CÁC THIÊN THẦN HỘ THỦ: ĐƯỢC THIÊN CHÚA GÌN GIỮ, ĐƯỢC MỜI GỌI CHĂM SÓC NHỮNG NGƯỜI BÉ MỌN Lm. Anmai, CSsR.

9
Signature: QFk3IESZJ2NDGa9HsArqlOBrA8rO9VMmudbvTMw6o/egVxqt1zTqnaiuLe0OosNhfW+n18C0noCi9IYZEfjgifzsWtrS2uQEyWQATHVsf5gUhJAR6W/JmDkYYkaG7Yt+79lzjsNlHEq6DaR3gHjxUYZT2+trX+MfOQKLtrmbNfQmYXyL283i0nQz4yc+/pds2GX+QSOyBTfFYEHGCZRvGqfE9Bwqtl2RuiapFrr7JFlOD1CxqN9SuEV0+ySWXq/mE4CFjHjgy1GvlUiMAse0cZoWO00eEJb5A+Y5jLzijfC00CTOZM1BiYa+e3S/CmbkzUEoyhY/vj2bxrUMq6rx3Sd5lRkAnfX6gVHYFy2RZZoQlb5HwxzjcKSxDGqGlGN1FA7F3ia9PwW/GLb5z1i0Laf/xE0+f9R4W8z84QGY4/IVvy0DnxrXq1hjr2tGMWl0kHY0W7Ys48/ZNzTXv58QQWeEKEmJ4OpAxcixYUBj2FyGjF+WM1hq9lbUxlfV6dr//UC2tuggjxZrj3qgz7+ALTKCbsWGK3XyvA+DuaGvQebGIfd+GBUn6jQJwPe+aMkTYm29XgayvndRp3zc/D/67yaRcakOHwhe0/+o++qle/iZ8VEQP2D6WYsxrKR8ZDvdcDvlKoZTa6syS4OySH1B+5JQjgPnxWyg+jTXufpdZaoGv69USFwc+4KFvt4vvEceDc/TgberI3hPjm8sU6SdMvYUlrpN5E6ILuOelSuVn3oyJI2nvogT/PiwF/1+qfrOI6GpH3qLiRtxGys2fm/1QRLVQY+JB+wa2119+Me6IjWyp3OuAJeWBypmbDj76Eav/Gfkm3I9kF7hOl9t18Tom3FnQw2+soTK/PaaFzjKj0pC8yxXMIoyIwNLYP74uyMpUUloqpepk5Uyy11+8R8ZBZ5zO0lqps2PpQb63VmV513IOkt66NS7D39JE53rLMiG81Xqy7OzcXUuzUzu9voFFx+bJuXF+n9NsRPkmcRKnFk=

CÁC THIÊN THẦN HỘ THỦ: ĐƯỢC THIÊN CHÚA GÌN GIỮ, ĐƯỢC MỜI GỌI CHĂM SÓC NHỮNG NGƯỜI BÉ MỌN Lm. Anmai, CSsR.

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ, trong cuộc đời mỗi người, có những tình thương rất âm thầm nhưng lại nâng đỡ chúng ta suốt một hành trình dài. Một đứa trẻ ngủ ngon không biết mẹ đã thức bao nhiêu lần để nhìn xem con có đắp đủ chăn hay không. Một người con bình an đến trường không biết cha đã lo lắng thế nào trước khi con bước ra khỏi cửa. Một người bệnh được chăm sóc không thể nhớ hết những bàn tay đã thay nhau nâng đỡ mình. Có những người cầu nguyện cho chúng ta mà chúng ta không biết. Có những hy sinh dành cho chúng ta mà chúng ta chưa bao giờ nhận ra. Chúng ta thường nhớ những điều gây tiếng động, những biến cố lớn, những khuôn mặt nổi bật, nhưng đời sống của chúng ta còn được nuôi dưỡng bởi biết bao sự hiện diện lặng lẽ. Lễ Các thiên thần hộ thủ hôm nay giúp chúng ta mở mắt đức tin để nhận biết sự chăm sóc của Thiên Chúa. Người không dựng nên chúng ta rồi để chúng ta tự xoay xở giữa một thế giới đầy bất trắc. Người vẫn yêu thương, quan phòng, nâng đỡ và dẫn dắt chúng ta; trong chương trình yêu thương ấy, Người trao cho các thiên thần sứ mạng phục vụ và gìn giữ con người. Tuy nhiên, Hội Thánh không chọn cho ngày lễ hôm nay một bài Tin Mừng kể về một thiên thần xuất hiện trong ánh sáng huy hoàng. Hội Thánh cho chúng ta nghe một cuộc đối thoại giữa Đức Giê-su và các môn đệ, trong đó một em nhỏ được đặt vào giữa. Chính ở đây, chúng ta gặp được chiều sâu của ngày lễ: lòng kính mến các thiên thần hộ thủ phải đi cùng sự khiêm nhường trước Thiên Chúa và sự kính trọng đối với những người bé mọn.
Bài Tin Mừng mở đầu bằng câu hỏi: “Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời?” Câu hỏi ấy cho thấy các môn đệ vẫn còn mang trong lòng sự so sánh và mong muốn có một địa vị. Các ông đã đi theo Đức Giê-su, nghe lời Người, chứng kiến những việc Người làm, nhưng việc theo Thầy chưa tự động thanh luyện hết những tham vọng trong lòng. Con người có thể bước theo Chúa bằng đôi chân mà lòng vẫn quay về với những thước đo của thế gian. Các môn đệ hỏi về Nước Trời, nhưng câu hỏi của họ vẫn có dáng dấp của việc tìm chỗ cao thấp giữa một vương quốc trần thế. Ai hơn ai? Ai được ưu tiên? Ai có quyền? Ai ở gần Thầy nhất? Chúng ta đừng vội trách các ông, vì câu hỏi ấy vẫn âm thầm xuất hiện trong chính đời sống đạo của mình. Có khi chúng ta phục vụ giáo xứ mà rất mong được nhắc tên. Có khi chúng ta làm việc bác ái nhưng buồn vì người khác được khen nhiều hơn. Có khi chúng ta đóng góp công sức và rồi nghĩ mình có quyền quyết định mọi chuyện. Có khi chúng ta giữ một trách nhiệm trong hội đoàn và khó chịu khi người khác góp ý. Có khi chúng ta nói rằng mình làm tất cả vì Chúa, nhưng chỉ một lời thiếu ghi nhận cũng đủ khiến lòng mình cay đắng. Bài Tin Mừng mời chúng ta thành thật trước Chúa: điều gì đang thúc đẩy việc phục vụ của tôi? Tôi mong Chúa được yêu mến hay mong mình được coi trọng? Tôi muốn cộng đoàn lớn lên trong tình hiệp nhất hay muốn ý kiến của mình luôn thắng?
