TÌNH HUYNH ĐỆ TRONG CỘNG ĐOÀN HỘI THÁNH Dưới ánh sáng Lời Chúa Học hỏi Mt 18,15-20 và các bản văn liên hệ Chia sẻ để học, để giảng, để xét mình Lm. Anmai, CSsR

6

TÌNH HUYNH ĐỆ
TRONG CỘNG ĐOÀN HỘI THÁNH
Dưới ánh sáng Lời Chúa
Học hỏi Mt 18,15-20 và các bản văn liên hệ
Chia sẻ để học, để giảng, để xét mình
Lm. Anmai, CSsR
Lời ngỏ
Có những đề tài trong nhà Chúa mà ta tưởng đã thuộc lòng, nên khi nghe lại thì gật đầu, rồi đi qua. Tình huynh đệ là một đề tài như vậy. Ai cũng nói. Ai cũng hát. Ai cũng viết lên biểu ngữ ngày lễ kính. Nhưng đến khi một người anh em phạm lỗi, đến khi một lời góp ý bị hiểu thành kết án, đến khi một nhóm trong giáo xứ không còn ngồi cùng bàn, thì hạn từ “anh em” đột ngột trở nên khó đọc. Bài này không viết để thêm một khẩu hiệu. Bài này viết để ở lại với Lời Chúa cho đủ lâu, đủ chậm, đủ thật, hầu tình huynh đệ không còn là điều ta nói về Hội Thánh, mà là điều Hội Thánh phải sống nếu còn muốn được nhận ra là môn đệ của Thầy.
Đoạn Tin Mừng theo Mt 18,15-20, trích từ bài giảng thứ tư của Chúa Giêsu trong Tin Mừng Mátthêu. Người ta quen gọi cả chương 18 là “bài giảng về đời sống Hội Thánh”. Gọi như vậy là đúng, nhưng chưa đủ. Chương này không phải một nội quy. Chương này là một cách Chúa Giêsu dạy các môn đệ ở lại với nhau khi Nước Trời đã được gieo vào một cộng đoàn còn đầy người yếu, người vấp, người lạc, người mắc nợ. Trước khi nói đến việc sửa lỗi, phải nói đến cái nhà trong đó việc sửa lỗi mới có nghĩa. Cái nhà ấy là tình huynh đệ. Không có nhà, thì sửa lỗi chỉ là xét xử. Có nhà, thì sửa lỗi là cách giữ người anh em đừng ra khỏi cửa.
Chúng ta suy nghĩ về tìm hiểu tình huynh đệ trong cộng đoàn Hội Thánh trước khi nói đến việc sửa lỗi huynh đệ. Luận này đi theo hướng ấy, rồi ở lại lâu hơn trên từng bậc. Ta sẽ nghe hạn từ “anh em” từ sách Sáng Thế đến thư thánh Phaolô. Ta sẽ nhìn Hội Thánh như cộng đoàn được chọn khỏi thế gian nhưng không được phép khinh thế gian. Ta sẽ đi ba bước sửa lỗi trong Mt 18,15-18, dừng ở quyền cầm buộc và tháo cởi, rồi sang việc hợp lời cầu nguyện trong câu 19-20. Sau đó ta sẽ đọc câu chuyện Nathan và Đavít như một dung mạo của việc sửa lỗi đã thành. Và ta sẽ mang tất cả những điều ấy về giáo xứ, cộng đoàn tu trì, gia đình, ban mục vụ, nơi hạn từ “anh em” mỗi ngày bị thử.
Viết dài không phải để làm nặng. Viết dài vì đề tài này không chịu được lối nói vắn. Tình huynh đệ mà nói cho xong trong vài đoạn thì chỉ còn là lời khuyên. Tình huynh đệ dưới ánh sáng Lời Chúa phải được thấy trong huyết thống, trong giao ước, trong thập giá, trong bàn tiệc, trong kỷ luật, trong tha thứ, và trong lời cầu của những người không còn biết làm gì hơn ngoài việc họp lại nhân danh Thầy. Con viết những trang này như một bài học hỏi để anh chị em đọc chậm, gạch dưới, mang vào giờ chia sẻ, và nhất là mang vào những chỗ đang rạn trong chính cộng đoàn của mình.
Vì sao Hội Thánh phải học lại tiếng gọi anh em
Hội Thánh không thiếu từ ngữ để gọi nhau. Ta có ông bà, anh chị, cha, thầy, soeur, quý chức, ban hành giáo, hội đoàn. Mỗi tiếng gọi đều có chỗ đứng. Nhưng tiếng gọi gốc, tiếng gọi mà Chúa Giêsu muốn các môn đệ dùng cho nhau, lại rất đơn giản: anh em. Mt 23,8 chép lời Ngài: anh em đừng để ai gọi mình là thầy, vì anh em chỉ có một Thầy, còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. Câu ấy không xóa các thừa tác vụ. Câu ấy đặt mọi thừa tác vụ vào trong một tương quan trước hơn: tương quan của những người cùng một Cha, cùng một Thầy, cùng một bàn.
Sở dĩ phải học lại tiếng gọi này là vì tiếng gọi ấy rất dễ bị thay bằng những tương quan khác. Trong một giáo xứ, người ta có thể kính nhau theo chức vụ mà không thương nhau theo phép rửa. Trong một cộng đoàn, người ta có thể giữ phép tắc mà không còn khả năng ngồi xuống với người mình đang bất bình. Trong một gia đình Công giáo, người ta có thể đi lễ cùng nhau mà lời nói ở nhà đã không còn là lời của anh em. Khi đó Hội Thánh vẫn còn tên, vẫn còn nhà thờ, vẫn còn lịch, nhưng dấu chỉ Ga 13,35 đã mờ. Mà dấu chỉ ấy không phải một điều phụ. Chúa nói đó là điểm để mọi người nhận biết anh em là môn đệ của Thầy.
Có một cám dỗ ngược lại, cũng nguy không kém. Đó là biến tình huynh đệ thành sự dễ dãi. Không dám nói. Không dám sửa. Không dám chịu đau của một lời thật. Rồi gọi sự im lặng ấy là bác ái. Lv 19,17 đã chặn lối ấy từ rất sớm: ngươi không được để lòng ghét người anh em, nhưng phải mạnh dạn quở trách người đồng bào, như thế ngươi sẽ khỏi mang tội vì nó. Ghét và im lặng có họ với nhau. Nhiều mối ghét trong cộng đoàn không bắt đầu bằng một cuộc cãi vã. Chúng bắt đầu bằng một điều thấy mà không nói, một điều giận mà nuốt, một điều sai mà để cho người khác đi nói thay. Tình huynh đệ Kinh Thánh không phải tình cảm êm. Tình huynh đệ Kinh Thánh là trung tín đủ để nói, và khiêm nhường đủ để nói cho đúng cách.
Đoạn Tin Mừng đặt cộng đoàn đứng trước cả hai cám dỗ ấy cùng một lúc. Đoạn Tin Mừng không bảo “hãy bỏ qua cho êm chuyện”. Đoạn Tin Mừng cũng không bảo “hãy đem ra giữa công hội cho mọi người biết”. Đoạn Tin Mừng vạch một con đường có bậc. Bậc một là riêng. Bậc hai là vài người. Bậc ba là Hội Thánh. Và khi các bậc ấy không đưa người anh em về, vẫn còn bậc của lời cầu. Ai đọc Mt 18 mà chỉ nhớ câu “kể như người ngoại” thì đã đọc thiếu. Ai đọc mà chỉ nhớ câu “có Thầy ở giữa” rồi bỏ qua kỷ luật thì cũng đọc thiếu. Cả hai phải ở lại với nhau, như lòng thương xót và sự thật ở lại với nhau trong cùng một dung mạo Chúa Kitô.
Chia sẻ này viết trong tâm tình yêu thương và không kết án cộng đoàn nào. Không kể chuyện riêng của ai. Chỉ ở lại với Lời, rồi để Lời soi vào những chỗ ta đang sống. Vì mỗi chúng ta, trong nhiều trường hợp, cũng là người cần được sửa, cũng là người cần được cầu, cũng là người cần nghe lại câu của vua Đavít: tôi đã đắc tội với Đức Chúa.
Hạn từ anh em trong Cựu Ước
1. Máu mủ, cùng một mẹ
Hạn từ “anh em” trong tiếng Hípri là ăkh, trong tiếng Hy Lạp là adelphos. Nghĩa gốc rất thịt rất máu: những người cùng một mẹ sinh ra. Sách Sáng Thế, khi kể Cain và Abel, dùng chính hạn từ ấy: Abel là em của Cain (St 4,2). Câu chuyện đầu tiên về anh em trong Kinh Thánh không phải chuyện đẹp. Đó là chuyện của người anh không chịu nhìn người em như quà của cùng một Cha. Khi Chúa hỏi Cain em ngươi đâu, Cain đáp bằng câu đã trở thành khuôn của mọi sự chối bỏ tình huynh đệ: con là người giữ em con sao. Từ ngày ấy, mỗi lần một cộng đoàn nói “việc của nó, không phải việc của tôi”, thì tiếng Cain còn vang.
