Thứ sáu tuần 31 thường niên “Sống trong ân tình thuộc trọn về Chúa” – Lm. Anmai, CSsR
T 6 t 31 TN TRONG VÒNG TAY CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT VÀ SỰ TÌM KIẾM KHÔNG MỆT MỎI CỦA THIÊN CHÚA ” – Lm. Anmai, CSsR
LỜI NGUYỆN THỨ SÁU TUẦN XXXI MÙA THƯỜNG NIÊN
Xin cho con biết quản lý đời mình trong ánh sáng của Chúa
Lạy Chúa Giêsu, hôm nay con đến trước mặt Chúa và nhìn lại những điều mình đang được trao phó: thời gian, sức khỏe, khả năng, của cải, những người thân và cả những cơ hội làm điều thiện. Tất cả đều là những ân huệ con cần đón nhận với lòng biết ơn và sử dụng với trách nhiệm. Xin giúp con nhớ rằng cuộc đời này có ngày phải kết thúc, và con sẽ trình bày trước Chúa cách mình đã sống. Xin đánh thức con khỏi sự thờ ơ, để con biết quý trọng từng ngày còn được ban và chăm lo những điều thực sự có ý nghĩa cho sự sống đời đời.
Lạy Chúa, con nhận ra mình đã nhiều lần sử dụng các ân huệ Chúa ban cách thiếu khôn ngoan. Con để thời gian trôi qua trong những cuộc tranh cãi vô ích, những lo âu quá mức và những giờ nhìn màn hình mà quên người đang ở bên cạnh. Con dùng lời nói để bảo vệ cái tôi hơn là xây dựng tình thân. Con có khả năng giúp đỡ nhưng lại ngại phiền, có điều kiện chia sẻ nhưng vẫn muốn giữ thêm cho mình. Xin tha thứ cho những gì con đã phung phí. Xin giúp con can đảm sửa đổi từ hôm nay, bắt đầu bằng một lựa chọn ngay lành và một việc tốt cụ thể.
Xin ban cho con sự khôn ngoan để nhìn xa hơn những lợi ích trước mắt. Khi phải chọn lựa, xin cho con biết tự hỏi điều này có đưa mình đến gần Chúa hơn, có làm người khác được bình an hơn, có giúp mình sống chân thật hơn hay không. Xin đừng để một món lợi khiến con đánh mất lương tâm, một lời khen khiến con quên sự khiêm nhường, một tham vọng khiến con xem nhẹ gia đình. Xin cho con đủ sáng suốt để nhận ra cám dỗ, đủ mạnh mẽ để từ chối điều gian dối và đủ tin tưởng để chấp nhận thiệt thòi khi cần giữ lòng ngay thẳng.
Lạy Chúa Giêsu, xin dạy con biết làm việc với tinh thần trách nhiệm. Xin cho con trung thực trong những khoản tiền mình quản lý, cẩn thận với tài sản được giao và công bằng với những người cùng làm việc. Xin giữ con khỏi thói quen tìm lý do để biện minh cho một việc sai, khỏi ý nghĩ rằng điều khuất mắt người khác thì chẳng đáng bận tâm. Xin cho con nhớ đến Chúa trong cả những quyết định nhỏ, để lòng trung tín được lớn lên qua cách con giữ lời, trả đúng những gì mình mắc nợ và hoàn thành công việc đã nhận.
Chúng con xin dâng lên Chúa những người đang vất vả kiếm sống, những gia đình thiếu thốn, những người thất nghiệp và những ai phải lo lắng vì nợ nần. Xin mở cho họ những cơ hội làm việc chân chính, ban cho họ sự trợ giúp cần thiết và sức mạnh để không buông xuôi. Xin giúp những người có trách nhiệm trong xã hội biết tôn trọng người lao động, trả công xứng đáng và quan tâm đến người yếu thế. Xin cho chúng con biết chia sẻ với sự tế nhị, để người được giúp đỡ cảm nhận mình được kính trọng và có thêm hy vọng.
Lạy Chúa, xin giúp con chăm sóc những mối tương quan đang được trao vào tay mình. Có những người con tưởng sẽ luôn ở đó, nên cứ hẹn một lần thăm hỏi, một lời cảm ơn, một cuộc chuyện trò. Xin cho con biết dành thời gian cho cha mẹ khi các ngài còn có thể nghe con nói, biết quan tâm đến người bạn đời, biết lắng nghe con cái và biết gìn giữ tình bạn bằng sự chân thành. Xin đừng để con có nhiều thứ mà thiếu tình thương, đạt được nhiều điều mà người thân lại cảm thấy cô đơn.
Xin cho con biết sử dụng của cải để làm điều lành, nâng đỡ người khó khăn và góp phần xây dựng cộng đoàn. Xin thanh luyện lòng con khỏi sự tính toán khi phục vụ. Xin giúp con trao ban cách vui lòng, nhận sự trợ giúp với lòng biết ơn và luôn nhớ rằng chính con cũng đang sống nhờ biết bao người.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho ngày hôm nay trở thành một khởi đầu mới. Điều gì sai, xin giúp con sửa; điều gì còn thiếu, xin giúp con bổ sung; điều gì cần buông, xin cho con đủ can đảm buông xuống. Xin gìn giữ con trong ân sủng, để khi hoàn tất cuộc đời, con có thể trao lại cho Chúa một tâm hồn đã cố gắng sống trung tín và một trái tim đã học biết yêu thương. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
Ca nhập lễ
Lạy Chúa, là Thiên Chúa chúng tôi, xin đừng bỏ rơi tôi, và xin đừng lìa xa tôi. Lạy Chúa là quền lực phần rỗi tôi, xin phù giúp tôi.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, chỉ nhờ Chúa ban ơn, các tín hữu Chúa mới có thể thờ Chúa cho phải đạo, xin giúp đỡ chúng con thẳng tiến về cõi trời Chúa hứa và không bị vấp ngã trên đường. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc Pl 3, 17 – 4, 1
“Chúng ta mong đợi Ðấng Cứu Chuộc là Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người sẽ biến đổi thân xác hèn hạ của chúng ta nên giống như thân xác hiển vinh của Người”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philípphê.
Anh em thân mến, anh em hãy bắt chước tôi, và hãy để mắt nhìn coi những người ăn ở theo như mẫu mực anh em thấy nơi chúng tôi. Bởi chưng như tôi đã thường nói với anh em, và bây giờ đây tôi đau lòng ứa lệ mà nói lại, có nhiều người sống thù nghịch với thập giá Ðức Kitô. Chung cuộc đời họ là hư vong, chúa tể của họ là cái bụng, và họ đặt vinh danh của họ trong những điều ô nhục; họ chỉ ưa chuộng những cái trên cõi đời này. Phần chúng ta, quê hương chúng ta ở trên trời, nơi đó chúng ta mong đợi Ðấng Cứu Chuộc là Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Người sẽ biến đổi thân xác hèn hạ của chúng ta nên giống như thân xác hiển vinh của Người, nhờ quyền lực mà Người vẫn có, để bắt muôn vật suy phục Người.
Bởi thế, anh em thân mến và quý yêu, anh em là niềm hoan lạc và triều thiên của tôi. Anh em thân mến, hãy vững vàng trong Chúa.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 121, 1-2. 3-4a. 4b-5
Ðáp: Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi: “Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa”(c. 1).
Xướng: Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi: “Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa”. Hỡi Giêrusalem, chân chúng tôi đang đứng nơi cửa thành rồi.
Xướng: Giêrusalem được kiến thiết như thành trì, được cấu tạo kiên cố trong toàn thể. Nơi đây các bộ lạc, các bộ lạc của Chúa tiến lên.
Xướng: Theo luật pháp của Israel, để ngợi khen danh Chúa. Tại đây đã đặt ngai toà thẩm phán, ngai toà của nhà Ðavit.
Alleluia: Pl 2, 15-16
Alleluia, alleluia! – Anh em hãy tích trữ lời ban sự sống, anh em hãy chiếu sáng như những vì sao ở giữa thế gian. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 16, 1-8
“Con cái đời này khi đối xử với đồng loại thì khôn khéo hơn con cái sự sáng”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Một người phú hộ kia có một người quản lý; và người này bị tố cáo đã phung phí của chủ. Ông chủ gọi người quản lý đến và bảo rằng: “Tôi nghe nói anh sao đó. Anh hãy tính sổ công việc quản lý của anh, vì từ nay anh không thể làm quản lý nữa”. Người quản lý thầm nghĩ rằng: “Tôi phải làm thế nào, vì chủ tôi cất chức quản lý của tôi? Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. Tôi biết phải liệu thế nào để khi mất chức quản lý thì sẽ có người đón tiếp tôi về nhà họ”.
“Vậy anh gọi từng con nợ của chủ đến và hỏi người thứ nhất rằng: “Anh mắc nợ chủ tôi bao nhiêu?” Người ấy đáp: “Một trăm thùng dầu”. Anh bảo người ấy rằng: “Anh hãy lấy văn tự, ngồi xuống mau mà viết lại năm mươi”. Rồi anh hỏi người khác rằng: “Còn anh, anh mắc nợ bao nhiêu?” Người ấy đáp: “Một trăm giạ lúa miến”. Anh bảo người ấy rằng: “Anh hãy lấy văn tự mà viết lại: tám mươi”.
“Và chủ khen người quản lý bất lương đó đã hành động cách khôn khéo: vì con cái đời này, khi đối xử với đồng loại, thì khôn khéo hơn con cái sự sáng”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin cho bánh rượu chúng con dâng trở nên của lễ tinh tuyền trước nhan Chúa và đem lại cho chúng con nguồn ơn phúc dồi dào. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Lạy Chúa, xin chỉ cho tôi biết đường lối trường sinh, và xin cho tôi no đầy hoan hỉ trước thiên nhan.
Hoặc đọc:
Chúa phán: cũng như Cha là Đấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta chính người ấy cũng sống nhờ Ta.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, chúng con vừa được Mình và Máu Ðức Kitô bồi dưỡng, xin Chúa tăng cường hoạt động nơi chúng con, để chúng con được sẵn sàng lãnh nhận những ơn lành Chúa hứa cho những ai tham dự bí tích này. Chúng con cầu xin….
TÌM KIẾM TRƯỚC HẾT NƯỚC THIÊN CHÚA VÀ SỰ CÔNG CHÍNH CỦA NGÀI
Cuộc hành trình dương thế của con người từ ngàn xưa cho đến nay luôn đan xen giữa những khát vọng cao cả và những âu lo thường nhật. Chúng ta thức dậy mỗi sớm mai với vô vàn những toan tính: cơm áo gạo tiền, công danh sự nghiệp, tương lai của con cái, sự an toàn của bản thân và gia đình. Những nhu cầu đó hoàn toàn chính đáng, bởi chúng ta là những tạo vật sống bằng hơi thở, bằng thực phẩm, bằng lao động vất vả mồ hôi nước mắt. Thế nhưng, giữa dòng chảy xiết của những lo toan vật chất ấy, đôi khi con người dễ bị cuốn trôi, đánh mất phương hướng và quên đi cùng đích tối hậu của đời mình. Lời mời gọi vang lên từ Tin Mừng như một điểm tựa ngàn vàng, một tiếng còi thức tỉnh tâm hồn chúng ta khỏi giấc ngủ mê mệt của thế tục: “Hãy tìm kiếm trước hết Nước Thiên Chúa và đức công chính của Ngài, còn mọi sự kia Ngài sẽ thêm cho.”
Chủ đề này không phải là một lý thuyết xa vời dành riêng cho các tu sĩ trong tu viện hay những nhà hiền triết ngồi nơi thâm sơn cùng cốc. Đây là cẩm nang sống, là nhịp đập thiết thực cho bất cứ ai đang lăn lộn giữa đời thường, làm việc trong các công sở, miệt mài ngoài đồng áng, hay bận rộn với thương trường. Tìm kiếm Nước Thiên Chúa giữa lòng thế giới tục hóa này nghĩa là gì? Đó là nghệ thuật biến những công việc tầm thường nhất trở thành những kiệt tác của tình yêu dâng lên Thiên Chúa. Đó là sự hoán cải nội tâm tận căn để đặt Thiên Chúa vào vị trí trung tâm, làm mặt trời soi chiếu mọi suy nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta. Khi trật tự của đời sống được thiết lập lại một cách chính xác — với Thiên Chúa ở vị trí hàng đầu — thì mọi mảnh ghép hỗn độn còn lại của cuộc sống sẽ tự khắc tìm được chỗ đứng hài hòa và bình an đích thực.
Để hiểu sâu sắc về lời mời gọi này, trước hết chúng ta cần nhìn nhận thực trạng của con người hiện đại: căn bệnh lo âu. Sự lo âu gặm nhấm tâm hồn, làm khô cạn niềm vui sống và làm mờ nhạt hình ảnh Thiên Chúa trong chúng ta. Chúa Giêsu không hề phủ nhận thực tế rằng chúng ta cần ăn, cần mặc, cần nhà cửa. Ngài nhìn những bông huệ ngoài đồng, ngài ngắm những con chim trời để dạy chúng ta bài học về lòng tin tưởng quan phòng. Chim trời không gieo, không gặt, không thu tích vào kho mà Cha trên trời vẫn nuôi chúng. Những bông huệ ngoài đồng không làm lụng, không kéo sợi mà đẹp đẽ lộng lẫy hơn cả vua Salomon trong lúc vinh quang nhất. Thiên Chúa là Cha nhân hậu, Ngài thấu rõ từng sợi tóc trên đầu chúng ta, Ngài biết chúng ta thiếu thốn những gì trước khi chúng ta cất lời van xin. Thế nhưng, con người thường hành xử như thể không có Thiên Chúa, tự mình bơi lội trong dòng đời bằng sức lực kiệt quệ của sự ích kỷ và tính toán chi li. Sự lo lắng quá mức không làm cho đời ta dài thêm dù chỉ một gang tay, ngược lại, nó làm cho hiện tại trở nên cay đắng và tương lai trở thành nỗi sợ hãi mơ hồ.
Tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước hết chính là liều thuốc giải độc cho tâm lý cậy dựa vào sức mình. Nước Thiên Chúa không phải là một lãnh thổ địa lý hay một vương quốc chính trị trần gian, mà là sự hiển trị của tình yêu, sự sống và ơn thánh Chúa trong cõi lòng con người. Khi ta để cho ý muốn thánh thiện của Ngài hướng dẫn bước chân, khi ta sống theo các giá trị Tin Mừng như lòng thương xót, sự tha thứ, khiêm nhường và bác ái, thì lúc đó Nước Trời đang hiện diện ngay giữa chúng ta. Việc tìm kiếm ấy đòi hỏi một sự dịch chuyển trọng tâm: thay vì hỏi “Hôm nay tôi sẽ kiếm được bao nhiêu tiền? Danh dự của tôi được tôn vinh ra sao?”, người môn đệ Chúa phải tự hỏi “Hôm nay tôi có làm cho tình yêu của Chúa được lớn lên trong môi trường sống của tôi không? Công việc của tôi có đang tôn vinh Ngài và phục vụ tha nhân không?”.
Sự thánh hóa công việc thường ngày chính là con đường cụ thể nhất để hiện thực hóa lời dạy này. Mỗi chúng ta đều được giao phó những ơn gọi và nhiệm vụ riêng biệt. Người thợ mộc bên mài bàn gỗ, người bác sĩ bên giường bệnh, người giáo viên trên bục giảng, người mẹ chăm sóc con thơ trong căn bếp nhỏ… tất cả đều có thể trở thành đền thờ của ơn thánh nếu biết thực hiện công việc với ý hướng ngay lành và sự tận tụy tối đa. Lao động không chỉ là phương thế kiếm sống để duy trì sinh kế, mà còn là phương thế cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Khi một người làm việc với tinh thần trách nhiệm cao độ, với sự trung thực tuyệt đối và với tình yêu mến dành cho anh chị em, thì lúc đó công việc tầm thường nhất cũng trở thành lời cầu nguyện sống động vang thấu trời cao. Ngược lại, một công việc dù lớn lao đến đâu, mang danh nghĩa tôn giáo hay từ thiện đi nữa, nếu được thực hiện với sự kiêu ngạo, vụ lợi hay thiếu vắng tình yêu thì cũng trở thành vô nghĩa trước mặt Đấng Tối Cao.
Đức công chính của Nước Thiên Chúa cũng là một khía cạnh cốt lõi mà chúng ta không thể bỏ qua. Sự công chính ở đây không chỉ là sự tuân thủ máy móc cácề luật lệ pháp lý bên ngoài, mà là sự ngay thẳng trong nội tâm, là mối tương quan đúng đắn giữa con người với Thiên Chúa và với đồng loại. Một tâm hồn công chính là tâm hồn biết khao khát lẽ phải, bảo vệ phẩm giá con người, đứng về phía những kẻ yếu thế, nghèo hèn và bị tổn thương trong xã hội. Sống công chính giữa một thế giới đầy dẫy sự bất công, gian dối và chụp giật là một cuộc chiến đấu âm thầm nhưng mãnh liệt. Nó đòi hỏi chúng ta phải lội ngược dòng, dám chịu thiệtòi về phần vật chất để giữ gìn sự trong sạch của lương tâm. Nhưng chính trong cuộc chiến đấu nội tâm ấy, ơn sủng của Chúa sẽ tuôn đổ dồi dào, biến đổi chúng ta thành những chứng nhân sống động cho Tin Mừng.
Khi chúng ta đặt để những ưu tiên thiêng liêng lên hàng đầu, một sự hoán cải kỳ diệu sẽ diễn ra trong cách chúng ta nhìn nhận của cải vật chất. Tiền bạc, địa vị, tài sản không còn là ông chủ sai khiến chúng ta làm nô lệ, mà trở thành những phương tiện hữu ích để thực thi bác ái và xây dựng cộng đồng. Một người giàu có thực sự trước mặt Thiên Chúa không phải là kẻ tích lũy nhiều nhất cho riêng mình, mà là kẻ biết quảng đại chia sẻ những gì mình có cho những ai đang túng thiếu. Sự rộng lượng này xuất phát từ niềm xác tín sâu xa rằng mọi sự chúng ta có đều là hồng ân, là sự tín nhiệm mà Thiên Chúa trao phó tạm thời. Khi chúng ta mở rộng bàn tay để cho đi, chúng ta đang mở ra không gian cho quyền năng Thiên Chúa hoạt động và tuôn đổ những ân phúc vượt trên sự mong đợi của con người.
Hơn thế nữa, việc tìm kiếm Nước Thiên Chúa còn gắn liền với đời sống cầu nguyện bền bỉ và sâu lắng. Cầu nguyện không phải là đọc lên những công thức dài dòng hay cốt để xin xỏ Thiên Chúa ban phát ơn huệ trần thế, mà là hành vi dâng hiến trọn vẹn ý chí của mình cho Ngài. Trong thinh lặng của tâm hồn, chúng ta học cách buông bỏ những kiểm soát ích kỷ để nhận ra bàn tay quan phòng của Chúa đang dìu dắt từng biến cố của cuộc đời. Có những lúc con đường đi qua Thập Giá, qua những đau khổ, thử thách và hiểu lầm tưởng chừng không thể vượt qua. Chính trong những khoảnh khắc đen tối ấy của cuộc đời, lời Kinh thánh nhắc nhở chúng ta về một điểm tựa vững chắc không bao giờ lay chuyển. Khi ta kiên tâm bám lấy Ngài, ta nhận ra rằng đau khổ không phải là sự trừng phạt hay dấu hiệu của sự bỏ rơi, mà là lò luyện tinh tuyết thanh tẩy đức tin, gọt giũa cái tôi kiêu ngạo và làm cho tâm hồn trở nên tinh tuyết hơn, giống hình ảnh của Con Một Thiên Chúa.
Hành trình đức tin cũng đòi hỏi sự tỉnh thức không ngừng trước những cám dỗ tinh vi của thời đại. Thế giới hôm nay cổ vũ cho chủ nghĩa hưởng thụ, sự thực dụng và cái tôi ích kỷ lên ngôi. Người ta dễ dàng bị cuốn vào vòng xoáy của sự ganh đua tột độ, nơi giá trị của một con người bị đo lường bằng số tài sản sở hữu, bằng chiếc xe đang lái hay bằng chức vụ đang nắm giữ. Những cạm bẫy ấy bóp nghẹt khát vọng siêu việt, làm cho tâm hồn con người trở nên nặng nề, trì trệ và mù lòa trước những thực tại vĩnh cửu. Trở về với lời dạy về việc tìm kiếm Nước Trời là một cuộc cách mạng nội tâm đòi hỏi lòng dũng cảm phi thường. Chúng ta phải dám bơi ngược dòng đời, dám khác biệt, dám sống một lối sống đơn sơ, khiêm tốn và chan chứa lòng trắc ẩn. Sự khác biệt đó không nhằm để khoe khoang sự thánh thiện giả tạo, mà là hương thơm của Chúa Kitô lan tỏa tự nhiên qua từng nụ cười, cái bắt tay và cử chỉ quan tâm đến những người xung quanh.
