Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) Sáu tuần XXXX TN – Lm. Anmai, CSsR

19

Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) Sáu tuần XXXX TN – Lm. Anmai, CSsR

NHÂN LOẠI KỲ DIỆU GIỮA THỜI ĐẠI CỦA MÁY MÓC – Lm. Anmai, CSsR
Suy tư mục vụ về phẩm giá con người, mái ấm gia đình và dung mạo của Giáo hội trong thế giới số

NGÔI NHÀ NADARÉT VÀ GIỜ KINH TỐI MÓC – Lm. Anmai, CSsR

XIN ĐỪNG ĐỂ CON NGƯỜI BIẾN MẤT GIỮA NHỮNG TIỆN NGHI DÀNH CHO CON NGƯỜI – Lm. Anmai, CSsR

XIN ĐÓN MẸ VÀO NHÀ – Lm. Anmai, CSsR

CHÚNG TA ĐANG SỐNG, HAY ĐANG ĐÁNH MẤT ĐỜI MÌNH TỪNG NGÀY – Lm. Anmai, CSsR

ĐỪNG ĐỂ CẢ ĐỜI GIỮ ĐẠO MÀ CHƯA MỘT LẦN CHO CHÚA SỬA MÌNH – Lm. Anmai, CSsR

ĐỪNG ĐỂ NGƯỜI NHÀ PHẢI SỢ MỘT NGƯỜI RẤT SIÊNG ĐI LỄ – Lm. Anmai, CSsR

ĐAN VIỆN MỸ CA – MỘT ĐỜI TÌM CHÚA QUA NHỮNG THĂNG TRẦM – Lm. Anmai, CSsR

THÁNG MƯỜI MỘT: NGƯỜI ĐÃ ĐI XA, TÌNH YÊU CÒN Ở LẠI Lm. Anmai, CSsR

T 6 T 30 TN : TÌNH YÊU VƯỢT TRÊN SỰ CỨNG NHẮC ĐỪNG ĐỂ NGƯỜI ĐAU KHỔ PHẢI CHỜ ĐỢI LÒNG THƯƠNG XÓT – Lm. Anmai, CSsR

T 6 T 30 TN : ĐÁNH THỨC CÕI LÒNG BẰNG ÁNH NHÌN YÊU THƯƠNG CỦA CHÚA – Lm. Anmai, CSsR

THÁNG MƯỜI MỘT: NGƯỜI ĐÃ ĐI XA, TÌNH YÊU CÒN Ở LẠI Lm. Anmai, CSsR

ÁNH SÁNG TRÊN GIƯỜNG BỆNH – Lm. Anmai, CSsR

ÁNH SÁNG TRÊN GIƯỜNG BỆNH – Lm. Anmai, CSsR

LỜI NGUYỆN THỨ SÁU TUẦN XXX MÙA THƯỜNG NIÊN
Xin cho chúng con đừng trì hoãn yêu thương
Lạy Chúa Giêsu, giữa bữa ăn có những ánh mắt đang dò xét, Chúa vẫn nhìn thấy một con người đang đau khổ. Giữa những người bận tâm đến việc bắt lỗi, Chúa quan tâm đến một người cần được chữa lành. Chúa thấy nỗi đau của người bệnh, thấy sự mệt mỏi của thân xác, thấy cả những điều người ấy chưa kịp nói thành lời. Hôm nay, xin cho chúng con được đứng trước ánh mắt ấy của Chúa, với những thương tích đang mang, những yếu đuối đang giấu và những gánh nặng khiến lòng chúng con không còn thanh thản. Xin đỡ lấy chúng con như Chúa đã đỡ lấy người bệnh năm xưa, để chúng con biết rằng mình vẫn được yêu thương, vẫn có thể đứng dậy và bước tiếp.
Lạy Chúa, điều khiến chúng con đau lòng trong bài Tin Mừng là sự im lặng trước một người cần được cứu giúp. Nhưng khi nhìn lại đời mình, chúng con nhận ra mình cũng đã nhiều lần im lặng như thế. Chúng con thấy người khác buồn mà ngại hỏi han; biết có người cần giúp mà sợ phiền phức; nghe một lời làm tổn thương người vắng mặt mà không dám lên tiếng bênh vực. Có khi chúng con đợi một lúc thuận tiện hơn để thăm người bệnh, đợi mình dư dả hơn để giúp người nghèo, đợi người thân thay đổi rồi mới trao lại sự dịu dàng. Xin tha thứ cho những lần chúng con để một người đau khổ phải chờ đợi quá lâu trước cánh cửa lòng mình.
Xin chữa lành nơi chúng con thứ đạo đức có nhiều lời hay nhưng thiếu một bàn tay nâng đỡ. Xin đừng để chúng con sốt sắng trong nhà thờ mà lạnh lùng trong mái nhà của mình, dễ xúc động trước một câu chuyện xa xôi mà không nhận ra nước mắt của người đang sống bên cạnh. Xin cho lời kinh làm lòng chúng con mềm lại, cho Thánh lễ giúp chúng con biết trao ban, cho việc giữ đạo đưa chúng con đến gần anh chị em hơn. Khi chúng con chăm lo chu toàn những bổn phận đức tin, xin giúp chúng con nhớ rằng người đang đói, đang bệnh, đang cô đơn cũng là người Chúa đặt trước mặt chúng con để yêu thương.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đỡ lấy bệnh nhân. Xin dạy chúng con biết đỡ lấy nhau trong cuộc sống: đỡ một người già đang bước chậm, đỡ một người mẹ đang kiệt sức, đỡ một người cha đang thất vọng vì không lo nổi cho gia đình, đỡ một người trẻ đang mất phương hướng. Xin cho chúng con biết nâng đỡ bằng những việc thật nhỏ mà thật lòng: một cuộc gọi hỏi thăm, một bữa cơm được chuẩn bị, một lần kiên nhẫn lắng nghe, một lời xin lỗi được nói ra. Khi không thể giải quyết hết nỗi khổ của người khác, xin cho chúng con vẫn đủ yêu thương để ở lại bên họ, cùng họ tìm sự trợ giúp và không để họ cảm thấy bị bỏ rơi.
Chúng con xin dâng lên Chúa những người đang đau bệnh, nhất là những người phải điều trị lâu ngày, những người đau đớn trong đêm và những người không có người thân ở bên. Xin nâng đỡ họ trong từng giờ mệt mỏi, ban cho họ sự chăm sóc cần thiết và niềm hy vọng để không buông xuôi. Xin gìn giữ các bác sĩ, điều dưỡng và những người chăm sóc bệnh nhân; cho họ sức khỏe, sự sáng suốt và lòng tận tụy. Xin thương cả những người đang âm thầm chăm người thân đau yếu, những người vừa lo thuốc men vừa lo cơm áo, những người thương rất nhiều nhưng đã mỏi mệt đến mức không biết chia sẻ cùng ai.
Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi sự khắt khe khiến chúng con dễ xét đoán hơn cảm thông. Trước khi trách một người, xin giúp chúng con chịu lắng nghe câu chuyện của họ. Trước khi kết luận họ yếu đuối, xin giúp chúng con nhận ra những gánh nặng họ đã mang. Xin cho chúng con biết yêu thương trong sự thật, biết sửa lỗi với lòng khiêm nhường và biết giữ sự công bằng mà không đánh mất lòng nhân hậu. Xin cho gia đình và cộng đoàn chúng con có chỗ cho người đang vấp ngã được đứng lên, cho người đang tổn thương được nói thật và cho người đang xa cách tìm được đường trở về.
Hôm nay, xin Chúa mở mắt chúng con để nhận ra người cần được giúp đỡ, mở tai chúng con để nghe tiếng cầu cứu còn rất khẽ, và mở lòng chúng con để sẵn sàng đáp lại. Xin cho chúng con đừng đợi đến khi mất nhau mới tiếc một lời dịu dàng chưa nói, một lần thăm hỏi chưa làm, một bàn tay chưa đưa ra. Giữa những bổn phận của ngày sống, xin giúp chúng con dành chỗ cho một việc bác ái cụ thể. Và khi chính chúng con yếu đuối, xin cho chúng con biết khiêm nhường đón nhận sự nâng đỡ, tin rằng bàn tay Chúa vẫn đang tìm đến chúng con qua tình thương của anh chị em. Xin đỡ lấy chúng con, lạy Chúa, rồi dạy chúng con biết đỡ lấy nhau. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.

