Phụng vụ Thánh Lễ – lời nguyện – suy niệm (video – bản văn) ngày 13 tháng 9 năm 2026

23

TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO – NGÀY 13 THÁNG 9 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp

Chúa Nhật 24 TN THA THỨ ĐỂ ĐƯỢC TỰ DO, THA THỨ VÌ ĐÃ ĐƯỢC XÓT THƯƠNG – Lm. Anmai, CSsR


Chúa Nhật 24 TN THA THỨ ĐỂ … – Lm. Anmai, CSsR

NGƯỜI VỢ ĐỂ LẠI ĐƠN LY HÔN RỒI THEO TÌNH TRẺ, BỐ VỢ LÂM BỆNH NẶNG, TÔI VẪN Ở LẠI CHĂM ÔNG – phần 1 –

NGƯỜI VỢ ĐỂ LẠI ĐƠN LY HÔN RỒI THEO TÌNH TRẺ, BỐ VỢ LÂM BỆNH NẶNG, TÔI VẪN Ở LẠI CHĂM ÔNG – phần 2

NGƯỜI VỢ ĐỂ LẠI ĐƠN LY HÔN RỒI THEO TÌNH TRẺ, BỐ VỢ LÂM BỆNH NẶNG, TÔI VẪN Ở LẠI CHĂM ÔNG – phần 3

NGƯỜI VỢ ĐỂ LẠI ĐƠN LY HÔN RỒI THEO TÌNH TRẺ, BỐ VỢ LÂM BỆNH NẶNG, TÔI VẪN Ở LẠI CHĂM ÔNG – phần 4

LỜI NGUYỆN SÁNG: XIN CHO CON BIẾT BUÔNG BỎ VÀ THỨ THA
Lạy Chúa Giêsu giàu lòng thương xót, trong ánh sáng của ngày mới, con khiêm tốn đến trước Chúa với tất cả con người thật của mình. Con cảm tạ Chúa đã gìn giữ con qua một đêm bình an, lại ban cho con một ngày sống mới để yêu thương, sửa đổi và bắt đầu lại. Chúa biết trong lòng con vẫn còn những giận hờn, tự ái, thành kiến và ký ức đau buồn mà con đã ôm giữ quá lâu. Có những người chỉ làm con tổn thương một lần, nhưng vì không chịu buông bỏ, con đã để vết thương ấy tiếp tục làm mình đau thêm nhiều lần. Có những lỗi lầm của anh chị em con nhớ rất rõ, trong khi biết bao lần Chúa tha thứ cho con, con lại chóng quên. Xin Chúa mở bàn tay đang nắm chặt của con, lấy khỏi lòng con mọi cay đắng và giải thoát con khỏi nhà tù của quá khứ.
Lạy Chúa, Chúa không bảo con chỉ tha thứ bảy lần, nhưng tha đến bảy mươi lần bảy. Xin cho con hiểu rằng tha thứ không phải là phủ nhận vết thương, dung túng điều xấu hay xem nhẹ công lý, nhưng là trao quyền xét xử cho Chúa và không để hận thù điều khiển đời mình. Khi ký ức cũ trở về, xin giúp con tiếp tục chọn lòng thương xót. Khi chưa đủ sức tha thứ trọn vẹn, xin ban cho con lòng muốn tha thứ. Khi tự ái ngăn con bước tới, xin ban cho con sự khiêm nhường để nói một lời xin lỗi, thực hiện một cuộc gặp gỡ và mở ra con đường hòa giải. Xin cho con luôn nhớ món nợ lớn lao Chúa đã xóa cho con, để con không còn bóp nghẹt anh chị em vì những món nợ nhỏ bé của họ.
Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, trên thập giá, đôi tay Chúa mở rộng để ôm lấy cả những người xúc phạm và hành hạ Chúa. Sáng hôm nay, con xin đặt dưới chân thập giá mọi oán hờn, ganh tị, xét đoán và kiêu căng. Xin làm cho trái tim con nên giống Trái Tim Chúa: dịu dàng trước sự yếu đuối, kiên nhẫn trước lỗi lầm và quảng đại trong tha thứ. Xin đừng để lời nói hay thái độ của con gây thêm thương tích cho bất cứ ai. Xin giúp con hôm nay biết nói một lời xây dựng, biết im lặng trước điều có thể gây chia rẽ, biết cầu nguyện cho người làm con đau và biết đi bước trước để kiến tạo bình an. Xin cho con biết sống như người đã được Chúa tha thứ, để lòng thương xót con nhận lãnh không dừng lại nơi con nhưng tiếp tục chảy đến gia đình, cộng đoàn và mọi người con gặp gỡ. Lạy Chúa, xin giải thoát con khỏi gánh nặng oán hờn, cho đôi tay con được tự do ôm lấy yêu thương và cho tâm hồn con trở thành mái nhà của bình an. Amen.
Lm. Anmai, CSsR

PHỤNG VỤ THÁNH LỄ
Dẫn vào Thánh lễ
Anh chị em thân mến! Thiên Chúa là đấng sáng tạo, nuôi dưỡng và chăm sóc mọi loài trong vũ trụ này, Ngài là Đấng từ bi và hay thương xót, chậm bất bình và hết sức khoan nhân. Vì vậy, Chúa ban bình an cho những ai trông cậy vào Ngài.
Giờ đây, chúng ta cùng nhau hiệp lòng, hiệp ý để dâng lên Chúa Thánh Lễ tạ ơn và để biểu tỏ tính thiện chí của mỗi người đối với cộng đoàn, bằng sự khiêm nhường từ nội tâm, khát mong cảm nghiệm được hiệu quả ơn tha thứ của Chúa và của anh chị em, ngay trong đời sống trần gian này.
Ca nhập lễ
Lạy Chúa, xin ban bình an cho những ai trông cậy vào Chúa, xin cho các tiên tri của Chúa được trung trực; xin nhậm lời cầu nguyện của tôi tớ Chúa, và của Is-ra-el dân Chúa.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa là Ðấng sáng tạo và điều khiển muôn loài, xin nhìn đến chúng con và cho chúng con biết tận tình thờ phượng Chúa, hầu luôn được cảm thấy rõ ràng lòng Chúa yêu thương. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc I: Hc 27, 33 – 28, 9
“Hãy tha thứ cho kẻ làm hại ngươi, thì khi ngươi cầu nguyện, ngươi sẽ được tha”.
Trích sách Huấn Ca.
Thịnh nộ và giận dữ, cả hai đều đáng ghê tởm, người có tội đều mắc cả hai. Ai muốn báo thù, sẽ bị Chúa báo thù, và Chúa nghiêm trị tội lỗi nó. Ngươi hãy tha thứ cho kẻ làm hại ngươi, thì khi ngươi cầu nguyện, ngươi sẽ được tha. Người này tích lòng giận ghét người kia, mà dám xin Chúa cứu chữa sao? Nó chẳng thương xót người đồng loại với nó, mà còn cầu xin tha thứ tội lỗi nó làm sao? Nó là xác thịt mà tích lòng thịnh nộ, thì dám xin Chúa tha thứ làm sao? Ai sẽ khẩn cầu cho tội ác nó?
Ngươi hãy nhớ đến điều sau hết, và chấm dứt hận thù: hãy nhớ đến sự hư nát và sự chết, hãy trung thành với các giới răn. Hãy nhớ kính sợ Thiên Chúa, và đừng giận ghét kẻ khác. Hãy nhớ đến giao ước của Ðấng Tối Cao, và hãy bỏ qua sự lầm lỗi của kẻ khác.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 102, 1-2. 3-4. 9-10. 11-12
Ðáp: Chúa là Ðấng từ bi và hay thương xót, chậm bất bình và hết sức khoan nhân
Xướng: Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, toàn thể con người tôi, hãy chúc tụng thánh danh Người. Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, và chớ khá quên mọi ân huệ của Người.
Xướng: Người đã thứ tha cho mọi điều sai lỗi, và chữa ngươi khỏi mọi tật nguyền. Người chuộc mạng ngươi khỏi chỗ vong thân; Người đội đầu ngươi bằng mão từ bi, ân sủng.
Xướng: Người không chấp tranh triệt để, cũng không đời đời giữ thế căm hờn. Người không xử với chúng tôi như chúng tôi đắc tội, và không trả đũa theo điều oan trái chúng tôi.
Xướng: Nhưng cũng như trời xanh cao vượt trên trái đất, lòng nhân hậu Người còn siêu việt hơn thế trên kẻ kính sợ Người. Cũng như từ đông sang tây xa vời vợi, Người đã ném tội lỗi xa khỏi chúng tôi.
Bài Ðọc II: Rm 14, 7-9
“Dù chúng ta sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Anh em thân mến, không ai trong anh em được sống cho mình, và cũng không ai chết cho mình. Vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa; nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Vậy, dù sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa. Vì lẽ ấy, nếu Ðức Kitô đã chết và sống lại, là để cai trị kẻ sống và kẻ chết.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: Ga 6, 64b và 69b
Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, lời của Chúa là thần trí và là sự sống, Chúa có lời ban sự sống đời đời. – Alleluia.
Phúc Âm: Mt 18, 21-35
“Thầy không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Phêrô đến thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Lạy Thầy, khi anh em xúc phạm đến con, con phải tha thứ cho họ mấy lần. Có phải đến bảy lần không?” Chúa Giêsu đáp: “Thầy không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy.
“Về vấn đề này, thì Nước Trời cũng giống như ông vua kia muốn tính sổ với các đầy tớ. Trước hết, người ta dẫn đến vua một người mắc nợ mười ngàn nén bạc. Người này không có gì trả, nên chủ ra lệnh bán y, vợ con và tất cả tài sản của y để trả hết nợ. Người đầy tớ liền sấp mình dưới chân chủ và van lơn rằng: “Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn và tôi sẽ trả cho ngài tất cả”. Người chủ động lòng thương, trả tự do và tha nợ cho y.
“Khi ra về, tên đầy tớ gặp một người bạn mắc nợ y một trăm bạc: Y tóm lấy, bóp cổ mà nói rằng: “Hãy trả nợ cho ta”. Bấy giờ người bạn sấp mình dưới chân và van lơn rằng: “Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn, tôi sẽ trả hết nợ cho anh”. Y không nghe, bắt người bạn tống giam vào ngục, cho đến khi trả nợ xong.
“Các bạn y chứng kiến cảnh tượng đó, rất khổ tâm, họ liền đi thuật với chủ tất cả câu truyện. Bấy giờ chủ đòi y đến vào bảo rằng: “Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta; còn ngươi, sao ngươi không chịu thương bạn ngươi như ta đã thương ngươi?” Chủ nổi giận, trao y cho lý hình hành hạ, cho đến khi trả hết nợ.
“Vậy Cha Ta trên trời cũng xử với các con đúng như thế, nếu mỗi người trong các con không hết lòng tha thứ cho anh em mình”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tín hữu
MẪU 1
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Trong cuộc hành trình bước theo Đức Kitô, Con Thiên Chúa, chúng ta xác tin rằng: Thiên Chúa luôn nâng đỡ mỗi người bằng tình yêu và quyền năng của Ngài. Vì thế, chúng ta cùng tha thiết cậy trông dâng lên Chúa những lời nguyện xin :
1. “Ai muốn báo thù, sẽ bị Chúa báo thù, và Chúa nghiêm trị tội lỗi nó”. – Xin thanh tẩy những bất hòa, chia rẽ trong Hội Thánh, để mọi người được hiệp nhất trong cùng một Chúa Thánh Thần, dưới sự lãnh đạo của các vị Chủ chăn. Nhờ đó mọi người đến với Hội Thánh hưởng tình bác ái chân thành.
2. “Không ai trong anh em được sống cho mình”. – Xin Chúa gia tăng trong Hội Thánh những thợ nhiệt tâm rao giảng Tin Mừng, để dưới ánh sáng Lời Chúa, con người biết sống yêu thương, và hưởng nền hòa bình trong công lý và tình thương.
3. “Lạy Thầy, khi anh em xúc phạm đến con, con phải tha thứ cho họ mấy lẩn”. – Xin cho các tín hữu quên đi những cạnh tranh trong cuộc sống, quên đi những hận thù ghen ghét, mà phát triển con người Kitô hữu là sống yêu thương, tha thứ, xóa bỏ oán thù để xứng đáng là những kẻ tin theo Chúa.
4. “Sao ngươi không chịu thương bạn ngươi như ta thương ngươi”. – Xin cho tội nhân thấu hiểu được lòng Chúa khoan dung nhân hậu, để họ nhận biết lỗi lầm, thực tình thông hối và quyết tâm trở về với Chúa qua Bí tích Hòa Giải.
Chủ tế: Lạy Chúa, chúng con chỉ là những con nợ bất lực trước món nợ tình thương của Chúa. Xin cho chúng con luôn nhớ đến lòng thương xót Chúa mà sống khiêm tốn, tha thứ cho nhau một cách chân thành, để khi chúng con đọc chung kinh Lạy Cha, chúng con xứng đáng lãnh nhận ơn tha thứ. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.
MẪU 2
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Thiên Chúa là tình yêu. Ngài mời gọi mỗi người sống tinh thần yêu thương và luôn tha thứ cho nhau. Tin tưởng vào tình thương của Chúa, chúng ta cùng dâng lên Chúa những lời nguyện xin:
1. “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các vị mục tử trong Hội Thánh, luôn có tấm lòng nhân ái, bao dung, để trở nên dấu chỉ của lòng Chúa xót thương cho mọi người.
2. “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các nhà lãnh đạo quốc gia, biết lấy tình yêu và tha thứ để giải quyết các tranh chấp, xung đột, hầu mọi người được sống bình an, và hạnh phúc.
3. “Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho những người đang hấp hối biết tin tưởng và phó thác vào tình thương của Chúa, nhờ đó được mạnh sức tiến về Quê Trời.
4.“Tôn chủ của viên đầy tớ ấy chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho cộng đoàn chúng ta, biết thấm nhuần lời dạy của Đức Ki-tô, sẵn sàng tha thứ cho những kẻ xúc phạm đến mình.
Chủ tế: Lạy Chúa là nguồn mạch từ bi nhân hậu, xin thương đoái nhận những ước nguyện chúng con thành khẩn dâng lên Chúa. Xin cho chúng con luôn ghi nhớ Lời Chúa Giê-su đã dạy, mà thực thi lòng yêu thương, tha thứ cho anh chị em mình. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin nghe lời chúng con cầu nguyện và thương nhận những lễ vật này để hiến lễ mỗi người chúng con dâng mà tôn vinh Danh Thánh, giúp mọi người đạt tới ơn cứu độ. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Ôi Thiên Chúa, cao quý thay ân sủng của Ngài. Con người ta tìm nương tựa trong bóng cánh của Ngài.
Hoặc đọc:
Chén chúc tụng mà chúng ta cầm lên chúc tụng Chúa, là thông hiệp với máu Chúa Kitô, và tấm bánh mà chúng ta bẻ ra, là thông phần vào mình Chúa.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, xin làm cho sức mạnh của bí tích này tràn ngập chúng con cả hồn lẫn xác, để chúng con không còn sống theo những cảm nghĩ tự nhiên, nhưng luôn theo ơn Thánh Thần hướng dẫn. Chúng con cầu xin…


