Tin GHCG 16 tháng 10 – 2026 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp
BẢN TIN GIÁO HỘI – THỨ SÁU , NGÀY 16 THÁNG 10 NĂM 2026 Lm. Anmai, CSsR tổng hợp
BẢN TIN GIÁO HỘI – THỨ SÁU , NGÀY 16 THÁNG 10 NĂM 2026 Lm. Anmai, CSsR tổng hợp | MẸ HẰNG CỨU GIÚP
Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) Thứ Sáu tuần XXVIII TN – Lm. Anmai, CSsR
BẢN TIN GIÁO HỘI – THỨ SÁU , NGÀY 16 THÁNG 10 NĂM 2026 Lm. Anmai, CSsR tổng hợp
T sáu tuần 28 TN CẢ ĐẾN SỢI TÓC TRÊN ĐẦU CON, CHÚA CŨNG ĐÃ ĐẾM RỒI – Lm. Anmai, CSsR
thứ sáu tuần 28 thường niên CHÚA KHÔNG QUÊN CON CHIM SẺ – Lm. Anmai, CSsR
Ca nhập lễ
Lạy Chúa, lạy Chúa, nếu Chúa nhớ hoài sự lỗi, nào ai chịu nổi được ư? Vì lạy Thiên Chúa Is-ra-el, Chúa thường rộng lượng thứ tha.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng ước gì ân sủng Chúa vừa mở đường cho chúng con đi, vừa đồng hành với chúng con luôn mãi, để chúng con sốt sắng thực hành những điều Chúa truyền dạy, Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc : Ep 1, 11-14
“Chúng tôi trước kia đã trông cậy vào Ðức Kitô, và anh em được ghi dấu Thánh Thần”.
Trích thư Thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.
Anh em thân mến, trong Ðức Kitô, chúng tôi được kêu gọi làm thừa tự, và anh em (là con cái Israel) cũng được tiền định theo ý định của Ngài là Ðấng tác thành mọi sự theo thánh ý Ngài, để chúng tôi trở thành lời ca vinh quang của Ngài, chúng tôi là những kẻ trước kia đã trông cậy vào Ðức Kitô. Trong Người, cả anh em nữa, sau khi anh em đã nghe lời chân thật là Tin Mừng cứu rỗi anh em, anh em đã tin và được ghi dấu Thánh Thần, như đã hứa. Người là bảo chứng phần gia nghiệp chúng ta, để chúng ta được ơn cứu chuộc, được ca ngợi vinh quang Ngài.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 32, 1-2. 4-5. 12-13
Ðáp: Phúc thay dân tộc mà Chúa chọn làm cơ nghiệp riêng mình! (c. 12b).
Xướng: Người hiền đức, hãy hân hoan trong Chúa! Ca ngợi là việc của những kẻ lòng ngay. Hãy ngợi khen Chúa với cây đàn cầm, với đàn mười dây, hãy xướng ca mừng Chúa.
Xướng: Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực; địa cầu đầy ân sủng của Chúa.
Xướng: Phúc thay quốc gia mà Chúa là chúa tể, dân tộc mà Chúa chọn làm cơ nghiệp riêng mình. Từ trời cao Chúa nhìn xuống, Người xem thấy hết thảy con cái người ta.
Alleluia: Dt 4, 12
Alleluia, alleluia! – Lời Thiên Chúa là lời hằng sống, linh nghiệm, phân rẽ tư tưởng và ý muốn của tâm hồn. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 12, 1-7
“Mọi sợi tóc trên đều các con cũng đã được đếm cả rồi”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, có nhiều đám đông dân chúng đứng chung quanh, đến nỗi chen đạp lẫn nhau, nên Chúa Giêsu bắt đầu dạy các môn đệ trước tiên rằng: “Các con hãy ý tứ giữ mình khỏi men biệt phái, nghĩa là sự giả hình. Không có gì che đậy mà không bị tiết lộ ra, và không có gì giấu kín mà chẳng biết được. Vì vậy, những điều các con nói trong nơi tối tăm, sẽ được nói ra nơi sáng sủa, và điều các con nói rỉ tai trong buồng kín, sẽ được rao giảng trên mái nhà.
“Thầy bảo các con là những bạn hữu của Thầy rằng: Các con đừng sợ chi những kẻ giết được thân xác, rồi sau đó không thể làm gì hơn được nữa. Thầy sẽ chỉ cho các con biết phải sợ ai: Hãy sợ Ðấng, sau khi đã giết chết, còn có quyền ném vào địa ngục. Phải, Thầy bảo các con hãy sợ Ðấng ấy.
“Chớ thì năm con chim sẻ không bán được hai đồng tiền sao? Thế mà không một con nào bị bỏ quên trước mặt Thiên Chúa. Hơn nữa, mọi sợi tóc trên đầu các con cũng đã được đếm cả rồi. Vậy các con đừng sợ: các con còn trọng hơn nhiều con chim sẻ”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin chấp nhận những lời cầu xin và lễ vật chúng con dâng tiến, để làm cho thánh lễ chúng con đang sốt sắng cử hành mở đường dẫn chúng con tới quê trời vinh hiển. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Bọn giàu sang đã sa cơ nghèo đói; nhưng người tìm Chúa chẳng thiếu chi thiện hảo.
Hoặc đọc:
Khi Chúa tỏ mình ra, thì chúng ta sẽ giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy như vậy.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng cao cả. Chúa đã lấy Mình và Máu Ðức Kitô làm của ăn nuôi dưỡng chúng con; chúng con nài xin Chúa cho chúng con được chia sẻ chức vị làm con Chúa với Người, Người hằng sống và hiển trị muôn đời…
Lời nguyện
Lạy Chúa Giê-su, giữa đám đông hàng vạn người giẫm lên nhau, Chúa không nói với đám đông trước. Chúa quay lại các môn đệ, những người đứng sát Chúa mà vẫn có thể nhiễm men. Hôm nay chúng con cũng đứng trong đám đông ấy: đông việc, đông tiếng, đông mắt nhìn. Xin Chúa nói với chúng con trước, trước khi chúng con nói với ai khác. Men Pha-ri-sêu không ồn ào. Nó chỉ cần một chút, là cả đấu bột đổi mùi. Xin cho chúng con nhận ra men ấy khi nó còn là thói quen: miệng nói một đàng, lòng giữ một nẻo; ngoài đường thì sốt sắng, trong buồng thì toan tính; làm việc đạo để được thấy, chứ không phải để được Chúa thấy.
Lạy Chúa, không có gì che giấu mà sẽ không bị lộ ra, không có gì bí mật mà người ta sẽ không biết. Chúng con vẫn tưởng đêm hôm đủ kín, buồng riêng đủ chắc, lời rỉ tai sẽ chết trong bốn bức tường. Chúa nói ngược lại: điều nói lúc đêm sẽ được nghe giữa ban ngày, điều rỉ trong buồng kín sẽ được công bố trên mái nhà. Xin Chúa đừng để chúng con sống một đời hai tầng. Đừng để chúng con dựng một khuôn mặt cho cộng đoàn và một khuôn mặt cho bóng tối. Nếu có điều gì chúng con đang chôn, xin đưa nó ra ánh sáng cách Chúa muốn: không phải để chúng con bị bêu, mà để chúng con khỏi phải mang mãi một bí mật đang lên men. Sự thật Chúa đưa ra mái nhà không phải để hủy chúng con. Là để men giả hết chỗ trú.
Lạy Thầy của các bạn hữu, Chúa bảo chúng con đừng sợ kẻ giết thân xác mà sau đó không làm gì hơn được. Chúng con lại đang sợ đúng những kẻ ấy. Sợ mất mặt. Sợ mất ghế. Sợ một câu nói thật làm mất lòng người có quyền. Sợ đám đông quay lại giẫm mình, nên chúng con nín, chúng con cười trừ, chúng con hòa men chung cho êm. Xin tháo nỗi sợ ấy. Không phải để chúng con trở nên liều, mà để chúng con hết làm nô cho người chỉ đụng được thân xác, tiếng tăm, cái danh một mùa. Rồi xin dạy chúng con nỗi sợ duy nhất đáng giữ: hãy sợ Đấng đã giết rồi còn có quyền ném vào hỏa ngục. Không phải sợ một bàn tay hung dữ. Sợ sự thánh thiện của Chúa, sợ ngày mọi lời rỉ tai đứng trần trước mặt Đấng không bị men nào đánh lừa. Thật vậy, xin cho chúng con sợ Đấng ấy, để chúng con hết sợ đám đông.
Nhưng Chúa không để chúng con ở lại trong nỗi sợ. Chúa chỉ năm con chim sẻ bán được hai đồng, và không một con nào bị bỏ quên trước mặt Thiên Chúa. Ngay tóc trên đầu chúng con cũng được đếm cả rồi. Đếm không phải để kết sổ. Đếm vì quý. Giữa hàng vạn người giẫm lên nhau, chúng con tưởng mình là một bóng trong đám, mất cũng không ai hay. Chúa nói chúng con còn quý hơn muôn vàn chim sẻ. Xin cho lời ấy thấm vào chỗ chúng con đang co lại. Khi phải nói thật mà tay run, khi bị hiểu lầm vì không chịu men giả, khi thấy mình nhỏ đến mức không đáng được nhớ, xin nhắc chúng con: không một con sẻ nào rơi ngoài mắt Cha. Huống chi chúng con, bạn hữu của Thầy.
Lạy Chúa, xin giữ chúng con khỏi men đạo đức giả, khỏi bí mật nuôi trong buồng kín, khỏi nỗi sợ người đời. Xin cho chúng con sống như kẻ đã được đếm từng sợi tóc, nên dám để sự thật lên mái nhà, và dám không sợ. Chúng con quý trước mặt Cha hơn muôn vàn chim sẻ. Xin cho chúng con sống cho đáng lời ấy. Amen.
BẠN HỮU GIỮA ĐÁM ĐÔNG: SỐNG THẬT KHI MẶT NẠ CÒN DỄ ĐEO
Giữa một đám đông chen chúc đến nghẹt thở, người ta xô đẩy nhau chỉ để chạm được gấu áo, để nghe được một lời, để nhìn được một lần khuôn mặt của Đấng mà họ tin có thể chữa lành, có thể ban bánh, có thể mở ra một lối thoát cho cái đói và cái sợ đang đè nặng đời họ, Thầy vẫn quay lại phía những người đã bỏ hết mà đi theo, những người đã ở với Thầy từ những ngày đầu khi mọi sự còn giản dị và chưa ai phải trả giá. Đám đông ấy không xấu. Đám đông ấy đói thật, bệnh thật, mệt thật, hy vọng thật. Có người đi bộ từ làng xa, có người dìu người thân liệt, có người mang theo đứa con sốt không nguôi, có người chỉ muốn được đứng trong bóng của một Đấng mà tiếng đồn đã chạy nhanh hơn chính bước chân của Ngài. Tiếng ồn của đám đông là tiếng của nhu cầu. Tiếng ấy chính đáng. Nhưng Thầy không nói trước với nhu cầu. Thầy nói trước với những kẻ đã được chọn để ở lại khi nhu cầu đã được đáp và đám đông đã tan. Thầy không nói trước với những bàn tay đang với. Thầy nói trước với những trái tim đã quyết đi theo cho đến cùng, dù chưa biết cùng ấy sẽ là thập giá hay là vinh quang, hay là cả hai chồng lên nhau trong một buổi chiều. Và trong cái nói ấy có một chữ mà Tin Mừng chỉ ghi lại một lần duy nhất khi Thầy gọi những kẻ theo mình: bạn hữu. Không phải đầy tớ đứng chờ lệnh. Không phải học trò ngồi dưới chân để ghi chép cho đúng. Không phải đám người được sai đi rồi trở về báo cáo thành tích. Bạn hữu. Chữ ấy đổi cả khoảng cách. Bạn hữu là người được biết điều người khác chưa được biết, được nghe điều người khác chưa được nghe, được dặn trước khi cơn bão tới chứ không phải khi bão đã cuốn mất mái nhà. Bạn hữu không được nuôi bằng phép lạ liên tục. Bạn hữu được nuôi bằng sự thật, kể cả sự thật làm đau. Và điều Thầy dặn trước tiên không phải là cách đối phó với đám đông, không phải là cách giữ uy tín, không phải là cách làm cho người ta tiếp tục kéo đến ngày mai. Điều Thầy dặn là hãy coi chừng men.
