêu cho chúng ta ngôn ngữ để hiểu tạo thành: Thiên Chúa không dựng nên thế giới như một nhà đầu tư cần lợi tức. Ngài tạo dựng vì tình yêu dư tràn. Một nền văn minh quên sự nhưng không sẽ rất khó sống hòa hợp với trái đất.
Trong đời sống giáo xứ và các cộng đoàn Công giáo, nguyên tắc này cũng cần được xét mình. Một giáo xứ có thể xây dựng rất nhiều vì nghĩ rằng càng nhiều công trình càng chứng tỏ phát triển. Một dòng tu có thể mở dự án kinh tế với thiện ý phục vụ sứ mạng. Một cơ sở Công giáo có thể quản lý đất đai, trường học, nhà nghỉ, trung tâm mục vụ, bệnh viện hoặc cơ sở xã hội. Tất cả đều cần quản trị chuyên nghiệp. Nhưng một cơ sở của Hội Thánh càng phải cho thấy tiền không phải chúa của mình. Nếu xây nhà thật lớn mà phá cây vô tội vạ, nếu tổ chức lễ thật hoành tráng nhưng tạo núi rác, nếu dùng điện nước lãng phí, nếu kinh doanh mà đối xử với nhân viên thiếu công bằng, nếu đầu tư chỉ nhìn lợi tức mà không xét hệ quả xã hội, thì lời giảng về chăm sóc ngôi nhà chung mất sức thuyết phục. Giáo hội không thể yêu cầu thế giới hoán cải nếu trong chính sân nhà thờ vẫn coi sự tiện lợi là tuyệt đối. Có những lựa chọn rất nhỏ nhưng mang tính chứng tá: giữ cây khi xây dựng nếu có thể, thiết kế thông thoáng để giảm năng lượng, giảm nhựa dùng một lần trong các lễ hội, mua sắm vừa đủ, không phô trương, xử lý rác có trách nhiệm, tiết kiệm nước, ưu tiên sản phẩm địa phương, chăm sóc đất nghĩa trang, không biến mọi khoảng trống thành bê tông. Những việc ấy không thay thế việc giảng Tin Mừng; chúng là một hình thức làm cho Tin Mừng có thân xác.
Điều quan trọng là không biến nguyên tắc “lợi nhuận không phải tiêu chuẩn cuối” thành thái độ bài kinh doanh. Người doanh nhân Kitô hữu không cần xin lỗi vì doanh nghiệp có lãi. Nếu làm ăn chân chính, tạo sản phẩm hữu ích, trả lương công bằng, đóng thuế, đổi mới, tạo việc làm và phục vụ xã hội, lợi nhuận là điều tốt và cần thiết. Một doanh nghiệp thua lỗ triền miên không thể phục vụ ai lâu dài. Nhưng người doanh nhân có đức tin được mời gọi hỏi thêm: lợi nhuận này đến từ đâu? Tôi đang tạo giá trị hay chỉ chuyển chi phí cho người khác? Nhân viên của tôi có được sống như con người không? Khách hàng có được tôn trọng hay đang bị thao túng? Nhà cung cấp nhỏ có bị ép đến mức không thể sống? Chất thải đi đâu? Tài nguyên đến từ đâu? Sản phẩm của tôi nuôi điều gì trong xã hội? Tôi đang đầu tư cho lâu dài hay chỉ rút giá trị thật nhanh rồi bỏ lại hậu quả? Những câu hỏi ấy không làm doanh nghiệp yếu đi; nếu được trả lời nghiêm túc, chúng làm doanh nghiệp trưởng thành. Kinh doanh có thể là ơn gọi, vì doanh nhân có khả năng tổ chức tài năng, vốn, lao động và sáng kiến để tạo ra ích chung. Nhưng chính vì khả năng ấy lớn, trách nhiệm cũng lớn.
Đối với chính quyền và chính sách công, nguyên tắc này càng quan trọng. Một quốc gia không thể chỉ đo thành công bằng tăng trưởng kinh tế. GDP là chỉ số hữu ích nhưng không phải Kinh Tin Kính. Nếu GDP tăng vì phải chữa bệnh do ô nhiễm, dọn dẹp thiên tai do quy hoạch sai, thay thế tài nguyên đã phá hủy hoặc xây lại những gì vừa bị tàn phá, con số tăng không có nghĩa đời sống tốt hơn. Một quốc gia có thể tăng trưởng nhanh trong khi người dân mất không khí sạch, mất thời gian cho gia đình, mất đất nông nghiệp tốt, mất rừng, mất nguồn nước, mất niềm tin vào thể chế. Phát triển thật phải hỏi chất lượng, công bằng và khả năng kéo dài. Người Kitô hữu tham gia đời sống chính trị không thể chỉ hỏi dự án nào đem ngân sách nhiều hơn. Họ phải hỏi dự án nào phục vụ công ích lâu dài. Công ích bao gồm cả những người chưa có tiếng nói: trẻ em, người nghèo, cộng đồng thiểu số, thế hệ tương lai và, theo nghĩa rộng hơn, những hệ sinh thái mà sự sống của con người lệ thuộc. Khí quyển không bỏ phiếu. Rừng không có đại biểu quốc hội. Con sông không thuê luật sư. Thế hệ chưa sinh chưa thể biểu tình. Chính vì vậy, trách nhiệm luân lý của những người đang có quyền càng lớn: phải đại diện cho những lợi ích không có tiếng nói trực tiếp.
Đối với Việt Nam, câu hỏi này rất cụ thể. Một đất nước đang phát triển có quyền mong người dân thoát nghèo, có việc làm, có đường sá, bệnh viện, điện, nhà ở và cơ hội giáo dục. Không thể nhân danh bảo vệ môi trường để giữ người nghèo trong nghèo đói hoặc bắt các nước đang phát triển gánh một gánh nặng mà các nước giàu đã không gánh trong quá trình công nghiệp hóa của họ. Công lý khí hậu đòi các quốc gia giàu có trách nhiệm nhiều hơn vì lịch sử phát thải và khả năng tài chính lớn hơn. Nhưng điều ấy cũng không thể là cớ để các quốc gia đang phát triển lặp lại mọi sai lầm của quá khứ. Việt Nam có những vùng đặc biệt dễ tổn thương: đồng bằng sông Cửu Long, bờ biển dài, các lưu vực sông, rừng đầu nguồn, vùng núi nơi nhiều cộng đồng phụ thuộc trực tiếp vào đất và nước. Phát triển ở những nơi ấy đòi sự khôn ngoan hơn tính toán nhiệm kỳ. Một công trình sinh lợi trong mười năm nhưng làm hệ sinh thái suy kiệt trong năm mươi năm không phải là “rẻ”. Nó chỉ chuyển hóa đơn sang thế hệ khác. Một thành phố tăng trưởng bằng cách bê tông hóa mọi mặt nước rồi chi hàng ngàn tỷ chống ngập đang trả giá cho việc không tôn trọng quy luật tự nhiên. Một nền nông nghiệp đẩy sản lượng bằng cách hút nước ngầm đến mức sụt lún đang vay tương lai để tiêu hôm nay. Một nền kinh tế dựa trên tiêu dùng nhanh và rác khổng lồ đang dùng trái đất như thể có nhiều trái đất dự phòng. Thánh ý Đấng Tạo Hóa mời chúng ta học một kiểu phát triển có trí nhớ: nhớ đất cần nghỉ, sông cần chảy, rừng cần thời gian, người nghèo cần chỗ sống, trẻ em cần tương lai.
Một dấu chỉ giúp phân định rất hữu ích là câu hỏi: quyết định này có làm tăng hiệp thông hay tăng đổ vỡ? Thiên Chúa không muốn cứu những mảnh tách rời. Trong Đức Kitô, Người muốn quy tụ muôn loài. Vì thế, những lựa chọn gây chia rẽ sâu hơn giữa giàu và nghèo, giữa thành thị và nông thôn, giữa hiện tại và tương lai, giữa con người và thiên nhiên cần được xem xét nghiêm túc. Một mô hình phát triển khiến một nhóm hưởng lợi và nhóm khác trở thành “vùng hy sinh” là mô hình cần hoán cải. Một đô thị đẹp trung tâm nhưng đẩy rác, nước thải và công nghiệp bẩn ra vùng ngoại vi nghèo không thực sự sạch; nó chỉ di chuyển sự bẩn ra khỏi tầm mắt. Một quốc gia xuất khẩu ô nhiễm sang quốc gia khác không trở nên xanh hơn trước mặt Thiên Chúa. Một gia đình sống sạch trong nhà nhưng đổ rác ra hẻm không sống sinh thái. Thánh ý Chúa không thể bị lừa bằng việc chuyển hậu quả ra khỏi nơi ta nhìn thấy.
Một nguyên tắc khác là: điều tốt thật phải có khả năng truyền lại. Nếu một thế hệ sống sung túc bằng cách làm giảm cơ hội sống của thế hệ sau, đó không phải là quản lý tốt. Trong Kinh Thánh, đất được trao nhưng không được tuyệt đối hóa quyền chiếm hữu. Năm sabát, năm toàn xá, luật không gặt sạch bờ ruộng, tất cả dạy một điều: không lấy hết. Không lấy hết là một hành vi đức tin. Nó tuyên xưng rằng sự sống không phụ thuộc hoàn toàn vào việc ta gom thật nhiều. Nó nói rằng còn có người khác sau ta. Trong văn hóa hiện đại, “không lấy hết” nghe như thất bại kinh tế, vì nếu có một cơ hội sinh lợi mà không khai thác, ta tưởng mình mất. Nhưng đôi khi không khai thác là hình thức cao nhất của khôn ngoan. Để một phần rừng đứng yên là một hành động. Để đất nghỉ là một hành động. Để cá sinh sản là một hành động. Không xây hết mật độ cho phép cũng là một hành động. Không mua thứ mình có thể mua là một hành động. Không tiêu hết số tiền mình có là một hành động. Không sử dụng hết quyền lực mình được trao là một hành động. Giới hạn tự nguyện là một phần của tự do Kitô giáo.
Đây cũng là lý do Sabát có ý nghĩa sinh thái sâu sắc. Sabát nói rằng thế giới có thể tiếp tục tồn tại khi ta ngừng sản xuất. Điều này xúc phạm trực tiếp vào ảo tưởng của nền văn minh hiệu suất: nếu ta dừng, mọi thứ sẽ sụp. Thiên Chúa dạy ngược lại. Dừng là một phần của trật tự. Đất nghỉ. Người nghỉ. Gia súc nghỉ. Người làm thuê nghỉ. Sabát phá sự chuyên chế của lợi nhuận bằng việc dành một phần thời gian không sinh lợi trực tiếp cho thờ phượng, tương quan, ký ức và niềm vui. Một xã hội không biết nghỉ sẽ không biết giữ đất, vì trong cả hai trường hợp vấn đề giống nhau: không chấp nhận giới hạn. Người làm việc đến kiệt sức và xã hội khai thác trái đất đến kiệt sức đang sống cùng một logic. Hoán cải sinh thái vì thế không chỉ là đổi công nghệ; nó là học lại nghệ thuật dừng.
Thánh ý Thiên Chúa còn được nhận ra qua khoa học đúng nghĩa. Đức tin không chống khoa học. Nếu khoa học cho thấy một chất gây ung thư, một mô hình làm suy giảm đa dạng sinh học, một lượng phát thải làm tăng nhiệt độ, một cách khai thác làm cạn nước ngầm, người tín hữu không thể bịt tai rồi nói “Chúa sẽ lo”. Tin vào Quan Phòng không có nghĩa phủ nhận nhân quả. Nếu ta gieo độc xuống nước rồi cầu xin Chúa cho dân làng khỏe mạnh, đó không phải đức tin mà là thử thách Thiên Chúa. Nếu ta biết rừng đầu nguồn bị phá sẽ tăng nguy cơ lũ mà vẫn làm vì lợi nhuận, sau đó gọi thiên tai là “ý Chúa”, ta đã xúc phạm đến ý Chúa. Thánh ý Chúa không phải cái tên dùng để che sự thiếu trách nhiệm của con người. Khoa học giúp ta thấy những hậu quả mà mắt thường không thấy. Thần học giúp ta hiểu ý nghĩa luân lý của những hậu quả ấy. Hai bên cần nhau. Khoa học không tự quyết định điều gì là thiện tối hậu, nhưng đạo đức thiếu khoa học có thể trở thành thiện chí mù.
Trong phân định thực tế, có thể đặt một loạt câu hỏi trước mỗi quyết định lớn: Điều này có tôn trọng phẩm giá con người không? Ai hưởng lợi? Ai chịu thiệt? Người nghèo có được hỏi ý kiến không? Thiệt hại môi trường có thể phục hồi không? Nếu phục hồi được, ai chịu chi phí? Nếu không phục hồi được, lợi ích có đủ nghiêm trọng để biện minh không? Có phương án ít gây hại hơn không? Ta có đang gọi “nhu cầu” điều thực ra chỉ là lòng tham không? Lợi nhuận này là dài hạn hay chỉ là rút tài nguyên thật nhanh? Tác động sau hai mươi, năm mươi, một trăm năm là gì? Nếu con cháu chúng ta ngồi vào bàn hôm nay, chúng có đồng ý không? Nếu người nghèo bị ảnh hưởng có quyền lực ngang người đầu tư, quyết định có giống vậy không? Và cuối cùng: ta có thể dâng quyết định này trong lời cầu nguyện mà không phải né tránh sự thật nào không? Những câu hỏi ấy không tạo một đáp án máy móc, nhưng chúng kéo lương tâm ra khỏi chiếc hộp lợi nhuận.
Đôi khi sẽ có những xung đột thật. Bảo vệ một khu rừng có thể làm mất việc của một số người khai thác. Đóng một nhà máy ô nhiễm có thể ảnh hưởng đến hàng ngàn gia đình. Chuyển đổi năng lượng có thể làm tăng giá trong giai đoạn đầu. Không phải cứ chọn môi trường là đơn giản. Chính vì vậy, sinh thái toàn diện không được biến thành đạo đức dễ dãi của người có điều kiện. Nếu một chính sách môi trường làm người nghèo mất việc mà không tạo lối chuyển đổi, nó chưa đủ công bằng. Nếu yêu cầu nông dân thay phương pháp nhưng không hỗ trợ vốn, kiến thức và thị trường, đó là đẩy trách nhiệm xuống người yếu. Nếu cấm một nghề gây hại mà không mở đường sinh kế khác, chính sách có thể đúng mục tiêu nhưng thiếu bác ái. Thánh ý Chúa không phải chỉ bảo vệ cây mà quên người. Cũng không phải bảo vệ việc làm bằng mọi giá mà quên đất. Điều cần là “chuyển đổi công bằng”: thay đổi mô hình nhưng đồng hành với những người sẽ chịu ảnh hưởng. Sự thật và bác ái phải đi cùng.
Ở chiều sâu hơn nữa, việc đặt lợi nhuận làm tiêu chuẩn cuối cùng là một vấn đề thờ phượng. Đức Giêsu đã nói rất rõ: không thể làm tôi Thiên Chúa lẫn tiền của. Tiền tự nó không phải ma quỷ. Nhưng tiền có một khả năng đặc biệt là giả làm Thiên Chúa. Nó hứa an toàn, quyền lực, tự do, danh dự, khả năng kiểm soát tương lai. Khi tiền đi từ phương tiện thành cứu cánh, nó trở thành Mammon. Khi đó người ta hy sinh mọi thứ cho nó, giống như người ta hy sinh cho thần linh: hy sinh thời gian, sức khỏe, gia đình, người nghèo, đất đai, thậm chí lương tâm. Một nền kinh tế không còn chấp nhận bất cứ giới hạn luân lý nào đối với lợi nhuận đang hành xử như một tôn giáo. Nó có tín điều: tăng trưởng vô hạn. Có phụng vụ: mua sắm. Có các đền thờ: trung tâm tiêu dùng. Có các vị tử đạo: người lao động kiệt sức, cộng đồng ô nhiễm, loài vật bị khai thác, rừng bị chặt. Có cánh chung: ngày mai công nghệ sẽ giải quyết mọi vấn đề. Linh đạo Kitô giáo phải đủ tỉnh táo để nhận ra sự cạnh tranh thờ phượng này. Mỗi lần chọn công ích hơn lợi ích riêng, mỗi lần từ chối một khoản lợi bất chính, mỗi lần dừng trước giới hạn sinh thái, người Kitô hữu đang thực hiện một hành vi thờ phượng: Thiên Chúa là Chúa, tiền không phải Chúa.
Vì thế, khôi phục hài hòa nguyên thủy không thể chỉ bằng những giải pháp kỹ thuật. Ta có thể có xe điện nhưng vẫn sống trong lòng tham. Có thể tái chế rất tốt nhưng tiêu thụ ngày càng nhiều. Có thể trồng cây bù nhưng vẫn duy trì một hệ thống hút kiệt. Có thể nói ESG, net zero, xanh hóa, kinh tế tuần hoàn bằng ngôn ngữ rất đẹp nhưng nếu tất cả chỉ để tiếp tục tối đa hóa lợi nhuận mà không đụng đến giới hạn của ham muốn, sự thay đổi vẫn nông. Công nghệ xanh rất cần, nhưng trái tim cũng phải xanh theo nghĩa Tin Mừng: biết đủ, biết tạ ơn, biết chia sẻ, biết chậm, biết giới hạn, biết nhìn người nghèo, biết nghĩ đến người chưa sinh. Nếu không, ta chỉ thay nhiên liệu cho một cỗ máy vẫn chạy cùng một hướng.
Hài hòa nguyên thủy đã bị bán khi lợi nhuận trở thành tiêu chuẩn cuối. Câu nói ấy nghe mạnh, nhưng nó diễn tả một thực tại. Trong Eden, con người nhận mọi sự như ân huệ và sống trong tương quan. Sau tội, bàn tay nắm lại. Người anh giết em. Đất mang lời nguyền của bạo lực. Tháp Babel được dựng để tạo danh cho con người. Lịch sử cứu độ là lịch sử Thiên Chúa dạy con người mở tay lại. Luật dạy không gặt hết. Các ngôn sứ dạy trả công công bằng. Đức Giêsu dạy bán của cải chia cho người nghèo khi của cải đã trói tim. Cộng đoàn sơ khai chia sẻ để không ai thiếu thốn. Thánh Phaolô dạy toàn thể tạo thành đang rên siết mong chờ sự giải thoát. Mỗi bước trong lịch sử cứu độ đều chống lại việc biến sự sống thành sở hữu tuyệt đối. Vì thế, hoán cải sinh thái là một phần của hoán cải Kitô giáo: từ bàn tay nắm sang bàn tay mở.
Người Kitô hữu không cần trở thành chuyên gia mọi lĩnh vực để sống nguyên tắc này. Chỉ cần bắt đầu bằng việc để câu hỏi về thánh ý Chúa bước vào các quyết định thường ngày. Khi mua một món đồ, không chỉ hỏi giá bao nhiêu mà hỏi mình có cần không, dùng được bao lâu, ai làm ra, có thể sửa không. Khi ăn, nghĩ đến đất, nước, người trồng, người nuôi. Khi đi lại, cân nhắc những lựa chọn hợp lý. Khi xây nhà, nhớ bóng cây và dòng nước. Khi tổ chức tiệc, đừng để sự dư thừa trở thành biểu tượng thành công. Khi quản lý một cơ sở, đừng tính phần điện nước như khoản có thể lãng phí chỉ vì có tiền trả. Khi đầu tư, không chỉ hỏi lãi suất mà hỏi tiền mình đang phục vụ ngành gì. Khi bầu chọn hay tham gia đời sống công, đừng chỉ hỏi ai làm mình giàu nhanh hơn mà hỏi ai bảo vệ công ích lâu dài hơn. Khi giáo dục con cái, đừng dạy chúng rằng thành công là có thật nhiều, nhưng là trở thành người biết dùng điều mình có để phục vụ. Những việc ấy nhỏ, nhưng chúng đổi lại thước đo bên trong.
Cuối cùng, thánh ý Đấng Tạo Hóa không chống niềm vui, không chống thịnh vượng và không chống phát triển. Thiên Chúa không muốn con người sống trong khốn cùng. Kinh Thánh đầy hình ảnh mùa màng, rượu mới, đất chảy sữa và mật, bàn tiệc, thành phố, vườn nho, nhà cửa. Vấn đề không phải có của cải, nhưng của cải ở đâu trong trật tự tình yêu. Khi của cải phục vụ sự sống, nó là phúc lành. Khi của cải được chia sẻ, nó trở thành hiệp thông. Khi lợi nhuận duy trì việc làm, cải thiện sản phẩm, phục vụ cộng đồng và bảo vệ tương lai, nó có thể là hoa trái của quản trị tốt. Nhưng khi lợi nhuận đòi hy sinh sự thật, phẩm giá, người nghèo và đất, nó đã vượt ranh giới. Khi ấy người Kitô hữu phải có can đảm nói: không phải mọi điều đem lại lợi đều đáng làm. Có những khoản lãi là lỗ trước mặt Thiên Chúa. Có những mất mát tài chính lại là lợi ích của lương tâm. Có những giới hạn tự nguyện là dấu hiệu của tự do. Có những mảnh đất nên để yên. Có những cây không nên chặt. Có những dòng sông không nên bị bóp nghẹt. Có những cộng đồng không nên bị di dời chỉ vì họ yếu. Có những sản phẩm không nên tạo ra chỉ vì thị trường sẽ mua. Có những công nghệ không nên triển khai chỉ vì ta có khả năng. Có những đồng tiền nên từ chối để linh hồn còn nguyên.
Thước đo cuối cùng không phải là ta kiếm được bao nhiêu từ thế giới này, nhưng là ta đã sống thế nào trong thế giới Thiên Chúa trao. Không phải ta đã lấy được bao nhiêu, nhưng ta đã giữ lại được gì cho người khác. Không phải ta đã kiểm soát được bao nhiêu, nhưng ta đã phục vụ sự sống đến đâu. Không phải bảng lợi nhuận nói gì về ta, nhưng Đấng Tạo Hóa nói gì khi nhìn công việc bàn tay ta. Ngày cuối cùng, chúng ta sẽ không mang theo đất đai, cổ phiếu, tài khoản, nhà máy hay công suất. Nhưng những lựa chọn của chúng ta đã để lại dấu trên người khác và trên trái đất. Có dấu là vết thương. Có dấu là sự chữa lành. Có nơi sau khi ta đi qua, đất nghèo hơn, nước bẩn hơn, người yếu hơn. Cũng có nơi sau khi ta đi qua, cây được giữ lại, người nghèo được bảo vệ, cộng đồng được mạnh hơn, tài nguyên được dùng khôn ngoan hơn, con cháu còn một khoảng trời để thở. Đó mới là thứ lợi nhuận mà Nước Thiên Chúa có thể nhận.
Khôi phục hài hòa nguyên thủy vì thế bắt đầu bằng việc đổi thước đo. Lợi nhuận không bị loại khỏi bàn, nhưng bị đưa xuống đúng chỗ của nó. Trên lợi nhuận là phẩm giá con người. Trên lợi nhuận là công ích. Trên lợi nhuận là sự thật. Trên lợi nhuận là người nghèo. Trên lợi nhuận là tương lai của con cháu. Trên lợi nhuận là sự tốt đẹp của tạo thành. Và trên tất cả là thánh ý Thiên Chúa, Đấng không tạo thế giới để ta hút kiệt nhưng để ta canh tác, gìn giữ, tạ ơn và truyền lại. Khi trật tự ấy được phục hồi, kinh tế không bị hủy mà được cứu khỏi việc trở thành ngẫu tượng. Kỹ thuật không bị phủ nhận mà được giải phóng để phục vụ sự sống. Con người không bị hạ thấp mà được trả về phẩm giá của người quản gia. Và trái đất không còn là kho nguyên liệu vô tận nhưng trở lại là ngôi nhà chung, là quà tặng, là dấu chỉ, là nơi con người học lại cách sống trước mặt Đấng Tạo Hóa.

PHẦN VII
LINH ĐẠO VÀ MỤC VỤ
CHƯƠNG 34. CẦU NGUYỆN GIỮA TRỜI ĐẤT
Cầu nguyện Kitô giáo không diễn ra bên ngoài tạo thành, cũng không phải là cố gắng thoát khỏi đất để gặp một Thiên Chúa ở đâu đó rất xa đất. Người tín hữu cầu nguyện bằng một thân xác được dựng nên từ bụi đất, bằng hơi thở nhận từ không khí, bằng tiếng nói cần đến phổi và thanh quản, bằng đôi mắt mở ra trước ánh sáng, bằng đôi tai nghe tiếng người, tiếng chim, tiếng mưa, tiếng xe, bằng một đời sống phải ăn bánh, uống nước, ngủ, thức, làm việc, già đi rồi trở về với đất. Ngay cả khi quỳ trong một nhà nguyện kín, con người vẫn cầu nguyện giữa trời đất. Gạch dưới chân đã từng là đất sét. Gỗ trên bàn thờ đã từng là cây. Vải áo lễ đến từ sợi được trồng hoặc được dệt từ nguyên liệu của thế giới này. Nến cháy nhờ vật chất. Rượu trong chén thánh đến từ trái nho và công việc của con người. Bánh trên đĩa thánh đến từ hạt lúa, mùa màng, nước, nắng, đất và bàn tay lao động. Không có một phụng vụ nào hoàn toàn “phi vật chất”. Không có một kinh nguyện Kitô giáo trưởng thành nào có thể khinh vật chất mà vẫn trung thành với mầu nhiệm Nhập Thể. Đức tin của chúng ta không tuyên xưng rằng Con Thiên Chúa đã giả vờ làm người, nhưng rằng Ngôi Lời đã trở nên xác phàm. Vì thế, học cầu nguyện giữa trời đất không phải thêm một đề tài “sinh thái” vào đời sống đạo vốn đã quá nhiều đề tài. Đó là học lại một điều rất cũ: toàn thể đời sống này diễn ra trước mặt Đấng Tạo Hóa, và toàn thể tạo thành có thể trở thành nơi lòng người mở ra để nhận biết, tạ ơn, sám hối, thờ phượng và phó thác.
Có một kiểu cầu nguyện dễ trở nên quá nội tâm theo nghĩa nghèo nàn: chỉ còn tôi với những nhu cầu của tôi, những bệnh tật của tôi, gia đình tôi, công việc tôi, ước muốn tôi, thất bại tôi, thành công tôi. Những điều ấy hoàn toàn chính đáng để đem vào cầu nguyện. Chúa không khinh những lo âu rất nhỏ của con người. Tin Mừng cho thấy Đức Giêsu quan tâm đến người đau bệnh, người đói, người khóc, người mất con, người không có rượu trong tiệc cưới, người đánh mất đồng bạc, người phải lo cơm áo. Nhưng nếu cầu nguyện suốt đời mà thế giới của người cầu nguyện càng lúc càng nhỏ lại, chỉ quanh quẩn trong cái tôi và những người thuộc về tôi, thì có điều gì đó chưa trưởng thành. Người cầu nguyện với Cha trên trời phải dần học nhìn điều Cha nhìn. Người cầu nguyện bằng lời “Lạy Cha chúng con” phải dần thoát khỏi cái vòng quá chật của “con, nhà con, việc con, lợi ích con”. Người đọc “xin cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày” phải nhớ rằng bánh của mình có liên hệ với đất, với mùa màng, với người làm ruộng, người vận chuyển, người bán, với sự công bằng của cả một chuỗi lao động, và với những người hôm nay không có bánh. Người đọc “ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” không thể coi “dưới đất” chỉ là một cách nói trang trí. Đất này thật sự phải trở thành nơi thánh ý Thiên Chúa được tìm kiếm và thực hiện. Cầu nguyện, vì thế, phải mở mắt người tín hữu ra chứ không khép mắt họ lại trước thế giới.
Kinh sáng có thể bắt đầu rất đơn sơ bằng việc nhìn trời. Điều này nghe quá nhỏ đến mức nhiều người tưởng không đáng gọi là linh đạo. Nhưng chính những điều quá nhỏ đôi khi cứu đời sống cầu nguyện khỏi trở thành máy móc. Người tín hữu vừa thức dậy đã có thể với tay tìm điện thoại, xem tin nhắn, kiểm tra mạng xã hội, đọc tin tức, xem giá cả, nhìn lịch làm việc, trả lời một cuộc trò chuyện dang dở từ tối qua. Chỉ vài phút sau khi tỉnh giấc, đầu óc đã đầy tiếng người. Một ngày chưa bắt đầu mà tâm trí đã bị chiếm. Có khi ta cầu kinh sáng sau đó, nhưng cầu kinh trong một tâm trí đã bị hàng chục thông tin kéo về hàng chục hướng. Một linh đạo tạo thành rất thực tế có thể bắt đầu bằng một kỷ luật nhỏ: trước màn hình, nhìn trời; trước tin tức, nhận biết mình đang sống; trước khi đọc lời của thiên hạ, lắng nghe sự hiện diện của Đấng đã cho mình thêm một ngày. Không cần phải có bình minh đẹp. Không phải nhà nào cũng có cửa nhìn núi hay biển. Có người mở cửa chỉ thấy mái tôn, dây điện, chung cư đối diện, bụi thành phố. Nhưng phía trên tất cả vẫn là trời. Có người sống trong bệnh viện, nhà tù, khu công nghiệp, phòng trọ hẹp. Họ vẫn có thể nhận biết ánh sáng đang đổi, ngày mới đang đến, sự sống vẫn đang được trao. Kinh sáng bắt đầu ở đó: “Lạy Chúa, ngày này không phải do con làm ra. Hơi thở này không phải con tự cho mình. Ánh sáng này đến trước mọi kế hoạch của con. Con nhận ngày hôm nay như một ơn ban.”
Nhìn trời trong kinh sáng không phải bói thời tiết bằng tâm linh. Trời đẹp không có nghĩa Chúa hài lòng với tôi; trời mưa không có nghĩa Chúa buồn. Một cơn bão không phải dấu chỉ đơn giản rằng Thiên Chúa đang trừng phạt một vùng đất. Đức tin Công giáo phải rất cẩn trọng trước những cách nối biến cố thiên nhiên trực tiếp với tội riêng của một nhóm người. Đức Giêsu đã bác bỏ lối suy luận dễ dãi ấy khi người ta muốn tìm tội của nạn nhân trong tai họa. Nhưng trời đất vẫn có thể dạy người cầu nguyện điều khác: mình nhỏ bé, mình nhận nhiều hơn mình làm ra, mình lệ thuộc vào những điều mình không kiểm soát, mình sống trong một ngôi nhà chung với vô số người khác. Một ngày nắng đẹp có thể thành lời tạ ơn. Một ngày mưa dai dẳng có thể nhắc nhớ người đang ngập. Một đợt nóng kéo dài có thể đưa vào lời cầu những người lao động ngoài trời, người già trong căn phòng nóng, trẻ em thiếu nước, nông dân nhìn ruộng khô. Một cơn gió mát có thể làm lòng người mềm lại để thốt lên một câu rất đơn sơ: “Tạ ơn Chúa.” Cầu nguyện giữa trời đất không phải gán cho thiên nhiên những ý nghĩa tùy tiện. Đó là để thực tại đang có trước mắt mở rộng trái tim khỏi sự vô cảm.
Kinh sáng cũng có thể trở thành một hành vi đặt lại vị trí của mình trong tạo thành. Tôi không phải trung tâm của ngày hôm nay. Mặt trời không mọc vì tôi. Mưa không rơi chỉ cho ruộng nhà tôi. Dòng sông không chảy chỉ để nhà máy của tôi dùng. Đất không tồn tại chỉ để giá bất động sản tăng. Cây không có mặt chỉ để tôi khai thác. Các loài không được dựng nên chỉ để trở thành món hàng cho loài người. Nhưng đồng thời, tôi cũng không phải một sự cố vô nghĩa trong vũ trụ. Tôi là một thụ tạo được gọi tên, một ngôi vị được yêu, một người có trách nhiệm. Cầu nguyện đặt hai điều ấy cùng lúc vào lòng: khiêm nhường và phẩm giá. Khiêm nhường vì tôi chỉ là thụ tạo. Phẩm giá vì tôi được mời thưa chuyện với Đấng Tạo Hóa. Cái tôi không còn là ông chủ tuyệt đối, nhưng cũng không tan biến vào thiên nhiên như một hạt vô danh. Tôi đứng trước Chúa giữa muôn loài, nhận mình vừa thuộc về tạo thành vừa được trao trách nhiệm trong tạo thành. Một phút cầu nguyện như thế mỗi sáng có sức chữa một căn bệnh rất lớn của thời đại: ảo tưởng rằng thế giới là vật liệu cho dự án của tôi.
Thánh vịnh chính là trường cầu nguyện rất lớn cho việc học lại vị trí ấy. Nhiều giáo dân đọc Thánh vịnh trong phụng vụ nhưng chưa thật sự để ngôn ngữ tạo thành của Thánh vịnh thấm vào trí tưởng tượng đức tin. Trời xanh, tinh tú, sông ngòi, núi đồi, biển cả, thú rừng, chim trời, cây cối, mùa màng xuất hiện dày đặc trong lời cầu của Israel. Đó không phải phong cảnh phụ để làm thơ cho hay. Đó là một vũ trụ đang đứng trước Đấng Tạo Hóa. “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa” không có nghĩa bầu trời có miệng như con người, nhưng có nghĩa thụ tạo mang dấu ấn của nguồn gốc mình và có khả năng làm lòng người bừng tỉnh trước Đấng đã gọi nó vào hiện hữu. Thánh vịnh 104 là một trường chiêm ngắm gần như toàn bộ thế giới: ánh sáng, trời, nước, núi, suối, thú đồng, chim trời, cỏ cây, lương thực, rượu, dầu, bánh, mặt trăng, mặt trời, sư tử, biển cả, những sinh vật không đếm xuể. Người cầu nguyện không đứng ngoài bức tranh ấy. Người ấy sống nhờ cùng một trật tự ban sự sống. Khi đọc những Thánh vịnh như thế, giáo dân không cần biến chúng thành bài học khoa học. Giá trị của chúng sâu hơn: chúng chữa một cái nhìn đã bị thu hẹp bởi tính hữu dụng. Chúng dạy ta gọi sự vật bằng những tên khác ngoài giá bán.
Thánh vịnh tạo thành nên trở lại miệng giáo dân không phải vì Hội Thánh cần một chiến dịch xanh. Chúng nên trở lại vì đó là Kinh Thánh, vì đó là lời cầu nguyện của dân Chúa, vì con người hiện đại đang rất cần được chữa khỏi lối nhìn chỉ biết đo lường và sử dụng. Có người thuộc nhiều kinh nhưng gần như không còn biết ngạc nhiên. Có người đọc kinh rất sốt sắng nhưng đi qua một cây cổ thụ chỉ nghĩ cây ấy có thể cho bao nhiêu gỗ; nhìn một thửa đất chỉ nghĩ có thể phân lô thế nào; nhìn một con sông chỉ nghĩ có thể khai thác bao nhiêu nước; nhìn người nghèo chỉ nghĩ họ có thể làm việc gì cho mình. Khi ngôn ngữ cầu nguyện không chữa được cách nhìn, đời đạo dễ bị chia đôi. Miệng ca tụng Đấng Tạo Hóa mà mắt chỉ còn nhìn thấy tài nguyên. Miệng đọc “Chúc tụng Chúa đi, hỡi mọi công trình của Chúa” mà tay lại đối xử với các công trình ấy như đồ vô chủ. Một linh đạo trưởng thành phải từ từ nối miệng, mắt, tay và lương tâm lại với nhau.
Kinh tối có thể trở thành nơi việc nối lại ấy đi vào xét mình. Người Công giáo quen với xét mình về điều răn, về tương quan, về lời nói, về những lỗi trong ngày. Điều đó rất quý. Nhưng lương tâm sinh thái không phải một lương tâm khác đặt cạnh lương tâm Kitô giáo. Chính lương tâm Kitô giáo, nếu được đào tạo đầy đủ, phải biết hỏi cả những điều liên quan đến cách mình sử dụng của cải chung. Tối đến, ngoài câu hỏi “Hôm nay tôi có làm ai đau không?”, người tín hữu có thể thêm “Hôm nay tôi đã dùng nước thế nào? Tôi có phung phí chỉ vì mình đủ tiền trả không? Tôi đã sử dụng điện thế nào? Tôi đã mua gì không cần thiết? Tôi đã vứt thứ gì còn có thể dùng? Tôi có tạo thêm rác chỉ vì tiện? Tôi có đối xử với người phục vụ, người giao hàng, người dọn rác như những ngôi vị hay như những phần vô hình của hệ thống phục vụ mình? Tôi đã nói những lời gì làm bầu khí trong nhà nặng nề? Tôi có sống như thể mọi tiện nghi đều là quyền đương nhiên của mình không?” Những câu hỏi ấy không phải để biến giờ kinh tối thành bảng kiểm tra kỹ thuật. Chúng giúp lương tâm học nhìn sự thánh thiện trong những chỗ đời thường nhất.
Nước là một ví dụ. Ta mở vòi và nước chảy. Chính sự dễ dàng ấy làm ta quên nước là một quà tặng kỳ diệu và là một của chung mà hàng triệu người trên thế giới không có được cách an toàn và ổn định. Xét mình về nước không có nghĩa ám ảnh từng giọt. Một người mẹ phải giặt đồ cho con không phạm tội vì dùng nhiều nước hơn người sống một mình. Một bệnh viện cần lượng nước rất lớn. Một nông dân phải tưới ruộng. Vấn đề không phải là dùng, nhưng là thái độ của người dùng. Tôi có sử dụng với lòng biết ơn, sự hợp lý và trách nhiệm, hay với tâm lý “tôi trả tiền nên tôi muốn xả bao nhiêu thì xả”? Câu “tôi trả tiền” là một trong những câu nguy hiểm của văn hóa tiêu thụ khi nó trở thành lời biện minh cuối cùng. Có những điều mua được bằng tiền nhưng không vì thế trở thành tài sản tuyệt đối của tôi. Nước đi qua nhà tôi nhưng thuộc về cả một chu trình sống lớn hơn nhà tôi. Điện tôi dùng có một lịch sử năng lượng phía sau. Thức ăn trên bàn tôi có đất, nước, nhiên liệu, lao động phía sau. Rác tôi ném đi không biến mất chỉ vì xe rác đã mang nó khỏi mắt tôi. Cầu nguyện làm cho những thứ bị hệ thống che khuất trở lại trước lương tâm.
Điện cũng vậy. Người ta có thể nghĩ rằng tắt một bóng đèn chẳng liên quan gì đến đời sống thiêng liêng. Nếu biến việc tắt đèn thành tiêu chuẩn nên thánh thì quả là lố bịch. Một người có thể tiết kiệm điện rất giỏi mà độc ác với gia đình. Một người khác vì chăm bệnh nhân phải bật điều hòa, máy thở, thiết bị y tế cả ngày. Luân lý không bao giờ giản lược thành một động tác máy móc. Nhưng thái độ đối với năng lượng có thể bộc lộ một điều sâu hơn: tôi có biết giới hạn không? Tôi có nghĩ tiện nghi của mình là tuyệt đối không? Tôi có chấp nhận hy sinh một chút để của chung được sử dụng khôn ngoan hơn không? Tôi có sống theo nguyên tắc “miễn tôi đủ khả năng trả” hay còn một nguyên tắc khác là công ích? Đời sống thiêng liêng rất thường được bộc lộ trong những hành vi nhỏ mà chẳng ai nhìn thấy. Một người tắt thiết bị không cần dùng không phải vì sợ hóa đơn nhưng vì ý thức của cải không phải vô hạn, đang tập một đức tính rất cổ điển của Kitô giáo: tiết độ.
Xét mình về rác cũng vậy. Rác có một đặc điểm tâm lý kỳ lạ: khi không còn muốn dùng một vật, ta muốn nó biến mất càng nhanh càng tốt. Thùng rác cho ta cảm giác biến mất. Nhưng trong thực tế vật ấy chỉ đổi chỗ. Một túi nhựa từ bàn ăn sang thùng, từ thùng sang xe, từ xe sang bãi, từ bãi có thể sang đất, nước, biển. Cầu nguyện giúp người tín hữu từ chối ảo tưởng “không còn trước mắt tức là không còn”. Điều này không chỉ đúng với rác vật chất mà còn với rác của các tương quan. Tôi nói một câu độc địa rồi quên; nhưng câu ấy ở lại trong lòng người kia. Tôi đăng một lời vu khống rồi xóa; nhưng người khác đã chụp lại, đã bị tổn thương. Tôi đẩy chất thải khỏi khu dân cư của mình; nhưng một cộng đồng nghèo khác nhận nó. Tôi mua hàng rất rẻ; nhưng ở một nơi xa có thể có người đang trả cái giá thật bằng lao động không công bằng. Xét mình sinh thái mở rộng khả năng nhìn hậu quả của hành vi vượt khỏi phạm vi trước mắt.
Đặc biệt, kinh tối nên xét mình cả về lời nói. Thoạt nghe điều này không liên quan đến sinh thái, nhưng thật ra có một sinh thái của tương quan. Ngôi nhà chung không chỉ bị ô nhiễm bởi khói bụi. Gia đình cũng có thể bị ô nhiễm bởi tiếng quát, lời khinh, sự mỉa mai, những cuộc chiến lạnh kéo dài. Giáo xứ có thể có khuôn viên sạch mà bầu khí đầy bè phái. Một cộng đoàn tu trì có thể phân loại rác rất chuẩn nhưng lời nói lại làm nhau ngạt thở. Một người cổ võ môi trường trên mạng nhưng về nhà xúc phạm cha mẹ không thể gọi đó là sinh thái toàn diện. Hệ sinh thái con người và hệ sinh thái tự nhiên không tách rời như hai thế giới. Con tim tham lam gây hại cả đất và người. Tính bạo lực làm tổn thương cả quan hệ và môi trường. Văn hóa vứt bỏ bắt đầu khi ta quen coi cả vật lẫn người như thứ dùng xong thì bỏ. Vì thế câu xét mình “Hôm nay lời nói của tôi làm căn nhà chung quanh mình dễ thở hơn hay khó thở hơn?” là một câu rất đáng giữ.
Nhưng phải nhấn mạnh điều quan trọng: đừng biến mọi giờ kinh thành giờ kiểm kê môi trường. Linh đạo sinh thái cũng có thể bị lệch khi nó chiếm hết không gian cầu nguyện. Người tín hữu không cầu nguyện với “môi trường”. Ta cầu nguyện với Thiên Chúa. Tạo thành không phải Thiên Chúa. Trái đất không phải một ngôi vị thần linh đòi thờ phượng. Sinh thái không phải Tin Mừng thay thế Tin Mừng. Nếu mọi Thánh lễ, mọi giờ chầu, mọi kinh tối, mọi bài giảng, mọi buổi tĩnh tâm đều bị kéo về cùng một đề tài môi trường, thì chính ý hướng tốt có thể trở thành một thứ đơn điệu và làm méo sự phong phú của đức tin. Hội Thánh phải nói về tội, ân sủng, thập giá, Phục Sinh, bí tích, gia đình, sự sống, người nghèo, công lý, ơn gọi, sự chết, đời đời, tha thứ, truyền giáo và vô số chiều kích khác. Sinh thái toàn diện không có nghĩa thay mọi đề tài bằng môi trường. Nó có nghĩa trong mọi đề tài, ta không còn quên rằng con người là thụ tạo sống trong một thế giới do Thiên Chúa dựng nên và được trao cho trách nhiệm.
Có khác biệt rất lớn giữa “biến mọi kinh thành kinh môi trường” và “để mọi kinh còn biết trời đất là của Chúa”. Điều thứ nhất là thu hẹp. Điều thứ hai là mở rộng. Khi đọc Kinh Lạy Cha, ta không cần chen một câu khẩu hiệu môi trường vào giữa; chỉ cần thật sự hiểu “dưới đất cũng như trên trời”. Khi dâng lời tạ ơn trước bữa ăn, ta không cần đọc một diễn văn khí hậu; chỉ cần đừng coi thức ăn là thứ tự nhiên phải có. Khi cầu cho người bệnh, ta không cần chuyển đề tài sang biến đổi khí hậu; nhưng có thể hiểu rằng sức khỏe con người gắn với nước sạch, không khí sạch, nhà ở, thực phẩm và điều kiện lao động. Khi cầu cho người nghèo, ta không cần thêm một lớp từ vựng sinh thái nhân tạo; nhưng đừng quên người nghèo thường là người chịu hậu quả đầu tiên khi đất, nước và khí hậu bị tổn thương. Khi cầu cho người chết, ta nhớ rằng thân xác trở về bụi đất và chờ ngày phục sinh. Khi cử hành Phục Sinh, ta nghe lời về một tạo thành mới. Khi cử hành Giáng Sinh, ta thờ lạy Ngôi Lời làm người trong một hang đá, được đặt trong máng cỏ, bước vào thế giới vật chất này. Khi cử hành Thánh Thể, ta dâng bánh và rượu là “hoa màu ruộng đất và công lao của con người”. Tạo thành đã ở trong phụng vụ từ lâu trước khi từ “sinh thái” xuất hiện.
Giờ chầu Thánh Thể là một nơi đặc biệt để học cái nhìn ấy. Chầu Thánh Thể không phải chầu bánh. Hội Thánh thờ lạy Đức Kitô thật sự hiện diện trong Bí tích Thánh Thể. Nhưng chính việc Đức Kitô chọn bánh và rượu để ở lại với Hội Thánh mở ra một thần học rất sâu về tạo thành. Người đã không khinh vật chất. Người dùng những gì rất bình thường của đất và lao động để trở thành dấu chỉ bí tích của sự hiện diện Người. Trong giờ chầu, người tín hữu có thể tạ ơn không chỉ vì “Chúa ở đây” theo nghĩa riêng tư, nhưng còn vì cả lịch sử của ơn ban đang hội tụ nơi bàn thờ: hạt giống được gieo xuống đất, mưa rơi, nắng đến, đất sinh hoa màu, người nông dân lao động, người gặt, người xay, người nhào bột, người làm bánh; cây nho lớn lên, người chăm, người hái, người ép, người làm rượu. Hội Thánh nhận những hoa trái ấy, rồi qua lời Đức Kitô và quyền năng Thánh Thần, bánh rượu trở thành Mình và Máu Người. Đây không phải thần thánh hóa nông nghiệp. Đây là nhận ra Thiên Chúa không cứu con người bằng cách khinh thế giới vật chất.
Một giờ chầu có thể bắt đầu bằng sự thinh lặng rất đơn sơ trước Nhà Tạm rồi từ đó lòng tạ ơn mở rộng: “Lạy Chúa, con tạ ơn vì tấm bánh. Con tạ ơn vì đất đã sinh lúa. Con tạ ơn vì nước. Con tạ ơn vì những bàn tay lao động mà con không biết tên. Con tạ ơn vì Chúa đã chọn điều bình thường để ở lại với chúng con.” Từ đó người cầu nguyện có thể thấy một tấm bánh không còn bình thường theo cách cũ nữa. Không phải mọi bánh đều là Thánh Thể, nhưng Thánh Thể dạy ta đừng khinh bánh. Không phải mọi ly rượu đều là Máu Chúa, nhưng Bí tích dạy ta tôn trọng những hoa trái của đất và công lao chính đáng của con người. Người đã quỳ lâu trước Thánh Thể mà vẫn khinh người làm ruộng, bóc lột người làm công, phung phí thức ăn, vứt bỏ thực phẩm trong khi người khác đói, thì còn một khoảng cách giữa phụng vụ và đời sống cần được hoán cải.
Cầu nguyện trước Thánh Thể cũng có thể chữa lối nhìn kỹ trị. Trong thế giới kỹ trị, giá trị của sự vật được đo bằng hiệu suất: nó làm được gì, sinh ra bao nhiêu, tiết kiệm bao nhiêu, tăng trưởng bao nhiêu. Trước Thánh Thể, người tín hữu quỳ trước một dấu chỉ rất nhỏ, không phô trương quyền lực, không cạnh tranh về hiệu suất, không tạo cảm giác choáng ngợp. Thiên Chúa tự hiến dưới hình bánh. Người ở đó trong sự khiêm hạ. Điều này phê phán sâu sắc tham vọng thống trị. Quyền năng Thiên Chúa được bày tỏ như tự hiến, không như hút kiệt. Nếu cầu nguyện Thánh Thể thấm vào cách sống, người Kitô hữu phải học một kiểu hiện diện khác giữa tạo thành: không phải tới đâu cũng lấy, cũng sử dụng, cũng biến thành lợi nhuận, nhưng biết ở lại, biết nhận, biết trao, biết giới hạn, biết phục vụ sự sống.