Khi suy ngẫm về sự quan phòng của Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi bước vào một thái độ phó thác tuyệt đối. Phó thác không có nghĩa là sự thụ động, lười biếng hay buông xuôi mặc cho số phận đưa đẩy. Trái lại, phó thác là làm tất cả mọi khả năng có thể với sự tận tụy cao nhất, rồi sau đó bình an trao phó kết quả vào trong bàn tay yêu thương của người Cha trên trời. Một người biết phó thác sẽ không bị chìm ngập trong tuyệt vọng khi thất bại, cũng không kiêu ngạo tự đắc khi thành công. Họ hiểu rằng mọi thành tựu trần thế chỉ là cành hoa sớm nở tối tàn, còn giá trị bền vững duy nhất là tình yêu mến Chúa và anh em được khắc ghi vào cõi vĩnh hằng. Sự bình an nội tâm này là thứ tài sản quý giá nhất mà thế gian không thể mua được và cũng không ai có thể cướp đi được.
Trong gia đình, việc tìm kiếm Nước Thiên Chúa được thể hiện qua bầu khí yêu thương, hiệp nhất và tha thứ. Một mái ấm Kitô giáo không phải là nơi hoàn hảo không có mâu thuẫn, mà là nơi mỗi thành viên biết khiêm tốn xin lỗi, sẵn sàng tha thứ cho nhau và đặt Chúa làm nền tảng cho mọi quyết định chung. Cha mẹ có trách nhiệm giáo dục con cái không chỉ bằng lời nói dạy bảo suông, nhưng trước hết bằng chính chứng tá đời sống hằng ngày. Khi con cái nhìn thấy cha mẹ sống trung thực, kính Chúa yêu người, biết sẻ chia với người nghèo khó và tìm kiếm ý Chúa trong nghịch cảnh, chúng sẽ nhận ra một bài học sống động không sách vở nào sánh được. Tình yêu gia đình khi được thánh hóa sẽ trở thành hình ảnh phản chiếu tình yêu thương vô biên của Thiên Chúa đối với nhân loại.
Trong đời sống xã hội và cộng đoàn, việc tìm kiếm Nước Trời thúc đẩy chúng ta trở thành những sứ giả của hòa bình và hòa giải. Chúng ta đang sống trong một thế giới bị xé nát bởi những hận thù, chia rẽ, kỳ thị và ích kỷ cục bộ. Người môn đệ của Chúa Kitô được sai phác vào môi trường ấy để làm men, làm muối, làm ánh sáng soi chiếu những góc tối của cuộc đời. Bằng thái độ nhã nhặn, sự lắng nghe chân thành và lòng trắc ẩn không phân biệt đối biệt, chúng ta có thể xoa dịu những vết thương lòng, phá vỡ bức tường hận thù và xây dựng những nhịp cầu thông cảm. Mang bình an đến cho người khác chính là lúc chúng ta đang mở rộng biên giới của Nước Thiên Chúa ngay tại cõi thế gian này.
Hãy nhìn ngắm lại hành trình đức tin của bản thân mỗi người. Đã bao nhiêu lần chúng ta để cho những lo âu vụn vặt che khuất đi chân trời tuyệt mỹ mà Thiên Chúa đã dọn sẵn cho chúng ta? Đã bao nhiêu lần chúng ta chạy theo những bóng mây ảo ảnh của tiền tài, danh vọng để rồi chuốc lấy sự trống rỗng và mỏi mệt trong tâm hồn? Hôm nay, tiếng gọi từ cõi thẳm sâu của Tin Mừng lại vang lên thiết tha, mời gọi chúng ta dừng lại một nhịp, hít một hơi thật sâu của ơn thánh và định hướng lại la bàn đời mình. Không bao giờ là quá muộn để bắt đầu lại. Thiên Chúa luôn kiên nhẫn chờ đợi chúng ta trở về với vòng tay nhân hậu của Ngài, nơi mọi gánh nặng được tháo cởi và mọi vết thương được chữa lành.
Khi chúng ta can đảm bước đi theo con đường mà Chúa Giêsu đã vạch ra — tìm kiếm trước hết Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài — chúng ta sẽ nghiệm ra một chân lý tuyệt vời: tất cả những nhu cầu chính đáng của cuộc sống sẽ được Ngài chu cấp theo cách thức khôn ngoan và tốt đẹp nhất. Không phải vì chúng ta tài giỏi hay mưu mô, nhưng bởi vì chúng ta có một người Cha vô cùng giàu lòng xót thương, Đấng thấu suốt mọi nhu cầu và hằng chăm sóc con cái bằng tình yêu thương dịu ngọt. Cuộc đời dẫu còn đó những giông bão phong ba, dẫu còn đó những cay đắng thử thách, nhưng với một tâm hồn gắn chặt vào Chúa, chúng ta sẽ luôn giữ được sự bình an sâu thẳm, một niềm vui nội tâm không gì lay chuyển và một niềm hy vọng vững vàng vào ngày vinh thắng cuối cùng trong cõi vĩnh hằng của Ngài.
Lm. Anmai, CSsR
HÀNH TRÌNH BIẾN ĐỔI NỘI TÂM TRONG ÁNH SÁNG CỦA LECTIO DIVINA VÀ TÌNH YÊU THÁNH THỂ
Cuộc đời của mỗi người tín hữu Kitô là một cuộc lữ hành đức tin không ngừng nghỉ, hướng về cõi vĩnh hằng và tìm kiếm sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa. Trong thế giới hiện đại đầy rẫy những tiếng ồn ào, lo toan và bận rộn, con người dễ dàng rơi vào trạng thái khô khan, lạc lõng và đánh mất phương hướng tâm linh. Chính trong bối cảnh ấy, việc bước vào cõi lặng của tâm hồn, lắng nghe Lời Chúa qua phương pháp cầu nguyện truyền thống Lectio Divina (Đọc Sách Thánh) mở ra một chân trời mới, một nguồn dưỡng lực thiêng liêng cao quý giúp thanh luyện cõi lòng và nuôi dưỡng ngọn lửa mến Chúa yêu người. Bài giảng này kính mời cộng đoàn cùng suy ngẫm sâu xa về ý nghĩa của việc gặp gỡ Đức Kitô trong Lời Kinh Thánh, để từ đó canh tân đời sống bản thân và trở nên nhân chứng đích thực cho Tin Mừng giữa lòng nhân thế.
NỀN TẢNG THIÊNG LIÊNG CỦA LECTIO DIVINA TRONG ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH
Phương pháp Lectio Divina không phải là một kỹ thuật nghiên cứu Kinh Thánh thuần túy mang tính học thuật, nhưng là một phương thức cầu nguyện sống động, đặt tâm hồn vào thế tương quan trực diện và thân mật với Thiên Chúa hằng sống. Qua bốn bước truyền thống bao gồm Đọc (Lectio), Suy niệm (Meditatio), Cầu nguyện (Oratio) và Chiêm niệm (Contemplatio), người tín hữu được mời gọi bước qua lớp vỏ bọc bên ngoài của văn bản để chạm đến chính Thần Khí đang thở trong Lời hằng sống. Bước thứ nhất, việc đọc đòi hỏi sự chú tâm, tĩnh lặng và cung kính, xem Kinh Thánh không phải là một cuốn sách thông thường mà là bức thư tình mà Thiên Chúa gửi riêng cho mỗi người chúng ta qua từng thời đại.
Khi tiến bước sang giai đoạn suy niệm, tâm hồn bắt đầu nhấm nháp từng từ ngữ, để Lời Chúa thấm sâu vào cõi thẳm sâu của tâm tư. Đây là lúc chiếc búa của Lời Chúa đập tan những chai đá trong lòng, soi sáng những góc tối u minh mà con người thường cố tình che giấu hoặc phớt lờ. Không dừng lại ở đó, bước cầu nguyện cất lên thành tâm tình đối thoại trực tiếp với Đấng Tạo Hóa. Những gì được soi rọi trong suy niệm nay biến thành lời kinh ngợi khen, van xin, tạ ơn hay sám hối chân thành. Cuối cùng, chiêm niệm đưa linh hồn vào cõi thinh lặng tuyệt đối của tình yêu, nơi con người không còn nói nhiều với Chúa nữa, mà để cho Chúa ôm ấp, biến đổi và chìm đắm trong sự hiện diện toàn năng đầy xót thương của Ngài.
Đời sống thiêng liêng chỉ thực sự có chiều sâu khi cội rễ của nó được cắm sâu vào mạch suối ân sủng này. Thiên Chúa không nói với chúng ta chỉ để cung cấp kiến thức, nhưng để mời gọi chúng ta dự phần vào bản tính thần linh của Ngài. Khi thực hành Lectio Divina mỗi ngày, con người học được cách nhìn cuộc sống qua lăng kính của Thiên Chúa, biết dung dưỡng lòng trắc ẩn, sự khiêm nhường và lòng cậy trông phó thác tuyệt đối vào quyền năng định đoạt của Ngài, dẫu cho dòng đời có cuộn xoáy những giông tố bão bùng.
SỰ THỰC THI THÁNH Ý CHÚA VÀ SỰ TỪ BỎ CON NGƯỜI CŨ
Bước đi trên con đường trọn lành đòi hỏi một sự kiên định sắt đá trong việc từ bỏ cái tôi ích kỷ, kiêu ngạo và tự phụ. Con người tự nhiên thường có xu hướng muốn làm chủ vận mệnh của mình, muốn đặt để các tiêu chuẩn luân lý theo sở thích chủ quan và tiện nghi trần thế. Tuy nhiên, Tin Mừng liên tục mời gọi chúng ta bước qua cửa hẹp, vác thập giá mình hằng ngày để bước theo chân Thầy Chí Thánh. Việc từ bỏ này không phải là sự mất mát tiêu cực, mà là một cuộc đổi đời vĩ đại, nơi cái cũ mục nát nhường chỗ cho sự sống mới ngập tràn ơn thánh.
Trong tiến trình hoán cải nội tâm, sự vâng phục thánh ý Thiên Chúa đóng vai trò quyết định. Vâng phục không phải là sự phục tùng mù quáng mang tính ép buộc, mà là hành vi của tự do đích thực, được thúc đẩy bởi tình yêu mến sâu xa dành cho Cha trên trời. Khi Đức Giêsu Kitô chấp nhận vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên cây thập giá, Ngài đã mở ra con đường cứu độ và trở thành tấm gương tuyệt hảo cho mọi thế hệ môn đệ. Noi gương Ngài, người Kitô hữu được mời gọi để Lời Chúa cắt tỉa những cành nho vô ích, loại bỏ những toan tính vụ lợi, những giận hờn, ganh tị và lòng tham ô đang làm nghẹt thở sự sống siêu nhiên trong tâm hồn.
Sự biến đổi này đòi hỏi sự kiên nhẫn bền bỉ. Giống như người thợ gốm nhào nặn đất sét trên bàn xoay, Thiên Chúa cần thời gian để uốn nắn cuộc đời chúng ta trở nên xứng đáng với phẩm giá là con cái Chúa. Đôi khi, những thử thách, đau khổ và nghịch cảnh trong đời sống thường ngày chính là những nhát cuốc sắc bén mà Ngài dùng để xới tung mảnh đất tâm hồn khô cằn, giúp cho hạt giống ơn thánh đâm chồi nảy lộc và trổ sinh hoa trái dồi dào.
BÍ TÍCH THÁNH THỂ: ĐỈNH CAO VÀ NGUỒN MẠCH CỦA ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU
Nếu Lectio Divina là nhịp cầu nuôi dưỡng tâm hồn qua Lời Chúa, thì Bí tích Thánh Thể chính là trung tâm điểm, là nguồn mạch và đỉnh cao của toàn bộ đời sống Hội Thánh cũng như của mỗi tín hữu. Trong mầu nhiệm Thánh Thể, Đức Giêsu Kitô không chỉ nói với chúng ta qua sách vở, mà Ngài hiến tặng chính Thịt và Máu Ngài làm lương thực trường sinh cho nhân loại. Việc tham dự thánh lễ và rước lễ hằng ngày không phải là một thứ đạo đức hình thức hay thói quen máy móc, mà là cuộc gặp gỡ thân tình, huyền nhiệm và mãnh liệt nhất giữa Đấng Tạo Hóa và thụ tạo tột cùng bé nhỏ.
Khi rước lấy Mình và Máu Thánh Chúa, con người đón nhận chính nguồn năng lượng thần linh vào trong huyết quản tâm hồn mình. Sự kết hợp này mang tính biến đổi triệt để: chúng ta được đồng hóa với Đức Kitô, để không còn phải là chính chúng ta sống nữa, nhưng là chính Đức Kitô sống trong chúng ta. Tình yêu Thánh Thể thúc đẩy người tín hữu bước ra khỏi cái vỏ bọc ích kỷ của bản thân để dấn thân phục vụ anh chị em đồng loại, đặc biệt là những người nghèo khổ, đau yếu, bị bỏ rơi và gạt ra bên lề xã hội.
Bàn tiệc Thánh Thể cũng là hình ảnh tiên báo cho tiệc cưới thiên quốc muôn đời. Tại đây, mọi rào cản về giai cấp, sắc tộc, văn hóa đều bị xóa nhòa trong tình huynh đệ bao la của Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Nuôi dưỡng đời sống bằng Bí tích Thánh Thể đồng nghĩa với việc chúng ta mang lấy tâm tình của Đức Giêsu: một trái tim hiền lành và khiêm nhường, sẵn sàng tha thứ, sẵn sàng rửa chân cho nhau và sẵn sàng hiến mạng vì người mình yêu mến.
SỨ VỤ LOẢN BÁO TIN MỪNG TRONG THỜI ĐẠI MỚI
Được nuôi dưỡng bởi Lời Chúa qua Lectio Divina và được thiêu đốt bởi ngọn lửa tình yêu Thánh Thể, người môn đệ Đức Kitô không thể giữ ơn thánh cho riêng mình. Sứ vụ loan báo Tin Mừng là một mệnh lệnh khẩn thiết và là hệ quả tất yếu của một tâm hồn đã thực sự gặp gỡ và kinh nghiệm được lòng thương xót của Thiên Chúa. Loan báo Tin Mừng không chỉ giới hạn trong những bài giảng thuyết hùng hồn nơi tòa giảng hay những buổi hội thảo hoành tráng, mà trước hết và trên hết được thể hiện qua chứng tá của một đời sống thánh thiện, đượm nồng tình bác ái và niềm hy vọng kiên vững.
Thế giới hôm nay đang khao khát ánh sáng thật sự giữa muôn vàn bóng tối của sự ích kỷ, bạo lực, chủ nghĩa duy vật và khủng hoảng giá trị tinh thần. Người Kitô hữu được mời gọi trở nên những hạt muối ướp mặn cho đời và những ánh đuốc soi đường cho anh chị em đồng loại. Sự hiện diện của chúng ta nơi gia đình, nơi chốn làm việc, trong các mối tương quan xã hội phải phản chiếu khuôn mặt đầy lòng trắc ẩn và nhân hậu của Thiên Chúa. Khi đối diện với những bất công, hiểu lầm hay bách hại, người môn đệ chân chính không đáp trả bằng hận thù hay bạo lực, nhưng bằng sự hiền hòa, kiên nhẫn và sức mạnh hoán cải của tình yêu thập giá.
Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của Lời hằng sống và là Hòm Bia Giao Ước mới, chính là khuôn mẫu tuyệt hảo nhất cho hành trình thiêng liêng này. Mẹ đã lắng nghe Lời Chúa, suy niệm trong lòng và đem ra thực hành trọn vẹn bằng cả cuộc đời xin vâng tuyệt đối. Phối hợp cùng lời chuyển cầu của Mẹ, mỗi người chúng ta hãy dâng hiến trọn vẹn quãng đời còn lại để phụng sự Chúa, làm chứng nhân cho tình yêu cứu độ và xây dựng nền văn minh tình thương trên quê hương trần thế này, hướng về cõi vinh quang vĩnh cửu nơi Thiên Chúa là cha chung của hết thảy mọi người.
Lm. Anmai, CSsR
NHỮNG BƯỚC ĐI CỦA SỰ KHÔN NGOAN THẬT VÀ NƠI NƯƠNG TỰA CỦA CON CÁI ÁNH SÁNG
Kính thưa quý cộng đoàn, khi bước vào trang Tin Mừng của những ngày thường trong Mùa Thường Niên, chúng ta thường đối diện với những dụ ngôn và lời dạy mang tính chấn động, đôi khi khiến con người thời đại phải bối rối, trăn trở, thậm chí ngỡ ngàng trước cách ứng xử của các nhân vật được Chúa Giêsu đưa ra làm ví dụ. Một trong những đoạn văn bản Kinh Thánh thường gây ra nhiều thao thức, trăn trở và được các Giáo phụ qua nhiều thế hệ đánh giá là một trong những khúc mắc khó hiểu nhất trong Kinh Thánh chính là dụ ngôn về người quản gia bất lương được ghi lại trong chương mười sáu của Tin Mừng theo thánh Luca. Tuy nhiên, nếu chúng ta có sự kiên nhẫn, khiêm tốn mở lòng đón nhận ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần để đặt bản văn này vào đúng khung cảnh lịch sử, xã hội và cứu độ mà Đức Giêsu muốn truyền tải, chúng ta sẽ thấy nó mở ra một chân trời sâu thẳm, đánh thức lương tâm và định hướng toàn bộ hành trình đức tin của mỗi người chúng ta.
Để có thể thấu cảm trọn vẹn ý nghĩa của bài giảng này, chúng ta cần ngược dòng thời gian trở về với bối cảnh văn hóa Cận Đông cổ đại, nơi hình ảnh những người giàu có sở hữu những điền trang mênh mông, những bất động sản lớn và các tài sản kếch xù là điều hết sức quen thuộc. Do khối lượng tài sản quá lớn, những người chủ này không thể trực tiếp quản lý, nên họ thường giao phó toàn bộ quyền hành cho một người quản gia, trong tiếng Hy Lạp gọi là “oikonomos”. Người quản gia này đóng vai trò như tổng quản, có quyền thu thuế, thu hoa lợi, quản lý nợ nần và giao dịch với tá điền hay con nợ của chủ. Trong hệ thống kinh tế xã hội thời bấy giờ, vị trí của người quản gia mang lại cho họ quyền lực ngầm rất lớn. Giống như các thu thuế công cộng, những người quản gia thường có thói quen tự ý cộng thêm phần thù lao, hoa hồng hoặc lợi nhuận riêng vào các khoản nợ của người dân để tự bồi đắp cho túi tiền cá nhân của mình. Sự mập mờ trong tài chính ấy tạo ra một thứ quyền lực gắn liền với sự bất chính, nơi lòng tham và sự vụ lợi dễ dàng len lỏi vào từng giao dịch thường nhật.
Trong dụ ngôn, vị quản gia bị cáo buộc là đã biển thủ tài sản, phung phí của cải của chủ. Khi bị chủ phát giác và chuẩn bị đòi lại sổ sách để cách chức, anh ta lâm vào cảnh đường cùng. Anh ta không thể tiếp tục công việc quản gia quen thuộc, sức lực thì không có để làm ruộng, mà đi ăn xin thì lại quá hổ thẹn với lòng tự ái của một kẻ từng ngồi cao quản lý. Chính trong khoảnh khắc khủng hoảng tột cùng ấy, một sự khôn ngoan lọc lừa, một tính toán thực dụng nhưng vô cùng sắc sảo đã nảy sinh trong tâm trí anh ta. Anh ta tự nhủ phải làm một điều gì đó để khi bị mất việc, vẫn có những người hàng xóm, những con nợ sẵn sàng mở cửa đón chào và đùm bọc anh ta trong tương lai. Thế là anh ta triệu tập từng con nợ của chủ lại để tiến hành một cuộc cấu kết, một sự “giảm nợ” ngoạn mục mang tính chiến lược cá nhân.
Điểm đáng chú ý đầu tiên nằm ở quy mô và khối lượng của những con số mà người quản gia này đã xóa bỏ cho các con nợ. Ngôn ngữ Hy Lạp được sử dụng trong bản văn gốc miêu tả những con số cực kỳ khổng lồ, vượt xa mức giao dịch bình thường của những người nông dân nghèo khó. Anh ta gọi người thứ nhất vào và hỏi rằng anh thiếu chủ bao nhiêu. Người ấy đáp là thiếu một trăm thùng dầu ô-liu. Ngay lập tức, người quản gia bảo hãy ngồi xuống, cầm bút nhanh chóng sửa lại sổ sách thành năm mươi. Theo các nhà nghiên cứu Kinh Thánh, năm mươi “batus” dầu ô-liu tương đương với một khoảng từ bốn trăm đến bốn trăm năm mươi gallon dầu, một khối lượng tài sản có giá trị thương mại khổng lồ vào thời đại đó. Tiếp đến, anh ta gọi người con nợ thứ hai và hỏi thiếu bao nhiêu. Người ấy đáp là thiếu một trăm thạch lúa mì. Người quản gia liền bảo hãy sửa lại sổ sách thành tám mươi thạch. Hai nghìn bốn trăm gallon lúa mì khô là một con số khổng lồ, đại diện cho công sức lao động của bao nhiêu mùa vụ. Việc xóa bỏ những khoản nợ lớn lao này không chỉ là một hành động bớt xén nợ nần thông thường, mà là một sự ân huệ to lớn khiến các con nợ mang ơn anh ta suốt đời, sẵn sàng đáp đền bằng chỗ dung thân khi tai họa ập xuống đầu anh ta.