TÌNH YÊU VƯỢT TRÊN LỀ LUẬT: SỨ ĐIỆP CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT VÀ SỰ THẬT TỰ DO
Cuộc hành trình trần thế của Chúa Giêsu Kitô luôn là một chuỗi những cuộc gặp gỡ đầy bất ngờ, đụng chạm đến những ngóc ngách sâu thẳm nhất của tâm hồn con người, đồng thời thách đố những cấu trúc xã hội, tôn giáo cứng nhắc của thời đại Ngài. Trong hành trình ấy, những bữa ăn mang một ý nghĩa thần học và xã hội vô cùng sâu sắc. Chúng không chỉ đơn thuần là khoảnh khắc quây quần chia sẻ tấm bánh hay ly nước, mà còn là không gian của sự mạc khải, nơi vương quốc Thiên Chúa đụng độ trực tiếp với những lề thói do con người áp đặt. Khi bước chân vào ngôi nhà của một thủ lãnh Pharisêu để dùng bữa trong ngày Sabát[cite: 1], Chúa Giêsu không tìm kiếm sự an toàn của những nghi thức xã giao hay sự đồng thuận giả tạo. Ngài bước vào tâm điểm của một cái bẫy được giăng sẵn bằng sự soi mói, rình rập và lòng kiêu hãnh tôn giáo. Sự hiện diện của Ngài tại đó trở thành một ánh sáng soi rọi vào bóng tối của tâm thức vụ luật, mở ra một chiều kích hoàn toàn mới về mối tương quan giữa Thiên Chúa, lề luật và con người.
Để hiểu hết sức nặng của biến cố này, trước hết chúng ta cần lùi lại một bước để thấu hiểu bối cảnh lịch sử và tâm lý của nhóm Pharisêu. Từ “Pharisêu” trong tiếng gốc mang ý nghĩa là “người bị biệt riêng” hay “người tách mình ra”[cite: 1]. Họ là một lực lượng tôn giáo và xã hội có ảnh hưởng lớn trong đời sống Do Thái thời bấy giờ, với số lượng ước tính khoảng sáu ngàn người trải khắp xứ Palestine[cite: 1]. Họ tự hào đứng ở vị trí của những tinh hoa đạo đức, tự phong mình là người gìn giữ và bảo vệ sự tinh tuyền của Lề Luật[cite: 1]. Đối với họ, Lề Luật không chỉ là những huấn lệnh thiêng liêng từ Thiên Chúa qua Môisen, mà đã bị bao vây, chồng chất bởi hàng ngàn điều khoản chi li, những quy định tiểu tiết do con người tự đặt ra qua truyền thống cha ông. Họ xem trọng những quy định này đến mức đồng hóa chúng với chính uy quyền của Kinh Thánh[cite: 1]. Các kinh sư và Pharisêu dành trọn đời mình để nghiên cứu, tranh luận, giải thích và áp đặt những chi tiết ấy lên đời sống thường nhật của dân chúng. Trong cái nhìn của họ, sự thánh thiện được đo lường bằng việc tuân giữ hình thức một cách hoàn hảo, bằng việc giữ khoảng cách với những kẻ bất tịnh, và bằng sự câu nệ vào từng câu chữ của luật lệ.
Nhưng Thiên Chúa nhập thể không đến để tuân theo những trật tự gò bó do con người kiến tạo nhằm tự tôn bản thân. Ngài đến để kiện toàn Lề Luật trong tình yêu. Sự kiện Chúa Giêsu được mời đến dùng bữa trong ngày Sabát tại nhà vị thủ lãnh Pharisêu[cite: 1] thực chất là một cuộc đối đầu được trù tính từ trước. Các Tin Mừng ghi lại không dưới bảy lần Chúa Giêsu thực hiện các phép lạ chữa lành trong ngày Sabát, riêng thánh sử Luca thuật lại năm trường hợp[cite: 1]. Ngày Sabát, vốn được thiết lập như một hồng ân nghỉ ngơi để con người tôn vinh Thiên Chúa và tận hưởng sự tự do trong tình bằng hữu với Ngài, đã bị biến thành một thứ ngục tù tinh thần. Nó trở thành một cỗ máy nặng nề đè bẹp sự sống, nơi các luật lệ cấm đoán được đặt lên trên cả phẩm giá và nỗi đau của con người.
Khi Chúa Giêsu bước vào ngôi nhà ấy, bầu không khí không có sự ấm áp của tình hiệp thông huynh đệ, mà tràn ngập sự căng thẳng của một phiên tòa ngầm. Thánh sử Luca ghi nhận một chi tiết cực kỳ tinh tế và sắc bén: “Họ đang theo dõi Người sát sao”[cite: 1]. Ánh mắt của những người Pharisêu và các chuyên gia về Lề Luật không phải là ánh mắt chào đón của người chủ nhà hiếu khách, mà là ánh mắt của kẻ săn mồi đang chờ đợi con mồi sa bẫy. Họ muốn bắt lỗi Ngài, muốn tìm kiếm một chứng cớ vi phạm luật Sabát để có lý do tố cáo và loại bỏ Ngài. Sự ác ý đó được phơi bày qua một sự trùng hợp đầy kịch tính: ngay trước mặt Chúa Giêsu xuất hiện một người mắc bệnh phù thũng[cite: 1], một căn bệnh gây tích nước trầm trọng trong cơ thể[cite: 1], làm biến dạng thân xác và gây ra những đớn đè nặng nề. Người bệnh này không tự nhiên có mặt ở đó; trong bối cảnh một bữa ăn của giới lãnh đạo tôn giáo, sự hiện diện của một người bệnh hoạn, đau khổ chắc chắn không phải là ngẫu nhiên. Người ta đặt anh ta ở đó như một cái bẫy sống, một thử nghiệm xem Chúa Giêsu sẽ xử lý thế nào trước lề luật cấm làm việc trong ngày Sabát.
Trước cái bẫy rõ mười mươi ấy, Chúa Giêsu không hề nao núng hay lùi bước. Ngài không tìm cách né tránh, cũng không đợi người ta lên tiếng chất vấn. Ngài chủ động nắm lấy thế chủ động, đi thẳng vào tâm điểm của vấn đề bằng một câu hỏi sắc bén thấu xương: “Có được phép chữa bệnh ngày Sabát hay không?”[cite: 1]. Câu hỏi này giống như mộtát dao lam cắt đứt lớp vỏ bọc đạo đức giả của nhóm Pharisêu. Theo đúng tinh thần và các điều khoản vụ luật chi li của các kinh sư lúc bấy giờ, câu trả lời là “không”, trừ phi bệnh nhân đang đối diện với nguy cơ tử vong tức khắc. Một người bị phù thũng, dẫu đau đớn và khốn khổ, nhưng chưa phải là trường hợp nguy kịch đến tính mạng ngay trong ngày hôm đó, nên theo họ, việc chữa bệnh phải đợi sang ngày hôm sau.
Nhưng đối mặt với câu hỏi trực diện của Chúa Giêsu, những kẻ luôn tự hào làu làu về Lề Luật lại hoàn toàn câm lặng[cite: 1]. Sự im lặng ấy nói lên rất nhiều điều. Đó không phải là sự im lặng của sự kính cẩn hay suy ngẫm sâu xa, mà là sự im lặng của sự lúng túng, của sự bẽ bàng và tăm tối trong nội tâm. Họ nhận ra rằng bất kỳ câu trả lời nào cũng sẽ đẩy họ vào thế kẹt. Nếu họ dám mạnh dạn trả lời là “có”, họ sẽ tự mâu thuẫn với hệ thống luật lệ khắt khe mà họ dày công xây dựng và bắt người khác phải tuân thủ, đồng thời tự hạ uy tín của mình trước đám đông. Còn nếu họ trả lời là “không”, họ sẽ tự phơi bày sự tàn nhẫn, vô cảm và lạnh lùng đến tột độ của mình ngay trước mặt mọi người, bộc lộ rõ bản chất đặt lề luật lên trên lòng trắc ẩn đối với sinh mạng con người. Sự im lặng của họ chính là bản án tự kết tội cho một tôn giáo đã đánh mất trái tim.
Thấy họ im lặng, Chúa Giêsu liền hành động. Ngài nắm lấy người bệnh, chữa lành cho anh ta và cho anh ta về[cite: 1]. Một hành động diễn ra nhanh gọn, dứt khoát, đầy quyền năng nhưng cũng tràn ngập tình yêu thương dịu dàng. Không có một nghi thức phức tạp nào được cử hành, không có một đơn thuốc dài dòng nào được kê ra; chỉ có quyền năng của lòng thương xót đụng chạm đến nỗi đau của con người và trả lại cho anh ta phẩm giá trọn vẹn của một người con Thiên Chúa. Hành động này là một cú tát thẳng vào mặt chủ nghĩa hợp pháp cực đoan. Chúa Giêsu khẳng định bằng thực tiễn sống động rằng lòng thương xót và việc cứu chữa con người không bao giờ bị ràng buộc bởi thời gian hay không gian, bởi ngày thường hay ngày Sabát. Bởi vì ngày Sabát được dựng nên vì con người, chứ con người không phải được dựng nên vì ngày Sabát. Thiên Chúa là Thiên Chúa của sự sống, chứ không phải Thiên Chúa của sự chết chóc hay sự câu nệ hình thức.
Không dừng lại ở việc chữa lành, Chúa Giêsu tiếp tục tung ra một đòn giáng thứ hai vào lương tâm của những kẻ đang bắt bẻ Ngài bằng một dụ ngôn hoặc câu hỏi thực tế không thể chối cãi: “Có ai trong các ông có con bò hoặc con lừa sa xuống giếng, lại không kéo nó lên ngay trong ngày Sabát sao?”[cite: 1]. Lập luận này vô cùng sắc sảo theo phương pháp lập luận từ nhỏ đến lớn (a minori ad majus). Nếu ngay cả luật lệ nghiêm ngặt nhất của họ cũng cho phép cứu một con vật – một tài sản kinh tế quan trọng – khỏi cảnh chết đuối dưới giếng ngay trong ngày Sabát vì lý do xót của và bảo vệ sinh mạng vật chất, thì hà cớ gì một con người, một hình ảnh sống động của Thiên Chúa, lại phải chịu bỏ mặc trong đau khổ chỉ vì vướng vào một quy định về ngày nghỉ? Trước lập luận sắc bén và không thể chối cãi ấy, họ lại tiếp tục hoàn toàn mất tiếng, không thể thưa lại được một lời nào[cite: 1]. Sự câm lặng lần thứ hai này đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của hệ thống lý luận vụ luật trước ánh sáng của chân lý tình yêu.
