ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC FULTON J. SHEEN – Lm. Anmai, CSsR
Tin GH CG ngày 25 tháng 9 – 2026 : Lm. Anmai, CSsR tổng hợp
T 6 tuần 25 TN CÒN CON, CON BẢO THẦY LÀ AI ? – Lm. Anmai, CSsR
Thứ Sáu t 25 TN CÒN CON, CON BẢO THẦY LÀ AI ? – Lm. Anmai, CSsR
LỜI NGUYỆN: CÒN CON, CON BẢO THẦY LÀ AI?
Lạy Chúa Giêsu, sáng hôm nay con nghe Chúa hỏi các môn đệ một câu tưởng như rất đơn giản nhưng lại chạm đến tận nơi sâu nhất trong lòng con: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Chúa không chỉ muốn con lặp lại những gì người khác nói về Chúa, cũng không chỉ muốn con thuộc những câu giáo lý thật chính xác, nhưng Chúa muốn chính con trả lời bằng đời sống của mình. Lạy Chúa, con đã theo Chúa nhiều năm, đã nghe biết bao lời giảng, đã đọc nhiều đoạn Tin Mừng, đã gọi Chúa là Đấng Cứu Độ, là Chúa và là Thầy, nhưng nhiều khi cách con sống lại chưa nói lên điều con tuyên xưng. Miệng con nói Chúa là tất cả, nhưng lòng con vẫn còn bám víu vào rất nhiều thứ. Con nói con tin Chúa, nhưng khi thử thách đến con lại hoang mang. Con nói con yêu Chúa, nhưng có lúc con lại không yêu nổi người đang sống bên cạnh mình. Xin Chúa thương thanh luyện đức tin của con, để lời tuyên xưng trên môi trở thành một chọn lựa thật sự trong từng ngày sống.
Lạy Chúa, Phêrô đã tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa”, nhưng ngay sau lời tuyên xưng ấy, Chúa lại nói đến đau khổ, bị loại bỏ, chịu chết và sống lại. Xin cho con hiểu rằng theo Chúa không có nghĩa là được miễn khỏi thập giá, nhưng là học cách đi qua thập giá với Chúa. Khi đời con gặp những điều trái ý, khi bị hiểu lầm, thất bại, bệnh tật, cô đơn hay mất mát, xin đừng để con nghĩ rằng Chúa đã bỏ con. Xin cho con biết nhìn thập giá dưới ánh sáng phục sinh, để hiểu rằng đau khổ không phải là tiếng nói cuối cùng và đêm tối không bao giờ có quyền lực hơn tình yêu của Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con đừng chỉ biết Chúa qua lời kể của người khác, nhưng biết Chúa bằng kinh nghiệm của chính một đời sống đã cầu nguyện, đã vấp ngã, đã được tha thứ và đã được Chúa nâng lên. Xin cho con biết dành thời gian ở lại với Chúa trong thinh lặng, như chính Chúa đã cầu nguyện trong nơi thanh vắng trước khi đặt câu hỏi cho các môn đệ. Xin cho con đủ bình tâm để nghe tiếng Chúa giữa bao tiếng động, đủ khiêm tốn để nhận ra ý Chúa giữa những điều con chưa hiểu, và đủ can đảm để bước theo Chúa ngay cả khi con đường ấy không giống những gì con mong đợi.
Lạy Chúa, hôm nay nếu Chúa lại hỏi con: “Còn con, con bảo Thầy là ai?”, xin cho con không chỉ trả lời bằng lời nói, nhưng bằng cả cuộc đời: Chúa là Đấng con tin khi mọi sự trở nên mờ tối; là Đấng con yêu khi trái tim mệt mỏi; là Đấng con chọn khi phải đứng giữa nhiều ngã rẽ; là Đấng con nắm lấy khi mọi điểm tựa khác không còn. Xin cho con sống sao để mỗi ngày của đời con trở thành một lời tuyên xưng âm thầm rằng: “Lạy Chúa, Chúa là Đấng Kitô, là Đấng Cứu Độ, là hy vọng và là cùng đích của đời con.” Và xin cho con đủ trung thành bước theo Chúa qua thập giá hôm nay, để một ngày kia được cùng Chúa bước vào ánh sáng phục sinh. Amen.
Ca nhập lễ
Chúa phán: Ta là phần rỗi của dân Ta. Họ đã kêu cầu Ta trong mọi nỗi gian truân. Ta đã nhậm lời họ, và Ta sẽ là Chúa của họ đến muôn đời.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa đã thu gọn toàn thể lề luật thánh vào giới răn độc nhất là mến Chúa yêu người, xin giúp chúng con hằng vâng giữ điều Chúa truyền dạy, để sau này đạt tới phúc trường sinh. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc Gv 3, 1-11
“Vạn vật dưới bầu trời đều trải qua thời gian của chúng”.
Trích sách Giảng Viên.
Mọi sự đều có thì giờ của chúng. Vạn vật dưới bầu trời đều trải qua thời gian của chúng. Có thời gian sinh, thì cũng có thời gian chết. Có thời gian trồng xuống, thì cũng có thời gian nhổ lên cái đã trồng. Có thời gian giết chết, thì cũng có thời gian chữa lành. Có thời gian phá huỷ, thì cũng có thời gian xây dựng. Có thời gian khóc lóc, thì cũng có thời gian cười vui. Có thời gian than van, thì cũng có thời gian nhảy múa. Có thời gian rải đá, thì có thời gian thu lượm lại. Có thời gian gần gũi, thì cũng có thời gian xa cách. Có thời gian thâu hoạch, thì cũng có thời gian tiêu tán đi. Có thời gian gìn giữ, thì cũng có thời gian loại bỏ. Có thời gian xé rách, thì cũng có thời gian vá lại. Có thời gian thinh lặng, thì cũng có thời gian nói năng. Có thời gian yêu thương, thì cũng có thời gian giận ghét. Có thời gian chinh chiến, thì cũng có thời gian hoà bình.
Con người còn được gì do công lao vất vả của mình? Tôi suy nghĩ về sự khổ cực mà Thiên Chúa đã để cho con cái loài người phải chịu đựng.
Chúa tác tạo vạn vật trong thời gian Chúa muốn, và trao phó thế gian cho loài người tranh giành, nhưng con người không hiểu được việc Thiên Chúa đã làm từ đầu đến cuối.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 143, 1a và 2abc. 3-4
Ðáp: Ôi Ðá Tảng của con, chúc tụng Chúa! (c. 1a)
Xướng: Ôi Ðá Tảng của con, chúc tụng Chúa! Chúa là Tình Thương và là chiến lũy, là Ðấng phù trợ và giải phóng con. Chúa là khiên thuẫn, là chỗ con nương náu.
Xướng: Lạy Chúa, nhân loại là chi mà Chúa chăm nom, con người là chi mà Chúa thương nghĩ tới? Con người ta như hơi gió thoảng, đời người ta như bóng thoáng qua.
Alleluia: Tv 94, 8ab
Alleluia, alleluia! – Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa, và đừng cứng lòng. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 9, 18-22
“Thầy là Ðấng Kitô của Thiên Chúa. Con Người phải chịu nhiều đau khổ”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Việc xảy ra là khi Chúa Giêsu cầu nguyện riêng một nơi, và có các môn đệ ở với Người, thì Người hỏi các ông rằng: “Những đám dân chúng bảo Thầy là ai?” Các ông thưa rằng: “Người thì bảo là Gioan Tẩy giả, kẻ khác lại cho là Êlia, còn người khác thì cho là một trong các tiên tri thời xưa, đã sống lại”. Người lại hỏi các ông rằng: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai?” Simon Phêrô thưa rằng: “Thầy là Ðấng Kitô của Thiên Chúa”. Và Người ngăn cấm các ông không được nói điều đó với ai mà rằng: “Con Người phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ lão, các thượng tế, và các luật sĩ từ bỏ và giết chết, nhưng ngày thứ ba sẽ sống lại”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin vui lòng chấp nhận của lễ cộng đoàn chúng con dâng, và nhờ thánh lễ này, xin cho chúng con được hưởng những hồng ân cao cả, mà chúng con hết lòng tin tưởng cậy trông. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Chúa đã ban bố các huấn lệnh, để chúng tôi được tuân giữ hết sức ân cần. Nguyện cho đường nẻo tôi vững chắc, để tuân giữ thánh chỉ của Chúa.
Hoặc đọc:
Chúa phán: Ta là mục tử tốt lành, ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa đã lấy Mình và Máu Ðức Kitô nuôi dưỡng chúng con; xin nâng đỡ và giữ gìn chúng con luôn mãi, để chúng con được hưởng nhờ hiệu quả ơn cứu chuộc trong thánh lễ cũng như trong đời sống hàng ngày. Chúng con cầu xin…
VÀ ANH EM, ANH EM BẢO THẦY LÀ AI?
Có những câu hỏi người ta có thể trả lời bằng kiến thức, bằng trí nhớ, bằng những gì đã đọc trong sách. Nhưng cũng có những câu hỏi chỉ có thể trả lời bằng chính cuộc đời mình. Tin Mừng hôm nay đặt chúng ta trước một câu hỏi như thế. Đức Giêsu hỏi các môn đệ: “Đám đông nói Thầy là ai?” Các ông trả lời khá dễ dàng: người thì nói Gioan Tẩy Giả, người thì nói Êlia, người khác lại bảo một ngôn sứ thời xưa đã sống lại. Nhưng Đức Giêsu không dừng lại ở dư luận của đám đông. Người nhìn thẳng vào các môn đệ và hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Chính ở câu hỏi thứ hai này, đức tin bắt đầu trở nên nghiêm túc. Bởi vì Chúa không hỏi tôi người khác nghĩ gì về Người. Chúa hỏi tôi: “Còn con thì sao? Trong cuộc đời con, Ta là ai?”
Có lẽ chúng ta đã nghe về Chúa từ nhỏ. Chúng ta biết nhiều kinh, thuộc nhiều giáo lý, dự nhiều thánh lễ, đọc nhiều sách đạo. Chúng ta có thể nói rất đúng rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế, là Chúa và là Thầy. Nhưng có một khoảng cách rất lớn giữa việc biết câu trả lời đúng về Chúa và việc thật sự để Chúa trở thành trung tâm cuộc đời mình. Phêrô trả lời thật đẹp: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa.” Nhưng ngay sau lời tuyên xưng ấy, Đức Giêsu bắt đầu nói đến đau khổ, bị loại bỏ, chịu chết và ngày thứ ba sống lại. Điều này cho thấy rằng tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô chưa đủ; còn phải hiểu Đấng Kitô ấy là Đấng Kitô nào. Người không phải là một Đấng Messia đến để thỏa mãn giấc mơ quyền lực của con người. Người không đến để biến cuộc đời thành một con đường không còn nước mắt. Người là Đấng Cứu Thế đi qua thập giá, chiến thắng bằng tình yêu tự hiến và cứu con người bằng chính việc trao ban mạng sống mình.
Đó cũng là nơi đức tin của chúng ta thường gặp thử thách. Chúng ta dễ tin Chúa khi mọi chuyện đang thuận lợi. Chúng ta dễ cảm thấy Chúa gần khi lời cầu nguyện được đáp lại, gia đình bình an, sức khỏe ổn định, công việc suôn sẻ. Nhưng khi bệnh tật đến, khi người thân ra đi, khi một ước mơ đổ vỡ, khi mình bị hiểu lầm, bị từ chối, bị tổn thương, lúc ấy câu hỏi “Chúa là ai đối với tôi?” mới thực sự trở nên sâu sắc. Chúa có còn là Chúa của tôi khi Người không làm theo ý tôi không? Tôi có còn tin Người khi con đường trước mắt tối đi không? Tôi có còn có thể nói “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa” khi đời tôi đang phải đi qua một đoạn đường thập giá không?
Bài đọc thứ nhất lại vang lên một lời rất đẹp giữa hoàn cảnh đầy chán nản của dân Israel: “Can đảm lên… hãy bắt tay vào việc, vì Ta ở với các ngươi… Thần Khí Ta vẫn ở giữa các ngươi. Đừng sợ.” Dân chúng trở về từ lưu đày với nhiều ước mơ, nhưng ngôi đền họ đang xây lại trông thật nhỏ bé so với vẻ huy hoàng của đền thờ xưa. Những người từng biết quá khứ nhìn hiện tại rồi thất vọng. Có lẽ họ đã nói với nhau điều mà con người mọi thời thường nói: “Ngày xưa tốt hơn.” “Ngày xưa đông hơn.” “Ngày xưa đạo đức hơn.” “Ngày xưa mọi sự đẹp hơn.” Nhưng Thiên Chúa không bảo họ quay lại quá khứ. Người nói: “Hãy can đảm. Hãy làm việc. Ta ở với các ngươi.”
Đó là một lời rất cần cho đời sống chúng ta hôm nay. Có những lúc chúng ta cứ đứng nhìn những gì đã mất mà quên mất những gì Thiên Chúa đang làm. Ta nhớ một thời sức khỏe còn tốt, gia đình còn đông đủ, con cái còn nhỏ, cha mẹ còn sống, giáo xứ còn nhộn nhịp, đời sống còn đơn sơ. Rồi ta nhìn hiện tại và cảm thấy mọi sự như đang nhỏ lại, yếu đi, nghèo đi. Chúng ta tiếc một con người của ngày xưa, tiếc một gia đình ngày xưa, tiếc một Giáo Hội ngày xưa, thậm chí tiếc chính mình của ngày xưa. Nhưng đức tin không cho phép chúng ta chỉ sống bằng hoài niệm. Thiên Chúa không chỉ là Thiên Chúa của những ngày huy hoàng đã qua. Người là Thiên Chúa đang hiện diện hôm nay, ngay giữa những gì còn dang dở, nhỏ bé và mong manh.
Có khi cuộc đời chúng ta giống như một ngôi đền đang xây dở. Có chỗ đẹp, có chỗ xấu; có phần đã hoàn thành, có phần còn ngổn ngang. Ta nhìn chính mình và thấy quá nhiều điều không giống ước mơ thuở đầu. Người trẻ từng nghĩ mình sẽ làm nên điều lớn lao, nhưng rồi tuổi đời trôi qua mà thấy mình vẫn rất bình thường. Người bước vào đời hôn nhân từng nghĩ mọi ngày sẽ đầy tiếng cười, nhưng rồi phát hiện tình yêu cũng có những đêm rất dài của im lặng và nhẫn nhịn. Người bước theo đời thánh hiến từng mang trong lòng nhiều nhiệt huyết, nhưng cũng có ngày cảm thấy đời mình chẳng làm được bao nhiêu. Người cha, người mẹ từng mong con cái sẽ lớn lên như mình cầu mong, nhưng rồi có lúc chỉ biết đứng nhìn con đi trên con đường mình không thể kiểm soát. Những lúc ấy, ta dễ kết luận: “Cuộc đời mình chẳng còn gì đáng kể.”
Nhưng Thiên Chúa nói: “Can đảm lên! Ta đang ở với con.” Giá trị của một công trình không chỉ nằm ở vẻ bề ngoài của nó, nhưng ở việc Thiên Chúa có hiện diện trong đó hay không. Một cuộc đời có thể rất nhỏ trong mắt thế gian mà lại rất lớn trước mặt Thiên Chúa. Một người mẹ âm thầm cầu nguyện cho con suốt nhiều năm có thể chẳng ai biết, nhưng đó là một đền thờ đang được xây. Một người chồng kiên nhẫn chăm sóc người vợ đau bệnh là một viên đá đang được đặt vào Nước Trời. Một người trẻ từ chối điều gian dối dù phải chịu thiệt là đang xây một nơi cho Thiên Chúa ngự. Một người già mỗi ngày âm thầm lần chuỗi trong căn phòng nhỏ cũng đang góp phần xây dựng Hội Thánh. Đừng vội coi thường những điều nhỏ bé mà tình yêu đang làm.
