SỐNG CHIỀU KÍCH HOÁN CẢI VÌ MỘT GIÁO HỘI HIỆP HÀNH
Giữa rất nhiều lời mời gọi của Giáo Hội hôm nay, có lẽ một trong những lời mời gọi vừa đẹp vừa khó nhất, đó là lời mời gọi bước vào con đường hoán cải để sống tinh thần hiệp hành. Đây không phải là một đề tài chỉ để suy niệm trong vài giờ, cũng không phải là một khẩu hiệu chỉ để dùng trong một giai đoạn mục vụ nào đó. Đây là một lối sống. Một định hướng thiêng liêng. Một đòi hỏi nội tâm. Và sâu xa hơn, đây là một ơn gọi. Bởi vì chỉ khi người tín hữu thật sự chấp nhận để mình được đổi mới từ bên trong, thì Giáo Hội mới có thể thực sự trở nên một cộng đoàn cùng bước đi, cùng lắng nghe, cùng phân định, cùng thi hành sứ mạng trong sự hiệp thông đích thực
Có những đề tài nghe qua thì ai cũng thấy hay. Nhưng vì quá quen thuộc, người ta lại dễ bỏ qua chiều sâu thật sự của nó. Hoán cải là một trong những đề tài như thế. Từ nhỏ, người Kitô hữu đã nghe nói về hoán cải. Mùa Chay mời gọi hoán cải. Lời giảng kêu gọi hoán cải. Bí tích Hòa giải là nơi người ta được mời hoán cải. Nhưng càng nghe nhiều, đôi khi người ta lại càng dễ hiểu hoán cải theo một nghĩa rất hẹp: bỏ một tật xấu nào đó, sửa một vài hành vi sai trái nào đó, trở lại với việc đi lễ, đọc kinh, xưng tội, giữ luật. Tất cả những điều ấy đều quan trọng, nhưng vẫn chưa đủ. Vì nếu chỉ hiểu hoán cải là chỉnh lại một vài hành vi bên ngoài, thì người ta sẽ không chạm được đến chiều sâu của Tin Mừng. Hoán cải thật luôn bắt đầu từ trái tim. Và một khi trái tim thật sự đổi khác, cả lối nhìn, cách nghĩ, cách sống, cách yêu, cách hiện diện với người khác cũng sẽ đổi khác.
Điều đáng sợ nhất không phải là con người có những yếu đuối. Điều đáng sợ nhất là khi con người sống quá lâu với những yếu đuối ấy đến mức coi chúng là bình thường. Có những thói quen nội tâm rất nguy hiểm nhưng lại được che đậy bằng vẻ bình an bên ngoài. Có người sống ích kỷ nhưng tưởng mình đang sống nguyên tắc. Có người kiêu ngạo nhưng tưởng mình đang bảo vệ chân lý. Có người cứng lòng nhưng tưởng mình đang trung thành với đức tin. Có người không biết lắng nghe ai nhưng lại nghĩ rằng mình có trách nhiệm phải sửa dạy người khác. Có người sống trong thành kiến lâu đến mức không còn cảm thấy đó là một bóng tối trong tâm hồn nữa. Và cũng có những cộng đoàn cứ lặp đi lặp lại một lối sống thiếu hiệp thông, thiếu cảm thông, thiếu cởi mở, đến độ xem đó là chuyện tự nhiên trong sinh hoạt Giáo Hội. Chính vì thế, hoán cải không phải là chuyện của một vài cá nhân quá tội lỗi. Hoán cải là nhu cầu của mọi người. Hoán cải là nhịp thở của đời sống thiêng liêng. Hoán cải là điều kiện để người ta đi vào sự thật về chính mình.
Khi nói đến một Giáo Hội hiệp hành, người ta dễ dừng lại ở bình diện tổ chức. Người ta nghĩ đến các cuộc họp, đến việc lấy ý kiến, đến những bản lượng giá, đến những tiến trình mục vụ. Nhưng nếu chỉ hiểu hiệp hành như một phương pháp làm việc, người ta sẽ làm nghèo đi một thực tại rất phong phú. Hiệp hành trước hết là một tinh thần bắt nguồn từ chính mầu nhiệm của Giáo Hội. Giáo Hội không phải là một đám đông tôn giáo cùng tụ họp vì có chung một niềm tin. Giáo Hội là Dân Thiên Chúa đang lên đường. Là thân thể của Đức Kitô. Là cộng đoàn được Thánh Thần quy tụ và dẫn dắt. Bởi đó, hiệp hành không phải là một chiến lược quản trị, nhưng là cách sống tương xứng với bản chất của Giáo Hội. Nghĩa là cùng nhau bước đi. Cùng nhau lắng nghe điều Chúa muốn. Cùng nhau nâng đỡ nhau trong sự khác biệt. Cùng nhau phân định con đường phải đi. Cùng nhau gánh lấy sứ mạng. Và muốn cùng nhau thật sự, người ta phải bớt đi rất nhiều cái tôi riêng lẻ. Cho nên, nói đến hiệp hành mà không nói đến hoán cải, thì cũng giống như nói đến mùa gặt mà không nhắc đến hạt giống phải chết đi trong lòng đất.
Sự thật là con người không dễ sống hiệp hành. Người ta dễ sống gần nhau hơn là sống với nhau. Dễ làm việc chung hơn là thực sự hiệp thông. Dễ ngồi chung một cuộc họp hơn là cùng nhìn về một hướng. Dễ lên tiếng hơn là lắng nghe. Dễ phản ứng hơn là phân định. Dễ bảo vệ quan điểm của mình hơn là đón nhận sự phong phú từ khác biệt của người khác. Và tất cả những điều đó cho thấy hiệp hành không phải là một kỹ năng mà trước hết là một cuộc thanh luyện nội tâm. Nếu trái tim không đổi mới, thì sự hiện diện của người khác sẽ luôn bị xem như một phiền toái, một đối trọng, một mối đe dọa, hay ít nhất là một tiếng nói mình phải miễn cưỡng chịu đựng. Chỉ khi người ta thật sự để cho Chúa biến đổi, người ta mới học được niềm vui của việc bước đi với anh chị em mình.
Một trong những điều đầu tiên phải được hoán cải chính là cái tôi. Cái tôi là trung tâm của rất nhiều rối ren trong đời sống cá nhân cũng như đời sống cộng đoàn. Cái tôi thích được nhìn nhận. Thích được tôn trọng. Thích được nghe theo. Thích được đánh giá cao. Thích được cảm thấy mình quan trọng. Những điều ấy tự nó không phải lúc nào cũng xấu, nhưng khi không được thanh luyện, nó sẽ âm thầm chi phối mọi tương quan. Người ta sẽ lắng nghe người khác không phải để hiểu mà để giữ lịch sự. Người ta phục vụ không phải hoàn toàn vì yêu Chúa mà còn để được ghi nhận. Người ta nói về hiệp thông nhưng lại không chấp nhận để người khác chạm vào vùng ảnh hưởng của mình. Người ta nói về trách nhiệm chung nhưng lại chỉ thoải mái khi quyết định cuối cùng vẫn theo ý mình. Người ta cổ vũ tinh thần góp ý nhưng chỉ vui nếu ý kiến góp vào là lời đồng thuận với mình.
Có những cái tôi rất thô, ai cũng dễ nhận ra. Nhưng cũng có những cái tôi rất đạo đức, rất tinh vi, rất khó thấy. Có người không phô trương gì cả, nhưng trong lòng lại rất khó chịu nếu mình bị bỏ qua. Có người ngoài mặt rất khiêm nhường, nhưng sâu bên trong luôn ngầm so sánh mình với người khác. Có người nói mình chỉ muốn điều tốt cho cộng đoàn, nhưng khi cộng đoàn đi theo một hướng khác với ý mình thì lòng lại không bình an. Có người nói rất nhiều về việc vâng phục Chúa, nhưng thực ra chỉ vâng phục khi ý Chúa trùng với ý mình. Hoán cải cái tôi là một hành trình lâu dài và đau đớn, bởi nó đụng tới vùng sâu nhất nơi con người bám vào chính mình. Nhưng nếu không đi vào cuộc chiến ấy, sẽ không bao giờ có sự tự do nội tâm thật sự.
Người ta thường nghĩ rằng điều đối nghịch với kiêu ngạo là khiêm nhường. Điều đó đúng, nhưng chưa đủ. Vì khiêm nhường Kitô giáo không chỉ là nghĩ thấp về mình. Khiêm nhường trước hết là sống trong sự thật. Thấy mình đúng như mình là. Không phóng đại. Không tô hồng. Không tự vệ thái quá. Không biến mình thành trung tâm. Không cần luôn luôn chiến thắng để cảm thấy mình có giá trị. Một người thật sự khiêm nhường là người có khả năng vui khi người khác được nâng lên. Có khả năng bình an khi ý kiến mình không được chọn. Có khả năng lắng nghe mà không vội phản kháng. Có khả năng nhận lỗi mà không thấy mình bị hạ nhục. Có khả năng học từ cả những người mình không ngờ tới. Một Giáo Hội hiệp hành rất cần thứ khiêm nhường đó. Không có nó, người ta sẽ nói về hiệp hành nhưng thực chất là đang giành chỗ cho cái tôi.
Hoán cải cái tôi còn là học chết đi từng ngày. Chết đi cho nhu cầu phải được công nhận. Chết đi cho ý muốn kiểm soát mọi thứ. Chết đi cho thói quen phản ứng ngay khi bị chạm tự ái. Chết đi cho lối sống luôn đặt câu hỏi “tôi được gì” trước khi hỏi “tôi có thể hiến gì”. Chết đi cho cách nhìn mọi sự qua lăng kính lợi ích, vị trí, uy tín hay cảm xúc riêng. Nhưng chính khi chết đi như thế, con người mới bắt đầu lớn lên. Một hạt lúa mì nếu không mục nát đi, nó vẫn chỉ là một hạt lẻ loi. Con người cũng vậy. Bao lâu còn giữ khư khư cái tôi, bấy lâu vẫn sống trong cô độc nội tâm, ngay cả khi đang ở giữa cộng đoàn. Chỉ khi dám để cho Chúa bẻ mình ra, con người mới có thể trở thành bánh cho anh em.
Sống chiều kích hoán cải vì một Giáo Hội hiệp hành cũng đòi phải hoán cải cách nhìn về người khác. Có lẽ đây là một cuộc hoán cải rất cần thiết trong bối cảnh hôm nay, khi người ta ngày càng dễ dán nhãn cho nhau. Chỉ cần một vài cử chỉ, một vài khác biệt, một vài kinh nghiệm không vui, người ta đã đủ để đặt người kia vào một ô cố định trong tâm trí mình. Người này bảo thủ. Người kia nông nổi. Người nọ khó chịu. Người kia chậm hiểu. Người kia quá tham vọng. Người nọ không có tinh thần cộng tác. Một khi đã nhìn nhau bằng nhãn dán, người ta không còn gặp nhau như những con người thật nữa. Và khi không còn gặp nhau như con người thật, hiệp thông sẽ chỉ còn là một lớp sơn mỏng phủ lên những khoảng cách không được chữa lành.
Đàng sau mỗi con người luôn có một câu chuyện mà ta không biết hết. Đàng sau một thái độ khép kín có thể là một vết thương lâu năm. Đàng sau một lời nói gay gắt có thể là một nỗi bất an sâu kín. Đàng sau một phản ứng tiêu cực có thể là cảm giác mình không được tôn trọng. Đàng sau sự im lặng của ai đó có thể là rất nhiều lần họ đã từng bị hiểu lầm. Chỉ khi biết nhìn người khác với sự tôn trọng của Tin Mừng, người ta mới ngừng vội vàng xét đoán. Đức Giêsu luôn nhìn thấy nơi con người điều sâu hơn điều bề ngoài. Người thấy Phêrô yếu đuối nhưng vẫn thấy nơi ông tảng đá. Người thấy người phụ nữ Samari mang lịch sử rối ren nhưng vẫn nhìn thấy nơi chị một tâm hồn đang khát. Người thấy những người thu thuế, tội lỗi, bị loại trừ, nhưng không xem họ như những hồ sơ đạo đức khép kín. Người nhìn bằng ánh mắt cứu độ.
Một Giáo Hội hiệp hành phải học lại ánh mắt ấy. Ánh mắt không ngây thơ, không phủ nhận sự thật, nhưng cũng không đóng khung con người vào quá khứ hay vào những giới hạn hiện tại của họ. Một cộng đoàn chỉ biết xét đoán sẽ làm người ta sợ hãi. Một cộng đoàn biết cảm thông sẽ giúp người ta có chỗ để lớn lên. Rất nhiều người ngày nay rời xa đời sống cộng đoàn không hẳn vì họ mất đức tin, nhưng vì họ không tìm được nơi nào mình được nhìn bằng lòng thương xót. Họ mệt vì bị đoán xét. Họ ngại vì bị soi mói. Họ đau vì bị loại trừ trong những cách rất tinh vi. Nếu không có hoán cải trong cách nhìn người khác, mọi lời nói về hiệp hành sẽ rất đẹp nhưng không chạm được những con người cụ thể.