Men của những người giữ đạo rất kỹ, rất đúng hình thức, rất sạch sẽ trước mắt thiên hạ. Men ấy không ồn ào. Men ấy không cần hô hào. Men ấy thấm. Men ấy làm dậy cả một thúng bột mà không ai thấy lúc nó bắt đầu, và khi bột đã dậy thì người ta cứ tưởng đó là bản chất của bột chứ không phải của men. Thái độ ấy có tên là giả hình, nhưng giả hình không phải chỉ là nói một đằng làm một nẻo cho người ta chê cười ở quán nước. Giả hình là một nghệ thuật che giấu sự thật về chính mình, một nghệ thuật đeo mặt nạ đạo đức cho đến khi chính người đeo cũng quên mất mặt mình ở dưới lớp sơn. Người ta bắt đầu bằng một cử chỉ nhỏ. Nói một câu cho đẹp lòng người nghe. Giữ một vẻ mặt cho xứng với chỗ đang đứng. Làm một việc lành và để người khác thấy vừa đủ. Rồi cử chỉ ấy thành thói. Thói thành lớp vỏ. Lớp vỏ thành khuôn mặt thứ hai, và khuôn mặt thứ hai dần được thế gian công nhận là khuôn mặt thật, vì thế gian chỉ cần cái nó nhìn thấy. Người ta có thể sống như thế rất lâu. Người ta có thể được khen, được mời, được tin, được giao việc, được xem là mẫu mực của xóm đạo, của hội đoàn, của cộng đoàn. Bề ngoài xuôi chèo mát mái. Lời nói đúng mạch. Áo sạch. Giờ kinh không thiếu. Việc bác ái có tên trong sổ. Bên trong là một khoảng trống mà chỉ mình mình biết, và đôi khi đến mình cũng không muốn biết nữa, vì biết thì phải đục lớp vỏ ra, mà đục thì đau, mà đau thì mất chỗ đứng. Men giả hình nguy hiểm không phải vì nó làm người ta thành kẻ ác công khai. Men ấy nguy hiểm vì nó để người ta vẫn được gọi là tốt trong khi lòng đã lệch. Nó để người ta vẫn nói về Thiên Chúa trong khi mắt chỉ nhìn phản ứng của người nghe. Nó để người ta vẫn cầu nguyện bằng môi trong khi tim đang tính toán lời cầu ấy sẽ mang lại uy tín nào. Và một khi men đã dậy, cả thúng bột đổi mùi mà không ai chỉ được ngón tay vào một cục men cụ thể, vì men đã tan vào bột.
Thầy nói với các bạn hữu rằng khoảng trống ấy không giữ được mãi. Không có gì bị che mà cứ che được hoài. Không có gì được giấu trong tối mà bóng tối giữ được nó đến cùng. Sớm muộn, chiếc kim trong bọc cũng thò ra. Không phải vì có kẻ xấu đi lục.soát. Vì sự thật có sức nặng của nó. Sự thật không cần người ta tuyên bố. Sự thật chỉ cần thời gian. Một lời nói cho đẹp hôm nay sẽ lệch với một việc làm ngày mai. Một vẻ đạo đức được dựng cho đám đông sẽ không đứng vững khi đám đông không còn nhìn. Một bí mật được giữ bằng sợ sẽ bị chính nỗi sợ làm lỏng then cửa. Và nếu thời gian của người đời chưa đủ để làm lộ, thì vẫn còn một cái nhìn không thuộc về thời gian. Cái nhìn ấy không cần đèn, không cần nhân chứng, không cần máy móc, không cần lời khai, không cần kẻ thù đi mách. Cái nhìn ấy đi thẳng vào chỗ con người tưởng là kín nhất, chỗ ban đêm, chỗ buồng đóng then, chỗ câu nói chỉ thốt ra khi tưởng không ai nghe, chỗ ý nghĩ chưa thành lời mà đã thành hướng đi của cả một đời. Những lời thì thầm lúc đêm hôm sẽ được nghe giữa ban ngày. Những điều rỉ tai trong buồng kín sẽ được công bố trên mái nhà. Không phải để bêu riếu cho thiên hạ vui. Để trả mọi sự về đúng chỗ của nó. Mặt nạ rơi không phải tai họa lớn nhất. Tai họa lớn nhất là sống cả đời với mặt nạ rồi chết mà vẫn tưởng đó là mặt mình, rồi đứng trước Đấng thấy rõ mọi sự mà vẫn giơ ra một khuôn mặt sơn. Nên lời của Thầy không phải lời dọa cho người ta run để rồi càng che kỹ hơn. Đó là lời mời hãy sống thực lòng, vì sống thực lòng thì không có gì phải canh, không có gì phải bịa, không có gì phải sợ cái ngày mọi sự được đưa ra ánh sáng. Sợ chỉ thuộc về người đang giấu. Người không giấu thì ánh sáng là nhà của họ. Người không giấu có thể vẫn yếu, vẫn vấp, vẫn phải đứng dậy nhiều lần, nhưng người ấy không phải dựng một nhân vật khác để thế gian vỗ tay. Và vì không phải dựng nên người ấy nhẹ. Nhẹ không có nghĩa là nông. Nhẹ vì không phải mang hai đời cùng một lúc, một đời cho người ta thấy và một đời cho mình nuốt.
Rồi Thầy nói đến nỗi sợ khác, nỗi sợ có thật, nỗi sợ không phải do tưởng tượng của kẻ nhát. Các bạn hữu của Thầy sẽ bị người ta ghét, bị đuổi, bị đánh, bị giết. Chuyện ấy không phải khả năng xa vời để an ủi bằng lý thuyết. Chuyện ấy sẽ xảy ra với Thầy trước, và sẽ xảy ra với họ sau. Thân xác là thứ người ta lấy được. Mạng sống ở đời này là thứ người ta cắt được bằng gươm, bằng đói, bằng vu khống, bằng sự im lặng của đám đông quay đi. Và vì người ta cắt được nên người ta tưởng mình có quyền trên hết mọi sự. Kẻ cầm roi tưởng roi là lời cuối. Kẻ cầm quyền tưởng án là chân lý. Kẻ có đông người theo tưởng tiếng hô là ý Thiên Chúa. Thầy không bảo các bạn hữu coi thường thân xác. Thân xác đáng quý đến mức chính Thầy đã nhận lấy thân xác, đã đói trong thân xác, đã mệt trong thân xác, đã chảy máu trong thân xác. Thân xác là nơi Lời đã nhập thể, là nơi bánh được bẻ, là nơi máu được đổ, là nơi yêu thương có hình có xương có thịt để người ta chạm được. Khinh thân xác không phải tinh thần. Khinh thân xác là một thứ giả hình khác, tinh vi hơn, vì nó đội lốt siêu thoát. Nhưng con người không chỉ là thân xác, và kẻ chỉ lấy được thân xác thì chưa lấy được điều làm cho con người là con người trước mặt Thiên Chúa. Phải sợ ai, Thầy hỏi, rồi Thầy trả lời bằng một sự thật làm người ta im. Phải sợ Đấng có quyền không chỉ trên thân xác mà trên cả cái phần không chết theo thân xác, Đấng có thể để con người rơi vào chỗ xa cách vĩnh viễn, chỗ gọi là hỏa ngục, chỗ không còn được ở trong tình thương nữa dù vẫn tồn tại. Sợ ấy không phải sợ một bạo chúa thích trừng phạt. Sợ ấy là sợ đánh mất chính nguồn của sự sống, sợ chọn mãi cái giả cho đến khi không còn muốn cái thật, sợ quen với mặt nạ đến mức ánh sáng trở thành kẻ thù. Các chứng nhân của mọi thời đã hiểu câu ấy không phải bằng suy luận trên sách. Họ hiểu bằng chính thịt da mình. Họ đã chịu roi, chịu đói, chịu nhục, chịu cái chết chậm trong ngục, chịu cái chết nhanh giữa đường, chịu người thân quay lưng vì sợ liên lụy, chịu bạn bè phản vì một chút an toàn, chịu bị gọi là điên, bị gọi là phản, bị gọi là nguy hiểm cho trật tự. Họ không tránh được đau. Đau vẫn là đau. Máu vẫn là máu. Đêm trước ngày chết vẫn dài. Họ tránh được điều khác: họ không đánh mất mình trong cái đau. Họ không đổi sự thật lấy một hơi thở thêm. Họ không bán Thầy để được thả. Họ không nhận một lời khai sẵn để giữ mạng. Và vì thế, khi thân xác họ nằm xuống, họ không rơi vào khoảng trống của kẻ đã sống hai mặt. Họ được đón, không phải vì họ hoàn hảo, mà vì họ đã chọn đứng về phía sự thật cho đến hơi thở cuối, và sự thật ấy có tên, có mặt, có vết thương ở tay và ở cạnh sườn.
Kitô hữu mọi thời đều phải đối diện với những lúc cam go như thế, dù không phải lúc nào cũng là roi và gươm giữa thanh thiên bạch nhật. Có những thời bách hại mang hình của sự cô đơn giữa chính những người cùng tin. Có những lúc nói một câu thật thì mất ghế, mất việc, mất tiếng trong hội đoàn, mất cái nhìn thân thiện của người từng khen mình đạo đức. Có những lúc sống sạch thì bị xem là dị, bị xem là chưa khôn, bị xem là không biết thời. Có những lúc im lặng trước điều sai thì được yên, còn mở miệng thì bị ghép vào phe. Trong những lúc ấy, cám dỗ lớn nhất không phải là đau thân xác. Cám dỗ lớn nhất là tưởng mình bị bỏ. Tưởng Thiên Chúa quay đi vì sao người công chính lại thua. Tưởng lời hứa chỉ có giá khi mọi sự êm và đám đông còn vỗ tay. Tưởng bạn hữu của Thầy thì phải được che, được khỏi, được thắng ngay ở đời này, được người ta nể, được cửa mở, được tiếng tốt đi trước. Thầy không hứa như thế. Thầy đã không sống như thế. Thầy hứa một điều khác, một điều không làm giảm đau nhưng làm cho đau không thành lời cuối. Thầy đưa các bạn hữu nhìn xuống những con chim sẻ để họ đừng đo tình thương của Thiên Chúa bằng thước của đám đông. Chim sẻ không phải chim quý. Chim sẻ không được nuôi trong lồng sang. Chim sẻ là thức ăn rẻ của người nghèo, là thứ người ta mua theo chục, theo đàn, giá không đáng một buổi công của người làm thuê. Không ai lập sổ cho chim sẻ. Không ai gọi tên từng con. Không ai để tang khi một con rơi xuống đất giữa chợ. Vậy mà không một con nào rơi ngoài cái biết của Thiên Chúa. Cái biết ấy không phải cái biết của kẻ kiểm kê để thu lợi. Cái biết ấy là cái biết của Đấng không để một sự sống nhỏ nào thành vô nghĩa. Nếu một sinh vật nhỏ đến thế, rẻ đến thế, vô danh đến thế mà vẫn không bị quên, thì những người đã được gọi là bạn hữu của Con Ngài không thể nào nằm ngoài vòng tay ấy, dù hôm nay họ đang bị đám đông quên, dù hôm nay tên họ không có trên môi ai. Rồi Thầy đi xa hơn một bậc nữa, vào chính thân thể của họ, vào chỗ tưởng như vụn vặt không đáng kể. Từng sợi tóc trên đầu đã được đếm. Không phải đếm một lần cho có chuyện. Đếm để biết. Sợi nào rụng vì tuổi, sợi nào còn đen, sợi nào bạc vì lo, sợi nào đứt vì bệnh, sợi nào người ta không buồn nhìn, đều không vượt khỏi sự quan tâm ấy. Nếu sợi tóc đã được biết, thì mạng sống lại càng được biết. Nếu con sẻ không bị quên, thì người bạn lại càng không bị quên. Nên nỗi sợ bị bỏ là nỗi sợ không đứng vững trước cái nhìn ấy. Người ta có thể bỏ. Đám đông có thể quay sang một tiếng đồn khác. Người thân có thể không hiểu và chọn sự an toàn. Bạn đồng hành có thể mệt và dừng. Nhưng Đấng đã đếm tóc không quay. Và vì không quay nên người môn đệ có thể bình an theo một cách mà thế gian không cắt nghĩa được, vì thế gian chỉ cắt nghĩa bình an bằng sự vắng mặt của nguy hiểm.
Bình an không phải vì không có giông. Bình an vì không sống trong gian dối, nên không sợ ngày mặt nạ rơi. Người đang đeo mặt nạ sợ ánh sáng hơn sợ roi, vì roi chỉ lấy thân xác còn ánh sáng lấy luôn cái vai diễn mà người ấy đã sống nhờ. Người sống thực lòng vẫn có thể run khi nguy đến, vẫn có thể xin cho chén này qua đi, nhưng người ấy không phải canh cửa miệng kẻo lời thật lọt ra. Bình an còn vì cái chết của thân xác không phải là dấu chấm hết của câu chuyện, chỉ là dấu ngắt giữa hai chương, và chương sau không do kẻ cầm roi viết. Kẻ cầm roi viết được dòng cuối của chương thân xác. Kẻ cầm roi không viết được tên của người ấy trong sổ của Thiên Chúa, không xóa được một sợi tóc đã được đếm, không làm cho một con sẻ đã được biết trở thành chưa từng có. Và bình an sâu nhất là vì mình biết mình là ai. Không phải kẻ được đám đông hoan hô hôm nay và quên ngày mai. Không phải kẻ đạo đức vì men đã dậy vừa khéo. Mà là môn đệ, và hơn nữa là bạn hữu, của Thầy. Bạn hữu thì được biết điều Thầy biết, kể cả điều làm đám đông chán vì không phải phép lạ. Bạn hữu thì được đi trên đường Thầy đi, kể cả đoạn đường không có người theo. Bạn hữu thì không cần mặt nạ, vì đã được nhìn thấy từ bên trong và vẫn được gọi, vẫn được giữ, vẫn được dặn trước khi bão tới. Hạnh phúc ấy không ồn ào như tiếng chen lấn ngoài đường. Hạnh phúc ấy không cần được công bố trên mái nhà bởi người khác. Hạnh phúc ấy ở lại khi đám đông đã tan, khi men giả hình đã bị vạch bởi chính thời gian, khi roi đã qua và vết thương còn, khi thân xác đã nằm xuống, và khi mọi điều từng thì thầm trong buồng kín được đưa ra ánh sáng mà lòng vẫn không run, vì từ đầu đã không có gì phải giấu với Đấng là bạn, và vì được làm bạn của Thầy thì đã là phần thưởng lớn hơn mọi tiếng khen của một đám đông chưa bao giờ đếm được một sợi tóc.
