Thứ 7 tuần 31 thường niên HƯỚNG TỚI SỰ TRUNG TÍN TRONG NHỮNG VIỆC NHỎ NHẤT ĐẾN NHỮNG TRỌNG TRÁCH LỚN LAO – Lm. Anmai, CSsR
Thứ 7 tuần 31 thường niên Cảm ơn những người tôi tớ toàn thời của Chúa – Lm. Anmai, CSsR
LỜI NGUYỆN THỨ BẢY TUẦN XXXI MÙA THƯỜNG NIÊN
Xin cho con biết nhường chỗ bằng lòng yêu thương
Lạy Chúa Giêsu, hôm nay, khi nghe Chúa nói về những người chọn chỗ nhất trong bữa tiệc, con nhận ra những ước muốn vẫn âm thầm lớn lên trong lòng mình. Con muốn được quan tâm, được nhìn nhận, được người khác đánh giá tốt. Có lúc con buồn vì không được nhắc tên, khó chịu vì ý kiến mình không được đón nhận, hoặc thấy lòng chùng xuống khi người khác được khen ngợi. Xin Chúa thương soi sáng con, để con nhận ra những điều đang lấy mất bình an và khiến con khó yêu thương anh chị em cách chân thành.
Lạy Chúa, con xin dâng lên Chúa cái tôi còn nhiều tự ái của mình. Có những cuộc chuyện trò con chỉ muốn chứng minh mình đúng; có những lời góp ý con chưa nghe hết đã vội tìm cách chống đỡ; có những lần con làm điều tốt nhưng lại mong người khác phải nhớ ơn. Xin tha thứ cho con. Xin giúp con đủ khiêm nhường để nhìn nhận thiếu sót, đủ can đảm để nói lời xin lỗi và đủ trưởng thành để sửa đổi. Xin cho con biết đón nhận sự thật về mình với lòng tin tưởng, vì Chúa vẫn yêu thương và kiên nhẫn dẫn con đi.
Xin dạy con biết chọn chỗ cuối với một trái tim thanh thản. Xin thanh luyện cả những ý nghĩ kín đáo khiến con làm ra vẻ khiêm nhường để mong được chú ý. Xin cho con tìm thấy niềm vui trong việc chu toàn bổn phận, trong một công việc âm thầm được làm đến nơi đến chốn, trong sự bình an của người được con giúp đỡ. Khi chẳng ai biết đến công sức của mình, xin cho con vẫn làm điều thiện với lòng yêu mến. Khi được tín nhiệm, xin giúp con nhận trách nhiệm cách tận tụy và luôn nhớ đến những người đã nâng đỡ mình.
Lạy Chúa Giêsu, xin đem sự khiêm nhường vào mái nhà của con. Xin giúp con lắng nghe người thân mà không vội ngắt lời, biết hỏi han thay vì chỉ trách móc, biết nhìn nhận những vất vả con đã quen xem là chuyện đương nhiên. Xin cho vợ chồng biết trân trọng nhau, cha mẹ biết lắng nghe con cái, con cái biết kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ. Khi có bất hòa, xin cho chúng con biết hạ giọng, bình tĩnh nhìn lại mình và tìm cách chữa lành. Xin giúp chúng con quý sự hiệp nhất hơn việc giành phần thắng trong một cuộc tranh luận.
Xin thương những người thường bị đẩy về chỗ cuối trong cuộc sống: người nghèo, người khuyết tật, người già yếu, người ít học và những người không có tiếng nói. Xin cho họ gặp được sự tôn trọng và những cơ hội cần thiết để sống xứng với phẩm giá của mình. Xin mở mắt con để nhận ra người đang đứng lặng lẽ bên ngoài một cuộc vui, người ngại bước vào cộng đoàn vì mặc cảm, người đã nhiều lần bị bỏ qua. Xin giúp con chủ động đến gần, dành cho họ thời gian và một sự đón tiếp chân thành.
Lạy Chúa, xin gìn giữ cộng đoàn chúng con khỏi những ganh đua làm tổn thương tình huynh đệ. Xin cho những người có trách nhiệm biết phục vụ với lòng khiêm tốn, biết tham khảo ý kiến và biết trao cơ hội cho người khác. Xin cho mỗi người nhận ra giá trị của những công việc âm thầm, biết cảm ơn người dọn dẹp, người chuẩn bị, người chăm sóc và người kiên trì cầu nguyện. Xin giúp chúng con vui trước điều tốt của nhau, cộng tác bằng lòng tin tưởng và góp phần xây dựng Hội Thánh bằng chính khả năng Chúa ban.
Khi con phải chịu sự xem thường, xin nâng đỡ lòng con. Xin cho con biết mình vẫn quý giá trước mặt Chúa, đủ bình tĩnh để bảo vệ phẩm giá và nói lên sự thật bằng thái độ hiền hòa. Xin chữa lành những vết thương khiến con luôn phải chứng tỏ mình, để con có thể sống tự do hơn trong tình yêu Chúa. Xin cho con biết đón nhận sự giúp đỡ khi yếu đuối và biết cảm ơn những người đang kiên nhẫn ở bên mình.
Lạy Chúa Giêsu, trước bàn tiệc Thánh Thể, con được đón nhận bằng lòng thương xót của Chúa. Xin cho mỗi lần rước Chúa làm lòng con mềm lại, lời con dịu hơn và đôi tay con sẵn sàng phục vụ hơn. Hôm nay, xin giúp con nhường một lời, dành một chỗ, lắng nghe một người và làm một việc tốt cách âm thầm. Xin dạy con sự hiền lành và khiêm nhường của Chúa, để những người sống bên con cảm thấy được kính trọng, được yêu thương và được bình an. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
Ca nhập lễ
Lạy Chúa, là Thiên Chúa chúng tôi, xin đừng bỏ rơi tôi, và xin đừng lìa xa tôi. Lạy Chúa là quền lực phần rỗi tôi, xin phù giúp tôi.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, chỉ nhờ Chúa ban ơn, các tín hữu Chúa mới có thể thờ Chúa cho phải đạo, xin giúp đỡ chúng con thẳng tiến về cõi trời Chúa hứa và không bị vấp ngã trên đường. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc :Pl 4, 10-19
“Tôi có thể làm được mọi sự trong Ðấng ban sức mạnh cho tôi”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philipphê.
Anh em thân mến, tôi rất vui mừng trong Chúa vì sự săn sóc của anh em đối với tôi đã sinh hoa kết quả: anh em đã nghĩ tới vấn đề đó từ lâu rồi nhưng anh em không có dịp tỏ bày ra. Tôi nói thế không phải vì sự túng thiếu của tôi, vì chưng tôi đã học tập để tự túc trong mọi hoàn cảnh. Tôi biết chịu thiếu thốn và biết hưởng sung túc. Trong mọi trường hợp và hết mọi cách, tôi đã học cho biết no, biết đói, biết dư dật và thiếu thốn. Tôi có thể làm được mọi sự trong Ðấng ban sức mạnh cho tôi.
Nhưng anh em đã hành động chí lý khi san sẻ mọi quẫn bách của tôi. Này anh em, người thành Philipphê, anh em cũng đã thừa biết là ngay lúc bắt đầu rao giảng Tin Mừng, khi tôi rời bỏ Macêđônia, không một giáo đoàn nào đã đóng góp vào sổ chi tiêu của tôi, trừ một mình anh em mà thôi: vì một đôi lần, anh em đã gửi đồ về thành Thêxalônica cho tôi dùng. Không phải tôi cầu ơn cầu nghĩa gì, nhưng tôi cầu cho vốn liếng anh em được sinh hoa kết quả dồi dào. Hiện tôi có đủ mọi sự và có dư thừa: tôi đã được đầy đủ sau khi nhận lãnh những tặng vật anh em nhờ Êpaphrôđitô gửi đến, là hương thơm ngạt ngào, là lễ vật được Thiên Chúa vui lòng chấp nhận.
Xin Thiên Chúa cung cấp dư dật những nhu cầu của anh em, theo sự phú túc vinh quang của Người, trong Ðức Giêsu Kitô. Vinh danh Thiên Chúa là Cha chúng ta muôn đời. Amen.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 111, 1-2. 5-6. 8a và 9
Ðáp: Phúc đức thay người tôn sợ Chúa (c. 1a).
Xướng: Phúc đức thay người tôn sợ Chúa, người hết lòng ham mộ luật pháp của Ngài. Con cháu người sẽ hùng cường trong Ðất Nước: thiên hạ sẽ chúc phúc cho dòng dõi hiền nhân.
Xướng: Phúc đức cho người biết xót thương và cho vay, biết quản lý tài sản mình theo đức công bình. Cho tới đời đời người sẽ không nao núng: người hiền đức sẽ được ghi nhớ muôn đời.
Xướng: Lòng người kiên nghị, người không kinh hãi. Người ban phát và bố thí cho những kẻ nghèo, lòng quảng đại của người muôn đời còn mãi, sừng người được ngẩng lên trong vinh quang.
Alleluia: Ep 1, 17-18
Alleluia, alleluia! – Xin Chúa Cha của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, cho mắt tâm hồn chúng ta được sáng suốt, để chúng ta biết thế nào là trông cậy vào ơn Người kêu gọi chúng ta. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 16, 9-15
“Nếu các con không trung thành trong việc tiền của gian dối, thì ai sẽ giao của chân thật cho các con”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Hãy dùng tiền của gian dối mà mua lấy bạn hữu, để khi mất hết tiền bạc, thì họ sẽ đón tiếp các con vào chốn an nghỉ đời đời. Ai trung tín trong việc nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai gian dối trong việc nhỏ, thì cũng gian dối trong việc lớn. Vậy nếu các con không trung thành trong việc tiền của gian dối, thì ai sẽ giao phó của chân thật cho các con.
“Không đầy tớ nào có thể làm tôi hai chủ: vì hoặc nó ghét chủ này và mến chủ kia; hoặc phục chủ này và khinh chủ nọ. Các con không thể làm tôi Thiên Chúa mà lại làm tôi tiền của được”. Những người biệt phái là những kẻ tham lam, nghe nói tất cả những điều đó, thì nhạo cười Người. Vậy Người bảo các ông rằng: “Chính các ông là những kẻ phô trương mình là công chính trước mặt người ta, nhưng Thiên Chúa biết lòng các ông; bởi chưng điều gì cao sang đối với người ta, thì lại là ghê tởm trước mặt Thiên Chúa”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin cho bánh rượu chúng con dâng trở nên của lễ tinh tuyền trước nhan Chúa và đem lại cho chúng con nguồn ơn phúc dồi dào. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Lạy Chúa, xin chỉ cho tôi biết đường lối trường sinh, và xin cho tôi no đầy hoan hỉ trước thiên nhan.
Hoặc đọc:
Chúa phán: cũng như Cha là Đấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta chính người ấy cũng sống nhờ Ta.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, chúng con vừa được Mình và Máu Ðức Kitô bồi dưỡng, xin Chúa tăng cường hoạt động nơi chúng con, để chúng con được sẵn sàng lãnh nhận những ơn lành Chúa hứa cho những ai tham dự bí tích này. Chúng con cầu xin….
TÌM KIẾM NHỮNG GIÁ TRỊ CAO CẢ NHẤT TRONG ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU
Đời sống con người từ ngàn xưa cho đến nay luôn là một hành trình dài của những cuộc tuyển lựa, định hướng và dấn thân. Giữa muôn vàn ngã rẽ của cuộc đời, mỗi cá nhân đều phải đối diện với câu hỏi mang tính cốt tử: Đâu là cùng đích, đâu là chân giá trị thực sự đáng để con người đánh đổi trọn vẹn sức lực, tâm huyết và cả cuộc đời mình? Xã hội trần thế với những nhịp sống hối hả, những lôi kéo vật chất tinh vi và vô số thứ ánh sáng giả tạo thường làm chói mắt, khiến con người dễ rơi vào trạng thái lầm lạc, nhầm lẫn giữa phương tiện và mục đích, giữa thứ phù du chóng qua và giá trị vĩnh cửu trường tồn. Đứng trước thực trạng ấy, ánh sáng của Tin Mừng và chiều kích thiêng liêng của Lời Chúa luôn vang lên như một tiếng gọi thức tỉnh, mời gọi người Kitô hữu vươn lên trên những tầm thường của kiếp nhân sinh để hướng về những giá trị cao cả nhất, những thiện hảo đích thực mà Thiên Chúa đã dọn sẵn cho con cái Ngài.
Hành trình tìm kiếm những giá trị cao cả không phải là một sự trốn chạy khỏi thực tại trần thế, cũng không phải là một thứ đạo đức yếm thế hay khinh chê thế gian. Trái lại, đó chính là thái độ sống thâm sâu của một tâm hồn biết thao thức với những thực tại siêu việt ngay giữa lòng đời thường. Chúa Giêsu Kitô, qua các bài giảng, qua dụ ngôn và qua chính cung cách hành động của Ngài trong Tin Mừng, luôn đắn đo và mời gọi các môn đệ đặt để ưu tiên hàng đầu cho Nước Trời và sự công chính của Thiên Chúa. Mọi thực tại vật chất, dẫu có cần thiết cho sinh kế hỏa tốc hằng ngày, đều chỉ mang tính chất tạm thời. Khi con người bị trói buộc và làm nô lệ cho những lo toan trần thế, tâm hồn họ sẽ tự khắc đánh mất đi khả năng cảm nhận vẻ đẹp của ơn thánh, đánh mất đi nhạy cảm siêu nhiên để nhận ra tiếng Chúa đang thì thầm trong lịch sử cá nhân và cộng đoàn. Do đó, việc tái định vị tâm hồn về phía những thiện hảo tối cao là điều kiện tiên quyết để tìm thấy bình an đích thực và hạnh phúc toàn vẹn.
Thiên Chúa tự bản chất là nguồn mạch của mọi thiện hảo, là Chân – Thiện – Mỹ tuyệt đối. Mọi giá trị tốt đẹp xuất hiện trong càn khôn vũ trụ này, từ tình yêu thương chân thành, lòng hi sinh cao cả, sự công bình ngay thẳng cho đến khát vọng vươn tới Chân lý, đều chỉ là những tia sáng phản chiếu từ vinh quang khôn tả của Ngài. Khi con người khao khát tìm kiếm những giá trị cao cả nhất, thực chất là họ đang khao khát chính Thiên Chúa. Thánh Augustinô từng thốt lên một câu nói vang vọng qua mọi thời đại rằng tâm hồn con người bất an cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa. Sự bất an, trống rỗng và hụt hẫng mà con người thời đại đang phải trải qua không bắt nguồn từ việc thiếu thốn phương tiện vật chất hay tiến bộ khoa học kỹ thuật, mà xuất phát từ cơn khát cùng cực đối với Thiên Chúa và những giá trị tinh thần siêu việt. Khi con người lấp đầy cõi lòng bằng những thứ phù phiếm mau qua, họ giống như kẻ uống nước biển mặn để giải khát, càng uống càng khát và cuối cùng kiệt sức trong ảo vọng.
Để có thể dấn thân vào con đường tìm kiếm những giá trị cao cả, bước đầu tiên và quan trọng nhất là thanh luyện nhãn quan đức tin. Con người tự nhiên thường nhìn mọi sự qua lăng kính thực dụng, vị kỷ và ngắn hạn. Một món lợi trước mắt, một địa vị xã hội, một sự công nhận phù phiếm dễ dàng làm lóa mắt và chi phối toàn bộ hành động của chúng ta. Trái lại, nhãn quan đức tin giúp xuyên thấu lớp vỏ bọc bên ngoài của thực tại để nhìn thấu giá trị vĩnh cửu ẩn giấu bên trong. Một hành động bác ái âm thầm không ai biết tới, một sự tha thứ trọn vẹn trong âm thầm đau khổ, một sự kiên trì sống đức mến giữa môi trường đồi trụy – tất cả những điều đó thoạt nhìn có vẻ là sự thua thiệt, là dại khờ theo tiêu chuẩn của thế gian, nhưng trước nhan Thiên Chúa lại là những viên ngọc quý giá vô giá xây đắp nên kho tàng vĩnh cửu trên trời. Đức tin nhạy bén này không tự dưng mà có, nó đòi hỏi một đời sống cầu nguyện không ngừng nghỉ, một sự gắn kết mật thiết với nguồn ơn thánh qua các Bí tích, và một thái độ khiêm tốn lắng nghe tiếng Chúa trong tĩnh lặng của tâm hồn.