Điều đáng sợ trong St 4 không chỉ là hành vi giết. Điều đáng sợ là anh em bị rút khỏi tương quan giữ gìn. Giữ em không có nghĩa kiểm soát em. Giữ em có nghĩa em thuộc về trách nhiệm của tôi trước mặt Chúa. Hội Thánh sau này sẽ không dùng ngôn ngữ của Cain, nhưng cám dỗ thì vẫn một. Thấy người anh em sa mà nói “tôi không phải người giữ”, là đã bước ra khỏi adelphos. Mt 18,15 bắt đầu bằng một cử chỉ ngược lại: anh hãy đi. Đi là không đứng ngoài. Đi là nhận mình có phần trong sự sống còn của người kia.
Cùng một sách Sáng Thế còn cho ta một bài học khác về anh em qua Giacóp và Êsau. Hai người cùng một cha, cùng một mẹ, mà cả đời là tranh phần, tranh phúc, tranh tên. Rồi cũng chính sách ấy kể buổi Giacóp vật lộn với Thiên Chúa và được đổi tên, trước khi dám nhìn mặt người anh mình đã lừa. Khi hai người gặp lại, Giacóp nói mình thấy mặt Êsau như thấy mặt Thiên Chúa (St 33,10). Câu ấy quá lớn để biến thành khẩu hiệu. Nhưng câu ấy dạy rằng hòa giải giữa anh em không phải chuyện xã giao. Hòa giải giữa anh em là một chỗ Thiên Chúa để cho người ta thấy dung nhan Ngài.
2. Gia tộc, chi tộc, dân tộc
Kinh Thánh không giữ hạn từ “anh em” trong hàng rào một nhà. Abraham nói với Lot: chúng ta là anh em (St 13,8), dù Lot là cháu. Lv 10,4 dùng từ ấy cho người cùng gia tộc. 2 Sm 19,12-13 đặt lời Đavít gọi người Giuđa là anh em, là xương thịt. Đnl 25,3 và Ed 18,18 dùng “anh em” cho người đồng bào. Nghĩa mở dần theo các vòng của giao ước. Càng vào sâu trong lịch sử Israel, “anh em” càng ít là sự kiện sinh học thuần túy, càng nhiều là sự kiện thuộc về. Thuộc về một nhà, một chi tộc, một dân được Chúa chọn.
Vòng ấy còn mở ra ngoài biên giới dân mình. Đnl 2,4 dạy Israel đi qua lãnh thổ con cái Êsau mà nhớ rằng họ là anh em. Am 1,11 trách Êđôm đã dùng gươm rượt người anh em mà không chút xót thương, vì cơn giận ngùn ngụt mãi không thôi. Ở đây tình huynh đệ không còn là cảm tình. Tình huynh đệ là một luật của giao ước, ràng buộc cả những dân cùng tổ tiên. Phá luật ấy là phạm đến Chúa, không chỉ phạm đến người.
Ta dừng lại một chút nơi điều này, vì cộng đoàn Kitô hữu hay quên. Ta dễ nghĩ tình huynh đệ bắt đầu từ phép rửa, nên Cựu Ước chỉ là dạo đầu. Không phải. Phép rửa không tạo một từ mới rồi bỏ từ cũ. Phép rửa nhận lấy cả lịch sử của ăkh, thanh luyện nó khỏi huyết thống hẹp, rồi đặt nó vào Đức Kitô. Ai đọc Mt 18 mà không nhớ Lv 19,17, người ấy sẽ không hiểu tại sao sửa lỗi lại là bổn phận chứ không phải sở thích. Ai không nhớ Am 1,11, người ấy sẽ không thấy cơn giận kéo dài trong giáo xứ là một tội có họ với tội của Êđôm.
3. Bạn, người cùng việc, người quý mến
Còn một lớp nghĩa nữa, mỏng hơn huyết thống mà sâu không kém. 2 Sm 1,26 đặt trên môi Đavít lời khóc Giônathan: tình thương của anh đối với tôi kỳ diệu hơn tình thương của phụ nữ. Đó không phải công thức để so đo. Đó là cách một người nhận ra có những tương quan không sinh bởi một mẹ mà vẫn là anh em theo nghĩa của trái tim đã được trao. G 6,15 dùng “anh em” cho bạn hữu, rồi trách bạn hữu ấy thất tín như suối cạn. 2 Sb 31,15 nói đến những người cùng phục vụ một việc trong Đền Thờ. Làm chung một việc thánh đã đủ để gọi nhau là anh em, miễn là việc ấy thực sự quy về Chúa chứ không quy về phe.
Lớp nghĩa này rất cần cho các ban ngành trong giáo xứ. Ca đoàn, giáo lý viên, quý chức, hội các bà mẹ, giới trẻ, không phải những hội ái hữu đứng cạnh Hội Thánh. Nếu họ cùng phục vụ một việc của Chúa, họ là anh em theo chính cách sách Sử Biên đã nói. Nhưng cũng chính lớp nghĩa này cảnh báo: bạn hữu có thể thất tín. Gióp gọi bạn là anh em rồi chứng kiến anh em ấy dùng lời đạo đức để đâm. Trong cộng đoàn, nguy hiểm không chỉ đến từ người ngoài. Nguy hiểm thường đến từ người cùng bàn, khi lời góp ý mất mục đích thu phục và trở thành lời chứng tỏ mình sáng hơn.
Tóm lại, Cựu Ước không cho ta một định nghĩa đơn. Cựu Ước cho ta một từ sống. Từ ấy bắt đầu bằng cùng một mẹ, đi qua gia tộc và dân tộc, chạm các dân cùng tổ tiên, rồi thấm vào tình bạn và việc phục vụ chung. Mỗi vòng đều có thể bị phản bội. Mỗi vòng cũng đều là một lời hứa: ngươi không được xử với người này như với người dưng. Hội Thánh sẽ nhận lời hứa ấy, rồi nói thêm một điều Cựu Ước chưa nói hết: người anh em của ta là người cùng chết và cùng sống với Đức Kitô.
Chúa Giêsu gọi môn đệ là anh em
1. Một Thầy, còn anh em đều là anh em
Mt 23,8 là câu then chốt. Chúa không hủy chức thầy theo nghĩa giảng dạy. Chính Ngài sai môn đệ đi giảng. Nhưng Ngài cấm biến chức thầy thành một bậc tách mình khỏi anh em. Trong cộng đoàn của Ngài, uy tín không được phép trở thành dòng giống. Ai đứng trên tòa giảng, ai ngồi tòa giải tội, ai điều hành giáo xứ, ai hướng dẫn cộng đoàn, người ấy vẫn là anh em trước khi là chức. Quên điều này, thừa tác vụ thành hàng rào. Nhớ điều này, thừa tác vụ thành việc phục vụ giữa anh em.
Câu ấy cũng bảo vệ người nhỏ. Vì nếu mọi người đều là anh em, thì không ai được phép biến người khác thành kẻ dưới để mình được gọi là bề trên theo nghĩa thế gian. Dòng tu, giáo xứ, hội đoàn đều cần bề trên, cần điều hành, cần vâng phục. Nhưng vâng phục Kitô giáo không phải sự xóa mặt người dưới. Vâng phục Kitô giáo là cùng nhìn một Thầy. Bề trên là anh em được trao việc trông coi. Người dưới là anh em được trao việc lắng nghe. Cả hai còn là anh em khi việc ấy đã xong.
2. Ai thi hành ý Cha, người ấy là anh em của Ngài
Mt 12,46-50 kể lúc mẹ và anh em Đức Giêsu đứng ngoài muốn gặp Ngài. Ngài chỉ các môn đệ mà nói: này là mẹ tôi, này là anh em tôi. Ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi. Câu này không hạ Đức Maria. Cả Tin Mừng đã cho thấy Mẹ là đấng thi hành ý Cha trọn hơn mọi người. Câu này mở họ hàng của Chúa ra huyết thống. Họ hàng mới được sinh bởi việc làm theo ý Cha.
Đây là bước quyết định để hiểu tình huynh đệ trong Hội Thánh. Ta không là anh em của nhau vì cùng quê, cùng hội đoàn, cùng lập trường, cùng thị hiếu phụng vụ. Ta là anh em vì cùng quy về một ý muốn: ý của Cha. Khi một cộng đoàn chia rẽ, câu hỏi đầu tiên không phải ai thắng. Câu hỏi đầu tiên là cả hai phía còn đang thi hành ý Cha hay đang thi hành ý mình dưới danh Cha. Mt 12,50 là thước. Không phải thước để ném vào mặt nhau. Thước để mỗi người đặt đời mình lên trước khi nói về đời người kia.
