Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) 4 tháng 11 – 2026 – Lm. Anmai, CSsR

18

Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) 4 tháng 11 – 2026 – Lm. Anmai, CSsR

THỨ 4 TUẦN 31 THƯỜNG NIÊN MỤC TỬ NHÂN LÀNH VÀ SỰ HIẾN DÂNG TRỌN VẸN TRONG ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN VÀ TÔNG ĐỒ – Lm. Anmai, CSsR

Thứ Tư Tuần 31 – Mùa Thường Niên ÁNH SÁNG CỦA LÒNG BÁC ÁI VÀ ĐỜI SỐNG CANH TÂN TRONG GIÁO HỘI – Lm. Anmai, CSsR

Ca nhập lễ
Lạy Chúa, là Thiên Chúa chúng tôi, xin đừng bỏ rơi tôi, và xin đừng lìa xa tôi. Lạy Chúa là quền lực phần rỗi tôi, xin phù giúp tôi.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, chỉ nhờ Chúa ban ơn, các tín hữu Chúa mới có thể thờ Chúa cho phải đạo, xin giúp đỡ chúng con thẳng tiến về cõi trời Chúa hứa và không bị vấp ngã trên đường. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc : Pl 2, 12-18
“Anh em hãy lo cho mình được ơn cứu độ; Thiên Chúa tạo nên trong anh em cả ý muốn lẫn việc làm”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philipphê.
Anh em thân mến, như anh em vẫn luôn luôn vâng lời, không phải trong lúc tôi có mặt mà thôi, nhưng hơn nữa, cả lúc này là lúc tôi vắng mặt, anh em cũng phải kinh hãi run sợ mà lo cho mình được ơn cứu độ. Vì chưng, Thiên Chúa là Ðấng tạo nên trong anh em cả ý muốn lẫn việc làm theo sở định của Người.
Anh em hãy thi hành mọi việc, đừng kêu ca và nghi ngại, để anh em biến thành những người không có gì đáng chê trách, và trở nên những người con vẹn toàn không ai bắt lỗi được của Thiên Chúa ở giữa một thế hệ hư hốt và gian tà. Giữa những kẻ ấy, anh em hãy chiếu sáng ra như những vì sao trong vũ trụ, hãy tích trữ lời hằng sống, để làm sáng danh tôi trong ngày của Ðức Kitô, vì tôi đã không bôn tẩu cách hư luống và đã không uổng công lao nhọc.
Và nếu tôi phải đổ máu làm lễ vật tiến dâng vì đức tin anh em, tôi sẽ vui mừng và hân hoan với tất cả anh em. Và cả anh em nữa, anh em cũng sẽ được vui mừng và hân hoan với tôi.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 26, 1. 4. 13-14
Ðáp: Chúa là sự sáng và là Ðấng cứu độ tôi (c. 1a).
Xướng: Chúa là sự sáng, là Ðấng cứu độ, tôi sợ chi ai? Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai?
Xướng: Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi, hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa, và chiêm ngưỡng thánh điện của Ngài.
Xướng: Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa!
Alleluia: Cv 16, 14b
Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, xin hãy mở lòng chúng con, để chúng con nghe lời của Con Chúa. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 14, 25-33
“Ai không từ bỏ tất cả của cải mình có, thì không thể làm môn đệ Ta”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, có nhiều đám đông cùng đi với Chúa Giêsu, Người ngoảnh lại bảo họ rằng: “Nếu ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Ta. Còn ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không thể làm môn đệ Ta. Và có ai trong các ngươi muốn xây tháp mà trước tiên không ngồi tính toán phí tổn cần thiết, xem có đủ để hoàn tất không, kẻo đặt móng rồi mà không thể hoàn tất, thì mọi người xem thấy sẽ chế diễu người đó rằng: “Tên này khởi sự xây cất mà không hoàn thành nổi”.
“Hoặc có vua nào sắp đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên không ngồi suy nghĩ xem mình có thể đem mười ngàn quân ra đương đầu với đối phương dẫn hai mươi ngàn quân tiến đánh mình chăng? Bằng chẳng nổi, thì khi đối phương còn ở xa, vua ấy sai một phái đoàn đến cầu hoà. Cũng thế, bất kỳ ai trong các ngươi không từ bỏ tất cả của cải mình có, thì không thể làm môn đệ Ta”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin cho bánh rượu chúng con dâng trở nên của lễ tinh tuyền trước nhan Chúa và đem lại cho chúng con nguồn ơn phúc dồi dào. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Lạy Chúa, xin chỉ cho tôi biết đường lối trường sinh, và xin cho tôi no đầy hoan hỉ trước thiên nhan.
Hoặc đọc:
Chúa phán: cũng như Cha là Đấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta chính người ấy cũng sống nhờ Ta.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, chúng con vừa được Mình và Máu Ðức Kitô bồi dưỡng, xin Chúa tăng cường hoạt động nơi chúng con, để chúng con được sẵn sàng lãnh nhận những ơn lành Chúa hứa cho những ai tham dự bí tích này. Chúng con cầu xin….
Suy niệm

LỜI NGUYỆN NGÀY 04 THÁNG 11
THÁNH CA-RÔ-LÔ BO-RÔ-MÊ-Ô, GIÁM MỤC
Xin cho chúng con một trái tim tận tụy phục vụ
Lạy Chúa Giêsu, Mục Tử nhân lành, trong ngày kính nhớ thánh Ca-rô-lô Bo-rô-mê-ô, chúng con đến bên Chúa để xin học lại cách yêu thương và phục vụ. Chúng con tạ ơn Chúa đã ban cho Hội Thánh một vị mục tử hết lòng chăm sóc đoàn chiên, nhiệt thành gìn giữ đức tin và quảng đại đến với những người đau khổ. Xin cho gương sáng của thánh nhân đánh thức nơi chúng con lòng yêu mến Chúa, để giữa những bổn phận thường ngày, chúng con biết sống có trách nhiệm, làm việc có lương tâm và quan tâm đến những người đang cần được nâng đỡ.
Lạy Chúa, chúng con xin dâng lên Chúa Đức Giáo hoàng, các giám mục, linh mục và phó tế. Xin gìn giữ các ngài trong tình yêu Chúa, ban cho các ngài sự khôn ngoan để hướng dẫn, lòng can đảm để bảo vệ sự thật và sự hiền lành để đồng hành với những tâm hồn yếu đuối. Xin cho các mục tử biết lắng nghe trước khi khuyên bảo, biết tìm hiểu trước khi xét đoán, biết đến gần những người đang xa cách cộng đoàn. Giữa bao công việc và lo toan, xin cho các ngài luôn có thời gian ở lại với Chúa trong cầu nguyện, để lời giảng được nuôi dưỡng bằng đức tin và việc phục vụ được nâng đỡ bằng ân sủng.
Xin thương những mục tử đang mệt mỏi, những người âm thầm chịu đựng cô đơn, bệnh tật và những hiểu lầm trong sứ vụ. Có những nỗi buồn các ngài không biết chia sẻ cùng ai, những cố gắng chưa đem lại kết quả và những trách nhiệm vượt quá sức mình. Xin Chúa ở bên, nâng đỡ và giúp các ngài tìm được sự trợ giúp cần thiết. Xin cho chúng con biết cầu nguyện, cộng tác và quan tâm đến các ngài bằng tình thương chân thành. Xin giúp cả mục tử lẫn đoàn chiên biết nhận lỗi, sửa đổi và cùng nhau xây dựng một cộng đoàn bình an.
Lạy Chúa Giêsu, nhờ lời chuyển cầu của thánh Ca-rô-lô, xin khơi dậy trong Hội Thánh lòng nhiệt thành đào tạo những người phục vụ Tin Mừng. Xin chúc lành cho các chủng sinh, những người đang phân định ơn gọi và những người có trách nhiệm đồng hành với họ. Xin cho việc học hỏi đi cùng đời sống cầu nguyện, cho hiểu biết đức tin dẫn đến sự khiêm nhường và lòng bác ái. Xin giúp mỗi người được đào tạo biết trưởng thành trong nhân cách, thành thật với chính mình và quảng đại đáp lại tiếng Chúa gọi.
Chúng con cũng xin Chúa làm mới đời sống đức tin của từng người chúng con. Xin tha thứ vì có lúc chúng con đòi hỏi người khác thay đổi nhưng lại chậm sửa mình; dễ nhìn thấy thiếu sót của cộng đoàn nhưng ít góp sức xây dựng; nói nhiều về lòng bác ái mà chưa kiên nhẫn với người trong nhà. Xin giúp chúng con bắt đầu từ những việc cụ thể: giữ một lời hứa, chu toàn một trách nhiệm, nói một lời ngay thật, xin lỗi người mình đã làm tổn thương. Xin cho chúng con biết đón nhận lời góp ý và can đảm từ bỏ những thói quen đang làm nghèo đi đời sống thiêng liêng.
Lạy Chúa, xin hướng lòng chúng con về những người nghèo, người bệnh và những ai đang bị bỏ quên. Xin cho chúng con nhận ra nỗi vất vả phía sau một gương mặt lặng lẽ, sự bất lực phía sau một lời than phiền và nhu cầu được yêu thương phía sau một thái độ khó gần. Xin ban cho chúng con đôi tay sẵn sàng giúp đỡ, đôi tai biết lắng nghe và một trái tim đủ kiên nhẫn để ở lại. Khi không thể giải quyết hết khó khăn của người khác, xin cho chúng con vẫn biết chia sẻ một phần gánh nặng và cùng họ tìm sự nâng đỡ.
Xin chúc lành cho những người dạy giáo lý, những người phục vụ trong các hội đoàn và những người âm thầm chăm lo công việc giáo xứ. Xin giữ họ khỏi nản lòng khi công sức không được ghi nhận, khỏi tự mãn khi được khen ngợi và khỏi chia rẽ vì những khác biệt. Xin cho cộng đoàn chúng con biết quý trọng từng người, dành chỗ cho người nhỏ bé và trao trách nhiệm với sự tin tưởng. Xin giúp chúng con phục vụ bằng lòng yêu mến, biết cộng tác và biết vui trước điều tốt người khác thực hiện.
Lạy Chúa Giêsu, mỗi lần tham dự Thánh lễ và đón rước Chúa, xin làm cho lòng chúng con thêm gắn bó với Chúa và với anh chị em. Xin cho lời kinh tiếp tục trong cách chúng con sống, cho điều chúng con nghe trở thành điều chúng con thực hành. Nhờ lời chuyển cầu của thánh Ca-rô-lô Bo-rô-mê-ô, xin giúp chúng con trung thành trong những bổn phận nhỏ, bền lòng giữa thử thách và tận tụy yêu thương đến cùng. Xin dùng cuộc đời chúng con để đem sự an ủi đến cho một người, niềm hy vọng đến cho một gia đình và tình thương Chúa đến cho những nơi chúng con hiện diện. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.

SỨ VỤ MỤC TỬ VÀ HÀNH TRÌNH CANH TÂN ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU DƯỚI ÁNH SÁNG MẦU NHIỆM THẬP GIÁ
Kính thưa quý cộng đoàn, khi suy ngắm về hành trình trần thế của những chứng nhân đức tin vĩ đại, tâm hồn chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động trước một tình yêu tuyệt đối mà Thiên Chúa đã đổ tràn vào lịch sử nhân loại. Trong dòng chảy của thời gian, có những con người đã để cho ánh sáng Tin Mừng biến đổi triệt để tâm hồn, trở nên những hiện thân sống động của Vị Mục Tử Nhân Lành giữa trần gian. Cuộc đời và sứ vụ của thánh nhân mà Giáo Hội mừng kính hôm nay chính là một minh chứng hùng hồn cho chân lý ấy: một con người đã dám sống trọn vẹn từng nhịp đập của trái tim cho đoàn chiên, đã lấy thập giá làm la bàn duy nhất cho mọi bước đường, và đã hoàn tất cuộc đời trong sự phó thác tuyệt đối vào lòng thương xót Chúa. Khi nhìn ngắm tấm gương lịch sử ấy, chúng ta không chỉ đọc lại một trang sử quá khứ, nhưng đang đối diện với một lời mời gọi khẩn thiết và sâu thẳm cho chính cuộc đời chúng ta hôm nay: lời mời gọi bước theo Chúa Kitô đến cùng, canh tân toàn diện đời sống bản thân và kiến tạo một cộng đoàn hiệp nhất trong tình yêu đích thực.
Bất kỳ sứ vụ đích thực nào trong Giáo Hội cũng phải phát xuất từ một nguồn cội duy nhất và linh thiêng nhất, đó là sự hiệp kết mật thiết với Thiên Chúa. Vị mục tử chân chính không bao giờ hành động dựa trên sức lực, tài năng hay tham vọng riêng tư của mình, nhưng hoàn toàn bước đi trong ánh sáng của Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Hình ảnh vị mục tử anh dũng hướng đôi mắt thẳm sâu về phía trước, dán chặt ánh nhìn vào Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh trong giờ phút lâm終, là một biểu tượng tuyệt đẹp và đầy quyền năng. Đó không phải là sự bế tắc của một cuộc đời đi đến hồi kết, mà là đỉnh cao của một hành trình trọn đời kết hợp với Đấng Tối Cao.
Khi con người ta đặt trọn vẹn niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa, nhìn ngắm thập giá với tấm lòng thành kính sâu xa, thì mọi bão tố và thử thách của cuộc đời trần thế đều trở nên nhỏ bé. Thập giá không còn là biểu tượng của sự thất bại hay đau thương tuyệt vọng, mà đã trở thành ngọn hải đăng soi sáng, là trường học của lòng yêu mến và là nguồn mạch của sức mạnh nội tâm. Vị mục tử đích thực là người biết lắng nghe tiếng Chúa, để Lời Chúa thấm nhập vào từng mạch máu tư tưởng, nhào nặn tâm can, thanh luyện ước muốn và định hình mọi quyết định mục vụ. Lời Chúa không nằm trên môi miệng, nhưng đã trở thành chính lẽ sống, là hơi thở, là nguồn động lực mãnh liệt biến đổi từ sâu thẳm tâm can con người.
Hơn thế nữa, nguồn mạch của đời sống mục tử còn được khơi nguồn từ chính ơn thánh của Bí Thử Phép Rửa. Phép Rửa không chỉ là một nghi thức tôn giáo được thực hiện trong quá khứ, mà là một cuộc vượt qua vĩ đại từ cõi chết bước vào cõi sống, từ cuộc sống ích kỷ sang đời sống chan hòa tình yêu thương huynh đệ. Chính tình yêu phát xuất từ Bí Tích Rửa tội ấy đã trao ban cho mỗi Kitô hữu một phẩm giá cao quý, đồng thời đặt để vào tâm hồn họ sứ mạng làm chứng nhân cho ánh sáng giữa lòng thế giới. Khi một mục tử ý thức sâu sắc về ơn gọi thanh cao này, ngài sẽ không quản ngại bất kỳ gian khổ nào, bởi vì ngài biết rằng mình không đơn độc; đi bên cạnh ngài, dẫn dắt từng bước đi là Vị Mục Tử Tối Cao, Đấng hằng mở đường qua những thung lũng âm u nhất của lịch sử nhân loại.
Lịch sử cứu độ luôn chứng minh rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi dân Ngài trong những thời khắc đen tối và gian truân nhất. Khi Giáo Hội đối mặt với những thử thách lớn lao, những khủng hoảng nội tâm hay những trào lưu tục hóa làm lung lay nền tảng đức tin, Thiên Chúa thường dấy lên những vị ngôn sứ can đảm, những con người của hành động và của sự thật để đổi mới và thanh luyện Nhiệm Thể Ngài. Công cuộc canh tân Hội Thánh chưa bao giờ là một lý thuyết suông hay những văn bản hành chính khô khan, mà là kết quả của một ngọn lửa bừng cháy từ bên trong tâm hồn những người dám yêu mến Chúa hết lòng.
Để thực hiện công cuộc canh tân vĩ đại ấy, sự thay đổi phải luôn bắt đầu từ chính bản thân những kẻ làm đầu, từ những người mang trọng trách lãnh đạo đoàn chiên. Nguyên tắc vàng của mọi sự cải cách chân chính trong Giáo Hội luôn là sự dấn thân gương mẫu: người mục tử phải là người đi đầu trong việc tuân giữ luật Chúa, thanh tẩy ý hướng và sống trọn vẹn những gì mình rao giảng. Sự giả hình hay sự buông lỏng kỷ luật trong đời sống tâm linh sẽ tạo ra những vết thương sâu hoắm trong lòng cộng đoàn. Ngược lại, khi các chủ chăn can đảm đứng lên canh tân chính mình, từ bỏ những thói hư tật xấu, sống khiêm nhường và nghèo khó theo gương Thầy Chí Thánh, thì đoàn chiên sẽ tự nguyện bước theo với một lòng tin tưởng tuyệt đối và sự vâng phục con thảo.