Sự tìm kiếm này cũng đòi hỏi một lòng can đảm phi thường để thực hiện cuộc thanh lọc nội tâm. Những giá trị cao cả không thể dung hợp với sự thỏa hiệp, sự hời hợt hay thái độ sống nước đôi. Chúa Giêsu đã dùng những hình ảnh vô cùng mạnh mẽ để diễn tả thái độ quyết liệt này: nước mắt và mồ hôi, cửa hẹp, hay việc từ bỏ chính mình để vác thánh giá hằng ngày. Từ bỏ ở đây không mang ý nghĩa tiêu cực là tự hủy hoại hay đày đọa bản thân, mà là sự giải phóng nội tâm khỏi những xiềng xích trói buộc. Biết bao tâm hồn bị kìm hãm, không thể bay cao lên những tầng trời cao thượng của lòng quảng đại và yêu thương chỉ vì họ vướng bận quá nhiều vào cái tôi ích kỷ, vào sự kiêu ngạo, tham vọng quyền lực và những mối vướng bận tội lỗi. Giống như một chiếc khinh khí cầu muốn bay lên cao thì phải vứt bỏ những bao cát nặng nề đang níu giữ nó dưới mặt đất, người môn đệ Chúa Kitô cũng phải can đảm buông bỏ những gánh nặng của tội lỗi và sự quy kỷ để tâm hồn được thảnh thơi vươn tới những thực tại siêu nhiên.
Trong đời sống gia đình và xã hội hôm nay, việc hướng về những giá trị cao cả càng trở nên cấp thiết và mang tính chứng tá cao độ. Đứng trước một nền văn hóa hưởng thụ, thực dụng và đề cao chủ nghĩa cá nhân tột độ, người Kitô hữu được mời gọi trở thành những dấu chỉ ngược dòng. Những giá trị như lòng chung thủy trong hôn nhân, sự hi sinh vì con cái, lòng trung thực trong công việc kinh doanh, thái độ sẻ chia với người nghèo khổ và yếu thế trong xã hội không phải là những thứ lỗi thời, mà chính là hiện thực hóa Tin Mừng giữa lòng trần thế. Khi một người chấp nhận từ bỏ lợi ích cá nhân bất chính để giữ vững sự công chính, họ đang làm cho Nước Thiên Chúa hiện diện hữu hình ngay tại trần gian này. Đó chính là cách thức cụ thể nhất để minh chứng rằng con người sinh ra không chỉ để ăn, mặc, ngủ nghỉ và hưởng thụ, mà còn để vươn tới một cùng đích cao cả hơn nhiều, đó là sự thánh thiện và hiệp thông trọn vẹn với Đấng Tạo Hóa.
Hành trình tìm kiếm ấy không hề bằng phẳng mà luôn đan xen những thử thách, hiểu lầm và cả những lần vấp ngã. Thế gian thường không dễ dàng dung thứ cho những ai đi ngược lại với dòng chảy thỏa hiệp của nó. Sự kiên trì và lòng trung thành của người Kitô hữu sẽ phải qua lửa thử vàng của những chông gai, cám dỗ và sự cô đơn. Có những lúc, việc sống theo các giá trị Tin Mừng mang lại cho con người cảm giác thiệtòi, bị bỏ rơi hay thậm chí bị chế giễu là lỗi thời, khờ dại. Chính trong những khoảnh khắc tăm tối và yếu đuối đó, ánh sáng của Thập Giá lại chiếu rọi mạnh mẽ nhất. Thập Giá không phải là biểu tượng của sự thất bại hay bi lụy, mà là minh chứng hùng hồn nhất cho thấy tình yêu tự hiến là giá trị cao cả nhất, vượt lên trên cả sự sống sinh học. Qua mầu nhiệm Thập Giá và Phục Sinh, Chúa Giêsu đã khẳng định rằng con đường đi qua đau khổ và sự từ bỏ chính là con đường duy nhất dẫn đến vinh quang đích thực.
Đời sống cầu nguyện chính là nhịp đập nuôi dưỡng khát vọng hướng thượng này. Cầu nguyện không chỉ đơn thuần là việc đọc lên những công thức hay xin xắn ơn huệ vật chất, mà là không gian gặp gỡ thân mật giữa thụ tạo và Đấng Tạo Hóa, nơi tâm hồn được tĩnh lặng để nghe thấu tiếng nói của Chúa Thánh Thần. Trong sự tĩnh lặng của cầu nguyện, những ồn ào của thế gian lắng xuống, những lo toan phù phiếm được đặt đúng chỗ của chúng, và con người bắt đầu nhìn vạn vật bằng cái nhìn của Thiên Chúa. Nhờ ơn Chúa, tâm hồn dần được biến đổi, từ chỗ chỉ biết nghĩ đến mình chuyển sang biết trăn trở cho sứ mạng của Tin Mừng, biết thao thức trước những nỗi đau của tha nhân và biết khao khát những điều thanh cao, thánh thiện. Một đời sống cầu nguyện sâu sắc sẽ tạo ra sức đề kháng mạnh mẽ trước những cạm bẫy tinh vi của chủ nghĩa vật chất, giữ cho đôi chân người tín hữu luôn vững vàng trên con đường hướng về quê hương vĩnh cửu.
Bên cạnh cầu nguyện, việc thực thi bác ái huynh đệ là thước đo chính xác nhất cho thấy một người thực sự đang tìm kiếm những giá trị cao cả. Tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với tha nhân là hai mặt của một đồng xu không thể tách rời. Không thể nói mình yêu mến Thiên Chúa vô hình trong khi lại dửng dưng trước người anh em hữu hình đang đau khổ ở ngay bên cạnh. Khi chúng ta mở rộng trái tim để đón nhận, sẻ chia, an ủi và nâng đỡ những mảnh đời bất hạnh, chúng ta đang thực hiện những nghĩa cử mang giá trị vĩnh cửu. Trong ngày phán xét chung, tiêu chuẩn để Thiên Chúa định đoạt số phận con người không phải là những thành tựu khoa học vĩ đại hay những chức tước linh thiêng cao sang, mà là ly nước lạnh được trao cho kẻ khát, là tấm bánh sẻ chia cho người đói rách, là sự viếng thăm dành cho kẻ tù đày và đau yếu. Những hành động tưởng chừng nhỏ bé ấy lại chứa đựng sức mạnh vô biên biến đổi thế giới và mở ra cánh cửa dẫn vào cõi phúc thật.
Mẹ Maria, Đức Trinh Nữ vẹn toàn, chính là hình mẫu tuyệt vời nhất và là ngọn hải đăng soi sáng cho hành trình tìm kiếm những giá trị cao cả của nhân loại. Từ giây phút thưa tiếng “Xin Vâng” trong biến cố truyền tin cho đến giây phút đứng lặng lẽ dưới chân Thập Giá, cuộc đời Mẹ là một chuỗi dài của sự từ bỏ ý riêng để hoàn toàn phó thác và gắn kết với chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Mẹ đã không tìm kiếm những vinh quang trần thế hay sự an nhàn ích kỷ, mà luôn cất giữ và suy niệm mọi sự trong lòng. Sự khiêm nhường sâu thẳm, lòng vâng phục tuyệt đối và tình yêu mến thiết tha của Mẹ đối với Thiên Chúa đã làm cho Mẹ trở thành người thụ tạo cao sang nhất, là đóa hoa tuyệt mỹ nở rỗi trong vườn tâm linh của Giáo Hội. Nhìn lên Mẹ Maria, người Kitô hữu tìm thấy nguồn cảm hứng và sức mạnh để bước đi vững vàng trên con đường hẹp dẫn đến sự sống đời đời, không chùn bước trước khó khăn và không lay chuyển trước những cám dỗ của trần thế.
Khi suy ngẫm về sứ điệp tìm kiếm những giá trị cao cả, mỗi người chúng ta được mời gọi nhìn lại chính bản thân mình trong giờ phút hiện tại này. Cuộc đời trần thế ngắn ngủi tựa như một làn sương sớm, vội vã xuất hiện rồi cũng nhanh chóng tan biến vào hư vô. Nếu chúng ta chỉ mải mê xây dựng những lâu đài cát trên bãi biển của sự ích kỷ, danh vọng và tiền tài, thì khi cơn sóng thử thách và sự chết ập đến, tất cả sẽ chỉ còn lại con số không tròn trĩnh. Trái lại, nếu chúng ta biết đầu tư tâm huyết, tình yêu và sức lực vào việc vun trồng các nhân đức, sống bác ái, trung kiên và tìm kiếm ý Chúa trong từng biến cố hằng ngày, chúng ta đang tích trữ cho mình những kho tàng không tàn phai trên thiên quốc. Đó mới chính là sự khôn ngoan đích thực, là sự lựa chọn mang tầm vóc vĩnh cửu mà Thiên Chúa hằng mong đợi nơi mỗi người con của Ngài.
Ước gì qua những tâm tình suy tư này, ngọn lửa khát khao những giá trị cao cả sẽ được thắp lên và bùng cháy mạnh mẽ trong mỗi tâm hồn chúng ta. Xin Chúa ban ơn soi sáng và ban sức mạnh đầy tràn để chúng ta không bao giờ thỏa hiệp với sự tầm thường hay buông xuôi theo dòng chảy tiêu cực của xã hội đương đại. Xin cho mỗi bước đi của chúng ta trong đời sống hằng ngày đều là một bước tiến gần hơn về phía Thiên Chúa, Đấng là Chân Thiện Mỹ tối cao, để rồi khi hành trình trần thế khép lại, chúng ta được xứng đáng chung hưởng niềm vui hoan lạc vĩnh cửu trong vương quốc tình yêu của Ngài muôn đời muôn thuở.
Lm. Anmai, CSsR
HƯỚNG ĐI CỦA SỰ SỐNG VÀ BỨC TRANH TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC
Khi chúng ta bước đi trên hành trình trần thế này, mỗi người đều mang trong tâm hồn những thao thức, những câu hỏi lớn lao và đôi khi cả những trăn trở sâu xa về ý nghĩa của sự tồn tại. Cuộc đời không chỉ đơn thuần là một chuỗi những ngày tháng trôi qua một cách vô định, sinh ra, lớn lên, làm việc và rồi kết thúc trong cát bụi. Đằng sau mỗi nhịp đập của con tim, đằng sau mỗi bước chân xuôi ngược giữa dòng đời tất bật, luôn tiềm ẩn một tiếng gọi thiêng liêng, một hướng đi tuyệt vời mà Đấng Tạo Hóa đã khắc ghi vào bản tính con người. Tiếng gọi ấy không ở đâu xa, nhưng lại hiện diện ngay trong cốt lõi của Tin Mừng, nơi Đức Giê-su Kitô mở ra cho nhân loại con đường dẫn đến sự sống vĩnh cửu.
Tin Mừng hôm nay đặt trước mắt chúng ta một câu hỏi mang tính bản mệnh, một định hướng tối cao cho toàn bộ căn cước Kitô hữu của mỗi người chúng ta: “Phải làm gì để được sự sống đời đời?” hay “Ai là người thân cận của tôi?”. Đây không chỉ là những thắc mắc mang tính lý thuyết của một thông thái luật sĩ Do Thái xưa, mà còn là chiếc gương soi chiếu toàn bộ đời sống thực tế của bất kỳ ai đang khao khát tìm kiếm chân lý. Giữa một thế giới ngập tràn những giao động, những tính toán thiệt hơn và vô số hệ tư tưởng thực dụng, con người dễ dàng rơi vào trạng thái lạc lối, bối rối trước muôn vàn ngã rẽ. Chúng ta có thể xây dựng cho mình một cuộc sống đầy đủ về vật chất, đạt được những thành tựu rực rỡ trong sự nghiệp, nhưng nếu thiếu đi chiếc la bàn của tình yêu đích thực và mối thâm giao mật thiết với Thiên Chúa, tâm hồn vẫn mãi là một vùng hoang mạc khô cằn.
Để hiểu thấu đáo và sống trọn vẹn tinh thần này, trước hết chúng ta cần nhìn lại mối tương quan cốt lõi giữa con người với Thiên Chúa. Thiên Chúa không phải là một đấng tối cao xa vời, ngồi trên ngai tòa cao thẳm để phán xét và đòi hỏi con người phải tuân giữ những luật lệ khô khan. Ngài là Tình Yêu, là nguồn mạch của mọi sự sống và là người Cha luôn mong mỏi ôm ấp đoàn con hoang đàng trở về. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn không phải là một thứ nghĩa vụ nặng nề bị ép buộc, mà là một sự đáp trả tự nhiên, một tiếng gọi tình yêu từ thẳm sâu tâm hồn trước hồng ân vô biên của Ngài. Khi một tâm hồn nhận ra mình được yêu thương trước, khi họ cảm nghiệm được ánh mắt xót thương và bàn tay dịu dàng của Thiên Chúa nâng đỡ trong những giông bão cuộc đời, thì việc dâng hiến trọn vẹn cuộc sống cho Ngài trở thành một niềm hạnh phúc lớn lao không gì sánh bằng. Sự kết hợp mật thiết ấy được nuôi dưỡng qua đời sống cầu nguyện hằng ngày. Cầu nguyện không đơn thuần là đọc lên những công thức hay xin xỏ những ơn huệ trần thế, mà là cuộc gặp gỡ thân tình, là không gian tĩnh lặng để lắng nghe tiếng Chúa thầm thì trong tâm hồn, để cho ánh sáng chân lý của Ngài soi chiếu mọi ngóc ngách tăm tối của ích kỷ và tội lỗi.
Thế nhưng, tình yêu đối với Thiên Chúa không thể tách rời tình yêu đối với tha nhân. Đức Giê-su đã khẳng định giới điều thứ hai cũng giống như giới điều thứ nhất: “Ngươi phải yêu mến người thân cận như chính mình”. Đây chính là điểm thử thách lớn nhất, là thước đo chính xác nhất cho lòng yêu mến Chúa của mỗi người chúng ta. Sẽ là một ảo tưởng tinh thần nguy hiểm nếu ai đó lớn tiếng tuyên bố yêu mến Thiên Chúa ở trên trời mà lại dửng dưng, lạnh lùng hoặc tàn nhẫn với người anh em đang đau khổ ở ngay trước mắt. Thánh Gio-an tông đồ đã từng đặt ra một câu hỏi sắc bén: “Ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy”. Tha nhân chính là hiện thân sống động của Thiên Chúa ẩn giấu giữa trần gian. Mỗi một con người chúng ta gặp gỡ hằng ngày, từ người có hoàn cảnh bi đát bên lề đường cho đến người đồng nghiệp công sở, từ người thân trong gia đình cho đến những kẻ có thành kiến hay gây tổn thương cho chúng ta, tất cả đều mang trong mình phẩm giá cao quý của hình ảnh Thiên Chúa.