Chúa còn đẩy họ hàng ấy đến chỗ làm ta nghẹn. Mc 3,35 và Lc 8,21 cùng một hướng. Rồi trong Ga 20,17, sáng phục sinh, Chúa nói với Maria Mácđala: hãy đi gặp anh em Thầy, và bảo họ Thầy lên cùng Cha của Thầy cũng là Cha của anh em. Lần đầu tiên Phục Sinh được loan bằng tiếng “anh em”. Người chịu đóng đinh gọi những kẻ đã bỏ chạy là anh em, và trao cho họ chính Cha của mình. Tình huynh đệ Kitô giáo sinh ra ở đó, không sinh ra ở một buổi họp mặt thành công. Sinh ra từ Đấng chết vì anh em rồi gọi anh em bằng tên ấy khi sống lại.
3. Anh em bé mọn và con chiên lạc
Muốn hiểu Mt 18,15-20, phải đọc từ đầu chương. Các môn đệ hỏi ai lớn nhất trong Nước Trời. Chúa đặt một em nhỏ ở giữa. Rồi Ngài nói về cớ vấp phạm, về những kẻ bé mọn, về con chiên lạc, về niềm vui trên trời khi một người trở lại. Câu 14 khóa cả phần ấy: Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất. Sửa lỗi ở câu 15 không rơi từ trời xuống. Sửa lỗi là cách cụ thể để ý Cha ấy được thi hành trong cộng đoàn.
Người phạm lỗi, trong mắt chương 18, không trước hết là kẻ phá rối. Người ấy là một trong những kẻ bé mọn có nguy cơ hư mất. Ta hay đảo thứ tự. Ta thấy lỗi trước, thấy nguy cơ mất người sau, có khi không thấy. Chúa thấy nguy cơ mất người trước. Vì thế cả tiến trình sửa lỗi được uốn theo hướng tìm về, không theo hướng loại trừ cho đã. Ngay cả bước cuối, bước kể như người ngoại, cũng phải được đọc dưới ánh câu 14. Không muốn một ai hư mất. Câu này là nền. Bỏ nền, mọi kỷ luật trở thành cứng.
Dụ ngôn con chiên lạc ngay trước đoạn sửa lỗi không phải chuyện khác đề tài. Đó là linh hồn của đề tài. Người mục tử bỏ chín mươi chín để đi tìm một. Không phải vì chín mươi chín không quý. Vì một con đang lạc mới là con đang chết. Sửa lỗi huynh đệ là hình thức mục tử của tình anh em. Ai không muốn đi tìm, người ấy có thể vẫn đang giữ nhà, nhưng đã thôi không còn là mục tử. Và trong Hội Thánh, không chỉ linh mục là mục tử theo nghĩa này. Mt 18 trao việc đi sửa cho “anh”. Anh em được trao một phần việc mục tử đối với nhau.
Hội Thánh tiên khởi nhận tiếng anh em làm tiếng nhà
1. Công vụ và các thư
Sách Công vụ cho thấy các môn đệ không phải bàn nhiều về việc có nên gọi nhau là anh em hay không. Họ gọi. Cv 11,29 kể các môn đệ quyết định gửi trợ giúp cho anh em ở Giuđê. Một cộng đoàn gốc dân ngoại cứu trợ cộng đoàn gốc Do Thái, và hạn từ nối hai cộng đoàn ấy là anh em. Không phải khách. Không phải đối tác mục vụ. Anh em. Khi Antiochia đói phần nào với Giêrusalem, tình huynh đệ trở thành tiền bạc, lương thực, người được cử đi. Tình huynh đệ không có xác thân thì chưa phải tình huynh đệ của Công vụ.
Thánh Phaolô mở thư bằng tiếng ấy. 1 Cr 1,1 gọi Sôstênê là người anh em. 2 Cr 1,1 gọi Timôthê là người anh em. Suốt các thư, “anh em” là tiếng ngài dùng để gọi cộng đoàn, kể cả cộng đoàn ngài phải sửa nặng. 1 Cr 5,11 nói đến người anh em sống loạn, và chính vì là anh em mà tương quan phải được xử cách khác với người ngoại. Ta sẽ gặp lại điều này ở Mt 18,17. Kể như người ngoại là một giới hạn đau, vì trước đó người ấy đã là anh em. Hình phạt chỉ có nghĩa trên nền của một tương quan đã có. Không có tương quan, thì loại trừ chỉ là lạnh.
1 Cr 8 và Rm 14 dạy một bài về anh em yếu. Được phép, về mặt xác tín, chưa đủ để làm. Phải hỏi việc ấy có làm anh em yếu ngã không. Thánh Phaolô sẵn sàng không ăn thịt, không uống rượu, không làm gì khiến anh em vấp. Đây là chiều sâu của adelphos mà nhiều cuộc tranh luận trong nhà thờ chưa chạm tới. Ta có thể đúng về một chi tiết phụng vụ, một cách tổ chức, một lựa chọn mục vụ, mà vẫn có tội với anh em nếu sự đúng của ta được dùng như gươm. Tự do Kitô giáo được đo bằng người yếu đứng cạnh, không chỉ bằng nguyên tắc ta đang nắm.
2. Yêu như anh em, yêu thật lòng
1 Pr 1,22 khuyên hãy thành tâm yêu mến nhau tha thiết, vì đã được thanh tẩy nhờ vâng phục sự thật. 1 Pr 3,8 gọi cộng đoàn vào cùng một tâm tình: đồng tâm, thông cảm, yêu thương anh em, nhân hậu, khiêm nhường. Dt 13,1 mở bằng một lệnh ngắn: hãy giữ mãi tình huynh đệ. Giữ mãi, vì tình này không tự nhiên còn. Nó hao như dầu trong đèn nếu không được nuôi. Rm 12,10 đẩy lên một bậc: hãy coi người khác trọng hơn mình trong tình anh em. Không phải diễn. Là cách nhìn phát sinh từ việc mình đã được thương trước.
Ga 13,34-35 vẫn là câu khóa. Điều răn mới không mới ở chỗ yêu. Cựu Ước đã dạy yêu đồng loại. Mới ở chỗ chuẩn: như Thầy đã yêu. Và chuẩn ấy được đặt làm dấu truyền giáo. Không phải dấu để ta tự hào. Dấu để thế gian nhận ra. Khi thế gian không nhận ra, ta đừng vội trách thế gian vô cảm. Hãy hỏi dấu còn rõ không. Một cộng đoàn gây gỗ công khai, nói hành trên mạng, phân phe sau các giờ lễ, vẫn có thể chính xác về giáo lý mà mờ về dấu. Mà với nhiều người chưa tin, dấu ấy là giáo lý đầu tiên họ đọc được.
3. Một thân thể, nhiều chi thể
1 Cr 12 cho tình huynh đệ một hình ảnh không thay được. Anh em là thân thể Đức Kitô, mỗi người một chi thể. Mắt không được nói với tay: ta không cần ngươi. Đầu không được khinh chân. Chi thể yếu hơn lại được dành cho sự tôn trọng hơn. Hình ảnh này cấm hai điều: cấm tự đủ, và cấm loại người khác khỏi nhu cầu của mình. Giáo xứ nào đó có nhóm mạnh nói về nhóm yếu “không có họ việc vẫn chạy”, nhóm ấy đã nói tiếng của chi thể nổi loạn. Việc có thể vẫn chạy. Thân thể thì đã bắt đầu què.
Thánh Phaolô còn nói chi thể đau thì cả thân đau, chi thể được vẻ vang thì cả thân vui. Đây là phép thử rất gần. Tin một anh em vấp, phản xạ đầu tiên của ta là gì. Đau, hay có chất để kể. Tin một anh em được cất nhắc, phản xạ đầu tiên là vui, hay so. Phản xạ ấy nói thật hơn bài hát về hiệp nhất. Tình huynh đệ không được chứng minh bằng tuyên bố. Tình huynh đệ được chứng minh bằng chỗ đau còn lan được trong cộng đoàn hay đã bị chặn lại bởi sự vô cảm.
Cộng đoàn Hội Thánh, được chọn mà không thuộc về thế gian
1. Từ dụ ngôn Nước Trời đến viên đá Phêrô
Tin Mừng Mátthêu sắp xếp có chủ ý. Chương 13 là các dụ ngôn về mầu nhiệm Nước Trời: người gieo giống, cỏ lùng, hạt cải, men, kho báu, ngọc, lưới cá. Nước Trời đã đến, nhưng đến theo cách vừa rõ vừa kín, vừa có kết quả vừa bị trộn. Chương 16, sau khi Phêrô tuyên xưng, Chúa nói trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh, và quyền lực tử thần sẽ không thắng được. Hội Thánh không phải một ý tưởng phát sinh sau. Hội Thánh là việc Chúa xây, trên lời tuyên xưng, giữa một Nước Trời đang lớn lên trong thế gian hỗn tạp.