Điều tuyệt đẹp là bài Tin Mừng giúp ta hiểu sâu hơn hình ảnh ngôi đền trong sách ngôn sứ Khácgai. Ngôi đền đích thực cuối cùng không phải là công trình bằng đá, nhưng là chính Đức Kitô. Thân thể Người trở thành nơi Thiên Chúa gặp gỡ nhân loại. Nhưng ngôi đền ấy lại phải đi qua phá hủy: bị khước từ, bị đánh đập, bị đóng đinh, bị chôn vào mồ. Theo cái nhìn của con người, đó là thất bại hoàn toàn. Nhưng chính nơi người ta tưởng mọi sự đã kết thúc, Thiên Chúa lại bắt đầu cuộc sáng tạo mới bằng sự Phục Sinh.
Bởi vậy, người Kitô hữu không được phép nhìn thập giá chỉ như dấu hiệu của thất bại. Có những điều Thiên Chúa phải để cho tan vỡ để xây dựng lại sâu hơn. Có những ảo tưởng phải chết để đức tin trưởng thành. Có những cánh cửa phải đóng để ta học cách đi vào cánh cửa khác. Có những mất mát khiến chúng ta đau đến tận lòng, nhưng sau nhiều năm nhìn lại, ta mới nhận ra chính từ vết thương ấy mình học được lòng thương xót. Có những lần bị hạ xuống giúp ta bớt kiêu ngạo. Có những lần bất lực khiến ta biết cầu nguyện thật sự. Có những ngày cô đơn khiến ta khám phá rằng Chúa chưa bao giờ rời khỏi mình.
Thập giá không tự nó là điều tốt đẹp; đau khổ không phải thứ ta phải đi tìm. Nhưng khi đau khổ đến và không thể tránh, người tin Chúa không để nó trở thành vô nghĩa. Chúng ta đặt nó vào thập giá Đức Kitô. Một giọt nước mắt đặt vào tay Chúa sẽ không còn chỉ là nước mắt. Một vết thương được kết hợp với vết thương của Đức Kitô có thể trở thành cửa ngõ của lòng thương xót. Một thất bại sống trong đức tin có thể trở thành trường học của khiêm nhường. Một mất mát được trao cho Chúa có thể dạy ta biết yêu điều vĩnh cửu hơn những gì chóng qua.
Có một cám dỗ rất tinh vi trong đời sống đức tin: chúng ta muốn Đức Kitô nhưng không muốn thập giá. Chúng ta muốn Chúa Phục Sinh nhưng ngại bước vào chiều Thứ Sáu Tuần Thánh. Chúng ta muốn được bình an nhưng không muốn tha thứ. Muốn gia đình hạnh phúc nhưng không muốn hy sinh cái tôi. Muốn cộng đoàn hiệp nhất nhưng không muốn nhịn nhau. Muốn sống thánh thiện nhưng không muốn từ bỏ thói quen xấu. Muốn theo Chúa nhưng lại muốn giữ nguyên mọi thứ theo ý mình. Nhưng Đức Giêsu hôm nay làm sáng tỏ hình ảnh Đấng Messia: Con Người phải chịu nhiều đau khổ, bị loại bỏ, bị giết chết rồi sống lại. Con đường tình yêu luôn có giá của nó.
Có lẽ vì thế mà Chúa hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Người không hỏi để kiểm tra kiến thức giáo lý. Người hỏi vì câu trả lời sẽ quyết định cách chúng ta sống. Nếu Đức Giêsu chỉ là một nhân vật đáng kính, tôi có thể ngưỡng mộ Người rồi tiếp tục sống như cũ. Nếu Người chỉ là một bậc thầy đạo đức, tôi có thể chọn một vài lời hợp ý để thực hành. Nhưng nếu Người thật sự là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là Chúa của đời tôi, thì tôi không còn có quyền dành cho Người vài khoảng trống còn dư lại trong lịch sống. Người phải bước vào những quyết định của tôi, cách tôi dùng tiền, cách tôi nói chuyện, cách tôi đối xử với người làm tôi tổn thương, cách tôi sống tương quan gia đình, cách tôi làm việc và cả cách tôi chịu đau khổ.
Không khó để tuyên xưng “Con tin Chúa” trong nhà thờ. Khó hơn là tuyên xưng câu ấy vào sáng thứ Hai khi phải đối diện với một người mình không thích. Không khó để hát “Chúa là gia nghiệp đời con” trong thánh lễ. Khó hơn là sống điều đó khi mất một điều mình quý. Không khó để nói “xin vâng” trước tượng Đức Mẹ. Khó hơn là xin vâng trước một biến cố hoàn toàn trái ý. Đức tin thật luôn phải đi từ môi miệng xuống trái tim, rồi từ trái tim đi vào bàn tay và những chọn lựa cụ thể.
Chúng ta cũng cần nghe lời của ngôn sứ hôm nay: “Đừng sợ.” Không phải bởi vì cuộc đời sẽ không còn khó khăn, nhưng vì Thiên Chúa ở cùng ta. Đây là khác biệt rất lớn. Chúa không luôn cất con đường khó khỏi chân chúng ta, nhưng Người đi cùng chúng ta trên con đường ấy. Chúa không hứa mọi cơn bão sẽ biến mất ngay, nhưng Người hứa chiếc thuyền của đời ta không bao giờ hoàn toàn vắng bóng Người. Khi ta không còn hiểu chuyện gì đang xảy ra, ta vẫn có thể nắm lấy một điều: Người đang ở đây.
Có lẽ một trong những căn bệnh lớn của tâm hồn là cứ nghĩ rằng Thiên Chúa chỉ hiện diện khi mọi việc tốt đẹp. Không. Chúa ở trong niềm vui, nhưng Người cũng ở trong nước mắt. Người ở trong ngày ta thành công và ở cả ngày ta trở về với hai bàn tay trắng. Người có mặt trong tiếng cười của một gia đình và cả trong khoảng lặng bên chiếc giường bệnh. Người có mặt ở ngày khấn dòng, ngày chịu chức, ngày cưới, nhưng Người cũng có mặt trong những năm tháng sau đó khi lý tưởng ban đầu phải được biến thành lòng trung thành âm thầm từng ngày. Thiên Chúa hiện diện không phải vì ta cảm thấy Người; Người hiện diện vì Người đã hứa.
“Thần Khí Ta vẫn ở giữa các ngươi.” Đây là một lời để ôm lấy trong những ngày chán nản. Hội Thánh có thể đi qua những thời kỳ khó khăn. Gia đình có thể trải qua khủng hoảng. Một cộng đoàn có thể trở nên nhỏ bé. Một con người có thể thấy mình cạn kiệt. Nhưng điều quyết định không phải là chúng ta mạnh đến đâu. Điều quyết định là Thần Khí Thiên Chúa vẫn đang hoạt động. Người có thể bắt đầu lại từ những gì tưởng như chẳng còn gì.
Đừng quá sợ những khởi đầu nhỏ. Hạt cải rất nhỏ nhưng thành cây lớn. Một lời xin lỗi có thể bắt đầu chữa lành một gia đình. Một lần trở lại tòa giải tội có thể mở lại cả hành trình thiêng liêng. Một quyết định bỏ rượu, bỏ cờ bạc, bỏ một mối tương quan tội lỗi có thể mở đường cho một đời sống mới. Một buổi tối cha mẹ tắt điện thoại và ngồi lại với con cái có thể bắt đầu cứu một mái ấm. Một linh mục trở lại với giờ cầu nguyện trung thành có thể làm mới cả sứ vụ. Một giáo dân quyết định không nói xấu nữa có thể làm thay đổi bầu khí của một cộng đoàn. Nước Thiên Chúa thường khởi đầu rất nhỏ.
Và cũng đừng quá buồn khi những gì ta làm không giống “ngôi đền huy hoàng ngày xưa”. Điều Thiên Chúa cần không phải là chúng ta tái tạo quá khứ. Người cần sự trung tín của ta trong hiện tại. Mỗi thế hệ có một cách xây đền thờ riêng. Mỗi người có một phần việc riêng. Chúng ta không được gọi để làm lại cuộc đời của người khác, nhưng để sống trọn điều Chúa trao cho mình hôm nay.
Sau cùng, câu hỏi của Đức Giêsu vẫn còn vang lên: “Còn con, con bảo Thầy là ai?” Có thể sáng nay ta chưa cần trả lời bằng một câu thật hoa mỹ. Hãy trả lời bằng cách sống. Khi bị xúc phạm mà vẫn chọn không trả đũa, ta đang nói: “Thầy là Chúa của con.” Khi đứng trước cám dỗ mà chọn sự ngay thẳng, ta đang nói: “Thầy là Chúa của con.” Khi mất mát mà vẫn cầu nguyện, ta đang nói: “Thầy là Chúa của con.” Khi kiệt sức mà vẫn còn biết trao một chút yêu thương cho người bên cạnh, ta đang nói: “Thầy là Chúa của con.” Khi cuộc đời giống như một ngôi đền dang dở mà ta vẫn tiếp tục đặt từng viên đá với niềm tin rằng Thiên Chúa đang ở cùng mình, ấy là lúc lời tuyên xưng của Phêrô trở thành lời tuyên xưng của chính chúng ta.
Xin Chúa cho chúng ta đừng chỉ biết Chúa bằng lời người khác kể, nhưng gặp Người trong chính lịch sử đời mình. Xin cho ta đủ can đảm để không trốn chạy thập giá, nhưng cũng đủ đức tin để biết rằng thập giá không phải tiếng nói cuối cùng. Sau đau khổ là Phục Sinh. Sau đêm tối vẫn có bình minh. Sau những gì tưởng như bị phá hủy, Thiên Chúa vẫn có thể xây dựng một điều đẹp hơn. Và giữa tất cả những đổi thay của đời người, vẫn còn một lời không bao giờ thay đổi: “Ta ở với con. Thần Khí Ta vẫn ở giữa các con. Đừng sợ.”
Lm. Anmai, CSsR
CÒN CON, CON BẢO THẦY LÀ AI?
Có những câu hỏi người ta có thể trả lời rồi quên. Có những câu hỏi chỉ cần một chút kiến thức là đủ. Nhưng cũng có những câu hỏi một khi đã vang lên thì sẽ đi theo chúng ta cho đến cuối đời. Tin Mừng hôm nay đặt trước mặt mỗi người một câu hỏi như thế. Đức Giêsu hỏi các môn đệ: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Câu hỏi ấy đã được đặt ra hơn hai ngàn năm trước, nhưng chưa bao giờ cũ. Đức Giêsu không chỉ hỏi Phêrô, Gioan hay Giacôbê. Người đang hỏi từng người chúng ta: “Còn con, con bảo Thầy là ai?”
Trước khi đặt câu hỏi trực tiếp ấy, Đức Giêsu hỏi: “Dân chúng nói Thầy là ai?” Người ta có rất nhiều câu trả lời. Người thì nói Gioan Tẩy Giả, người nói Êlia, người lại bảo một ngôn sứ thời xưa đã sống lại. Đám đông biết nhiều chuyện về Đức Giêsu, đã nghe những lời Người giảng, đã chứng kiến những phép lạ Người làm, đã thấy bệnh nhân được chữa lành, người đói được ăn no, người tội lỗi được tha thứ. Nhưng biết những chuyện về Đức Giêsu không có nghĩa là biết Đức Giêsu. Khoảng cách giữa “biết về Chúa” và “biết Chúa” đôi khi rất xa. Ta có thể thuộc rất nhiều kinh, học nhiều giáo lý, đọc nhiều sách đạo, nghe nhiều bài giảng, nói rất hay về Thiên Chúa, nhưng trong sâu thẳm lòng mình vẫn chưa thật sự gặp Người.
Có lẽ đây cũng là một trong những nguy cơ lớn của đời sống đức tin hôm nay: chúng ta biết quá nhiều “thông tin” về Chúa nhưng lại dành quá ít thời gian để ở với Chúa. Ta biết hôm nay lễ gì, Tin Mừng đoạn nào, câu nào hay, bài giảng nào cảm động; nhưng khi bước vào những khúc quanh của đời mình, đôi khi ta lại sống như thể Chúa không hiện diện. Ta nói Chúa là Cha nhưng lại sống trong sợ hãi triền miên. Ta nói Chúa quan phòng nhưng cứ bất an vì ngày mai. Ta nói Chúa yêu thương nhưng lại không tin rằng Người có thể yêu một con người nhiều thương tích và yếu đuối như mình. Ta tuyên xưng Chúa là Đấng Cứu Độ nhưng nhiều lần lại tìm sự cứu độ nơi tiền bạc, quyền lực, tiếng khen, các mối quan hệ hay những bảo đảm của thế gian.
Bởi vậy Đức Giêsu không dừng lại ở câu hỏi: “Người ta nói Thầy là ai?” Người tiến gần hơn vào trái tim các môn đệ: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Hai chữ “còn anh em” làm thay đổi tất cả. Đức tin không thể chỉ là những điều người khác nói. Đức tin không thể sống bằng kinh nghiệm của cha mẹ, ông bà, linh mục hay cộng đoàn. Đến một lúc nào đó, mỗi người phải tự đứng trước Đức Kitô và đưa ra câu trả lời của chính mình. Cha mẹ có thể đưa ta đến nhà thờ nhưng không thể tin thay ta. Linh mục có thể giảng cho ta về Chúa nhưng không thể yêu Chúa thay ta. Người khác có thể kể lại kinh nghiệm của họ về Thiên Chúa, nhưng cuộc gặp gỡ giữa ta với Chúa vẫn là một cuộc gặp gỡ duy nhất, riêng tư và không ai thay thế được.
Phêrô trả lời: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa.” Một câu trả lời đúng. Nhưng điều đáng chú ý là ngay sau đó, Đức Giêsu nói với các môn đệ về cuộc thương khó: Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại. Như thể Đức Giêsu muốn nói: “Con đã gọi Thầy là Đấng Kitô, nhưng con có hiểu Đấng Kitô ấy là ai không?” Người không phải một Đấng Kitô đến để thỏa mãn tất cả ước muốn của con người. Người không phải một Đấng Kitô chỉ ban thành công, sức khỏe, tiền bạc và bình an theo cách chúng ta mong muốn. Người là Đấng Kitô đi qua Thập Giá. Người cứu thế giới không bằng sức mạnh áp đảo nhưng bằng một tình yêu tự hiến đến cùng.
Đây có lẽ là nơi đức tin của chúng ta thường bị thử thách nhất. Khi đời sống bình an, công việc thuận lợi, gia đình êm ấm, lời cầu nguyện được đáp lại, thật dễ để nói: “Con tin Chúa.” Nhưng khi đau khổ xuất hiện, khi bệnh tật gõ cửa, khi mất một người thân, khi bị hiểu lầm, phản bội, thất bại, khi những điều ta cầu xin mãi mà dường như trời vẫn im lặng, câu hỏi của Đức Giêsu lại vang lên với một sức nặng hoàn toàn khác: “Còn con, con bảo Thầy là ai?” Thầy là ai đối với con lúc bệnh viện trở thành căn nhà thứ hai? Thầy là ai khi người con yêu thương quay lưng? Thầy là ai khi những dự tính đẹp đẽ của con đổ vỡ? Thầy là ai khi con cầu nguyện mà không cảm thấy gì? Thầy là ai khi con bước qua một đêm dài mà không biết bình minh bao giờ đến?