Công cuộc đổi mới ấy đòi hỏi một tầm nhìn rộng mở, một lòng kiên định không gì lay chuyển và một tinh thần tuân phục tuyệt đối đối với những định hướng lớn của Hội Thánh hoàn vũ. Giống như vị thánh mục tử xưa đã không quản ngại gian lao, lặn lội khắp nơi để đem tinh thần canh tân của các công đồng lớn vào trong đời sống cụ thể của giáo phận nhà, mỗi Kitô hữu hôm nay cũng được mời gọi mang tinh thần đổi mới đó vào trong từng ngóc ngách của đời sống thường nhật. Canh tân không phải là phá bỏ truyền thống, mà là khơi nguồn sống động từ cội nguồn đích thực của Tin Mừng, loại bỏ những rườm rà hình thức để làm rạng ngời lên khuôn mặt tinh tuyền và thánh thiện của Hội Thánh giữa trần gian.
Cuộc đời của một người mục tử chân chính không bao giờ được đo lường bằng sự yên bình giả tạo hay những tràng pháo tay tán thưởng của thế gian, mà thường được thử lửa qua những nghịch cảnh, bách hại và đau thương. Thế giới này, với những góc khuất tăm tối của ích kỷ, hận thù và tội lỗi, đôi khi biến thành một thung lũng bóng tối rợn ngợp, nơi mà con người dễ dàng gục ngã vì sợ hãi và cô đơn. Chính trong những hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, bản lĩnh, đức tin và tình yêu hy sinh của vị mục tử mới được bộc lộ một cách rực rỡ nhất.
Khi dịch bệnh hoành hành, khi đói kém bủa vây, hay khi những cuộc khủng hoảng xã hội đe dọa sự sinh tồn của cộng đồng, một kẻ chăn chiên hèn nhát sẽ tìm cách tháo chạy để bảo vệ sự an toàn cho bản thân. Ngược lại, vị mục tử mang trái tim của Chúa Giêsu sẽ tiến thẳng vào tâm bão, đem theo hơi ấm của tình người, ánh sáng của hy vọng và ơn sủng của các bí tích đến cho những mảnh đời đau khổ. Đối với ngài, mạng sống của đoàn chiên quý giá hơn sinh mạng của chính mình. Sự hiện diện âm thầm nhưng đầy quả cảm bên giường bệnh của những người nhiễm bệnh, những lời an ủi vỗ về kẻ hấp hối, và những nỗ lực không mệt mỏi để tổ chức cứu trợ, đem lại trật tự và bình an giữa cơn hỗn loạn, chính là ngôn ngữ hùng hồn nhất của một tình yêu không bờ bến.
Sự kiên cường ấy không đến từ bản năng tự nhiên, mà phát xuất từ một đời sống cầu nguyện thâm sâu và sự phó thác tuyệt đối vào quyền năng Thiên Chúa. Vị mục tử biết rằng, dẫu có phải bước qua thung lũng âm u nhất, ngài cũng chẳng phải sợ điều gì dữ, bởi vì gậy và trượng của Chúa luôn ở bên để chở che, an ủi và dẫn dắt. Sự đau khổ, khi được đón nhận trong tình yêu thương và sự kết hợp với cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, không còn là sức mạnh hủy diệt, mà trở thành hạt giống trổ sinh hoa trái cứu độ cho biết bao linh hồn. Đó chính là đỉnh cao của sự thánh thiện: biến những thung lũng nước mắt thành suối nguồn ơn thánh, và biến những đau thương của trần世 thành khúc ca khải hoàn của lòng thương xót Chúa.
Mục đích tối thượng của mọi công cuộc canh tân, của mọi nỗ lực mục vụ và hy sinh gian khổ, chính là xây dựng một cộng đoàn dân Chúa trở thành hình ảnh phản chiếu sự thánh thiện của Thiên Chúa Ba Ngôi. Sự thánh thiện trong quan điểm của các bậc thầy tâm linh vĩ đại không bao giờ là một đặc ân dành riêng cho một vài cá nhân siêu việt sống ẩn dật trong tu viện, mà là ơn gọi chung dành cho tất cả mọi thành phần trong dân Chúa: từ những mục tử đứng đầu giáo phận cho đến từng người giáo dân âm thầm lao động trong gia đình và xã hội.
Để kiến tạo một cộng đoàn thánh thiện, trước hết cần phải tái thiết lại đời sống gia đình và các giáo xứ thông qua việc củng cố nền tảng giáo dục đức tin. Việc thành lập các chủng viện đào tạo linh mục thánh thiện, việc tổ chức các kỳ công nghị, hội nghị giáo phận và các sinh hoạt mục vụ cơ sở không nằm ngoài mục đích đưa Lời Chúa vào trong cuộc sống thường nhật của từng con người. Vị mục tử đích thực không cai trị đoàn chiên bằng quyền lực độc đoán hay những hình phạt nghiêm khắc, mà cai trị bằng tình phụ tử, bằng sự thấu hiểu sâu sắc những nhu cầu thiêng liêng lẫn vật chất của con dân mình. Ngài biết rõ từng con chiên, gọi tên từng người, lắng nghe những thao thức của họ và dìu dắt họ đi trên con đường sự thật.
Sự hiệp nhất trong cộng đoàn được nuôi dưỡng qua bàn tiệc Lời Chúa và Thánh Thể. Khi mọi thành phần trong Giáo Hội cùng nhau quy tụ chung quanh bàn thờ, cùng hướng về một Chúa, một đức tin, một phép rửa, thì những chia rẽ, đố kỵ và ích kỷ của con người tự khắc bị đẩy lùi. Một cộng đoàn hiệp nhất không phải là một cộng đoàn không có mâu thuẫn hay khác biệt, mà là một cộng đoàn biết đặt tình yêu thương lên trên hết, biết tha thứ cho nhau, cùng nhau chia sẻ buồn vui và nâng đỡ nhau trong những lúc yếu đuối sa ngã. Đó chính là bức tranh sống động về Nước Trời giữa trần gian, thu hút những tâm hồn đang tìm kiếm ánh sáng và lẽ sống bước vào đoàn chiên của Chúa.
Không thể nói đến một đời sống mục tử chân chính nếu thiếu đi chiều kích của lòng thương xót vô biên đối với những người nghèo khổ, bệnh tật và bị gạt ra bên lề xã hội. Trái tim của Đấng Kitô luôn rộng mở để đón nhận những mảnh đời bất hạnh nhất, và một mục tử chân chính không thể có một trái tim khép kín trước những tiếng kêu cứu của anh chị em đồng loại. Sự quan tâm đến người nghèo không phải là một hành động bác ái ban ơn bố thí từ trên cao xuống, mà là một sự chia sẻ thân phận, một thái độ tôn trọng phẩm giá cao quý mà Thiên Chúa đã phú bẩm cho mỗi con người.
Trong những năm tháng mục vụ đầy chông gai, thánh nhân đã không quản ngại tiêu pha tài sản, dốc cạn tâm sức để lập ra các tổ chức bác ái, bệnh xá, nhà trọ cho người vô gia cư và những người đói rách. Ngài nhìn thấy khuôn mặt đau khổ của Chúa Giêsu hiển hiện nơi từng người hành khất bên lề đường, nơi những đứa trẻ mồ côi và những người già cả cô đơn. Tình yêu đối với người nghèo chính là thước đo chính xác nhất cho mức độ chân thành của đức tin chúng ta. Một đức tin không có hành động bác ái, không mang lại cơm bánh cho người đói, không mang lại niềmủi an cho kẻ bất hạnh, thì đó chỉ là một đức tin chết chéo, vô ích.
Hơn thế nữa, lòng thương xót còn đòi hỏi sự nhẫn nại trong việc tha thứ và nâng đỡ những ai sa ngã. Thay vì lên án hay ruồng bỏ những kẻ lầm đường lạc lối, vị mục tử nhân lành luôn kiên nhẫn chờ đợi, mở rộng đôi tay ôm ấp và dẫn dắt họ trở về với nguồn ơn sủng của Chúa. Chính thái độ bao dung, nhân hậu nhưng kiên quyết với tội lỗi ấy đã chạm đến tận tâm can của những con người lầm lạc, biến những kẻ tội lỗi thành những chứng nhân lòng thương xót. Đó chính là sức mạnh biến đổi kỳ diệu của Tin Mừng, một sức mạnh không chiến thắng bằng gươm giáo hay bạo lực, nhưng bằng sự hiến tế của tình yêu và lòng xót thương vô biên.
Khi nhìn lại dòng chảy lịch sử bốn thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày vị đại thánh mục tử giã từ cõi thế để bước vào vinh quang vĩnh cửu của Thiên Chúa, chúng ta không chỉ dừng lại ở những lời ca tụng hay những nghi thức tưởng niệm hình thức. Di sản lớn nhất mà ngài để lại cho Giáo Hội không phải là những văn kiện lập pháp đồ sộ, những ngôi đền nguy nga hay những thiết chế tôn giáo hoành tráng, mà chính là một mẫu gương sống động về sự thánh thiện toàn diện: một con người đã đốt cháy trọn vẹn cuộc đời mình cho vinh quang Thiên Chúa và phần rỗi các linh hồn.
Cuộc đời của thánh nhân nhắc nhở mỗi Kitô hữu chúng ta rằng, ơn gọi nên thánh không phải là một đặc ân xa vời dành riêng cho quá khứ, mà là mệnh lệnh khẩn thiết cho hiện tại. Dù chúng ta đang sống trong bậc sống nào – linh mục, tu sĩ hay giáo dân giữa đời – chúng ta đều được mời gọi để biến cuộc đời mình thành một khúc ca ngợi khen Thiên Chúa qua từng hành động nhỏ nhặt nhất hằng ngày. Sự trung thành với những cam kết trong Bí Thích Rửa Tội, lòng nhiệt thành trong việc loan báo Tin Mừng, tinh thần dấn thân phục vụ anh chị em nghèo khổ và thái độ kiên vững giữa những giông bão cuộc đời chính là những viên đá quý để xây dựng nên đền thờ tâm hồn thánh thiện dâng lên Thiên Chúa.
Hơn bao giờ hết, thế giới hôm nay đang rất cần những con người có trái tim rộng mở, có đôi mắt tràn đầy hy vọng và có đôi bàn tay sẵn sàng xắn áo phục vụ. Giữa một xã hội đôi khi quá đỗi vô cảm, chạy theo những giá trị vật chất mau qua và những thứ danh vọng ảo huyền, hình ảnh của một vị mục tử một lòng hướng về thập giá, tận tụy vì đoàn chiên, chính là lời chất vấn lương tâm mạnh mẽ nhất. Ngài mời gọi chúng ta hãy vượt qua sự sợ hãi, buông bỏ cái tôi ích kỷ để bước ra vùng ngoại biên của sự dửng dưng, đem ngọn lửa tình yêu của Chúa Kitô sưởi ấm những cõi lòng đang lạnh giá cô đơn.
Khép lại những trang suy niệm sâu lắng về sứ vụ mục tử và con đường canh tin đời sống Kitô hữu, tâm hồn chúng ta lại hướng về niềm hy vọng lớn lao và vĩnh cửu mà Thiên Chúa đã hứa ban cho những ai trung kiên bước theo Ngài đến cùng. Sự chết đối với một người môn đệ chân chính không phải là điểm chấm hết tồi tệ của một sinh mệnh, mà là ngưỡng cửa bước vào sự sống viên mãn trong nhà Cha. Giống như vị thánh muôn vàn kính yêu trong giờ phút cuối đời đã hướng trọn vẹn ánh mắt về hình ảnh Chúa chịu đóng đinh, để rồi nhắm mắt trong bình an sâu thẳm, mỗi chúng ta cũng được mời gọi sống từng ngày trong sự tỉnh thức và sẵn sàng đón nhận giờ phút gặp gỡ vị Thôn Sư nhân hậu.
Niềm hy vọng ấy chính là nguồn năng lượng siêu nhiên giúp chúng ta vượt qua mọi mỏi mệt, chán chường và cám dỗ buông xuôi giữa dòng đời nghiệt ngã. Chúng ta biết rằng mọi hy sinh âm thầm, mọi giọt nước mắt vì công lý, mọi tấm lòng quảng đại chia sẻ chén cơm manh áo cho người nghèo, và mọi nỗ lực canh tân bản thân từng ngày đều được ghi khắc trọn vẹn trong trái tim nhân hậu của Thiên Chúa. Không một giọt nước mắt nào rơi hoài công, không một nỗ lực yêu thương nào bị lãng quên trong kế hoạch quan phòng kỳ diệu của Đấng Tối Cao.
Xin cho lời chuyển cầu của vị thánh vĩ đại – người mục tử mẫu mực của đoàn chiên – tiếp tục chở che, đồng hành và soi sáng bước chân của Giáo Hội nói chung và của từng người chúng ta nói riêng trong hành trình đức tin hôm nay. Nguyện xin Chúa Thánh Thần canh tân tâm hồn chúng ta, thổi bùng lên trong chúng ta ngọn lửa nhiệt thành tông đồ, để mỗi người chúng ta, bằng chính đời sống bác ái, khiêm nhường và can đảm, trở thành những chứng nhân sống động cho tình yêu cứu độ của Thiên Chúa giữa lòng thế giới tục hóa này. Xin cho cuộc đời chúng ta, từ khởi sự cho đến khi hoàn thành, luôn là một bài ca tụng tuyệt vời dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi, Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
Lm. Anmai, CSsR

ÁNH SÁNG CỦA LÒNG BÁC ÁI VÀ ĐỜI SỐNG CANH TÂN TRONG GIÁO HỘI
Ánh sáng của tình yêu Thiên Chúa luôn là nguồn mạch vô tận nuôi dưỡng và làm cho Hội Thánh của Đức Kitô mãi mãi giữ được sức xuân tươi trẻ, dẫu cho dòng thời gian có trải qua biết bao thăng trầm, giông bão hay những thử thách ngặt nghèo. Trong lịch sử cứu độ cũng như qua hành trình lữ hành trần thế, Thiên Chúa chưa bao giờ bỏ rơi dân Ngài. Ngược lại, chính vào những thời điểm lịch sử tế nhị, phức tạp và đầy rẫy khủng hoảng, Ngài lại dấy lên những vị mục tử anh dũng, những con người được ánh sáng ân sủng biến đổi tận căn để trở thành ngọn hải đăng soi đường chỉ lối cho đoàn chiên. Việc kỷ niệm các mốc son lịch sử của những bậc vĩ nhân trong đời sống đức tin không chỉ là dịp để tôn vinh quá khứ, mà còn là cơ hội thiêng liêng để toàn thể cộng đoàn dân Chúa lắng nghe tiếng Chúa mời gọi canh tân, hoán cải và dấn thân trọn vẹn cho Tin Mừng.
Nhìn lại bối cảnh lịch sử của những thời kỳ đau thương và đầy rẫy sự chia rẽ, ta thấy rõ sự mong manh của thân phận con người khi đối diện với những cám dỗ trần thế, sự suy đồi của các phong tục đạo đức và sự khủng hoảng trầm trọng trong đời sống đức tin. Thế nhưng, giữa đêm tối của trần gian ấy, Thiên Chúa đã minh chứng rằng tình yêu của Ngài mạnh hơn sự chết và sự dữ. Sự thánh thiện luôn là câu trả lời đanh thép nhất, sâu sắc nhất và có sức thuyết phục mạnh mẽ nhất đối với mọi cuộc khủng hoảng của nhân loại. Một cuộc cải tổ chân chính và bền vững trong Hội Thánh chưa bao giờ bắt đầu từ việc lên án người khác, đòi hỏi thiên hạ phải thay đổi, hay chỉ trích những bất cập của cấu trúc xã hội bên ngoài. Trái lại, công cuộc canh tân đích thực luôn phải khởi đi từ chính cõi lòng sâu thẳm của mỗi mục tử và từng tín hữu qua một cuộc hoán cải triệt để.
Sự dấn thân từ bỏ những vinh quang trần thế, những bảo đảm vật chất hay địa vị cao sang để đáp lại tiếng gọi thiêng liêng đòi hỏi một sự can đảm phi thường. Con người thường dễ bị ràng buộc bởi sự an toàn giả tạo, bởi những tiện nghi và danh vọng mà cuộc đời mang lại. Tuy nhiên, khi một linh hồn được chạm đến bởi ơn thánh, khi ánh mắt của Đức Kitô Mục Tử xuyên thấu tâm can, mọi giá trị trần thế bỗng trở nên nhỏ bé. Việc từ bỏ ý riêng, từ bỏ quyền lực và những tham vọng cá nhân không phải là một sự mất mát, mà là cánh cửa mở ra sự tự do đích thực trong Chúa Thánh Thần. Chính sự từ bỏ ấy tạo nên khoảng trống cần thiết để tình yêu Thiên Chúa tràn ngập và làm chủ toàn bộ cuộc đời con người, biến những yếu đuối mỏng giòn thành những khí cụ sắc bén trong tay Đấng Tối Cao.
Bản chất của đời sống mục tử không thể tách rời khỏi hy tế của Thập Giá và mầu nhiệm Thánh Thể. Bất kỳ ai được sai đi để chăm sóc đoàn chiên của Chúa đều phải mang lấy tâm tình của Người Mục Tử nhân lành, Đấng sẵn sàng hiến mạng sống vì đoàn chiên. Thánh Thể không chỉ là nguồn mạch nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng mà còn là trường học dạy về tình yêu tự hiến. Đứng trước bàn thờ, chiêm ngắm tấm bánh bẻ ra và máu đổ ra vì nhân loại, người mục tử học được bài học về sự quên mình, về việc đặt nhu cầu của tha nhân lên trên lợi ích cá nhân. Đời sống cầu nguyện thâm sâu bên cạnh Bí tích Thánh Thể chính là cội nguồn phát sinh mọi hoạt động bác ái tông đồ. Không có sự kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu trong kinh nguyện và chiêm niệm, mọi nỗ lực mục vụ bên ngoài sẽ chỉ là những hoạt động xã hội khô khan, thiếu sức sống và không thể chạm đến tâm hồn con người.