Ga 15,19 và Ga 17,14-16 nói hai vế phải giữ cùng lúc. Anh em được chọn ra khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em. Anh em không thuộc về thế gian, như Thầy không thuộc về thế gian. Được chọn không phải đặc ân để khinh người ngoài. Được chọn là được kéo vào tương quan với Chúa, rồi từ tương quan ấy mà ở giữa trần gian cách khác. Cộng đoàn nào biến “không thuộc về thế gian” thành khinh thị làng xóm, thành đóng cửa với người đau, thành thứ ngôn ngữ chỉ người trong mới hiểu, cộng đoàn ấy đã đọc sai. Không thuộc về không có nghĩa không được sai vào.
2. Hội Thánh phát triển, nhưng không phát triển bằng mọi giá
Chúa cho biết Hội Thánh sẽ lớn lên trong mọi hoàn cảnh. Dụ ngôn hạt cải và men nằm ở phía sau như một lời hứa. Nhưng chương 18 nói ngay rằng sự lớn ấy có điều kiện nội bộ. Một Hội Thánh giẫm lên kẻ bé mọn thì không phải đang lớn theo ý Cha, dù số người có tăng. Một Hội Thánh không đi tìm con lạc thì cái lớn của nó là cái lớn của đám đông, không phải cái lớn của mục tử. Một Hội Thánh không biết sửa lỗi thì hoặc sẽ rối, hoặc sẽ cứng. Một Hội Thánh không cầu nguyện chung thì các quyết định chỉ còn là nghị quyết.
Vì thế các nguyên tắc trong Mt 18,1-35 không phải phần phụ của đời sống mục vụ. Đó là cách Nước Trời giữ được chất của mình khi đã có địa chỉ, có người, có xung đột. Ta thường thích các chương về phép lạ hơn chương về kỷ luật. Nhưng cộng đoàn không được dưỡng nuôi chỉ bằng phép lạ. Cộng đoàn được dưỡng nuôi bằng tương quan sự thật. Sửa lỗi và cầu nguyện chung là hai mặt của tương quan ấy. Một mặt nhìn vào anh em. Một mặt nhìn lên Cha. Thiếu mặt nào, mặt kia cũng hỏng.
3. Ekklēsia, hai lần trong Mátthêu
Từ Hội Thánh, ekklēsia, chỉ xuất hiện hai lần trong các Tin Mừng, cả hai đều ở Mátthêu: Mt 16,18 và Mt 18,17. Lần đầu, Hội Thánh được hứa, được xây trên đá, được trao chìa khóa. Lần sau, Hội Thánh được gọi vào một việc rất cụ thể: nghe một vụ anh em không chịu nghe. Không phải ngẫu nhiên. Hội Thánh không chỉ là thực tại cánh chung và hoàn vũ. Hội Thánh còn là cộng đoàn địa phương, nơi người ta biết tên nhau, nơi một lỗi có thể được đem ra và được xử trong bác ái. Rất đúng: ở Mt 18,17, từ Hội Thánh nhiều phần chỉ cộng đồng Kitô hữu địa phương.
Điều này vừa an ủi vừa đòi. An ủi, vì Chúa không trao việc sửa lỗi cho một định chế xa mặt. Chúa trao cho cộng đoàn đang sống với người ấy. Đòi, vì cộng đoàn địa phương không được phép đẩy mọi sự lên “ở trên” để khỏi phải nhìn mặt anh em. Đương nhiên có những vụ vượt thẩm quyền giáo xứ, cần đến Đức Giám mục, cần đến giáo luật. Nhưng trình tự Chúa dạy bắt đầu từ gần. Bỏ bước gần mà nhảy lên bước xa, là làm tổn thương cả người có lỗi lẫn cộng đoàn, vì sự thật chưa được nói trong khoảng cách của tình.
Sửa lỗi anh em, bước thứ nhất
1. Nếu người anh em của anh trót phạm tội
Câu 15 mở bằng một giả thiết, không bằng một cáo trạng: nếu người anh em của anh trót phạm tội. Chữ “trót” trong bản dịch mang một sắc thái đáng giữ. Không phải mọi lỗi đều là cố chấp. Có lỗi của yếu, của nóng, của mù, của thói đã thành. Gọi là trót không phải để xóa.error. Gọi là trót là để người đi sửa khỏi vào phòng với bộ mặt của quan tòa. Người ấy vẫn là anh em trước khi là người có tội. Đảo thứ tự này, cuộc nói chuyện đã hỏng từ câu chào.
Tội được nói đến ở đây là tội có thật trong đời sống cộng đoàn, không phải một sự phật ý được nuôi cho lớn. Một số thủ bản thêm “chống lại anh”, có lẽ do ảnh hưởng Lc 17,4 và để ăn với câu hỏi của Phêrô ở câu 21. Dù có hay không có mệnh đề ấy, mạch văn không cho phép biến mọi va chạm cá nhân thành “tội chống lại tôi”. Có những điều chỉ là tính khí. Có những điều là khác biệt cách phục vụ. Có những điều là tội, vì làm hại sự thật, làm hại người yếu, làm hại hiệp thông. Khôn ngoan mục vụ bắt đầu ở chỗ phân biệt. Không phân biệt được, người ta sẽ sửa những điều không đáng sửa, và im trước những điều phải nói.
2. Một mình anh với nó mà thôi
Ba chữ quyết định của bước một là một mình. Không có nhóm. Không có người thứ ba ngồi nghe để sau này làm chứng. Không có tin nhắn chuyển cho người khác trước khi gặp chính đương sự. Chúa biết lòng người. Chúa biết ta thích có đồng minh trước khi có đối thoại. Nên Ngài khóa cửa ấy lại. Một mình với người ấy. Khoảng cách ấy bảo vệ danh dự người có lỗi. Khoảng cách ấy cũng bảo vệ người đi sửa khỏi sự hùa của đám đông, vì đám đông làm ta mạnh hơn sự thật cần ta mạnh.
Đi một mình còn là một hành vi khiêm nhường. Không có khán giả, ta khó diễn. Ta phải nghe câu trả lời. Ta có thể khám phá mình nghe sai, thấy sai, đoán sai. Biết bao “tội” trong cộng đoàn tan đi khi hai người ngồi lại, vì điều tưởng là cố ý hóa ra là hiểu lầm, điều tưởng là khinh hóa ra là mệt, điều tưởng là phe hóa ra là sợ. Bước một tồn tại để những điều ấy có chỗ được sáng trước khi bị gọi là tội. Ai bỏ bước một, người ấy không những bất tuân trình tự. Người ấy tước của anh em cơ hội được hiểu.
3. Elenchō, sửa cho rõ
Động từ Hy Lạp elenchō có một chùm nghĩa: sửa lỗi, khiển trách, làm cho rõ, chứng minh, răn bảo. Lc 3,19 dùng cho việc Gioan khiển trách Hêrôđê. Ga 3,20 nói ai làm điều xấu thì không đến cùng ánh sáng kẻo bị lộ. 1 Tm 5,20 nói các kỳ mục có tội thì hãy khiển trách trước mặt mọi người, trong một ngữ cảnh khác, khi lỗi đã công khai và người ấy là người có trách nhiệm. Kh 3,19 đặt trên môi Chúa: những ai Thầy thương thì Thầy răn bảo. Bản Bảy Mươi dùng elenchō để dịch Lv 19,17.
Chùm nghĩa này cấm hai cách sửa. Cấm sửa mơ hồ, nói vòng, để người kia phải tự đoán mình sai chỗ nào. Làm cho rõ là một phần của bác ái. Cấm sửa để hạ. Răn bảo trong Kh 3,19 đi với thương. Người không thương mà sửa thì có thể vẫn đúng sự kiện, nhưng động từ elenchō của Chúa không ở trong miệng người ấy. Trước khi đi, người sửa phải hỏi một câu không cần nói ra: tôi đến để người này được sáng, hay để tôi được nhẹ? Nếu là để được nhẹ, hãy cầu đã, đừng đi vội.
4. Chinh phục, không phải thắng
Câu 15b là đích của cả bước một: nếu nó chịu nghe, thì anh đã chinh phục được người anh em. Động từ kerdainō nghĩa là được lại, được lợi, sinh lợi. Ngôn ngữ thương mại được đem vào việc cứu người. Thánh Phaolô dùng cùng động từ ở 1 Cr 9,19-22: tôi trở nên mọi sự cho mọi người để cứu được một số người. Lợi ở đây không phải lợi của người sửa. Lợi là người anh em còn trong nhà. Một cuộc sửa lỗi kết thúc bằng việc mình thắng lý và người kia ra đi, là một cuộc lỗ theo từ vựng của Chúa.