Cầu nguyện giữa trời đất còn đòi chúng ta lấy lại việc chúc lành bàn ăn. Trong nhiều gia đình, lời cầu trước bữa ăn đã ngắn dần hoặc mất hẳn. Không phải vì người ta xấu hơn; nhịp sống đã thay đổi. Mỗi người ăn một giờ, vừa ăn vừa nhìn màn hình, đồ ăn đến qua ứng dụng, người giao đặt ở cửa rồi đi. Bữa ăn mất dần hình thức cộng đồng và cùng với nó, lòng biết ơn cũng dễ mờ. Một lời cầu ngắn trước bữa ăn có sức giáo dục rất lớn nếu không đọc máy móc. “Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa vì của ăn Chúa ban” là một cuộc cách mạng nhỏ chống lại tâm lý sở hữu tuyệt đối. Tôi đã mua bữa ăn, nhưng không vì thế tôi đã tự tạo ra nó. Tiền chỉ là một mắt xích. Không có đất, nước, khí hậu, người lao động và vô số điều kiện xã hội, tiền của tôi không biến thành cơm. Cầu nguyện trả bữa ăn về tính chất ơn ban trước khi nó trở thành hàng hóa.
Cha mẹ có thể dùng chính lời cầu bàn ăn để dạy con cái lòng kính trọng tạo thành mà không cần giảng dài. Một đứa trẻ được nhắc đừng lấy quá nhiều rồi bỏ, không chỉ vì “phí tiền” mà vì thức ăn đáng được trân trọng, sẽ học một thứ luân lý sâu hơn. Khi con hỏi tại sao phải cảm ơn Chúa nếu ba mẹ mua đồ ăn, cha mẹ có thể trả lời: vì ba mẹ chỉ mua được chứ không tạo được lúa, không làm ra nước, không ra lệnh cho hạt nảy mầm. Câu trả lời ấy mở một cánh cửa thần học rất tự nhiên. Trẻ hiểu dần rằng con người làm việc thật, nhưng luôn làm việc trong một thế giới đã được trao. Lao động là cộng tác, không phải sáng tạo từ hư vô. Từ đó, lòng biết ơn và trách nhiệm có thể lớn lên cùng nhau.
Cầu nguyện giữa trời đất cũng nên có những khoảng thinh lặng không lời. Con người hiện đại dễ tưởng cầu nguyện là nói liên tục với Chúa. Nói là cần thiết. Kinh nguyện có lời là kho tàng của Hội Thánh. Nhưng nếu không bao giờ im, ta khó nghe được sự thật của mình và khó để tạo thành trở thành dấu chỉ. Một người có thể ngồi vài phút dưới một gốc cây mà không chụp hình, không đăng, không bật nhạc, không gọi điện. Một người có thể đi bộ một đoạn mà không tai nghe. Một người có thể đứng bên cửa sổ khi mưa xuống và chỉ nhận biết: “Con đang ở đây trước mặt Chúa.” Những phút ấy không cần cảm xúc đặc biệt. Không phải hôm nào nhìn mây cũng thấy sốt sắng. Chiêm ngắm không phải sản xuất cảm giác thiêng liêng. Nó là kỷ luật hiện diện. Khi ta ngừng sử dụng mọi thứ một lát, ta bắt đầu thấy chúng.
Có thể một người sống cả đời ở nông thôn mà không hề chiêm ngắm đất. Gần thiên nhiên không tự động làm người ta có linh đạo tạo thành. Người nông dân cũng có thể nhìn đất chỉ như phương tiện sinh lợi; người thành thị cũng có thể học biết kinh ngạc trước một chậu cây nhỏ. Nhưng kinh nghiệm thân xác của người làm đất có những bài học rất quý cho cầu nguyện. Họ biết gieo mà không thể ra lệnh cho hạt nảy ngay. Họ biết chờ. Họ biết có năm thuận, năm nghịch. Họ biết con người phải làm rất nhiều nhưng không thể làm tất cả. Chính nhịp gieo, chờ, chăm, gặt chứa một ngữ pháp thiêng liêng. Cầu nguyện cũng có gieo và chờ. Ta không thể bắt Thiên Chúa trả lời theo thời hạn dự án. Ta không thể kéo hoa trái thiêng liêng lớn lên bằng tay. Một thời đại thích mọi thứ tức thì càng cần học lại sự kiên nhẫn của mùa vụ.
Người thành thị lại có trường cầu nguyện riêng. Cầu nguyện giữa trời đất không phải đặc quyền của người có vườn rộng. Thành phố cũng là một môi trường tạo thành đã được con người biến đổi sâu. Một cái cây bên vỉa hè cố sống giữa bê tông, một cơn mưa làm dịu đường phố, một đàn chim trên dây điện, ánh sáng sớm giữa các tòa nhà, một chậu rau sân thượng, một công viên nhỏ đầy người già tập thể dục, trẻ em chạy chơi: tất cả có thể trở thành nơi con người nhận ra sự sống vẫn tìm đường. Nhưng thành phố cũng đặt trước mắt người cầu nguyện những vết thương: khói bụi, tiếng ồn, nước thải, kênh đen, ngập, rác, những khu nhà chật chội, người lao động sống giữa điều kiện môi trường tệ. Cầu nguyện trong thành phố phải biết cả tạ ơn lẫn than van. Thánh vịnh không chỉ ca ngợi; Thánh vịnh cũng kêu cứu. Linh đạo tạo thành không phải tô mọi phong cảnh thành đẹp. Nó đủ thật để nhìn vết thương và đem vết thương ấy đến trước Chúa.
Có lúc lời cầu đúng nhất trước một dòng sông ô nhiễm không phải “đẹp quá, lạy Chúa”, nhưng là “xin thương xót chúng con”. Có lúc đứng trước một khu rừng bị tàn phá, người tín hữu phải biết than khóc. Trong truyền thống Kinh Thánh, than van không phải thiếu đức tin. Than van là một hình thức đức tin không chịu gọi cái xấu là bình thường. Người không tin có thể tuyệt vọng; người giả đạo đức có thể nhắm mắt; người cầu nguyện thật có thể khóc trước Chúa. Ta cần lấy lại khả năng khóc cho tạo thành. Không phải khóc kiểu lãng mạn vì “thiên nhiên bị đau”, nhưng khóc vì lòng tham, bất công và vô trách nhiệm của con người đang phá điều được trao để gìn giữ, đồng thời làm tổn thương người nghèo và tương lai của con cháu.
Cầu nguyện than van cũng bảo vệ hoạt động sinh thái khỏi cay đắng. Có người bắt đầu bảo vệ môi trường bằng tình yêu rồi dần biến thành giận dữ với nhân loại. Họ nhìn bất cứ ai dùng nhựa, đi xe, ăn thịt, xây nhà, sinh con như kẻ thù. Một tinh thần như vậy không còn toàn vẹn. Cầu nguyện đặt người hoạt động trở lại trước lòng thương xót. Ta đấu tranh chống điều sai nhưng nhớ chính mình cũng nằm trong hệ thống mình phê phán. Ta không đứng ngoài lịch sử như người vô tội tuyệt đối. Tôi cũng tiêu thụ. Tôi cũng tạo rác. Tôi cũng thích tiện nghi. Tôi cũng có những mâu thuẫn. Xét mình trước Chúa làm cho dấn thân bớt tự công chính. Người cầu nguyện có thể mạnh mẽ chống lại một chính sách phá hoại mà vẫn không biến người đối lập thành quỷ dữ. Họ hiểu cuộc chiến sâu nhất đi qua cả trái tim mình.
Kinh tối có thể kết thúc bằng việc trả ngày sống về cho Chúa. “Lạy Chúa, hôm nay con đã nhận rất nhiều từ đất mà con không nhớ. Con đã uống nước, ăn cơm, dùng điện, đi trên đường, thở không khí, sử dụng bao vật dụng. Xin tha thứ những lần con phung phí. Xin cho con ngày mai sống tỉnh thức hơn.” Một lời cầu như thế không tạo mặc cảm bệnh hoạn. Nó trả con người về sự thật. Sám hối Kitô giáo không phải ghét mình. Sám hối là nhìn đúng để quay lại. Có ngày ta sẽ nhận ra mình đã làm tốt: dùng lại một món đồ, không mua thứ không cần, chia sẻ thức ăn, đi bộ một đoạn, nói nhẹ hơn với người nhà, chăm một cây, nhặt một mẩu rác, lên tiếng cho một vấn đề công ích. Ta cũng có thể tạ ơn vì những điều ấy mà không khoe công. “Cảm ơn Chúa đã cho con hôm nay sống một chút gần với điều con tin.” Xét mình không chỉ tìm lỗi; nó nhận ra ân sủng đang hoạt động.
Ngày Chúa nhật là trường cầu nguyện giữa trời đất đặc biệt. Nhịp nghỉ ngày Chúa nhật không chỉ là luật đi lễ. Nó làm chứng rằng con người không được định nghĩa hoàn toàn bằng sản xuất. Thế giới không phải cái máy phải vận hành bảy ngày không ngừng. Cơ thể cần nghỉ. Đất cần nghỉ. Người lao động cần nghỉ. Các tương quan cần thời gian không quy ra tiền. Nếu ngày Chúa nhật chỉ trở thành ngày mua sắm nhiều hơn, tiêu thụ nhiều hơn, di chuyển nhiều hơn, thì phần nào ý nghĩa giải phóng của ngày nghỉ bị mất. Nghỉ Kitô giáo không phải lười. Đó là hành vi tin tưởng: tôi dừng lại vì thế giới không đứng trên vai tôi. Thiên Chúa vẫn là Chúa khi tôi ngừng làm. Chính hành vi dừng lại ấy có ý nghĩa sinh thái sâu sắc: nó chống lại một nền văn hóa không biết đủ.
Gia đình có thể tạo những hình thức rất đơn giản cho ngày Chúa nhật: đi bộ cùng nhau, ăn một bữa không điện thoại, thăm người già, chăm vườn, đi ra một không gian xanh, cùng cảm tạ Chúa vì một tuần đã qua. Không cần gọi đó là “hoạt động sinh thái”. Gọi tên quá nhiều đôi khi làm sự sống mất tự nhiên. Điều cần là phục hồi những thói quen giúp con người sống chậm, nhìn nhau và nhìn thế giới. Một đứa trẻ đi với cha mẹ dưới hàng cây, được dạy không bẻ cành vô cớ, không ném rác, biết chào người lao công, biết cảm ơn người bán hàng, đang được huấn luyện một linh đạo ngôi nhà chung bằng thân xác trước khi học những khái niệm lớn.
Các cộng đoàn giáo xứ cũng có thể cầu nguyện giữa trời đất một cách trưởng thành hơn. Không nhất thiết phải tổ chức thật nhiều chương trình. Một vài lựa chọn phụng vụ và mục vụ tinh tế đã đủ thay đổi trí tưởng tượng của cộng đoàn. Khi dâng lễ tạ ơn mùa màng, đừng chỉ trang trí bằng rau quả thật nhiều rồi sau đó lãng phí chúng. Hãy thật sự nói về người nông dân, về đất, về lao động, về việc chia sẻ hoa màu. Khi làm phép một công trình, có thể cầu cho những người thợ đã xây dựng nó. Khi có thiên tai, đừng chỉ quyên góp; hãy đưa nỗi đau của đất và người vào lời nguyện cộng đoàn. Khi cử hành tang lễ, có thể giúp cộng đoàn nghe lại lời “con người là bụi đất” không như một hình ảnh bi quan nhưng như sự thật thụ tạo được đặt trong niềm hy vọng phục sinh. Khi rước lễ, có thể đào sâu sự kiện chính Chúa dùng hoa màu của đất và lao công con người để nuôi dân Người.
Các linh mục có trách nhiệm đặc biệt ở đây. Một bài giảng về tạo thành không cần tuần nào cũng nói biến đổi khí hậu. Điều quan trọng hơn là thế giới tạo thành phải hiện diện tự nhiên trong thần học và đời sống đức tin. Khi giảng về lòng biết ơn, có thể nói đến những của cải rất cụ thể ta nhận mỗi ngày. Khi giảng về tham lam, đừng chỉ nói tiền; có thể nói cách ta lấy quá phần mình trong của chung. Khi giảng về người nghèo, đừng quên điều kiện sống và môi trường. Khi giảng về Thánh Thể, đừng bỏ qua bánh rượu như những dấu chỉ từ tạo thành. Khi giảng Sáng Thế, đừng biến “làm chủ” thành giấy phép khai thác. Khi giảng về nghỉ ngơi, hãy nhớ Sabát. Khi giảng về sự chết và phục sinh, hãy nhớ thân xác và tạo thành. Như thế, sinh thái không phải một chuyên đề ngoại nhập gắn vào Tin Mừng; nó trở lại đúng chỗ là một chiều kích của đức tin vào Đấng Tạo Hóa và Cứu Độ.
Các dòng tu cũng có thể xét lại cách cầu nguyện và đời sống vật chất của mình. Một cộng đoàn có thể hát Thánh vịnh rất đẹp nhưng dùng tài nguyên vô ý thức. Có thể giảng về khó nghèo mà tiêu dùng theo chuẩn ngày càng cao. Có thể nói yêu người nghèo nhưng tổ chức những bữa tiệc lãng phí. Có thể sống trong những khu đất lớn mà không nghĩ tới cách chăm sóc, chia sẻ, trồng cây, giữ nước, giảm chất thải. Đời sống thánh hiến vốn mang trong mình một lời phê bình văn hóa sở hữu. Khi lời khấn khó nghèo được sống với chiều kích sinh thái, nó trở thành một chứng tá rất mạnh rằng “có đủ” có thể đẹp hơn “có nhiều”. Nhưng cũng phải tránh biến đời tu thành một cuộc thi khắc khổ môi trường. Khó nghèo Tin Mừng không phải làm cho đời sống bẩn, thiếu an toàn hay phản khoa học. Nó là sử dụng của cải trong tự do, chia sẻ và trách nhiệm.
Cầu nguyện giữa trời đất còn liên quan tới thân xác. Có một truyền thống đạo đức đôi khi vô tình làm người ta nghĩ thân xác là phần thấp phải chịu đựng để linh hồn vươn lên. Kitô giáo chân chính không cho phép khinh thân xác. Thân xác được tạo dựng, được Ngôi Lời mang lấy, được cứu chuộc và được hứa phục sinh. Vì thế chăm sóc thân xác hợp lý cũng thuộc linh đạo tạo thành. Ngủ đủ, ăn điều độ, vận động, biết giới hạn màn hình, biết thở, biết nghỉ không phải tự động là thánh thiện, nhưng có thể trở thành cách tôn trọng một thụ tạo mình đã nhận. Ngược lại, tôn thờ thân thể, ám ảnh hình dáng, biến sức khỏe thành thần tượng cũng sai. Cầu nguyện đặt thân xác vào đúng vị trí: quý giá nhưng không tuyệt đối; cần chăm sóc nhưng một ngày sẽ trao lại; là phương tiện yêu thương và phục vụ chứ không phải đối tượng tự tôn.
Một người mệt đến mức không còn cầu nguyện được đôi khi không cần thêm một bài suy niệm, mà cần ngủ. Một người quá căng thẳng có thể cần đi bộ. Một người bị điện thoại băm nát sự chú ý có thể cần để máy xuống trước khi đọc Thánh vịnh. Linh đạo không chống sinh học. Ân sủng không hủy tự nhiên nhưng nâng tự nhiên lên. Cầu nguyện giữa trời đất thừa nhận con người có nhịp sinh học, giới hạn thần kinh, nhu cầu nghỉ ngơi. Không phải mọi khô khan đều do tội. Có khô khan vì kiệt sức. Không phải mọi chia trí đều là thiếu yêu Chúa. Có lúc não đã bị kích thích liên tục cả ngày. Vì thế một cuộc hoán cải sinh thái của đời cầu nguyện cũng có thể là hoán cải nhịp sống: bớt tiếng ồn, bớt tốc độ, bớt đa nhiệm, để con người có khả năng hiện diện.
Đặc biệt trong thời đại màn hình, ta cần học cầu nguyện bằng đôi mắt đã được giải phóng khỏi việc luôn tìm kích thích. Màn hình cho ta nhìn hàng nghìn cảnh đẹp nhưng có thể làm ta mất khả năng nhìn một cảnh thật. Một video bình minh có thể đẹp hơn bình minh thật vì được chỉnh màu, có nhạc, có góc quay hoàn hảo. Một khu rừng trên mạng luôn đúng ánh sáng; khu rừng thật có muỗi, nóng, bùn, mùi, mệt. Người ta dễ yêu một thiên nhiên đã được biên tập hơn tạo thành thật. Cầu nguyện đưa ta trở lại cái thật không qua chỉnh sửa. Bầu trời hôm nay có thể xám. Cây trước nhà có thể không đẹp. Con sông gần nhà có thể ô nhiễm. Nhưng Chúa không chỉ có mặt trong ảnh đẹp. Đức tin lớn lên khi ta học yêu thế giới thật đủ để chăm sóc nó, không chỉ yêu hình ảnh của nó.
Kinh Mân Côi cũng có thể được cầu giữa trời đất mà không cần biến thành một hình thức khác. Các mầu nhiệm đều có thân xác và không gian. Truyền tin xảy ra trong một căn nhà. Đức Maria lên đường qua miền núi. Chúa Giêsu sinh trong điều kiện rất cụ thể. Gia đình trốn sang Ai Cập. Đức Giêsu sống ba mươi năm trong lao động Nazareth. Người đi qua đồng lúa, lên núi, xuống biển, dùng nước, bánh, cá, cây nho, hạt giống làm dụ ngôn. Người hấp hối trên một ngọn đồi ngoài thành. Người được đặt trong một ngôi mộ đào vào đá. Người sống lại bằng thân xác được biến đổi. Kinh Mân Côi không phải kinh sinh thái, nhưng nó hoàn toàn không phi vật chất. Cầu chậm các mầu nhiệm ấy giúp ta nhớ Thiên Chúa cứu con người trong lịch sử, địa lý, thân xác và vật chất.
Đàng Thánh Giá cũng vậy. Thập giá bằng gỗ. Đức Giêsu ngã xuống đất. Người khát. Mặt trời tối đi trong ngôn ngữ Tin Mừng. Thân xác bị thương. Một ngôi mộ nhận xác Người. Không nên gượng ép mọi chi tiết thành bài học môi trường. Nhưng cũng không nên làm cuộc Khổ nạn thành một bi kịch thuần tinh thần. Tội đi vào thân xác. Cứu độ đi qua thân xác. Khổ đau của thế giới vật chất không xa lạ với Đức Kitô. Khi nhìn những vùng đất bị chiến tranh phá hủy, những dòng sông chết, những cộng đồng mất sinh kế, người tín hữu có quyền và có bổn phận đặt những đau thương ấy dưới chân Thập Giá. Không phải để dùng Thập Giá như biểu tượng chính trị, nhưng để tuyên xưng rằng không vết thương nào của tạo thành và con người nằm ngoài tầm nhìn cứu độ của Chúa.
Cầu nguyện giữa trời đất cũng giúp chuẩn bị cho cái chết. Con người hiện đại thường cố sống như thể mình không thuộc về chu trình hữu hạn của thụ tạo. Ta giấu tuổi già, giấu bệnh, giấu xác chết, sợ đất, sợ phân hủy. Nhưng phụng vụ nói thẳng: “Hỡi người, hãy nhớ mình là bụi tro.” Đó không phải xúc phạm phẩm giá con người. Nó giải thoát ta khỏi ảo tưởng. Thân xác này từ đất mà có và sẽ trở về đất, nhưng không rơi khỏi tay Chúa. Niềm tin phục sinh không phủ nhận đất; nó vượt qua sự chết bằng quyền năng Thiên Chúa. Người học cầu nguyện giữa trời đất có thể sống nhẹ hơn vì biết mình không sở hữu lâu dài bất cứ điều gì. Đất đai, nhà cửa, tiền bạc, đồ dùng, thân xác đều được mượn một thời gian. Ý thức ấy không làm ta bi quan. Nó có thể làm ta bớt tham.
Bởi vậy, một trong những hoa trái lớn nhất của cầu nguyện tạo thành là lòng biết đủ. Người biết tạ ơn dễ biết đủ hơn người chỉ biết đòi. Lòng biết ơn không tự động giải quyết mọi vấn đề kinh tế, nhưng nó chữa động cơ sâu nhất của tiêu thụ vô hạn: cảm giác luôn thiếu. Quảng cáo nói: bạn còn thiếu. Thuật toán nói: còn thứ khác đáng xem. Thị trường nói: phiên bản mới tốt hơn. So sánh xã hội nói: người khác có nhiều hơn. Cầu nguyện nói: hôm nay đã có ơn. Điều đó không cấm mơ ước, phát triển, cải thiện đời sống. Kitô giáo không tôn thờ nghèo khổ. Nhưng phát triển không còn là chạy vô tận để lấp một cái hố bên trong không thể lấp bằng đồ vật. Người biết mình được yêu có thể dùng vật chất mà không bắt vật chất cứu mình.
Cũng từ đó, lời cầu nguyện trở thành nguồn của hành động chứ không thay thế hành động. Ta không cầu cho dòng sông sạch rồi tiếp tục đổ chất thải. Không cầu cho người nghèo rồi ủng hộ mọi cơ chế làm họ nghèo hơn. Không cầu cho khí hậu rồi cho rằng mọi lựa chọn cá nhân và tập thể đều không liên quan. Cầu nguyện không miễn trách nhiệm; nó thanh luyện trách nhiệm. Nó làm ta hành động mà không tưởng mình là cứu thế. Chỉ Chúa cứu độ. Nhưng Chúa mời con người cộng tác. Một người sau giờ cầu nguyện có thể quyết định sửa một thói quen nhỏ. Một giáo xứ có thể xem lại cách sử dụng đất, nước, điện. Một giáo phận có thể cân nhắc trách nhiệm khi xây dựng. Một công dân có thể lên tiếng cho chính sách đúng. Một doanh nhân có thể chấp nhận lợi nhuận thấp hơn để không gây hại quá mức. Những quyết định ấy trở thành hoa trái của cầu nguyện khi chúng sinh từ lương tâm được đặt trước Chúa.
Tuy nhiên, phải tránh một cám dỗ khác: biến cầu nguyện thành công cụ để đạt mục tiêu hoạt động. Cầu nguyện không chỉ có giá trị vì nó làm ta sống xanh hơn. Chầu Thánh Thể không phải kỹ thuật tạo động lực bảo vệ môi trường. Thánh vịnh không phải tài liệu truyền thông. Thiên Chúa không phải phương tiện cho chương trình sinh thái của chúng ta. Ta cầu nguyện vì Thiên Chúa là Thiên Chúa, đáng được yêu mến, tôn thờ và chúc tụng. Chính khi đặt Thiên Chúa ở trung tâm thật sự, tạo thành mới được đặt đúng chỗ. Nếu mất Đấng Tạo Hóa, người ta có thể thần thánh hóa tạo thành. Nếu quên tạo thành, người ta có thể biến đức tin thành một thế giới tinh thần xa lạ với đời sống. Cầu nguyện Kitô giáo giữ được cả hai: chỉ thờ phượng Thiên Chúa, nhưng yêu mọi điều Thiên Chúa đã dựng nên theo trật tự đúng.
Một lời nguyện trưởng thành có thể nói: “Lạy Cha, con tạ ơn Cha vì trời đất này là của Cha chứ không phải của con. Xin dạy con bước đi trên đất như người khách được đón, làm việc như người quản gia sẽ phải trả lẽ, sử dụng của cải như người biết mình không sở hữu tuyệt đối, nghỉ ngơi như người tin Cha vẫn làm việc, chia sẻ như người biết mọi sự là quà tặng, và chết như người biết mình sẽ trở về với Cha.” Một lời nguyện như thế chứa gần như toàn bộ linh đạo tạo thành. Nó không nói khẩu hiệu. Nó đặt người cầu nguyện vào đúng mối tương quan.
Có lẽ điều Hội Thánh cần không phải là thêm thật nhiều “kinh môi trường”, nhưng là phục hồi một lối cầu nguyện không quên tạo thành. Các kinh mới có thể hữu ích, nhất là trong những dịp đặc biệt. Mùa Cầu nguyện cho Công trình Tạo dựng, những ngày thiên tai, những sự kiện liên quan đến môi trường đều có thể có lời cầu phù hợp. Nhưng sâu xa hơn là làm sao một người giáo dân sau mười, hai mươi, năm mươi năm cầu nguyện trở thành người biết tạ ơn một ly nước, biết kính trọng lao động của người khác, biết thấy giới hạn, biết đau khi đất và người bị làm tổn thương, biết sử dụng mà không chiếm hữu, biết nhận mà không tham, biết dừng, biết chia sẻ. Nếu kinh nguyện không đào tạo được con người ấy, ta cần hỏi mình đã cầu nguyện bằng cả đời sống chưa.
Buổi sáng, hãy thử nhìn trời trước khi nhìn màn hình. Không phải như luật buộc, nhưng như một cử chỉ nhớ mình là thụ tạo. Buổi tối, hãy để một câu xét mình đi vào những vật rất bình thường: nước, điện, thức ăn, rác, đồ mua, lời nói. Không phải để sống trong lo lắng, nhưng để tập trách nhiệm. Khi đọc Thánh vịnh, hãy để núi sông, chim trời, cây cối trở lại trong trí tưởng tượng đức tin. Khi chầu Thánh Thể, hãy tạ ơn vì Đức Kitô đã chọn bánh rượu, hoa màu của đất và lao công của con người, để ở lại. Khi ăn, hãy biết mình đang nhận. Khi nghỉ, hãy nhớ giới hạn là một phần của sự thánh thiện. Khi đi qua một nơi đẹp, đừng chỉ chụp; có lúc hãy nhìn. Khi đi qua một nơi bị tàn phá, đừng chỉ lắc đầu; có lúc hãy cầu và hỏi mình phải làm gì. Khi gặp người nghèo, đừng tách họ khỏi câu chuyện của đất, nhà ở, nước, khí hậu, việc làm. Khi nhìn về tương lai con cháu, hãy nhớ mình đang dùng hôm nay một phần thế giới chúng sẽ nhận ngày mai.
Và trên hết, đừng để sinh thái làm nghèo lời cầu nguyện bằng cách biến Chúa thành một khẩu hiệu. Hãy để cầu nguyện làm sâu sinh thái bằng cách trả trời đất về cho Chúa. Người Kitô hữu không nhìn trời để tìm một vị thần ở trong trời; họ nhìn trời và nhớ Đấng dựng nên trời. Họ không quỳ trước đất; họ bước trên đất với lòng kính trọng vì đất thuộc về Chúa. Họ không thờ sự sống như một nguyên lý vô danh; họ tạ ơn Đấng ban sự sống. Họ không ghét con người để cứu thiên nhiên; họ yêu con người đúng hơn bằng cách mời con người trở về vị trí quản gia. Họ không tuyệt vọng vì vết thương của thế giới; họ hành động trong niềm hy vọng rằng công trình Thiên Chúa không bị bỏ rơi.
Cầu nguyện giữa trời đất cuối cùng là học sống trước mặt Chúa trong một thế giới không phải của mình. Đó là đứng dưới bầu trời mà biết mình được nhìn đến; đặt chân trên đất mà biết mình đang bước trên một quà tặng; cầm một ly nước mà biết mình đang nhận điều không thể tự tạo; ăn một miếng bánh mà biết có cả một thế giới lao động và ân sủng phía sau; thở mà biết từng hơi là hữu hạn; nhìn một người anh em mà biết người ấy cũng được dựng nên, cũng cần đất, nước, không khí, nhà ở và hy vọng; nhìn một con vật, một cái cây, một dòng sông mà không thần thánh hóa chúng nhưng cũng không hạ chúng xuống thành đồ vật vô nghĩa. Người cầu nguyện như thế dần hiểu rằng đời sống thiêng liêng không xảy ra ở một tầng trên cao tách khỏi thế giới. Chính giữa bụi đường, mồ hôi, mùa màng, bữa ăn, nước mắt, ánh sáng, đêm tối, tiếng chim, tiếng máy, rác thải, lao động và nghỉ ngơi, Thiên Chúa vẫn gọi con người sống như con cái của Người.
Đừng biến mọi kinh thành kinh “môi trường”. Điều ấy không cần và cũng không đúng. Nhưng đừng để bất cứ kinh nào làm ta quên rằng Đấng ta đang cầu nguyện cùng chính là Đấng dựng nên trời và đất. Đừng để một giờ chầu khiến ta tưởng Chúa chỉ ở trong nhà thờ. Đừng để một Thánh lễ kết thúc ở cửa nhà thờ. Đừng để lời “Tạ ơn Chúa” chỉ dành cho những ơn ta thích, trong khi nước, không khí, đất, bánh, thân xác và sự sống bị coi là những điều tự nhiên phải có. Đừng để lời “Xin tha tội cho chúng con” dừng lại trước những hình thức tham lam tập thể đang làm tổn thương người nghèo và tạo thành. Đừng để lời “Nước Cha trị đến” trở nên trừu tượng trong khi mảnh đất dưới chân ta đang cần công lý, tiết độ, chăm sóc và hòa bình.
Người biết cầu nguyện giữa trời đất sẽ dần sống khác. Không nhất thiết ồn ào hơn, không nhất thiết nói nhiều hơn về sinh thái, không nhất thiết tham gia mọi chiến dịch. Nhưng họ sẽ có một ánh mắt khác. Họ bớt xem sự vật như món đồ. Họ bớt xem người khác như phương tiện. Họ bớt xem tiện nghi như quyền tuyệt đối. Họ biết dừng trước cái đẹp, đau trước sự tàn phá, biết đủ trước lời mời tiêu thụ, biết tạ ơn trước điều bình thường. Họ hiểu rằng mỗi ngày mình sống trong một cung thánh rất lớn: trời là trời của Chúa, đất là đất của Chúa, biển là biển của Chúa, thân xác mình là của Chúa, người anh em là của Chúa, và tương lai cũng thuộc về Chúa. Trong cung thánh ấy, con người không phải tư tế của một tôn giáo thiên nhiên, nhưng là thụ tạo được cứu chuộc, được mời cùng toàn thể công trình của Chúa cất lên lời ca ngợi: “Chúc tụng Chúa đi, hỡi mọi công trình của Chúa.”
Và có lẽ đó là một trong những hình ảnh đẹp nhất của linh đạo tạo thành: một người giáo dân thức dậy khi trời còn sớm, chưa mở điện thoại, đứng bên cửa sổ vài phút, nhìn ánh sáng bắt đầu trên mái nhà và nói rất khẽ: “Lạy Cha, con cảm ơn Cha vì ngày này.” Tối đến, cũng người ấy tắt một ngọn đèn không cần thiết, nhìn lại một lời nói làm người thân buồn, nhớ mình đã phung phí một chút thức ăn, xin lỗi Chúa, xin lỗi người, rồi phó mình vào giấc ngủ. Giữa hai lời cầu sáng và tối là cả một ngày lao động, mua bán, đi đường, ăn uống, sử dụng, nói năng, lựa chọn. Đó chính là nơi linh đạo tạo thành được thử. Không phải ở những khẩu hiệu lớn trước hết, nhưng trong cách một người đi qua thế giới như người biết thế giới thuộc về Cha mình.
Cầu nguyện giữa trời đất vì thế không phải một chương phụ của đời sống thiêng liêng. Nó là cách nhắc lại sự thật căn bản: chúng ta chưa bao giờ cầu nguyện ngoài tạo thành. Mỗi kinh đọc lên đều đi bằng hơi thở. Mỗi tiếng hát cần không khí. Mỗi Thánh lễ cần vật chất. Mỗi người cầu nguyện đều mang một thân xác. Mỗi cộng đoàn đều cần một nơi chốn. Mỗi ngày sống đều nhận từ đất. Và trong tất cả những điều bình thường ấy, Thiên Chúa không vắng mặt. Người không phải là trời, không phải là đất, không phải là nước, không phải là lửa; nhưng trời đất, nước, lửa và muôn loài đều tồn tại bởi ý muốn yêu thương của Người. Vì thế, người Kitô hữu bước giữa trời đất bằng lòng tự do: không thờ lạy nó, không khinh rẻ nó, nhưng đón nhận nó trong tạ ơn, sử dụng nó trong tiết độ, gìn giữ nó trong trách nhiệm, chia sẻ nó trong công bằng, và cùng với muôn loài hướng về Đấng là nguồn, là cùng đích và là Chúa của mọi sự.

CHƯƠNG 35. THÁNH THỂ: VŨ TRỤ ĐƯỢC DÂNG LÊN
Nếu phải tìm một nơi trong đời sống Kitô hữu mà ở đó trời đất, lao động con người, ơn tạo dựng, mầu nhiệm Nhập Thể, hy tế Thập Giá, sự Phục Sinh, niềm hy vọng cánh chung và trách nhiệm đối với ngôi nhà chung gặp nhau trong một hành vi duy nhất, nơi ấy chính là Thánh Thể. Có lẽ chúng ta đã quá quen với việc nhìn bánh và rượu được đặt trên bàn thờ đến mức không còn nhận ra sự táo bạo của phụng vụ: Hội Thánh không mang lên bàn thờ những vật từ một thế giới khác, nhưng mang lên chính những gì đã mọc từ lòng đất này, đã nhận ánh sáng mặt trời này, đã uống nước của những cơn mưa này, đã đi qua những mùa nóng lạnh này, đã được bàn tay con người gieo, chăm sóc, gặt hái, nghiền, nhào, ép, vận chuyển và chuẩn bị. Bánh không từ trời rơi xuống theo nghĩa vật chất. Rượu cũng không xuất hiện như một chất thiêng liêng tách khỏi ruộng nho. Chúng thuộc về đất. Chúng thuộc về lao động. Chúng mang trong mình cả tạo thành và lịch sử con người. Vì thế khi Hội Thánh nói: “Chúc tụng Chúa là Chúa Tể càn khôn, vì Chúa đã rộng ban cho chúng con bánh này là hoa màu ruộng đất và công lao của con người”, thì đó không phải một lời dẫn vô thưởng vô phạt để lấp khoảng trống trước Kinh Nguyện Thánh Thể. Đó là một lời tuyên xưng thần học hết sức cô đọng. Bánh là hoa màu ruộng đất, nhưng ruộng đất không tự mình là nguồn tuyệt đối; ruộng đất đã được ban. Bánh là công lao con người, nhưng công lao con người cũng không phải quyền sáng tạo từ hư vô; con người chỉ làm việc trên điều đã nhận. Trong một câu ngắn, phụng vụ giữ lại đúng trật tự của tạo thành: Thiên Chúa ban, đất sinh hoa trái, con người lao động, Hội Thánh nhận lấy, tạ ơn và dâng lại. Cả một linh đạo sinh thái nằm trong chuyển động ấy. Ta nhận chứ không chiếm. Ta lao động chứ không tuyệt đối hóa lao động. Ta hưởng dùng nhưng không nuốt trọn. Ta biến đổi nhưng không tự coi mình là Đấng Tạo Hóa. Ta dâng lại điều mình đã nhận và trong hành vi dâng lại ấy, ta thú nhận rằng chẳng có gì thật sự là “của tôi” theo nghĩa tuyệt đối. Đất không tuyệt đối là của tôi. Hạt lúa không tuyệt đối là của tôi. Nước không tuyệt đối là của tôi. Sức khỏe để làm việc không tuyệt đối là của tôi. Trí tuệ để tổ chức sản xuất không tuyệt đối là của tôi. Công nghệ giúp tăng năng suất không tuyệt đối là của tôi. Chính sự sống của tôi cũng không phải vật sở hữu cuối cùng của tôi. Tất cả được nhận để trở thành của lễ. Bởi vậy, một người tham dự Thánh Thể thật sự mà vẫn nghĩ mình là chủ tuyệt đối của đất, của tài nguyên, của lao động người khác, của những gì mình có thể mua được, thì trong lòng người ấy đang có một sự mâu thuẫn sâu sắc giữa bàn thờ và đời sống. Miệng người ấy nói “hoa màu ruộng đất và công lao của con người”, nhưng tay người ấy có thể đang bóc kiệt ruộng đất và bóc lột công lao con người. Miệng người ấy nói “Chúc tụng Chúa là Chúa Tể càn khôn”, nhưng cách sống lại tuyên bố: tôi mới là chủ, tôi muốn lấy bao nhiêu thì lấy, muốn bỏ bao nhiêu thì bỏ, muốn tiêu bao nhiêu thì tiêu, miễn là tôi đủ tiền trả. Thánh Thể không cho phép một thứ Kitô giáo như vậy yên ổn lâu dài, bởi chính vật chất được đặt trên bàn thờ làm chứng chống lại lối sống ấy.
Bánh và rượu là hai sản phẩm đã được biến đổi. Hạt lúa không còn nguyên là hạt lúa. Chùm nho không còn nguyên là chùm nho. Thiên nhiên và lao động đã gặp nhau. Đất đã cho hạt. Trời đã cho nắng. Nước đã nuôi cây. Vi sinh vật trong đất đã làm việc âm thầm. Người nông dân đã gieo. Người khác đã thu hoạch. Có người xay bột. Có người làm bánh. Có người hái nho, ép nho, ủ rượu. Có những con đường, những phương tiện vận chuyển, những bàn tay không tên. Bởi thế, trên bàn thờ không chỉ có “thiên nhiên” theo nghĩa hoang sơ. Cũng không chỉ có “sản phẩm con người” theo nghĩa kỹ thuật. Có một cuộc cộng tác. Có tạo thành được đón nhận và được con người lao động trên đó. Đây chính là cái nhìn Kinh Thánh về ơn gọi con người đối với thế giới. Con người không được gọi để đứng ngoài thiên nhiên như một khách tham quan bất động. Con người cũng không được gọi để đứng trên thiên nhiên như một kẻ chinh phục. Con người ở trong tạo thành, nhận tạo thành, làm việc với tạo thành, rồi đưa hoa trái của sự cộng tác ấy vào lời tạ ơn. Bàn thờ vì thế là nơi một nền văn minh khác với nền văn minh chiếm hữu được diễn tả. Nền văn minh chiếm hữu hỏi: “Tôi lấy được gì từ đất?” Phụng vụ hỏi: “Tôi đã nhận gì để dâng lại?” Nền văn minh tiêu thụ hỏi: “Tôi còn có thể mua gì?” Thánh Thể hỏi: “Tôi có thể trở nên của lễ thế nào?” Nền văn minh kỹ trị hỏi: “Tôi kiểm soát được bao nhiêu?” Thánh Thể tuyên xưng: “Mọi sự là hồng ân trước khi là đối tượng của kiểm soát.” Khi Đức Phanxicô trong Laudato Si’ nối phụng vụ với việc chăm sóc ngôi nhà chung, ngài không ghép một chủ đề thời sự vào Thánh lễ. Ngài chỉ làm sáng lên điều đã nằm trong cấu trúc sâu nhất của phụng vụ: vật chất không bị cứu độ bằng cách bị loại bỏ; vật chất được đón nhận, biến đổi và đưa vào lời tạ ơn. Kitô giáo không phải một tôn giáo tìm cách trốn khỏi thế giới vật chất để lên một cõi tinh thần sạch sẽ hơn. Đỉnh cao của đức tin Kitô giáo là Ngôi Lời đã làm người, đã mang thân xác, đã bước trên đất, đã uống nước, đã ăn bánh, đã chạm người bệnh, đã chịu đóng đinh bằng một thân xác thật, đã phục sinh trong một thân xác được biến đổi, và giờ đây dùng bánh và rượu như những dấu chỉ hữu hiệu để trao chính mình cho Hội Thánh. Nếu Thiên Chúa không khinh vật chất, người Kitô hữu lấy quyền gì mà khinh vật chất? Nếu Con Thiên Chúa đã đi vào chiều sâu của tạo thành, ta lấy lý do gì để coi thế giới vật chất chỉ như một cái phông tạm thời sẽ sớm bị vứt đi? Nếu bánh và rượu có thể được đón nhận vào trung tâm của mầu nhiệm Thánh Thể, thì đất làm ra hạt lúa và cây nho không thể là thứ bị đối xử như vô giá trị. Nếu nước cần cho ruộng lúa, cho cây nho và cho chính sự sống có thể bị đầu độc vì lợi nhuận, thì điều ấy không chỉ là thất bại về quản trị môi trường; nó phản ánh một cuộc khủng hoảng sâu hơn trong cách con người hiểu quà tặng của Thiên Chúa.
Thánh Thể còn cho thấy một điều lớn hơn nữa: trong phụng vụ, tạo thành không chỉ được bảo tồn; tạo thành được đưa vào mầu nhiệm Vượt Qua. Bánh được bẻ. Rượu được trao. Đức Kitô hiến mình. Mầu nhiệm trung tâm không phải giữ nguyên mọi sự như đang có, nhưng là đi qua hiến dâng để tới sự sống mới. Vì thế linh đạo sinh thái Kitô giáo không thể chỉ là một thứ bảo tồn thiên nhiên theo nghĩa đóng băng thế giới. Hội Thánh không thờ một thiên nhiên nguyên trạng. Hội Thánh tin vào một tạo thành đang rên siết và chờ được giải thoát, một tạo thành được quy tụ trong Đức Kitô, một tạo thành hướng tới trời mới đất mới. Có sự biến đổi. Có lao động. Có hy sinh. Có cái chết. Có Phục Sinh. Điều đó cho phép người Kitô hữu có một cái nhìn vừa thực tế vừa đầy hy vọng. Ta không lý tưởng hóa thiên nhiên như thể mọi điều xảy ra trong tự nhiên đều hiền hòa. Thiên nhiên có động đất, bão tố, bệnh tật, thú vật ăn nhau, thân xác mục nát. Ta cũng không nhìn thế giới hôm nay như một thiên đường chỉ cần giữ nguyên. Thế giới bị thương bởi tội lỗi, bởi bất công, bởi cách con người sử dụng sai quyền tự do, bởi những hệ thống sản xuất đặt lợi nhuận trên sự sống. Điều Hội Thánh chờ đợi không phải quay lui về một quá khứ chưa từng tồn tại hoàn toàn, nhưng là sự viên mãn trong Đức Kitô. Thánh Thể là bảo chứng của sự viên mãn ấy. Mỗi lần cử hành Thánh Thể, Hội Thánh không chỉ nhớ điều Đức Kitô đã làm; Hội Thánh còn hướng tới điều Thiên Chúa sẽ hoàn tất. “Chúng con loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến.” Cái “cho tới khi Chúa đến” mở phụng vụ ra tương lai. Và tương lai Kitô giáo không phải tương lai linh hồn riêng lẻ thoát khỏi thế giới. Đó là sự hoàn tất của chương trình Thiên Chúa trong Đức Kitô, Đấng muốn quy tụ muôn loài. Thánh Thể vì thế có một chiều kích vũ trụ không phải vì Hội Thánh muốn dùng một từ thật lớn, nhưng vì Đấng hiện diện trong bí tích chính là Ngôi Lời nhờ Người mà muôn vật được tạo thành. Khi Hội Thánh dâng Đức Kitô cho Chúa Cha và được kết hợp vào hy tế của Người, chính Hội Thánh cũng mang theo toàn bộ đời sống của mình, và trong đời sống ấy có đất, nước, lao động, nước mắt, mùa màng, những người đói, những người trồng lúa, những người làm thuê, những vùng đất bị ô nhiễm, những bờ biển bị xói lở, những cánh rừng bị mất, những thế hệ chưa sinh. Phụng vụ không kể hết từng điều ấy bằng lời, nhưng phụng vụ chứa chúng trong chuyển động hiến dâng của toàn thể Hội Thánh và, trong một nghĩa sâu xa, của cả tạo thành.
Ta nên dừng lại thật lâu ở chính chữ “Thánh Thể”, Eucharistia, tạ ơn. Căn bệnh lớn của thời tiêu thụ không chỉ là con người dùng quá nhiều đồ vật. Căn bệnh sâu hơn là con người không còn biết nhận. Khi mọi sự được coi là quyền đương nhiên, lòng biết ơn chết. Nước chảy từ vòi: đương nhiên. Điện có trong ổ cắm: đương nhiên. Thức ăn xuất hiện trong siêu thị: đương nhiên. Điều hòa chạy: đương nhiên. Xe có xăng: đương nhiên. Hàng hóa giao tận cửa: đương nhiên. Một cú chạm màn hình và sản phẩm xuất hiện: dường như thế giới tồn tại để đáp lại lập tức mọi mong muốn. Người tiêu dùng hiện đại rất dễ quên chuỗi thực tại nằm phía sau một vật rất nhỏ. Một ly cà phê có đất, nước, khí hậu, cây, người hái, người rang, người vận chuyển, điện, bao bì. Một chiếc áo có sợi, nước, thuốc nhuộm, nhà máy, công nhân, năng lượng, vận tải. Một điện thoại có kim loại khai từ lòng đất, nhà máy, những con người làm việc, mạng lưới năng lượng và rồi một ngày sẽ trở thành rác điện tử. Khi cái nhìn mất khả năng thấy quà tặng và mối liên hệ, lòng biết ơn teo lại. Thánh Thể chữa căn bệnh ấy bằng một động tác hết sức đơn giản nhưng triệt để: nhận và tạ ơn. Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao ban. Trước khi bẻ có tạ ơn. Trước khi dùng có nhận. Trước khi trao có chúc tụng. Đây là một trường học về cách ở trong thế giới. Người học Thánh Thể sẽ dần không thể cầm một bát cơm mà hoàn toàn vô cảm với hạt gạo. Không phải mỗi bữa ăn đều phải biến thành một bài diễn văn sinh thái. Nhưng một con tim Thánh Thể học biết rằng chẳng có gì là “chỉ có thế”. Bát cơm là ơn. Ly nước là ơn. Không khí là ơn. Sức khỏe là ơn. Người ngồi ăn cùng mình là ơn. Người đã làm ra thức ăn mà ta không biết tên cũng là một phần của mạng lưới quà tặng. Tạ ơn không làm ta yếu đi; tạ ơn đặt ta vào sự thật. Người không biết tạ ơn rất dễ trở thành kẻ tiêu thụ không giới hạn, bởi điều gì được coi là đương nhiên thì cũng dễ bị phung phí. Người biết tạ ơn bắt đầu biết giữ gìn. Ta khó ném đi một cách vô tư điều mà ta thật sự đã nhận như hồng ân.
Chính ở đây mối liên hệ giữa Thánh Thể và sự tiết độ trở nên rõ. Bàn tiệc Thánh Thể là bàn tiệc của sự sung mãn, nhưng không phải sự sung mãn của phung phí. Đức Kitô trao chính mình hoàn toàn, nhưng hình thức vật chất của bí tích lại vô cùng đơn sơ: một chút bánh, một chút rượu. Hội Thánh không cần xa hoa vật chất để mầu nhiệm nên lớn. Thực tại lớn nhất được trao dưới những dấu chỉ hết sức nhỏ bé. Đây là một lời phê bình thầm lặng đối với nền văn hóa cho rằng lớn hơn luôn tốt hơn, nhiều hơn luôn đáng giá hơn, đắt hơn luôn đẹp hơn. Thánh Thể dạy rằng sự phong phú của ý nghĩa không tỷ lệ với khối lượng vật chất. Một tấm bánh nhỏ có thể mang sự Hiện Diện mà không kho vật chất nào chứa nổi. Một giọt rượu được thánh hiến mang cả mầu nhiệm Giao Ước mới. Thế thì tại sao đời sống chúng ta lại cần nhiều đến thế mới cảm thấy đủ? Tại sao bữa tiệc sau Thánh lễ nhiều khi trở thành nơi phung phí thức ăn? Tại sao một lễ bổn mạng muốn long trọng lại phải đo bằng số món, số mâm, số đèn, số vật trang trí dùng một lần? Tại sao một cuộc hành hương kính Đức Mẹ hay kính các thánh lại có thể để lại đằng sau hàng núi chai nhựa, hộp xốp, túi nylon và thức ăn bỏ thừa? Có một nghịch lý đau đớn ở đây. Trong nhà thờ ta vừa nâng cao Bánh Thánh, bên ngoài ta ném bánh ăn thừa vào thùng rác như thứ vô nghĩa. Trên bàn thờ ta vừa nghe nói “hoa màu ruộng đất và công lao của con người”, ngoài sân ta có thể giẫm lên những gì được sản xuất bằng rất nhiều đất, nước và công sức. Trong Thánh lễ ta vừa tuyên xưng một Thiên Chúa tự hiến vì sự sống thế gian, sau Thánh lễ ta tổ chức một cách sống làm tổn thương chính thế gian ấy. Điều này không có nghĩa từ nay giáo xứ không được ăn tiệc, không được lễ hội, không được hành hương, không được trang trí hay vui mừng. Kitô giáo không phải đạo của sự cấm đoán buồn bã. Chúa Giêsu dự tiệc cưới. Hội Thánh có lễ hội. Một cộng đoàn không biết ăn mừng cũng không hoàn toàn hiểu Tin Mừng. Nhưng ăn mừng khác với phung phí. Vui khác với vô độ. Long trọng khác với khoe. Hiếu khách khác với bắt khách phải ăn đến thừa mứa. Đẹp khác với lãng phí tài nguyên. Một nền văn hóa Thánh Thể phải có khả năng tổ chức niềm vui mà vẫn tôn trọng quà tặng. Thức ăn có thể đủ và ngon mà không cần dư quá nhiều. Đồ dùng có thể được tái sử dụng. Nước có thể được dùng với ý thức. Rác có thể được phân loại và thu gom tử tế. Một cuộc hành hương có thể đông người mà vẫn để nơi thánh sạch hơn khi mình đến. Những điều ấy không hạ thấp phụng vụ; chính chúng làm chứng rằng phụng vụ đã thật sự đi vào đời.