Hoán cải cách nhìn còn là học đón nhận sự khác biệt như một hồng ân. Trong đời sống Giáo Hội, khác biệt là điều không thể tránh. Khác biệt về tuổi tác, kinh nghiệm, nền tảng học vấn, nhịp sống thiêng liêng, cách diễn tả đức tin, cách cảm nhận vấn đề, cách thi hành trách nhiệm. Nhưng vấn đề không phải là có khác biệt, mà là ta đón nhận khác biệt ấy thế nào. Người chưa hoán cải sẽ thấy khác biệt là điều gây khó chịu. Người đang hoán cải sẽ dần nhận ra rằng chính khác biệt giúp cộng đoàn phong phú hơn. Một cộng đoàn chỉ có những người nghĩ giống nhau chưa chắc là cộng đoàn trưởng thành. Một cộng đoàn trưởng thành là cộng đoàn biết ở lại với nhau ngay cả khi có những cách nhìn khác nhau, bởi họ đặt sự hiệp nhất trong Chúa cao hơn nhu cầu phải đồng nhất mọi sự.
Sống chiều kích hoán cải vì một Giáo Hội hiệp hành còn là hoán cải trong cách hiểu về vai trò của mình trong Giáo Hội. Nhiều khi người ta sống đời Kitô hữu theo kiểu tiêu dùng. Nghĩa là đến với Giáo Hội để nhận: nhận bí tích, nhận lời giảng, nhận sự nâng đỡ, nhận những gì cần cho đời sống thiêng liêng của mình. Điều đó không sai. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, người tín hữu sẽ mãi là người đứng ngoài trách nhiệm chung. Giáo Hội hiệp hành mời gọi mỗi người khám phá rằng mình không chỉ là người thụ hưởng, nhưng còn là người đồng trách nhiệm. Không phải ai cũng có cùng vai trò, nhưng ai cũng có phần của mình trong đời sống và sứ mạng của Hội Thánh.
Hoán cải ở đây là từ bỏ suy nghĩ: “Chuyện đó là của cha xứ”, “chuyện đó là của ban hành giáo”, “chuyện đó là của hội đoàn kia”, “chuyện đó không liên quan tới tôi”. Khi một cộng đoàn rơi vào lối nghĩ ấy, cộng đoàn sẽ yếu đi. Sự sống Giáo Hội không chỉ được nuôi bởi những người có trách nhiệm chính thức, nhưng còn bởi vô số tấm lòng âm thầm biết mang lấy phần việc của mình bằng tình yêu. Một lời cầu nguyện cho cộng đoàn. Một sự hiện diện kiên trì. Một thái độ xây dựng. Một tinh thần cộng tác. Một ý kiến chân thành được nói ra trong bác ái. Một việc phục vụ nhỏ không ai biết. Một sự hy sinh để giữ hiệp nhất. Tất cả những điều ấy đều là những viên gạch của một Giáo Hội hiệp hành.
Tuy nhiên, đồng trách nhiệm không có nghĩa là ai cũng muốn điều khiển. Trái lại, nó đòi một tinh thần rất trưởng thành: biết đâu là phần việc của mình, biết tôn trọng vai trò của người khác, biết góp phần mà không tranh giành, biết lên tiếng mà không áp đặt, biết dấn thân mà không biến cộng đoàn thành nơi thực hiện cái tôi. Ở đây lại cần đến hoán cải. Hoán cải khỏi tham vọng ẩn kín. Hoán cải khỏi thói quen phê phán người khác nhưng không sẵn lòng góp tay. Hoán cải khỏi kiểu đứng ngoài quan sát rồi than phiền. Hoán cải khỏi sự thụ động được ngụy trang bằng câu nói “tôi không có khả năng”. Nhiều khi không phải ta không có khả năng, mà là ta không muốn trả giá cho việc dấn thân.
Một chiều kích rất đẹp nhưng cũng rất khó của hoán cải trong hành trình hiệp hành là hoán cải trong cách lắng nghe. Lắng nghe thật sự là một khổ chế. Vì lắng nghe đòi ta chậm lại. Ta phải ngưng nhu cầu nói ra chính mình. Ta phải dừng phản xạ phản biện. Ta phải cho phép lời của người khác vang lên bên trong mình đủ lâu trước khi mình đánh giá. Điều này không hề dễ, nhất là trong một thế giới mà ai cũng muốn được nghe, được phát biểu, được khẳng định. Nhưng chính vì thế, lắng nghe lại trở thành một chứng tá rất mạnh. Một cộng đoàn biết lắng nghe là một cộng đoàn chống lại văn hóa ồn ào, văn hóa áp đặt, văn hóa phản ứng tức thời.
Lắng nghe trong tinh thần hiệp hành không chỉ là nghe những gì dễ nghe. Không chỉ nghe những người mình quý. Không chỉ nghe những tiếng nói quen thuộc. Nhưng còn là lắng nghe cả những tiếng nói làm mình không thoải mái. Tiếng nói của người nghèo. Tiếng nói của người trẻ đang chất chứa nhiều thao thức. Tiếng nói của những người từng bị tổn thương trong cộng đoàn. Tiếng nói của những người ít học, ít ảnh hưởng, không biết diễn đạt đẹp nhưng trái tim họ lại chạm rất gần vào thực tế. Có những lúc chính những tiếng nói ấy làm cộng đoàn bị đánh thức. Nếu chỉ nghe những gì thuận tai, ta sẽ không bao giờ đi đến hoán cải thật.
Lắng nghe còn là chấp nhận rằng Chúa có thể nói với mình qua người khác. Đây là một xác tín rất quan trọng. Nếu không, mọi cuộc đối thoại chỉ còn là trao đổi ý kiến theo kiểu con người. Nhưng khi tin rằng Thánh Thần có thể sử dụng cả những người bé nhỏ nhất để gửi đến cho cộng đoàn một ánh sáng, ta sẽ bắt đầu lắng nghe bằng một thái độ khác. Ta không còn nghe chỉ để chọn lọc điều hợp với mình, nhưng để phân định điều gì Chúa đang muốn nói. Một người phụ trách cộng đoàn rất cần thái độ này. Một linh mục rất cần thái độ này. Một tu sĩ, một giáo lý viên, một trưởng nhóm, một giáo dân nhiệt thành cũng cần thái độ này. Bởi vì quyền bính trong Giáo Hội, nếu không được nuôi dưỡng bằng lắng nghe, rất dễ biến thành độc thoại.
Sống chiều kích hoán cải vì một Giáo Hội hiệp hành cũng là hoán cải trong cách sử dụng lời nói. Rất nhiều chia rẽ trong cộng đoàn không xuất phát từ những vấn đề lớn, nhưng từ lời nói thiếu bác ái, thiếu cân nhắc, thiếu tôn trọng. Có những lời phê bình đúng nội dung nhưng sai tinh thần. Có những góp ý lẽ ra có thể xây dựng, nhưng vì cách nói mà trở thành vết thương. Có những câu chuyện được chia sẻ với danh nghĩa “quan tâm” nhưng thật ra là truyền đi một cái nhìn tiêu cực về người khác. Có những lời nói đùa làm người khác đau nhiều năm. Có những kiểu nói về cộng đoàn, về mục tử, về những người phục vụ, về người trẻ, về người già, đầy sự cứng cỏi và thành kiến, khiến bầu khí hiệp thông bị đầu độc từng chút một.
Hoán cải lời nói là học nói sự thật trong tình yêu. Không im lặng hèn nhát trước điều sai, nhưng cũng không nhân danh sự thật để làm tổn thương người khác. Không dùng lời nói để trả đũa. Không dùng lời nói để tự khẳng định mình. Không dùng lời nói để kết bè kéo cánh. Một cộng đoàn hiệp hành cần những con người biết nói đúng lúc, đúng cách, đúng tinh thần. Những lời biết mở ra, không đóng lại. Những lời biết chữa lành, không khoét sâu thêm. Những lời biết soi sáng, không làm nặng bầu khí. Những lời biết khích lệ, nâng đỡ, dù vẫn trung thực. Nếu không có hoán cải trong lời nói, người ta có thể làm rất nhiều việc mục vụ mà vẫn khiến cộng đoàn chảy máu từ bên trong.
Một chiều kích khác không thể thiếu là hoán cải trong đời sống cầu nguyện. Không có cầu nguyện, mọi nỗ lực hiệp hành sẽ rất nhanh cạn sức. Bởi nếu chỉ dựa vào khôn ngoan con người, sớm muộn gì người ta cũng mệt, cũng tranh cãi, cũng thất vọng. Cầu nguyện làm cho hiệp hành trở về đúng nguồn của nó. Nguồn ấy không phải là một lý thuyết mục vụ, nhưng là chính Thiên Chúa đang quy tụ dân Người. Cầu nguyện nhắc cho ta nhớ rằng Giáo Hội không phải của mình. Cộng đoàn không phải của mình. Sứ mạng không phải của mình. Mọi sự đều là của Chúa, và ta chỉ là người được mời cộng tác. Khi ý thức như thế, ta sẽ bớt nặng nề, bớt chiếm hữu, bớt căng thẳng trong việc phải chứng minh mình đúng.
Trong cầu nguyện, ta học được sự im lặng nội tâm. Và chính im lặng ấy là điều rất cần cho hiệp hành. Bởi nếu lòng ta quá đầy tiếng nói của mình, tiếng bực bội của mình, tiếng sợ hãi của mình, tiếng tham vọng của mình, thì Thánh Thần khó có chỗ để cất tiếng. Cầu nguyện không phải là trốn khỏi thực tế của cộng đoàn. Cầu nguyện là đi vào thực tế ấy với ánh sáng của Chúa. Mang những khó khăn của cộng đoàn vào trước Nhà Tạm. Đặt những va chạm, những hiểu lầm, những bế tắc, những thao thức mục vụ dưới cái nhìn của Chúa. Xin cho mình được đổi lòng trước khi xin người khác thay đổi. Xin cho mình được sáng trước khi xin cộng đoàn sáng. Đó là một cuộc hoán cải rất sâu.
Nhiều khi ta muốn đổi mới cộng đoàn, nhưng lại không để Chúa đổi mới mình. Ta muốn cộng đoàn lắng nghe nhau, nhưng chính mình lại không lắng nghe Chúa đủ. Ta muốn cộng đoàn hiệp nhất, nhưng chính mình lại không bình an nội tâm. Ta muốn có những quyết định mục vụ tốt, nhưng lại không dành đủ thinh lặng để phân định. Cho nên, người nào thực sự thao thức cho một Giáo Hội hiệp hành phải là người của cầu nguyện. Không nhất thiết là người nói rất hay về cầu nguyện, nhưng là người biết quỳ lâu trước Chúa, biết ở lại với Chúa, biết chấp nhận để Lời Chúa cắt tỉa và sửa dạy mình.
Sống chiều kích hoán cải vì một Giáo Hội hiệp hành còn là hoán cải trong sứ mạng. Một cộng đoàn rất dễ trở nên khép kín nếu chỉ lo giữ nếp sinh hoạt bên trong mà quên mất những con người đang ở ngoài ngưỡng cửa. Một giáo xứ có thể rất đông lễ, rất nhiều hội đoàn, rất nhiều sinh hoạt, nhưng vẫn chưa chắc đã là một cộng đoàn ra đi. Nếu những người nghèo vẫn không được nhìn thấy. Nếu những người bị tổn thương vẫn không có chỗ. Nếu người trẻ vẫn cảm thấy xa lạ. Nếu những gia đình đang đổ vỡ không tìm được sự nâng đỡ. Nếu những người ở bên lề không cảm thấy có ai bước về phía họ. Hiệp hành không thể tách khỏi sứ mạng. Bởi cùng nhau bước đi không phải chỉ để ở gần nhau hơn, nhưng để cùng nhau đi ra.
