Phụng vụ Thánh Lễ – Suy niệm – Chia sẻ Lời Chúa (Youtube và bản văn) Thứ Hai tuần XXVI TN

10

TIN GIÁO HỘI VÀ THẾ GIỚI
Ngày thứ hai 28 tháng 9 – 2026
Linh mục Anmai, CSsR tổng hợp

ÁPRAHAM: ĐỨC TIN ĐƯỢC TÔI LUYỆN QUA NHỮNG LẦN KHÔNG HIỂU CHÚA
Lm. Anmai, CSsR

NGƯỜI NHỎ NHẤT Ở BÊN CẠNH CHÚA – Lm. Anmai, CSsR

Thứ Hai 2 tuần XXVI TN NGƯỜI BÉ NHỎ Ở BÊN CẠNH CHÚA- Lm. Anmai, CSsR

Thứ Hai 2 tuần XXVI TN NGƯỜI NHỎ NHẤT TRONG ANH EM – Lm. Anmai, CSsR

LỜI NGUYỆN THEO TIN MỪNG LU-CA 9,46–50
Lạy Chúa Giê-su, hôm nay Chúa nhìn thấu lòng các môn đệ khi các ông âm thầm tự hỏi ai là người lớn nhất. Chúa cũng nhìn thấu lòng con. Có những lúc con phục vụ Chúa mà vẫn mong được ghi nhận; con làm một việc tốt nhưng lại buồn khi người khác được cảm ơn; con nói mình muốn xây dựng cộng đoàn mà trong lòng vẫn muốn ý kiến của mình được coi trọng hơn. Xin Chúa tha thứ cho con. Xin đặt bên cạnh con em nhỏ mà Chúa đã đặt bên cạnh các môn đệ, để con nhớ rằng trước mặt Chúa, sự lớn lao không nằm ở chỗ con được đứng cao hơn ai, nhưng ở chỗ con biết cúi xuống đón nhận một người bé nhỏ.
Lạy Chúa, xin dạy con tiếp đón những người dễ bị bỏ quên: một em bé cần được lắng nghe, một người già nói đi nói lại câu chuyện cũ, một người nghèo ngại bước vào giữa cộng đoàn, một người đang mang thương tích mà không biết tỏ cùng ai. Xin đừng để con chỉ niềm nở với người có thể giúp ích cho mình, rồi vội vàng với người cần mình dành thời gian. Chúa đã nói rằng đón tiếp một em nhỏ vì danh Chúa là đón tiếp chính Chúa. Xin cho con nhận ra Chúa nơi người đứng trước mặt con, nhất là khi họ chẳng có gì để đáp lại ngoài một ánh nhìn biết ơn.
Lạy Chúa Giê-su, xin cũng chữa lành lòng con khỏi sự hẹp hòi của ông Gio-an. Khi thấy người khác làm điều tốt, xin cho con biết vui mừng, dù họ không thuộc nhóm của con, không làm theo cách của con và không được con hướng dẫn. Xin giữ con khỏi thói quen lấy mình làm thước đo cho lòng nhiệt thành của người khác. Xin cho con biết cộng tác với bất cứ ai chân thành bênh vực sự sống, nâng đỡ người yếu thế và đem lại bình an.
Hôm nay, xin cho con bớt một lời tự đề cao, thêm một lần lắng nghe; bớt một chút ganh tị, thêm một lời khích lệ; bớt tìm chỗ đứng cho mình, thêm chỗ trong lòng cho người khác. Lạy Chúa, xin làm cho con trở nên nhỏ bé đủ để Chúa có thể dẫn con đi, và có một trái tim rộng mở đủ để con nhận ra việc tốt Chúa đang thực hiện qua anh chị em con. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.

Ca nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa đã tác tạo mọi sự cho chúng tôi hưởng dùng, Chúa đã xét xử công bình. Vì chúng tôi đã phạm tội và không tuân giữ các giới răn Chúa; nhưng xin Chúa hãy ban cho ban cho danh Chúa được vinh hiển, và xin hãy đối xử với chúng tôi theo lượng từ bi của Chúa.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, khi Chúa thương xót và tha thứ, chính là lúc Chúa biểu lộ quyền năng cách tỏ tường hơn cả; xin không ngừng ban ơn giúp chúng con đạt tới Nước Trời là hạnh phúc Chúa đã hứa ban mà chúng con đang hết lòng theo đuổi, chúng con cầu xin…
Bài Ðọc I: (Năm I) Dcr 8, 1-8
“Ta sẽ cứu dân Ta khỏi đất phía mặt trời mọc và phía mặt trời lặn”.
Trích sách Tiên tri Dacaria.
Có lời Chúa các đạo binh phán rằng: “Ðây Chúa các đạo binh phán: Ta đã ghen tức Sion với lòng ghen tức cực độ; Ta đã ghen tức nó với cơn phẫn nộ quá sức”.
Chúa các đạo binh còn phán như thế này: “Ta trở về Sion, và sẽ ngự giữa Giêrusalem; Giêrusalem sẽ được gọi là Thành chân lý, và núi Chúa các đạo binh sẽ được gọi là Núi thánh”.
Chúa các đạo binh lại phán như thế này: “Sẽ còn có lão ông lão bà cư ngụ trên phố phường Giêrusalem, mỗi người cầm gậy trong tay, vì họ đã cao niên. Các ngả đường thành phố đầy những trẻ nam trẻ nữ chơi trên đường phố”.
Chúa các đạo binh phán thêm rằng: “Trong những ngày ấy, nếu điều đó làm chướng mắt những kẻ còn sót lại trong dân, chớ thì nó sẽ làm chướng mắt Ta sao?” Chúa các đạo binh phán như vậy. Chúa các đạo binh còn phán rằng: “Này đây Ta sẽ cứu dân Ta thoát khỏi đất phía mặt trời mọc và phía mặt trời lặn. Ta sẽ dẫn chúng về cư ngụ giữa Giêrusalem: Chúng sẽ là dân Ta và Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, trong chân lý và công chính”.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 101, 16-18. 19-21. 29 và 22-23
Ðáp: Chúa sẽ tái lập Sion, và xuất hiện trong vinh quang sáng lạng (c. 17).
Xướng: Lạy Chúa, muôn dân sẽ kính tôn danh thánh Chúa, và mọi vua trên địa cầu sẽ quý trọng vinh quang Ngài; khi Chúa sẽ tái lập Sion, Chúa xuất hiện trong vinh quang sáng lạng; Chúa sẽ đoái nghe lời nguyện kẻ túng nghèo, và không chê lời họ kêu van. – Ðáp.
Xướng: Những điều này được ghi lại cho thế hệ mai sau, và dân tộc được tác tạo sẽ ca tụng Thiên Chúa. Từ thánh điện cao sang Chúa đã đoái nhìn, từ trời cao Chúa đã nhìn xuống trần thế, để nghe tiếng than khóc của tù nhân, để giải thoát kẻ bị lên án tử. – Ðáp.
Xướng: Con cháu của bầy tôi Chúa sẽ được an cư, và miêu duệ chúng sẽ tồn tại trước thiên nhan, để người ta truyền bá danh Chúa tại Sion, và lời khen ngợi Ngài ở Giêrusalem, khi chư dân cùng nhau quy tụ, và các vua nhóm họp để phụng thờ Chúa. – Ðáp.
Bài Ðọc I: (Năm II) G 1, 6-22
“Chúa ban cho, rồi Chúa lấy lại: nguyện danh Chúa được chúc tụng”.
Trích sách ông Gióp.
Một ngày nọ, con cái Thiên Chúa đến chầu truớc mặt Chúa, Satan cũng có mặt ở đó. Chúa hỏi Satan rằng: “Ngươi từ đâu đến?” Nó thưa lại rằng: “Tôi chạy vòng quanh trái đất và đi khắp mọi nơi”. Chúa hỏi nó rằng: “Chớ thì ngươi có lưu ý đến Gióp, tôi tớ Ta chăng? Trên trần gian, không một ai giống như y là con người ngay thật, công chính, kính sợ Thiên Chúa và xa lánh sự dữ”. Satan thưa lại cùng Chúa rằng: “Ðâu có phải Gióp kính sợ Thiên Chúa cách luống công? Chớ thì Chúa chẳng che chở quanh nó, nhà cửa nó và tất cả những gì thuộc về nó đó sao? Chớ thì Chúa chẳng chúc phúc các việc tay nó làm, và sản nghiệp nó gia tăng rợp đất đó sao? Nhưng Chúa hãy giơ tay Chúa lên một chút và chạm đến tất cả những gì nó đang có, ắt nó sẽ phỉ báng Chúa nhãn tiền”. Vậy Chúa bảo Satan rằng: “Ðây, tất cả những gì nó đang có đều nằm trong tay ngươi: chỉ trừ một điều là ngươi chớ chạm tay đến thân nó”. Satan liền lui ra khỏi mặt Chúa.
Một ngày nọ, khi các con trai, con gái của ông Gióp đang dùng bữa uống rượu tại nhà anh cả, thì có kẻ đến báo tin cho ông Gióp rằng: “Các con bò đang kéo cày và các con lừa đang ăn cỏ bên cạnh, bỗng các người Sabêô xông đến cướp lấy hết, và dùng gươm giết các đầy tớ, chỉ một mình tôi chạy thoát về báo tin cho ông”. Khi nó còn đang nói, thì một người khác đến thưa rằng: “Lửa Thiên Chúa từ trời xuống thiêu huỷ hết bầy chiên và các đầy tớ, chỉ một mình tôi thoát được về báo tin cho ông”. Khi nó còn đang nói, thì một người khác đến thưa rằng: “Các người Calđêô chia làm ba toán xông vào cướp đoạt các con lạc đà, và còn dùng gươm giết các đầy tớ, chỉ một mình tôi trốn được chạy về báo tin cho ông”. Nó còn đang nói, thì đây một người khác bước vào thưa rằng: “Lúc các con trai, con gái của ông đang dùng bữa và uống rượu tại nhà anh cả, bỗng có gió mạnh từ hoang địa thổi đến, hắt vào bốn góc nhà, khiến nhà sụp đổ đè chết các con ông, chỉ một mình tôi thoát được về báo tin cho ông”. Bấy giờ ông Gióp chỗi dậy, xé áo mình ra, cạo trọc đầu, sấp mình xuống đất thờ lạy và thưa rằng: “Từ lòng mẹ, tôi sinh ra trần truồng, thì tôi cũng sẽ trở về đó trần truồng. Chúa ban cho, rồi Chúa lấy lại: như đẹp lòng Chúa thế nào, thì xin xảy đến như vậy: nguyện danh Chúa được chúc tụng!”
Trước mọi thảm cảnh đó, ông Gióp không hé môi xúc phạm và không thốt lời ngu dại phạm đến Thiên Chúa.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 16, 1. 2-3. 6-7
Ðáp: Xin Chúa ghé tai về bên con, và xin nghe rõ tiếng con (c. 6ab).
Xướng: Lạy Chúa, xin nghe điều chính nghĩa của con, xin để ý đến lời con kêu cứu, lắng tai nghe tiếng con thốt ra từ cặp môi chân thành! – Ðáp.
Xướng: Từ cái nhìn của Chúa hãy diễn ra sự phán quyết về con: vì mắt Ngài thấy rõ điều chân chính. Nếu Ngài lục soát lòng con, nếu ban đêm Ngài thăm viếng, nếu Ngài thử con trong lửa, Ngài sẽ không gặp điều gian ác ở nơi con. – Ðáp.
Xướng: Con kêu van Ngài, bởi Ngài nhậm lời con, lạy Chúa, xin ghé tai về bên con, xin nghe rõ tiếng con. Xin tỏ ra đức từ bi lạ lùng của Chúa, là Ðấng giải thoát khỏi bọn đối phương, những ai tìm nương tựa tay hữu của Ngài. – Ðáp.
Alleluia: Tv 129, 5
Alleluia, alleluia! – Con hy vọng rất nhiều vào Chúa, linh hồn con trông cậy ở lời Chúa. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 9, 46-50
“Kẻ nào bé nhỏ nhất trong tất cả các con, đó là người cao trọng nhất”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, các môn đệ nghĩ ngợi trong lòng rằng ai trong các ông sẽ là người cao trọng nhất. Chúa Giêsu thấu biết tư tưởng trong lòng các ông, Người liền dẫn một trẻ nhỏ tới, để đứng bên cạnh Người, và bảo các ông rằng: “Hễ ai đón nhận trẻ nhỏ này vì danh Thầy, tức là đón nhận Thầy: mà hễ ai đón nhận Thầy, tức là đón nhận Ðấng đã sai Thầy. Vì kẻ nào bé nhỏ nhất trong tất cả các con, đó là người cao trọng nhất”.