KHI THA THỨ TRỞ THÀNH MỘT HÀNH VI QUẢNG ĐẠI
Một trong những điều khó khăn nhất đối với một linh mục có lẽ là phải đứng trước cộng đoàn để nói về tiền bạc, về sự đóng góp hay về những nhu cầu vật chất của giáo xứ. Khó không chỉ vì người linh mục sợ bị hiểu lầm là quá quan tâm đến tiền, nhưng còn vì việc ngửa tay xin người khác giúp đỡ luôn khiến người ta cảm thấy mình đang mang một món nợ. Khi nhận một món quà, một sự hỗ trợ hay một ân huệ, ta có thể tự hỏi: rồi đây người cho sẽ mong đợi điều gì nơi mình? Liệu món quà ấy có đi kèm với một yêu cầu chưa được nói ra không? Liệu một ngày nào đó, khi ta không thể đáp ứng một nguyện vọng đặc biệt, người ấy có nhắc lại những gì họ từng làm cho ta không? Bởi vậy, người ta có thể sợ nhận quà, không phải vì không biết ơn, nhưng vì sợ món quà hôm nay trở thành một sợi dây ràng buộc ngày mai. Giữa con người với nhau, lòng quảng đại đôi khi bị biến thành một cuộc trao đổi: tôi cho anh điều này, rồi tôi chờ anh trả lại cho tôi một điều khác; tôi giúp anh lúc khó khăn, rồi tôi xem anh có đứng về phía tôi khi tôi cần không; tôi đối xử tốt với anh, nên tôi mặc nhiên nghĩ rằng anh phải cư xử theo ý tôi. Khi sự cho đi mang theo những điều kiện ngầm như thế, món quà không còn hoàn toàn là quà tặng, nhưng trở thành một thứ hợp đồng không được viết thành lời. Chính từ kinh nghiệm rất đời thường ấy, chúng ta có thể bước vào sứ điệp của Lời Chúa hôm nay, một sứ điệp tưởng như chỉ nói về tha thứ, nhưng sâu xa lại nói về lòng quảng đại, về món quà nhưng không, về một trái tim biết trao ban vì chính mình đã được trao ban quá nhiều.
Thoạt nghe, người ta có thể thắc mắc: tại sao đang nói về tha thứ lại nói đến sự quảng đại? Tha thứ và cho đi có liên hệ gì với nhau? Thưa rằng, tha thứ chính là một trong những hình thức cao quý nhất của sự trao ban. Khi tha thứ, ta không đưa cho người khác tiền bạc, cơm bánh hay một món đồ vật; ta trao cho họ một cơ hội, một con đường trở về, một khoảng trời để thở, một cánh cửa để bước qua, và đôi khi là cả một tương lai mà lỗi lầm của họ tưởng đã đóng kín. Tha thứ là trao lại cho người đã làm tổn thương ta phẩm giá mà cơn giận muốn tước khỏi họ; là không đồng hóa một con người với hành động xấu nhất họ đã làm; là nhìn nhận rằng người ấy đã phạm lỗi nhưng vẫn là một con người có thể được hoán cải, được chữa lành và được bắt đầu lại. Tha thứ còn là trao tự do cho chính mình, bởi khi không tha thứ, ta tưởng mình đang giam giữ kẻ có lỗi trong nhà tù của sự kết án, nhưng nhiều khi người bị giam cầm trước hết lại chính là ta. Ta mang người ấy trong đầu, nhắc lại câu nói của họ trong trí nhớ, dựng lại hành động của họ trong tâm hồn, xét xử họ mỗi ngày, và để một biến cố đã qua tiếp tục điều khiển hiện tại của mình. Ta tưởng không tha thứ là giữ lại công lý, nhưng đôi khi điều ta giữ lại chỉ là một vết thương không được chữa lành. Ta tưởng mình đang bắt người khác trả nợ, nhưng thật ra chính ta đang trả giá từng ngày bằng sự bình an, giấc ngủ, niềm vui, sức khỏe và khả năng yêu thương của mình.
Tha thứ đòi một tâm hồn quảng đại, bởi người tha thứ phải từ bỏ não trạng tính toán. Người không quảng đại luôn hỏi: người ấy nợ tôi bao nhiêu? Tôi đã chịu đựng đến mức nào? Tôi đã nhường nhịn mấy lần? Tôi đã chủ động làm hòa bao nhiêu lần? Tại sao lần nào cũng là tôi phải bước tới? Người kia đã xin lỗi đủ chân thành chưa? Họ đã trả giá đủ cho lỗi lầm của mình chưa? Những câu hỏi ấy không phải lúc nào cũng vô lý, vì tha thứ không có nghĩa là phủ nhận sự thật, dung túng điều ác hay xóa bỏ trách nhiệm. Tuy nhiên, nếu tất cả đời sống của ta chỉ được điều khiển bằng một cuốn sổ ghi nợ, nếu mọi tương quan đều bị cân đo bằng cán cân hơn thiệt, nếu ta chỉ yêu người yêu mình, chỉ tốt với người tốt với mình, chỉ tha cho người đã đền bù đầy đủ, thì cách sống ấy chưa vượt khỏi lôgíc trao đổi thông thường của thế gian. Tin Mừng mời ta bước xa hơn. Tin Mừng không dạy ta coi thường công lý, nhưng dẫn ta đến một thứ công lý được hoàn tất trong lòng thương xót. Công lý đòi gọi đúng tên điều sai trái; lòng thương xót không để điều sai trái ấy có tiếng nói cuối cùng. Công lý nhìn nhận món nợ; lòng thương xót mở ra con đường giải thoát người mắc nợ. Công lý bảo vệ sự thật; lòng thương xót bảo vệ con người khỏi bị tiêu diệt bởi chính lỗi lầm của họ. Nếu chỉ có công lý lạnh lùng, không ai trong chúng ta có thể đứng vững trước mặt Thiên Chúa; nhưng nếu lòng thương xót bị tách khỏi sự thật, tha thứ sẽ bị biến thành một thứ dễ dãi rẻ tiền. Nơi Đức Giêsu Kitô, công lý và lòng thương xót không loại trừ nhau: tội lỗi được nhìn nhận trong tất cả sự nghiêm trọng của nó, nhưng tội nhân lại được yêu thương đến cùng.
Bài đọc trích sách Huấn Ca cảnh tỉnh chúng ta bằng những lời rất mạnh: “Oán hờn và giận dữ là những điều ghê tởm, về chuyện đó kẻ tội lỗi có biệt tài.” Lời Chúa không xem sự oán giận chỉ là một cảm xúc vô hại. Cơn giận ban đầu có thể là phản ứng tự nhiên trước bất công, nhưng nếu được nuôi dưỡng, nó sẽ trở thành oán hờn; và khi oán hờn bén rễ, nó có khả năng biến đổi người bị tổn thương thành người tiếp tục gây tổn thương. Một người có thể bắt đầu là nạn nhân, nhưng nếu để hận thù chiếm hữu, họ có nguy cơ truyền lại cho người khác chính điều đã làm mình đau đớn. Có người từng bị coi thường nên về sau lại khinh miệt kẻ yếu hơn. Có người từng bị phản bội nên từ đó không còn tin ai và làm tổn thương cả những người vô tội. Có người từng bị đối xử hà khắc nên khi có quyền lại cư xử còn hà khắc hơn. Vết thương không được chữa lành thường tìm một thân thể khác để tiếp tục chảy máu. Bởi vậy, tha thứ không chỉ là giải quyết một chuyện đã xảy ra trong quá khứ; tha thứ còn là ngăn chặn sự dữ tiếp tục sinh sản trong hiện tại và tương lai. Tha thứ là nói với tội lỗi rằng: ngươi đã gây đau đớn cho tôi, nhưng ngươi sẽ không được quyền quyết định tôi trở thành người như thế nào. Tôi không để sự độc ác của người khác biến tôi thành một con người độc ác. Tôi không để sự phản bội của họ giết chết khả năng trung tín trong tôi. Tôi không để lời xúc phạm của họ tước mất sự dịu dàng mà Thiên Chúa đã gieo trong lòng tôi. Tôi không để bóng tối đi qua đời mình rồi tiếp tục truyền bóng tối sang những người khác.
Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Rôma đặt tha thứ vào một chân trời còn rộng lớn hơn: “Không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình.” Đây chính là căn nguyên của đời sống Kitô hữu. Ta không thuộc trọn về mình, nên ta cũng không thể coi cảm xúc của mình là luật tối cao. Ta thuộc về Chúa, khi sống cũng như khi chết. Nếu thuộc về Chúa, ta phải học nhìn người khác bằng ánh mắt của Chúa, đối xử với họ theo lòng Chúa và để cho lòng thương xót của Chúa trở thành thước đo của mình. Kẻ không tha thứ thường bị nhốt trong cái tôi bị tổn thương: tôi đau thế nào, tôi mất gì, danh dự của tôi bị xúc phạm ra sao, người ấy đã đối xử với tôi bất công đến mức nào. Những nỗi đau ấy là có thật và không được coi nhẹ. Nhưng đức tin mời ta bước ra khỏi nhà tù của cái tôi để nhìn thấy một sự thật lớn hơn: tôi là người đã được Chúa thương xót; tôi đang sống nhờ ân sủng; tôi đã được tha những món nợ không thể tự mình đền trả; và người đang làm tôi đau cũng là một thụ tạo được Thiên Chúa yêu thương, dù lúc này họ chưa sống xứng đáng với tình yêu ấy. Điều này không làm cho cái xấu trở thành cái tốt, nhưng giúp ta không biến người làm điều xấu thành một kẻ hoàn toàn không còn hy vọng. Khi ta chỉ sống cho mình, vết thương của ta trở thành trung tâm vũ trụ; nhưng khi sống cho Chúa, ngay cả vết thương ấy cũng có thể được đặt vào trong mầu nhiệm thập giá để trở thành nơi ân sủng hoạt động.
Tin Mừng theo thánh Mátthêu kể rằng ông Phêrô đến gần Đức Giêsu và hỏi: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải đến bảy lần không?” Xét theo cách suy nghĩ thông thường, đề nghị của Phêrô đã rất rộng rãi. Tha một lần đã khó; tha hai lần còn khó hơn; tha đến bảy lần dường như đã vượt quá giới hạn của một người bình thường. Có thể Phêrô chờ được Thầy khen: con thật quảng đại, con đã hiểu tinh thần của Nước Trời. Nhưng Đức Giêsu đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.” Chúa không đưa ra một con số mới để Phêrô thay đổi giới hạn từ bảy thành bốn trăm chín mươi. Nếu ta đếm đến lần thứ bốn trăm chín mươi rồi nhất quyết không tha lần tiếp theo, ta vẫn chưa hiểu lời Chúa. Đức Giêsu không muốn nâng mức giới hạn; Người muốn phá bỏ chính não trạng đặt giới hạn cho lòng thương xót. Tha thứ không phải là một món hàng được chia theo định mức. Lòng thương xót không phải chiếc đồng hồ đo lượng nước, dùng hết số quy định thì khóa lại. Người môn đệ không được sống với chiếc máy tính trên tay, bởi Thiên Chúa không cứu chúng ta bằng một phép tính. Nếu Chúa tính từng lần ta yếu đuối, từng ý nghĩ không ngay lành, từng lời nói thiếu bác ái, từng bổn phận bị bỏ quên, từng cơ hội yêu thương ta đã đánh mất, từng ân huệ ta đã lãng phí, liệu ai trong chúng ta còn đủ can đảm để ngẩng mặt lên?
Câu hỏi của Phêrô có vẻ đạo đức, nhưng vẫn đặt bản thân ông ở vị trí của một người chủ nợ: người anh em đã xúc phạm đến con, vậy con phải tha cho họ đến mức nào? Đức Giêsu trả lời bằng dụ ngôn để đổi hẳn vị trí của Phêrô và cũng đổi vị trí của chúng ta. Trước khi nghĩ mình là chủ nợ của người khác, hãy nhận ra mình đang là con nợ trước mặt Thiên Chúa. Trước khi hỏi người kia mắc nợ ta bao nhiêu, hãy nhìn lại món nợ chính ta đã được Chúa xóa bỏ. Trước khi đòi người khác trả lại cho ta danh dự, sự công bằng và niềm tin mà họ đã làm tổn thương, hãy nhớ rằng ta đang sống từng giây nhờ một ân huệ mà không bao giờ có thể hoàn trả cân xứng. Đây là cuộc hoán đổi cái nhìn rất quan trọng. Người chưa cảm nghiệm mình được tha thứ sẽ xem việc tha cho người khác là một gánh nặng phi lý. Người đã chạm đến lòng thương xót sẽ hiểu rằng tha thứ là để cho dòng nước mình đã nhận được tiếp tục chảy qua đời mình. Ân sủng bị giữ lại sẽ trở nên tù đọng; ân sủng được trao ban sẽ trở thành nguồn sống.
Trong dụ ngôn, một đầy tớ bị đưa đến trước mặt nhà vua vì mắc một món nợ khổng lồ. Số bạc anh ta nợ lớn đến mức không một đời người nào có thể trả nổi. Đó không phải là một khoản nợ cần thêm vài năm lao động, một kế hoạch tiết kiệm nghiêm túc hay một cuộc thương lượng khéo léo. Đó là món nợ tuyệt vọng. Thế nhưng người đầy tớ vẫn sấp mình xuống van xin: “Thưa Ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết.” Lời hứa ấy không thực tế. Anh ta không đủ khả năng trả. Có lẽ trong nỗi sợ hãi, con người thường hứa những điều mình không thể làm. Nhưng điều đáng kinh ngạc là nhà vua không chỉ cho anh ta thêm thời gian. Nếu chỉ hoãn nợ, anh ta vẫn còn bị trói buộc trong gánh nặng không thể thoát. Nhà vua làm điều vượt quá mọi mong đợi: động lòng thương, ông thả người đầy tớ ra và tha luôn món nợ. Anh ta xin trì hoãn, nhưng lại nhận được xóa nợ; xin thêm thời gian, nhưng được trao tự do; xin một chút kiên nhẫn, nhưng được cả một tương lai. Đó chính là cách Thiên Chúa hành động với chúng ta. Ta đến tòa giải tội với sự nghèo nàn, xấu hổ và những quyết tâm còn yếu đuối; ta không mang theo một thành tích đủ lớn để thuyết phục Chúa; ta chỉ có thể cúi mình thú nhận và cầu xin. Nhưng Thiên Chúa không miễn cưỡng bỏ qua. Người động lòng thương. Người không chỉ sửa lại hồ sơ của ta; Người phục hồi tương quan, trả lại phẩm giá người con và mở cho ta con đường trở về. Bí tích Hòa Giải không phải là nơi ta mua sự tha thứ bằng vài lời kinh đền tội. Không một kinh nguyện nào có thể mua được Máu Đức Kitô. Việc đền tội là lời đáp trả của lòng biết ơn, là bước khởi đầu của sự chữa lành, chứ không phải giá tiền của ơn tha thứ. Giá ấy đã được Đức Kitô trả bằng chính mạng sống của Người.
Bi kịch bắt đầu khi người đầy tớ vừa được tha món nợ khổng lồ bước ra ngoài và gặp một người bạn đồng liêu mắc nợ mình một số tiền rất nhỏ. Động từ “bước ra” thật đáng suy nghĩ. Anh ta đã bước ra khỏi cung điện của lòng thương xót nhưng lòng thương xót lại chưa bước vào trái tim anh ta. Anh đã được xóa nợ, nhưng chưa để cho ơn tha thứ biến đổi mình. Anh nhận được món quà, nhưng không học được tinh thần của người trao tặng. Anh túm lấy người bạn, bóp cổ mà nói: “Trả nợ cho tao!” Người bạn cũng sấp mình xuống và nài xin bằng gần như chính những lời anh đã nói trước mặt nhà vua: “Xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh.” Đáng lẽ những lời ấy phải đánh thức ký ức của anh. Đáng lẽ khi thấy người khác quỳ dưới chân mình, anh phải nhớ mình vừa quỳ dưới chân nhà vua. Đáng lẽ khi nghe lời van xin của người đồng liêu, anh phải nghe lại tiếng van xin của chính mình. Đáng lẽ bàn tay đang bóp cổ phải buông ra, vì cổ của anh vừa được tháo khỏi sợi dây nô lệ. Nhưng anh nhất định không chịu. Anh tống người bạn vào ngục cho đến khi trả xong nợ.
Điều làm chúng ta phẫn nộ không phải vì người bạn hoàn toàn không mắc nợ; món nợ ấy là thật. Điều bất công nằm ở chỗ người đầy tớ thứ nhất đòi hỏi một cách tàn nhẫn điều thuộc về mình ngay sau khi vừa nhận một ân huệ lớn lao vượt quá mọi quyền lợi. Anh ta muốn sống trong hai thế giới khác nhau: trước mặt nhà vua, anh xin được đối xử bằng lòng thương xót; trước mặt người đồng liêu, anh lại đòi áp dụng công lý đến đồng xu cuối cùng. Anh muốn nhận ân sủng nhưng không muốn trở thành người của ân sủng. Anh muốn Thiên Chúa đối xử với mình theo trái tim của Thiên Chúa, nhưng lại đối xử với tha nhân theo sự nhỏ hẹp của mình. Đó cũng là cám dỗ rất thật trong đời sống đạo. Ta cầu xin: “Xin Chúa thương xót chúng con,” nhưng khi ra khỏi nhà thờ, ta lại không thương xót người trong gia đình. Ta đọc: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con,” nhưng đôi khi miệng vừa đọc kinh, lòng đã điểm lại tên những người mình nhất định không tha. Ta quỳ trước tòa giải tội để xin Chúa xóa quá khứ của mình, nhưng lại dùng quá khứ của người khác làm vũ khí chống lại họ. Ta muốn Chúa nhớ đến điều tốt ít ỏi ta đã làm và quên đi vô số điều thiếu sót, nhưng ta lại quên mọi điều tốt của người khác và chỉ nhớ một lỗi lầm họ đã gây ra. Ta xin Chúa kiên nhẫn với quá trình hoán cải chậm chạp của mình, nhưng không đủ kiên nhẫn để chờ người khác thay đổi.
Câu hỏi quan trọng của dụ ngôn không phải chỉ là: tại sao người đầy tớ độc ác như thế? Câu hỏi phải đi sâu vào lòng mỗi người: tại sao một người đã được tha rất nhiều lại có thể tha quá ít? Có thể vì anh ta chỉ cảm thấy nhẹ nhõm mà chưa biết biết ơn. Nhẹ nhõm là vui vì mình thoát nạn; biết ơn là để ân huệ mình nhận được biến đổi cách mình đối xử với người khác. Người chỉ nhẹ nhõm sẽ tiếp tục sống như cũ khi nguy hiểm đã qua. Người biết ơn sẽ trở thành một con người mới. Có thể người đầy tớ chưa thực sự hiểu món nợ đã được tha lớn đến mức nào. Nếu không nhận ra mình đã được cứu khỏi vực sâu nào, ta sẽ coi lòng thương xót như một điều hiển nhiên. Ta có thể quen với việc xưng tội, quen nghe lời xá giải, quen rước lễ, quen nghe nói rằng Thiên Chúa yêu thương, đến mức mầu nhiệm ấy không còn làm trái tim ta rung động. Khi lòng thương xót trở thành một khái niệm quen tai thay vì một kinh nghiệm làm thay đổi cuộc đời, ta dễ dàng nhận ơn Chúa mà không biết thương người. Có thể người đầy tớ cũng nghĩ rằng việc nhà vua tha nợ là chuyện riêng giữa anh và nhà vua, không liên quan gì đến cách anh đối xử với đồng liêu. Nhưng trong Nước Thiên Chúa, lòng thương xót không bao giờ là một đặc ân khép kín. Ơn tha thứ luôn mang theo một sứ mạng: “Hãy đi và cũng hãy làm như vậy.”
Có người nói rằng tha thứ không tốn gì cả, bởi ta không phải mất tiền khi nói lời tha thứ. Nhưng nếu đã từng bị phản bội sâu xa, bị vu khống, bị bỏ rơi, bị lợi dụng, bị lạm dụng hoặc bị người mình tin tưởng làm tan nát tâm hồn, ta hiểu rằng tha thứ có thể rất đắt. Nó có thể làm ta mất đi cảm giác mình đang nắm quyền xét xử. Nó buộc ta từ bỏ niềm vui đen tối khi tưởng tượng người kia phải đau khổ như ta đã đau. Nó đòi ta buông khỏi tay món vũ khí được chế tạo từ ký ức. Nó có thể bắt ta đi qua nhiều đêm cầu nguyện, nhiều lần bật khóc, nhiều cuộc gặp gỡ với người hướng dẫn thiêng liêng, và đôi khi cả một hành trình trị liệu lâu dài. Tha thứ là một quà tặng nhưng không đối với người nhận, nhưng người trao thường phải trả giá bằng một cuộc chiến nội tâm. Tuy nhiên, sức mạnh để trả cái giá ấy không chỉ đến từ khả năng con người. Nó bắt nguồn từ thập giá Đức Kitô. Chúng ta có thể tha thứ không phải vì vết thương nhỏ, không phải vì điều ác không đáng kể, không phải vì kẻ có lỗi đã đền bù đầy đủ, nhưng vì Đức Kitô đã bước vào nơi sâu nhất của đau khổ và mở ra tại đó một nguồn mạch yêu thương mạnh hơn hận thù. Trên thập giá, Chúa không gọi điều ác là điều thiện; Người mang lấy hậu quả của tội lỗi và chiến thắng nó bằng tình yêu tự hiến. Lời “Lạy Cha, xin tha cho họ” không phát ra từ một nơi không đau, nhưng từ thân thể bị đóng đinh. Vì thế, tha thứ Kitô giáo không phải là một cảm xúc dễ chịu; đó là sự tham dự vào tình yêu chịu đóng đinh của Đức Kitô.
Ta cũng cần phân biệt rõ tha thứ với một số điều thường bị hiểu lầm. Tha thứ không có nghĩa là giả vờ như chẳng có chuyện gì xảy ra. Một vết thương bị phủ kín mà không được làm sạch sẽ dễ nhiễm độc. Muốn tha thứ thật, ta phải dám gọi đúng tên điều mình đã chịu, nhìn nhận thiệt hại và để sự thật được đưa ra ánh sáng. Tha thứ không có nghĩa là lập tức quên hết. Trí nhớ không phải chiếc bảng có thể lau sạch theo ý muốn. Có những biến cố sẽ còn được nhớ suốt đời, nhưng chúng có thể được nhớ theo một cách mới: không còn như chiếc móc kéo ta trở lại vực sâu, nhưng như vết sẹo nhắc rằng ta đã được Chúa đưa qua đau khổ. Tha thứ cũng không nhất thiết đồng nghĩa với hòa giải tức thời. Tha thứ có thể bắt đầu từ một phía, nhưng hòa giải cần sự thật, sự thống hối, trách nhiệm và thiện chí của cả hai phía. Nếu người gây hại vẫn tiếp tục làm điều ác, người bị hại có quyền và đôi khi có bổn phận giữ khoảng cách an toàn. Tha thứ không buộc một người vợ hoặc người chồng tiếp tục ở trong hoàn cảnh bạo hành. Tha thứ không cấm nạn nhân trình báo sự việc với cơ quan có trách nhiệm. Tha thứ không hủy bỏ bổn phận bảo vệ trẻ em, người yếu thế hay cộng đoàn khỏi nguy hiểm. Tha thứ không biến việc che giấu tội ác thành một nhân đức. Có thể vừa tha thứ vừa yêu cầu công lý; vừa không nuôi hận thù vừa thiết lập ranh giới; vừa cầu nguyện cho người gây hại vừa không cho phép họ tiếp tục làm hại mình và người khác. Lòng thương xót chân thật không tiếp tay cho sự dữ.
Tha thứ cũng không nhất thiết bắt đầu bằng cảm giác. Có người chờ đến khi lòng không còn đau, không còn giận, không còn bất cứ cảm xúc tiêu cực nào mới chịu tha. Nếu vậy, họ có thể phải chờ rất lâu. Tha thứ trước hết là một quyết định của ý chí được nâng đỡ bởi ân sủng: con không muốn trả thù; con không muốn sự dữ tiếp tục qua con; con trao quyền xét xử cuối cùng cho Thiên Chúa; con xin Chúa chữa lành điều con chưa thể tự chữa; con xin Chúa ban cho người ấy ơn hoán cải, dù hôm nay lòng con vẫn còn đau. Quyết định ấy có thể phải được lặp lại mỗi ngày. Hôm qua ta đã tha, nhưng sáng nay ký ức trở lại, ta lại phải trao nó cho Chúa. Một lời nói, một bức ảnh, một địa điểm hay một cuộc gặp bất ngờ có thể làm vết thương nhói lên. Điều đó không nhất thiết có nghĩa là ta chưa tha thứ; có thể chỉ có nghĩa là ta vẫn đang được chữa lành. Tha thứ “bảy mươi lần bảy” đôi khi không chỉ là tha cho bốn trăm chín mươi lỗi khác nhau, nhưng còn là tha đi tha lại một lỗi đã in quá sâu trong ký ức. Mỗi lần nỗi đau trồi lên, ta lại đặt nó dưới chân thập giá. Mỗi lần muốn nguyền rủa, ta lại tập cầu nguyện. Mỗi lần muốn kể lại câu chuyện để kết án, ta lại xin Chúa thanh luyện lời mình. Đây không phải là thất bại; đây là con đường dài của tự do.
Tại sao ta thấy khó tha thứ? Có lẽ vì ta đang mong tìm nơi con người điều chỉ có thể tìm thấy trọn vẹn nơi Thiên Chúa. Ta mong người khác hoàn toàn hiểu mình, không bao giờ phản bội, không bao giờ vô ơn, luôn nói đúng điều ta cần nghe, luôn đáp lại lòng tốt của ta cách cân xứng. Nhưng con người nào cũng giới hạn. Ngay cả người tốt nhất cũng có lúc mệt mỏi, ích kỷ, vụng về và mù lòa trước nỗi đau mình gây ra. Khi biến một người thành nguồn tuyệt đối của hạnh phúc, ta đặt lên họ một gánh nặng họ không thể mang và đặt trái tim mình vào một nguy cơ lớn. Chỉ Thiên Chúa mới không phản bội. Chỉ tình yêu của Người mới không cạn. Chỉ lòng trung tín của Người mới là nền đá không lay chuyển. Điều ấy không có nghĩa là các tương quan nhân loại không quan trọng, nhưng có nghĩa là ta phải yêu người khác trong Thiên Chúa, chứ không đòi họ đóng vai Thiên Chúa trong đời mình. Khi một thụ tạo không đáp ứng được kỳ vọng vô hạn của ta, ta có thể thất vọng và oán giận. Nhưng khi trái tim đã neo vào Thiên Chúa, ta có khả năng nhìn nhận sự giới hạn của người khác mà không để giới hạn ấy phá hủy mình.
Dụ ngôn mời ta đừng nhìn mãi vào món nợ nhỏ của người anh em, nhưng hãy nhìn vào món nợ vô cùng lớn đã được Thiên Chúa tha cho ta. Điều này không nhằm coi nhẹ nỗi đau của ta. Trước mặt Chúa, không một giọt nước mắt nào bị xem là nhỏ; không một vết thương nào bị chế giễu; không một bất công nào bị bỏ qua. Nhưng nếu chỉ nhìn vào người đã làm ta đau, ta sẽ thấy những giới hạn của họ; còn nếu nhìn lên Thiên Chúa, ta gặp đại dương lòng thương xót. Biển lòng thương xót ấy không phủ nhận những gì đã xảy ra, nhưng có khả năng nhận lấy, thanh tẩy và biến đổi mọi điều ta dám trao vào đó. Ngôn sứ Mikha đã thốt lên: “Người sẽ lại thương xót chúng ta, tội lỗi chúng ta, Người chà đạp dưới chân; mọi lỗi lầm chúng ta, Người ném xuống đáy biển.” Hình ảnh ấy thật đẹp: Thiên Chúa không giữ tội lỗi của kẻ biết sám hối trên mặt nước để thỉnh thoảng kéo lên nhắc lại. Người ném chúng xuống vực sâu lòng thương xót. Chúa không tha rồi tiếp tục dùng quá khứ để làm nhục ta. Người sửa dạy, nhưng không sỉ nhục; Người đưa sự thật ra ánh sáng, nhưng để cứu chữa chứ không phải để hủy diệt; Người nhớ đến ta bằng tình yêu, chứ không giam ta trong danh sách những thất bại.
Trong truyền thống Do Thái, vào dịp năm mới, có tập tục mang tính biểu tượng là đứng bên một dòng nước và giũ bỏ những mẩu vụn trong túi áo, như diễn tả ước nguyện được Thiên Chúa ném tội lỗi xuống lòng biển. Đó là một cử chỉ đơn sơ nhưng gợi lên một lời mời rất sâu: ta đang mang gì trong túi áo tâm hồn? Có thể là những lời xúc phạm đã nhiều năm nhưng ta vẫn giữ nguyên từng chữ. Có thể là một cuộc tranh chấp gia đình khiến anh chị em ruột không còn nhìn mặt nhau. Có thể là chuyện phân chia tài sản, một lời hứa không được giữ, một sự thiên vị của cha mẹ, một món tiền chưa được trả, một danh dự bị tổn thương. Có thể là nỗi đau trong đời hôn nhân, sự vô tâm của con cái, thái độ thiếu biết ơn của người ta từng hy sinh để phục vụ. Có thể là một lời phê bình trong cộng đoàn, một quyết định của bề trên, một lần bị hiểu lầm trong sứ vụ hay một việc tốt không được ai nhìn nhận. Ta đã nhét những mảnh vụn ấy vào túi và mang theo qua bao nhiêu năm. Ta đem chúng vào giờ cầu nguyện, vào bữa cơm, vào giấc ngủ, vào mọi cuộc gặp gỡ. Chúng không còn chỉ là ký ức; chúng trở thành căn tính: tôi là người đã bị phản bội, tôi là người bị đối xử bất công, tôi là người không ai hiểu. Nhưng Chúa mời ta đứng trước đại dương lòng thương xót và mở bàn tay ra. Buông không có nghĩa là chuyện ấy không quan trọng; buông có nghĩa là ta không còn muốn nó làm chủ đời mình.
Đại dương lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn tội lỗi của ta, lớn hơn hành trang cảm xúc ta mang, lớn hơn mọi tổn thương và cay đắng. Ta có thể ném xuống đó tất cả những gì đang làm lòng mình nặng nề, nhưng không bao giờ làm cạn được lòng thương xót của Chúa. Một dòng sông đục chảy vào biển không thể khiến đại dương trở thành bùn lầy; chính sự mênh mông của biển có khả năng đón nhận và thanh lọc. Cũng vậy, ta không cần phải làm cho mình trở nên hoàn hảo rồi mới đến với Chúa. Hãy đến với những vết thương còn rỉ máu, với cơn giận chưa lắng, với những câu hỏi chưa có lời đáp, với cả sự bất lực không thể tha thứ. Ta có thể nói thật: “Lạy Chúa, con biết Chúa mời con tha, nhưng con chưa làm được. Con không muốn sống trong hận thù, nhưng lòng con vẫn đau. Xin đừng để sự yếu đuối này tách con khỏi Chúa. Xin tha thứ cho sự cứng lòng của con và từ từ dạy con tha thứ.” Một lời cầu nguyện thành thật như thế quý hơn nhiều lời đạo đức chỉ được nói trên môi. Thiên Chúa không đòi ta tự kéo mình ra khỏi vực sâu bằng sức riêng; Người đưa tay xuống và kiên nhẫn dẫn ta đi từng bước.
Điều cần thiết là ta phải để mình được tha thứ trước. Có những người khó tha cho người khác vì sâu xa họ chưa chấp nhận chính mình được tha. Họ sống với mặc cảm tội lỗi, tự kết án, luôn nghĩ mình không xứng đáng với tình yêu của Chúa. Khi chưa tin rằng Chúa có thể xóa nợ cho mình, họ cũng khó tin rằng món nợ của người khác có thể được xóa. Người nghiêm khắc quá mức với bản thân thường dễ nghiêm khắc với tha nhân. Người không chấp nhận sự yếu đuối của mình cũng khó kiên nhẫn trước sự yếu đuối của người khác. Vì thế, hành trình tha thứ không chỉ bắt đầu bằng việc nhìn người đã làm ta đau; nó bắt đầu trong cuộc gặp gỡ cá vị với Đức Kitô, Đấng nhìn thấy tất cả sự thật về ta mà vẫn yêu ta. Người biết những vùng tối ta che giấu, những động cơ pha trộn trong các việc tốt, những lần ta làm người khác tổn thương mà chính mình không nhận ra. Vậy mà Người vẫn gọi tên ta, vẫn chờ ta, vẫn ban Mình và Máu Người làm lương thực, vẫn mở rộng trái tim bị đâm thâu để ta bước vào. Khi thực sự cảm nghiệm mình là một tội nhân được yêu thương, ta không còn đứng trên bục cao để kết án người khác. Ta cùng đứng với họ dưới chân thập giá, nơi tất cả chúng ta đều là những kẻ cần ơn cứu độ.
Tuy nhiên, cảm nghiệm được tha không thể chỉ dừng lại trong cảm xúc riêng tư. Nhà vua trong dụ ngôn nói với người đầy tớ: “Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta; thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn như chính ta đã thương xót ngươi sao?” Chữ “như” chính là trung tâm. Người Kitô hữu được mời yêu như Chúa yêu, tha như Chúa tha, thương xót như Chúa thương xót. Dĩ nhiên, ta không thể đạt đến mức độ vô hạn của Thiên Chúa, nhưng ta có thể để lòng thương xót của Người hoạt động trong sự hữu hạn của mình. Ta không tha bằng kho dự trữ riêng; ta tha bằng điều đã nhận từ Chúa. Một chiếc bình nhỏ không thể chứa cả đại dương, nhưng có thể được múc đầy từ đại dương và đem nước đến cho một tâm hồn đang khát. Ta không cần có một trái tim vô hạn; ta chỉ cần mở trái tim nhỏ bé để lòng Chúa đi qua. Khi thấy mình không đủ sức tha, đừng vội kết luận rằng Tin Mừng là điều không thể. Hãy thưa: “Lạy Chúa, con không có đủ tình yêu, xin Chúa yêu người ấy trong con. Con không có đủ lòng thương xót, xin Chúa đặt lòng thương xót của Chúa vào nơi đang khô cằn này.”
Tha thứ còn là một việc phục hồi sự thật về chính mình. Khi bị người khác xúc phạm, ta dễ để hành động của họ định nghĩa giá trị của ta. Nếu họ bỏ rơi ta, ta nghĩ mình không đáng yêu. Nếu họ lừa dối ta, ta cho rằng mình ngu ngốc và vô giá trị. Nếu họ vu khống, ta cảm thấy danh dự của mình hoàn toàn nằm trong miệng lưỡi thiên hạ. Nhưng phẩm giá của ta không do người khác ban nên cũng không thể bị họ hoàn toàn lấy mất. Ta là con cái Thiên Chúa. Ta được tạo dựng theo hình ảnh Người. Ta được Đức Kitô cứu chuộc bằng giá Máu của Người. Khi tha thứ, ta tuyên bố rằng lỗi lầm của người kia không có quyền định đoạt giá trị của ta. Tôi không phải chỉ là nạn nhân của câu chuyện này; tôi là người con được Thiên Chúa yêu. Điều đã xảy ra là một phần của hành trình, nhưng không phải toàn bộ căn tính và không phải chương cuối cùng. Chính vì biết mình thuộc về Chúa, ta có thể ngừng đòi người làm ta đau phải trả lại cho ta giá trị mà họ không phải là nguồn ban phát.
Trong đời sống gia đình, tha thứ là điều không thể thiếu, bởi những người sống gần nhau nhất thường có khả năng làm nhau đau nhất. Một người xa lạ có thể nói một lời xúc phạm rồi đi qua; nhưng lời của cha mẹ, vợ chồng, con cái hay anh chị em có thể ở lại trong lòng nhiều năm. Có gia đình vẫn dùng những lỗi lầm cách đây hai mươi năm để kết án nhau trong cuộc tranh luận hôm nay. Có người tuy nói “tôi đã tha” nhưng hễ có bất đồng lại lôi toàn bộ quá khứ ra làm bằng chứng. Đó chưa phải là tự do của tha thứ. Tha thứ không bắt buộc ký ức biến mất, nhưng đòi ta không dùng ký ức như con dao. Nếu đã quyết định xây dựng lại tương quan, đừng biến quá khứ thành kho đạn để mỗi khi giận lại đem ra bắn nhau. Đừng kể lỗi của người thân cho hết người này đến người khác chỉ để tìm thêm đồng minh cho sự phẫn nộ của mình. Đừng bắt người đã sám hối phải quỳ mãi trước lỗi lầm cũ. Nếu Thiên Chúa đã giúp một người đứng dậy, ta không có quyền dùng bàn chân của mình đạp họ trở lại mặt đất.
Trong đời sống cộng đoàn và Giáo Hội, tha thứ càng cần thiết. Giáo Hội là thánh vì Đức Kitô là Đầu và Thánh Thần hiện diện, nhưng Giáo Hội vẫn gồm những con người yếu đuối. Linh mục có thể làm giáo dân thất vọng; giáo dân có thể làm linh mục tổn thương; người phục vụ có thể bị hiểu lầm; người có trách nhiệm có thể đưa ra quyết định thiếu khôn ngoan; những khác biệt về tính khí, quan điểm và phương pháp có thể tạo nên va chạm. Nếu mỗi lần bị tổn thương ta đều bỏ cộng đoàn, nếu mỗi bất đồng đều biến thành phe phái, nếu mỗi lời thiếu tế nhị đều được xem như một cuộc tấn công không thể tha thứ, cộng đoàn sẽ không còn là gia đình của Chúa mà trở thành một tòa án thường trực. Điều này không có nghĩa là im lặng trước sai trái. Đức Giêsu vừa dạy sửa lỗi huynh đệ, vừa dạy tha thứ không giới hạn. Hai điều ấy phải đi chung. Ta nói sự thật vì yêu thương, không phải vì muốn hạ nhục. Ta sửa lỗi để người anh em được cứu, không phải để chứng minh mình đúng. Ta bảo vệ cộng đoàn, nhưng không biến việc bảo vệ ấy thành cái cớ cho sự cay độc. Ta tìm công lý, nhưng từ chối để hận thù giả dạng công lý.
Có khi người ta nói: “Tôi sẽ tha nếu người ấy đến xin lỗi.” Đó là một ước mong chính đáng, vì lời xin lỗi chân thành có sức chữa lành. Nhưng nếu người kia không bao giờ xin lỗi thì sao? Nếu họ đã qua đời thì sao? Nếu họ không ý thức mình đã làm điều gì sai thì sao? Nếu họ quá kiêu ngạo để nhìn nhận lỗi lầm thì sao? Chẳng lẽ tự do của ta phải bị treo mãi trên sự thay đổi của một người khác? Đức Giêsu mời ta tha không phải để tuyên bố người kia vô tội, nhưng để giải phóng trái tim ta khỏi việc lệ thuộc vào họ. Tôi có thể mong họ sám hối, cầu nguyện cho họ sám hối và sẵn sàng đón nhận một cuộc hòa giải chân thật; nhưng ngay cả khi điều ấy chưa xảy ra, tôi vẫn có thể đặt quyền xét xử vào tay Chúa và từ chối nuôi dưỡng ý định trả thù. Tha thứ là mở cánh cửa nhà tù từ phía bên trong. Có thể người kia chưa bước vào tương quan mới, nhưng ta không còn phải sống mãi trong căn phòng bị khóa bởi hành động của họ.
Có người khác lại hỏi: “Nếu tôi cứ tha, người ta có xem thường và tiếp tục làm tổn thương tôi không?” Đây là lý do ta cần cả lòng thương xót lẫn sự khôn ngoan. Đức Giêsu dạy tha thứ vô hạn, nhưng không dạy trao niềm tin cách thiếu phân định. Tha thứ được ban như ân huệ; niềm tin phải được xây dựng lại bằng sự trung thực và thời gian. Ta có thể tha cho một người đã gian dối nhưng chưa thể ngay lập tức giao lại cho họ cùng một trách nhiệm. Ta có thể không căm ghét người đã bạo hành nhưng vẫn phải tránh xa và tìm sự bảo vệ. Ta có thể cầu nguyện cho kẻ phản bội nhưng không buộc mình tiết lộ những điều riêng tư cho họ một lần nữa. Việc đặt ranh giới không nhất thiết là thiếu tha thứ; đôi khi đó là cách yêu thương có trách nhiệm, giúp người kia đối diện với hậu quả và ngăn họ tiếp tục phạm tội. Lòng thương xót không làm ta ngây thơ. Đức ái “mừng khi thấy điều chân thật”; vì thế, một sự hòa giải được xây trên giả dối chỉ là lớp sơn mỏng phủ lên bức tường nứt.
Khi dạy chúng ta cầu nguyện “xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con,” Đức Giêsu đặt việc nhận và trao lòng thương xót trong cùng một nhịp thở. Ta không mua sự tha thứ của Chúa bằng việc tha cho người khác, vì ân sủng không phải món hàng trao đổi. Nhưng một trái tim nhất quyết khép lại trước tha nhân cũng tự làm mình mất khả năng đón nhận điều Thiên Chúa muốn ban. Mặt trời vẫn chiếu, nhưng cửa sổ bị đóng kín. Dòng nước vẫn chảy, nhưng chiếc bình bị úp xuống. Thiên Chúa không thiếu lòng thương xót; chính ta có thể từ chối để lòng thương xót ấy đi vào và biến đổi mình. Nếu ta muốn lòng Chúa chảy đến mình nhưng không chảy qua mình, cuối cùng chính lòng ta sẽ trở thành một hồ nước tù đọng. Vì vậy, lời cảnh báo cuối dụ ngôn rất nghiêm khắc: “Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình.” Chúa không hù dọa để buộc ta thực hiện một cử chỉ bề ngoài. Người cho thấy rằng không tha thứ là một tình trạng thiêng liêng nguy hiểm. Nó đóng băng trái tim, làm méo mó hình ảnh Thiên Chúa và khiến ta tự tách mình khỏi nền kinh tế của ân sủng.
“Hết lòng tha thứ” không có nghĩa là ta phải lập tức cảm thấy thân thiện. Nó có nghĩa là để tiến trình tha thứ chạm đến nơi sâu nhất, không chỉ nói bằng miệng để giữ thể diện trong khi lòng vẫn âm thầm mong người kia gặp bất hạnh. Ta có thể bắt đầu bằng những bước rất nhỏ. Trước hết, hãy nói thật với Chúa về nỗi đau, không cần tô điểm. Thứ đến, hãy xin Chúa giúp ta từ bỏ ý định trả thù. Rồi hãy ngừng lặp lại câu chuyện với mục đích bôi nhọ người kia. Nếu phù hợp và an toàn, hãy tìm một cuộc đối thoại trong sự thật. Nếu chưa thể gặp mặt, hãy viết ra những điều muốn nói nhưng không nhất thiết gửi đi, rồi đặt tất cả trước mặt Chúa. Hãy cầu nguyện cho người ấy, ban đầu có thể chỉ bằng một câu rất ngắn: “Lạy Chúa, xin thực hiện điều tốt lành nhất cho họ và cho con.” Nếu ngay cả lời cầu ấy cũng quá khó, hãy cầu: “Lạy Chúa, xin ban cho con lòng ước ao một ngày nào đó có thể cầu nguyện cho họ.” Thiên Chúa có thể bắt đầu từ một ước muốn rất nhỏ. Người không bẻ gãy cây lau bị giập và không dập tắt tim đèn còn khói.
Ta cũng phải can đảm nhìn nhận những món nợ mình đang mắc người khác. Bài Tin Mừng không chỉ hỏi ta đã tha cho ai, nhưng còn hỏi liệu ta có đang cần xin ai tha thứ không. Có thể ta dễ nhận mình là người bị tổn thương nhưng khó nhìn thấy những vết thương mình đã gây ra. Có khi một câu nói của ta đã ám ảnh người khác nhiều năm, dù ta không còn nhớ. Có khi sự im lặng, lạnh nhạt hay thờ ơ của ta gây đau hơn một lời xúc phạm. Có khi ta dùng quyền lực, vai trò, tuổi tác hoặc uy tín để buộc người khác chịu đựng mình. Có khi ta nghĩ mình chỉ “nói sự thật,” nhưng cách nói lại thiếu bác ái và làm nhục người nghe. Có khi ta chờ người khác đến xin lỗi mà không nhận ra chính họ cũng đang chờ một lời xin lỗi từ ta. Người sống trong lòng thương xót không chỉ rộng lượng tha cho người khác, nhưng cũng khiêm tốn xin được tha. Một lời “tôi đã sai, xin tha thứ cho tôi” chân thành có thể phá vỡ bức tường đã tồn tại nhiều năm. Đừng thêm chữ “nhưng” vào sau lời xin lỗi: “Tôi xin lỗi, nhưng tại anh…” Khi đã nói như thế, ta đang chuyển trách nhiệm trở lại người bị tổn thương. Hãy nhận phần lỗi của mình cách rõ ràng, không biện minh, không ép người kia phải tha ngay, nhưng tôn trọng hành trình của họ.
Cuối cùng, lòng quảng đại trong tha thứ bắt nguồn từ sự quảng đại tuyệt đối của Thiên Chúa. Chúa Cha đã không ban cho thế gian một điều gì bên ngoài Người; Người ban chính Con Một. Đức Kitô không chỉ gửi đến chúng ta một lời khuyên từ xa; Người đến chia sẻ thân phận, mang lấy tội lỗi, bước vào sự chết và trao chính mạng sống để chúng ta được sống. Trên thập giá, Người không tính toán xem nhân loại có xứng đáng với hy lễ ấy không. Nếu chờ chúng ta xứng đáng, sẽ không bao giờ có ơn cứu độ. Thánh Phaolô nói rằng ngay khi chúng ta còn là tội nhân, Đức Kitô đã chết vì chúng ta. Đây là lòng quảng đại không thể đo lường. Mỗi bí tích ta lãnh nhận, mỗi lời tha thứ, mỗi lần được bắt đầu lại đều tuôn ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Đấng Cứu Thế. Vì vậy, tha thứ không phải một bổn phận lạnh lùng áp đặt lên người môn đệ; đó là cách ta làm chứng rằng thập giá đã thật sự chạm đến đời mình.
Có lẽ hôm nay mỗi người đang mang trong lòng một cái tên. Chỉ cần cái tên ấy xuất hiện, lòng ta lập tức nặng xuống. Có lẽ ta vẫn dự lễ, đọc kinh và phục vụ, nhưng ở một góc kín của tâm hồn, ta đang bóp cổ một người đồng liêu và nói: “Hãy trả cho tôi điều anh mắc nợ.” Họ nợ ta một lời xin lỗi, một sự giải thích, một danh dự đã mất, một tuổi trẻ bị tổn thương, một niềm tin đã vỡ, một gia đình không còn nguyên vẹn. Món nợ ấy có thể không nhỏ đối với ta. Chúa không chế giễu nỗi đau ấy. Nhưng Người mời ta nhìn lên thập giá và nghe một câu hỏi: “Ta đã thương xót con, con có muốn để lòng thương xót ấy đi qua con không?” Chúa không buộc ta phải làm mọi sự trong một ngày. Người chỉ mời ta bắt đầu. Hôm nay, có thể ta chưa ôm được người đã làm mình đau, nhưng có thể ngừng nguyền rủa họ. Hôm nay, có thể ta chưa nói được “tôi đã tha hoàn toàn,” nhưng có thể thưa “lạy Chúa, con muốn muốn tha.” Hôm nay, có thể ta chưa buông hết, nhưng có thể mở một ngón tay khỏi nắm đấm đã siết chặt quá lâu. Ân sủng sẽ làm phần còn lại nếu ta kiên trì cộng tác.
Đời sống vẫn còn mang thương tích của tội lỗi. Chúng ta sẽ còn làm đau nhau và còn bị người khác làm đau. Bao lâu còn ở trần gian, không ai hoàn toàn thoát khỏi sự yếu đuối. Nhưng từng bước một, từng lần xưng tội, từng ngày cầu nguyện, từng quyết định từ bỏ trả thù, từng cử chỉ làm hòa, ta được biến đổi nên giống con người Thiên Chúa đã muốn ta trở thành. Sự biến đổi ấy không chỉ do cố gắng của ta, nhưng là công trình của ân sủng. Trước khi ta hít hơi thở đầu tiên, Thiên Chúa đã biết và chọn ta. Trước khi ta biết gọi tên Người, Người đã gọi tên ta. Trước khi ta biết xin tha thứ, Con của Người đã dang tay trên thập giá. Nơi Thiên Chúa, ta không chỉ gặp một đại dương lòng thương xót mà còn gặp một đại dương tình yêu. Mọi tội lỗi được thành tâm thống hối đều có thể bị ném vào đại dương ấy; mọi cay đắng được trao phó đều có thể được thanh tẩy; mọi trái tim chai cứng đều có thể trở thành trái tim bằng thịt.
Xin Chúa cho chúng ta đừng sống như người đầy tớ vừa ra khỏi cung điện đã quên lòng thương xót của nhà vua. Xin cho mỗi lần bước ra khỏi tòa giải tội, ta trở thành người biết tha thứ hơn; mỗi lần rước Mình và Máu Đức Kitô, ta trở thành người quảng đại hơn; mỗi lần đọc kinh Lạy Cha, ta ý thức lời mình đang nói; mỗi lần nhìn lên thập giá, ta nhớ rằng mình sống nhờ một món quà không bao giờ có thể hoàn trả. Xin Chúa ban cho những ai đang mang vết thương sâu được chữa lành, cho người đang đấu tranh với hận thù được giải thoát, cho người gây ra lỗi lầm biết thống hối và đền bù, cho những gia đình đang chia rẽ tìm lại con đường đối thoại, cho những cộng đoàn đang bất hòa biết đặt Đức Kitô ở trung tâm. Và xin cho chúng ta hiểu rằng tha thứ không phải là thua cuộc, nhưng là chiến thắng của tình yêu; không phải là xóa bỏ công lý, nhưng là không để sự dữ có lời cuối; không phải là quên giá trị của mình, nhưng là khám phá rằng phẩm giá của ta được gìn giữ trong Thiên Chúa; không phải là một dấu hiệu yếu đuối, nhưng là một hành vi quảng đại chỉ có thể thực hiện nhờ sức mạnh của Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết.
Lạy Chúa Giêsu, con đang đứng trước Chúa với cả món nợ của mình và món nợ con đang giữ của người khác. Con cảm tạ Chúa vì đã không đối xử với con theo những gì con đáng chịu, nhưng theo lòng thương xót vô biên của Chúa. Xin cho con đừng nhận ơn tha thứ như một đặc quyền ích kỷ. Xin biến ơn ấy thành dòng sông chảy qua đời con. Con trao cho Chúa những tên tuổi làm lòng con đau, những câu chuyện con không thể quên, những bất công chưa được sửa chữa và những giọt nước mắt chưa ai nhìn thấy. Xin ném tội lỗi của con xuống đáy biển lòng thương xót; xin nhận lấy cả oán hờn, cay đắng và khao khát trả thù đang làm con kiệt sức. Xin dạy con tha thứ trong sự thật, yêu thương trong khôn ngoan và tìm công lý mà không đánh mất lòng thương xót. Nếu hôm nay con chưa thể tha hoàn toàn, xin cho con đủ can đảm để bắt đầu. Nếu ngày mai vết thương lại đau, xin cho con biết trở về với thập giá. Nếu con ngã xuống trong hành trình này, xin nâng con đứng dậy. Vì con tin rằng lòng thương xót của Chúa lớn hơn tội lỗi của con, tình yêu của Chúa sâu hơn vết thương của con, và ân sủng của Chúa mạnh hơn mọi hận thù trong trái tim con. Amen.
Lm. Anmai, CSsR