Điều kỳ lạ và gây sốc nhất trong dụ ngôn này chính là phản ứng của người chủ. Khi biết chuyện bị quản gia chơi xỏ và tẩu tán tài sản của mình để mưu cầu đường lui, người chủ ấy lại không hề nổi giận lôi đình theo bản năng thông thường, trái lại, ông ta đã “khen ngợi người quản gia bất lương vì anh ta đã hành động một cách khôn ngoan”. Tại sao vị chủ lại khen ngợi một kẻ gian ác, bất trung và ăn cắp của cải của chính mình? Chúng ta phải hiểu cho rõ rằng, chủ không bao giờ khen ngợi sự bất lương, không bao giờ cổ vũ cho hành vi gian dối, tham nhũng hay trộm cắp của anh ta. Sự bất lương bị lên án mạnh mẽ, không có chỗ bàn cãi. Cái được chủ khen ngợi ở đây chính là sự “khôn ngoan” (phronimos), tính nhạy bén, khả năng nhìn xa trông rộng, sự quyết đoán và năng lực tận dụng tối đa cơ hội ngặt nghèo để chuẩn bị cho tương lai trước khi quá muộn màng. Anh ta biết rõ hoàn cảnh hiện tại của mình, biết tính toán thiệt hơn và biết chớp lấy thời cơ duy nhất đang có trong tay để cứu vãn tương lai bản thân.
Chính từ điểm mấu chốt này, Đức Giêsu đã đưa ra một lời nhận định mang tính định hướng sắc bén cho toàn thể các môn đệ và cho mỗi chúng ta qua mọi thời đại: “Vì con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi ứng xử với thế hệ của họ”. Lời phán này của Chúa không phải là một lời ca tụng thế gian theo nghĩa tiêu cực, nhưng là một lời khiển trách đầy yêu thương nhưng cũng rất nghiêm khắc dành cho những ai tự nhận mình là con cái sự thật, con cái ánh sáng, nhưng lại sống hờ hững, mê ngủ, thiếu hẳn đi sự sắc sảo, nhiệt thành và khôn ngoan thiêng liêng. Những con người đắm chìm trong thế gian, những kẻ mải mê theo đuổi vật chất địa vị, thường tỏ ra vô cùng nhạy bén, kiên trì, tận tụy, sáng tạo và sẵn sàng hy sinh mọi thứ để đạt được mục đích trần thế của họ. Họ biết cách đầu tư, biết cách chớp thời cơ, biết cách xây dựng mối quan hệ và lo cho tương lai đời này một cách chu đáo, an toàn. Thế nhưng, bao nhiêu lần “con cái ánh sáng” chúng ta lại tỏ ra thờ ơ, lười biếng, ù lì và khờ khạo biết bao trong việc mưu tìm gia nghiệp vĩnh cửu trên trời? Chúng ta sở hữu kho tàng ơn thánh cao cả, chúng ta biết rõ đích đến cuối cùng là sự sống đời đời, nhưng lại thường đối xử với ơn cứu độ như một điều hiển nhiên, buông xuôi, lãng phí thời gian và bỏ quên việc đầu tư cho cõi vĩnh hằng.
Sự khôn ngoan của con cái ánh sáng không hệ tại ở sự mánh khóe, lừa lọc hay thủ đoạn bất chính, mà hệ tại ở việc biết sử dụng tất cả những thực tại trần thế tạm bợ này — dù là tài sản, khả năng, thời gian, sức lực, hay thậm chí cả những nghịch cảnh, đau khổ, thử thách — như những phương thế, những nhịp cầu để tiến về Nước Trời. Saint Ignatius trong bài tập linh thao về Nguyên tắc và Nền tảng đã từng nhắc nhở chúng ta một chân lý nền tảng rằng: con người được dựng nên để ngợi khen, tôn kính và phụng sự Thiên Chúa, và nhờ đó mà cứu rỗi linh hồn mình; còn vạn vật trên mặt đất đều được dựng nên vì con người, để giúp họ đạt tới mục đích ấy. Do đó, con người phải sử dụng chúng chừng nào chúng giúp mình đạt tới mục đích, và phải rời bỏ chúng chừng nào chúng cản trở mình. Mọi thực tại trần thế đều có tính chất quy chiếu về Thiên Chúa. Ngay cả tiền tài của cải, nếu chúng ta chỉ biết bám víu vào nó như cứu cánh tuyệt đối, chúng ta sẽ tự chuốc lấy sự diệt vong; nhưng nếu chúng ta biết dùng nó để làm ơn bố thí, giúp đỡ những người nghèo đói, nâng đỡ anh em hoạn nạn, thì chúng ta đang biến những của cải bất chính ấy thành những khoản đầu tư vĩnh cửu, tích trữ kho tàng trên trời nơi mối mọt không ăn được và kẻ trộm không đào ngạch mà lấy đi được.
Hơn thế nữa, bài học từ dụ ngôn này còn mở rộng ra đến một chiều kích vô cùng thiết thực trong đời sống tương quan gia đình và cộng đoàn xã hội hằng ngày của chúng ta: cách chúng ta đối xử với những lầm lỗi, xúc phạm và hận thù. Trong cuộc sống trần thế, biết bao nhiêu lần chúng ta ôm giữ những mối thù hằn, những vết thương lòng, những cay đắng do người khác gây ra. Chúng ta giống như những chủ nợ khắt khe, luôn cầm sổ sách ghi chép từng lỗi lầm nhỏ nhặt của anh chị em, giữ chặt trong lòng sự bất hòa và nuôi dưỡng ý định trả đũa. Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy noi gương sự khôn ngoan của người quản gia biết “xóa nợ” cho người khác. Khi chúng ta tha thứ cho anh chị em, khi chúng ta bớt đi những đòi hỏi khắt khe, khi chúng ta mở rộng lòng xót thương và rộng lượng tha thứ cho những ai xúc phạm đến chúng ta, chính là lúc chúng ta đang kiến tạo cho mình một tương lai bình an. Đức Giêsu đã từng khẳng định: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được xót thương”. Sự tha thứ không chỉ giải thoát cho người lầm lỗi, mà trên hết, nó tháo cởi gông cùm thù hận đang giam hãm chính tâm hồn chúng ta, mở ra cánh cửa lòng thương xót của Thiên Chúa vào Ngày Phán Xét.
Trong hành trình đức tin, chúng ta thường dễ rơi vào cạm bẫy của sự tự mãn. Ta nghĩ rằng mình đi lễ đều đặn, đọc kinh cầu nguyện thường xuyên là đủ để đảm bảo chiếc vé vào Nước Trời. Nhưng Chúa Giêsu mời gọi chúng ta một cái nhìn triệt để hơn: Ngài đòi hỏi một sự hoán cải toàn diện trong cách sử dụng mọi nén bạc mà Chúa đã trao phó. Thời gian chúng ta đang sống là một hồng ân ngắn ngủi; mỗi khoảnh khắc trôi qua là một cơ hội không bao giờ lặp lại để chúng ta lập công tích đức. Nếu người quản gia bất lương biết tận dụng khoảnh khắc cận kề thảm họa để tìm đường cứu thân, thì chúng ta, những người được mời gọi làm chứng cho ánh sáng chân lý, lại càng phải khẩn trương hơn nữa trong việc thực thi bác ái, sống chân thực, làm sáng danh Chúa giữa lòng một thế giới đầy dẫy những bóng tối của ích kỷ và vụ lợi.
Chúng ta cũng cần nhìn lại thái độ của mình trước những nghịch cảnh và khó khăn trong đời sống tông đồ cũng như đời sống gia đình. Nhiều người trong chúng ta khi gặp thử thách, đau khổ, bệnh tật hay thất bại thường hay oán trách, than thân trách phận, buông xuôi ngã lòng. Thế nhưng, dưới ánh sáng của dụ ngôn này, mọi hoàn cảnh trắc trở đều có thể trở thành một “cơ hội vàng” để chúng ta thể hiện lòng cậy trông tuyệt đối vào Thiên Chúa. Ngay cả những yếu đuối, những vết thương trong quá khứ, nếu chúng ta biết đặt chúng dưới lòng thương xót Chúa và hoán cải tâm hồn, cũng có thể trở thành bài học khiêm tốn giúp chúng ta bước đi vững vàng hơn trên con đường nhân đức. Sự khôn ngoan đích thực không phải là trốn chạy thực tế, mà là biết nhìn xuyên qua thực tế để nhận ra thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa đang ẩn giấu phía sau mọi biến cố thăng trầm của cuộc đời.
Để có thể sống được tinh thần khôn ngoan của con cái ánh sáng ấy, chúng ta không thể chỉ dựa vào sức lực tự nhiên của bản thân, bởi bản tính con người chúng ta yếu đuối, dễ nghiêng chiều về sự ích kỷ và những ham muốn trần tục. Chúng ta cần phải khiêm tốn nài xin ơn Chúa Thánh Thần ban ơn phán đoán siêu nhiên, ơn khôn ngoan đích thực để phân định rõ ràng đâu là ý Chúa và đâu là ý muốn ích kỷ của con người cũ. Đồng thời, chúng ta có một người Mẹ tuyệt vời hằng chở che, đồng hành và soi đường dẫn lối cho chúng ta, đó là Đức Trinh Nữ Maria — Đấng được tôn vinh là Mẹ của lòng thương xót và là nơi ẩn trú an toàn cho các tội nhân. Qua lời chuyển cầu đầy thế giá của Mẹ Maria, cùng với gương sáng của thánh Charles Borromeo — vị mục tử nhân lành luôn hết mình vì đoàn chiên và canh tân Giáo Hội bằng sự khôn ngoan thiêng liêng — xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta ơn can đảm để từ bỏ lối sống hời hợt, biết khôn ngoan tận dụng mọi ơn ban trong đời này để mưu ích cho linh hồn, và biết quảng đại tha thứ cho anh em để mai ngày xứng đáng bước vào cõi vĩnh phúc muôn đời.
Amen.
Lm. Anmai, CSsR
TRONG VÒNG TAY CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT VÀ SỰ TÌM KIẾM KHÔNG MỆT MỎI CỦA THIÊN CHÚA
Trong hành trình đức tin Kitô giáo, có những thời điểm chúng ta dễ rơi vào một ảo tưởng tinh tế, đó là ảo tưởng về sự tự mãn trong đạo đức và ranh giới an toàn của sự thánh thiện giả tạo. Con người qua mọi thời đại thường có xu hướng phân chia thế giới thành hai cực rõ rệt: người công chính và kẻ tội lỗi, người thuộc về ánh sáng và kẻ chìm đắm trong bóng tối, những kẻ giữ luật tỉ mỉ và những kẻ bên lề xã hội. Sự phân chia này tạo ra một thứ vỏ bọc an toàn, nơi chúng ta tự vỗ ngực xưng tên, tự khẳng định vị thế đạo đức của mình và từ đó nhìn đời, nhìn người bằng ánh mắt phán xét, khắt khe, xa lánh. Thế nhưng, khi bước vào Tin Mừng, khi đối diện trực tiếp với dung nhan và hành động của Đức Giêsu Kitô, toàn bộ cấu trúc định kiến ấy bị đảo lộn hoàn toàn. Ngài không đứng trên cao để ban bố những luật lệ trói buộc hay duy trì khoảng cách thanh sạch giả hiệu; trái lại, Ngài bước xuống, đi vào lòng trần thế, đồng bàn với những kẻ bị loại trừ, và quan trọng hơn hết, Ngài mặc khải một Thiên Chúa không an lòng ngự trị trên ngai vàng quyền lực xa cách, mà là một Thiên Chúa mang trái tim của người mục tử đi tìm chiên lạc, mang dáng dấp của người phụ nữ thắp đèn quét nhà tìm đồng bạc bị mất. Bài suy niệm này mời gọi mỗi chúng ta lội ngược dòng những định kiến tôn giáo hẹp hòi để bước vào chiều sâu vô tận của lòng thương xót Thiên Chúa, để từ đó tái định nghĩa ơn gọi đích thực của người môn đệ giữa một thế giới đầy tổn thương và lạc lối.
Để hiểu thấu đáo thái độ của Đức Giêsu, chúng ta cần quay về bối cảnh sống động của trang Tin Mừng, nơi những người thu thuế và tội lỗi lũ lượt kéo đến để lắng nghe Người. Hình ảnh này tự bản thân nó đã là một cuộc cách mạng văn hóa và tôn giáo sâu sắc. Thu thuế là những kẻ bị coi là phản quốc, vơ vét của dân để phục vụ cho đế quốc ngoại bang; tội lỗi là những người vì hoàn cảnh, vì sự yếu đuối hay vì gạt bỏ khỏi lề luật mà sống bên lề cộng đồng tôn giáo chính thống. Trong con mắt của những bậc thầy thông luật, của nhóm Pharisêu và các kinh sư, những con người ấy không đáng được nhìn nhận, càng không đáng để đối thoại. Họ là hiện thân của sự ô uế, là thứ cặn bã xã hội mà nếu tiếp xúc, người ta sẽ bị lây nhiễm sự nhơ nhớp. Phản ứng của nhóm Pharisêu trước cảnh tượng Đức Giêsu đón tiếp và ăn uống cùng họ không chỉ là sự ngạc nhiên, mà là sự giận dữ, khinh bỉ và lên án: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” Đối với họ, bàn ăn là biểu tượng của sự hiệp thông trọn vẹn, là không gian linh thánh chỉ dành cho những người thuần khiết. Việc Đức Giêsu chia sẻ tấm bánh, chén nước với những kẻ bất xứng bị họ xem như một sự sỉ nhục đối với lề luật thánh thiện của Thiên Chúa. Thế nhưng, chính tại điểm nút căng thẳng này, Đức Giêsu đã mở ra một chân trời mới qua những dụ ngôn mang sức mạnh lay động tâm hồn, đặc biệt là dụ ngôn về con chiên lạc và đồng bạc bị mất.
Trước hết, hãy lắng nghe tiếng gọi từ dụ ngôn người mục tử bỏ chín mươi chín con chiên nơi hoang địa để đi tìm cho kỳ được con chiên lạc. Trong tâm thức văn hóa Trung Đông thời bấy giờ, người mục tử không chỉ là người chăn nuôi đơn thuần, mà là hiện thân của sự chăm sóc, bảo vệ và hy sinh. Một trăm con chiên là một gia tài lớn, là sinh kế của cả một gia đình. Khi một con chiên bị lạc, nó đối diện với muôn vàn hiểm nguy: thú dữ, đói khát, vực sâu và sự cô độc tuyệt đối. Hành động của người mục tử trong dụ ngôn gây ra một sự bất ngờ lớn đối với tư duy toán học thông thường của con người: tại sao lại mạo hiểm bỏ lại chín mươi chín con ở nơi hoang địa an toàn chỉ để đi tìm một con duy nhất đã tự ý tách đàn? Phải chăng đó là một hành động phiêu lưu thiếu khôn ngoan? Nhưng logic của Thiên Chúa không vận hành theo định luật cân đong đo đếm của con người. Đối với Ngài, mỗi một linh hồn đều mang một giá trị vô hạn, không thể thay thế. Sự thiếu vắng của một con chiên không phải là một con số nhỏ có thể bỏ qua, mà là một vết thương rỉ máu trong trái tim của người mục tử. Ngài không ngồi chờ con chiên tự quay về, bởi vì con chiên lạc vốn kiệt sức và bất lực; Ngài là Đấng chủ động bước đi, băng qua những thung lũng âm u, chịu đựng mọi gian khổ để tìm kiếm cho bằng được. Và khoảnh khắc tìm thấy không phải là khoảnh khắc của sự trách mắng, trừng phạt hay giận hờn, mà là khoảnh khắc của niềm vui khôn tả. Ngài đặt con chiên lên đôi vai mình—đôi vai gánh lấy gánh nặng của nhân loại—và vác nó về nhà với sự hoan hỉ tột độ. Niềm vui ấy lớn đến mức người mục tử phải gọi bè bạn, hàng xóm láng giềng lại để cùng chung vui: “Hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên bị mất.”
Hình ảnh thứ hai tiếp nối chiều kích ấy là dụ ngôn người phụ nữ có mười đồng bạc, mất một đồng liền thắp đèn, quét nhà, tìm kiếm cẩn thận cho đến khi tìm thấy. Chi tiết mười đồng bạc drachma không chỉ mang giá trị vật chất, mà theo các nhà chú giải Kinh Thánh, đó có thể là chuỗi tiền cưới hỏi truyền thống hoặc là toàn bộ tài sản tích lũy của một gia đình nghèo. Mất đi một đồng nghĩa là mất đi một phần quan trọng trong danh dự và đời sống sinh kế. Ngôi nhà của người phụ nữ nghèo thời đó thường tối tăm, không có cửa sổ, nền nhà bằng đất nện phủ đầy rơm rác. Để tìm lại được đồng bạc nhỏ bé ấy, chị không quản ngại khó khăn: thắp lên ngọn đèn soi rọi mọi ngóc ngách, cầm chổi quét sạch từng xó xỉnh, lật tung mọi đống rác rưởi với sự kiên trì tuyệt đối. Công việc tìm kiếm ấy đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên nhẫn và quyết tâm cao độ. Và khi tìm thấy, niềm vui của chị cũng vỡ oà y hệt như niềm vui của người mục tử. Chị gọi bạn bè, láng giềng đến để cùng ăn mừng. Đức Giêsu đúc kết qua hai dụ ngôn ấy một chân lý rực rỡ về lòng từ bi của Thiên Chúa: “Trên trời cũng thế, sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối.”
Những lời này không nhằm ca ngợi những kẻ tự mãn cho mình là công chính, mà thực chất mang một âm hưởng mỉa mai và thách đố sâu sắc đối với thái độ của nhóm Pharisêu. Những kẻ tự xưng là “không cần sám hối” thực ra là những kẻ đang bị giam cầm trong nhà tù của sự kiêu ngạo thiêng liêng. Họ tưởng rằng mình đứng vững trên đỉnh cao của sự thánh thiện, nhưng kỳ thực họ đang đứng trên miệng vực của sự vô cảm và cứng lòng. Sám hối không phải là đặc ân dành riêng cho một nhóm người yếu đuối nào đó, mà là nhu cầu hiện sinh của bất kỳ ai đang sống trên cõi đời này. Không ai có thể tuyên bố mình hoàn toàn trong sạch trước ánh sáng tuyệt đối của Thiên Chúa. Sự khác biệt duy nhất giữa người tội lỗi nhận ra sự khốn cùng của mình và người Pharisêu che đậy sự rỗng tuếch bằng chiếc áo nhân đức giả hiệu, đó là người tội lỗi mở toang cánh cửa tâm hồn để đón nhận lòng thương xót, trong khi người Pharisêu đóng sập cánh cửa ấy lại vì nghĩ rằng mình chẳng cần ai cứu chuộc.
Nhìn sâu hơn vào sứ điệp này, chúng ta thấy rằng phong cách sống và hành động của Đức Giêsu chính là bản sao hoàn hảo của lòng Chúa thương xót. Ngài bước vào cuộc đời của những con người đau khổ không phải để dung túng cho tội lỗi, nhưng để biến đổi tội nhân từ bên trong bằng tình yêu vô điều kiện. Ngài không ngại bị coi là ô uế, không sợ bị vấy bẩn bởi sự yếu đuối của con người, bởi vì Ngài mang trong mình nguồn suối thanh tẩy đích thực. Sự thánh thiện của Thiên Chúa không phải là một thứ năng lượng mong manh dễ vỡ, sợ hãi trước sự ô uế của trần gian; trái lại, sự thánh thiện ấy là một ngọn lửa mãnh liệt có sức thiêu rụi mọi thứ bợn nhơ, biến đổi bùn nháp thành vàng ròng của ân sủng. Khi nhóm Pharisêu trách móc Đức Giêsu vì ăn uống với tội lỗi, họ đã bỏ lỡ mất một sự thật nền tảng: Thiên Chúa không đến vì những kẻ khỏe mạnh, nhưng vì những kẻ đau yếu; không đến vì những người tự cho mình là công chính, nhưng để kêu gọi những kẻ tội lỗi ăn năn trở về.