Qua biến cố này, chúng ta thấy rõ một sự đối lập gay gắt giữa hai thứ tâm thức tôn giáo. Một bên là tâm thức của nhóm Pharisêu: tâm thức của sự sợ hãi, của sự câu nệ hình thức, nơi con người bị biến thành nô lệ cho các quy tắc, nơi lề luật trở thành một thứ công cụ để phán xét, loại trừ và đè bẹp kẻ yếu đuối. Đối với họ, cấu trúc và thể chế quan trọng hơn con người; sự tuân thủ máy móc quan trọng hơn lòng bác ái. Đó là một thứ tôn giáo khô cằn, vô cảm, biến Thiên Chúa thành một vị thẩm phán khắt khe chỉ chực chờ bắt lỗi con người thay vì là một người Cha giàu lòng xót thương.
Bên kia là tâm thức của Chúa Giêsu: tâm thức của sự tự do trong tình yêu, của lòng trắc ẩn không biên giới, nơi con người luôn được đặt ở trung tâm của mọi ưu tiên mục vụ và luân lý. Đối với Ngài, Lề Luật đích thực không nằm ở những khoản điều chi li được viết trên đá hay trên giấy mực, mà được khắc ghi sâu thẳm trong trái tim biết động lòng thương trước nỗi đau của tha nhân. Ngài không hủy bỏ Lề Luật, nhưng Ngài giải thoát Lề Luật khỏi lớp vỏ bọc ngột ngạt của sự giả hình để đưa nó trở về với ý định ban đầu của Đấng Tạo Hóa: tình yêu mến Chúa và yêu thương tha nhân là trọn vẹn lề luật. Bất cứ điều luật nào đi ngược lại với sự sống, với phẩm giá và niềm hạnh phúc chân chính của con người đều là sự bóp méo tôn giáo và đi ngược lại với tinh thần của Tin Mừng.
Nhìn lại đời sống đức tin của chính chúng ta hôm nay, bài học từ bữa ăn tại nhà người thủ lãnh Pharisêu vẫn mang tính thời sự nóng hổi và sắc bén vô cùng. Trong đời sống Giáo Hội, trong cộng đoàn, trong gia đình và ngay cả trong chính nội tâm của mỗi người, cạm bẫy của chủ nghĩa vụ luật chưa bao giờ biến mất. Rất nhiều lần, chúng ta dễ dàng rơi vào vết xe đổ của những người Pharisêu xưa. Chúng ta biến đạo thành một thứ danh mục những việc phải làm và không được làm, đo lường lòng đạo đức bằng việc giữ chu đáo các khoản luật hình thức, tham gia các cử hành phụng vụ một cách máy móc, nhưng trái tim lại lạnh ngắt trước những giọt nước mắt của người anh em bên cạnh. Chúng ta có thể rất nghiêm ngặt trong việc xét nét người khác xem họ có tuân thủ đúng lề thói truyền thống, có ăn chay đúng cách, có đọc kinh đủ số hay không, nhưng lại sẵn sàng quay lưng đi trước nỗi cô đơn, túng quẫn, hay những tổn thương sâu sắc của những kẻ bé mọn đang kêu cầu sự giúp đỡ.
Chúa Giêsu mời gọi chúng ta vượt qua thái độ sống hẹp hòi đó để bước vào sự tự do đích thực của con cái Thiên Chúa. Sự tự do này không phải là sự phóng túng muốn làm gì thì làm, mà là sự tự do được thúc đẩy và định hướng bởi tình yêu thương chân thành. Một người hành động vì tình yêu đích thực sẽ không bao giờ sợ hãi việc vi phạm lề luật theo nghĩa tiêu cực, bởi vì “không có tình yêu nào lớn hơn tình mạng sống mình vì bạn hữu”, và “yêu thương thì không làm hại người khác; do đó yêu thương là chu toàn Lề Luật”. Khi chúng ta đưa tay nâng đỡ một con người đang quỵ ngã bên đường đời, khi chúng ta kiên nhẫn lắng nghe một tâm hồn đang tan vỡ, khi chúng ta chọn lòng xót thương thay vì sự phán xét cay nghiệt, dẫu lúc đó có thể có những quy định hình thức bị xáo trộn, thì chúng ta lại đang thực thi chính trái tim của Tin Mừng.
Đời sống Kitô hữu không phải là một chuỗi những mệnh lệnh cấm đoán nặng nề, mà là một cuộc dấn thân say mê vào tình yêu hiến tế. Lòng nhân ái luôn có tiếng nói cao hơn hình thức bên ngoài. Khi đối diện với những hoàn cảnh ngặt nghèo của tha nhân, câu hỏi mà Chúa Giêsu đặt ra cho chúng ta không phải là “Quy định nào cấm điều này?”, mà là “Tình yêu đòi buộc chúng ta phải làm gì lúc này?”. Sự chuyển dịch trọng tâm từ “luật lệ” sang “con người” chính là cuộc cách mạng tinh thần lớn lao nhất mà Chúa Giêsu mang đến cho nhân loại. Ngài muốn chúng ta trở thành những con người của sự sống, những sứ giả của lòng thương xót, chứ không phải là những kẻ canh giữ luật pháp khô khan mang tâm địa phán xét.
Hơn thế nữa, thái độ của Chúa Giêsu trước những kẻ đang rình rập rỗi rắm cũng dạy cho chúng ta cách sống can đảm giữa một thế giới đầy rẫy sự soi mói và định kiến. Đôi khi, khi chúng ta muốn làm một việc thiện, khi chúng ta muốn bênh vực công lý, khi chúng ta muốn thể hiện lòng trắc ẩn đối với những người bị gạt ra bên lề xã hội, chúng ta sẽ vấp phải sự chỉ trích, sự hiểu lầm hoặc thậm chí là sự lên án từ những người xung quanh – những người quen ẩn mình sau vỏ bọc của sự an toàn và các chuẩn mực cứng nhắc. Họ có thể dùng “lề luật”, dùng “truyền thống”, hay dùng cả những hình thức đạo đức giả hiệu để chỉ trích chúng ta. Nhưng gương sáng của Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta rằng, sự chấp nhận của Thiên Chúa và sự bình an trong lương tâm vì đã làm điều đúng đắn cho con người có giá trị lớn lao hơn tất cả mọi lời khen chê hay phán xét của thế gian. Chúng ta được mời gọi bước đi hiên ngang trong ánh sáng của tình yêu, không sợ hãi trước những ánh mắt nghi kỵ, miễn là trái tim chúng ta hoàn toàn hiệp thông với Thiên Chúa trong sứ mạng chữa lành và cứu độ.
Bữa ăn tại nhà thủ lãnh Pharisêu cũng mở ra một nhãn quan sâu sắc về bàn tiệc Thánh Thể mà chúng ta cử hành mỗi ngày. Mỗi lần chúng ta quy tụ lại để tham dự Thánh lễ, đó chính là bữa tiệc mà Thiên Chúa mời gọi chúng ta đến để hiệp thông với Ngài và với anh chị em. Nhưng bàn tiệc Thánh Thể sẽ mất đi ý nghĩa đích thực nếu chúng ta đến đó với một tâm hồn đầy rẫy sự chia rẽ, cay đắng, phán xét và câu nệ hình thức. Chúa Giêsu không muốn những người đến với Ngài chỉ để đóng tròn vai những kẻ tuân thủ luật lệ tôn giáo một cách hình thức, nhưng Ngài muốn những trái tim biết đói khát sự công chính, biết mở ra để đón nhận lòng thương xót và sẵn sàng chia sẻ lòng thương xót đó cho những người xung quanh. Thánh lễ phải là nơi chúng ta được chữa lành khỏi những căn bệnh thiêng liêng của sự ích kỷ, kiêu ngạo và vô cảm, để rồi từ bàn tiệc ấy, chúng ta mang nhịp đập của lòng thương xót Chúa đi vào trong những nẻo đường của cuộc sống thường nhật.
Hãy tưởng tượng một Giáo Hội, một cộng đoàn mà ở đó mọi rào cản vụ luật được phá đổ bởi ngọn lửa của lòng bác ái. Ở đó, không ai bị bỏ lại phía sau chỉ vì họ không đạt được những tiêu chuẩn hình thức cứng nhắc. Ở đó, những người đau khổ về thể xác lẫn tâm hồn luôn tìm thấy những bàn tay sẵn sàng chìa ra nâng đỡ mà không cần phải dè dặt hỏi xem ngày hôm đó có phải là ngày được phép làm ơn hay không. Đó chính là hình ảnh tiên báo về Vương Quốc Trời, nơi tình yêu của Thiên Chúa ngự trị tuyệt đối, nơi con người được sống trong sự tự do vinh hiển của con cái Chúa.
Khi suy ngẫm sâu xa về khung cảnh Chúa Giêsu chữa lành người mắc bệnh phù thũng trong ngày Sabát, chúng ta được mời gọi tiến hành một cuộc đại phẫu thuật trong tâm hồn mình. Hãy để ánh sáng Tin Mừng rọi vào những góc khuất nơi chúng ta vẫn còn giữ tâm thức vụ luật, nơi chúng ta vẫn dùng thước đo khắt khe của sự phán xét để đối xử với tha nhân và với chính mình. Xin Chúa ban cho chúng ta ơn can đảm để đập vỡ những bức tường cứng nhắc của sự ích kỷ, tháo gỡ những xiềng xích của những quy định hình thức làm tê liệt lòng trắc ẩn, và mở rộng trái tim để nhịp đập của chúng ta hòa nhịp cùng nhịp đập xót thương của Trái Tim Chúa Giêsu.
Ước gì mỗi lời nói, mỗi hành động, và mỗi thái độ sống của chúng ta mỗi ngày đều phản chiếu được tinh thần của Đấng đã đến không phải để lên án, mà để cứu chuộc; không phải để bắt bẻ, mà để chữa lành. Xin cho chúng ta biết dùng cuộc đời mình để viết nên những trang Tin Mừng sống động bằng tình yêu thương thiết thực, để qua mỗi bước chân chúng ta đi, sự sống được trỗi dậy, niềm hy vọng được thắp lên, và lòng thương xót của Thiên Chúa được tỏ hiện rạng ngời giữa một thế giới đang rất cần được ôm ấp và chữa lành.
Lm. Anmai, CSsR