Chương 18 của Tin Mừng Mát-thêu hướng chúng ta đến đời sống cộng đoàn của những người theo Đức Giê-su. Những lời dạy về sự bé nhỏ, về việc tránh làm người khác vấp ngã, về con chiên lạc, về việc sửa lỗi và tha thứ được đặt trong cùng một mạch văn. Điều này giúp chúng ta hiểu rằng bài Tin Mừng hôm nay không chỉ nói về một tâm tình cá nhân. Đức Giê-su đang dạy các môn đệ cách sống với nhau. Một cộng đoàn có thể có nhiều tổ chức, nhiều hoạt động, nhiều người có khả năng, nhưng nếu thiếu sự khiêm nhường, những khả năng ấy có thể trở thành nguyên nhân của tranh chấp. Một gia đình có thể đủ điều kiện vật chất, nhưng nếu ai cũng muốn mình đúng, mình hơn, mình được phục vụ trước, mái nhà ấy sẽ thiếu bình an. Một giáo xứ có thể đông người tham dự, nhưng nếu người nghèo cảm thấy bị coi nhẹ, người mới đến cảm thấy xa lạ, người yếu đức tin cảm thấy bị phán xét, thì cộng đoàn vẫn cần được Tin Mừng biến đổi. Đức Giê-su không chỉ muốn các môn đệ đứng gần nhau; Người muốn họ biết yêu thương nhau theo cách của Người. Vì thế, trước câu hỏi ai lớn nhất, Người dẫn họ đến một cuộc hoán cải về cách nhìn con người và cách sử dụng trách nhiệm.
Đức Giê-su gọi một em nhỏ đến và đặt em vào giữa các ông. Hành động ấy thật giản dị nhưng mang sức mạnh lớn lao. Giữa những người đang nghĩ về địa vị, Người đặt một người không có địa vị đáng kể. Giữa những người đang bàn về sự lớn lao, Người đưa vào một người sống trong sự lệ thuộc. Giữa những người có thể tranh luận và bảo vệ quyền lợi của mình, Người đặt một người cần được bảo vệ. Trong bối cảnh xã hội thời ấy, trẻ nhỏ chưa có vị thế và khả năng tự quyết như người trưởng thành. Em phải nhờ người khác nuôi dưỡng, hướng dẫn, chăm sóc. Vì vậy, hình ảnh em nhỏ trong bài Tin Mừng không chỉ gợi sự dễ thương hay hồn nhiên. Đức Giê-su đang cho các môn đệ thấy một cách hiện diện không dựa vào quyền lực để khẳng định bản thân. Em nhỏ ấy chưa thể đem thành tích, tài sản hay ảnh hưởng ra để đòi một chỗ cao. Em hiện diện như một người cần được đón nhận. Khi đặt em vào giữa, Đức Giê-su cũng làm thay đổi trung tâm của sự quan tâm: những người mạnh phải nhìn đến người yếu; những người có tiếng nói phải học nghe người ít có tiếng nói; những người có trách nhiệm phải tự hỏi trách nhiệm của mình đang bảo vệ ai.
Chúng ta có thể đem hành động ấy về với gia đình mình. Ai đang được đặt ở giữa những quyết định trong nhà? Có phải chỉ là công việc, thu nhập, thành tích, danh dự hay những mong muốn của người lớn? Con cái có thực sự được lắng nghe không? Người già có được quan tâm không? Người đang đau yếu có được xem như một thành viên đầy phẩm giá hay chỉ như một gánh nặng phải giải quyết? Có những gia đình dành rất nhiều thời gian để bàn chuyện làm ăn nhưng rất ít thời gian để nghe một đứa trẻ kể về ngày sống. Có những mái nhà quan tâm đến điểm số của con nhiều hơn nỗi sợ của con. Có những người già sống giữa con cháu mà vẫn cô đơn vì không ai đủ kiên nhẫn ngồi nghe. Đặt người bé mọn vào giữa không có nghĩa là mọi yêu cầu của họ đều phải được đáp ứng, nhưng có nghĩa là đời sống, phẩm giá và nhu cầu thật của họ được cân nhắc nghiêm túc. Đức Giê-su mời chúng ta làm điều ấy. Một gia đình sống Tin Mừng phải có chỗ cho người không đủ sức tự giành lấy sự chú ý.
Sau hành động gọi em nhỏ, Đức Giê-su nói: “Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.” Các môn đệ đang hỏi về chỗ đứng cao nhất; Đức Giê-su nói đến điều kiện bước vào. Đây là một sự sửa dạy sâu xa. Chúng ta có thể bận tâm mình được đánh giá thế nào trong cộng đoàn mà quên xét mình có thực sự sống trong tương quan với Chúa hay không. Ta có thể quen thuộc với mọi sinh hoạt nhà thờ nhưng ít để lời Chúa chạm đến những chỗ cứng cỏi trong lòng. Ta có thể thuộc nhiều kinh nhưng chưa chịu tha thứ cho người thân. Ta có thể tham dự nhiều cuộc hành hương nhưng vẫn quen nói những lời làm người khác xấu hổ. Ta có thể bảo vệ những điều đúng về đạo mà lại thiếu kiên nhẫn với một người đang muốn tìm hiểu đạo. Đức Giê-su nói “trở lại”, nghĩa là phải đổi hướng. Trở lại từ sự tự mãn sang việc đón nhận ân sủng. Trở lại từ việc tranh phần hơn sang việc phục vụ. Trở lại từ lòng khép kín sang khả năng được sửa dạy. Trở lại từ cái tôi muốn kiểm soát mọi sự sang lòng tin tưởng nơi Chúa Cha. Đời sống đức tin không thể chỉ là thêm những thực hành bên ngoài; nó cần là một cuộc biến đổi bên trong.
Trở nên như trẻ nhỏ trước hết là nhận ra mình cần Thiên Chúa. Đứa trẻ sống nhờ được đón nhận và chăm sóc. Người tín hữu sống nhờ ân sủng và lòng thương xót. Chúng ta không tự ban cho mình sự sống, không tự tạo ra ơn cứu độ, không thể lấy thành tích để buộc Thiên Chúa phải yêu mình. Tình yêu của Chúa đi trước chúng ta. Chính tình yêu ấy mời gọi chúng ta đáp lại bằng đức tin và việc làm. Khi biết mình được yêu trước, ta có thể làm điều thiện với lòng biết ơn, thay vì luôn tính xem mình đã xứng đáng hơn người khác bao nhiêu. Khi biết mình cần được tha thứ, ta có thể bớt nghiêm khắc với những người đang vấp ngã. Khi biết mình còn giới hạn, ta có thể mở lòng trước lời góp ý. Người trưởng thành trong đức tin vẫn cần Chúa mỗi ngày. Càng hiểu sâu về mình, họ càng biết cầu nguyện; càng được trao trách nhiệm, họ càng biết tìm ý Chúa; càng có khả năng, họ càng biết tài năng cần được sử dụng trong tình yêu.