THA THỨ ĐỂ ĐƯỢC TỰ DO, THA THỨ VÌ ĐÃ ĐƯỢC XÓT THƯƠNG
CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN – NĂM A
Hc 27,30–28,7; Rm 14,7-9; Mt 18,21-35
Có những vết thương trên thân xác rồi sẽ khép miệng theo năm tháng, nhưng cũng có những vết thương nằm sâu trong tâm hồn, bên ngoài tưởng như đã lành mà bên trong vẫn còn âm ỉ, chỉ cần ai đó vô tình nhắc đến một cái tên, một biến cố, một lời nói hay một khuôn mặt, tất cả đau đớn của quá khứ lại sống dậy như thể chuyện ấy vừa mới xảy ra hôm qua. Có những người đã đi qua nửa cuộc đời nhưng vẫn mang theo trong lòng một câu xúc phạm; có những gia đình nhiều năm không nhìn mặt nhau chỉ vì một lần tranh chấp; có những anh chị em ruột thịt cùng sinh ra từ một mái nhà, cùng gọi một người là cha, một người là mẹ, nhưng đến khi cha mẹ qua đời thì quay lưng với nhau vì một phần đất, một món tiền, một lời phân chia bị cho là không công bằng; có những đôi vợ chồng vẫn sống chung một mái nhà, vẫn ăn cùng một mâm cơm, vẫn cùng chăm sóc con cái, nhưng tâm hồn đã cách xa nhau vì những tổn thương không được chữa lành; có những người vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn rước lễ, vẫn hát rằng Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, nhưng trong lòng lại giữ chặt một danh sách những người mình không muốn tha thứ. Bởi thế, Lời Chúa của Chúa Nhật XXIV Thường Niên hôm nay không phải là một bài học đạo đức nhẹ nhàng để chúng ta nghe rồi quên, nhưng là một lời chất vấn rất mạnh, chạm thẳng vào những nơi sâu kín và đau đớn nhất trong đời sống chúng ta: Ta có thật sự muốn được chữa lành không? Ta có thật sự tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa không? Ta có sẵn sàng trao cho người khác phần lòng thương xót mà chính mình vẫn hằng ngày cầu xin Thiên Chúa ban cho không?
Sách Huấn Ca mở đầu bằng một hình ảnh rất đáng sợ: “Oán hờn và giận dữ là những điều ghê tởm, nhưng người tội lỗi cứ ôm chặt lấy.” Điều đáng sợ không chỉ nằm ở sự oán hờn, nhưng ở thái độ “ôm chặt lấy” oán hờn. Khi bị xúc phạm, chúng ta đau; điều đó tự nhiên. Khi bị phản bội, chúng ta buồn; điều đó dễ hiểu. Khi bị vu oan, bị lợi dụng, bị đối xử bất công, chúng ta có thể nổi giận; đó là phản ứng của một con người mang thương tích. Nhưng Lời Chúa cảnh báo rằng có một khoảng cách rất lớn giữa việc cảm thấy đau và việc quyết định nuôi dưỡng nỗi đau; giữa một cơn giận xuất hiện trong lòng và việc biến cơn giận ấy thành người bạn đồng hành; giữa ký ức về một biến cố đau buồn và việc ngày ngày mở lại biến cố ấy để kết án người khác. Người ôm giữ hận thù tưởng rằng mình đang nắm cổ kẻ đã làm mình tổn thương, nhưng thực ra họ đang để cho người ấy tiếp tục nắm giữ cuộc đời mình. Kẻ gây thương tích có thể đã quên câu chuyện từ lâu, có thể đang sống bình thường ở một nơi nào đó, nhưng người bị tổn thương vẫn mất ngủ, vẫn cay đắng, vẫn nhắc đi nhắc lại, vẫn để cho khuôn mặt của kẻ ấy chiếm lấy tâm trí mình. Như thế, sự việc chỉ xảy ra một lần trong lịch sử, nhưng lại được tái diễn hàng trăm, hàng ngàn lần trong ký ức. Vết thương ban đầu do người khác gây ra; những lần sau, đôi khi chính ta lại vô tình dùng ký ức để làm mình chảy máu.
Sách Huấn Ca không bảo chúng ta rằng điều ác là điều nhỏ bé, rằng bất công không đáng kể, rằng người bị hại chỉ cần quên đi tất cả. Lời Chúa không hề phủ nhận sự thật của vết thương. Trái lại, Lời Chúa nhìn thẳng vào sự nghiêm trọng của nó, nhưng không muốn sự dữ có tiếng nói cuối cùng. “Hãy bỏ qua điều sai trái cho kẻ khác, thì khi ngươi cầu khẩn, tội lỗi ngươi sẽ được tha.” Đây không phải là một cuộc trao đổi lạnh lùng theo kiểu: tôi tha cho người ta để Thiên Chúa buộc phải tha cho tôi. Đây là một chân lý thiêng liêng sâu xa hơn: một tâm hồn đóng kín trước người anh em cũng đang tự đóng kín trước ân sủng; một bàn tay nắm chặt oán hờn không còn chỗ để đón nhận hồng ân; một con tim chỉ muốn kết án sẽ dần mất khả năng cảm nhận mình cũng đang sống nhờ lòng thương xót. Người không chịu tha thứ thường nhìn tội của người khác bằng kính phóng đại, nhưng nhìn tội của mình bằng một tấm kính làm nhỏ đi. Ta nhớ rất rõ người khác đã nói gì, vào ngày nào, ở đâu, trước mặt những ai, với giọng điệu thế nào; nhưng lại dễ quên những lần chính ta đã làm người khác buồn, đã nói lời thiếu bác ái, đã xét đoán, đã vô ơn, đã lạnh lùng, đã thất hứa, đã làm tổn thương những người gần gũi nhất. Ta muốn Thiên Chúa hiểu hoàn cảnh của ta, nhưng lại không muốn hiểu hoàn cảnh của người khác; ta muốn Chúa kiên nhẫn với sự yếu đuối của ta, nhưng lại đòi người khác phải hoàn hảo; ta xin Chúa đừng chấp tội, nhưng lại ghi nhớ rất kỹ lỗi lầm của anh chị em mình.
Lời khôn ngoan của Huấn Ca còn đặt chúng ta trước giới hạn của đời người: “Hãy nhớ đến ngày tận số mà chấm dứt hận thù.” Có những cuộc giận hờn kéo dài đến khi một người nằm xuống mới khiến người còn sống bật khóc vì hối tiếc. Khi đứng trước quan tài của một người thân, những điều từng làm ta tranh chấp bỗng trở nên nhỏ bé biết bao. Mảnh đất vẫn còn đó, nhưng người anh đã không còn; món tiền vẫn còn đó, nhưng người em đã ra đi; niềm tự ái ngày nào tưởng lớn như núi, giờ chỉ còn là một nỗi ân hận không thể sửa chữa. Có người muốn nói một lời xin lỗi nhưng đã quá muộn; muốn nắm lại bàn tay nhưng bàn tay ấy đã lạnh; muốn gọi một tiếng “anh”, một tiếng “chị”, một tiếng “cha”, một tiếng “mẹ”, nhưng người thân không còn nghe được nữa. Lời Chúa hôm nay như muốn lay chúng ta tỉnh dậy: đời người rất ngắn, tại sao ta lại dành quá nhiều năm tháng quý giá để giận nhau? Ta không biết mình còn sống bao lâu, người kia còn ở bên ta bao lâu; tại sao cứ trì hoãn việc hòa giải? Có thể hôm nay là cơ hội cuối cùng để ta gọi một cuộc điện thoại, gửi một lời nhắn, bước qua một cánh cửa, nói một câu chân thành: “Tôi xin lỗi”, “Tôi đã sai”, “Tôi vẫn còn đau, nhưng tôi không muốn chúng ta tiếp tục làm khổ nhau”, “Tôi chưa thể quên ngay, nhưng tôi muốn bắt đầu tha thứ.”
Trong bài Tin Mừng, Phêrô đến hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải đến bảy lần không?” Câu hỏi của Phêrô cũng là câu hỏi của mỗi chúng ta: đến bao giờ thì đủ? Tôi đã nhịn nhiều rồi; tôi đã cho cơ hội nhiều rồi; tôi đã chủ động làm hòa nhiều rồi; tại sao lúc nào cũng phải là tôi? Phêrô đề nghị tha bảy lần, một con số rất quảng đại so với lối suy nghĩ thông thường. Trong truyền thống Do Thái, số bảy gợi sự trọn vẹn. Có lẽ Phêrô nghĩ rằng Thầy sẽ khen mình vì đã đưa ra một giới hạn cao đến thế. Nhưng Chúa Giêsu đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.” Chúa không đưa ra con số bốn trăm chín mươi để chúng ta lập sổ, tha lần thứ bốn trăm tám mươi chín rồi đến lần bốn trăm chín mươi thì tuyên bố hết hạn. “Bảy mươi lần bảy” có nghĩa là đừng biến tha thứ thành một bài toán, đừng đặt lòng thương xót lên chiếc cân, đừng giữ cuốn sổ ghi nợ trong trái tim. Bao lâu con còn là người đã được Thiên Chúa thứ tha, bấy lâu con vẫn được mời gọi trở nên người biết tha thứ. Bao lâu lòng thương xót của Chúa chưa cạn, bấy lâu lòng thương xót của người môn đệ cũng không thể bị giới hạn bởi những con số.
Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu thật đúng lời mời gọi này. Tha thứ vô hạn không có nghĩa là cho phép người khác tiếp tục làm điều ác vô hạn; tha thứ không đồng nghĩa với dung túng bạo lực, bao che tội phạm, chấp nhận bị hành hạ hay từ bỏ mọi đòi hỏi chính đáng của công lý. Một người vợ bị bạo hành có quyền tìm nơi an toàn; một đứa trẻ bị xâm hại phải được bảo vệ; một cộng đoàn bị lạm dụng cần đưa sự thật ra ánh sáng; một người gây tội ác vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tha thứ là từ bỏ ý muốn báo thù, chứ không phải từ bỏ sự thật; là không để lòng mình bị đầu độc bởi oán hận, chứ không phải giả vờ rằng chẳng có chuyện gì xảy ra; là trao việc phán xét cuối cùng cho Thiên Chúa, chứ không phải gọi điều ác là điều thiện. Có khi ta có thể tha thứ nhưng chưa thể lập tức khôi phục sự tin tưởng. Tha thứ có thể là quyết định của một phía, còn hòa giải thường cần sự chân thành và thay đổi của cả hai phía. Tin tưởng đã bị phá vỡ phải được xây dựng lại bằng thời gian, sự thật và những hành động có trách nhiệm. Vì thế, người Kitô hữu tha thứ không phải là người yếu đuối, nhu nhược hay thiếu sáng suốt. Tha thứ đích thực đòi một sức mạnh rất lớn: sức mạnh để nhìn nhận vết thương mà không biến mình thành vết thương; sức mạnh để gọi đúng tên sự dữ mà không trở nên giống như sự dữ; sức mạnh để bước ra khỏi vòng xoáy “người làm tôi đau nên tôi phải làm họ đau”; sức mạnh để nói rằng điều anh đã làm là sai, nhưng tôi không để cái sai của anh quyết định tôi sẽ trở thành người như thế nào.
Để giúp Phêrô và chúng ta hiểu nguồn gốc của lòng tha thứ, Chúa Giêsu kể dụ ngôn về một ông vua muốn tính sổ với các đầy tớ. Người ta dẫn đến một kẻ mắc nợ vua mười ngàn yến vàng. Đây là một con số khổng lồ, vượt quá sức thanh toán của một con người. Chúa Giêsu cố ý dùng một món nợ không thể trả để cho thấy tình trạng thật của chúng ta trước mặt Thiên Chúa. Người đầy tớ quỳ xuống van xin: “Thưa Ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết.” Lời hứa ấy thật ra không thể thực hiện. Dù có được thêm nhiều đời, hắn cũng không đủ khả năng trả món nợ quá lớn. Nhưng ông vua không chỉ hoãn nợ; ông chạnh lòng thương, thả hắn về và tha luôn món nợ. Người đầy tớ chỉ xin thêm thời gian, nhưng lại nhận được tự do; chỉ xin trì hoãn hình phạt, nhưng lại được xóa sạch khoản nợ; chỉ dám mong một chút kiên nhẫn, nhưng lại gặp một đại dương lòng thương xót.
Đó chính là câu chuyện đời chúng ta. Trước mặt Thiên Chúa, chúng ta không phải là những người vô tội đang làm ơn cho người khác khi tha thứ. Chúng ta là những con nợ đã được tha. Mỗi ngày ta sống là một ngày nhận ân huệ; mỗi hơi thở là quà tặng; mỗi lần được đứng dậy sau vấp ngã là lòng thương xót; mỗi lần đến với Bí tích Hòa Giải và nghe lời tha tội là một món nợ được xóa; mỗi lần Chúa vẫn cho ta cơ hội làm lại dù ta đã bao lần thất hứa là một phép lạ của lòng bao dung. Ta đã biết bao lần thưa rằng sẽ thay đổi rồi lại yếu đuối; bao lần hứa sẽ cầu nguyện rồi lại lười biếng; bao lần xin Chúa chữa một thói xấu rồi lại trở về với nó; bao lần nhận ra điều thiện nhưng không làm, biết lời gây đau nhưng vẫn nói, biết người kia cần được quan tâm nhưng vẫn dửng dưng. Nếu Chúa tính toán với ta theo lối ta tính toán với người khác, ai trong chúng ta có thể đứng vững? Nếu mỗi lần ta tái phạm, Chúa đều nói: “Đây là lần cuối cùng”, thì có lẽ từ lâu ta đã không còn cơ hội trở về. Nhưng Chúa vẫn đợi, vẫn tìm, vẫn gọi, vẫn tha, vẫn mở cửa. Thập giá của Đức Kitô chính là biên lai của món nợ đã được xóa bằng máu của Con Thiên Chúa.
Bi kịch của dụ ngôn bắt đầu ngay khi người đầy tớ vừa được tha bước ra ngoài. Hắn gặp một người bạn mắc nợ mình một trăm quan tiền. Món nợ này không phải là không đáng kể, nhưng nếu đặt bên cạnh mười ngàn yến vàng vừa được xóa thì nó trở nên vô cùng nhỏ bé. Hắn túm lấy, bóp cổ người bạn và nói: “Trả nợ cho tao!” Người bạn quỳ xuống, dùng gần như nguyên văn lời hắn vừa thưa với nhà vua: “Xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh.” Nhưng hắn không chịu. Hắn vừa được nghe lời van xin của mình và được thương xót; nay nghe chính lời ấy từ miệng người khác mà lòng vẫn đóng kín. Hắn đã nhận được lòng thương xót, nhưng lòng thương xót không đi vào được trái tim hắn; hắn được xóa nợ trên sổ sách, nhưng vẫn sống như một con người chưa từng được tha; hắn ra khỏi cung điện của ân sủng nhưng mang nguyên vẹn lối sống của nhà tù. Đây là thảm kịch lớn nhất của đời sống đạo: ở rất gần lòng thương xót mà không trở thành người có lòng thương xót; thường xuyên đọc kinh Lạy Cha mà vẫn nuôi thù hận; nhiều lần xưng tội nhưng không chịu thay đổi cách đối xử với người khác; rước lấy Mình Thánh của Đấng đã cầu nguyện cho kẻ đóng đinh mình, rồi bước ra ngoài để tiếp tục bóp cổ anh em bằng lời nói, ánh mắt, sự im lặng và thái độ kết án.
Đôi khi chúng ta không bóp cổ người khác bằng hai bàn tay, nhưng bằng cách bôi nhọ danh dự của họ; không tống họ vào ngục bằng nhà tù bằng đá, nhưng giam họ trong những định kiến không cho họ cơ hội thay đổi. Ta nói: “Con người ấy là như vậy”, “Hắn không bao giờ tốt được”, “Tôi biết rõ loại người đó”, “Tôi sẽ không bao giờ quên”, “Tôi muốn cho mọi người biết bộ mặt thật của hắn.” Có khi ta đã tha ngoài miệng nhưng vẫn muốn kể lại lỗi của người kia với càng nhiều người càng tốt; nói rằng mình không trả thù nhưng âm thầm vui khi họ gặp khó khăn; nói rằng đã bỏ qua nhưng vẫn dùng chuyện cũ làm vũ khí mỗi khi tranh luận. Như thế chưa phải là tha từ trong lòng. Tha thứ từ trong lòng không có nghĩa là ký ức lập tức biến mất hay cảm xúc lập tức bình yên. Nó có nghĩa là tôi không cố ý nuôi dưỡng hận thù; không cầu mong điều dữ xảy đến cho người đã làm tôi đau; không dùng lỗi quá khứ để tước bỏ phẩm giá hiện tại của họ; sẵn sàng cầu xin Thiên Chúa chạm đến họ và chạm đến tôi; mỗi lần ký ức trở lại, tôi lại đặt nó dưới chân thập giá. Tha thứ không luôn là một khoảnh khắc; nhiều khi đó là một hành trình phải bắt đầu lại “bảy mươi lần bảy”. Hôm nay tôi tha, ngày mai nỗi đau trở lại, tôi lại tha; tuần sau một lời nhắc khiến tôi bật khóc, tôi lại trao người ấy cho Chúa; năm sau vết sẹo vẫn nhói, tôi lại cầu nguyện: “Lạy Chúa, con chưa đủ sức, xin Chúa tha thứ trong con.”
Câu chuyện của bà Phan Thị Kim Phúc là một chứng từ sống động về hành trình ấy. Tấm ảnh cô bé chín tuổi chạy trên đường, thân thể bị bỏng vì bom napalm trong chiến tranh Việt Nam, đã trở thành một trong những hình ảnh đau thương nhất của thế kỷ XX. Phía sau bức ảnh là một con người thật, một thân thể phải chịu nhiều cuộc điều trị, một tâm hồn phải chiến đấu với đau đớn, cay đắng và ký ức chiến tranh. Nhiều năm sau, khi gặp người từng nhận mình có liên hệ trách nhiệm đến cuộc không kích ấy và nghe lời xin lỗi, bà đã mở vòng tay đón nhận và nói lời tha thứ. Cái ôm ấy không thể làm biến mất những vết sẹo trên thân thể; nó không thể thay đổi quá khứ; không thể biến bom đạn thành điều chưa từng xảy ra. Nhưng cái ôm ấy tuyên bố rằng bom napalm có thể làm cháy da thịt một đứa trẻ, song không được phép thiêu rụi toàn bộ tương lai của người phụ nữ ấy; chiến tranh có thể để lại sẹo trên thân xác, nhưng không nhất thiết phải tiếp tục cai trị trái tim. Khi tha thứ, bà không nói rằng điều đã xảy ra là nhỏ bé. Trái lại, chính vì vết thương quá lớn nên việc tha thứ càng bộc lộ một quyền năng không đến từ sức riêng của con người. Bà từng chia sẻ rằng nếu tiếp tục giữ hận thù, bà sẽ mãi là tù nhân của quá khứ; còn tha thứ đã giải phóng chính bà và mở ra con đường tự do cho cả người xin lỗi. Đó là điều Chúa Giêsu muốn thực hiện trong chúng ta: Người không chỉ truyền cho ta tha để người xúc phạm được nhẹ nhõm; Người mời ta tha vì không muốn chính ta tiếp tục bị giam trong nhà tù của biến cố đã qua.
Một chứng từ khác đã làm cả thế giới xúc động là cuộc gặp giữa Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II và Mehmet Ali Ağca, người đã nổ súng ám sát ngài tại Quảng trường Thánh Phêrô ngày 13 tháng 5 năm 1981. Viên đạn đã làm Đức Giáo hoàng bị thương nặng. Nhưng sau khi bình phục, ngài tuyên bố đã tha thứ cho người bắn mình. Đến năm 1983, ngài vào nhà tù Rebibbia tại Rôma, ngồi đối diện và trò chuyện riêng với người đã muốn lấy mạng mình. Hai con người ngồi gần nhau trong một phòng giam: một người mặc áo trắng mang những dấu vết của viên đạn, người kia mang thân phận tù nhân. Thế giới nhìn thấy một hình ảnh mà logic báo thù không thể giải thích. Đức Giáo hoàng không phủ nhận tội ác, không can thiệp để biến công lý thành vô nghĩa, nhưng ngài từ chối để viên đạn tạo ra viên đạn thứ hai trong tâm hồn mình. Người kia đã bắn vào thân thể ngài; ngài không cho phép hận thù bắn thủng trái tim mình. Về sau, trong Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình năm 2002, Thánh Gioan Phaolô II trình bày một xác tín mạnh mẽ: không có hòa bình nếu không có công lý, và cũng không có công lý nếu không có tha thứ. Công lý không đồng nghĩa với báo thù. Báo thù chỉ hỏi: “Làm sao để người ấy phải đau như tôi đã đau?” Công lý đích thực hỏi: “Làm sao để sự thật được tôn trọng, người bị hại được bảo vệ, người gây hại chịu trách nhiệm và vòng xoáy sự dữ được chấm dứt?” Tha thứ không phá hủy công lý; tha thứ thanh luyện công lý khỏi nọc độc của lòng căm thù. Nếu chỉ có công lý mà không có lòng thương xót, thế giới có thể biến thành một phòng xử án không bao giờ đóng cửa; ai cũng kết tội nhau, thế hệ này trả món nợ của thế hệ trước, bạo lực này sinh ra bạo lực khác. Chỉ có tha thứ mới mở được một cánh cửa mà luật báo trả không thể mở.
Chứng từ thứ ba còn làm chúng ta sửng sốt hơn nữa. Ngày 2 tháng 10 năm 2006, tại Nickel Mines, Pennsylvania, một tay súng xông vào ngôi trường nhỏ của cộng đồng Amish, bắn mười bé gái, làm năm em thiệt mạng rồi tự sát. Không lời nào có thể diễn tả hết nỗi đau của những người cha, người mẹ phải nhìn con mình chết bởi một hành vi tàn bạo. Theo lẽ tự nhiên, người ta có thể hiểu nếu các gia đình ấy phẫn nộ, nguyền rủa và căm ghét. Nhưng ngay trong thời gian tang tóc, các thành viên cộng đồng Amish đã đến thăm vợ góa, cha mẹ và gia đình của tay súng để an ủi họ; họ tham dự tang lễ, giúp che chở gia đình ấy khỏi sự săn đuổi của truyền thông và chia sẻ cả sự hỗ trợ vật chất. Điều đó không có nghĩa họ không khóc; không có nghĩa nỗi đau của họ nhẹ hơn; càng không có nghĩa họ coi thường mạng sống của con em mình. Họ tha thứ không phải vì những đứa trẻ không đáng quý, nhưng vì chính các em quá quý nên họ không muốn ký ức về các em bị bao phủ mãi bởi bóng tối hận thù. Họ ý thức rằng một gia đình khác cũng đang tan nát vì hành vi của người thân mình. Trong lúc có đầy đủ lý do để khép lòng, họ đã đưa lòng thương xót bước qua ngưỡng cửa. Họ không đợi cảm xúc hoàn toàn ổn định mới bắt đầu tha thứ; họ hành động theo niềm tin, rồi để ân sủng dẫn cảm xúc đi theo. Tha thứ của họ là một lời tuyên xưng rằng sự dữ có thể giết chết, nhưng không được phép quyết định cộng đoàn này sẽ trở thành một cộng đoàn căm thù; cái chết có thể cướp đi những đứa trẻ, nhưng không cướp được Tin Mừng ra khỏi trái tim cha mẹ các em.
Nghe những câu chuyện ấy, nhiều người trong chúng ta có thể nghĩ: đó là những con người phi thường, còn tôi chỉ là một con người bình thường; vết thương của tôi quá sâu, người làm tôi đau chưa bao giờ xin lỗi, thậm chí họ còn cho rằng mình đúng; tôi muốn tha nhưng không thể. Nếu đó là tình trạng của chúng ta, đừng vội thất vọng và cũng đừng giả vờ. Thiên Chúa không đòi chúng ta tạo ra cảm xúc mà mình chưa có. Người mời ta bắt đầu bằng một ước muốn nhỏ bé: “Lạy Chúa, con chưa tha được, nhưng con muốn muốn tha.” Có khi ngay cả ước muốn ấy cũng chưa có, ta có thể cầu nguyện: “Lạy Chúa, con chưa muốn tha; xin ban cho con ước muốn muốn tha.” Thiên Chúa có thể bắt đầu công trình của Người từ một khe cửa rất nhỏ. Điều quan trọng là đừng khóa kín cửa và ném chìa khóa đi. Ta không cần chờ đến lúc trong lòng không còn đau mới quyết định tha thứ, vì nhiều khi chính quyết định tha thứ sẽ mở đường cho việc chữa lành. Tha thứ giống như tháo một nút thắt đã bị siết chặt qua nhiều năm: không phải chỉ kéo một lần là bung ra; cần kiên nhẫn, cầu nguyện, đôi khi cần sự nâng đỡ của linh mục, người hướng dẫn thiêng liêng, chuyên viên tâm lý hay một người khôn ngoan đáng tin cậy. Ân sủng không loại bỏ tiến trình con người; ân sủng đi vào tiến trình ấy, nâng đỡ và biến đổi nó.
Bài đọc thứ hai giúp ta nhìn tha thứ từ một nền tảng khác: “Không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa.” Tôi không phải là chủ nhân tuyệt đối của đời mình. Tôi thuộc về Đức Kitô. Người anh em đã xúc phạm tôi, dù tội lỗi đến đâu, cũng không hoàn toàn thuộc quyền phán xét của tôi. Họ cũng là một thụ tạo được Thiên Chúa dựng nên, một linh hồn mà Đức Kitô đã đổ máu cứu chuộc. Điều này không xóa trách nhiệm của họ, nhưng ngăn tôi tự đặt mình vào chỗ của Thiên Chúa. Khi kết án một người không còn khả năng thay đổi, tôi đang chiếm lấy quyền mà chỉ Thiên Chúa có. Chừng nào một người còn sống, chừng ấy ân sủng vẫn có thể tìm đến họ. Người trộm lành đã thay đổi trong những giờ phút cuối cùng; Saolô từ kẻ bách hại trở thành Tông đồ; Phêrô từ người chối Thầy trở thành đá tảng; người phụ nữ tội lỗi được trả lại phẩm giá; Giakêu từ kẻ thu lợi bất chính trở thành người đền bù quảng đại. Nếu Chúa đóng khung họ trong quá khứ, đã không có các vị thánh. Vậy tôi là ai mà dám tuyên bố một con người chỉ là điều xấu xa nhất họ từng làm?
Tha thứ còn là một đòi hỏi sống còn đối với gia đình và cộng đoàn. Không có gia đình nào tồn tại nếu mọi lỗi lầm đều được ghi sổ; không có hôn nhân nào bền vững nếu mỗi cuộc tranh luận đều lôi toàn bộ quá khứ ra làm bằng chứng buộc tội; không có cộng đoàn tu trì hay giáo xứ nào hiệp nhất nếu mỗi người chỉ bảo vệ cái tôi và đợi người khác xin lỗi trước. Sống chung là chấp nhận rằng ta sẽ vô tình hay hữu ý làm nhau tổn thương. Người gần ta nhất thường cũng là người có khả năng làm ta đau nhất, vì họ biết ta mong đợi điều gì, yếu đuối ở đâu và nhạy cảm về điều gì. Tha thứ vì thế không phải một đề tài hiếm hoi dành cho những biến cố lớn; đó là cơm bánh hằng ngày của đời sống chung. Ta cần tha cho người nói chen khi ta đang kể chuyện, người quên lời đã hứa, người không nhìn thấy nỗ lực của ta, người hiểu lầm ý tốt, người trả lời cộc lốc vì đang mệt, người có cách làm việc khác ta. Nếu mọi va chạm nhỏ đều được giữ lại, chúng sẽ tích tụ thành bức tường lớn. Có những gia đình không tan vỡ vì một biến cố khủng khiếp, nhưng vì hàng ngàn khó chịu nhỏ bé không bao giờ được nói ra, không bao giờ được xin lỗi và không bao giờ được tha thứ.
Muốn học tha thứ, trước hết ta cần trở về dưới chân thập giá. Ở đó, Chúa Giêsu không giảng một lý thuyết về tha thứ; Người tha thứ bằng chính máu mình. Giữa lúc bị chế nhạo, bị đóng đinh, bị đối xử như một tội nhân, Người cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Người không đợi quân lính tháo đinh; không đợi đám đông nhận lỗi; không đợi những người kết án quỳ xuống xin tha. Từ trên thập giá, Người chủ động mở dòng thương xót. Chúa biết rất rõ họ đang làm gì về mặt bên ngoài, nhưng Người cũng nhìn thấy sự mù tối, sợ hãi, tham vọng và tội lỗi đang trói buộc họ. Người phân biệt con người với tội lỗi của họ: chống lại tội nhưng cứu lấy tội nhân; phơi bày bóng tối nhưng không dập tắt hy vọng. Mỗi lần thấy khó tha thứ, ta hãy nhìn lên thập giá và nhớ rằng trên đó có cả tội của người đã làm ta đau lẫn tội của chính ta. Người kia cần dòng máu cứu độ, và ta cũng cần dòng máu ấy. Dưới chân thập giá, không ai có thể tự hào mình là chủ nợ hoàn toàn vô tội; tất cả đều là những con nợ được mời bước vào căn nhà của lòng thương xót.
Mỗi lần đọc Kinh Lạy Cha, chúng ta thưa: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.” Đây có thể là lời cầu nguyện nguy hiểm nhất, vì ta đang xin Thiên Chúa dùng chính cách ta đối xử với người khác mà đối xử với ta. Ta thường đọc quá nhanh nên không cảm thấy sức nặng của lời ấy. Nếu hôm nay Chúa tha cho tôi đúng mức tôi đã tha cho người khác, tôi có bình an không? Nếu Chúa nhớ lỗi tôi lâu như tôi nhớ lỗi người khác, tôi có hy vọng không? Nếu Chúa nhắc đi nhắc lại quá khứ của tôi như tôi vẫn nhắc lại quá khứ của người thân, tôi sẽ sống thế nào? Nếu Chúa chỉ cho tôi đúng số cơ hội mà tôi dành cho người khác, tôi còn được bao nhiêu cơ hội? Kinh Lạy Cha không dạy ta mua sự tha thứ của Thiên Chúa bằng công lao tha thứ của mình; lời kinh làm cho ta ý thức rằng người đã thật sự đón nhận lòng thương xót sẽ dần trở nên giống Đấng thương xót mình. Nếu nước chảy vào một chiếc bình mà không bao giờ tràn ra, có thể chiếc bình ấy đang bị bịt kín. Nếu chúng ta nhận ơn tha thứ mà không trao đi, phải tự hỏi liệu lòng thương xót đã thật sự đi vào tâm hồn hay mới chỉ lướt qua môi miệng.
Có người nói: “Tôi sẽ tha khi người ấy xin lỗi.” Nhưng nếu Chúa cũng đợi ta ý thức đầy đủ mọi tội lỗi và xin lỗi cách hoàn hảo mới ban ơn, ai có thể được cứu? Có người nói: “Tôi sẽ tha khi họ xứng đáng.” Nhưng tha thứ, tự bản chất, luôn được trao cho người không thể dùng công trạng để đòi hỏi. Nếu người kia hoàn toàn xứng đáng thì đó là trả công, không còn là lòng thương xót. Có người nói: “Tha thứ như vậy thì họ thắng.” Không, khi ta tha thứ, sự dữ mới là kẻ thua; bởi mục đích của sự dữ không chỉ là gây ra một biến cố đau đớn, nhưng còn muốn dùng biến cố ấy để biến người bị hại thành một người cay độc, khép kín và mất bình an. Khi ta từ chối trả thù, sự dữ không thể sinh sản trong ta. Có người nói: “Tôi tha nhưng không thể quên.” Tha thứ không đòi trí nhớ phải bị xóa. Có những điều ta không thể quên, và cũng không nên quên nếu việc ghi nhớ giúp bảo vệ người yếu thế và tránh lặp lại sai lầm. Nhưng có sự khác biệt giữa nhớ một vết thương đã được chữa lành và liên tục cạy vết thương cho chảy máu; giữa nhớ để trưởng thành và nhớ để kết án; giữa mang một vết sẹo như chứng tích mình đã sống sót và mang một vết thương như căn tính duy nhất của đời mình.
Vậy chúng ta phải bắt đầu tha thứ thế nào? Hãy bắt đầu bằng việc gọi đúng tên vết thương trước mặt Chúa. Đừng nói chung chung: “Con tha hết.” Hãy thưa thật: “Lạy Chúa, con đau vì lời nói ấy; con thấy bị phản bội vì việc làm ấy; con đã mất lòng tin; con giận dữ; con muốn họ phải trả giá.” Thiên Chúa không sợ sự thật trong lòng ta. Các Thánh vịnh đầy những tiếng kêu đau đớn, những câu hỏi và cả những lời than trách. Cầu nguyện thật không phải che giấu cảm xúc bằng những lời đạo đức; cầu nguyện thật là đưa cảm xúc ấy vào trong tương quan với Chúa. Sau đó, hãy xin Chúa ngăn ta phạm thêm tội vì vết thương của mình. Ta có quyền đau, nhưng không có quyền vu khống; có quyền tìm công lý, nhưng không có quyền trả thù; có quyền giữ khoảng cách an toàn, nhưng không có quyền phủ nhận phẩm giá của người khác. Rồi hãy quyết định không phổ biến câu chuyện cho những người không cần biết chỉ để lôi kéo họ đứng về phía ta. Hãy cầu nguyện cho người đã xúc phạm, ban đầu có thể chỉ bằng một câu rất ngắn: “Lạy Chúa, xin xử sự với họ theo lòng thương xót của Chúa.” Khi đã đủ sức, hãy xin thêm: “Xin chữa lành điều gì trong họ đã khiến họ gây thương tích cho người khác.” Cuối cùng, hãy cầu nguyện cho chính mình: “Xin đừng để con trở thành điều mà con đang căm ghét.”
Tha thứ cũng cần đi đôi với việc xin lỗi. Ta thường nghe Lời Chúa rồi nghĩ ngay đến người phải được ta tha, nhưng có thể chính ta là người đầy tớ đang bóp cổ người khác. Có ai đó đang đợi một lời xin lỗi từ ta không? Có người nào ta đã xúc phạm nhưng vẫn biện minh rằng mình chỉ nói sự thật? Có đứa con nào vẫn mang vết thương vì những lời so sánh của cha mẹ? Có cha mẹ nào buồn vì sự lạnh nhạt của con cái? Có người cộng sự nào bị ta làm mất danh dự trước tập thể? Có ai đã rời khỏi cộng đoàn vì thái độ khắt khe của ta? Xin lỗi thật không phải là nói: “Nếu anh cảm thấy bị tổn thương thì tôi xin lỗi.” Cách nói ấy vẫn âm thầm đẩy trách nhiệm sang người bị đau, như thể vấn đề nằm ở cảm xúc quá nhạy cảm của họ. Lời xin lỗi chân thành phải gọi đúng việc mình đã làm: “Tôi đã nói sai; tôi đã làm anh tổn thương; tôi không có lý do để biện minh; xin anh tha thứ; tôi sẽ cố gắng sửa chữa.” Nếu thiệt hại có thể đền bù, xin lỗi phải đi kèm đền bù. Nếu danh dự người khác bị ta làm tổn thương công khai, nhiều khi sự đính chính cũng cần công khai. Lòng thương xót không phải chiếc chăn phủ lên trách nhiệm; lòng thương xót cho ta sức mạnh để nhận trách nhiệm mà không tuyệt vọng.
Khi kết thúc dụ ngôn, Chúa Giêsu nói một lời nghiêm khắc: “Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình.” Lời này khiến ta run sợ, nhưng mục đích không phải đẩy ta vào tuyệt vọng. Chúa muốn cứu ta khỏi một thứ nhà tù do chính ta xây nên. Người đầy tớ không biết thương xót cuối cùng bị trao cho lý hình. Có một hình phạt đã bắt đầu ngay khi ta cố chấp không tha: tâm hồn mất bình an, ký ức bị giam trong quá khứ, các tương quan bị đầu độc, cầu nguyện trở nên khô cứng, niềm vui hao mòn. Oán hận là một thứ lý hình ở bên trong; nó ngày đêm tra khảo người đang mang nó. Khi tha thứ, ta không thay đổi được điều đã xảy ra, nhưng với ơn Chúa, ta có thể thay đổi quyền lực mà điều ấy đang nắm giữ trên hiện tại và tương lai của mình. Ta trả lại cho Thiên Chúa quyền phán xét, trả lại cho người kia trách nhiệm của họ, và nhận lại tự do của chính ta.
Hôm nay, khi đến trước bàn thờ, mỗi người hãy mang theo một khuôn mặt, một cái tên, một biến cố mà mình vẫn chưa thể buông xuống. Ta không cần nói với ai, nhưng hãy nói với Chúa. Khi bánh và rượu được dâng lên, hãy đặt nỗi đau ấy vào chén thánh; khi Đức Kitô hiện diện trong Bí tích Thánh Thể, hãy để Đấng đã bị tổn thương mà vẫn yêu đi vào vùng ký ức đang đóng kín; khi đón nhận Mình Thánh Chúa, hãy nhớ ta đang rước lấy chính Đấng đã tha thứ cho mình. Rồi xin Người ban cho ta một trái tim mới: không phải trái tim không bao giờ bị thương, nhưng là trái tim dù bị thương vẫn không thôi yêu; không phải trái tim yếu đuối trước sự dữ, nhưng là trái tim đủ mạnh để không trả sự dữ bằng sự dữ; không phải trái tim quên mất công lý, nhưng là trái tim tìm công lý trong ánh sáng của lòng thương xót.
Có thể sau Thánh lễ này, hoàn cảnh bên ngoài chưa thay đổi. Người làm ta đau có thể vẫn không xin lỗi. Gia đình có thể vẫn còn căng thẳng. Vết thương có thể vẫn còn nhói. Nhưng nếu hôm nay ta có thể thưa với Chúa: “Con trao người ấy cho Chúa; con không muốn tiếp tục nuôi hận thù; xin dạy con tha thứ từng ngày,” thì một cánh cửa đã mở. Ánh sáng có thể đi vào từ khe cửa nhỏ ấy. Hành trình tha thứ bắt đầu không phải khi cảm xúc đã hoàn toàn bình an, nhưng khi ta thôi bảo vệ hận thù như một quyền lợi. Đừng sợ rằng tha thứ sẽ làm ta mất điều gì. Tha thứ không lấy đi phẩm giá của ta; tha thứ trả phẩm giá ấy lại. Tha thứ không làm quá khứ trở thành đúng; tha thứ không cho phép quá khứ tiếp tục phá hủy hiện tại. Tha thứ không làm người yếu thế trở nên yếu hơn; tha thứ nối họ với sức mạnh của Đấng chịu đóng đinh và đã chiến thắng sự dữ bằng tình yêu.
Xin Chúa cho chúng ta nhớ rằng món nợ người khác mắc với ta, dù có thể rất đau đớn, vẫn đang nằm trong một cuộc đời đã được Thiên Chúa tha món nợ lớn hơn rất nhiều. Xin cho ta đừng bước ra khỏi tòa giải tội để bóp cổ anh em; đừng rời bàn tiệc Thánh Thể với một trái tim vẫn đóng kín; đừng xin lòng thương xót cho mình trong khi từ chối lòng thương xót với người khác. Xin Chúa chữa lành những gia đình đang chia rẽ, những đôi vợ chồng đang lạnh nhạt, những anh chị em đang không nhìn mặt nhau, những cộng đoàn đang bị tổn thương vì hiểu lầm, ganh tị và tranh chấp. Xin Người nâng đỡ những ai mang các vết thương quá sâu, để họ hiểu rằng tha thứ là một hành trình và họ không phải bước đi một mình. Xin ban ơn hoán cải cho người gây tổn thương, sự bảo vệ cho người bị hại, công lý cho những ai bị áp bức và lòng thương xót cho tất cả chúng ta.
Và cuối cùng, xin cho mỗi người biết nhìn lên thập giá để nghe Chúa nói không chỉ về những kẻ đóng đinh Người, nhưng cả về ta: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Chính vì đã được bao phủ bởi lời cầu nguyện ấy, chúng ta mới có thể bước đến với người anh em và nói: “Tôi không phủ nhận điều đã xảy ra. Tôi vẫn còn đau. Tôi cần thời gian để chữa lành. Nhưng tôi không muốn hận thù có tiếng nói cuối cùng. Trong danh Đức Kitô, Đấng đã tha thứ cho tôi, tôi chọn bắt đầu tha thứ cho anh.” Khi ấy, phép lạ của Tin Mừng xảy ra: quá khứ không biến mất, nhưng được cứu chuộc; vết sẹo vẫn còn, nhưng không còn là dấu của thất bại mà trở thành chứng tích của ân sủng; người bị thương không còn là tù nhân mà trở thành người tự do; và thế giới, giữa bao chia rẽ, sẽ nhận ra rằng lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn đang sống, vẫn đang hoạt động, vẫn mạnh hơn oán hờn, mạnh hơn bạo lực, mạnh hơn tội lỗi và mạnh hơn cả sự chết.
Lm. Anmai, CSsR