Gioan lên tiếng thưa Người rằng: “Lạy Thầy, chúng con thấy một người kia lấy danh Thầy mà trừ quỷ, và chúng con đã ngăn cản nó, vì nó không theo Thầy cùng với chúng con”. Chúa Giêsu bảo ông rằng: “Các con chớ ngăn cản, vì ai không chống nghịch các con, tức là thuận với các con”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, chúng con dâng những lễ vật này, xin Chúa vui lòng chấp nhận, và mở cho chúng con nguồn mạch mọi ơn phúc. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Lạy Chúa, đối với tôi tớ Chúa, xin nhớ lại lời Chúa, vì Chúa đã cho tôi hy vọng vào lời Chúa, đó là điều an ủi tôi trong lúc tôi khốn khổ.
Hoặc đọc
Do điều này mà chúng ta đã biết tình yêu của Thiên Chúa, là chính Người đã thí mạng sống mình vì chúng ta, nên chúng ta cũng phải thí mạng sống mình vì anh em.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, trong thánh lễ này, chúng con đã chung phần đau khổ với Ðức Kitô Con Một Chúa; xin Chúa thương đổi mới xác hồn chúng con, để chúng con được hưởng vinh quang với Người. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

SỰ CAO CẢ BẮT ĐẦU TỪ MỘT TẤM LÒNG BIẾT ĐÓN NHẬN
Tin Mừng Lc 9,46–50
Có những câu hỏi không cần nói thành lời mà vẫn chiếm hết chỗ trong lòng người ta. Giữa các môn đệ, câu hỏi ấy là: “Trong chúng ta, ai là người lớn nhất?” Các ông đã bỏ mọi sự để đi theo Đức Giêsu, đã nghe Người giảng, đã chứng kiến Người chữa lành và giải thoát con người. Thế nhưng, ngay trên con đường theo Thầy, các ông vẫn mang theo một thước đo rất cũ: ai được chú ý hơn, ai gần Thầy hơn, ai có tiếng nói hơn, ai sẽ đứng ở vị trí cao hơn. Đức Giêsu biết điều các ông đang tự hỏi trong lòng. Người không làm các ông xấu hổ trước đám đông, cũng không bảo rằng ước muốn trở nên lớn lao tự nó là điều xấu. Người đem một em nhỏ đặt bên cạnh mình. Giữa những người đang mải nhìn nhau để tìm ra ai đứng đầu, Người đặt vào trung tâm một người chẳng có địa vị nào để tranh giành. Rồi Người nói: “Ai tiếp đón em nhỏ này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy.” Chỉ trong một cử chỉ và một lời nói, Đức Giêsu đổi hẳn hướng nhìn của các môn đệ. Muốn biết ai lớn nhất, đừng nhìn xem người ấy đã lên cao đến đâu; hãy nhìn xem trái tim người ấy có đủ rộng để đón một người bé nhỏ hay không.
Đón một em nhỏ nghe có vẻ là việc dễ dàng, cho đến khi ta hiểu Đức Giêsu đang đòi điều gì. Ta thường dễ dành thời giờ cho người có thể giúp mình, dễ kiên nhẫn với người mình yêu quý, dễ niềm nở với người có ảnh hưởng đến tương lai của mình. Còn em nhỏ trong lời Đức Giêsu là hình ảnh của người không thể đáp lễ theo cách ta mong đợi, người cần được chăm sóc trước khi có thể nói lời cảm ơn, người có thể làm gián đoạn công việc và kế hoạch của ta. Tiếp đón em là dành một chỗ thật trong đời mình cho một người không làm mình trở nên quan trọng hơn. Một người có thể làm rất nhiều việc lớn mà vẫn khó chịu khi phải lắng nghe một tiếng gọi nhỏ. Một cộng đoàn có thể tổ chức những lễ nghi trang trọng mà vẫn không biết phải làm gì với người nghèo đứng lúng túng ngoài cửa. Một người có thể nói rất hay về tình yêu Thiên Chúa mà vẫn thấy phiền khi một đứa trẻ quấy khóc, một cụ già kể đi kể lại cùng một câu chuyện, hay một người đang đau khổ cần mình ngồi lại lâu hơn dự tính. Đức Giêsu không đặt em nhỏ bên cạnh Người để tô điểm cho bài học. Người đặt em ở đó để các môn đệ phải trả lời bằng đời sống: các con có tiếp nhận người này không?
Điều khiến lời ấy vừa đẹp vừa khó là Đức Giêsu gắn chính mình với người bé nhỏ: đón nhận em là đón nhận Người; đón nhận Người là đón nhận Chúa Cha, Đấng đã sai Người. Như thế, cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa không chỉ diễn ra trong những giây phút ta chủ động chọn, ở những nơi ta thấy trang nghiêm và trong những hoàn cảnh ta cảm thấy sẵn sàng. Chúa cũng đến khi có người cần ta nhường chỗ, cần ta bớt vội, cần ta thôi coi nỗi bận tâm của mình là trung tâm của mọi sự. Người đến trong một nhu cầu rất cụ thể, một gương mặt rất cụ thể. Ta có thể đi tìm Chúa ở thật xa, trong khi Người đang chờ được đón nhận ngay ở bàn ăn gia đình, nơi hành lang bệnh viện, trong lớp giáo lý, trước cửa nhà thờ, hay trong cuộc trò chuyện mà ta chỉ muốn kết thúc cho nhanh. Đức tin không cho phép ta yêu một Thiên Chúa vô hình rồi xem nhẹ người đang đứng trước mặt. Chính Đức Giêsu đã chọn đứng về phía người bé nhỏ đến mức Người nói: cách các con tiếp đón họ chính là cách các con tiếp đón Thầy.
Bởi vậy, “trở nên nhỏ nhất” không có nghĩa là phải giả vờ mình bất tài, luôn nói xấu bản thân, hay từ chối mọi trách nhiệm. Có người được Chúa ban khả năng lãnh đạo, có người có học thức, có điều kiện, có sức ảnh hưởng, có tài tổ chức; những điều ấy có thể trở thành ân huệ cho rất nhiều người. Điều Đức Giêsu thanh luyện là ý muốn dùng chúng để nâng mình lên trên người khác. Người lớn theo Tin Mừng không cần mọi người phải nhỏ đi để mình được lớn. Họ không biến việc phục vụ thành một cách tìm sự ngưỡng mộ. Họ có thể đứng ở vị trí phải đưa ra quyết định, nhưng không vì thế mà quên tên, quên nỗi đau và quên phẩm giá của những người chịu tác động bởi quyết định ấy. Họ biết cúi xuống mà không thấy mình bị hạ thấp, biết lắng nghe mà không sợ mất quyền, biết trao cơ hội cho người khác mà không lo ánh sáng trên mình sẽ mờ đi. Sự khiêm nhường ấy không yếu đuối. Nó đòi một nội tâm đủ tự do để không phải liên tục chứng minh: tôi quan trọng hơn anh.
Ta cần thành thật rằng ước muốn được nhìn nhận có mặt trong hầu hết mọi người. Ai cũng muốn công sức mình bỏ ra được thấy, lời mình nói được nghe, đời mình có ý nghĩa. Ngay cả khi làm việc đạo đức, ta vẫn có thể buồn vì không ai nhắc đến mình, vì người khác được cảm ơn còn mình thì không, vì ý kiến của mình không được chọn. Một chút buồn như thế là rất người. Nhưng nếu không đem nó đến trước mặt Chúa, nỗi buồn có thể lớn dần thành sự ganh tị: tại sao người ấy được giao việc đó, tại sao người ấy được quý mến, tại sao bao nhiêu điều tôi làm không ai biết? Từ chỗ muốn phục vụ Chúa, ta bắt đầu âm thầm đếm xem mình nhận lại được gì. Khi ấy, ngay giữa công việc tốt đẹp, lòng ta lại trở nên chật hẹp. Ta vẫn có thể làm việc chăm chỉ, nhưng niềm vui tùy thuộc vào lời khen. Ta vẫn có thể ở trong cộng đoàn, nhưng thành công của người khác lại làm ta mất bình an. Đức Giêsu nhìn thấy câu hỏi trong lòng các môn đệ vì Người muốn chữa lành chính nơi ấy. Người không chỉ sửa một cuộc tranh luận; Người mở cho các ông một con đường tự do.
Câu chuyện chưa dừng ở em nhỏ. Ông Gioan thưa với Đức Giêsu rằng các môn đệ đã thấy một người nhân danh Thầy mà trừ quỷ và đã cố ngăn cản, vì người ấy không cùng đi theo nhóm của họ. Lời thưa ấy cho thấy một hình thức khác của cùng một nỗi bận tâm: nếu chúng ta là những người gần Thầy, người ngoài nhóm không nên làm công việc ấy. Nhưng Đức Giêsu bảo: “Đừng ngăn cản người ta.” Điều Người hướng các môn đệ nhìn tới là một con người đang được giải thoát khỏi sự dữ. Lẽ ra họ phải vui vì có người được cứu giúp; họ lại quá bận tâm đến việc ai là người thực hiện. Khi cái tôi của một cá nhân hoặc của một nhóm trở nên quá lớn, ta có thể đánh mất niềm vui trước điều tốt lành chỉ vì điều tốt ấy không xuất phát từ tay mình. Ta có thể quên hỏi “người đau khổ đã được giúp chưa?” mà chỉ chăm chăm hỏi “người giúp họ có thuộc về chúng ta không?”
Cám dỗ này không xa lạ trong đời sống Giáo Hội. Một nhóm phục vụ có thể buồn khi nhóm khác làm tốt một công việc. Một người phụ trách có thể ngại mời người mới vì sợ họ làm khác cách mình vẫn làm. Một giáo xứ có thể quen nói về những thành quả “của chúng ta” đến mức quên rằng mọi hoa trái chân thật đều phải hướng về Chúa và ích lợi của con người. Dĩ nhiên, việc phân định, sự hiệp thông và trách nhiệm trong Hội Thánh vẫn cần thiết; lời Đức Giêsu không bảo ta thôi quan tâm đến điều đúng sai. Nhưng Người buộc ta xét lại động cơ khi ta muốn ngăn cản người khác: ta đang bảo vệ những người cần được phục vụ, hay đang bảo vệ vị trí và niềm tự hào của mình? Ta lo cho danh Chúa, hay lo vì mình không còn là người duy nhất được nhắc tên? Có những câu hỏi chỉ có thể trả lời khi ta chịu đứng yên một lúc trước Chúa, thôi vội biện hộ cho bản thân.
Bài đọc về ông Gióp thêm một chiều sâu cho chữ “đón nhận”. Gióp mất mát liên tiếp, từ của cải đến con cái. Ông xé áo, cắt tóc, sấp mình xuống đất. Nỗi đau của ông có thật; đức tin không biến ông thành người không biết khóc. Vậy mà giữa những mất mát ấy, ông vẫn chúc tụng danh Chúa. Không nên đọc câu chuyện Gióp như một lời giải thích dễ dãi cho đau khổ của người khác, càng không nên đem câu nói của ông đến để yêu cầu người vừa chịu tang phải bình tĩnh ngay. Sách Gióp không xóa bỏ tiếng kêu than; những chương sau còn đưa ta vào cuộc vật lộn dài và sâu của một con người đau khổ trước mặt Thiên Chúa. Nhưng ở khởi đầu hành trình ấy, Gióp cho ta thấy một trái tim không coi mọi điều mình có là vật sở hữu tuyệt đối. Ông đã đón nhận sự sống như quà tặng, và giữa lúc không hiểu nổi điều đang xảy ra, ông vẫn hướng về Đấng đã ban sự sống ấy.