Nhìn vào dụ ngôn người Samaria nhân hậu mà Đức Giê-su đã kể, chúng ta thấy rõ một bức tranh tương phản vô cùng sâu sắc giữa thái độ của con người. Vị tư tế và thầy Lê-vi, những kẻ đáng lẽ phải là biểu trưng cho lòng đạo đức, sự bác ái và sự hiểu biết luật Chúa, lại chọn cách đi ngang qua bên kia đường để làm lơ trước một nạn nhân đang thoi thóp giữa biên giới của sự sống và cái chết. Họ sợ bị ô uế theo luật lệ hình thức, họ sợ rắc rối, họ sợ tốn thời gian và ảnh hưởng đến lịch trình riêng tư của bản thân. Sự dửng dưng vô cảm ấy chính là căn bệnh trầm kha của mọi thời đại, một thứ “văn hóa loại trừ” biến con người thành những kẻ lạnh lùng trước nỗi đau đồng loại. Trái lại, người Samaria – một kẻ bị người Do Thái coi thường, bị xem là ngoại giáo và lạc đạo – lại chính là hiện thân của lòng xót thương vô biên. Ông không hỏi nạn nhân thuộc tôn giáo nào, có quan hệ huyết thống hay phe nhóm gì với mình, cũng không tính toán xem việc cứu giúp sẽ mang lại cho ông những lợi lộc gì. Động lực duy nhất thôi thúc ông chính là trái tim biết thổn thức trước nỗi đau của người khác. Ông dừng chân, cúi xuống, băng bó những vết thương bằng cả sự dịu dàng, đặt nạn nhân lên lừa của mình, đưa về quán trọ và lo lắng chu toàn mọi chi phí. Hành động ấy không chỉ đơn thuần là một nghĩa cử bố thí tạm thời, mà là một sự dấn thân triệt để, một sự chia sẻ trọn vẹn thân phận con người mong manh đầy thương tích.
Câu hỏi “Ai là người thân cận của tôi?” do đó đã bị đảo ngược hoàn toàn bởi cách đặt vấn đề của Đức Giê-su. Ngài không dạy chúng ta cách chọn lựa ai xứng đáng để được chúng ta yêu thương hay giúp đỡ, nhưng ngài đòi hỏi chính mỗi chúng ta phải trở nên người thân cận của bất cứ ai đang cần đến lòng thương xót. Định nghĩa về người thân cận không dựa trên khoảng cách địa lý, sắc tộc, tôn giáo hay địa vị xã hội, mà được định hình bởi chính tấm lòng rộng mở, sẵn sàng xả thân vì lợi ích của tha nhân. Thế giới hôm nay đang chứng kiến biết bao hình thức đau khổ mới: sự cô đơn giữa lòng đô thị phồn hoa, những vết thương tâm lý sâu thẳm của con người thời đại số, sự đói nghèo về tinh thần và vật chất của hàng triệu mảnh đời bất hạnh, hay những cuộc chiến tranh và bất công phi lý. Giữa bức tranh xám xịt đó, người Kitô hữu được mời gọi trở nên những chứng nhân của niềm hy vọng, những ngọn nắp thắp lên ánh sáng của tình thương chân thành bằng những hành động nhỏ bé nhưng đong đầy tình người mỗi ngày.
Để có thể sống được tinh thần Tin Mừng ấy, điều kiện tiên quyết là chúng ta phải vượt qua cái tôi ích kỷ, kiêu ngạo và đầy những tính toán vị kỷ. Bản tính con người sa ngã luôn có xu hướng quy về mình, tìm kiếm sự an toàn, danh vọng và những tiện nghi vật chất trước khi nghĩ đến người khác. Chúng ta thường dễ dàng rộng rãi với những người mang lại lợi ích cho mình, nhưng lại vô cùng cay nghiệt, khắt khe hoặc dửng dưng với những ai trái ý hay thua kém mình. Sự biến đổi tâm hồn đòi hỏi một cuộc xuất hành nội tâm sâu sắc, một sự hoán cải không ngừng nghỉ dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Khi để cho tình yêu của Thiên Chúa thanh luyện và tràn ngập tâm hồn, chúng ta mới có thể nhìn tha nhân bằng ánh mắt của lòng nhân hậu, nghe tiếng kêu cứu của họ bằng đôi tai của lòng trắc ẩn và hành động bằng đôi tay rộng mở không chút vụ lợi.
Đời sống thiêng liêng không phải là một con đường bằng phẳng rải hoa hồng, mà là một hành trình thập giá đòi hỏi sự kiên trì, hy sinh và từ bỏ chính mình mỗi ngày. Thánh Têrêsa Calcutta từng nhắc nhở chúng ta rằng tình yêu vĩ đại không phải là làm những điều lớn lao phi thường, mà là làm những việc tầm thường với một tình yêu cực kỳ lớn lao. Một ly nước lạnh được trao đi với tấm lòng chân thành, một lời thăm hỏi ủi an dành cho người đang cô đơn, một cử chỉ tha thứ cho kẻ xúc phạm mình, hay sự nhẫn nại lắng nghe một người đang buồn phiền… tất cả những điều nhỏ nhặt ấy, khi được thực hiện trong tinh thần yêu mến Chúa, đều trở thành những viên gạch quý giá xây dựng nên Vương quốc của sự sống và tình thương ngay giữa trần thế này.
Hơn thế nữa, tình yêu thương đích thực không dừng lại ở cảm xúc bề ngoài hay những lời nói hoa mỹ, mà phải được thể hiện bằng hành động cụ thể và sự dấn thân bền bỉ. Đức Bênêđictô XVI đã từng nhấn mạnh rằng tình yêu bác ái (Caritas) là con đường tuyệt hảo mà Hội Thánh mời gọi mọi tín hữu bước đi. Đó là tình yêu bắt nguồn từ trái tim của Thiên Chúa và được lan tỏa qua bàn tay của con người. Khi chúng ta thực hiện những việc làm bác ái, chúng ta không chỉ đang giúp đỡ người khác thoát khỏi cơn hoạn nạn, mà chính chúng ta cũng đang chữa lành những vết thương thiêng liêng sâu kín trong tâm hồn mình. Bởi vì qua tha nhân, chính Đức Giê-su đang kín đáo hiện diện và chờ đợi sự đón nhận của chúng ta. Lời khẳng định đanh thép của Ngài trong ngày phán xét chung vẫn luôn vang dội như một tiếng chuông cảnh tỉnh cho mỗi thế hệ: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”.
Nhìn lại hành trình đức tin của bản thân, chúng ta hãy tự hỏi xem mình đã thực sự buông bỏ những lo lắng bận rộn tầm thường để ngồi bên chân Chúa như Maria chưa? Chúng ta đã biết chu toàn trách nhiệm trong bậc sống của mình với tấm lòng tận tụy, không để những áp lực vật chất làm cho tâm hồn trở nên khô cằn, cáu gắt chưa? Và quan trọng hơn cả, chúng ta đã mở rộng trái tim để đón nhận, sẻ chia và xót thương những mảnh đời bất hạnh đang hiện diện xung quanh chúng ta chưa? Câu trả lời không nằm ở lời nói hay ý định tốt đẹp trong quá khứ, mà nằm ở những quyết định cụ thể trong từng giây phút của hiện tại.
Kính thưa quý ông bà và anh chị em, cuộc sống ngắn ngủi này là cơ hội duy nhất mà Thiên Chúa ban tặng để chúng ta tập yêu thương và học cách sống như những người con cái đích thực của Ngài. Đừng để cho những toan tính ích kỷ, sự hận thù, ghen ghét hay sự dửng dưng vô cảm làm băng hoại vẻ đẹp cao quý mà Thiên Chúa đã phú bẩm trong tâm hồn mỗi người. Hãy để cho ngọn lửa của Tin Mừng thiêu rụi mọi rơm rác của tội lỗi, để ánh sáng của lòng thương xót chiếu soi mọi nẻo đường đời chúng ta đi. Khi chúng ta biết quảng đại mở tay ra cho đi, chúng ta sẽ nhận lại sự phong phú dạt dào từ nguồn ơn thánh Chúa. Khi chúng ta biết cúi xuống nâng đỡ những kẻ ngã gục bên lề đường, chính chúng ta cũng được nâng lên bởi cánh tay quyền năng và dịu dàng của Thiên Chúa.
Nguyện xin Thiên Chúa ban cho mỗi người chúng ta một trái tim biết thổn thức trước nỗi đau của đồng loại, một ý chí kiên định để thực hành Lời Chúa dạy và một niềm hy vọng vững vàng vào tình yêu quan phòng của Ngài. Xin cho chúng ta luôn biết chọn lấy phần tốt nhất như Mẹ Maria – phần gắn bó mật thiết với Chúa trong tình yêu – đồng thời biết xả thân phục vụ anh chị em bằng tinh thần bác ái quảng đại của người Samaria nhân hậu. Để rồi, khi kết thúc cuộc hành trình trần thế này, chúng ta được xứng đáng bước vào cõi vĩnh hằng, nơi tình yêu viên mãn sẽ ngự trị muôn đời, và nghe được tiếng phán dịu hiền của Đấng Cứu Thế: “Hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương quốc đã dọn sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa”.
Lm. Anmai, CSsR
HƯỚNG TỚI SỰ TRUNG TÍN TRONG NHỮNG VIỆC NHỎ NHẤT ĐẾN NHỮNG TRỌNG TRÁCH LỚN LAO
Cuộc hành trình đức tin của người Kitô hữu không bao giờ được định hình bởi những khoảnh khắc vĩ đại hay những thành tựu lừng lẫy bên ngoài, mà được củng cố, thử thách và định đoạt qua từng chi tiết nhỏ nhặt nhất của đời sống thường ngày. Khi nhìn vào lăng kính của Tin Mừng, chúng ta dễ có xu hướng chờ đợi những cơ hội lớn lao để thể hiện lòng trung kiên, những sứ mạng phi thường để chứng minh tình yêu dành cho Thiên Chúa. Tuy nhiên, Thiên Chúa – Đấng thấu suốt cõi lòng và nắm giữ vận mệnh vũ trụ – lại thường ngự trị, soi sáng và phán xét chúng ta qua những việc rất tầm thường, những công việc nhỏ bé không ai để ý, và qua những bổn phận thường nhật tưởng chừng đơn điệu. Sự trung tín không phải là chiếc áo choàng lộng lẫy chỉ khoác vào trong những dịp lễ trọng thể hay những biến cố trọng đại của cuộc đời, mà là tấm vải dệt nên từ hàng ngàn sợi chỉ nhỏ của lòng vâng phục, sự chân thật và tình bác ái trong từng giây phút hiện tại.
Để hiểu sâu sắc về bản chất của sự trung tín, trước hết chúng ta cần nhìn ngắm gương mặt của Thiên Chúa – Đấng tuyệt đối trung tín. Thiên Chúa không bao giờ sai hẹn với lịch sử cứu độ, nhưng Ngài thực hiện những lời hứa của mình qua một tiến trình kiên nhẫn, qua những con người bé nhỏ và những biến cố âm thầm. Hãy nhìn vào mầu nhiệm Nhập Thể: Đấng Tạo Hóa vô biên đã không chọn ngai vàng chói lọi hay cung điện nguy nga để bước vào trần gian, nhưng Ngài đã chọn cung lòng một trinh nữ nghèo hèn tại Nazareth, lớn lên trong một gia đình thợ mộc ẩn dật, trải qua phần lớn cuộc đời trong sự thầm lặng, lao nhọc và vâng phục. Suốt ba mươi năm ẩn dật tại Nazareth, Chúa Giêsu không làm phép lạ lớn lao nào thu hút đám đông, không công bố những sắc lệnh chấn động địa cầu, mà Ngài chu toàn từng việc nhỏ nhặt nhất của đời sống gia đình, lao động bằng đôi tay của một người thợ phàm trần, hiếu thảo với Đức Mẹ và Thánh Giuse. Sự cứu chuộc nhân loại không bắt đầu từ trên đỉnh cao của quyền lực trần thế, mà bắt đầu từ sự trung tín âm thầm trong những điều bé nhỏ nhất. Nếu Chúa Cứu Thế đã chọn con đường ấy, thì những môn đệ bước theo Ngài không thể tìm kiếm con đường nào khác ngoài con đường của sự trung tín trong từng chi tiết nhỏ của cuộc sống thường ngày.
Trong đời sống thiêng liêng, cái bẫy nguy hiểm nhất mà con người hay mắc phải là sự khinh thường những việc nhỏ. Chúng ta thường có tâm lý hào hứng với những dự án lớn, những công tác tông đồ rầm rộ, hay những lời hứa hẹn cao cả với Chúa; nhưng lại dễ dàng bỏ qua, làm qua loa hoặc buông xuôi trước những bổn phận nhỏ nhặt trong gia đình, nơi công sở, hay trong đời sống cầu nguyện hằng ngày. Một lời hứa nhỏ không được giữ, một sự bất cẩn trong công việc bổn phận, một thái độ thiếu bác ái với người thân cận trong những chuyện cỏn con, hay sự xao lãng trong vài phút cầu nguyện ngắn ngủi… thường bị chúng ta xem nhẹ như những lỗi lầm vặt vãnh không đáng kể. Thế nhưng, chính những điều nhỏ nhặt ấy lại là những viên gạch nền móng xây dựng nên lâu đài nhân đức của tâm hồn. Ai không giữ được sự trung tín trong việc nhỏ thì chắc chắn sẽ sụp đổ khi đối diện với những thử thách lớn lao. Sự phản bội vĩ đại trong đời sống đạo hiếm khi bùng nổ đột ngột; nó luôn bắt đầu từ những sự lơ là nhỏ nhặt, từ những thỏa hiệp âm thầm với tội lỗi trong những góc khuất không ai nhìn thấy.
Sự trung tín trong việc nhỏ đòi hỏi một đời sống nội tâm sâu sắc và lòng kính sợ Chúa chân thành. Người thực sự trung tín không làm việc vì sợ người đời phán xét hay vì muốn mưu cầu danh lợi trước mắt, mà làm vì ý thức sự hiện diện thánh thiêng của Thiên Chúa trong từng phút giây. Khi một người quét dọn căn nhà, nấu một bữa ăn, giải quyết một giấy tờ hành chính nhỏ, hay lắng nghe một người đang đau khổ với tất cả sự tận tâm và tình yêu mến dâng lên Chúa, thì công việc tầm thường ấy bỗng trở thành một hành động thờ phượng cao quý. Đức Thánh Cha Phanxicô và các bậc thầy đời sống thiêng liêng thường nhắc nhở chúng ta về “sự thánh thiện ở hàng xóm kế bên” – sự thánh thiện được thể hiện qua những con người bình dị chu toàn những bổn phận hằng ngày bằng tình yêu phi thường. Sức mạnh của tình yêu không nằm ở quy mô của hành động, mà nằm ở mức độ chân thành và hy sinh được đặt vào hành động đó.
Hơn thế nữa, Lời Chúa đã đưa ra một nguyên tắc vàng mang tính quyết định cho vận mệnh đời đời của mỗi chúng ta: “Ai trung tín trong việc rất nhỏ thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ thì cũng bất lương trong việc lớn”. Nguyên tắc này lật ngược lại hoàn toàn logic tính toán của thế gian. Thế gian thường đánh giá con người qua chức vụ, qua tài sản, qua quyền lực hoặc qua những thành tựu hào nhoáng bên ngoài. Thế gian trao phó những trọng trách lớn cho những kẻ có tài năng xuất chúng, có tiếng tăm lừng lẫy mà đôi khi bỏ quên nền tảng lương tâm và đạo đức bên trong. Nhưng trước tòa phán xét của Thiên Chúa, tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá sự thành công của một đời người chính là lòng trung tín. Một tâm hồn biết gìn giữ ơn thánh trong những thử thách nhỏ bé hằng ngày, biết chiến đấu với những cám dỗ thầm kín, biết tha thiết với Chúa trong những giờ phút khô khan tẻ nhạt, chính là tâm hồn đang được luyện tập để đón nhận những hồng ân lớn lao hơn, và cuối cùng là phần thưởng vĩnh cửu trong Nước Trời.
