KHÔNG BIẾT KINH THÁNH LÀ KHÔNG BIẾT ĐỨC KITÔ Thánh Giê-rô-ni-mô, Bổn Mạng Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ và Linh Đạo Phục Vụ Lời Chúa – Lm. Anmai, CSsR

30

KHÔNG BIẾT KINH THÁNH
LÀ KHÔNG BIẾT ĐỨC KITÔ
Thánh Giê-rô-ni-mô,
Bổn Mạng Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ
và Linh Đạo Phục Vụ Lời Chúa

Lm. Anmai, CSsR
Lễ Thánh Giê-rô-ni-mô · 30 tháng 9 năm 2026
Hướng tới 55 năm Nhóm CGKPV · 1-11-1971 – 1-11-2026

LỜI DÂNG
Con dâng cuốn sách nhỏ này lên Chúa là Lời Hằng Sống, Đấng đã trở nên xác phàm và cắm lều giữa chúng ta.
Con dâng lên thánh Giê-rô-ni-mô, người đã đặt Kinh Thánh vào trung tâm cuộc đời, để ngài cầu bầu cho những ai đang âm thầm phục vụ Lời Chúa.
Con dâng lên Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ – những người đã, đang và sẽ tiếp tục chọn lựa từng chữ, gọt giũa từng câu, để Lời Chúa đến với Dân Chúa bằng tiếng Việt trong sáng, trung thành và đầy yêu mến.
Và con dâng lên các bậc tiền bối đã hoàn tất cuộc hành trình trần thế trong khi tay còn đang cầm bản văn: cha An-rê Đỗ Xuân Quế, cha Hoàng Kim, cha giáo Nhân, cố Thao, và biết bao vị khác mà chỉ Chúa biết tên. Các ngài đã dạy chúng con rằng một chữ, một câu, cộng lại qua hàng chục năm, chính là cả một đời người phục vụ Lời Chúa.
Lm. Anmai, CSsR
lễ Thánh Giê-rô-ni-mô, 30-9-2026

Lời nói đầu
Nhân lễ thánh Giê-rô-ni-mô, Bổn Mạng Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Những chi tiết ghi lại những điều rất gần: cha An-rê Đỗ Xuân Quế vẫn ngồi bên bàn làm việc ngày thứ hai đầu tuần, hôm sau phát bệnh, rồi ngày 22 tháng 8 năm 2025 về với Chúa, hưởng thọ 95 tuổi. Soeur Amelie Nguyễn Thị Sang, 88 tuổi, thành viên từ cuối năm 1974, mỗi tuần hai ngày vẫn miệt mài bên chiếc laptop, chọn lựa từng chữ, gọt giũa từng câu văn dịch.
Lời Chúa không đến với chúng ta như một món hàng có sẵn. Lời Chúa đến nhờ những con người đã chịu khó học tiếng, chịu khó đối chiếu bản gốc, chịu khó ngồi hàng giờ với một động từ, một liên từ, một cách nói của người Việt hôm nay. Lời Chúa đến vì có người đã ở lại cho đến giờ thứ mười một.
Ngày 1 tháng 11 năm 2026, Nhóm tròn 55 năm kể từ buổi họp đầu tiên tại Nữ Đan viện Biển Đức ngày 1-11-1971. Năm mươi lăm năm không phải là ngắn đối với một công việc âm thầm. Công việc ấy đã sinh ra bộ Các Giờ Kinh Phụng Vụ và bản Kinh Thánh tiếng Việt được phổ biến rộng rãi nhất trong cộng đồng Công giáo Việt Nam. Nhưng thành quả ấy không tự rơi từ trời. Nó được nhào nặn bằng đời người.
Cuốn sách này không phải là kỷ yếu. Con không có tham vọng viết lại toàn bộ lịch sử Nhóm – các kỷ yếu 40 năm và 50 năm đã làm việc ấy cách đáng kính. Cuốn sách này cũng không phải tiểu sử thánh Giê-rô-ni-mô theo kiểu học thuật. Tôi chỉ muốn, dựa trên lời hiệp thông ngày 30-9-2026, trên hai bài huấn từ của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI tháng 11 năm 2007, trên Hiến chế Dei Verbum, và trên chính kinh nghiệm mục vụ của một linh mục Việt Nam, viết một hành trình thiêng liêng: từ vị thánh đã nói “Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô”, đến những người Việt Nam đã lấy câu nói ấy làm bổn mạng, rồi đến mỗi chúng ta hôm nay – linh mục, tu sĩ, giáo dân – đang được mời gọi đặt Lời Chúa vào trung tâm cuộc đời.
Con viết bằng văn của người viết, không phải văn của máy. Con viết cho cha, cho soeur, cho anh chị em đang cầm sách Giờ Kinh mỗi sáng mỗi chiều, cho những ai còn tin rằng một câu dịch đúng có thể nuôi cả một cộng đoàn, và cho thế hệ trẻ đang tự hỏi: phục vụ Lời Chúa trong thời đại số liệu còn nghĩa gì?
Nếu cuốn sách này có ích, ấy là vì Lời Chúa vẫn muốn được yêu hơn là được bàn. Thánh Giê-rô-ni-mô không chỉ dịch. Ngài sống. Các bậc tiền bối của Nhóm không chỉ dịch. Các ngài ở lại. Ước gì chúng ta cũng được ơn ấy.

CHƯƠNG I. MỘT TÂM TÌNH
Có những công trình được người đời nhận ra nhờ tên tuổi của người khởi xướng, nhờ những buổi lễ trang trọng, những tấm hình lưu niệm, những con số có thể ghi vào bản báo cáo. Nhưng cũng có những công trình đi vào đời sống con người theo một cách lặng lẽ hơn nhiều. Người ta không biết ai đã thức khuya để tìm một chữ cho đúng. Người ta không thấy những trang bản thảo đầy dấu sửa, không nghe những cuộc trao đổi kéo dài chỉ vì một cách ngắt câu. Người ta chỉ mở sách trong nhà thờ, cất tiếng đọc một bài Thánh vịnh, nghe một đoạn Tin Mừng bằng tiếng mẹ đẻ, và có lúc bất chợt thấy lòng mình được chạm đến. Khi ấy, công việc âm thầm của bao người đã đi đến nơi nó cần đi: trái tim của Dân Chúa.
Một bản dịch Kinh Thánh có thể nằm trên bàn của một học giả, nhưng đời sống của nó không dừng ở đó. Nó bước vào phòng bệnh, nơi một người con đọc Lời Chúa bên giường mẹ già. Nó đi theo một linh mục đến ngôi nhà nhỏ có người vừa qua đời. Nó hiện diện trong lớp giáo lý, khi một em bé lần đầu nghe kể rằng Thiên Chúa biết tên mình. Nó vang lên trong nhà nguyện của một cộng đoàn tu trì lúc trời còn tối. Nó đến với người đang lo sợ, người vừa mất việc, người không biết cuộc hôn nhân của mình có thể vượt qua một mùa khủng hoảng hay không. Nó được đọc thành tiếng trước một cộng đoàn đông đảo, rồi trở về trong trí nhớ của một người chỉ còn giữ được một câu: “Đừng sợ.” Những người đã lao nhọc để Lời Chúa có thể được nghe, được hiểu và được cầu nguyện bằng tiếng Việt hiếm khi biết hết những cuộc gặp gỡ ấy. Họ trao đi một bản văn; Thiên Chúa biết bản văn ấy sẽ đến với ai.
Vì thế, khi nhìn lại một hành trình năm mươi lăm năm, điều đáng nhớ trước tiên có lẽ không phải là độ dài của thời gian. Năm mươi lăm năm tự nó chỉ là một con số. Điều làm con số ấy có sức nặng là những đời người đã được đặt vào trong đó: những ngày bắt đầu làm việc dù chưa thấy kết quả; những buổi trở lại bàn viết sau khi một bản dịch bị góp ý; những năm tháng học thêm một ngôn ngữ, tra cứu một bản văn, nghe lại một câu tiếng Việt; những người đã già đi giữa sách vở; những người không còn sống để thấy công việc mình góp tay tiếp tục lớn lên. Lịch sử của một công trình phục vụ Lời Chúa được viết bằng thời gian của con người. Mỗi trang hoàn thành đều mang theo một phần đời không thể lấy lại.
Ngày 1 tháng 11 năm 2026 đánh dấu năm mươi lăm năm hành trình của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Cột mốc ấy mời gọi một cuộc nhìn lại, nhưng cuộc nhìn lại của người có đức tin không thể chỉ là đếm những gì đã làm được. Có những điều lớn lao nhất không hiện ra trong danh mục thành quả. Làm sao thống kê được một người đã tìm lại niềm hy vọng khi nghe một bài đọc trong Thánh Lễ? Làm sao biết được bao nhiêu người đã học cầu nguyện bằng những lời Thánh vịnh được trao cho họ? Làm sao đo được khoảnh khắc một câu Kinh Thánh, nhờ được diễn đạt sáng rõ, đã giúp ai đó nhận ra rằng Chúa vẫn đang nói với mình? Những hoa trái ấy không nằm trong tầm mắt của người làm công việc phiên dịch. Chính vì thế, họ cần một đức tin bền bỉ: tin rằng điều mình làm có thể phục vụ một cuộc gặp gỡ mà chính mình không chứng kiến.
Nhìn lại năm mươi lăm năm cũng có nghĩa là gọi về những khuôn mặt cụ thể. Không thể nói mãi về “các bậc tiền bối” như thể họ là những bóng người xa xôi trong một bức ảnh cũ. Họ đã có tên, có giọng nói, có nếp làm việc, có những ngày khỏe mạnh và những ngày mỏi mệt. Cha An-rê Đỗ Xuân Quế, dòng Đa Minh, là một khuôn mặt như thế. Ở tuổi chín mươi lăm, cha còn ngồi bên bàn làm việc; rồi cơn bệnh đến, và ít ngày sau cha về với Chúa. Trong ký ức của những người ở lại, hình ảnh cuối cùng ấy có một vẻ đẹp đặc biệt: một người đã dành đời mình để phục vụ Lời Chúa vẫn còn ở bên công việc khi cuộc hành trình trần thế sắp khép lại.
Ta phải nói về điều này với sự kính trọng và dịu dàng. Cái chết luôn là một cuộc chia lìa thật. Dù người ra đi đã sống một đời phong phú đến đâu, những người thương mến vẫn thấy trống vắng. Một chiếc ghế quen bỗng không còn người ngồi. Một câu hỏi quen bỗng không còn biết hỏi ai. Những bản văn còn đó, nhưng bàn tay từng lật giở chúng đã yên nghỉ. Đức tin không đòi ta làm nhẹ nỗi mất mát. Đức tin cho ta khả năng nhìn sâu hơn vào một cuộc đời đã trao hiến, để nhận ra rằng lòng trung thành của người ra đi vẫn đang khích lệ người ở lại.
Có một điều rất cảm động trong hình ảnh người phục vụ Lời Chúa làm việc cho đến những ngày cuối. Người ấy không biết đâu là dòng cuối cùng mình sẽ đọc, đâu là câu cuối cùng mình sẽ sửa. Có thể hôm ấy cũng chỉ là một ngày bình thường: ngồi xuống, mở tài liệu, xem lại một chỗ chưa ổn, cân nhắc một từ. Nhưng đời sống thiêng liêng của con người thường được hoàn tất giữa những việc bình thường như thế. Chúng ta hay tưởng tượng lòng trung thành phải được chứng minh bằng một thời khắc phi thường. Trong thực tế, nó được dệt nên từ vô số buổi sáng người ta lại bắt đầu, vô số buổi chiều người ta vẫn ở lại với bổn phận, vô số lần người ta sửa điều chưa đúng dù không ai ngoài mình nhận thấy.
Ký ức về cha Hoàng Kim, cha giáo Nhân, cố Thao và những người đã miệt mài đến “giờ thứ mười một” cũng đưa ta đến cùng một nhận thức. Công trình của hôm nay có nền móng là đời sống của người đi trước. Một thế hệ nhận lấy thành quả của thế hệ trước thường dễ thấy bản văn đã hoàn chỉnh mà quên những bản nháp. Dễ thấy câu chữ trôi chảy mà quên những chỗ từng gây lúng túng. Dễ quen với một cuốn sách đang có sẵn mà quên thời nó còn là một ước mong. Lòng biết ơn đích thực vì thế cần hơn một lời tưởng niệm. Nó cần sự chăm sóc đối với điều đã được trao lại. Nếu người trước đã dành nhiều năm để tìm một cách diễn đạt xứng hợp, người sau không thể tiếp nhận công việc ấy một cách hời hợt. Nếu người trước đã kiên nhẫn học hỏi và sửa sai, người sau cũng phải giữ cho mình khả năng học hỏi và sửa sai.
Rồi ta nghĩ đến soeur Amelie Nguyễn Thị Sang. Tám mươi tám tuổi, soeur vẫn dành hai ngày mỗi tuần bên chiếc laptop. Hình ảnh ấy nhỏ thôi: một nữ tu, một màn hình, một bản văn đang mở. Không có gì trong khung cảnh ấy giống một sự kiện làm náo động đám đông. Nhưng chính ở đó, một bài học lớn hiện ra. Có những người phục vụ Giáo Hội bằng sự hiện diện công khai; cũng có những người phục vụ bằng một cuộc hẹn đều đặn với công việc mà mình đã nhận. Hôm nay còn sức thì hôm nay còn làm. Làm trong khả năng của tuổi mình. Làm cẩn trọng. Làm riêng trong một căn phòng, nhưng vẫn hướng về công trình chung. Lòng hiệp thông không nhất thiết đòi mọi người cùng ngồi quanh một chiếc bàn. Nó có thể nối những chiếc bàn ở xa nhau, miễn là mỗi người đều biết mình đang góp phần cho cùng một sứ vụ.
Thời đại chúng ta thường chú ý đến điều xuất hiện tức thì. Một hình ảnh được chia sẻ nhanh, một lời nói được nhiều người nghe, một thành quả có thể nhìn thấy ngay. Bởi vậy, sự bền bỉ của một người lớn tuổi ngồi trước bản văn có sức chất vấn âm thầm. Soeur không thể buộc một câu chữ trở nên đúng chỉ bằng sự nhiệt thành. Một bản dịch cần kiến thức, cần trí nhớ, cần đối thoại, cần tra cứu; trên hết, nó cần người làm chịu ở lại với điều khó. Tuổi tác có thể làm nhịp làm việc chậm hơn, nhưng cũng có thể đem đến sự nhẫn nại của người đã hiểu rằng việc quan trọng không phải lúc nào cũng cần xong thật nhanh. Có những câu phải được để yên một lúc rồi mới đọc lại. Có những chữ tưởng rất quen, nhưng càng nhìn kỹ càng thấy phải cân nhắc.
Người đọc bình thường có thể hỏi: Vì sao phải nhọc công đến thế cho một chữ? Chẳng phải chỉ cần dịch cho người ta hiểu ý chính hay sao? Câu hỏi ấy hợp lý, và người phiên dịch phải luôn nhớ đến người đọc. Nhưng trong Kinh Thánh và phụng vụ, một chữ có thể mở ra hoặc che khuất một mối tương quan. Một cách gọi Thiên Chúa, một động từ nói về lòng thương xót, một lời mời gọi hoán cải, một câu diễn tả nỗi đau hay niềm hy vọng: tất cả đều đi vào trí nhớ và lời cầu nguyện của cộng đoàn. Người ta sẽ nghe những lời ấy không chỉ một lần. Có người sẽ đọc chúng mỗi ngày trong nhiều năm. Cẩn trọng với câu chữ vì thế cũng là cẩn trọng với người sẽ đón nhận câu chữ. Và sâu xa hơn, đó là lòng kính trọng đối với Lời được trao cho Giáo Hội.
Sự cẩn trọng ấy không biến người phiên dịch thành chủ nhân của Lời Chúa. Trái lại, nó nhắc họ về giới hạn của mình. Không một bản dịch nào có thể chiếm giữ trọn vẹn mầu nhiệm của bản văn thánh. Ngôn ngữ nào cũng có vẻ đẹp và giới hạn. Tiếng Việt có những sắc thái rất gần lòng người Việt, nhưng việc đưa một thế giới ngôn ngữ cổ xưa vào tiếng nói hôm nay luôn đòi những chọn lựa. Chính ở nơi phải chọn lựa ấy, đức khiêm nhường trở nên cần thiết. Người làm việc với Kinh Thánh cần đủ tự tin để quyết định một cách có trách nhiệm, và đủ khiêm tốn để nghe một góp ý, xem lại một lựa chọn, thừa nhận rằng câu mình yêu thích chưa chắc là câu phục vụ người đọc tốt nhất. Trung thành với Lời Chúa cũng bao hàm sự sẵn lòng để bản thân được sửa.
Ngày 30 tháng 9, lễ thánh Giê-rô-ni-mô, đến như một điểm hẹn hằng năm giữa công việc và lời cầu nguyện. Một ngày bổn mạng có thể bị hiểu như dịp để kể lại thành tích hoặc chụp một tấm ảnh chung. Nhưng ý nghĩa sâu nhất của nó là giúp những người đang làm việc nhớ mình thuộc về ai và đang phục vụ điều gì. Thánh Giê-rô-ni-mô nhắc người yêu mến Kinh Thánh rằng không thể tiếp cận Lời Chúa với một trái tim lười biếng. Học hỏi đòi thời gian. Tìm hiểu một từ trong bối cảnh của nó đòi công sức. Nhưng ngài cũng nhắc rằng công sức ấy hướng đến một Đấng sống động. Người ta học Kinh Thánh để gặp Đức Kitô, để nghe tiếng Người rõ hơn, để giúp người khác nhận ra Người.
Câu nói “Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô” đã đi qua nhiều thế kỷ và trở nên quen thuộc. Nhưng lời quen thuộc có thể mất sức đánh động nếu ta chỉ đọc như một khẩu hiệu. Nó đặt ra một câu hỏi rất riêng cho mỗi người: Tôi có thật sự muốn biết Đức Kitô không? Nếu muốn, tôi dành cho Lời Người một chỗ nào trong ngày sống? Tôi có để Lời ấy chất vấn những ý nghĩ sẵn có của mình, hay chỉ tìm trong Kinh Thánh những câu làm tôi yên tâm? Tôi có nghe Lời Chúa như lời của Đấng đang gọi tôi, hay chỉ xem đó là một bài đọc phải hoàn tất trong nghi thức? Câu nói của thánh nhân chạm đến người dịch, người giảng, người đọc sách thánh, và cả người ngồi ở hàng ghế cuối nhà thờ. Không ai có thể gặp Đức Kitô thay cho người khác. Nhưng người này có thể giúp người kia nghe lời mời của Người.
Đó là lý do công việc phiên dịch có chiều sâu mục vụ. Người phiên dịch không đứng trên bục giảng trong mỗi Thánh Lễ, nhưng công việc của họ đi vào lời công bố của người đọc sách thánh và lời đáp của cộng đoàn. Họ không biết người đang đau khổ sẽ mở đúng trang nào trong một đêm khó ngủ, nhưng sự rõ ràng của một câu có thể giúp người ấy ở lại lâu hơn với Lời Chúa. Họ không đi cùng mọi giáo lý viên, nhưng bản văn họ góp phần chuẩn bị sẽ được đọc trong nhiều lớp học. Công việc này vừa rất trí thức vừa rất gần đời sống. Nó đòi hiểu văn bản, và đòi nhớ rằng ở cuối hành trình của văn bản là những con người bằng xương bằng thịt.
Có khi chính khoảng cách giữa người làm và người nhận giúp sứ vụ được thanh luyện. Nếu người phục vụ luôn thấy ngay lời cảm ơn, họ dễ dựa vào lời cảm ơn để tiếp tục. Nếu luôn biết một câu mình viết đã làm ai xúc động, họ có thể bắt đầu tìm kiếm cảm giác tạo ra điều xúc động. Nhưng phần lớn công việc với Lời Chúa diễn ra trong sự không biết. Ta làm hết sức mình, rồi trao bản văn đi. Ta không kiểm soát người đọc sẽ gặp Chúa thế nào. Ta không quyết định hạt giống nào nảy mầm trước, hạt nào nằm lâu dưới đất. Sự không biết ấy có thể làm người ta nản lòng, nhưng cũng có thể dạy họ sự tự do: làm việc vì điều mình tin là tốt, rồi để hoa trái thuộc về Thiên Chúa.
Nhìn lại những người đã khuất và những người còn đang làm việc, ta cũng nhận ra một sợi dây nối các thế hệ. Một người bắt đầu khi những người đi trước đã làm từ lâu. Một người trẻ hôm nay sẽ bước vào khi bao người mình chưa từng gặp đã qua đời. Không ai làm từ con số không. Cũng không ai có thể hoàn tất tất cả. Một công trình chung luôn lớn hơn một đời người. Sự thật ấy vừa an ủi vừa đòi hỏi. Nó an ủi vì ta được nâng đỡ bởi công sức của người đi trước. Nó đòi hỏi vì đến lượt mình, ta phải làm phần việc có thể làm, để người đến sau nhận được một di sản còn sống, còn có thể tiếp tục chăm sóc.
Di sản ấy không chỉ gồm sách đã in hay những văn bản đã đưa lên mạng. Nó còn là một cách làm việc: biết lắng nghe nhau; biết đặt bản văn lên trên ý thích riêng; biết kiên nhẫn khi bất đồng; biết phân biệt một lời phê bình đối với câu chữ và một sự coi nhẹ con người; biết quý thời gian của người khác; biết nhận trách nhiệm cho phần việc mình đã nhận. Một nhóm có thể có nhiều người giỏi, nhưng chỉ trở thành cộng đoàn phục vụ khi những người ấy học làm việc với nhau. Sự cộng tác này không dễ. Những ai yêu ngôn ngữ thường có lý do mạnh mẽ cho chọn lựa của mình. Những ai đã bỏ nhiều công sức vào một bản dịch có thể đau khi phải sửa nó. Vì thế, lòng hiệp thông cần đi vào những cuộc trao đổi rất cụ thể, ngay cả lúc mọi người mệt và chưa tìm được một câu vừa ý.
Cũng từ đây, lòng biết ơn đối với người trước phải đi cùng sự tự do của người sau. Trân trọng không có nghĩa là đóng kín mọi bản văn, như thể sự tận tụy của thế hệ trước chỉ có thể được tôn vinh bằng cách không bao giờ xem xét lại điều gì. Chính những người đã làm việc nghiêm túc hẳn hiểu rằng ngôn ngữ sống cùng dân tộc, tri thức tiếp tục được đào sâu, và công việc phục vụ Lời Chúa luôn mời gọi chăm sóc. Nhưng sửa đổi cũng không thể là sự hấp tấp của người chưa hiểu vì sao một lựa chọn đã được đưa ra. Người đến sau cần học lịch sử của bản văn mình đang cầm, hiểu những khó khăn người trước từng đối diện, rồi mới tiếp tục với sự cẩn trọng tương xứng. Lòng trung thành chân thật có cả trí nhớ lẫn trách nhiệm hôm nay.
Đối với Dân Chúa, ngày lễ bổn mạng của những người phiên dịch cũng có thể trở thành dịp để nhìn lại cách mình đón nhận Kinh Thánh. Ta dễ quen với việc có Lời Chúa bằng tiếng mẹ đẻ. Một quyển sách ở trong nhà, các bài đọc được in sẵn, một trang mạng có thể mở bất cứ lúc nào: sự thuận tiện ấy là một ân huệ, nhưng cũng có thể khiến ta đọc lướt. Bao người đã mất nhiều thời gian để một câu đến được với ta; còn ta đôi khi không dành nổi một phút để ở lại với câu ấy. Không phải ai cũng có thể học các ngôn ngữ Kinh Thánh, và không ai bị đòi phải trở thành chuyên gia mới được gặp Chúa. Nhưng mỗi người đều có thể mở Lời Chúa với lòng kính trọng, đọc đủ chậm để nghe, và đem một lời nhỏ vào đời sống của ngày hôm ấy.
Đọc chậm là một việc khó trong thời đại quen chuyển từ màn hình này sang màn hình khác. Ta lướt qua một đoạn Kinh Thánh rồi tưởng mình đã đọc. Ta nghe bài Tin Mừng trong Thánh Lễ, nhưng tâm trí đang bận giải quyết một chuyện ở nhà. Ta nhớ câu nào nghe hay, còn những câu làm mình không yên thì bỏ qua. Kinh Thánh không phải lúc nào cũng đem đến cảm giác dễ chịu tức thì. Có khi Lời Chúa an ủi. Có khi Lời ấy mở ra một vết thương cần được chữa lành. Có khi Lời ấy buộc ta nhận rằng mình đã quá lâu chỉ nghe tiếng của chính mình. Để Lời Chúa thực sự bước vào đời, người đọc cũng cần lòng trung thành, tuy khác với lòng trung thành của người dịch: trở lại, lắng nghe, suy nghĩ, cầu nguyện và đem điều đã nghe vào một hành động cụ thể.
Một bản văn được dịch để có thể cầu nguyện sẽ hoàn tất cuộc hành trình của nó khi có người thực sự cầu nguyện. Một bài Thánh vịnh nói về nước mắt sẽ gặp người đang khóc. Một lời tạ ơn sẽ gặp người vừa nhận ra mình đã được nâng đỡ. Một lời kêu gọi công lý sẽ gặp người phải quyết định có im lặng trước sự bất công hay không. Một lời về lòng thương xót sẽ gặp người không tha thứ nổi cho bản thân. Kinh Thánh đi vào những hoàn cảnh rất khác nhau và không biến mọi cuộc đời thành một câu chuyện dễ dàng. Nhưng chính tại đó, giữa những đời sống có thật, Lời Chúa được đón nhận như ánh sáng cho bước kế tiếp.
Năm mươi lăm năm vì thế không chỉ mời ta nói: “Công trình đã kéo dài thật lâu.” Nó mời ta hỏi: “Điều gì đã giúp những con người cụ thể bền bỉ như thế, và hôm nay chúng ta sẽ tiếp nối ra sao?” Có lẽ câu trả lời bắt đầu bằng một tình yêu giản dị đối với Lời Chúa và đối với những người sẽ nghe Lời ấy. Tình yêu ấy không miễn cho ai khỏi học hành nghiêm túc, cũng không làm biến mất những ngày công việc trở nên khô khan. Nhưng nó cho người ta một lý do để trở lại. Khi không còn hào hứng, vẫn trở lại. Khi bản văn khó, vẫn trở lại. Khi phải sửa một điều mình đã làm rất vất vả, vẫn trở lại. Người trung thành không phải người không bao giờ mỏi mệt; người ấy biết mình đang phục vụ ai, nên sau khi nghỉ ngơi, lại tiếp tục phần việc được trao.
Có lẽ ai cũng có một “bàn dịch” của riêng mình. Với người cha, người mẹ, đó là kiên nhẫn giải thích đức tin cho con bằng thứ ngôn ngữ đứa trẻ hiểu được, rồi sống điều mình vừa nói. Với linh mục, đó là đọc Lời Chúa đủ sâu để khi giảng không chỉ lặp lại những câu đã quen miệng. Với giáo lý viên, đó là tìm một lời vừa trung thành với giáo huấn vừa chạm được câu hỏi thật của người học. Với người chăm sóc bệnh nhân, đó là chuyển lòng thương xót của Chúa thành một ly nước, một lần ở lại, một lời nói đúng lúc. Với người trẻ đang sống giữa vô số tiếng ồn, đó là tập dành một khoảng lặng để nghe xem Lời Chúa muốn nói gì với mình. Không phải mọi người đều dịch một bản văn, nhưng người Kitô hữu nào cũng được mời để Lời đã nghe có hình hài trong đời sống.
Trên hết, một tâm tình biết ơn cần đưa ta đến lời cầu nguyện. Ta cầu cho những người đã đi hết hành trình trần thế và để lại sau mình một gia sản âm thầm. Ta cầu cho những người tuổi cao vẫn còn tận tụy với phần việc có thể làm. Ta cầu cho những người đang gánh trách nhiệm hôm nay, giữa những đòi hỏi của học thuật, của ngôn ngữ và của đời sống cộng đoàn. Ta cầu cho những người trẻ sẽ tiếp nối, để họ có lòng yêu mến đủ sâu mà học hỏi, đủ khiêm nhường mà lắng nghe, đủ can đảm mà nhận việc khó. Ta cầu cho những ai đọc và nghe Kinh Thánh, để bản văn không chỉ dừng ở mắt, ở tai, nhưng đi vào cách họ sống với Thiên Chúa và với nhau.
Và có lẽ ta cũng nên cầu cho mình biết quý những điều được làm trong thinh lặng. Rất nhiều điều nuôi sống Giáo Hội không xuất hiện dưới ánh đèn: một người sửa bản in trước khi cộng đoàn sử dụng; một người tập đọc sách thánh để công bố cho rõ; một nữ tu kiên nhẫn với câu văn; một người già mỗi sáng mở lại cuốn Kinh Thánh đã cũ; một người trẻ tra cứu vì không muốn nói sai về Lời Chúa. Những việc ấy có thể nhỏ khi nhìn riêng từng việc. Đặt cạnh nhau qua năm tháng, chúng trở thành một dòng chảy nâng đỡ đời sống đức tin của nhiều người.
Ngày lễ thánh Giê-rô-ni-mô trở lại hằng năm. Những người tham dự mỗi năm có thể khác đi. Có người thêm tuổi, có người vắng mặt, có người lần đầu bước vào, có người nay chỉ còn được nhắc tên trong lời nguyện. Nhưng lý do để quy tụ vẫn còn: Lời Chúa xứng đáng được yêu mến bằng cả trí óc, trái tim và sự bền bỉ của đôi tay. Khi một người ngồi xuống trước bản văn để tìm cho đúng một chữ, người ấy đang tham dự vào một hành trình lớn hơn mình. Khi một cộng đoàn mở sách và cùng cất tiếng cầu nguyện, hành trình ấy lại có một điểm đến mới. Giữa hai khoảnh khắc có một mối dây hiệp thông rất thật, dù người trao và người nhận có thể chẳng bao giờ gặp nhau.
Những mảnh vụn suy tư đầu tiên này chỉ muốn giữ lại một tâm tình như thế: lòng biết ơn đối với người đi trước, lòng quý trọng người đang phục vụ, và niềm hy vọng dành cho người sẽ tiếp nối. Từ tâm tình ấy, ta sẽ đi sâu hơn vào gương thánh Giê-rô-ni-mô, vào công việc phiên dịch như một ơn gọi, vào lịch sử được làm nên bởi những con người thầm lặng, vào sự kiên nhẫn với từng chữ từng câu, và vào cuộc gặp gỡ giữa Lời Chúa với Dân Người trong phụng vụ và đời thường. Nhưng trước mọi tìm hiểu, xin được dừng lại một chút bên hình ảnh một người còn ngồi ở bàn làm việc trong tuổi già, một nữ tu vẫn mở laptop hai ngày mỗi tuần, và bao người đã trao những năm tháng đẹp nhất của mình cho một công trình mà hoa trái vượt khỏi tầm mắt họ.
Xin Chúa đón nhận những người đã hoàn tất phần việc của mình. Xin Người nâng đỡ những ai đang tiếp tục. Xin Người dạy chúng ta đừng chỉ thán phục sự trung thành của người khác, nhưng biết sống trung thành trong phần việc nhỏ được giao cho mình hôm nay. Và xin cho mỗi lần Lời Chúa được cất lên bằng tiếng mẹ đẻ, chúng ta vừa nghe tiếng Chúa đang nói, vừa biết thầm cảm tạ những bàn tay đã tận tụy để lời ấy có thể đến với chúng ta.

CHƯƠNG II. THÁNH GIÊ-RÔ-NI-MÔ: NGƯỜI ĐẶT KINH THÁNH VÀO TRUNG TÂM CUỘC ĐỜI
Nếu chỉ nhìn một bức tranh thánh Giê-rô-ni-mô ngồi trước bàn viết, người ta có thể tưởng đời ngài là một đời bình lặng: một căn phòng, vài cuộn sách, một ngọn đèn và một con người suốt ngày cúi xuống những hàng chữ. Nhưng phía sau hình ảnh ấy là một hành trình đầy chuyển động. Ngài đã đi qua những thành phố lớn và miền sa mạc, qua những cuộc gặp gỡ làm thay đổi đời mình và những cuộc tranh luận làm ngài đau đớn; đã biết say mê văn chương, khát khao nên thánh, thất vọng vì chính mình, bền bỉ học hỏi và không ít lần để lộ tính khí nóng nảy. Nơi thánh Giê-rô-ni-mô, ta không gặp một con người sinh ra đã hoàn hảo. Ta gặp một con người dần dần để Kinh Thánh trở thành nơi mình trở về, thước đo cho việc mình làm và ánh sáng soi cả những góc khó uốn nắn trong lòng mình. Đức Bênêđictô XVI đã tóm lược hành trình ấy bằng một nhận định sâu sắc: Giê-rô-ni-mô đặt Kinh Thánh ở trung tâm đời sống, dịch và chú giải Kinh Thánh, nhưng trên hết cố gắng sống điều mình học được từ Kinh Thánh, bất chấp tính khí khó khăn và nóng nảy của bản thân.
Từ Stridon đến Rôma: người trẻ mang theo hai cơn khát
Thánh Giê-rô-ni-mô sinh khoảng giữa thế kỷ IV tại Stridon, một địa danh thuộc vùng biên của thế giới Rôma thời ấy. Khi kể đời ngài, chúng ta thường nhanh chóng đi đến Bê-lem, đến bản dịch Kinh Thánh và đến danh hiệu tiến sĩ Hội Thánh. Nhưng một vị thánh già ngồi bên bản văn đã từng là một người trẻ đang tìm đường. Ngài lớn lên trong một gia đình Kitô giáo có điều kiện cho con học hành. Rôma mở trước mắt ngài kho tàng ngôn ngữ, văn chương và nghệ thuật hùng biện. Ngài học với tất cả trí thông minh và niềm say mê của một người biết rằng chữ nghĩa có sức mạnh. Một câu viết khéo có thể làm người nghe nhớ mãi. Một lập luận sắc bén có thể đánh bại đối thủ. Một tác phẩm đẹp có thể khiến người đọc yêu tiếng Latinh hơn cả những gì họ định tìm kiếm trong sách.
Không có gì xấu trong tình yêu đối với chữ nghĩa. Trái lại, nếu sau này Giê-rô-ni-mô có thể phục vụ Hội Thánh bằng ngòi bút của mình, chính vì ngài đã nghiêm túc với việc học. Thiên Chúa không yêu cầu con người bỏ trí tuệ ở ngoài cửa khi bước vào đời sống đức tin. Ngài ban trí tuệ để con người tìm kiếm sự thật, để nhận ra những khác biệt tinh tế, để nói điều mình tin với sự chính xác và vẻ đẹp xứng hợp. Tuy nhiên, bất cứ tài năng nào cũng có thể trở thành nơi con người tìm kiếm chính mình quá mức. Người giỏi chữ nghĩa dễ say mê cảm giác mình viết hay. Người có khả năng tranh luận dễ thích chiến thắng. Người được khen thông thái dễ sợ một ngày nào đó mình phải thú nhận rằng mình chưa hiểu. Những cám dỗ ấy không chỉ thuộc thế kỷ IV. Chúng theo người làm việc bằng trí óc ở mọi thời.
Giê-rô-ni-mô đã trải qua tuổi trẻ với những giằng co như thế. Ngài không che giấu rằng mình từng bị lôi cuốn bởi lối sống quanh mình và những khát vọng chưa được thanh luyện. Nhưng bên dưới những xao động ấy còn có một cơn khát khác, sâu hơn: cơn khát tìm một lẽ sống không biến mất khi tiếng vỗ tay ngừng lại. Khoảng năm 366, ngài lãnh nhận phép Rửa. Một ngày lãnh nhận bí tích có thể được ghi bằng một con số, nhưng điều bí tích mở ra không thể thu gọn vào một ngày. Đối với Giê-rô-ni-mô, đời sống đã nhận trong phép Rửa còn phải được học, được chọn lại và được để cho lớn lên giữa những cuộc chiến nội tâm rất thật.
Đó là một điểm khởi đầu đáng nhớ cho bất cứ ai muốn hiểu vị thánh này. Ngài không đến với Kinh Thánh như người đứng ngoài quan sát một di tích cổ. Ngài đến như một người đã được gọi vào đời sống mới và còn phải học cách sống đời sống ấy. Học một ngôn ngữ cổ là công việc của trí óc; để Lời Chúa nói vào điều mình sợ, điều mình ham muốn, điều mình tự hào, lại là một hành trình của cả con người. Nơi ngài, hai hành trình ấy không tách rời. Sự hiểu biết của ngài càng sâu, câu hỏi dành cho đời sống riêng càng trở nên không thể né tránh.
Sau Rôma, ngài đi đến Aquileia và sống gần một nhóm Kitô hữu cùng theo đuổi đời sống sốt sắng. Ta có thể hình dung niềm vui của một người trẻ khi gặp những người cũng muốn sống nghiêm túc với Tin Mừng. Đức tin cần giờ cầu nguyện một mình, nhưng cũng cần những gương mặt để cùng bước đi. Trong một cộng đoàn như thế, người ta được nâng đỡ bởi khát vọng của nhau, học hỏi từ nhau và đôi khi cũng va chạm với nhau. Một người yêu Chúa không tự động trở thành người dễ sống. Sự gần gũi làm lộ ra cả lòng quảng đại lẫn những góc cứng cỏi. Có lẽ vì thế mà những năm tháng đầu của đời sống khổ hạnh không chỉ là thời gian Giê-rô-ni-mô tìm những người cùng chí hướng; đó còn là thời gian ngài bắt đầu hiểu mình cần được biến đổi đến mức nào. Những mốc chính trong hành trình từ Rôma qua Aquileia và sang Đông phương được Đức Bênêđictô XVI nhắc lại trong bài giáo lý về thánh nhân.
Ngày nay, nhiều người nghĩ muốn phục vụ Lời Chúa thì trước hết phải tìm được một môi trường lý tưởng: đủ yên tĩnh, đủ sách vở, đủ người đồng cảm, đủ thời gian. Những điều kiện ấy rất quý, nhưng không ai đợi đến khi đời mình hoàn toàn thuận tiện mới bắt đầu đáp lại tiếng Chúa. Giê-rô-ni-mô cũng không được trao sẵn một con đường thẳng. Ngài học trong khi di chuyển. Ngài lớn lên giữa những chọn lựa còn nhiều lúng túng. Một ơn gọi thường không hiện ra ngay từ đầu như một bản kế hoạch đầy đủ; nó dần rõ hơn khi con người trung thành với bước trước mắt. Có lúc phải học. Có lúc phải rời đi. Có lúc phải ngồi yên. Có lúc phải để một điều mình từng yêu được đặt lại đúng vị trí của nó.
Sa mạc Chalcis: nơi không thể trốn khỏi lòng mình
Giê-rô-ni-mô sang Đông phương và sống một thời gian trong miền sa mạc Chalcis. Nếu nghe chữ “sa mạc”, ta dễ nghĩ đến một khoảng trống thanh bình, nơi người cầu nguyện không còn bị quấy rầy. Nhưng sa mạc trong đời sống thiêng liêng hiếm khi chỉ là cảnh yên tĩnh. Khi những tiếng ồn bên ngoài lắng xuống, tiếng động bên trong thường rõ hơn. Người ta đem chính mình vào nơi vắng vẻ: ký ức, ham muốn, tự ái, nỗi sợ, những câu hỏi chưa giải quyết. Có người rời một thành phố mà trong lòng vẫn còn nguyên thành phố ấy. Có người đóng cửa căn phòng rồi mới nhận ra tâm trí mình có bao nhiêu cánh cửa đang mở.
Trong hoàn cảnh ấy, Giê-rô-ni-mô tiếp tục học hỏi. Ngài đào sâu tiếng Hy Lạp, bắt đầu học tiếng Híp-ri, đọc và sao chép các bản văn. Đối với một người đã được đào tạo trong thế giới văn chương Latinh, việc học thêm ngôn ngữ không chỉ là tích lũy một kỹ năng. Nó đòi chấp nhận mình trở lại làm người học trò. Khi đã giỏi một thứ tiếng, ta dễ quen với sự trôi chảy của bản thân. Bước vào một ngôn ngữ khác, ta phải dò từng chữ, phát âm chưa chắc, hiểu nhầm rồi sửa lại. Người ta có thể rất uyên bác trong một lĩnh vực mà vẫn vụng về trước một trang sách mới. Sa mạc dạy Giê-rô-ni-mô cầu nguyện, và những trang sách khó dạy ngài khiêm nhường theo một cách khác: muốn hiểu, phải chịu học; muốn học, phải chịu nhận rằng mình chưa biết.
Việc học tiếng Híp-ri về sau trở thành một nét đặc biệt trong công trình của ngài. Nhưng trước khi trở thành đóng góp cho Hội Thánh, đó là những giờ lao động cụ thể. Không ai học một thứ tiếng bằng lòng nhiệt thành chung chung. Phải nhớ các dạng từ, phân biệt những cấu trúc lạ, hỏi người biết hơn mình, đọc đi đọc lại một đoạn văn chưa chịu mở nghĩa. Có những ngày tiến bộ rõ ràng; cũng có những ngày một dòng ngắn làm người học nản lòng. Ai từng dịch một câu khó đều hiểu: sự kiên trì không hào nhoáng. Nó gồm việc thử một cách hiểu, thấy chưa ổn, bỏ đi, rồi bắt đầu lại.
Chính trong đời sống khổ hạnh ấy, Giê-rô-ni-mô kể lại một thị kiến nổi tiếng liên quan đến niềm say mê văn chương của mình: trong câu chuyện do ngài thuật lại, ngài bị chất vấn vì còn gắn bó với Cicero hơn với Đức Kitô. Ta cần đọc câu chuyện ấy như lời tự vấn thiêng liêng của thánh nhân. Ngài không bảo người Kitô hữu phải ghét văn chương cổ điển, cũng không phủ nhận giá trị của điều mình đã học. Câu hỏi nhức nhối hơn nhiều: Điều gì đang thật sự chiếm chỗ trung tâm trong lòng tôi? Tôi đọc Lời Chúa bằng tình yêu dành cho chính Lời ấy, hay tôi đem Lời Chúa vào kho tư liệu để chứng minh mình uyên bác? Tôi sử dụng khả năng viết lách để giúp người khác đến gần Đức Kitô, hay tôi muốn người khác dừng lại thán phục cách tôi viết? Đức Bênêđictô XVI nhắc đến thị kiến ấy khi nói về cuộc giằng co của Giê-rô-ni-mô giữa nền đào tạo văn hóa thời mình và đời sống Kitô hữu mà ngài muốn theo đuổi.
Đây là một câu hỏi rất gần với người viết, người giảng và người phiên dịch hôm nay. Có những đoạn văn đẹp đến mức người viết muốn giữ lại, dù sau khi đọc kỹ, người ấy biết nó đã đi xa khỏi điều bản văn Kinh Thánh thực sự nói. Có một cách diễn đạt nghe rất thuận tai, nhưng làm mất một nét khó mà tác giả thánh không hề muốn xóa. Có một hình ảnh có thể làm bài giảng trở nên cảm động, nhưng được gán cho câu Kinh Thánh chỉ vì người giảng cần một chỗ dựa. Sa mạc Chalcis hỏi ta liệu ta có đủ tự do để bỏ câu hay của mình khi câu ấy không còn phục vụ sự thật hay không.
Không phải lúc nào sự trung thành cũng cho ra một câu nghe dễ chịu ngay từ lần đọc đầu. Bản văn thánh có những chỗ gồ ghề, những hình ảnh lạ, những câu phải suy nghĩ mới hiểu. Người phiên dịch cần làm cho lời văn sáng rõ trong ngôn ngữ của người nhận, nhưng không thể tùy tiện làm phẳng mọi điều gây khó. Giữa vẻ đẹp của tiếng Việt và ý nghĩa của bản văn có một cuộc đối thoại cần rất nhiều kiên nhẫn. Sự chính xác không miễn cho người dịch khỏi tìm một câu tiếng Việt sống động; vẻ đẹp cũng không cho phép người dịch đi qua ý nghĩa như thể đó là chi tiết phụ. Có khi phải giữ một nét lạ để người đọc nhận ra mình đang bước vào thế giới của Kinh Thánh, thay vì chỉ nghe lại điều vốn đã quen với mình.
Câu chuyện Cicero vì thế còn chạm đến người đọc Lời Chúa. Ta có thể đọc Kinh Thánh chỉ để tìm một câu hợp với điều mình đã nghĩ. Ta có thể thích những lời dịu dàng và lướt qua những lời đòi hoán cải. Ta có thể nghe Tin Mừng bằng tai, trong khi lòng đang chờ một lời khác: lời khen, lời bảo đảm mình luôn đúng, lời cho phép mình khỏi phải thay đổi. Ai cũng mang theo những “Cicero” riêng, nghĩa là những điều tốt đẹp hoặc hấp dẫn đến mức có nguy cơ chiếm vị trí chỉ thuộc về Chúa. Giê-rô-ni-mô không mời ta chối bỏ mọi thứ mình yêu. Ngài mời ta đem những tình yêu ấy ra trước ánh sáng, để biết điều gì đang dẫn dắt điều gì.
Rôma: Lời Chúa được học trong một cộng đoàn
Năm 382, Giê-rô-ni-mô trở lại Rôma. Đức Giáo hoàng Đamasô nhận ra khả năng của ngài và khuyến khích ngài sửa lại bản Latinh của các sách Tin Mừng, cũng như bắt đầu những công việc liên quan đến các bản văn Kinh Thánh đang được sử dụng. Công trình này nảy sinh giữa nhu cầu rất cụ thể của Hội Thánh. Một cộng đoàn cầu nguyện cần có bản văn để đọc. Những người công bố Lời Chúa cần lời văn có thể dùng chung. Những khác biệt giữa các bản đang lưu hành đặt ra vấn đề cho việc học hỏi và phụng vụ. Khi Giê-rô-ni-mô cúi xuống bản văn, ngài đang đáp lại nhu cầu của những con người cầu nguyện trong một Hội Thánh có thật. Đức Phanxicô, trong tông thư Scripturae Sacrae affectus, phân biệt giai đoạn Giê-rô-ni-mô sửa các bản văn tại Rôma với công trình dịch Cựu Ước từ tiếng Híp-ri được ngài thực hiện về sau tại Bê-lem.
Chi tiết ấy giúp ta tránh tưởng tượng một người ngồi một mình, bắt đầu và hoàn tất trong chốc lát một bản Kinh Thánh duy nhất. Lịch sử phiên dịch phức tạp hơn. Có những bản văn cần sửa, có những bản văn cần dịch, có những chỗ cần đối chiếu, có những lựa chọn chỉ được đưa ra sau thời gian dài học hỏi. Công việc ấy tiếp tục qua nhiều giai đoạn đời ngài. Những gì người đọc cầm trong tay thường trông rất gọn gàng; hành trình đi đến trang sách ấy thì đầy câu hỏi, bản nháp và quyết định khó. Hình ảnh thánh Giê-rô-ni-mô bên bàn viết trở nên đẹp hơn khi ta nhớ rằng bàn viết ấy không tách khỏi nhu cầu của cộng đoàn.
Tại Rôma, Giê-rô-ni-mô cũng hướng dẫn một nhóm phụ nữ dấn thân sống đời Tin Mừng và học hỏi Kinh Thánh. Những cái tên như Marcella, Paula, Eustochium nhắc ta rằng tình yêu đối với Lời Chúa đã quy tụ những con người khác nhau quanh cùng một bàn học. Họ không chỉ nghe một thầy giảng nói rồi trở về nhà với vài ý tưởng đạo đức. Họ muốn đọc, muốn hỏi, muốn hiểu sâu hơn. Đức Phanxicô nhấn mạnh rằng Paula và Eustochium còn tiến tới việc học ngôn ngữ để có thể tham dự cách nghiêm túc vào thế giới của bản văn, đọc và hát các Thánh vịnh trong ngôn ngữ nguyên thủy.
Những khuôn mặt ấy đáng được giữ lại trong ký ức khi kể lịch sử phục vụ Kinh Thánh. Nếu chỉ nhìn vào tên của người đứng đầu một công trình, ta dễ bỏ quên những người đã đặt câu hỏi, tài trợ, tổ chức, học hỏi, sửa bản thảo, nâng đỡ cộng đoàn và giúp công việc có một mái nhà để tiếp tục. Một bản dịch không chỉ có lịch sử của ngòi bút. Nó còn có lịch sử của lòng hiếu khách, của sự chia sẻ nguồn lực, của những cuộc trò chuyện giúp người viết nhận ra một điều mình chưa thấy. Trong đời Giê-rô-ni-mô, các phụ nữ ấy hiện diện như những người yêu mến Kinh Thánh bằng trí tuệ và đời sống mình.
Điều này cũng đặt một câu hỏi cho cộng đoàn hôm nay. Ta có thật sự tin Lời Chúa được trao cho toàn thể Dân Chúa không? Nếu tin, ta sẽ vui khi thấy giáo dân học Kinh Thánh sâu hơn, khi thấy phụ nữ đặt những câu hỏi sắc bén, khi thấy người trẻ muốn tìm hiểu nguồn gốc một cách dịch, khi thấy người không có chức vụ vẫn có thể đóng góp một nhận xét đáng nghe. Hội Thánh cần người có trách nhiệm giảng dạy và phân định; Hội Thánh cũng cần những người đón nhận Lời Chúa bằng cả trí óc mà Chúa đã ban cho họ. Lòng yêu mến Kinh Thánh không lớn lên nhờ giữ người ta ở mãi trong thế thụ động.
Nhưng một cộng đoàn học hỏi cũng là nơi con người có thể làm nhau đau. Giê-rô-ni-mô không phải người dễ dàng im lặng trước điều ngài cho là sai. Những tranh luận ở Rôma và sự chống đối ngài gặp phải cho thấy ngay cả công việc tốt lành cũng diễn ra giữa những con người mang giới hạn. Ta không cần làm cho mọi va chạm trong đời một vị thánh trở thành bằng chứng ngài luôn đúng. Lòng can đảm bảo vệ điều mình tin và sự nóng nảy trong cách bảo vệ có thể ở rất gần nhau. Một người có thể có lý về nội dung nhưng gây thương tích không cần thiết bằng lời nói. Một người khác có thể viện cớ “giữ hòa khí” để khỏi đối diện một vấn đề cần nói rõ. Sự thánh thiện không cho phép ta né sự thật, và sự thật cũng không cho phép ta coi nhẹ đức ái.
Đó là bài học rất thực tế cho những người cộng tác trong một công trình trí thức của Hội Thánh. Khi một câu dịch được đưa ra để thảo luận, người góp ý cần có tự do chỉ ra chỗ chưa ổn. Người đã dịch cần có tự do giải thích vì sao mình chọn cách ấy. Cả hai phải nhớ người ngồi trước mặt không phải là một chướng ngại cần đánh bại. Sau một cuộc trao đổi gay gắt, điều cần được giữ không chỉ là một câu văn đúng hơn, mà còn là khả năng tiếp tục làm việc với nhau. Giê-rô-ni-mô giúp ta yêu sự chính xác; những góc cạnh trong cuộc đời ngài đồng thời nhắc ta phải xin Chúa thanh luyện cách mình theo đuổi sự chính xác ấy.
Ra đi và ở lại: ba mươi năm Bê-lem
Sau khi Đức Giáo hoàng Đamasô qua đời, Giê-rô-ni-mô rời Rôma. Ngài đi qua những miền đất gắn với lịch sử cứu độ, rồi định cư tại Bê-lem vào khoảng năm 386. Có những cuộc ra đi khởi đầu bằng nỗi đau; chỉ về sau người ta mới hiểu nơi mình đến sẽ trở thành quê hương của một giai đoạn đời mới. Bê-lem cho Giê-rô-ni-mô điều ngài cần để tiếp tục công việc: một nơi có thể ở lại, học hỏi, hướng dẫn người khác, cầu nguyện và viết. Cùng với sự nâng đỡ của Paula, các cộng đoàn và nơi đón tiếp khách hành hương được hình thành. Tại đó, việc nghiên cứu Kinh Thánh sống bên cạnh đời sống cộng đoàn và lòng hiếu khách.
Bê-lem là một địa danh có sức gợi đặc biệt đối với người Kitô hữu. Ở nơi gắn với cuộc Giáng Sinh, người ta nhớ rằng Con Thiên Chúa đã đi vào một lịch sử, một gia đình, một miền đất và một ngôn ngữ. Người không cứu nhân loại bằng cách đứng ngoài cuộc đời con người để gửi xuống một ý tưởng đẹp. Người đã đến trong thân phận có thể được bồng ẵm, được gọi tên, được người khác nghe tiếng. Chính tại Bê-lem, Giê-rô-ni-mô dành nhiều năm cho công việc giúp người khác tiếp cận Kinh Thánh bằng ngôn ngữ họ có thể đọc. Mối liên hệ ấy mở ra một suy niệm đẹp, miễn là ta giữ sự phân biệt cần thiết: mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể là hành động độc nhất của Thiên Chúa trong Đức Giê-su Kitô; việc phiên dịch là công việc của con người phục vụ cho việc công bố Lời ấy. Nói bản dịch “mặc lấy ngôn ngữ của một dân” là một hình ảnh thiêng liêng về sự gần gũi, không phải đồng nhất việc dịch với mầu nhiệm Nhập Thể.
Sự phân biệt ấy làm hình ảnh trở nên sâu hơn. Vì Đức Kitô đã thật sự đến với con người, Hội Thánh có lý do để kiên nhẫn đi đến với con người trong những ngôn ngữ họ nói, những câu hỏi họ mang, những hoàn cảnh họ đang sống. Một lời không được hiểu sẽ khó được đón nhận. Một bản văn được diễn đạt cẩu thả có thể khiến người nghe tưởng Lời Chúa xa lạ hơn thực tế. Nhưng một bản dịch tốt cũng không thể tự nó tạo ra đức tin. Nó mở một cánh cửa; người đọc còn phải bước vào, Hội Thánh còn phải công bố và giải thích, Chúa Thánh Thần còn phải tác động trong lòng người. Người phiên dịch phục vụ bằng cách chăm sóc cánh cửa ấy: để nó không bị khóa vì sự tối nghĩa không cần thiết, cũng không bị mở sang một nơi khác vì cách diễn đạt sai lệch.
Bê-lem không phải một cuộc nghỉ ngơi kéo dài ba mươi năm. Đó là những năm Giê-rô-ni-mô làm việc rất nhiều: nghiên cứu, dịch thuật, chú giải, trao đổi thư từ, hướng dẫn đời sống thiêng liêng, tham gia những cuộc tranh luận của thời đại và đồng hành với những người tìm đến. Công trình dịch Cựu Ước từ tiếng Híp-ri gắn đặc biệt với thời gian này. Đức Phanxicô gọi những năm ở Bê-lem là giai đoạn phong phú và mãnh liệt nhất trong đời ngài, hoàn toàn gắn với việc nghiên cứu Kinh Thánh và công trình dịch thuật lớn lao ấy.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thích bắt đầu và có thể ở lại. Bắt đầu một công trình thường đem lại hứng khởi. Người ta có thể tưởng tượng thành quả, nghĩ đến ý nghĩa, cảm thấy mình được gọi. Nhưng rồi đến những ngày bình thường: một đoạn khó, một lần sửa chưa xong, một người cộng tác bệnh, một cuộc tranh luận làm lòng nặng xuống, một bản thảo tưởng hoàn tất lại cần xem lại. Ở lại với công việc qua những ngày ấy đòi một loại tình yêu khác. Đó là tình yêu đã thôi chỉ say mê viễn cảnh và bắt đầu chăm sóc thực tại. Ba mươi năm Bê-lem nói với người phục vụ Lời Chúa rằng một ơn gọi được chứng thực dần dần bằng cách mình sống những ngày lặp lại.
Nếu nhìn đời Giê-rô-ni-mô từ xa, ta thấy một học giả lớn. Nếu đứng gần bàn làm việc của ngài trong tưởng tượng, ta sẽ thấy một con người cũng phải giải quyết từng việc một. Không ai có thể dịch cả một cuốn sách trong một buổi sáng. Phải đọc một đoạn, hiểu mạch văn, quyết định một chữ, giữ sự nhất quán với những chỗ liên quan, rồi đọc lại. Cần phân biệt điều tác giả nói với điều mình nghĩ tác giả đáng lẽ phải nói. Cần biết khi nào một cách diễn đạt sáng rõ, khi nào nó chỉ sáng rõ đối với người đã biết trước ý nghĩa. Cần có những người đọc thử, những cuộc đối thoại, những lần quay về bản văn gốc. Công trình lớn được xây bằng sự trung thành với đơn vị rất nhỏ của công việc.
Vì vậy, khi gọi Giê-rô-ni-mô là người đặt Kinh Thánh vào trung tâm cuộc đời, ta không chỉ nói ngài đã dành nhiều giờ cho Kinh Thánh. Có người dành nhiều giờ cho một công việc vì danh tiếng, vì tranh thắng, vì cảm giác mình giỏi. Đặt Kinh Thánh ở trung tâm còn có nghĩa để Kinh Thánh quyết định lý do mình học, cách mình dùng tài năng, điều mình cần sửa trong lòng và người mình muốn phục vụ. Chính ở chỗ này, vị thánh trở nên vừa gần gũi vừa chất vấn chúng ta. Ngài gần gũi vì ngài có những thiếu sót rất người. Ngài chất vấn vì ngài không dùng những thiếu sót ấy làm lý do để ngừng tìm kiếm sự thật.
Một người có thể nhiệt thành bảo vệ Lời Chúa mà vẫn cần học nói dịu hơn. Một người có thể am hiểu văn bản mà vẫn cần học kiên nhẫn với người hiểu chậm. Một người có thể sống khổ hạnh mà vẫn cần nhận ra tự ái của mình trong một cuộc tranh luận. Đời thánh Giê-rô-ni-mô không cổ vũ việc gọi sự nóng nảy là “thẳng thắn” để khỏi phải thay đổi. Nó cho ta hy vọng rằng Chúa không đợi đến khi con người hoàn hảo mới gọi họ phục vụ, và trong chính việc phục vụ, Người tiếp tục mời họ hoán cải. Lời Chúa không chỉ đi qua ngòi bút của người dịch để đến với người đọc. Lời ấy còn quay lại gõ cửa lòng người dịch.
Học Kinh Thánh để gặp Đức Kitô
Câu nói gắn với thánh Giê-rô-ni-mô, “Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô”, thường được viết trên biểu ngữ trong ngày lễ bổn mạng. Đặt ở đó thì đẹp; nhưng nếu chỉ dừng ở biểu ngữ, câu nói sẽ không làm thay đổi ai. Giê-rô-ni-mô không bảo rằng ai nhớ nhiều câu Kinh Thánh nhất thì tự động gần Chúa nhất. Ngài nhắc một mối liên hệ sống còn: không thể nói mình muốn biết Đức Kitô mà mãi dửng dưng với lời chứng Hội Thánh đã lãnh nhận về Người. Ta cần nghe Người giảng dạy, nhìn Người gặp người nghèo, người bệnh, người tội lỗi; cần nghe Người cầu nguyện với Chúa Cha, thấy Người đi vào cuộc Thương Khó và gặp Người Phục Sinh gọi tên các môn đệ. Đức Bênêđictô XVI, khi nhắc lại lời thánh nhân, mời mỗi Kitô hữu sống trong sự tiếp xúc và đối thoại cá vị với Lời Chúa trong Kinh Thánh.
Hai chữ “đối thoại” rất quan trọng. Đối thoại khác với tìm một câu trả lời có sẵn cho ý mình muốn chứng minh. Đối thoại đòi ta nghe trước khi đáp. Khi mở Kinh Thánh, ta đem theo những điều có thật của đời mình: niềm vui, nỗi sợ, tội lỗi, sự biết ơn, một quyết định chưa biết làm sao. Nhưng ta cũng cần để bản văn nói điều nó nói, kể cả khi điều ấy khác điều ta chờ đợi. Có hôm ta muốn được an ủi, Lời Chúa lại mời ta đi xin lỗi. Có hôm ta muốn một chỉ dẫn thật nhanh, Lời Chúa lại dạy ta chờ đợi. Có hôm ta tưởng mình đã hiểu một người, Lời Chúa lại mở mắt ta thấy nỗi đau của họ. Một cuộc đối thoại thật không để ta bước ra hoàn toàn giống lúc bước vào.
Từ đó, việc học Kinh Thánh có một mục đích sâu hơn việc tích lũy kiến thức. Kiến thức rất cần; hiểu sai bối cảnh có thể dẫn đến áp dụng sai. Người giảng thiếu chuẩn bị có thể nói điều bản văn không nói. Người đọc thiếu kiên nhẫn có thể tách một câu khỏi toàn bộ câu chuyện. Nhưng kiến thức là con đường để gặp gỡ, chứ không phải bức tường ngăn người khác bước vào. Ai đã học nhiều càng có trách nhiệm nói cho sáng hơn, giúp người mới bắt đầu bớt sợ hơn, chỉ ra điều nào còn cần phân định. Một người am hiểu Kinh Thánh mà khiến mọi người chung quanh cảm thấy mình không được phép đặt câu hỏi thì đã đánh mất một phần ý nghĩa của sự am hiểu ấy.
Ta cũng không nên dùng lời “Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô” để làm người ít học mặc cảm. Có người không đọc được nhiều. Có người mắt đã mờ. Có người bận chăm con nhỏ hay nuôi người bệnh, chỉ có thể nghe bài Tin Mừng trong Thánh Lễ rồi giữ một câu trong lòng. Giê-rô-ni-mô mời mọi người đến gần Lời Chúa theo khả năng và hoàn cảnh của mình. Người có điều kiện nghiên cứu thì nghiên cứu nghiêm túc. Người có thể nghe thì lắng nghe. Người nhớ được một câu thì đem câu ấy vào lời cầu nguyện và việc làm. Một bà mẹ tha thứ cho con sau khi nghe dụ ngôn người cha nhân hậu có thể đang để Lời Chúa đi vào đời sâu hơn một người nói vanh vách về dụ ngôn ấy mà lòng vẫn khép kín.
Chính vì Lời Chúa được trao cho mọi người, công việc của người phiên dịch càng đáng kính. Họ không dịch để một nhóm nhỏ sở hữu bản văn. Họ làm việc để một em thiếu nhi, một cụ già, một người mới theo đạo, một người xa Giáo Hội lâu năm, một người đang đau khổ, một người giảng lễ và một người học thần học đều có thể bắt đầu từ lời văn được trao cho mình. Không một câu dịch nào đáp ứng hoàn toàn mọi nhu cầu của mọi người. Nhưng ý hướng phục vụ Dân Chúa giúp người dịch nhớ rằng bản văn không được viết để chứng minh tài năng của mình. Nó sẽ được đọc thành tiếng. Nó sẽ được cầu nguyện. Nó sẽ ở lại trong trí nhớ người khác. Trách nhiệm ấy đáng để người ta chậm lại trước một chữ.
Một vị thánh cho những người làm việc âm thầm
Thánh Giê-rô-ni-mô qua đời tại Bê-lem ngày 30 tháng 9 năm 420, theo mốc được nhắc trong tông thư của Đức Phanxicô nhân dịp kỷ niệm một ngàn sáu trăm năm ngày ngài qua đời. Trải qua bao thế kỷ, tên ngài vẫn gắn với tình yêu Kinh Thánh và với lao nhọc của người phiên dịch. Nhưng có lẽ cách kính nhớ ngài đẹp nhất không chỉ là kể lại tiểu sử hay nhắc đến quy mô công trình ngài để lại. Ta có thể kính nhớ ngài bằng việc học một thái độ: yêu Lời Chúa đủ để dành thời gian cho Lời ấy; tôn trọng người đọc đủ để viết cẩn thận; tôn trọng sự thật đủ để sửa điều mình đã viết; và khiêm nhường đủ để biết mình cũng cần được chính Lời mình phục vụ hoán cải.
Có người sẽ không bao giờ đi đến Stridon, Rôma, Chalcis hay Bê-lem. Có người không thể học tiếng Híp-ri hoặc Hy Lạp. Nhưng ai cũng hiểu cảm giác phải chọn giữa việc làm cho xong và việc làm cho tử tế. Ai cũng biết có lúc mình dùng tài năng để phục vụ, có lúc âm thầm dùng công việc để tìm sự công nhận cho bản thân. Ai cũng biết một lời phê bình có thể làm mình đau đến mức không muốn nghe phần đúng trong đó. Ai cũng biết sự khác biệt giữa hứng khởi của ngày đầu và lòng trung thành của năm thứ mười, năm thứ hai mươi. Chính ở những điều rất người ấy, thánh Giê-rô-ni-mô bước ra khỏi trang sách lịch sử và trở thành người bạn đồng hành của chúng ta.
Ngài nói với người trẻ đang học rằng: đừng coi những năm tháng học hành là thời gian chưa làm gì cho Chúa. Nếu con học với lòng ngay thẳng, nếu con không ngại bắt đầu từ điều căn bản, trí tuệ của con đang được chuẩn bị để phục vụ. Ngài nói với người có tài viết lách rằng: hãy yêu một câu đẹp, nhưng đừng yêu nó hơn sự thật. Ngài nói với người giảng Lời Chúa rằng: hãy để bản văn nói trước khi tìm một chuyện hay để kể. Ngài nói với người đang cộng tác trong một nhóm rằng: hãy bảo vệ điều con thấy đúng, nhưng cũng hãy nhìn khuôn mặt người con đang trao đổi. Ngài nói với người lớn tuổi rằng: sức lực có thể đổi thay, nhưng sự hiện diện trung thành của con vẫn là một hồng ân. Ngài nói với người đọc Kinh Thánh mỗi ngày rằng: đừng nóng lòng phải hiểu hết; hãy trở lại, vì một lời con từng đọc sẽ có ngày mở ra theo cách con chưa ngờ.
Cuối cùng, thánh Giê-rô-ni-mô đưa chúng ta về một câu hỏi rất đơn sơ: Lời Chúa có thật sự ở trung tâm đời tôi không? Trung tâm không nhất thiết là nơi ta dành nhiều giờ nhất trong ngày, vì một người phải làm việc, nuôi gia đình và chăm sóc người khác. Trung tâm là nơi mọi điều khác tìm được hướng đi. Nếu Lời Chúa ở trung tâm, ta sẽ hỏi Lời ấy soi sáng cách mình làm việc ra sao, cách mình sử dụng trí tuệ ra sao, cách mình nói với người khác ra sao. Ta sẽ không chỉ mở sách để chuẩn bị một bài giảng hay hoàn tất một nhiệm vụ. Ta còn mở sách để Chúa có thể nói với chính mình. Ta sẽ không chỉ muốn chuyển Lời ấy thành một bản văn dễ hiểu; ta còn muốn chuyển điều đã nghe thành lòng thương xót, sự công bằng, sự thật thà và lòng trung thành trong những việc hằng ngày.
Bê-lem giữ lại hình ảnh cuối đời của một người đã đi một chặng đường dài để học điều ấy. Người trẻ từng say mê văn chương đã không thôi yêu vẻ đẹp của ngôn ngữ; ngài đem tình yêu ấy vào việc phục vụ Kinh Thánh. Người có tính khí nóng nảy đã không vì thế mà bỏ cuộc tìm kiếm sự thánh thiện. Người từng đi qua nhiều nơi cuối cùng đã ở lại đủ lâu để hoàn thành một phần việc lớn cho Hội Thánh. Bên bàn viết của ngài, ta hiểu rằng đặt Kinh Thánh vào trung tâm cuộc đời không phải một tuyên bố được nói một lần. Đó là chọn lựa được lặp lại trong mỗi buổi học, mỗi trang dịch, mỗi lần nhận góp ý, mỗi lời cầu nguyện và mỗi lần bắt đầu lại sau khi nhận ra mình vẫn còn xa điều mình đã đọc.
Xin thánh Giê-rô-ni-mô cầu bầu cho những người đang phục vụ Lời Chúa. Xin cho họ có sự chăm chỉ của người học trò, sự cẩn trọng của người phiên dịch, sự can đảm của người bảo vệ chân lý và trái tim biết mềm lại trước Đức Kitô. Xin ngài cũng cầu bầu cho tất cả chúng ta, để khi mở Kinh Thánh, chúng ta không chỉ tìm một câu có thể dùng, nhưng tìm chính Đấng đang muốn gặp mình. Bởi rốt cuộc, niềm vui sâu nhất của người đã dành cả đời cho những trang sách thánh không nằm ở chỗ người ta nhớ tên mình bao lâu. Niềm vui ấy ở chỗ, nhờ những trang sách được nâng niu và trao lại, có thêm một người nghe được tiếng Chúa gọi, đáp lại, và bắt đầu bước đi.

CHƯƠNG III. VULGATA: DỊCH THUẬT NHƯ HÀNH VI ĐỨC TIN
Về với nguồn
Có những công việc, nếu chỉ nhìn từ bên ngoài, người ta khó nhận ra sức nặng thiêng liêng của chúng. Một đan sĩ cúi mình trên bản văn. Một ngọn đèn cháy gần cạn. Trước mặt ông là những dòng chữ bằng tiếng Híp-ri, Hy Lạp và Latinh; bên cạnh là những bản chép không hoàn toàn giống nhau; trong đầu ông là bao câu hỏi về một từ, một thì động từ, một tên riêng, một hình ảnh mà ngôn ngữ này có thể diễn tả nhưng ngôn ngữ kia khó lòng giữ nguyên. Người đi ngang có thể bảo: đó là việc của một học giả. Người khác có thể bảo: đó là một công trình văn chương. Nhưng đối với thánh Giê-rô-ni-mô, đằng sau từng trang bản thảo còn có một câu hỏi sâu hơn: làm sao để người nghe tiếng Latinh có thể nghe Lời Chúa với sự trung thành lớn nhất mà sức người cho phép? Chính ở đó, dịch thuật trở thành hành vi đức tin. Bởi người dịch Kinh Thánh không chỉ đưa một thông tin từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Người ấy đón nhận một lời đã được trao cho Hội Thánh, chăm chú lắng nghe lời ấy trong hình hài ban đầu của nó, rồi tìm cho lời ấy một mái nhà trong ngôn ngữ của những con người đang sống, cầu nguyện, đau khổ và hy vọng.
Thời của Giê-rô-ni-mô, các Kitô hữu nói tiếng Latinh đã có những bản dịch Kinh Thánh. Người tín hữu đã nghe Lời Chúa trong phụng vụ, đã thuộc lòng những câu Thánh Vịnh, đã được an ủi bởi những lời quen thuộc. Nhưng các bản Latinh có trước không phải lúc nào cũng thống nhất. Cùng một câu Kinh Thánh, người ta có thể gặp những cách diễn đạt khác nhau. Sự khác biệt ấy không chỉ là chuyện của các học giả ưa tranh luận. Nếu một cộng đoàn đọc một bản văn theo một cách, cộng đoàn khác đọc theo một cách khác, còn người giảng lại dựa trên một cách thứ ba, câu hỏi về ý nghĩa bản văn sẽ chạm đến cả đời sống cầu nguyện và giáo huấn của Hội Thánh. Theo sự khích lệ của Đức Giáo hoàng Đamasô, Giê-rô-ni-mô bắt đầu hiệu đính bản Latinh của bốn sách Tin Mừng và Thánh Vịnh. Về sau, tại Bêlem, ngài dành nhiều năm dịch phần lớn Cựu Ước từ tiếng Híp-ri, đồng thời tham khảo các bản Hy Lạp và Latinh đã có. Công trình về sau được gọi là Vulgata mang dấu ấn quyết định của ngài, dù toàn bộ bản Kinh Thánh Latinh ấy không thể giản lược thành tác phẩm riêng của một người.
Chữ Vulgata gợi đến điều đã trở nên phổ biến, được dùng rộng rãi. Ta có thể gọi đó là bản Phổ Thông, nhưng không nên hiểu chữ “phổ thông” như một sự hạ thấp Lời Chúa cho vừa sự dễ dãi của người nghe. Giê-rô-ni-mô biết rằng Lời Chúa phải đến được với con người trong một ngôn ngữ họ có thể nghe và hiểu; ngài cũng biết rằng sự gần gũi ấy phải trả giá bằng học hành, nhẫn nại và tự sửa mình. Một bản dịch chỉ thực sự phục vụ Dân Chúa khi nó đủ gần để người mẹ có thể đọc cho con, người bệnh có thể nương tựa, người tội lỗi có thể nghe tiếng gọi trở về, mà vẫn đủ trung thành để người giảng thuyết không biến ý riêng thành tiếng nói của Thiên Chúa. Sự giản dị đích thực thường là kết quả của một lao nhọc rất sâu. Người nghe có thể chỉ cần một câu rõ ràng; người dịch có khi phải đi qua hàng chục câu hỏi để trao được câu rõ ràng ấy.
Giê-rô-ni-mô muốn trở về nguồn không phải vì ngài khinh thường những bản dịch đã nuôi dưỡng đức tin của bao thế hệ. Chính ngài hiểu sức mạnh của những lời quen thuộc trong ký ức cầu nguyện của cộng đoàn. Nhưng lòng quý trọng một dòng nước không khiến người ta quên con suối. Khi những bản Latinh bất đồng về Tân Ước, ngài đề nghị trở lại với tiếng Hy Lạp, ngôn ngữ trong đó các sách Tân Ước được viết. Khi cần làm sáng tỏ những khác biệt trong Cựu Ước, ngài tìm đến tiếng Híp-ri. Đức Bênêđictô XVI, khi trình bày đường hướng của Giê-rô-ni-mô, nhắc lại hình ảnh rất đẹp của thánh nhân: đi từ những dòng chảy để nhận ra điều phát sinh nơi nguồn. Đó là một kỷ luật của lòng khiêm nhường. Người đọc không bắt nguồn từ chính mình; người giảng cũng không phải nguồn; ngay cả một bản dịch được yêu mến và sử dụng lâu đời vẫn mời ta hỏi: bản văn thánh thực sự nói gì?
Câu hỏi ấy có thể làm ta khó chịu. Đôi khi một lời Kinh Thánh đã ở quá lâu trong trí nhớ đến mức ta tưởng mình không còn cần nghe lại nữa. Ta đọc nó và lập tức nhớ đến bài giảng mình từng nghe, một ý tưởng mình từng thích, một kết luận mình từng dùng để khuyên người khác. Bản văn vừa mở ra, ta đã vội đóng nó lại bằng điều ta biết sẵn. Giê-rô-ni-mô dạy một sự chậm rãi khác. Hãy trở lại. Hãy nhìn kỹ. Hãy tự hỏi tác giả thánh đã dùng hình ảnh nào, đã nói với ai, đã đặt câu ấy trong mạch văn nào. Hãy lắng nghe cả những chỗ khiến mình bối rối. Có khi một câu ta tưởng đã thuộc lòng lại chứa một lời chất vấn mà bấy lâu ta chưa từng để nó chạm đến mình. Trở về nguồn, vì thế, không chỉ là thao tác của nhà ngữ học. Đó còn là con đường hoán cải của người tin: chấp nhận để Lời Chúa đi trước ý nghĩ của mình.
Giê-rô-ni-mô từng nói rằng nơi Kinh Thánh, ngay cả trật tự các từ cũng có thể mang một mầu nhiệm. Ta phải nghe câu ấy trong lòng tôn kính sâu xa của ngài đối với bản văn thánh, chứ không biến nó thành một quy tắc máy móc rằng mọi bản dịch đều phải giữ nguyên thứ tự từ. Các ngôn ngữ có cấu trúc khác nhau; giữ nguyên từng vị trí đôi khi lại làm câu văn tối nghĩa hoặc chuyển sai trọng tâm. Điều Giê-rô-ni-mô muốn đánh thức nơi ta là thái độ không xem nhẹ bất cứ điều gì trước khi đã tìm hiểu. Một từ được đặt đầu câu có thể tạo một điểm nhấn. Một động từ xuất hiện muộn có thể khiến người đọc phải chờ. Một cách lặp tưởng như dư thừa có thể là nhịp của lời cầu nguyện. Người dịch có thể phải thay đổi hình thức để trung thành với ý nghĩa, nhưng người ấy không được thay đổi vì thiếu kiên nhẫn với bản văn.
Ở đây có một thử thách âm thầm cho mọi người phục vụ Lời Chúa. Khi soạn bài giảng, ta dễ yêu một câu văn mình viết hay đến nỗi không muốn bỏ nó, dù câu ấy không còn thực sự phát xuất từ đoạn Tin Mừng. Khi dạy giáo lý, ta dễ chọn điều người nghe thích thú hơn là điều bản văn đang đòi hỏi. Khi chia sẻ trên mạng, ta dễ cắt một nửa câu Kinh Thánh để nửa còn lại hợp với thông điệp mình muốn truyền đi. Những điều ấy không nhất thiết bắt đầu từ ý xấu; nhiều khi chúng bắt đầu từ sự vội vàng. Nhưng chính vì thế mà linh đạo dịch thuật của Giê-rô-ni-mô cần cho cả người không biết một chữ Híp-ri hay Hy Lạp. Trước khi hỏi “Tôi có thể dùng câu này để nói điều gì?”, hãy hỏi “Tôi đã để câu này nói với tôi điều gì?”. Trước khi tìm một lời thật mạnh để đăng, hãy ở lại đủ lâu với Lời để nhận ra sức mạnh của nó nằm ở đâu.
Người dịch đứng trước một trách nhiệm đặc biệt: người đọc thường không nhìn thấy những lựa chọn của mình. Nếu người dịch nghiêng một từ theo hướng này, người nghe có thể đi theo hướng ấy mà không biết còn một khả năng khác. Nếu người dịch làm dịu đi một đòi hỏi gay gắt, người nghe có thể tưởng Tin Mừng vốn dễ dàng. Nếu người dịch làm cho một lời an ủi trở nên lạnh lẽo, người đang đau khổ có thể không nhận ra sự dịu dàng mà bản văn dành cho họ. Bởi vậy, người dịch cần vừa có chuyên môn vừa có lương tâm. Chuyên môn giúp người ấy hiểu ngôn ngữ, lịch sử, thể văn và bối cảnh; lương tâm nhắc rằng từng quyết định của mình sẽ đi vào lời cầu nguyện của những con người thật. Có người sẽ nghe bản dịch ấy bên giường bệnh. Có người sẽ nghe trong ngày an táng mẹ mình. Có người sẽ nghe lần đầu tiên sau nhiều năm xa Hội Thánh. Một chữ được cân nhắc nghiêm túc hôm nay có thể trở thành ánh sáng cho một tâm hồn nhiều năm sau.
Công đồng Trentô công nhận tính authentica của Vulgata trong việc sử dụng công khai của Hội Thánh Latinh. Cần hiểu điều này cho đúng: sự nhìn nhận ấy không hạ thấp giá trị của các bản văn nguyên ngữ, cũng không đóng cửa công việc nghiên cứu và dịch thuật về sau. Chính Giáo Hội tiếp tục khuyến khích những bản dịch thích hợp, chính xác, đặc biệt từ nguyên bản. Sau tiến trình hiệu đính thời hiện đại, bản Nova Vulgata được công bố năm 1979 như bản Latinh mẫu mực của Hội Thánh. Câu chuyện ấy đẹp ở chỗ lòng trung thành không đồng nghĩa với việc ngừng học hỏi. Hội Thánh gìn giữ một gia sản quý giá, đồng thời tiếp tục trở về với bản văn thánh để phục vụ Dân Chúa tốt hơn.
Với người tín hữu bình thường, các tên gọi Vulgata hay Nova Vulgata có thể nghe xa xôi. Nhưng điều chúng nhắc đến lại rất gần: đức tin của ta đã được nuôi bằng lao nhọc của biết bao người mình không biết tên. Ta mở sách đọc một câu Thánh Vịnh trong vài giây, còn đằng sau câu ấy là lịch sử dài của những người chép, người dịch, người khảo cứu, người hiệu đính, người in, người dạy và người âm thầm bảo vệ bản văn khỏi sự cẩu thả. Ta nghe Lời Chúa bằng tiếng mẹ đẻ như một điều tự nhiên; nhưng một điều tự nhiên như thế là quà tặng của nhiều thế hệ tận tụy. Biết điều ấy, ta có thể cầm cuốn Kinh Thánh với lòng biết ơn mới. Những trang giấy quen thuộc không chỉ đặt trước mắt ta một công trình của con người. Qua công trình ấy, ta được mời bước vào cuộc gặp gỡ với Đấng vẫn muốn nói với con người hôm nay.
Chú giải nhiều tiếng nói
Nếu dịch thuật đòi người ta lắng nghe bản văn, chú giải đòi người ta lắng nghe cả những người cùng đứng trước bản văn ấy. Giê-rô-ni-mô không nghĩ rằng chỉ cần nêu một lời giải thích của mình là mọi câu hỏi phải chấm dứt. Khi nói về việc chú giải, ngài muốn trình bày những cách hiểu khác nhau để người đọc cân nhắc và phân định, như người thạo việc nhận ra đồng tiền thật giữa những đồng tiền giả. Hình ảnh ấy rất đáng suy nghĩ. Người đọc không được miễn trách nhiệm chỉ vì đã có một học giả lên tiếng. Họ cũng không được quyền cho rằng mọi lời giải thích đều ngang nhau. Họ được mời học cách xét đoán: lời giải thích này có phù hợp với bản văn không, có tôn trọng mạch chung của Kinh Thánh không, có giúp nhận ra Đức Kitô và đức tin của Hội Thánh không?
Một bản văn Kinh Thánh có thể làm phát sinh nhiều câu hỏi chính đáng. Người đọc chú ý đến lịch sử có thể hỏi biến cố ấy diễn ra trong hoàn cảnh nào. Người am hiểu ngôn ngữ có thể nhìn thấy một sắc thái khó chuyển sang tiếng khác. Người đã trải qua mất mát có thể nghe đặc biệt rõ một lời an ủi. Người mục tử có thể nhận ra đoạn văn ấy cần được công bố thế nào để cộng đoàn vừa nghe sự thật vừa không tuyệt vọng. Những cái nhìn ấy không nhất thiết loại trừ nhau. Chúng có thể giúp ta thấy bản văn phong phú hơn điều mình nhận ra lúc đầu. Nhưng sự phong phú không có nghĩa là bản văn có thể bị bắt phải nói bất cứ điều gì ta muốn. Một lời giải thích trung thành phải chịu để chính Kinh Thánh chất vấn nó.
Đó là lý do sự rộng mở của Giê-rô-ni-mô đi cùng thái độ bảo vệ đức tin rất quyết liệt. Ngài có thể trình bày nhiều ý kiến chú giải, nhưng không xem việc bóp méo dung mạo Đức Kitô hay tách Kinh Thánh khỏi đức tin tông truyền là một lựa chọn vô hại. Ta không cần bắt chước những lúc lời tranh luận của ngài trở nên quá sắc để học điều cốt yếu nơi ngài: chân lý xứng đáng được tìm kiếm nghiêm túc, và người đọc Kinh Thánh cần cả trí óc cởi mở lẫn một trái tim ở trong Hội Thánh. Đức Bênêđictô XVI nhắc rằng Lời Chúa được trao cho từng người trong một cuộc đối thoại rất riêng, nhưng cũng được trao để xây dựng sự hiệp thông. Ta nghe Lời với đời mình; ta đồng thời nghe Lời giữa cộng đoàn đức tin đã gìn giữ, cử hành và suy niệm Lời qua các thế hệ.
Điều này đặc biệt cần thiết trong thời người ta có thể tìm thấy một lời giải thích Kinh Thánh chỉ sau vài giây. Một đoạn video ngắn có thể quả quyết rằng một câu vốn “thực ra” có nghĩa hoàn toàn khác điều Hội Thánh vẫn hiểu. Một bài viết có thể đưa ra một chi tiết Híp-ri hoặc Hy Lạp nghe rất thuyết phục, rồi từ một chi tiết ấy dựng lên cả một kết luận lớn. Một người giảng có thể kể câu chuyện thật cảm động, khiến ai cũng xúc động, trong khi đoạn Tin Mừng chỉ được nhắc đến như chiếc móc để treo câu chuyện. Giê-rô-ni-mô không bảo ta sợ những câu hỏi mới. Ngài mời ta đừng trao trí khôn và lương tâm cho lời giải thích đến trước hoặc có giọng nói mạnh nhất. Hãy xét đồng tiền. Hãy nhìn dấu ấn của nó. Hãy hỏi lời giải thích ấy từ đâu đến, nó có đứng vững khi đọc cả đoạn không, và nó dẫn người nghe đến gần Đức Kitô hơn hay chỉ đến gần sự tự tin của người giải thích.
Trong mục vụ, nhiều tiếng nói trung thành có thể phục vụ những người nghe khác nhau. Một thiếu nhi cần lời diễn đạt sáng rõ, gần với kinh nghiệm của em. Một người mới tìm hiểu đạo cần được hướng dẫn để không lạc giữa những thuật ngữ. Một giáo lý viên cần biết thêm bối cảnh để tránh dạy sai. Một người nghiên cứu cần nhìn thấy những lựa chọn dịch thuật và những chỗ bản văn còn khó. Vì vậy, công việc đưa Lời Chúa đến với Dân Chúa thường cần nhiều hình thức trình bày: có bản chú trọng sự thông suốt khi đọc chung, có bản giúp học hỏi sát bản văn, có chú thích, có đối chiếu, có lời dẫn vào. Nếu nhắc đến hai hướng KPA và KPB mà cha nêu, ta có thể thấy nơi đó một khát vọng mục vụ đáng quý: giúp người đọc đến gần cùng một Lời qua những nhu cầu đọc khác nhau. Điều quyết định là mỗi cách diễn đạt phải tiếp tục đối thoại trung thực với nguồn và được thực hiện trong sự hiệp thông của Hội Thánh.
Ở đây có một bài học cho cả người viết bài giảng. Không phải lúc nào giải thích nhiều hơn cũng là phục vụ tốt hơn. Có bài Tin Mừng cần được soi bằng lịch sử; có bài cần tháo một hiểu lầm về từ ngữ; có bài, sau khi đã được đọc cẩn thận, cần một khoảng thinh lặng để sức nặng của nó rơi xuống lòng người. Người giảng không có bổn phận phô hết những gì mình đã đọc trong tuần. Người ấy có bổn phận trao cho cộng đoàn điều giúp họ thực sự nghe Lời Chúa hôm nay. Nhưng muốn trao ít mà đúng, nhiều khi phải học rất nhiều. Giống như người dịch, người giảng phải đi qua lao nhọc kín đáo để người nghe gặp được sự sáng rõ. Bài giảng hay không nhất thiết là bài khiến người ta nhớ tài của người giảng. Có khi bài giảng đẹp nhất là bài khiến một người trở về nhà, mở lại Tin Mừng và nói trong lòng: “Hôm nay Chúa đã gọi đúng điều tôi đang sống.”
Văn chương Kitô giáo có quyền đứng đó
Giê-rô-ni-mô không chỉ dịch Kinh Thánh. Ngài viết chú giải, thư từ, tiểu sử các đan sĩ; ngài dịch tác phẩm của những tác giả Hy Lạp; ngài biên soạn De viris illustribus, giới thiệu hơn một trăm tác giả Kitô giáo. Những công trình ấy cho thấy ngài không xem đời sống trí thức và văn chương là vùng đất xa lạ với đức tin. Ngài đã được đào luyện trong văn chương cổ điển và biết vẻ đẹp, sức mạnh của ngôn ngữ. Khi góp phần làm nên một nền văn chương Kitô giáo, ngài cho thấy người tín hữu có thể viết với chiều sâu của tư tưởng, sự nghiêm túc của học thuật và vẻ đẹp của lời văn. Đức Bênêđictô XVI đặc biệt nhắc đến các tác phẩm ấy khi nói về vị trí của Giê-rô-ni-mô trong văn hóa Kitô giáo và văn học Latinh.
Điều ấy không chỉ liên quan đến danh dự của văn chương Kitô giáo. Nó chạm đến cách ta hiểu việc Tin Mừng đi vào một nền văn hóa. Khi Lời Chúa được diễn tả bằng một ngôn ngữ mới, ngôn ngữ ấy không còn chỉ chuyên chở những chuyện mua bán, luật lệ, chiến tranh, tình yêu hay nỗi buồn của đời thường. Nó học cách gọi tên lòng thương xót, giao ước, ân sủng, sự tha thứ, niềm hy vọng phục sinh. Những từ quen thuộc được đặt gần nhau theo một cách mới; những hình ảnh cũ nhận thêm chiều sâu; có những kinh nghiệm con người vốn đã mang trong lòng nhưng chưa biết diễn tả, nay tìm được lời để thưa với Thiên Chúa. Đồng thời, Lời Chúa cũng đi vào một tiếng nói có lịch sử riêng, có nhịp riêng, có khả năng gợi cảm riêng. Cuộc gặp gỡ ấy không làm một bên biến mất. Đức Phanxicô đã gọi công trình của Giê-rô-ni-mô là một mẫu mực của việc đưa Kinh Thánh vào ngôn ngữ và văn hóa, để Tin Mừng có thể sinh hoa trái trong một thế giới cụ thể.
Bởi vậy, dịch Kinh Thánh sang tiếng Việt cũng là một hành vi văn hóa sâu xa. Tiếng Việt không chỉ có chức năng “chuyển tải nội dung”. Nó là tiếng người mẹ ru con, tiếng người cha dặn dò, tiếng một gia đình cầu nguyện trước bữa cơm, tiếng một người già đọc kinh lúc mắt đã mờ. Nó có vẻ thân mật của chữ “con”, chiều sâu của chữ “ơn”, sức nặng của chữ “tội”, sự dịu dàng và cả những giới hạn của chữ “thương”. Khi Kinh Thánh bước vào tiếng Việt, người dịch phải chọn giữa những cách nói có thể đều đúng về mặt từ điển mà lại khác nhau trong lòng người nghe. Một chữ quá xa lạ có thể làm người đọc đứng ngoài cửa. Một chữ quá dễ dãi có thể làm mất nét lạ lùng cần thiết của mặc khải. Có lúc phải giữ một thuật ngữ để người tín hữu học dần chiều sâu của nó; có lúc phải giải thích thuật ngữ ấy bằng một câu gần gũi để người nghe không bị bỏ lại phía sau. Những lựa chọn như vậy đòi cả tri thức về bản văn lẫn tình yêu đối với tiếng nói của dân mình.
Ta có thể nghĩ đến một em bé nghe câu chuyện người cha chạy ra đón đứa con trở về; một phụ nữ đang gánh nặng gia đình nghe lời mời “đừng sợ”; một người vừa mất người thân nghe lời hứa về sự sống. Đối với họ, câu Kinh Thánh được đọc lên không phải là bài tập chuyển ngữ. Nó là âm thanh chạm vào đời sống. Người dịch không thể biết trước hết mọi khuôn mặt sẽ đón nhận câu mình viết. Chính vì không biết, người ấy càng phải làm việc với sự kính cẩn. Mỗi lần thử một cách diễn đạt, người ấy có thể tự hỏi: người Việt có nghe được tiếng nói thật của bản văn ở đây không? Sự trang trọng này có nâng tâm hồn người nghe hay chỉ khiến họ thấy xa cách? Sự gần gũi này có giúp họ hiểu hay làm mất đi điều bản văn chưa cho phép ta thu gọn? Những câu hỏi ấy không phải trở ngại của việc dịch. Chúng là hình thức cụ thể của lòng yêu mến Dân Chúa.
Tiếng Việt cũng có thể được thanh luyện nhờ mang Lời Chúa. Trong đời sống hằng ngày, ta có thể dùng chữ “yêu” quá dễ, chữ “tha thứ” quá vội, chữ “hy sinh” để đòi hỏi người yếu thế phải chịu đựng, hoặc chữ “vâng phục” mà quên phẩm giá của người đang nghe. Khi trở về với Kinh Thánh trong toàn bộ bối cảnh và chiều sâu của nó, ta được mời dùng những chữ ấy cẩn trọng hơn. Lời Chúa không chỉ mượn ngôn ngữ của ta để nói; Lời ấy còn chất vấn cách ta nói. Nó hỏi xem lời an ủi của ta có thật sự nâng đỡ, lời sửa dạy của ta có đi cùng tình thương, lời tuyên xưng của ta có thành hành động. Một dân tộc tiếp nhận Kinh Thánh bằng tiếng mẹ đẻ được trao cơ hội để làm giàu cả đời sống cầu nguyện lẫn cách đối xử với nhau.
Nhưng cũng cần nói rõ: một bản dịch, dù đẹp đến đâu, không thể một mình thay thế toàn bộ cuộc gặp gỡ với Lời Chúa. Có những chỗ bản văn thánh sẽ vẫn khó. Có những câu cần chú thích. Có những khác biệt trong cách chuyển ngữ sẽ giúp người đọc nhận ra điều mình chưa nhìn thấy. Có những câu phải được nghe trong phụng vụ, được giải thích trong Hội Thánh, được mang vào cầu nguyện và được kiểm chứng bằng đời sống. Công đồng Vaticanô II mong muốn có những bản dịch thích hợp và chính xác để Lời Chúa đến được với mọi người; Công đồng cũng nhắc các thừa tác viên Lời Chúa phải đọc và học hỏi chuyên cần, kẻo trở thành người rao giảng ra bên ngoài mà chưa lắng nghe trong lòng. Đó là lời nhắc nghiêm khắc và dịu dàng cho tất cả chúng ta.
Tôi nghĩ đến Giê-rô-ni-mô trong những giờ rất lặng của một người làm mục vụ. Trên bàn có bản văn Tin Mừng ngày mai. Bên ngoài có biết bao việc phải lo: người bệnh chờ được thăm, gia đình đang bất hòa cần một cuộc gặp, một em nhỏ chuẩn bị lãnh bí tích, những nỗi buồn không ghi trong lịch làm việc. Người linh mục có thể muốn tìm thật nhanh một ý để giảng rồi chuyển sang việc khác. Nhưng nếu ngồi lại thêm một chút với bản văn, có khi ngài sẽ nhận ra một chữ mình đã đi ngang nhiều năm. Có khi chính chữ ấy chạm vào điều ngài đang mệt mỏi. Có khi trước khi ngài mang Lời đến cho cộng đoàn, Lời cần được mang đến cho ngài. Giê-rô-ni-mô nhắc người mục tử rằng nghiên cứu Kinh Thánh không lấy mất thời gian của việc chăm sóc các linh hồn. Nếu được thực hiện trong cầu nguyện và với lòng yêu thương, việc ấy đi vào tận nguồn của chăm sóc mục vụ.
Sau cùng, điều khiến cuộc đời dịch thuật của Giê-rô-ni-mô đáng nhớ không chỉ là số trang ngài đã hoàn thành. Đó là một cách đứng trước mầu nhiệm. Ngài đem đến bàn làm việc tất cả những gì mình có: trí nhớ, kiến thức, tài văn chương, sự bền bỉ, cả tính khí mạnh mẽ cần được ân sủng uốn nắn. Nhưng trước Lời Chúa, ngài vẫn là người học. Ngài có thể tranh luận, khảo cứu, lựa chọn một cách dịch và bảo vệ lựa chọn ấy; rồi ngày mai vẫn phải mở bản văn ra đọc tiếp. Hành vi đức tin của người dịch nằm ở chính sự trở lại không ngừng ấy: tôi chưa chiếm hữu Lời; tôi còn phải lắng nghe. Tôi chưa nói hết điều Lời có thể nói với Dân Chúa; tôi còn phải phục vụ. Tôi có trách nhiệm dùng hết khả năng của mình, và cũng có trách nhiệm không nhầm khả năng ấy với nguồn sáng.
Nếu chương trước cho ta thấy một Giê-rô-ni-mô đặt Kinh Thánh vào trung tâm đời mình, thì chương này cho thấy trung tâm ấy không phải một khẩu hiệu đạo đức. Nó biến thành những đêm học chữ, những ngày đối chiếu bản văn, những lần sửa một câu Latinh, những cuộc trao đổi và tranh luận, những trang chú giải viết cho người khác, những lời kinh âm thầm dâng lên giữa công việc. Đức tin nơi ngài không đứng ngoài trí tuệ để ra lệnh cho trí tuệ im tiếng; đức tin thúc đẩy trí tuệ làm việc tận tụy. Trí tuệ nơi ngài không đứng trên đức tin để biến mặc khải thành một đối tượng mình sở hữu; trí tuệ học cúi xuống để phục vụ cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người. Ở giao điểm ấy, Vulgata trở thành nhiều hơn một dấu mốc trong lịch sử sách vở. Nó nhắc ta rằng Thiên Chúa đã muốn Lời của Người được nghe trong tiếng nói của những con người cụ thể.
Và biết đâu, khi khép lại những mảnh suy tư vụn vỡ này, điều đọng lại không phải là câu hỏi ta có biết bao nhiêu ngôn ngữ, nhưng là ta đã lắng nghe Lời Chúa với sự trung thành nào. Người không dịch Kinh Thánh vẫn có thể sống linh đạo của người dịch: đừng vội gán cho Chúa điều mình muốn nói; hãy trở lại với bản văn; hãy hỏi, hãy học, hãy cầu nguyện, hãy nghe cùng Hội Thánh. Rồi khi cần đem Lời ấy đến cho một người khác, hãy tìm những lời chân thành, trong sáng, vừa đúng với Tin Mừng vừa chạm được đời họ. Có khi hành vi dịch thuật gần gũi nhất của chúng ta diễn ra như thế: một người đã nghe Lời trong thinh lặng, rồi bằng giọng nói, việc làm và lòng thương xót của mình, giúp người bên cạnh nghe được rằng Thiên Chúa vẫn đang nói.