Bước ra khỏi bối cảnh lịch sử của trang Tin Mừng để nhìn vào thực trạng đời sống Giáo hội và xã hội hôm nay, chúng ta giật mình nhận ra rằng tinh thần Pharisêu vẫn đang ẩn náu rất sâu trong tâm hồn của mỗi người Kitô hữu chúng ta. Trong đời sống đạo hằng ngày, chúng ta rất dễ rơi vào cám dỗ xây dựng những “ốc đảo” an toàn cho riêng mình. Chúng ta thích quy tụ trong những nhóm người hợp gu, những cộng đoàn có vẻ đạo đức thuần khiết, những sinh hoạt phụng vụ trang trọng, và vô tình hay hữu ý, chúng ta tạo ra một bức tường vô hình ngăn cách bản thân với những con người đang lầm đường lạc lối, những mảnh đời bất hạnh, những anh chị em mà lối sống đi ngược lại với chuẩn mực luân lý thông thường. Chúng ta e ngại sự ô uế, chúng ta sợ bị “lây nhiễm” bởi những thói hư tật xấu, và kết quả là chúng ta chọn giải pháp an toàn giống như những người Pharisêu xưa: đứng từ xa phán xét, chỉ trích, lên án và tự mãn trong sự công chính tự phong của mình.
Đời sống Kitô giáo đích thực không thể là một đời sống trốn tránh thực tại. Đức Kitô không hề kêu gọi chúng ta rút lui vào những tu viện cô lập hay những pháo đài đạo đức khép kín để tự bảo vệ linh hồn mình khỏi những cạm bẫy của thế gian. Ngược lại, tiếng gọi của Tin Mừng luôn là tiếng gọi hướng ra ngoại biên, tiếng gọi bước vào những nơi tăm tối nhất của xã hội, nơi con người đang quằn quại trong tuyệt vọng, cô đơn, lầm lạc và tổn thương. Trở thành môn đệ của Đức Giêsu đồng nghĩa với việc mang lấy mùi của đoàn chiên, sẵn sàng làm cho đôi chân mình vấy bùn đường phố, sẵn sàng mở rộng trái tim để lắng nghe những tiếng thở than, những nỗi thống khổ của những con người bị xã hội gạt bỏ. Nếu Giáo hội quên đi sứ mạng này, nếu các tín hữu chỉ mải mê lo cho sự cứu rỗi cá nhân hay sự trong sạch hình thức của cộng đoàn mình, thì Giáo hội ấy chỉ còn là một câu lạc bộ của những người tự mãn chứ không còn là thân thể sống động của vị Mục Tử nhân lành.
Thực tế mục vụ và đời sống thường ngày cho thấy biết bao nhiêu người trẻ đang lạc lối trong thế giới ảo, biết bao nhiêu con người vì những sa ngã cuộc đời mà bị đẩy ra bên lề, biết bao nhiêu gia đình đang tan vỡ và chìm đắm trong cay đắng. Họ không cần những lời phán xét lạnh lùng từ những kẻ tự cho mình là đạo đức. Họ không cần những bản án luân lý nặng nề giáng xuống đầu những khi họ đã ngã quỵ. Điều họ khát khao hơn cả, điều mà trái tim họ đang quằn quại tìm kiếm, chính là một ánh mắt thấu cảm, một bờ vai để nương tựa, một bàn tay sẵn sàng kéo họ đứng lên mà không kèm theo bất kỳ điều kiện khắt khe nào. Đó chính là phong cách của Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã mạc khải. Ngài không kết án người phụ nữ ngoại tình, nhưng Ngài vực cô ấy dậy và trao cho cô một tương lai mới: “Hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa.” Ngài không ruồng bỏ Matthêu người thu thuế, nhưng Ngài gọi tên anh bên bàn làm việc và bước vào nhà anh dùng bữa, biến một kẻ bị coi là phản bội thành một tông đồ nhiệt thành và là tác giả của sách Tin Mừng.
Để có thể sống được tinh thần ấy, mỗi người chúng ta phải trải qua một cuộc hoán cải nội tâm tận căn. Cuộc hoán cải bắt đầu từ việc dám đối diện với sự thật về chính mình, buông bỏ chiếc mặt nạ của sự giả hình và tự mãn. Khi chúng ta nhận ra rằng mình cũng chỉ là những kẻ tội lỗi được cứu độ bằng ơn không phí tổn của Thiên Chúa, chúng ta sẽ không còn can đảm để ném đá bất kỳ ai, không còn lý do gì để khinh mỉm hay xa lánh những anh chị em đang lầm đường lạc lối. Trái tim của người môn đệ phải là một trái tim rộng mở, một trái tim biết nhói đau trước nỗi đau của tha nhân, biết thao thức trước những tâm hồn đang chìm khuất trong bóng tối của tuyệt vọng. Đạo Công giáo không phải là một tập hợp những cấm kỵ và lề luật khô khan, mà là một cuộc gặp gỡ sống động với một con người đang hằng mong mỏi ôm lấy chúng ta vào lòng: Đức Giêsu Kitô, Đấng không hổ thẹn khi gọi chúng ta là anh chị em, Đấng sẵn sàng đi đến tận cùng cõi chết để tìm kiếm từng người chúng ta về nhà.
Hành trình đức tin vì thế là một tiến trình không ngừng bước ra khỏi cái tôi ích kỷ để bước vào không gian bao la của lòng thương xót. Khi chúng ta thắp lên ngọn đèn của sự quan tâm, khi chúng ta cầm chiếc chổi của sự khiêm tốn để quét sạch những định kiến, phán xét trong tâm hồn, khi chúng ta sẵn sàng cúi xuống để bế lấy những con người đang rách nát bên vệ đường cuộc sống lên đôi vai đầy tình bác ái của mình, đó chính là lúc chúng ta làm cho Tin Mừng trở nên sống động và rực rỡ nhất. Thiên Chúa không cần những tòa nhà uy nghi hay những nghi thức hoành tráng nếu thiếu vắng tình yêu thương chân thành đối với những người bé mọn nhất. Ngài tìm kiếm những trái tim dám đồng cảm, dám sẻ chia, và dám trở nên hiện thân của người mục tử nhân lành giữa lòng một thế giới đầy gai góc và thương tích.
Nguyện xin ơn thánh của Chúa Thánh Thần soi sáng và biến đổi tâm hồn mỗi người chúng ta, để qua mỗi lời nói, cử chỉ và cách sống hằng ngày, chúng ta biết trở thành phản ảnh trung thực của lòng thương xót Chúa. Xin cho chúng ta không bao giờ khép kín cửa lòng trước những mảnh đời bất hạnh, không bao giờ dùng lề luật để làm vũ khí sát thương tha nhân, nhưng biết dùng tình yêu, sự kiên nhẫn và lòng bao dung để đồng hành, nâng đỡ những ai đang lầm lạc. Ước gì cuộc đời của mỗi người chúng ta thực sự trở thành một khúc ca hoan ca tạ ơn Thiên Chúa, Đấng vì yêu thương đã không bỏ rơi bất kỳ ai trong cõi đời này, nhưng luôn kiên nhẫn đi tìm, ôm ấp và đưa tất cả trở về nguồn cội của bình an và sự sống đời đời. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
SỐNG TRONG ÂN TÌNH THUỘC TRỌN VỀ CHÚA
Kính thưa quý ông bà anh chị em,
Khi bước đi trên hành trình đức tin, một trong những câu hỏi căn bản và định hình toàn bộ căn tính của người Kitô hữu chính là: Chúng ta thực sự thuộc về ai? Trong thế giới tục hóa hôm nay, con người thường bị lôi cuốn bởi vô vàn thứ chủ quyền giả tạo: chủ quyền của danh vọng, của tiền tài, của cái tôi ích kỷ, hay những trào lưu tư tưởng trôi nổi theo dòng đời. Người ta tưởng rằng mình hoàn toàn tự do khi tự lập biểu ngữ cho cuộc đời mình, tự quyết định số phận theo sở thích cá nhân, không lệ thuộc vào bất kỳ ai. Thế nhưng, sự tự do giả hiệu ấy thường dẫn đến tình trạng vong thân, khiến con người trở thành nô lệ cho những ngẫu tượng mù quáng và dễ dàng chìm ngập trong sự cô đơn, hụt hẫng. Trái lại, ánh sáng Lời Chúa mời gọi chúng ta xác tín một chân lý tuyệt đối giải thoát và đem lại niềm bình an sâu thẳm: Chúng ta thuộc về Chúa. Sự thuộc về này không phải là một thứ áp bức ngoại tại, mà là một mối dây giao ước tình yêu nhiệm mầu, nơi ơn cứu độ được thực thi và phẩm giá đích thực của con người được tôn vinh trọn vẹn.
Để hiểu thấu đáo ý nghĩa của việc thuộc trọn về Chúa, chúng ta cần nhìn lại chiều kích lịch sử cứu độ qua từng trang Kinh Thánh. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Rôma đã đưa ra một tuyên ngôn hùng hồn rằng: Dù chúng ta sống hay chúng ta chết, chúng ta đều thuộc về Chúa. Ngay từ khoảnh khắc khởi nguyên của tạo dựng, Thiên Chúa đã dùng tình yêu thương bao la để rút chúng ta từ hư vô bước vào hiện hữu. Ngài không chỉ dựng nên chúng ta bằng một tiếng phán, nhưng Ngài còn thổi hơi thở sự sống của chính mình vào khuôn mặt đất sét. Điều đó có nghĩa là sự sống sinh động trong huyết quản chúng ta, từng nhịp đập của trái tim, từng hơi thở ra vào đều mang dấu ấn chủ quyền thiêng liêng của Đấng Tạo Hóa. Con người không tự mình mà có, cũng chẳng tự mình mà duy trì được sự tồn tại mỏng giòn này. Sự hiện hữu của chúng ta là một hồng ân thuần túy, một biểu hiện của lòng từ bi vô lượng. Do đó, việc nhận thức mình thuộc về Chúa không phải là một sự tước đoạt tự do, mà là sự khám phá ra nguồn gốc đích thực của chính mình. Giống như chi thể trên thân thể phải gắn liền với đầu mới có sự sống và sức mạnh, con người chỉ tìm thấy sự viên mãn khi ý thức mình được neo giữ trong lòng thương xót của Thiên Chúa.
Thế nhưng, lịch sử nhân loại chứng minh rằng con người thường có xu hướng bẻ gãy mối dây giao ước ấy để chạy theo những ảo tưởng tự lập. Chúng ta muốn tự chủ theo nghĩa khước từ ơn huệ, muốn tự tay xây dựng tháp Babel cho riêng mình để rồi chỉ chuốc lấy sự chia rẽ và hỗn loạn. Nhận ra tình trạng lạc lối đó, Thiên Chúa đã không bỏ rơi công trình tay Ngài làm ra. Ngài đã sai Con Một yêu dấu xuống thế làm người, gánh lấy mọi tội lụy và yếu hèn của chúng ta. Trên cây thập giá, Đức Giêsu Kitô đã trả một giá máu vô cùng đắt đỏ để chuộc lại chúng ta từ ách nô lệ của tội lỗi và sự chết. Máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Người chính là văn kiện giao ước mới, minh chứng hùng hồn rằng chúng ta đã được mua bằng một giá quá đắt. Vì thế, chúng ta không còn thuộc về thế gian hư nát, không còn thuộc về những quyền lực đen tối của ích kỷ và hận thù, mà đã trở thành gia nghiệp riêng của Đức Kitô phục sinh. Việc thuộc về Chúa qua mầu nhiệm cứu chuộc mang lại cho chúng ta một căn tính mới vô cùng cao cả: chúng ta là nghĩa tử của Thiên Chúa, là đền thờ của Chúa Thánh Thần, và là những người thừa gia vĩnh cửu trong vương quốc ban sự sống đời đời.
Sự thuộc về Chúa này đòi hỏi một thái độ dấn thân triệt để trong đời sống hằng ngày. Thuộc về Chúa đồng nghĩa với việc để cho Ngài làm chủ toàn bộ cõi lòng, tư tưởng, lời nói và hành động của chúng ta. Trong đời sống thường nhật, chúng ta rất dễ rơi vào cạm bẫy “chia đôi” tâm hồn: một phần dâng hiến cho Chúa qua những giờ kinh nguyện sáng tối hay những thánh lễ Chúa Nhật, phần còn lại dành trọn cho thế gian với những toan tính vụ lợi, ganh đua và thỏa mãn dục vọng thấp hèn. Đức Giêsu đã từng cảnh báo rằng không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Thuộc trọn về Chúa đòi hỏi một sự hoán cải tận căn, nghĩa là đặt thánh ý Chúa lên trên hết mọi chương trình cá nhân. Khi đứng trước những ngã rẽ cuộc đời, trước những cám dỗ về quyền lực, tiền tài hay danh vọng bất chính, người môn đệ đích thực không hỏi rằng: “Điều này có mang lại lợi lộc gì cho tôi?”, mà phải khiêm tốn thưa lên rằng: “Lạy Chúa, con phải làm gì theo ý muốn của Ngài?”. Chính sự phó thác tuyệt đối này mang lại sự tự do nội tâm kỳ diệu, giải thoát chúng ta khỏi gánh nặng phải tự loay hoay xoay sở cho tương lai bằng sức lực hạn hẹp của mình.
Hơn thế nữa, việc thuộc về Chúa còn định hình cách thức chúng ta đối xử với tha nhân. Nếu mọi người xung quanh đều là tạo vật được Thiên Chúa yêu thương và cứu chuộc bằng giá máu của Đức Kitô, thì chúng ta không thể sống dửng dưng, vô cảm hay ích kỷ trước nỗi đau của họ. Bất công, hận thù, sự chia rẽ và việc loại trừ lẫn nhau là những thực hành đi ngược lại hoàn toàn với căn tính thuộc về Chúa. Khi chúng ta yêu thương anh chị em, nhất là những người nghèo khó, bé mọn, đau khổ và bị gạt ra bên lề xã hội, chính là lúc chúng ta đang thực thi quyền làm con Chúa và tôn trọng quyền sở hữu tối cao của Ngài trên mỗi con người. Lòng bác ái Kitô giáo không phải là một thứ chủ nghĩa nhân đạo thuần túy thế tục, nhưng là tiếng vọng của tình yêu Thiên Chúa đang vang dội qua trái tim của những kẻ biết mình thuộc về Ngài. Sống giữa một xã hội đầy dẫy những chia rẽ và bạo lực, cộng đoàn của những người thuộc về Chúa phải trở thành ốc đảo của sự bình an, hiệp nhất và tha thứ.
Nhìn vào các thánh nhân trong lịch sử Giáo Hội, chúng ta thấy rõ ngọn lửa bùng cháy của tâm tình thuộc trọn về Chúa. Các ngài đã không tiếc bất cứ điều gì, kể cả mạng sống mình, để minh chứng cho chân lý này. Đối với các vị tử đạo, lưỡi gươm bạo tàn hay ngọn lửa thiêu đốt không thể lay chuyển nổi niềm xác tín rằng thân xác các ngài dẫu có bị hủy diệt thì linh hồn vẫn thuộc về Đấng Tạo Hóa và Cứu Chuộc. Đối với các thánh tông đồ hoạt động không mệt mỏi hay các thánh đan sĩ ẩn tu trong thinh lặng, mọi hy sinh hãm mình đều xuất phát từ một động lực duy nhất: làm vinh danh Chúa và sống chết cho một mình Ngài mà thôi. Các ngài đã cảm nếm được niềm vui khôn tả của việc được Thiên Chúa nắm giữ cuộc đời, và niềm vui ấy trở thành sức mạnh vượt thắng mọi thử thách gian nan của cõi trần thế tạm bợ này.
Trở về với hoàn cảnh thực tế của mỗi chúng ta hôm nay, giữa những bộn bề lo toan của cơm áo gạo tiền, những áp lực công việc và những cám dỗ tinh vi của văn hóa hưởng thụ, việc ý thức mình thuộc về Chúa trở thành chiếc mỏ neo vững chắc giữ cho con thuyền đời ta không bị nhấn chìm giữa giông bão. Khi gặp phải đau khổ, bệnh tật, thất bại hay những mất mát đau thương trong gia đình và xã hội, chúng ta dễ sinh lòng oán trách, ngã lòng và tưởng rằng mình bị bỏ rơi cô độc. Chính trong những giây phút tối tăm ấy, Lời Chúa hôm nay vang lên như một lời trấn an mạnh mẽ: Chúng ta thuộc về Chúa, và không một thế lực nào, kể cả sự chết, có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô. Đau khổ, khi được kết hiệp với cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, sẽ không còn là ngõ cụt tuyệt vọng, mà trở thành nén hương thơm ngát dâng lên Thiên Chúa, trở thành nhịp cầu thanh luyện tâm hồn để chúng ta trở nên giống Ngài hơn.
Để nuôi dưỡng ý thức thuộc về Chúa này, người Kitô hữu không thể xem nhẹ đời sống cầu nguyện và các bí tích. Cầu nguyện không đơn thuần là đọc lên vài câu kinh công thức theo thói quen, mà là không gian gặp gỡ thân mật giữa tâm hồn với Đấng đã tạo dựng và yêu thương chúng ta. Trong thinh lặng của tâm hồn, chúng ta để cho Chúa tháp nhập vào từng suy nghĩ, uốn nắn từng ước nguyện và chữa lành những vết thương lòng sâu kín nhất. Bí tích Thánh Thể, đỉnh cao của đời sống Giáo Hội, chính là khoảnh khắc tuyệt diệu nhất mà Chúa ngự đến để nên một với chúng ta, biến đổi bản chất yếu đuối của chúng ta thành sự sống của chính Ngài. Khi đón nhận Thánh Thể, chúng ta không chỉ rước Chúa vào lòng, mà còn để Chúa ôm lấy toàn bộ cuộc đời chúng ta, tái khẳng định một cách hùng hồn rằng: Ta thuộc về ngươi, và ngươi thuộc về Ta. Sự giao hòa nhiệm mầu này ban cho chúng ta nguồn năng lượng siêu nhiên để bước ra khỏi nhà thờ, dấn thân vào lòng thế giới và làm chứng cho Tin Mừng bằng một đời sống chính trực, bác ái và đầy hy vọng.
Anh chị em thân mến, hành trình trần thế của chúng ta ngắn ngủi tựa như một hơi thở. Rồi sẽ đến một ngày, mọi quyền lực địa vị, của cải vật chất và danh vọng hão huyền trên thế gian này sẽ tan biến vào hư vô. Khi đứng trước tòa phán xét của Thiên Chúa cuối đời, câu hỏi duy nhất có giá trị quyết định số phận vĩnh cửu của chúng ta không phải là chúng ta đã tích lũy được bao nhiêu tài sản, hay đã đạt được những chức vị gì oai phong lẫm liệt, mà là chúng ta đã thuộc về ai và đã để cho tình yêu nào chi phối cuộc đời mình. Nếu suốt dọc dài cuộc sống, chúng ta đã luyện tập để thuộc trọn về Chúa trong từng ý nghĩ, lời nói và việc làm, thì giờ phút từ giã cõi đời sẽ không phải là một sự bi đát của sự tận diệt, mà là khoảnh khắc hạnh phúc tuyệt vời khi người con hoang đàng được trở về trong vòng tay yêu thương của người Cha nhân hậu, là lúc chúng ta thực sự bước vào cõi vĩnh hằng để hiệp thông trọn vẹn với Đấng là nguồn mạch của mọi sự sống và tình yêu.
Ước gì qua lời kinh nguyện chân thành và quyết tâm canh tân đời sống mỗi ngày, chúng ta biết buông bỏ cái tôi kiêu ngạo, những ràng buộc tăm tối của thế gian để phó thác trọn vẹn cuộc đời mình trong đôi tay từ mẫu và quyền năng của Thiên Chúa. Xin Ngài biến đổi tâm can chúng ta, để mọi nhịp đập của trái tim chúng ta đều hòa nhịp với nhịp đập của trái tim chí thánh Chúa Giêsu, Đấng đã yêu thương chúng ta đến cùng. Để rồi, dù đối diện với bất cứ hoàn cảnh nào của vui sướng hay đau khổ, thành công hay thử thách, chúng ta vẫn luôn hiên ngang và hoan hỉ cất lên lời tuyên xưng đức tin muôn thuở: Sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa, và trong Ngài, chúng ta tìm thấy sự bình an đích thực cùng niềm hy vọng vinh quang muôn đời. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
SỨ VỤ THÁNH THIÊNG CỦA TÌNH YÊU VÀ SỰ TỰ HIẾN TRONG ÂN SỦNG ĐỨC KITÔ
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ, khi chúng ta bước vào không gian linh thiêng của mầu nhiệm cứu độ, tâm hồn mỗi người Kitô hữu lại được mời gọi hướng về cội nguồn sâu xa nhất của ơn gọi làm con Chúa. Giữa một thế giới hôm nay, nơi con người thường bị cuốn vào vòng xoáy của danh vọng, tiền tài, sự cạnh tranh khốc liệt và những chuẩn mực thực dụng lạnh lùng, tiếng nói của Tin Mừng vang lên như một dòng suối mát lành, gột rửa những toan tính trần tục và đánh thức chiều kích cao cả của tâm hồn. Cuộc sống nhân thế của chúng ta vốn dĩ ngắn ngủi, mỏng manh và đầy những bất định. Thế nhưng, giữa dòng đời trôi nổi ấy, Thiên Chúa – Đấng Tạo Hóa giàu lòng xót thương – đã không bỏ mặc con người trong cảnh tối tăm của tội lỗi và tuyệt vọng. Ngài chủ động bước vào lịch sử nhân loại, thiết lập một mối tương quan mật thiết vượt lên trên mọi trí khôn loài người có thể tưởng tượng được. Ngài không gọi chúng ta là tôi tớ, những kẻ chỉ biết cúi đầu tuân lệnh trong sợ hãi và phục tùng mù quáng, nhưng Ngài trân trọng nâng chúng ta lên hàng bạn hữu, những người được chia sẻ trọn vẹn gia tài sự sống và tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Đó chính là tâm điểm, là nhựa sống nuôi dưỡng toàn bộ đời sống đức tin của Giáo Hội qua mọi thời đại.