Hãy để câu này sửa lại cách ta chuẩn bị lời. Ta thường chuẩn bị luận cứ. Chúa bảo chuẩn bị một cuộc thu phục. Luận cứ có thể cần, vì elenchō đòi làm cho rõ. Nhưng luận cứ phục vụ thu phục, không phục vụ chiến thắng. Giọng nói, chỗ ngồi, độ dài, việc có để người kia nói hay không, tất cả thuộc về kerdainō. Có những lời đúng một trăm phần trăm mà cách nói làm người nghe không còn đường về. Lời ấy không phải lời của câu 15. Lời của câu 15 là lời mà sau khi nghe, người anh em còn có thể ở lại.
Câu 14 đứng ngay trước để giữ đích này khỏi bị quên. Cha không muốn một ai trong những kẻ bé mọn phải hư mất. Và Ed 33,11 khóa từ phía Chúa: Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó đổi đường lối để được sống. Người đi sửa lỗi mà trong lòng đang mong người kia “học một bài”, người ấy chưa đứng về phía niềm vui của Chúa. Niềm vui của Chúa là đường lối được đổi. Mọi phương thế khác, kể cả sự sáng suốt của ta, đều là phương tiện.
Bước thứ hai, một hay hai người nữa
1. Không phải để siết, mà để lời được vững
Nếu người ấy không nghe, Chúa không bảo hãy nói lớn hơn. Chúa bảo hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân. Câu này lấy tinh thần Đnl 19,15. Trong Israel, một miệng không đủ để dựng một vụ. Sự thật của cộng đoàn không được treo trên ấn tượng của một người. Luật ấy bảo vệ kẻ bị tố. Luật ấy cũng bảo vệ cộng đoàn khỏi những cơn nóng của cá nhân.
Từ “được giải quyết” trong Mt 18,16 và “được cứu xét” trong Đnl 19,15 gặp nhau ở một động từ có nghĩa đứng vững, chắc, được củng cố. Đọc kỹ sẽ thấy bước hai không phải bước tăng hình phạt. Bước hai là bước làm cho lời được đứng. Đứng trước mặt người có lỗi, để họ thấy đây không còn là chuyện bực của một người. Đứng trước mặt cộng đoàn, nếu sau này phải đi xa hơn, để việc làm không dựa trên tin đồn. Một cộng đoàn sợ bước hai thường vì đã dùng bước hai như tòa. Chúa dùng bước hai như chỗ lời được chống đỡ.
2. Nhân chứng cũng là người khuyên
Chúng ta thấy một điều rất mục vụ: hai ba người trong ngữ cảnh Tin Mừng không chỉ mang tính pháp lý. Họ đến để góp lời khuyên theo tình huynh đệ, để người phạm lỗi được cảm thông và can đảm trở về. Chọn ai đi cùng vì thế là một việc thiêng liêng. Chọn người nóng như mình, là nhân đôi sức ép. Chọn người vốn bất bình với đương sự, là biến bước hai thành phe. Chọn người có uy tín về sự công bình và về lòng thương, người đương sự còn có thể nghe, mới là chọn theo tinh thần câu 16.
Người được mời đi cùng cũng phải được dạy trước. Họ không đi để làm cảnh. Họ không đi để sau đó có chuyện mà kể. Họ đi như người anh em thứ hai và thứ ba, mang cùng một đích kerdainō. Nếu buổi nói chuyện thất bại, họ ra về với bổn phận giữ miệng. Bước hai bị phản bội nhiều nhất ở chỗ này: việc kín của ba người trở thành việc của cả xóm đạo trước khi bước ba kịp diễn ra cho đúng. Khi đó không còn trình tự của Chúa. Chỉ còn sự tò mò đội tên nhân chứng.
3. Lc 17 và sắc thái nghiêm hơn
Lc 17,3-4 nói: nếu anh em ngươi phạm tội thì hãy sửa nó, và nếu nó hối thì hãy tha. Dù nó phạm đến ngươi bảy lần một ngày rồi bảy lần trở lại nói tôi hối, ngươi cũng phải tha. Gioan không có đoạn song song đúng từng bậc như Mátthêu. Luca nghiêm ở chỗ tần suất: không được mỏi. Mátthêu nghiêm ở chỗ trình tự: không được tắt bước. Hai sắc thái cần nhau. Không có Luca, việc sửa dễ thành một lần rồi đóng hồ sơ. Không có Mátthêu, việc tha dễ thành lời nói suông, không có ai dám đến gần sự thật. Cộng đoàn sống được là cộng đoàn vừa có người dám đến gõ cửa, vừa có người không mỏi mở cửa.
Bước thứ ba, thưa với Hội Thánh
1. Khi nào được phép đi đến bước này
Chỉ khi người ấy không nghe họ. Không nghe một mình. Không nghe hai ba người. Bước ba không phải lối tắt cho người mất kiên nhẫn. Trong thực tế giáo xứ, nhiều chuyện bị đưa ra họp ban hành giáo, đưa lên cha xứ, đưa vào nhóm, khi bước một chưa hề xảy ra cho tử tế. Người bị nói đến nghe chuyện mình từ miệng thứ tư. Đúng trình tự mà còn đau. Sai trình tự thì đau thành oán. Oán ấy ở lại trong cộng đoàn lâu hơn chính lỗi ban đầu.
Thưa với Hội Thánh cũng cần một hình thức xứng. Không phải mọi điều phải được nói giữa sân nhà thờ. Hội Thánh địa phương hành động qua những người có trách nhiệm, trong một khung có thể bảo vệ danh dự và sự thật. Giáo luật sau này sẽ phân biệt nhiều mức, nhiều thẩm quyền, nhiều tội dành riêng. Mt 18 không thay giáo luật. Mt 18 là tinh thần mà giáo luật phải phục vụ: sự thật được nói, người có lỗi được nghe, cộng đoàn không giả bộ không thấy, và cửa hoán cải không bị khóa từ phía những người sửa.
2. Kể như người ngoại hay người thu thuế
Câu 17b là câu nặng nhất đoạn: nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế. Với tai người Do Thái thời Chúa Giêsu, người ngoại là người ở ngoài giao ước, người thu thuế là người cộng tác với quyền lực đô hộ, bị coi như kẻ đứt tương quan. Nói cách khác, cộng đoàn không còn xử với người ấy như với người trong. Đây là ngôn ngữ của việc rút phép thông công, được câu 18 xác nhận bằng quyền cầm buộc và tháo cởi.
Phải đọc câu này mà không biến nó thành vũ khí sẵn. Chúa nói “hãy kể như”, trong một tình thế đã cùng đường về phía lắng nghe. Không phải mỗi lỗi đều tới câu này. Không phải mỗi người cứng đầu trong một buổi họp đều là đối tượng của câu này. Câu này dành cho sự từ chối kéo dài, từ chối có ý, từ chối trước lời của cộng đoàn, khi lỗi ấy đụng đến đời sống hiệp thông. Lạm dụng câu 17b là một lỗi khác, có khi nặng hơn lỗi mà người ta đang muốn sửa, vì nó nhân danh Chúa để đẩy người ta ra.
Cũng phải đọc câu này mà không biến nó thành vô hiệu. Có những cộng đoàn không bao giờ dám đến bước ba, nên người yếu phải sống chung với lỗi công khai của người mạnh. Sự im lặng ấy không phải bao dung. Sự im lặng ấy là bỏ rơi. 1 Cr 5 cho thấy thánh Phaolô, trước một tội công khai mà cộng đoàn còn kiêu hãnh, đã truyền giao người ấy cho Xatan về phần xác để hồn được cứu trong ngày của Chúa. Ngôn ngữ rất mạnh. Đích vẫn là cứu. Kỷ luật không có đích cứu là trả thù. Khoan dung không có đích sự thật là bỏ mặc.
3. Cầm buộc và tháo cởi
Câu 18 lặp lại, theo cách mở ra cho các môn đệ, điều đã nói với Phêrô ở Mt 16,19. Dưới đất anh em ràng buộc, trên trời cũng ràng buộc. Dưới đất anh em tháo cởi, trên trời cũng tháo cởi. Truyền thống các rabbi dùng cầm buộc và tháo cởi cho việc cấm và cho phép trong giải thích lề luật. Trong mạch Tin Mừng, và soi với Ga 20,23, nghĩa quy về tương quan với tội: cầm buộc là không thông hiệp, tháo cởi là tha. Hội Thánh không tự bịa ra quyền này. Hội Thánh nhận từ Chúa, và sẽ phải trả lời với Chúa về cách dùng.