Bên cạnh đó, lòng thương xót và sự dấn thân phục vụ người nghèo khổ là thước đo trung thực nhất cho mức độ trưởng thành trong đời sống đức tin. Tình yêu đích thực không dừng lại ở những lời nói hoa mỹ hay những lý thuyết suông trên trang giấy, nhưng phải được thể hiện bằng hành động cụ thể, bằng sự dấn thân xả thân vì những người khốn cùng, bệnh tật, bị gạt bên lề xã hội. Khi đối diện với những cơn dịch bệnh hoành hành, những thảm họa hay sự bất công của xã hội, người môn đệ Chúa không được phép trốn chạy hay tìm sự an toàn cho riêng mình. Trái lại, chính trong những hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, ánh sáng của lòng bác ái Kitô giáo mới tỏa rạng rỡ nhất. Sự hiện diện âm thầm nhưng kiên cường bên cạnh những người đau khổ, sự sẵn sàng chia sẻ từnget miếng cơm manh áo, và việc thiết lập những cấu trúc bác ái thiết thực là bằng chứng hùng hồn nhất về sự hiện diện của Thiên Chúa giữa trần gian.
Công cuộc giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ cũng đóng một vai trò quyết định đối với tương lai của Hội Thánh và xã hội. Tuổi trẻ là mùa xuân của cuộc đời, là thời điểm con người đứng trước những ngã rẽ quan trọng và có khả năng đưa ra những quyết định mang tính quyết định cho cả tương lai. Thiên Chúa luôn gọi mời những người trẻ dâng hiến sức trẻ, nhiệt huyết và khả năng của mình cho lý tưởng cao đẹp của Tin Mừng. Việc vun trồng đời sống đạo đức, xây dựng các trường phái giáo lý, củng cố các chủng viện và tạo môi trường sinh hoạt lành mạnh cho thanh thiếu nhi không chỉ là công việc quản trị hành chính, mà là một sứ mạng cứu rỗi linh hồn. Người trẻ cần được nhìn nhận không chỉ là niềm hy vọng của tương lai, mà họ chính là hiện tại đầy sống động của thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô. Khi người trẻ dám can đảm đặt trọn niềm tin nơi Chúa, từ bỏ những cám dỗ tầm thường để hướng về sự thánh thiện, họ trở thành kho báu vô giá của cộng đoàn đức tin.
Đời sống kỷ luật, hãm mình và từ bỏ ý riêng không phải là thứ hình thức khắc nghiệt bóp nghẹt con người, mà là phương thế linh dược giúp thanh luyện tâm hồn khỏi những bợn nháp của tội lỗi. Trong một thế giới mê muội vì hưởng thụ, việc thực hành tinh thần khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục trở thành một lời ngôn sứ mạnh mẽ chống lại dòng chảy tục hóa. Sự nghiêm khắc đối với bản thân của một vị mục tử chân chính không xuất phát từ sự cay nghiệt hay độc đoán, nhưng phát sinh từ lòng trắc ẩn lớn lao đối với các tội nhân. Chịu đựng gian khổ, chấp nhận nhục nhã và kiên nhẫn gánh vác thập giá hằng ngày là con đường duy nhất dẫn đến sự biến đổi nội tâm và mang lại ơn cứu độ cho nhiều người.
Hiệp thông sâu xa với Đấng kế vị Thánh Phêrô và với toàn thể Hội Thánh hoàn vũ cũng là điều kiện cốt yếu để gìn giữ sự tinh tuyด của đức tin. Sự vâng phục trong đức tin không làm mất đi phẩm giá con người, nhưng giải phóng con người khỏi cái tôi ích kỷ để hòa mình vào dòng chảy truyền thống tông truyền sống động. Qua muôn thế hệ, dù trần gian có thay đổi với bao trào lưu tư tưởng phức tạp, kho tàng đức tin được trao phó cho Hội Thánh vẫn luôn được gìn giữ nguyên vẹn nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần và sự trung thành của các mục tử chân chính.
Mỗi người tín hữu, từ hàng giáo phẩm đến giáo dân, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay, đều được mời gọi bước vào con đường nên thánh ấy. Sự thánh thiện không phải là đặc quyền dành riêng cho một vài cá nhân siêu việt trong quá khứ, mà là ơn gọi phổ quát dành cho tất cả mọi người chịu phép rửa. Sống thánh thiện giữa lòng đời hiện đại đòi hỏi một sự kiên định phi thường, một đời sống cầu nguyện không mệt mỏi và một trái tim tràn đầy lòng bác ái vị tha. Khi mỗi người biết dâng hiến trọn vẹn tuổi xuân, thời gian, tài năng và cuộc sống của mình cho Chúa, thì dẫu cho thế giới chung quanh có đối mặt với bao nhiêu bóng tối và thử thách, ánh sáng của tình yêu Thiên Chúa vẫn sẽ tiếp tục chiếu soi, sưởi ấm và biến đổi nhân loại theo muôn ngàn cách thế kỳ diệu của Ngài.
Lm. Anmai, CSsR

SỐNG MÀ KHÔNG CÓ THÁNH GIÁ THÌ KHÔNG THỂ SỐNG TRONG TÌNH YÊU
Kính thưa quý ông bà và anh chị em,
Trong hành trình đức tin Kitô giáo, có những thực tại mang sức mạnh biến đổi toàn bộ vận mệnh nhân loại, nhưng đồng thời cũng là những thực tại vấp phạm lớn nhất đối với lý trí tự nhiên của con người. Thánh Giá Đức Giêsu Kitô chính là thực tại ấy. Khi nhìn vào mầu nhiệm Thập Giá, thế giới tục hóa nhìn thấy sự thất bại, sự ngu muội, nỗi đau đớn cùng cực và sự kết thúc của mọi hy vọng. Thế nhưng, dưới ánh sáng của đức tin Công giáo, qua lăng kính của ơn thánh và qua kinh nghiệm sống của các vị thánh muôn đời, Thánh Giá lại chính là ngai tòa của tình yêu tuyệt đối, là trường học duy nhất dạy cho chúng ta biết nghệ thuật yêu thương đích thực, và là con đường hẹp duy nhất dẫn bước chúng ta vào sự sống vĩnh cửu.
Nhìn lại lịch sử cứu độ và truyền thống thánh thiện của Giáo Hội, chúng ta bắt gặp những ngọn hải đăng rực rỡ đã minh chứng cho chân lý này bằng chính máu huyết và cuộc đời các ngài. Tiêu biểu trong số đó là Thánh Charles Borromeo, vị thánh vĩ đại mà Giáo Hội kính nhớ trong những ngày đầu tháng Mười Một này. Cuộc đời của ngài là một bản trường ca hùng tráng về việc ôm ấp Thánh Giá Chúa Kitô giữa một thời kỳ đầy rẫy khủng hoảng, lạc giáo, suy đồi và thử thách. Ngài không xem Thánh Giá là một vật trang trí trên cổ áo hay một biểu tượng treo trên tường, mà là một thực tại sống động, một đối tượng để yêu mến, một người bạn đồng hành không thể tách rời trong từng nhịp thở của sứ vụ mục tử.
Khi chúng ta suy gẫm về Thánh Giá dưới ánh sáng gương sáng của các thánh và Lời Chúa trong giai đoạn phụng vụ thường niên, tâm hồn chúng ta được mời gọi đi sâu vào mầu nhiệm tự hiến. Cuộc đời con người ai nấy cũng đều phải trải qua những thăng trầm, những góc khuất đau thương, những gánh nặng gia đình, những cơn bệnh hoạn ngặt nghèo, những hiểu lầm, cô đơn và bất công. Thế nhưng, thái độ của chúng ta trước những thánh giá ấy như thế nào? Chúng ta đón nhận chúng với sự cay đắng, oán trách hay chúng ta biết biến chúng thành nhịp cầu thông phần vào cuộc khổ nạn cứu chuộc của Đức Kitô? Để trả lời cho câu hỏi hiện sinh này, chúng ta hãy cùng nhau phơi bày tâm hồn trước những chiều kích sâu thẳm của mầu nhiệm Thánh Giá trong đời sống người môn đệ hôm nay.
Thứ nhất, Thánh Giá là thước đo duy nhất và chân thực nhất của tình yêu đích thực. Trong thế giới tục hóa hôm nay, từ “tình yêu” đã bị lạm dụng, bị bóp méo và bị biến thành một cảm xúc vị kỷ, nông cạn, chỉ kéo dài chừng nào nó còn mang lại sự thoải mái, tiện ích và thỏa mãn cái tôi. Người ta sẵn sàng yêu khi mọi sự suôn sẻ, nhưng sẵn sàng quay lưng, buông xuôi và hủy phá khi khó khăn, đau khổ xuất hiện. Thế nhưng, tình yêu đích thực theo mẫu gương Thiên Chúa không phải là một cảm xúc bồng bột của trần thế, mà là sự dấn thân trọn vẹn đến cùng. Đức Giêsu Kitô đã định nghĩa tình yêu bằng chính cái chết trên thập giá của Ngài: “Không có tình yêu lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu.”
Chính vì thế, bất cứ nơi nào có tình yêu đích thực thì nơi đó chắc chắn có sự hy sinh, có việc vác thập giá từ bỏ ý riêng. Một người cha, người mẹ làm việc vất vả ngày đêm để nuôi con cái nên người, đó là thập giá của sự hy sinh âm thầm. Một người vợ, người chồng kiên nhẫn tha thứ, đồng hành với người bạn đời trong cơn bệnh tật nghèo khó, đó là thập giá của tình nghĩa phu thê trường tồn. Một linh mục, tu sĩ tận tụy vì đoàn chiên dẫu bị hiểu lầm, chống đối, đó là thập giá của lòng nhiệt thành tông đồ. Nhìn vào Thánh Charles Borromeo, chúng ta thấy rõ điều này. Dẫu là một hồng y quyền quý, cháu của Đức Giáo Hoàng, đáng lý ra ngài có thể sống một cuộc đời nhung lụa an nhàn tại Rôma, nhưng ngài đã chọn từ bỏ tất cả để về nhận giáo phận Milan – một giáo phận đang trong tình trạng hỗn loạn, tu sĩ buông thả, giáo dân nguội lạnh. Ngài đã cải tổ bằng chính sự hy sinh tận tụy, bằng việc chịu đựng những âm mưu ám sát, những chống đối kịch liệt từ chính hàng giáo sĩ bất tuân. Ngài đã ôm lấy thập giá mục tử đến mức kiệt quệ sức lực ở tuổi đời còn rất trẻ. Ngài hiểu rằng, không thể rao giảng về một vị Thiên Chúa chịu đóng đinh mà bản thân lại tìm kiếm sự dễ dãi, vinh quang trần thế.
Thứ hai, Thánh Giá là trường học của sự khiêm nhường và tẩy luyện nội tâm. Bản tính tự nhiên của con người luôn khao khát quyền lực, sự tôn sùng, sự dễ chịu và việc trốn tránh mọi đau đớn. Chúng ta muốn có ơn thánh, muốn vào nước trời, nhưng lại muốn đi con đường trải thảm hoa hồng, muốn tránh khỏi mọi dăm gai thử thách. Sự cám dỗ của đền thờ thời Đức Giêsu khi dân chúng thách thức Ngài: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi!” vẫn luôn vang vọng trong tâm hồn mỗi người chúng ta qua những lời thì thầm của ma quỷ và xác thịt: “Hãy sống cho mình đi, tại sao phải chịu khổ thế này? Tại sao cứ phải hy sinh mà không ai thấu hiểu?”.
Chính trong những phút giây yếu lòng đó, Thánh Giá đứng sừng sững như một lời quở trách dịu dàng nhưng vô cùng mạnh mẽ đối với sự kiêu ngạo của con người. Trên Thánh Giá, Đức Kitô hoàn toàn bất động về tay chân, hoàn toàn trống rỗng về danh dự, bị sỉ nhục trước mặt muôn dân, nhưng chính trong sự bất lực bề ngoài ấy lại ẩn chứa quyền năng cứu độ vô biên của Thiên Chúa. Ngài không dùng quyền năng bạo lực để đập tan kẻ thù, mà dùng tình yêu chịu đựng để chiến thắng tội lỗi và sự chết. Khi chúng ta đối diện với những nghịch cảnh trong đời sống – có thể là sự thất bại trong công việc, sự bất hòa trong gia đình, sự cô độc giữa dòng đời – đó chính là lúc Thiên Chúa mời gọi chúng ta bước vào trường học của sự khiêm nhường. Ngài muốn gọt giũa những góc cạnh ích kỷ, tự phụ và cứng cỏi trong tâm hồn chúng ta. Đau khổ, khi được kết hiệp với Thánh Giá Chúa Kitô, không còn là một hình phạt vô nghĩa, mà trở thành thứ lửa thiêng thanh luyện vàng tâm hồn, giúp chúng ta trở nên tinh tuyền, khiêm hạ và hoàn toàn tín thác vào ơn sủng Chúa.
Thứ ba, Thánh Giá không phải là điểm dừng của sự tuyệt vọng mà là cánh cửa mở ra vinh quang phục sinh. Nếu đức tin Kitô giáo chỉ dừng lại ở chiều thứ Sáu Tuần Thánh thì đó sẽ là tôn giáo bi thảm nhất của nhân loại. Nhưng mầu nhiệm thập giá luôn đi liền với mầu nhiệm phục sinh. Không có thập giá thì không có triều thiên; không có cái chết đi đối với con người cũ thì không có sự sống mới trong ơn thánh. Thánh Charles Borromeo đã kín múc nguồn sức mạnh vô tận từ chính mầu nhiệm này. Mỗi khi đối diện với dịch hạch hoành hành tại Milan, khi ngài tự tay chăm sóc những bệnh nhân hấp hối, khi ngài đi chân trần trên đường phố để thống hối thay cho dân tộc, ngài không hề sợ hãi cái chết hay sự đau đớn, bởi vì đôi mắt ngài luôn hướng về ánh bình minh của sự sống đời đời. Ngài biết rằng mọi giọt mồ họt, mọi sự chống đối, mọi hy sinh âm thầm được đổ ra vì tình yêu mến Chúa đều không bao giờ mất đi, nhưng được biến đổi thành những viên ngọc quý chói lọi trong kho tàng vĩnh cửu.
Anh chị em thân mến, trong đời sống hằng ngày của chúng ta hôm nay, khi chúng ta gặp phải những thánh giá nhỏ bé hay lớn lao, phản ứng tự nhiên của chúng ta thường là lẩm bẩm, than van và tìm cách né tránh. Chúng ta quên mất rằng Đức Giêsu đã phán: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Thầy.” Chữ “hằng ngày” ở đây mang một ý nghĩa hết sức thiết thực. Thập giá không chỉ xuất hiện trong những biến cố lớn lao như tai nạn, tang tóc hay bệnh ngặt nghèo, mà thập giá hiện diện trong từng chi tiết nhỏ nhặt của đời sống thường nhật: sự kiên nhẫn lắng nghe một người khó tính trong gia đình; sự mỉm cười tha thứ khi bị vu khống, hiểu lầm; sự kiềm chế bản thân trước những cám dỗ thỏa mãn dục vọng thấp hèn; sự tận tụy chu toàn bổn phận dù không ai khen ngợi hay ghi nhận.
Chính trong những hy sinh âm thầm, nhỏ bé ấy mà khuôn mặt của Đức Kitô được khắc họa rõ nét trong tâm hồn chúng ta. Khi chúng ta đón nhận những nghịch cảnh với tinh thần đức tin, biến chúng thành những lời cầu nguyện dâng lên Chúa, thì gánh nặng của thập giá bỗng trở nên nhẹ nhàng, bởi vì chính Chúa Giêsu đang âm thầm gánh vác phần nặng nhất cùng với chúng ta. Ngài không bao giờ đặt lên vai chúng ta một gánh nặng quá sức, nhưng Ngài ban ơn thánh để chúng ta đủ sức vác nó bước đi trên con đường trọn lành.
Nhìn vào xã hội hiện đại, chúng ta thấy một cơn bệnh trầm kha đang lan rộng: cơn bệnh sợ hãi sự đau khổ. Người ta tìm mọi cách để trốn tránh khổ đau bằng hưởng thụ, bằng ma túy, bằng sự dửng dưng vô cảm trước nỗi đau của tha nhân, hoặc bằng việc ly dị, bỏ trốn trách nhiệm khi gia đình gặp sóng gió. Kết quả của lối sống trốn tránh thánh giá này không mang lại sự bình an, mà ngược lại, tạo ra một xã hội đầy những con người cô đơn, hụt hẫng, trầm cảm và tuyệt vọng. Chỉ khi nào con người dám can đảm ôm lấy thánh giá của cuộc đời mình, kết hợp nó với Thánh Giá của Đấng Cứu Thế, thì tâm hồn mới tìm lại được sự bình an sâu thẳm mà thế gian không thể ban tặng.