Lm. Anmai, CSsR
SỐNG TRƯỚC MẶT THIÊN CHÚA, ĐỪNG SỐNG ĐỂ ĐƯỢC NGƯỜI ĐỜI KÍNH TRỌNG.
Sống đạo, nếu đi đến cùng chiều sâu của nó, chẳng phải là chuyện giữ cho đủ các việc bề ngoài để người ta nhìn vào mà khen, cũng chẳng phải là chuyện tích lũy cho mình một danh tiếng đạo đức để đời này được nể, được trọng, được tin cậy. Sống đạo là sống một mối tương quan. Mối tương quan ấy có một chiều hướng rất rõ: hướng về Thiên Chúa, đứng trước mặt Thiên Chúa, thưa với Thiên Chúa, lắng nghe Thiên Chúa, và để cho chính Thiên Chúa uốn nắn đời mình từ bên trong. Khi mối tương quan ấy còn sống, con người còn biết mình là ai trước mặt Đấng đã dựng nên mình, còn biết mình được yêu trước khi mình làm được điều gì, còn biết mình được gọi không phải để phô diễn mà để thuộc về. Nhưng chính vì mối tương quan ấy được người đời kính trọng, nên nó rất dễ bị biến chất. Người ta kính trọng kẻ siêng năng nhà thờ, kính trọng kẻ nói năng đạo đức, kính trọng kẻ có chức vụ trong cộng đoàn, kính trọng kẻ biết tổ chức, biết quyên góp, biết xuất hiện đúng chỗ đúng lúc. Lòng kính trọng ấy vốn không xấu. Nó là một dấu chỉ tự nhiên của đời sống chung. Thế nhưng khi lòng kính trọng ấy trở thành mục tiêu, khi người ta bắt đầu sống để được kính trọng, thì mối tương quan với Thiên Chúa bị đẩy lui xuống hàng thứ yếu, và đời sống đạo dần dần biến thành một phương tiện. Phương tiện để gây uy tín. Phương tiện để được tin. Phương tiện để được giao việc. Phương tiện để được lợi. Phương tiện để che những toan tính mà nếu nói thẳng ra thì chẳng ai dám nhận. Từ chỗ ấy, giả hình nảy sinh không phải như một quyết định đột ngột trong một buổi sáng nào đó, mà như một sự trượt rất chậm, rất khéo, rất khó nhận ra, vì bề ngoài mọi sự vẫn còn đẹp, vẫn còn đúng giờ, vẫn còn đúng lời, vẫn còn đúng nghi thức.
Người sống giả hình không nhất thiết là người bỏ nhà thờ. Trái lại, người ấy có thể có mặt rất đều. Người ấy không nhất thiết nói năng tục tĩu. Trái lại, người ấy có thể nói rất hay về Thiên Chúa, về lòng thương xót, về sự khiêm nhường, về việc phục vụ. Điều làm cho đời sống ấy biến chất nằm ở chỗ hướng nhìn. Người ấy sống trước mặt người đời nhiều hơn sống trước mặt Thiên Chúa. Người ấy cân nhắc lời nói sao cho vừa tai người nghe, cân nhắc cử chỉ sao cho vừa mắt người xem, cân nhắc việc lành sao cho có người chứng kiến. Khi không có ai nhìn, lòng ấy nguội. Khi có người nhìn, lòng ấy bừng lên một cách lạ. Sự bừng lên ấy không phải là nhiệt thành, mà là nhu cầu được công nhận. Và một khi nhu cầu được công nhận chiếm chỗ của lòng kính sợ Thiên Chúa, thì mọi việc đạo đức, dù có đúng hình thức đến đâu, cũng chỉ còn là lớp vỏ. Lớp vỏ ấy có thể dày. Có thể được chăm chút nhiều năm. Có thể khiến cả một cộng đoàn tin. Nhưng bên trong, mối tương quan đã đứt. Người ấy không còn thưa với Thiên Chúa như một người con thưa với cha. Người ấy trình diễn trước Thiên Chúa như trình diễn trước một khán giả mà mình tưởng có thể đánh lừa được.
Chính vì thế mà thói đạo đức giả được ví như một thứ men. Men không ồn ào. Men không chiếm chỗ ngay từ đầu. Men len vào bột, và từ từ làm cả khối dậy lên theo một hướng khác với hướng người ta tưởng. Thói đạo đức giả cũng vậy. Nó không bắt đầu bằng một lời nói dối trắng trợn. Nó bắt đầu bằng một chút chỉnh sửa cho đẹp. Một chút giấu đi điều chưa đẹp. Một chút kể công. Một chút so sánh mình với người khác để thấy mình hơn. Một chút dùng danh Thiên Chúa để bênh vực ý riêng. Một chút biến việc phục vụ thành chỗ đứng. Rồi dần dần, cả đời sống đạo dậy men theo hướng ấy. Người ta vẫn đọc kinh, vẫn dự lễ, vẫn làm việc bác ái, nhưng tất cả đã bị nhiễm một mùi khác: mùi của sự tính toán, mùi của lòng sợ mất mặt, mùi của ước muốn được đời này công nhận. Và điều nguy hiểm hơn hết là người nhiễm men ấy thường không biết mình đang nhiễm. Họ tưởng mình đang nhiệt thành. Họ tưởng mình đang bảo vệ sự thánh. Họ tưởng mình đang hơn kẻ khác vì mình giữ luật kỹ hơn, nói đúng hơn, xuất hiện nhiều hơn. Sự tưởng ấy chính là lớp men đã dậy. Nó làm cho người ta không còn khả năng xét mình trước mặt Thiên Chúa, vì mọi sự xét mình đã bị thay bằng sự xét nét người khác.
Phải tránh xa thói ấy không phải chỉ vì nó xấu trước mắt người đời, dù quả thật giả dối trước sau gì cũng bại lộ. Có những điều giấu được một năm, giấu được mười năm, giấu được cả một đời trước mặt một số người. Nhưng không có điều gì giấu được mãi trước mặt mọi người, và càng không có điều gì giấu được trước mặt Thiên Chúa. Lời nói khéo có thể che một lúc. Việc làm đẹp có thể che một lúc. Danh tiếng có thể che một lúc. Rồi một ngày, một sơ hở nhỏ, một cơn nóng giận, một tính toán lộ ra, một lợi lộc bị đòi, và cả khối men ấy xẹp xuống. Người đời lúc ấy thất vọng, có khi còn chua chát hơn vì đã từng kính trọng. Nhưng sự bại lộ trước mặt người đời vẫn chưa phải là điều nặng nhất. Điều nặng nhất là giả dối không che được mắt Chúa. Chúa thấu biết mọi sự, không phải theo kiểu một người canh gác ngồi rình để bắt lỗi, mà theo kiểu Đấng ở trong tận cùng lòng người, Đấng biết động lực trước khi việc làm thành hình, Đấng biết lời thưa trong phòng kín trước khi lời ấy được nói ra giữa đám đông. Sống trước mặt một Đấng như thế mà vẫn cố giữ bộ mặt, thì chẳng những vô ích, mà còn là một sự khinh suất đối với chính tình yêu. Vì tình yêu không cần mặt nạ. Tình yêu cần sự thật.
Vì thế phải luôn sống ngay thẳng. Ngay thẳng không phải là sống thô. Không phải là nói mọi điều mình nghĩ mà không cần xét nó có xây dựng hay không. Ngay thẳng là để cho bên trong và bên ngoài gặp nhau trước mặt Thiên Chúa. Điều mình làm khi có người xem và điều mình làm khi chỉ có một mình không được là hai con người khác nhau. Lời mình nói về lòng thương xót và cách mình đối xử với người yếu thế không được mâu thuẫn. Lời mình cầu nguyện và điều mình toan tính trong lòng không được đi hai ngả. Sống công chính là sống cho đúng mối tương quan ấy. Công chính không phải là hoàn hảo theo nghĩa không còn thiếu sót. Công chính là đứng đúng chỗ: nhận mình là thụ tạo, nhận mình được yêu, nhận mình cần được tha, và từ chỗ ấy mà làm điều ngay, nói điều thật, giữ điều đã hứa, không lấy danh Chúa để trục lợi, không lấy việc đạo để mua danh. Người công chính vẫn có thể vấp. Nhưng khi vấp, người ấy không dựng thêm một lớp vỏ để che. Người ấy trở về. Trở về là dấu của sự công chính, còn dựng vỏ là dấu của sự giả hình.
Sống công chính có thể bị thiệt thòi trước mặt người đời. Điều này cần được nói rõ, vì nếu không nói rõ, người ta sẽ tưởng sống ngay thẳng là một cách khôn ngoan để được lợi nhiều hơn. Không phải vậy. Có những lúc nói thật làm mất một cơ hội. Có những lúc từ chối một việc làm lệch lạc khiến người ta mất chức, mất mối, mất tiếng. Có những lúc không chịu nhập cuộc với một sự dối trá tập thể khiến người ta bị cô lập. Có những lúc giữ sự trong sạch của mối tương quan với Thiên Chúa khiến người ta không được lòng những kẻ đang cầm quyền trong một cộng đoàn, trong một xứ đạo, trong một hội đoàn. Người đời thường thưởng cho sự khéo, không thường thưởng cho sự ngay. Người khéo biết nói điều người ta muốn nghe. Người ngay nói điều cần nói, dù người ta không muốn nghe. Vì thế người công chính nhiều khi không được lợi lộc gì, và có khi còn bị bắt bớ, bị nói xấu, bị gán cho những động cơ không có, bị đẩy ra ngoài, bị hành hạ trong danh dự trước khi bị hành hạ trong thân xác. Trong lịch sử của những kẻ thuộc về Thiên Chúa, điều ấy không phải là ngoại lệ. Nó là một khả năng luôn mở. Ai bước vào mối tương quan với Thiên Chúa mà mong rằng đời này sẽ trả công bằng sự an toàn và tiếng khen, thì người ấy chưa hiểu mình đang bước vào đâu.
Giả hình, nhìn từ phía ấy, là một sự hèn nhát. Không phải hèn nhát theo nghĩa run trước đau khổ thể lý, vì có những người giả hình rất gan trong việc tính toán. Hèn nhát ở đây là sợ người đời hơn sợ Thiên Chúa. Sợ mất mặt hơn sợ mất linh hồn. Sợ bị chê hơn sợ làm mất lòng Đấng đã yêu mình. Sợ đám đông hơn sợ sự thật. Nỗi sợ ấy khiến người ta uốn lời, uốn việc, uốn cả lòng mình cho vừa một tiêu chuẩn không phải của Thiên Chúa. Công chính thì ngược lại. Công chính không phải là không biết sợ. Công chính là biết sợ đúng Đấng đáng sợ. Chỉ sợ Thiên Chúa. Sợ theo nghĩa kính sợ, nghĩa là không dám lấy tình yêu của Người ra để mua bán, không dám đứng trước mặt Người mà diễn, không dám biến nhà của Người thành nơi gây uy tín cho mình. Người chỉ sợ Thiên Chúa thì được tự do trước mặt người đời. Không phải tự do theo kiểu coi thường mọi người, mà tự do theo kiểu không còn bị lời khen lời chê cầm giữ. Lời khen không làm người ấy phình ra. Lời chê không làm người ấy gãy. Vì cả hai đều không phải là chuẩn. Chuẩn là mối tương quan. Sống đúng mối tương quan ấy thì dù đời này có nhìn nhận hay không, người ấy vẫn đứng vững.
Người giả hình, nếu đi đến cùng lối ấy, chỉ được đời này mà mất đời sau. Được đời này theo nghĩa được tiếng, được lợi, được chỗ đứng, được sự nể nang trong một thời gian. Mất đời sau không phải vì Thiên Chúa hẹp hòi, mà vì chính người ấy đã chọn một kho tàng không còn lại gì khi mọi sự bề ngoài đổ xuống. Đời sau không cộng điểm cho những buổi xuất hiện. Đời sau không cộng điểm cho những lời hay được nói để người ta vỗ tay. Đời sau nhìn đến điều đã thực sự xảy ra trong tương quan: có yêu hay không, có thật hay không, có thuộc về hay chỉ mượn danh. Người công chính có thể mất đời này. Mất chức. Mất của. Mất tiếng. Mất cả mạng. Nhưng được đời sau, vì điều người ấy giữ lại chính là điều không mất: mình vẫn là mình trước mặt Thiên Chúa, mình không đánh đổi mối tương quan lấy một cái giá của đời này. Nhưng còn hơn cả chuyện được đời sau như một phần thưởng để sau này nhận, người công chính được Thiên Chúa yêu thương ngay trong đời này. Được quan phòng. Được chăm sóc. Không phải chăm sóc theo nghĩa mọi sự sẽ êm, mọi cửa sẽ mở, mọi kẻ thù sẽ im. Chăm sóc theo nghĩa không một sợi tóc nào rơi ngoài cái nhìn của Người, không một nỗi sợ nào phải mang một mình, không một sự thiệt thòi nào vì sống ngay mà bị Người bỏ quên. Được tình yêu của Thiên Chúa. Và được chính Thiên Chúa. Đó mới là hạnh phúc. Hạnh phúc không phải là cảm giác dễ chịu kéo dài. Hạnh phúc là được ở trong tương quan đúng, được biết mình không bị bỏ, được biết giá trị của mình không do đám đông ấn định.