Muốn đi ra, phải hoán cải khỏi sự an toàn. Sự an toàn của những lối quen. Sự an toàn của những nhóm thân thuộc. Sự an toàn của những hình thức mục vụ mình đã biết làm. Sự an toàn của cảm giác “xưa nay vẫn thế”. Nhưng Tin Mừng luôn đẩy Giáo Hội ra khỏi vùng an toàn. Đức Giêsu không lập một nhóm môn đệ để họ khép kín quanh nhau, nhưng để sai họ đi. Một Giáo Hội hiệp hành đúng nghĩa sẽ không sợ bước ra những vùng biên. Vùng biên địa lý, vùng biên xã hội, vùng biên tinh thần, vùng biên của những con người không còn ngôn ngữ tôn giáo, không còn thói quen đến nhà thờ, không còn niềm tin vào các cơ cấu, nhưng vẫn đang mang trong lòng một cơn đói rất sâu về ý nghĩa, về tình thương, về hy vọng.
Hoán cải trong sứ mạng cũng là từ bỏ một thứ não trạng mục vụ chỉ thích làm cho người đã ở trong cộng đoàn, còn rất ít thao thức về những người chưa ở trong hay đã rời đi. Một Giáo Hội hiệp hành không được phép mãi nói chuyện với chính mình. Phải học ngôn ngữ của thời đại. Phải bước vào những vết thương thật của con người hôm nay. Phải hiện diện ở những nơi Tin Mừng chưa chạm tới. Phải can đảm nhìn lại xem cách sống đạo, cách tổ chức, cách giảng dạy, cách đồng hành của mình có thực sự mở đường cho con người gặp Chúa hay không. Đây là một cuộc hoán cải lớn. Bởi nó đòi bỏ đi sự tự mãn tôn giáo, bỏ đi cảm giác chỉ cần duy trì là đủ.
Sống chiều kích hoán cải cũng có nghĩa là dám đối diện với tội lỗi và những giới hạn của chính cộng đoàn. Điều này không dễ. Vì cộng đoàn nào cũng muốn giữ hình ảnh đẹp về mình. Nhưng một cộng đoàn chỉ biết giữ hình ảnh sẽ không trưởng thành. Một cộng đoàn trưởng thành là cộng đoàn biết sống trong sự thật. Biết nhận ra những thiếu sót mục vụ. Biết gọi tên những hình thức loại trừ. Biết thừa nhận những lần mình đã làm người khác tổn thương. Biết thú nhận rằng có những người đã không tìm thấy tình yêu của Chúa nơi cách cư xử của mình. Biết xin lỗi. Biết sửa lại. Biết bắt đầu lại.
Đây là một chiều kích rất quan trọng của hoán cải hiệp hành: hoán cải khỏi sự phòng thủ. Nhiều khi, ngay khi có ai đó nêu một vết thương hay một vấn đề, phản ứng đầu tiên của cộng đoàn là tự vệ. Phủ nhận. Giảm nhẹ. Đổ lỗi. Giải thích. So sánh. Nhưng hiệp hành đòi can đảm hơn thế. Đòi ngồi lại với sự thật, dù sự thật ấy làm mình đau. Đòi nghe tiếng kêu của những người thất vọng. Đòi nhìn nhận những điều chưa tốt mà không lập tức xem đó là một cuộc tấn công. Cộng đoàn nào có khả năng này sẽ lớn lên rất nhiều. Vì chính trong sự thật, ân sủng hoạt động mạnh mẽ nhất.
Và trên tất cả, hoán cải vì một Giáo Hội hiệp hành là học sống hy vọng. Không phải thứ hy vọng ngây thơ cho rằng mọi chuyện sẽ dễ dàng, mọi khác biệt sẽ biến mất, mọi người sẽ nhanh chóng hiểu nhau. Nhưng là niềm hy vọng đặt trên nền tảng rằng Thánh Thần đang làm việc trong những điều âm thầm nhất. Có những cuộc hoán cải không ai thấy. Có những thay đổi rất nhỏ trong trái tim một con người, nhưng lại mở ra cả một tương lai mới cho cộng đoàn. Có khi một người chịu xuống nước trước, một người dám xin lỗi trước, một người chịu lắng nghe trước, một người chịu thay đổi cách cư xử trước, đã làm khởi đầu cho một tiến trình chữa lành lớn hơn nhiều.
Hy vọng Kitô giáo không đặt trên khả năng của con người, nhưng trên lòng trung tín của Thiên Chúa. Vì thế, ngay cả khi cộng đoàn còn nhiều giới hạn, ta vẫn có thể tiếp tục yêu Giáo Hội. Không phải bằng một thứ yêu mù quáng, nhưng bằng một tình yêu trưởng thành, biết thấy cả ánh sáng lẫn bóng tối, biết mang lấy trách nhiệm thay vì chỉ đứng ngoài phán xét. Người thực sự yêu Giáo Hội không phải là người chỉ biết ngợi khen Giáo Hội khi mọi sự tốt đẹp, nhưng là người ở lại, cầu nguyện, góp phần, chịu đau cùng với Giáo Hội, và hy vọng cho Giáo Hội ngay trong những thời khắc khó khăn.
Sau cùng, điều rất quan trọng là nhớ rằng con đường hoán cải này không có điểm kết thúc ở đời này. Mỗi ngày ta lại phải học lại từ đầu. Học khiêm tốn lại. Học lắng nghe lại. Học nói năng lại. Học yêu thương lại. Học cộng tác lại. Học cầu nguyện lại. Học đi ra lại. Học chấp nhận sự khác biệt lại. Học từ bỏ cái tôi lại. Học nhận trách nhiệm lại. Học tin vào Thánh Thần lại. Không ai có thể nói rằng mình đã hoán cải xong. Không cộng đoàn nào có thể nói mình đã sống hiệp hành trọn vẹn rồi. Tất cả vẫn đang trên đường. Và chính ý thức mình đang trên đường sẽ giữ cho ta sự mềm mại nội tâm, không cứng lại trong tự mãn.
Có lẽ vẻ đẹp sâu nhất của một Giáo Hội hiệp hành không nằm ở sự trơn tru, cũng không nằm ở việc không còn va chạm, nhưng nằm ở chỗ: dù còn yếu đuối, người ta vẫn chọn bước đi cùng nhau. Dù chưa hiểu nhau hết, người ta vẫn không bỏ nhau. Dù khác biệt, người ta vẫn cùng quỳ trước một Thiên Chúa. Dù có lúc mệt mỏi, người ta vẫn không thôi tìm kiếm điều tốt hơn cho cộng đoàn. Dù có những lần bị thương tổn, người ta vẫn để cho lòng thương xót lớn hơn vết thương. Và điều ấy chỉ có thể có khi từng người, từng ngày, từng chút một, chấp nhận sống chiều kích hoán cải.
Ước gì lời mời gọi này không chỉ dừng ở suy nghĩ, nhưng trở thành lời cầu nguyện rất thật trong lòng mỗi người: Lạy Chúa, xin hoán cải con trước khi dùng con để góp phần hoán cải cộng đoàn. Xin chữa nơi con điều đang làm con không thể lắng nghe. Xin bẻ gãy nơi con điều đang làm con chỉ muốn giữ mình ở trung tâm. Xin thanh luyện nơi con điều đang làm lời nói của con thiếu bác ái. Xin mở rộng trái tim con để con biết đón nhận anh chị em mình như quà tặng chứ không như gánh nặng. Xin cho con biết yêu Giáo Hội không phải bằng những lời lớn lao, nhưng bằng sự khiêm tốn mỗi ngày, bằng trách nhiệm âm thầm, bằng lòng trung tín trong những việc nhỏ, bằng tinh thần hiệp thông chân thành. Và xin cho cộng đoàn chúng con, giữa bao yếu đuối rất người, vẫn trở thành một nơi mà ai bước vào cũng cảm thấy có thể cùng nhau lên đường, cùng nhau lớn lên, cùng nhau thuộc về Chúa.
SỐNG CHIỀU KÍCH HOÁN CẢI VÌ MỘT GIÁO HỘI HIỆP HÀNH
Khi nói đến hoán cải, rất nhiều người nghĩ ngay đến việc phải sửa mình, phải thay đổi, phải từ bỏ, phải làm lại. Điều đó đúng. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, ta sẽ rất dễ làm cho chữ “hoán cải” trở thành một gánh nặng. Mà thật ra, ở tầng sâu nhất, hoán cải không bắt đầu bằng nỗ lực của con người, nhưng bắt đầu bằng việc con người để cho mình được Thiên Chúa chạm đến. Hoán cải không phải trước hết là chuyện ta làm gì cho Chúa, mà là chuyện ta cho phép Chúa làm điều gì đó nơi mình. Có biết bao lần ta muốn sửa người khác, muốn sửa cộng đoàn, muốn sửa cơ cấu, muốn sửa tình trạng mục vụ, nhưng lại không muốn để Chúa chạm đến vùng sâu nhất trong lòng mình. Ta muốn mọi thứ chung quanh tốt hơn, nhưng lại không muốn đi vào nỗi bất ổn trong chính nội tâm mình. Ta muốn Giáo Hội hiệp hành, nhưng ta vẫn muốn mình được giữ nguyên như cũ. Ta muốn cộng đoàn đổi mới, nhưng ta không muốn cái tôi của mình bị động đến. Chính ở đây, chiều kích hoán cải cho một Giáo Hội hiệp hành phải được đặt lại cho thật sâu: không phải chỉ là thay đổi phương pháp, không phải chỉ là tổ chức thêm những cuộc gặp gỡ, không phải chỉ là làm cho bầu khí cộng đoàn có vẻ cởi mở hơn, mà là để cho Thiên Chúa thực sự đụng vào trái tim, vào lối nghĩ, vào cách ta hiện diện trước mặt người khác, đúng như đường hướng đã được gợi ra trong bản văn nền mà bạn đưa ra ngay từ đầu
Có một điều rất đáng suy nghĩ: nhiều người sống trong Giáo Hội rất lâu, nhưng lại không dễ để sống cùng Giáo Hội. Nói cách khác, người ta có thể hiện diện rất nhiều trong các sinh hoạt tôn giáo, nhưng nội tâm lại vẫn đứng một mình. Người ta có thể tham gia hội đoàn, đi họp, phục vụ, đóng góp, phát biểu, tranh luận, lo lắng cho công việc chung, nhưng sâu xa lại chưa thật sự bước vào kinh nghiệm hiệp thông. Vì hiệp thông không chỉ là cùng làm việc, mà là cùng thuộc về. Không chỉ là đứng gần nhau, mà là mở lòng cho nhau. Không chỉ là chia sẻ một chương trình, mà là cùng để cho Chúa dẫn mình đi. Nhiều khi bề ngoài người ta đang xây dựng cộng đoàn, nhưng bên trong lại đang âm thầm bảo vệ vùng ảnh hưởng của mình. Nhiều khi người ta nói rất đẹp về Giáo Hội, nhưng lại không vui khi người khác được lắng nghe hơn mình, được tín nhiệm hơn mình, được trao trách nhiệm hơn mình. Nhiều khi người ta muốn điều tốt cho cộng đoàn, nhưng lại không chấp nhận rằng điều tốt ấy có thể đến từ một người mình không thích, một ý tưởng không phải của mình, một cách làm không do mình đề nghị. Cho nên, nếu không có hoán cải thật, ngay cả những người yêu mến Giáo Hội cũng có thể vô tình làm cho Giáo Hội nặng nề thêm.
Điều đau nhất trong đời sống cộng đoàn không phải lúc nào cũng là những lỗi lầm lớn. Nhiều khi những điều làm cho một cộng đoàn rạn nứt lại là những vết thương rất nhỏ nhưng kéo dài: một ánh mắt coi thường, một kiểu nói chuyện bề trên, một thái độ không muốn nghe, một thành kiến không nói ra nhưng ai cũng cảm được, một quyết định không hề hỏi ý ai mà vẫn nhân danh “lợi ích chung”, một lời phê bình sau lưng, một nụ cười xã giao nhưng lòng thì khép lại, một cách đối xử khác nhau tùy người, một bầu khí mà trong đó một số người luôn có tiếng nói còn một số người chỉ được hiện diện cho đủ. Những điều ấy không ồn ào, nhưng làm cộng đoàn mệt mỏi rất sâu. Có những giáo dân dần dần xa nhà thờ không hẳn vì họ mất niềm tin vào Chúa, mà vì họ bị tổn thương trong cách con người cư xử với nhau trong cộng đoàn. Có những người trẻ không hẳn chống lại Giáo Hội, nhưng họ không tìm thấy một không gian nơi họ được lắng nghe mà không bị phán xét quá nhanh. Có những người phục vụ nhiều năm rồi lặng lẽ rút lui, không phải vì hết yêu mến, mà vì đã quá mệt với những va chạm không được gọi tên, những hiểu lầm không được hóa giải, những nỗ lực không được nhìn nhận, những khác biệt không được đón nhận trong bác ái. Cho nên, nói đến hoán cải vì một Giáo Hội hiệp hành là phải đi xuống tận nơi những thương tổn âm thầm đó, chứ không thể chỉ dừng ở những lời rất đẹp.