Chính trong những giờ phút ấy, câu trả lời của đức tin không còn nằm trên môi nhưng được viết bằng cả cuộc đời. Tin Đức Giêsu là Đấng Kitô không chỉ là đọc một công thức tuyên tín. Đó là tiếp tục nắm lấy tay Người khi mình không hiểu. Là vẫn cầu nguyện khi chưa thấy lời đáp. Là vẫn chọn yêu thương khi tình yêu khiến mình đau. Là vẫn tha thứ khi lòng mình bị tổn thương. Là vẫn tin rằng phía sau Thứ Sáu Tuần Thánh có buổi sáng Phục Sinh, dù hiện tại ta chỉ nhìn thấy bóng tối của đồi Canvê.
Bài đọc thứ nhất hôm nay, từ sách Giảng Viên, nhắc chúng ta rằng mọi sự đều có thời của nó: có thời sinh ra và thời chết đi, thời khóc và thời cười, thời than van và thời múa nhảy, thời im lặng và thời lên tiếng. Thiên Chúa làm cho mọi sự đẹp vào đúng thời của nó, nhưng con người không thể hiểu hết công trình của Người từ khởi đầu đến tận cùng. Lời ấy thật gần với đời sống chúng ta. Có những điều hôm nay ta chưa hiểu nhưng một ngày nào đó nhìn lại mới nhận ra Thiên Chúa đã dẫn ta đi qua đó. Có những cánh cửa đóng lại khiến ta khóc, nhưng nhiều năm sau mới thấy nếu cánh cửa ấy mở ra, có lẽ đời mình đã đi vào một con đường khác. Có những người rời khỏi đời ta khiến ta đau đớn, nhưng chính khoảng trống ấy lại đưa ta trở về gần Chúa hơn. Có những thất bại từng khiến ta xấu hổ, nhưng sau này lại trở thành trường học của khiêm nhường và lòng thương cảm.
Con người thường muốn Thiên Chúa giải thích tất cả. Chúng ta muốn biết tại sao chuyện này xảy ra, tại sao người kia ra đi, tại sao lời cầu nguyện chưa được nhậm, tại sao người tốt lại chịu khổ, tại sao người xấu đôi khi lại thành công. Nhưng Thiên Chúa không phải lúc nào cũng cho chúng ta một lời giải thích. Nhiều khi Người chỉ trao cho ta sự hiện diện của Người. Và đôi khi, sự hiện diện ấy chính là câu trả lời lớn nhất. Người không nói rằng đời ta sẽ không có Thập Giá. Người chỉ hứa rằng khi ta vác Thập Giá, Người sẽ không để ta vác một mình.
Có lẽ chúng ta cần trở lại thật sâu với câu hỏi của Chúa hôm nay. “Con bảo Thầy là ai?” Nếu Chúa chỉ là một nhân vật tôn giáo, ta sẽ tìm Người khi thuận tiện. Nếu Chúa chỉ là Đấng làm phép lạ, ta sẽ thất vọng khi phép lạ không xảy ra. Nếu Chúa chỉ là người giải quyết khó khăn, ta sẽ bỏ Người khi khó khăn kéo dài. Nếu Chúa chỉ là một thói quen của gia đình, ta sẽ dễ dàng sống một đời Kitô hữu nhưng trái tim lại rất xa Người. Nhưng nếu Chúa thật sự là Đức Kitô, là Chúa của đời ta, thì mọi sự sẽ đổi khác. Khi ấy ta không còn hỏi: “Chúa sẽ làm gì cho con?” nhưng bắt đầu hỏi: “Chúa muốn con sống thế nào?” Ta không còn chỉ tìm ơn của Chúa mà tìm chính Chúa. Ta không chỉ tìm bàn tay ban quà nhưng tìm khuôn mặt của Đấng ban ơn.
Có những người chỉ nhớ đến Chúa khi đau khổ. Nhưng cũng có một nghịch lý đẹp: nhiều khi chính đau khổ đã đưa con người đến gặp Chúa thật sự. Khi mọi thứ khác không còn đủ để dựa vào, ta bắt đầu nhận ra đâu là nền đá. Khi những tiếng ồn bên ngoài im xuống, ta bắt đầu nghe được tiếng Chúa trong lòng. Khi sức mạnh của mình cạn kiệt, ta mới hiểu thế nào là phó thác. Có những lời kinh được đọc bằng nước mắt lại thật hơn hàng ngàn lời kinh được đọc trong bình an. Có những lần ta chỉ còn đủ sức thưa: “Lạy Chúa, xin ở lại với con,” nhưng chính lời ấy lại có thể là lời tuyên xưng đức tin đẹp nhất.
Điều an ủi là Đức Giêsu không đòi chúng ta hiểu hết rồi mới theo Người. Các môn đệ cũng từng hiểu sai, từng sợ hãi, từng chạy trốn, từng nghi ngờ. Phêrô hôm nay tuyên xưng Người là Đấng Kitô nhưng rồi chính ông cũng sẽ chối Người ba lần. Vậy mà Đức Giêsu vẫn không bỏ Phêrô. Tình yêu của Chúa lớn hơn sự yếu đuối của con người. Đức tin không có nghĩa là không bao giờ vấp ngã. Đức tin là sau mỗi lần ngã, vẫn biết mình phải quay về với ai. Không phải người môn đệ không bao giờ bỏ chạy mới là người môn đệ đích thực, nhưng là người sau khi đã bỏ chạy vẫn để Chúa tìm thấy mình và lại bắt đầu.
Có thể hôm nay ta chưa trả lời được câu hỏi của Chúa bằng một đời sống hoàn hảo. Nhưng ta có thể trả lời bằng một bước nhỏ. Khi bị xúc phạm, ta cố không trả đũa. Khi lòng nặng nề, ta vẫn dành vài phút ngồi trước Chúa. Khi có người đau khổ bên cạnh, ta không ngoảnh mặt. Khi thất bại, ta không tuyệt vọng. Khi phạm tội, ta trở về. Khi không hiểu đường Chúa dẫn, ta vẫn thưa: “Lạy Chúa, con tín thác nơi Ngài.” Những điều nhỏ bé ấy chính là cách ta nói với Đức Giêsu mỗi ngày: “Thầy là Đấng Kitô của con. Thầy là Chúa của đời con.”
Một ngày nào đó, những danh hiệu, thành công, tiền bạc, những điều ta từng lo lắng giữ gìn sẽ ở lại phía sau. Sách Giảng Viên nhắc rằng đời người mong manh như hơi thở và ngày tháng như bóng câu qua cửa. Điều còn lại không phải là ta đã có bao nhiêu nhưng là ta đã thuộc về ai. Và có lẽ điều đẹp nhất của một đời Kitô hữu là đến cuối hành trình vẫn có thể nhìn lên Đức Giêsu và nói bằng tất cả những vui buồn, thành công, thất bại, tội lỗi, nước mắt và hy vọng của mình: “Lạy Chúa, con đã đi rất nhiều đường, đã tìm kiếm rất nhiều điều, đã có lúc xa Chúa, đã có lúc nghi ngờ Chúa, nhưng cuối cùng con nhận ra rằng ngoài Chúa ra, con chẳng có nơi nào để đi. Chúa là Đấng Kitô. Chúa là Đấng cứu độ con. Chúa là tình yêu mà cả đời con kiếm tìm.”
Và nếu hôm nay Chúa lại nhìn vào mắt từng người chúng ta mà hỏi: “Còn con, con bảo Thầy là ai?”, xin đừng vội trả lời bằng những câu học thuộc lòng. Hãy để cả cuộc đời trả lời. Hãy để cách ta yêu thương trả lời. Hãy để cách ta tha thứ trả lời. Hãy để cách ta mang Thập Giá trả lời. Hãy để những lần ta đứng dậy sau vấp ngã trả lời. Hãy để những giọt nước mắt âm thầm nhưng vẫn tin tưởng trả lời. Và xin cho câu trả lời cuối cùng của đời ta không chỉ là một lời tuyên xưng trên môi, nhưng là một cuộc đời đã thật sự trao vào tay Đức Kitô: “Lạy Chúa Giêsu, Chúa là Đấng Kitô của Thiên Chúa. Chúa là Chúa của con. Chúa là Đấng con yêu mến. Chúa là Đấng con muốn bước theo, không chỉ trên những con đường đầy ánh sáng, mà cả trên con đường Thập Giá, bởi con tin rằng với Chúa, Thập Giá không bao giờ là tiếng nói cuối cùng. Sau Thập Giá vẫn có Phục Sinh, sau nước mắt vẫn có ngày gặp lại, sau đêm tối vẫn có bình minh, và sau hành trình mong manh của đời này là vòng tay của Đấng đã yêu con từ thuở đời đời.”
Lm. Anmai, CSsR
CÒN CON, CON BẢO THẦY LÀ AI?
Có những câu hỏi người ta có thể trả lời bằng kiến thức, bằng kinh nghiệm, bằng những gì đã đọc trong sách; nhưng cũng có những câu hỏi chỉ có thể trả lời bằng chính cuộc đời mình. Tin Mừng hôm nay đưa chúng ta đứng trước một câu hỏi như thế. Đức Giêsu không hỏi các môn đệ xem họ nhớ được bao nhiêu giáo lý về Người, cũng không hỏi họ đã nghe thiên hạ bàn tán điều gì hay nhất về Người. Người hỏi rất đơn giản: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Câu hỏi ấy đã vang lên bên các môn đệ hơn hai ngàn năm trước, nhưng chưa bao giờ cũ. Hôm nay Đức Giêsu vẫn đang hỏi từng người chúng ta: “Còn con, con bảo Thầy là ai?”
Điều đáng chú ý là trước khi đặt câu hỏi ấy, Đức Giêsu đang cầu nguyện một mình. Dường như câu hỏi về căn tính của Người không phải là một câu hỏi để tranh luận ngoài đường phố, nhưng là một câu hỏi chỉ có thể được trả lời trong bầu khí cầu nguyện. Đám đông có rất nhiều câu trả lời: người nói Gioan Tẩy Giả, người bảo Êlia, kẻ lại cho rằng một ngôn sứ thời xưa đã sống lại. Không phải những câu trả lời ấy hoàn toàn vô nghĩa. Chúng cho thấy người ta nhận ra nơi Đức Giêsu một điều gì đó khác thường, thánh thiện, mạnh mẽ. Nhưng tất cả vẫn chỉ là những nhận định từ bên ngoài. Người ta biết về Đức Giêsu, nhưng chưa chắc đã biết Đức Giêsu. Và đây cũng chính là nguy cơ của đời sống Kitô hữu chúng ta: sống đạo rất lâu, đọc nhiều kinh, nghe nhiều bài giảng, thuộc nhiều giáo lý, tham dự nhiều thánh lễ, nhưng vẫn có thể chỉ biết rất nhiều điều về Chúa mà chưa thực sự gặp Chúa.
Đức Giêsu không bằng lòng với câu trả lời của thiên hạ. Người quay sang các môn đệ: “Còn anh em…” Hai chữ ấy thật đáng sợ. “Còn anh em” nghĩa là đừng núp sau số đông. Đừng trả lời bằng điều cha mẹ đã dạy. Đừng trả lời bằng những gì cha xứ giảng. Đừng trả lời bằng một công thức thuộc lòng. Đừng nói: “Người ta bảo rằng…” Chúa muốn câu trả lời của chính tôi. Sau bao nhiêu năm mang danh Kitô hữu, Đức Giêsu là ai đối với tôi? Người có phải chỉ là một nhân vật mà tôi tìm đến khi đau bệnh, thất bại, túng thiếu, gia đình gặp chuyện? Người có phải chỉ là Đấng mà tôi xin ban ơn, rồi khi mọi việc yên ổn tôi lại để Người sang một bên? Hay Người thực sự là trung tâm của cuộc đời tôi, là Đấng mà tôi yêu, tin tưởng và sẵn sàng bước theo?
Phêrô trả lời: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa.” Một lời tuyên xưng thật đẹp. Nhưng điều đáng suy nghĩ là ngay sau đó Đức Giêsu nói về Thập Giá: Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ ba sống lại. Như thế, tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô chưa đủ; người môn đệ còn phải chấp nhận Đấng Kitô chịu đóng đinh. Và đây lại là nơi đức tin của chúng ta thường trở nên khó khăn. Chúng ta dễ tin vào Chúa khi đời bình an, nhưng khó tin khi bệnh tật kéo đến. Dễ tạ ơn Chúa khi lời cầu xin được nhận, nhưng khó tạ ơn khi cầu nguyện mãi mà dường như trời vẫn im lặng. Dễ nói “Chúa là tất cả đời con” trong nhà thờ, nhưng khó nói câu ấy khi đứng bên giường bệnh, trước một nấm mồ, giữa một gia đình rạn nứt, trong một thất bại ê chề hay khi phải chịu một sự hiểu lầm không biết giải thích cùng ai.
Có lẽ vì thế Đức Giêsu không chỉ hỏi: “Con nghĩ Thầy là ai?”, nhưng qua cuộc đời Người, Chúa dường như còn hỏi: “Con có dám theo một Đấng Kitô đi qua Thập Giá không?” Chúng ta thường muốn một Thiên Chúa giải quyết mọi khó khăn, nhưng Đức Giêsu nhiều khi không cất thập giá khỏi vai chúng ta; Người bước vào dưới cây thập giá ấy và vác cùng chúng ta. Chúng ta muốn Chúa cho mình câu trả lời, nhưng đôi khi Người chỉ trao cho ta sự hiện diện. Chúng ta muốn Người thay đổi hoàn cảnh, nhưng nhiều khi Người lại muốn thay đổi trái tim ta ngay trong hoàn cảnh ấy. Chúng ta muốn phép lạ xảy ra bên ngoài, còn Chúa lại âm thầm thực hiện phép lạ bên trong: biến một con người cay đắng thành người biết tha thứ, biến một người thất vọng thành người biết hy vọng, biến một trái tim ích kỷ thành trái tim biết yêu thương, biến một người chỉ biết giữ lấy thành người dám trao ban.
Bài đọc Qohelet hôm nay nói một điều rất gần với kinh nghiệm đời người: mọi sự dưới bầu trời đều có thời của nó. Có thời sinh ra và thời chết đi; thời khóc và thời cười; thời im lặng và thời lên tiếng; thời tìm kiếm và thời mất đi. Cuộc đời không chỉ có mùa xuân. Có những mùa hoa nở và cũng có mùa lá rụng. Có ngày chúng ta được ôm lấy, cũng có ngày phải buông tay. Có lúc mọi con đường mở rộng trước mặt, và cũng có những lúc ta đứng trước một cánh cửa khép kín mà không hiểu tại sao. Đức tin không có nghĩa là người tin Chúa sẽ chỉ gặp những ngày đẹp trời. Đức tin là giữa tất cả những mùa khác nhau ấy, ta vẫn tin rằng đời mình đang nằm trong bàn tay Thiên Chúa.