THA THỨ ĐỂ ĐƯỢC TỰ DO, THA THỨ VÌ ĐÃ ĐƯỢC XÓT THƯƠNG
CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN – NĂM A
Hc 27,30–28,7; Rm 14,7-9; Mt 18,21-35
Có những vết thương trên thân xác rồi sẽ khép miệng theo năm tháng, nhưng cũng có những vết thương nằm sâu trong tâm hồn, bên ngoài tưởng như đã lành mà bên trong vẫn còn âm ỉ, chỉ cần ai đó vô tình nhắc đến một cái tên, một biến cố, một lời nói hay một khuôn mặt, tất cả đau đớn của quá khứ lại sống dậy như thể chuyện ấy vừa mới xảy ra hôm qua. Có những người đã đi qua nửa cuộc đời nhưng vẫn mang theo trong lòng một câu xúc phạm; có những gia đình nhiều năm không nhìn mặt nhau chỉ vì một lần tranh chấp; có những anh chị em ruột thịt cùng sinh ra từ một mái nhà, cùng gọi một người là cha, một người là mẹ, nhưng đến khi cha mẹ qua đời thì quay lưng với nhau vì một phần đất, một món tiền, một lời phân chia bị cho là không công bằng; có những đôi vợ chồng vẫn sống chung một mái nhà, vẫn ăn cùng một mâm cơm, vẫn cùng chăm sóc con cái, nhưng tâm hồn đã cách xa nhau vì những tổn thương không được chữa lành; có những người vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn rước lễ, vẫn hát rằng Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, nhưng trong lòng lại giữ chặt một danh sách những người mình không muốn tha thứ. Bởi thế, Lời Chúa của Chúa Nhật XXIV Thường Niên hôm nay không phải là một bài học đạo đức nhẹ nhàng để chúng ta nghe rồi quên, nhưng là một lời chất vấn rất mạnh, chạm thẳng vào những nơi sâu kín và đau đớn nhất trong đời sống chúng ta: Ta có thật sự muốn được chữa lành không? Ta có thật sự tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa không? Ta có sẵn sàng trao cho người khác phần lòng thương xót mà chính mình vẫn hằng ngày cầu xin Thiên Chúa ban cho không?
Sách Huấn Ca mở đầu bằng một hình ảnh rất đáng sợ: “Oán hờn và giận dữ là những điều ghê tởm, nhưng người tội lỗi cứ ôm chặt lấy.” Điều đáng sợ không chỉ nằm ở sự oán hờn, nhưng ở thái độ “ôm chặt lấy” oán hờn. Khi bị xúc phạm, chúng ta đau; điều đó tự nhiên. Khi bị phản bội, chúng ta buồn; điều đó dễ hiểu. Khi bị vu oan, bị lợi dụng, bị đối xử bất công, chúng ta có thể nổi giận; đó là phản ứng của một con người mang thương tích. Nhưng Lời Chúa cảnh báo rằng có một khoảng cách rất lớn giữa việc cảm thấy đau và việc quyết định nuôi dưỡng nỗi đau; giữa một cơn giận xuất hiện trong lòng và việc biến cơn giận ấy thành người bạn đồng hành; giữa ký ức về một biến cố đau buồn và việc ngày ngày mở lại biến cố ấy để kết án người khác. Người ôm giữ hận thù tưởng rằng mình đang nắm cổ kẻ đã làm mình tổn thương, nhưng thực ra họ đang để cho người ấy tiếp tục nắm giữ cuộc đời mình. Kẻ gây thương tích có thể đã quên câu chuyện từ lâu, có thể đang sống bình thường ở một nơi nào đó, nhưng người bị tổn thương vẫn mất ngủ, vẫn cay đắng, vẫn nhắc đi nhắc lại, vẫn để cho khuôn mặt của kẻ ấy chiếm lấy tâm trí mình. Như thế, sự việc chỉ xảy ra một lần trong lịch sử, nhưng lại được tái diễn hàng trăm, hàng ngàn lần trong ký ức. Vết thương ban đầu do người khác gây ra; những lần sau, đôi khi chính ta lại vô tình dùng ký ức để làm mình chảy máu.
Sách Huấn Ca không bảo chúng ta rằng điều ác là điều nhỏ bé, rằng bất công không đáng kể, rằng người bị hại chỉ cần quên đi tất cả. Lời Chúa không hề phủ nhận sự thật của vết thương. Trái lại, Lời Chúa nhìn thẳng vào sự nghiêm trọng của nó, nhưng không muốn sự dữ có tiếng nói cuối cùng. “Hãy bỏ qua điều sai trái cho kẻ khác, thì khi ngươi cầu khẩn, tội lỗi ngươi sẽ được tha.” Đây không phải là một cuộc trao đổi lạnh lùng theo kiểu: tôi tha cho người ta để Thiên Chúa buộc phải tha cho tôi. Đây là một chân lý thiêng liêng sâu xa hơn: một tâm hồn đóng kín trước người anh em cũng đang tự đóng kín trước ân sủng; một bàn tay nắm chặt oán hờn không còn chỗ để đón nhận hồng ân; một con tim chỉ muốn kết án sẽ dần mất khả năng cảm nhận mình cũng đang sống nhờ lòng thương xót. Người không chịu tha thứ thường nhìn tội của người khác bằng kính phóng đại, nhưng nhìn tội của mình bằng một tấm kính làm nhỏ đi. Ta nhớ rất rõ người khác đã nói gì, vào ngày nào, ở đâu, trước mặt những ai, với giọng điệu thế nào; nhưng lại dễ quên những lần chính ta đã làm người khác buồn, đã nói lời thiếu bác ái, đã xét đoán, đã vô ơn, đã lạnh lùng, đã thất hứa, đã làm tổn thương những người gần gũi nhất. Ta muốn Thiên Chúa hiểu hoàn cảnh của ta, nhưng lại không muốn hiểu hoàn cảnh của người khác; ta muốn Chúa kiên nhẫn với sự yếu đuối của ta, nhưng lại đòi người khác phải hoàn hảo; ta xin Chúa đừng chấp tội, nhưng lại ghi nhớ rất kỹ lỗi lầm của anh chị em mình.
Lời khôn ngoan của Huấn Ca còn đặt chúng ta trước giới hạn của đời người: “Hãy nhớ đến ngày tận số mà chấm dứt hận thù.” Có những cuộc giận hờn kéo dài đến khi một người nằm xuống mới khiến người còn sống bật khóc vì hối tiếc. Khi đứng trước quan tài của một người thân, những điều từng làm ta tranh chấp bỗng trở nên nhỏ bé biết bao. Mảnh đất vẫn còn đó, nhưng người anh đã không còn; món tiền vẫn còn đó, nhưng người em đã ra đi; niềm tự ái ngày nào tưởng lớn như núi, giờ chỉ còn là một nỗi ân hận không thể sửa chữa. Có người muốn nói một lời xin lỗi nhưng đã quá muộn; muốn nắm lại bàn tay nhưng bàn tay ấy đã lạnh; muốn gọi một tiếng “anh”, một tiếng “chị”, một tiếng “cha”, một tiếng “mẹ”, nhưng người thân không còn nghe được nữa. Lời Chúa hôm nay như muốn lay chúng ta tỉnh dậy: đời người rất ngắn, tại sao ta lại dành quá nhiều năm tháng quý giá để giận nhau? Ta không biết mình còn sống bao lâu, người kia còn ở bên ta bao lâu; tại sao cứ trì hoãn việc hòa giải? Có thể hôm nay là cơ hội cuối cùng để ta gọi một cuộc điện thoại, gửi một lời nhắn, bước qua một cánh cửa, nói một câu chân thành: “Tôi xin lỗi”, “Tôi đã sai”, “Tôi vẫn còn đau, nhưng tôi không muốn chúng ta tiếp tục làm khổ nhau”, “Tôi chưa thể quên ngay, nhưng tôi muốn bắt đầu tha thứ.”
Trong bài Tin Mừng, Phêrô đến hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải đến bảy lần không?” Câu hỏi của Phêrô cũng là câu hỏi của mỗi chúng ta: đến bao giờ thì đủ? Tôi đã nhịn nhiều rồi; tôi đã cho cơ hội nhiều rồi; tôi đã chủ động làm hòa nhiều rồi; tại sao lúc nào cũng phải là tôi? Phêrô đề nghị tha bảy lần, một con số rất quảng đại so với lối suy nghĩ thông thường. Trong truyền thống Do Thái, số bảy gợi sự trọn vẹn. Có lẽ Phêrô nghĩ rằng Thầy sẽ khen mình vì đã đưa ra một giới hạn cao đến thế. Nhưng Chúa Giêsu đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.” Chúa không đưa ra con số bốn trăm chín mươi để chúng ta lập sổ, tha lần thứ bốn trăm tám mươi chín rồi đến lần bốn trăm chín mươi thì tuyên bố hết hạn. “Bảy mươi lần bảy” có nghĩa là đừng biến tha thứ thành một bài toán, đừng đặt lòng thương xót lên chiếc cân, đừng giữ cuốn sổ ghi nợ trong trái tim. Bao lâu con còn là người đã được Thiên Chúa thứ tha, bấy lâu con vẫn được mời gọi trở nên người biết tha thứ. Bao lâu lòng thương xót của Chúa chưa cạn, bấy lâu lòng thương xót của người môn đệ cũng không thể bị giới hạn bởi những con số.
Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu thật đúng lời mời gọi này. Tha thứ vô hạn không có nghĩa là cho phép người khác tiếp tục làm điều ác vô hạn; tha thứ không đồng nghĩa với dung túng bạo lực, bao che tội phạm, chấp nhận bị hành hạ hay từ bỏ mọi đòi hỏi chính đáng của công lý. Một người vợ bị bạo hành có quyền tìm nơi an toàn; một đứa trẻ bị xâm hại phải được bảo vệ; một cộng đoàn bị lạm dụng cần đưa sự thật ra ánh sáng; một người gây tội ác vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tha thứ là từ bỏ ý muốn báo thù, chứ không phải từ bỏ sự thật; là không để lòng mình bị đầu độc bởi oán hận, chứ không phải giả vờ rằng chẳng có chuyện gì xảy ra; là trao việc phán xét cuối cùng cho Thiên Chúa, chứ không phải gọi điều ác là điều thiện. Có khi ta có thể tha thứ nhưng chưa thể lập tức khôi phục sự tin tưởng. Tha thứ có thể là quyết định của một phía, còn hòa giải thường cần sự chân thành và thay đổi của cả hai phía. Tin tưởng đã bị phá vỡ phải được xây dựng lại bằng thời gian, sự thật và những hành động có trách nhiệm. Vì thế, người Kitô hữu tha thứ không phải là người yếu đuối, nhu nhược hay thiếu sáng suốt. Tha thứ đích thực đòi một sức mạnh rất lớn: sức mạnh để nhìn nhận vết thương mà không biến mình thành vết thương; sức mạnh để gọi đúng tên sự dữ mà không trở nên giống như sự dữ; sức mạnh để bước ra khỏi vòng xoáy “người làm tôi đau nên tôi phải làm họ đau”; sức mạnh để nói rằng điều anh đã làm là sai, nhưng tôi không để cái sai của anh quyết định tôi sẽ trở thành người như thế nào.
Để giúp Phêrô và chúng ta hiểu nguồn gốc của lòng tha thứ, Chúa Giêsu kể dụ ngôn về một ông vua muốn tính sổ với các đầy tớ. Người ta dẫn đến một kẻ mắc nợ vua mười ngàn yến vàng. Đây là một con số khổng lồ, vượt quá sức thanh toán của một con người. Chúa Giêsu cố ý dùng một món nợ không thể trả để cho thấy tình trạng thật của chúng ta trước mặt Thiên Chúa. Người đầy tớ quỳ xuống van xin: “Thưa Ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết.” Lời hứa ấy thật ra không thể thực hiện. Dù có được thêm nhiều đời, hắn cũng không đủ khả năng trả món nợ quá lớn. Nhưng ông vua không chỉ hoãn nợ; ông chạnh lòng thương, thả hắn về và tha luôn món nợ. Người đầy tớ chỉ xin thêm thời gian, nhưng lại nhận được tự do; chỉ xin trì hoãn hình phạt, nhưng lại được xóa sạch khoản nợ; chỉ dám mong một chút kiên nhẫn, nhưng lại gặp một đại dương lòng thương xót.
Đó chính là câu chuyện đời chúng ta. Trước mặt Thiên Chúa, chúng ta không phải là những người vô tội đang làm ơn cho người khác khi tha thứ. Chúng ta là những con nợ đã được tha. Mỗi ngày ta sống là một ngày nhận ân huệ; mỗi hơi thở là quà tặng; mỗi lần được đứng dậy sau vấp ngã là lòng thương xót; mỗi lần đến với Bí tích Hòa Giải và nghe lời tha tội là một món nợ được xóa; mỗi lần Chúa vẫn cho ta cơ hội làm lại dù ta đã bao lần thất hứa là một phép lạ của lòng bao dung. Ta đã biết bao lần thưa rằng sẽ thay đổi rồi lại yếu đuối; bao lần hứa sẽ cầu nguyện rồi lại lười biếng; bao lần xin Chúa chữa một thói xấu rồi lại trở về với nó; bao lần nhận ra điều thiện nhưng không làm, biết lời gây đau nhưng vẫn nói, biết người kia cần được quan tâm nhưng vẫn dửng dưng. Nếu Chúa tính toán với ta theo lối ta tính toán với người khác, ai trong chúng ta có thể đứng vững? Nếu mỗi lần ta tái phạm, Chúa đều nói: “Đây là lần cuối cùng”, thì có lẽ từ lâu ta đã không còn cơ hội trở về. Nhưng Chúa vẫn đợi, vẫn tìm, vẫn gọi, vẫn tha, vẫn mở cửa. Thập giá của Đức Kitô chính là biên lai của món nợ đã được xóa bằng máu của Con Thiên Chúa.
Bi kịch của dụ ngôn bắt đầu ngay khi người đầy tớ vừa được tha bước ra ngoài. Hắn gặp một người bạn mắc nợ mình một trăm quan tiền. Món nợ này không phải là không đáng kể, nhưng nếu đặt bên cạnh mười ngàn yến vàng vừa được xóa thì nó trở nên vô cùng nhỏ bé. Hắn túm lấy, bóp cổ người bạn và nói: “Trả nợ cho tao!” Người bạn quỳ xuống, dùng gần như nguyên văn lời hắn vừa thưa với nhà vua: “Xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh.” Nhưng hắn không chịu. Hắn vừa được nghe lời van xin của mình và được thương xót; nay nghe chính lời ấy từ miệng người khác mà lòng vẫn đóng kín. Hắn đã nhận được lòng thương xót, nhưng lòng thương xót không đi vào được trái tim hắn; hắn được xóa nợ trên sổ sách, nhưng vẫn sống như một con người chưa từng được tha; hắn ra khỏi cung điện của ân sủng nhưng mang nguyên vẹn lối sống của nhà tù. Đây là thảm kịch lớn nhất của đời sống đạo: ở rất gần lòng thương xót mà không trở thành người có lòng thương xót; thường xuyên đọc kinh Lạy Cha mà vẫn nuôi thù hận; nhiều lần xưng tội nhưng không chịu thay đổi cách đối xử với người khác; rước lấy Mình Thánh của Đấng đã cầu nguyện cho kẻ đóng đinh mình, rồi bước ra ngoài để tiếp tục bóp cổ anh em bằng lời nói, ánh mắt, sự im lặng và thái độ kết án.
Đôi khi chúng ta không bóp cổ người khác bằng hai bàn tay, nhưng bằng cách bôi nhọ danh dự của họ; không tống họ vào ngục bằng nhà tù bằng đá, nhưng giam họ trong những định kiến không cho họ cơ hội thay đổi. Ta nói: “Con người ấy là như vậy”, “Hắn không bao giờ tốt được”, “Tôi biết rõ loại người đó”, “Tôi sẽ không bao giờ quên”, “Tôi muốn cho mọi người biết bộ mặt thật của hắn.” Có khi ta đã tha ngoài miệng nhưng vẫn muốn kể lại lỗi của người kia với càng nhiều người càng tốt; nói rằng mình không trả thù nhưng âm thầm vui khi họ gặp khó khăn; nói rằng đã bỏ qua nhưng vẫn dùng chuyện cũ làm vũ khí mỗi khi tranh luận. Như thế chưa phải là tha từ trong lòng. Tha thứ từ trong lòng không có nghĩa là ký ức lập tức biến mất hay cảm xúc lập tức bình yên. Nó có nghĩa là tôi không cố ý nuôi dưỡng hận thù; không cầu mong điều dữ xảy đến cho người đã làm tôi đau; không dùng lỗi quá khứ để tước bỏ phẩm giá hiện tại của họ; sẵn sàng cầu xin Thiên Chúa chạm đến họ và chạm đến tôi; mỗi lần ký ức trở lại, tôi lại đặt nó dưới chân thập giá. Tha thứ không luôn là một khoảnh khắc; nhiều khi đó là một hành trình phải bắt đầu lại “bảy mươi lần bảy”. Hôm nay tôi tha, ngày mai nỗi đau trở lại, tôi lại tha; tuần sau một lời nhắc khiến tôi bật khóc, tôi lại trao người ấy cho Chúa; năm sau vết sẹo vẫn nhói, tôi lại cầu nguyện: “Lạy Chúa, con chưa đủ sức, xin Chúa tha thứ trong con.”
Câu chuyện của bà Phan Thị Kim Phúc là một chứng từ sống động về hành trình ấy. Tấm ảnh cô bé chín tuổi chạy trên đường, thân thể bị bỏng vì bom napalm trong chiến tranh Việt Nam, đã trở thành một trong những hình ảnh đau thương nhất của thế kỷ XX. Phía sau bức ảnh là một con người thật, một thân thể phải chịu nhiều cuộc điều trị, một tâm hồn phải chiến đấu với đau đớn, cay đắng và ký ức chiến tranh. Nhiều năm sau, khi gặp người từng nhận mình có liên hệ trách nhiệm đến cuộc không kích ấy và nghe lời xin lỗi, bà đã mở vòng tay đón nhận và nói lời tha thứ. Cái ôm ấy không thể làm biến mất những vết sẹo trên thân thể; nó không thể thay đổi quá khứ; không thể biến bom đạn thành điều chưa từng xảy ra. Nhưng cái ôm ấy tuyên bố rằng bom napalm có thể làm cháy da thịt một đứa trẻ, song không được phép thiêu rụi toàn bộ tương lai của người phụ nữ ấy; chiến tranh có thể để lại sẹo trên thân xác, nhưng không nhất thiết phải tiếp tục cai trị trái tim. Khi tha thứ, bà không nói rằng điều đã xảy ra là nhỏ bé. Trái lại, chính vì vết thương quá lớn nên việc tha thứ càng bộc lộ một quyền năng không đến từ sức riêng của con người. Bà từng chia sẻ rằng nếu tiếp tục giữ hận thù, bà sẽ mãi là tù nhân của quá khứ; còn tha thứ đã giải phóng chính bà và mở ra con đường tự do cho cả người xin lỗi. Đó là điều Chúa Giêsu muốn thực hiện trong chúng ta: Người không chỉ truyền cho ta tha để người xúc phạm được nhẹ nhõm; Người mời ta tha vì không muốn chính ta tiếp tục bị giam trong nhà tù của biến cố đã qua. Chứng từ Kim Phúc và chủ đề tha thứ
Một chứng từ khác đã làm cả thế giới xúc động là cuộc gặp giữa Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II và Mehmet Ali Ağca, người đã nổ súng ám sát ngài tại Quảng trường Thánh Phêrô ngày 13 tháng 5 năm 1981. Viên đạn đã làm Đức Giáo hoàng bị thương nặng. Nhưng sau khi bình phục, ngài tuyên bố đã tha thứ cho người bắn mình. Đến năm 1983, ngài vào nhà tù Rebibbia tại Rôma, ngồi đối diện và trò chuyện riêng với người đã muốn lấy mạng mình. Hai con người ngồi gần nhau trong một phòng giam: một người mặc áo trắng mang những dấu vết của viên đạn, người kia mang thân phận tù nhân. Thế giới nhìn thấy một hình ảnh mà logic báo thù không thể giải thích. Đức Giáo hoàng không phủ nhận tội ác, không can thiệp để biến công lý thành vô nghĩa, nhưng ngài từ chối để viên đạn tạo ra viên đạn thứ hai trong tâm hồn mình. Người kia đã bắn vào thân thể ngài; ngài không cho phép hận thù bắn thủng trái tim mình. Về sau, trong Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình năm 2002, Thánh Gioan Phaolô II trình bày một xác tín mạnh mẽ: không có hòa bình nếu không có công lý, và cũng không có công lý nếu không có tha thứ. Công lý không đồng nghĩa với báo thù. Báo thù chỉ hỏi: “Làm sao để người ấy phải đau như tôi đã đau?” Công lý đích thực hỏi: “Làm sao để sự thật được tôn trọng, người bị hại được bảo vệ, người gây hại chịu trách nhiệm và vòng xoáy sự dữ được chấm dứt?” Tha thứ không phá hủy công lý; tha thứ thanh luyện công lý khỏi nọc độc của lòng căm thù. Nếu chỉ có công lý mà không có lòng thương xót, thế giới có thể biến thành một phòng xử án không bao giờ đóng cửa; ai cũng kết tội nhau, thế hệ này trả món nợ của thế hệ trước, bạo lực này sinh ra bạo lực khác. Chỉ có tha thứ mới mở được một cánh cửa mà luật báo trả không thể mở. Cuộc gặp giữa Thánh Gioan Phaolô II và người ám sát ngài
Chứng từ thứ ba còn làm chúng ta sửng sốt hơn nữa. Ngày 2 tháng 10 năm 2006, tại Nickel Mines, Pennsylvania, một tay súng xông vào ngôi trường nhỏ của cộng đồng Amish, bắn mười bé gái, làm năm em thiệt mạng rồi tự sát. Không lời nào có thể diễn tả hết nỗi đau của những người cha, người mẹ phải nhìn con mình chết bởi một hành vi tàn bạo. Theo lẽ tự nhiên, người ta có thể hiểu nếu các gia đình ấy phẫn nộ, nguyền rủa và căm ghét. Nhưng ngay trong thời gian tang tóc, các thành viên cộng đồng Amish đã đến thăm vợ góa, cha mẹ và gia đình của tay súng để an ủi họ; họ tham dự tang lễ, giúp che chở gia đình ấy khỏi sự săn đuổi của truyền thông và chia sẻ cả sự hỗ trợ vật chất. Điều đó không có nghĩa họ không khóc; không có nghĩa nỗi đau của họ nhẹ hơn; càng không có nghĩa họ coi thường mạng sống của con em mình. Họ tha thứ không phải vì những đứa trẻ không đáng quý, nhưng vì chính các em quá quý nên họ không muốn ký ức về các em bị bao phủ mãi bởi bóng tối hận thù. Họ ý thức rằng một gia đình khác cũng đang tan nát vì hành vi của người thân mình. Trong lúc có đầy đủ lý do để khép lòng, họ đã đưa lòng thương xót bước qua ngưỡng cửa. Họ không đợi cảm xúc hoàn toàn ổn định mới bắt đầu tha thứ; họ hành động theo niềm tin, rồi để ân sủng dẫn cảm xúc đi theo. Tha thứ của họ là một lời tuyên xưng rằng sự dữ có thể giết chết, nhưng không được phép quyết định cộng đoàn này sẽ trở thành một cộng đoàn căm thù; cái chết có thể cướp đi những đứa trẻ, nhưng không cướp được Tin Mừng ra khỏi trái tim cha mẹ các em.
Nghe những câu chuyện ấy, nhiều người trong chúng ta có thể nghĩ: đó là những con người phi thường, còn tôi chỉ là một con người bình thường; vết thương của tôi quá sâu, người làm tôi đau chưa bao giờ xin lỗi, thậm chí họ còn cho rằng mình đúng; tôi muốn tha nhưng không thể. Nếu đó là tình trạng của chúng ta, đừng vội thất vọng và cũng đừng giả vờ. Thiên Chúa không đòi chúng ta tạo ra cảm xúc mà mình chưa có. Người mời ta bắt đầu bằng một ước muốn nhỏ bé: “Lạy Chúa, con chưa tha được, nhưng con muốn muốn tha.” Có khi ngay cả ước muốn ấy cũng chưa có, ta có thể cầu nguyện: “Lạy Chúa, con chưa muốn tha; xin ban cho con ước muốn muốn tha.” Thiên Chúa có thể bắt đầu công trình của Người từ một khe cửa rất nhỏ. Điều quan trọng là đừng khóa kín cửa và ném chìa khóa đi. Ta không cần chờ đến lúc trong lòng không còn đau mới quyết định tha thứ, vì nhiều khi chính quyết định tha thứ sẽ mở đường cho việc chữa lành. Tha thứ giống như tháo một nút thắt đã bị siết chặt qua nhiều năm: không phải chỉ kéo một lần là bung ra; cần kiên nhẫn, cầu nguyện, đôi khi cần sự nâng đỡ của linh mục, người hướng dẫn thiêng liêng, chuyên viên tâm lý hay một người khôn ngoan đáng tin cậy. Ân sủng không loại bỏ tiến trình con người; ân sủng đi vào tiến trình ấy, nâng đỡ và biến đổi nó.
Bài đọc thứ hai giúp ta nhìn tha thứ từ một nền tảng khác: “Không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa.” Tôi không phải là chủ nhân tuyệt đối của đời mình. Tôi thuộc về Đức Kitô. Người anh em đã xúc phạm tôi, dù tội lỗi đến đâu, cũng không hoàn toàn thuộc quyền phán xét của tôi. Họ cũng là một thụ tạo được Thiên Chúa dựng nên, một linh hồn mà Đức Kitô đã đổ máu cứu chuộc. Điều này không xóa trách nhiệm của họ, nhưng ngăn tôi tự đặt mình vào chỗ của Thiên Chúa. Khi kết án một người không còn khả năng thay đổi, tôi đang chiếm lấy quyền mà chỉ Thiên Chúa có. Chừng nào một người còn sống, chừng ấy ân sủng vẫn có thể tìm đến họ. Người trộm lành đã thay đổi trong những giờ phút cuối cùng; Saolô từ kẻ bách hại trở thành Tông đồ; Phêrô từ người chối Thầy trở thành đá tảng; người phụ nữ tội lỗi được trả lại phẩm giá; Giakêu từ kẻ thu lợi bất chính trở thành người đền bù quảng đại. Nếu Chúa đóng khung họ trong quá khứ, đã không có các vị thánh. Vậy tôi là ai mà dám tuyên bố một con người chỉ là điều xấu xa nhất họ từng làm?
Tha thứ còn là một đòi hỏi sống còn đối với gia đình và cộng đoàn. Không có gia đình nào tồn tại nếu mọi lỗi lầm đều được ghi sổ; không có hôn nhân nào bền vững nếu mỗi cuộc tranh luận đều lôi toàn bộ quá khứ ra làm bằng chứng buộc tội; không có cộng đoàn tu trì hay giáo xứ nào hiệp nhất nếu mỗi người chỉ bảo vệ cái tôi và đợi người khác xin lỗi trước. Sống chung là chấp nhận rằng ta sẽ vô tình hay hữu ý làm nhau tổn thương. Người gần ta nhất thường cũng là người có khả năng làm ta đau nhất, vì họ biết ta mong đợi điều gì, yếu đuối ở đâu và nhạy cảm về điều gì. Tha thứ vì thế không phải một đề tài hiếm hoi dành cho những biến cố lớn; đó là cơm bánh hằng ngày của đời sống chung. Ta cần tha cho người nói chen khi ta đang kể chuyện, người quên lời đã hứa, người không nhìn thấy nỗ lực của ta, người hiểu lầm ý tốt, người trả lời cộc lốc vì đang mệt, người có cách làm việc khác ta. Nếu mọi va chạm nhỏ đều được giữ lại, chúng sẽ tích tụ thành bức tường lớn. Có những gia đình không tan vỡ vì một biến cố khủng khiếp, nhưng vì hàng ngàn khó chịu nhỏ bé không bao giờ được nói ra, không bao giờ được xin lỗi và không bao giờ được tha thứ.
Muốn học tha thứ, trước hết ta cần trở về dưới chân thập giá. Ở đó, Chúa Giêsu không giảng một lý thuyết về tha thứ; Người tha thứ bằng chính máu mình. Giữa lúc bị chế nhạo, bị đóng đinh, bị đối xử như một tội nhân, Người cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Người không đợi quân lính tháo đinh; không đợi đám đông nhận lỗi; không đợi những người kết án quỳ xuống xin tha. Từ trên thập giá, Người chủ động mở dòng thương xót. Chúa biết rất rõ họ đang làm gì về mặt bên ngoài, nhưng Người cũng nhìn thấy sự mù tối, sợ hãi, tham vọng và tội lỗi đang trói buộc họ. Người phân biệt con người với tội lỗi của họ: chống lại tội nhưng cứu lấy tội nhân; phơi bày bóng tối nhưng không dập tắt hy vọng. Mỗi lần thấy khó tha thứ, ta hãy nhìn lên thập giá và nhớ rằng trên đó có cả tội của người đã làm ta đau lẫn tội của chính ta. Người kia cần dòng máu cứu độ, và ta cũng cần dòng máu ấy. Dưới chân thập giá, không ai có thể tự hào mình là chủ nợ hoàn toàn vô tội; tất cả đều là những con nợ được mời bước vào căn nhà của lòng thương xót.
Mỗi lần đọc Kinh Lạy Cha, chúng ta thưa: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.” Đây có thể là lời cầu nguyện nguy hiểm nhất, vì ta đang xin Thiên Chúa dùng chính cách ta đối xử với người khác mà đối xử với ta. Ta thường đọc quá nhanh nên không cảm thấy sức nặng của lời ấy. Nếu hôm nay Chúa tha cho tôi đúng mức tôi đã tha cho người khác, tôi có bình an không? Nếu Chúa nhớ lỗi tôi lâu như tôi nhớ lỗi người khác, tôi có hy vọng không? Nếu Chúa nhắc đi nhắc lại quá khứ của tôi như tôi vẫn nhắc lại quá khứ của người thân, tôi sẽ sống thế nào? Nếu Chúa chỉ cho tôi đúng số cơ hội mà tôi dành cho người khác, tôi còn được bao nhiêu cơ hội? Kinh Lạy Cha không dạy ta mua sự tha thứ của Thiên Chúa bằng công lao tha thứ của mình; lời kinh làm cho ta ý thức rằng người đã thật sự đón nhận lòng thương xót sẽ dần trở nên giống Đấng thương xót mình. Nếu nước chảy vào một chiếc bình mà không bao giờ tràn ra, có thể chiếc bình ấy đang bị bịt kín. Nếu chúng ta nhận ơn tha thứ mà không trao đi, phải tự hỏi liệu lòng thương xót đã thật sự đi vào tâm hồn hay mới chỉ lướt qua môi miệng.
Có người nói: “Tôi sẽ tha khi người ấy xin lỗi.” Nhưng nếu Chúa cũng đợi ta ý thức đầy đủ mọi tội lỗi và xin lỗi cách hoàn hảo mới ban ơn, ai có thể được cứu? Có người nói: “Tôi sẽ tha khi họ xứng đáng.” Nhưng tha thứ, tự bản chất, luôn được trao cho người không thể dùng công trạng để đòi hỏi. Nếu người kia hoàn toàn xứng đáng thì đó là trả công, không còn là lòng thương xót. Có người nói: “Tha thứ như vậy thì họ thắng.” Không, khi ta tha thứ, sự dữ mới là kẻ thua; bởi mục đích của sự dữ không chỉ là gây ra một biến cố đau đớn, nhưng còn muốn dùng biến cố ấy để biến người bị hại thành một người cay độc, khép kín và mất bình an. Khi ta từ chối trả thù, sự dữ không thể sinh sản trong ta. Có người nói: “Tôi tha nhưng không thể quên.” Tha thứ không đòi trí nhớ phải bị xóa. Có những điều ta không thể quên, và cũng không nên quên nếu việc ghi nhớ giúp bảo vệ người yếu thế và tránh lặp lại sai lầm. Nhưng có sự khác biệt giữa nhớ một vết thương đã được chữa lành và liên tục cạy vết thương cho chảy máu; giữa nhớ để trưởng thành và nhớ để kết án; giữa mang một vết sẹo như chứng tích mình đã sống sót và mang một vết thương như căn tính duy nhất của đời mình.
Vậy chúng ta phải bắt đầu tha thứ thế nào? Hãy bắt đầu bằng việc gọi đúng tên vết thương trước mặt Chúa. Đừng nói chung chung: “Con tha hết.” Hãy thưa thật: “Lạy Chúa, con đau vì lời nói ấy; con thấy bị phản bội vì việc làm ấy; con đã mất lòng tin; con giận dữ; con muốn họ phải trả giá.” Thiên Chúa không sợ sự thật trong lòng ta. Các Thánh vịnh đầy những tiếng kêu đau đớn, những câu hỏi và cả những lời than trách. Cầu nguyện thật không phải che giấu cảm xúc bằng những lời đạo đức; cầu nguyện thật là đưa cảm xúc ấy vào trong tương quan với Chúa. Sau đó, hãy xin Chúa ngăn ta phạm thêm tội vì vết thương của mình. Ta có quyền đau, nhưng không có quyền vu khống; có quyền tìm công lý, nhưng không có quyền trả thù; có quyền giữ khoảng cách an toàn, nhưng không có quyền phủ nhận phẩm giá của người khác. Rồi hãy quyết định không phổ biến câu chuyện cho những người không cần biết chỉ để lôi kéo họ đứng về phía ta. Hãy cầu nguyện cho người đã xúc phạm, ban đầu có thể chỉ bằng một câu rất ngắn: “Lạy Chúa, xin xử sự với họ theo lòng thương xót của Chúa.” Khi đã đủ sức, hãy xin thêm: “Xin chữa lành điều gì trong họ đã khiến họ gây thương tích cho người khác.” Cuối cùng, hãy cầu nguyện cho chính mình: “Xin đừng để con trở thành điều mà con đang căm ghét.”
Tha thứ cũng cần đi đôi với việc xin lỗi. Ta thường nghe Lời Chúa rồi nghĩ ngay đến người phải được ta tha, nhưng có thể chính ta là người đầy tớ đang bóp cổ người khác. Có ai đó đang đợi một lời xin lỗi từ ta không? Có người nào ta đã xúc phạm nhưng vẫn biện minh rằng mình chỉ nói sự thật? Có đứa con nào vẫn mang vết thương vì những lời so sánh của cha mẹ? Có cha mẹ nào buồn vì sự lạnh nhạt của con cái? Có người cộng sự nào bị ta làm mất danh dự trước tập thể? Có ai đã rời khỏi cộng đoàn vì thái độ khắt khe của ta? Xin lỗi thật không phải là nói: “Nếu anh cảm thấy bị tổn thương thì tôi xin lỗi.” Cách nói ấy vẫn âm thầm đẩy trách nhiệm sang người bị đau, như thể vấn đề nằm ở cảm xúc quá nhạy cảm của họ. Lời xin lỗi chân thành phải gọi đúng việc mình đã làm: “Tôi đã nói sai; tôi đã làm anh tổn thương; tôi không có lý do để biện minh; xin anh tha thứ; tôi sẽ cố gắng sửa chữa.” Nếu thiệt hại có thể đền bù, xin lỗi phải đi kèm đền bù. Nếu danh dự người khác bị ta làm tổn thương công khai, nhiều khi sự đính chính cũng cần công khai. Lòng thương xót không phải chiếc chăn phủ lên trách nhiệm; lòng thương xót cho ta sức mạnh để nhận trách nhiệm mà không tuyệt vọng.
Khi kết thúc dụ ngôn, Chúa Giêsu nói một lời nghiêm khắc: “Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình.” Lời này khiến ta run sợ, nhưng mục đích không phải đẩy ta vào tuyệt vọng. Chúa muốn cứu ta khỏi một thứ nhà tù do chính ta xây nên. Người đầy tớ không biết thương xót cuối cùng bị trao cho lý hình. Có một hình phạt đã bắt đầu ngay khi ta cố chấp không tha: tâm hồn mất bình an, ký ức bị giam trong quá khứ, các tương quan bị đầu độc, cầu nguyện trở nên khô cứng, niềm vui hao mòn. Oán hận là một thứ lý hình ở bên trong; nó ngày đêm tra khảo người đang mang nó. Khi tha thứ, ta không thay đổi được điều đã xảy ra, nhưng với ơn Chúa, ta có thể thay đổi quyền lực mà điều ấy đang nắm giữ trên hiện tại và tương lai của mình. Ta trả lại cho Thiên Chúa quyền phán xét, trả lại cho người kia trách nhiệm của họ, và nhận lại tự do của chính ta.
Hôm nay, khi đến trước bàn thờ, mỗi người hãy mang theo một khuôn mặt, một cái tên, một biến cố mà mình vẫn chưa thể buông xuống. Ta không cần nói với ai, nhưng hãy nói với Chúa. Khi bánh và rượu được dâng lên, hãy đặt nỗi đau ấy vào chén thánh; khi Đức Kitô hiện diện trong Bí tích Thánh Thể, hãy để Đấng đã bị tổn thương mà vẫn yêu đi vào vùng ký ức đang đóng kín; khi đón nhận Mình Thánh Chúa, hãy nhớ ta đang rước lấy chính Đấng đã tha thứ cho mình. Rồi xin Người ban cho ta một trái tim mới: không phải trái tim không bao giờ bị thương, nhưng là trái tim dù bị thương vẫn không thôi yêu; không phải trái tim yếu đuối trước sự dữ, nhưng là trái tim đủ mạnh để không trả sự dữ bằng sự dữ; không phải trái tim quên mất công lý, nhưng là trái tim tìm công lý trong ánh sáng của lòng thương xót.
Có thể sau Thánh lễ này, hoàn cảnh bên ngoài chưa thay đổi. Người làm ta đau có thể vẫn không xin lỗi. Gia đình có thể vẫn còn căng thẳng. Vết thương có thể vẫn còn nhói. Nhưng nếu hôm nay ta có thể thưa với Chúa: “Con trao người ấy cho Chúa; con không muốn tiếp tục nuôi hận thù; xin dạy con tha thứ từng ngày,” thì một cánh cửa đã mở. Ánh sáng có thể đi vào từ khe cửa nhỏ ấy. Hành trình tha thứ bắt đầu không phải khi cảm xúc đã hoàn toàn bình an, nhưng khi ta thôi bảo vệ hận thù như một quyền lợi. Đừng sợ rằng tha thứ sẽ làm ta mất điều gì. Tha thứ không lấy đi phẩm giá của ta; tha thứ trả phẩm giá ấy lại. Tha thứ không làm quá khứ trở thành đúng; tha thứ không cho phép quá khứ tiếp tục phá hủy hiện tại. Tha thứ không làm người yếu thế trở nên yếu hơn; tha thứ nối họ với sức mạnh của Đấng chịu đóng đinh và đã chiến thắng sự dữ bằng tình yêu.
Xin Chúa cho chúng ta nhớ rằng món nợ người khác mắc với ta, dù có thể rất đau đớn, vẫn đang nằm trong một cuộc đời đã được Thiên Chúa tha món nợ lớn hơn rất nhiều. Xin cho ta đừng bước ra khỏi tòa giải tội để bóp cổ anh em; đừng rời bàn tiệc Thánh Thể với một trái tim vẫn đóng kín; đừng xin lòng thương xót cho mình trong khi từ chối lòng thương xót với người khác. Xin Chúa chữa lành những gia đình đang chia rẽ, những đôi vợ chồng đang lạnh nhạt, những anh chị em đang không nhìn mặt nhau, những cộng đoàn đang bị tổn thương vì hiểu lầm, ganh tị và tranh chấp. Xin Người nâng đỡ những ai mang các vết thương quá sâu, để họ hiểu rằng tha thứ là một hành trình và họ không phải bước đi một mình. Xin ban ơn hoán cải cho người gây tổn thương, sự bảo vệ cho người bị hại, công lý cho những ai bị áp bức và lòng thương xót cho tất cả chúng ta.
Và cuối cùng, xin cho mỗi người biết nhìn lên thập giá để nghe Chúa nói không chỉ về những kẻ đóng đinh Người, nhưng cả về ta: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Chính vì đã được bao phủ bởi lời cầu nguyện ấy, chúng ta mới có thể bước đến với người anh em và nói: “Tôi không phủ nhận điều đã xảy ra. Tôi vẫn còn đau. Tôi cần thời gian để chữa lành. Nhưng tôi không muốn hận thù có tiếng nói cuối cùng. Trong danh Đức Kitô, Đấng đã tha thứ cho tôi, tôi chọn bắt đầu tha thứ cho anh.” Khi ấy, phép lạ của Tin Mừng xảy ra: quá khứ không biến mất, nhưng được cứu chuộc; vết sẹo vẫn còn, nhưng không còn là dấu của thất bại mà trở thành chứng tích của ân sủng; người bị thương không còn là tù nhân mà trở thành người tự do; và thế giới, giữa bao chia rẽ, sẽ nhận ra rằng lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn đang sống, vẫn đang hoạt động, vẫn mạnh hơn oán hờn, mạnh hơn bạo lực, mạnh hơn tội lỗi và mạnh hơn cả sự chết.
Lm. Anmai, CSsR