Và để đi xuống được tới đó, ta phải can đảm bước vào sự thật về chính mình. Đây là điều không dễ. Vì con người thường thích nghĩ mình đang làm điều đúng. Ít ai thấy thoải mái khi phải nhìn nhận rằng có thể chính mình, chứ không chỉ người khác, đang là một phần của vấn đề. Ít ai thích nghe rằng lời nói của mình làm người khác nặng lòng. Ít ai vui khi nhận ra cung cách phục vụ của mình đang khiến người khác ngột ngạt. Ít ai muốn chấp nhận rằng cái gọi là “nhiệt thành” của mình đôi khi lại pha lẫn sự cứng cỏi, rằng cái gọi là “bảo vệ chân lý” của mình đôi khi lại thiếu tình thương, rằng cái gọi là “trung thành với truyền thống” của mình đôi khi lại trở thành khép kín với hành động mới mẻ của Thánh Thần. Nhưng nếu không đi vào sự thật ấy, sẽ không có hoán cải. Và nếu không có hoán cải, sẽ không có hiệp hành thật.
Một trong những nguy cơ lớn nhất của đời sống đạo là sống quá lâu trong những hình thức tốt mà quên mất việc để cho lòng mình được đổi mới. Có những người rất đạo đức trong thực hành, nhưng khó gần trong tương quan. Có những người rất nghiêm túc trong phục vụ, nhưng không có độ mềm của lòng thương xót. Có những người rất thẳng thắn, nhưng lời nói không nâng ai lên được. Có những người rất giàu kinh nghiệm, nhưng không còn khả năng ngạc nhiên trước điều mới Chúa làm qua người khác. Có những người phục vụ lâu năm đến mức quên rằng mình cũng cần được hoán cải như mọi người. Đôi khi những người ở gần bàn thờ nhất lại dễ quên đi trái tim nghèo khó cần có trước mặt Thiên Chúa. Đôi khi những người quen nói về Chúa lại ít để Chúa nói với mình. Đôi khi những người quen hướng dẫn người khác lại ít để mình được hướng dẫn. Đây là cám dỗ không chỉ của giáo dân nhiệt thành, mà còn của hội đồng mục vụ, của tu sĩ, của chủng sinh, của những ai đang chuẩn bị hay đang sống một trách nhiệm trong Giáo Hội. Trách nhiệm càng nhiều, nguy cơ tự mãn càng lớn. Càng phục vụ, càng phải cầu xin cho mình đừng chai đi trước lời mời gọi hoán cải.
Có lẽ một cuộc hoán cải rất quan trọng cho một Giáo Hội hiệp hành là hoán cải khỏi não trạng chiếm hữu Giáo Hội. Nói theo nghĩa thiêng liêng, không ai sở hữu Giáo Hội. Không mục tử nào sở hữu cộng đoàn. Không hội đoàn nào sở hữu giáo xứ. Không nhóm lâu năm nào sở hữu nếp sống chung. Không cá nhân nào sở hữu tiếng nói cuối cùng chỉ vì mình đã đóng góp nhiều hay đã hiện diện lâu. Tất cả đều là của Chúa. Giáo Hội là của Chúa. Cộng đoàn là của Chúa. Sứ mạng là của Chúa. Cả những ơn ban ta có cũng là của Chúa. Khi quên điều ấy, người ta sẽ bắt đầu hành xử như người chủ hơn là người quản lý. Người ta sẽ khó chịu khi có ai đụng tới vùng ảnh hưởng của mình. Người ta sẽ xem mọi đổi mới như đe dọa. Người ta sẽ cảm thấy bị mất mát khi vai trò của mình không còn ở trung tâm. Nhưng khi thật sự sống tinh thần hoán cải, người ta sẽ học lại niềm vui rất lớn này: mình chỉ là người được mời cộng tác. Chúa mới là Chủ. Chúa mới là Đấng quy tụ. Chúa mới là Đấng dẫn dắt Giáo Hội qua những nẻo đường mà nhiều khi không giống dự định của ta.
Nơi đây, những người có trách nhiệm trong cộng đoàn cần suy nghĩ nhiều. Bởi hiệp hành không hạ thấp vai trò của người lãnh đạo, nhưng thanh luyện cách lãnh đạo. Một người lãnh đạo trong Giáo Hội không được gọi để chiếm chỗ, nhưng để mở đường. Không được gọi để nói thay mọi người, nhưng để giúp mọi người có chỗ cất tiếng nói của mình trong sự thật và bác ái. Không được gọi để gom mọi quyết định về mình, nhưng để giúp cộng đoàn lớn lên trong khả năng phân định chung. Không được gọi để tạo sự lệ thuộc, nhưng để nâng người khác trưởng thành trong trách nhiệm. Một linh mục, một tu sĩ, một thành viên hội đồng mục vụ, một người phụ trách nhóm, một chủng sinh đang được đào tạo cho chức vụ tương lai, tất cả đều cần tự hỏi: cách tôi hiện diện trong cộng đoàn có làm cho người khác được lớn lên hay bị co lại? Khi tôi nói, người khác có cảm thấy được mời tham gia hay chỉ thấy mình phải im đi? Khi tôi quyết định, tôi có phân định với cộng đoàn trong ánh sáng Chúa Thánh Thần hay tôi chỉ khéo dùng ngôn ngữ thiêng liêng để hợp thức hóa điều mình đã muốn sẵn? Khi tôi sửa dạy, tôi có thực sự muốn cứu người kia hay chỉ đang phản ứng vì cái tôi bị chạm đến?
Một người phục vụ lâu năm mà không tiếp tục hoán cải sẽ dễ trở nên mệt mỏi, cay đắng, khó tính, và cuối cùng làm cho việc phục vụ của mình mất hương vị Tin Mừng. Một người trẻ nhiệt thành mà không hoán cải sẽ dễ nóng vội, cực đoan, coi thường những người chậm hơn mình. Một chủng sinh mà không hoán cải từ sớm sẽ rất dễ mang vào chức vụ tương lai một cái tôi được khoác áo thiêng liêng. Một tu sĩ mà không hoán cải từng ngày có thể giữ nếp sống bên ngoài nhưng dần đánh mất sự mềm mại nội tâm. Một hội đồng mục vụ mà không hoán cải sẽ trở thành một ban điều hành hơn là một cộng đoàn cùng phân định. Một cộng đoàn giáo dân mà không hoán cải sẽ dễ biến sinh hoạt Giáo Hội thành nơi tranh vai, giữ chỗ, bảo vệ nhóm mình. Chính vì thế, lời mời gọi hoán cải này không dành cho một nhóm nào riêng biệt. Nó dành cho tất cả. Và càng ở gần trung tâm phục vụ, càng phải nghe lời mời gọi ấy với sự run sợ thánh thiện hơn.
Một chiều kích rất sâu của hoán cải là học ở lại trong sự thật mà không tuyệt vọng. Khi nhìn thật vào mình và vào cộng đoàn, ta có thể thấy rất nhiều điều làm mình buồn: những ích kỷ nhỏ nhoi, những cạnh tranh âm thầm, những thiếu trưởng thành trong cách sống đức tin, những hiểu lầm kéo dài, những thói quen mục vụ thiếu hồn, những quyết định bị chi phối bởi tâm lý hơn là bởi Thánh Thần, những kiểu hiện diện gây tổn thương hơn là nâng đỡ. Nếu không có cầu nguyện và hy vọng, người ta sẽ dễ rơi vào hai thái cực: hoặc phủ nhận tất cả để tiếp tục sống như cũ, hoặc thấy mọi sự tối tăm rồi mất lòng yêu mến Giáo Hội. Nhưng hoán cải Kitô giáo không đi theo hai con đường đó. Hoán cải dạy ta nhìn sự thật với nước mắt, nhưng cũng với niềm tin rằng ân sủng vẫn đang âm thầm hoạt động. Chỉ người còn hy vọng mới đủ sức ở lại với sự thật mà không bỏ cuộc.
Thật ra, nhiều cuộc hoán cải lớn trong đời sống cộng đoàn bắt đầu từ những cử chỉ rất nhỏ. Không phải lúc nào Chúa cũng đổi mới Giáo Hội bằng những biến cố lớn lao. Nhiều khi Ngài bắt đầu bằng một con người chịu lắng nghe hơn một chút. Một người dám nhận lỗi trước. Một người quyết định thôi nói xấu. Một người chọn cầu nguyện thay vì phản ứng ngay. Một người chấp nhận nhường vai trò mà lòng vẫn bình an. Một người dám xin lỗi một người mình đã làm tổn thương. Một người lãnh đạo chịu hỏi ý kiến thật, chứ không chỉ hỏi cho có. Một cộng đoàn chịu ngồi lại với nhau không phải để tranh thắng, nhưng để cùng tìm điều Chúa muốn. Một người trẻ chọn nói điều mình thao thức với lòng tôn trọng thay vì chỉ bất mãn. Một người lớn tuổi chọn lắng nghe điều mới với lòng quảng đại thay vì khép kín. Chính những điều nhỏ ấy làm nên lịch sử thiêng liêng của một cộng đoàn.
Vì vậy, nếu muốn giảng hay suy niệm sâu về hoán cải cho một Giáo Hội hiệp hành, ta phải giúp người nghe thấy rằng đây không phải là một ý niệm xa xôi. Nó rất cụ thể. Rất gần. Rất đời thường. Hoán cải có thể bắt đầu ngay trong một buổi họp hội đồng mục vụ khi ta quyết định không cắt ngang người khác. Hoán cải có thể bắt đầu trong đời sống tu trì khi ta thôi âm thầm giữ khoảng cách với một người chị em, một người anh em mình không hợp. Hoán cải có thể bắt đầu trong nhà xứ khi linh mục chọn dành thời gian thực sự cho việc lắng nghe thay vì chỉ giải quyết công việc. Hoán cải có thể bắt đầu trong chủng viện khi một chủng sinh dám để người khác góp ý về cung cách sống của mình mà không biện minh quá nhanh. Hoán cải có thể bắt đầu nơi giáo dân khi ta thôi nghĩ rằng mình chỉ là người đến dự lễ, để bắt đầu thấy mình có trách nhiệm làm cho cộng đoàn ấm hơn, thật hơn, hiệp thông hơn. Hoán cải có thể bắt đầu trong lời cầu nguyện riêng khi ta thôi xin Chúa đổi người khác trước, để bắt đầu xin Ngài đổi lòng mình.
Một trong những điều cản trở mạnh nhất đối với hiệp hành là nỗi sợ. Sợ bị mất chỗ. Sợ bị hiểu lầm. Sợ đổi mới. Sợ phải đối diện với những điều mình không kiểm soát được. Sợ tiếng nói của người khác. Sợ câu hỏi của người trẻ. Sợ những vết thương của người bị loại trừ. Sợ thừa nhận rằng cách mình đã làm bấy lâu nay không còn đủ nữa. Sợ phải học lại. Sợ phải xin lỗi. Sợ phải để cho người khác bước vào những nơi trước đây chỉ mình quyết. Sợ phải lớn lên. Nhưng Tin Mừng luôn bắt đầu bằng một lời rất quen: “Đừng sợ.” Không phải vì phía trước sẽ không có thử thách, mà vì Chúa ở đó. Một Giáo Hội hiệp hành chỉ có thể lớn lên khi con người dần dần được giải thoát khỏi những nỗi sợ ấy. Và sự giải thoát đó đến qua hoán cải. Qua việc để cho tình yêu của Chúa lớn hơn nỗi sợ của mình.
Đôi khi Chúa cho phép cộng đoàn đi qua những thời gian khó khăn, những va chạm, những bế tắc, không phải để làm cộng đoàn tan vỡ, nhưng để lộ ra những điều cần được chữa lành. Có những điều nếu mọi sự cứ êm xuôi bề ngoài, ta sẽ không bao giờ nhận ra. Chính những bất đồng, những mỏi mệt, những khủng hoảng âm thầm, những tiếng kêu từ người ở bên lề, những giới hạn trong cung cách điều hành, những khô cứng trong thói quen mục vụ, làm cho ta buộc phải đặt câu hỏi: Chúng ta có đang sống đúng tinh thần của Đức Kitô không? Chúng ta có thật sự là một cộng đoàn biết bước đi cùng nhau không? Hay chúng ta chỉ đang giữ cho bộ máy vận hành? Có thể nói, nhiều khi khủng hoảng không chỉ là điều cần giải quyết, mà còn là nơi Chúa đang gõ cửa đòi ta hoán cải.