Để hiểu sâu sắc về mầu nhiệm cao cả này, trước hết chúng ta cần trở về với cội nguồn của sự lựa chọn thiêng liêng. Trong hành trình đức tin, con người thường lầm tưởng rằng chính chúng ta là những kẻ đi tìm kiếm Thiên Chúa, tự mình vạch ra những lộ trình tu đức, tự mình lập công tích đức để chiếm đoạt lấy ơn cứu độ. Thế nhưng, chân lý mạc khải của Tin Mừng lại lật nhào hoàn toàn logic trần thế ấy. Đức Giêsu Kitô đã khẳng định một chân lý vô cùng xác quyết: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại”. Lời khẳng định này giáng một đòn mạnh mẽ vào chủ nghĩa tự phụ của con người hiện đại. Chúng ta không tự xưng mình là môn đệ bởi tài năng, trí tuệ, hay gia thế tốt đẹp, mà tất cả hoàn toàn xuất phát từ sáng kiến yêu thương nhưng không của Thiên Chúa. Trước khi chúng ta kịp cất tiếng cất lời cầu xin, trước khi chúng ta ý thức được yếu đuối và tội lỗi của bản thân, ánh mắt nhân hậu của Chúa đã đặt trọn trên mỗi người. Ngài nhìn thấu những góc khuất tăm tối nhất trong tâm hồn chúng ta, thấu rõ những bất toàn, những vết thương lòng, những lần vấp ngã, thế nhưng Ngài vẫn chọn. Sự lựa chọn ấy mang tính khởi nguyên và mang đậm dấu ấn của lòng thương xót vô biên. Nó nhắc nhở chúng ta rằng ơn gọi Kitô hữu không phải là một phần thưởng dành cho những ai tài giỏi hay đạo đức siêu phàm, mà là một hồng ân nhưng không được trao ban cho những ai bé mọn, nghèo hèn, biết mở rộng tâm hồn đón nhận ơn thánh Chúa. Nhìn vào lịch sử cứu độ, từ các ngôn sứ trong Cựu Ước cho đến các tông đồ trong Tân Ước, chúng ta đều nhận thấy một mẫu số chung: Chúa luôn chọn những con người rất đỗi bình thường, thậm chí đầy yếu đuối và khuyết điểm, để làm nhịp cầu chuyển tải ơn cứu độ cho trần gian. Sức mạnh của Thiên Chúa được biểu lộ trọn vẹn nhất trong sự yếu đuối của con người, để không ai có thể tự hào vỗ ngực trước tôn nhan Đấng Tối Cao.
Sự lựa chọn thiêng liêng ấy không bao giờ mang tính tĩnh tại hay chỉ để hưởng thụ ơn phước riêng tư. Thiên Chúa chọn chúng ta gắn liền với một sứ mạng cụ thể và vô cùng cao cả: “để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại”. Hoa trái mà Chúa mòng chờ nơi người môn đệ không phải là những thành công mang tính vụ lợi theo tiêu chuẩn của thế gian, không phải là những lâu đài danh vọng hay của cải vật chất mau qua, mà chính là hoa trái của đức ái, của sự công chính, lòng xót thương và sự bình an đích thực. Ra đi ở đây không nhất thiết phải là vượt đại dương đến những vùng đất xa xôi, mà trước hết là sự dấn thân bước ra khỏi cái tôi ích kỷ, khỏi cái vỏ bọc an toàn của sự thờ ơ vô cảm để hướng về tha nhân. Trong một xã hội mà con người ngày càng thu mình trong thế giới ảo, lạnh lùng trước nỗi đau của đồng loại, người môn đệ của Chúa Kitô được mời gọi trở nên hiện thân của lòng thương xót Chúa giữa đời thường. Sinh hoa trái tồn tại nghĩa là những việc làm bác ái, những hy sinh âm thầm, những lời tha thứ vị tha và những nghĩa cử yêu thương chúng ta trao ban cho anh chị em mình sẽ không bao giờ mất đi, nhưng được khắc ghi vĩnh cửu trong cõi lòng của Thiên Chúa. Đó là thứ hoa trái vượt qua ranh giới của thời gian, trường tồn ngay cả khi cõi trời đất này qua đi. Để sinh được những hoa trái thiêng liêng ấy, người Kitô hữu buộc phải gắn bó mật thiết với nguồn mạch sự sống là chính Chúa Giêsu, như cành nho gắn liền với thân nho. Không có Ngài, chúng ta chẳng thể làm được gì, mọi nỗ lực mang tính loài người rốt cuộc chỉ là sự trống rỗng, khô khan và mau chóng lụi tàn.
Để duy trì mối hiệp thông sâu sắc ấy và làm cho hoa trái trổ sinh dồi dào, Chúa Giêsu đã trao ban một giới luật nền tảng, đồng thời là hiến chương của Nước Trời: “Đây là điều tôi truyền dạy anh em: hãy yêu thương nhau”. Tình yêu mà Đức Giêsu đòi hỏi nơi các môn đệ không phải là một thứ tình cảm hời hợt, cảm tính theo sở thích tự nhiên, càng không phải là thứ tình yêu trao đổi theo kiểu “có qua có lại” rạch ròi của người đời. Ngài đặt ra một tiêu chuẩn tuyệt đối và đáng kinh ngạc: “Như Cha đã yêu mến Thầy, thầy cũng yêu mến anh em. Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy”. Tiêu chuẩn của tình yêu Kitô giáo chính là tình yêu tự hiến thẳm sâu giữa Chúa Cha và Chúa Con trong mầu nhiệm Ba Ngôi – một tình yêu trọn vẹn, vô điều kiện, sẵn sàng hiến dâng tất cả vì hạnh phúc của người mình yêu. Tình yêu ấy được minh chứng bằng hành động cụ thể qua lời khẳng định đanh thép: “Không có tình yêu lớn hơn tình yêu của kẻ hiến mạng sống mình vì bạn hữu”. Trên đồi Canvê, Đức Giêsu đã đẩy tình yêu ấy đến tận cùng cực điểm khi dang rộng đôi tay trên thập giá, chấp nhận chịu đựng mọi sỉ nhục, đớn đau để cứu chuộc nhân loại. Ngài gọi chúng ta là bạn hữu chính vì Ngài đã không giấu giếm bất cứ điều gì, nhưng đã mạc khải trọn vẹn ý định của Chúa Cha và trao ban chính mạng sống mình cho chúng ta. Do đó, khi bước theo chân Thầy Chí Thánh, người Kitô hữu không thể sống ích kỷ, ghen tương hay thù hận. Sống đạo không phải là tuân giữ một bộ luật khô khan mang tính hình thức pháp lý, mà là sống một tương quan sống động, chan chứa tình yêu mến với Thiên Chúa và với anh chị em đồng loại. Yêu thương anh em chính là thước đo chính xác nhất để xác định chúng ta có thực sự ở lại trong tình yêu của Thiên Chúa hay không. Bất cứ nơi nào thiếu vắng lòng bác ái, nơi đó bóng tối của sự dữ sẽ ngự trị và danh xưng Kitô hữu trở thành một sự ngụy biện trống rỗng.
Thế nhưng, hành trình hiện thực hóa tình yêu tự hiến ấy trong đời sống thường nhật chưa bao giờ là con đường bằng phẳng. Trái lại, nó đòi hỏi một sự kiên định phi thường, một thái độ tỉnh thức và một tinh thần sẵn sàng đối diện với những thử thách, hiểu lầm, thậm chí là bắt bớ từ một thế giới vốn chìm đắm trong tinh thần vụ lợi. Trong lịch sử Giáo Hội và trong chính kinh nghiệm sống của mỗi chúng ta, việc làm chứng cho Tin Mừng luôn vấp phải sự kháng cự từ những cấu trúc tội lỗi của trần gian. Thế gian thường tôn sùng quyền lực, tiền tài, sự hưởng thụ ích kỷ và những giá trị vật chất mau qua; trong khi đó, Tin Mừng lại đề cao sự khiêm hạ, hy sinh, phục vụ vô điều kiện và thập giá. Sự va đập giữa hai nền văn hóa ấy tạo nên một cuộc chiến thầm lặng nhưng khốc liệt trong tâm hồn mỗi người và giữa Giáo Hội với thế gian. Khi đối diện với những chống đối, khó khăn, sự nản lòng và sợ hãi rất dễ xâm chiếm tâm can chúng ta. Chúng ta dễ chùng bước, dễ buông xuôi, dễ thỏa hiệp với sự dữ để tìm lấy sự an thân bề ngoài. Chính trong những thời khắc đen tối và chênh vênh ấy của phận người, tiếng nói của Chúa Giêsu lại vang lên đầy quyền năng và anủi: “Thầy đã bảo các con những điều ấy để trong Thầy các con được bình an. Trong thế gian các con sẽ gian nan khốn khó, nhưng hãy can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian”. Sự can đảm của người môn đệ không phát xuất từ sức mạnh tự nhiên hay sự tự tin hão huyền vào bản thân, mà bắt nguồn từ niềm xác tín sâu xa rằng Chúa Giêsu Kitô đang hiện diện, đang đồng hành và đã chiến thắng tử thần. Ngài là người Mục Tử nhân lành luôn bước đi trước đoàn chiên, sẵn sàng che chở và dẫn dắt chúng ta qua mọiung lũng tối tăm của cuộc đời.
Sự hiện diện của Chúa Kitô trong đời sống Giáo Hội không phải là một sự hiện diện mơ hồ, trừu tượng, mà là một thực tại cứu độ vô cùng sống động, được minh chứng qua dòng chảy lịch sử qua từng thế hệ. Nhìn lại hành trình ơn gọi của các Tông Đồ, đặc biệt là sự kiện tuyển chọn Tông Đồ thay thế vị thế của Giuđa Ít-ca-ri-ốt, chúng ta nhận ra một bài học sâu sắc về sự quan phòng và ơn gọi kiên định của Thiên Chúa. Khi đối diện với khoảng trống lớn lao do sự phản bội và cái chết bi thảm của Giuđa để lại, các Tông Đồ không hề chìm đắm trong tuyệt vọng hay oán trách, cũng không tự ý dùng quyền lực trần thế để áp đặt người lãnh đạo theo ý riêng. Các ngài quy tụ lại trong cầu nguyện, nhìn thấu tấm lòng của Chúa – Đấng thấu suốt tâm can mọi người – và phó thác trọn vẹn tương lai của Giáo Hội vào tay Ngài. Qua đó, Matthias (Mát-thia) đã được chọn gọi để bước vào hàng ngũ mười hai tông đồ, tiếp nối sứ mạng làm chứng nhân cho sự Phục Sinh của Chúa Cứu Thế. Câu chuyện này minh họa một nguyên lý nền tảng trong đời sống thiêng liêng: Giáo Hội là của Chúa, lịch sử cứu độ nằm trong tay Chúa, và mọi biến cố xảy ra – dẫu đau thương hay cay đắng đến đâu – đều nằm trong chương trình quan phòng kỳ diệu của Ngài. Khi con người phản bội, Thiên Chúa vẫn biết cách viết nên những trang sử cứu độ trắng trong bằng lòng trung tín tuyệt đối của Ngài. Do đó, trong cuộc sống hôm nay, dẫu Giáo Hội hay xã hội có trải qua những cơn giông bão, những khủng hoảng về đức tin hay sự chia rẽ, chúng ta không được phép mất hy vọng. Thiên Chúa vẫn đang âm thầm tác động, vẫn đang gọi tên từng người và đặt để những con người trung kiên vào đúng vị trí để vực dậy đoàn chiên của Ngài.
Hơn thế nữa, mầu nhiệm ơn gọi và sứ mạng còn gắn liền với một chiều kích cánh chung học rõ nét, hướng lòng con người về cõi vĩnh hằng. Cuộc sống trần thế này chỉ là một lữ trình ngắn ngủi, một bước đệm chuẩn bị cho cuộc hội ngộ vĩnh cửu với Đấng Tạo Hóa. Tất cả những danh vọng, quyền lực, của cải hay trí tuệ trần gian rồi sẽ phai mờ theo năm tháng, chỉ có tình yêu thương và những hoa trái của ân sủng mới tồn tại vượt qua ranh giới của sự chết. Khi suy niệm về điều này, người Kitô hữu được mời gọi sống tỉnh thức, thanh thoát trước những cám dỗ vật chất và biết dùng thời gian, khả năng Chúa ban để xây dựng Nước Trời ngay giữa lòng trần gian. Sống tinh thần Nước Trời không có nghĩa là trốn chạy trách nhiệm trần thế, trái lại, là dấn thân triệt để vào các lĩnh vực của đời sống xã hội – từ gia đình, công việc nghề nghiệp, giáo dục cho đến các hoạt động bác ái xã hội – với một tinh thần Tin Mừng hoàn toàn mới. Mỗi công việc hằng ngày, dẫu tầm thường nhỏ bé đến đâu, nếu được thực hiện với tình yêu mến thiết tha dâng lên Chúa, đều trở thành một hy lễ thiêng liêng đẹp lòng Ngài. Sự thánh hóa bản thân và tha nhân diễn ra chính trong những thao thức, nhọc nhằn, mồ hôi nước mắt của đời sống thường nhật. Khi chúng ta biết đón nhận những nghịch cảnh, bệnh tật, đau khổ với tinh thần phó thác và kết hợp với cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, những đau khổ ấy không còn mang tính tiêu cực hủy diệt, mà trở thành nguồn ơn thánh thanh luyện tâm hồn, biến đổi chúng ta nên giống hình ảnh của Con Một Thiên Chúa.
Đời sống cầu nguyện chính là nhịp đập, là dưỡng khí không thể thiếu để duy trì sức sống thiêng liêng ấy. Đức Giêsu trong suốt cuộc đời dương thế luôn dành những khoảng lặng để kết hiệp mật thiết với Chúa Cha trong nơi thanh vắng. Nếu Ngài – Con Thiên Chúa làm người – còn cảm thấy nhu cầu thiết yếu phải cầu nguyện, thì hà cớ gì chúng ta, những tạo vật mỏng giòn và tội lỗi, lại có thể tự mãn cho rằng mình có đủ sức mạnh tự nhiên để đương đầu với những chước cám dỗ và thử thách của cuộc đời? Cầu nguyện không đơn thuần là đọc lên những công thức hay xin xỏ ơn huệ vật chất, mà là mở rộng cõi lòng để trò chuyện thân mật với Đấng yêu thương mình, để lắng nghe tiếng nói thầm lặng của Thánh Thần hướng dẫn trong từng bước đi. Trong bầu không khí tĩnh lặng của cầu nguyện, những lo âu, sợ hãi, ích kỷ và toan tính vụ lợi của con người dần được gột rửa, nhường chỗ cho sự bình an sâu thẳm và lòng nhiệt thành tông đồ. Chính từ nguồn suối cầu nguyện dạt dào ấy, người Kitô hữu mới có đủ can đảm để bước ra ngoài, đối diện với những giông bão của cuộc đời và đem ánh sáng tình yêu của Chúa chiếu soi vào những nơi tối tăm nhất của nhân loại.
Khi nhìn ngắm Mẹ Maria – Mẹ của Đấng Cứu Thế và cũng là Mẹ của Giáo Hội – chúng ta tìm thấy tấm gương tuyệt hảo nhất về sự xin vâng trọn vẹn trong ơn gọi làm môn đệ. Mẹ Maria đã không hiểu hết mọi chương trình kỳ diệu mà Thiên Chúa dành cho cuộc đời mình, nhưng với một đức tin tinh tuyền và sự phó thác tuyệt đối, Mẹ đã thưa lên tiếng “Xin Vâng”. Tiếng xin vâng ấy đã mở toang cánh cửa lịch sử để Ngôi Lời bước vào nhân gian, mang lại ơn cứu độ cho muôn người. Trong cuộc sống của mỗi chúng ta, Thiên Chúa cũng liên tục ngỏ lời mời gọi qua những biến cố thăng trầm, qua những nhu cầu của tha nhân và qua tiếng gọi của lương tâm. Liệu chúng ta có sẵn sàng thưa lên tiếng “Xin Vâng” đầy dũng khí ấy hay vẫn còn rụt rè, bám víu vào những tính toán ích kỷ tầm thường của bản thân? Hành trình đức tin đòi hỏi một sự dấn thân triệt để, một quyết định dứt khoát từ bỏ con đường cũ để bước đi theo ánh sáng của Tin Mừng. Mẹ Maria không chỉ là Đấng chuyển cầu đắc lực, mà còn là người Mẹ đồng hành, nâng đỡ chúng ta trên những nẻo đường gập ghềnh của sứ mạng làm chứng nhân cho tình yêu Chúa.
Kính thưa cộng đoàn, qua những suy niệm sâu lắng trên, Lời Chúa hôm nay vang lên như một tiếng gọi thiết tha thức tỉnh tâm hồn mỗi chúng ta hãy rũ bỏ sự nguội lạnh, dửng dưng và tầm thường trong đời sống đức tin. Chúng ta hãy hân hoan tạ ơn Chúa vì Ngài đã thương gọi chúng ta bước vào mối tương quan thân mật làm bạn hữu của Ngài, ban cho chúng ta sứ mạng cao cả là ra đi sinh hoa trái bền vững. Hãy sống ơn gọi ấy bằng một tình yêu tự hiến quên mình, sẵn sàng bước qua mọi sợ hãi, khó khăn và thử thách với niềm xác tín rằng Đức Giêsu Kitô đã chiến thắng thế gian. Xin ơn Chúa Thánh Thần soi sáng và ơn sủng muôn hồng phúc của Thiên Chúa Ba Ngôi tuôn đổ tràn trề trên cộng đoàn chúng ta, để mỗi người luôn kiên vững bước đi trong ánh sáng chân lý, trở thành những chứng nhân sống động cho tình yêu thương và lòng thương xót của Chúa giữa lòng thế giới hôm nay. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
HÀNH TRÌNH TÌM KIẾM ĐÍCH THỰC CỦA TÌNH YÊU VÀ SỰ THẬT: VƯỢT QUA SỰ DỄ DÃI CỦA THỜI ĐẠI ĐỂ ĐƯA CON NGƯỜI TRỞ VỀ VỚI CHÂN THIỆN MỸ
Trong hành trình đức tin của người Kitô hữu, có những hình ảnh quen thuộc đến mức nếu không cẩn thận, chúng ta sẽ biến chúng thành những lối mòn tư duy nhàm chán, đánh mất đi sức mạnh nội tại và vẻ đẹp nguyên tuyền của Lời Chúa. Một trong những hình ảnh ấy chính là dụ ngôn về con chiên lạc. Chúng ta quen thuộc với khung cảnh Người Mục Tử nhân lành cất công đi tìm con chiên bị mất giữa chốn hoang vu, khi tìm thấy thì vui mừng vác nó lên vai mà mang về đàn. Hình ảnh ấy đẹp đẽ biết bao, chan chứa lòng xót thương, sự ân cần và dịu ngọt. Chúng ta thường ngắm nhìn bức tranh ấy với một tâm tình an ủi ngọt ngào, nghĩ đơn giản rằng tình yêu của Thiên Chúa là sự dung túng vô điều kiện, là việc chấp nhận con người nguyên vẹn ở bất cứ trạng thái nào mà không hề đòi hỏi sự biến đổi hay hoán cải.
Thế nhưng, nếu dừng lại một nhịp, suy ngẫm sâu sắc hơn bằng một con tim tỉnh thức và một trí khôn được chiếu soi bởi ánh sáng Thần Khí, chúng ta phải tự hỏi chính mình: Liệu con chiên ấy có thực sự muốn được mang trở về đàn hay không? Khi Mục Tử tìm thấy nó và vác nó lên vai, ngài có dừng lại để hỏi ý kiến của nó xem nó có muốn về nhà không, hay ngài cứ thế ôm lấy nó mà bước đi? Phải chăng vị Mục Tử đãng trí quên mất việc tham khảo ý kiến của con vật, hay đằng sau hành động có vẻ “áp đặt” ấy lại ẩn giấu một chiều kích sâu xa hơn về bản chất của ơn cứu độ, về lòng thương xót đích thực chứ không phải là thứ tình cảm hời hợt, dãi dầu theo thị hiếu con người?