CHƯƠNG IV. “KHÔNG BIẾT KINH THÁNH LÀ KHÔNG BIẾT ĐỨC KITÔ”
Có những câu nói đi qua nhiều thế kỷ mà vẫn không cũ, bởi mỗi lần được nghe lại, chúng chạm vào một chỗ khác trong lòng người. “Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô” là một câu như thế. Thánh Giê-rô-ni-mô đã viết câu ấy trong lời tựa sách chú giải ngôn sứ I-sai-a. Công đồng Vaticanô II nhắc lại trong Dei Verbum, số 25, khi mời gọi các tín hữu chuyên chăm đọc Sách Thánh. Trong buổi tiếp kiến chung ngày 14 tháng 11 năm 2007, Đức Bênêđictô XVI đặt lời ấy vào giữa chân dung thiêng liêng của vị thánh đã dành đời mình cho Kinh Thánh. Ở đó, câu nói không phải một khẩu hiệu nhằm gây mặc cảm cho người ít học, nhưng là lời mời trở về với một cuộc gặp gỡ: Đức Kitô đang đến với con người qua Lời được viết, được công bố, được lắng nghe và được sống.
Ta có thể thuộc một lời kinh từ nhỏ, dự lễ đều đặn nhiều năm, tham gia bao nhiêu công việc trong giáo xứ, mà vẫn có một khoảng xa lạ với chính Đức Giêsu. Ta biết phải đứng lúc nào, ngồi lúc nào, trả lời ra sao; ta biết những việc cần làm để được gọi là một người Công giáo tốt. Nhưng khi gặp một người đau khổ, ta không nhớ Người đã nhìn họ thế nào. Khi phải chọn giữa danh dự của mình và sự thật, ta không nhớ Người đã sống ra sao. Khi bị xúc phạm, ta không biết đem cơn giận đến đâu để nó khỏi thành lời làm tổn thương người khác. Khi cầu nguyện, ta nói nhiều mà ít nghe. Khoảng cách ấy không được lấp bằng cách chỉ đọc thêm một số trang. Nó bắt đầu được thu hẹp khi ta mở Tin Mừng với một ước muốn rất thật: Lạy Chúa, con muốn biết Chúa. Xin cho con nghe được tiếng Chúa giữa những điều con tưởng mình đã quá quen.
Lời thánh Giê-rô-ni-mô cần được hiểu với cả sự nghiêm túc lẫn lòng dịu dàng. Nó không có nghĩa một người mẹ không biết chữ thì kém gần Đức Kitô hơn một học giả Kinh Thánh. Người mẹ ấy có thể biết Chúa sâu xa qua lời đã được nghe trong phụng vụ, qua một câu Tin Mừng được con cháu đọc cho nghe, qua việc bền lòng chăm sóc người bệnh mà bà nhận ra là anh chị em của Chúa. Nó cũng không có nghĩa cứ giỏi tiếng Híp-ri, tiếng Hy Lạp hay nhớ hết các niên đại thì đương nhiên đã biết trái tim Đức Kitô. Có một thứ hiểu biết chất đầy trong trí mà không bao giờ đi xuống bàn tay. Nhưng câu nói ấy vẫn giữ nguyên sức nặng: nếu Đức Kitô đã muốn nói với Hội Thánh qua Sách Thánh, ta không thể cố ý khép cánh cửa ấy rồi tự cho rằng mình đã nghe Người đầy đủ. Người có thể đến với ta bằng nhiều con đường của ân sủng; còn Kinh Thánh là một con đường Người đã trao cho Hội Thánh, để ta liên lỉ trở về và nhận ra khuôn mặt Người rõ hơn.
Một cuốn sách được mở ra cho một cuộc gặp gỡ
Đối với thánh Giê-rô-ni-mô, Kinh Thánh không phải một kho câu hay để chọn lấy vài lời hợp với tâm trạng, càng không phải một cuốn sách chỉ dành cho những người chuyên môn. Ngài đã nghiên cứu bản văn với sự cần mẫn hiếm có, học ngôn ngữ, so sánh cách diễn đạt, cân nhắc từng chữ. Nhưng cuối con đường lao nhọc ấy là một Đấng sống động. Đức Bênêđictô XVI nhắc đến lời Giê-rô-ni-mô viết cho một thiếu nữ Rôma: khi cầu nguyện, con thưa chuyện với Tân Lang; khi đọc Sách Thánh, chính Người nói với con. Hình ảnh Tân Lang làm thay đổi cách ta cầm cuốn Kinh Thánh. Trước mặt ta không chỉ là những trang giấy chờ được phân tích. Ta đang bước vào một tương quan, nơi mình được phép nói thật và cũng phải học im lặng đủ lâu để nghe.
Trong một cuộc trò chuyện thật, ta không chỉ tìm những câu làm mình dễ chịu. Có khi người mình thương nói điều khiến ta phải dừng lại. Kinh Thánh cũng vậy. Có những ngày ta mở Tin Mừng và gặp đúng lời an ủi mình đang cần: “Đừng sợ.” Có những ngày ta gặp một câu như đang gọi đích danh sự cố chấp của mình: “Sao anh thấy cái rác trong mắt người anh em?” Có ngày dụ ngôn người cha nhân hậu làm ta khóc vì nhận ra mình vẫn còn đường về. Có ngày chính dụ ngôn ấy khiến ta bất an vì nhận ra mình đứng ngoài cửa như người anh cả. Nếu chỉ tìm trong Kinh Thánh sự xác nhận cho điều mình đã nghĩ, ta sẽ đóng cuộc đối thoại trước khi nó bắt đầu. Nghe một người nghĩa là để lời của họ có cơ hội thay đổi mình. Nghe Lời Chúa cũng thế.
Bởi vậy, đọc Sách Thánh không phải lúc nào cũng đem lại một cảm xúc sốt sắng ngay lập tức. Có buổi sáng ta đọc mà thấy lòng khô. Có đoạn ta chưa hiểu. Có câu chuyện khiến ta bối rối. Có lời đòi hỏi quá sức mình, đến nỗi phản ứng đầu tiên là muốn gấp sách lại. Người cầu nguyện không cần che giấu những điều ấy. Ta có thể nói: Lạy Chúa, câu này khó đối với con. Con đang chống lại nó. Con chưa hiểu vì sao Chúa nói như vậy. Xin ở lại và dạy con. Một lời cầu nguyện vụng về nhưng chân thật có thể mở lòng ta hơn một trang suy niệm trau chuốt mà không dám chạm đến đời thực. Giê-rô-ni-mô yêu Sách Thánh đến nỗi có thể ở lại rất lâu với một chữ; người đọc hôm nay cũng có thể bắt đầu bằng sự trung thành nhỏ bé ấy: ở lại với Lời, kể cả lúc chưa thấy mình được gì.
Đọc như trò chuyện còn có nghĩa ta không vội chiếm lấy câu trả lời. Một người thân đang kể về nỗi đau của họ sẽ thấy cô đơn nếu ta ngắt lời để nói ngay mình đã hiểu. Với Kinh Thánh, ta cũng dễ làm như thế: vừa nghe vài chữ đã kết luận rằng đoạn này mình biết rồi, bài học này quá quen rồi. Nhưng cùng một dụ ngôn được nghe ở tuổi hai mươi và ở tuổi sáu mươi có thể soi hai miền đời rất khác. Lời Chúa không đổi thành một lời khác theo sở thích của ta; chính đời ta đã đi qua những mùa khác nhau, nên lại cần đứng trước Lời với sự khiêm tốn mới. Một câu từng khiến ta nghĩ đến người khác, hôm nay có thể gọi ta xét lại mình. Một câu từng là lời cảnh tỉnh, sau những năm tháng đổ vỡ có thể trở thành nguồn an ủi.
Biết về Chúa và biết Chúa
Ta thường dùng cùng một chữ “biết” cho những điều rất khác nhau. Ta biết tên một người vì đã nghe nhắc đến. Ta biết tiểu sử của họ vì đã đọc một cuốn sách. Nhưng chỉ khi đã cùng đi qua vui buồn, đã lắng nghe, đã để họ đi vào đời mình, ta mới nói mình biết người ấy theo nghĩa sâu hơn. Với Đức Kitô cũng vậy. Học hỏi về bối cảnh Tin Mừng, cấu trúc một bản văn, nghĩa của một từ là điều quý giá; sự học hỏi nghiêm túc giúp ta bớt áp đặt ý mình lên Lời Chúa. Tuy nhiên, kiến thức ấy hướng về một cuộc gặp gỡ. Nếu nó dừng ở cảm giác mình có thể giải thích mọi sự, nó sẽ bỏ lỡ chính Đấng mà bản văn muốn dẫn ta đến.
Hãy nhìn cách Đức Giêsu gặp con người trong Tin Mừng. Người không gặp họ như những ví dụ minh họa cho một bài giảng. Người thấy Gia-kêu trên cây, gọi tên ông và vào nhà ông. Người để người phụ nữ đau khổ chạm đến áo mình giữa đám đông rồi dừng lại hỏi: “Ai đã đụng vào tôi?” Người nhìn Phêrô sau đêm chối Thầy. Người hỏi người mù: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Người ở bên các môn đệ trên đường Emmau, nghe hết nỗi thất vọng của họ rồi mới giải thích Sách Thánh. Đọc Kinh Thánh để biết Đức Kitô là để dần nhận ra ánh mắt, bước chân, cách lắng nghe và lòng thương xót ấy. Khi nhận ra rồi, ta không thể tiếp tục nhìn người bên cạnh bằng đúng cái nhìn cũ mà không thấy trong lòng mình có điều gì vướng mắc.
Có thể một linh mục giảng rất đúng về lòng thương xót, nhưng lại thiếu kiên nhẫn với người đến xin gặp vào cuối một ngày mệt mỏi. Có thể một giáo lý viên giải thích rất hay về phẩm giá con người, nhưng trước mặt trẻ em lại quen dùng lời chế giễu. Có thể một người đọc Kinh Thánh mỗi sáng, nhưng mỗi chiều về nhà vẫn nói với người thân bằng giọng khiến họ sợ. Lời Chúa trong những trường hợp ấy không vô ích. Lời đang kiên nhẫn chờ đi sâu hơn chỗ ta cho phép. Biết Đức Kitô bằng tim bắt đầu từ việc thôi dùng tri thức về Người để che chắn cho mình. Ta để Người hỏi: Con đã đọc điều ấy rồi; hôm nay con sẽ đối xử với người này thế nào?
Đây cũng là lý do câu “Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô” không thể bị rút gọn thành một chỉ tiêu đọc sách. Người đọc mỗi ngày một chương có thể đang đi trên một con đường rất tốt. Người chỉ đủ sức nhớ một câu Tin Mừng trong tuần cũng có thể đang để câu ấy bén rễ thật sâu. Điều cần hỏi không chỉ là tôi đã đọc bao nhiêu, mà còn là tôi đang để Lời dẫn mình đến gần ai, sửa điều gì, mở lại cánh cửa nào. Một đoạn Kinh Thánh được đọc chậm và đem vào một hành vi tha thứ có thể trở thành bước ngoặt. Một bài Tin Mừng được nghe giữa Thánh lễ, được giữ trong lòng suốt ngày và trở thành lời cầu cho người ta khó thương, cũng đang làm công việc âm thầm của hạt giống.
Mỗi ngày Thiên Chúa vẫn nói
Giê-rô-ni-mô yêu sự đều đặn. Ngài khuyên linh mục Nepotianus hãy đọc Sách Thánh thường xuyên, đến mức quyển sách thánh như không rời khỏi tay, và hãy học trong đó điều mình phải dạy. Lời khuyên ấy trước hết chạm đến người có trách nhiệm rao giảng: đừng chỉ tìm bản văn lúc cần chuẩn bị một bài nói. Hãy sống gần Lời khi không ai chờ bài giảng của mình; hãy đọc lúc chưa cần tìm một ý hay; hãy để Lời nuôi mình trước khi nghĩ đến chuyện đem Lời nuôi người khác.
Một mục tử có thể sống nhiều năm trong nhịp chuẩn bị, cử hành và giải quyết công việc. Bài đọc Chúa nhật được mở ra vào giờ cần viết bài giảng; đoạn Tin Mừng được xem như nguyên liệu để hình thành ba ý; một câu Kinh Thánh trở thành lời dẫn cho thông báo hay chương trình. Những việc ấy có chỗ của chúng. Nhưng người rao giảng cần một thời gian khác, nơi mình đứng trước Lời mà không cần phải sản xuất điều gì. Chính mình cũng là người đang cần được Chúa dạy, đang có những nỗi sợ, những thói quen, những thiếu sót chưa được gọi tên. Nếu không có chỗ đứng ấy, người ta rất dễ nói về Thiên Chúa bằng một giọng thành thạo trong khi lòng mình ngày một xa cuộc gặp gỡ với Người.
Đối với một gia đình, sự đều đặn có thể mang hình thức rất đơn sơ. Cha mẹ cùng con đọc vài câu Tin Mừng trước khi ngủ. Một người đi làm giữ một câu trong lòng trên chuyến xe. Một người bệnh nghe bài đọc trong ngày vì mắt không còn nhìn rõ. Một người đang đau buồn chỉ đủ sức lặp lại lời anh trộm lành: “Lạy ông Giêsu, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Không phải ai cũng có cùng thời gian, sức khỏe và khả năng tập trung. Nhưng mỗi người có thể dành một chỗ thật trong ngày cho Lời. Một chỗ thật không nhất thiết phải dài; nó cần được bảo vệ khỏi thói quen mở sách cho có, lướt qua cho xong, rồi lập tức trả lòng mình cho tiếng ồn.
Khi Đức Bênêđictô XVI nói đến việc Thiên Chúa trò chuyện với từng người qua Kinh Thánh, chữ “hôm nay” trở nên quan trọng. Ta đọc câu chuyện đã xảy ra trong một thời đại khác, với ngôn ngữ và hoàn cảnh cần được tôn trọng. Nhưng ta không đọc nó như xem một vật trong viện bảo tàng. Lời đã được trao cho Hội Thánh để được nghe trong đời sống đang diễn ra. Người cha đợi con về vẫn có thể nói với người đang không biết làm sao mở cửa nhà lần nữa. Người Samari nhân hậu vẫn có thể hỏi ta về người đang nằm bên đường mình đi mỗi ngày. Câu hỏi “Anh em bảo Thầy là ai?” vẫn có thể vang lên giữa một đời sống bận rộn, nơi ta đã quen trả lời bằng công thức mà chưa dám trả lời bằng lựa chọn của mình.
Lời nói với tôi trong lòng Hội Thánh
Dù Thiên Chúa nói với từng người, không ai được trao Kinh Thánh để tự mình sở hữu nó. Đây là điều Đức Bênêđictô XVI nhấn mạnh: việc lắng nghe Lời cần mang chiều kích cá nhân, nhưng cũng phải ở trong sự hiệp thông của Hội Thánh. Một câu đánh động tôi không vì thế trở thành tài sản riêng, để tôi muốn hiểu và dùng thế nào cũng được. Kinh Thánh được gìn giữ, công bố, cầu nguyện và sống trong Dân Chúa qua nhiều thế hệ. Tôi bước vào một cuộc lắng nghe đã bắt đầu trước tôi rất lâu, và sẽ tiếp tục sau tôi.
Điều này bảo vệ ta trước một cám dỗ rất tinh vi. Khi đang giận ai, ta có thể chỉ thấy trong Kinh Thánh những câu kết án. Khi muốn hợp thức hóa một quyết định, ta có thể chọn một câu rời khỏi mạch văn rồi gọi đó là ý Chúa. Khi tự cho mình đúng, ta dễ đọc mọi lời cảnh tỉnh như dành cho người khác. Ở trong Hội Thánh, ta học đọc cùng toàn bộ Sách Thánh, cùng đức tin được truyền lại, cùng kinh nghiệm của các thánh và cùng cộng đoàn đang lắng nghe. Ta được phép nói điều bản văn chạm đến mình, nhưng cũng cần sẵn sàng để người khác giúp mình thấy điều mình bỏ sót. Sự hiệp thông ấy không làm nghèo đi tiếng Chúa nói với từng người. Nó giúp tiếng nói ấy được nghe sáng rõ hơn.
Nơi ưu tiên của cuộc lắng nghe chung là phụng vụ. Ở đó, ta không tự chọn bài đọc hợp tâm trạng; Hội Thánh đưa ta đi qua những lời an ủi, những lời khó, những mùa đợi chờ và những ngày mừng vui. Có hôm bài đọc dường như cách rất xa điều ta đang trải qua. Rồi một câu ở lại. Có hôm cả cộng đoàn nghe cùng một đoạn Tin Mừng, nhưng mỗi người mang một gánh nặng khác nhau đến trước bàn thờ. Lời được công bố cho tất cả, mà vẫn có thể tìm đến tận một lòng người. Hiến chế Dei Verbum nói đến bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Mình Chúa trong đời sống Hội Thánh; cũng ở đó, Công đồng khuyến khích tín hữu đến với Kinh Thánh qua phụng vụ, việc đọc sốt sắng và những phương thế học hỏi thích hợp, luôn kết hợp việc đọc với cầu nguyện.
Ta sẽ hiểu điều ấy hơn nếu nhớ đến một buổi lễ bình thường. Người đọc sách thánh bước lên giảng đài. Có thể họ hồi hộp, có thể cộng đoàn còn bị phân tâm bởi tiếng động bên ngoài. Bản văn được đọc bằng tiếng mẹ đẻ, qua một giọng nói rất người. Người nghe không đứng trước một trang chữ riêng lẻ; họ ngồi giữa những anh chị em cũng đang cần ánh sáng. Sau lời công bố là thinh lặng, bài giảng, lời nguyện chung và bàn tiệc Thánh Thể. Một người đi lễ với nỗi lo về con bệnh, một người khác với niềm vui mới nhận được, một người nữa với tội lỗi chưa biết nói cùng ai. Cũng một Lời ấy đi vào nhiều cuộc đời và quy tụ họ trước một Chúa. Bởi vậy, khi nói Kinh Thánh là lời nói với tôi, ta đừng quên Đức Kitô đang nói với chúng ta.
Những người đưa Lời đến gần cộng đoàn
Từ đây, ta thấy vẻ đẹp kín đáo của công việc phiên dịch Kinh Thánh. Một bản văn có thể đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, nhưng nếu khi đọc lên trong nhà thờ, người nghe không nắm được ý, phải liên tục tự đoán những chữ xa lạ, thì người làm bản dịch còn một câu hỏi phải mang trong lòng: làm sao trung thành với bản văn và đồng thời giúp cộng đoàn thật sự nghe? Đây là một trách nhiệm rất khó. Một chữ dễ hiểu chưa chắc đã đủ chính xác. Một câu sát cấu trúc nguyên ngữ chưa chắc đã sống được trong nhịp tiếng Việt. Một cách diễn đạt đẹp trên trang giấy có thể trở nên nặng khi được cất thành tiếng. Người dịch phải nghe cả bản văn trước mặt lẫn cộng đoàn sẽ đón nhận bản văn ấy.
Nhìn theo hướng đó, sứ vụ của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ có một chiều sâu cầu nguyện. Người ta dễ chỉ nhìn thấy thành phẩm: một câu đáp ca quen thuộc, một bài đọc được công bố, một đoạn Thánh vịnh đi vào Giờ Kinh. Phía sau có thể là những giờ đối chiếu, những cuộc bàn thảo về một từ, những lần đọc thành tiếng để xem câu có sáng nghĩa và có thể cầu nguyện được không. Ta không cần tô hồng công việc ấy. Dịch thuật có những giới hạn, những lựa chọn khó và những chỗ người đọc tiếp tục đặt câu hỏi. Chính vì Lời quan trọng đối với cộng đoàn, những người phục vụ bản văn phải đủ yêu Lời để chịu sửa mình, sửa câu chữ và lắng nghe người khác.
Một bản dịch được dùng trong phụng vụ đi vào những nơi người dịch có thể sẽ không bao giờ biết. Nó có thể được đọc trong ngôi thánh đường lớn, trong một nhà nguyện nhỏ, trong phòng của người bệnh, bên linh cữu một người thân, giữa cộng đoàn tu sĩ lúc trời chưa sáng, trong gia đình đang cố giữ giờ kinh tối. Một câu được chọn cẩn thận có thể trở thành lời một người mang theo suốt nhiều năm. Sự thận trọng với chữ nghĩa vì thế không phải một thú vui cầu kỳ. Nó là sự kính trọng đối với Đấng đang nói và đối với những người đang chờ được nghe.
Nhưng linh đạo dịch thuật cũng phải đi qua thử thách của chính đời sống. Ta có thể tranh luận rất lâu xem một chữ nên được chuyển thế nào, rồi lại thiếu kiên nhẫn với người ngồi cạnh. Ta có thể chăm chút một câu diễn tả lòng thương xót, rồi lạnh lùng trước một lời xin giúp đỡ. Khi ấy, Lời mình phụng sự đang âm thầm chất vấn mình. Người cầm Lời phải để Lời cầm lấy mình. Những bậc tiền bối kiên nhẫn đến giờ thứ mười một với một bản văn, nếu chỉ vì mê chữ, sẽ sớm cạn sức; tình yêu bền hơn là tình yêu dành cho Đấng họ tin đang nói qua những chữ ấy và cho cộng đoàn sẽ được nghe Người.
Một bản văn chỉ được hiểu sâu khi đi vào đời
Giê-rô-ni-mô không cho phép ta tách việc chú giải khỏi việc hoán cải. Ngài nhắc người rao giảng đừng để đời sống phản lại lời mình nói, khiến người nghe phải tự hỏi vì sao người giảng không làm điều đang khuyên người khác. Hình ảnh ngài dùng rất sắc: một người no nê mà thao thao nói về ăn chay sẽ làm lời mình mất sức nặng. Những lời ấy không đòi người giảng phải hoàn hảo rồi mới được giảng; nếu vậy, sẽ chẳng còn ai dám mở miệng. Chúng đòi sự thành thật. Một linh mục cũng có thể nói về tha thứ trong khi thú nhận mình đang học tha thứ. Điều làm người ta tổn thương sâu hơn là một lời giảng chỉ đòi hỏi người nghe, còn người giảng tự dành cho mình một lối miễn trừ.
Thật ra, việc sống Lời cũng là một cách học hiểu Lời. Ta có thể giảng giải rất mạch lạc dụ ngôn người Samari nhân hậu. Nhưng chỉ khi dừng lại bên một người đang làm chậm hành trình của mình, ta mới thấy cái giá của chữ “dừng lại”. Ta có thể phân tích lời Đức Giêsu dạy yêu kẻ thù. Nhưng chỉ khi cầu nguyện cho một người đã làm mình đau, dù chưa thấy lòng mình dịu xuống, ta mới nhận ra lời ấy đi sâu đến đâu. Ta có thể viết nhiều trang về Thánh Thể như bí tích hiệp thông. Nhưng chỉ khi chịu nhường chỗ cho một người mình không thích trong cộng đoàn, ta mới hiểu hiệp thông không chỉ là một ý niệm đẹp.
Sống Lời cũng không có nghĩa lúc nào ta cũng làm được ngay. Có những câu Tin Mừng đi theo một người rất lâu trước khi người ấy đủ can đảm thực hiện. Có lời về sự thật buộc ta mất nhiều tháng mới dám nói một lời xin lỗi. Có lời về tín thác được lặp lại mỗi ngày giữa nỗi sợ vẫn còn. Lời Chúa không chỉ hiện diện ở giây phút chiến thắng; Lời còn ở với ta trong cuộc vật lộn thành thật. Người đang cố giữ miệng khỏi một lời ác, rồi lỡ nói ra và quay về xin lỗi, có thể đang học Lời sâu hơn người luôn tỏ ra mình đã vượt qua hết. Kinh Thánh đưa ta đến với Đức Kitô, và Đức Kitô kiên nhẫn bước cùng người đang học sống điều mình đã nghe.
Thánh Giê-rô-ni-mô làm cho mối liên hệ giữa Sách Thánh và bác ái trở nên rất cụ thể khi viết cho Paulinus. Ngài nhắc đến linh hồn người tín hữu như đền thờ của Đức Kitô, rồi hỏi việc trang hoàng những bức tường bằng đá quý có ích gì nếu Đức Kitô đang đói nơi người nghèo. Đó là một câu hỏi khó chịu theo nghĩa tốt nhất: nó đánh thức lương tâm. Nó không phủ nhận vẻ đẹp của nhà thờ hay sự chăm sóc dành cho việc thờ phượng. Nó hỏi xem vẻ đẹp ấy có đang mở lòng ta ra với Đức Kitô hiện diện nơi người thiếu thốn hay không. Nếu ta đọc Tin Mừng mà không thể nhận ra Người trong người đói, người bệnh, người không nhà, thì kiến thức của ta vẫn còn một khoảng trống đau đớn.
Một cộng đoàn yêu Lời Chúa có thể tự hỏi những câu rất gần. Sau Thánh lễ, người mới đến có ai được chào không? Khi một gia đình gặp biến cố, có ai ngồi nghe họ mà không vội phán xét không? Người lớn tuổi đọc chậm có được kiên nhẫn lắng nghe không? Người nghèo đến xin giúp đỡ có được gặp một khuôn mặt tôn trọng mình không? Trẻ em đặt câu hỏi ngây ngô có được trả lời bằng lòng vui không? Những việc ấy không thay thế cho việc học Kinh Thánh. Chúng cho thấy việc học đang đi vào tay chân, giọng nói, cách tổ chức và những lựa chọn hằng ngày của cộng đoàn.
Để Lời có một chỗ trong ngày sống
Có người nghe lời mời đọc Kinh Thánh rồi lo mình phải bắt đầu từ một kế hoạch lớn. Kế hoạch có thể giúp ích, nhưng cửa vào đơn sơ hơn nhiều. Hãy mở bài Tin Mừng của ngày. Đọc một lần để biết chuyện gì xảy ra. Đọc lần nữa, chậm hơn, để nhận ra Đức Giêsu đang nói với ai, đang làm gì, đang nhìn điều gì mà những người khác bỏ qua. Dừng ở một câu khiến lòng mình chuyển động, dù là được an ủi hay bị chất vấn. Thưa với Người bằng lời của chính mình. Rồi mang câu ấy vào một việc cụ thể của ngày hôm nay. Ngày mai lại bắt đầu. Sự trung thành nhỏ ấy dần tạo nên một nơi gặp gỡ.
Có những ngày ta chỉ cần tự hỏi: Trong đoạn này, tôi đang đứng ở đâu? Bên vệ đường như người mù chờ được gọi? Trong nhà như Mácta đang tất bật và tủi thân? Trên thuyền như các môn đệ đang hoảng sợ? Giữa đám đông như người muốn đến gần Chúa nhưng không muốn ai nhìn thấy mình? Câu hỏi ấy giúp bản văn thôi ở xa. Tuy nhiên, ta cũng cần hỏi thêm: Đức Giêsu ở đâu trong đoạn này? Người nói và làm gì? Nếu chỉ tìm mình, ta có thể biến Kinh Thánh thành tấm gương phản chiếu tâm trạng. Nếu ngước nhìn Người, ta để cuộc gặp gỡ dẫn mình ra khỏi chỗ quen thuộc.
Có những ngày khác, lời đáp tốt nhất là thinh lặng. Ta đọc một câu rồi không cần tìm thêm ý tưởng. Chẳng hạn, “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Người vừa nhận một tin buồn có thể chỉ ngồi đó, không cảm thấy gì rõ rệt, mà vẫn để lời hứa ấy ở bên mình. Người đang mang mặc cảm có thể ở lại với cảnh Đức Giêsu ăn cùng những người bị coi thường. Người đang giận có thể đọc lời Người trên thập giá và thú thật: Con chưa cầu được như Chúa; xin dạy con bắt đầu. Cuộc trò chuyện với Tân Lang có lúc là một lời yêu, có lúc là tiếng khóc, có lúc chỉ là sự hiện diện không bỏ đi.
Và cũng có ngày cần hỏi một người hiểu biết hơn. Đoạn Kinh Thánh có bối cảnh, thể văn và những tầng nghĩa không thể nắm chỉ bằng ấn tượng đầu tiên. Một chú giải đáng tin cậy, một buổi học hỏi trong giáo xứ, lời hướng dẫn của người có trách nhiệm giảng dạy có thể giúp ta tránh đọc sai và khám phá điều mình chưa thấy. Tinh thần cầu nguyện không khiến ta coi nhẹ công việc học hỏi; công việc học hỏi, khi được làm với lòng khiêm tốn, lại có thể làm lời cầu nguyện thêm sâu. Giê-rô-ni-mô đã dành đời mình để chứng minh rằng yêu Đức Kitô không làm ta lười suy nghĩ.
Cánh cửa vẫn đang mở
“Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô” cuối cùng là một lời gọi rất thân tình. Nó nói với người đã xa Sách Thánh nhiều năm: Hãy trở lại, Người vẫn muốn trò chuyện với bạn. Nó nói với người đọc mỗi ngày nhưng đang thấy khô khan: Hãy ở lại, đừng đo sự gần gũi bằng cảm giác của một buổi sáng. Nó nói với người nghiên cứu: Hãy nhớ khuôn mặt Đấng bạn đang tìm trong bản văn. Nó nói với người rao giảng: Hãy để Lời được nói với mình trước khi nói qua mình. Nó nói với người phiên dịch: Hãy yêu từng chữ vì có những con người sẽ cầu nguyện bằng những chữ ấy. Và nó nói với cả cộng đoàn: Hãy nghe cùng nhau, rồi cùng nhau làm cho Lời có hình hài trong đời sống.
Ta có thể tưởng tượng một người già ở cuối nhà thờ, mắt không còn đọc được những hàng chữ nhỏ. Bài Tin Mừng được công bố. Bà nghe một câu đã nghe hàng trăm lần, nhưng hôm nay câu ấy tìm đến đúng nỗi buồn mà bà giấu trong lòng. Bà không phân tích được cấu trúc bản văn, không biết các tranh luận về cách dịch. Bà chỉ lặng lẽ thưa: Lạy Chúa, con đây. Ở một nơi khác, một người dịch đang cúi xuống cùng đoạn ấy, cân nhắc một chữ vì sợ bản dịch khiến người nghe hiểu lệch đi. Ở một nơi nữa, một linh mục ngồi trước bàn viết, bỏ đi một câu văn đẹp vì nó che mất trọng tâm của Tin Mừng. Và có một người sau Thánh lễ quyết định đến thăm người hàng xóm lâu nay mình tránh mặt. Những con người ấy đang đứng ở những chỗ khác nhau quanh cùng một Lời. Khi Lời được nghe và được đón nhận, Đức Kitô đang quy tụ họ lại.
Giê-rô-ni-mô đã để cả đời mình ở gần Sách Thánh. Ngài không yêu chữ nghĩa như người sưu tầm những vật quý để cất trong tủ. Ngài tìm Đấng đang nói qua những chữ ấy. Những người đi sau ngài cũng được mời bắt đầu ở đó. Hãy mở sách với sự chăm chú của trí óc, sự thành thật của lương tâm và lòng mong đợi của người biết mình sắp gặp một Đấng thân yêu. Hãy đọc trong căn phòng riêng, nghe giữa cộng đoàn, học hỏi khi chưa hiểu, cầu nguyện khi đã nghe, và để một lời nhỏ dẫn mình đến với một con người cụ thể. Rồi từng ngày, ta sẽ hiểu sâu hơn vì sao không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô: vì Người đã chọn ở lại gần chúng ta trong Lời, chờ ta mở cửa, lắng nghe, và cùng Người bước vào đời.

CHƯƠNG V. DEI VERBUM VÀ VIỆC HÌNH THÀNH MỘT NHÓM DỊCH GIẢ VIỆT NAM
“Các tín hữu Kitô giáo phải được rộng rãi tiếp cận Thánh Kinh.” Câu văn ngắn ấy của Dei Verbum số 22 có thể được đọc rất nhanh. Nhưng nếu dừng lại đủ lâu, người ta sẽ nhận ra trong đó cả một sự thay đổi lớn lao về cách Hội Thánh trao Lời Chúa cho con cái mình. «Rộng rãi tiếp cận» nghĩa là người tín hữu có thể nghe Lời Chúa trong phụng vụ, cầm lấy Sách Thánh mà đọc, hiểu điều mình đọc, đem điều ấy vào giờ cầu nguyện và để Lời ấy soi sáng đời sống. Muốn thế, cần có những bản dịch thích hợp, chính xác và có thể đến được với từng dân tộc trong tiếng nói của họ. Công đồng Vaticanô II đã nói điều ấy trong Hiến chế tín lý về Mặc khải Dei Verbum, được ban hành ngày 18 tháng 11 năm 1965. Ở số 22, Công đồng khuyến khích thực hiện các bản dịch Thánh Kinh sang những ngôn ngữ khác nhau, đặc biệt từ nguyên bản. Ở số 25, Công đồng nhắc lại lời thánh Giê-rô-ni-mô: «Không biết Thánh Kinh là không biết Đức Kitô», đồng thời mời gọi các tín hữu siêng năng đọc Sách Thánh và cầu nguyện khi đọc, để việc đọc trở thành cuộc đối thoại với Thiên Chúa.
Từ một văn kiện được công bố tại Rôma đến một trang Kinh Thánh được đọc lên bằng tiếng Việt trong ngôi nhà nhỏ của một gia đình, quãng đường ấy không tự nhiên mà có. Phải có người học tiếng Híp-ri và Hy-lạp. Phải có người hiểu phụng vụ. Phải có người đủ kiên nhẫn cân nhắc một chữ, đọc lại một câu, nghe xem câu ấy có còn sáng nghĩa khi được công bố giữa cộng đoàn hay không. Phải có những người yêu tiếng Việt đến mức không muốn Lời Chúa trở thành một thứ tiếng Việt gượng gạo, xa lạ với miệng đọc và tai nghe của người Việt. Và hơn hết, phải có những người tin rằng công sức âm thầm ấy đáng để dâng cả một phần đời mình. Lịch sử Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ bắt đầu từ một niềm tin như thế.
Khi Lời Chúa cần được nghe bằng tiếng mẹ đẻ
Có những lời ta hiểu bằng trí óc, nhưng chỉ khi nghe trong tiếng mẹ đẻ, ta mới cảm thấy chúng đi đến tận lòng. Một người có thể biết khá nhiều ngôn ngữ; tuy nhiên, khi đau đớn, họ thường gọi mẹ bằng thứ tiếng đầu tiên mình đã học. Khi hối hận, khi biết ơn, khi xin tha thứ, khi đứng trước cái chết, con người cũng cần những lời gần với hơi thở của mình. Cầu nguyện không nằm ngoài kinh nghiệm ấy. Người tín hữu Việt Nam có thể trân trọng vẻ đẹp của tiếng La-tinh và giá trị của những bản văn cổ; đồng thời, họ cần được thưa với Chúa bằng tiếng nói đã nuôi mình lớn lên.
Đây không chỉ là chuyện thay một ngôn ngữ bằng một ngôn ngữ khác. Một bản dịch phụng vụ phải làm một công việc khó hơn nhiều: đưa một bản văn được hình thành trong những thời đại, nền văn hóa và thể loại khác nhau đến trước một cộng đoàn đang cầu nguyện hôm nay. Người dịch phải tôn trọng điều bản văn thực sự nói. Họ cũng phải tìm được cách nói để người nghe không phải đi qua quá nhiều lớp chữ tối nghĩa mới chạm tới nội dung. Dịch sát đến mức câu văn không thể đọc lên thành lời thì vẫn còn một trở ngại. Viết trôi chảy đến mức làm mất nét riêng của bản văn gốc cũng là một mất mát. Giữa hai nguy cơ ấy, dịch giả đi một con đường hẹp, và thường phải đi lại nhiều lần.
Dei Verbum không xem việc trao Thánh Kinh cho tín hữu như một công việc phụ thêm vào đời sống Hội Thánh. Văn kiện nói rằng Hội Thánh được nuôi dưỡng nơi bàn tiệc Lời Chúa cũng như nơi bàn tiệc Thánh Thể; việc rao giảng, dạy giáo lý và suy tư thần học đều phải được nuôi bằng Sách Thánh. Công đồng còn dùng một hình ảnh dịu dàng: trong các sách thánh, Cha trên trời đến gặp con cái Người và nói chuyện với họ. Nếu tin rằng Thiên Chúa thực sự muốn gặp gỡ con người như vậy, Hội Thánh không thể thờ ơ với câu hỏi rất cụ thể: con cái Người có nghe được lời Người nói không?
Ở Việt Nam đầu thập niên 1970, câu hỏi ấy mang một sức thúc bách đặc biệt. Đất nước đang trong chiến tranh. Đời sống Hội Thánh có những nhu cầu lớn, còn tương lai thì khó đoán định. Thế nhưng những người trở về từ bầu khí canh tân của Công đồng đã mang theo một ước vọng: các tín hữu Việt Nam được cử hành phụng vụ và cầu nguyện bằng tiếng mẹ đẻ. Cha Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, OFM, về sau nhớ lại rằng ngay khi sách Các Giờ Kinh Phụng Vụ bằng tiếng Pháp xuất hiện, nhiều người đã mong có một bản tiếng Việt. Ước mong ấy dẫn một số linh mục và tu sĩ đến ngồi lại tại đan viện các nữ tu Biển Đức ở Thủ Đức ngày 1 tháng 11 năm 1971, ngày được Nhóm nhận là ngày khai sinh của mình.
Ngày lễ Các Thánh là một khởi đầu gợi nhiều suy nghĩ. Hôm ấy, Hội Thánh tưởng nhớ một đoàn người không thể đếm hết: những vị nổi tiếng và những người chẳng mấy ai biết tên, những cuộc đời được ghi vào sách và những cuộc đời chỉ Thiên Chúa nhớ. Giữa ngày lễ ấy, một nhóm người bắt đầu một công việc mà phần lớn hoa trái sẽ mang tên người khác trên môi miệng: một thánh vịnh được cộng đoàn đọc chung, một lời đáp được hát trong giờ kinh, một câu Tin Mừng được nghe nơi giáo xứ. Người ta thường nhớ câu chữ mình đã cầu nguyện; ít ai nghĩ đến những người đã dành nhiều giờ để câu chữ ấy được thành hình. Có lẽ đó lại là nét đẹp riêng của nghề dịch Lời Chúa: làm việc rất kỹ để rồi lùi lại, cho bản văn lên tiếng.
Những người tham dự buổi đầu, theo tư liệu cha gửi, gồm các cha Trần Phúc Nhân, Xuân Ly Băng, Thiện Cẩm, Nguyễn Hồng Giáo, Huỳnh Công Minh, Nguyễn Ngọc Tỉnh và chị Lê Thị Hiên. Không phải ai cũng mang cùng một chuyên môn hay một kinh nghiệm sống. Họ được quy tụ bởi một công việc chung. Ngay tên gọi của Nhóm cũng phát sinh từ công việc ấy: Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Về sau, cha Pascal nhận xét rằng cái tên dài và chẳng có gì đặc biệt đó nói khá đúng ước muốn ban đầu của anh chị em: dịch cuốn sách kinh đã được canh tân sau Công đồng để mọi thành phần Dân Chúa có thể sử dụng.
Một nhóm người bắt đầu trước khi mọi sự sẵn sàng
Người ta dễ kể lịch sử bằng những mốc hoàn tất: năm nào in sách, năm nào ra ấn bản, năm nào một công trình được phổ biến rộng rãi. Nhưng trước mỗi mốc ấy luôn là một giai đoạn chưa chắc chắn. Buổi họp đầu tiên chưa phải là một bộ sách. Thiện chí chưa bảo đảm sẽ có một bản dịch tốt. Nhu cầu rất lớn cũng không làm cho thời giờ, phương tiện và nhân lực tự nhiên xuất hiện. Nhóm phải bắt đầu từ những gì mình có.
Vào dịp Tết năm 1972, Nhóm tổ chức một đợt làm việc tại chủng viện Phan-xi-cô Thủ Đức. Theo hồi thuật của Nhóm, anh chị em làm việc khoảng mười giờ mỗi ngày; đợt ấy kết thúc khi kỳ nghỉ Tết qua đi, rồi công việc tiếp tục vào kỳ nghỉ Phục Sinh. Thành quả đầu tiên là phần Tuần I của sách Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Đó là một bước nhỏ nếu so với toàn bộ kho tàng cần dịch, nhưng lại là một bước quyết định: điều họ mong ước đã bắt đầu trở thành những trang sách có thể cầm trong tay và đem vào giờ kinh.
Xin thử hình dung một buổi làm việc như thế. Trên bàn là các bản văn, từ điển, tài liệu phụng vụ và những tờ giấy nhiều chỗ sửa. Một câu thánh vịnh được đề nghị. Có người thấy nghĩa đã đúng nhưng nhịp đọc chưa thuận. Một người khác nhận ra cách chọn chữ ấy làm hình ảnh của nguyên bản nhạt đi. Người thứ ba hỏi: nếu một cộng đoàn đọc chung câu này vào buổi sáng, họ sẽ nghe ra điều gì? Câu hỏi ấy buộc cả nhóm trở lại với bản văn. Họ không được phép làm cho Sách Thánh nói khác đi; họ cũng không muốn đặt trước cộng đoàn một câu mà chỉ người dịch mới hiểu.
Những đối thoại cụ thể của một phiên làm việc không phải lúc nào được lưu lại. Nhưng chính đặc tính tập thể của công trình cho thấy bản dịch đã đi qua việc đọc, góp ý và sửa chữa. Tư liệu của Nhóm nhắc đến những thành viên có khả năng về chú giải Kinh Thánh, ngôn ngữ cổ, phụng vụ, mục vụ, văn chương và thi ca; cũng nhắc đến việc có những câu gây tranh luận trong quá trình làm việc. Điều ấy không làm giảm giá trị của bản dịch. Trái lại, nó cho thấy sự cẩn trọng cần có khi một chữ được chọn hôm nay có thể ở lại trên môi miệng người cầu nguyện nhiều năm sau.
Dịch Thánh Vịnh lại càng đòi hỏi sự kiên nhẫn. Thánh Vịnh chứa những tiếng kêu rất khác nhau: ngợi khen và sợ hãi, tín thác và chất vấn, tạ ơn và than van, cô đơn và hy vọng. Có câu dịu như lời ru, có câu dữ dội như tiếng người bị dồn đến đường cùng. Nếu cố làm cho tất cả đều êm ái, người dịch sẽ làm nghèo đời sống cầu nguyện mà Thánh Kinh trao cho ta. Nếu chỉ chăm giữ từng cấu trúc xa lạ, họ có thể khiến người đọc không còn nghe thấy một lời cầu nguyện. Một bản dịch tốt phải để người tín hữu nhận ra rằng mình có thể đến trước Thiên Chúa với trọn vẹn con người mình. Người vui có lời để tạ ơn. Người kiệt sức có lời để than thở. Người phạm tội có lời để xin thương xót. Người chờ đợi rất lâu có lời để tiếp tục chờ đợi.
Bởi vậy, thành quả đầu tiên của Nhóm có ý nghĩa sâu hơn số trang đã in. Mỗi giờ kinh bằng tiếng Việt là một lời khẳng định âm thầm rằng đời sống cầu nguyện của Hội Thánh không chỉ thuộc về những người có học vấn chuyên môn hoặc biết ngoại ngữ. Một nữ tu trẻ, một thầy tập sinh, một linh mục già, một giáo dân tìm được giờ tĩnh lặng trước ngày làm việc: tất cả đều có thể bước vào cùng một dòng lời cầu nguyện của Hội Thánh bằng tiếng nói gần gũi với mình.
Đi qua chiến tranh và những năm thiếu thốn
Lịch sử của Nhóm không đi qua một thời kỳ yên ổn được chuẩn bị riêng cho công việc học thuật. Những năm đầu gắn với chiến tranh. Biến cố 1975 mở ra những thay đổi rất lớn trong đời sống đất nước và Hội Thánh. Điều kiện in ấn, đi lại, liên lạc và quy tụ nhân sự đều có thể trở thành khó khăn. Có giai đoạn tài liệu phải lưu hành bằng những phương tiện sao chép đơn sơ, trong đó có rô-nê-ô. Muốn một công trình sống sót qua hoàn cảnh ấy, người ta cần nhiều hơn lòng say mê của buổi đầu; họ cần một sự bền chí được thử mỗi ngày.
Sự bền chí đó không nên được kể như thể những người trong cuộc không biết mệt. Họ là những con người có tuổi tác, trách nhiệm, giới hạn và những lo toan riêng. Có người phải dừng việc để làm mục vụ. Có người chuyển nơi sống. Có người qua đời. Một bản thảo có thể chậm lại vì thiếu điều kiện đối chiếu; một cuốn sách có thể phải chờ rất lâu mới được in. Những mất mát ấy thuộc về lịch sử thật. Chính vì vậy, việc công trình tiếp tục mới đáng được trân trọng. Đằng sau một cuốn sách xuất hiện trên kệ có khi là nhiều năm người ta vẫn làm việc dù chưa biết bao giờ cuốn sách ấy đến được với độc giả.
Cha Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh nhìn lại bốn mươi năm đầu và không che giấu rằng Nhóm đã gặp những khó khăn «đến từ nhiều phía», kể cả từ nội bộ. Nhưng ngài cũng xác nhận hai công trình lớn mà anh chị em đã dâng cho cộng đồng Dân Chúa Việt Nam: Các Giờ Kinh Phụng Vụ và Kinh Thánh. Theo lời ngài, việc phiên dịch sách giờ kinh được hoàn tất vào năm 1983; sau đó Nhóm mở rộng công việc sang việc dịch toàn bộ Kinh Thánh. Những con số và mốc năm ở đây quan trọng, vì chúng nhắc ta rằng một ước nguyện được nói lên năm 1971 đã cần nhiều năm lao động liên tục mới có thể sinh hoa trái đầy đủ.
Có một vẻ đẹp kín đáo trong những công trình kéo dài như vậy. Một người gieo hạt không phải lúc nào cũng là người nhìn thấy mùa gặt. Một thế hệ bắt đầu dịch để một thế hệ khác được nghe. Người sửa một câu thánh vịnh có thể không biết câu ấy sẽ nâng đỡ ai vào một đêm mất ngủ nhiều thập niên sau. Người dò lại chú thích có thể không biết một giáo lý viên sẽ tìm thấy ở đó câu trả lời cho thắc mắc của học trò mình. Những người làm công việc này phải học cách trao phó hoa trái. Họ làm hết sức phần mình, rồi để Lời Chúa bước vào những cuộc đời mà họ không thể dự liệu.
Hai công trình lớn, một hướng phục vụ
Các Giờ Kinh Phụng Vụ là công trình đầu tiên và cũng là công trình đặt tên cho Nhóm. Theo các mốc cha cung cấp, phần Thường Niên Tuần I được in năm 1972, Tuần II năm 1973 và đủ bốn tuần năm 1975; công việc sau đó tiếp tục với các mùa phụng vụ và những thành phần khác cho đến khi công trình được hoàn tất. Nói đến sách giờ kinh, người ta có thể nghĩ ngay đến một tập sách dày và một hệ thống các giờ đọc. Nhưng sức sống của sách nằm trong một điều rất đơn sơ: Hội Thánh dâng thời gian của mình cho Thiên Chúa. Buổi sáng, ngày lao động được đặt dưới ánh sáng của Người. Buổi chiều, những gì đã xảy ra được đem về trước mặt Người. Trong giờ kinh, người tín hữu không phải lúc nào cũng tìm được một câu vừa khít tâm trạng hiện tại; có khi chính lời cầu nguyện chung kéo họ ra khỏi cái nhìn quá hẹp về mình để cầu nguyện với toàn thể Hội Thánh.
Công trình thứ hai là bản dịch toàn bộ Kinh Thánh. Từ kinh nghiệm dịch các bản văn được dùng trong phụng vụ, Nhóm tiếp tục đi vào các sách còn lại. Đây là một bước mở rộng rất lớn. Bản văn lịch sử cần một cách xử lý khác thơ ca. Ngôn sứ không nói theo giọng của sách Châm Ngôn. Một dụ ngôn của Đức Giêsu có sức chuyển động khác với một lập luận của thánh Phaolô. Cùng một tiêu chuẩn trung thành với nguyên bản, người dịch vẫn phải lắng nghe giọng riêng của từng sách. Độc giả cần một bản văn có thể đọc được; người muốn học hỏi còn cần dẫn nhập, chú thích và những chỉ dẫn giúp họ hiểu bối cảnh, thể văn và những chỗ khó.
Nhóm gọi bản dịch phổ thông của mình là KPA. Theo giới thiệu của Nhóm, bản dịch ấy hướng đến việc trung thành với bản gốc, trong sáng, dễ hiểu và đẹp trong tiếng Việt; các phần được gom lại trong Kinh Thánh ấn bản 2011. Nhóm cũng khởi sự một bản dịch để học hỏi, gọi là KPB, với thời gian nghiên cứu và thực hiện dài hơn. Sự phân biệt này rất hữu ích: người đọc để cầu nguyện hằng ngày và người khảo cứu sâu cùng cần đến Sách Thánh, nhưng không phải lúc nào cũng cần cùng một cách trình bày và cùng mức độ chú giải.
Một bản dịch Kinh Thánh không kết thúc vào ngày sách được đóng bìa. Độc giả đem đến những câu hỏi mới. Việc nghiên cứu bản văn tiến triển. Tiếng Việt cũng tiếp tục sống và thay đổi. Có những chỗ cần được giải thích thêm, có những lựa chọn chữ đáng xem xét lại. Điều ấy không phủ nhận công lao của bản dịch đi trước. Nó là dấu hiệu của một thái độ khiêm tốn trước Sách Thánh: dịch giả biết mình phục vụ Lời Chúa, chứ không sở hữu Lời Chúa. Chính vì trân trọng công trình đã làm, họ có thể tiếp tục đọc lại, sửa lại và mở thêm những con đường giúp người khác hiểu.
Từ trang sách đến giọng đọc
Nếu nhìn hai công trình lớn ấy như những cuốn sách đặt trên giá, ta mới thấy một phần hành trình. Đời sống của bản dịch bắt đầu rõ nhất khi có người dùng nó. Một em nhỏ nghe bài đọc trong Thánh lễ. Một người mẹ mở Tin Mừng trước giờ đi làm. Một bệnh nhân không còn đủ sức nhìn chữ nhưng vẫn muốn nghe một thánh vịnh. Một cộng đoàn ở xa quê cầu nguyện bằng tiếng Việt và nghe lại âm thanh của ngôn ngữ đã đi theo mình từ thuở nhỏ. Mỗi trường hợp đặt ra một câu hỏi mục vụ: làm sao để Lời Chúa thực sự đến được với người ấy?
Từ câu hỏi đó, công việc của Nhóm không ngừng ở hai bộ sách. Bản văn được đưa vào các bài đọc trong Thánh lễ; có những ấn phẩm hướng đến độc giả phổ thông, việc học hỏi, trẻ em và người cần những hình thức tiếp cận khác. Rồi môi trường kỹ thuật số mở ra một khả năng mới. Trên trang web của mình, Nhóm cho biết đã đưa các sách in lên mạng và cập nhật nội dung để người dùng có thể đọc hoặc nghe Các Giờ Kinh Phụng Vụ mỗi ngày. Năm 2019, Nhóm công bố việc hợp tác với Faith Comes By Hearing để thực hiện bản văn Kinh Thánh dưới dạng âm thanh.
Từ bản rô-nê-ô đến bản thu âm, từ cuốn sách cần chuyền tay đến một trang có thể mở trên điện thoại, phương tiện đã thay đổi nhiều. Tuy nhiên, câu hỏi mục vụ ban đầu vẫn còn đó: một người Việt hôm nay có thể gặp Lời Chúa ở đâu, bằng cách nào, trong hoàn cảnh sống cụ thể của mình? Người khiếm thị cần được nghe. Người bận rộn có thể nghe trên đường đi. Người ở một nơi không dễ mua sách có thể đọc trực tuyến. Người muốn nghiên cứu có thể tìm chú thích. Người mới tiếp xúc với Kinh Thánh cần một lối vào dễ hiểu. Mỗi phương tiện đáp lại một hoàn cảnh; tất cả đều quy về việc mở đường cho cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người.
Vì thế, sẽ là quá hẹp nếu gọi những thành quả ấy đơn thuần là «sản phẩm nội dung». Có sách, có âm thanh, có trang mạng, có công việc biên tập và phổ biến; nhưng động lực ở chiều sâu là mục vụ Lời Chúa. Mục vụ ấy không chỉ diễn ra khi một người đứng giảng trước cộng đoàn. Nó còn diễn ra nơi người âm thầm tra cứu một động từ, người kiểm lại dấu câu, người đọc thử một đoạn thành tiếng, người chuẩn bị bản thu cho rõ ràng. Những việc tưởng rất kỹ thuật ấy có thể là hành vi yêu mến: yêu bản văn đủ để không làm qua loa, yêu người nghe đủ để không bắt họ vật lộn vô ích với một câu văn tối nghĩa.
Một cộng đoàn của những chuyên môn khác nhau
Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ có một nét đáng quý: anh chị em đến từ nhiều bậc sống và nhiều môi trường phục vụ. Có linh mục dòng, linh mục triều, tu sĩ và giáo dân; có người chuyên Kinh Thánh, có người hiểu thần học và phụng vụ, có người góp phần từ mục vụ, thánh nhạc, ngôn ngữ hay văn chương. Nhìn từ ngoài, một tập hợp như thế có thể khiến công việc chậm hơn, bởi người ta phải nghe nhau và đôi khi phải tranh luận. Nhưng đối với một bản dịch dành cho Dân Chúa, chính những góc nhìn khác nhau giúp phát hiện các vấn đề mà một người làm một mình dễ bỏ qua.
Nhà chú giải hỏi: bản văn gốc muốn nói gì? Người làm phụng vụ hỏi: câu này đứng ở đâu trong lời cầu nguyện chung của Hội Thánh? Người có kinh nghiệm mục vụ hỏi: cộng đoàn sẽ hiểu thế nào khi nghe lần đầu? Người am hiểu tiếng Việt hỏi: cách diễn đạt này có thật là tiếng Việt sáng rõ và có sức sống không? Không câu hỏi nào thay thế được câu hỏi nào. Một bản dịch có thể đúng về mặt từ vựng nhưng nặng nề khi đọc lớn tiếng. Một câu có thể rất đẹp mà không còn trung thành với nguyên bản. Một giải thích có thể rất sâu nhưng vượt quá điều người đọc phổ thông cần ngay lúc ấy. Làm việc chung giúp các đòi hỏi ấy đối thoại với nhau.
Ở đây, ta có thể thấy một biểu hiện cụ thể của tính công giáo. Lời Chúa được trao cho toàn thể Hội Thánh; bởi vậy, công việc phục vụ Lời Chúa cũng đón nhận những ơn riêng Chúa ban cho nhiều người. Chuyên môn là cần thiết, nhưng chuyên môn không phải lý do để khép cửa trước kinh nghiệm của cộng đoàn. Một nhà Kinh Thánh giỏi vẫn có thể học được điều gì đó khi nghe một bà cụ đọc câu mình dịch. Một người có tai nghe tiếng Việt tinh tế vẫn cần được nhà chú giải nhắc rằng một hình ảnh nghe lạ có khi thuộc về chính bản văn và không nên xóa đi. Tôn trọng nhau như thế không làm công việc mất tính nghiêm túc; nó giúp sự nghiêm túc có đúng hướng.
Chính tinh thần ấy cũng đặt ra một lời nhắc cho người sử dụng bản dịch. Ta có quyền đặt câu hỏi về một cách dịch; có khi câu hỏi ấy rất cần thiết. Nhưng nên nhớ đằng sau một câu chữ là những lựa chọn đã được cân nhắc giữa nhiều khả năng. Đọc một bản dịch với lòng biết ơn không có nghĩa là ngừng suy nghĩ. Lòng biết ơn giúp ta suy nghĩ công bằng hơn, thấy cả nỗ lực lẫn giới hạn của những người đã làm việc trước mình.
Sự âm thầm của người mở cửa
Có một hình ảnh có thể giúp hiểu vai trò của người dịch: họ mở một cánh cửa rồi đứng sang một bên. Cánh cửa cần được làm chắc, đặt đúng chỗ và mở đủ rộng. Nhưng sau khi người khách bước vào, người ấy cần gặp chủ nhà. Với bản dịch Kinh Thánh cũng vậy. Dịch giả không mời người đọc đến chiêm ngắm tài khéo léo của mình như đích đến cuối cùng. Họ mong người đọc đi qua những dòng chữ để nghe Lời Chúa, để gặp Đức Kitô.
Điều ấy đòi hỏi một dạng khiêm nhường khó khăn. Người dịch phải đem hết năng lực ra làm việc, song cũng phải sẵn sàng bỏ một câu mình rất thích nếu câu ấy không phục vụ bản văn. Họ phải biết bảo vệ một lựa chọn đúng khi cần, nhưng cũng phải biết sửa khi có lý do xác đáng. Họ cần đủ tình yêu dành cho ngôn ngữ để viết đẹp, và đủ tự do đối với chính nét đẹp mình tạo ra để không đặt nó cao hơn chân lý của bản văn. Người phục vụ Lời Chúa thường phải thực tập sự từ bỏ ấy ngay trên từng trang giấy.
Người giảng Lời Chúa cũng có thể học từ họ. Đôi khi ta vội tìm một câu gây ấn tượng, một ý thật mới, một lối nói làm người nghe nhớ đến mình. Nhưng người dịch nhắc rằng điều đáng quý nhất là để bản văn được nói. Trước khi hỏi «tôi sẽ nói gì với cộng đoàn?», người giảng cần hỏi «bản văn này đang nói gì?». Trước khi muốn giải thích một câu khó, ta phải chịu ở lại với câu ấy. Trước khi đòi Lời Chúa trả lời ngay điều mình quan tâm, ta cần cho phép Lời Chúa đặt lại câu hỏi cho chính mình. Một mục vụ Lời Chúa trưởng thành bắt đầu bằng việc lắng nghe như vậy.
Người đọc tại gia đình cũng có thể học điều ấy. Ta không cần đợi đến khi hiểu hết Kinh Thánh mới bắt đầu đọc. Có thể bắt đầu bằng một đoạn ngắn, đọc chậm, chú ý một từ khiến mình dừng lại, đem một câu vào lời cầu nguyện. Dei Verbum số 25 nhắc rằng cầu nguyện cần đi cùng việc đọc Thánh Kinh. Khi cầu nguyện, ta thưa với Thiên Chúa; khi đọc Lời Người, ta lắng nghe Người. Cuộc đối thoại ấy không luôn đem lại một cảm xúc mạnh. Nhiều khi nó lớn lên rất âm thầm: một cách nhìn được sửa lại, một nỗi sợ được gọi tên, một lời xin lỗi cuối cùng cũng nói ra được, một quyết định sống thật hơn được hình thành.
Gần năm mươi lăm năm: điều gì còn được trao lại?
Từ ngày 1 tháng 11 năm 1971 đến tháng 9 năm 2026, hành trình của Nhóm đã đi qua gần năm mươi lăm năm. Những chặng đường ấy bao trùm chiến tranh, biến động xã hội, các thời kỳ thiếu thốn, sự trở lại dần dần của hoạt động xuất bản, sự phát triển của internet và những thay đổi sâu sắc trong cách con người đọc, nghe, học hỏi. Ngày nay, trí tuệ nhân tạo còn đặt ra những khả năng và câu hỏi mới về việc tạo, xử lý và phổ biến văn bản. Không ai ở buổi họp đầu tiên năm 1971 có thể nhìn thấy hết những phương tiện của năm 2026. Nhưng họ đã nhận ra điều cốt yếu: người Việt cần được nghe và cầu nguyện với Lời Chúa bằng tiếng Việt.
Phương tiện mới có thể giúp một bản văn đi xa hơn; nó không thay thế được trách nhiệm đối với bản văn. Một câu dịch sai, dù được phát đến hàng triệu người, vẫn là một câu cần sửa. Một lời giải thích dễ nghe nhưng không đúng với Sách Thánh không trở nên đáng tin chỉ vì được trình bày hấp dẫn. Ngược lại, kỹ thuật được sử dụng cẩn trọng có thể mở thêm những lối vào quý giá: người ta tìm lại một đoạn đã nghe ở Thánh lễ, đối chiếu một chú thích, nghe một sách Kinh Thánh trong lúc không thể đọc, chia sẻ một đường dẫn để cùng nhau học hỏi. Bài học từ hành trình của Nhóm vì thế vẫn rất thời sự: hãy dùng mọi phương tiện có thể, nhưng hãy làm việc với sự chính xác, sự khiêm tốn và lòng yêu mến người sẽ đón nhận Lời.
Lịch sử ấy còn trao lại cho Hội Thánh Việt Nam một câu hỏi về người kế tục. Những cuốn sách hiện có không tự sinh ra. Trang mạng không tự cập nhật. Bản dịch để học hỏi không tự hoàn thành. Cần những người trẻ chịu học ngôn ngữ Kinh Thánh, yêu tiếng Việt, hiểu truyền thống Hội Thánh, biết lắng nghe đời sống cầu nguyện của cộng đoàn. Cần những người sẵn sàng làm việc lâu dài, kể cả khi phần việc của họ chỉ là một chú thích, một bản hiệu đính, một giờ đọc soát. Và cần những cộng đoàn biết quý những công việc âm thầm ấy: tạo điều kiện cho người có khả năng học hỏi, đón nhận thành quả với lòng biết ơn, góp ý cách nghiêm túc khi thấy điều cần cải thiện.
Không phải ai cũng được gọi làm dịch giả. Nhưng ai cũng có thể góp phần để điều Dei Verbum mong ước thành hiện thực. Một linh mục chuẩn bị bài giảng bằng cách đọc bản văn cẩn thận. Một giáo lý viên giúp trẻ em mở Kinh Thánh và tìm được một câu. Cha mẹ đọc Tin Mừng với con trước giờ ngủ. Một người mua tặng cuốn Kinh Thánh cho bạn, rồi dành thời gian đọc cùng bạn. Một cộng đoàn tạo chỗ cho những người nghe kém, nhìn kém, ít được học hành hoặc chưa quen với ngôn ngữ nhà đạo tiếp cận Lời Chúa. «Rộng rãi tiếp cận Thánh Kinh» cuối cùng phải thành những cử chỉ cụ thể như thế.
Và cũng nên nói thêm: có sách trong tay chưa chắc đã là tiếp cận Lời Chúa theo nghĩa sâu nhất. Ta có thể đặt Kinh Thánh trên bàn mà không bao giờ mở. Ta có thể trích một câu rất nhanh để bênh vực mình mà không chịu nghe cả đoạn đang mời gọi mình hoán cải. Ta có thể thuộc nhiều lời đẹp mà vẫn đối xử cứng lòng với người bên cạnh. Những người đã lao động để trao cho ta bản dịch không thể đọc thay ta, cầu nguyện thay ta hoặc sống thay ta. Họ đã làm phần của mình để cánh cửa được mở. Bước qua cửa là phần đáp lại của mỗi người.
Lời muốn được nói lại mỗi sáng
Nếu phải chọn một cảnh để kết thúc chương này, có lẽ không cần trở về một lễ kỷ niệm long trọng hay một buổi ra mắt sách. Chỉ cần nhìn một buổi sáng bình thường. Trời còn sớm. Một người mở giờ kinh trên cuốn sách đã cũ hoặc trên màn hình điện thoại. Ngoài kia, công việc của ngày mới đang chờ, những mối bận tâm vẫn còn nguyên. Người ấy đọc một câu thánh vịnh bằng tiếng Việt. Câu ấy từng đi qua một ngôn ngữ cổ, qua bao thế hệ cầu nguyện của Hội Thánh, qua bàn làm việc của những người dịch, rồi đến với người đọc hôm nay. Có thể người ấy chẳng biết tên một dịch giả nào. Nhưng người ấy hiểu câu mình vừa đọc, và có thể dùng câu ấy mà thưa với Chúa. Một hành trình dài đã đạt tới mục đích trong giây phút rất nhỏ đó.
Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ không chỉ để lại những trang sách. Anh chị em đã góp phần làm cho tiếng Việt trở thành nơi nhiều tín hữu có thể cầu nguyện chung với Hội Thánh, học hỏi đức tin và nghe lại lời Đức Kitô trong đời sống mình. Công trình ấy không miễn cho người đọc khỏi những câu hỏi khó của Kinh Thánh. Nó trao cho họ khả năng ở lại với những câu hỏi ấy, đọc tiếp, cầu nguyện tiếp và lớn lên trong cuộc gặp gỡ với Lời.
Có lẽ đó là cách đẹp nhất để hiểu mối liên hệ giữa Dei Verbum và một nhóm dịch giả Việt Nam. Công đồng đã nói rằng con cái Hội Thánh cần được đến gần Sách Thánh. Một số người đã nghe trong lời mời gọi ấy phần việc dành cho mình. Họ bắt đầu giữa những điều kiện chưa thuận tiện, làm việc qua nhiều thập niên và trao dần thành quả cho cộng đoàn. Lời Chúa đã được viết từ lâu, nhưng mỗi sáng Lời vẫn muốn được cất lên, được nghe và được sống trong một cuộc đời cụ thể. Nhờ những người kiên nhẫn mở đường, người Việt có thể đáp lại bằng chính tiếng mẹ đẻ của mình: «Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe.»

CHƯƠNG VI. NHỮNG NGƯỜI Ở LẠI ĐẾN GIỜ THỨ MƯỜI MỘT
Có những người bước vào một công việc với một ngày khởi đầu rõ ràng, nhưng không bao giờ nghĩ mình sẽ phải chọn một ngày để thôi yêu công việc ấy. Họ có thể rời một chức vụ, trao lại một trách nhiệm, không còn đủ sức đi xa hay ngồi lâu như trước; tuy vậy, điều đã âm thầm giữ họ ở lại thì vẫn còn nguyên. Đối với những người dành đời mình cho Kinh Thánh, điều ấy không chỉ là niềm vui làm việc với chữ nghĩa. Đó là lòng tin rằng qua những dòng chữ được đọc lên trong phụng vụ, Thiên Chúa vẫn đang nói với dân Người. Một câu dịch có thể đi từ bàn làm việc rất nhỏ đến một ngôi nhà thờ đông người, từ trang sách trên tay một giáo lý viên đến lời cầu nguyện bên giường bệnh. Người dịch hiếm khi biết câu mình vừa sửa sẽ gặp ai. Có thể chính câu ấy, vào một ngày nào đó, sẽ giúp một người đang tuyệt vọng đủ can đảm sống tiếp. Vì thế, họ trở lại với bản văn, xem thêm một lần nữa, cân nhắc thêm một chữ nữa. Năm tháng trôi qua, người ta nhìn lại và nhận ra: việc họ làm mỗi ngày đã trở thành hình dáng của cả một đời dâng hiến.
Khi viết những mảnh vụn về Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ, tôi dễ bị cuốn về phía những thành quả có thể gọi tên: một bản dịch, một cuốn sách, một dự án được hoàn tất. Nhưng lịch sử của Nhóm còn được viết bằng một thứ khó liệt kê hơn: sự hiện diện bền bỉ của những con người. Có người ở đó từ thuở đầu, khi điều kiện làm việc còn thiếu thốn. Có người đến sau, nhận lấy phần việc của người đi trước. Có người đã về với Chúa, để lại một khoảng trống nơi bàn làm việc và trong lòng anh chị em. Có người tuổi đã cao vẫn tiếp tục làm phần mình trong giới hạn sức khỏe. Nếu chỉ kể các ấn phẩm mà không dừng lại trước những khuôn mặt ấy, ta sẽ thấy kết quả mà chưa thấy đời người đã được đặt vào trong kết quả đó.
Cha An-rê Đỗ Xuân Quế, O.P.: một đời không rời bàn làm việc
Cha An-rê Đỗ Xuân Quế thuộc lớp người mà khi nhắc đến tên, người ta không chỉ nhớ một cá nhân, nhưng nhớ cả một chặng đường. Trong ký ức về Nhóm, cha hiện lên như một người anh lớn, một cây đại thụ, một người đã dành nhiều năm tháng cho công việc mà người ngoài đôi khi thấy lặng lẽ đến mức khó hiểu. Đã có thời tuổi tác cho phép cha đi nhiều, làm nhiều. Rồi đến thời sức khỏe buộc cha phải chậm lại. Nhưng chậm lại không có nghĩa là rời bỏ điều mình đã yêu. Hình ảnh cha ở tuổi rất cao vẫn ngồi bên bản văn có sức lay động chính vì nó hết sức bình thường: một người già, một chiếc bàn, những dòng chữ cần được xem lại. Chừng ấy đủ làm thành một lời chứng.
Tôi không có ý viết tiểu sử đầy đủ của cha. Những người từng sống và làm việc bên cha biết nhiều hơn về tính tình, niềm vui, sự nghiêm khắc, những thói quen và bao kỷ niệm không thể gom vào một chương sách. Tôi chỉ muốn dừng lại trước câu hỏi mà đời cha đặt ra cho tôi: điều gì khiến một người tiếp tục cúi xuống trang Kinh Thánh khi đã có thể nói rằng mình làm đủ rồi? Nếu công việc chỉ để chứng tỏ khả năng, sẽ đến lúc người ta thấy không cần chứng tỏ nữa. Nếu công việc chỉ để giữ một vai trò, sẽ đến ngày vai trò ấy được trao cho người khác. Còn nếu tận đáy lòng, người ta tin rằng Lời Chúa xứng đáng với phần tốt nhất mình còn có thể trao, thì một ngày vẫn còn sáng trí để đọc, một buổi vẫn còn đủ sức ngồi, cũng là một cơ hội để tiếp tục phục vụ.
Ngày 23 tháng 8 năm 2025, cha An-rê an nghỉ trong Chúa, hưởng thọ 95 tuổi. Tin ấy khép lại một đời người, nhưng không khép lại những gì đời người ấy đã trao. Có những cái chết khiến ta nhìn lại một thành tựu. Cũng có những cái chết khiến ta nhìn lại cách một người đã sống từng ngày. Với cha Quế, điều làm tôi xúc động là sự gần nhau giữa những năm cuối đời và việc phục vụ Lời Chúa: tuổi cao không biến Kinh Thánh thành một mối quan tâm của quá khứ. Trang sách vẫn ở trước mặt. Câu chữ vẫn mời gọi. Người môn đệ vẫn lắng nghe.
Tin Mừng kể nhiều hình ảnh về sự tỉnh thức và lòng trung tín. Người đầy tớ có phúc là người được chủ trở về mà thấy đang làm công việc được giao. Dụ ngôn những người thợ được gọi vào vườn nho, kể cả vào giờ thứ mười một, lại mở ra một ánh sáng khác: trong Nước Thiên Chúa, một giờ còn lại vẫn là giờ có thể đáp lời. Hai hình ảnh ấy không hoàn toàn là một, nhưng khi đặt cạnh nhau, chúng giúp tôi hiểu đời một người đã ở lại lâu năm với sứ mạng. Cha Quế không đợi đến giờ thứ mười một mới bước vào vườn nho. Cha đã làm việc qua nhiều giờ của ngày dài. Và khi giờ thứ mười một đến, cha vẫn thuộc về vườn nho ấy. Đây là điều đẹp hơn mọi lời ca ngợi về năng suất: một con người có thể yếu đi mà lòng trung tín không yếu đi theo.
Nghỉ hưu là một sắp xếp cần thiết của đời sống con người. Tuổi tác đòi ta biết nhường việc, biết để người khác quyết định, biết đón nhận sự chăm sóc. Một linh mục có thể thôi một nhiệm vụ, một tu sĩ có thể không còn đảm trách những công việc trước kia. Nhưng không ai nghỉ hưu khỏi ơn gọi lắng nghe Lời Chúa. Không ai đến tuổi mà không còn cần để cho Tin Mừng sửa dạy, an ủi và dẫn đường. Cha Quế nhắc tôi rằng người già trong Giáo Hội không phải chỉ là người của một thời đã qua. Các ngài có thể trao cho người trẻ một điều không cuốn sách hướng dẫn nào truyền đạt đủ: cách yêu một công việc khi sự mới mẻ đã qua, cách trung thành khi chẳng còn mấy ai để ý, cách đặt lại câu hỏi trước một chữ mình tưởng đã hiểu từ lâu.
Người trẻ thường được khích lệ làm việc nhanh, nắm bắt phương tiện mới, nói cho đúng nhịp sống hiện đại. Những điều ấy có ích. Nhưng đứng trước hình ảnh một linh mục 95 tuổi vẫn quan tâm đến bản văn, tôi muốn hỏi thêm: chúng ta có còn đủ kiên nhẫn để ngồi cả buổi với một câu Kinh Thánh không? Có còn đủ khiêm tốn để tra lại một chữ, dù mình đã giảng về câu ấy nhiều lần? Có còn để cho Lời Chúa làm mình ngạc nhiên, thay vì vội đưa Lời Chúa vào khuôn của những điều mình định nói? Một đời làm việc như cha Quế không cho chúng ta một kỹ thuật để bắt chước trong vài ngày. Đời ấy dạy một nhịp sống: đọc, suy nghĩ, cầu nguyện, sửa lại, rồi tiếp tục đọc. Một nhịp sống chậm đến mức có thể làm người vội vàng sốt ruột, nhưng nhờ đó mà lời được trao cho cộng đoàn có thêm sự chín chắn.
Trong đời mục vụ, tôi đã thấy một bài giảng hay có thể được nhớ rất lâu. Tôi cũng tin có những bài giảng không hề được nói trên bục giảng. Một người già mở bản văn ra vào đầu tuần. Một người đã cống hiến nhiều năm vẫn thấy mình phải làm cẩn thận phần việc hôm nay. Một người có đủ lý do để nghỉ ngơi vẫn trở lại với Lời Chúa bằng tâm tình của người đang học. Đó là một bài giảng không cần micro. Người nghe có thể chỉ là vài anh chị em cùng làm việc, nhưng bài giảng ấy đi xa hơn họ. Nó hỏi mỗi người chúng ta: Khi không còn ai đòi hỏi, con còn muốn trung thành không?
Soeur Amelie Nguyễn Thị Sang: bàn tay cũ, phương tiện mới
Nếu hình ảnh cha Quế đưa ta đến trước một chiếc bàn làm việc ở cuối đời, thì hình ảnh soeur Amelie Nguyễn Thị Sang lại đặt trước mắt ta một chi tiết vừa thân thương vừa bất ngờ: một nữ tu cao tuổi ngồi bên chiếc laptop. Theo tư liệu được dùng để viết chương này, soeur gắn bó với Nhóm từ cuối năm 1974; ở tuổi 88, soeur vẫn dành hai ngày mỗi tuần cho công việc. Tôi muốn giữ nguyên hình ảnh ấy, vì nó nói được nhiều điều mà những lời tổng kết dễ bỏ sót. Trước màn hình không chỉ là một người sử dụng công nghệ. Đó là một người đã đi qua nhiều thời của công việc dịch thuật, từng chứng kiến cách làm, cách lưu bản thảo, cách trao đổi và sửa chữa thay đổi theo năm tháng, mà vẫn giữ cùng một thái độ đối với bản văn: phải đọc cho kỹ, phải nghĩ cho thấu, phải có trách nhiệm với điều sẽ được trao đến tay người khác.
Ta dễ ngạc nhiên trước chiếc laptop và nói về khả năng thích nghi của một nữ tu già. Nhưng dừng ở đó thì chưa đủ. Phương tiện nào rồi cũng thay. Có thời người ta cần những tập giấy, chiếc máy chữ, những bản chép tay và các dấu sửa bằng bút đỏ. Có thời toàn bộ công việc dịch chuyển lên màn hình, từng bản thảo có thể gửi đi chỉ trong ít giây. Công cụ mới giúp người ta làm được những việc trước kia tốn rất nhiều công sức. Nó cũng đưa đến một cám dỗ mới: đọc nhanh hơn khả năng hiểu, sửa nhanh hơn khả năng cân nhắc, tưởng rằng một câu trông gọn gàng trên màn hình là một câu đã thực sự sáng rõ. Hình ảnh soeur Amelie bên chiếc laptop nhắc tôi rằng điều quyết định vẫn là con người cúi xuống trước chữ. Màn hình có thể sáng hơn trang giấy cũ; sự chăm chú của người phục vụ Lời Chúa vẫn phải được nuôi từ bên trong.
Có lẽ nhiều người sẽ hỏi: hai ngày một tuần thì được bao nhiêu? Nếu đo bằng số trang, câu trả lời có thể rất khiêm tốn. Nhưng một đời người không được đo chỉ bằng số trang hoàn tất trong một tuần cuối đời. Hai ngày ấy đứng trên nền của mấy chục năm trung thành. Chúng nối hôm nay với một lời đáp đã được nói từ rất lâu. Một người trẻ mới bắt đầu có thể dành trọn tuần để làm một công việc; một người già chỉ còn có thể dành hai ngày. Cả hai có thể cùng đặt lên bàn một món quà trọn vẹn, bởi sự trọn vẹn nằm ở tấm lòng và khả năng thật sự của mỗi người. Ta không cần đòi nơi người cao tuổi sức lực của tuổi trẻ để công nhận giá trị việc họ làm. Sự hiện diện của họ, chính trong những giới hạn được đón nhận bình an, là một ân huệ cho tập thể.
“Làm riêng mà vẫn tinh thần tập thể” là một câu ngắn nhưng đáng suy nghĩ. Không phải lúc nào làm việc chung cũng có nghĩa là ngồi trong cùng một phòng. Một người có thể làm phần việc được trao nơi góc nhỏ của mình, rồi gửi lại để người khác đọc, góp ý, tiếp nối. Điều khiến họ thuộc về nhau là lòng tin vào một sứ mạng chung và sự sẵn sàng để công việc mình làm được người khác sửa lại. Đó là một đức tính khó. Sau nhiều năm làm việc, người ta dễ xem cách mình làm là cách tốt nhất. Sau nhiều năm được tín nhiệm, người ta dễ buồn khi một đề nghị của mình không được nhận. Một tập thể bền lâu cần cả kiến thức lẫn lòng khiêm tốn: mỗi người làm nghiêm túc phần mình, rồi để thành quả ấy đi qua cuộc đối thoại với anh chị em. Một bản dịch phụng vụ được nuôi lớn trong tinh thần như vậy mang dấu vết của nhiều người, dù trên trang in không thể kể hết tên họ.
Tư liệu về soeur gợi lên một câu mà tôi muốn đọc thật chậm: “Một chữ, một câu có thể chỉ là một việc rất nhỏ, nhưng khi cộng lại qua hàng chục năm, đó là cả một đời người phục vụ Lời Chúa.” Đúng thế. Có những ngày công việc chỉ là xem lại một dấu câu. Có những buổi một người mất nhiều thời gian mà cuối cùng quyết định giữ nguyên cách dịch cũ, vì đã cân nhắc kỹ và thấy chưa có cách nào tốt hơn. Nhìn từ ngoài, dường như chẳng có chuyện gì xảy ra. Nhưng đời sống trung tín thường lớn lên như vậy. Một chữ hôm nay, một câu ngày mai, một lần nhận mình chưa hiểu hết, một lần lắng nghe ý kiến khác, một lần trở lại bản gốc: các việc nhỏ cộng lại thành một con người được đào luyện trong sự cẩn trọng.
Chúng ta thích kể về những quyết định lớn. Ta nhớ ngày khấn dòng, ngày chịu chức, ngày khởi sự một công trình. Nhưng phần lớn đời dâng hiến diễn ra giữa các ngày không được ghi vào biên niên sử. Người nữ tu thức dậy và làm điều mình đã nhận làm. Người linh mục mở lại trang sách. Người giáo dân đến đúng giờ họp để xem một bản thảo chưa xong. Không có tiếng vỗ tay cho từng ngày ấy. Nếu đợi đến khi có một việc phi thường mới tin rằng đời mình có ý nghĩa, chúng ta sẽ bỏ lỡ chính nơi Thiên Chúa đang chờ gặp mình. Soeur Amelie, qua hình ảnh được kể lại, giúp tôi nhận ra chiều sâu thiêng liêng của một việc làm đều đặn: không có ngày nào quá bình thường đến mức không thể trở thành một lời thưa vâng.
Những tên khác, cùng một hướng
Một lịch sử tập thể cần những cái tên. Gọi tên là một cách biết ơn. Cha Hoàng Kim, cha giáo Nhân, cố Thao, cha Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, cha Trần Phúc Nhân, cha An-rê Đỗ Xuân Quế, và còn những người khác nữa: mỗi tên gọi nhắc rằng điều ta đang cầm trên tay đã đi qua đời sống, trí tuệ, lòng tin và sự nhẫn nại của những con người cụ thể. Tôi không muốn biến các ngài thành một hàng tên được đọc vội. Sau mỗi tên là một cách phát âm, một nét chữ, một kinh nghiệm sống, những ngày làm việc tốt và những ngày mệt mỏi, những lần nhất trí và những cuộc thảo luận chưa dễ đi đến đồng thuận. Nếu ta quý trọng một bản dịch được dùng chung, ta cũng phải nhớ sự đồng lòng ấy được xây bằng bao công khó rất riêng.
Có người trong những tên ấy đã về với Chúa. Có người vì tuổi tác hay hoàn cảnh mà phải tạm nghỉ. Có người vẫn tiếp tục. Đời sống Giáo Hội luôn có những cuộc trao tay như thế. Thế hệ trước mở đường, nhưng không thể đi thay mọi bước chân của thế hệ sau. Thế hệ sau nhận lấy di sản, nhưng không thể sống chỉ bằng lòng biết ơn. Họ phải làm tiếp. Họ sẽ gặp những câu hỏi mà người trước chưa gặp, những phương tiện người trước chưa dùng, những cách nói cần được cân nhắc trong một xã hội đang thay đổi. Lòng hiếu thảo đối với người đi trước không buộc ta giữ mọi cách làm như cũ; lòng hiếu thảo mời ta giữ cho sống điều đã khiến họ bắt đầu: yêu Lời Chúa, yêu Hội Thánh, yêu tiếng Việt của cộng đoàn đang cầu nguyện.
Một nhóm làm việc lâu năm thường được nhìn qua vài khuôn mặt nổi bật. Điều ấy tự nhiên, vì có người gánh trách nhiệm lớn, có người để lại dấu ấn rõ. Nhưng đằng sau những tên được nhắc nhiều còn có biết bao phần việc âm thầm. Có người đọc thử để xem câu có dễ hiểu không. Có người phát hiện một chỗ dùng từ thiếu nhất quán. Có người lo bản thảo, lịch hẹn, việc liên lạc. Có người dành một buổi để tranh luận cho ra lẽ một cách diễn đạt. Nếu một mắt xích vắng đi, công việc chung sẽ vất vả hơn. Giáo Hội không lớn lên nhờ một người giỏi làm thay tất cả. Giáo Hội lớn lên khi mỗi người sẵn lòng đặt khả năng mình vào một công việc vượt quá tên tuổi mình.
Chính ở đây, tôi nghĩ đến cộng đoàn mà bản dịch sẽ đi tới. Người đọc sách thánh trong thánh lễ thường không biết ai đã ngồi cân nhắc các chữ mình sắp đọc. Một bà mẹ cầu nguyện với con buổi tối không biết đoạn Thánh Vịnh ấy đã được xem đi xem lại bao lần. Một người bệnh nghe câu Tin Mừng trong căn phòng nhỏ cũng không biết có một người già từng dành buổi sáng để câu ấy đến tai mình tự nhiên và trung thực hơn. Sự không biết ấy chẳng làm công việc của người dịch kém đẹp đi. Trái lại, nó cho thấy một hình thức phục vụ rất gần với tinh thần Tin Mừng: làm hết lòng cho những người mình có thể không bao giờ gặp.
Một câu dịch đúng và những năm tháng nó sẽ đi cùng dân Chúa
Tôi muốn nói đôi điều với các linh mục trẻ, tu sĩ trẻ và giáo dân trẻ đang làm công việc truyền thông đức tin. Các bạn biết rõ hơn nhiều thế hệ trước sức mạnh của hình ảnh, âm thanh và mạng xã hội. Các bạn có thể đưa một đoạn Tin Mừng đến với rất nhiều người trong một buổi tối. Đó là một cơ hội đáng quý. Hãy học cách làm cho nội dung sáng sủa, dễ tiếp cận, đẹp và có sức mời gọi. Nhưng cùng lúc, xin hãy yêu cả phần việc ít được nhìn thấy ở phía sau: đọc văn bản cho chính xác, kiểm tra bối cảnh, hỏi khi chưa rõ, chịu sửa một câu dù đã dựng xong hình, dám bỏ một lời dẫn rất bắt tai nếu lời ấy làm lệch ý Kinh Thánh.
Một video hay có thể được chia sẻ rộng rãi trong vài ngày. Một câu dịch đúng, được cộng đoàn đọc đi đọc lại, có thể nuôi dưỡng lời cầu nguyện qua nhiều thập niên. Hai điều ấy không cạnh tranh với nhau. Video có thể giúp một người trẻ mở Kinh Thánh lần đầu; bản dịch đáng tin giúp người ấy ở lại, đào sâu và cầu nguyện. Vì vậy, người làm truyền thông đức tin cần học lòng kiên nhẫn của người dịch. Trước khi hỏi làm sao để nhiều người nhìn thấy, hãy hỏi mình đã nhìn đủ lâu vào Lời Chúa chưa. Trước khi tìm câu nói có sức lan truyền, hãy hỏi câu ấy có trung thực với điều bản văn muốn nói không. Trước khi vui vì một sản phẩm hoàn tất, hãy biết ơn những người đã âm thầm làm cho lời mình trích dẫn trở nên gần gũi với người Việt.
Có thể một người trẻ nghe chuyện cha Quế và soeur Amelie rồi nghĩ: Con không thể sống như thế trong thời của con. Quả thực, không ai được yêu cầu lặp lại nguyên một đời người khác. Thời đại khác, nhịp làm việc khác, trách nhiệm gia đình và cộng đoàn cũng khác. Nhưng có một câu hỏi chung cho mọi thời: tôi có sẵn lòng ở lại với điều mình đã nhận là quý giá khi nó trở nên khó, chậm và ít được ghi nhận không? Những năm đầu, niềm vui bắt đầu giúp ta đi rất nhanh. Những năm giữa, trách nhiệm giữ ta đứng vững. Những năm cuối, khi nhiều điều phụ trợ rơi đi, điều còn lại sẽ cho thấy ta đã yêu ai và yêu điều gì. Gương của những người đi trước không đòi người trẻ già đi sớm. Gương ấy mời người trẻ bắt đầu xây một lòng trung tín có thể đi cùng mình đến tuổi già.
Ở lại không có nghĩa là bám giữ công việc vì sợ người khác làm khác mình. Người thật lòng phục vụ Lời Chúa sẽ vui khi thấy người đến sau có thể tiếp tục, làm tốt hơn, đặt ra những câu hỏi mới. Một vị cao niên trao lại việc không đánh mất đời mình; người ấy đang thấy công việc được sống tiếp. Và người trẻ nhận việc cũng cần biết nhận cùng với lịch sử của nó. Đừng chỉ nhận tập tin mới nhất mà quên những năm tháng tạo nên tập tin ấy. Đừng chỉ nhận một phương pháp mà không hỏi vì sao người trước đã chọn nó. Hãy ngồi với họ khi còn có thể. Hãy nghe họ kể những lần phân vân, những sai sót đã được sửa, những quyết định có vẻ nhỏ mà về sau lại hóa ra rất quan trọng. Sự kế thừa sống động bắt đầu trong những cuộc chuyện trò như thế.
Khi giờ thứ mười một đến
Giờ thứ mười một trong Tin Mừng dễ làm ta nghĩ đến cuối ngày. Ánh sáng đang nhạt đi. Sức người thợ đã hao. Chỉ còn một khoảng ngắn trước khi công việc dừng lại. Nhưng khi nghĩ đến những người đã gắn bó cả đời với Lời Chúa, tôi không thấy giờ ấy chỉ mang màu buồn. Đó còn là giờ cho thấy điều gì đã bén rễ. Khi còn trẻ, ta có thể làm việc nhờ nhiệt tình. Khi được tin cậy, ta có thể làm việc nhờ trách nhiệm. Đến một lúc nào đó, khi sức lực và vị trí đều giảm, người ta vẫn mở trang sách vì nơi ấy mình đã học gặp Chúa. Một cử chỉ nhỏ ở giờ thứ mười một có thể chứa cả những giờ thứ ba, thứ sáu, thứ chín đã đi qua.
Chúng ta không nên lãng mạn hóa tuổi già. Tuổi già có mệt mỏi, đau đớn, trí nhớ giảm sút, những cuộc chia tay và cả nỗi lo mình trở thành gánh nặng. Người cao tuổi cần được nghỉ, được chăm sóc, được lắng nghe. Không ai phải làm việc đến kiệt sức để chứng minh lòng trung thành. Bởi thế, điều đáng quý nơi cha Quế hay soeur Amelie không phải là một đòi hỏi rằng mọi người già đều phải tiếp tục lao động. Điều đáng quý là sự tự do nội tâm của người vẫn muốn trao phần mình có thể trao. Có ngày phần ấy là nhiều trang viết. Có ngày chỉ là một lời góp ý. Có ngày là kinh nghiệm được chia sẻ. Có ngày, khi không còn làm được gì khác, phần ấy là lời cầu nguyện cho người trẻ đang tiếp nối. Tất cả đều có chỗ trong vườn nho của Chúa.
Một cộng đoàn biết đón nhận người già sẽ không chỉ hỏi các ngài còn làm được bao nhiêu. Cộng đoàn ấy biết hỏi: chúng ta đã học được gì từ cách các ngài sống? Chúng ta có cho các ngài thời gian để kể chuyện, có nhận ra nỗi cô đơn của các ngài, có đủ tế nhị khi một trách nhiệm phải được trao lại? Ta có thể tôn kính công lao một người trong diễn văn rất đẹp mà lại thiếu kiên nhẫn với sự chậm chạp của người ấy ở bàn ăn. Ta có thể nói về di sản của các bậc tiền bối mà không muốn nghe góp ý của họ cho bản thảo hôm nay. Lòng biết ơn Kitô giáo cần đi vào những cư xử cụ thể: một cuộc thăm hỏi, một lời xin ý kiến chân thành, sự chăm sóc khi đau bệnh, và thái độ trân trọng cả khi người ấy không còn đóng góp theo cách ta quen thấy.
Sau cùng, chính người trẻ cũng cần biết rằng mình đang đi về giờ thứ mười một. Điều ấy không đáng sợ. Nó giúp ta sống ngày hôm nay cho ngay thẳng. Những thói quen ta tập bây giờ sẽ theo ta. Nếu hôm nay ta quen làm qua loa vì nghĩ không ai kiểm tra, về sau ta sẽ khó kiên nhẫn trước một câu khó. Nếu hôm nay ta chỉ thích phần việc được nhìn thấy, về sau ta dễ cay đắng khi không còn ở vị trí nổi bật. Nhưng nếu hôm nay ta tập đọc kỹ, tập lắng nghe, tập nhận lỗi, tập làm việc cùng người khác, tập cầu nguyện trước khi nói về Chúa, thì từng việc nhỏ đang chuẩn bị cho một đời có thể ở lại. Sự trung tín của tuổi già được vun từ những ngày còn trẻ.
Tôi nhìn lại những cái tên trong lịch sử Nhóm với lòng biết ơn. Tôi nghĩ đến cha An-rê Đỗ Xuân Quế và những năm tháng cha dành cho Lời Chúa. Tôi nghĩ đến soeur Amelie Nguyễn Thị Sang bên chiếc laptop, tiếp tục phần việc của mình trong một thời đại khác với thời soeur bắt đầu. Tôi nghĩ đến những người đã khuất và những người còn ở lại, những người được nhớ tên và những người góp sức mà ít ai biết đến. Họ giúp tôi hiểu rằng phục vụ Lời Chúa không chỉ là tìm được một bản dịch hay. Đó còn là để cho Lời Chúa đào luyện người dịch: làm họ kiên nhẫn hơn, khiêm tốn hơn, gắn bó với Hội Thánh hơn, và biết đặt ích lợi của người sẽ đọc lên trên niềm tự hào về câu chữ của mình.
Rồi một ngày, mọi bàn làm việc sẽ có người khác ngồi vào. Những cuốn sách vẫn được mở. Một người trẻ sẽ gặp một câu khó và hỏi người bên cạnh nên hiểu thế nào. Một bản thảo mới sẽ lại có chỗ cần sửa. Công việc ấy sẽ tiếp tục nhờ những người đến sau biết nhận lấy, và nhờ những người đi trước đã yêu nó đủ lâu để trao lại. Tôi mong khi đọc một đoạn Kinh Thánh bằng tiếng Việt, chúng ta đôi lúc nhớ đến những cuộc đời ẩn sau trang sách. Không phải để dừng ở lòng ngưỡng mộ con người, nhưng để học cùng họ một lời thưa đơn sơ: Lạy Chúa, hôm nay con còn ở đây. Xin cho con làm cẩn thận phần việc Chúa trao. Xin cho con yêu Lời Chúa và yêu những người sẽ nghe Lời ấy, từ bây giờ cho đến giờ thứ mười một của đời con.