Chim sẻ là loài rẻ. Người ta bán từng chùm, vài con được một giá chẳng đáng kể. Thế mà không một con nào bị bỏ quên trước mặt Thiên Chúa. Nếu một loài bé nhỏ, không tên, không địa vị, không tiếng nói trước mặt người đời, mà vẫn nằm trong cái nhìn của Đấng dựng nên nó, thì con người, kẻ được dựng nên để tương quan, kẻ được gọi bằng tên, càng không thể bị bỏ quên. Đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác mà không giết được mối tương quan. Đừng sợ những kẻ lấy tiếng xấu làm vũ khí. Đừng sợ những kẻ dùng lợi lộc để mua sự im lặng. Anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ. Quý không phải vì anh em giữ luật giỏi hơn. Quý vì anh em là con. Và một khi đã là con, thì sống công chính không phải là cố để được quý, mà là sống cho xứng với điều mình đã được quý.
Để giúp ta dễ dàng sống công chính, không phải bằng sức riêng của một ý chí luôn dễ mệt, Thiên Chúa đã gửi Con Một của Người xuống thế. Không gửi một bộ luật mới để ta cố giữ cho đủ rồi tự hào. Không gửi một gương mẫu để ta bắt chước từ bên ngoài rồi vẫn còn là chính mình ở bên trong. Gửi chính Con. Để ai tin vào Người thì được nên công chính, không phải bằng cách tự tuyên bố mình công chính, mà bằng cách được kéo vào trong tương quan của Người với Cha. Tin ở đây không phải là gật đầu với một vài câu đúng. Tin là trao cả đời mình cho Đấng đã đến, đã sống ngay thẳng giữa một thế gian đầy men giả hình, đã không sợ người đời, đã không lấy danh Cha để trục lợi, đã chịu mất đời này để mối tương quan không bị đứt. Trong Người, Thiên Chúa đã chọn chúng ta từ trước khi chúng ta kịp làm một việc lành nào để khoe. Chọn không phải vì ta đẹp. Chọn để làm cho ta được đẹp bằng sự thật. Trong Người, ta được nghe lời chân lý, lời không phải là một bài diễn văn khéo, mà là Tin Mừng cứu độ, tức là tin rằng mình được tha, được nhận, được dựng lại, không cần phải diễn trước mặt ai. Và vẫn trong Người, một khi đã tin, ta được đóng ấn bằng Thánh Thần. Ấn ấy không phải là một dấu bên ngoài để người đời nhìn mà kính. Ấn ấy là bảo chứng của phần gia nghiệp. Gia nghiệp không phải là danh tiếng đời này. Gia nghiệp là chính Thiên Chúa, là được ở trong tương quan mãi mãi, là không còn phải sợ mất điều mình đã được ban.
Vì thế sống đạo, nếu muốn khỏi biến chất, phải được kéo trở lại mỗi ngày về cái chỗ ban đầu ấy. Không phải chỗ của uy tín. Chỗ của tương quan. Mỗi lần thấy mình bắt đầu cân lời cho vừa tai người ta, phải dừng. Mỗi lần thấy mình làm một việc lành mà lòng đã kịp tính đến chuyện ai sẽ biết, phải dừng. Mỗi lần thấy mình nóng mặt khi bị quên, bị không mời, bị không khen, phải xét lại xem mình đang sợ ai. Men giả hình không bị đuổi bằng một quyết tâm dữ dội trong một ngày. Nó bị đuổi bằng sự trở về đều đặn trước mặt Đấng thấu suốt, bằng việc chịu thua cái tôi muốn được nể, bằng việc chấp nhận thiệt thòi nhỏ của hôm nay để khỏi mất tương quan của cả đời. Người nào chịu sống như thế sẽ không luôn được đời này trọng. Nhưng người ấy được điều mà mọi sự trọng vọng của đời này không mua được: được chính Thiên Chúa, được tình yêu không cần mặt nạ, được gia nghiệp không ai lấy mất, và được đứng thẳng, không sợ, vì mình không còn gì phải che.
Lm. Anmai, CSsR
ĐỪNG SỢ, VÌ SỰ SỐNG CỦA CHÚA KITÔ ĐÃ Ở TRONG TA
Đứng trước cái chết, không một ai trong phận người giữ được lòng hoàn toàn bình thản, bởi cái chết không chỉ là một biến cố sinh học đến rồi đi theo nhịp của thân xác, mà là ngưỡng cửa nơi mọi điều người ta từng bám víu đều bị đặt lại, mọi kế hoạch dài hơi bị cắt ngang giữa chừng, mọi khuôn mặt thân quen có thể không còn hiện diện bên gối, và chính thân xác mình từng được nâng niu, từng được chữa lành, từng được trang điểm cho những ngày vui cũng bắt đầu run rẩy trước sự tan rã. Sợ hãi ấy không phải là dấu hiệu của yếu đuối đáng khinh, cũng không phải là tội cần phải che giấu cho khỏi mang tiếng kém đức tin, mà là tiếng nói chân thật của tạo vật biết mình hữu hạn, biết mình không tự mình mà có sự sống, và biết rằng có một khoảng tối mà lý trí không soi thấu hết được dù người ta đã đọc nhiều, đã suy nhiều, đã chứng kiến nhiều đám tang. Người trẻ sợ vì thấy đời mình vừa mới bắt đầu. Người già sợ vì thấy những người đi trước đã lần lượt khuất bóng và mình đang đứng ở hàng kế tiếp. Người khỏe sợ khi bỗng nhiên một cơn đau lạ xuất hiện giữa đêm. Người bệnh sợ vì đã nhìn thấy cái chết đi qua giường bên cạnh. Người có của sợ mất những gì mình gom góp. Người không của sợ bỏ lại những người mình chưa kịp lo xong. Cha mẹ sợ cho con còn nhỏ. Con cái sợ phải đứng nhìn cha mẹ ra đi mà không biết nói lời nào cho đủ. Linh mục, tu sĩ, người sống đời thánh hiến cũng sợ, không phải vì thiếu lòng tin, mà vì vẫn là người, vẫn có thân xác, vẫn có những gắn bó, vẫn có những việc dang dở, vẫn có những giờ phút mà đêm tối dày hơn mọi lý lẽ đã giảng. Sợ hãi trước cái chết vì thế không phải là điều cần bị lên án, mà là điều cần được đưa vào trong một tương quan lớn hơn, kẻo nó trở thành chủ nhân của cả đời người.
Chúa Giêsu, khi bước vào Vườn Cây Dầu, đã không né tránh tâm trạng ấy. Ngài không xuất hiện như một vị anh hùng đứng trên nỗi sợ, cũng không đóng vai một bậc thầy vô cảm giảng cho môn đệ bài học về lòng can đảm trong khi chính mình không run. Ngài sợ thật. Ngài buồn thật. Ngài hấp hối thật. Mồ hôi Ngài hòa lẫn máu rơi xuống đất, và hình ảnh ấy đủ để người ta hiểu rằng thập giá không bắt đầu ở đồi Sọ, mà đã bắt đầu từ giờ phút Ngài chấp nhận ở lại trong ý muốn của Cha giữa lúc toàn thân muốn lùi bước. Ngài cầu xin cho chén đắng ấy qua đi nếu có thể, và trong lời cầu ấy không có một chút giả bộ. Đó là lời của Con Người đang mang lấy trọn thân phận loài người, đang cảm thấy sức nặng của sự dữ, của sự phản bội, của sự bỏ rơi, của cái chết đang tới gần không phải như một ý niệm mà như một thực tại sắp nghiền nát thân xác. Các môn đệ được đem theo cho có bạn, thế mà họ ngủ. Người thân nhất cũng không thức nổi một giờ. Sự cô đơn của Ngài vì thế không chỉ là cô đơn trước quân dữ sắp đến, mà còn là cô đơn giữa những kẻ được yêu thương nhất. Chính trong khung cảnh ấy, sức mạnh giúp Ngài đứng dậy không đến từ ý chí sắt đá của một cá nhân cô độc, cũng không đến từ sự khinh miệt đau khổ như thể đau khổ không đáng kể, mà đến từ sự kết hiệp bền chặt với Chúa Cha. Niềm tín thác vào sự hiện diện và tình yêu của Đấng đã sai mình đã giữ Ngài đứng vững khi bạn hữu ngủ say, khi một người trong nhóm dẫn đường cho kẻ bắt, khi đám đông hô hào đóng đinh, và khi bóng tối của sự bỏ rơi tưởng chừng bao phủ cả trời. Kết hiệp ấy không phải là một cảm giác dễ chịu luôn luôn có mặt. Chính trong giờ ấy Ngài còn thốt lên lời của người cảm thấy bị bỏ rơi, và lời ấy không làm giảm sự kết hiệp, trái lại cho thấy kết hiệp đích thực không dựa trên cảm giác, mà dựa trên tương quan đã được nuôi dưỡng suốt đời bằng việc lắng nghe, vâng phục và ở lại trong ý muốn của Cha. Ngài vẫn gọi Thiên Chúa là Cha ngay khi môi khô, vẫn trao hồn trong tay Cha ngay khi thân xác đã hết sức. Đó là chiến thắng không hủy bỏ nỗi sợ, nhưng không để nỗi sợ nói lời cuối cùng.
Bí quyết ấy cũng là bí quyết của những người đã đi theo Ngài đến cùng, nhất là các vị tử đạo, những người không được miễn trừ khỏi run sợ trong những giây phút đầu, nhưng đã không để nỗi sợ trở thành chủ của quyết định cuối cùng. Vị tử đạo tiên khởi Stêphanô, khi bị lôi ra khỏi thành, khi những khuôn mặt vừa nghe ngài giảng đã trở nên giận dữ, khi đá bắt đầu ném tới và thân xác bắt đầu gãy đổ, không được nhớ đến như một người mất trí vì kinh hoàng, cũng không được nhớ đến như một người chai lì đến độ không còn cảm thấy đau. Ngài đầy Thánh Thần. Ngài đăm đăm nhìn lên trời. Ngài thấy vinh quang Thiên Chúa và thấy Chúa Giêsu đứng bên hữu Thiên Chúa. Ánh mắt hướng lên ấy không xóa bỏ nỗi đau của thịt da, không làm viên đá trở nên nhẹ, không biến cuộc hành hình thành một cảnh tượng dễ chịu. Ánh mắt ấy mở ra một chiều kích khác cho cùng một giây phút ấy, khiến cái chết không còn là bức tường cuối cùng mà là ngưỡng cửa nhìn thấy Đấng mình đã rao giảng. Stêphanô còn cầu cho những người đang ném đá mình, và lời cầu ấy không phải là một câu văn chương được soạn trước, mà là hoa trái của một lòng đã không còn bị nỗi sợ chiếm đóng hoàn toàn. Khi người ta còn nhìn xuống đá, người ta chỉ thấy kẻ thù. Khi người ta nhìn lên Đấng đang đứng bên hữu Thiên Chúa, người ta vẫn thấy đá, vẫn thấy máu, nhưng thấy cả một tình yêu lớn hơn đá và máu. Justinô, khi đứng trước quan tòa và trước án tử, giữ được sự bình thản không phải vì coi thường mạng sống, không phải vì đã chán đời, mà vì đã xác tín vào Thiên Chúa hằng sống và chân thật, Đấng không phải là sản phẩm của trí tưởng tượng hay của thói quen tôn giáo, mà là Đấng đang hiện diện và đang cầm giữ vận mạng của người tin. Sự bình thản ấy là bình thản của người biết mình thuộc về ai, chứ không phải bình thản của người không còn gì để mất. Nhìn vào cung cách của các ngài và của bao vị tử đạo khác trong lịch sử Giáo Hội, từ những thế kỷ đầu đến những cuộc bách hại gần hơn, người ta nhận ra rằng Lời không chỉ là câu chữ được đọc trong giờ phụng vụ rồi khép sách lại, mà là sức mạnh thực sự đi vào đời sống, biến một con người bình thường, có gia đình, có sợ hãi, có nước mắt, thành người có thể đứng thẳng khi mọi thứ xung quanh muốn kéo ngã. Các ngài không mạnh vì bản tính anh hùng. Các ngài mạnh vì đã để sự sống của một Đấng khác sống trong mình.