Trong đời sống xã hội đương đại, chúng ta đang chứng kiến sự lên ngôi của một thứ triết lý mềm mỏng đến mức ba hoa, một thứ “khôn ngoan thời đại” cho rằng nếu muốn đưa ai đó đến với Chúa, đến với đời sống đạo đức, thì tuyệt đối không được bắt đầu bằng những lời nhắc nhở luân lý, không được dùng các mệnh lệnh răn đe hay chuẩn mực rõ ràng. Người ta bảo nhau rằng thời đại này đã đổi thay, không ai còn muốn nghe những lời quở trách hay giáo huấn cứng nhắc nữa. Tư duy phổ biến hiện nay đòi hỏi rằng nhà truyền giáo, người mục tử, hay bất kỳ ai muốn nâng đỡ tha nhân đều không được phép đứng cao hơn họ để vác họ lên vai. Người ta cho rằng cách làm đó lỗi thời, thô bạo và thiếu tôn trọng tự do cá nhân. Triết lý hiện đại chủ trương rằng vị mục tử phải là người cúi xuống thật thấp, thậm chí quỳ gối bò bốn chân nếu có thể, để hòa mình vào vũng bùn của cuộc đời, gặp gỡ con người đúng ngay tại điểm xuất phát của họ, tôn trọng tuyệt đối mọi lựa chọn và tình trạng hiện tại của họ mà không đưa ra bất kỳ đòi hỏi thay đổi nào. Người ta khẳng định rằng mục tử phải gặp con người ở nơi họ đang đứng, theo đúng cách họ muốn.
Nhưng câu hỏi đặt ra là: Quan điểm ấy có thực sự phản ánh đúng tinh thần của Tin Mừng, hay đó chỉ là sự thỏa hiệp nhu nhược trước tinh thần thế tục đang muốn làm lu mờ ranh giới giữa ánh sáng và bóng tối, giữa chân lý và sự giả dối? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta hãy lắng nghe một câu chuyện có thật, một minh chứng sống động và đầy sức nặng về cách mà tình yêu thương chân chính và ánh sáng của sự thật chạm đến một tâm hồn đang chìm đắm trong lạc lối.
Câu chuyện kể về Nathan, một người đàn ông sống trong sự buông thả tận cùng của xác thịt, làm nghề mại dâm nam và có tới hàng trăm bạn tình trong đời sống cá nhân. Anh ta chìm ngập trong thứ tự do giả hiệu mà thế gian ca tụng, nơi mọi thứ đều được phép miễn là mang lại cảm giác thỏa mãn nhất thời. Một buổi tối nọ, trong lúc đang thong thả lướt qua các kênh truyền hình trên chiếc tiệm cận sự nhàm chán của cuộc đời, tình cờ anh dừng lại ở một chương trình phát sóng của đài EWTN. Trên màn hình lúc bấy giờ là hình ảnh của Mẹ Angelica, một nữ tu đã ở tuổi xế chiều, với một miếng băng đen che đi một mắt do bệnh tật.
Người bạn đồng hành của Nathan đang đứng ở gian bếp, nghe tiếng Nathan bỗng dưng cười lớn rồi hô lên đầy vẻ châm biếm: “Này, ra đây mà xem nhanh lên, có một bà sơ trên TV ăn mặc trông như hải tặc kìa!”. Người bạn ở trong bếp không mảy may quan tâm, nhưng bản thân Nathan lại bị hút hồn bởi hình ảnh kỳ lạ ấy. Có thể ban đầu chỉ là sự tò mò rẻ tiền, một thứ hiếu kỳ xem một “bà sơ đóng giả cướp biển” sẽ nói những điều nhảm nhí gì. Thế nhưng, khi anh thực sự lắng nghe, những gì vang lên từ vị nữ tu già nua ấy đã rung lên những hồi chuông chấn động tận sâu thẳm tâm can anh.
Mẹ Angelica không hề dùng những lời lẽ chiều chuộng cảm xúc hay thỏa hiệp với lối sống trụy lạc của anh. Bà đang nói về một thế giới hoàn toàn khác – một thế giới siêu việt nơi mà ranh giới giữa điều thiện và điều ác là bất biến, nơi mà con người nhận thức rõ ràng đâu là chân lý, đâu là sự sai trái, và tìm thấy sự bình an đích thực, niềm vui trọn vẹn, hạnh phúc viên mãn bằng cách nỗ lực uốn nắn cuộc đời mình cho phù hợp với chân lý luân lý khách quan. Trong suốt cuộc đời dài đằng đẵng của mình, Nathan chưa từng bao giờ nghe bất kỳ ai dám cất lên những lời mạnh mẽ, cương quyết và đầy xác tín như thế. Anh bị chinh phục không phải vì vị nữ tu đã hạ mình chiều theo lối sống sa đọa của anh, mà chính vì sự sắc bén, kiên định và rực rỡ của chân lý mà bà đang loan báo. Đêm hôm sau, anh lại tiếp tục dán mắt vào màn hình để lắng nghe bà thêm lần nữa, và từ khoảnh khắc ấy, cuộc đời anh bắt đầu bước sang một ngã rẽ hoàn toàn mới.
Nhìn lại câu chuyện của Nathan, chúng ta nhận ra một chân lý sâu sắc: vị nữ tu đáng kính ấy hoàn toàn không “gặp Nathan ở nơi anh đang đứng” theo cái nghĩa dung túng và xu nịnh mà người đời vẫn lầm tưởng. Bà đứng vững vàng ở nơi bà đang đứng – nơi ngập tràn ánh sáng của Thiên Chúa, nơi có chân lý toàn vẹn và tình yêu cứu độ. Bằng lòng dũng cảm phát xuất từ ngọn lửa đức mến chân thật, bà đã cất cao tiếng nói của sự thật, vươn tay ra và bằng tất cả lòng trắc ẩn của một người mẹ, bà đã “vác” anh lên, kéo anh ra khỏi vũng lầy tội lỗi để nâng anh hướng về một chiều kích cao cả hơn, thanh sạch hơn và hạnh phúc hơn. Bà dám nói sự thật bởi vì bà yêu thương anh với tư cách là một người con của Thiên Chúa. Bà không sợ làm anh phật lòng, bởi vì mục đích của bà không phải là tìm kiếm sự đồng tình dễ dãi của thế gian, mà là cứu lấy linh hồn anh. Và khi Nathan nhận ra rằng vị nữ tu ấy đang dẫn mình về đâu – rằng bà đang đưa anh về nhà Cha, về với sự bình an đích thực – anh đã không hề cảm thấy khó chịu hay phản kháng trước cái cách bà “vác” anh lên vai. Anh tâm nguyện bước theo con đường ánh sáng ấy.
Điều này soi rọi một cách mạnh mẽ vào sứ điệp Tin Mừng mà chúng ta đang suy gẫm. Vị Mục Tử nhân lành không bao giờ đứng chờ con chiên lạc ở dưới đáy vực sâu tối tăm rồi cứ thế ngồi lại đó để cùng chịu đựng sự lầm lạc với nó. Ngài đi tìm con chiên, bước xuống vực sâu để tìm thấy nó, nhưng hành động của Ngài không phải là để thỏa hiệp với hố sâu, mà là để nhấc bổng con chiên lên khỏi vũng lầy, vác nó lên đôi vai vững chãi của Ngài và mang nó trở về nhà. Đó là một chuyển động đi lên, một cuộc hành trình hướng thượng đòi hỏi sự hoán cải nội tâm tận căn. Tình yêu đích thực không bao giờ để người mình yêu chìm đắm trong hủy diệt chỉ vì sợ làm tổn thương cảm xúc mong manh của họ. Tình yêu đích thực mang tính cứu độ, mang tính biến đổi và luôn hướng về sự hoàn thiện.
Trong đời sống thiêng liêng của mỗi người chúng ta hôm nay, cá cám dỗ lớn nhất của thời đại tục hóa chính là việc đánh tráo khái niệm giữa lòng thương xót và sự thỏa hiệp. Chúng ta thường muốn Thiên Chúa phải dung thứ cho mọi yếu đuối, lầm lỗi và sự bướng bỉnh của chúng ta mà không đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ con đường tội lỗi. Chúng ta thích một vị thần mềm mỏng, không có lằn ranh đúng sai rõ ràng, một vị thần sẵn sàng vỗ về chúng ta trong cơn mê muội mà không bao giờ gióng lên tiếng chuông thức tỉnh lương tâm. Chúng ta quên mất rằng, tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu thánh thiện, một tình yêu thanh luyện. Khi Ngài đến tìm chúng ta trong những hoang địa lạnh lẽo của cuộc đời – nơi chúng ta lạc lối vì ham muốn danh vọng, tiền tài, lạc thú hay sự ích kỷ – Ngài không đến để vỗ về sự sa đọa của chúng ta, mà là để kéo chúng ta ra khỏi nó.
Hành trình trở về nhà của người tín hữu không bao giờ là một con đường dễ dãi. Nó đòi hỏi sự dấn thân, sự từ bỏ ý riêng và sự vâng phục tuyệt đối vào thánh ý Chúa. Giống như con chiên được vác trên vai Mục Tử, đôi khi chúng ta phải trải qua cảm giác bất tiện, phải từ bỏ những thói quen cũ kỹ, những niềm vui chóng qua mang tính hủy diệt để được đưa trở về với sự an toàn của đàn chiên, nơi có sự hiệp thông trọn vẹn trong tình yêu của Hội Thánh. Thế nhưng, sự “áp đặt” dịu ngọt ấy của Thiên Chúa không hề tước đoạt tự do của con người, mà ngược lại, đó chính là giải pháp duy nhất cứu rỗi con người khỏi sự tự hủy diệt. Tự do đích thực không phải là tự do muốn làm gì thì làm, muốn sa ngã vào đâu thì sa ngã, mà là sự tự do được sống trong chân lý, được thuộc về Đấng Tạo Hóa và được tự do lựa chọn điều thiện hảo tối cao.
Khi suy ngẫm về dụ ngôn này, mỗi người chúng ta được mời gọi nhìn lại chính thái độ của mình đối với tha nhân và đối với ơn gọi làm chứng nhân cho Tin Mừng. Trong các mối quan hệ gia đình, trong đời sống xã hội hay trong các hội đoàn tông đồ, chúng ta thường rơi vào cạm bẫy của sự im lặng giả tạo. Chúng ta sợ bị chỉ trích là cực đoan, sợ bị coi là cổ hủ, sợ mất lòng người khác nên đành nhắm mắt làm ngơ trước những sai trái, bất công và tội lỗi đang hiện hữu xung quanh. Chúng ta tự an ủi mình bằng cái mác “bao dung” và “tôn trọng quyền tự do cá nhân”, nhưng thực chất đó chỉ là sự ích kỷ, sự thiếu nhiệt huyết và thiếu tình yêu thương đích thực đối với phần rỗi của anh chị em mình.
Một người cha, người mẹ chân chính sẽ không bao giờ nhìn đứa con yêu dấu của mình lao đầu vào vách đá chỉ vì sợ con khóc lóc khi bị ngăn cản. Một người mục tử như lòng Chúa mong ước sẽ không bao giờ đứng nhìn đoàn chiên của mình bị sói dữ tha đi mà không dám cất lên tiếng hô hào cảnh tỉnh, không dám dùng uy quyền của chân lý để bảo vệ đoàn chiên. Tình yêu đòi hỏi sự dấn thân, đòi hỏi sự kiên quyết, và trên hết, đòi hỏi lòng can đảm để nói lên sự thật trong bác ái. Sự thật không có nghĩa là sự cay độc hay phán xét kết án, mà sự thật là ánh sáng chiếu soi giúp con người nhận ra thực trạng khốn cùng của mình để mà ăn năn sám hối. Thiếu đi sự thật, tình yêu sẽ biến thành sự dung túng mù quáng; thiếu đi tình yêu, sự thật sẽ trở thành thứ bạo lực tinh thần lạnh lùng. Chỉ khi tình yêu và sự thật quyện chặt vào nhau như hình với bóng, chúng ta mới có thể trở thành những mục tử nhân lành giữa lòng thế giới hôm nay.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần nhìn nhận lại chính bản thân mình trong mối tương quan với Thiên Chúa. Bao nhiêu lần trong đời, chúng ta giống như con chiên bướng bỉnh tự ý tách rời khỏi đàn, lang thang tìm kiếm những cỏ non giả tạo ở những chốn hoang vu nguy hiểm? Chúng ta tưởng rằng việc tự do đi theo ý riêng sẽ mang lại hạnh phúc, nhưng càng đi chúng ta càng lạc lõng, càng bơ vơ giữa những hoang mang, sợ hãi và cô độc của kiếp người. Những lúc ấy, bàn tay của vị Mục Tử nhân lành lại đến, không phải để trừng phạt, mà là để ôm ấp, để vác chúng ta lên đôi vai đầy thương tích nhưng vô cùng mạnh mẽ của Ngài. Ngài không hỏi xem chúng ta có muốn về hay không, bởi vì Ngài biết rõ tâm hồn sâu thẳm của chúng ta đang khát khao nhà Cha biết nhường nào, dù cho cái tôi kiêu ngạo của chúng ta đôi khi vẫn còn chống đối. Ngài mang chúng ta về trong niềm vui khôn tả của cả triều thần thiên quốc, nơi một tội nhân hối cải mang lại tiếng cười và niềm hoan lạc lớn lao hơn cả chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối.
Niềm vui ấy không phải là niềm vui của sự độc đoán chiến thắng, mà là niềm vui của sự hồi sinh, của sự sống được tìm lại từ cõi chết. Thiên Chúa của chúng ta là Đấng không cam tâm nhìn bất kỳ một đứa con nào phải hư mất trong ngõ cụt của cuộc đời. Ngài kiên nhẫn tìm kiếm, Ngài chủ động ra tay cứu giúp, và Ngài biến đổi tâm hồn chúng ta từ những con người chai đá trở thành những tạo vật mới tràn đầy ơn thánh.
Do đó, hành trình đức tin của chúng ta không thể là một hành trình đứng yên một chỗ hay thỏa hiệp với bóng tối. Đó phải là một cuộc lội ngược dòng liên tục, một sự tiến bước không ngừng nghỉ từ cõi chết bước vào cõi sống, từ sự dối trá bước vào chân lý. Chúng ta được mời gọi để không ngừng để cho Thiên Chúa vác chúng ta lên vai Ngài, nghĩa là để cho tình yêu và quyền năng của Ngài hướng dẫn toàn bộ cuộc đời chúng ta. Đồng thời, chúng ta cũng được sai đi để trở thành những cánh tay nối dài của Ngài, mang ánh sáng chân lý đến cho những ai vẫn đang còn chìm đắm trong bóng tối của tội lỗi và sự hoài nghi của thời đại.
Xin Chúa ban ơn phò trợ cho mỗi người chúng ta, để qua Lời Ngài hôm nay, chúng ta biết trân trọng ơn gọi làm con Chúa, biết can đảm buông bỏ những lối sống sai lạc, những thỏa hiệp tầm thường để đón nhận trọn vẹn ánh sáng của chân lý. Xin cho chúng ta đừng sợ hãi trước những đòi hỏi thanh luyện của Tin Mừng, nhưng hãy phó thác trọn vẹn cuộc đời mình vào đôi vai vững chãi của Vị Mục Tử nhân lành, Đấng hằng yêu thương, gìn giữ và dẫn dắt chúng ta bước đi trên con đường bình an đích thực, hướng về Nhà Cha vĩnh cửu nơi muôn đời.
Lm. Anmai, CSsR
SỨ VỢT LÊN TỪ VỰC SÂU LẦM LẠC VÀ BỨC TRANH TUYỆT HẢO VỀ TÌNH YÊU MỤC TỬ
Kính thưa quý ông bà và anh chị em, lịch sử nhân loại tự ngàn xưa cho đến nay vẫn luôn là một không gian đan xen giữa những ánh hào quang rực rỡ của lòng nhân ái và những góc khuất tối tăm của sự chia rẽ, phán xét, loại trừ. Trong bức tranh đa diện ấy, con người thường có xu hướng phân định rạch ròi giữa các lằn ranh đạo đức: bên này là những người tự cho mình là công chính, giữ trọn lề luật, đạo đức sáng ngời, còn bên kia là những mảnh đời lầm lỡ, những kẻ bị xã hội gạt ra bên lề, bị xem là cặn bã hay bóng tối của cộng đồng. Sự phân chia rạch ròi ấy tạo ra những bức tường vô hình nhưng vô cùng kiên cố, ngăn cách con người với con người, và xa hơn thế, ngăn cách con người với Thiên Chúa. Thế nhưng, giữa dòng chảy xiết của những định kiến xã hội ấy, một biến cố kỳ diệu luôn xảy ra khi Thiên Chúa bước vào lịch sử trần gian qua con người của Đức Giêsu Kitô. Ngài không đứng về phe của sự tự mãn, cũng không đồng lõa với sự tuyệt vọng của tội nhân, mà Ngài đến để phá đổ mọi bức tường ngăn cách, quy tụ mọi tâm hồn khao khát chân lý vào chung một nhịp đập của lòng thương xót vô biên.
Khi quan sát thái độ của đám đông bao quanh Đức Giêsu trong các khung cảnh Tin Mừng, chúng ta dễ dàng nhận ra một sự đối lập gay gắt nhưng vô cùng quen thuộc. Một bên là nhóm những người Pharisiêu và các kinh sư – những kẻ tự kiêu tự đại với chiếc áo choàng công chính hình thức, những người luôn mang trong tay chiếc cân tiểu ly của lề luật để đo lường tội lỗi của tha nhân và dò xét từng bước đi của Thầy Giêsu với một tâm địa đầy mưu mô, cay độc. Họ không đến để nghe lời cứu độ, mà đến để tìm kiếm bằng chứng, bắt bẻ, châm chọc và chờ đợi cơ hội để tiêu diệt Đấng là hiện thân của sự sống. Họ tự mãn trong cái vỏ bọc hoàn hảo giả tạo của mình, quên mất rằng sự kiêu ngạo thiêng liêng chính là thứ xiềng xích nặng nề nhất trói buộc tâm hồn họ vào cõi chết. Ở chiều kích ngược lại, xuất hiện một đoàn lũ đông đảo những người thu thuế và tội nhân – những mảnh vỡ của cuộc đời, những kẻ bị gắn mác là không thể cứu chữa, bị lăng mạ và khinh bỉ. Họ không có gì trong tay ngoài một cõi lòng tan nát, một quá khứ đầy vết nhơ và một ý thức sâu sắc về sự bất xứng của chính mình. Nhưng chính sự khốn cùng ấy lại mở ra cho họ một đôi mắt nội tâm tinh tế hơn, một nhạy cảm thiêng liêng sâu sắc hơn để nhận ra rằng nơi Đức Giêsu không có sự phán xét lạnh lùng, mà chỉ có nguồn suối ơn thánh đang trào tuôn dào dạt. Họ đến bên Ngài không phải để bắt bẻ, mà để tìm kiếm một điểm tựa, một tia hy vọng mỏng manh giữa cuộc đời giông bão, một lời ban ơn xá tội có sức hồi sinh cả một cõi chết tâm hồn.
Sự gặp gỡ giữa hai thái cực này tạo nên một sân khấu lớn của lịch sử cứu độ, nơi Đức Giêsu đứng ở trung tâm như một nhịp cầu nối liền bờ vực của sự thù hận và lòng bao dung. Ngài thấu hiểu thâm tâm của những kẻ tự nghĩa, Ngài cũng thấu suốt nỗi thống khổ của những kẻ lầm đường. Nhưng hơn hết, sứ vụ của Ngài không phải là đứng nhìn các phe phái cắn xé lẫn nhau, mà là kéo tất cả về chung một mối tình hiệp nhất. Ngài muốn đánh thức những kẻ đang mê ngủ trong sự tự mãn rằng chiếc áo công chính bên ngoài chẳng có nghĩa lý gì trước mặt Đấng thấu suốt tâm can, đồng thời Ngài muốn vực dậy những kẻ đang gục ngã trong bùn nhơ để nhắc nhở họ rằng họ vẫn là những người con quý giá trong chương trình yêu thương của Đấng Tối Cao. Tình yêu của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi những chuẩn mực hẹp hòi của con người, cũng không chịu khuất phục trước những lề luật loại trừ mang tính hình thức. Trái lại, tình yêu ấy luôn mang tính chất tìm kiếm, vươn ra, phá vỡ mọi biên giới chật hẹp để ôm ấp lấy những ai đang đau khổ và lầm lạc.