Một câu của bài đáng được chép lại như kim chỉ nam: có lẽ nên hiểu hình phạt rút phép thông công ở đây không có nghĩa loại trừ vĩnh viễn, nhưng nhằm răn đe để khơi gợi khả năng hối cải, vì sức mạnh đích thực Chúa ban cho Hội Thánh là bí tích của sự tha thứ, theo đó tháo cởi thì tốt hơn cầm buộc. Câu này phải được các mục tử thuộc lòng. Quyền cầm buộc là quyền có thật. Bản năng của quyền ấy, nếu còn là quyền của Chúa Kitô, phải nghiêng về tháo. Không phải vì sự thật mềm. Vì Chúa của sự thật là Chúa đã để mình bị cầm để anh em được tháo.
Ga 20 đặt quyền tha trong buổi chiều Phục Sinh, lúc Chúa cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn. Quyền ấy không được tách khỏi các vết thương. Cộng đoàn nào cầm buộc mà không còn nhớ mình được tha nhờ các vết ấy, cộng đoàn ấy sẽ cầm rất vững và tháo rất khó. Ngược lại, cộng đoàn nào nói tha mà không bao giờ dám nhìn lỗi, thì cũng không phải đang dùng quyền của buổi chiều Phục Sinh. Buổi chiều ấy có cả hai: bình an, và quyền trên tội. Bình an không phải sự giả bộ. Quyền không phải sự cứng rắn.
Nathan đứng trước Đavít
1. Một tội không được phép im
2 Sm 11-12 là bài học sống về sửa lỗi, dù bối cảnh là vua và ngôn sứ, không phải hai anh em trong giáo xứ. Đavít lấy Bátseva, sát Uria, rồi sắp xếp cho câu chuyện có vẻ ổn. Triều đình im. Chỉ có Chúa không im. Chúa sai Nathan đến. Nếu không có người được sai, tội của vua sẽ thành sự thật của vương quốc. Cộng đoàn nào không có ai dám đến với người có quyền, cộng đoàn ấy đang nuôi một thứ 2 Sm 11. Không nhất thiết là tội ấy. Là cấu trúc ấy: người mạnh sai, người yếu chết, và không ai nói.
2. Dụ ngôn trước cáo trạng
Nathan không bắt đầu bằng ngón tay chỉ. Ông kể chuyện hai người, một giàu một nghèo, con chiên cái duy nhất của nhà nghèo bị khách của nhà giàu bắt. Đavít nổi giận, tuyên án. Rồi Nathan nói: chính ngài là người đó. Con đường này là một dạng của bước một đầy khôn ngoan. Ngôn sứ tạo một khoảng để lương tâm vua tự hoạt động, trước khi sự thật được gọi đích danh. Không phải lúc nào cũng kể dụ ngôn được. Nhưng tinh thần thì giữ được: đừng đâm thẳng vào mặt nếu còn một cách để người kia tự bước vào sự thật. Tự bước vào thì lời “tôi đắc tội” mới là của họ, không phải lời ta nhét vào miệng họ.
Đavít nói được câu ấy: tôi đã đắc tội với Đức Chúa. Không đổ cho hoàn cảnh. Không đổ cho Bátseva. Không đổ cho chiến trận. Câu ấy là đích của mọi elenchō. Sửa lỗi thành công không phải khi người sửa được khen khéo. Thành công khi người được sửa nói được một câu thật trước mặt Chúa. Nathan còn phải nói hậu quả không biến mất. Đứa trẻ sẽ chết. Gươm không rời nhà Đavít. Tha thứ không phải phép thuật xóa lịch sử. Tha thứ là tương quan với Chúa được mở lại, giữa những hậu quả còn đó. Cộng đoàn cũng vậy. Có những lỗi được tha mà hậu quả vẫn phải sửa trong nhiều năm. Nói điều này không phải để trả đũa. Là để đừng biến hoán cải thành một câu xin lỗi rồi mọi sự như cũ, trong khi người bị hại còn đang mang vết.
3. Thánh vịnh 51 như lời của cộng đoàn
Truyền thống gắn Tv 51 với buổi ấy của Đavít. Dù lịch sử biên soạn có phức tạp, Hội Thánh đã nhận thánh vịnh này làm lời của mọi tội nhân. Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con. Mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm. Tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy. Bằng chính lời này là một chọn lựa mục vụ đúng. Vì kết một bài về sửa lỗi bằng cách chỉ người khác thì bài ấy phản lại chính nó. Kết bằng Tv 51 là kéo người nghe về phía Đavít, không về phía Nathan. Ai cũng có lúc là Nathan. Ai cũng, nhiều lần hơn, là Đavít.
Cầu nguyện chung, bước không được đánh số
1. Các câu 19-20 không phải một chủ đề rơi bên cạnh
Đọc lướt, Mt 18,19-20 có vẻ sang chuyện khác: hai người hợp lời cầu xin thì Cha sẽ ban, nơi có hai ba người họp lại nhân danh Thầy thì có Thầy ở giữa. Đặt lại vào mạch 15-18, các câu này là bước tiếp. Khi một mình không được. Khi hai ba người không được. Khi Hội Thánh không được nghe. Vẫn còn một việc, và là việc phải làm luôn, không chỉ khi cùng đường: hợp ý cầu nguyện. Đây không phải ngẫu nhiên biên soạn. Cầu nguyện là cách giải quyết đặt người anh em vào tay Cha, khi tay cộng đoàn đã chạm giới hạn.
Giới hạn ấy cần được nhìn cho thật. Cộng đoàn không toàn năng trên lòng người. Quyền cầm buộc không sản xuất được hoán cải. Có những người nghe hết các bước mà lòng vẫn đóng. Nếu không có câu 19, cộng đoàn sẽ hoặc tuyệt vọng, hoặc siết thêm ngoài ý Chúa. Câu 19 mở một việc khác: chuyển hồ sơ từ bàn của mình sang sự hiện diện của Chúa Kitô giữa những người đang cầu. Không phải bỏ cuộc. Là tiếp tục bằng phương thế mạnh hơn phương thế của lời khuyên.
2. Hai người đã đủ, nếu hợp ý
Chúa không nói mười người, không nói cả cộng đoàn đông. Chúa nói hai. Số nhỏ ấy là tin vui cho những giáo xứ không có đám đông, cho những cộng đoàn tan hàng sau một xung đột, cho hai người còn chịu ngồi lại. Điều kiện không phải số. Điều kiện là hợp lời, và hợp lời ấy ở dưới đất nhưng nhân danh Đấng ngự trên trời. Hợp lời không phải đọc cùng một bản kinh cho có. Hợp lời là cùng một ý hướng đủ trong sạch để dám đặt trước mặt Cha. Nếu ý hướng còn là “xin cho nó thua”, thì chưa phải hợp lời theo câu 19. Câu 19 giả định điều xin ăn với ý Cha ở câu 14: đừng để kẻ bé mọn hư mất.
Vì thế cầu nguyện cho người mình đang bất đồng là phép xét mình khó nhất của đoạn Tin Mừng này. Miệng có thể đọc tên họ. Lòng có thể vẫn muốn mình được chứng là đúng. Hợp ý bắt đầu khi ta có thể xin cho người ấy điều ta muốn Chúa ban cho chính mình nếu mình đứng chỗ họ: ánh sáng, đau đớn đủ để trở về, và một cộng đoàn còn cửa mở khi họ trở về. Không xin được như vậy, hãy xin Chúa dạy mình xin. Chính lời xin được dạy cũng đã là hợp ý.
3. Có Thầy ở giữa
Câu 20 là lý do của câu 19, không phải một câu trang trí cho nhà nguyện. Cha ban vì có Chúa Giêsu ở giữa cộng đồng đang họp nhân danh Ngài. Sự hiện diện này không phụ thuộc vào cảm xúc. Hai người chán nhau mà vẫn chịu họp lại vì danh Ngài, vẫn là điều kiện câu 20 nói. Đây là an ủi lớn cho các buổi họp giáo xứ nặng nề. Chúa không chỉ ở giữa những buổi sốt sắng. Chúa muốn ở giữa những buổi người ta họp để đừng mất nhau. Miễn là danh được đọc ra là danh Ngài, không phải danh của phe.
Nhân danh không phải công thức cuối lời cầu. Nhân danh là bước vào quyền và ý của người được nêu danh. Họp nhân danh Chúa Giêsu mà dùng buổi họp để trừ người anh em, là mượn danh. Họp nhân danh Ngài là chấp nhận cách của Ngài ở chương 18: tìm con lạc, không khinh kẻ bé mọn, sửa có bậc, tha không tính số. Khi cách ấy được chấp nhận, lời hứa “có Thầy ở giữa” không còn là câu gắn tường. Lời hứa ấy là khí hậu của buổi họp.