Đây là nơi sự khiêm nhường trở nên rất sâu. Khi mọi sự thuận lợi, ta dễ nói “tất cả là hồng ân”. Khi công việc trôi chảy, gia đình bình an, sức khỏe còn tốt, ta có thể cảm tạ Chúa bằng cả tấm lòng. Nhưng khi một điều quý giá bị lấy khỏi tay, ta mới nhận ra mình đã bám chặt vào nó đến mức nào. Đón nhận không có nghĩa là gọi điều ác là điều lành, hay coi mất mát là chuyện nhỏ. Đón nhận là dám đem cả nỗi đau, cả câu hỏi chưa có đáp án, cả sự bất lực của mình vào tương quan với Chúa. Người tin không phải lúc nào cũng nói được một lời đẹp trong nước mắt. Có khi họ chỉ còn đủ sức thưa: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng xin đừng để con buông tay Ngài.” Một lời nguyện như thế có thể là bước đầu của lòng tín thác. Nó không làm vết thương biến mất, nhưng giữ trái tim ta mở ra để Chúa ở cùng ta giữa vết thương ấy.
Nhìn lại, em nhỏ trong Tin Mừng và ông Gióp trong bài đọc có một điều gặp nhau: cả hai mời ta nhận ra mình sống nhờ ân huệ. Em nhỏ không thể tự cung cấp cho mình mọi điều cần thiết; Gióp hiểu rằng ngay cả người trưởng thành, giàu có và vững vàng cũng không nắm chắc được những gì mình tưởng thuộc về mình mãi mãi. Ta không cần đợi đến lúc mất hết mới học điều ấy. Mỗi sáng thức dậy, ta đã nhận một ngày mà mình không tự tạo ra. Mỗi hơi thở, mỗi người thân còn ngồi bên cạnh, mỗi cơ hội sửa một lỗi lầm, mỗi lần được tha thứ, mỗi khả năng bắt đầu lại đều có thể đánh thức lòng biết ơn. Lòng biết ơn không khiến ta thụ động. Ngược lại, nó làm ta dùng những gì mình có một cách rộng rãi hơn. Khi biết mình đã được nhận, ta bớt sợ phải cho đi. Khi biết mình đã được yêu lúc còn yếu đuối, ta bớt đòi người khác phải xứng đáng hoàn toàn rồi mới yêu họ.
Một khía cạnh rất đời thường của sự cao cả Kitô giáo: dùng khả năng mình có để chữa lành, nâng đỡ và phục vụ, kể cả khi người nhận không thể trả lại. Điều này không có nghĩa mọi người lao động đều phải làm việc không công. Người lao động có quyền được trả công xứng đáng để sống và chăm sóc gia đình. Điều hai thánh gợi cho ta là một câu hỏi về trái tim: bên trong nghề nghiệp và công việc của mình, ta còn thấy con người không? Người thầy thuốc có thấy bệnh nhân trước khi thấy hồ sơ? Người dạy học có thấy một đứa trẻ cần được khích lệ trước khi thấy điểm số? Người làm mục vụ có thấy một tâm hồn đang tìm đường trước khi thấy một việc phải xử lý? Người có trách nhiệm có dành sự chăm sóc cho cả những ai không thể đem lại lợi ích hay tiếng tốt cho mình?
Có lẽ một trong những phép xét mình khó nhất là nhìn lại cách ta cư xử với người không có gì để cho ta. Ta có nhẹ nhàng với người giúp việc như với vị khách quan trọng không? Ta có đủ kiên nhẫn với cha mẹ già như với người mình muốn gây ấn tượng không? Ta có gọi tên và hỏi thăm người âm thầm dọn dẹp sau một buổi lễ, hay chỉ nhớ đến những người đứng trên sân khấu? Ta có để một người nghèo kể hết câu chuyện của họ, hay đã quyết định sẵn mình sẽ cho gì và cần kết thúc cuộc gặp lúc nào? Những việc rất nhỏ ấy thường nói thật về lòng ta hơn những lời tuyên bố lớn. Người bé nhỏ không đến để kiểm tra xem ta có thể nói về tình yêu hay đến đâu. Họ đến với một nhu cầu, một nỗi mệt, một niềm hy vọng. Nếu ta đón tiếp họ vì danh Đức Giêsu, chính cuộc gặp ấy trở thành nơi ta gặp Người.
Và ta cũng cần học cách để mình được đón nhận. Có người luôn sẵn sàng giúp người khác nhưng rất khó nhận sự giúp đỡ, vì sợ mang ơn, sợ bị thấy là yếu, sợ mất hình ảnh mạnh mẽ mình đã dựng lên. Có người không dám đến với Chúa trong tình trạng thật của mình: rối bời, ghen tị, kiệt sức, nhiều lần thất bại. Họ nghĩ phải sắp xếp đời mình cho ổn rồi mới có thể cầu nguyện. Nhưng em nhỏ đứng bên Đức Giêsu nhắc ta rằng trước khi biết làm được điều gì lớn lao cho Chúa, ta đã được mời đến gần Người với bàn tay trống. Sự cao cả Kitô giáo bén rễ trong khả năng nhận ân sủng. Không ai tự cứu mình bằng một bản thành tích hoàn hảo. Ta cần được tha thứ, được nuôi dưỡng, được chỉ đường. Một người biết quỳ xuống và thưa “con cần Chúa” có thể đang tiến gần Nước Trời hơn người làm được rất nhiều việc mà lòng vẫn khép kín trước tình yêu của Người.
Điều ấy đặc biệt rõ nơi Thánh Thể. Ta đến bàn tiệc Chúa với những công việc đã làm, những lời chưa kịp nói, những lỗi lầm còn day dứt và cả những điều mình không thể tự chữa lành. Ta đưa hai bàn tay ra để nhận lãnh. Cử chỉ đơn sơ ấy nói một sự thật mà lòng kiêu căng thường muốn quên: sự sống sâu xa nhất không phải do ta giành lấy, nhưng do Đức Kitô trao ban. Rồi sau khi đón nhận Người, ta trở về với những người Người đã đặt bên cạnh mình. Sẽ có một em nhỏ cần được chú ý, một người khác nhóm đang làm việc thiện mà ta được mời gọi vui cùng, một người đau khổ cần được lắng nghe, một mất mát cần được mang vào lời cầu nguyện. Nếu Thánh Thể dạy ta mở tay để nhận Chúa, Thánh Thể cũng dạy ta mở tay để phục vụ.
Hôm nay, ta có thể bắt đầu bằng một việc rất cụ thể. Hãy nhớ đến một người mà sự hiện diện của họ không đem lại cho ta danh tiếng, lợi ích hay thuận tiện. Hãy tiếp đón người ấy tử tế hơn một chút: nghe hết một câu, hỏi một câu thật lòng, dành một khoảng thời gian, làm một việc cần làm mà không đợi được thấy. Nếu trong lòng nổi lên sự khó chịu vì một người khác được khen, hãy đem chính cảm giác ấy đến với Chúa và xin ơn vui trước điều tốt họ đang làm. Nếu đang trải qua mất mát, đừng ép mình phải có ngay một lời giải thích; hãy để Chúa nghe tiếng khóc thật của mình. Những bước ấy có thể nhỏ, nhưng chính ở đó cuộc tranh luận “ai là người lớn nhất?” dần mất quyền điều khiển trái tim ta. Ta không cần thắng người bên cạnh để đời mình có giá trị. Ta cần để tình yêu Đức Kitô lớn lên trong cách mình đón nhận và đối xử với họ.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đặt một em nhỏ bên cạnh mình và mời chúng con nhìn lại điều chúng con gọi là cao cả. Xin tha thứ cho những lần chúng con muốn được thấy hơn là muốn thấy người khác, muốn được phục vụ hơn là muốn phục vụ, muốn việc lành phải mang tên mình rồi mới vui mừng. Xin mở rộng lòng chúng con để nhận ra Chúa nơi người bé nhỏ, đón nhận ân sủng Chúa khi tay mình trống rỗng, và biết cảm tạ trong ngày bình an cũng như biết nương tựa vào Chúa trong ngày đau buồn. Xin cho chúng con đủ tự do để vui khi người khác làm điều tốt, đủ dịu dàng để không đi ngang qua nỗi đau của ai, và đủ khiêm nhường để mỗi ngày lại học yêu thương từ đầu. Ước gì đến cuối ngày, điều còn lại không phải là chúng con đã được xem là lớn đến đâu, nhưng là một người nào đó đã được nâng đỡ, được lắng nghe và được đón nhận vì danh Chúa. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.

NGƯỜI NHỎ NHẤT VÀ CÁNH CỬA RỘNG CỦA NƯỚC THIÊN CHÚA
Lc 9,46–50
Có những cuộc tranh luận không cần nói lớn tiếng mà Chúa vẫn nghe thấy. Có những câu hỏi người ta chỉ giữ trong lòng, nhưng câu hỏi ấy âm thầm quyết định cách người ta nhìn anh em mình. Các môn đệ đang đi với Đức Giêsu, nghe Người giảng dạy, chứng kiến những việc Người làm, vậy mà trong lòng các ông lại nổi lên một câu hỏi: Ai là người lớn nhất trong chúng ta? Câu hỏi ấy xuất hiện ngay sau khi Đức Giêsu nói về cuộc khổ nạn đang chờ Người. Thầy hướng về con đường tự hiến; trò nghĩ đến vị trí của mình. Thầy nói đến việc bị nộp vào tay người đời; trò bận tâm xem ai sẽ được đặt lên trên người khác. Khoảng cách giữa trái tim Đức Giêsu và trái tim các môn đệ lúc ấy thật lớn. Nhưng đó cũng là khoảng cách mà mỗi người chúng ta phải thành thật nhìn nhận nơi mình. Ta có thể ở rất gần những điều thánh mà vẫn âm thầm tìm kiếm phần hơn cho bản thân. Ta có thể nói về phục vụ nhưng lại đau lòng khi không được ghi nhận; nói về hiệp nhất nhưng khó chịu khi người khác được tín nhiệm; nói rằng mọi sự là vì Chúa nhưng vẫn muốn người ta biết chính mình đã làm được bao nhiêu. Ta không nhất thiết phải hỏi thành lời: “Ai là người lớn nhất?” Chỉ cần nhìn phản ứng của mình khi người khác được khen, khi ý kiến mình không được chọn, khi công việc mình làm không ai nhắc tới, ta sẽ biết câu hỏi ấy có đang sống trong lòng mình hay không.
Đức Giêsu biết các môn đệ đang nghĩ gì. Người không bắt họ thú nhận trước đám đông, cũng không đáp lại bằng một bài lý thuyết dài về quyền bính. Người đem một em nhỏ đặt bên cạnh mình. Hãy dừng lại thật lâu trước cử chỉ ấy: Đức Giêsu đặt em nhỏ bên cạnh Người. Các môn đệ muốn biết ai xứng đáng đứng cao nhất, còn Chúa cho họ thấy ai được Người dành chỗ ở gần. Trong thế giới của người lớn, đứa trẻ dễ bị xem là chưa có tiếng nói, chưa làm nên thành tích, chưa thể trao lại điều gì đáng kể. Em cần được chăm sóc, cần người bảo vệ, có khi còn làm gián đoạn những kế hoạch được cho là quan trọng. Chính một con người bé nhỏ như thế lại được Đức Giêsu đưa vào giữa câu chuyện về sự cao cả. Người không dùng em làm một hình ảnh trang trí cho bài học khiêm nhường. Người hướng ánh nhìn của các môn đệ về một con người thật, với nhu cầu thật và phẩm giá thật, rồi nói: “Ai tiếp đón em nhỏ này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy.” Chúa kéo câu hỏi của họ ra khỏi cuộc tranh giành chỗ đứng và đưa nó về một cuộc gặp gỡ: trước mặt anh có một người bé nhỏ; anh sẽ đối xử với người ấy thế nào? Chúng ta thấy điểm rất đẹp này: em nhỏ tượng trưng cho những người yếu thế, dễ bị tổn thương và thiếu quyền lực; tiếp đón họ là nhìn nhận phẩm giá của họ và nâng đỡ họ.