BUÔNG ĐI ĐỂ ĐÔI TAY CÓ THỂ ĐÓN NHẬN LÒNG THƯƠNG XÓT
“Giận dữ và oán hờn, cả hai đều đáng ghê tởm, thế mà người tội lỗi cứ ôm chặt lấy.” Lời mở đầu của sách Huấn Ca hôm nay vừa thẳng thắn vừa đau đớn, bởi lời ấy không chỉ nói về một thói xấu xa lạ nơi những con người nào đó ở ngoài chúng ta, nhưng chạm đúng vào một góc tối rất thật trong lòng mỗi người. Chúng ta thường biết giận dữ làm mình mất bình an, biết oán hờn khiến tâm hồn mệt mỏi, biết nuôi hận chẳng thể thay đổi quá khứ, biết giữ mãi một vết thương chỉ làm cho nó thêm đau, vậy mà chúng ta vẫn ôm chặt lấy tất cả những điều ấy. Chúng ta ôm lấy nỗi giận như ôm một thứ tài sản riêng; giữ một mối hận như giữ bằng chứng rằng mình đã từng bị đối xử bất công; nhắc đi nhắc lại lỗi lầm của người khác như thể chỉ cần quên đi một chút thì công lý sẽ bị phản bội và phẩm giá của mình sẽ bị hạ thấp. Có những điều càng giữ càng làm chúng ta nặng nề, càng ôm càng làm chúng ta đau đớn, càng nhớ càng khiến cuộc đời mất đi niềm vui, nhưng chúng ta lại không muốn buông. Có người đã qua đời mà ta vẫn còn giận. Có chuyện đã xảy ra từ mười năm, hai mươi năm, thậm chí lâu hơn nữa, nhưng mỗi khi nhắc lại, giọng nói vẫn thay đổi, khuôn mặt vẫn căng lên, trái tim vẫn nhói đau như sự việc mới xảy ra hôm qua. Có một lời nói tưởng đã chìm vào quá khứ, nhưng ta vẫn cất giữ nguyên vẹn trong trí nhớ. Có một cách cư xử của cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, con cái, hàng xóm, người cùng cộng đoàn hay cùng giáo xứ đã trở thành chiếc gai cắm sâu trong tâm hồn. Ta không lấy nó ra, có khi còn âm thầm đẩy nó vào sâu hơn bằng việc suy diễn, nhắc lại, kể cho người khác nghe, tìm thêm người đứng về phía mình và gom góp mọi khuyết điểm của người đã làm ta tổn thương để chứng minh rằng mình có quyền giận họ. Càng làm như thế, ta càng tưởng mình đang bảo vệ công lý, nhưng thực ra có thể ta đang trao quyền điều khiển đời mình cho chính người đã làm mình đau. Họ chỉ làm ta tổn thương một lần, còn ta tự làm mình tổn thương thêm hàng trăm lần bằng ký ức, tưởng tượng, cay đắng và oán trách. Họ có thể đã quên câu nói ấy, nhưng ta lại đem nó vào giấc ngủ, mang nó đến bàn ăn, đưa nó vào lời cầu nguyện, thậm chí mang nó đến tận nhà thờ. Thân xác ta ngồi trước mặt Chúa, miệng đọc kinh, tay chắp lại, nhưng trong lòng vẫn đang mở một phiên tòa, ở đó ta vừa làm nguyên cáo, vừa làm công tố viên, vừa làm thẩm phán, còn người đã xúc phạm đến ta thì không bao giờ được phép biện hộ, không bao giờ được giảm án và cũng chẳng bao giờ có cơ hội làm lại cuộc đời.
Không chỉ giận dữ và oán hờn, chúng ta còn ôm chặt rất nhiều điều chẳng đem lại ích lợi nào mà chỉ gây tổn thương, chia rẽ chúng ta với nhau và ngăn cách chúng ta với Thiên Chúa. Ta ôm lòng cay đắng vì người khác được yêu mến hơn mình; ôm sự ganh tị vì họ thành công trong khi ta gặp thất bại; ôm tự ái vì lời góp ý làm ta thấy mình bị coi thường; ôm thành kiến vì đã từng nghe một câu chuyện không tốt về ai đó; ôm lòng kiêu hãnh cứng đầu vì sợ rằng nếu chủ động làm hòa, người ta sẽ tưởng ta yếu đuối hoặc nhận phần sai về mình. Ta ôm những nhãn hiệu đã dán lên người khác: “Nó là người ích kỷ”, “Ông ấy là người giả hình”, “Bà ấy chẳng bao giờ thay đổi”, “Gia đình đó vốn là như thế”, “Con người ấy không đáng tin”, “Tôi biết rõ họ rồi”. Từ đó, dù người khác có cố gắng đến đâu, ta cũng chỉ nhìn thấy điều xác nhận định kiến của mình. Một việc tốt của họ bị coi là giả tạo; một lời xin lỗi bị cho là đóng kịch; một nỗ lực sửa đổi bị nghi ngờ là có mục đích; một phút yếu đuối lại được dùng để kết luận rằng họ vẫn chẳng thay đổi gì. Khi thành kiến đã chiếm chỗ trong lòng, ta không còn gặp một con người sống động nữa, mà chỉ gặp hình ảnh méo mó do chính sự tổn thương của mình dựng nên. Biết bao thời giờ và sức lực đã bị tiêu hao vì những điều ấy! Biết bao đêm không ngủ chỉ để nghĩ về câu người khác đã nói! Biết bao ngày đáng lẽ có thể bình an lại bị phủ bóng bởi một ánh mắt, một lời nhận xét, một sự hiểu lầm! Biết bao năng lượng đáng lẽ được dùng để yêu thương, phục vụ, sáng tạo và xây dựng lại bị dùng để tranh cãi trong tưởng tượng, chuẩn bị những câu đáp trả, tìm cách chứng minh mình đúng hoặc mong chờ ngày người kia phải trả giá! Nếu đem tất cả thời gian đã dùng để nuôi giận hờn mà dành cho cầu nguyện, có lẽ ta đã trở nên gần Chúa hơn biết bao. Nếu đem sức lực đã dùng để nói xấu mà dành để an ủi một người cô độc, cuộc đời đã có thêm biết bao niềm vui. Nếu đem những năm tháng dùng để giữ khoảng cách mà dành để xây cầu nối, nhiều gia đình đã không phải sống dưới cùng một mái nhà mà lòng xa nhau như những người xa lạ. Trong gia đình, chỉ vì một chuyện phân chia tài sản mà anh em không nhìn mặt nhau; chỉ vì một lời nói của mẹ chồng hay nàng dâu mà căn nhà mất bình an; chỉ vì cha mẹ từng thiên vị mà những người con mang mặc cảm và cạnh tranh với nhau suốt đời; chỉ vì người phối ngẫu phạm một sai lầm mà từ đó mọi điều họ làm đều bị nhìn dưới ánh sáng của lỗi lầm ấy. Trong xóm làng, chỉ vì một ranh đất, một lối đi, một hàng cây, một lời đồn hoặc một lần va chạm mà hai gia đình truyền lại sự thù ghét cho cả con cháu. Trong giáo xứ và cộng đoàn, chỉ vì khác nhau trong cách tổ chức, cách phục vụ, một vị trí, một lời góp ý hay một quyết định không vừa ý mà những người cùng quỳ trước một bàn thờ lại tránh nhìn mặt nhau. Chúng ta cùng đọc “Lạy Cha chúng con”, nhưng có khi không muốn nhận một số người là anh chị em của mình; cùng trao cho nhau lời chúc bình an, nhưng lòng lại đóng chặt; cùng đón nhận một tấm bánh là Mình Chúa Kitô, nhưng không muốn trở nên một thân thể với người đang đứng bên cạnh. Đó là bi kịch của một đức tin được tuyên xưng bằng môi miệng nhưng chưa đi hết con đường xuống tới trái tim.
Sách Huấn Ca đặt trước chúng ta những câu hỏi không thể trả lời hời hợt: Làm sao một người có thể nuôi cơn giận đối với đồng loại mà lại xin Thiên Chúa chữa lành cho mình? Làm sao một người không chịu thương xót người giống mình mà lại dám nài xin lòng thương xót của Thiên Chúa? Làm sao một người yếu đuối, tội lỗi và mong manh như ta lại có thể giữ mãi sự giận dữ đối với một con người cũng yếu đuối, tội lỗi và mong manh như mình? Những câu hỏi ấy làm chúng ta bối rối, bởi mỗi ngày ta vẫn xin Chúa tha thứ nhưng đôi khi lại từ chối tha thứ cho người khác. Ta muốn Chúa kiên nhẫn vô hạn với mình, nhưng lại đặt ra một giới hạn rất chặt chẽ cho lòng kiên nhẫn dành cho người bên cạnh. Ta mong Chúa hiểu mọi hoàn cảnh, mọi vết thương, mọi yếu đuối khiến ta sa ngã, nhưng lại không muốn tìm hiểu điều gì đã khiến người khác hành động như thế. Khi ta phạm lỗi, ta nói: “Xin hãy hiểu hoàn cảnh của tôi”; khi người khác phạm lỗi, ta kết luận: “Đó là bản chất của họ”. Khi ta thất bại, ta mong người khác nhìn vào thiện chí; khi người khác thất bại, ta chỉ nhìn vào hậu quả. Khi ta cần thêm một cơ hội, ta xin mọi người đừng đóng lại tương lai của mình; nhưng khi người khác cần cơ hội, ta lại mang quá khứ của họ ra để khóa mọi cánh cửa. Ta mong Chúa đừng nhớ tội mình, nhưng ta lại có một trí nhớ kỳ lạ đối với lỗi lầm của tha nhân. Chúng ta có thể quên một ơn lành đã nhận, quên một lời hứa đã nói, quên một người đã từng giúp đỡ mình, nhưng lại nhớ rất chính xác ngày giờ, hoàn cảnh và từng câu chữ của một lần bị xúc phạm. Ta lưu trữ tất cả như những món nợ phải đòi, rồi tự biến trái tim thành một cuốn sổ kế toán: người này nợ ta một lời xin lỗi, người kia nợ ta danh dự, người khác nợ ta