CHƯƠNG VII. MỘT CHỮ, MỘT CÂU, CẢ MỘT ĐỜI NGƯỜI
Có những công việc, nhìn từ bên ngoài, dường như quá nhỏ để người ta dành cho nó cả một đời. Một người ngồi trước trang giấy, sửa một chữ. Một người đọc đi đọc lại một câu đã dịch, đặt dấu phẩy rồi lại bỏ dấu phẩy. Một người đưa bản văn lên môi, đọc thành tiếng, nghe thấy nhịp câu chưa ổn, và bắt đầu làm lại. Trong khi ấy, ngoài kia, thế giới chuyển động rất nhanh. Sách mới ra đời mỗi ngày. Tin tức xuất hiện mỗi phút. Một chiếc máy có thể tạo ra hàng chục bản dịch trong thời gian người ấy còn đang cân nhắc một từ. Nếu chỉ đo bằng số trang hoàn thành, công việc âm thầm ấy thật khó biện minh. Nhưng có lẽ chính ở đó ta bắt đầu hiểu tâm tư : khi một chữ được đặt vào bản văn Lời Chúa để cộng đoàn đọc và cầu nguyện, chữ ấy không còn là chuyện nhỏ. Nó đi vào trí nhớ của một dân tộc, đi qua môi miệng nhiều thế hệ, có mặt trong những giờ vui buồn sâu nhất của đời người. Người dịch chỉ ngồi với một câu trong hôm nay; câu ấy có thể ở lại với một người cho đến lúc họ nhắm mắt.
Thời đại của tốc độ và thời của chữ
Chúng ta đang sống giữa một cơn lũ chữ. Chữ chạy trên màn hình khi ta vừa thức dậy. Chữ chen vào bữa ăn, theo ta lên xe, đi cùng ta đến giường ngủ. Có những dòng được viết vội đến mức người viết chưa kịp nghĩ hết điều mình muốn nói, người đọc đã lướt qua. Có những bản văn được sao chép, chỉnh sửa, đăng lại nhiều lần mà gần như không ai còn nhớ nguồn gốc. Và nay, máy có thể tạo ra những đoạn văn trôi chảy, chuyển một câu từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác trong vài giây. Khả năng ấy có ích. Nó giúp người ta tra cứu, so sánh, nhận ra những cách diễn đạt có thể trước đây mình chưa nghĩ tới. Nhưng tốc độ cũng dễ tạo nên một ảo tưởng: hễ câu văn nghe xuôi tai thì công việc đã xong.
Với Lời Chúa, công việc chưa thể dừng ở chỗ xuôi tai. Một câu dịch có thể đúng từng chữ riêng lẻ mà vẫn làm người nghe hiểu sai ý toàn câu. Một lối diễn đạt có thể đẹp trong sách nhưng gượng khi được công bố trước cộng đoàn. Một từ rất quen thuộc trong đời thường có thể mang nghĩa khác khi bước vào kinh nguyện. Có câu cần giữ sự sắc bén để người nghe không né được lời mời hoán cải. Có câu cần giữ nét dịu dàng để người đang đau khổ không nghe thành một lời kết án. Người dịch phải hỏi không chỉ: “Câu này có nghĩa gì?”, mà còn: “Người ta sẽ nghe câu này như thế nào? Họ sẽ cầu nguyện với câu này ra sao? Điều gì của bản văn gốc phải được giữ lại, ngay cả khi tiếng Việt của tôi muốn đi đường dễ hơn?”
Bởi vậy, một nhóm dịch giả lớn tuổi vẫn ngồi bên nhau mài một câu không phải là hình ảnh lạc hậu. Đó là hình ảnh của lòng trung tín. Người ta có thể già đi trong công việc, tay chậm hơn, mắt cần kính dày hơn, trí nhớ đôi khi phải nhờ người khác kiểm lại một chỗ trích dẫn. Nhưng một đời ở với Lời Chúa cũng dạy họ nhận ra những điều mà sự vội vàng thường bỏ sót: một sắc thái của lòng thương xót, một chuyển động trong lời cầu xin, một tiếng nói của cộng đoàn ẩn sau đại từ “chúng con”. Kinh nghiệm ấy không cho phép họ tự nhận mình luôn đúng. Trái lại, nó thường khiến họ thận trọng hơn. Càng ở lâu với bản văn thánh, người ta càng biết mình phải lắng nghe nhiều.
Nói Lời Chúa không chỉ là thông tin có nghĩa gì? Thông tin trả lời cho ta biết một sự việc. Lời Chúa cũng cho ta biết, nhưng còn gọi ta bước vào một tương quan. Một người có thể đọc dụ ngôn người cha nhân hậu để biết câu chuyện trong chương mười lăm Tin Mừng Luca. Nhưng khi người ấy đang mang mặc cảm vì một lỗi lầm cũ, câu chuyện có thể trở thành tiếng gọi trở về. Một người có thể biết Thánh Vịnh nói rằng Chúa là mục tử. Nhưng vào một đêm trong bệnh viện, câu ấy có thể là lời duy nhất họ còn đủ sức thưa. Chữ vẫn là chữ, bản văn vẫn là bản văn; điều khác đi là người nghe nhận ra mình được Thiên Chúa ngỏ lời qua đó.
Chính vì thế, người dịch không được coi chữ là vật liệu vô chủ để tùy ý trang trí. Mỗi câu phải đi qua sự khảo sát nghiêm túc, nhưng cũng phải đi qua thái độ kính cẩn. Máy có thể đề nghị một cách chuyển nghĩa. Người dịch có thể dùng đề nghị ấy để đặt câu hỏi, để tìm thêm tài liệu, để kiểm tra một khả năng. Nhưng máy không đứng trong nhà thờ khi câu văn được công bố. Máy không gặp một người cha vừa mất con, một thiếu nữ đang phân định ơn gọi, một ông cụ chỉ còn nhớ được vài câu kinh thuộc lòng. Người chịu trách nhiệm cuối cùng là con người: người đã chọn từ ấy, đã đồng ý với cấu trúc ấy, đã trao bản văn ấy cho Giáo Hội sử dụng.
Có lẽ đây là một trong những nghịch lý đẹp của việc dịch Kinh Thánh và phụng vụ. Muốn phục vụ được nhiều người, người dịch phải chịu ở lại rất lâu với điều rất nhỏ. Muốn câu văn có thể đi xa, người dịch phải ngồi yên. Muốn bản văn được đọc lên tự nhiên đến mức không ai chú ý tới công sức đằng sau, người dịch phải làm một công việc chẳng hề dễ dàng. Có những thành quả càng tốt thì người làm ra càng ít được nhìn thấy. Cộng đoàn nghe một câu rõ nghĩa và cầu nguyện tiếp. Họ không biết đã có bao nhiêu buổi chiều dành cho câu ấy. Có khi đó lại là phần thưởng đúng nhất của người dịch: bản văn đến được với dân Chúa mà không buộc người ta phải nghĩ đến mình.
Kiên nhẫn với từng chữ
Kiên nhẫn với từng chữ là một hình thức chay tịnh. Người làm công việc này phải nhịn một thứ rất khó nhịn: ham muốn kết thúc cho nhanh. Sau nhiều giờ đọc, tra và tranh luận, ai cũng muốn nói: “Thôi, thế là được.” Câu ấy đôi khi đúng; không bản dịch nào có thể bị giữ lại mãi vì một đòi hỏi hoàn hảo vượt sức con người. Nhưng cũng có lúc “thế là được” chỉ là tên khác của sự mệt mỏi. Người dịch cần đủ khiêm tốn để nhận ra sự khác biệt. Nếu vấn đề vẫn có thể khiến người đọc hiểu sai, nếu âm điệu vẫn làm lu mờ một ý quan trọng, nếu một từ vẫn mang theo nghĩa mà bản văn không hề muốn nói, thì tình yêu đòi họ trở lại bàn làm việc.
Một liên từ có thể mở ra quan hệ giữa hai mệnh đề: điều này xảy ra vì điều kia, mặc dù điều kia, hay để điều kia được thành toàn? Sự khác biệt ấy có khi quyết định cách người nghe hiểu hành động của Thiên Chúa. Một đại từ có thể cho thấy lời ấy nói với một người hay với cả cộng đoàn. Một động từ có thể diễn tả việc đã hoàn tất, việc đang diễn ra, hay một lời hứa còn hướng về phía trước. Có những chỗ tiếng Việt không thể giữ nguyên mọi nét của ngôn ngữ gốc; người dịch buộc phải chọn. Chính vì buộc phải chọn, họ càng phải hiểu cái giá của lựa chọn mình.
Tuy nhiên, kính trọng từng chữ không có nghĩa là bám chặt vào từng chữ theo cách khiến câu tiếng Việt trở nên tối nghĩa. Dịch là đưa một bản văn sang một ngôn ngữ khác, nơi từ vựng, trật tự câu, lối nhấn mạnh và âm điệu đều có đời sống riêng. Nếu người dịch chỉ xếp những từ tương đương cạnh nhau mà người Việt nghe không hiểu, thì người dịch đã giữ được cái vỏ nhưng chưa trao được lời. Nếu vì muốn câu văn thật đẹp mà họ thêm vào bản văn những ý mình yêu thích, họ lại trao quá tay. Giữa hai nguy cơ ấy là một hành trình khó nhọc: trung thành với điều bản văn nói và tìm cho điều ấy một tiếng Việt có thể sống trong lòng cộng đoàn.
Tiếng Việt cần được lắng nghe, không chỉ được viết xuống. Một câu kinh có thể trông cân đối trên trang giấy nhưng khi đọc lên lại hụt hơi. Có câu quá nhiều mệnh đề phụ, người đọc đi đến cuối đã quên điểm khởi đầu. Có chữ đúng nghĩa mà đặt vào chỗ ấy khiến người nghe khựng lại vì liên tưởng đời thường của nó quá mạnh. Có một nhịp ngắt rất nhỏ giúp cả cộng đoàn hiểu lời kinh là lời thưa, chứ không phải lời giải thích. Những điều đó khó nhận ra nếu người dịch chỉ nhìn bản văn bằng mắt. Phải đọc thành tiếng. Phải nghe người khác đọc. Phải tưởng tượng tiếng đáp của cộng đoàn trong một ngôi nhà thờ đông người, trong một nhà nguyện nhỏ, trong một buổi cầu nguyện nơi nhiều người chưa quen với những từ thần học.
Người dịch phụng vụ đặc biệt phải nhớ rằng bản văn của mình sẽ được cất lên. Người đọc sách có thể dừng lại, xem chú thích, trở về đầu đoạn. Người tham dự phụng vụ thường chỉ có một lần nghe. Câu văn phải đủ sáng để ý chính đến được với họ, đủ sâu để họ có thể trở lại với nó nhiều lần. Câu phải thở được. Những lời có thể được hát còn cần có khả năng đi vào nhịp điệu mà không bị bẻ gãy ý nghĩa. Và khi đã đi vào trí nhớ, lời ấy cần giữ được độ chính xác để người ta không chỉ thuộc một câu dễ nhớ, mà còn được nâng đỡ bởi điều bản văn thực sự muốn nói.
Một chữ, vì thế, không bao giờ đứng một mình. Nó đứng trong câu. Câu đứng trong đoạn. Đoạn đứng trong cuốn sách. Cuốn sách ở trong toàn bộ Kinh Thánh, được đọc trong đức tin của Hội Thánh. Một chữ có thể rất đẹp khi tách riêng, nhưng không đúng ở vị trí này. Một câu có thể gây xúc động mạnh, nhưng lại đẩy trọng tâm của đoạn sang điều tác giả không nhấn mạnh. Người dịch phải thường xuyên đi tới đi lui giữa chi tiết và toàn thể. Họ cúi xuống một dấu phẩy, rồi ngẩng lên hỏi: “Toàn bộ lời này đang dẫn cộng đoàn về đâu?”
Sự kiên nhẫn ấy cần có tri thức. Không thể chỉ nói “tôi có lòng đạo” rồi bỏ qua việc học ngôn ngữ, lịch sử, thể văn, bối cảnh. Nhưng tri thức cũng cần một trái tim chịu để bản văn chất vấn mình. Có khi người dịch rất muốn làm dịu một câu khó nghe vì bản thân cũng thấy bị chạm đến. Có khi họ thích một lối diễn đạt đã quen từ nhỏ nên không muốn xét lại, dù đã xuất hiện lý do đáng kể để xét lại. Có khi họ muốn chứng minh mình tinh tế bằng một chữ mới lạ. Bản văn thánh đòi người dịch tự hỏi: “Tôi đang phục vụ câu này, hay đang dùng câu này để bảo vệ sở thích của tôi?”
Gọt giũa từng câu, do đó, không phải là bệnh cầu toàn. Người cầu toàn thường bị ám ảnh bởi việc tác phẩm của mình có hoàn hảo hay không. Người phục vụ Lời Chúa quan tâm tới việc câu văn có trung thành và có ích cho người nhận hay không. Hai thái độ đôi khi cùng tạo ra những giờ làm việc dài, nhưng hướng nhìn khác nhau. Một bên cứ soi vào thành quả của mình. Bên kia nghĩ đến những con người sẽ nhận thành quả ấy. Người dịch biết bản dịch vẫn mang giới hạn; chính vì vậy, họ mở lòng với việc góp ý, hiệu đính, tiếp tục học. Không ai sở hữu Lời Chúa. Không ai có thể nói câu mình chọn là câu cuối cùng mà mọi thế hệ phải thôi suy nghĩ.
Người sẽ nghe câu ấy
Trong phòng làm việc, rất dễ thấy trước mặt chỉ có từ điển, bản gốc, những bản dịch khác và chiếc màn hình. Nhưng ở cuối công việc ấy là những gương mặt. Người dịch cần nhớ đến họ, vì họ thường không có cơ hội bước vào phòng để nói rằng một câu nghe ra sao trong đời mình.
Hãy nghĩ đến một người mẹ đứng trong lễ an táng con. Bà không có sức phân tích một cấu trúc ngữ pháp. Bà chỉ nghe vài lời được công bố giữa tiếng nức nở và sự kiệt sức. Nếu bản dịch cẩu thả, lời hứa có thể nghe thành một sáo ngữ. Nếu người công bố vội vàng, câu kinh có thể trôi qua mà chẳng chạm tới đâu. Nhưng nếu bản văn đã được chăm sóc, một câu ngắn đôi khi tìm được đường đến bà. Nó không giải thích hết sự chết, càng không xóa nỗi đau. Nó cho bà một lời để bám vào khi lời của chính mình đã cạn.
Hãy nghĩ đến đôi bạn trẻ trong ngày thành hôn. Họ nghe những lời về tình yêu, lòng chung thủy và giao ước, giữa rất nhiều tiếng chúc mừng. Nhiều năm sau, khi hôn nhân bước qua một thời gian khó, họ có thể nhớ lại một câu đã nghe ngày ấy. Bản văn không làm thay quyết định yêu thương của họ. Nhưng một cách diễn đạt trung thành, rõ ràng có thể nhắc họ rằng lời cam kết đã đặt cuộc đời mình vào một chân trời lớn hơn cảm xúc nhất thời.
Hãy nghĩ đến một nữ tu già đọc Giờ Kinh trong căn phòng vắng. Mắt chị yếu; có thể chị đọc chậm, có lúc phải dừng lại để thở. Những câu Thánh Vịnh đã theo chị qua tuổi trẻ, qua những lần chuyển cộng đoàn, qua bệnh tật và những cuộc tiễn biệt. Người dịch không biết tên chị. Chị cũng chẳng biết ai đã sửa câu kinh trên tay mình. Vậy mà giữa họ có một mối liên hệ thật: một người dành sự chăm chút cho bản văn, một người dùng bản văn ấy để tiếp tục thưa chuyện với Thiên Chúa.
Hãy nghĩ đến một em nhỏ mới tập đọc Lời Chúa trước cộng đoàn. Em cần một câu có thể phát âm, một ý có thể hiểu, để không bị lạc giữa những từ vượt xa kinh nghiệm của mình. Rồi đến người tín hữu ít học, người mới trở lại đạo, người ở xa quê, người đang ở trong tù, người nằm viện nghe Thánh lễ qua loa nhỏ. Bản văn đi đến những nơi người dịch không bao giờ thấy. Chính vì không thấy, người dịch càng phải cẩn trọng. Họ đang giữ hộ niềm tin của những người sẽ không thể tự mình kiểm tra từng lựa chọn.
Nói như thế không có nghĩa đặt lên vai người dịch một gánh nặng bất khả thi, như thể mọi hệ quả của một câu văn đều do họ quyết định. Lời Chúa sống động hơn khả năng của người chuyển ngữ; Thiên Chúa có thể chạm đến con người ngay cả qua những cách diễn đạt chưa trọn vẹn. Nhưng niềm tin vào ân sủng không miễn cho ta khỏi trách nhiệm. Ta không thể vì Chúa có thể làm việc qua sự yếu đuối của mình mà thản nhiên với sự cẩu thả có thể tránh được. Chính khi tin Chúa muốn nói với dân Người, ta càng phải mở đường cho lời ấy được nghe rõ.
Lòng tin của cộng đoàn dành cho bản văn là một sự ủy thác thầm lặng. Người tín hữu đứng lên nghe bài đọc không tự hỏi mỗi câu đã qua bao nhiêu vòng đối chiếu. Họ nhận bản văn từ Hội Thánh và lắng nghe. Sự tin tưởng ấy đẹp, nhưng cũng nghiêm khắc. Nó đòi người làm công việc dịch thuật có một nỗi sợ thánh thiêng: sợ làm nghèo ý nghĩa, sợ lấy sự thuận tiện của mình đặt lên nhu cầu của dân Chúa, sợ nói quá điều bản văn nói hoặc bỏ mất điều bản văn muốn giữ. Nỗi sợ ấy không làm người dịch tê liệt. Nó làm họ tỉnh thức.
Làm riêng mà vẫn tập thể
Hình ảnh soeur Sang làm việc riêng trong tinh thần tập thể gợi một sự thật rất sâu về những công trình âm thầm của Giáo Hội. Không phải lúc nào mọi người cũng ngồi chung quanh một chiếc bàn. Có người làm việc trong phòng nhỏ của mình. Có người nhận vài trang để đối chiếu. Có người chuyên nghe âm điệu tiếng Việt. Có người hiểu rõ hơn một ngôn ngữ cổ. Có người đã nhiều năm đọc bản văn ấy trong phụng vụ và nhận ra chỗ cộng đoàn thường vấp. Mỗi người có phần việc riêng, nhưng không ai làm công việc ấy như một tác giả đơn độc đang tìm cách ghi dấu tên mình.
Tập thể trước hết là khả năng để người khác bước vào câu văn của tôi và đặt câu hỏi. “Chị chọn chữ này vì sao?” “Ở đây đại từ ấy chỉ ai?” “Nếu đọc lớn tiếng, chỗ ngắt câu nằm ở đâu?” “Cách dịch này có làm nhẹ đi điều bản văn đang nhấn mạnh không?” Những câu hỏi như thế có thể khiến người đã làm việc nhiều giờ thấy mệt, thậm chí thấy bị tổn thương. Bởi sau một thời gian, người ta dễ gắn lòng tự trọng với câu mình viết. Nhưng một nhóm chỉ thật sự phục vụ bản văn khi các thành viên có thể chất vấn nhau mà vẫn giữ lòng kính trọng nhau. Họ sửa câu, không hạ thấp con người. Họ bảo vệ ý nghĩa, không giành phần thắng.
Làm việc chung cũng đòi người giỏi biết nhường. Có những người hiểu ngôn ngữ gốc rất sâu nhưng cần người khác giúp nghe xem câu tiếng Việt có sống được không. Có người viết tiếng Việt đẹp, song phải chấp nhận rằng cái đẹp mình yêu thích chưa diễn tả đúng bản gốc. Có người có kinh nghiệm mục vụ phong phú, nhận ra một từ dễ gây hiểu lầm, nhưng cần phân biệt kinh nghiệm ấy với nội dung bản văn. Mỗi ân huệ trở nên quý khi nó phục vụ một công việc chung; nó trở nên nguy hiểm khi người có ân huệ ấy tưởng mình không còn cần ai khác.
Tinh thần tập thể còn nằm ở ký ức. Người đến sau thừa hưởng công sức của người đến trước: những lựa chọn đã được cân nhắc, những chỗ đã từng gây tranh luận, những lý do khiến một cách dịch bị bỏ. Nếu không ghi nhớ và trao lại, mỗi thế hệ có thể phải bắt đầu từ đầu, hoặc lặp lại một sai sót chỉ vì không biết người trước đã từng đối diện với nó. Nhưng giữ ký ức không phải đóng kín mọi cánh cửa sửa đổi. Có thể một câu từng là lựa chọn tốt nhất trong hoàn cảnh ấy, rồi về sau cần được xem lại vì tiếng Việt thay đổi, hiểu biết được bổ sung, hoặc kinh nghiệm tiếp nhận của cộng đoàn cho thấy một vấn đề. Trung thành với di sản bao gồm việc hiểu lý do của nó và can đảm tiếp tục chăm sóc nó.
Ở tầng sâu hơn, “làm riêng mà vẫn tập thể” còn có nghĩa người dịch biết mình thuộc về một Hội Thánh đang tin, đang cầu nguyện và đang đọc Lời Chúa qua nhiều thế kỷ. Tôi có thể ngồi một mình trước trang giấy, nhưng tôi không tự tạo ra đức tin làm nền cho trang giấy ấy. Lời “chúng tôi tin” lớn hơn ý riêng của tôi. Nó mời tôi đưa công việc cá nhân vào một sự hiệp thông. Có những cách diễn giải nghe mới lạ và hấp dẫn, nhưng nếu cắt một câu khỏi toàn bộ đức tin của Hội Thánh, người dịch phải dừng lại. Sự sáng tạo trong diễn đạt là cần thiết; sự sáng tạo ấy cần một ngôi nhà để ở.
Nhắc đến thánh Giê-rô-ni-mô ở đây thật thích hợp. Ngài yêu bản văn gốc, chịu khó học hỏi và không ngại những cuộc tranh luận. Nhưng tình yêu Sách Thánh của ngài không tách khỏi đời sống Hội Thánh. Ta không đọc Kinh Thánh như người đầu tiên và duy nhất tìm thấy nó. Trước ta đã có những cộng đoàn nghe, những người tuyên xưng đức tin, những vị mục tử dạy dỗ, những người nghèo cầu nguyện, những thánh nhân để Lời Chúa đổi đời mình. Hiệp thông với Huấn quyền không thay thế việc học hỏi và đặt câu hỏi; nó giúp người làm việc nhớ rằng việc mình làm nhằm phục vụ đức tin được trao cho toàn thể Dân Chúa.
Điều này đặc biệt cần thiết khi người ta ngày càng có thể làm việc một mình. Một người với máy tính và kho tư liệu lớn có thể tiếp cận rất nhiều bản văn. Đó là một cơ hội đáng mừng. Nhưng khả năng tiếp cận không tự động tạo thành sự phân định. Tôi có thể tìm thấy hàng trăm cách giải thích mà vẫn chỉ chọn cách hợp với điều tôi vốn muốn nói. Tôi có thể so sánh mười bản dịch mà chẳng một lần hỏi người khác sẽ nghe bản tôi viết ra sao. Có người cùng làm việc, cùng cầu nguyện và đủ tin cậy để sửa cho nhau là một ơn lớn. Nó giữ người dịch khỏi sự cô độc của chính ý tưởng mình.
Một đời người ở trong một câu
“Một chữ, một câu, cả một đời người” có thể hiểu theo hai chiều. Một đời người được dành để làm nên những câu văn trung tín. Và một câu văn trung tín có thể đồng hành với cả một đời người.
Chiều thứ nhất nói về người phục vụ. Chẳng ai trở thành người dịch cẩn trọng chỉ sau một khóa học. Năng lực lớn dần qua những năm học ngôn ngữ, đọc Kinh Thánh, tham dự phụng vụ, lắng nghe người khác, chấp nhận sửa sai. Có những buổi làm việc không để lại một trang nào có thể đưa ra công chúng. Người ngoài nhìn vào có thể tưởng hôm ấy chẳng làm được gì. Nhưng có khi một buổi như thế đã giúp cả nhóm biết chắc điều gì không nên viết. Có khi một người đã học cách bớt tin vào sự chắc chắn quá nhanh của mình. Thành quả của một đời làm việc không chỉ là số trang đã dịch, mà còn là nhân cách được rèn trong việc tìm sự thật.
Người ở lâu với từng câu học cách chậm lại trước con người. Nếu một chữ cần được nghe trong bối cảnh của nó, một người cũng vậy. Nếu một câu có thể bị hiểu sai khi tách khỏi toàn đoạn, một cuộc đời cũng có thể bị phán đoán sai khi chỉ nhìn một hành động. Công việc dịch thuật, khi được sống như một ơn gọi, có thể dạy sự nhẫn nại vượt ra khỏi bàn giấy. Người cẩn thận với chữ mà nóng nảy, khinh miệt người đối diện thì vẫn còn một điều sâu xa chưa để Lời Chúa chạm tới. Không phải mọi người dịch đều tự nhiên trở nên thánh thiện. Nhưng việc họ làm mỗi ngày luôn mở ra lời mời ấy.
Chiều thứ hai nói về người đón nhận. Có những câu Kinh Thánh đến với ta khi còn nhỏ, lúc ấy ta hiểu rất ít. Ta học thuộc vì gia đình đọc, vì ca đoàn hát, vì nghe trong nhà thờ. Nhiều năm sau, câu ấy trở lại giữa một biến cố và bỗng có chiều sâu mới. Rồi thêm nhiều năm nữa, ta đọc lại và nhận ra trước đây mình vẫn chưa nghe hết. Bản văn không đổi, nhưng đời người đã đi qua vui buồn, tội lỗi, tha thứ, mất mát và hy vọng. Một câu Lời Chúa đủ sức ở lại với ta vì nó không bị dùng hết trong lần đọc đầu tiên.
Có người mang trong lòng một câu “Đừng sợ” qua nhiều năm lo âu. Có người mỗi khi làm điều sai lại nhớ lời mời trở về. Có người trước một quyết định quan trọng nghe vang lên lời xin: “Xin dạy con đường lối của Ngài.” Một câu được dịch và công bố rõ ràng có thể trở thành nơi người ấy quay về để cầu nguyện. Không phải vì bản dịch tự nó có phép lạ, nhưng vì qua ngôn ngữ thân thuộc, con người có thể mở lòng cho Thiên Chúa gặp mình.
Tôi nghĩ đến những bản văn được đọc trong đám tang của chính người đã từng góp công dịch chúng. Suốt đời họ lựa từng chữ để người khác có lời cầu nguyện. Đến một ngày, họ không còn cầm bút. Cộng đoàn đứng quanh linh cữu, đọc những câu ấy và cầu cho họ. Công việc họ làm trở thành lời Hội Thánh dâng lên cho họ. Có một vẻ đẹp vừa khiêm tốn vừa lớn lao ở đó: người phục vụ Lời Chúa không giữ lại được câu văn như tài sản riêng; họ trao đi, rồi chính họ được đón nhận trong lời cầu nguyện của cộng đoàn.
Cuối cùng thuộc về Đấng đang nói
Ta cần tránh một cám dỗ tinh vi: vì quá quý công việc dịch thuật, ta có thể vô tình đặt người dịch vào trung tâm. Thật ra, người dịch làm tốt nhất khi giúp người khác vượt qua câu chữ của mình để gặp bản văn và, qua bản văn, lắng nghe Thiên Chúa. Điều ấy không làm công sức của họ nhỏ đi. Nó chỉ đặt công sức ấy đúng chỗ. Cũng như người mở cửa không phải là ngôi nhà, người chuyển lời không phải là Đấng nói. Nhưng cánh cửa cần mở đúng, và lời cần được chuyển với tất cả sự trung thành mà con người có thể trao.
Không có bản dịch nào thay thế được mầu nhiệm Lời Chúa. Người tín hữu sẽ luôn cần học hỏi thêm, đọc trong bối cảnh, lắng nghe lời giảng, cầu nguyện và sống điều mình nghe. Bản dịch tốt không đóng lại việc ấy bằng một câu văn có vẻ đã giải quyết mọi câu hỏi. Nó mở đường. Nó cho người nghe một tiếng Việt đủ trong sáng để bắt đầu cuộc gặp gỡ, đủ trung thực để không dẫn họ sang một hướng khác, đủ đẹp để họ muốn ở lại, và đủ khiêm nhường để họ còn có thể đào sâu.
Vì thế, khi nhìn một người già ngồi sửa một câu, tôi không muốn hỏi trước tiên người ấy đã làm được bao nhiêu trang hôm nay. Tôi muốn tự hỏi mình có còn biết kính trọng những điều không thể đo bằng tốc độ hay không. Có thể người ấy đang cân nhắc một chữ mà tôi sẽ đọc rất nhanh. Có thể tôi sẽ chẳng bao giờ biết tên người ấy. Nhưng một ngày kia, giữa một biến cố mà tôi không chuẩn bị nổi, chính câu văn ấy sẽ giúp tôi thưa với Chúa một lời chân thật. Khi ấy, thời giờ người ấy đã trao sẽ không còn là một con số trong quá khứ. Nó hiện diện trong lời cầu nguyện của tôi.
Một chữ có thể cần nhiều giờ. Một câu có thể mang công sức của nhiều người. Một đời người có thể được dâng trong việc âm thầm ấy. Và khi câu văn được đặt vào miệng Hội Thánh, nó tiếp tục sống một đời mà người dịch không thể theo hết: trong tiếng đọc của thiếu nhi, tiếng hát của cộng đoàn, lời thì thầm của người hấp hối, lời tạ ơn của người vừa tìm lại niềm tin. Người dịch không sở hữu những cuộc gặp gỡ ấy. Họ chỉ góp phần chuẩn bị một chỗ để cuộc gặp gỡ có thể diễn ra.
Đó là lý do phải kiên nhẫn với từng chữ. Không phải vì chữ lớn hơn con người, nhưng vì Thiên Chúa đã muốn nói với con người bằng lời mà họ có thể nghe. Không phải vì câu văn của ta sẽ tồn tại mãi, nhưng vì người nghe hôm nay là một con người cụ thể, đáng được nhận sự chăm chút hết lòng. Không phải vì ta sẽ bao giờ làm xong một cách hoàn hảo, nhưng vì lòng yêu mến không cho phép ta thản nhiên với điều mình đã được giao.
Xin cho những người phục vụ Lời Chúa luôn giữ được đôi tay chăm chỉ và một tâm hồn biết quỳ. Xin cho họ có trí sáng để học, tai mở để nghe, lòng khiêm nhường để sửa, và những người bạn đồng hành đủ chân thành để cùng họ tìm chữ đúng hơn. Xin cho mỗi câu được trao cho cộng đoàn mang dấu vết của sự cẩn trọng, nhưng không bị bóng người làm ra nó che khuất. Và xin cho chúng ta, những người nghe Lời, đừng chỉ đi ngang qua những câu đã được trao bằng biết bao công sức. Có khi Chúa đang đợi ta dừng lại ở một chữ rất quen, để lần đầu tiên thật sự nghe Người gọi tên mình.

CHƯƠNG VIII. CÁC GIỜ KINH PHỤNG VỤ: LỜI CHÚA TRỞ THÀNH HƠI THỞ CỦA NGÀY
Tên Nhóm là tên sách. Điều ấy quan trọng. Họ không tự gọi mình là “Nhóm Kinh Thánh Việt Nam” trước. Họ gọi mình bằng việc họ làm cho Giáo Hội cầu nguyện.
Có những tên gọi ra đời từ một quyết định được cân nhắc kỹ. Cũng có những tên gọi hình thành từ công việc người ta đang âm thầm làm, rồi ở lại với họ suốt đời. Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ mang một cái tên như thế. Nhóm hình thành năm 1971, bắt đầu bằng việc phiên dịch sách Các Giờ Kinh Phụng Vụ, và được gọi theo chính công trình đầu tiên ấy. Tôi muốn dừng lại ở chi tiết tưởng nhỏ này, vì tên Nhóm không chỉ ghi nhận một khởi đầu về mặt thời gian. Nó hé lộ một hướng đi: đưa Lời Chúa vào lời cầu nguyện hằng ngày của Hội Thánh bằng tiếng Việt. Trước khi trở thành những trang sách nằm trên bàn học hỏi, những bản văn ấy được chuẩn bị để có thể cất lên trong nhà nguyện, trong cộng đoàn, giữa những con người vừa thức dậy, đang đi qua một ngày lao nhọc, hoặc sắp trao đêm tối của mình cho Thiên Chúa.
Một cuốn sách có thể được đọc từ đầu đến cuối rồi đặt lại lên giá. Sách Giờ Kinh thì khác. Nó chờ người ta trở lại vào những giờ nhất định, khi tâm trạng đã đổi, sức lực đã đổi, và đời sống cũng vừa đem đến một điều mới. Buổi sáng, người đọc có thể còn đầy hy vọng; buổi chiều, chính người ấy đã mệt mỏi, thất vọng, hoặc mang theo một tin buồn. Lời kinh vẫn ở đó để đón họ. Bởi vậy, dịch Giờ Kinh không đơn thuần là chuyển nội dung của một bản văn sang tiếng Việt. Đó là chuẩn bị lời cho một cuộc gặp gỡ lặp lại mỗi ngày giữa Thiên Chúa và Dân Người. Câu chữ phải chính xác để trung thành với bản văn; phải đủ sáng để cộng đoàn hiểu khi nghe; phải đủ tự nhiên để một người có thể đọc thành lời mà không vấp; và phải đủ chiều sâu để sau nhiều năm cầu nguyện, người ta vẫn còn muốn trở về.
Kinh Thần Vụ không phải việc phụ
Nhiều giáo dân nghe đến Kinh Thần Vụ liền nghĩ đến quyển sách trên tay linh mục, đến ca đoàn trong đan viện, đến những giờ cầu nguyện thuộc về người sống đời thánh hiến. Cảm nhận ấy có lý do của nó: trong thực tế, các linh mục và tu sĩ đã gìn giữ việc đọc Giờ Kinh cách bền bỉ, nhiều khi thay cho những cộng đoàn chưa từng biết đến hình thức cầu nguyện này. Nhưng nếu từ đó mà kết luận rằng Giờ Kinh xa lạ với đời sống giáo dân, chúng ta sẽ bỏ lỡ vẻ đẹp lớn hơn của phụng vụ. Công đồng Vaticanô II trình bày Kinh Thần Vụ như lời cầu nguyện của Đức Kitô cùng với Thân Mình Người, nhằm thánh hóa cả ngày lẫn đêm; Công đồng cũng khuyến khích giáo dân tham dự với linh mục, cầu nguyện chung với nhau, hoặc cầu nguyện riêng.
Điều ấy có nghĩa là một người mẹ đọc Kinh Sáng trước khi đánh thức con đi học không bước vào một việc đạo đức chỉ dành riêng cho mình. Một người công nhân đọc vài Thánh Vịnh trong giờ nghỉ không đứng một mình trước mặt Chúa. Một cụ già lần theo từng hàng chữ của Kinh Chiều không đọc lời của một người già cô độc. Họ đang đặt tiếng nói riêng của mình vào tiếng nói rộng lớn của Hội Thánh. Cùng một lời ca tụng ấy có thể vang lên trong đan viện, nơi giáo xứ, trong căn phòng bệnh và ở một ngôi nhà nhỏ chỉ có một người thức. Những hoàn cảnh rất khác nhau được nối lại bởi một lời cầu chung.
Sự thật này đáng được nói chậm, bởi ta rất dễ hiểu việc cầu nguyện theo thói quen cá nhân: hôm nay lòng tôi sốt sắng thì tôi cầu nguyện hay; hôm nay tôi khô khan thì lời cầu của tôi trở nên nghèo nàn. Giờ Kinh mở cho ta một lối đi khác. Hội Thánh trao lời vào tay ta cả những ngày ta không biết phải nói gì. Khi vui, ta được dạy tạ ơn mà không quên người đang đau khổ. Khi buồn, ta được dạy than thở mà không đánh mất hy vọng. Khi giận dữ, ta gặp những Thánh Vịnh đủ thành thật để đưa cơn giận ấy ra trước mặt Chúa. Khi lòng mình trống rỗng, ta vẫn có thể đọc: lời của Hội Thánh nâng đỡ điều mà trái tim ta chưa tự mình cất lên nổi.
Có người hỏi: “Nếu tôi đọc mà không cảm thấy gì, việc ấy có ích gì?” Tôi nghĩ đến một người ngồi bên giường bệnh của người thân. Họ không phải lúc nào cũng nói được lời an ủi. Có những đêm họ chỉ ngồi đó, mệt mỏi và bất lực. Nhưng sự hiện diện ấy không vô nghĩa. Trong cầu nguyện cũng vậy, có những ngày lòng ta như ngọn đèn sáng; có những ngày ta chỉ còn đủ sức ở lại. Giờ Kinh dạy ta ở lại với Chúa bằng những lời đã được Hội Thánh gìn giữ. Một câu Thánh Vịnh đọc trong mệt nhọc vẫn có thể là lời phó thác chân thật. Chúng ta đừng vội đo giá trị của lời cầu bằng cảm xúc xuất hiện ngay lúc đọc.
Kinh Sáng và Kinh Chiều có một vị trí đặc biệt trong nhịp sống này. Bình minh mở ra những điều chưa biết: việc phải làm, người phải gặp, niềm vui có thể đến, thử thách chưa kịp gọi tên. Cầu nguyện lúc ấy là đặt ngày mới trong ánh sáng của Thiên Chúa. Chiều xuống, ta trở về với những gì đã thật sự xảy ra. Có việc hoàn thành; có việc dang dở. Có lời tử tế ta đã nói; có lời ta ước mình đừng nói. Có người được ta nâng đỡ; có người ta đã đi ngang qua quá vội. Kinh Chiều không xóa những điều ấy, nhưng giúp ta mang tất cả về trước mặt Chúa. Đức Bênêđictô XVI, khi nói về Giờ Kinh, đã đặc biệt mong lời cầu này được phổ biến hơn trong Dân Chúa, nhất là Kinh Sáng và Kinh Chiều.
Tôi hình dung một nhà nguyện lúc bốn giờ sáng. Đèn vừa bật. Vài người bước vào còn mang cái lạnh của đêm; một người ho khẽ; trang sách mở ra, có tiếng giấy sột soạt. Chưa ai làm được điều gì lớn lao cho ngày mới. Chưa ai giải quyết xong một nỗi lo. Vậy mà lời đầu tiên họ trao cho ngày ấy là lời hướng về Chúa. Ở một nơi khác, trời đã tối. Một người vừa khép cửa hàng, rửa mặt, ngồi xuống trước khi cả nhà đi ngủ. Người ấy đọc chậm vài câu Kinh Chiều. Hai khung cảnh không giống nhau, nhưng đều nói một điều: đời người cần những giờ được trao lại cho Đấng ban sự sống.
Thánh Vịnh: học nói thật trước mặt Chúa
Ở trung tâm của Giờ Kinh là các Thánh Vịnh. Muốn hiểu vì sao việc dịch Giờ Kinh quan trọng, trước hết phải hiểu Thánh Vịnh đã làm gì cho những người cầu nguyện qua bao thế hệ. Thánh Vịnh không chỉ cung cấp những câu hay để ta trích dẫn khi viết bài. Đó là một trường học của trái tim. Trong đó có niềm ca ngợi của người được cứu, lời khẩn cầu của người sợ hãi, tiếng kêu của người bị đối xử bất công, sự ăn năn của người biết mình phạm tội, lòng tin của người đi giữa bóng tối, và niềm vui của cộng đoàn cùng tiến về nhà Chúa. Có Thánh Vịnh đọc lên như tiếng hát. Có Thánh Vịnh đọc lên như tiếng khóc. Có câu nghe như hơi thở của người đang bình an; có câu như được nói ra bằng chút sức lực cuối cùng.
Một người chỉ quen cầu nguyện khi lòng mình êm ả có thể bối rối trước những Thánh Vịnh đầy câu hỏi và nước mắt. Nhưng chính ở đó, Sách Thánh dạy ta sự thành thật. Ta không cần tô điểm tâm hồn cho đẹp rồi mới đến với Thiên Chúa. Ta có thể đến trong tình trạng thực của mình: biết ơn, hoang mang, xấu hổ, cô đơn, giận dữ, hy vọng. Lời được linh hứng cho thấy tất cả những trạng thái ấy có thể được đưa vào tương quan với Chúa. Cầu nguyện không bắt đầu khi ta đã sắp xếp xong mọi cảm xúc. Nhiều khi chính lúc đọc một Thánh Vịnh, ta mới nhận ra điều mình đang đau, điều mình sợ mất, và điều mình vẫn còn âm thầm trông cậy.
Dĩ nhiên, không phải câu nào trong Thánh Vịnh cũng dễ đọc. Có những hình ảnh thuộc về một thế giới xa ta hàng ngàn năm; có những lời khiến người thời nay phải dừng lại, suy nghĩ, học cách hiểu trong lịch sử của dân Israel và trong ánh sáng Đức Kitô. Chính vì thế, người đọc cần được dẫn vào Thánh Vịnh, chứ không chỉ được trao một cuốn sách và bảo tự tìm đường. Nhưng trước cả bài giải thích, cần có một bản dịch cho người Việt có thể đọc và nghe. Cần một câu văn đứng được trong giờ kinh chung, để người mới đến không cảm thấy Lời Chúa đang nói bằng một thứ tiếng Việt xa lạ với đời mình.
Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ từng nói rõ nỗ lực chuyển những đoạn văn có chất thơ, đặc biệt là Thánh Vịnh, sang lối thơ tự do có âm thanh và tiết điệu dễ nghe khi đọc chung. Đó là một tiêu chuẩn rất đáng suy nghĩ. Người dịch không chỉ nhìn trang giấy bằng mắt; họ còn phải nghe câu dịch bằng tai. Một câu có thể đúng nghĩa mà khi cộng đoàn đọc lên lại nặng nề. Một câu có thể trôi chảy nhưng đánh rơi hình ảnh của bản văn. Một câu có thể đẹp theo thị hiếu của người dịch mà che khuất tiếng nói của Thánh Vịnh. Giữa những đòi hỏi ấy, dịch thuật trở thành công việc của sự kiên nhẫn: chọn một từ, đọc thành tiếng, nghe xem câu ấy có thở được không, rồi trở lại bản gốc để hỏi mình có đi quá xa không.
Tôi nhớ đến những câu đã trở nên thân thuộc với nhiều người Việt: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì”; “Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ.” Người ta có thể gặp chúng trong một buổi cầu nguyện, rồi nhiều năm sau chúng trở lại vào đúng lúc mình cần. Một người nằm viện không nhớ nổi bài giảng đã nghe Chúa Nhật trước, nhưng còn nhớ Chúa là mục tử. Một người đang bị hiểu lầm không tìm được ai để giãi bày, nhưng còn nhớ rằng Chúa biết mình. Một câu kinh đi vào trí nhớ có thể ở lại đó lâu hơn một cuốn sách trên kệ. Và khi biến cố đến, nó trở thành lời người ta có thể nắm lấy.
Một bản dịch phụng vụ vì thế có một đời sống vượt khỏi bàn làm việc của dịch giả. Người viết đặt dấu chấm ở cuối câu, nhưng câu ấy bắt đầu một hành trình khác khi được cộng đoàn đọc lên. Nó đi cùng một tập sinh trong những tháng đầu đời tu; đi cùng một linh mục sau ngày mục vụ nặng nề; đi cùng một người cha đang lo tiền học cho con; đi cùng người bệnh đợi kết quả xét nghiệm. Có khi nó hiện ra trong trí nhớ của một người không còn đủ ánh sáng để đọc sách. Có khi một em nhỏ nghe cha mẹ đọc đi đọc lại, nhiều năm sau mới hiểu câu ấy đã âm thầm ở trong mình từ thuở nào. Khi Lời Chúa bước vào tiếng mẹ đẻ, sự đón nhận ấy diễn ra bằng những con đường bình thường như vậy.
Tôi nói “tiếng mẹ đẻ” với một niềm kính trọng đặc biệt. Đối với người Việt, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện để hiểu một ý tưởng. Đó là tiếng người bà dỗ cháu, tiếng người mẹ gọi con về ăn cơm, tiếng một người thì thầm bên giường bệnh. Khi Thánh Vịnh được đọc bằng tiếng Việt, những hình ảnh và lời van xin của dân Israel không còn đứng ở một khoảng cách lạnh lùng. Chúng bước vào nơi người Việt đang sống, đang nhớ, đang thương và đang chịu đựng. Điều này không làm Thánh Vịnh mất đi nguồn gốc của nó. Trái lại, một bản dịch tốt giúp ta nghe được tiếng nói rất xưa ấy ngay trong đời sống hôm nay, đồng thời giữ cho ta biết mình đang đón nhận một gia sản lớn hơn kinh nghiệm riêng của mình.
Câu dịch phải sống được với một ngày thật
Người ta có thể bàn nhiều về văn phong của một bản dịch, nhưng Giờ Kinh cuối cùng sẽ được kiểm nghiệm trong một ngày thật. Lúc bốn giờ sáng, người đọc chưa hoàn toàn tỉnh táo. Cuối buổi chiều, người đọc có thể đã kiệt sức. Một cộng đoàn đông người không có thời gian dừng lại để giải nghĩa từng câu ngay trong lúc cầu nguyện. Người dẫn đọc cất lời, người khác đáp, rồi Thánh Vịnh tiếp tục. Bản văn cần đủ rõ để người ta đi theo. Nó cũng cần đủ chiều sâu để người đọc không chán sau lần thứ một trăm. Đó là một đòi hỏi khó: câu quá cầu kỳ sẽ khiến người ta vấp; câu quá phẳng sẽ mau cạn; câu chỉ hợp với việc đọc thầm có thể không chịu nổi khi cất thành tiếng.
Nhưng đời sống của Giờ Kinh còn đòi hỏi nhiều hơn vẻ đẹp ngôn ngữ. Nó đòi người cầu nguyện chấp nhận rằng không phải Thánh Vịnh nào cũng trùng khít với tâm trạng mình. Có buổi sáng ta đang buồn, mà lời kinh mời gọi ca ngợi. Có buổi chiều ta vừa nhận một tin vui, mà Thánh Vịnh lại nói về sự khốn cùng. Điều ấy có vẻ bất tiện nếu ta nghĩ cầu nguyện chỉ là bày tỏ cảm xúc cá nhân. Nhưng Hội Thánh cầu nguyện bằng một trái tim rộng hơn trái tim từng người. Hôm nay ta không đau khổ, nhưng ở đâu đó có người đang đau khổ và cần lời than van ấy. Hôm nay ta chưa cảm thấy vui, nhưng ở đâu đó có người được cứu và cần lời ca tụng ấy. Đọc Giờ Kinh là để đời mình được mở ra với người khác. Ta học vui với người vui, khóc với người khóc, khẩn cầu cho người không còn sức khẩn cầu, và tạ ơn thay cho người chưa nhận ra ân huệ mình đã lãnh nhận.
Nhiều khi sự hiệp thông ấy diễn ra rất âm thầm. Một người đọc câu kinh trong phòng riêng có thể tưởng mình chỉ đang cố giữ một thói quen. Nhưng chính lúc ấy, lời cầu nguyện không còn bị giới hạn bởi bốn bức tường. Người ấy mang theo tiếng nói của những người không hiện diện: người thân ở xa, người nghèo mình vừa gặp, người đã qua đời, người mình đang khó tha thứ. Giờ Kinh cho một ngày sống những khoảng dừng có ý nghĩa. Nó không bắt ta bỏ công việc để ở mãi trong nhà nguyện. Nó dạy ta đi vào công việc với một tâm hồn đã hướng về Chúa, rồi trở lại trước mặt Người cùng với tất cả những gì công việc để lại trong lòng.
Tôi nghĩ một giáo xứ cũng có thể thay đổi khi khám phá điều này. Hãy hình dung vào một buổi chiều Chúa Nhật, trước khi mọi người ra về, cộng đoàn ở lại đọc chung một phần Kinh Chiều. Không cần tạo ra một bầu khí quá đặc biệt. Một Thánh Vịnh được đọc chậm, một bài đọc ngắn được lắng nghe, vài lời chuyển cầu cho những người trong xứ. Người lớn tuổi thấy mình có chỗ trong lời cầu chung. Người trẻ nghe một thứ ngôn ngữ đức tin khác với những câu quen thuộc từ bé. Những người đang sống giữa tuần làm việc bận rộn có thể mang về nhà một câu kinh để đọc lại. Một cộng đoàn học cầu nguyện như thế sẽ dần học cách nhìn ngày sống của mình trong ánh sáng Lời Chúa.
Nghe Lời, không chỉ đọc Lời
Chúng ta đang sống trong một thời mà nhiều người tiếp cận văn bản bằng màn hình và âm thanh. Một đoạn Kinh Thánh có thể đến với người nghe khi họ đang đi xe, rửa bát, nghỉ giữa ca làm việc hoặc ngồi bên một người bệnh. Việc đưa bản văn và tiếng đọc đến gần người Việt mở ra những cách gặp gỡ mới với Lời Chúa. Nhưng để hiểu ý nghĩa của việc này, có lẽ cần nhớ một điều rất cũ: đức tin Kitô giáo từ đầu đã lớn lên trong việc lắng nghe. Người ta nghe lời công bố, nghe cộng đoàn cầu nguyện, nghe Thánh Vịnh được hát. Ngay cả người biết đọc cũng cần học lắng nghe, vì Lời Chúa không chỉ là những dòng chữ để mắt đi qua. Trong Giờ Kinh, những bài đọc Kinh Thánh và lời đáp được đặt bên cạnh lời cầu bằng Thánh Vịnh, giúp việc nghe Lời đi vào việc cầu nguyện.
Đối với người mắt đã kém, một bản thu âm có thể mở lại cánh cửa tưởng như đang khép. Đối với người không quen cầm sách, tiếng đọc có thể là bước đầu dễ đến gần hơn. Đối với một người Việt xa quê, nghe một Thánh Vịnh bằng tiếng mẹ đẻ giữa nơi mình sống có thể làm hiện lên cả một miền ký ức: giọng đọc trong nhà thờ xứ, tiếng hát của cộng đoàn, khuôn mặt những người đã từng ngồi cầu nguyện bên mình. Âm thanh có sức đánh thức những điều chữ viết đôi khi không chạm tới ngay lập tức. Nó nhắc ta rằng Lời Chúa không được trao chỉ để lưu giữ trong kho sách. Lời muốn được công bố, được nghe, được đáp lại và được sống.
Tuy nhiên, nghe cũng cần một sự chú ý. Có thể bật một bài đọc rồi để tiếng ấy trôi qua giữa hàng chục âm thanh khác trong ngày; khi đó, tai đã nghe nhưng lòng chưa kịp dừng. Một người không phải lúc nào cũng có điều kiện ngồi yên thật lâu, và Chúa biết hoàn cảnh của họ. Dẫu vậy, nếu có thể dành ra vài phút để nghe với ý thức mình đang hiện diện trước Chúa, lời kinh sẽ có chỗ để thấm. Đôi khi chỉ cần nghe lại một câu, im lặng một lát, rồi đem câu ấy vào công việc. Ta không phải nghe thật nhiều mới chứng tỏ mình yêu Lời Chúa. Có ngày một câu được giữ trong lòng đã đủ soi sáng cả một cuộc gặp gỡ.
Tôi nghĩ đến thánh Giê-rô-ni-mô, người đã dành đời mình cho Sách Thánh trong một thời đại mà việc sao chép bản văn đòi biết bao công sức. Nếu nhìn từ thế giới của ngài đến thế giới của chúng ta, phương tiện đã thay đổi đến mức khó hình dung. Một người thời nay có thể mang theo trong túi lượng bản văn mà người xưa không thể đặt hết trên một bàn sách. Nhưng khả năng mang theo ấy chưa tự nó làm ta thành người biết Lời Chúa. Điều quyết định vẫn là ta có mở lòng để nghe hay không. Bản chép tay, sách in, trang mạng và bản thu âm có thể phục vụ cùng một ước muốn: để con người được gặp Thiên Chúa qua Lời Người. Phương tiện quý vì cuộc gặp gỡ ấy, và nó cần được dùng sao cho cuộc gặp gỡ thực sự xảy ra.
Bản dịch là một cái giếng
Một bản dịch ra đời trong một thời điểm, còn lời cầu nguyện của Hội Thánh tiếp tục qua nhiều thế hệ. Tiếng Việt biến đổi. Những người đọc hôm nay mang câu hỏi khác với người đọc ngày trước. Có từ từng rất quen mà lớp trẻ phải hỏi nghĩa; có cách diễn đạt vẫn đúng nhưng cần được giải thích để người mới nghe không hiểu lệch. Bởi thế, nói rằng công trình phiên dịch không kết thúc khi sách được in không có nghĩa là phủ nhận công sức đã hoàn thành. Chính vì trân trọng công sức ấy, ta phải tiếp tục đọc, học, giảng giải, góp ý và giúp người đến sau bước vào bản văn.
Tôi thích nghĩ về bản dịch như một cái giếng. Người đào giếng phải biết mình tìm mạch nước ở đâu, phải chịu khó đào sâu và làm thành giếng cho người khác có thể đến múc. Nhưng khi cái giếng đã có, công việc chung quanh nó vẫn tiếp tục. Cần giữ cho nước sạch. Cần bảo vệ miệng giếng. Cần chỉ cho trẻ nhỏ biết cách múc nước mà không làm đổ, biết vì sao nước ấy quý. Nếu một thế hệ chỉ ngắm cái giếng như một di tích, đến thế hệ sau người ta có thể quên mất đường tới đó. Cũng vậy, một bản dịch Thánh Vịnh được yêu mến cần được đưa vào đời sống cầu nguyện thật: được đọc, được hát, được giải thích, được lắng nghe trong gia đình và cộng đoàn.
Điều này cũng đặt trách nhiệm lên người giảng dạy. Có những lúc ta trích một câu Thánh Vịnh rất đẹp, rồi vội dùng nó để minh họa cho ý tưởng mình đã chuẩn bị sẵn. Nhưng câu ấy có một bối cảnh, một chuyển động của toàn bài, một tiếng nói không nên bị rút gọn. Nếu muốn giúp giáo dân yêu Giờ Kinh, người mục tử và giáo lý viên cần kiên nhẫn dẫn họ vào lời cầu: bài Thánh Vịnh đang nói từ cảnh ngộ nào, tại sao có lúc ca ngợi rồi chuyển sang khẩn cầu, tại sao ta có thể đọc lời ấy trong ánh sáng Đức Kitô, và nó có thể đồng hành với một người hôm nay ra sao. Những giải thích như vậy không làm lời kinh khô đi. Trái lại, chúng giúp người ta nghe sâu hơn điều mình vẫn thường đọc lướt.
Với người mới bắt đầu, có lẽ không cần đưa ngay cả bộ sách dày vào tay họ rồi mong họ tự xoay xở. Có thể bắt đầu bằng một giờ kinh, một Thánh Vịnh, một thời điểm trong ngày. Một gia đình chọn đọc Kinh Tối cùng nhau vài hôm trong tuần. Một nhóm giáo dân tập đọc Kinh Chiều vào chiều Chúa Nhật. Một người đang dưỡng bệnh nghe Kinh Sáng mỗi ngày và ghi lại một câu đánh động mình. Từ một việc vừa sức, sự thân thuộc dần hình thành. Rồi người ta khám phá ra: những lời tưởng như thuộc về một thế giới xa xưa đang có chỗ trong chính đời mình.
Cũng cần nói với người đọc mới rằng sẽ có ngày họ thấy Giờ Kinh khó. Không phải Thánh Vịnh nào cũng lập tức an ủi. Không phải bài đọc nào cũng sáng nghĩa ngay. Có ngày trí óc đi lạc, đọc xong mới nhận ra mình không nhớ gì. Đừng vì thế mà kết luận rằng mình không hợp với lời cầu này. Học một ngôn ngữ cần thời gian; học ngôn ngữ cầu nguyện của Hội Thánh cũng vậy. Ta trở lại, đọc chậm hơn, hỏi khi chưa hiểu, lắng nghe người khác đọc, và để những câu kinh dần trở nên quen thuộc. Một tình bạn sâu không được xây trong một buổi gặp. Sự thân thiết với Thánh Vịnh cũng lớn lên qua những lần trở lại như thế.
Hơi thở của ngày
Khi nói “Lời Chúa trở thành hơi thở của ngày”, tôi không muốn biến Giờ Kinh thành một hình ảnh thi vị rồi để nó đứng ngoài đời sống. Hơi thở là điều rất cụ thể. Ta thở khi khỏe và khi bệnh, lúc vui và lúc buồn. Ta cần hơi thở giữa công việc bình thường hơn là chỉ trong những khoảnh khắc long trọng. Giờ Kinh cũng được trao cho một đời sống như vậy. Nó đến với con người đang phải dậy đúng giờ, chuẩn bị bữa ăn, đến chỗ làm, chăm người thân, đi qua xung đột, về nhà và đón một đêm ngủ không phải lúc nào cũng bình yên. Nó cho ngày sống những lần dừng để ta nhớ mình đang sống trước mặt Chúa.
Buổi sáng, ta thưa với Chúa bằng một tâm hồn còn chưa biết ngày này sẽ đưa mình đến đâu. Giữa ngày, một lời kinh ngắn có thể giúp ta không quên điều mình muốn sống. Buổi chiều, ta trao lại những gì đã xảy ra, gồm cả điều đáng mừng lẫn điều cần xin tha thứ. Trước khi ngủ, ta phó thác chính mình và những người ta thương. Dần dần, ngày sống không còn chỉ là một chuỗi việc phải hoàn tất. Nó trở thành nơi con người có thể gặp Chúa nhiều lần. Sự gặp gỡ ấy có khi rất rõ, có khi lặng đến mức ta chỉ nhận ra sau nhiều tháng: mình đã bớt sợ im lặng, bớt nghĩ rằng phải tự gánh mọi sự, bớt để một ngày xấu quyết định toàn bộ cái nhìn về đời mình.
Tôi nghĩ đây là một trong những ân huệ đẹp nhất mà việc phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ trao cho người Việt. Những người dịch đã làm một công việc đòi hỏi kiến thức, sự chính xác và cả khả năng lắng nghe tiếng Việt. Nhưng thành quả sâu xa của công việc ấy hiện ra trong những khoảnh khắc họ không thể chứng kiến hết: một cộng đoàn đọc Thánh Vịnh khi trời còn tối; một linh mục tìm lại bình an sau giờ mục vụ khó khăn; một người mẹ già nghe lời kinh và đáp theo câu mình thuộc; một người trẻ lần đầu khám phá rằng Kinh Thánh có thể giúp mình nói thật với Chúa. Tên Nhóm gắn với cuốn sách đầu tiên. Rồi qua cuốn sách ấy, tên Nhóm gắn với biết bao giờ cầu nguyện mà không ai có thể đếm.
Có lẽ một ngày nào đó, mọi người sẽ ít nhớ ai đã cân nhắc một từ, ai đã đọc đi đọc lại một câu cho đến khi nó có nhịp, ai đã sửa một chỗ khó nghe để cộng đoàn có thể cầu nguyện. Công việc dịch thuật thường có số phận âm thầm như thế. Người đến giếng múc nước không phải lúc nào cũng nhớ người đã đào giếng. Nhưng nước vẫn ở đó. Một câu Thánh Vịnh vẫn được cất lên. Một người vẫn tìm được lời để cầu nguyện khi lời riêng của mình cạn mất.
Và nếu hỏi công trình ấy rốt cuộc hướng về điều gì, tôi muốn trở về với một buổi sáng rất bình thường. Có người mở mắt, nghe tiếng ngày mới bắt đầu, mang trong lòng những điều chưa giải quyết được. Người ấy mở sách, hoặc nghe một giọng đọc quen, rồi cùng Hội Thánh cất lời. Vấn đề của họ chưa biến mất. Công việc vẫn đang đợi. Nhưng họ đã bắt đầu ngày ấy trong tương quan với Chúa. Lời Chúa đi vào hơi thở của một con người như thế: lặng lẽ, đều đặn, đủ gần để người ấy có thể trở lại vào sáng mai.

CHƯƠNG IX. HAI BÀI HUẤN TỪ CỦA ĐỨC BÊNÊĐICTÔ XVI
Xin chia sẻ hai bài huấn từ của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI về thánh Giê-rô-ni-mô, được trình bày trong các buổi tiếp kiến chung ngày 7 và 14 tháng 11 năm 2007. Chúng ta cũng nhớ đến bản Việt ngữ của linh mục Đa Minh Nguyễn Đạt Tam, SSS, đăng trên trang của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ ngày 7 tháng 4 năm 2019. Cách kết thúc ấy thật đẹp. Chúng ta tưởng nhớ con người và công việc của Nhóm không tự nhận mình đã nói lời cuối cùng. Nó chúng ta người đọc đến một tiếng nói khác, rồi từ tiếng nói ấy đưa người đọc trở về với Sách Thánh. Con không chép lại toàn văn hai bài huấn từ; độc giả nên tìm đọc chính các bài ấy. Ở đây, con muốn dừng lâu hơn trước những điều Đức Bênêđictô đã nhìn thấy nơi thánh Giê-rô-ni-mô, bởi chúng cũng giúp con hiểu vì sao một nhóm dịch giả có thể dành gần trọn đời mình cho những trang Kinh Thánh tiếng Việt.
Có một cách nhìn công việc dịch thuật từ bên ngoài: những cuốn sách trên kệ, những lần tái bản, những bản văn được sử dụng, những khó khăn về từ ngữ, những cuộc họp và những hạn phải hoàn thành. Tất cả đều thật. Nhưng nếu chỉ nhìn như thế, ta vẫn chưa chạm đến lý do sâu nhất khiến một người ở lại với một câu văn khó trong nhiều năm, khiến một người đã mệt còn muốn xem lại một chữ, khiến những con người có tính tình, tuổi tác, học vấn và ý kiến khác nhau vẫn trở về cùng một bàn làm việc. Hai bài huấn từ của Đức Bênêđictô mở ra phía bên trong của công việc ấy. Ngài nói về học hỏi, nhưng còn nói về yêu mến. Ngài nói về bản văn, nhưng còn nói về Đấng đang ngỏ lời qua bản văn. Ngài nói về sự chính xác, nhưng không tách nó khỏi cầu nguyện, khỏi đời sống Hội Thánh và khỏi bổn phận yêu thương người nghèo. Nhờ vậy, khi nghĩ đến bổn mạng Giê-rô-ni-mô của Nhóm, con không chỉ nghĩ đến một vị học giả bên bàn sách. Con nghĩ đến một con người đã để Lời Chúa đòi hỏi cả trí óc, tính khí, thời giờ và cuộc đời mình.
Yêu Sách Thánh thì khôn ngoan sẽ yêu lại
Trong bài huấn từ thứ hai, Đức Bênêđictô nhắc lời thánh Giê-rô-ni-mô khuyên một người con thiêng liêng hãy yêu Sách Thánh; sự khôn ngoan sẽ đáp lại tình yêu ấy, che chở và làm đẹp cho cuộc đời người đọc. Hình ảnh Giê-rô-ni-mô dùng thật dịu dàng: Sách Thánh như vòng cổ và hoa tai quý giá. Điều đáng suy nghĩ không chỉ là vẻ đẹp của lối nói. Giê-rô-ni-mô đang nói với người học Lời Chúa như nói với một người có khả năng yêu. Muốn hiểu Sách Thánh, người ta phải dành cho Sách Thánh một chỗ trong lòng, chứ không chỉ một chỗ trên bàn.
Một cuốn Kinh Thánh có thể nằm rất gần mà Lời Chúa vẫn ở rất xa. Nó nằm trong ngăn bàn của linh mục, trên giá sách của giáo lý viên, trong điện thoại của người tín hữu. Ta có thể mở nó để tìm một câu thích hợp cho bài giảng, để kiểm tra một chi tiết, để chuẩn bị một buổi học. Những việc ấy cần thiết. Nhưng có lúc ta phải tự hỏi: lần gần đây nhất tôi mở Sách Thánh chỉ để lắng nghe là khi nào? Khi nào tôi đọc một đoạn và ở lại với nó đủ lâu để câu hỏi của Chúa chạm tới chính mình? Khi nào tôi thôi nghĩ ngay đến điều sẽ nói với người khác, để nghe điều Người muốn nói với tôi?
Người dịch Kinh Thánh càng cần giữ câu hỏi ấy. Công việc của họ đòi hỏi sự chú ý rất đặc biệt: một động từ có sắc thái nào, một hình ảnh cần chuyển ra sao, một lối nói nếu dịch sát quá sẽ tối nghĩa hay nếu diễn rộng quá sẽ đánh mất sức nặng của bản gốc. Sự chăm chú ấy là một hình thức kính trọng Lời Chúa. Nhưng sau nhiều ngày tháng, người ta cũng có thể quen với điều thánh thiêng đến nỗi chỉ còn thấy vấn đề cần giải quyết. Một câu Tin Mừng trở thành câu khó. Một thánh vịnh trở thành chỗ phải sửa nhịp. Một dụ ngôn trở thành cuộc tranh luận về một từ. Chính lúc đó, tình yêu ban đầu cần được khơi lại. Người dịch phải có thể ngẩng đầu khỏi trang bản thảo và nhớ: qua những chữ này, Thiên Chúa muốn đến gần một người đang cần được nghe Người.
Đức Bênêđictô nhận xét thánh Giê-rô-ni-mô thực sự yêu Lời Chúa. Vị thánh tự hỏi làm sao người tín hữu có thể sống mà không biết Sách Thánh, nơi họ học biết chính Đức Kitô. Câu hỏi ấy không nhằm gây mặc cảm cho người chưa được học nhiều. Nó chất vấn sự dửng dưng của người đã có thể đến gần Lời Chúa mà cứ lần lữa. Ta tìm thời gian cho biết bao điều vì biết mình cần chúng. Còn đối với Lời Chúa, đôi khi ta chờ đến lúc có thời gian dư. Nhưng một người đói không ăn bằng thời gian dư; một mối thân tình cũng không lớn lên chỉ nhờ những phút còn sót lại. Nếu tin Đức Kitô muốn gặp ta trong Sách Thánh, ta phải trao cho cuộc gặp gỡ ấy một phần thực sự của ngày sống.
Con nghĩ đến những người đã dịch, đọc lại, góp ý và sửa bản văn trong Nhóm suốt nhiều thập niên. Không ai có thể ngồi với chữ nghĩa lâu đến thế chỉ bằng hứng thú của một buổi đầu. Có những ngày hẳn công việc đem lại niềm vui vì một câu cuối cùng đã sáng. Cũng có những ngày bản văn không nhúc nhích, người với người chưa hiểu nhau, sức khỏe yếu đi, việc riêng kéo tới. Tình yêu đối với Lời Chúa trong những ngày ấy ít giống một cảm xúc nồng nhiệt. Nó giống lòng trung thành: lại đến bàn, lại đọc, lại nghe người khác, lại chịu xóa một phương án mình đã quý, lại tìm cách để một người Việt bình thường có thể nghe được điều bản văn muốn nói. Đó là tình yêu có lao nhọc. Nó không ồn ào, nhưng chính vì thế mà bền.
Tình yêu ấy cũng giữ người dịch khỏi chiếm hữu bản văn. Khi yêu một người, ta muốn nghe người ấy nói hết điều người ấy muốn nói. Với Sách Thánh cũng vậy. Ta dễ muốn bản văn xác nhận điều mình đã nghĩ, củng cố điều mình đã chọn, phục vụ một luận điểm mình đang cần. Có lúc ta gặp một lời khó chịu, một đòi hỏi chưa sẵn lòng đón nhận, một câu không nằm gọn trong những gì ta thường giảng. Nếu thật sự yêu Sách Thánh, ta sẽ không vội làm nó hiền đi để mình được yên. Ta ở lại, đặt câu hỏi, học hỏi thêm, và khi cần, để chính mình được sửa. Người dịch trung thành phải biết đứng về phía tiếng nói của bản văn, kể cả khi tiếng nói ấy làm công việc của mình khó hơn.
Từ trang sách đến cuộc trò chuyện
Đức Bênêđictô nhắc một lời rất thân mật của thánh Giê-rô-ni-mô: khi cầu nguyện, con người thưa chuyện với Chúa; khi đọc Sách Thánh, họ để Chúa nói với mình. Hình ảnh ấy khiến việc đọc không còn là một chiều từ mắt đến trí nhớ. Nó trở thành một cuộc gặp. Cuộc gặp ấy cần cả hai phía: ta mở lòng để lắng nghe, rồi đáp lại bằng lời cầu nguyện và bằng đời sống.
Có những người nói: “Con đọc mà chẳng hiểu gì.” Con muốn thưa với họ rằng không phải trang nào của Kinh Thánh cũng sáng ngay trong lần đọc đầu. Có những đoạn cần được giải thích, cần biết hoàn cảnh, thể văn, vị trí của nó trong toàn bộ câu chuyện cứu độ. Xin đừng vì một chỗ khó mà đóng sách lại mãi mãi. Trong một tình bạn sâu, ta cũng có lúc không hiểu người kia ngay. Ta hỏi thêm, lắng nghe thêm, trở lại câu chuyện hôm qua với một tâm hồn khác. Sách Thánh không mất giá trị vì nó đòi ta kiên nhẫn. Chính sự kiên nhẫn ấy có thể làm lòng ta rộng ra.
Cũng có người nói: “Con đọc rồi, nhưng chẳng thấy Chúa nói gì.” Có thể họ mong một câu trả lời lập tức cho vấn đề đang làm mình mất ngủ. Có khi Lời Chúa thật sự soi rõ một quyết định. Nhưng cũng có khi Người bắt đầu bằng một việc thầm lặng hơn: dạy ta nhìn người bên cạnh bớt gay gắt, làm ta biết xấu hổ về một lời mình đã nói, cho ta can đảm nhận một nỗi đau chưa giải quyết được, hoặc giữ ta ở lại với bổn phận của ngày hôm nay. Lời Chúa không phải lúc nào cũng đến như tia chớp. Nhiều khi nó đến như ánh sáng đầu ngày: ta không chỉ được khoảnh khắc mặt trời nhô lên, nhưng dần dần có thể thấy con đường dưới chân.
Bởi vậy, người đọc cần học cách thưa lại. Đọc về lòng thương xót mà nhớ đến một người mình đã đối xử lạnh lùng, ta có thể nói: “Lạy Chúa, con chưa biết yêu người ấy. Xin chỉ cho con một việc nhỏ con có thể làm.” Đọc lời mời gọi đừng sợ mà lòng vẫn đầy lo âu, ta có thể nói thật: “Con vẫn sợ. Xin ở với con trong nỗi sợ này.” Đọc một lời cảnh tỉnh khiến mình khó chịu, ta có thể thưa: “Con muốn lảng tránh. Xin giúp con đủ thành thật để nhìn vào điều Chúa đang chỉ.” Một lời cầu nguyện như thế không cần hoa mỹ. Nó giữ cuộc trò chuyện tiếp tục sau khi mắt đã rời trang sách.
Cần Thánh Thần
Thánh Giê-rô-ni-mô đã học ngôn ngữ, đối chiếu các bản văn, dành những năm dài để giải thích Kinh Thánh. Chính trong bài huấn từ thứ hai, Đức Bênêđictô nhắc lời ngài rằng người giải thích Sách Thánh luôn cần sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Cũng ở đó, Đức Bênêđictô nhắc lời khuyên dành cho việc giáo dục một em nhỏ: sau cầu nguyện là đọc, sau đọc lại cầu nguyện. Nhịp qua lại ấy diễn tả một điều quan trọng. Học hỏi nghiêm túc và cầu nguyện không tranh chỗ của nhau. Người yêu Lời Chúa cần vận dụng hết khả năng mình có, đồng thời biết rằng mình không làm chủ Đấng đang lên tiếng.
Con hình dung một bàn dịch có nhiều sách mở ra: bản văn gốc, các bản dịch, chú giải, từ điển, những ghi chú của lần họp trước. Một người chỉ ra rằng từ này có thể hiểu theo hai cách. Người khác thấy một lối dịch tuy đúng nhưng người nghe tiếng Việt sẽ hiểu lầm. Người thứ ba muốn giữ một hình ảnh đã có trong bản gốc. Họ phải trao đổi bằng lý lẽ. Họ cần biết vì sao mình chọn chữ này và bỏ chữ kia. Xin Thánh Thần soi sáng không thay thế được lao động ấy. Cầu nguyện không biến một phỏng đoán thiếu căn cứ thành một phương án đáng tin.
Nhưng lao động ấy cũng cần cầu nguyện, bởi người học giỏi vẫn có thể bị chính sự giỏi giang của mình che mắt. Có khi ta bảo vệ một cách hiểu vì nó là ý của ta. Có khi ta nghe một góp ý chỉ để chuẩn bị trả lời. Có khi sự mệt mỏi khiến ta chấp nhận vội một câu chưa thật sáng. Có khi sự tự ái lớn đến nỗi ta không thể nhận mình đã sai. Xin Thánh Thần trợ giúp còn là xin Người cho ta khiêm tốn, sáng suốt và tự do nội tâm để phục vụ bản văn tốt hơn. Thánh Thần không chỉ soi vào chữ trên trang. Người còn soi vào con người đang cầm bút.
Điều ấy cũng đúng với người giảng. Một bài giảng có thể được chuẩn bị công phu, tham khảo nhiều tài liệu, sắp xếp chặt chẽ, mà người giảng vẫn chưa để Lời Chúa đi qua đời mình. Ta có thể nói về tha thứ trong khi đang nuôi một mối oán, nói về người nghèo mà chưa từng lắng nghe họ, nói về sự thật mà vẫn né tránh một sự thật trong cộng đoàn. Cầu nguyện trước bản văn cho ta cơ hội nhận ra khoảng cách ấy. Ta không đợi đến khi mình đã sống hoàn hảo mới được giảng. Nhưng ta cần giảng như một người cũng đang bị Lời Chúa gọi tên, cũng cần hoán cải cùng với cộng đoàn.
Đối với người đọc Kinh Thánh trong gia đình, xin Thánh Thần trợ giúp có thể bắt đầu rất đơn sơ. Trước khi mở sách, hãy thưa: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin giúp con lắng nghe.” Đọc chậm một đoạn vừa sức. Dừng lại trước một câu khiến lòng mình động hoặc khiến mình thắc mắc. Nếu chưa hiểu, cứ giữ câu hỏi ấy; có thể hỏi người có khả năng hướng dẫn, tìm một chú giải đáng tin, đọc cùng cộng đoàn. Rồi trước khi khép sách, hãy thưa với Chúa điều mình thật sự đang mang trong lòng. Làm như thế đều đặn, người ta sẽ dần nhận ra đọc và cầu nguyện đang nuôi nhau. Mỗi lần đọc không cần đem lại một khám phá lớn. Sự trung tín với một cuộc hẹn nhỏ có thể âm thầm đổi cả cách ta sống.
Đọc trong lòng Hội Thánh
Đức Bênêđictô nêu rõ một chiều kích khác của việc đọc Sách Thánh: Lời Chúa được trao cho dân Chúa và xây dựng sự hiệp thông. Nó ngỏ lời với từng người, nhưng từng người đọc trong lòng Hội Thánh. Ngài cũng nhấn mạnh phụng vụ là nơi ưu tuyển để lắng nghe Lời Chúa. Trong bài huấn từ thứ hai, khi nói về thánh Giê-rô-ni-mô, ngài nhắc đến sự hòa hợp giữa việc giải thích Kinh Thánh và đức tin của Hội Thánh.
Điều này rất gần với đời sống của một nhóm phiên dịch. Một người có thể phát hiện một nét nghĩa, đề nghị một chữ đẹp, hoặc nhìn thấy một chỗ chưa ổn mà những người khác bỏ qua. Nhóm cần tài năng và sự tận tâm của từng người. Nhưng bản dịch đi vào lời cầu nguyện của cộng đoàn phải được lắng nghe, cân nhắc và sửa chữa trong tinh thần cộng tác. Có những chữ chỉ sáng khi được đọc thành tiếng trước người khác. Có những câu tưởng đã trôi chảy trên giấy nhưng khi vang lên trong nhà thờ lại làm người nghe vấp. Có những lựa chọn của một cá nhân rất hay, nhưng sau khi đối chiếu với toàn bộ bản văn, cả nhóm nhận ra cần chọn cách khác. Sự hiệp thông ở đây mang hình dáng rất cụ thể: biết trình bày lý do, biết nghe lý do, biết trở lại với bản gốc, biết nghĩ đến người sẽ nghe bản dịch và biết để một câu văn tốt hơn quan trọng hơn phần thắng của mình.
Phụng vụ còn nhắc ta bản văn Kinh Thánh có một đời sống vượt khỏi bàn dịch. Nó được công bố giữa một cộng đoàn có người vui vì vừa đón một đứa trẻ, có người đang chờ kết quả xét nghiệm, có người mệt mỏi với công việc, có người mang mặc cảm vì một lỗi lầm chưa dám thú nhận. Khi người đọc sách thánh cất tiếng, những người ấy lắng nghe bằng cả câu chuyện đời mình. Một bản dịch trong sáng giúp họ có cơ hội đón nhận Lời. Một câu tối nghĩa có thể khiến họ mất dấu. Vì thế, sự cẩn thận của người dịch là một cách chăm sóc những con người họ có thể chẳng bao giờ gặp mặt.
Nhưng chính người nghe cũng cần góp phần vào cuộc gặp gỡ ấy. Nhiều khi ta nghe bài đọc trong Thánh lễ như nghe một âm thanh quen thuộc đi qua tai. Ta nhớ vài tiếng đầu, đoán đoạn tiếp theo, rồi để tâm trí trôi sang việc khác. Nếu thật sự tin Chúa đang ngỏ lời với cộng đoàn hôm nay, ta có thể chuẩn bị cho việc nghe bằng một cử chỉ nhỏ: đọc trước các bài đọc, hoặc giữ một chút thinh lặng trước lễ, hoặc sau bài đọc hỏi mình câu nào vừa ở lại trong lòng. Khi trở về nhà, ta có thể kể cho người thân câu ấy. Lời được công bố trong Hội Thánh cần có đường đi tiếp vào bàn ăn, vào công việc, vào cách ta nói với nhau.
Học nhiều để sống sâu hơn
Trong hai bài huấn từ, thánh Giê-rô-ni-mô hiện lên với một trí tuệ cần mẫn: ngài học, dịch, chú giải, trao đổi, hướng dẫn người khác học Sách Thánh. Đức Bênêđictô không tách việc học khỏi việc sống. Ngài nhắc rằng Giê-rô-ni-mô đặt Kinh Thánh ở trung tâm đời mình bằng cả việc làm, dù chính ngài là một con người có tính khí khó. Chi tiết ấy khiến tôi thấy vị thánh gần hơn. Sự thánh thiện không xóa đi ngay mọi góc cạnh nơi một con người. Có khi chính ở những góc cạnh ấy mà Lời Chúa phải tiếp tục làm việc lâu dài.
Người yêu Sách Thánh có thể biết nhiều mà vẫn cần được dạy yêu thương. Ta có thể phân biệt rất rành một khái niệm, nhưng lại thiếu kiên nhẫn với một người đặt câu hỏi vụng về. Ta có thể giảng giải đầy đủ một đoạn Tin Mừng, nhưng không nhận ra người đang ngồi trước mặt đã đau khổ đến mức nào. Kiến thức là một món quà quý khi nó giúp ta phục vụ. Nó trở nên nặng nề khi ta dùng nó để đứng cao hơn người khác. Thánh Giê-rô-ni-mô nhắc ta phải học hết sức; chính cuộc đời nhiều góc cạnh của ngài cũng nhắc ta phải để điều mình học đi xuống cách mình sống.
Đức Bênêđictô dẫn một lời khuyên rất mạnh của Giê-rô-ni-mô dành cho người giảng: hành động đừng làm cho lời nói trở nên đáng xấu hổ. Ngài còn nhắc đến những lời Giê-rô-ni-mô viết về Đức Kitô hiện diện nơi người nghèo: việc làm đẹp nơi thờ phượng sẽ mất ý nghĩa nếu ta để người đói không được chăm sóc. Ở đây, Sách Thánh đi từ trang giấy đến đôi tay. Một câu đã được dịch cho đúng cần được sống cho thật. Nếu bản dịch giúp người ta nghe rõ lời Chúa gọi chăm sóc người bé nhỏ, thì chính người dịch, người đọc và người giảng cũng phải tự hỏi mình đang đáp lại tiếng gọi ấy thế nào.
Con thấy đó là một câu hỏi cần đặt ra với lòng kính trọng đối với Nhóm. Ta biết ơn những người đã dành đời mình cho bản văn. Lòng biết ơn ấy sẽ sâu hơn nếu ta đón nhận điều bản văn đòi hỏi. Một quyển Kinh Thánh được in đẹp rồi để yên trên kệ là một sự khởi đầu còn dang dở. Một câu Lời Chúa được đọc rõ trong nhà thờ rồi bị bỏ quên khi ta đối xử với người khác cũng là một cuộc gặp gỡ chưa đi hết đường. Công sức của người dịch chỉ thực sự trổ sinh nơi người nghe khi Lời ấy được đem vào một quyết định công bằng hơn, một lời xin lỗi thật hơn, một bữa cơm được chia sẻ, một chuyến thăm người bệnh, một sự nhẫn nại với người già, một chỗ ngồi dành cho người thường bị bỏ lại.
Lời vượt thời
Ở cuối bài huấn từ thứ nhất, Đức Bênêđictô nói rằng những ý kiến của con người đến rồi đi; điều được coi là rất hiện đại hôm nay có thể nhanh chóng cũ đi. Lời Chúa thì mang trong mình sự sống vĩnh cửu. Từ đó, ngài nhắc một lời thánh Giê-rô-ni-mô gửi cho Paulinus: hãy học ngay trên mặt đất những điều sẽ còn giá trị trên trời.
Nghe như thế, con nghĩ đến tốc độ của chữ nghĩa hôm nay. Mỗi ngày có những câu mới xuất hiện, được chia sẻ rất nhanh rồi biến mất. Có câu làm ta cười, có câu khiến ta giận, có câu làm ta sợ mình bị bỏ lại phía sau. Ta đọc nhiều đến mức hiếm khi còn dừng lại. Một điều vừa xuất hiện đã bị điều khác đẩy khỏi tầm mắt. Giữa dòng ấy, Sách Thánh mời ta tập một nhịp khác. Nó không cần giành sự chú ý của ta bằng cách ồn hơn. Nó kiên nhẫn đợi ta trở lại, mở trang sách, đọc chậm và hỏi: điều gì ở đây vẫn đúng khi tâm trạng hôm nay qua đi? Điều gì giúp tôi sống tốt hơn cả lúc chẳng có ai nhìn thấy?
Bám vào Lời Chúa không có nghĩa là thôi quan tâm đến thời đại mình đang sống. Người dịch Kinh Thánh sang tiếng Việt phải quan tâm đến tiếng Việt đang được nói và được nghe. Người giảng phải biết người trẻ đang mang những câu hỏi gì, người lớn đang vất vả ở đâu, gia đình đang sợ điều gì. Chính vì quan tâm, ta càng cần một điểm tựa sâu hơn những phản ứng tức thời. Nếu không, ta rất dễ nói theo điều đang được tung hô, giận theo điều đang được kích động, và quên hỏi đâu là sự thật, đâu là lòng thương xót, đâu là phẩm giá của người đang bị đem ra phán xét. Lời Chúa không kéo ta ra khỏi hiện tại. Nó giúp ta bước vào hiện tại với một trái tim có khả năng phân định.
Một nhóm dịch giả tồn tại qua nhiều thập niên hẳn đã nhìn thấy không ít thay đổi trong cách người ta viết, in, đọc và truyền đi chữ nghĩa. Nhưng điều họ phục vụ không hết hạn cùng một phương tiện. Một thế hệ có thể cầm quyển sách giấy, thế hệ khác nghe bài đọc qua một thiết bị nhỏ. Điều quan trọng vẫn là cuộc gặp giữa Lời và con người. Có thể hôm nay ta cần trình bày bản văn rõ hơn, giải thích tận tình hơn, tạo thêm những con đường để người trẻ tiếp cận. Nhưng ở cuối mọi con đường ấy, câu hỏi vẫn như cũ: người đọc có được giúp để nghe tiếng Chúa, để biết Đức Kitô và để sống Tin Mừng giữa những người mình gặp hay không?
Lời vượt thời cũng vì nó có thể đi cùng con người qua các mùa rất khác của đời mình. Một câu Kinh Thánh được nghe lúc còn trẻ có thể trở lại với ý nghĩa mới khi ta làm cha mẹ. Một thánh vịnh từng đọc trong bình an có thể trở thành lời cầu nguyện duy nhất ta còn nói được bên giường bệnh. Một lời Tin Mừng từng thấy quá khó có thể đến lúc trở thành điều nâng đỡ mình sau một mất mát. Bản văn vẫn đó, nhưng người đọc đã đi qua nhiều năm tháng. Mỗi lần trở lại, họ mang đến trang sách những vết thương và niềm biết ơn mới. Lời Chúa không già đi cùng ta; Người kiên nhẫn gặp ta ở từng tuổi đời.
Điều còn lại sau hai bài huấn từ
Sau những trang kể về công việc, những con người và ký ức, cần nghe lại tiếng gọi đã ở trước tất cả: hãy yêu Lời Chúa. Nếu thiếu tiếng gọi ấy, ta có thể ghi nhớ công lao của người đi trước mà không tiếp tục con đường họ đã mở. Ta có thể ca ngợi một bản dịch mà ít đọc nó. Ta có thể tự hào vì có Kinh Thánh tiếng mẹ đẻ mà vẫn để một khoảng im lặng lớn giữa đời mình và Lời Chúa.
Chúng ta nhớ đến hai bài huấn từ. Hai bài huấn từ dẫn chúng ta đến thánh Giê-rô-ni-mô. Thánh Giê-rô-ni-mô dẫn tôi trở lại Sách Thánh. Và Sách Thánh dẫn tôi đến Đức Kitô, Đấng không chỉ muốn được nghiên cứu từ xa nhưng muốn được nhận biết, lắng nghe và bước theo. Con đường ấy cũng là một lời mời dành cho từng người Việt hôm nay. Người dịch có thể trở về bàn làm việc với lòng khiêm tốn mới. Người giảng có thể chuẩn bị bài giảng bằng cách để Lời xét hỏi mình trước. Giáo lý viên có thể dạy trẻ yêu một câu Tin Mừng trước khi đòi chúng nhớ thật nhiều câu trả lời. Cha mẹ có thể đọc cùng con một đoạn ngắn và để con được hỏi. Người đang đau khổ có thể cầm Sách Thánh mà nói với Chúa rằng mình chưa hiểu, nhưng vẫn muốn ở lại để nghe.
Chúng ta thấy một người già ngồi trước trang Kinh Thánh, một người trẻ mở bản văn trên điện thoại, một linh mục chuẩn bị giảng, một người mẹ đọc với con, một nhóm dịch giả cúi xuống cùng một câu khó. Họ ở những nơi khác nhau, làm những việc khác nhau. Điều nối họ với nhau là niềm tin rằng qua những lời đã được trao cho Hội Thánh, Thiên Chúa vẫn đang nói với con người. Vì thế, họ đọc. Vì thế, họ học. Vì thế, họ cầu nguyện. Và vì thế, sau khi đọc, họ đứng dậy để sống điều mình vừa nghe.
Giữa trào lưu chữ nghĩa phù du, xin cho người Việt dù ở thời đại nào cũng biết bám vào Lời đứng vững. Xin cho sự chăm chỉ của những người đã dịch Kinh Thánh thành tiếng mẹ đẻ đánh thức nơi chúng ta lòng biết ơn biết hành động: mở sách ra, đọc cho kỹ, lắng nghe trong Hội Thánh, để Chúa Thánh Thần soi sáng và đem Lời ấy đến với người bên cạnh. Nếu làm được như thế, công việc của những người đi trước sẽ tiếp tục sinh hoa trái. Một câu được họ nâng niu qua bao năm sẽ lại có người đón lấy hôm nay. Một lời từng sáng trên bàn dịch sẽ sáng trong một căn nhà, một lớp giáo lý, một giường bệnh, một Thánh lễ. Và người đọc, khi ở lại đủ lâu với Lời, sẽ nhận ra điều thánh Giê-rô-ni-mô đã nhận ra: mình đến với Sách Thánh bằng tình yêu, rồi được dẫn vào một sự khôn ngoan có sức gìn giữ cả cuộc đời.