Sứ điệp chạy xuyên suốt Tin Mừng có thể gom lại trong hai chữ được lặp đi lặp lại từ đầu đến cuối: đừng sợ. Lời ấy không phải là lời an ủi suông dành cho người đang hoảng loạn, cũng không phải là mệnh lệnh vô cảm bắt người ta phải giả vờ mạnh mẽ cho khỏi mang tiếng kém tin. Khi thiên sứ đến với Đức Maria trong biến cố Truyền Tin, lời có sức mở cửa cho toàn bộ lịch sử cứu độ là lời đừng sợ, bởi điều sắp xảy ra vượt quá mọi dự tính của một thiếu nữ làng nhỏ, vượt quá mọi khả năng giải thích của lý trí, và nếu không có lời ấy thì sự vâng phục có thể bị nỗi sợ nuốt chửng trước khi kịp thành lời xin vâng. Maria không hết run. Maria vẫn thắc mắc điều ấy xảy ra cách nào. Nhưng nỗi sợ không còn giữ được quyền quyết định, vì lời đừng sợ đã đặt nàng vào trong tương quan với Đấng mà không có gì là không thể. Khi Chúa Giêsu sinh ra, các thiên sứ không mở đầu bằng một bài giảng dài cho các mục đồng đang khiếp đảm giữa đêm đồng, mà bằng lời trấn an: đừng sợ, vì này đây có một tin mừng trọng đại dành cho toàn dân. Tin mừng không được loan trong một hội trường an toàn, mà được loan giữa đồng vắng, giữa những người đang run, và chính vì thế tin mừng ấy mới chạm được tới những ai sau này cũng sẽ run. Suốt hành trình rao giảng, Chúa Giêsu nhiều lần nói với các môn đệ đừng sợ khi biển động và thuyền như sắp chìm, đừng sợ khi bị người đời ghét vì danh Thầy, đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn, đừng sợ vì các con quý hơn muôn vàn chim sẻ, đừng sợ vì Cha trên trời biết các con cần gì. Cao điểm là lời tuyên bố rằng các con đừng sợ, vì Thầy đã thắng thế gian. Lời ấy không có nghĩa là thế gian hết còn gây đau đớn, hết còn bắt bớ, hết còn giết chết, hết còn vu khống, hết còn làm tan nát những gì người ta yêu. Lời ấy có nghĩa là thế gian không còn giữ được lời cuối cùng. Chiến thắng của Thầy không hủy diệt thập giá, không làm như thể thập giá chưa từng có, nhưng đi xuyên qua thập giá, và vì thế mọi nỗi sợ của môn đệ đều có thể được đặt vào trong chiến thắng ấy chứ không phải bị chối bỏ bằng ý chí hay bị khinh miệt bằng một thứ đạo đức cứng nhắc.
Khi một vị mục tử mới được đặt lên ngai Phêrô bước ra quảng trường, đối diện với một biển người và với một thế giới vừa trải qua những thập niên đầy sợ hãi, và cất tiếng đừng sợ, hãy mở rộng cửa cho Chúa Kitô, ngài không chỉ nói với một đám đông trong một buổi lễ, mà nói với cả một thời đại đang khép cửa vì sợ mất tự do, sợ mất bản sắc, sợ bị tôn giáo ràng buộc, sợ phải thay đổi lối sống, sợ phải nhìn lại những gì mình đã xây trên cát. Mở rộng cửa không phải là một cử chỉ xã giao, không phải là một khẩu hiệu treo ở cửa nhà thờ cho đẹp, mà là để Đấng đã thắng sự chết đi vào những căn phòng kín nhất của lòng người, những nơi người ta giấu nỗi sợ bệnh tật, nỗi sợ mất người thân, nỗi sợ bị loại trừ, nỗi sợ tương lai con cái, nỗi sợ tuổi già cô đơn, nỗi sợ chính mình không đủ sức trung tín đến cùng. Có những cánh cửa đóng không phải vì thù ghét, mà vì đã từng bị tổn thương. Có những cánh cửa đóng vì xấu hổ. Có những cánh cửa đóng vì tưởng rằng nếu mở ra thì mình sẽ mất kiểm soát. Lời mời mở cửa chính là lời mời tin rằng Đấng xin vào không đến để cướp sự sống, mà đến để sự sống được dồi dào. Khi cửa ấy mở, Chúa Kitô không bước vào như một vị khách được tiếp đãi rồi ra về theo lịch, mà như nguồn sự sống khiến người ta không còn chỉ sống bằng sức riêng của mình. Sống bằng sự sống của Ngài có nghĩa là những quyết định hàng ngày, những lời nói trong gia đình khi nóng giận, những chọn lựa khi bị hiểu lầm mà không có ai bênh, những giờ phút đối diện với bệnh viện hay với nghĩa trang, những lúc công việc đổ vỡ và danh dự bị thương, đều dần dần được uốn theo nhịp của Đấng đã yêu đến cùng. Chỉ khi ấy nỗi sợ không biến mất theo kiểu phép màu khiến người ta hết còn biết rung động, nhưng mất quyền làm chủ. Người ta vẫn có thể run, vẫn có thể khóc, vẫn có thể xin cho chén đắng qua đi, vẫn có thể cần một bàn tay nắm lấy trong đêm, nhưng cuối cùng vẫn có thể thưa xin vâng, vì biết mình không đứng một mình trong vườn cây dầu của đời mình.
Sống bằng sự sống ấy còn có nghĩa là người tin không chờ đến giờ hấp hối mới tập kết hiệp. Kết hiệp với Cha, điều đã giữ Chúa Giêsu đứng vững, là một tương quan được nuôi mỗi ngày bằng việc ở lại trong Lời, bằng việc đem những nỗi sợ nhỏ của buổi sáng đặt trước mặt Ngài trước khi chúng kịp lớn thành nỗi sợ nuốt cả buổi chiều. Người ta không thể đột nhiên can đảm trong giờ tử đạo nếu cả đời chưa bao giờ tập trao những sợ hãi nhỏ. Sợ mất việc, sợ con thi rớt, sợ người thân giận, sợ bị nói xấu trong xóm, sợ bệnh tái phát, sợ mình già đi mà chưa kịp làm điều phải làm, tất cả những sợ ấy đều là trường học. Nếu mỗi lần sợ người ta chỉ tìm cách trốn, chỉ tìm cách kiểm soát, chỉ tìm cách đổ lỗi, thì đến giờ lớn nỗi sợ sẽ làm chủ. Nếu mỗi lần sợ người ta biết quay vào trong, thưa với Cha như Con đã thưa, ở lại thêm một chút dù cảm giác chẳng ngọt ngào, thì dần dần trong lòng mọc lên một chỗ đứng không do hoàn cảnh ban. Chỗ đứng ấy không làm người ta hết là người. Chỗ đứng ấy làm người ta thành người đã được đặt vào trong một tình yêu lớn hơn hoàn cảnh. Gia đình nào biết cùng nhau thinh lặng một lát trước những quyết định nặng, giáo xứ nào biết cầu nguyện không chỉ khi có lễ lớn mà cả khi có tang chế và bất hòa, người trẻ nào dám ở lại với một câu Lời thay vì chạy ngay vào tiếng ồn để khỏi phải đối diện với lòng mình, những người ấy đang tập cái nhìn của Stêphanô từ rất sớm, tập nhìn lên trước khi đá ném tới, để khi đá có tới thì mắt đã biết đường.
Cuộc đời trở thành lời ca tụng không phải khi người ta tìm được những câu hay để nói về Chúa trước mặt thiên hạ, không phải khi người ta có giọng tốt trên cung thánh hay có bài viết được nhiều người đọc, mà khi chính cách hiện diện của người ấy làm cho người khác thoáng thấy rằng có một Đấng đang sống trong họ. Một bệnh nhân vẫn giữ được lòng nhân hậu với người chăm sóc dù đêm dài và thuốc đắng, một người bị vu khống vẫn không trả đũa bằng lời độc địa dù có đủ chứng cứ để hạ nhục kẻ khác, một mục tử vẫn ở lại với đoàn chiên khi hoàn cảnh khó khăn và lời khen đã hết, một người trẻ vẫn dám chọn sự thật giữa bạn bè đang cười nhạo, một người già vẫn biết tạ ơn trong căn phòng vắng, một người mẹ vẫn thì thầm tên Chúa bên giường con bệnh, tất cả những điều ấy đều là hình thức công bố Lời mà không cần sân khấu. Sức sống của Chúa Kitô tràn ngập tâm hồn không phải để biến con người thành kẻ vô cảm trước đau khổ của thế giới, không phải để người ta mỉm cười giả tạo trên mọi đống tro, mà để biến đau khổ ấy thành nơi tình yêu được chứng thực. Ai đã từng hiểu rằng chính Chúa cũng đã toát mồ hôi máu trong vườn và vẫn trao mình cho Cha, thì cũng có thể nhận ra rằng mình được ban khả năng nhìn lên trời giữa lúc đá đang ném tới, khả năng mở cửa khi mọi lý do đều khuyên nên đóng chặt, và khả năng để cả cuộc đời, dù ngắn hay dài, dù êm đềm hay bão tố, dù được người ta biết đến hay chỉ được một vài người thân nhớ, trở thành một lời ngợi khen không chỉ bằng miệng mà bằng chính sự sống đã được trao lại. Ngợi khen ấy không chờ đến khi hết sợ mới bắt đầu. Ngợi khen ấy bắt đầu ngay giữa nỗi sợ, khi người ta vẫn run mà vẫn tin, vẫn khóc mà vẫn trao, vẫn chưa thấy sáng mà vẫn không bỏ cuộc nhìn lên. Và khi sự sống ấy đã ở trong ta, thì cái chết, dù vẫn đáng sợ đối với thân xác, không còn là chủ của linh hồn nữa.
Lm. Anmai, CSsR
MEN PHARISIÊU: KHI LÒNG CHƯA CHỊU KHỚP VỚI MẶT
Men Pharisiêu không nằm yên trong một câu chuyện cũ. Men ấy đi theo từng bước chân của người đã nghe Lời, đã đứng trong đám đông, đã tự nhận mình thuộc về Chúa, rồi vẫn có thể sống một đời hai lớp mà không thấy mình đang nuôi một thứ bột lạ giữa nhà. Ngày ấy dân chúng quy tụ quanh Chúa đông đến mức dẫm chân lên nhau. Họ không đến để xem một cuộc diễn. Họ đến vì đói. Đói một lời không bị mua, đói một khuôn mặt không đánh bóng, đói một sự hiện diện không đòi họ phải diễn cho xong buổi. Giữa cái đông đặc ấy, giữa hơi người, bụi đường, tiếng xô đẩy, Chúa không bắt đầu bằng một bài diễn thuyết cho cả đám. Ngài quay trước hết về phía những người đã bước theo. Chi tiết ấy quyết định tất cả. Lời được nói cho mọi người nghe, nhưng gánh nặng của lời ấy đặt trên vai môn đệ. Đám đông có thể đến rồi đi. Môn đệ thì không được phép nghe như người đứng ngoài. Giữ mình khỏi men Pharisiêu, tức là khỏi sự sống giả hình, là lệnh truyền đầu tiên của một nếp sống mới, nếp sống không còn chỗ cho bộ mặt và lòng đi hai ngả.
Men là thứ ít. Người ta không cần đổ cả thúng men vào bột thì bột mới dậy. Một nhúm thôi, trộn đều, để yên, rồi cả khối phình lên, đổi mùi, đổi hình. Giả hình cũng vậy. Nó không cần một tội lớn được công bố giữa thanh thiên bạch nhật. Nó chỉ cần một thói quen nhỏ được nuôi mỗi ngày: nói một đàng, sống một nẻo; dạy người ta điều mình không giữ; dùng lời thánh để che một tính toán rất phàm; giữ vẻ sạch khi có mắt nhìn và để lòng mình ra tùy tiện khi cửa đã khép. Men Pharisiêu ngày xưa bám vào những người giữ luật nghiêm, ăn chay đều, dâng cả phần mười của rau thơm. Cái làm nặng không phải là việc giữ luật. Cái làm nặng là luật bị biến thành áo choàng, và áo choàng được may khéo đến mức người mặc quên rằng mình còn có một thân thể thật ở bên trong. Môn đệ dễ tưởng mình đã thoát men ấy chỉ vì mình không còn đứng trong nhóm bị khiển trách. Đó là chỗ men khôn nhất. Nó không cần danh xưng cũ. Nó chỉ cần một lòng chưa chịu để sự thật đi xuyên qua.
Sự sống giả hình bắt đầu từ chỗ người ta tách điều người khác thấy khỏi điều chỉ một mình mình biết. Bên ngoài vẫn đúng giờ. Bên ngoài vẫn có câu kinh. Bên ngoài vẫn biết nói về lòng thương xót, về công bằng, về khiêm nhường, về hiệp nhất. Bên trong thì chọn người, chọn việc, chọn lời khen, chọn sự an toàn. Người ta có thể rất bận vì việc Chúa mà lòng đang tìm mình. Người ta có thể lên án thói phô trương của kẻ khác mà chính mình đang phô trương bằng cách khác, kín hơn, đạo đức hơn, khó bắt hơn. Có thứ giả hình của kẻ nói nhiều. Có thứ giả hình của kẻ im lặng cho ra vẻ sâu. Có thứ giả hình của người nóng việc, và có thứ giả hình của người trốn việc rồi gọi sự trốn ấy là khôn ngoan. Men không kén áo. Men chỉ cần bột. Bột ở đây là đời môn đệ, là giờ cầu nguyện, là lời giảng, là cách nhìn người nghèo, là cách nói về anh em khi anh em vắng mặt, là cách giữ túi tiền, là cách nhận lỗi, là cách được khen.