Tha không tính số, nền của mọi kỷ luật
1. Phêrô hỏi bảy lần
Câu 21 cho thấy Phêrô đã nghe đoạn sửa lỗi và vẫn còn một mắc. Nếu anh em con xúc phạm đến con, con phải tha mấy lần, có đến bảy không. Bảy trong miệng Phêrô không phải ít. Bảy là con số đầy, là rộng lượng có hạn mức. Chúa đáp bảy mươi lần bảy. Không phải 490 rồi đóng sổ. Là đừng đếm. Đoạn sửa lỗi đứng ngay trước câu hỏi này để khỏi bị hiểu thành quy trình loại người. Người vừa bị sửa, nếu trở về, lập tức rơi vào luật không đếm của câu 22. Cộng đoàn nào sửa giỏi mà tha có sổ, cộng đoàn ấy mới chỉ học nửa chương.
2. Dụ ngôn người mắc nợ
Mt 18,23-35 kể ông vua tha món nợ không thể trả, rồi người được tha ra siết cổ người bạn nợ vài đồng. Kết cục ông vua trao anh ta cho lính hành hạ. Câu cuối hướng vào các môn đệ: Cha trên trời cũng sẽ xử với anh em như vậy nếu mỗi người không hết lòng tha cho anh em mình. Dụ ngôn này là nền móng ở dưới tầng hầm của việc sửa lỗi. Ta được phép đi nói với anh em về nợ của họ chỉ vì nợ của ta đã được xóa một món không đếm được. Quên món nợ của mình, ta sẽ siết cổ nhau vì vài đồng, và gọi việc siết ấy là kỷ luật Hội Thánh.
Hết lòng tha không có nghĩa không nói. Người vua không bảo chuyện vài đồng là không có. Người vua trách cách xử sự của kẻ đã được tha. Trong cộng đoàn, hết lòng tha nghĩa là sự thật vẫn được nói trong trình tự Chúa dạy, nhưng không được nói với bàn tay siết cổ. Giọng siết cổ có thể xuất hiện cả trong lời rất đúng. Dụ ngôn mời ta nghe lại giọng mình. Nếu người kia không còn đường thở trong câu chuyện ta kể về họ, thì có lẽ ta đang siết, dù ta gọi đó là góp ý xây dựng.
Đời sống cộng đoàn dưới ánh sáng đoạn Tin Mừng
1. Trong giáo xứ
Giáo xứ là nơi Mt 18 bị thử mỗi tuần. Có lỗi của tiền bạc công, của chia phe dịp lễ, của lời nói sau các giờ họp, của cách nhìn giới trẻ, của việc ai cũng thấy mà không ai chịu là người đi bước một. Áp dụng đoạn Tin Mừng không bắt đầu bằng một nội quy mới. Bắt đầu bằng một thói: điều gì nói được riêng thì chưa được nói công khai. Điều gì chưa nói với đương sự thì chưa được nói với người thứ ba. Nghe đơn giản. Sống thì đụng cả một nền văn hóa bàn tán, trong đó biết chuyện trước được coi như có mặt trong cộng đoàn.
Các mục tử có một phần riêng. Không nhảy vào bước ba khi giáo dân chưa đi bước một, trừ khi sự việc đã công khai, đã hại người yếu, hoặc đã vượt khỏi khả năng của những người liên hệ. Bảo vệ người đi sửa khỏi bị trả thù bằng quyền. Bảo vệ người bị sửa khỏi bị đem ra làm chuyện sân nhà thờ. Và chính mình nhận lời sửa. Mục tử không đứng ngoài Mt 18. Nhiều giáo xứ chỉ đổi khí hậu khi người đứng đầu chịu nghe một Nathan. Không phải mọi góp ý đều là Nathan. Nhưng sự từ chối nghe, như một thói, sẽ dạy cả cộng đoàn rằng bước một chỉ dành cho người không có chức.
2. Trong cộng đoàn tu trì
Đời tu dùng chữ anh em, chữ chị em, mỗi ngày. Chính vì dùng nhiều nên chữ dễ mòn. Mt 18 là luật sống của nhà, trước khi là đề tài tĩnh tâm. Sửa lỗi trong nhà dòng có bề trên, có nội quy, có hội đồng. Những cơ chế ấy không thay bước một. Người anh em tôi có thể gặp riêng, thì đừng để lần đầu người ấy nghe lỗi mình là trong cuộc họp. Trừ khi tính cách lỗi đòi hỏi cơ chế phải vào ngay để bảo vệ nạn nhân. Phân biệt này phải được gọi tên, kẻo người ta viện “nội quy” để khỏi phải chịu cái khó của một cuộc nói chuyện mặt đối mặt.
Cộng đoàn tu còn một cám dỗ riêng: sửa lỗi nhân danh lý tưởng. Vì ta đã khấn, nên lỗi của anh em bị phóng to hơn lỗi ấy trong đời thường. Có phần đúng, vì khấn là lời hứa công khai. Cũng có phần độc, nếu lý tưởng thành chỗ ta đứng để nhìn xuống. Chương 18 bắt đầu bằng em nhỏ được đặt ở giữa. Nhà dòng nào cũng cần em nhỏ ấy ở giữa nhà cơm, để các lời sửa lỗi không trở thành cuộc thi ai giữ luật sáng hơn. Đích vẫn là đừng để một ai hư mất. Mất một người anh em mà nhà vẫn đúng giờ kinh, thì câu 14 chưa được nhà ấy nghe.
3. Trong gia đình
Gia đình Kitô hữu là cộng đoàn nhỏ nhất mang tên anh em theo cả huyết thống lẫn phép rửa. Mt 18 rất hợp với vợ chồng, với anh chị em ruột, với cha mẹ và con đã lớn. Bao nhiêu đổ vỡ đáng lẽ dừng ở bước một: một cuộc nói không có mặt con cái, không có mặt họ hàng, không có tin nhắn cho người thứ ba. Ta thường làm ngược. Ta kể với người thân để được đồng minh, rồi mới nói với đương sự, lúc đó đương sự không còn nghe một người, mà nghe cả một phe đã họp không có mình. Đó là phản trình tự, dù diễn ra trong bếp chứ không phải trong nhà thờ.
Với con cái, sửa lỗi là bổn phận, không phải lựa chọn. Nhưng kerdainō vẫn là đích. Cha mẹ thắng mọi cuộc cãi với con mà mất con, thì chưa chinh phục được người anh em nhỏ của mình. Có những lời phải nghiêm. Có những giới hạn phải giữ. Bên dưới các giới hạn ấy, con phải còn nghe được một câu: cha mẹ không muốn con hư mất. Câu 14 dịch sang ngôn ngữ gia đình là như vậy. Thiếu câu ấy, kỷ luật nhà chỉ là sức mạnh của người lớn.
4. Trên các phương tiện số
Thời nay bước một bị bỏ qua rất nhanh vì có một thứ sân nhà thờ không cần sân. Một dòng tin, một đoạn ghi âm, một nhóm chat, và cả trăm người đã thành nhân chứng trước khi đương sự được gặp. Mt 18 không được viết cho mạng, nhưng tinh thần của nó đủ mạnh để kết án lối ấy. Đưa lỗi anh em lên không gian số trước khi nói riêng là bỏ bước một và bước hai, nhảy vào một thứ bước ba không có Hội Thánh, chỉ có đám đông. Đám đông không phải ekklēsia. Đám đông không có quyền cầm buộc và tháo cởi. Đám đông có sức hủy danh dự mà không có bí tích để trả lại.
Người có trách nhiệm cộng đoàn cần nói điều này thành thói quen giáo dục, không chỉ lúc đã có scandal. Giới trẻ cần được dạy rằng chia sẻ “cho mọi người biết sự thật” có thể là một hình thức của việc không yêu. Sự thật không cần mọi người biết mới là sự thật. Sự thật cần đến đúng người, đúng bậc, đúng đích thu phục. Đó là sự thật theo kiểu Nathan, không phải sự thật theo kiểu người đứng đầu đường.
Những lệch lạc cần gọi tên
1. Sửa để được mang tiếng thẳng
Có một thứ can đảm giả. Người ta nói nặng, nói giữa đông, rồi nhận mình là người dám nói thật. Mt 18 không khen sự dám nói bằng mọi giá. Mt 18 khen sự dám đi một mình, nơi không có tiếng vỗ tay. Can đảm của đoạn Tin Mừng là can đảm của phòng kín. Ai chỉ can đảm trước đám đông, người ấy hãy chưa vội nhận mình đang vâng Lời.
2. Im để được mang tiếng hiền
Lệch bên kia là im, rồi gọi im là khiêm nhường. Lv 19,17 đã gọi im kiểu ấy bằng một tên khác: để lòng ghét, và mang tội vì người anh em. Có những im là khôn ngoan, vì chưa đúng lúc, vì mình chưa đủ trong sạch để nói, vì việc vượt quá mình. Những im ấy phải đi với cầu nguyện và với việc tìm người có thể nói. Im bỏ mặc người yếu trước lỗi của người mạnh thì không phải hiền. Đó là hình thức êm của việc không giữ em mình.