CHƯƠNG X. PHỤC VỤ LỜI CHÚA TRONG KỶ NGUYÊN AI
Chúng ta nhớ đến những con người đã dành nhiều năm tháng để dịch, đọc, sửa, cầu nguyện và trao Lời Chúa cho cộng đoàn. Nhưng khi viết những mảnh vụng suy tư của về công việc ấy vào năm 2026, chúng ta không thể làm như thể thời đại vẫn đứng yên bên chiếc bàn của năm 1971.
Trên bàn hôm nay, bên cạnh bản văn Híp-ri, Hy Lạp, những cuốn từ điển, các bản dịch đối chiếu và tờ giấy ghi chú, còn có một màn hình. Chỉ trong ít phút, màn hình ấy có thể đưa ra nhiều cách dịch, tìm một chữ xuất hiện ở những chỗ nào, so sánh các câu song song, đề nghị cách diễn đạt và đọc thành tiếng một đoạn vừa viết. Có những việc ngày trước đòi hỏi nhiều giờ nay được thực hiện trong vài giây. Phủ nhận điều đó là không trung thực. Nhưng cho rằng vì thế công việc phục vụ Lời Chúa đã trở nên đơn giản cũng không trung thực. Một chiếc máy có thể trả lời rất nhanh câu hỏi: “Có thể dịch chữ này như thế nào?” Nó không thể tự mình trả lời câu hỏi sâu hơn: “Giữa những cách dịch có thể chấp nhận được, cách nào trung thành với bản văn, với đức tin của Hội Thánh, với tiếng Việt sống động và với lời cầu nguyện của cộng đoàn này?” Câu hỏi thứ hai không chỉ đòi dữ liệu. Nó đòi một con người biết lắng nghe, biết học hỏi, biết nhận lỗi và biết chịu trách nhiệm.
Có lẽ nỗi lo thật sự của chúng ta trước trí tuệ nhân tạo không phải là máy làm được việc con người từng làm. Nỗi lo ấy có thật, nhưng chưa chạm đến tận cùng. Điều đáng hỏi hơn là: khi có thể làm mọi việc nhanh hơn, con người còn muốn dành thời gian để ở lại với Lời Chúa không? Khi một bản nháp xuất hiện gần như tức khắc, người ta còn đủ kiên nhẫn để tra lại nguyên ngữ, đọc cả đoạn văn, lắng nghe một câu trong mạch của toàn bộ Kinh Thánh, rồi mang nó vào lời cầu nguyện không? Khi một đoạn giải thích nghe rất trôi chảy hiện lên trên màn hình, người ta còn đủ khiêm tốn để nói: “Tôi chưa chắc; tôi cần kiểm tra”? Và khi một sản phẩm đã đẹp, đã có âm thanh, hình ảnh, phụ đề, đã sẵn sàng để đăng lên mạng, người ta còn đủ tự do để dừng lại chỉ vì một chữ chưa đúng không? Những câu hỏi ấy cho thấy cuộc gặp gỡ giữa Lời Chúa và công nghệ trước hết là một cuộc thử thách đối với trái tim người phục vụ Lời. Công cụ mới làm lộ ra điều đã có từ lâu: ta yêu Lời, hay ta yêu cảm giác mình có thể nói về Lời thật nhanh và thật hay?
Máy không thay thế người quỳ
Một người mở sách Kinh Thánh và một người mở cùng bản văn trên màn hình có thể đọc đúng những chữ như nhau. Nhưng việc đọc không dừng ở đôi mắt. Người đọc có thể đến với bản văn như đến với một kho nguyên liệu để tạo nội dung; cũng có thể đến như người nghèo đứng trước một Đấng có quyền gọi mình đổi đời. Khác biệt ấy không nằm ở chất liệu của trang giấy hay ánh sáng của màn hình. Nó nằm ở tư thế nội tâm. Người quỳ trước Lời Chúa không quỳ trước mực in. Họ thưa với Chúa rằng: “Con không sở hữu Lời này. Xin cho con đón nhận trước khi đem trao.” Không hệ thống nào có thể quỳ thay họ theo nghĩa ấy. Máy có thể tạo ra câu “Lạy Chúa, xin dạy con lắng nghe”; chỉ người cầu nguyện mới có thể thật sự đặt sự im lặng, ý muốn và đời sống của mình vào lời thưa đó.
Nói như thế không có nghĩa mọi công việc dùng AI đều hời hợt, cũng không có nghĩa một người cúi đầu bên bản thảo viết tay đương nhiên thánh thiện hơn người làm việc trước máy tính. Có những người dùng công nghệ rất nghiêm túc, và có những người cầm bản văn cổ mà vẫn chỉ tìm cách chứng minh mình đúng. Chúng ta không nên biến lòng đạo đức thành sự nghi ngờ đối với công cụ. Một người dịch có thể nhờ máy rà lại những chỗ thiếu nhất quán, liệt kê các lần xuất hiện của một từ, gợi ý những cách diễn đạt để đem ra thảo luận. Một người làm mục vụ có thể dùng công cụ để chuẩn bị bản chữ lớn cho người mắt kém, tạo phụ đề cho người khó nghe, sắp xếp các đoạn đọc để một nhóm học hỏi thuận tiện hơn. Đó là những việc đáng làm. Vấn đề xuất hiện khi người ta âm thầm chuyển giao cho máy phần việc mà mình phải đảm nhận: phán đoán, kiểm chứng, phân định và chịu trách nhiệm. AI có thể tham gia vào quá trình phục vụ Lời. Nó không thể trở thành chủ thể của lời đáp đức tin.
Hãy tưởng tượng một câu Thánh Vịnh được chuẩn bị để cộng đoàn hát. Một cách dịch có thể rất sát nghĩa từng chữ nhưng khó cất lên thành tiếng Việt có nhịp điệu. Một cách khác có thể mượt mà, dễ nhớ, nhưng làm mất hình ảnh cốt yếu của bản văn. Một đề nghị thứ ba có thể nghe trang trọng mà lại mang âm điệu xa lạ với đời sống cầu nguyện của người Việt. Máy có thể xếp các khả năng ấy cạnh nhau. Nó thậm chí có thể dự đoán câu nào dễ đọc hơn. Nhưng cuộc phân định chưa kết thúc ở đó. Người phục vụ Lời cần nghe bản văn được đọc lớn; cần hỏi người hiểu nguyên ngữ; cần lắng nghe người làm phụng vụ, người sáng tác thánh ca, người giáo lý viên và cộng đoàn sẽ cầu nguyện bằng những chữ ấy. Có lúc phải chấp nhận một câu chưa làm mình thỏa mãn để tiếp tục làm việc. Có lúc phải bỏ một cách diễn đạt rất đẹp, bởi vẻ đẹp của nó kéo người nghe đi xa điều bản văn muốn nói. Chính trong những cuộc dừng lại ấy, lòng trung thành được thực hành bằng lao động cụ thể.
Một câu dịch sai không chỉ là một lỗi kỹ thuật. Nếu câu ấy đi vào trí nhớ cộng đoàn, được đọc trong một buổi cầu nguyện, được một giáo lý viên dùng để giảng cho trẻ nhỏ, được trích trên một tấm ảnh rồi chia sẻ hàng nghìn lần, cái sai có thể đi xa hơn người viết hình dung. Nhưng ngay cả khi không có hậu quả lớn như vậy, người phục vụ Lời vẫn có lý do để cẩn trọng: đây là Lời mà người khác sẽ đem vào đời sống của họ. Người mẹ đang chờ tin đứa con bệnh nặng có thể bám vào một câu Kinh Thánh. Người trẻ vừa mất phương hướng có thể nghe một chữ như lời Chúa đang gọi mình. Một người đang đau khổ vì mặc cảm tội lỗi có thể hiểu sai khuôn mặt Thiên Chúa nếu ta cẩu thả trong cách giải thích. Không ai có thể bảo đảm mọi người sẽ hiểu đúng mọi điều mình viết. Nhưng người cầm bút có thể bảo đảm rằng mình đã không chọn sự tiện lợi thay cho việc kiểm tra.
Huấn quyền là thước đo cần thiết trong công việc này. Người giải thích Kinh Thánh trong Hội Thánh không khởi đầu từ ý tưởng rằng mình là người đầu tiên tìm ra ý nghĩa bản văn. Họ đi vào một truyền thống sống động, lắng nghe đức tin được trao truyền, việc cử hành phụng vụ và giáo huấn của Hội Thánh. Thước đo ấy không làm nghèo đi việc nghiên cứu; nó giữ việc nghiên cứu ở trong mối hiệp thông mà bản văn được trao cho. Cùng với đó, cộng đoàn cầu nguyện là nơi thử lửa. Một câu chỉ đẹp khi nhìn trên màn hình nhưng trở nên khó hiểu lúc được đọc lên; một lối giải thích làm người yếu đuối tuyệt vọng thay vì giúp họ nghe lời mời gọi hoán cải; một bài chia sẻ gây xúc động mạnh mà để lại rất ít Tin Mừng: tất cả đều cần được xem xét lại. Cộng đoàn không quyết định chân lý bằng cảm giác của số đông. Nhưng đời sống cầu nguyện của cộng đoàn giúp người viết nhận ra những điều mình không thấy khi ngồi một mình.
Thánh Giê-rô-ni-mô đã vất vả học ngôn ngữ, đọc bản văn và đối chiếu các chứng tá mà ngài có thể tiếp cận. Nếu sống giữa chúng ta, hẳn ngài cũng sẽ nhận ra ích lợi của những phương tiện hỗ trợ nghiên cứu. Điều làm cuộc đời ngài đáng suy nghĩ không phải là ngài thiếu công cụ hiện đại, nhưng là ngài đã để cho việc học hỏi trở thành một phần của đời sống tìm kiếm Đức Kitô. Câu chuyện về cơn giằng co giữa sức quyến rũ của văn chương cổ điển và tiếng gọi của Lời Chúa nhắc chúng ta rằng một người có thể tinh thông chữ nghĩa mà vẫn cần hoán cải. Hôm nay, sức quyến rũ ấy khoác áo khác. Nó có thể là hiệu năng, là tốc độ, là cảm giác luôn có một câu trả lời, là khả năng cho ra liên tiếp những bài viết nghe trọn vẹn. Một bài có thể trôi chảy mà chưa được nghiền ngẫm. Một giải thích có thể tự tin mà thiếu căn cứ. Một lời cầu nguyện có thể đầy những chữ sốt sắng mà người viết chưa hề dừng lại để cầu nguyện. Cám dỗ của thời đại không nằm trong bản thân chiếc máy. Nó nằm ở chỗ ta để sự dễ dàng làm mình quên giá trị của lao nhọc cần thiết.
Bởi thế, có những giây phút người phục vụ Lời nên đóng mọi cửa sổ đang mở trên màn hình và chỉ giữ lại bản văn. Đọc một lần, rồi đọc lại. Hỏi bản văn đang nói gì trước khi hỏi mình có thể làm gì với nó. Chấp nhận sự khó hiểu ban đầu mà chưa vội lấp đầy bằng một lời giải thích có sẵn. Để một chữ chạm vào ký ức, một hình ảnh chất vấn thói quen, một lời của Đức Giêsu khiến mình bối rối. Người ta thường tưởng trở ngại của việc đọc Kinh Thánh là thiếu câu trả lời. Nhiều khi trở ngại lại là có câu trả lời quá sớm. Máy rất giỏi trao cho ta một câu trả lời sớm. Người quỳ trước Lời Chúa học cách đừng để câu trả lời ấy chấm dứt cuộc đối thoại mà Chúa vừa bắt đầu.
Khi bản nháp đến trước sự lắng nghe
Thời trước, một người viết một bài suy niệm dài phải đi qua nhiều khoảng trống: khoảng trống trước trang giấy, khoảng trống khi tìm chữ, khoảng trống sau một câu viết dở. Những khoảng trống ấy có thể gây mệt mỏi, nhưng đôi lúc chính chúng buộc người viết hỏi mình có thật sự hiểu điều định nói hay không. Bây giờ bản nháp có thể đến trước cả khi câu hỏi kịp chín. Ta đưa vào vài ý, và trước mắt đã là một bài có mở đầu, triển khai, kết luận, có ví dụ và lời mời gọi. Sự tiện lợi ấy có ích khi người viết dùng bản nháp để bắt đầu công việc. Nó trở nên nguy hiểm khi vẻ hoàn chỉnh của hình thức làm ta tưởng công việc đã hoàn tất. Một câu văn tròn trịa không chứng minh rằng ý nghĩa của nó đúng. Một đoạn văn cảm động không chứng minh rằng nó trung thành với Tin Mừng. Một bài giảng có thể nhắc đến Đức Giêsu nhiều lần mà vẫn chỉ xoay quanh ý tưởng ưa thích của người giảng.
Người phục vụ Lời cần tập đọc lại bản nháp bằng những câu hỏi nghiêm khắc nhưng hiền lành. Bài này có thực sự đi ra từ đoạn Kinh Thánh, hay chỉ dùng đoạn Kinh Thánh làm cái cớ? Điều nào là bản văn nói, điều nào là suy tư của tôi? Tôi có gán cho một nhân vật tâm trạng mà Kinh Thánh không kể không? Tôi có biến một hình ảnh gợi suy niệm thành một sự kiện lịch sử chắc chắn không? Một câu trích có đúng nguồn và đúng văn cảnh không? Tôi có trình bày một ý kiến mục vụ như thể đó là giáo huấn chính thức không? Những câu hỏi ấy không làm bài viết mất sức sống. Chúng giúp bài viết có nền móng để sức sống ấy không chỉ là cảm xúc nhất thời.
Đặc biệt, người làm việc với AI phải học một đức tính cũ dưới một hình thức mới: dám nhận mình chưa biết. Công cụ có thể đưa ra một niên đại, một tên người, một câu nói được gán cho một vị thánh, một giải thích về phong tục Do Thái, một nhận định về nguyên ngữ. Giọng văn của câu trả lời có thể rất chắc chắn. Nhưng sự chắc chắn trong giọng văn không phải là bằng chứng. Khi không xác minh được, đừng đem điều ấy vào bài như một dữ kiện đã rõ. Nếu chi tiết không cần thiết, hãy bỏ. Nếu nó cần thiết, hãy tìm đến bản văn gốc và những nguồn đáng tin. Một bài viết có ít chi tiết hơn mà đúng vẫn phục vụ người đọc tốt hơn một bài đầy điều thú vị nhưng khiến họ phải học lại từ đầu. Lòng trung thực đôi khi âm thầm đến mức chẳng ai khen: một câu chuyện hấp dẫn bị xóa khỏi bản thảo vì không tìm được nguồn; một lời trích rất đẹp được thay bằng cách diễn đạt dè dặt hơn; một đoạn văn mất đi hiệu ứng mạnh vì người viết từ chối phóng đại.
Ở đây, người dịch và người giảng gặp nhau. Cả hai đều phải biết nghe một tiếng nói có trước tiếng nói của mình. Người dịch không thể lấy bản văn làm nơi biểu diễn tài viết. Người giảng cũng không thể lấy bài đọc làm bệ phóng cho mọi điều mình đang muốn nói. AI khuếch đại khả năng tạo chữ, nên nó cũng có thể khuếch đại sự thiếu kỷ luật của người viết. Nếu tôi vốn thích những câu khẳng định mạnh, máy có thể giúp tôi viết chúng nhanh hơn. Nếu tôi vốn thích những ví dụ dễ làm người nghe rơi nước mắt, máy có thể đưa ra vô số ví dụ tương tự. Nếu tôi vốn ngại những câu Kinh Thánh khó, máy có thể giúp tôi đi vòng qua chúng bằng nhiều lời êm ái. Công cụ không tự sửa được sự thiên lệch mà người dùng không chịu nhận ra. Vì thế, càng có công cụ mạnh, càng cần người cộng tác biết đọc bản thảo, biết đặt câu hỏi và có quyền nói: “Đoạn này hay, nhưng chưa đúng.”
Đó là một lý do để trân trọng cách làm việc chung của những người đi trước. Một nhóm dịch giả không chỉ cộng nhiều khả năng cá nhân lại với nhau. Họ tạo nên một nơi mà lời đề nghị của mỗi người phải đi qua tai, trí và lương tâm của người khác. Có những cuộc thảo luận chắc hẳn rất chậm. Có những chữ được cân nhắc lâu hơn người ngoài tưởng. Có những bất đồng khiến người ta phải trở lại bản văn thay vì chỉ bảo vệ ý riêng. Khi một công cụ đưa ra bản nháp trong vài giây, giá trị của cuộc làm việc chung ấy càng hiện rõ. Tốc độ của bản nháp không rút ngắn được mọi cuộc trao đổi cần thiết. Một người trẻ có thể giúp nhóm tra cứu nhanh hơn, sắp xếp tư liệu tốt hơn, phát hiện những chỗ chưa thống nhất. Nhưng nếu người ấy muốn học nghề phục vụ Lời, họ còn phải học cách ngồi lại nghe vì sao một bậc đi trước không chấp nhận một chữ nghe rất đẹp.
Một câu chữ đi vào đời người
Trong phòng làm việc, một khác biệt nhỏ có thể trông như chuyện của chuyên môn. Đổi một đại từ. Chọn một động từ khác. Giữ hay bỏ một hình ảnh. Đặt dấu ngắt ở đâu. Nhưng bản văn Kinh Thánh được dịch để được nghe, được đọc, được cầu nguyện và được sống. Nó sẽ rời khỏi phòng làm việc. Một em thiếu nhi có thể học thuộc câu ấy trước khi hiểu hết ý nghĩa. Một người cao tuổi có thể lặp lại câu ấy trong đêm mất ngủ. Một người con xa nhà có thể nghe lại bằng tiếng mẹ đẻ và nhận ra giọng cầu nguyện của gia đình mình. Một đôi vợ chồng có thể chọn câu ấy cho ngày họ cam kết sống với nhau. Một người đang đứng bên giường bệnh có thể chỉ còn đủ sức nhớ một mảnh nhỏ của Thánh Vịnh. Bởi thế, công việc dịch thuật vừa chính xác vừa có chiều sâu mục vụ. Nó không được phép hy sinh ý nghĩa để dễ nghe; cũng không nên quên rằng ý nghĩa ấy cần đến được tai, trí nhớ và trái tim của con người cụ thể.
AI giúp ta tạo ra rất nhiều phiên bản của một câu. Chính sự phong phú ấy có thể làm việc chọn lựa khó hơn. Trước kia, thiếu phương án là một giới hạn. Hôm nay, thừa phương án là một thử thách. Mười cách diễn đạt đặt cạnh nhau có thể khiến người dịch bị hút về câu bóng bẩy nhất, hoặc kiệt sức và chọn đại câu đầu tiên xem ra ổn. Sự phân định đòi hỏi một tiêu chuẩn được hình thành qua học hỏi lâu dài: hiểu bản văn, hiểu tiếng Việt, hiểu đời sống phụng vụ, biết phân biệt một chữ đẹp với một chữ đúng chỗ. Nó cũng đòi khả năng giải thích vì sao mình chọn. “Nghe hay” là một nhận xét đáng nghe, nhưng chưa đủ. “Sát từng chữ” cũng chưa giải quyết hết mọi vấn đề. Người dịch phải học cách nói rõ điều bản văn nhấn mạnh, điều tiếng Việt có thể mang được, điều có thể cần chú thích, và điều cần được thử bằng giọng đọc của cộng đoàn.
Không phải đoạn nào cũng phải gánh cùng một công việc. Có bản dịch được chuẩn bị để công bố trong phụng vụ; có bản giúp người học đi sát cấu trúc của nguyên bản; có lời giải thích dành cho người mới bắt đầu; có chú thích phục vụ nghiên cứu. Nếu ta bắt một bản văn duy nhất làm hoàn hảo mọi điều ấy, có thể ta sẽ làm nó quá nặng hoặc quá mỏng. Hình ảnh KPA và KPB song hành vì thế gợi một cách nhìn đẹp. Một nhịp giúp Dân Chúa cầu nguyện bằng tiếng nói có thể đi vào đời sống chung; một nhịp mời người muốn học bước gần hơn vào chữ nghĩa và chiều sâu của bản văn. Hai nhịp ấy cần đối thoại. Người đọc bản văn dùng trong cầu nguyện có thể được dẫn đến việc học hỏi kỹ hơn. Người học sát chữ không nên quên Lời ấy được trao để nuôi sống một dân. Sự hiện diện của nhiều phương tiện hôm nay có thể giúp mối đối thoại ấy dễ dàng hơn: bản văn, chú thích, âm thanh, hướng dẫn đọc, các buổi học và những trao đổi có trách nhiệm. Nhưng phương tiện chỉ mở cửa. Người bước qua cửa vẫn phải học đọc, học nghe và học cầu nguyện.
Con nghĩ đến một giáo lý viên trẻ chuẩn bị bài cho nhóm thiếu nhi. Em có thể hỏi công cụ một cách giải thích đơn giản về dụ ngôn. Chỉ ít giây sau, em có vài câu chuyện minh họa và những câu hỏi thảo luận. Công việc ấy có thể giúp em bớt thời gian loay hoay với hình thức, để dành thêm thời gian nghĩ đến các em trong lớp: em nào vừa chịu tang, em nào thường bị bỏ quên, em nào hỏi những câu rất thẳng, em nào im lặng mà cần được quan tâm. Nhưng cũng có thể em lấy nguyên một bản trả lời, đọc lên và rời phòng học mà không biết câu chuyện có thật sự chạm đến đời sống các em không. Công nghệ không quyết định em sẽ là kiểu giáo lý viên nào. Cách em sử dụng thời gian được tiết kiệm mới nói lên điều ấy. Nếu thời gian ấy trở thành thời gian đọc Lời, chuẩn bị kỹ hơn và lắng nghe trẻ nhỏ, công cụ đã phục vụ ơn gọi của em. Nếu nó chỉ giúp em khỏi phải gặp gỡ bản văn và con người, có một điều quan trọng đã mất.
Truyền giáo kỹ thuật số bắt đầu từ một bản văn đáng tin
Loan báo Tin Mừng trong thời đại số cần hiện diện ở nơi con người đang sống và đang tìm kiếm. Một người có thể nghe đoạn Tin Mừng trên đường đi làm. Một người xa quê có thể tìm lại lời kinh bằng tiếng Việt trên điện thoại. Một người chưa từng bước vào nhà thờ có thể bắt gặp một lời giải thích ngắn và từ đó muốn hỏi thêm. Âm thanh, hình ảnh, trang web và các hình thức chia sẻ mới có thể đưa Lời đến những nơi một quyển sách khó tự mình đến được. Việc đưa bản văn lên mạng và thu âm vì thế là một công việc có ý nghĩa. Nó cho thấy những người tận tụy bên bàn dịch không nhất thiết chỉ nhìn về quá khứ. Họ hiểu rằng nếu Lời đã được trao cho Dân Chúa, cần tìm những lối đi để người dân có thể gặp Lời.
Nhưng một con đường rộng không làm cho điều được chuyên chở trên đó tự nhiên trở nên đáng tin. Một đoạn video có thể được dựng đẹp, giọng đọc có thể truyền cảm, nhạc nền có thể lay động, mà câu Kinh Thánh ở giữa lại thiếu chính xác hoặc bị đặt ngoài văn cảnh. Một hình ảnh trích Lời Chúa có thể lan rất nhanh chỉ vì nó hợp tâm trạng của nhiều người, dù ý nghĩa ban đầu của câu bị thu hẹp. Một bài chia sẻ có thể được nghe hàng chục nghìn lần vì tiêu đề mạnh, nhưng người nghe rời đi với nỗi sợ hoặc sự tức giận nhiều hơn với lòng khao khát Đức Kitô. Sức lan truyền cho biết một nội dung đã đi xa. Nó không cho biết nội dung ấy đã đưa người ta đi đúng hướng. Vì vậy, người trẻ làm truyền thông Công giáo có thể học nơi những người cao tuổi đã ngồi bền bỉ với bản văn một điều rất thực tế: trước khi chọn hình ảnh, hãy hỏi mình đang nói đúng điều gì; trước khi thu âm, hãy đọc lại câu chữ; trước khi đăng, hãy để một người có khả năng kiểm tra những chỗ mình chưa chắc.
Học như thế không có nghĩa sao chép hình thức làm việc của các bậc đi trước. Người trẻ có tài năng riêng, ngôn ngữ riêng và hiểu những cách con người tiếp nhận thông tin hôm nay. Họ có thể tạo những lối trình bày mà thế hệ trước chưa từng nghĩ đến. Điều họ cần nhận không phải là một khuôn mẫu khép kín, nhưng là một lòng kính trọng đối với Lời và đối với người nghe. Khi lòng kính trọng ấy có mặt, sáng tạo trở nên có chiều sâu. Một đoạn âm thanh ngắn có thể mở đường cho người nghe đọc trọn chương. Một video có thể giúp họ nhận ra câu mình tưởng đã hiểu còn những tầng nghĩa chưa khám phá. Một bài đăng có thể dẫn đến cuộc đối thoại thật trong gia đình hoặc giáo xứ. Và một người làm truyền thông đủ trung thực sẽ biết có những đoạn Kinh Thánh không thể biến thành khẩu hiệu mà không làm chúng nghèo đi. Họ có thể chọn nói ít hơn, chậm hơn, dù mạng xã hội thưởng cho điều ngược lại.
Có một cám dỗ riêng của việc loan báo trên mạng: ta dễ lẫn lộn sự hiện diện liên tục với lòng trung thành. Một trang phải đăng đều, một kênh phải có bài mới, một video phải kịp dịp lễ. Những nhu cầu ấy có thật. Người phục vụ cộng đoàn không thể lúc nào cũng chờ đến khi mình cảm thấy đã suy niệm đủ. Nhưng nhịp làm việc cần được sắp đặt sao cho người viết, người đọc, người thu âm, người dựng hình còn có chỗ để kiểm tra và sửa. Nếu mọi khoảng thời gian đều bị lấp bởi việc sản xuất, không còn ai chăm sóc cái giếng mà mọi người đang múc nước. Một bản văn đáng tin thường là thành quả của công việc ít người nhìn thấy. Người xem chỉ thấy video cuối cùng; họ không thấy những lần sửa một chữ, đối chiếu một câu, bỏ một chi tiết không chắc, đọc thử cho người khác nghe. Chính phần việc khuất ấy bảo vệ lòng tin của người đón nhận.
Cũng phải nói đến trách nhiệm sửa sai sau khi đã công bố. Trong môi trường số, một lỗi có thể được phát hiện sau khi bài viết hay bản thu đã đến với nhiều người. Người phục vụ Lời không cần giả vờ mình chưa từng sai. Họ có thể sửa bản văn, ghi rõ chỗ được sửa khi cần, và cảm ơn người đã chỉ ra lỗi. Làm thế không làm suy giảm uy tín chân chính. Nó cho thấy uy tín ấy đặt trên lòng trung thành với sự thật, chứ không đặt trên hình ảnh không bao giờ nhầm lẫn. Người dịch đã quen với việc hiệu đính hẳn hiểu điều này. Một bản dịch được yêu quý không vì nó không bao giờ cần nhìn lại, nhưng vì những người gìn giữ nó sẵn lòng tiếp tục phục vụ Lời và cộng đoàn bằng sự nghiêm túc.
Đừng để máy lấy mất sự im lặng
Có một thứ công việc rất khó đo bằng sản lượng: ngồi yên trước một đoạn Lời Chúa và để nó làm mình thay đổi. Người ta có thể gọi đó là đọc trong cầu nguyện, suy niệm, chiêm niệm, hay đơn giản là ở lại. Không cần tô hồng trải nghiệm ấy. Có những buổi đọc rất khô khan. Có lúc một người chỉ thấy mình phân tâm. Có lúc họ đọc mà không hiểu thêm bao nhiêu. Nhưng nếu họ kiên trì trở lại, họ đang tập một mối tương quan mà việc tạo ra câu chữ không thể thay thế. Người phục vụ Lời cần mối tương quan ấy, bởi họ luôn đứng trước nguy cơ chỉ còn nói về Chúa cho người khác mà không để Chúa nói với mình.
Một bản tóm tắt có thể giúp người đọc định hướng. Nó không thể sống thay những phút người ấy tự đọc đoạn Tin Mừng. Một bản phân tích có thể chỉ ra cấu trúc và các mối liên hệ. Nó không thể quyết định người ấy sẽ trả lời thế nào khi nghe: “Anh hãy theo tôi.” Một lời cầu nguyện được soạn sẵn có thể giúp người không tìm được chữ để thưa với Chúa. Nó không thể miễn cho họ bước vào lời thưa ấy bằng chính đời mình. Có lẽ vì thế, khi dùng AI trong việc mục vụ, câu hỏi quan trọng không chỉ là “Nó giúp tôi làm được gì?” mà còn là “Nó có đang làm tôi tránh một cuộc gặp gỡ cần thiết không?” Nếu tôi nhờ máy gợi một dàn ý để có thêm thời gian đọc Kinh Thánh, đó có thể là một trợ giúp. Nếu tôi nhờ máy viết hết để khỏi phải đối diện với đoạn Lời đang chất vấn mình, tôi đã để công cụ che đi một cuộc hẹn.
Người giảng Lời càng hiểu nỗi khó này. Có những đoạn Tin Mừng dễ giảng cho người khác nhưng khó để chính mình sống. Nói về tha thứ có thể trôi chảy; gọi điện cho người mình còn giận lại khó. Giảng về người nhỏ bé có thể cảm động; nhường chỗ cho một người không có tiếng nói trong cuộc họp lại đòi hoán cải. Giải thích về sự thật có thể rõ ràng; thừa nhận một lỗi của mình trước cộng đoàn lại đau. Một bài giảng được chuẩn bị tốt không làm cho người giảng tự động trở nên thánh thiện. Nhưng quá trình chuẩn bị có thể là nơi họ để Lời Chúa đi qua đời mình trước. Nếu AI giúp bỏ qua toàn bộ quá trình ấy, bài giảng có thể đầy chữ mà thiếu một chứng tá âm thầm: chứng tá của người đã để cho Lời mình giảng phán xét và an ủi chính mình.
Vì vậy, sự im lặng không phải một món trang trí đạo đức đặt thêm vào cuối quy trình. Nó là khoảng không để người phục vụ Lời nhớ mình là người nghe trước khi là người nói. Có thể sự im lặng ấy chỉ là ít phút trước khi bắt đầu làm việc, một lần đọc lại đoạn văn mà không ghi chú, một lúc dừng trước câu khiến mình khó chịu, hoặc một lời nguyện rất ngắn: “Lạy Chúa, xin đừng để con dùng Lời Ngài để tránh nghe Ngài.” Những điều nhỏ ấy không bảo đảm mọi bản dịch và mọi bài viết sẽ đúng. Chúng giữ người làm việc ở trong tư thế có thể được sửa dạy. Mà người không còn có thể được sửa dạy thì dù có bao nhiêu nguồn tư liệu, họ vẫn đang ở xa nghề phục vụ Lời.
Giữ giếng cho thế hệ sau
Chúng ta là những người thừa hưởng di sản của Nhóm Phụng Vụ các Giờ Kinh, con mạo muội xin thế hệ đến sau trân trọng, gìn giữ và vun đắp. Ba động từ ấy có thể bị hiểu sai nếu tách rời nhau. Chỉ trân trọng mà không sử dụng, một di sản có thể bị đặt sau tủ kính. Chỉ gìn giữ mà không cho nó tiếp tục phục vụ, người ta có thể bảo vệ hình dạng bên ngoài trong khi đời sống chung đổi thay. Chỉ vun đắp mà không trân trọng những gì đã nhận, người ta dễ tưởng mọi công việc bắt đầu từ mình. Đặt ba động từ cạnh nhau, ta có một lối đi vừa khiêm tốn vừa can đảm: nhận biết món quà đã đến bằng lao nhọc của người khác; chăm sóc nó để khỏi hư hao; và tiếp tục làm phần việc của thời mình để món quà ấy đến được với người sau.
Giữ giếng không có nghĩa cấm ai múc nước bằng chiếc gàu mới. Nếu có cách giúp người ở xa đọc được bản văn, người mắt kém nghe được bản thu, người học tìm được chú thích cần thiết, ta nên suy nghĩ và thực hiện. Nếu một chỗ dịch cần được hiệu đính sau khi đã học hỏi thêm, lòng biết ơn đối với người đi trước có thể thúc đẩy việc hiệu đính cẩn trọng. Các bậc đi trước đã tận tụy tìm điều đúng, chứ không xin ta coi mọi chữ họ từng chọn là bất khả đụng đến. Nhưng sửa một chữ không nên là cử chỉ nóng vội của người vừa nhìn thấy một phương án khác trên màn hình. Cần hiểu vì sao chữ cũ đã được chọn, phương án mới giải quyết được điều gì, nó tạo ra khó khăn nào, và sự thay đổi sẽ ảnh hưởng ra sao đến người đang cầu nguyện bằng bản văn ấy. Sự trung thành đôi khi đòi sửa. Chính sự trung thành cũng đòi biết chờ, biết nghe và biết giải thích.
Giữ giếng còn là giữ ký ức về những người đã đào giếng. Một bản văn lưu hành rộng rãi dễ khiến người sử dụng quên rằng nó có lịch sử. Họ nhìn thấy câu chữ mà không thấy những buổi họp, những cuốn sách cũ, những trang sửa tay, những cuộc trao đổi, những người đã đọc đến mỏi mắt và những người đã tiếp tục làm việc khi tuổi cao. Nhớ đến họ không phải để biến họ thành những tượng đài không thể hỏi lại. Nhớ là nhận ra mình không bắt đầu từ số không. Trong một thời đại quen với việc nội dung xuất hiện tức khắc, ký ức ấy giúp ta hiểu giá trị của sự bền bỉ. Có những công trình chỉ có thể chín nhờ nhiều người trao tay nhau qua nhiều năm. Không một lời nhắc nhập vào máy có thể thay thế đời sống cộng tác đã làm nên niềm tin giữa những người cùng phục vụ.
Người thế hệ sau có lẽ cũng cần được trao việc thật, chứ không chỉ được yêu cầu ngưỡng mộ. Một người trẻ có thể bắt đầu bằng việc soát một bản ghi âm với bản in, lập bảng những chỗ cần hỏi, chuẩn bị công cụ tra cứu, giúp trình bày chú thích cho dễ dùng. Rồi họ được mời vào những cuộc thảo luận khó hơn: tại sao chữ này không thể thay bằng chữ kia, tại sao một lối nói quen thuộc cần được xét lại, tại sao một ý tưởng sáng tạo vẫn phải dừng trước giới hạn của bản văn. Học nghề bằng những công việc cụ thể như vậy, họ sẽ nhận ra người đi trước không trao cho họ một di tích bất động. Các vị đang trao một trách nhiệm. Trách nhiệm ấy có thể sử dụng công cụ mà thế hệ trước chưa có, miễn là người sử dụng biết mình đang phục vụ điều gì và phục vụ ai.
Con hình dung một ngày nào đó, một người trẻ ngồi bên cạnh một vị đã dành gần cả đời cho Kinh Thánh. Người trẻ chỉ vào màn hình: “Con tìm được thêm một khả năng cho câu này.” Vị cao tuổi không gạt đi. Ngài nhìn, hỏi nguồn ở đâu, đọc lại đoạn trước và đoạn sau, rồi nói: “Ta thử đọc lớn lên xem.” Người trẻ đọc. Cả hai im lặng. Sau đó vị cao tuổi kể vì sao nhiều năm trước nhóm đã chọn một chữ khác; người trẻ giải thích vì sao ngày nay người nghe có thể hiểu chữ ấy theo một nghĩa mới. Cuộc trao đổi tiếp tục. Có thể cuối cùng họ giữ chữ cũ. Có thể họ sửa. Điều đáng quý là trong căn phòng ấy, công cụ mới không cắt đứt ký ức, và ký ức không đóng cửa trước điều mới. Hai thế hệ cùng cúi xuống trước một bản văn lớn hơn cả hai. Đó là một hình ảnh đẹp về tương lai của công việc phục vụ Lời.
Công nghệ cần những con người có tên và có trách nhiệm
Khi một bản văn được tạo bằng sự hỗ trợ của máy, câu hỏi “Ai chịu trách nhiệm?” phải có câu trả lời rõ. Người đứng tên, nhóm biên tập, người duyệt và cộng đoàn sử dụng cần biết phần việc nào đã được kiểm tra, phần nào còn là đề nghị. Không thể đẩy một sai lầm sang cho công cụ như thể công cụ đã tự chọn đăng bài, tự trao bản dịch cho cộng đoàn hay tự đứng trên bục giảng. Nó không làm những việc ấy. Con người làm. Việc nhắc đến trách nhiệm không nhằm gieo sợ hãi; nó giúp ta sử dụng công cụ trong tư thế trưởng thành. Khi biết mình sẽ phải trả lời về một câu chữ, người viết có lý do để kiểm tra câu ấy. Khi biết có người khác sẽ đọc và góp ý, họ bớt bị cuốn theo vẻ chắc chắn của bản nháp đầu tiên.
Trách nhiệm ấy cũng hướng về người đọc. Không phải ai nghe một bài giảng, xem một video hay đọc một bản chú giải cũng có thời gian và khả năng truy lại nguyên ngữ. Họ trao một phần lòng tin cho người chuẩn bị. Lòng tin đó là điều quý. Nếu người phục vụ Lời nhận thấy một câu còn gây tranh luận, họ có thể nói rõ giới hạn. Nếu đang đưa ra một áp dụng mục vụ của riêng mình, họ có thể phân biệt nó với ý nghĩa trực tiếp của bản văn. Nếu một vấn đề phức tạp, họ không cần làm như thể nó có thể được giải quyết trọn trong một đoạn video ngắn. Nói thật về giới hạn của mình là một cách tôn trọng người nghe. Nó mời họ trưởng thành trong đức tin thay vì lệ thuộc vào những câu trả lời lúc nào cũng nghe dứt khoát.
Có người sẽ hỏi: nếu phải kiểm tra, phải đọc lại, phải thảo luận nhiều đến thế, dùng AI để làm gì? Câu trả lời tùy công việc. Có những việc máy giúp tiết kiệm thời gian đáng kể. Có những việc nó chỉ đưa ra thêm phương án để con người cân nhắc. Có những việc tốt nhất đừng giao cho nó. Mục đích không phải sử dụng AI nhiều nhất có thể, cũng không phải ít nhất có thể. Mục đích là phục vụ Lời Chúa và con người cách trung thành. Một công cụ đáng dùng khi nó giúp công việc ấy tốt hơn: giúp phát hiện chỗ cần sửa, giúp người phục vụ tiếp cận tư liệu, giúp bản văn đến với người khó tiếp cận, giúp dành thêm sức cho cuộc gặp gỡ thật. Một công cụ nên được đặt xuống khi nó đang làm ta cẩu thả, làm ta tưởng mình hiểu điều chưa hiểu, hoặc khiến tiếng nói của mình nhiều đến mức không còn nghe tiếng ai khác.
Điều này đúng cả với người đọc bình thường. Một tín hữu có thể dùng AI để hỏi về bối cảnh một đoạn Kinh Thánh, tìm một kế hoạch đọc, hoặc xin gợi ý câu hỏi để chia sẻ trong nhóm. Những việc ấy có thể mở đầu một hành trình. Nhưng người ấy vẫn cần chính bản văn, đời sống cầu nguyện, phụng vụ, những người đồng hành và giáo huấn của Hội Thánh. Đức tin Kitô giáo không phải một chuỗi câu hỏi riêng tư gửi vào màn hình rồi nhận về những câu trả lời đúng ý mình. Đức tin lớn lên trong tương quan: với Đức Kitô, với Hội Thánh, với người nghèo, với người làm ta phải học nhẫn nại, với cộng đoàn cầu nguyện bên cạnh ta. Công nghệ có thể dẫn một người đến ngưỡng cửa. Nó không thể sống thay cuộc đời đức tin của họ.
Lời được trao để trở thành sự sống
Sau cùng, câu hỏi “Máy đã dịch được nhiều, vậy ơn gọi của người phục vụ Lời còn lại gì?” có lẽ đặt chưa đúng trọng tâm nếu ta hiểu ơn gọi ấy chỉ là tạo ra một bản dịch. Ơn gọi ấy bao gồm lao động dịch thuật, và lao động ấy vẫn cần chuyên môn nghiêm túc. Nhưng nó còn là việc canh giữ một cuộc gặp gỡ: để con người hôm nay có thể nghe Lời Chúa trong ngôn ngữ của mình mà không bị sự bất cẩn của người trung gian làm méo tiếng nói ấy. Đó là việc học suốt đời, làm việc với người khác, sửa sai, cầu nguyện, giảng dạy và trao lại cho thế hệ sau. Máy có thể đảm nhận một số thao tác nằm trong công việc. Nó không nhận lãnh ơn gọi. Nó không biết niềm vui của một người lần đầu nghe một đoạn Kinh Thánh bằng tiếng mẹ đẻ. Nó không đau khi thấy một câu bị dùng để đè nặng lên người yếu đuối. Nó không xin tha thứ vì đã nói sai về Chúa. Nó không ở lại bên một cộng đoàn để cùng họ học lại cách nghe.
Những người của thế hệ đầu không sống trong kỷ nguyên AI, nhưng đời sống họ đặt ra cho kỷ nguyên này một câu hỏi rất mới: Khi có thể làm được nhiều hơn với ít thời gian hơn, chúng ta sẽ trao phần thời gian được giải phóng ấy cho điều gì? Có thể ta dùng nó để tạo thêm vô số nội dung rồi luôn thấy mình phải tạo thêm nữa. Cũng có thể ta dùng nó để đọc kỹ hơn, sửa tốt hơn, đến gần người nghe hơn, huấn luyện người trẻ chu đáo hơn, và dành một khoảng thinh lặng trước Lời mà trước đây mình thường nói là không có thời gian. Công nghệ không tự quyết định hướng đi ấy. Chúng ta quyết định bằng những thói quen rất nhỏ mỗi ngày.
Tôi trở lại với hình ảnh chiếc giếng. Những người đi trước đã đào trong một thời mà từng nhát cuốc đều nặng. Hôm nay chúng ta có phương tiện để đào nhanh hơn, dẫn nước xa hơn, giúp nhiều người tìm đến hơn. Đó là điều đáng mừng. Nhưng càng nhiều đường dẫn, càng cần chăm sóc nguồn nước. Càng nhiều người có thể nghe, càng cần hỏi điều họ đang nghe có trung thành với Lời được trao hay không. Càng dễ tạo ra những câu nghe như lời đạo đức, càng cần phân biệt lời nào thực sự bắt nguồn từ Kinh Thánh và lời nào chỉ phản chiếu điều chúng ta muốn nghe. Giữ giếng là một công việc của trí tuệ, của đôi tay và của lương tâm. Trên hết, đó là công việc của những người biết mình cũng phải uống nước mỗi ngày. Người phục vụ Lời Chúa không đứng trên miệng giếng để phát nước như thể mình chẳng bao giờ khát. Họ cúi xuống cùng anh chị em mình.
Rồi sẽ có những người trẻ tiếp tục công việc khi các bậc cao niên đã nghỉ. Trước mặt họ có thể là những công cụ mà chúng ta hôm nay chưa hình dung được. Họ sẽ phải đưa ra những quyết định mới, đối diện những kiểu sai lầm mới, tìm những con đường mới để Lời đến với con người. Ta không thể viết sẵn mọi câu trả lời cho họ. Ta có thể trao một điều sâu hơn: lòng yêu mến sự thật đủ để kiểm tra một chữ; lòng kính trọng Hội Thánh đủ để lắng nghe trước khi nói; lòng thương con người đủ để không dùng nỗi đau của họ làm chất liệu gây xúc động; và lòng khiêm tốn đủ để quỳ trước Lời mình đang chuẩn bị trao đi. Nếu nhận được những điều ấy, họ có thể cầm một công cụ mới mà không đánh mất căn tính của người phục vụ. Họ có thể vun đắp mà không phản bội nguồn.
Máy sẽ còn dịch được hơn. Chúng ta có thể đón nhận điều đó với sự tỉnh táo và lòng biết ơn đối với những trợ giúp thực sự. Nhưng trong nhà thờ, khi một đoạn Kinh Thánh được công bố và cộng đoàn thưa: “Tạ ơn Chúa,” điều đang xảy ra lớn hơn việc chuyển thành công một văn bản từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Có một dân đang lắng nghe. Có những cuộc đời đem theo hy vọng, tội lỗi, vết thương, niềm vui và những câu hỏi chưa có lời đáp. Có Lời Chúa được trao cho họ qua tiếng nói của con người. Người phục vụ Lời đứng ở nơi gặp gỡ ấy với tất cả giới hạn và trách nhiệm của mình. Họ học, dịch, sửa, dùng công cụ, hỏi người khác, rồi cầu nguyện để điều mình làm không che khuất Đấng đang muốn nói. Khi nhớ được điều ấy, họ sẽ biết đặt máy vào đúng chỗ trên bàn. Và sau khi màn hình tắt, họ vẫn còn biết mở Sách, cúi đầu và lắng nghe.

CHƯƠNG XI. HIỆP THÔNG
Có những khoảng cách đo được bằng cây số, và có những khoảng cách không thể đo bằng bất cứ con đường nào. Một người đã qua đời, ta không thể gọi điện để nghe lại giọng nói. Một người đang sống ở xa, ta không thể ghé qua bàn làm việc để hỏi hôm nay họ có mệt không. Một người ngồi ngay bên cạnh, ta vẫn có thể xa họ đến mức không nhận ra bàn tay họ đang run khi lật trang bản thảo. Bởi thế, nói đến hiệp thông, tôi không muốn chỉ nói đến một ý niệm đẹp. Con muốn nói đến cách chúng ta nhớ một người đã khuất, cách chúng ta ngồi với một người đang sống, và cách chúng ta đặt vào tay những người mình chưa từng gặp một bản văn có thể giúp họ cầu nguyện. Hiệp thông từ xa và hiệp thông từ gần cuối cùng gặp nhau ở một điều rất giản dị: không ai đi một mình trên con đường phục vụ Lời Chúa.
Con và mọi người cùng nguyện xin thánh Giê-rô-ni-mô cầu bầu cho những vị tiền bối đã hoàn tất hành trình trần thế, đồng thời cầu cho những người đang tiếp tục công việc được trung thành và bền bỉ. Hai lời xin ấy đứng cạnh nhau thật tự nhiên. Người đã đi trước không bị gạt ra khỏi câu chuyện chỉ vì họ không còn dự họp. Người còn đang làm không bị bỏ lại với một gánh nặng chỉ vì thế hệ trước đã hoàn thành phần việc của mình. Trong mầu nhiệm các thánh thông công, ký ức không đóng kín ở quá khứ, và trách nhiệm không bị nhốt trong hiện tại. Người trước trao lại; người sau đón lấy. Người ở xa được nhớ đến; người ở gần được chăm sóc. Cộng đoàn cầu nguyện cho nhau, làm việc với nhau, sửa sai cho nhau, nâng đỡ nhau, để Lời Chúa tiếp tục đến được với Dân Người.
Hiệp thông với những người đã khuất: một lời kinh có tên người
Có một sự im lặng rất lạ sau khi một người trong nhóm qua đời. Chiếc ghế vẫn ở đó một thời gian. Tên người ấy còn trong những tập hồ sơ cũ. Một ghi chú bên lề vẫn mang nét chữ quen. Có khi mở lại một bản thảo, ta gặp một dấu hỏi nhỏ đặt cạnh một từ, hoặc một câu đề nghị được viết vội ở mép giấy. Cả con người không nằm trong dấu hỏi ấy, nhưng dấu hỏi khiến ta nhớ: đã có một người ngồi đây, đã đọc đến câu này, đã không muốn đi qua nó một cách cẩu thả. Người ấy từng băn khoăn, từng góp ý, từng vui khi tìm được một cách diễn đạt sáng hơn. Bây giờ người ấy đã đi vào sự thinh lặng của Thiên Chúa.
Cộng đoàn chúng ta xin thánh Giê-rô-ni-mô cầu bầu cho các vị tiền bối, lời xin ấy không phải một câu kết lễ phép dành cho quá khứ. Đó là đức tin của Hội Thánh đi vào một công việc rất cụ thể. Chúng ta cầu cho người đã khuất vì yêu thương họ, vì phó thác họ cho lòng thương xót Chúa. Chúng ta cũng xin họ, trong Chúa, tiếp tục hiệp thông với những người còn bước đi. Sự chết làm thay đổi cách chúng ta gặp nhau, nhưng không biến một đời phục vụ thành điều vô nghĩa, cũng không xóa mối dây bác ái đã được dệt bằng bao năm cùng nghe một Lời.
Người làm công việc dịch thuật thường để lại những thứ rất ít ồn ào. Họ có thể không để lại một ngôi nhà mang tên mình, một bức tượng, một ngày hội lớn. Có khi thứ họ để lại là một câu văn đã được sửa qua rất nhiều lượt đến nỗi dấu vết cá nhân gần như biến mất. Họ góp một chữ, rồi một người khác sửa chữ ấy. Họ đặt một dấu phẩy, rồi cả nhóm bàn lại và chuyển dấu phẩy sang chỗ khác. Họ chấp nhận để câu cuối cùng không còn là câu của riêng mình. Nếu nhìn bằng con mắt chỉ quen ghi công, ta dễ nghĩ họ đã biến mất. Nhưng trong đời sống Giáo Hội, có những đóng góp càng thật càng khó tách ra khỏi đóng góp của người khác. Một lời kinh được cộng đoàn đọc chung không mang giọng một cá nhân, bởi nhiều người đã cùng cúi xuống để tìm một giọng nói xứng với lời cầu của Hội Thánh.
Vì thế, nhớ người đã khuất trước hết là gọi tên họ trong lời cầu nguyện. Đừng để họ chỉ còn là “các bậc tiền bối” theo một nghĩa quá rộng khiến không ai hiện lên trong lòng ta. Nếu biết tên, hãy đọc tên. Nếu biết một ngày giỗ, hãy nhớ ngày ấy. Nếu biết một câu chuyện nhỏ về lòng tận tụy của họ, hãy kể lại cho người trẻ. Nếu có một trang viết còn lưu, hãy đọc nó bằng sự kính trọng dành cho một con người, chứ không chỉ bằng sự quan tâm dành cho một tư liệu. Cách một người đã sống, đã làm việc, đã chịu đựng những ngày khó khăn có thể dạy ta nhiều điều mà một bản báo cáo thành tích không thể dạy.
Nhưng lòng biết ơn phải trung thực. Thương một người đã khuất không đòi ta biến họ thành một con người chưa từng sai, chưa từng nóng nảy, chưa từng mệt mỏi, chưa từng có những lựa chọn cần xét lại. Thánh Giê-rô-ni-mô cũng không được Giáo Hội kính nhớ vì ngài có một tính khí dễ chịu trong mọi hoàn cảnh. Các thánh là những con người được ân sủng Thiên Chúa uốn nắn trong một cuộc đời có thật. Những người đi trước chúng ta cũng thế. Có lẽ họ từng bất đồng gay gắt về một từ. Có lẽ họ từng nói một lời chưa đủ dịu dàng. Có lẽ sau nhiều năm làm việc, họ vẫn phải học lại cách lắng nghe. Ký ức trưởng thành không che mọi vết nứt bằng lớp sơn tôn kính. Ký ức trưởng thành biết cảm tạ về điều tốt, nhận diện điều chưa tốt, và tiếp tục công việc với lòng khiêm nhường.
Một nhóm muốn hiệp thông với người đã khuất cần gìn giữ những gì họ để lại, nhưng không được biến di sản thành một vật bất khả đụng tới. Trung thành với họ không có nghĩa là khóa mọi cánh cửa sửa đổi. Chính những người đã mất bao năm cân nhắc từng chữ hẳn hiểu rằng lòng trung thành với Lời Chúa đòi hỏi người sau tiếp tục học hỏi. Có những cách dùng từ cần được khảo sát lại. Có những hiểu biết về bản văn được đào sâu thêm. Có những nhu cầu mục vụ xuất hiện khi đời sống của Dân Chúa đổi thay. Nếu người đi trước từng nghiêm túc trước bản văn, ta kính trọng họ bằng cách cũng nghiêm túc như thế, kể cả lúc cần sửa một lựa chọn của họ. Đừng nhân danh lòng biết ơn để từ chối trách nhiệm của thế hệ mình.
Con hình dung một người trẻ vào nhóm, lần đầu được trao một tập bản thảo cũ. Em nhìn thấy nhiều màu mực, nhiều nét chữ, những đoạn bị gạch, những câu được viết lại. Có thể em hỏi: “Sao một đoạn ngắn mà nhiều công như vậy?” Câu hỏi ấy đáng quý. Người đi trước có thể trả lời bằng một buổi ngồi kể chuyện: người nào đã làm phần này, tại sao câu kia từng gây tranh luận, điều gì khiến cả nhóm cuối cùng chọn cách diễn đạt ấy. Nhưng sau câu chuyện, xin đừng chỉ nói: “Các bậc trước đã chọn rồi, cứ thế mà theo.” Hãy nói thêm: “Con hãy đọc lại bản văn. Hãy hiểu vì sao các vị chọn như vậy. Rồi nếu con thấy một khó khăn thật, chúng ta cùng xem xét.” Khi ấy, quá khứ trở thành một người thầy còn đối thoại, chứ không phải một cánh cửa đóng.
Có những người đã qua đời khi công việc còn dang dở. Điều ấy làm ta đau theo một cách riêng. Một trang đang sửa. Một kế hoạch chưa hoàn tất. Một lời hẹn “tuần sau bàn tiếp” không còn tuần sau nào để thực hiện. Trước sự dang dở ấy, đức tin không buộc ta phải nói rằng mọi việc đều đã trọn vẹn theo cách mắt ta thấy. Ta có thể buồn. Ta có thể tiếc. Ta có thể ngồi lâu trước một khoảng trống trên bàn. Rồi ta cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin đón nhận người anh em, người chị em này, cùng với mọi công việc họ đã làm và những điều họ chưa kịp làm.” Thiên Chúa biết một đời người sâu hơn bản thảo cuối cùng của họ. Người biết cả những cố gắng không được ghi tên, những hy sinh không được chứng kiến, những lần họ đến bàn làm việc dù lòng đang nặng.
Cầu cho người đã khuất cũng dạy ta cách nhìn người đang sống. Ta thường nhận ra giá trị của một người quá muộn. Khi họ còn ngồi đó, ta chỉ thấy một ý kiến khó chiều, một sự chậm chạp, một bản góp ý dài. Đến khi họ không còn, ta mới nhớ họ là người luôn đọc kỹ phần người khác bỏ qua, luôn hỏi về câu mà ai cũng tưởng đã ổn, luôn đến sớm để chuẩn bị sách vở. Giá như lòng biết ơn không phải chờ đến một lễ giỗ mới được nói ra. Giá như ta biết cảm ơn người ngồi cạnh lúc họ còn nghe được tiếng mình. Hiệp thông với người đã khuất, nếu chân thật, sẽ làm trái tim ta mềm hơn đối với người đang sống.
Hiệp thông với người đang làm: biết người bên cạnh cũng có một đời sống
Lời xin cho những người đang tiếp tục được trung thành và bền bỉ nghe rất đẹp. Nhưng muốn lời ấy đi vào đời thực, ta phải hỏi: một người giữ được lòng trung thành giữa những ngày dài bằng cách nào? Một người bền bỉ khi mắt mỏi, sức giảm, công việc không ai biết, và những ý kiến khác nhau cứ quay trở lại bằng cách nào? Không thể chỉ đặt lên vai họ một lời khuyên “hãy cố gắng”. Cộng đoàn phải trở thành nơi giúp họ có thể cố gắng mà không bị cô độc.
Hiệp thông từ gần bắt đầu bằng sự chú ý. Ta biết người ngồi cạnh đang làm gì, nhưng có biết họ đang sống ra sao không? Một cộng sự vẫn gửi bản sửa đúng hạn có thể đang chăm người thân đau bệnh. Một người thường nói nhiều trong cuộc họp bỗng im lặng có thể đang kiệt sức. Một thành viên lớn tuổi đọc chậm hơn trước có thể đang lo mình trở thành gánh nặng. Một người trẻ gửi nhiều câu hỏi có thể vừa ham học, vừa sợ bị xem là thiếu hiểu biết. Nếu ta chỉ nhìn họ qua số trang đã hoàn thành, mối tương quan ấy chưa xứng với tên gọi hiệp thông.
Không ai cần phải kể hết chuyện riêng trong một nhóm làm việc. Nhưng ai cũng cần được đối xử như một con người. Hỏi thăm thật lòng. Để một người được nghỉ khi họ cần nghỉ. Tìm cách san sẻ một phần việc. Không lấy sự tận tụy của người khác làm lý do để giao cho họ thêm mãi. Không biến lời hứa phục vụ thành sợi dây buộc một người phải kiệt sức. Công việc của Giáo Hội cần lòng quảng đại, và lòng quảng đại cần được gìn giữ bằng sự khôn ngoan, bằng tình huynh đệ, bằng khả năng nhận ra giới hạn của nhau.
Một nhóm dịch thuật hay một cộng đoàn phục vụ Lời không thể tránh những khác biệt. Chữ nghĩa chạm đến trí tuệ, kinh nghiệm, thói quen cầu nguyện, đôi khi cả những thương tích của mỗi người. Có người yêu một cách diễn đạt vì từ nhỏ đã nghe mẹ mình đọc như thế. Có người không yên tâm với cách ấy vì thấy bản văn gốc đòi một sắc thái khác. Có người chú ý đến tính chính xác. Có người nghe ngay được chỗ một cộng đoàn sẽ vấp khi đọc thành tiếng. Có người lo về giáo lý. Có người lo về nhịp thở của câu. Những mối quan tâm ấy đều có chỗ đứng. Hiệp thông không đòi mọi người nghĩ giống nhau ngay từ đầu. Hiệp thông đòi ta tin rằng người kia cũng đang muốn phục vụ điều tốt, đủ lâu để nghe hết lý do của họ trước khi phản bác.
Con nghĩ có những cuộc họp sẽ trở nên nhẹ hơn nếu mỗi người nhớ một điều: bản văn đang được bàn không phải nơi chứng minh mình thông minh hơn người khác. Có thể tôi đúng về một điểm ngữ pháp, nhưng cách tôi bảo vệ điểm đúng ấy khiến một cộng sự không còn muốn lên tiếng. Có thể ý kiến của tôi được nhận, nhưng một người trẻ rời cuộc họp với cảm giác câu hỏi của mình là điều đáng xấu hổ. Chiến thắng ấy quá đắt. Trái lại, có thể tôi nhường lời, hỏi thêm, đề nghị cùng kiểm tra lại, và cuộc họp lâu hơn một chút. Bản văn sẽ tốt hơn, còn cộng đoàn vẫn giữ được khả năng cùng làm việc vào ngày mai.
Điều này không có nghĩa là né mọi lời phê bình. Một bản dịch cần được sửa. Một chú giải sai cần được nói rõ là sai. Một cách diễn đạt có thể gây hiểu lầm cần được thay đổi. Bác ái không làm sự thật mờ đi. Bác ái giúp sự thật đến với người khác theo cách họ có thể tiếp nhận và cùng chịu trách nhiệm. Ta có thể nói: “Chỗ này tôi thấy chưa diễn đạt đúng ý bản văn, vì…” thay vì nói: “Anh lúc nào cũng dịch như thế.” Ta có thể hỏi: “Chị muốn giữ sắc thái nào ở từ này?” trước khi kết luận rằng chị đã bỏ sót nó. Những cách nói nhỏ ấy quyết định một nhóm sẽ lớn lên trong lòng tin hay sống lâu ngày trong sự dè chừng.
Hiệp thông còn cần khả năng xin lỗi. Có những lời buột miệng trong lúc mệt khiến người khác đau lâu hơn ta tưởng. Có những email viết quá vội. Có những góp ý công khai đáng lẽ nên nói riêng. Người phục vụ Lời Chúa không được miễn khỏi bổn phận chữa lành những điều mình làm tổn thương. Một câu “Tôi đã nói nặng; xin lỗi anh” có thể cứu một mối cộng tác. Một lời “Cảm ơn chị đã chỉ ra điều tôi bỏ qua” có thể mở lại một cuộc đối thoại. Nếu làm việc nhiều năm với nhau mà không ai biết xin lỗi, những bản văn có thể vẫn hoàn tất, nhưng lòng người dần xa nhau. Không đáng để công việc của Lời được xây trên một khoảng cách như vậy.
Đọc Lời trước khi phục vụ Lời
Việc thực hành đầu tiên tôi muốn xin cho những người đang làm là đọc Lời trước khi dịch Lời, giảng Lời, đăng Lời. Câu ấy nghe hiển nhiên, nhưng càng làm việc nhiều với bản văn thánh, ta càng có nguy cơ chỉ nhìn nó như việc phải xử lý. Ta mở một đoạn Kinh Thánh và lập tức nghĩ đến chú thích, lựa chọn từ, bài giảng Chúa nhật, phần dẫn cho một chương trình, thời hạn phải nộp. Những việc ấy cần thiết. Nhưng trước tất cả, đây là Lời được trao cho ta để nghe.
Có một khác biệt rất sâu giữa đọc để nắm bản văn và đọc để cho bản văn chạm đến mình. Người dịch cần hiểu cấu trúc câu. Người chú giải cần biết văn mạch. Người giảng cần chuẩn bị nghiêm túc. Nhưng nếu không còn một khoảnh khắc nào để thưa: “Lạy Chúa, hôm nay Chúa muốn nói gì với con qua lời này?”, công việc dần làm ta khô. Ta có thể nói rất nhiều về lòng thương xót mà không cho phép lòng thương xót xét lại cách mình đối xử với người cùng nhóm. Ta có thể dịch một Thánh Vịnh than van mà không nhận ra một cộng sự đang cần được nghe. Ta có thể giảng về người Samari nhân hậu rồi đi ngang qua người yếu sức ngay trên đường mình.
Xin đừng hiểu lời mời đọc Lời trước khi làm việc như một phương pháp thêm vào lịch cho đủ đạo đức. Có những ngày chỉ là mấy phút lặng yên. Có khi là đọc chậm một câu, rồi giữ câu ấy trong lòng trước khi mở tài liệu. Có khi là thừa nhận với Chúa: “Con mệt. Con không thấy sốt sắng. Nhưng con vẫn muốn nghe.” Có khi là để một đoạn Lời Chúa ngăn ta viết một lời bình luận sắc bén mà thiếu lòng thương. Một nhóm có thể bắt đầu buổi làm việc bằng lời cầu nguyện chung. Nhưng mỗi người vẫn cần một khoảng riêng, nơi họ không phải chứng tỏ kiến thức, chỉ cần hiện diện như người môn đệ.
Lời Chúa không phải nguyên liệu. Ta không lấy Lời như lấy một khối đá để đẽo thành vật mang dấu tay mình. Ta được mời phục vụ để người khác nghe được điều Chúa muốn nói qua bản văn của Hội Thánh. Sự khác biệt ấy giữ người phục vụ khỏi một cám dỗ tinh vi: yêu chính khả năng nói về Lời hơn yêu Đấng ban Lời. Khi được khen một bài giảng, một bản dịch, một chú giải, ta vui; niềm vui ấy rất người. Nhưng rồi cần trở lại câu hỏi ban đầu: người nghe đã được đưa đến gần Chúa hơn chưa? Người đọc có hiểu đúng hơn, cầu nguyện thật hơn, sống bác ái hơn không? Và chính tôi có chịu để Lời sửa mình không?
Làm việc trong lòng Giáo Hội
Việc thực hành thứ hai là dịch và chú giải trong Giáo Hội. Những chữ “trong Giáo Hội” rất ấm nếu ta hiểu chúng bằng kinh nghiệm của một người thuộc về. Giáo Hội là nơi ta được nghe Lời trước khi đủ khả năng nghiên cứu Lời, được người khác dạy cách làm dấu thánh giá trước khi biết giải thích một câu thần học, được nâng đỡ trong đức tin qua phụng vụ, qua các bí tích, qua đời sống của biết bao con người bình thường. Người phục vụ Kinh Thánh học hỏi nghiêm túc, sử dụng các phương pháp tốt, tra cứu bản gốc và lắng nghe truyền thống, bởi họ muốn phục vụ cộng đoàn đã nuôi dưỡng đức tin của mình.
Làm việc trong Giáo Hội cũng có nghĩa là không xem sự hiểu biết riêng như tiếng nói cuối cùng. Một người có thể rất giỏi ngôn ngữ cổ mà vẫn cần nghe người khác về phụng vụ. Một người có kinh nghiệm mục vụ lâu năm vẫn cần lắng nghe nhà chú giải khi bản văn đặt ra vấn đề khó. Người già cần người trẻ chỉ ra những cách tiếp nhận mới. Người trẻ cần những người đã cầu nguyện với Kinh Thánh nhiều thập niên giúp mình nhận ra điều không thể thấy chỉ qua màn hình tra cứu. Sự cộng tác ấy đòi khiêm nhường ở mọi phía. Không ai sở hữu trọn vẹn Lời đã quy tụ tất cả chúng ta.
Có lẽ dấu hiệu rõ nhất của việc làm trong lòng Giáo Hội là ta quan tâm bản văn sẽ sống thế nào trên môi miệng Dân Chúa. Một câu có thể chính xác trên trang giấy nhưng khó đọc thành tiếng. Một từ có thể quen trong giới nghiên cứu nhưng khiến người dự lễ hiểu sang một nghĩa khác. Một lối chú giải có thể thú vị với người viết nhưng không giúp người đang đau khổ gặp được Tin Mừng. Lắng nghe cộng đoàn không có nghĩa là chiều theo mọi sở thích. Lắng nghe là nhận ra bản văn được trao cho những con người có thật. Người dịch cần hỏi người nghe hiểu ra sao. Người giảng cần nhìn khuôn mặt những người đang nghe mình. Người phụ trách nội dung cần nhớ đằng sau mỗi lượt đọc trên màn hình là một đời sống mà mình chưa biết.
Cũng trong Giáo Hội, ta học cách đón nhận sự sửa dạy. Một bản văn được góp ý không phải một cuộc tấn công vào phẩm giá người viết. Có những chỉnh sửa rất đau vì ta đã đặt nhiều công vào một câu. Có những lần ta tin chắc mình đúng rồi phát hiện mình đã đọc thiếu một chi tiết. Nếu có thể cảm ơn người chỉ ra điều ấy, ta đã lớn lên. Sự hiệp thông được xây cả bằng những lần một người nói: “Tôi cần xem lại.” Đó không phải sự yếu đuối. Đó là lòng tôn trọng Lời Chúa và lòng tin đối với những người được Chúa đặt bên cạnh.
Chấp nhận sự âm thầm, gìn giữ niềm vui
Việc thực hành thứ ba là chấp nhận sự âm thầm. Người ta có thể dành cả buổi để cân nhắc một từ rồi chẳng ai biết buổi ấy đã diễn ra. Một đoạn văn được đọc trôi chảy trong vài giây có thể đã đi qua nhiều tuần kiểm tra. Một người sử dụng bản dịch có thể không biết ai đã giúp câu văn đến được với mình. Điều đó có thể làm người phục vụ buồn, nhất là khi sức lực không còn dồi dào hoặc khi họ cảm thấy công việc của mình bị xem là đương nhiên.
Tôi không muốn nói với họ một cách dễ dãi rằng “cứ âm thầm đi, Chúa biết hết”. Chúa biết, đúng. Nhưng anh chị em trong cộng đoàn cũng nên biết cảm ơn. Chúng ta có thể chấp nhận một công việc ít được nhìn thấy mà vẫn nói lời tri ân công khai khi thích hợp. Chúng ta có thể vui vì một câu đúng ở lại với Dân Chúa, đồng thời quan tâm đến người đã góp phần làm nên câu ấy. Sự âm thầm của người phục vụ không cho phép người thụ hưởng trở nên vô tâm.
Tuy vậy, có một niềm vui rất riêng trong công việc âm thầm. Đó là niềm vui khi đọc lại một đoạn và thấy nó đã trong hơn. Niềm vui khi nghe một cộng đoàn đọc một lời nguyện mà không vấp, vì những khó khăn đã được tháo gỡ từ trước. Niềm vui khi một người không quen biết nói: “Câu ấy đã giúp tôi cầu nguyện trong lúc rất khổ.” Ta không cần giữ niềm vui ấy cho mình như một huy chương. Ta có thể dâng nó lại cho Chúa, chia sẻ nó với những người cùng làm, rồi trở về với trang tiếp theo. Lời khen đến rồi đi. Một câu được làm cẩn thận có thể ở lại, đi cùng người khác lâu hơn đời làm việc của ta.
Sự âm thầm cũng giải thoát ta khỏi việc phải đặt tên mình vào mọi thành quả. Công việc chung không phát triển nếu mỗi góp ý đều trở thành một khoản phải ghi công, mỗi quyết định đều thành cuộc đếm xem ai thắng. Có những ngày ý kiến hay nhất đến từ người mới nhất. Có những ngày một người đã gắn bó mấy chục năm chỉ góp một câu hỏi, nhưng câu hỏi ấy giúp cả nhóm tránh một sai lầm. Nếu ta vui được với điều tốt dù điều tốt ấy không mang dấu riêng của mình, cộng đoàn sẽ có thêm khoảng thở. Người trẻ dám đề nghị. Người già không phải bảo vệ uy tín bằng mọi giá. Và bản văn được hưởng lợi từ sự tự do ấy.
Chăm người già, dạy người trẻ
Việc thực hành thứ tư nghe như chuyện tổ chức, nhưng thật ra là một bổn phận của tình yêu: chăm người già trong nhóm và dạy người trẻ trong nhóm. Một cộng đoàn chỉ biết ca ngợi các bậc lớn tuổi trong bài tưởng niệm, nhưng không biết nâng đỡ họ lúc mắt đã yếu, tai nghe kém, sức làm việc giảm, thì lời ca ngợi ấy chưa đủ. Một cộng đoàn luôn nói “phải có lớp kế thừa” nhưng không dành thời gian đào tạo, không trao việc thật, không cho phép người trẻ đặt câu hỏi và phạm những lỗi có thể sửa, thì lời lo lắng ấy cũng chưa đủ.
Người già không phải kho lưu trữ để người trẻ đến rút kinh nghiệm rồi đi. Họ là những con người đang sống một chặng đường mới của ơn gọi. Có người vẫn muốn làm việc nhưng cần nhịp chậm hơn. Có người không thể đọc nhiều trang như trước nhưng còn nhận ra rất nhanh một sắc thái lệch trong câu. Có người muốn được hỏi ý kiến mà ngại mở lời vì sợ mình cản trở tiến độ. Có người cần ai đó giúp sử dụng một công cụ mới; việc nhờ giúp đối với họ khó hơn ta tưởng. Chăm họ là tìm cách để họ còn được tham dự theo khả năng hiện tại, đồng thời để họ được nghỉ trong bình an khi cần. Không ai phải chứng minh giá trị của mình bằng cách làm việc cho đến kiệt sức.
Người trẻ cũng cần được nhìn như những người có thể gánh trách nhiệm, chứ không chỉ là bàn tay để nhập liệu hoặc xử lý kỹ thuật. Họ cần được học vì sao một từ được chọn, một từ bị bỏ, vì sao một câu nghe xuôi vẫn có thể thiếu trung thành với bản văn. Họ cần được nghe chuyện về những lần nhóm đã sửa sai. Họ cần một người chỉ cho cách tra cứu, cách ghi nguồn, cách phân biệt mức độ chắc chắn của một nhận định. Và sau khi được dạy, họ cần được tin cậy. Nếu mọi quyết định quan trọng đều mãi mãi ở trong tay một số người, thế hệ sau chỉ học được cách chờ đợi, không học được cách chịu trách nhiệm.
Con mong có những buổi mà một người lớn tuổi và một người trẻ cùng đọc một đoạn ngắn. Người trẻ trình bày điều mình tìm được; người lớn tuổi kể câu ấy từng được nghe trong phụng vụ ra sao. Có thể người lớn tuổi nhận ra một cách diễn đạt mới rất sáng. Có thể người trẻ phát hiện cách hiểu của mình bỏ qua một chiều sâu mà kinh nghiệm cầu nguyện đã gìn giữ. Cả hai cùng đặt bản văn ở giữa. Khi ấy, việc chuyển giao không chỉ là trao một tập tin hay một danh sách công việc. Đó là trao một lối kính trọng Lời Chúa, rồi cùng để lối kính trọng ấy tiếp tục trưởng thành.
Một cộng đoàn cần nói thành lời rằng người trẻ được phép chưa biết, và người già được phép không còn làm nhanh như trước. Hai sự cho phép ấy tạo nên bình an. Người trẻ không phải che giấu chỗ thiếu của mình bằng vẻ tự tin. Người già không phải che giấu giới hạn của mình bằng cách lặng lẽ chịu đựng. Mọi người có thể hỏi, có thể nhận giúp đỡ, có thể góp điều mình còn làm tốt. Hiệp thông từ gần đôi khi bắt đầu chỉ bằng một câu: “Phần này để tôi làm cùng anh,” hoặc “Con thử làm trước, rồi chúng ta xem lại với nhau.”
Để Lời dẫn tới bác ái
Việc thực hành thứ năm là để công việc dẫn tới bác ái. Đây là phép thử không dễ né tránh. Một người có thể thuộc nhiều đoạn Kinh Thánh, giải thích được nhiều từ khó, nói rất cảm động về người nghèo, mà vẫn đóng cửa lòng khi một người nghèo gõ cửa thật. Một nhóm có thể lao động hết lòng để Dân Chúa đọc được Lời, nhưng trong sinh hoạt hằng ngày lại không nhận ra người ít tiếng nói nhất đang bị bỏ quên. Nếu điều ấy xảy ra, ta cần dừng lại và để Lời xét hỏi chính mình.
Bác ái không chỉ nằm ở những việc lớn có thể kể lại. Nó có mặt trong cách ta chia công bằng với người quá tải, trong việc trả lời tử tế cho một độc giả nêu thắc mắc, trong sự kiên nhẫn với người đọc chậm, trong cách ta giữ lời hứa, trong việc dùng tài nguyên chung một cách ngay thẳng. Nó có mặt khi ta nghĩ đến người không đủ tiền mua nhiều sách, người không thể nhìn chữ nhỏ, người chỉ nghe được bản audio, người ở nơi mạng yếu, người mới học đọc Kinh Thánh và còn ngại hỏi. Mỗi quyết định về hình thức trình bày, khả năng tiếp cận, ngôn ngữ dễ hiểu và cách phổ biến đều có thể trở thành một hành vi quan tâm.
Con nhớ hình ảnh một người cầm Lời mà vẫn có thể đi ngang qua Chúa đang đói. Hình ảnh ấy khiến ta bất an, và nên như vậy. Đức Kitô, Đấng ta tìm trong Sách Thánh, cũng mời ta nhận ra Người nơi những người bé nhỏ. Nếu công việc với bản văn làm ta tự hào đến mức khó cúi xuống trước một con người, ta cần trở lại từ đầu. Nếu việc bảo vệ một câu chữ khiến ta dễ làm nhục một người, ta cần hỏi mình đang bảo vệ điều gì. Nếu những đêm thức vì bản thảo làm ta không còn chút dịu dàng nào cho người sống cùng nhà, ta cần xem lại nhịp sống. Lời Chúa không muốn ta trang hoàng thật đẹp bức tường tri thức trong khi bỏ một người đứng đói bên ngoài.
Bác ái còn có một chiều kích ít được nói tới: chăm sóc người đọc bằng sự cẩn thận. Một lời giải thích cẩu thả có thể làm người ta hiểu sai. Một câu trích thiếu văn mạch có thể gây sợ hãi không cần thiết. Một bản văn đăng vội có thể tiếp tục được chia sẻ rất lâu sau khi người đăng quên nó. Sự kỹ lưỡng trong công việc vì vậy không chỉ là yêu nghề. Nó là tình yêu đối với những người sẽ tin cậy mình. Ta không biết ai sẽ đọc đoạn ấy vào một đêm mất ngủ, ai sẽ mang nó đến bên giường bệnh, ai sẽ dựa vào nó để dạy con. Chính vì không biết, ta càng cần làm với lương tâm ngay thẳng.
Hiệp thông với cả Dân Chúa: những người ta chưa từng gặp
Có một khoảng cách đẹp giữa người dịch và người đọc. Nhiều khi họ không bao giờ gặp nhau. Người làm bản văn không nhìn thấy căn bếp nơi một bà mẹ mở Tin Mừng cho con nghe. Họ không biết chiếc xe trên đường đi làm, nơi một người nghe Giờ Kinh qua điện thoại. Họ không biết một người lớn tuổi ngồi ở cuối nhà thờ đã mang câu Thánh Vịnh nào về nhà sau lễ. Nhưng chính những con người không quen ấy là lý do để người phục vụ tiếp tục cúi xuống trang giấy.
Khi nói bản dịch thuộc về Giáo Hội, tôi muốn nói đến sự thuộc về ấy trong vẻ sống động của nó. Bản văn đi ra khỏi phòng làm việc. Nó bước vào thánh đường, mái nhà, bệnh viện, lớp giáo lý, nhóm cầu nguyện, chuyến xe xa. Một câu từng được cân nhắc kỹ dưới ánh đèn bàn nay được một người đang đau khổ đọc rất chậm. Một câu từng khiến nhóm tranh luận về cách ngắt nhịp nay được cộng đoàn cất lên cùng một hơi thở. Một câu tưởng chỉ là phần nhỏ trong công trình lớn nay trở thành lời cầu mà một người nhớ được khi không còn đủ sức mở sách. Ta không thể định trước câu nào sẽ được Chúa dùng theo cách ấy. Ta chỉ có thể làm phần mình với sự kính trọng.
Dân Chúa không phải một đám đông trừu tượng đứng ở cuối quy trình. Họ là những người cụ thể. Có người học cao, có người ít được đi học. Có người quen đọc Kinh Thánh từ nhỏ, có người mới mở Tin Mừng lần đầu. Có người yêu một lối nói cổ vì đó là âm thanh của thời thơ ấu. Có người cần được giúp vượt qua chính những từ quen tai nhưng không còn hiểu rõ. Có người đọc để chuẩn bị bài giáo lý. Có người đọc vì đang tuyệt vọng và muốn tìm một dấu chỉ rằng Chúa vẫn thấy mình. Nếu nhớ những khuôn mặt ấy, người làm bản văn sẽ bớt dễ dãi với chữ nghĩa và cũng bớt xa cách với đời sống.
Con đặc biệt nghĩ đến những người không có khả năng gửi lời góp ý. Một bà cụ đọc Giờ Kinh tại gia sẽ không viết thư về một chỗ khó hiểu. Một người mới theo đạo có thể tưởng lỗi là do mình khi không hiểu một câu. Một em thiếu nhi nghe bài đọc rồi chỉ nhớ được một hình ảnh. Một người bệnh nghe audio trong lúc mệt đến mức không thể theo kịp đoạn dài. Sự im lặng của họ không có nghĩa mọi thứ đã rõ. Người phục vụ cần tìm cách lắng nghe cả những người ít cơ hội lên tiếng: đọc thử cho họ nghe, hỏi họ hiểu gì, quan sát chỗ họ vấp, tôn trọng kinh nghiệm tiếp nhận của họ. Làm thế không làm giảm phẩm giá của công việc học thuật. Nó giúp công việc ấy đạt đến người mà nó muốn phục vụ.
Và khi bản văn đã đến tay Dân Chúa, người dịch cũng có thể học lại từ họ. Một người đọc bình thường đôi khi hỏi câu mà giới chuyên môn đã thôi hỏi. Một người đang chịu tang nhận ra chiều sâu của một Thánh Vịnh than van mà người dịch, trong giai đoạn bình an của đời mình, mới chỉ hiểu bằng trí. Một cộng đoàn đọc chung cho thấy nhịp câu nào nâng đỡ lời cầu, nhịp nào làm lời cầu bị đứt. Những phản hồi ấy đáng được tiếp nhận bằng lòng biết ơn. Người làm sách trao bản văn cho cộng đoàn, rồi chính cộng đoàn giúp họ hiểu thêm sức sống của bản văn.
Bởi thế, câu “mỗi câu họ đọc đã được trả bằng đời người” cần được hiểu bằng sự dịu dàng. Tôi không muốn người đọc thấy mình mắc một món nợ nặng nề mỗi lần mở sách. Tôi muốn họ biết có tình yêu ở phía sau trang giấy. Có những giờ học, những giờ cầu nguyện, những buổi họp mệt, những lần sửa đi sửa lại, những đời người đã âm thầm góp phần để Lời đến gần họ hơn. Biết điều ấy, họ có thể cầm sách với lòng biết ơn. Và biết có người đang chờ được nghe Lời, người làm bản văn có thể tiếp tục công việc với lòng mến. Hai phía gặp nhau trong cùng một ân huệ mà không phía nào sở hữu riêng.
Hiệp thông khi xa nhau
Ngày nay, người cùng phục vụ có thể ở rất xa nhau. Một người gửi bản thảo từ một thành phố khác. Một người đọc góp ý lúc đêm khuya. Một người họp qua màn hình, đến khi tắt máy mới trở lại căn phòng yên lặng của mình. Khoảng cách ấy có những thuận lợi: công việc có thể tiếp tục dù mọi người không ở chung một nơi; người trẻ và người già ở nhiều vùng có thể cộng tác; tài liệu có thể đến nhanh. Nhưng khoảng cách cũng làm ta dễ quên người bên kia màn hình có một khuôn mặt, một gia đình, một thân thể biết mệt.
Một dòng nhận xét gõ trong vài giây có thể được người nhận đọc đi đọc lại nhiều lần. Một sự im lặng trong nhóm trao đổi có thể bị hiểu thành lạnh nhạt, dù người im lặng đang gặp chuyện khó. Một cuộc họp trực tuyến có thể kết thúc đúng giờ mà không ai biết một thành viên vừa trải qua một ngày nặng nề. Hiệp thông từ xa vì thế cần được chăm sóc có chủ ý. Viết rõ mà vẫn tử tế. Biết cảm ơn khi nhận một phần việc. Gọi điện khi một hiểu lầm không thể tháo bằng những dòng chữ ngắn. Dành chỗ cho vài câu hỏi thăm thật, không chỉ cho danh sách việc phải hoàn thành.
Có lúc khoảng cách địa lý làm ta nhớ một điều mà sự gần gũi hằng ngày dễ che mất: ta không điều khiển được đời người khác. Ta chỉ có thể tin tưởng, nâng đỡ, giữ lời, cầu nguyện. Ta không thể đứng cạnh một cộng sự trong mọi giờ họ ngồi trước bản thảo. Ta không biết họ đã phải vượt qua điều gì trước khi gửi được một trang đúng hạn. Bởi vậy, mỗi lần nhận một phần việc từ xa, xin hãy đọc nó như một phần của đời người đã được trao sang cho mình. Góp ý hết sức thành thật, nhưng cũng hết sức kính trọng. Đằng sau tập tin là một người anh em, một người chị em.
Cầu nguyện cho nhau khi xa nhau không phải phương án sau cùng vì không làm được gì khác. Lời cầu đặt người kia trước mặt Thiên Chúa bằng một tình yêu không đòi kiểm soát. Ta cầu cho họ đủ sức khỏe, đủ sáng suốt, đủ niềm vui. Ta cầu cho họ biết nghỉ. Ta cầu cho gia đình họ. Ta cầu cho những điều họ không nói ra. Và khi có dịp gặp lại, lời cầu ấy nên trở thành một bàn tay, một bữa ăn, một cuộc trò chuyện, một việc làm cụ thể. Hiệp thông trong Chúa không làm các cử chỉ con người trở nên thừa; nó thúc đẩy ta thực hiện chúng chân thành hơn.
Hiệp thông khi ở rất gần
Ở xa mà nhớ nhau là một hồng ân. Ở gần mà thực sự thấy nhau lại là một cuộc hoán cải. Có những người ta gặp mỗi tuần, đến mức không còn nhìn kỹ họ nữa. Ta biết thói quen của họ, đoán trước câu họ sẽ nói, chuẩn bị sẵn lời phản đối trước khi họ mở miệng. Ta có thể ngồi cùng một bàn nhiều năm mà chỉ biết phiên bản của họ trong phòng họp. Nếu hiệp thông muốn đi sâu, ta cần từ bỏ thói quen đóng khung nhau.
Người từng bảo thủ trong một vấn đề vẫn có thể đem đến một ánh sáng mới hôm nay. Người từng làm sai một việc vẫn có thể trưởng thành. Người hay pha trò có thể đang buồn. Người ít nói có thể có một nhận xét quan trọng nếu được chờ đủ lâu. Người thường giúp mọi người có thể lần đầu cần được giúp. Ta không biết hết một con người chỉ vì đã quen họ. Mỗi cuộc gặp là cơ hội nhìn họ lại dưới ánh sáng của lòng thương xót Chúa.
Có lẽ việc này bắt đầu từ những điều rất nhỏ: để người khác nói hết câu; không nhắc lại lỗi cũ của họ như một nhãn hiệu; không dùng điều họ từng chia sẻ riêng làm lý lẽ trong cuộc tranh luận; không xem sự hiện diện của họ là đương nhiên. Một lời chào, một chỗ ngồi được chuẩn bị, một tin nhắn hỏi thăm sau ngày họ vắng mặt, một lần nhìn thẳng và nói “cảm ơn” có thể làm cộng đoàn ấm lên. Những điều ấy không thay được chuyên môn. Nhưng chuyên môn, nếu thiếu chúng, sẽ phải sống trong một căn phòng lạnh.
Con nghĩ đến bàn làm việc của những người phục vụ Lời Chúa. Trên bàn có sách, từ điển, ghi chú, máy tính; đôi khi có một ly nước đã nguội. Nhưng nếu nhìn bằng đức tin, ở giữa bàn ấy còn có một lời mời sống Tin Mừng với nhau. Cách họ chia nhau công việc, tranh luận, chờ đợi người yếu hơn, đón nhận người mới, tiễn một người già về nghỉ, nhớ người đã mất: tất cả đều là một phần của chứng tá. Người ta có thể không nhìn thấy đời sống nội bộ ấy, nhưng nó in dấu trên cách bản văn được làm ra. Một cộng đoàn biết lắng nghe nhau sẽ dễ nghe bản văn hơn. Một cộng đoàn biết tôn trọng người bé nhỏ sẽ dễ nhận ra người bé nhỏ mà Lời Chúa hướng tới.
Một lời cầu cho những bàn tay còn mở
Con muốn dừng chương này ở hình ảnh bàn tay. Bàn tay của người đã khuất từng lật trang, ghi chú, gạch xóa, lần hạt, làm dấu thánh giá. Bàn tay ấy giờ đã thôi làm những việc trần thế; ta trao họ vào tay Thiên Chúa. Bàn tay của người đang sống vẫn cầm bút, gõ phím, mở sách, đỡ một cộng sự đứng dậy, đặt một bản văn vào tay người trẻ. Bàn tay của người đọc ở nơi xa nâng cuốn sách, chạm màn hình, hoặc nắm tay người thân khi nghe một câu Kinh Thánh. Những bàn tay ấy không chạm nhau hết trên đời này, nhưng cùng được quy tụ quanh Lời đã thành xác phàm.
Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết nhớ người đi trước bằng lòng biết ơn chân thật. Xin cho chúng con cầu nguyện cho họ, gìn giữ những điều tốt đẹp họ trao lại, và đủ khiêm nhường để tiếp tục công việc họ yêu mến. Xin đừng để tên họ chỉ xuất hiện trong một dịp tưởng niệm rồi biến mất khỏi lòng chúng con. Xin cho những người đã âm thầm phục vụ Lời được nghỉ yên trong lòng thương xót Chúa.
Xin nhìn đến những người đang tiếp tục. Có người đầy nhiệt huyết, có người đang mệt. Có người còn trẻ và sợ mình chưa đủ sức. Có người đã già và sợ mình không còn giúp được gì. Có người đang vui vì một câu văn sáng ra. Có người vừa nhận một lời góp ý làm lòng nặng xuống. Xin cho họ biết bắt đầu bằng việc lắng nghe Chúa, biết lắng nghe nhau, biết nói thật trong bác ái và biết nhận sự giúp đỡ khi cần. Xin giữ cho công việc của họ không lấy mất đời sống cầu nguyện, không làm cạn tình yêu dành cho gia đình, cộng đoàn và những người nghèo.
Xin chúc lành cho những người sẽ đọc những trang họ chuẩn bị. Xin cho một người mẹ tìm được lời để kể về Chúa cho con. Xin cho một người bệnh tìm được lời cầu khi sức lực chỉ còn đủ để nghe. Xin cho người đang nghi nan gặp được một câu mở ra con đường. Xin cho cộng đoàn, khi cùng cất tiếng đọc, cảm nhận mình được Chúa gọi về với nhau. Xin cho người phục vụ Lời biết rằng những khuôn mặt họ chưa thấy vẫn đáng để họ làm việc cẩn thận và yêu thương.
Hiệp thông từ xa, hiệp thông từ gần: cả hai đều cần một trái tim chịu ở lại. Ở lại với ký ức về người đã khuất. Ở lại với người đang ngồi bên cạnh, kể cả khi bất đồng. Ở lại với người đọc chưa từng gặp, để nghĩ đến họ trước khi chọn một chữ. Ở lại với Hội Thánh, nơi ta đã nhận Lời và cùng nhau trao Lời. Và trên hết, ở lại với Đức Kitô. Chính Người quy tụ những đời người khác nhau quanh một bàn, nhận lấy những cố gắng còn thiếu sót của chúng ta và dạy chúng ta yêu nhau trong lúc làm việc cho Người. Nếu sau nhiều năm, chúng ta trao lại được cho thế hệ kế tiếp một bản văn được chăm chút và một cộng đoàn còn biết thương nhau, đó sẽ là một di sản đáng tạ ơn.