Có một thói quen nguy hiểm là coi “việc đạo” và “việc môi trường” như hai hồ sơ tách biệt. Ban phụng vụ lo bàn thờ. Ban môi trường nếu có thì lo rác. Người phụ trách lễ hội lo đèn, âm thanh, tiệc. Người khác sau cùng mới nghĩ xem rác đi đâu. Nhưng nếu Thánh Thể thật sự là trung tâm đời sống Hội Thánh, cách phân chia ấy phải được xét lại. Không phải để bắt linh mục giảng về rác trong mọi Thánh lễ, cũng không phải để biến mỗi giáo xứ thành một tổ chức môi trường. Nhưng chính Thánh Thể đòi toàn bộ đời sống cộng đoàn phải có tính nhất quán. Bàn thờ không phải một hòn đảo tinh tuyền nổi giữa một lối sống hoàn toàn khác. Nếu nhà thờ được chiếu sáng lãng phí chỉ để tạo cảm giác hoành tráng, nếu hệ thống điện chạy vô ích hàng giờ khi không có người, nếu nước bị dùng vô độ, nếu đất của giáo xứ bị bê tông hóa hết không còn chỗ thấm nước hay cây xanh chỉ vì tiện đậu xe, nếu mỗi dịp lễ lại mua hàng ngàn món đồ dùng một lần rồi vứt bỏ, nếu thức ăn thừa mỗi tuần nhiều đến mức thành bình thường, thì cộng đoàn phải có can đảm tự hỏi: điều chúng ta vừa cử hành trên bàn thờ đã xuống tới sân nhà thờ chưa? Câu hỏi ấy không phải lời kết án. Đó là xét mình. Hội Thánh luôn cần xét mình chính vì Hội Thánh cử hành mầu nhiệm lớn hơn cách sống hiện tại của mình. Ta không bao giờ sống xứng hoàn toàn với Thánh Thể. Nhưng chính vì vậy Thánh Thể liên tục gọi ta hoán cải.
Một chiều kích khác thường bị quên là công lao con người nằm trong lễ vật. “Hoa màu ruộng đất và công lao của con người.” Không thể nói đến sinh thái Kitô giáo mà chỉ yêu cây, yêu thú, yêu sông rồi quên người lao động. Một ổ bánh rẻ bất thường có thể chứa trong nó lao động bị trả rẻ. Một sản phẩm nông nghiệp đẹp mắt có thể được tạo ra bằng những điều kiện lao động bất công. Một vùng đất xanh của người này có thể được duy trì bằng cách đẩy ô nhiễm sang nơi người nghèo sống. Một nền tiêu dùng “sạch” ở một quốc gia có thể dựa trên khai khoáng bẩn ở một quốc gia khác. Thánh Thể buộc ta nhìn cả đất và người. Công lao con người được đưa lên bàn thờ không phải để hợp thức hóa mọi hệ thống lao động, nhưng để nhắc rằng lao động có phẩm giá. Người trồng lúa không phải chiếc máy sản xuất lúa. Công nhân chế biến không phải một chi phí cần giảm đến tận xương. Người giao hàng không phải một nút bấm trên ứng dụng. Những người làm việc trong chuỗi cung ứng là những ngôi vị. Một linh đạo Thánh Thể đúng nghĩa không thể yêu “hoa màu ruộng đất” nhưng dửng dưng trước “công lao của con người”. Và ngược lại, không thể chỉ nói công bằng xã hội mà không hỏi đất có đang bị kiệt quệ hay không. Hai điều đã được phụng vụ đặt chung thì ta không nên tách ra. Đất và người lao động cùng đi vào của lễ. Sinh thái và công bằng xã hội cùng đi vào lương tâm. Laudato Si’ gọi đó là sinh thái toàn diện: không có hai cuộc khủng hoảng tách biệt, một môi trường và một xã hội, nhưng là một cuộc khủng hoảng xã hội – môi trường phức tạp. Thánh Thể đã diễn tả điều ấy theo cách bí tích từ lâu trước khi ta dùng thuật ngữ hiện đại. Trên bàn thờ, tạo thành và lao động không cạnh tranh. Chúng cùng được nhận vào lời tạ ơn.
Cũng cần nói rõ rằng Thánh Thể không thần thánh hóa bánh, rượu hay thiên nhiên. Kitô giáo không nói thế giới vật chất tự thân là Thiên Chúa. Chính vì thế người Kitô hữu mới có thể vừa kính trọng tạo thành vừa không thờ tạo thành. Thế giới là tốt đẹp, nhưng là thụ tạo. Bánh và rượu được thánh hiến không phải vì vật chất tự nhiên có một linh tính tự phát, mà vì quyền năng của Đức Kitô và hoạt động của Chúa Thánh Thần trong hành vi phụng vụ của Hội Thánh. Điều này giữ cho linh đạo sinh thái Kitô giáo không trượt sang tôn giáo thiên nhiên. Ta không quỳ trước mặt trời. Ta tạ ơn Đấng dựng nên mặt trời. Ta không cầu xin con sông như thần linh. Ta biết ơn Chúa vì dòng sông và có trách nhiệm không đầu độc nó. Ta không coi trái đất là một nữ thần tuyệt đối. Ta gọi đất là thụ tạo tốt đẹp của Cha. Chính vì đất không phải Chúa nên ta được phép canh tác đất; chính vì đất thuộc về Chúa nên ta không được phép hủy hoại đất tùy ý. Thánh Thể giữ đúng hai vế này. Vật chất không phải thần, nhưng vật chất có thể phục vụ cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa. Tạo thành không phải Đấng Tạo Hóa, nhưng tạo thành có khả năng được đưa vào lời ngợi khen Đấng Tạo Hóa. Người Kitô hữu không thờ bánh. Người Kitô hữu thờ Đức Kitô hiện diện thực sự dưới hình bánh rượu sau truyền phép. Chính sự phân biệt ấy làm cho kính trọng vật chất của Kitô giáo sâu hơn chứ không nông hơn. Vật chất không có giá trị vì ta đã biến nó thành thần. Vật chất có giá trị vì nó do Thiên Chúa muốn, dựng nên, duy trì, và trong nhiệm cục cứu độ, Thiên Chúa đã sử dụng vật chất như phương thế thông ban ân sủng.
Các bí tích nói chung đã cho ta một ngữ pháp như thế. Nước trong Rửa Tội. Dầu trong Thêm Sức và Xức Dầu. Bánh và rượu trong Thánh Thể. Thân xác, lời nói, cử chỉ, chạm, ăn, uống. Kitô giáo không cứu con người khỏi thân xác bằng cách thoát thân xác. Kitô giáo cứu toàn bộ con người. Và vì con người là thân xác, việc cứu độ diễn ra bằng những dấu chỉ vật chất. Điều này đặc biệt quan trọng trong thời đại mà chúng ta có thể sống ngày càng nhiều trong thế giới số. Một cuộc họp trực tuyến có thể hữu ích. Một bài giảng có thể nghe trên mạng. Một Kinh Thánh có thể đọc trên màn hình. Nhưng Thánh Thể không thể bị thay bằng một biểu tượng ảo. Người ta phải có một thân xác hiện diện. Có bánh thật. Có rượu thật. Có linh mục thật. Có cộng đoàn thật. Có hành vi ăn và uống thật. Điều này nhắc người Kitô hữu rằng thực tại không thể bị số hóa hoàn toàn. Thế giới vật chất có một phẩm giá không thể xóa. Ta không phải những linh hồn đăng nhập vào các thiết bị. Ta là những thụ tạo bằng bụi đất, sống bằng hơi thở, cần nước, cần thức ăn, cần chạm, cần gặp nhau. Và chính Đức Kitô phục sinh gặp Hội Thánh bằng một bí tích có thể được cầm, bẻ, trao và ăn. Một nền linh đạo Thánh Thể vì thế cũng là một liều thuốc chống lại ảo tưởng rằng con người có thể thoát khỏi các giới hạn của tạo thành bằng công nghệ. Ta vẫn phải ăn. Ta vẫn phải uống. Ta vẫn cần đất lành, nước sạch, không khí thở được. Ta vẫn chết. Thánh Thể không phủ nhận giới hạn ấy. Thánh Thể đi vào giới hạn ấy và mở nó ra sự sống đời đời.
Nhưng ta phải cẩn thận: nói Thánh Thể có chiều kích vũ trụ không có nghĩa biến bàn thờ thành nơi trình diễn những biểu tượng tùy hứng về môi trường. Phụng vụ có luật của phụng vụ. Không cần mỗi Thánh lễ đều mang cây, đất, nước, hạt giống lên cung thánh để chứng minh ta yêu tạo thành. Không cần chèn những khẩu hiệu môi trường vào mọi lời nguyện. Không cần biến Kinh Nguyện Thánh Thể thành bài diễn văn về khí hậu. Làm thế có khi lại làm nghèo chính chiều kích vũ trụ vốn đã nằm sâu trong phụng vụ. Sự cao cả của phụng vụ là nó không cần diễn giải chính nó bằng hàng trăm biểu tượng tự chế. Bánh và rượu đã đủ. Nước đã có chỗ của nước. Ánh sáng đã có chỗ của ánh sáng. Lửa trong đêm Vọng Phục Sinh đã có chỗ của lửa. Dầu đã có chỗ của dầu. Thân xác cộng đoàn đứng, ngồi, quỳ, bước đi, nghe, hát, ăn, uống đã là một ngôn ngữ vật chất rất phong phú. Điều cần là cử hành thật, hiểu thật và sống thật. Một cộng đoàn không cần làm Thánh lễ “xanh” bằng cách sáng tạo lung tung. Cộng đoàn cần để chính Thánh lễ đào tạo mình thành một dân biết tạ ơn, biết tiết độ, biết hiệp thông, biết chia sẻ và biết kính trọng những gì Thiên Chúa đã ban.
Chiều kích hiệp thông của Thánh Thể cũng có hậu quả sinh thái rất lớn. Trong Thánh Thể, nhiều hạt thành một tấm bánh, nhiều trái nho thành một chén rượu. Hình ảnh ấy từ thời Hội Thánh sơ khai đã được dùng để diễn tả sự hiệp nhất của nhiều người trong một thân thể. Nhưng sự hiệp nhất này không phải một khái niệm mơ hồ. Nếu chúng ta thật sự là một thân thể, thì hậu quả sinh thái rơi lên một phần của thân thể không thể bị phần kia coi là chuyện của người khác. Khi một cộng đồng nghèo mất đất vì nước biển dâng, đó không chỉ là chuyện địa phương. Khi người nông dân mất mùa vì biến đổi khí hậu, khi một khu lao động sống cạnh nguồn ô nhiễm, khi trẻ em phải uống nước kém an toàn, khi người nghèo chịu nóng mà không có điều kiện làm mát trong khi người giàu tiêu thụ năng lượng vô độ, thì câu “chúng ta là một thân thể” bị thử thách. Ta có thể rước cùng một Bánh mà vẫn sống như những cá nhân tách biệt không? Thánh Phaolô đã rất nghiêm khắc với cộng đoàn Côrintô khi bữa ăn chung bộc lộ sự chia rẽ giữa người giàu và người nghèo. Không thể cử hành Bữa Tiệc của Chúa mà khinh người nghèo. Nguyên tắc ấy hôm nay phải được mở rộng tới những hậu quả của lối sống tiêu thụ. Tôi không trực tiếp nhìn thấy người chịu hậu quả từ lựa chọn của mình không có nghĩa là họ không tồn tại. Chuỗi cung ứng toàn cầu khiến ta rất dễ hưởng một sản phẩm mà không bao giờ thấy nơi nó được khai thác, nhà máy nơi nó được làm, con sông nơi nước thải chảy xuống, người công nhân đã đứng nhiều giờ để sản xuất. Thánh Thể kéo những khoảng cách ấy lại. Trong Đức Kitô, không có người vô hình. Trong bàn tiệc của Người, không có thành phần nào của thân thể được coi là có thể hy sinh để phần khác sống tiện nghi hơn.
Thánh Thể còn giáo dục chúng ta về đủ. Manna trong sa mạc đã dạy Israel rằng gom quá mức không làm người ta an toàn hơn; phần tích trữ trái với lời Chúa trở nên hư thối. Kinh Lạy Cha dạy xin “lương thực hằng ngày”, không xin kho vô tận để khỏi cần Thiên Chúa và khỏi cần người khác. Trong Thánh Thể, mỗi người nhận một phần đủ để hiệp thông hoàn toàn với Đức Kitô. Không ai cần nhận nhiều gấp mười người khác để có “nhiều Chúa hơn”. Logic của bí tích phá vỡ logic tích lũy. Toàn thể Đức Kitô được trao trong phần nhỏ. Đây là điều một thế giới nghiện tăng trưởng vật chất vô hạn cần nghe. Nền kinh tế đương nhiên phải tạo ra của cải. Người nghèo cần phát triển. Xã hội cần sản xuất. Không thể lấy chữ tiết độ để đóng cửa cơ hội của người nghèo trong khi người giàu vẫn hưởng tiện nghi. Nhưng cũng không thể giả vờ rằng một hành tinh hữu hạn có thể hỗ trợ vô hạn mọi ham muốn. Thánh Thể dạy một kiểu phong phú khác: phong phú của hiệp thông, của biết ơn, của trao ban. Người có đời sống phong phú không nhất thiết là người sở hữu nhiều nhất. Đức Kitô là Đấng tự hiến. Trong bàn tiệc của Người, sự sung mãn đến từ việc trao chính mình, không từ việc chiếm nhiều thứ.
Điều ấy dẫn tới một câu hỏi khó cho đời sống giáo xứ: ta có thật sự để Thánh Thể định hình cách tổ chức đời sống cộng đoàn không? Một giáo xứ có thể rất sốt sắng chầu Thánh Thể nhưng lại tạo ra những lễ hội phung phí khủng khiếp. Một hội đoàn có thể rước lễ thường xuyên nhưng mỗi chuyến đi lại để lại một lượng rác lớn nơi hành hương. Một nhà dòng có thể hát rất hay về “hoa màu ruộng đất” nhưng thực phẩm trong bếp bị bỏ đi mỗi ngày mà không ai thấy vấn đề. Một gia đình đi lễ mỗi Chúa nhật có thể vẫn coi việc bật điều hòa khi không có người, xả nước vô ích, mua quá mức rồi bỏ là chuyện không liên quan tới đức tin. Những nghịch lý này không chứng minh Thánh Thể thất bại. Chúng cho thấy chúng ta chưa để Thánh Thể đi đủ sâu. Bí tích không phải phép thuật xóa mọi thói quen xấu mà không cần hoán cải. Ta có thể đến gần bàn thờ mà vẫn chống lại logic của bàn thờ trong đời sống. Vì vậy phụng vụ và đời sống đạo đức phải liên kết. Kinh nghiệm rước lễ phải dẫn tới xét mình. Tôi vừa nhận Đấng tự hiến; hôm nay tôi đang sống theo logic hiến dâng hay chiếm hữu? Tôi vừa tạ ơn; tôi có phung phí điều đã nhận không? Tôi vừa nói Amen với Thân Thể Đức Kitô; tôi có phớt lờ những thành viên đau khổ của thân thể ấy không? Tôi vừa đứng trước bánh và rượu là hoa trái của đất và lao động; tôi có coi đất và người lao động chỉ như công cụ không? Những câu hỏi ấy nên đi vào đời sống thiêng liêng bình thường, không cần ồn ào, không cần khẩu hiệu.
Ta cũng nên nói đến kiến trúc và không gian thánh. Nhà thờ là nơi cử hành Thánh Thể nên chính cách ta xây dựng và sử dụng nhà thờ cũng có thể mang một lương tâm tạo thành. Điều này không có nghĩa nhà thờ phải nghèo nàn hay xấu xí. Cái đẹp có chỗ rất lớn trong phụng vụ. Hội Thánh xứng đáng dâng cho Thiên Chúa điều đẹp. Nhưng cái đẹp Kitô giáo không đồng nghĩa với lãng phí. Kiến trúc có thể đẹp và thông thoáng. Ánh sáng tự nhiên có thể trở thành một phần của vẻ đẹp. Cây xanh có thể được gìn giữ. Vật liệu có thể được dùng bền. Hệ thống điện, nước, điều hòa có thể được quản lý khôn ngoan. Những quyết định ấy không hạ thấp phẩm giá nhà Chúa. Ngược lại, chúng diễn tả rằng cộng đoàn hiểu ngôi nhà thờ nằm trong ngôi nhà chung. Một nhà thờ rất tráng lệ nhưng xung quanh ngập rác sau mỗi lễ lớn là một chứng tá bị chia đôi. Một cuộc cung nghinh Thánh Thể qua đường phố rồi để lại đường phố đầy rác là một hình ảnh đau. Ta vừa cung nghinh Đấng nhờ Người muôn vật được tạo thành đi giữa tạo thành, rồi để lại chính tạo thành bị đối xử như thùng chứa phần thừa của lễ hội. Những điều ấy cần được nói không để làm mất lòng đạo đức bình dân, nhưng để giúp lòng đạo đức ấy trưởng thành. Hành hương là đẹp. Rước kiệu là đẹp. Hội chợ giáo xứ là đẹp. Lễ bổn mạng là đẹp. Nhưng cái đẹp phải được giải thoát khỏi vô độ.
Có thể bắt đầu bằng những điều rất cụ thể. Giáo xứ trước một đại lễ có thể tính lượng thức ăn thực tế thay vì luôn luôn chuẩn bị quá dư vì sợ “mất mặt”. Có thể tổ chức phân phối phần còn tốt cho người cần thay vì ném bỏ. Có thể giảm đồ nhựa dùng một lần. Có thể đặt đủ thùng rác và có nhóm chịu trách nhiệm rõ ràng. Có thể nhắc khách hành hương giữ sạch nơi thánh bằng ngôn ngữ lịch sự nhưng dứt khoát. Có thể ưu tiên nước uống tiếp thêm thay vì hàng ngàn chai nhỏ nếu điều kiện cho phép. Có thể chọn đồ trang trí dùng lại được nhiều năm. Có thể trồng cây bản địa thích hợp với môi trường thay vì những loại chỉ đẹp trong ít ngày rồi chết. Có thể chăm sóc đất của giáo xứ như một phần của sứ vụ chứ không như khoảng trống chờ xây. Có thể kiểm tra rò rỉ nước. Có thể tắt những hệ thống điện không cần thiết. Có thể giáo dục thiếu nhi rằng nhặt một miếng rác sau sinh hoạt không phải hình phạt mà là cách chăm nhà chung. Có thể mời các đoàn thể nhận trách nhiệm về chính lượng rác họ tạo ra. Không điều gì trong số ấy là “đỉnh cao thần học”. Nhưng chính những điều nhỏ là nơi thần học có hoặc không có thân xác. Nếu sau nhiều năm nói về Thánh Thể mà cộng đoàn vẫn xem phung phí là dấu hiệu của lòng hiếu khách, ta phải hỏi việc đào tạo của mình đã bỏ sót điều gì.
Thánh Thể cũng dạy cách nhìn thức ăn. Trong một thế giới nơi một số người có quá nhiều và một số người không đủ, mỗi bữa ăn có chiều kích luân lý. Đức Giêsu trong các trình thuật hóa bánh không chỉ làm cho đám đông ăn no. Sau khi họ ăn no, Người bảo thu lại những mẩu bánh còn dư để khỏi phí đi. Chi tiết ấy thật đáng suy nghĩ. Đấng vừa tỏ quyền năng có thể làm bánh hóa nhiều vẫn không xem phần thừa là vô nghĩa. Quyền năng không biện minh cho lãng phí. Sự dư dật không biện minh cho vứt bỏ. Chính khi có nhiều lại càng phải biết thu gom. Văn hóa bỏ thức ăn là một trong những dấu hiệu rõ của việc con người đã tách vật phẩm khỏi nguồn của nó. Ta chỉ dễ vứt bánh khi quên đất, nước, nông dân, nhiên liệu và lao động đã đi vào chiếc bánh ấy. Một cộng đoàn Thánh Thể phải có khả năng thấy sự phí phạm thức ăn như một câu hỏi lương tâm, đặc biệt khi xung quanh còn người nghèo. Không phải vì mọi mẩu thức ăn bỏ đi trực tiếp có thể chuyển ngay tới một người đói, nhưng vì thói quen phung phí bộc lộ cách ta định giá quà tặng. Một người đổ cả đĩa thức ăn đi mà hoàn toàn không thấy gì trong lòng đã được một nền văn hóa đào tạo theo hướng ngược với Thánh Thể.
Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam, bánh gạo hằng ngày cho ta một trường chiêm ngắm rất gần. Người thành phố có thể chỉ thấy cơm đã nấu. Nhưng người nông dân thấy cả vụ lúa. Có đất cày. Có nước. Có giống. Có phân. Có sâu bệnh. Có ngày nắng nóng. Có trận mưa đến sai lúc. Có giá lúa lên xuống. Có lưng cúi ngoài đồng. Có đêm thức bơm nước. Có nỗi lo hạn mặn ở đồng bằng. Có con kênh nếu ô nhiễm thì cả ruộng bị ảnh hưởng. Có những gia đình bỏ quê vì nông nghiệp không còn đủ sống. Khi một người Kitô hữu Việt Nam nghe trên bàn thờ nói “hoa màu ruộng đất và công lao của con người”, câu ấy không nên quá trừu tượng. Nó có khuôn mặt. Nó có mùi bùn. Nó có giọt mồ hôi. Nó có những bàn tay chai. Và khi biến đổi khí hậu làm thay đổi mùa vụ, khi xâm nhập mặn làm ruộng khó sống, khi nguồn nước bị tranh chấp hay ô nhiễm, thì điều đó đi vào chính thế giới vật chất mà từ đó của lễ Thánh Thể được lấy ra. Ta không cần biến Thánh lễ thành hội thảo khí hậu để thấy liên hệ. Chỉ cần nghiêm túc với chính lễ vật đã đủ.
Thánh Thể còn nối đất với người nghèo theo cách đặc biệt trong truyền thống Dòng Chúa Cứu Thế. Thánh Anphongsô không xây một linh đạo tách khỏi những người bị bỏ rơi. Sứ vụ đến với người nghèo và bị bỏ rơi không phải phần phụ của việc thờ phượng. Đức Kitô được gặp trên bàn thờ và Đức Kitô cũng đòi được nhận ra trong người bé nhỏ. Nếu khủng hoảng môi trường đánh vào người nghèo trước, thì người môn đệ của Đấng Cứu Thế không thể chỉ bảo vệ một thiên nhiên đẹp để ngắm. Mối bận tâm phải đi tới người mất kế sinh nhai, người mất nhà, người bệnh vì ô nhiễm, người phải di cư, người nông dân mắc nợ vì mùa vụ thất bát, người lao động làm trong môi trường độc hại để sản xuất những thứ người khác tiêu dùng. Thánh Thể không cho phép ta chọn giữa “người nghèo” và “trái đất”. Trong Đức Kitô, hai tiếng kêu gặp nhau. Bàn thờ quy tụ cả hai bởi bánh và rượu là quà của đất và công lao con người, và hy tế được cử hành trên đó là hy tế của Đấng đã trở nên nghèo vì chúng ta.
Một chiều kích rất đẹp nữa là ngày Chúa nhật. Chúa nhật không chỉ là ngày “đi lễ cho đủ bổn phận”. Chúa nhật là ngày Phục Sinh, ngày của cộng đoàn, ngày của nghỉ ngơi, ngày thời gian được giải thoát khỏi ách sản xuất không ngừng. Trong một nền kinh tế luôn muốn cửa hàng mở thêm, máy chạy thêm, người làm thêm, tiêu dùng thêm, Chúa nhật chứa một nguyên tắc sinh thái rất mạnh: thế giới không cần chạy tối đa mọi lúc. Con người không phải một bộ phận của máy sản xuất. Đất cũng không phải một cỗ máy phải cho sản lượng không ngừng. Gia súc, đất đai và người lao động đều từng được bao gồm trong lệnh nghỉ Sabát của Kinh Thánh. Chúa nhật Kitô giáo, được hoàn tất trong Thánh Thể, bảo vệ quyền dừng lại. Dừng để thờ phượng. Dừng để gặp người thân. Dừng để người lao động có phẩm giá. Dừng để biết mình không phải Đấng duy trì vũ trụ. Thế giới vẫn tồn tại khi tôi nghỉ. Đó là một bài học khiêm nhường. Người không bao giờ dừng dễ trở thành người tưởng rằng mọi sự phụ thuộc vào mình. Xã hội không bao giờ dừng dễ trở thành xã hội tiêu hao con người và tài nguyên. Thánh Thể Chúa nhật vì thế không tách khỏi một nền sinh thái thời gian. Không chỉ đất cần được gìn giữ; thời gian cũng cần được gìn giữ khỏi sự chiếm đóng toàn diện của sản xuất và tiêu dùng.
Thánh Thể còn dạy ta một cách sử dụng quyền lực. Trong bữa Tiệc Ly, Đấng là Chúa lại cúi xuống rửa chân. Hiến mình và phục vụ là hình thức quyền lực của Đức Kitô. Đây là điểm phải đưa vào thần học về việc con người “làm chủ” tạo thành. Nếu hình ảnh tối hậu của Chúa chúng ta là Đấng trao mình làm của ăn và cúi xuống rửa chân, thì quyền thống trị Kitô giáo không thể mang hình dạng của bóc lột. Làm chủ theo Đức Kitô là làm cho sự sống được phục vụ. Là quản trị để người khác có phần. Là dùng năng lực mình có để tạo hiệp thông. Một người doanh nhân Công giáo tham dự Thánh Thể rồi trở về công ty vẫn phải mang logic Thánh Thể vào quyết định kinh doanh: lợi nhuận cần thiết nhưng không phải tuyệt đối; công nhân không phải vật liệu tiêu hao; đất nước không phải thùng xả; thế hệ sau không phải người trả hóa đơn cho sự giàu có hôm nay. Một người làm chính sách rước lễ rồi vẫn phải hỏi các quyết định của mình đặt gánh nặng lên ai. Một người tiêu dùng rước lễ rồi vẫn phải học hỏi cách mua sắm không bị điều khiển hoàn toàn bởi ham muốn. Một người làm khoa học rước lễ rồi vẫn phải nhớ tri thức là phục vụ sự sống, không chỉ phục vụ khả năng kiểm soát. Thánh Thể không trao sẵn giải pháp kỹ thuật cho từng vấn đề. Nhưng nó đào tạo con người có khả năng đặt câu hỏi đúng.
Thánh Thể cũng đặt lại vị trí của hy sinh. Nền văn hóa tiêu dùng thường dạy rằng mọi giới hạn là một điều bất công đối với bản thân. Tôi muốn thì tôi phải có. Tôi có tiền thì tôi có quyền dùng. Tôi có khả năng đi thì tôi phải đi. Tôi có khả năng mua thì tôi cứ mua. Bất cứ lời mời gọi giảm bớt nào cũng bị nghe như sự tước đoạt. Nhưng đời sống Thánh Thể dạy rằng tự giới hạn vì tình yêu không phải mất tự do; đó là hình thức cao của tự do. Đức Kitô tự nguyện hiến mình. Người không bị nhu cầu bản thân thống trị. Người trao. Người từ bỏ. Người yêu đến cùng. Vì thế một hành vi rất nhỏ như chọn không mua thêm một món không cần, giảm một chuyến đi không cần thiết, dùng lâu hơn một vật còn tốt, chấp nhận bớt tiện nghi đôi chút để giảm lãng phí, không phải những hành vi đáng kể vì bản thân chúng cứu thế giới. Chúng đáng kể vì chúng tập trái tim theo hình dạng của hy lễ. Một đời sống không chịu bất cứ hy sinh nào cuối cùng sẽ không thể sống bác ái thật. Sinh thái Kitô giáo mà không có khổ chế sẽ trở thành khẩu hiệu. Khổ chế ở đây không phải ghét vật chất. Chính vì yêu vật chất như quà tặng nên ta không muốn tiêu thụ nó vô độ. Tiết độ không phải khinh thế giới; tiết độ là dùng thế giới với lòng biết ơn.
Điều này rất gần với truyền thống chay tịnh. Chay không chỉ là kỹ thuật kỷ luật thân xác. Chay đặt ham muốn trở lại đúng chỗ. Tôi có thể muốn nhưng không cần đáp ứng ngay. Tôi có thể có khả năng nhưng chọn bớt. Tôi có thể ăn nhưng chọn không ăn để nhớ người đói và nhớ mình sống nhờ Chúa. Trong thời đại tiêu thụ, linh đạo chay có thể được mở rộng cách khôn ngoan: chay mua sắm, chay màn hình, chay tiện nghi, chay lãng phí, chay việc thay mới một thứ vẫn còn dùng tốt. Không phải mọi việc ấy đều là luật phụng vụ, nhưng chúng có thể là thực hành thiêng liêng. Chúng đào tạo một con người có thể bước tới bàn thờ với hai bàn tay bớt nắm chặt.
Ta cũng không nên quên mối liên hệ giữa Thánh Thể và hòa bình. Môi trường bị tàn phá không chỉ bởi tiêu thụ dân sự mà còn bởi chiến tranh. Đất bị nhiễm độc. Nước bị phá. Hạ tầng bị tiêu hủy. Người phải bỏ nhà. Tài nguyên đôi khi trở thành nguyên nhân xung đột. Một Hội Thánh cử hành “Mầu nhiệm Đức Tin” của Đấng đã hòa giải muôn loài nhờ máu Thập Giá không thể dửng dưng trước những cơ cấu bạo lực đối với con người và đất. “Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em” không phải một câu lịch sự trước khi rước lễ. Bình an thuộc về logic Thánh Thể. Và hòa bình với con người không thể hoàn toàn tách khỏi hòa bình với đất. Một nền kinh tế cướp tài nguyên của cộng đồng yếu thế là một dạng bạo lực. Một kiểu phát triển làm một vùng đất không còn sống được để vùng khác giàu lên cũng gieo mầm bất ổn. Bảo vệ tạo thành vì thế không phải thú vui của những người có thời gian. Trong nhiều nơi, đó là phần của công trình hòa bình.
Một chiều kích khác rất đáng chiêm ngắm là sự nhỏ bé của Nhà Tạm. Đấng nhờ Người vũ trụ được tạo thành tự đặt mình trong một nơi nhỏ. Đấng không trời đất nào chứa nổi lại ở giữa dân Người dưới dấu chỉ mong manh. Sự khiêm nhường này đảo ngược trực giác quyền lực của thế giới. Càng lớn không có nghĩa càng Thiên Chúa. Càng chiếm chỗ không có nghĩa càng quan trọng. Sự sống có thể hiện diện trong cái rất nhỏ. Một hạt giống. Một giọt nước. Một thai nhi. Một vi sinh vật trong đất. Một loài mà ta chưa biết tên. Một cộng đồng nghèo không có tiếng nói. Một phần tử nhỏ có thể mang vai trò lớn trong mạng lưới sự sống. Linh đạo Thánh Thể giúp ta kính trọng điều nhỏ. Ai có thể quỳ trước một tấm Bánh nhỏ mà lại khinh mọi sự chỉ vì chúng nhỏ, yếu và không sinh lợi? Dĩ nhiên không được đánh đồng Thánh Thể với các loài thụ tạo. Nhưng cách Thiên Chúa chọn sự nhỏ bé làm nơi hiện diện phải chữa bệnh mê kích thước và mê quyền lực của chúng ta.
Thánh Thể còn là một trường chiêm ngắm sự lệ thuộc. Bánh cần đất. Cây cần nước. Người cần người. Linh mục không thể tự mình tạo ra cộng đoàn. Cộng đoàn không thể tự mình tạo ra bí tích. Hội Thánh nhận từ Đức Kitô. Đức Kitô dâng mình lên Chúa Cha. Chúa Thánh Thần thánh hóa lễ vật. Không ai tự đủ. Trong một thế giới đề cao tự chủ đến mức tưởng rằng lệ thuộc là yếu đuối, Thánh Thể nói một sự thật khác: hiệp thông là hình thức cao hơn của hiện hữu. Tạo thành cũng tồn tại trong liên hệ. Không loài nào sống hoàn toàn riêng. Đất, nước, khí, cây, vi sinh vật, côn trùng, động vật và con người nối với nhau trong vô số quan hệ. Khoa học sinh thái giúp ta thấy điều ấy bằng dữ liệu. Thánh Thể giúp ta nhận điều ấy như một lời mời gọi sống hiệp thông. Không phải mọi sự trong tự nhiên là một cộng đoàn hòa thuận lãng mạn, nhưng sự lệ thuộc lẫn nhau là sự thật nền tảng. Phá một mắt xích có thể làm hệ quả lan đi rất xa. Cách sống ích kỷ cũng vậy. Một lựa chọn cá nhân trong một nền kinh tế kết nối có thể tạo hậu quả nơi ta không thấy. Bởi vậy trưởng thành Kitô giáo phải đi từ câu hỏi “việc này có lợi cho tôi không?” sang “việc này tác động đến mạng lưới sự sống và hiệp thông thế nào?”
Thánh Thể vì thế có thể trở thành trung tâm của việc đào tạo lương tâm sinh thái trong giáo xứ, nhưng phải làm đúng cách. Không cần thêm thật nhiều bài nói. Cần giúp giáo dân thấy điều đã có. Khi chuẩn bị lễ vật, có thể dạy về “hoa màu ruộng đất và công lao con người”. Khi dạy thiếu nhi Rước lễ lần đầu, có thể giúp các em biết bánh từ đâu đến, biết quý thức ăn, biết chia sẻ với người đói. Khi dạy hôn nhân, có thể nối bàn ăn gia đình với đời sống tạ ơn. Khi tĩnh tâm cho các hội đoàn, có thể xét mình về lối tiêu dùng. Khi tổ chức lễ lớn, có thể lấy chính sự tiết độ và trật tự làm chứng tá. Khi chầu Thánh Thể, có thể để một khoảng thinh lặng cho con người nhìn lại cách mình đã dùng quà tặng trong tuần. Không cần biến giờ chầu thành chiến dịch. Chỉ cần để Đấng đang hiện diện dưới hình bánh hỏi chúng ta: con đã làm gì với bánh, nước, đất, tiền, sức lực và người anh em Ta đã trao cho con?
Đặc biệt, linh mục phải cẩn thận để không nói những điều rất đẹp trên bục giảng rồi chính cách tổ chức của nhà xứ đi ngược lại. Người ta nhìn đời sống nhiều hơn nghe lời. Nếu linh mục giảng tiết độ nhưng nhà xứ luôn phung phí, lời giảng mất sức. Nếu giáo xứ kêu gọi bảo vệ môi trường nhưng các sự kiện do mình tổ chức là nguồn rác lớn mà không có kế hoạch, người trẻ sẽ thấy sự mâu thuẫn. Nếu Hội Thánh muốn có tiếng nói đạo đức trong xã hội về ngôi nhà chung, trước hết các cộng đoàn phải chấp nhận để chính mình được kiểm tra. Không cần hoàn hảo rồi mới lên tiếng. Nhưng phải thật sự đi trên đường hoán cải. Khi giáo xứ công khai nói: năm nay chúng ta sẽ giảm đồ dùng một lần, tổ chức lại bữa ăn để ít dư hơn, trồng thêm cây, giảm hao phí điện nước, và làm những việc ấy vì chúng ta là cộng đoàn Thánh Thể, đó đã là một bài giáo lý mạnh.
Thánh Thể cũng mở ra chiều kích cánh chung của sinh thái Kitô giáo. Người Kitô hữu không bảo vệ trái đất vì tin rằng trái đất hiện nay sẽ tồn tại vĩnh viễn trong hình thức này. Ta tin trời mới đất mới. Nhưng “mới” trong Kinh Thánh không có nghĩa Thiên Chúa vứt bỏ mọi điều Người đã dựng như một bản nháp thất bại. Mầu nhiệm Phục Sinh cho ta mô hình: thân xác Đức Giêsu thật sự chết và thật sự sống lại; có liên tục và có biến đổi. Tương lai của tạo thành thuộc về Thiên Chúa. Chính vì vậy ta không tuyệt vọng khi thấy khủng hoảng lớn. Nhưng cũng chính vì vậy ta không có quyền hủy hoại với lý do “rồi Chúa sẽ làm mới hết”. Đó là một ngụy biện tôn giáo nguy hiểm. Hy vọng cánh chung không giải phóng ta khỏi trách nhiệm; nó giải phóng ta khỏi tuyệt vọng để có thể chịu trách nhiệm. Người trồng cây hôm nay có thể không sống tới ngày cây lớn. Người bảo vệ một dòng sông có thể không thấy nó phục hồi hoàn toàn. Một cộng đoàn giảm lãng phí có thể không thay đổi được chỉ số khí hậu toàn cầu. Nhưng hành động Kitô hữu không chỉ được đo bằng kết quả mình nhìn thấy. Ta hành động vì trung thành với trật tự của Nước Thiên Chúa đã bắt đầu. Thánh Thể là “bảo chứng vinh quang tương lai” chính vì nó cho ta nếm trước một thế giới được quy tụ trong Đức Kitô. Mỗi Thánh lễ là một lời chống lại sự tuyệt vọng: cái chết không có tiếng nói cuối. Tội không có tiếng nói cuối. Sự hủy hoại không có tiếng nói cuối. Nhưng hy vọng đó cũng là một lời chống lại sự vô trách nhiệm: vì Thiên Chúa yêu thế giới này đến mức cứu chuộc nó, ta không được đối xử với nó như vật bỏ đi.
Có lẽ một trong những cách đẹp nhất để nói về Thánh Thể và tạo thành là hình ảnh vũ trụ được dâng lên. Không phải ta nhấc cả hành tinh bằng hai tay. Không phải mỗi linh mục trên bàn thờ có ý thức tường tận tất cả các chiều kích vũ trụ trong từng Thánh lễ. Nhưng về bản chất, Hội Thánh đứng trước Thiên Chúa như một tư tế giữa tạo thành, nhận tiếng ca của muôn loài và đưa vào lời tạ ơn của Đức Kitô. Con người được dựng nên không phải để làm vua độc tài của vũ trụ mà để trở thành tiếng nói có ý thức của lời ca mà tạo thành cất lên. Núi không nói bằng ngôn ngữ của ta, nhưng núi hiện hữu trước mặt Chúa. Biển không đọc Thánh vịnh, nhưng biển thuộc về lời ngợi khen. Cây không tham dự phụng vụ như một ngôi vị, nhưng sự tốt đẹp của cây làm chứng cho Đấng Tạo Hóa. Con người, với ý thức và tự do, có thể nhận tất cả những điều ấy và nói: “Chúng con tạ ơn Chúa.” Đó là phẩm giá tư tế theo nghĩa rộng của ơn gọi con người trong tạo thành. Và nơi Đức Kitô, vị Thượng Tế thật, lời tạ ơn ấy được hoàn tất. Người là Con vĩnh cửu nhờ Người mọi sự được tạo thành và cũng là con người thật đứng giữa tạo thành. Trong Người, tạo thành tìm thấy lời tạ ơn hoàn hảo.
Bởi vậy Thánh lễ không phải một khoảnh khắc để trốn khỏi trái đất. Nó là khoảnh khắc trái đất được đặt trong tương quan đúng với trời. Khi linh mục nâng bánh và rượu, không phải thế giới bị bỏ dưới đất để linh hồn bay lên. Trái lại, chính quà của đất được nâng lên. Điều ấy có ý nghĩa rất sâu. Tâm linh Kitô giáo không đạt tới Thiên Chúa bằng cách khinh điều thấp. Nó để Thiên Chúa nâng điều thấp lên. Thiên Chúa không ghê thân xác. Người nhập thể. Người không ghê bánh. Người dùng bánh. Người không ghê lao động. Người sống nhiều năm ở Nazareth trong lao động. Người không ghê cái chết. Người đi vào cái chết để phá cái chết từ bên trong. Cũng vậy, cứu độ tạo thành không đến bằng sự khinh miệt vật chất nhưng bằng việc vật chất được đặt lại trong thánh ý Thiên Chúa. Đó là lý do một linh đạo sinh thái đúng nghĩa phải mang tính Thánh Thể. Nếu không, nó rất dễ rơi vào một trong hai cực: hoặc thần thánh hóa thiên nhiên, hoặc chỉ quản trị thiên nhiên bằng kỹ thuật. Thánh Thể cho ta một con đường khác: nhận, tạ ơn, hiến dâng, biến đổi, hiệp thông.
Từ bàn thờ, người tín hữu được sai đi. “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an.” Đi đâu? Đi trở lại chính thế giới vừa được mang lên bàn thờ dưới dấu chỉ bánh và rượu. Đi về nhà. Đi vào chợ. Đi tới công ty. Đi ra ruộng. Đi tới trường. Đi vào phòng thí nghiệm. Đi vào cơ quan công quyền. Đi ra đường. Đi về nơi có rác, nước, điện, thức ăn, tiền, quyết định và quyền lực. Nếu Thánh lễ kết thúc ở cửa nhà thờ, Thánh lễ chưa đi hết đường trong đời người tín hữu. Người đã ăn Thân Thể Đức Kitô được sai đi để sống như thân thể trao ban. Người đã uống chén Giao Ước được sai đi để trở thành người kiến tạo giao ước chứ không phá quan hệ. Người đã tạ ơn được sai đi sống biết ơn. Người đã nhận hoa màu ruộng đất được sai đi giữ đất. Người đã nhận công lao con người được sai đi tôn trọng lao động. Người đã nhận Đấng tự hạ được sai đi bỏ bớt kiêu ngạo thống trị. Người đã được nuôi bằng một tấm bánh được sai đi chia sẻ bánh với người đói. Người đã quỳ trước Đấng hiện diện trong sự nhỏ bé được sai đi để không khinh những gì nhỏ bé.
Vì thế một giáo xứ muốn sống Thánh Thể sâu hơn có lẽ không cần bắt đầu bằng một kế hoạch quá lớn. Có thể bắt đầu bằng một câu xét mình rất đơn giản sau mỗi lễ lớn: bàn thờ vừa dạy chúng ta điều gì về cách chúng ta tổ chức lễ này? Có bao nhiêu thức ăn bị bỏ? Bao nhiêu vật dụng dùng một lần? Bao nhiêu nước và điện bị phí? Nơi hành hương sau khi cộng đoàn rời đi sạch hay bẩn hơn? Người lao công phải gánh phần nào của niềm vui chúng ta? Người nghèo có phần trong bàn tiệc hay chỉ đứng nhìn? Cây cối và đất quanh nhà thờ được chăm hay chỉ được nhớ tới khi cần chỗ xây? Những câu hỏi ấy không làm Thánh lễ nhỏ lại. Chúng làm Thánh lễ lớn ra tới kích thước đời sống.
Và mỗi gia đình cũng có thể mang bàn thờ về bàn ăn theo nghĩa thiêng liêng. Không phải lập lại nghi thức Thánh lễ ở nhà, nhưng để tinh thần tạ ơn thấm vào bữa ăn. Làm dấu trước bữa ăn không phải nghi thức cho trẻ con. Đó là hành vi chống lại sự vô ơn. Ăn vừa đủ. Không chê bai thức ăn một cách vô ý thức. Biết ơn người nấu. Dạy trẻ lấy bao nhiêu ăn bấy nhiêu. Không chất đầy đĩa rồi bỏ. Dành phần cho người khác. Biết chia sẻ với gia đình khó khăn. Học cách dùng phần còn lại thay vì ném đi. Những điều rất nhỏ ấy đào tạo một nền văn hóa Thánh Thể. Trẻ em học về Thánh Thể không chỉ lúc giáo lý viên giải thích “bản thể” và “hình bánh hình rượu”. Chúng cũng học Thánh Thể khi thấy cha mẹ kính trọng bánh ăn hằng ngày, kính trọng người phục vụ, không phung phí và biết nói cảm ơn.
Cuối cùng, Thánh Thể nói với chúng ta rằng định mệnh cuối cùng của tạo thành không phải thùng rác mà là lời tạ ơn. Một nền văn minh vứt bỏ nhìn mọi thứ theo đường thẳng: lấy từ đất, sản xuất, tiêu dùng, quẳng đi. Thánh Thể mở một chuyển động khác: nhận từ Chúa, làm việc, tạ ơn, dâng lại, trao ban, hiệp thông. Hai chuyển động ấy tạo ra hai loại con người. Một bên là người tiêu thụ: thế giới đi vào tôi rồi trở thành rác. Một bên là người Thánh Thể: thế giới đi qua bàn tay tôi để trở thành lời tạ ơn và trao ban. Chúng ta chưa hoàn toàn là loại người thứ hai. Hội Thánh cũng chưa. Các giáo xứ, nhà dòng, gia đình Công giáo còn nhiều tập quán phải xét lại. Nhưng bàn thờ vẫn đứng đó mỗi ngày để đào tạo ta.
Bánh được mang lên. Rượu được mang lên. Không phải vàng. Không phải biểu tượng của quyền lực. Là thức ăn. Là sản phẩm của đất và lao động. Linh mục nhận lấy chúng. Hội Thánh tạ ơn. Thánh Thần được khẩn cầu. Đức Kitô trao chính mình. Cộng đoàn ăn và được sai đi. Toàn bộ đường đi ấy là một bản tóm tắt về ơn gọi con người trong thế giới: nhận, gìn giữ, lao động, tạ ơn, dâng hiến, chia sẻ và trở nên hiệp thông. Khi người Kitô hữu hiểu Thánh Thể như thế, chăm sóc ngôi nhà chung không còn là một chuyên đề thêm vào đời sống đạo. Nó trở thành một hệ quả nội tại của việc chúng ta là ai mỗi khi đứng quanh bàn thờ.
Và có lẽ câu xét mình cuối cùng của chương này phải thật ngắn: Nếu chúng ta vừa nâng hoa màu ruộng đất lên bàn thờ, làm sao có thể bước ra ngoài rồi giẫm nát ruộng đất? Nếu chúng ta vừa tạ ơn vì công lao con người, làm sao có thể bóc lột con người? Nếu chúng ta vừa nhận Đấng đã tự hiến hoàn toàn, làm sao có thể sống chỉ để chiếm hữu? Nếu chúng ta vừa ăn một Bánh để nên một thân thể, làm sao có thể mặc kệ những người đang chịu hậu quả của lối sống mình? Nếu chúng ta vừa tuyên xưng rằng cả vũ trụ thuộc về Đấng Tạo Hóa, làm sao có thể hành xử như thể trái đất là kho riêng của thế hệ hiện tại?
Thánh Thể không phải một bí tích “về môi trường”. Thánh Thể lớn hơn vô cùng. Chính vì lớn hơn nên Thánh Thể có thể bao trùm cả mối tương quan của ta với tạo thành mà không bị thu nhỏ vào một chương trình xã hội. Trên bàn thờ là Đức Kitô. Trong Đức Kitô, muôn vật được tạo thành. Trong Đức Kitô, muôn vật được hòa giải. Trong Đức Kitô, Hội Thánh học tạ ơn. Và trong lời tạ ơn ấy, đất không bị bỏ lại dưới chân. Đất được nhận, được chúc tụng, được mang vào lễ vật và được hướng tới sự viên mãn mà Thiên Chúa đã hứa. Vũ trụ được dâng lên không phải vì con người sở hữu vũ trụ, nhưng vì con người được gọi đứng giữa tạo thành mà nói thay cho chính mình và, theo một nghĩa nhiệm mầu, cho muôn loài: “Lạy Cha, tất cả là của Cha. Tất cả chúng con đã nhận từ Cha. Và trong Đức Kitô, chúng con xin dâng lại cho Cha.”
Đó là linh đạo của bàn thờ. Và nếu bàn thờ thật sự là trung tâm, thì từ bàn thờ phải sinh ra một cách sống mới: ít chiếm hữu hơn, nhiều biết ơn hơn; ít phung phí hơn, nhiều gìn giữ hơn; ít tiêu thụ vô thức hơn, nhiều chiêm ngắm hơn; ít tách rời người nghèo khỏi đất hơn, nhiều liên đới hơn; ít coi vật chất là rác sau khi dùng hơn, nhiều nhận ra quà tặng hơn. Khi ấy, Thánh Thể không chỉ được cử hành đúng nghi thức. Thánh Thể bắt đầu tạo nên một dân có khả năng sống trong ngôi nhà chung như những người con, những người anh chị em và những người quản gia biết rằng tất cả những gì mình đang cầm trong tay rồi một ngày cũng phải được đặt lại trước mặt Đấng đã ban.