Huấn giáo của Giáo Hội qua các thời đại, đặc biệt qua tấm gương ngời sáng của Thánh Charles Borromeo, nhắc nhở chúng ta rằng: một linh mục, một tu sĩ hay một người giáo dân nhiệt thành không phải là người không bao giờ gặp thử thách, nhưng là người biết biến thử thách thành cơ hội để yêu mến Chúa nhiều hơn. Thánh Charles Borromeo từng nói rằng tâm hồn muốn nên thánh thì phải biết yêu lấy những sự khó khăn, coi đó là quà tặng ân sủng. Ngài đã sống trọn vẹn châm ngôn ấy cho đến hơi thở cuối cùng. Khi lâm bệnh nặng qua đời ở tuổi 46, ngài vẫn giữ nguyên vẹn ánh mắt hướng về Thiên Chúa, an bình phó thác cuộc đời trong tay Đấng mà ngài đã tận tụy phụng sự.
Giờ đây, khi bước vào những giây phút lắng đọng của giờ kinh nguyện này, mỗi chúng ta hãy nhìn lại cõi lòng mình. Thánh giá nào trong cuộc sống đang làm cho chúng ta mỏi mệt? Đó là gánh nặng kinh tế gia đình? Là sự bất hòa giữa vợ chồng, con cái? Là nỗi cô đơn tuổi già? Là những nỗi đau bệnh tật thể xác hay tâm thần? Hay là những hiểu lầm, bạc đãi trong môi trường làm việc? Dù thánh giá đó là gì đi nữa, xin anh chị em đừng ngã lòng, đừng buông xuôi trong tuyệt vọng. Hãy đưa những thánh giá ấy đến đặt dưới chân bàn thờ Chúa, kết hiệp chúng với hy tế thập giá của Đức Giêsu trên đồi Canvê. Hãy xin ơn can đảm để không trốn chạy đau khổ, nhưng biết biến đau khổ thành ngọn lửa mến yêu, thành nhịp cầu cứu độ cho chính mình và cho những người thân yêu xung quanh.
Nguyện xin Thiên Chúa, qua lời chuyển cầu mạnh mẽ của Thánh Charles Borromeo – vị mục tử nhân lành và nhiệt thành đến cùng – ban cho mỗi người chúng ta một đức tin kiên vững, một tình yêu nồng cháy và một sức mạnh thiêng liêng để hằng ngày vui lòng vác thánh giá theo chân Chúa Giêsu. Xin cho cuộc đời chúng ta, dẫu có những lúc phải đi qua vườn cây dầu cay đắng hay những chặng đường đồi Canvê đầy chông gai thử thách, vẫn luôn ngập tràn ánh sáng hy vọng của mầu nhiệm Phục Sinh, để cuối cùng, chúng ta được xứng đáng chung hưởng vinh quang vĩnh cửu với Ngài trên nước trời.
Lm. Anmai, CSsR

NGƯỜI MỤC TỬ NHÂN LÀNH VÀ SỨ VẠN CANH TÂN HỆ THỐNG GIÁO HỘI QUA GƯƠNG SÁNG THÁNH CHARLES BORROMEO
Trong hành trình đức tin của Giáo Hội Công Giáo hằng năm, khi mùa thu chìm sâu vào sự tĩnh lặng và tháng Mười Một mở ra với tâm tình hướng về các linh hồn, chúng ta lại được mời gọi dừng bước bên một tấm gương sáng ngời của một vị mục tử lớn. Đó là Thánh Charles Borromeo, Giám mục kiêm Tổng Giám mục Milan, một con người đã đốt cháy cuộc đời mình cho ngọn lửa canh tân, cải tổ và tình yêu thương vô bờ bến đối với đoàn chiên Chúa. Cuộc đời của thánh nhân không chỉ là một trang sử vàng của thế kỷ XVI, mà còn vang dội như một tiếng chuông thức tỉnh tâm hồn mỗi Kitô hữu, mỗi linh mục, tu sĩ và giáo dân trong thời đại hôm nay.
Nhìn lại lịch sử, Milan vào thời điểm Thánh Charles nhận lãnh sứ vụ là một mảnh đất ngổn ngang những thử thách, nơi kỷ luật tu trì lỏng lẻo, đời sống đạo đức của giáo sĩ sa sút, và ngọn lửa đức tin của người dân nguội lạnh sau những biến động thời đại. Thế nhưng, giữa một bối cảnh đầy rẫy sự mỏi mệt và khủng hoảng ấy, Thiên Chúa đã đặt để một tâm hồn trẻ tuổi nhưng đầy ơn ngoan khôn từ Thiên Chúa. Nhận lãnh sứ vụ Tổng Giám mục Milan từ khi mới tròn hai mươi lăm tuổi, Thánh Charles đã không coi chức quyền là một cơ hội để hưởng thụ hay bành trướng vinh quang trần thế, mà coi đó là một chén đắng phải uống, một gánh nặng phải vác, và một tình yêu phải dâng hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa và các linh hồn.
Điểm tựa sâu thẳm nhất làm nên sức mạnh phi thường của Thánh Charles Borromeo chính là đời sống cầu nguyện thâm sâu. Ngài từng chia sẻ một chân lý đắt giá rằng chính trong đời sống cầu nguyện thâm trầm, con người mới tìm thấy nguồn lực dồi dào để vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách xuất hiện mỗi ngày trong công việc mục vụ. Cầu nguyện không phải là một khoảng thời gian trống vắng hay một hình thức tôn sỉ bên ngoài, mà là không gian linh thánh nơi Đức Kitô được sinh ra và lớn lên trong chính cõi lòng chúng ta, rồi từ đó tuôn chảy ra để mang Chúa đến cho tha nhân. Một mục tử hay một Kitô hữu nếu thiếu đi đời sống cầu nguyện thì chẳng khác nào một cành cây lìa khỏi thân nho, sớm muộn gì cũng khô héo và bất lực trước những giông bão của cuộc đời.
Sự canh tân mà Thánh Charles mang lại cho Tổng Giáo phận Milan không bắt đầu bằng những sắc lệnh cứng nhắc hay những hình phạt khắt khe đối với người khác, mà bắt đầu từ chính bản thân ngài. Ngài là người tiên phong thực hiện triệt để tinh thần khó nghèo và kỷ luật tông đồ. Ngài từ bỏ mọi sự xa hoa, cắt giảm tối đa chi phí sinh hoạt cá nhân, và phân phát phần lớn thu nhập của mình cho các công tác bác ái từ thiện. Ngài hiểu rằng một vị mục tử không thể rao giảng về sự từ bỏ nếu bản thân còn vướng bận vào những vinh hoa phú quý tầm thường. Chính gương sáng sống động của ngài đã trở thành men và muối, từng bước cảm hoá và canh tân hàng giáo sĩ trong toàn giáo phận, giúp họ lấy lại nhiệt huyết ban đầu và sống xứng đáng với ơn gọi cao quý.
Dấu ấn vĩ đại nhất trong cuộc đời mục tử của Thánh Charles Borromeo bộc lộ rực rỡ nhất trong những năm tháng dịch hạch và nạn đói hoành hành tại Milan vào năm 1576. Khi cơn đại dịch tử thần trùm lên thành phố, gieo rắc nỗi hoảng loạn kinh hoàng, khiến biết bao nhà lãnh đạo dân sự và chức sắc tìm cách bỏ trốn để bảo toàn tính mạng, thì Thánh Charles lại chọn ở lại. Ngài ở lại không phải vì bất chấp nguy hiểm, nhưng vì tình yêu thương không bờ bến đối với đoàn chiên. Ngài đã dấn thân không mệt mỏi để chăm sóc những bệnh nhân hấp hối, an ủi những kẻ muộn phiền, và tổ chức mạng lưới cứu trợ để cung cấp lương thực hằng ngày cho sáu mươi đến bảy mươi ngàn con người nghèo khổ. Để làm được điều đó, ngài đã gánh một khoản nợ khổng lồ, một gánh nặng tài chính mà phải mất rất nhiều năm sau mới trả hết. Hình ảnh vị Giám mục gầy gò, đi khắp các con đường ngập tràn tử khí để ban ơn xá giải, xức dầu và ban phép lành cho người bệnh đã trở thành biểu tượng bất tử của lòng thương xót Chúa giữa dòng đời đen tối.
Không chỉ dừng lại ở các hoạt động bác ái xã hội, Thánh Charles còn để lại tầm ảnh hưởng sâu rộng trên toàn cầu Giáo Hội qua các đóng góp vĩ đại tại Công đồng Trentô. Ngài là người tận tụy thúc đẩy và thực thi những quyết định canh tân của Công đồng, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo linh mục. Nhận thấy sự vô tri và lỏng lẻo trong đời sống hàng giáo sĩ là gốc rễ của nhiều khủng hoảng, ngài đã sáng lập hệ thống chủng viện hiện đại, đặt nền móng vững chắc cho việc đào tạo các mục tử tương lai cả về tri thức thần học lẫn đời sống nhân đức và cầu nguyện sâu xa. Ngài xứng đáng được tôn vinh là vị thánh bảo mệnh của các chủng sinh. Thêm vào đó, ngài cũng góp phần quan trọng trong việc biên soạn cuốn Giáo lý của Công đồng Trentô, hay còn gọi là Sách Giáo lý dành cho các linh mục, một tác phẩm kinh điển được sử dụng suốt nhiều thế kỷ để đặt nền móng đức tin vững chắc cho thế hệ trẻ và hướng dẫn các tín hữu non trẻ bước vào đời sống hiệp thông với Giáo Hội.
Tuy nhiên, những lao nhọc nặng nề, những hy sinh quên mình và gánh nặng của chức vụ cao cả đã vắt kiệt sức lực thể xác của ngài. Thánh Charles Borromeo đã giã từ cõi đời này khi mới tròn bốn mươi sáu tuổi vào năm 1584, để lại niềm tiếc thương vô hạn nhưng đồng thời để lại một di sản đức tin sống động vô giá. Chỉ hai mươi sáu năm sau khi ngài qua đời, Giáo Hội đã chính thức nâng ngài lên hàng hiển thánh, ghi ơn một vị mục tử đã sống trọn vẹn châm ngôn tình yêu hy sinh cho đoàn chiên. Ngày nay, thánh tích thân thể không hề hư nát của ngài vẫn nằm trong hầm mộ tráng lệ tại Đại Chánh tòa Milan, trong khi trái tim thiêng liêng của ngài được kính giữ tại đền thờ thánh Ambrose và Charles ở Rôma, nhắc nhở muôn thế hệ về một trái tim đã đập từng nhịp đập yêu thương vì Chúa và vì con người.
Nhìn ngắm cuộc đời Thánh Charles Borromeo, chúng ta được mời gọi nhìn lại chính bản thân mình trong đời sống đạo hôm nay. Trong một thế giới hiện đại đầy rẫy những cám dỗ về sự thỏa mãn bản thân, sự dửng dưng trước nỗi đau của đồng loại và sự khô cạn trong đời sống thiêng liêng, gương sáng của thánh nhân là một lời quở trách nhẹ nhàng nhưng sâu sắc. Chúng ta thường dễ dàng tìm lý do để chối bỏ trách nhiệm, dễ ngó lơ trước những hoàn cảnh khốn cùng của tha nhân, và dễ buông xuôi trước những khó khăn của cuộc sống. Chúng ta quên mất rằng đạo thánh Chúa không cần những con người chỉ biết nói những lời hay ý đẹp trên bục giảng, mà cần những chứng nhân sống động dám đem Tin Mừng ra thực hành bằng cả mồ hôi, nước mắt và tình yêu chân thành.
Sứ vụ canh tân Giáo Hội không phải là một công việc xa vời chỉ dành riêng cho các Đức Giáo Hoàng, Giám mục hay linh mục bề trên, mà là trách nhiệm chung của mọi Kitô hữu qua Bí tích Rửa tội. Mỗi người chúng ta, ở vị trí gia đình, nơi công sở, trong cộng đoàn xứ đạo, đều được mời gọi trở thành những “Charles Borromeo nhỏ bé” – những người biết bắt đầu sự canh tân từ chính tâm hồn mình. Canh tân bắt đầu bằng việc dẹp bỏ cái tôi ích kỷ, kiêu căng; canh tân bắt đầu bằng việc thắp lại ngọn lửa cầu nguyện mỗi ngày để lắng nghe tiếng Chúa; và canh tân được hiện thực hóa qua những hành động bác ái cụ thể đối với những anh chị em đang nghèo đói, cô đơn, bệnh tật và bị gạt ra bên lề xã hội.
Hãy tưởng tượng một Giáo Hội mà ở đó mọi thành phần dân Chúa đều mang trong mình ngọn lửa nhiệt thành như Thánh Charles: một ngọn lửa không tự thiêu rụi trong sự ích kỷ, nhưng tỏa sáng ấm áp để sưởi ấm những cõi lòng đang lạnh giá vì cô đơn và tuyệt vọng. Khi các gia đình biết biến mái ấm của mình thành một tiểu chủng viện cầu nguyện, khi những người trẻ biết đem lòng bác ái vị tha để phục vụ tha nhân, và khi các mục tử biết hiến dâng trọn vẹn mạng sống cho đoàn chiên, thì khi ấy, Giáo Hội sẽ được đổi mới tận căn, trở nên một dấu chỉ rạng ngời của tình yêu Thiên Chúa giữa trần gian.
Thiên Chúa không đòi hỏi chúng ta phải làm những điều lớn lao vượt quá tầm vóc, nhưng Ngài đòi hỏi chúng ta hãy làm những việc nhỏ bé với một tình yêu lớn lao và một sự tận hiến trọn vẹn. Thánh Charles Borromeo đã sống ngắn ngủi nhưng trọn vẹn từng khoảnh khắc nhờ ơn thánh Chúa. Ngài đã biến cuộc đời mình thành một khúc ca tuyệt vời ca tụng lòng thương xót Chúa, một khúc ca được viết bằng lòng can đảm, sự khiêm nhường và tình yêu hy sinh đến cùng.
Nguyện xin ơn trên, qua lời chuyển cầu của Thánh Charles Borromeo, ban xuống trên mỗi người chúng ta sự ơn ngoan khôn, lòng can đảm và tình yêu nhiệt thành. Xin cho chúng ta biết noi gương ngài, luôn vững vàng trong đời sống cầu nguyện, kiên trì trong các việc bác ái, và hăng say đem Chúa đến cho anh chị em xung quanh. Để rồi, khi kết thúc hành trình dương thế này, chúng ta cũng có thể ngẩng cao đầu dâng lên Chúa món quà là một cuộc đời đã được tiêu hao trọn vẹn cho vinh quang Ngài và sự cứu rỗi các linh hồn.
Lm. Anmai, CSsR

SỨ VỤ VITAL VÀ SỰ TRUNG TÂN TRONG ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN: TỪ NỖI KHẮC KHOẢI CỦA NIỀM TIN ĐẾN NGỌN LỬA CAN ĐẢM CHỨNG NHÂN
Kính thưa cộng đoàn phụ vụ và quý độc giả thân mến, hành trình đức tin của người Kitô hữu chưa bao giờ là một con đường bằng phẳng trải đầy hoa hồng, nhưng luôn là một cuộc chiến đấu nội tâm đầy cam go giữa ánh sáng và bóng tối, giữa sự trung kiên với Đấng Tối Cao và những cám dỗ phù phiếm của thế gian. Khi nhìn vào lịch sử cứu độ cũng như qua những trang Kinh Thánh và truyền thống thánh thiện của Giáo Hội, chúng ta bắt gặp một mẫu số chung vô cùng rõ nét: đó chính là căn tính của một dân tộc được chọn lựa, một dân tộc đôi khi phải đối diện với những cơn bách hại khốc liệt, những áp lực đồng hóa văn hóa ngoại giáo và cả những sự suy đồi từ chính nội bộ hàng ngũ lãnh đạo tinh thần. Đứng trước những thử thách ngút ngàn ấy, câu hỏi đặt ra cho mỗi người chúng ta hôm nay là gì? Làm thế nào để giữ vững ngọn lửa mến, bảo tồn gia tài đức tin cha ông để lại, và nhất là sống một đời sống trọn vẹn dâng hiến giữa một thế giới đang ngày càng tục hóa và lãng quên Thiên Chúa?
Để có thể thấu tỏ chiều sâu của mầu nhiệm này, chúng ta hãy cùng nhau lật giở lại những trang lịch sử đầy nước mắt nhưng cũng vô cùng hào hùng của dân tộc Israel thời kỳ bị áp bức dưới ách thống trị của bạo vương Antiochus Epiphanes. Đó là một giai đoạn lịch sử vô cùng đen tối, nơi mà quyền lực trần thế không chỉ dừng lại ở việc áp đặt thuế khóa hay kiểm soát lãnh thổ, mà còn tiến thêm một bước vô cùng nguy hiểm: tiêu diệt tận gốc rễ căn tính tôn giáo và văn hóa của dân tộc thuộc về Thiên Chúa. Nhà vua Antiochus đã ban hành những chiếu chỉ nhằm xóa nhòa mọi ranh giới thánh thiêng, bắt buộc tất cả các dân tộc trong vương quốc phải trở thành một thể thống nhất, đồng hóa vào trong lối sống ngoại giáo, từ bỏ mọi lề luật truyền thống và những giới răn mà Thiên Chúa đã ban qua mô-sê.