CHƯƠNG XII. LỜI NHẮN GỬI NHÂN LỄ BỔN MẠNG 30-9-2026
Ngày 30 tháng Chín, Giáo Hội kính nhớ thánh Giê-rô-ni-mô. Đối với Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ, ngày ấy còn là dịp trở về với một câu hỏi âm thầm nhưng quyết định: sau bao năm làm việc với Sách Thánh, chúng ta còn để cho Lời Chúa làm việc trong chính mình không? Một bản dịch có thể được hoàn thành và đưa lên kệ sách. Một công trình có thể đi vào đời sống phụng vụ, được đọc ở nhiều nơi, được trích dẫn qua nhiều thế hệ. Nhưng người phục vụ Lời Chúa không thể xem đời mình là một công trình đã hoàn tất. Bao lâu còn sống, người ấy còn phải học nghe. Bao lâu còn mở Sách Thánh, người ấy còn có thể được Chúa sửa dạy, an ủi, chất vấn và sai đi. Có lẽ đó là cách đẹp nhất để mừng lễ bổn mạng: không chỉ nhìn lại những trang đã dịch, mà còn hỏi trang nào của tâm hồn mình vẫn đang đóng trước Lời.
Năm nay, ngày lễ thánh Giê-rô-ni-mô cũng ở rất gần một dấu mốc đáng nhớ: ngày 1 tháng Mười Một năm 2026, Nhóm tròn năm mươi lăm năm kể từ buổi gặp gỡ đầu tiên. Năm mươi lăm năm là một quãng đường đủ dài để nhiều người khởi sự đã đi về với Chúa, nhiều người trẻ ngày ấy đã bạc tóc, nhiều phương tiện làm việc đã thay đổi đến mức khó nhận ra. Nhưng vẫn có một điều không cũ: Dân Chúa cần được nghe Lời Chúa bằng ngôn ngữ của trái tim mình. Một bà mẹ cần lời Thánh Vịnh để cầu nguyện khi không biết nói gì trước nỗi đau. Một linh mục cần lời các ngôn sứ để không giảng bằng những ý nghĩ quen thuộc của riêng mình. Một người trẻ cần nghe tiếng Chúa gọi giữa vô số tiếng gọi đang tranh giành sự chú ý. Một người hấp hối cần được nghe lời hứa về sự sống mạnh hơn bóng tối đang phủ xuống. Đằng sau từng trang sách là những con người như thế. Đằng sau từng cuộc tranh luận về một chữ là khả năng có một người, ở một ngày nào đó, hiểu rõ hơn khuôn mặt của Thiên Chúa.
Con viết những vụn vặn suy tư này này như suy tư của một linh mục đứng giữa Dân Chúa. Con không viết với tư cách người trong Ban điều hành Nhóm, càng không đứng ở vị trí có thể chỉ bảo những người đã dành cả đời cho một công việc mà tôi còn phải học hỏi rất nhiều. Con viết từ phía người đã nhận. Con đã nhận những bản văn để đọc, để cầu nguyện, để cử hành phụng vụ và để trao lại cho cộng đoàn. Con biết ơn vì trước khi lời ấy đến môi miệng mình, đã có những người ngồi rất lâu trước một câu khó. Có những điều người sử dụng một cuốn sách không bao giờ nhìn thấy: những đêm dò lại nguyên ngữ, những bản thảo bị sửa nhiều lần, những bất đồng được đưa ra bàn với lòng tôn trọng, những quyết định phải cân nhắc giữa sự chính xác và tiếng Việt có thể đọc thành lời. Công việc ấy thường diễn ra trong lặng lẽ. Bởi thế, lời đầu tiên con muốn nói hôm nay rất đơn sơ: xin trân trọng và xin cảm ơn.
Gửi Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ
Con xin cảm ơn Nhóm vì đã ở lại với công việc của mình qua những năm tháng không dễ dàng. Nói “đã không bỏ cuộc” nghe rất gọn, nhưng phía sau mấy chữ ấy là bao nhiêu hoàn cảnh, giới hạn, hy sinh và kiên nhẫn mà người đến sau không thể hiểu hết. Có những việc người ta làm được nhờ một thời thuận lợi. Cũng có những việc chỉ đi tới được vì những con người tin rằng điều mình đang phục vụ lớn hơn sự thuận lợi của một thời. Nhóm đã đi qua năm 1975 và tiếp tục làm việc. Tôi không muốn biến một lịch sử nhiều chiều thành vài lời hùng biện dễ dãi. Tôi chỉ muốn kính cẩn nhìn nhận rằng việc tiếp tục ấy đã mở đường cho nhiều thế hệ tín hữu Việt Nam được gặp Lời Chúa cách gần gũi hơn. Nếu một cộng đoàn hôm nay có thể cùng đọc một Thánh Vịnh, cùng đáp một câu xướng, cùng lắng nghe một bài đọc bằng thứ tiếng đi vào ký ức gia đình mình, thì ở đâu đó trong nền của giờ cầu nguyện ấy có sự bền bỉ của những người đã không rời bàn làm việc.
Xin cảm ơn vì Nhóm đã không xem một ấn bản là điểm kết thúc của lòng trung thành. Một cuốn sách được đón nhận rộng rãi rất dễ đem lại cảm giác rằng công việc đã đủ tốt, rằng những gì cần làm đã làm xong. Nhưng Lời Chúa không cho phép người phục vụ Người ngủ quên trên thành quả. Tiếng Việt sống, chuyển động và có những sắc thái cần được tiếp tục lắng nghe. Việc nghiên cứu Kinh Thánh vẫn đặt ra những câu hỏi. Đời sống phụng vụ của cộng đoàn vẫn giúp người dịch nhận ra câu nào sáng nghĩa trên bàn giấy nhưng khó đi vào lời đọc chung, câu nào chính xác mà chưa đủ trong trẻo, câu nào đã quen tai đến mức người ta thôi nghe nội dung của nó. Không tự mãn sau một ấn bản được đón nhận là một cách khiêm nhường trước chính Lời mình đã phục vụ. Người dịch trung tín có thể vui vì công trình đã giúp ích cho Giáo Hội, rồi sáng hôm sau vẫn trở lại với một dấu phẩy chưa yên lòng.
Con cũng muốn cảm ơn hình ảnh một người tám mươi tám tuổi còn ngồi trước chiếc laptop. Chiếc máy ấy thuộc về một thời rất mới; đôi mắt, bàn tay và trí nhớ kia mang theo kinh nghiệm của nhiều thập niên. Nhưng điều làm hình ảnh ấy đẹp không nằm ở sự gặp gỡ giữa tuổi già và công nghệ. Điều đẹp hơn là một con người vẫn nhận phần việc của mình trong ngày hôm nay. Có những tuổi già được người khác kính trọng vì những gì đã làm. Có những tuổi già còn trao ban vì vẫn đang làm, dù chậm hơn, mỏi hơn, phải nghỉ nhiều lần hơn. Khi một người cao tuổi còn chăm chút cho một câu Kinh Thánh, người ấy đang nói với thế hệ trẻ rằng ơn gọi không hết hạn theo sức khỏe hay chức vụ. Người ấy cũng nhắc chúng ta rằng sự hữu ích của một đời người không chỉ đo bằng tốc độ. Có một thứ ánh sáng chỉ đến sau nhiều năm kiên nhẫn; người trẻ cần ngồi gần ánh sáng đó, không chỉ nhận lại tập tin đã sửa.
Xin Nhóm tiếp tục kiên nhẫn với từng chữ. Tôi biết lời xin này dễ nói từ phía người không phải gánh những thời hạn, chi phí, nhu cầu in ấn và mong đợi của cộng đoàn. Nhưng chính vì hiểu phần nào áp lực ấy, tôi càng mong sự chậm rãi cần thiết được quý trọng. Có những việc chậm vì thiếu quyết tâm; cũng có những việc chậm vì con người không muốn trao cho cộng đoàn một câu chưa được cân nhắc đủ. Người đọc có thể nóng lòng chờ một cuốn sách mới. Người làm sách cũng có thể mong thấy kết quả lao động của mình hiện diện trong tay tín hữu. Những mong ước ấy chính đáng. Dẫu vậy, với bản văn dùng để cầu nguyện và cử hành phụng vụ, một chữ có thể ở lại trên môi miệng cộng đoàn rất lâu. Sự cẩn trọng hôm nay là một hình thức yêu thương những người sẽ đọc nó ngày mai.
Xin Nhóm giữ những cuộc trao đổi nghiêm túc, kể cả khi chúng khó khăn. Lòng yêu mến Lời Chúa không đòi mọi người lập tức đồng ý với nhau. Một người có thể nghe trong nguyên ngữ một sắc thái mà người khác chưa thấy. Một người có thể cảm nhận một chữ Việt rất đẹp nhưng khó đọc lớn tiếng. Một người nghĩ đến sự nhất quán thần học; người khác nhớ đến cộng đoàn miền quê sẽ nghe câu ấy lần đầu trong thánh lễ. Nếu tất cả cùng đặt bản văn và Dân Chúa ở giữa, sự khác biệt có thể trở thành quà tặng. Điều cần gìn giữ là bầu khí để ai cũng được nói thật, được nghe thật, và sẵn lòng bỏ phương án mình thích khi nhận ra một phương án tốt hơn. Một nhóm dịch giả chỉ thực sự mạnh khi lòng trung thành với Lời lớn hơn nhu cầu bảo vệ ý riêng của mỗi người.
Xin mở đường cho thế hệ sau bước vào linh đạo của công việc này. Truyền lại kỹ năng là cần: học ngôn ngữ, tra cứu, chú giải, biên tập, đọc thử bản văn, sử dụng những công cụ mới. Nhưng chỉ có kỹ năng thì chưa đủ. Một người có thể rất giỏi đối chiếu các bản dịch mà vẫn thiếu sự kính sợ cần có khi chạm đến lời được trao cho Giáo Hội. Một người có thể viết tiếng Việt rất đẹp mà chưa biết tự hỏi vẻ đẹp ấy có trung thành với bản văn hay không. Người trẻ cần được nhìn thấy người đi trước cầu nguyện, tranh luận, nhận lỗi, sửa câu và tiếp tục học. Họ cần biết vì sao có những chỗ phải dừng lại lâu; vì sao người dịch không được tùy tiện làm câu chữ trở nên hấp dẫn bằng cách đẩy nó xa khỏi ý nghĩa; vì sao một lời góp ý của người đọc bình thường đôi khi đáng để cả nhóm suy nghĩ lại. Xin cho họ được vào gần bàn làm việc, được mang trách nhiệm thật, được sửa sai trong một môi trường vừa nghiêm túc vừa nhân hậu.
Và xin Nhóm nhớ rằng có rất nhiều người âm thầm cầu nguyện cho công việc của Nhóm, kể cả khi họ không biết tên từng thành viên. Có thể một cụ già ở cuối nhà thờ chưa từng nghe đến những khó khăn của việc dịch một bài Thánh ca. Nhưng mỗi tối, cụ mở sách và đọc một câu giúp mình tiếp tục tin. Có thể một tập sinh không biết ai đã dành nhiều ngày cho bản văn Giờ Kinh mình đang đọc; nhưng nhờ bản văn ấy, người trẻ ấy học cách đem sự mệt mỏi và niềm vui của ngày sống vào lời cầu chung của Giáo Hội. Công sức của người dịch đi xa hơn phạm vi người dịch nhìn thấy. Xin những hoa trái âm thầm ấy nâng đỡ Nhóm vào những ngày công việc khô khan, khi dường như cả ngày chỉ giải quyết được vài dòng.
Gửi các linh mục và tu sĩ
Thưa anh em linh mục, thưa các tu sĩ, chúng ta là những người có thể cầm Sách Thánh mỗi ngày mà vẫn sống xa Sách Thánh. Sự quen thuộc là một ân huệ, nhưng cũng có thể trở thành một cơn buồn ngủ. Ta biết trang nào sẽ đọc trong thánh lễ; biết bài Tin Mừng ấy đã từng giảng mấy lần; biết lời đáp của một Thánh Vịnh trước khi mắt kịp nhìn xuống sách. Đến một lúc, miệng đọc rất trôi chảy còn lòng thì đi đâu mất. Không ai miễn nhiễm với điều đó. Chính người sống gần phụng vụ càng cần xin ơn được ngạc nhiên trở lại. Xin đừng để sách Giờ Kinh thành một vật phải hoàn tất cho xong phần bổn phận. Xin mở sách như người đang đói, dù có những hôm ta chỉ cảm thấy khô khan. Xin đọc chậm đủ để nhận ra câu nào hôm nay đang gọi tên mình.
Có những ngày một linh mục phải lo quá nhiều việc. Điện thoại reo liên tục. Người bệnh chờ được thăm. Một gia đình có tang cần hiện diện. Bài giảng chưa chuẩn bị xong, sổ sách chưa giải quyết, một cuộc họp kéo dài quá giờ. Trong những ngày ấy, Giờ Kinh có thể bị đẩy về cuối, rồi được đọc với tâm trí chỉ mong kết thúc. Tôi hiểu cơn mệt ấy. Nhưng tôi cũng biết điều gì xảy ra khi người mục tử sống quá lâu mà không để mình được chăn dắt. Ta bắt đầu trao cho người khác những lời đúng nhưng không còn sức sống. Ta khuyên họ tin cậy khi chính mình đã thôi đem nỗi lo đến trước Chúa. Ta nói về lòng thương xót nhưng không còn để lòng thương xót chạm tới chỗ cứng cỏi trong mình. Một Thánh Vịnh đọc trong mệt mỏi, với lòng thành thật, có thể là nơi người mục tử thôi đóng vai người luôn có câu trả lời và trở về làm một người nghèo đang cần Thiên Chúa.
Xin hãy giảng như người vừa bị Lời Chúa chất vấn. Giáo dân không cần một bài giảng phô bày người giảng biết bao nhiêu tư liệu. Họ cần một người đã ở lại với bản văn, đã để câu hỏi của Đức Giê-su đi qua chính lương tâm mình, rồi mới dám nói với cộng đoàn. Nếu bài Tin Mừng kể chuyện các môn đệ tranh nhau làm lớn, người giảng cần hỏi lòng mình đã ham được nhìn nhận ở đâu. Nếu Tin Mừng nói đến người nghèo ngoài cửa, người giảng cần nhớ những gương mặt mình đã bước qua. Nếu bài đọc kêu gọi tha thứ, người giảng cần thừa nhận cuộc chiến thật của mình với sự cay đắng. Điều đó không có nghĩa biến tòa giảng thành nơi kể chuyện riêng. Nó có nghĩa lời rao giảng không được đứng ngoài đời sống người rao giảng. Dân Chúa nhận ra khi một lời được nói từ chỗ đã đau, đã cầu nguyện và đã xin ơn hoán cải.
Thánh Giê-rô-ni-mô đã nhắc Nepotianus học trong Sách Thánh điều mình phải dạy. Lời nhắc ấy vẫn nghiêm khắc với chúng ta hôm nay. Ta có thể học nhiều phương pháp trình bày, sử dụng hình ảnh đẹp, làm video hay, kể chuyện hấp dẫn, tìm được một câu mở đầu khiến mọi người chú ý. Những khả năng ấy đều có ích khi phục vụ việc loan báo Tin Mừng. Nhưng không khả năng nào thay được thời gian ở với Lời Chúa. Một linh mục có thể sở hữu một tủ sách lớn và vẫn để cuốn Kinh Thánh nằm yên quá lâu. Tủ sách ấy sẽ nghèo đi ngay giữa sự đầy ắp của nó. Mỗi ngày, xin hãy mở Sách Thánh để học làm môn đệ trước khi bước ra làm thầy dạy. Có thể chỉ một đoạn ngắn; có thể một câu phải mang theo suốt ngày vì chưa hiểu, hoặc vì đã hiểu mà chưa đủ can đảm sống. Sự trung tín ấy nuôi người mục tử từ bên trong.
Với các tu sĩ, tôi xin nói thêm một lời về việc đọc chung. Khi cộng đoàn cùng đọc Giờ Kinh, không phải mọi người đều ở cùng một trạng thái. Có người đang vui vì một tin tốt. Có người vừa nhận tin gia đình gặp khó khăn. Có người đang trải qua một cơn khủng hoảng âm thầm mà người ngồi bên cạnh không biết. Có người phải cố hết sức mới đứng được trong nhà nguyện vì tuổi tác và bệnh tật. Vậy mà cùng một Thánh Vịnh đi qua môi miệng họ. Người đang vui cho người đang buồn mượn tiếng hát; người đang đau cho người khác nhớ rằng lời cầu của Giáo Hội đủ rộng để chứa tiếng than. Xin đừng coi việc đọc chung là một chương trình phải giữ cho đúng giờ rồi khép lại. Đó là một cách cộng đoàn mang nhau đến trước mặt Chúa. Khi hát với lòng chú ý, khi nhường cho người bên cạnh một khoảng thinh lặng, khi không chế giễu một giọng đọc run rẩy, chúng ta đang sống chính điều mình đọc.
Gửi người trẻ
Các bạn đang sống giữa những công cụ mà nhiều người đi trước phải mất nhiều năm mới học được cách dùng. Các bạn có thể tìm một bản văn trong vài giây, so sánh nhiều ngôn ngữ trên một màn hình, ghi âm một bài đọc, dựng một video, đưa một câu Kinh Thánh đến rất nhiều người. Đó là những khả năng đáng quý. Giáo Hội cần đôi tay, trí tuệ và sức sáng tạo của các bạn. Nhưng xin các con đừng nhầm khả năng tiếp cận với sự thân thiết. Có thể lưu hàng trăm câu Kinh Thánh mà chưa để một câu nào sửa đời mình. Có thể làm một video về cầu nguyện được nhiều người xem mà chính mình không còn biết thinh lặng. Có thể tranh luận rất nhanh về một chữ trong bản dịch mà chưa đủ kiên nhẫn nghe hết điều người khác muốn nói. Người trẻ không cần sợ công cụ. Các bạn cần học dùng công cụ trong một đời sống có chiều sâu.
Hãy học tiếng. Nếu các bạn được gọi vào việc nghiên cứu, dịch thuật hay chú giải, đừng ngại bắt đầu từ những bài học nhỏ và đôi khi chán ngắt. Một ngôn ngữ không trao hết bí mật của nó cho người chỉ lướt qua. Phải học từ vựng, cú pháp, bối cảnh; phải chấp nhận mình hiểu sai và được sửa. Hãy học tiếng Việt nữa. Hãy nghe cách một người mẹ nói với con, một người già cầu nguyện, một cộng đoàn đáp ca. Hãy đọc những trang văn trong sáng, tập nhận ra chữ nào chính xác mà xa lạ, chữ nào quen thuộc mà làm lệch ý. Người phục vụ Lời Chúa bằng tiếng Việt cần yêu tiếng Việt đủ để không sử dụng nó cẩu thả. Công việc này cần trí óc sắc bén, nhưng cũng cần một đôi tai biết nghe người thật nói và cầu nguyện.
Hãy học quỳ. Quỳ ở đây không chỉ là tư thế của thân xác, dù thân xác cũng có thể dạy lòng ta. Học quỳ là học nhận ra mình không sở hữu Lời Chúa. Ta không đứng trên bản văn để dùng nó chứng minh rằng mình luôn đúng. Ta không bắt Đức Giê-su làm người bảo vệ cho những điều mình đã quyết sẵn. Ta đến để nghe, kể cả khi nghe thấy một điều làm mình khó chịu. Người trẻ có thể được khen vì ý tưởng mới, và những ý tưởng mới rất cần. Nhưng trong Giáo Hội, cái mới đẹp nhất nhiều khi nảy sinh từ một người đủ khiêm tốn ngồi lâu trước điều mình chưa hiểu. Nếu một câu Tin Mừng không vừa với ý kiến của con, hãy ở lại với câu ấy thêm một thời gian trước khi vội làm nó vừa với mình.
Hãy thử ở với một câu Kinh Thánh suốt một tuần. Buổi sáng đọc lại. Trên đường đi nhớ lại. Khi bực bội, đem câu ấy ra soi lòng mình. Khi gặp một người khó thương, hỏi câu ấy đang mời mình làm gì. Cuối ngày, nhìn lại mình đã nghe được gì và đã chống lại điều gì. Có những câu thoạt đầu tưởng như không dành cho ta; đến ngày thứ tư, thứ năm, chúng mới mở ra. Có những câu đem lại an ủi ngay lập tức nhưng phải sống một thời gian mới thấy cả đòi hỏi ở trong đó. Lời Chúa không phải món nội dung dùng xong rồi chuyển sang món kế tiếp. Một câu được đón nhận sâu có thể ở lại trong con lâu hơn hàng nghìn điều con đã đọc lướt qua.
Nếu Chúa gọi ai trong các bạn vào công việc dịch thuật, chú giải, dạy giáo lý, soạn bài suy niệm, làm âm thanh hay video về Lời Chúa, xin hãy nhận đó như một ơn được phục vụ. Sẽ có lúc công việc được nhiều người biết đến; cũng có lúc một bài con dành nhiều tâm huyết lại hầu như không ai chú ý. Đừng để những con số ấy quyết định lòng trung thành của con. Một bản ghi âm giúp một người bệnh cầu nguyện trong đêm có thể quý hơn một sản phẩm được chia sẻ rộng rãi nhưng làm người xem chỉ nhớ đến người thực hiện. Hãy làm cho tốt, học nghề cho nghiêm túc, tôn trọng người nghe, kiểm tra điều mình nói, đón nhận góp ý. Và khi công việc được đón nhận, hãy vui với ích lợi nó đem đến rồi trở về bàn học, nhà nguyện, cộng đoàn và những con người cụ thể. Đừng để việc nói về Lời Chúa chiếm hết chỗ của việc sống với Lời Chúa.
Con cũng xin những người đi trước đừng chỉ bảo người trẻ phải kiên nhẫn rồi để họ đứng ngoài cửa. Hãy cho họ việc để làm. Hãy giải thích vì sao một câu được sửa. Hãy để họ nêu thắc mắc mà không sợ bị xem là thiếu kính trọng. Hãy trao kinh nghiệm bằng sự gần gũi và trao trách nhiệm bằng sự tin tưởng có hướng dẫn. Một thế hệ không thể chỉ nhận lại thành quả; họ cần được học cách yêu công việc đã tạo nên thành quả ấy. Ngày kỷ niệm năm mươi lăm năm sẽ đẹp hơn nếu bên cạnh những mái đầu bạc còn có những gương mặt trẻ biết mình đang được mời vào một hành trình lâu dài.
Gửi mọi tín hữu
Anh chị em thân mến, mỗi ngày hãy để Chúa nói với mình. Tôi biết có người nghe lời mời này liền nghĩ: “Tôi bận lắm. Tôi không hiểu Kinh Thánh. Tôi đã thử đọc nhưng được mấy hôm lại bỏ.” Xin đừng bắt đầu bằng một lời hứa quá lớn rồi thất vọng vì không giữ nổi. Hãy bắt đầu bằng một đoạn ngắn. Đọc chậm. Nếu có thể, đọc thành tiếng. Chọn một câu làm mình dừng lại. Nói với Chúa điều câu ấy đánh thức trong lòng: niềm vui, sự phản kháng, nỗi buồn, một câu hỏi, hay chỉ là sự mệt mỏi. Rồi mang câu ấy vào ngày sống. Có hôm anh chị em sẽ thấy sáng tỏ. Có hôm chẳng cảm thấy gì. Sự gặp gỡ không phải lúc nào cũng đi cùng cảm xúc mạnh. Một người trung tín mở cửa mỗi ngày đang dành chỗ cho Đấng muốn bước vào.
Đừng để Kinh Thánh thành cuốn sách chỉ được lấy xuống khi cần tìm một câu cho dịp đặc biệt. Trong căn nhà của nhiều gia đình, có những đồ vật được trân trọng đến mức ít ai chạm vào. Kinh Thánh có thể gặp số phận ấy: được đặt ở một chỗ đẹp, phủi bụi cẩn thận, nhưng không được mở. Xin hãy để những trang sách có dấu tay. Hãy để một người cha đọc một đoạn trước khi cả nhà đi ngủ, dù giọng ông không hay. Hãy để một người mẹ hỏi con một câu đơn giản: “Con nghe được điều gì?” Hãy để đứa trẻ được phép hỏi những điều người lớn chưa trả lời được. Hãy để người già kể một câu Thánh Vịnh đã ở với mình qua nhiều năm. Một gia đình không cần biến mỗi lần đọc thành một buổi học dài. Năm phút thật lòng có thể mở ra một cuộc trò chuyện mà cả nhà đã thiếu từ lâu.
Phụng vụ Chúa Nhật là bàn tiệc Lời Chúa dành cho cộng đoàn. Xin đừng đến chỉ để chờ bài giảng, như thể mọi điều trước đó là phần dẫn nhập. Bài đọc thứ nhất, Thánh Vịnh đáp ca, bài đọc thứ hai và Tin Mừng cùng đưa ta đi vào mầu nhiệm được cử hành. Có những hôm ta nghe mà không hiểu hết. Không sao. Hãy tập nghe một chữ, một hình ảnh, một câu hỏi. Nếu có điều kiện, đọc trước các bài đọc ở nhà. Khi bước vào nhà thờ, xin để điện thoại và những mối bận tâm lùi lại một chút, đủ cho tâm hồn có chỗ tiếp nhận. Sau lễ, thay vì chỉ hỏi bài giảng có hay không, ta có thể hỏi: “Hôm nay Chúa nói gì với tôi? Tôi sẽ sống điều gì trong tuần này?” Một câu hỏi như thế có thể nối bàn tiệc Lời Chúa với bàn ăn gia đình, công sở, lớp học và những cuộc gặp gỡ thường ngày.
Với các Giờ Kinh Phụng Vụ, nhiều anh chị em có thể nghĩ đó là việc dành riêng cho linh mục và tu sĩ. Nhưng lời cầu của Giáo Hội cũng có chỗ cho giáo dân bước vào. Anh chị em có thể bắt đầu rất nhỏ: một Thánh Vịnh vào buổi tối, một lời tạ ơn trước khi ngủ, một câu đáp được đọc với người thân. Có những ngày ta không tìm được lời cho mình; Thánh Vịnh sẽ cho ta mượn lời. Có những ngày lòng đầy biết ơn nhưng nói mãi vẫn thấy thiếu; lời ca của Giáo Hội giúp niềm vui ấy rộng ra. Có những ngày chỉ muốn than, chỉ muốn hỏi “đến bao giờ?”; ta sẽ thấy trong Sách Thánh cũng có tiếng kêu như vậy. Khi cùng cầu nguyện bằng những lời được trao cho Giáo Hội, ta không phải gắng tạo ra một tâm trạng đạo đức cho đẹp. Ta đem chính ngày sống thật của mình đến trước Chúa.
Tôi nghĩ đến một người đang ngồi một mình ở bệnh viện. Bên cạnh là tiếng máy, ngoài hành lang là tiếng bước chân, trong lòng là một nỗi sợ chưa dám nói với gia đình. Người ấy mở điện thoại và đọc một Thánh Vịnh. Có thể chỉ đọc được vài câu rồi mệt. Nhưng vài câu ấy nối người bệnh với bao người đang cầu nguyện ở những nơi khác. Tôi nghĩ đến một người mẹ trẻ vừa ru con ngủ, nhà cửa chưa dọn, ngày mai lại phải dậy sớm. Chị đọc một lời kinh ngắn trước khi tắt đèn. Tôi nghĩ đến một người xa quê, sau ca làm việc vẫn giữ thói quen đọc Tin Mừng Chúa Nhật sắp tới để thấy mình còn có một mái nhà thiêng liêng. Công việc của những người dịch Lời Chúa đi tới những nơi ấy. Và lời cầu của những con người ấy, theo một cách âm thầm, cũng nâng đỡ những người đang tiếp tục dịch.
Anh chị em hãy cầu nguyện cho những người phục vụ Lời Chúa. Hãy cầu nguyện cho họ có sức khỏe, sự sáng suốt, lòng trung thành và khả năng làm việc với nhau. Hãy cầu nguyện cho các thành viên lớn tuổi được chăm sóc, được lắng nghe và được vui vì thấy người trẻ tiếp bước. Hãy cầu nguyện cho người trẻ dám học những điều khó, bền lòng với những việc ít ai nhìn thấy. Nếu nhận ra một câu trong sách giúp mình cầu nguyện, hãy tạ ơn Chúa. Nếu thấy một chỗ khó hiểu, hãy nêu câu hỏi cách chân thành. Người đọc không chỉ là người nhận sản phẩm cuối cùng; kinh nghiệm cầu nguyện của cộng đoàn cũng là một lời nhắc quý giá cho người làm công việc dịch thuật.
Một lời xin cho ngày 30 tháng Chín
Thánh Giê-rô-ni-mô đã để đời mình gắn với Sách Thánh. Nhìn lên ngài, ta dễ chỉ thấy những trang sách lớn, công trình lớn, một trí tuệ lớn. Nhưng đối với tôi, điều lay động nhất là hình ảnh một người không ngừng trở lại với bản văn, như thể vẫn còn điều cần nghe, cần học, cần sửa. Đó là con đường dành cho tất cả chúng ta, mỗi người theo ơn gọi của mình. Người dịch trở lại với một chữ. Người giảng trở lại với một câu đã giảng nhiều lần. Người trẻ trở lại với một đoạn vừa lướt qua quá nhanh. Một gia đình trở lại với cuốn Kinh Thánh đã nằm yên trên kệ. Trở lại là một hành vi khiêm nhường. Ta thừa nhận rằng lần nghe trước chưa phải lần nghe cuối; rằng Chúa còn có thể nói với ta hôm nay.
Nhân lễ Bổn Mạng 30 tháng Chín năm 2026, con xin Chúa gìn giữ Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Xin Người đón nhận những người đã hoàn tất hành trình trần thế, an ủi những người đang mang bệnh tật và tuổi già, ban sức cho những người đang tiếp tục ngồi bên bản văn, mở cửa cho những người trẻ được bước vào công việc ấy với lòng yêu mến. Xin cho các cuộc họp của Nhóm có sự thẳng thắn và bình an. Xin cho những bất đồng giúp bản văn được sáng hơn và tình huynh đệ sâu hơn. Xin cho không ai phải làm việc một mình trong kiệt sức. Xin cho thành quả của năm mươi lăm năm không trở thành gánh nặng phải bảo vệ, nhưng là một gia tài sống được trao tiếp bằng những bàn tay biết ơn.
Con cũng xin Chúa thương đến chúng ta, những người nhận Lời qua công sức của Nhóm. Xin đừng để lòng biết ơn của chúng ta dừng ở lời khen. Cách cảm ơn đẹp nhất là mở sách, lắng nghe và sống điều đã nghe. Một bản dịch được trau chuốt đến đâu cũng không thể cầu nguyện thay cho ta. Một bài giảng hay đến đâu cũng không thể hoán cải thay cho ta. Những người dịch đã đưa lời đến gần môi miệng chúng ta; chúng ta phải để lời ấy đi tiếp vào chọn lựa, cách đối xử với người khác, cách sử dụng thời gian, cách chịu đựng đau khổ và cách hy vọng. Nếu một câu Thánh Vịnh làm ta bớt tuyệt vọng, một câu Tin Mừng khiến ta đi xin lỗi, một lời ngôn sứ làm ta thôi ngoảnh mặt trước người nghèo, thì công trình của những người phục vụ Lời đang tiếp tục sinh hoa trái trong đời sống.
Rồi ngày 1 tháng Mười Một sẽ đến. Ta có thể đếm năm mươi lăm năm bằng lịch, bằng những mốc xuất bản, bằng tên những người đã góp sức, bằng những khó khăn đã vượt qua. Tất cả đều đáng được ghi nhớ. Nhưng có một cách đếm khác, không ai trong chúng ta làm nổi: bao nhiêu lần một người đã tìm lại được lời cầu nguyện nhờ một câu được dịch; bao nhiêu trái tim đã bớt cô đơn; bao nhiêu người trẻ đã nghe tiếng Chúa trong ngôn ngữ mẹ đẻ; bao nhiêu linh mục đã được một bài Thánh Vịnh giữ lại khỏi sự khô cằn; bao nhiêu người sắp qua đời đã bình an hơn khi nghe lời hứa của Chúa. Chỉ Thiên Chúa biết. Có lẽ người làm việc cho Lời Chúa phải chấp nhận niềm vui rất lạ này: gieo thật cẩn thận mà không biết hết mùa gặt.
Xin thánh Giê-rô-ni-mô chuyển cầu cho Nhóm và cho tất cả chúng ta. Xin cho người học Lời Chúa luôn giữ được lòng của người môn đệ. Xin cho người dịch không mỏi mệt vì những điều nhỏ. Xin cho người giảng không dùng Lời để che giấu đời sống mình. Xin cho người trẻ không đánh đổi chiều sâu lấy sự chú ý chóng qua. Xin cho mọi tín hữu tìm được một chỗ trong ngày để mở cửa cho tiếng Chúa. Và xin cho đến một ngày kia, khi khép cuốn sách cuối cùng, chúng ta có thể thưa với Người rằng: chúng con đã cố lắng nghe, đã cố trung thành, đã cố trao lại cho anh chị em mình điều chúng con đã được nhận.

CHƯƠNG XIII. LECTIO DIVINA: TỪ BẢN DỊCH ĐẾN ĐỜI SỐNG
Có một khoảnh khắc rất đẹp trong hành trình của một bản dịch Kinh Thánh: khoảnh khắc người dịch đặt bút xuống và một người khác cầm bản văn lên để đọc. Từ giây phút ấy, bản dịch bắt đầu một đời sống mà người dịch không thể kiểm soát. Nó có thể nằm trên bàn học của một chủng sinh, trong túi áo của một nữ tu, trên chiếc kệ nhỏ cạnh giường bệnh, trong tay một người mẹ đợi con về khuya. Nó có thể được công bố giữa cộng đoàn đông người, cũng có thể được đọc rất khẽ trong một căn phòng chỉ có một người đang khóc. Người dịch đã làm hết sức để câu chữ trung thành, sáng sủa, có thể đọc lên và có thể lắng nghe. Nhưng công việc của Lời trong lòng người chỉ mới bắt đầu. Vì thế, việc Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ xuất bản những tập Đọc Tin Mừng Chúa Nhật theo Lectio Divina cho các năm A, B, C gợi cho tôi một điều rất đáng suy nghĩ: dịch Lời Chúa không phải để hoàn tất một bộ sách rồi đóng lại. Dịch là mở một cánh cửa. Bước qua cánh cửa ấy, người đọc được mời vào một cuộc gặp gỡ; và khi cuộc gặp gỡ thật sự xảy ra, người đọc không thể trở về nguyên vẹn như trước.
Tôi muốn dừng ở chữ cửa. Cửa rất cần, nhưng cửa không phải căn nhà. Một bản dịch tốt giúp chúng ta nghe được lời đang nói, hiểu được câu đang đọc, nhận ra những nét đẹp mà một lối diễn đạt vụng về có thể che khuất. Người dịch làm một công việc khiêm tốn mà thiết yếu: dọn lối, gỡ những chỗ vướng, giữ cho con đường khỏi dẫn sai hướng. Nhưng không ai đến cửa nhà một người mình yêu chỉ để khen cái cửa rồi ra về. Ta bước vào, ngồi lại, nghe người ấy nói và để lời ấy chạm đến cuộc đời mình. Kinh Thánh cũng vậy. Nếu tôi chỉ dừng ở chỗ nhận xét bản dịch này trôi chảy, bản dịch kia chính xác, câu này đẹp, từ kia đắt, tôi vẫn còn đứng bên ngưỡng cửa. Tôi có thể biết rất nhiều về cách diễn đạt của bản văn mà chưa một lần hỏi: “Lạy Chúa, hôm nay Chúa đang nói gì với con?” Các tập sách hướng dẫn đọc Tin Mừng theo Lectio Divina nhắc người đọc rằng Lời không được trao cho Giáo Hội như một hiện vật để trưng bày. Lời được trao để nuôi sống một dân đang trên đường.
Nhìn từ phía người làm công việc dịch thuật, điều ấy cũng là một lời nhắc dịu dàng. Có những ngày một chữ phải được cân nhắc qua nhiều cuộc trao đổi, một cấu trúc câu phải sửa đi sửa lại, một cách đọc phải được nghe thử bằng tai của cộng đoàn. Tất cả sự nhọc nhằn đó có ý nghĩa vì ở đầu kia của bản văn có một con người đang cần gặp Chúa. Một bà mẹ ít học không cần biết nhóm dịch đã tranh luận bao nhiêu lần; bà cần một câu có thể đọc lên khi lòng mình không còn sức. Một người trẻ vừa phạm sai lầm không cần nghe lịch sử của từng dấu phẩy; anh cần nghe được lời mời trở về. Một linh mục chuẩn bị bài giảng cũng cần một bản văn đủ tin cậy để trước hết chính mình bị Lời chất vấn. Người dịch không biết hết những khuôn mặt ấy. Nhưng lòng trung thành của họ phục vụ cho những cuộc gặp gỡ chưa từng được kể tên. Tôi nghĩ đó là một trong những vẻ đẹp âm thầm nhất của việc phục vụ Lời Chúa.
Một cuộc đọc có người đang nói
Lectio Divina thường được diễn tả qua bốn nhịp: lectio, đọc; meditatio, suy niệm; oratio, cầu nguyện; và contemplatio, chiêm niệm, ở lại trong sự hiện diện của Chúa. Bốn nhịp ấy giúp người mới bắt đầu có một con đường. Tuy nhiên, đừng tưởng đây là bốn cái hộp phải đi qua cho đủ, hoặc một kỹ thuật bảo đảm rằng sau mười lăm phút ta sẽ có một cảm xúc đạo đức. Điều chính yếu đơn sơ hơn và cũng sâu hơn: tôi mở Sách Thánh trong niềm tin rằng Thiên Chúa vẫn đang nói với dân Người và Người muốn gặp tôi trong đời sống thật của tôi. Tôi đến với bản văn bằng trí khôn, ký ức, trái tim, cả những câu hỏi chưa có lời đáp. Tôi đọc với sự trợ giúp của Giáo Hội, bởi bản văn ấy đã được trao cho Giáo Hội và được lắng nghe trong Giáo Hội. Rồi tôi cho mình đủ thời gian để lời vừa nghe đi qua lớp phản ứng đầu tiên, chạm tới chỗ tôi vẫn thường giữ kín.
Nói “Chúa đang nói” không có nghĩa mỗi câu Kinh Thánh là một lời nhắn riêng tư được mã hóa sẵn cho hoàn cảnh của tôi. Cách nghĩ ấy dễ khiến ta ép bản văn nói điều mình đang muốn nghe. Người đọc phải tôn trọng câu chữ, bối cảnh, thể loại, ý hướng của bản văn và sự hướng dẫn của đức tin Hội Thánh. Một Thánh Vịnh than van không nên bị đọc như một khẩu hiệu vui vẻ. Một dụ ngôn không nên bị cắt một nửa chỉ để lấy câu hợp với ý mình. Lectio Divina cần lòng sốt sắng, nhưng cũng cần lòng ngay thẳng. Chính vì kính trọng Đấng đang nói, ta không được tùy tiện đặt lời mình vào miệng Người. Một bản dịch đáng tin giúp ích rất nhiều ở đây: nó cho người tín hữu một nền đất vững để cầu nguyện, thay vì buộc họ phải đoán mò ý nghĩa của câu văn. Nhưng nền đất ấy mời ta đặt chân xuống và bắt đầu bước.
Thánh Giê-rô-ni-mô gợi cho tôi hình ảnh một người đã ở lâu với Lời. Ngài đọc, học, đối chiếu, dịch, chú giải, trao đổi và tranh luận; nhưng phía sau những lao nhọc ấy là xác tín rằng Sách Thánh dẫn con người đến Đức Kitô. Ta không cần gán cho đời ngài một phương pháp được sắp thành bốn mục như sách hướng dẫn ngày nay. Điều đáng học là sự bền bỉ ở lại. Ngài chấp nhận mất thời giờ với bản văn vì biết có những điều chỉ tỏ ra cho người không bỏ đi quá sớm. Một chữ khó không chỉ đòi tra cứu; đôi khi nó đòi người đọc hạ bớt sự tự tin của mình. Một câu gây khó chịu không chỉ đòi lời giải thích; đôi khi nó đòi ta hỏi vì sao mình muốn lảng tránh. Người đọc hiện đại thường mong hiểu nhanh để chuyển sang điều tiếp theo. Giê-rô-ni-mô nhắc tôi rằng yêu mến Lời Chúa còn là dám dành cho Lời những năm tháng của đời mình.
Đọc chậm trong thời lướt
Chúng ta đang sống giữa vô số câu chữ. Vừa thức dậy, người ta đã có thể nhìn thấy tin nhắn, bản tin, lời bình, tranh cãi, quảng cáo, lời khuyên, lời mời mua hàng, một câu trích dẫn đạo đức, rồi thêm một trăm thứ khác. Mắt đọc nhiều mà lòng giữ lại rất ít. Ngón tay đã quen với động tác kéo màn hình trước khi một câu kịp kết thúc trong tâm trí. Sự vội vàng ấy theo chúng ta vào cả giờ cầu nguyện. Ta mở một đoạn Tin Mừng, đọc qua, nhận ra câu chuyện quen, rồi tưởng rằng mình đã nghe xong. Nếu câu ấy không lập tức làm ta xúc động, ta đi tìm một câu khác. Nếu không thấy một ý hay để chia sẻ, ta cho rằng buổi đọc chẳng đem lại gì. Nhưng có thể điều đang thiếu không phải là một bản văn mạnh hơn. Có thể điều đang thiếu là sự hiện diện của chính ta trước bản văn.
Đọc chậm không có nghĩa đọc ít chữ thì tự động thánh thiện hơn. Đọc chậm là thôi đối xử với Lời như một dòng thông tin phải xử lý. Một người mẹ nghe tiếng con mình gọi sẽ nhận ra âm sắc mà người lạ không nghe thấy. Hai người bạn lâu năm có thể hiểu nhau qua một câu rất ngắn. Sự thân thuộc làm cho tai tinh hơn. Với Kinh Thánh cũng vậy: ta đọc đi đọc lại để dần nhận ra giọng nói của Đấng yêu thương mình. Có những ngày cùng một câu không mở ra điều gì mới. Có những ngày chính câu ấy nâng ta qua một giờ tối tăm. Sự lặp lại trong đời cầu nguyện không vô ích; nó tạo nên một ký ức. Khi biến cố đến, một lời đã được đọc nhiều năm có thể bất chợt trở về và giữ ta khỏi ngã.
“Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ.” Đọc lướt, tôi có thể gật đầu: Thiên Chúa biết hết mọi sự. Nhưng nếu dừng lại, câu ấy bắt đầu hỏi ngược tôi. Tôi có muốn được Chúa biết rõ không? Tôi vui vì Người biết nỗi đau chẳng ai thấy, nhưng tôi có dám để Người thấy cả lòng ghen tị mình giấu kỹ? Tôi muốn Người hiểu vì sao tôi mệt, nhưng tôi có chấp nhận để Người chỉ cho tôi thấy mình đã làm người khác mệt thế nào? Tôi an tâm vì Người không bỏ quên tôi, nhưng tôi có sợ rằng không một lớp vỏ đạo đức nào che nổi điều đang diễn ra bên trong? Chỉ một câu Thánh Vịnh ấy thôi đã có thể trở thành lời an ủi, lời xét mình và lời khẩn nguyện suốt nhiều ngày. Đến một lúc, ta không còn cố tìm thêm một ý tưởng mới. Ta chỉ thưa: “Vâng, lạy Chúa, xin nhìn con. Xin nhìn cả nơi con không dám nhìn.”
Có người bảo mình không có thời gian để đọc chậm. Tôi hiểu điều đó. Người chăm con nhỏ, người đi làm hai ca, người bệnh không ngủ được, linh mục bận những cuộc gọi bất ngờ, nữ tu đi từ công việc này sang công việc khác: thời giờ của họ không giống thời giờ của một người đang tĩnh tâm. Vì thế, đọc chậm không nhất thiết phải là một giờ trong căn phòng yên tĩnh. Có khi là năm phút với một câu Tin Mừng trước lúc ra khỏi nhà. Có khi là đọc lại lời đáp ca trong khi chờ khám bệnh. Có khi là nhớ một câu đã nghe trong lễ khi đang rửa bát. Điều quan trọng không phải làm ra một cảnh cầu nguyện lý tưởng rồi mới bắt đầu. Điều quan trọng là trao cho Lời một chỗ có thật trong ngày sống có thật của mình. Một câu được mang theo với lòng trung tín sẽ đi xa hơn nhiều trang đọc vội cho đủ chỉ tiêu.
Lectio: để câu chữ được nghe
Nhịp đầu tiên là đọc. Nghe có vẻ quá dễ, nhưng chính ở đây nhiều người đã đi qua rất nhanh. Ta tưởng mình biết đoạn văn vì đã nghe từ bé. Ta đọc câu đầu và lập tức nhớ một bài giảng cũ, một mẫu chuyện quen, một cách áp dụng vẫn dùng. Ký ức là một ơn, nhưng nó cũng có thể phủ lên bản văn một tấm màn. Đọc thật sự là để cho đoạn văn được cất tiếng một lần nữa, kể cả ở chỗ nó khác với điều ta nhớ. Ai đang nói? Người ấy nói với ai? Chuyện xảy ra ở đâu? Có lời nào được lặp lại? Có ai im lặng? Có một cử chỉ nào tưởng nhỏ mà bản văn vẫn giữ lại? Câu chuyện dừng ở đâu? Những câu hỏi ấy không biến Lectio Divina thành giờ làm bài tập. Chúng giúp tôi bước vào bản văn mà không vội dùng nó cho mục đích riêng.
Nếu có thể, tôi thích đọc thành tiếng. Nhiều câu Kinh Thánh mang nhịp điệu chỉ hiện ra khi được đọc lên. Một lời trách có sức nặng khác một lời mời; một lời cầu khẩn khác một lời tuyên xưng. Đọc thành tiếng còn làm ta chậm lại. Miệng không chạy nhanh như mắt. Tai nghe lại điều miệng vừa nói. Có lúc chỉ vì đọc thành tiếng mà tôi nhận ra một chữ mình đã bỏ qua bao năm. Một người đọc đoạn Tin Mừng về người cha nhân hậu có thể đã chú ý rất lâu đến người con thứ; rồi một ngày, khi đọc chậm, người ấy bỗng nghe người cha nói với anh cả: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha.” Chính chỗ mình từng đi qua hờ hững có thể trở thành nơi cuộc gặp gỡ bắt đầu.
Người dùng bản dịch của Nhóm có một thuận lợi lớn: nhiều câu đã đi vào tai người Việt qua phụng vụ và đời cầu nguyện. Ta nhận ra chúng như nhận ra lời kinh của nhà mình. Sự gần gũi ấy rất quý, nhưng cũng đòi một sự tỉnh táo. Một câu quá quen có thể bị đọc bằng quán tính. “Chúa là mục tử chăn dắt tôi” có thể được đọc trơn tru mà tôi không còn nghĩ tới chuyện mình đang đi theo ai. “Lạy Cha chúng con” có thể bật khỏi miệng mà lòng tôi vẫn muốn sống một mình. Đọc theo Lectio Divina là để lời quen lấy lại sức gõ cửa. Tôi không cần tìm cách làm câu chữ trở nên lạ lẫm; tôi cần cho nó cơ hội trở nên thật. Đôi khi chỉ cần ngừng lại sau một đại từ: “Con.” Ai đang nói chữ ấy? Tôi có thật sự dám nhận mình là con của Cha không?
Có những bản văn khó, và không nên giả vờ rằng mọi đoạn Kinh Thánh đều sáng rõ sau ba lần đọc. Người tín hữu có thể dùng lời dẫn nhập, chú giải đáng tin, các bài đọc liên hệ, hoặc hỏi người có trách nhiệm hướng dẫn. Công việc học hỏi không làm mất chất cầu nguyện. Trái lại, học đúng có thể cứu lời cầu nguyện khỏi sự dễ dãi. Tôi có thể cầu nguyện với một Thánh Vịnh nói bằng giọng rất mạnh mà vẫn cần hiểu hoàn cảnh, ngôn ngữ và tiến trình mặc khải của nó. Tôi có thể xúc động trước một dụ ngôn, rồi nhận ra mình đã bỏ quên phần cuối mà Đức Giêsu cố ý kể. Lòng đạo đức chân thành không sợ sự thật của bản văn. Nó kiên nhẫn học, vì người mình yêu đáng được lắng nghe cho đúng.
Meditatio: để Lời hỏi lại đời mình
Sau khi đọc, tôi suy. Nhưng “suy” ở đây không đơn thuần là rút ra một bài học đạo đức. Tôi không ngồi trước Tin Mừng như người đi tìm ba ý cho một bài nói chuyện. Tôi để câu chuyện mở ra những câu hỏi đối với chính mình. Tôi thấy mình ở đâu trong bản văn? Tôi giống ai? Tôi đang phản ứng thế nào trước lời và việc của Đức Giêsu? Có điều gì khiến tôi vui, bối rối, chống lại, xấu hổ, hy vọng? Tôi đã sống khác với lời mình vừa đọc ở điểm nào? Và cũng rất quan trọng: câu ấy cho tôi biết điều gì về Thiên Chúa, trước khi tôi biến nó thành một danh sách những việc mình phải làm?
Chúng ta có khuynh hướng đưa mọi đoạn Kinh Thánh về một lời khuyên. Đọc người Samari nhân hậu, ta bảo nhau phải giúp người gặp nạn. Đúng, nhưng còn nhiều điều phải ở lại lâu hơn: tôi sợ ai đang nằm bên đường? Tôi có muốn người mình không ưa trở thành tấm gương cho mình không? Tôi có nhận ra chính mình cũng là người bị thương cần được băng bó không? Đọc chuyện Phêrô chối Thầy, ta nhắc mình phải can đảm. Đúng, nhưng còn ánh mắt của Đức Giêsu, tiếng gà gáy, giọt nước mắt, và con đường trở về sau thất bại. Nếu quá vội biến mọi đoạn văn thành nhiệm vụ, ta có thể bỏ lỡ dung mạo của Chúa đang hiện ra trong đó. Suy niệm cần sự trung thực của người biết mình cần được cứu, chứ không chỉ sự nhanh trí của người biết rút ra kết luận.
Đôi khi một câu Tin Mừng đi thẳng vào một vùng đời sống tôi đang cố né tránh. Tôi đọc lời Đức Giêsu về sự tha thứ và nhớ ngay một người mình chưa muốn gọi tên. Tôi đọc lời Người về của cải và nghĩ đến nỗi lo mất phần mình. Tôi đọc về người bé nhỏ mà chợt nhớ một nhân viên trong giáo xứ luôn được giao việc nhưng hiếm khi được hỏi ý. Tôi đọc câu “Đừng sợ” mà thấy mình đang điều hành mọi sự bằng nỗi sợ: sợ mất uy tín, sợ bị phê bình, sợ bị quên. Lectio Divina không mời tôi vội tự kết án. Nó mời tôi ngồi yên đủ lâu để không lấp tiếng nói ấy bằng lời bào chữa. Có những sự thật chỉ có thể được nhìn nhận khi ta tin rằng Đấng cho mình thấy sự thật ấy cũng là Đấng thương mình.
Đối với người giảng Lời, nhịp suy niệm này đặc biệt quan trọng. Một bài giảng có thể đúng về mặt chú giải, mạch lạc về bố cục, phong phú về ví dụ, mà vẫn thiếu hơi ấm của một người đã để Lời đi qua đời mình. Tôi không nghĩ linh mục phải kể chuyện riêng trên tòa giảng. Có những điều cần giữ kín và có những nỗi đau của người khác tuyệt đối không được dùng làm chất liệu. Nhưng cộng đoàn thường nhận ra khác biệt giữa một bài giảng được lấy từ tài liệu và một bài giảng đã được cầu nguyện. Sự khác biệt ấy không nhất thiết nằm ở tài hùng biện. Nó có thể nằm trong một câu rất giản dị được nói bằng lòng xác tín; trong sự tiết chế khi gặp một bản văn khó; trong việc người giảng không đứng ở trên lời Chúa như người chấm điểm người khác, nhưng đứng dưới Lời cùng với anh chị em mình.
Oratio: để lời đọc trở thành lời thưa
Đến một lúc, suy nghĩ cần chuyển thành cầu nguyện. Tôi có thể hiểu mình cần tha thứ mà vẫn chưa muốn tha thứ. Tôi có thể thấy lời mời khiêm nhường mà vẫn yêu vị trí đang có. Tôi có thể biết Chúa gần người đau khổ mà vẫn không chịu nổi cảnh mình yếu đuối. Chính khi ấy, lời cầu nguyện bắt đầu thật. Tôi thưa với Chúa điều đang có, chứ không trình lên Người một phiên bản ngoan đạo của chính mình. “Lạy Chúa, con nghe lời này mà con chưa làm nổi.” “Con giận người ấy.” “Con không muốn mất điều này.” “Con muốn tin mà con đang sợ.” Một lời thưa nghèo nàn nhưng chân thật có thể mở đường cho ân sủng hơn nhiều lời trau chuốt được nói để che giấu lòng mình.
Có khi tôi đọc một đoạn Tin Mừng và lời cầu chỉ là tạ ơn. Tôi thấy Đức Giêsu dừng lại với người bị đám đông xô đẩy, và tôi biết ơn vì Người đã từng dừng lại với tôi. Có khi lời cầu là xin lỗi, vì tôi nhận ra mình đã đi ngang một người cần được lắng nghe. Có khi là lời chuyển cầu: bản văn nhắc tôi nhớ một người bệnh, một gia đình tan vỡ, một đứa trẻ khó bảo mà không ai hỏi nó đang đau ở đâu. Có khi tôi không tìm được câu nào khác ngoài lời người cha trong Tin Mừng: “Tôi tin! Nhưng xin Thầy giúp lòng tin yếu kém của tôi!” Lectio Divina cho phép lời cầu nảy ra từ bản văn và từ đời sống; nó không buộc mọi buổi đọc phải kết thúc bằng một công thức giống nhau.
Khi một nhóm cùng đọc Lời Chúa, đây là nhịp rất dễ bị bỏ quên. Mọi người có thể chia sẻ nhận xét, kể chuyện, phân tích, góp ý cho nhau rất lâu, rồi đến cuối chỉ còn vài giây để cầu. Dần dần buổi Lectio trở thành một cuộc thảo luận về Kinh Thánh. Thảo luận là điều tốt khi đúng lúc, nhưng Lời Chúa còn mời cộng đoàn cùng thưa với Người. Một câu cầu nguyện ngắn, một phút thinh lặng, một lời nguyện tự phát không cầu kỳ có thể giúp cả nhóm nhớ rằng Đấng được nói đến trong bản văn đang ở giữa họ. Cũng cần giữ sự tế nhị: không ai phải kể một thương tích riêng để chứng minh mình đã cầu nguyện sâu. Nhóm đọc Lời Chúa phải là một nơi an toàn cho sự thinh lặng, vì đôi khi người được Lời chạm đến sâu nhất lại là người ít nói nhất.
Contemplatio: ở lại khi không còn gì để nói
Nhịp thứ tư thường làm người ta lúng túng. Chiêm niệm nghe có vẻ là một điều dành cho các đan sĩ, cho những người có nhiều giờ thinh lặng, hoặc cho những ai đã đạt tới một bậc sống thiêng liêng nào đó. Nhưng ở mức rất đơn sơ, nó là sự ưng thuận ở lại với Chúa. Tôi đã đọc, đã suy, đã thưa; bây giờ tôi không cố sản xuất thêm một ý tưởng hay một cảm xúc. Tôi ngồi trước Người, mang theo câu Lời vừa đọc, và để cho sự hiện diện của Người có chỗ trong lòng mình. Sự ở lại ấy có thể bình an. Nó cũng có thể khô khan, phân tán, ngượng nghịu. Giá trị của nó không nằm ở cảm giác tôi có được, mà ở sự chân thành của việc tôi không bỏ đi ngay khi hết chuyện để nói.
Thời đại chúng ta ít kiên nhẫn với những khoảng trống. Vừa có một phút chờ, ta tìm một màn hình. Vừa thấy cầu nguyện khô, ta tìm thêm một bài suy niệm. Vừa đọc hết đoạn Tin Mừng, ta muốn có ngay một “thông điệp” gói gọn trong một câu. Nhưng tình thân cần những lúc ở bên nhau mà không bắt người kia liên tục đem lại điều mới. Một người con ngồi cạnh mẹ già đang bệnh có thể không nói gì nhiều; sự hiện diện ấy vẫn có thật. Trong cầu nguyện cũng vậy. Tôi có thể ở lại với Đức Giêsu bằng một câu rất ngắn: “Lạy Chúa, con đây.” Nếu trí óc chạy đi, tôi trở lại. Nếu trái tim lạnh, tôi vẫn ở lại. Nếu hôm ấy vui, tôi ở lại trong niềm vui. Nếu hôm ấy buồn, tôi ở lại với nỗi buồn, để không phải một mình gánh nó.
Sự ở lại trước Lời rồi phải tìm được lối đi vào đời. Nếu sau buổi Lectio tôi dịu dàng hơn với người nhà, kiên nhẫn hơn với người cộng tác, can đảm xin lỗi, bớt vội phán xét, thì Lời đang sinh hoa trong những chỗ nhỏ bé ấy. Không phải mỗi buổi đọc đều phải có một “quyết tâm” khác thường. Có ngày hoa trái là thôi nói một câu làm tổn thương người khác. Có ngày là trả lại một món nợ. Có ngày là đến thăm người mình luôn hẹn rồi lại quên. Có ngày là chịu ngủ sớm để hôm sau có thể hiện diện tử tế với những người Chúa trao cho mình. Một câu Kinh Thánh được đem vào cuộc sống sẽ dần sửa cách tôi nhìn, nghe, chọn lựa. Khi ấy, trang sách đã đi xa hơn trang sách.
Lời được công bố giữa cộng đoàn
Tôi muốn phân biệt mà không tách rời hai kinh nghiệm: đọc Lời Chúa một mình và nghe Lời được công bố trong phụng vụ. Người tín hữu có thể gặp Chúa khi mở Kinh Thánh trong căn phòng riêng. Nhưng phụng vụ là hành vi của Hội Thánh quy tụ; ở đó, các bài đọc được công bố cho một cộng đoàn đang cử hành mầu nhiệm Đức Kitô. Tôi không chọn đoạn nào hợp tâm trạng mình hôm ấy. Tôi được mời nghe cùng anh chị em một Lời mà Giáo Hội trao cho chúng tôi. Chính điều đó cũng rèn luyện tôi. Có ngày bài đọc đến như một niềm an ủi đúng lúc. Có ngày nó làm tôi khó chịu. Có ngày tôi tưởng mình chẳng hiểu được gì. Tuy nhiên, tôi đang tập đặt đời mình trong một nhịp nghe rộng hơn những nhu cầu tức thời của riêng tôi.
Không cần biến thánh lễ thành một lớp chú giải dài để quý trọng Kinh Thánh. Người đọc sách thánh công bố rõ ràng, không vội; cộng đoàn lắng nghe; người giảng giúp bản văn soi sáng đời sống và dẫn lòng người đến mầu nhiệm đang cử hành. Những điều tưởng bình thường ấy có sức nuôi dưỡng rất lớn. Nhưng cũng phải thành thật rằng tai nghe cần được tập. Ai vào thánh lễ sau một tuần đầy tiếng ồn, chưa từng nhìn qua bài Tin Mừng, đôi khi khó theo được cả một đoạn văn được đọc chỉ một lần. Điều đó không có nghĩa lỗi thuộc về họ. Nó cho thấy việc chuẩn bị ở nhà có thể là một hành vi yêu mến rất cụ thể. Khi tôi đã đọc đoạn Tin Mừng vào tối thứ Bảy, sáng Chúa Nhật tôi nhận ra những khuôn mặt, những lời nói và bước ngoặt của câu chuyện. Tôi có thể nghe sâu hơn khi cùng cộng đoàn đứng lên đón Tin Mừng.
Tôi mong nhiều gia đình lấy lại mười phút tối thứ Bảy cho bài Tin Mừng Chúa Nhật. Không cần làm thành một nghi thức quá nặng khiến cả nhà sợ. Một người đọc chậm đoạn Tin Mừng; mọi người im lặng một chút; ai muốn thì nói một câu mình chú ý; cuối cùng thưa một lời nguyện ngắn. Gia đình có trẻ nhỏ có thể hỏi: “Con nhớ ai trong câu chuyện?” hoặc “Chúa Giêsu đã làm gì?” Người lớn không cần biến mọi câu trả lời của trẻ thành một bài giảng. Có thể đứa bé chú ý đến một chi tiết mà người lớn đã bỏ qua. Có thể cả nhà chỉ đọc được vài phút vì em bé khóc hoặc người cha vừa đi làm về quá mệt. Điều ấy không làm buổi đọc thất bại. Chính trong đời sống có tiếng khóc, có mệt nhọc, có những lần dở dang ấy, Lời Chúa tìm một chỗ để ở.
Ở nhóm giáo lý, Lectio Divina cũng có thể chữa một thói quen: nói quá nhiều về Chúa mà ít khi cùng nhau nghe Chúa. Người dạy giáo lý cần chuẩn bị chu đáo, hiểu giáo huấn của Hội Thánh và biết trình bày cho phù hợp lứa tuổi. Nhưng bên cạnh việc học thuộc, giải thích và trao đổi, các em cần được trải nghiệm sự im lặng trước một câu Tin Mừng. Một thiếu nhi có thể không dùng được những từ ngữ thần học chính xác, nhưng em hiểu rất rõ thế nào là bị bỏ quên, được gọi tên, được tha thứ, được ai đó tin tưởng. Nếu người hướng dẫn biết lắng nghe, một câu chuyện Tin Mừng có thể gặp đúng thế giới ấy của em. Khi đó, giáo lý không chỉ là những đáp án em phải nhớ để trả bài. Em bắt đầu hiểu rằng Chúa Giêsu có lời dành cho cuộc đời mình.
Nhà dòng và chủng viện càng cần coi chừng sự quen thuộc nghề nghiệp với bản văn. Người sống giữa những giờ kinh, những bài đọc và tài liệu thần học có thể nghe Lời Chúa mỗi ngày mà vẫn để lòng mình đi nơi khác. Đó không phải một lời buộc tội; đó là một nguy cơ có thật của bất cứ điều gì được lặp lại thường xuyên. Một câu Thánh Vịnh được đọc năm thứ nhất có thể còn làm mắt sáng lên; đến năm thứ mười, miệng vẫn đọc mà tâm trí đang tính công việc kế tiếp. Vì thế, cần những lúc trở lại với lời kinh như người lần đầu được mời vào. Không phải cố tạo cảm xúc mới, mà là khiêm tốn thú nhận: “Con đã nói câu này bao lần, nhưng hôm nay xin cho con nghe nó.” Người cầu nguyện Giờ Kinh Phụng Vụ không phải lúc nào cũng thấy mình được đánh động. Sự trung thành vẫn có giá trị. Và trong lòng sự trung thành ấy, có những ngày một câu tưởng quen đột ngột sống dậy.
Các Giờ Kinh: để Lời đi theo giờ sống
Sách Các Giờ Kinh Phụng Vụ là một kho tàng đặc biệt cho đời sống Lectio. Thánh Vịnh đưa vào lời cầu của ta cả niềm vui, lòng biết ơn, sự sợ hãi, cơn giận, cảm giác bị bỏ rơi, niềm hy vọng và lời ca tụng. Con người thường chỉ muốn mang đến trước Chúa phần mình thấy đẹp và dễ chấp nhận. Thánh Vịnh dạy ta đem đến cả phần rối bời. Khi buồn mà phải đọc một bài ca tụng, ta được nhắc rằng đời cầu nguyện rộng hơn tâm trạng của mình. Khi vui mà gặp một bài than van, ta được mời đứng gần những người đang đau khổ. Kinh nguyện của Hội Thánh đào lòng tôi rộng ra, để tôi cầu nguyện bằng tiếng nói của cả Thân Mình, không chỉ bằng tiếng nói của một cá nhân.
Tuy nhiên, đọc đủ Giờ Kinh chưa tự động có nghĩa đã để Lời thấm vào mình. Người có bổn phận đọc Kinh cần trung thành với bổn phận ấy; người đọc tự nguyện cũng cần giữ nhịp bền bỉ. Nhưng trong sự trung thành, tôi có thể dừng rất khẽ ở một câu. Không phải lúc nào cũng dừng lâu ngay giữa giờ kinh chung; đôi khi tôi ghi nhớ câu ấy để trở lại trong ngày. Buổi sáng, một lời xin được hướng dẫn có thể đi cùng tôi đến cuộc gặp khó. Buổi trưa, một câu tạ ơn có thể ngăn tôi nhìn cả ngày chỉ qua những chuyện chưa xong. Buổi tối, một lời phó thác có thể giúp tôi buông công việc khỏi tay mình. Như vậy, lời kinh không đóng lại khi sách gấp vào. Nó tiếp tục âm thầm sống trong cách tôi đi qua các giờ.
Tôi nghĩ đến một linh mục đọc Giờ Kinh Sáng trước ngày nhiều việc. Ngài có thể đọc với đầu óc đầy lịch hẹn, danh sách người cần gặp, chuyện tài chính của giáo xứ, nỗi lo cho một bệnh nhân. Nếu một câu Thánh Vịnh ở lại, chẳng hạn lời xin Chúa dạy mình đường ngay nẻo chính, câu ấy không làm lịch hẹn biến mất. Nhưng nó có thể đổi cách ngài bước vào từng cuộc gặp: bớt nóng khi bị ngắt lời, bớt coi một người như vấn đề phải giải quyết, nhớ rằng trước khi là người điều hành công việc, mình là người được Chúa dẫn dắt. Tôi cũng nghĩ đến một nữ tu già không còn sức làm những việc từng làm. Chị mở sách kinh chậm hơn, mắt phải đưa sát trang giấy hơn. Có thể chính lúc ấy lời cầu của Giáo Hội trở nên một cách phục vụ sâu xa: chị mang vào lời kinh những người đang vội quá để cầu, những người đau quá không cầu nổi, những người chưa biết mình được cầu cho.
Một bản dịch các Thánh Vịnh, thánh ca và lời nguyện có thể đọc lên bằng tiếng Việt tự nhiên là một món quà lớn vì lời cầu phải đi qua miệng, tai và ký ức. Câu quá nặng khiến người đọc vấp. Câu mơ hồ khiến người nghe hụt hơi. Câu sáng sủa nhưng đánh mất chiều sâu cũng không đủ. Những người dịch Giờ Kinh phải chăm sóc cả ý nghĩa lẫn khả năng lời ấy trở thành tiếng cầu chung. Rồi đến lượt chúng ta, những người nhận bản dịch, phải làm phần việc của mình: đọc với lòng có mặt. Sách không thể cầu nguyện thay người cầm sách. Nhưng sách có thể nâng đỡ người ấy, nhất là vào những ngày họ chẳng tìm được lời riêng.
Khi Lời đi qua một gia đình
Tôi trở lại với gia đình vì đây là nơi đức tin được thử bằng những điều rất nhỏ. Nói Lectio Divina trong gia đình nghe có vẻ cao xa. Thực ra, bắt đầu có thể rất giản dị: một cuốn Kinh Thánh được đặt ở nơi mọi người có thể lấy; một người đọc Tin Mừng Chúa Nhật trước bữa cơm hoặc trước khi đi ngủ; một câu được nhắc lại khi cả nhà cần quyết định một chuyện. Điều khó nhất không phải tìm phương pháp. Điều khó nhất là sống cùng nhau đủ thật để cho Lời Chúa được nói vào những quan hệ ấy. Đọc “hãy làm hòa” sau một ngày vợ chồng đang giận nhau không dễ. Đọc “ai muốn làm lớn thì phải phục vụ” khi cha mẹ đang áp đặt mọi quyết định lên con cũng không dễ. Nhưng chính vì không dễ, Lời mới cần được nghe ở đó.
Có những gia đình sợ đọc Kinh Thánh chung vì nghĩ mình phải giải thích đúng mọi câu hỏi của con. Không ai giải thích được mọi điều ngay lập tức. Một câu hỏi khó có thể được giữ lại để tìm hiểu, hỏi người có khả năng hướng dẫn, hoặc đọc thêm trong giáo huấn Hội Thánh. Cha mẹ không mất uy tín khi nói: “Ba mẹ chưa biết rõ, mình cùng tìm hiểu.” Trái lại, con trẻ học được một điều quý: trước Lời Chúa, người lớn cũng là người lắng nghe. Nếu cha mẹ luôn dùng Kinh Thánh để thắng cuộc tranh luận, trẻ có thể dần sợ cuốn sách ấy. Nếu cha mẹ biết nhận lỗi sau khi nghe một câu Tin Mừng, trẻ sẽ hiểu Lời Chúa có quyền chạm tới cả người lớn. Bài học đó thường đi sâu hơn một lời giải thích dài.
Một gia đình có thể giữ một câu Tin Mừng trong tuần. Viết nó lên một tờ giấy nhỏ, đặt ở bàn ăn, hoặc đơn giản là nhớ trong đầu. Khi có chuyện buồn, không cần vội dùng câu ấy để bịt miệng nỗi buồn. Khi một người đang khóc vì mất việc, nói ngay “đừng lo” có thể làm họ thấy mình không được hiểu. Lời Chúa cần được trao với lòng tôn trọng người nghe. Có khi việc tốt nhất là ngồi cạnh, nghe họ kể hết, rồi khi thích hợp cùng đọc một Thánh Vịnh than van. Lectio Divina trong gia đình không phải cách trang trí mọi chuyện bằng một câu đạo đức. Nó là tập nhận ra Chúa hiện diện và đang dẫn dắt gia đình giữa những hoàn cảnh không đẹp đẽ như hình minh họa trong sách.
Khi người đọc đang đau
Tôi muốn nói riêng về người đau khổ, bởi có những lời mời “đọc chậm, suy sâu” vô tình tạo thêm gánh nặng cho họ. Một người vừa mất người thân có thể mở Kinh Thánh mà không đọc nổi ba dòng. Người trầm mệt có thể không tập trung được. Người đang bị phản bội có thể nghe một lời về tha thứ và thấy mình bị thúc ép đi nhanh hơn sức chịu đựng. Lectio Divina không phải bài thi về khả năng bình an. Có ngày người ấy chỉ cầm sách trong tay. Có ngày chỉ lặp lại một lời kêu cứu. Có ngày phải nhờ người khác đọc cho mình nghe. Những ngày ấy không nằm ngoài đời sống cầu nguyện.
Sách Thánh có chỗ cho tiếng khóc. Các Thánh Vịnh không yêu cầu người đau phải lập tức vui lên. Ông Gióp không được chữa lành bằng những lời giải thích nhanh của bạn bè. Người mù bên đường kêu lên giữa đám đông. Chúa Giêsu ở trong vườn Cây Dầu đã cầu nguyện giữa cơn xao xuyến cùng cực. Người đau khổ có thể tìm thấy trong Kinh Thánh không chỉ một lời khuyên để chịu đựng, mà còn một tiếng nói cho điều mình chưa biết nói. Đôi khi câu thích hợp nhất để đọc không phải câu người bên cạnh muốn họ nghe, mà là câu họ có thể dùng để kêu lên với Chúa. Chúng ta cần đủ kiên nhẫn để không cướp mất tiếng kêu ấy bằng một kết luận đạo đức quá sớm.
Người đồng hành cũng có thể thực hành một thứ Lectio bằng đôi tai của mình. Khi ngồi với người bệnh, đừng mang đến quá nhiều lời. Hỏi họ có muốn nghe một đoạn Tin Mừng không. Nếu họ muốn, hãy đọc chậm, để có khoảng nghỉ, đừng lập tức giải thích. Có thể họ nhớ tới một khuôn mặt, một chuyện chưa làm, một nỗi sợ. Hãy để họ nói. Có thể họ không nói gì. Hãy tôn trọng. Một câu Kinh Thánh được đọc trong sự chăm sóc dịu dàng sẽ được nghe khác với chính câu ấy khi bị dùng để thúc người ta phải có ngay một thái độ “đúng”. Lời Chúa có sức mạnh của Lời Chúa; người phục vụ Lời không cần làm cho nó mạnh hơn bằng cách áp đặt.
Từ chia sẻ cảm nhận đến lắng nghe có trách nhiệm
Trong nhiều nhóm, sau khi đọc Tin Mừng, câu hỏi đầu tiên là: “Anh chị em cảm nhận thế nào?” Câu hỏi ấy có ích nếu giúp mọi người bước vào cuộc trò chuyện. Nhưng cảm nhận đầu tiên chưa phải là toàn bộ ý nghĩa bản văn. Tôi có thể thích một câu vì nó xác nhận điều mình đã nghĩ. Tôi cũng có thể ghét một câu vì nó đụng đến điều mình chưa muốn thay đổi. Nếu nhóm chỉ lần lượt kể cảm nhận mà không trở lại với bản văn, không hỏi Đức Giêsu thật sự đã nói gì, thì cuộc gặp gỡ dễ xoay quanh chúng ta hơn là quanh Lời. Người điều phối cần biết đưa nhóm trở về đoạn đang đọc: “Trong câu chuyện, điều gì đã khiến anh chị nghĩ như vậy?” “Ta có bỏ qua phản ứng của nhân vật này không?” “Chi tiết nào cho thấy Đức Giêsu hành động khác với điều ta chờ đợi?”
Sự lắng nghe có trách nhiệm cũng đòi ta tôn trọng người đang chia sẻ. Không phải mọi lời phát biểu đều cần được sửa ngay bằng một bài giảng nhỏ. Có người nói chưa rõ vì họ đang thử tìm tiếng nói cho điều vừa chạm tới mình. Có người cần được hướng dẫn thêm về bản văn, nhưng cách hướng dẫn có thể dịu dàng và chính xác cùng lúc. Một nhóm Lectio tốt không phải nơi mọi người thi nhau có ý sâu sắc. Nó là nơi các thành viên giúp nhau trung thành hơn với Lời, can đảm hơn trước sự thật, và nhân hậu hơn trong cách nghe người khác. Nhóm càng thân, càng cần giữ kín những điều được chia sẻ trong tin tưởng. Nếu một người mở lòng rồi thấy chuyện mình thành đề tài bàn tán, họ sẽ khép lòng lại cả trước người khác lẫn trước Lời Chúa.
Có một điều nữa tôi muốn nhắc: đừng đánh giá buổi Lectio bằng số lời phát biểu. Thinh lặng không nhất thiết là dấu hiệu thất bại. Có những nhóm nói nhiều vì chưa ai dám ở yên. Có những buổi đọc rất ít người chia sẻ, nhưng một người đã quyết định sẽ về xin lỗi cha mình sau nhiều năm; một người khác lần đầu thôi trách Chúa vì mình đang đau. Những hoa trái ấy không hiện ngay trong biên bản cuộc họp. Người hướng dẫn cần tin vào hoạt động âm thầm của Lời, đồng thời vẫn chuẩn bị tốt, giữ cho buổi gặp có nhịp, có hướng và có sự tôn trọng bản văn. Tin vào ân sủng không phải là cớ để làm qua loa; chuẩn bị chu đáo cũng không cho phép ta kiểm soát ân sủng.
Người dịch, người đọc, người sống
Từ bản dịch đến đời sống có nhiều đôi tay tham dự. Người dịch chăm từng chữ. Người biên tập đọc lại. Người in sách, người phổ biến, người đọc sách thánh trong nhà thờ, người dạy giáo lý, người giảng lễ, người cha người mẹ mở Kinh Thánh ở nhà: mỗi người giữ một đoạn của con đường. Nhưng rốt cuộc, Lời phải được một con người đón nhận bằng đời mình. Một bản dịch có thể rất đẹp mà người đọc vẫn vội. Một bài giảng có thể rất hay mà người nghe vẫn để ngoài cửa điều mình cần thay đổi. Điều ấy không làm công việc dịch thuật vô ích. Nó nhắc ta rằng việc phục vụ Lời có tính hiệp thông: người này chuẩn bị cho người kia, và không ai làm thay trọn vẹn phần đáp trả của người khác.
Tôi hình dung một người đã nhiều năm nghe cùng một bản văn trong thánh lễ. Một ngày nọ, họ ở lại sau lễ vì một câu cứ đi theo mình. Họ về nhà đọc lại. Hôm sau họ đọc nữa. Câu ấy dần đổi cách họ đối xử với một người thân. Không ai biết. Người dịch có thể đã qua đời. Người đọc sách thánh hôm ấy có thể chẳng nhớ mình đã đọc đoạn nào. Người giảng có thể đã nói sang một ý khác. Nhưng Lời đã tìm được đất. Hoa trái của công việc phục vụ Lời Chúa nhiều khi kín đáo như vậy: không mang tên người làm, không có báo cáo thành tích, chỉ có một con người bớt cứng lòng và một mối quan hệ được chữa lành từng chút.
Bởi vậy, tôi không muốn chỉ cảm ơn Nhóm vì đã giúp người Việt có những bản văn để đọc và để cầu. Tôi muốn để việc của họ chất vấn cách mình cầm Kinh Thánh. Tôi đã nhận được nhiều năm lao động của người khác trong một cuốn sách đặt trên bàn. Tôi có thể mở cuốn sách ấy trong vài giây, nhưng không nên vì thế mà coi cuộc gặp gỡ được trao cho mình là điều rẻ rúng. Có người đã dành thời gian để tôi có thể đọc một câu rõ nghĩa. Đến lượt tôi, tôi có sẵn lòng dành thời gian để câu ấy được đọc trong lòng mình không? Tôi có cho phép nó sửa một thói quen, vén lên một lời tự bào chữa, nuôi một quyết định tốt, nâng tôi dậy sau một lần ngã không? Lòng biết ơn chân thật đối với người phục vụ Lời sẽ tìm được hình dạng trong việc tôi sống với Lời.
Mười phút tối thứ Bảy
Nếu phải đề nghị một thực hành rất nhỏ cho giáo xứ, tôi sẽ bắt đầu từ tối thứ Bảy. Trước khi Chúa Nhật đến, hãy đọc bài Tin Mừng sẽ được công bố. Đừng đặt mục tiêu phải hiểu hết. Hãy đọc một lần để biết câu chuyện, đọc lần nữa để nghe một câu nổi lên. Nếu có thể, hỏi ba điều: “Bản văn nói gì?”, “Điều gì trong đó chạm đến đời tôi?”, “Tôi muốn thưa gì với Chúa?” Rồi im lặng một chút. Mười phút là đủ để bắt đầu một thói quen; khi người đọc muốn ở lâu hơn, họ sẽ tự biết. Một giáo xứ có thể giúp bằng cách cung cấp bản văn bài đọc, tổ chức một nhóm nhỏ, hoặc chỉ nhắc nhẹ trên bảng tin. Điều cần giữ là sự tự do và niềm vui gặp Lời, để thực hành này không biến thành thêm một gánh nặng trên vai những gia đình vốn đã mỏi.
Ngày Chúa Nhật, khi Tin Mừng được công bố, người đã đọc trước không cần ngồi chờ nghe đúng “ý của mình”. Hãy nghe lại như một người thuộc về cộng đoàn. Có thể người giảng mở ra một chiều kích khác. Có thể tiếng một em bé khóc làm ta mất tập trung. Có thể hôm ấy lòng rất khô. Vẫn có thể trao cho Chúa sự hiện diện của mình. Rồi trong tuần, hãy nhớ một câu. Không cần câu nào cũng phải được đem lên mạng hay biến thành khẩu hiệu. Có những lời cần một thời gian nằm yên trong lòng như hạt giống dưới đất. Ta không kéo cây lên mỗi buổi sáng để kiểm tra rễ đã dài chưa. Ta tưới, chờ, và sống. Lời Chúa cũng có thể lớn lên trong ta qua những lần trở lại nhỏ bé như thế.
Tôi ước một người đi lễ có thể nói: “Tôi đã nghe bài Tin Mừng này cùng Hội Thánh. Tôi đã mang một câu về nhà. Tôi chưa sống được hết, nhưng tôi không muốn bỏ nó lại ở cửa nhà thờ.” Chỉ thế thôi đã là một bước rất lớn. Phụng vụ nối với bữa cơm. Bữa cơm nối với cách ta nói chuyện. Cách ta nói chuyện nối với những quyết định ngoài xã hội. Đời sống lại đem ta trở về trước Lời trong Chúa Nhật kế tiếp, với niềm vui mới, vết thương mới, những câu hỏi mới. Cuộc đối thoại ấy có thể kéo dài cả một đời người.
Khi Lời ở lại
Tôi nghĩ tới lời Đức Giêsu mời các môn đệ ở lại trong Người. “Ở lại” là một chữ đẹp, nhưng nó không nhẹ. Ở lại nghĩa là không chỉ ghé qua khi thuận tiện. Ở lại khi lời mình nghe làm mình vui, và cả khi lời ấy làm mình phải đổi hướng. Ở lại qua những mùa cầu nguyện sốt sắng và những mùa khô khan. Ở lại khi tuổi trẻ có sức học nhiều, và khi tuổi già chỉ còn nhớ được một lời kinh. Người sống Lectio Divina không phải người lúc nào cũng có những khám phá mới để kể. Họ là người dần để cho Lời trở thành nơi mình quay về, nơi mình được sửa dạy, an ủi, sai đi.
Một bản dịch đi đến đích khi nó trở thành lời cầu trên môi cộng đoàn và thành sự sống trong cách cộng đoàn yêu thương. Tôi biết con đường ấy dài. Không một cuốn sách hay phương pháp nào có thể đi thay ta. Nhưng tôi cũng biết Chúa không đòi ta phải bắt đầu bằng những điều lớn lao. Hôm nay, hãy mở Tin Mừng. Đọc một đoạn. Dừng lại ở một câu. Hỏi Chúa điều mình không hiểu. Thưa với Người điều mình đang sợ. Ở lại thêm một chút. Ngày mai làm lại. Một ngày nào đó, khi gặp một người cần được đón nhận, ta sẽ nhận ra lời mình đọc đã chuẩn bị trái tim mình cho cuộc gặp ấy. Khi phải chọn giữa một câu nói sắc bén và một lời dịu dàng, ta sẽ nghe vang lên một câu Thánh Vịnh. Khi tưởng mình đã đi xa quá để trở về, ta sẽ nhớ ánh mắt Đức Giêsu dành cho Phêrô. Lời đã đi từ trang sách vào trí nhớ, từ trí nhớ vào trái tim, từ trái tim vào đôi tay.
Tôi xin kết chương này bằng một lời nguyện dành cho cả người dịch lẫn người đọc. Lạy Chúa, xin chúc lành cho những người đã nhọc công đặt Lời Chúa vào tiếng mẹ đẻ của chúng con. Xin giữ họ khiêm tốn trước mầu nhiệm họ phục vụ và trung thành giữa những ngày lao nhọc ít ai thấy. Xin chúc lành cho người công bố Lời trong nhà thờ, để họ đọc bằng sự chuẩn bị và lòng kính trọng. Xin chúc lành cho người giảng, để họ cho phép Lời chạm đến mình trước khi nói với người khác. Xin chúc lành cho những gia đình mở Tin Mừng sau một ngày mệt, những người trẻ đang tìm đường, những người bệnh chỉ còn đủ sức nghe một câu, những người già đọc lời kinh đã theo họ gần trọn đời. Và xin dạy chính con biết mở Sách Thánh như mở cửa đón một người con yêu mến: biết lắng nghe, biết thưa lại, biết ở lại. Xin đừng để con chỉ đi ngang qua những lời đã được trao cho con bằng bao lao nhọc và bằng tình yêu của cả Hội Thánh. Xin cho Lời Chúa tìm được một mái nhà trong đời con, rồi từ mái nhà nhỏ bé ấy, sinh hoa trái cho những người con được sai đến gặp. Amen.