Khi nhìn lại lịch sử Giáo Hội và đời sống các thánh, chúng ta thấy rõ chân lý này được minh chứng qua từng cuộc đời cụ thể. Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã vươn lên đỉnh cao của sự thánh thiện không phải bằng những cuộc tử đạo đẫm máu hay những bài giảng thuyết làm chấn động địa cầu, mà qua “con đường thơ ấu thiêng liêng” – làm những việc rất đỗi bình thường với tình yêu mến phi thường lớn lao. Một cây kim nhặt lên với tình yêu mến Chúa cũng có thể cứu được một linh hồn. Thánh Gioan Vianney suốt bao nhiêu năm kiên nhẫn ngồi trong tòa giải tội chật hẹp, lắng nghe hàng ngàn tội nhân với tất cả sự kiên trì và lòng xót thương của Chúa, chính là mẫu mực tuyệt vời của sự trung tín trong tác vụ nhỏ bé hằng ngày để rồi biến đổi cả một giáo phận Ars. Các ngài đã hiểu rằng Thiên Chúa không nhìn xem chúng ta làm được bao nhiêu việc lớn, nhưng nhìn xem chúng ta đặt bao nhiêu tình yêu vào trong những việc nhỏ mà chúng ta làm.
Ngược lại, sự bất trung trong việc nhỏ sẽ bào mòn sức đề kháng thiêng liêng của con người như mối mọt đục khoét cột nhà. Khi chúng ta bắt đầu dung túng cho những lỗi lầm nhỏ, xem thường những quy tắc đạo đức nhỏ, hoặc châm chước cho sự cẩu thả trong bổn phận, thì dần dần lương tâm sẽ bị chai sạn. Đến khi đối diện với những cơn cám dỗ lớn – về quyền lực, tiền tài, danh vọng hay đức bồ đoàn – con người ấy sẽ dễ dàng gục ngã, bởi vì nội lực tâm hồn đã bị rút tỉa cạn kiệt từ lâu qua những lần bất trung thầm lén trong bóng tối. Do đó, việc thanh luyện ý hướng ngay từ những chi tiết nhỏ nhặt nhất trong đời sống hằng ngày là điều kiện sinh tử để bảo vệ ơn cứu độ.
Trong đời sống gia đình hôm nay, sự trung tín trong việc nhỏ đóng vai trò quyết định để gìn giữ hạnh phúc và sự hiệp nhất. Hạnh phúc gia đình không sụp đổ vì những biến cố đùng đùng xuất hiện từ trên trời rơi xuống, mà thường bị xói mòn bởi những điều rất nhỏ: một lời nói thiếu tế nhị, sự thờ ơ trước những nhu cầu nhỏ của người bạn đời, sự thiếu kiên nhẫn với con cái sau một ngày mệt mỏi, hay sự bất cẩn trong những cam kết nhỏ nhặt giữa vợ chồng. Ngược lại, chính những cử chỉ quan tâm nhỏ bé hằng ngày – một nụ cười chào buổi sáng, một lời cảm ơn chân thành, một hành động âm thầm gánh vác việc nhà cho nhau – lại là thứ keo sơn gắn kết tình yêu bền chặt qua năm tháng. Xây dựng một mái ấm hạnh phúc cũng giống như việc vun đắp một khu vườn: không cần những trận mưa bão ào ạt, mà cần những giọt nước tưới mát đều đặn mỗi ngày vào từng gốc cây ngọn cỏ.
Trong môi trường xã hội và công việc chuyên môn, người Kitô hữu được mời gọi trở nên muối và ánh sáng cũng chính qua sự trung tín trong những việc nhỏ. Giữa một thế giới chạy theo chủ nghĩa thực dụng, chuộng hình thức, gian dối và tìm kiếm lối tắt để thành công, một người làm việc tận tụy, trung thực từ những chi tiết nhỏ nhất, tôn trọng giờ giấc, giữ gìn tài sản chung và đối xử công bằng với mọi người xung quanh chính là một lời loan báo Tin Mừng mạnh mẽ nhất. Sự trung thực trong một bản kê khai tài chính nhỏ, sự cẩn trọng trong một dòng chữ ký, hay sự ngay thẳng trong một cuộc phỏng vấn nhỏ… đều là những bằng chứng hùng hồn về một lương tâm thuộc về Thiên Chúa. Đừng bao giờ nghĩ rằng sự gian dối nhỏ là vô hại, bởi vì thói quen dối trá sẽ biến con người thành nô lệ cho sự giả hình và đánh mất đi phẩm giá cao quý của con cái Chúa.
Bước theo Chúa Kitô trên con đường này đòi hỏi chúng ta phải canh tân đời sống cầu nguyện và kết hợp mật thiết với Ngài. Sức lực con người rất mỏng giòn và yếu đuối; nếu chỉ dựa vào ý chí tự nhiên, chúng ta sẽ sớm kiệt sức trước những cám dỗ và sự nhàm chán của cuộc sống thường nhật. Chỉ trong ơn sủng của Chúa, qua Bí tích Thánh Thể và đời sống cầu nguyện sốt sắng, chúng ta mới nhận được thứ sức mạnh nội tâm để chiến thắng chính mình. Mỗi Thánh lễ chúng ta tham dự, mỗi lời kinh nguyện chúng ta dâng lên giữa giờ làm việc căng thẳng, chính là nguồn dưỡng chất thiêng liêng nuôi dưỡng lòng trung tín. Khi chúng ta rước Chúa vào lòng, chúng ta không chỉ đón nhận Ngài cho những khoảnh khắc thăng hoa của tâm hồn, mà còn để Ngài biến đổi từng phản ứng, từng suy nghĩ và từng hành động nhỏ nhặt nhất của chúng ta thành những khúc ca tôn vinh Thiên Chúa.
Hãy tự hỏi chính mình trong giờ phút tĩnh lặng này: Chúng ta đang sống sự trung tín ở mức độ nào? Chúng ta có đang mải mê tìm kiếm những việc làm vĩ đại để được người đời ca tụng, trong khi lại bỏ bê những bổn phận âm thầm đối với gia đình, với công việc và với Chúa? Chúng ta có đang xem thường những lỗi lầm nhỏ, coi đó chỉ là chuyện “tiểu tiết” không quan trọng? Hãy nhớ rằng, trước mặt Thiên Chúa không có gì là nhỏ nhặt, bởi vì mọi hành động nhỏ bé đều chứa đựng tình yêu lớn lao hoặc sự thờ ơ lạnh nhạt đối với Ngài. Một cái bát nước lạnh bố thí vì danh Chúa cũng không mất phần thưởng, huống chi là từng hy sinh âm thầm được cất lên trong cõi thẳm sâu của tâm hồn.
Lạy Chúa, xin ban cho chúng con hồng ân trung tín. Xin tha thứ cho chúng con vì những lần chúng con đã kiêu ngạo, khinh thường những việc nhỏ nhặt mà Chúa trao phó, và mỏi mệt trên con đường vâng phục hằng ngày. Xin dạy chúng con biết trân trọng từng phút giây hiện tại, biết chu toàn những bổn phận nhỏ bé nhất với tất cả tình yêu mến và sự tận tâm trọn vẹn. Xin cho đời sống chúng con trở thành tấm gương sáng ngời về sự ngay thẳng, trung thực và bác ái, để qua những việc làm tầm thường của chúng con, danh Chúa được cả sáng và nhiều tâm hồn được kéo về bên tình yêu thương xót của Ngài. Xin Ngài nắm lấy đôi tay yếu đuối của chúng con, hướng dẫn từng bước chân chúng con đi trong ánh sáng chân lý của Chúa, để khi cuộc đời trần thế khép lại, chúng con được nghe tiếng Ngài thì thầm gọi vào hưởng hạnh phúc muôn đời: “Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ ngươi.”
Lm. Anmai, CSsR
NHỮNG NGƯỜI TÔM-TỚ TOÀN THỜ CỦA CHÚA
Đời sống đức tin của mỗi người Ki-tô hữu không thể dừng lại ở một sự tuân giữ các lề luật hình thức hay một mớ các nghĩa vụ tôn giáo khô khan, nhưng phải vươn tới một chiều kích cao cả hơn, đó là sự dấn thân trọn vẹn và trọn thời gian để phụng sự Thiên Chúa. Thánh Phao-lô tông đồ, trong thư gửi tín hữu Rô-ma, đã phác họa nên một bức tranh vô cùng sống động về những con người đã mở lòng ra cho ơn thánh, đã cộng tác cách quảng đại vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa, và trở thành những cộng sự viên đắc lực, những tông đồ nhiệt thành cho Tin Mừng. Việc bước theo Chúa không phải là một sở thích thời vụ, cũng không phải là một công việc làm thêm giờ trong những lúc rảnh rỗi, nhưng đòi hỏi sự hiến dâng toàn bộ tâm hồn, trí khôn và sức lực. Trở thành người tôi tớ trọn thời gian của Chúa nghĩa là để cho tình yêu của Ngài thấm nhuẫn từng nhịp đập của con tim, từng suy nghĩ của lý trí và từng hành động trong đời sống hằng ngày.
Khi chiêm ngắm các chứng nhân thời giáo đoàn tiên khởi, chúng ta thấy nổi lên những tấm gương sáng ngời về sự hy sinh và lòng trung thành. Họ không màng danh lợi thế gian, không tìm kiếm vinh quang hão huyền hay sự an nhàn chóng qua, nhưng đặt trọn vẹn niềm cậy trông vào vương quốc vĩnh cửu. Họ hiểu rằng của cải trần gian, dù là tiền tài hay địa vị, cuối cùng cũng sẽ qua đi như một làn gió thoảng. Điều duy nhất còn lại và có giá trị vĩnh cửu chính là tình nghĩa với Thiên Chúa và những việc làm bác ái được thực hiện vì danh Ngài. Chúa Giê-su đã từng mời gọi các môn đệ hãy dùng những của cải bất chính để tạo cho mình những người bạn, những người sẽ đón rước chúng ta vào các lều thánh vĩnh cửu. Lời mời gọi này không khuyến khích sự bất lương, trái lại, nó dạy chúng ta biết biến đổi những vật chất mau qua của thế gian này thành những công cụ của tình yêu thương, của lòng thương xót và sự sẻ chia. Những ai biết sử dụng tài sản và khả năng Chúa ban để làm vinh danh Ngài và giúp đỡ tha nhân chính là những người đang tích trữ kho báu trên trời, nơi mối mọt không thể đục khoét và kẻ trộm không thể đào ngạch mà lấy đi.
Sự phục vụ Chúa toàn thời gian đòi hỏi một thái độ kiên định và trung tín trong những điều nhỏ nhặt nhất. Đức Giê-su đã khẳng định một nguyên tắc nền tảng rằng ai trung tín trong việc rất nhỏ thì cũng trung tín trong việc lớn, và ai bất lương trong việc rất nhỏ thì cũng bất lương trong việc lớn. Đời sống thiêng liêng được xây dựng từ những viên gạch nhỏ bé hằng ngày: một lời cầu nguyện chân thành buổi sáng, một cử chỉ bác ái âm thầm nơi công sở, sự nhẫn nại trong gia đình, hay lòng trung thực trong công việc làm ăn. Nếu chúng ta không thể giữ lòng trung kiên trong những thử thách nhỏ bé hằng ngày, làm sao chúng ta có thể hy sinh mạng sống hay đối diện với những giông bão lớn lao vì danh Chúa? Sự trung tín ấy chính là tấm lót đường cho lòng yêu mến nở hoa, giúp chúng ta trở thành những người quản gia trung tín và khôn ngoan mà người chủ sẽ đặt lên cai quản cơ nghiệp của Ngài khi Người trở lại.
Thánh Phao-lô, khi viết những dòng cuối thư gửi Rô-ma, đã nhắc đến tên của rất nhiều anh chị em, những cộng sự viên âm thầm nhưng vô cùng quan trọng trong sứ vụ loan báo Tin Mừng. Có những người đã liều mình để cứu lấy mạng sống của Phao-lô, có những người lao động vất vả vì Chúa, có những người là bà con, là bạn hữu trong đức tin. Điều này cho thấy rằng thân thể mầu nhiệm của Đức Ki-tô không thể thiếu bất kỳ một chi thể nào. Mỗi người, dù ở bậc sống linh mục, tu sĩ hay giáo dân giữa đời, đều được mời gọi trở thành những tông đồ tích cực. Sự phục vụ không phân biệt sang hèn, không đòi hỏi phải đứng ở những vị trí cao trọng hay được người đời ca tụng, nhưng cần một tâm hồn khiêm tốn, biết đặt ý muốn của Thiên Chúa lên trên hết mọi sự. Khi một người dâng hiến trọn vẹn cuộc đời mình cho Chúa, công việc họ làm, dẫu có tầm thường đến đâu trong mắt người đời, cũng trở thành một kinh nguyện cao cả dâng lên tòa cao Thiên Chúa.
Tuy nhiên, con đường phục vụ toàn thời gian ấy không phải lúc nào cũng trải đầy hoa hồng. Thế gian với những cám dỗ về quyền lực, khoái lạc và sự ích kỷ luôn tìm cách kéo chúng ta ra khỏi con đường hẹp của Tin Mừng. Những lúc ấy, sức mạnh tự nhiên của con người trở nên yếu đuối và dễ gục ngã. Chính vì thế, nguồn mạch sức sống của người tôi tớ Chúa phải xuất phát từ đời sống cầu nguyện thâm sâu và sự kết hợp mật thiết với Bí tích Thánh Thể. Thánh Thể không chỉ là lương thực nuôi dưỡng linh hồn mà còn là ngọn lửa thiêu rụi mọi tính mê nết xấu, biến đổi tâm hồn chúng ta nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô. Khi chúng ta ăn bánh này và uống chén này, chúng ta được mời gọi để trở thành tấm bánh bẻ ra cho người khác, trở thành hiện thân của tình yêu thương và lòng xót thương giữa một thế giới đang khô cằn vì thiếu vắng lòng nhân ái.
Nhìn lại lịch sử Giáo Hội qua các thời kỳ, chúng ta thấy biết bao vị thánh đã quảng đại đáp lại tiếng gọi của Chúa, từ bỏ tất cả để đi theo Ngài. Có những vị thánh đã hiến thân trong các tu viện cầu nguyện không ngừng cho nhân loại, có những vị đã dấn thân vào chốn rừng thiêng nước độc để truyền giáo, và có những giáo dân âm thầm chu toàn bổn phận gia đình, làm chứng cho Chúa nơi sở làm và khu xóm. Điểm chung của họ là họ không xem Thiên Chúa là một phần phụ trội trong cuộc sống, nhưng là Đấng chủ tể, là cùng đích và là nguồn mạch niềm vui của họ. Họ đã sống trọn vẹn từng phút giây dưới ánh sáng của đức tin, cậy và mến. Họ hiểu rằng thời gian trên trần thế này ngắn ngủi vô cùng, và cơ hội để yêu mến, để phụng sự Thiên Chúa chỉ có trong cuộc đời hiện tại này mà thôi.
Sứ vụ của người tôi tớ Chúa hôm nay cũng đòi hỏi sự nhạy bén trước những nhu cầu của thời đại. Thế giới hiện đại đang đối diện với nhiều khủng hoảng trầm trọng: khủng hoảng về giá trị luân lý, sự cô đơn trong các đô thị lớn, sự dửng dưng trước nỗi đau của đồng loại, và tình trạng tục hóa đang làm lu mờ hình ảnh Thiên Chúa trong tâm hồn con người. Giữa lòng một thế giới như thế, người Ki-tô hữu được sai đến như muối cho đời và ánh sáng cho trần gian. Ánh sáng ấy không đến từ tài năng hùng biện hay sự khôn ngoan triết lý phàm trần, nhưng phát xuất từ một đời sống phản chiếu khuôn mặt nhân hậu và xót thương của Chúa Cha. Khi chúng ta biết tha thiết yêu thương kẻ thù, biết rộng tay cứu giúp người nghèo khổ khốn cùng, biết an ủi những kẻ buồn rầu và đem lại hy vọng cho những ai thất vọng, lúc đó chúng ta đang thực thi đúng ý nghĩa của danh hiệu người tôi tớ trung kiên.