Cảnh tượng diễn ra tại Giêrusalem và các vùng phụ cận lúc bấy giờ thực sự là một cơn ác mộng đối với những ai còn kính sợ Thiên Chúa. Nơi thánh điện thiêng liêng – nơi ngự trị của vinh quang Thiên Chúa, nơi mà chỉ có vị thượng tế mới được bước vào một năm một lần với máu chu tội – bỗng chốc bịô uế bởi những nghi lễ ngoại giáo đồi trụy. Người ta ngang nhiên dâng những vật hiến tế ô uế như thịt heo lên bàn thờ, dựng lên những bức tượng thần ngoại bang, tàn phá và đốt cháy toàn bộ các sách Luật thánh thiện của giao ước. Bất kỳ ai cất giữ một cuốn sách lề luật trong nhà, hay bất kỳ người mẹ nào dám thực hiện nghi thức cắt bì cho con trai mình theo đúng truyền thống giao ước đều phải đối diện với bản án tử hình cực kỳ dã man. Những người phụ nữ dám cho con chịu phép cắt bì bị treo cổ với chính đứa con thơ ngay trước ngực, và cả gia đình họ bị tru diệt không thương tiếc. Đó là thời kỳ mà sự gian ác dường như nắm quyền bính tuyệt đối, khi mà bạo lực và sự khủng bố tinh thần lên đến đỉnh điểm nhằm bẻ gãy ý chí kiên trung của dân Chúa.
Thế nhưng, chính trong lò lửa thử thách khốc liệt ấy, bản chất thật sự của con người mới được phơi bày rõ nét nhất. Sách Maccabe ghi lại rằng, bên cạnh những kẻ yếu đuối, những kẻ vì sợ hãi bạo lực hoặc vì ham muốn danh lợi trần thế mà sẵn sàng bán rẻ lương tâm, vứt bỏ lề luật cha ông để hùa theo trào lưu ngoại giáo, thì vẫn còn đó một tỷ lệ lớn những con người kiên trung tuyệt đối. Họ là những người thà chấp nhận chịu những cực hình đau đớn nhất, thà bước lên đoạn đầu đài còn hơn là nuốt một miếng ăn ô uế hay phản bội lại giao ước thánh thiêng với Đấng Tối Cao. Họ chọn cái chết để bảo vệ sự trinh tuyền của đức tin. Sự hy sinh đẫm máu của họ không phải là hành động tự sát hay cuồng tín, mà là một lời tuyên xưng hùng hồn rằng: mạng sống thể lý dẫu quý giá đến đâu cũng không thể so sánh được với phẩm giá của một tâm hồn thuộc về Thiên Chúa. Họ hiểu rằng con người có thể bị tước đoạt sinh mạng ở đời này, nhưng không ai có thể tước đoạt được quyền tự do nội tâm và lòng kính sợ Chúa nếu như chính họ không tự nguyện dâng nộp nó.
Nhìn sâu vào bức tranh lịch sử này, chúng ta thấy nó phản chiếu một cách kỳ lạ hình ảnh của thế giới hiện đại hôm nay. Thế giới thế kỷ XXI dẫu không còn những đạo luật công khai treo cổ những người giữ luật hay đốt phá các thánh đường bằng gươm giáo, nhưng nó lại đang vận hành những hình thức “bách hại” tinh vi hơn, thâm độc hơn rất nhiều. Đó là cơn bão của chủ nghĩa thế tục hóa cực đoan, chủ nghĩa tương đối luân lý và bầu khí văn hóa tiêu thụ vật chất. Người ta đang tìm mọi cách để bứt rễ Thiên Chúa ra khỏi đời sống công cộng, biến Ngài thành một khái niệm lỗi thời hoặc một sở thích cá nhân thuần túy có thể gạt bỏ bất cứ lúc nào. Các giá trị luân lý gia đình truyền thống, sự thánh thiện của đời sống hôn nhân, lòng hiếu thảo, sự trung thực và lòng kính sợ Chúa đang bị xói mòn từng ngày bởi những trào lưu thực dụng, ích kỷ và dâm ô.
Trong bối cảnh đó, người Kitô hữu – đặc biệt là những ai đang dấn thân phục vụ trong đời sống thánh chức và thánh hiến – đang phải đối mặt với những cuộc chiến đấu âm thầm nhưng không kém phần khốc liệt. Áp lực của thời đại đòi hỏi chúng ta phải “hòa nhập”, phải nhượng bộ, phải thỏa hiệp với những tiêu chuẩn đạo đức lỏng lẻo của xã hội để được công nhận, để được ca tụng hoặc đơn giản là để tránh bị chê cười, bị gạt ra bên lề. Biết bao linh mục, tu sĩ và người sống đời thánh hiến đã từng bước thỏa hiệp như thế. Họ bắt đầu từ những châm chước nhỏ nhặt trong đời sống thiêng liêng, lơ là việc cầu nguyện, buông lỏng kỷ luật bản thân, vun vén cho những lợi ích cá nhân, và dần dà đánh mất đi căn tính đích thực của ơn gọi ban đầu. Họ mang danh là những người phục vụ Thiên Chúa, nhưng lối sống và cách hành xử lại chẳng khác gì những kẻ vô thần thực tiễn, bị cuốn phăng theo dòng chảy xoáy của danh vọng, tiền tài và những ham muốn xác thịt.
Chính tại điểm giao thoa giữa sự yếu hối của con người và lời mời gọi kiên trung của Thiên Chúa, chúng ta tìm thấy ánh sáng hướng dẫn từ những huấn từ vô cùng sâu sắc và thực tế của Thánh Charles Borromée trong kỳ synod cuối cùng của ngài. Những lời dạy của vị thánh giám khảo cải cách vĩ đại này không bao giờ là những lý thuyết suông hay những giáo điều khô khan, nhưng chúng xuất phát từ một trái tim mục tử đầy thao thức, một con người đã từng trải nghiệm qua muôn vàn khó khăn, chống đối và cả những yếu đuối của chính bản thân mình trước khi vươn lên đỉnh cao của sự thánh thiện.
Thánh Charles Borromée đã mở đầu bằng một chân lý nền tảng mà bất kỳ ai trong chúng ta cũng phải cúi đầu thừa nhận: “Chúng ta tất cả đều yếu đuối”. Vâng, đó là sự thật trần trụi về bản tính nhân sinh của mỗi linh mục, tu sĩ và kitô hữu. Không một ai trong chúng ta có thể tự vỗ ngực xưng tên rằng mình là kẻ miễn nhiễm trước những cám dỗ, rằng mình có đủ sức mạnh tự nhiên để đứng vững trước những cơn lốc cuồng phong của thế gian. Đức văn tài, bằng cấp học thuật hay cả chức thánh cao trọng cũng không phải là thứ áo giáp tự động bảo vệ chúng ta khỏi sự sụp đổ đạo đức nếu thiếu đi ơn sủng và sự tỉnh thức. Một vị linh mục có thể uyên bác trong thần học, hùng hồn trên bục giảng, nhưng lại hoàn toàn trống rỗng và bất lực trong đời sống nội tâm nếu ngài lơ là việc vun trồng tương quan mật thiết với Thiên Chúa. Một tu sĩ có thể hoàn thành xuất sắc hàng loạt các công tác mục vụ xã hội, điều hành các cơ sở từ thiện lớn lao, nhưng lại khô cằn và kiệt quệ về mặt thiêng liêng vì đã đánh mất đời sống cầu nguyện chiêm niệm.
Vấn đề cốt lõi mà Thánh Charles Borromée chỉ ra không nằm ở chỗ chúng ta yếu đuối – bởi vì Thiên Chúa thừa biết chúng ta chỉ là bụi đất và Ngài luôn sẵn sàng ban ơn trợ giúp – mà vấn đề nằm ở chỗ chúng ta có thực sự muốn sử dụng những phương thế mà Thiên Chúa đã thiết lập để cứu giúp chúng ta hay không. Ngài đã đưa ra những câu hỏi xoáy sâu vào lương tâm của từng người mục tử: Có vị linh mục nào khao khát sống một đời sống trinh sạch, thánh thiện và xứng đáng với phẩm giá thiên thần không? Chắc chắn là có, ai mà chẳng muốn mình tốt lành, ai mà chẳng khao khát sự bình an trong tâm hồn. Thế nhưng ngài lại vạch ra một nghịch lý phũ phàng: vị ấy muốn có kết quả tốt nhưng lại kiên quyết từ chối áp dụng những phương thế cần thiết. Ngài không chịu thực hành việc hãm mình, không chịu cầu nguyện chuyên chăm, không biết cách xa lánh những mối quan hệ mập mờ, độc hại và đầy nguy hiểm cám dỗ. Ngài cứ muốn chơi đùa với lửa mà lại mong mình không bị bỏng; ngài cứ muốn lao mình vào những chốn bùn nhơ mà lại kỳ vọng tà áo của mình vẫn trắng tinh nguyên.
Thực trạng này phản chiếu một căn bệnh trầm kha trong đời sống Giáo Hội hôm nay: căn bệnh chủ quan và tự phụ thiêng liêng. Nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng mình đã trưởng thành, đã đủ bản lĩnh để đối đầu với cám dỗ mà không cần phải tuân giữ các kỷ luật nhà dòng, không cần phải giữ gìn những quy tắc tĩnh lặng, không cần phải tận tụy với giờ kinh phụng vụ hay tĩnh tâm định kỳ. Chúng ta tự cho phép mình dễ dãi hơn với bản thân, viện lý do là “thời đại đã thay đổi”, rằng con người hiện đại cần phải cởi mở và phóng khoáng hơn. Nhưng sự “cởi mở” giả hiệu ấy thực chất chỉ là chiếc cổng rộng thênh thang dẫn đến sự diệt vong thiêng liêng. Khi một người tu sĩ hay linh mục buông lỏng việc phòng thủ nội tâm, họ chẳng khác nào một người lính ra trận mà cởi bỏ áo giáp và vứt bỏ gươm giáo. Chỉ cần một mũi tên độc nhỏ nhoi của thế gian cũng đủ để quật ngã họ xuống bùn đen.
Thánh Charles Borromée tiếp tục đưa ra một hình ảnh vô cùng thực tế về đời sống phụng vụ và cầu nguyện: những tiếng thở dài ngao ngán của các linh mục khi bước vào nhà thờ dâng thánh lễ hoặc đọc kinh nhật tụng, những người than phiền rằng tâm trí họ bị phân tâm bởi hàng ngàn vạn ý nghĩ vụn vặt, vẩn vơ ngay chính giây phút đứng trước bàn thánh. Ngài đã không ngần ngại chỉ thẳng nguyên nhân gốc rễ của sự khô khan và phân tâm đó: “Trước khi bước vào cung thánh hoặc trước khi cử hành thánh lễ, ngươi đã làm gì ở phòng thánh? Ngươi đã chuẩn bị tâm hồn thế nào? Ngươi đã dùng những phương thế gì để làm chủ sự chú ý của mình?”. Câu hỏi này thực sự là một cú tát tỉnh thức vào mặt trận mục vụ hời hợt của chúng ta. Biết bao nhiêu lần chúng ta bước lên bàn thờ cử hành mầu nhiệm thánh với một tâm hồn trống rỗng, bận rộn tính toán những chuyện cơm áo gạo tiền ngoài đời, loay hoay với chiếc điện thoại di động đọc tin nhắn ngay trước giờ lễ, rồi sau đó lại thản nhiên trách móc tại sao Chúa không ban ơn sủng, tại sao đời sống thiêng liêng của mình cứ mãi giậm chân tại chỗ và chìm ngập trong sự lạnh lẽo?
Sự chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ với Đấng Tối Cao đòi hỏi một sự cung kính tuyệt đối và một nội tâm tĩnh lặng sâu sắc. Nếu một người nghệ sĩ trước khi bước ra sân khấu lớn phải tập luyện hàng trăm giờ, chuẩn bị từng chi tiết nhỏ nhất, nếu một nhà khoa học trước khi tiến hành thí nghiệm quan trọng phải kiểm tra từng thông số kỹ thuật với độ chính xác tuyệt đối, thì hà cớ gì một tư tế của Đấng Tối Cao lại dám bước lên bàn thờ – nơi máu và thịt chiên con chịu sát tế để cứu chuộc trần gian – với một thái độ dửng dưng, cẩu thả và một tâm trí đầy rẫy những rác rưởi của thế gian? Sự thiếu chuẩn bị nội tâm chính là cánh cửa rộng mở cho ma quỷ tung hoành, biến những giờ phút thánh thiêng nhất trở thành những nghi thức hình thức khô khan, vô hồn và thậm chí trở thành dịp tội lỗi vì sự bất kính đối với thánh nhan Chúa.
Để có thể khắc phục tình trạng này và tiến bước không ngừng từ nhân đức này sang nhân đức khác, Thánh Charles đã hiến kế một bí quyết tuyệt vời: “Nếu một đốm lửa nhỏ của tình yêu thần linh đã được thắp lên trong lòng ngươi, chớ có vội vàng khoe khoang nó ra ngoài, chớ đem phơi bày nó trước gió lốc; hãy giữ cho cửa lò được đóng kín, đừng để hơi ấm bị thất thoát”. Hình ảnh “cửa lò đóng kín” này vô cùng sâu sắc đối với người sống đời thánh hiến. Trong thời đại mà người ta tôn sùng sự thể hiện bản thân, việc “sống ảo” trên mạng xã hội, khoe khoang những thành tích mục vụ, tìm kiếm những lời khen ngợi và sự tung hô của đám đông, thì lời khuyên của Thánh Charles lại vang lên như một tiếng sét đánh thức: hãy biết ẩn giấu, hãy biết giữ gìn sự thinh lặng nội tâm, hãy bảo vệ ơn huệ kín nhiệm giữa linh hồn mình với Thiên Chúa. Tình yêu đích thực với Chúa giống như ngọn lửa mới nhóm, nếu bị những cơn gió lốc của sự kiêu ngạo, của những cuộc trò chuyện phiếm, của sự tò mò vô bổ thổi vào, nó sẽ nhanh chóng lụi tàn, chỉ còn lại những tàn tro lạnh ngắt của một vỏ bọc tôn giáo rỗng tuếch.
Bên cạnh đó, vị thánh giám mục Milan cũng đưa ra một lời cảnh tỉnh cực kỳ quan trọng đối với những ai đang say mê với công tác tông đồ và giảng dạy: “Ngươi có trách nhiệm giảng dạy và giáo huấn ư? Hãy học hỏi, hãy tận tụy với mọi điều cần thiết để chu toàn sứ vụ đó. Nhưng trước hết, hãy quan tâm đến việc giảng dạy bằng chính đời sống và cung cách hành xử của mình; hãy tránh để xảy ra tình trạng miệng nói một đàng tay làm một nẻo, khiến thiên hạ nhìn vào mà cười trừ, lắc đầu chế giễu những lời ngươi rao giảng”. Đây chính là căn bệnh nan y của sự đạo đức giả mà Chúa Giêsu từng kịch liệt lên án nơi các kinh sư và biệt phái thời xưa. Không có gì phản chứng Tin Mừng mạnh mẽ hơn việc một người rao giảng về lòng bác ái, sự khiêm nhường và sự từ bỏ nhưng bản thân lại sống kiêu căng, tham lam, ích kỷ và cay nghiệt. Lời nói có thể bay xa, nhưng gương sáng mới là thứ lôi kéo và biến đổi tâm hồn người khác một cách triệt để nhất. Nếu đời sống của người mục tử không phải là một bài giảng sống động, thì tất cả những văn hoa tài tử trên bục giảng chỉ là những tiếngèng ceng vang dội của khánh đồng chứ không mang lại chút sức sống thiêng liêng nào cho các tín hữu.
Một cạm bẫy nguy hiểm khác mà các mục tử và tu sĩ hay rơi vào chính là sự ngụy trang dưới vỏ bọc “hy sinh vì đoàn chiên” để rồi tự hủy hoại chính đời sống cá nhân của mình. Thánh Charles Borromée đã ân cần nhắc nhở: “Ngươi có trách nhiệm chăm sóc các linh hồn ư? Đó không phải là lý do để ngươi lơ là trách nhiệm chăm sóc chính bản thân mình, để rồi dấn thân quá mức cho người khác đến độ chẳng còn lại chút gì cho chính mình”. Đây là một căn bệnh thời đại mang tên “kiệt quệ mục tử” (burnout). Biết bao vị linh mục, tu sĩ nghĩ rằng mình đang làm việc cho Chúa nên bất chấp sức khỏe thể lý, tâm thần và đời sống thiêng liêng. Họ lao vào các dự án xây dựng, các hội đoàn, các buổi họp hành liên miên, các chương trình sinh hoạt bề bộn đến mức tối về ngã lưng xuống giường là chìm vào giấc ngủ mê mệt trong trạng thái kiệt sức, không còn một phút giây nào để thinh lặng đối thoại với Chúa, không còn thời gian để thở trong Thần Khí.