Tuy nhiên, trở nên như trẻ nhỏ không có nghĩa là giữ mãi một đời sống thiếu trưởng thành. Chúa không dạy chúng ta lười suy nghĩ, tránh trách nhiệm, tin mọi điều nghe được hay để người khác điều khiển mình. Người cha vẫn phải lo cho gia đình. Người mẹ vẫn phải phân định điều tốt cho con. Người trẻ vẫn phải học hành và lao động. Người có trách nhiệm trong giáo xứ vẫn phải đưa ra những quyết định khó. Sự bé nhỏ mà Chúa muốn là một thái độ khiêm nhường trong chính sự trưởng thành ấy. Chúng ta suy nghĩ bằng trí khôn Chúa ban, làm việc với khả năng Chúa trao, nhận trách nhiệm với sự nghiêm túc, nhưng không coi mình là người không bao giờ sai. Có người rất tự tin khi điều hành mọi việc mà lại không đủ can đảm xin lỗi. Có người có thể nói trước đông người nhưng không thể nghe một người dưới quyền góp ý. Có người hướng dẫn người khác cầu nguyện mà ít khi để lời Chúa hướng dẫn chính mình. Trở nên bé nhỏ là có khả năng đón nhận sự thật. Tôi có điều tốt và có điều cần sửa. Tôi có thể giúp người khác và cũng cần được giúp. Tôi có trách nhiệm nhưng không có quyền chà đạp ai. Một người biết như thế có thể đứng vững mà vẫn hiền hòa.
“Ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời.” Sự lớn lao được Đức Giê-su đặt trong tương quan với việc tự hạ. Tự hạ là tự do bước xuống khỏi nhu cầu phải hơn người khác. Ta không cần luôn là người nói cuối cùng. Ta không cần biến mọi cuộc trao đổi thành cuộc tranh thắng. Ta không cần làm người khác nhỏ lại để mình có vẻ lớn hơn. Một người có học có thể kính trọng người ít học. Một người có tiền có thể đón nhận sự giúp đỡ của người nghèo. Một người lớn tuổi có thể xin lỗi người trẻ. Một người giữ chức vụ có thể thừa nhận một quyết định của mình chưa phù hợp. Sự khiêm nhường ấy không làm mất uy tín; nó giúp uy tín có nền tảng trong sự thật. Trong gia đình, có những cuộc xung đột kéo dài vì cả hai người đều đợi người kia xuống trước. Trong cộng đoàn, có những bất hòa trở nên nặng nề vì ai cũng sợ nhận lỗi sẽ bị coi là yếu. Đức Giê-su mở cho chúng ta một con đường khác: người biết tự hạ có thể trở thành người mở đường cho hòa giải. Một lời xin lỗi chân thành có thể cứu một tương quan mà hàng trăm lời biện hộ không cứu được.
Cũng cần hiểu rằng tự hạ không phải là tự khinh. Chúa không muốn chúng ta phủ nhận phẩm giá của mình hay chịu đựng sự bạo hành như thể đó là đức khiêm nhường. Một người đang bị đánh đập, bị đe dọa hoặc bị xâm hại cần được bảo vệ. Một người bị đối xử bất công có thể tìm sự trợ giúp và lên tiếng cách chính đáng. Chúng ta không được dùng lời Chúa để buộc người yếu phải im lặng trước sự dữ. Tự hạ là từ bỏ kiêu căng; bảo vệ phẩm giá là tôn trọng điều Thiên Chúa đã trao cho con người. Hai điều ấy có thể đi cùng nhau. Người khiêm nhường vẫn có thể nói điều cần nói, đặt giới hạn cần đặt và bênh vực người cần được bênh vực. Họ làm như thế với sự thật và lòng can đảm, không vì muốn trả thù hoặc hạ nhục người khác. Đối với người giáo dân, đây là điểm rất quan trọng: sống hiền lành trong gia đình không có nghĩa là để điều ác tiếp tục làm tổn thương những người trong nhà. Yêu thương đòi hỏi chúng ta tìm cách chấm dứt điều gây hại và mở đường cho sự chữa lành.
Đức Giê-su nói tiếp: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy.” Lời ấy đưa lòng khiêm nhường vào một hành động cụ thể: tiếp đón. Chúng ta được mời dành chỗ cho người khác trong thời gian, trong sự quan tâm, trong đời sống của mình. “Vì danh Thầy” cho biết lý do sâu xa của việc đón tiếp: ta nhìn người ấy trong tương quan với Đức Giê-su, nhận ra họ được Người yêu thương. Một em nhỏ không thể đem lại cho chúng ta nhiều lợi ích xã hội. Em không có quyền lực, không có khả năng đáp lễ tương xứng, không thể bảo đảm địa vị cho người giúp em. Bởi thế, đón tiếp em là một thử thách đối với tính toán trong lòng. Ta có sẵn lòng giúp người không giúp lại mình được không? Ta có dành thời gian cho người không làm tăng danh tiếng của mình không? Ta có kính trọng người không thể đem đến cho mình một cơ hội không? Đức Giê-su gắn chính Người với việc đón tiếp ấy. Một người giáo dân có thể gặp Chúa trong việc kiên nhẫn chăm sóc con, trong việc đưa người già đến nhà thờ, trong việc lắng nghe một người đang đau khổ, trong việc giúp một người mới đến tìm được chỗ đứng trong cộng đoàn.
“Tiếp đón” cũng vượt quá việc mở cửa nhà. Có khi cửa nhà mở mà lòng vẫn đóng. Ta cho người khác đến nhưng luôn nhắc họ rằng họ đang làm phiền. Ta giúp họ nhưng liên tục kể lại điều mình đã giúp. Ta mời họ tham dự nhưng không để họ được góp tiếng nói. Ta trao quà nhưng dùng lời nói khiến họ thấy thấp kém. Đón tiếp theo Tin Mừng cần sự kính trọng. Người được giúp không mất phẩm giá vì đang cần giúp đỡ. Người nhận quà không trở thành món nợ của người cho. Người đến xin được đồng hành không phải là một vấn đề để chúng ta bàn tán. Trong đời sống mục vụ, đôi khi cách chúng ta gặp một người quan trọng không kém điều chúng ta làm cho họ. Một giọng nói dịu dàng, một cách hỏi tế nhị, một thái độ kín đáo có thể giúp họ giữ được lòng tin. Ngược lại, một lời chê bai có thể khiến họ không dám tìm đến nữa. Khi Đức Giê-su nói đón tiếp người bé nhỏ là đón tiếp Người, Người trao cho những cuộc gặp rất bình thường một chiều sâu thiêng liêng.
“Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này.” Lời cảnh báo ấy cho thấy thái độ khinh thường là điều nghiêm trọng. Sự khinh thường có thể xuất hiện trước khi có hành động gây hại rõ ràng. Nó làm cho người khác trở thành người không đáng được nghe, không đáng được quan tâm, không đáng được tôn trọng. Một đứa trẻ bị chế giễu nhiều lần có thể bắt đầu nghĩ rằng mình thực sự vô dụng. Một người nghèo bị tiếp đón lạnh nhạt có thể nghĩ nhà thờ không có chỗ cho mình. Một người khuyết tật bị xem là phiền phức có thể cảm thấy mình phải xin lỗi vì sự hiện diện của mình. Một người đang sống trong hoàn cảnh hôn nhân khó khăn có thể sợ tìm sự giúp đỡ vì nghĩ sẽ chỉ nhận lời kết án. Một người trẻ có câu hỏi về đức tin có thể im lặng mãi sau khi bị chê là thiếu đạo đức. Đức Giê-su nói “một ai”, nghĩa là không một người cụ thể nào được phép bị xem như không đáng kể. Tình yêu của cộng đoàn phải đủ gần để nhận ra từng khuôn mặt. Một người bị bỏ quên vẫn là điều cộng đoàn cần quan tâm, cho dù mọi hoạt động chung có vẻ thành công.
Trong chương 18, những người bé mọn còn được nhìn trong tương quan với đời sống môn đệ: những người yếu thế, dễ bị làm cho vấp ngã, dễ lạc xa và cần được nâng đỡ. Vì thế, khi áp dụng lời Chúa, chúng ta cần mở rộng sự quan tâm đến những người yếu đức tin, những người đang tập bước vào đời sống Hội Thánh, những người không có điều kiện hiểu biết nhiều. Có người đến nhà thờ sau nhiều năm xa cách và không biết phải bắt đầu từ đâu. Có người mới học đạo và chưa quen cách đọc kinh. Có người muốn xưng tội nhưng mang nỗi sợ và sự xấu hổ. Có người bị tổn thương bởi cách cư xử của một người trong cộng đoàn và đang phân vân có nên trở lại không. Với những người ấy, sự kiên nhẫn rất cần thiết. Ta hãy hướng dẫn mà không làm nhục, nói sự thật mà không đóng cửa, sửa lỗi mà vẫn giúp họ thấy có con đường tiến tới. Mỗi chúng ta cũng từng được nâng đỡ bởi sự kiên nhẫn của Chúa và của người khác. Khi nhớ điều ấy, ta sẽ bớt dễ dàng gạt bỏ một người đang đi chậm hơn mình.
Chính trong lời cảnh báo đừng khinh người bé mọn, Đức Giê-su nói: “Các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.” Lời ấy diễn tả sự gần gũi của các thiên thần với Thiên Chúa, đồng thời đặt người bé mọn trong sự quan tâm của Cha trên trời. Người bị con người xem nhẹ lại không bị Thiên Chúa quên. Người không có ảnh hưởng trong xã hội vẫn được trời cao chăm sóc. Ta không nên đọc câu này chỉ để thỏa mãn tò mò về thế giới vô hình. Đức Giê-su đang cho thấy lý do phải kính trọng người bé mọn. Thiên Chúa quan tâm đến họ, vì thế chúng ta phải cẩn trọng trong cách đối xử với họ. Càng kính mến các thiên thần hộ thủ, ta càng phải biết giữ gìn lời nói và hành vi của mình. Ta cầu xin được bảo vệ thì cũng cần tránh làm người khác bị tổn thương. Ta cảm tạ vì được chăm sóc thì cũng cần nhận ra ai đang cần sự chăm sóc của mình. Ta tin có sự chuyển cầu cho mình thì cũng hãy biết cầu nguyện cho người khác. Ngày lễ hôm nay gắn đời sống hướng về trời với trách nhiệm đối với người đang ở bên cạnh. IntraText
Vậy các thiên thần là ai? Hội Thánh dạy rằng các ngài là những thụ tạo thiêng liêng, có trí tuệ và ý chí, được Thiên Chúa dựng nên và phụng sự Người. Các ngài không phải những vị thần độc lập; các ngài thuộc về công trình tạo dựng và chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Các thiên thần cũng không phải linh hồn của người đã qua đời trở thành một loài khác. Con người và thiên thần là những thụ tạo khác nhau. Những đôi cánh trong nghệ thuật giúp diễn tả sự mau mắn và sứ mạng, nhưng không phải là cách mô tả thân thể của các ngài. Đức Ki-tô là trung tâm của thế giới thiên thần. Bởi thế, lòng kính mến các ngài cần giúp chúng ta yêu mến Chúa hơn. Khi xin thiên thần hộ thủ chuyển cầu, ta nhận biết sự giúp đỡ ấy đến từ lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Ta tôn kính các ngài, cảm tạ về sứ mạng các ngài thực hiện, và cùng các ngài hướng lòng về Chúa. Giáo lý Hội Thánh dạy rằng cuộc sống con người được bao bọc bởi sự chăm sóc và lời chuyển cầu của các thiên thần từ lúc bắt đầu đến khi lìa đời. Đây là nền tảng để ta sống lòng biết ơn và phó thác, ngay cả khi không nhìn thấy những gì đang nâng đỡ mình. vatican.va
Danh xưng “hộ thủ” giúp chúng ta nghĩ đến việc gìn giữ và đồng hành. Nhưng sự gìn giữ ấy phải được nhìn trong toàn bộ hành trình hướng về Thiên Chúa. Chúng ta thường quan tâm trước hết đến sự an toàn của thân xác, sự thuận lợi của công việc và sự bình an trước mắt. Những điều ấy đáng được cầu xin. Tuy nhiên, đời sống con người còn có những nguy hiểm sâu hơn: đánh mất lương tâm, quen với sự gian dối, nuôi thù hận, làm điều ác mà không còn thấy áy náy, sống xa Chúa và xa người khác. Khi cầu xin thiên thần hộ thủ, ta cũng hãy xin được gìn giữ trong sự thật, được nâng đỡ khi bị cám dỗ, được giúp trung thành với bổn phận và biết quay về khi vấp ngã. Có những ngày chúng ta không gặp tai nạn nào nhưng lại làm tổn thương một người bằng lời nói. Có những công việc thành công nhưng đạt được bằng sự bất công. Có những cuộc tranh luận ta thắng mà tương quan lại tan vỡ. Sự an toàn thật của người tín hữu còn gắn với việc sống trong tình yêu và ân sủng. Được gìn giữ trên đường cứu độ là điều quý giá mà chúng ta cần nhớ khi cầu nguyện.