Có những điều hôm nay ta không hiểu nhưng một ngày nào đó nhìn lại, ta mới thấy Thiên Chúa đã âm thầm dẫn mình đi. Có những cánh cửa đóng lại khiến ta đau lòng, nhưng nhiều năm sau mới nhận ra nếu cánh cửa ấy không đóng, có lẽ ta đã bước vào một con đường không dành cho mình. Có những người rời khỏi cuộc đời ta làm ta tưởng mình mất tất cả, nhưng chính khoảng trống ấy đôi khi lại dạy ta trở về với Chúa. Có những thất bại làm ta xấu hổ, nhưng sau này lại trở thành bài học giúp ta biết khiêm nhường. Có những giọt nước mắt tưởng như vô ích, nhưng chính nước mắt làm mềm một trái tim từng quá cứng. Thiên Chúa không nhất thiết giải thích cho ta mọi chuyện; Người chỉ xin ta tin rằng không một giây phút nào của đời ta nằm ngoài ánh mắt của Người.
Chúng ta thường muốn biết tại sao. Tại sao Chúa để chuyện ấy xảy ra? Tại sao người tốt lại đau khổ? Tại sao tôi cầu nguyện mà Chúa chưa nhậm lời? Tại sao người tôi yêu lại ra đi? Tại sao đời tôi không giống như điều tôi từng mơ ước? Có những câu “tại sao” sẽ không bao giờ có một câu trả lời hoàn toàn thỏa đáng trên đời này. Nhưng Tin Mừng không trao cho chúng ta một lý thuyết về đau khổ; Tin Mừng trao cho chúng ta một Con Người chịu đóng đinh. Thiên Chúa không đứng xa để giải thích đau khổ. Trong Đức Giêsu, Người bước vào chính đau khổ của con người. Người đã biết thế nào là bị phản bội, bị bỏ rơi, bị vu khống, bị đánh đập, bị nhạo cười, bị đóng đinh. Vì vậy khi chúng ta khóc, chúng ta không cầu nguyện với một Thiên Chúa xa lạ với nước mắt. Khi ta bị bỏ rơi, ta đang nói với Đấng từng kêu lên trên Thập Giá trong sự cô đơn. Khi đau đớn, ta đang tựa vào một trái tim đã bị lưỡi đòng đâm thâu.
Nhưng Thập Giá không phải là câu cuối cùng. Đức Giêsu nói Người sẽ chịu đau khổ, bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ; Kitô giáo tin rằng tình yêu có thể đi xuyên qua đau khổ và biến đổi nó. Người Kitô hữu không phải là người không bao giờ khóc, nhưng là người có thể khóc mà vẫn hy vọng. Không phải là người không bao giờ ngã, nhưng là người biết đứng lên. Không phải là người chưa từng đi qua đêm tối, nhưng là người tin rằng phía sau đêm tối vẫn có một bình minh. Phục Sinh không phủ nhận Thập Giá; Phục Sinh nói rằng Thập Giá không có tiếng nói cuối cùng. Tội lỗi không có tiếng nói cuối cùng. Thất bại không có tiếng nói cuối cùng. Bệnh tật cũng không có tiếng nói cuối cùng. Và ngay cả cái chết cũng không có tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng thuộc về Thiên Chúa của sự sống.
Vì thế câu hỏi “Đức Giêsu là ai?” không thể chỉ được trả lời bằng môi miệng. Tôi trả lời bằng cách tôi sống mỗi ngày. Nếu tôi nói Chúa là Đấng giàu lòng thương xót mà tôi không chịu tha thứ cho người khác, câu trả lời của tôi chưa thật. Nếu tôi nói Chúa là sự thật nhưng đời tôi đầy gian dối, lời tuyên xưng của tôi vẫn còn rỗng. Nếu tôi nói Chúa là tình yêu nhưng tôi sống ích kỷ, vô cảm trước nỗi đau của người bên cạnh, tôi chưa thực sự biết Người. Nếu tôi nói Chúa là kho tàng của đời mình nhưng cả ngày tâm trí chỉ xoay quanh tiền bạc, danh dự, hưởng thụ và hơn thua, có lẽ Đức Giêsu vẫn chỉ ở ngoài cửa trái tim tôi.
Có một cách rất đơn giản để biết Chúa đang đứng ở đâu trong đời mình: hãy xem điều gì chiếm chỗ nhiều nhất trong tâm trí ta. Điều gì làm ta vui nhất? Điều gì làm ta sợ mất nhất? Điều gì khiến ta sẵn sàng hy sinh? Điều gì ta nghĩ đến khi thức dậy và trước khi ngủ? Nhiều khi môi chúng ta nói “Chúa là nhất”, nhưng cách sống lại âm thầm cho thấy có rất nhiều thứ đang đứng trước Chúa. Tiền bạc có thể trở thành chúa. Danh dự có thể trở thành chúa. Cái tôi có thể trở thành chúa. Một mối quan hệ cũng có thể trở thành chúa. Ngay cả việc đạo đức, nếu chỉ để tìm tiếng khen, cũng có thể trở thành một thần tượng.
Hôm nay Chúa không hỏi chúng ta một câu khó. Người chỉ hỏi một câu rất riêng: “Còn con, con bảo Thầy là ai?” Có lẽ ta không cần vội trả lời. Hãy mang câu hỏi ấy vào một khoảng thinh lặng. Hãy ngồi trước Nhà Tạm một lúc. Hãy nhìn lên Thánh Giá. Hãy nhớ lại những năm tháng đã đi qua. Có những lúc tưởng mình không thể đứng dậy nữa, nhưng rồi vẫn đứng dậy được. Có những lúc tưởng không còn đường, nhưng rồi một lối nhỏ lại mở ra. Có những lúc tưởng mình hoàn toàn cô độc, nhưng hôm nay nhìn lại mới hiểu Chúa chưa bao giờ bỏ mình. Và có lẽ từ nơi sâu nhất của trái tim, ta sẽ có thể nói với Người không phải bằng một công thức, mà bằng kinh nghiệm của cả cuộc đời: “Lạy Chúa, con không hiểu hết về Ngài. Con vẫn còn nghi ngờ, còn yếu đuối, còn nhiều lần chạy trốn Thập Giá. Nhưng con biết rằng nếu bỏ Ngài, con chẳng biết đi đâu. Ngài là Đấng đã ở lại khi mọi người có thể rời đi. Ngài là Đấng hiểu con khi chính con không hiểu nổi mình. Ngài là nơi con có thể trở về sau tất cả những lạc đường của cuộc đời.”
Và có lẽ đó chính là đức tin: không phải hiểu hết mọi sự, nhưng biết mình đang đặt cuộc đời vào tay ai. Không phải có câu trả lời cho tất cả những bí nhiệm của đời mình, nhưng biết Đấng đang nắm lấy tay mình giữa những bí nhiệm ấy. Không phải chắc chắn rằng ngày mai sẽ dễ dàng, nhưng chắc chắn rằng ngày mai, dù thế nào, Chúa vẫn ở đó.
Xin cho mỗi chúng ta đừng chỉ sống bằng câu trả lời của người khác về Đức Giêsu. Xin cho chúng ta có một câu trả lời của riêng mình, được viết bằng những lần cầu nguyện trong nước mắt, những lần đứng dậy sau vấp ngã, những lần tha thứ dù lòng còn đau, những lần trung thành khi chẳng ai nhìn thấy, những lần vẫn đến với Chúa dù lời cầu xin chưa được nhận, những lần vẫn chọn yêu thương giữa một thế giới đầy hơn thua. Và đến một ngày, khi hành trình trần thế khép lại, mong rằng toàn bộ cuộc đời chúng ta trở thành một lời tuyên xưng duy nhất: “Lạy Chúa Giêsu, Ngài là Đấng Kitô của Thiên Chúa. Ngài là Chúa của đời con. Con đã đi qua những mùa vui, những mùa buồn, những ngày được và những ngày mất; nhưng cuối cùng con hiểu rằng điều đẹp nhất trong cuộc đời không phải là con đã có được bao nhiêu, mà là giữa tất cả những đổi thay ấy, con đã gặp được Ngài.”
Lm. Anmai, CSsR.
CÒN CON, CON BẢO THẦY LÀ AI?
Có những câu hỏi người ta có thể trả lời một lần rồi thôi. Có những câu hỏi chỉ cần tra cứu một chút là có đáp án. Nhưng cũng có những câu hỏi đi theo con người suốt cả cuộc đời, bởi câu trả lời không nằm trên môi miệng mà nằm trong chính cách chúng ta sống. Tin Mừng hôm nay đặt trước mỗi người một câu hỏi như thế. Đức Giêsu không hỏi các môn đệ xem dân chúng nghĩ Người giảng hay hay dở, làm phép lạ nhiều hay ít, được yêu thích hay bị chống đối. Người hỏi một câu ngắn thôi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Câu hỏi ấy đã vang lên cách đây hơn hai ngàn năm tại một miền đất xa xôi, nhưng chưa bao giờ cũ. Hôm nay Đức Giêsu vẫn đứng trước từng người chúng ta và hỏi: “Còn con, con bảo Thầy là ai?”
Trước khi đặt câu hỏi ấy, Đức Giêsu hỏi các môn đệ: “Đám đông nói Thầy là ai?” Người ta đưa ra nhiều câu trả lời. Có người nói Người là Gioan Tẩy Giả sống lại, người khác bảo là Êlia, người khác nữa cho rằng một ngôn sứ thời xưa đã trở lại. Tất cả đều là những câu trả lời đẹp, nhưng vẫn chỉ là những nhận định của người khác về Đức Giêsu. Và có lẽ đó cũng là tình trạng đức tin của nhiều người hôm nay. Chúng ta biết rất nhiều điều người khác nói về Chúa. Chúng ta nghe cha mẹ nói về Chúa, nghe linh mục giảng về Chúa, học giáo lý về Chúa, đọc sách về Chúa, xem những bài chia sẻ về Chúa, thuộc nhiều kinh và biết nhiều câu Kinh Thánh. Nhưng biết người khác nói gì về Đức Giêsu chưa có nghĩa là chính mình đã gặp Người. Có một khoảng cách rất lớn giữa biết về Chúa và biết Chúa, giữa nghe người khác kể về một con người và tự mình bước vào một tương quan sống động với con người ấy.
Bởi thế Đức Giêsu lập tức đưa câu hỏi từ đám đông trở về phía các môn đệ: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Người không muốn các môn đệ núp sau câu trả lời của người khác. Người buộc họ phải tự mình trả lời. Phêrô lên tiếng: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa.” Đó là một lời tuyên xưng chính xác. Phêrô đã nhận ra rằng người Thầy mà ông đang bước theo không chỉ là một ngôn sứ, không chỉ là một thầy dạy khôn ngoan, không chỉ là một người làm phép lạ, nhưng là Đấng Mêsia mà dân Israel hằng mong đợi. Tuy nhiên, điều đáng suy nghĩ là ngay sau khi Phêrô tuyên xưng đúng về căn tính của Đức Giêsu, Đức Giêsu lại bắt đầu sửa lại cách các môn đệ hiểu về Đấng Mêsia. Người nói Con Người phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ mục, thượng tế và kinh sư loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại. Như thế, trả lời đúng câu hỏi “Đức Giêsu là ai?” vẫn chưa đủ. Điều khó hơn là chấp nhận Đức Giêsu thực sự là Đấng Mêsia theo cách của Thiên Chúa, chứ không theo những hình dung của chúng ta.
Con người thường muốn một Thiên Chúa phù hợp với ước mong của mình. Chúng ta thích một Thiên Chúa giải quyết nhanh những vấn đề của chúng ta, chữa lành mọi bệnh tật, mở mọi cánh cửa, ban mọi điều ta cầu xin, bảo vệ ta khỏi thất bại, cho gia đình bình an, cho công việc thuận lợi. Chúng ta dễ tin Chúa khi đời sống xuôi chèo mát mái. Nhưng khi bệnh tật đến, khi người thân ra đi, khi một lời cầu nguyện dường như không được đáp lại, khi bị hiểu lầm, khi công việc thất bại, khi tuổi già kéo đến, khi một dự định tốt đẹp tan vỡ, câu hỏi “Chúa là ai đối với tôi?” mới thực sự trở nên nghiêm túc. Nếu Chúa chỉ là Đấng làm cho cuộc đời tôi thuận lợi, thì khi cuộc đời trở nên khó khăn, đức tin của tôi cũng dễ lung lay. Nhưng Đức Giêsu trong Tin Mừng hôm nay không giới thiệu mình như một Đấng Mêsia tránh khỏi đau khổ. Người là Đấng Mêsia đi xuyên qua đau khổ, biến đau khổ thành con đường của tình yêu và sự sống.
Đây là điều rất khó hiểu đối với các môn đệ ngày xưa và cũng không dễ chấp nhận đối với chúng ta hôm nay. Chúng ta thường nghĩ nếu Thiên Chúa yêu mình thì Người phải lấy đau khổ khỏi đời mình. Nhưng thập giá của Đức Kitô cho thấy một điều sâu hơn: có những lúc Thiên Chúa không lấy thập giá khỏi vai ta, nhưng Người bước vào chính thập giá ấy với ta; có những lúc Người không làm cho con đường ngắn hơn, nhưng Người ban sức để ta đi đến cùng; có những lúc Người không trả lời câu hỏi “Tại sao?”, nhưng Người âm thầm ở bên ta để đau khổ không trở thành tuyệt vọng. Đức tin Kitô giáo không hứa với chúng ta một cuộc đời không nước mắt. Đức tin cho chúng ta một Đấng đã khóc, đã bị phản bội, đã bị khước từ, đã chịu thương tích và đã chết. Vì thế, khi con người đau khổ nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh, họ không nhìn thấy một Thiên Chúa đứng bên ngoài nỗi đau, nhưng một Thiên Chúa đã bước vào tận đáy đau khổ của con người.
Có lẽ trong đời mình, chúng ta đã nhiều lần trả lời “Thầy là Đấng Kitô”, nhưng đời sống thực tế lại cho thấy một câu trả lời khác. Chúng ta tuyên xưng Chúa là Đấng quan trọng nhất, nhưng đôi khi tiền bạc lại quan trọng hơn. Chúng ta nói Chúa là sự thật, nhưng khi sự thật làm mình thiệt thòi, ta lại chọn im lặng hoặc nói khác đi. Chúng ta nói Chúa là tình yêu, nhưng vẫn nuôi một mối hận nhiều năm không chịu tha thứ. Chúng ta nói Chúa là Chúa của đời mình, nhưng vẫn muốn tự quyết mọi chuyện rồi chỉ mời Chúa đến để chúc lành cho những quyết định đã có sẵn. Vì thế câu hỏi của Đức Giêsu không phải là một bài kiểm tra giáo lý. Người không hỏi để xem chúng ta nhớ đúng công thức hay không. Người hỏi để buộc ta nhìn lại toàn bộ đời mình: nếu tôi thật sự tin Đức Giêsu là Chúa, thì niềm tin ấy đã thay đổi điều gì trong cách tôi sống?
Nếu Đức Giêsu thật sự là Chúa của tôi, tôi phải học cách nhìn con người bằng ánh mắt của Người. Nếu Đức Giêsu thật sự là Chúa của tôi, tôi không thể vừa quỳ trước Thánh Thể vừa chà đạp phẩm giá người khác. Nếu Đức Giêsu thật sự là Chúa của tôi, tôi không thể đọc Tin Mừng mỗi ngày mà vẫn sống bằng gian dối, ích kỷ và hơn thua. Nếu Đức Giêsu thật sự là Chúa của tôi, tôi phải tập tha thứ dù khó, tập cho đi dù tiếc, tập nhẫn nại dù mệt, tập yêu những người không dễ thương, tập đứng về phía người bé nhỏ và tập từ bỏ những điều làm tôi xa Chúa. Đức tin không chỉ là một ý nghĩ đúng về Đức Giêsu; đức tin là để cho Đức Giêsu trở thành trung tâm định hướng mọi lựa chọn của đời mình.