Sự hoạt động không có đời sống cầu nguyện chống đỡ sẽ biến con người ta thành những cỗ máy vô hồn, làm việc theo quán tính và sự bực bội ngầm. Khi một người không còn nuôi dưỡng tâm hồn mình bằng nguồn suối ân sủng từ Thiên Chúa, họ sẽ bắt đầu lấy lại năng lượng từ những nguồn ô trọc của thế gian: sự tự mãn, quyền lực, sự kiểm soát độc tài đối với người khác, hoặc tìm kiếm sự khuây khỏa trong những đam mê lệch lạc. Do đó, việc giữ gìn khoảng không gian riêng tư cho Thiên Chúa không phải là sự ích kỷ hay trốn tránh trách nhiệm, mà là điều kiện tiên quyết để có thể thực sự phục vụ tha nhân một cách hiệu quả và trọn vẹn. Bạn không thể cho người khác cái mà bạn không có. Bạn không thể truyền ngọn lửa bình an và lòng thương xót cho tha nhân nếu tâm hồn bạn đang là một đống tro tàn của sự căng thẳng và giận hờn.
Để đúc kết lại toàn bộ chương trình huấn luyện thiêng liêng này, Thánh Charles Borromée đã đưa ra một nguyên tắc vàng, một chìa khóa vạn năng cho mọi hoạt động của người Kitô hữu: “Hiểu lấy, hỡi anh em, không có gì cần thiết cho những người thuộc về Giáo Hội hơn là việc cầu nguyện xuất thần (oraison mentale) – việc suy niệm thầm lặng phải đi trước mọi hành động của chúng ta, đồng hành với chúng ta trong mọi hành động và tiếp tục theo dõi chúng sau khi hành động đã hoàn tất”. Cầu nguyện không phải là một công việc làm thêm bên cạnh các công việc mục vụ, cũng không phải là một nghĩa vụ phái sinh phải hoàn thành cho xong chuyện, mà chính là nhựa sống, là bầu không khí dưỡng khí nuôi sống toàn bộ cơ thể thiêng liêng. Trước khi nói chuyện với con người, ta phải nói chuyện với Thiên Chúa. Trong khi làm việc, tâm hồn ta phải neo đậu vào Thiên Chúa. Và sau khi công việc đã xong, ta phải để cho tâm hồn chìm đắm trong sự tạ ơn Thiên Chúa.
Vị thánh kết luận bằng một chuỗi những lời mời gọi đầy tha thiết và thực tế, chạm đến từng khía cạnh cụ thể của đời sống thánh hiến: “Nếu ngươi cử hành các bí tích, hỡi người anh em, hãy suy niệm về điều ngươi đang làm; nếu ngươi dâng thánh lễ, hãy suy niệm về điều ngươi đang tiến dâng; nếu ngươi hát thánh ca trong ca đoàn, hãy suy nghĩ xem ngươi đang nói với ai và ngươi đang thốt lên những gì; nếu ngươi hướng dẫn các linh hồn, hãy nhớ đến dòng máu vô giá đã tẩy rửa họ; và cứ thế, hãy làm mọi sự với tình yêu thương”.
Thật vậy, tình yêu chính là chất xúc tác biến những hành động lặp đi lặp lại của phụng vụ thường nhật trở thành những cuộc gặp gỡ sống động với Đấng Hằng Sống. Khi chúng ta dâng thánh lễ với tình yêu, từng lời nguyện không còn là những câu chữ khô khan trên sách lễ nữa, mà là nhịp đập của trái tim đang hòa nhịp với trái tim Đức Kitô trên thập giá. Khi chúng ta ban phép hòa giải cho một hối nhân với tình yêu, đó không chỉ là một thủ tục pháp lý tôn giáo, mà là khoảnh khắc lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa ôm lấy một tội nhân lầm đường lạc lối. Khi chúng ta hướng dẫn một linh hồn đang đau khổ, đó không phải là sự ban ơn trên cao nhìn xuống, mà là sự đồng cảm sâu sắc của người mục tử mang mùi của chiên.
Nhìn lại toàn bộ hành trình suy tư của chúng ta hôm nay, từ những giọt máu kiên trung của các vị tiền nhân trong thời kỳ bách hại của Antiochus cho đến những lời căn dặn đầy tâm huyết của Thánh Charles Borromée, chúng ta nhận ra một chân lý không bao giờ thay đổi: ơn gọi làm con Chúa và làm mục tử trong Giáo Hội là một hồng ân vô giá đi kèm với một trách nhiệm vô cùng lớn lao. Thế giới hôm nay vẫn đang tiếp tục tìm cách bách hại chúng ta, không phải bằng gươm giáo hay ngọn lửa dị giáo lộ liễu, mà bằng thứ gươm giáo tinh vi hơn: sự dửng dưng, chủ nghĩa hưởng thụ, sự cám dỗ thỏa hiệp và sự mệt mỏi thiêng liêng.
Đứng trước những thách đố ấy, mỗi người chúng ta – dù là linh mục, tu sĩ hay giáo dân đang sống giữa lòng thế giới – được mời gọi hãy tỉnh thức và đứng vững. Đừng sợ hãi trước sự suy đồi của thời đại, cũng đừng ngã lòng trước những yếu đuối mỏng giòn của bản thân. Thay vào đó, hãy khiêm tốn quay trở lại với những nguồn mạch đích thực của đức tin: đó là đời sống cầu nguyện thầm lặng, là sự gắn bó thiết tha với Lời Chúa, là sự canh chừng cẩn mật cửa lò nội tâm trước những cơn gió lốc của danh vọng và khoái lạc xác thịt, và trên hết là việc thực hành mọi công việc lớn nhỏ với một tình yêu nồng nàn dành cho Thiên Chúa và tha nhân.
Xin cho ngọn lửa nhiệt thành của Thánh Charles Borromée, cùng với sự can đảm bất khuất của các anh hùng tử đạo thời Cựu Ước, tiếp tục bùng cháy trong tâm hồn mỗi người chúng ta. Xin Chúa ban ơn phò trợ để giữa một thế giới đầy dẫy những bóng tối luân lý và sự tục hóa, chúng ta vẫn hiên ngang đứng thẳng như những chứng nhân của ánh sáng, mang lấy hình ảnh và hương thơm của Đức Kitô để chiếu soi vào những nơi tăm tối nhất của xã hội hôm nay. Để rồi cuối cuộc đời, khi đối diện với tòa phán xét của Thiên Chúa, chúng ta có thể dõng dạc thưa lên rằng: “Lạy Chúa, con đã giữ vững niềm tin, con đã chiến đấu đến cùng và con đã hoàn thành sứ vụ mà Chúa đã trao phó cho con”.
Lm. Anmai, CSsR

HƯỚNG DẪN VỀ MỤC TỬ NHÂN LÀNH VÀ SỰ THẬT TÔNG ĐỒ CỦA ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU
Trong hành trình đức tin Kitô giáo, trái tim của Thiên Chúa chưa bao giờ ngừng thổn thức trước đoàn chiên của Ngài. Đứng giữa một thế giới đầy những biến động, phong ba, nơi mà tiếng ồn ào của lợi danh, sự giả hình và những toan tính trần tục dễ dàng làm lãng tai con người, hình ảnh vị Mục Tử nhân lành vẫn hiện lên như một điểm tựa tuyệt đối vững chắc, một ngọn hải đăng soi chiếu tâm hồn mỗi người lữ hành. Đức Giêsu Kitô đã khẳng định một chân lý đanh thép và đầy tình mẫu tử thiêng liêng: Ngài chính là Mục Tử nhân lành, Đấng không chỉ dẫn dắt đoàn chiên ra những đồng cỏ xanh tươi, mà còn sẵn sàng hiến mạng sống mình vì đoàn chiên yêu dấu. Khác hẳn với kẻ làm thuê, kẻ chỉ biết tìm kiếm lợi ích riêng tư, sẵn sàng bỏ chạy khi thấy sói dữ đến gần để mặc cho bầy chiên tan tác, Vị Mục Tử đích thực gắn bó keo sơn với từng con chiên, thấu hiểu tường tận danh tính, nỗi niềm và khắc khoải của từng tâm hồn.
Nhìn vào bức tranh lịch sử cứu độ cũng như dòng chảy của Hội Thánh qua các thời đại, Thiên Chúa chưa từng bỏ rơi nhân loại khi Ngài liên tục quan phòng ban tặng cho Giáo Hội những vị mục tử như lòng Chúa mong ước. Tiêu biểu cho mẫu gương tuyệt vời ấy chính là thánh sử quân, vị thánh giám mục vĩ đại của tổng giáo phận Milan – thánh Carlos Borromeo. Sống giữa một giai đoạn lịch sử đầy rẫy những khủng hoảng, lạc giáo, suy đồi trong hàng giáo sĩ và muôn vàn chia rẽ trầm trọng, ngài không chọn cách buông xuôi, phàn nàn hay cúi đầu trước thực tại đen tối. Ngược lại, với một bầu nhiệt huyết tông đồ rực cháy và một tinh thần cải cách bắt nguồn từ chính sự hoán cải nội tâm sâu thẳm, ngài đã dấn thân trọn vẹn vào công cuộc canh tân Hội Thánh, tiêu biểu qua việc thực thi các nghị quyết mang tính bước ngoặt của Công đồng Trento. Cuộc đời của thánh nhân là một bản hùng ca sống động về lòng khiêm nhường tuyệt đối, minh chứng qua phương châm sống duy nhất được khắc ghi trên huy hiệu của ngài: Humilitas – Khiêm nhường. Ngài đã khước từ mọi vinh hoa phú quý của một dòng dõi quý tộc giàu có lẫy lừng, từ bỏ những tiện nghi xa hoa dễ làm lu mờ lương tâm để phục vụ đoàn chiên với một tình yêu vô điều kiện, không phải làm việc lấy lệ, mà là hiến dâng trọn vẹn từng nhịp đập của trái tim cho sứ mạng thánh thiêng mà Thiên Chúa đã ủy thác.
Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta dừng lại để chiêm ngắm căn tính đích thực của tình yêu mục tử, đồng thời phản tỉnh lại chính đời sống đức tin của bản thân trong xã hội đương đại. Thế giới hôm nay cũng đang rất cần những mục tử như thế – không chỉ là các linh mục, giám mục trên tòa giảng, mà còn là mỗi người cha, người mẹ trong gia đình, những nhà giáo dục, những người lãnh đạo xã hội và bất cứ ai mang trên mình trách nhiệm chăm sóc, dìu dắt tha nhân. Một xã hội chỉ thực sự có bình an và thăng tiến khi con người biết sống vì nhau, biết đặt ơn gọi và trách nhiệm lên trên những toan tính vụ lợi cá nhân. Kẻ làm thuê thời đại mới chính là thứ văn hóa vô cảm, chỉ biết vun vén cho cái tôi ích kỷ, sẵn sàng đạp lên người khác khi cơn giông bão cuộc đời ập đến. Ngược lại, người mục tử chân chính là người dám bước ra khỏi vùng an toàn của bản thân để đi tìm những con chiên đang lạc lối, những tâm hồn đang bị tổn thương, bỏ rơi nơi các vùng ngoại biên của sự cô độc và tuyệt vọng.
Để hiểu rõ hơn về chiều sâu của ơn gọi làm con Chúa và sứ mạng loan báo Tin Mừng, chúng ta cần nhận thức rằng đời sống Kitô hữu không thể tách rời khỏi nhịp cầu của lòng thương xót và sự dấn thân triệt để. Thánh Phaolô từng nhắc nhở các tín hữu rằng tình yêu của Đức Kitô thúc bách chúng ta, vì chúng ta nghĩ rằng: nếu một chết cho mọi người, thì mọi người đều đã chết, và Ngài đã chết cho mọi người để những ai đang sống không còn sống cho chính mình nữa, nhưng cho Đấng đã chết và sống lại vì mình. Sự hy sinh của Đức Giêsu trên thập giá không chỉ là một sự kiện lịch sử nằm lại trong quá khứ, mà là một nguyên lý sống động, một nguồn năng lượng siêu nhiên đang tuôn đổ vào tâm hồn mỗi tín hữu trong từng phút giây hiện tại. Khi chúng ta đối diện với những thử thách, những bất công hay những cám dỗ của lòng tham lam, chính hình ảnh của Người Mục Tử nhân lành sẽ là thước đo chuẩn mực để uốn nắn tư tưởng, lời nói và hành động của chúng ta. Sống tinh thần mục tử đồng nghĩa với việc chúng ta dám từ bỏ lối sống hời hợt, làm việc qua quýt cốt để đối phó, để rồi thay vào đó là thái độ tận tụy, chân thành và yêu thương đến cùng.
Nhìn sâu vào thực trạng đời sống thiêng liêng của các cộng đoàn giáo xứ hôm nay, đôi khi chúng ta vẫn nhận thấy những vết rạn nứt đáng buồn. Có những mối tương quan bị bào mòn bởi sự ganh đua, ích kỷ; có những tâm hồn cảm thấy cô đơn ngay chính trong ngôi nhà chung của Hội Thánh bởi vì thiếu vắng đi ánh mắt thấu cảm và nhịp đập sẻ chia thực sự. Hiện tượng “asalariado” – kẻ làm thuê mà Tin Mừng nhắc tới – vẫn phảng phất hiện hình ở những nơi mà tinh thần trách nhiệm bị thay thế bằng thái độ dửng dưng, vô cảm trước nỗi đau của tha nhân. Khi một người Kitô hữu đến với các hoạt động đạo đức chỉ vì nghĩa vụ hình thức, vì danh dự ảo tưởng hay vì áp lực xã hội mà không phát xuất từ một trái tim bừng cháy lửa mến Chúa yêu người, thì chứng tá đức tin ấy sẽ trở nên khô cằn và vô cảm. Do đó, việc canh tân nội tâm theo gương thánh Carlos Borromeo là một nhu cầu cấp thiết không thể trì hoãn. Canh tân không phải là thay đổi cấu trúc bên ngoài hay tìm kiếm những hình thức phô trương mới lạ, mà là quay về với cội nguồn của Tin Mừng, bắt đầu từ việc thanh tẩy chính cõi lòng mình, dẹp bỏ sự kiêu ngạo để mặc lấy tâm tình khiêm hạ của Đức Kitô.
Trong đời sống gia đình, hình ảnh người cha, người mẹ cũng mang đậm phẩm chất của những người mục tử nhỏ bé trong “ghế gia đình”. Gia đình chính là hội thánh tại gia, nơi những mầm non đức tin được nuôi dưỡng và chăm bón từng ngày. Một người cha, người mẹ chân chính sẽ không quản ngại khó nhọc, hy sinh tuổi trẻ, sức lực và cả những sở thích cá nhân để đảm bảo cho con cái không chỉ có cơm ăn áo mặc, mà quan trọng hơn là được lớn lên trong bầu khí đạo đức, nhân bản và tình yêu thương chân thành. Thật đau lòng biết bao khi chứng kiến trong xã hội hiện đại, nhiều bậc phụ huynh vì mải miết chạy theo guồng quay kiếm tiền, danh vọng mà lãng quên đi trách nhiệm cốt lõi là hiện diện bên con cái, lắng nghe những trăn trở, lo âu của tuổi trẻ. Sự vắng bóng của cha mẹ về mặt tinh thần trong các gia đình vô tình tạo ra những khoảng trống tâm lý lớn, khiến giới trẻ dễ chao đảo trước những cám dỗ và lạc lối giữa dòng đời. Do đó, ơn gọi làm cha mẹ đòi hỏi một sự dấn thân triệt để, một thái độ sẵn sàng hy sinh cái tôi ích kỷ để trở thành điểm tựa bình an vững chắc cho những người con thân yêu.
Không chỉ dừng lại ở phạm vi gia đình, sứ mạng mục tử còn lan tỏa mạnh mẽ trong các mối tương quan xã hội và môi trường làm việc hằng ngày. Mỗi chúng ta, dù ở bất kỳ cương vị nào – là một người thầy cô giáo trên bục giảng, một bác sĩ trong bệnh viện, một nhân viên công sở hay một nhà lãnh đạo quốc gia – đều được mời gọi trở thành hiện thân của lòng nhân ái và sự công chính. Người Kitô hữu không thể đứng ngoài lề những nhức nhối của thời đại như đói nghèo, áp bức, bất công hay sự suy đồi đạo đức. Một xã hội văn minh không thể chỉ đo lường bằng những thành tựu khoa học kỹ thuật hay sự tăng trưởng kinh tế khô khan, mà phải được định lượng bằng cách đối xử với những mảnh đời bất hạnh, những con người bị gạt ra bên lề xã hội. Khi chúng ta biết dừng lại bên lề đường để nâng đỡ một tha nhân đang gặp hoạn nạn, khi chúng ta dũng cảm lên tiếng bảo vệ sự thật và công lý trước những áp lực gian dối, đó chính là lúc chúng ta đang thực thi sứ mạng của Người Mục Tử nhân lành giữa lòng thế giới tục hóa này.
Thánh sử Carlos Borromeo trong cuộc đời trần thế của ngài đã minh chứng rằng sự thánh thiện không phải là điều gì đó xa vời, không với tới được, mà là kết quả của một cuộc chiến đấu bền bỉ chống lại sự thỏa hiệp với tội lỗi. Ngài đã không ngần ngại đối diện với những thế lực đen tối và sự chống đối ngay trong chính hàng ngũ giáo sĩ thời bấy giờ để bảo vệ sự trong sạch của Giáo Hội. Ngài đi bộ khắp các nẻo đường của giáo phận rộng lớn, không quản ngại gian khổ, băng qua những dãy núi tuyết lạnh giá để đến với từng bản làng hẻo lánh, chỉ với một khát khao duy nhất là mang ơn sủng và lòng thương xót của Thiên Chúa đến cho các linh hồn. Thái độ ấy đánh thức tâm hồn mỗi chúng ta khỏi giấc ngủ mê mệt của sự an ủi tầm thường. Đôi khi, chúng ta quá hài lòng với đời sống đạo hình thức: đi lễ chiều Chúa Nhật, đọc vài kinh nguyện qua loa, đóng góp chút ít từ thiện rồi cho rằng mình đã hoàn thành trọn vẹn bổn phận với Thiên Chúa. Chúng ta quên mất rằng Đức Giêsu đòi hỏi một tình yêu triệt để hơn thế – một tình yêu dám lấm lem bùn đất của cuộc đời, dám bước vào những vùng tối tăm của đau khổ và tội lỗi để thắp lên ngọn lửa hy vọng.