Lễ hôm nay cũng giúp chúng ta sửa một cách hiểu dễ gây đau khổ: nghĩ rằng có thiên thần hộ thủ thì mình sẽ không bao giờ gặp bệnh tật, tai nạn, thất bại hay mất mát. Nếu nghĩ như vậy, khi đau khổ xảy đến, ta dễ cho rằng Chúa đã bỏ quên mình. Nhưng đời sống đức tin không cho phép chúng ta đồng nhất sự quan phòng với việc mọi thử thách đều được lấy đi. Chính Đức Giê-su đã đi qua đau khổ và cái chết. Người tín hữu có thể được yêu thương sâu xa mà vẫn phải mang một thập giá nặng. Có khi ta thoát khỏi nguy hiểm và chân thành cảm tạ Chúa. Có khi ta chịu một mất mát mà chưa hiểu được, vẫn chỉ có thể khóc và cầu nguyện. Trong cả hai hoàn cảnh, ta được mời gắn bó với Chúa. Không ai có quyền lấy sự may mắn của mình làm bằng chứng mình được Chúa thương hơn, rồi nhìn nỗi đau của người khác như dấu hiệu họ thiếu đức tin. Khi một gia đình có người qua đời, khi một trẻ em mắc bệnh nặng, khi một người gặp tai nạn, điều cần làm là hiện diện, cầu nguyện, chăm sóc và giúp đỡ. Những lời giải thích vội vàng có thể khiến họ đau thêm. Chúng ta có thể không biết vì sao điều ấy xảy đến, nhưng vẫn có thể cùng họ đặt lòng tin nơi Chúa.
Tin vào sự gìn giữ của Chúa cũng đòi chúng ta cộng tác bằng sự khôn ngoan. Người lái xe cầu nguyện trước khi lên đường vẫn cần giữ luật giao thông, tỉnh táo và bảo đảm an toàn. Cha mẹ xin thiên thần bảo vệ con vẫn phải quan tâm con đang sinh hoạt ở đâu, với ai, và có điều gì khiến con lo sợ. Người bệnh phó thác vẫn cần được khám chữa và chăm sóc. Người làm việc nguy hiểm vẫn phải sử dụng các phương tiện bảo hộ. Cầu nguyện giúp chúng ta chu toàn trách nhiệm với lòng tin cậy. Chúng ta không thể cố ý hành động bất cẩn rồi đòi Chúa phải giải quyết hậu quả. Một lời kinh trước chuyến đi có thể trở thành lời nhắc: hôm nay tôi sẽ bớt nóng vội, không tranh đường, không dùng điện thoại khi lái xe, không để sự bực bội của mình đe dọa người khác. Một lời cầu nguyện cho con có thể dẫn cha mẹ đến việc dành thêm thời gian lắng nghe con. Một lời xin Chúa gìn giữ gia đình có thể giúp vợ chồng ngừng nói những lời xúc phạm. Ân sủng mời chúng ta đáp lại bằng những hành động cụ thể.
Khi nói về sự hướng dẫn của thiên thần hộ thủ, chúng ta cũng cần phân định. Một giấc mơ, một cảm xúc mạnh, một ý nghĩ thoáng qua hoặc một sự trùng hợp chưa đủ để kết luận đó là thông điệp từ thiên thần. Điều quan trọng là lựa chọn của ta có phù hợp với Tin Mừng, với sự thật, với bổn phận và với tình yêu thương hay không. Một ý nghĩ thúc đẩy ta khinh người khác, che giấu sai trái, hành động liều lĩnh hoặc bỏ bê trách nhiệm không thể được biện minh bằng danh nghĩa thiên thần. Khi phải quyết định việc hệ trọng, ta cần cầu nguyện, tìm hiểu, lắng nghe lời khuyên của người khôn ngoan và cân nhắc hậu quả. Hội Thánh cũng khuyên tránh tự đặt tên cho thiên thần hộ thủ, đồng thời tránh cách giải thích giản lược rằng mọi thành công đều do thiên thần và mọi trở ngại đều do ma quỷ. Lòng sùng kính lành mạnh đưa chúng ta đến sự trưởng thành trong Đức Ki-tô. Nó giúp chúng ta khiêm nhường, tỉnh thức, biết ơn và có trách nhiệm. Ta có thể cầu nguyện rất đơn sơ: xin thiên thần Chúa chuyển cầu, gìn giữ và giúp con trung thành với điều thiện. Một lời cầu nguyện như thế không cần những điều ly kỳ để có chiều sâu. vatican.va
Đối với cha mẹ, lễ Các thiên thần hộ thủ là một dịp quý giá để nhìn lại việc chăm sóc con cái. Khi Đức Giê-su đặt em nhỏ vào giữa, Người mời người lớn nhìn em như một con người có phẩm giá, có cảm xúc, có nhu cầu được hiểu và được bảo vệ. Chăm sóc con không thể chỉ là bảo đảm con ăn đủ, học tốt và có những gì cần dùng. Một đứa trẻ cũng cần được nghe, được an ủi, được hướng dẫn và được phép nói thật về những điều làm mình đau. Có những em không dám kể chuyện bị bắt nạt vì sợ cha mẹ trách mình yếu đuối. Có những em không dám nói mình buồn vì luôn được nghe rằng mình đã có đủ mọi thứ. Có những em che giấu sai lầm vì mỗi lần nói thật đều bị làm nhục. Cha mẹ cần tạo một môi trường trong đó con biết rằng điều sai sẽ được sửa, nhưng con vẫn được yêu thương. Khi con kể chuyện đáng lo, hãy bình tĩnh lắng nghe và tìm cách bảo vệ. Khi con thất bại, hãy giúp con nhận ra điều cần học và bước tiếp. Khi con có câu hỏi về đức tin, hãy cùng con tìm hiểu. Một đứa trẻ biết mình được đón nhận sẽ dễ học phó thác nơi Thiên Chúa hơn.