Nhưng sẽ không có hoán cải thật nếu thiếu đời sống cầu nguyện sâu xa. Bởi vì chỉ trong cầu nguyện, con người mới ngừng đóng vai và ở lại với con người thật của mình trước mặt Chúa. Chỉ trong cầu nguyện, ta mới dám đặt xuống những lý lẽ rất hay của mình để nghe Chúa hỏi vào tận đáy lòng: con có yêu Thầy không? Con có thực sự yêu anh em mình không? Con có đang phục vụ vì yêu hay vì cần được nhìn nhận? Con có đang nói nhân danh sự thật nhưng thật ra thiếu bác ái không? Con có đang sống trách nhiệm như một chỗ để hiến thân hay như một nơi để giữ mình ở trung tâm? Con có buồn vì cộng đoàn chưa tốt, hay con buồn vì cộng đoàn không vận hành theo ý con? Những câu hỏi ấy đau, nhưng rất cần. Và chỉ khi dám mang chúng vào cầu nguyện, ta mới bắt đầu đi vào cuộc hoán cải thật.
Cầu nguyện còn làm cho ta hiểu rằng hiệp hành không phải là sản phẩm của kỹ năng con người, nhưng là hoa trái của Thánh Thần. Điều này cực kỳ quan trọng. Nếu quên điều đó, ta sẽ tưởng chỉ cần có phương pháp tốt là đủ. Nhưng không. Có những cộng đoàn tổ chức rất giỏi mà vẫn thiếu hiệp thông. Có những cuộc gặp gỡ rất bài bản mà sau đó người ta vẫn không gần nhau hơn. Có những cuộc lấy ý kiến rất rộng nhưng sau cùng ai cũng bảo vệ góc của mình. Không phải vì thiếu kỹ thuật, nhưng vì thiếu Thánh Thần, hay đúng hơn, thiếu sự vâng phục trước Thánh Thần. Một cộng đoàn thật sự hiệp hành là cộng đoàn cầu nguyện đủ để biết rằng tiếng nói quyết định không phải là tiếng nói mạnh nhất, nhưng là điều Chúa muốn. Mà muốn nhận ra điều Chúa muốn, người ta phải biết im đi, biết chờ, biết lắng nghe, biết phân định, biết từ bỏ vội vàng, biết chấp nhận hành trình chậm.
Với giáo dân, lời mời gọi hoán cải này là lời mời gọi bước ra khỏi lối sống đạo thụ động. Không chỉ đến nhà thờ để chu toàn bổn phận, nhưng để thực sự trở nên một phần sống động của thân thể Hội Thánh. Không chỉ chờ được phục vụ, nhưng sẵn sàng phục vụ. Không chỉ chờ được lắng nghe, nhưng cũng biết lắng nghe. Không chỉ than phiền cộng đoàn chưa tốt, nhưng tự hỏi mình đã làm gì để cộng đoàn tốt hơn. Với hội đồng mục vụ, lời mời gọi này là lời mời gọi trở thành những người biết phân định hơn là những người chỉ điều hành; biết cầu nguyện trước khi quyết định; biết mở ra cho tiếng nói của cộng đoàn; biết làm việc với nhau trong bác ái thay vì trong tự ái hay cạnh tranh âm thầm. Với tu sĩ, đây là lời mời gọi trở về với chiều sâu đời thánh hiến: một trái tim thuộc về Chúa thì cũng phải là một trái tim có chỗ cho anh chị em mình, cho cộng đoàn, cho người nghèo, cho những khác biệt không dễ chịu. Với chủng sinh, đây là lời nhắc rất quan trọng: đừng chờ đến khi lãnh chức mới học hiệp hành. Phải học từ bây giờ. Học sống chung. Học lắng nghe. Học nhận sửa dạy. Học phục vụ mà không tự tôn. Học để mình được uốn nắn. Học yêu Giáo Hội không như một nơi mình sẽ có vai trò, nhưng như một mầu nhiệm mình được mời hiến thân.
Cuối cùng, có lẽ điều sâu nhất của chiều kích hoán cải vì một Giáo Hội hiệp hành là chấp nhận rằng con đường này sẽ luôn đòi ta trở lại với Đức Kitô. Bởi Người là mẫu gương hiệp hành đầu tiên và trọn vẹn nhất. Người không đi một mình. Người gọi các môn đệ cùng đi. Người kiên nhẫn đồng hành với những người chậm hiểu. Người lắng nghe nỗi lòng con người. Người đón nhận những người bị bên lề. Người không dập tắt kẻ yếu đuối. Người nói sự thật nhưng không nghiền nát con người. Người cúi xuống rửa chân. Người bẻ mình ra. Người hiến mạng sống mình để quy tụ con cái Thiên Chúa tản mác về một mối. Nếu không trở về với Đức Kitô như thế, hiệp hành sẽ chỉ còn là một khái niệm đẹp. Nhưng nếu trở về với Người, nếu nhìn ngắm Người, nếu để cho tâm tình của Người thấm vào cách ta sống, thì dần dần cộng đoàn sẽ được đổi khác. Không nhanh. Không dễ. Nhưng thật.
Vậy nên, lời cầu nguyện của chúng ta hôm nay có thể rất đơn sơ mà cũng rất sâu: Lạy Chúa, xin đừng để con chỉ nói về hoán cải, nhưng xin cho con dám để mình được hoán cải. Xin đừng để con chỉ mong cộng đoàn hiệp hành, nhưng xin dạy con biết bước đi với anh chị em mình trong khiêm tốn và chân thành. Xin lấy khỏi con sự cứng cỏi khiến con không nghe được tiếng Chúa qua người khác. Xin lấy khỏi con nỗi sợ khiến con chỉ muốn giữ phần mình. Xin lấy khỏi con cái nhìn thành kiến làm con không nhận ra phẩm giá và đau khổ của anh chị em. Xin cho con biết yêu Giáo Hội bằng một tình yêu trưởng thành: không mù quáng, không cay đắng, nhưng trung thành, cầu nguyện, và sẵn sàng cộng tác. Xin cho cộng đoàn chúng con, giữa bao giới hạn rất người, vẫn trở thành nơi người ta cảm được hương vị của Tin Mừng: nơi có sự thật mà không thiếu lòng thương xót, có khác biệt mà không mất hiệp thông, có trách nhiệm mà không thiếu khiêm nhường, có sứ mạng mà không đánh mất chiều sâu cầu nguyện. Và xin cho mỗi người chúng con hiểu rằng, xây dựng một Giáo Hội hiệp hành không bắt đầu ở đâu xa, nhưng bắt đầu ngay trong trái tim đang để Chúa uốn mềm mỗi ngày.
SỐNG CHIỀU KÍCH HOÁN CẢI VÌ MỘT GIÁO HỘI HIỆP HÀNH
có những lời mời gọi của Thiên Chúa nghe qua thì rất quen, nhưng nếu dừng lại lâu hơn một chút, đi vào sâu hơn một chút, ta mới thấy đó không phải là một lời mời gọi đơn giản. Một trong những lời mời gọi như thế là lời mời gọi hoán cải để sống tinh thần hiệp hành. Đó cũng chính là chiều hướng rất sâu của bản văn nền mà chúng ta đang cùng nhau suy niệm: hoán cải không chỉ còn là chuyện riêng giữa tôi với Chúa, nhưng còn là một con đường của cộng đoàn, một hành trình cùng nhau bước đi trong Thánh Thần vì một Giáo Hội biết lắng nghe, biết phân định, biết hiệp thông và biết ra đi
Nghe đến hai chữ hoán cải, nhiều người có thể thấy hơi nặng. Vì hoán cải gợi đến thay đổi. Gợi đến từ bỏ. Gợi đến việc phải nhìn lại mình. Gợi đến những điều mình không muốn đối diện. Còn nghe đến hai chữ hiệp hành, nhiều người lại có thể nghĩ tới những điều lớn lao hơn mình: những định hướng của Giáo Hội, những cuộc họp, những hội nghị, những tiến trình mục vụ. Thế nhưng, nếu đi vào chiều sâu, ta sẽ nhận ra rằng cả hai điều ấy đều rất gần, rất gần với đời sống mỗi ngày của từng người chúng ta. Hoán cải không ở đâu xa. Hiệp hành cũng không ở đâu xa. Nó bắt đầu ngay trong trái tim này. Trong cách tôi nhìn người khác. Trong cách tôi nói. Trong cách tôi nghe. Trong cách tôi phản ứng khi ý mình không được chấp nhận. Trong cách tôi đối xử với người không giống mình. Trong cách tôi hiện diện trong cộng đoàn. Trong cách tôi yêu Giáo Hội.
Có lẽ một trong những điều đau nhất của đời sống thiêng liêng là con người có thể sống rất gần những điều thánh, nhưng lòng mình lại không thực sự đổi mới. Người ta có thể đi lễ lâu năm mà vẫn giữ một trái tim khép kín. Có thể cầu nguyện nhiều mà vẫn khó chấp nhận người khác. Có thể phục vụ rất tích cực mà vẫn dễ tự ái, dễ so sánh, dễ khó chịu khi mình không được nhắc đến. Có thể nói rất hay về hiệp thông, về yêu thương, về hiệp hành, nhưng chỉ cần một va chạm nhỏ là mọi điều đẹp đẽ ấy tan đi rất nhanh, để lộ ra một trái tim còn đầy phòng thủ, còn đầy cái tôi, còn đầy những vùng chưa chịu để Chúa chạm vào. Và đó là lúc ta hiểu rằng: điều Giáo Hội cần nhất không chỉ là thêm hoạt động, thêm sáng kiến, thêm tổ chức, nhưng là thêm những tâm hồn được biến đổi.
Nhiều khi ta nghĩ vấn đề của cộng đoàn là do người khác. Do người kia khó tính. Do người nọ bảo thủ. Do người kia thiếu trách nhiệm. Do nhóm nọ không cởi mở. Do một cơ cấu nào đó chưa hợp lý. Có thể tất cả những điều ấy đều có phần đúng. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, ta sẽ không bao giờ bước vào hoán cải thật. Bởi hoán cải luôn bắt đầu từ câu hỏi này: phần của tôi ở đâu? Tôi đang góp phần gì vào bầu khí của cộng đoàn? Sự hiện diện của tôi làm người khác bình an hơn hay nặng nề hơn? Khi tôi lên tiếng, người khác có cảm thấy được tôn trọng không? Khi tôi không đồng ý, tôi có còn giữ được lòng bác ái không? Khi tôi bị chạm tự ái, tôi có để cơn khó chịu điều khiển mình không? Khi tôi nhìn một người không hợp ý, tôi có còn thấy nơi họ là một người anh em, một người chị em, hay chỉ còn thấy một “vấn đề” trong cộng đoàn?
Anh chị em thân mến,
nếu không đặt những câu hỏi ấy, ta sẽ rất dễ sống đạo ở bề mặt. Ta sẽ dễ nghĩ rằng mình ổn, bởi vì bên ngoài mình vẫn làm nhiều việc tốt. Nhưng Thiên Chúa không chỉ nhìn vào bề ngoài. Chúa nhìn vào trái tim. Chúa nhìn vào động cơ. Chúa nhìn vào những điều người khác không thấy. Có thể ai đó đang rất được trọng vọng trong cộng đoàn, nhưng trước mặt Chúa, người ấy lại đang rất cần hoán cải vì lòng đầy tự mãn. Cũng có thể một người rất âm thầm, chẳng ai để ý, lại đang đẹp lòng Chúa vô cùng vì mỗi ngày biết từ bỏ cái tôi, biết nhẫn nhịn, biết lắng nghe, biết giữ hiệp nhất, biết cầu nguyện cho cộng đoàn trong thinh lặng. Nước Thiên Chúa không được xây bằng vẻ bề ngoài. Giáo Hội cũng không được lớn lên trước hết bằng những gì người ta nhìn thấy, nhưng bằng những cuộc hoán cải sâu kín mà chỉ mình Chúa biết.
Và có lẽ cuộc hoán cải đầu tiên, khó nhất, lâu nhất, chính là hoán cải cái tôi. Cái tôi của con người rất lạ. Nó không chỉ xuất hiện khi ta kiêu căng rõ ràng. Nó còn hiện diện trong những nơi rất tinh vi. Nó có thể núp dưới lòng đạo đức. Nó có thể khoác áo trách nhiệm. Nó có thể mang tên “nhiệt thành”. Nó có thể trốn sau câu nói “tôi chỉ muốn điều tốt cho cộng đoàn”. Nhưng sâu xa bên trong, cái tôi vẫn muốn mình được công nhận. Muốn mình đúng. Muốn tiếng nói của mình có trọng lượng. Muốn ý mình được chọn. Muốn sự hiện diện của mình được thấy. Muốn công sức của mình được nhắc đến. Muốn vai trò của mình không bị đụng chạm. Và chính cái tôi ấy làm cho đời sống cộng đoàn mệt mỏi. Bởi khi cái tôi lớn lên, hiệp thông co lại. Khi cái tôi lớn lên, lắng nghe trở nên khó khăn. Khi cái tôi lớn lên, mọi khác biệt đều dễ biến thành đối đầu.