Để diễn tả thực tại cứu độ đầy cảm động này, Đức Giêsu đã mượn hình ảnh quen thuộc của đời sống mục đồng miền quê để vẽ nên một bức tranh tuyệt mỹ về tấm lòng của Thiên Chúa đối với nhân loại. Hình ảnh người mục tử và đàn chiên không còn xa lạ gì với những thính giả miền Galilê thời bấy giờ, nơi nghề chăn nuôi là kế sinh nhai và là biểu tượng sống động cho tình cảm gắn bó khăng khít giữa con người với vật nuôi. Trong truyền thống Cựu Ước, Thiên Chúa hằng tự ví mình là Mục Tử tối cao của Israel, Đấng chăm sóc, dẫn dắt, băng bó cho những con chiên bị thương tích và đưa đàn chiên đến những đồng cỏ xanh tươi. Hình ảnh ấy nay được hiện thực hóa trọn vẹn nơi Đức Giêsu, hiện thân của lòng thương xót Chúa Cha giữa trần gian. Ngài nhìn ngắm đàn chiên của mình không phải bằng cái nhìn của một nhà quản lý tài chính lạnh lùng, khô khan, hay một kẻ chủ trại chỉ biết tính toán thiệt hơn dựa trên số lượng tài sản hiện có. Đối với vị mục tử nhân lành, mỗi con chiên đều mang một giá trị độc nhất vô nhị, đều chiếm một vị trí trọn vẹn trong cõi lòng và sự quan tâm của ngài.
Khi một con chiên trong đàn vì bất cẩn, vì ham cỏ lạ, hoặc vì hoảng sợ trước tiếng gầm rú của thú dữ mà lang thang lạc bước lên những sườn đồi hiểm trở, đối mặt với vực sâu thẳm và cái chết cận kề, điều gì sẽ xảy ra trong tâm can của người mục tử? Một kẻ làm thuê vô trách nhiệm có lẽ sẽ nhún vai bỏ mặc, tự nhủ rằng mất đi một phần nhỏ trong số hàng chục con thì đàn chiên vẫn còn nguyên vẹn, việc gì phải liều mạng lao mình vào chốn hiểm nguy để tìm kiếm một sinh linh vô tích sự. Nhưng người mục tử chân chính thì không bao giờ suy tính theo kiểu toán học lạnh lùng đó. Ngay khi nhận ra sự vắng mặt của con chiên bé nhỏ, trái tim anh ta thắt lại bởi sự lo lắng và nỗi nhớ thương. Anh ta không thể an tâm nghỉ ngơi khi biết rằng một phần thân thể của đàn chiên đang oằn mình chống chọi với đói khát và tử thần ở đâu đó ngoài kia. Bỏ lại sau lưng chín mươi chín con chiên đang an toàn trong ràn cỏ phẳng phiu, anh lập tức bước chân vào cuộc hành trình gian khổ, băng qua những thung lũng âm u, trèo lên những mỏm đá gập ghềnh, đối mặt với gai góc và hiểm nguy để ráo riết truy tìm cho bằng được con vật đã mất tích.
Hành trình đi tìm con chiên lạc không chỉ là một cuộc di chuyển về mặt địa lý, mà còn là hành trình của một tình yêu kiên nhẫn, bền bỉ và bất chấp hy sinh. Người mục tử không quản ngại mệt nhọc, không chùn bước trước bóng tối của màn đêm hay sự khắc nghiệt của thời tiết. Anh ta chỉ có một ý nghĩ duy nhất trong đầu: phải tìm cho ra con chiên ấy, phải đưa nó trở về nhà an toàn. Sự kiên trì ấy phản ánh chính xác tấm lòng của Thiên Chúa đối với nhân loại tội lỗi chúng ta. Mỗi người chúng ta đôi khi cũng giống như con chiên dại dột kia, vì yếu đuối, vì ham mê những cạm bẫy trần gian, vì những lôi cuốn của tội lỗi và sự ích kỷ bản thân mà vô tình bước hụt chân vào những con đường tăm tối, xa lìa nguồn ơn thánh, tự giam hãm mình trong sự cô độc và tuyệt vọng. Chúng ta tưởng rằng mình tự do khi rứt ra khỏi đàn, nhưng thực chất chúng ta đang lao mình vào chỗ chết, trở thành mồi ngon cho ác thần và những cạm bẫy của thế gian. Thế nhưng, giữa lúc chúng ta bất lực nhất, chìm khuất trong bóng tối của tội lỗi và sự hối hận muộn màng, thì Thiên Chúa – người Mục Tử nhân hậu – vẫn không hề buông xuôi hay quên lãng chúng ta. Ngài kiên nhẫn dõi theo từng bước chân lầm lạc của chúng ta, sai phán ơn thánh đến đánh động lương tâm, và sẵn sàng cất bước đi tìm chúng ta qua muôn ngàn nẻo đường đời.
Và khoảnh khắc tìm thấy con chiên lạc là một trong những hình ảnh cảm động nhất của niềm vui đích thực. Người mục tử không hề trách mắng con chiên vì sự ngu dại của nó, không hề đòn roi hay tra vấn nó vì những rắc rối mà nó gây ra cho cuộc hành trình tìm kiếm vất vả vừa qua. Khi phát hiện ra con chiên đang nằm lả đi bên bờ vực thẳm, run rẩy và kiệt sức vì sợ hãi, trái tim anh ngập tràn niềm xót xa và trìu mến. Anh cúi xuống, cất lên những lời thì thầm dịu dàng để xoa dịu nỗi sợ hãi trong lòng nó, nhẹ nhàng ôm nó vào lòng với tất cả sự nâng niu trân trọng. Rồi dồn hết sức lực còn lại, anh vác nó lên vai mình – một tư thế biểu lộ trọn vẹn sự chở che, bảo bọc và yêu thương tuyệt đối. Con chiên nặng nề trên vai bỗng trở thành chiếc huy chương của tình yêu chiến thắng, thành niềm kiêu hãnh ngọt ngào của người mục tử đã chiến đấu để giành lại sự sống từ tay tử thần. Trên đường trở về, bước chân người mục tử dù mỏi mệt nhưng lại nhẹ tênh vì niềm vui sướng đang trào dâng ngập tràn tâm hồn.
Niềm vui của người mục tử không thể nào kìm nén trong lòng; tình yêu đích thực luôn có bản chất hướng ngoại, muốn lan tỏa, muốn được sẻ chia với tất cả những ai chung quanh. Anh gọi bạn bè, gọi những người hàng xóm láng giềng cùng chung tay chia sẻ niềm vui lớn lao ấy: “Hãy chung vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên bị mất của tôi!” Một câu nói ngắn gọn nhưng chứa đựng biết bao cảm xúc dạt dào của sự hồi sinh và hiệp nhất. Đứng ở góc độ tính toán vật chất thuần túy, một nhà kinh tế học thực dụng có thể sẽ cười chê sự ngớ ngẩn này, bởi vì tổng số tài sản trong chuồng hoàn toàn không thay đổi, số lượng chiên trước sau vẫn chỉ có chừng ấy, chẳng có thêm một khoản lợi nhuận nào được sinh sôi sau một cuộc hành trình tốn kém mồ hôi và sức lực như thế. Nhưng quy luật của tình yêu thương không bao giờ được định giá bằng những con số vô hồn trên giấy tờ sổ sách. Giá trị ở đây không nằm ở số lượng tài sản được bảo toàn, mà nằm ở sự sống vừa được cứu vớt khỏi bờ vực diệt vong. Một sinh linh tưởng chừng đã nắm chắc cái chết trong tay nay được sống lại, một mối dây hiệp thông tưởng chừng đã đứt đoạn nay được nối liền – đó chính là lý do duy nhất khiến đất trời vỡ òa trong hoan lạc.
Đức Giêsu mượn câu chuyện đời thường này để hé mở cho chúng ta một chân lý siêu việt về cõi lòng của Thiên Chúa: nếu những con người phàm trần, vốn đầy rẫy bất toàn và ích kỷ, còn biết vui mừng khôn tả khi tìm lại được một con vật nhỏ bé tưởng chừng đã mất, thì huống chi là Cha trên trời, Đấng giàu lòng xót thương và đầy tràn ơn cứu độ. Thiên Chúa không hề dửng dưng trước sự hư mất của bất kỳ một số phận nào. Mỗi khi một tội nhân quyết định dừng bước trên con đường lầm lạc, mở lòng ra để đón nhận ơn thánh hóa và quay trở về nguồn cội, thì cả thiên đàng vỡ òa trong niềm vui mừng khôn tả. Cuộc hoán cải của một tâm hồn tội lỗi mang lại cho trái tim Thiên Chúa một niềm hoan hỉ lớn lao hơn tất cả những sự công chính hình thức của những ai tưởng mình không cần đến ơn tha thứ. Sự ưu ái này không phải là một sự bất công hay thiên vị đối với những người đã sống trung thành từ trước, mà đó là nhịp đập tự nhiên của một người cha khi đứa con trai tưởng đã chết nay được sống lại, đứa con trai đi hoang nay đã tìm về mái ấm gia đình.
Nhìn lại thái độ của những người Pharisiêu và kinh sư trong bối cảnh Tin Mừng, chúng ta thấy rõ một nghịch lý đáng buồn: họ hiện diện ngay tại đó, họ nghe từng lời giảng dạy của Thấy Giêsu, họ chứng kiến tận mắt những nghĩa cử cao đẹp của Ngài, nhưng tâm hồn họ lại lạnh giá, khép kín và đầy rẫy sự ganh tị. Thay vì hòa chung nhịp đập hoan hỉ với tấm lòng nhân hậu của Thiên Chúa, họ lại lẩm bẩm trách móc, cảm thấy khó chịu trước thái độ ân cần mà Đức Giêsu dành cho những kẻ tội lỗi. Họ giống như những con chiên ích kỷ trong đàn, không những không biết vui mừng vì sự sống được cứu rỗi của người chị em lầm lạc, mà ngược lại còn tỏ thái độ ghen tỵ, khinh miệt và muốn đẩy xa những ai không đạt tiêu chuẩn đạo đức khắt khe do chính họ tự đặt ra. Thái độ đó chính là căn bệnh trầm kha của lòng tự phụ tôn giáo, một thứ u nhọt tinh thần biến con người thành những vị thẩm phán cay nghiệt thay vì trở thành những chứng nhân của lòng thương xót. Khi con người tự đặt mình lên ngai tòa phán xét, họ tự truất phái mình ra khỏi đoàn ngũ của những người con cái ánh sáng, bởi vì không ai có thể bước vào vương quốc của tình yêu thương bằng một trái tim đầy rẫy sự thù hận và định kiến.
Đứng trước mầu nhiệm cao cả ấy, sứ điệp Tin Mừng mời gọi mỗi chúng ta hãy rà soát lại cõi lòng mình một cách nghiêm túc và khiêm tốn. Chúng ta thường dễ dàng đóng vai trò của những người Pharisiêu tự nghĩa trong cuộc sống hằng ngày. Chúng ta quen dùng lề luật, quy tắc, truyền thống hoặc những tiêu chuẩn cá nhân để soi mói, chỉ trích và đóng khung tội lỗi của tha nhân, trong khi lại dễ dãi che đậy những yếu đuối, bất toàn và góc tối của chính mình. Chúng ta quên mất rằng trước tôn nhan thánh thiện của Thiên Chúa, tất cả chúng ta đều chỉ là những kẻ ăn mày ơn xá tội, đều cần đến bờ vai vững chắc của Người Mục Tử nhân lành để vác chúng ta ra khỏi những vũng lầy của ích kỷ, kiêu căng và hận thù. Sống tinh thần Tin Mừng không phải là đứng từ trên cao nhìn xuống để chỉ trích những kẻ ngã ngựa, mà là sẵn sàng cúi xuống, mở rộng vòng tay ôm ấp, nâng đỡ và cùng chung niềm vui với Thiên Chúa mỗi khi một người anh em của chúng ta tìm lại được ánh sáng chân lý và ơn cứu độ.
Hành trình đức tin của người Kitô hữu đích thực vì thế không thể là một con đường đóng kín trong sự tự mãn cá nhân, mà phải là một tiến trình liên tục ra đi, tìm kiếm và sẻ chia. Nếu Thiên Chúa đã không quản ngại nhọc nhằn để đi tìm kiếm từng người chúng ta trong những xó xỉnh tối tăm nhất của cuộc đời, thì chúng ta – những kẻ đã được ơn cứu chuộc – cũng không thể dửng dưng trước nỗi đau khổ, sự lầm lạc và cô đơn của những người sống chung quanh mình. Mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn giáo xứ, mỗi xã hội nhân loại chỉ thực sự trở nên vương quốc của sự sống khi ở đó không có chỗ cho sự thờ ơ, loại trừ hay phán xét lạnh lùng. Thay vào đó, nơi ấy phải ngập tràn hơi ấm của lòng bao dung, sự kiên nhẫn lắng nghe và niềm khát khao hàn gắn những mảnh vỡ cuộc đời. Khi chúng ta biết nhìn tha nhân bằng ánh mắt trìu mွေး của người mục tử, khi chúng ta biết dẹp bỏ cái tôi kiêu ngạo để chung vui trước sự trở về của một người anh em từng lầm đường lạc lối, ấy là lúc chúng ta đang thực sự sống động tinh thần của Tin Mừng cứu độ.
Xin Chúa ban ơn canh tân đổi mới tâm hồn mỗi người chúng ta, để qua đời sống hằng ngày, chúng ta biết trở thành những cánh tay nối dài của Người Mục Tử nhân lành. Xin Người dạy chúng ta biết xót thương thay vì phán xét, biết xây đắp nhịp cầu hòa giải thay vì dựng lên những bức tường hận thù chia rẽ. Ngõ hầu, giữa một thế giới đang bị xé nát bởi vô số những ích kỷ và định kiến, cuộc đời chúng ta sẽ trở thành một bản ca tụng tuyệt vời về lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, một thứ ánh sáng dịu dàng dẫn lối cho những ai đang bơ vơ lạc lõng tìm về được với mái nhà bình an đích thực trong tình yêu trọn vẹn của Người Cha trên trời.
Lm. Anmai, CSsR
TÌNH YÊU THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA: NIỀM VUI VÔ BIÊN CỦA TRỜI CAO VÀ CON ĐƯỜNG HOÁN CẢI CỦA CON NGƯỜI
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ, trong hành trình đức tin hằng ngày, bước đi giữa những thăng trầm, lo toan, thử thách và đôi khi cả những sa ngã yếu đuối của phận người, tâm hồn chúng ta thường dễ rơi vào cảm giác mệt mỏi, chán chường, thậm chí là sự tuyệt vọng tăm tối. Có những lúc, dưới sức nặng của tội lỗi và sự bất toàn, chúng ta tự nhủ rằng mình đã đi quá xa, đã tự tay đóng lại cánh cửa hồng ân và không còn xứng đáng bước về phía Thiên Chúa nữa. Thế nhưng, Lời Chúa hôm nay vang lên như một luồng gió mát rượi thanh tẩy tâm hồn, như một ánh sáng huy hoàng rọi chiếu vào cõi lòng tăm tối, đánh thức niềm hy vọng tưởng chừng đã lịm tắt. Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mạc khải cho chúng ta một chân lý tuyệt mỹ và vô cùng an ủi: Thiên Chúa không phải là một vị quan tòa khắt khe chờ đợi sơ hở để phán phạt, nhưng Ngài là Mục Tử nhân lành, là người Cha đong đầy lòng trắc ẩn, luôn kiên nhẫn kiếm tìm, ôm ấp và vui mừng khôn tả khi tìm lại được từng đứa con lạc lối.
Để hiểu sâu sắc hơn về tình yêu diệu kỳ ấy, thánh Phaolô trong bức thư gửi tín hữu Philipphê đã chia sẻ kinh nghiệm bản thân đầy mãnh liệt. Thánh nhân tuyên bố rằng tất cả những gì xưa kia ngài coi là thành đạt, là vinh quang theo chuẩn mực trần thế, là những điểm tựa tự hào mang tính cá nhân, ngài đều coi là lỗ lã, là rác rưởi khi so sánh với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô, Chúa của chúng ta. Thánh nhân không ngần ngại từ bỏ tất cả, xem mọi thứ chỉ là phương tiện tầm thường để được gắn kết trọn vẹn với Đức Kitô. Sự từ bỏ này không phải là một sự hi sinh cay đắng, mà là một sự đổi chác thiên tài: đổi lấy sự công chính đến từ Thiên Chúa, đổi lấy sức mạnh Phục Sinh, đổi lấy ơn tha thứ và sự sống đời đời. Bài học từ thánh Phaolô nhắc nhở mỗi người chúng ta rằng, chừng nào tâm hồn chúng ta còn bám víu vào những danh vọng hão huyền, những sự an toàn giả tạo của trần gian, những thành tích tự mãn, thì chừng đó chúng ta còn khép kín trước hồng ân cứu độ. Chỉ khi biết coi tất cả là hư không trước nhan thánh Chúa, chúng ta mới thực sự mở rộng tâm hồn để đón nhận kho báu đích thực là chính Ngài.
Kho báu ấy, ơn cứu độ ấy, không phải là một phần thưởng dành riêng cho những ai tự cho mình là công chính, là hoàn hảo không vết nhơ, mà lại được bày tỏ cách rạng ngời nhất qua tấm lòng xót thương đối với những kẻ tội lỗi, những người lầm đường lạc lối. Trong đoạn Tin Mừng theo thánh Luca hôm nay, chúng ta thấy một bức tranh vừa chân thực vừa cảm động: những người thu thuế và các tội lỗi kéo nhau đến gần Đức Giêsu để nghe Ngài giảng. Trong khi nhóm Pharisêu và các kinh sư lẩm bẩm trách móc, cho rằng Ngài giao du với phường tội lỗi và ăn uống với họ, thì Chúa Giêsu lại kể cho họ nghe những dụ ngôn làm đảo lộn mọi thang giá trị trần thế. Đó là dụ ngôn về con chiên lạc và dụ ngôn về đồng bạc bị mất. Trong cả hai câu chuyện, điểm nhấn không nằm ở giá trị vật chất của con chiên hay đồng bạc, nhưng nằm ở thái độ của người chủ nhà và người mục tử: họ tìm kiếm, họ thao thức, họ không quản ngại gian khổ cho đến khi tìm thấy, và trên hết, họ tổ chức cả một niềm vui lớn lao, kêu gọi láng giềng bè bạn cùng chung vui với mình. Chúa Giêsu khẳng định một cách đanh thép rằng trên trời sẽ có biết bao niềm vui mừng vì một kẻ tội lỗi ăn năn sám hối hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối.
Thiên Chúa của chúng ta là Đấng không đành lòng mất đi bất cứ một ai trong công trình tay Ngài tạo dựng. Ngài giống như một mục tử nhân lành, khi phát hiện ra một con chiên trong đàn bị lạc lối giữa chốn hoang vu hiểm trở, ngài không hề bỏ mặc nó với suy nghĩ rằng “vẫn còn lại chín mươi chín con an toàn trong chuồng”. Trái lại, tình yêu đích thực không chấp nhận sự mất mát. Người mục tử ấy sẵn sàng bỏ lại chín mươi chín con nơi đồng cỏ để cất công đi tìm cho kỳ được con chiên đã mất. Hình ảnh ấy nói lên sự tha thiết đến cùng cực của tình yêu Thiên Chúa. Ngài không chờ đợi tội nhân tự tìm đường quay về trong sự sợ hãi, nhưng chính Ngài chủ động cất bước ra đi, lội suối băng ngàn, dò dẫm trong đêm tối để tìm kiếm chúng ta. Khi tìm thấy rồi, Ngài không hề trách mắng một lời, không hề đày đọa hay đấm ngực tra vấn, nhưng ngài vui mừng đặt con chiên lên vai mình, vác về nhà trong niềm hoan hỉ ngập tràn. Được Chúa vác trên vai chính là vinh dự lớn lao nhất của phận người yếu đuối, bởi vì chính nhờ đôi vai kiên vững ấy mà chúng ta được nâng đỡ, được chở che và đưa về với cộng đoàn tình yêu.
Tương tự như vậy, hình ảnh người phụ nữ mất một đồng drác trong dụ ngôn tiếp theo cũng mang một ý nghĩa thần học sâu sắc về sự hiện diện của Thiên Chúa giữa cuộc đời chúng ta. Đồng bạc tuy nhỏ bé, nhưng đối với người nghèo khó, đó là cả một gia tài, là mồ hôi nước mắt. Khi mất đi, người phụ nữ đã thắp đèn, quét nhà, cặm cụi tìm kiếm cho kỳ được. Hình ảnh thắp đèn và quét nhà gợi nhắc đến ánh sáng của Lời Chúa và tác động thanh luyện của ơn thánh trong tâm hồn mỗi người. Chúa Thánh Thần hằng soi sáng những góc khuất tăm tối nhất trong cõi lòng chúng ta, quét sạch đi những bụi bặm của ích kỷ, hận thù, dâm ô và kiêu ngạo, để tìm lại hình ảnh cao quý của Thiên Chúa đã bị lu mờ do tội lỗi. Và khi tìm thấy, bà gọi bạn bè láng giềng đến nói rằng: “Hãy chung vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy đồng bạc bị mất lạc”. Sự liên đới trong niềm vui cứu độ ấy cho thấy rằng trong Hội Thánh, không một ai bị bỏ quên, không một ai là vô giá trị. Sự hoán cải của một linh hồn không chỉ làm cho bản thân người đó được cứu rỗi, mà còn làm cho cả triều thần thiên quốc vang lên những khúc ca khải hoàn, làm rộn rã trái tim của Thiên Chúa.