Chúa không bảo môn đệ trở thành người thô. Thành thật không phải là nói mọi sự mình nghĩ, cũng không phải là biến lòng mình thành sân khấu. Thành thật là không cho phép một khoảng cách cố ý giữa mặt và lòng được nuôi lâu đến mức thành bản tính. Hành động hàng ngày phải dần khớp với tâm hồn. Việc làm khi có người chứng phải chịu được việc làm khi không còn ai chứng. Lời dạy con cái, dạy giáo dân, dạy học trò phải chịu được chính đời mình đang sống trong nhà, trong phòng, trong những giờ không ai ghi lại. Không gì ẩn khuất mà cứ mãi ẩn khuất. Ánh sáng của Tin Mừng có cách riêng để làm lộ. Có khi lộ bằng một cơn thử thách. Có khi lộ bằng một lời nói vô tình của người thân. Có khi lộ bằng chính sự mệt mỏi của người đã đeo mặt nạ quá lâu, vì mặt nạ cũng có sức nặng, và người đeo lâu sẽ không còn biết mặt thật của mình nằm ở đâu. Giả hình vì thế không chỉ hại người nghe. Nó hại trước hết người đang diễn, vì người đang diễn dần mất khả năng đứng trần trước Chúa.
Nếp sống thành thật còn phải thành chứng tá. Điều môn đệ nghe trong chỗ kín không được giữ làm của riêng như một kho tàng chôn dưới đất. Điều tốt tự nó có sức lan. Nén bạc được trao không phải để ngắm. Đèn được thắp không phải để úp. Người đã nhận Lời mà sống như thể Lời ấy chỉ dành cho giờ kinh riêng là đang để men làm việc. Rao trên mái nhà không có nghĩa là lúc nào cũng phải lớn tiếng, cũng không có nghĩa là biến mình thành người canh cửa của thiên hạ. Rao trên mái nhà là không chối điều mình đã nhận khi người ta hỏi, là không nuốt sự thật đúng vào lúc sự thật đang bị bóp, là không đổi Tin Mừng lấy một sự yên ổn có hạn. Có những mái nhà là giảng đài. Có những mái nhà là bàn ăn. Có những mái nhà là chỗ làm, là lớp học, là giường bệnh, là một câu trả lời giữa anh em khi mọi người đang muốn cho qua chuyện. Chứng tá công khai không cần sân khấu. Nó cần một đời không chịu tách làm hai.
Con đường ấy không êm. Chính Thầy đã bị gài, bị xuyên tạc, bị nộp, bị đóng đinh. Môn đệ đi sau không có lý do để đòi một lối đi được trải hoa. Hăm dọa không thiếu. Bách hại không thiếu. Có thứ bách hại ồn ào, lấy mạng, lấy nhà, lấy tiếng. Có thứ bách hại thì thầm hơn, rất hợp với thời của những người muốn yên: cô lập, bật cười, gán cho một cái tên, rút lại sự tin cậy, để người nói thật đứng một mình giữa phòng. Trước những thứ ấy, im lặng là phản ứng rất người. Im cho qua. Im cho còn chỗ. Im để không bị hiểu lầm. Im vì thấy người khác cũng im. Chúa không trách cái run. Ngài không muốn cái run trở thành chủ. Đừng sợ những kẻ chỉ làm hại được thân xác. Họ có thể lấy danh, lấy chức, lấy sự an toàn bên ngoài, có khi lấy cả mạng. Họ không lấy được linh hồn nếu linh hồn không tự nộp mình cho nỗi sợ. Sự kính sợ Chúa dạy không phải là sợ hình phạt theo kiểu nô lệ. Đó là lòng kính sợ của con đối với Cha, lòng kính sợ nảy sinh từ yêu, từ ý thức rằng mình đang đứng trước Đấng không mua được bằng bộ mặt, Đấng thấu suốt mà vẫn thương, Đấng đếm cả tóc trên đầu, Đấng không quên một con chim sẻ rẻ tiền ngoài chợ.
Chim sẻ được nhắc không phải để làm một hình ảnh đẹp. Chim sẻ được nhắc để môn đệ khỏi tính sai giá của mình. Nếu con chim người ta bán hai con một đồng còn không rơi ngoài mắt Cha, thì một lời thành thật, một lần không chịu giả hình, một việc âm thầm không ai khen, không phải là đồ bỏ. Tóc được đếm không phải để Chúa bận thống kê. Tóc được đếm để môn đệ biết mình không sống trong một vũ trụ lạnh, nơi sự thật chỉ là gánh nặng và giả hình mới là khôn. Lo sợ trước thử thách là phản ứng tự nhiên. Vượt nỗi sợ ấy không phải bằng khí khái suông, mà bằng một tình yêu mạnh hơn nỗi sợ, tình yêu biết Cha đang ở, không phải chỉ khi thuận, mà cả những ngày bị hiểu lầm, những ngày phải chọn sự thật thay vì chọn sự vừa lòng. Lời ở cùng cho đến tận thế không phải câu an ủi để dán lên tường. Đó là nền của mọi chứng tá. Không có nền ấy, môn đệ sẽ tính toán từng câu. Có nền ấy, môn đệ vẫn run, nhưng không để cái run quyết định miệng mình.
Nhận Chúa trước mặt người đời và được nhận trước mặt thiên thần không phải là một phép tính trao đổi. Đó là một sự tương xứng của lòng. Chối cũng vậy. Chối không chỉ xảy ra khi người ta bị kéo ra giữa phiên tòa và bị hỏi có phải là người của Chúa không. Chối xảy ra mỗi khi đời sống nói không trong khi miệng vẫn nói có. Chối xảy ra khi danh Chúa được dùng để che một việc riêng, khi lòng thương xót được giảng mà lòng mình không tha, khi sự thật được ca ngợi mà chỉ sự thật nào có lợi mới được giữ, khi anh em bị bỏ mặc đúng vào lúc cần một lời bênh. Men Pharisiêu rất giỏi mượn những điều thánh để nuôi mình. Nó mượn kinh nguyện. Nó mượn chức vụ. Nó mượn kiến thức. Nó mượn cả lòng nhiệt thành. Người ta có thể thuộc nhiều câu mà lòng không thuộc về Đấng đã nói những câu ấy. Người ta có thể tổ chức nhiều việc mà trung tâm của việc vẫn là mình. Bởi vậy lệnh giữ mình được nói trước hết với môn đệ. Không phải đám đông nguy hơn. Chính người đã gần Lời lại dễ biến Lời thành men nếu lòng chưa chịu bị Lời sửa.
Trong nhà, men giả hình thường không đội tên đạo đức. Nó đội tên hòa khí. Người ta không nói thật với nhau để khỏi mất lòng, rồi gọi sự không nói thật ấy là yêu thương. Vợ chồng diễn trước con. Cha mẹ dạy con điều mình không sống. Anh em trong một nhà biết rõ nhau mà vẫn giữ một lớp lịch sự lạnh, không ai dám gọi sự thật bằng tên của nó. Con cái học rất nhanh. Chúng không học trước hết bằng bài giảng. Chúng học bằng khoảng cách giữa lời và việc. Nếu khoảng cách ấy lớn, đức tin trong nhà sẽ thành một thứ trang phục mặc vào ngày lễ. Men ấy không cần ai chủ trương. Nó chỉ cần được để yên. Một lời xin lỗi thật, một lần nhận mình sai trước mặt người thân, một lần không đổ lỗi, đã đủ làm men đói. Nhà không cần hoàn hảo. Nhà cần khớp. Khớp không có nghĩa là không còn yếu đuối. Khớp có nghĩa là yếu đuối không được phép đóng vai thánh.
Trong cộng đoàn, men còn khéo hơn. Người ta có thể dùng ngôn ngữ hiệp thông để tránh đối thoại. Người ta có thể dùng sự vâng phục để khỏi phải suy. Người ta có thể dùng lòng nhiệt thành để che một nhu cầu được nhìn nhận. Có người nói rất hay về khiêm nhường mà không chịu bị góp ý. Có người nói rất hay về khó nghèo mà lòng vẫn dính vào quyền xếp chỗ, quyền được hỏi, quyền được khen. Có người coi việc sửa anh em là bác ái, còn việc để anh em sửa mình là xúc phạm. Men Pharisiêu thích những cộng đoàn bận rộn, vì trong sự bận rộn người ta ít có giờ nhìn lòng. Nó cũng thích những cộng đoàn im ắng giả, vì im ắng giả cho phép mỗi người giữ mặt nạ của mình. Chứng tá của một cộng đoàn không nằm ở chỗ mọi người cùng một giọng. Chứng tá nằm ở chỗ sự thật có đường để đi qua mà không bị gọi là phá rối, và lòng thương xót có đường để đi qua mà không bị gọi là yếu. Nơi nào chỉ còn một trong hai, men đã bắt đầu dậy.
Nơi người giảng, người dạy, người cầm việc mục vụ, men càng phải bị gọi tên sớm. Không phải vì những người ấy xấu hơn. Vì lời của họ có sức làm bột của nhiều người dậy theo. Một câu giảng không khớp với đời sẽ không vô hại. Nó dạy người nghe rằng đạo có thể đẹp ở miệng và tùy tiện ở tay. Một đời giảng khớp, dù vụng về, dù không hay chữ, vẫn có sức làm người nghe tin rằng Tin Mừng có xác thịt. Rao trên mái nhà ở đây là chính đời mình chịu được ánh sáng. Người nghe không đòi người giảng vô tội. Người nghe đòi người giảng không diễn. Khi vấp thì nhận. Khi được sửa thì không viện lẽ. Khi được khen thì không lấy lời khen làm bánh. Đó là cách men bị đói. Người giảng mà nuôi men sẽ dần giảng cho mặt nạ của mình, và đám đông có thể vẫn vỗ tay, vì đám đông đôi khi cũng thích một bộ mặt đẹp hơn một sự thật khó.
Còn một thứ men rất khó thấy, men của sự tự mãn thiêng liêng. Người ta không phô trương trước phố. Người ta phô trương trước lòng mình. Người ta so mình với người khác và thấy mình sạch hơn, sốt hơn, đúng hơn, rồi lấy sự so sánh ấy làm an ủi. Men này không cần khán giả. Nó tự làm khán giả cho mình. Chúa đã kể về người đứng trong đền thờ kê công trạng của mình và khinh người thu thuế đứng xa. Câu chuyện ấy không cũ. Nó lập lại mỗi khi môn đệ dùng tội của anh em để khỏi nhìn tội mình, dùng sự yếu của thời đại để khỏi nhìn sự yếu của lòng, dùng một vài việc lành để mua một quyền không phải hoán cải. Giữ mình khỏi men ấy là để Chúa lục soát mình trước khi mình lục soát ai. Là tập đứng trần. Là tập nói với Cha điều mình không dám nói với người. Là tập vui khi anh em được thương hơn là vui khi mình được khen.
Sự lộ ra của những điều kín không phải là một lời dọa để môn đệ sống trong sợ. Đó là một lời giải thoát. Người phải đeo mặt nạ mãi sẽ mệt. Người biết rằng không gì giấu mãi được sẽ dần thôi giấu. Ánh sáng đến không phải để bêu. Ánh sáng đến để người ta hết phải sống hai đời. Điều thì thầm trong phòng sẽ được nghe trên mái nhà, vì Tin Mừng không chịu ở trong phòng. Một giáo xứ sống thật sẽ không cần quá nhiều lời trang trí. Một gia đình sống thật sẽ không cần đóng kịch trước khách. Một người sống đời dâng hiến sống thật sẽ không cần tiếng tốt bằng mọi giá. Người ta sẽ thấy sự khớp, dù sự khớp ấy vẫn còn vết. Và chính vết, nếu được nhận, lại thành chứng tá mạnh hơn một lớp sơn. Đời này không có môn đệ nào hết men chỉ bằng một quyết tâm. Men bị đói bằng những lựa chọn nhỏ lập đi lập lại: không nói thêm một câu cho đẹp lòng khi câu ấy không thật; không im một sự thật khi im là phản bội người yếu; không dùng việc đạo để trốn việc người; không lấy danh Chúa làm khiên cho tính mình.
Can đảm ở đây không phải là can đảm của người thích đối đầu. Can đảm là hoa quả của lòng tin rằng Cha đang ở, rằng chim sẻ không bị quên, rằng tóc vẫn được đếm, rằng kẻ chỉ giết được thân xác không phải là chủ của đời mình. Người môn đệ vẫn run. Run là người. Hết run bằng cách quên mình thì không còn là môn đệ, chỉ còn là kẻ cứng. Chúa không tuyển những tượng đá. Ngài tuyển những người biết sợ mà vẫn không nộp miệng mình cho nỗi sợ, biết yếu mà vẫn không nuôi men, biết mình có thể giả mà vẫn để ánh sáng đi vào trước khi người đời kịp thấy. Thánh Thần được hứa không phải để môn đệ khỏi phải sống thật. Thánh Thần được hứa để khi đến giờ phải mở miệng, môn đệ không chỉ còn lại sự khôn của mình. Lời sẽ được đưa. Đời thì phải đã chịu khớp từ trước, kẻo đến giờ miệng nói một đường mà cả đời đã nói một nẻo.