BUÔNG ĐI ĐỂ ĐÔI TAY CÓ THỂ ÔM LẤY LÒNG THƯƠNG XÓT
(Hc 27,30–28,7; Rm 14,7-9; Mt 18,21-35)
Có những điều con người biết rõ là độc hại nhưng vẫn ôm chặt vào lòng; có những thứ càng giữ thì càng đau, càng mang thì càng nặng, càng nhớ thì càng mất bình an, vậy mà ta vẫn không chịu buông. Sách Huấn Ca hôm nay mở đầu bằng một lời vừa thẳng thắn vừa đau xót: “Oán hờn và giận dữ là những điều ghê tởm, thế mà người tội lỗi cứ ôm mãi trong lòng.” Lời Chúa không nói người tội lỗi chỉ tình cờ nổi giận, cũng không nói họ chỉ thoáng có cảm giác bực bội, nhưng nói rằng họ “ôm mãi trong lòng”. Chữ “ôm” ở đây thật đáng suy nghĩ. Người ta thường ôm một điều gì đó vì yêu, vì quý, vì sợ mất; người mẹ ôm con, người thân ôm nhau sau những ngày xa cách, con người ôm lấy điều đem lại cho mình sự an ủi. Thế nhưng có một nghịch lý rất đáng buồn: nhiều khi ta không ôm lấy người thân mà lại ôm lấy nỗi giận; không giữ lấy tình nghĩa mà giữ lấy lời xúc phạm; không trân trọng những điều tốt đẹp người khác đã làm cho mình mà nhớ mãi một lần họ làm ta tổn thương. Ta ôm lấy oán hờn như ôm một tài sản, giữ lấy vết thương như giữ bằng chứng để một ngày nào đó có thể kết án người khác. Ta không muốn quên, vì sợ rằng nếu quên thì người gây ra đau khổ cho ta sẽ được lợi; ta không muốn tha, vì nghĩ rằng tha thứ đồng nghĩa với thua cuộc; ta không muốn buông, vì dường như nỗi giận giúp ta cảm thấy mình vẫn còn quyền lực đối với người đã làm mình đau. Nhưng thật ra, khi ôm chặt oán hờn, ta không giam giữ được người khác; ta chỉ đang tự giam mình. Người làm ta tổn thương có thể đã quên câu nói ấy, đã đi xa, đã ngủ bình an, trong khi ta vẫn thức, vẫn nghĩ, vẫn nhắc lại, vẫn sống lại biến cố đau buồn ấy hàng chục, hàng trăm lần. Họ làm ta đau một lần, còn chính ta, vì không chịu buông, lại tiếp tục làm mình đau thêm nhiều lần nữa. Oán hờn giống như than hồng ta cầm trong tay để chờ dịp ném vào người khác; nhưng trước khi có thể ném đi, bàn tay ta đã bị bỏng. Nó cũng giống như chén thuốc độc ta uống mỗi ngày với hy vọng người kia sẽ chết. Cuối cùng, người bị đầu độc không phải là kẻ ta ghét, mà là chính tâm hồn ta.
Không chỉ giận dữ và oán hờn, chúng ta còn ôm chặt biết bao điều không đem lại ích lợi mà chỉ làm hại đời mình: những mối hận cũ, những thành kiến đã bén rễ, sự ganh tị âm thầm, lòng tự ái quá lớn, niềm kiêu hãnh cứng đầu, sự nghi ngờ, những xét đoán, những ký ức cay đắng, những lời nói khó nghe, những thất vọng không được chữa lành và những cảm xúc lạnh lùng đối với nhau. Có người đã nhiều năm không nói chuyện với anh chị em ruột chỉ vì một cuộc tranh chấp tài sản. Có người nhất quyết không bước vào nhà người thân vì một câu nói xảy ra trong ngày cưới, ngày giỗ hay dịp Tết. Có đôi vợ chồng vẫn sống chung dưới một mái nhà nhưng lòng đã cách nhau rất xa, bởi mỗi người đều giữ một cuốn sổ vô hình ghi lại từng lỗi lầm của người kia. Có cha mẹ không thể tha thứ cho con vì một lần con làm trái ý mình; cũng có những người con mang nỗi trách móc cha mẹ suốt đời vì những thiếu sót của quá khứ. Có những người cùng phục vụ trong giáo xứ, cùng đọc kinh, dự lễ, rước lễ, cùng nói về tình yêu Chúa, nhưng gặp nhau lại tránh mặt, nghe nhắc đến tên nhau thì khó chịu, và nếu người kia làm được điều gì tốt thì lòng mình cũng không vui. Có những cộng đoàn bị chia rẽ không phải vì vấn đề đức tin trọng đại, nhưng vì một lời nói thiếu tế nhị, một chức vụ không được trao, một ý kiến không được đón nhận, một lần cảm thấy mình bị coi thường. Một biến cố chỉ xảy ra trong vài phút có thể trở thành bức tường tồn tại nhiều năm. Một câu nói chỉ gồm vài chữ có thể làm hai người không nhìn mặt nhau suốt cả đời. Một sự hiểu lầm nhỏ, nếu không được giải thích bằng lòng khiêm tốn, có thể lớn dần thành một vực thẳm. Thật đáng tiếc biết bao khi con người dùng quá nhiều thời giờ và năng lực để nuôi dưỡng những điều chỉ làm mình mệt mỏi! Ta có thể bỏ hàng giờ để nghĩ cách đáp trả một câu nói; có thể kể đi kể lại lỗi lầm của người khác với bất cứ ai chịu nghe; có thể tìm thêm những lý do để chứng minh mình đúng và họ sai; có thể giải thích mọi hành động của người ấy theo chiều hướng tiêu cực. Nếu đem chính thời giờ và năng lực đó để cầu nguyện, để chăm sóc gia đình, để phục vụ người nghèo, để an ủi một tâm hồn cô đơn, để xây dựng một điều tốt đẹp, đời ta đã sinh được biết bao hoa trái. Nhưng oán hờn là một ông chủ tham lam: nó không chỉ lấy mất bình an mà còn lấy mất thời giờ, sức khỏe, giấc ngủ, niềm vui, khả năng yêu thương và cả sự tự do nội tâm của chúng ta.
Sách Huấn Ca đặt ra cho ta những câu hỏi hết sức sâu sắc: nếu một người cứ nuôi lòng giận ghét kẻ khác, làm sao người ấy có thể xin Đức Chúa chữa lành mình? Nếu một người không thương xót người đồng loại, làm sao họ dám cầu xin ơn tha thứ cho tội lỗi của mình? Nếu ta chỉ là phàm nhân mà cứ nuôi lòng oán hận, ai sẽ tha thứ tội lỗi cho ta? Những câu hỏi ấy không nhằm đẩy chúng ta vào tuyệt vọng, nhưng đánh thức lương tâm đang ngủ quên. Ta thường cầu xin Chúa thương xót, nhưng lại rất dè sẻn lòng thương xót đối với anh chị em. Ta muốn Chúa kiên nhẫn với những lần mình sa ngã, nhưng lại mất kiên nhẫn trước khuyết điểm của người khác. Ta muốn Chúa nhìn vào hoàn cảnh, sự yếu đuối và thiện chí của mình, nhưng khi xét đoán người khác, ta chỉ nhìn vào hành vi sai trái của họ. Ta xin Chúa đừng chấp tội, nhưng lại nhớ rất kỹ từng món nợ người khác mắc với mình. Ta mong Chúa đón nhận lời xin lỗi vụng về của ta, nhưng lại đòi người khác phải xin lỗi đúng lúc, đúng cách, đúng lời, đủ thành tâm và đủ công khai thì ta mới chịu cân nhắc tha thứ. Ta mong Chúa mở cửa trời cho mình, nhưng lòng ta lại đóng cửa trước người anh em. Nhiều lần chúng ta đọc Kinh Lạy Cha: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”, nhưng có lẽ ta chưa cảm nhận hết sự nghiêm trọng của lời kinh ấy. Ta không chỉ xin Chúa tha thứ; ta còn tự đặt cách mình đối xử với người khác như một thước đo. Mỗi lần đọc lời ấy trong khi cố ý giữ hận thù, ta đang xin Chúa đối xử với mình giống như cách ta đối xử với người đã xúc phạm đến ta. Nếu ta khóa lòng lại trước anh em, ta đang xin Chúa cũng khóa lòng trước mình sao? Nếu ta nhất quyết không tha, ta có thể bình an đứng trước Đấng đã tha cho ta vô số lần hay không?
Dĩ nhiên, khi nói về tha thứ, chúng ta không được xem nhẹ những vết thương thật sự của con người. Có những tổn thương rất sâu, những phản bội rất đau, những bất công để lại hậu quả lâu dài. Có người bị người thân lừa dối, bị bạn bè phản bội, bị vu oan, bị xúc phạm danh dự, bị lợi dụng, bị bạo hành, bị bỏ rơi trong lúc khốn khó. Có những vết thương không thể chữa lành chỉ bằng một lời khuyên đơn giản: “Thôi, quên đi.” Có những người đã cố gắng rất nhiều nhưng mỗi khi nhớ lại, nước mắt vẫn chảy. Tha thứ không phải là phủ nhận rằng mình đã bị đau. Tha thứ không phải là giả vờ rằng điều xấu chưa từng xảy ra. Tha thứ không biến hành vi sai trái thành điều đúng, không miễn trừ trách nhiệm của người gây ra tội ác và cũng không loại bỏ nhu cầu bảo vệ người yếu thế. Tha thứ không buộc một nạn nhân tiếp tục ở trong hoàn cảnh nguy hiểm, không ngăn cản việc tìm kiếm công lý chính đáng, không đòi ta phải lập tức khôi phục sự tin tưởng đã bị phá vỡ. Lòng tha thứ và sự hòa giải có liên hệ với nhau nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Tha thứ có thể khởi sự từ một phía, khi người bị tổn thương quyết định không để hận thù thống trị mình nữa; còn hòa giải đòi cả hai phía bước vào sự thật, nhận trách nhiệm, hoán cải và xây dựng lại niềm tin. Có trường hợp ta có thể tha thứ nhưng vẫn cần giữ một khoảng cách khôn ngoan. Có trường hợp ta tha nhưng không thể quay lại mối quan hệ như trước vì người kia chưa thay đổi. Có trường hợp ta đã tha bằng ý chí nhưng cảm xúc vẫn còn đau và ký ức vẫn chưa nguôi. Điều đó không có nghĩa là ta giả dối hoặc chưa tha. Tha thứ thường là một hành trình, không phải chỉ là một khoảnh khắc; là một quyết định phải được lặp lại nhiều lần, nhất là khi ký ức cũ trở về. Hôm nay ta có thể thưa: “Lạy Chúa, con muốn tha”, ngày mai nỗi đau trỗi dậy, ta lại phải dâng nó cho Chúa một lần nữa. Có khi miệng ta chưa đủ sức gọi tên người ấy trong lời cầu nguyện, nhưng ít nhất ta có thể thưa: “Lạy Chúa, xin ban cho con lòng muốn muốn tha thứ.” Chúa không khinh thường bước đi nhỏ bé ấy. Người biết có những cánh cửa đã bị rỉ sét qua nhiều năm nên không thể mở tung trong một giây; nhưng chỉ cần ta trao cho Người chiếc chìa khóa và thôi chống lại ân sủng, Người sẽ kiên nhẫn chữa lành ta.
Thánh Phêrô trong Tin Mừng hôm nay đến hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” Có lẽ Phêrô nghĩ mình đã đưa ra một con số rất quảng đại. Trong truyền thống Do Thái, tha thứ vài lần đã được xem là đáng quý; Phêrô đề nghị bảy lần, một con số tượng trưng cho sự trọn vẹn. Ông có thể đã chờ Chúa khen mình là người rộng lượng. Nhưng Chúa Giêsu trả lời: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.” Chúa không có ý trao cho các môn đệ một chiếc máy đếm để đến lần thứ bốn trăm chín mươi thì được quyền nổi giận và trả thù. Con số ấy nói đến một lòng tha thứ không bị giới hạn bởi phép tính. Trong ngôn ngữ của Tin Mừng, yêu thương không phải là chuyện ghi sổ; lòng thương xót không phải là một ngân khoản ít ỏi phải sử dụng dè sẻn; tha thứ không phải là một đặc ân ta ban xuống cho người khác để chứng minh mình cao thượng. Chúa muốn con người bước ra khỏi não trạng cân đo: người ấy đã xin lỗi chưa, đã hối hận đủ chưa, đã trả lại cho ta bao nhiêu, ta đã nhịn họ mấy lần, họ có xứng đáng được tha không? Nếu Thiên Chúa cũng tính toán với chúng ta như thế, liệu ai có thể đứng vững? Chúng ta không tha thứ vì người kia luôn xứng đáng; chúng ta tha vì chính mình đã được tha một món nợ không bao giờ có thể trả. Ta không tha vì vết thương không nghiêm trọng; ta tha vì lòng thương xót của Chúa lớn hơn vết thương. Ta không tha để tuyên bố cái ác là vô nghĩa; ta tha để tuyên bố rằng cái ác không có quyền nói lời cuối cùng trên cuộc đời mình.
Để làm sáng tỏ điều ấy, Chúa Giêsu kể dụ ngôn về một người đầy tớ mắc nợ nhà vua mười ngàn yến vàng. Đây là một con số khổng lồ, gần như không tưởng, vượt xa khả năng chi trả của một cá nhân. Chúa cố ý dùng một con số lớn như thế để diễn tả món nợ của con người trước mặt Thiên Chúa. Người đầy tớ không thể trả nên nhà vua ra lệnh bán ông, vợ con và tài sản để trả nợ. Ông sấp mình xuống van xin: “Thưa Ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết.” Lời hứa ấy thật ra không thực tế; ông không thể sống đủ lâu và làm đủ nhiều để trả món nợ đó. Nhưng nhà vua không chỉ cho ông thêm thời gian. Vì chạnh lòng thương, nhà vua đã thả ông về và tha luôn món nợ. Đây là điểm quan trọng: ơn tha thứ của Thiên Chúa không phải là gia hạn để ta tự cứu mình; đó là món quà hoàn toàn nhưng không của lòng thương xót. Chúng ta không được cứu vì đã trả hết nợ, không được tha vì đã làm đủ việc lành để bù lại mọi tội lỗi, nhưng vì Thiên Chúa chạnh lòng thương. Thập giá Chúa Kitô là nơi món nợ của nhân loại được xóa bỏ, không bằng vàng bạc, nhưng bằng tình yêu tự hiến của Con Thiên Chúa. Mỗi người chúng ta là người đầy tớ đã quỳ trước nhà vua với đôi tay trắng, không có gì để tự biện hộ, chỉ còn biết trông cậy vào lòng thương xót. Và điều kỳ diệu là nhà vua không khinh thường ta, không giữ ta lại làm nô lệ, không bắt ta trả một phần rồi mới tha phần còn lại. Người cắt đứt xiềng xích, xóa sổ nợ và cho ta trở về như một con người tự do.
Thế nhưng vừa bước ra khỏi cung điện, người đầy tớ ấy gặp một người bạn chỉ mắc nợ mình một trăm quan tiền, một món nợ rất nhỏ nếu so với mười ngàn yến vàng vừa được tha. Ông túm lấy người bạn, bóp cổ và nói: “Trả nợ cho tao!” Người bạn cũng sấp mình xuống, lặp lại gần như nguyên văn lời ông vừa nói với nhà vua: “Xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh.” Nhưng ông nhất quyết không chịu, bắt người bạn tống ngục cho đến khi trả xong nợ. Đây là một trong những hình ảnh bi thảm nhất của Tin Mừng: một con người vừa được bước ra khỏi đại dương lòng thương xót mà trái tim vẫn khô cằn; vừa được tháo xiềng xích nhưng lại đi xiềng người khác; vừa được nhà vua cho sống nhưng lại bóp cổ anh em mình. Đáng lẽ món quà tha thứ phải biến đổi ông, làm lòng ông rộng ra, khiến ánh mắt ông trở nên dịu dàng hơn. Nhưng lòng thương xót chỉ đi ngang qua đời ông chứ chưa đi vào tim ông. Ông nhận ơn tha thứ như một lợi ích riêng tư chứ không đón nhận nó như một lối sống mới. Ông muốn lòng thương xót dừng lại nơi mình. Ông muốn mình được tha, còn người khác phải trả. Đó cũng có thể là thảm kịch của đời sống Kitô hữu hôm nay. Chúng ta đến với bí tích Hòa Giải, thú nhận tội lỗi và nghe lời xá giải; chúng ta tham dự Thánh lễ, đấm ngực thưa rằng mình đã phạm tội nhiều; chúng ta rước lấy Mình và Máu Đấng đã chết để tha thứ cho mình; nhưng vừa bước ra khỏi nhà thờ, ta lại bóp cổ nhau bằng lời nói, ánh mắt, thái độ và những bản án khắc nghiệt. Ta xin Chúa xóa sổ của ta, nhưng lại giữ rất kỹ sổ nợ của anh em. Ta vui mừng vì Chúa không xét xử mình theo điều mình đáng chịu, nhưng lại đòi người khác phải gánh đủ hậu quả theo sự phán xét của ta. Ta mong Chúa nhớ đến điều tốt nhỏ bé mình đã làm, nhưng lại chỉ nhớ điều xấu người khác đã gây ra. Dụ ngôn hôm nay muốn hỏi mỗi người: Sau khi được tha, ta đã trở thành một người biết tha hơn chưa? Sau bao năm dự lễ và rước lễ, trái tim ta có mềm hơn không? Sau bao lần đọc Kinh Lạy Cha, ta có bớt tính toán món nợ của người khác hay không?
Điều khiến người đầy tớ không thể tha có lẽ là ông đã quên món nợ mình vừa được xóa. Quên lòng thương xót là cội nguồn của sự khắc nghiệt. Khi chỉ nhìn vào lỗi lầm của người khác, ta dễ tưởng mình vô tội. Khi chỉ chăm chú vào một trăm quan tiền người khác nợ mình, ta quên mất mười ngàn yến vàng mình đã được tha. Sách Huấn Ca khuyên: “Hãy nhớ đến ngày tận số mà chấm dứt hận thù; nhớ mình sẽ phải hao mòn và phải chết mà trung thành giữ các điều răn.” Nhớ đến sự chết không làm đời ta buồn hơn; trái lại, giúp ta biết điều gì thật sự đáng giữ và điều gì cần buông. Trước ngưỡng cửa vĩnh cửu, những tranh giành mà hôm nay ta cho là rất lớn sẽ trở nên nhỏ bé. Đến một ngày, căn nhà ta đang giành sẽ thuộc về người khác; tiền bạc ta tranh chấp sẽ nằm trong tay người khác; danh dự ta cố bảo vệ cũng chỉ còn trong ký ức mỏng manh của vài người. Chỉ có tình yêu là đi theo ta qua cánh cửa sự chết. Nếu biết hôm nay là ngày cuối cùng, ta có tiếp tục không nhìn mặt người thân không? Nếu biết tối nay mình phải trở về với Chúa, ta có còn muốn giữ câu nói cay nghiệt cuối cùng dành cho người kia không? Nếu biết người mình đang giận chỉ còn sống một ngày, ta có thể gọi điện, bước đến, nắm lấy tay họ hay không? Biết bao người đã đau đớn bên quan tài của một người thân, không chỉ vì mất người ấy mà còn vì những lời chưa kịp nói, những lời xin lỗi chưa kịp thưa, những vòng tay đã bị trì hoãn, những tháng năm đã đánh mất vì tự ái. Khi cái chết đến, chúng ta mới nhận ra rằng nhiều điều mình từng ôm chặt thật ra không đáng giữ, còn người đáng để ôm thì ta đã để vuột mất.
Thánh Phaolô nói trong bài đọc thứ hai: “Không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình.” Chúng ta thuộc về Chúa, và vì thuộc về Chúa nên cũng thuộc về nhau. Tội lỗi thường làm con người thu mình vào trong cái tôi: nỗi đau của tôi, quyền lợi của tôi, danh dự của tôi, sự đúng đắn của tôi. Lòng thương xót kéo ta ra khỏi nhà tù ấy, giúp ta nhìn người làm mình tổn thương không chỉ như một kẻ có lỗi, nhưng như một con người cũng yếu đuối, cũng mang những vết thương, cũng cần được cứu độ như ta. Điều này không xóa bỏ trách nhiệm của họ, nhưng giúp ta thấy họ bằng ánh mắt của Chúa. Có thể người làm ta đau cũng từng bị làm đau. Có thể họ trao cho ta thứ duy nhất họ đã nhận được trong đời: sự cứng cỏi, lạnh lùng hoặc bạo lực. Có thể phía sau thái độ kiêu ngạo là một nỗi sợ; phía sau lời nói độc địa là một tâm hồn đầy mặc cảm; phía sau sự kiểm soát là kinh nghiệm từng bị bỏ rơi. Hiểu không phải là biện minh cho cái xấu, nhưng hiểu có thể giúp lòng ta bớt độc. Chúa Giêsu trên thập giá không nói rằng những kẻ đóng đinh Người không có tội; Người cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Chúa nhìn xuyên qua hành động tàn nhẫn để thấy sự mù lòa cần được cứu chữa. Tha thứ Kitô giáo không phát xuất từ sự yếu đuối, nhưng từ sức mạnh của một người không để hành động của kẻ khác quyết định mình sẽ trở thành ai. Nếu người khác ghét ta và ta cũng ghét lại, họ đã biến ta thành giống họ. Nếu người khác độc ác và ta đáp trả bằng độc ác, cái ác đã chiến thắng hai lần. Nhưng nếu giữa vòng xoáy tổn thương, ta vẫn chọn không trả thù, không nguyền rủa, không nuôi ý muốn hủy diệt người kia, thì nhờ ân sủng, chuỗi truyền dẫn của cái ác dừng lại nơi ta.
Tha thứ không phải là cảm giác dễ chịu; trước hết đó là một hành vi của tự do và đức tin. Ta thưa với Chúa: “Con trao người này và món nợ này cho Chúa. Con không còn muốn giữ quyền trả thù. Con không thể tự mình làm cho công lý nên trọn, nhưng con tin Chúa là Đấng công minh và giàu lòng thương xót. Xin Chúa xét xử điều con không thể xét xử, chữa lành điều con không thể chữa lành, sửa lại điều con không thể sửa lại.” Buông bỏ không có nghĩa là ném sự thật đi; là đặt sự thật trong tay Thiên Chúa. Tha thứ cũng không nhất thiết bắt đầu từ một cảm xúc ấm áp. Có khi lòng ta vẫn lạnh, ký ức vẫn đau, nhưng ý chí đã chọn không nói xấu, không trả đũa, không mong tai họa xảy đến với người kia. Đó đã là một bước của lòng tha thứ. Rồi ta có thể tiến thêm: xin Chúa ban cho họ ánh sáng để nhận ra lỗi lầm; xin Chúa giúp họ hoán cải; xin Chúa đừng để họ làm tổn thương thêm ai; xin Chúa cứu cả họ lẫn ta khỏi quyền lực của tội lỗi. Lúc đầu, lời cầu ấy có thể rất khó. Ta có thể chỉ đọc tên họ trước mặt Chúa rồi im lặng. Nhưng lời cầu nguyện chân thành sẽ từ từ thay đổi trái tim. Có lẽ hoàn cảnh bên ngoài chưa đổi, người kia chưa xin lỗi, quá khứ chưa thể sửa lại, nhưng chính ta bắt đầu được tự do. Vết thương vẫn là một phần trong câu chuyện đời ta, nhưng không còn là người cầm bút viết phần còn lại. Ta không còn phải sống mỗi ngày dưới quyền của điều đã xảy ra. Nhờ Chúa, chính nơi từng bị thương có thể trở thành nơi ta biết cảm thông hơn với nỗi đau của người khác.
Có người thắc mắc: tại sao tôi phải là người bước trước khi tôi không phải là người gây ra lỗi? Câu trả lời không phải vì bạn có lỗi hơn, nhưng vì có lẽ bạn đang có đủ ánh sáng để không tiếp tục bóng tối. Người bước trước không phải là người thua; nhiều khi đó là người mạnh hơn, trưởng thành hơn và tự do hơn. Một lời xin lỗi không làm ta thấp đi. Một cuộc gọi không khiến ta mất phẩm giá. Chủ động giảng hòa không có nghĩa là công nhận mình sai hoàn toàn. Có khi ta có thể nói rất chân thành: “Điều đã xảy ra làm tôi đau, và chúng ta cần nói với nhau trong sự thật; nhưng tôi không muốn chúng ta tiếp tục sống trong thù hận.” Một câu nói như thế vừa bảo vệ sự thật, vừa mở cửa cho lòng thương xót. Biết bao gia đình đang chờ một người đủ khiêm nhường để bước qua khoảng cách. Biết bao anh chị em đang cùng mong hòa giải nhưng ai cũng sợ mình nói trước sẽ bị xem là yếu. Biết bao cộng đoàn chỉ cần một người dám ngưng kể lại chuyện cũ, dám không góp thêm một lời phê phán, dám nói điều tốt về người mình không đồng ý. Nếu cứ chờ người kia hoàn hảo rồi mới yêu, chờ họ thay đổi rồi mới tha, có lẽ ta sẽ chờ suốt đời. Thiên Chúa đã không chờ chúng ta hoàn hảo mới yêu. Thánh Phaolô nói rằng ngay khi chúng ta còn là tội nhân, Đức Kitô đã chết vì chúng ta. Tình yêu của Chúa luôn đi bước trước; và khi ta dám bước trước trong hòa giải, ta đang để tình yêu ấy tiếp tục đi qua đời mình.
Chúng ta cũng cần thành thật nhìn nhận rằng đôi khi điều mình gọi là “công lý” chỉ là một tên gọi đẹp cho mong muốn trả thù. Công lý tìm cách sửa chữa điều sai, bảo vệ nạn nhân và dẫn người có lỗi đến hoán cải; trả thù chỉ muốn người kia đau như mình đã đau. Công lý muốn tái lập trật tự và sự thật; trả thù muốn hạ nhục và tiêu diệt. Công lý có thể nghiêm khắc nhưng không mất tình người; trả thù nuôi mình bằng căm ghét. Khi lòng đầy oán hận, ta thường tự cho mình quyền định nghĩa toàn bộ con người kia chỉ bằng lỗi lầm họ đã phạm. Ta không còn nói: “Người ấy đã làm một việc xấu”, nhưng nói: “Họ là người xấu.” Ta đóng khung họ trong khoảnh khắc tồi tệ nhất, trong khi lại mong Chúa nhìn mình qua những giây phút tốt đẹp nhất. Nhưng Thiên Chúa không đồng hóa ta với tội lỗi của ta. Người gọi Phêrô không phải là “kẻ chối Thầy” nhưng là mục tử của đoàn chiên. Người không gọi Phaolô mãi là “kẻ bách hại”, nhưng biến ông thành Tông đồ dân ngoại. Người không để người phụ nữ ngoại tình bị chôn dưới những viên đá của quá khứ, nhưng mở cho chị một con đường mới. Nếu Chúa có thể nhìn thấy trong tội nhân một con người có khả năng hoán cải, chúng ta cũng được mời gọi không khóa chặt người khác trong chiếc lồng của quá khứ.
Lòng tha thứ không chỉ chữa lành các tương quan cá nhân mà còn bảo vệ cộng đoàn và Giáo Hội. Một giáo xứ có thể xây nhà thờ lớn, tổ chức nhiều sinh hoạt, có ca đoàn hay, hội đoàn mạnh, nhưng nếu các thành viên nuôi bè phái, nói xấu, ganh tị và loại trừ nhau, thì vẻ đẹp bên ngoài không thể che được những rạn nứt bên trong. Một cộng đoàn cầu nguyện không thể thật sự làm chứng cho Tin Mừng nếu môi miệng đọc lời yêu thương nhưng đời sống lại phát tán chia rẽ. Đôi khi người ta nhân danh việc bảo vệ chân lý để làm tổn thương nhau, nhưng chân lý tách khỏi đức ái sẽ trở thành khí cụ gây thương tích. Cũng có khi người ta nhân danh lòng thương xót để né tránh sự thật, và thứ thương xót ấy trở thành dễ dãi. Chúa mời gọi chúng ta giữ cả sự thật lẫn tình yêu: nói thật nhưng không hạ nhục; sửa lỗi nhưng không kết án; bảo vệ điều đúng nhưng không biến người sai thành kẻ thù; đấu tranh cho công lý nhưng không để thù hận trú ngụ trong lòng. Một cộng đoàn trưởng thành không phải là nơi không bao giờ có xung đột, nhưng là nơi người ta biết đi qua xung đột theo tinh thần Tin Mừng, biết lắng nghe, biết nhận lỗi, biết sửa sai và biết tha thứ. Thánh thiện không có nghĩa là không bao giờ làm nhau đau; thánh thiện là khi đã làm nhau đau, chúng ta không bỏ nhau, nhưng cùng trở về với lòng thương xót của Chúa.
Giờ đây, khi tiến đến bàn thờ, mỗi người được mời nhìn xem mình đang mang điều gì trong đôi tay và cất giữ điều gì trong trái tim. Có phải ta đang ôm một mối hận? Có phải ta vẫn giữ chặt ký ức về một lời xúc phạm? Có phải ta đang ghen tị với thành công của ai đó? Có phải ta mang một thành kiến khiến mình không thể nhìn thấy điều tốt nơi người khác? Có phải lòng kiêu hãnh đang ngăn ta nói một lời xin lỗi? Có phải ta đang chờ người khác bước trước, trong khi Chúa đang dịu dàng mời gọi chính ta? Đôi tay đã đầy những thứ ấy thì làm sao còn chỗ để đón lấy ân sủng? Trái tim chứa đầy cay đắng thì làm sao cảm nếm được sự dịu ngọt của tình yêu Thiên Chúa? Muốn ôm lấy lòng thương xót, ta phải buông bớt oán hờn. Muốn nhận lấy bình an, ta phải mở bàn tay đang nắm chặt. Muốn đón Chúa, ta cần dành chỗ cho Người. Có lẽ hôm nay ta chưa thể buông tất cả, nhưng có thể nới lỏng bàn tay một chút. Có lẽ ta chưa thể quên, nhưng có thể ngừng kể lại để bôi nhọ. Có lẽ ta chưa thể gặp mặt, nhưng có thể bắt đầu cầu nguyện. Có lẽ ta chưa thể nói “con đã tha hoàn toàn”, nhưng có thể thành thật thưa: “Lạy Chúa, con muốn được giải thoát khỏi hận thù. Xin giúp con.”
Trên bàn thờ, chúng ta gặp Đức Kitô trong bóng của thập giá. Người đã buông bỏ mọi sự, tự hủy mình ra không, trao ban đến giọt máu và hơi thở cuối cùng. Khi bị đóng đinh, đôi tay Người không nắm lại thành quả đấm nhưng mở rộng; và chính đôi tay rộng mở ấy đã ôm lấy cả những kẻ đóng đinh Người. Người không chờ nhân loại xin lỗi rồi mới chết cho nhân loại. Người không đợi chúng ta trở nên tốt rồi mới hiến mình. Người yêu đến cùng, tha thứ đến cùng, trao ban đến cùng. Tấm bánh được bẻ ra và chén rượu được trao ban là câu trả lời của Thiên Chúa trước tội lỗi con người: không phải báo thù nhưng là tự hiến, không phải nguyền rủa nhưng là chúc phúc, không phải khép lòng nhưng là mở rộng vòng tay. Mỗi lần rước lễ, chúng ta đón nhận Đấng đã tha thứ cho mình vô số lần. Nhưng ta không thể đón nhận trọn vẹn Thân Thể Đức Kitô nơi bàn thờ mà lại cố tình loại trừ Thân Thể Người nơi anh chị em. Chén hiệp thông mời gọi ta trở thành người xây dựng hiệp thông. Tấm bánh được bẻ ra mời ta bẻ gãy sự cứng cỏi trong lòng. Máu giao ước được đổ ra “cho nhiều người được tha tội” mời ta để dòng tha thứ ấy chảy qua mình đến với người khác.
Xin Chúa cho chúng ta nhớ rằng đời mình quá ngắn để tiêu hao trong oán hờn, trái tim mình quá quý để biến thành kho chứa cay đắng, và những người Chúa đặt bên cạnh ta quá đáng trân trọng để đánh mất chỉ vì lòng tự ái. Xin Người chữa lành những ký ức còn đau, nâng đỡ những ai đang mang thương tích quá sâu và ban sự khôn ngoan cho những người phải phân định giữa tha thứ, hòa giải, công lý và việc bảo vệ bản thân. Xin Người giải thoát chúng ta khỏi ảo tưởng rằng giữ hận là sức mạnh. Sức mạnh thật không nằm ở khả năng làm người khác đau, nhưng ở khả năng ngăn nỗi đau biến mình thành người độc ác. Chiến thắng thật không phải là khiến đối phương phải quỳ xuống, nhưng là không để hận thù làm chủ tâm hồn. Tự do thật không phải là không mắc nợ ai, nhưng là không còn mang theo cuốn sổ ghi nợ của người khác trong lòng.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã tha thứ cho chúng con không chỉ bảy lần mà vô số lần; xin dạy chúng con cũng biết tha thứ cho nhau. Khi chúng con muốn nắm chặt oán hờn, xin mở bàn tay chúng con. Khi chúng con muốn kể lại lỗi lầm của người khác, xin nhắc chúng con nhớ đến lòng thương xót Chúa dành cho mình. Khi lòng tự ái ngăn chúng con bước tới, xin ban cho chúng con sự khiêm nhường. Khi vết thương quá sâu khiến chúng con chưa thể tha, xin Chúa tha thứ trong chúng con, yêu thương trong chúng con và từng ngày dẫn chúng con ra khỏi nhà tù của quá khứ. Xin cho mỗi lần chúng con tiến đến bàn thờ, chúng con biết đặt xuống dưới chân thập giá một chút giận dữ, một chút cay đắng, một chút thành kiến, để đôi tay được tự do đón lấy Mình và Máu Thánh Chúa. Và khi rời bàn tiệc Thánh Thể, xin cho chúng con mang vào gia đình, cộng đoàn và mọi tương quan chính lòng thương xót mình vừa đón nhận. Bởi cuối cùng, chỉ khi buông oán hờn, đôi tay chúng con mới có thể ôm lấy tình yêu; chỉ khi tha thứ, trái tim chúng con mới thực sự được tự do; và chỉ khi biết thương xót anh chị em, chúng con mới thật sự ôm lấy chính Thiên Chúa là nguồn mạch của mọi lòng thương xót. Amen.
Lm. Anmai, CSsR