Tiếp đón một em nhỏ “vì danh Thầy” không chỉ là nở một nụ cười rồi bước đi. Đó là nhường cho người bé nhỏ một chỗ trong thời giờ, trong quyết định, trong mối quan tâm và trong trái tim mình. Một giáo xứ có thể tổ chức nhiều sinh hoạt, nhưng người đau yếu không thể đến nhà thờ có được ai nhớ tới không? Một gia đình có thể nói rất nhiều về tình thương, nhưng đứa con đang sợ hãi có được lắng nghe trước khi bị trách mắng không? Một cộng đoàn có thể phục vụ rất nhiệt thành, nhưng người đến sau, người nói năng vụng về, người không có khả năng đóng góp, người mang một quá khứ khó kể, có cảm thấy mình được đón vào như một con người không? Ta thường dễ dành sự tử tế cho người có thể giúp mình. Ta dễ chú ý đến người có vai trò, có tiếng nói, có khả năng đáp lại. Còn người nghèo, người già chậm chạp, người bệnh cần được dìu đỡ, em nhỏ liên tục đặt câu hỏi, người lạ không biết cách hòa vào cộng đoàn: chính họ cho ta cơ hội nhận ra mình yêu Chúa đến đâu. Tình yêu dành cho người bé nhỏ có một sự thật rất rõ ràng: nhiều khi ta không nhận được gì để đổi lại. Bởi thế, nơi ấy, lòng mến của ta được thanh luyện khỏi tính toán.
“Người nhỏ nhất trong tất cả anh em, thì kẻ ấy là người lớn nhất.” Lời này không bảo chúng ta ca tụng cảnh khốn cùng, càng không bảo người bị đối xử bất công cứ im lặng chịu đựng. Đức Giêsu không muốn một ai bị làm cho nhỏ đi để người khác có cơ hội tỏ ra cao thượng. Người khẳng định một trật tự khác với thói quen của chúng ta: giá trị của con người không do quyền lực, tiếng tăm hay khả năng tự bảo vệ mình quyết định. Người bé nhỏ vẫn mang một phẩm giá không ai được phép xem nhẹ. Đồng thời, ai muốn lớn lên trong Nước Thiên Chúa phải học cách từ bỏ nhu cầu đứng trên người khác để có thể đến gần họ. Sự khiêm nhường Kitô giáo không phải là giả vờ mình chẳng có khả năng, cũng không phải nói xấu bản thân để chờ người khác khen. Khiêm nhường là biết mình đã nhận lãnh mọi sự, biết mình cần ơn Chúa và cần anh em, nên có thể dùng những gì mình có để phục vụ. Một người có trách nhiệm lớn vẫn có thể sống rất khiêm nhường nếu không dùng trách nhiệm ấy để khiến người khác sợ mình. Một người có nhiều kiến thức vẫn có thể nhỏ bé trước Chúa nếu biết lắng nghe người chưa học nhiều. Một người âm thầm làm những việc ít ai nhìn thấy vẫn có thể rất lớn lao vì họ làm với một tình yêu bền bỉ.
Đức Giêsu không chỉ dạy một nguyên tắc rồi đứng ngoài nguyên tắc ấy. Chính Người đã đi vào con đường của người bé nhỏ. Người đến giữa nhân loại trong thân phận một trẻ thơ cần được bồng ẵm. Người sống giữa những người lao động bình thường, ngồi ăn với những kẻ bị khinh chê, dừng lại trước tiếng kêu của người mù, để người bệnh chạm đến mình, gọi tên những người đám đông muốn xua đi. Và trên thập giá, Người bước vào tận cùng của sự bị tước đoạt: không còn vẻ huy hoàng mà người đời mong đợi nơi một vị vua, không còn khả năng tự bảo vệ trước những lời nhạo báng, chỉ còn tình yêu trao hiến đến cùng. Vì thế, khi Chúa mời ta tìm Người nơi người yếu thế, Người không dẫn ta tới một nơi xa lạ với Người. Người đã ở đó. Có những lúc ta quỳ trước Thánh Thể với tất cả lòng cung kính, rồi ra khỏi nhà thờ lại thiếu kiên nhẫn với một người cần mình giúp đỡ. Tin Mừng hôm nay đưa hai cuộc gặp gỡ ấy lại gần nhau: Đấng ta thờ lạy cũng là Đấng muốn được ta đón tiếp nơi người bé nhỏ. Điều này không làm giảm lòng tôn kính đối với Chúa; nó đòi lòng tôn kính ấy sinh hoa trái trong đời sống.
Sau bài học về em nhỏ, ông Gioan lại thưa với Thầy rằng các môn đệ đã cố ngăn một người trừ quỷ nhân danh Đức Giêsu, vì người ấy không đi theo cùng nhóm với các ông. Có lẽ Gioan nghĩ mình đang bảo vệ điều thuộc về Thầy. Nhưng trong lời ông nói có một chi tiết đáng suy nghĩ: lý do để ngăn cản là người kia “không cùng với chúng con đi theo Thầy”. Các môn đệ đã lấy ranh giới của nhóm mình làm thước đo cho việc người khác được phép làm điều tốt. Đức Giêsu đáp: “Đừng ngăn cản người ta. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta.” Người không phủ nhận việc môn đệ phải gắn bó với Người. Người sửa cách họ nhìn công việc của Thiên Chúa: Chúa có thể hành động vượt ngoài vòng quen biết và những sắp xếp của ta. Ta có thể có trách nhiệm thực sự trong Hội Thánh mà vẫn phải nhớ rằng ân sủng không phải tài sản riêng của nhóm mình. Ta có thể yêu mến cộng đoàn mình mà vẫn vui mừng khi một người ở nơi khác làm được điều thiện.
Hai phần của bài Tin Mừng soi sáng lẫn nhau. Trước em nhỏ, các môn đệ phải học cách đón nhận người không mang lại cho họ địa vị. Trước người trừ quỷ không thuộc nhóm, các ông phải học cách nhìn nhận một việc tốt mà mình không điều khiển. Một bên chạm đến lòng ham được đứng trên; bên kia chạm đến lòng muốn giữ riêng quyền làm điều tốt. Cả hai đều có thể núp dưới những lý do rất đạo đức. Ta nói mình chỉ muốn bảo vệ trật tự, nhưng đôi khi thật lòng ta khó chịu vì người khác được tin tưởng. Ta nói mình lo cho sự hiệp nhất, nhưng đôi khi điều ta muốn là mọi sáng kiến đều phải đi qua mình. Ta nói mình thận trọng, nhưng có lúc sự thận trọng ấy che giấu nỗi sợ bị lu mờ. Tất nhiên, phân định là cần thiết; không phải việc gì mang danh nghĩa tốt lành cũng mặc nhiên đúng. Nhưng phân định bắt đầu bằng lòng yêu mến sự thật và thiện ích của con người, chứ không bằng câu hỏi: “Người ấy có thuộc phe tôi không?” Nếu một việc thật sự làm vơi đi đau khổ, nâng đỡ phẩm giá con người và mở đường cho điều thiện, ta cần có trái tim đủ rộng để nhận ra và cộng tác trong khả năng của mình.
Trong đời sống Giáo Hội, cám dỗ ấy có thể rất gần. Một người chỉ thỉnh thoảng đi lễ bước vào nhà thờ và cảm thấy mọi ánh mắt đang xét đoán. Một người trẻ đề nghị một cách phục vụ mới nhưng bị gạt đi trước khi được lắng nghe. Hai hội đoàn cùng làm việc trong một giáo xứ mà âm thầm so xem nhóm nào được cha xứ nhắc tên nhiều hơn. Một người từng lầm lỗi muốn bắt đầu lại, nhưng luôn bị giữ trong hình ảnh cũ của họ. Một cộng đoàn khác tìm được cách giúp người nghèo hữu hiệu, song thay vì học hỏi, ta tìm lý do để xem nhẹ. Những chuyện ấy có thể bắt đầu từ điều rất nhỏ, từ một câu nói, một cái nhìn, một lời giới thiệu thiếu trân trọng; nhưng tích tụ lâu ngày, chúng khiến người ta ngại bước vào nhà Chúa và làm cho việc phục vụ trở thành cuộc tranh hơn thua. Chúng ta lưu ý rằng sự phân chia “chúng ta” và “họ” có thể xuất hiện ngay trong giáo xứ, giữa những nhóm đạo đức hay những người có mức độ tham gia khác nhau.
Lạy Chúa, có lẽ con cần tự hỏi: con có vui thật khi một người khác làm điều tốt hơn con không? Khi công việc con đang gánh được trao cho người mới, con có sẵn lòng chỉ dẫn và nâng đỡ họ không? Khi người con từng đánh giá thấp nói ra một điều đúng, con có đủ tự do nội tâm để nhìn nhận không? Khi có một người yếu đuối làm chậm nhịp sinh hoạt của con, con thấy một sự phiền phức hay thấy một con người đang cần được yêu thương? Những câu hỏi ấy không nhằm làm con nản lòng. Chúng mở ra một con đường hoán cải rất cụ thể. Con có thể bắt đầu bằng việc gọi tên và cảm ơn người làm những việc âm thầm. Con có thể để người ít được nghe được nói hết câu. Con có thể kiên nhẫn với một em nhỏ, thăm một người bệnh, dành chỗ cho một người mới, và ngừng nói một lời khiến người vắng mặt bị hạ thấp. Con có thể cầu nguyện cho thành quả của người khác mà không xem đó là sự mất mát của mình. Mỗi việc nhỏ như vậy là một bước ra khỏi cuộc tranh luận “ai lớn nhất” để đến đứng bên cạnh em nhỏ mà Đức Giêsu đã đặt gần Người.
Tin Mừng hôm nay cũng an ủi những ai thường nghĩ rằng đời mình chẳng có gì lớn lao. Có người già không còn đủ sức đảm nhận việc từng làm. Có người cha, người mẹ quanh năm chăm sóc một người con bệnh tật; công việc của họ lặp lại đến mức không ai nhớ kể ra. Có một giáo lý viên chuẩn bị bài kỹ lưỡng dù lớp chỉ có vài em. Có người lặng lẽ dọn nhà thờ sau khi mọi người ra về. Có người mang nỗi đau riêng mà vẫn giữ lòng tử tế với người khác. Thế gian rất khó đo những điều ấy. Nhưng Đức Giêsu không lẫn lộn sự ít được chú ý với sự ít giá trị. Người biết một cốc nước được đưa đúng lúc, một lần nhẫn nại khi sức đã cạn, một lời bênh vực người không thể tự bênh vực mình. Người không đòi mọi người phải làm những việc khiến cả thế giới biết đến. Người mời mỗi người yêu thương người đang ở trước mặt mình, trong hoàn cảnh và khả năng thật của mình. Có khi điều lớn lao nhất của một ngày chính là không bỏ mặc một người nhỏ bé.
Xin cho các cộng đoàn của chúng ta có chỗ cho em nhỏ đứng bên cạnh Chúa; có chỗ cho người mới, người vụng về, người yếu sức, người đang tìm đường trở lại. Xin cho chúng ta yêu mến Hội Thánh bằng một tình yêu đủ trưởng thành để vui khi điều lành nảy nở cả ngoài phần việc của mình. Xin cho người có trách nhiệm biết dùng quyền hạn để bảo vệ và nâng đỡ; người có tài năng biết chia sẻ; người đang âm thầm phục vụ biết rằng Chúa nhìn thấy họ. Và khi lòng chúng ta lại nổi lên câu hỏi “ai là người lớn nhất?”, xin Đức Giêsu dịu dàng đưa một em nhỏ đến đứng bên cạnh Người một lần nữa, để ta nhớ rằng con đường gần Chúa nhất thường bắt đầu bằng một bước cúi xuống đón nhận anh chị em. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.

MUỐN NÊN CAO CẢ, HÃY ĐỂ CHÚA DẪN MÌNH ĐẾN BÊN NGƯỜI BÉ NHỎ
Lc 9,46–50
Có những cuộc tranh luận không cần thốt ra thành lời mà vẫn chiếm hết tâm trí con người. Các môn đệ đi theo Đức Giêsu, nghe Người giảng dạy, chứng kiến những việc Người làm, nhưng trong lòng các ông lại nảy ra một câu hỏi rất quen thuộc: ai trong chúng ta là người lớn nhất? Câu hỏi ấy có thể xuất hiện dưới những hình thức kín đáo hơn trong đời chúng ta. Khi một việc chung được hoàn thành, ai sẽ được nhắc tên? Khi một cộng đoàn đưa ra quyết định, tiếng nói của ai có trọng lượng hơn? Khi người khác được tín nhiệm, vì sao lòng mình bỗng chùng xuống? Khi mình âm thầm làm rất nhiều mà chẳng ai nhận ra, liệu mình còn muốn tiếp tục? Tin Mừng không kể các môn đệ lớn tiếng cãi nhau trong đoạn này. Thánh Luca nói một ý nghĩ đã đến với các ông, và Đức Giêsu biết điều các ông đang tự hỏi trong lòng. Chúa đi thẳng vào nơi con người thường giấu kỹ nhất. Người biết ta có thể nói về phục vụ mà vẫn khao khát địa vị; có thể làm việc đạo đức mà vẫn mong được nhìn nhận; có thể thật lòng yêu mến Hội Thánh mà đôi khi lại buồn vì một người khác được trao cơ hội mình mong đợi. Chúa biết những điều ấy, nhưng Người không đẩy các môn đệ ra xa. Người đem một em nhỏ đặt bên cạnh mình. Giữa một nhóm người đang nghĩ đến vị trí cao nhất, Chúa dành chỗ bên cạnh Người cho một người bé nhỏ. Chỉ một cử chỉ ấy đã đảo lại cách các môn đệ nhìn thế giới.