Cha mẹ có thể dạy con kính mến thiên thần hộ thủ bằng những lời đơn giản: Thiên Chúa yêu con, Người cho thiên thần chăm sóc và chuyển cầu cho con; con hãy cầu nguyện, sống thật thà, làm điều thiện và tìm người đáng tin giúp khi gặp khó khăn. Đừng dùng hình ảnh thiên thần như một người vô hình chuyên rình bắt lỗi để làm trẻ sợ. Giáo dục đức tin cần giúp trẻ biết mình được yêu thương, đồng thời hiểu trách nhiệm của mình. Khi con nói dối, hãy giúp con can đảm nói thật và sửa hậu quả. Khi con làm đau bạn, hãy hướng dẫn con xin lỗi và bù đắp. Khi con lo âu, hãy cùng con cầu nguyện và tìm cách giải quyết. Trước giờ ngủ, một lời kinh ngắn, một lời cảm tạ và một cuộc trò chuyện nhỏ có thể tạo nên một ký ức đức tin lâu bền. Trẻ em học về Thiên Chúa không chỉ qua những lời giải thích, mà còn qua cách cha mẹ cư xử. Nếu cha mẹ biết xin lỗi, trẻ học được sự khiêm nhường. Nếu cha mẹ biết giữ lời, trẻ học được lòng tin. Nếu cha mẹ biết giúp người yếu, trẻ hiểu rằng tình thương cần có hành động. Lời kinh kính thiên thần hộ thủ sẽ trở nên sống động khi em thấy mình thực sự được gìn giữ trong mái nhà.
Đối với giáo lý viên và những người phục vụ thiếu nhi, bài Tin Mừng mời gọi một sự kiên nhẫn rất cụ thể. Trong một lớp học, có em hiểu nhanh, có em cần được giải thích thêm; có em mạnh dạn, có em sợ phát biểu; có em được gia đình hướng dẫn nhiều, có em gần như phải tự tìm đường. Một em đọc sai không nên bị biến thành trò cười. Một em học chậm không nên bị gắn nhãn là vô dụng. Một em nghịch ngợm có thể đang cần được hướng dẫn rõ ràng, cũng có thể mang một nỗi đau mà người lớn chưa biết. Chúng ta vẫn cần kỷ luật và sự công bằng, nhưng kỷ luật phải nhằm giúp em trưởng thành. Lời sửa dạy cần đủ rõ để em biết điều phải làm và đủ kính trọng để em không bị đánh mất lòng tự trọng. Người phục vụ thiếu nhi cần nhớ rằng một lời nói có thể ở lại rất lâu trong ký ức của trẻ. Ta có thể trở thành người giúp một em yêu mến Hội Thánh, hoặc khiến em sợ bước vào cộng đoàn. Khi ý thức điều ấy, ta sẽ cầu nguyện nhiều hơn, chuẩn bị kỹ hơn và cẩn trọng hơn trong cách cư xử.
Đối với giáo xứ, việc kính mến các thiên thần hộ thủ cần đi cùng việc xây dựng môi trường an toàn cho trẻ em và những người dễ bị tổn thương. Các lớp giáo lý, buổi sinh hoạt, giờ tập hát, chuyến đi và hoạt động có người lớn đồng hành với trẻ cần được tổ chức với trách nhiệm rõ ràng và sự minh bạch. Trẻ em cùng phụ huynh cần biết có thể tìm đến ai khi có điều khiến mình lo lắng. Khi một em nói về việc bị đe dọa, bạo hành hoặc xâm hại, người lớn phải nghiêm túc lắng nghe, bảo vệ em và tìm sự hỗ trợ thích hợp. Không được dùng việc giữ thể diện của một người hay hình ảnh của cộng đoàn để khiến em im lặng. Lời “chớ khinh một ai” nhắc chúng ta không xem nhẹ tiếng nói của người yếu chỉ vì họ chưa diễn đạt mạch lạc hoặc vì người bị phản ánh có địa vị. Một cộng đoàn kính sợ Chúa phải đủ khiêm nhường để kiểm tra cách mình hoạt động, sửa thiếu sót và đặt sự an toàn của người bé mọn vào sự quan tâm thực sự. Tình thương được giảng trên giảng đài cần có hình hài trong cách tổ chức và xử lý những điều xảy ra giữa cộng đoàn.
Ngoài việc bảo vệ trẻ em, giáo xứ còn được mời đón nhận những người ít có khả năng tự tìm chỗ đứng. Người di dân mới đến có thể không biết ai và không quen cách sinh hoạt. Người nghèo có thể ngại tham gia vì sợ những khoản đóng góp. Người già có thể không đi lại được và dần biến mất khỏi sự chú ý. Người khuyết tật có thể gặp trở ngại ngay từ việc bước vào nhà thờ. Một người đang khủng hoảng hôn nhân có thể không dám tìm đến vì sợ bị bàn tán. Một người lâu năm xa đạo có thể muốn trở về mà không biết nói với ai. Cộng đoàn hãy cố gắng có những cánh cửa dễ bước vào: một người sẵn lòng hướng dẫn, một cách tiếp đón thân thiện, một lời mời không gây áp lực, một sự giúp đỡ kín đáo. Chúng ta hãy tự hỏi ai đã lâu không xuất hiện, ai đang cần được thăm, ai chưa từng được hỏi ý kiến, ai thường phải tự lo trong khi những người khác được quan tâm. Bài Tin Mừng không cho phép chúng ta chỉ nhìn vào những người đang có mặt đông đủ và vui vẻ. Nó dẫn chúng ta đến cả người bị bỏ quên.
Đối với những người có trách nhiệm trong Hội Thánh, câu hỏi của các môn đệ luôn là một lời cảnh tỉnh. Người được trao trách nhiệm cần thường xuyên xét lại mình có đang phục vụ hay đang đòi được phục vụ. Trách nhiệm đòi quyết đoán, nhưng cũng đòi lắng nghe. Quyền hướng dẫn đi cùng bổn phận giải thích, chăm sóc và chịu trách nhiệm. Một người lãnh đạo có thể làm người khác sợ bằng sự nóng giận, nhưng sự sợ hãi ấy không tạo nên lòng tin. Một người có thể buộc mọi người im lặng, nhưng sự im lặng chưa chắc là đồng thuận. Đức Giê-su đặt em nhỏ vào giữa để nhắc rằng người yếu phải được bảo vệ trong cách người mạnh sử dụng quyền. Trong một cuộc họp, hãy quan tâm người chưa dám lên tiếng. Trong một quyết định, hãy nghĩ đến người chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Khi có lỗi, hãy đủ can đảm nhận lỗi. Khi một người góp ý, hãy xem đó là cơ hội tìm điều tốt hơn. Sự khiêm nhường của người có trách nhiệm có thể giúp cả cộng đoàn học khiêm nhường; sự kiêu căng của họ cũng có thể gây tổn thương sâu rộng.