Điều rất đẹp trong Tin Mừng là trước khi hỏi các môn đệ câu hỏi quan trọng ấy, Đức Giêsu đang cầu nguyện. Luca nhiều lần cho thấy Đức Giêsu cầu nguyện trước những thời điểm quan trọng trong sứ vụ của Người. Cầu nguyện không phải chỉ là xin Thiên Chúa một điều gì đó. Cầu nguyện trước hết là đi vào tương quan với Chúa, ở lại với Chúa và nhận ra ý muốn của Người. Có lẽ đây cũng là một nhắc nhở quan trọng cho đời sống chúng ta. Chúng ta rất dễ trả lời câu hỏi “Chúa là ai?” bằng những kiến thức đã học, nhưng chỉ trong cầu nguyện ta mới dần khám phá Chúa là ai đối với chính đời mình. Có những điều về Thiên Chúa không thể hiểu bằng tranh luận nhưng chỉ có thể hiểu khi quỳ xuống. Có những câu hỏi không thể giải quyết bằng lý luận nhưng lại sáng dần khi ta ngồi yên trước Thánh Thể. Có những nỗi đau không có lời giải thích nhưng lại có thể được mang đi khi đặt chúng trước mặt Chúa.
Cầu nguyện cũng giúp ta nhận ra rằng Thiên Chúa lớn hơn những dự tính của mình. Nhiều khi ta đến với Chúa chỉ để xin Người thực hiện kế hoạch của ta. Nhưng cầu nguyện thật sự là để ta dần dần bước vào kế hoạch của Người. Chúng ta thường nói: “Lạy Chúa, xin làm điều con muốn.” Cầu nguyện trưởng thành sẽ dần trở thành: “Lạy Chúa, xin giúp con muốn điều Chúa muốn.” Khoảng cách giữa hai lời cầu nguyện ấy có thể là cả một hành trình đức tin. Đức Giêsu chính là mẫu gương cho hành trình ấy. Người hoàn toàn thuộc về Chúa Cha, vì thế cả cuộc đời Người hướng về việc thi hành ý Cha, ngay cả khi ý ấy đi qua thập giá.
Có một điều nữa khiến ta phải suy nghĩ: khi Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Đức Giêsu lại căn dặn các môn đệ đừng nói điều đó với ai. Tại sao? Bởi người ta rất dễ hiểu sai về Đấng Mêsia. Họ mong một vị vua mạnh mẽ, một nhà giải phóng chính trị, một người chiến thắng bằng quyền lực. Đức Giêsu biết rằng nếu chỉ nói “Người là Đấng Mêsia” mà chưa hiểu thập giá, người ta sẽ biến Người thành một Đấng Mêsia theo tham vọng của mình. Và có lẽ nguy cơ ấy vẫn tồn tại trong đời sống đạo hôm nay. Ta có thể dùng Chúa để phục vụ tham vọng, dùng tôn giáo để nâng mình lên, dùng việc đạo đức để tìm danh tiếng, dùng đức tin để chứng minh mình tốt hơn người khác. Nhưng Đấng Mêsia của Tin Mừng không đi con đường quyền lực. Người đi con đường tự hạ. Người không cứu nhân loại bằng cách nghiền nát kẻ thù nhưng bằng cách hiến mạng sống mình. Người không đứng trên người khác nhưng quỳ xuống rửa chân cho họ.
Vì thế, càng theo Đức Giêsu lâu năm, chúng ta càng phải tự hỏi: tôi đang đi theo Đức Giêsu thật, hay đang đi theo một hình ảnh về Đức Giêsu do chính tôi tạo ra? Đức Giêsu thật nhiều khi làm ta bất tiện. Người đòi ta tha thứ khi ta muốn trả đũa. Người bảo ta cho đi khi ta muốn giữ lại. Người dạy ta phục vụ khi ta muốn được phục vụ. Người mời ta sống khiêm nhường khi ta muốn được nhìn nhận. Người bảo ta yêu kẻ thù trong khi bản năng bảo ta tránh xa họ. Người mời ta vác thập giá trong khi ta chỉ muốn một con đường dễ dàng. Nếu một “Đức Giêsu” nào đó luôn đồng ý với mọi suy nghĩ, mọi ham muốn và mọi lựa chọn của tôi, rất có thể đó không còn là Đức Giêsu của Tin Mừng, mà chỉ là hình ảnh của chính tôi được khoác lên một cái tên thánh thiện.
“Còn con, con bảo Thầy là ai?” Có lẽ người trẻ sẽ phải trả lời câu hỏi ấy giữa một thế giới đầy những lời mời gọi khác nhau. Chúa có thực sự quan trọng hơn thành công, danh vọng, tiền bạc và sự công nhận của người khác không? Người đang đau bệnh phải trả lời câu hỏi ấy giữa những đêm dài mất ngủ: Chúa có còn là Đấng con tin tưởng khi con không hiểu tại sao mình phải đau như thế này không? Người đang thất bại phải trả lời: Chúa có còn là Chúa khi mọi kế hoạch của con đổ vỡ không? Người lớn tuổi phải trả lời: khi sức khỏe yếu đi, khi những điều từng quen thuộc dần rời khỏi tay, con có dám trao phần cuối đời mình cho Chúa không? Người đang chịu tổn thương phải trả lời: con có tin rằng tình yêu Chúa lớn hơn vết thương mà người khác đã gây cho con không? Người đang mang tội lỗi phải trả lời: con có tin lòng thương xót Chúa lớn hơn quá khứ của con không?
Và có lẽ câu trả lời đẹp nhất không phải là một câu thật hùng hồn. Có khi câu trả lời chỉ là sáng nay ta vẫn bước vào nhà thờ dù lòng rất nặng. Là sau một lần thất bại ta vẫn cầu nguyện. Là sau một tổn thương ta vẫn chọn không trả thù. Là giữa bệnh tật ta vẫn thì thầm: “Lạy Chúa, con tín thác vào Chúa.” Là sau khi phạm tội ta vẫn can đảm đứng lên đi xưng tội vì tin rằng lòng thương xót lớn hơn sự yếu đuối. Là khi không hiểu đường Chúa dẫn, ta vẫn nắm lấy tay Người. Những hành động rất nhỏ ấy có khi chính là lời tuyên xưng đức tin chân thành nhất.
Phêrô đã trả lời đúng nhưng ông vẫn còn phải học rất lâu để hiểu câu trả lời của mình. Ông sẽ còn sợ hãi, còn bỏ chạy, còn chối Thầy ba lần. Nhưng Đức Giêsu không bỏ ông. Chúa kiên nhẫn dẫn ông từ một lời tuyên xưng trên môi đến một lời tuyên xưng bằng cả cuộc đời. Sau này Phêrô cũng sẽ hiến mạng sống vì Đấng mà ngày hôm ấy ông gọi là “Đấng Kitô của Thiên Chúa”. Điều ấy đem lại cho chúng ta nhiều hy vọng. Có thể hôm nay đức tin của chúng ta còn yếu. Có thể ta nói tin nhưng vẫn sợ. Có thể ta muốn theo Chúa nhưng vẫn vấp ngã. Có thể ta yêu Chúa nhưng tình yêu ấy chưa trọn vẹn. Chúa không đòi ta phải hoàn hảo ngay lập tức. Người chỉ mời ta tiếp tục bước theo, tiếp tục để Người dạy, sửa, thanh luyện và biến đổi trái tim mình.
Sau cùng, câu hỏi “Thầy là ai?” luôn gắn với câu hỏi “Con là ai?” Bởi khi tôi nhận ra Đức Giêsu là Chúa, tôi cũng bắt đầu hiểu mình là ai: tôi không chỉ là những thành công hay thất bại của mình; không chỉ là quá khứ, tiền bạc, địa vị hay những gì người khác nghĩ về tôi. Tôi là người được Thiên Chúa yêu, được Đức Kitô cứu chuộc và được mời gọi bước theo Người. Và khi biết mình thuộc về ai, rất nhiều điều trong đời sẽ tìm lại đúng vị trí. Ta không còn phải sống chỉ để chứng minh mình với thiên hạ. Ta không cần thắng mọi cuộc tranh luận. Ta không cần có tất cả. Ta chỉ cần biết mình đang đi với ai và con đường này dẫn về đâu.
Hôm nay Đức Giêsu lại hỏi từng người chúng ta: “Còn con, con bảo Thầy là ai?” Đừng vội trả lời bằng một công thức thuộc lòng. Hãy để cả đời mình trả lời. Hãy để cách ta đối xử với người thân trả lời. Hãy để cách ta sử dụng tiền bạc trả lời. Hãy để cách ta chịu đựng bệnh tật trả lời. Hãy để cách ta tha thứ trả lời. Hãy để những lựa chọn âm thầm không ai biết trả lời. Hãy để những lần ta đứng dậy sau tội lỗi trả lời. Hãy để cách ta đón nhận thập giá trả lời. Và nếu một ngày nào đó, giữa bao nhiêu đổi thay của đời người, ta vẫn có thể nói từ tận đáy lòng: “Lạy Chúa Giêsu, con không hiểu hết đường Chúa dẫn, nhưng con biết Chúa là Đấng con muốn thuộc về; con không biết ngày mai sẽ ra sao, nhưng con biết tay con muốn nắm lấy là tay Chúa; con không hứa sẽ không bao giờ yếu đuối, nhưng con xin đừng bao giờ để con lìa xa Chúa”, thì có lẽ lúc ấy câu trả lời của Phêrô đã thực sự trở thành câu trả lời của chính đời ta.
Lm. Anmai, CSsR
CÒN CON, CON BẢO THẦY LÀ AI?
Có những câu hỏi người ta có thể trả lời một lần rồi thôi. Nhưng cũng có những câu hỏi phải trả lời suốt cả đời. Tin Mừng hôm nay đặt trước mặt chúng ta một câu hỏi như thế. Đức Giêsu hỏi các môn đệ: “Đám đông nói Thầy là ai?” Các ông trả lời rất dễ dàng, bởi đó chỉ là thuật lại điều người khác nghĩ: người thì bảo Gioan Tẩy Giả, người thì nói Êlia, người khác lại cho rằng một ngôn sứ thời xưa đã sống lại. Nhưng rồi Đức Giêsu bất ngờ đưa câu hỏi đến gần hơn, gần đến mức không ai còn có thể núp sau ý kiến của đám đông nữa: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Chính tại chữ “còn anh em” ấy mà đức tin bắt đầu trở nên nghiêm túc. Chúa không hỏi người khác nghĩ gì về Người. Chúa hỏi tôi. Chúa không hỏi giáo xứ của tôi tin thế nào. Chúa hỏi tôi tin thế nào. Chúa không hỏi cha mẹ tôi, cộng đoàn tôi, những người đạo đức chung quanh tôi nói gì về Người. Chúa hỏi: “Còn con, con bảo Thầy là ai?” Và câu trả lời thật sự không nằm trên môi miệng, nhưng nằm trong cách chúng ta đang sống mỗi ngày.
Phêrô trả lời rất đúng: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa.” Đó là một lời tuyên xưng đẹp. Nhưng ngay sau lời tuyên xưng ấy, Đức Giêsu nói đến đau khổ, bị loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ ba sống lại. Người như muốn nói với Phêrô và với tất cả chúng ta rằng: biết đúng danh xưng của Đức Giêsu chưa có nghĩa là đã thật sự hiểu Đức Giêsu. Người ta có thể gọi Người là Chúa, là Đấng Cứu Thế, là Con Thiên Chúa, nhưng vẫn mong Người phải trở thành một Thiên Chúa theo ý mình. Ta thích một Đức Giêsu làm phép lạ, nhưng ngại một Đức Giêsu vác thập giá. Ta thích một Đức Giêsu chữa lành, nhưng không thích một Đức Giêsu mời gọi từ bỏ mình. Ta thích một Đức Giêsu ban bình an, nhưng lại sợ một Đức Giêsu đòi ta phải tha thứ cho người làm mình đau. Ta thích một Đức Giêsu ở trên bàn thờ, nhưng đôi khi không muốn gặp Người nơi một người nghèo, một người bệnh, một người già cô độc, một người khó tính đang sống bên cạnh mình. Ta thích tuyên xưng Chúa bằng những lời thật đẹp, nhưng lại không muốn để Chúa thay đổi những góc tối nhất trong lòng mình. Vì thế, câu hỏi “Thầy là ai?” cuối cùng sẽ dẫn tới một câu hỏi khác: “Nếu Thầy thật sự là Chúa của con, tại sao con vẫn sống như thể cuộc đời này chỉ thuộc về con?”
Bài đọc sách Giảng Viên hôm nay cũng đưa chúng ta vào một sự thật rất sâu của kiếp người: “Mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời ở dưới bầu trời.” Có thời để sinh ra và có thời để chết; thời để khóc và thời để cười; thời để than van và thời để múa nhảy; thời để im lặng và thời để lên tiếng. Chúng ta thường muốn cuộc đời chỉ có những “thời” mình thích. Ta muốn thời để cười nhưng không muốn thời để khóc. Ta muốn thời để xây dựng nhưng không muốn thời những gì ta xây phải sụp xuống. Ta muốn thời để gặp gỡ nhưng không muốn thời chia lìa. Ta muốn thời khỏe mạnh nhưng không muốn thời đau bệnh. Ta muốn thời được người khác hiểu nhưng không muốn những tháng ngày phải chịu hiểu lầm. Ta muốn mùa xuân kéo dài mãi và thường ngạc nhiên khi mùa đông đến. Nhưng đời người không phải là một đường thẳng chỉ có nắng. Có những mùa Thiên Chúa cho ta bước đi trong ánh sáng và cũng có những mùa Người cho phép ta đi qua đêm tối. Có những lúc ta thấy Chúa rất gần, và cũng có những ngày cầu nguyện mà chỉ thấy im lặng. Có những lúc mọi việc thuận lợi đến mức ta tưởng đời sống đức tin thật dễ dàng, rồi cũng có những thời điểm tất cả dường như cùng lúc trở nên nặng nề: gia đình bất ổn, sức khỏe suy giảm, công việc khó khăn, người thân ra đi, những dự định dang dở, lời cầu xin kéo dài mà chưa có câu trả lời. Chính những lúc ấy, ta mới hiểu rằng tin Chúa không có nghĩa là cuộc đời sẽ không còn mùa đông; tin Chúa là biết rằng ngay cả trong mùa đông, Thiên Chúa vẫn đang ở đó.
Có lẽ điều làm chúng ta khổ nhiều không chỉ là biến cố xảy ra, mà còn là vì ta không chấp nhận rằng một mùa đã qua. Có những người đau khổ nhiều năm vì cứ muốn níu lại một thời đã mất. Một người mẹ không chấp nhận con mình đã trưởng thành. Một người từng thành công không chấp nhận thời huy hoàng đã qua. Một người từng khỏe mạnh không chấp nhận tuổi già đang đến. Một người vẫn sống với một mối quan hệ đã kết thúc. Một người cứ nhớ mãi một vết thương và để nó quyết định hiện tại. Có những thứ Thiên Chúa không bảo ta phải quên, nhưng Người mời ta biết đặt xuống. Không phải vì chúng không quý giá, nhưng vì chúng đã hoàn thành “thời” của chúng. Có một thời để ôm lấy và cũng có một thời để buông ra. Có một thời để giữ lại và có một thời để vứt bỏ. Trưởng thành trong đức tin đôi khi không phải là biết nắm chặt hơn, mà là biết mở tay ra và nói: “Lạy Chúa, điều này đã từng rất quý với con, nhưng nếu thời của nó đã qua, xin cho con đủ bình an để trao lại cho Chúa.”