Đức Giêsu không bảo các môn đệ từ bỏ ước muốn có một cuộc đời lớn lao. Con người được dựng nên để hướng tới điều cao đẹp; người Kitô hữu càng không được bằng lòng với một trái tim hẹp hòi, một đời sống chỉ xoay quanh sự tiện nghi và an toàn của riêng mình. Nhưng Chúa thanh luyện câu hỏi “Tôi sẽ trở nên lớn đến đâu?” bằng một câu hỏi khác: “Tôi có thể yêu thương đến đâu?” Nếu sự lớn lao của tôi đòi người khác phải nhỏ đi, đó là một sự lớn lao nghèo nàn. Nếu tôi chỉ thấy mình có giá trị khi hơn người bên cạnh, bình an của tôi sẽ luôn nằm trong tay người ấy. Họ thành công, tôi bất an; họ được khen, tôi chạnh lòng; họ có một khả năng mình không có, tôi bắt đầu so sánh. Càng đếm xem ai đứng trước ai đứng sau, tôi càng ít còn sức để làm việc Chúa trao cho mình. Tôi có thể đi rất xa trên con đường tìm kiếm một chỗ đứng mà lại chẳng tiến được bao nhiêu trên con đường nên thánh. Chúng ta nhớ : Chúa không dập tắt khát vọng vươn tới điều cao cả, nhưng mời ta thôi tiêu hao đời mình vào những cuộc so sánh. Trước mặt Thiên Chúa, ta không cần làm cho người khác thấp xuống để được nâng lên.
Em nhỏ trong Tin Mừng không bước vào giữa các môn đệ để trình bày thành tích, chứng minh năng lực hay đòi một chức vụ. Em được Đức Giêsu đưa đến và đặt bên cạnh Người. Trong thế giới của những người lớn đang cân đo tầm quan trọng của nhau, em hiện diện như một người có thể dễ dàng bị bỏ qua. Vậy mà chính em lại trở thành người Chúa mời các môn đệ tiếp đón. Người nói: “Ai tiếp đón em nhỏ này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy.” Chúa đặt sự hiện diện của mình nơi một con người mà các ông có thể không nghĩ là quan trọng. Người còn dẫn các ông đi xa hơn: tiếp đón Người là tiếp đón Đấng đã sai Người. Từ một em nhỏ đứng bên cạnh Đức Giêsu, ánh nhìn của người môn đệ được mở tới chính Chúa Cha. Một cử chỉ tiếp đón có thể trở thành nơi con người gặp Thiên Chúa. Một sự thờ ơ trước người bé nhỏ cũng có thể khiến ta đi ngang qua Chúa mà không nhận ra.
Điều ấy làm chúng ta phải xét lại rất nhiều thói quen trong đời sống đức tin. Ta dễ nghĩ mình sẽ gặp Chúa nơi những việc lớn: một buổi lễ long trọng, một công việc tông đồ có nhiều người tham dự, một dự án được chuẩn bị công phu, một lời giảng được đón nhận nhiệt thành. Chúa vẫn có thể hiện diện trong tất cả những điều ấy. Nhưng hôm nay Người còn hỏi ta về người ngồi lặng ở cuối nhà thờ, về em bé làm gián đoạn một cuộc trò chuyện, về người già kể đi kể lại một nỗi buồn, về bệnh nhân gọi điện đúng lúc ta đang bận, về người giúp việc mà ta quen nhận sự phục vụ nhưng ít khi hỏi họ có mệt không, về một giáo lý viên làm phần việc không ai thấy, về một người mới đến giáo xứ mà chưa biết phải ngồi cùng ai. Ta có thể hết lòng chuẩn bị một công việc mang danh Chúa, rồi lại thiếu kiên nhẫn với chính người Chúa gửi đến trước cửa. Đón tiếp em nhỏ “vì danh Thầy” không chỉ là cư xử lịch sự. Đó là tập nhìn người trước mặt trong mối tương quan với Đức Giêsu; dành cho họ thời gian, sự chú ý và lòng kính trọng mà sự hiện diện của Người đòi hỏi. Có khi ta sẽ nhận ra mình dễ yêu một ý tưởng đẹp về người nghèo hơn là lắng nghe một người nghèo cụ thể; dễ nói về phẩm giá con người hơn là nhường lời cho người chậm chạp, khó diễn đạt; dễ hô hào xây dựng cộng đoàn hơn là mời một người đang lạc lõng bước vào vòng trò chuyện của mình.
Chúa nói người nhỏ nhất trong tất cả anh em là người lớn nhất. Lời ấy không biến sự yếu đuối thành một màn trình diễn mới, như thể người môn đệ phải tỏ ra thấp hèn để được khen là khiêm nhường. Khiêm nhường cũng không có nghĩa là phủ nhận những ân huệ Chúa đã ban, né tránh trách nhiệm, hay im lặng trước điều cần được sửa chữa. Có người được Chúa ban khả năng lãnh đạo; có người được trao bổn phận giảng dạy; có người phải đưa ra quyết định khó khăn và chịu trách nhiệm về quyết định ấy. Họ không cần giả vờ mình không có khả năng. Điều Chúa mời gọi là sử dụng khả năng ấy để người khác được sống, được lớn lên, được phục vụ và được yêu thương. Một người có trách nhiệm có thể giữ lòng mình bé nhỏ bằng cách biết lắng nghe. Một người được nhiều người quý mến có thể giữ lòng mình bé nhỏ bằng cách không xem sự quý mến ấy là tài sản riêng. Một người làm việc hiệu quả có thể giữ lòng mình bé nhỏ bằng cách vui khi đồng sự cũng làm tốt. Một người giảng hay có thể giữ lòng mình bé nhỏ bằng cách nhớ rằng Lời Chúa còn sinh hoa trái ở những nơi mình chưa từng đặt chân tới. Lòng khiêm nhường thật không làm con người co lại; nó giải thoát con người khỏi nhu cầu phải liên tục chứng minh bản thân, để họ có thể dốc sức cho điều cần làm.
Rồi ông Gioan lên tiếng: các môn đệ đã thấy một người nhân danh Thầy mà trừ quỷ và cố ngăn cản, vì người ấy không cùng đi theo nhóm của các ông. Lời thú nhận của Gioan rất đáng suy nghĩ. Ông không nói người kia dùng danh Thầy để làm điều xấu. Lý do ông đưa ra là người ấy không đi cùng chúng con. Một việc tốt đang được thực hiện, nhưng nó xảy ra ngoài phạm vi các ông quen kiểm soát. Đức Giêsu bảo: “Đừng ngăn cản người ta.” Chúa không mời môn đệ sống hời hợt, bỏ qua việc phân định điều đúng sai. Người sửa một thái độ cụ thể: muốn lấy sự gần gũi với nhóm mình làm thước đo cho mọi điều tốt. Ta cũng có thể vướng vào thái độ đó mà không nhận ra. Một nhóm khác tổ chức việc bác ái, ta lập tức tìm điểm thiếu sót. Một giáo xứ bên cạnh có sáng kiến tốt, ta thấy khó vui. Một người không thuộc nhóm quen của mình giúp được nhiều người, ta lại bận tâm xem họ có được quyền làm như vậy không. Có khi câu hỏi cần đặt ra trước tiên rất đơn giản: người ta đang được giúp đỡ chăng, điều thiện đang được thực hiện chăng, và tôi có thể cảm tạ Chúa về điều ấy chăng?
Đằng sau ý muốn ngăn cản người khác, đôi khi có một nỗi sợ rất người: nếu họ cũng làm được điều tốt, phần việc của tôi còn đặc biệt không? Nếu Chúa dùng họ, tôi có còn quan trọng không? Nhưng ân sủng của Chúa không phải một phần thưởng hữu hạn để người này nhận thêm thì người kia phải nhận bớt. Một người dạy giáo lý tốt không lấy mất ơn gọi của giáo lý viên khác. Một cộng đoàn chăm sóc người đau yếu chu đáo không làm công việc bác ái của cộng đoàn khác kém ý nghĩa. Một linh mục có khả năng đến gần người trẻ không khiến vị linh mục tận tụy ngồi hàng giờ trong tòa giải tội trở nên thừa thãi. Chúa biết cách trao những ân huệ khác nhau cho con cái Người, và mỗi ân huệ đều đi cùng một lời mời phục vụ. Khi thôi xem người khác là đối thủ, ta bắt đầu nhận ra họ có thể là người anh em giúp mình nhìn thấy một mặt vẻ đẹp của Hội Thánh mà một mình ta không thể thể hiện hết. Ta không mất đi chỗ của mình khi vui trước việc tốt của họ. Trái lại, lòng ta có thêm chỗ cho công trình của Chúa.
Sống được như thế đòi một cuộc hoán cải sâu hơn vài câu nói khiêm tốn ngoài miệng. Ta cần thành thật với những rung động rất nhỏ trong lòng. Khi nghe ai đó được khen, tôi phản ứng thế nào trước khi kịp nói một câu chúc mừng? Khi một công việc tôi mong thực hiện được trao cho người khác, tôi có thể giúp họ hoàn thành mà không âm thầm mong họ thất bại không? Khi một người trẻ đem đến ý tưởng mới, tôi có lắng nghe nội dung ý tưởng ấy, hay vội bác đi vì không phải mình nghĩ ra? Khi tôi làm được việc tốt, tôi có cần kể cho nhiều người biết để thấy việc ấy có giá trị không? Những câu hỏi ấy có thể khiến ta khó chịu, nhưng Chúa đặt em nhỏ bên cạnh Người để chữa lành lòng ta, chứ không để làm ta xấu hổ. Người hiểu rằng phía sau thói so sánh thường là một trái tim sợ mình không đủ tốt, không được yêu, không được nhớ đến. Chúa mời trái tim ấy trở về với Cha. Một đứa con được Cha yêu thương không phải tranh phần tình yêu bằng cách đẩy anh chị em mình ra xa. Ta có thể đau vì chưa được nhìn nhận; có thể mong một lời cảm ơn mà không nhận được; có thể buồn khi công sức bị hiểu lầm. Chúa không đòi ta giả vờ rằng những điều ấy chẳng đau. Người mời ta đem nỗi đau đến với Người, để nó không dần biến thành ganh tị và cay đắng.
Có lẽ một trong những tự do đẹp nhất của người môn đệ là khả năng âm thầm vui vì điều thiện xảy ra qua bàn tay người khác. Niềm vui ấy có thể bắt đầu bằng một việc rất nhỏ: nói lời cảm ơn thật lòng; giới thiệu khả năng của người khác khi có cơ hội; chia sẻ kinh nghiệm để họ đỡ vấp ngã; cầu nguyện cho công việc của họ; không kéo sự chú ý về mình khi họ đang được lắng nghe. Với người lãnh đạo, đó còn là niềm vui khi thấy người mình dìu dắt ngày càng trưởng thành, thậm chí làm được những điều mình chưa làm được. Với cha mẹ, đó là niềm vui khi con cái tìm được ơn gọi của chúng, thay vì chỉ thực hiện một giấc mơ cha mẹ đã chọn sẵn. Với người phục vụ trong giáo xứ, đó là khả năng trao lại một việc mình từng gắn bó mà không nghĩ mình bị thay thế hay lãng quên. Những hành động ấy không luôn dễ dàng. Nhưng mỗi lần làm được, ta bớt phụ thuộc vào lời khen và trở nên sẵn sàng hơn cho sứ mạng Chúa trao hôm nay.