Có những người rất buồn khi không còn được giao việc như trước, không hẳn vì tiếc việc phục vụ, mà vì tiếc chỗ đứng của mình. Có những người rất khó chịu khi người khác được tín nhiệm hơn, không hẳn vì lo cho cộng đoàn, mà vì trong lòng âm thầm bị chạm vào tự ái. Có những người khi góp ý thì gọi là xây dựng, nhưng khi người khác góp ý cho mình thì lại thấy khó chịu. Có những người bề ngoài rất khiêm nhường, nhưng nếu bị bỏ quên trong một lời cảm ơn, lòng lại bồn chồn mấy ngày. Những điều ấy rất người. Ai trong chúng ta cũng có thể gặp. Nhưng vấn đề không phải là có hay không. Vấn đề là ta có dám nhận ra nó và đem nó đến trước mặt Chúa hay không.
Một Giáo Hội hiệp hành không thể được xây trên những cái tôi chưa chịu chết đi. Hiệp hành đòi một sự nghèo nội tâm rất lớn. Nghèo để biết rằng mình không nắm trọn sự thật. Nghèo để chấp nhận rằng Chúa có thể dùng một người khác, một người rất khác mình, để soi sáng cho cộng đoàn. Nghèo để không cần lúc nào cũng thắng. Nghèo để có thể vui khi người khác được nâng lên. Nghèo để không biến trách nhiệm thành lãnh địa riêng. Nghèo để có thể lùi lại mà lòng vẫn bình an. Nghèo để có thể nói: điều quan trọng không phải là tôi, mà là điều Chúa muốn cho cộng đoàn này.
Nhưng anh chị em biết không,
không ai tự làm mình nghèo như thế được nếu không ở lại rất sâu với Chúa. Chỉ khi ở trước mặt Chúa đủ lâu, con người mới bắt đầu thấy cái tôi của mình rõ hơn. Chỉ khi cầu nguyện thật, ta mới thấy có những lần mình gọi là “bảo vệ chân lý” nhưng thật ra là bảo vệ ý mình. Có những lần mình nói là “lo cho Giáo Hội” nhưng thật ra đang lo cho ảnh hưởng của mình. Có những lần mình nhân danh trách nhiệm nhưng thực ra lòng đang rất sợ bị mất chỗ. Chỉ trong ánh sáng của Chúa, ta mới thôi đổ lỗi hết cho hoàn cảnh và người khác để bắt đầu chấp nhận rằng: mình cũng cần được cứu, cần được chữa lành, cần được bẻ gãy, cần được uốn mềm.
Và khi nói đến hoán cải để sống hiệp hành, ta không thể không nói tới hoán cải trong cách nhìn người khác. Đây là một điểm rất sâu. Bởi rất nhiều đổ vỡ trong cộng đoàn không khởi đi từ những chuyện lớn, nhưng từ cách người ta nhìn nhau. Có khi ta không nói gì nặng nề cả, nhưng trong lòng mình đã xếp người kia vào một chỗ: người này khó chịu, người kia nông nổi, người nọ bảo thủ, người kia không đáng tin, người nọ chỉ thích thể hiện. Một khi đã đóng khung người khác trong đầu mình, ta sẽ không còn gặp họ như con người thật nữa. Ta chỉ gặp cái hình ảnh mình đã tạo ra về họ. Và như thế, hiệp thông bắt đầu chết từ rất sớm, dù bên ngoài vẫn còn những lời chào hỏi, vẫn còn những cuộc họp, vẫn còn những sinh hoạt chung.
Đức Giêsu không nhìn người ta theo kiểu ấy. Người nhìn sâu hơn quá khứ của họ. Sâu hơn lỗi lầm của họ. Sâu hơn vẻ bề ngoài của họ. Người thấy nơi con người một khả thể của ân sủng. Người thấy một tương lai mà nhiều khi chính người đó cũng chưa tin mình có. Còn chúng ta, rất nhiều khi ta nhìn nhau bằng ký ức, bằng thành kiến, bằng một vài trải nghiệm không vui, bằng sự khác biệt quan điểm, bằng những vết thương mình chưa chữa lành. Vì thế, muốn sống hiệp hành, trái tim phải được đổi mới trước. Ta phải học lại ánh mắt của Chúa. Ánh mắt vừa thật vừa thương. Vừa thấy giới hạn vừa không tuyệt vọng. Vừa nhìn rõ điều chưa tốt vừa vẫn để chỗ cho hy vọng. Vừa có nguyên tắc vừa có lòng thương xót.
Một cộng đoàn không thể hiệp hành nếu các thành viên không học đón nhận nhau như anh chị em, chứ không như đối thủ hay phiền toái. Và để đón nhận nhau thật sự, ta cần đi vào một cuộc hoán cải rất âm thầm: hoán cải khỏi nhu cầu phải gặp những người giống mình, hợp mình, dễ chịu với mình. Chúa không chỉ đặt bên cạnh ta những người hợp với ta. Nhiều khi Chúa cho ta sống với những người rất khác ta, để chính nhờ họ mà ta được thanh luyện. Có những người làm ta khó chịu, nhưng nhờ họ mà ta thấy mình thiếu kiên nhẫn biết bao. Có những người quá chậm so với mình, nhưng nhờ họ mà ta thấy mình đang nóng vội thế nào. Có những người rất khác cách nghĩ của mình, nhưng nhờ họ mà ta nhận ra sự thật không chỉ nằm trong góc nhìn riêng của mình. Nếu ta chỉ muốn ở trong một cộng đoàn toàn những người thuận ý mình, thì đó không phải là hiệp hành, mà chỉ là tìm một nơi dễ chịu cho cái tôi.
Anh chị em thân mến,
một trong những dấu chỉ rõ nhất của người đang hoán cải là người ấy học được cách lắng nghe. Không phải nghe bằng tai thôi, nhưng nghe bằng trái tim. Nghe mà không vội chuẩn bị phản ứng. Nghe mà không lập tức phòng thủ. Nghe mà không chỉ chọn điều hợp với ý mình. Nghe để hiểu, chứ không chỉ để đáp lại. Lắng nghe là một hành vi rất thiêng liêng. Bởi khi lắng nghe thật, ta chấp nhận rằng người khác có chỗ trong lòng mình. Ta chấp nhận rằng mình chưa đủ. Ta chấp nhận rằng có thể Chúa đang nói với mình qua người kia. Và điều ấy không dễ. Nhất là với những ai quen nói, quen hướng dẫn, quen quyết định, quen được nghe theo. Nhưng chính ở đó, lời mời gọi hoán cải vang lên mạnh nhất.
Một linh mục biết lắng nghe giáo dân là một món quà lớn cho giáo xứ. Một hội đồng mục vụ biết lắng nghe cộng đoàn là một dấu chỉ đẹp của Thánh Thần. Một tu sĩ biết lắng nghe anh chị em mình là một chứng tá mạnh hơn rất nhiều lời giảng. Một chủng sinh biết lắng nghe trước khi nói sẽ chuẩn bị cho mình một tương lai phục vụ lành mạnh hơn. Một giáo dân biết lắng nghe người khác thay vì chỉ phê bình sẽ góp phần chữa lành bầu khí cộng đoàn. Lắng nghe không làm ta nhỏ đi. Lắng nghe làm ta giống Chúa hơn. Và một Giáo Hội hiệp hành chính là một Giáo Hội biết tin rằng Thánh Thần có thể nói qua nhiều tiếng nói, kể cả những tiếng nói rất bé nhỏ.
Nhưng không thể lắng nghe thật nếu lòng còn quá đầy mình. Bởi vậy, hiệp hành luôn đòi cầu nguyện. Không có cầu nguyện, người ta chỉ trao đổi ý kiến. Không có cầu nguyện, người ta chỉ bàn bạc theo kiểu con người. Không có cầu nguyện, người ta dễ lấy cái khôn của mình làm trung tâm. Không có cầu nguyện, cộng đoàn có thể hoạt động rất nhiều nhưng linh hồn lại rất mệt. Cầu nguyện không phải là phần thêm vào sau cùng của hiệp hành. Cầu nguyện là nền. Là nhịp thở. Là nơi ta học cúi xuống trước Chúa để rồi biết cúi xuống trước anh chị em mình. Là nơi ta buông những ồn ào bên trong để nghe điều Chúa muốn. Là nơi ta được bẻ gãy trước khi lên tiếng với cộng đoàn. Là nơi ta được thanh luyện khỏi những động cơ lẫn lộn trong phục vụ.
Có những cuộc họp kéo dài nhưng kết thúc bằng mệt mỏi. Có những sinh hoạt mục vụ rất công phu nhưng lại để lại nhiều nặng nề. Có những tranh luận không đi đến đâu vì ai cũng giữ phần mình. Và nhiều khi, ở gốc của những điều đó là vì người ta đã quên cầu nguyện đủ. Quên dừng lại đủ. Quên đặt cộng đoàn này trước mặt Chúa như một mầu nhiệm chứ không chỉ như một công việc. Quên xin cho mình được đổi lòng trước khi mong người khác đổi. Chính vì thế, nếu muốn xây một Giáo Hội hiệp hành, ta không thể chỉ nghĩ đến đổi mới cơ cấu. Ta phải đổi mới đời sống cầu nguyện. Cộng đoàn nào biết cầu nguyện chung, biết thinh lặng chung, biết phân định trong ánh sáng Lời Chúa, cộng đoàn ấy dù chậm vẫn đi đúng hơn một cộng đoàn nhanh mà cậy sức riêng.
Sống chiều kích hoán cải còn là dám nhận ra rằng Giáo Hội không thuộc về mình. Đây là điều rất cần được nói chậm, nói sâu. Giáo Hội không phải là chỗ để ta khẳng định mình. Không phải là nơi để ta giữ ảnh hưởng. Không phải là không gian để nhóm này tranh hơn nhóm kia. Không phải là nơi để ai đến trước thì có quyền định đoạt mãi. Không phải là chỗ để biến trách nhiệm thành quyền sở hữu. Giáo Hội là của Chúa. Cộng đoàn là của Chúa. Sứ mạng là của Chúa. Mọi ân ban là của Chúa. Ta chỉ là người được gọi đến cộng tác trong một đoạn đường nào đó. Khi nhớ điều ấy, lòng sẽ nhẹ hơn. Ta sẽ bớt căng khi người khác làm khác mình. Ta sẽ bớt buồn khi không còn ở trung tâm. Ta sẽ bớt sợ khi có những thay đổi. Ta sẽ bớt chiếm hữu con người và công việc. Và ta sẽ bắt đầu phục vụ tự do hơn.
Một cộng đoàn chỉ thực sự lớn lên trong tinh thần hiệp hành khi trong cộng đoàn đó, mỗi người học được niềm vui của việc không làm trung tâm nữa. Niềm vui này lạ lắm. Ban đầu nó đau. Vì ai cũng quen được chú ý theo một cách nào đó. Ai cũng muốn vai trò của mình được thấy. Ai cũng dễ nghĩ rằng nếu thiếu mình thì việc sẽ không ổn. Nhưng dần dần, khi để Chúa dẫn đi, ta sẽ hiểu rằng bình an lớn nhất không phải là được đứng giữa, mà là được thuộc về. Không phải là được nói nhiều nhất, mà là được cùng nhau tìm ra điều Chúa muốn. Không phải là được giữ vai trò lâu nhất, mà là được trung thành với phần việc Chúa trao trong sự khiêm tốn. Không phải là được cộng đoàn ghi nhận, mà là được Chúa biết đến. Và người nào nếm được bình an ấy sẽ không còn phục vụ bằng căng thẳng nữa. Họ sẽ phục vụ bằng tự do.
Anh chị em thân mến,
một Giáo Hội hiệp hành không phải là một Giáo Hội hoàn hảo. Không phải nơi đó không có bất đồng, không có giới hạn, không có sai lầm. Nhưng đó là một Giáo Hội biết sống những điều ấy trong sự thật và lòng thương xót. Biết nhận lỗi. Biết xin lỗi. Biết sửa sai. Biết bắt đầu lại. Biết nhìn vào những thương tổn của cộng đoàn mà không tuyệt vọng. Biết lắng nghe cả những tiếng nói làm mình khó chịu. Biết chậm lại để không quyết định chỉ theo phản ứng. Biết ra đi với người nghèo, với người bị bỏ quên, với người ở bên lề. Biết để cho Thánh Thần làm những điều mới mà không phản kháng vì sợ mất sự quen thuộc cũ.