ĐÁNH THỨC CÕI LÒNG BẰNG ÁNH NHÌN YÊU THƯƠNG CỦA CHÚA
Trong hành trình lữ thứ của cõi đời này, mỗi con người chúng ta đôi khi giống như những kẻ lữ hành mệt mỏi bước đi giữa màn sương mù của những lo toan, bộn bề, tính toán và cả những tổn thương sâu kín. Ta quen nhìn cuộc đời bằng đôi mắt phán xét, đôi mắt của sự nghi kỵ, của những tiêu chuẩn khắt khe mà xã hội hay chính bản thân ta dựng lên để tự vệ hoặc để đong đo người khác. Ta nhìn bằng lý trí lạnh lùng, bằng những định kiến vững chắc như thành lũy, để rồi vô tình khép kín tâm hồn trước sự hiện diện đầy nhiệm mu của tha nhân và của Thiên Chúa. Thế nhưng, giữa chốn nhân gian ngập tràn tiếng thở dài và những giọt nước mắt thầm lặng ấy, có một ánh nhìn hoàn toàn khác biệt vẫn luôn âm thầm dõi theo ta — một ánh nhìn không mang gươm giáo của sự kết án, không mang sức nặng của sự trừng phạt, mà là ánh nhìn thẳm sâu của lòng thương xót, ánh nhìn xuyên thấu qua mọi lớp vỏ bọc bề ngoài để chạm đến tận cùng cõi lòng ta, đánh thức những gì là tinh tuyết, cao cả và đẹp đẽ nhất mà Đấng Tạo Hóa đã khắc ghi nơi sâu thẳm tâm can mỗi người.
Ánh nhìn ấy không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên hay một khoảnh khắc thi vị nhất thời trong văn chương kinh thánh, mà chính là bản chất của Thiên Chúa khi Ngài bước vào lịch sử nhân loại qua Đức Giê-su Ki-tô. Khi Ngài ngước mắt nhìn một con người, thời gian như ngừng trôi, không gian như lắng đọng lại, và mọi lớp mặt nạ xã hội mà ta khổ công đeo đuổi bỗng chốc rơi xuống trong ánh sáng chân lý dịu dàng. Đó là ánh nhìn thấu suốt nhưng không phơi bày để sỉ nhục, mà phơi bày để chữa lành; là ánh nhìn ôm ấp lấy toàn bộ sự yếu đuối, bất toàn, tội lụy của kiếp người để chuyển hóa nó thành nguồn mạch của ơn thánh và sự biến đổi nội tâm mãnh liệt.
Để hiểu thấu đáo về sức mạnh kỳ diệu của ánh nhìn biến đổi ấy, trước hết chúng ta cần lội ngược dòng thời gian để chiêm ngắm cách mà Đức Giê-su tương quan với những con người bé mọn, tội lỗi và bị gạt ra bên lề xã hội thời bấy giờ. Trong xã hội Do Thái cổ thời, lề luật đóng vai trò như một thứ thước đo luân lý vô cùng ngặt nghèo. Người ta phân định rõ ràng ai là người công chính, ai là kẻ tội lỗi; ai là kẻ thuộc về ánh sáng, ai là kẻ bị đày đọa trong chốn tối tăm của ô uế. Những ranh giới ấy được vạch ra một cách sắc bén bằng những cái liếc mắt khinh miệt, bằng sự né tránh đầy kỳ thị của những kẻ tự cho mình là đạo đức hoàn hảo. Một người thu thuế như Gia-kê-êu bị coi là kẻ phản bội đồng bào, ăn xổi ở thì trên mồ hôi nước mắt của dân nghèo; một người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình bị coi là thứ nhơ nhớp cần phải bị ném đá cho đến chết theo luật Môi-sê; hay một anh mù ngồi bên vệ đường cứ liên lả kêu xin dẫu bị đám đông quát tháo bắt im lặng. Tất cả họ đều là những mảnh đời bị vùi dập dưới cái nhìn khinh miệt, lạnh lùng và tàn nhẫn của đám đông đạo đức giả.
Nhưng giữa thế giới bị cai trị bởi những cái nhìn phán xét ấy, Đức Giê-su xuất hiện như một tia nắng mai chiếu rọi vào những góc khuất tối tăm nhất của cõi lòng nhân loại. Ngài không nhìn con người qua lăng kính của lề luật cứng nhắc hay những định kiến xã hội bề ngoài. Khi Đức Giê-su dừng chân dưới gốc cây sy-cô-mô, Ngài ngước mắt lên nhìn Gia-kê-êu. Hãy tưởng tượng khoảnh khắc ấy: một con người nhỏ bé đang cố rướn mình lên để nhìn cho rõ vị ngôn sứ đang đi qua, mang trong lòng biết bao nỗi dằn vặt, cô đơn và khát vọng được chấp nhận. Ánh mắt của Đức Giê-su chạm vào ánh mắt của Gia-kê-êu không phải bằng sự lên án về những đồng tiền bất chính mà ông đã vơ vét, mà bằng một sự thấu cảm vô biên. Trong ánh nhìn đó, Gia-kê-êu đọc thấy một thông điệp chấn động tâm can: “Ta biết con yếu đuối, ta biết con vấp ngã và đánh mất phẩm giá, nhưng ta vẫn yêu con và hôm nay ta muốn ở lại nhà con”. Chỉ bằng một ánh nhìn đầy ắp lòng nhân ái ấy, bức tường kiên cố của lòng tham lam, ích kỷ và cô độc trong lòng Gia-kê-êu sụp đổ hoàn toàn. Ông không cần phải nghe một bài giảng luân lý dài dòng hay một lời trách mắng nặng nề nào; chính sức mạnh của ánh nhìn yêu thương đã tự động đánh thức lương tâm, khiến ông tự nguyện đứng lên tuyên bố phân phát nửa gia tài cho người nghèo và đền bù gấp bốn nếu đã lừa gạt ai. Ánh nhìn đã cứu rỗi cuộc đời ông trước khi bất kỳ nghi thức tôn giáo nào kịp diễn ra.
Điều tương tự cũng xảy ra đối với người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Đứng trước đám đông đang lăm lăm hòn đá trên tay với cơn giận dữ ngút ngàn nhân danh đạo đức và lề luật, người phụ nữ ấy thu mình lại trong sự sợạ hãi tột cùng, chờ đợi cái chết đau đớn đang kề cận. Đức Giê-su cúi xuống viết trên cát, rồi ngước mắt lên nhìn thẳng vào đám đông và sau đó nhìn vào người phụ nữ. Ánh mắt Ngài hướng về đám đông là một ánh mắt xoáy sâu vào tâm thức, thách thức sự thánh thiện giả hình của những kẻ tự cho mình vô tội: “Ai trong các ngươi không có tội, hãy mở tay ném đá trước đi”. Còn ánh mắt Ngài hướng về người phụ nữ sau khi đám đông đã lặng lẽ rút lui từng người một chính là ánh mắt cứu chuộc: “Ta cũng không lên án con; hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa”. Ánh mắt ấy không dung túng cho tội lỗi, nhưng vực dậy phẩm giá con người đang bị chà đạp dưới bùn nhơ. Ngài không nhìn cô ta như một tội nhân đáng nguyền rủa, mà nhìn như một người con đang bị thương tổn cần được cứu chữa và trao cho một tương lai hoàn toàn mới. Ánh nhìn đó chạm đến chiều sâu thẳm nhất của sự hối hận và lòng can đảm để bước đi trên con đường thánh thiện.
Từ những hình ảnh Tin Mừng ấy, chúng ta quay trở về với thực tại đời sống của chính mình trong thế giới hôm nay. Phải chăng chúng ta cũng đang sống trong một thời đại mà những ánh nhìn lạnh lùng, phán xét đang bao trùm lên mọi mối tương quan? Chúng ta dễ dàng dán nhãn cho người khác chỉ bằng một ấn tượng ban đầu, bằng một sai lầm trong quá khứ, hay bằng những khác biệt về quan điểm sống, chính trị, tôn giáo hay văn hóa. Ta nhìn tha nhân bằng đôi mắt đa nghi, luôn tìm kiếm vết nhơ để phê phán thay vì tìm kiếm những hạt giống tốt lành được gieo rắc nơi tâm hồn họ. Sự cay đắng, ghen tị, và thiếu tha thứ thường bắt nguồn từ việc chúng ta từ chối trao nhau ánh nhìn nhân hậu mà Thiên Chúa hằng mong ước. Khi ta nhìn người khác bằng sự khinh miệt, ta đang tự giam hãm chính mình trong ngục tối của sự ích kỷ và cô độc.
Hơn thế nữa, hệ lụy đau lòng hơn là đôi khi chúng ta cũng nhìn chính bản thân mình bằng một ánh nhìn méo mó, tuyệt vọng. Những vấp ngã trong quá khứ, những yếu đuối lặp đi lặp lại trong đời sống thiêng liêng, những thất bại trong gia đình hay công việc khiến ta tự kết án chính mình. Ta nghĩ rằng Thiên Chúa cũng đang nhìn ta với một ánh mắt nghiêm nghị, chán ngản và chực chờ trừng phạt. Ta tự cô lập mình khỏi lòng thương xót của Ngài, chìm đắm trong mặc cảm tội lỗi và sự tự ti đốn mạt. Chính lúc đó, chúng ta quên mất rằng Đức Giê-su vẫn đang đứng đó, kiên nhẫn chờ đợi ta ngước mắt lên để đón nhận ánh nhìn đầy trìu mến của Ngài. Ánh nhìn của Chúa chưa bao giờ buông xuôi bất kỳ ai, dù cho người đó có lún sâu đến đâu trong bùn lầy của tội lỗi.
Vậy thì, để ánh nhìn của Chúa thực sự chạm đến và biến đổi cõi lòng, điều kiện tiên quyết là gì? Đó chính là sự khiêm nhường để dám đối diện với chính mình và với Thiên Chúa. Chừng nào ta còn che đậy sự thật về bản thân bằng những lớp ngụy biện, bằng sự kiêu ngạo tinh thần, chừng đó ta còn né tránh ánh sáng của Ngài. Ánh nhìn của Chúa chỉ có thể chiếu rọi vào tâm hồn khi ta dũng cảm mở tung những cánh cửa tâm sự đang khép kín, thừa nhận sự bất toàn và nghèo nàn của mình trước tôn nhan Ngài. Giống như người thu thuế đứng đấm ngực ở góc đền thờ dám ngước mắt lên xin Chúa thương xót kẻ có tội là ta đây, chính sự thật thà trong cõi lòng yếu đuối ấy là thỏi nam châm thu hút lòng thương xót và ánh nhìn tha thứ dịu dàng của Thiên Chúa.
Khi cõi lòng đã được chạm đến bởi ánh nhìn yêu thương ấy, đời sống của người môn đệ Đức Ki-tô sẽ không thể giữ nguyên trạng thái cũ. Một khi đã trải nghiệm được thế nào là được Chúa thấu hiểu, bao dung và tha thứ, chúng ta không thể tiếp tục sống dửng dưng, cay nghiệt với anh chị em đồng loại của mình. Ánh nhìn của Chúa lúc bấy giờ được trao truyền qua đôi mắt của chính chúng ta để soi chiếu vào cuộc đời của những ai đang sống xung quanh ta. Ta bắt đầu nhìn người bạn đời của mình không phải bằng sự cằu nhãi, bực dọc vì những tật xấu nhỏ nhặt, mà bằng ánh nhìn bao dung của tình yêu thuở ban đầu và sự nhẫn nại của ơn sủng. Ta nhìn những đứa con của mình không phải qua áp lực thành tích hay kỳ vọng ích kỷ, mà bằng ánh nhìn trân trọng từng nét độc đáo và phẩm giá cao quý mà Thiên Chúa ban cho chúng. Ta nhìn người nghèo khổ, người bất hạnh, người lầm đường lạc lối không phải bằng sự ban ơn trịch thượng, mà bằng ánh nhìn của tình huynh đệ đích thực, nhìn thấy chính hình ảnh của Đức Ki-tô đang ẩn giấu đằng sau những mảnh đời rách nát, thương tổn.
Hơn thế nữa, trong đời sống cộng đoàn xứ đạo, trong các mối tương quan xã hội hằng ngày, việc thực hành “ánh nhìn đạt tới cõi lòng” đòi hỏi chúng ta phải lội ngược dòng chảy văn hóa của sự loại trừ và bạo lực ngôn từ. Thế giới hôm nay cuồng nộ và đầy rẫy những lời phán xét trên mạng xã hội, những cuộc tranh luận vô hồn chỉ chực chờ vùi dập danh dự của người khác. Là những người mang danh Ki-tô hữu, chúng ta được mời gọi trở thành chứng nhân của một thứ văn hóa hoàn toàn trái ngược: văn hóa của sự gặp gỡ và nhìn nhận phẩm giá tha nhân. Một nụ cười chân thành, một ánh mắt thấu cảm lắng nghe khi người khác đang đau khổ, một sự tha thứ không lời trước một tổn thương mà ta phải gánh chịu—tất cả những điều đó chính là sự kéo dài của ánh nhìn cứu độ mà Đức Giê-su đã trao ban cho nhân loại trên thập giá.
Chặng đường thiêng liêng này đòi hỏi một sự canh tân nội tâm không ngừng nghỉ. Mỗi ngày sống là một cơ hội để ta thanh luyện đôi mắt tâm hồn khỏi những bụi bặm của sự ganh tị, ích kỷ và định kiến. Khi thức dậy vào buổi sáng, ta có thể dâng lên lời nguyện xin đơn sơ: “Lạy Chúa, xin mở mắt con để con nhìn thấy thế giới và những người con gặp gỡ hôm nay bằng chính ánh mắt đầy yêu thương và kiên nhẫn của Ngài. Xin đừng để con dùng đôi mắt phán xét để làm tổn thương bất cứ ai, nhưng xin biến con thành phản chiếu của lòng thương xót Chúa giữa dòng đời nhiều giông bão này”.
Khi biết sống như thế, cuộc đời chúng ta sẽ trở thành một bài ca chúc tụng tình yêu uy quyền nhưng rất đỗi dịu hiền của Thiên Chúa. Những góc tối trong tâm hồn ta sẽ lần lượt được chiếu sáng, những vết thương lòng cũ kỹ sẽ được dung dưỡng bằng thứ dầu thơm của ơn thánh, và quan trọng hơn cả, chúng ta sẽ trở thành những sứ giả mang ánh bình minh đến cho những ai đang chìm khuất trong đêm tối của sự tuyệt vọng. Ánh nhìn ấy không chỉ đổi thay thực tại trần thế này, mà còn mở ra cánh cửa hy vọng cho cõi vĩnh hằng, nơi mà một ngày kia, chúng ta sẽ được đối diện chiêm ngắm ánh mắt rực rỡ vinh quang của Thiên Chúa trong cõi phúc trường sinh.
Lm. Anmai, CSsR