Để có thể duy trì được ngọn lửa nhiệt thành ấy, chúng ta cần phải thực hành sự tỉnh thức liên tục. Sự xao lãng thiêng liêng là cạm bẫy tinh vi nhất có thể làm nguội lạnh lòng số mến bất cứ lúc nào. Những bận rộn cơm áo gạo tiền, những lo toan thường nhật rất dễ cuốn chúng ta vào dòng chảy thế tục, khiến chúng ta quên mất nhịp đập của ơn thánh. Do đó, việc thiết lập một trật tự thiêng liêng trong đời sống, một kế hoạch sống đạo đạm bạc nhưng sâu sắc là điều vô cùng cần thiết. Dành ra những khoảng thời gian tĩnh lặng trong ngày để thưa chuyện với Chúa, đọc và suy gẫm Lời Chúa, tham dự thánh lễ với tâm tình sốt sắng chính là những chiếc neo giữ vững con thuyền đời ta trước những cơn bão táp của cuộc đời.
Hơn thế nữa, tinh thần phục vụ toàn thời gian đòi hỏi sự khiêm nhường sâu thẳm. Trong bài học Tin Mừng, Chúa Giê-su thường dạy các môn đệ rằng ai muốn làm lớn thì phải làm đầy tớ cho mọi người. Chức vụ hay quyền hạn trong Giáo Hội không phải là đặc quyền để cai trị hay tìm kiếm vinh quang riêng, nhưng là một cơ hội để rửa chân cho anh chị em mình, noi gương Thầy Chí Thánh. Một người tôi tớ chân chính không bao giờ tự mãn về những công trạng mình đã lập được, mà luôn ý thức rằng mọi ơn lành đều phát xuất từ lòng thương xót của Thiên Chúa, và bản thân chỉ là những đầy tớ vô dụng đã làm những điều phải làm. Sự khiêm nhường này bảo vệ tâm hồn khỏi sự kiêu ngạo – thứ cỏ lùng có thể bóp nghẹt mọi nhân đức tốt lành.
Khi chu toàn sứ mạng được trao phó, chúng ta cũng đừng quên rằng phần thưởng lớn lao đang đợi chờ chúng ta ở quê hương vĩnh cửu. Cuộc đời này dẫu có những lúc thăng trầm, đau khổ, thử thách và hiểu lầm, nhưng tất cả đều là trường luyện tập để thanh luyện đức tin và làm cho tình yêu chúng ta nên tinh tuyểng. Thánh Phao-lô đã từng tuyên bố rằng những đau khổ hiện tại không thể so sánh với vinh quang sắp được mặc khải nơi chúng ta. Niềm hy vọng vào sự sống lại và vương quốc đời đời chính là nguồn động lực mạnh mẽ giúp người tôi tớ Chúa không bao giờ bỏ cuộc, không bao giờ chùng bước trước những khó khăn ngược đãi của thời đại.
Giáo Hội hôm nay đang khẩn thiết cần đến những tâm hồn quảng đại, những con người sẵn sàng thưa “xin vâng” trọn vẹn với ơn gọi của mình. Không phân biệt tuổi tác, hoàn cảnh hay khả năng, mỗi người đều có một chỗ đứng độc đáo trong vườn nho của Chúa. Có thể chúng ta không được gọi để ra đi hoạ đồ những vùng đất xa xôi, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể làm tông đồ ngay trong gia đình mình, nơi bàn làm việc, trong góc khuất của những đau khổ bệnh tật. Chính thái độ sống yêu thương, tận tụy và phó thác sẽ biến cuộc đời bình dị của chúng ta thành một bài giảng sống động, một thứ hương thơm của Đức Ki-tô lan tỏa đến những ai chúng ta gặp gỡ.
Ước gì mỗi chúng ta, khi suy ngẫm về ơn gọi cao quý làm con cái Chúa và làm những người tôi tớ trọn thời gian của Ngài, biết canh tân lại quyết tâm bước theo Đức Giê-su một cách triệt để hơn. Xin Chúa Thánh Thần soi sáng và ban sức mạnh, để dẫu giữa một thế giới nhiều xao động và bóng tối, chúng ta vẫn hiên ngang đứng vững, thắp sáng ngọn lửa đức tin, cậy, mến, và hân hoan chờ ngày Chúa quang lâm để đón chúng ta vào hưởng hạnh phúc muôn đời trong nhà Cha trên trời.
Lm. Anmai, CSsR
NHỮNG NGƯỜI TÔM-TỚ TOÀN THỜ CỦA CHÚA
Đời sống đức tin của mỗi người Ki-tô hữu không thể dừng lại ở một sự tuân giữ các lề luật hình thức hay một mớ các nghĩa vụ tôn giáo khô khan, nhưng phải vươn tới một chiều kích cao cả hơn, đó là sự dấn thân trọn vẹn và trọn thời gian để phụng sự Thiên Chúa. Thánh Phao-lô tông đồ, trong thư gửi tín hữu Rô-ma, đã phác họa nên một bức tranh vô cùng sống động về những con người đã mở lòng ra cho ơn thánh, đã cộng tác cách quảng đại vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa, và trở thành những cộng sự viên đắc lực, những tông đồ nhiệt thành cho Tin Mừng. Việc bước theo Chúa không phải là một sở thích thời vụ, cũng không phải là một công việc làm thêm giờ trong những lúc rảnh rỗi, nhưng đòi hỏi sự hiến dâng toàn bộ tâm hồn, trí khôn và sức lực. Trở thành người tôi tớ trọn thời gian của Chúa nghĩa là để cho tình yêu của Ngài thấm nhuẫn từng nhịp đập của con tim, từng suy nghĩ của lý trí và từng hành động trong đời sống hằng ngày.
Khi chiêm ngắm các chứng nhân thời giáo đoàn tiên khởi, chúng ta thấy nổi lên những tấm gương sáng ngời về sự hy sinh và lòng trung thành. Họ không màng danh lợi thế gian, không tìm kiếm vinh quang hão huyền hay sự an nhàn chóng qua, nhưng đặt trọn vẹn niềm cậy trông vào vương quốc vĩnh cửu. Họ hiểu rằng của cải trần gian, dù là tiền tài hay địa vị, cuối cùng cũng sẽ qua đi như một làn gió thoảng. Điều duy nhất còn lại và có giá trị vĩnh cửu chính là tình nghĩa với Thiên Chúa và những việc làm bác ái được thực hiện vì danh Ngài. Chúa Giê-su đã từng mời gọi các môn đệ hãy dùng những của cải bất chính để tạo cho mình những người bạn, những người sẽ đón rước chúng ta vào các lều thánh vĩnh cửu. Lời mời gọi này không khuyến khích sự bất lương, trái lại, nó dạy chúng ta biết biến đổi những vật chất mau qua của thế gian này thành những công cụ của tình yêu thương, của lòng thương xót và sự sẻ chia. Những ai biết sử dụng tài sản và khả năng Chúa ban để làm vinh danh Ngài và giúp đỡ tha nhân chính là những người đang tích trữ kho báu trên trời, nơi mối mọt không thể đục khoét và kẻ trộm không thể đào ngạch mà lấy đi.
Sự phục vụ Chúa toàn thời gian đòi hỏi một thái độ kiên định và trung tín trong những điều nhỏ nhặt nhất. Đức Giê-su đã khẳng định một nguyên tắc nền tảng rằng ai trung tín trong việc rất nhỏ thì cũng trung tín trong việc lớn, và ai bất lương trong việc rất nhỏ thì cũng bất lương trong việc lớn. Đời sống thiêng liêng được xây dựng từ những viên gạch nhỏ bé hằng ngày: một lời cầu nguyện chân thành buổi sáng, một cử chỉ bác ái âm thầm nơi công sở, sự nhẫn nại trong gia đình, hay lòng trung thực trong công việc làm ăn. Nếu chúng ta không thể giữ lòng trung kiên trong những thử thách nhỏ bé hằng ngày, làm sao chúng ta có thể hy sinh mạng sống hay đối diện với những giông bão lớn lao vì danh Chúa? Sự trung tín ấy chính là tấm lót đường cho lòng yêu mến nở hoa, giúp chúng ta trở thành những người quản gia trung tín và khôn ngoan mà người chủ sẽ đặt lên cai quản cơ nghiệp của Ngài khi Người trở lại.
Thánh Phao-lô, khi viết những dòng cuối thư gửi Rô-ma, đã nhắc đến tên của rất nhiều anh chị em, những cộng sự viên âm thầm nhưng vô cùng quan trọng trong sứ vụ loan báo Tin Mừng. Có những người đã liều mình để cứu lấy mạng sống của Phao-lô, có những người lao động vất vả vì Chúa, có những người là bà con, là bạn hữu trong đức tin. Điều này cho thấy rằng thân thể mầu nhiệm của Đức Ki-tô không thể thiếu bất kỳ một chi thể nào. Mỗi người, dù ở bậc sống linh mục, tu sĩ hay giáo dân giữa đời, đều được mời gọi trở thành những tông đồ tích cực. Sự phục vụ không phân biệt sang hèn, không đòi hỏi phải đứng ở những vị trí cao trọng hay được người đời ca tụng, nhưng cần một tâm hồn khiêm tốn, biết đặt ý muốn của Thiên Chúa lên trên hết mọi sự. Khi một người dâng hiến trọn vẹn cuộc đời mình cho Chúa, công việc họ làm, dẫu có tầm thường đến đâu trong mắt người đời, cũng trở thành một kinh nguyện cao cả dâng lên tòa cao Thiên Chúa.
Tuy nhiên, con đường phục vụ toàn thời gian ấy không phải lúc nào cũng trải đầy hoa hồng. Thế gian với những cám dỗ về quyền lực, khoái lạc và sự ích kỷ luôn tìm cách kéo chúng ta ra khỏi con đường hẹp của Tin Mừng. Những lúc ấy, sức mạnh tự nhiên của con người trở nên yếu đuối và dễ gục ngã. Chính vì thế, nguồn mạch sức sống của người tôi tớ Chúa phải xuất phát từ đời sống cầu nguyện thâm sâu và sự kết hợp mật thiết với Bí tích Thánh Thể. Thánh Thể không chỉ là lương thực nuôi dưỡng linh hồn mà còn là ngọn lửa thiêu rụi mọi tính mê nết xấu, biến đổi tâm hồn chúng ta nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô. Khi chúng ta ăn bánh này và uống chén này, chúng ta được mời gọi để trở thành tấm bánh bẻ ra cho người khác, trở thành hiện thân của tình yêu thương và lòng xót thương giữa một thế giới đang khô cằn vì thiếu vắng lòng nhân ái.
Nhìn lại lịch sử Giáo Hội qua các thời kỳ, chúng ta thấy biết bao vị thánh đã quảng đại đáp lại tiếng gọi của Chúa, từ bỏ tất cả để đi theo Ngài. Có những vị thánh đã hiến thân trong các tu viện cầu nguyện không ngừng cho nhân loại, có những vị đã dấn thân vào chốn rừng thiêng nước độc để truyền giáo, và có những giáo dân âm thầm chu toàn bổn phận gia đình, làm chứng cho Chúa nơi sở làm và khu xóm. Điểm chung của họ là họ không xem Thiên Chúa là một phần phụ trội trong cuộc sống, nhưng là Đấng chủ tể, là cùng đích và là nguồn mạch niềm vui của họ. Họ đã sống trọn vẹn từng phút giây dưới ánh sáng của đức tin, cậy và mến. Họ hiểu rằng thời gian trên trần thế này ngắn ngủi vô cùng, và cơ hội để yêu mến, để phụng sự Thiên Chúa chỉ có trong cuộc đời hiện tại này mà thôi.
Sứ vụ của người tôi tớ Chúa hôm nay cũng đòi hỏi sự nhạy bén trước những nhu cầu của thời đại. Thế giới hiện đại đang đối diện với nhiều khủng hoảng trầm trọng: khủng hoảng về giá trị luân lý, sự cô đơn trong các đô thị lớn, sự dửng dưng trước nỗi đau của đồng loại, và tình trạng tục hóa đang làm lu mờ hình ảnh Thiên Chúa trong tâm hồn con người. Giữa lòng một thế giới như thế, người Ki-tô hữu được sai đến như muối cho đời và ánh sáng cho trần gian. Ánh sáng ấy không đến từ tài năng hùng biện hay sự khôn ngoan triết lý phàm trần, nhưng phát xuất từ một đời sống phản chiếu khuôn mặt nhân hậu và xót thương của Chúa Cha. Khi chúng ta biết tha thiết yêu thương kẻ thù, biết rộng tay cứu giúp người nghèo khổ khốn cùng, biết an ủi những kẻ buồn rầu và đem lại hy vọng cho những ai thất vọng, lúc đó chúng ta đang thực thi đúng ý nghĩa của danh hiệu người tôi tớ trung kiên.
Để có thể duy trì được ngọn lửa nhiệt thành ấy, chúng ta cần phải thực hành sự tỉnh thức liên tục. Sự xao lãng thiêng liêng là cạm bẫy tinh vi nhất có thể làm nguội lạnh lòng số mến bất cứ lúc nào. Những bận rộn cơm áo gạo tiền, những lo toan thường nhật rất dễ cuốn chúng ta vào dòng chảy thế tục, khiến chúng ta quên mất nhịp đập của ơn thánh. Do đó, việc thiết lập một trật tự thiêng liêng trong đời sống, một kế hoạch sống đạo đạm bạc nhưng sâu sắc là điều vô cùng cần thiết. Dành ra những khoảng thời gian tĩnh lặng trong ngày để thưa chuyện với Chúa, đọc và suy gẫm Lời Chúa, tham dự thánh lễ với tâm tình sốt sắng chính là những chiếc neo giữ vững con thuyền đời ta trước những cơn bão táp của cuộc đời.
Hơn thế nữa, tinh thần phục vụ toàn thời gian đòi hỏi sự khiêm nhường sâu thẳm. Trong bài học Tin Mừng, Chúa Giê-su thường dạy các môn đệ rằng ai muốn làm lớn thì phải làm đầy tớ cho mọi người. Chức vụ hay quyền hạn trong Giáo Hội không phải là đặc quyền để cai trị hay tìm kiếm vinh quang riêng, nhưng là một cơ hội để rửa chân cho anh chị em mình, noi gương Thầy Chí Thánh. Một người tôi tớ chân chính không bao giờ tự mãn về những công trạng mình đã lập được, mà luôn ý thức rằng mọi ơn lành đều phát xuất từ lòng thương xót của Thiên Chúa, và bản thân chỉ là những đầy tớ vô dụng đã làm những điều phải làm. Sự khiêm nhường này bảo vệ tâm hồn khỏi sự kiêu ngạo – thứ cỏ lùng có thể bóp nghẹt mọi nhân đức tốt lành.
Khi chu toàn sứ mạng được trao phó, chúng ta cũng đừng quên rằng phần thưởng lớn lao đang đợi chờ chúng ta ở quê hương vĩnh cửu. Cuộc đời này dẫu có những lúc thăng trầm, đau khổ, thử thách và hiểu lầm, nhưng tất cả đều là trường luyện tập để thanh luyện đức tin và làm cho tình yêu chúng ta nên tinh tuyểng. Thánh Phao-lô đã từng tuyên bố rằng những đau khổ hiện tại không thể so sánh với vinh quang sắp được mặc khải nơi chúng ta. Niềm hy vọng vào sự sống lại và vương quốc đời đời chính là nguồn động lực mạnh mẽ giúp người tôi tớ Chúa không bao giờ bỏ cuộc, không bao giờ chùng bước trước những khó khăn ngược đãi của thời đại.