Tin Mừng hôm nay đặt trước mắt ta hai hình ảnh có liên hệ mật thiết: một em nhỏ được Chúa đặt bên cạnh Người, và một người làm điều tốt ở ngoài nhóm các môn đệ. Người thứ nhất thử thách cách ta nhìn về ai đáng được đón tiếp; người thứ hai thử thách cách ta nhìn về ai có thể được Chúa dùng. Nếu chỉ quý những người có thể đem lợi ích cho mình, ta sẽ bỏ qua em nhỏ. Nếu chỉ vui với việc tốt do người thuộc nhóm mình thực hiện, ta sẽ muốn ngăn người kia. Trong cả hai trường hợp, chiếc vòng quanh cái tôi của ta trở nên quá chật. Đức Giêsu mở chiếc vòng ấy ra. Người dạy ta nhận ra phẩm giá của người dễ bị coi nhẹ và nhận ra điều thiện ở nơi ta không ngờ tới. Đây là một bài học rất thiết thực cho đời sống Hội Thánh. Một cộng đoàn có thể tổ chức nhiều hoạt động, nhưng vẫn cần tự hỏi người yếu thế có thấy mình được chào đón không. Một nhóm tông đồ có thể rất nhiệt thành, nhưng vẫn cần tự hỏi mình có biết cộng tác, biết mừng vì các nhóm khác, biết học điều hay từ họ không. Sự hiệp nhất không lớn lên nhờ mọi người phải làm giống hệt nhau. Nó lớn lên khi cùng hướng về Đức Kitô, tôn trọng ơn gọi của nhau và giúp nhau trung thành với điều thiện.
Ngày hôm nay, mỗi người có thể bước vào Tin Mừng này bằng một quyết định cụ thể. Hãy nghĩ đến một người mình thường đi ngang qua mà ít chú ý: một thành viên lặng lẽ trong gia đình, một người mới ở cộng đoàn, một bệnh nhân, một người già, một em nhỏ luôn muốn được nghe. Hãy dành cho họ sự hiện diện thật sự, dù chỉ trong một cuộc trò chuyện ngắn. Rồi hãy nghĩ đến một người mà thành công của họ từng khiến mình chạnh lòng. Hãy cầu nguyện cho họ bằng tên riêng, chúc mừng điều tốt họ làm, hoặc giúp họ một việc có thể giúp ích cho người khác. Hai hành động nhỏ ấy chạm đúng hai điều Chúa dạy các môn đệ: tiếp đón người bé nhỏ và đừng ngăn cản điều thiện. Chúng không làm ta nổi bật trước đám đông; có khi chẳng ai biết ta đã phải vượt qua mình thế nào để thực hiện. Nhưng chính trong những lần vượt qua âm thầm ấy, lòng ta được nới rộng.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa biết cả những ý nghĩ chúng con chưa nói thành lời. Chúa biết lòng chúng con muốn yêu Chúa mà vẫn còn thích được đứng trước người khác; muốn phục vụ mà vẫn sợ bị quên; muốn Hội Thánh sinh nhiều hoa trái mà vẫn có lúc buồn khi hoa trái ấy xuất hiện qua bàn tay người khác. Xin đừng để chúng con lẩn tránh ánh nhìn chữa lành của Chúa. Xin đặt bên cạnh chúng con những người bé nhỏ mà chúng con cần học cách đón tiếp, và xin cho chúng con đủ khiêm nhường để nhận ra Chúa nơi họ. Xin cho chúng con biết làm tốt phần việc được trao, biết cảm ơn những người cùng làm việc, biết vui khi người khác thành công và biết bình an khi chẳng ai gọi tên mình. Khi chúng con lại tự hỏi ai là người lớn nhất, xin đưa mắt chúng con về phía em nhỏ đang đứng bên cạnh Chúa. Khi chúng con muốn ngăn một người làm điều tốt chỉ vì họ không thuộc nhóm mình, xin nhắc chúng con nhớ rằng công trình của Chúa rộng hơn điều chúng con thấy. Xin làm cho trái tim chúng con đủ bé nhỏ để được Chúa nâng lên, đủ rộng mở để anh chị em có chỗ bước vào, và đủ tự do để chỉ mong một điều: ở đâu có người được yêu thương hơn, ở đó chúng con biết tạ ơn Chúa. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.

AI LÀ NGƯỜI LỚN NHẤT?
Lc 9,46–50
Các môn đệ đã bỏ lại nhiều điều để theo Đức Giêsu. Các ông đã nghe Người giảng dạy, chứng kiến Người chữa lành bệnh nhân và tận mắt thấy lòng thương xót của Thiên Chúa chạm đến những phận người khốn khổ. Thế mà giữa hành trình theo Thầy, một câu hỏi rất đời thường vẫn len vào lòng các ông: “Trong chúng ta, ai là người lớn nhất?” Câu hỏi ấy không chỉ thuộc về các môn đệ ngày xưa. Nó có thể âm thầm xuất hiện ngay giữa một cộng đoàn đang cầu nguyện, một nhóm đang làm việc bác ái, một gia đình đang cố gắng sống đạo, hay trong lòng một người tận tụy phục vụ Giáo Hội. Người ta có thể làm nhiều việc tốt mà vẫn đau đáu muốn biết mình được nhìn nhận đến đâu; có thể vui khi công việc thành công nhưng lại buồn vì tên mình không được nhắc tới; có thể nói rằng mọi sự là để phụng sự Chúa, trong khi lòng mình khó chịu khi người khác được tin cậy hơn. Tin Mừng không kể chuyện ấy để chúng ta đứng ngoài mà chê trách các môn đệ. Tin Mừng đưa chúng ta đến gần các ông, để nhận ra một cuộc giằng co rất thật trong chính lòng mình: ta muốn theo Chúa, nhưng cũng muốn giữ một chỗ đứng nổi bật trên đường theo Chúa.
Chúng ta thấy ba nét của đoạn Tin Mừng này khi suy gẫm: cám dỗ tìm địa vị, lời mời gọi đón tiếp người bé nhỏ, và thái độ đối với người làm điều tốt mà không thuộc nhóm mình. Cả ba gặp nhau ở một câu hỏi duy nhất: Khi phục vụ, lòng ta đang hướng về Đức Giêsu và những người Người yêu thương, hay đang quay về bảo vệ vị trí của chính mình?
Đức Giêsu biết điều các môn đệ đang tự hỏi trong lòng. Người không đợi các ông tranh luận xong mới lên tiếng, vì Người thấy điều sâu hơn lời nói: nỗi khát khao được coi là quan trọng. Người cũng biết điều ấy trong chúng ta. Có những lúc ta không hề nói ra câu “Tôi phải là người lớn nhất”, nhưng cả ngày sống lại bị câu ấy chi phối. Một lời góp ý nhẹ cũng khiến ta nhói lòng vì cảm thấy uy tín bị đụng chạm. Một người khác được giao công việc mình mong muốn cũng đủ làm niềm vui phục vụ hóa thành sự so bì. Một việc âm thầm, không ai thấy, bỗng trở nên nặng nhọc hơn rất nhiều so với chính việc ấy khi được người khác biết tới. Không phải mọi ước muốn được nhìn nhận đều xấu: con người cần được yêu thương, nâng đỡ và ghi nhận. Điều đáng xét lại là khi sự ghi nhận trở thành điều kiện để ta yêu thương; khi lời khen quyết định lòng nhiệt thành; khi thành công của người khác làm ta thấy mình bị thu nhỏ. Lúc ấy, ngay cả việc đạo đức cũng có thể biến thành nơi nuôi dưỡng cái tôi. Ta không cần tuyệt vọng vì nhận ra điều đó. Các môn đệ được chính Đức Giêsu gọi và vẫn phải học bài học này. Người thấy lòng các ông mà không bỏ các ông; Người nhận ra điều lệch lạc mà vẫn tiếp tục dạy dỗ. Với chúng ta cũng thế: điều Người mời gọi trước tiên là thành thật. Ta có thể thưa: “Lạy Chúa, con muốn yêu mến Chúa, nhưng con còn muốn được hơn người khác. Con muốn phục vụ, nhưng con vẫn mong phần việc của mình được thấy và được nhớ. Xin dạy con một con đường tự do hơn.”
Và Đức Giêsu đã dạy bằng một cử chỉ. Người đem một em nhỏ đặt bên cạnh mình. Giữa câu chuyện về địa vị, Người đặt vào trung tâm một người không có quyền lực để tranh địa vị. Đứa trẻ ấy không thể giúp các môn đệ tiến thân, không thể ban cho họ một chức vị, cũng chẳng thể bảo đảm rằng sự tiếp đón của họ sẽ được đền đáp. Em chỉ có thể được đón nhận vì chính em. Đức Giêsu nói: “Ai tiếp đón em nhỏ này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy.” Lời ấy đảo chiều cách ta thường đánh giá một cuộc gặp gỡ. Ta dễ dành thời gian cho người có tiếng nói, có ảnh hưởng, có khả năng giúp mình; còn người chậm chạp, yếu đau, nghèo khó, ít học, hay cần được kiên nhẫn lắng nghe thì dễ bị xem là làm mất thời gian. Nhưng Đức Giêsu đặt chính Người bên cạnh người bé nhỏ. Người không chỉ bảo ta thương trẻ em như một việc tốt; Người nói rằng cách ta đón tiếp em trong danh Người liên quan đến cách ta đón tiếp chính Người. Bởi vậy, khi một đứa trẻ muốn kể một câu chuyện dài mà người lớn cho là vụn vặt, khi một người già nhắc lại điều đã kể nhiều lần, khi một bệnh nhân chỉ cần ai đó ngồi bên giường thêm ít phút, khi một người nghèo đến với giáo xứ mà không biết phải bắt đầu trình bày từ đâu, chúng ta đang đứng trước một lựa chọn thiêng liêng rất cụ thể. Ta có thể nhìn họ như một việc phải giải quyết cho xong, hoặc đón họ như những con người có phẩm giá, có tên gọi, có nỗi sợ, có hy vọng và cần được yêu thương. Đón tiếp không chỉ là mở cửa nhà thờ hay mở một chương trình trợ giúp. Đón tiếp còn là ánh mắt không tỏ vẻ khó chịu, lời nói không làm người ta xấu hổ, sự kiên nhẫn để nghe hết một câu chuyện, và sự chân thành ngay cả khi khả năng giúp đỡ của ta có giới hạn.
“Người nhỏ nhất trong tất cả anh em, thì kẻ ấy là người lớn nhất.” Đức Giêsu không bảo các môn đệ phải giả vờ mình không có khả năng, cũng không cấm họ nhận trách nhiệm. Một người được trao trách nhiệm cần làm việc chu đáo, học hỏi nghiêm túc và can đảm quyết định khi cần. Nhưng trách nhiệm ấy phải giữ đúng hướng: làm cho người khác được sống, được nâng đỡ và được đến gần Chúa hơn. Người lớn theo Tin Mừng là người có thể cúi xuống mà không thấy phẩm giá mình bị giảm đi; có thể dùng tiếng nói của mình để bênh vực người yếu thế; có thể làm một việc cần làm mà chẳng cần biến nó thành bằng chứng cho sự cao trọng của mình. Có khi sự cúi xuống ấy rất âm thầm. Đó là người cha xin lỗi con vì đã nóng giận; người mẹ thôi so sánh đứa con học chậm với anh chị em của nó; người phụ trách lắng nghe một cộng tác viên trẻ; người giáo lý viên kiên nhẫn với em nhỏ hay đặt câu hỏi; người phục vụ phụng vụ nhớ rằng việc chuẩn bị ghế, sách và âm thanh cũng dành cho cộng đoàn đang đến gặp Chúa. Những việc ấy không nhỏ trước mặt Thiên Chúa chỉ vì chúng nhỏ trước mắt người đời. Tình yêu chân thật thường được tập luyện ở chính nơi không có khán giả.