CHƯƠNG XIV. NGƯỜI PHỤ NỮ BÊN LỜI CHÚA
Khi nhắc đến thánh Giê-rô-ni-mô, người ta thường nghĩ đến một người đàn ông ngồi bên những cuộn sách, đối chiếu từng chữ Híp-ri và Hy Lạp, rồi viết nên những trang Latinh sẽ đi vào đời sống Giáo Hội suốt nhiều thế kỷ. Bên cạnh ngài có ngọn đèn, có bản thảo, có sự cô tịch của một đời tận hiến cho Sách Thánh. Hình ảnh ấy đẹp, nhưng nếu chỉ nhìn như thế, ta sẽ không thấy hết những con người đã cùng ngài sống trong bầu khí của Lời Chúa. Ta sẽ bỏ sót những phụ nữ đã đọc, đã học, đã đặt câu hỏi, đã mở nhà, đã chăm lo cộng đoàn và đã giúp những trang Sách Thánh được đón nhận bằng một đời sống cụ thể. Lịch sử phục vụ Lời Chúa không chỉ có hình ảnh một học giả cúi xuống trang sách. Nó còn có hình ảnh những người phụ nữ ngồi quanh trang sách ấy, muốn hiểu Lời cho đúng, muốn sống Lời cho thật và muốn trao Lời lại cho người đến sau.
Giê-rô-ni-mô có thể gay gắt trong tranh luận. Ngài không phải một nhân vật dễ được tô vẽ thành người luôn mềm mỏng, luôn nói những lời vừa tai. Nhưng khi đọc về những phụ nữ Rôma gắn bó với ngài, tôi nhận ra một chiều sâu khác trong công trình của vị thánh: ngài đã nghiêm túc đón nhận nơi họ lòng khao khát học hỏi Sách Thánh. Ngài không chỉ trao cho họ những lời khuyên đạo đức chung chung như thể họ không thể đi xa hơn. Ngài đối thoại với những câu hỏi của họ, khuyến khích họ đọc, suy nghĩ và sống theo điều đã đọc. Những phụ nữ ấy cũng không xuất hiện chỉ để làm nền cho một vị thánh nam giới. Họ có sáng kiến, có khả năng, có sự bền bỉ và có những quyết định đã tạo nên nơi chốn cho đời sống cầu nguyện và học hỏi.
Paula gợi cho tôi hình ảnh một người phụ nữ dám để Lời Chúa thay đổi cả hướng đi của đời mình. Marcella gợi hình ảnh một ngôi nhà mở cửa cho việc học Sách Thánh. Laeta gợi hình ảnh một người mẹ được mời gọi nghĩ về cách con gái mình lớn lên cùng những trang Kinh Thánh. Và khi trở về với Giáo Hội Việt Nam, tôi nghĩ đến soeur Amelie Nguyễn Thị Sang, tám mươi tám tuổi, vẫn ngồi trước máy tính để tiếp tục một công việc gắn với Lời Chúa. Giữa những người phụ nữ ấy là một khoảng cách rất dài về thời gian, ngôn ngữ và hoàn cảnh. Tôi không muốn xóa những khác biệt ấy bằng một so sánh dễ dãi. Nhưng tôi nhận ra nơi họ một nét chung: Lời Chúa đã không chỉ đi qua trí nhớ của họ; Lời đã tìm được một chỗ ở trong ngày tháng, trong bàn tay, trong căn nhà và trong sự kiên trì của họ.
Tôi muốn viết chương này với lòng biết ơn. Tôi cũng muốn viết với một chút ăn năn. Bởi khi kể lịch sử dịch thuật, giảng dạy và phổ biến Kinh Thánh, chúng ta thường nhớ rất nhanh tên những người viết trên bìa sách, tên những vị giảng nổi tiếng, tên những người đứng đầu một công trình. Chúng ta nhớ chậm hơn những người đã đánh máy, đối chiếu, sửa bản in, đưa sách đến một cộng đoàn, dạy một đứa trẻ đánh vần câu Tin Mừng, giữ cho giờ kinh gia đình không tắt. Trong số những người ấy có rất nhiều phụ nữ. Nếu chỉ kể phần công việc có chức danh và ảnh chân dung, câu chuyện chúng ta kể về Lời Chúa trong Giáo Hội sẽ thiếu rất nhiều khuôn mặt.
Paula: một đời sống mở ra nơi chốn cho Lời
Tôi hình dung Paula không chỉ như một cái tên đặt cạnh tên Giê-rô-ni-mô trong một trang tiểu sử. Bà là một người đã để đức tin đòi hỏi những chọn lựa tốn kém. Việc bà gắn bó với đời sống tu trì tại Bê-lem nhắc tôi rằng Lời Chúa cần những nơi chốn để được đọc lâu dài. Một cuốn sách có thể được mang trong hành lý; nhưng để việc học hỏi, cầu nguyện và phục vụ bền bỉ qua năm tháng, người ta cần một mái nhà, một nhịp sống, một cộng đoàn, những bữa ăn, những giờ nghỉ và những người chăm lo mọi điều ít được nhìn thấy. Một bản văn lớn không lớn lên trong khoảng không. Đằng sau ngọn đèn của học giả còn có những người giữ cho ngọn đèn ấy có thể tiếp tục cháy.
Khi nói Paula đã góp phần xây dựng đời sống tu viện ở Bê-lem, ta dễ nghe đó như một chi tiết lịch sử rồi đi tiếp. Nhưng một nơi dành cho cầu nguyện và học hỏi được dựng nên bằng vô số quyết định nhỏ: ai sẽ ở đó, họ sẽ sống với nhau thế nào, lấy gì nuôi sống cộng đoàn, đón người đến ra sao, giữ sự thinh lặng bằng cách nào, đối diện với bệnh tật và bất đồng thế nào. Sự dấn thân ấy đòi cả đức tin lẫn năng lực tổ chức, cả lòng quảng đại lẫn sự bền lòng. Có những người yêu Sách Thánh bằng cách viết chú giải. Có những người yêu Sách Thánh bằng cách làm cho một cộng đoàn có thể tiếp tục đọc, cầu nguyện và sống theo Sách Thánh. Không thể xem đóng góp thứ hai là chuyện nhỏ chỉ vì nó ít khi hiện ra dưới hình thức một tác phẩm mang tên người làm.
Tôi nghĩ đến biết bao nữ tu Việt Nam đã làm điều tương tự trong những hoàn cảnh khác nhau. Một chị phụ trách nhà cộng đoàn, giữ cho các soeur có giờ kinh chung. Một chị lo bữa ăn để người dạy giáo lý có sức đi tới một giáo điểm xa. Một chị già lặng lẽ sửa lại những quyển sách đã rách gáy. Một chị trẻ học cách trình bày bản văn sao cho người cao tuổi dễ đọc. Có thể không ai gọi các công việc ấy là “phục vụ Kinh Thánh”. Nhưng nếu nhờ đó một người có thể nghe Lời, một cộng đoàn có thể quy tụ quanh Lời, thì công việc ấy đã ở trong hành trình của Lời.
Có những việc chỉ khi thiếu vắng, người ta mới nhận ra giá trị. Một phòng học giáo lý được quét sạch trước giờ các em đến. Những chiếc ghế được xếp để em nhỏ ngồi gần và em lớn ngồi phía sau. Bản văn được in đủ cho người dự. Một người đến sớm để thử chiếc micro vì có cụ già nghe không rõ. Người làm những việc ấy có thể chẳng bao giờ được mời phát biểu về phương pháp mục vụ, nhưng họ hiểu rất cụ thể rằng Lời Chúa đến với con người qua một thân thể, một giọng đọc, một căn phòng và một cộng đoàn biết chuẩn bị. Họ đang làm cho nơi chốn của Lời trở nên hiếu khách.
Paula cũng nhắc tôi về sự tự do nội tâm của một người phụ nữ khi đáp lại tiếng Chúa. Trong các câu chuyện đạo, đôi khi chúng ta khen người phụ nữ vì họ hy sinh đến mức không còn thấy rõ họ đã chọn điều gì. Nhưng một đời tận hiến không thể được hiểu đầy đủ nếu ta không nhìn nhận lòng can đảm của người quyết định. Có những chọn lựa đặt lại toàn bộ trật tự quen thuộc của cuộc sống. Có những lúc phải bước vào một nơi chưa biết mình sẽ trụ nổi hay không. Có những tháng ngày lòng sốt sắng ban đầu nhường chỗ cho bổn phận hằng ngày. Tình yêu Lời Chúa của Paula được diễn tả trong sự trung thành với một nếp sống, qua những ngày có ánh sáng và những ngày rất bình thường. Chính phần bình thường ấy giúp một công trình lớn có chỗ đứng.
Marcella: một ngôi nhà trở thành nơi học hỏi
Marcella khiến tôi dừng lại trước hình ảnh căn nhà. Người ta có thể nghĩ việc học Sách Thánh chỉ thuộc những trường lớp chính thức, những thư viện lớn, những bàn nghiên cứu được dành riêng. Nhưng một ngôi nhà cũng có thể trở thành nơi con người đặt câu hỏi với Lời Chúa. Một căn phòng nơi người ta ngồi lại, mở bản văn, nghe nhau đọc và không xấu hổ vì mình chưa hiểu: căn phòng ấy đã tham dự vào sứ vụ của Giáo Hội.
Tôi yêu hình ảnh đó vì nó gần với đời sống Việt Nam. Ở nhiều nơi, đức tin đã được giữ qua những ngôi nhà. Có nhà buổi tối mọi người đọc kinh; có nhà một người mẹ đặt cuốn Kinh Thánh trên chiếc bàn gần cửa sổ; có nhà người bà không đọc được nhiều nhưng nhớ những câu chuyện đã nghe trong nhà thờ và kể lại cho cháu. Có nhà từng có những giờ kinh đông đủ, rồi con cái lớn lên, đi xa, chiếc ghế quanh bàn thưa dần. Người còn ở lại vẫn mở sách. Nếu nhìn từ ngoài, đó chỉ là sinh hoạt gia đình. Nhưng lịch sử đức tin được giữ bằng những căn nhà như thế.
Một ngôi nhà mở ra cho Sách Thánh không cần giả làm một lớp học. Có khi giờ học bắt đầu từ câu hỏi của một đứa trẻ: “Sao Chúa Giêsu lại làm như vậy?” Người mẹ chưa biết trả lời, nói thật rằng mẹ cũng muốn tìm hiểu, rồi hai mẹ con đọc lại đoạn Tin Mừng. Có khi một người con trở về sau ngày làm việc và hỏi bà ngoại câu mình nghe trong Thánh Lễ có nghĩa gì. Có khi một nhóm phụ nữ sau giờ kinh ở lại nói với nhau về người bệnh trong xóm và câu Thánh Vịnh vừa đọc bỗng trở nên rất gần. Căn nhà ấy thành nơi học Lời vì người ở đó cho phép Lời bước vào những câu hỏi thật của mình.
Tôi mong các giáo xứ trân trọng những ngôi nhà như thế. Một hội đoàn có thể tổ chức khóa học, một linh mục có thể giảng, một giáo lý viên có thể chuẩn bị bài. Nhưng nếu Lời Chúa không đi tiếp vào bàn ăn, phòng khách, chiếc giường bệnh, cuộc trò chuyện giữa mẹ và con, thì điều chúng ta làm trong nhà thờ mới chỉ bắt đầu. Một phụ nữ mở cửa nhà cho một nhóm nhỏ đọc Tin Mừng đang làm một việc có sức lan xa, dù nhóm ấy chỉ có vài người. Chị có thể không biết giải thích mọi câu khó. Chị biết đun nước, đặt thêm ghế, đón người mới và giữ cho ai đang đau khổ có thể ngồi xuống mà không phải kể ngay mọi chuyện. Sự hiếu khách ấy tạo ra một khoảng bình an để Lời được nghe.
Tất nhiên, mở nhà cho Lời Chúa không có nghĩa biến mọi buổi gặp thành nơi người ta đưa ra những kết luận chắc chắn về điều mình chưa hiểu. Càng yêu Lời, ta càng cần biết học hỏi trong lòng Giáo Hội. Một câu khó có thể được ghi lại để hỏi người có khả năng giải thích. Một cách hiểu làm người khác lo lắng cần được xem lại. Sự khiêm tốn ấy không làm buổi đọc Lời trở nên kém giá trị. Nó làm cho căn nhà rộng hơn, bởi ở đó mọi người được phép học. Marcella gợi cho tôi một khát vọng như vậy: nơi người phụ nữ có thể đọc sâu, hỏi nghiêm túc và giúp những người khác lớn lên trong việc lắng nghe.
Có một điều tôi muốn nói rõ với những người phụ nữ từng bị xem nhẹ câu hỏi của mình. Khi chị hỏi về một câu Sách Thánh, chị không làm phiền người được giao trách nhiệm dạy dỗ. Chị đang thực hiện lòng yêu mến đức tin của mình. Có thể câu hỏi ấy đòi thời gian tìm hiểu. Có thể cả người được hỏi cũng phải trở về với sách. Điều ấy tốt. Một cộng đoàn trưởng thành không sợ câu hỏi thành thật. Chúng ta cần những người phụ nữ yêu Lời đến mức không hài lòng với việc nghe cho qua, đọc cho xong hoặc lặp lại một cách giải thích mình chưa hiểu.
Laeta: trao cho con một gia tài biết nói
Trong những lời hướng dẫn dành cho Laeta về việc giáo dục con gái, tôi nghe một mối bận tâm rất đẹp: đứa trẻ sẽ lớn lên cùng những lời nào? Người lớn thường nghĩ nhiều đến những gì cần chuẩn bị cho con: áo quần, thức ăn, chỗ học, nghề nghiệp, tài sản. Những điều ấy quan trọng. Nhưng con còn cần những lời có thể đi với mình khi cha mẹ không thể đi cùng. Con cần nghe những câu chuyện giúp mình hiểu sự thiện, lòng thương xót, lỗi lầm, sự tha thứ, niềm hy vọng và Thiên Chúa là Đấng gọi mình bằng tên.
Khi nói hãy để sách thánh quý hơn châu báu, ta không nên biến câu ấy thành lời trách những người mẹ đang vất vả lo cho con có đủ điều kiện sống. Một người mẹ làm việc cả ngày để con được đến trường cũng đang yêu con bằng hành động rất thật. Nhưng câu ấy mời ta nhìn xa hơn những thứ có thể cất trong tủ. Châu báu có thể được trao trong một chiếc hộp; Lời Chúa được trao bằng thời gian sống cạnh nhau. Một quyển Kinh Thánh đặt vào tay con chưa đủ. Con cần được nghe người lớn đọc. Con cần được thấy mẹ, cha, bà hoặc người chăm sóc mình cũng tìm đến Lời khi vui, khi bối rối, khi phải xin lỗi, khi phải quyết định.
Tôi nhớ cảnh rất đơn sơ: một người mẹ mệt sau ngày làm việc, đứa con còn muốn nghe kể chuyện trước khi ngủ. Chị có thể đọc một đoạn ngắn về Chúa Giêsu chúc lành cho các trẻ nhỏ. Con hỏi một điều ngây ngô. Chị trả lời bằng ngôn ngữ của mình. Có thể câu trả lời chưa trọn vẹn. Có thể con đã ngủ giữa chừng. Ngày hôm sau nó không nhớ hết câu chuyện. Nhưng nó nhớ giọng mẹ. Nó nhớ cảm giác được ở gần một người yêu mình trong lúc nghe nói về Chúa. Một ngày kia, khi nghe lại đoạn Tin Mừng ấy ở nhà thờ, Lời sẽ mang theo ký ức về sự gần gũi. Đó là một cách trao đức tin vừa khiêm tốn vừa sâu xa.
Những người dạy trẻ không cần chờ mình biết mọi điều mới bắt đầu. Hãy đọc đúng bản văn, chọn một đoạn vừa sức, nói bằng tiếng Việt trong sáng, để trẻ được hỏi. Có thể hôm nay chỉ có một câu: “Chúa Giêsu nhìn người ấy và đem lòng yêu mến.” Hãy để trẻ nghe câu ấy. Đừng vội kéo nó qua quá nhiều lời giải thích. Có những câu cần được ở lại trong trí nhớ trước khi được phân tích. Người mẹ, người cha, người bà, người giáo lý viên gieo một câu như gieo hạt. Không ai nhìn hạt giống mỗi ngày rồi ra lệnh cho nó mọc. Ta chăm đất, cho ánh sáng, cho nước, và kiên nhẫn.
Tôi cũng muốn nói đến những người phụ nữ không có con ruột. Họ không đứng ngoài việc trao Lời cho thế hệ sau. Một soeur dạy giáo lý, một cô giáo, một người dì, một bà đỡ đầu, một người chị trong xứ, một nữ tu chăm trẻ ở mái ấm: mỗi người đều có thể trở thành tiếng nói giúp một đứa trẻ nhận ra Thiên Chúa gần mình. Ngược lại, tôi không muốn đặt toàn bộ trách nhiệm giáo dục đức tin lên vai các bà mẹ rồi để những người khác đứng ngoài. Người cha cũng phải đọc Lời với con. Linh mục và cộng đoàn cũng phải đồng hành. Chính vì việc người phụ nữ đang làm quý giá, chúng ta càng phải chia sẻ gánh nặng ấy, trao cho họ sự nâng đỡ và thời gian nghỉ ngơi cần thiết.
Một đứa trẻ học đức tin qua điều người lớn làm với nhau. Nếu mẹ đọc Tin Mừng về tha thứ, rồi trong nhà mọi người có thể xin lỗi nhau, đứa trẻ bắt đầu hiểu Lời ấy. Nếu người lớn đọc về người Samari nhân hậu, rồi dừng lại giúp một người hàng xóm gặp nạn, câu chuyện đi ra khỏi trang giấy. Nếu đọc về Chúa yêu người bé nhỏ, rồi trong nhà một em nhỏ được lắng nghe nghiêm túc, em sẽ cảm thấy câu Tin Mừng ấy có thật. Ta dạy trẻ bằng bản văn và bằng cách sống gần bản văn. Không ai làm điều đó hoàn hảo. Nhưng mỗi lần thất bại rồi quay lại xin lỗi, người lớn còn dạy trẻ rằng mình cũng phải để Lời Chúa sửa mình.
Những người phụ nữ Việt Nam giữ Lời qua bao mùa
Khi nhìn về Giáo Hội Việt Nam, tôi không thể nói đến việc phục vụ Lời Chúa mà chỉ nhắc những người dịch và giảng. Tôi thấy những nữ tu đi dạy giáo lý từ khi tóc còn xanh cho đến lúc bước chậm. Tôi thấy những phụ nữ giáo dân tập cho các em đọc bài đọc trong Thánh Lễ. Tôi thấy người mẹ giữ giờ kinh trong một gia đình bận rộn; người bà lần chuỗi và kể lại chuyện Chúa cho cháu; cô giáo lý viên ngồi thêm sau lớp vì một em có câu hỏi mà không muốn hỏi trước mọi người. Tôi thấy những người phụ nữ chăm sóc nhà thờ, nhà nguyện, giữ cho nơi cộng đoàn họp nhau nghe Lời luôn sạch và sẵn sàng. Những hình ảnh ấy không cùng một loại công việc, nhưng đều nói rằng đức tin cần những con người chịu khó ở lại.
Có những nữ tu được học hành sâu về Sách Thánh, có khả năng giảng dạy và nghiên cứu. Có những nữ tu và giáo dân nữ học ít trong trường lớp nhưng biết Lời Chúa bằng trí nhớ cầu nguyện của cả đời. Ta cần quý trọng cả hai mà không lẫn lộn. Người có kiến thức chuyên môn cần được trao cơ hội thực sự để góp phần vào các công trình học hỏi, dịch thuật, biên tập và đào tạo. Người trao Lời trong gia đình và cộng đoàn cần được nâng đỡ để việc đọc không dừng ở những câu quen thuộc. Một người có thể học thêm ở bất cứ tuổi nào, theo khả năng và điều kiện của mình. Giáo Hội nghèo đi khi tài năng của phụ nữ không được nhìn nhận; Giáo Hội cũng nghèo đi khi những kinh nghiệm sống đức tin âm thầm của họ bị coi là không đáng nghe.
Tôi nhớ nhiều lớp giáo lý có một sự bền bỉ lặng lẽ. Đầu năm, các em còn hào hứng. Đến giữa năm, em nghỉ vì gia đình có việc, em mất tập trung, em chậm đọc, em có những thắc mắc khiến người dạy lúng túng. Người giáo lý viên trở lại tuần sau, chuẩn bị một cách kể khác, tìm thêm hình ảnh, tập đọc đoạn Tin Mừng sao cho trẻ hiểu. Có hôm chị chỉ kịp ngồi cạnh một em đang buồn. Người ngoài nhìn vào có thể hỏi lớp hôm ấy học được bao nhiêu nội dung. Chị biết có một đứa trẻ vừa nhận ra trong cộng đoàn này có người nhớ tên mình. Điều ấy giúp em còn muốn nghe về Thiên Chúa.
Có những bà mẹ đọc kinh với con một thời gian rồi thấy con lớn lên và từ chối. Tôi muốn ngồi lại với những bà mẹ ấy, bởi trong nỗi buồn của họ có rất nhiều tình yêu. Chị đã kể chuyện Chúa cho con. Chị đã dạy con làm dấu Thánh Giá. Chị đã dẫn con đi lễ. Nay con bảo bận, con đặt câu hỏi khó, hoặc con im lặng. Đừng vội kết luận rằng những năm tháng ấy vô ích. Con của chị là một con người tự do, đang đi qua những điều có thể chị chưa hiểu hết. Những câu Tin Mừng đã nghe có thể vẫn ở lại trong một miền ký ức sâu. Chị có thể tiếp tục yêu con, lắng nghe con, cầu nguyện cho con và sống điều chị đã dạy. Có lúc cách trao Lời cho một người trưởng thành là thôi ép người ấy lặp lại lời mình, để họ thấy nơi mình sự kiên nhẫn của Thiên Chúa.
Cũng có những người phụ nữ giữ giờ kinh khi nhà đã vắng. Trước kia họ đọc cùng chồng, cùng mẹ, cùng con. Rồi một người qua đời, một người chuyển đi, một người không muốn đọc nữa. Giờ kinh chiều chỉ còn một giọng. Khi chị mở sách và đọc, chị không lấp đầy được chiếc ghế trống. Chị vẫn nhớ người đã ngồi đó. Lời Thánh Vịnh lúc ấy có thể đi qua nước mắt. Tôi nghĩ đời cầu nguyện của Giáo Hội được nâng đỡ bởi những giọng đọc như thế. Không ai quay phim, không ai ghi tên. Nhưng ở một căn nhà nhỏ, một người vẫn dâng lời ca tụng vào giờ ngày sắp hết.
Và có những người phụ nữ giữ Lời Chúa bằng cách ở cạnh người bệnh. Họ đọc một đoạn ngắn cho người không còn sức cầm sách. Họ để cho người ấy ngắt lời, hỏi lại, hoặc chỉ nắm tay mà không nói gì. Có hôm người bệnh không muốn nghe. Họ tôn trọng. Có hôm người bệnh xin đọc lại đúng câu của hôm trước. Họ tìm trang sách, đọc chậm hơn. Lời Chúa đến giường bệnh qua giọng nói và sự hiện diện ấy. Nếu chỉ đếm số bài học đã dạy hay số trang đã dịch, ta sẽ không thấy công trình của Lời trải rộng đến đâu.
Soeur Sang và sự trung thành trước một màn hình
Hình ảnh soeur Amelie Nguyễn Thị Sang ở tuổi tám mươi tám, vẫn ngồi bên máy tính, làm tôi xúc động theo một cách rất riêng. Tôi không muốn từ một hình ảnh mà tưởng tượng ra toàn bộ đời sống của soeur. Tôi không biết hết những buổi sáng, những ngày mệt, những điều soeur đã phải học lại khi phương tiện thay đổi. Nhưng hình ảnh một người nữ tu cao tuổi tiếp tục ở bên công việc của Lời đủ để đặt trước mắt tôi một câu hỏi: điều gì giúp một người bền lòng lâu đến thế?
Khi người ta trẻ, có thể làm việc nhờ sức khỏe và sự háo hức khám phá. Khi lớn tuổi, mỗi giờ ngồi trước màn hình đòi một thứ kiên trì khác. Mắt có thể mỏi. Một thao tác từng quen bỗng khó nhớ. Một bản văn cần đọc lại vì đã thấy có điều chưa ổn. Có thể phải nhờ người trẻ giúp về kỹ thuật. Nhờ được không dễ đối với người đã từng làm nhiều việc rất giỏi. Sự khiêm nhường nằm cả trong việc nhận giúp đỡ. Và người trẻ được nhờ cũng đang nhận một điều lớn hơn lời nhờ ấy: được bước gần một người đã mang ký ức của công trình qua nhiều chặng đường.
Nếu có một em trẻ nhìn soeur Sang và chỉ thấy một bà cụ cần trợ giúp máy tính, em sẽ bỏ lỡ cơ hội học. Nếu có người nhìn em trẻ và chỉ thấy một đôi tay nhanh nhẹn để bấm phím, họ cũng bỏ lỡ cơ hội trao. Hai thế hệ cần gặp nhau ở một chiếc bàn thực sự. Người trẻ có thể giúp phóng to chữ, lưu bản thảo, tìm lại một tập tin. Người đi trước có thể kể vì sao một câu từng được tranh luận, vì sao một cách dùng từ được giữ, vì sao không thể vội vàng trước một chỗ khó. Mỗi người đem đến điều người kia cần. Công trình sẽ tiếp tục khi sự cộng tác ấy trở thành một mối tương quan, vượt qua việc giao và nhận những việc lặt vặt.
Tôi cầu mong soeur và những người cùng thế hệ được trân trọng khi còn sống, khi còn đang làm việc. Ta thường viết những lời đẹp nhất lúc một người đã qua đời. Khi họ còn ngồi bên ta, có khi ta lại quá bận để hỏi họ đang mệt không, cần gì, có điều gì muốn kể cho người đến sau. Biết ơn một người cao tuổi là giúp họ làm việc trong điều kiện phù hợp với sức mình, lắng nghe kinh nghiệm của họ và để họ được nghỉ mà không thấy mình đã hết giá trị. Có ngày họ làm được nhiều, có ngày chỉ đọc được một đoạn. Giá trị của họ không thay đổi theo số trang hoàn thành.
Hình ảnh ấy còn đưa tôi trở về với một sự thật rất đơn giản: phụ nữ đã hiện diện trong công trình Lời Chúa bằng trí tuệ của mình. Một soeur cao tuổi bên máy tính không phải biểu tượng trang trí cho lòng hy sinh. Soeur là một người đang làm việc, đang đọc, đang nhận định, đang góp một phần khả năng vào công trình chung. Chúng ta có thể xúc động trước sự bền bỉ của soeur, nhưng đừng vì xúc động mà quên tôn trọng chính công việc soeur làm. Lòng biết ơn cần đủ cụ thể để nhìn nhận sự đóng góp ấy.
Những việc “phụ” mà thiếu đi thì công trình không thể đứng
Có một cách nói tôi mong chúng ta thận trọng hơn: “Các chị giúp việc phụ.” Nhiều việc được gọi là phụ chỉ vì chúng không hiện ra ở nơi người ta trao danh tiếng. Ai quyết định việc nào là chính, việc nào là phụ? Một bản dịch được viết ra mà không có người đọc thử, sửa lỗi, trình bày, in, đưa đến cộng đoàn và dạy người ta sử dụng, liệu công trình đã hoàn thành chưa? Một bài Tin Mừng được công bố trong Thánh Lễ, nhưng người nghe chưa từng có ai giúp mình làm quen với ngôn ngữ Kinh Thánh, liệu họ có dễ đón nhận không? Người viết và người làm cho bản viết được nghe thấy cùng tham gia vào một hành trình.
Tôi không có ý đánh đồng mọi trách nhiệm. Dịch một bản văn cổ đòi khả năng riêng. Hiệu đính phụng vụ đòi thẩm quyền và quy trình riêng. Dạy trẻ đòi một nghệ thuật khác. Nhưng phân biệt trách nhiệm không có nghĩa xếp phẩm giá của người làm thành bậc cao thấp. Trong Thân Mình Giáo Hội, một công trình sinh hoa trái nhờ nhiều ơn gọi cùng phục vụ. Người biết một ngôn ngữ cổ có thể giúp tìm nghĩa của một câu. Người mẹ nghe câu tiếng Việt ấy và nhận ra con mình sẽ không hiểu một chữ. Người giáo lý viên đề nghị một cách giải thích đơn giản hơn. Người đọc sách tại nhà thờ cho biết câu ấy khi đọc thành tiếng dễ ngắt sai ở đâu. Nếu biết lắng nghe nhau, bản văn đến gần cộng đoàn hơn.
Vì thế, tôi mong khi làm kỷ yếu hoặc kể lịch sử một công trình, người ta nhớ hỏi: ai đã đánh máy những bản thảo đầu tiên? Ai đã sửa bản in? Ai lưu giữ giấy tờ? Ai đưa sách tới những nơi xa? Ai đã dạy một thế hệ sử dụng sách? Có những cái tên có thể tìm lại. Hãy ghi. Có những người không còn ai nhớ tên. Hãy nói thật rằng ta đang thừa hưởng công sức của những người chưa được kể đủ. Đừng lấp khoảng trống ấy bằng những câu chuyện tưởng tượng, nhưng cũng đừng để lịch sử thành như thể chỉ vài người nổi tiếng đã làm nên mọi sự.
Tôi còn mong những người đang giữ trách nhiệm hôm nay nhìn quanh bàn làm việc. Các phụ nữ có được mời vào những phần việc tương xứng với khả năng và sự đào tạo của họ không? Khi họ góp ý về bản văn, lời họ có được xét theo nội dung không? Khi một nữ tu hoặc một giáo dân nữ có kiến thức Sách Thánh, cộng đoàn có biết tạo cơ hội để kiến thức ấy phục vụ Dân Chúa không? Khi họ đảm nhận những việc chăm sóc âm thầm, có ai hỏi họ muốn học thêm, muốn góp phần theo một cách khác, hay cần được chia sẻ gánh nặng không? Sự biết ơn sẽ chân thật hơn khi nó mở ra cơ hội, chứ không chỉ dừng ở lời khen vào một ngày lễ.
Có một sự bất công nhỏ lặp lại nhiều lần có thể thành rất lớn: người phụ nữ được cảm ơn vì đã “hy sinh”, nhưng ý kiến chuyên môn của chị bị bỏ qua. Hoặc chị được giao vô số việc vì “chị khéo và tận tâm”, đến nỗi không còn giờ đọc, học và cầu nguyện. Lòng nhiệt thành của một người không phải nguồn sức lực vô hạn cho mọi người sử dụng. Nếu muốn phụ nữ tiếp tục phục vụ Lời Chúa, cộng đoàn cũng phải chăm sóc đời sống của họ. Họ cần được học, được nghỉ, được lắng nghe và được chia sẻ trách nhiệm. Một công trình mang tên Lời Chúa phải đối xử với những người làm công trình ấy bằng sự công bằng.
Người mẹ, người soeur và người giáo dân nữ là người nghe Lời trước tiên
Trong lúc muốn ca ngợi công việc của phụ nữ, tôi cũng sợ vô tình biến các chị thành những người chỉ có nhiệm vụ trao Lời cho người khác. Một người mẹ không phải chỉ tồn tại để dạy con đọc Kinh Thánh. Một nữ tu không phải chỉ tồn tại để chuẩn bị cho người khác có giờ cầu nguyện. Một giáo lý viên không phải chỉ là chiếc cầu dẫn trẻ đến với Chúa. Trước khi trao Lời, chị là một người được Chúa nói với. Chị có niềm vui, nỗi đau, câu hỏi và nhu cầu được nuôi dưỡng. Chị có quyền ngồi xuống trước Sách Thánh mà không phải lập tức nghĩ sẽ dùng câu này cho lớp giáo lý tuần tới.
Tôi muốn nói với một người mẹ đang quá mệt: chị có thể đọc Lời Chúa cho chính mình. Một câu ngắn thôi. Có thể khi con đã ngủ, chị ngồi bên chiếc bàn còn chưa dọn xong. Chị mở Tin Mừng và đọc: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày.” Hôm ấy chị không có sức suy niệm dài. Chị chỉ cần nghe rằng mình không một mình. Việc đọc ấy có giá trị ngay cả khi không ai khác nhìn thấy hoa trái của nó. Thiên Chúa không chỉ gửi chị đi chăm sóc người khác; Người cũng muốn chăm sóc chị.
Tôi muốn nói với người soeur đã dạy giáo lý suốt nhiều năm: chị có thể để một đoạn Tin Mừng làm chị ngạc nhiên lần nữa. Chị đã giảng đoạn ấy cho nhiều khóa học trò. Chị biết câu hỏi thường gặp và câu trả lời quen thuộc. Nhưng hôm nay chị đang ở một tuổi đời khác. Có thể lời Chúa chạm tới chị ở một chỗ chị chưa từng thấy. Đừng sợ đọc như người chưa biết hết. Một người dạy tốt vẫn có thể là môn đệ mỗi ngày.
Tôi muốn nói với người phụ nữ từng cố giữ giờ kinh gia đình rồi thấy mình thất bại: Lời Chúa không đo chị bằng số tối mọi người ngồi đủ quanh bàn. Có thể chị đang phải làm việc theo ca. Có thể nhà có người bệnh. Có thể con đang chống đối. Có thể cuộc hôn nhân của chị đang trải qua một mùa rất khó. Hãy bắt đầu từ điều có thể làm hôm nay. Một câu được đọc bằng lòng tin có thể nâng đỡ chị. Một lời cầu nguyện ngắn với con có thể là khởi đầu. Khi có thể, chị tìm sự trợ giúp từ cộng đoàn. Chị không phải một mình chịu trách nhiệm về đức tin của cả nhà.
Và tôi muốn nói với người phụ nữ từng bị xem như không đủ trình độ để góp ý: tình yêu Sách Thánh của chị đáng được tôn trọng. Nếu chị muốn học, hãy tìm đường học. Nếu có người biết hơn, hãy hỏi. Nếu chị thấy điều mình không hiểu, hãy ghi lại. Đừng để một lần bị trả lời cộc lốc khiến chị đóng sách. Sự khiêm tốn của người học không phải sự im lặng bị áp đặt. Nó là can đảm tiếp tục tìm kiếm.
Bê-lem ở ngay trong những căn nhà hôm nay
Khi tôi nói với các mẹ, các soeur và các hội đoàn phụ nữ rằng các chị đang “ở Bê-lem với Paula”, tôi biết đó là một hình ảnh suy niệm. Không phải mọi công việc đều giống nhau. Một người mẹ giữa thành phố đông đúc không sống cùng hoàn cảnh với một phụ nữ Rôma thời cổ. Một nữ tu đi dạy giáo lý ở miền quê Việt Nam không làm đúng công việc của người sống trong tu viện Bê-lem. Nhưng hình ảnh Bê-lem nhắc ta rằng Lời Chúa muốn cư ngụ giữa đời sống con người. Nơi nào người ta dành một chỗ thật cho Lời, nơi ấy có thể trở thành một Bê-lem bé nhỏ.
Bê-lem ấy có thể là phòng khách vào buổi tối. Điện thoại được đặt xuống trong mười phút. Một người đọc bài Tin Mừng Chúa nhật tới. Cả nhà im lặng một chút. Không ai có bài chia sẻ xuất sắc. Một đứa trẻ kể rằng nó thương nhân vật trong câu chuyện. Người lớn mỉm cười, rồi cùng cầu nguyện. Bê-lem ấy cũng có thể là căn phòng của một người nữ tu lớn tuổi. Chị đọc Giờ Kinh chiều chậm vì mắt đã yếu. Câu Thánh Vịnh đi qua môi chị, nối lời cầu nguyện hôm nay với bao năm tháng đã qua. Bê-lem ấy có thể là phòng học giáo lý nơi một cô trẻ kiên nhẫn đọc lại một đoạn cho em nhỏ chưa theo kịp. Không có hào quang quanh các căn phòng ấy. Có Lời Chúa được đón vào.
Nhưng muốn có những Bê-lem như thế, chúng ta phải làm cho Sách Thánh đến được với người đọc bằng tiếng nói rõ ràng. Một bản dịch trong sáng giúp người mẹ có thể đọc cho con mà không phải dừng ở mỗi câu để giải nghĩa từ ngữ quá xa lạ. Một bản Giờ Kinh được trình bày dễ sử dụng giúp gia đình dám bắt đầu. Một lớp học Sách Thánh biết đón người mới giúp người phụ nữ đã lâu không đi học không thấy mình bị bỏ lại. Việc dịch thuật, biên tập, xuất bản và giảng dạy gặp nhau ở đây: nơi một người thật mở sách và có thể nghe.
Tôi cũng mong có thêm những chỗ để các phụ nữ kể kinh nghiệm đọc Lời của mình. Một người chăm sóc bệnh nhân có thể thấy trong các Thánh Vịnh than van điều mà người khỏe mạnh thường đọc lướt. Một người mẹ có con khuyết tật có thể nghe chuyện Chúa Giêsu tiếp đón trẻ em bằng một chiều sâu khác. Một phụ nữ sống đơn thân có thể cảm nhận sự cô độc trong một trình thuật theo cách người khác chưa từng nghĩ tới. Một nữ tu đang bước vào tuổi già có thể giúp người trẻ hiểu những câu nói về sự trung thành qua thời gian. Những kinh nghiệm ấy không thay thế việc chú giải cẩn trọng. Chúng giúp cộng đoàn nhận ra Lời Chúa đang được nghe trong nhiều hoàn cảnh đời sống.
Khi các hội đoàn phụ nữ quy tụ, tôi mong họ có thời gian thật cho Lời. Việc tổ chức, thăm viếng, gây quỹ, lo các ngày lễ đều cần người làm. Nhưng giữa lịch hoạt động, hãy để có một khoảng không ai phải báo cáo thành tích. Cùng mở Tin Mừng. Đọc chậm. Hỏi câu ấy đang soi điều gì trong đời mình. Cầu cho một người vắng mặt. Rồi từ việc nghe Lời, quyết định phải làm gì. Nếu hội đoàn chỉ có việc mà thiếu Lời, người nhiệt thành sẽ sớm kiệt sức. Nếu có Lời mà không bước đến người đang cần, giờ đọc có thể trở nên khép kín. Các chị đã biết cách đi tới; xin cũng giữ cho mình một nơi để trở về và được nuôi dưỡng.
Một lời gửi các linh mục và những người có trách nhiệm
Tôi viết những dòng này trong tư cách một linh mục nên không thể chỉ nói các chị cần làm gì. Tôi phải hỏi chúng tôi đã làm gì để phụ nữ có thể phục vụ Lời Chúa cách xứng đáng. Chúng tôi có chuẩn bị những buổi học Sách Thánh nghiêm túc và dễ tham gia không? Chúng tôi có trả lời câu hỏi của giáo lý viên với sự kính trọng không? Chúng tôi có giao trách nhiệm rõ ràng, cung cấp tài liệu và đồng hành, hay chỉ giao việc rồi đợi đến lúc có sai sót mới phê bình? Chúng tôi có để ý những nữ tu và giáo dân nữ đã kiệt sức vì nhiều năm làm việc không ai thay không? Chúng tôi có ghi nhận khả năng của người nữ được đào tạo chuyên sâu, hay vẫn tự động mời chị lo những việc vốn đã có quá nhiều người trông chờ ở chị?
Một lời cảm ơn từ tòa giảng có thể làm ấm lòng, nhưng không đủ. Cần dành thời gian lắng nghe. Cần có kế hoạch đào tạo. Cần chia sẻ trách nhiệm với những người khác trong cộng đoàn, kể cả nam giới. Cần bảo đảm người dạy giáo lý có tài liệu đáng tin, được chuẩn bị và được hỗ trợ khi gặp câu hỏi khó. Cần để người có khả năng về ngôn ngữ, Sách Thánh, sư phạm và biên tập có thể đóng góp theo khả năng ấy. Nếu chúng tôi nói rằng phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong việc trao đức tin, thì cách tổ chức đời sống giáo xứ phải cho thấy chúng tôi tin điều mình nói.
Tôi cũng phải xét lại cách mình giảng về những người phụ nữ trong Kinh Thánh. Nếu chỉ nhắc các bà như biểu tượng của sự chăm chỉ, im lặng hoặc chịu đựng, tôi có thể đã bỏ qua tiếng nói và hành động của họ. Đức Maria lắng nghe và suy đi nghĩ lại trong lòng, nhưng Mẹ cũng đứng dậy lên đường, cất lời ca ngợi Thiên Chúa và ở lại dưới chân thập giá. Maria ở Bêtania ngồi nghe Chúa, và chị Mácta dám nói với Người nỗi bận tâm của mình. Những phụ nữ đi theo Chúa đã hiện diện trong cuộc đời công khai của Người; những phụ nữ đến mộ sớm đã nghe tin Phục Sinh trong một buổi sáng mà các môn đệ còn đang sợ. Khi giảng, chúng tôi cần đọc những bản văn ấy cẩn thận và để các nhân vật được hiện ra với đầy đủ chiều sâu của họ.
Tôi mong những người đàn ông trong cộng đoàn cũng nhận ra điều này. Đừng để việc đọc kinh với con mặc nhiên là phần của mẹ. Đừng giao hết việc dạy giáo lý cho các chị rồi cho rằng mình đã hoàn thành phần việc. Người cha đọc Tin Mừng với con. Người anh chuẩn bị lớp giáo lý. Người ông mở sách Giờ Kinh. Người nam trong hội đồng giáo xứ lắng nghe ý kiến của phụ nữ và nhận phần việc không có tiếng tăm. Khi cả cộng đoàn cùng gánh trách nhiệm, công sức của phụ nữ được trân trọng bằng hành động, và các chị có thêm khoảng sống để học, cầu nguyện, nghỉ ngơi.
Cảm ơn bằng cách nhớ và bằng cách trao chỗ
Một dịp kỷ niệm năm mươi lăm năm mời chúng ta nhìn lại những người đã làm nên công trình. Trong việc nhớ ấy, xin đừng để phụ nữ chỉ hiện diện như một dòng ngắn ở cuối: “và các nữ tu, giáo dân đã cộng tác”. Nếu có thể tìm được tên và phần việc, hãy kể cho rõ. Ai đã góp phần từ những ngày đầu? Ai đã bền bỉ qua những giai đoạn khó khăn? Ai đã âm thầm làm công việc biên tập, hành chính, in ấn, phân phối, giáo dục? Nếu tư liệu chưa đầy đủ, hãy thừa nhận giới hạn ấy và bắt đầu gìn giữ tư liệu từ hôm nay. Ký ức công bằng cần công phu, cũng như một bản dịch tốt cần công phu.
Tuy nhiên, ghi tên vào kỷ yếu vẫn chưa đủ. Một cách cảm ơn sống động là trao chỗ cho người đang đến. Một cô gái trẻ yêu Sách Thánh cần được biết có những con đường học tập và phục vụ mở ra cho mình. Một nữ tu được đào tạo cần có cơ hội dùng kiến thức ấy. Một giáo dân nữ nhiều kinh nghiệm cần được mời chia sẻ điều chị đã học từ đời sống cộng đoàn. Một người cao tuổi cần có người ngồi cạnh để những điều chị biết không mất đi khi chị không còn đủ sức làm việc. Nếu lịch sử chỉ để ca ngợi người đã qua mà không mở đường cho người sống, việc tưởng nhớ ấy chưa trọn.
Tôi nghĩ đến một chiếc bàn dài. Trên bàn có bản thảo, Sách Thánh, từ điển, những trang ghi chú và một ấm trà đã nguội. Có ghế của người dịch, người biên tập, người đọc thử, người dạy và người sẽ sử dụng bản văn trong cộng đoàn. Tôi mong chiếc bàn ấy còn chỗ cho những phụ nữ đang có khả năng góp phần. Không phải ai cũng làm cùng một việc. Mỗi người được lắng nghe theo phần mình biết và phần mình đã sống. Một công trình phục vụ toàn thể Dân Chúa sẽ học được nhiều khi chiếc bàn của nó rộng đủ cho những tiếng nói ấy.
Xin cho Lời được ở lại trong bàn tay các chị
Cuối những mảnh vụn suy tư này, tôi muốn nói trực tiếp với các chị em phụ nữ trong Giáo Hội. Có thể chị đang giữ một lớp giáo lý nhỏ mà tuần nào cũng thiếu người giúp. Có thể chị là một bà mẹ chỉ mong nhà mình có được năm phút bình an để cùng đọc kinh. Có thể chị là một nữ tu đang ngồi sửa một trang bản thảo đến lần thứ tư. Có thể chị là một người đã già, mắt không còn đọc rõ nhưng vẫn nhớ một đoạn Tin Mừng từ thuở thiếu thời. Có thể chị từng làm rất nhiều mà ít ai biết tên. Có thể chị còn trẻ và chưa biết mình có thể đóng góp điều gì. Tôi muốn các chị nghe rõ: các chị không ở ngoài công trình Lời Chúa.
Mỗi lần chị đọc truyện Kinh Thánh cho một đứa trẻ, Lời có thêm một giọng nói quen thuộc. Mỗi lần chị mở Giờ Kinh chiều trong nhà, nhịp cầu nguyện của Giáo Hội đi vào một căn phòng cụ thể. Mỗi lần chị hỏi để hiểu đúng một câu Tin Mừng, chị cho thấy đức tin đáng được học hỏi nghiêm túc. Mỗi lần chị góp ý để một câu tiếng Việt sáng hơn, chị giúp người khác nghe rõ hơn. Mỗi lần chị đem Lời đến cho người bệnh, chị giúp họ biết Thiên Chúa chưa quên giường bệnh ấy. Mỗi lần chị dừng lại, nghỉ ngơi và để chính mình được Lời an ủi, chị cũng đang sống đúng tư cách người môn đệ.
Xin đừng để ai nói việc của chị là việc phụ. Và xin chị cũng đừng tự nghĩ mình chỉ có ích khi làm được thật nhiều. Chúa biết chị trước mọi công việc. Người gọi chị bằng tên trước khi chị cầm quyển sách, bước vào lớp học, mở cửa nhà hay ngồi xuống bàn biên tập. Từ tình yêu ấy, việc chị làm mới có một nền vững. Khi khỏe, chị phục vụ bằng sức mình. Khi mệt, chị được phép nhận sự chăm sóc. Khi cần học, chị được phép hỏi. Khi có điều đúng cần nói, chị được phép nói. Khi đã đi một quãng dài, chị được phép trao lại cho người khác mà không phải sợ tình yêu của mình bị thay thế.
Tôi nghĩ đến Paula ở Bê-lem, Marcella trong căn nhà mở cho việc học hỏi, Laeta trước câu hỏi sẽ nuôi dạy con ra sao, soeur Sang trước màn hình ở tuổi tám mươi tám, và biết bao phụ nữ Việt Nam không có tên trong chương sách này. Tôi không gộp các chị thành một hình ảnh duy nhất. Mỗi người có một cuộc đời không ai khác sống thay. Nhưng tôi đặt những khuôn mặt ấy gần nhau để thấy Lời Chúa đã được đón nhận và trao đi qua bao đôi tay. Có đôi tay cầm bút. Có đôi tay lật trang sách cho một em nhỏ. Có đôi tay sửa bản in. Có đôi tay nâng người bệnh ngồi dậy để nghe một đoạn Thánh Vịnh. Có đôi tay run run mở máy tính và tiếp tục đọc một câu còn dang dở.
Xin cho Giáo Hội biết nhìn thấy những đôi tay ấy khi chúng còn đang làm việc. Xin cho các gia đình biết chia sẻ việc trao đức tin. Xin cho các giáo xứ biết đào tạo và lắng nghe. Xin cho những công trình dịch thuật biết ghi nhớ và trao trách nhiệm. Xin cho các phụ nữ yêu Lời Chúa luôn có nơi để học hỏi, có người để cùng làm việc và có thời gian để chính mình được ở lại với Lời. Và xin cho chúng ta, mỗi khi mở một trang Sách Thánh bằng tiếng Việt, biết tạ ơn Chúa vì những người đã giúp trang sách ấy đến được với mình.
Bê-lem không chỉ thuộc về một miền đất xa xưa. Mỗi khi Lời Chúa được đón vào một đời người, mỗi khi một căn nhà dành chỗ cho việc đọc và cầu nguyện, mỗi khi một người phụ nữ trao cho thế hệ sau câu chuyện về Đức Kitô bằng giọng nói thân thương của mình, ta lại nhận ra lời mời gọi đã đưa Paula lên đường vẫn còn sống. Người phụ nữ bên Lời Chúa là người đang nghe và đang đáp. Chị mở sách; rồi bằng cuộc đời mình, chị mở một chỗ cho người khác đến gần Đấng đang nói trong sách.

CHƯƠNG XV. EMMAUS: LỜI MỞ MẮT
Có những cuộc ra đi bắt đầu bằng một quyết định, và có những cuộc ra đi bắt đầu bằng một trái tim không còn chịu nổi việc ở lại. Hai môn đệ trên đường Emmaus thuộc về cuộc ra đi thứ hai. Họ rời Giêrusalem vào một ngày mà mọi điều vừa xảy ra còn quá gần để trở thành ký ức, nhưng cũng quá đau để có thể tiếp tục đứng giữa những con đường quen thuộc. Thành thánh vẫn đó. Những bức tường vẫn đó. Những người từng cùng họ bước theo Đức Giêsu vẫn đó. Nhưng Đấng họ đặt hy vọng đã chết trên thập giá. Có lẽ mỗi bước chân đưa họ xa Giêrusalem đều mang một câu hỏi không nói thành lời: Chúng tôi sẽ sống tiếp thế nào với những điều mình đã tin? Tin Mừng Luca không kể tường tận họ đã chuẩn bị hành trang ra sao, có ngoái nhìn lại thành hay không, đã đi được bao lâu trước khi người khách lạ đến gần. Luca chỉ cho biết họ đang đi, đang trò chuyện và bàn tán về mọi việc vừa xảy ra. Chừng ấy đã đủ để ta nhận ra một cảnh rất người: khi lòng tan vỡ, người ta thường kể đi kể lại câu chuyện của mình, mong một lần kể nào đó sẽ làm cho nỗi đau có nghĩa.
Hai môn đệ không phải những người thiếu thông tin. Họ biết Đức Giêsu là ai trong mắt họ: một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Họ biết các thượng tế và thủ lãnh đã nộp Người để bị kết án tử hình. Họ biết Người đã bị đóng đinh. Họ còn nghe những phụ nữ trong nhóm nói về ngôi mộ trống và thị kiến thiên thần báo Người vẫn sống. Một vài người trong nhóm đã ra mộ và thấy sự việc như các phụ nữ kể. Những dữ kiện đã có mặt, nhưng chúng chưa kết thành niềm tin. Ngôi mộ trống chưa tự nó lấp được khoảng trống trong lòng họ. Tin vui đã tới tai, nhưng chưa đi hết con đường từ tai xuống tim. Vì thế, giữa mọi điều họ thuật lại, có một câu nghe thật nghẹn: “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng…” Chữ “trước đây” ấy giống như một cánh cửa vừa khép. Nó báo rằng họ không chỉ mất một người Thầy; họ nghĩ mình đã mất cả tương lai mà người Thầy ấy từng mở ra.
Ta có thể đọc chuyện Emmaus như một biến cố của hai môn đệ năm xưa, rồi khép sách lại. Nhưng Tin Mừng không để ta đứng ngoài dễ dàng như thế. Có những ngày một linh mục vẫn cử hành Thánh lễ, vẫn đọc bài Tin Mừng, vẫn soạn bài giảng, mà trong lòng lại thầm nói: “Trước đây tôi vẫn hy vọng.” Có những giáo dân vẫn đi lễ, vẫn đáp kinh đúng chỗ, nhưng một mất mát đã khiến họ không còn nhận ra lòng nhân hậu của Chúa trong những lời họ từng thuộc. Có người phục vụ Lời Chúa đã dành nhiều năm để dịch, chú giải, dạy giáo lý, rồi một ngày thấy công sức mình nhỏ bé trước sự thờ ơ của người nghe. Có gia đình từng cầu nguyện với nhau, nay chỉ còn ngồi cạnh nhau trong im lặng. Emmaus là con đường của tất cả những ai còn biết nói về Chúa, nhưng không biết Người đang ở đâu trong câu chuyện của chính mình.
Và chính trên con đường ấy, Đức Giêsu đến gần. Người không đợi hai môn đệ bình tâm rồi mới gặp. Người không đứng ở Giêrusalem chờ họ quay về cho đúng hướng. Người bước vào hành trình đang đi sai chiều của họ. Hai người rời cộng đoàn; Người đi bên cạnh. Hai người thất vọng; Người lắng nghe. Hai người không nhận ra Người; Người vẫn không rời họ. Đây là một trong những nét dịu dàng sâu nhất của trình thuật: Chúa Phục Sinh hiện diện trước khi họ biết gọi tên sự hiện diện ấy. Người đang đồng hành với họ ngay lúc họ tưởng câu chuyện về Người đã chấm dứt.
Đức Giêsu hỏi họ đang trao đổi điều gì. Người biết, nhưng vẫn hỏi. Người có thể bắt đầu bằng một lời công bố khiến mọi hiểu lầm tan biến: “Chính Thầy đây.” Người không làm như vậy. Người để họ nói. Người để nỗi thất vọng bước ra thành lời. Người nghe cách họ hiểu biến cố thập giá, nghe điều họ chờ đợi nơi Đấng Mêsia, nghe cả sự bối rối của họ trước lời chứng của những người phụ nữ. Cách Chúa đồng hành ở đây dạy người phục vụ Lời Chúa một điều giản dị mà khó: trước khi giải thích một bản văn cho ai, hãy cố hiểu người ấy đang mang bản văn đó vào hoàn cảnh nào. Cùng một câu Thánh Vịnh, người mẹ vừa mất con sẽ nghe khác người đang vui mừng trong ngày cưới. Cùng một lời hứa của Thiên Chúa, một người mới trở lại đạo và một người đã cầu nguyện bốn mươi năm trong khô khan sẽ đón nhận theo những chiều sâu khác nhau. Lời là một, nhưng những con đường Lời đến với con người thì rất nhiều.
Tuy nhiên, Đức Giêsu không chỉ ngồi nghe và đồng cảm. Sau khi nghe họ kể, Người dẫn họ trở lại với Sách Thánh. Người bắt đầu từ Môsê và tất cả các ngôn sứ để giải thích những gì liên quan đến Người trong toàn bộ Sách Thánh. Người không đưa hai môn đệ ra khỏi lịch sử đau thương vừa diễn ra; Người giúp họ đọc lịch sử ấy trong ánh sáng một câu chuyện lớn hơn. Thập giá không biến mất. Những vết thương không bị gọi bằng một tên khác cho dễ chịu. Nhưng họ dần thấy rằng con đường của Đấng Kitô không thể được hiểu chỉ bằng những kỳ vọng họ đã mang theo trước đó. Điều họ xem là dấu chấm hết đang được Chúa mở ra trong mầu nhiệm Vượt Qua.
Ở đây ta chạm đến một trách nhiệm rất nghiêm túc của người giảng, người chú giải và người dịch Kinh Thánh. Khi thất vọng, con người thường muốn một câu trả lời nhanh. Họ muốn ai đó nói ngay: “Rồi mọi chuyện sẽ ổn.” Nhưng Đức Giêsu không trao cho hai môn đệ một câu an ủi rời rạc. Người kiên nhẫn mở Sách Thánh. Người nối các mảnh đời đang vỡ của họ với lịch sử cứu độ. Người giúp họ thấy mối liên hệ mà họ chưa nhìn ra. Giải thích Sách Thánh theo gương Emmaus không phải dùng vài câu thánh thiêng để phủ lên nỗi đau một lớp lời lẽ đẹp đẽ. Đó là trung thành với bản văn, trung thành với mầu nhiệm Đức Kitô, và đủ gần con người để Lời được nghe trong chính nơi họ đang sống.
Người dịch Kinh Thánh phục vụ cuộc gặp gỡ ấy từ một chỗ rất âm thầm. Họ thường không thấy gương mặt của người sẽ nghe câu mình dịch. Họ không biết bản văn ấy sẽ được công bố dưới mái nhà thờ nào, ở giường bệnh nào, trong một đám tang ít người hay trong buổi tĩnh tâm đông kín. Họ cũng không thể có mặt để giải thích thêm mỗi khi một chữ gây vấp váp. Chính vì vậy, sự cẩn trọng của họ mang một chiều kích mục vụ sâu xa. Một lựa chọn từ ngữ sáng rõ có thể giúp người nghe bước vào bản văn. Một câu được cân nhắc cả ý nghĩa lẫn nhịp đọc có thể ở lại trong trí nhớ cộng đoàn nhiều năm. Một chỗ tối nghĩa không cần thiết có thể khiến người nghe bỏ lỡ mối liên hệ mà bản văn muốn mở ra. Dịch thuật ở đây không phải công việc đứng xa đời sống cầu nguyện. Nó góp phần chuẩn bị con đường để Lời được nghe, được suy và được đáp lại.
Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ phục vụ Giáo Hội Việt Nam từ chính nơi nền tảng ấy. Khi một người Việt mở Sách Thánh, khi cộng đoàn nghe bài đọc, khi một gia đình đọc Thánh Vịnh bằng tiếng mẹ đẻ, phía sau khoảnh khắc tưởng như tự nhiên đó là nhiều năm học hỏi, đối chiếu, bàn bạc, sửa chữa và đọc lại. Người nghe có thể không biết ai đã làm công việc ấy. Có khi họ cũng không cần biết. Nhưng nhờ bản văn được trao đến tay, họ có thể nghe những lời đã đi qua bao thế hệ đức tin như lời đang ngỏ với mình hôm nay. Đó là một việc phục vụ lớn được thực hiện bằng vô số quyết định nhỏ.
Ta dễ hình dung một nhóm dịch giả ngồi quanh bàn với những cuốn sách mở ra, tranh luận về một động từ, một cách xưng hô, một nhịp câu. Nhìn từ ngoài, công việc có vẻ quá chậm so với thế giới quanh mình. Tại sao phải dành cả buổi cho một chữ? Tại sao câu này đã hiểu được rồi còn phải sửa? Nhưng nếu nghĩ đến Emmaus, ta sẽ hiểu phần nào. Hai môn đệ đã có những mảnh thông tin đúng mà vẫn chưa đọc ra ý nghĩa. Một bản văn Kinh Thánh được chuyển sang tiếng Việt cần đủ trung thành để không đánh mất điều tác giả thánh muốn nói, đủ trong sáng để người nghe có thể theo được mạch Lời, và đủ tự nhiên để cộng đoàn có thể đọc lên thành lời cầu nguyện. Việc ấy đòi tri thức. Nó cũng đòi kiên nhẫn, khiêm tốn và ý thức rằng câu văn hôm nay sẽ đi vào đời sống của những người mình chưa từng gặp.
Người dịch không thể làm thay công việc của Chúa Thánh Thần, của người giảng hay của người nghe. Họ cũng không thể bảo đảm rằng bất cứ ai nghe một bản dịch sáng rõ đều sẽ tin. Hai môn đệ Emmaus đã nghe chính Đức Giêsu giải thích Sách Thánh mà mắt họ vẫn còn bị ngăn cản, chưa nhận ra Người. Nhưng điều ấy không làm công việc giải thích trở nên thừa. Trái lại, Tin Mừng cho thấy một tiến trình: Chúa đi cùng họ, nghe họ kể, mở Sách Thánh cho họ, rồi ở lại với họ khi ngày sắp tàn. Sự nhận ra nơi bàn ăn không rơi xuống từ khoảng không. Nó lớn lên trên con đường đã được Lời âm thầm soi sáng.
“Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” Hai môn đệ chỉ nói câu ấy sau khi đã nhận ra Người. Trong lúc bước đi, có lẽ họ mới cảm thấy một điều gì đang đổi khác mà chưa gọi tên được. Câu chuyện họ tưởng mình đã thuộc bỗng mở ra những chiều sâu mới. Nỗi đau chưa hết, nhưng không còn khóa kín mọi lối nhìn. Họ chưa thấy Người bằng mắt nhận biết, nhưng lòng đã bắt đầu được sưởi ấm. Lời Chúa có khi đến với ta như vậy. Nó không lập tức giải quyết một khó khăn, không xóa một mất mát, không đưa ta ra khỏi ngày dài chỉ bằng một câu. Nó bắt đầu bằng việc làm cho trái tim thôi khép lại. Nó giúp ta có thể ngồi thêm một lúc với sự thật, có thể cầu nguyện thêm một lời, có thể chờ thêm một ngày mà không tuyệt vọng.
Người phục vụ Lời Chúa cần nhớ điều đó để khỏi nóng vội với người nghe. Một bài giảng hay chưa chắc tạo ra nước mắt ngay hôm ấy. Một bản dịch tốt chưa chắc được người ta khen. Một buổi chia sẻ Kinh Thánh có thể kết thúc trong sự yên lặng. Nhưng một câu đã được nghe đúng lúc có thể ở lại lâu hơn người nói tưởng. Nhiều năm sau, người nghe mới nhận ra: khi ấy lòng mình đã bắt đầu ấm lại. Ta không nắm được lịch trình của ân sủng. Phần của ta là chuẩn bị bản văn cẩn thận, công bố với lòng tin, giải thích trung thực và tôn trọng hành trình của người đang nghe.
Đức Giêsu và hai môn đệ đến gần làng họ định tới. Người làm như còn muốn đi xa hơn. Chi tiết ấy khiến ta dừng lại. Chúa đã đồng hành, đã mở Sách Thánh, nhưng Người không cưỡng ép họ giữ Người lại. Hai môn đệ phải cất lời mời: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.” Trên con đường ban đầu, họ chỉ thấy một người khách lạ. Bây giờ, người khách lạ ấy đã trở thành người họ không muốn để đi tiếp một mình. Lòng họ chuyển từ việc kể nỗi buồn của mình sang việc mở cửa cho người khác. Có lẽ đây đã là một hoa trái đầu tiên của Lời: người đang bị nỗi thất vọng chiếm hết tâm trí bắt đầu biết mời, biết đón, biết chia sẻ chỗ ở và bàn ăn.
“Mời Người ở lại” cũng là lời cầu rất thật của người đọc Kinh Thánh. Ta có thể đọc nhiều trang mà vẫn giữ Lời ở khoảng cách của một đối tượng nghiên cứu. Ta có thể tra rất kỹ một từ mà không bao giờ thưa: “Lạy Chúa, xin ở lại.” Kiến thức giúp ta đọc đúng hơn; lời mời giúp ta mở đời mình ra cho Đấng đang nói. Hai điều ấy cần gặp nhau. Một người phục vụ Lời Chúa càng học sâu càng có thể nhận ra mình cần cầu nguyện sâu. Bởi sau khi đã cân nhắc các bản văn, phân tích cấu trúc, tìm bối cảnh và chọn được câu tiếng Việt thỏa đáng, vẫn còn câu hỏi không sách tham khảo nào trả lời thay: Tôi có để Lời này đi vào đời mình không?
Trong bữa ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho họ. Bấy giờ mắt họ mở ra và họ nhận ra Người; rồi Người biến mất khỏi mắt họ. Trình thuật được Luca kể với những cử chỉ khiến người Kitô hữu nghĩ tới bàn tiệc Thánh Thể. Ta cần để câu chuyện nói đúng nhịp của nó: trên đường, Người mở Sách Thánh; tại bàn, họ nhận ra Người trong việc bẻ bánh. Lời dẫn họ tới bàn tiệc, và bàn tiệc làm sáng lên điều họ đã nghe dọc đường. Những gì vừa được giải thích không dừng lại ở một ý tưởng đẹp. Đấng mà Sách Thánh nói đến đã ngồi ăn cùng họ, đã cầm bánh trong tay, đã trao cho họ.
Từ Emmaus, ta hiểu rõ hơn sự gắn bó giữa phụng vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể. Cộng đoàn không đến nhà thờ để nghe một bài đọc cho xong rồi chờ tới phần “chính”. Cũng không đến chỉ để nghe một bài giảng hấp dẫn. Trong phụng vụ, Giáo Hội lắng nghe Chúa phán, đáp lại Người bằng lời cầu nguyện và bước vào bàn tiệc Người dọn. Lời chuẩn bị con tim nhận ra Đấng hiện diện; bàn tiệc nuôi dưỡng cộng đoàn để họ có thể sống điều đã nghe. Khi linh mục công bố Tin Mừng và giảng giải, khi người đọc sách thánh cất tiếng, khi cộng đoàn lắng nghe, mọi người đang đứng trong một hành trình có điểm đến là cuộc gặp gỡ với Đức Kitô.
Vì thế, công việc của người dịch không thể tách khỏi bàn thờ. Một câu Kinh Thánh được chuẩn bị trong căn phòng yên tĩnh rồi sẽ được đọc giữa cộng đoàn đang thờ phượng. Nó phải mang được ý nghĩa từ trang giấy sang tiếng nói, từ tiếng nói sang sự lắng nghe, từ sự lắng nghe sang lời cầu nguyện. Có những lựa chọn dịch thuật đúng về mặt từ vựng nhưng khi đọc lên lại khiến người nghe lạc mất mạch câu. Có những cách nói quen tai nhưng chưa diễn đạt đủ chiều sâu của bản gốc. Có lúc phải chấp nhận rằng không có một giải pháp hoàn hảo, rồi khiêm tốn chọn cách diễn đạt trung thành nhất có thể trong tiếng Việt. Chính sự khó nhọc ấy cho thấy người dịch đang phục vụ một cuộc gặp gỡ thật, nơi mỗi chữ có thể được một cộng đoàn nghe chung và mang vào đời riêng.
Linh mục giảng lễ đứng ở một chặng khác trên cùng con đường. Ngài đón nhận bản văn đã được trao cho cộng đoàn, học hỏi nó, cầu nguyện với nó, rồi giúp người nghe nhận ra Lời ấy đang soi sáng cuộc sống hôm nay thế nào. Nếu bản dịch sáng, người giảng có một lối vào tốt. Nếu một câu khó hiểu, người giảng cần kiên nhẫn mở ra. Nhưng ngay cả khi bản dịch rất tốt, người giảng vẫn phải bước lên con đường Emmaus cùng dân mình. Không thể chỉ lặp lại vài ý chung chung rồi mong lòng người bừng cháy. Cũng không thể biến bài giảng thành nơi phô bày mọi điều mình biết. Đức Giêsu giải thích Sách Thánh cho hai con người đang đau buồn trên một con đường cụ thể. Bài giảng trung thành với Emmaus sẽ giúp cộng đoàn nghe được Tin Mừng của ngày hôm ấy trong mối liên hệ với niềm vui, lỗi lầm, lo âu và trách nhiệm thật của họ, đồng thời không thu nhỏ Lời Chúa vào một câu chuyện riêng tư.
Ta hãy nghĩ tới một người cha đang cố nuôi gia đình qua thời gian thất nghiệp. Ông nghe một bài đọc nói về lòng tín thác, nhưng trong đầu là tiền học của con, khoản nợ đến hạn và cảm giác xấu hổ khi phải nhờ giúp đỡ. Nếu người giảng chỉ nói “hãy tin” mà không hề chạm tới gánh nặng của những người như ông, câu ấy có thể nghe rất xa. Nhưng nếu người giảng trung thành với Tin Mừng và đủ gần đời sống cộng đoàn, ông có thể nhận ra rằng tín thác không có nghĩa là phủ nhận nỗi lo, và cộng đoàn đức tin cũng được gọi để nâng đỡ những người đang khó khăn. Lời được giải thích trên đường khi nó thực sự đi vào con đường của người nghe, mà vẫn đưa họ đến gần Đức Kitô hơn.
Ta cũng hãy nghĩ tới một bà cụ đi lễ chiều, nghe bài Thánh Vịnh bằng tiếng Việt mà mình đã đọc suốt nhiều năm. Có thể bà không biết tiếng Híp-ri, không biết lịch sử bản văn, cũng không biết đã có bao nhiêu cuộc họp để chọn cách dịch một hình ảnh. Bà chỉ biết hôm nay, giữa cơn bệnh và nỗi nhớ người thân đã khuất, một câu bỗng cho bà lời để thưa với Chúa. Công việc của người dịch đã đi đến một nơi họ không nhìn thấy. Bản văn không còn là một sản phẩm nằm trên bàn; nó trở thành lời cầu của một người cụ thể. Đó là lý do ta không thể đo giá trị của công việc phục vụ Lời chỉ bằng số sách đã in, số lượt đọc hay số lời khen. Có những hoa trái chỉ Chúa biết.
Sau khi nhận ra Đức Giêsu, hai môn đệ không giữ Người lại để kéo dài phút giây an ủi. Người biến mất khỏi mắt họ, nhưng sự hiện diện của Người đã đổi hướng chân họ. Cũng trong giờ ấy, họ đứng dậy trở lại Giêrusalem. Con đường họ vừa đi trong thất vọng giờ được đi ngược lại trong niềm vui và lòng can đảm. Trời có thể đã tối. Quãng đường vẫn dài như trước. Thành thánh vẫn là nơi họ đã rời đi vì đau đớn. Nhưng hai người không còn đi với câu “trước đây chúng tôi vẫn hy vọng” như lời cuối. Họ mang một lời chứng: Chúa đã sống lại thật, và họ đã nhận ra Người khi bẻ bánh.
Điểm kết của Emmaus không nằm ở cảm xúc bừng cháy, dù cảm xúc ấy rất quý. Điểm kết là trở về với cộng đoàn và kể lại điều đã xảy ra. Hai môn đệ gặp Nhóm Mười Một cùng những người khác đang tụ họp. Họ nghe lời chứng của cộng đoàn, rồi chính họ thuật lại chuyện dọc đường và việc nhận ra Chúa khi Người bẻ bánh. Đức tin của họ được đặt vào cuộc gặp giữa những chứng nhân. Lời đã mở lòng họ trên đường, bàn tiệc đã mở mắt họ trong nhà, và giờ họ mở miệng để làm chứng giữa anh chị em. Đó là chuyển động trọn vẹn của trình thuật: từ cô đơn đến đồng hành, từ hiểu lầm đến được giải thích, từ không nhận ra đến nhận ra, từ bỏ đi đến trở lại.
Đối với người phục vụ Lời Chúa, chuyển động ấy là một lời xét mình. Việc đọc Kinh Thánh của tôi có đưa tôi gần cộng đoàn hơn không? Việc học hỏi của tôi có giúp tôi lắng nghe người khác tốt hơn không? Việc giảng dạy của tôi có mở đường cho người nghe gặp Đức Kitô và gặp lại anh chị em mình không? Có thể có một kiểu say mê bản văn khiến ta dần khó chịu với con người thật: họ nghe chậm, hỏi lại, hiểu sai, cầu nguyện vụng về. Nhưng Đức Giêsu không yêu Sách Thánh theo cách tách khỏi hai môn đệ đang lầm lạc. Người mở Sách Thánh cho họ. Một nhóm dịch giả cũng phục vụ những con người cụ thể ấy: người trẻ lần đầu đọc Tin Mừng, người già đã mòn mắt vì tuổi tác, linh mục thức khuya soạn bài giảng, nữ tu đọc Giờ Kinh trong thinh lặng, giáo lý viên đang tìm một cách giải thích cho trẻ nhỏ, người đang đau buồn chưa biết cầu nguyện bằng lời nào.
Tiếng mẹ đẻ có một sức gần gũi đặc biệt trong hành trình ấy. Nhiều người Việt có thể học ngoại ngữ để làm việc, nghiên cứu, trao đổi với thế giới. Nhưng khi mệt mỏi nhất, họ thường trở về với những tiếng đã nghe từ nhỏ. Một lời an ủi bằng tiếng mẹ đẻ có thể chạm tới phần tâm hồn mà lời ngoại ngữ, dù chính xác, vẫn khó chạm tới. Được nghe Sách Thánh bằng tiếng Việt vì thế là một ân huệ lớn lao. Người tín hữu không phải bước qua một cánh cửa ngôn ngữ xa lạ trước khi nghe chuyện người con hoang đàng, tiếng khóc của Thánh Vịnh, lời mời “Hãy theo Thầy” hay lời chúc bình an của Đấng Phục Sinh. Những lời ấy có thể đi vào ký ức, vào lời kinh gia đình, vào tiếng đáp trong nhà thờ, vào một câu người mẹ nói với con.
Nhưng chính vì tiếng mẹ đẻ gần như thế, trách nhiệm với nó cũng lớn. Một từ được dùng quen thuộc trong sinh hoạt hằng ngày có thể mang sắc thái khác khi bước vào phụng vụ. Một cách nói rất chính xác với người nghiên cứu có thể trở nên khó nghe đối với cộng đoàn. Một câu quá xuôi có thể đánh mất nét lạ cần có để người đọc dừng lại suy nghĩ. Người dịch phải luôn phân định giữa nhiều đòi hỏi, lắng nghe bản văn gốc và lắng nghe tiếng Việt đang sống nơi dân mình. Sự phân định ấy cần người làm chung, cần sửa đi sửa lại, cần khả năng nghe góp ý mà không xem mỗi góp ý là một sự phủ nhận công sức. Không ai sở hữu Lời Chúa. Người dịch được trao trách nhiệm phục vụ Lời trong một ngôn ngữ, vào một thời điểm của đời sống Giáo Hội.
Emmaus cũng nhắc chúng ta rằng việc mở mắt thuộc về Chúa. Có thể người dịch đã làm việc hết sức cẩn thận, linh mục đã giảng bằng cả lòng, người nghe đã cố chú ý, mà một câu vẫn chưa sáng đối với họ. Không phải mọi cuộc gặp gỡ đều xảy ra theo tốc độ ta mong. Hai môn đệ đã đi một quãng đường với Chúa mà vẫn gọi Người là khách lạ. Ta cần kiên nhẫn với những quãng đường ấy trong đời người khác và trong đời mình. Có khi phải đọc lại một đoạn Tin Mừng nhiều năm mới nghe được điều trước đây mình bỏ sót. Có khi phải đi qua một biến cố đau đớn mới hiểu vì sao một câu Thánh Vịnh từng được cộng đoàn hát mãi. Có khi một bài giảng đã nghe từ lâu bỗng trở lại vào lúc ta cần nhất. Hạt giống của Lời có những mùa mọc lên âm thầm.
Sự kiên nhẫn ấy không làm ta bớt chăm chút cho từng câu; nó giúp ta chăm chút mà không tự nhận mình là chủ của kết quả. Người dịch có thể dành nhiều ngày cho một đoạn ngắn, rồi trao nó đi. Người giảng có thể chuẩn bị kỹ, rồi bước xuống giảng đài, để Lời tiếp tục công việc của Lời. Người đọc sách thánh có thể tập phát âm và ngắt nghỉ, rồi cất tiếng với lòng kính trọng. Mỗi người làm trọn phần mình. Chúa biết cách đến gần những người đang đi trên đường, kể cả khi họ chưa nhận ra Người.
Ngày nay, đường Emmaus còn đi qua những nơi rất khác con đường đất của hai môn đệ. Có người nghe Lời Chúa trong nhà thờ nhỏ của một vùng quê; có người nghe qua điện thoại trên chuyến xe đến nơi làm việc; có người đọc một câu Kinh Thánh trong đêm trực bệnh viện; có người mở bản văn giữa tiếng ồn của thành phố. Phương tiện thay đổi, nhưng câu hỏi của Emmaus vẫn còn: Người nghe đang mang nỗi hy vọng nào đã đổ vỡ? Họ hiểu câu chuyện về Đức Giêsu ra sao? Bản văn đến với họ có giúp họ nghe rõ hơn, cầu nguyện thật hơn, và nhận ra con đường trở về với cộng đoàn không? Người phục vụ Lời không thể biết hết mọi hoàn cảnh ấy. Nhưng có thể nhớ đến chúng để làm việc với lòng tôn trọng hơn.
Tôi đặc biệt nghĩ tới những người đã âm thầm trao tiếng Việt của mình cho việc phục vụ Sách Thánh và Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Không phải ai cũng có một bài viết về đời mình. Có người được nhớ tên, có người chỉ còn dấu vết trong những trang bản thảo, trong một cách dùng từ mà người đi sau tiếp tục cân nhắc. Họ đã dành những giờ có thể dùng cho việc khác để ở lại với một câu, một đoạn, một bài Thánh Vịnh. Công việc ấy có khi không đem lại cảm giác mình đang làm một điều lớn lao. Nhưng từ nhiều sự trung thành nhỏ, một cộng đoàn có thể cầu nguyện bằng tiếng nói của mình. Từ nhiều buổi làm việc lặng lẽ, một em bé có thể nghe Tin Mừng lần đầu và hỏi mẹ: “Chúa Giêsu có đi cùng mình không?” Từ một câu đã được sửa đi sửa lại cho sáng, một người đang đi trong buồn bã có thể tìm thấy lời để thưa: “Xin Người ở lại.”
Nếu Emmaus là một hiến chương cho người dịch và người giảng, hiến chương ấy không trao cho họ vị trí của người khách lạ ở trung tâm câu chuyện. Vị trí ấy thuộc về Đức Kitô. Người dịch và người giảng được mời học cách phục vụ cuộc đối thoại Người đang bắt đầu với dân Người. Họ cần yêu Sách Thánh đủ để không tùy tiện với bản văn. Cần yêu con người đủ để không dùng sự chính xác như một bức tường ngăn người nghe. Cần yêu phụng vụ đủ để nhớ rằng Lời được công bố cho một cộng đoàn đang đi tới bàn tiệc. Và cần yêu Giáo Hội đủ để vui khi người nghe nhận ra Chúa, dù họ không nhớ tên người đã dịch hay người đã giảng.
Đến đây tôi muốn trở lại với hai môn đệ lúc mới rời Giêrusalem. Họ đi cạnh nhau mà vẫn mang một nỗi cô đơn sâu thẳm. Họ kể đúng nhiều sự kiện mà chưa thấy ý nghĩa của chúng. Họ nói về Đức Giêsu trong thì quá khứ, trong khi Người đang bước ngay bên cạnh. Có lẽ trong đời sống đức tin của chúng ta, cảnh ấy lặp lại nhiều lần hơn ta muốn thú nhận. Ta thuộc câu chuyện về Chúa, nhưng vẫn cần Chúa giải thích câu chuyện đời mình. Ta đã nghe Tin Mừng từ nhỏ, nhưng vẫn có những ngày không nhận ra Người ở gần. Ta đã dự bao Thánh lễ, nhưng vẫn cần xin cho mắt mình mở ra khi bánh được bẻ.
Vì vậy, lời cầu thích hợp nhất cho người dịch, người giảng và người nghe có lẽ cũng là lời cầu của Emmaus: “Lạy Chúa, xin ở lại với chúng con.” Xin ở lại khi chúng con đọc những bản văn khó và chưa biết phải hiểu thế nào. Xin ở lại khi một câu dịch được cân nhắc nhiều lần mà chúng con vẫn thấy mình bất toàn. Xin ở lại với linh mục đang chuẩn bị bài giảng cho những con người ngài yêu thương nhưng chưa hiểu hết nỗi lòng. Xin ở lại với người đọc sách thánh đang run trước cộng đoàn. Xin ở lại với người ngồi cuối nhà thờ, vừa nghe vừa cố giữ cho mình khỏi khóc. Xin ở lại với những ai đã mất hy vọng và đang lặng lẽ rời đi.
Và khi Người mở lòng chúng con bằng Sách Thánh, mở mắt chúng con nơi bàn tiệc, xin đừng để chúng con chỉ tìm cách giữ lấy niềm ấm áp ấy cho riêng mình. Xin cho chúng con biết đứng dậy. Có một Giêrusalem để trở về: cộng đoàn với những con người còn sợ hãi, còn tranh luận, còn chờ một lời chứng. Có những người đang đi trên đường cần một bạn đồng hành biết lắng nghe. Có những bàn ăn cần được mở ra. Có những trang Sách Thánh cần được đọc chậm, dịch cẩn trọng, giảng giải khiêm tốn và sống bằng cả cuộc đời.
Những người phục vụ Lời Chúa bằng tiếng Việt tiếp tục công việc ấy trong thinh lặng. Mỗi bản văn được trao cho Giáo Hội là một cách đặt ngọn đèn bên đường. Ngọn đèn không bước thay ai. Nó cũng không giữ người ta ở lại ngắm chính nó. Nó giúp người đi đường thấy thêm một quãng trước mặt, thấy người đang cùng bước, và có thể nhận ra Đấng đã đến gần từ lúc họ còn chưa biết gọi tên Người. Rồi một ngày, khi lòng bừng cháy và mắt mở ra, họ sẽ đứng dậy trở về, mang theo lời chứng giản dị mà không bóng tối nào có thể xóa được: Chúa đã đồng hành với chúng ta trên đường.

CHƯƠNG XVI. GIỮ TRÍ NHỚ CỦA DÂN
Có những câu Kinh Thánh người ta không còn nhớ mình đã học từ bao giờ. Một bà mẹ đọc câu ấy khi ru con ngủ. Một người con nghe câu ấy trong ngày tiễn cha về lòng đất. Một tu sĩ đọc câu ấy mỗi tối, đến mức giữa những ngày đau bệnh, khi mắt không còn nhìn rõ trang sách, môi vẫn tự tìm được những lời quen. Một người trẻ đi xa quê, tình cờ nghe cộng đoàn hát lên một điệp khúc Thánh Vịnh, bỗng thấy cả ngôi nhà thờ tuổi nhỏ trở về. Câu chữ ấy đã đi qua sách, qua tai, qua miệng, rồi đi vào trí nhớ và trái tim. Đến một lúc, người ta không còn cảm thấy mình đang đọc lại một bản văn. Người ta cảm thấy bản văn đang giữ mình.
Đó là điều xảy ra khi một bản dịch phụng vụ được Dân Chúa đón nhận và sử dụng qua nhiều năm. Nó không còn chỉ là thành quả của những người ngồi trước bản gốc, tra từ điển, cân nhắc cú pháp, sửa một dấu phẩy hay đọc thành tiếng để nghe nhịp câu. Nó trở thành tiếng cầu nguyện của cộng đoàn. Nó có mặt ở đầu ngày và cuối ngày, trong mùa vui và mùa tang, ở nhà thờ đông người và trong căn phòng bệnh chỉ còn tiếng thở yếu. Người dịch có thể nhớ cuộc tranh luận đã dẫn tới một lựa chọn từ ngữ. Người tín hữu có thể chẳng biết cuộc tranh luận ấy. Họ chỉ biết mình đã thưa với Chúa bằng những lời đó suốt nhiều năm. Khi ấy, bản dịch đã bước vào một đời sống lớn hơn đời sống của chính những người làm ra nó.
Vì vậy, nói đến việc hiệu đính bản dịch phụng vụ là nói đến một công việc vừa cần thiết vừa đòi hỏi lòng kính trọng sâu xa. Có những chỗ phải sửa, bởi một cách hiểu chưa sát nguồn có thể làm nghèo ý nghĩa Lời Chúa, một lối diễn đạt có thể gây hiểu lầm, hoặc một câu tiếng Việt từng được chấp nhận nay không còn đủ rõ để cộng đoàn cầu nguyện. Nhưng cũng có những chỗ cần giữ, dù người đến sau nghĩ rằng mình có thể viết một câu trơn tru hơn. Giữa “có thể viết khác” và “cần phải sửa” là một khoảng cách rất lớn. Không phải mọi khả năng cải thiện đều đủ sức biện minh cho việc làm đứt một sợi dây đã nối bao thế hệ trong cùng một lời kinh.
Giữ trí nhớ của Dân là học cách đứng trong khoảng cách ấy: không dễ dãi với sai sót, cũng không nhẹ tay với ký ức chung.
Khi một câu chữ trở thành nơi người ta trở về
Trí nhớ của Dân Chúa được làm nên từ những điều rất cụ thể. Đó là câu đáp ca một ca đoàn đã hát nhiều mùa Phục Sinh. Đó là một lời Thánh Vịnh người giáo dân đọc khi không biết nói gì trước giường bệnh của vợ mình. Đó là câu Tin Mừng một đứa trẻ nghe cha xứ đọc vào đúng ngày nó bắt đầu hiểu rằng Chúa gọi con người bằng tên. Đó là lời Kinh Sáng một nữ tu già đọc trong bóng tối trước khi cả nhà thức dậy. Những người ấy không sở hữu bản văn, nhưng bản văn đã góp phần làm nên đời sống đức tin của họ.
Ta thường nghĩ trí nhớ là việc giữ lại chuyện đã qua. Trí nhớ đức tin còn làm hơn thế. Nó giúp con người nhận ra Chúa đang hiện diện trong hoàn cảnh hôm nay. Khi một câu Lời Chúa từng nâng đỡ mình trong một thử thách vang lên lần nữa nhiều năm sau, người tín hữu nhớ không chỉ câu chữ, mà còn nhớ mình đã được đưa qua thử thách ấy thế nào. Khi cộng đoàn đọc cùng một lời cầu nguyện qua nhiều thế hệ, người đang sống nhận ra mình không phải người đầu tiên kêu xin, tạ ơn, ăn năn và hy vọng. Có những lời ông bà đã đọc, cha mẹ đã đọc, nay con cháu tiếp tục đọc. Ngôn ngữ phụng vụ giúp thời gian không rơi ra thành những mảnh rời. Nó cho ta một tiếng nói chung để đứng trước Thiên Chúa.
Vì thế, một thay đổi nhỏ trên trang giấy có khi là thay đổi lớn trong miệng cộng đoàn. Người sửa bản văn có thể nhìn thấy hai từ gần nghĩa nhau. Người đọc kinh lâu năm lại nghe thấy trong một từ quen giọng của mẹ mình, nhịp đáp của giáo xứ mình, cả một quãng đời đã đi qua. Nếu không hiểu điều ấy, người hiệu đính dễ nghĩ rằng sự bối rối của cộng đoàn chỉ là thói quen cũ cản trở cái mới. Có khi đúng là thói quen làm ta ngại học lại. Nhưng có khi sự bối rối ấy bộc lộ một mất mát thật: lời cầu nguyện vốn chảy tự nhiên bỗng khựng lại; người ta phải nhìn sách thay vì có thể nhắm mắt mà thưa với Chúa.
Không thể vì thế mà kết luận rằng mọi câu đã thuộc đều phải giữ nguyên. Trí nhớ của Dân quý giá, nhưng trí nhớ ấy cần được Lời Chúa soi sáng và thanh luyện. Tuy nhiên, ai muốn sửa một câu đã bén rễ trong đời sống phụng vụ phải biết mình đang chạm vào điều gì. Đó không phải chỉ là một chuỗi ký tự có thể thay bằng chuỗi ký tự khác. Đó là tiếng nói chung đã được cầu nguyện, khóc thương, hát lên và truyền lại.
Người đến sau bước vào một ngôi nhà đã có người ở
Một nhóm dịch thuật tồn tại qua nhiều thập niên tất nhiên sẽ đón những người mới. Người trẻ mang đến sức học, khả năng tiếp cận những công trình nghiên cứu mới, sự nhạy cảm trước tiếng Việt đang sống và những câu hỏi thế hệ trước có thể chưa từng phải đối diện. Giáo Hội cần họ. Một công trình không có người tiếp nối sẽ dần khép lại, dù những người khởi đầu đã làm việc trung thành đến đâu.
Nhưng người đến sau cần bước vào công trình ấy như bước vào một ngôi nhà đã có người ở. Những cuốn sách trên kệ không tự nhiên xuất hiện. Những câu chữ mình đang muốn thay đã từng được nhiều người cân nhắc, thử đọc, thử hát, sửa đi sửa lại và đem ra dùng trong cộng đoàn. Có thể lựa chọn trước đây chưa phải lựa chọn tốt nhất. Có thể tư liệu lúc ấy chưa đầy đủ. Có thể một chỗ thật sự cần được hiệu đính. Muốn biết điều đó, trước hết phải chịu khó tìm hiểu vì sao người trước đã viết như thế.
Lòng kính trọng ấy không trói tay người đến sau. Nó giúp họ phân biệt một phát hiện có giá trị với cảm giác muốn đổi cho hợp tai mình. Ai cũng có sở thích về câu văn. Người thích nhịp ngắn, người thích lời cổ kính, người muốn tiếng Việt thật đời thường, người lo rằng tiếng đời thường sẽ làm mất vẻ trang nghiêm. Nếu mỗi thế hệ để sở thích của mình quyết định bản dịch, cộng đoàn sẽ phải học lại không ngừng mà chưa chắc đến gần bản văn thánh hơn. Người hiệu đính cần một lý do vững hơn câu “tôi thấy câu này hay hơn”. Họ phải có thể nói rõ câu cũ đang thiếu gì, câu mới giúp diễn tả điều gì, sự thay đổi ấy có đủ quan trọng để cộng đoàn cùng gánh lấy công học lại hay không.
Tôi nghĩ đến những người đã dành phần lớn đời mình cho từng trang dịch. Họ biết công trình của mình không hoàn hảo. Chính vì coi trọng Lời Chúa, họ hẳn không muốn bản dịch được giữ nguyên ở một chỗ thật sự sai chỉ vì câu ấy do mình làm ra. Nhưng cũng chính vì coi trọng Lời Chúa và cộng đoàn, họ có quyền mong người tiếp nối không đối xử với mọi lựa chọn trước như những nét bút sơ sài chờ bị xóa. Trung thành với người đi trước không có nghĩa là lặp lại mọi quyết định của họ. Trung thành là tiếp tục làm việc bằng cùng một sự nghiêm túc, khiêm tốn và yêu mến Giáo Hội.
Vì sao có những câu cần sửa?
Người ta dễ yêu những lời mình đã thuộc. Tình yêu ấy đẹp, nhưng không làm cho một bản dịch trở nên không thể sai. Ngôn ngữ nào cũng có giới hạn; người dịch nào cũng có giới hạn. Một từ ở ngôn ngữ nguồn có thể mở ra nhiều lớp nghĩa mà tiếng Việt khó giữ cùng lúc. Một cách hiểu từng được xem là chắc chắn có thể được đọc lại dưới ánh sáng của nghiên cứu bản văn. Một câu xưa vốn rõ với người thời ấy, qua năm tháng có thể trở nên mơ hồ với người đọc hôm nay. Có khi câu đúng về mặt từ vựng nhưng khi đọc trong phụng vụ lại khiến người nghe hiểu theo hướng khác.
Vì vậy, hiệu đính là một phần của lòng trung thành. Nếu phát hiện một chỗ chưa diễn tả đúng điều bản văn muốn nói, không ai có thể lấy lý do “Dân đã quen” để khỏi phải xem xét. Nếu một lối dịch vô tình làm lu mờ một điểm thiết yếu của đức tin, không thể chỉ vì nó dễ hát mà mặc nhiên giữ lại. Lời cầu nguyện của cộng đoàn cần được nuôi bằng ý nghĩa chân thật của Lời Chúa. Thói quen, dù lâu đời và thân thương, không thể trở thành thước đo cuối cùng của chân lý.
Nhưng từ việc nhận ra một chỗ có thể sửa đến việc chọn câu thay thế là cả một hành trình. Bản văn gốc cần được đọc trong văn mạch, trong truyền thống giải thích của Giáo Hội và trong mục đích phụng vụ của đoạn ấy. Tiếng Việt cần được nghe bằng tai của người sẽ công bố, người sẽ đáp, người sẽ hát, người chỉ được nghe một lần trong Thánh lễ. Một bản dịch rất sát cấu trúc nguồn mà tối nghĩa khi đọc lên chưa chắc đã giúp cộng đoàn tiếp nhận Lời hơn. Ngược lại, một câu xuôi tai nhưng làm lệch trọng tâm bản văn cũng không thể đứng vững. Người dịch phải kiên nhẫn ở giữa những đòi hỏi ấy, không dùng một tiêu chí duy nhất để giải quyết mọi trường hợp.
Có khi sau khi xem xét kỹ, kết luận khôn ngoan là giữ câu cũ. Có khi cần sửa một từ. Có khi cả câu phải viết lại. Và có khi chưa đủ chắc để sửa ngay: cần thêm đối chiếu, thêm trao đổi, thêm lắng nghe người sử dụng bản văn. Biết chờ trước một thay đổi lớn cũng là một khả năng chuyên môn. Người ta không chứng tỏ mình trung thành với bản gốc bằng cách sửa thật nhiều; cũng không chứng tỏ mình yêu cộng đoàn bằng cách giữ thật nhiều. Lòng trung thành được nhận ra nơi chất lượng của việc phân định từng chỗ.
Giê-rô-ni-mô và lòng can đảm trở về nguồn
Thánh Giê-rô-ni-mô hiểu sức nặng của một bản văn đã quen thuộc với cộng đoàn. Khi hiệu đính các bản Latinh và miệt mài với Kinh Thánh, ngài không làm việc giữa một khoảng trống. Những bản văn ngài gặp đã được người ta đọc, dùng và yêu mến. Trở về với các ngôn ngữ nguồn, đối chiếu và sửa chữa là công việc có thể làm nhiều người khó chịu. Người tín hữu muốn nhận ra lời mình vẫn nghe. Người dịch lại phải tự hỏi lời quen ấy có chuyển tải trung thành điều Sách Thánh nói hay không.
Tôi không muốn mượn tên Giê-rô-ni-mô để hợp thức hóa mọi thay đổi. Ngài cũng không thể được viện dẫn như một mệnh lệnh rằng cứ khác bản cũ là tốt hơn. Điều tôi học nơi ngài là một thái độ sâu hơn: không biến bản dịch thành đối tượng để thờ. Bản dịch phục vụ Lời Chúa. Khi cần, phải có can đảm sửa nó. Nhưng chính vì bản dịch phục vụ Lời Chúa trong Giáo Hội, việc sửa ấy đòi lòng kính trọng đối với những con người đang sống bằng bản văn đó.
Giê-rô-ni-mô nhắc ta rằng trở về nguồn không phải một khẩu hiệu. Trở về nguồn là học, là tra cứu, là chấp nhận có lúc điều mình ưa thích không được bản văn nâng đỡ. Trở về nguồn cũng là biết mình đang dịch Sách Thánh cho những người sẽ cầu nguyện, chứ không chỉ trình bày kết quả nghiên cứu cho một nhóm chuyên gia. Ngài đặt đời mình dưới Lời. Đó là điều người làm việc hôm nay cần học hơn bất cứ một kỹ thuật nào: để bản văn phán xét sở thích của mình, để đức tin của Giáo Hội hướng dẫn lựa chọn của mình, và để người bé nhỏ nhất trong cộng đoàn cũng có chỗ trong sự cân nhắc ấy.
Năm mươi lăm năm: độ dài của một lời cầu
Năm mươi lăm năm là quãng thời gian đủ dài để thấy tiếng Việt đổi thay. Người nói tiếng Việt hôm nay có thể nghe khác người nói cách đây hơn nửa thế kỷ. Một số chữ vẫn còn nguyên vẻ đẹp; một số chữ dần ít được dùng; một số cách nói từng tự nhiên nay có thể khiến người trẻ phải đoán. Qua năm tháng, những hiểu biết về bản văn, về lịch sử, về việc công bố Lời Chúa trong phụng vụ cũng được bổ sung. Một công trình sống không thể làm ngơ trước những điều ấy.
Nhưng năm mươi lăm năm cũng là quãng thời gian đủ dài để câu chữ trở thành máu thịt của Dân Chúa. Một người đã đọc Giờ Kinh từ thời trẻ nay tóc bạc. Một lời Thánh Vịnh từng nâng người ấy qua những ngày chiến tranh, di cư, chia lìa, lao động và bệnh tật nay vẫn ở trên môi họ. Một linh mục có thể đã dùng cùng một bản văn để cầu nguyện từ những ngày đầu chịu chức cho đến lúc đôi tay run trên cuốn sách. Một cộng đoàn có thể đã hát cùng một lời đáp qua bao lễ an táng, bao lần mừng bổn mạng, bao Chúa nhật bình thường. Độ dài ấy tạo ra một trách nhiệm riêng cho người hiệu đính.
Tôi cầu mong Nhóm luôn giữ được sự khôn ngoan của một người vừa yêu bản văn, vừa biết nghe nhịp thở của cộng đoàn. Có những chữ phải được xem lại, và có những chữ nên được để yên sau khi đã xem lại thật kỹ. Quyết định nào cũng cần lý do. Câu cũ không đương nhiên đúng vì cũ; câu mới không đương nhiên tốt vì mới. Giữa hai câu ấy là bản văn thánh, là đức tin của Giáo Hội, là khả năng cầu nguyện của người Việt, là lịch sử của một cộng đoàn đã đón nhận Lời bằng tiếng mẹ đẻ.
Nếu hỏi làm sao biết chỗ nào phải giữ, chỗ nào phải sửa, tôi không nghĩ có một công thức ngắn. Cần những người đủ giỏi để đọc nguồn, đủ yêu tiếng Việt để nghe một câu có sống được hay không, đủ gắn bó với phụng vụ để hiểu câu ấy sẽ vang lên ở đâu, và đủ khiêm tốn để cho người khác chất vấn quyết định của mình. Cần thời gian. Cần cuộc đối thoại không sợ bất đồng. Cần cả sự bình an để nói: “Chúng ta chưa chắc; hãy đọc lại.” Một bản dịch có thể được sửa bằng cây bút, nhưng được giữ cho trung thành bằng một lối sống chung.
Sự thật của nguồn và nỗi đau khi phải học lại
Tôi xin các cộng đoàn, khi nghe một câu khác với câu mình đã thuộc, đừng vội nghĩ rằng người làm bản dịch không trân trọng lời kinh của mình. Cảm giác hụt hẫng là thật. Có thể ta đã đi vào nhà thờ với mong muốn tìm lại một câu quen, rồi bất ngờ nghe một câu khác. Có thể môi ta vẫn tự động đọc lời cũ trong khi sách in lời mới. Có thể ta bực vì thấy một thay đổi không cần thiết. Những phản ứng ấy cần được lắng nghe. Chúng cho thấy lời phụng vụ đã thật sự đi vào đời sống người tín hữu.
Sau phản ứng đầu tiên, xin thử hỏi thêm: Vì sao có sự thay đổi? Câu mới giúp ta nghe rõ hơn điều bản văn thánh nói ở điểm nào? Câu ấy có phù hợp với đức tin Giáo Hội không? Khi được đọc lớn tiếng, nó có giúp cộng đoàn cầu nguyện không? Nếu được giải thích cẩn thận, liệu điều ban đầu xa lạ có mở ra một chiều sâu mà câu quen khiến ta chưa nhận thấy? Những câu hỏi ấy không buộc người tín hữu phải thích ngay mọi thay đổi. Chúng mời ta bước từ sự ngỡ ngàng sang phân định.
Người thực hiện việc hiệu đính cũng có phần việc của mình. Đừng chỉ đưa cho cộng đoàn một câu mới rồi mong họ tự xoay xở. Khi thay đổi điều người ta đã thuộc lòng, một lời giải thích sáng sủa và thành thật là cách kính trọng họ. Không cần biến mọi giáo dân thành chuyên gia ngôn ngữ Kinh Thánh. Chỉ cần nói đủ rõ: chỗ nào bản cũ có thể khiến ta hiểu chưa đúng, chỗ nào bản mới diễn tả sát hơn, và vì sao thay đổi ấy đáng để cùng nhau học lại. Nếu có những lựa chọn còn khó, hãy đừng che sự khó ấy dưới giọng khẳng định quá dễ dàng. Dân Chúa có thể đón nhận một lời giải thích chân thành, ngay cả khi phải mất thời gian mới quen được câu mới.
Các linh mục, tu sĩ, giáo lý viên, người hướng dẫn cộng đoàn cầu nguyện cũng có thể giúp rất nhiều. Một câu giải thích đúng lúc trước khi đọc hay trong một buổi học hỏi có thể mở cánh cửa mà hàng tháng bực bội không mở được. Ngược lại, chế giễu người còn quen bản cũ sẽ chỉ khiến họ thấy trí nhớ đức tin của mình bị coi nhẹ. Việc tiếp nhận một bản văn được hiệu đính cần sự kiên nhẫn đôi bên. Người đọc cần thời gian để học lại. Người phụ trách cần thời gian để lắng nghe những chỗ khi đưa vào sử dụng mới bộc lộ khó khăn.
Sự thật của nguồn là điều rất quý. Chính vì quý, nó cần được trao bằng một cách giúp con người đón nhận. Nếu một câu mới gần bản gốc hơn mà cộng đoàn không thể hiểu, không thể đọc thành lời hay luôn bị dẫn đến một cách hiểu sai khác, công việc chuyển dịch vẫn chưa hoàn tất. “Gần nguồn” không chỉ là đặt từ tiếng Việt sát bên từ ở nguyên ngữ. Người dịch phải giúp ý nghĩa của nguồn đi qua một ngôn ngữ khác và được nghe trong một cộng đoàn thật. Đây là lý do dịch phụng vụ vất vả: sự trung thành phải đi trọn con đường từ trang bản gốc đến lời cầu nguyện trên môi Dân Chúa.
Ký ức cần được gìn giữ cả khi câu chữ thay đổi
Khi một câu buộc phải sửa, ký ức gắn với câu cũ không vì thế mà vô giá trị. Bao người đã cầu nguyện chân thành bằng bản dịch trước. Chúa đã nghe họ. Một lời dịch có thể cần hiệu đính mà đời cầu nguyện được nuôi bằng lời ấy vẫn là một phần đẹp của lịch sử Giáo Hội. Ta có thể biết ơn bản văn đã dẫn mình đến đây, rồi cùng nhau học một cách diễn đạt chính xác hơn cho chặng đường tới. Biết ơn và sửa chữa có thể ở trong cùng một trái tim.
Điều này quan trọng đối với người lớn tuổi. Có người khó học lại vì trí nhớ đã yếu. Có người đọc theo thói quen đã mấy chục năm. Xin đừng làm họ xấu hổ nếu môi họ vẫn thưa câu cũ. Trong phụng vụ, cộng đoàn cần một bản văn chung để cầu nguyện cùng nhau; việc hướng dẫn sử dụng bản văn ấy là cần. Nhưng nơi từng con người, đức tin không được đo bằng tốc độ thích nghi với một ấn bản mới. Một cụ già đọc nhầm lời đã quen không phải là người yêu Lời Chúa ít hơn. Có thể chính cụ đã âm thầm sống với Lời lâu hơn chúng ta.
Người trẻ cũng cần được giúp hiểu lịch sử những câu mình đang đọc. Nếu chỉ cầm bản mới mà không biết có những người đã dành cả đời cho bản cũ, họ dễ tưởng ngôn ngữ phụng vụ tự nhiên mà có. Hãy kể cho họ nghe về công sức dịch thuật, về những bản thảo sửa nhiều lần, về người đã kiên nhẫn ngồi lại vì một chữ. Hãy cho họ biết lời kinh trên trang sách có một lịch sử của học hỏi, cầu nguyện và phục vụ. Khi hiểu điều ấy, người trẻ có thể đón nhận trách nhiệm tiếp nối bằng một lòng biết ơn trưởng thành. Họ sẽ bớt vội xem mọi điều đã cũ là lạc hậu; và cũng bớt sợ những sửa đổi thật sự cần thiết.
Một cộng đoàn biết giữ trí nhớ của mình có thể lưu lại câu chuyện các bản dịch, các bài hát và cách cầu nguyện đã nuôi dưỡng mình. Nhưng giữ trí nhớ không đồng nghĩa với việc buộc hiện tại phải đứng yên. Những tấm ảnh gia đình không thay thế những người đang sống quanh bàn ăn. Cũng thế, bản văn quen thuộc đáng được yêu mến, nghiên cứu và ghi nhớ, nhưng phải luôn hướng ta về Đấng đang nói với Giáo Hội hôm nay. Ta không giữ một câu vì nó thuộc về quá khứ của ta. Ta giữ nó khi nó tiếp tục phục vụ trung thành cuộc gặp gỡ ấy.
Dịch cho miệng Dân và cho trái tim Dân
Một câu phụng vụ có đời sống riêng khi được đọc thành tiếng. Trên giấy, người đọc có thể dừng lại, nhìn ngược về đầu câu, tra một chú thích. Trong Thánh lễ, lời được công bố rồi đi qua. Người nghe cần có thể nắm được ý ngay giữa dòng chảy ấy. Một chữ quá khó có thể khiến họ dừng lại ở chính chữ đó và lỡ phần còn lại. Một câu quá dài có thể làm người đọc hụt hơi. Một nhịp đặt sai có thể khiến ý nghĩa đi lệch. Vì vậy, người hiệu đính cần nghe bản dịch bằng tai, không chỉ xét nó bằng mắt.
Dịch cho miệng Dân còn có nghĩa là biết lời nào có thể trở thành lời của nhiều người rất khác nhau. Trong cùng một nhà thờ có người học cao và người ít chữ, người trẻ và người già, người đã đọc Kinh Thánh nhiều năm và người mới trở về với đức tin. Bản dịch không thể làm mọi khó khăn của Sách Thánh biến mất; có những chiều sâu cần được giảng giải và học hỏi. Nhưng nó có thể tránh tạo thêm những khó khăn không cần thiết. Nó cần trang nghiêm mà vẫn có thể được thốt lên, đẹp mà không che khuất ý, chính xác mà không làm người nghe bị bỏ lại phía sau.
Dịch cho trái tim Dân không có nghĩa là chọn lời nào dễ gây xúc động nhất. Trái tim con người cần sự thật. Có những lời Kinh Thánh an ủi, có những lời chất vấn, có những lời buộc ta rời khỏi cách sống quen thuộc. Nếu vì muốn câu văn “êm” mà làm cùn đi một lời sắc bén, người dịch đã lấy mất của cộng đoàn một cuộc gặp gỡ cần thiết. Ngược lại, nếu vì muốn tỏ ra nghiêm nghị mà đặt lên môi người đọc một tiếng Việt cứng và tối, người dịch cũng làm khó cuộc gặp gỡ ấy. Vẻ đẹp của bản dịch phụng vụ nằm ở chỗ nó đưa Dân Chúa đến trước Lời, rồi khiêm tốn lùi lại.
Tôi nhớ đến người đọc sách thánh ở một giáo xứ nhỏ. Họ có thể không biết tiếng Híp-ri hay tiếng Hy Lạp. Họ nhận bản văn, tập đọc vài lần và bước lên bục. Trong tiếng của họ, cả cộng đoàn sẽ nghe bài đọc hôm ấy. Người dịch có nghĩ đến họ không? Có nghe thấy chỗ họ phải lấy hơi, chỗ dễ ngắt sai, chỗ một từ quen trong sách nhưng khó nói thành tiếng? Tôi nhớ đến ca đoàn phải đặt câu vào một giai điệu, đến em thiếu nhi nghe câu chuyện lần đầu, đến người nằm cuối nhà thờ đang mệt và chỉ giữ được vài lời. Người làm bản dịch không thể biết hết từng khuôn mặt. Nhưng họ có thể làm việc trong ý thức rằng những khuôn mặt ấy hiện diện.
Một sự khiêm tốn dành cho tất cả
Trong chuyện bản dịch, mỗi người đều có thể bị cám dỗ. Người dịch có thể quá yêu giải pháp mình vừa tìm ra. Người gắn bó với bản cũ có thể nghĩ điều mình đã thuộc chắc chắn là cách diễn đạt duy nhất đúng. Người phụ trách có thể sốt ruột muốn cộng đoàn quen ngay. Người sử dụng có thể phê bình một câu mới trước khi hiểu lý do của nó. Người trẻ có thể xem nhẹ nỗi mất mát của người già; người già có thể không nhận ra câu quen của mình đang khiến người trẻ hiểu sai. Không ai đứng ngoài nhu cầu học lại lòng khiêm tốn.
Khiêm tốn của người dịch là chịu để bản gốc sửa mình, để đồng nghiệp sửa mình, để việc đọc thành tiếng sửa mình, để câu hỏi chân thành của giáo dân buộc mình giải thích rõ hơn. Khiêm tốn của cộng đoàn là nhận rằng một lời mình yêu vẫn có thể được diễn đạt trung thành hơn. Khiêm tốn của người mục tử là biết hướng dẫn mà không gạt đi cảm xúc của người được hướng dẫn. Khiêm tốn của tất cả chúng ta là nhớ rằng Lời Chúa lớn hơn bất kỳ bản dịch nào, kể cả bản dịch đã nuôi mình cả đời.
Ở đây, tôi thấy thánh Giê-rô-ni-mô đứng rất gần chúng ta. Vị thánh ấy không mời ta yêu một trang sách như món đồ để nguyên trong tủ kính. Ngài mời ta mở sách, học, hỏi, đối chiếu, cầu nguyện và để Lời biến đổi đời mình. Ngài nhắc người dịch rằng tri thức phải quỳ xuống trước mầu nhiệm. Ngài cũng nhắc người đọc rằng lòng đạo đức không miễn cho ta khỏi phải lắng nghe điều bản văn thật sự nói. Nếu hai điều ấy ở lại với nhau, việc hiệu đính có thể trở thành một hành vi phục vụ thay vì một cuộc tranh thắng giữa người thích cũ và người thích mới.
Giữ để có thể trao lại
Rồi sẽ đến ngày những người hôm nay đang làm việc cũng trở thành người đi trước. Một thế hệ khác sẽ mở những trang họ dịch, đọc những ghi chú họ để lại và đặt câu hỏi. Tôi mong thế hệ ấy được thừa hưởng nhiều hơn một bản văn hoàn chỉnh. Mong họ được thừa hưởng một cách làm việc: cẩn thận với nguồn, kính trọng Dân Chúa, yêu tiếng Việt, biết cầu nguyện trước khi sửa, biết nghe người khác sau khi sửa. Một công trình bền lâu không chỉ truyền lại những câu đã chọn. Nó truyền lại lương tâm đã chọn những câu ấy.
Năm mươi lăm năm nhắc ta rằng không ai một mình làm nên tiếng cầu nguyện của Giáo Hội. Có những người khởi sự, có những người giữ lửa, có những người tiếp nối, có những người âm thầm đọc thành tiếng để một câu được thử trong đời sống. Có người đang sống, có người đã về với Chúa. Có người được ghi tên trên sách, có người chỉ hiện diện trong bao lần góp ý, sửa bản in và cầu nguyện cho công việc chung. Và đông đảo hơn cả là Dân Chúa: những người đã đón bản dịch, làm cho nó có hơi thở, rồi trao lại bằng chính đời sống phụng vụ của mình.
Tôi xin Nhóm, mỗi khi phải quyết định giữ hay sửa, hãy nhớ những khuôn mặt ấy. Xin đừng sợ sửa điều thật sự cần sửa, dù câu cũ rất được yêu mến. Xin cũng đừng sửa một câu đã đi sâu vào đời cầu nguyện chỉ vì một cách viết mới có vẻ thanh nhã hơn. Hãy cho mỗi thay đổi đủ thời gian để được kiểm chứng, đủ lý lẽ để được giải thích, đủ tình yêu để người phải học lại biết rằng mình được tôn trọng. Hãy giữ những câu xứng đáng được giữ, bằng sự hiểu biết chứ không chỉ bằng thói quen. Hãy sửa những câu cần sửa, bằng lòng trung thành chứ không chỉ bằng nhiệt tình đổi mới.
Và tôi xin mỗi cộng đoàn, khi gặp một lời kinh quen thuộc, hãy biết ơn. Có người đã thức khuya vì những chữ ta đọc trong vài giây. Có người đã hy sinh để Lời Chúa vang lên bằng tiếng mẹ đẻ của ta. Khi gặp một lời mới, xin hãy dành cho nó cơ hội được giải thích, được đọc chậm và được cầu nguyện. Nếu còn khó hiểu, hãy hỏi. Nếu thấy một điều chưa ổn, hãy góp ý bằng sự chân thành. Dân Chúa không chỉ nhận một bản dịch một cách thụ động. Chính đời sống cầu nguyện của Dân giúp những người phục vụ bản văn biết câu chữ đã thật sự đến được với con người hay chưa.
Sau cùng, giữ trí nhớ của Dân là giữ cho Dân còn nhớ mình đã được ai gọi, được ai nuôi dưỡng và đang đi về đâu. Những lời đã thuộc lòng có thể đưa ta trở lại với Chúa giữa một ngày đầy tiếng ồn. Những lời được hiệu đính cẩn thận có thể giúp ta nghe tiếng Chúa rõ hơn ở nơi trước đây mình chưa nghe thấy. Cả việc giữ và việc sửa đều chỉ có ý nghĩa khi đưa cộng đoàn đến gần hơn với cuộc gặp gỡ ấy. Thánh Giê-rô-ni-mô đã dành đời mình để phục vụ Lời; những người dịch hôm nay cũng mang trên tay một phần việc khiêm tốn và nặng quý như thế. Xin cho họ đủ sáng suốt để nhận ra điều phải sửa, đủ dịu dàng để hiểu điều Dân đã yêu, và đủ trung thành để qua mọi ấn bản, Lời Chúa tiếp tục có chỗ ở trong lòng người Việt.