Điều quan trọng không phải là đời ta đang ở mùa nào, mà là trong mùa ấy, ta có ở với Chúa hay không. Người ta có thể rất hạnh phúc mà xa Chúa, và cũng có thể đang khóc mà lại ở rất gần Người. Có những giọt nước mắt làm con người cay đắng, nhưng cũng có những giọt nước mắt rửa sạch linh hồn. Có những thất bại khiến người ta buông xuôi, nhưng cũng có những thất bại giúp người ta lần đầu tiên nhận ra mình không phải là Thiên Chúa. Có những cánh cửa đóng lại làm ta tức giận, rồi nhiều năm sau mới hiểu rằng nếu cánh cửa ấy không đóng, có thể ta đã bước vào một con đường không dành cho mình. Có những điều lúc xảy ra ta chỉ biết hỏi “Tại sao?”, nhưng sau một quãng đời nhìn lại, ta có thể thầm nói: “Thì ra Chúa đã dẫn con qua con đường ấy.” Sách Giảng Viên nói Thiên Chúa “làm mọi sự hợp thời đúng lúc”, nhưng con người không thể hiểu hết công trình của Thiên Chúa từ đầu đến cuối. Đức tin chính là tiếp tục bước đi ngay cả khi ta chưa hiểu toàn bộ câu chuyện.
Đức Giêsu hiểu rất rõ “thời” của mình. Người biết khi nào phải lên tiếng và khi nào phải im lặng. Người biết lúc nào phải ở giữa đám đông và lúc nào phải lui vào nơi thanh vắng để cầu nguyện. Tin Mừng hôm nay đặc biệt ghi rằng trước khi hỏi các môn đệ câu hỏi quyết định, Đức Giêsu đang cầu nguyện. Điều đó thật đáng suy nghĩ. Những quyết định quan trọng nhất của Chúa Giêsu thường xuất hiện trong bầu khí cầu nguyện. Còn chúng ta, nhiều khi càng đứng trước quyết định lớn càng ít cầu nguyện. Ta suy nghĩ rất nhiều nhưng cầu nguyện rất ít. Ta hỏi ý kiến rất nhiều người nhưng đôi khi quên hỏi Chúa. Ta đọc rất nhiều, tìm kiếm rất nhiều, tính toán rất nhiều, nhưng lại dành quá ít thời gian để ngồi yên trước mặt Người. Vì thế ta dễ nói khi lẽ ra phải im lặng, dễ im lặng khi lẽ ra phải lên tiếng, dễ giữ thứ cần buông, dễ buông thứ cần giữ, dễ vội vàng khi cần chờ đợi và dễ trì hoãn khi Chúa đang gọi phải đứng dậy.
Có lẽ một trong những ân huệ lớn nhất ta có thể xin Chúa mỗi sáng là: “Lạy Chúa, xin cho con biết hôm nay là thời của điều gì.” Có ngày là thời để nói một lời xin lỗi. Có ngày là thời để ngừng tranh cãi. Có ngày là thời để gọi điện cho một người ta đã lâu không hỏi thăm. Có ngày là thời để bước ra khỏi một mối quan hệ gây tổn thương. Có ngày là thời để kiên trì thêm một chút. Có ngày là thời để nghỉ ngơi vì ta đã quá mệt. Có ngày là thời để chiến đấu. Có ngày là thời để chấp nhận mình không thể thay đổi mọi thứ. Có ngày là thời để lên tiếng bảo vệ sự thật. Có ngày là thời để im lặng vì lời nói lúc ấy chỉ làm người khác đau hơn. Không phải việc đúng nào cũng đúng vào mọi lúc. Khôn ngoan Kitô giáo không chỉ là biết điều gì tốt, mà còn là biết lúc nào phải làm điều tốt ấy.
Nhưng giữa mọi thời của cuộc đời, có một điều không bao giờ hết thời: đó là câu hỏi của Đức Giêsu. “Còn con, con bảo Thầy là ai?” Có thể ngày còn trẻ ta trả lời một cách. Khi trưởng thành, câu trả lời ấy sâu hơn. Khi trải qua đau khổ, ta lại hiểu Chúa theo một cách khác. Khi đứng bên giường bệnh của người mình thương, khi tiễn một người thân ra nghĩa trang, khi thấy những dự định của mình tan vỡ, câu “Thầy là ai?” bỗng không còn là một câu giáo lý. Khi ấy ta phải chọn: Đức Giêsu có thật là Chúa không? Người có còn đáng để tôi tín thác không? Lời Người có còn đáng để tôi bám vào khi tất cả những điểm tựa khác đều lung lay không? Đức tin chỉ trở thành đức tin của riêng tôi khi tôi đã có những lúc chẳng còn gì để bám ngoài Chúa mà vẫn thưa: “Con vẫn tin.”
Có những người đã theo Chúa nhiều năm nhưng thực ra chỉ quen với Chúa. Mà quen với Chúa rất khác với yêu Chúa. Ta có thể quen đi lễ, quen đọc kinh, quen nghe Lời Chúa, quen phục vụ trong giáo xứ, quen với ảnh tượng, chuông nhà thờ và những lời kinh thuộc lòng; nhưng giữa những điều quen thuộc ấy, Đức Giêsu vẫn có thể hỏi: “Còn con, con nói Thầy là ai?” Có thể ta sẽ trả lời bằng giáo lý rất chính xác. Nhưng Chúa có lẽ sẽ nhìn vào đời ta. Nếu Chúa là Chúa của tôi, tại sao một lời xúc phạm của người khác có thể điều khiển tâm trạng tôi nhiều ngày? Nếu Chúa là Đấng tôi tin cậy, tại sao tôi lại tuyệt vọng khi một kế hoạch hỏng? Nếu Chúa là Đấng tha thứ cho tôi, tại sao tôi nhất quyết không tha thứ cho một người? Nếu Chúa là kho tàng của tôi, tại sao tôi sống như thể tiền bạc, danh dự và lời khen mới là điều quyết định giá trị của mình? Nếu Chúa là Đấng đã chết vì tôi, tại sao tôi dành cho Người phần thời gian còn dư sau tất cả những bận rộn khác?
Đức Giêsu không trách Phêrô vì đã tuyên xưng Người là Đấng Kitô. Nhưng Người lập tức thanh luyện hình ảnh mà Phêrô có về Đấng Kitô: Con Người phải chịu đau khổ, bị loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ ba sống lại. Đó cũng là điều Chúa phải làm với mỗi chúng ta: thanh luyện hình ảnh ta đang có về Người. Chúa không phải là người phục vụ các dự tính của ta. Cầu nguyện không phải là cách thuyết phục Thiên Chúa thực hiện điều ta đã quyết định. Đức tin không phải là một thứ bảo hiểm để cuộc đời tránh mọi đau khổ. Đức Giêsu là Chúa, nghĩa là chính ta phải học bước theo đường của Người, chứ không phải bắt Người đi theo đường của ta. Có những lời cầu xin Chúa sẽ nói “được”. Có những lời Chúa nói “chưa”. Và có những lời Người dường như nói “không”, bởi điều ta xin không dẫn ta đến nơi Người muốn đưa ta tới. Trong tất cả những điều ấy, câu hỏi vẫn là: ta yêu quà của Chúa hay yêu chính Chúa?
Thập giá là nơi câu trả lời trở nên rõ nhất. Khi mọi chuyện tốt đẹp, rất dễ nói “Chúa là Chúa của con”. Nhưng khi đời sống đi ngược điều ta muốn, lời ấy mới được thử luyện. Khi bệnh tật đến, khi người thân qua đời, khi bị hiểu lầm, khi lòng tốt không được đáp lại, khi ta cầu nguyện rất lâu mà trời dường như im tiếng, ta mới biết Đức Giêsu có thật sự là Chúa của đời mình hay không. Tin không phải là hiểu hết. Tin là dám giao đời mình cho Đấng mình chưa hiểu hết. Một đứa trẻ ngủ bình an trên xe không phải vì nó biết đường, nhưng vì nó biết người đang lái xe là cha mình. Chúng ta cũng vậy. Có những đoạn đường chẳng hiểu gì, nhưng có thể vẫn bình an nếu biết ai đang dẫn mình.
Và Tin Mừng không dừng lại ở đau khổ. Đức Giêsu nói Người sẽ chịu đau khổ, bị giết chết, nhưng “ngày thứ ba sẽ sống lại.” Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Kitô giáo tin rằng đau khổ và sự chết không có lời cuối cùng. Thập giá không phải dấu chấm hết; phía sau nó là buổi sáng Phục Sinh. Vì thế người Kitô hữu có thể khóc nhưng không tuyệt vọng; có thể đau nhưng không mất hy vọng; có thể bước qua nghĩa trang mà vẫn tin vào sự sống đời đời. Có những thứ đang chết trong đời ta mà có lẽ Thiên Chúa đang chuẩn bị cho một sự sống mới. Một dự định chết đi có thể mở ra một ơn gọi mới. Một thất bại có thể sinh ra khiêm nhường. Một tổn thương được chữa lành có thể biến ta thành người biết cảm thông. Một mất mát có thể khiến ta nhận ra điều gì mới thật sự vĩnh cửu. Thiên Chúa có khả năng viết chữ “Phục Sinh” trên chính những trang mà ta tưởng chỉ còn chữ “hết”.
Vì thế, nếu hôm nay cuộc đời đang vui, hãy cảm tạ Chúa và đừng tưởng niềm vui ấy là quyền đương nhiên của mình. Nếu hôm nay đang buồn, đừng vội kết luận rằng Chúa đã bỏ mình. Nếu đang thành công, hãy khiêm tốn, vì mùa nào rồi cũng qua. Nếu đang thất bại, đừng tuyệt vọng, vì mùa nào rồi cũng qua. Nếu đang khỏe mạnh, hãy dùng sức khỏe để yêu thương. Nếu đang đau bệnh, hãy cho phép mình được yếu đuối trong vòng tay Chúa. Nếu đang có người mình yêu bên cạnh, hãy yêu họ hôm nay, vì ta không biết còn bao nhiêu ngày để nói một lời dịu dàng. Nếu đang còn cơ hội làm hòa, đừng trì hoãn. Nếu còn cha mẹ, hãy yêu thương khi còn có thể. Nếu còn người để xin lỗi, hãy xin lỗi. Nếu còn điều tốt phải làm, hãy làm. Đừng luôn nghĩ “để mai”. Có những việc có một thời của nó, và khi thời ấy qua rồi, ta không thể mua lại bằng bất cứ giá nào.
Sau cùng, điều quan trọng nhất không phải là chúng ta sống bao nhiêu năm, nhưng là trong những năm ấy, ta đã nhận ra Đức Giêsu là ai. Một đời rất dài mà không gặp được Chúa vẫn có thể là một đời rất trống. Một đời ngắn nhưng sống trong tình yêu Thiên Chúa vẫn có thể viên mãn. Rồi một ngày thời để sinh ra sẽ khép lại bằng thời để chết. Mọi danh dự sẽ ở lại, mọi tài sản sẽ sang tay, mọi chức vụ sẽ có người khác thay thế, những điều ta từng lo lắng đến mất ngủ có thể chẳng còn nghĩa gì. Khi ấy có lẽ chỉ còn một câu hỏi thật sự quan trọng: Đức Giêsu là ai đối với tôi, và tôi là ai đối với Người?
Hôm nay Chúa lại đứng trước mỗi người và hỏi, không phải để kiểm tra kiến thức, nhưng để xin một trái tim: “Còn con, con bảo Thầy là ai?” Xin đừng trả lời quá nhanh. Hãy để câu hỏi ấy đi vào những chọn lựa, những tương quan, cách sử dụng tiền bạc, thời giờ, cách ta đối xử với người làm mình tổn thương, cách ta chịu đựng bệnh tật, cách ta bước qua thất bại và cách ta chuẩn bị cho cái chết. Và xin cho cả cuộc đời chúng ta, dù có những mùa cười hay khóc, gặp gỡ hay chia ly, thành công hay thất bại, cuối cùng trở thành một câu trả lời duy nhất: “Lạy Chúa Giêsu, Chúa là Đấng Kitô của Thiên Chúa. Chúa là Đấng con tin cậy khi con hiểu và cả khi con không hiểu. Chúa là Đấng con muốn theo khi đường bằng phẳng và cả khi phải đi qua thập giá. Chúa là Đấng con muốn thuộc về trong mọi mùa của đời con. Và khi thời gian của con trên trần gian này khép lại, xin cho con được gặp Đấng mà suốt đời con đã cố gắng yêu mến, tìm kiếm và bước theo.”
Lm. Anmai, CSsR
CÒN CON, CON BẢO THẦY LÀ AI?
Có những câu hỏi ta có thể trả lời trong vài giây, nhưng cũng có những câu hỏi phải dùng cả một đời để trả lời. Có những câu hỏi chỉ cần kiến thức, nhưng cũng có những câu hỏi đòi cả trái tim, cả cuộc đời, cả những chọn lựa, cả những hy sinh và cả cách ta sống từng ngày. Câu hỏi Đức Giêsu đặt ra cho các môn đệ hôm nay thuộc về loại câu hỏi ấy: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Đây không phải là một câu hỏi kiểm tra giáo lý. Đức Giêsu không cần các môn đệ cung cấp cho Người một định nghĩa chính xác về căn tính của Người. Người cũng không cần biết dân chúng đang nói gì về mình. Người biết rất rõ mình là ai. Nhưng điều Người muốn biết là: trong lòng các môn đệ, Người là ai? Trong cuộc đời họ, Người đang đứng ở đâu? Họ theo Người vì điều gì? Và liệu họ có còn theo Người khi con đường phía trước không còn là phép lạ, tiếng tung hô và những đám đông, nhưng là đau khổ, bị loại bỏ và Thập Giá hay không?
Tin Mừng kể rằng câu hỏi ấy được đặt ra khi Đức Giêsu đang cầu nguyện. Chi tiết này rất đẹp. Những câu hỏi quan trọng nhất của đời người thường chỉ nghe được trong thinh lặng. Giữa tiếng ồn, ta thường chỉ nghe được dư luận. Trong thinh lặng trước mặt Chúa, ta mới có thể nghe được câu hỏi thật sự dành cho chính mình. Ngoài xã hội, người ta có thể nói rất nhiều về Đức Giêsu. Người này cho rằng Người là một vị thầy luân lý, người khác coi Người như một nhà cải cách xã hội, một ngôn sứ, một nhân vật lịch sử vĩ đại, một người khôn ngoan, một người có ảnh hưởng lớn trên nhân loại. Ngay thời Đức Giêsu, dân chúng cũng có đủ mọi câu trả lời: Gioan Tẩy Giả, Êlia hay một ngôn sứ thời xưa sống lại. Những câu trả lời ấy không hoàn toàn sai, nhưng vẫn chưa chạm đến căn tính thật sự của Người. Và rồi Đức Giêsu chuyển từ câu hỏi về đám đông sang câu hỏi trực tiếp: “Còn anh em?” Hai chữ ấy làm thay đổi tất cả. Người không hỏi: “Giáo Hội nói Thầy là ai?” Người không hỏi: “Cha mẹ anh em dạy Thầy là ai?” Người không hỏi: “Người ta bảo Thầy là ai?” Người hỏi: “Còn anh em?”