TÌNH YÊU VƯỢT THẮNG LỀ LUẬT VÀ SỰ KHÉP KÍN: HÀNH TRÌNH VƯƠN LÊN TRONG ÂN SỰ CỦA ĐỨC KITÔ
Trong hành trình đức tin Kitô giáo, có những thời điểm con người dễ rơi vào cạm bẫy của sự hình thức, của những khuôn khổ giáo điều cứng nhắc, nơi mà lề luật hay các quy tắc tôn giáo vô tình bóp nghẹt lòng trắc ẩn và sự sống. Bài Tin Mừng theo thánh Luca thuật lại câu chuyện Chúa Giêsu dùng bữa tại nhà một thủ lãnh Pharisêu vào ngày Sabát, nơi Ngài đối diện với một người mắc chứng phù thủy (dropsy)[cite: 1]. Khung cảnh ấy không đơn thuần là một bữa ăn giao tế xã hội, mà là một không gian đối đầu ngấm ngầm giữa lòng xót thương vô biên của Thiên Chúa và sự dò xét, tính toán, cố chấp của con người[cite: 1]. Dựa trên nền tảng ý tưởng sâu sắc này, chúng ta được mời gọi bước vào một cuộc canh tân nội tâm sâu sắc, để lột xác khỏi lối sống vị kỷ, khép kín và mở tung tâm hồn đón nhận tình yêu đích thực của Thiên Chúa.
Khi nhìn ngắm hình ảnh Chúa Giêsu bước vào nhà vị thủ lãnh Pharisêu, chúng ta thấy một thái độ hoàn toàn khác biệt so với đám đông đang rình rập Ngài[cite: 1]. Các Pharisêu và các thông luật quy tụ lại không phải để chia sẻ niềm vui huynh đệ hay thể hiện tình mến khách đúng nghĩa, mà là để “quan sát Ngài sát sao”, tìm kiếm những sơ hở nhằm cáo buộc Ngài phạm luật[cite: 1]. Sự hiện diện của người bệnh phù thủy ở đó không phải là một sự tình cờ ngẫu nhiên, mà rất có thể anh ta đã được đặt ở đó như một cái bẫy, một thứ mồi nhử để thử thách Đức Giêsu xem Ngài có dám chữa bệnh vào ngày Sabát hay không[cite: 1]. Trong một bầu khí đầy thù địch, nghi kỵ và toan tính ấy, nếu là một người bình thường theo bản năng tự vệ, chúng ta sẽ chọn cách né tránh, im lặng hoặc tự bảo vệ mình trước những cái bẫy giăng sẵn. Thế nhưng, Đức Giêsu lại chọn một con đường khác hẳn: con đường của tình yêu hy hiến, không đếm xỉa đến sự an toàn hay lợi ích bản thân.
Chúa Giêsu không hề nao núng trước những ánh mắt sắc lạnh và dò xét. Ngài nhìn thấu tâm can của họ, nhưng ánh mắt của Ngài không dừng lại ở sự ác ý hay sự hẹp hòi của con người, mà xuyên thấu qua nỗi đau khổ, sự bất hạnh và phẩm giá bị chà đạp của người bệnh đang đứng trước mặt. Đối với các Pharisêu, con người bất hạnh ấy không có giá trị tự thân; anh ta chỉ là một công cụ, một thứ quân cờ trong ván bài tôn giáo của họ để bảo vệ lề luật hình thức. Trái lại, đối với Đức Giêsu, con người ấy là một thụ tạo mang hình ảnh Thiên Chúa, một cá nhân đang quằn quại trong đau khổ cần được cứu chữa và nâng dậy. Ngài đã chủ động tiến lại, cầm lấy người bệnh, chữa lành cho anh và cho anh ra về trong sự bình an và phẩm giá được phục hồi[cite: 1]. Hành động đó của Chúa Giêsu là một cuộc cách mạng tinh thần chấn động: Ngài khẳng định rằng lề luật được tạo ra vì con người chứ không phải con người vì lề luật, và lòng thương xót luôn luôn vượt lên trên mọi thứ hình thức trống rỗng.
Sự kiện này mở ra cho chúng ta một chiều kích suy tư rộng lớn về thái độ sống của người môn đệ trong thế giới hôm nay. Trong cuộc sống đời thường, chúng ta cũng thường xuyên đối diện với những cám dỗ biến đạo đức, tôn giáo hay các mối tương quan xã hội thành những hệ thống quy tắc lạnh lùng. Không ít lần chúng ta dùng lề luật, dùng đạo lý, hay thậm chí dùng cả những tiêu chuẩn luân lý để phán xét, loại trừ hoặc trói buộc người khác thay vì dùng chúng để nâng đỡ, chữa lành và cứu rỗi. Con người thời đại dễ rơi vào tình trạng khép kín trong cái tôi ích kỷ, loay hoay bảo vệ danh dự, địa vị, sự an toàn vật chất hay những lợi ích nhóm nhỏ nhoi của mình. Khi sự ích kỷ lên ngôi, trái tim con người trở nên chai đá, mất đi khả năng nhạy cảm trước nỗi đau của anh em đồng loại.
Nhìn sang Thánh Phông-xê-rô hay các thánh nhân trong lịch sử Giáo hội, và đặc biệt là hình ảnh thánh Phao-lô bị giam cầm trong các bức thư được đọc trong phụng vụ mùa này[cite: 1], chúng ta thấy một mẫu gương ngời sáng về việc vượt thắng hoàn cảnh ngặt nghèo. Dù đang đối diện với xiềng xích, với sự bất định giữa sự sống và cái chết trong ngục tù, thánh Phao-lô không hề quay vào bên trong để thương thân trách phận hay lo lắng cho sự an nguy của bản thân[cite: 1]. Trái lại, tâm trí và trái tim ngài luôn hướng về các tín hữu Philipphê với một tình yêu nồng nàn và lòng thao thức mục tử[cite: 1]. Ngài dâng lời tạ ơn Thiên Chúa mỗi khi nhớ đến họ và cầu nguyện không ngừng để tình yêu thương của họ ngày càng gia tăng trọn vẹn[cite: 1]. Sự tương phản giữa một bên là các Pharisêu khép kín trong sự thù hận, vị kỷ nhưng lại tự xưng là đạo đức, và một bên là Chúa Giêsu cùng thánh Phao-lô mở rộng tâm hồn dẫu giữa muôn vàn nguy khó, chính là bài học lớn lao cho đời sống đức tin của mỗi chúng ta.
Để có thể sống trọn vẹn tinh thần Tin Mừng ấy, người Kitô hữu được mời gọi thực hiện một cuộc xuất hành nội tâm căn để: đi ra khỏi cái tôi hẹp hòi để bước vào không gian bao la của tình yêu Thiên Chúa. Cuộc xuất hành này đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ lối đạo đức hình thức, chỉ giữ vẻ bề ngoài để phô trương nhưng bên trong lại trống rỗng và thiếu vắng lòng trắc ẩn. Chúa Giêsu không tìm kiếm những nghi thức tôn giáo bóp nghẹt lòng nhân ái; Ngài mong muốn một thứ đạo giáo từ trái tim đến trái tim, nơi mà mỗi hành động bác ái, mỗi sự sẻ chia với người khốn cùng trở thành cử chỉ phụng thờ Thiên Chúa đẹp lòng nhất.
Trong bối cảnh xã hội hiện đại, nơi con người ngày càng bị cuốn vào vòng xoáy của chủ nghĩa cá nhân, của sự vô cảm và những toan tính hơn thiệt, Tin Mừng hôm nay vang lên như một tiếng còi thức tỉnh mạnh mẽ. Chúng ta thường xuyên gặp những “người bệnh phù thủy” ngay bên lề cuộc sống của mình: đó là những con người cô đơn, bị gạt ra bên lề xã hội, những kẻ đang gánh chịu tổn thương tâm lý, những mảnh đời đói nghèo, bệnh tật hay bị bỏ rơi. Họ có thể không xuất hiện trong một bữa tiệc sang trọng, nhưng họ hiện diện ở khắp mọi nơi trên các nẻo đường đời, trong gia đình, nơi công sở và cộng đoàn. Câu hỏi đặt ra cho mỗi người chúng ta là: liệu chúng ta sẽ giống như những người Pharisêu – đứng từ xa quan sát, phán xét, tìm lỗi lầm và lợi dụng người khác cho mục đích cá nhân – hay chúng ta sẽ noi gương Chúa Giêsu – sẵn sàng buông bỏ sự an toàn giả tạo, bước đến, cầm lấy tay họ, xoa dịu nỗi đau và trả lại cho họ phẩm giá con người?
Việc chữa lành cho người bệnh trong ngày Sabát của Chúa Giêsu cũng mạc khải cho chúng ta ý nghĩa đích thực của ngày thánh hiến cho Chúa. Ngày của Chúa, ngày Sabát hay Ngày Chủ Nhật trong đời sống Kitô giáo, không phải là một dịp để ràng buộc con người trong những cấm đoán khắt khe, mà là thời gian để Thiên Chúa bày tỏ quyền năng cứu độ và tình yêu xót thương. Bất cứ hành động nào mang lại sự sống, niềm hy vọng, sự chữa lành và phẩm giá cho con người đều là tôn vinh Thiên Chúa ở mức độ cao cả nhất. Do đó, việc tuân giữ lề luật không bao giờ được phép mâu thuẫn với lòng bác ái. Khi tình yêu thương được đặt lên hàng đầu, lề luật tìm thấy sự viên mãn của nó trong Đức Kitô.
Hơn thế nữa, thái độ của Chúa Giêsu khi “sai người bệnh ra về” sau khi chữa lành cũng mang một ý nghĩa mục vụ sâu sắc[cite: 1]. Ngài không giữ anh ta lại để phục vụ cho lợi ích riêng của mình, không biến anh ta thành môn đệ lệ thuộc hay tìm cách kiểm soát cuộc đời anh. Ngài ban ơn rồi để anh ta tự do bước đi trong cuộc đời mới với phẩm giá được phục hồi trọn vẹn[cite: 1]. Điều này dạy cho các mục tử trong Hội Thánh cũng như mọi người tín hữu bài học về sự phục vụ vô vị lợi. Khi chúng ta làm việc bác ái hay giúp đỡ tha nhân, chúng ta không tìm kiếm sự tri ân, không biến người được giúp thành kẻ lệ thuộc vào ơn huệ của mình, mà phục vụ họ trong tinh thần tự do đích thực của con cái Chúa, tôn trọng tuyệt đối nhân vị và tự do của họ.
Những ngày sống trong thế giới đầy rẫy thử thách và những biến động phức tạp này chính là cơ hội thuận tiện để chúng ta thanh luyện đức tin. Giống như thánh Phao-lô trong ngục tù, những khó khăn, giới hạn hay khủng hoảng bên ngoài không thể làm tê liệt lòng mến nếu tâm hồn chúng ta bám rễ sâu vào tình yêu của Chúa Kitô[cite: 1]. Trái lại, chính trong những nghịch cảnh, ánh sáng của lòng nhân ái và sự hy sinh cao cả mới có thể chiếu rọi rõ nét nhất. Một cộng đoàn Kitô hữu sống động không phải là một cộng đoàn hoàn hảo không có vết nhơ, mà là một cộng đoàn biết mở rộng cửa lòng để đón nhận những yếu đuối của nhau, biết chữa lành những vết thương bằng thứ dầu xức của lòng thương xót và ơn sủng.
Mỗi chúng ta hãy tự vấn lòng mình về cách thức chúng ta đối xử với những người xung quanh. Trong gia đình, chúng ta đã thực sự lắng nghe và thấu cảm với những gánh nặng của người thân, hay chúng ta chỉ hay trách cứ và áp đặt những tiêu chuẩn khắt khe? Trong cộng đoàn xứ đạo hay xã hội, chúng ta có mang lấy thái độ phán xét, kết án hay chúng ta biết dùng trái tim của Chúa Giêsu để ôm ấp, cảm thông và nâng dậy những ai đang ngã quỵ? Sự biến đổi nội tâm này không phải là kết quả của sức lực tự nhiên, mà là công trình của Chúa Thánh Thần đang hoạt động trong cõi lòng chúng ta, nếu chúng ta khiêm tốn mở ra để Ngài thanh tẩy[cite: 1].
Nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần soi sáng và hướng dẫn bước chân chúng ta, để qua mỗi ngày sống, chúng ta biết từ bỏ con đường hẹp hòi, ích kỷ và giả hình của tinh thần Pharisêu. Xin cho chúng ta có được trái tim nhân hậu, dũng cảm và nhạy cảm của Thầy Chí Thánh Giêsu – một trái tim luôn đập nhịp với nhịp đập của lòng thương xót Chúa, dám vượt qua mọi rào cản của lề luật hình thức để mang lại sự sống, niềm vui và ơn cứu độ cho những anh chị em đang đau khổ bên cạnh chúng ta. Để rồi, qua đời sống thấm đẫm tình yêu hy sinh và phục vụ vô điều kiện ấy, chúng ta trở thành những chứng nhân sống động cho Tin Mừng giữa lòng nhân loại hôm nay, làm cho danh Chúa được cả sáng trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời.
Lm. Anmai, CSsR

HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN VÀ TÌNH YÊU VƯỢT QUA MỌI RÀO CẢN LUẬT LỆ HÌNH THỨC
Đời sống đức tin Kitô giáo không bao giờ là một hệ thống những quy tắc khô khan hay những giáo điều tĩnh tại nằm trên những trang giấy vô hồn. Trái lại, đó là một cuộc lữ hành sống động của tình yêu, nơi con người được mời gọi bước ra khỏi chính mình để chạm đến nỗi đau của tha nhân, nơi lề luật phải cúi đầu trước lòng thương xót, và nơi ánh sáng của Tin Mừng soi chiếu vào những góc tối tăm nhất của định kiến xã hội cũng như sự hẹp hòi tôn giáo. Khi suy niệm về khung cảnh Tin Mừng tường thuật việc Đức Giêsu chữa lành bệnh nhân mắc chứng phù thũng ngay trong ngày Sabat tại nhà của một thủ lãnh Pharisêu, chúng ta không chỉ đối diện với một phép lạ mang tính lịch sử hay một cuộc tranh luận thần học giữa Chúa Giêsu và các kinh sư thời bấy giờ. Hơn thế nữa, chúng ta đang đứng trước một gương mẫu tuyệt hảo về một lối sống vị tha, một cái nhìn vượt qua mọi sự giam hãm của hình thức vụ luật để vươn tới bản chất cốt lõi của tôn giáo đích thực: lòng trắc ẩn không điều kiện đối với con người.
Trong bối cảnh xã hội Do Thái cổ thời, ngày Sabat được nhìn nhận là một trong những cột trụ quan trọng nhất định hình bản sắc dân tộc và mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa. Đó là ngày thánh hiêng, ngày nghỉ ngơi tuyệt đối để tôn vinh công trình sáng tạo của Thiên Chúa và tưởng nhớ ơn giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập. Tuy nhiên, qua nhiều thế kỷ, các kinh sư và người Pharisêu đã từng bước chất chồng lên ngày Sabat biết bao nhiêu tiểu tiết, luật lệ chi ly và những hàng rào cấm cách, biến một ngày tưởng niệm tình yêu tự do của Thiên Chúa thành một thứ gông cùm đè nặng lên đôi vai con người. Luật lệ đáng lẽ ra phải là con đường dẫn dắt con người đến sự sống và sự tự do trong tình nghĩa tử với Thiên Chúa, thì nay lại trở thành một công cụ kiểm soát, một tiêu chuẩn phán xét và là cái lồng giam hãm lòng thương xót. Sự biến chất này làm cho tôn giáo trở nên xa lạ với những nỗi đau quằn quại của con người thực tế đang sống bên lề xã hội.
Chính trong một bầu khí ngột ngạt và đầy rẫy sự dò xét ấy, Đức Giêsu nhận được lời mời dùng bữa tại nhà của một thủ lãnh Pharisêu. Đọc lại đoạn Tin Mừng này, chúng ta dễ dàng nhận ra đây không phải là một bữa tiệc thân tình mang tinh thần hiếu khách hay sự chia sẻ huynh đệ đích thực. Trái lại, đó là một chiếc bẫy được giăng sẵn với bầu không khí ngầm chứa đầy sự thù địch và cảnh giác. Các kinh sư và người Pharisêu có mặt ở đó không để đón tiếp một vị tôn sư, mà để “quan sát Người thật kỹ”, tìm kiếm sơ hở, chực chờ cơ hội để quy trách nhiệm cho Người vi phạm lề luật. Sự xuất hiện của một người bệnh phù thũng ngay giữa buổi tiệc không phải là một sự tình cờ ngẫu nhiên của số phận, mà rất có thể là một quân bài được sắp đặt sẵn, một thứ “mồi nhử” được đưa vào không gian ấy để thử thách phản ứng của Đức Giêsu xem Ngài có dám chữa bệnh vào ngày Sabat hay không. Con người đau khổ ấy không được nhìn nhận như một cá nhân có phẩm giá tuyệt cao cần được cứu giúp, mà chỉ được xem như một công cụ vô tri phục vụ cho mưu đồ hạ bệ Đấng Cứu Thế của nhóm lãnh đạo tôn giáo đương thời.
Thế nhưng, cách ứng xử của Đức Giêsu trước tình huống hiểm nghèo và đầy ác ý ấy đã làm đảo lộn hoàn toàn mọi toan tính nhỏ nhen của con người. Ngài không hề bận tâm đến sự an toàn của bản thân, không tìm cách thủ thế hay né tránh ánh mắt dò xét cay độc của đám đông xung quanh. Thay vào đó, toàn bộ sự chú ý và trái tim đầy xót thương của Ngài hoàn toàn hướng về người bệnh đang ẩn mình trong góc khuất của sự tự ti và đau khổ. Đức Giêsu đã chủ động bước lại gần, nắm lấy con người bất hạnh ấy, chữa lành anh ta và cho anh ta ra về trong sự bình an và phẩm giá được phục hồi. Hành động này không chỉ là một cử chỉ chữa lành thể lý đơn thuần, mà là một hành động tuyên ngôn mạnh mẽ bằng đời sống về bản chất thật sự của Thiên Chúa: Thiên Chúa là Đấng luôn đứng về phía sự sống, sự giải thoát và tình yêu thương, chứ không phải là sự câu nệ hình thức hay sự chết chóc của lề luật cứng nhắc.
Nhìn sâu hơn vào thái độ của Đức Giêsu, chúng ta bắt gặp một chiều kích cao cả của sự tự hiến và tình yêu vị tha. Trong những hoàn cảnh bị đe dọa, bản năng tự nhiên của con người thường là thu mình lại, xây dựng những bức tường phòng thủ để bảo vệ sự an toàn cá nhân, danh dự và quyền lợi của mình. Thế nhưng, Đức Giêsu lại đi ngược lại hoàn toàn với bản năng sinh tồn ích kỷ đó. Ngài sẵn sàng đối đầu trực diện với quyền lực trần thế, chấp nhận gánh chịu sự công kích, sự hiểu lầm và cả con đường dẫn đến cái chết trên thập giá, cốt chỉ để cứu vớt một con người vô danh đang oằn mình dưới sức nặng của bệnh tật và sự khinh miệt xã hội. Sự tự huỷ mình ra trong tình yêu thương ấy chính là hạt giống gieo mỏi mòn vào lòng nhân thế một nguồn sức sống mới, một nền văn minh của lòng thương xót mà Giáo Hội luôn được mời gọi tiếp nối trong mọi thời đại.
Bên cạnh hình ảnh của Đức Giêsu trong Tin Mừng, tâm thức chúng ta cũng được soi sáng thêm bởi hình ảnh của vị Tông Đồ dân ngoại Phaolô qua những dòng thư đầy cảm động ngài gửi cho giáo đoàn Philipphê từ chốn lao tù ngục tù tăm tối. Đứng trước một tương lai bấp bênh, khi ranh giới giữa sự sống và cái chết, giữa sự tự do và một bản án tử hình chỉ cách nhau trong gang tấc, con người ta rất dễ rơi vào trạng thái bi quan, cay đắng hoặc chí ít là quay quẩn trong sự thương thân trách phận. Thế nhưng, thánh Phaolô lại minh chứng một chân lý kỳ diệu của đời sống ơn thánh: một tâm hồn đã được biến đổi bởi tình yêu Đức Kitô sẽ không bao giờ chịu cúi đầu trước những xiềng xích của hoàn cảnh bi đát. Dù đang mang trên mình những gông cùm nặng nề của tù ngục, trái tim của vị Tông Đồ không hề hướng về những khổ đau hay oán thù của bản thân, mà tràn ngập tình yêu thương thiết tha dành cho cộng đoàn Philipphê.
Những lời khai bút đầu tiên trong bức thư ấy vang lên như một khúc ca tạ ơn không dứt: “Tôi tạ ơn Thiên Chúa của tôi mỗi khi tôi nhớ đến anh em”. Đó không phải là một lời khách sáo xã giao, mà là tiếng vọng phát xuất từ một cõi lòng đã hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Dù xa cách về mặt không gian, Phaolô vẫn ôm ấp cộng đoàn trong lời cầu nguyện không nguôi, cầu xin cho đức mến của họ ngày càng triển nở, và khẳng định một cách hùng hồn rằng họ luôn có một chỗ đứng vĩnh cửu trong trái tim ngài. Sự tương đồng kỳ lạ giữa thánh Phaolô trong ngục tối và Đức Giêsu trong bữa tiệc đầy cạm bẫy chính là bài học sâu sắc về lối sống “hướng tha”. Cả hai đều đối diện với những nghịch cảnh ngặt nghèo, cả hai đều có lý do chính đáng để quay về bảo vệ lấy bản thân, nhưng cả hai lại chọn cách bước ra khỏi cái tôi chật hẹp để trao ban sự sống, sự an ủi và tình yêu cho người khác. Đó chính là kết quả tuyệt vời của Thần Khí Thiên Chúa hoạt động bên trong con người, biến những trái tim chai đá thành những suối nguồn yêu thương tuôn trào không ngơi nghỉ.
Nhìn vào thực tại của đời sống Kitô hữu hôm nay, chúng ta thấy bài học từ Tin Mừng ngày Sabat vẫn giữ nguyên vẹn tính thời sự sắc bén của nó. Trong đời sống đạo đức hằng ngày, đôi khi chúng ta cũng dễ dàng rơi vào vết xe đổ của những người Pharisêu xưa. Chúng ta vô tình biến đạo thành một thứ hệ thống các quy định pháp lý, những nghi thức bề ngoài, những luật lệ câu nệ chi ly mà quên mất đi linh hồn của lề luật chính là lòng thương xót và tình bác ái huynh đệ. Chúng ta có thể rất nghiêm ngặt trong việc giữ gìn các bề thế phụng vụ, các khoản luật giáo hội hay những truyền thống đạo đức lâu đời, nhưng lại tỏ ra lạnh lùng, dửng dưng và vô cảm trước những nỗi đau khổ thực tế của những con người đang sống chung quanh chúng ta. Một người đói khát bên lề đường, một người cô đơn trong căn phòng trọ chật hẹp, một tâm hồn đang tan vỡ vì tổn thương hay một gia đình đang chìm trong khủng hoảng… tất cả những thực tại đau thương ấy đôi khi bị bỏ quên chỉ vì chúng ta mải bận tâm đến việc giữ gìn sự “trong sạch” hình thức của những nguyên tắc tôn giáo khô khan.
Đức Giêsu qua hành động chữa lành người bệnh phù thũng đã gióng lên một hồi chuông thức tỉnh tâm thức chúng ta rằng con người luôn luôn quan trọng hơn lề luật. Phẩm giá của một nhân vị được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa có giá trị tối thượng, vượt lên trên mọi cấu trúc thể chế hay quy chuẩn nhân tạo. Khi đối diện với nỗi đau của tha nhân, thái độ đích thực của một người môn đệ không phải là đứng từ xa phán xét, tra vấn hay dùng lề luật làm lá chắn để từ chối trách nhiệm, mà là noi gương Thầy Chí Thánh: chủ động bước lại gần, chạm vào nỗi đau, ôm lấy sự bất toàn của tha nhân và mang lại cho họ sự chữa lành toàn diện. Đó mới là thứ đạo đức nội tâm thực sự, thứ đạo đức không tìm kiếm sự khen ngợi hay sự tuân thủ hình thức vụ lợi, mà tìm kiếm vinh quang Thiên Chúa qua việc phục vụ con người cách trọn vẹn và vô điều kiện.
Hơn thế nữa, bối cảnh xã hội hiện đại với muôn vàn biến động, lo âu và chia rẽ cũng đang đặt ra cho chúng ta những thách đố không hề nhỏ. Những khủng hoảng về kinh tế, những áp lực tâm lý căng thẳng, những bất ổn toàn cầu và ngay cả những hệ lụy từ các dịch bệnh hay thiên tai qua các thời kỳ đã đẩy không ít con người vào tình trạng hoảng loạn, cô độc và mất phương hướng. Trong một thế giới mà chủ nghĩa cá nhân đang lên ngôi, con người ngày càng có xu hướng khép kín trong không gian an toàn của riêng mình, dè dặt với những người xung quanh và tính toán thiệt hơn trong mọi mối tương quan. Lối sống “hướng thượng” và “hướng tha” mà thánh Phaolô cũng như Đức Giêsu đã sống đang đứng trước nguy cơ bị lu mờ bởi văn hóa hưởng thụ và sự vô cảm lan tràn.
Chính trong bối cảnh đó, ơn gọi làm Kitô hữu đòi hỏi mỗi người chúng ta phải có một cuộc hoán cải tâm linh sâu sắc. Hoán cải không có nghĩa là thêm vào những hình thức đạo đức mới hay những lời kinh nguyện dài dòng hơn, mà là mở rộng cõi lòng để cho Thần Khí của Thiên Chúa biến đổi tận căn nhãn quan và lối hành xử của chúng ta. Thay vì nhìn tha nhân qua lăng kính của sự nghi kỵ, phán xét hay thành kiến vụ lợi, chúng ta được mời gọi nhìn họ bằng con mắt xót thương của chính Đức Giêsu. Mỗi một hoàn cảnh khó khăn, mỗi một con người bên lề xã hội mà chúng ta gặp gỡ hằng ngày không phải là một sự phiền toái cản trở nhịp sống bận rộn của chúng ta, mà là một ơn huệ, một cơ hội để chúng ta thể hiện khuôn mặt từ nhân của Thiên Chúa giữa lòng trần thế.
Hãy thử nhìn lại cách chúng ta đối xử với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và những người cộng sự trong đời sống thường nhật. Có bao nhiêu lần chúng ta cố chấp bảo vệ cái lý của riêng mình mà làm tổn thương những người thân yêu bằng những lời nói cay nghiệt? Có bao nhiêu lần chúng ta dùng các nguyên tắc cứng nhắc để đóng khung và phán xét những lầm lỗi của người khác thay vì kiên nhẫn lắng nghe, thấu hiểu và tha thứ? Có bao nhiêu lần chúng ta dửng dưng quay mặt đi trước những lời kêu cứu thầm lặng của những mảnh đời bất hạnh chỉ vì chúng ta quá bận rộn với những mục tiêu ích kỷ của bản thân? Những câu hỏi ấy là tấm gương phản chiếu chân thực nhất để chúng ta nhận ra khoảng cách giữa đời sống đạo hình thức và Tin Mừng sống động của Đức Kitô.
Để thu hái được những hoa trái ngọt ngào của đời sống thiêng liêng, chúng ta cần phải nuôi dưỡng tâm hồn mình bằng nguồn cội của tình yêu đích thực, đó chính là sự gắn kết mật thiết với Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện và việc lắng nghe Lời Chúa hằng ngày. Một tâm hồn khô cạn, thiếu vắng sự hiện diện của ơn thánh sẽ rất dễ trở nên cay đắng, ích kỷ và cố chấp khi đối diện với những nghịch cảnh của cuộc đời. Ngược lại, một tâm hồn được đong đầy bởi ơn sủng của Chúa Thánh Thần sẽ luôn tìm thấy sự bình an ngay giữa giông bão, tìm thấy niềm vui trong việc hy sinh cho người khác và sẵn sàng đối diện với mọi thử thách bằng một thái độ kiên vững, hiền hòa và đầy hy vọng. Giống như thánh Phaolô tìm thấy sức mạnh trong những xiềng xích, hay Đức Giêsu tìm thấy sự tự do trong sự thù địch của đám đông, chúng ta cũng sẽ tìm thấy ý nghĩa đích thực của cuộc đời mình khi biết trao hiến bản thân vì tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân.
Con đường theo chân Đức Giêsu chưa bao giờ là một con đường trải đầy hoa hồng hay những tràng pháo tay tán thưởng. Đó là con đường thập giá, con đường của sự từ bỏ, của việc lội ngược dòng trước những trào lưu ích kỷ và thực dụng của xã hội trần tục. Thế nhưng, đó lại là con đường duy nhất dẫn đến sự sống đích thực và niềm vui vĩnh cửu. Khi chúng ta dám bước ra khỏi vùng an toàn của chính mình, dám đối diện với những hiểu lầm và chống đối để bảo vệ nhân phẩm và sự sống của con người, chúng ta đang thực sự cộng tác vào công trình cứu độ của Thiên Chúa, đang làm cho Tin Mừng trở thành hiện thực sống động ngay trong không gian và thời gian mà chúng ta đang hiện hữu.
Giờ đây, khi khép lại những dòng suy niệm này, ước gì mỗi người chúng ta mang theo trong tâm hồn một quyết tâm mãnh liệt: hãy để cho tình yêu của Đức Kitô thanh luyện những toan tính hẹp hòi, những lề luật hình thức và những định kiến cố chấp trong tâm hồn chúng ta. Xin cho chúng ta biết mở rộng đôi mắt để nhìn thấy những nỗi đau ẩn giấu xung quanh, mở rộng đôi tay để nâng đỡ những mảnh đời gục ngã, và mở rộng trái tim để yêu thương ngay cả những người chống đối hay làm tổn thương chúng ta. Để rồi, qua từng lời nói, từng cử chỉ bác ái và từng hành động phục vụ âm thầm trong đời sống hằng ngày, chúng ta sẽ trở thành những chứng nhân sống động cho một Thiên Chúa là tình yêu, Đấng luôn hằng ghé mắt thương nhìn đến phận hèn của nhân loại và không ngừng tuôn đổ hồng ân cứu độ xuống trên cuộc đời mỗi người chúng ta. Amen.
Lm. Anmai, CSsR