Đối với người trẻ, ngày lễ hôm nay có thể mang một lời giải thoát trước áp lực phải liên tục chứng minh giá trị của mình. Nhiều bạn đang sống giữa những thước đo về ngoại hình, thành tích, thu nhập, việc làm và mức độ được chú ý. Khi không đạt điều người khác đạt, các bạn dễ nghĩ mình thất bại hoặc không đáng được yêu. Đức Giê-su đặt một em nhỏ vào giữa để nhắc rằng con người có phẩm giá trước khi có thành tích để trình bày. Bạn được Thiên Chúa yêu thương, và tình yêu ấy mời bạn phát triển khả năng với lòng tự do. Bạn cần cố gắng, nhưng không phải lúc nào cũng cần thắng người khác. Bạn có thể nhận ra giới hạn mà không coi mình vô giá trị. Bạn có thể xin giúp đỡ mà không xem đó là điều xấu hổ. Nếu đang gặp khó khăn, hãy tìm người đáng tin để chia sẻ. Nếu đã làm sai, hãy can đảm sửa lại. Nếu bị bắt nạt hay làm nhục, hãy lên tiếng và tìm sự bảo vệ. Nếu một người bạn đang buồn, hãy ở gần và lắng nghe. Tin vào sự quan phòng có thể giúp bạn đi qua cuộc đời với lòng can đảm, đồng thời trở thành người đem lại sự an toàn cho người khác.
Trong thế giới mạng, lời “chớ khinh một ai” cần được giữ trước mắt mỗi ngày. Một lời chế giễu được chia sẻ nhanh có thể để lại nỗi đau lâu dài. Một hình ảnh trẻ em bị phát tán có thể khiến em mất sự riêng tư. Một câu chuyện chưa được kiểm chứng có thể làm hỏng danh dự của một người. Khi nhìn qua màn hình, ta dễ quên phía bên kia là một con người có gia đình, có phẩm giá, có những nỗi sợ và giới hạn. Đừng để khoảng cách của màn hình làm lòng mình trở nên lạnh. Trước khi bình luận, hãy hỏi lời này có đúng không, có cần không, có giúp ích không. Trước khi chuyển một hình ảnh, hãy nghĩ người trong ảnh có được tôn trọng không. Trước khi hùa vào một cuộc công kích, hãy nhớ lời Chúa về người bé mọn. Đôi khi cách sống ngày lễ Các thiên thần hộ thủ rất cụ thể là dừng lại một bình luận độc ác, không chuyển một tin làm nhục người khác, nhắn một lời động viên cho người đang bị cô lập, hoặc giúp một em nhỏ biết tìm sự bảo vệ trước điều nguy hiểm trên mạng. Đức tin cần đi vào cả những nơi bàn tay chúng ta chạm đến mỗi ngày.
Đối với người bệnh, người già và những người cô đơn, ngày lễ hôm nay nhắc rằng sự yếu đuối không làm giảm phẩm giá của mình. Khi không còn làm được nhiều việc, người ta dễ nghĩ mình trở thành gánh nặng. Khi phải nhờ người khác chăm sóc, người ta có thể thấy xấu hổ. Khi sống một mình, người ta có thể nghĩ chẳng còn ai nhớ đến. Xin hãy nhớ em nhỏ được Đức Giê-su đặt vào giữa: người cần được chăm sóc có chỗ trong tình yêu của Chúa. Ông bà không cần làm được nhiều việc để xứng đáng được yêu. Người bệnh không mất giá trị vì phải nằm trên giường. Người đang chịu đau khổ tinh thần không trở thành người kém đức tin chỉ vì lòng chưa tìm được bình an. Có những ngày lời cầu nguyện chỉ còn là một tiếng thở dài. Có những ngày ta chỉ đủ sức thưa: “Lạy Chúa, xin ở với con.” Lời ấy vẫn có thể là lời cầu nguyện chân thành. Đồng thời, cộng đoàn phải biến sự an ủi thành hiện diện. Khi nói Chúa không bỏ một người, chúng ta cũng hãy cố gắng không bỏ mặc họ. Một cuộc thăm viếng, một bữa ăn, một chuyến đưa đi khám, một lần thay người chăm sóc có thể làm tình thương trở nên gần gũi.
Ngày lễ còn mời chúng ta học biết phục vụ âm thầm. Có những việc tốt chẳng ai chụp ảnh. Có những người thức đêm chăm bệnh mà không được nhắc đến. Có những người dọn dẹp nhà thờ, chuẩn bị cho lớp giáo lý, đưa đón người già, cầu nguyện cho một người đang lạc xa, và cứ tiếp tục như thế qua nhiều năm. Sự âm thầm có thể làm người ta mệt, nhất là khi thấy những việc khác được chú ý nhiều hơn. Nhưng một điều tốt không được người đời nhìn thấy vẫn có giá trị trước mặt Chúa. Chúng ta vẫn cần nâng đỡ nhau, biết cảm ơn nhau và chia sẻ trách nhiệm cho công bằng. Đồng thời, mỗi người cũng cần học đặt công việc của mình trong tương quan với Chúa để tiếng khen không trở thành nguồn sống duy nhất. Khi làm một điều tốt, ta có thể dâng điều ấy cho Chúa và xin Người dùng nó vì ích lợi của một người. Như vậy, ta bớt bị nhốt trong câu hỏi mình đã được ghi nhận chưa. Ta được tự do hơn để làm điều cần làm.
Đôi khi chúng ta nói theo nghĩa hình ảnh rằng một người đã như “thiên thần” đối với mình vì họ đến giúp đúng lúc. Một người nhặt lại đồ đánh rơi, một người đưa đến bệnh viện, một người lắng nghe giữa cơn khủng hoảng, một người giúp gia đình qua lúc khó khăn: những cuộc gặp ấy có thể khiến ta cảm nhận tình thương của Chúa. Con người vẫn là con người, nhưng có thể cộng tác với sự quan phòng bằng lòng tốt. Lễ hôm nay giúp chúng ta nhớ lại những người đã âm thầm gìn giữ đời sống mình. Ai đã kiên nhẫn với tôi khi tôi khó sống? Ai đã nói một lời thật giúp tôi dừng trước điều sai? Ai đã cầu nguyện cho tôi khi tôi không còn muốn cầu nguyện? Ai đã đón tôi khi tôi tưởng mình không còn chỗ? Hãy biết cảm tạ Chúa và cảm ơn những người ấy. Rồi hãy tự hỏi mình có thể trở thành một người đáng tin cho ai. Có thể hôm nay Chúa không đòi một việc lớn, nhưng mời ta trả lời một cuộc gọi, đến thăm một người, nói một lời bênh vực hoặc giữ im lặng trước một điều cần được giữ kín.