CHƯƠNG 36. NGÀY SABÁT VÀ CHÚA NHẬT: GIỚI HẠN THÁNH
Có một điều rất lạ trong trình thuật tạo thành của sách Sáng Thế: sau sáu ngày làm nên trời đất, ánh sáng, biển cả, cây cỏ, tinh tú, các sinh vật và con người, Thiên Chúa lại “nghỉ”. Dĩ nhiên Thiên Chúa không mệt như con người để phải hồi sức. Ngài không kiệt lực sau công trình sáng tạo. Việc Thiên Chúa nghỉ vào ngày thứ bảy không nói về sự suy giảm quyền năng của Ngài, nhưng nói về ý nghĩa của toàn thể công trình tạo dựng. Thế giới không được tạo ra để chạy mãi như một cỗ máy không có nút dừng. Con người không được dựng nên để trở thành nô lệ cho lao động. Đất không được trao cho con người để bị khai thác liên tục cho đến khi kiệt quệ. Muôn loài không được gọi vào hiện hữu chỉ để phục vụ một dây chuyền sản xuất vô tận. Ngày thứ bảy xuất hiện ngay trong những trang đầu tiên của Kinh Thánh như một lời tuyên bố mạnh mẽ rằng giới hạn thuộc về trật tự tốt đẹp của tạo thành. Dừng lại không phải là thất bại. Nghỉ ngơi không phải là lười biếng. Không sản xuất trong một khoảng thời gian không phải là lãng phí. Có những lúc con người tôn vinh Thiên Chúa bằng việc làm, nhưng cũng có những lúc con người tôn vinh Thiên Chúa bằng việc không làm. Có những lúc phải cày ruộng, gieo hạt, xây nhà, chế tạo, nghiên cứu, buôn bán và tổ chức xã hội; nhưng cũng có lúc phải đặt dụng cụ xuống, rời khỏi bàn làm việc, tắt máy, đóng cửa hàng, ngồi lại với gia đình, bước vào phụng vụ, nhìn bầu trời, nghe tiếng người thân, ngủ một giấc tử tế và nhớ rằng mình là thụ tạo chứ không phải là vị thần phải vận hành thế giới hai mươi bốn giờ mỗi ngày. Ngày Sabát vì thế không chỉ là một điều luật phụng vụ. Nó là một chân lý về con người, một chân lý về đất đai và một chân lý về Thiên Chúa. Nó nói rằng mọi sự có giới hạn và giới hạn ấy có thể là thánh.
Điều này càng rõ khi đọc luật Sabát trong toàn bộ Kinh Thánh. Trong sách Xuất Hành, ngày nghỉ gắn với công trình tạo dựng: sáu ngày Thiên Chúa dựng nên trời đất và ngày thứ bảy Ngài nghỉ. Nhưng trong sách Đệ Nhị Luật, lý do giữ Sabát lại được nối với biến cố giải phóng khỏi Ai Cập. Israel phải nhớ rằng mình đã từng làm nô lệ. Người nô lệ không có ngày nghỉ theo ý mình. Người nô lệ không sở hữu thời gian của mình. Thân xác nó thuộc về chủ. Sức lực nó thuộc về chủ. Ngày hôm nay và ngày mai của nó thuộc về chủ. Nó làm khi chủ bảo làm, dừng khi chủ bảo dừng. Chính vì đã được Thiên Chúa giải phóng khỏi chế độ nô lệ nên Israel không được xây lại Ai Cập ngay trong chính xã hội của mình. Người chủ gia đình phải nghỉ, nhưng người đầy tớ cũng phải nghỉ. Con trai nghỉ, con gái nghỉ, người ngoại kiều nghỉ, gia súc cũng được nghỉ. Đó là một cuộc cách mạng xã hội trong hình thức một điều răn tôn giáo. Không ai được nhân danh năng suất để chiếm hữu toàn bộ thời gian của người khác. Không ai được biến con người thành công cụ sản xuất. Không ai được nói rằng người nghèo phải làm không ngừng vì họ nghèo, còn người giàu có quyền nghỉ vì họ có tiền. Ngày Sabát đặt chủ và tớ, giàu và nghèo, người bản địa và người ngoại kiều vào cùng một giới hạn. Tất cả đều là thụ tạo trước mặt Thiên Chúa. Tất cả đều cần nghỉ. Tất cả đều được quyền nghỉ. Và khi một xã hội không còn bảo vệ quyền nghỉ của người yếu thế, xã hội ấy đang tiến gần trở lại với Ai Cập, dù các kim tự tháp thời nay có thể mang hình thức những cao ốc văn phòng, nhà máy tự động, nền tảng kỹ thuật số, trung tâm logistics hay những màn hình sáng suốt đêm.
Ngày Sabát vì thế là một “kháng từ” rất sâu chống lại mọi hình thức nô lệ lao động. Nó nói “không” với một nền văn hóa trong đó giá trị của con người bị đo bằng năng suất. Nó nói “không” với ảo tưởng rằng ai càng bận thì càng quan trọng. Nó nói “không” với kiểu sống mà lịch kín mít được xem như một huy chương danh dự. Có người ngày nay không còn khoe nhà lớn hay xe đẹp, nhưng khoe rằng mình không có thời gian. “Tôi bận lắm.” “Tôi không có ngày nghỉ.” “Tôi phải làm cả Chúa Nhật.” Những câu ấy đôi khi là lời than chân thật của người nghèo đang phải vật lộn để sống; nhưng đôi khi chúng lại trở thành dấu hiệu của một thứ tự hào kín đáo: tôi cần thiết đến mức không thể dừng. Linh đạo Sabát phá vỡ sự kiêu hãnh ấy. Thế giới vẫn quay khi ta ngủ. Giáo xứ vẫn còn đó khi cha xứ nghỉ một buổi. Công ty vẫn tiếp tục nếu một nhân viên tắt điện thoại vài giờ. Gia đình không sụp đổ chỉ vì người mẹ ngồi uống một tách trà trong thinh lặng. Không ai là Đấng Quan Phòng. Khi ta không dám nghỉ vì nghĩ rằng mọi sự sẽ hỏng nếu thiếu mình, có thể vấn đề không chỉ là tinh thần trách nhiệm, mà còn là một hình thức rất tinh vi của việc muốn chiếm chỗ Thiên Chúa. Nghỉ là một hành vi khiêm nhường. Nghỉ là thú nhận rằng tôi có giới hạn. Nghỉ là tin rằng Thiên Chúa tiếp tục làm việc khi tôi dừng. Nghỉ là trả thế giới về cho Chủ thật của nó.
Nhưng ngày Sabát không chỉ bảo vệ con người. Nó còn bảo vệ đất. Trong luật Cựu Ước, tư tưởng Sabát được mở rộng tới năm Sabát và năm toàn xá. Đất cũng phải nghỉ. Không phải năm nào cũng được đòi đất sinh sản tối đa. Không phải mùa nào cũng được ép đất cho thêm. Có một nhịp cày và nghỉ, gieo và bỏ hóa, lấy và trả lại. Điều ấy thật sâu sắc nếu đặt bên cạnh nền nông nghiệp công nghiệp hiện đại. Con người có thể bắt đất cho nhiều hơn bằng phân hóa học, thuốc trừ sâu, giống tăng năng suất, tưới liên tục, máy móc và những hệ thống canh tác ngày càng chính xác. Khoa học có thể giúp sản xuất lương thực cho hàng tỷ người và đó là một thành tựu lớn. Nhưng khoa học không hủy bỏ giới hạn sinh thái. Đất có cấu trúc. Đất có hệ vi sinh. Đất có độ phì. Đất cần phục hồi. Nước ngầm có tốc độ tái tạo. Rừng có tốc độ sinh trưởng. Cá có mùa sinh sản. Biển có sức chịu tải. Một nền kinh tế có thể phớt lờ những nhịp ấy trong một thời gian, nhưng không thể xóa chúng. Khi ta khai thác nhanh hơn khả năng phục hồi của tạo thành, ta đang sống như thể không có Sabát. Ta bắt đất làm nô lệ. Ta bắt sông làm nô lệ. Ta bắt biển làm nô lệ. Ta bắt rừng làm nô lệ. Và cuối cùng chính con người trở thành nô lệ của một hệ thống phải tăng trưởng liên tục để tồn tại.
Có lẽ một trong những câu hỏi lớn nhất của linh đạo sinh thái hôm nay là: chúng ta còn biết để cho điều gì được nghỉ không? Một mảnh đất có được nghỉ không? Một con sông có được nghỉ khỏi ô nhiễm không? Một khu rừng có được để yên không? Một loài cá có được sống qua mùa sinh sản mà không bị săn bắt đến tận cùng không? Một người lao động có được một ngày không phải trả lời tin nhắn của công ty không? Một đứa trẻ có được một buổi chiều không học thêm không? Một người mẹ có được nghỉ khỏi việc chăm sóc không? Một linh mục có được một ngày không họp không? Một tu sĩ có được một khoảng thinh lặng không? Một gia đình có được một bữa cơm mà không ai cầm điện thoại không? Một thành phố có được một khoảng không gian không phục vụ thương mại mà chỉ dành cho cây, trẻ con và người già không? Những câu hỏi ấy tưởng rời rạc, nhưng cùng chạm một điểm: chúng ta có còn tin rằng giới hạn là một phần của sự khôn ngoan Thiên Chúa không?
Văn hóa hiện đại dễ nghĩ rằng giới hạn là kẻ thù. Kỹ thuật thường được phát triển để vượt giới hạn. Đi nhanh hơn, xa hơn, cao hơn, sản xuất nhiều hơn, lưu trữ nhiều hơn, kết nối nhiều hơn, làm việc lâu hơn, bán hàng cả đêm, giao hàng tức thì, trả lời tức thì. Nhiều thành tựu trong đó thật sự tốt. Không ai cần lãng mạn hóa một thời quá khứ mà bệnh tật không có thuốc, mùa màng thất bát gây đói và đường đi hàng trăm cây số mất nhiều ngày. Vấn đề không nằm ở việc con người dùng trí tuệ để vượt một số giới hạn. Vấn đề bắt đầu khi con người tin rằng mọi giới hạn đều phải bị phá. Có những giới hạn là điều kiện của sự sống. Nhịp ngủ là giới hạn. Khả năng chú ý là giới hạn. Sức chịu đựng của cơ thể là giới hạn. Mùa sinh trưởng của cây là giới hạn. Khả năng hấp thụ carbon của hệ sinh thái là giới hạn. Số giờ một người có thể làm việc mà vẫn còn là người cha, người mẹ, người bạn, người cầu nguyện là giới hạn. Một nền văn minh khôn ngoan không chỉ hỏi: “Ta có thể vượt giới hạn này không?” nhưng còn hỏi: “Ta có nên vượt không?” Có thể làm chưa chắc nên làm. Có thể mở cửa hai mươi bốn giờ chưa chắc phải mở. Có thể làm việc từ xa bất cứ lúc nào chưa chắc phải trả lời lúc nửa đêm. Có thể tổ chức thêm một cuộc họp chưa chắc cuộc họp ấy cần thiết. Có thể xây thêm chưa chắc phải xây. Có thể khai thác thêm chưa chắc nên khai thác. Chính ở đây Sabát trở thành một trường học luân lý. Nó dạy con người khả năng dừng trước khi bị buộc phải dừng bởi bệnh tật, kiệt sức, đổ vỡ gia đình hay suy thoái sinh thái.
Trong Đức Giêsu, ý nghĩa Sabát không bị hủy nhưng được thanh luyện. Người phản đối việc biến Sabát thành một mạng lưới luật lệ làm con người ngột ngạt. “Ngày Sabát được làm ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày Sabát.” Câu ấy thường bị hiểu như một sự giảm nhẹ Sabát, nhưng thật ra nó trả Sabát về mục đích nguyên thủy. Sabát là quà tặng. Nó có mặt để con người được sống. Khi Đức Giêsu chữa bệnh trong ngày Sabát, Người không xúc phạm ngày nghỉ. Người hoàn tất ý nghĩa của nó. Giải phóng con người khỏi bệnh tật chính là việc thích hợp của ngày tưởng niệm cuộc giải phóng khỏi nô lệ. Cho người bại tay được lành, cho người còng lưng đứng thẳng, cho người bị trói buộc được tự do: đó là Sabát được hoàn thành. Nghỉ không có nghĩa đóng lòng trước nỗi đau. Nghỉ cũng không phải cái cớ để bỏ trách nhiệm bác ái. Sabát không tạo ra sự vô cảm; nó tạo ra một không gian trong đó sự sống được đặt trở lại ở trung tâm. Đức Giêsu không biến ngày thánh thành một ngày của hiệu suất. Người biến nó thành ngày phục hồi con người.
Với Kitô hữu, Chúa Nhật kế thừa chiều sâu ấy của Sabát nhưng được soi sáng bởi biến cố Vượt Qua. Chúa Nhật không chỉ là “ngày nghỉ cuối tuần”. Đó là Ngày của Chúa, ngày thứ nhất của tuần, ngày Đức Kitô sống lại. Các Kitô hữu đầu tiên tụ họp để bẻ bánh vào ngày ấy vì họ hiểu rằng một thế giới mới đã bắt đầu từ ngôi mộ trống. Nếu ngày Sabát nhớ tạo dựng và giải phóng khỏi Ai Cập, thì Chúa Nhật nhớ tạo dựng mới và giải phóng khỏi tội lỗi cùng sự chết. Vì thế Chúa Nhật Kitô giáo không phải đơn thuần là chuyển ngày nghỉ từ thứ bảy sang Chúa Nhật. Chúa Nhật là ngày của một cuộc sáng tạo mới. Ánh sáng Vượt Qua chiếu vào toàn thể tạo thành. Đức Kitô sống lại trong thân xác. Nấm mồ trống. Thân xác không bị vứt bỏ. Tạo thành vật chất không bị bỏ lại phía sau như một chiếc vỏ không còn giá trị. Niềm hy vọng Kitô giáo hướng tới trời mới đất mới, tới sự sống lại của thân xác, tới việc muôn loài được quy tụ trong Đức Kitô. Vì thế ngày Chúa Nhật mang trong mình một chiều kích sinh thái rất sâu. Nó tuyên bố rằng thế giới này không chỉ là công trường. Thế giới là nơi Thiên Chúa cứu độ. Thân xác không chỉ là công cụ lao động. Thân xác được định cho sự sống lại. Bánh và rượu không chỉ là hàng hóa. Chúng có thể trở thành chất liệu của bí tích. Thời gian không chỉ là tiền bạc. Có thời gian được thánh hóa.
Thánh lễ Chúa Nhật là trái tim của nhịp nghỉ ấy. Người Kitô hữu không nghỉ chỉ để lấy sức làm việc tiếp. Nếu nghỉ chỉ để sáng thứ hai làm năng suất hơn, thì ngày nghỉ vẫn bị công việc thống trị. Ta chỉ đang bảo dưỡng chiếc máy để máy chạy tốt hơn. Chúa Nhật đi xa hơn. Nó nói rằng con người có một mục đích không thể rút gọn vào lao động. Con người được dựng nên để thờ phượng, để yêu, để hiệp thông, để chiêm ngắm, để vui, để lãnh nhận. Trong Thánh lễ, ta không “sản xuất” ân sủng. Ta nhận. Ta không chế tạo Lời Chúa. Ta nghe. Ta không tự cứu mình. Ta được cứu. Ta không tự làm bánh và rượu thành Mình và Máu Đức Kitô bằng năng lực của mình. Ta dâng hoa màu ruộng đất và lao công của con người, rồi lãnh nhận chúng lại trong mầu nhiệm vượt quá mọi khả năng con người. Chính cấu trúc ấy của phụng vụ là một lời phản bác mạnh mẽ đối với nền văn hóa hiệu suất. Có những điều quý nhất trong đời không thể sản xuất. Tình yêu không thể sản xuất. Ơn tha thứ không thể sản xuất. Tình bạn không thể sản xuất. Bình an không thể sản xuất. Sự sống không thể sản xuất hoàn toàn theo ý ta. Ơn cứu độ càng không. Chúa Nhật dạy con người lại nghệ thuật nhận lãnh.
Vì thế có một nghịch lý đáng suy nghĩ: người Công giáo có thể giữ luật dự lễ Chúa Nhật rất nghiêm mà vẫn đánh mất linh đạo Chúa Nhật. Ta có thể đi lễ đúng giờ, rồi biến cả ngày còn lại thành một chuỗi công việc, mua sắm, họp hành, đưa đón, tổ chức, phục vụ và chạy đua. Ta có thể cử hành Thánh Thể lúc sáu giờ sáng rồi sống từ bảy giờ sáng đến mười giờ tối như thể ngày ấy hoàn toàn giống những ngày khác. Ta có thể nghe rằng “đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ” rồi bước ra khỏi nhà thờ với một danh sách nhiệm vụ dày đặc. Nếu vậy, ta giữ một nghĩa vụ nhưng chưa chắc đã bước vào một nền linh đạo.
Điều này đặc biệt đáng xét lại trong đời sống giáo xứ. Có những giáo xứ vô tình biến Chúa Nhật thành ngày bận nhất tuần. Vì giáo dân rảnh nên việc gì cũng dồn vào Chúa Nhật: họp hội đồng, họp ban mục vụ, họp ca đoàn, họp giới trẻ, họp các bà mẹ, họp thiếu nhi, họp giáo lý viên, tập hát, tập múa, tập văn nghệ, gây quỹ, bán hàng, tổ chức sự kiện, học chuyên đề, tổng duyệt, sinh hoạt đoàn thể. Có nơi một gia đình đi lễ từ sáng rồi cha mẹ chia nhau họp, con cái học giáo lý, chiều lại tập, tối lại sinh hoạt. Cuối ngày ai cũng mệt. Về đến nhà chỉ muốn ngủ. Bữa cơm gia đình biến mất. Cuộc trò chuyện biến mất. Việc nghỉ biến mất. Người ta có thể rất nhiệt thành với “việc Chúa” mà không còn Ngày của Chúa.
Dĩ nhiên không thể tuyệt đối hóa. Nhiều cộng đoàn chỉ có thể gặp nhau Chúa Nhật vì ngày thường mọi người đi làm. Giáo lý trẻ em thường buộc phải xếp cuối tuần. Một số sinh hoạt mục vụ là cần thiết. Hội Thánh sống bằng sự phục vụ rất quảng đại của giáo dân. Vấn đề không phải là cấm mọi hoạt động Chúa Nhật. Vấn đề là phải có một sự phân định thật sự: chúng ta đang phục vụ Chúa Nhật hay đang chiếm Chúa Nhật? Một buổi họp này có thực sự cần không? Có thể làm ngày khác không? Có thể rút ngắn không? Có thể họp trực tuyến vào một buổi tối khác không? Có thể gộp ba cuộc họp thành một không? Có thể để một tháng một Chúa Nhật hoàn toàn không họp không? Có thể tôn trọng thời gian gia đình sau Thánh lễ không? Có thể dạy các hội đoàn rằng phục vụ Hội Thánh không đồng nghĩa với việc lúc nào cũng có mặt ở nhà xứ không? Những câu hỏi ấy không phải chuyện tổ chức nhỏ. Chúng thuộc linh đạo tạo thành. Một giáo xứ không biết để giáo dân nghỉ có nguy cơ tái tạo chính nền văn hóa mà Tin Mừng muốn chữa lành.
Có thể phải nói một câu hơi khó nghe: đôi khi giáo xứ mạnh không phải là giáo xứ có nhiều hoạt động nhất. Một lịch sinh hoạt dày chưa chắc là dấu hiệu của đời sống phong phú. Nó có thể là dấu hiệu của một cơ cấu không biết dừng. Một cộng đoàn trưởng thành phải biết rằng có thời gian để họp và có thời gian để không họp. Có mùa hoạt động mạnh và có mùa nghỉ. Có lúc xây dựng chương trình và có lúc để người giáo dân về nhà sống ơn gọi của họ. Giáo dân không được Rửa tội để trở thành lực lượng nhân sự miễn phí quanh nhà xứ. Họ có gia đình, nghề nghiệp, hàng xóm, cha mẹ già, con cái, thân xác cần nghỉ và một đời sống cầu nguyện không thể thay bằng họp. Một linh mục có thể vô tình nghĩ rằng giáo dân càng có mặt nhiều ở giáo xứ thì càng sốt sắng. Nhưng có khi một người giáo dân sốt sắng nhất lại là người sau Thánh lễ đưa cả nhà về ăn cơm với cha mẹ già, chiều dẫn con đi công viên, tối đọc Tin Mừng với vợ chồng con cái và đi ngủ sớm để sáng thứ hai làm việc tử tế. Đó cũng là đời sống Hội Thánh. Thậm chí đó có thể là một sự thực hiện rất chính xác căn tính giáo dân.
Sabát và Chúa Nhật cũng đặt câu hỏi cho đời sống tu trì và linh mục. Người phục vụ mục vụ rất dễ trở thành nạn nhân của một thứ lao động tôn giáo không có giới hạn. Thánh lễ, xưng tội, bệnh nhân, đám tang, đám cưới, giáo lý, hội họp, tiếp khách, xây dựng, giấy tờ, truyền thông, điện thoại, tin nhắn. Công việc có thể rất tốt, nhưng việc tốt không tự động bảo đảm một nhịp sống tốt. Một linh mục làm việc đến kiệt sức không nhất thiết là một linh mục thánh thiện hơn. Có khi đó là dấu hiệu của cơ cấu thiếu lành mạnh, thiếu cộng tác, thiếu khả năng nói không hoặc thiếu niềm tin rằng Thiên Chúa có thể chăm sóc đoàn chiên khi mình nghỉ. Chúa Giêsu từng bảo các môn đệ: “Anh em hãy lánh riêng ra một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” Người nói câu ấy không phải sau khi các ông lười biếng, mà sau khi các ông đã đi rao giảng và trở về với rất nhiều việc để kể. Đức Giêsu biết sự nhiệt thành cũng cần giới hạn. Người mục tử không nghỉ rồi sẽ có ngày phục vụ đoàn chiên bằng một trái tim cạn kiệt.
Nhiều người ngày nay cần nghe rằng nghỉ không phải là tội. Có những người mang một mặc cảm sâu mỗi khi họ không làm gì. Họ ngồi xuống nhưng tâm trí vẫn tự kết án: mình đang phí thời gian. Họ đi nghỉ nhưng vẫn mở máy tính. Họ ăn với gia đình nhưng mắt nhìn điện thoại. Họ đi du lịch nhưng vẫn trả lời công việc. Họ nằm trên giường mà đầu vẫn chạy danh sách nhiệm vụ. Thân xác dừng nhưng tâm hồn không dừng. Sabát đòi một cuộc hoán cải sâu hơn lịch làm việc. Nó đòi chữa cái căn tính dựa vào hiệu suất. Tôi là ai nếu hôm nay tôi không sản xuất gì? Tôi có còn đáng giá nếu hôm nay tôi chỉ là con của Chúa, người chồng, người vợ, người cha, người mẹ, người bạn? Tôi có chấp nhận rằng giá trị của mình có trước thành tích không? Đây là câu hỏi thần học. Nếu phẩm giá con người đến từ việc được Thiên Chúa tạo dựng và yêu thương, thì phẩm giá ấy không tăng lên vào ngày ta làm việc mười bốn tiếng và không giảm xuống vào ngày ta nghỉ.
Chúa Nhật cũng cần được phục hồi như ngày của gia đình. Không phải mọi gia đình đều có hoàn cảnh dễ dàng. Có người phải làm ca Chúa Nhật. Có người sống xa gia đình. Có người ở trong một gia đình đầy xung đột. Nhưng lý tưởng vẫn quan trọng: một tuần phải có thời gian trong đó người thân không chỉ cùng tồn tại dưới một mái nhà mà thực sự gặp nhau. Một bữa ăn không vội. Một cuộc thăm ông bà. Một chuyến đi bộ. Một giờ không màn hình. Một trò chơi với con. Một cuộc trò chuyện mà không ai nhìn đồng hồ. Đó không phải những chi tiết bên lề của đời sống Kitô hữu. Chúng là một phần của việc giữ ngày thánh. Thiên Chúa đã tạo con người cho hiệp thông. Một ngày dành cho Chúa mà không còn chỗ cho người thân dễ trở thành một thứ đạo đức tách khỏi đời.
Có một liên hệ rất sâu giữa Chúa Nhật và sinh thái ở đây. Khi con người biết nghỉ, nhu cầu tiêu thụ cũng có thể giảm. Nhưng cần lưu ý: xã hội hiện đại đã biến “ngày nghỉ” thành một thị trường khổng lồ. Nghỉ đồng nghĩa với mua. Đi trung tâm thương mại. Ăn thật nhiều. Mua sắm giải trí. Bay thật xa. Tiêu thụ thật mạnh. Ngày không làm việc lại trở thành ngày người khác phải làm nhiều hơn để phục vụ mình. Đó là một nghịch lý. Ta nghỉ bằng cách bắt một hệ thống khác chạy nhanh hơn. Ta gọi đó là giải trí, nhưng đôi khi chỉ chuyển từ lao động sang tiêu thụ. Linh đạo Chúa Nhật mời gọi một kiểu vui khác: không nhất thiết đắt tiền, không nhất thiết nhiều kích thích, không nhất thiết phải đi xa. Một bữa cơm, một giấc ngủ trưa, một cuộc đi bộ, một lần thăm người cô đơn, vài trang sách, một giờ làm vườn, một cuộc nói chuyện, một bản nhạc, một chiều ngắm mưa có thể trả con người về cho mình nhiều hơn một ngày chạy từ nơi giải trí này sang nơi giải trí khác.
Điều này không có nghĩa Kitô giáo chống vui chơi. Ngược lại, Chúa Nhật là ngày vui. Đức Kitô sống lại. Kitô hữu phải biết mừng. Nhưng có sự khác nhau giữa niềm vui và kích thích. Kích thích cần tăng liều. Hôm nay cái này chưa đủ thì mai phải mạnh hơn. Niềm vui có thể ở lại với điều đơn sơ. Một tâm hồn đã quên nghỉ thường cũng quên vui. Nó cần tiếng động, màn hình, đồ ăn, mua sắm hay rượu để có cảm giác rằng mình đang thư giãn. Nhưng sau đó lại mệt hơn. Sabát dạy một nghệ thuật vui không chiếm hữu. Ta vui vì sự vật tồn tại, không phải vì chúng thuộc về ta. Ta ngắm cây mà không cần chặt. Ta đi bên sông mà không cần khai thác. Ta nghe tiếng chim mà không cần sở hữu. Ta nhìn con mình chơi mà không cần biến mọi khoảnh khắc thành chương trình giáo dục. Ta ngồi với người mình thương mà không cần có mục tiêu. Đó là chiêm ngắm.
Vì vậy, một Chúa Nhật tốt có thể là một trường chiêm ngắm sinh thái. Sau Thánh lễ, thay vì lấp kín ngày bằng hoạt động, một gia đình có thể ra ngoài. Không cần một khu du lịch lớn. Có thể chỉ là con đường ven sông, công viên, mảnh vườn, sân nhà, một hàng cây. Cha mẹ có thể dạy con gọi tên một vài loài cây. Nhìn mây. Nghe mưa. Nhặt rác ở nơi mình đi qua. Học cảm ơn người trồng lúa, người làm bánh, người quét đường. Một giáo xứ có thể dành một số Chúa Nhật trong năm không phải để phát động thêm chiến dịch, nhưng để dạy cộng đoàn nghỉ. Có thể một Chúa Nhật sau lễ không tổ chức gì. Chỉ mời các gia đình về nhà ăn chung. Có thể một mùa phụng vụ giảm hội họp. Có thể các hội đoàn thống nhất không nhắn tin việc chung sau một giờ nhất định. Những điều ấy nghe rất nhỏ, nhưng chính những thực hành nhỏ làm nên văn hóa.
Chúa Nhật cũng là một lời phê bình nền kinh tế khi nó đòi con người phải sẵn sàng mọi lúc. Một xã hội muốn bảo vệ Chúa Nhật phải quan tâm tới người lao động. Không thể khuyên người nghèo “hãy nghỉ” nếu đồng thời cấu trúc tiền lương khiến họ phải làm bảy ngày mới đủ sống. Không thể nói về gia đình nhưng để cha mẹ phải làm tăng ca triền miên. Không thể ca ngợi ngày của Chúa nhưng chấp nhận một mô hình kinh tế trong đó toàn bộ nhịp sống xã hội bị đặt dưới mệnh lệnh tiêu dùng không ngừng. Dĩ nhiên có những nghề phải hoạt động ngày Chúa Nhật: bệnh viện, an ninh, giao thông, cấp cứu, một số dịch vụ thiết yếu. Đức ái không nghỉ. Nhưng khác biệt giữa nhu cầu thiết yếu và nhu cầu thị trường phải được nhìn rõ. Một bác sĩ trực Chúa Nhật để cứu người khác với một hệ thống bắt hàng chục ngàn nhân viên làm việc chỉ vì khách hàng muốn mua bất cứ thứ gì vào bất cứ giờ nào. Linh đạo Chúa Nhật không đưa ra ngay mọi chính sách kinh tế, nhưng nó trao một nguyên tắc: nền kinh tế phải phục vụ con người, chứ con người không được hiến tế cho nền kinh tế.
Nguyên tắc ấy cũng áp dụng cho công nghệ. Điện thoại thông minh đã phá gần như hoàn toàn biên giới giữa giờ làm và giờ nghỉ. Trước đây rời văn phòng là rời công việc. Bây giờ văn phòng nằm trong túi. Email nằm trong túi. Nhóm công việc nằm trong túi. Tin nhắn của cấp trên nằm trong túi. Một nền văn hóa mới đã hình thành: nếu đã đọc thì phải trả lời. Nếu đang online thì phải sẵn sàng. Nếu không phản ứng sớm thì bị xem là thiếu trách nhiệm. Chúa Nhật trong thời kỹ thuật số vì vậy cần một hình thức khổ chế mới. Có thể phải tắt thông báo. Có thể phải đặt điện thoại xa bàn ăn. Có thể phải thống nhất trong cộng đoàn rằng việc không khẩn cấp không nhắn Chúa Nhật. Có thể người lãnh đạo phải làm gương bằng việc không gửi công việc vào ngày nghỉ. Một ông chủ gửi email lúc mười giờ tối dù viết “không cần trả lời ngay” vẫn tạo áp lực. Một cha xứ nhắn nhóm liên tục Chúa Nhật cũng tạo một văn hóa. Người có quyền phải chịu trách nhiệm lớn hơn trong việc bảo vệ giới hạn của người khác.
Ngày nghỉ của đất cũng cần được học lại theo nghĩa rộng hơn. Trong đời sống cá nhân, ta có thể có những vùng “không khai thác”. Một mảnh sân không cần lát hết. Một góc vườn có thể để cỏ mọc cho côn trùng. Một cái cây già không sinh lợi vẫn có thể được giữ vì bóng mát. Một dòng nước không phải lúc nào cũng cần kè cứng. Một khu rừng không cần biến thành điểm du lịch. Một bờ biển không nhất thiết phải kín resort. Đây là trực giác Sabát: không phải mọi thứ đều phải được tối ưu hóa cho công dụng kinh tế. Có những thứ được phép hiện hữu mà không phải chứng minh lợi nhuận. Một con chim không cần có “giá trị kinh tế” để đáng sống. Một khu đất ngập nước không cần trở thành bất động sản mới có giá trị. Một cây cổ thụ không cần sinh tiền mới đáng giữ. Tạo thành có giá trị trước khi có giá thị trường.
Chính ở đây linh đạo Sabát chữa căn bệnh paradigme kỹ trị. Paradigme kỹ trị hỏi: dùng cái này vào việc gì? Sabát hỏi trước: điều này là gì trước mặt Thiên Chúa? Paradigme kỹ trị nhìn cây và tính gỗ. Sabát có thể nhìn cây và để cây là cây. Paradigme kỹ trị nhìn thời gian và tính năng suất. Sabát để thời gian trở thành hiện diện. Paradigme kỹ trị nhìn thân xác và tính khả năng lao động. Sabát nói thân xác đáng nghỉ. Paradigme kỹ trị nhìn một người già và hỏi họ còn đóng góp gì. Sabát mời người già ngồi giữa gia đình như một sự hiện diện có giá trị tự thân. Paradigme kỹ trị nhìn trẻ em và lập kín lịch để tối ưu tương lai. Sabát cho trẻ chơi. Paradigme kỹ trị nhìn linh mục và hỏi một tuần làm được bao nhiêu chương trình. Sabát hỏi linh mục còn cầu nguyện được không, còn vui được không, còn ở với anh em được không.
Có một chiều kích cánh chung trong Chúa Nhật cũng rất quan trọng. Chúa Nhật là dấu chỉ của sự nghỉ ngơi cuối cùng trong Thiên Chúa. Con người không đi tới một tương lai trong đó sẽ làm việc mãi mãi với hiệu suất vô hạn. Đích đến là hiệp thông. Thư Do Thái nói về một sự nghỉ ngơi còn dành cho dân Thiên Chúa. Toàn bộ hành trình cứu độ có một hướng nghỉ ngơi ấy: không phải hư vô, nhưng viên mãn. Không phải bất động, nhưng sự sống không còn bị đè bởi lao nhọc vô nghĩa. Vì thế mỗi Chúa Nhật là một lời tiên tri nhỏ về Nước Trời. Ta dừng để nhớ mình đang đi đâu. Nếu không, con người dễ sống như thể mục đích cuối cùng là làm thêm, kiếm thêm, xây thêm, có thêm. Rồi chết trong lúc vẫn còn một danh sách việc chưa xong. Chúa Nhật nói: mục đích của đời không phải hoàn tất mọi danh sách. Mục đích là vào sự hiệp thông với Thiên Chúa.
Điều này cũng giải thoát người Kitô hữu khỏi một cám dỗ đạo đức là muốn “làm việc cho Chúa” đến mức quên “ở với Chúa”. Hai chị em Mátta và Maria là một biểu tượng luôn cần được đọc lại. Đức Giêsu không khinh việc phục vụ của Mátta. Người đã nhận chính sự phục vụ ấy. Nhưng Người thấy Mátta “băn khoăn lo lắng nhiều chuyện”. Vấn đề không phải ở cái bếp mà ở trái tim bị phân tán. Maria ngồi nghe. Có những lúc việc thánh thiện nhất là ngồi. Có những lúc không tổ chức gì cả lại là một hành vi đức tin. Một giáo xứ không cần lúc nào cũng phát động. Một tu sĩ không cần lúc nào cũng tạo chương trình. Một gia đình không cần mỗi cuối tuần phải có kế hoạch. Khoảng trống cũng có thể là nơi ân sủng đi vào.
Có lẽ chúng ta cần can đảm phục hồi chữ “nhàn” theo nghĩa tốt. Không phải nhàn rỗi vô trách nhiệm, nhưng một khoảng tự do khỏi nhu cầu phải chứng minh mình hữu ích. Triết học cổ đã biết rằng đời sống chiêm niệm cần leisure. Truyền thống đan tu biết nhịp ora et labora, cầu nguyện và lao động. Nông nghiệp truyền thống cũng biết mùa nghỉ. Thân xác biết nhịp ngày và đêm. Phụng vụ biết mùa chay và mùa lễ, ngày thường và Chúa Nhật. Chỉ nền kinh tế hiện đại dường như muốn xóa hết nhịp. Cửa hàng mở mãi. Internet mở mãi. Tin tức chạy mãi. Thị trường toàn cầu chạy theo múi giờ. Máy chủ không ngủ. Thuật toán không ngủ. Nhưng con người không phải máy chủ. Người không ngủ đủ sẽ bệnh. Gia đình không có thời gian sẽ xa nhau. Đất không nghỉ sẽ bạc màu. Xã hội không dừng sẽ mất khả năng tự hỏi mình đang đi đâu.
Vì thế việc giữ Chúa Nhật hôm nay có thể trở thành một hành động phản văn hóa. Không phải phản văn hóa bằng sự hung hăng hay khép kín, nhưng bằng một nếp sống khác. Khi người Kitô hữu đi lễ, ăn chung, nghỉ, thăm người thân, đọc sách, chơi với con, chăm vườn, tắt bớt màn hình và từ chối biến mọi giờ thành giờ kiếm tiền, họ đang nói với thế giới rằng con người đáng giá hơn năng suất. Khi một chủ doanh nghiệp bảo vệ ngày nghỉ của nhân viên, người ấy thực hành học thuyết xã hội bằng một quyết định cụ thể. Khi một gia đình không mua sắm vô độ ngày Chúa Nhật, họ đang giảm bớt một phần cỗ máy buộc người khác phải làm. Khi một giáo xứ không nhồi đầy lịch Chúa Nhật, giáo xứ ấy đang làm chứng rằng Hội Thánh tin vào ân sủng chứ không chỉ tin vào hoạt động.
Tất nhiên phải tránh một kiểu lý tưởng hóa khiến người đang gặp khó khăn cảm thấy bị kết án. Có người phải làm Chúa Nhật vì nghề nghiệp. Có người làm hai việc mới đủ tiền thuê nhà. Có người là mẹ đơn thân không có ai thay phiên chăm con. Có người bán hàng nhỏ và cuối tuần là lúc duy nhất kiếm được. Có người chăm bệnh nhân quanh năm không có ngày nghỉ. Linh đạo Sabát trước hết phải đứng về phía những người ấy, không được dùng để trách họ. Câu hỏi không phải: “Tại sao anh không nghỉ?” mà còn phải là: “Tại sao xã hội không cho anh nghỉ?” Một Giáo hội nói về Chúa Nhật phải đồng thời nói về tiền lương công bằng, giờ làm hợp lý, quyền nghỉ, điều kiện lao động và trách nhiệm của người sử dụng lao động. Nếu không, ta biến một quà tặng thành gánh nặng mới đặt lên vai người nghèo.
Các cộng đoàn Kitô hữu có thể thực hành một cuộc xét mình rất cụ thể. Chúng ta có tôn trọng ngày nghỉ của nhân viên giáo xứ không? Người giữ nhà, người bảo vệ, người làm bếp, người phục vụ nhà xứ có ngày nghỉ thật không? Ta có đòi họ làm mọi ngày vì “việc nhà Chúa” không? Các linh mục có tôn trọng ngày nghỉ của nhau không? Các cộng đoàn tu có cho phép thành viên nghỉ mà không mang mặc cảm không? Các trưởng ban có gửi tin nhắn vào mọi giờ không? Các trường Công giáo có lấp kín cuối tuần của giáo viên và học sinh bằng sự kiện không? Các gia đình có biến Chúa Nhật thành ngày học thêm không? Những câu hỏi này đôi khi làm ta khó chịu vì chúng đụng vào thói quen lâu năm. Nhưng xét mình phải cụ thể mới có giá trị.
Một giáo xứ có thể bắt đầu bằng những quyết định rất đơn giản. Giới hạn số cuộc họp Chúa Nhật. Không họp khi không cần. Không để một cuộc họp kéo dài quá mức. Tôn trọng bữa cơm gia đình. Có một số Chúa Nhật trong năm tuyên bố là “Chúa Nhật gia đình”, không tổ chức sinh hoạt ngoài phụng vụ và những việc cần thiết. Khuyến khích các nhóm không nhắn tin việc chung vào giờ nghỉ. Sắp xếp cho nhân viên có ngày nghỉ luân phiên. Dạy thiếu nhi rằng đi lễ xong không phải chạy ngay vào một chương trình khác; còn có thời gian ở với cha mẹ. Tổ chức đôi khi một hoạt động nhẹ ngoài trời không mang tính thi đua, chỉ để gặp nhau, đi bộ, nhìn cây cỏ. Không cần biến mọi điều thành chiến dịch. Chính sự giản dị là bài học.
Gia đình cũng có thể tạo một “Sabát nhỏ” trong Chúa Nhật. Sau Thánh lễ, có thể đặt điện thoại vào một chỗ trong một hoặc hai giờ. Nấu một bữa ăn đơn giản. Mời mỗi người kể điều biết ơn trong tuần. Nghỉ trưa. Đi bộ. Thăm ông bà. Không mua gì nếu không cần. Không mở email công việc. Không bàn toàn chuyện thành tích học tập. Không biến ngày nghỉ thành ngày sửa lỗi nhau. Để trong nhà có tiếng cười. Có thể đọc chung một đoạn Tin Mừng chiều tối và kết thúc ngày bằng một lời tạ ơn. Không cần những nghi thức phức tạp. Điều quan trọng là tạo một cảm giác rằng ngày này khác.
Người sống một mình cũng cần Chúa Nhật. Đôi khi nói đến “ngày gia đình” khiến người độc thân, góa bụa hay sống xa nhà cảm thấy bị bỏ ra ngoài. Nhưng Chúa Nhật thuộc về toàn thể dân Chúa. Người sống một mình có thể biến ngày ấy thành thời gian phụng vụ, nghỉ ngơi, tình bạn, thăm viếng và chiêm ngắm. Giáo xứ cũng phải có khả năng tạo hiệp thông mà không biến nó thành lịch hoạt động dày. Một bữa cơm chung thỉnh thoảng cho người sống một mình có thể mang tinh thần Chúa Nhật hơn ba cuộc họp. Một nhóm bạn rủ nhau đi bộ sau lễ có thể là một hình thức hiệp thông. Một lần thăm người già cô đơn có thể làm ngày Chúa Nhật trở nên trọn vẹn cho cả người thăm lẫn người được thăm.
Chúa Nhật còn dạy ta nghỉ khỏi chính mình. Sáu ngày ta bận với kế hoạch, nỗi lo, danh tiếng, thành bại. Ngày Chúa Nhật có thể là lúc đặt cái tôi xuống. Không phải hôm nay tôi đạt gì, mà hôm nay Chúa đã làm gì. Không phải tôi kiểm soát được bao nhiêu, mà tôi nhận được bao nhiêu. Không phải thế giới cần tôi thế nào, mà tôi cần lòng thương xót thế nào. Trong Thánh lễ, ta đứng giữa cộng đoàn, không phải trung tâm. Ta nghe cùng một Lời như mọi người. Ta nhận cùng một Bánh. Người giàu không có Thánh Thể tốt hơn người nghèo. Người bận rộn không được phần lớn hơn người thất nghiệp. Người có chức vụ không có Đức Kitô khác. Chúa Nhật san bằng nhiều ảo tưởng.
Từ đó ta hiểu tại sao giới hạn có thể là thánh. Trong tư duy thông thường, giới hạn là cái làm ta khó chịu. Ta muốn thêm thời gian, thêm sức, thêm tiền, thêm quyền, thêm đất, thêm sản lượng. Nhưng một số giới hạn cứu ta. Bờ giữ dòng sông. Da giữ thân thể. Nhịp tim cần khoảng nghỉ giữa hai nhịp. Âm nhạc cần khoảng lặng. Ngôn ngữ cần dấu chấm. Ruộng cần bờ. Biển cần bãi bồi. Gia đình cần cánh cửa đóng lại với công việc. Linh hồn cần ngày không bị xâu xé bởi yêu cầu bên ngoài. Giới hạn không luôn là kẻ thù của tự do. Nhiều khi chính giới hạn tạo ra tự do.
Có thể nói ngày Chúa Nhật là một dấu chấm thánh trong câu văn của tuần lễ. Một câu không có dấu chấm sẽ thành hỗn loạn. Một tuần không có ngày nghỉ cũng vậy. Một đời không có khả năng dừng cuối cùng sẽ không còn biết mình đang viết câu gì. Chúa Nhật đặt dấu chấm để ta đọc lại. Tuần qua tôi đã sống thế nào? Tôi đã đối xử với người khác ra sao? Tôi đã làm việc quá mức chưa? Tôi đã bắt người khác làm quá mức chưa? Tôi đã dùng đất, nước, điện, thức ăn thế nào? Tôi đã để công việc chiếm hết cầu nguyện chưa? Tôi có mặt thật với gia đình không? Tôi có nhớ mình là thụ tạo không? Rồi từ sự dừng ấy, tuần mới bắt đầu trong một trật tự khác.
Ngày thứ nhất và ngày thứ tám là hai cách truyền thống Kitô giáo nói về Chúa Nhật. Ngày thứ nhất vì Đức Kitô sống lại mở đầu tạo dựng mới. Ngày thứ tám vì nó vượt chu kỳ bảy ngày, tượng trưng cho thời đại vĩnh cửu. Điều này mang một chiều sâu lớn cho sinh thái Kitô giáo. Ta không bảo vệ tạo thành chỉ vì sợ mất tiện nghi. Ta bảo vệ vì tạo thành có một vận mệnh trong kế hoạch Thiên Chúa. Ta không tôn thờ trái đất như tuyệt đối, nhưng cũng không coi nó như vật dùng rồi bỏ. Chúa Nhật đặt thế giới vào ánh sáng phục sinh. Ta biết thế giới hiện tại sẽ được biến đổi, nhưng chính vì thế ta càng không được xúc phạm nó. Thân xác sẽ sống lại nên ta chăm thân xác. Tạo thành chờ được giải thoát nên ta không được biến nó thành bãi rác.
Có người sẽ nói: những chuyện ấy lớn quá, một ngày Chúa Nhật có thay đổi được gì? Nhưng Kinh Thánh luôn giáo dục con người bằng nhịp sống cụ thể. Đức tin không chỉ là ý tưởng đúng trong đầu. Nó đi vào lịch. Có ngày lễ, mùa chay, năm phụng vụ, giờ cầu nguyện, bữa ăn, tuần lễ. Sabát là một cấu trúc thời gian để khắc một chân lý vào thân xác: ngươi không phải nô lệ. Đất không phải nô lệ. Người khác không phải nô lệ. Ngươi không phải Thiên Chúa. Ngươi được phép dừng. Ngươi phải cho người khác dừng. Chính bằng việc lặp lại mỗi tuần, chân lý ấy mới đi từ sách vở xuống nếp sống.
Nếu một thế hệ trẻ lớn lên chỉ biết Chúa Nhật là “ngày đi lễ rồi đi học thêm”, ta đã truyền đạt thiếu. Nếu họ thấy cha mẹ đi lễ nhưng sau đó cả ngày dán vào điện thoại công việc, họ sẽ khó hiểu ngày thánh khác ngày thường ở đâu. Nếu họ thấy giáo xứ Chúa Nhật nào cũng kín lịch, họ có thể lớn lên với ý tưởng rằng phục vụ Chúa đồng nghĩa với luôn bận. Cần dạy thế hệ trẻ khả năng nghỉ như một kỹ năng thiêng liêng. Một đứa trẻ biết ngồi yên, chơi tự do, ở ngoài trời, trò chuyện với người lớn, đọc sách không vì điểm số, cầu nguyện không vì bài tập sẽ có một nội tâm khác. Đó cũng là giáo dục sinh thái, vì người không biết ở yên rất dễ trở thành người phải tiêu thụ liên tục để tránh đối diện với khoảng trống.
Ngày Chúa Nhật cũng là cơ hội để tái lập tương quan với thân xác. Người hiện đại vừa thần tượng thân xác vừa ngược đãi thân xác. Ta chăm ngoại hình nhưng thiếu ngủ. Ta tập thể dục nhưng ăn vội. Ta mua thực phẩm bổ sung nhưng làm việc đến kiệt. Ta theo dõi mọi chỉ số sức khỏe bằng đồng hồ nhưng không cho thân xác một ngày thật sự chậm. Linh đạo tạo thành bắt đầu bằng việc nhớ thân xác là thụ tạo. Nó không phải một bộ máy tùy ý. Nó có nhịp. Nó có giới hạn. Ngủ đủ, ăn chậm, đi bộ, thở sâu, ngồi ngoài trời có thể là những hành vi rất thiêng liêng khi chúng được sống trong lòng biết ơn.
Trong xã hội nông nghiệp xưa, ngày nghỉ cũng có nghĩa cho trâu bò nghỉ, cho dụng cụ nằm yên, cho đồng ruộng không bị động tới. Hôm nay hình ảnh khác, nhưng nguyên tắc còn nguyên. Có thể Chúa Nhật là ngày xe ít chạy hơn. Máy lạnh dùng ít hơn nếu thời tiết cho phép. Mua sắm ít hơn. Giao hàng ít hơn. Thiết bị ít sáng hơn. Không phải để biến ngày Chúa Nhật thành một chiến dịch tiết kiệm điện, nhưng để nhịp nghỉ lan từ linh hồn đến cách ta sử dụng vật chất. Một linh đạo chỉ nói trong nhà thờ mà không đi vào điện, nước, xăng, đồ ăn và rác vẫn chưa trọn.