Thế nhưng, đứng trước lòng thương xót hải hà ấy, thái độ của chúng ta thường như thế nào? Phải chăng đôi khi chúng ta lại vô tình rơi vào tâm lý của những người Pharisêu và kinh sư xưa? Chúng ta dễ dàng tự mãn về đời sống đạo đức hình thức của mình, tự cho mình là những người công chính ngồi sẵn trong chuồng an toàn, để rồi nhìn những anh chị em sa ngã, lầm đường lạc lối với ánh mắt khinh miệt, phán xét và xa lánh. Chúng ta quên mất rằng, nếu chúng ta đứng vững cho đến ngày hôm nay, đó không phải vì tài năng hay đức hạnh siêu việt của chúng ta, mà hoàn toàn là nhờ ơn huệ và lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa bao bọc. Khi chúng ta khép lòng lại trước anh chị em tội lỗi, khi chúng ta từ chối chia sẻ niềm vui của Thiên Chúa khi một người quay về, chúng ta tự đặt mình ra ngoài vòng tròn của tình yêu thương xót. Đạo Chúa không phải là câu lạc bộ của những kẻ hoàn hảo không tì vết, nhưng là bệnh xá cho những tâm hồn thương tổn, là mái nhà chung rộng mở đón nhận những đứa con hoang đàng trở về từ chốn đói nghèo, lầm than.
Sám hối, do đó, không phải là một gác xép u ám đầy sợ hãi, mà là một cuộc trở về đầy ánh sáng và niềm vui. Quay về với Chúa không phải là bước vào một nhà tù của những luật lệ khô khan, mà là cởi bỏ chiếc áo rách rưới của tội lỗi để được mặc lấy tấm áo mới của lòng thương xót. Khi một người quyết tâm từ bỏ con đường tội lỗi để bước đi trong ánh sáng chân lý, đó là lúc trời cao mở hội mừng. Thiên Chúa không nhắc lại quá khứ đen tối của chúng ta, Ngài không đếm xỉa đến những lần chúng ta ngã quỵ, mà Ngài chỉ nhìn vào hiện tại khi chúng ta đang quay mặt về phía Ngài với một trái tim tan nát và khiêm nhường. Trái tim khiêm nhường ấy chính là của lễ đẹp lòng Thiên Chúa nhất. Ngài mong mỏi chúng ta đừng bao giờ tuyệt vọng, đừng bao giờ để tiếng nói của sự thất vọng hay mặc cảm tội lỗi đè bẹp ý chí vươn lên. Dù tội lỗi của chúng ta có đỏ như son, Ngài cũng sẽ làm cho trắng tuyết; dù có thắm như vải điều, Ngài cũng sẽ làm cho trắng như bông len.
Nhìn vào xã hội hôm nay, một thế giới đang bị xé rách bởi lòng ích kỷ, bởi sự vô cảm, bởi những toan tính hơn thiệt và bạo lực, sứ điệp về lòng thương xót và niềm vui cứu độ càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Con người hiện đại đang lạc lõng giữa những đồng cỏ khô cằn của chủ nghĩa vật chất, đang tìm kiếm hạnh phúc nơi những ánh đèn màu ảo ảnh để rồi chỉ chuốc lấy sự cô đơn và trống rỗng tận cùng. Chúng ta, những người được ơn gọi làm con cái Chúa, được mời gọi trở thành những mục tử nhân lành nối dài cánh tay của Chúa giữa trần gian. Chúng ta không được phép đứng bên lề phán xét, mà phải dấn thân vào những vùng ngoại biên của xã hội, đến với những mảnh đời bất hạnh, những tâm hồn đang quằn quại trong tội lỗi và đau khổ, để mang cho họ hương thơm của lòng nhân ái. Hãy để ánh mắt của chúng ta là ánh mắt của sự thấu cảm, hãy để đôi bàn tay của chúng ta là đôi bàn tay nâng đỡ, và hãy để trái tim chúng ta biết rung cảm trước nỗi đau của tha nhân, giống như trái tim của người Mục Tử tối cao.
Hơn thế nữa, đời sống thiêng liêng của mỗi người chúng ta cũng cần phải được canh tân từng ngày qua ơn hoán cải liên rỉ. Sám hối không phải là việc làm một lần cho cả cuộc đời, mà là một thái độ sống suốt đời. Mỗi ngày trôi qua là một cơ hội mới để chúng ta nhìn lại cõi lòng mình, nhận ra những góc khuất còn tối tăm, những thói hư tật xấu còn bám víu, những mối hận thù chưa được tha thứ, để dâng lên Chúa và xin Ngài thanh tẩy. Đừng sợ hãi sự yếu đuối của mình, nhưng hãy đặt sự yếu đuối ấy vào lòng thương xót vô biên của Chúa. Khi chúng ta ngã ngã đứng lên, khi chúng ta biết khiêm tốn nhận mình là con chiên lạc cần đến ơn cứu độ, thì đó cũng là lúc chúng ta làm cho thiên quốc rộn rã niềm vui. Đừng giữ niềm vui ấy cho riêng mình, nhưng hãy lan tỏa nó ra xung quanh bằng một đời sống bác ái, bao dung, sẵn sàng tha thứ và sẻ chia với những ai đang cần đến sự nâng đỡ của chúng ta.
Kính thưa cộng đoàn, hành trình đức tin phía trước còn dài và đầy rẫy những thử thách, nhưng chúng ta không bao giờ cô độc. Chúng ta có một người Mục Tử luôn sẵn sàng vác chúng ta trên vai khi mỏi mệt, có một người Cha luôn ngóng trông ta quay về bên khung cửa nhà với tấm lòng rộng mở, và có một cộng đoàn Hội Thánh luôn hiệp thông trong niềm vui cứu độ. Xin Chúa ban ơn cho mỗi người chúng ta, để qua Lời Chúa hôm nay, chúng ta biết buông bỏ những tự mãn phàm tục như thánh Phaolô, biết can đảm bước đi trên con đường hoán cải đích thực, và nhất là biết mở rộng trái tim để cảm nhận sâu xa niềm vui được Thiên Chúa yêu thương, tha thứ. Ước gì cuộc đời mỗi chúng ta sẽ trở thành một khúc ca cảm tạ không ngừng dâng lên Thiên Chúa, một nhịp cầu nối kết tình người trong lòng thương xót vô biên, để rồi mai sau, khi hành trình dương thế khép lại, chúng ta cũng được chung phần vào niềm vui vĩnh cửu trong nhà Cha trên trời, nơi ngập tràn ánh sáng và hoan hỉ muôn đời.
Lm. Anmai, CSsR
SỰ THẬT VỀ TÌNH YÊU VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT: NƠI ĐỨC KITÔ GỌI TỪ NHỮNG GÓC KHUẤT CUỘC ĐỜI
Trong hành trình đức tin của mỗi tín hữu, câu chuyện về ơn gọi của Matthew hay những cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu với những con người bị xã hội lãng quên luôn mở ra những chiều kích vô tận về tình yêu bao dung của Thiên Chúa. Thế giới thường đo lường giá trị con người qua sự hoàn hảo, qua những thành công bề ngoài, những tiêu chuẩn đạo đức khắt khe hay qua khả năng tự lập và sự thanh sạch tưởng chừng như không vết nhơ. Tuy nhiên, logic của Thiên Chúa lại hoàn toàn đi ngược lại với những thước đo phàm trần ấy. Ngài không tìm kiếm những kẻ tự mãn cho mình là công chính, bởi vì sự tự mãn chính là bức tường kiên cố nhất ngăn cách con người đón nhận ơn cứu độ. Trái lại, ánh mắt của Đức Kitô luôn hướng về những ai đang oằn mình dưới sức nặng của lầm lỗi, những tâm hồn rách nát, và những mảnh đời bị đẩy ra bên lề xã hội. Ngài đến không phải để ban phát những lời tuyên án lạnh lùng, mà là để ôm ấp, chữa lành và cứu rỗi.
Khi quan sát khung cảnh tại bàn làm việc của người thu thuế, chúng ta thấy một bức tranh sinh động về sự cô lập. Người thu thuế thời đó không chỉ đơn thuần là những công chức làm công việc tài chính cho đế quốc ngoại bang, mà họ còn bị coi là những kẻ phản bội dân tộc, những kẻ bóc lột chính anh em đồng bào mình để mưu cầu vinh thân phì gia. Họ sống trong sự khinh miệt, bị cộng đồng do thái giáo gạt ra khỏi các sinh hoạt tôn giáo và xã hội. Thế nhưng, chính tại nơi chốn tăm tối của lòng tham, sự ích kỷ và sự cô đơn cùng cực ấy, tiếng gọi của Thầy Chí Thánh đã vang lên. Chúa Giêsu không nhìn Levi qua lăng kính của định kiến hay sự ghê tởm mà đám đông xung quanh đang áp đặt. Ngài nhìn thấy ở đó một con người có khát vọng yêu thương, một mảnh đất cằn cỗi đang chờ đợi dòng nước mát của lòng thương xót. Tiếng gọi “Hãy theo tôi” không phải là một mệnh lệnh độc đoán, mà là một lời mời gọi giải thoát, một chiếc phao cứu sinh ném xuống giữa dòng nước cuồn cuộn của tội lỗi và tuyệt vọng.
Sự đáp trả của Levi mang một ý nghĩa vô cùng sâu sắc đối với đời sống thiêng liêng của mỗi chúng ta. Ông đã không chần chừ, không viện cớ quá khứ nhơ nhuốc hay sự bất xứng của bản thân để từ chối cơ hội đổi thay. Hành động đứng dậy và từ bỏ tất cả bàn làm việc, những mối lợi bất chính, và cả thế giới cũ kỹ của mình cho thấy một cuộc hoán cải triệt để từ trong tâm can. Sự hoán cải đích thực không bao giờ là một lý thuyết suông hay một cảm xúc hời hợt, mà là một bước nhảy vọt của niềm tin vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa. Khi một con người cảm nhận được mình được tha thứ và được yêu thương bằng một tình yêu vô điều kiện, họ tự khắc sẽ muốn chia sẻ niềm vui ấy với những người xung quanh. Bữa tiệc mà Levi khoản đãi Chúa Giêsu cùng với những bạn bè cũ của ông những kẻ cũng chung số phận tội lỗi và bị loại trừ chính là minh chứng rõ ràng nhất cho một trái tim đã được biến đổi. Đó không phải là một buổi tiệc hoang phí, mà là một lời tuyên xưng công khai về niềm vui được tái sinh trong ân sủng.
Tuy nhiên, sự hiện diện của Chúa Giêsu giữa những người tội lỗi đã vấp phải sự phản kháng gay gắt từ phía các kinh sư và người Pharisêu. Những con người tự nhận mình giữ luật tỉ mỉ này không thể hiểu nổi tại sao một vị thầy tôn giáo lại có thể đồng bàn với những kẻ ô uế theo quan niệm luật pháp. Họ đứng từ xa để phán xét, dùng sự thánh thiện giả hình của mình để làm bức bình phong che đậy những tâm thức hẹp hòi, cay độc và thiếu vắng lòng trắc ẩn. Đối với họ, tôn giáo chỉ là một tập hợp các quy tắc để phân biệt rạch ròi giữa người sạch và kẻ dơ, giữa người công chính và kẻ tội lỗi. Họ quên mất rằng tôn giáo đích thực xuất phát từ trái tim của Thiên Chúa, Đấng hằng mong muốn lòng xót thương chứ không phải là lễ tế hình thức. Những lời phàn nàn và chỉ trích của họ phản ánh một căn bệnh trầm trọng của tinh thần con người: căn bệnh tự nghĩa, luôn nhìn thấy cái rác trong mắt người khác mà quên đi cái xà trong mắt chính mình.
Trước sự thắc mắc và lên án ấy, Chúa Giêsu đã đưa ra một chân lý nền tảng định hình toàn bộ sứ mạng của Ngài trên trần gian: “Không phải những người khỏe mạnh cần bác sĩ, mà là những người đau ốm; tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà là người tội lỗi”. Hình ảnh vị y sĩ là một ẩn dụ tuyệt vời về bản chất của ơn cứu độ. Một bác sĩ giỏi không bao giờ né tránh bệnh nhân vì sợ lây bệnh, mà ngược lại, họ tiến đến gần những vết thương lở loét nhất để chữa lành. Tội lỗi, trong nhãn quan của Đức Kitô, không phải là một thứ để người ta dùng làm cớ lăng mạ hay khai trừ nhau, mà là một thứ bệnh hoạn cần được cứu chữa bằng tình yêu thương và ơn sủng. Khi tự cho mình là những người khỏe mạnh và hoàn hảo, các kinh sư và người Pharisêu đã tự tước đi cho mình cơ hội được vị Y Sĩ tối cao cứu chữa. Sự tự phụ về đạo đức đã đóng sập cánh cửa tâm hồn họ trước nguồn ơn thánh hóa, biến họ thành những kẻ mù lòa ngay giữa ánh sáng chan hòa của chân lý.
Sứ điệp này vang lên thật mạnh mẽ đối với mỗi Kitô hữu trong bối cảnh xã hội đương đại. Chúng ta thường có xu hướng xây dựng những vòng tròn khép kín, nơi chúng ta tự cho mình là những người đạo đức, giữ đạo nghiêm túc, và nhìn những người lầm đường lạc lối bằng con mắt kỳ thị hoặc dửng dưng. Chúng ta dễ dàng sa vào cạm bẫy của chủ nghĩa biệt phái hiện đại, nơi lòng nhiệt thành tôn giáo bị bóp méo thành sự phán xét người khác. Lời mời gọi của Tin Mừng hôm nay chất vấn tận căn thái độ sống của chúng ta: Chúng ta đang đứng ở đâu? Chúng ta đứng chung một chiến tuyến với những người Pharisêu thích phán xét, hay chúng ta khiêm tốn đứng chung hàng ngũ với những tội lỗi cần được xót thương? Đời sống chứng tá của người môn đệ Đức Giêsu không thể là một cuộc trốn chạy khỏi thế giới tội lỗi, mà là một sự dấn thân mang tinh thần xả thân, đem ánh sáng và sự ấm áp của lòng thương xót đến cho những nơi lạnh lẽo nhất của cuộc đời.
Hơn thế nữa, kinh nghiệm về ơn gọi của Levi nhắc nhở chúng ta rằng không có một quá khứ nào quá tối tăm mà lòng thương xót của Thiên Chúa không thể chiếu soi tới. Nhiều người trong chúng ta đôi khi rơi vào trạng thái nản lòng, tuyệt vọng vì những vấp ngã lặp đi lặp lại, vì những vết nhơ trong quá khứ hay vì cảm giác mình quá bất xứng với ơn gọi làm con Chúa. Chúng ta nghĩ rằng mình đã đi quá xa, đã tiêu xài hoang phí ân sủng của Ngài và không còn đường quay về. Nhưng câu chuyện Tin Mừng này là một bảo đảm chắc chắn rằng ánh mắt của Chúa Giêsu không bao giờ mỏi mệt trong việc tìm kiếm chúng ta. Ngài không nhìn chúng ta theo cách thế gian nhìn, Ngài nhìn thấy tiềm năng thánh thiện ẩn giấu bên dưới lớp tro tàn của tội lỗi. Ngài gọi chúng ta không phải vì chúng ta tài giỏi hay đạo đức, mà chính vì chúng ta đang bệnh hoạn, đang cần đến lòng xót thương vô biên của Ngài.
Việc đáp lại tiếng gọi ấy đòi hỏi ở mỗi người sự can đảm để cởi bỏ lớp áo giáp của sự ngụy biện và tự vệ. Khi nhận ra mình là tội nhân trước mặt Thiên Chúa, chúng ta không bị đè bẹp bởi sự mặc cảm, nhưng được nâng lên bởi hy vọng. Sự hối hận chân thành kết hợp với niềm xác tín vào tình yêu tha thứ sẽ mở ra một chân trời mới, nơi mọi sai lầm trong quá khứ trở thành điểm khởi đầu cho một hành trình biến đổi ngoạn mục. Giống như Levi đã bỏ lại sau lưng bàn thu thuế ô nhục để bước vào hành trình theo Thầy Chí Thánh, chúng ta cũng được mời gọi buông bỏ những thói hư tật xấu, những mối bận tâm ích kỷ và những toan tính trần tục để bước đi theo ánh sáng chân lý. Sự hoán cải này không phải là một gánh nặng đè nát con người, mà là một cuộc giải phóng vĩ đại, đưa con người trở về với phẩm giá đích thực của người con cái Chúa.
Bên cạnh đó, bàn tiệc mà Levi tổ chức cũng mang một biểu tượng ngôn sứ sâu sắc về Giáo hội. Giáo hội không phải là một câu lạc bộ dành riêng cho những kẻ hoàn hảo, mà là một bệnh xá dã chiến cho những tâm hồn đang bị tổn thương. Bàn tiệc Thánh Thể mà chúng ta tham dự mỗi ngày Chúa Nhật chính là hiện thân sống động của bữa tiệc mà Chúa Giêsu đã chia sẻ cùng những người thu thuế và tội lỗi. Tại bàn tiệc này, Thiên Chúa mời gọi tất cả mọi người, không phân biệt sang hèn, quá khứ sạch hay nhơ, miễn là chúng ta đến với một tâm hồn khiêm tốn và khao khát được chữa lành. Việc chúng ta tham dự vào mầu nhiệm thánh ấy đặt ra trách nhiệm lớn lao: liệu chúng ta có sẵn sàng chia sẻ chiếc bánh tình yêu ấy với những người mà xã hội đang ruồng bỏ? Liệu chúng ta có dám mở rộng vòng tay chào đón những anh em lầm lỡ thay vì dùng những lời lẽ cay độc để đẩy họ ra xa?
Đời sống của một Kitô hữu đích thực phải là một sự tiếp nối của sứ mạng mà Chúa Giêsu đã thực hiện. Ngài đã không ngần ngại vấy bẩn đôi tay mình bằng cách tiếp xúc với những thành phần bị coi là cặn bã của xã hội để mang lại cho họ phẩm giá làm người và làm con Chúa. Noi gương Thầy Chí Thánh, chúng ta được mời gọi bước ra khỏi vùng an toàn của sự đạo đức hình thức, đi đến những vùng ngoại biên của cuộc sống, nơi có những con người đang bị bỏ quên, cô đơn, tuyệt vọng và chìm đắm trong vũng lầy của lầm lỗi. Sự hiện diện của chúng ta ở đó không phải để lên lớp dạy đời hay phán xét, mà là để trở thành nhịp cầu nối kết họ với tình yêu thương vô biên của Thiên Chúa, để qua ánh mắt và cử chỉ của chúng ta, họ cảm nhận được rằng Thiên Chúa vẫn chưa bỏ rơi họ.
Hành trình đức tin vì thế là một tiến trình liên tục của việc lắng nghe, hoán cải và dấn thân. Mỗi buổi sáng thức dậy là một cơ hội mới để chúng ta để cho ánh mắt của Đức Kitô xuyên thấu qua những lớp vỏ bọc của lòng tự ái và ích kỷ. Khi đối diện với những yếu đuối của bản thân, thay vì chìm đắm trong sự thất vọng hay tìm cách che giấu, chúng ta hãy chạy đến với Ngài như một bệnh nhân tìm đến vị lương y nhân hậu. Chỉ trong sự khiêm tốn thẳm sâu ấy, chúng ta mới có thể nghe được tiếng gọi thì thầm nhưng đầy uy quyền của Ngài: “Hãy theo tôi”. Tiếng gọi ấy sẽ tái tạo cuộc đời chúng ta, biến những mảnh vỡ của tội lỗi thành những viên đá quý trong chương trình cứu độ kỳ diệu của Thiên Chúa.
Nguyện xin ơn thánh của Chúa biến đổi tâm hồn mỗi người chúng ta, để chúng ta không bao giờ rơi vào chiếc bẫy của sự tự mãn và cứng lòng của những người Pharisêu xưa. Xin cho chúng ta luôn biết giữ cho tâm hồn mình một sự nhạy cảm trước tiếng gọi của ơn sủng, một niềm khao khát mãnh liệt được chữa lành và một trái tim đầy ắp lòng thương xót để đối xử với anh em đồng loại. Để rồi, khi kết thúc cuộc hành trình trần thế này, chúng ta được vinh dự ngồi vào bàn tiệc vĩnh cửu trên nước trời, nơi mọi đau khổ, tội lỗi và chia rẽ bị xóa sạch, và chỉ còn lại tình yêu thương trọn vẹn trong nhan thánh Chúa muôn đời.
Lm. Anmai, CSsR


