Ta cũng cần cẩn thận với một cách hiểu khác: tôn trọng người bé nhỏ không có nghĩa là nói thay họ mọi điều, quyết định thay họ mọi việc, rồi cảm thấy mình cao thượng. Người nghèo không phải một hình ảnh để ta trang trí cho câu chuyện bác ái của mình. Trẻ em không phải những gương mặt dễ thương được gọi lên trong một dịp lễ rồi lại không được lắng nghe trong đời thường. Người đau yếu và người già không chỉ là đối tượng của một chuyến thăm. Họ là những con người trọn vẹn. Có người cần sự trợ giúp vật chất, có người cần được đưa đi khám bệnh, có người cần lời cầu nguyện; nhưng cũng có người muốn được hỏi ý kiến, muốn được làm phần việc mình còn có thể làm, muốn được đối xử như một người bạn. Tiếp đón theo danh Đức Giêsu đòi ta bước ra khỏi sự vội vàng để tìm hiểu người trước mặt thật sự cần gì. Có khi điều họ cần nhất không phải lời khuyên ngay lập tức, mà là được nghe một câu: “Tôi đang ở đây, xin cứ nói.” Có khi một người đến xin giúp đỡ mang theo một câu chuyện phức tạp mà ta chưa thể hiểu hết. Nếu ta chỉ nhìn vào sự bất tiện họ gây ra, ta sẽ bỏ lỡ cơ hội nhìn họ bằng ánh mắt của Chúa. Nếu ta chỉ muốn thấy mình là người ban phát, ta cũng chưa thực sự bước vào một cuộc gặp gỡ.
Sau lời dạy ấy, ông Gioan thưa với Đức Giêsu về một người nhân danh Thầy mà trừ quỷ, nhưng không cùng đi theo nhóm các môn đệ. Các ông đã cố ngăn cản người ấy. Câu chuyện tưởng chuyển sang đề tài khác, nhưng thật ra nó chạm vào cùng một căn bệnh. Vừa được dạy hãy đón tiếp người bé nhỏ, các môn đệ lại bộc lộ nỗi bận tâm về ranh giới của nhóm mình: người này không đi cùng chúng con, vậy có được làm điều ấy không? Ở đây cũng có một nỗi lo có thể hiểu được: các môn đệ muốn bảo vệ mối liên hệ với Thầy. Nhưng câu trả lời của Đức Giêsu buộc các ông nhìn đến việc tốt đang diễn ra và đến người đang được giải thoát. Người nói: “Đừng ngăn cản người ta. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta.” Lời này có thể soi sáng nhiều tình huống trong đời sống cộng đoàn. Một sáng kiến tốt không trở nên kém tốt chỉ vì nó không xuất phát từ nhóm mình. Một người tận tâm chăm sóc bệnh nhân không cần được ta công nhận là “người của chúng ta” rồi việc chăm sóc ấy mới có giá trị. Khi người khác làm được điều mình cũng mong làm mà chưa làm được, phản ứng đầu tiên trong lòng ta là gì: biết ơn vì có thêm người được giúp, hay khó chịu vì mình không còn là người nổi bật? Ta có thể cần phân định cách thực hiện một công việc, trao đổi để bảo vệ những người liên quan và cùng nhau làm cho việc ấy tốt hơn. Nhưng việc phân định sẽ trong sáng hơn nhiều nếu ta bắt đầu từ lòng yêu mến Chúa và người được phục vụ, thay vì từ nỗi lo ai sẽ được ghi công.
Trong đời sống giáo xứ, cơn cám dỗ ấy đôi khi rất tế nhị. Nhóm này có thể nghĩ nhóm khác chưa đủ kinh nghiệm; người làm lâu năm có thể sợ sáng kiến của người trẻ khiến công sức của mình bị lãng quên; người trẻ lại có thể vội coi kinh nghiệm của bậc đi trước là trở ngại. Một công việc bác ái vốn khởi đi từ lòng thương người dần dần biến thành câu chuyện ai có quyền quyết định, ai được đứng tên, ai được cảm ơn. Mỗi người đều có thể viện ra những lý do nghe rất chính đáng, và có lúc những lý do ấy quả thật cần được xem xét. Vì thế, cách trở về với Tin Mừng không phải là bỏ qua mọi trách nhiệm hoặc tránh mọi cuộc trao đổi khó khăn. Cách trở về là dừng lại để hỏi: người bé nhỏ ở đâu trong cuộc tranh luận của chúng ta? Công việc này giúp họ thế nào? Chúng ta đang bảo vệ điều gì: sự an toàn và phẩm giá của họ, hay lòng tự ái của mình? Có người bệnh cần được thăm viếng, có em nhỏ cần được dạy dỗ, có gia đình đang tìm sự nâng đỡ. Nếu cứ mải tranh nhau vị trí, chúng ta có thể nói rất lâu về việc phục vụ mà để người cần phục vụ đứng đợi ngoài cửa. Đức Giêsu đặt em nhỏ bên cạnh Người như một lời nhắc không thể né tránh: hãy nhìn em trước khi tiếp tục bàn xem ai lớn hơn.
Bài học này cũng đi vào đời sống riêng, nơi chẳng ai thấy cuộc tranh luận đang xảy ra. Một người có thể lướt qua tin vui của bạn bè mà cảm thấy mình thua kém; nghe người khác được khen mà bỗng muốn kể ngay thành quả của mình; gặp một người sa sút mà kín đáo thấy yên tâm vì mình vẫn còn hơn họ. Những chuyển động ấy có thể đến rất nhanh. Ta chưa thể ra lệnh cho mọi cảm xúc biến mất, nhưng ta có thể đem chúng đến trước Chúa, không tô vẽ và không nuôi dưỡng chúng. Ta có thể tập chúc mừng người khác cho thật lòng. Ta có thể chọn làm một việc tốt mà không kể lại để nhận lời khen. Ta có thể dành thời gian cho người không đem đến lợi ích nào cho mình. Ta có thể nhận lời góp ý, tìm phần đúng trong đó, rồi sửa một điều cụ thể. Những bước ấy nhỏ, nhưng mỗi bước làm cho cái tôi bớt chiếm hết căn phòng của tâm hồn, để người khác có chỗ bước vào. Khiêm nhường không làm ta mất giá trị; nó giúp ta nhận giá trị đời mình như một ân ban, để không phải liên tục đo mình bằng thành công hay sự chú ý của người khác. Một người biết mình được Thiên Chúa yêu thương sẽ dần có khả năng vui với ơn lành Người ban cho anh chị em mình.
Điều cảm động là Đức Giêsu không đứng xa các môn đệ để đưa ra một định nghĩa về sự cao trọng. Người đặt một em nhỏ ngay bên cạnh mình. Vị trí ấy nói nhiều hơn một bài diễn thuyết: hãy nhìn người Thầy đang đứng gần ai. Nếu muốn đến gần Thầy, các môn đệ cũng phải học cách đến gần những người Thầy đón nhận. Nếu muốn biết Thầy coi trọng điều gì, họ hãy nhìn nơi Thầy dành chỗ. Đây là một câu hỏi cho mỗi người và mỗi cộng đoàn: bên cạnh chúng ta hôm nay có ai? Có chỗ cho người mới đến còn rụt rè không? Có chỗ cho người đã vắng mặt một thời gian và ngại quay lại không? Có chỗ cho em nhỏ hiếu động, cho người già nghe không rõ, cho gia đình gặp khó khăn, cho người mang vết thương mà câu chuyện chưa gọn gàng như ta mong muốn không? Một cộng đoàn không thể tự mình chữa lành mọi nỗi đau, nhưng có thể bắt đầu bằng việc đừng làm nỗi đau ấy sâu thêm. Một cử chỉ đón tiếp, một người chịu lắng nghe, một lời nói có chừng mực, một bàn tay biết tìm sự giúp đỡ phù hợp: những điều ấy cho thấy Tin Mừng đang đi từ trang sách vào đời sống. Khi ta không biết phải làm gì lớn lao cho Chúa, ta có thể bắt đầu bằng việc nhìn người đang ở cạnh mình và hỏi xem mình có thể đối xử với họ tử tế hơn ở điểm nào.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa biết lòng chúng con. Chúa biết cả những việc chúng con đã làm với tình yêu chân thành và những lúc chúng con muốn được người khác nhìn thấy nhiều hơn là muốn họ được nâng đỡ. Xin đừng để sự so bì lấy mất niềm vui được theo Chúa. Khi chúng con bận hỏi ai lớn nhất, xin đưa chúng con trở lại bên em nhỏ mà Chúa đã đặt cạnh Người. Xin cho chúng con nhận ra Chúa nơi người cần được đón tiếp, đủ kiên nhẫn để lắng nghe, đủ khiêm nhường để xin lỗi, đủ quảng đại để cộng tác với người đang làm điều tốt, dù họ không thuộc nhóm chúng con. Xin cho những ai được trao trách nhiệm biết dùng trách nhiệm ấy để phục vụ; cho những ai đang âm thầm phục vụ biết rằng Chúa thấy họ; cho những ai cảm thấy mình quá bé nhỏ được nghỉ yên trong tình thương của Chúa. Hôm nay, xin chỉ cho chúng con một con người cụ thể để yêu thương và một việc cụ thể để làm. Và khi làm xong, xin cho chúng con bình an bước đi, vì điều đáng mừng nhất là người ấy đã được đón tiếp và Chúa đã hiện diện giữa chúng con. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.

NGƯỜI NHỎ NHẤT LẠI LÀ NGƯỜI LỚN NHẤT
Suy niệm Tin Mừng Lc 9,46–50
Có những câu hỏi chúng ta không bao giờ nói thành lời, nhưng chúng âm thầm điều khiển rất nhiều điều ta nói và làm: Tôi đứng ở đâu trong mắt người khác? Tôi có được coi trọng không? Vì sao người kia được lắng nghe, được tín nhiệm, được trao việc, còn tôi thì không? Giữa các môn đệ, câu hỏi ấy hiện ra rất rõ: ai là người lớn nhất? Thánh Luca không kể một cuộc tranh luận dài; ngài chỉ cho thấy một ý nghĩ đã nảy sinh giữa các ông. Điều đáng suy nghĩ là Đức Giêsu biết điều họ đang tự hỏi trong lòng. Người thấy cả điều chưa được thốt ra, thấy nỗi khát khao được công nhận nằm phía sau những bước chân đang theo Người. Con đường trước mặt Đức Giêsu dẫn về Giêrusalem, nơi Người sẽ trao hiến mạng sống; còn tâm trí các môn đệ lại bận tính chỗ đứng của mình. Thầy đang đi về phía thập giá, trò lại mơ đến thứ bậc. Khoảng cách ấy cũng có thể xuất hiện trong đời sống chúng ta. Ta bước vào nhà thờ, đọc kinh, phục vụ, làm việc tông đồ, chăm lo cho người khác, nhưng sâu trong lòng vẫn có một tiếng nói muốn được nhìn thấy và ghi nhận. Nếu không nghe được tiếng nói ấy, ta dễ gọi sự háo thắng của mình là nhiệt thành, gọi lòng ganh tị của mình là thao thức cho việc chung, gọi sự tổn thương vì thiếu lời khen là nỗi buồn vì người khác không biết quý trọng điều tốt.
Đức Giêsu không làm các môn đệ xấu hổ trước đám đông. Người cũng không bắt đầu bằng một bài lý thuyết về đức khiêm nhường. Người đem một em nhỏ đặt bên cạnh mình. Hãy dừng lại ở cử chỉ ấy. Giữa những người lớn đang nghĩ về địa vị, Chúa đưa vào một người chẳng có địa vị nào để tranh. Em nhỏ không có thành tích để kể, không có ảnh hưởng để vận động, không có quyền lực để bảo đảm rằng mình sẽ được tiếp đón. Chúa đặt em bên cạnh Người, như thể Người muốn các môn đệ nhìn thật lâu vào người mà họ có thể dễ dàng bỏ qua. Rồi Người nói: ai tiếp đón em nhỏ này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy. Sự lớn lao trong Nước Thiên Chúa bắt đầu ở đây: cách ta đối xử với một người bé nhỏ nói lên cách ta đón tiếp Đức Kitô. Ta có thể dành nhiều lời đẹp đẽ để nói về Chúa, nhưng nếu không có chỗ trong lòng cho người yếu thế, phiền toái, ít tiếng nói, thì lời đẹp đẽ ấy vẫn chưa đi đến nơi Chúa muốn.