Giáo Hội hôm nay đang khẩn thiết cần đến những tâm hồn quảng đại, những con người sẵn sàng thưa “xin vâng” trọn vẹn với ơn gọi của mình. Không phân biệt tuổi tác, hoàn cảnh hay khả năng, mỗi người đều có một chỗ đứng độc đáo trong vườn nho của Chúa. Có thể chúng ta không được gọi để ra đi hoạ đồ những vùng đất xa xôi, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể làm tông đồ ngay trong gia đình mình, nơi bàn làm việc, trong góc khuất của những đau khổ bệnh tật. Chính thái độ sống yêu thương, tận tụy và phó thác sẽ biến cuộc đời bình dị của chúng ta thành một bài giảng sống động, một thứ hương thơm của Đức Ki-tô lan tỏa đến những ai chúng ta gặp gỡ.
Ước gì mỗi chúng ta, khi suy ngẫm về ơn gọi cao quý làm con cái Chúa và làm những người tôi tớ trọn thời gian của Ngài, biết canh tân lại quyết tâm bước theo Đức Giê-su một cách triệt để hơn. Xin Chúa Thánh Thần soi sáng và ban sức mạnh, để dẫu giữa một thế giới nhiều xao động và bóng tối, chúng ta vẫn hiên ngang đứng vững, thắp sáng ngọn lửa đức tin, cậy, mến, và hân hoan chờ ngày Chúa quang lâm để đón chúng ta vào hưởng hạnh phúc muôn đời trong nhà Cha trên trời.
Lm. Anmai, CSsR
HÀNH TRANG CỦA LÒNG TRUNG HỚT VÀ SỰ TỰ DO NỘI TÂM TRONG TIN MỪNG
Cuộc hành trình trần世 của mỗi người Kitô hữu luôn được định hướng bởi ánh sáng Lời Chúa, một thứ ánh sáng không chỉ soi chiếu bước đường hiện tại mà còn mở ra chân trời vĩnh cửu. Khi chi ngắm mầu nhiệm đức tin, chúng ta thường đối diện với những nghịch lý Tin Mừng, nơi các giá trị của trần gian bị đảo lộn bởi logic yêu thương của Thiên Chúa. Sự khôn ngoan của con cái ánh sáng đôi khi bị che lấp bởi những tính toán vụ lợi, thực dụng của con cái đời này. Chính trong bối cảnh ấy, Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta lội ngược dòng, nhìn sâu vào tâm thức của chính mình để thanh luyện những mối dây liên kết, đặc biệt là cách chúng ta đối xử với của cải vật chất, với trách nhiệm được trao phó và trên hết là thái độ sống trước tôn nhan Đấng Tối Cao.
Sự quản trị cuộc đời không chỉ đơn thuần là việc thu tích tài sản hay duy trì một địa vị xã hội an toàn. Trong nhãn quan đức tin, tất cả những gì chúng ta có từ thời gian, khả năng, sức lực cho đến của cải đều là những hồng ân phát xuất từ lòng từ bi vô lượng của Thiên Chúa. Chúng ta không phải là chủ nhân tuyệt đối mà chỉ là những người quản lý, những người phục vụ được Thiên Chúa trao phó tài nguyên để sinh lợi cho Vương Quốc Ngài. Thử thách lớn nhất của người quản gia trần thế không nằm ở việc họ có bao nhiêu tài sản, mà nằm ở sự trung tín trong những việc nhỏ nhặt nhất. Một tâm hồn trung tín trong việc nhỏ sẽ dễ dàng đón nhận những trách nhiệm lớn lao hơn từ ơn trên, bởi vì sự trung tín ấy phản ánh một bản chất đã được uốn nắn bởi lòng yêu mến và sự kính sợ Thiên Chúa.
Tuy nhiên, thực tế cuộc sống thường lôi kéo con người vào vòng xoáy của sự bất chính và lòng tham lam. Của cải vật chất, tự bản chất không xấu, nhưng nó mang một sức mạnh cám dỗ mãnh liệt, dễ dàng biến con người từ chỗ sử dụng của cải thành kẻ nô lệ phục vụ cho của cải. Chúa Giêsu đã đưa ra một chân lý tuyệt đối rằng không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Con người không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của. Sự phân định này đòi hỏi một quyết định dứt khoát, một sự chọn lựa mang tính triệt để. Khi chúng ta chọn Thiên Chúa làm cùng đích cuộc đời, mọi thực tại trần世, kể cả tiền tài và danh vọng, đều phải lùi về đúng vị trí phụ thuộc của nó, trở thành phương tiện để thực thi bác ái, để xây đắp tình huynh đệ và mở rộng cõi lòng đón nhận anh chị em.
Sự khôn ngoan đích thực không phải là sự tinh ranh, lọc lừa theo kiểu thế gian, mà là sự khôn ngoan biết nhìn xa trông rộng dưới góc độ cứu rỗi. Người quản gia bất lương trong dụ ngôn, dẫu bị khiển trách về phương diện đạo đức thực tế, nhưng lại được Chúa Giêsu ca ngợi về óc tháo vát và tầm nhìn hướng về tương lai. Ông biết sử dụng của cải bất chính để tạo lập những mối quan hệ, chuẩn bị cho ngày mình bị truất phế. Nếu những con cái đời này lại khôn khéo như thế trong việc tính toán cho tương lai tạm bợ, thì huống chi con cái ánh sáng lại càng phải khôn ngoan gấp bội trong việc đầu tư cho cõi vĩnh hằng. Đầu tư cho vĩnh hằng có nghĩa là dùng những giá trị vật chất mau qua để mưu cầu những giá trị thiêng liêng trường tồn, biết sẻ chia với những kẻ khốn cùng, biết biến những người nghèo đói thành những người bạn mở cửa đón chúng ta vào chốn vĩnh phúc.
Thái độ trung tín trong việc nhỏ còn thể hiện qua sự liêm khiết nội tâm. Thiên Chúa thấu suốt những ý định thầm kín của con người. Những gì cao sang trước mặt người đời đôi khi lại là sự ghê tởm trước mặt Thiên Chúa, bởi vì Ngài không nhìn vẻ bề ngoài nhưng thấu suốt cõi lòng. Sự giả hình, sự tự mãn hay việc ngụy biện cho những bất công nhỏ nhặt đều làm vẩn đục phẩm giá của một người con Chúa. Thanh luyện tâm hồn đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ ảo tưởng tự lập, trở về với tinh thần khó nghèo tinh thần, nơi chúng ta hoàn toàn phó thác và dựa vào ơn thánh Chúa. Chỉ trong sự khiêm nhường ấy, chúng ta mới có thể phân định đâu là ý Chúa và đâu là cạm bẫy của thế gian.
Hành trình hoán cải mỗi ngày là một lời mời gọi bước ra khỏi vùng an toàn của sự ích kỷ. Thế giới hôm nay đang chứng kiến biết bao nhiêu sự tôn thờ ngẫu tượng mới: ngẫu tượng của quyền lực, của sự tiêu thụ vô độ, của lòng tự mãn cá nhân. Những ngẫu tượng ấy làm xơ cứng trái tim con người, khiến chúng ta trở nên dửng dưng trước nỗi đau của đồng loại và vô cảm trước tiếng gọi của ơn trên. Trái lại, người Kitô hữu được mời gọi trở thành chứng nhân của niềm hy vọng, sống giữa lòng thế gian nhưng không thuộc về thế gian, sử dụng của cải trần thế với tinh thần tự do đích thực của con cái Chúa. Sự tự do ấy giúp chúng ta không bị trói buộc bởi lo âu, không bị thao túng bởi tham vọng, mà luôn sẵn sàng đáp lại tiếng Chúa mời gọi trong từng phút giây của cuộc sống.
Khi nhìn lại bản thân, mỗi chúng ta cần tự vấn về cách quản lý những nén bạc mà Chúa đã trao ban. Thời gian chúng ta đang sống, những người thân yêu quanh ta, những cơ hội làm ơn làm phước, tất cả đều là ơn huệ. Chúng ta đã sử dụng chúng thế nào? Đã bao lần chúng ta để lòng mình vướng bận vào những lo toan vật chất tầm thường mà quên mất sứ mạng loan báo Tin Mừng bằng chính đời sống bác ái? Đã bao lần chúng ta tỏ ra bất trung trong những việc nhỏ, để rồi bỏ lỡ những ân sủng lớn lao mà Thiên Chúa muốn tuôn đổ trên cuộc đời chúng ta? Những câu hỏi ấy không nhằm đẩy chúng ta vào sự tuyệt vọng, nhưng là đánh thức tâm hồn, giục giã chúng ta quay trở về với nguồn mạch xót thương vô tận của Thiên Chúa.
Ơn cứu độ không phải là một phần thưởng dành cho những ai tự cho mình là công chính, mà là quà tặng nhưng không dành cho những tấm lòng biết khiêm tốn nhận ra sự yếu đuối và khao khát đổi mới. Bí tích Thánh Thể mà chúng ta cử hành mỗi ngày chính là đỉnh cao của sự sẻ chia, là hình ảnh tiên báo về bữa tiệc cánh chung, nơi mọi rào cản về giai cấp, giàu nghèo bị xóa nhòa trong tình yêu của Đức Kitô. Khiêm tốn quỳ gối đón nhận Bánh Trường Sinh, chúng ta được biến đổi để trở nên tấm bánh bẻ ra cho người khác, mang sự ấm áp của tình yêu thương đến những vùng tối tăm của xã hội, nơi con người còn đang quằn quại trong nghèo đói, bất công và cô độc.
Ước gì qua lời cầu nguyện và sự chiêm niệm Lời Chúa hôm nay, mỗi người chúng ta biết canh tân đời sống, trở thành những người quản gia trung tín và khôn ngoan. Xin Chúa ban ơn soi sáng để chúng ta biết sử dụng của cải đời này như một phương tiện nhịp cầu dẫn đến sự sống đời đời, biết đặt trọn niềm tin tưởng vào một mình Thiên Chúa là gia nghiệp duy nhất, và luôn tiến bước trên con đường thánh thiện với một trái tim tự do, quảng đại, chan chứa niềm vui Tin Mừng.
Lm. Anmai, CSsR
HÀNH TRÌNH VƯỢT THOÁT KHỎI CƠN BỆNH THỜI ĐẠI: SỨC HÚT CỦA TIỀN CỦA VÀ ĐỊNH HƯỚNG TỪ TIN MỪNG
Trong hành trình dài của lịch sử nhân loại, qua bao thế hệ nối tiếp nhau, con người luôn phải đối mặt với những thử thách lớn lao mang tính sinh tử, không chỉ đến từ thiên nhiên khắc nghiệt, từ dịch bệnh hiểm nghèo hay từ những cuộc chiến tranh tàn khốc, mà còn phát xuất từ chính sâu thẳm cõi lòng tăm tối và yếu đuối của mình. Có những thứ bệnh hoạn không làm chao đảo thân xác bằng những cơn sốt cao hay những vết thương rớm máu, nhưng lại gặm nhấm, đục khoét và hủy diệt phẩm giá cao quý của con người từ bên trong, biến một thụ tạo được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa trở thành kẻ nô lệ cho những ảo tưởng phù du. Một trong những căn bệnh tâm linh thâm độc, nguy hiểm và âm thầm nhất của thời đại chúng ta, cũng như của mọi thời đại, chính là sự thống trị tuyệt đối của lòng tham lam, sự gắn bó bệnh hoạn vào vật chất và tiền tài, một trạng thái tâm thần mà truyền thuyết dân gian phương Bắc từng hình dung qua hình ảnh rùng rợn của con quái vật Windigo, và mà tâm lý học hiện đại gọi tên là chứng nghiện tích trữ hay sự lệ thuộc tột cùng vào của cải.
Khi Tin Mừng theo thánh Luca vang lên qua đoạn văn bản phản chiếu lời dạy sâu sắc của Đức Giêsu về việc “không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của”, Ngài không hề đưa ra một lý thuyết kinh tế khô khan hay một lời khuyến cáo luân lý hời hợt, nhưng là một lời cảnh tỉnh mang tính cánh chung, một tiếng kêu cứu khẩn thiết dành cho những ai đang từng bước tự giam hãm mình trong chiếc lồng son của chủ nghĩa tiêu thụ và sự ích kỷ cá nhân. Tiền tài, của cải, vật chất tự bản chất không phải là thứ ma quỷ hay tội lỗi; chúng là những phương tiện được ban tặng để phục vụ sự sống, để dệt nên những mối tình hiệp thông và liên đới giữa con người với nhau trong đại gia đình nhân loại. Thế nhưng, dưới áp lực của một nền văn hóa thị trường xem lợi nhuận là thước đo giá trị con người, những phương tiện ấy nhanh chóng biến chất, soán ngôi Thiên Chúa, ngự trị trên bàn thờ của tâm hồn và đòi hỏi con người phải cúi đầu phụng sự.
Căn bệnh Windigo tinh thần ấy biến con người thành những kẻ luôn luôn đói khát dẫu đã ăn ngập tràn, luôn cảm thấy thiếu thốn dẫu kho lẫm đã chật ních, và quan trọng hơn cả, nó làm tê liệt hoàn toàn khả năng yêu thương, khiến chúng ta dửng dưng trước nỗi đau của những người nghèo khổ đang đứng ngay bên lề cuộc đời mình. Đứng trước ngã ba đường của lịch sử cá nhân và nhân loại, người tín hữu không thể cứ mãi dạo chơi trong sự lừng khừng giữa hai bờ thiện ác, giữa sự bám víu vào thế gian và tiếng gọi hướng thượng của ơn thánh. Việc lựa chọn dứt khoát bước theo Đức Giêsu đòi hỏi một cuộc đại phẫu thuật trong tâm hồn, một sự lột xác toàn diện để đập tan những bức tường kiên cố của lòng ích kỷ, tái lập lại trật tự đích thực của cõi lòng nơi chỉ có Thiên Chúa mới là trung tâm tối thượng, và tha nhân chính là tấm gương phản chiếu dung nhan từ ái của Ngài.
Để thấu hiểu tường tận mức độ trầm trọng của căn bệnh tâm linh mà Đức Giêsu muốn triệt hạ tận gốc trong đoạn Tin Mừng, chúng ta cần dừng lại để suy ngẫm về biểu tượng kinh điển của con quái vật Windigo. Theo truyền thuyết của các dân tộc bản địa vùng cực bắc, Windigo là một thực thể ma quái sinh ra từ sự đói khát khôn cùng và lòng tham lam vô đáy. Điểm kỳ lạ và đáng sợ nhất của bệnh nhân mắc chứng Windigo trong huyền thoại không phải là việc họ thiếu thốn thức ăn, mà ngược lại, họ càng ăn nhiều bao nhiêu thì lại càng cảm thấy đói khát bấy nhiêu, và cơn đói khát quái ác ấy cuối cùng đẩy họ đến bờ vực thẳm của sự tàn bạo: ăn thịt chính đồng loại của mình để thỏa mãn cái bao tử không bao giờ biết đáy.