Hơn thế nữa, mối dây liên kết giữa vị mục tử và đoàn chiên được định nghĩa bằng hai từ thiêng liêng: sự thấu hiểu và tình tri kỷ. “Ta biết chiên ta và chiên ta biết Ta”. Sự hiểu biết này không mang tính lý thuyết hay thống kê khô khan, mà là sự thấu cảm sâu sắc từ trái tim đến trái tim. Đức Giêsu thấu hiểu từng nỗi thống khổ thầm kín mà chúng ta không dám thổ lộ với bất kỳ ai, Ngài thấu hiểu những giọt nước mắt rơi trong đêm tối, những nỗi cô đơn giữa đám đông náo nhiệt và cả những yếu đuối, vấp ngã tưởng chừng không thể gượng dậy nổi của chúng ta. Trong tình yêu của Ngài, không có sự phán xét lạnh lùng, mà chỉ có sự bao dung vô bờ bến và bàn tay sẵn sàng vực dậy. Noi gương Thầy Chí Thánh, những người lãnh đạo, những người làm mục vụ trong Hội Thánh và xã hội hôm nay cũng phải học lấy bài học về nghệ thuật lắng nghe. Lắng nghe không chỉ bằng đôi tai thể lý, mà bằng cả cõi lòng rộng mở, biết đặt mình vào vị trí của người khác để cảm thấu những niềm vui, nỗi buồn, những khắc khoải và ước mơ của họ. Một người lãnh đạo độc tài, chỉ biết áp đặt mệnh lệnh mà không màng đến tâm tư nguyện vọng của cấp dưới hay đoàn chiên sẽ chỉ tạo ra sự phục tùng ngoài mặt nhưng xa cách trong tâm hồn. Ngược lại, quyền lính đích thực là quyền làm phục vụ, và quyền lực cao cả nhất trong vương quốc của Thiên Chúa chính là quyền được yêu thương và hy sinh đến cùng.
Nhìn về tương lai của Hội Thánh và nhân loại, thách đố đặt ra cho mỗi Kitô hữu ngày càng trở nên gai góc hơn. Sự tiến bộ vũ bão của công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo mang lại cho con người nhiều tiện ích chưa từng có, đồng thời cũng đẩy con người vào một cuộc khủng hoảng hiện sinh sâu sắc: sự cô đơn giữa thế giới siêu kết nối. Con người ngày nay có thể trò chuyện với hàng triệu người trên không gian mạng, nhưng lại trở nên xa lạ với chính những người ruột thịt ngồi chung một mái nhà. Trong bối cảnh ấy, sứ mạng của người mục tử Kitô giáo lại càng trở nên khẩn thiết hơn bao giờ hết. Chúng ta được sai đi để hàn gắn những rạn nứt, để khâu lại những vết thương lòng do sự ích kỷ và vô cảm gây ra, và trên hết, để đưa những con chiên đang lang thang lạc lõng trong bóng tối của sự thất vọng trở về với mái nhà bình an của Chúa Cha. Điều này đòi hỏi mỗi người phải nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện sâu sắc. Không thể trở thành người mục tử nhân lành nếu chúng ta thiếu đi mối thâm giao mật thiết với nguồn mạch sự sống là chính Thiên Chúa. Chỉ khi ở lại trong Thầy Giêsu, chúng ta mới có thể kín múc được nguồn sức mạnh vô tận để yêu thương những kẻ khó yêu, để kiên nhẫn với những người cứng lòng và để tha thiết hy sinh cho sứ mạng mà Chúa đã trao phó.
Trải dọc theo chiều dài lịch sử ơn gọi Kitô hữu, chúng ta thấy biết bao tấm gương anh dũng đã đổ máu đào hoặc mồ hôi nước mắt để làm chứng cho Tin Mừng. Họ không phải là những siêu nhân không biết đau đớn hay sợ hãi, nhưng họ là những con người yếu đuối biết để cho ơn thánh của Thiên Chúa biến đổi hoàn toàn. Thánh Gioan Vianney, vị thánh bổn mạng của các cha sở trên toàn thế giới, từng phải vật lộn với biết bao mặc cảm về khả năng trí tuệ hạn chế của mình, nhưng chính nhờ tình yêu mãnh liệt dành cho các linh hồn và đời sống cầu nguyện thầm lặng suốt nhiều tiếng đồng hồ trong tòa giải tội, ngài đã trở thành ngọn đuốc sưởi ấm hàng ngàn tâm hồn hoảng loạn. Ngài đã sống trọn vẹn tinh thần của Người Mục Tử nhân lành, xem mỗi hối nhân đến với mình là một báu vật vô giá được trao phó từ trái tim Chúa Kitô. Câu nói nổi tiếng của ngài về linh mục: “Sức mạnh của linh mục chính là tình yêu của Trái Tim Chúa Giêsu” cũng là lời nhắc nhở mạnh mẽ cho tất cả chúng ta: bất cứ năng lực nào chúng ta có, dù là sự khôn ngoan, tài năng hay của cải vật chất, đều vô nghĩa nếu không được đặt dưới ngọn lửa của tình yêu thương vị tha.
Khi suy ngẫm về hình ảnh “những con chiên khác không thuộc rồng này” mà Đức Giêsu nhắc đến trong đoạn Tin Mừng, tâm hồn chúng ta được mở rộng ra với biên giới của tinh thần truyền giáo toàn cầu. Trái tim của Người Mục Tử nhân lành không bao giờ bị đóng khung trong những bức tường thành hẹp hòi của sự ích kỷ cộng đoàn hay chủ nghĩa biệt phái cực đoan. Ngài luôn thao thức về những con chiên chưa nhận biết Ngài, những người đang sống trong bóng tối của sự dốt nát tâm linh, những nền văn hóa chưa một lần được nghe vang lên Tin Mừng cứu độ. Trách nhiệm mang Tin Mừng đến cho muôn dân không chỉ là độc quyền của các nhà thừa xả thân nơi chốn rừng thiêng nước độc, mà là sứ mạng chung của toàn thể thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô – tức là Hội Thánh. Mỗi người trong cuộc sống thường nhật, bằng đời sống chứng tá âm thầm, qua sự trung thực trong công việc, lòng bác ái trong gia đình và niềm vui rạng ngời trên khuôn mặt giữa những giông bão cuộc đời, đều đang góp phần phác họa nên khuôn mặt nhân hậu của Thiên Chúa cho những người xung quanh chiêm ngắm.
Đời sống tông đồ đòi hỏi một sự kiên nhẫn phi thường. Đôi khi, chúng ta cảm thấy chán nản khi những nỗ lực yêu thương, khuyên bảo của mình không mang lại kết quả nhãn tiền, khi những người thân yêu vẫn cứng lòng trước ơn sủng Chúa, hoặc khi cộng đoàn chúng ta đang sống vẫn còn nhiều chia rẽ, bất hòa. Chính trong những thời khắc khô khan và thử thách ấy, cái nhìn của chúng ta cần phải hướng về đồi Calvariô – nơi vị Mục Tử nhân lành chịu treo lơ lửng trên thập giá giữa hai tên gian xưởng. Ngài không dùng quyền năng lẫy lừng để giáng phạt những kẻ bách hại mình, nhưng lại thốt lên lời cầu xin đầy xót thương: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”. Đó là đỉnh cao của tình yêu mục tử: yêu đến cùng, yêu ngay cả những kẻ thù ghét mình, yêu bằng một thứ tình yêu không đòi đền đáp. Sự thành công trong mắt Thiên Chúa không được đo bằng số lượng thống kê hay sự hào nhoáng bên ngoài, mà được cân bằng trên chiếc cân của lòng trung kiên và sự hiến dâng trọn vẹn, dẫu cho con đường phía trước có chông gai và cô độc đến đâu đi nữa.
Nhìn lại chặng đường suy tư dài rộng này, chúng ta được mời gọi đưa những chân lý cao cả ấy vào trong thực hành nhịp sống hằng ngày. Hãy bắt đầu từ việc canh tân những mối tương quan gần gũi nhất trong gia đình và cộng đoàn của bạn. Hãy buông xuống những giận hờn, tỵ hiềm và sự xét đoán lạnh lùng để thay vào đó là một cái ôm siết chặt, một lời xin lỗi chân thành và một ánh mắt cảm thông sâu sắc. Hãy để cho ngọn lửa của lòng khiêm nhường – ngọn lửa từng sưởi ấm cuộc đời thánh Carlos Borromeo và biết bao vị thánh vĩ đại khác – bùng cháy trong cõi lòng chúng ta. Khi chúng ta dám sống khiêm hạ, dám từ bỏ cái tôi ngạo mạn để phục vụ tha nhân với tất cả sự chân thành, đó là lúc chúng ta thực sự bước đi trên vết chân của Vị Mục Tử tối cao.
Nguyện xin Thiên Chúa, qua lời bầu cử thiêng liêng của Đức Trinh Nữ Maria – Mẹ của lòng xót thương và các thánh mục tử anh dũng trên trời, ban ngập tràn ơn thánh suối nguồn sự sống xuống trên mỗi người chúng ta. Xin Ngài biến đổi tâm hồn chúng ta thành những mục tử như lòng Chúa mong ước: biết lắng nghe tiếng nói của Ngài, biết thấu hiểu và yêu thương đoàn chiên bằng một trái tim rộng mở, biết can đảm dấn thân hy sinh cho công lý và sự thật, để qua cuộc đời trần thế đong đầy âm hưởng yêu thương này, chúng ta xứng đáng bước vào đồng cỏ vĩnh hằng, nơi ngài hằng sống và hiển trị muôn đời.
Lm. Anmai, CSsR

MỤC TỬ NHÂN LÀNH VÀ SỰ HIẾN DÂNG TRỌN VẸN TRONG ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN VÀ TÔNG ĐỒ
Kính thưa quý cộng đoàn phụ vụ, khi chúng ta bước vào cử hành mầu nhiệm thánh thiêng của Lời Chúa và phụ ân cứu độ, tâm hồn chúng ta được mời gọi hướng về hình ảnh tuyệt mỹ và nguyên thủy của vị Mục Tử tối cao. Trong lịch sử cứu độ và qua dòng chảy trường tồn của Hội Thánh, Thiên Chúa chưa bao giờ bỏ rơi đoàn chiên của Ngài. Ngài luôn quan phòng, chăm sóc và nuôi dưỡng nhân loại bằng tình yêu đích thực, một tình yêu không dừng lại ở lời nói suông hay những cam kết hời hợt, mà đã bước vào lịch sử con người bằng cả máu và sự sống. Hình ảnh người mục tử chăm sóc đoàn chiên không chỉ là một ẩn dụ mang tính văn chương hay một biểu tượng xã hội quen thuộc của thế giới du mục cổ đại, mà đó chính là bản chất sâu thẳm nhất của Thiên Chúa, là khuôn mặt đích thực của Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã tự hiến mình trên cây thập giá để quy tụ con cái Thiên Chúa đang bị tản mác khắp nơi về một mối.
Khi chiêm ngắm dung nhan của vị Mục Tử nhân lành, chúng ta không thể không nhắc đến những bậc thầy tâm linh, những vị mục tử anh dũng trong lịch sử Hội Thánh, những con người đã để cho tinh thần Tin Mừng thấm đượm toàn bộ cuộc đời mình, biến đổi từng nhịp đập của trái tim để trở nên hình bóng sống động của chính Đức Ki-tô giữa trần gian. Cuộc đời của các ngài là một minh chứng hùng hồn rằng chức vụ hay quyền bính trong Hội Thánh không bao giờ là một đặc quyền để hưởng thụ, vinh thân phì gia hay tìm kiếm danh vọng hão huyền theo tiêu chuẩn trần thế, nhưng là một lời mời gọi bước lên đồi calvario, là sứ mạng chấp nhận hao mòn, phục vụ đến hơi thở cuối cùng vì sự sống và phần rỗi của tha nhân. Trong bối cảnh thế giới hôm nay, một thế giới đang trải qua vô vàn biến động, khủng hoảng và đứt gãy về giá trị đạo đức, hình ảnh người mục tử nhân lành lại càng trở nên cấp bách, thiết tha và mang tính thời sự hơn bao giờ hết. Xã hội hiện đại đang chứng kiến biết bao nhiêu sự lãnh đạm, ích kỷ, nơi mà con người dễ dàng quy kỷ, tìm kiếm lợi ích riêng tư và bỏ rơi những ai đang quằn quại trong đau khổ, nghèo đói và cô đơn. Giữa dòng đời trôi nổi và đầy rẫy hiểm nguy ấy, tiếng gọi của Đức Ki-tô vẫn vang lên mạnh mẽ, mời gọi những ai bước theo Ngài hãy mặc lấy trái tim của Người Mục Tử nhân lành, một trái tim biết thổn thức trước nỗi đau của đoàn chiên, biết dung dưỡng niềm hy vọng và sẵn sàng dấn thân không mệt mỏi để bảo vệ, dẫn dắt các linh hồn về với nguồn mạch sự sống đích thực.
Để hiểu thấu đáo và sống trọn vẹn tinh thần mục tử này, trước hết chúng ta cần phải quay về với cội nguồn Kinh Thánh, nơi Đức Ki-tô khẳng định một cách dứt khoát và đầy quyền năng về sứ mạng của Ngài. Ngài tuyên bố một cách mạnh mẽ rằng Ngài chính là mục tử nhân lành, và điểm khác biệt cốt lõi giữa mục tử đích thực với kẻ làm thuê nằm ở chỗ thái độ đối diện với nguy hiểm và thử thách. Kẻ làm thuê, hay còn gọi là người asalariado, đến với đoàn chiên không vì tình yêu thương hay sự gắn bó máu thịt, mà chỉ vì quyền lợi cá nhân, vì bổng lộc hay địa vị tạm bợ. Đối với họ, đoàn chiên chỉ là phương tiện để mưu cầu lợi ích riêng. Do đó, khi bóng tối của thử thách buông xuống, khi sói dữ xuất hiện đe dọa sự sống còn của đoàn chiên, bản năng tự nhiên của kẻ làm thuê lập tức trỗi dậy: họ quay lưng, bỏ trốn và để mặc cho đoàn chiên bơ vơ chịu cảnh tàn sát, phân tán. Sự hèn nhát và ích kỷ của kẻ làm thuê xuất phát từ việc trái tim họ hoàn toàn trống rỗng tình yêu thương đích thực. Ngược lại, vị mục tử nhân lành lại nhìn đoàn chiên bằng ánh mắt của sự sở hữu thiêng liêng, một sự gắn kết vị tha và trọn vẹn đến mức dám hy sinh cả sinh mạng mình. Đức Giê-su không ví mình như một kẻ ban phát ân huệ từ xa, nhưng là Đấng bước vào giữa lòng bầy chiên, chia sẻ từng nhịp sống, thấu hiểu từng nhu cầu, gọi tên từng con chiên và quan trọng hơn hết, Ngài đặt trọn vẹn mạng sống của mình làm giá chuộc cho đoàn chiên được sống và sống dồi dào. Sự hy sinh này không phải là một sự ngẫu nhiên bi thảm, mà là đỉnh cao của một tình yêu tự nguyện, một sự dâng hiến hoàn toàn theo thánh ý của Chúa Cha để thiết lập một giao ước vĩnh cửu giữa Thiên Chúa và nhân loại.
Sự hiểu biết thấu triệt giữa mục tử và đoàn chiên cũng là một khía cạnh vô cùng quan trọng mà Đức Ki-tô đã mặc khải. Ngài khẳng định rằng Ngài biết rõ những con chiên của mình và chúng cũng biết rõ Ngài, tương tự như sự thấu hiểu huyền nhiệm và vĩnh cửu giữa Chúa Cha và Chúa Con. Sự biết nhau ở đây không chỉ dừng lại ở mức độ nhận diện bên ngoài hay một danh sách thống kê khô khan, mà là sự thấu cảm từ sâu thẳm tâm can, một sự hiệp thông nội tâm mãnh liệt được xây dựng trên nền tảng của lòng tin tưởng tuyệt đối và tình yêu mến chân thành. Người mục tử chân chính không bao giờ coi đoàn chiên là những khối đông vô tri vô giác, mà là những nhân vị có phẩm giá cao quý, được Thiên Chúa yêu thương bằng một tình yêu đời đời. Sự thấu hiểu ấy giúp cho người mục tử nhận ra ngay cả những vết thương âm thầm nhất, những nỗi thống khổ được che giấu đằng sau sự im lặng, những yếu đuối mỏng giòn của con người để từ đó mà ôm ấp, xoa dịu, băng bó và vực dậy. Khi một con chiên đi lạc trong màn đêm mịt mùng của tội lỗi hay tuyệt vọng, người mục tử không đứng từ xa phán xét hay lên án, mà sẵn sàng bước ra khỏi vùng an toàn của mình, băng qua núi cao vực sâu, kiên nhẫn tìm kiếm cho bằng được để đưa về rồng ấm. Đó chính là phong cách của Thiên Chúa, phong cách của lòng xót thương vô biên không muốn cho bất cứ một ai phải hư mất.