CHƯƠNG XVII. LINH MỤC, TU SĨ VÀ SÁCH THÁNH
Có những lời khuyên được viết cách đây nhiều thế kỷ mà khi đọc lại, người ta có cảm giác người viết vừa bước vào nhà xứ sáng nay, nhìn chiếc bàn làm việc, nhìn cuốn Kinh Thánh trên kệ, rồi nhẹ nhàng hỏi: «Con còn mở sách ấy không?» Thánh Giê-rô-ni-mô từng khuyên linh mục Nepotianus hãy luôn gắn bó với Sách Thánh, học nơi đó điều mình phải dạy và đừng để đời sống mâu thuẫn với lời mình giảng. Ba điều ấy đi liền nhau: cầm lấy Lời, học lấy Lời và sống điều mình công bố. Nếu tách chúng ra, đời linh mục sẽ mất dần sức sống từ bên trong. Người có thể giảng rất nhiều mà cầu nguyện rất ít với bản văn mình giảng; có thể biết cách trình bày một ý tưởng đẹp mà không còn để cho Lời chất vấn; có thể khuyên người khác hoán cải trong khi chính mình đã quen đi vòng quanh những câu Kinh Thánh làm mình khó chịu. Giê-rô-ni-mô không để Nepotianus yên ổn với một quyển sách nằm ngay ngắn trên giá. Ngài muốn Sách Thánh ở trong tay người linh mục, rồi từ bàn tay đi vào trí nhớ, từ trí nhớ đi vào lòng, từ lòng đi vào cách sống, để cuối cùng người nghe có thể nhận ra rằng vị mục tử đang nói về một Đấng mình thực sự gặp gỡ.
Đức Bênêđictô XV gọi thánh Giê-rô-ni-mô là vị tiến sĩ xuất sắc trong việc giải thích Sách Thánh. Khi nhìn lên vị thánh ấy, tôi không nghĩ rằng mọi linh mục đều phải trở thành một Giê-rô-ni-mô thứ hai về học thuật. Giáo Hội cần những nhà nghiên cứu chuyên sâu, nhưng một cha xứ giữa bao việc thường ngày khó có thể dành cả đời để đối chiếu cổ ngữ và viết chú giải. Điều mọi linh mục đều có thể và cần phải làm là trở thành người thân thuộc với Sách Thánh. Thân thuộc đến mức biết tìm về đó khi vui và khi mỏi mệt; biết để một đoạn Tin Mừng ở lại với mình lâu hơn thời gian chuẩn bị bài giảng; biết đọc một Thánh Vịnh bằng chính tiếng lòng của mình trước khi đọc bằng giọng chủ sự trước cộng đoàn. Ở nhà với Sách Thánh là như thế. Người ta không phải lúc nào cũng hiểu hết mọi điều trong ngôi nhà mình đang sống. Vẫn có những căn phòng chưa mở, những góc khuất chưa biết, những điều mỗi lần trở về lại thấy khác. Nhưng người ta biết đường về. Người linh mục cũng cần biết đường về với Lời Chúa như biết đường về nhà.
Tôi viết những dòng này trước hết cho mình. Thật dễ nói rằng linh mục phải yêu mến Kinh Thánh. Khó hơn là mở cuốn Kinh Thánh vào một ngày bình thường, khi điện thoại đã đầy tin nhắn, lịch mục vụ dày đặc, có người chờ gặp, một gia đình cần được thăm, một cuộc họp phải chuẩn bị và bài giảng ngày mai vẫn chưa xong. Tôi đã có những ngày soạn bài giảng từ một ý tưởng vừa nảy ra, rồi mới quay về tìm câu Tin Mừng có vẻ phù hợp với ý tưởng ấy. Làm như vậy, tôi có thể viết được một bài trôi chảy. Tôi cũng có thể nói những điều đúng. Nhưng sâu trong lòng, tôi biết mình đã đổi chỗ giữa người nói và người nghe. Đáng lẽ tôi phải đến với bản văn và hỏi: «Lạy Chúa, hôm nay Chúa muốn nói gì?», tôi lại đến để hỏi: «Đoạn này giúp con nói điều con đã định nói ra sao?» Sự khác biệt ấy đôi khi không hiện rõ trên bục giảng. Nó hiện rõ trong lòng người giảng. Một bên là lắng nghe trước khi lên tiếng. Bên kia là tìm sự hỗ trợ cho tiếng nói của mình.
Có ngày Giờ Kinh Phụng Vụ bị tôi đọc lướt. Các câu Thánh Vịnh vẫn đi qua môi miệng; các giờ kinh vẫn được hoàn tất; nhưng lòng trí tôi đã chạy đến công việc kế tiếp. Đôi khi tôi đọc một lời kêu cầu của người đau khổ mà chẳng dừng lại với người đau khổ nào. Tôi đọc lời tạ ơn mà không nhận ra ơn nào trong ngày. Tôi đọc lời xin Chúa mở miệng mình, trong khi chỉ mong đọc cho kịp giờ. Những lúc ấy, Giờ Kinh có nguy cơ trở thành công việc phải làm thay vì một cuộc gặp gỡ được trao ban. Tôi không nói điều này để xem nhẹ bổn phận. Chính bổn phận trung thành nâng đỡ chúng ta trong những ngày lòng khô khan. Nhưng bổn phận ấy luôn mời tôi trở lại với Đấng tôi đang thưa chuyện. Chỉ cần chậm lại trước một câu. Chỉ cần đọc lại một lời đáp ca với ý thức rằng Giáo Hội đang đặt lời ấy vào miệng tôi. Chỉ cần nhớ có bao người hôm nay không thể tự tìm lời để cầu nguyện, và tôi đang cầu cùng Giáo Hội, cũng vì họ. Một giờ kinh như vậy có thể vẫn ngắn, nhưng đã có người hiện diện trong đó: Thiên Chúa, Hội Thánh và những khuôn mặt được tôi mang theo trong lời cầu.
Có ngày tôi đứng trước tủ sách của mình và thấy những cuốn về quản trị, truyền thông, tâm lý, kỹ năng, thời sự đều mang dấu tay sử dụng, trong khi cuốn Kinh Thánh lại nằm yên. Các sách kia có ích. Một linh mục cần học cách điều hành công việc, giao tiếp với con người, hiểu thời đại mình đang phục vụ. Nhưng nếu người mục tử chỉ liên tục học cách làm mà không dành thời gian lắng nghe Đấng đã gọi mình, thì mọi kỹ năng sẽ dần trở thành gánh nặng. Người ấy có thể tổ chức một chương trình rất tốt mà không còn biết vì sao mình làm. Có thể nói rất khéo mà bên trong ngày càng cạn. Có thể lo liệu cho cộng đoàn đủ thứ mà quên trao cho họ điều quý nhất mình đã nhận: Lời ban sự sống. Cuốn Kinh Thánh đóng bụi trên kệ không phải là một lỗi trang trí. Nó có thể là dấu chỉ rằng một mối tương quan đang bị bỏ quên.
Chúng ta chắc hẳn nhớ đến cha An-rê Đỗ Xuân Quế, O.P., chín mươi lăm tuổi vẫn ngồi bên bàn với bản văn, làm tôi ngượng trước nhiều lời bào chữa của mình. Tôi không muốn biến tuổi già và lòng trung thành của cha thành một lời trách móc người đang bận rộn. Chỉ người trong cuộc mới biết cha đã mang những nhọc nhằn nào suốt đời. Nhưng hình ảnh ấy đặt trước tôi một câu hỏi rất thật: điều gì khiến một con người còn muốn cúi xuống trước từng chữ khi đã đi gần hết chặng đường trần thế? Hẳn không chỉ là thói quen làm việc. Có những thói quen mất đi khi sức lực giảm. Còn ở đây là một tình yêu đã thành nếp sống. Người già vẫn cầm bản văn bởi vì Lời ấy chưa cũ đối với người. Người đã gặp Lời hàng chục năm mà vẫn tin mình còn điều phải học, còn điều cần lắng nghe, còn một chữ đáng suy nghĩ cho kỹ trước khi đặt vào miệng cộng đoàn. Tôi nhìn lại mình: còn đang coi xứ, còn đang giảng hằng tuần, còn gặp những tâm hồn khát một lời an ủi, tôi lấy lý do nào để không trở về với bản văn?
Một linh mục có thể rất bận vì yêu thương đoàn chiên. Có những ngày bệnh viện, tòa giải tội, đám tang và những chuyện bất ngờ chiếm gần hết thời gian. Chúa không đòi người mục tử bỏ mặc con người để giữ một thời khóa biểu đọc sách đẹp đẽ. Nhưng chính lúc bận rộn, người mục tử càng cần một điểm tựa sâu hơn công việc của mình. Vấn đề không nằm ở số phút phải đạt, mà ở chỗ Lời Chúa còn có quyền đi vào ngày sống của tôi hay không. Tôi có thể mang theo một câu Tin Mừng khi đi thăm bệnh nhân. Tôi có thể nhớ lại một Thánh Vịnh khi ngồi trước một gia đình đang khóc. Tôi có thể đọc chậm bài Tin Mừng ngày mai trước khi ngủ và để một câu hỏi đi cùng mình vào giấc nghỉ. Nếu thật sự muốn gặp Lời, tôi sẽ dần tìm được những khoảng nhỏ giữa một ngày dày việc. Và nếu nhiều ngày liền tôi không tìm được, tôi cần thành thật nhìn lại điều gì đang chiếm vị trí trung tâm trong đời mình.
Người linh mục không đọc Sách Thánh chỉ để có chất liệu cho bài giảng. Đây là một cám dỗ kín đáo, vì đọc để giảng là một việc tốt. Nhưng nếu lần nào mở Tin Mừng tôi cũng nghĩ ngay đến cộng đoàn sẽ nghe gì vào Chúa nhật tới, tôi có thể bỏ qua câu Lời Chúa đang nói với riêng mình. Có đoạn khiến tôi nghĩ đến người khác rất nhanh: người này cần bớt tham, người kia cần tha thứ, nhóm nọ cần khiêm nhường. Cũng đoạn ấy, nếu tôi ngồi lại lâu hơn, có thể hỏi tôi: «Con đang giữ điều gì? Con đang chưa tha thứ cho ai? Con đã lấy chức vụ để tránh nhìn nhận một sai lầm nào?» Bài giảng bắt đầu thay đổi khi người giảng chịu đứng dưới Lời cùng với cộng đoàn. Tôi không cần kể hết những điều riêng tư của mình trên bục giảng. Tôi cần để cuộc gặp gỡ riêng ấy làm giọng nói của mình chân thật hơn. Người ta nhận ra sự khác biệt giữa một lời khuyên đã đi qua cuộc chiến đấu của người nói và một lời khuyên chỉ đi qua trí nhớ.
Giê-rô-ni-mô muốn linh mục học nơi Sách Thánh điều mình phải dạy. «Học» ở đây đòi sự khiêm tốn kéo dài suốt đời. Có những đoạn tôi đã giảng nhiều lần đến mức tưởng mình biết rõ. Nhưng một đoạn Tin Mừng không hết nghĩa sau một bài giảng thành công. Cộng đoàn thay đổi, thời cuộc thay đổi, chính tôi cũng đổi khác. Một dụ ngôn từng soi sáng tôi khi mới chịu chức có thể làm tôi đau hơn khi đã chứng kiến nhiều đổ vỡ. Một câu về lòng thương xót có thể nghe thật đẹp lúc tôi còn trẻ, rồi trở nên khó sống khi một người làm tổn thương mình. Một lời về thập giá có thể từng là đề tài thần học, rồi trở thành lời cầu trong đêm tôi bất lực trước bệnh tật hoặc cái chết của người thân. Trở lại bản văn quen thuộc là chấp nhận cho Chúa nói với con người hiện tại của tôi, chứ không chỉ nhắc lại điều tôi đã hiểu năm trước.
Học Sách Thánh cũng là chịu khó đọc cho đúng. Tình yêu không cho phép người giảng tùy tiện đặt vào miệng bản văn điều bản văn không nói. Một câu bị tách khỏi mạch chuyện có thể trở thành khẩu hiệu rất mạnh mà làm người nghe hiểu sai dung mạo Thiên Chúa. Một nhân vật bị kể sai có thể biến bài học Tin Mừng thành phán xét người yếu đuối. Một chi tiết được thêm vào cho «hay» có thể được cộng đoàn nhớ lâu hơn chính Lời Chúa. Vì vậy, linh mục cần hỏi bản văn đang ở đâu trong câu chuyện, ai đang nói với ai, điều gì xảy ra trước và sau, Giáo Hội đọc đoạn ấy trong phụng vụ nào. Cần tham khảo những công trình chú giải đáng tin, lắng nghe truyền thống Giáo Hội, cân nhắc cách dùng tiếng Việt để người nghe hiểu điều mình thực sự muốn nói. Sự cẩn thận ấy không làm bài giảng khô đi. Nó giúp người giảng tránh lấy cảm xúc nhất thời của mình che khuất sức mạnh vốn có của Lời.
Rồi còn lời dặn khó nhất: đừng để việc làm trái với lời nói. Khi người linh mục giảng về sự hiền lành mà đối xử thô bạo với người cộng tác, cộng đoàn sẽ nghe thấy sự đứt gãy. Khi giảng về người nghèo mà chỉ dành sự niềm nở cho người có địa vị, bài giảng sẽ mang một khoảng trống. Khi giảng về sự thật nhưng quanh co để giữ thể diện, chính người giảng biết một điều trong mình chưa ngay thẳng. Không linh mục nào sống trọn mọi điều mình giảng. Nếu phải đợi nên thánh mới được công bố Tin Mừng, sẽ chẳng ai dám lên bục giảng. Nhưng sự bất toàn khác với sự bằng lòng sống hai mặt. Người linh mục có thể đang chiến đấu, có thể đã vấp ngã, có thể cần xin lỗi và làm lại. Điều quan trọng là đừng dùng việc giảng dạy để miễn cho mình khỏi phải hoán cải. Lời Chúa không trao cho tôi vị trí đứng bên ngoài cộng đoàn để chấm điểm họ. Lời ấy gọi tôi trước, rồi mới sai tôi nói với anh chị em mình.
Có khi sự nhất quán bắt đầu bằng những việc rất nhỏ. Sau một bài giảng về lắng nghe, tôi có thực sự để người đối diện nói hết câu không? Sau bài giảng về người bé mọn, tôi có nhớ tên người âm thầm dọn nhà thờ không? Sau bài giảng về tha thứ, tôi có đủ can đảm bước tới một người cộng tác mà mình đã làm tổn thương không? Sau bài giảng về cầu nguyện, tôi có dành cho Chúa một khoảng thời gian không bị công việc chiếm lại không? Những câu hỏi ấy không nhằm làm linh mục sợ giảng. Chúng giúp bài giảng tiếp tục sống sau khi Thánh lễ kết thúc. Có lẽ một bài giảng tốt là bài giảng mà trước khi cộng đoàn đem về nhà, người giảng đã chấp nhận đem về phòng mình.
Người tu sĩ cũng đứng trước lời mời gọi ấy, theo một cách rất riêng. Đời tu được dệt bằng những lời đã nghe: «Hãy theo Thầy», «Đừng sợ», «Hãy ở lại trong tình thương của Thầy». Có người đã rời gia đình, nghề nghiệp, những dự định của tuổi trẻ vì tin rằng một lời của Đức Kitô đáng để đặt cả đời mình vào đó. Thế nhưng, sau nhiều năm, người tu sĩ cũng có thể để những lời ban đầu bị phủ bởi lịch làm việc, nội quy, trách nhiệm và những khó khăn của đời sống chung. Khi ấy lời khấn dễ bị cảm nhận như một hệ thống đòi hỏi phải giữ cho đúng, còn niềm vui của cuộc gặp gỡ đầu tiên lùi xa. Kỷ luật đời tu rất cần. Cộng đoàn không thể sống bằng cảm hứng nhất thời. Nhưng kỷ luật cần được nuôi từ tình yêu; nếu thiếu Lời Chúa, người ta có thể giữ đúng giờ, đúng việc, đúng hình thức mà bên trong ngày càng khó thương nhau.
Lời khấn khó nghèo cần được soi sáng bởi Đức Kitô, Đấng đã sống tự do trước của cải và gần gũi với người thiếu thốn. Nếu không trở lại với Tin Mừng, khó nghèo có thể bị thu hẹp thành việc không đứng tên tài sản, trong khi lòng vẫn bám vào tiện nghi, ảnh hưởng hoặc những đặc quyền nhỏ. Lời khấn khiết tịnh cần được nuôi bằng mối tương quan sống động với Chúa và bằng khả năng yêu con người cách trong sáng. Nếu không, nó có thể chỉ còn là một loạt điều phải tránh, còn trái tim thì khép lại hoặc tìm những cách kín đáo để được chiếm hữu. Lời khấn vâng phục cần được đặt trước Đức Giêsu, Đấng lắng nghe Chúa Cha và trao chính mình vì yêu. Nếu tách khỏi Lời, vâng phục có thể trở thành sự im lặng vì sợ, hoặc việc thi hành máy móc điều mình chẳng bao giờ đem vào cầu nguyện. Sách Thánh không giải quyết thay mọi khó khăn của đời tu. Sách Thánh giữ cho người tu sĩ nhớ mình đang đi theo ai trong những khó khăn ấy.
Một cộng đoàn tu trì có thể đọc Kinh Thánh mỗi ngày mà vẫn chưa thực sự lắng nghe. Các bài đọc đi qua nhà nguyện, rồi ra đến phòng ăn, người ta lại nói với nhau bằng những lời sắc nhọn. Thánh Vịnh ca ngợi lòng thương xót, nhưng một người trẻ trong cộng đoàn mắc lỗi lại không tìm thấy chỗ để sửa mình trong bình an. Tin Mừng kể chuyện Chúa Giêsu cúi xuống với người bị bỏ quên, nhưng một thành viên đang kiệt sức không ai có thời giờ hỏi han. Tôi không viết những điều ấy để kết án các cộng đoàn. Sống chung là một trong những trường học khó nhất của tình yêu. Tôi viết vì chính nơi ấy Lời Chúa cần được mời bước ra khỏi trang sách. Nếu một câu Kinh Thánh giúp tôi bớt vội phán đoán người anh em; nếu một Thánh Vịnh giúp tôi mang nỗi đau của người chị em vào lời cầu; nếu một đoạn Tin Mừng khiến cả cộng đoàn can đảm xin lỗi và thay đổi một cách cư xử, thì Lời đang thực sự có chỗ ở giữa nhà.
Giê-rô-ni-mô đã sống tại Bê-lem, gần nơi Giáo Hội tưởng nhớ mầu nhiệm Con Thiên Chúa giáng sinh. Bê-lem ấy khiến tôi nghĩ đến một nghịch lý đẹp: Đấng là Ngôi Lời đã đến với con người trong sự bé nhỏ. Người ta có thể đi rất xa để tìm một nơi thánh, nhưng cũng có thể bỏ lỡ Chúa trong căn phòng quen thuộc, nơi một trang Kinh Thánh đang mở và một người anh em đang cần được tiếp đón. Một tu viện giữa thành phố Việt Nam, bên ngoài là xe cộ và tiếng ồn, vẫn có thể mang tinh thần Bê-lem. Điều ấy xảy ra khi cộng đoàn dành chỗ cho Lời trong nhịp ngày; khi người ta đọc Lời với lòng kính trọng, cùng suy nghĩ và để Lời dẫn đến những chọn lựa cụ thể. Bê-lem không hiện diện vì tu viện giống một miền đất xa xưa. Bê-lem hiện diện khi Đức Kitô được đón nhận trong sự đơn sơ của đời sống thật.
Tôi nghĩ đến một thầy trẻ mới vào nhà dòng. Ban đầu, thầy có thể đọc Kinh Thánh với nhiều hứng khởi, đánh dấu những câu đánh động mình, ghi chép lời nguyện vào sổ. Rồi thầy gặp một công việc lặp đi lặp lại, một người anh em khó tính, một lần bị hiểu lầm, một giai đoạn cầu nguyện khô khan. Chính lúc ấy thầy cần được giúp để không tưởng rằng Lời Chúa đã thôi nói. Có khi Lời không còn đến như cảm xúc mạnh mẽ, mà như sức chịu đựng hiền lành để tiếp tục yêu. Có khi đoạn Tin Mừng quen thuộc không cho thầy một ý tưởng mới, nhưng cho thầy đủ ánh sáng để bước qua một ngày. Người hướng dẫn đời tu cần dạy người trẻ đọc Kinh Thánh bằng cả đời mình: đọc khi vui, đọc khi chán, đọc khi hiểu, đọc khi chưa hiểu, đọc một mình và đọc cùng Hội Thánh. Nếu người trẻ chỉ được khuyến khích tìm những câu làm mình xúc động, họ sẽ hoang mang khi lòng không còn xúc động. Nếu họ được dạy trung thành ở lại, họ sẽ dần nhận ra Chúa vẫn làm việc sâu hơn những gì mình cảm thấy.
Tôi cũng nghĩ đến một nữ tu lớn tuổi, mắt đã mờ, không còn phụ trách công việc từng gắn với mình suốt bao năm. Có thể chị không đọc được nhiều trang nữa. Có thể chị nghe người khác đọc, nhẩm lại một câu đã thuộc từ thuở trẻ, hoặc giữ một lời nguyện ngắn trong lòng. Chị không có ít Lời Chúa hơn người đang học nhiều sách. Có khi sau một đời để Lời thấm vào lao động, phục vụ, vâng phục, mất mát và bệnh tật, chính con người chị đã trở thành nơi lưu giữ Lời. Cộng đoàn cần kính trọng thứ chú giải ấy: bản chú giải viết bằng những buổi sáng dậy sớm, những năm tháng chăm người bệnh, những lần chịu thiệt mà không kể công, những cuộc trở về với Chúa sau khi nhận ra mình sai. Khi một tu sĩ cao tuổi nói một câu Kinh Thánh rất quen mà mắt rưng rưng, người trẻ có thể hiểu thêm điều không sách chú giải nào truyền đạt thay được.
Tuy nhiên, kinh nghiệm sống không miễn cho chúng ta khỏi việc tiếp tục học hỏi. Có linh mục đã chịu chức nhiều năm và ngại mở lại sách vì sợ thấy mình quên quá nhiều. Có tu sĩ nghĩ việc học Kinh Thánh dành cho giai đoạn đào tạo, còn bây giờ chỉ cần kinh nghiệm mục vụ. Nhưng tình yêu trưởng thành không ngừng muốn hiểu người mình yêu. Người cha sống với con lâu năm vẫn cần học nghe con khi con lớn lên. Người mục tử sống với Tin Mừng lâu năm cũng cần học đọc lại, học sửa một cách hiểu vội, học tiếp nhận ánh sáng từ công trình nghiên cứu của Giáo Hội và từ những câu hỏi chân thật của người trẻ. Không ai phải giả vờ rằng mình hiểu mọi đoạn khó. Nói «tôi cần đọc lại» hoặc «chúng ta cùng tìm hiểu» có thể là một bài học quý về lòng khiêm tốn. Dân Chúa không cần một người luôn tỏ ra biết hết. Họ cần một người cùng họ tìm kiếm và trung thành với điều đã được trao.
Trong đời mục vụ, tôi đã gặp những người đến với linh mục bằng một câu Kinh Thánh làm họ đau. Một người mẹ mất con nghe câu «Chúa ban, Chúa lấy» và tưởng mình bị buộc phải im lặng trước nỗi đau. Một người đang chịu bạo hành nghe lời khuyên phải nhẫn nhục và tưởng Chúa muốn mình tiếp tục ở trong nguy hiểm. Một người trầm uất nghe nói phải luôn vui lên và thấy mình càng có lỗi vì không vui nổi. Nếu người mục tử không đọc Sách Thánh đủ sâu, không nhìn cách Đức Giêsu gặp những con người cụ thể, người ấy có thể dùng một câu đúng trong một cách nói sai. Lời Chúa có sức an ủi, nhưng không phải cái cớ để ta trả lời nhanh cho một nỗi đau cần được lắng nghe. Có lúc bổn phận đầu tiên của linh mục là ngồi xuống, nghe hết câu chuyện, rồi cùng người ấy tìm xem Chúa đang ở đâu giữa điều họ phải chịu. Sự thân thuộc với Sách Thánh phải làm người mục tử cẩn trọng hơn với tâm hồn con người.
Cũng có những người đến vì khát Lời. Họ không cần một bài diễn thuyết. Họ hỏi tại sao Chúa Giêsu lại im lặng trước một câu hỏi; tại sao người con cả trong dụ ngôn khó vui với cha; tại sao các môn đệ đã ở với Thầy mà vẫn tranh nhau địa vị. Những câu hỏi ấy là cửa mở vào đời sống đức tin. Một linh mục yêu Sách Thánh sẽ không xem chúng là việc làm phiền sau Thánh lễ. Người ấy có thể chưa trả lời ngay, nhưng sẽ vui vì cộng đoàn đang đọc, đang băn khoăn, đang muốn hiểu. Một giáo xứ trưởng thành về Lời Chúa không được xây dựng chỉ bằng những bài giảng của cha xứ. Nó lớn lên khi cha xứ giúp các gia đình mở Kinh Thánh, giúp người trẻ dám hỏi, giúp giáo lý viên học đọc bản văn trong bối cảnh, giúp những nhóm chia sẻ biết lắng nghe nhau và lắng nghe Giáo Hội. Người mục tử trao Lời đi càng rộng thì chính mình càng phải trở lại với nguồn.
Có một cách kiểm tra âm thầm cho đời sống của tôi: khi không phải chuẩn bị bài giảng, tôi còn muốn đọc Tin Mừng không? Khi không có ai nghe, tôi còn cầu nguyện bằng Thánh Vịnh không? Khi một đoạn Sách Thánh sửa lại điều tôi đã quen nghĩ, tôi có để nó sửa không? Nếu tôi chỉ tìm Lời lúc cần nói với người khác, mối tương quan ấy sẽ mau mệt. Giống như một người chỉ đến gặp bạn mình khi cần nhờ việc, tôi có thể vẫn nói năng lịch sự, nhưng tình bạn không lớn lên. Đọc Sách Thánh vì yêu mến Chúa có những buổi chẳng đem lại điều gì «dùng được» ngay. Tôi đọc và ở đó. Tôi lặp lại một câu. Tôi thưa rằng mình chưa hiểu. Tôi im lặng. Có ngày đó là tất cả. Nhưng chính những lần ở lại không nhằm sản xuất một bài giảng ấy gìn giữ cho bài giảng khỏi trở thành sản phẩm đơn thuần.
Tôi muốn có những việc làm rất cụ thể. Trước khi viết bài giảng, tôi sẽ đọc trọn bản văn, kể cả những câu khiến mình chưa biết phải nói gì. Tôi sẽ để bản văn hỏi mình trước khi hỏi bản văn giúp ích gì cho bài giảng. Tôi sẽ dành thời gian xem các bài đọc trong ngày soi sáng cho nhau thế nào, để cộng đoàn nghe được sự phong phú của phụng vụ thay vì chỉ nghe ý tưởng riêng của tôi. Khi cần, tôi sẽ mở sách chú giải và đối chiếu bản dịch, không vì muốn bài giảng trở nên khó hiểu, mà vì tôn trọng người nghe. Tôi sẽ đọc lại bản thảo và hỏi: chỗ nào là điều Sách Thánh nói, chỗ nào là suy nghĩ của tôi, chỗ nào là một minh họa cần được trình bày như minh họa? Rồi sau khi giảng, tôi sẽ giữ lại ít nhất một lời để sống trong tuần. Tôi không muốn bài giảng chấm dứt ngay khi bước khỏi cung thánh.
Với Giờ Kinh Phụng Vụ, tôi muốn tập một sự trung thành có lòng. Không phải ngày nào lòng tôi cũng sốt sắng. Có ngày mệt mỏi và chia trí, tôi sẽ phải bắt đầu lại nhiều lần. Nhưng tôi có thể đặt điện thoại xuống trước khi mở sách kinh. Tôi có thể đọc câu đầu tiên chậm hơn một chút, như người thực sự bước vào cuộc đối thoại. Tôi có thể nhớ đến những người không có khả năng cầu nguyện trong ngày ấy và cho phép tiếng kêu của Thánh Vịnh ôm lấy họ. Nếu một câu đánh động, tôi có thể mang theo câu ấy thay vì vội xếp nó vào quá khứ. Sự thay đổi ấy có vẻ nhỏ. Đời sống thiêng liêng thường được gìn giữ bằng những điều nhỏ được lặp lại với tình yêu.
Với cộng đoàn tu trì, tôi mong những giờ chia sẻ Lời Chúa có đủ sự tự do để người ta nói thật và đủ lòng kính trọng để không ai biến Lời thành vũ khí nhắm vào người khác. Một cộng đoàn có thể cùng đọc đoạn Tin Mừng về việc rửa chân và sau đó hỏi: ai đang làm những việc ít được thấy trong nhà? Có thể đọc về người Samari nhân hậu rồi hỏi: ai đang bị chúng ta đi ngang qua? Có thể đọc về các môn đệ trên đường Emmau rồi hỏi: người nào trong nhà đang buồn mà chúng ta chưa nhận ra? Những câu hỏi ấy cần được đặt trong sự tế nhị. Chúng không nhằm tìm một người có lỗi để trách. Chúng giúp cả cộng đoàn nhận ra nơi Chúa đang mời mình đổi cách sống. Khi Lời Chúa được nghe chung như vậy, một nhà dòng giữa phố có thể thành nơi người ta học lại cách tiếp đón.
Tôi cũng mong người linh mục và tu sĩ biết đưa Sách Thánh vào những lúc không có dáng vẻ «đạo đức» bên ngoài. Trong bữa ăn, chúng ta có thể nhớ lời Chúa dạy biết ơn. Trong một cuộc họp căng thẳng, có thể nhớ Người đã lắng nghe người bị ngắt lời. Khi quản lý tiền bạc, có thể nhớ khuôn mặt những người nghèo sẽ chịu ảnh hưởng từ quyết định của mình. Khi viết một tin trên mạng, có thể tự hỏi lời ấy có xây dựng sự thật và phẩm giá người khác không. Khi ở cạnh một người hấp hối, có thể nhớ Đức Giêsu đã khóc trước mộ bạn mình. Lời Chúa muốn đi vào những nơi rất bình thường ấy. Nếu chỉ gặp Lời trong giờ đã định rồi để Người ở lại nhà nguyện, tôi đã thu hẹp nơi Người muốn cư ngụ.
Điều khó nhất có lẽ là chấp nhận để Sách Thánh làm tôi thay đổi sau nhiều năm tôi đã quen là người hướng dẫn người khác. Linh mục thường được hỏi ý kiến. Tu sĩ có kinh nghiệm thường được giao đào tạo. Dần dần, chúng ta có thể quen với vị trí người giải thích, người khuyên bảo, người phân định. Trước Sách Thánh, tất cả lại là môn đệ. Cha xứ là môn đệ. Bề trên là môn đệ. Người dạy Kinh Thánh cũng là môn đệ. Câu chuyện Đức Giêsu rửa chân không thôi chất vấn tôi chỉ vì tôi đã giảng về nó mười lần. Lời mời tha thứ không giảm bớt đòi hỏi chỉ vì tôi đã hướng dẫn nhiều người làm hòa. Trước Lời, tôi không có một chức vụ nào cho phép mình đứng ngoài cuộc. Chính điều ấy giữ cho chức vụ được trong sáng: tôi có thể dẫn người khác đi vì chính tôi còn để Chúa dẫn mình.
Có lẽ một ngày nào đó, khi tôi già, tay tôi không còn nhanh, trí nhớ tôi không còn tốt, các công việc từng làm đã được trao cho người khác, tôi sẽ hiểu rõ hơn điều cha Quế đã sống bên bàn dịch. Sau bao lời đã giảng và bao trang đã đọc, điều còn lại là một người vẫn muốn nghe. Tôi không biết mình sẽ có được sự bền bỉ ấy không. Tôi chỉ biết nó không xuất hiện bất ngờ vào tuổi chín mươi lăm. Nó được tập từ hôm nay, từ những buổi sáng mở sách khi chẳng ai nhìn thấy, từ những lần gạch bỏ một câu giảng quá dễ dãi, từ những giờ kinh phải kéo trí mình trở lại, từ những lời xin lỗi khi cách sống không theo kịp điều mình công bố. Lòng trung thành cuối đời được dệt bằng những cuộc trở về nhỏ mỗi ngày.
Thánh Giê-rô-ni-mô ở Bê-lem đã dành trí tuệ, sức lực và năm tháng cho Sách Thánh. Tôi không thể sống lại cuộc đời ngài. Nhưng tôi có thể nghe lời ngài nhắn Nepotianus như một lời gửi đến chính mình: hãy cầm lấy Sách Thánh; hãy học điều con phải dạy; hãy sống để lời con nói không bị đời con phủ nhận. Nếu có hôm nào tôi thấy lời mời ấy quá lớn, tôi sẽ bắt đầu bằng việc rất nhỏ: mở sách ra, đọc chậm một đoạn và thưa: «Lạy Chúa, xin cho con nghe như một người môn đệ». Rồi tôi sẽ mang điều vừa nghe đến với những người Chúa giao phó. Đời linh mục và đời tu cần được nuôi như thế, ngày này qua ngày khác: bằng Lời được đón nhận, cầu nguyện, học hỏi và đem ra sống giữa con người.
Xin cho nhà xứ có những cuốn Kinh Thánh được mở thường xuyên. Xin cho nhà dòng có những giờ cầu nguyện mà người ta thực sự đem lòng mình đến. Xin cho bài giảng được sinh ra từ cuộc gặp gỡ với Chúa và từ tình yêu dành cho cộng đoàn. Xin cho những ai phục vụ Lời biết kính trọng từng chữ, nhưng cũng nhận ra những con người đang chờ được Lời ấy nâng dậy. Và xin cho tôi, khi đã nói với người khác rất nhiều về Sách Thánh, vẫn còn đủ khiêm tốn để mỗi ngày ngồi xuống, lắng nghe và bắt đầu lại.

CHƯƠNG XVIII. TRẺ EM VÀ LỜI CHÚA BẰNG TIẾNG MẸ
Có một khoảnh khắc rất nhỏ mà người lớn thường không để ý. Một đứa trẻ ngồi cạnh mẹ trong nhà thờ. Bài Tin Mừng được công bố. Nó chưa hiểu hết. Nó có thể còn mải nhìn ngọn nến, màu áo lễ, một vệt nắng trên nền gạch, hoặc bàn tay mẹ đang đặt trên vai mình. Nhưng giữa những âm thanh đi qua, nó nghe được một câu: “Đừng sợ.” Nó ngước lên. Người mẹ không giảng giải ngay. Chị chỉ khẽ nắm tay con. Nhiều năm sau, đứa trẻ ấy có thể quên bài giảng hôm đó, quên cả ngày tháng và ngôi nhà thờ, nhưng một lúc nào đó giữa đời, khi sợ hãi đến thật gần, câu nói kia trở lại. Nó nhận ra mình đã nghe lời ấy từ rất lâu, trong tiếng Việt, bên cạnh một người yêu thương mình. Lời Chúa đã tìm được đường vào ký ức trước khi đứa trẻ biết gọi tên điều đang xảy ra.
Vì thế, khi Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ thực hiện những công trình như Kể chuyện Kinh Thánh cho trẻ em và cho thiếu niên, tôi nghĩ đến một trực giác mục vụ sâu xa: đưa Lời Chúa đến gần con người từ những năm đầu đời, bằng thứ tiếng các em dùng để gọi mẹ, gọi cha, gọi người mình thương và nói ra nỗi sợ của mình. Một bản văn dành cho trẻ nhỏ không phải là công trình hạng nhẹ bên cạnh những bộ sách dành cho người nghiên cứu. Người lớn có thể tìm đến Kinh Thánh sau nhiều năm học hỏi, với từ điển, chú giải và những câu hỏi thần học. Đứa trẻ đến với Kinh Thánh qua một giọng kể. Nó nghe trước khi tự đọc. Nó yêu một câu chuyện trước khi có thể hiểu cấu trúc của câu chuyện ấy. Nó nhớ một nhân vật trước khi biết nhân vật đó thuộc sách nào. Và nhiều khi, chính điều được gieo trong những năm đầu ấy quyết định về sau nó sẽ thấy Kinh Thánh là một cuốn sách xa lạ trên giá, hay là nơi có một tiếng nói từng gọi nó bằng tên.
Tiếng mẹ là ngôi nhà đầu tiên của Lời
Tiếng mẹ đẻ không chỉ là một phương tiện chuyển tải ý nghĩa. Đó là nơi con người học yêu và học tin. Một đứa trẻ nghe tiếng Việt từ khi chưa hiểu chữ nào. Nó nhận ra giọng mẹ trước khi phân biệt được các từ. Nó biết tiếng nào là tiếng dỗ dành, tiếng nào là tiếng gọi về ăn cơm, tiếng nào báo rằng mình đã làm điều không nên làm. Khi lớn thêm một chút, nó dùng chính thứ tiếng ấy để hỏi vì sao trời tối, vì sao người ta chết, Chúa ở đâu, và Chúa có nghe con không. Nếu Lời Chúa bước vào đời nó bằng thứ tiếng ấy, Lời không xuất hiện như một vật lạ phải học thuộc để làm vừa lòng người lớn. Lời bước vào giữa đời sống mà đứa trẻ đã biết: căn nhà, bữa cơm, giấc ngủ, sự giận dỗi, lời xin lỗi, cái ôm, một người vắng mặt, một người trở về.
Tôi nói “tiếng mẹ” mà cũng muốn nói đến mọi giọng nói thân thuộc đã chăm sóc một đứa trẻ: giọng cha đọc một đoạn Tin Mừng trước bữa ăn, giọng bà kể chuyện ông Môsê bên chiếc võng, giọng ông nhắc về người Samari tốt lành khi cháu thấy một người bị bỏ quên, giọng anh chị lớn đọc chuyện Chúa Giêsu chúc lành cho các em nhỏ. Có những gia đình thiếu một người cha hoặc một người mẹ. Có những em lớn lên với ông bà, người thân, hoặc trong một mái ấm. Lời Chúa vẫn có thể đến với các em qua một giọng người biết kiên nhẫn ở lại. Điều làm nên “tiếng mẹ” ở đây không chỉ là người phát âm, nhưng là tình thương khiến một đứa trẻ đủ yên tâm để lắng nghe.
Bởi vậy, dịch Kinh Thánh cho trẻ em không thể chỉ là thay các từ khó bằng các từ dễ. Người dịch phải tự hỏi: câu này khi đọc lên có sống được trong miệng người Việt không? Một người bà có đọc được mà không vấp không? Một giáo lý viên có thể kể bằng giọng tự nhiên mà vẫn trung thành với ý nghĩa bản văn không? Đứa trẻ nghe xong có cảm thấy mình được mời bước vào câu chuyện không? Một câu văn có thể hoàn toàn đúng về mặt ngữ nghĩa, nhưng quá nặng nề để đi vào tai trẻ nhỏ. Ngược lại, một câu có thể rất trơn tru, rất vui, nhưng làm mất sự lạ lùng và chiều sâu của Lời Chúa. Sự trong sáng mà tôi mong nơi bản dịch không phải sự đơn giản hóa đến mức mọi mầu nhiệm biến mất. Đó là sự sáng rõ giúp một đứa trẻ có thể đến gần mầu nhiệm mà không bị người lớn dựng lên trước mặt nó một bức tường ngôn ngữ.
Chúng ta có thể hình dung một em bé nghe chuyện Samuel được Chúa gọi trong đêm. Em chưa biết hết bối cảnh lịch sử của Ítraen, chưa hiểu vai trò của tư tế Êli hay ý nghĩa của ơn gọi ngôn sứ. Nhưng em hiểu thế nào là nghe ai gọi tên mình. Em hiểu cảm giác thức dậy giữa đêm. Em hiểu việc chạy đến một người lớn để hỏi: “Có phải ông gọi con không?” Từ một kinh nghiệm gần gũi như thế, câu chuyện mở ra một chân trời lớn hơn: Thiên Chúa có thể gọi một con người, và con người có thể học cách thưa lại. Nếu câu chuyện được kể bằng một giọng đủ gần, em sẽ không nghĩ: “Đó là chuyện của những người ngày xưa.” Em có thể hỏi: “Chúa có gọi con không?” Câu hỏi ấy quý hơn một câu trả lời được học thuộc quá sớm.
Trẻ em cần được nghe chính Lời Chúa
Kể chuyện Kinh Thánh cho trẻ em là việc đáng quý, nhưng người kể cũng cần biết mình đang dẫn các em đến đâu. Câu chuyện được kể lại là một cây cầu. Bản văn Kinh Thánh là nơi cây cầu ấy hướng tới. Nếu chỉ kể theo trí nhớ, người lớn rất dễ thêm những chi tiết mình thích, bỏ những điều mình thấy khó, rồi dần dần kể một câu chuyện khác với câu chuyện đã được trao cho Giáo Hội. Có lúc chúng ta khiến mọi nhân vật trở nên ngoan ngoãn quá mức, mọi tình huống đều có một bài học quá nhanh, và Đức Giêsu trở thành người luôn xuất hiện để kết thúc một câu chuyện bằng một lời khuyên đạo đức. Nhưng các trang Tin Mừng không phẳng như thế. Có những câu hỏi chưa được trả lời ngay. Có những người đến với Chúa bằng lòng tin còn non yếu. Có những môn đệ hiểu sai, sợ hãi, tranh hơn thua. Có những lời của Đức Giêsu khiến cả người lớn cũng phải dừng lại suy nghĩ. Trẻ em không cần bị tước mất chiều sâu ấy; các em cần một người dẫn đường biết lựa chọn điều thích hợp với lứa tuổi và biết tôn trọng sự thật của bản văn.
Tôi mong các giáo lý viên tập một thói quen rất nhỏ: trước khi kể hoặc giải thích, hãy để các em nghe một câu Tin Mừng nguyên văn, trong một bản dịch được dùng phù hợp. Chỉ một câu thôi, nếu thời giờ ít. Đọc chậm. Đọc cho rõ. Để một khoảng lặng. Rồi mới hỏi: “Các con vừa nghe thấy Chúa nói gì?” Đừng vội hỏi: “Bài học hôm nay là gì?” Câu hỏi thứ nhất mời trẻ lắng nghe. Câu hỏi thứ hai, nếu đặt quá sớm, dễ biến Tin Mừng thành một bài kiểm tra xem em nào đoán đúng ý người lớn.
Một lớp giáo lý có thể rất sinh động mà vẫn nghèo Lời Chúa. Các em chạy, hát, chơi, tô màu, nhận phần thưởng, trả lời thật nhanh. Tất cả những điều ấy có chỗ của chúng. Trẻ em cần được vui, được vận động, được cùng nhau làm việc. Nhưng sau một giờ học, nếu các em nhớ luật chơi mà không nhớ một lời nào của Đức Giêsu, người dạy cần tự hỏi điều gì đang ở giữa lớp học. Giáo lý viên không phải người tổ chức hoạt náo có thêm vài câu đạo. Giáo lý viên là người đưa trẻ đến gần Chúa và giúp trẻ nhận ra tiếng Người giữa nhiều tiếng gọi khác. Một trò chơi tốt có thể mở cửa cho việc ấy; nó không thể thay cuộc gặp gỡ ấy.
Tôi từng nghĩ đến sự khác nhau giữa hai cách dạy về câu chuyện người cha nhân hậu. Cách thứ nhất dành phần lớn thời gian để dựng hoạt cảnh, phát đạo cụ, chia vai và tập cho các em diễn thật vui. Hết giờ, người dạy kết luận: “Các con phải biết xin lỗi cha mẹ.” Điều ấy đúng, nhưng câu chuyện lớn hơn nhiều. Cách thứ hai cũng có thể dùng hoạt cảnh, nhưng trước hết cho các em nghe chậm lời người con: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha”; rồi nghe lời người cha bảo đem áo đẹp ra, mở tiệc vì con mình đã trở về. Người dạy hỏi: “Khi người con còn ở xa, người cha làm gì? Người cha có bắt con kể hết lỗi trước khi ôm con không?” Có em sẽ nói về chính mình. Có em chưa muốn nói. Có em chỉ nhìn xuống. Lúc ấy, người dạy cần đủ tế nhị để biết rằng Lời đang chạm vào những điều không thể biến thành trò chơi hay một đáp án chung.
Một Đức Kitô không xa lạ với tuổi thơ Việt Nam
Trẻ em Việt Nam hôm nay gặp rất nhiều hình ảnh Kinh Thánh qua màn hình. Có những bộ phim, tranh vẽ, bài hát và ứng dụng được làm công phu, có ích. Chúng giúp các em hình dung bối cảnh mà gia đình hoặc lớp giáo lý khó dựng nên. Nhưng nếu toàn bộ cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu chỉ đến qua những khuôn mặt, giọng nói, nhịp kể và lối diễn đạt xa lạ, các em có thể vô tình đặt Người vào một thế giới chỉ có trên màn ảnh. Người trở thành nhân vật của một câu chuyện nước ngoài, được lồng tiếng vụng về, hơn là Đấng có lời dành cho em ngay trong cuộc sống của em.
Dịch thuật mục vụ giúp thu hẹp khoảng cách ấy. Nói rằng Chúa “nói được tiếng của con” không có nghĩa chúng ta đổi quê hương lịch sử của Đức Giêsu. Người đã sống giữa dân Do Thái, tại những địa danh và trong một truyền thống cụ thể; chúng ta phải giúp trẻ biết điều đó. Cũng không có nghĩa phải biến mọi dụ ngôn thành chuyện xảy ra ở một làng Việt Nam, thay hết tên người, tên đất cho dễ hiểu. Làm như vậy đôi khi xóa mất vẻ đẹp và sự thật của Kinh Thánh. Ý tôi là: khi bản văn được chuyển sang tiếng Việt một cách sáng rõ, khi người lớn giải thích bằng những kinh nghiệm trẻ nhận ra, thì khoảng cách về địa lý không còn là khoảng cách của tình thân. Một em bé ở Việt Nam vẫn có thể nghe Chúa Giêsu hỏi: “Con muốn Thầy làm gì cho con?” và hiểu rằng câu hỏi ấy cũng mở ra cho mình. Em vẫn có thể nghe: “Cứ để trẻ em đến với Thầy” mà không thấy mình là khán giả đứng ngoài.
Có lẽ một trong những câu hỏi quan trọng nhất khi làm sách Kinh Thánh cho trẻ là: cuốn sách ấy giúp em nhận ra Đức Giêsu như thế nào? Nếu em chỉ thấy một người làm phép lạ rất giỏi, em sẽ tìm Người khi muốn một điều xảy ra theo ý mình. Nếu em chỉ thấy một người luôn nhắc phải ngoan, em có thể sợ đến gần Người mỗi khi mình làm sai. Nếu em chỉ thấy một nhân vật hiền lành trong những bức tranh đẹp, em sẽ khó nhận ra Người trong cuộc Thương Khó. Cần kiên nhẫn cho trẻ gặp một Đức Giêsu đầy đủ hơn qua từng chặng lớn lên: Người đón nhận, lắng nghe, chữa lành, tha thứ, gọi các môn đệ đi theo; Người cũng nói sự thật, đối diện bất công, đi đến thập giá và sống lại. Không ai trao trọn mầu nhiệm ấy trong một buổi học. Nhưng người kể có thể quyết định ngay từ đầu rằng mình sẽ không bó hẹp Chúa vào một hình ảnh tiện cho việc quản lý trẻ.
“Chúa Giêsu sẽ buồn nếu con không ngoan” là câu người lớn có thể nói rất dễ dàng. Nó có thể khiến một đứa trẻ im lặng trong chốc lát, nhưng cũng có thể làm em tưởng tình thương của Chúa lên xuống theo điểm số hành vi của mình. Ta có thể nói thật và dịu dàng hơn: “Điều con vừa làm khiến bạn đau. Chúa yêu con và mời con đến xin lỗi, tìm cách sửa lại.” Trẻ cần được biết lỗi là lỗi, sự tổn thương là có thật, và việc sửa sai là cần thiết. Trẻ cũng cần biết mình có thể quay về. Câu chuyện của Kinh Thánh trao cho người dạy cả hai điều ấy. Nếu chúng ta chỉ lấy phần đe dọa để buộc trẻ vâng lời, chúng ta đã đặt vào tai trẻ một giọng nói khác với giọng của Đấng đi tìm con chiên lạc.
Kể chuyện trước giờ ngủ
Trong một gia đình, giờ thích hợp nhất để đọc Lời Chúa cho trẻ không nhất thiết là giờ trang trọng nhất. Có thể đó là mười phút trước khi ngủ, khi đèn đã dịu, điện thoại được đặt xuống, mọi người bớt vội. Cha hoặc mẹ đọc một câu chuyện ngắn. Đứa trẻ hỏi giữa chừng: “Tại sao ông ấy bỏ nhà đi?” “Tại sao Chúa không đến sớm hơn?” “Nếu con là em bé có năm chiếc bánh, con có phải cho hết không?” Người lớn không cần lúc nào cũng có câu trả lời hoàn hảo. Đôi khi có thể nói: “Mẹ cũng muốn suy nghĩ thêm. Mai mình đọc lại đoạn này nhé.” Lời thú nhận ấy không làm đức tin của trẻ yếu đi. Nó dạy trẻ rằng đứng trước Lời Chúa, người lớn cũng là người lắng nghe.
Không phải gia đình nào cũng có nếp sống yên ổn để duy trì một giờ đọc cố định. Có người cha đi làm ca đêm. Có người mẹ về nhà rất muộn. Có em sống trong căn phòng đông người, khó có một khoảng lặng. Tôi không muốn đặt thêm một gánh nặng đạo đức lên vai những gia đình đã vất vả. Bắt đầu có thể đơn sơ hơn nhiều: một câu Tin Mừng vào sáng Chúa nhật; một câu chuyện ngắn khi cả nhà có mặt; một lời nhắc của cha mẹ khi con đang lo lắng trước ngày đi học. Điều quan trọng không phải hoàn thành một chỉ tiêu đọc sách, nhưng để trẻ thấy Lời Chúa có chỗ thật trong căn nhà của mình.
Đứa trẻ còn học qua cách người lớn đối xử với nhau sau khi cuốn sách đã khép lại. Cha kể chuyện người Samari dừng bước trước người bị thương, rồi chính cha dừng công việc để nghe con nói hết một nỗi buồn. Mẹ đọc chuyện Chúa tha thứ, rồi mẹ biết xin lỗi con vì đã trách oan. Ông bà kể về lòng biết ơn, rồi cùng cháu nhớ đến người đã giúp gia đình. Không gia đình nào làm được điều đó mọi lúc. Nhưng khi lời được đọc và đời sống bắt đầu tìm cách đi gần nhau, đứa trẻ hiểu rằng câu chuyện Kinh Thánh còn tiếp tục sau trang cuối.
Ngược lại, sẽ rất đau nếu em nghe người lớn nói về lòng thương xót trong giờ kinh, rồi thấy người ta dùng lời nhục mạ nhau ngay sau đó. Trẻ có một khả năng nhận ra sự chênh lệch ấy rất nhạy. Em có thể chưa biết trình bày thành một lập luận, nhưng em cảm thấy. Bởi vậy, trao Lời Chúa cho trẻ là một trách nhiệm khiến người lớn cũng phải hoán cải. Chúng ta không thể chỉ hỏi trẻ đã thuộc được câu nào. Chúng ta cần hỏi mình đã sống ra sao trước mặt trẻ sau khi đọc câu ấy.
Đừng biến câu chuyện thành phần thưởng cho em ngoan
Một số em bước vào lớp giáo lý rất dễ thương, chăm chú, thích giơ tay, trả lời đúng. Một số khác đến muộn, hay cựa quậy, không chịu ngồi yên, không nhớ câu nào. Có em chưa đọc thạo. Có em nghe tiếng Việt trong nhà nhưng học bằng một ngôn ngữ khác ở trường. Có em mang trong người một nỗi buồn mà giáo lý viên chưa biết. Nếu người dạy chỉ dành câu chuyện hay, lời khích lệ và sự kiên nhẫn cho những em dễ dạy, thì chính cách tổ chức lớp học đã đi ngược với Tin Mừng mình đang đọc.
Đức Giêsu đặt một em nhỏ bên cạnh Người khi các môn đệ bận hỏi ai là người lớn nhất. Người không chọn em vì em vừa đoạt giải thuộc lòng. Người đặt em vào giữa một câu hỏi của người lớn về địa vị. Cử chỉ ấy phải khiến chúng ta nhìn lại lớp giáo lý: em nào được đứng ở giữa? Em nào luôn bị đẩy ra rìa vì làm chậm tiến độ? Em nào chỉ nghe tên mình khi bị nhắc nhở? Có khi hành vi mục vụ đầu tiên của giáo lý viên không phải tìm một phương pháp giảng mới, mà là nhớ tên em thường bị bỏ quên và dành thời giờ nghe em nói.
Lời Chúa bằng tiếng mẹ phải là lời một em có thể đến gần, kể cả khi em chưa nói giỏi, chưa đọc giỏi, chưa biết diễn đạt cảm xúc. Ta có thể dùng tranh để em chỉ vào nhân vật mình chú ý. Có thể để em nghe một câu vài lần. Có thể cho em diễn tả bằng một nét vẽ, một câu hỏi, hoặc chỉ một lời cầu nguyện rất ngắn. Khi cần, người dạy nhờ gia đình giúp em đọc lại ở nhà. Những cách ấy không làm giảm sự nghiêm túc của việc học Kinh Thánh. Chúng thừa nhận rằng mỗi đứa trẻ có một nhịp đến gần Lời.
Đối với thiếu niên, cách tiếp cận lại cần mở rộng. Các em bắt đầu biết nghi ngờ một lời giải thích quá gọn. Các em nhận ra khoảng cách giữa điều người lớn nói và điều người lớn làm. Các em hỏi về bạo lực trong Kinh Thánh, đau khổ của người vô tội, sự im lặng của Thiên Chúa, hoặc vì sao một người cầu nguyện vẫn mất người mình thương. Nếu sách dành cho thiếu niên chỉ đổi cỡ chữ và thêm vài hình màu từ bản dành cho trẻ nhỏ, nó chưa thực sự bước vào tuổi của các em. Thiếu niên cần được tôn trọng như người đang lớn lên trong khả năng đọc, hỏi, bất đồng và tìm kiếm. Người đồng hành có thể giải thích bối cảnh, phân biệt thể văn, chỉ ra sự phát triển của câu chuyện cứu độ. Quan trọng hơn, người ấy phải cho các em thấy một câu hỏi chân thành không khiến các em bị đẩy ra khỏi cộng đoàn đức tin.
Nghệ thuật đọc chậm cho một đứa trẻ
Có những người đọc Kinh Thánh cho trẻ rất hay dù họ không có kỹ thuật kể chuyện đặc biệt. Họ đọc đủ chậm để trẻ hình dung. Họ biết dừng ở một câu cần dừng. Họ không bắt chước quá nhiều giọng nhân vật khiến câu chuyện thành một màn diễn. Họ nhìn vào mắt trẻ để biết em còn đang ở đó hay đã lạc mất. Khi trẻ hỏi, họ nghe trọn câu hỏi thay vì đoán trước câu trả lời nên là gì. Đó là một thứ dịch thuật mục vụ đang diễn ra ngay trong lúc đọc: bản văn thành âm thanh, âm thanh gặp một con người cụ thể, và người đọc điều chỉnh nhịp của mình để người nghe có thể bước theo.
“Câu ngắn, giọng chậm, mắt nhìn trẻ” nghe thật đơn sơ. Nhưng có khi cần nhiều năm phục vụ giáo lý mới học được. Người lớn thường sợ khoảng lặng. Sau khi đọc một câu, chúng ta lập tức giải thích, hỏi, kết luận, liên hệ, cho ví dụ, kể thêm chuyện khác. Trẻ chưa kịp giữ câu vừa nghe thì mười câu mới đã đến. Một khoảng lặng ngắn có thể giúp em nghe lại trong lòng. Một câu hỏi như “Con thích câu nào?” hoặc “Con thấy ai trong chuyện đang buồn?” có thể mở ra nhiều điều hơn một bài giảng dài của người dạy. Có em trả lời điều rất bất ngờ. Em để ý chiếc áo của người cha, con thuyền giữa sóng, hoặc việc Chúa gọi tên một người phụ nữ đang khóc. Đừng vội kéo em về “ý chính” mà ta đã chuẩn bị. Hãy thử xem điều em nhìn thấy có thể dẫn đến đâu trong bản văn.
Đọc chậm cũng có nghĩa là chấp nhận lặp lại. Người lớn muốn mỗi tuần một bài mới. Trẻ em có khi muốn nghe lại đúng câu chuyện cũ. Các em biết trước đoạn nào người cha chạy ra, đoạn nào Chúa gọi Samuel, đoạn nào người mục tử tìm thấy con chiên. Sự lặp lại không làm Lời nghèo đi. Nó cho đứa trẻ một cơ hội khác để đi sâu hơn. Lần đầu em nhớ hành động. Lần sau em để ý một lời nói. Vài năm sau, chính câu chuyện ấy bỗng soi sáng một kinh nghiệm mới của em. Phụng vụ của Giáo Hội cũng đưa chúng ta trở lại với các bản văn qua các mùa năm này sang năm khác. Trẻ em hiểu nhịp trở lại ấy theo một cách rất tự nhiên.
Tuy nhiên, đọc chậm không phải đọc với giọng nhân tạo, xa cuộc sống. Một đứa trẻ nhận ra rất nhanh khi người lớn chuyển sang “giọng đạo” mà họ không dùng ở đâu khác. Sự cung kính đối với Lời Chúa có thể đi cùng sự gần gũi và chân thật. Người kể không cần làm cho từng câu nghe như một lời tuyên bố lớn. Có những câu là tiếng thì thầm, tiếng khóc, một lời xin, một câu hỏi. Khi đọc bằng cả sự chú ý của mình, người lớn giúp trẻ nghe các cung bậc ấy.
Bức tranh, cuốn sách và điều không thể vẽ hết
Sách Kinh Thánh cho trẻ cần hình ảnh. Tranh giúp một em chưa biết đọc bước vào câu chuyện; giúp em nhớ một khuôn mặt, một cử chỉ, một con đường. Nhưng tranh cũng có sức định hình trí tưởng tượng rất mạnh. Nếu mọi cảnh đều quá sạch, quá đẹp, mọi nhân vật đều có vẻ mặt giống nhau và mọi nỗi đau đều được trình bày như một chi tiết trang trí, trẻ có thể khó cảm được vì sao người bệnh kêu xin, vì sao các môn đệ sợ giữa biển, vì sao một người mẹ khóc dưới chân thập giá. Hình ảnh cần dịu với trẻ mà vẫn thành thật với câu chuyện.
Tôi cũng mong sách để lại chỗ cho điều không vẽ được. Không bức tranh nào có thể tóm hết ánh mắt Đức Giêsu khi Người nhìn Phêrô. Không màu sắc nào vẽ trọn được niềm vui của người cha khi con trở về. Một minh họa tốt mời trẻ nhìn rồi trở lại với câu chữ; nó không đóng kín ý nghĩa bằng một hình ảnh duy nhất. Người lớn có thể hỏi: “Nếu con ở đó, con sẽ đứng ở đâu?” Câu hỏi ấy cho trí tưởng tượng của trẻ làm việc dưới ánh sáng bản văn. Em có thể đứng bên cửa, trên thuyền, trong đám đông, hoặc cạnh người đang bị bỏ quên. Từ vị trí ấy, em bắt đầu đọc câu chuyện như một lời liên quan đến mình.
Ngày nay còn có âm thanh và video. Một bản thu được đọc tốt có thể đến với em trong chuyến xe dài hoặc trong gia đình không có người lớn đủ tự tin đọc thành tiếng. Một video có thể giúp em nhận ra các địa danh, trang phục, cảnh sinh hoạt. Nhưng sau khi màn hình tắt, vẫn cần một con người hỏi em đã nghe thấy gì. Không thuật toán nào biết rằng đoạn người cha ôm con khiến em lặng đi vì em đang nhớ cha mình. Không ứng dụng nào tự mình thay được sự hiện diện của một người lớn biết để ý đến sự im lặng ấy. Công nghệ có thể mở trang sách; tình thương kiên nhẫn giúp đứa trẻ ở lại với trang sách.
Những câu hỏi mà trẻ em đặt cho người lớn
Trẻ có thể hỏi những điều làm người lớn bối rối: “Nếu Chúa thương mọi người, sao người ta vẫn đánh nhau?” “Chúa có buồn khi con ghét bạn không?” “Bạn con không đi lễ thì Chúa có thương bạn không?” “Tại sao Chúa không chữa cho bà?” Những câu hỏi ấy không phá hỏng giờ giáo lý. Đó là dấu hiệu em đang nối câu chuyện được nghe với thế giới mình đang sống. Chúng ta không cần biến mỗi câu hỏi thành một buổi tranh luận dài; cũng đừng đáp qua loa chỉ để giữ đúng giáo án.
Có lúc câu trả lời trung thực nhất là: “Cha chưa biết nói điều này thế nào cho đủ. Nhưng cha biết con đang rất buồn, và cha sẽ ở đây nghe con.” Có lúc ta có thể cùng trẻ đọc một câu chuyện khác, chẳng hạn câu chuyện Đức Giêsu khóc trước mộ người bạn. Ta không dùng câu chuyện ấy để giải thích hết sự chết. Ta để trẻ biết rằng nước mắt của em không ở ngoài cuộc gặp gỡ với Chúa. Với những câu hỏi về người khác đạo hay người ít đi nhà thờ, ta có thể bắt đầu bằng điều chắc chắn trẻ cần nghe: không ai được dạy em khinh thường một người bạn. Lời Chúa dẫn chúng ta đến tình yêu, lòng ngay thẳng và sự khiêm tốn trước mầu nhiệm của Thiên Chúa.
Những câu hỏi của trẻ còn giúp người lớn nhận ra mình đang đọc Kinh Thánh theo thói quen nào. Ta đọc chuyện Chúa hóa bánh ra nhiều và nghĩ ngay đến một ý giảng quen thuộc; trẻ hỏi em bé đã có đủ ăn chưa sau khi trao bánh. Ta đọc chuyện người Samari và nghĩ đến bổn phận bác ái; trẻ hỏi người bị thương có sợ khi thấy một người lạ đến gần không. Ta đọc chuyện Đức Giêsu ngủ trên thuyền; trẻ hỏi vì sao Chúa ngủ được khi bạn của Người đang sợ. Những câu hỏi ấy đưa chúng ta trở lại với da thịt của câu chuyện. Chúng không thay thế việc học hỏi nghiêm túc, nhưng nhắc người lớn đừng đọc quá nhanh đến mức không còn thấy con người trong bản văn.
Từ lớp giáo lý đến cộng đoàn phụng vụ
Nếu giáo xứ muốn trẻ yêu Lời Chúa, trách nhiệm không thể đặt hết lên một giờ giáo lý mỗi tuần. Các em cần nghe cộng đoàn công bố Lời một cách rõ ràng, có chuẩn bị, với sự kính trọng. Người đọc sách thánh không chỉ đang đọc cho người lớn hiểu; ở đâu đó trong nhà thờ có một em bé lần đầu nghe câu ấy. Linh mục giảng lễ cho một cộng đoàn nhiều thế hệ cũng có thể đôi lúc nói một câu mà trẻ hiểu được, dùng một hình ảnh các em nhận ra, rồi tiếp tục đi sâu cho người lớn. Không cần biến cả bài giảng thành chuyện thiếu nhi. Chỉ cần nhớ rằng trẻ cũng đang ở trong Hội Thánh đang lắng nghe.
Tôi mong các gia đình không vội xem sự hiện diện của trẻ trong thánh lễ là một trở ngại cho sự trang nghiêm. Dĩ nhiên cha mẹ cần giúp con học cách tham dự, và cộng đoàn cần có sự tế nhị với nhau. Nhưng một đứa trẻ không sinh ra đã biết đứng, ngồi, đáp và thinh lặng đúng lúc. Em học qua nhiều Chúa nhật, qua bàn tay chỉ vào sách lễ, qua tiếng người lớn cùng thưa, qua những lời giải thích rất ngắn khi ra về. Nếu người lớn chỉ truyền cho em cảm giác rằng nhà thờ là nơi em luôn làm sai, em sẽ khó tin đây cũng là nhà của mình. Một cộng đoàn yêu Lời Chúa cần học cách đưa trẻ vào nhịp lắng nghe của mình bằng sự kiên nhẫn.
Sau lễ, cha mẹ có thể hỏi con: “Hôm nay con nghe được câu nào?” Nếu con trả lời “Con không nhớ”, không sao cả. Có thể người lớn kể câu mình nhớ, rồi hỏi con nghĩ gì. Có hôm cuộc trò chuyện kéo dài một phút. Có hôm chẳng có cuộc trò chuyện nào vì cả nhà đang vội. Đức tin được nuôi bằng một nhịp sống lâu dài, không bằng việc biến mỗi Chúa nhật thành một cuộc kiểm tra. Điều đáng mừng là khi đứa trẻ bắt đầu biết mang một câu Lời Chúa từ nhà thờ về nhà, từ nhà vào lớp, từ lớp đến một cuộc gặp với bạn. Đó là lúc bản dịch đã vượt khỏi trang giấy để đi vào đời sống.
Một cuốn sách đi cùng tuổi lớn
Sách kể chuyện Kinh Thánh cho trẻ không chỉ dành cho những năm trẻ chưa biết chữ. Có những cuốn sách đầu đời được đọc đi đọc lại đến sờn gáy. Lớn lên, em mở lại và thấy câu chuyện khác trước. Ngày bé, em thích chuyện Đavít đối diện Goliát vì một người nhỏ thắng một người lớn. Đến tuổi thiếu niên, em có thể nghĩ về nỗi sợ, lòng can đảm và sự nguy hiểm của việc dùng câu chuyện ấy để tưởng mình luôn đúng trong mọi cuộc đối đầu. Ngày bé, em nhớ con chiên lạc vì hình ảnh người mục tử bế nó. Lớn hơn, em bắt đầu hiểu cảm giác lạc đường và nỗi ngượng ngùng khi được tìm thấy. Cùng một câu chuyện đi theo một con người qua nhiều tuổi đời.
Vì thế, người viết cho trẻ cần tôn trọng tương lai của độc giả. Đừng viết một câu chuyện chỉ có thể sống trong năm em lên bảy. Hãy viết đủ rõ để em bảy tuổi nghe được, đủ trung thành để em mười bảy tuổi đọc lại không phải tháo bỏ một hình ảnh sai lệch về Chúa. Điều này đòi hỏi người làm sách nhiều công sức. Họ phải biết điều gì cần nói, điều gì nên chờ, điều gì tuyệt đối không được bóp méo cho dễ kể. Một tác phẩm dành cho trẻ càng ngắn, người viết đôi khi càng phải suy nghĩ lâu.
Ở đây, tôi càng biết ơn những người kiên nhẫn làm công việc dịch thuật và biên soạn. Họ không đứng trước đám đông khi một em bé lần đầu nghe câu chuyện. Họ không biết tên người cha sẽ mở sách cho con, người giáo lý viên sẽ mang sách vào lớp, hay đứa trẻ sẽ giữ một câu trong lòng suốt nhiều năm. Họ chỉ có thể chăm chút từng chữ với hy vọng rằng chữ ấy sẽ phục vụ một cuộc gặp gỡ mình không chứng kiến. Đó là một hình thức âm thầm của lòng tin: tin rằng một câu văn được làm cẩn thận hôm nay có thể trở thành nơi Thiên Chúa chạm đến ai đó ngày mai.
Khi tiếng mẹ bị đứt đoạn
Không phải mọi trẻ Việt đều sống giữa một môi trường tiếng Việt trọn vẹn. Có em sinh ra và lớn lên ở nước ngoài, nói tiếng Việt với ông bà nhưng học, chơi và nghĩ bằng ngôn ngữ của nơi mình sống. Có em hiểu được lời cha mẹ mà không đọc thạo. Có em thuộc một cộng đồng dân tộc với tiếng mẹ đẻ khác tiếng Việt. Có em vì hoàn cảnh di chuyển nhiều lần mà chưa có một thứ tiếng nào mình thật sự vững. Nói về “Lời Chúa bằng tiếng mẹ” buộc chúng ta lắng nghe những thực tại ấy. Không thể chỉ đặt một cuốn sách tiếng Việt vào tay mọi em rồi cho rằng công việc đã xong.
Với một em ở xa quê, một câu Kinh Thánh bằng tiếng Việt có thể là cây cầu nối em với ông bà và ký ức gia đình. Nhưng em cũng cần được hiểu câu ấy bằng ngôn ngữ em sử dụng hằng ngày. Hai điều có thể nâng đỡ nhau. Người lớn có thể kể bằng tiếng Việt rồi để em nói lại theo cách mình hiểu. Có thể cùng đọc hai bản văn và hỏi một từ gợi cho em điều gì. Đừng biến việc học Lời Chúa thành nơi em bị trách vì nói tiếng Việt chưa giỏi. Cũng đừng xem sự pha trộn ngôn ngữ của em là thiếu kính trọng. Em đang tìm đường để diễn tả đức tin trong đời sống thật của mình. Người đồng hành cần giúp em tìm đường ấy.
Với những em có tiếng mẹ đẻ khác tiếng Việt, sự chăm sóc mục vụ còn đòi hỏi chúng ta khiêm tốn hơn. Một bản tiếng Việt trong sáng có thể hữu ích, nhưng nếu em nghe lời yêu thương đầu tiên bằng một ngôn ngữ khác, thì tiếng ấy cũng cần được tôn trọng trong hành trình đức tin của em. Hội Thánh không yêu một đứa trẻ bằng cách đòi em bỏ lại giọng nói của gia đình mình trước cửa nhà thờ. Việc dịch thuật, khi được hiểu thật sâu, mở lòng chúng ta ra với sự đa dạng của những người đang lắng nghe, chứ không khiến ta tưởng một cách nói có thể thay hết mọi cách nói.
Để trẻ học cầu nguyện bằng Lời
Một ngày nào đó, trẻ không chỉ nghe người khác kể chuyện Kinh Thánh. Em bắt đầu dùng một câu Lời Chúa để cầu nguyện. “Lạy Chúa, xin cứu con.” “Chúa ở cùng con.” “Xin cho con biết yêu thương.” Có câu em lấy đúng từ bản văn; có câu là lời em thưa sau khi nghe bản văn. Đừng vội sửa lời cầu nguyện của em cho trau chuốt. Nếu em nói: “Chúa ơi, hôm nay con giận lắm,” hãy giúp em biết mình có thể thưa thật như thế trước mặt Chúa. Các Thánh Vịnh cho Giáo Hội cả tiếng reo vui lẫn tiếng kêu đau đớn. Một đứa trẻ cũng cần được biết cầu nguyện không chỉ là nói những câu mình nghĩ người lớn muốn nghe.
Ta có thể mời em chọn một câu ngắn đem theo trong tuần. Không phải một khẩu hiệu bắt buộc phải lặp lại, nhưng một lời để trở về khi cần. Em sợ vì sắp chuyển trường: có thể nhớ “Đừng sợ.” Em khó xin lỗi một người bạn: có thể nhớ hình ảnh người cha chạy ra đón con. Em thấy một bạn bị cô lập: có thể nhớ Đức Giêsu đã dừng lại với những người bị đám đông đẩy ra ngoài. Người lớn đừng ép em phải tạo ra một “ứng dụng” cho mọi câu Kinh Thánh. Hãy để mối liên hệ giữa Lời và đời lớn lên tự nhiên, qua đối thoại và qua chính những lựa chọn nhỏ của em.
Cũng nên cho trẻ thấy có những lúc ta ở lại với Lời mà chưa hiểu. Một em có thể nghe câu chuyện cuộc Thương Khó và buồn. Ta không cần lập tức làm nỗi buồn biến mất bằng một kết thúc vui được kể quá vội. Có thể nói với em rằng các môn đệ cũng đã đau buồn, và Hội Thánh cùng đi qua những ngày ấy trước khi mừng Phục Sinh. Một em có thể nghe chuyện ông Gióp và hỏi rất lâu về đau khổ. Ta có thể cùng em giữ câu hỏi ấy trước Chúa. Khả năng ở lại với một câu khó là một phần của đời sống đức tin; trẻ em cũng có thể bắt đầu học điều ấy, theo sức của mình.
Người lớn hãy trở thành người nghe cùng trẻ
Rốt cuộc, điều đẹp nhất một giáo lý viên hay cha mẹ có thể nói không phải “Cha đã biết hết câu chuyện này, con hãy nghe cha”, nhưng là “Chúng ta cùng nghe xem Chúa nói gì.” Người lớn vẫn có trách nhiệm dạy, giải thích và sửa điều hiểu sai. Trách nhiệm ấy không mất đi. Nhưng khi chính người lớn biết đứng dưới Lời Chúa, trẻ sẽ nhận ra một điều rất quan trọng: Lời không phải tài sản của người dạy. Người dạy cũng cần được Lời dạy dỗ.
Có lần một người lớn đọc cho trẻ nghe chuyện Đức Giêsu rửa chân cho các môn đệ. Người ấy có thể giải thích thế nào là phục vụ. Nhưng nếu một đứa trẻ hỏi: “Người lớn có cần xin lỗi trẻ con không?”, câu hỏi bỗng đưa bản văn vào chính căn phòng. Khi ấy, người dạy có thể né tránh, hoặc có thể khiêm tốn thưa: “Có. Người lớn cũng cần xin lỗi khi làm sai.” Một câu trả lời như thế có lẽ ở lại trong em lâu hơn nhiều lời khuyên về phục vụ. Em thấy Lời Chúa có quyền chạm vào người lớn. Em thấy Chúa không chỉ đứng về phía người có quyền giải thích.
Tôi nghĩ đến những người âm thầm dịch và kể Kinh Thánh cho trẻ. Trước mặt họ là bản văn cần được trung thành. Trong lòng họ nên có hình ảnh những khuôn mặt nhỏ: một em nghe chuyện lần đầu, một em đã quá quen với những lời đạo nhưng chưa từng được lắng nghe, một em vừa mất người thân, một em đang vui đến mức không ngồi yên, một em nói tiếng Việt còn ngập ngừng. Mỗi em sẽ nhận Lời theo một cách. Không cuốn sách nào và không bài dạy nào kiểm soát được hết. Người phục vụ Lời chỉ có thể làm phần mình với lòng kính trọng: chọn chữ cẩn thận, kể thật, đọc chậm, trả lời thành thật, rồi tin rằng Thiên Chúa biết tiếp tục cuộc trò chuyện.
Từ một bản dịch đến một cuốn sách kể chuyện; từ cuốn sách đến giọng người đọc; từ giọng đọc đến tai một đứa trẻ; từ điều được nghe đến một câu hỏi, một lời cầu nguyện, một quyết định nhỏ trong đời: con đường ấy dài hơn mọi dự án xuất bản. Nhưng chính vì dài, nó đáng để bắt đầu sớm. Chúng ta không biết đứa trẻ hôm nay sẽ phải đi qua những mùa nào. Có thể em sẽ lớn lên trong một gia đình yên ấm. Có thể em phải rời quê, mất người thân, trải qua những năm thấy đức tin xa lạ. Có thể một lúc nào đó em không còn muốn nghe người lớn nói về Chúa. Ta không thể đi trước để giải quyết mọi điều cho em. Ta có thể trao cho em những câu Lời Chúa chân thật, trong một ngôn ngữ em nhận là của mình, cùng ký ức về những người đã đọc các câu ấy bằng tình thương.
Một ngày kia, giữa tiếng ồn của cuộc đời, em có thể nhớ lại câu mình nghe lúc còn bé: “Đừng sợ.” Hoặc: “Thầy gọi con.” Hoặc: “Hãy đến với Thầy.” Khi ấy, tiếng mẹ đẻ làm điều âm thầm mà lớn lao: nó trả lại cho em một lời đã được gieo từ lâu. Và em có thể nhận ra Đức Kitô không chỉ là Đấng từng được kể trong một cuốn sách. Người là Đấng vẫn đang nói với em, bằng một tiếng nói em có thể nghe, hiểu, và thưa lại từ chính trái tim mình.