Men Pharisiêu sợ nhất một đời thành thật, vì đời thành thật không cần nhiều lời biện hộ. Đời ấy đứng. Đời ấy chịu được sáng. Đời ấy không lấy bộ mặt làm nơi trú. Giữa đám đông dẫm chân lên nhau, Chúa vẫn nhìn các môn đệ trước. Đám đông cần Lời. Môn đệ cần một đời chịu được Lời. Nếu môn đệ cũng giả, đám đông sẽ nghe một Tin Mừng không có xác, đẹp khi được đọc và tan khi được sống. Giữ mình khỏi men ấy là cả một đời. Cả đời ấy, nếu thành thật, sẽ thành mái nhà. Trên mái nhà ấy, không phải tiếng của mình được người ta nhớ. Người ta nhớ rằng có một Lời đã được sống, không bị úp, không bị bán, không bị trộn men. Và Cha, Đấng đếm tóc, Đấng không quên chim sẻ, Đấng ở lại cho đến tận thế, sẽ nhận chính đời ấy trước mặt thiên thần của Người, không phải vì đời ấy sạch từ đầu, mà vì đời ấy đã không chịu nuôi men cho đến cùng.
Lm. Anmai, CSsR
SỐNG DƯỚI ÁNH MẮT ĐẤNG CÓ QUYỀN TRÊN SỰ SỐNG
Có những lời không được thốt ra giữa đám đông ồn ào, vì đám đông chỉ nghe được điều họ muốn nghe, còn điều cần nghe thì họ để trôi mất giữa tiếng chân chen lấn và tiếng xô đẩy. Khi dân chúng vây kín lấy Người đến nỗi không còn chỗ thở, Người quay lại với những kẻ đã bỏ nhà bỏ nghề để đi theo, gọi họ bằng một danh xưng vượt quá địa vị môn đệ: bạn hữu. Bạn hữu không phải là kẻ được ban cho một vài lời khuyên khéo léo để sống yên ổn giữa đời, mà là kẻ được bày tỏ những gì vẫn còn giấu kín trong lòng Cha. Và điều được bày tỏ trước hết lại không phải là một lời an ủi êm ái, cũng không phải một lời hứa hẹn quyền thế, mà là một sự phân định rất thẳng về nỗi sợ. Đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác rồi sau đó chẳng làm gì được hơn. Hãy sợ Đấng đã giết rồi lại có quyền ném vào hỏa ngục. Lời ấy thoạt nghe như lạnh lẽo, thậm chí như khắc nghiệt, nhưng chính sự khắc nghiệt ấy mới mở ra một không gian tự do mà không quyền lực nào trên mặt đất ban được. Người ta thường tưởng rằng can đảm là không còn biết sợ. Thực ra can đảm của người bạn hữu lại bắt đầu từ chỗ biết sợ đúng đối tượng. Sợ sai thì cả đời run rẩy trước những bóng ma có thể tan khi mặt trời mọc. Sợ đúng thì người ta đứng vững ngay giữa lúc thân xác bị đe dọa, vì đã nhìn thấy một thẩm quyền cao hơn mọi thẩm quyền có thể rút hơi thở của mình.
Những người giả hình thời ấy chăm chỉ giữ hình thức bên ngoài đến mức có thể kể vanh vách từng điều luật nhỏ, nhưng nền móng của sự giữ đạo ấy không phải là tình yêu. Họ sợ mất mặt trước công chúng hơn là sợ mất lòng Thiên Chúa. Họ đo lường lời nói sao cho vừa đủ để được khen, sắp đặt cử chỉ sao cho vừa đủ để được trọng, và khi cần thì điều đình với sự thật để giữ lấy địa vị. Khuynh hướng ấy không chết theo một thời đại. Nó sống trong mọi con tim còn muốn được thế gian công nhận trước khi muốn được Cha nhận. Điều thầm kín nhất trong lòng không ở yên mãi. Nó sẽ tìm đường ra bằng một câu nói nửa vời, bằng một sự im lặng có tính toán, bằng một việc làm bề ngoài rất đẹp nhưng bên trong đã đổi chác với sự giả dối. Vì thế người bạn hữu không được phép để con tim mình thương lượng với chân lý. Dù kết quả có vẻ rực rỡ, dù cửa mở rộng, dù người ta vỗ tay, sự thương lượng ấy vẫn là một sự phản bội nhỏ lúc đầu và lớn dần về sau. Chân lý không cần được trang điểm để được yêu. Chân lý chỉ cần được sống. Một khi đã điều đình, người ta sẽ tìm đủ lý do để gọi sự nhân nhượng ấy là khôn ngoan, là mục vụ, là biết thời biết thế, trong khi thực chất là đã nhường bước cho nỗi sợ mất mình trước mắt người đời.
Làm chứng không phải là chọn một nơi sang trọng rồi mới mở miệng. Làm chứng là để sự thật đi theo mình vào mọi chỗ mình đang hiện diện. Trong phòng khách, nơi người ta nói chuyện xã giao và rất dễ nuốt lời cho êm chuyện. Nơi bàn giấy, nơi lợi ích và áp lực có thể bẻ cong một câu trả lời thành sự trung lập giả tạo. Trong gia đình, nơi sự im lặng đôi khi được ngụy trang bằng danh nghĩa hòa khí. Giữa anh em, nơi người ta ngại nói điều khó nghe vì sợ mất cảm tình. Trong tù ngục hay trong những hoàn cảnh bị thu hẹp tự do, nơi thân xác không còn quyền chọn lựa nhưng lòng vẫn có thể chọn. Trong những góc khuất không ai nhìn thấy, nơi chỉ có một mình đối diện với cám dỗ chiều theo số đông. Và cả những lúc phải nói công khai, giữa thanh thiên bạch nhật, không còn chỗ để rỉ tai. Chân lý không cần sân khấu. Chân lý cần một người không bán nó. Dù được nói nhỏ đến mức chỉ một người nghe, hay được nói lớn đến mức cả đám đông chống lại, chân lý vẫn có sức tự bộc lộ. Người ta có thể chôn nó dưới lớp đất của sự sợ hãi, có thể bịt miệng kẻ mang nó, có thể bôi nhọ danh tiếng kẻ nói nó, nhưng không ai chôn được mãi một sự thật đã được gieo vào lòng kẻ tin. Đêm nào rồi cũng hết. Điều giấu trong bóng tối sẽ bị kéo ra ánh sáng, không phải vì con người khéo léo, mà vì Thiên Chúa không để lời của Người chết theo xác của kẻ làm chứng.
Các ngôn sứ ngày trước đã biết con đường ấy. Họ không được sai đi để được yêu thích. Họ được sai đi để nói điều dân không muốn nghe, và nhiều người trong họ đã trả giá bằng mạng sống. Các bạn hữu của Thầy cũng được đặt trên cùng một lối. Liều mất mạng không phải là một khẩu hiệu cho những tâm hồn nóng. Liều mất mạng là kết quả của một lòng kính sợ đã được đặt đúng chỗ. Khi kính sợ Thiên Chúa chiếm hữu lòng người, nỗi sợ chết không biến mất theo kiểu anh hùng rơm, nhưng nó mất quyền cai trị. Người ta vẫn run khi thấy lưỡi gươm, vẫn đau khi bị đánh, vẫn cô độc khi bị bỏ rơi, nhưng không còn để những điều ấy quyết định miệng mình sẽ nói gì và chân mình sẽ đứng chỗ nào. Chính Chúa là Đấng ban sự sống đời đời. Kẻ giết thân xác chỉ chạm được phần sẽ trở về bụi đất. Đấng có quyền trên cả hồn lẫn xác mới là Đấng phải được kính sợ. Công an, lý hình, dư luận, sự loại trừ, sự mất chức, sự mất bạn, sự mất tiếng tốt, tất cả những quyền lực ấy có thể làm rất nhiều điều trên thân xác và trên danh tiếng, nhưng không một quyền lực nào trong số đó giữ được chìa khóa của sự sống đời đời. Đặt nỗi sợ vào chúng là trao vương miện cho những kẻ chỉ là đầy tớ của thời gian.
Nhưng sự kính sợ ấy không phải là nỗi khiếp đảm của kẻ nô lệ đứng trước một bạo chúa vô tình. Nếu chỉ dừng ở hình ảnh một Đấng giết rồi ném vào lửa, người ta sẽ hiểu sai cả khuôn mặt của Cha. Thiên Chúa là tình yêu, và tình yêu ấy không bỏ rơi những kẻ bé mọn. Chim sẻ bán ngoài chợ với giá rẻ mạt vẫn không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha. Tóc trên đầu được đếm, không phải để biến con người thành một con số, mà để nói rằng không một chi tiết nào của sự sống bị Cha coi là vô nghĩa. Càng nhận ra sự săn sóc ấy, người ta càng có lý do để tin. Và chính niềm tin ấy làm cho sự kính sợ trở nên trong sạch. Sợ Thiên Chúa không phải vì Người độc ác, mà vì Người là Đấng thật, là Đấng không thể bị mua chuộc, là Đấng yêu đến cùng nhưng không bao giờ đồng lõa với sự giả dối. Lửa hỏa ngục trong lời cảnh báo không phải là một công cụ dọa nạt để bắt người ta tuân phục bề ngoài. Đó là sự tỏ lộ hậu quả của một đời đã khước từ tình yêu và chọn sự giả hình làm chỗ trú. Ai sống trong tình yêu thì không còn đứng trong nỗi sợ hình phạt như kẻ tội đồ chờ án. Ai sống trong tình yêu thì kính sợ vì không muốn làm tổn thương Đấng đã yêu mình trước, và vì biết rằng đánh mất Người là đánh mất tất cả.
Chính vì trông cậy vững chắc vào lòng thương yêu ấy mà các bạn hữu phải làm chứng. Làm chứng không phát sinh từ sự liều lĩnh, cũng không phát sinh từ lòng khinh thường sự sống. Làm chứng phát sinh từ một xác tín: Cha biết, Cha thương, Cha giữ. Nếu Cha đã không quên một con chim sẻ, thì Cha không quên kẻ mang tên Người giữa một thế gian đang tìm cách bắt kẻ ấy im tiếng. Sự trông cậy ấy không miễn cho người ta khỏi đau khổ. Nó miễn cho người ta khỏi sự đầu hàng. Nhiều khi đầu hàng không diễn ra trong một giờ phút bi tráng. Nó diễn ra trong một câu nói xuôi theo đám đông, trong một lần gật đầu cho qua chuyện, trong một sự biện minh rằng thời buổi này không nên nói rõ, rằng giữ đạo trong lòng là đủ, rằng khôn ngoan là biết im. Những sự đầu hàng nhỏ ấy tích lũy thành một đời không còn là bạn hữu nữa, dù bên ngoài vẫn còn danh xưng. Bạn hữu là kẻ được biết điều Thầy biết, và vì đã biết nên không thể sống như kẻ chưa từng được nghe.
Lời ấy không dừng lại ở nhóm nhỏ đứng cạnh Người ngày xưa. Mọi người đã được dìm vào nước và được xức dầu, mọi người đã được gọi là con trong Hội Thánh, đều được đặt vào địa vị bạn hữu ấy. Phép rửa không phải là một nghi thức để ghi tên vào sổ, rồi sau đó sống theo lối của thế gian cho an thân. Phép rửa là một sự sinh ra mới, và sự sinh ra ấy kéo theo một cách đứng trước mặt Cha. Sống xứng đáng với ơn gọi làm con không hệ tại ở chỗ không bao giờ vấp ngã. Sống xứng đáng hệ tại ở chỗ không thỏa hiệp với thế gian vì sợ nó hay vì kính nó như thể nó có quyền quyết định vận mệnh cuối cùng của mình. Thế gian có sức mạnh thật. Nó có thể đóng cửa, có thể bôi nhọ, có thể làm cho người công chính trở thành kẻ bị chế giễu, có thể biến sự trung tín thành điều lỗi thời. Nhưng thế gian không có quyền ném ai vào hỏa ngục, cũng không có quyền ban sự sống đời đời. Kính trọng thế gian hơn Cha là một sự đảo lộn trật tự khủng khiếp, dù sự đảo lộn ấy thường được che bằng những lời rất khéo về sự hòa đồng và sự hội nhập.
Sống dưới ánh mắt của Thiên Chúa là sống mà không còn cần một khán giả để mình được là chính mình. Khi chỉ có mắt người đời nhìn, người ta sẽ diễn. Khi biết mắt Cha nhìn, người ta sẽ thật. Ánh mắt ấy không phải là ánh mắt rình rập để bắt lỗi. Đó là ánh mắt của Đấng đã đếm tóc trên đầu, của Đấng không muốn một kẻ bé mọn nào phải hư đi, của Đấng đã gọi môn đệ là bạn hữu và đã trao cho họ điều vẫn còn giấu. Sống dưới ánh mắt ấy, người ta không còn phân chia đời mình thành phần để trình diễn và phần để giấu. Lời nói ở nhà và lời nói ngoài đường dần dần ăn khớp. Việc làm khi có người khen và việc làm khi không ai biết dần dần cùng một hướng. Sự kính sợ chân thật thanh lọc lòng giả hình, không phải bằng cách làm cho người ta cứng nhắc, mà bằng cách làm cho người ta đơn sơ. Đơn sơ không phải là ngây ngô. Đơn sơ là không còn sống hai mặt.