Đức tin Kitô giáo cuối cùng phải đi đến chỗ rất riêng tư ấy. Ta có thể được sinh ra trong một gia đình Công giáo, được rửa tội từ nhỏ, học giáo lý, lãnh các bí tích, đọc kinh, đi lễ nhiều năm, phục vụ giáo xứ, tham gia hội đoàn, thậm chí nói rất nhiều về Chúa, nhưng vẫn có thể có một ngày Chúa đứng trước ta và hỏi: “Còn con, con bảo Thầy là ai?” Khi ấy, ta không thể mượn câu trả lời của người khác mãi được. Đức tin của cha mẹ rất quý, đức tin của cộng đoàn rất cần, truyền thống của Hội Thánh là kho tàng nâng đỡ ta; nhưng đến một lúc nào đó, mỗi người phải tự mình bước vào tương quan với Đức Kitô và nói với Người bằng chính cuộc đời mình: “Lạy Chúa, đối với con, Chúa là ai?”
Phêrô trả lời: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa.” Đó là một lời tuyên xưng tuyệt đẹp. Nhưng điều đáng chú ý là ngay sau lời tuyên xưng ấy, Đức Giêsu không để các môn đệ mơ tưởng đến vinh quang theo kiểu thế gian. Người nói ngay về đau khổ, bị loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ ba sống lại. Dường như Đức Giêsu muốn nói: “Con đã gọi Thầy là Đấng Kitô, vậy con phải hiểu Đấng Kitô ấy là ai. Thầy không phải là Đấng đến để thỏa mãn mọi tham vọng của con. Thầy không phải là Đấng bảo đảm rằng từ nay đời con sẽ không còn nước mắt. Thầy không đến để giúp con tránh mọi đau khổ. Thầy là Đấng Cứu Thế đi qua Thập Giá để đến Phục Sinh.” Đây chính là nơi đức tin của chúng ta thường bị thử thách nhất.
Thật dễ tin khi mọi sự thuận lợi. Thật dễ nói “Chúa tốt lành” khi gia đình bình an, sức khỏe ổn định, công việc hanh thông, con cái ngoan ngoãn, lời cầu xin được nhận lời. Nhưng khi bệnh tật đến, khi một người thân ra đi, khi bị hiểu lầm, khi thất bại, khi những điều ta cầu xin mãi không xảy ra, khi đời sống trở thành một chuỗi những ngày nặng nề, lúc ấy câu hỏi “Chúa là ai đối với tôi?” mới trở nên thật sự nghiêm túc. Nếu Chúa chỉ là Đấng ban điều ta muốn, thì ngày Người không ban điều ta muốn, đức tin sẽ lung lay. Nếu Chúa chỉ là chỗ dựa khi đời thuận lợi, thì ngày đời đổ vỡ, ta sẽ nghi ngờ Người. Nhưng nếu Chúa là Đấng mà tôi yêu, thì ngay cả khi không hiểu điều đang xảy ra, tôi vẫn có thể ở lại với Người.
Có lẽ nhiều người trong chúng ta tin Chúa bằng một thứ đức tin có điều kiện mà chính mình không nhận ra: “Lạy Chúa, con sẽ tin nếu Chúa chữa bệnh cho con. Con sẽ tin nếu Chúa cho con vượt qua khó khăn này. Con sẽ tin nếu gia đình con được như ý. Con sẽ tin nếu Chúa giải quyết chuyện này theo cách con muốn.” Ta tưởng mình đang theo Chúa, nhưng thật ra có khi ta chỉ đang theo những ân huệ của Chúa. Và khi ân huệ không xuất hiện như mong đợi, ta thất vọng. Đức Giêsu hôm nay dẫn các môn đệ đến một đức tin trưởng thành hơn: tin không chỉ vì những gì Chúa ban, mà tin vì chính Chúa.
Điều đó không có nghĩa là người có đức tin thì không được khóc, không được sợ, không được đau hay không được đặt câu hỏi. Chính Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu cũng đã run sợ trước cuộc khổ nạn. Đức tin không làm ta mất đi cảm xúc con người. Đức tin chỉ giúp ta không tuyệt vọng trong những cảm xúc ấy. Người tin vẫn có thể khóc nhưng không khóc một mình; vẫn có thể sợ nhưng biết có một bàn tay đang giữ lấy mình; vẫn có thể bước trong bóng tối nhưng tin rằng bóng tối không phải là lời cuối cùng. Vì Đức Giêsu nói về Thập Giá nhưng Người không dừng lại ở Thập Giá. Người nói: “Ngày thứ ba sẽ sống lại.”
Đây là nét đẹp sâu xa của Tin Mừng: Kitô giáo không phủ nhận đau khổ nhưng cũng không thần thánh hóa đau khổ. Đức Giêsu không bảo rằng đau khổ tự nó là điều tốt. Người chỉ cho thấy rằng tình yêu của Thiên Chúa có thể đi vào chính nơi tưởng như thất bại nhất và biến nó thành con đường dẫn đến sự sống. Thập Giá vốn là dụng cụ hành hình, nhưng khi Đức Kitô đi qua, nó trở thành dấu chỉ cứu độ. Ngôi mộ vốn là nơi chấm hết, nhưng khi Đức Kitô bước vào, nó trở thành cửa ngõ Phục Sinh. Vì thế, không có một bóng tối nào trong cuộc đời ta quá tối để Chúa không thể bước vào. Không có một đổ vỡ nào quá sâu để ân sủng của Người không thể chạm đến. Không có một thất bại nào tự động trở thành lời kết thúc nếu ta còn để Chúa viết tiếp câu chuyện.
Có một điều rất cảm động trong gợi ý cầu nguyện của Sacred Space hôm nay: khi nhìn đến Phêrô, người ta nhận ra rằng dù ông đã nhiều lần vấp ngã, ông vẫn có một phẩm chất đáng quý là không bỏ cuộc. Phêrô từng nói rất hay rồi ngay sau đó lại hiểu sai ý Chúa. Ông từng hứa sẽ chết với Thầy nhưng rồi lại chối Thầy ba lần. Ông từng mạnh mẽ nhưng cũng từng sợ hãi. Tuy nhiên, sau tất cả, Phêrô vẫn quay về. Chính điều ấy là niềm hy vọng lớn cho mỗi người chúng ta. Thiên Chúa không chỉ làm việc với những con người hoàn hảo. Thật ra, nếu Người chỉ gọi người hoàn hảo, có lẽ chẳng ai trong chúng ta được gọi. Chúa làm việc với những con người yếu đuối nhưng biết quay về, biết đứng dậy, biết bắt đầu lại.
Có khi thất bại lớn nhất trong đời sống thiêng liêng không phải là sa ngã, nhưng là không muốn đứng dậy nữa. Có người phạm một lỗi rồi tự kết án mình suốt nhiều năm. Có người thất bại một lần rồi nghĩ mình không còn xứng đáng. Có người bỏ cầu nguyện vì thấy bản thân khô khan. Có người xa bí tích vì xấu hổ về quá khứ. Nhưng hãy nhìn Phêrô. Chính người đã chối Chúa lại được Chúa trao nhiệm vụ chăn dắt đoàn chiên. Điều ấy không làm cho tội lỗi trở thành chuyện nhỏ, nhưng cho thấy lòng thương xót của Chúa lớn hơn tội lỗi của con người. Chúa không định nghĩa ta bằng khoảnh khắc tồi tệ nhất của đời ta. Người nhìn thấy nơi ta một khả năng mà chính ta nhiều khi không nhìn thấy.
Có lẽ hôm nay ta nên xin với Chúa một lời cầu nguyện rất đơn sơ: “Lạy Chúa, xin cho con đừng bỏ cuộc.” Khi cầu nguyện khô khan, xin cho con đừng bỏ cuộc. Khi phải chiến đấu mãi với một nết xấu, xin cho con đừng bỏ cuộc. Khi cố gắng sống tốt mà vẫn bị hiểu lầm, xin cho con đừng bỏ cuộc. Khi gia đình gặp khó khăn, xin cho con đừng bỏ cuộc. Khi bệnh tật kéo dài, xin cho con đừng bỏ cuộc. Khi chính con thất vọng về bản thân, xin cho con vẫn tin rằng Chúa chưa thất vọng về con. Có những chiến thắng trong đời sống thiêng liêng không phải là không bao giờ ngã, mà là ngã bao nhiêu lần vẫn quay về với Chúa bấy nhiêu lần.
Nhưng câu hỏi vẫn còn đó: “Còn con, con bảo Thầy là ai?” Câu trả lời đẹp nhất không nằm trên môi mà nằm trong cuộc sống. Nếu tôi nói Chúa là Chúa của tôi nhưng tiền bạc điều khiển mọi lựa chọn của tôi, thì có lẽ tiền bạc mới thật sự là “chúa” của tôi. Nếu tôi nói Đức Giêsu là Thầy nhưng lại sống theo dư luận hơn theo Tin Mừng, thì dư luận đang là thầy của tôi. Nếu tôi tuyên xưng Chúa là Đấng Cứu Độ nhưng lúc khủng hoảng tôi chỉ tìm mọi nơi trừ tìm Chúa, thì lời tuyên xưng của tôi vẫn còn rất xa đời sống. Đức tin trở nên thật khi điều ta tuyên xưng bắt đầu định hình cách ta sống.
Nếu Chúa thật sự là Đấng Kitô của tôi, thì tôi phải học cách nhìn người khác như Người nhìn. Tôi không thể quỳ trước Thánh Thể rồi ra khỏi nhà thờ để khinh thường một người nghèo. Tôi không thể đọc Kinh Lạy Cha mà nuôi hận thù không muốn tha thứ. Tôi không thể tuyên xưng Đức Giêsu chịu đóng đinh vì yêu nhân loại mà lại sống ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình. Đức tin không chỉ là điều xảy ra trong nhà thờ. Đức tin phải đi vào cách ta nói chuyện với người trong gia đình, cách ta cư xử với người làm phiền ta, cách ta sử dụng tiền bạc, cách ta đối diện với bất công, cách ta xử sự khi không ai nhìn thấy.
Nhiều khi ta mong có những trải nghiệm thiêng liêng lớn lao, nhưng Thiên Chúa lại ẩn mình trong những điều rất bình thường. Sacred Space mở đầu lời cầu nguyện hôm nay bằng ý thức về sự hiện diện của Thiên Chúa và lời xin được sống trong sự hiện diện ấy. Đây là một điều rất quan trọng. Ta thường nghĩ phải đến nhà thờ mới gặp Chúa, nhưng thật ra Chúa vẫn hiện diện trong căn bếp, nơi bàn làm việc, trên đường đi, trong bệnh viện, giữa cuộc trò chuyện, trong tiếng khóc của một đứa trẻ, trong một người già cần được lắng nghe, trong một người đang cô đơn. Cả đời sống có thể trở thành nơi gặp Chúa nếu ta biết mở mắt.
Có người hỏi: “Tại sao tôi cầu nguyện mà không cảm thấy Chúa?” Có thể đôi khi vấn đề không phải là Chúa vắng mặt, mà là tâm hồn ta quá bận. Chúa không ngừng hiện diện, nhưng ta chạy quá nhanh. Chúa vẫn nói, nhưng tai ta đầy tiếng ồn. Chúa vẫn đi bên cạnh, nhưng mắt ta chỉ nhìn vào màn hình, công việc, kế hoạch và những lo toan. Vì thế, một trong những ân sủng lớn nhất của cầu nguyện là học cách dừng lại. Dừng lại để nhận ra mình đang sống. Dừng lại để nhận ra hơi thở. Dừng lại để nhìn một người trước mặt như một con người chứ không như một nhiệm vụ phải giải quyết. Dừng lại để nói: “Lạy Chúa, Chúa đang ở đây, và con cũng đang ở đây với Chúa.”
Có khi chỉ một câu ngắn như thế cũng đủ biến một ngày thành lời cầu nguyện. Khi thức dậy: “Lạy Chúa, ngày hôm nay thuộc về Chúa.” Khi gặp khó khăn: “Lạy Chúa, xin ở cùng con.” Khi vui: “Lạy Chúa, con cảm ơn Chúa.” Khi giận: “Lạy Chúa, xin giữ miệng con.” Khi buồn: “Lạy Chúa, xin ôm lấy con.” Khi thất bại: “Lạy Chúa, con bắt đầu lại.” Khi tối đến: “Lạy Chúa, cảm ơn Chúa đã đi với con suốt ngày hôm nay.” Đời sống cầu nguyện không nhất thiết lúc nào cũng cần những lời thật dài. Điều quan trọng là trái tim biết quay về.
Và khi trái tim biết quay về, ta sẽ dần hiểu câu trả lời của mình cho câu hỏi “Chúa là ai?” sâu hơn. Chúa không chỉ là một nhân vật mà ta học về Người. Chúa là Đấng đã đi cùng ta qua những ngày tăm tối mà lúc ấy ta không nhận ra. Chúa là Đấng mở những cánh cửa mà ta không thể mở. Chúa cũng là Đấng đóng những cánh cửa mà sau này ta mới hiểu rằng nếu bước qua đó, có lẽ ta đã đi sai đường. Chúa là Đấng đã tha thứ cho ta nhiều hơn ta nhớ. Chúa là Đấng đã kiên nhẫn với ta trong những năm tháng ta xa Người. Chúa là Đấng vẫn chờ ta mỗi khi ta trở về.
Có lẽ đến một tuổi nào đó, câu trả lời về Chúa không còn là những khái niệm nữa mà trở thành một lịch sử. Người ta có thể nói: “Tôi biết Chúa không chỉ vì sách vở, nhưng vì tôi đã đi cùng Người.” Tôi đã gặp Người trong những lần tưởng mình không chịu nổi nữa nhưng vẫn được nâng dậy. Tôi đã gặp Người trong một người bất ngờ đến bên tôi lúc khó khăn. Tôi đã gặp Người trong một câu Lời Chúa đúng lúc. Tôi đã gặp Người trong một Thánh lễ mà nước mắt tự nhiên rơi. Tôi đã gặp Người trong những lần được tha thứ. Tôi đã gặp Người ngay cả trong những biến cố mà ban đầu tôi chỉ thấy đau đớn, nhưng nhiều năm sau nhìn lại mới hiểu rằng Chúa đã âm thầm dẫn tôi qua đó.
Vì thế, đừng vội trả lời câu hỏi của Chúa bằng một câu thật hay. Hãy để đời mình trả lời. Hôm nay tôi dành thời gian cho ai, điều gì chiếm lấy tâm trí tôi, tôi đang đặt hy vọng vào đâu, tôi sợ mất điều gì nhất, tôi có thể hy sinh điều gì vì tình yêu, tôi phản ứng thế nào khi bị tổn thương, tôi có còn biết xin lỗi hay không, tôi có thể tha thứ không, tôi có còn biết cúi xuống trước nỗi đau của người khác không? Tất cả những điều ấy đang trả lời câu hỏi: “Đức Giêsu là ai trong đời tôi?”
Nếu Người là Chúa, ta không cần phải hiểu hết mọi sự mới tin. Nếu Người là Đấng Cứu Độ, ta không cần tự cứu mình bằng mọi giá. Nếu Người là người bạn trung tín, ta không cần giấu Người bất cứ điều gì. Nếu Người là đường, ta chỉ cần tiếp tục bước theo, ngay cả khi chưa nhìn thấy toàn bộ con đường. Nếu Người là sự thật, ta không cần sống giả dối để làm hài lòng người khác. Nếu Người là sự sống, thì ngay cả cái chết cũng không thể là lời cuối cùng.