ĐẠI LỘ TÌNH YÊU THAY VÌ HÀNG RÀO LỀ LUẬT: KHÁM PHÁ CON ĐƯỜNG CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT VÀ TÌNH HIỆU HẠNH VỚI THIÊN CHÚA
Trong hành trình đức tin Kitô giáo, một trong những cạm bẫy tinh vi và nguy hiểm nhất mà con người từ xưa đến nay thường vướng phải chính là việc biến tôn giáo thành một hệ thống các quy chuẩn cứng nhắc, biến luật lệ thành bức tường thành vô cảm để ngăn cách con người thay vì làm nhịp cầu nối kết tình thân. Khi quan sát cuộc đời trần thế của Đức Giêsu Kitô qua các Tin Mừng, chúng ta không khỏi ngạc nhiên trước thái độ tự do nhưng đầy quyền năng của Ngài đối với các lề luật truyền thống, đặc biệt là cách Ngài đối xử với những ngày Sabát và những tâm hồn đau khổ. Một trong những câu chuyện điển hình mang chiều kích nhân sinh và thần học sâu sắc là sự kiện Chúa Giêsu bước vào nhà của một người Pharisêu hàng đầu để dùng bữa trong ngày Sabát, nơi Ngài đối diện trực diện với một người bệnh phù thũng và một nhóm người đang dò xét từng cử chỉ của Ngài. Từ biến cố này, chúng ta được mời gọi bước vào một cuộc tĩnh tâm sâu lắng, mở rộng cõi lòng để nhìn ngắm lại bản chất thực sự của Thiên Chúa: Ngài không phải là một vị quan tòa khắc nghiệt đếm từng lỗi lầm hay một bộ luật vô hồn, mà là Người Cha nhân hậu luôn khao khát ôm ấp, chữa lành và cứu độ con cái mình bằng tất cả trái tim yêu thương vô bờ bến.
Bối cảnh bữa tiệc ngày Sabát mở ra cho chúng ta một bức tranh thu nhỏ về xã hội tôn giáo thời bấy giờ, nơi mà sự hình thức hóa lề luật đã làm lu mờ đi lòng trắc ẩn nguyên thủy mà Thiên Chúa hằng mong đợi nơi con người. Ngày Sabát vốn dĩ là một hồng ân cao quý mà Thiên Chúa ban tặng cho nhân loại, một ngày để con người nghỉ ngơi, chiêm ngắm công trình sáng tạo, tận hưởng mối tương thân tương ái với Đấng Tạo Hóa và với đồng loại. Thế nhưng, qua bàn tay nhào nặn của các kinh sư và người Pharisêu, ngày Sabát đã biến thành một gánh nặng ngột ngạt với vô vàn những điều cấm kỵ chi li. Họ đặt ra những quy định khắt khe đến mức vô lý, coi việc cứu giúp một mạng người hay chữa lành một vết thương trong ngày Sabát là một hành vi phạm luật. Giữa bầu không khí ngột ngạt, đầy những ánh mắt săm soi và phán xét ấy, sự hiện diện của một người bệnh phù thũng ngay trước mặt Đức Giêsu như một biểu tượng sống động cho tình cảnh khốn cùng của con người khi bị giam cầm trong những đau khổ thể lý lẫn tinh thần, đồng thời cũng là tấm gương phản chiếu sự khô cằn trong tâm hồn của những kẻ tự cho mình là đạo đức.
Người mắc bệnh phù thũng trong trình thuật Tin Mừng mang trên mình thân xác phù nề, nặng nề, chứa đầy nước dịch và sự đau đớn. Trong cái nhìn của người Do Thái thời bấy giờ, bệnh tật thường bị đồng hóa với hậu quả của tội lỗi, khiến những con người bất hạnh ấy không chỉ oằn mình gánh chịu nỗi đau thể xác mà còn bị gạt ra bên lề xã hội, chịu đựng sự kỳ thị và cô độc tột cùng. Thế nhưng, Đức Giêsu không hề né tránh anh ta. Ngài không nhìn anh bằng ánh mắt khinh miệt hay sợ sự ô uế theo nghĩa luật pháp hình thức, mà nhìn bằng ánh mắt tràn đầy tình thương xót và nỗi trắc ẩn vô biên. Sự xuất hiện của người bệnh phù thũng tạo nên một sự va chạm nảy lửa giữa hai nền văn hóa: văn hóa của lề luật loại trừ và văn hóa của tình yêu bao dung. Đối diện với những thắc mắc ngầm hoặc sự im lặng đầy ác ý của các luật gia và người Pharisêu, Đức Giêsu đã chủ động đặt ra một câu hỏi sắc sảo nhưng đầy ánh sáng chân lý: “Có được phép chữa bệnh ngày Sabát hay không?”. Sự im lặng bao trùm không phải vì họ không hiểu ý Chúa, mà vì sự ngoan cố và kiêu ngạo đã bịt kín tâm trí họ, khiến họ không dám đối diện với chân lý cứu độ đang hiển hiện ngay trước mắt.
Không chần chừ trước sự im lặng lạnh lùng ấy, Đức Giêsu đã chủ động bước tới, cầm lấy người bệnh, chữa lành anh ta và cho anh ra về trong sự bình an. Hành động này không chỉ là một phép lạ thể lý đơn thuần, mà là một hành động mang tính cách mạng tâm linh sâu sắc. Chúa Giêsu khẳng định một chân lý trường tồn: lòng thương xót và sự sống luôn luôn được đặt lên trên hết mọi quy tắc hình thức do con người đặt ra. Để làm sáng tỏ hơn sự vô lý trong lập luận cực đoan của họ, Ngài đưa ra một hình ảnh quá đỗi gần gũi và thực tế trong đời sống thường nhật: “Ai trong các ông có con bò hoặc con lứa chẳng may rơi xuống giếng, lại không kéo nó lên ngay ngày Sabát sao?”. Câu hỏi mang tính chất phản biện sắc bén này khiến không một ai trong số những kẻ chống đối có thể thốt lên lời đáp trả. Nếu một con vật — tài sản có giá trị kinh tế — còn được cứu vớt ngay trong ngày Sabát vì tình xót xa và lợi ích thiết thực, thì hà cớ gì một con người, một hình ảnh sống động của Thiên Chúa, lại phải chịu bỏ mặc trong đau khổ chỉ vì vướng kẹt vào những điều luật cứng nhắc? Qua đó, Đức Giêsu lật tẩy sự giả hình và sự thiếu nhất quán trong tâm hồn những kẻ chỉ biết bám lấy cái vỏ bọc bên ngoài của tôn giáo mà đánh mất đi cốt lõi bên trong.
Từ câu chuyện Tin Mừng này, bước sang chiều kích suy tư rộng lớn hơn cho đời sống đức tin của mỗi chúng ta hôm nay, bài học cốt lõi rút ra chính là sự nguy hiểm của việc tôn thờ lề luật mà đánh mất tình yêu. Trong đời sống đạo đức, con người rất dễ rơi vào cạm bẫy của chủ nghĩa hình thức. Chúng ta có thể chu toàn các cử hành phụng vụ, đọc kinh cầu nguyện đúng giờ, giữ các giới răn một cách máy móc, thậm chí tuân thủ nghiêm ngặt từng tiểu tiết trong giáo luật hay truyền thống đạo dòng. Tuy nhiên, nếu tất cả những điều đó được thực hiện mà thiếu vắng đi ngọn lửa của lòng mến, thiếu đi sự bao dung, lòng trắc ẩn và sự thấu cảm với những nỗi đau của tha nhân, thì đời sống đạo ấy chẳng khác nào một cỗ máy vô tri, xa lạ với Tin Mừng của Đức Kitô. Thiên Chúa không cần những cỗ máy tuân thủ luật lệ một cách vô cảm; Ngài tìm kiếm những trái tim biết đập nhịp đập của tình yêu thương, biết xót thương trước những trăn trở, bất hạnh và khốn cùng của anh chị em đồng loại.
Tôn giáo của Đức Giêsu Kitô không phải là một tập hợp các điều khoản pháp lý khô khan hay một cẩm nang đạo đức học mang tính cách bàng quan. Thiên Chúa không phải là một đấng siêu việt ngồi trên cao chỉ chực chờ phán xét lỗi lầm hay ghi chép từng sai phạm để trừng phạt con người. Thiên Chúa, qua mạc khải trọn vẹn trong Đức Giêsu Kitô, chính là Tình Yêu, là Người Cha nhân lành lúc nào cũng mở rộng đôi tay đón chờ con hoang đàng trở về, luôn chủ động tìm kiếm con chiên lạc, và không ngừng cúi xuống để băng bó những vết thương lòng của nhân loại. Đức Giêsu chính là hiện thân sống động của mối tương quan mật thiết đó. Ngài đến để thiết lập một giao ước mới, không phải khắc trên bảng đá vô tri của lề luật cũ, mà được ghi khắc bằng tình yêu hiến tế trên thập giá và được viết bằng dòng máu của lòng thương xót vô biên trong tâm hồn mỗi tín hữu. Do đó, đời sống Kitô giáo đích thực không bao giờ là sự sợ hãi trước hình phạt hay sự câu nệ vào các khoản luật, mà là một hành trình bước vào tình yêu thắm thiết, một mối tương quan vị tha, chân thành và sâu sắc với Thiên Chúa và với hết thảy mọi người xung quanh.
Khi suy ngẫm sâu xa về tương quan này, chúng ta nhận ra rằng mọi nỗ lực tuân giữ lề luật chỉ thực sự có giá trị cứu độ khi chúng được soi sáng và thúc đẩy bởi đức mến. Thánh Phaolô tông đồ đã từng khẳng định một cách hùng hồn rằng: dù chúng ta có nói được các thứ tiếng của loài người và của thiên thần, dù có ơn thông tri tri thức hay có đức tin lớn dời núi, nhưng nếu không có tình yêu thì chúng ta chẳng là gì cả. Lề luật chỉ là chiếc gậy dẫn đường, là phương tiện giúp con người rèn luyện kỷ luật bản thân trong giai đoạn trưởng thành thiêng liêng, chứ tự bản thân nó không thể ban sự sống hay ơn cứu độ. Chỉ có tình yêu mới có khả năng làm cho con người sống động, làm cho tâm hồn bừng cháy nhiệt huyết thánh thiện và biến đổi thế giới này từ một nơi đầy rẫy sự lạnh lùng, ích kỷ thành một cộng đoàn hiệp nhất của lòng thương xót. Khi chúng ta đối diện với những anh chị em đang đau khổ, yếu đuối, lầm lạc hay bị gạt ra bên lề xã hội, thước đo duy nhất để đánh giá lòng đạo đức của chúng ta không phải là việc chúng ta thuộc làu bao nhiêu điều khoản giáo lý, mà là việc chúng ta đã mở rộng trái tim mình đến mức độ nào để ôm ấp, nâng đỡ và sẻ chia với họ.
Hơn thế nữa, bài học từ thái độ của Đức Giêsu đối với người bệnh phù thũng còn dạy chúng ta bài học về sự can đảm thánh thiện. Trong cuộc sống thường nhật, chúng ta thường có xu hướng an toàn, sợ bị chỉ trích, sợ đi ngược lại với những chuẩn mực xã hội quen thuộc hay những định kiến cố cựu của cộng đồng. Các người Pharisêu đại diện cho sức ì của định chế, sự sợ hãi trước sự đổi mới và sự bảo thủ đến mức cố chấp. Họ thà để cho một con người tiếp tục quằn quại trong bệnh tật còn hơn là phá vỡ cái quy ước ngày Sabát do con người tự đặt ra. Trái lại, Đức Giêsu vượt qua tất cả mọi rào cản mang tính hình thức ấy để đặt con người — hình ảnh cao quý của Thiên Chúa — lên hàng đầu. Ngài không ngại va chạm với quyền lực thời đại, không sợ bị vu oan giáng họa hay bị hiểu lầm, bởi vì mục đích duy nhất của Ngài là làm vinh danh Thiên Chúa qua việc cứu độ con người. Noi gương Thầy Chí Thánh, mỗi người chúng ta cũng được mời gọi vượt qua nỗi sợ hãi sự phán xét của người đời, vượt qua sự ích kỷ cá nhân để dấn thân thực thi những nghĩa cử của lòng bác ái, công lý và tình thương, dẫu cho đôi khi hành động ấy có thể đi ngược lại với dòng chảy thờ ơ của xã hội đương thời.
Nhìn lại chiều dài lịch sử Giáo Hội cũng như hành trình đức tin của chính mỗi cá nhân, chúng ta thấy biết bao lần mình đã rơi vào cạm bẫy của tinh thần Pharisêu. Có những lúc chúng ta rất nghiêm khắc với lỗi lầm của người khác nhưng lại vô cùng khoan dung với những yếu đuối của chính mình. Có những lúc chúng ta sẵn sàng dùng những lời lẽ cay nghiệt, những quy định giáo luật sắc bén để phán xét, lên án và loại trừ những ai không sống theo chuẩn mực mà chúng ta mong muốn, thay vì kiên nhẫn lắng nghe, cảm thông và đồng hành để chữa lành họ. Trái tim của chúng ta đôi khi đã trở nên chai sạn trước những giọt nước mắt của người nghèo khổ, trước nỗi cô đơn của những kẻ bên lề, và trước những tổn thương sâu thẳm trong tâm hồn của những người chung quanh. Mùa lễ hội hay những ngày tháng thường niên trong đời sống phụng vụ không chỉ là dịp để chúng ta chu toàn các nghĩa vụ tôn giáo mang tính hình thức, mà là thời gian hồng ân để hoán cải tâm hồn, để xin Chúa thanh luyện đôi mắt chúng ta khỏi những định kiến hẹp hòi, và xin ban cho chúng ta một trái tim biết thổn thức trước nỗi đau của tha nhân.
Thiên Chúa hằng mong mỏi chúng ta trở thành những chứng nhân của tình yêu đích thực. Tình yêu đó không phải là một thứ cảm xúc hời hợt, dễ dãi, bỏ qua ranh giới giữa đúng và sai, mà là một sức mạnh nội tâm mạnh mẽ dám hy sinh vì người khác, dám đặt lợi ích và sự sống của tha nhân lên trên sự an toàn giả tạo của bản thân. Khi chúng ta sống tương quan mật thiết với Thiên Chúa như với một người Cha tận tụy, chúng ta sẽ nhìn mọi người xung quanh bằng ánh mắt của anh chị em một nhà. Sẽ không còn chỗ cho sự ganh tị, chia rẽ, loại trừ hay phán xét vô tình; thay vào đó là sự thông hiệp, sẻ chia, tha thứ và nâng đỡ lẫn nhau trên bước đường lữ thứ trần gian. Mỗi hành động bác ái nhỏ bé được thực hiện với tình yêu thương bao la — dẫu chỉ là một ly nước lạnh cho người khát, một lời thăm hỏi chân thành cho kẻ cô đơn, một cái ôm siết chặt cho người đang tuyệt vọng — đều có giá trị lớn lao trước mặt Thiên Chúa hơn vạn ngàn nghi thức tôn giáo được thực hiện một cách nguội lạnh, máy móc.
Đời sống tâm linh của chúng ta vì thế cần phải được canh tân không ngừng bằng nguồn ơn thánh của Bí tích Hòa Giải và Thánh Thể. Trong Bí tích Hòa Giải, chúng ta không đến để khai báo tội lỗi một cách sợ sệt trước một vị quan tòa nghiêm khắc, mà là đến để nép mình vào vòng tay yêu thương dung thứ của người Cha nhân hậu, Đấng luôn sẵn sàng thứ tha và tái tạo chúng ta trong ơn thánh. Còn trong mầu nhiệm Thánh Thể, chúng ta được mời gọi trở nên một tấm bánh bẻ ra cho đời, hiệp thông trọn vẹn với hy lễ tình yêu của Đức Giêsu để từ đó mang chính tình yêu ấy đến cho những nơi còn tăm tối, lạnh lẽo và đầy đau thương của cuộc đời. Sự kết hợp sâu xa này sẽ dần dần biến đổi bản tính tự nhiên đầy ích kỷ của chúng ta thành một bản tính tràn ngập tình mến, giúp chúng ta biết sống hiền hậu, khiêm nhường và đầy lòng trắc ẩn như lòng Chúa xót thương.
Khi khép lại những dòng suy tư miên man này về mầu nhiệm tình yêu vượt trên lề luật, chúng ta hãy dâng lời tạ ơn Thiên Chúa vì Ngài đã không bỏ rơi chúng ta trong bóng tối của những quy tắc cứng nhắc, nhưng đã thương mến mạc khải cho chúng ta dung nhan đích thực của Ngài qua Đức Giêsu Kitô – Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta ơn can đảm để phá vỡ những hàng rào hẹp hòi của sự phán xét và ích kỷ trong tâm hồn, để mỗi bước chân chúng ta đi qua trên đường đời đều trở thành những nhịp cầu của lòng thương xót, đem niềm vui, sự chữa lành và bình an đến cho những ai chúng ta gặp gỡ. Nguyện xin ơn trên tiếp tục đồng hành, soi sáng và dẫn dắt chúng ta trong từng giây phút của cuộc sống thường ngày, để qua đời sống chứng tá đầy lòng mến, chúng ta trở thành những phản chiếu sống động của tình yêu Thiên Chúa giữa một thế giới đang rất cần sự dịu dàng và lòng trắc ẩn.
Lm. Anmai, CSsR