Có lẽ, nếu phải nói thật ngắn điều cốt lõi của chiều kích hoán cải vì một Giáo Hội hiệp hành, ta có thể nói thế này: đó là hành trình từ cái tôi đến chúng ta, và từ chúng ta đến Thiên Chúa. Từ cái tôi là nơi ta chỉ thấy mình, nghĩ cho mình, bảo vệ mình. Đến chúng ta là nơi ta học có chỗ cho anh chị em mình. Nhưng hành trình không dừng ở chúng ta. Bởi nếu chỉ dừng ở con người với nhau, ta vẫn có thể rơi vào những thỏa hiệp nhân loại. Hành trình phải đi tới Thiên Chúa. Chính Ngài là đích. Chính Ngài là Đấng quy tụ. Chính Ngài là ánh sáng cho việc phân định. Chính Ngài là lý do để ta sống hiệp thông. Chính Ngài là sức mạnh giúp ta tha thứ, lắng nghe, từ bỏ, bắt đầu lại. Không có Thiên Chúa ở trung tâm, hiệp hành rất dễ thành một cuộc thương lượng. Nhưng khi có Thiên Chúa ở trung tâm, hiệp hành trở thành một hành trình thánh.
Và vì là một hành trình thánh, nên nó luôn đi qua thập giá. Đừng nghĩ rằng sống hiệp hành là sống dễ dàng hơn. Không. Có khi còn khó hơn. Vì ta phải học chịu đựng nhau trong yêu thương. Học chấp nhận sự chậm chạp của nhau. Học không phản ứng theo bản năng. Học mang lấy những khác biệt mà không cắt đứt hiệp thông. Học nhường. Học lùi. Học xin lỗi. Học nhận phần sai. Học bị hiểu lầm mà vẫn không khép lòng. Học tiếp tục yêu Giáo Hội ngay cả khi mình từng bị đau vì Giáo Hội. Đây là những thập giá thật. Nhưng chính khi ôm lấy những thập giá ấy với lòng mến, cộng đoàn mới được thanh luyện. Và chính nơi đó, hiệp hành không còn là một ý tưởng đẹp, nhưng trở thành Tin Mừng đang được sống.
Cho nên, nếu hôm nay chúng ta ngồi lại với nhau trong giờ tĩnh tâm này, có lẽ điều Chúa muốn không phải trước hết là ta nghĩ ra thêm thật nhiều kế hoạch. Có thể điều Chúa muốn trước hết chỉ là thế này thôi:
xin con hãy để Ta chạm vào lòng con.
Xin con đừng chỉ lo sửa người khác.
Xin con đừng chỉ nói về đổi mới cộng đoàn.
Xin con hãy cho Ta quyền đổi mới chính con.
Xin con đừng sợ khi phải nhìn lại mình.
Xin con đừng sợ khi phải xin lỗi.
Xin con đừng sợ khi phải lắng nghe điều mình không thích.
Xin con đừng sợ khi phải từ bỏ chỗ đứng quen thuộc.
Xin con đừng sợ khi phải bước đi với những người khác mình.
Xin con đừng sợ khi phải yêu Giáo Hội bằng một tình yêu trưởng thành hơn, đau hơn, thật hơn.
Và rồi, nếu mỗi người trong chúng ta thực sự bắt đầu từ đó, từ một cuộc hoán cải rất riêng, rất thật, rất sâu, thì dần dần cộng đoàn cũng sẽ đổi khác. Không phải trong một sớm một chiều. Không phải bằng những điều gây ấn tượng lớn. Nhưng bằng những thay đổi âm thầm mà bền vững. Một người nói dịu lại. Một người biết nghe hơn. Một người bớt phán xét. Một người dám nhận sai. Một người lãnh đạo khiêm tốn hơn. Một hội đồng mục vụ biết cầu nguyện hơn. Một cộng đoàn bớt chia phe. Một giáo xứ có thêm chỗ cho người trẻ. Một nhà dòng có thêm sự thật trong yêu thương. Một chủng viện có thêm bầu khí huynh đệ và tự do nội tâm. Từ những điều nhỏ như thế, Giáo Hội được xây lên.
SỐNG CHIỀU KÍCH HOÁN CẢI VÌ MỘT GIÁO HỘI HIỆP HÀNH
PHẦN 5
(Bản kết thúc đại đề tài, thích hợp như bài giảng bế mạc tĩnh tâm hoặc bài chia sẻ tổng kết cho cộng đoàn)
Anh chị em rất thân mến,
sau một hành trình dài cùng nhau suy niệm, có lẽ giờ đây chúng ta không còn đứng trước một đề tài nữa, nhưng đứng trước một lời mời gọi. Và lời mời gọi ấy không còn chỉ ở bên ngoài tai nghe, nhưng đã chạm đến lòng mình phần nào đó. Bởi vì sống chiều kích hoán cải vì một Giáo Hội hiệp hành không còn là một ý niệm để suy nghĩ, một chủ đề để thảo luận, hay một đường hướng để nhắc lại trong các văn kiện. Sau tất cả, đó là một câu hỏi Chúa đang đặt vào tận đáy lòng каждого chúng ta: con có sẵn sàng để Ta đổi mới con, để từ đó Ta có thể đổi mới cộng đoàn của con không? Đó cũng là hướng đi xuyên suốt của bản văn nền mà chúng ta đã bắt đầu từ đầu: hoán cải không chỉ là chuyện cá nhân khép kín, nhưng là con đường của cộng đoàn, của Giáo Hội, của những con người cùng bước đi với nhau trong ánh sáng Chúa Thánh Thần
Có những lần trong đời sống đức tin, ta nghe rất nhiều, hiểu cũng khá nhiều, xúc động cũng không ít, nhưng rồi mọi sự dừng lại ở đó. Ta rời giờ cầu nguyện mà không thay đổi. Ta rời một kỳ tĩnh tâm mà chỉ còn giữ lại vài cảm xúc đẹp. Ta nghe một bài giảng sâu mà chỉ thấy lòng mình rung lên trong chốc lát, rồi sau đó lại trở về với lối sống cũ, phản ứng cũ, cái nhìn cũ, tự ái cũ, khép kín cũ. Điều đó rất dễ xảy ra. Vì con người thường thích được đánh động hơn là bị biến đổi. Thích nghe điều sâu sắc hơn là bước vào hành trình đau đớn của hoán cải. Thích nói về đổi mới hơn là trả giá để cho mình được đổi mới thật. Nhưng hôm nay, ở phần cuối của đại đề tài này, có lẽ Chúa không muốn chúng ta chỉ khép lại bằng một cảm xúc đẹp. Chúa muốn chúng ta đi xa hơn. Chúa muốn chúng ta bước tới một quyết định âm thầm nhưng thật. Một quyết định có thể không ai thấy, nhưng sẽ đổi hướng cả đời sống thiêng liêng của ta: con muốn bắt đầu lại.
Bắt đầu lại không phải là làm những điều lớn lao ngay lập tức. Bắt đầu lại trước hết là dám thành thật. Thành thật nhìn vào lòng mình. Thành thật nhìn vào cách mình đã hiện diện trong cộng đoàn. Thành thật nhìn vào những bóng tối mà có thể lâu nay mình vẫn phủ lên bằng những lý do tốt đẹp. Thành thật nhận ra rằng có thể mình vẫn đi lễ đều, vẫn phục vụ, vẫn hiện diện trong các sinh hoạt của Giáo Hội, nhưng trái tim lại chưa thật sự mềm ra trước Chúa và trước anh chị em mình. Có thể mình vẫn nói nhiều về hiệp thông, nhưng lại không có nhiều chỗ cho người khác trong lòng. Có thể mình vẫn muốn điều tốt cho cộng đoàn, nhưng trong chính sự nhiệt thành ấy lại pha lẫn quá nhiều cái tôi. Có thể mình vẫn buồn vì Giáo Hội chưa như mình mong, nhưng nếu nhìn kỹ, mình cũng đang góp một phần vào sự nặng nề ấy bằng sự cứng cỏi, bằng thành kiến, bằng lời nói thiếu bác ái, bằng thói quen phản ứng hơn là lắng nghe, bằng việc chỉ mong người khác đổi mà không chịu để Chúa đổi lòng mình.
Nếu hôm nay chúng ta dám nhìn thật như thế, thì đó đã là một ơn rất lớn. Bởi vì nhiều khi điều cản trở ân sủng không phải là vì Chúa không muốn làm gì nơi ta, nhưng vì ta chưa bao giờ thực sự mở cánh cửa sâu nhất của lòng mình. Có những cánh cửa người ta mở cho Chúa rất dễ: cửa của việc đạo đức, cửa của phụng vụ, cửa của những giờ cầu nguyện, cửa của các sinh hoạt cộng đoàn. Nhưng có những cánh cửa khác ta giữ lại rất kỹ: cửa của tự ái, cửa của nhu cầu được nhìn nhận, cửa của nỗi sợ mất chỗ, cửa của ký ức bị tổn thương, cửa của thành kiến đối với một người nào đó, cửa của quyền kiểm soát, cửa của tham vọng âm thầm, cửa của việc không muốn ai chạm vào vùng ảnh hưởng của mình. Và rồi, ta ngạc nhiên vì sao đời sống đức tin của mình không thực sự sinh hoa trái hiệp thông. Thật ra, Chúa không thiếu quyền năng. Chỉ là ta chưa mở hết lòng.
Bởi vậy, ở phần kết này, có lẽ điều đầu tiên ta phải xin không phải là xin cho cộng đoàn tốt hơn, cho cơ cấu vận hành tốt hơn, cho người này người kia thay đổi dễ hơn, mà là xin cho chính mình dám mở lòng thật. Bởi Giáo Hội hiệp hành không được xây trước hết bằng những kế hoạch, nhưng bằng những trái tim đã học để không còn sống cho riêng mình. Một cộng đoàn sẽ không bao giờ thật sự trở nên hiệp hành nếu các thành viên trong đó vẫn chỉ gặp nhau bằng vai trò, bằng chức năng, bằng lợi ích, bằng thói quen, bằng những lịch sinh hoạt nối tiếp nhau. Cộng đoàn chỉ trở nên hiệp hành khi con người bắt đầu gặp nhau bằng một trái tim đã được Chúa chạm tới. Trái tim ấy không còn muốn thắng bằng mọi giá. Không còn muốn giữ phần mình bằng mọi giá. Không còn muốn mình luôn là người được chú ý. Không còn muốn tiếng nói của mình là tiếng nói cuối cùng. Nhưng muốn một điều lớn hơn: điều Chúa muốn cho cộng đoàn này.
Và ở đây, ta chạm tới một chân lý rất sâu: muốn hiệp hành, phải biết từ bỏ. Không từ bỏ, sẽ không có hiệp hành. Không từ bỏ cái tôi, sẽ không có lắng nghe thật. Không từ bỏ thói quen phòng thủ, sẽ không có đối thoại thật. Không từ bỏ sự chiếm hữu âm thầm, sẽ không có đồng trách nhiệm thật. Không từ bỏ nhu cầu phải được công nhận, sẽ không có phục vụ tự do. Không từ bỏ những định kiến đã bám rễ, sẽ không có chỗ cho sự khác biệt trở thành phong phú. Và không từ bỏ sự sợ hãi, sẽ không có can đảm bước ra những con đường mới mà Thánh Thần đang mời gọi.
Nói đến từ bỏ, người ta thường sợ, vì nghĩ đó là mất mát. Nhưng trong Tin Mừng, từ bỏ không phải là mất để nghèo đi, mà là mất để lòng được rộng hơn. Mất đi cái khư khư giữ mình, để nhận lại khả năng hiệp thông. Mất đi sự tự mãn, để nhận lại niềm vui học hỏi. Mất đi sự cứng cỏi, để nhận lại sự mềm mại của tình yêu. Mất đi cách sống chỉ quanh quẩn với mình, để nhận lại một cộng đoàn như gia đình thiêng liêng thật. Có những thứ ta phải mất mới thấy mình được. Có những điều phải chết đi mới sinh hoa trái. Cái tôi là một trong những điều ấy. Càng giữ nó, lòng càng chật. Càng bảo vệ nó, đời sống cộng đoàn càng khó thở. Càng nuôi nó, đức tin càng bị thu hẹp lại trong một thế giới xoay quanh cảm xúc và quyền lợi của mình. Nhưng khi để Chúa đụng vào nó, bẻ nó ra, làm nó nhỏ lại, lòng ta bắt đầu có chỗ cho Chúa và cho anh chị em.