CHƯƠNG XIX. NHỮNG KHÓ KHĂN TỪ BÊN TRONG ĐẾN BÊN NGOÀI
Nhân dịp mừng lễ thánh Giê-rô-ni-mô và hướng tới chặng đường năm mươi lăm năm của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ, có một câu khiến tôi dừng lại lâu hơn những câu khác: Nhóm đã đi qua năm mươi lăm năm, “trải qua nhiều khó khăn từ bên trong đến bên ngoài”. Câu ấy ngắn. Có lẽ người viết không muốn biến một lá thư hiệp thông thành bản tường trình về những điều đau lòng. Có lẽ nhiều chuyện chỉ người trong cuộc mới hiểu hết. Cũng có thể sau năm mươi lăm năm, người ta đã học được rằng kể lại mọi vết thương không nhất thiết làm cho vết thương lành hơn. Tôi tôn trọng sự dè dặt ấy. Tôi không đào lại từng hồ sơ, không gán lỗi cho một người nào, không lấy những điều mình chưa biết rõ để dựng thành một câu chuyện có người thắng và người thua. Nhưng tôi muốn ở lại với câu nói ấy, bởi nó giúp ta nhìn công trình phục vụ Lời Chúa bằng đôi mắt thật hơn. Một bản văn Kinh Thánh in đẹp trên trang giấy đã đi qua những bàn tay, những đêm thức, những tranh luận, những lần phải chờ đợi và cả những lúc người làm việc chỉ còn biết cầu nguyện để có thể tiếp tục.
Đứng trước một cuốn sách đã hoàn thành, ta thường chỉ thấy thành quả. Ta cầm sách, lật trang, đọc một câu, đánh dấu một đoạn, rồi đặt sách xuống. Người đọc có thể không biết câu mình vừa đọc đã được cân nhắc bao nhiêu lần. Một chữ từng có hai ba cách dịch. Một nhịp câu từng được đọc lớn tiếng để xem cộng đoàn có thể nghe và nhớ hay không. Một cách diễn đạt từng được giữ lại vì thân thuộc, rồi lại được đem ra xét vì có người nhận thấy nó chưa chuyển đúng ý bản gốc. Một chú thích từng phải viết lại cho sáng hơn. Có người đã góp công mà tên tuổi không được nhớ. Có người đang làm dở thì qua đời. Có người thấy ấn bản cuối cùng ra đời khi mắt đã mờ và tay đã run. Bởi thế, câu “trải qua nhiều khó khăn” không phải một lời trang trí cho dịp kỷ niệm. Đó là phần chìm của một công trình mà phần nổi đang nằm trong tay chúng ta.
Tôi nghĩ đến những người rất yêu Lời Chúa nhưng chưa từng tham gia một công việc chung kéo dài hàng chục năm. Họ có thể hình dung một nhóm dịch giả như một căn phòng yên tĩnh: mọi người mở sách, đưa ý kiến, mỉm cười đồng thuận và ra về trong bình an. Căn phòng ấy có những giờ bình an thật. Nhưng cũng như mọi cộng đoàn gồm những con người bằng xương bằng thịt, nó có những ngày mỏi mệt. Càng nghiêm túc với công việc, người ta càng có thể bất đồng về một chữ. Càng gắn bó với thành quả chung, người ta càng dễ đau khi ý kiến mình bị bác. Càng sống với nhau lâu, người ta càng nhìn rõ các giới hạn của nhau. Đức tin không làm những điều ấy tự động biến mất. Đức tin mời người ta đem chúng vào trong một cách làm việc khác: biết nghe, biết nói thật, biết nhận lỗi và biết trở về với điều mình cùng phụng sự.
Khó khăn bên ngoài: khi Lời Chúa phải đi qua những cánh cửa hẹp
Năm mươi lăm năm là một quãng đời dài. Một em bé sinh vào ngày Nhóm bắt đầu nay đã bước vào tuổi ông bà. Trong quãng ấy, hoàn cảnh xã hội thay đổi, phương tiện làm việc thay đổi, con đường in ấn và phát hành thay đổi. Có những năm người ta thiếu giấy, thiếu máy, thiếu điều kiện liên lạc. Có những việc phải chờ giấy phép. Có những dự định phải lùi lại vì thời cuộc. Có lúc một bản thảo hoàn tất mà đường đến với người đọc vẫn còn xa. Người đứng ngoài có thể hỏi: nếu việc ấy tốt lành, sao Chúa không mở mọi cửa cho nhanh? Nhưng lịch sử đức tin chưa bao giờ hứa rằng người phục vụ điều tốt sẽ luôn đi trên đường thẳng và rộng.
Một người dịch Lời Chúa cần bàn làm việc, sách tham khảo, thời gian, sức khỏe và sự cộng tác. Những nhu cầu ấy nghe rất bình thường, nhưng trong nhiều hoàn cảnh lại là điều khó kiếm. Một bản văn cần được đối chiếu; sách cần tìm chưa chắc có. Một câu hỏi cần trao đổi; người có thể giúp đang ở xa. Một công trình cần in; kinh phí chưa có. Người đọc muốn sớm có sách; người làm sách biết rằng hấp tấp sẽ để lại sai sót. Ngay cả khi phương tiện đã khá hơn, công việc cũng không bỗng nhẹ đi. Máy tính giúp tìm nhanh hơn, nhưng không chịu trách nhiệm thay cho người quyết định. Có thể gửi bản thảo trong vài giây, nhưng để một câu thực sự chín vẫn phải dành cho nó thời gian. Phương tiện mở rộng khả năng làm việc, đồng thời làm tăng sự nôn nóng của người chờ đợi.
Tiền in cũng là một khó khăn rất cụ thể. Một công trình phục vụ Giáo Hội cần tiền để tồn tại, trong khi những người dấn thân cho công trình ấy không muốn Lời Chúa trở thành món hàng. Phải làm sao có đủ nguồn lực cho việc nghiên cứu, biên tập, in ấn và phổ biến? Phải làm sao giữ sự minh bạch để người ủng hộ biết đóng góp của mình đang phục vụ điều gì? Phải làm sao cho sách đến được với những cộng đoàn nghèo, những giáo lý viên, những người già yêu Kinh Thánh mà không có nhiều tiền? Những câu hỏi ấy không kém phần thiêng liêng chỉ vì chúng liên quan đến hóa đơn. Lòng yêu Lời Chúa phải đi qua những quyết định thực tế. Sự quảng đại cần một cách quản lý xứng đáng với lòng tin của người trao tặng.
Bản quyền là một thử thách khác. Người ta có thể nói: Lời Chúa là của mọi người, tại sao còn phải nói đến quyền của bản dịch? Lời Chúa là quà tặng cho toàn thể Dân Chúa; còn bản dịch là thành quả lao động có trách nhiệm của những con người cụ thể. Tôn trọng công sức ấy không làm Lời Chúa nghèo đi. Ngược lại, nó giúp công trình có điều kiện được duy trì và hiệu đính. Nhưng việc bảo vệ quyền của một bản dịch cũng phải luôn được soi bằng mục đích ban đầu: giúp người ta nghe, đọc, cầu nguyện và sống Lời Chúa. Nếu chỉ nhìn thấy quyền mà quên sứ vụ, lòng người dễ co lại. Nếu nhân danh sứ vụ mà xem nhẹ công sức của người khác, ta lại thiếu công bằng. Hai điều ấy cần được giữ trong một lương tâm ngay thẳng.
Rồi còn dị nghị. Hễ một công trình chạm đến ngôn ngữ cầu nguyện của cộng đoàn, nó sẽ được yêu quý và cũng sẽ bị soi xét. Có người thấy một câu dịch mới sáng hơn. Có người tiếc câu cũ mình đã thuộc từ thuở bé. Có người nêu một góp ý xác đáng. Có người nói khi chưa đọc hết. Có người thật lòng lo cho đức tin của cộng đoàn, nhưng diễn tả nỗi lo bằng lời nặng nề. Người làm việc lâu năm rất dễ mỏi vì những nhận xét ấy. Họ có thể tự hỏi: chúng tôi đã bỏ bao nhiêu năm cho một chữ, sao người ta chỉ cần vài phút để kết luận? Nỗi buồn ấy có thật. Tuy nhiên, chính người phục vụ Lời cũng cần giữ cho lòng mình mở. Một nhận xét vụng về vẫn có thể chứa một câu hỏi đáng nghe. Một người đọc không biết tiếng Híp-ri hay Hy Lạp vẫn biết câu văn tiếng Việt ấy có đi vào tai mình hay không. Đón nhận góp ý không buộc ta phải nghe theo mọi góp ý; nó buộc ta nhớ rằng bản dịch được làm ra cho Dân Chúa.
Có những trở ngại bên ngoài còn khó hơn vì chúng chạm đến sự tự do nội tâm. Khi phải đi qua nhiều cánh cửa, người làm việc có thể sinh ra thói quen dè chừng tất cả. Khi từng bị hiểu lầm, họ có thể bắt đầu đọc mọi câu hỏi như một cuộc tấn công. Khi từng thiếu thốn, họ có thể sợ mất những gì đang có đến mức không dám chia sẻ. Những phản ứng ấy có lý do từ kinh nghiệm đau. Nhưng nếu để chúng ở lại mãi, khó khăn bên ngoài sẽ bước vào bên trong và định hình tâm hồn người phục vụ. Một công trình có thể vượt qua sự thiếu thốn vật chất mà vẫn đánh mất niềm vui ban đầu vì lòng người đã đóng kín.
Xin Chúa gìn giữ những người làm việc ấy. Xin cho họ đủ kiên trì để đi qua những thủ tục cần thiết, đủ khôn ngoan để phân biệt điều có thể linh hoạt với điều phải giữ vững, đủ bình tĩnh để giải thích khi bị hiểu lầm. Xin cho họ đừng vì gặp nhiều cánh cửa đóng mà thôi tin có người đang thật sự chờ Lời Chúa. Ở một nơi nào đó, vẫn có một bà cụ mở sách mỗi sáng. Vẫn có một giáo lý viên tìm cách kể cho trẻ em nghe dụ ngôn bằng tiếng Việt trong sáng. Vẫn có một linh mục trẻ ngồi trước bài Tin Mừng, biết ơn vì có bản văn để đọc chậm và suy nghĩ. Vẫn có một người đang đau khổ bám vào một câu Thánh Vịnh để đi qua đêm. Những khuôn mặt ấy là lý do để tiếp tục gõ cửa.
Khó khăn bên trong: khi những người cùng yêu Lời lại làm đau nhau
Khó khăn từ bên ngoài có thể nhìn thấy khá rõ. Một giấy phép chậm, một khoản kinh phí thiếu, một phương tiện chưa có: người ta có thể gọi tên chúng. Khó khăn bên trong thường kín hơn. Nó nằm trong một cuộc họp mà ai cũng thấy nặng lòng khi ra về. Nó nằm trong câu nói lỡ lời, trong sự im lặng kéo dài, trong cảm giác ý kiến mình không được tôn trọng. Nó nằm trong những điều người ngoài không nên tò mò, nhưng người trong cuộc không thể giả vờ như chẳng có.
Trước hết là khác biệt về phương pháp. Dịch sát đến mức nào? Khi nào cần giữ cấu trúc của bản gốc, khi nào phải để câu văn Việt Nam thở tự nhiên? Một thuật ngữ quen thuộc có nên được giữ vì đã ăn sâu vào trí nhớ cộng đoàn, dù một cách dịch khác có thể chính xác hơn ở một khía cạnh? Chú thích nên giải thích đến đâu? Ngôn ngữ phụng vụ cần trang trọng thế nào để không xa cách người nghe? Những câu hỏi ấy khó. Hai người đều cẩn trọng và yêu Sách Thánh vẫn có thể đưa ra hai câu trả lời khác nhau. Không phải cứ bất đồng là một người thiếu đức tin hay thiếu học thức. Đôi khi chính vì cả hai đều thấy trách nhiệm quá lớn nên cuộc tranh luận mới gay gắt.
Tôi mong trong những cuộc tranh luận ấy, mọi người còn có thể nói với nhau: “Tôi hiểu điều anh chị đang cố giữ.” Có người đang giữ độ chính xác của bản văn. Có người đang giữ sức sống của tiếng Việt. Có người đang giữ trí nhớ cầu nguyện của cộng đoàn. Có người đang giữ sự nhất quán của toàn bộ ấn bản. Nếu chỉ nghe kết luận của nhau, ta dễ thấy người kia cứng đầu. Nếu nghe nỗi bận tâm nằm dưới kết luận ấy, ta có thể tìm được một con đường chung. Không phải lúc nào cũng có một cách diễn đạt làm mọi người hoàn toàn hài lòng. Nhưng quyết định chung sẽ bền hơn khi người không được chọn ý kiến vẫn biết ý kiến của mình đã được lắng nghe nghiêm túc.
Khác biệt tính khí cũng không nhỏ. Có người nói thẳng và nhanh. Có người cần thời gian để nghĩ rồi mới trả lời. Có người sửa bản thảo rất quyết liệt. Có người đau khi thấy trang mình viết phủ đầy dấu gạch. Có người làm việc tốt nhất trong thinh lặng. Có người cần bàn bạc lớn tiếng để ý tưởng thành hình. Những khác biệt ấy tự chúng chưa phải lỗi. Nhưng trong một công trình kéo dài, chúng dễ trở thành lý do khiến người ta mệt vì nhau. Một chữ “sửa lại” đối với người nói chỉ là đề nghị chuyên môn; đối với người nghe có thể là vết đau vì họ đã dành nhiều ngày cho câu ấy. Một lời phê bình đúng nhưng nói thiếu dịu dàng có thể khiến công việc chậm lại nhiều tháng. Ngược lại, sợ làm người khác buồn đến mức không dám góp ý cũng có thể làm bản văn yếu đi. Cần sự thật và cần bác ái, trong cùng một căn phòng, trên cùng một trang bản thảo.
Mệt mỏi là một khó khăn thường bị đánh giá thấp. Người ta nhìn người phục vụ Lời Chúa và tưởng lòng sốt mến sẽ cung cấp năng lượng vô tận. Nhưng mắt vẫn mỏi, lưng vẫn đau, trí vẫn chậm sau nhiều giờ đối chiếu. Người ta còn có gia đình, cộng đoàn, trách nhiệm mục vụ, bệnh tật và những chuyện riêng khó nói. Có giai đoạn một thành viên phải gánh thêm phần việc vì người khác không thể tiếp tục. Có giai đoạn mọi người đều muốn làm cho tốt, nhưng không ai còn đủ sức làm theo nhịp cũ. Khi ấy, lời khuyên “hãy hy sinh thêm” có thể trở nên nặng nề nếu không đi kèm một sự chia sẻ gánh nặng thật sự.
Tuổi già đem đến một vẻ đẹp riêng cho công trình: ký ức sâu, con mắt tinh, sự dè dặt sau nhiều lần thử sai, lòng trung thành đã được thời gian thanh luyện. Nhưng tuổi già cũng đặt ra những giới hạn không thể dùng lòng nhiệt thành mà xóa bỏ. Người cao tuổi có thể muốn tiếp tục làm việc mà sức khỏe chỉ cho phép ít hơn trước. Người trẻ có thể muốn giúp mà chưa hiểu hết phương pháp và lịch sử của Nhóm. Cả hai phía cần một sự khiêm nhường khó thực hành. Người đi trước phải tập trao điều mình đã giữ cả đời. Người đi sau phải tập nhận mà không vội chứng tỏ mình sẽ làm mọi thứ nhanh hơn. Trao lại một công trình không giống giao một chùm chìa khóa. Phải trao cả tiêu chuẩn, thói quen đọc chậm, cách đặt câu hỏi, sự cẩn trọng trước một quyết định và tình yêu đã giữ công việc sống qua nhiều thập niên.
Tôi đặc biệt lo cho sự đứt mạch giữa các thế hệ. Một bản dịch có thể được lưu trên nhiều ổ cứng, nhưng linh đạo của người dịch không tự động nằm trong tập tin. Những ghi chú bên lề, những lý do chọn một thuật ngữ, những cuộc tranh luận đã dẫn đến một quyết định: nếu không được kể lại và ghi nhận, người đến sau sẽ phải bắt đầu từ những câu hỏi người trước đã giải quyết. Tệ hơn, họ có thể tưởng một lựa chọn được cân nhắc nhiều năm chỉ là thói quen tùy tiện. Khi người cao tuổi ra đi, ta không chỉ mất một người làm việc. Ta có thể mất một phần trí nhớ của công trình. Vì thế, đào tạo người kế tiếp là một việc của hiện tại. Người trẻ cần được mời vào công việc thực, được trao những phần việc có người đồng hành, được phép hỏi và được nghe lý do. Nếu chỉ gọi họ khi cần đánh máy, chỉnh định dạng hoặc xử lý máy móc, ta chưa thật sự trao sứ vụ.
Lời khen và tiếng chê cũng thử lòng người. Lời khen có thể nâng đỡ một người đã làm việc âm thầm quá lâu. Nhưng nó cũng có thể tạo ra một hình ảnh khiến người trong cuộc khó nói thật về những điều cần sửa. Tiếng chê có thể giúp một công trình sáng hơn. Nhưng nếu nó chỉ gieo cay đắng, người nghe sẽ dựng hàng rào tự vệ. Một nhóm phục vụ Lời cần học cách cảm ơn khi được yêu mến mà không say mê danh tiếng; học cách xét lại khi bị phê bình mà không coi mọi phê bình là phán quyết cuối cùng về mình. Điều ấy nghe đơn giản, nhưng phải luyện từng ngày.
Còn một thử thách sâu hơn: con người có thể đồng nhất bản thân với công trình mình làm. Khi đã bỏ mười năm, hai mươi năm cho một bản dịch, thật khó nghe rằng một lựa chọn của mình cần sửa. Câu văn bị phê bình như thể chính cuộc đời mình bị phê bình. Tôi hiểu cảm giác ấy. Ai từng trao phần tốt nhất của mình cho một việc chung đều hiểu. Nhưng Lời Chúa lớn hơn bàn tay chúng ta. Chính vì yêu Lời, ta cần đủ tự do để sửa điều mình từng viết. Có khi sự trung thành hôm nay đòi ta giữ một câu cũ. Có khi cũng chính sự trung thành ấy đòi ta can đảm thay nó. Thước đo không thể chỉ là “câu này của ai” hoặc “ngày trước ai đã quyết định”. Thước đo phải là bản văn được trao cho Giáo Hội hôm nay có phục vụ chân lý và lời cầu nguyện của Dân Chúa hay không.
Thánh Giê-rô-ni-mô và một sự thánh thiện không dễ nhìn
Khi nghĩ đến những khó khăn ấy, tôi lại nghĩ đến thánh Giê-rô-ni-mô. Ta dễ vẽ một vị thánh ngồi yên bên ngọn đèn, quanh ngài là những cuộn sách và một bầu khí thanh thản. Hình ảnh ấy nói được phần nào tình yêu Sách Thánh của ngài, nhưng không diễn tả hết con người và hành trình ngài đã đi qua. Giê-rô-ni-mô có tài lớn, lòng nhiệt thành lớn và cũng có tính khí mạnh. Ngài tham gia những cuộc tranh luận gay gắt. Ngài bị hiểu lầm và chịu những đổ vỡ trong các tương quan. Ngài rời Rôma. Con đường dẫn tới công trình lớn của ngài đi qua những nơi chốn, những cộng tác và cả những va chạm rất người.
Tôi không nhắc điều ấy để lấy vị thánh làm cái cớ cho lời nói sắc bén của mình. Không ai được quyền bảo: “Giê-rô-ni-mô cũng bút chiến, vậy tôi cứ làm người khác tổn thương.” Một lỗi lầm không thành nhân đức vì người có công từng mắc phải. Nhưng đời ngài giúp ta thoát khỏi ý nghĩ rằng công trình phục vụ Lời Chúa chỉ có thể được thực hiện bởi những con người không bao giờ bất hòa. Thiên Chúa đã làm việc qua những người cần được thanh luyện. Ngài không đợi cho tính khí của họ trở nên hoàn hảo rồi mới mời họ phục vụ. Ngài gọi họ vừa làm việc vừa học cách hoán cải.
Có lẽ đây là điều tôi thấy gần gũi nhất khi nhìn thánh Giê-rô-ni-mô: người yêu Lời Chúa mãnh liệt vẫn phải học để Lời ấy chạm đến giọng nói của mình với người khác. Người biết nhiều câu Kinh Thánh vẫn phải để Kinh Thánh xét xử sự nóng nảy của mình. Người bảo vệ chân lý vẫn phải xét mình xem có khi nào cái tôi núp sau nhiệt tình bảo vệ chân lý. Đó là cuộc chiến kéo dài cả đời. Nếu các nhóm phục vụ Lời Chúa chỉ giữ lại nơi Giê-rô-ni-mô trí tuệ mà quên cuộc thanh luyện của ngài, họ sẽ dễ yêu bản văn mà thiếu kiên nhẫn với người cùng làm việc. Còn nếu nhìn nhận cả sự phức tạp của vị thánh, họ có thể cầu xin ngài giúp mình trung thành với Lời và khiêm nhường trong cách sống với nhau.
Dấu chỉ tốt đẹp của một nhóm, vì thế, không phải là nhóm ấy chưa từng bất đồng. Sau năm mươi lăm năm làm một công việc đòi hỏi chính xác và bền bỉ, nếu không hề có bất đồng mới là điều lạ. Dấu chỉ là người ta có thể bất đồng mà vẫn còn gặp nhau bên bản văn, vẫn còn cùng cầu nguyện, vẫn còn tin người kia cũng muốn phục vụ Giáo Hội. Dấu chỉ là một cuộc tranh luận không biến thành chiến dịch làm mất uy tín nhau. Dấu chỉ là sau một quyết định khó, người không đồng ý vẫn được đối xử như người anh chị em. Dấu chỉ là khi lỡ làm đau nhau, có người đủ can đảm nói lời xin lỗi trước. Dấu chỉ là không ai phải chọn giữa lòng trung thực học thuật và tình hiệp thông.
Một nhóm có thể giữ được cơ cấu mà mất đi điều ấy. Vẫn có lịch họp, có bản thảo, có tên gọi, nhưng người ta làm việc trong ngờ vực. Ngược lại, có một nhóm phải chậm lại, phải thay đổi cách làm, phải đối diện những yếu kém của mình, nhưng vẫn giữ được lòng muốn cùng nhau nghe Lời Chúa. Tôi cầu xin cho mọi người phục vụ Sách Thánh nhận ra điều cần bảo vệ trước hết là mối tương quan với chính Lời và với những người được Chúa đặt cạnh mình. Một bản dịch cần đúng. Cách người ta đi đến bản dịch ấy cũng phải ngày càng xứng với Lời mình chuyển trao.
Giải quyết khó khăn trong sự thật và bác ái
Nói “hãy sống bác ái” rất dễ. Người đang ở giữa một xung đột cần một con đường cụ thể hơn. Bác ái không bắt ai giả vờ rằng chuyện đau lòng chưa xảy ra. Sự thật không cho phép ta tùy tiện nói mọi điều mình nghĩ bằng bất cứ giọng nào. Hai điều ấy phải cùng có mặt.
Trước hết, cần gọi đúng tên vấn đề. Nếu bất đồng nằm ở nguyên tắc dịch thuật, hãy bàn nguyên tắc dịch thuật. Nếu khó khăn nằm ở phân chia công việc, hãy xem lại cách phân chia. Nếu có người cảm thấy bị xúc phạm, đừng bảo họ “nhạy cảm quá” rồi lập tức chuyển sang câu tiếp theo. Nếu có sự chậm trễ do thiếu nhân sự, đừng biến nó thành lời kết án về lòng nhiệt thành. Gọi sai tên một vấn đề sẽ khiến những cuộc họp kéo dài mà không chữa được gì. Có khi cả nhóm tranh luận về một thuật ngữ, trong khi nỗi đau thật sự là một người đã nhiều lần thấy mình không được nghe. Có khi mọi người nói về “tinh thần cộng tác”, trong khi cần một quy trình rõ ràng để biết ai quyết định điều gì.
Tiếp đến, cần cho nhau cơ hội giải thích. Một ý kiến viết trong bản nhận xét đôi khi có vẻ lạnh và nặng; khi ngồi với nhau, người viết có thể nói rõ nỗi lo của mình. Một sự im lặng bị hiểu là chống đối, nhưng thật ra người ấy đang bệnh hoặc đang không biết diễn tả thế nào cho khỏi làm người khác buồn. Dĩ nhiên, không phải lời giải thích nào cũng xóa được hậu quả. Nhưng nếu không cho nhau cơ hội nói thật, ta sẽ bắt đầu sống với những câu chuyện mình tự kể về động cơ của người khác. Các câu chuyện ấy thường ngày càng tối.
Cũng cần có nơi để quyết định. Không phải cuộc tranh luận nào cũng có thể kéo dài đến khi mọi người đồng ý tuyệt đối. Một nhóm làm việc phải có tiêu chuẩn, trách nhiệm và cách đưa ra quyết định được mọi người biết trước. Người chịu trách nhiệm cuối cùng cần lắng nghe thật. Người góp ý cần chấp nhận rằng góp ý của mình có thể không được chọn. Khi quyết định đã được đưa ra theo một cách ngay thẳng, mọi người có thể cùng phục vụ quyết định chung, đồng thời lưu lại những lý do cần xem xét trong lần hiệu đính sau. Điều đó giúp một bất đồng không biến thành món nợ tình cảm truyền từ năm này qua năm khác.
Và có lúc cần xin lỗi. Người ta có thể đúng về một câu dịch mà sai trong cách đối xử với người khác. Lời xin lỗi ấy không làm yếu lập luận chuyên môn. Nó làm cho người ta có thể tiếp tục làm việc với nhau. “Tôi vẫn nghĩ câu này cần sửa, nhưng cách tôi nói hôm qua đã làm anh chị đau; tôi xin lỗi.” Một câu như vậy có thể mở lại cánh cửa mà mười trang lý lẽ không mở được. Tương tự, người nhận lời xin lỗi cũng cần một trái tim sẵn sàng để công việc tiếp tục. Tha thứ không luôn lập tức xóa hết nỗi đau. Nhưng nó từ chối biến nỗi đau thành quyền trừng phạt vô thời hạn.
Với những chuyện nghiêm trọng, bác ái còn đòi sự công bằng và trách nhiệm. Không thể lấy danh nghĩa giữ hòa khí để che đi hành vi làm tổn hại người khác hoặc làm tổn hại công trình chung. Một cộng đoàn trưởng thành biết phân biệt giữa khác biệt có thể đối thoại, sai sót cần sửa và điều đòi hỏi một cách xử lý rõ ràng. Sự minh bạch đúng mức bảo vệ cả người bị ảnh hưởng lẫn người bị nêu tên. Nó cũng bảo vệ những người đến sau khỏi phải gánh một vấn đề cũ mà chưa ai chịu đối diện.
Tôi cầu xin cho những khó khăn bên trong không thành chuyện đấu đá. Khi một công trình mang tên phục vụ Lời Chúa, cuộc đấu đá làm người ta đau theo một cách đặc biệt. Nó có thể khiến người trẻ nhìn vào và ngần ngại dấn thân. Nó có thể khiến người góp công thầm lặng mất chỗ đứng. Nó có thể khiến những người có tài chỉ còn lo bảo vệ ý kiến của mình. Đáng buồn hơn, nó có thể làm cho người ta đọc những câu về hiệp nhất, hiền lành và tha thứ mà trong lòng chỉ nghĩ đến người mình muốn thắng. Chúng ta cần cầu nguyện và cần thực hành những bước rất cụ thể để điều ấy không xảy ra.
Đừng để thử thách biến lòng trung thành thành sự cứng lòng
Người đã chịu nhiều khó khăn thường có một sức bền đáng kính. Nhưng sức bền và sự cứng lòng đôi khi đứng gần nhau. Một người có thể bắt đầu bằng quyết tâm không bỏ cuộc, rồi dần dần không còn cho ai bước vào. Một nhóm có thể học cách bảo vệ công trình, rồi dần dần xem mọi câu hỏi là sự đe dọa. Một người từng bị đối xử thiếu công bằng có thể tự nhủ mình sẽ không bao giờ để chuyện ấy lặp lại, rồi vô tình đối xử nghiệt với người vô can. Thử thách đã qua vẫn cần được chữa lành; nếu không, nó sẽ tiếp tục điều khiển hiện tại.
Tôi nghĩ đến hình ảnh một bàn tay cầm bút. Bàn tay ấy phải đủ vững để viết cho chính xác. Nhưng nếu siết quá chặt, nó sẽ mỏi và chữ sẽ cứng. Phục vụ Lời Chúa cũng vậy. Cần lập trường, tiêu chuẩn, kỷ luật. Cần biết nói không với sự cẩu thả. Cần giữ một quyết định đúng dù có người chưa hài lòng. Nhưng bàn tay ấy cũng cần đủ mềm để sửa, để học, để trao bút cho người khác. Lòng trung thành trưởng thành không sợ những câu hỏi thành thật.
Khó khăn bên ngoài cũng có thể làm người phục vụ trở nên cơ hội. Khi đã nhiều lần thiếu tiền, người ta có thể bị cám dỗ nhận một sự hỗ trợ mà không hỏi nó sẽ ràng buộc công trình ra sao. Khi đã nhiều lần phải chờ, người ta có thể muốn đi đường tắt bất kể hậu quả. Khi được một nơi quyền thế chú ý, người ta có thể bắt đầu lựa lời cho vừa lòng nơi ấy. Tôi không nói điều này để nghi ngờ một ai. Tôi nói vì mọi sứ vụ đều cần xét mình trước những cám dỗ xuất hiện ngay từ nhu cầu tồn tại của mình. Lời Chúa không thể được phục vụ bằng bất cứ giá nào. Người làm việc cần phương tiện, nhưng cũng cần tự do nội tâm để biết phương tiện nào không nên nhận và điều kiện nào không nên chấp thuận.
Có một hình thức cơ hội kín đáo hơn: dùng công trình để tạo danh cho mình. Ban đầu, người ta muốn bản dịch được biết đến để nhiều người đọc Lời Chúa. Dần dần, sự chú ý của người khác có thể trở thành thứ mình cần để cảm thấy việc làm có giá trị. Khi ấy, một lời phê bình không còn chỉ là góp ý; nó trở thành mối đe dọa cho hình ảnh bản thân. Một người trẻ giỏi hơn không còn là niềm vui; người ấy trở thành đối thủ. Cách chữa không phải giả vờ mình không vui khi được công nhận. Cách chữa là thường xuyên trở về với câu hỏi đầu tiên: người ta có đến gần Đức Kitô hơn nhờ công trình này không? Nếu có, cả khi tên tôi không được nhắc, công việc vẫn đạt mục đích.
Bàn tay quan phòng không xóa những bàn tay con người
Chúng ta luôn xác tín với bàn tay quan phòng. Tôi muốn xác tín điều đó cùng với lòng biết ơn và cũng với sự cẩn trọng. Quan phòng không có nghĩa mọi quyết định trong năm mươi lăm năm đều đúng. Quan phòng không có nghĩa mọi khó khăn đều do Chúa trực tiếp đặt ra để thử ai đó. Càng không có nghĩa người bị tổn thương phải im lặng vì “Chúa đã an bài”. Những cách nói ấy có thể làm nhẹ trách nhiệm của con người và làm nặng thêm nỗi đau của người đang cần được lắng nghe.
Tôi hiểu bàn tay quan phòng theo một nghĩa khiêm tốn và sâu hơn: qua những giới hạn thật, những thất bại thật, những thiếu thốn thật và những cố gắng có khi rất nhỏ, Chúa vẫn không ngừng gọi con người trở lại với Lời của Người. Có lúc Người mở một lối đi nhờ lòng quảng đại của người giúp in sách. Có lúc nhờ một người âm thầm nhận làm phần việc không ai muốn làm. Có lúc nhờ một thành viên già nhắc lại lý do của một quyết định cũ. Có lúc nhờ một người trẻ đặt câu hỏi mà người khác đã ngừng hỏi. Có lúc nhờ một lời xin lỗi. Có lúc chỉ nhờ việc sáng hôm sau, sau một ngày mệt mỏi, có người vẫn mở bản văn ra đọc lại.
Quan phòng không làm cho năm mươi lăm năm trở nên dễ dàng. Quan phòng có nghĩa là trong những năm ấy, Chúa đã không bỏ mặc nhóm người nhỏ đang cố phục vụ Lời. Người đã làm việc qua những bàn tay con người, và vì là bàn tay con người, chúng có thể run, có thể sai, có thể phải nghỉ. Tôi xúc động khi nghĩ rằng một công trình lớn thường được giữ lại bởi những hành vi trung thành rất bé. Một người đến đúng giờ dù đã mệt. Một người chịu tra thêm một nguồn thay vì đoán. Một người đọc thử câu văn cho người khác nghe. Một người lặng lẽ kiểm lại bản in. Một người cầu nguyện cho người cùng nhóm mà mình đang khó hiểu. Những việc ấy ít khi được ghi vào lịch sử, nhưng lịch sử của một công trình được dệt bằng chính chúng.
Có khi quan phòng hiện ra trong việc chấp nhận dừng lại. Người làm việc lâu năm rất khó nói: “Tôi không còn đủ sức cho phần này.” Nhưng lời ấy có thể là một hành vi trung thực, mở đường cho người khác nhận trách nhiệm. Có khi quan phòng hiện ra trong việc sửa một kế hoạch từng được yêu thích. Có khi hiện ra trong một cuộc trò chuyện khó mà mọi người đã trì hoãn quá lâu. Đừng giới hạn bàn tay Chúa vào những sự thuận lợi đến bất ngờ. Chúa cũng có thể dẫn ta qua bổn phận khiêm nhường là sắp xếp lại cách làm việc, nhìn nhận một sai sót, chăm sóc một thành viên đang kiệt sức, hoặc để một thế hệ mới thật sự góp tiếng nói.
Một công trình của Lời cần được nuôi bằng Lời
Tôi tự hỏi: trong những lúc công việc căng nhất, người dịch có còn được nghe Lời Chúa như người môn đệ không? Câu hỏi ấy cũng dành cho người giảng, người dạy giáo lý, người viết bài đạo, và dành cho chính tôi. Khi Kinh Thánh trở thành công việc hằng ngày, ta có thể đọc nhiều mà ít để Lời đọc mình. Ta có thể thuộc cấu trúc một đoạn văn, biết các khả năng dịch của một động từ, nhớ những chỗ khó trong lịch sử bản văn, nhưng lại tránh câu đang mời mình hoán cải. Ta có thể nói về lòng thương xót bằng một giọng rất ít thương xót. Ta có thể dành hàng giờ để quyết định cách dịch một lời cầu xin hiệp nhất mà không dành mười phút để làm hòa với người cùng bàn.
Bởi thế, một nhóm phục vụ Lời cần có những khoảnh khắc không bàn công việc. Mở sách không phải để sửa, mà để nghe. Cầu nguyện không phải chỉ để xin cho dự án hoàn thành, mà để xin cho những người đang làm dự án được thuộc về Chúa. Đọc một Thánh Vịnh và để lời ấy chạm đến sự mệt mỏi của mình. Đọc câu chuyện các môn đệ tranh luận xem ai là người lớn nhất, rồi nhận ra cuộc tranh luận ấy có thể hiện diện rất tinh vi trong mọi nơi làm việc đạo đức. Đọc chuyện hai môn đệ Emmaus, rồi nhớ rằng chính Chúa đồng hành với những người đang buồn và không hiểu hết chuyện đã xảy ra.
Nếu người làm việc không còn được Lời nuôi dưỡng, bản thảo sẽ trở nên một nơi quá nặng. Mỗi cuộc họp là một cuộc phòng thủ. Mỗi góp ý là một khoản nợ. Mỗi thời hạn là một áp lực. Nhưng khi còn biết trở lại làm người nghe, ta nhớ mình đã nhận trước khi trao. Không ai sở hữu Lời. Không ai là nguồn của Lời. Ngay cả người đã hiến cả đời cho một bản dịch vẫn là người ngồi dưới chân Chúa như mọi tín hữu khác. Vị trí ấy giải thoát chúng ta khỏi việc phải thắng mọi cuộc tranh luận để chứng minh cuộc đời mình có ý nghĩa.
Tôi không mơ một căn phòng nơi ai cũng luôn dịu dàng, luôn sáng suốt, luôn khỏe mạnh. Tôi chỉ cầu mong một căn phòng nơi người ta còn có thể đặt cuốn Sách Thánh giữa mình, thay vì đặt cái tôi vào đó. Khi cần tranh luận, họ tranh luận cho đến nơi. Khi cần nghỉ, họ cho nhau nghỉ. Khi có người yếu đi, họ điều chỉnh nhịp bước. Khi có người mới đến, họ trao cho người ấy chỗ ngồi thật. Khi đã quyết định, họ cùng gánh trách nhiệm. Khi thấy một câu hay hơn, họ vui vì câu ấy hay hơn, dù không phải mình đã nghĩ ra.
Đến lượt chúng ta đừng đứng ngoài mà chỉ phê bình
Người đọc như tôi không nên biến những khó khăn của Nhóm thành một đề tài để bình luận từ xa. Nếu thật lòng biết ơn vì có Lời Chúa bằng tiếng Việt, chúng ta cũng có trách nhiệm đối với công trình ấy. Trách nhiệm đầu tiên là sử dụng điều mình đã nhận. Một cuốn Kinh Thánh để trên kệ chỉ làm đẹp kệ sách. Một bộ Các Giờ Kinh nằm trong tủ mà không được mở ra thì công sức của bao người chưa đến đích. Cách cảm ơn sâu nhất là đọc, cầu nguyện, đem Lời vào bài giảng, lớp giáo lý, giờ kinh gia đình, cuộc thăm bệnh và những quyết định thường ngày.
Trách nhiệm thứ hai là góp ý cho xứng đáng. Khi thấy một chỗ khó hiểu hoặc có điều muốn hỏi, ta có thể nêu rõ bản văn, lý do và điều mình đề nghị. Một nhận xét cụ thể giúp người làm việc xem lại. Một lời giễu cợt trước đám đông thường chỉ làm cuộc trò chuyện nghèo đi. Chúng ta không cần bỏ qua những vấn đề thật vì kính trọng người dịch. Chính sự kính trọng ấy mời ta nói với họ như nói với những người đang làm một việc nghiêm túc. Có thể họ sẽ giải thích vì sao câu ấy được giữ. Có thể họ sẽ nhận thấy một điều cần sửa. Cả hai kết quả đều tốt hơn một cuộc kết án vội vàng.
Trách nhiệm thứ ba là cầu nguyện cho những người cụ thể, dù ta không biết tên họ. Xin cho người cao tuổi được nâng đỡ. Xin cho người mới vào được kiên nhẫn hướng dẫn. Xin cho người giữ trách nhiệm có sự sáng suốt. Xin cho người từng bị tổn thương có cơ hội được lắng nghe. Xin cho ai đang chán nản tìm lại lý do ban đầu. Xin cho những người đã qua đời được nghỉ yên trong Chúa, và công sức của họ tiếp tục sinh hoa trái trong đời sống Giáo Hội. Lời cầu nguyện ấy không thay thế việc cộng tác thực tế, nhưng nó nhắc ta nhìn họ như anh chị em trước khi nhìn họ như những người cung cấp một sản phẩm.
Trách nhiệm thứ tư là tạo điều kiện để thế hệ sau yêu tiếng Việt, yêu Sách Thánh và biết làm việc chung. Nếu các gia đình không kể chuyện Kinh Thánh cho trẻ, nếu giáo lý viên không dạy các em lắng nghe chính câu Tin Mừng, nếu các chủng viện và nhà dòng không đào sâu việc học ngôn ngữ và chú giải, thì một nhóm dịch giả dù tận tụy đến đâu cũng sẽ phải làm việc trên một mảnh đất ngày càng khô. Công trình dịch thuật cần một cộng đoàn biết đón nhận. Người dịch cần người đọc, người đọc cần người dạy, người dạy cần đời sống cầu nguyện của Giáo Hội. Chúng ta liên đới với nhau trong cùng một hành trình.
Lời cầu nguyện ở cuối một chặng đường, đầu một chặng đường
Nhóm thật sự đã trải qua nhiều khó khăn từ bên trong đến bên ngoài. Dừng lại với suy nghĩ như thế, tôi thấy mình không muốn hỏi trước tiên: “Những khó khăn ấy là gì, ai gây ra, ai đã đúng?” Có những câu hỏi như thế cần được đặt ở nơi thích hợp, bởi sự thật và trách nhiệm rất quan trọng. Nhưng với tư cách một người đang nhận hoa trái công việc của Nhóm, tôi muốn hỏi thêm một câu dành cho chính mình: “Tôi sẽ góp phần thế nào để những người đang phục vụ Lời không phải gánh mọi sự một mình?”
Tôi có thể đọc chăm hơn. Tôi có thể giảng từ bản văn thay vì dùng bản văn để trang trí cho ý tưởng có sẵn. Tôi có thể tôn trọng lao động của người dịch. Tôi có thể đón một câu văn mới với sự tìm hiểu trước khi phản ứng. Tôi có thể nêu thắc mắc ngay thẳng. Tôi có thể khuyến khích người trẻ học Sách Thánh và học tiếng Việt cho nghiêm túc. Tôi có thể cầu cho một công trình đã giúp mình cầu nguyện nhiều năm. Những việc ấy nhỏ, nhưng không vô nghĩa. Công trình của Lời Chúa được nâng đỡ bởi lòng trung thành của cả người trao lẫn người nhận.
Tôi cầu xin cho những khó khăn bên trong được đưa ra ánh sáng bằng sự thật và được chữa lành bằng bác ái. Xin đừng để sự im lặng giả tạo thay cho bình an. Xin đừng để lời nói thẳng biến thành vũ khí. Xin cho người có trách nhiệm biết nghe những điều khó nghe. Xin cho người góp ý biết yêu công trình chung hơn ý kiến riêng. Xin cho ai đã sai đủ can đảm nhận lỗi, và ai đã đau được đối xử với sự trân trọng. Xin cho những người đã đi với nhau lâu năm còn tìm được cách nhìn nhau bằng đôi mắt biết ơn.
Tôi cầu xin cho những khó khăn bên ngoài không làm người phục vụ cứng lòng hoặc hóa cơ hội. Xin cho họ có những phương tiện cần thiết để làm việc tốt. Xin cho người có khả năng giúp đỡ biết giúp mà không đòi chi phối. Xin cho các con đường hợp pháp và chính đáng được mở. Xin cho những cuộc trao đổi về kinh phí, bản quyền, in ấn và phổ biến được thực hiện trong sự minh bạch. Xin cho những lời phê bình có thiện chí gặp được người sẵn sàng lắng nghe, và những người phê bình cũng biết nhận ra lao nhọc mình chưa nhìn thấy.
Tôi cầu xin cho người cao tuổi không thấy mình bị bỏ lại sau khi đã trao cả đời. Xin cho họ được nghỉ khi cần nghỉ, được tiếp tục góp sức khi có thể, được nghe lời cảm ơn khi còn có thể nghe. Xin cho người trẻ không bị giữ mãi ở ngưỡng cửa. Xin cho họ có người chỉ dẫn, có việc thật để làm, có chỗ để trưởng thành và có tự do để yêu Lời Chúa bằng lòng trung thành của thế hệ mình. Xin cho cuộc chuyển giao diễn ra như việc chuyền một ngọn đèn: người trao không phải tắt đi, người nhận không phải tự đốt lửa từ đầu.
Và tôi cầu xin cho chính mình. Tôi đã bao lần muốn có ngay một câu Kinh Thánh hay để giảng mà quên người khác đã dành bao lâu cho câu ấy? Tôi đã bao lần đọc nhanh một trang được làm ra bằng sự kiên nhẫn của nhiều đời? Tôi đã bao lần nói về những khó khăn của Giáo Hội như thể mình chỉ là người quan sát, không phải một phần của Giáo Hội ấy? Xin Chúa dạy tôi biết ơn cho thật. Lòng biết ơn thật không dừng ở lời khen. Nó làm tôi đọc kỹ hơn, sống thật hơn, và đối xử dịu dàng hơn với những người đang vất vả trao Lời.
Năm mươi lăm năm không chứng minh rằng mọi chặng đường đều bằng phẳng. Nó cho thấy sau nhiều chặng đường gập ghềnh, vẫn có những người trở lại với bàn làm việc, mở Sách Thánh và bắt đầu từ một câu. Họ đã đi qua những điều kiện bên ngoài không do mình chọn và những giới hạn bên trong phải can đảm nhìn nhận. Họ có thể đã có những ngày vui, những ngày thất vọng, những ngày tưởng công việc không tiến thêm được nữa. Vậy mà Lời Chúa vẫn được đọc trong tiếng mẹ của chúng ta. Một đứa trẻ vẫn có thể nghe một câu Tin Mừng bằng tiếng Việt. Một cộng đoàn vẫn có thể cất lời Thánh Vịnh. Một người hấp hối vẫn có thể được nghe lời hứa của Chúa trong ngôn ngữ đã đi cùng mình từ tấm bé.
Tôi không biết hết những câu chuyện nằm sau câu “trải qua nhiều khó khăn”. Tôi không cần biết hết để có thể cúi đầu trước một sự bền bỉ. Nhưng cúi đầu không có nghĩa lý tưởng hóa con người. Chính vì họ là những con người thật, sự bền bỉ ấy mới đáng trân trọng. Chính vì họ có thể mệt, có thể khác nhau, có thể làm sai rồi sửa, việc họ tiếp tục phục vụ Lời mới nói với tôi một điều về ân sủng.
Bàn tay quan phòng không làm biến mất những vết chai trên tay người làm việc. Bàn tay ấy nâng những bàn tay có vết chai, mời chúng mở ra lần nữa, và đôi khi đặt vào đó một bàn tay trẻ hơn để cùng cầm bản văn. Chúa không bỏ cuộc với nhóm người nhỏ đã hứa phục vụ Lời. Xin cho họ cũng đừng bỏ cuộc với nhau. Xin cho chúng ta, những người nhận Lời qua công sức của họ, đừng chỉ đứng xa mà ngưỡng mộ. Hãy cùng họ lắng nghe, cùng họ gìn giữ, cùng họ để Lời Chúa tiếp tục có một chỗ ở trong tiếng nói và đời sống của Dân Người.

CHƯƠNG XX. HƯỚNG TỚI NGÀY 1 THÁNG 11 NĂM 2026
Ngày 1 tháng 11 năm 2026 đang đến gần. Với toàn thể Giáo Hội, đó là lễ Các Thánh, ngày chúng ta ngước nhìn đoàn người đông đảo đã đi trọn con đường đức tin và đang ở trong niềm vui của Thiên Chúa. Với Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ, ngày ấy còn gợi nhớ buổi gặp gỡ đầu tiên cách đây 55 năm. Hai ý nghĩa đặt cạnh nhau khiến tôi xúc động. Lễ Các Thánh nhắc ta rằng sự thánh thiện không thuộc riêng một vài khuôn mặt nổi tiếng; ngày sinh của một nhóm dịch giả cũng nhắc ta rằng một công trình bền lâu được làm nên bởi rất nhiều bàn tay, nhiều giọng nói, nhiều đời người mà không cuốn kỷ yếu nào kể hết.
Tôi hình dung ngày lễ ấy, khi cộng đoàn cất lên lời ca nhập lễ, đâu đó có những người lớn tuổi ngồi im và nhớ về một căn phòng của năm 1971. Có thể họ nhớ rõ ai đến trước, ai ngồi ở đâu, ai đem theo bản sách, ai nêu câu hỏi đầu tiên. Có thể ký ức đã nhòa đi, chỉ còn cảm giác về một buổi khởi đầu khi mọi người chưa biết công việc sẽ đưa mình đi xa đến đâu. Sau 55 năm, bản văn đã đi đến những nơi mà người dự cuộc họp đầu tiên không thể hình dung hết: một nhà nguyện nhỏ, một giáo xứ đông người, một cộng đoàn tu trì, một căn phòng bệnh, một buổi cầu nguyện bên linh cữu, một gia đình mở Sách Thánh sau bữa cơm. Người bắt đầu công việc chỉ có thể dâng phần mình. Thiên Chúa cho phần ấy đi xa hơn tầm mắt họ.
Vì vậy, nếu được nói một lời trước ngày kỷ niệm, tôi muốn nói: xin hãy mừng 55 năm bằng lòng biết ơn thật sâu, và bằng một câu hỏi thật thành thực. Chúng ta sẽ trao điều gì cho người đến sau?
Những người không có tên trong ảnh
Mỗi cuộc kỷ niệm thường có một bức ảnh chung. Người ta đứng thành hàng, nhìn vào ống kính, giữ lại một khoảnh khắc để nhiều năm sau có thể chỉ vào mà nói: ngày ấy chúng tôi đã ở đó. Bức ảnh quý. Nhưng không một bức ảnh nào chứa nổi toàn bộ câu chuyện của một nhóm dịch giả.
Trong câu chuyện ấy có người biết tiếng Híp-ri, tiếng Hy Lạp, tiếng Latinh; có người giỏi tiếng Việt đến mức nghe ra một chữ vừa đúng nghĩa vừa chưa đúng giọng. Có người đọc bản thảo và khoanh một câu khó hiểu. Có người không biết nguyên ngữ nhưng, nhờ thường xuyên cầu nguyện, nhận ra câu ấy chưa thể đi vào miệng cộng đoàn. Có người đánh máy, dò lỗi, sửa dấu, so trang. Có người dành tiền cho việc in ấn; có người chuyển một thùng sách đến nơi cần; có người đón tiếp, nấu bữa cơm, dọn chỗ họp. Có người âm thầm cầu nguyện cho công việc mà chẳng bao giờ nghĩ mình là thành viên của công trình.
Tôi đặc biệt nghĩ đến những người góp một ý kiến nhỏ rồi đi khỏi. Họ nói: “Câu này đọc lên nghe vấp.” Hoặc: “Chỗ này người trẻ không hiểu.” Hoặc: “Trong giờ kinh, nếu đổi nhịp một chút thì cộng đoàn dễ đọc hơn.” Một ý kiến như thế có khi chỉ mất vài giây để nói ra, nhưng lại giúp người làm việc trên bản văn nhiều ngày. Cuốn sách sau cùng không thể ghi tên tất cả những ai đã giữ cho một câu văn khỏi tối, khỏi cứng, khỏi xa người nghe.
Tôi cũng nghĩ đến những người đã ra đi trước ngày 55 năm. Nếu hôm nay ta cầm một cuốn Giờ Kinh, một bản Kinh Thánh, một tập chú giải, ta đang cầm trong tay thời gian sống của họ. Những năm tháng họ có thể dành cho một việc khác đã được đặt vào trang sách này. Những buổi sáng mắt còn sáng, những buổi chiều lưng đã mỏi, những cuộc trao đổi kiên nhẫn, những lần sửa lại điều mình tưởng đã ổn: tất cả ở đó, dù mắt ta không nhìn thấy. Ngày lễ Các Thánh cho phép chúng ta nhớ đến họ trong lời cầu nguyện, với niềm tin rằng những người đã thuộc về Đức Kitô không bị tách khỏi chúng ta bởi cái chết.
Có những tên tuổi được nhắc lại nhiều. Điều ấy tự nhiên và cần thiết: chúng ta phải ghi nhớ những người gánh vác trách nhiệm, những người mở đường, những người để lại dấu ấn lớn. Nhưng ngay sau khi kể tên họ, xin hãy để lòng mình mở ra với đoàn người không thể kể tên. Sự công bằng của Thiên Chúa rộng hơn trí nhớ của chúng ta. Người biết người đã lặng lẽ góp sức. Người biết người đã dịch một trang, sửa một chữ, làm một việc tưởng là nhỏ rồi trở về đời sống thường ngày. Trong ngày lễ Các Thánh, điều ấy an ủi tôi: không có một hành vi yêu mến chân thành nào bị thất lạc trước mặt Chúa.
Năm mươi lăm năm không tự nó nói lên sự trung thành
Năm mươi lăm năm là một chặng đường dài. Có thể nhìn con số ấy với niềm vui chính đáng. Một nhóm khởi sự năm 1971 đã đi qua những đổi thay sâu sắc của đất nước, của Giáo Hội và của đời sống xuất bản. Bao nhiêu người đã đến rồi đi; bao nhiêu phương tiện làm việc đã đổi khác. Từ những trang viết tay, những bản đánh máy, những lần đối chiếu bằng sách in, đến màn hình máy tính và những nguồn tư liệu có thể tìm trong ít phút: con đường ấy đáng được kể lại.
Nhưng một con số, dù đẹp đến đâu, vẫn cần được hỏi về điều nó chứa đựng. Năm mươi lăm năm đã dạy Nhóm lắng nghe Lời Chúa sâu hơn thế nào? Đã làm cho bản dịch phục vụ người nghe tốt hơn ra sao? Đã giúp những người làm việc với nhau biết sửa mình, biết đón nhận góp ý, biết tôn trọng công sức của nhau đến mức nào? Đã mở một con đường cho người trẻ bước vào chưa?
Một ngày kỷ niệm dễ làm chúng ta xúc động. Cảm xúc ấy quý, nhưng rồi ngày lễ sẽ qua. Hoa trên bàn thờ sẽ được dọn. Khách sẽ trở về. Những bức ảnh sẽ nằm trong điện thoại, trong một tập lưu trữ, hoặc trên một trang mạng. Điều còn lại phải là một quyết tâm đủ cụ thể để bước vào ngày hôm sau: tiếp tục học, tiếp tục làm việc, tiếp tục cầu nguyện, tiếp tục sửa những gì cần sửa và trao cho người khác điều mình đã nhận.
Tôi mong ngày 1 tháng 11 không trở thành lúc chúng ta nhìn công trình như một vật đã hoàn tất. Chính vì yêu quý những gì đã làm, ta càng phải nhớ rằng Dân Chúa vẫn đang nghe Lời trong một ngôn ngữ sống. Có những từ ngày trước rất quen, nay cần được giải thích thêm. Có những cách diễn đạt đã đi vào trí nhớ cộng đoàn và cần được nâng niu. Có những câu cần được xem lại với sự thận trọng của người biết mình đang chạm vào lời cầu nguyện của nhiều thế hệ. Công việc ấy không kết thúc vào một ngày kỷ niệm. Nó đòi hỏi người kế tiếp bước tới với cả sự kính trọng lẫn lòng can đảm.
Từ năm 1971 đến người trẻ hôm nay
Những người dự buổi họp đầu tiên năm 1971, nếu còn ở giữa chúng ta, nay đã ở tuổi cao niên. Tôi nghĩ đến quãng đời ấy với lòng kính phục. Năm mươi lăm năm có thể chứa biết bao biến cố riêng: những niềm vui, mất mát, cơn bệnh, giờ cầu nguyện, lần nản lòng rồi bắt đầu lại. Lịch sử một nhóm dịch giả không đi bên ngoài lịch sử thân thể của những người dịch. Mắt họ đã mỏi hơn. Tay họ có thể đã chậm hơn. Nhưng một người sống lâu với Sách Thánh còn trao được điều mà người trẻ không thể tải xuống từ bất kỳ kho dữ liệu nào: cách ở lại với một câu Lời Chúa qua nhiều mùa đời.
Người sinh năm 1973 như tôi đây nay đã bước qua tuổi năm mươi. Nhiều người thuộc thế hệ ấy đang gánh công việc chính trong Giáo Hội và xã hội. Họ đã được những người đi trước dạy dỗ; giờ đây họ đứng ở vị trí phải trao lại. Đó là lúc dễ mắc kẹt giữa hai nỗi lo: sợ người trẻ chưa đủ sức, và sợ chính mình không còn thời gian. Tôi hiểu cả hai. Nhưng không ai trưởng thành nếu chỉ được đứng xem. Người trẻ phải có cơ hội làm việc thật, được góp ý thật, được sửa sai trong một cộng đoàn biết nâng đỡ, được thấy những bậc đi trước suy nghĩ và cầu nguyện thế nào trước một bản văn khó.
Người sinh năm 2001 nay đã 25 tuổi. Họ không sống trong thế giới của buổi họp năm 1971. Họ học và đọc theo những cách khác, quen với nhịp tiếp cận thông tin khác. Nhiều người có khả năng ngôn ngữ, khả năng kỹ thuật, sự nhạy bén trước câu chữ của thế hệ mình. Họ cần biết rằng bàn làm việc của Nhóm có chỗ cho họ. Một lời mời chân thành phải đi xa hơn câu nói “các bạn trẻ hãy tiếp nối”. Hãy cho họ thấy công việc đang làm. Hãy để họ hỏi vì sao một từ được chọn và một từ khác bị bỏ. Hãy giao cho họ một phần việc có trách nhiệm. Hãy dành thời gian giải thích, sửa bài, lắng nghe cả điều họ nhận thấy mà người lớn tuổi có thể đã quen đến mức không còn nhận ra.
Điều tôi mong được truyền lại không dừng ở kiến thức. Kiến thức phải được học nghiêm túc: nguyên ngữ, lịch sử bản văn, thần học, phụng vụ, tiếng Việt. Nhưng người phục vụ Lời Chúa còn cần được dẫn vào một nếp sống. Trước khi tranh luận về một chữ, hãy biết đọc cả đoạn. Trước khi muốn câu văn mang dấu ấn riêng, hãy hỏi câu văn ấy có trung thành với bản gốc và giúp cộng đoàn cầu nguyện hay không. Trước khi công bố một ý kiến, hãy đủ khiêm tốn để nghe người khác. Trước khi bắt đầu một ngày làm việc, hãy nhớ Đấng mà mình muốn phục vụ.
Nếu linh đạo ấy không được trao lại, tên Nhóm có thể vẫn còn trên gáy sách, nhưng điều làm nên sức sống của Nhóm sẽ yếu đi. Người sau có thể học kỹ thuật từ người trước; họ còn cần được thấy một cách yêu Lời Chúa. Một nhóm dịch giả sống lâu khi những người mới đến có thể nói, sau một thời gian cùng làm việc: “Ở đây tôi học cách làm việc cẩn trọng hơn, và tôi học cách cầu nguyện thật hơn.”
Đây là giếng để múc
Tôi mơ ngày 1 tháng 11 năm 2026 có một thánh lễ tạ ơn. Tôi mơ những người đã nhiều năm phục vụ được cộng đoàn cảm ơn bằng lời nói giản dị và chân thành. Tôi mơ có những bức ảnh được chụp, những kỷ niệm được kể, những người đã khuất được nhắc tên trong lời nguyện. Nhưng giấc mơ của tôi còn đi xa hơn khung cảnh ngày lễ.
Tôi mơ thấy một người trẻ mở bộ Giờ Kinh trên bàn. Bên cạnh là một người đã đọc bộ sách ấy qua nhiều chục năm. Người lớn tuổi không chỉ nói: “Ngày trước chúng tôi làm thế này.” Người ấy đọc cho người trẻ nghe một câu Thánh Vịnh, rồi hỏi: “Con nghe được gì?” Họ cùng dừng lại. Họ nhìn một chữ. Họ thử đọc câu ấy thành tiếng. Họ tìm hiểu vì sao một cách dịch có thể trung thành với nghĩa mà vẫn chưa đến được với tai người Việt; vì sao một câu nghe rất đẹp lại có thể đẩy ý bản văn đi xa. Sau cuộc trao đổi, người trẻ hiểu thêm một chút về dịch thuật, nhưng cũng hiểu rằng mình đang đứng trước một lời kinh mà biết bao người đã đọc trong vui mừng và đau khổ.
Tôi mơ có người đặt tay trên bộ Giờ Kinh và nói với lớp trẻ: “Đây không phải di sản để trưng. Đây là giếng để múc.” Một cái giếng sống nhờ người tiếp tục đến lấy nước. Đến với giếng cần chiếc gầu, cần đôi tay, cần biết cúi xuống. Nếu chỉ đứng ngắm thành giếng và ca ngợi người đào giếng, ta vẫn khát. Nếu lấy nước mà quên gìn giữ giếng, người đến sau sẽ gặp khó khăn. Cách biết ơn đẹp nhất đối với những người đi trước là tiếp tục múc, tiếp tục chăm giếng, tiếp tục mời người đang khát đến gần.
“Hãy học chữ. Hãy học quỳ. Hãy học ở lại.” Tôi muốn giữ ba lời ấy như một lời gửi gắm cho ngày kỷ niệm.
Học chữ là một bổn phận nghiêm túc. Người yêu Lời Chúa phải chịu khó học. Học tiếng Việt để nhận ra sức nặng và độ sáng của một từ. Học ngôn ngữ Kinh Thánh để biết bản văn đang nói gì trước khi vội nói theo ý mình. Học lịch sử, văn chương, phụng vụ và đời sống của Giáo Hội để câu dịch không lạc khỏi nơi nó sẽ được đọc. Học từ người lớn tuổi, từ người cùng làm việc, và cả từ cộng đoàn sẽ nghe bản văn ấy. Không ai yêu Lời đủ sâu nếu tự cho mình đã học xong.
Học quỳ là nhớ mình đang đứng trước mầu nhiệm. Có thể người dịch không quỳ theo nghĩa thể lý trước từng trang bản thảo. Nhưng lòng họ cần biết quỳ: biết kính sợ Thiên Chúa, biết mình không sở hữu Lời của Người, biết một lựa chọn sai có thể khiến người nghe hiểu lệch, biết một lựa chọn đúng cũng không cho mình quyền kiêu căng. Cầu nguyện giữ cho sự cẩn trọng khỏi thành khô cứng và giữ cho lòng sốt sắng khỏi thành tùy tiện.
Học ở lại là điều khó trong thời người ta dễ chuyển sang một việc khác khi hết hứng thú. Ở lại với một câu chưa giải quyết được. Ở lại trong một cuộc trao đổi còn bất đồng mà vẫn tôn trọng nhau. Ở lại với cộng đoàn, với kỷ luật chung, với trách nhiệm đã nhận. Ở lại với Sách Thánh cả khi không tìm được ngay một ý hay để viết hoặc một cảm xúc đẹp để chia sẻ. Có những hoa trái chỉ lớn lên nhờ nhiều năm trung thành âm thầm. Năm mươi lăm năm là bằng chứng của điều ấy.
Một ngày lễ biết mở cửa
Tôi mong cuộc kỷ niệm có những khoảng lặng. Giữa lời phát biểu và lời ca, xin dành chỗ cho thinh lặng trước Lời Chúa. Giữa câu chuyện về thành quả, xin dành chỗ để nhớ những điều chưa làm được và những người còn chưa được phục vụ đầy đủ. Giữa niềm vui gặp lại, xin dành chỗ cho người trẻ chưa quen ai trong Nhóm nhưng đang muốn bước vào. Một ngày lễ tạ ơn sẽ đẹp hơn khi người mới đến không thấy mình là khách đứng ngoài câu chuyện của các bậc tiền bối.
Nếu có một cuộc gặp sau thánh lễ, tôi mong nghe những câu hỏi thật. Các thế hệ đã học được gì sau những lần bất đồng về một bản dịch? Khi một câu được cộng đoàn yêu mến nhưng cần hiệu đính, phải làm sao? Người muốn phục vụ công việc này cần học gì trước? Làm thế nào để việc dịch và chú giải nuôi đời cầu nguyện của chính người làm? Những câu hỏi ấy có thể không đem lại những lời đáp ngắn gọn, nhưng chúng giúp ngày kỷ niệm hướng về phía trước.
Tôi cũng mong các cộng đoàn đang sử dụng những bản văn của Nhóm nhận ra mình có phần trong ngày ấy. Mỗi lần một giáo xứ đọc một đáp ca, một nhà dòng hát một Thánh Vịnh, một gia đình nghe một đoạn Tin Mừng, công trình dịch thuật lại được đưa vào đời sống. Người làm sách cần cộng đoàn đọc và cầu nguyện. Cộng đoàn cần những người chịu khó làm sách. Mối dây ấy đáng được nói rõ trong ngày sinh nhật 55 năm: công việc bắt đầu từ tình yêu Lời Chúa và trở về với Dân Chúa đang đói khát Lời.
Có lẽ sẽ có người hỏi: sau ngần ấy năm, còn phải làm gì nữa? Tôi nghĩ câu trả lời nằm ngay trong đời sống hằng ngày của Giáo Hội. Vẫn còn người nghe Kinh Thánh mà thấy xa lạ. Vẫn còn người đọc Giờ Kinh như đọc cho xong. Vẫn còn người trẻ muốn mở Sách Thánh nhưng không biết bắt đầu từ đâu. Vẫn còn những câu khó cần được giải thích bằng tiếng Việt sáng rõ và trung thành. Vẫn còn những cộng đoàn cần được giúp để nghe Lời bằng cả trí, lòng và đời sống. Chừng nào những nhu cầu ấy còn đó, chừng ấy lời mời phục vụ vẫn còn vang lên.
Lễ Các Thánh và con đường nhỏ của người dịch
Trong lễ Các Thánh, Giáo Hội nghe lại các mối phúc. Phúc cho những ai có tâm hồn nghèo khó, hiền lành, khát khao nên người công chính, biết xót thương, có tâm hồn trong sạch, xây dựng hòa bình, chịu bách hại vì sống công chính. Các mối phúc không nói riêng về nghề nghiệp nào. Nhưng tôi nghĩ người phục vụ Sách Thánh có thể soi đời mình trong đó.
Nghèo khó trong tâm hồn để không coi kiến thức là tài sản khiến mình hơn người. Hiền lành để có thể nhận một góp ý mà không lập tức tự vệ. Khát khao sự công chính để đặt sự thật của bản văn cao hơn sự tiện lợi của mình. Biết xót thương để nhớ câu chữ đang đến với những người đau khổ, yếu đuối, ít điều kiện học hỏi. Có tâm hồn trong sạch để tìm điều bản văn muốn nói, thay vì tìm tiếng tăm qua bản văn. Xây dựng hòa bình trong những cuộc thảo luận có thể căng thẳng, bởi người cùng bàn là anh chị em đang phục vụ một Lời. Trung thành ngay cả khi công việc chậm, ít được chú ý, và có khi bị hiểu lầm.
Đường nên thánh của một người dịch không nằm riêng trong giờ làm việc. Nó đi qua cách họ cư xử với người góp ý, cách họ nói về người đi trước, cách họ hướng dẫn người trẻ, cách họ nhận lỗi khi một chọn lựa cần được sửa. Nó đi qua buổi tối họ đóng máy mà vẫn còn nghĩ về câu Kinh Thánh ấy như lời dành cho chính mình. Một người có thể làm việc với Sách Thánh cả đời mà vẫn phải xin Chúa cho mình biết nghe. Lễ Các Thánh nhắc chúng ta rằng sự thánh thiện là ơn Chúa đang mời gọi mỗi người, ngay giữa công việc cụ thể mình được giao.
Tôi không muốn dùng ngày lễ này để biến những người trong Nhóm thành những nhân vật không còn vết nhăn. Họ là những con người đã lao động, có giới hạn, có khi mệt, có khi sai, có khi phải làm lại. Chính ở đó, lòng trung thành của họ mới có sức chạm đến chúng ta. Nếu kể câu chuyện 55 năm như thể mọi điều đều dễ dàng và mọi người lúc nào cũng đồng ý, người trẻ sẽ tưởng mình không đủ tốt để bước vào. Nếu kể cả sự khó nhọc với lòng biết ơn và sự tế nhị, họ sẽ hiểu rằng mình có thể bắt đầu, học dần, sửa dần, và ở lại.
Khi người đi trước trao chỗ
Một trong những cảnh đẹp nhất của đời sống Giáo Hội là cảnh một người lớn tuổi vui lòng thấy người trẻ làm được điều mình từng làm, rồi làm theo cách mới mà vẫn giữ được điều cốt yếu. Cảnh ấy đòi hỏi sự quảng đại. Người đi trước đã dành nhiều năm cho công trình, nên dễ thấy mỗi thay đổi như một mất mát. Người đi sau muốn góp sức, nên dễ sốt ruột trước những điều phải học chậm. Cả hai cần nhau.
Người đi trước có thể trao cho người trẻ những điều sách vở không ghi đủ: ký ức về một quyết định, lý do một câu được giữ, bài học từ một lần sửa sai, thói quen đọc lớn tiếng cho nhau nghe, cách phân biệt một bất đồng cần tranh luận đến cùng với một bất đồng có thể nhường nhau. Người trẻ có thể đem đến khả năng tiếp cận tư liệu mới, cách đặt câu hỏi mới và sự nhạy cảm với những người cùng thế hệ mình đang nghe Lời Chúa. Cuộc gặp ấy chỉ sinh hoa khi đôi bên thật sự cùng làm việc.
Tôi mong một người trẻ, sau ngày kỷ niệm, không chỉ nhận được lời động viên. Tôi mong họ biết mình có thể đến đâu, học với ai, đọc gì, thử sức ở việc nào. Một cánh cửa mở phải có lối đi. Một lời mời tiếp nối cần đi cùng sự kiên nhẫn dành thời gian cho người mới. Và người trẻ, khi nhận lời, cũng phải hiểu rằng mình đang bước vào một công việc không cho phép làm qua loa. Được tin cậy là một ân huệ; đáp lại bằng học hỏi và bền bỉ là cách tỏ lòng biết ơn.
Có thể sau này tên những người trẻ ấy sẽ xuất hiện trên một cuốn sách. Cũng có thể không. Điều quan trọng hơn là họ tìm được niềm vui trong việc giúp một người khác nghe rõ hơn một câu Lời Chúa. Nếu niềm vui ấy bén rễ, Nhóm sẽ có tương lai. Nếu chỉ trao cho họ áp lực giữ một tên tuổi, họ sẽ mau mệt. Di sản sống được truyền qua một tình yêu có thể chia sẻ, qua một bàn làm việc còn đủ chỗ cho người đến sau.
Lời cầu cho ngày sinh nhật
Ngày 1 tháng 11 năm 2026, nếu được hiệp lòng cầu nguyện với Nhóm, tôi sẽ xin trước hết cho những người đã hoàn tất cuộc đời. Xin Chúa đón nhận họ, thanh luyện họ và cho họ được hưởng ánh sáng của Người. Xin cho những công việc âm thầm của họ, dù còn được nhắc tên hay đã chìm khỏi trí nhớ chúng ta, đều được đặt trong lòng thương xót Chúa.
Tôi sẽ xin cho những người cao tuổi còn ở giữa chúng ta. Xin cho họ được chăm sóc, được lắng nghe, được biết rằng công sức của họ đã giúp nhiều người cầu nguyện. Xin cho họ niềm vui nhìn thấy lớp trẻ bước tới. Xin cho họ đủ bình an để trao điều mình biết, và đủ tự do để chúc lành cho những điều tốt lành sẽ lớn lên theo cách họ chưa từng dự tính.
Tôi sẽ xin cho những người đang gánh công việc hôm nay. Xin cho họ sức khỏe để tiếp tục, sự sáng suốt khi phải chọn lựa, lòng nhẫn nại trước những việc chưa thể xong. Xin cho họ biết giữ tình huynh đệ trong những giờ bàn luận khó. Xin cho họ không đánh mất đời cầu nguyện giữa lịch làm việc, bản thảo và những trách nhiệm chồng lên nhau.
Tôi sẽ xin cho những người trẻ đang ở gần cánh cửa. Xin cho họ có can đảm bước vào và khiêm tốn học. Xin cho họ gặp được những người hướng dẫn không giữ kiến thức cho riêng mình. Xin cho khả năng mới của họ trở thành quà tặng cho Giáo Hội. Xin cho họ yêu tiếng mẹ của mình đủ để rèn luyện nó, yêu Sách Thánh đủ để học hỏi nghiêm túc, yêu Dân Chúa đủ để không viết chỉ cho những người đã có học vấn như mình.
Sau cùng, tôi sẽ xin cho chính cộng đoàn chúng ta. Xin cho chúng ta biết đón nhận công trình của người dịch bằng cách mở sách, đọc chậm, cầu nguyện và đem Lời vào đời sống. Một bản dịch có thể được chuẩn bị bằng bao nhiêu năm lao động; người đọc cũng cần trao cho nó ít phút lắng nghe thật lòng. Nếu ngày sinh nhật 55 năm giúp một gia đình bắt đầu đọc Tin Mừng với nhau, một người trẻ bắt đầu cầu nguyện bằng Thánh Vịnh, một linh mục trở lại với bản văn trước khi soạn bài giảng, thì ngày lễ ấy đã đi vào cuộc sống.
Sau ngày 1 tháng 11
Tôi nghĩ nhiều đến sáng ngày 2 tháng 11. Lễ kỷ niệm đã qua. Mỗi người lại trở về việc thường ngày. Chính buổi sáng ấy sẽ cho thấy ngày hôm trước để lại điều gì.
Có người trở lại bàn dịch và đọc lại một câu còn dang dở. Có người mở máy để trả lời góp ý. Có người cầm cuốn Giờ Kinh trong một nhà nguyện vắng. Có người trẻ gửi bản thử đầu tiên, hồi hộp chờ người hướng dẫn sửa. Có người nhớ một bậc tiền bối vừa được nhắc tên trong thánh lễ và quyết định học nghiêm túc hơn. Có người chỉ đơn giản mở Tin Mừng, đọc một đoạn ngắn, rồi ở lại vài phút trong thinh lặng. Tôi mong thấy ngày kỷ niệm tiếp tục sống bằng những việc ấy.
Năm mươi lăm năm trước, những người khởi đầu đã nhận một công việc lớn hơn khả năng của một đời người. Họ không thể làm thay hết mọi thế hệ. Họ làm phần được trao cho mình. Hôm nay chúng ta cũng vậy. Ta không cần hứa rằng mọi khó khăn sẽ được giải quyết trong ít năm tới. Ta cần nhận ra phần việc của mình, làm với lòng trung thành, và chuẩn bị cho bàn tay khác tiếp nhận.
Lễ Các Thánh nhắc tôi nhìn xa hơn một đời người. Người gieo có thể không thấy hết mùa gặt. Người dịch một câu có thể không biết câu ấy đã an ủi ai. Người dạy một người trẻ có thể không biết nhiều năm sau người ấy sẽ giúp bao cộng đoàn nghe Lời. Thiên Chúa biết. Niềm tin ấy giải thoát ta khỏi nhu cầu phải thấy ngay thành quả, đồng thời thúc giục ta chăm chút điều nhỏ bé đang ở trước mặt.
Ngày 1 tháng 11 năm 2026, tôi mong được nói với Nhóm một lời rất giản dị: xin cảm ơn vì đã ở lại với Lời Chúa qua 55 năm. Xin cảm ơn những người được gọi tên và những người không được gọi tên. Xin cảm ơn những bàn tay đã viết, đã sửa, đã in, đã chuyển sách, đã mở sách và đã chắp lại để cầu nguyện. Xin cảm ơn những người đã trao cho người Việt một con đường để nghe Lời Chúa bằng tiếng mẹ và đem tiếng mẹ mình dâng lên Chúa.
Và rồi, sau lời cảm ơn, tôi muốn nhìn về phía những người sẽ còn ngồi vào bàn làm việc ấy trong nhiều năm nữa. Trên bàn có bản văn còn cần học, có cuốn Giờ Kinh đã được bao người đọc, có chỗ dành cho một đôi tay mới. Tôi muốn nói với họ, cũng là nói với chính mình:
Hãy học chữ, vì từng chữ có thể mở hoặc khép một lối vào Lời Chúa. Hãy học quỳ, vì Đấng đang nói lớn hơn mọi hiểu biết của ta. Hãy học ở lại, vì tình yêu sâu thường được nhận ra qua những ngày âm thầm lặp lại. Hãy múc nước từ chiếc giếng những người đi trước đã đào. Hãy chăm giếng bằng công việc của đời mình. Và khi một người trẻ hơn đến bên cạnh, hãy đưa chiếc gầu cho họ.

Lời kết. Xin Người nói, vì tôi tớ Ngài đang nghe
Đêm ấy, cậu bé Samuel nằm ngủ trong Đền Thờ. Ngọn đèn của Thiên Chúa chưa tắt. Cậu nghe có tiếng gọi tên mình, liền chạy đến bên thầy Êli, tưởng rằng thầy cần điều gì. Cậu chưa nhận ra tiếng Chúa. Phải qua nhiều lần được gọi và được một người đi trước chỉ dẫn, Samuel mới biết thưa: “Lạy Chúa, xin Người phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe.”
Tôi muốn dừng những dòng chữ vụn vở của kẻ phàm phu tục tử ở câu thưa ấy.
Không phải ở một bảng thống kê những cuốn sách đã xuất bản. Không phải ở một lời ca ngợi đủ đẹp để khép lại năm mươi lăm năm. Cũng không phải ở tên của người viết. Sau tất cả những trang đã đi qua, điều còn lại trong lòng tôi là hình ảnh một con người thức dậy giữa đêm, học cách nhận ra tiếng Chúa và đặt mình vào tư thế lắng nghe.
Samuel chưa biết mình sẽ phải nghe điều gì. Cậu chỉ biết Đấng đang gọi mình xứng đáng được đáp lời. Lắng nghe Lời Chúa bắt đầu như thế: không cầm sẵn một câu trả lời, không đòi Chúa nói điều mình muốn nghe, không lấy tiếng nói của mình phủ lên tiếng Người. Người nghe để Chúa được nói trước. Người nghe chấp nhận rằng một lời đến từ Thiên Chúa có thể mở ra con đường mới, sửa lại ý nghĩ cũ, an ủi một vết thương, hoặc đặt lên vai mình một trách nhiệm.
Tôi nghĩ đến thánh Giê-rô-ni-mô. Tôi nghĩ đến những giờ dài ngài cúi xuống bản văn, học một ngôn ngữ khó, đối chiếu một chữ còn nghi ngại, chịu đựng sự chậm chạp của công việc mà người ngoài chỉ nhìn thấy khi nó đã thành sách. Tôi nghĩ đến những người đã làm việc với Sách Thánh trước ngài và những người tiếp tục sau ngài. Qua nhiều thế kỷ, ngôn ngữ, phương tiện, nơi ở và hoàn cảnh của họ khác nhau. Nhưng ở tận đáy lòng công việc ấy vẫn có câu thưa của Samuel: Xin Người nói. Con đang nghe.
Một người dịch Kinh Thánh trước hết phải nghe. Nghe bản văn trong ngôn ngữ nó được trao lại. Nghe tiếng nói của Giáo Hội đã đón nhận, cầu nguyện và sống bằng bản văn ấy. Nghe tiếng mẹ đẻ của những người sẽ đọc, sẽ hát, sẽ khóc và sẽ hy vọng với những câu mình đang chọn. Có khi phải nghe cả sự lúng túng của chính mình: mình đã hiểu đúng chưa, một từ quen thuộc có làm hẹp ý nghĩa không, một câu rất đẹp có còn trung thành với điều bản văn nói không? Nếu mất khả năng lắng nghe, người ta vẫn có thể làm ra một bản dịch trôi chảy. Nhưng khó có thể làm công việc ấy như một sự phục vụ Lời Chúa.
Từ năm 1971 đến năm 2026, Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ đã đi qua nhiều đổi thay. Năm mươi lăm năm là một quãng đời dài đối với một con người. Trong quãng ấy có người trẻ đi vào công việc rồi già đi cùng công việc; có người đã về với Chúa; có những người được đón vào tiếp nối; có những trang bản thảo cũ, những phương tiện mới, những lần hiệu đính và những câu hỏi chưa thể trả lời vội. Tôi không thể biết hết những ngày tháng ấy. Tôi cũng không muốn dùng vài lời đẹp để làm như mình đã hiểu trọn những hy sinh của những người trong cuộc. Tôi chỉ có thể đứng trước hành trình ấy với lòng biết ơn.
Lòng biết ơn ấy đến từ những điều rất gần. Một linh mục mở sách Giờ Kinh lúc sáng sớm, khi nhà xứ còn yên. Một nữ tu cầm Thánh Vịnh lúc đêm xuống, sau một ngày phục vụ. Một giáo dân nghe bài đọc trong Thánh Lễ và hiểu được lời vừa vang lên. Một người mẹ đọc cho con nghe một câu Tin Mừng bằng tiếng Việt thân thuộc. Một gia đình giữa đám tang bấu víu vào lời hứa phục sinh. Trong những giờ phút đó, hiếm ai nghĩ đến người đã cân nhắc từng chữ. Điều ấy tự nó là niềm vui âm thầm của người dịch: khi bản dịch phục vụ tốt, người nghe có thể đi qua câu chữ mà hướng lòng về Chúa.
Nhưng hôm nay, tôi muốn ngoái lại một lần để nhớ đến những người đã chọn chữ giúp chúng ta.
Có những món nợ không thể trả bằng cách ghi tên trên một trang giấy. Ta trả bằng cách nâng niu điều đã nhận. Ta đọc Lời Chúa với lòng kính trọng. Ta giảng từ bản văn thay vì chỉ tìm một câu để minh họa ý riêng. Ta dành cho việc công bố Lời Chúa sự chuẩn bị xứng đáng, bởi một câu được dịch cẩn thận vẫn cần một giọng đọc biết mình đang trao điều gì cho cộng đoàn. Ta để trẻ em được nghe Tin Mừng bằng tiếng mẹ, để người đau khổ có thể gặp một lời an ủi rõ ràng, để người đang tìm kiếm đức tin có thể mở Sách Thánh mà không thấy mình bị bỏ lại trước một cánh cửa khóa kín.
Tôi nhớ đến cha An-rê Đỗ Xuân Quế. Hình ảnh cha ở tuổi rất cao vẫn ngồi bên bản văn làm tôi xúc động hơn nhiều lời diễn thuyết về lòng trung thành. Một đời người có thể chất chứa biết bao công việc, và đến những ngày cuối, người ta vẫn có thể trở lại với điều mình đã yêu. Tôi không biết cha đã suy nghĩ gì trong buổi làm việc cuối cùng ấy. Không ai nên đặt vào lòng người đã khuất những lời họ chưa nói. Nhưng tôi có thể để hình ảnh ấy hỏi chính mình: khi tuổi tác, mỏi mệt hay công việc khác kéo đến, tôi còn muốn nghe Lời Chúa nữa không? Tôi còn tin rằng một chữ đáng được chăm sóc vì một người nào đó sẽ sống nhờ câu ấy không?
Tôi cũng nghĩ đến soeur Sang bên chiếc laptop. Chiếc máy là vật rất thường của thời đại này. Trên đó có thể là hàng trăm cửa sổ, tin tức và việc phải làm. Nhưng cũng trên đó, một người có thể ngồi lại với bản văn, tìm một cách nói sáng hơn, sửa một chỗ chưa ổn, giữ sự kiên nhẫn mà công việc lâu dài đòi hỏi. Lòng trung thành không thuộc riêng về những trang giấy đã ngả màu. Nó đang được sống hôm nay, với những con người còn phải trả lời email, chăm sóc sức khỏe, thu xếp bổn phận và tiếp tục công việc giữa rất nhiều tiếng ồn.
Tôi cũng nhớ đến Cha Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh; Cha An-bê-tô Trần Phúc Nhân; Đức Ông Gio-an Bao-ti-xi-ta Xuân Ly Băng; Cha Tô-ma Thiện Cẩm; Cha Gio-a-kim Lương Hoàng Kim; Cha Giu-se Trần Ngọc Thao; Cha Nguyễn Văn Hoà; Cha Giu-se Nguyễn Công Đoan; Cha Mi-ca-en Nguyễn Hữu Phú; Cha Ta-ni-la Hoàng Đắc Ánh; Cha Giu-se Trịnh Văn Thậm; Cha Nguyễn Tất Trung; Cha I-nha-xi-ô Nguyễn Ngọc Rao; Cha Giu-se Nguyễn Cao Luật; Cha Đa Minh Nguyễn Đạt Tam; Cha An-tôn Nguyễn Cao Siêu; Cha Gio-an Bao-ti-xi-ta Hoàng Ngọc Lễ; Cha Giu-se Trần Hoà Hưng; soeur Ma-ri-a Lê Thị Thanh Nga; Cha Vinh-sơn Phạm Xuân Hưng; Cha Giu-se Nguyễn Tiến Dũng; Soeur An-na Lê Thị Vân Nga; Cha Ca-rô-lô Vũ Anh Quốc; Cha Giu-se Lê Minh Thông
Tôi viết những dòng chia sẻ này như là một lời hiệp thông, một lời tri ân và một lời cảm ơn Nhóm. Những dòng chữ ngổn ngang vụn về thiếu hiểu biết như tôi không thể nào kể hết lịch sử một Nhóm, càng không thể chứa hết những cuộc đời. Nhưng có những điều nhỏ, nếu không được đón nhận, sẽ lặng lẽ trôi qua. Một lời thăm hỏi, một lời nhắc đến người đã khuất, một lời xin cầu nguyện cho người đang làm việc, một ký ức về ngày thành lập: từng điều tự nó khiêm tốn. Đặt cạnh nhau, chúng cho thấy một cộng đoàn biết mình đã nhận từ ai, đang đi với ai và muốn trao lại điều gì.
Tôi không viết để biến sự âm thầm thành tiếng vang. Sự âm thầm có vẻ đẹp riêng, và những người đã chọn nó không cần người khác làm cho đời mình lớn hơn sự thật. Tôi viết vì sợ mình quen nhận mà quên cảm ơn. Tôi viết vì những gì đi vào đời sống hằng ngày thường trở nên vô hình đối với người hưởng dùng. Ta mở sách, đọc kinh, nghe bài đọc, rồi đi tiếp; ít khi tự hỏi câu tiếng Việt trong sáng ấy đã đi qua bao nhiêu bàn tay và bao nhiêu lần sửa. Một ngày lễ bổn mạng, một dấu mốc năm mươi lăm năm, là dịp để dừng bước và nói: chúng con đã nhận được công việc của quý vị; chúng con biết ơn.
Nhưng biết ơn quá khứ cũng có nghĩa là quan tâm đến tương lai. Không ai trong chúng ta có thể ở mãi bên bàn làm việc. Sẽ đến lúc một người phải trao bản thảo, kinh nghiệm và trách nhiệm cho người khác. Sự tiếp nối trung thành đòi hỏi cả lòng khiêm nhường của người trao lẫn lòng khiêm nhường của người nhận. Người đi trước cần mở chỗ cho tiếng nói mới, cho những hiểu biết mới, cho việc xem lại điều cần xem lại. Người đến sau cần học đủ lâu để biết tại sao một câu đã được chọn, tại sao một chữ được giữ, tại sao có những thay đổi tưởng dễ mà phải cân nhắc rất nhiều. Yêu công trình của người đi trước là tiếp nhận nó cách nghiêm túc và chăm sóc nó bằng cùng một lòng yêu mến.
Tôi cầu xin cho Nhóm luôn có những người như thế. Có người vững về bản văn. Có người yêu tiếng Việt và nghe được một câu khi nó được đọc thành tiếng. Có người hiểu phụng vụ, biết một lời kinh sống thế nào trên môi cộng đoàn. Có người sẵn lòng nhận việc nhỏ, sửa lỗi nhỏ, đọc lại lần nữa khi mọi người đã mệt. Có người đủ can đảm lên tiếng khi một cách dịch cần được xem xét, và đủ hiền hòa để đón nhận khi ý kiến mình không được chọn. Công việc chung sẽ còn chảy nếu những con người khác nhau vẫn có thể cùng cúi đầu trước một Lời lớn hơn tất cả.
Xin Chúa gìn giữ công trình ấy như một dòng sông còn chảy. Dòng sông nhận nước từ những nguồn đi trước và mang nước đến những cánh đồng đang chờ. Nó đi qua đất đá, qua khúc quanh, có nơi phải lắng xuống mới trong. Nếu bị chặn lại để giữ nguyên hình dạng của một ngày đã qua, nó không còn nuôi được sự sống. Nếu quên nguồn, nó sẽ cạn. Xin cho công việc phục vụ Lời Chúa biết vừa gìn giữ vừa chuyển trao, vừa trung thành vừa tỉnh táo trước nhu cầu thực của Dân Chúa hôm nay.
Điều ấy không chỉ liên quan đến người dịch. Một bản văn đã được trao đến tay Giáo Hội cần được Giáo Hội đón nhận. Người đọc sách thánh trong Thánh Lễ, xin hãy đọc trước ở nhà. Xin nhìn xem câu nào cần ngắt, tên nào cần đọc cho rõ, ý nào cần để cho lắng xuống. Linh mục chuẩn bị bài giảng, xin hãy ở lại với bản văn trước khi mở những tài liệu khác. Giáo lý viên, xin đừng sợ cho trẻ em nghe chính lời Tin Mừng. Cha mẹ, xin tìm một khoảnh khắc trong ngày để Lời Chúa được vang lên trong nhà, dù chỉ một đoạn ngắn. Người tín hữu đang mệt mỏi, xin đừng nghĩ mình phải hiểu mọi điều ngay lập tức mới được mở Sách Thánh. Hãy bắt đầu bằng một câu. Hãy đọc chậm. Hãy thưa với Chúa điều mình thật sự đang mang trong lòng.
Có lẽ đó là cách đẹp nhất để cảm ơn những người đã dịch: để Lời được sống.
Tôi cũng muốn cầu nguyện cho những người đã hoàn tất hành trình trần thế. Xin Chúa nhớ đến những buổi sáng họ bắt đầu công việc khi mắt còn mỏi; những lần họ kiên nhẫn trở lại một chỗ khó; những hy sinh chẳng nằm trong hồ sơ hay lời giới thiệu; cả những giới hạn, sai sót và điều họ chưa kịp hoàn thành. Mọi công việc của con người đều còn dang dở. Chúng ta trao nó cho người khác, và cuối cùng trao tất cả cho lòng thương xót Chúa. Xin cho những người đã phục vụ Lời Chúa được nghỉ yên trong Đấng mà họ đã tìm cách làm cho anh chị em mình nhận biết.
Xin thánh Giê-rô-ni-mô cầu bầu cho họ, cho những người còn đang làm việc và cho cả chúng tôi, những người đang hưởng nhờ công việc ấy. Ngài đã biết thế nào là học hỏi vất vả, là yêu Sách Thánh bằng trí óc và thời giờ của mình, là để Lời Chúa đòi hỏi mình nhiều hơn một cảm xúc sốt sắng. Xin ngài giúp chúng tôi yêu Sách Thánh với một tình yêu bền bỉ. Một tình yêu chịu khó mở sách. Chịu khó học. Chịu khó sửa mình khi thấy đời sống đi ngược điều mình đọc. Chịu khó trở lại sau những thời gian nguội lạnh.
“Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô.” Câu nói ấy đã đi qua nhiều thế kỷ mà vẫn chạm vào một câu hỏi rất riêng của mỗi người: tôi có muốn biết Đức Kitô không? Tôi có muốn nghe Người bằng chính những con đường Người đã trao cho Giáo Hội không? Tôi có dành cho Người một khoảng lặng giữa những tiếng nói tranh nhau sự chú ý của tôi không?
Biết Kinh Thánh không chỉ là nhớ được nhiều câu. Có người thuộc nhiều mà lòng vẫn khép. Cũng có người mới biết đọc một đoạn ngắn đã để đoạn ấy dẫn mình đến một cuộc hòa giải, một việc phục vụ, một lời cầu nguyện chân thành. Chúng ta cần học và hiểu cho đúng; chúng ta cũng cần để điều đã hiểu đi vào đời. Lời Chúa được đọc trong nhà thờ phải có thể theo ta ra cửa, về nhà, đến bàn ăn, đến giường bệnh, đến nơi làm việc, đến cuộc gặp với người mình đang khó yêu thương. Đức Kitô mà ta gặp trong Sách Thánh muốn được nhận ra giữa đời sống ấy.
Tôi nhớ lại Samuel. Cậu đã chạy nhầm đến thầy Êli nhiều lần. Việc ấy an ủi tôi. Có những lúc chúng ta cũng nhận lầm tiếng Chúa. Ta tưởng thói quen của mình là ý Người. Ta tưởng một ý nghĩ nóng vội là lời mời gọi phải làm ngay. Ta tưởng mình đã nghe đủ nên không cần ai hướng dẫn. Samuel cần Êli giúp nhận ra tiếng gọi; chúng ta cũng cần Giáo Hội, cần người đi trước, cần cộng đoàn và cần sự khiêm tốn học hỏi. Một bản dịch Kinh Thánh được làm chung, được đọc lại và được đặt trong đời sống phụng vụ nhắc chúng ta điều ấy. Không ai sở hữu Lời Chúa một mình.
Khi đã được hướng dẫn, Samuel không nhận một công thức để mọi đêm sau đều dễ dàng. Cậu nhận một cách đáp lời: “Xin Người phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe.” Đó là một lời thưa có thể đi theo ta suốt đời. Lúc mở Sách Thánh mà tâm trí còn rối: Xin Người nói. Lúc phải giảng mà chưa biết bắt đầu từ đâu: Xin Người nói. Lúc sửa một bản văn và phân vân giữa hai chữ: Xin Người nói. Lúc đứng trước một người đau khổ, sợ lời mình quá nhẹ hoặc quá nặng: Xin Người nói. Lúc già đi, không còn làm được những việc trước kia vẫn làm: Xin Người nói. Lúc chỉ còn đủ sức nghe một câu Tin Mừng được người khác đọc bên giường: Xin Người nói. Con vẫn đang nghe.
Tôi mong lời thưa ấy ở lại với Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Mong nó ở lại với người công bố Lời Chúa, người giảng, người dạy giáo lý, người cha người mẹ và những người con đang lần đầu nghe tên Đức Giêsu bằng tiếng Việt. Mong nó ở lại với Giáo Hội Việt Nam trong những năm tới, khi ngôn ngữ tiếp tục đổi thay và những phương tiện mới tiếp tục xuất hiện. Dù ta đọc trên trang giấy hay màn hình, dù có thể tìm một bản văn trong vài giây hay phải dành nhiều giờ để hiểu một câu, lòng người vẫn cần học tư thế của Samuel.
Tôi khép những dòng vụn vỡ này với lòng tri ân. Tri ân những người đã khởi sự. Tri ân những người ở lại. Tri ân những người đến sau và đang học việc. Tri ân những người đã khuất mà công trình vẫn tiếp tục vang lên trong lời cầu nguyện của Dân Chúa. Tri ân cả những người đọc âm thầm, bởi một bản dịch được làm ra để đến với họ và cùng họ trở thành lời cầu nguyện.
Lạy Chúa, xin chúc lành cho những bàn tay đã phục vụ Lời Chúa bằng tiếng Việt. Xin gìn giữ những người đang tiếp tục công việc ấy trong sự trung thành, sáng suốt và bình an. Xin đón nhận những người đã hoàn tất hành trình. Xin cho những điều cần được sửa sẽ được sửa bằng lòng yêu mến; những điều quý giá cần được giữ sẽ được giữ bằng lòng biết ơn; và những người trẻ được mời gọi bước vào công việc sẽ gặp những người sẵn lòng chỉ dạy, đồng hành.
Xin cho Lời Chúa được gìn giữ cách trung thành, được chuyển tải cách chính xác và đến với Dân Chúa bằng tất cả lòng yêu mến. Xin cho chúng con đừng chỉ đặt Sách Thánh ở nơi trang trọng, nhưng mở ra và lắng nghe. Xin cho những lời chúng con đọc và giảng trước hết được nói với chính chúng con. Xin cho mỗi lần nghe Lời Chúa trong phụng vụ, chúng con nhớ rằng Người vẫn đang gọi tên mình.
Ngọn đèn trong Đền Thờ đêm ấy chưa tắt. Tôi tin giữa bao đổi thay, lời mời gọi lắng nghe cũng chưa tắt. Cuốn sách này khép lại; câu thưa của Samuel thì còn mở. Ngày mai, một người sẽ lại mở sách Giờ Kinh. Một người khác sẽ chuẩn bị bài đọc cho Thánh Lễ. Một em nhỏ sẽ hỏi câu Tin Mừng ấy nghĩa là gì. Một người đang buồn sẽ đọc chậm một Thánh Vịnh và thấy mình có lời để cầu nguyện. Và ở đâu đó, một người phục vụ bản văn sẽ lại ngồi xuống, nhìn kỹ một câu, vì biết rằng Lời ấy đáng được trao đi bằng cả sự thật và tình yêu.
Ước gì trong mỗi việc ấy, chúng ta nhận ra tiếng gọi quen thuộc mà vẫn luôn mới. Ước gì câu nói “Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô” trở thành một lời nhắc dịu dàng để chúng ta trở về với Sách Thánh, trở về với Người. Và khi Người gọi, ước gì chúng ta biết thưa, bằng môi miệng và bằng cả đời mình:
“Lạy Chúa, xin Người phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe.”
Lm. Anmai, CSsR

Phụ lục. Gợi ý đọc và cầu nguyện
Đoạn nên đọc trong ngày lễ Bổn Mạng
Dei Verbum số 21–26. Hai bài huấn từ Đức Bênêđictô XVI 7-11 và 14-11-2007. Thư Giê-rô-ni-mô gửi Nepotianus (Ep. 52) và gửi Laeta (Ep. 107). Thánh Vịnh 119. Luca 24,13-35 – Chúa giải thích Sách Thánh trên đường Emmaus. 2 Timothê 3,14-17.
Câu hỏi để Lectio Divina
Lời Chúa đang nói gì với tôi trong đoạn tôi đọc hôm nay, chứ không chỉ nói với người xưa?
Tôi đang đọc Kinh Thánh như lời của quá khứ hay như lời đang gọi tên tôi?
Có chữ nào, câu nào trong đời tôi cần được “gọt” lại cho trung thành hơn?
Tôi đang tiếp nối công trình nào của người đi trước, và tôi sẽ để lại giếng nào cho người đến sau?
Nếu Chúa gọi tôi về ở “giờ thứ mười một”, Người sẽ gặp tôi đang làm gì?
Lời nguyện
Lạy Chúa là Lời hằng sống, Chúa đã sai Con Một mặc lấy xác phàm và mặc lấy ngôn ngữ của loài người. Xin cho chúng con biết Chúa trong Sách Thánh, và biết Sách Thánh như biết Chúa. Xin thánh Giê-rô-ni-mô cầu bầu cho những ai đang dịch, đang giảng, đang đọc, đang nghe Lời Chúa bằng tiếng Việt. Xin cho mỗi chữ chúng con chọn đều sinh ra từ lòng yêu mến, mỗi câu chúng con gọt đều có thể nuôi Dân Chúa. Xin cho chúng con ở lại đến giờ thứ mười một. Amen.

Previous articlePhụng vụ Thánh Lễ – Suy niệm – Chia sẻ Lời Chúa (Youtube và bản văn) Thứ Hai tuần XXVI TN