3. Dùng Hội Thánh để thắng một cuộc riêng
Bước ba bị lợi dụng khi một xung đột cá nhân được nâng thành “chuyện của cộng đoàn” chỉ vì một phía có tiếng nói trong ban ngành. Mt 18 không phải công cụ nội bộ để phe này hạ phe kia. Các nhân chứng không phải cổ động viên. Nếu cộng đoàn cảm thấy mỗi vụ sửa lỗi đều ra cùng một kết cục theo cùng một phe, thì không còn ai tin trình tự, dù trình tự có được trích dẫn đúng từng câu. Uy tín của kỷ luật nằm ở sự công bình có thể kiểm tra, không nằm ở việc trích được số câu.
4. Tha bằng miệng, kể bằng tai
Có thứ tha được tuyên bố trong nhà thờ rồi được kể lại ở quán. Mt 18,21-35 không chấp nhận thứ tha ấy. Hết lòng tha thì chuyện cũ không còn là lương thực của các buổi nói. Đương nhiên có những sự thật lịch sử phải được nhớ để bảo vệ người khác, nhất là nơi có xâm hại, có lạm quyền, có nguy cơ tái phạm. Nhớ để bảo vệ không phải kể để nuôi. Phân biệt này cần lương tri và cần người có trách nhiệm. Nhưng với đa số chuyện thường ngày trong giáo xứ, kể lại là dấu tha chưa xảy ra.
Một tiến trình để mang vào việc
Có thể tóm tinh thần đoạn Tin Mừng thành một tiến trình để cộng đoàn học, không phải để máy móc áp dụng cho mọi trường hợp.
Trước hết, tự xét. Điều tôi sắp nói có phải tội đụng đến hiệp thông, hay là điều tôi không thích. Tôi đã cầu chưa. Tôi có muốn người ấy được lại, hay muốn mình được nhẹ. Nếu chưa muốn người ấy được lại, thì chưa đi.
Sau đó, đi một mình. Chọn giờ người kia còn có thể nghe. Nói rõ điều cần nói, không kèm hồ sơ cũ. Để người kia đáp. Sẵn sàng nhận phần mình nghe sai. Nếu người ấy nghe, dừng lại. Không đi kể chiến thắng.
Nếu không nghe, mời một hoặc hai người có lòng công bình và lòng thương, người đương sự còn có thể tôn trọng. Nói trước với họ về đích thu phục và về bổn phận giữ miệng. Gặp lại. Nếu được, ghi nhớ điều đã nói cách đơn sơ, không phải để làm vụ án, mà để sau này khỏi mỗi người một phiên bản.
Nếu vẫn không nghe, và việc thực sự thuộc về cộng đoàn, đưa tới những người có trách nhiệm trong Hội Thánh địa phương. Không đưa lên đám đông. Không đưa lên mạng. Để Hội Thánh nói. Nếu phải đến mức ngưng hiệp thông, thì làm trong đau, với mục đích đánh thức, và với một đường về được nói rõ. Tháo cởi phải được chuẩn bị trước cả khi cầm buộc, như cửa để mở, không phải như ân huệ tùy hứng.
Song song mọi bước, cầu. Một người cũng cầu được. Hai người hợp ý thì càng đúng câu 19. Cầu cho ánh sáng. Cầu cho chính mình đừng trở thành cớ vấp. Cầu cho cộng đoàn đừng mất người bé mọn. Và khi người ấy trở về, tha không đem chuyện ra kể, đón như người mục tử vác chiên lên vai, không như người chủ nợ mở sổ.
Tiến trình này không thay thế pháp luật nơi có tội hình, không thay thế việc bảo vệ trẻ vị thành niên và người yếu, không thay thế giáo luật. Nơi có nguy hiểm, bước bảo vệ phải đứng trước bước đối thoại. Tình huynh đệ không bao giờ đòi nạn nhân phải một mình đi gặp người làm hại mình để “giữ trình tự”. Đọc Mt 18 mà quên điều này là phản lại chính kẻ bé mọn mà chương 18 đặt ở giữa.
Dấu chỉ để thế gian nhận ra
Ga 13,35 vẫn chờ ở cuối con đường này. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau. Sửa lỗi đúng cách là một hình thức của dấu chỉ ấy, dù người ngoài không thấy buổi nói chuyện riêng. Họ thấy kết quả. Họ thấy một cộng đoàn có thể nói thật mà không xé nhau. Họ thấy người có lỗi còn đường về. Họ thấy người bị hại không bị bắt im để giữ hình ảnh nhà thờ. Họ thấy các buổi họp còn chỗ cho lời cầu. Đó là những điều thế gian đọc được, không cần ta giải thích.
Ngược lại, thế gian cũng đọc được sự vắng mặt của dấu. Đọc được ở sân nhà thờ, ở trang mạng, ở cách ta nói về anh em vắng mặt. Không một bài giáo lý nào sửa được ấn tượng ấy cho nhanh bằng một cộng đoàn đổi cách nói. Tình huynh đệ vì thế không phải đề tài phụ của truyền giáo. Trong Ga 13, đó là đề tài của đêm trước cuộc Thương Khó, tức là đề tài của giờ Chúa muốn để lại điều cốt yếu. Ta có thể bất đồng về nhiều chọn lựa mục vụ. Ta không được phép bất đồng về việc có còn muốn được nhận ra là môn đệ hay không.
Hội Thánh tiên khởi đã dùng adelphos như tiếng nhà. Tiếng ấy đã đi từ cùng một mẹ, qua dân giao ước, tới những người cùng một đức tin. Chúa Giêsu nhận tiếng ấy, đặt vào đó ý Cha, rồi đổ máu để tiếng ấy không còn là ước mơ. Mt 18 là sách hướng dẫn cho một cái nhà đã được máu ấy mua. Sửa có bậc. Cầu có nhau. Tha không sổ. Giữ kẻ bé mọn. Không nhà nào giữ được các điều này cách hoàn hảo. Nhưng nhà nào thôi không còn muốn các điều này, nhà ấy hãy chưa vội gọi sự đông của mình là phát triển.
Kết
Việc sửa lỗi anh em trong cộng đoàn không phải việc dễ. Việc ấy đòi khôn ngoan, tinh tế, thiện chí và can đảm. Nathan đã có đủ bốn điều ấy khi đứng trước Đavít, và Đavít đã nói được câu mà cả cộng đoàn cũng cần tập nói: tôi đã đắc tội với Đức Chúa. Thiên Chúa đã không vui vì tội. Thiên Chúa vui vì đường lối được đổi. Cha trên trời không muốn một ai trong những kẻ bé mọn phải hư mất. Toàn bộ Mt 18 đứng trong niềm vui ấy và trong nỗi đau ấy.
Mỗi chúng ta, trong nhiều trường hợp, là người có lỗi. Trong nhiều trường hợp khác, là người được trao việc đi nói. Trong mọi trường hợp, là người được mời họp lại nhân danh Thầy, dù chỉ có hai. Nơi hai người ấy họp lại mà ý còn hướng về việc anh em được sống, thì có Thầy ở giữa. Đó không phải phần thưởng cho cộng đoàn hoàn hảo. Đó là lời hứa cho cộng đoàn chịu khó ở lại với nhau theo cách của Chúa.
Vậy ta mượn lời vua Đavít để kết. Không kết bằng cách chỉ mặt cộng đoàn bên cạnh. Kết bằng cách đứng vào hàng những người cần được rửa.
Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy.
Xin Chúa cũng rửa cộng đoàn chúng con. Rửa cách chúng con nói về nhau. Rửa sự im lặng giả hình và sự thẳng thắn không thương. Cho chúng con đủ can đảm để đi một mình với người anh em, đủ khiêm nhường để mang theo người khác khi cần, đủ vâng phục để thưa với Hội Thánh, và đủ tin để cầu khi mọi cách đã cạn. Đừng để chúng con cầm buộc dễ hơn tháo cởi. Đừng để một ai trong những kẻ bé mọn phải hư mất. Và xin cho thế gian còn nhận ra chúng con là môn đệ, ở điểm này: chúng con có lòng yêu thương nhau.
Amen.
Lm. Anmai, CSsR

Previous articleGIỜ THỨ BA, GIỜ THỨ SÁU, GIỜ THỨ MƯỜI MỘT Thời khắc trong Kinh Thánh và lòng nhân hậu của ông chủ vườn nho Lm. Anmai, CSsR .
Next articleVIỆC ẤY XẢY ĐẾN THẾ NÀO ĐƯỢC? Những cuộc thụ thai lạ lùng trong Kinh Thánh, đọc như một lịch sử của ân sủng Lm. Anmai, CSsR