Dĩ nhiên Thánh Thể vẫn là trung tâm. Không có Thánh Thể, Chúa Nhật Kitô giáo mất tim. Nhưng chính vì Thánh Thể là trung tâm nên phần còn lại của ngày phải mang âm hưởng Thánh Thể. Ta đã tạ ơn thì sống biết ơn. Ta đã nhận bánh thì không phung phí lương thực. Ta đã gọi nhau là anh chị em thì không bắt người khác lao động vô giới hạn cho nhu cầu của mình. Ta đã nghe “bình an của Chúa ở cùng anh chị em” thì về nhà không tạo bão vì những chuyện nhỏ. Ta đã nghe “lễ xong, chúc anh chị em đi bình an” thì phải thật sự đi vào bình an, chứ không đi vào một cuộc chạy đua khác.
Có lẽ một trong những cải cách nhỏ nhưng sâu mà nhiều cộng đoàn có thể làm là trả lại vẻ chậm cho Chúa Nhật. Phụng vụ không cần vội như lịch bay. Người phục vụ không cần chạy từ việc này sang việc kia. Không phải sau lễ nào cũng cần thông báo mười lăm phút. Không phải lễ nào cũng gắn thêm một cuộc vận động. Không phải cộng đoàn chỉ có giá trị khi có chương trình. Có những Chúa Nhật chỉ cần phụng vụ đẹp, một bài giảng đủ sâu, một khoảng chào nhau tử tế rồi mọi người về. Đừng sợ sự đơn sơ. Ân sủng không lệ thuộc số sự kiện.
Giáo xứ cũng cần tự hỏi liệu cơ sở của mình có Sabát không. Sân nhà thờ có lúc được yên không? Hệ thống âm thanh có lúc tắt không? Các phòng họp có lúc trống không? Đất của giáo xứ có cây, có bóng, có nơi người già ngồi, trẻ con chơi, hay mọi mét vuông đều phải biến thành bãi xe, công trình, hàng quán và nơi sinh hoạt? Một không gian tôn giáo bị tối ưu hóa đến từng mét vuông cũng có thể mang cùng logic kỹ trị với thành phố. Đôi khi một gốc cây không “phục vụ chương trình” nào lại phục vụ linh đạo nhiều hơn một phòng họp nữa.
Nhìn rộng ra, xã hội cũng cần những không gian Sabát: công viên, rừng bảo tồn, bờ sông, khu sinh thái, ngày cấm khai thác, mùa cấm đánh bắt, giờ yên tĩnh. Luật pháp tốt nhiều khi chính là cách cộng đồng đặt giới hạn nơi cá nhân hay doanh nghiệp không tự đặt được. Không thể chỉ kêu gọi lòng tốt của từng người nếu cấu trúc thưởng cho việc khai thác tối đa. Sabát trong Kinh Thánh không chỉ là lời khuyên đạo đức tư. Nó là điều răn xã hội. Chủ đất không được muốn cho đầy tớ nghỉ hay không tùy hứng. Đất có năm nghỉ. Nợ có lúc được xóa. Cộng đồng phải có những ranh giới bảo vệ sự sống.
Điều ấy rất gần với nguyên tắc công ích. Quyền sở hữu không phải quyền dùng mọi thứ đến kiệt. Quyền kinh doanh không phải quyền lấy toàn bộ thời gian của người lao động. Quyền phát triển không phải quyền bê tông hóa mọi khoảng trống. Quyền du lịch không phải quyền giẫm nát nơi mình đến. Quyền sử dụng công nghệ không phải quyền đòi người khác luôn trực tuyến. Mọi quyền cần giới hạn bởi thiện ích lớn hơn. Sabát nhắc ta rằng xã hội lành mạnh không chỉ được đo bởi tốc độ tăng trưởng mà còn bởi khả năng nghỉ của người yếu nhất.
Có một câu hỏi rất cụ thể để xét chất lượng của một xã hội: người nghèo có được nghỉ không? Người giàu thường có thể mua thời gian. Họ thuê người nấu, người dọn, người lái xe, người chăm con. Người nghèo nhiều khi phải bán thời gian của mình. Bán cả buổi tối, cuối tuần, ngày lễ. Nếu một xã hội có rất nhiều dịch vụ tiện lợi nhưng mọi tiện lợi ấy dựa trên một tầng lớp người không bao giờ được nghỉ, ta phải đặt câu hỏi luân lý. Giao hàng trong mười phút là tiện cho ai và áp lực cho ai? Cửa hàng mở xuyên lễ thuận tiện cho ai và lấy mất Chúa Nhật của ai? Không phải mọi dịch vụ phải biến mất, nhưng người Kitô hữu cần tập nhìn xuyên qua sự tiện lợi tới con người.
Sabát còn là kháng từ chống lại tham vọng tích lũy. Trong năm Sabát và năm toàn xá, trật tự sở hữu được giới hạn. Điều ấy nhắc rằng tiền bạc không được quyền tích lũy vô tận trong tay một số người trong khi người khác mất đất, mất tự do và mất tương lai. Một nền kinh tế không biết đủ cũng giống một người không biết nghỉ. Nó phải tăng mãi vì không biết thế nào là đủ. Nhưng trái đất hữu hạn không thể phục vụ một lòng tham vô hạn. Chúa Nhật dạy chữ “đủ” bằng một cách rất đơn giản: hôm nay không cần kiếm thêm. Hôm nay có thể dừng. Hôm nay bánh đủ ăn, nhà đủ ở, người thân đủ để yêu, Chúa đủ để thờ.
Trong chiều sâu thiêng liêng, đây là cuộc chiến với sợ hãi. Ta làm quá nhiều vì sợ thiếu. Ta tích lũy vì sợ ngày mai. Ta kiểm soát vì sợ bất trắc. Ta không nghỉ vì sợ mất cơ hội. Sabát đòi đức tin: ngày mai vẫn có manna. Israel trong sa mạc phải học không tích manna vô độ. Trước ngày Sabát họ được thu đủ cho ngày nghỉ. Bài học là Thiên Chúa có thể nuôi dân ngay cả khi họ không đi nhặt. Dĩ nhiên người Kitô hữu không được lười hay vô trách nhiệm; nhưng có một ranh giới giữa lo xa khôn ngoan và sợ hãi khiến đời sống trở thành tích trữ.
Trong thời khủng hoảng sinh thái, học lại chữ “đủ” là một việc rất quan trọng. Bao nhiêu điện là đủ? Bao nhiêu quần áo là đủ? Bao nhiêu không gian sống là đủ? Bao nhiêu chuyến đi là đủ? Bao nhiêu thiết bị là đủ? Bao nhiêu thức ăn trong một bữa tiệc là đủ? Sabát không đưa ra con số nhưng tạo ra khả năng tâm linh để hỏi. Người không bao giờ dừng sẽ không bao giờ biết đủ. Vì chỉ khi dừng ta mới nhìn lại mình đã có gì.
Chúa Nhật vì thế không phải một món đồ cổ của xã hội nông nghiệp. Nó có thể là một trong những thực hành tiên tri nhất cho thế kỷ kỹ thuật số và khủng hoảng sinh thái. Một thế giới chạy không ngừng cần những người biết dừng. Một nền kinh tế nói “thêm nữa” cần những người có thể nói “đủ rồi”. Một nền văn hóa đo người bằng hiệu suất cần những cộng đoàn tuyên bố phẩm giá có trước thành tích. Một trái đất bị khai thác không nghỉ cần một nhân loại biết rằng đất cũng có Sabát.
Và có lẽ điểm cuối cùng quan trọng nhất là: nghỉ không chỉ là giới hạn tiêu cực. Nghỉ mở ra chiêm ngắm. Nếu ta chỉ dừng làm để ngồi lo về việc chưa làm, đó chưa phải Sabát. Nếu ta chỉ đóng máy tính để mở điện thoại và tiêu thụ hình ảnh suốt ngày, chưa chắc đã là nghỉ. Sabát đưa ta từ làm sang hiện diện. Hiện diện trước Thiên Chúa. Hiện diện với mình. Hiện diện với người khác. Hiện diện với tạo thành. Đây chính là bốn mối tương quan xuyên suốt linh đạo sinh thái. Khi ta nghỉ thật, ta có thể nghe lại tiếng lòng. Có thể nhìn người bên cạnh. Có thể nhận ra một cái cây ngoài cửa đã ra lá mới. Có thể thấy mẹ mình già thêm. Có thể nhận ra con mình đang cần nói chuyện. Có thể nghe Lời Chúa không bị chen giữa mười thông báo. Có thể nhớ rằng thế giới là quà tặng.
Ngày Sabát trong Sáng Thế kết thúc công trình tạo dựng, nhưng cũng cho công trình ấy ý nghĩa. Nếu chỉ có sáu ngày làm mà không có ngày thứ bảy, tạo thành dễ bị hiểu như một dự án. Ngày thứ bảy cho thấy tạo thành hướng tới hiệp thông. Con người không chỉ được dựng để “canh tác và gìn giữ”, nhưng còn để bước đi với Thiên Chúa. Đất không chỉ cho mùa màng, nhưng còn cho vẻ đẹp. Thân xác không chỉ lao động, nhưng còn quỳ gối, ôm nhau, hát, ngủ, dự tiệc.
Chúa Nhật của người Kitô hữu đưa chân lý ấy qua thập giá và phục sinh. Ta nghỉ không phải vì đời không có đau khổ, nhưng vì Đức Kitô đã chiến thắng sự chết. Ta dừng không phải vì mọi việc đã xong, nhưng vì công trình cứu độ căn bản đã được thực hiện bởi Đấng khác. Trên thập giá, Đức Giêsu nói: “Mọi sự đã hoàn tất.” Kitô hữu không cứu thế giới bằng cách tự làm mình kiệt sức. Ta cộng tác. Ta phục vụ. Ta lao động. Ta bảo vệ. Nhưng Đấng Cứu Thế không phải là ta.
Điều ấy giải thoát cả hoạt động sinh thái khỏi hoảng loạn. Ta cần hành động khẩn cấp trước nhiều khủng hoảng thật. Nhưng nếu mọi hoạt động được thúc đẩy chỉ bởi sợ hãi, ta sẽ sớm kiệt sức hoặc trở nên cay độc. Chúa Nhật đưa hoạt động về đức tin. Trái đất là của Chúa. Ta phải chăm sóc nó hết lòng, nhưng không phải như người nghĩ mình một mình gánh vũ trụ. Ta làm phần mình rồi biết nghỉ trong Thiên Chúa.
Một Hội Thánh biết sống Chúa Nhật đúng nghĩa sẽ làm chứng rất mạnh giữa thời đại này. Không phải bằng một bài diễn văn sinh thái mỗi tuần, nhưng bằng nhịp sống. Nhà thờ cử hành Thánh Thể sốt sắng. Giáo dân có thời gian với gia đình. Nhân viên được nghỉ. Các hội đoàn không lấp mọi khoảng trống. Trẻ em có lúc chơi. Người già có chỗ ngồi. Đất giáo xứ có cây và khoảng thở. Tin nhắn dừng lại. Tiếng máy nhỏ xuống. Bữa cơm kéo dài hơn. Người ta biết thăm nhau. Biết ngủ. Biết cầu nguyện. Biết nhìn trời.
Khi ấy Chúa Nhật thật sự trở thành một giới hạn thánh. Nó ngăn công việc trở thành thần. Ngăn thị trường trở thành thần. Ngăn kỹ thuật trở thành thần. Ngăn cả hoạt động mục vụ trở thành thần. Nó trả mọi sự về chỗ đúng: công việc là tốt nhưng không tuyệt đối; tiền bạc là cần nhưng không tối hậu; kỹ thuật là hữu ích nhưng không cứu độ; mục vụ là cần nhưng không thay thế Thiên Chúa; đất là quà tặng nhưng không phải vật vô hạn; con người có phẩm giá nhưng vẫn là thụ tạo.
Ngày thứ bảy, Thiên Chúa nghỉ. Ngày thứ nhất, Đức Kitô sống lại. Giữa hai mầu nhiệm ấy, người Kitô hữu học một nhịp sống rất khác với thế giới không biết dừng: làm việc nhưng không thờ công việc; sử dụng nhưng không khai thác đến cạn; phục vụ nhưng không chiếm chỗ Đấng Cứu Thế; nghỉ nhưng không ích kỷ; vui nhưng không tiêu thụ vô độ; chiêm ngắm mà không thần thánh hóa thiên nhiên; yêu trái đất vì yêu Đấng đã dựng nên nó và sẽ đổi mới muôn loài trong Đức Kitô.
Có lẽ một trong những câu xét mình đơn giản nhất cho Chúa Nhật là: hôm nay có điều gì được nghỉ nhờ tôi không? Thân xác tôi có được nghỉ không? Người trong nhà có được nghỉ không? Nhân viên của tôi có được nghỉ không? Điện thoại có được nghỉ không? Chiếc xe có được nghỉ không? Đất có được nghỉ khỏi tay tôi không? Người khác có được nghỉ khỏi những đòi hỏi của tôi không? Và sâu nhất: tôi có nghỉ khỏi ảo tưởng rằng mọi sự tùy thuộc vào tôi không?
Nếu câu trả lời dần dần là có, thì Chúa Nhật đang trở lại đúng chỗ. Nó không còn chỉ là một ô trên lịch, cũng không chỉ là một nghĩa vụ phải hoàn tất. Nó trở thành trường học của tự do, của giới hạn, của công bằng, của sinh thái và của đức tin. Nó dạy ta rằng một thế giới tốt đẹp không phải là thế giới chạy nhanh nhất, sản xuất nhiều nhất hay hoạt động nhiều nhất, nhưng là thế giới biết khi nào phải làm và khi nào phải dừng; biết khi nào cày đất và khi nào để đất nghỉ; biết khi nào phục vụ và khi nào ngồi dưới chân Chúa; biết khi nào nói và khi nào thinh lặng; biết khi nào giữ và khi nào buông.
Giữ ngày Chúa Nhật vì thế cũng là giữ một phần ký ức về trật tự nguyên thủy. Trong vườn tạo thành, con người không được dựng để chạy đến kiệt sức. Đất không được dựng để bị hút cạn. Thời gian không được dựng để biến hoàn toàn thành tiền. Có một ngày trong bảy ngày mà tạo thành được mời trở về với Đấng Tạo Hóa. Có một ngày người nô lệ được nói: hôm nay anh không phải nô lệ. Có một ngày người chủ được nói: hôm nay anh không phải chủ tuyệt đối. Có một ngày đất được nói: hôm nay ngươi không phải sản xuất. Có một ngày con người được nói: hôm nay ngươi chỉ cần nhớ rằng ngươi là con.
Và chính trong sự nhớ ấy, ta bắt đầu được chữa lành.

CHƯƠNG 37. GIÁO DỤC CHIÊM NGẮM CHO TRẺ EM VÀ NGƯỜI TRẺ
Một trong những thiếu sót âm thầm nhưng rất sâu của việc giáo dục đức tin hôm nay là chúng ta thường dạy trẻ em và người trẻ rất nhiều điều về Thiên Chúa nhưng lại không giúp chúng học cách nhìn thế giới như một thụ tạo của Thiên Chúa. Các em có thể thuộc kinh, biết các điều răn, nhớ những câu giáo lý, tham dự Thánh lễ, học lịch sử cứu độ, biết tên các bí tích, biết phải làm điều lành và tránh điều dữ, nhưng vẫn có thể lớn lên mà gần như không có một cảm thức thiêng liêng nào về đất dưới chân, nước mình uống, cây mình đi ngang mỗi ngày, con vật sống bên cạnh, cánh đồng nuôi mình, dòng sông đi qua quê mình, mùa mưa mùa nắng, bầu trời đêm, hạt gạo trên bàn ăn hay hơi thở đang đi vào phổi. Một nền giáo dục đức tin như thế có thể tạo ra những tín hữu biết nhiều điều về đạo nhưng không biết mình là thụ tạo. Và khi con người quên mình là thụ tạo, họ rất dễ tưởng rằng mình là chủ nhân tuyệt đối của thế giới. Họ có thể vẫn đọc Kinh Tin Kính tuyên xưng “Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất”, nhưng câu ấy không chạm đến cách họ dùng nước, cách họ đối xử với thú vật, cách họ ăn uống, cách họ mua sắm, cách họ nhìn một cánh rừng bị chặt hay cách họ đứng trước một con sông đang chết. Giáo dục chiêm ngắm vì thế không phải một môn phụ thêm cho đẹp chương trình giáo lý. Nó liên quan đến chính cách một Kitô hữu học đứng trước Đấng Tạo Hóa và trước công trình tay Người.
Trẻ em cần được cho sờ đất trước khi chỉ được xem phim về đất. Câu này nghe rất đơn sơ nhưng chứa một nguyên tắc giáo dục rất quan trọng. Con người không bước vào thế giới trước hết bằng khái niệm. Con người bước vào thế giới bằng thân xác. Một đứa trẻ biết nước bằng cách uống, biết mưa bằng cách bị ướt, biết cây bằng cách sờ vỏ cây, biết cát bằng cách cầm trong tay, biết gió bằng cách cảm thấy nó trên mặt. Trước khi trẻ học định nghĩa “hệ sinh thái”, nó đã sống trong một hệ sinh thái. Trước khi trẻ học chữ “tạo thành”, nó đã thở không khí của tạo thành. Trước khi trẻ học câu “Thiên Chúa dựng nên trời đất”, nó đã nhìn trời và bước trên đất. Giáo dục khôn ngoan không đi vòng qua những kinh nghiệm nguyên thủy ấy. Nó bắt đầu từ đó và dẫn chúng tới chiều sâu. Một đứa trẻ được dẫn ra vườn, được tự tay gieo một hạt đậu, mỗi ngày nhìn đất mà chưa thấy gì, vài hôm sau thấy mầm nhú lên, rồi thấy lá mở ra, sẽ hiểu chữ “chờ đợi” theo một cách mà một bài giảng dài khó thay thế. Trẻ ấy sẽ khám phá rằng sự sống không lập tức vâng lệnh mình. Nó không mọc nhanh chỉ vì mình sốt ruột. Nó cần nước nhưng không cần quá nhiều nước. Nó cần ánh sáng. Nó có nhịp riêng. Nó có giới hạn. Chính những kinh nghiệm nhỏ như thế đang âm thầm dạy trẻ về sự khiêm nhường, kiên nhẫn, trách nhiệm và giới hạn của quyền lực con người.
Trong một nền văn hóa ngày càng qua trung gian màn hình, việc cho trẻ chạm trực tiếp vào thế giới càng trở nên quan trọng. Chưa bao giờ trẻ em có thể xem nhiều hình ảnh động vật như hôm nay. Chỉ vài phút trên mạng, một em nhỏ có thể nhìn thấy sư tử châu Phi, gấu Bắc Cực, cá voi giữa đại dương, chim trong rừng Amazon, san hô dưới biển sâu. Nhưng paradox của thời đại là trẻ có thể biết hàng trăm loài qua video mà không biết tên ba loại cây trước cửa nhà mình. Các em có thể xem những phim tuyệt đẹp về thiên nhiên nhưng không biết mùa nào cây xoài quê mình ra bông, không biết tiếng chim nào thường kêu sáng sớm, không biết dòng kênh gần nhà chảy về đâu, không biết người nông dân phải làm gì trước khi hạt gạo thành cơm. Kiến thức toàn cầu rất quý. Không có lý do gì để khước từ. Nhưng kiến thức không có gốc địa phương dễ trở thành một thứ tiêu thụ hình ảnh. Ta xúc động trước một chú gấu Bắc Cực trên màn hình nhưng bước qua một con chó bị hành hạ mà không thấy gì. Ta chia sẻ một video bảo vệ rừng Amazon nhưng không biết con kênh cạnh nhà đang đầy rác. Ta thương cá voi mắc lưới nhưng có thể coi việc ném túi nylon xuống đường là chuyện không đáng kể. Giáo dục chiêm ngắm phải nối cái xa với cái gần, kiến thức toàn cầu với lòng trung thành địa phương, khoa học với tình yêu cụ thể.
Dạy trẻ đặt tên cây, cá, sông quê là một công việc đẹp và sâu hơn nhiều so với vẻ bề ngoài của nó. Trong Kinh Thánh, việc đặt tên không chỉ là thao tác phân loại. Tên nói tới quan hệ. Khi một người biết tên một điều gì, điều ấy không còn hoàn toàn vô danh đối với họ nữa. Đứa trẻ biết “đây là cây me”, “đây là cây sao”, “đây là cây bần”, “đây là cá rô”, “đây là cá lóc”, “đây là con sông này”, “đây là con rạch kia” sẽ dần có một bản đồ tình cảm với quê hương. Điều nó có tên thì khó bị đối xử như vật vô nghĩa. Một con sông chỉ được gọi là “nguồn nước” có thể dễ bị nhìn như một khối tài nguyên. Nhưng con sông gắn với tên làng, với tuổi thơ, với những chuyến đò, với ruộng đồng, với ký ức của ông bà, với nước tưới và những bữa cá quê nhà, sẽ bước vào tâm hồn theo một cách khác. Một cây cổ thụ chỉ còn được nhìn như số mét khối gỗ rất dễ bị chặt. Nhưng nếu trẻ biết đó là cây gì, bao nhiêu mùa chim đã làm tổ ở đó, bao nhiêu người từng ngồi dưới bóng nó, cây ấy đã đứng đó trước cả ngày em sinh ra, thì cái nhìn lập tức được đổi khác. Kiến thức đúng làm nảy sinh trách nhiệm khi kiến thức ấy đi qua tình cảm và ký ức.
Cha mẹ và người dạy giáo lý vì thế có thể làm một điều rất đơn giản: giúp trẻ biết quê mình. Không phải bằng chủ nghĩa lãng mạn quê hương nhưng bằng một sự chú ý cụ thể. Quê em có loại cây nào? Đất ở đây là đất gì? Mùa mưa đến tháng nào? Nước uống từ đâu tới? Rác sau khi xe chở đi thì đi đâu? Cá ở chợ được đánh bắt từ sông hay nuôi trong ao? Hạt gạo từ ruộng tới bếp qua những bàn tay nào? Cơn triều cường liên quan gì tới mặt trăng và dòng sông? Những câu hỏi ấy có thể nghe như môn tự nhiên hay địa lý, nhưng nếu được đặt trong ánh sáng đức tin, chúng trở thành một thứ giáo lý về thụ tạo. Đứa trẻ dần hiểu rằng mình không rơi từ trời xuống một cách tách biệt. Đời mình nằm trong một mạng lưới nhận lãnh. Có đất nâng chân. Có nước đi vào máu. Có cây làm ra dưỡng khí. Có người trồng lúa. Có người đánh cá. Có người dọn rác. Có thế hệ trước giữ lại những gì mình đang hưởng. Có Thiên Chúa ở nguồn của mọi quà tặng ấy. Khi trẻ hiểu đời mình là nhận lãnh, lòng biết ơn trở nên tự nhiên hơn. Khi một người không biết mình nhận từ đâu, người ấy rất dễ sống như thể mọi sự đương nhiên thuộc về mình.
Bữa ăn là một trường giáo dục tạo thành tuyệt vời và quá thường bị bỏ qua. Dạy trẻ tạ ơn bữa ăn không chỉ là bảo trẻ đọc một kinh thật nhanh trước khi ăn. Kinh nguyện ấy có thể trở thành cửa mở vào cả một linh đạo. Một chén cơm không chỉ là carbohydrate. Nó là đất, nước, nắng, giống, người gieo, người cấy, người gặt, người phơi, người xay, người vận chuyển, người bán, người nấu. Một miếng cá không chỉ là món ăn. Nó mang theo sông nước hoặc biển cả, người nuôi hoặc người đánh bắt, nhiên liệu, công lao và cả câu hỏi về cách con người sử dụng nguồn lợi thiên nhiên. Một trái cây mang trong nó tháng ngày sinh trưởng. Khi trẻ được giúp nhìn bữa ăn bằng con mắt ấy, lời “Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa” không còn là câu mở đầu cho một bữa ăn mà trở thành nhận thức rằng đời sống luôn được nuôi bởi món quà của người khác và của tạo thành. Và từ lòng biết ơn ấy sẽ sinh ra một thái độ rất cụ thể: không phung phí thức ăn. Không lấy đầy đĩa rồi bỏ. Không chê một cách vô ơn. Không coi đồ ăn là thứ vô tận. Không khinh người lao động làm ra nó.
Có những gia đình dạy con không để thừa một hạt cơm bởi “hạt gạo là hạt ngọc trời”. Ngôn ngữ dân gian ấy chứa một trực giác rất gần với linh đạo tạo thành. Không phải vì một hạt cơm có giá kinh tế lớn, nhưng vì nó là kết quả của một chuỗi quà tặng. Ngày nay, trẻ em thành thị có thể mất cảm thức ấy rất nhanh. Thức ăn xuất hiện trong siêu thị, trong hộp nhựa, trên ứng dụng giao hàng. Giữa người ăn và đất có rất nhiều lớp trung gian. Vì thế, giáo dục chiêm ngắm có nhiệm vụ làm lộ ra những mối liên hệ bị che khuất. Đưa trẻ đi thăm một ruộng lúa, một vườn rau, một trang trại nhỏ, một chợ cá, nếu điều kiện cho phép, có thể là một giờ giáo lý mạnh hơn nhiều bài nói về biết ơn. Không phải vì giáo lý bằng lời không cần thiết, nhưng vì lời khi nối với kinh nghiệm sẽ cắm rễ.
Giáo dục trẻ không hành hạ thú vật cũng không phải một đề mục đạo đức nhỏ. Cách một đứa trẻ đối xử với sinh vật yếu hơn mình là một dấu chỉ nghiêm túc về việc lương tâm của nó đang được hình thành thế nào. Trẻ nhỏ có thể tò mò. Có lúc chúng bóp một con côn trùng, ném đá vào con chó, bắt con chim hay kéo đuôi con mèo mà chưa ý thức đầy đủ về đau đớn của sinh vật. Chính lúc đó người lớn phải giáo dục, không bằng sự hoảng hốt hay kết án nặng nề, nhưng bằng cách giúp trẻ học nhận ra rằng con vật không phải đồ chơi không cảm giác. Nó biết đau. Nó biết sợ. Nó có cách sống của nó. Nó cũng được Thiên Chúa gọi vào hiện hữu. Nó không có cùng phẩm giá ngôi vị như con người, nhưng điều đó không biến nó thành vật để con người tùy tiện hành hạ. Trẻ học lòng thương xót ở những điểm rất nhỏ như thế. Một em biết nhẹ tay với con vật nhỏ, biết cho con chó uống nước, biết không phá tổ chim vì vui, biết không bắt quá nhiều cá chỉ để giết rồi bỏ, đang học một thứ giới hạn luân lý của quyền lực.
Ở đây cần tránh cả hai cực đoan. Giáo dục Kitô giáo không dạy trẻ thần thánh hóa thú vật hay đặt thú vật ngang phẩm giá con người. Nhưng cũng không cho phép coi sinh vật như vật vô giá trị. Tạo thành có trật tự và sự khác biệt. Con người có vị trí đặc biệt. Chính vì có vị trí đặc biệt, con người có trách nhiệm đặc biệt. Quyền lực lớn hơn đòi lòng thương xót lớn hơn. Một đứa trẻ mạnh hơn một con vật nhỏ. Người lớn mạnh hơn trẻ em. Người giàu mạnh hơn người nghèo trong nhiều hoàn cảnh. Quốc gia mạnh có khả năng gây tác động hơn quốc gia yếu. Cách dùng sức mạnh là một bài học liên tục. Nếu từ nhỏ trẻ được dạy rằng “mạnh thì có quyền làm gì cũng được”, sau này rất khó dạy chúng về công lý. Nếu trẻ được dạy rằng sức mạnh phải bảo vệ sự sống yếu hơn, ta đang gieo một trực giác rất gần với cách Thiên Chúa dùng quyền năng.
Một yếu tố khác của giáo dục chiêm ngắm là dạy trẻ biết chậm. Đây có lẽ là một trong những điều khó nhất trong thời đại kỹ thuật số. Trẻ hôm nay được hình thành trong môi trường nơi hình ảnh đổi từng giây, âm thanh liên tục, thông báo liên tục, trò chơi thưởng liên tục, video ngắn liên tục, và sự chú ý luôn bị cạnh tranh. Một cái cây không hoạt động theo nhịp ấy. Mây không đổi cảnh theo yêu cầu. Một con kiến không cố làm trẻ vui. Một hạt giống không cung cấp kích thích tức thời. Bầu trời đêm không “tương tác”. Chính vì thế, thiên nhiên là một trường chữa lại sự chú ý. Nhưng người lớn không thể chỉ nói “con bỏ điện thoại xuống đi”. Cần giúp người trẻ khám phá rằng phía sau việc bỏ điện thoại có một thế giới đáng để nhìn.
Một đêm nhìn sao không điện thoại có thể trở thành một việc rất lớn trong giáo dục người trẻ. Không cần biến nó thành một buổi giảng đạo ngoài trời. Chỉ cần cho họ đủ thời gian. Đầu tiên có thể họ chán. Đó là bình thường. Người đã quen kích thích cao sẽ thấy cái chậm như trống rỗng. Nhưng sau một thời gian, mắt bắt đầu điều chỉnh với bóng tối. Những ngôi sao trước đó không thấy bắt đầu hiện ra. Tai nghe tiếng côn trùng. Gió trở nên rõ hơn. Khoảng cách của bầu trời làm cái tôi nhỏ lại. Người trẻ có thể lần đầu cảm thấy rằng thế giới không phải một màn hình họ điều khiển. Họ ở trong một thực tại lớn hơn mình. Đó là mảnh đất rất tốt cho đức tin. Không phải vì nhìn sao tự động đưa tới Thiên Chúa, nhưng vì nó có thể phá một ảo tưởng nguy hiểm: ảo tưởng rằng cái tôi là trung tâm của mọi sự.
Giáo dục chiêm ngắm cho người trẻ không thể chống khoa học. Trái lại, nó cần khoa học. Người trẻ cần được học về biến đổi khí hậu bằng dữ liệu nghiêm túc, không bằng khẩu hiệu. Họ cần biết nguyên nhân, mức độ, giới hạn của dự báo, sự phức tạp của hệ thống khí hậu, trách nhiệm không đồng đều giữa các xã hội, tác động đến người nghèo, nông nghiệp, nước, sức khỏe, di cư, biển và đa dạng sinh học. Họ cần hiểu rằng lòng yêu tạo thành không miễn chuẩn cho sự chính xác. Một linh đạo chống khoa học rất dễ trở thành cảm tính. Nhưng khoa học cũng không thể thay thế chiêm ngắm. Khoa học có thể cho biết một loài đang suy giảm bao nhiêu phần trăm; chiêm ngắm giúp ta đau vì thế giới trở nên nghèo đi. Khoa học cho biết nhiệt độ trung bình tăng; chiêm ngắm giúp ta hiểu điều ấy liên quan tới khuôn mặt cụ thể của một người nông dân mất mùa, một gia đình mất nhà vì nước, một đứa trẻ sống trong vùng thiếu nước. Khoa học cho dữ kiện. Lương tâm hỏi phải làm gì. Đức tin hỏi tôi đứng trước mặt Thiên Chúa thế nào khi biết những điều ấy.
Vì vậy, không nên đặt một đêm nhìn sao đối lập với một giờ học khí hậu. Người trẻ cần cả hai. Một bên cứu họ khỏi ngây thơ. Một bên cứu họ khỏi tuyệt vọng kỹ trị. Chỉ có khoa học mà thiếu chiêm ngắm, người trẻ có thể nhìn thế giới như một tập hợp vấn đề phải quản trị. Chỉ có xúc cảm thiên nhiên mà thiếu khoa học, họ có thể yêu một hình ảnh lãng mạn nhưng không hiểu những cơ chế đang làm tổn thương trái đất. Linh đạo Kitô giáo cần sự thật toàn vẹn: hiểu thế giới và yêu thế giới; đo lường điều có thể đo và cúi đầu trước điều không thể thu gọn thành con số; hành động bằng lý trí và tạ ơn bằng trái tim.
Một nguy hiểm thực tế trong giáo dục sinh thái là làm trẻ sợ. Nếu trẻ chỉ nghe về trái đất qua các từ “khủng hoảng”, “thảm họa”, “tuyệt chủng”, “nóng lên”, “nước biển dâng”, “ô nhiễm”, “hết tài nguyên”, chúng có thể lớn lên với một tương quan lo âu đối với thế giới. Trái đất trở thành một bệnh nhân hấp hối mà chúng bị giao nhiệm vụ cứu. Trách nhiệm như thế quá nặng cho một đứa trẻ. Có những điều trẻ cần biết theo tuổi. Có những sự thật không nên che giấu. Nhưng nền của giáo dục phải là tình yêu và ngạc nhiên trước khi là khủng hoảng. Một đứa trẻ cần được yêu một cái cây trước khi nghe rằng rừng bị mất. Nó cần vui với một dòng sông trước khi học về ô nhiễm nước. Nó cần thấy chim đẹp trước khi nghe về suy giảm đa dạng sinh học. Người ta bảo vệ tốt điều người ta đã học yêu.
Đây cũng là một nguyên tắc rất Kitô giáo. Sáng Thế không bắt đầu bằng tội. Kinh Thánh bắt đầu bằng sự tốt đẹp của tạo thành. “Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp.” Trước khi dạy trẻ về tội sinh thái, hãy dạy chúng về ân huệ tạo thành. Trước khi nói đất bị tổn thương, hãy cho chúng cảm thấy đất đáng quý. Trước khi nói thế giới cần được cứu khỏi những lựa chọn sai của con người, hãy giúp chúng biết thế giới là một quà tặng. Khi nền là biết ơn, trách nhiệm sẽ không mang khuôn mặt của hoảng loạn. Nó trở thành đáp lời một tình yêu.
Gia đình là trường đầu tiên của chiêm ngắm. Không cần một gia đình phải ở nông thôn hay có vườn lớn. Một căn hộ thành phố vẫn có thể dạy trẻ về tạo thành. Một chậu rau thơm ở cửa sổ có thể thành bài học. Một cơn mưa có thể được nhìn thay vì lập tức đóng mọi cửa và than phiền. Một trái cây có thể được cắt ra và cho trẻ xem hạt. Một tối mất điện có thể trở thành dịp nhìn trời. Một lần đi công viên có thể chậm lại thay vì chỉ chạy từ trò chơi này sang trò chơi khác. Cha mẹ có thể hỏi: “Con nghe thấy mấy loại tiếng chim?”, “Con thấy lá này khác lá kia ở đâu?”, “Tại sao đất sau mưa có mùi?”, “Con có thấy hôm nay trăng khác hôm qua không?” Không phải câu nào cũng cần đáp án. Một trong những điều người lớn cần học lại là không biến mọi quan sát thành bài kiểm tra. Chiêm ngắm không phải thi kiến thức. Đôi khi câu hỏi tốt chỉ để mở mắt.
Gia đình cũng dạy bằng cách dùng đồ vật. Trẻ nghe rất kỹ điều người lớn không nói. Nếu cha mẹ luôn thay đồ khi chưa hỏng, luôn mua để giải buồn, luôn để thức ăn thừa, luôn mở máy lạnh quá mức, luôn dùng nước như vô tận, luôn vứt rác tiện tay, rồi thỉnh thoảng dạy con “phải bảo vệ môi trường”, đứa trẻ sẽ học từ thực hành chứ không từ lời. Ngược lại, nếu trẻ thấy cha mẹ sửa một vật trước khi bỏ, mang theo bình nước, tắt điện khi ra khỏi phòng, không lấy thức ăn quá mức, dùng lại điều còn dùng được, không phải vì keo kiệt nhưng vì trân trọng, nó đang được giáo dục trong một lối sống. Giáo dục tạo thành không hiệu quả khi nó là chiến dịch theo mùa. Nó phải đi vào thói quen gia đình.
Giáo xứ là trường thứ hai. Giáo xứ không chỉ dạy trẻ yêu tạo thành bằng một ngày trồng cây. Trồng cây tốt. Nhưng nếu cả năm giáo xứ không bao giờ nói về tạo thành, rồi tới một ngày tổ chức hoạt động xanh chụp ảnh, chiều kích ấy dễ trở thành phong trào. Điều cần là đưa ý thức tạo thành vào dòng bình thường của đời sống đức tin. Trong lớp giáo lý về Sáng Thế, đừng chỉ hỏi Thiên Chúa tạo dựng thế giới trong mấy ngày theo cấu trúc văn chương của bản văn, mà hãy hỏi việc Thiên Chúa gọi tạo thành là tốt đẹp có nghĩa gì với cách chúng ta đối xử với nó. Khi dạy về bí tích Thánh Thể, hãy giúp trẻ thấy bánh và rượu là “hoa màu ruộng đất và công lao con người”. Khi dạy kinh Lạy Cha, hãy dừng ở “xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”: lương thực ấy đến từ đâu? Khi dạy điều răn thứ bảy, đừng chỉ nói không lấy đồ của người khác mà có thể mở rộng tới công ích, tài nguyên chung và thế hệ sau. Khi dạy về bác ái, hãy cho trẻ hiểu ô nhiễm nước hay không khí cuối cùng luôn chạm vào con người, và người nghèo thường chịu trước.
Các buổi sinh hoạt thiếu nhi và giới trẻ cũng có thể được đổi cách. Không phải sinh hoạt nào cũng cần âm thanh lớn. Không phải buổi họp nào cũng phải kín chương trình. Một nhóm thiếu nhi có thể dành mười phút ngồi yên trong sân nhà thờ, nghe và ghi lại những âm thanh chúng nghe. Một nhóm giới trẻ có thể đi bộ không điện thoại trong ba mươi phút. Một khóa hè có thể có một giờ chăm cây, nhặt rác, quan sát côn trùng, học tên loài địa phương. Một chuyến hành hương có thể dạy quy tắc không để lại rác. Một trại hè có thể có thời gian ngắm trời thay vì mọi phút đều phải trò chơi. Một buổi cầu nguyện có thể mở đầu bằng Thánh vịnh 104 hoặc Thánh vịnh 148 rồi để vài phút thinh lặng. Tất cả những điều ấy không làm giáo lý thành “giáo lý môi trường”. Chúng chỉ trả tạo thành vào đúng vị trí vốn có trong đức tin.
Trường Công giáo, nơi có thể thực hiện, càng cần chú ý chiều kích này. Một trường Công giáo không nên chỉ khác trường khác ở việc có giờ kinh và tượng thánh. Cách trường sử dụng đất, nước, điện, thực phẩm, cây xanh và rác cũng là một phần của chứng tá giáo dục. Trẻ sẽ rất khó hiểu bài học về trách nhiệm tạo thành nếu căng tin lãng phí hàng đống thức ăn, sân trường thiếu bóng cây dù có thể trồng, đồ nhựa dùng một lần xuất hiện mọi nơi mà không có suy nghĩ, và các hoạt động lớn luôn để lại một núi rác. Giáo dục Công giáo phải cho trẻ thấy đức tin có hình dạng vật chất. Nó đi vào cách xây một tòa nhà, cách thông gió, cách chăm sân, cách mua sắm, cách tổ chức lễ hội.
Đặc biệt, người trẻ cần được bảo vệ khỏi hai thứ cám dỗ trái ngược: thờ ơ và tuyệt vọng. Có người trẻ nghĩ vấn đề môi trường quá lớn, mình làm gì cũng vô ích, nên thôi. Có người lại mang cả gánh nặng thế giới trên vai, cảm thấy nếu mình dùng một chiếc ống hút nhựa thì như vừa phản bội tương lai nhân loại. Cả hai thái độ đều thiếu quân bình. Đức tin Kitô giáo dạy trách nhiệm nhưng không dạy ảo tưởng toàn năng. Tôi có phần việc của tôi. Tôi phải làm phần ấy trung tín. Tôi không cứu thế giới. Chúa là Đấng Cứu Độ. Điều này giải phóng người trẻ khỏi cả sự lười biếng lẫn hoảng loạn. Ta làm điều đúng không phải vì tin rằng hành vi cá nhân của ta sẽ lập tức đảo chiều khí hậu, nhưng vì điều đúng vẫn là điều đúng, vì thói quen nhỏ đào tạo con người, vì người được đào tạo trong tiết độ hôm nay có thể làm những quyết định công lớn ngày mai.
Giáo dục chiêm ngắm cũng phải dạy người trẻ nhìn người nghèo trong cùng một khung với nhìn đất. Một hoạt động sinh thái chỉ chú ý cây mà không thấy người lao động có thể trở thành thẩm mỹ của người có điều kiện. Người trẻ phải được giúp hiểu rằng môi trường không ở đâu đó ngoài xã hội. Nước ô nhiễm chảy vào nhà ai? Nắng nóng đè lên người làm việc ngoài trời nào? Lũ cuốn nhà của ai trước? Giá thực phẩm tăng làm ai khổ trước? Người có máy lạnh, xe riêng, nhà cao, bảo hiểm, tiền tiết kiệm và khả năng di chuyển luôn có nhiều lớp bảo vệ hơn người nghèo. Vì thế, khi giáo dục về tạo thành, phải giáo dục về công lý. Nếu một em nhỏ thương cá mà khinh người bán cá nghèo ngoài chợ, giáo dục vẫn chưa tới nơi. Nếu một người trẻ nói rất hay về khí hậu nhưng đối xử tàn nhẫn với người phục vụ, linh đạo tạo thành của họ còn bị đứt đoạn.
Chiêm ngắm Kitô giáo cuối cùng phải đi tới cầu nguyện. Nếu chỉ dừng ở cảm xúc thiên nhiên, nó có thể rất đẹp nhưng chưa đủ. Trẻ cần được dạy nói với Thiên Chúa từ những gì chúng thấy. Không cần những lời phức tạp. “Con cảm ơn Chúa vì cơn mưa.” “Con cảm ơn Chúa vì cây này.” “Xin Chúa cho chúng con biết giữ nước sạch.” “Xin Chúa thương những người hôm nay không có đủ ăn.” “Con xin lỗi vì đã làm đau con vật.” Những lời cầu nguyện rất nhỏ như thế kết nối thế giới vật chất với đời sống thiêng liêng. Trẻ học rằng không có một Thiên Chúa chỉ ở trong nhà thờ và một thế giới ở ngoài nhà thờ. Cùng một Thiên Chúa là Cha của Đức Giêsu Kitô là Đấng dựng nên thế giới đang nâng đỡ cuộc sống chúng.
Khi lớn hơn, người trẻ cần được dẫn sâu hơn. Họ có thể học cầu nguyện giữa tạo thành mà không biến tạo thành thành Thiên Chúa. Họ có thể đọc Thánh vịnh giữa một cánh đồng, bên bờ biển, trên núi, trong công viên thành phố. Họ có thể đọc lời Đức Giêsu về chim trời và hoa huệ, không phải như thơ trang trí mà như lời dạy về Quan Phòng. Họ có thể học nhìn cách Đức Giêsu thường dùng đất, hạt, cây, nho, lúa, cá, nước, gió, trời làm ngôn ngữ Nước Thiên Chúa. Đấng Nhập Thể không giảng trong một thế giới trừu tượng. Người giảng giữa hồ, đường làng, đồi, giếng, vườn, ruộng. Một Kitô hữu trưởng thành phải học lại thứ ngôn ngữ ấy.
Một chương trình giáo lý thiếu tầng tạo thành sẽ để lại một lỗ hổng rất thật. Người tín hữu có thể học rằng mình là con Thiên Chúa nhưng không học rằng mình cũng là một thụ tạo. Hai điều không đối lập. Chính vì là con trong Người Con, ta càng biết mình nhận hiện hữu. Phẩm giá cao không xóa sự lệ thuộc. Ta vẫn cần thở. Ta vẫn phải uống. Ta vẫn chết nếu đất không sinh lương thực. Ta vẫn trở về bụi đất. Tính thụ tạo là một trường của khiêm nhường. Nó ngăn tôn giáo biến thành một thứ nhân loại trung tâm khép kín trong đó chỉ linh hồn người quan trọng còn thế giới vật chất là sân khấu dùng xong rồi bỏ.
Trẻ em cần được dạy rằng thân xác mình cũng thuộc tạo thành. Chăm sóc thân xác không phải thờ thân xác. Ngủ đủ, ăn điều độ, vận động, ra nắng đúng mức, biết mệt thì nghỉ, biết giới hạn, tất cả có thể được nối với linh đạo thụ tạo. Một nền văn hóa luôn bắt trẻ phải thành công, phải học thêm, phải cạnh tranh, phải kín lịch, có thể vô tình dạy chúng rằng thân xác chỉ là máy phải chạy. Nhưng chính ngày Sabát trong Kinh Thánh dạy một chân lý khác: thụ tạo cần nghỉ. Trẻ em cần thời gian không sản xuất. Người trẻ cần thời gian không “tối ưu hóa”. Một buổi chiều đi bộ không mục tiêu có thể tốt cho linh hồn hơn một hoạt động được thiết kế quá kín.
Người lớn thường sợ trẻ rảnh. Ta lấp giờ của chúng bằng học, ngoại khóa, màn hình hoặc chương trình. Nhưng chiêm ngắm cần những khoảng không. Một đứa trẻ ngồi nhìn kiến có thể trông như đang không làm gì. Thật ra nó đang học chú ý. Một người trẻ ngồi bên sông không chụp ảnh có thể trông như lãng phí thời gian. Thật ra họ có thể đang lần đầu gặp lại chính mình. Không phải mọi phút đều cần ích dụng theo nghĩa kinh tế hoặc học thuật. Điều này rất quan trọng bởi vì một nền giáo dục chỉ đo giá trị bằng hiệu suất đang chuẩn bị tâm trí cho paradigme kỹ trị. Nếu trẻ từ nhỏ chỉ được hỏi “cái này để làm gì?”, sau này chúng sẽ hỏi cùng câu ấy về cây, sông, thú, nghệ thuật, người già, người khuyết tật và cuối cùng cả về con người: “người này có ích gì?” Chiêm ngắm phá câu hỏi độc tài ấy. Có những điều đáng hiện hữu trước khi hữu ích cho ta.
Dạy chiêm ngắm vì thế cũng là dạy trẻ chịu được vẻ đẹp không sở hữu. Thấy một bông hoa đẹp không cần hái. Thấy con chim đẹp không cần bắt. Thấy cảnh đẹp không cần chụp một trăm tấm để chứng minh mình đã ở đó. Có một sự trưởng thành tinh thần khi con người có thể vui vì một điều đẹp tồn tại mà không phải biến nó thành của mình. Đây là trường học trực tiếp chống lại chiếm hữu. Nó cũng giúp người trẻ trưởng thành trong các tương quan con người: người khác không phải tài sản để mình kiểm soát; tình yêu không đồng nghĩa sở hữu.
Cần đặc biệt lưu ý tới việc dạy trẻ chụp ảnh và dùng mạng xã hội trước thiên nhiên. Không cần cấm. Nhiếp ảnh có thể là một nghệ thuật của chú ý. Nhưng có khác biệt giữa chụp sau khi đã nhìn và nhìn chỉ để chụp. Có khác biệt giữa ghi lại một kỷ niệm và biến mọi trải nghiệm thành nội dung. Người trẻ có thể được khuyến khích thử một nguyên tắc đơn giản: trước khi lấy điện thoại ra, hãy nhìn bằng mắt một lúc. Hãy ở đó trước khi đăng rằng mình đang ở đó. Một hoàng hôn không mất giá vì không được đưa lên mạng. Một chuyến đi không vô nghĩa vì không có reel. Một khoảnh khắc cầu nguyện càng không cần bằng chứng công khai. Học giữ một điều đẹp chỉ giữa mình với Chúa là một hình thức tự do.
Những người làm mục vụ giới trẻ cũng phải xét lại cách tổ chức các sự kiện. Nhiều sinh hoạt Công giáo hiện nay dùng kỹ thuật rất mạnh: màn hình LED, âm thanh lớn, ánh sáng, video, nhạc, hiệu ứng. Tất cả có thể phục vụ tốt. Nhưng nếu toàn bộ việc giáo dục đức tin chỉ dựa trên cường độ kích thích, chúng ta vô tình cạnh tranh với ngành giải trí trên sân của ngành giải trí. Và luôn có người làm kích thích tốt hơn ta. Đức tin cần một con đường khác: dạy người trẻ ở lại khi không có hiệu ứng. Dạy họ nghe Lời khi không có nhạc nền. Dạy họ cầu nguyện khi không cảm thấy mạnh. Dạy họ nhìn một ngọn nến, một khoảng trời, một khuôn mặt. Người chỉ gặp Chúa khi được kích thích cao sẽ rất khó sống đức tin trong những tháng ngày bình thường.