Trong đời thường, nỗi sợ những kẻ giết thân xác thường không mang hình lưỡi gươm. Nó mang hình một cuộc họp có thể lấy mất việc làm nếu mình nói thật. Nó mang hình một nhóm bạn sẽ lạnh nhạt nếu mình không cười theo chuyện tầm phào xúc phạm đến điều thánh. Nó mang hình một dư luận có thể gán cho mình đủ thứ tên nếu mình không chịu uốn lưỡi. Nó mang hình sự cô độc trong chính gia đình khi mình không chịu nhượng bộ một sự dối trá được cả nhà coi là cần thiết để giữ thể diện. Những hình thức ấy không đổ máu, nhưng chúng giết được rất nhiều điều trong lòng người: giết sự thẳng thắn, giết niềm vui làm con, giết lòng can đảm bé nhỏ mà mỗi ngày cần có để không bán mình. Ai chỉ sợ những hình thức ấy sẽ dần dần trở thành một kẻ giữ đạo rất khéo, rất an toàn, và rất rỗng. Ai sợ Đấng có quyền trên sự sống đời đời sẽ vẫn có lúc run, nhưng sẽ không để cơn run ấy cầm bút ký vào bản án của chính linh hồn mình.
Sự săn sóc của Cha đối với kẻ bé mọn là nền cho mọi lời mời gọi can đảm. Không ai được sai đi làm chứng như một quân cờ bị bỏ rơi trên bàn cờ. Người bạn hữu được sai đi với một lời hứa không nằm ở chỗ thân xác sẽ được khỏi mọi thương tích, mà ở chỗ không một sợi tóc nào rơi ngoài ý Cha, và ở chỗ kẻ tuyên xưng Người trước mặt người đời sẽ được Người tuyên xưng trước mặt Cha. Tuyên xưng không chỉ là đọc một công thức. Tuyên xưng là để cả đời mình nói cùng một điều mà miệng đã nhận. Có những ngày tuyên xưng bằng một sự từ chối nhỏ: từ chối một đồng tiền bất chính, từ chối một câu nói độc, từ chối một sự im lặng đồng lõa. Có những ngày tuyên xưng bằng việc ở lại bên người bị bỏ rơi khi cả nhóm đã bỏ đi. Có những ngày tuyên xưng bằng việc nhận lỗi trước, dù nhận lỗi làm mất thể diện. Những việc ấy không lên báo. Chúng vẫn là lời tuyên xưng, vì chúng được nói trước mặt Cha, Đấng thấy trong kín đáo.
Giả hình bắt đầu khi người ta tách việc giữ đạo ra khỏi việc yêu. Người ta có thể dự lễ, đọc kinh, giữ vài thói quen tốt, mà trong lòng vẫn để nỗi sợ người đời điều khiển những quyết định quan trọng. Người ta có thể nói về lòng thương xót mà không thương kẻ đang cần mình liều một chút thanh danh. Người ta có thể nói về sự thật mà sẵn sàng bẻ cong sự thật khi sự thật đe dọa sự an toàn của mình. Đức Giêsu không kêu gọi các bạn hữu trở thành những kẻ khinh thường thân xác. Thân xác là quà tặng, là đền thờ, là phương tiện để yêu thương cụ thể. Người chỉ đặt thân xác vào đúng bậc của nó. Thân xác có thể bị giết. Linh hồn được mời gọi vào sự sống không chết. Ai đảo bậc ấy sẽ hy sinh điều vĩnh cửu để mua điều tạm thời, rồi gọi sự mua bán ấy là biết sống. Ai giữ đúng bậc sẽ yêu thân xác mình cách trong sạch, chăm sóc nó, nhưng không biến nó thành chúa. Và vì không biến thân xác thành chúa, người ta mới có thể hiến thân xác ấy cho một tình yêu lớn hơn khi giờ đã điểm.
Hỏa ngục trong lời cảnh báo không được phép bị biến thành một chi tiết để tranh luận cho vui, cũng không được phép bị xóa khỏi trí nhớ để đạo trở thành một lời ru. Quyền ném vào hỏa ngục nói lên sự tự do thật của con người: tự do đến mức có thể khước từ Thiên Chúa mãi mãi. Nếu không có khả năng mất, thì cũng không có khả năng chọn. Tình yêu không cưỡng bức. Chính vì không cưỡng bức mà có một mất mát khủng khiếp dành cho kẻ cố tình đóng cửa. Sợ mất mát ấy là sợ đúng, miễn là nỗi sợ ấy dẫn đến tình yêu chứ không dẫn đến sự co rút ích kỷ. Kẻ chỉ sợ hình phạt mà không yêu sẽ tìm cách tránh hình phạt bằng cách giữ luật bề ngoài, và đó lại là con đường của giả hình. Kẻ yêu sẽ sợ làm mất Đấng mình yêu, và nỗi sợ ấy sinh hoa trái là sự trung tín giữa những lúc không ai thưởng.
Các môn đệ ngày ấy sắp bước vào một thời mà làm bạn hữu của Thầy có nghĩa là có thể mất tất cả những gì thế gian coi là đáng giữ. Lời báo trước không nhằm làm họ hoảng sợ đến mức bỏ cuộc. Lời ấy nhằm khóa chặt cửa sau, để khi cơn bắt bớ đến, họ không còn chỗ để tự nhủ rằng có lẽ nên sợ kẻ cầm roi hơn sợ Đấng đã gọi mình là bạn. Một khi cửa sau đã khóa, con đường phía trước dù hẹp vẫn là con đường duy nhất của kẻ tự do. Tự do ở đây không phải là muốn làm gì thì làm. Tự do là không còn bị nỗi sợ người đời xỏ dây vào mũi. Người bạn hữu có thể bị trói tay, nhưng miệng và lòng không nhất thiết bị trói theo, nếu nỗi sợ đã được đặt nơi Đấng cầm quyền trên cả sự chết.
Trong mọi thời, Hội Thánh cần những người không bán lời chứng. Không phải chỉ những người được ghi vào sổ các thánh tử đạo, mà những người tử đạo âm thầm của sự trung thực mỗi ngày. Người cha người mẹ không để nỗi sợ con cái xa mình mà dung túng cho một lối sống phản lại Tin Mừng trong nhà. Người làm việc không để nỗi sợ mất chức mà ký vào điều mình biết là dối. Người trẻ không để nỗi sợ bị cười mà chối điều mình đã nhận khi chịu phép rửa. Người có trách nhiệm trong cộng đoàn không để nỗi sợ mất lòng mà để sự giả hình ngồi ghế danh dự. Những chọn lựa ấy ít khi có khán giả. Chúng vẫn là nơi chân lý được tuyên xưng hoặc bị điều đình. Và vì chân lý cuối cùng sẽ bị kéo ra ánh sáng, nên không một sự điều đình nào là vô hại. Điều giấu hôm nay sẽ trở thành thói quen ngày mai, và thói quen ngày mai sẽ trở thành một đời không còn nhớ mình từng được gọi là bạn hữu.
Lòng thương xót của Cha không mâu thuẫn với lời mời gọi hãy sợ. Thương xót là cánh tay chìa ra cho kẻ đã ngã vì sợ hãi. Kính sợ là ánh mắt giúp kẻ đang đứng không lao mình xuống hố để mua một chút an toàn giả. Ai đã vấp vì nhát đảm vẫn có thể trở lại, vì bạn hữu của Thầy không phải là kẻ không bao giờ run, mà là kẻ không ở lì trong sự chạy trốn. Phêrô đã sợ và đã chối, rồi đã khóc, rồi đã được trao chiên. Nước mắt ấy không xóa sự thật của đêm chối Chúa, nhưng nó mở cửa cho một tình yêu mạnh hơn nỗi sợ. Mỗi người cũng có những đêm như thế, những lúc miệng đã nói điều lòng không muốn nói, hoặc miệng đã im điều lòng biết phải nói. Con đường về không phải là tự biện minh rằng hoàn cảnh bắt buộc. Con đường về là nhìn lại Đấng có quyền trên sự sống, thú nhận sự nhát đảm, và xin được đặt nỗi sợ vào đúng chỗ một lần nữa.
Sống như con cái không phải là sống không cần ai, cũng không phải là sống khinh thường những trung gian hợp pháp của đời sống xã hội. Người con cái tôn trọng người khác, vâng phục những gì đúng, chu toàn bổn phận, yêu cả kẻ chống đối mình. Nhưng người con cái không trao cho bất kỳ ai quyền được đứng trên Cha. Khi hai tiếng gọi xung đột, tiếng của Cha phải được nghe. Điều ấy đôi khi làm mất một mối quan hệ, đôi khi làm chậm một kế hoạch, đôi khi khiến người ta bị mang tiếng cực đoan. Thà mang tiếng cực đoan vì đã không bán sự thật, còn hơn được khen là khéo léo vì đã học được nghệ thuật nói mà không nói gì. Nghệ thuật ấy nuôi sống giả hình. Giả hình có thể tồn tại rất lâu trong một cộng đoàn, vì nó biết giữ hình thức. Nó chỉ không tồn tại được trước mặt Đấng thấu suốt.
Bạn hữu được biết mầu nhiệm không phải để giữ làm của riêng. Mầu nhiệm của Nước Trời, một khi đã được trao, trở thành một ngọn lửa. Giấu ngọn lửa dưới đáy thùng là phản lại bản chất của lửa. Nói ra không có nghĩa là la lớn mọi lúc mọi nơi cho bằng được. Nói ra là không để hoàn cảnh nào biến mình thành kẻ đã quên điều mình biết. Trong hầm tối, ngọn lửa vẫn cháy nhỏ. Nơi bàn giấy, ngọn lửa vẫn đủ sáng để không ký tên vào sự dối trá. Trong phòng khách, ngọn lửa vẫn đủ ấm để một câu chuyện không bị kéo vào sự chế giễu điều thánh. Giữa chợ đời, ngọn lửa không cần đốt cả khu chợ mới được gọi là lửa. Nó chỉ cần không tắt. Và vì không tắt, nó sẽ bị thấy, dù người mang nó không cố tình phô trương.
Đấng đã giết rồi lại có quyền ném vào hỏa ngục cũng là Đấng đã dựng nên sự sống, đã cứu sự sống, và muốn sự sống ấy được đầy. Hai mặt ấy không được tách rời, kẻo người ta hoặc rơi vào sự khinh suất, hoặc rơi vào sự khiếp đảm mù quáng. Khinh suất thì sống như không có phán xét. Khiếp đảm thì sống như không có lòng thương xót. Bạn hữu đi giữa hai bờ ấy bằng một lòng kính sợ đầy tin tưởng. Họ biết mình có thể mất. Họ biết mình được yêu. Họ biết thân xác mong manh. Họ biết Cha không quên một sợi tóc. Từ đó họ bước. Bước không phải vì đã tính xong mọi rủi ro. Bước vì đã biết ai là người cầm vận mệnh cuối cùng của mình. Mọi quyền lực khác, dù hôm nay rất lớn, cũng chỉ là những kẻ giết được thân xác rồi không làm gì được hơn.
Ai đang sống dưới ánh mắt ấy sẽ thấy đời mình được đặt lại từng ngày. Buổi sáng không chỉ là lúc bắt đầu công việc, mà là lúc nhớ mình sắp đi vào một ngày có thể phải chọn giữa sự an toàn và sự thật. Buổi tối không chỉ là lúc nghỉ, mà là lúc đặt những lời đã nói và những lời đã nuốt trở lại trước mặt Cha, không phải để tự hành hạ, mà để đừng để sự giả hình qua đêm trong nhà. Giữa ngày, khi một nỗi sợ đột ngột nổi lên, người bạn hữu có thể dừng lại một nhịp thở và hỏi xem nỗi sợ ấy đang quỳ trước ai. Nếu nó đang quỳ trước kẻ chỉ cầm được thân xác, thì đã đến lúc đứng dậy. Nếu nó đang quỳ trước Đấng yêu mình đến cùng, thì nỗi sợ ấy có thể ở lại, vì nó sẽ giữ chân mình khỏi những con đường bán rẻ linh hồn.
Lời gọi hãy sợ Đấng ấy, được nói cho bạn hữu, cuối cùng lại là một lời giải thoát. Giải thoát khỏi sự chuyên chế của mọi ông chủ tạm thời. Giải thoát khỏi sự cần được mọi người gật đầu. Giải thoát khỏi nghệ thuật sống hai mặt. Người được giải thoát không trở nên cứng cỏi với anh em. Người được giải thoát trở nên khó mua chuộc. Và vì khó mua chuộc, người ấy mới có thể yêu cách trong sạch, phục vụ cách nhưng không, nói điều cần nói mà không tính toán phần thưởng, im khi sự im lặng là tôn trọng chứ không phải là đầu hàng. Đó là dung mạo của kẻ đã nghe Thầy nói cho bạn hữu được biết phải sợ ai, và đã quyết không sợ nhầm nữa.
Lm. Anmai, CSsR

