Hơn thế nữa, tầm nhìn của vị Mục Tử nhân lành còn vượt xa khỏi những ranh giới chật hẹp của một ràn chuồng cố định. Đức Ki-tô đã khẳng định rằng Ngài còn có những con chiên khác không thuộc về ràn này, và Ngài có bổn phận phải quy tụ chúng lại, để rồi cuối cùng sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử duy nhất. Đây là một viễn tượng truyền giáo vĩ đại, mở ra chân trời bao la cho toàn thể nhân loại. Trái tim của người mục tử không có chỗ cho sự kỳ thị, đóng kín hay loại trừ. Ngài luôn thao thức về những mảnh đời chưa nhận biết ánh sáng Tin Mừng, những tâm hồn đang lang thang chốn bơ vơ, những con người bị gạt ra bên lề xã hội hoặc bị giam cầm trong những ý hệ lầm lạc. Trách nhiệm của những người bước theo chân Đức Ki-tô trong sứ mạng mục tử hôm nay chính là tiếp nối thao thức ấy, mở rộng biên giới của tình yêu thương, phá đổ những bức tường kỳ thị và định kiến để mang hơi ấm Tin Mừng đến cho mọi ngóc ngách của trần gian. Sứ mạng này đòi hỏi một sự can đảm phi thường, một tinh thần dấn thân triệt để và một sự quảng đại không bờ bến, sẵn sàng vượt qua mọi rào cản văn hóa, ngôn ngữ và địa lý để đem ơn cứu độ đến cho tất cả mọi người.
Nhìn lại lịch sử huy hoàng của Hội Thánh, chúng ta thấy Thiên Chúa đã nhiều lần làm bừng sáng lên những tấm gương ngời sáng hiện thân cho hình ảnh vị Mục Tử nhân lành này. Một trong những minh chứng sống động và mãnh liệt nhất chính là cuộc đời và sứ vụ của thánh nhân mà chúng ta mừng kính hôm nay, một vị mục tử lớn đã để lại dấu ấn không thể phai mờ trong lòng Hội Thánh qua việc canh tân, cải tổ và hiến thân trọn vẹn cho đoàn chiên tại Tổng giáo phận Milán. Ngài sinh ra trong một gia đình quý tộc danh giá, có đầy đủ mọi điều kiện để hưởng thụ một cuộc sống nhung lụa, quyền quý và an nhàn theo tiêu chuẩn của thế gian. Thế nhưng, ánh sáng của đức tin và ơn gọi thánh thiêng đã đánh thức tâm hồn ngài, thôi thúc ngài từ bỏ những vinh quang chóng qua của trần thế để dấn thân trọn vẹn vào con đường phụng sự Thiên Chúa và phục vụ các linh hồn. Khi được đặt làm chủ chăn của một giáo phận lớn lao nhưng đang rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng về kỷ luật, đức tin và đạo đức, ngài đã không chọn con đường an phận thủ thường hay thỏa hiệp với thực tại đồi trụy lúc bấy giờ. Trái lại, với một nghị lực phi thường và một lòng nhiệt thành cháy bỏng như ngọn lửa thanh luyện, ngài đã bắt tay vào công cuộc canh tân triệt để toàn bộ đời sống giáo hội, từ hàng giáo sĩ cho đến cộng đoàn tín hữu.
Công cuộc cải tổ của vị thánh mục tử này không phải là một chuỗi những hình thức hành chính khô khan hay những sắc lệnh cứng nhắc, mà xuất phát từ một tâm hồn yêu mến Hội Thánh đến cùng. Ngài hiểu rằng để canh tân đoàn chiên, trước hết phải canh tân chính mình và những người làm chủ chăn. Do đó, ngài đã thiết lập các chủng viện để đào tạo hàng linh mục một cách nghiêm ngặt, chú trọng đến đời sống cầu nguyện, tri thức thần học và nhân đức thánh thiện, nhằm tránh tình trạng linh chức bị biến chất thành một nghề nghiệp mưu sinh. Ngài đã không ngần ngại đi đến từng ngóc ngách xa xôi nhất trong giáo phận rộng lớn của mình, băng qua những con đường hiểm trở núi non, lội suối băng ngàn để viếng thăm tận nhà các tín hữu, lắng nghe những ưu tư trăn trở của họ và đem các bí tích lại gần với đời sống thường nhật của con người. Đối với ngài, mục tử thực thụ là người có đôi giày mòn vì đi tìm chiên, có đôi tay chai sạn vì lao nhọc và có trái tim luôn rộng mở đón nhận mọi mảnh đời bất hạnh. Sự hiện diện của ngài giữa lòng giáo phận không chỉ là sự hiện diện của một nhà quản trị tài ba, mà là sự hiện diện của người cha, người thầy và người bạn hiền luôn sẵn sàng hy sinh tất cả vì đoàn chiên yêu dấu của mình.
Đỉnh cao của tình yêu mục tử nơi vị thánh nhân này được bộc lộ một cách rực rỡ nhất trong những năm tháng thảm họa khủng khiếp của nạn đói và dịch bệnh hoành hành khắp miền đất ngài canh giữ. Khi cả thành phố chìm trong tang tóc, đó kém, bệnh tật và hoảng loạn, khi mà nhiều người vì sợ hãi cái chết đã tìm cách tháo chạy để bảo vệ tính mạng bản thân, thì vị chủ chăn ấy lại chọn con đường ngược lại: ngài dấn thân bước vào tâm dịch, ở lại cùng đoàn chiên nghèo khổ, đem hết tài sản gia đình và của cải giáo phận để cứu trợ lương thực, thuốc men, an ủi những kẻ hấp hối và ban các bí tích cho những người nhiễm bệnh nặng. Có những lúc ngài kiệt sức vì làm việc quá tải, đối diện trực tiếp với tử thần từng giây từng phút, nhưng lòng yêu mến các linh hồn chưa bao giờ phai nhạt trong ngài. Khi được khuyên nhủ hãy tự bảo vệ mình và rời khỏi vùng nguy hiểm để giữ gìn sức khỏe cho tương lai giáo phận, ngài đã khẳng định một cách đanh thép rằng người mục tử chân chính không bao giờ được phép trốn chạy khi thấy sói dữ hay hiểm nguy đe dọa đàn chiên của mình. Ngài sẵn sàng hiến mạng sống mình, vắt kiệt từng giọt năng lượng cuối cùng của cuộc đời để chu toàn sứ mạng mà Thiên Chúa đã ủy thác. Cuộc đời ngài khép lại khi tuổi đời còn rất trẻ, nhưng di sản mà ngài để lại là một tượng đài bất tử về lòng hy sinh cao cả, về ngọn lửa bác ái không bao giờ tắt giữa lòng nhân loại đau thương.
Nhìn vào cuộc đời của vị thánh mục tử vĩ đại ấy, chúng ta được mời gọi soi chiếu lại chính bản thân mình, đặc biệt là trong bối cảnh đời sống Hội Thánh và xã hội hôm nay. Mỗi người chúng ta, dù ở bất cứ bậc sống nào, dù là linh mục, tu sĩ hay giáo dân, đều được Chúa trao phó một sứ mạng mục tử theo những cách thức và hoàn cảnh khác nhau. Cha mẹ là mục tử trong gia đình nhỏ của mình, có nhiệm vụ nuôi dưỡng, giáo dục và dẫn dắt con cái bước đi trên con đường sự thật và tình yêu của Thiên Chúa. Những nhà lãnh đạo, những người có trách nhiệm trong xã hội là mục tử đối với cộng đồng, có sứ mạng phục vụ công ích, bảo vệ quyền lợi của người yếu thế và xây dựng một trật tự xã hội công bằng, bác ái. Các linh mục và tu sĩ là những mục tử được hiến thánh để chăm sóc phần rỗi các linh hồn, làm nhịp cầu nối kết giữa trời cao và đất thấp. Thế nhưng, trong thực tế cuộc sống, bao nhiêu lần chúng ta đã vô tình rơi vào thái độ của kẻ làm thuê? Bao nhiêu lần chúng ta đã chọn sự an toàn ích kỷ, sự dửng dưng vô cảm trước những nỗi đau khổ, nghèo đói hay khủng hoảng tinh thần của anh chị em xung quanh? Bao nhiêu lần chúng ta từ chối dấn thân, từ chối hy sinh thời gian, công sức và của cải vì sợ bị thiệt thòi, sợ bị tổn thương hoặc sợ mất đi những lợi ích vật chất tầm thường?
Thái độ dửng dưng và trốn chạy trách nhiệm trước những khó khăn của tha nhân chính là căn bệnh trầm kha của con người thời đại mới. Chúng ta dễ dàng sống khép kín trong không gian ảo của bản thân, tự mãn với những thành công cá nhân và bàng quan trước tiếng kêu cứu của những người đang bị tản mác, bị thương tổn trên các nẻo đường cuộc sống. Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay và tấm gương sáng ngời của vị thánh mục tử Milán đến như một lời cảnh tỉnh mạnh mẽ, đánh thức tâm hồn đang u mê và ngủ quên trong tiện ích vật chất của chúng ta. Chúa Giê-su không gọi chúng ta trở thành những kẻ hưởng thụ ơn cứu độ một cách ích kỷ, mà gọi chúng ta trở thành những chứng nhân của tình yêu tự hiến. Để trở thành mục tử nhân lành trong gia đình, trong môi trường làm việc, trong giáo xứ và trong xã hội hôm nay, chúng ta cần phải có một cuộc hoán cải tâm hồn sâu sắc. Hoán cải để vượt qua nỗi sợ hãi, vượt qua tính toán thiệt hơn, để mở rộng trái tim đón nhận tha nhân bằng tất cả lòng trắc ẩn và sự bao dung.
Sự dấn thân phục vụ đòi hỏi trước hết một đời sống cầu nguyện thâm sâu và sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa nguồn mạch mọi tình yêu. Không ai có thể cho cái mà mình không có, và không ai có thể hy sinh mạng sống vì người khác nếu bản thân họ chưa từng cảm nghiệm được tình yêu hy sinh đến cùng của Đức Ki-tô trên cây thập giá. Chính trong kinh tế thinh lặng của sự cầu nguyện, nơi chúng ta thưa chuyện với Chúa và để cho Ngài uốn nắn trái tim chúng ta theo nhịp đập của Trái Tim Người, chúng ta mới nhận được nguồn sức mạnh nội tâm phi thường để bước đi trên con đường phục vụ. Khi đối diện với những nghịch cảnh, những hiểu lầm, những chống đối hay những thất vọng trong sứ mạng, chính ơn thánh Chúa sẽ là chỗ dựa vững chắc giúp chúng ta không ngã lòng chùn bước. Người mục tử chân chính không tìm kiếm tiếng vỗ tay tung hô của thế gian, không nhắm tới quyền lực hay danh vọng trần thế, mà chỉ tìm kiếm một phần thưởng duy nhất: sự sống đời đời và niềm vui được thấy anh chị em mình được cứu rỗi, được bình an trong ân sủng của Thiên Chúa.
Hơn nữa, tinh thần mục tử nhân lành còn đòi hỏi chúng ta phải có một đôi mắt biết nhìn thấy nhu cầu của tha nhân và một đôi tay sẵn sàng hành động chứ không chỉ dừng lại ở những lời thăm hỏi xã giao. Trong đời sống hằng ngày, có biết bao nhiêu con người đang chịu đựng những vết thương sâu thẳm trong tâm hồn, những người đang cảm thấy cô độc ngay giữa lòng đô thị phồn hoa, những người đang mất đi niềm tin vào cuộc sống vì quá nhiều giông bão đè nặng lên đôi vai. Sự hiện diện của chúng ta, dẫu nhỏ bé, nhưng nếu được đượm nhuồng bởi tình yêu chân thành và sự quan tâm sâu sắc, có thể trở thành chiếc phao cứu sinh nâng đỡ họ đứng lên. Một lời động viên đúng lúc, một cái ôm siết chặt giữa lúc khốn khó, một sự kiên nhẫn lắng nghe những tâm sự buồn tủi hay một hành động bác ái âm thầm sẻ chia miếng cơm manh áo đều là những biểu hiện cụ thể của tinh thần mục tử mà Tin Mừng đòi hỏi ở mỗi người Ki-tô hữu chúng ta. Đừng bao giờ nghĩ rằng mình quá nhỏ bé không thể làm được gì lớn lao, bởi vì trong nhãn quan của Thiên Chúa, mọi cử chỉ nhỏ bé được thực hiện với tình yêu thương vĩ đại đều có sức mạnh biến đổi cả một thế giới u ám trở nên bừng sáng ánh vinh quang.
Chúng ta cũng cần đặc biệt cầu nguyện cho hàng giáo sĩ, cho các mục tử đang trực tiếp lãnh đạo và chăm sóc các cộng đoàn dân Chúa khắp nơi trên thế giới. Đời sống linh mục hôm nay phải đối diện với vô vàn cạm bẫy, cám dỗ và áp lực từ một xã hội tục hóa mạnh mẽ, nơi mà các giá trị vật chất, hưởng thụ và chủ nghĩa cá nhân đang tìm cách xói mòn tinh thần khó nghèo, vâng phục và khiết tịnh. Xin Chúa ban cho các mục tử của Hội Thánh ơn can đảm, ơn khôn ngoan và một lòng nhiệt thành tông đồ không mệt mỏi, để các ngài luôn giữ được ngọn lửa tình yêu ban đầu dành cho Thiên Chúa và cho đoàn chiên. Xin cho các ngài biết noi gương các bậc thánh nhân đi trước, sẵn sàng vắt kiệt sức lực, từ bỏ ý riêng để hoàn trọn thánh ý Chúa, trở thành những nhịp cầu vững chắc đưa con người đến với ơn cứu độ đời đời. Đồng thời, mỗi người giáo dân chúng ta cũng được mời gọi cộng tác đắc lực với các mục tử của mình, không phải bằng sự chỉ trích lạnh lùng hay thái độ bàng quan đứng ngoài cuộc, mà bằng sự nâng đỡ trân trọng, bằng những lời cầu nguyện thiết tha dâng lên Thiên Chúa mỗi ngày và bằng một đời sống đức tin sống động, sốt sắng trong gia đình cũng như ngoài xã hội.
Khi suy ngẫm về hình ảnh người mục tử nhân lành và cuộc đời tận hiến của vị thánh muôn vàn kính yêu mà chúng ta tưởng niệm hôm nay, tâm hồn chúng ta tràn ngập niềm hy vọng và sự phó thác tuyệt đối vào lòng thương xót Chúa. Dù cuộc đời có trải qua bao nhiêu giông bão, dù thế giới có đổi thay với bao nhiêu biến động phức tạp, thì tình yêu của Thiên Chúa vẫn mãi là chiếc mỏ neo vững chắc giữ cho tâm hồn chúng ta luôn bình an và hướng thượng. Ngài vẫn đang tiếp tục đi tìm những con chiên lạc, vẫn đang băng qua những thung lũng tăm tối của nhân loại để ôm lấy từng người chúng ta vào trái tim nhân hậu của Ngài. Vấn đề đặt ra cho mỗi chúng ta không phải là việc chờ đợi một phép lạ lớn lao từ trời cao, mà là sự quảng đại thưa tiếng “Xin Vâng”, đáp lại ơn gọi yêu thương ngay trong hoàn cảnh tầm thường và bé nhỏ của đời sống thường ngày. Hãy để cho trái tim chúng ta được biến đổi, để mỗi nhịp đập của cuộc đời đều hòa chung vào nhịp đập yêu thương vô biên của Vị Mục Tử Tối Cao, Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
Trong giờ phút thiêng liêng này của bàn tiệc Thánh Thể, khi chúng ta chuẩn bị rước Mình và Máu Thánh Chúa Ki-tô vào lòng, hãy dâng lên Ngài trọn vẹn con người chúng ta với tất cả những yếu đuối, bất toàn nhưng cũng đầy khát khao hướng thiện. Xin Chúa dưỡng nuôi chúng ta bằng chính nguồn mạch sự sống của Ngài, ban ơn biến đổi chúng ta trở nên những mục tử nhân lành giữa lòng thế giới hôm nay, biết sống cho tha nhân, biết hiến mình vì chân lý và tình yêu. Xin ơn thánh của Ngài ở lại với chúng ta luôn mãi, để qua cuộc sống chứng tá âm thầm nhưng kiên định của mỗi người, dung nhan nhân hậu và quyền năng cứu độ của Thiên Chúa tiếp tục được tỏ hiện rạng ngời giữa trần gian, mang lại bình an, hy vọng và ơn cứu độ cho muôn người cho đến muôn đời.
Lm. Anmai, CSsR

Previous articleChúng tôi tin có sự thông công các thánh” – câu tuyên xưng bị lãng quên nhiều nhất trong Kinh Tin Kính – Lm. Anmai, CSsR
Next articleTIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO Thứ Tư, ngày 4 tháng 11 năm 2026 Tổng hợp và biên soạn: Lm. Anmai, CSsR