Giáo dục chiêm ngắm không làm người trẻ thụ động. Ngược lại. Người thật sự nhìn thường hành động sâu hơn. Khi ta nhìn đủ lâu một dòng sông, việc nó bị ô nhiễm không còn là thống kê. Khi ta biết một người nông dân, hạn hán không còn là một thuật ngữ. Khi trẻ chăm một cây suốt một năm, cây chết vì bị phá không còn là chuyện không đáng kể. Chiêm ngắm tạo ra nền tình cảm cho trách nhiệm. Nhưng hành động phải được giáo dục để không thành bốc đồng. Người trẻ có thể học phân biệt việc biểu tượng với việc có tác động thực. Nhặt rác một buổi rất tốt, nhưng cũng cần hỏi vì sao rác được tạo ra nhiều như thế. Trồng cây rất tốt, nhưng cần hỏi cây gì phù hợp, ai chăm sau khi trồng. Nói giảm nhựa tốt, nhưng cần hiểu chuỗi cung ứng, thói quen tiêu dùng, chính sách đô thị. Tình yêu phải lớn thành năng lực.
Một giáo xứ có thể xây một lộ trình rất đơn giản từ nhỏ tới lớn: trẻ nhỏ học cảm nhận và biết ơn; thiếu nhi học tên gọi và chăm sóc; thiếu niên học quan hệ giữa thói quen và hậu quả; người trẻ học khoa học, đạo đức xã hội, công lý và phân định; người trưởng thành học trách nhiệm nghề nghiệp và chính sách. Người làm nông sẽ đặt câu hỏi khác người làm công nghiệp. Kỹ sư sẽ có trách nhiệm khác người tiêu dùng. Người làm quy hoạch, kinh doanh, y tế, giáo dục, luật, năng lượng đều có phần riêng. Linh đạo tạo thành không giữ người trẻ mãi ở mức nhặt rác. Nó phải theo họ tới nghề nghiệp.
Điều này rất quan trọng vì những quyết định sinh thái lớn thường không được làm trong sân giáo xứ. Chúng được làm trong phòng họp doanh nghiệp, cơ quan quản lý, phòng thiết kế, phòng thí nghiệm, nông trại, nhà máy, cảng, ngân hàng và bàn chính sách. Nếu giáo lý chỉ dạy trẻ “đừng xả rác” nhưng không chuẩn bị chúng để một ngày kia phân định một dự án có làm hại cộng đồng hay không, giáo dục còn quá nhỏ. Một người trẻ Công giáo học kỹ thuật cần được chuẩn bị để hỏi kỹ thuật phục vụ gì. Người học kinh tế cần hỏi lợi nhuận dừng ở đâu. Người học luật cần nghĩ về công ích. Người học nông nghiệp cần giữ đất. Người học công nghệ cần hỏi nền tảng mình xây tạo ra kiểu tiêu dùng nào. Giáo dục chiêm ngắm hôm nay phải có chân trời nghề nghiệp ngày mai.
Nhưng tất cả phải bắt đầu từ điều rất nhỏ: học nhìn. Người lớn không thể trao cho trẻ cái mình không có. Nếu cha mẹ không còn biết ngạc nhiên, rất khó dạy trẻ ngạc nhiên. Nếu giáo lý viên luôn vội, rất khó dạy thinh lặng. Nếu linh mục chỉ nói về tạo thành bằng khái niệm mà chưa từng tự mình dừng trước một cánh đồng hay một bầu trời, lời sẽ thiếu trọng lượng. Giáo dục tạo thành vì thế bắt đầu bằng hoán cải của người giáo dục. Người lớn cần học lại những điều mình tưởng đã biết: nhìn mưa, nghe chim, biết mùa, chạm đất, biết ơn cơm, không phung phí, đi chậm.
Một đứa trẻ được giáo dục như thế sẽ không nhất thiết trở thành nhà hoạt động môi trường. Đó không phải mục tiêu duy nhất. Điều mong đợi sâu hơn là nó trở thành một con người biết vị trí của mình trước Thiên Chúa. Nó biết mình lớn nhưng không tuyệt đối. Nó biết thế giới được trao nhưng không thuộc về mình theo nghĩa muốn làm gì cũng được. Nó biết nhận trước khi đòi. Nó biết cảm ơn trước khi sử dụng. Nó biết giới hạn không phải thất bại mà là điều kiện của tạo thành. Nó biết vật chất không đối lập với thiêng liêng. Nó biết người nghèo và trái đất không thể bị tách làm hai vấn đề. Nó biết một bữa ăn có thể thành lời tạ ơn. Nó biết một cái cây có thể nhắc mình về sự kiên nhẫn. Nó biết bầu trời đủ lớn để đặt lại cái tôi vào đúng kích thước.
Một người trẻ được giáo dục như thế có thể bước vào thế giới hiện đại mà không sợ khoa học và không thờ kỹ thuật. Họ có thể dùng điện thoại mà biết đặt điện thoại xuống. Họ có thể làm kỹ sư mà vẫn biết chiêm ngắm. Họ có thể sống trong thành phố mà không mất cảm thức về đất. Họ có thể đọc báo cáo khí hậu mà không tuyệt vọng. Họ có thể hành động quyết liệt nhưng không tự phong mình làm đấng cứu thế. Họ có thể yêu tạo thành mà không thần thánh hóa nó. Họ có thể bảo vệ sự sống khác loài mà vẫn giữ rõ phẩm giá độc nhất của con người. Họ có thể hiểu rằng thế giới vừa là nhà, vừa là quà, vừa là trách nhiệm, vừa là dấu chỉ dẫn tới Đấng Tạo Hóa.
Đó là lý do giáo dục chiêm ngắm không phải một thứ trang sức cho chương trình giáo lý thế kỷ XXI. Nó là việc trả lại một chiều kích từng nằm ngay trong Kinh Thánh nhưng đã bị lối sống hiện đại làm mờ. Abraham nhìn sao. Môsê gặp Chúa giữa sa mạc. Các Thánh vịnh nghe trời đất ca ngợi. Các ngôn sứ biết mưa, hạn, đất, nho, lúa. Đức Giêsu nhìn chim trời, hoa huệ, hạt cải, lúa chín, cây vả, người gieo giống, cá trong lưới. Hội Thánh dùng nước, dầu, lửa, bánh, rượu trong bí tích và phụng vụ. Đức tin chưa bao giờ là một tôn giáo không thân xác, không đất, không nước, không mùa. Chỉ có một lối sống quá đô thị hóa, quá màn hình hóa và quá kỹ trị mới làm ta tưởng như thế.
Cho nên hãy cho trẻ sờ đất. Hãy để bàn tay chúng bẩn một chút. Hãy cho chúng biết tên cây. Hãy chỉ cho chúng dòng nước quê mình. Hãy để chúng chăm một con vật với trách nhiệm. Hãy dạy chúng cảm ơn trước bữa ăn và đừng để phần ăn của mình thành rác. Hãy cho chúng một buổi không màn hình giữa trời. Hãy dạy chúng khoa học cho chính xác và cầu nguyện cho sâu. Hãy cho người trẻ một đêm nhìn sao mà không cần đăng gì. Hãy để chúng học sự nhỏ bé mà không thấy bị hạ nhục. Hãy để chúng học giới hạn mà không thấy bị cầm tù. Hãy để chúng khám phá rằng được là thụ tạo không phải một phẩm giá thấp; đó là sự thật đẹp đầu tiên của con người: tôi không tự làm ra mình, tôi đã được gọi vào hiện hữu, được nuôi bởi những gì tôi không tạo ra, được đặt giữa một thế giới cũng được yêu, và được mời sống đời mình như một lời đáp.
Khi giáo lý giúp trẻ biết mình là thụ tạo, giáo lý đang chuẩn bị chúng biết Thiên Chúa thật hơn. Khi giáo dục giúp người trẻ chiêm ngắm, giáo dục đang chống lại sự kiêu ngạo mà không cần nhiều diễn từ. Khi một đứa trẻ biết cúi xuống nhặt một con vật nhỏ thay vì giẫm lên nó, biết giữ một cây non thay vì bẻ cho vui, biết cảm ơn người làm ra bữa ăn, biết tắt một ngọn đèn không cần thiết, biết ngước nhìn trời mà không lập tức lấy điện thoại, một nhân cách đang được tạo thành. Những hành vi ấy chưa cứu thế giới. Nhưng chúng đang đào tạo loại người có thể góp phần gìn giữ thế giới. Và quan trọng hơn, chúng đang đào tạo một người biết đứng đúng chỗ trước Thiên Chúa: không phải chủ tuyệt đối, không phải khách lạ, nhưng là một thụ tạo được yêu, được giao phó trách nhiệm và được mời cùng muôn loài cất tiếng ngợi khen Đấng đã thấy mọi sự Người làm ra đều rất tốt đẹp.

CHƯƠNG 38. GIÁO HỘI VIỆT NAM: SÔNG, RUỘNG, RỪNG, BIỂN, ĐÔ THỊ
Nói về linh đạo tạo thành tại Việt Nam mà chỉ nói về “thiên nhiên” như một khái niệm đẹp đẽ, chung chung, xa xôi thì chưa đủ. Thiên nhiên của người Việt Nam không phải một tấm hình nền có núi xanh, biển biếc, mây trắng để người ta ngắm vài phút rồi trở lại đời sống như cũ. Thiên nhiên ở đây là dòng sông đang nuôi một làng và cũng đang sạt một bờ; là thửa ruộng đang cho hạt gạo và cũng đang nhiễm mặn; là cánh rừng từng che đất, giữ nước, giữ thú, giữ làng nhưng nay bị cắt thành những mảng vụn; là biển đang cho cá nhưng đồng thời đang nhận vào mình rác nhựa, nước thải và đủ thứ dấu vết của lòng tham; là thành phố nơi hàng triệu con người chen nhau trong bê tông, khói xe, tiếng ồn, nắng nóng và những trận ngập không còn xa lạ. Linh đạo tạo thành của Hội Thánh Việt Nam vì thế không thể chỉ mượn những hình ảnh đẹp từ nơi khác, cũng không thể chỉ lặp lại những thuật ngữ sinh thái quốc tế như thể nói đúng từ là đã sống đúng tinh thần. Linh đạo ấy phải biết nói tiếng sông của miền Tây, tiếng ruộng của đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, tiếng rừng của Tây Nguyên và miền Trung, tiếng biển của ngư dân miền Trung, miền Nam, miền Bắc, tiếng xóm trọ công nhân quanh các khu công nghiệp, tiếng hẻm nóng của Sài Gòn, tiếng phố ngập của những đô thị mở rộng quá nhanh, tiếng người già không chịu nổi nắng nóng, tiếng trẻ em lớn lên giữa không khí bụi, tiếng người nông dân nhìn đất mình mất dần độ màu mỡ, tiếng người dân ven sông nhìn mép nước mỗi năm tiến gần căn nhà hơn một chút. Nếu linh đạo tạo thành không nghe được những tiếng ấy, nó chưa đi vào Việt Nam. Nếu thần học tạo thành không chạm được những vết ấy, nó vẫn còn nằm trên giấy.
Việt Nam là một đất nước được làm nên rất nhiều bởi nước. Người Việt sinh sống từ lâu dọc những đồng bằng, ven sông, ven biển, quanh ruộng lúa và hệ thống kênh rạch. Những con sông không chỉ là đối tượng địa lý; chúng đã đi vào ký ức, ngôn ngữ, âm nhạc, nếp sống, kinh tế và cả tâm hồn dân tộc. Một con sông mang phù sa, mang cá, mang nước tưới, mang đường giao thương, mang ký ức làng xóm, mang cả những nấm mộ và những câu chuyện của bao thế hệ. Vì thế, khi một con sông bị ô nhiễm, bị chặn, bị hút cát đến kiệt quệ, bị đổi dòng, bị thu hẹp hành lang tự nhiên, đó không chỉ là chuyện môi trường. Đó là một sự tổn thương xã hội. Có người mất sinh kế. Có người phải rời làng. Có người mất nguồn nước. Có cộng đồng bị chia cắt. Có những người nghèo nhất phải trả giá trước tiên cho những quyết định họ không được quyền tham gia. Linh đạo tạo thành phải nhìn một dòng sông như nhìn một phần của ngôi nhà chung chứ không phải một đường dẫn nước khổng lồ để tùy ý khai thác. Trong cái nhìn đức tin, sông không phải Thiên Chúa, nhưng sông thuộc về Thiên Chúa. Sông không có phẩm giá ngôi vị như con người, nhưng sông có một giá trị thụ tạo không do thị trường ban cho. Nó hiện hữu trước khi có bảng giá đất ven sông, trước khi có dự án, trước khi có nhà máy, trước khi người ta tính được bao nhiêu mét khối nước có thể lấy, bao nhiêu tấn cát có thể hút. Người Kitô hữu Việt Nam phải học lại điều rất căn bản ấy: cái gì Chúa tạo dựng thì trước hết thuộc về trật tự của quà tặng, rồi sau đó mới đi vào trật tự sử dụng. Khi trật tự bị đảo ngược, khi cái gì cũng bị nhìn trước hết bằng giá bán, lợi nhuận và tốc độ khai thác, lòng người đã đi lệch trước khi môi trường kịp đổ vỡ.
Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những nơi giúp Hội Thánh Việt Nam hiểu rất rõ thế nào là sinh thái toàn diện. Ở đó không có ranh giới sạch sẽ giữa “vấn đề môi trường” và “vấn đề con người”. Nước mặn không dừng lại trước cánh đồng của người Công giáo hay người không Công giáo. Sạt lở không hỏi chủ đất thuộc giáo xứ nào. Hạn hán không phân biệt người có đạo với người không có đạo. Khi nước thay đổi, lịch mùa vụ thay đổi; khi mùa vụ thay đổi, thu nhập thay đổi; khi thu nhập thay đổi, gia đình thay đổi; khi gia đình thay đổi, việc học của trẻ em, sức khỏe người già, khả năng trả nợ, khả năng ở lại quê hương và cả đời sống cộng đoàn đều thay đổi. Một vấn đề sinh thái đi xuyên qua cả cơ cấu xã hội. Vì thế, nếu giáo xứ chỉ nhìn thấy việc giữ lễ mà không nhìn thấy người nông dân trong giáo xứ đang mất đất, mất nước, mất mùa hoặc mắc nợ vì một mô hình sản xuất không còn thích hợp, thì giáo xứ đang chỉ nhìn một phần đời sống của tín hữu. Hội Thánh không thay thế nhà khoa học, kỹ sư thủy lợi hay chính quyền, nhưng Hội Thánh phải giúp tín hữu đọc biến đổi ấy dưới ánh sáng công ích, trách nhiệm, tiết độ, liên đới và công bằng. Người linh mục có thể không biết kỹ thuật chống xâm nhập mặn, nhưng phải biết rằng người mất mùa trước mặt mình không chỉ cần một phần quà cứu trợ; họ cần được nhìn như chủ thể có tiếng nói, có phẩm giá, có quyền được tham gia vào những quyết định ảnh hưởng tới đất, nước và tương lai của gia đình họ. Một linh đạo tạo thành trưởng thành sẽ không dừng ở lòng thương hại sau thiên tai. Nó hỏi sâu hơn: tại sao người này luôn phải chịu thiệt? Ai hưởng lợi? Ai phải trả giá? Quy hoạch nào đang làm người nghèo dễ tổn thương hơn? Mô hình tiêu thụ nào ở nơi xa đang đẩy gánh nặng về đây? Những câu hỏi ấy không làm Hội Thánh trở thành một đảng phái. Chúng làm Hội Thánh trung thành hơn với công lý.
Ruộng cũng phải trở lại trong thần học của người Công giáo Việt Nam. Bao nhiêu tín hữu đã lớn lên từ ruộng mà giáo lý của chúng ta đôi khi lại xa ruộng một cách lạ lùng. Hạt lúa đi vào bữa ăn mỗi ngày, nhưng hiếm khi đi vào việc xét mình. Đất canh tác nuôi gia đình, nhưng ít khi được nói đến như một quà tặng phải gìn giữ cho thế hệ sau. Người nông dân biết rất rõ đất có trí nhớ. Một thửa đất bị khai thác quá sức sẽ trả lời bằng năng suất giảm, cấu trúc đất suy thoái, nguồn nước cạn, sâu bệnh tăng. Một nền nông nghiệp chỉ chạy theo sản lượng ngắn hạn có thể tạo ra con số đẹp trong vài năm nhưng để lại một vùng đất nghèo hơn cho con cháu. Ở đây, đức tiết độ không còn là một lời dạy luân lý dành riêng cho việc ăn uống cá nhân. Đức tiết độ trở thành một nguyên tắc kinh tế và sinh thái: không lấy hết, không ép đất sinh quá sức, không biến mỗi mét vuông thành công cụ tối đa hóa lợi nhuận, không để lòng tham hôm nay ăn mất khả năng sống của ngày mai. Người Kitô hữu làm nông có thể sống linh đạo tạo thành ngay trong cách chọn giống, giữ nước, sử dụng phân thuốc, chăm đất, giữ bờ, bảo vệ nguồn nước chung, tôn trọng sức khỏe người làm và người ăn. Đó không phải chuyện phụ bên ngoài đức tin. Đó là một cách thực thi giới răn yêu người thân cận bằng cuốc, bằng xẻng, bằng chai thuốc không đổ xuống kênh, bằng quyết định chấp nhận lợi ít hơn một chút để đất đỡ đau hơn một chút. Có những việc rất nhỏ nhưng hàm chứa một thần học lớn.
Rừng Việt Nam cũng không thể chỉ xuất hiện trong bài giảng như biểu tượng thơ mộng. Rừng là mái nhà của muôn loài, là hệ thống giữ nước, giữ đất, điều hòa khí hậu, che chắn, nuôi sống cộng đồng, và ở nhiều nơi còn gắn với căn tính văn hóa của các dân tộc thiểu số. Khi rừng bị chia cắt, hậu quả không chỉ là “mất cây”. Đất mất khả năng giữ nước; mưa lớn dễ thành lũ dữ; mùa khô khắc nghiệt hơn; thú mất nơi sống; cộng đồng mất nguồn lâm sản; văn hóa bản địa bị đứt khỏi không gian sinh tồn của mình. Cái nhìn kỹ trị thường nhìn rừng bằng diện tích, trữ lượng, sản lượng và giá trị khai thác. Cái nhìn đức tin phải rộng hơn. Một cánh rừng là một mạng lưới sống mà trí hiểu của con người vẫn chưa thể đo hết. Nó mang một giá trị vì nó là thụ tạo trước khi là tài nguyên. Hội Thánh Việt Nam, đặc biệt tại Tây Nguyên và miền Trung, không thể nói về con người mà không nói về rừng. Nhiều cộng đoàn dân tộc sống trong một liên hệ với rừng sâu hơn cách người đô thị thường hiểu. Với họ, rừng không chỉ ở ngoài nhà; rừng là một phần của lịch sống, ký ức, thức ăn, thuốc chữa bệnh, phong tục, nơi chôn cất, đường đi, nguồn nước, câu chuyện tổ tiên. Khi rừng bị lấy đi, người ta không chỉ mất cây. Người ta mất một thế giới. Vì thế, đứng về phía những cộng đồng bị tước mất điều kiện sống của họ cũng là một phần của mục vụ sinh thái. Hội Thánh cần tránh hai thái cực: một bên là lãng mạn hóa cộng đồng bản địa như thể họ không bao giờ sai, bên kia là coi họ như những người cản trở “phát triển”. Phát triển thật không thể được đo bằng số tiền thu được sau khi một cộng đồng mất đất, mất nước và mất tương lai.
Biển là một chương khác trong linh đạo tạo thành của Việt Nam. Đường bờ biển dài đã nuôi sống vô số gia đình. Bữa cơm của nhiều người Việt Nam mang trong mình nhịp của thủy triều, gió mùa, chuyến tàu đêm và lao động nặng nhọc của ngư dân. Một con cá trên bàn không chỉ là món ăn. Nó là kết quả của một hệ sinh thái biển, của nhiên liệu, lưới, công sức, hiểm nguy, thời tiết, thị trường, cả một chuỗi người từ người đánh bắt đến người bán ở chợ. Khi biển bị ô nhiễm, khi nhựa vỡ thành những mảnh nhỏ đi vào chuỗi thức ăn, khi nguồn lợi bị khai thác quá mức, khi vùng ven bờ bị bê tông hóa hoặc bị tổn thương, hậu quả chạy dọc toàn xã hội. Người có tiền có thể đổi nơi mua thực phẩm, mua nước đóng chai, đi nơi khác nghỉ dưỡng. Người sống nhờ biển thì không đổi được biển dễ như vậy. Họ chịu trước. Đây là nơi tiếng kêu của đất và tiếng kêu của người nghèo trở thành một tiếng. Một giáo xứ ven biển không thể chỉ tổ chức lễ cầu ngư hay thánh lễ tạ ơn mùa cá rồi bỏ mặc bãi biển sau lễ đầy rác. Một cuộc hành hương ra biển mà để lại hàng nghìn chai nhựa không thể được coi là thành công chỉ vì số người tham dự đông. Một lễ hội đạo đức mà tạo ra núi rác cũng cần được xét mình. Đức tin không cho phép chúng ta chia cuộc đời thành hai ngăn: một ngăn thánh thiêng trong nhà thờ và một ngăn tùy tiện ngoài sân nhà thờ. Chính sân nhà thờ, bãi giữ xe, khu ăn uống, nơi phát nước, cách dùng ly nhựa, cách dọn rác, cách xử lý thức ăn dư, cách tổ chức xe cộ đều là những nơi linh đạo tạo thành được chứng minh hoặc bị phủ nhận.
Rồi đến đô thị. Có một nguy cơ là khi nói sinh thái, người ta hình dung phải có cây rừng, suối, đồng lúa, biển, nên người sống trong thành phố tưởng linh đạo tạo thành không liên quan đến mình. Thực ra, đô thị là một trong những nơi linh đạo tạo thành cần được đào sâu nhất. Một người sống tầng năm của một khu trọ chật, không có cây, cửa sổ nhìn sang tường nhà bên cạnh, ngày đi làm trong khói xe, tối trở về trong tiếng máy lạnh và tiếng động cơ, có thể bị tước khỏi kinh nghiệm tiếp xúc với tạo thành rất sâu. Trẻ em lớn lên không biết đất ẩm có mùi gì, không biết một cây đậu lớn lên ra sao, không biết mùa trăng thay đổi thế nào, nhưng rất rành hình ảnh động vật qua màn hình. Con người thành thị có thể nhìn hàng nghìn tấm ảnh rừng nhưng không có một cái cây nào đủ gần để biết mùa nó rụng lá. Đây là một nghèo đói tinh thần mới: nghèo kinh nghiệm tạo thành. Người nghèo ở đô thị còn chịu thêm một tầng bất công: họ thường sống nơi nóng hơn, ít cây hơn, gần nguồn ô nhiễm hơn, xa công viên hơn, nhà chật hơn và khả năng chống đỡ thời tiết cực đoan thấp hơn. Một người già có tiền có thể sống trong căn hộ điều hòa. Một người già trong phòng trọ mái tôn phải chịu nhiệt độ hoàn toàn khác. Một cơn nóng không tác động đều lên mọi người. Một trận ngập cũng không tác động đều. Người có xe cao, nhà cao, bảo hiểm và tài khoản dự phòng có thể chịu bất tiện. Người bán hàng rong, người chạy xe công nghệ, người ở căn phòng sát mặt đường, người làm công theo ngày có thể mất thu nhập, hỏng đồ đạc, mắc bệnh và vay nợ. Sinh thái đô thị vì thế là vấn đề công lý.
Giáo hội Việt Nam hiện diện ngay giữa những không gian ấy. Nhà thờ không rơi từ trời xuống. Nhà thờ nằm trên một con đường, trong một khu dân cư, bên một dòng kênh, giữa một vùng ruộng, cạnh một khu công nghiệp, trên một cao nguyên hay gần bờ biển. Giáo xứ không chỉ có ranh giới giáo luật; giáo xứ còn có một hệ sinh thái cụ thể. Nếu một giáo xứ không biết dòng kênh gần mình đang ô nhiễm ra sao, cây xanh trong khu vực đang mất thế nào, người dân quanh đó đang thiếu nước hay ngập nước, khu công nghiệp bên cạnh đang ảnh hưởng đời sống thế nào, thì giáo xứ chưa hiểu hết địa bàn mục vụ của mình. Mục vụ không chỉ là biết có bao nhiêu gia đình Công giáo, bao nhiêu em thiếu nhi, bao nhiêu hội viên. Mục vụ còn phải biết dân đang thở không khí nào, uống nước nào, làm nghề gì, chịu rủi ro môi trường nào, sinh kế đang bị đe dọa ở đâu. Linh mục quản xứ không cần trở thành chuyên gia môi trường, nhưng phải có khả năng nghe. Hội đồng mục vụ không cần thành sở tài nguyên, nhưng phải biết nhìn. Đoàn thể không cần biến thành tổ chức hoạt động xã hội thuần túy, nhưng phải biết rằng đức tin đòi những hình thức yêu thương cụ thể đối với không gian sống chung.
Đây là điểm các đoàn thể giáo dân tại Việt Nam có một tiềm năng rất lớn. Người Công giáo Việt Nam có truyền thống tổ chức khá mạnh. Chúng ta có hội đoàn, ca đoàn, giới trẻ, thiếu nhi, gia trưởng, hiền mẫu, các nhóm bác ái, nhóm cầu nguyện, hội Legio, các hội nghề nghiệp, các cộng đoàn nhỏ, các tổ liên gia, các phong trào. Chúng ta có thể huy động hàng trăm người cho một cuộc rước, một ngày lễ, một buổi diễn nguyện, một cuộc hành hương, một đêm văn nghệ. Khả năng tổ chức ấy là một ân huệ. Nhưng ân huệ phải được đặt vào sứ vụ. Nếu chúng ta có thể tổ chức một bữa tiệc cho cả ngàn người mà không thể tổ chức một ngày làm sạch con kênh bên giáo xứ; nếu có thể sắp xếp hàng trăm xe đi hành hương nhưng không thể sắp xếp một chương trình giảm nhựa trong giáo xứ; nếu có thể dựng sân khấu rất nhanh nhưng không thể trồng và chăm một hàng cây sống được mười năm; nếu có thể vận động tiền xây cổng thật lớn nhưng không thể vận động để người nghèo trong xóm có nước sạch, thì cần hỏi lại thứ tự ưu tiên. Không phải lễ hội là xấu. Không phải xây dựng là xấu. Không phải tổ chức đông người là xấu. Nhưng đời sống Hội Thánh không được phép chỉ chứng minh sức mạnh bằng số người, số tiền, công trình và tiếng vang. Sức mạnh Tin Mừng còn được chứng minh bằng khả năng gìn giữ điều nhỏ, bảo vệ người yếu và chăm sóc những gì không mang lại danh tiếng.
Một đoàn thể giáo dân có thể làm rất nhiều điều mà không cần chờ những dự án khổng lồ. Có thể bắt đầu bằng việc kiểm tra chính sinh hoạt của mình: mỗi buổi họp dùng bao nhiêu chai nhựa, mỗi lễ hội bỏ đi bao nhiêu thức ăn, mỗi cuộc hành hương tạo ra bao nhiêu rác, hệ thống điện của nhà xứ có lãng phí không, nước có bị chảy vô ích không, cây trong khuôn viên có được chăm không, đồ dùng có thể sửa thay vì mua mới không, việc trang trí có tạo ra nhiều vật liệu chỉ dùng một lần không. Những câu hỏi ấy nghe rất nhỏ, nhưng chúng đụng tới thói quen. Và chính thói quen tạo nên văn hóa. Một giáo xứ có thể giảng Laudato Si’ cả năm mà sau mỗi đại lễ vẫn đầy rác nhựa thì người ta sẽ học từ đống rác mạnh hơn học từ bài giảng. Trẻ em sẽ hiểu rằng lời nói đạo đức không cần đi vào cách tổ chức. Ngược lại, nếu các em thấy người lớn mang bình nước, phân loại rác, dùng đồ bền, không mua thừa, tắt điện khi không cần, giữ sân sạch, chăm cây thật, các em đang được học một thứ giáo lý không cần nhiều chữ.
Nhưng Hội Thánh Việt Nam cũng không được thu hẹp trách nhiệm sinh thái thành một chiến dịch vệ sinh. Nhặt rác tốt, nhưng nhặt rác không đủ. Trồng cây tốt, nhưng trồng cây không đủ. Nếu chỉ dừng ở những hoạt động dễ chụp hình, linh đạo tạo thành sẽ bị biến thành phong trào. Cần đi tới chiều sâu hơn: thay đổi cách hiểu phát triển, cách sử dụng tài sản, cách quyết định công trình, cách tổ chức đời sống cộng đoàn, cách giáo dục trẻ em, cách đứng với người bị ảnh hưởng bởi những dự án kinh tế. Có những nơi vấn đề không phải thiếu người nhặt rác mà là nguồn rác phát sinh quá lớn. Có nơi không phải thiếu cây trồng mà là cây trồng xong không ai chăm. Có nơi không phải thiếu khẩu hiệu bảo vệ nguồn nước mà là một nhóm người không có tiếng nói trước quyết định làm thay đổi nguồn nước của họ. Công lý sinh thái đòi Hội Thánh bước qua tầng dễ chịu của những hoạt động mang tính biểu tượng để đi vào những vấn đề cơ cấu khó hơn.
“Đứng với người mất đất” là một câu đòi phân định rất kỹ nhưng không thể né tránh. Đất ở Việt Nam không đơn giản chỉ là tài sản. Với nhiều gia đình, đất là sinh kế, ký ức, chỗ thờ tổ tiên, sự bảo đảm tuổi già, nơi con cháu còn có thể trở về. Khi đất bị mất, người ta có thể mất nhiều hơn giá trị kinh tế. Hội Thánh không có nhiệm vụ phán quyết mọi tranh chấp và càng không thể tùy tiện thay thế luật pháp. Nhưng Hội Thánh phải đứng về phía phẩm giá con người, minh bạch, công bằng, đối thoại và quyền của người yếu được lắng nghe. Khi một gia đình bị đẩy vào thế bấp bênh, câu hỏi đầu tiên của cộng đoàn không nên chỉ là “họ có đúng thủ tục không?” mà còn phải là “họ sẽ sống thế nào từ đây?”. Đức ái không thể bị rút gọn thành phát quà sau khi mọi thứ đã xong. Đức ái đôi khi cần xuất hiện sớm hơn, trong việc giúp người dân hiểu quyền của mình, tiếp cận thông tin, tìm tư vấn, giữ bình tĩnh, đối thoại và tránh bạo lực. Giáo hội đứng với người nghèo không có nghĩa là kích động xung đột. Chính vì đứng với người nghèo mà Giáo hội phải giúp bảo vệ cả sự thật lẫn hòa bình.
Một vấn đề khác là não trạng “cái gì cũng xây”. Trong nhiều nơi, phát triển giáo xứ dễ được đồng hóa với xây thêm. Có đất là nghĩ tới xây. Có tiền là nghĩ tới công trình. Có dịp kỷ niệm là nghĩ tới tượng, cổng, nhà, sân. Không phải mọi công trình đều sai. Hội Thánh cần cơ sở vật chất. Nhưng linh đạo tạo thành đòi trước mỗi công trình phải đặt thêm những câu hỏi chưa quen: công trình này có thực sự cần không? Có thể sửa cái đang có không? Có thể xây nhỏ hơn không? Có chiếm mất quá nhiều đất thấm nước không? Có chặt những cây trưởng thành không? Có làm khuôn viên nóng hơn không? Có tạo chi phí vận hành lớn cho thế hệ sau không? Có sử dụng tài nguyên tương xứng với nhu cầu mục vụ không? Một ngôi nhà mục vụ quá lớn nhưng dùng ít ngày mỗi tuần không nhất thiết là dấu thành công. Một khuôn viên có nhiều bóng cây, thông gió tốt, dùng bền, ít tiêu hao năng lượng và thân thiện với người già, trẻ em, người khuyết tật có thể gần Tin Mừng hơn một công trình phô trương nhưng hao phí.
Các dòng tu tại Việt Nam cũng có một vai trò đặc biệt. Nhiều cộng đoàn dòng tu có đất, nhà, vườn, trường, cơ sở xã hội, nhà tĩnh tâm, trang trại. Những nơi ấy có thể trở thành các phòng thí nghiệm của một lối sống khác. Không phải phòng thí nghiệm kỹ thuật trước hết, mà là phòng thí nghiệm của tiết độ. Một nhà dòng có thể chứng minh rằng sống đẹp không cần sống phung phí. Một nhà tĩnh tâm có thể dạy người đến không chỉ thinh lặng trước Nhà Tạm mà còn thinh lặng trước một khu vườn, một bầu trời, một cơn mưa. Một cộng đoàn có thể cho thấy thực phẩm được trân trọng, nước được dùng có ý thức, điện được quản lý, rác được giảm từ nguồn, đất được để thở, cây được chăm dài hạn. Một trường học Công giáo có thể để trẻ trồng một cây từ đầu năm và chịu trách nhiệm chăm nó đến cuối năm, thay vì chỉ cho trẻ tô màu tranh bảo vệ môi trường. Một chủng viện có thể dạy sinh thái học Kitô giáo không chỉ qua một tiết học Laudato Si’ mà qua cả cách vận hành cộng đoàn. Một chủng sinh sống trong một cộng đoàn lãng phí sẽ khó trở thành linh mục dạy tiết độ chỉ bằng bài giảng.
Các chủng viện và học viện thần học tại Việt Nam cần nghiêm túc đặt thần học tạo thành vào chương trình đào tạo. Không phải như một môn “thời sự” nằm bên lề tín lý, nhưng như một đường nối giữa tín lý tạo dựng, Kitô học, thần học luân lý, học thuyết xã hội, phụng vụ và mục vụ. Một linh mục tương lai phải hiểu rằng giảng về Sáng Thế không chỉ là giải thích sáu ngày tạo dựng. Phải biết nối tín lý tạo dựng với việc con người hôm nay sử dụng đất, nước, năng lượng, thực phẩm và công nghệ. Học luân lý không thể chỉ nói tới hành vi riêng tư mà bỏ qua những hệ thống sản xuất và tiêu dùng tạo ra tổn thương tập thể. Học phụng vụ không thể chỉ nói về dấu chỉ bánh, rượu, nước, dầu mà không giúp người học nhận ra vật chất trong phụng vụ là vật chất của một thế giới thật. Học mục vụ không thể chỉ đếm các hội đoàn mà không đọc được những thay đổi sinh thái đang định hình đời sống cộng đồng. Một linh mục được đào tạo như vậy sẽ không biến bục giảng thành lớp môi trường, nhưng sẽ biết khi nào cần nói và nói thế nào để đức tin chạm vào đời.
Giáo lý thiếu nhi cũng cần thay đổi. Trẻ em Công giáo Việt Nam thường được học rất kỹ các công thức giáo lý, các kinh, các bí tích, điều răn. Điều ấy quý giá. Nhưng nếu một đứa trẻ thuộc mười điều răn mà quen vứt rác xuống đường, thuộc kinh Tin Kính mà hành hạ con vật cho vui, thuộc bài tạo dựng mà chưa bao giờ được dạy chăm một cây, thì giáo lý chưa đi hết vòng tròn. Dạy trẻ về tạo thành không cần biến lớp giáo lý thành môn khoa học. Có thể bắt đầu rất đơn giản: cho trẻ biết cây nào trong sân nhà thờ, mùa nào có trái gì, dòng nước quanh giáo xứ đi đâu, rác mình bỏ sẽ về đâu, bữa cơm cần bao nhiêu công sức, tại sao không nên bỏ thức ăn, tại sao một con vật không phải đồ chơi để hành hạ. Trẻ cần được dạy tạ ơn trước khi được dạy “bảo vệ môi trường”. Vì khi biết tạ ơn, các em mới hiểu tại sao cần giữ. Bảo vệ chỉ dựa trên sợ hãi dễ mệt. Bảo vệ dựa trên biết ơn có thể thành lối sống.
Người trẻ Công giáo Việt Nam là lực lượng rất lớn trong hành trình này. Họ nhạy với khí hậu, công nghệ, lối sống, tiêu dùng, du lịch và những trào lưu mới. Nhưng họ cũng dễ bị kéo vào một thứ sinh thái trình diễn: chụp hình trồng cây, check-in sống xanh, mua nhiều đồ “eco” để chứng minh mình xanh, rồi tiếp tục nhịp tiêu thụ không đổi. Hội Thánh phải giúp người trẻ đi sâu hơn. Sống sinh thái không có nghĩa mua thêm một bộ sản phẩm mới có nhãn xanh. Đôi khi xanh nhất là không mua. Không phải chuyến du lịch nào gắn chữ thiên nhiên cũng là thân thiện với thiên nhiên. Không phải mọi hoạt động trồng cây đều hữu ích nếu sai loài, sai chỗ, không chăm. Không phải nói mạnh trên mạng là đã dấn thân. Người trẻ cần được học rằng sinh thái Kitô giáo có ba chiều đi cùng nhau: chiêm ngắm, tiết độ và công lý. Chiêm ngắm để yêu; tiết độ để giới hạn mình; công lý để không đẩy giá phải trả cho người khác.
Gia đình Công giáo cũng là một nơi quyết định. Một nền văn hóa sinh thái không được tạo ra trước hết bằng các hội nghị mà bằng bếp, bàn ăn, phòng tắm, cách mua sắm, cách di chuyển, cách dạy con. Một gia đình không cần giàu mới sống sinh thái. Thật ra nhiều thói quen tiết độ truyền thống của người nghèo Việt Nam từng rất gần tinh thần sinh thái: dùng đồ đến khi hỏng, sửa trước khi thay, giữ thức ăn, tận dụng nước, trồng rau, chia sẻ đồ, mua vừa đủ. Vấn đề là xã hội tiêu dùng đang làm những thực hành ấy trở thành dấu nghèo cần bỏ đi. Người ta dần coi đồ mới là dấu thành đạt, đồ dùng lâu là lỗi thời, sửa là phiền, dùng một lần là tiện. Linh đạo tạo thành cần phục hồi phẩm giá của sự vừa đủ. Một chiếc áo mặc lâu không phải dấu thất bại. Một cái bàn sửa lại không đáng xấu hổ. Một bữa ăn vừa đủ không phải thiếu hiếu khách. Một đám tiệc không dư thừa không phải kém sang. Có một sức ép văn hóa khiến người Công giáo cũng dễ chạy theo phô bày và tiêu dùng trong cưới hỏi, lễ bổn mạng, khánh thành, mừng kỷ niệm. Chúng ta cần can đảm hỏi: bao nhiêu sự lãng phí đang được hợp thức hóa bằng hai chữ “cho đẹp mặt”?
Đặc biệt, các bữa tiệc trong sinh hoạt Công giáo cần được xét mình. Bàn tiệc có một chỗ đẹp trong Kinh Thánh và đời sống cộng đoàn. Chúa Giêsu dự tiệc. Thánh Thể là bàn tiệc. Nhưng tiệc Kitô giáo không đồng nghĩa với dư thừa. Khi thức ăn bị bỏ đi từng mâm trong lúc ngoài kia có người thiếu ăn, có một nghịch lý đạo đức. Khi mỗi người dùng nhiều chai nhựa trong vài giờ rồi vứt đi, có một nghịch lý sinh thái. Khi một lễ hội tôn giáo để lại khu đất đầy rác, có một nghịch lý thiêng liêng. Không cần làm mất niềm vui. Cần học vui mà không phá. Học rộng rãi mà không phung phí. Học hiếu khách mà không biến số lượng đồ ăn thành thước đo danh dự. Đây là một cuộc hoán cải văn hóa rất cụ thể.
Một linh đạo tạo thành mang khuôn mặt Việt Nam cũng phải nói tới việc di dân. Nhiều người trẻ rời quê lên thành phố, rời ruộng vào khu công nghiệp, rời làng ven biển để làm việc nơi khác. Biến đổi sinh kế, đất đai, môi trường và kinh tế đan vào nhau. Khi một người rời quê không còn sống trong nhịp mùa vụ cũ, họ cũng mất một phần liên hệ với đất. Trong phòng trọ nhỏ, mọi thứ đều mua bằng tiền: nước, thức ăn, chỗ ở, phương tiện, không gian. Người ta dễ rơi vào cảm giác thế giới chỉ là hàng hóa vì hầu như mọi thứ quanh mình đều được tiếp cận qua thị trường. Giáo xứ đô thị cần giúp người di dân không chỉ giữ đức tin mà còn giữ mối liên hệ lành mạnh với tạo thành và cộng đồng. Một khoảng sân có cây, một vườn nhỏ, một sinh hoạt trồng rau, một ngày đi bộ, một buổi tĩnh tâm ngoài trời có thể trở thành những cử chỉ mục vụ rất có ý nghĩa. Đó không phải thú vui bên lề. Nó trả cho con người một phần căn tính thụ tạo đang bị bê tông hóa.
Hội Thánh Việt Nam cũng cần học nói về ô nhiễm mà không rơi vào giọng đạo đức hóa người nghèo. Nhiều chiến dịch môi trường dễ trách người bán hàng rong dùng túi nhựa, trách người nghèo dùng đồ rẻ, trách người dân thiếu ý thức. Có phần đúng: ai cũng có trách nhiệm. Nhưng không thể đặt trách nhiệm ngang nhau giữa một gia đình dùng vài túi nhựa vì không có lựa chọn rẻ khác với một hệ thống sản xuất tung ra hàng triệu sản phẩm dùng một lần. Không thể nói người nghèo “hãy sống xanh” mà không hỏi họ có phương án thay thế vừa túi tiền không. Công lý sinh thái đòi phân biệt trách nhiệm theo khả năng và mức độ tác động. Người có nhiều lựa chọn phải chịu trách nhiệm lớn hơn. Tổ chức lớn phải chịu trách nhiệm lớn hơn cá nhân đơn lẻ. Người tiêu thụ nhiều phải xét mình nhiều hơn người chỉ đủ sống. Một linh đạo sinh thái mà cuối cùng làm người nghèo cảm thấy tội lỗi vì nghèo là một linh đạo sai hướng.
Các giáo phận có thể tiến xa hơn bằng cách đưa tiêu chí sinh thái vào quản trị. Khi mua sắm, xây dựng, tổ chức sự kiện, quản lý đất đai, trường học, cơ sở xã hội, có thể có những tiêu chuẩn rõ ràng về nước, năng lượng, cây xanh, rác, vật liệu, độ bền và tác động tới cộng đồng. Không cần đợi mọi thứ hoàn hảo mới làm. Có thể bắt đầu từ khảo sát. Mỗi giáo phận có thể tự hỏi: các cơ sở của mình sử dụng bao nhiêu điện, bao nhiêu nước, phát sinh bao nhiêu rác, có bao nhiêu diện tích cây xanh, có những nơi nào đang lãng phí rõ nhất. Chỉ cần đo được, nhiều sự lãng phí sẽ tự lộ ra. Nhưng mục tiêu không phải biến Hội Thánh thành một doanh nghiệp tối ưu hóa chỉ số. Đo để phục vụ hoán cải, không phải để khoe thành tích.
Hội Thánh cũng có thể làm một điều rất quan trọng: kết nối tri thức. Trong cộng đồng Công giáo Việt Nam có kỹ sư, nhà khoa học, nông dân, ngư dân, kiến trúc sư, bác sĩ, giáo viên, chuyên gia môi trường, luật gia, doanh nhân, người làm quy hoạch. Nhiều giáo xứ chưa bao giờ hỏi những người này có thể đóng góp gì ngoài việc dâng cúng và tham gia lễ. Đây là một lãng phí đặc sủng. Một kỹ sư môi trường có thể giúp giáo xứ đọc hệ thống nước. Một kiến trúc sư có thể tư vấn xây dựng ít nóng hơn. Một nông dân giỏi có thể dạy thiếu nhi về đất. Một ngư dân có thể nói với người trẻ về biển thật hơn nhiều video. Một bác sĩ có thể giải thích tác động của ô nhiễm không khí lên trẻ em và người già. Một luật gia có thể giúp cộng đoàn hiểu quyền và nghĩa vụ trong các vấn đề đất đai và môi trường. Đây chính là một Hội Thánh hiệp hành: không phải chỉ ngồi họp nhiều hơn, mà là nhận ra Chúa Thánh Thần đã đặt nhiều khả năng khác nhau trong Dân Chúa và cho những khả năng ấy được phục vụ công ích.
Đặc biệt, linh đạo tạo thành ở Việt Nam không thể tách khỏi người nghèo. Người nghèo không phải một đề mục bên cạnh môi trường. Họ thường ở ngay giao điểm của các tổn thương. Họ sống nơi dễ ngập hơn, làm nghề phụ thuộc thời tiết hơn, có ít tiền dự phòng hơn, ít khả năng di chuyển hơn, ít quyền thương lượng hơn. Khi môi trường xấu đi, người có nguồn lực mua giải pháp. Người nghèo thường phải sống chung với hậu quả. Vì vậy, một dự án được gọi là “xanh” nhưng đẩy người nghèo ra khỏi nơi ở của họ thì cần được đặt câu hỏi. Một khu đô thị nhiều cây nhưng được xây trên sự mất sinh kế của cộng đồng yếu thế không thể tự động được gọi là tiến bộ sinh thái. Một chính sách bảo tồn mà không lắng nghe cộng đồng sống lâu đời trong khu vực cũng có thể tạo ra bất công. Sinh thái toàn diện luôn giữ cả đất và người trong cùng một khung.
Có một nguyên tắc cần được khắc sâu: người nghèo không chỉ là nạn nhân cần giúp; họ còn có tri thức cần nghe. Người nông dân biết đất bằng những dấu mà sách giáo khoa không có. Người ngư dân biết biển bằng luồng nước, mùa cá, gió, màu trời. Người sống ven rừng biết những thay đổi nhỏ của nguồn nước và thú rừng. Người bán hàng ngoài đường biết sức nóng đô thị qua chính cơ thể. Khoa học hiện đại cần thiết, nhưng khoa học không nên kiêu ngạo trước tri thức kinh nghiệm. Hội Thánh có thể là nơi hai loại tri thức gặp nhau. Một buổi sinh hoạt về tạo thành có thể mời cả chuyên gia và người dân. Một người đưa dữ liệu, một người đưa ký ức sống. Cả hai đều cần.
Linh đạo tạo thành cũng đòi Hội Thánh Việt Nam xem lại kiểu đạo đức thích những gì rất lớn nhưng bỏ qua điều bền bỉ. Chúng ta thích ngày phát động, ngày ra quân, lễ khai mạc, biểu ngữ, áo đồng phục, hình ảnh. Nhưng sinh thái đòi cái ít hấp dẫn hơn: chăm cây sau ba tháng, kiểm tra vòi nước sau sáu tháng, giữ thói quen phân loại sau khi hết phong trào, tiếp tục giảm rác khi không còn ai chụp ảnh. Một cái cây sống năm năm có ý nghĩa hơn một trăm cây trồng để chụp hình rồi chết sau mùa khô. Một giáo xứ giảm được lượng rác thật có giá trị hơn mười pano nói “bảo vệ môi trường”. Tin Mừng vốn thích sự trung tín trong điều nhỏ. Linh đạo tạo thành cũng vậy.
Cuối cùng, Giáo hội Việt Nam phải nhớ rằng quê hương không phải một ý niệm trừu tượng. Yêu quê hương trong đức tin bao gồm yêu đất thật của quê hương: con sông thật, cánh đồng thật, bãi biển thật, khu rừng thật, con hẻm thật. Lòng yêu nước Kitô giáo không chỉ biểu lộ trong những lúc nói về lịch sử, chủ quyền hay văn hóa. Nó còn biểu lộ trong việc không đầu độc dòng nước của đồng bào, không khai thác đến mức con cháu không còn gì, không im lặng trước những cộng đồng phải gánh hậu quả bất công, không sống kiểu tiện cho mình mà đẩy rác cho người khác. Chăm sóc ngôi nhà chung tại Việt Nam cũng là một cách yêu đất nước. Và yêu đất nước như thế không đối nghịch với tình yêu Thiên Chúa, bởi chính Thiên Chúa đã đặt ta vào một mảnh đất cụ thể, giữa những con người cụ thể, trong một thời điểm lịch sử cụ thể, để ta sống ơn gọi của mình.
Một ngày nào đó, thế hệ sau sẽ nhìn lại Hội Thánh Việt Nam hôm nay. Họ sẽ không chỉ hỏi chúng ta đã xây bao nhiêu nhà thờ, tổ chức bao nhiêu đại hội, có bao nhiêu hội đoàn, in bao nhiêu sách. Họ có thể hỏi: khi những con sông bắt đầu đau, các ông đã làm gì? Khi đất mặn dần, các bà đã nói gì? Khi rừng bị cắt, ai đứng bên người mất rừng? Khi biển đầy nhựa, các giáo xứ ven biển đã thay đổi chưa? Khi thành phố nóng lên và ngập hơn, các cơ sở Công giáo đã xây kiểu nào? Khi người nghèo chịu trước, Hội Thánh đứng ở đâu? Những câu hỏi ấy không phải để kết án chúng ta. Chúng là lời gọi tỉnh thức.