ĐƯỢC THỨ THA ĐỂ TRỞ NÊN NGƯỜI BIẾT THỨ THA
Có một nét đẹp hết sức sâu xa và độc đáo nơi đức tin Kitô giáo, đó là chúng ta không chỉ tin rằng Thiên Chúa hiện hữu, không chỉ tin rằng Thiên Chúa quyền năng, công bình và thánh thiện, nhưng còn tin rằng Thiên Chúa yêu thương con người bằng một tình yêu mãnh liệt, gần gũi với con người bằng một sự gần gũi vượt quá mọi tưởng tượng, và không ngừng tìm kiếm con người để tha thứ, chữa lành, phục hồi và đưa con người trở về trong vòng tay của Người. Khi nói như thế, chúng ta không có ý phủ nhận những giá trị chân thật, cao quý và những tia sáng của chân lý hiện diện trong các truyền thống tôn giáo khác; chúng ta chỉ muốn tuyên xưng điều cốt lõi mà đức tin Kitô giáo đã lãnh nhận: Thiên Chúa đã mặc khải trọn vẹn dung mạo của Người nơi Đức Giêsu Kitô. Chính Đức Giêsu đã làm cho chúng ta nhận biết rằng Thiên Chúa không phải là một quyền lực xa xôi, lạnh lùng, chỉ ngồi trên cao để theo dõi và xét xử những sai phạm của loài người, nhưng là một người Cha cúi xuống trên những đứa con yếu đuối, là vị Mục Tử đi tìm con chiên lạc, là người phụ nữ kiên trì thắp đèn tìm đồng bạc bị mất, là người cha ngày ngày đứng ngoài cửa ngóng chờ đứa con hoang đàng trở về. Nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa không chỉ nói với con người về lòng thương xót; Người bước vào lịch sử, mang lấy thân phận con người, chạm đến người phong hủi, ngồi ăn với người tội lỗi, bảo vệ người phụ nữ bị kết án, nhìn người thu thuế bằng ánh mắt cứu độ, khóc với những người đang khóc, và cuối cùng giang rộng đôi tay trên thập giá để ôm lấy cả nhân loại tội lỗi. Kitô giáo không chỉ là một hệ thống những giới luật dạy người ta phải sống tốt; Kitô giáo trước hết là Tin Mừng về một Thiên Chúa đã đến thật gần, yêu thương đến cùng và sẵn lòng trả giá để tha thứ cho con người. Nếu bỏ mất lòng thương xót ấy, Kitô giáo chỉ còn là một bộ luật khô cứng; nếu bỏ mất thập giá, việc tha thứ chỉ còn là một lời khuyên luân lý quá khó thực hiện; nếu bỏ mất Đức Giêsu, chúng ta sẽ không còn hiểu được tại sao một Thiên Chúa vô cùng thánh thiện lại có thể kiên nhẫn với một nhân loại nhiều lần bất trung như thế. Nhưng khi nhìn lên Đức Giêsu chịu đóng đinh, chúng ta hiểu rằng lòng thương xót không phải là một cảm xúc thoáng qua của Thiên Chúa; lòng thương xót là cách Thiên Chúa đối xử với con người, là nhịp đập của trái tim Người, là con đường Người mở ra để cứu chúng ta khỏi tội lỗi, khỏi hận thù và khỏi cái chết.
Tin Mừng kể rằng ông Phêrô đến gần Đức Giêsu và hỏi: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” Câu hỏi ấy nghe qua tưởng đơn sơ nhưng thực ra chứa đựng toàn bộ nỗi khó khăn của con người trước đòi hỏi tha thứ. Phêrô không hỏi có phải tha hay không, bởi ông đã hiểu rằng người môn đệ phải tha; ông chỉ muốn biết giới hạn của sự tha thứ nằm ở đâu. Phải tha đến lần thứ mấy thì người ta được quyền dừng lại? Phải nhẫn nhịn đến mức nào thì người ta có thể nói rằng mình đã làm đủ bổn phận? Phải cho người khác bao nhiêu cơ hội rồi mới được phép khép cửa lòng? Câu hỏi của Phêrô cũng là câu hỏi của mỗi chúng ta. Chúng ta có thể tha một lần vì lịch sự, tha lần thứ hai vì đạo đức, tha lần thứ ba vì nghĩ rằng người kia có thể thay đổi; nhưng nếu người ấy tiếp tục làm tổn thương chúng ta, tiếp tục tái phạm, tiếp tục coi sự bao dung của chúng ta như một điều đương nhiên, thì chúng ta bắt đầu đếm. Ta nhớ rõ đây là lần thứ tư, thứ năm hay thứ sáu. Ta lập một cuốn sổ vô hình trong lòng, ghi lại từng lời xúc phạm, từng thái độ vô ơn, từng lần bị phản bội, từng món nợ chưa được trả. Phêrô đề nghị con số bảy. Trong bối cảnh thời ấy, đây đã là một đề nghị hết sức quảng đại. Một số vị kinh sư cho rằng người ta có thể tha cho kẻ xúc phạm mình ba lần; đến lần thứ tư thì không còn buộc phải tha nữa. Phêrô đưa con số ấy lên hơn gấp đôi và có lẽ ông chờ đợi Đức Giêsu khen mình là quảng đại. Nhưng câu trả lời của Chúa vượt xa mọi tính toán của con người: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy,” hoặc theo một cách dịch khác, “đến bảy mươi bảy lần.” Dù hiểu theo cách nào thì ý nghĩa cũng rõ ràng: đừng đếm nữa. Tha thứ không thể bị giam trong bảng tính của quyền lợi, không thể được cân đo bằng giới hạn tối thiểu, không thể chỉ kéo dài cho đến khi ta cảm thấy mình đã làm đủ. Người môn đệ của Đức Giêsu không tha vì đối phương chỉ xúc phạm ít lần, nhưng tha vì chính mình đã được Thiên Chúa tha thứ vô vàn lần. Tha thứ Kitô giáo không bắt đầu từ sự xứng đáng của người xúc phạm, nhưng bắt đầu từ lòng thương xót mà người bị xúc phạm đã lãnh nhận nơi Thiên Chúa.
Để giúp các môn đệ hiểu điều ấy, Đức Giêsu kể dụ ngôn về một ông vua muốn thanh toán sổ sách với các đầy tớ. Người ta dẫn đến trước mặt vua một đầy tớ mắc món nợ mười ngàn nén bạc. Vì không có gì để trả, người ấy phải đối diện với việc bản thân, vợ con cùng tất cả tài sản sẽ bị bán để thanh toán món nợ. Anh quỳ xuống van xin: “Thưa Ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết.” Nhưng lời hứa ấy hoàn toàn vượt quá khả năng của anh. Mười ngàn nén bạc không phải là một món tiền lớn theo nghĩa thông thường; đó là một con số khổng lồ, gần như không thể tưởng tượng. Một nén bạc tương đương khoảng sáu ngàn ngày công, nên mười ngàn nén bạc tương đương khoảng sáu mươi triệu ngày công. Nếu một người làm việc cả đời, không ăn, không mặc, không tiêu bất cứ thứ gì và dành toàn bộ tiền công để trả nợ, người ấy vẫn không thể thanh toán được một phần đáng kể. Đức Giêsu cố tình dùng một con số phi thường như thế để người nghe hiểu rằng đây không phải là món nợ có thể trả dần bằng nỗ lực. Người đầy tớ xin thêm thời gian, nhưng vấn đề của anh không phải là thiếu thời gian; vấn đề là món nợ vượt quá mọi khả năng của anh. Anh không cần một sự gia hạn; anh cần một phép lạ của lòng thương xót. Và phép lạ ấy đã xảy ra: “Tôn chủ của tên đầy tớ liền chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ.” Nhà vua không chỉ hoãn lại thời hạn, không giảm bớt tiền lãi, không yêu cầu trả từng phần, nhưng xóa sạch toàn bộ món nợ. Sáu mươi triệu ngày công được xóa bỏ chỉ bởi một quyết định phát xuất từ lòng thương xót. Người đầy tớ bước ra khỏi cung điện như một con người vừa được tái sinh. Anh bước vào đó với gánh nặng không thể mang nổi, nhưng bước ra với đôi vai hoàn toàn tự do. Anh bước vào trong thân phận của một kẻ sắp mất tất cả, nhưng bước ra như người được trao lại tương lai, gia đình, danh dự và sự sống. Đáng lẽ từ giây phút đó, anh phải nhìn mọi người bằng một ánh mắt khác; đáng lẽ lòng thương xót vừa nhận được phải trở thành một dòng sông chảy qua cuộc đời anh đến với những người chung quanh. Nhưng điều đáng buồn là món nợ đã được xóa khỏi sổ của nhà vua, còn trái tim của anh thì chưa được biến đổi.
Vừa ra khỏi đó, người đầy tớ gặp một người bạn mắc nợ mình một trăm quan tiền, tức khoảng một trăm ngày công. Một trăm ngày công không phải hoàn toàn không đáng kể, nhưng chẳng là gì khi đặt bên cạnh sáu mươi triệu ngày công mà anh vừa được tha. Thế mà anh túm lấy người bạn, bóp cổ và nói: “Trả nợ cho tao!” Người bạn quỳ xuống, dùng gần như nguyên văn lời anh vừa nói với nhà vua: “Xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh.” Anh vừa quỳ xuống van xin và được thương xót, nhưng giờ đây khi một người khác quỳ xuống trước mặt mình, anh không động lòng. Anh vừa được nghe lời tuyên bố xóa bỏ một món nợ không thể trả, nhưng giờ đây lại không thể chờ đợi một món nợ có thể trả được. Anh vừa ra khỏi cung điện của lòng thương xót nhưng lại mang theo trái tim của nhà tù. Không những không tha, anh còn tống người bạn vào ngục cho đến khi trả hết nợ. Bi kịch của người đầy tớ không chỉ nằm ở chỗ anh thiếu quảng đại, nhưng ở chỗ anh không ý thức được điều mình vừa lãnh nhận. Ân huệ đã chạm đến hoàn cảnh của anh nhưng chưa chạm đến trái tim anh. Anh vui vì được thoát nợ, nhưng không để lòng thương xót của nhà vua trở thành nguyên tắc mới cho đời mình. Anh muốn sống bằng hai thước đo: xin lòng thương xót cho bản thân nhưng đòi công lý nghiêm khắc đối với người khác; xin Thiên Chúa nhớ sự yếu đuối của mình nhưng muốn Người trừng phạt sự yếu đuối của anh em; xin được xóa hết quá khứ của mình nhưng nhất quyết không quên quá khứ của người khác. Đó cũng là mâu thuẫn âm thầm trong đời sống của chúng ta. Ta đọc kinh “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con,” nhưng nhiều khi miệng xin được tha trong khi lòng vẫn nuôi hận. Ta bước đến tòa giải tội với hy vọng Thiên Chúa không xét nét từng thiếu sót, nhưng lại trở về nhà và xét nét người thân từng lời nói. Ta mong Chúa kiên nhẫn với những lần tái phạm của mình, nhưng lại mất kiên nhẫn khi người khác vấp ngã. Ta muốn Chúa nhìn ta trong toàn bộ câu chuyện của đời mình, nhìn thấy những vết thương, hoàn cảnh và giới hạn đã khiến ta hành động sai, nhưng ta lại thu gọn một con người vào đúng lỗi lầm họ đã gây ra cho ta. Ta nói: “Người ấy là kẻ phản bội,” “người ấy là kẻ vô ơn,” “người ấy không bao giờ thay đổi,” như thể một hành động xấu đã trở thành toàn bộ căn tính của họ. Dụ ngôn buộc chúng ta phải nhìn lại: ta đang sống như một người biết mình được tha thứ, hay chỉ như một người đã nhận ân huệ nhưng trái tim vẫn bị giam trong sổ nợ?
Món nợ mười ngàn nén bạc tượng trưng cho món nợ tội lỗi của chúng ta trước mặt Thiên Chúa. Không ai trong chúng ta có thể tự cứu mình, tự thanh toán món nợ ấy bằng công trạng riêng hay tự leo lên tới Thiên Chúa bằng sức lực của bản thân. Tội lỗi không chỉ là một vài vi phạm bên ngoài có thể bù trừ bằng một vài việc tốt; tội lỗi là sự rạn vỡ trong tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân, với chính mình và với toàn thể thụ tạo. Mỗi lần ta chọn ích kỷ thay vì yêu thương, chọn dối trá thay vì sự thật, chọn hận thù thay vì tha thứ, chọn hưởng thụ trên đau khổ của người khác, là ta làm cho những tương quan ấy thêm thương tổn. Ta không thể quay ngược thời gian để thu lại mọi lời đã nói, xóa bỏ mọi hậu quả của hành động, trả lại trọn vẹn những gì người khác đã mất vì ta. Có những giọt nước mắt do ta gây ra mà ta không bao giờ gom lại được; có những vết thương ta có thể xin lỗi nhưng không thể làm cho chúng chưa từng xảy ra; có những bổn phận ta đã bỏ lỡ và thời gian ấy không bao giờ trở lại. Nếu chỉ dựa vào công bằng theo nghĩa trao đổi sòng phẳng, không một ai có thể đứng vững trước mặt Thiên Chúa. Nhưng Tin Mừng cho chúng ta biết rằng điều con người không thể làm, Thiên Chúa đã thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô. Trên đồi Canvê, Đức Giêsu mang lấy hậu quả của tội lỗi, đi vào tận cùng sự cô đơn, đau khổ và cái chết của con người. Người không dùng bạc vàng để chuộc chúng ta, nhưng dùng chính Máu mình. Người không đứng bên ngoài món nợ để thương lượng, nhưng mang món nợ ấy vào thân thể mình và đóng đinh nó vào thập giá. Vì thế, thập giá vừa cho thấy tội lỗi nghiêm trọng biết bao, vừa cho thấy tình yêu Thiên Chúa lớn lao dường nào. Nếu tội lỗi chỉ là chuyện nhỏ, thập giá đã không cần thiết; nhưng nếu tình yêu Thiên Chúa có giới hạn, thập giá cũng không thể xảy ra. Trên thập giá, sự thật và lòng thương xót gặp nhau: sự thật không che giấu tội lỗi, còn lòng thương xót không bỏ rơi tội nhân. Đức Giêsu không nói rằng món nợ không tồn tại; Người tự mình trả món nợ ấy. Người không tuyên bố những vết thương của nhân loại là không đáng kể; Người mang tất cả những vết thương ấy trên thân thể mình. Người không cứu chúng ta bằng một lời tha thứ rẻ tiền, nhưng bằng tình yêu “đến cùng,” tình yêu chấp nhận trao ban chính mạng sống.
Nếu muốn hiểu tha thứ là gì, chúng ta hãy nhìn Đức Giêsu trong cuộc Thương Khó. Ở đó, tha thứ không còn là một khái niệm đẹp được trình bày trong một bài giảng; tha thứ trở thành máu, nước mắt, sự im lặng, lòng kiên nhẫn và một tình yêu bị đóng đinh. Trong vườn Ghếtsêmani, khi toán lính cùng những người được giới lãnh đạo sai đến để bắt Đức Giêsu, bầu khí trở nên hỗn loạn. Các môn đệ hoảng sợ, Phêrô rút gươm và chém đứt tai người đầy tớ của vị thượng tế tên là Mancô. Phản ứng của Phêrô rất giống phản ứng tự nhiên của chúng ta: dùng bạo lực để bảo vệ điều mình cho là chính nghĩa, làm tổn thương người bị coi là kẻ thù, nghĩ rằng phải đánh trả thì mới chứng tỏ mình trung thành. Nhưng Đức Giêsu nói với Phêrô: “Hãy xỏ gươm vào bao.” Người từ chối để Nước Thiên Chúa được bảo vệ bằng bạo lực. Rồi, theo Tin Mừng Luca, Đức Giêsu chạm vào tai người đầy tớ và chữa lành cho anh. Hãy dừng lại trước chi tiết lạ lùng ấy: bàn tay sắp bị trói lại chữa lành cho một người đến để trói mình; người sắp bị đưa đi xét xử phục hồi thân thể cho kẻ thuộc về nhóm bắt giữ mình; Đức Giêsu không hỏi Mancô có hối hận không, không buộc anh phải rút khỏi toán lính rồi mới chữa lành, không nói rằng: “Anh đáng bị như thế vì đã đến bắt tôi.” Người chữa lành anh ngay trong lúc anh vẫn còn đứng về phía những kẻ bắt Người. Đó là quyền năng của lòng thương xót: không để sự dữ của người khác quyết định cách mình hành động. Nếu Đức Giêsu đáp trả hận thù bằng hận thù, bạo lực đã chiến thắng. Nhưng Người đáp trả vết thương bằng chữa lành, và chính trong giây phút ấy Nước Thiên Chúa được tỏ hiện. Phêrô dùng gươm làm đứt một tai; Đức Giêsu dùng lòng thương xót nối lại điều đã bị chia cắt. Biết bao gia đình, cộng đoàn và tương quan của chúng ta cũng có những “cái tai bị chém đứt,” nghĩa là người ta không còn nghe được nhau vì lời nói nóng giận, định kiến và sự kết án. Chúng ta thường nghĩ chiến thắng là làm cho đối phương im tiếng; Đức Giêsu cho thấy chiến thắng thật là chữa lành khả năng lắng nghe.
Trong cuộc xét xử tại dinh vị thượng tế, một người thuộc hạ đã vả mặt Đức Giêsu và nói: “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư?” Đức Giêsu không vả lại, không nguyền rủa, cũng không giả vờ rằng điều vừa xảy ra là đúng. Người bình tĩnh đáp: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” Đây là một chi tiết rất quan trọng để hiểu tha thứ. Tha thứ không có nghĩa là gọi điều sai thành điều đúng, không phải là im lặng đồng lõa với bạo lực, không phải là để người khác tùy ý xúc phạm phẩm giá mình. Đức Giêsu tha thứ nhưng vẫn chất vấn hành vi bất công. Người không trả thù, nhưng Người nói sự thật. Tha thứ Kitô giáo không tiêu diệt công lý; nó thanh luyện công lý khỏi lòng báo thù. Người tha thứ vẫn có thể lên tiếng, đặt giới hạn, bảo vệ người yếu thế, tìm sự trợ giúp cần thiết và yêu cầu người gây hại chịu trách nhiệm. Một người đang bị bạo hành không bị buộc phải tiếp tục sống trong tình trạng nguy hiểm rồi gọi đó là tha thứ. Một gia đình bị lừa dối không phải che giấu sự thật để giữ vẻ bình yên giả tạo. Một cộng đoàn không được viện cớ lòng thương xót để bao che sai phạm hoặc khiến nạn nhân phải im lặng. Tha thứ không loại bỏ sự thật, bởi chỉ sự thật mới giải phóng; tha thứ cũng không hủy bỏ trách nhiệm, bởi tình yêu đích thực luôn mong người gây lỗi hoán cải. Tuy nhiên, tha thứ từ chối biến việc tìm công lý thành một hình thức trả thù. Nó không tìm cách hủy diệt con người dù phải kiên quyết ngăn chặn hành vi xấu. Nó có thể nói: “Điều anh làm là sai, tôi không chấp nhận anh tiếp tục làm như thế,” nhưng đồng thời không nói: “Vì anh đã làm sai, anh không còn xứng đáng là một con người.” Đức Giêsu đứng trước kẻ đánh mình với sự hiền lành có sức mạnh của sự thật. Người không để cái tát biến trái tim mình thành nơi sinh ra một cái tát khác.
Trên đồi Canvê, khi những chiếc đinh xuyên qua tay chân, khi quân lính chia nhau áo Người, khi đám đông chế giễu và các nhà lãnh đạo thách thức Người xuống khỏi thập giá, Đức Giêsu thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Đây có lẽ là một trong những lời gây kinh ngạc nhất trong toàn bộ lịch sử nhân loại. Người ta có thể tha sau khi nỗi đau đã qua, sau khi vết thương bắt đầu lành, sau khi đối phương đến xin lỗi; nhưng Đức Giêsu tha ngay giữa lúc những chiếc đinh đang đóng xuống. Người không chờ đến Phục Sinh mới nói lời tha thứ; Người nói lời ấy khi còn đang đau đớn. Người không nói rằng họ vô tội, nhưng cầu xin Chúa Cha tha cho họ. Người nhìn xuyên qua bạo lực để thấy sự mù quáng, xuyên qua tội ác để thấy những con người cần được cứu độ. Điều đó không làm nhẹ đi trách nhiệm của họ, nhưng cho thấy tình yêu của Đức Giêsu lớn hơn tội lỗi của họ. Dưới chân thập giá, con người đã phơi bày điều tệ hại nhất của mình, còn Thiên Chúa lại mặc khải điều tốt lành nhất của Người. Con người đóng đinh, Thiên Chúa tha thứ; con người chế nhạo, Thiên Chúa cầu nguyện; con người khép lại con đường sống, Thiên Chúa mở ra cánh cửa cứu độ. Thập giá không phải là thất bại của lòng thương xót, nhưng là nơi lòng thương xót chiến thắng bằng cách không trở nên giống sự dữ mà nó đang đối diện. Nếu Đức Giêsu chỉ tha cho những người tốt với mình, Người không khác chúng ta bao nhiêu. Nhưng Người tha cho chính những người đang giết mình, và nhờ đó Người phá vỡ vòng luẩn quẩn của bạo lực, nơi người bị tổn thương trở thành kẻ gây tổn thương, người bị xúc phạm đi xúc phạm người khác, và mỗi thế hệ truyền lại cho thế hệ sau món nợ hận thù chưa được giải quyết.
Sau khi sống lại, Đức Giêsu còn cho thấy một khuôn mặt khác của tha thứ trong cuộc gặp gỡ với Phêrô bên bờ hồ Tibêria. Phêrô đã từng quả quyết rằng dù mọi người có bỏ Thầy, ông cũng không bỏ; dù phải chết với Thầy, ông cũng không chối Thầy. Nhưng tại sân nhà vị thượng tế, bên một bếp than, Phêrô đã ba lần phủ nhận mình biết Đức Giêsu. Ông không chỉ bỏ chạy vì sợ; ông còn dùng lời nói để cắt đứt tương quan với Thầy: “Tôi không biết người ấy.” Sau lần chối thứ ba, gà gáy, Đức Giêsu quay lại nhìn Phêrô, và ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết. Ánh mắt ấy hẳn đã theo Phêrô suốt những ngày Thầy nằm trong mộ. Sau Phục Sinh, Đức Giêsu không gọi Phêrô đến để làm nhục ông trước mặt các môn đệ, không bắt ông phải thuật lại từng lời chối bỏ, không nói: “Thầy đã biết trước con sẽ phản bội.” Bên bờ hồ, Người chuẩn bị một bếp than, bánh và cá cho các môn đệ. Bếp than ấy gợi lại bếp than của đêm phản bội, nhưng lần này nó không còn là nơi Phêrô chối Thầy; nó trở thành nơi ông được phục hồi. Ba lần Phêrô đã nói “tôi không biết người ấy,” và giờ đây ba lần Đức Giêsu hỏi: “Con có yêu mến Thầy không?” Ba vết thương được chạm đến bằng ba cơ hội tuyên xưng tình yêu. Đức Giêsu không xóa ký ức của Phêrô nhưng biến đổi ý nghĩa của ký ức ấy. Người không chỉ tha cho Phêrô trong âm thầm, nhưng còn tái trao cho ông sứ mạng: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.” Đây là sự tha thứ trọn vẹn: không chỉ miễn hình phạt mà còn phục hồi phẩm giá; không chỉ đóng lại hồ sơ quá khứ mà còn mở ra một tương lai; không chỉ nói “Thầy không kết án con” mà còn nói “Thầy vẫn tin tưởng trao đoàn chiên cho con.” Người đời thường tha nhưng vẫn giữ người có lỗi ở khoảng cách an toàn, vẫn nhắc khéo rằng người ấy từng thất bại, vẫn không cho người ấy một cơ hội mới. Đức Giêsu thì khác. Người nhìn thấy nơi Phêrô không chỉ ba lần chối bỏ mà còn thấy vị mục tử sẽ có ngày hiến mạng vì đoàn chiên. Lòng thương xót của Thiên Chúa không đồng nhất chúng ta với giờ phút tồi tệ nhất của đời mình. Thiên Chúa biết ta đã làm gì, nhưng Người còn biết ta có thể trở thành ai nếu để tình yêu Người biến đổi.
Tha thứ không dễ dàng. Có những lời xúc phạm chỉ làm ta buồn trong một ngày, nhưng cũng có những phản bội làm thay đổi cả cuộc đời. Có những vết thương đến từ người xa lạ, nhưng những vết thương đau nhất thường đến từ người ta đã yêu thương, tin tưởng và trao phó chính mình. Một lời của người ngoài có thể nhanh chóng quên đi, nhưng một câu nói của cha mẹ, người phối ngẫu, con cái, anh chị em, người bạn thân, người đồng hành hoặc người cùng cộng đoàn có thể nằm lại trong lòng nhiều năm. Đau không chỉ vì điều họ đã làm, nhưng vì ta từng nghĩ họ sẽ không bao giờ làm điều ấy với ta. Chính sự thân thiết làm cho vết thương sâu hơn. Vì thế, không thể nói với một người đang đau rằng: “Có gì đâu, hãy quên đi,” như thể tha thứ chỉ là bấm một nút để xóa ký ức. Có khi người ta thật lòng muốn tha nhưng mỗi lần nhớ lại vẫn run, vẫn khóc, vẫn giận. Có khi lý trí đã quyết định tha nhưng cảm xúc chưa theo kịp. Có khi hôm nay ta cầu nguyện được cho người ấy, ngày mai nỗi đau lại trỗi dậy như chưa từng lắng xuống. Điều đó không có nghĩa là ta giả dối hay chưa tha gì cả. Tha thứ nhiều khi không phải là một khoảnh khắc, nhưng là một hành trình. Có một quyết định căn bản được lặp lại mỗi ngày: tôi không muốn lấy sự dữ đáp lại sự dữ; tôi không muốn để điều người ấy làm tiếp tục điều khiển cuộc đời tôi; tôi trao quyền phán xét cuối cùng cho Thiên Chúa; tôi xin Chúa chữa lành ký ức và dạy tôi nhìn người ấy bằng ánh mắt của Chúa. Có những ngày lời cầu nguyện ấy nhẹ nhàng; có những ngày nó phải được nói trong nước mắt. Có lúc tha thứ giống như mở bàn tay; có lúc bàn tay đã nắm quá chặt đến nỗi việc mở từng ngón ra cũng đau đớn. Nhưng mỗi lần mở ra, ta lấy lại một phần tự do đã bị hận thù chiếm giữ.
Tha thứ không đồng nghĩa với quên. Bộ nhớ của con người không hoạt động như một trang giấy có thể xé bỏ. Có những điều chúng ta sẽ nhớ suốt đời. Nhưng nhớ mà đã được chữa lành khác với nhớ trong oán hận. Khi chưa được chữa lành, ký ức giống như một con dao: mỗi lần chạm tới là vết thương lại chảy máu, và đôi khi ta dùng chính con dao ấy để làm đau người khác. Khi được chữa lành, ký ức có thể vẫn còn, nhưng trở thành một vết sẹo: nó nói rằng một điều đau đớn từng xảy ra, đồng thời cũng làm chứng rằng vết thương đã không giết chết ta, vì ân sủng đã đưa ta đi qua. Tha thứ cũng không nhất thiết đồng nghĩa với việc khôi phục ngay lập tức sự tin tưởng. Tha thứ là quà tặng người bị tổn thương có thể trao đi; còn lòng tin cần được người gây lỗi xây dựng lại bằng sự thật, hoán cải, trách nhiệm và thời gian. Ta có thể tha cho một người nhưng vẫn cần giữ khoảng cách thích hợp; có thể không mong họ bị hủy diệt nhưng chưa thể giao lại cho họ cùng một trách nhiệm; có thể cầu nguyện cho họ mà vẫn phải yêu cầu họ sửa chữa hậu quả. Hòa giải là điều đáng ước mong, nhưng thường cần sự tham gia chân thành của cả hai phía. Tha thứ có thể bắt đầu từ một phía, còn hòa giải trọn vẹn đòi cả hai cùng bước về phía sự thật. Vì thế, không nên chất thêm gánh nặng lên nạn nhân bằng cách buộc họ phải lập tức thân thiết với người đã gây hại. Thiên Chúa muốn chữa lành, không muốn ép buộc. Người dẫn ta từng bước và tôn trọng nhịp độ của một trái tim bị thương.