Có thể nói, kết thúc của đại đề tài này không nằm ở chỗ ta hiểu thêm về hiệp hành, nhưng ở chỗ ta có dám bước vào một lối sống mới hay không. Một lối sống trong đó tôi không còn đến với cộng đoàn như người đứng ngoài để quan sát và nhận xét, nhưng như người thuộc về, người có trách nhiệm, người biết góp phần bằng sự khiêm tốn. Một lối sống trong đó tôi không chỉ chờ được nghe, nhưng cũng biết nghe người khác. Không chỉ mong được thông cảm, nhưng cũng biết cảm thông. Không chỉ thấy nỗi đau của mình, nhưng cũng biết chạm đến nỗi đau của người khác. Không chỉ yêu Giáo Hội khi Giáo Hội đem lại cho tôi sự nâng đỡ, nhưng còn yêu Giáo Hội cả khi Giáo Hội mang những khuôn mặt rất người, rất yếu, rất bất toàn. Yêu như thế mới là yêu trưởng thành. Yêu như thế mới giống Chúa.
Vì thật ra, ai trong chúng ta cũng dễ yêu một Giáo Hội đẹp theo ý mình. Một Giáo Hội không làm mình thất vọng. Một cộng đoàn không gây phiền cho mình. Một môi trường nơi người khác cư xử đúng như mình muốn. Nhưng Chúa lại đặt ta trong một Giáo Hội có thực, không phải trong một Giáo Hội tưởng tượng. Một Giáo Hội có những người đạo đức nhưng cũng có những người vụng về. Có những người quảng đại nhưng cũng có những người còn khép kín. Có những lúc rất đẹp nhưng cũng có những lúc rất mệt. Có những quyết định khôn ngoan nhưng cũng có những thiếu sót, những chậm chạp, những giới hạn. Và chính trong một Giáo Hội như thế, Chúa hỏi ta: con có còn yêu không? Con có còn ở lại không? Con có còn cầu nguyện không? Con có còn góp phần chữa lành không? Con có còn chọn hiệp nhất thay vì nuôi chia rẽ không? Con có còn tin rằng Thánh Thần đang làm việc giữa tất cả những bất toàn này không?
Đó là chỗ mà hoán cải bước vào tầng sâu nhất: hoán cải không chỉ để tôi nên tốt hơn, nhưng để tôi biết yêu Giáo Hội theo cách của Đức Kitô. Đức Kitô yêu Giáo Hội không phải vì Giáo Hội đã hoàn hảo, nhưng để làm cho Giáo Hội nên tinh tuyền hơn. Người yêu cho đến hiến mình. Yêu cho đến chịu đựng. Yêu cho đến tha thứ. Yêu cho đến rửa chân. Yêu cho đến đổ máu ra để quy tụ những kẻ tản mác. Và nếu ta thực sự muốn sống chiều kích hoán cải vì một Giáo Hội hiệp hành, thì cuối cùng ta cũng phải đi vào chính con đường ấy: yêu Giáo Hội không bằng chiếm hữu, không bằng phê phán từ xa, không bằng đòi hỏi người khác phải hoàn hảo trước, nhưng bằng hiến dâng, bằng cầu nguyện, bằng kiên nhẫn, bằng sự thật đi cùng lòng thương xót.
Có lẽ một trong những điều đẹp nhất mà một cộng đoàn có thể làm sau một hành trình tĩnh tâm như thế này, đó là cùng nhau xin ơn khiêm tốn. Bởi khiêm tốn là cửa ngõ của hiệp hành. Người khiêm tốn mới biết mình không phải là tất cả. Người khiêm tốn mới không sợ nghe điều trái ý. Người khiêm tốn mới có thể nhận lỗi mà không tan vỡ. Người khiêm tốn mới dám học từ người khác. Người khiêm tốn mới phục vụ mà không biến phục vụ thành nơi nuôi cái tôi. Người khiêm tốn mới để cho Chúa làm điều mới nơi mình. Và một cộng đoàn có nhiều người khiêm tốn là một cộng đoàn có tương lai. Không phải vì cộng đoàn ấy không có vấn đề, nhưng vì cộng đoàn ấy có khả năng chữa lành, có khả năng bắt đầu lại, có khả năng lắng nghe Thánh Thần.
Nhưng bên cạnh khiêm tốn, còn cần một ơn khác nữa: ơn can đảm. Vì hoán cải không chỉ cần nước mắt, mà còn cần quyết định. Có những người xúc động thật trong giờ cầu nguyện, nhưng khi trở về đời thường lại tiếp tục lối cũ. Có những người thấy điều Chúa mời gọi rất rõ, nhưng không dám bước một bước nhỏ nào vì sợ thay đổi. Có những người biết mình phải đi làm hòa, phải xin lỗi, phải bỏ một cách cư xử, phải sửa một lối nói, phải thôi giữ một thành kiến, phải mở ra cho một người mình đang khép lòng, nhưng lại trì hoãn hết ngày này qua ngày khác. Can đảm là dám bắt đầu. Dám làm một việc nhỏ nhưng thật. Dám chấp nhận mình không thể đổi cả cộng đoàn ngay, nhưng vẫn chọn đổi chính mình hôm nay. Dám từ bỏ một thói quen đã làm người khác đau. Dám chậm lại trong một cuộc họp để nghe kỹ hơn. Dám cầu nguyện trước khi phản ứng. Dám không để lời nói của mình trở thành vết thương. Dám để người khác lớn lên mà không thấy lòng mình bị thu hẹp.
Và rồi, khi nói đến kết thúc, ta cũng phải nói đến hy vọng. Bởi nếu không có hy vọng, mọi lời mời gọi hoán cải sẽ dễ trở thành nặng nề. Ta nhìn vào lòng mình và thấy nhiều điều chưa đẹp. Ta nhìn vào cộng đoàn và thấy nhiều điều chưa sáng. Ta nhìn vào Giáo Hội và thấy những thử thách không nhỏ. Nhưng chính trong hoàn cảnh ấy, người tín hữu được mời gọi hy vọng. Không phải hy vọng vì mọi sự dễ dàng. Không phải hy vọng vì con người tài giỏi. Nhưng hy vọng vì Chúa Thánh Thần vẫn đang hoạt động. Vẫn đang kiên nhẫn. Vẫn đang đánh động. Vẫn đang sửa dạy. Vẫn đang quy tụ. Vẫn đang làm nảy mầm từ những gì rất nhỏ bé. Có những đổi thay rất âm thầm mà mắt thường không thấy ngay. Có những cuộc hoán cải diễn ra lặng lẽ trong một trái tim, nhưng lại mở ra một mùa mới cho cả cộng đoàn. Có những giọt nước mắt sám hối không ai biết, nhưng được Chúa dùng để tưới mát một vùng đất đã khô cứng từ lâu.
Cho nên, bế mạc không kết thúc bằng một cảm giác nặng nề rằng chúng ta còn quá nhiều điều phải làm. Nó kết thúc trong niềm tin rằng Chúa vẫn đang đi với chúng ta. Chúa không đòi ta trở nên hoàn hảo ngay tức khắc. Chúa chỉ mời ta thành thật hơn, mềm hơn, khiêm tốn hơn, sẵn sàng hơn. Chúa không đòi một cộng đoàn ngày mai phải trở thành hình ảnh lý tưởng ngay, nhưng Chúa chờ thấy hôm nay có ít nhất một vài cánh cửa được mở ra. Một vài trái tim chịu để Ngài chạm tới. Một vài cái tôi chịu lùi lại. Một vài thành kiến chịu tan đi. Một vài lời xin lỗi được nói ra. Một vài cuộc gặp gỡ được làm mới bằng tinh thần Tin Mừng. Một vài người quyết định không đứng ngoài nữa, nhưng bước vào trách nhiệm yêu thương. Từ những điều rất nhỏ như thế, Chúa làm nên những đổi thay lớn.
Vậy thì, nếu phải để lại cho cộng đoàn một lời cuối cùng sau toàn bộ hành trình này, có lẽ lời ấy là thế này: đừng sợ hoán cải. Đừng sợ phải nhìn lại mình. Đừng sợ phải nhỏ đi để cộng đoàn lớn lên. Đừng sợ phải lắng nghe điều làm mình khó chịu. Đừng sợ phải bỏ một chỗ đứng không còn cần thiết. Đừng sợ phải tập yêu người khác theo cách khó hơn. Đừng sợ phải bước đi với những người không giống mình. Đừng sợ khi phải để Chúa bẻ gãy nơi mình điều đã làm mình cứng lại từ lâu. Bởi bên kia của hoán cải không phải là mất mát, nhưng là tự do. Không phải là bị hạ xuống, nhưng là được giải thoát khỏi cái tôi nặng nề. Không phải là nghèo đi, nhưng là giàu lên trong hiệp thông. Không phải là yếu đi, nhưng là mạnh lên trong ân sủng.
Và giờ đây, trong bầu khí của giờ bế mạc này, có lẽ điều đẹp nhất là chúng ta cùng đặt mình trước mặt Chúa với một lời nguyện rất sâu:
Lạy Chúa,
sau những ngày suy niệm, sau những giờ lắng nghe, sau bao điều được đánh động,
xin đừng để chúng con chỉ mang về vài cảm xúc đẹp,
nhưng xin cho chúng con mang về một trái tim khác.
Xin cho chúng con đừng chỉ nhớ những ý tưởng hay,
nhưng biết bắt đầu lại từ chính đời sống mình.
Xin cho chúng con đừng chỉ chờ người khác thay đổi,
nhưng biết để Chúa đổi mới chính chúng con trước.
Xin tha cho chúng con
vì nhiều khi chúng con yêu Giáo Hội mà vẫn làm Giáo Hội đau,
phục vụ cộng đoàn mà vẫn làm cộng đoàn nặng,
nói về hiệp thông mà vẫn giữ lòng chia cách,
nói về lắng nghe mà vẫn sống trong tự ái,
nói về Thánh Thần mà vẫn muốn ý mình thắng.
Xin thương lấy khỏi lòng chúng con
sự kiêu ngạo tinh vi,
nỗi sợ mất chỗ,
thói quen phán xét,
lời nói gây thương tích,
sự khép kín trước điều mới mẻ của Chúa,
và tất cả những gì đang làm trái tim chúng con trở nên chật hẹp.
Xin ban cho chúng con
một trái tim biết lắng nghe,
một trí lòng biết phân định,
một tâm hồn biết cúi xuống,
một đức tin biết cầu nguyện,
một tình yêu biết ở lại,
một niềm hy vọng không tắt giữa những giới hạn rất người.
Xin cho giáo dân biết sống đạo không thụ động nhưng đầy trách nhiệm.
Xin cho hội đồng mục vụ biết điều hành bằng tinh thần cầu nguyện và khiêm tốn.
Xin cho tu sĩ biết sống đời thánh hiến với trái tim rộng cho cộng đoàn và cho dân Chúa.
Xin cho chủng sinh biết chuẩn bị cho chức vụ tương lai bằng sự thật nội tâm và tinh thần hiệp thông.
Xin cho các mục tử biết dẫn dắt mà không chiếm hữu, biết lắng nghe mà không sợ hãi, biết phục vụ mà không tìm mình.
Xin cho cộng đoàn chúng con
không chỉ là nơi người ta tụ họp,
nhưng là nơi người ta thực sự thuộc về nhau trong Chúa.
Không chỉ là nơi có nhiều sinh hoạt,
nhưng là nơi có nhiều hoán cải.
Không chỉ là nơi giữ được nề nếp,
nhưng là nơi có hơi thở của Thánh Thần.
Không chỉ là nơi nói về tình yêu,
nhưng là nơi tình yêu được sống thật trong những điều rất nhỏ.
Và lạy Chúa,
nếu phải bắt đầu lại từ một điều thôi,
xin cho chúng con bắt đầu từ việc mở lòng cho Ngài.
Nếu phải thay đổi từ một nơi thôi,
xin cho nơi ấy là trái tim của chúng con.
Nếu phải bước một bước thôi,
xin cho đó là bước ra khỏi cái tôi để đi vào hiệp thông.
Nếu phải giữ một điều thôi sau kỳ tĩnh tâm này,
xin cho đó là khát vọng sống như Đức Kitô:
khiêm nhường hơn,
lắng nghe hơn,
quảng đại hơn,
và thuộc trọn về Chúa hơn.
Xin cho hành trình hoán cải của mỗi người chúng con
trở thành ánh sáng nhỏ góp vào ánh sáng lớn của Giáo Hội.
Để rồi, giữa một thế giới chia rẽ và mỏi mệt,
Giáo Hội của Chúa thật sự trở thành
một mái nhà của hiệp thông,
một trường học của lắng nghe,
một cộng đoàn của phân định,
một dân đang cùng nhau bước đi,
và một chứng tá sống động của Tin Mừng.
Amen.
Lm. Anmai, CSsR