Linh đạo tạo thành tại Việt Nam phải mang mùi phù sa, mùi rơm mới, mùi mặn của biển, mùi lá rừng sau mưa, cả mùi khói xe của đô thị. Nó phải biết tiếng mái tôn nóng giữa trưa và tiếng ghe máy ngoài sông lúc sáng sớm. Nó phải hiện diện trong cách giáo xứ xây nhà, cách dòng tu dùng đất, cách gia đình ăn uống, cách trường học dạy trẻ, cách thanh niên tiêu dùng, cách người làm kinh tế quyết định, cách người làm chính sách hiểu công ích, cách linh mục giảng, cách giáo dân tổ chức và cách cả cộng đoàn đứng bên người yếu thế. Nếu linh đạo ấy chỉ ở trong sách, nó chưa nhập thể. Nếu nó chỉ ở hội thảo, nó chưa chạm đất. Nếu nó chỉ là khẩu hiệu, nó chưa thành hoán cải.
Đất nước này đã nuôi Hội Thánh Việt Nam bằng nước của nó, gạo của nó, cá của nó, trái cây của nó, gỗ của nó, khí trời của nó, công sức của những người lao động trên nó. Hội Thánh không thể chỉ nhận mà không gìn giữ. “Canh tác và gìn giữ” không phải mệnh lệnh dành cho một Adam xa xưa. Đó là lời nói với người Công giáo Việt Nam hôm nay. Canh tác, vì chúng ta phải lao động, phát triển, xây dựng, sáng tạo, làm khoa học, sản xuất và nuôi sống gia đình. Gìn giữ, vì không điều gì trong tay chúng ta là sở hữu tuyệt đối. Sông phải còn cho người sau. Đất phải còn sức. Rừng phải còn chỗ cho sự sống. Biển phải còn cá. Thành phố phải còn nơi để thở. Người nghèo phải còn quyền được sống trong một môi trường xứng với phẩm giá con người.
Giáo hội Việt Nam không cần trở thành một tổ chức môi trường để làm điều ấy. Giáo hội chỉ cần trở thành Hội Thánh cách trọn vẹn hơn. Bởi Hội Thánh tin vào Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa. Hội Thánh tin Ngôi Lời đã thành xác phàm. Hội Thánh tuyên xưng Thánh Thần là Đấng ban sự sống. Hội Thánh bẻ bánh là hoa màu ruộng đất và công lao con người. Hội Thánh đọc Thánh vịnh trong đó sông núi, cây cối và muôn loài cùng chúc tụng Chúa. Hội Thánh đứng về phía người nghèo. Từ chính những điều căn bản ấy, trách nhiệm với sông, ruộng, rừng, biển và đô thị tự nhiên xuất hiện. Nó không phải phụ lục của đức tin. Nó là một trong những cách đức tin trở thành thân xác giữa quê hương này.
Và có lẽ một ngày rất gần, người ta sẽ không còn hỏi: “Giáo hội có làm về môi trường không?” Câu hỏi ấy tự nó đã cho thấy ta từng chia đôi điều không nên chia. Người ta sẽ hỏi đơn giản hơn: “Giáo hội có sống Tin Mừng giữa vùng đất này không?” Nếu câu trả lời là có, thì trong câu trả lời ấy phải có một dòng sông được tôn trọng hơn, một cánh đồng được chăm khôn ngoan hơn, một cánh rừng được bảo vệ hơn, một bãi biển ít rác hơn, một khu phố có thêm bóng cây, một gia đình bớt lãng phí, một giáo xứ biết tiết độ, một dòng tu sống giản dị, một người trẻ biết chiêm ngắm, một em nhỏ biết nâng một con vật thay vì hành hạ nó, một người nông dân được lắng nghe, một ngư dân không bị bỏ lại một mình, một người mất đất có người đứng cạnh, một người nghèo không còn phải một mình gánh giá của cái gọi là phát triển.
Đó là lúc linh đạo tạo thành không còn là đề tài. Nó đã trở thành đời sống.

CHƯƠNG 39. NHỮNG VIỆC CỤ THỂ KHÔNG THAY THẾ HOÁN CẢI, NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC THIẾU
Có một cám dỗ rất dễ gặp khi nói về linh đạo tạo thành và trách nhiệm đối với ngôi nhà chung: hoặc người ta biến tất cả thành những việc nhỏ bên ngoài, hoặc người ta nói rất hay về hoán cải nội tâm nhưng cuối cùng chẳng thay đổi một thói quen nào. Một bên là chủ nghĩa hoạt động: trồng vài cây, phân loại vài túi rác, đổi vài bóng đèn, chụp vài tấm ảnh, tổ chức một ngày môi trường rồi nghĩ rằng bổn phận đã xong. Bên kia là một thứ linh đạo mơ hồ: nói về lòng biết ơn, về chiêm ngắm, về tình yêu đối với tạo thành, nhưng nhà vẫn lãng phí điện, giáo xứ vẫn xả rác, tiệc vẫn dư thừa, đất đai vẫn sử dụng bất cẩn, người nghèo vẫn bị bỏ mặc trước những dự án làm tổn thương môi trường sống của họ. Kitô giáo không cho phép ta chọn một trong hai. Hoán cải phải đi vào việc làm, và việc làm phải được sinh ra từ hoán cải. Nếu chỉ có hành động mà không đổi lòng, việc làm dễ trở thành phong trào, thành bảng thành tích, thành một thứ trang trí đạo đức. Nếu chỉ nói đổi lòng mà không đi vào hành vi, sự hoán cải ấy có nguy cơ chỉ là một cảm xúc đạo đức đẹp nhưng vô sinh. Đức Giêsu đã nói rất rõ rằng cây tốt thì sinh quả tốt. Không phải quả làm cho cây trở nên sống, nhưng cây sống mà không có quả thì phải đặt câu hỏi. Cũng vậy, hoán cải sinh thái không thể được đo duy nhất bằng số cây trồng hay số túi nhựa giảm, nhưng một cộng đoàn nói mình đã hoán cải mà không có bất cứ dấu hiệu hữu hình nào trong cách dùng nước, dùng điện, tổ chức tiệc, quản lý đất, giáo dục trẻ, đồng hành người nghèo và sử dụng tiền bạc thì lời nói ấy cần được xét lại. Những việc cụ thể không thay thế hoán cải, nhưng tuyệt đối không được thiếu, vì chính những việc nhỏ và đều đặn ấy là nơi hoán cải đi từ ý tưởng xuống đôi tay, từ bài giảng xuống ngân sách, từ lời cầu nguyện xuống nhà bếp, từ bàn thờ xuống sân nhà thờ, từ thông điệp xuống đời sống hằng ngày.
Một trong những việc cần được đưa vào đời sống Công giáo cách nghiêm túc hơn là xét mình sinh thái. Người tín hữu đã quen xét mình về lời nói, về sự nóng giận, về thiếu bác ái, về bổn phận gia đình, về điều răn, về việc cầu nguyện. Tất cả những điều ấy phải được giữ. Nhưng trong hoàn cảnh hôm nay, lương tâm cần được đào tạo để nhìn thấy cả những hành vi làm tổn thương ngôi nhà chung và qua đó làm tổn thương người khác. Mùa Chay là một thời gian đặc biệt thích hợp. Ăn chay không chỉ là bớt một món ăn rồi dùng phần tiền ấy cho một thú vui khác. Ăn chay là học lại giới hạn. Học rằng không phải muốn gì cũng cần có ngay. Học rằng lòng tham có thể đi qua bao tử, qua túi mua hàng, qua điện thoại, qua điều hòa, qua cách dùng xe, qua thói quen thay mới những thứ còn dùng được. Một cuộc xét mình mùa Chay có thể hỏi rất cụ thể: tôi có tiêu dùng quá mức cần thiết không? Tôi có mua vì cần hay vì bị quảng cáo kích thích? Tôi có thường xuyên bỏ thức ăn không? Tôi có dùng nước như thể nước là vô tận? Tôi có để máy lạnh chạy trong phòng trống? Tôi có coi tất cả đồ dùng là thứ có thể thay ngay thay vì sửa chữa? Tôi có dùng đồ nhựa một lần chỉ vì tiện? Tôi có biết nơi thức ăn mình ăn đến từ đâu, ai làm ra, người lao động ấy sống ra sao, đất đai ấy có đang bị kiệt sức không? Tôi có bao giờ nghĩ đến người nhặt rác, người xử lý rác, người sống gần bãi rác sau khi mình tiện tay vứt bỏ một món đồ không? Tôi có thể hy sinh một phần tiện nghi để người khác và thế hệ sau có thêm phần sống không? Những câu hỏi ấy không phải để tạo mặc cảm tội lỗi bệnh lý. Chúng giúp lương tâm nhìn thấy rằng tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân không dừng ở cảm xúc; chúng chạm tới cả cách ta sử dụng vật chất.
Bên cạnh mùa Chay, Giáo hội hoàn vũ trong những năm gần đây còn mời gọi sống Mùa Tạo Dựng, một khoảng thời gian đặc biệt để cầu nguyện, suy tư và hành động cho ngôi nhà chung. Nhưng bất cứ mùa nào cũng có thể trở thành mùa của việc xét mình về tạo thành, bởi đời sống Kitô hữu không chia thành những ngăn kín: tháng này yêu Chúa, tháng kia yêu người nghèo, tháng nọ mới nhớ tới môi trường. Một giáo xứ có thể dành một buổi tĩnh tâm ngắn mỗi năm để nhìn lại cách sống của cộng đoàn: năm qua chúng ta dùng bao nhiêu điện, bao nhiêu nước, bao nhiêu đồ dùng một lần? Những bữa tiệc lớn để lại bao nhiêu rác? Các lễ hội có đang ngày một to hơn chỉ vì sợ thua giáo xứ khác không? Có khoản chi nào mang tên “trang trọng” nhưng thực ra là lãng phí không? Những công trình xây dựng có tôn trọng bóng cây, thoát nước và môi trường xung quanh không? Có những người nghèo trong khu vực đang chịu tác động của ô nhiễm mà giáo xứ hoàn toàn không biết đến không? Việc xét mình cộng đoàn cần cụ thể như vậy. Không phải để biến giáo xứ thành công ty kiểm toán carbon, nhưng để giúp cộng đoàn sống thật điều mình tuyên xưng: trời đất là của Chúa, của cải là ơn được trao, và người quản gia phải có ngày trả lời về cách mình sử dụng.
Một việc rất thực tế khác là mỗi giáo xứ, cộng đoàn tu trì, trường học Công giáo hay cơ sở bác ái nên thực hiện một cuộc kiểm tra đơn giản về đất đai, nước, điện, tiệc tùng, vật liệu trang trí, âm thanh và rác thải. Không cần bắt đầu bằng một dự án tốn kém. Chỉ cần bắt đầu bằng sự thật. Đất của giáo xứ đang được dùng thế nào? Có diện tích nào bị bê tông hóa không cần thiết không? Có thể giữ thêm một khoảng đất thấm nước, trồng cây bóng mát, trồng cây bản địa, tạo một góc vườn cho trẻ em học về tạo thành không? Cây cũ có bị chặt chỉ vì muốn sân trống đẹp khi chụp ảnh không? Khi xây thêm nhà mục vụ, nhà sinh hoạt hay bãi xe, có nghĩ đến nước mưa, nhiệt độ, bóng râm và dòng chảy hay chỉ nghĩ đến diện tích sử dụng? Một mét vuông đất trong khuôn viên giáo xứ cũng là một phần của ngôi nhà chung. Không phải cứ là đất Hội Thánh thì muốn sử dụng thế nào cũng được. Quyền sở hữu không giải thoát người tín hữu khỏi trách nhiệm quản lý. Trái lại, đất của Hội Thánh càng phải nói lên được một thái độ khác với đất: không chỉ khai thác, nhưng gìn giữ; không chỉ xây, nhưng biết để trống; không chỉ làm cho đẹp, nhưng làm cho sống.
Nước cũng cần được kiểm lại. Nhiều nơi chúng ta cầu xin mưa, cầu cho nông dân, cầu cho người vùng hạn, nhưng đồng thời để vòi nước chảy vô ích, hệ thống rò rỉ kéo dài mà không sửa, rửa sân bằng lượng nước quá mức, hoặc tổ chức những hoạt động tiêu tốn nước chỉ vì thói quen. Người Kitô hữu không thể vừa tạ ơn vì “chị nước” rồi lại hành xử như thể nước chẳng có giá trị. Một cộng đoàn đông người càng cần giáo dục thói quen dùng nước có trách nhiệm. Nhà vệ sinh, bếp, khu lưu trú, nơi rửa chén, hệ thống tưới cây đều có thể được kiểm tra. Một vòi nước rò rỉ suốt nhiều tháng có thể làm mất một lượng nước lớn. Một đường ống hư được sửa sớm không phải là chuyện kỹ thuật nhỏ không liên quan đến linh đạo. Đó chính là nơi tinh thần quản gia bước vào vật chất. Có người nghĩ chuyện thiêng liêng phải ở trên cao. Thật ra, đôi khi sự thánh thiện đi qua một cái khóa nước được khóa cẩn thận sau khi sử dụng.
Điện cũng vậy. Giáo xứ thường là nơi có nhiều phòng, nhiều quạt, nhiều máy lạnh, nhiều đèn, nhiều thiết bị âm thanh, nhiều chương trình. Cần đặt câu hỏi không phải để làm mất vẻ trang trọng, nhưng để tìm lại sự hợp lý. Có thật cần bật sáng toàn bộ nhà thờ khi chỉ có một nhóm nhỏ sinh hoạt ở một góc? Có thật cần mở điều hòa ở mức rất thấp để người bên trong phải mặc áo khoác giữa một xứ nóng? Có thật cần thắp sáng hàng trăm bóng trang trí suốt đêm nhiều tuần chỉ để tạo cảm giác lễ hội? Có thể chuyển dần sang thiết bị tiết kiệm điện không? Có thể tận dụng thông gió tự nhiên không? Có thể tắt những khu vực không sử dụng không? Có thể thiết kế giờ sinh hoạt hợp lý để không kéo dài nhiều hệ thống cùng lúc không? Những câu hỏi ấy có thể nghe rất đời thường, nhưng đức tin Kitô giáo không khinh điều đời thường. Chính Con Thiên Chúa đã sống ba mươi năm trong một gia đình, nơi từng giọt nước, từng mẩu bánh, từng bó củi đều có giá. Một linh đạo Nazareth sẽ không coi tiết kiệm là keo kiệt. Tiết kiệm đúng nghĩa là tôn trọng ơn Chúa và tôn trọng lao công của con người.
Tiệc tùng là một lãnh vực khác rất cần hoán cải. Văn hóa Việt Nam coi bữa ăn là dấu chỉ hiệp thông và lòng hiếu khách. Điều đó đẹp và cần giữ. Nhưng hiếu khách không đồng nghĩa với dư thừa. Có những dịp lễ trong giáo xứ, hội đoàn, dòng tu, gia đình Công giáo mà lượng thức ăn chuẩn bị vượt xa nhu cầu, rồi cuối buổi phải đổ đi. Người ta sợ thiếu hơn sợ bỏ. Sợ khách đánh giá hơn sợ lãng phí. Sợ mâm không đầy hơn sợ người nghèo không có cơm. Cần học một văn hóa mới: đủ, đẹp, vui nhưng không phô trương. Sự sang trọng của Kitô giáo không nằm ở số món ăn. Đức Giêsu nuôi đám đông rồi còn bảo các môn đệ thu lại những mẩu bánh còn thừa để khỏi phí. Chi tiết ấy đáng để mọi ban tổ chức lễ hội Công giáo học thuộc. Nếu chính Tin Mừng còn quan tâm tới những mẩu bánh thừa, thì không thể nói việc giảm lãng phí trong tiệc là chuyện vụn vặt.
Hoa và vật liệu trang trí cũng cần được xem lại. Hoa thật có vẻ đẹp riêng, hoa giả có sự tiện dụng riêng; vấn đề không phải là thiết lập một luật cứng rằng loại này thánh thiện còn loại kia tội lỗi. Vấn đề là thái độ và mức độ. Có những nơi tích trữ rất nhiều hoa nhựa, xốp, dây kim tuyến, vật liệu dùng một lần, mỗi dịp lại mua mới vì màu cũ không hợp chủ đề. Sau vài mùa lễ, một kho đầy những vật liệu khó phân hủy. Có thể sử dụng lại không? Có thể giảm không? Có thể chọn vật liệu bền hơn không? Có thể dùng cây sống, lá địa phương, vật liệu tự nhiên, những thứ có thể tái sử dụng không? Có thể thay một phần trang trí bằng sự sạch sẽ, trật tự và vẻ đẹp giản dị không? Nhà thờ không cần cạnh tranh với trung tâm sự kiện. Phụng vụ có vẻ đẹp của phụng vụ. Khi một cộng đoàn phải tiêu tốn quá nhiều tài nguyên để làm cho bàn thờ “đẹp” đến mức người ta chỉ nhớ hoa mà quên Đấng được thờ phượng, thì cần hỏi lại đâu là trung tâm.
Âm thanh cũng là một khía cạnh ít được nghĩ tới nhưng liên quan trực tiếp đến ngôi nhà chung. Ô nhiễm không chỉ là khói và rác. Tiếng ồn cũng có thể làm tổn thương sức khỏe, đời sống hàng xóm, người già, trẻ nhỏ và người bệnh. Một giáo xứ nằm giữa khu dân cư cần có trách nhiệm với âm lượng loa. Loan báo Tin Mừng không có nghĩa là toàn khu phố phải nghe tất cả sinh hoạt trong sân nhà thờ. Có những giờ người khác cần nghỉ. Có những gia đình không cùng tôn giáo. Có những người đau yếu. Bác ái mục vụ bao gồm cả việc biết hạ âm lượng. Một cộng đoàn nói về hòa bình nhưng để loa gây căng thẳng cho cả khu phố đang tự mâu thuẫn với chính mình. Âm thanh đủ nghe, rõ ràng, trang trọng là mục tiêu. To hơn không có nghĩa là sốt sắng hơn.
Một vấn đề cần nói thẳng là phải bãi bỏ những hình thức lãng phí lễ hội nhưng lại được khoác lên cái tên đẹp như “tôn vinh tạo thành”, “mừng mùa tạo dựng”, “ngày môi trường” hay “lễ hội xanh”. Không có gì mỉa mai hơn việc tổ chức một ngày bảo vệ môi trường mà dùng hàng ngàn ly nhựa, chai nhựa, bong bóng, băng rôn dùng một lần, thức ăn dư thừa, máy lạnh mở hết công suất, xe cộ tập trung đông đúc rồi kết thúc bằng một núi rác. Không có gì trái khoáy hơn việc trồng cây bằng cách phá một khu đất khác để làm sân khấu cho lễ trồng cây. Không có gì giả tạo hơn việc kêu gọi giảm tiêu dùng nhưng phát hàng trăm món quà lưu niệm không cần thiết chỉ để có logo chương trình. Một chương trình tốt không được đánh giá bằng số phông nền, số ảnh đăng hay số người cầm bảng khẩu hiệu. Cần hỏi: sau chương trình, điều gì thực sự được thay đổi? Bao nhiêu thói quen mới được hình thành? Bao nhiêu cây còn sống sau một năm? Bao nhiêu nguồn nước được bảo vệ? Bao nhiêu rác đã thật sự giảm? Bao nhiêu người nghèo được đồng hành? Bao nhiêu quyết định ngân sách đã thay đổi? Nếu không có gì thay đổi ngoài album ảnh, thì chương trình ấy đã phục vụ truyền thông nhiều hơn phục vụ tạo thành.
Đặc biệt phải nhấn mạnh việc “trồng và giữ, không chỉ chụp ảnh trồng”. Trồng cây là một biểu tượng rất đẹp và là một hành động có ích khi được làm đúng. Nhưng ở nhiều nơi, phong trào trồng cây đã trở thành nghi thức: mỗi người cầm một xẻng, đổ vài nhát đất, chụp ảnh, rồi ra về. Không ai chịu trách nhiệm tưới. Không ai kiểm tra giống cây có phù hợp thổ nhưỡng không. Không ai hỏi mùa đó có thích hợp để trồng không. Không ai bảo vệ cây khỏi gia súc, xe cộ hay công trình xây dựng. Sáu tháng sau cây chết, năm sau lại tổ chức đợt trồng mới ở chỗ khác. Đó không phải là gìn giữ. Trong Sáng Thế, con người được đặt vào vườn để “canh tác và gìn giữ”. Hai động từ không thể tách. Trồng là canh tác. Chăm cây sống qua mùa khô mới là gìn giữ. Một giáo xứ muốn trồng cây nên có người phụ trách từng khu vực, có kế hoạch tưới, có lựa chọn cây phù hợp, có ngân sách bảo dưỡng, có đánh giá sau một năm. Thà trồng mười cây mà mười cây sống còn hơn trồng một ngàn cây để có một bức ảnh đẹp rồi chết chín trăm cây.
Giáo hội cũng phải đồng hành với nông dân, ngư dân và những người lao động trong môi trường độc hại. Khi nói về sinh thái, rất dễ đứng từ thành phố mà đưa ra những lời khuyên đạo đức cho người sống trực tiếp bằng đất, rừng và biển. Người nông dân không thể chỉ được bảo rằng đừng dùng hóa chất mà không ai giúp họ tìm phương án khác khả thi. Người ngư dân không thể chỉ được bảo đánh bắt bền vững mà không ai quan tâm tới giá xăng, thị trường, các đội tàu lớn, nguồn cá suy giảm và những vùng biển bị ô nhiễm. Người làm nghề thu gom rác, tái chế phế liệu, phun thuốc, khai thác đá, làm trong xưởng hóa chất, khu công nghiệp, lò nung, công trình xây dựng không thể chỉ nghe những bài nói chung chung về môi trường. Họ đang dùng chính phổi, da, cột sống và tuổi thọ của mình để trả giá cho nền kinh tế. Giáo hội nếu thật sự nghe “tiếng kêu của đất và tiếng kêu của người nghèo” thì phải đứng gần những người này.
Đồng hành bắt đầu bằng việc lắng nghe. Một giáo xứ vùng nông nghiệp cần biết mùa vụ của dân mình. Cần biết họ đang lo điều gì: giá phân bón, nước tưới, sâu bệnh, mất mùa, hạn hán, mặn xâm nhập, đất bạc màu, giá nông sản xuống, thương lái ép giá. Một linh mục quản xứ có thể không phải chuyên gia nông nghiệp, nhưng có thể mở không gian cho người dân gặp chuyên gia, kỹ sư, hợp tác xã, người làm nông nghiệp bền vững, cơ quan hữu trách. Giáo xứ có thể hỗ trợ giáo dục, kết nối, chia sẻ thông tin, tạo những nhóm học hỏi. Ở vùng biển, giáo xứ cần hiểu đời sống ngư dân: chuyến biển dài, rủi ro bão tố, nguồn lợi thủy sản suy giảm, ô nhiễm, nợ vay, áp lực khai thác. Trong khu công nghiệp, mục vụ công nhân phải bao gồm cả sức khỏe nghề nghiệp và môi trường làm việc. Nếu một nhà máy để công nhân tiếp xúc hóa chất không được bảo vệ, đó không chỉ là vấn đề kỹ thuật lao động; đó là vấn đề phẩm giá con người.
Chính ở đây học thuyết xã hội của Hội Thánh và Laudato Si’ cần được đưa vào việc đào tạo ban hành giáo, hội đồng mục vụ, các trưởng hội đoàn và những người có trách nhiệm. Rất nhiều ban hành giáo giỏi tổ chức lễ, thu chi, sửa nhà thờ, sắp xếp chương trình, nhưng ít người được học cách nhìn một quyết định kinh tế, môi trường hay xã hội dưới ánh sáng công ích, liên đới, bổ trợ, phẩm giá con người và ưu tiên cho người nghèo. Điều đó cần thay đổi. Một người tham gia điều hành cộng đoàn Công giáo hôm nay phải hiểu rằng quản trị giáo xứ không chỉ là quản trị phụng vụ và tài sản. Giáo xứ là một cộng đoàn sống giữa xã hội. Mỗi quyết định xây dựng, chi tiêu, tổ chức, sử dụng đất, dùng năng lượng và tương quan với địa phương đều có chiều kích xã hội.
Có thể tổ chức những khóa học ngắn cho ban hành giáo về các nguyên tắc chính của học thuyết xã hội Công giáo: phẩm giá con người, công ích, liên đới, bổ trợ, quyền và nghĩa vụ, lao động, của cải, người nghèo, hòa bình và chăm sóc tạo thành. Laudato Si’ không nên chỉ được giao cho một “ban môi trường” nếu giáo xứ có ban ấy. Tinh thần của thông điệp phải đi vào toàn bộ cách lãnh đạo cộng đoàn. Ban tài chính phải biết. Ban xây dựng phải biết. Ban phụng vụ phải biết. Giới trẻ phải biết. Gia trưởng, hiền mẫu phải biết. Giáo lý viên phải biết. Người làm truyền thông phải biết. Bởi nếu chỉ một nhóm nhỏ nói về ngôi nhà chung trong khi nhóm xây dựng chặt hết cây, nhóm tiệc tùng dùng đồ một lần vô độ, nhóm truyền thông đòi càng nhiều đèn càng đẹp, còn ban tài chính chỉ quan tâm giá thấp nhất mà không quan tâm điều kiện sản xuất, thì cộng đoàn đang nói nhiều tiếng khác nhau.
Một cộng đoàn trưởng thành còn phải biết lên tiếng khi có những dự án làm hại người nghèo và hại đất. Đây là vấn đề khó, vì nói đến tiếng nói xã hội của Hội Thánh rất dễ bị kéo vào phe phái. Cần giữ nguyên tắc rõ ràng: lên tiếng bằng sự thật, không bằng phe. Hội Thánh không được biến thành công cụ cho một nhóm chính trị, một doanh nghiệp hay một phong trào. Nhưng Hội Thánh cũng không thể lấy lý do “không làm chính trị” để im lặng trước sự thật. Nếu một dự án làm ô nhiễm nguồn nước của cả một cộng đồng, nếu việc khai thác làm người dân mất đất mà không được bảo đảm công bằng, nếu một nhà máy xả thải làm trẻ em và người già bệnh tật, nếu một công trình phá rừng gây lũ cho người nghèo ở hạ lưu, nếu người dân không được tiếp cận thông tin cần thiết, thì đó là vấn đề luân lý. Không phải tất cả mọi phản đối đều đúng, cũng không phải mọi dự án phát triển đều xấu. Vì vậy, tiếng nói của Hội Thánh phải dựa trên dữ kiện, nghiên cứu, luật pháp, đối thoại và nguyên tắc luân lý, chứ không dựa trên tin đồn hay cảm xúc đám đông.
“Bằng sự thật, không bằng phe” nghĩa là nếu doanh nghiệp đúng thì phải công nhận cái đúng. Nếu người phản đối sai thì phải nói cái sai. Nếu chính quyền có nỗ lực tốt thì phải ghi nhận. Nếu chính sách có hệ quả bất công thì phải góp ý. Nếu dữ liệu chưa đủ thì phải chờ. Nếu chuyên môn vượt khả năng của mình thì cần hỏi chuyên gia. Sự độc lập của Hội Thánh nằm ở chỗ không để Tin Mừng bị mua bởi bất cứ phe nào. Người nghèo không phải quân cờ cho một cuộc đấu ý thức hệ. Tạo thành cũng không phải khẩu hiệu để tấn công đối thủ. Có những người nhân danh môi trường để chống mọi phát triển. Cũng có những người nhân danh phát triển để coi mọi phản đối là cản trở. Đức khôn ngoan Kitô giáo phải đứng ngoài hai cực ấy, hỏi điều gì phục vụ công ích lâu dài và ai đang phải trả giá.
Tiếng nói của Hội Thánh trước một vấn đề môi trường có thể bắt đầu rất khiêm tốn: yêu cầu thông tin minh bạch, khuyến khích đối thoại, xin đánh giá tác động độc lập, bảo vệ quyền của người dân được lắng nghe, hỗ trợ những gia đình yếu thế tiếp cận pháp lý, tổ chức những buổi gặp có chuyên gia, cầu nguyện cho những người bị ảnh hưởng và cho cả những người phải quyết định. Khi cần, có thể có những tuyên bố mục vụ. Nhưng tuyên bố phải chính xác. Một câu sai dữ kiện có thể làm mất uy tín của rất nhiều lời đúng. Càng đứng về người yếu thế, Hội Thánh càng phải tôn trọng sự thật, vì sự thật chính là một cách bảo vệ người nghèo khỏi bị lợi dụng.
Một điều không thể thiếu khác là giáo dục trẻ em và người trẻ qua việc làm thật. Không chỉ giảng rằng yêu thiên nhiên là tốt. Hãy cho các em chăm một cây trong nhiều tháng. Hãy để các em tự đo lượng rác một ngày sinh hoạt giáo lý. Hãy cho các em thấy một túi rác của một nhóm sau một buổi sinh hoạt và hỏi: cái gì trong đây có thể tránh? Hãy đưa các em đi thăm một người nông dân, một người làm vườn, một cơ sở phân loại rác, một dòng sông, một cánh đồng, một khu rừng nếu điều kiện cho phép. Hãy dạy chúng biết tên một vài loài cây quanh nhà thờ. Trẻ em sẽ khó yêu cái mà chúng không biết tên. Người trẻ sẽ khó bảo vệ đất nếu đất chỉ là khái niệm trong bài PowerPoint. Giáo dục tạo thành phải trả thân xác con người về với thế giới thật.
Các việc bác ái cũng cần nối với sinh thái. Khi giáo xứ giúp một gia đình nghèo sửa nhà, có thể nghĩ tới thông gió, chống nóng, nước sạch, điện an toàn. Khi giúp học sinh nghèo, có thể dạy các em cách sử dụng sách vở, thiết bị lâu bền. Khi phát quà, có thể giảm bao bì. Khi cứu trợ lũ lụt, có thể nghĩ tới việc thu gom rác và nước sạch sau lũ. Khi hỗ trợ nông dân, có thể quan tâm tới sinh kế bền vững. Không phải biến mọi hoạt động bác ái thành dự án môi trường, nhưng nhìn ra rằng người nghèo và môi trường thường chịu đau cùng nhau.
Các cộng đoàn tu trì cũng phải xét lại nếp sống. Một tu viện nói về khó nghèo nhưng tiêu dùng theo mức sống xa xỉ sẽ làm chứng nghịch. Khó nghèo tu trì không đồng nghĩa với sống thiếu vệ sinh hay từ chối mọi tiện nghi chính đáng. Nhưng khó nghèo đòi tự do trước vật chất. Có thật cần thay điện thoại mỗi khi có mẫu mới? Có thật mỗi phòng cần tất cả thiết bị riêng? Có thể dùng chung một số thứ không? Thực phẩm trong bếp có bị bỏ nhiều không? Quần áo cũ còn tốt có được sử dụng tiếp không? Các công trình trong nhà dòng có quá chú trọng vẻ ngoài mà thiếu cân nhắc năng lượng và môi trường không? Một cộng đoàn tu trì có thể trở thành dấu chỉ đẹp cho xã hội bằng chính nếp sống đơn sơ, sạch sẽ, đủ dùng và biết chăm sóc đất.
Các lễ hội tôn giáo đặc biệt cần được rà soát. Hành hương, lễ bổn mạng, lễ khấn, lễ truyền chức, lễ kỷ niệm, lễ hội Đức Mẹ, sinh hoạt giới trẻ có thể quy tụ hàng ngàn người. Số lượng lớn đồng nghĩa với trách nhiệm lớn. Cần tính trước điểm nước uống, nhà vệ sinh, phân loại rác, bãi xe, âm thanh, thức ăn, vật liệu trang trí và việc dọn sạch sau chương trình. Một cuộc hành hương để lại cả núi rác là một phản chứng. Người hành hương vừa cầu kinh kính Đức Mẹ vừa ném chai nhựa bên đường không thể nói rằng hành vi ấy không liên quan tới đức tin. Người tham dự Thánh lễ rồi bỏ hộp cơm giữa sân cũng cần được giáo dục rằng phụng vụ và đời sống không tách rời.
Một việc tưởng nhỏ nhưng mang sức đào tạo lớn là giảm dần đồ dùng một lần trong các sinh hoạt Công giáo. Không phải mọi nơi đều có thể cấm ngay lập tức. Có vùng thiếu nước nên việc dùng chén đĩa tái sử dụng cũng có khó khăn. Nhưng có thể giảm từng bước: bình nước lớn thay cho chai nhỏ, ly cá nhân trong những cuộc họp thường xuyên, hộp tái sử dụng trong sinh hoạt nội bộ, bàn ăn có dụng cụ bền thay cho đồ nhựa khi điều kiện cho phép. Mục tiêu không phải tạo một bộ luật mới để người ta xét đoán nhau, nhưng làm cho cộng đoàn ý thức rằng sự tiện lợi luôn có một cái giá ở đâu đó. Cái ly dùng năm phút có thể tồn tại hàng trăm năm trong môi trường. Một linh đạo biết nghĩ đến hậu quả là một linh đạo trưởng thành.
Giáo xứ cũng có thể xem lại việc mua sắm. Mua rẻ nhất chưa chắc là quản lý tốt nhất. Một món đồ rẻ nhưng nhanh hỏng, khó sửa, phải thay liên tục có thể đắt hơn và tạo nhiều rác hơn. Một sản phẩm bền, tiết kiệm điện, dễ sửa có thể đáng đầu tư hơn. Việc mua sắm cũng có thể ưu tiên hàng địa phương khi phù hợp, vừa giảm vận chuyển vừa hỗ trợ sinh kế địa phương. Không phải lúc nào hàng địa phương cũng tốt hơn hay sạch hơn, nên vẫn cần khôn ngoan. Nhưng nguyên tắc là đừng nhìn giá mua ban đầu như tiêu chuẩn duy nhất. Người quản gia phải nhìn cả vòng đời của món đồ.
Người tín hữu cần phục hồi văn hóa sửa chữa. Xã hội tiêu dùng dạy rằng hỏng là bỏ. Linh đạo tạo thành dạy rằng hỏng có thể sửa. Một cái ghế, một chiếc quạt, một bộ áo, một chiếc xe, một thiết bị điện tử nếu còn sửa được thì việc sửa không chỉ tiết kiệm tiền mà còn tập cho con người chống lại tâm lý vứt bỏ. Đức Phanxicô nhiều lần cảnh báo về “văn hóa vứt bỏ”, nơi không chỉ đồ vật mà cả người già, người nghèo, thai nhi, người bệnh và người không hiệu quả cũng dễ bị nhìn như thứ có thể loại bỏ. Thói quen vứt đồ và thói quen vứt người không hoàn toàn giống nhau, nhưng cùng có thể được nuôi bởi một não trạng: cái gì không còn tiện cho tôi thì tôi bỏ. Bởi vậy, tập sửa một món đồ đôi khi cũng là tập lại lòng kiên nhẫn.
Một điểm rất quan trọng khác là Chúa Nhật. Chúa Nhật phải được giải thoát khỏi tình trạng bị nhồi đầy bằng họp hành Công giáo. Có một nghịch lý: người tín hữu làm việc cả tuần, đến Chúa Nhật lại phải dự lễ, họp ban này, họp hội kia, tập hát, họp hội đồng, sinh hoạt đoàn thể, học khóa, chuẩn bị chương trình, ăn tiệc, họp tiếp. Cuối ngày, người phục vụ giáo xứ mệt hơn ngày thường. Con cái gần như không gặp cha mẹ. Bữa cơm gia đình bị cắt. Người lớn tuổi không được thăm. Không ai nghỉ. Không ai đi bộ. Không ai nhìn trời. Không ai ngủ trưa. Không ai có thời gian thinh lặng. Một Chúa Nhật như vậy có nguy cơ làm mất chính ý nghĩa của Chúa Nhật.
Chúa Nhật không chỉ là ngày “có lễ”. Nó là ngày của Chúa Phục Sinh, ngày của cộng đoàn, ngày của niềm vui, ngày của sự nghỉ thánh. Trong truyền thống Kinh Thánh, nghỉ không phải lười. Nghỉ là tuyên xưng rằng thế giới không phụ thuộc hoàn toàn vào năng suất của tôi. Tôi dừng lại vì Chúa vẫn là Chúa. Đất cũng cần nghỉ. Người cũng cần nghỉ. Người nghèo càng cần quyền được nghỉ. Nếu giáo xứ biến Chúa Nhật thành ngày làm việc thứ tám của những người nhiệt thành, thì chính giáo xứ cần xét mình.
Điều này không có nghĩa phải xóa mọi sinh hoạt Chúa Nhật. Có nơi Chúa Nhật là ngày duy nhất giáo dân có thể tụ họp. Nhưng phải biết giới hạn. Có thể gộp các cuộc họp. Có thể họp ngắn hơn. Có thể luân phiên. Có thể tránh đặt ba chương trình cho cùng một nhóm trong một ngày. Có thể dành một Chúa Nhật mỗi tháng không họp hội đoàn, chỉ dành cho Thánh lễ, gia đình, nghỉ ngơi và bác ái. Có thể dạy các trưởng hội đoàn rằng một cuộc họp bị hủy để người ta ăn cơm với gia đình không phải là một thất bại mục vụ. Đôi khi đó chính là mục vụ. Một người chồng cả tuần đi làm xa có thể cần một chiều Chúa Nhật chơi với con hơn là thêm một cuộc họp. Một bà mẹ có thể cần một giấc nghỉ. Một người trẻ có thể cần đi thăm ông bà. Một gia đình có thể cần ngồi với nhau không màn hình. Một người tín hữu có thể cần một giờ đi bộ, đọc sách, ngắm cây, cầu nguyện. Tất cả những điều ấy thuộc về đời sống thiêng liêng.
Nghỉ thánh còn là hành vi chống lại paradigme kỹ trị. Nền kinh tế hiện đại dễ biến cả con người thành máy: lúc nào cũng kết nối, lúc nào cũng phản hồi, lúc nào cũng sản xuất, lúc nào cũng tối ưu. Chúa Nhật nói: không. Con người không phải một đơn vị sản xuất. Giá trị của tôi không bằng số việc tôi hoàn thành. Gia đình không phải khoảng trống giữa hai lịch làm việc. Tạo thành không phải một nhà máy chạy hai mươi bốn giờ. Nghỉ là một giới hạn thánh. Một giáo xứ biết giúp người ta nghỉ đúng nghĩa đang làm một việc sinh thái sâu hơn nhiều chiến dịch.
Nhưng mọi việc cụ thể này cần tránh một cạm bẫy: biến sinh thái thành một hệ thống luật mới để người này xét đoán người kia. Có người dùng chai nhựa vì hoàn cảnh không có lựa chọn. Có người phải chạy xe máy xa để đi làm. Có gia đình ở trọ không thể lắp điện mặt trời hay trồng cây. Có người nghèo mua món đồ rẻ vì họ không thể trả tiền cho phương án bền hơn. Công lý sinh thái phải luôn có lòng thương xót và cái nhìn xã hội. Người giàu không thể xây một lối sống “xanh” đắt tiền rồi phán xét người nghèo vì dùng túi nylon. Người có nhiều lựa chọn phải chịu trách nhiệm nhiều hơn. Cộng đoàn có nhiều nguồn lực phải làm trước. Người có quyền quyết định phải chịu trách nhiệm lớn hơn người chỉ cố sống qua ngày.
Vì vậy, khi giáo dục về việc làm cụ thể, phải nhấn mạnh nguyên tắc: làm điều mình có thể, nơi mình đang đứng, trong điều kiện thực tế, nhưng đừng dùng giới hạn của mình làm lý do để không làm gì. Một người không thể thay đổi hệ thống điện quốc gia, nhưng có thể tắt bóng đèn không cần. Một gia đình không thể cứu sông Mekong, nhưng có thể giảm rác và dạy con biết giá trị của nước. Một giáo xứ không thể giải quyết biến đổi khí hậu, nhưng có thể quản lý đất của mình tử tế. Một giám mục không thể tự mình thay đổi mọi chính sách, nhưng có thể đào tạo lương tâm giáo dân và lên tiếng khi cần. Một doanh nhân Công giáo không thể thay toàn bộ thị trường, nhưng có thể đối xử với công nhân, chất thải và tài nguyên theo lương tâm. Một người trẻ không thể cứu rừng Amazon, nhưng có thể học cách tiêu dùng để không sống như thể mình cần năm trái đất.
Những việc nhỏ còn có tác dụng đào tạo. Khi một đứa trẻ được dạy tắt quạt trước khi rời phòng, nó không chỉ tiết kiệm điện. Nó đang được dạy rằng thế giới không phải thứ mình muốn dùng thế nào cũng được. Khi một gia đình ăn hết thức ăn đã lấy, họ không chỉ giảm rác. Họ đang học lòng biết ơn. Khi một cộng đoàn sửa cái bàn cũ thay vì vứt, họ đang học kiên nhẫn. Khi một giáo xứ giữ một hàng cây thay vì chặt để mở rộng bãi xe, họ đang công bố rằng tiện lợi không phải giá trị tối cao. Khi một hội đoàn quyết định giảm một phần tiệc để dành tiền giúp gia đình bị ô nhiễm nước, họ đang biến liên đới thành hành động. Khi một linh mục hạ âm lượng loa vì tôn trọng hàng xóm, đó là một bài giảng về bác ái không cần micro.
Ngược lại, những việc rất nhỏ cũng có thể bộc lộ sự mâu thuẫn lớn. Một hội nghị về Laudato Si’ nhưng sân khấu tiêu tốn vật liệu khổng lồ rồi vứt bỏ cho thấy thông điệp chưa xuống tới cách tổ chức. Một nhà dòng giảng khó nghèo nhưng chạy theo tiêu dùng sang trọng cho thấy lời khấn và lối sống chưa gặp nhau. Một giáo xứ cầu cho người nghèo nhưng những người nhặt rác quanh khu vực bị coi khinh cho thấy công bằng vẫn còn nằm trên giấy. Một trường Công giáo dạy học sinh yêu thiên nhiên nhưng sân trường không có bóng cây vì tất cả đã bê tông hóa cho dễ quản lý cho thấy giáo dục và không gian đang nói hai điều ngược nhau. Một cộng đoàn tổ chức trồng cây nhưng sau đó không ai tưới cho thấy tình yêu mới dừng ở sự kiện.
Cũng cần dạy giáo dân rằng trách nhiệm cụ thể không chỉ nằm trong tiêu dùng cá nhân. Nếu chỉ nói “hãy tắt đèn, giảm túi nylon, trồng cây” mà không nói đến chính sách, doanh nghiệp, quy hoạch, hạ tầng và công lý, chúng ta dễ đẩy trách nhiệm của hệ thống xuống vai từng cá nhân. Một nông dân không thể tự giải quyết nguồn nước ô nhiễm từ thượng nguồn. Một gia đình không thể tự mình ngăn một khu công nghiệp xả thải. Người dân không thể phân loại rác hiệu quả nếu hệ thống thu gom cuối cùng lại trộn tất cả. Một người lao động không thể chọn xe công cộng nếu thành phố không có phương tiện thích hợp. Bởi vậy, hành động cá nhân và hành động tập thể phải đi cùng. Giáo dục thói quen và giáo dục công dân phải đi cùng. Đức tin và trách nhiệm xã hội phải đi cùng.
Ban hành giáo và hội đồng mục vụ cần học cách đặt những câu hỏi mới khi ra quyết định. Khi xây dựng: công trình này có thực sự cần không? Quy mô bao nhiêu là đủ? Có phương án giữ cây không? Thoát nước ra sao? Vật liệu có bền không? Chi phí vận hành lâu dài thế nào? Khi tổ chức lễ: điều gì là thiết yếu, điều gì là phô trương? Khi mua thiết bị: có bền không, có sửa được không, có tiết kiệm điện không? Khi cho thuê hoặc sử dụng đất: hoạt động đó có làm tổn thương môi trường hay người dân không? Khi đầu tư: nguồn tiền có đi vào những hoạt động trái với phẩm giá con người và ngôi nhà chung không? Những câu hỏi ấy không làm Hội Thánh bớt thiêng. Chúng làm cho sự thiêng liêng nhập thể.
Cần có một văn hóa báo cáo và đánh giá. Nếu giáo xứ đặt mục tiêu giảm rác, năm sau hãy xem đã giảm được chưa. Nếu trồng cây, hãy đếm số cây sống. Nếu sửa hệ thống nước, hãy xem lượng nước dùng có thay đổi không. Nếu giảm họp Chúa Nhật, hãy hỏi các gia đình cảm thấy thế nào. Nếu tổ chức đào tạo Laudato Si’, hãy xem ban hành giáo có đưa nguyên tắc ấy vào quyết định thực tế không. Không phải mọi thứ đều đo được bằng con số, nhưng điều có thể đo thì nên đo. Đức tin không sợ sự thật. Đôi khi một con số điện hàng tháng cho thấy đời sống cộng đoàn rõ hơn một bài phát biểu rất đẹp.
Tuy nhiên, ở trung tâm vẫn phải là hoán cải. Nếu chỉ chăm chăm giảm hóa đơn vì muốn tiết kiệm ngân sách mà không nhìn thấy tạo thành như quà tặng, đó mới chỉ là quản lý. Nếu chỉ trồng cây để được khen là giáo xứ xanh, đó là hình ảnh. Nếu chỉ giảm nhựa để theo xu hướng, đó là thời trang đạo đức. Hoán cải đi sâu hơn: tôi bắt đầu nhìn thế giới như ơn nhận lãnh. Tôi nhận ra mình không phải chủ tuyệt đối. Tôi biết có những người không có phần tiện nghi mà tôi coi là bình thường. Tôi nghĩ đến con cháu. Tôi nghĩ đến các loài khác. Tôi nghĩ đến Thiên Chúa là Đấng thấy mọi sự Người làm ra đều tốt đẹp. Từ cái nhìn ấy, hành động mới có linh hồn.
Ngược lại, hoán cải thật sẽ tự tìm đường ra hành vi. Người thật sự biết ơn sẽ khó lãng phí. Người thật sự yêu người nghèo sẽ khó thản nhiên trước ô nhiễm làm họ bệnh. Người thật sự chiêm ngắm cây sẽ khó chặt cây vô cớ. Người thật sự tin thế giới là của Chúa sẽ khó sử dụng vật chất như chủ tuyệt đối. Người thật sự sống Sabát sẽ biết dừng. Người thật sự hiểu Thánh Thể sẽ khó bỏ thức ăn vô độ sau một bữa tiệc. Người thật sự đọc Sáng Thế sẽ hiểu rằng “làm chủ” là quản lý. Người thật sự đọc Tin Mừng sẽ nhớ những mẩu bánh thừa được thu lại.
Có thể nói, toàn bộ chương này chỉ quy về một nguyên tắc: đừng để những điều chúng ta tin bị giữ ở trên môi. Hãy để chúng đi xuống tay. Nếu tin nước là quà Chúa, hãy khóa vòi. Nếu tin người nghèo là anh chị em, hãy đứng với họ khi môi trường sống của họ bị đe dọa. Nếu tin đất là của Chúa, hãy quản lý đất giáo xứ cho tử tế. Nếu tin tạo thành tốt đẹp, hãy đừng biến lễ hội thành một núi rác. Nếu tin cây là thụ tạo có giá trị trước mặt Chúa, hãy trồng rồi chăm. Nếu tin Chúa Nhật là ngày thánh, hãy cho con người được nghỉ. Nếu tin Hội Thánh có trách nhiệm giáo dục lương tâm, hãy dạy học thuyết xã hội và Laudato Si’ cho người đang điều hành cộng đoàn. Nếu tin sự thật giải phóng, hãy lên tiếng khi dự án làm tổn thương người nghèo và đất, nhưng nói bằng dữ kiện, bằng công bằng, bằng bác ái, không bằng phe phái.
Một giáo xứ có thể bắt đầu ngay không cần chờ một văn kiện mới. Có thể bắt đầu bằng một cuộc họp ngắn của hội đồng mục vụ với năm câu hỏi: chúng ta đang lãng phí điều gì? Đất của chúng ta đang được sử dụng thế nào? Có ai quanh giáo xứ đang chịu tác động môi trường mà chúng ta chưa đồng hành không? Có thói quen nào trong lễ hội cần thay đổi? Chúa Nhật của giáo dân có đang bị chúng ta lấy mất bởi quá nhiều sinh hoạt không? Chỉ năm câu ấy, nếu được hỏi thật và trả lời thật, đã có thể mở ra rất nhiều thay đổi.