Dưới góc nhìn tâm lý học và thiêng liêng học, hình ảnh huyền thoại ấy không hề là một câu chuyện cổ tích hoang đường, mà là một bức tranh chính xác đến rợn ngợp về hiện trạng của con người thời đại kỹ thuật số và toàn cầu hóa. Chúng ta đang sống trong một xã hội dư thừa mọi thứ, nơi mà guồng máy sản xuất và tiếp thị không ngừng nhồi sọ khối óc con người bằng những điệp khúc quyến rũ về việc phải tiêu thụ nhiều hơn, phải sở hữu những mẫu mã mới hơn, phải khẳng định đẳng cấp qua những xa hoa vật chất. Thế nhưng, nghịch lý thay, sự dồi dào về mặt vật chất lại song hành với một sự bần cùng hóa trầm trọng về mặt tâm hồn. Con người hiện đại giống như những kẻ mắc chứng syllogomanie – hội chứng tích trữ bệnh hoạn, nơi mà những món đồ vật vô tri vô giác bắt đầu chiếm lĩnh không gian sống, bóp nghẹt các mối tương quan nhân ái, và cuối cùng, biến con người thành sở hữu chủ bị sở hữu ngược lại bởi chính những đống rác xa hoa do mình tạo ra.
Các nhà truyền giáo tiên khởi khi đặt chân lên vùng đất mới từng ghi nhận những trường hợp con người bị thao túng bởi thứ tâm lý đen tối này, ví von họ chẳng khác nào những kẻ bị quỷ ám nơi miền Geresa xưa, nơi đám đông tăm tối hét lên rằng “Lệnh tộc là tên tôi, vì chúng tôi đông lắm”, và không một sức mạnh trần thế nào có thể kìm hãm hay trói buộc nổi. Sức mạnh của lòng tham lam thời đại mới cũng mang tính “quỷ ám” y hệt như thế. Nó bẻ cong ý chí con người, làm lu mờ lương tâm đạo đức, và biến cuộc đời thành một cuộc trường chinh vô tận nhằm vơ vét cho đầy túi tham, bất chấp việc phải dẫm đạp lên phẩm giá, hạnh phúc hay mồ hôi nước mắt của anh chị em đồng loại.
Cơn bệnh này mang bản chất của sự tha hóa triệt để. Khi tiền tài và của cải được cất nhắc lên hàng thần tượng tối cao, chúng không còn đóng vai trò là công cụ phục vụ đời sống nữa mà trở thành những chủ nhân ông độc tài. Chúng bóp nghẹt tiếng nói nội tâm, làm điếc tai những lời mời gọi của tình bác ái, và đẩy con người vào một sự cô lập tuyệt đối trong chính cái tôi ích kỷ của mình. Người mắc bệnh Windigo tâm linh không còn khả năng nhìn thấy nỗi đau của người khác, bởi vì trường thị giác của họ đã bị che khuất hoàn toàn bởi những đống tài sản lấp lánh nhưng lạnh lẽo. Đối với họ, con người xung quanh không còn là anh chị em, không còn là hiện thân của Đức Kitô đau khổ, mà chỉ là những công cụ, những đối tác kinh tế, hoặc tệ hại hơn, là những vật cản cần phải loại bỏ trên con đường tiến thân và tích lũy.
Trong cấu trúc của vũ trụ tâm linh, Đức Giêsu Kitô đã đưa ra một chân lý sắc bén như gươm hai lưỡi, một nguyên tắc tuyệt đối không cho phép bất kỳ sự nhượng bộ hay thỏa hiệp nào: “Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ nọ mà khinh dể chủ kia. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của”. Lời tuyên bố này vạch rõ một lằn ranh đỏ không thể xóa nhòa giữa hai thứ quyền lực đang tranh giành cõi lòng nhân loại: Vương Quốc của ánh sáng, của tình yêu tự hiến và sự cậy trông vào Thiên Chúa, đối lập hoàn toàn với vương quốc của bóng tối, của sự tích lũy ích kỷ và lòng tham lam vật chất.
Thế nhưng, bi kịch lớn nhất của con người tôn giáo hôm nay lại nằm ở chỗ chúng ta luôn tìm cách lách qua lằn ranh ấy bằng thứ đạo đức nửa vời, bằng thứ tâm lý ngoại giao khéo léo giữa ơn cứu độ và sự thỏa mãn trần thế. Chúng ta muốn giữ một chân trong Giáo Hội, chăm chỉ tham dự các cử hành phụng vụ, đọc những lời kinh nguyện trang trọng, đóng góp một phần nhỏ bé cho các công việc từ thiện bác ái, nhưng đồng thời, chân kia lại cắm sâu vào vũng lầy của chủ nghĩa duy vật hưởng thụ, xem việc kiếm tiền bằng mọi giá là lẽ sống tối thượng của cuộc đời. Chúng ta tưởng rằng mình có thể phục vụ cả hai vị chúa tể ấy cùng một lúc, rằng sự khôn ngoan ngoại giao có thể dung hòa giữa lòng mến Chúa và sự tôn thờ Mammon.
Đức Thánh Cha Phanxicô trong nhiều dịp đã từng đanh thép nhắc nhở rằng: ở lại trong Chúa và ở lại trong những toan tính trần thế vụ lợi không bao giờ có thể đồng nhất với nhau. Khi con người mải mê lo toan cho hàng ngàn thứ công việc bề ngoài, bận rộn với những dự án trần thế mà đánh mất đi cội rễ sâu xa nơi tình nghĩa thâm trầm với Thiên Chúa, thì sớm muộn gì họ cũng phải trả một cái giá đắt đỏ. Đó là sự tỉnh ngộ bẽ bàng khi nhận ra rằng trong suốt cuộc hành trình dài rộng của cuộc đời, ta đã vô tình đánh mất Thiên Chúa từ bao giờ giữa những bận rộn không tên, giữa những tiếngùng oang oang của thị trường tài chính và những cuộc đua tranh vô tận về danh vọng.
Tinh thần của thế gian, hay nói cách khác là tinh thần Windigo, luôn tìm mọi cách xâm thực vào đời sống Giáo Hội và cộng đoàn tín hữu dưới những vỏ bọc rất đạo đức. Người ta có thể dùng ơn gọi, dùng danh nghĩa phục vụ cộng đoàn để che đậy cho những tham vọng cá nhân, cho sự khao khát quyền lực và sự bành trướng tài sản. Khi ấy, Tin Mừng cứu độ không còn là sức mạnh giải phóng nữa, mà bị thu hẹp lại thành một thứ đạo lý thuần túy hình thức, một thứ gia vị tinh thần dùng để xoa dịu lương tâm sau những giờ phút bòn rút và tranh đoạt ở thương trường. Cuộc chiến giữa tinh thần của Đức Giêsu và tinh thần của của cải không diễn ra ở những chiến trường xa xôi ngoài xã hội, mà diễn ra ngay bên trong từng nhịp đập của trái tim con người, nơi chúng ta buộc phải đưa ra quyết định dứt khoát: hoặc để cho Thiên Chúa chiếm hữu trọn vẹn, hoặc cúi đầu làm nô lệ cho những ngẫu tượng do chính bàn tay mình nhào nặn.
Giải pháp mà Đức Giêsu đề ra trong đoạn Tin Mừng không phải là một lời kêu gọi trốn chạy thế gian, cũng không phải là sự cổ súy cho một chủ nghĩa khắc khổ cực đoan lên án mọi hình thức sở hữu tài sản. Ngài kể câu chuyện về người quản gia khéo léo không phải để ca ngợi sự gian lận hay bất lương của hắn, mà để đánh thức sự sắc sảo, tính nhạy bén và tầm nhìn chiến lược của con người trước thực tại mai hậu. Người quản gia ấy, khi đối diện với nguy cơ bị sa thải vì tội phung phí tài sản, đã biết cách dùng những đồng tiền bất chính, những nguồn lực đang nằm trong tay mình để kết bạn, để tạo dựng những mối tương quan nhân ái nhằm đón nhận anh ta khi lâm vào cảnh khốn cùng.
Chìa khóa mở ra cánh cửa thoát khỏi căn bệnh Windigo chính là sự đảo ngược triệt để cách chúng ta nhìn nhận và sử dụng của cải vật chất. Trong nền kinh tế của lòng tham, của cải là mục đích tối hậu để con người tôn thờ và bám víu; nhưng trong nền kinh tế của Tin Mừng, của cải chỉ là một phương tiện tạm thời, một “người bạn bất lương” cần phải được thuần hóa và biến đổi thành chiếc cầu nối dẫn đến tình huynh đệ. Đức Giêsu dạy chúng ta hãy dùng tiền tài vật chất để mua lấy những tình bạn vĩnh cửu, nghĩa là hãy mở rộng bàn tay san sẻ, hãy đầu tư vào những mảnh đời bất hạnh, những con người bé mọn đang bị bỏ quên bên lề đường, bởi vì chính qua họ, qua ánh mắt cầu cứu của người nghèo khổ, chúng ta mới thực sự gặp gỡ và ôm ấp lấy chính Thiên Chúa.
Sự chuyển hóa này đòi hỏi một cuộc cách mạng trong nhận thức: từ chỗ sống hướng ngoại, bám víu vào những bề ngoài hào nhoáng, sang lối sống hướng nội, tìm về chiều sâu thẳm của tâm hồn nơi Thiên Chúa ngự trị. Các bậc thầy đời sống tâm linh như thánh Gioan Thánh Giá đã từng khẳng định rằng, con người chỉ thực sự tự do khi họ đi sâu vào trung tâm thẳm sâu nhất của cõi lòng, nơi mọi sự bám víu trần thế rơi rụng hết, nhường chỗ cho ngọn lửa tình yêu tinh tuyền của Thiên Chúa. Khi chiều kích nội tâm này suy yếu và khô cạn, cuộc sống lập tức mất đi hương vị đích thực, sự thinh lặng trở thành một thứ cực hình không thể chịu đựng nổi, và tha nhân biến mất khỏi tầm nhìn không phải vì họ không tồn tại, mà vì con người đã bị mù lòa trước sự hiện diện của họ.
Khoa học tâm lý hiện đại, qua hàng loạt các nghiên cứu thực nghiệm dài hạn về hạnh phúc con người, đã chứng minh một cách hùng hồn điều mà Đức Giêsu và các tông đồ từng loan báo từ ngàn xưa: “Có phúc hơn là nhận lãnh”. Cảm giác thỏa mãn sâu sắc nhất, bình an nội tâm bền vững nhất không bao giờ đến từ việc tích lũy thêm một đồng tiền vào tài khoản, không đến từ việc sở hữu thêm một căn biệt thự hay một chiếc xe sang trọng, mà phát xuất từ khoảnh khắc con người mở rộng trái tim để trao ban, để chia sẻ, để xoa dịu nỗi đau của người khác. Khi chúng ta buông bỏ quyền sở hữu ích kỷ để trở thành những người quản gia trung tín và quảng đại của Thiên Chúa, chúng ta đồng thời bẻ gãy gông cùm của căn bệnh Windigo, giải phóng tâm hồn khỏi ngục tù của sự sợ hãi và thiếu thốn giả tạo.
Hành trình từ bỏ tinh thần thế tục để bước theo ánh sáng Tin Mừng không phải là một biến cố chớp nhoáng xảy ra trong một khoảnh khắc ngẫu hứng, mà là một tiến trình chiến đấu trường kỳ, đòi hỏi sự tỉnh thức không ngừng nghỉ trong từng sinh hoạt thường nhật của đời sống kitô hữu. Mỗi buổi sáng thức dậy, khi ánh bình minh ló dạng cũng là lúc thế giới hiện đại dội vào tai chúng ta hàng ngàn thông điệp mời gọi tiêu thụ, thúc giục tranh đua, kích động lòng tham vọng và sự đố kỵ. Nếu không trang bị cho mình một chiếc khiên đức tin vững chắc và một đời sống cầu nguyện sâu lắng, chúng ta rất dễ trượt chân ngã quỵ vào cạm bẫy quen thuộc của lối sống thực dụng.
Sự tỉnh thức đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên kiểm định lại cách thức mình quản lý thời gian, năng lực, tiền bạc và các tài năng mà Thiên Chúa đã phú bẩm. Câu hỏi nền tảng mà mỗi người phải đặt ra cho chính mình trước nhan thánh Chúa vào cuối mỗi ngày sống không phải là “Tôi đã kiếm được bao nhiêu tiền?” hay “Tôi đã thâu tóm được bao nhiêu quyền lực?”, mà là “Tôi đã làm gì với những ân huệ Chúa trao?”, “Ai đã được hưởng nhờ sự quảng đại và lòng bác ái của tôi qua những hành động cụ thể?”, và “Liệu trái tim tôi có còn tự do trước những sức hút mãnh liệt của vật chất hay đã bị chúng trói buộc từ lâu?”.
Đời sống gia đình, môi trường làm việc xã hội, và các cộng đoàn giáo xứ chính là những không gian sống động nhất để thực hành cuộc cách mạng giải thoát này. Trong gia đình, cha mẹ có thể truyền dạy cho con cái bài học quý giá về sự đạm bạc, về lòng biết ơn và tinh thần chia sẻ với những mảnh đời khó khăn, thay vì vô tình tiêm nhiễm vào tâm hồn non nớt của trẻ thơ thứ văn hóa chạy theo nhãn hiệu, so đo giàu nghèo và coi trọng vật chất hơn nhân phẩm. Nơi công sở, người kitô hữu được mời gọi làm chứng cho sự liêm khiết, từ chối những cám dỗ gian lận, hối lộ hay bóc lột sức lao động của người khác để làm giàu trên mồ hôi nước mắt của anh em. Trong cộng đoàn giáo xứ, tinh thần liên đới phải được cụ thể hóa bằng những dấn thân kiên quyết để nâng đỡ người nghèo, người bệnh tật, những người bị thương tổn và gạt ra bên lề xã hội.
Sự ti tiện, lòng ghen tị và tính toán chi li chính là những triệu chứng ban đầu của căn bệnh Windigo tâm linh. Khi chúng ta bắt đầu cảm thấy khó chịu trước thành công của người khác, khi chúng ta tiếc rẻ một đồng bạc bố thí cho người khất thực bên đường, hoặc khi chúng ta dùng quyền lực và tiền bạc để thao túng các mối quan hệ xung quanh, đó chính là lúc hồi chuông báo động vang lên, nhắc nhở ta rằng virus của lòng tham đang bắt đầu xâm chiếm và làm tê liệt các mạch máu thiêng liêng của đời sống đức tin. Chữa lành căn bệnh này đòi hỏi một liều thuốc đắng nhưng vô cùng hiệu quả: sự khiêm tốn thừa nhận sự bất lực của chính mình trước cám dỗ của tiền tài, và quyết tâm phó thác cuộc đời trọn vẹn vào sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa.
Một trong những nguy cơ lớn nhất của đời sống đạo đức hình thức là sự tiều tụy, khô cằn và nhạt nhẽo. Khi con người đánh mất đi ngọn lửa nhiệt thành ban đầu, khi những buổi cử hành phụng vụ chỉ còn là những thói quen máy móc theo chu kỳ, và khi lời cầu nguyện trở thành những công thức đọc tụng vô hồn không cảm xúc, thì đó chính là mảnh đất màu mỡ để tinh thần thế gian len lỏi vào chiếm lĩnh. Sự tiều tụy thiêng liêng không đến từ những cơn bách hại dữ dội từ bên ngoài, mà đến từ sự nguội lạnh dần đều của cõi lòng khi chúng ta thỏa hiệp với tội lỗi và chấp nhận chung sống hòa bình với những toan tính ích kỷ tầm thường.