Hôm nay, Đức Giêsu vẫn đứng trước mỗi người và hỏi một câu rất cũ nhưng luôn mới: “Còn con, con bảo Thầy là ai?” Có lẽ ta chưa cần trả lời thật nhanh. Hãy mang câu hỏi ấy vào thinh lặng. Mang nó vào Thánh lễ. Mang nó vào giờ chầu. Mang nó vào những vết thương chưa lành. Mang nó vào những lựa chọn đang làm ta bối rối. Mang nó vào ngày vui và ngày buồn. Và rồi ta sẽ nhận ra rằng câu trả lời không chỉ là điều ta nói với Chúa, mà còn là điều Chúa đang âm thầm viết trong cuộc đời ta.
Lạy Đức Giêsu, con biết rất nhiều điều về Chúa, nhưng con vẫn muốn biết chính Chúa nhiều hơn. Con đã gọi Chúa bằng nhiều danh xưng đẹp đẽ, nhưng xin cho những lời ấy đi xuống khỏi môi miệng và đi vào đời sống của con. Khi con mạnh mẽ, xin cho con đừng kiêu căng. Khi con yếu đuối, xin cho con đừng tuyệt vọng. Khi con thành công, xin cho con nhớ đến Chúa. Khi con thất bại, xin cho con vẫn bám lấy Chúa. Khi con hiểu đường Chúa dẫn, xin cho con biết tạ ơn; khi con không hiểu, xin cho con vẫn tin. Và nhất là, khi Thập Giá xuất hiện trên đường đời, xin đừng để con quay lưng với Chúa, nhưng cho con nhớ rằng sau Thứ Sáu Tuần Thánh luôn có buổi sáng Phục Sinh.
Lạy Chúa, nếu hôm nay Chúa lại hỏi: “Còn con, con bảo Thầy là ai?”, con xin trả lời không chỉ bằng lời nói nhưng bằng cả cuộc đời: Chúa là Đấng con muốn thuộc về. Chúa là Đấng con muốn bước theo. Chúa là hy vọng khi con thất vọng, là ánh sáng khi con tối tăm, là sức mạnh khi con yếu đuối, là lòng thương xót khi con tội lỗi, là bình an khi lòng con bất an, là con đường khi con lạc hướng, là sự sống của đời con. Và dù con còn yếu đuối, còn vấp ngã, còn chậm chạp trên đường theo Chúa, xin ban cho con một ơn rất đơn sơ nhưng rất cần thiết: đừng bao giờ để con bỏ cuộc trên hành trình trở về với Chúa.
Lm. Anmai, CSsR
MỌI THỜI KHẮC ĐỀU Ở TRONG TAY CHÚA
Có những ngày trong đời ta thức dậy và thấy mọi sự thật đẹp. Trời như sáng hơn, lòng như nhẹ hơn, những người chung quanh dễ thương hơn và con đường phía trước dường như rộng mở. Nhưng cũng có những ngày ta thức dậy mà lòng nặng như đá. Một tin buồn bất ngờ, một người thân đau bệnh, một mối tương quan rạn nứt, một dự định tan vỡ, một lời hiểu lầm, một thất bại mà ta không kịp chuẩn bị. Khi ấy, câu hỏi bật lên rất tự nhiên: “Tại sao Chúa lại để chuyện này xảy ra?” Có lẽ trong đời sống đức tin, đây là một trong những câu hỏi khó nhất. Ta tin Chúa quyền năng, ta tin Chúa yêu thương, nhưng chính vì tin như thế nên đôi khi ta càng khó hiểu tại sao Chúa lại để ta đi qua những khoảng tối mà ta không hề mong muốn.
Sách Giảng Viên hôm nay nói với chúng ta một chân lý rất giản dị nhưng cũng rất sâu: mọi sự đều có thời của nó. Có thời để sinh ra và thời để chết; thời để khóc và thời để cười; thời để than van và thời để nhảy múa; thời để tìm kiếm và thời để đánh mất; thời để giữ lại và thời để buông bỏ. Cuộc đời không chỉ có mùa xuân. Nếu chỉ có ngày nắng thì trái đất cũng sẽ khô cằn. Nếu đời người chỉ toàn thành công, có lẽ ta sẽ chẳng bao giờ học được lòng khiêm tốn. Nếu không từng mất mát, có lẽ ta cũng chẳng biết quý những gì đang có. Nếu không từng khóc, ta sẽ khó hiểu được giọt nước mắt của người khác. Nếu không từng rơi xuống vực sâu, ta có thể sẽ không bao giờ biết bàn tay Thiên Chúa nâng mình lên mạnh mẽ đến mức nào.
Điều khó nhất là chúng ta thường muốn hiểu ngay mọi việc. Ta muốn Chúa phải giải thích cho ta hôm nay tại sao điều này xảy ra. Ta muốn biết tại sao lời cầu nguyện của mình chưa được nhận lời. Ta muốn hiểu tại sao người tốt vẫn gặp đau khổ, tại sao người sống tử tế lại bị hiểu lầm, tại sao một gia đình đang bình an bỗng gặp tai ương, tại sao một người trẻ đang đầy tương lai lại mang bệnh, tại sao có những cuộc chia tay không thể cứu vãn, tại sao có những cánh cửa ta gõ mãi mà vẫn đóng. Nhưng Thiên Chúa không luôn trả lời bằng một lời giải thích. Nhiều khi Người trả lời bằng một sự hiện diện. Chúa không nói cho ta biết hết lý do, nhưng Người nói: “Con đừng sợ, Ta vẫn ở đây.”
Có những điều trong cuộc đời phải đi qua nhiều năm ta mới hiểu được. Có những thất bại ngày trước khiến ta khóc rất nhiều nhưng sau này nhìn lại, ta mới nhận ra chính thất bại ấy đã cứu ta khỏi một con đường không phù hợp. Có những người rời khỏi đời ta khiến ta tưởng mình không thể sống tiếp, nhưng rồi chính khoảng trống ấy giúp ta trưởng thành. Có những lần Chúa không cho ta điều ta xin, để rồi sau này ta mới hiểu rằng nếu ngày ấy Chúa cho đúng điều mình muốn thì có lẽ hôm nay mình đã rất khác. Có những cánh cửa đóng lại không phải vì Chúa bỏ ta, mà vì phía sau cánh cửa ấy không phải là con đường tốt nhất cho ta. Có những lần Chúa bắt ta chờ đợi không phải vì Người quên, nhưng vì Người đang chuẩn bị lòng ta để có thể đón nhận điều lớn hơn.
Chúng ta thường nói: “Tôi không có thời gian.” Thật ra thời gian không thuộc về chúng ta. Thời gian là một ân huệ được trao cho chúng ta. Mỗi buổi sáng thức dậy là một món quà. Không ai có thể bảo đảm rằng mình còn bao nhiêu ngày nữa. Vì vậy câu hỏi quan trọng không phải là: “Tôi còn bao nhiêu thời gian?” nhưng là: “Tôi đang dùng thời gian Chúa trao cho mình như thế nào?” Ta có thể sống rất lâu nhưng chưa chắc đã sống sâu. Ta có thể làm rất nhiều việc nhưng chưa chắc đã làm điều quan trọng. Ta có thể chạy rất nhanh nhưng chưa chắc đang đi đúng hướng. Có người dành cả đời để kiếm tiền rồi đến cuối đời mới nhận ra mình đã đánh mất gia đình. Có người dành cả đời để tìm tiếng khen rồi đến cuối cùng mới nhận ra tiếng khen chẳng thể đem theo xuống mồ. Có người dành quá nhiều thời gian để giận một người mà quên rằng đời người thật ngắn.
Tin Mừng hôm nay đưa ta đến một câu hỏi khác: “Anh em bảo Thầy là ai?” Phêrô trả lời rất đúng: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa.” Nhưng ông chưa hiểu hết câu mình vừa nói. Ông biết danh xưng của Đức Giêsu, nhưng chưa hiểu con đường của Đức Giêsu. Ông tuyên xưng Đức Kitô, nhưng chưa hiểu rằng Đức Kitô ấy sẽ phải chịu đau khổ, bị loại bỏ, bị giết chết rồi ngày thứ ba sống lại. Đó cũng là hình ảnh của rất nhiều người chúng ta. Ta biết giáo lý, biết kinh, biết tên Chúa, biết những điều phải tin, nhưng có khi ta vẫn chưa hiểu Chúa thật sự là ai trong cuộc đời mình.
Ta dễ tin Chúa khi mọi việc thuận lợi. Ta dễ nói “Chúa tốt lành” khi gia đình bình an, công việc suôn sẻ, sức khỏe tốt, con cái ngoan ngoãn. Nhưng khi thử thách đến, câu hỏi thật sự xuất hiện: “Đức Giêsu là ai đối với tôi lúc này?” Người có còn là Chúa của tôi khi lời cầu nguyện chưa được nhận lời không? Người có còn là Đấng yêu thương tôi khi tôi đang đau không? Người có còn là Đấng dẫn đường khi tôi chẳng nhìn thấy con đường nào phía trước không? Đó mới là lúc đức tin đi từ lời nói xuống trái tim.
Thập giá chính là nơi cho ta câu trả lời sâu nhất về thời gian và đau khổ. Chiều thứ Sáu Tuần Thánh, nếu đứng dưới chân thập giá, người ta có thể nghĩ mọi sự đã kết thúc. Đức Giêsu bị đóng đinh, các môn đệ bỏ chạy, hy vọng tưởng như tan biến. Nếu chỉ nhìn khoảnh khắc ấy, ta có thể hỏi: “Thiên Chúa ở đâu?” Nhưng ba ngày sau, ngôi mộ mở ra. Điều tưởng là thất bại trở thành chiến thắng. Điều tưởng là kết thúc trở thành khởi đầu. Điều tưởng là bóng tối cuối cùng lại mở ra bình minh Phục Sinh. Bởi vậy người Kitô hữu không bao giờ được phép đọc cuộc đời mình chỉ bằng một trang đang mở. Một chương buồn không có nghĩa cả cuốn sách buồn. Một ngày tối không có nghĩa cả cuộc đời mất ánh sáng. Một lần thất bại không có nghĩa đời ta thất bại.
Có lẽ hôm nay có người đang ở trong một “thứ Sáu Tuần Thánh” của đời mình. Có thể đó là bệnh tật, tuổi già, cô đơn, khủng hoảng gia đình, thất nghiệp, một nỗi đau chẳng thể nói với ai. Có thể ta đã cầu nguyện rất lâu mà vẫn chưa thấy gì thay đổi. Xin đừng vội kết luận rằng Chúa đã bỏ mình. Có những hạt giống phải nằm dưới lòng đất rất lâu trước khi nảy mầm. Có những lời cầu nguyện ta tưởng Chúa im lặng nhưng thật ra Người đang làm việc ở nơi mắt ta không nhìn thấy. Đức tin không phải là biết trước mọi chuyện sẽ diễn ra thế nào. Đức tin là dám đặt tay mình vào tay Chúa ngay cả khi ta không biết bước kế tiếp sẽ dẫn mình đi đâu.
Điều quan trọng không phải là ta hiểu hết chương trình của Thiên Chúa, nhưng là ta biết Ai đang cầm lịch sử đời mình. Một đứa trẻ ngồi trong xe không cần biết hết con đường. Nó chỉ cần biết cha nó đang lái. Người Kitô hữu cũng vậy. Ta không cần hiểu tất cả khúc quanh của cuộc đời. Ta cần tin rằng tay lái không rời khỏi tay Thiên Chúa. Có khi đường vòng rất xa. Có khi đi qua núi cao. Có khi xuống thung lũng. Nhưng nếu Chúa đang dẫn đường, chẳng bước chân nào hoàn toàn vô nghĩa.
Và rồi sẽ có một ngày ta nhìn lại. Có thể là vài năm nữa. Có thể là cuối đời. Có thể chỉ khi đứng trước mặt Chúa ta mới hiểu. Khi ấy ta sẽ thấy những sợi chỉ tưởng rời rạc đã được Thiên Chúa dệt thành một tấm thảm. Những ngày vui, những ngày buồn; những lần gặp gỡ, những cuộc chia xa; thành công lẫn thất bại; tiếng cười lẫn nước mắt — tất cả đều có một vị trí trong câu chuyện đời ta. Hôm nay ta chỉ nhìn thấy mặt sau với những sợi chỉ rối ren. Nhưng Thiên Chúa nhìn thấy mặt trước của tấm thảm.
Vì thế, thay vì hỏi mãi: “Tại sao chuyện này xảy ra?”, đôi khi ta hãy đổi câu hỏi: “Lạy Chúa, Chúa muốn con sống thế nào trong hoàn cảnh này?” Ta không thể thay đổi mọi biến cố, nhưng ta có thể chọn cách mình đi qua biến cố. Ta không thể ngăn mọi người làm ta đau, nhưng ta có thể chọn tha thứ. Ta không thể giữ người mình yêu ở lại mãi, nhưng ta có thể yêu họ trọn vẹn khi còn có thể. Ta không thể quay ngược thời gian, nhưng ta có thể dùng hôm nay để sửa chữa những gì còn sửa được. Ta không thể biết ngày mai, nhưng ta có thể trao ngày mai cho Chúa.
Nếu hôm nay là thời để cười, hãy biết tạ ơn. Nếu hôm nay là thời để khóc, hãy khóc trong vòng tay Chúa. Nếu hôm nay là thời để thành công, hãy sống khiêm nhường. Nếu hôm nay là thời để thất bại, hãy kiên nhẫn. Nếu hôm nay là thời để giữ lấy, hãy trân trọng. Nếu hôm nay là thời phải buông, hãy xin Chúa cho can đảm. Nếu hôm nay ta chưa hiểu điều gì đang xảy ra, hãy tin rằng không hiểu không có nghĩa là vô nghĩa.
Sau cùng, đời sống Kitô hữu không phải là hành trình đi tìm một cuộc đời không có thập giá. Đó là hành trình khám phá rằng ngay trong thập giá, Đức Kitô đang ở đó. Ta không được hứa rằng sẽ không khóc, nhưng được hứa rằng Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt. Ta không được hứa rằng sẽ không bước qua thung lũng tối, nhưng được hứa rằng Người sẽ đi cùng ta. Ta không được hứa rằng sẽ hiểu mọi chuyện ngay hôm nay, nhưng được mời gọi tin rằng đến thời đến buổi của Người, mọi sự sẽ được soi sáng.
Xin Chúa cho chúng ta biết sống bình an với những điều mình chưa hiểu; biết kiên nhẫn với những gì chưa thay đổi; biết biết ơn những gì đang có; biết buông những điều cần buông; biết yêu khi còn có thể yêu; biết tha thứ khi vẫn còn thời gian để tha thứ; và nhất là biết tin rằng mọi thời khắc của đời ta đều nằm trong tay Thiên Chúa. Có thể hôm nay ta chưa hiểu. Nhưng rồi một ngày, trong ánh sáng của Người, ta sẽ hiểu rằng Chúa chưa bao giờ đến trễ, chưa bao giờ bỏ quên ta, và chưa một giọt nước mắt nào của ta rơi xuống mà Người không biết.
Lm. Anmai, CSsR


