Gia đình cũng có thể bắt đầu bằng những việc rất nhỏ: một bữa ăn không bỏ thừa; một ngày không mua thứ không cần; một góc nhà để phân loại; một cái áo được sửa; một bình nước dùng lại; một giờ Chúa Nhật không điện thoại; một buổi đi bộ với con và chỉ cho nó tên của cây; một lời tạ ơn trước bữa ăn không đọc vội; một cuộc nói chuyện với con về việc tiền bạc và tạo thành liên quan nhau thế nào. Những việc ấy không tạo tin tức. Nhưng các nền văn minh được xây từ những thói quen như vậy.
Một dòng tu có thể bắt đầu bằng việc xem lại lối sống cộng đoàn. Một trường học có thể bắt đầu bằng việc biến khuôn viên thành một lớp học tạo thành. Một giáo phận có thể bắt đầu bằng những hướng dẫn xây dựng và quản trị tài sản có trách nhiệm môi trường. Một hội đoàn có thể bắt đầu bằng việc giảm rác trong các sự kiện. Một nhóm giới trẻ có thể nhận chăm một đoạn đường, một dòng kênh, một khu vườn. Một nhóm chuyên môn Công giáo có thể hỗ trợ nông dân và công nhân. Một nhà truyền thông Công giáo có thể thôi sản xuất những khẩu hiệu môi trường chung chung và bắt đầu kể câu chuyện thật của những cộng đồng đang sống bên sông bị ô nhiễm, ruộng bị mặn, biển ít cá, phố nóng hơn, công nhân hít bụi mỗi ngày.
Không phải tất cả mọi người phải làm tất cả mọi việc. Đó cũng là nguyên tắc bổ trợ. Mỗi người làm phần mình. Gia đình làm phần gia đình. Giáo xứ làm phần giáo xứ. Chuyên gia làm phần chuyên gia. Chính quyền làm phần chính quyền. Doanh nghiệp làm phần doanh nghiệp. Giáo phận làm phần giáo phận. Quốc gia và cộng đồng quốc tế làm phần của họ. Nhưng không ai được nói: vì tôi không làm được tất cả nên tôi không làm gì. Cũng không ai được nói: tôi đã làm một việc nhỏ nên tôi không còn trách nhiệm với những vấn đề lớn. Việc nhỏ và việc lớn phải nối nhau.
Sau cùng, phải nhớ rằng những việc cụ thể không phải bảng điểm để chúng ta tự thấy mình đạo đức hơn người khác. Người Kitô hữu không chăm sóc tạo thành để có căn tính “người xanh”. Chúng ta làm vì chúng ta là thụ tạo sống dưới mắt Đấng Tạo Hóa. Chúng ta làm vì người nghèo là anh chị em. Chúng ta làm vì con cháu chưa sinh cũng có phần trong khí trời, nước sạch, rừng, biển và đất đai. Chúng ta làm vì Đức Kitô đã nhập thể trong chính thế giới vật chất này. Chúng ta làm vì Thánh Thần là Đấng ban sự sống. Chúng ta làm vì Thánh Thể nhận bánh và rượu là hoa màu của đất và lao công của con người. Chúng ta làm vì ngày Sabát dạy giới hạn. Chúng ta làm vì Tin Mừng không cứu linh hồn bằng cách coi thường thân xác và đất.
Những việc cụ thể không thay thế hoán cải. Một người có thể phân loại rác rất giỏi mà vẫn kiêu căng. Một cộng đoàn có thể dùng năng lượng mặt trời mà vẫn khinh người nghèo. Một doanh nghiệp có thể quảng cáo xanh mà vẫn bóc lột công nhân. Một giáo xứ có thể trồng nhiều cây mà đời sống nội bộ đầy chia rẽ. Vì thế, sinh thái không phải toàn bộ Tin Mừng. Nhưng Tin Mừng khi được sống trọn không thể để ngôi nhà chung đứng ngoài. Hoán cải phải chạm tới cách chúng ta ăn, mua, xây, đi, tổ chức, nghỉ, sử dụng tài nguyên và đối xử với những người đang trả giá cho kiểu sống của chúng ta.
Và cũng đừng nói rằng những việc cụ thể nhỏ quá nên chẳng đáng làm. Tin Mừng luôn có lòng tin vào hạt giống. Nước Trời được ví với hạt cải, với men trong bột, với chút muối, với một ly nước lã trao cho người bé nhỏ. Việc tốt nhỏ nhưng được làm trung thành có thể thay đổi một con người; con người thay đổi sẽ thay đổi một gia đình; gia đình thay đổi góp phần làm nên một cộng đoàn; cộng đoàn thay đổi sẽ tạo nên một nền văn hóa mới. Không phải chúng ta cứu thế giới bằng sức mình. Chúng ta trung thành với phần đất được giao, phần người được trao, phần thời gian mình có. Chúng ta trồng và giữ. Chúng ta dùng mà biết ơn. Chúng ta làm việc rồi biết nghỉ. Chúng ta phát triển nhưng biết giới hạn. Chúng ta lên tiếng nhưng không phe phái. Chúng ta tổ chức nhưng không phô trương. Chúng ta cầu nguyện rồi đứng dậy làm điều vừa cầu xin.
Một ngày nào đó, có thể sẽ không ai nhớ giáo xứ nào từng treo băng rôn “bảo vệ môi trường” lớn nhất. Nhưng người ta có thể nhớ một giáo xứ đã giữ được hàng cây cổ thụ khi cả khu vực bị bê tông hóa; một cộng đoàn đã đứng bên những gia đình mất nguồn nước; một nhà dòng đã giữ nếp sống đơn sơ; một trường học đã dạy trẻ biết yêu đất bằng đôi tay; một ban hành giáo đã quyết định không phung phí trong lễ hội; một nhóm bạn trẻ đã chăm một con kênh nhiều năm; một linh mục đã bảo vệ Chúa Nhật khỏi quá nhiều họp; một gia đình đã dạy con không vứt bỏ những gì còn dùng được. Đó là những dấu nhỏ của Nước Trời trong ngôi nhà chung.
Và có lẽ đó cũng là cách tốt nhất để kết thúc phần nói về những việc cụ thể: đừng làm mọi thứ để có một danh hiệu “xanh”. Hãy làm để trở thành người biết ơn hơn, tiết độ hơn, liên đới hơn, công bằng hơn, biết giới hạn hơn, biết chiêm ngắm hơn và giống Đức Kitô hơn. Khi ấy, tắt một ngọn đèn không cần thiết cũng có thể là một cử chỉ của lòng biết ơn; giữ một cây sống có thể là một hành vi hy vọng; giảm một bữa tiệc dư thừa có thể là một việc công bằng; đứng bên người dân mất nguồn nước có thể là một hành vi đức tin; và dành lại Chúa Nhật cho Thánh lễ, gia đình, người nghèo, sự nghỉ ngơi và niềm vui có thể là một lời tuyên xưng rằng thế giới này không phải cái máy của chúng ta, nhưng là công trình của Thiên Chúa.

CHƯƠNG 40. HY VỌNG: TRỜI MỚI ĐẤT MỚI ĐÃ BẮT ĐẦU
Người Kitô hữu nói đến việc khôi phục các mối tương quan, khôi phục đất đai, khôi phục cộng đồng, khôi phục cách sống, khôi phục lòng người, nhưng không bao giờ được hiểu chữ “khôi phục” như một giấc mơ quay ngược lịch sử để trở về một thời đại nguyên sơ chưa có nhà máy, chưa có đô thị, chưa có công nghệ, chưa có những biến đổi sâu xa của nền văn minh. Đức tin Kitô giáo không sống bằng nỗi hoài cổ. Kitô giáo không hướng về phía sau như thể ơn cứu độ nằm trong một quá khứ lý tưởng mà con người chỉ cần tìm cách dựng lại. Vườn Eden là khởi nguyên thần học để ta hiểu ý định tốt lành của Thiên Chúa và hiểu sự rạn vỡ do tội lỗi gây nên, nhưng đích đến của lịch sử cứu độ không phải là Eden được phục chế như cũ. Đích đến là “trời mới đất mới”, là toàn thể tạo thành được đưa tới sự viên mãn trong Đức Kitô. Điều Thiên Chúa chuẩn bị không phải là một bản sao của ngày đầu tạo dựng, nhưng là sự hoàn tất của công trình tạo dựng trong vinh quang của Đấng Phục Sinh. Vì thế, hy vọng Kitô giáo không phải là hy vọng quay lui. Đó là hy vọng tiến về phía trước, tiến về sự viên mãn mà Thiên Chúa đã bắt đầu mở ra nơi cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô. Người Kitô hữu chăm sóc trái đất hôm nay không phải vì muốn đóng băng thế giới trong một hình ảnh đẹp của quá khứ, nhưng vì tin rằng chính thế giới vật chất này, chính lịch sử này, chính thân xác này, chính tạo thành này đang được Thiên Chúa dẫn tới một sự hoàn tất mà mắt ta chưa thấy hết. Cánh chung Kitô giáo vì thế không phá hủy linh đạo tạo thành, nhưng trao cho linh đạo ấy chiều sâu cuối cùng. Nếu Thiên Chúa sẽ bỏ mặc thế giới vật chất như một chiếc vỏ dùng xong rồi vứt, thì việc gì phải gìn giữ? Nhưng đức tin Hội Thánh không dạy như vậy. Đức Kitô đã phục sinh trong thân xác. Người không cứu con người bằng cách giải thoát linh hồn khỏi vật chất như khỏi một nhà tù. Người cứu toàn thể con người. Và trong Người, cả tạo thành cũng đang rên siết trong đau đớn sinh nở, chờ ngày được giải thoát khỏi cảnh hư nát để đi vào tự do vinh quang. Bởi đó, trời mới đất mới không phải là lời mời ta khinh trời cũ đất cũ. Ngược lại, chính vì tin vào trời mới đất mới mà ta học nhìn trời đất hôm nay bằng đôi mắt tôn trọng hơn. Hạt giống của điều mới đã được gieo vào điều cũ. Sự phục sinh đã xảy ra trong lòng lịch sử. Đức Kitô đã bước ra khỏi mồ. Thần Khí của Người đã được ban. Nước Thiên Chúa đã đến gần. Thế giới chưa hoàn tất, nhưng cũng không còn chỉ là thế giới bị bỏ mặc cho sự chết.
Đây là một điểm rất quan trọng, bởi người ta có thể hiểu sai cánh chung theo hai hướng ngược nhau. Hướng thứ nhất là nghĩ rằng vì một ngày nào đó Thiên Chúa sẽ tạo trời mới đất mới nên trái đất hôm nay không đáng quan tâm. Lập luận ấy nghe có vẻ đạo đức nhưng thực chất là một thứ trốn tránh trách nhiệm. Nó giống người phá căn nhà mình đang ở rồi biện minh rằng sau này mình sẽ có nhà mới. Không người cha nào chấp nhận đứa con làm hư căn nhà gia đình chỉ vì nó tin rằng một ngày kia cha mình có thể xây căn nhà khác. Căn nhà hiện tại vẫn là quà tặng. Người ở trong nhà vẫn phải giữ nhà. Đất này vẫn là đất của Chúa. Nước này vẫn là nước của Chúa. Rừng này vẫn là rừng của Chúa. Không khí này vẫn là không khí mà các thế hệ hôm nay và ngày mai cùng phải thở. Cánh chung không hủy bỏ trách nhiệm luân lý. Trái lại, cánh chung đặt trách nhiệm ấy vào ánh sáng của cuộc gặp gỡ cuối cùng với Thiên Chúa, Đấng sẽ hỏi ta đã làm gì với những gì Người trao. Hướng sai thứ hai lại ở cực đối diện: con người nghĩ rằng bằng khoa học, luật pháp, công nghệ và những chương trình phát triển bền vững, chúng ta có thể tự xây dựng trời mới đất mới ngay trên mặt đất. Đây là thứ cánh chung thế tục hóa, một niềm tin rằng con người có thể cứu chính mình nếu đủ kỹ thuật, đủ dữ liệu, đủ tiền và đủ quyền kiểm soát. Lịch sử đã nhiều lần cho thấy những ảo tưởng như thế có thể trở nên nguy hiểm. Khi con người tin mình có thể dựng thiên đường bằng quyền lực của mình, thiên đường rất dễ trở thành địa ngục cho những người bị xem là vật cản. Đức tin Kitô giáo không cho phép tuyệt đối hóa bất cứ dự án lịch sử nào. Không một chính quyền, một hệ tư tưởng, một mô hình kinh tế, một công nghệ xanh, một cơ chế thị trường hay một tổ chức quốc tế nào là Nước Thiên Chúa. Chúng có thể phục vụ công ích, có thể trở thành dụng cụ tốt, có thể giảm đau khổ thật, nhưng chúng không phải Đấng Cứu Thế. Chỉ Thiên Chúa cứu. Con người cộng tác. Hai điều ấy phải được giữ cùng lúc: Thiên Chúa cứu, nhưng con người phải cộng tác; con người phải làm hết trách nhiệm, nhưng không được tự phong mình làm đấng cứu thế.
Chính tại đây, hy vọng Kitô giáo trở thành một nhân đức vô cùng thực tế. Hy vọng không phải là một tâm trạng vui vẻ. Hy vọng cũng không phải là lặp đi lặp lại rằng “rồi mọi chuyện sẽ ổn”. Có những chuyện sẽ không tự ổn. Một khu rừng đã mất có thể mất hàng thế hệ để phục hồi. Một loài tuyệt chủng thì không thể gọi trở lại bằng một lời xin lỗi. Một dòng sông bị đầu độc có thể mang hậu quả trong nhiều thập niên. Một cộng đồng bị di dời có thể mang vết thương qua nhiều thế hệ. Một vùng đất nhiễm độc, một đứa trẻ mắc bệnh do môi trường, một gia đình mất kế sinh nhai vì biển đổi màu hay ruộng hóa mặn không thể được an ủi bằng những khẩu hiệu nhẹ nhàng. Hy vọng Kitô giáo không phủ sơn lên thảm họa. Nó không bắt người đang khóc phải mỉm cười để chứng minh mình có đức tin. Hy vọng có thể khóc. Hy vọng có thể than van. Hy vọng có thể đứng trước một cánh rừng bị phá và nói: đây là tội. Có thể đứng trước một con kênh đen và nói: đây là thất bại. Có thể đứng trước người nghèo bị mất đất và nói: điều này bất công. Hy vọng không phải là từ chối nhìn sự dữ. Hy vọng là nhìn thẳng vào sự dữ mà không cho sự dữ quyền nói lời cuối cùng. Người tuyệt vọng nói: mọi sự đã xong, chẳng còn gì để làm. Người vô tư nói: chẳng có vấn đề gì nghiêm trọng cả. Người có hy vọng nói: sự dữ là thật, hậu quả là thật, tội lỗi là thật, nhưng Thiên Chúa vẫn đang hành động và vì thế tôi vẫn phải hành động.
Trong những năm gần đây, người ta có thể gặp một dạng tuyệt vọng mới mà có thể gọi là tuyệt vọng xanh: nhìn khí hậu, nhìn rừng, nhìn biển, nhìn tốc độ tiêu thụ, nhìn những thất bại chính trị, rồi kết luận rằng nhân loại đã đi quá xa, mọi cố gắng cá nhân đều vô nghĩa, mọi chương trình đều quá muộn. Từ đó sinh ra một thứ tê liệt luân lý. Người ta biết nhiều nhưng làm ít, bởi vì càng biết càng cảm thấy bất lực. Có người trẻ nghe quá nhiều về khủng hoảng đến nỗi tưởng tương lai chỉ còn là một bản tin thảm họa kéo dài. Có người không muốn sinh con vì sợ thế giới không còn chỗ sống. Có người rơi vào phẫn nộ thường trực. Có người chuyển nỗi sợ thành sự khinh bỉ đối với những ai chưa “thức tỉnh” đủ. Có người biến hoạt động sinh thái thành cuộc truy lùng tội lỗi của người khác. Có người thì bỏ cuộc hoàn toàn. Đức tin Kitô giáo có một lời phải nói ở đây: tuyệt vọng không phải là khiêm nhường. Tuyệt vọng cũng có thể là một dạng kiêu ngạo, bởi nó ngầm cho rằng nếu ta không nhìn thấy lối ra thì chắc hẳn không còn lối ra nào; nếu sức con người có hạn thì chắc hẳn lịch sử đã đóng. Nhưng lịch sử không nằm hoàn toàn trong tay con người. Thánh Thần còn hoạt động. Thánh Thần từng làm cho một nhóm môn đệ sợ hãi trở thành chứng nhân. Thánh Thần từng làm nảy sinh những phong trào cải cách từ những thời kỳ tưởng như Hội Thánh kiệt quệ. Thánh Thần từng làm những con người tham lam trở thành người chia sẻ, những người bạo lực trở thành người kiến tạo hòa bình, những người sống cho mình trở thành người phục vụ. Nếu Thánh Thần có thể đổi trái tim con người, thì không ai có quyền tuyên bố rằng mặt đất hoàn toàn không thể được đổi mới. Lời cầu xin “xin sai Thánh Thần Chúa đến, và Ngài sẽ đổi mới mặt đất” không phải thơ phụng vụ cho đẹp. Đó là một lời tuyên xưng. Mặt đất có thể được đổi mới bởi vì lòng người có thể được đổi mới; cơ cấu có thể được đổi mới bởi vì lương tâm có thể được đổi mới; cách tiêu thụ có thể được đổi mới bởi vì ham muốn có thể được giáo dục; cách sản xuất có thể được đổi mới bởi vì lợi nhuận không phải thần; chính trị có thể được đổi mới bởi vì quyền lực không phải số phận. Không có gì trong những điều ấy xảy ra tự động, và không điều nào miễn cho con người khỏi lao động, nhưng tất cả vẫn nằm trong chân trời của ân sủng.
Hy vọng cũng cứu người Kitô hữu khỏi cực đoan ngược lại là sự vô tư được khoác áo phó thác. Có một kiểu nói rất quen: “Chúa lo”, “mọi sự trong tay Chúa”, “đời này rồi cũng qua”, “đừng lo chuyện thế gian”. Những câu ấy có thể hoàn toàn đúng, nhưng khi được dùng để tránh trách nhiệm thì chúng trở thành sự bóp méo đức tin. Phó thác không có nghĩa là khoanh tay. Người nông dân tin Chúa cho mùa màng nhưng vẫn gieo hạt. Người bệnh cầu nguyện nhưng vẫn uống thuốc. Người cha tin Chúa gìn giữ con mình nhưng vẫn khóa cửa, dạy con và chăm sóc nó. Cũng vậy, ta tin Thiên Chúa là Chủ lịch sử nhưng vẫn phải giảm những gì có thể giảm, sửa những gì có thể sửa, bảo vệ những gì còn bảo vệ được, phục hồi những gì còn phục hồi được, lên tiếng khi cần lên tiếng. Phó thác chân thật luôn sinh trách nhiệm, vì ta biết mình đang sử dụng của cải của Cha. Nếu một giáo xứ nói tin vào Thiên Chúa Quan Phòng mà vẫn lãng phí nước, điện, thức ăn và tiền bạc, đó không phải phó thác. Nếu một cộng đoàn cầu cho tạo thành nhưng vẫn tổ chức những sinh hoạt đầy rác thải không cần thiết, đó không phải lòng đạo đức trưởng thành. Nếu một người nói “Chúa sẽ lo cho người nghèo” để khỏi phải hỏi một dự án đang làm người nghèo mất nhà ra sao, đó không phải đức cậy. Đức cậy không ru ngủ lương tâm. Đức cậy đánh thức lương tâm.
Đức cậy Kitô giáo có một cấu trúc rất đẹp: điều cuối cùng đã được hứa, nhưng con đường tới đó vẫn đòi tự do của ta. Trời mới đất mới là quà tặng của Thiên Chúa, nhưng trong lịch sử này chúng ta được mời sống trước những dấu chỉ của điều ấy. Chúng ta không tạo ra Nước Thiên Chúa, nhưng có thể làm chứng rằng Nước ấy đã đến gần. Ta không xây dựng cánh chung bằng tay mình, nhưng có thể đặt những dấu chỉ cánh chung vào trong lịch sử. Khi một người có quyền từ chối lợi nhuận bất chính để bảo vệ một cộng đồng yếu thế, đó là một dấu chỉ. Khi một giáo xứ biến đất bỏ hoang thành vườn chung thay vì bê tông hóa mọi chỗ trống, đó là một dấu chỉ. Khi người trẻ học sửa một vật dụng thay vì lập tức vứt đi mua mới, đó là một dấu chỉ nhỏ của một nền kinh tế không thờ tiêu thụ. Khi một gia đình biết dành Chúa Nhật cho Thánh lễ, bữa cơm, nghỉ ngơi, người thân và sự hiện diện thay vì biến ngày ấy thành một chuỗi mua sắm và chạy việc, đó là một dấu chỉ. Khi người nông dân được hỗ trợ để canh tác mà không hủy đất, khi ngư dân được bảo vệ trước việc biển bị khai thác tận cùng, khi người lao động trong môi trường độc hại không bị hy sinh cho giá thành thấp, khi một dòng tu dùng đất của mình theo hướng nuôi dưỡng sự sống thay vì chỉ tối đa hóa lợi tức, những hành vi ấy chưa phải trời mới đất mới, nhưng chúng thuộc về logic của trời mới đất mới. Chúng là những vết nứt qua đó ánh sáng tương lai lọt vào hiện tại.
Có thể nói rằng người Kitô hữu sống cánh chung bằng cách tập trước lối sống của thế giới được hòa giải. Ta tin một ngày các mối tương quan sẽ được đặt đúng chỗ trong Đức Kitô, nên hôm nay ta bắt đầu đặt lại các mối tương quan. Ta tin trong Nước Thiên Chúa không còn cảnh người này sống trên đau khổ của người kia, nên hôm nay ta không chấp nhận một nền tiện nghi dựa trên sự bóc lột người vô hình. Ta tin tạo thành không bị bỏ rơi, nên hôm nay ta không đối xử với tạo thành như đồ dùng một lần. Ta tin tất cả là của Cha, nên ta tập sử dụng như người con biết mình không phải chủ tuyệt đối. Ta tin sẽ có bàn tiệc của Nước Trời, nên hôm nay ta chống lại việc một bên dư thừa đến lãng phí trong khi một bên thiếu ăn. Ta tin thân xác sẽ phục sinh, nên ta tôn trọng thân xác người lao động, người bệnh, người già, trẻ nhỏ, thai nhi, người khuyết tật. Ta tin Đức Kitô là Đầu quy tụ muôn loài, nên ta không xem lịch sử như cuộc chiến tuyệt đối để phe mình thắng bằng mọi giá. Hy vọng vì thế không phải là một chương cuối được thêm vào sau tất cả những chương về trách nhiệm. Hy vọng là linh hồn của toàn bộ trách nhiệm. Không có hy vọng, việc bảo vệ ngôi nhà chung dễ biến thành gánh nặng đạo đức nặng nề. Có hy vọng, cùng một việc trở thành sự cộng tác với điều Thiên Chúa đang làm.
Cũng vì thế, người Kitô hữu không được đo thành công chỉ bằng kết quả nhìn thấy ngay. Văn hóa kỹ trị rất thích kết quả nhanh, chỉ số rõ, bảng thống kê tăng. Nhưng nhiều điều tốt đẹp nhất trong lịch sử con người không phát triển theo đường thẳng. Người gieo cây có thể không sống tới ngày cây thành bóng mát. Người dạy trẻ yêu thiên nhiên có thể không biết mười năm sau đứa trẻ ấy sẽ làm gì. Người phản đối một thói lãng phí trong giáo xứ có thể bị xem là khó tính trước khi thói quen thay đổi. Người bảo vệ một nguồn nước có thể thất bại một lần, hai lần, nhiều lần. Người làm chính sách tử tế có thể không thấy tên mình trên bảng thành tích. Nhưng Kitô giáo luôn biết giá trị của hạt giống. Đức Giêsu nói về hạt cải, về men trong bột, về người gieo giống, về hạt lúa chết đi. Người không hứa rằng mọi điều thiện đều cho kết quả tức thì. Người hứa rằng Nước Thiên Chúa có sức lớn lên theo cách vượt quá tầm mắt của ta. Vì thế, khi ta làm một việc đúng mà chưa thấy kết quả, điều ấy không làm việc đúng trở thành vô nghĩa. Người quản gia trung tín không được đánh giá chỉ bởi điều mình kiểm soát được. Người ấy trước hết được đánh giá bởi sự trung tín.
Đây là một sự giải phóng lớn cho những ai làm việc cho công ích. Ta chỉ là thợ. Câu này phải được nói với tất cả sự khiêm nhường và bình an: ta chỉ là thợ. Ta không phải Đấng Cứu Thế. Ta không gánh cả hành tinh trên vai mình. Ta không chịu trách nhiệm thay cho mọi thế hệ trước và sau. Ta không thể sửa tất cả. Ta không thể thắng mọi cuộc tranh đấu. Ta không thể làm mọi người hoán cải. Ta không thể tự mình giải quyết khí hậu, rừng, biển, nghèo đói, đô thị, tiêu thụ, chiến tranh, bất công. Ý thức ấy không phải cái cớ để làm ít; nó là điều kiện để làm lâu. Người tưởng mình phải cứu thế giới sẽ rất nhanh kiệt sức hoặc trở thành độc đoán. Người biết mình là thợ thì có thể làm phần việc được trao với bình an. Người thợ không vẽ lại toàn bộ bản thiết kế theo ý mình. Người thợ trung tín nhìn Đấng Chủ Công Trình. Người ấy làm tốt viên gạch của hôm nay. Ngày mai lại làm viên khác. Có những việc người khác đã bắt đầu trước mình. Có những việc người khác sẽ tiếp tục sau mình. Đây là cách nhìn rất cần cho mục vụ sinh thái. Một linh mục không cần biến giáo xứ thành mô hình hoàn hảo trong ba năm nhiệm kỳ. Một bề trên không cần thay đổi tất cả trong một nhiệm kỳ. Một nhóm giới trẻ không cần cứu dòng sông trong một chiến dịch. Hãy làm điều đúng, làm có chiều sâu, truyền lại cách làm, đào tạo người kế tiếp. Đó đã là hy vọng.
Nói “ta chỉ là thợ” cũng có nghĩa phải tránh một căn bệnh rất tinh vi của hoạt động xã hội: đồng nhất mình với sứ mạng đến mức ai không đồng ý với mình thì bị coi là kẻ xấu. Khi việc bảo vệ môi trường trở thành căn tính tuyệt đối, người hoạt động có thể đánh mất lòng thương người. Người ta nói nhân danh sự sống nhưng đối xử tàn nhẫn với người chưa hiểu. Người ta bảo vệ động vật nhưng khinh người nghèo. Người ta chống khai thác nhưng lại khai thác sự sợ hãi của giới trẻ. Người ta đòi người khác tiết chế nhưng bản thân đầy giận dữ. Hy vọng Kitô giáo sửa điều ấy bằng cách đặt trung tâm ở Đức Kitô chứ không ở chính nghĩa của ta. Chính nghĩa có thể đúng, nhưng người Kitô hữu không chỉ hỏi mình đúng không. Ta còn hỏi: cách tôi sống điều đúng này có giống Đức Kitô không? Tôi có còn nhìn người đối diện như một người có thể được hoán cải không? Tôi có để cho kẻ sai một con đường trở về không? Tôi có nói sự thật mà không hạ nhục không? Tôi có biến hoạt động sinh thái thành một đạo mới nơi người “sạch” lên án người “bẩn” không? Hy vọng tin vào khả năng đổi mới nên không đóng khung con người trong lỗi hiện tại của họ. Người hôm nay vô trách nhiệm có thể ngày mai trở thành người bảo vệ. Doanh nghiệp hôm nay sai có thể thay đổi. Một cộng đoàn hôm nay lãng phí có thể học lại. Một thế hệ từng không được giáo dục có thể bắt đầu giáo dục thế hệ sau. Nếu ta không tin khả năng hoán cải, ta đang đánh mất chính cốt lõi Tin Mừng mà mình muốn đem vào sinh thái.
Hy vọng Kitô giáo còn giúp ta nhìn đúng vào các thế hệ tương lai. Người chưa sinh không thể bỏ phiếu, không thể viết đơn, không thể kiện chúng ta, không thể xuống đường, không thể đòi lại một khu rừng. Họ chỉ có thể nhận điều chúng ta để lại. Bởi thế, trách nhiệm với tương lai đòi một hình thức đức cậy rất trưởng thành: làm điều tốt cho những người mà ta sẽ không bao giờ gặp. Đây là một hành vi gần với đức ái tinh tuyền. Trồng một cây mà biết mình không hưởng bóng. Giữ một nguồn nước để những đứa trẻ chưa sinh được uống. Không lấy hết tài nguyên hôm nay vì biết người sau cũng có quyền. Không vay nợ sinh thái quá mức rồi chuyển hóa đơn cho con cháu. Điều đó làm cho khái niệm “hiệp thông các thế hệ” trở nên cụ thể. Người Kitô hữu quen cầu nguyện cho người đã qua đời. Có lẽ cũng phải học sống có trách nhiệm với người chưa ra đời. Cả hai nhóm đều không có mặt trước mắt ta, nhưng đều thuộc về một lịch sử mà Thiên Chúa đang dẫn dắt.
Trong viễn tượng ấy, sự hy sinh có ý nghĩa mới. Tiết chế không còn chỉ là mất đi một tiện nghi. Nó là nhường chỗ cho sự sống. Không dùng hết là để người khác còn phần. Không xây kín là để đất còn thở. Không bật mọi ánh sáng là để học rằng bóng tối cũng có chỗ. Không biến mọi chuyến đi thành tiêu thụ là để Chúa Nhật còn là ngày nghỉ. Không mua mọi thứ mình có khả năng mua là tuyên bố rằng khả năng chi trả không đồng nghĩa với quyền đạo đức để tiêu dùng vô giới hạn. Người có hy vọng không cần vắt kiệt hiện tại, bởi họ không tin rằng hiện tại là tất cả. Người mất hy vọng mới thường muốn hưởng hết ngay: ăn ngay, mua ngay, dùng ngay, thay ngay, đi ngay, tận hưởng ngay, bởi nếu không có tương lai thì phải vắt tối đa hôm nay. Một xã hội thiếu cánh chung dễ trở thành xã hội tiêu thụ, vì nó tìm thiên đường bằng cách chất đầy hiện tại. Đức cậy giải thoát ta khỏi cơn đói “phải có hết bây giờ”. Nó dạy chờ. Nó dạy để dành. Nó dạy truyền lại. Nó dạy rằng không phải mọi khát vọng phải được thỏa mãn tức khắc mới gọi là sống.
Thật ra, nhiều vấn đề sinh thái có gốc sâu trong một cuộc khủng hoảng hy vọng. Khi con người không biết mình từ đâu đến và đi về đâu, họ rất dễ dùng vật chất để tạo cảm giác an toàn. Khi không tin có một sự viên mãn nào lớn hơn thành công hiện tại, người ta sẽ cố làm cho đời này trở nên đầy tuyệt đối bằng tiền, trải nghiệm, sở hữu, hình ảnh, quyền lực và tốc độ. Nhưng không vật chất nào chịu nổi gánh nặng phải làm thiên đường. Một căn nhà không thể làm người ta bất tử. Một chiếc xe không thể chữa cô đơn. Một chuyến du lịch không thể giải quyết nỗi trống rỗng. Một thiết bị mới không thể ban ý nghĩa. Khi vật chất bị buộc làm điều nó không thể làm, ta sẽ tiêu thụ ngày càng nhiều mà vẫn thiếu. Đức cậy Kitô giáo trả vật chất về đúng chỗ: vật chất là quà tặng, không phải cứu độ. Ta có thể vui với bữa ăn mà không biến ăn uống thành tôn giáo. Có thể dùng kỹ thuật mà không thờ kỹ thuật. Có thể xây nhà đẹp mà không biến nhà thành giá trị con người. Có thể phát triển kinh tế mà không đòi kinh tế trả lời câu hỏi cuối cùng của đời sống. Khi chỉ Thiên Chúa là Tuyệt Đối, tạo thành được giải phóng khỏi việc phải đóng vai Thiên Chúa. Và chính lúc ấy, ta mới có thể yêu tạo thành đúng hơn.
Câu “trời mới đất mới đã bắt đầu” vì thế phải được hiểu trong ánh sáng phục sinh. Sáng sớm Phục Sinh, thế giới bên ngoài ngôi mộ vẫn còn đế quốc, còn nghèo đói, còn bạo lực, còn bệnh tật, còn cái chết. Các môn đệ vẫn sợ. Đường phố Giêrusalem không đột nhiên biến thành thiên đường. Nhưng một điều tuyệt đối mới đã xảy ra: sự chết không còn là chúa. Một con người đã đi qua sự chết và bước vào sự sống không còn chết nữa. Từ khoảnh khắc ấy, lịch sử mang trong mình một tương lai mà trước đó nó không có. Phục Sinh là mầm trời mới đất mới. Và mỗi lần Hội Thánh cử hành Thánh Thể, Hội Thánh không chỉ nhớ một biến cố cũ. Hội Thánh nếm trước bàn tiệc tương lai. Bánh từ đất, rượu từ nho, lao động từ tay người được đưa vào hành động tạ ơn và trở thành nơi Đức Kitô hiện diện. Có thể nói không có hình ảnh nào mạnh hơn để nối phụng vụ, tạo thành và cánh chung: hoa màu ruộng đất không bị bỏ lại ngoài cửa cứu độ. Nó được dâng. Nó được nhận. Nó được biến đổi. Nó đi vào mầu nhiệm Vượt Qua. Người vừa rước lễ không thể bước ra rồi sống như thể vật chất là vô nghĩa, người nghèo là vô hình, đất là thùng rác và tương lai không liên quan đến mình. Bàn thờ dạy một cách nhìn khác.
Hy vọng cánh chung cũng giúp Hội Thánh tránh trở thành một tổ chức môi trường trong số nhiều tổ chức môi trường. Hội Thánh có thể và phải hợp tác với khoa học, xã hội dân sự, nhà nước, doanh nghiệp, các cộng đồng khác tôn giáo và cả những người không tôn giáo trong mọi việc phục vụ công ích. Nhưng Hội Thánh mang vào cuộc đối thoại một điều đặc biệt: một cái nhìn về tạo thành như quà tặng, về con người như hình ảnh Thiên Chúa, về tội như sự rạn vỡ các tương quan, về hoán cải như thay đổi trái tim, về hy vọng như tham dự vào công trình Thánh Thần. Nếu Hội Thánh chỉ lặp lại các khẩu hiệu môi trường đang thịnh hành thì Hội Thánh chưa làm hết sứ mạng. Hội Thánh phải giúp thế giới trả lời câu hỏi sâu hơn: vì sao phải sống khác khi điều đó làm ta thiệt? Vì sao phải nghĩ tới người chưa sinh? Vì sao phải giới hạn lòng tham khi luật vẫn cho phép? Vì sao một con vật, một khu rừng, một dòng sông có giá trị vượt khỏi giá bán? Vì sao người nghèo không được hy sinh cho tăng trưởng? Vì sao phải hy vọng khi số liệu xấu? Những câu hỏi ấy cuối cùng chạm tới nhân học, luân lý, thần học và cánh chung. Đây là nơi Tin Mừng có điều để nói.
Đối với Giáo hội tại Việt Nam, hy vọng ấy phải mang hình hài Việt Nam. Không phải một khái niệm đẹp treo trên cao. Trời mới đất mới phải bắt đầu bằng cách Hội Thánh đứng ở đâu giữa những biến đổi của quê hương. Ở đồng bằng, hy vọng có thể là bảo vệ sinh kế của những gia đình phải đối diện mặn, lún, thiếu nước, mất đất. Ở miền núi, hy vọng là đứng bên các cộng đồng sống nhờ rừng và không để phát triển chỉ được đo bằng số cây bị thay bằng bê tông. Ở miền biển, hy vọng là không coi ngư dân như con số thống kê khi nguồn lợi cạn kiệt hoặc môi trường bị tổn thương. Trong đô thị, hy vọng là tạo những không gian con người còn có thể thở, nghỉ, gặp nhau, để trẻ em không lớn lên chỉ giữa điều hòa, màn hình và xi măng. Trong giáo xứ, hy vọng là biến những lời giảng thành thói quen sống: xây vừa đủ, dùng vừa đủ, tiệc vừa đủ, giữ đất, giữ cây, giữ nước, giữ ngày nghỉ. Trong chủng viện và nhà dòng, hy vọng là đào tạo những người biết rằng nghèo khó Tin Mừng không thể tách khỏi cách sử dụng vật chất. Trong trường học và giáo lý, hy vọng là dạy trẻ không chỉ kiến thức về môi trường mà còn khả năng biết ơn, ngạc nhiên, tiết chế và trách nhiệm.
Đừng xem những điều này là quá nhỏ. Nước Thiên Chúa rất thường bắt đầu từ cái nhỏ. Một cây được giữ lại thay vì chặt vì tiện. Một bữa tiệc bớt một nửa thức ăn dư. Một giáo xứ quyết định không dùng đồ trang trí một lần. Một gia đình dành một buổi chiều không mua sắm. Một linh mục đưa một câu xét mình về tạo thành vào Mùa Chay. Một em nhỏ được cha mẹ dạy rằng không được hành hạ con vật chỉ để vui. Một người chủ doanh nghiệp chọn phương án ít lợi hơn nhưng không xả độc xuống dòng nước. Một giáo dân chịu khó đọc một báo cáo dự án trước khi ủng hộ. Một cộng đoàn trồng cây rồi chăm nó năm năm thay vì chụp ảnh ngày trồng. Những việc ấy không gây tiếng vang lớn. Nhưng chúng giáo dục lòng người. Và lòng người chính là nơi những thay đổi lớn bắt đầu.
Tuy nhiên, hy vọng Kitô giáo cũng không cho phép ta thu nhỏ trách nhiệm thành những việc cá nhân để tránh các câu hỏi cơ cấu. Nếu chỉ dạy người nghèo dùng ít túi nylon nhưng không hỏi những hệ thống nào đang sản xuất và đẩy hàng núi vật liệu dùng một lần ra thị trường, ta chưa đủ. Nếu chỉ dạy người dân tiết kiệm nước nhưng không hỏi ai đang làm ô nhiễm nguồn nước lớn, ta chưa đủ. Nếu chỉ kêu gọi nông dân bảo vệ đất nhưng để họ bị ép bởi cơ chế kinh tế phải khai thác đất đến kiệt sức mới sống được, ta chưa đủ. Hy vọng không ngây thơ. Nó hiểu rằng tội có cả chiều cá nhân lẫn cơ cấu. Vì thế, dấu chỉ Nước Thiên Chúa cũng phải đi vào cơ cấu: luật tốt hơn, quy hoạch tốt hơn, kinh tế công bằng hơn, giao thông hợp lý hơn, quản lý minh bạch hơn, trách nhiệm doanh nghiệp rõ hơn. Người Kitô hữu tham gia các lĩnh vực ấy không đứng ngoài linh đạo. Chính nơi phòng họp, phòng thí nghiệm, cánh đồng, văn phòng quy hoạch, trường đại học, nghị trường, bệnh viện, doanh nghiệp, truyền thông, họ có thể làm thợ cho một trật tự gần hơn với công ích. Không phải mọi người đều phải thành nhà hoạt động. Nhưng mọi người đều phải hỏi phần việc của mình nằm ở đâu.
Và khi thất bại, phải học hy vọng lần nữa. Có những dự án tử tế sẽ bị bác. Có những người bảo vệ sự thật sẽ bị hiểu lầm. Có những cộng đoàn sẽ quay lại thói quen cũ. Có những cây trồng sẽ chết. Có những chiến dịch sẽ không đạt mục tiêu. Có những luật tốt được viết nhưng không thi hành. Có những thế lực kinh tế quá mạnh. Có những vùng mất rồi không cứu lại được như trước. Kitô giáo không bảo đảm cho ta chuỗi chiến thắng lịch sử. Thập giá đứng ngay giữa đức tin. Chính Đức Giêsu đã không “thành công” theo tiêu chuẩn thế gian vào chiều thứ Sáu. Người bị loại trừ, môn đệ chạy, đối thủ tưởng đã thắng. Nhưng tình yêu trung tín của Người không vô ích. Điều ấy phải trở thành sức mạnh cho người làm việc thiện mà không được nhìn nhận. Đức cậy không phải tin rằng tôi sẽ luôn thắng. Đức cậy là tin rằng sự trung tín trong Chúa không vô nghĩa, kể cả khi tôi không nhìn thấy kết quả.
Cuối cùng, hy vọng Kitô giáo phải đưa ta tới thờ phượng. Nếu sau tất cả những chương về chiêm ngắm, tạo thành, tội lỗi, trách nhiệm, công lý, hoán cải và hành động mà ta chỉ còn một chương trình đạo đức phải thực hiện, ta sẽ kiệt sức. Điểm cuối không phải nhiệm vụ. Điểm cuối là Thiên Chúa. Ngôi nhà chung trước hết là nhà của Cha. Ta giữ nhà vì yêu Cha, yêu anh chị em đang sống trong nhà, yêu những người sẽ đến sau, yêu cả vẻ đẹp mà Cha đã vui thích khi tạo dựng. Và rồi chính Cha sẽ hoàn tất điều chúng ta không thể hoàn tất. Một ngày, điều chúng ta chỉ thấy bằng đức tin sẽ được tỏ lộ. Những gì bị rạn vỡ sẽ được chữa lành theo cách vượt quá khả năng tưởng tượng. Không phải ta dựng trời mới đất mới. Thiên Chúa ban trời mới đất mới. Nhưng ta được vinh dự sống hôm nay như những người đã biết điều ấy sẽ đến.
Bởi vậy, người Kitô hữu có thể đứng giữa một thời đại đầy lý do để lo mà vẫn không tuyệt vọng; có thể nhìn những thiệt hại nghiêm trọng mà không buông tay; có thể làm việc rất quyết liệt mà lòng vẫn bình an; có thể đòi công lý mà không nuôi hận; có thể tiết chế mà không buồn bã; có thể từ bỏ một số tiện nghi mà không thấy mình bị mất đời; có thể trồng một cây mà không cần tên mình trên tấm bảng; có thể bảo vệ một dòng nước mà không chắc mình sẽ thấy nó trong trở lại; có thể giáo dục một đứa trẻ mà tin rằng điều thiện sẽ đi xa hơn đời mình. Đó là tự do của đức cậy.
Trời mới đất mới chưa hoàn tất. Nhưng đã bắt đầu. Bắt đầu nơi Đức Kitô phục sinh. Bắt đầu nơi Thánh Thần đang làm mới lòng người. Bắt đầu nơi mỗi lần một con người thôi coi mình là chủ tuyệt đối và nhận lại vị trí thụ tạo, người quản gia, người anh em. Bắt đầu nơi một cộng đồng chọn công ích thay vì lợi nhuận tối đa. Bắt đầu nơi người giàu nhường chỗ cho người nghèo, thế hệ hôm nay nhường phần cho thế hệ mai sau, con người nhường không gian sống cho những loài khác. Bắt đầu nơi Thánh Thể, nơi bánh của đất và lao động của người được đưa vào lời tạ ơn. Bắt đầu nơi Chúa Nhật khi con người và đất được nghỉ. Bắt đầu nơi lời cầu nguyện xin Thánh Thần đổi mới mặt đất. Bắt đầu nơi một việc nhỏ được làm trung tín mà không ai vỗ tay.
Ta không cứu thế giới. Đấng Cứu Thế đã đến. Ta không làm chủ lịch sử. Lịch sử ở trong tay Cha. Ta không phải là nguồn hy vọng. Hy vọng đã có một khuôn mặt: Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Phần ta là tỉnh thức, làm việc, gìn giữ, sửa chữa, gieo hạt, nói sự thật, đứng với người yếu, tập sống hòa giải, và không trao cho tuyệt vọng quyền định nghĩa tương lai. Người Kitô hữu biết rằng bóng tối có thật, nhưng ánh sáng đã chiếu soi. Biết sự chết có thật, nhưng mồ đã mở. Biết tạo thành đang rên siết, nhưng đó là tiếng rên của sinh nở chứ không chỉ là hấp hối. Biết mặt đất mang đầy thương tích, nhưng Thánh Thần vẫn là Đấng ban sự sống. Vì thế chúng ta làm việc, không hoảng loạn. Chúng ta chiến đấu, không thù hận. Chúng ta sửa chữa, không ảo tưởng. Chúng ta hy sinh, không cay đắng. Chúng ta chờ đợi, nhưng không ngồi yên.
Và có lẽ đó là tư thế đúng nhất để kết thúc một hành trình suy tư về tạo thành: hai tay làm việc, đôi mắt hướng về Đức Kitô, đôi chân đứng trên đất, lòng mở ra với anh chị em, tai nghe tiếng kêu của người nghèo và của địa cầu, môi vẫn cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin sai Thánh Thần Chúa đến.” Vì cuối cùng, hy vọng không nằm ở sức mạnh của đôi tay ta, nhưng đôi tay ấy vẫn phải làm việc. Hy vọng không nằm ở sự hoàn hảo của kế hoạch ta, nhưng ta vẫn phải lập kế hoạch cho tử tế. Hy vọng không nằm ở việc ta có nhìn thấy thành quả hay không, nhưng ta vẫn phải gieo. Ta chỉ là thợ. Chủ công trình là Thiên Chúa. Và chính vì Chủ công trình là Thiên Chúa, người thợ có thể tiếp tục làm việc cho đến chiều tối mà không sợ rằng công việc của tình yêu sẽ mất đi.

KẾT LUẬN
Ở lại trong sự ngạc nhiên có trách nhiệm
Chiêm ngắm thụ tạo dẫn tới gặp Đấng Tạo Hóa. Gặp Người, ta biết mình đứng chỗ đặc biệt trong kế hoạch kỳ diệu: hình ảnh Chúa, quản gia của vườn, anh chị em của muôn loài, người nợ của thế hệ sau. Chỗ ấy là ơn và là trách nhiệm — cá nhân và tập thể — để gìn giữ hài hòa nguyên thủy.
Nhìn thiếu sót và thất bại không phải hết chuyện. Đó là cửa đổi mới quyết tâm. Quyết tâm đúng là khôi phục các mối tương quan: với Chúa, với mình, với nhau, với mọi loài — theo thánh ý Đấng Tạo Hóa, không theo tham và kỹ trị.
Xin ơn sửng sốt trở lại. Xin ơn biết khóc vì sông chết. Xin ơn can đảm làm việc nhỏ và việc chung. Xin ơn Thánh Thể dạy ta rằng đất và lao động đã được nhận vào Vượt Qua. Và xin ơn đừng bao giờ tách người nghèo khỏi ngôi nhà chung.
Lm. Anmai, CSsR

PHỤ LỤC A. Văn kiện và bản văn nền
St 1–2; Tv 19; Tv 104; Tv 148; Kn 13,1-9; Rm 8,18-22; Ep 1,3-10; Cl 1,15-20.
Gaudium et Spes 12–39.
Laudato Si’ (2015).
Laudate Deum (2023).
Sứ điệp các Ngày Thế giới Cầu nguyện cho việc gìn giữ công trình tạo dựng.
Học thuyết xã hội: công ích, liên đới, bổ trợ, ưu tiên người nghèo.
PHỤ LỤC B. Câu hỏi xét mình sinh thái
Tuần này tôi có đứng yên trước một thụ tạo nào như trước một lời Chúa không?
Tôi gọi đất, nước, cây bằng tên ơn huệ hay bằng tên hàng hóa?
Gia đình tôi lãng phí gì đã thành lệ?
Người nghèo nào đang chịu hậu quả cách sống của tôi?
Giáo xứ tôi tổ chức lễ có giẫm lên đất và người phục vụ không?
Tôi có trốn trách nhiệm tập thể bằng cách chỉ làm việc nhỏ cho yên lương tâm không?
Tôi có trốn hoán cải trái tim bằng cách chỉ nói việc lớn của nhà nước không?
Chúa Nhật của tôi có còn là ngày giới hạn thánh không?
PHỤ LỤC C. Mẫu Lectio Sáng Thế 1–2 và Thánh vịnh 104
Đọc St 1,1-31 chậm hai lần. Thinh lặng. Câu hỏi: điệp khúc “tốt đẹp” đụng chỗ nào trong tuần tôi vừa sống? Chúa nghỉ ngày thứ bảy nói gì với lịch của tôi? Chia sẻ ngắn. Việc: một giờ không mua, hoặc một giờ ở ngoài trời không máy.
Đọc Tv 104. Đặt tên năm thụ tạo trong bài thánh vịnh còn thấy được quanh mình. Tạ ơn từng tên. Xin tha vì loài nào ta đã góp phần làm tổn thương. Kết bằng Gloria.
Lm. Anmai, CSsR

Previous articleNỀN LINH ĐẠO GIÁO DÂN – Lm. Anmai, CSsR