Tiếp đón một em nhỏ không chỉ là mỉm cười với một đứa trẻ dễ thương. Trong Tin Mừng, cử chỉ ấy mở lòng ta ra với những người không thể mang lại lợi ích cho mình. Đó có thể là người già nói chậm và kể đi kể lại một câu chuyện; người bệnh cần được thăm khi ta đã mệt; một em thiếu nhi học giáo lý khó tiếp thu hơn các bạn; người mới đến giáo xứ còn lạc lõng; một người phục vụ âm thầm mà tên tuổi chẳng mấy ai nhớ; hoặc người trong gia đình đang cần ta ngồi xuống lắng nghe, đúng lúc ta muốn được yên. Những cuộc gặp ấy hiếm khi đem lại cảm giác mình thật quan trọng. Chúng thường đòi ta nhường thời gian, bớt nóng nảy, bỏ một kế hoạch riêng, kiên nhẫn thêm một lần. Nhưng Đức Giêsu đã gắn sự hiện diện của Người với chính những con người như thế. Người không bảo: “Hãy tiếp đón em nhỏ để chứng tỏ anh em tốt.” Người nói rằng khi tiếp đón em vì danh Người, ta đang tiếp đón Người; và khi tiếp đón Người, ta tiếp đón Đấng đã sai Người. Một hành động rất nhỏ, được làm bằng tình yêu, có thể đưa ta vào tận mối hiệp thông với Chúa Cha.
“Ai là người nhỏ nhất trong tất cả anh em, thì kẻ ấy là người lớn nhất.” Lời này dễ bị hiểu lầm nếu ta tưởng Đức Giêsu ca ngợi sự tự ti, khuyên người ta nghĩ mình vô giá trị, hoặc bảo người bị chèn ép cứ âm thầm chịu đựng. Chúa không muốn con người bị hạ nhục. Chính Người đã đặt em nhỏ bên cạnh mình và trả lại cho em một phẩm giá mà các môn đệ phải nhận ra. Trở nên nhỏ bé theo Tin Mừng là thôi lấy mình làm trung tâm của mọi sự. Đó là sự tự do của người biết mình được Thiên Chúa yêu thương, nên không phải giành giật tình yêu ấy bằng cách đứng cao hơn người khác. Người như thế vẫn có thể đảm nhận trách nhiệm lớn, nói lời cần nói, sửa điều cần sửa, làm việc hết sức mình. Nhưng họ không lấy chức vụ làm thước đo giá trị bản thân, không xem sự thành công của anh chị em là một sự mất mát của mình. Họ có thể làm một việc tốt ngay cả khi chẳng ai biết ai đã làm. Họ có thể vui khi một người khác làm việc ấy tốt hơn. Sự nhỏ bé ấy rất khó, bởi nó đụng vào nơi ta thường giấu kín nhất: nhu cầu được bảo đảm rằng mình đáng kể.
Ta hãy thử nhìn lại một ngày bình thường. Khi góp một ý kiến mà không ai nhắc đến, ta phản ứng thế nào? Khi người khác được cảm ơn cho một công việc có phần đóng góp của ta, ta có thấy khó chịu không? Khi một người trẻ hơn đưa ra cách làm hay hơn, ta có sẵn lòng học hỏi không? Khi việc ta từng phụ trách được giao cho người khác, ta có thể cầu chúc họ làm tốt không? Những câu hỏi này không nhằm kết án ai. Các môn đệ ở gần Đức Giêsu mà vẫn phải học bài học ấy; chúng ta cũng cần học từng ngày. Có khi lòng ganh tị không cho thấy ta là người xấu; nó cho thấy một chỗ trong lòng đang đói tình thương và cần được Chúa chữa lành. Ta có thể đem chỗ ấy đến với Người, thành thật thưa: “Lạy Chúa, con buồn vì không được công nhận. Con sợ mình bị quên. Con muốn làm điều tốt, nhưng con cũng muốn người ta thấy con tốt. Xin dạy con nhận ra giá trị của mình trước mặt Chúa.” Đức Giêsu biết điều các môn đệ nghĩ trong lòng, và Người vẫn giữ họ ở bên mình để dạy dỗ. Người cũng biết lòng ta và vẫn kiên nhẫn với ta như vậy.
Sau câu chuyện em nhỏ, ông Gioan nói về một người nhân danh Đức Giêsu mà trừ quỷ. Các môn đệ đã cố ngăn cản người ấy vì anh ta không cùng đi theo nhóm của họ. Chỉ một câu nói ngắn đã để lộ một hình thức khác của cùng một nỗi bận tâm: “người ấy không cùng với chúng con”. Trước đó, các ông tự hỏi ai lớn nhất trong nhóm; bây giờ các ông lại muốn quyết định ai được phép làm điều tốt ngoài nhóm. Một khi quá lo bảo vệ vị trí của mình, con người cũng dễ muốn kiểm soát ân huệ của Thiên Chúa. Ta có thể quý trọng cộng đoàn, yêu mến truyền thống mình đã lãnh nhận, trung thành với trách nhiệm được trao, nhưng rồi vô tình cư xử như thể việc lành chỉ đáng tin khi do người quen của mình thực hiện, theo đúng cách mình ưa thích. Thấy một người khác giúp được nhiều người, ta vội xét phong cách của họ. Thấy một nhóm khác thu hút người trẻ, ta lập tức hỏi họ có gì chưa ổn. Có những điều thật sự cần phân định; song cũng có lúc điều khiến ta khó chịu đơn giản là việc tốt ấy đã diễn ra mà không cần đến mình.
Đức Giêsu nói: “Đừng ngăn cản người ta.” Người nhận ra điều thiện đang được thực hiện nhân danh Người và không để lòng hẹp hòi của các môn đệ chặn nó lại. Lời Chúa mời ta có một trái tim rộng hơn, biết cảm tạ khi ai đó được chữa lành, được nâng đỡ, được đưa lại gần Thiên Chúa, kể cả khi người làm việc ấy không thuộc vòng quen biết của ta. Nếu một người có thể nói điều cần nói với người đau khổ đúng lúc ta vắng mặt, đó là điều đáng mừng. Nếu một cộng đoàn tìm được cách đến với những người ta chưa chạm tới, đó là lý do để tạ ơn. Nếu một người có tài năng mà ta không có, ta không cần thu nhỏ họ để thấy mình bớt nhỏ. Nước Thiên Chúa rộng hơn danh tiếng của bất cứ ai và rộng hơn một lối làm việc duy nhất. Ta được mời phục vụ trong phần đất Chúa trao, đồng thời vui vì nơi khác cũng đang có hạt giống mọc lên.
Hai cảnh Tin Mừng hôm nay soi sáng cho nhau. Chúa đặt một em nhỏ bên cạnh mình để các môn đệ học cách nhìn xuống người dễ bị bỏ quên; Chúa bảo họ đừng ngăn người đang làm điều lành để họ học cách nhìn ra ngoài nhóm mình. Một người muốn là “lớn nhất” thường thấy khó ở cả hai hướng ấy: khó cúi xuống với người không đem lại vinh dự, và khó vui với người khác đang làm tốt. Bởi vậy, bài học về sự nhỏ bé không dừng ở một thái độ dịu dàng hay một lời nói khiêm tốn. Nó đi vào cách ta phân chia công việc, cách ta nhắc đến thành quả chung, cách ta đối xử với người ít quyền lên tiếng, cách ta đón nhận một sáng kiến không phải của mình. Có khi chỉ một câu “Ý của anh rất hay, chúng ta thử làm nhé” là một chiến thắng âm thầm trước cái tôi. Có khi một giờ ngồi nghe người già cô độc, một lần nhận lỗi trước con, một lời cảm ơn người phụ giúp phía sau, hay một quyết định trao cơ hội cho người trẻ, là cách ta thực sự bước vào bài Tin Mừng vừa nghe.
Trong gia đình, sự lớn lao theo Đức Giêsu có thể mang dáng vẻ rất bình dị. Người cha người mẹ sau một ngày vất vả vẫn kiên nhẫn nghe con kể một chuyện tưởng như nhỏ nhặt; người con trưởng thành dành thời gian cho cha mẹ già mà không khiến các ngài có cảm giác mình là gánh nặng; vợ chồng biết nói “anh sai rồi”, “em đã không lắng nghe đủ”, trước khi cố giành phần đúng. Trong giáo xứ, đó là khi người được trao trách nhiệm nhớ rằng chức vụ là một cách phục vụ, khi người làm việc âm thầm được đối xử với lòng biết ơn, khi em thiếu nhi ít ngoan nhất vẫn được hướng dẫn bằng hy vọng, khi người đến sau không phải vượt qua những vòng thân quen mới được thấy mình thuộc về cộng đoàn. Trong đời tu và đời linh mục, lời Chúa cũng đi sâu vào những chỗ rất thật: niềm vui hay nỗi khó chịu khi một người anh em giảng hay, được yêu mến, được tín nhiệm; khả năng cộng tác với người có tính cách khác; sự sẵn lòng chăm sóc một người không còn đóng góp được nhiều như trước. Không ai miễn trừ khỏi cuộc chiến với lòng ham được nhìn nhận. Nhưng cũng không ai bị bỏ mặc trong cuộc chiến ấy. Đức Giêsu vẫn đặt em nhỏ bên cạnh Người, vẫn kiên nhẫn nhắc chúng ta nhìn lại.
Điều an ủi là em nhỏ trong câu chuyện không tự tìm cách đến vị trí ấy. Chính Đức Giêsu đem em lại và đặt em bên cạnh mình. Người thấy em trước khi các môn đệ thấy em. Người dành chỗ cho em trước khi dạy họ phải dành chỗ. Đó là cách Chúa hành động với những người cảm thấy mình quá nhỏ để có ý nghĩa: người không được nhắc tên, người làm nhiều mà không được hiểu, người già yếu nghĩ mình đã vô dụng, người trẻ chưa tìm được chỗ đứng, người mang thương tích và ngại đến gần cộng đoàn. Trước khi họ phải chứng minh điều gì, Chúa đã muốn họ ở cạnh Người. Phẩm giá của họ không tùy vào việc có ai chú ý đến hay không. Và cũng nhờ nhìn thấy cách Chúa đối xử với họ, chúng ta học được cách đối xử với nhau. Hội Thánh sẽ mang gương mặt của Đức Kitô rõ hơn mỗi khi một người bước vào mà không phải lo mình quá nghèo, quá yếu, quá vụng về hoặc quá lạ để được tiếp nhận.
Chúng ta nhớ hình ảnh thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu vui lòng làm một bông hoa nhỏ trong khu vườn của Hội Thánh. Hình ảnh ấy đẹp bởi một bông hoa không cần trở thành bông hoa khác mới có thể dâng vẻ đẹp của mình. Điều quan trọng là nó sống và nở hoa ở nơi mình được đặt. Có người được giao việc lớn trước mắt nhiều người; có người chỉ có thể yêu thương trong căn phòng bệnh, trong bếp ăn, bên một bàn làm việc, hay qua những lời cầu nguyện không ai nghe thấy. Chúa không đo tình yêu của họ bằng số người biết đến. Người thấy sự trung tín ẩn trong từng ngày. Khi tin điều đó, ta bớt khổ vì so sánh. Ta cũng bớt đòi người khác phải nhỏ đi để mình thấy yên lòng. Ta có thể chăm sóc ơn gọi của mình, cảm tạ vì ơn gọi của người khác, và cùng hướng về Đấng đã gọi tất cả chúng ta.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa biết những câu hỏi con giấu trong lòng. Chúa biết con muốn được yêu thương, được ghi nhận, được thấy đời mình có ích. Xin đón nhận cả khát vọng chính đáng ấy và chữa lành phần ích kỷ đã bám vào nó. Khi con chỉ nghĩ đến chỗ đứng của mình, xin đặt trước mắt con người đang cần được tiếp đón. Khi con khó vui vì điều tốt người khác làm, xin mở rộng trái tim con. Khi con sợ mình bị quên, xin cho con nhớ Chúa vẫn thấy con. Xin dạy con làm việc hết lòng mà không biến công việc thành ngai của mình; biết đón người bé nhỏ mà không kể công; biết cảm tạ vì hồng ân Chúa ban cho anh chị em; biết lùi lại khi cần và bước tới khi được gọi. Xin cho con đủ nhỏ để ở gần Chúa, đủ tự do để vui vì người khác, và đủ yêu thương để bất cứ ai gặp con, nhất là người dễ bị bỏ quên, cũng cảm thấy mình được đón nhận. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.

Previous articlePhụng Vụ Thánh Lễ – Lời nguyện – Chia sẻ (Youtube & bản văn) Chúa Nhật XXVI TN – Lm. Anmai, CSsR