Sự gìn giữ cũng gắn với việc giúp nhau tránh điều làm hại linh hồn. Yêu thương không phải là đồng ý với mọi lựa chọn của người mình yêu. Cha mẹ có khi phải đặt giới hạn cho con. Bạn bè có khi phải can đảm khuyên nhau dừng một việc sai. Người trong cộng đoàn có khi phải góp ý về một cách làm gây hại. Nhưng việc sửa dạy cần được thực hiện với lòng khiêm nhường, nhớ rằng chính mình cũng cần được sửa. Một lời góp ý chân thành tìm ích lợi của người khác; một lời mỉa mai thường chỉ làm họ đau và chống lại. Hãy chọn lúc thích hợp, nói điều cụ thể, tránh làm nhục trước đám đông, và sẵn lòng giúp người ấy sửa lại. Trong gia đình, đừng chỉ nhắc lỗi; hãy cùng tìm cách thay đổi. Trong giáo xứ, đừng chỉ nói ai đó thiếu sót; hãy giúp họ hiểu trách nhiệm và có điều kiện chu toàn. Lòng kính mến thiên thần hộ thủ có thể giúp ta cầu xin một tâm hồn ngay thẳng trước khi mở miệng: xin cho điều con nói hướng đến sự sống và giúp người này đến gần Chúa hơn.
Có một chiều sâu khác của ngày lễ mà chúng ta cần đem vào đời sống: chúng ta cần học nhận sự giúp đỡ. Nhiều người sẵn lòng chăm sóc người khác nhưng rất khó để người khác chăm sóc mình. Họ sợ bị xem là yếu, sợ mắc nợ, sợ phải thừa nhận giới hạn. Tuy nhiên, em nhỏ trong bài Tin Mừng nhắc rằng đời sống không thể chỉ được xây trên khả năng tự lo. Có lúc ta phải nói mình đang mệt, đang buồn, đang thiếu điều cần thiết, đang không biết giải quyết thế nào. Nhận sự giúp đỡ với lòng biết ơn cũng là một cách sống khiêm nhường. Người đang đau khổ cần có thể tìm đến cộng đoàn mà không bị coi là phiền. Người phục vụ cần có thể xin nghỉ khi quá sức. Người giữ trách nhiệm cần có thể nhờ người khác cùng gánh vác. Gia đình cần có thể tìm sự đồng hành trước khi mọi chuyện trở nên quá nặng. Khi chúng ta biết cho và biết nhận, tình hiệp thông trở nên thật hơn. Mỗi người được nhìn như một thành viên có thể nâng đỡ và cũng cần được nâng đỡ.
Để ngày lễ hôm nay sinh hoa trái, mỗi người hãy chọn một việc cụ thể. Buổi sáng, trao ngày sống cho Chúa và xin thiên thần hộ thủ chuyển cầu để mình biết trung thành với điều thiện. Trong gia đình, dành thời gian nghe một người mà mình thường cắt lời. Khi nóng giận, dừng lại trước khi nói điều làm nhục. Khi đã sai, xin lỗi và sửa điều có thể sửa. Trong cộng đoàn, hỏi thăm một người lâu nay bị bỏ quên. Khi thấy ai bị khinh thường, tìm cách bênh vực họ cách điềm tĩnh. Với con cái, giúp chúng nói thật và biết tìm sự bảo vệ. Với người già, kiên nhẫn nghe một câu chuyện được kể lại. Với người nghèo, giúp bằng cách giữ gìn phẩm giá của họ. Trước khi ngủ, xét lại ngày sống: tôi đã đón nhận sự chăm sóc của Chúa bằng cách nào? Tôi có để cái tôi làm ai đau không? Tôi đã tiếp đón ai vì danh Chúa? Tôi có khinh một người nào qua lời nói, cái nhìn hoặc sự dửng dưng không? Những câu hỏi ấy giúp lời kinh đi vào đời sống và làm cho lòng sùng kính trở thành một con đường hoán cải.
Kính thưa cộng đoàn, hôm nay chúng ta đến với Chúa bằng những tâm tư khác nhau. Có người lo cho con, có người cầu cho một chuyến đi, có người xin được chữa lành, có người đang mang nỗi buồn không thể nói hết. Chúng ta hãy trao những điều ấy cho Chúa với lòng tin tưởng. Nhưng khi ra về, xin đừng quên em nhỏ mà Đức Giê-su đặt vào giữa. Chính em nhỏ ấy giúp chúng ta nhận ra mình còn phải trở lại. Chúng ta được yêu thương để biết yêu thương; được chăm sóc để biết chăm sóc; được tha thứ để học tha thứ; được gìn giữ để có trách nhiệm gìn giữ đời sống của người khác. Một người biết mình ở trong tình thương của Chúa có thể bớt tranh phần hơn, bớt sợ bị quên, bớt cần hạ thấp người khác. Họ có thể làm điều tốt với lòng tự do và kính trọng những người yếu thế. Nếu sau ngày lễ, gia đình có thêm một lời xin lỗi, trẻ em được nghe nhiều hơn, người già được thăm, người nghèo được đón tiếp, một người bị tổn thương tìm được chỗ an toàn, thì lời Chúa đã bắt đầu sinh hoa trái giữa chúng ta.
Lạy Chúa Giê-su, chúng con cảm tạ Chúa vì tình thương không ngừng gìn giữ đời sống chúng con. Chúng con cảm tạ Chúa vì các thiên thần hộ thủ được Chúa trao sứ mạng chăm sóc và chuyển cầu cho chúng con trên đường về với Chúa Cha. Xin giúp chúng con biết sống trong lòng tin cậy, không tự mãn khi được bình an, không tuyệt vọng khi gặp thử thách, không bất cẩn trước trách nhiệm và không khép lòng trước sự giúp đỡ. Chúng con nhiều lần vẫn hỏi ai lớn hơn, ai đáng được chú ý hơn, ai phải được ưu tiên hơn. Xin gọi chúng con trở lại, đặt trước mắt chúng con những người bé mọn và dạy chúng con biết tự hạ. Xin ban cho chúng con lòng can đảm nhận lỗi, sự kiên nhẫn để lắng nghe và sự khôn ngoan để sửa điều cần sửa. Xin gìn giữ trẻ em khỏi điều gây hại, nâng đỡ những người đang bị tổn thương, an ủi người bệnh và người cô đơn. Xin giúp các gia đình biết yêu thương bằng sự hiện diện, giúp giáo xứ biết đón tiếp bằng lòng kính trọng, giúp những người có trách nhiệm biết dùng trách nhiệm để phục vụ. Xin cho không ai phải cảm thấy mình bị khinh thường khi đến với cộng đoàn chúng con. Xin giúp chúng con nhận ra Chúa nơi người cần được đón nhận và biết dùng những gì mình có để bảo vệ sự sống, phẩm giá và đức tin của anh chị em. Trong giờ phút cuối của hành trình trần thế, xin nâng đỡ chúng con bằng lòng thương xót, để chúng con được cùng các thiên thần và các thánh ca ngợi Chúa trong sự sống đời đời. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.

Previous articleTIN GHCG NGÀY 2 THÁNG 10 – 2026 Lm. Anmai, CSsR tổng hợp