Đức Giêsu mời gọi chúng ta vượt qua sự tiều điều ấy bằng cách lao mình vào cơn lốc mãnh liệt của tình yêu Thiên Chúa. Tình yêu ấy không đứng ngoài lề lịch sử, không bàng quan trước nỗi đau nhân loại, mà luôn lao xuống vực thẳm của sự khốn cùng để cứu rỗi và nâng dậy. Khi chúng ta để cho Thiên Chúa “nuốt chửng” cuộc đời mình bằng ngọn lửa Thánh Thần, khi chúng ta không còn sợ hãi việc phải mất mát hay bị thiệt thòi vì Tin Mừng, thì lúc đó những gông cùm của của cải vật chất tự động rơi rụng xuống. Sự tự do của con cái Chúa được thể hiện rạng ngời qua một cuộc sống không còn bị chi phối bởi nỗi sợ ngày mai ăn gì, mặc gì, sống ra sao, mà hoàn toàn an nghỉ trong sự chăm sóc từ mẫu của Đấng thấu suốt mọi nhu cầu.
Hãy nhìn ngắm dung nhan của những vị thánh vĩ đại trong lịch sử Giáo Hội, những con người từng sở hữu tất cả gia tài phú quý rồi dứt khoát buông bỏ tất cả như thánh Phanxicô Assisi, hay những chứng nhân âm thầm dâng hiến trọn vẹn cuộc đời cho người nghèo khó nơi các chốn ổ chuột tối tăm. Họ không hề cảm thấy mình bị tước đoạt hay mất mát bất cứ thứ gì giá trị; trái lại, họ tìm thấy sự giàu có vô biên, một niềm vui hoan hỉ tột độ mà thế gian không thể nào thấu hiểu hay ban tặng nổi. Họ đã chứng minh rằng buông bỏ của cải để nắm lấy Thiên Chúa chính là con đường duy nhất dẫn đến sự viên mãn của phẩm giá con người.
Hành trình dài suy gẫm về căn bệnh Windigo của thời đại và lời mời gọi triệt hạ ngẫu tượng tiền tài trong Tin Mừng đưa chúng ta trở về với thực tại cốt lõi nhất của căn tính kitô hữu: chúng ta thuộc về Thiên Chúa và chỉ thuộc về một mình Ngài mà thôi. Giữa một thế giới đang cuồng quay trong cơn lốc tiêu thụ, nơi con người sẵn sàng bán rẻ lương tâm, dẫm đạp lên nhau để vơ vét những phù phiếm mau qua, tiếng nói của Đức Giêsu vẫn vang lên đầy quyền năng và dịu ngọt, thức tỉnh những ai đang say ngủ trong ảo tưởng giàu sang.
Đã đến lúc chúng ta phải dứt khoát khép lại cánh cửa đối với tinh thần vụ lợi, đập tan những hình thức thờ phượng Mammon trá hình trong đời sống cá nhân cũng như cộng đoàn. Thay vì để cho lòng tham lam gặm nhấm và tiêu diệt tâm hồn theo quy luật hủy diệt của con quái vật Windigo, chúng ta hãy nguyện cầu xin ơn được để cho tình yêu của Thiên Chúa thiêu đốt trọn vẹn. Xin Ngài thanh luyện những toan tính ích kỷ, mở rộng đôi mắt để chúng ta nhận ra khuôn mặt đau khổ của Đức Kitô nơi những người nghèo đói, bé mọn xung quanh mình, và ban ơn cho chúng ta can đảm bước đi trên con đường hẹp của sự quảng đại, tự hiến và tin tưởng phó thác.
Ước gì mỗi người chúng ta, khi khép lại bài suy niệm này, biết dâng lên Chúa lời khẩn cầu chân thành: Lạy Chúa, xin đừng để những giàu sang giả tạo và sự ham hố trần gian làm chủ cuộc đời con. Xin hãy làm cho con trở thành người quản gia trung tín và khôn ngoan, biết dùng những ơn phước Chúa ban để kiến tạo những mối tình hiệp thông đích thực, và xin hãy để chính tình yêu thương của Ngài chiếm hữu trọn vẹn cõi lòng con cho đến muôn đời. AMEN.
Lm. Anmai, CSsR
HÀNH TRANG SỰ SỐNG ĐÍCH THỰC VÀ SỰ QUẢN GIA TRUNG TÍN TRONG ÂN SỦNG CHÚA
Kính thưa quý ông bà và anh chị em, đời sống đức tin của chúng ta là một hành trình liên lỉ hướng về cõi vĩnh hằng, nơi mà mọi thực tại trần gian này chỉ đóng vai trò là những dấu chỉ, những phương tiện tạm thời để chúng ta thể hiện tình yêu mến và lòng trung tín đối với Thiên Chúa. Trong khung cảnh phụng vụ hôm nay, Lời Chúa mở ra trước mắt chúng ta một viễn tượng vô cùng sâu sắc về mối tương quan giữa con người, của cải vật chất và quyền năng cứu độ của Đấng Tối Cao. Qua các bài đọc thánh kinh, đặc biệt là đoạn thư gửi tín hữu Phi-líp-phê và bài Tin Mừng theo thánh Lu-ca, Giáo Hội mời gọi chúng ta xét mình lại cách sâu xa về thái độ sống của mình đối với những giá trị đời này và những giá trị đích thực mai ngày.
Thánh Phao-lô tông đồ, khi viết thư cho cộng đoàn Phi-líp-phê, đã chia sẻ một kinh nghiệm thiêng liêng vô cùng phong phú và đầy sức mạnh. Ngài tuyên bố rằng ngài biết sống thiếu thốn và ngài biết sống dư dật; trong mọi hoàn cảnh, ngài đã học được bí quyết để đối diện với tất cả: “Tôi có thể chịu đựng được mọi sự nhờ Đấng ban sức mạnh cho tôi.” Lời khẳng định này không phải là một khẩu hiệu triết học khô khan, nhưng là tiếng vọng phát xuất từ một trái tim đã hoàn toàn phó thác và gắn bó mật thiết với Đức Ki-tô. Đối với thánh Phao-lô, của cải vật chất, danh vọng hay sự thoải mái trần thế không phải là cùng đích của đời người. Ngài xem tất cả mọi sự chỉ như rác rưởi so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Giê-su Ki-tô. Cộng đoàn Phi-líp-phê đã bày tỏ lòng quảng đại khi gửi quà cứu trợ cho ngài trong lúc ngài gặp khó khăn, và ngài đón nhận món quà đó không phải vì ham muốn vật chất, nhưng vì ngài vui mừng trước tấm lòng bác ái, trước hoa trái đức tin mà họ đã sinh hoa kết quả cho vương quốc trời. Thiên Chúa sẽ thưởng công bội hậu cho những ai biết mở rộng tâm hồn chia sẻ với anh chị em mình, bởi vì Ngài chính là Đấng giàu lòng thương xót và hằng chăm sóc nhu cầu của con người bằng sự quan phòng kỳ diệu của Ngài.
Thế nhưng, trong đời sống hằng ngày, con người chúng ta rất dễ rơi vào cạm bẫy của sự lệ thuộc vào vật chất. Bài Tin Mừng theo thánh Lu-ca hôm nay đưa chúng ta đối diện với một dụ ngôn và những lời dạy rất thực tế nhưng cũng rất thách đố của Chúa Giê-su về “tiền tài bất chính”. Chúa Giê-su đặt ra một câu hỏi mang tính châm biếm nhưng đầy đánh động: Nếu chúng ta không trung tín trong việc quản lý những của cải tạm bợ, mau qua và mang tính trần tục này, thì ai sẽ tín nhiệm mà trao phó cho chúng ta những giá trị đích thực vĩnh cửu? Tiền bạc, của cải hay quyền lực ở đời này tự bản chất không phải là ma quỷ, nhưng nó mang trong mình một sức cám dỗ mãnh liệt biến con người thành nô lệ. Khi con người đặt để trọn vẹn sự an tâm, niềm hy vọng và cùng đích đời mình vào của cải vật chất, họ lập tức rơi vào cảnh phục vụ hai chủ. Chúa Giê-su khẳng định dứt khoát rằng chúng ta không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của.
Sự thật này mời gọi mỗi người chúng ta dừng lại để nhìn ngắm chính bản thân mình dưới ánh sáng của Lời Chúa. Chúng ta đang sử dụng những gì Thiên Chúa ban tặng như thế nào? Tiền bạc, thời gian, tài năng, sức lực và cả những cơ hội mà chúng ta có được trong cuộc đời này đều không thuộc về quyền sở hữu tuyệt đối của chúng ta. Chúng ta chỉ là những người quản gia được Thiên Chúa trao phó tài sản để canh tác và sinh lợi. Người quản gia khôn ngoan là người biết dùng của cải đời này để kiến tạo những mối tương quan bác ái, để nâng đỡ những mảnh đời bất hạnh, để xoa dịu những nỗi đau của tha nhân, và qua đó, tích lũy cho mình những kho báu vĩnh cửu trên trời. Khi chúng ta biết chia sẻ tấm bánh của mình với người đói khát, khi chúng ta biết dùng khả năng Chúa ban để xây dựng sự hiệp nhất và công lý trong xã hội, chúng ta đang biến những phương tiện vật chất tầm thường thành nhịp cầu dẫn đưa chúng ta và anh chị em đến ơn cứu độ đời đời.
Trái lại, nếu chúng ta bo bo giữ lại cho riêng mình, sống ích kỷ, bủn xỉn và chỉ biết vun vén cho lợi ích cá nhân, chúng ta đang tự giam hãm linh hồn mình trong sự nghèo nàn thiêng liêng. Của cải trần gian cuối cùng rồi sẽ qua đi, nhà cửa rồi sẽ đổi chủ, tiền bạc rồi sẽ phai tàn, và thân xác này rồi cũng trở về cát bụi. Chẳng có gì ở trần gian này mà chúng ta có thể mang theo được khi bước qua thềm cửa sự chết, ngoại trừ tình yêu thương chúng ta đã trao ban và ơn thánh mà chúng ta đã gìn giữ trong tâm hồn. Những ai chạy theo tiền tài bất chính và xem đó là cứu cánh cuộc đời sẽ phải đối mặt với sự trống rỗng sâu thẳm, bởi vì lòng khao khát vô biên của con người chỉ có thể được lấp đầy bởi chính Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa vô song, chứ không phải bởi bất kỳ vật chất hữu hạn nào.
Sự tôn sùng vật chất thường đi kèm với thói giả hình và sự kiêu ngạo trong tâm hồn. Chúa Giê-su đã quở trách những người Pha-ri-sêu vì họ là những kẻ ham tiền tài mà lại ra vẻ công chính trước mặt người đời. Họ dùng vẻ bề ngoài đạo đức để che đậy một tâm hồn tham lam và xa lìa Thiên Chúa. Điều gì cao sang trước mặt người đời lại là điều ghê tởm trước mặt Thiên Chúa. Thiên Chúa thấu suốt tâm can con người; Ngài không nhìn vẻ bề ngoài hay những lễ vật hoành tráng được dâng hiến với động cơ vụ lợi, nhưng Ngài nhìn đến sự chân thành, khiêm tốn và lòng mến tinh tuyền ẩn giấu nơi sâu thẳm cõi lòng. Sống tinh thần Tin Mừng đòi hỏi chúng ta phải có một sự hoán cải tận căn, từ bỏ tư tưởng tích trữ ích kỷ để bước vào nền văn hóa của sự sẻ chia và phó thác.
Khi thánh Phao-lô viết thư cho các tín hữu Phi-líp-phê từ trong cảnh tù đày, ngài không hề than van hay oán trách hoàn cảnh. Trái lại, ngài tràn ngập niềm vui và sự bình an nội tâm. Ngài đã tìm thấy sự tự do đích thực, không phải vì ngài có nhiều tiền của hay quyền lực chính trị, mà vì ngài biết rằng Thiên Chúa luôn ở cùng ngài, nâng đỡ và ban sức mạnh cho ngài trong mọi cơn gian nan thử thách. Sự tự do thiêng liêng này là đích đến mà mỗi Ki-tô hữu chúng ta phải vươn tới. Khi chúng ta không bị trói buộc bởi của cải vật chất, chúng ta mới thực sự tự do để yêu mến Chúa hết lòng và yêu thương anh chị em như chính mình. Sự nghèo khó theo tinh thần Tin Mừng không có nghĩa là sự túng quẫn bi đát, nhưng là thái độ tự do nội tâm, biết nhìn nhận mọi thứ mình có là hồng ân và sẵn sàng sử dụng chúng theo thánh ý Chúa.
Trong bối cảnh xã hội hôm nay, con người dường như đang chạy đua không ngừng nghỉ với guồng quay của chủ nghĩa tiêu thụ và vật chất hóa mọi quan hệ con người. Thành công thường được đo lường bằng số dư tài khoản, bằng nhãn mác xe hơi hay những ngôi nhà sang trọng. Đạo đức và tình người đôi khi bị đẩy lùi xuống hàng thứ yếu để nhường chỗ cho lợi ích kinh tế. Giữa dòng đời hối hả và đầy áp lực ấy, sứ điệp Lời Chúa hôm nay vang lên như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng vô cùng nghiêm túc. Chúa Giê-su mời gọi chúng ta lội ngược dòng, sống tỉnh thức và khôn ngoan. Khôn ngoan theo ý Chúa không phải là sự tinh ranh trần thế để thu vén phần hơn cho mình, mà là sự nhạy bén thiêng liêng biết đầu tư vào những giá trị trường tồn.
Hành trình đức tin của chúng ta là một tiến trình liên tục chọn lựa giữa ánh sáng và bóng tối, giữa sự thật và sự giả hình, giữa việc phục vụ Thiên Chúa và làm nô lệ cho tiền tài. Mỗi ngày sống là một cơ hội mới để chúng ta thực thi sự quản gia trung tín. Những người chung quanh chúng ta đang cần gì? Họ cần một lời động viên chân thành, một bàn tay sẵn sàng chia sẻ, một cái ôm ấm áp trong lúc hoạn nạn hay sự hiện diện cảm thông. Đôi khi chúng ta nghĩ rằng mình quá nghèo để có thể giúp đỡ ai đó, nhưng như lời thánh Phao-lô và các bài học Kinh Thánh đã dạy, ai cũng có thể trao ban một nụ cười, một lời cầu nguyện, một cử chỉ bác ái nhỏ bé nhưng đậm đà tình người. Chính những hành động bé nhỏ ấy lại có giá trị vô giá trước nhan Thiên Chúa, bởi vì chúng được thực hiện với tình yêu thương chân thành dành cho Ngài qua hình ảnh của anh chị em đồng loại.
Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta ơn canh tân tâm hồn, để chúng ta biết trân trọng những phương tiện trần thế mà không bao giờ để chúng làm chủ cuộc đời mình. Xin cho chúng ta biết sử dụng tài năng, thời gian và của cải Chúa ban để xây dựng một thế giới công bằng hơn, bác ái hơn và chan hòa tình người hơn. Xin cho ánh sáng của Tin Mừng soi rọi vào những góc tối ích kỷ trong tâm hồn chúng ta, giúp chúng ta can đảm từ bỏ những bám víu sai lầm để toàn tâm toàn ý bước theo Đức Ki-tô trên con đường thập giá và phục vụ.
Ước gì mỗi người chúng ta, khi trở về với cuộc sống thường nhật, biết ý thức mình là những người quản gia trung tín và khôn ngoan của Thiên Chúa. Xin cho lời tuyên bố đầy xác tín của thánh Phao-lô: “Tôi có thể chịu đựng được mọi sự nhờ Đấng ban sức mạnh cho tôi,” trở thành châm ngôn sống và là nguồn động lực cho chúng ta trong mọi hoàn cảnh vui buồn, thuận lợi hay khó khăn của cuộc đời. Khi chúng ta đặt trọn vẹn niềm tin tưởng nơi Chúa, chúng ta sẽ không bao giờ phải thất vọng, bởi vì tình thương của Ngài tồn tại đến muôn đời và ơn cứu độ của Ngài là gia nghiệp vĩnh cửu dành cho những ai trung tín bước đi trong đường lối của Ngài. Amen.
Lm. Anmai, CSsR


