HÀNH TRÌNH BIẾN ĐỔI NỘI TÂM TRONG ÁNH SÁNG LỜI CHÚA VÀ ĐỜI SỐNG THỜ PHƯỢNG ĐÍCH THỰC
Cuộc sống của người tín hữu giữa thế giới hiện đại luôn là một bản giao hưởng đan xen giữa những bộn bề lo toan thường nhật và tiếng gọi sâu thẳm của cõi siêu nhiên. Trong nhịp sống hối hả ấy, không ít lần chúng ta cảm thấy chới với, lạc lõng hoặc mệt mỏi trước những áp lực ngoại tại, dẫn đến nguy cơ khô khan nguội lạnh trong đời sống thiêng liêng. Chính giữa những khoảng lặng của tâm hồn, Thiên Chúa vẫn luôn kiên nhẫn ngỏ lời, mời gọi mỗi người bước vào một hành trình hoán cải tận căn thông qua việc lắng nghe và thực thi Lời Ngang qua phương thế cầu nguyện truyền thống của Giáo Hội, đặc biệt là thực hành Lectio Divina. Đây không đơn thuần là việc đọc sách thánh theo nghĩa văn chương phàm nhân, mà là một cuộc gặp gỡ sống động, một cuộc đối thoại thân tình giữa thụ tạo và Đấng Tạo Hóa, nơi tâm hồn được thanh luyện, ánh sáng chân lý soi rọi và sức mạnh ơn sủng được tuôn đổ tràn trề.
Để có thể thấu cảm sâu xa chiều kích nhiệm mầu này, trước hết chúng ta cần nhìn lại bối cảnh Kinh Thánh gắn liền với Phụng Vụ của những tuần lễ Thường Niên, nơi mà Lời Chúa không ngừng thách đố và kiện toàn lề thói đạo đức của con người. Trong truyền thống Do Thái giáo thời Tân Ước, sự căng thẳng giữa tinh thần lề luật và lòng bác ái chân chính thường xuyên nổi lên qua cách ứng xử của các bậc thầy thông luật và nhóm Pharisêu. Họ là những người vô cùng cẩn mật trong việc tuân giữ từng tiểu tiết của lề luật bên ngoài, nhưng đôi khi lại đánh mất đi nhịp đập của lòng thương xót, sự khiêm nhường và tình yêu đích thực đối với tha nhân. Trình thuật Tin Mừng thường đặt Đức Giêsu Kitô vào những tình huống va chạm trực tiếp với não trạng câu nệ hình thức ấy. Một trong những hình ảnh điển hình là việc Ngài chữa lành người bị phù thũng hoặc tranh luận về việc làm ơn cứu giúp người khác ngay trong ngày Sabat. Đức Giêsu không hề đả phá lề luật Thiên Chúa ban qua mô sê, nhưng Ngài đến để kiện toàn, để lột tả chiều sâu tâm linh và ý nghĩa nguyên thủy của lề luật: lề luật được ban ra là vì con người, chứ không phải con người vì lề luật. Ngày Sabat là ngày để tôn vinh Thiên Chúa, và cách tôn vinh Thiên Chúa đẹp lòng Ngài nhất chính là cứu giúp sự sống, đem lại niềm vui, sự bình an và phẩm giá cho những mảnh đời bất hạnh, đau khổ.
Khi áp dụng bài học này vào hành trình thiêng liêng của mỗi Kitô hữu hôm nay, chúng ta dễ dàng nhận ra cạm bẫy của một thứ đạo đức hình thức, giữ đạo theo thói quen hoặc tuân thủ máy móc các nghĩa vụ tôn giáo mà thiếu đi sức sống nội tâm. Có thể chúng ta tham dự thánh lễ đầy đủ, đọc kinh cầu nguyện đều đặn, đóng góp bác ái theo phong trào, nhưng sâu thẳm trong cõi lòng, trái tim chúng ta lại khép kín trước nỗi đau của anh chị em xung quanh, hoặc phảng phất sự kiêu ngạo thiêng liêng khi tự mãn về sự công chính của bản thân. Đức Giêsu Kitô hôm nay tiếp tục mời gọi chúng ta vượt qua giới hạn chật hẹp của chủ nghĩa hình thức để bước vào chiều kích nội tâm hóa. Đạo thánh Chúa không phải là một tập hợp các cấm kỵ hay những luật lệ khô khan đè nặng trên đôi vai con người, mà là một mối tương quan tình yêu năng động, sống động và biến đổi. Khi con người thực sự gặp gỡ Thiên Chúa trong Lời của Ngài, ánh sáng chân lý sẽ soi thấu những góc khuất tăm tối của lòng ích kỷ, kiêu căng và giả hình, từ đó thúc đẩy chúng ta hoán cải tận căn từ trong ý định cho đến hành vi cư xử hằng ngày.
Phương thế tuyệt vời để nuôi dưỡng mối tương quan mật thiết ấy chính là thực hành Lectio Divina, hay còn gọi là phương pháp cầu nguyện với Lời Chúa qua bốn bước truyền thống: Đọc (Lectio), Suy niệm (Meditatio), Cầu nguyện (Oratio) và Chiêm niệm (Contemplatio). Bước thứ nhất là Đọc, đòi hỏi chúng ta phải tiếp cận văn bản Kinh Thánh với một thái độ cung kính, chậm rãi và chú tâm. Khác với việc đọc báo hay nghiên cứu tài liệu khoa học để thu lượm thông tin, đọc Lời Chúa là lắng nghe một tiếng nói đang thì thầm trực tiếp vào tâm can. Ta đọc đi đọc lại đoạn văn Kinh Thánh cho đến khi một từ, một câu hay một hình ảnh nào đó chạm đến sâu thẳm cõi lòng, khơi lên một niềm trăn trở hoặc một tia sáng bất ngờ.
Bước thứ hai là Suy niệm, trong đó trí khôn và cõi lòng cùng cộng tác để nhai đi nhai lại Lời Thánh ấy giống như con vật nhai lại cỏ để chắt lọc lấy dưỡng chất tinh túy nhất. Ta tự hỏi: Lời này đang nói gì với cuộc đời tôi lúc này? Hoàn cảnh nào trong đời sống của tôi đang phản chiếu hoặc cần đến ánh sáng của đoạn Kinh Thánh này? Suy niệm giúp ta gạt bỏ những lớp bụi mờ của sự xao lãng trần tục, để Lời Chúa thẩm thấu vào từng ngóc ngách của tâm hồn, chất vấn những thói hư tật xấu, đụng chạm đến những vết thương chưa lành và mời gọi sự tha thứ, chữa lành.
Bước thứ ba là Cầu nguyện, chuyển hóa những gì vừa suy niệm thành tâm tình thưa chuyện trực tiếp với Thiên Chúa. Lúc này, tâm hồn không còn chỉ dừng lại ở việc suy nghĩ nữa mà bùng cháy thành những lời nguyện xin dâng lên Cha trên trời. Đó có thể là lời tạ ơn vì muôn ơn lành, lời ngợi ca trước sự cao cả và từ bi của Chúa, là tiếng thở dài ăn năn thống hối trước những bất trung yếu đuối, hay lời van xin ơn trợ giúp cho chính mình và cho những ai đang đau khổ. Cầu nguyện trong Lectio Divina là sự dốc đổ trọn vẹn tâm can trước nhan thánh Chúa, không giấu giếm, không vỏ bọc, một sự phó thác tuyệt đối vào lòng thương xót vô biên của Ngài.
Và bước cuối cùng, đỉnh cao của hành trình chính là Chiêm niệm. Đây là khoảng lặng thâm sâu vượt trên mọi ngôn từ và khái niệm con người. Sau khi đã lắng nghe, đã suy ngắm và đã thưa chuyện với Chúa, tâm hồn chìm đắm trong sự hiện diện đầy yêu thương của Ngài. Lúc này, con người không còn bận tâm xin xỏ hay suy tính điều gì nữa, mà chỉ đơn giản là ở lại trong Chúa, để cho tình yêu của Ngài bao bọc, biến đổi và đồng hóa tâm hồn mình nên một với ý định của Ngài. Chiêm niệm là nếm trước hương vị thiên đàng ngay giữa cuộc đời trần thế này, nơi cái tôi ích kỷ tạm lắng xuống để cho Thiên Chúa hoàn toàn làm chủ ngai lòng.
Hành trình thiêng liêng qua Lectio Divina ấy chính là suối nguồn nuôi dưỡng đời sống nhân đức Kitô giáo, giúp chúng ta không bị chìm ngập giữa dòng đời tục hóa. Thế giới hôm nay đang tung hô những giá trị của chủ nghĩa cá nhân, sự hưởng thụ vật chất, quyền lực và sự kiêu hãnh kiêu ngạo. Con người dễ dàng rơi vào cảm giác tự mãn, cho rằng mình đủ sức định đoạt số phận, tự tay xây dựng hạnh phúc mà không cần đến Thiên Chúa. Sự kiêu ngạo ấy chính là gốc rễ của mọi chia rẽ, bất công và bạo lực trong xã hội. Khi con người tự đặt mình lên vị trí tối cao, họ lập tức biến tha nhân thành công cụ để trục lợi hoặc thành đối thủ cần phải loại trừ. Ngược lại, tinh thần Tin Mừng mà Đức Giêsu hằng giảng dạy và sống thực lại đi ngược hoàn toàn với lô-gíc thế gian: đó là con đường của sự khiêm nhường thẳm sâu, của lòng thương xót vô bờ bến và sự tự hiến trọn vẹn vì tình yêu.
Để thực thi tinh thần khiêm nhường và bác ái ấy, mỗi người Kitô hữu được mời gọi noi gương Đức Giêsu trong thái độ đối xử với những người chung quanh, đặc biệt là những người yếu thế, bị gạt ra bên lề xã hội hoặc những ai có thái độ chống đối chúng ta. Thông thường, bản năng tự nhiên của con người là ăn miếng trả miếng, là giận hờn, oán trách và tìm cách trả đũa khi bị xúc phạm hoặc tổn thương. Thế nhưng, tiếng gọi của Tin Mừng lại vang lên đầy thách đố: hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy cầu nguyện cho kẻ ngược đãi anh em. Đây không phải là một khẩu hiệu đạo đức sáo rỗng hay một sự yếu đuối hèn nhát, mà là biểu hiện cao cả nhất của sức mạnh tinh thần xuất phát từ Thiên Chúa. Chỉ khi một tâm hồn đã được đong đầy bởi lòng thương xót của Chúa qua việc chiêm ngắm Lời Ngài, người đó mới có đủ ơn sủng để tha thứ cho những kẻ lầm lỗi, để nhìn tha nhân không phải qua lăng kính của sự hận thù, mà qua ánh mắt xót thương của chính Thiên Chúa.
Sự biến đổi nội tâm này còn đòi hỏi chúng ta phải kiên trì rèn luyện các nhân đức trong đời sống hằng ngày. Đời sống thiêng liêng không phải là một trạng thái tĩnh tại, mà là một cuộc chiến đấu thiêng liêng không ngừng nghỉ chống lại sức nặng của bản tính tự nhiên hướng chiều về tội lỗi. Cuộc chiến ấy diễn ra ngay trong từng ý nghĩ thầm kín, trong lời nói bâng quơ và trong những hành động nhỏ nhặt nhất thường ngày. Một ánh mắt đố kỵ, một lời nói cay độc làm tổn thương người khác, một thái độ dửng dưng trước nỗi khốn cùng của anh chị em đều là những biểu hiện cho thấy con người cũ trong chúng ta vẫn còn bám rễ sâu xa. Do đó, việc năng nổ lắng nghe Lời Chúa và thực thi các việc lành phúc đức chính là thứ vũ khí sắc bén để chặt đứt những rễ cây tội lỗi ấy, nhường chỗ cho những bông hoa nhân đức như lòng nhân hậu, sự hiền hòa, kiên nhẫn, lòng trung tín và tinh thần tự chủ trổ sinh.
Hơn thế nữa, đời sống hiệp thông trong Hội Thánh đóng vai trò vô cùng thiết yếu trên bước đường theo chân Đức Kitô. Không ai có thể đơn độc tiến bước về quê hương vĩnh cửu. Chúng ta được mời gọi cùng nhau bước đi trong một cộng đoàn đức tin, nơi mọi người nâng đỡ,ủi an và khích lệ lẫn nhau. Trong cộng đoàn ấy, sự liên đới bác ái không chỉ dừng lại ở những lời thăm hỏi xã giao, mà phải được cụ thể hóa bằng hành động sẻ chia cơm áo, bênh vực công lý cho những kẻ bị áp bức, và nhất là hiệp ý cầu nguyện cho nhau trước mọi gian nan thử thách của cuộc sống. Hội Thánh chính là thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô, nơi mỗi chi thể đều có một sứ mạng riêng biệt nhưng gắn kết chặt chẽ với nhau. Khi một chi thể đau khổ, mọi chi thể khác cùng đau khổ; khi một chi thể vinh hiển, mọi chi thể khác cùng vui mừng. Nhận thức rõ ràng về mầu nhiệm hiệp thông này sẽ giúp chúng ta vượt qua căn bệnh thờ ơ vô cảm đang có xu hướng lan rộng trong xã hội đương đại, nơi con người sống sát bên nhau nhưng lại xa cách nhau về tâm hồn.
Nhìn ngắm lại chặng đường lịch sử cứu độ cũng như hành trình đức tin của chính bản thân mỗi người, chúng ta nhận ra rằng Thiên Chúa luôn kiên nhẫn chờ đợi sự hồi tâm của chúng ta. Ngài không mệt mỏi gõ cửa tâm hồn, dẫu cho cánh cửa ấy đã nhiều lần khép lại bởi sự dửng dưng hay bất tín của chúng ta. Mỗi mùa Phụng Vụ, mỗi ngày sống trôi qua đều là hồng ân, là cơ hội quý giá mà Chúa ban tặng để chúng ta canh tân đời sống, từ bỏ con đường tội lỗi và trở về với suối nguồn ơn cứu độ. Sự trở về ấy đòi hỏi một quyết tâm dứt khoát, một sự từ bỏ những bận tâm trần thế quá mức để đặt Thiên Chúa lên vị trí ưu tiên tuyệt đối trong thang giá trị của cuộc đời mình.
Khi đặt Thiên Chúa làm trung tâm, mọi trật tự trong đời sống chúng ta sẽ được thiết lập lại một cách hài hòa và tốt đẹp nhất. Những lo toan về cơm áo gạo tiền, những bất an trước tương lai hay những tổn thương từ quá khứ sẽ không còn đủ sức quật ngã chúng ta, bởi vì chúng ta biết rằng mình đang nằm trọn trong lòng bàn tay quan phòng đầy yêu thương của Cha trên trời. Niềm hy vọng Kitô giáo không phải là một sự lạc quan hão huyền dựa trên sức mạnh con người, mà là một niềm xác tín vững chắc vào quyền năng và lòng trung tín của Thiên Chúa, Đấng đã chiến thắng sự chết và hứa ban sự sống muôn đời cho những ai tin tưởng vào Ngài.
Trong những giờ phút tĩnh mịch của cuộc sống, khi màn đêm buông xuống hoặc khi những tất bật của ngày mới chưa kịp khởi sự, ước chi mỗi người chúng ta biết dành ra những khoảng không gian thinh lặng để cất lên lời kinh nguyện thâm trầm. Hãy mở lòng ra trước Lời Chúa, để Lời ấy chất vấn, thanh luyện, ủi an và hướng dẫn từng bước đi của chúng ta. Hãy để cho Lectio Divina trở thành nhịp đập quen thuộc của đời sống thiêng liêng hằng ngày, biến mỗi trang Kinh Thánh thành một cuộc gặp gỡ sống động với Đức Giêsu Kitô – Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.
Nguyện xin ơn trên soi sáng và tuôn đổ đầy tràn hồng ân trên mỗi người chúng ta, để qua đời sống chứng tá âm thầm nhưng đầy rẫy hoa trái bác ái, khiêm nhường và yêu thương, chúng ta trở thành những ánh sao phản chiếu ánh hào quang của Chúa giữa một thế giới đang rất cần đến lòng thương xót và ơn cứu độ. Xin cho cuộc đời chúng ta thực sự là một bài ca chúc tụng Thiên Chúa không ngừng, từ chốn gian trần tạm bợ này cho đến muôn đời muôn thuở trên quê trời vĩnh phúc.
Lm. Anmai, CSsR

Previous articleÁNH SÁNG TRÊN GIƯỜNG BỆNH – Lm. Anmai, CSsR
Next articleTỪ ĐỨC GIO-AN PHAO-LÔ THỨ HAI ĐẾN ĐỨC LÊ-Ô THỨ MƯỜI BỐN: BỐN MƯƠI NĂM TINH THẦN A-XI-DI – Lm. Anmai, CSsR – Suy tư về cầu nguyện, đối thoại, căn tính đức tin và trách nhiệm xây dựng hòa bình.