Tuy nhiên, dù khó khăn đến đâu, tha thứ vẫn là con đường duy nhất dẫn chúng ta ra khỏi nhà tù của hận thù. Khi không tha thứ, ta tưởng rằng mình đang giam giữ người đã gây lỗi, nhưng nhiều khi chính ta mới là người bị giam. Người ấy có thể đã quên điều họ làm, có thể đang sống bình thường, trong khi ta tiếp tục mang họ trong đầu, nhắc lại cuộc đối thoại cũ, tưởng tượng những câu mình lẽ ra phải nói, mong họ gặp bất hạnh để thỏa lòng. Họ làm ta đau một lần, nhưng ký ức oán hận làm ta đau thêm hàng trăm lần. Ta uống chất độc rồi hy vọng người kia phải chết; ta ôm một cục than nóng với ý định ném vào họ, nhưng chính tay ta bị bỏng trước. Hận thù chiếm thời gian, lấy mất giấc ngủ, làm mờ niềm vui hiện tại và khiến những người vô tội chung quanh phải chịu hậu quả. Một người bị tổn thương ở nơi làm việc có thể mang sự cay đắng về nhà; một người từng bị phản bội có thể nghi ngờ cả những người chân thành; một đứa trẻ lớn lên trong môi trường đầy oán hận có thể học cách trả đũa trước khi học cách đối thoại. Sự dữ truyền từ người này sang người khác như một món nợ không ai chịu xóa. Tha thứ là lúc một người can đảm nói: “Vòng luẩn quẩn này sẽ dừng lại nơi tôi. Tôi đã bị làm tổn thương, nhưng tôi không muốn biến nỗi đau của mình thành vũ khí làm tổn thương người khác. Tôi không thể thay đổi điều đã xảy ra, nhưng nhờ ơn Chúa, tôi có thể quyết định điều ấy sẽ sinh ra điều gì trong tôi.” Tha thứ không thay đổi quá khứ, nhưng giải phóng tương lai khỏi quyền lực của quá khứ.
Khi Đức Giêsu dạy phải tha “bảy mươi lần bảy,” Người không đòi chúng ta làm điều Người đứng ngoài quan sát. Người đã đi trước trên con đường ấy và ban Thánh Thần để chúng ta có thể theo Người. Nếu chỉ dựa vào cảm xúc tự nhiên, có những người chúng ta không thể tha. Nếu chỉ nhìn vào mức độ tổn thương, có những món nợ ta không muốn xóa. Nếu chỉ nhìn vào sự xứng đáng của đối phương, ta luôn tìm được lý do để tiếp tục oán hận. Bởi vậy, điểm khởi đầu của tha thứ không phải là nhìn thật lâu vào người đã làm ta đau, nhưng là nhìn thật lâu lên thập giá. Ta cần nhớ mình là người đầy tớ đã được xóa món nợ mười ngàn nén bạc. Ta không tha vì món nợ của người khác nhỏ theo cảm nhận của mình; có những món nợ thật sự rất lớn và đau đớn. Ta tha vì lòng thương xót ta đã nhận còn lớn hơn. Ta không tha để chứng minh mình cao thượng; ta tha vì là một người nghèo đã sống nhờ ân xá. Ta không đứng trên cao để ban ơn cho kẻ có lỗi, nhưng đứng dưới chân thập giá bên cạnh họ, vì cả hai đều cần Máu Đức Kitô thanh tẩy. Ý thức ấy làm chúng ta khiêm nhường. Khi ta muốn kết án ai, hãy nhớ có biết bao điều Thiên Chúa đã âm thầm tha cho ta mà người khác không hề biết. Khi ta bực tức trước sự yếu đuối của một người, hãy nhớ Thiên Chúa đã kiên nhẫn thế nào với sự yếu đuối cứ lặp đi lặp lại của ta. Khi ta nói: “Người ấy không xứng đáng được tha,” hãy nhớ chính bản chất của sự tha thứ là được trao cho người không thể đòi nó như một quyền lợi. Nếu người kia hoàn toàn xứng đáng, đã sửa chữa mọi hậu quả và thanh toán mọi món nợ, thì điều ta trao không còn là tha thứ nữa mà chỉ là xác nhận món nợ đã được trả.
Điều này được diễn tả cách đặc biệt trong kinh Lạy Cha. Mỗi ngày, chúng ta thưa: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.” Đức Giêsu đặt việc ta xin Thiên Chúa tha thứ bên cạnh việc ta tha thứ cho anh em. Không phải chúng ta mua sự tha thứ của Chúa bằng cách tha cho người khác, bởi ân sủng luôn đi trước và không thể mua được; nhưng ai thực sự đón nhận lòng thương xót thì lòng họ phải dần trở nên thương xót. Nước không thể chảy vào một chiếc bình bị bịt kín. Nếu ta khép lòng trước anh em, ta cũng làm cho mình mất khả năng cảm nếm ân sủng. Người đầy tớ trong dụ ngôn bị xét xử không phải vì nhà vua thiếu lòng thương xót, nhưng vì anh từ chối sống theo lòng thương xót mình đã nhận. Anh muốn ân xá chỉ dừng lại nơi mình. Anh biến ân sủng thành tài sản riêng, trong khi ân sủng luôn muốn trở thành dòng chảy. Lời kinh Lạy Cha vì thế vừa là lời cầu xin vừa là cuộc xét mình. Mỗi lần đọc đến câu ấy, ta có thể chậm lại và hỏi: trong lòng tôi đang giam giữ ai? Tôi đang bắt ai phải tiếp tục trả một món nợ dù họ không còn khả năng thay đổi quá khứ? Tên của ai vừa xuất hiện là lòng tôi lập tức khép lại? Tôi có đang dùng sự im lặng để trừng phạt, dùng khoảng cách để trả đũa, dùng những câu chuyện cũ để làm người khác xấu hổ? Tôi có xin Chúa đối xử với tôi theo lòng thương xót trong khi lại đối xử với người khác chỉ bằng bản án không?
Tha thứ cần được bắt đầu từ những điều rất cụ thể. Trước hết, ta phải thành thật gọi tên vết thương trước mặt Chúa. Không cần giả vờ rằng mình không đau. Các Thánh Vịnh cho thấy người cầu nguyện có thể mang đến cho Thiên Chúa cả giận dữ, thất vọng và tiếng kêu vì bất công. Thiên Chúa không sợ sự thật trong lòng ta. Ta có thể thưa: “Lạy Chúa, điều người ấy làm đã khiến con đau đớn. Con chưa thể nghĩ đến họ mà không giận. Con muốn tha nhưng con chưa có sức. Xin Chúa tha thứ trong con điều con chưa thể tự mình thực hiện.” Đó đã là bước đầu của ân sủng. Tiếp đến, ta cần phân biệt giữa cảm xúc và quyết định. Cảm giác tức giận có thể còn đó, nhưng ta vẫn có thể quyết định không nói xấu, không trả đũa, không nuôi những kế hoạch làm hại. Mỗi lần ký ức trở lại, ta có thể lặp lại quyết định ấy. Rồi, nếu có thể, hãy cầu nguyện cho người đã làm ta đau. Ban đầu, ta chưa cần cầu những điều lớn lao; chỉ cần thưa: “Lạy Chúa, con trao người ấy cho Chúa. Xin Chúa đối xử với họ theo sự khôn ngoan và lòng thương xót của Chúa.” Dần dần, lời cầu ấy có thể mở rộng: xin Chúa chữa lành sự mù quáng nơi họ, giúp họ nhận ra điều sai, ban cho họ ơn hoán cải và đừng để họ tiếp tục làm tổn thương người khác. Cầu nguyện cho một người không có nghĩa là đồng ý với hành động của họ; đó là từ chối để hận thù có tiếng nói cuối cùng.
Ta cũng có thể đặt người ấy dưới chân thập giá trong trí tưởng tượng của đức tin. Hãy nhìn Đức Giêsu chịu đóng đinh giữa ta và người ấy. Những vết thương của Người mang cả nỗi đau ta đã chịu lẫn tội lỗi người kia đã gây ra. Thập giá không đứng về phía sự bất công, nhưng cũng không cho phép ta biến đau khổ thành hận thù. Ở đó, ta có thể trao cho Đức Giêsu quyền xét xử mà lâu nay ta cố giữ cho mình. Nhiều khi điều khiến ta không thể tha là vì ta sợ nếu mình buông ra, công lý sẽ không bao giờ được thực hiện. Nhưng tha thứ không có nghĩa là tuyên bố không cần công lý; tha thứ là tin rằng công lý cuối cùng thuộc về Thiên Chúa, Đấng biết đầy đủ sự thật hơn ta, yêu nạn nhân hơn ta và cũng muốn cứu người tội lỗi hơn ta. Ta không cần làm quan tòa tối hậu. Ta có thể tìm kiếm công lý bằng những phương thế đúng đắn, nhưng không cần mang bản án vĩnh viễn trong lòng. Khi trao người ấy cho Chúa, ta không làm cho họ thoát khỏi trách nhiệm; ta làm cho chính mình thoát khỏi gánh nặng phải đóng vai Thiên Chúa.
Trong gia đình, tha thứ là điều không thể thiếu bởi không có đời sống chung nào mà không có va chạm. Vợ chồng có thể yêu nhau chân thành nhưng vẫn làm nhau tổn thương bằng những lời thiếu suy nghĩ, sự vô tâm hoặc những mong đợi không được đáp ứng. Cha mẹ có thể hy sinh rất nhiều mà vẫn để lại nơi con cái những vết thương do áp đặt, so sánh hoặc không biết lắng nghe. Con cái có thể làm cha mẹ đau vì vô ơn, xa cách hoặc những lựa chọn sai lầm. Anh chị em có thể bất hòa vì tiền bạc, tài sản, trách nhiệm chăm sóc cha mẹ hay những chuyện tưởng nhỏ nhưng được tích lũy qua nhiều năm. Nếu mỗi người đều giữ sổ nợ, gia đình sẽ trở thành nơi những người có chung huyết thống sống như người xa lạ. Có những gia đình không nói chuyện với nhau hàng chục năm chỉ vì không ai muốn bước bước đầu tiên. Ai cũng chờ người kia xin lỗi trước, ai cũng kể câu chuyện theo cách mình là nạn nhân hoàn toàn, ai cũng sợ chủ động hòa giải sẽ bị xem là yếu thế. Nhưng trong Tin Mừng, người mạnh không phải là người giữ được giận lâu nhất; người mạnh là người đủ tự do để làm điều thiện dù đối phương chưa đáp lại. Đôi khi một cuộc điện thoại, một lời “tôi xin lỗi,” một sự thăm hỏi trong lúc đau bệnh, một quyết định không nhắc lại chuyện cũ có thể mở ra con đường mà nhiều năm kiêu hãnh đã đóng kín. Bước đầu không giải quyết ngay mọi vấn đề, nhưng có thể làm tan một lớp băng để ân sủng bắt đầu hoạt động.
Trong cộng đoàn Kitô hữu, lời mời gọi tha thứ lại càng cấp thiết. Thật đau lòng nếu chúng ta cùng tham dự một bàn tiệc Thánh Thể nhưng lại không nhìn mặt nhau; cùng đọc kinh Lạy Cha nhưng giữ nhau trong bản án; cùng rước Mình Thánh Chúa đã hiến mình vì kẻ tội lỗi nhưng không chịu nhường nhau một lời. Giáo xứ, hội đoàn và cộng đoàn tu trì không phải là nơi quy tụ những người hoàn hảo, nhưng là mái nhà của những người đang được lòng thương xót biến đổi. Vì thế, chắc chắn sẽ có những khác biệt, hiểu lầm, va chạm và thất vọng. Có người phục vụ nhưng không được ghi nhận; có người cảm thấy mình bị loại trừ; có người bị tổn thương bởi cách hành xử thiếu tế nhị của người có trách nhiệm; cũng có người chỉ vì một quyết định không vừa ý mà rời bỏ cộng đoàn. Ma quỷ không luôn cần tạo ra những tội lỗi ồn ào; đôi khi nó chỉ cần nuôi một hiểu lầm, làm cho hai người không chịu nói chuyện trực tiếp, rồi để lời đồn, suy diễn và tự ái hoàn thành phần còn lại. Một cộng đoàn mạnh không phải là cộng đoàn không bao giờ có xung đột, nhưng là cộng đoàn biết đưa xung đột vào ánh sáng của Tin Mừng, biết nói sự thật trong bác ái, biết xin lỗi mà không viện cớ và biết tha thứ mà không nhắc lại để hạ nhục nhau. Khi một cộng đoàn biết tha thứ, thế gian có thể nhận ra ở đó một dấu chỉ của Nước Thiên Chúa; bởi thế gian cũng biết hợp tác khi mọi sự thuận lợi, nhưng chỉ ân sủng mới giúp con người tiếp tục yêu thương sau khi đã bị tổn thương.
Tha thứ cũng không chỉ là chuyện giữa các cá nhân. Các dân tộc, sắc tộc và cộng đồng có thể mang những ký ức đau thương qua nhiều thế hệ. Chiến tranh, bách hại, áp bức và bất công để lại những vết thương tập thể. Nếu lịch sử chỉ được kể để nuôi căm thù, quá khứ sẽ tiếp tục sản xuất những nạn nhân mới. Điều này không có nghĩa là phải quên lịch sử hoặc che giấu tội ác; trái lại, cần nói sự thật, tưởng nhớ các nạn nhân, sửa chữa bất công và học những bài học cần thiết. Nhưng ký ức Kitô giáo phải là ký ức đã được thanh luyện: nhớ để không tái phạm, chứ không nhớ để chờ cơ hội trả thù; tôn trọng người đã chết bằng cách bảo vệ sự sống hôm nay, chứ không dùng cái chết của họ để biện minh cho bạo lực mới. Đức Giêsu đã làm cho hai người từng là thù nghịch có thể gặp nhau dưới chân thập giá. Tin Mừng Luca còn ghi lại một chi tiết đầy nghịch lý: Hêrôđê và Philatô trước kia thù nghịch với nhau, nhưng trong ngày xét xử Đức Giêsu, họ trở thành bạn. Tình bạn ấy chưa phải là hoa trái trọn vẹn của hoán cải, vì được hình thành trong một tiến trình bất công đối với Chúa; tuy nhiên chi tiết này cho thấy ngay giữa cuộc Thương Khó, những bức tường thù nghịch cũng bắt đầu rung chuyển. Còn nhờ cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô, bức tường ngăn cách sâu xa giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau đã bị phá đổ. Thập giá mời gọi chúng ta không xây căn tính trên việc có chung một kẻ thù, nhưng trên việc cùng được hòa giải trong Đức Kitô.
Có khi người khó tha nhất lại chính là bản thân mình. Ta tin Chúa tha nhưng vẫn không tha cho mình. Ta liên tục trở lại với một lỗi lầm cũ, tự trách vì một quyết định sai, một cơ hội bỏ lỡ, một người đã làm tổn thương hoặc một bổn phận không chu toàn. Ta đi xưng tội, nghe lời xá giải, nhưng vẫn âm thầm nghĩ rằng tội của mình lớn hơn lòng thương xót của Chúa. Đây có thể là một hình thức kiêu ngạo rất tinh vi: ta muốn tự mình trả món nợ đã được Chúa xóa, muốn đặt cảm giác tội lỗi của mình cao hơn lời tuyên bố tha thứ của Thiên Chúa. Ăn năn thật khác với tự kết án. Ăn năn dẫn đến hoán cải, đền bù và một khởi đầu mới; tự kết án làm ta tê liệt, khép kín và tuyệt vọng. Phêrô khóc vì đã chối Thầy, nhưng ông để Chúa phục hồi mình và tiếp tục sứ mạng. Giuđa hối hận nhưng chìm trong tuyệt vọng vì không tin rằng vẫn còn con đường trở về. Lòng thương xót không bảo ta coi nhẹ lỗi lầm, nhưng mời ta nhìn lỗi lầm trong ánh sáng lớn hơn của tình yêu Thiên Chúa. Nếu đã thành thật thống hối, lãnh nhận bí tích Hòa Giải và cố gắng sửa chữa điều có thể sửa chữa, ta cần khiêm nhường đón nhận việc mình đã được tha. Đừng liên tục đào lại điều Thiên Chúa đã chôn trong lòng thương xót. Hãy để vết thương quá khứ làm ta dịu dàng hơn với người yếu đuối, tỉnh thức hơn trước cám dỗ và biết ơn hơn đối với ân sủng.
Dụ ngôn về người đầy tớ không biết thương xót kết thúc bằng một lời cảnh báo nghiêm khắc. Khi nhà vua nghe chuyện, ông gọi người đầy tớ đến và nói: “Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi vì ngươi đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn như chính ta đã thương xót ngươi sao?” Rồi ông trao anh cho lính hành hạ cho đến ngày trả hết nợ. Đức Giêsu kết luận: “Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình.” Đây không phải là hình ảnh một Thiên Chúa thất thường, lúc đầu tha rồi sau đó đổi ý. Đây là lời mạc khải về tính nghiêm túc của tự do con người. Ta không thể thật sự bước vào thiên đàng của tình yêu trong khi nhất quyết giữ địa ngục của hận thù trong lòng. Ta không thể hiệp thông đời đời với Đấng là lòng thương xót nếu cương quyết khước từ lòng thương xót. Thiên Chúa không cưỡng ép ta tha thứ, nhưng Người cho thấy việc từ chối tha thứ sẽ biến chính trái tim thành nơi hành hạ. Người ôm hận đã bắt đầu nếm trải hình phạt ngay trong đời này: tâm hồn mất bình an, ký ức bị đầu độc, các tương quan bị biến dạng. Luyện ngục có thể được hiểu như cuộc thanh luyện cuối cùng, nơi tất cả những gì trong ta chưa có khả năng yêu như Thiên Chúa sẽ được chữa lành. Nếu khi rời đời này ta vẫn mang theo những nút thắt của hận thù, ta sẽ cần được ân sủng thanh luyện để có thể bước vào niềm vui của những người yêu thương nhau trong Chúa. Trên thiên đàng không có căn phòng dành cho oán hận, không có góc tối để ta tiếp tục tránh mặt một người, không có cuốn sổ để ghi lỗi của anh em. Thiên đàng là sự hiệp thông trọn vẹn. Bởi thế, học tha thứ ngay từ hôm nay chính là tập thở bầu khí của thiên đàng.
Nhưng chúng ta phải nhớ rằng tha thứ không phải là thành tích cá nhân. Không ai có thể tự hào: “Tôi đã tha vì tôi tốt hơn người ấy.” Nếu tha được, đó là vì lòng thương xót của Đức Kitô đang hoạt động trong ta. Chúng ta chỉ có thể trao điều mình đã nhận. Người không ý thức mình được tha sẽ dễ trở nên khắc nghiệt; người biết rõ mình sống nhờ lòng thương xót sẽ có một ánh mắt khác đối với sự yếu đuối của anh em. Các thánh không phải là những người chưa từng bị tổn thương, nhưng là những người đã không để vết thương ngăn cản tình yêu. Các ngài có thể khóc, có thể đau, có thể đấu tranh cho sự thật, nhưng vẫn trao quyền phán xét cuối cùng cho Thiên Chúa. Các ngài hiểu rằng người gây tổn thương cũng thường là một người mang thương tích. Điều này không bào chữa cho tội lỗi, nhưng giúp ta nhìn sâu hơn. Một người thường xuyên xúc phạm người khác có thể đã lớn lên giữa những lời xúc phạm; một người không biết yêu có thể chưa từng được yêu đúng cách; một người kiểm soát người khác có thể đang bị nỗi sợ hãi kiểm soát; một người luôn tìm cách hạ thấp người khác có thể đang che giấu cảm giác vô giá trị của chính mình. Nhìn thấy vết thương phía sau hành vi không có nghĩa là cho phép hành vi xấu tiếp tục, nhưng giúp ta ngăn lòng mình khỏi biến họ thành quỷ dữ. Đức Giêsu trên thập giá đã nói: “Họ không biết việc họ làm.” Người nhìn thấy sự mù quáng cần được chữa lành ngay trong những kẻ đang đóng đinh mình.
Mỗi Thánh lễ là một trường học của tha thứ. Chúng ta bắt đầu bằng việc thú nhận: “Tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót.” Không ai bước vào Thánh lễ như người vô tội đứng nhìn những kẻ tội lỗi khác. Tất cả đều đấm ngực và xin thương xót. Chúng ta lắng nghe Lời Chúa không phải để tìm câu áp dụng cho người bên cạnh, nhưng để Lời ấy xét lại chính mình. Chúng ta dâng lễ vật hòa giải và tiến đến bàn tiệc nơi Đức Kitô trao ban chính thân mình: “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con… Này là chén Máu Thầy… sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội.” Ta rước lấy Đấng đã tha thứ cho những kẻ đóng đinh mình. Làm sao ta có thể đón Người vào lòng mà vẫn muốn giữ vĩnh viễn một ai đó bên ngoài lòng mình? Trước khi rước lễ, ta trao cho nhau dấu bình an. Dấu ấy không phải một cử chỉ xã giao chen giữa nghi thức, nhưng là lời tuyên bố rằng bình an của Đức Kitô mạnh hơn những chia rẽ của chúng ta. Có thể ta chưa giải quyết được tất cả, chưa đủ khả năng đến gặp một người ngay lập tức, nhưng mỗi Thánh lễ đều gieo vào lòng ta một hạt giống hòa giải. Nếu ta trung thành để hạt giống ấy lớn lên, Thánh Thể sẽ dần biến trái tim bằng đá thành trái tim biết cảm thương.
Hôm nay, mỗi người có thể mang trước mặt Chúa một cái tên. Có thể đó là người đã làm ta đau nhiều năm trước, người đã không xin lỗi, người không ý thức hậu quả họ để lại. Có thể đó là người vẫn sống cùng nhà nhưng khoảng cách trong lòng đã quá xa. Có thể đó là một người đã qua đời, khiến ta không còn cơ hội nghe lời giải thích hoặc nói ra nỗi đau. Có thể người ấy chính là ta của quá khứ. Đừng cố giải quyết mọi thứ chỉ trong một phút, nhưng hãy bắt đầu bằng việc đặt cái tên ấy vào bàn tay bị đóng đinh của Đức Giêsu. Hãy thưa: “Lạy Chúa, con không thể tự mình tha thứ trọn vẹn, nhưng con muốn muốn điều Chúa muốn. Con không muốn tiếp tục làm tù nhân của quá khứ. Xin lấy khỏi con ước muốn trả thù. Xin chữa lành điều đã bị phá vỡ. Xin giúp con làm phần việc thuộc về con và trao phần còn lại cho Chúa.” Có thể ngày mai ta phải cầu lại lời ấy. Có thể ta phải cầu một trăm lần, một ngàn lần, “bảy mươi lần bảy.” Nhưng mỗi lần cầu là một mắt xích được tháo khỏi xiềng xích.
Chúng ta đã được tha một món nợ tượng trưng bằng sáu mươi triệu ngày công. Khi anh em xúc phạm chúng ta, món nợ ấy được ví như một trăm ngày công. So sánh này không nhằm coi thường nỗi đau của chúng ta, nhưng giúp ta đặt nó trong đại dương lòng thương xót. Một trăm ngày công có thể là món nợ thật, nhưng sáu mươi triệu ngày công nhắc chúng ta rằng ân sủng mình đã nhận lớn hơn món nợ mình đang giữ. Người Kitô hữu không phải là người không bị tổn thương; người Kitô hữu là người đem tổn thương của mình đến với Đấng chịu đóng đinh để nó không biến thành hận thù. Người Kitô hữu không phải là người gọi sự dữ là điều tốt; người Kitô hữu là người tin rằng điều tốt có thể chiến thắng sự dữ mà không cần trở thành sự dữ. Người Kitô hữu không phải là người chỉ nói về tha thứ; người Kitô hữu là người sống mỗi ngày nhờ sự tha thứ của Thiên Chúa và để sự tha thứ ấy chảy qua mình.
Đức Giêsu là dung mạo của Chúa Cha giàu lòng thương xót. Người chữa lành Mancô đang đến bắt mình; bình tĩnh nói sự thật với kẻ vả mặt mình; cầu xin Chúa Cha tha cho những người đóng đinh mình; tìm gặp Phêrô bên bờ hồ, nhóm lại bếp than của ký ức và biến nơi phản bội thành nơi trao sứ mạng. Đó là Chúa của chúng ta. Người không chỉ truyền rằng hãy tha thứ; Người tha thứ cho chúng ta trước. Người không chỉ vạch ra con đường; Người trở thành con đường. Người không đứng ở cuối đường để chờ ta bằng một mệnh lệnh lạnh lùng; Người bước bên cạnh, mang lấy phần nặng nề nhất và trao Thánh Thần cho ta. Vì thế, dù vết thương hôm nay sâu đến đâu, ta không được tuyệt vọng. Có thể ta chưa tha trọn vẹn, nhưng ta có thể xin ơn muốn tha. Có thể ta chưa thể gặp lại người ấy, nhưng ta có thể ngừng nguyền rủa họ. Có thể cảm xúc chưa đổi, nhưng ta có thể chọn không trả thù. Có thể ký ức vẫn đau, nhưng ta có thể đặt nó vào vết thương của Đức Kitô. Ân sủng sẽ làm phần còn lại theo thời gian của Chúa.
Lạy Đức Giêsu chịu đóng đinh và phục sinh, Chúa đã yêu chúng con khi chúng con còn là tội nhân, đã trả món nợ chúng con không thể trả và đã mở cho chúng con cánh cửa trở về nhà Cha. Xin đừng để chúng con nhận lòng thương xót rồi lại khóa lòng trước anh em. Xin nhắc chúng con nhớ những lần Chúa đã kiên nhẫn, những tội Chúa đã tha, những cơ hội mới Chúa đã trao. Khi bị xúc phạm, xin giữ chúng con khỏi phản ứng bằng bạo lực; khi bị xét đoán, xin dạy chúng con nói sự thật trong hiền lành; khi bị phản bội, xin đừng để trái tim chúng con hóa đá; khi ký ức cũ trở lại, xin đưa chúng con về dưới chân thập giá. Xin ban cho chúng con sự khôn ngoan để phân biệt tha thứ với dung túng, lòng thương xót với bao che, hòa giải với việc quay lại một hoàn cảnh nguy hiểm. Xin giúp chúng con bảo vệ sự thật mà không nuôi hận thù, tìm kiếm công lý mà không khao khát trả thù, đặt giới hạn mà không khước từ phẩm giá của bất cứ người nào. Xin chữa lành những gia đình đang chia rẽ, những vợ chồng không còn nói chuyện, những anh chị em tranh chấp, những cộng đoàn mang vết thương, những tâm hồn đang tự kết án mình. Xin cho chúng con biết mở bàn tay đang nắm chặt món nợ của người khác, vì chính Chúa đã mở đôi tay trên thập giá để ôm lấy chúng con. Và khi chúng con đọc: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con,” xin cho lời ấy không chỉ ở trên môi nhưng đi xuống tận đáy lòng, để chúng con thật sự trở thành những người đã được thứ tha, đang sống nhờ ơn thứ tha và biết đem sự thứ tha đến cho thế giới. Amen.
Lm. Anmai, CSsR

Previous articleCHIÊM NGẮM THỤ TẠO GẶP ĐẤNG TẠO HÓA – Lm. Anmai, CSsR